Chân Dung Nàng - Robert Nathan
huytran 1 ngày và 14 giờ (permalink)
Người dịch: Hoàng Ưng, Trần Phong Giao
NXB Trẻ 1989

LỜI GIỚI THIỆU​

Robert Nathan sanh năm 1894 tại New York. Thuở nhỏ ông theo học trong nhiều trường tư tại Mỹ và tại Thụy Sĩ. Trong thời gian theo học Viện Đại học Harvard, ông làm chủ bút tờ nguyệt san của nhà trường, Harvard Monthly, trong đó ông có đăng một số bài thơ và truyện ngắn đầu tay.

Ngoại trừ hai thời kỳ ngắn ông làm cố vấn pháp luật cho một hãng quảng cáo thương mại tại New York và làm giảng sư tại Trường Báo chí thuộc Viện Đại học New York, Robert Nathan đã để trọn vẹn thời giờ chuyên tâm viết lách. Tới nay, ông là tác giả khoảng bốn mươi cuốn sách văn vần và văn xuôi, với số tác phẩm đáng kể đó ông đã được nổi tiếng như một bậc thầy duy nhất trong nền văn chương hiện đại Hoa Kỳ về loại văn trào phúng dị thường.

Truyện CHÂN DUNG NÀNG (Portrait of Jennie), một trong số những tác phẩm thành công nhất của Robert Nathan, xuất bản lần đầu năm 1939.

Cô bé và sau đó thiếu nữ Jennie phải chăng là một thi thần? Có phải nàng là một giấc mơ, một kỷ niệm, một bóng ma yêu dấu của thời quá vãng? Hay là nàng đã từ một thế giới nào khác bước chân vào thế giới của nghệ thuật, của chàng họa sĩ đánh mất niềm tin đặt vào cuộc sống? Chỉ có Adams mới ức đoán được lời giải đáp. Nhưng chàng hiểu điều đó, vì Jennie đã dám yêu chàng, nàng đã hòa trộn quá khứ và hiện tại vào trong một hiện thực tươi vui, tế nhị và kỳ diệu. Hiện thực đó là cuộc tình của hai người, một cuộc tình đẹp như thơ, như mộng — một cuộc tình có đượm nhiều phong vị mơ màng của liêu trai Đông phương.

Portrait of Jennie đã được đưa lên màn bạc với tài tử nổi tiếng Jennifer Jones đóng vai nàng Jennie. Sách và phim ảnh đều đã lưu lại trong lòng khách mến yêu nghệ thuật một niềm lưu luyến khó phai mờ.

Xuất hiện như một viên ngọc long lanh chiếu sáng trong bầu khí mịt mờ sương khói và ồn ào tiếng động của những ngày đầu cuộc đệ nhị thế chiến, Portrait of Jennie đã tồn tại sau nhiều biến cố, nhiều năm tháng, và đã được phiên dịch sang nhiều thứ tiếng: Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Miến Điện, Nhật Bản, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Nga...

Chân dung nàng là chuyện tình đắng cay trắc trở và đáng được lưu truyền. Chân dung nàng còn gợi cho người đọc nhiều nỗi suy tư dằn vặt. Ngày nào vấn đề tình yêu còn chập chờn trong con tim của giới trẻ, ngày đó tác phẩm của Robert Nathan còn đủ mãnh lực để lôi cuốn người đọc vào một niềm bí ẩn nghẹn thở, một chuyến đi kỳ thú — và đôi lúc kinh hoàng — sâu thẳm vào trong cõi sống.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 1 ngày và 14 giờ bởi huytran >
#1
    huytran 1 ngày và 14 giờ (permalink)
    CHƯƠNG I​

    Có một thứ đói hơn đói ăn khát uống, và chính đó là sự đói khát của tôi. Hồi ấy tôi nghèo lắm, họa phẩm của tôi chưa được đời biết tới; nhịn đói là thường; về mùa đông, rét run trong căn phòng làm việc nhỏ xíu ở phía tây thành phố. Nhưng chuyện đó chẳng đáng kể gì.

    Khi tôi bàn đến những khó khăn, tôi không hề nói đến chuyện đói rét. Có một nỗi đau khổ đối với người nghệ sĩ mà mùa đông hay sự nghèo túng cũng chẳng thấm thía vào đâu; đó là mùa đông của tâm linh, trong đó nguồn sống của tài năng, nhựa sống của sáng tạo, hình như đã cóng lại, bất động, ngưng trệ — có lẽ vĩnh viễn rồi — trong một mùa đầy tử khí; và không biết rồi đây mùa xuân có trở lại để giải thoát hay không?

    Không phải chỉ tại tôi không bán được họa phẩm - chuyện này đã từng xẩy ra cho nhiều họa sĩ tài danh và cả những bậc thiên tài nữa, trước đây. Nhưng chính vì tôi không tự khai thông nổi những điều ẩn ức tích tụ nơi đáy lòng. Tôi muốn vẽ gì chăng nữa: chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, chúng đều khác hẳn điều tôi muốn nói lên — khác hẳn sự hiểu biết của tôi. Hiển nhiên như tên tôi là Eben Adams, có một cái gì tôi thực tình muốn nói lên giữa cõi đời, với mọi người qua cây cọ vẽ của tôi.

    Tôi không thể nói rõ với quí vị cái giai đoạn ấy như thế nào; bởi vì nỗi khổ tâm nhất của nó là một sự day dứt khó diễn tả thành lời. Tôi nghĩ rằng hầu hết các nghệ sĩ đều trải qua tâm trạng tương tự như vậy; sớm muộn đối với họ không chỉ có vấn đề sống, vẽ, đủ ăn hay gần đủ ăn thôi đâu. Sớm muộn Thượng đế sẽ đặt câu hỏi ác liệt: Nghệ sĩ! ngươi phụng sự ta hay chống đối ta? Và lúc đó người nghệ sĩ sẽ phải trả lời sao đó, hoặc chàng sẽ thấy lòng mình tan nát vì không biết ăn nói làm sao.

    Một buổi chiều đông năm 1938 tôi băng qua công viên trên đường về nhà. Hồi đó tôi còn trẻ hơn bây giờ nhiều; nách cắp một xấp nặng tranh vẽ, chân bước chậm chạp vì mệt. Một lớp sương ẩm chiều đông vờn qua tôi, rồi sà xuống lan trên thảm cỏ, trôi xuôi theo con đường đi dạo, vắng lặng vào giờ ấy. Những đứa trẻ thường tới chơi đùa ở nơi đây đã về cả rồi, để lại những vòm cây đen tối, trơ trụi và những dẫy băng ẩm, lấm chấm sương khuya. Tôi chuyền xấp tranh qua nách bên kia; xấp tranh nặng nề, cồng kềnh, nhưng tôi không có tiền để đi xe.

    Suốt ngày này, qua ngày khác, tôi ráng bán lấy vài bức họa — nhưng không nổi. Một tình cảm ê chề xâm chiếm thân tôi mất một lúc, thật là khiếp sợ sự nhẫn tâm của cuộc đời! Không những nó hờ hững đối với cơn đói, niềm tủi hận của một người, mà còn vô tình với chính sự sống trong con người ấy nữa. Mỗi ngày lòng can đảm buổi đầu mỗi sút giảm; đến bây giờ thật là kiệt quệ, như cát rỉ qua trôn ly dùi lỗ.

    Khuya hôm đó tôi tuyệt vọng hết sức, tiền không có bạn không có, đói, lạnh, mệt lả, không còn hy vọng gì nữa, không còn biết trông cậy vào đâu. Đầu tôi choáng váng vì thiếu ăn. Tôi băng qua đường, và bắt đầu đi xuôi theo lối đi dạo dài hun hút, vắng tanh.

    Trước mắt tôi, những dãy đèn đều đặn cách quãng tỏa ánh sáng vàng trong bầu không khí mờ hơi sương; tôi nghe tiếng bước chân mình khô lạnh nện trên hè phố; và sau lưng tôi có tiếng xe cộ tấp nập về nhà vào lúc ngày tàn. Những tiếng động của thành phố nghe mờ ảo, xa xôi, như vọng lại từ một thời nào, một nơi nào của quá khứ, như tiếng của mùa hè, của đàn ong lượn trên bãi cỏ từ lâu lắm rồi. Tôi tiếp tục bước, như đang đi qua những cánh cửa vòng cung lặng lẽ của rnột giấc mộng nào đấy. Thân tôi nhẹ nhàng, mất hết trọng lượng, tợ hồ như tạo bằng không khí ban chiều.

    Cô bé gái đang thơ thẩn chơi một mình giữa lối đi cũng không gây nên tiếng động nào. Cô bé chơi nhảy lò cò; cô nhảy bổng lên, hai chân tách dạng, rồi lại rơi xuống nhẹ như lông hồng.

    Tôi dừng lại ngó cô, vì tôi ngạc nhiên bắt gặp cô ở đó có một mình. Không có bóng dáng một đứa trẻ nào khác, chỉ có lớp sương và hai dãy đèn dài, đều đặn, chạy vút tới khoảng đất trống và hồ nước. Tôi ngó quanh kiếm người vú nuôi, nhưng những băng đá đều trống trơn. "Khuya lắm rồi," tôi nói. «Em không về nhà ư?» Tôi tin là giọng tôi thân thiết lắm. Cô bé nhảy thêm một bước nữa, rồi dừng lại; nhưng thoạt đầu cô chỉ ngoái cổ lại nhìn tôi. «Muộn rồi à?» cô hỏi. «Em có biết giờ giấc gì đâu.»

    « Ừ,» tôi nói, «muộn rồi.»

    « Vâng,» cô nói, «nhưng em cũng chưa cần về,» rồi cô tiếp giọng rất thành thực.

    «Chẳng có ai chờ em cả.»

    Sau cùng tôi quay đi, tự nghĩ, «việc gì đến mình?» Cô bé đứng thẳng người lên, vuốt mớ tóc đen xòa trên mặt, cài xuống dưới vành mũ vải. Đôi cánh tay cô ta nhỏ bé, chúng cử động mau lẹ, nhẹ nhàng. «Thôi để em đi với ông một quãng, nếu ông không quản ngại,» cô nói. «Có một mình ở đây buồn quá.»

    Tôi nói không sao cả, và chúng tôi cùng đi men theo lối đi, giữa những băng đá trơ trọi. Tôi tiếp tục nhìn quanh xem có ai là thân quyến của cô bé không, nhưng tuyệt nhiên không thấy. «Em chơi có một mình ư?» Một lúc sau tôi hỏi «Không có ai coi em à?»

    Cô bé thấy mấy vệt phấn do một đứa trẻ khác vẽ để lại, bèn ngừng lại nhảy qua. « Không,» cô đáp. «Làm gì có ai?»

    « Dầu sao,» một lúc sau cô bé nói tiếp, «cũng có ông đi với em,»

    Và vì một lý do xem ra đủ chính đáng đối với cô ta, cô bé muốn biết tôi đựng gì trong xấp giấy. Khi tôi nói là tranh, cô bé gật đầu một cách thỏa mãn. «Em biết đúng là tranh mà, » cô bé nói. Tôi hỏi sao cô biết, « Ô biết chứ, » cô bé đáp.

    Làn sương ẩm đuổi theo chúng tôi, lạnh buốt, có khí vị mùa đông lẩn quất. Vì suốt ngày chưa ăn gì, tôi thấy mọi vật đều kỳ dị cả, tôi nghĩ, đi trên lối đi dạo với một con nhỏ cao chưa tới khuỷu tay. Tôi tự hỏi mình có thể bị bắt vì hành động này không; tôi nghĩ, trong trường hợp bị xét hỏi, thì ngay đến tên cô bé mình cũng không biết.

    Cô bé yên lặng một hồi lâu như mải đếm số băng đá. Nhưng chắc là đoán được ý nghĩ của tôi, nên vừa tới băng thứ năm thì cô bé xưng tên không đợi tôi hỏi, « Tên em là Jennie, xin thưa để ông rõ. »

    «Jennie, » tôi lập lại giọng hơi quỷnh. «Jennie gì cơ chứ?» »

    « Jennie Appleton,» nàng đáp. Cô bé kể rằng cô sống với ba má trong một khách sạn, nhưng cô không mấy khi gặp. «Ba má em đều là diễn viên cả,» cô tiết lộ. «Ba má trình diễn ở Hý viện Hammerstein. Ba má múa rối trên dây.»

    Cô bé ngừng nói một hồi; rồi cô xích lại bên tôi - nắm lấy tay tôi. «Ba má ít khi có nhà,» cô nói. « Vì còn mắc trình diễn. »

    Nhưng có chuyện khiến tôi thắc mắc đây. Đợi một chút, tôi tự nhủ... ráng đợi một chút,.. rồi tôi bỗng nhớ ra. Lẽ dĩ nhiên — Đầu đuôi là thế này: Hý viện Hammerstein bị thiêu hủy từ nhiều năm trước, từ hồi tôi còn nhỏ.

    « Thôi được, » tôi nói, « không sao... »

    Bàn tay cô gái rắn chắc, ấm áp nằm trong bàn tay tôi, thế là đủ rồi; nàng không phải là yêu ma, và tôi sống trong ảo mộng. « Em đi học, » cô bé khoe. « Nhưng chỉ đi buổi sáng thôi. Em còn nhỏ quá chưa đi học hai buổi được. »

    Tôi nghe tiếng cô bé thở dài đầy vẻ lo âu trẻ con, nhẹ như hơi thở. «Em chẳng được học môn gì thích thú cả,» cô nhận xét. «Lúc nào cũng hai với hai là bốn, hay đại khái như vậy. Khi nào em lớn lên, em sẽ được học địa lý, sử ký về vua Kaiser, vua nước Đức.»

    «Đúng» tôi đáp giọng nghiêm trọng. «Nhưng từ lâu rồi»

    « Em nghĩ là ông lầm ». Jennie nói. Cô tự tách xa tôi, mỉm cười một mình về một chuyện gì đó, «Con Cecily Jones học ở lớp em. Em đánh được nó, em khỏe hơn nó, nhất định là em đánh được nó. Nó còn nhỏ xíu à »

    Cô bé yên lặng một lát rồi lại nói tiếp « Kể có người chơi với cũng vui. »

    Tôi ngó xuống nhìn cô bé : cô ta bận đồ theo lối xưa, một chiếc áo khoác, chân đi ghệt, đầu đội nón vải. Họa sĩ nào đã vẽ trẻ nít giống thế này nhỉ ? Henri? Brush? Một trong số những họa sư cổ điển... Trong viện Bảo tàng có một bức họa chân dung con gái một vị nào, treo trên tường, lối lên cầu thang. Nhưng con nít thời nào cũng ăn vận tương tự như vậy. Cô bé này xem chừng it chơi đùa với trẻ cùng lứa tuổi.

    Tôi đáp đúng lắm, có người cùng chơi hẳn sẽ vui.

    « Thế có ai chơi với ông không ? » cô hỏi.

    « Không, » tôi đáp.

    Tôi có cảm tưởng như cô bé ái ngại cho tôi, nhưng đồng thời cũng hoan hỷ vì tôi không có ai ngoài cô ta để làm bạn. Điều này khiến tôi mỉm cười, những trò chơi của trẻ nhỏ rất thật, tôi tự nghĩ, bởi vì trẻ nhỏ dễ tin. Chúng tôi đi đến một đoạn đường có vết đất nứt rạn ngoằn ngoèo, cô bé co một chân lên nhẩy lò cò qua hết vết nứt. «Em biết hát một bài, » cô nói. «Ông có muốn nghe em hát không? »

    Và không đợi tôi trả lời, ngước mắt nhìn tôi qua vành nón vải, cô hát giọng rõ ràng, mạch lạc:


    Tôi từ đâu đến
    Nào có ai hay;
    Tôi đi về đâu
    Mọi người đều đến
    Gió thổi
    Nước trôi
    Nào có ai hay.






    Bài ca làm tôi sững sở, không phải bài ca tôi mong đợi. Tôi không biết đã chờ đợi gì — một bài hát ru em hay một bản dân ca đang thịnh hành; những đứa nhỏ mà cha mẹ là ca kịch sĩ đôi khi hát những bài tình ca, « Ai dạy em bài ấy ?» Tôi bỡ ngỡ hỏi.

    Nhưng cô bé chỉ lắc đầu, đứng sững lại nhìn tôi « Chẳng ai dạy em cả,» cô nói. « Vì là bài hát mà. »

    Chúng tôi đã tới cuối lối đi chỗ vòng tròn lớn, tôi phải rẽ theo tay trái, băng qua đường lộ, và ra lối cửa tây. Chiều đông bao phủ chúng tôi trong làn sương khuya, trong sự cô quạnh và trong im lìm, những vòm cây ẩm ướt đứng sững đen tối, trơ trụi bao quanh chúng tôi, và từ thành phố xa xôi những nốt nhạc chìm vọng lại rồi lại tan biến vào thinh không.

    « Thôi chào em nhé, » tôi nói «bây giờ tôi phải về. » Tôi đưa tay bắt, cô bé trịnh trọng nắm lấy. «Ông có biết em thích nhất trò chơi nào không?» cô hỏi, « Không, » tôi đáp.

    « Đó là trò ước.»

    Tôi hỏi cô bé ước gì hơn cả.

    «Em ước ông đợi em đến ngày em trưởng thành, » cô nói. « Nhưng em đoán ông chẳng đợi đâu.»

    Một lúc sau cô bé quay lại đi ngược lối đi cũ. Tôi đứng lại ngó theo, nhưng chỉ một lát tôi không nhìn thấy cô ta nữa.

    Về đến nhà tôi hâm lại hộp xúp trên chiếc bếp điện, và cắt một khoanh bánh, một miếng phó-mát. Loại đồ ăn này tuy nặng bụng, nhưng tôi thấy dễ chịu hơn nhiều. Rồi tôi mở xấp tranh ra, trải trên sàn nhà, dựng vào tường ngắm lại. Toàn là phong cảnh miền Tân Anh Cát Lợi (1): Mỏm Cod, những ngôi giáo đường, những chiếc thuyền, những ngôi nhà xưa... phần lớn là tranh thủy thái họa, chỉ có ít bức họa đường nét thôi. Nhưng không có bức nào lấy thành phố làm đề tài... Kể cũng lạ là tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ấy...

    Tôi ra đứng trước cửa sổ, nhìn ra ngoài. Chẳng nhìn thấy nhiều lắm, một dẫy dài những mái nhà có ống khói, đen ngòm, nhìn không rõ nét, một vài cánh cửa sổ có đèn sáng, về hướng bắc có mấy ngôi building lớn mờ tối, nổi bật trên vòm trời. Nhưng rõ rệt hơn cả là bầu không khí ẩm, lạnh của tiết đông, thứ không khí nặng nề, mộc mạc của miền duyên hải. Một chiếc tàu kéo hàng hú còi trong bãi vịnh ; tiếng hú buồn thảm, bí hiểm vươn qua những mái nhà, lan tràn trên tiếng động rì rầm không ngớt của thành phố như đôi cánh hải điểu lượn lờ trên dòng sông. Tôi tự hỏi sao mình chưa nghĩ tới việc dùng thành phố làm đề tài nhỉ.. Tôi có thể vẽ những bức tranh chỉ về dòng sông, tôi nghĩ, nếu tôi lột tả được sắc thái lạnh lẽo của bầu trời. Và cả dãy building ở phía nam công viên, buổi chiều tà — nếu tôi tạo được màu xanh đậm chính xác của ngọn nủi. Nhưng suốt khoảng thời gian ấy, nơi thâm tâm tôi, tôi vẫn tưởng nhớ tới cô bé vừa gặp trên lối đi dạo nơi công viên. Tôi đi về đâu, nào có ai hay; gió thổi, nào hỡi ai hay. Một bài ca ngắn kỳ lạ, chẳng có cung điệu thành khó quên nổi, sự thiếu cung điệu lại chính là nét đặc biệt của bài ca.

    Tôi liên tưởng đến lời nói cuối cùng cô bé bảo tôi, trước khi cô quay gót bước đi. Nhưng người ta đâu có thể đợi nhau tới lúc trưởng thành; hai bên cùng lớn dần, song song với nhau, bén gót nhau, người này chẳng khác gì người kia; họ cùng là con nít, rồi cùng trở thành lão nhân; cùng đi đến một chỗ hẹn trước — là giấc ngủ, là thiên đàng, tôi đâu có biết.

    Tôi rùng mình; chiếc lò sưởi lớn màu xám, đầy cáu bụi đặt trước cửa sổ chỉ còn hâm hâm nóng. Tôi phải báo cho bà chủ Jekes biết mới được, tôi nghĩ vậy. Nhưng bỗng tôi cảm thấy buồn bã, như thể có ai vừa kể cho nghe một câu chuyện cũ thương đau. Thôi đêm nay cũng chẳng nên cố gắng làm thêm nữa; tôi lên giường để níu giữ lại chút lòng can đảm.
    Chú thích

    (1) New England: Miền Đông Bắc Hoa Kỳ, bên bờ Đại Tây Dương; nơi đầu tiên tổ tiên người Mỹ đến lập nghiệp.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi huytran >
    #2
      huytran 1 ngày và 14 giờ (permalink)
      CHƯƠNG II 
       
      Tôi lại thiếu tiền nhà. Tôi nghĩ bà Jekes đã yêu cầu tôi dọn đi, nếu bà đã tìm được người thuê nhà khác; nhưng chẳng ma dại nào thèm mướn căn phòng tôi đang ở, đồ đạc gẫy nát, trần nhà bụi bặm lớp lớp bám đầy như thời gian. Mặc dầu căn phòng tồi tàn như vậy, hễ tôi nhắc tới chuyện hơi sưởi là bà lại tỏ vẻ bực bội. «Đây không phải là khách sạn, bà nói, với cái giá rẻ mạt cậu trả, tôi làm gì nổi». Giọng quyết liệt, bà nói tiếp: «Thế bao giờ cậu mới tính trả tiền tôi đây.» 
       
      Tôi vốn sợ gặp bà ta. Bà đứng sững trước mặt tôi, miệng mím chặt, đôi bàn tay mỏng chắp trước bụng và cái nhìn của đôi mắt làm như bà nhìn thấu tâm can tôi, xoáy vào tương lai và thấy nó cũng vô vọng như quá khứ. Quý vị có thể ngạc nhiên hỏi sao tôi không dọn quách đi nơi khác, nhưng sự thực là tôi không có chỗ nào khác để đi. Những căn gác xép mướn giá rẻ rất khó kiếm; và ngoài ra hầu như lúc nào tôi cũng chậm trả tiền nhà, và trong những ngày ấy tôi chán nản nghĩ rằng đi đâu cũng vậy thôi nên đành ở lại. 
       
      Vào thời ấy khủng hoảng xảy ra khắp nơi. Những mối hận thù đụng độ, ác liệt ngay trên đỉnh đầu chúng ta, như những trận giao tranh trên thiên giới giữa các đẳng thiên thần và loài ác quỷ hồi mới khai thiên lập địa. Thế giới của họa sĩ là thế giới nào nhỉ! Blake, Goya, những tay danh họa, có thế giới riêng của họ. Còn tôi thì không. Tỏi không phải là người này, mà cũng không là người nọ, không thần bí mà cũng không cách mạng; đối với người trước, trong tôi còn quá nhiều ảnh hưởng của người cha gốc miền Trung Tây (1), và đối với người sau thì còn ảnh hưởng của bà ngoại gốc miền Tân Anh Cát Lợi (2). Ấy thế mà vòm trời của họ lại đã sáng láng niềm tin. 
       
      Tôi nghĩ rằng bà Jekes đä cảm phục những bức họa của tôi, mặc dầu bà chưa hề nói lên điều ấy. Bà thường đứng ngắm, môi mím chặt, vòng tay khoanh lại; đã có lần bà nhận một bức sơ họa một tỉnh lị bên dòng sông Pamer ở Truro để trừ một tuần tiền nhà. Bây giờ thì đắt hơn nhiều, tôi đoán vậy, nhưng tôi không biết bà ta có biết thế không. Tôi cũng không biết bà ta tìm thấy gì trong đó — một kỷ niệm nào đó, có lẽ, của những ngày nhiều nắng. Trong đó, tôi cố miêu tả vẻ cô tịch của mùa hạ, vẻ thanh bình của dòng sông trôi, vẻ lặng lờ của những chiếc thuyền len lỏi trong những khóm cỏ nước. Có thể bà ta nhận ra điều đó — hay mang máng nhận thấy; tôi không được rõ. 
       
      Bà không thèm lưu ý tới những bức tranh tôi vẽ thành phố. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy những bức tranh này nhắc cho bà ta câu chuyện cũ rích - quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có cái thành phố trong đó bà sa lầy như con ruồi sa phải đĩa mật. Bà ta để ý đến vòm trời hanh lạnh trên dòng sông, hay ngọn núi xanh đằng sau những con đường lộng gió, có bóng cây, làm gì. Chúng quen thuộc đối với bà ta quá rồi; suốt đời bà phải sống với chúng.  
       
      Nhưng tôi thấy tràn đầy hy vọng; hy vọng đủ ba ngày. Sau đó tôi lại nhận ra rằng kể cả tranh vẽ thành phố cũng chẳng bán được.  
       
      Vào ngày thứ tư buổi xế chiều, một khúc rẽ quan trọng đã đến. Chính lúc đó thì tôi không nghĩ là khúc quanh; đối với tôi chỉ là một chút may mắn, không hơn không kém. 
       
      Lúc đó tôi đang trên đường về, nặng nề lê gót qua đường phố, xấp tranh cồng kềnh dưới nách, tôi chợt thấy mình đứng trước phòng triển lãm hội họa Mathews. Tôi chưa đặt chân vào đó lần nào. Đây là một phòng tranh nhỏ hồi ấy nằm trên một phố nhánh thông ra Đại lộ số Sáu. Bữa đó đang có cuộc trưng bày tác phẩm của một họa sĩ trẻ tuổi — phần lớn vẽ chân dung và hoa; và vì đôi chút tò mò tôi bước vào. Tôi đang nhớn nhác nhìn quanh thì ông Mathews tiến lại phía tôi, ông hỏi tôi cần gì. 
       
      Bây giờ thì tôi quen với ông Henry Mathews, tôi biết tường tận về ông. Thực vậy, chính ông đã bán bức Người thiếu nữ áo đen của tôi cho viện Bảo tàng Metropolitan cách đây sáu năm. Tôi biết ông vừa hiền lành vừa nhút nhát; đương nhiên là ông bực mình khi thấy tôi tiến vào, vì ông biết ngay tôi không phải là khách mua tranh. Lúc đó khá muộn rồi, ông muốn đóng cửa hàng, nên ông cần phải tống khứ tôi ngay. Cô Spinney quản lý gian hàng thay ông hồi đó, chính cô ta cũng về rồi, nếu không ông đã phái cô ta ra để tiếp chuyện tôi. Cô mới là tay thành thạo khi giao tiếp với họa sĩ muốn bán hàng cho ông. 
       
      Ông từ phòng giấy nhỏ bé, ở cuối gian triển lãm bước ra, gượng gạo mỉm cười. «Dạ thưa ông,» ông lên tiếng. «Chúng tôi có thể làm gì hầu ông đây?» 
       
      Tôi đưa mắt nhìn ông, rồi lại đưa mắt nhìn xấp tranh kẹp dưới nách. Việc gì mà phải ngượng ngập. Tôi đáp: «Tôi không biết ông có thể mua giùm tôi một bức tranh nào không?» 
       
      Ông Mathews đưa tay lên che miệng khẽ ho. «Tranh phong cảnh à» ông hỏi. 
       
      « Dạ vâng,» tôi đáp, «phần lớn là phong cảnh.» 
       
      Ông Mathews lại hắng giọng; tôi biết ông muốn bảo tôi rằng, Anh bạn trẻ ơi, không ăn giải gì rồi. Nhưng ông không đủ can đảm nói thẳng; vì ông vốn sợ nhìn thấy đôi mắt người khác khi bị ông khước từ. Nếu cô Spinney chưa về cô ta đã vắn tắt bảo tôi đi làm ăn nơi khác. 
       
      «Vậy à,» giọng ngờ vực ông nói. «Tôi không rõ nữa. Đương nhiên là ở đày chúng tôi mua ít lắm... hầu như chẳng mua gì.. nhất là thời thế này.. Nhưng dầu sao cậu cũng để tôi xem qua một chút. Phong cảnh ! Hừm,.. dở quả.» 
       
      Tôi cởi dây buộc xấp tranh ra, và dàn lên mặt bàn. Tôi chẳng hy vọng gì, nhưng dầu sao có dịp trình bày tác phẩm của mình, cũng là đáng kể rồi. Không khí trong phòng triển lãm ấm áp, trong khi đó tôi vừa rét vừa mệt. «Đây là mấy bức tranh nhìn từ đỉnh Cape Cod xuống.» Tôi nói. «Đây là mấy chỗ đánh cá ở vịnh Bắc Truro. Đây là mỏm Cornhill. Còn đây là ngôi thánh đường ở Mashpee.» 
       
      «Toàn phong cảnh,» ông Mathews buồn bã nói. 
       
      Tất cả sự mệt nhọc, sự đói lạnh, sự chờ đợi lâu dài và niềm tuyệt vọng trào lên chặn lấy cổ họng tôi, và tôi lặng đi không nói được hồi lâu. Tôi muốn vơ lấy những bức tranh của mình rồi bỏ đi. Thay vì làm như vậy tôi lại lải nhải «Đây có vài bức phác họa cảnh thành phố. Đây là cây cầu — » 
       
      «Cầu nào?» 
       
      « Cầu mới,» tôi đáp. 
       
      Ông Mathews thở dài. «Tôi ngán nó muốn chết. » Ông nói.
       
      «Và đây là phong cảnh công viên hướng Nam... » 
       
      «Khả trợ hơn.» Ông Mathews nói giọng chán nản. Ông ráng làm bộ không thất vọng nhưng tôi biết là ông không sung sướng gì. Dường như ông đang cố tìm xem phải nói với tôi điều gì. Không sao, tôi tự nghĩ. Có gì đâu sao ông không nói thẳng ra. Cứ việc đuổi tôi ra, ông không ưa nổi bức nào cả.  
       
      «Đây là khu hồ có đàn vịt được chăn nuôi...» 
       
      Bỗng đôi mắt ông ánh lên, ông với tay vồ lấy xấp tranh. «Đây rồi,» ông kêu lớn tiếng, «tranh gì đây?»  

      Đến lượt tôi, tôi tò mò nhìn bức tranh trên tay ông. «Sao vậy» giọng ngớ ngẩn tôi nói, «có gì đâu — đây là vài nét phác họa — đây chỉ là đứa con gái bé nhỏ tôi gặp trong công viên. Một kỷ niệm mà tôi ráng ghi lại bằng trí nhớ... Tôi không biết là mình đã mang nó theo.» 
       
      «A,» ông Mathews nói một cách vui vẻ. «Thế mà bức này mới thật là khác hẳn. Khá, khá lắm, cậu có biết vì sao tôi lại thích bức này không? Tôi tìm thấy quá khứ trong đó đấy. Thực vậy — thưa cậu, tôi nhớ trước đây đã có lần nhìn thấy con nhỏ này, ở đâu đó, tôi thật không nhớ nổi là ở đâu nữa.» 
       
      Ông ta giơ bức tranh ra trước mặt; rồi ông dựng vào chân tường, lùi lại ngắm rồi lại tiến lên. Ông có vẻ vui hẳn lên; tôi có ý nghĩ là ông sung sướng vì không phải mời tôi ra mà chẳng mua gì. Tim tôi bắt đầu đập, hai bàn tay tôi run lên. 
       
      «Đúng,» ông nói, «có một điểm nào đó nơi đứa trẻ nhắc tôi nhớ đến một chuyện gì lạ. Đây có phải đứa trẻ của Brush vẽ treo ở viện Bảo tàng không nhỉ?» 
       
      Tôi thở dồn dập; trong một lúc tôi như thấy lại tính chất mơ màng của buổi đi đạo trong sương mờ bên Jennie trong công viên. «Đây không phải là một bản sao» ông vội giải thích. «Cũng không phải đứa trẻ ấy; bút pháp thì chắc chắn là của cậu rồi. Có điều là bức nọ làm tôi liên tưởng đến bức kia.» 
       
      Ông nhanh nhẹn đứng thẳng người lên. «Để tôi mua bức này,» ông nói. Nhưng ngay sau đó mắt ông sa xuống, và tôi có thể thấy ngay ông băn khoăn vì không biết nên trả tôi bao nhiêu. Tôi cũng biết là bức họa chẳng đáng là bao, vài nét sơ sài theo lối vẽ thủy mạc... Nếu ông trả tôi theo đúng giá trị của nó, chắc không đủ để ăn một bữa kha khá. Bây giờ nhớ lại truyện ấy, tôi chắc là ông cũng nghĩ như tôi. 
       
      «Này anh bạn trẻ,» ông hỏi, «tên anh là gì nhỉ?» 
       
      Tôi khai tên. 
       
      «Được, anh Adams, tôi nói sao thì làm vậy. Tôi lấy đứa con gái — và cảnh công viên — và trả anh 25 mỹ kim cả hai bức đó.» 
       
      Lần này thì tay tôi run bắn lên. 25 mỹ kim... Số tiền lớn lắm đối với tôi hồi ấy. Nhưng tôi không muốn tỏ ra sốt sắng quá. Mình có thiệt thòi gì đâu trong lúc cố gắng lừa phỉnh một người đã nhìn rõ tâm can mình rồi. 
       
      «Dạ vâng,» tôi đáp, «ông tính thế là được rồi.» 
       
      Trước khi ông trở lại bàn giấy lấy tiền trả tôi, ông rút một tập giấy nhỏ trong túi ra và viết lên đó mấy chữ. Tôi liếc mắt đọc vì ông để xấp giấy ngửa trên mặt bàn. Tập giấy có lẽ là sổ xuất nhập của phòng tranh, vì nó có hai cột số, một bên ghi Bán, một bên ghi Chi. Dưới chữ Bán ông ghi: 1 tranh khắc, cảnh sông nước, của Marin, ấn bản kỳ hai, $35; một ấn phẩm màu, hoa xanh, của Cezanne, $7.50; một thạch bản, Công viên, của Sawyer, khung bằng gỗ lê, $45. 
       
      Dưới cột Chi ông viết: 
       
      Cơm trưa, có la-de - $0. 80
      Xì-gà  .10 
      Chải mũ .10 
      Xe buýt (đi, về) .20 
      Tem thư .39 
      Họa sĩ Spinney 5.00 
      Phù hiệu đeo trên mũ 
      của hội cựu chiến binh  .10
      2 tranh mầu, Adams 15.00
       
      Lòng tôi se lại mất một lúc, vì tôi nghĩ là ông ta bảo 25 mỹ kim. Nhưng trước khi tôi có đủ thời giờ để lại đau xót thêm nữa thì ông ta đã trở lại với số tiền đầy đủ, hai tấm giấy 10 đồng và một tờ 5 đồng. Tôi ấp úng cảm ơn nhưng ông gạt đi. «Không phải cám ơn,» ông nói «biết đâu rồi ra tôi lại chẳng phải cảm ơn cậu đấy.» 
       
      Ông e dè mỉm cười. «Điều buồn chán là,» ông nói, «không ai vẽ lại buổi đương thời. Không ai vẽ lại thời đại mà chúng ta đang sống». 
       
      Tôi lầu bầu nhắc đến tên Penton và John Steuart Curry. «Không phải,» ông nói, «chúng ta không thể khám phá nổi cái sắc thái của thời đại bằng cách ngắm nhìn một bức tranh phong cảnh.» 
       
      Tôi bắt giựt mình khi nghe tiếng ông ho có vẻ không tán thành. «Để tôi nói cho cậu nghe, cậu Adams à,» ông nói. «Để tôi cho cậu vài lời khuyên. Thế giới này thiếu gì phong cảnh; ngày nào tôi cũng nhận được hàng lố. Cậu về vẽ cho tôi bức chân dung đứa con gái nhỏ ở Công viên đi. Tôi sẽ mua tranh đó. Bao nhiêu tranh loại đó tôi cũng mua hết. Đừng thèm để ý đến những cây cầu; thế giới đầy dẫy những cầu. Ráng vẽ một bức chân dung thật vĩ đại, và tôi sẽ làm cho cậu trở thành nổi tiếng.» 
       
      Vỗ lên vai tôi một cách dụt dè, ông tiễn tôi vào khí lạnh mùa đông, xanh xanh dưới bóng hoàng hôn. Nhưng tôi không còn biết trời đang mùa đông hay là mùa gì. Hai-mươi-lăm mỹ kim... 
       
      Mãi đến sau này tôi mới tìm ra ý nghĩa của con số 15 ghi trong cột Chi. Đó là thực giá theo ông, ông sợ sáng hôm sau cô Spinney sẽ cằn nhằn ông. Ông đã có ý trả số sai biệt bằng riêng tiền túi của ông.
       
         Chú thích
       
      (1) Miền Trung Tây (Middle-West) : miền đồng cỏ, nơi hoạt động của những tay anh hùng hảo hớn; lưng ngựa, tay súng; dân chúng thực tế tháo vát.
       
      (2) Miền Tân Anh Cát Lợi (New England) : nơi tồn tại những truyền thống lâu đời. Dân chúng bảo thủ. 

       
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi huytran >
      #3
        huytran 2 giờ (permalink)
        CHƯƠNG III
         
        Lòng nhiệt thành của tuổi trẻ thật dễ khích động, tôi tưởng mình thành công rồi và tôi muốn người đời cùng chia xẻ. Ngay đêm hôm ấy tôi đi ăn tại nhà hàng Alhambra do ông Moore làm chủ, trên đại lộ Amsterdam. Vì đấy là phần thưởng khá nhất mà tôi có thể tự thưởng cho niềm vinh quang lớn lao của tôi. Lúc tôi bước vào, bác Gus Meyer, chủ chiếc xe tắc-xi thường đậu ở góc đường tại khu phố chúng tôi, đang ngồi ở bàn trong, giơ tay vẫy tôi. «Ê, Mack», bác la lên, «lại đây ngồi.» Ai bác cũng kêu là Mack cả ; đối với bác có ngụ ý bác chẳng có chuyện riêng tư gì nói với họ, hay nói khác đi, bác ưa thích họ.
         
        « Sao?» bác hỏi, sau khi tôi yên vị, «làm ăn khá chứ?» Bác ngồi trước một dïa cẳng heo lớn và một ly la-de. «Món nhậu đặc biệt bữa nay đấy, » bác nói, «gọi thử một đĩa chơi».
         
        Fred, tên bồi bàn nhỏ con trong hai chú bồi, tiến lại và đợi tôi kêu đồ ăn. «Cũng khá,» tôi đáp lời bác Gus. «Tôi vừa bán được hai bức tranh cho một phòng triển lãm».
         
        Chiếc nĩa dừng lại giữa chặng đường lên miệng, bác há hốc mồm nhìn tôi. «Anh nói là anh vừa kiếm được tiền à?» bác hỏi,
         
        Bác đặt nĩa xuống, lắc đầu một cách thán phục. «Tôi biết là thế nào rồi anh cũng làm ăn được mà,» bác nói. «Nhưng đừng phí phạm nghe không. Gửi ngân hàng ngay đi, đọc quảng cáo khắc biết,»
         
        Tôi bảo rằng số tiền này dành trả tiền nhà cũng đã gần hết rồi, bác tỏ vẻ ái ngại cho tôi. «Nghệ sĩ thì kiếm chẳng được là bao.» Bác nhận xét để an ủi tôi. «Giống tình cảnh tôi, chẳng hy vọng ăn nên làm ra được.»
         
        Bác bình thản nhìn vào đĩa đồ ăn của bác. «Có lần tôi để dành được sáu trăm đô-la,» bác nói. «Nhưng tôi lại tiêu hết.»
         
        Như để tự bào chữa, bác nói tiếp, «Tôi có cho bà già được đôi chút.»
         
        Rồi bác lại tiếp tục ăn, với dáng điệu coi như vấn đề đã giải quyết xong.
         
        «Giò heo ngon đặc biệt», bác tuyên bố.
         
        Chúng tôi cùng yên lặng ngồi ăn một lúc. Ăn xong bác dẹp đĩa trống sang một bên, với chiếc tăm gỗ đựng trong cái ly để trên bàn, ngửa người về phía sau để thả mình vào trong hồi tưởng và suy nghĩ.
         
        «Có một ngày kia», bác nói với giọng nghiêm trang, «giò heo không có mà ăn, la-de không có mà uống. Lúc đó thì tôi chẳng lại đây làm gì nữa.»
         
        «Hôm nay đâu tôi có muốn lại đây,» tôi nói, «nhưng rồi cũng lại.»
         
        Bác đáp: «Anh không thể làm khác được. Anh đến đây, và anh ngồi lại đây. Thế là thế nào? Tôi lẩm cẩm tự hỏi.»
         
        Bác ngắm nhin que tăm giây lâu, chăm chú. «Nhưng tôi không tìm ra câu trả lời,» bác tuyên bố. «Anh sinh ra trong sự nghèo túng, và anh sẽ chết trong sự nghèo túng; và nếu anh kiếm được chút ít, thiên hạ lại tìm cách cướp mất,» 
         
        Tôi trả lời rành mạch rằng, có người lúc sinh ra nghèo nhưng lúc chết rất giầu. «Thì họ lại gặp những khó khăn khác,» bác Gus cãi. «Tôi chẳng ghen với họ. Tôi chỉ mong có một cuộn bô-bin mới để chạy xe thôi. Xe pháo cứ trục trặc hoài»
         
        «Tôi thì tham vọng hơn nhiều,» tôi đáp.
         
        «Anh lầm rồi,» bác cãi. «Có lần tôi có cả 600 đô-la rồi cũng tiêu hết.» 
         
        Tôi nhắc nhở bác là bác đã biếu bà già một phần.
         
        «Thế thì sao.» Bác nói. «Mình có mẹ già thì mình phải lo giúp đỡ chứ?» 
         
        «Tôi không biết » tôi đáp. «Tôi không có mẹ.»
         
        «Chía buồn với anh đó, Mack». bác Gus nói. Bác có vẻ ái ngại cho tôi thật, bác yên lặng hồi lâu. «Có thể là anh đã lấy vợ,» Bác nói giọng thành khẩn. Tôi bảo là chưa. 
         
        «Cũng được, anh còn nhỏ tuổi,» bác nói. «Rồi có ngày anh sẽ gặp người vừa ý, lúc đó anh sẽ thành thân,» Bác cúi người xuống, chăm chú nhìn tôi. «Coi bộ anh cũng tử tế đấy, Mack ạ.» Bác nói. «Ráng gởi tiền nhà băng phòng khi gặp người vửa ý thì thu xếp.»
         
        Tôi không thích bàn tới những chuyện lẩm cẩm ấy. «Nghe này,» tôi nói. «Hiện tôi không có tiền, Trước đây cũng không có tiền. Tạm đi theo con đường đã chọn, và đặt lòng tin vào Thượng đế.» 
         
        «Đã đành», bác tán đồng, «nhưng như thế thì còn nghĩa lý quái gì. Có điều anh nên tự hỏi là chẳng hiểu Thượng đế có nghĩ vậy không?»
         
        Lời bác nói khiến tôi mắc nghẹn, tôi cảm thấy mình lúng túng. «Tôi không biết, bác Gus ạ.» Tôi đáp. «Còn bác, bác nghĩ là Thượng đế nghĩ thế nào?»
         
        Que tăm tới lúc đó đã bị nhai dập nát; bác gác hai chân lên thành ghế và ngả mình về phía sau. «Tôi mong có thể trả lời anh, Mack ạ» bác nói. «Mà tôi trả lời được. Đôi khi mình gần như có cảm tưởng là Thượng đế không thèm biết là có tụi mình đang ở trần gian. Rồi khi nào bết quá thì lại đỡ một chút, chẳng hạn kiếm được cuốc xe chạy sang Jersey City, hay gặp được ông khách say mèm đưa tấm giấy 5 đô-la rồi cho luôn không đòi tiền thối lại, Điều may mắn đó không làm anh tin ở Thượng đế, nó chỉ cho thấy cuộc đời diễn tiến theo chiều hướng nào thôi.»
         
        «Cây cột lửa,» tôi nói, «đã dẫn lối cho dân được Chúa chọn.»
         
        Nhưng bác Gus lắc đầu một cách buồn bã. «Đó chính là cái cú gay cấn nhất mà chúng ta phải lãnh,» bác nói. Bác hạ chân gác trên ghế xuống, vươn cổ về phía trước nghiêng dài trên mặt bàn. «Mack này,» bác gọi, «có bao giờ anh tự hỏi vì sao mà tụi mình được Chúa lựa chọn không? Anh có biết tôi nhận định thế nào không? Không phải bỗng dưng mình được tuyển chọn đâu. Tụi mình được tuyển lựa là tại tụi mình cứng cổ; và chính Chúa cần tụi mình hành động như thế để răn dạy cho đời biết tay Ngài. Thực vậy, người đời không muốn nghe ai; họ muốn theo đúng ý họ. Vì thế họ phải đá chúng ta lăn long lóc. Chúa không cần đếm xỉa tới. Ngài phán, cứ thế cho đời sáng mắt ra.»
         
        «Còn đức Jésus?» Tôi hỏi.
         
        «Ngài là người Do thái, có phải không?» Bác Gus hỏi. «Ngài dạy dỗ người ta mà có kết quả nào đâu. Nếu anh làm đúng như lời Chúa dạy trong thời buổi này thì anh sẽ bị đá lăn quay không ngồi đâu nóng đít.»
         
        Bác ngồi thẳng người lên, đăm đăm nhìn tôi, bằng một cái nhìn bí hiểm của vị tiên trí già cả. «Được tuyển lựa tức là phải nhận lãnh cái cú gay cấn nhất mà tôi nói đó.»
         
        « Uống chai la-de nữa đi,» tôi mời, «tôi trả mà».
         
        «Được,» bác nói, «tôi trả cũng không sao.»
         
        Chịnh ông Moore đem la-de lại cho chúng tôi. Ông là một người to lớn, khỏe mạnh và ưu tư. « Mạnh giỏi chứ bác Gus?» Ông hỏi. «Trông bác bảnh quá. Mọi việc vẫn tốt đẹp cả chứ?»
         
        « Tuyệt,» bác trả lời. «Gặp anh bạn tôi đây. Tên anh là gì Mack nhỉ?›
         
        Ông Moore và tôi bắt tay nhau, và ông ngồi ghé xuống bàn chúng tôi đang ngồi. «Mong là không có chi phiền nếu tôi ngồi chơi với hai ông một phút.» Tôi đáp, «Dạ không có chi».
         
        «Cậu Mack đây là một nghệ sĩ,» bác Gus giới thiệu. «Một họa sĩ. Cậu vừa kiếm được khả nhiều tiền».
         
        Ông chủ quán Alhambra mỉm cười với tôi. «Tốt lắm,» ông nói, «được lắm. Cậu mãn nguyện rồi chứ?»
         
        Tôi bảo phải, mọi việc đều tốt đẹp cả.
         
        «Ở đây quán chúng tôi nhỏ bé và xinh xắn,» ông Moore nói và đảo mắt nhìn quanh một cách chậm chạp, tựa như ông mới nhìn thấy quán này lần đầu. «Chúng tôi cố gắng làm cho ai nấy đều được hài lòng.»
         
        Tôi cảm thấy lòng ấm áp, vui vẻ; thật sung sướng khi được cùng người khác xum họp, được nói những chuyện bông lơn khỏi cần chăm chú suy nghĩ xem mình sắp phải nói gì.
         
        «Quán của ông đây cũng khá lắm, ông Moore ạ.» Tôi nói. «Chắc ông cũng dư biết điều đó.»
         
        Ông nhìn tôi, bỗng có vẻ thận trọng. «À chuyện đó », 
         
        Ông tuyên bố. «Tôi cũng không rõ nữa. Công việc làm ăn gặp nhiều khó khăn lắm, chuyện các hợp tác xã, và đủ thứ chuyện. Đồ ăn mắc quá. Chẳng làm sao khá hẳn lên được trong cái nghề này. Buổi tối khách ngồi không hết nửa số bàn. Chỉ trông vào bữa trưa nhiều.»
         
        «Ông phải lo trang trí cho cửa hàng tươi đẹp lên,» bác Gus nói. «Lấy chiếc xe của tôi làm thí dụ; tuần nào tôi cũng phải lo o bế lại một lần. Làm cửa hàng đẹp lên sẽ thu hút được thực khách; họ thích cái bề ngoài khang trang.» 
         
        «Đã đành,» ông Moore đáp. «Có điều tôi không lo nổi.»
         
        Bác Gus bẻ đôi que tăm, vươn tay với lấy que tăm khác, «Cậu Mack đây là một họa sĩ,» bác nói, «Để cậu ấy lo cho.»
         
        Ông Moore đưa mắt nhìn tôi; ông cầm chén đường lên rồi lại đặt xuống. «Tốt lắm,» ông nói, «ý kiến rất hay.» Và tôi thấy ông như chờ đợi tôi phát biểu ý kiến,
         
        Tôi nghĩ đây là một ý kiến hay, tuy có làm tôi ngạc nhiên; đây không phải là điều tôi nghĩ đến. «Lẽ dĩ nhiên,» Ông Moore nói. «Tôi không thể trả công cao lắm. »
         
        « Hẳn rồi,» bác Gus nói, «nhưng ông có thể nuôi cơm cậu ấy; được chứ?»
         
        « Được,» ông Moore nói đầy vẻ suy nghĩ, « tôi có thể để cậu ăn ở đây.»
         
        «Thấy không Mack,» bác nói, «anh ăn ở đây khỏi trả tiền mà.»
         
        «Ý kiến hay,» tôi nói,
         
        Ông Moore liếc ngang nhìn tôi. «Có lẽ phải nhờ cậu vẽ giùm cho một cái gì đó phía trên quầy rượu,» ông nói. «Một cái gì thật ngon mắt khiến cho thiên hạ lấy làm thích thú được đứng đó mà ngắm cho thỏa thuê».
         
        «Ông Moore có ý nói anh vẽ cái gì có đàn bà trong đó», bác Gus giải thích. «Anh biết đấy - cái kiểu ngồi trong cỏ mà không bận quần áo ấy mà.»
         
        Ông chủ quán bắt đầu cục cựa một cách bất an; bộ mặt phì phị của ông đỏ lên. «Phải có ảnh đàn bà», ông nói, «vì tâm lý người ta kỳ lắm».
         
        «Cảnh picnic tân thời trong công viên chẳng hạn». Tôi vừa nói vừa gật đầu. «Đúng rồi».
         
        Ông có vẻ bất an hơn bao giờ hết. «Nhưng cần phải lành mạnh». Ông nói. «Đừng để tôi bị lôi thôi về việc đó».
         
        Tôi nói tôi hiểu ông muốn gì, và ông tỏ ra biết ơn. «Được, ông nói, «cậu cứ tiến hành đi. Trong thời gian thực hiện bức vẽ, cậu lại ăn cơm ở đây, rồi sau đó, nếu công việc chu toàn, chúng ta sẽ thương lượng sau».
         
        Sự thu xếp không có tính chất làm ăn chút nào cả, nhưng chúng tôi vẫn bắt tay nhau, và ông vẫy tay gọi người bồi bàn.  «Bữa ăn hôm nay, cũng thôi», ông nói, cầm lấy tờ giấy tính tiền gạch chéo đi.
         
        Khi chúng tôi ra bên ngoài, bác Gus vỗ vai tôi.  «Bây giờ anh có tiền rồi nhé, Mack», bác nói. Tôi ấp úng cảm ơn bác, nhưng bác gạt đi.  «Nghe này, bác nói, bộ tôi không gỡ được một bữa ăn đó sao?»
         
        Và lúc bác leo lên chiếc tắc-xi của bác, bác cười dặn với:
         
         «Cần lành mạnh đó nghe, Mack».
         
        Trên đường về tôi thấy đời thật tươi đẹp biết bao. Ngay đêm đó tôi trả bà Zekes hai tuần tiền nhà tôi còn thiếu, và trả trước một tuần.  «Có chuyện gì đây?» bà tra hỏi.  «Bộ cậu ăn cướp nhà băng hay sao?»
         
        Bà nói vậy cũng không có ảnh hưởng gì tới tâm trí tôi hết.  «Không», tôi đáp,  «tôi đang vẽ mấy bức bích hoạ».
         

         
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >
        #4
          Chuyển nhanh đến:

          Thống kê hiện tại

          Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
          Kiểu:
          2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9