Chân Dung Nàng - Robert Nathan
huytran 04.04.2026 14:59:58 (permalink)
Người dịch: Hoàng Ưng, Trần Phong Giao
NXB Trẻ 1989

LỜI GIỚI THIỆU​

Robert Nathan sanh năm 1894 tại New York. Thuở nhỏ ông theo học trong nhiều trường tư tại Mỹ và tại Thụy Sĩ. Trong thời gian theo học Viện Đại học Harvard, ông làm chủ bút tờ nguyệt san của nhà trường, Harvard Monthly, trong đó ông có đăng một số bài thơ và truyện ngắn đầu tay.

Ngoại trừ hai thời kỳ ngắn ông làm cố vấn pháp luật cho một hãng quảng cáo thương mại tại New York và làm giảng sư tại Trường Báo chí thuộc Viện Đại học New York, Robert Nathan đã để trọn vẹn thời giờ chuyên tâm viết lách. Tới nay, ông là tác giả khoảng bốn mươi cuốn sách văn vần và văn xuôi, với số tác phẩm đáng kể đó ông đã được nổi tiếng như một bậc thầy duy nhất trong nền văn chương hiện đại Hoa Kỳ về loại văn trào phúng dị thường.

Truyện CHÂN DUNG NÀNG (Portrait of Jennie), một trong số những tác phẩm thành công nhất của Robert Nathan, xuất bản lần đầu năm 1939.

Cô bé và sau đó thiếu nữ Jennie phải chăng là một thi thần? Có phải nàng là một giấc mơ, một kỷ niệm, một bóng ma yêu dấu của thời quá vãng? Hay là nàng đã từ một thế giới nào khác bước chân vào thế giới của nghệ thuật, của chàng họa sĩ đánh mất niềm tin đặt vào cuộc sống? Chỉ có Adams mới ức đoán được lời giải đáp. Nhưng chàng hiểu điều đó, vì Jennie đã dám yêu chàng, nàng đã hòa trộn quá khứ và hiện tại vào trong một hiện thực tươi vui, tế nhị và kỳ diệu. Hiện thực đó là cuộc tình của hai người, một cuộc tình đẹp như thơ, như mộng — một cuộc tình có đượm nhiều phong vị mơ màng của liêu trai Đông phương.

Portrait of Jennie đã được đưa lên màn bạc với tài tử nổi tiếng Jennifer Jones đóng vai nàng Jennie. Sách và phim ảnh đều đã lưu lại trong lòng khách mến yêu nghệ thuật một niềm lưu luyến khó phai mờ.

Xuất hiện như một viên ngọc long lanh chiếu sáng trong bầu khí mịt mờ sương khói và ồn ào tiếng động của những ngày đầu cuộc đệ nhị thế chiến, Portrait of Jennie đã tồn tại sau nhiều biến cố, nhiều năm tháng, và đã được phiên dịch sang nhiều thứ tiếng: Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Miến Điện, Nhật Bản, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Nga...

Chân dung nàng là chuyện tình đắng cay trắc trở và đáng được lưu truyền. Chân dung nàng còn gợi cho người đọc nhiều nỗi suy tư dằn vặt. Ngày nào vấn đề tình yêu còn chập chờn trong con tim của giới trẻ, ngày đó tác phẩm của Robert Nathan còn đủ mãnh lực để lôi cuốn người đọc vào một niềm bí ẩn nghẹn thở, một chuyến đi kỳ thú — và đôi lúc kinh hoàng — sâu thẳm vào trong cõi sống.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.04.2026 15:01:33 bởi huytran >
#1
    huytran 04.04.2026 15:04:45 (permalink)
    CHƯƠNG I

    Có một thứ đói hơn đói ăn khát uống, và chính đó là sự đói khát của tôi. Hồi ấy tôi nghèo lắm, họa phẩm của tôi chưa được đời biết tới; nhịn đói là thường; về mùa đông, rét run trong căn phòng làm việc nhỏ xíu ở phía tây thành phố. Nhưng chuyện đó chẳng đáng kể gì.

    Khi tôi bàn đến những khó khăn, tôi không hề nói đến chuyện đói rét. Có một nỗi đau khổ đối với người nghệ sĩ mà mùa đông hay sự nghèo túng cũng chẳng thấm thía vào đâu; đó là mùa đông của tâm linh, trong đó nguồn sống của tài năng, nhựa sống của sáng tạo, hình như đã cóng lại, bất động, ngưng trệ — có lẽ vĩnh viễn rồi — trong một mùa đầy tử khí; và không biết rồi đây mùa xuân có trở lại để giải thoát hay không?

    Không phải chỉ tại tôi không bán được họa phẩm - chuyện này đã từng xẩy ra cho nhiều họa sĩ tài danh và cả những bậc thiên tài nữa, trước đây. Nhưng chính vì tôi không tự khai thông nổi những điều ẩn ức tích tụ nơi đáy lòng. Tôi muốn vẽ gì chăng nữa: chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, chúng đều khác hẳn điều tôi muốn nói lên — khác hẳn sự hiểu biết của tôi. Hiển nhiên như tên tôi là Eben Adams, có một cái gì tôi thực tình muốn nói lên giữa cõi đời, với mọi người qua cây cọ vẽ của tôi.

    Tôi không thể nói rõ với quí vị cái giai đoạn ấy như thế nào; bởi vì nỗi khổ tâm nhất của nó là một sự day dứt khó diễn tả thành lời. Tôi nghĩ rằng hầu hết các nghệ sĩ đều trải qua tâm trạng tương tự như vậy; sớm muộn đối với họ không chỉ có vấn đề sống, vẽ, đủ ăn hay gần đủ ăn thôi đâu. Sớm muộn Thượng đế sẽ đặt câu hỏi ác liệt: Nghệ sĩ! ngươi phụng sự ta hay chống đối ta? Và lúc đó người nghệ sĩ sẽ phải trả lời sao đó, hoặc chàng sẽ thấy lòng mình tan nát vì không biết ăn nói làm sao.

    Một buổi chiều đông năm 1938 tôi băng qua công viên trên đường về nhà. Hồi đó tôi còn trẻ hơn bây giờ nhiều; nách cắp một xấp nặng tranh vẽ, chân bước chậm chạp vì mệt. Một lớp sương ẩm chiều đông vờn qua tôi, rồi sà xuống lan trên thảm cỏ, trôi xuôi theo con đường đi dạo, vắng lặng vào giờ ấy. Những đứa trẻ thường tới chơi đùa ở nơi đây đã về cả rồi, để lại những vòm cây đen tối, trơ trụi và những dẫy băng ẩm, lấm chấm sương khuya. Tôi chuyền xấp tranh qua nách bên kia; xấp tranh nặng nề, cồng kềnh, nhưng tôi không có tiền để đi xe.

    Suốt ngày này, qua ngày khác, tôi ráng bán lấy vài bức họa — nhưng không nổi. Một tình cảm ê chề xâm chiếm thân tôi mất một lúc, thật là khiếp sợ sự nhẫn tâm của cuộc đời! Không những nó hờ hững đối với cơn đói, niềm tủi hận của một người, mà còn vô tình với chính sự sống trong con người ấy nữa. Mỗi ngày lòng can đảm buổi đầu mỗi sút giảm; đến bây giờ thật là kiệt quệ, như cát rỉ qua trôn ly dùi lỗ.

    Khuya hôm đó tôi tuyệt vọng hết sức, tiền không có bạn không có, đói, lạnh, mệt lả, không còn hy vọng gì nữa, không còn biết trông cậy vào đâu. Đầu tôi choáng váng vì thiếu ăn. Tôi băng qua đường, và bắt đầu đi xuôi theo lối đi dạo dài hun hút, vắng tanh.

    Trước mắt tôi, những dãy đèn đều đặn cách quãng tỏa ánh sáng vàng trong bầu không khí mờ hơi sương; tôi nghe tiếng bước chân mình khô lạnh nện trên hè phố; và sau lưng tôi có tiếng xe cộ tấp nập về nhà vào lúc ngày tàn. Những tiếng động của thành phố nghe mờ ảo, xa xôi, như vọng lại từ một thời nào, một nơi nào của quá khứ, như tiếng của mùa hè, của đàn ong lượn trên bãi cỏ từ lâu lắm rồi. Tôi tiếp tục bước, như đang đi qua những cánh cửa vòng cung lặng lẽ của rnột giấc mộng nào đấy. Thân tôi nhẹ nhàng, mất hết trọng lượng, tợ hồ như tạo bằng không khí ban chiều.

    Cô bé gái đang thơ thẩn chơi một mình giữa lối đi cũng không gây nên tiếng động nào. Cô bé chơi nhảy lò cò; cô nhảy bổng lên, hai chân tách dạng, rồi lại rơi xuống nhẹ như lông hồng.

    Tôi dừng lại ngó cô, vì tôi ngạc nhiên bắt gặp cô ở đó có một mình. Không có bóng dáng một đứa trẻ nào khác, chỉ có lớp sương và hai dãy đèn dài, đều đặn, chạy vút tới khoảng đất trống và hồ nước. Tôi ngó quanh kiếm người vú nuôi, nhưng những băng đá đều trống trơn. "Khuya lắm rồi," tôi nói. «Em không về nhà ư?» Tôi tin là giọng tôi thân thiết lắm. Cô bé nhảy thêm một bước nữa, rồi dừng lại; nhưng thoạt đầu cô chỉ ngoái cổ lại nhìn tôi. «Muộn rồi à?» cô hỏi. «Em có biết giờ giấc gì đâu.»

    « Ừ,» tôi nói, «muộn rồi.»

    « Vâng,» cô nói, «nhưng em cũng chưa cần về,» rồi cô tiếp giọng rất thành thực.

    «Chẳng có ai chờ em cả.»

    Sau cùng tôi quay đi, tự nghĩ, «việc gì đến mình?» Cô bé đứng thẳng người lên, vuốt mớ tóc đen xòa trên mặt, cài xuống dưới vành mũ vải. Đôi cánh tay cô ta nhỏ bé, chúng cử động mau lẹ, nhẹ nhàng. «Thôi để em đi với ông một quãng, nếu ông không quản ngại,» cô nói. «Có một mình ở đây buồn quá.»

    Tôi nói không sao cả, và chúng tôi cùng đi men theo lối đi, giữa những băng đá trơ trọi. Tôi tiếp tục nhìn quanh xem có ai là thân quyến của cô bé không, nhưng tuyệt nhiên không thấy. «Em chơi có một mình ư?» Một lúc sau tôi hỏi «Không có ai coi em à?»

    Cô bé thấy mấy vệt phấn do một đứa trẻ khác vẽ để lại, bèn ngừng lại nhảy qua. « Không,» cô đáp. «Làm gì có ai?»

    « Dầu sao,» một lúc sau cô bé nói tiếp, «cũng có ông đi với em,»

    Và vì một lý do xem ra đủ chính đáng đối với cô ta, cô bé muốn biết tôi đựng gì trong xấp giấy. Khi tôi nói là tranh, cô bé gật đầu một cách thỏa mãn. «Em biết đúng là tranh mà, » cô bé nói. Tôi hỏi sao cô biết, « Ô biết chứ, » cô bé đáp.

    Làn sương ẩm đuổi theo chúng tôi, lạnh buốt, có khí vị mùa đông lẩn quất. Vì suốt ngày chưa ăn gì, tôi thấy mọi vật đều kỳ dị cả, tôi nghĩ, đi trên lối đi dạo với một con nhỏ cao chưa tới khuỷu tay. Tôi tự hỏi mình có thể bị bắt vì hành động này không; tôi nghĩ, trong trường hợp bị xét hỏi, thì ngay đến tên cô bé mình cũng không biết.

    Cô bé yên lặng một hồi lâu như mải đếm số băng đá. Nhưng chắc là đoán được ý nghĩ của tôi, nên vừa tới băng thứ năm thì cô bé xưng tên không đợi tôi hỏi, « Tên em là Jennie, xin thưa để ông rõ. »

    «Jennie, » tôi lập lại giọng hơi quỷnh. «Jennie gì cơ chứ?» »

    « Jennie Appleton,» nàng đáp. Cô bé kể rằng cô sống với ba má trong một khách sạn, nhưng cô không mấy khi gặp. «Ba má em đều là diễn viên cả,» cô tiết lộ. «Ba má trình diễn ở Hý viện Hammerstein. Ba má múa rối trên dây.»

    Cô bé ngừng nói một hồi; rồi cô xích lại bên tôi - nắm lấy tay tôi. «Ba má ít khi có nhà,» cô nói. « Vì còn mắc trình diễn. »

    Nhưng có chuyện khiến tôi thắc mắc đây. Đợi một chút, tôi tự nhủ... ráng đợi một chút,.. rồi tôi bỗng nhớ ra. Lẽ dĩ nhiên — Đầu đuôi là thế này: Hý viện Hammerstein bị thiêu hủy từ nhiều năm trước, từ hồi tôi còn nhỏ.

    « Thôi được, » tôi nói, « không sao... »

    Bàn tay cô gái rắn chắc, ấm áp nằm trong bàn tay tôi, thế là đủ rồi; nàng không phải là yêu ma, và tôi sống trong ảo mộng. « Em đi học, » cô bé khoe. « Nhưng chỉ đi buổi sáng thôi. Em còn nhỏ quá chưa đi học hai buổi được. »

    Tôi nghe tiếng cô bé thở dài đầy vẻ lo âu trẻ con, nhẹ như hơi thở. «Em chẳng được học môn gì thích thú cả,» cô nhận xét. «Lúc nào cũng hai với hai là bốn, hay đại khái như vậy. Khi nào em lớn lên, em sẽ được học địa lý, sử ký về vua Kaiser, vua nước Đức.»

    «Đúng» tôi đáp giọng nghiêm trọng. «Nhưng từ lâu rồi»

    « Em nghĩ là ông lầm ». Jennie nói. Cô tự tách xa tôi, mỉm cười một mình về một chuyện gì đó, «Con Cecily Jones học ở lớp em. Em đánh được nó, em khỏe hơn nó, nhất định là em đánh được nó. Nó còn nhỏ xíu à »

    Cô bé yên lặng một lát rồi lại nói tiếp « Kể có người chơi với cũng vui. »

    Tôi ngó xuống nhìn cô bé : cô ta bận đồ theo lối xưa, một chiếc áo khoác, chân đi ghệt, đầu đội nón vải. Họa sĩ nào đã vẽ trẻ nít giống thế này nhỉ ? Henri? Brush? Một trong số những họa sư cổ điển... Trong viện Bảo tàng có một bức họa chân dung con gái một vị nào, treo trên tường, lối lên cầu thang. Nhưng con nít thời nào cũng ăn vận tương tự như vậy. Cô bé này xem chừng it chơi đùa với trẻ cùng lứa tuổi.

    Tôi đáp đúng lắm, có người cùng chơi hẳn sẽ vui.

    « Thế có ai chơi với ông không ? » cô hỏi.

    « Không, » tôi đáp.

    Tôi có cảm tưởng như cô bé ái ngại cho tôi, nhưng đồng thời cũng hoan hỷ vì tôi không có ai ngoài cô ta để làm bạn. Điều này khiến tôi mỉm cười, những trò chơi của trẻ nhỏ rất thật, tôi tự nghĩ, bởi vì trẻ nhỏ dễ tin. Chúng tôi đi đến một đoạn đường có vết đất nứt rạn ngoằn ngoèo, cô bé co một chân lên nhẩy lò cò qua hết vết nứt. «Em biết hát một bài, » cô nói. «Ông có muốn nghe em hát không? »

    Và không đợi tôi trả lời, ngước mắt nhìn tôi qua vành nón vải, cô hát giọng rõ ràng, mạch lạc:

    Tôi từ đâu đến
    Nào có ai hay;
    Tôi đi về đâu
    Mọi người đều đến
    Gió thổi
    Nước trôi
    Nào có ai hay.
    Bài ca làm tôi sững sờ, không phải bài ca tôi mong đợi. Tôi không biết đã chờ đợi gì — một bài hát ru em hay một bản dân ca đang thịnh hành; những đứa nhỏ mà cha mẹ là ca kịch sĩ đôi khi hát những bài tình ca, « Ai dạy em bài ấy ?» Tôi bỡ ngỡ hỏi.

    Nhưng cô bé chỉ lắc đầu, đứng sững lại nhìn tôi « Chẳng ai dạy em cả,» cô nói. « Vì là bài hát mà. »

    Chúng tôi đã tới cuối lối đi chỗ vòng tròn lớn, tôi phải rẽ theo tay trái, băng qua đường lộ, và ra lối cửa tây. Chiều đông bao phủ chúng tôi trong làn sương khuya, trong sự cô quạnh và trong im lìm, những vòm cây ẩm ướt đứng sững đen tối, trơ trụi bao quanh chúng tôi, và từ thành phố xa xôi những nốt nhạc chìm vọng lại rồi lại tan biến vào thinh không.

    « Thôi chào em nhé, » tôi nói «bây giờ tôi phải về. » Tôi đưa tay bắt, cô bé trịnh trọng nắm lấy. «Ông có biết em thích nhất trò chơi nào không?» cô hỏi, « Không, » tôi đáp.

    « Đó là trò ước.»

    Tôi hỏi cô bé ước gì hơn cả.

    «Em ước ông đợi em đến ngày em trưởng thành, » cô nói. « Nhưng em đoán ông chẳng đợi đâu.»

    Một lúc sau cô bé quay lại đi ngược lối đi cũ. Tôi đứng lại ngó theo, nhưng chỉ một lát tôi không nhìn thấy cô ta nữa.

    Về đến nhà tôi hâm lại hộp xúp trên chiếc bếp điện, và cắt một khoanh bánh, một miếng phó-mát. Loại đồ ăn này tuy nặng bụng, nhưng tôi thấy dễ chịu hơn nhiều. Rồi tôi mở xấp tranh ra, trải trên sàn nhà, dựng vào tường ngắm lại. Toàn là phong cảnh miền Tân Anh Cát Lợi (1): Mỏm Cod, những ngôi giáo đường, những chiếc thuyền, những ngôi nhà xưa... phần lớn là tranh thủy thái họa, chỉ có ít bức họa đường nét thôi. Nhưng không có bức nào lấy thành phố làm đề tài... Kể cũng lạ là tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ấy...

    Tôi ra đứng trước cửa sổ, nhìn ra ngoài. Chẳng nhìn thấy nhiều lắm, một dẫy dài những mái nhà có ống khói, đen ngòm, nhìn không rõ nét, một vài cánh cửa sổ có đèn sáng, về hướng bắc có mấy ngôi building lớn mờ tối, nổi bật trên vòm trời. Nhưng rõ rệt hơn cả là bầu không khí ẩm, lạnh của tiết đông, thứ không khí nặng nề, mộc mạc của miền duyên hải. Một chiếc tàu kéo hàng hú còi trong bãi vịnh ; tiếng hú buồn thảm, bí hiểm vươn qua những mái nhà, lan tràn trên tiếng động rì rầm không ngớt của thành phố như đôi cánh hải điểu lượn lờ trên dòng sông. Tôi tự hỏi sao mình chưa nghĩ tới việc dùng thành phố làm đề tài nhỉ.. Tôi có thể vẽ những bức tranh chỉ về dòng sông, tôi nghĩ, nếu tôi lột tả được sắc thái lạnh lẽo của bầu trời. Và cả dãy building ở phía nam công viên, buổi chiều tà — nếu tôi tạo được màu xanh đậm chính xác của ngọn nủi. Nhưng suốt khoảng thời gian ấy, nơi thâm tâm tôi, tôi vẫn tưởng nhớ tới cô bé vừa gặp trên lối đi dạo nơi công viên. Tôi đi về đâu, nào có ai hay; gió thổi, nào hỡi ai hay. Một bài ca ngắn kỳ lạ, chẳng có cung điệu thành khó quên nổi, sự thiếu cung điệu lại chính là nét đặc biệt của bài ca.

    Tôi liên tưởng đến lời nói cuối cùng cô bé bảo tôi, trước khi cô quay gót bước đi. Nhưng người ta đâu có thể đợi nhau tới lúc trưởng thành; hai bên cùng lớn dần, song song với nhau, bén gót nhau, người này chẳng khác gì người kia; họ cùng là con nít, rồi cùng trở thành lão nhân; cùng đi đến một chỗ hẹn trước — là giấc ngủ, là thiên đàng, tôi đâu có biết.

    Tôi rùng mình; chiếc lò sưởi lớn màu xám, đầy cáu bụi đặt trước cửa sổ chỉ còn hâm hâm nóng. Tôi phải báo cho bà chủ Jekes biết mới được, tôi nghĩ vậy. Nhưng bỗng tôi cảm thấy buồn bã, như thể có ai vừa kể cho nghe một câu chuyện cũ thương đau. Thôi đêm nay cũng chẳng nên cố gắng làm thêm nữa; tôi lên giường để níu giữ lại chút lòng can đảm.
     
     
    Chú thích

    (1) New England: Miền Đông Bắc Hoa Kỳ, bên bờ Đại Tây Dương; nơi đầu tiên tổ tiên người Mỹ đến lập nghiệp.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 ngày và 16 giờ bởi huytran >
    #2
      huytran 04.04.2026 15:13:18 (permalink)
      CHƯƠNG II 

       Tôi lại thiếu tiền nhà. Tôi nghĩ bà Jekes đã yêu cầu tôi dọn đi, nếu bà đã tìm được người thuê nhà khác; nhưng chẳng ma dại nào thèm mướn căn phòng tôi đang ở, đồ đạc gẫy nát, trần nhà bụi bặm lớp lớp bám đầy như thời gian. Mặc dầu căn phòng tồi tàn như vậy, hễ tôi nhắc tới chuyện hơi sưởi là bà lại tỏ vẻ bực bội. «Đây không phải là khách sạn», bà nói, «với cái giá rẻ mạt cậu trả, tôi làm gì nổi». Giọng quyết liệt, bà nói tiếp: «Thế bao giờ cậu mới tính trả tiền tôi đây.» 
       
      Tôi vốn sợ gặp bà ta. Bà đứng sững trước mặt tôi, miệng mím chặt, đôi bàn tay mỏng chắp trước bụng và cái nhìn của đôi mắt làm như bà nhìn thấu tâm can tôi, xoáy vào tương lai và thấy nó cũng vô vọng như quá khứ. Quý vị có thể ngạc nhiên hỏi sao tôi không dọn quách đi nơi khác, nhưng sự thực là tôi không có chỗ nào khác để đi. Những căn gác xép mướn giá rẻ rất khó kiếm; và ngoài ra hầu như lúc nào tôi cũng chậm trả tiền nhà, và trong những ngày ấy tôi chán nản nghĩ rằng đi đâu cũng vậy thôi nên đành ở lại. 
       
      Vào thời ấy khủng hoảng xảy ra khắp nơi. Những mối hận thù đụng độ, ác liệt ngay trên đỉnh đầu chúng ta, như những trận giao tranh trên thiên giới giữa các đẳng thiên thần và loài ác quỷ hồi mới khai thiên lập địa. Thế giới của họa sĩ là thế giới nào nhỉ! Blake, Goya, những tay danh họa, có thế giới riêng của họ. Còn tôi thì không. Tỏi không phải là người này, mà cũng không là người nọ, không thần bí mà cũng không cách mạng; đối với người trước, trong tôi còn quá nhiều ảnh hưởng của người cha gốc miền Trung Tây (1), và đối với người sau thì còn ảnh hưởng của bà ngoại gốc miền Tân Anh Cát Lợi (2). Ấy thế mà vòm trời của họ lại đã sáng láng niềm tin. 
       
      Tôi nghĩ rằng bà Jekes đä cảm phục những bức họa của tôi, mặc dầu bà chưa hề nói lên điều ấy. Bà thường đứng ngắm, môi mím chặt, vòng tay khoanh lại; đã có lần bà nhận một bức sơ họa một tỉnh lị bên dòng sông Pamer ở Truro để trừ một tuần tiền nhà. Bây giờ thì đắt hơn nhiều, tôi đoán vậy, nhưng tôi không biết bà ta có biết thế không. Tôi cũng không biết bà ta tìm thấy gì trong đó — một kỷ niệm nào đó, có lẽ, của những ngày nhiều nắng. Trong đó, tôi cố miêu tả vẻ cô tịch của mùa hạ, vẻ thanh bình của dòng sông trôi, vẻ lặng lờ của những chiếc thuyền len lỏi trong những khóm cỏ nước. Có thể bà ta nhận ra điều đó — hay mang máng nhận thấy; tôi không được rõ. 
       
      Bà không thèm lưu ý tới những bức tranh tôi vẽ thành phố. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy những bức tranh này nhắc cho bà ta câu chuyện cũ rích - quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có cái thành phố trong đó bà sa lầy như con ruồi sa phải đĩa mật. Bà ta để ý đến vòm trời hanh lạnh trên dòng sông, hay ngọn núi xanh đằng sau những con đường lộng gió, có bóng cây, làm gì. Chúng quen thuộc đối với bà ta quá rồi; suốt đời bà phải sống với chúng.  
       
      Nhưng tôi thấy tràn đầy hy vọng; hy vọng đủ ba ngày. Sau đó tôi lại nhận ra rằng kể cả tranh vẽ thành phố cũng chẳng bán được.  
       
      Vào ngày thứ tư buổi xế chiều, một khúc rẽ quan trọng đã đến. Chính lúc đó thì tôi không nghĩ là khúc quanh; đối với tôi chỉ là một chút may mắn, không hơn không kém. 
       
      Lúc đó tôi đang trên đường về, nặng nề lê gót qua đường phố, xấp tranh cồng kềnh dưới nách, tôi chợt thấy mình đứng trước phòng triển lãm hội họa Mathews. Tôi chưa đặt chân vào đó lần nào. Đây là một phòng tranh nhỏ hồi ấy nằm trên một phố nhánh thông ra Đại lộ số Sáu. Bữa đó đang có cuộc trưng bày tác phẩm của một họa sĩ trẻ tuổi — phần lớn vẽ chân dung và hoa; và vì đôi chút tò mò tôi bước vào. Tôi đang nhớn nhác nhìn quanh thì ông Mathews tiến lại phía tôi, ông hỏi tôi cần gì. 
       
      Bây giờ thì tôi quen với ông Henry Mathews, tôi biết tường tận về ông. Thực vậy, chính ông đã bán bức Người thiếu nữ áo đen của tôi cho viện Bảo tàng Metropolitan cách đây sáu năm. Tôi biết ông vừa hiền lành vừa nhút nhát; đương nhiên là ông bực mình khi thấy tôi tiến vào, vì ông biết ngay tôi không phải là khách mua tranh. Lúc đó khá muộn rồi, ông muốn đóng cửa hàng, nên ông cần phải tống khứ tôi ngay. Cô Spinney quản lý gian hàng thay ông hồi đó, chính cô ta cũng về rồi, nếu không ông đã phái cô ta ra để tiếp chuyện tôi. Cô mới là tay thành thạo khi giao tiếp với họa sĩ muốn bán hàng cho ông. 
       
      Ông từ phòng giấy nhỏ bé, ở cuối gian triển lãm bước ra, gượng gạo mỉm cười. «Dạ thưa ông,» ông lên tiếng. «Chúng tôi có thể làm gì hầu ông đây?» 
       
      Tôi đưa mắt nhìn ông, rồi lại đưa mắt nhìn xấp tranh kẹp dưới nách. Việc gì mà phải ngượng ngập. Tôi đáp: «Tôi không biết ông có thể mua giùm tôi một bức tranh nào không?» 
       
      Ông Mathews đưa tay lên che miệng khẽ ho. «Tranh phong cảnh à» ông hỏi. 
       
      « Dạ vâng,» tôi đáp, «phần lớn là phong cảnh.» 
       
      Ông Mathews lại hắng giọng; tôi biết ông muốn bảo tôi rằng, Anh bạn trẻ ơi, không ăn giải gì rồi. Nhưng ông không đủ can đảm nói thẳng; vì ông vốn sợ nhìn thấy đôi mắt người khác khi bị ông khước từ. Nếu cô Spinney chưa về cô ta đã vắn tắt bảo tôi đi làm ăn nơi khác. 
       
      «Vậy à,» giọng ngờ vực ông nói. «Tôi không rõ nữa. Đương nhiên là ở đây chúng tôi mua ít lắm... hầu như chẳng mua gì.. nhất là thời thế này.. Nhưng dầu sao cậu cũng để tôi xem qua một chút. Phong cảnh ! Hừm,.. dở quá.» 
       
      Tôi cởi dây buộc xấp tranh ra, và dàn lên mặt bàn. Tôi chẳng hy vọng gì, nhưng dầu sao có dịp trình bày tác phẩm của mình, cũng là đáng kể rồi. Không khí trong phòng triển lãm ấm áp, trong khi đó tôi vừa rét vừa mệt. «Đây là mấy bức tranh nhìn từ đỉnh Cape Cod xuống.» Tôi nói. «Đây là mấy chỗ đánh cá ở vịnh Bắc Truro. Đây là mỏm Cornhill. Còn đây là ngôi thánh đường ở Mashpee.» 
       
      «Toàn phong cảnh,» ông Mathews buồn bã nói. 
       
      Tất cả sự mệt nhọc, sự đói lạnh, sự chờ đợi lâu dài và niềm tuyệt vọng trào lên chặn lấy cổ họng tôi, và tôi lặng đi không nói được hồi lâu. Tôi muốn vơ lấy những bức tranh của mình rồi bỏ đi. Thay vì làm như vậy tôi lại lải nhải «Đây có vài bức phác họa cảnh thành phố. Đây là cây cầu — » 
       
      «Cầu nào?» 
       
      « Cầu mới,» tôi đáp. 
       
      Ông Mathews thở dài. «Tôi ngán nó muốn chết.» Ông nói.
       
      «Và đây là phong cảnh công viên hướng Nam...» 
       
      «Khả trợ hơn.» Ông Mathews nói giọng chán nản. Ông ráng làm bộ không thất vọng nhưng tôi biết là ông không sung sướng gì. Dường như ông đang cố tìm xem phải nói với tôi điều gì. Không sao, tôi tự nghĩ. Có gì đâu sao ông không nói thẳng ra. Cứ việc đuổi tôi ra, ông không ưa nổi bức nào cả.  
       
      «Đây là khu hồ có đàn vịt được chăn nuôi...» 
       
      Bỗng đôi mắt ông ánh lên, ông với tay vồ lấy xấp tranh. «Đây rồi,» ông kêu lớn tiếng, «tranh gì đây?»  

      Đến lượt tôi, tôi tò mò nhìn bức tranh trên tay ông. «Sao vậy» giọng ngớ ngẩn tôi nói, «có gì đâu — đây là vài nét phác họa — đây chỉ là đứa con gái bé nhỏ tôi gặp trong công viên. Một kỷ niệm mà tôi ráng ghi lại bằng trí nhớ... Tôi không biết là mình đã mang nó theo.» 
       
      «A,» ông Mathews nói một cách vui vẻ. «Thế mà bức này mới thật là khác hẳn. Khá, khá lắm, cậu có biết vì sao tôi lại thích bức này không? Tôi tìm thấy quá khứ trong đó đấy. Thực vậy — thưa cậu, tôi nhớ trước đây đã có lần nhìn thấy con nhỏ này, ở đâu đó, tôi thật không nhớ nổi là ở đâu nữa.» 
       
      Ông ta giơ bức tranh ra trước mặt; rồi ông dựng vào chân tường, lùi lại ngắm rồi lại tiến lên. Ông có vẻ vui hẳn lên; tôi có ý nghĩ là ông sung sướng vì không phải mời tôi ra mà chẳng mua gì. Tim tôi bắt đầu đập, hai bàn tay tôi run lên. 
       
      «Đúng,» ông nói, «có một điểm nào đó nơi đứa trẻ nhắc tôi nhớ đến một chuyện gì lạ. Đây có phải đứa trẻ của Brush vẽ treo ở viện Bảo tàng không nhỉ?» 
       
      Tôi thở dồn dập; trong một lúc tôi như thấy lại tính chất mơ màng của buổi đi dạo trong sương mờ bên Jennie trong công viên. «Đây không phải là một bản sao» ông vội giải thích. «Cũng không phải đứa trẻ ấy; bút pháp thì chắc chắn là của cậu rồi. Có điều là bức nọ làm tôi liên tưởng đến bức kia.» 
       
      Ông nhanh nhẹn đứng thẳng người lên. «Để tôi mua bức này,» ông nói. Nhưng ngay sau đó mắt ông sa xuống, và tôi có thể thấy ngay ông băn khoăn vì không biết nên trả tôi bao nhiêu. Tôi cũng biết là bức họa chẳng đáng là bao, vài nét sơ sài theo lối vẽ thủy mạc... Nếu ông trả tôi theo đúng giá trị của nó, chắc không đủ để ăn một bữa kha khá. Bây giờ nhớ lại truyện ấy, tôi chắc là ông cũng nghĩ như tôi. 
       
      «Này anh bạn trẻ,» ông hỏi, «tên anh là gì nhỉ?» 
       
      Tôi khai tên. 
       
      «Được, anh Adams, tôi nói sao thì làm vậy. Tôi lấy đứa con gái — và cảnh công viên — và trả anh 25 mỹ kim cả hai bức đó.» 
       
      Lần này thì tay tôi run bắn lên. 25 mỹ kim... Số tiền lớn lắm đối với tôi hồi ấy. Nhưng tôi không muốn tỏ ra sốt sắng quá. Mình có thiệt thòi gì đâu trong lúc cố gắng lừa phỉnh một người đã nhìn rõ tâm can mình rồi. 
       
      «Dạ vâng,» tôi đáp, «ông tính thế là được rồi.» 
       
      Trước khi ông trở lại bàn giấy lấy tiền trả tôi, ông rút một tập giấy nhỏ trong túi ra và viết lên đó mấy chữ. Tôi liếc mắt đọc vì ông để xấp giấy ngửa trên mặt bàn. Tập giấy có lẽ là sổ xuất nhập của phòng tranh, vì nó có hai cột số, một bên ghi Bán, một bên ghi Chi. Dưới chữ Bán ông ghi: 1 tranh khắc, cảnh sông nước, của Marin, ấn bản kỳ hai, $35; một ấn phẩm màu, hoa xanh, của Cezanne, $7.50; một thạch bản, Công viên, của Sawyer, khung bằng gỗ lê, $45. 
       
      Dưới cột Chi ông viết: 
       
      Cơm trưa, có la-de -   $0.80
      Xì-gà                              .10 
      Chải mũ                         .10 
      Xe buýt (đi, về)              .20 
      Tem thư                         .39 
      Họa sĩ Spinney            5.00 
      Phù hiệu đeo trên mũ 
      của hội cựu chiến binh   .10
      2 tranh mầu, Adams    15.00
       
      Lòng tôi se lại mất một lúc, vì tôi nghĩ là ông ta bảo 25 mỹ kim. Nhưng trước khi tôi có đủ thời giờ để lại đau xót thêm nữa thì ông ta đã trở lại với số tiền đầy đủ, hai tấm giấy 10 đồng và một tờ 5 đồng. Tôi ấp úng cảm ơn nhưng ông gạt đi. «Không phải cám ơn,» ông nói «biết đâu rồi ra tôi lại chẳng phải cảm ơn cậu đấy.» 
       
      Ông e dè mỉm cười. «Điều buồn chán là,» ông nói, «không ai vẽ lại buổi đương thời. Không ai vẽ lại thời đại mà chúng ta đang sống». 
       
      Tôi lầu bầu nhắc đến tên Benton và John Steuart Curry. «Không phải,» ông nói, «chúng ta không thể khám phá nổi cái sắc thái của thời đại bằng cách ngắm nhìn một bức tranh phong cảnh.» 
       
      Tôi bắt giựt mình khi nghe tiếng ông ho có vẻ không tán thành. «Để tôi nói cho cậu nghe, cậu Adams à,» ông nói. «Để tôi cho cậu vài lời khuyên. Thế giới này thiếu gì phong cảnh; ngày nào tôi cũng nhận được hàng lố. Cậu về vẽ cho tôi bức chân dung đứa con gái nhỏ ở Công viên đi. Tôi sẽ mua tranh đó. Bao nhiêu tranh loại đó tôi cũng mua hết. Đừng thèm để ý đến những cây cầu; thế giới đầy dẫy những cầu. Ráng vẽ một bức chân dung thật vĩ đại, và tôi sẽ làm cho cậu trở thành nổi tiếng.» 
       
      Vỗ lên vai tôi một cách dụt dè, ông tiễn tôi vào khí lạnh mùa đông, xanh xanh dưới bóng hoàng hôn. Nhưng tôi không còn biết trời đang mùa đông hay là mùa gì. Hai-mươi-lăm mỹ kim... 
       
      Mãi đến sau này tôi mới tìm ra ý nghĩa của con số 15 ghi trong cột Chi. Đó là thực giá theo ông, ông sợ sáng hôm sau cô Spinney sẽ cằn nhằn ông. Ông đã có ý trả số sai biệt bằng riêng tiền túi của ông.
       
         Chú thích
       
      (1) Miền Trung Tây (Middle-West) : miền đồng cỏ, nơi hoạt động của những tay anh hùng hảo hớn, lưng ngựa, tay súng; dân chúng thực tế tháo vát.
       
      (2) Miền Tân Anh Cát Lợi (New England) : nơi tồn tại những truyền thống lâu đời. Dân chúng bảo thủ.             
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 22 giờ bởi huytran >
      #3
        huytran 06.04.2026 02:31:57 (permalink)
        CHƯƠNG III
         
        Lòng nhiệt thành của tuổi trẻ thật dễ khích động, tôi tưởng mình thành công rồi và tôi muốn người đời cùng chia xẻ. Ngay đêm hôm ấy tôi đi ăn tại nhà hàng Alhambra do ông Moore làm chủ, trên đại lộ Amsterdam. Vì đấy là phần thưởng khá nhất mà tôi có thể tự thưởng cho niềm vinh quang lớn lao của tôi. Lúc tôi bước vào, bác Gus Meyer, chủ chiếc xe tắc-xi thường đậu ở góc đường tại khu phố chúng tôi, đang ngồi ở bàn trong, giơ tay vẫy tôi. «Ê, Mack», bác la lên, «lại đây ngồi.» Ai bác cũng kêu là Mack cả; đối với bác có ngụ ý bác chẳng có chuyện riêng tư gì nói với họ, hay nói khác đi, bác ưa thích họ.
         
        « Sao?» bác hỏi, sau khi tôi yên vị, «làm ăn khá chứ?» Bác ngồi trước một đĩa cẳng heo lớn và một ly la-de. «Món nhậu đặc biệt bữa nay đấy, » bác nói, «gọi thử một đĩa chơi».
         
        Fred, tên bồi bàn nhỏ con trong hai chú bồi, tiến lại và đợi tôi kêu đồ ăn. «Cũng khá,» tôi đáp lời bác Gus. «Tôi vừa bán được hai bức tranh cho một phòng triển lãm».
         
        Chiếc nĩa dừng lại giữa chặng đường lên miệng, bác há hốc mồm nhìn tôi. «Anh nói là anh vừa kiếm được tiền à?» bác hỏi,
         
        Bác đặt nĩa xuống, lắc đầu một cách thán phục. «Tôi biết là thế nào rồi anh cũng làm ăn được mà,» bác nói. «Nhưng đừng phí phạm nghe không. Gửi ngân hàng ngay đi, đọc quảng cáo khắc biết,»
         
        Tôi bảo rằng số tiền này dành trả tiền nhà cũng đã gần hết rồi, bác tỏ vẻ ái ngại cho tôi. «Nghệ sĩ thì kiếm chẳng được là bao.» Bác nhận xét để an ủi tôi. «Giống tình cảnh tôi, chẳng hy vọng ăn nên làm ra được.»
         
        Bác bình thản nhìn vào đĩa đồ ăn của bác. «Có lần tôi để dành được sáu trăm đô-la,» bác nói. «Nhưng tôi lại tiêu hết.»
         
        Như để tự bào chữa, bác nói tiếp, «Tôi có cho bà già được đôi chút.»
         
        Rồi bác lại tiếp tục ăn, với dáng điệu coi như vấn đề đã giải quyết xong.
         
        «Giò heo ngon đặc biệt», bác tuyên bố.
         
        Chúng tôi cùng yên lặng ngồi ăn một lúc. Ăn xong bác dẹp đĩa trống sang một bên, với chiếc tăm gỗ đựng trong cái ly để trên bàn, ngửa người về phía sau để thả mình vào trong hồi tưởng và suy nghĩ.
         
        «Có một ngày kia», bác nói với giọng nghiêm trang, «giò heo không có mà ăn, la-de không có mà uống. Lúc đó thì tôi chẳng lại đây làm gì nữa.»
         
        «Hôm nay đâu tôi có muốn lại đây,» tôi nói, «nhưng rồi cũng lại.»
         
        Bác đáp: «Anh không thể làm khác được. Anh đến đây, và anh ngồi lại đây. Thế là thế nào? Tôi lẩm cẩm tự hỏi.»
         
        Bác ngắm nhin que tăm giây lâu, chăm chú. «Nhưng tôi không tìm ra câu trả lời,» bác tuyên bố. «Anh sinh ra trong sự nghèo túng, và anh sẽ chết trong sự nghèo túng; và nếu anh kiếm được chút ít, thiên hạ lại tìm cách cướp mất,» 
         
        Tôi trả lời rành mạch rằng, có người lúc sinh ra nghèo nhưng lúc chết rất giầu. «Thì họ lại gặp những khó khăn khác,» bác Gus cãi. «Tôi chẳng ghen với họ. Tôi chỉ mong có một cuộn bô-bin mới để chạy xe thôi. Xe pháo cứ trục trặc hoài»
         
        «Tôi thì tham vọng hơn nhiều,» tôi đáp.
         
        «Anh lầm rồi,» bác cãi. «Có lần tôi có cả 600 đô-la rồi cũng tiêu hết.» 
         
        Tôi nhắc nhở bác là bác đã biếu bà già một phần.
         
        «Thế thì sao.» Bác nói. «Mình có mẹ già thì mình phải lo giúp đỡ chứ?» 
         
        «Tôi không biết » tôi đáp. «Tôi không có mẹ.»
         
        «Chía buồn với anh đó, Mack». bác Gus nói. Bác có vẻ ái ngại cho tôi thật, bác yên lặng hồi lâu. «Có thể là anh đã lấy vợ,» Bác nói giọng thành khẩn. Tôi bảo là chưa. 
         
        «Cũng được, anh còn nhỏ tuổi,» bác nói. «Rồi có ngày anh sẽ gặp người vừa ý, lúc đó anh sẽ thành thân,» Bác cúi người xuống, chăm chú nhìn tôi. «Coi bộ anh cũng tử tế đấy, Mack ạ.» Bác nói. «Ráng gởi tiền nhà băng phòng khi gặp người vừa ý thì thu xếp.»
         
        Tôi không thích bàn tới những chuyện lẩm cẩm ấy. «Nghe này,» tôi nói. «Hiện tôi không có tiền, Trước đây cũng không có tiền. Tạm đi theo con đường đã chọn, và đặt lòng tin vào Thượng đế.» 
         
        «Đã đành», bác tán đồng, «nhưng như thế thì còn nghĩa lý quái gì. Có điều anh nên tự hỏi là chẳng hiểu Thượng đế có nghĩ vậy không?»
         
        Lời bác nói khiến tôi mắc nghẹn, tôi cảm thấy mình lúng túng. «Tôi không biết, bác Gus ạ.» Tôi đáp. «Còn bác, bác nghĩ là Thượng đế nghĩ thế nào?»
         
        Que tăm tới lúc đó đã bị nhai dập nát; bác gác hai chân lên thành ghế và ngả mình về phía sau. «Tôi mong có thể trả lời anh, Mack ạ» bác nói. «Mà tôi trả lời được. Đôi khi mình gần như có cảm tưởng là Thượng đế không thèm biết là có tụi mình đang ở trần gian. Rồi khi nào bết quá thì lại đỡ một chút, chẳng hạn kiếm được cuốc xe chạy sang Jersey City, hay gặp được ông khách say mèm đưa tấm giấy 5 đô-la rồi cho luôn không đòi tiền thối lại. Điều may mắn đó không làm anh tin ở Thượng đế, nó chỉ cho thấy cuộc đời diễn tiến theo chiều hướng nào thôi.»
         
        «Cây cột lửa,» tôi nói, «đã dẫn lối cho dân được Chúa chọn.»
         
        Nhưng bác Gus lắc đầu một cách buồn bã. «Đó chính là cái cú gay cấn nhất mà chúng ta phải lãnh,» bác nói. Bác hạ chân gác trên ghế xuống, vươn cổ về phía trước nghiêng dài trên mặt bàn. «Mack này,» bác gọi, «có bao giờ anh tự hỏi vì sao mà tụi mình được Chúa lựa chọn không? Anh có biết tôi nhận định thế nào không? Không phải bỗng dưng mình được tuyển chọn đâu. Tụi mình được tuyển lựa là tại tụi mình cứng cổ; và chính Chúa cần tụi mình hành động như thế để răn dạy cho đời biết tay Ngài. Thực vậy, người đời không muốn nghe ai; họ muốn theo đúng ý họ. Vì thế họ phải đá chúng ta lăn long lóc. Chúa không cần đếm xỉa tới. Ngài phán, cứ thế cho đời sáng mắt ra.»
         
        «Còn đức Jésus?» Tôi hỏi.
         
        «Ngài là người Do thái, có phải không?» Bác Gus hỏi. «Ngài dạy dỗ người ta mà có kết quả nào đâu. Nếu anh làm đúng như lời Chúa dạy trong thời buổi này thì anh sẽ bị đá lăn quay không ngồi đâu nóng đít.»
         
        Bác ngồi thẳng người lên, đăm đăm nhìn tôi, bằng một cái nhìn bí hiểm của vị tiên trí già cả. «Được tuyển lựa tức là phải nhận lãnh cái cú gay cấn nhất mà tôi nói đó.»
         
        « Uống chai la-de nữa đi,» tôi mời, «tôi trả mà».
         
        «Được,» bác nói, «tôi trả cũng không sao.»
         
        Chính ông Moore đem la-de lại cho chúng tôi. Ông là một người to lớn, khỏe mạnh và ưu tư. « Mạnh giỏi chứ bác Gus?» Ông hỏi. «Trông bác bảnh quá. Mọi việc vẫn tốt đẹp cả chứ?»
         
        « Tuyệt,» bác trả lời. «Gặp anh bạn tôi đây. Tên anh là gì Mack nhỉ?›
         
        Ông Moore và tôi bắt tay nhau, và ông ngồi ghé xuống bàn chúng tôi đang ngồi. «Mong là không có chi phiền nếu tôi ngồi chơi với hai ông một phút.» Tôi đáp, «Dạ không có chi».
         
        «Cậu Mack đây là một nghệ sĩ,» bác Gus giới thiệu. «Một họa sĩ. Cậu vừa kiếm được khá nhiều tiền».
         
        Ông chủ quán Alhambra mỉm cười với tôi. «Tốt lắm,» ông nói, «được lắm. Cậu mãn nguyện rồi chứ?»
         
        Tôi bảo phải, mọi việc đều tốt đẹp cả.
         
        «Ở đây quán chúng tôi nhỏ bé và xinh xắn,» ông Moore nói và đảo mắt nhìn quanh một cách chậm chạp, tựa như ông mới nhìn thấy quán này lần đầu. «Chúng tôi cố gắng làm cho ai nấy đều được hài lòng.»
         
        Tôi cảm thấy lòng ấm áp, vui vẻ; thật sung sướng khi được cùng người khác xum họp, được nói những chuyện bông lơn khỏi cần chăm chú suy nghĩ xem mình sắp phải nói gì.
         
        «Quán của ông đây cũng khá lắm, ông Moore ạ.» Tôi nói. «Chắc ông cũng dư biết điều đó.»
         
        Ông nhìn tôi, bỗng có vẻ thận trọng. «À chuyện đó », 
         
        Ông tuyên bố. «Tôi cũng không rõ nữa. Công việc làm ăn gặp nhiều khó khăn lắm, chuyện các hợp tác xã, và đủ thứ chuyện. Đồ ăn mắc quá. Chẳng làm sao khá hẳn lên được trong cái nghề này. Buổi tối khách ngồi không hết nửa số bàn. Chỉ trông vào bữa trưa nhiều.»
         
        «Ông phải lo trang trí cho cửa hàng tươi đẹp lên,» bác Gus nói. «Lấy chiếc xe của tôi làm thí dụ; tuần nào tôi cũng phải lo o bế lại một lần. Làm cửa hàng đẹp lên sẽ thu hút được thực khách; họ thích cái bề ngoài khang trang.» 
         
        «Đã đành,» ông Moore đáp. «Có điều tôi không lo nổi.»
         
        Bác Gus bẻ đôi que tăm, vươn tay với lấy que tăm khác, «Cậu Mack đây là một họa sĩ,» bác nói, «Để cậu ấy lo cho.»
         
        Ông Moore đưa mắt nhìn tôi; ông cầm chén đường lên rồi lại đặt xuống. «Tốt lắm,» ông nói, «ý kiến rất hay.» Và tôi thấy ông như chờ đợi tôi phát biểu ý kiến,
         
        Tôi nghĩ đây là một ý kiến hay, tuy có làm tôi ngạc nhiên; đây không phải là điều tôi nghĩ đến. «Lẽ dĩ nhiên,» Ông Moore nói. «Tôi không thể trả công cao lắm. »
         
        « Hẳn rồi,» bác Gus nói, «nhưng ông có thể nuôi cơm cậu ấy; được chứ?»
         
        « Được,» ông Moore nói đầy vẻ suy nghĩ, « tôi có thể để cậu ăn ở đây.»
         
        «Thấy không Mack,» bác nói, «anh ăn ở đây khỏi trả tiền mà.»
         
        «Ý kiến hay,» tôi nói,
         
        Ông Moore liếc ngang nhìn tôi. «Có lẽ phải nhờ cậu vẽ giùm cho một cái gì đó phía trên quầy rượu,» ông nói. «Một cái gì thật ngon mắt khiến cho thiên hạ lấy làm thích thú được đứng đó mà ngắm cho thỏa thuê».
         
        «Ông Moore có ý nói anh vẽ cái gì có đàn bà trong đó», bác Gus giải thích. «Anh biết đấy - cái kiểu ngồi trong cỏ mà không bận quần áo ấy mà.»
         
        Ông chủ quán bắt đầu cục cựa một cách bất an; bộ mặt phì phị của ông đỏ lên. «Phải có ảnh đàn bà», ông nói, «vì tâm lý người ta kỳ lắm».
         
        «Cảnh picnic tân thời trong công viên chẳng hạn». Tôi vừa nói vừa gật đầu. «Đúng rồi».
         
        Ông có vẻ bất an hơn bao giờ hết. «Nhưng cần phải lành mạnh». Ông nói. «Đừng để tôi bị lôi thôi về việc đó».
         
        Tôi nói tôi hiểu ông muốn gì, và ông tỏ ra biết ơn. «Được, ông nói, «cậu cứ tiến hành đi. Trong thời gian thực hiện bức vẽ, cậu lại ăn cơm ở đây, rồi sau đó, nếu công việc chu toàn, chúng ta sẽ thương lượng sau».
         
        Sự thu xếp không có tính chất làm ăn chút nào cả, nhưng chúng tôi vẫn bắt tay nhau, và ông vẫy tay gọi người bồi bàn.  «Bữa ăn hôm nay, cũng thôi», ông nói, cầm lấy tờ giấy tính tiền gạch chéo đi.
         
        Khi chúng tôi ra bên ngoài, bác Gus vỗ vai tôi.  «Bây giờ anh có tiền rồi nhé, Mack», bác nói. Tôi ấp úng cảm ơn bác, nhưng bác gạt đi.  «Nghe này», bác nói, «bộ tôi không gỡ được một bữa ăn đó sao?»
         
        Và lúc bác leo lên chiếc tắc-xi của bác, bác cười dặn với:
         
         «Cần lành mạnh đó nghe, Mack».
         
        Trên đường về tôi thấy đời thật tươi đẹp biết bao. Ngay đêm đó tôi trả bà Jekes hai tuần tiền nhà tôi còn thiếu, và trả trước một tuần.  «Có chuyện gì đây?» bà tra hỏi.  «Bộ cậu ăn cướp nhà băng hay sao?»
         
        Bà nói vậy cũng không có ảnh hưởng gì tới tâm trí tôi hết.  «Không», tôi đáp,  «tôi đang vẽ mấy bức bích hoạ».           
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 ngày và 17 giờ bởi huytran >
        #4
          huytran 22 giờ (permalink)
          CHƯƠNG IV

          Vào một buổi sáng chúa nhật tôi gặp lại Jennie. Dạo ấy sau mấy tuần trời hanh lạnh, khu hồ lớn trong công viên ở đường Bảy mươi hai đóng băng lại. Thật là lý tưởng để chơi trượt tuyết. Tôi lục đôi giầy cũ nhãn hiệu Lunns và đi tới đó. Trên mặt băng rất đông người; tôi ngồi xuống một chiếc băng bên cạnh bờ để xỏ giày tuyết và chằng chúng vào dây lưng. Tôi tuột xuống khỏi bờ quay một vòng rộng làm tuyết tung bay rồi tôi trượt thẳng về phía trước, ngửa mặt lên hứng nắng.
           
          Bữa đó là một trong những ngày đẹp trời mà chúng tôi thường được hưởng tại Nữu ước về mùa đông, với bầu tròi sáng xanh, với những cụm mây trắng đục lơ lửng trên cao, lững thững trôi từ tây sang đông. Thành phố rực nắng, những nóc nhà lóng lánh, và các tòa nhà trông như được xây cất bằng nước và không khí. Tôi nhún mình lao đi một đường dài, hít thở thật sâu, tự cảm thấy mình vừa trẻ vừa khỏe, nghe máu chảy ấm trong các huyết quản, nghe da mặt mát rượi trong khí lạnh. Từng cặp đi ngược chiều tôi, tay nắm tay với những đôi má đỏ; các chú học sinh lướt mau, tợ như những bầy cá lòng tong, lưng chúng lom khom, chân đi giầy trượt tuyết loại đua, rẽ tuyết tung gió lao nhanh. Một ông già đang một mình nhảy những đường bay bướm; ông lão bận đồ nâu, quàng khăn len đỏ, ông nhún mình tiến lên, quay ngoắt lại, nhảy vọt lên, lượn một vòng về phía sau, đôi giầy chụm lại thành một đường thẳng, đầu gối khom khom, cánh tay dang ra, chăm chú và hãnh diện. Tôi dừng lại ngắm ông biểu diễn một hồi, rồi lại tiếp tục đi sâu vào trong nắng. Quanh tôi là cả một dòng người lặng lẽ di chuyển, là thanh âm của thép reo trên băng tuyết, là khí lạnh, là những sắc mầu tươi sáng.

          Tôi gặp Jennie gần cây cầu nối liền hai mặt hồ. Nàng bận nhung đen tuyền, chiếc xiêm ngắn và rộng, đôi bốt trắng cột quanh đôi gìầy trượt tuyết kiểu cổ xưa. Nàng đang lượn hình số 8; và tôi nghĩ là chẳng số nào đẹp hơn. Nhưng nàng có vẻ to lớn hơn theo trí nhớ của tôi — già dặn hơn. Nhưng tôi chưa dám tin hẳn cho tới lúc nàng nhìn lên và nhận ra tôi. «Chào ông Adams,» nàng nói.

          Nàng lại gần tôi, dang hai cánh tay ra để thắng lại. «Tôi đâu có nhận ra em,» tôi nói với nàng, «Trông em có vẻ già dặn hơn lúc trước.» Nàng cười, và bấm ngón chân xuống một chiếc giầy cho chúi mũi xuống băng để lấy thế đứng. «Ồ, có lẽ ông nhìn thấy em không được rõ chứ gì?»

          Tôi không biết là chúng tôi đã đứng ở đó, cười với nhau trong bao lâu. Một lúc sau Jennie khoác cánh tay tôi nói. «Đi, chúng mình đi cho vui.» Chúng tôi cùng trượt trên tuyết, tay khoác trong tay; và một lần nữa thế giới quanh tôi trở nên mịt mờ, huyền ảo. Những người trượt tuyết lũ lượt chẩy như một dòng sông quanh chúng tôi, ánh gót thép phản chiếu trong nắng, tiếng rì rào của dòng sông chuyển động ấy, những hình dáng thoắt hiện, thoắt biến — điệu lướt nhẹ nhàng, lặng lẽ của chính chúng tôi — tất cả những cái đó đã mang lại cho tôi một cảm giác mà tôi đã có lần được biết... cái cảm giác đang sống trong một giấc mơ, mà tâm trí vẫn tỉnh. Lạ thật, tôi tự nhủ. Khi tôi nhìn xuống cái bóng dáng mảnh mai kề bên tôi; không còn nghi ngờ gì nữa, cô bé cao hẳn lên so với lần trước.

          «Tôi thấy hình như em lớn khá nhiều so với lần tôi gặp trước.»

          «Em cũng biết vậy, » nàng trả lời.

          Thấy tôi không nói gì thêm nữa mà chỉ mỉm cười vu vơ, nàng bèn nghiêm nghị nói: «Em đang lớn vội.»

          Nàng nhẹ như cánh lông hồng bên tôi, nhưng tôi có thể thấy là mình đang vòng cánh tay nàng trong cánh tay tôi, cùng nhịp bước. Tôi có thể nhìn rõ cái gợn sóng mầu đen do mảnh xiêm của nàng xòe rộng ra khi chúng tôi cùng xoay tròn; và tôi tự hỏi không biết chúng tôi có giống những nhân vật trong một bức tranh nào không. «Ba má em vẫn mạnh giỏi chứ?» Tôi hỏi thăm nàng. «Mùa này hai bác làm ăn khá không?»

          «Khá chứ,» nàng trả lời. «Hiện nay ba má em đang ở Boston.» 

          Tôi tự nghĩ: thì ra ông bà ấy để em ở đây một thân một mình. Nhưng tôi nghĩ thế còn hơn là tha em đi khắp nơi...

          «Tôi có vẽ một bức sơ họa hình em,» tôi nói với cô bé, «tôi bán được rồi. Bức vẽ đó đem lại may mắn cho tôi.»

          «Hân hạnh cho em,» nàng nói. «Em mong có dịp được ngắm xem bức họa.»

          «Để rồi tôi vẽ một bức tặng riêng em,» tôi nói.

          Nàng muốn biết thêm về bức phác họa mà tôi đã vẽ. Tôi nói với nàng về ông Mathews, và bức chân dung mà ông yêu cầu tôi vẽ; về bác Gus, và về bức bích họa ở quán ăn của ông Moore. Nàng cũng muốn xem bức ấy nữa, nhưng bức chân dung ông Mathews đề nghị làm nàng lưu ý nhất. «Ông tính họa chân dung ai?» Tôi thấy giọng nàng hỏi hết sức tự nhiên. «Tôi không rõ,» tôi trả lời. «Tôi chưa tìm được người mẫu.»
           
          Nàng yên lặng trượt trên tuyết hồi lâu rồi nói «Có thể ..., » giọng vội không kịp thở «xin ông cho em làm mẫu.» 

          Lẽ dĩ nhiên, tôi nghĩ... còn ai nữa? Tôi chợt nhận thấy không còn ai khác, không có đến người thứ hai để thực hiện bức họa ông Mathews đặt mua. Giá như cô nàng lớn tuổi hơn một chút nữa thôi...

          «Tôi chưa biết,» tôi trả lời, «rất có thể.»

          Nàng xiết chặt cánh tay tôi, quay phắt lại phía tay mặt. «Ha ha,» nàng kêu lên, «thế là em sắp được họa hình.»

          «Liệu con Emily có phát sùng không.» 

          «Emily nào?» Tôi hỏi.

          «Emily là con bạn thân nhất của em,» cô giải thích, «Họa sĩ Fromkes vẽ ảnh nó, em nói là ông sắp vẽ ảnh em, nó trả lời là chưa được nghe danh hiệu ông, em tát nó rồi hai đứa cãi lộn.»

          «Ủa,» tôi nói, «Tôi tưởng em với con Cecily nào đó thường hay đánh lộn chứ.»

          Nàng quay phắt đi, tôi thấy tay nàng run rẩy trên cánh tay tôi. «Cecily chết rồi,» nàng nói qua hơi thở. «Nó bị đậu mùa. Bây giờ con bạn thân nhất của em là con Emily. Em ngỡ ông biết rồi chứ.»

          «Làm sao tôi biết được?»

          Nàng bỗng cúi xuống. «Chiếc giầy của em bị sút dây» nàng nói, «Em phải sửa lại một chút.»

          Chúng tôi tiến vào bờ, tôi quì một gối xuống để buộc lại dây giầy cho nàng. Trong thế quì, tôi ngước lên nhìn nàng; khuôn mặt hồng hào của tuổi thơ, lồng trong mái tóc đen, đôi mắt nâu đang mơ màng chìm đắm trong một thời đại, một không gian nào đó... Tôi nghĩ: Nàng đang đóng vai nàng Lọ Lem, hay nàng Bạch Tuyết, hãnh diện có tôi quì gối trước mặt buộc dây giầy cho nàng.

          Chúng tôi leo lên bờ, gần nơi có quán giải khát người ta dựng lên mỗi năm để bán cho khách trượt tuyết. Tôi hỏi Jennie có vui lòng vào nghỉ, uống một tách chocolat nóng hay không. Nàng như chợt tỉnh mộng, buông tiếng thở dài rồi toàn thân nàng run lên, nàng vui vẻ vỗ tay. «Có chứ,» nàng ríu rít. «Em thích uống chocolat nóng lắm.» 

          Ngồi trước quầy hàng bên nhau, trong lúc hơi chocolat thơm phức bốc lên mũi, chúng tôi bàn chuyện thời tiết, chuyện thiên hạ. Nàng muốn tôi kể lại tất cả việc tôi bán bức sơ họa hình nàng cho ông Mathews, còn tôi, tôi muốn biết công việc học hành của nàng ra sao? «Tạm được,» nàng nói, nhưng không lấy gì làm nhiệt thành lắm. «Em đang học tiếng Pháp.»

          «Học tiếng Pháp à?» tôi hỏi, đầy sửng sốt, vì lần trước nàng mới học làm tính cộng.

          «Vâng.» nàng đáp. «Em có thể kể tên màu sắc, có thể đếm đến mười. Un, deux, trois, quatre (1)...»

          «Em có thể nói chiến tranh, bằng tiếng Pháp. C'est la guerre.» (1)

          Tôi không hiểu nàng đang nói gì, «Chiến tranh?»

          Tôi hỏi. «Chiến tranh nào?»

          Nhưng nàng chỉ lắc đầu. «Em cũng không biết,» nàng đáp. «Chỉ là chiến tranh thôi.»
           
          Nhưng rồi mắt nàng mở thật rộng, và có vẻ hoảng sợ nhìn tôi. «Họ không gây thương tích cho trẻ nít như em,» nàng hỏi, «có đúng vậy không?» 

          «Không,» tôi đáp. «Không đời nào.»

          Nàng thở ra nhẹ nhõm. «Vậy thì tốt, » nàng nói. «Em không thích bị thương.»

          Và nàng lại vui vẻ chúi chiếc mũi nhỏ bé vào tách chocolat.

          Tôi cũng thấy mình sung sướng, ngồi ở đó, hít thở mùi băng tuyết, mùi len ẩm, mùi bạc hà, mùi gỗ, mùi da thuộc ẩm; và có Jennie ngồi bên tôi, đang uống tách chocolat. Có lẽ có một điều gì kỳ lạ trong chuyện này; nhưng không hề chi, mọi sự đều tốt đẹp, dường như chúng tôi chỉ thuộc về nơi đó, địa điểm hiện chúng tôi đang cùng nhau hiện diện. Bốn mắt nhìn nhau thông cảm, cùng mỉm cười, làm như cả hai đều đang có chung một ý tưởng.

          «Vui quá ông nhỉ?» nàng nói.

          Sau hết tách chocolat cũng cạn, chúng tôi từ trên ghế đẩu cao leo xuống và lết ra cửa. «Nào,» tôi nói, «còn đủ thì giờ đi một vòng nữa.» Nàng nắm tay tôi, cùng xuống thềm bước lên băng tuyết. «Em ghét phải chấm dứt,» nàng nói, «vì biết có còn dịp vui chung nữa không?»

          Chúng tôi tiếp tục, tay nắm tay, và đi một vòng rộng quanh hồ; sau đó đến giờ tôi phải trở lại quán Alhambra để làm việc. Tôi từ biệt nàng ở cây cầu nối liền hai mặt hồ nước, là nơi chúng tôi đã gặp nhau. Nhưng trước khi đi tôi muốn biết rõ thêm một điều.

          «Jennie,» tôi hỏi, «hãy cho tôi biết Cecily chết hồi nào?»

          Nàng ngoảnh mặt đi, hình như mắt nàng mờ lệ, và cả khuôn mặt bỗng trở nên xa vắng.

          «Đã hai năm rồi,» nàng đáp.
           
               Chú thích
           
          (1) Tiếng Pháp, trong nguyên bản.
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 20 giờ bởi huytran >
          #5
            huytran 20 giờ (permalink)
            CHƯƠNG V

            «Cô ta có dáng điệu», tôi nói, «không hẳn thuộc về thời đại chúng ta.»

            Tôi đưa cho ông Mathews xem mấy bức sơ họa vẽ Jennie trong bộ đồ trượt tuyết, những bức hình nhỏ vẽ cô bé đang chuyển động, đang lượn một đường cong, hay đang đứng trên những đầu ngón chân như để sửa soạn chạy — cũng những bức sơ họa đó, thực vậy, vừa được trưng bày hồi năm ngoái ở phòng triển lãm Corcoran, như một phần trong sưu tập Blumenthal. Cô Spinney cũng có mặt tại đây, nhìn qua vai ông Mathews; đây là lần đầu tiên tôi gặp cô. Tôi thích giọng nói khô khan, đôi mắt sắc, lạnh lùng, và lối nói chuyện rắn rỏi của cô; còn phần cô, cô thích những bức phác họa của tôi. Trong lãnh vực họa phẩm và họa sĩ, không có chuyện nhân nhượng đối với cô Spinney; cô xét đoán người qua tác phẩm, không có gì khác; hoặc là cô chịu hay là không chịu tự kiếm lấy các họa phẩm theo ý cô.
             
            Ông Mathews dang tay giơ những bức họa ra trước mặt, đầu nghiêng về phía sau, tia nhìn chảy dọc theo sống mũi, «Con nhỏ này già dặn hơn trước,» ông nói. «Nhưng, nói chung, tôi lại thích thế này hơn. Lần trước coi bộ nó còn con nít quá...»

            «Đúng vậy,» ông nói, «những bức này không đến nỗi tồi — có phải thế không cô Spinney?»

            «Ông chỉ biết nói có thế thôi à», cô Spinney hỏi, «Rằng chúng không đến nỗi tồi à?»

            Ông Mathews ghé nghiêng đầu sang một bên, như đầu con chim. «Đặc điểm làm tôi thích là,» ông nói, «cậu cố gắng ghi lại cái dáng vẻ không hẳn thuộc về — nói sao cho đúng nhỉ— thuộc về thời đại chúng ta. Có một đặc điểm nơi phụ nữ là họ không tùy thuộc thời gian. Điểm đó không có nơi đàn ông — đàn ông chúng tôi luôn luôn có óc thực tại.»
             
            «Các ông có thể bằng lòng với hiện tại,» cô Spinney nói. «Và các ông biết cách xử dụng nó.»

            Ông Mathews, vốn quen với tính tình cô Spinney, nói tiếp. «Tôi không biết rõ về phụ nữ ngày nay,» ông nói rồi thở dài. «Theo ý tôi, họ thường thiếu một đức tính mà trước đây họ thường có — đức tính không phụ thuộc vào thời gian, nó khiến cho họ thuộc về bất kỳ thời đại nào — Có một cái gì vĩnh cửu — ta có thể nhận ra đặc tính này ở tất cả những bức danh họa từ Leonardo cho tới Sargent. Có bao giờ quí vị suy nghĩ về điều đó và nhận ra là những người đàn bà đã chết từ lâu còn có vẻ sống động, hiện thực đối với chúng ta hơn những người đàn ông? Những người đàn ông đã được tạo ra để — rồi mất hẳn đi. Quý vị sẽ chẳng còn tìm thấy người nào, có lẽ ngoại trừ một vài nhân vật trong những bức họa của Holbeins, là ta còn có thể gặp trên cõi đời này. Nhưng những người đàn bà — tại sao mình lại có thể bắt gặp họ bất kỳ nơi đâu, Mona Lisa, hay Bà X... trên đường phố, bất kỳ nơi nào.»

            Ông nhìn tôi với vẻ như muốn phiền trách. «Chân dung ngày nay,» ông nói, như thể đó hoàn toàn là lỗi tại tôi, «được cắm sâu vào hiện tại, cũng cứng nhắc như củ khoai tây.»
             
            «Ông đã thấy bức chân dung Bà Potterly mới đây do Tasker vẽ chưa?» Cô Spinney hỏi.
             
            Ông Mathews ho, buồn bã, bàn tay che trên miệng. «Tôi nghe nói là ông ta bán bức đó được đâu ba ngàn đô-la».

            «Chỉ có một ngàn rưởi thôi,» cô Spinney nói, «và một chuyến du lịch đi Florida.»
             
            «Người ta không thể kiếm sống theo cái đà ấy được,» ông Mathews nói.
             
            Nghe tiếng lầu bầu hốt hoảng, nửa như ghen tức, nửa như chua cay, cô Spinney day mặt lại phía tôi và dịu dàng đặt bàn tay lên cánh tay tôi. «Này, này, cậu Adams,» cô nói, «bình tĩnh nào». 
             
            «Cả cậu nữa, rồi cũng có ngày cậu cũng sẽ kiếm được như vậy.»
             
            Lúc đó tôi không thể nào ngờ được, một ngàn năm trăm mỹ kim một bức chân dung. Tôi nghĩ rằng Tasker phải là một bậc thiên tài hay là một tên lưu manh. Người ta thay đổi ý kiến về những việc tương tự khi lớn lên; nhưng điều đó làm tôi thấy mình mạnh bạo — ngay bây giờ nghĩ lại — còn thấy mình có vẻ liều lĩnh nữa.
             
            «Được,» tôi nói, «nhưng trong trường hợp ấy, liệu tôi được bao nhiêu với những bức họa của tôi?»
             
            «Spinney này,» ông Mathews lầm bầm, «cô nói nhiều quá.»
             
            Và cô Spinney tức khắc tiếp lời ông «Chúng gần như chẳng đáng gì cả.»

            Đó là một cách tàn nhẫn để hạ tôi, dầu tôi dám nói rằng tôi đáng bị xử tệ như vậy. Tôi thu lượm những bức tranh và bắt đầu xếp lại.

            «Anh bạn trẻ thân mến,» ông Mathews đau khổ nói...

            «Coi này.. »

            Nhưng tôi khăng khăng bỏ đi. «Tạm biệt ông,» tôi nói; quay lại phía cô Spinney tôi nói, «Hân hạnh được gặp cô.» 

            Cô nhìn tôi một chặp bằng đôi mắt đen lạnh như sương muối. Tôi tưởng cô sắp sửa mở cửa cho tôi ra, nhưng tôi rất đỗi ngạc nhiên, khi thấy mặt cô hồng lên, vẻ nồng nàn, cô phá lên cười. «Tôi mến cậu, cậu Adams,» cô nói, rồi bốp vào lưng tôi một cái đau điếng. «Cậu tự kiêu lắm phải không? Lại đây — lấy tranh ra để tôi coi lại xem.»

            Cô bắt đầu xem xét lại kỹ lưỡng hơn ông Mathews nhiều; có điều là cô ít chú ý đến Jennie hơn là chăm chú đến nét vẽ của tôi. Ông Mathews nhìn trộm cô với vẻ dụt dè; ông muốn cô cũng ưa thích những bức tranh ấy, vì có thế ông mới thấy tin chắc ở những nhận xét của ông về tôi. Ông không ngừng gõ những ngón tay xuống mặt bàn và đằng hắng.
             
            «Tôi nghĩ là tại xiêm áo,» ông nói, «nó làm cho cô ta già dặn hơn.»
             
            Tôi không nghĩ như ông, nhưng tôi không biết nói thế nào về điều tôi nghĩ, tôi đứng thộn ra đó sượng sùng, thấy tim mình đập nhanh hơn, và băn khoăn không biết cô Spinney sẽ nói gì. Sau cùng cô đặt những bức họa xuống, và nhìn thẳng vào mắt tôi, tia nhìn thật sắc sảo. «Được cậu Adams ạ,» cô nói. «Cả lố tranh này, chúng tôi trả cậu 25 đô-la».
             
            Tôi nghĩ là mình có thể chấp thuận giá ấy, nếu như tôi có thể quên đi lời phê bình của cô, nói rằng tranh của tôi chẳng đáng gì. Vẫn còn hơi tức giận, tôi muốn chống đối cô. Tôi còn trẻ; chưa biết nhiều về mánh lới của bọn lái buôn nghệ phẩm. «Không được,» tôi nói và lại sửa soạn bỏ đi.

            Tôi tự nhủ là mình cóc cần, là mình sẽ đem tranh bán cho người khác. Nhưng sự thực thì tôi rất cần, tôi không giấu nổi ý nghĩ thầm kín đó. «Này, cậu Adams,» cô nói, «cậu là một thanh niên dễ thương thật, nhưng cậu chưa thấu hiểu nghề buôn bán họa phẩm. Tôi biết cậu có thể vẽ được, nhưng chúng tôi đâu có phải là nhà sưu tầm; chúng tôi không mua những bức họa mà mình ưa thích để rồi ung dung ngồi ngắm suốt đời. Nếu chúng tôi nhận mua những bức tranh này, chúng tôi còn phải lo bán đi. Chúng tôi không thể trả quá ba mươi đô-la được. Cậu nghĩ thế nào?»
             
            «Vậy đó,» ông Mathews hăng hái phụ họa, «này người bạn trẻ, cậu nghĩ thế nào?»
             
            Tôi hít thở thật mạnh, rồi nói «Năm mươi đô-la.»

            Cô Spinney chậm chạp quay đi; tôi nghĩ là cô nổi giận; và tôi nghĩ sao mình có thể điên đến độ ấy. Tôi bướng bỉnh, nhưng tôi cũng hết sức đau khổ, tôi đưa mắt nhìn ông Mathews, nhưng ông ta đang mải nhìn theo cô Spinney, và gõ nhịp ngón tay trên mặt bàn. Tôi đang tính nói: «Thôi được, lấy đi,» nhưng cô Spinney lại đã nói trước. «Quỷ bắt hắn đi,» cô than, «thôi trả cho hắn cả năm chục.»

            Ông Mathews nhảy lên, nhẹ nhõm. «Đúng rồi, cô Spinney,» » ông nói lớn. «Đúng lắm, tôi vui mừng vì thấy cô đồng ý với tôi.»
             
            Cô nhún vai. «Tôi cũng chỉ là một củ khoai thôi, Henry ạ,» cô nói, «không có gì là vĩnh cửu nơi tôi. Ông liệu mà bán lấy những bức tranh đó.»
             
            « Được rồi.» ông nói. Ông nâng những bức tranh lên, ngắm nghía rồi lại đặt xuống, lại nhấc lên. «Được rồi,» ông nói, «được rồi, dĩ nhiên là vậy. Tôi sẽ bán được - đừng lo. Tôi sẽ kiếm được khách mua. Dĩ nhiên là không có ngay, có lẽ...»

            Họ trả tôi năm chục đô-la. Bây giờ đối với tôi số tiền đó không quan trọng, nhưng hồi đó thì nó lớn lắm. Tôi vẫn được ăn đằng tiệm Alhambra của ông Moore; vì thế món tiền nọ là cả một gia tài đối với tôi, chẳng kém gì một ngàn rưởi Mỹ kim đối với họa sĩ Tasker. Tôi cho rằng số tiền lớn như vậy vì nó là của riêng tôi. Nó có thực, và tôi có toàn quyền xử dụng.

            Trước khi tôi bỏ đi, ông Mathews lại nói với tôi về bức chân dung, nhưng lần này ông nói rất rõ ràng là ông muốn có bức chân dung nàng Jennie. «Ở người con gái ấy,» ông bầy tỏ, «có một đặc điểm khiến tôi nhớ tới một cái gì... tôi chưa nói đúng ý, nhưng tôi có thể nói cho cậu biết cái cảm tưởng nó gợi ra trong tôi. Giống như cảm giác lúc tôi còn thanh xuân.»

            Ông ngước mắt nhìn tôi như tạ lỗi. «Tôi không biết mình có thể diễn tả cảm nghĩ đó một cách nào khác không,» ông nói. «Tôi không dám nghĩ là cậu đã hiểu ý tôi.»

            Nhưng tôi nghĩ là mình đã hiểu. «Có phải ông định nói là cô gái đó lỗi thời không?» Tôi hỏi.

            «Không,» ông đáp, «đó không phải là ý tôi, không hẳn là như vậy.» 

            «Nhưng tôi thì tôi thấy thế,» tôi trả lời. «Tôi nghĩ là cô gái đã lỗi thời.»

            Cô Spinney tiễn tôi ra cửa. «Thôi chào cậu,» cô nói, «lần sau xin mời cậu lại. Nếu cậu có được bức nào vẽ hoa, khổ tranh vào khoảng 46 x 38... » Cô ngó quanh dòm chừng ông Mathews, và bắt gặp ông ngay đằng sau, lưng ông xoay lại, cô bèn hạ thấp giọng trầm. «Tôi ưa thích những bức tranh vẽ hoa.»
             
            Tôi rẽ sang Đại-lộ số Năm vì đó là đại lộ tôi thích đi dạo nhất. Lần đầu tiên tôi cảm thấy đấy là thế giới của tôi, thành phố của tôi, nó thực sự thuộc về tôi, thuộc về tuổi trẻ và hy vọng của tôi; một vị hứng khởi dâng lên trong miệng tôi, và lòng tôi tràn ngập niềm vui, lâng lâng như một cánh buồm lôi cuốn tôi đi. Những bức tường cao, lộng gió trên đầu tôi, những cửa hàng mở rộng, lấp lánh giăng thành hàng dây trước mặt tôi, với những màu sắc pha trộn, những khuôn mặt đàn bà tươi vui và sắc sảo, và ánh nắng chiếu trên mọi vật — nắng và gió —
             
            Tôi nhớ tới bài ca của Jennie. Và rồi tôi tự nghĩ rằng tôi không biết nàng ở đâu, cũng không biết làm sao tìm kiếm được nàng; và ánh sáng đang rạng rỡ trên mọi vật bỗng nhiên vụt tắt.
            <bài viết được chỉnh sửa lúc 18 giờ bởi huytran >
            #6
              huytran 1 giờ (permalink)
              CHƯƠNG VI

              «Như vậy là anh muốn,» bác Gus nói, «nhờ tôi tìm cho anh con nhỏ tên là Jennie. Anh không biết nó ở đâu, không biết lai lịch của nó. Vậy là anh có cái mà tôi có thể gọi là một cuộc khởi hành tốt đẹp đấy.»

              «Ba má nó làm nghề leo dây,» tôi bảo bác, «đi trên sợi dây căng thẳng.»

              «Biết vậy cũng dễ hơn,» bác nói. «Họ lưu diễn à?»

              Tôi không biết. Tôi bảo bác tên họ là Appleton.

              « Appleton,» bác càu nhàu. «Appleton.» Bác suy nghĩ một chập. «Có một màn trình diễn mang cái tên này,» bác tuyên bố. «Ở hí viện Hammerstein cũ.»

              « Đúng rồi,» tôi nhanh nhẹn đáp. «Họ trình diễn ở đấy mà.»

              Bác Gus nhìn tôi ngạc nhiên. «Này Mack nè,» bác nói, «bây giờ có lẽ họ vào viện dưỡng lão rồi. Chắc là người khác mất rồi. Có chắc anh đã gặp con nhỏ đó không?»
               
              « Chắc mà,» tôi đáp, «tôi đã vẽ mấy bức tranh nó rồi mà.»

              Bác lắc đầu nghi ngờ. «Những bức tranh ấy đâu có nghĩa lý gì,» bác nhận xét. «Tôi sợ là anh đã phịa ra nó.»

              « Không» tôi nói. «Làm gì có chuyện bầy đặt ra chứ».

              Chúng tôi đứng trước mũi chiếc tắc-xi của bác, nơi một góc phố, trong bầu không khí xám, hoang sơ của buổi sớm mai. Sắp có tuyết rơi. Tôi ngửi thấy mùi tuyết lẫn trong gió, và người tôi run lên nhè nhẹ. Nhưng bác Gus, mặc hai chiếc áo chun đã cũ, chiếc nọ chồng lên chiếc kia, bác hình như không thấy lạnh, bác quen với gió lạnh cũng như nắng gắt; bác làm tôi nhớ tới những ngư phủ già ở Truro, hết năm này qua năm khác bị thời tiết quật, đen sạm và rắn chắc bởi biển cả. Nhưng đối với bác Gus không có vị của muối biển; những đợt thủy triều và những thủy đạo của bác là những đường phố, và bộ mặt của bác là khuôn mặt của thành phố, xám nhợt, dễ nổi giận, dễ vui, nhạy cảm, giảo hoạt và đầy tự tin. Khuôn mặt đó không có cái vẻ trầm tư lầm lì của đại dương, không có cái vẻ ưu tư dai dẳng của biển cả...
               
              «Để tôi thử tìm quanh quẩn xem nếu như anh muốn,» bác nói, «để tôi hỏi thăm mấy người quen. Nhưng nghe này Mack — » giọng bác trầm xuống thấp đầy vẻ khẩn thiết — « đừng có để cảnh sát làm khó dễ đó nghe: Một đứa con gái nhỏ như thế. —»

              «Chính tôi đâu muốn có chuyện lôi thôi với cảnh sát.» Bác nói thêm như một hậu ý.

              « Tất cả mong muốn của tôi,» tôi nói, «là vẽ chân dung con nhỏ.»

              Và tôi chỉ muốn có thế; tôi thề là chỉ có thế thôi.
               
              Trở lại xưởng vẽ, tôi cố gắng làm việc. Tôi đang vẽ một bức tranh khá lớn cảnh mặt hồ có những người trượt tuyết trên đó, vẽ bằng ký ức và nhờ những bức sơ họa, nhưng tôi khó lòng tiếp tục nổi. Tim óc tôi không chú tâm vào đó; trí tôi cùng một lúc bay theo bốn phương tám hướng. Tôi băn khoăn không biết có nên bắt đầu một bức vẽ hoa cho cô Spinney không? Không biết bác Gus có tìm thấy tung tích gia đình Appletons không; và tôi tiếp tục nghĩ đến quán Alhambra, về bức bích họa phía trên quầy rượu, còn nhiều việc phải làm bức họa ấy mới xong. Tôi cảm thấy xốn xang, bực bội, nét bút của tôi không vững, ánh sáng thì tồi tàn. Tôi hài lòng vì đã đến giờ ăn cơm trưa, và tôi có thể xếp đồ nghề lại, và đi ra ngoài.

              Bác Gus chưa về khi tôi đến quán. Tôi ăn một mình; đoạn bắc thang lên mé sau quầy rượu và tiếp tục công việc. Tôi làm việc chừng một tiếng đồng hồ thì bác Gus về, và ngồi ở chiếc bàn từ đó bác có thể xem tôi vẽ. Tôi băn khoăn ngó xuống nhìn bác, nhưng bác lắc đầu:

              « Xui rồi, Mack ạ,» bác nói. «Cảm phiền nghe bạn.»

              «Bác không tìm thấy tung tích họ à?» Tôi hỏi. Bác nhìn lại tôi với vẻ mặt kỳ lạ, «Đúng như tôi nghĩ ngày xưa có vợ chồng Appletons leo dây thiệt, » bác nói, «nhưng từ hồi 1914 kia lận. Sau họ gặp tai nạn, dường như dây leo bị đứt đâu vào năm 1932.»

              Chúng tôi trừng mắt nhìn nhau một hồi, rồi người bồi bàn bưng la-de đến. Bác Gus tợp một hơi dài, rồi, ngửa người ra phía sau long trọng nhìn bức tranh tôi vẽ. «Tranh vẽ khá lắm,» bác nói.

              Tôi vẽ một cảnh cắm trại bên bờ hồ, không khác gì khu hồ trong Công viên; và ở đó, bên mặt nước, dưới bóng cây, những người đàn bà của tôi tụ họp vui đùa tán nhảm trên nền cỏ. Đó là những nhân vật thơ ngây, và tôi biết rằng, theo ý bác Gus, giá vẽ thêm vào đó vài người đàn ông cũng là chuyện hay. Về điểm này bác có vẻ hiện thực; nhưng bác không đi quá trớn. Điều bác đòi hỏi ở một bức tranh chỉ là: nó có thể nhắc nhở bác nhớ tới điều bác đã biết trước, kèm theo dự phóng của một thế giới tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn.

              « Đúng vậy, thưa ông,» bác tuyên bố, «khi tôi nhìn những hình ảnh như vậy, tôi tự nhủ là mình đã bỏ phí thời gian.»
               
              Bỗng bác ngồi nhổm dậy trên ghế, giơ ngón tay trỏ vào một người đàn bà còn trẻ đang nằm nghiêng, sát bờ hồ, mặt cô ta quay đi chỗ khác. «Cái cô này làm sao ấy?» bác hỏi, «Tôi thấy cô ta có vẻ không được.»

              «Sao vậy?» Tôi hỏi bâng quơ, không thèm nhìn lên, «Bác thấy cô ta làm sao?»

              «Trông cô ta như người chết đuối,» bác Gus nói, quay sang hình vẽ.
               
              «Bác nói gì cơ?» Tôi hỏi. Nhưng tuy hỏi vậy, tôi biết bác định nói gì; có đôi nét gì lầm lẫn khi tôi đặt cô ta dưới gốc cây, khiến mặt cô ta có vẻ lờ mờ, nhợt nhạt dưới bóng lá cây; mớ tóc đen của cô ta tựa như bị ướt đầm và toàn thân cô tựa như bị nước choàng phủ... Tôi thấy buồn khôn tả lúc ngắm lại, tôi cho là tại tôi nóng nẩy, cũng vì mình kém tài, và tôi vội vã với lấy ống thuốc đánh bóng màu đất.

              Nhưng ngay sau khi đem người đàn bà ra ánh sáng mặt trời, tôi lại cảm thấy tuyệt vọng khôn nói nên lời. Chính khuôn mặt nửa khuất, nửa hở, mà tôi thầm tưởng tượng trong lòng tôi là Jennie — có ngày nàng sẽ như vậy — và tôi không thể nghĩ rằng nét bút và tâm hồn tôi đã phản lẫn nhau như thế.

              Còn ông Moore thì rất hài lòng về bức họa. «Tốt lắm,» ông nói, ông tiến lại và ngửng đầu nhìn tôi đang ngồi trên bực thang, «thật trúng ý tôi. Đúng lắm, thưa ông, đúng như tôi nghĩ. Tôi thấy là hấp dẫn, nhưng không phạm thuần phong mỹ tục. Còn một chỗ bên trên cửa vào bếp, tôi đang nghĩ mình có thể vẽ một cảnh gì ở đó.»

              « Chi vậy?» bác Gus nói, «bộ ông định làm bảo tàng viện hay sao?»

              « Tôi chỉ muốn chỗ này đẹp,» ông Moore nói, «Bức tranh trang hoàng làm cho thực khách vui mắt.»

              « Được,» bác Gus nói, « ông bảo cậu ấy vẽ tôi và chiếc xe của tôi. Như thế lợi cả cho ông, lợi cả cho tôi.

              « Nhưng cần phải vẽ cho đẹp,» bác nói thêm. «Đừng bắt tôi chết đuối.»

              Tuyết bắt đầu rơi khi tôi đi về nhà, những lọn tuyết nhỏ chầm chậm rơi, uốn mình qua những tầng không khí màu xám, theo cơn gió đông bắc. Cả thành phố chìm trong màu xám dưới vòm trời nặng như muốn đè trên tôi trong lúc tôi tiến bước. Tôi nghĩ đến mỏm Cape, đến trận bão đang rít qua những đồi núi, thổi làn tuyết ẩm từ biển vào, qua những mái nhà nhỏ chen chúc trong những thung lũng, đến làn sóng bạc va vào thành đá vỡ tan ở High Land, đến tiếng sóng gầm trong khe đá như tiếng xe lửa lăn xiết trên đường rầy đằng sau những ngọn đồi — Cơn bão và làn tuyết bị xua dạt hướng về phương nam, phát xuất từ đại dương gợn sóng, trống rỗng và đen tối, từ Labrador, từ những dòng nước ở Greenland, mờ mịt trong mùa đông và đêm tối. Tôi nghĩ, có gì đâu giữa chúng ta và sự lạnh buốt đang chờ đợi, lẽ huyền vi, sự chết — một giải bãi biển, một ngọn đồi, vài bức tường vách đá hay vách ván, một đốm lửa — và mặt trời của ngày mai, sẽ mọc lên để sưởi ấm chúng ta, hy vọng ngày mai sẽ thanh bình, sẽ đem tới những ngày tươi đẹp hơn.
               
              ... Nếu chẳng may ngày mai tiêu tan trong bão táp thì sao? Chẳng may thời gian đứng im thì sao? Và ngày hôm qua nữa — Giả thử bữa qua mình đi lạc đường, bị vùi trong cơn bão — không biết mình còn có tìm lại được ngày qua trước mặt không, mình có đoán nổi mặt trời ngày mai sẽ mọc lên ở đâu không?

              Tôi bước vào nhà, rũ tuyết trên vai áo ngoài ngưỡng cửa. Trong lúc tôi đứng trong hành lang, cũng lạnh lẽo và đen tối chẳng kém gì chính tôi, thì bà Jekes từ phòng khách riêng của bà tiến ra, nhìn tôi với những tia mắt có phản ánh sự nghi ngờ, giận hờn và một vẻ soi mói kỳ lạ. Có vẻ như bà đang đợi tôi. «A,» bà nói, «cậu về đây rồi.»
               
              Và bà chắp tay lại đặt trước ngực một cách thật đoan trang.

              Tôi nhìn lại bà không nói năng gì. Tiền nhà tôi trả rồi, và tôi không tìm được lý do để lo lắng. Tôi có cảm tưởng là bà không ưa tôi, và bà ta sẽ vui mừng khi có thể báo cho tôi biết là tôi có chuyện buồn phiền; nhưng điều bà sắp nói, tôi thật không ngờ đến.

              «Cậu có người đến thăm,» bà nói. «Một tiểu thư.» Và thấy tôi đứng há hốc mồm nhìn bà, bà mỉa mai nói:

              «Bảnh quá rồi còn gì, tôi nói thiệt đấy. »

              Bà xì một tiếng ngạo mạn, rồi quay đi, trở lại phòng khách. «Tiểu thư đang đợi cậu ở trên lầu đấy, » bà nói với lại, rồi đóng kín cửa, như muốn thanh minh. «Tôi không có trách nhiệm gì về việc này đâu nhé.»

              Tôi chậm rãi lên thang, bối rối và sững sờ, tim tôi đập nhanh. Tôi làm gì có bạn, không thể có một người nào. Làm gì lại có chuyện có người đang đợi tôi.

              Nhưng tôi đã lầm. Tôi biết rõ mình lầm ngay trước khi mở cửa; một tình cảm nào đó thuộc về bản năng đã bảo là tôi lầm.

              Đúng nàng Jennie. Nàng đang ngồi đợi trong chiếc ghế cũ gần bên giá vẽ, ngay ngắn và nghiêm trang, đôi tay xỏ vào ống vải nỉ đặt trên đầu gối, những đầu ngón chân vừa chấm tới mặt sàn, chiếc nón tròn bằng lông thú giống như chiếc bánh kẹp nhỏ đội trên chỏm đầu. Tôi chậm rãi bước vào, và tựa người vào cánh cửa nhìn nàng một chặp. Niềm sung sướng làm tôi cảm thấy bủn rủn cả người.

              «Em nghĩ là có lẽ ông mong muốn em lại chơi, ông Eben,» nàng nói.

              <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >
              #7
                huytran 54 phút (permalink)
                CHƯƠNG VII

                Nàng trầm lặng ngồi trong chiếc ghế bành lớn trong lúc tôi lụi hụi dẹp mớ bút vẽ và loay hoay tìm kiếm đồ pha trà. Đôi mắt nàng từ từ di chuyển chung quanh, dừng lại trên mọi đồ vật, từ mớ bàn ghế tồi tàn, những bức tường cáu bụi, mớ lụa vẽ chất đống trên sàn gác, cái tủ bừa bộn quần áo, tranh vẽ, ống sơn, hộp thực phẩm, và những hộp bể, chiếc giường xiêu vẹo bừa bãi chăn mền xơ xác — mớ xà bần ấy chính tôi chưa có dịp quan sát kỹ lưỡng, cũng chưa hề để ý trước khi nàng đến. Bây giờ thì tôi tưởng như trông rõ từng vật một, lần đầu tiên, cũng như nàng vậy. Đôi mắt nàng mở rộng, nàng thở một hơi dài.

                «Trước đây, em chưa từng vào xưởng vẽ một lần nào,» nàng nói. «Thích đấy chứ.»

                Trong cái ấm sắt đặt trên bếp còn chút nước thừa lại từ buổi sớm mai, nên tôi chỉ việc đốt bếp lên, rồi đi tìm hộp bánh bích - qui trong tủ buýp - phê. «Căn phòng thật khủng khiếp, Jennie,» tôi nói, «dơ quá trời.»

                « Vâng, » nàng đồng ý, « dơ thực đấy. Em không nghĩ thế... nhưng vì chính ông đã nói ra trước... »

                Nàng đứng dậy, gỡ nón ra và để chung với chiếc áo choàng và chiếc ống nỉ bao tay gọn gàng trên mặt ghế, ‹ Chắc ông không có chiếc tạp-dề nào phải không?» nàng nói. «Cũng không có cái gì để lau bụi phải không?»

                Tôi nhìn nàng sửng sốt. «Cô không tính dọn dẹp đấy chứ?» tôi hỏi.

                « Có,» nàng đáp. «Em tính dọn dẹp trong lúc chờ nước sôi.»

                Tôi chỉ tìm được một chiếc khăn mặt và một chiếc khăn tay sạch mà thôi. Nàng cột chiếc khăn mùi-xoa lên mái tóc và buộc xuống cằm, kiểu người ta buộc đầu trên mỏm Cape, và nàng nhặt tấm khăn tắm lên với một dáng điệu cả quyết. Rồi với đôi chân dài dạng ra, nàng nhìn bao quát một lần nữa tựa như một vị tướng trước khi lâm trận, rồi mặt nàng tiu nghỉu. «Trời ơi,» nàng than, «thật không biết phải bắt đầu từ đâu đây.»

                Tôi đã tìm được hộp bánh bích - qui và ít miếng đường để uống trà, và tôi đi xuống dưới nhà để rửa tách chén ở chỗ đặt chậu. Lúc xuống, tôi ngó qua thành cầu thang để xem có gì không; đương nhiên là có bà Jekes đứng ở phía dưới chân cầu thang nín thở, chăm chú lóng tai nghe. Tôi tự hỏi không biết bà mong đợi nghe lỏm được cái gì, và tôi thổi rít lên một tiếng huýt gió chói tai cốt để tỏ cho bà biết tôi đang làm cái gì. Bà ngó lên, giật mình, rồi sượng sùng lủi vào phòng riêng.
                 
                Khi tôi về phòng, Jennie đang ngồi trên sàn gác, chiếc khăn lau để một bên, và những bức họa thành phố bày la liệt xung quanh. Nàng mỉm cười nhìn lên lúc tôi bước vào, một vết lem quệt trên cằm nàng, và một vết khác dọc theo cánh tay giữa cườm tay và khuỷu tay.
                 
                «Em đang xem mấy bức này,» nàng nói. «Ông không phiền chứ?»

                Tôi nói lẽ dĩ nhiên là không, tôi có phiền hà gì đâu.

                «Tranh đẹp lắm,» nàng nói. «Em nghĩ ông là một nghệ sĩ có tài. Có điều là một vài bức...» nàng giơ một tấm tranh lụa ra chỗ sáng... «Em không biết là ở đâu. Em chưa thấy những nơi này bao giờ cả.»

                Tôi ngó qua bờ vai nàng vì nàng ngồi trên sàn. Nàng đang xem một bức tranh nhỏ mà tôi đã vẽ bằng thuốc màu những tòa nhà chọc trời ở khu Radio City. «Đúng rồi,» tôi bảo nàng, «cảnh mới đấy mà, những nhà chọc trời này mới xây chưa được bao lâu.»

                «Em cũng đoán vậy, » nàng đồng ý.

                Nàng ngắm bức tranh một hồi lâu, giơ ra phía cửa sổ, hướng về làn ánh sáng xám muộn của buổi chiều tà. «Kỳ thật đấy,» sau cùng nàng nói, «nhưng đôi khi ta biết rõ những cảnh vật mà ta chưa hề trông thấy bao giờ. Như thể là có một ngày mình sẽ nhìn thấy, và vì vậy mình nhớ ra là chúng giống cái gì rồi... Em nói thế có vẻ mập mờ, phải không ông?» 

                «Tôi không biết,» tôi đáp. «Điều cô nói có vẻ lúng túng khó hiểu.»

                « Hẳn đi rồi,» nàng nói, «Em cũng đoán vậy. Làm sao mà có thể nhớ được những gì mình chưa nhìn thấy.»

                Nàng ngồi đó, bức tranh đặt trên đầu gối, mắt nhìn thẳng về phía trước. Lúc đó trong phòng hầu như đã tối rồi, tuyết bên ngoài mỗi lúc rơi mỗi mau, tạo nên thứ ánh sáng xám ở khung cửa sổ, và nhận chìm cảnh vật vào trong bóng tối. Nàng dường như cũng đang nhìn qua những lớp bóng tối, tới một nơi khác, một nơi xa vời, bí hiểm, bởi vì lồng ngực nàng đang phập phồng, đôi môi hé mở và tiếng thở dài não nuột thoát ra. Tuyết, bị cuốn theo luồng gió, bất ngờ thổi tạt ngang, tạo thành một thứ âm thanh nhẹ, như tiếng khạc nhổ lên khung cửa kính, và trên một dòng sông quanh đây một con tầu rúc vang tiếng còi cô độc. Nàng cục cựa bất an, nâng bàn tay lên và đụng phải bàn tay tôi. «Không,» nàng thì thầm, «không thể nào nhớ ra được.» 

                Tôi tiến ra bật đèn, và căn phòng trơ trọi, bừa bãi, từ bóng đen lộ diện, phũ phàng và hiện thực, bốn bức tường hoen ố chứa đựng hiện tại trong một khối lượng ánh sáng bất động. Jennie khẽ kêu lên, nàng đứng phắt dậy: «Thiệt tệ quá,» nàng nói, «em chưa lau chùi gì cả.»

                « Không sao,» tôi bảo nàng. «Nước sôi rồi. Pha ấm trà uống chơi.»

                Sau đó, nàng lại là hiện thân của sự vui vẻ, nàng ngồi vào ghế, những ngón chân vừa chạm tới mặt sàn, đổ nước từ chiếc ấm han rỉ ra, lấy bánh mời tôi và nói năng vui vẻ, về đủ thứ chuyện. Tôi phải kể lại cho nàng nghe về cô Spinney, con người có trái tim sắt đá và thích tranh vẽ hoa, cùng là chuyện chúng tôi tranh luận với nhau về những bức phác họa và tôi đã thắng; nàng vỗ tay khoái trá. « Ồ, Eben,» nàng nói, «ông giỏi thiệt.» Nàng muốn nghe truyện bác Gus và chiếc tắc-xi của bác. Nàng nghĩ là bác ta phải giầu lắm mới có riêng một chiếc tắc-xi. «Ông có nghĩ là một ngày nào đó em được đi xe của bác ta không?» Nàng hỏi. «Em chưa đi tắc-xi lần nào cả. Nhưng có lần em đi xe ngựa với má ở Công viên, bác xà-ích ngồi tít trên cao, đầu đội một chiếc nón cao.»

                Nàng kể là bạn Emily của nàng sắp vào ở ký túc xá. «Em nghĩ có lẽ em cũng vào đấy với nó,» nàng nói. «Đúng ra, đó là một dòng tu gọi là Tu viện Thánh Mẫu, nhưng không phải Gia-tô-giáo đâu. Trường ở trên đồi, từ đó có thể nhìn xuống dòng sông; con Emily nói là cứ dịp lễ Phục sinh là người ta lại ban phép cho những con heo. Ý em không tha thiết muốn đi, nhưng má nói em phải đi, và dù sao, Emily thì sắp đi rồi... Em sẽ nhớ ông lắm, Eben ạ.»

                «Tôi cũng nhớ em, Jennie ạ, » tôi nói. «Trước khi đi em có muốn ngồi làm mẫu cho tôi vẽ không?»

                « Em cũng đang hy vọng ông hỏi em điều đó,» nàng trả lời. «Có chứ, em muốn lắm chứ.»

                «Vậy mai em trở lại nhé?»

                Nhưng nàng ngoảnh đi, và khuôn mặt nàng biểu lộ một tình cảm lạ kỳ. «Em không biết,» nàng nói. «Em không biết có lại được không?»

                «Ngày mốt vậy?»

                Nàng lắc đầu. «Khi nào lại được em sẽ lại ngay, » nàng trả lời; và tôi không gạn hỏi nàng thêm được điều gì nữa. 

                Tôi kể cho nàng nghe về chuyện bức chân dung bà Potterly của họa sĩ Tasker, và giá bán bức tranh quá cao — ấy là theo ý tôi nghĩ lúc đó — mà ông ta đã thâu được. Mặt nàng tươi hẳn lên, khẽ cất tiếng cười. «Nếu giầu có lớn như vậy ông có thích không?» Nàng hỏi. «Lúc đó ông đừng quên em nghe không.»

                «Quên em được ư?» Tôi kêu lên với giọng hoài nghi.

                « Khi nào ông giầu có và tiếng tăm lừng lẫy kia! Nhưng em hy vọng là ông sẽ không quên.» Nàng nói tiếp đầy vẻ hài lòng. «Bởi vì, chính em cũng có thể giầu có và nổi danh, và như thế là cả hai đều như nhau.»

                Tôi nói: «Jennie ạ, riêng phần tôi, tôi không quan tâm đến chuyện làm giầu. Tôi chỉ mong muốn được vẽ và biết mình đang vẽ gì. Được vậy cũng khó lắm — biết mình đang vẽ gì; đạt tới một cái gì vượt trên thời buổi nhỏ mọn, đắng cay này ...»

                «Có thật thời buổi này cay đắng lắm không? Eben.» Nàng hỏi với vẻ ngạc nhiên.

                Tôi nhìn sững nàng, tự nhủ: dĩ nhiên rồi, nàng làm sao hiểu được niềm cay đắng, biết được tâm trạng người nghệ sĩ là người đã bị chiếm đoạt bởi một sự bí ẩn mà y bắt buộc phải tìm ra giải đáp, cùng lúc cho chính y và cho những bạn hữu của y; một sự bí ẩn của cái tốt và cái xấu, của hoa nở và của rữa tàn — sự bí ẩn của một thế giới chỉ biết quá chậm, luôn luôn quá chậm, phân biệt được đâu là sự tàn rữa, đâu là sự nở hoa.

                Nàng quan sát nét mặt tôi, và đưa hộp bánh bích-qui cho tôi. «Này,» nàng nói, «hãy ăn một cái bánh. Rồi ông sẽ bớt cảm thấy khó chịu.» Tôi bật cười vì chính tôi, vì cả hai người; và nàng cũng phá lên cười.

                Nhưng rồi nét mặt nàng lập nghiêm trở lại. «Ông hết buồn rồi chứ, phải thế không, Eben?» nàng hỏi, «Em có ý muốn nói lần đầu tiên em gặp ông trông ông ủ dột quá.»

                «Không,» tôi nói, «Bây giờ tôi khá rồi. Buổi tối gặp em lần đầu tiên tôi phiền não quá — Tôi cảm thấy lạc lõng tựa như mình không còn phương sống được nữa.»

                Nàng ngồi nép mình trong ghế, và giơ tay lên như sắp bị tôi hành hung. «Không,» nàng nói lớn, «Ồ không — đừng bao giờ nói vậy — đừng bao giờ nữa. Vả lại, ông không thể tuyệt vọng được — hiện ông còn ở đây, ở đây không thể là lạc lõng được. Không thể lạc lõng; không nên tuyệt vọng. Không, em không chịu nổi điều ấy.»

                Và quay lại tôi với vẻ ái ngại, nàng nói thêm:

                «Cả em và ông chúng ta sẽ không thể tuyệt vọng.»

                Sự nặng nề kéo dài một chập, rồi tan biến — chúng tôi lại trở lại với thực tại, trong căn phòng, với bốn bức tường vàng khè dưởi ánh sáng, với làn tuyết xám bên ngoài, và những bức tranh của tôi vương vãi trên mặt sàn quanh tôi, cái thế giới mà tôi quen biết, cái thế giới mà tôi trông thấy hàng ngày, có thực và vây quanh tôi. «Không,» tôi nói, «Tôi không tuyệt vọng. Tại sao tôi lại tuyệt vọng nhỉ?»

                «Ăn nói xàm bậy không à.»

                Nàng ngẩng lên cười với tôi, nụ cười thật là héo hắt, «Đúng rồi,» nàng nói, «thật là nhảm. Chúng ta đừng bao giờ nói như vậy nữa.»

                «Bởi vì,» tôi nói, « đối với các cô gái bé nhỏ như em...»

                « Phải,» nàng đáp nghiêm nghị, «với những cô gái bé nhỏ như em.» Nàng đứng dậy, đưa tách nước của nàng cho tôi, và cả bình nước trà nữa. « Này,» nàng nói. «Ông đi rửa sạch hết đi kẻo lại quên.» 

                « Đúng đấy, » tôi nói. «Đợi tôi một chút; tôi sẽ lên ngay.»

                « Vâng,» nàng đáp. «Em sẽ đợi ông.»

                Tôi xuống dưởi nhà; cầu thang tối om; cánh cửa phòng khách của bà Jekes khép chặt. Tôi có thể nghe tiếng tuyết rơi xuống mặt kính gắn trên mái nhà. Tôi súc chén tách, rồi vội vã đi lên. «Jennie,» tôi gọi. 
                 
                Nhưng nàng đã đi rồi, căn phòng vắng ngắt. Tôi đã không nghe tiếng chân nàng đi ra; tôi không nghe tiếng cánh cửa dưới nhà khép lại. Nhưng nàng đã đi rồi.

                Mãi sau tôi mới sực nhớ ra là tôi đã quên ngay đến cả việc hỏi xem nàng ở đâu.
                <bài viết được chỉnh sửa lúc 15 phút bởi huytran >
                #8
                  Chuyển nhanh đến:

                  Thống kê hiện tại

                  Hiện đang có 0 thành viên và 4 bạn đọc.
                  Kiểu:
                  2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9