Giải Đáp Y Khoa - BS Nguyễn Đình Phùng
Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 19 trên tổng số 19 bài trong đề mục
frank 26.02.2026 23:08:58 (permalink)
Lý do tại sao bị nhiễm trùng nhiều lại giúp cho ít bị bệnh dị ứng, suyễn? Bệnh dị ứng xảy ra do tác dụng của kháng thể (antibody) gọi là IgE. Kháng thể này phản ứng với những kháng nguyên (antigen) như phấn hoa, bụi bậm, lông thú vật, đồ ăn... làm tế bào gọi là mast cells của cơ thể tiết ra chất histamine gây ra những triệu chứng của dị ứng.
 
Kiểm soát những cơ chế này là loại tiểu bạch cầu lymphocytes gọi là Th2 cells. Khi cơ thể bị nhiễm trùng, sẽ có những phản ứng tự vệ của cơ thể làm tiết ra một số hoá chất gọi là Interleukin-10 và TGFbeta. Hai hoá chất này tác dụng lên trên tiểu bạch cầu Th2 sẽ làm giảm cơ chế của dị ứng. Ngoài ra khi cơ thể bị bệnh cực vi trùng như bệnh lên sởi chẳng hạn, sẽ có phản ứng làm đè nén hệ thống miễn nhiễm gọi là immunosuppression, sẽ làm giảm đi các phản ứng về dị ứng của cơ thể rất nhiều.
 
Vấn đề nhiễm ký sinh trùng như hay xảy ra tại các nước chậm tiến như Việt Nam cũng theo cơ chế này là kích thích những tiểu bạch cầu làm đè nén gọi là suppressor T lymphocytes, nên làm chặn đứng hệ thống về dị ứng của cơ thể, không cho hệ thống này phát tác gây nên bệnh dị ứng hay suyễn...
 
Ngoài ra vệ sinh ăn uống của ta ở Việt Nam thiếu kém, hàng ngày chúng ta ăn vào rất nhiều thực phẩm không vệ sinh chứa nhiều vi trùng gây bệnh, sống trong ruột. Cơ thể ta phải luôn luôn chống cự với các vi trùng như Salmonella gây bệnh thương hàn, vi trùng Shigella gây bệnh kiết lỵ..v.v...Cũng theo cơ chế như đã nói trên, hệ thống dị ứng không có dịp để phát tác vì bị những hoá chất tiết ra do cơ thể chống cự với các vi trùng ruột kể trên ngăn chặn.
 
Hơn nữa, ký sinh trùng ở Việt Nam đầy dẫy. Hầu như cơ thể người nào cũng phải tìm cách để diệt các loại giun sán như giun kim (Enterobius vermicularis), sán lãi (Ascaris lumbricoides)....theo những chu kỳ về bài tiết xâm nhập thường xuyên cơ thể chúng ta khi sinh sống ở Việt Nam. Như vậy các tiểu bạch cầu suppressor T-cells của cơ thể khi chống cự và tiêu diệt các ký sinh trùng giun sán này sẽ luôn luôn phải làm việc và do đó ngăn chặn hệ thống dị ứng không cho phát tác.
 
Khi sang đến Hoa Kỳ, dời sống tân tiến, vệ sinh hơn, cơ thể chúng ta không có dịp để đánh nhau và tiêu diệt vi trùng lao, vi trùng đường ruột như đã nói trên. Sau vài năm sống ở đây, ký sinh trùng cũng sẽ hết vì chu kỳ đời sống của giun, sán không được tiếp nối, cơ thể chúng ta không còn phải chống cự với ký sinh trùng, sẽ làm suy giảm hệ thống immunosuppression, làm yếu kém sự ngăn chặn hệ thống dị ứng và làm dị ứng bộc phát.
 
Một điều quan trọng khác nữa đối với người Việt chúng ta là sự dùng bừa bãi trụ sinh. Người Việt sính dùng trụ sinh, bị bất cứ gì cũng uống trụ sinh. Bị cảm thường, bị đau nhức cũng uống Ampicillin! Uống trụ sinh không đúng cách, không phải lối dĩ nhiên không giúp ích gì lại còn mang nhiều tai hại như vi trùng kháng thuốc, bị phản ứng với thuốc... Ngoài ra trụ sinh sẽ làm tiêu diệt các vi trùng bình thường không gây bệnh sống trong ruột như đã nói ở phần trên. Kết quả, thiếu loại vi trùng "tốt" (normal flora) này sẽ làm cơ thể thiếu các sự kích thích đối với endotoxins như khảo cứu gần đây cho thấy và làm hệ thống dị ứng không bị kiềm chế sẽ phát tác mạnh hơn.
 
Vì những lý do trên, khi người Việt di cư sang tại Hoa Kỳ, trước kia sống ở Việt Nam không hề bị dị ứng nay sang đây, sống ít lâu các cơ chế ngăn chặn hệ thống dị ứng bị suy kém sẽ làm bệnh dị ứng phát hiện và hoành hành. Điều này dĩ nhiên sẽ tùy từng cơ thể mỗi người, kẻ bị ít, người bị nhiều, kẻ bị sớm, người bị muộn.
 
Ngoài ra còn vấn đề di truyền. Bệnh dị ứng, suyễn có tính cách di truyền nên trong gia đình khi bố mẹ bị, con cái cũng sẽ thường bị. Và cũng theo đặc tính di truyền, có thể có nhiều người bị dị ứng nhưng cũng có nhiều người vì đặc tính di truyền "genes" tốt, sẽ không hề bị bệnh này.
 
Tóm lại, bệnh dị ứng có thể được mô tả như một bệnh của sự văn minh, tân tiến! Càng vệ sinh nhiều chừng nào, sẽ ngăn chặn được những bệnh nhiễm trùng tai hại, nhưng cái giá phải trả cho sự tiến bộ là những bệnh về dị ứng và miễn nhiễm, càng ngày càng thấy nhiều hơn trong các xã hội phát triển và văn minh này.
 
 
#16
    frank 04.03.2026 02:12:11 (permalink)
     
    SẠN THẬN
     
    HỎI:
     
    Tôi năm nay 36 tuổi, gần đây có lần bị đau quặn ngang lưng, đi tiểu thấy ra máu và ra một cục sạn nhỏ. Xin cho biết có phải là sạn thận không? Có gì nguy hiểm không? Xin cho biết cách chữa trị.
     
    Tôn V. P.
     
    ĐÁP:
     
    Bệnh của ông với triệu chứng rõ ràng và đi tiểu ra sạn như kể trên là bệnh sạn thận. Bệnh này cũng hay thấy ở người Việt Nam. Thông thường đàn ông bị sạn thận nhiều hơn đàn bà, gấp hai hoặc ba lần. Tuổi thường bị sạn thận là cỡ 30 - 40 tuổi và khi đã bị sạn thận một lần như trường hợp của ông, thường hay bị đi bị lại, trung bình khoảng 2, 3 năm một lần.
     
    Lý do tại sao gây ra sạn thận thường không được biết đích xác nhưng di truyền trong gia đình là một yếu tố quan trọng. Phần lớn các trường hợp sạn thận do chất vôi calcium được tiết ra quá nhiều trong nước tiểu gọi là chứng idiopathic hypercalciuria (có nghĩa tiểu ra nhiều vôi, idiopathic là không hiểu tại sao). Nước tiểu bình thường là một dung dịch bão hòa với các ions calcium, oxalates và phosphates, vì thể chỉ cần tăng nồng độ các ions lên một chút vì lý do này hay lý do khác là các ions này kết hợp với nhau, trầm hiện và biến sang thể rắn, trở thành sạn thận.
     
    Thường phải cần một nhân nhỏ thành hình trước rồi sạn mọc to dần. Nhân này có thể do nhiễm trùng, hoặc do một vài tinh thể khác như tinh thể của chất uric acid, hydroxyapatite ..v..v... Nhiều khi chỉ vì uống nước ít quá, nước tiểu quá đặc, các ions calcium và oxalates tụ thành tinh thể rồi cứ thế bám vào dần gây ra sạn càng ngày càng lớn.
     
    Một số các trường hợp sạn thận không phải do chất vôi calcium nhưng do chất uric acid trong trường hợp những người bị bệnh viêm khớp xương do bệnh gout, hoặc do chất Struvite gồm magnesium, ammonium và phosphates ở những người hay bị nhiễm trùng đường tiểu do vi trùng Proteus. Các trường hợp này ít hơn trường hợp sạn do chất vôi calcium.
     
    Sạn thành hình thường nằm ở trong những khoang thận (papilae), nếu không chạy xuống ống dẫn tiểu thường không gây ra triệu chứng. Đôi khi chỉ thấy có máu trong nước tiểu. Tuy nhiên nếu sạn chạy xuống ống dẫn tiểu hay kẹt ở chỗ tiếp nối ống dẫn tiểu và bọng đái, thường gây ra triệu chứng đau lưng.
     
    Đau lưng do thận gây ra khác với những trường hợp đau lưng do bắp thịt hay xương gây ra, đau này thường là đau dữ dội, quặn người lại và truyền xuống bụng dưới. Nếu cục sạn nhỏ và ống dẫn tiểu co thắt đầy thoát ra được, cơn đau sẽ giảm dần, tuy có thể đi tiểu ra máu trong một vài ngày. Nếu sạn nằm kẹt và cơn đau không giảm hoặc bị nhiễm trùng thường phải nhập viện để điều trị.
     
    Chữa trị về sạn thận trước kia thường phải mổ nhưng hiện nay đã có nhiều phương pháp mới làm tan sạn thận và không cần mổ. Tối tân nhất hiện nay là cách làm tan sạn thận bằng luồng sóng kích xúc (shock waves). Người bệnh được cho dìm mình trong một bồn nước thật lớn và các luồng sóng kích xúc do một dòng điện cao thể tạo ra được truyền trong nước và hội tụ lại trên vùng thận có sạn.
     
    Các luồng sóng kích xúc này truyền qua da thịt không gây ra tai hại hay phản ứng gì cả nhưng làm bể viên sạn trong thận ra những mảnh nhỏ như cám, có thể theo nước tiểu thoát ra ngoài dễ dàng. Người bệnh không phải mổ, không phải nằm lại bệnh viện hơn 1 hay 2 ngày và chỉ bị đi tiểu có máu chừng một vài ngày là khỏi.
     
    Phương pháp chữa này gọi là ESWL, viết tắt của extracorporeal shock waves lithotripsy hiện thông dụng khắp nơi và giảm thiểu rất nhiều trường hợp phải mổ. Những phương pháp khác cũng không phải mổ là dùng ống soi đi ngược đường tiêu và dùng siêu âm đánh tan viên sạn, hoặc dùng ống soi soi xuyên từ ngoài da đi thẳng vào trong thận.
     
    Tuy nhiên phương pháp dùng luồng sóng kích xúc vẫn là cách ít nguy hiểm và ít gây phản ứng hơn cả. Khi bị sạn thận, mặc dù đã đi tiểu thoát ra ngoài như trường hợp hỏi bệnh hoặc có sạn đã được đánh cho tan bằng phương pháp luồng sóng kích xúc kể trên thường vẫn phải tìm hiểu sạn thận thuộc loại gì và tìm căn nguyên gây ra sạn.
     
    Nếu đi tiểu ra được sạn, nên cố gắng giữ được viên sạn để thí nghiệm phân chất thuộc loại gì: calcium oxalate hay calcium hydroxyapatite, hoặc là sạn uric acid, struvite hay do chất cystine. Điều này quan trọng vì phải chữa những bệnh gây ra sạn hay nếu không biết rõ, dùng nhưng phương pháp phòng ngừa để không bị sạn thận trở đi trở lại.
     
    Thường khám nghiệm sẽ cần đo lưọng calcium trong máu, đo các chất creatinine, urea nitrogen trong máu để biết về sự hoạt động của thận, đo lượng calcium, uric acid trong nước tiểu. Chụp hình sẽ cần chụp thận và ống dẫn tiểu gọi là IVP (intravenous pyelogram), chích thuốc iodine vào máu để chụp hình lúc thận lọc thành nước tiểu.
     
    Nếu định được bệnh gây ra sạn thận như bệnh bướu ở tuyến phó giáp trạng (hyperparathyroidism) làm tăng chất calcium trong máu và gây ra sạn, có thể trị bệnh này bằng giải phẫu hoặc bệnh viêm khớp gout gây ra sạn thận uric acid có thể trị bằng cách uống thuốc Allopurinol v.v. . .
     
    Như đã nói ở trên, phần lớn các trường hợp không tìm được nguyên nhân gọi là chứng idiopathic hypercalciuria, nước tiểu có quá nhiều chất vôi, chứng này có thể ngăn ngừa bằng cách uống nước thật nhiều, it nhất 6 đến 8 ly nước mỗi ngày. Kiêng ăn các thức ăn có nhiều chất vôi, thí dụ như uống sữa ..v.v. . . Một loại thuốc có thể dùng để hạ chất vôi trong nước tiểu là loại thuốc lợi tiểu Thiazide, cũng dùng để trị áp huyết cao. Uống thuốc này sẽ ngăn ngừa chất vôi tăng lên quá cao trong nước tiểu và ngăn ngừa được sạn thận không trở đi trở lại.
     
    Tóm lại, sạn thận là một bệnh có thể gây ra nhiều nguy hiểm, gây ra chứng đau lưng dữ dội nếu sạn bị nghẹt trong ống dẫn tiểu. Để lâu không chữa có thể gây ra suy và hư thận, nhiễm trùng thận ..v.v. . . Tuy nhiên hiện nay sạn thận tương đối chữa trị dễ dàng và ít nguy hiểm hơn trước và hiểu bệnh trạng để phòng ngừa sẽ giúp cho những tai hại do sạn thận gây ra giảm đi rất nhiều.
    #17
      frank 11.03.2026 03:53:42 (permalink)
       
      NHỨC ĐẦU KINH NIÊN
       
      HỎI:
       
      Tôi bị bệnh nhức đầu đã lâu năm, có đi khám bệnh thì được biết áp huyết không cao. Không còn cách nào khác là uống thuốc sau khi thấy nhức. Uống một ly rượu sáng ngủ dậy cũng bị nhức, ngủ không ngon giấc hay bị đánh thức giấc cũng bị nhức và gần như tuần nào cũng phải uống thuốc Anacin. Tình trạng dùng thuốc lâu năm có ảnh hưởng tai hại gì đến thận và bao tử không? Và phải làm sao?
       
      Nguyễn Bá T.
       
      ĐÁP:
       
      Nhức đầu kinh niên là một bệnh thường xảy ra và tương đối là một trong những vấn đề khó khăn nhất của y khoa. Nhức đầu là một triệu chứng thông thường và có thể đi kèm với rất nhiều thứ bệnh khác nhau. Phần lớn là những bệnh nhẹ, tuy nhiên một số ít bệnh khác là bệnh quan trọng và nguy hiểm cần được định bệnh và điều trị ngay.
       
      Nhức đầu xảy ra khi những cơ cấu có thần kinh cảm giác nhận biết sự đau của vùng đầu bị kích thích. Các cơ cấu này gồm có da đầu, bắp thịt, động mạch và màng bọc xương sọ, các mô của mắt, tai, mũi và khoang mũi. Bên trong óc chỉ có các xoang tỉnh mạch và các giây thần kinh số 5, số 9, số 10 và giây thần kinh có có cảm giác đau.
       
      Ngay chính phần mềm của não bộ không có cảm giác đau khi bị đụng chạm hay kích thích. Xương sọ cũng thế, không có cảm giác đau.
       
      Như thế nhức đầu có thể xảy ra theo nhiều cơ chế: hoặc do các động mạch đầu dãn nở, làm căng và kích thích gây đau, đây là nguyên nhân thường thấy nhất của chứng nhức đầu kinh niên migraine; hoặc do bắp thịt đầu hay cổ co rút hay viêm gây ra đau.
       
      Các cơ chế khác ít hơn như các xoang tỉnh mạch đầu bị đè, đẩy sai chỗ như khi có bướu trong não bộ sẽ gây ra nhức đầu. Hoặc màng óc bị viêm, nhiễm trùng như trong bịnh sưng màng óc cũng sẽ gây ra nhức đầu.
       
      Điều quan trọng trong việc định bệnh và chữa trị chứng nhức đầu là xác định xem có bệnh nào nặng và nguy hiểm gây ra nhức đầu hay không?
       
      Quan trọng nhất là những bệnh cần trị ngay như sưng màng óc, thường bị sốt, cổ cứng đi kèm với nhức đầu. Một bệnh khác là chảy máu trong nước tủy xương sống (subarachnoid hemorrhage) cũng làm nhức đầu, cổ cứng tuy không bị sốt. Nhiều người bị té, dập đầu làm đọng cục máu dưới màng cứng cũng gây ra nhức đầu (subdural hematoma) phải mổ ngay mới chữa được.
       
      Những bệnh nặng khác gây ra nhức đầu cũng cần phải định bệnh ngay là bệnh tăng áp suất trong mắt (glaucoma) không chữa sớm có thể gây ra mù, bệnh nhiễm trùng khoang mũi (sinusitis) cũng gây ra nhức đầu dữ dội, thường đi kèm với nóng sốt và nghẹt mũi, hay chảy nước mũi có mùi hôi.
       
      Một bệnh nữa ở người già là bệnh viêm mạch máu thái dương (temporal arteritis) gây ra nhức đầu và nếu không chữa ngay có thể gây mù mắt. Những bệnh nặng trên gây ra nhức đầu thường là cấp tính, xảy ra trong vài ngày. Nếu nhức đầu kéo dài hơn, xảy ra trong vòng vài tuần hay tháng và càng ngày càng nặng hơn, cần phải định bệnh xem có bướu trong não bộ gây ra nhức đầu hay không?
       
      Hiện tại cách chính xác nhất là chụp hình não bộ bằng CAT scan hay bằng phương pháp MRI (magnetic resonance imaging). Áp huyết cao cũng gây ra nhức đầu tuy nhiên chữa trị và định bệnh dễ dàng.
       
      Nhức đầu kinh niên kéo dài từ năm này sang năm khác thường không phải do những bệnh nặng, nguy hiểm trên gây ra. Hai loại bệnh thường nhất gây ra nhức đầu kinh niên là chứng nhức nửa đầu migraine và nhức đầu do căng thằng, tension headache.
       
      Chứng nhức nửa đầu migraine rất thường thấy, ở đàn bà nhiều hơn đàn ông, bắt đầu khi mới lớn và kéo dài cho đến khi lớn tuổi sẽ đỡ lần đi. Thường nhức nửa bên đầu, mỗi khi nhức như giật lên từng hồi, không làm việc được, kèm theo với ói mửa đôi lúc. Một số người có thể có triệu chứng về thần kinh hay tê liệt.
       
      Mỗi cơn nhức kéo dài một hai ngày rồi hết, có thể trở lại khi sắp có kinh nơi người đàn bà, hoặc khi bị căng thẳng quá mức. Có người dùng thuốc ngừa thai cũng hay bị loại nhức đầu migraine này. Một số người bị lên cơn nhức đầu sau khi ăn uống những chất để lâu lên men có chất tyramine, có người uống rượu nhất là rượu vang đỏ cũng hay bị. Cà phê, trà, chocolate cũng thế.
       
      Chứng nhức đầu migraine thường di truyền trong gia đình, nguyên nhân không được rõ lắm, có thể do sự mất thăng bằng trong việc điều hòa sự co thắt, dãn nở của mạch máu đầu, hoặc do sự xáo trộn về biến dưỡng của chất Serotonin trong não bộ.
       
      Loại nhức đầu kinh niên thứ hai hay thường thấy là nhức đầu do căng thẳng, tension headache. Loại này thường gây nhức cả đầu, đến từ từ chứ không đến nhanh chống từng cơn như loại migraine và kéo dài lâu hơn, có thể nhức đầu triền miên cả vài tuần hay vài tháng. Ngủ thì không sao nhưng thức giấc là thấy nhức đầu ngay. Loại này khác với migraine ở chỗ thường bắt đầu ở tuổi trung niên và có thể kéo dài nhiều năm.
       
      Nguyên nhân của nhức đầu tension headache cũng không được rõ lắm, một số người cho là do các bắp thịt đầu và cổ căng thẳng, co rút gây ra nhưng có lẽ cũng phần lớn do sự dãn nở bất thường của các mạch máu đầu gây ra. Thực sự một số lớn bệnh nhân bị nhức đầu kinh niên có cả hai đặc tính của nhức đầu migraine lẫn với nhức đầu căng thẳng và cách chữa phải dùng thuốc cho cả hai loại.
       
      Loại nhức đầu tension headache có nhiều yếu tố về tâm lý tuy không bắt buộc. Lo âu quá mức, chán nản, thất vọng cũng thường thấy nơi những người nhức đầu kinh niên loại này, khoảng 60%. Chữa trị tâm lý thường cũng trở thành cần thiết cho loại này.
       
      Chữa trị chứng nhức đầu thông thường hàng ngày do mỏi mắt, mệt, cảm thường.. v.v…chỉ cần Tylenol hay Aspirin là đủ, tuy nhiên chữa trị chứng nhức đầu kinh niên khó khăn hơn nhiều. Phần lớn các người bị bệnh này uống các thuốc nhức đầu như Tylenol, Anacin ..v..v..thường xuyên tuy không hiệu quả nhiều lắm. Dùng quá nhiều các loại có aspirin có thể làm loét bao tử, chảy máu bao tử ở một số người. Tylenol hay Ibuprofen (Advil, Nuprin) lạm dụng có thể ảnh hưởng trên thận.
       
      Nếu bị nhức đầu nặng loại migraine thường các thuốc nhẹ loại trên ít có tác dụng. Thường phải dùng thuốc có thêm thuốc ngủ, caffeine như Fiorinal, Esgic. Nặng hơn nữa phải dùng thuốc có chất ergot như Cafergot. Một loại thuốc hoặc để chích dưới da hoặc để uống, trị nhức đầu migraine rất hiệu nghiệm là thuốc Imitrex hoặc những thuốc tương tự mới hơn có tác dụng làm co mạch máu đầu nhờ ảnh hưởng cơ cấu serotonin receptor của mạch máu trong đầu. Thuốc này làm hết ngay cơn nhức đầu migraine trong vòng 10 phút khi chích dưới da 6mg thuốc Imitrex. 
       
      Muốn ngăn ngừa các cơn nhức đầu migraine phải dùng thuốc Propanolol hay nặng hơn nữa dùng loại thuốc Methysergide. Một số lớn trường hợp phải dùng thuốc an thần, anti-depressant để chữa trị về tâm thần, đặc biệt cho các người bị nhức đầu kinh niên do căng thẳng, tension headache.
       
      Thực sự chữa trị về nhức đầu kinh niên hiện nay chưa được thoả đáng, thường phải tùy từng trường hợp nặng, nhẹ, nhiều hay ít để dùng từng loại thuốc khác nhau. Tuy nhiên đối với bệnh nhức đầu kinh niên, tác dụng của thuốc cũng chỉ có giới hạn. Điều quan trọng vẫn ở bệnh nhân ăn, uống cẩn thận, điều độ, tránh những thứ dễ kích thích như rượu, thuốc lá.. v..v…nghỉ ngơi đầy đủ, thể dục đúng mức và nhất là nhận thức được những gì gây ra lo âu, phiền não cho mình hằng ngày và tìm cách để đối phó, thích hợp cho đời sống thoải mái hơn.
      #18
        frank 2 giờ (permalink)
         
        BƯỚU CỔ
         
        HỎI:
         
        Tôi năm nay 46 tuổi, mới từ Việt Nam sang được gần một năm. Khi còn tại nước nhà tôi có bị bướu cổ, mắt lồi, có uống thuốc một thời gian thấy bớt nên ngưng thuốc. Khi sang đây được mấy tháng, tôi thấy bướu cổ lớn hơn trước và sụt ký nhiều. Xin cho biết tại sao bị bướu cổ? Chữa trị ra sao? Có cách nào chữa dứt không?
         
        Nguyễn Thị V.
         
        ĐÁP:
         
        Bướu cổ là bệnh của tuyến giáp trạng (thyroid gland). Tuyến giáp trạng là cơ quan nội tiết trọng yếu của cơ thể, tiết ra kích thích tố giáp trạng. Kích thích tố này cần thiết cho sự hoạt động của mô tế bào, cho sự trưởng thành, cho việc tiêu dùng năng lượng của cơ thể …v..v. .., tóm lại rất nhiều chức vụ quan trọng, vì thế khi kích thích tố giáp trạng tiết ra không được điều hòa, quá nhiều hay quá ít đều sanh bệnh.
         
        Bệnh của bà với bướu cổ, mắt lồi và sụt ký là bệnh do tuyến giáp trạng hoạt động quá mạnh, tiết ra nhiều kích thích tố hơn bình thường gọi là hyperthyroidism, (còn gọi là Graves’ disease). Ngoài những triệu chứng kể trên còn có những triệu chứng khác đi kèm như tay run, ra mồ hôi nhiều, người lúc nào cũng thấy nóng bức mặc dù người khác thấy nhiệt độ bình thường, mất ngủ, tiêu chảy, tính tình thay đổi hay bứt rứt, khó chịu v.v. . . Người lớn tuổi dễ bị khó thở, hồi hộp, suy tim. Nhiều người bị bắp thịt tay chân đau nhức hay yếu đi, bại xuội.
         
        Nếu để lâu không chữa trị, bệnh này có thể làm chết người, thường là do tim đập quá nhanh, suy tim nặng hoặc khi kích thích tố tiết ra quá độ có thể làm kích xúc, mê sảng.
         
        Nguyên nhân gây ra bệnh này là vì cơ thể người bệnh tạo ra một kháng thể chống lại một cơ cấu trên màng tế bào của tuyến giáp trạng. Cơ cấu này là chỗ tiếp nhận sự tác dụng của một kích thích tố khác từ não thùy gọi là TSH (thyroid stimulating hổmne). Khi kháng thể này dính với cơ cấu tiếp nhận TSH, tế bào của tuyến giáp trạng bị kích thích mạnh, tăng trưởng và tiết ra nhiều kích thích tố giáp trạng hơn bình thường và kết quả gây ra bệnh.
         
        Lý do tại sao tự dưng những người bệnh này lại tiết ra những kháng thể đó hiện giờ vẫn chưa rõ. Một phần có thể vì di truyền, một phần có thể vì tác dụng của một loại cực vi trùng nào đó chưa ai khám phá ra. Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng là những dồn ép về tâm lý (stress).
         
        Nhiều người Việt Nam tỵ nạn sang Hoa Kỳ bị khủng hỏang về tâm lý dễ xảy ra bệnh bướu cổ do kích thích tố giáp trạng quá nhiều này.
         
        Vấn đề định bệnh tương đối dễ dàng nếu có những triệu chứng rõ ràng như bướu cổ lớn, sờ thấy được, mắt lồi, sụt ký như trường hợp của bà. Tuy nhiên rất nhiều người có ít triệu chứng, bướu cổ không lớn lắm, không để ý không biết đến, mắt không có triệu chứng lồi, chỉ thấy hay nóng nảy, khó ngủ, tay hơi run và sụt ký chút đỉnh… v.v..
         
        Những trường hợp này khó định bệnh hơn và phải dựa vào thử nghiệm để định bệnh chính xác nếu có nghi ngờ. Thử nghiệm chính là thử máu để đo lượng kích thích tố giáp trạng serum throxine hay còn gọi là T4 trong máu. Lượng T4 này sẽ rất cao, đồng thời phải đo lượng TSH tức thyroid stimulating hormone, lượng này sẽ rất thấp.
         
        Thử hai lượng chất này trong máu sẽ cho biết định bệnh. Ngoài ra có thể làm thêm thử nghiệm như đi chụp hình tuyến giáp trạng bằng chất phóng xạ gọi là Thyroid scan đồng thời đo mức độ hấp thụ chất phóng xạ Iodine của tuyến giáp trạng gọi là radioactive iodine uptake. Hai thử nghiệm này cho định bệnh được bệnh bướu cổ Graves’s disease một cách chính xác.
         
        Chữa trị bệnh này có ba phương pháp chính: đầu tiên là dùng thuốc uống loại Propylthiouracil hoặc Methimazole để ngăn chặn sự tổng hợp kích thích tố giáp trạng. Các loại thuốc uống này phải dùng trong một thời gian lâu, có thể kéo dài từ một đến hai năm. Thuốc phải uống đều, nhiều lần trong ngày.
         
        Thuốc có thể gây nhiều phản ứng, một trong những phản ứng nguy hiểm là giảm lượng bạch huyết cầu nên phải theo dõi cẩn thận. Cách trị này có công hiệu khoảng 50%, có nghĩa là sau khi thấy bớt nhiều và ngưng thuốc, một nửa số bệnh nhân sẽ bị trở lại.
         
        Trường hợp của bà ở Việt Nam đã chửa trị là dùng một trong hai loại thuốc này, tuy nhiên sau khi ngưng thuốc bệnh vẫn còn và triệu chứng trở lại sau một thời gian.
         
        Cách chữa trị thứ nhì là giải phẫu, cắt bỏ một phần lớn tuyến giáp trạng, chỉ để lại một phần vừa đủ để giữ lượng kích thích tố giáp trạng bình thường. Tuy nhiên sau khi giải phẫu thường sẽ bị thiếu và phải uống thuốc kích thích tố để bồi bổ lại.
         
        Ngoài ra giải phẫu có thể có những biến chứng như chảy máu, liệt giây nói ở cổ ..v..v.. nên cần phải có y sĩ giải phẫu chuyên môn.
         
        Cách thông dụng nhất, đặc biệt cho người lớn tuổi là uống thuốc phóng xạ Iodine. Cách chữa này giản dị nhất vì chỉ cần uống một lần, thuốc phóng xạ được tích tụ lại trong tuyến giáp trạng sẽ làm tiêu hủy các tế bào của tuyến này, kết quả cũng tương tự như giải phẫu tuy không cần đến dao mổ.
         
        Điều khó khăn là tính cân lượng cho vừa đủ dựa trên kết quả chụp hình phóng xạ và thử nghiệm hấp thụ phóng xạ như đã nói ở trên. Thông thường uống thuốc phóng xạ Iodine để chữa sẽ giảm dần triệu chứng trong vòng một tháng và có thể coi như khỏi hẳn sau một thời gian. Tuy nhiên người bệnh chữa trị theo kiểu này phải thử máu theo dõi mỗi 6 tháng hay một năm để đo lưọng kích thích tố giáp trạng có thiếu hay không.
         
        Trung bình khoảng 50% bệnh nhân sẽ bị thiếu kích thích tố giáp trạng (hypothyroidism) trong vòng 10 năm sau khi chữa trị bằng chất phóng xạ. Những người này sẽ phải uống thuốc kích thích tố cả đời để bồi bổ lại.
         
        Tóm lại trường hợp của bà bị bệnh bướu cổ Graves’ disease cần phải thử nghiệm để định bệnh chính xác và cần phải chữa trị. Cách chữa trị có thể dùng một trong ba phương pháp đã nêu trên, sự lựa chọn sẽ tuỳ thuộc vào trường hợp của từng người bệnh sau khi bệnh nhân đã được giải thích cặn kẽ và cân nhắc lợi hại của từng cách trị liệu.
        #19
          Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 19 trên tổng số 19 bài trong đề mục
          Chuyển nhanh đến:

          Thống kê hiện tại

          Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
          Kiểu:
          2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9