CHƯƠNG XV
Sau đó tôi dọn ra khỏi nhà bà Jekes; và vì mùa hè không còn xa lắm, tôi quyết về sống với Arne trên miền Cape ngay lập tức. Ông Mathews và cô Spinney từ giã tôi như những người bạn thiết; ông Mathews tặng tôi một cái giá vẽ gấp nhỏ trước đây của họa sĩ Fromkes, và cô Spinney tặng tôi một chai rượu cô-nhắc – để giữ, theo lời cô, cho sương lạnh khỏi làm cứng tay. «Tôi muốn có một bức tranh vẽ hoa khác,» cô ngỏ ý, «khổ 46 x 38, và một ngôi giáo đường. Tôi vào loại khoái tranh vẽ nhà thờ, những ngôi nhà thờ nhỏ màu trắng, có những ngọn tháp nhọn. Tạm biệt cậu. Xin Chúa phù hộ cậu. Đừng có chết đuối dưới biển nghe không?»
«Tại sao tôi lại muốn chết đuối dưới biển nhỉ?» tôi hỏi.
«Tôi không biết nữa,» cô trả lời. «Đàn ông các ông điên lắm nên có thể làm bất kỳ chuyện gì. Riêng tôi, tôi không tin cậy gì ở biển cả. Tôi sẽ không lại gần bờ bể trong khoảng năm chục dặm.»
«Cô kỹ quá,» tôi nói, «Dễ gì biển bắt được cô.»
Cô nhìn tôi với vẻ mặt xa lạ, sắc hồng lại bắt đầu bò lên cằm. «Chính những người tính tình cứng cỏi mới dễ chết đuối lắm đấy,» cô nói, rồi quay đi.
Ông Mathews tiễn tôi ra tận ngoài cửa; ông không ngừng giơ tay lên vỗ nhẹ vào lưng tôi. «Tạm biệt, nghe con,» ông nói, «tạm biệt. Tôi vui mừng vì cậu đã tìm đến tôi; rồi chúng ta sẽ còn cùng làm nhiều việc lớn khác. Bây giờ được nghỉ ngơi thì cố mà hưởng. Nhưng cần phải nhớ — đừng có vẽ phong cảnh. Để cho ông Eastwood vẽ đồi núi.»
«Tôi muốn vẽ những ngư phủ,» tôi nói.
«Ngư phủ,» ông nhắc lại giọng nghi ngại, «ừ thì...»
«Đang kéo lưới,» tôi nói, «lúc sớm mai với những con cá đang dẫy dụa trong màng lưới.»
Ông Mathews rầu rĩ nhìn tôi. «Nghe này,» ông nói. «Ở đời thiếu gì cá.» Ông thở dài não nề. «Nhưng đàn bà thì đâu có bao nhiêu,» ông nói tiếp.
Bác Gus đưa tôi ra ga xe lửa. «Liệu mà giữ gìn nghe Mack,» bác nói. «Đừng làm những chuyện mà tôi đây không làm nghe.» Tôi còn giữ những bông hoa tím của Jennie trong một bao giấy để trong túi; bây giờ thì chúng héo rồi, nhưng vẫn còn giữ được chút ít hương thơm. Những ống sơn, những tấm lụa cột thành một bó, và quần áo của tôi buộc thành gói khác. Tàu khởi hành vào nửa đêm, những công thự lớn tối đen lúc chúng tôi trên đường ra ga. Tôi không thể ngăn mình nghĩ tới chỉ mới ngày hôm trước Jennie còn ngồi trong chiếc tắc-xi này bên tôi.
Tôi biết là tôi sẽ gặp lại nàng, và tôi nói với bác Gus như vậy. «Dĩ nhiên,» bác nói, «dĩ nhiên là thế. Sao lại không nhỉ? Anh không muốn khôn ngoan quá ở đời, Mack ạ, bởi vì thường có những chuyện bất ngờ xảy đến mà đâu mình có biết trước. Chẳng hạn lấy trường hợp dân tộc tôi (*) — họ nghĩ họ sẽ không thể rời khỏi xứ Ai cập. Ấy thế mà họ vẫn ra khỏi xứ đó. Và tại sao vậy? Để họ có thể viết nên Kinh Thánh.
«Mà họ đâu có đoán trước ra điều ấy.»
«Họ không phải đoán ra chuyện ấy,» tôi nói.
«Tôi biết,» bác Gus nói, «anh định nói là có một Đấng nào truyền bảo họ chứ gì. Ừ. Thế đấng ấy đã dạy họ những gì? Đó chính là điều tôi muốn biết.»
« Tôi nghĩ là Ngài đã làm cho họ nghe thấy rõ ràng,» tôi nói.
« Nhưng không giảng dạy cho tôi,» bác Gus nói. «Tôi vẫn còn đang cố gắng tìm hiểu. Và tôi nghĩ thế này: Dù việc gì xảy ra thì đó cũng là tin mừng cả, bởi lẽ chỉ có một tin buồn duy nhất là được biết rằng mình sẽ ở lì nguyên một chỗ.»
Tôi móc túi định lấy tiền trả tiền xe bác nhưng bác gạt phắt đi. «Đừng có vẽ vời,» bác nói. «Đâu có vặn đồng hồ. Anh cũng đã giúp đỡ tôi nhiều lắm rồi mà.»
«Tạm biệt nhé, bác Gus,» tôi nói. «Sẽ gặp lại bác mùa thu sắp tới.»
«Dĩ nhiên,» bác đồng ý. «Gởi cho tôi tấm bưu ảnh nghe.»
Tôi ngập ngừng một lúc trước khi xách hành lý lên.
«Bác có nghĩ là Thượng đế sẽ truyền dạy tôi điều chi không?» Tôi hỏi nửa đùa, nửa thực.
«Tôi không dám bắt Ngài đứng mé ngoài đâu,» bác đáp.
«Đứng ngoài cái gì?» tôi la lên.
Bác lắc đầu. «Tôi không muốn biết tới,» bác nói.
Tôi tới Provincetown xế trưa ngày hôm sau. Lúc chúng tôi băng qua cây cầu ở Bourne, tôi hít thở làn hương ấm nắng trời toát ra từ những rặng thông, những bụi cây kim tước, tôi cảm thấy sự thanh bình của mùa hè tràn vào xâm chiếm cơ thể tôi. Tại vùng Yarmouth những cây sầu đông nở hoa nơi những góc sân và trước những ngưỡng cửa, còn ở vùng Brewster, những cây lê và những cây mận dại trổ những cụm hoa trắng xóa như tuyết. Những đồng lầy ở Wellfleet mướt một mầu xanh như bạc mạ, và ở phía bên kia thị trấn Truro, mặt vịnh lặng lẽ và sáng loáng, xanh hơn cả cánh chim bói cá, và tít cuối chân trời, Plymouth nổi bật lên, xám tối và xa vời.
Arne đang đợi tôi; hắn có một căn phòng ở phía tây thành phố, xuôi dưới xưởng tàu của Furtado, và hắn đã đưa tôi xuống đó tắm giặt và thu dọn chỗ ở. Tôi ra cửa sổ, hít một hơi dài làn không khí của quá khứ. Cái mùi đó tôi mới nhớ làm sao! Mùi tanh ngai ngái của cỏ và của cá từ dòng thủy triều bốc lên; những cánh hải âu lượn quanh và kêu quang quác ở ngoài bến, và trên bãi cát phía dưới chúng tôi, gã Manuel đang gõ búa trên cái vỏ trắng của chiếc tàu lưới tôm hùm. Chiếc thuyền buồm
Mary P. Goulart đang neo trong bến, sát cạnh những đoàn ngư thuyền; và tôi trông thấy chiếc tàu đánh cá thu
Bocage của ông John Worthington đang chạy xình xịch rẽ dòng nước xanh từ vùng đánh lưới Bắc Truro xuống, mũi tầu làm tung bọt nước lên. Lặng lẽ và chậm chạp, bầu trời và mặt biển sẫm lại; mặt trời lặn phía trên đỉnh dẫy Peaked Hill Bars, và làn ánh sáng màu ngọc bích hiện ra ở Wood's End, và một làn ánh sáng khác, màu trắng, bật lên ở phía mỏm Point.
Chúng tôi đi xuôi về bến cá, qua cửa hàng bán đồ sắt của ông Dyer, qua xưởng sửa xe của ông Page, qua nhà bưu điện, và khu công trường nhỏ có những cây du lớn. Những người đi nghỉ hè chưa tới, và thành phố còn tĩnh mịch, chỉ có dân thổ cư đi trên đường phố. Những ngư phủ mặt đen xạm ngồi thờ thẫn trước cửa nhà, nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ riêng của họ, nửa là tiếng lóng, nửa tiếng Bồ Đào Nha; và những cô gái đi qua, từng đôi một trong bóng hoàng hôn, đầu trần không nón, cười cười nói nói. Chúng tôi đi vào quán Taylor ăn bữa tối, tôi gọi món canh hải vị thập cẩm nấu theo lối địa phương. Tôi muốn biết tất cả mọi tin tức về Provincetown: — ông thầy nào giảng dạy năm nay, và các lớp học năm nay hoạt động ra sao, không biết họa sĩ Jerry Farnsworth còn mở phòng vẽ riêng không, và không biết Tom Blakeman có trở lại học tiếp môn điêu khắc hay không. Và dĩ nhiên sau đó tôi kể cho Arne nghe về bức chân dung. Khi tôi bảo hắn rằng ông Mathews hi vọng sẽ đem bán cho một viện bảo tàng nào đó, hắn hoảng hốt giơ hai tay lên:
«Đừng có làm vậy, Eben,» hắn quát lên. «Đừng bao giờ cho phép ai làm việc ấy. Bảo tàng là cái quái gì? Là cõi chết của tâm hồn.»
«Hẳn đi rồi,» tôi nói. «Giống như Innes, hay Chase.»
«Họ chết cả rồi,» hắn đáp. «Tất cả đều đã qua và đã chấm dứt.»
«Vậy hả?» tôi hỏi. «Tôi không tin chắc như vậy đâu.»
«Trời ơi,» hắn rống lên một cách nhiệt thành, «quá khứ ở đằng sau chúng ta. Còn gì nữa chứ?»
«Vẫn còn Rembrandt,» tôi nói, «và còn Van Gogh. Chúng ta đâu đã dứt khoát với họ... Quá khứ không ở đằng sau chúng ta. Arne à — nó bao quanh chúng ta. Và ở đây, tại miền Cape này, ta lại càng phải nhận thức rõ điều ấy là nơi mà năm nọ kế tiếp năm kia như những đợt thủy triều trên dòng sông Pamet, và là nơi mà những chiếc tàu cập bến hàng ngày chở cùng loại cá chúng đã chở xưa kia.»
Tôi mỉm cười với hắn qua mặt bàn. «Tôi mới bắt đầu suy nghĩ về những chuyện như thế,» tôi nói.
«Này,» hắn đau khổ nói, «tớ mong cậu đừng làm như vậy. Người nghệ sĩ không nên suy nghĩ nhiều, có hại cho cảm quan về màu sắc.»
Rồi từ đó, chúng tôi trở lại cuộc tranh luận cũ rích, suốt bữa ăn chúng tôi chỉ toàn bàn về màu sắc, đường nét, biểu tượng, hình thể, và quần chúng thưởng ngoạn.
«Tớ bảo thật cậu,» Arne gắt lên, tay xoắn lấy bộ râu, «chúng ta cần phải trở lại như bọn trẻ thơ. Chúng ta phải đem màu sắc trả lại cho cuộc đời. Đó là mục đích màu sắc dùng để làm gì, để được ngắm nhìn. Đừng có suy nghĩ: hãy vẽ. Giống như bọn trẻ thơ.»
Hắn đấm tay xuống bàn, xoắn chặt bộ râu, và rống lên như con bò mộng. Hắn hoàn toàn sung sướng. Tôi hỏi hắn có nghĩ rằng bọn con nít hiểu nổi những bức tranh của hắn không, thì hắn ném cho tôi một tia nhìn khinh rẻ và nói, «Chỉ có người nghệ sĩ mới có hi vọng hiểu nổi công việc mà một nghệ sĩ khác theo đuổi thôi. Cũng tại thế nên quần chúng rất ít hiểu biết về nghệ thuật.
«Cũng giống hệt như vậy,» hắn kết luận chẳng mạch lạc gì, «trong những viện bảo tàng lúc nào cũng nhung nhúc những trẻ thơ.»
Với Arne thì lúc nào cũng như vậy cả.
Lúc chúng tôi ăn xong đi ra khỏi quán đang trên đường về, hắn nói với tôi giọng tràn đầy hy vọng.
«Hè năm nay liệu người mẫu của cậu có đến đây nghỉ không, Eben?»
Tôi trả lời hầu như không suy nghĩ gì cả. «Có chứ,» tôi đáp. «Mai mốt gì đó.»
Hắn gật gù cái đầu to lớn một cách đăm chiêu. «Tốt,» hắn nói. «Chính tớ cũng định họa một bức chân dung cô nàng.»
Ý định của Arne làm tôi khoái trá, và tôi cười thầm trong bóng tối. Chắc bức họa ấy sẽ lắm điều hay để mà chiêm ngưỡng.
Nhưng điều hắn nói cũng bỗng nhiên làm cho tôi cảm thấy cô đơn. Tôi tự hỏi không biết giờ đây Jennie đang ở đâu và đang làm gì — ở một nơi nào xa xôi, cách trở, nơi mà buổi chiều xuân êm ả của chúng tôi, xanh mượt như nhung, đã từ lâu rồi thoảng qua như một làn gió nhẹ. Lúc này chắc nàng còn đang lênh đênh trên mặt biển? Đêm về, bóng tối thâm u bị hất ra ngoài trái đất ngập tràn trên mặt biển, nhưng mặt trời ban mai đã mọc sẵn trên sườn phía đông dãy núi Ural. Và mặt trời của hôm qua thì mọc ở đâu? Nó có còn soi sáng trên bức tường đá thấp bên cạnh bãi cỏ xanh, ven khu rừng nhỏ nữa không? Vẫn còn là hôm nay, vẫn còn là buổi trưa, trên Thái Bình Dương, trên những đợt sóng xanh dạt xô vào hải đảo Hạ Uy Di. Hôm qua... ngày mai... chúng ở đâu?
Còn lâu lắm Jennie mới trở lại tìm tôi. Không trước khi nào chúng mình có thể vĩnh viễn xum họp bên nhau; nàng đã nói vậy. Một mùa hè dài lê thê... Lẹ lên, tôi giục giã nàng, trong đáy tim tôi.
Tôi biết rằng không thể giải thích nổi điều này cho Arne nghe. Nên tôi đã chẳng nói.
Không khí biển cả, ẩm ướt mằn mặn và man mát từ những đầm lầy bốc lên, đôi khi đột nhiên được gia thêm hương liệu của những khu vườn nở hoa của thị trấn Provincetown, bao quanh chúng tôi trên đường về nhà dưới những ngọn đèn đường màu trắng. Trong bến, những ngọn đèn lái của chiếc tàu
Mary P. Goulart chập chờn đong đưa trong bóng đêm; những luồng ánh sáng của những ngọn hải đăng đặt trên đỉnh Long Point và Wood End nhấp nháy rọi xuống vịnh; và cây thập tự trắng to lớn đặt trên ngọn hải đăng High Land Light ở khu Bắc Truro sáng lòa như những chiếc nan hoa của một bánh xe chạy giữa trời. Những vì sao lấp lánh âm thầm trên đỉnh đầu chúng tôi... cách đây đã bao nhiêu năm rồi những tia sáng kim khí này đã khởi hành từ quê hương chúng băng qua những tầng không gian trống rỗng để đến trên quê hương chúng ta? Lâu, lâu lắm rồi; lâu hơn cái ngày xưa xa vời nhất của chúng ta.
Những chú hải âu ngủ ngay trên mặt nước, trong bóng tối xanh thẫm, lặng yên và quên lãng, xếp thành hàng dọc theo những boong tàu đánh cá trống vắng. Những đường phố thì yên tĩnh và hoang liêu; chúng tôi nghe tiếng bước chân mình lẽo đẽo theo mình về nhà.
(*) Bác Gus người gốc Do-thái.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 5 giờ bởi huytran >