Chân Dung Nàng - Robert Nathan
Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 18 trên tổng số 18 bài trong đề mục
huytran 9 giờ (permalink)
CHƯƠNG XV
 
Sau đó tôi dọn ra khỏi nhà bà Jekes; và vì mùa hè không còn xa lắm, tôi quyết về sống với Arne trên miền Cape ngay lập tức. Ông Mathews và cô Spinney từ giã tôi như những người bạn thiết; ông Mathews tặng tôi một cái giá vẽ gấp nhỏ trước đây của họa sĩ Fromkes, và cô Spinney tặng tôi một chai rượu cô-nhắc – để giữ, theo lời cô, cho sương lạnh khỏi làm cứng tay. «Tôi muốn có một bức tranh vẽ hoa khác,» cô ngỏ ý, «khổ 46 x 38, và một ngôi giáo đường. Tôi vào loại khoái tranh vẽ nhà thờ, những ngôi nhà thờ nhỏ màu trắng, có những ngọn tháp nhọn. Tạm biệt cậu. Xin Chúa phù hộ cậu. Đừng có chết đuối dưới biển nghe không?»
«Tại sao tôi lại muốn chết đuối dưới biển nhỉ?» tôi hỏi.
«Tôi không biết nữa,» cô trả lời. «Đàn ông các ông điên lắm nên có thể làm bất kỳ chuyện gì. Riêng tôi, tôi không tin cậy gì ở biển cả. Tôi sẽ không lại gần bờ bể trong khoảng năm chục dặm.»
«Cô kỹ quá,» tôi nói, «Dễ gì biển bắt được cô.» 
Cô nhìn tôi với vẻ mặt xa lạ, sắc hồng lại bắt đầu bò lên cằm. «Chính những người tính tình cứng cỏi mới dễ chết đuối lắm đấy,» cô nói, rồi quay đi.
Ông Mathews tiễn tôi ra tận ngoài cửa; ông không ngừng giơ tay lên vỗ nhẹ vào lưng tôi. «Tạm biệt, nghe con,» ông nói, «tạm biệt. Tôi vui mừng vì cậu đã tìm đến tôi; rồi chúng ta sẽ còn cùng làm nhiều việc lớn khác. Bây giờ được nghỉ ngơi thì cố mà hưởng. Nhưng cần phải nhớ — đừng có vẽ phong cảnh. Để cho ông Eastwood vẽ đồi núi.»
«Tôi muốn vẽ những ngư phủ,» tôi nói.
«Ngư phủ,» ông nhắc lại giọng nghi ngại, «ừ thì...»
«Đang kéo lưới,» tôi nói, «lúc sớm mai với những con cá đang dẫy dụa trong màng lưới.»
Ông Mathews rầu rĩ nhìn tôi. «Nghe này,» ông nói. «Ở đời thiếu gì cá.» Ông thở dài não nề. «Nhưng đàn bà thì đâu có bao nhiêu,» ông nói tiếp.
Bác Gus đưa tôi ra ga xe lửa. «Liệu mà giữ gìn nghe Mack,» bác nói. «Đừng làm những chuyện mà tôi đây không làm nghe.» Tôi còn giữ những bông hoa tím của Jennie trong một bao giấy để trong túi; bây giờ thì chúng héo rồi, nhưng vẫn còn giữ được chút ít hương thơm. Những ống sơn, những tấm lụa cột thành một bó, và quần áo của tôi buộc thành gói khác. Tàu khởi hành vào nửa đêm, những công thự lớn tối đen lúc chúng tôi trên đường ra ga. Tôi không thể ngăn mình nghĩ tới chỉ mới ngày hôm trước Jennie còn ngồi trong chiếc tắc-xi này bên tôi. 
Tôi biết là tôi sẽ gặp lại nàng, và tôi nói với bác Gus như vậy. «Dĩ nhiên,» bác nói, «dĩ nhiên là thế. Sao lại không nhỉ? Anh không muốn khôn ngoan quá ở đời, Mack ạ, bởi vì thường có những chuyện bất ngờ xảy đến mà đâu mình có biết trước. Chẳng hạn lấy trường hợp dân tộc tôi (*) — họ nghĩ họ sẽ không thể rời khỏi xứ Ai cập. Ấy thế mà họ vẫn ra khỏi xứ đó. Và tại sao vậy? Để họ có thể viết nên Kinh Thánh.
«Mà họ đâu có đoán trước ra điều ấy.»
«Họ không phải đoán ra chuyện ấy,» tôi nói.
«Tôi biết,» bác Gus nói, «anh định nói là có một Đấng nào truyền bảo họ chứ gì. Ừ. Thế đấng ấy đã dạy họ những gì? Đó chính là điều tôi muốn biết.»
« Tôi nghĩ là Ngài đã làm cho họ nghe thấy rõ ràng,» tôi nói.
« Nhưng không giảng dạy cho tôi,» bác Gus nói. «Tôi vẫn còn đang cố gắng tìm hiểu. Và tôi nghĩ thế này: Dù việc gì xảy ra thì đó cũng là tin mừng cả, bởi lẽ chỉ có một tin buồn duy nhất là được biết rằng mình sẽ ở lì nguyên một chỗ.»
Tôi móc túi định lấy tiền trả tiền xe bác nhưng bác gạt phắt đi. «Đừng có vẽ vời,» bác nói. «Đâu có vặn đồng hồ. Anh cũng đã giúp đỡ tôi nhiều lắm rồi mà.»
«Tạm biệt nhé, bác Gus,» tôi nói. «Sẽ gặp lại bác mùa thu sắp tới.»
«Dĩ nhiên,» bác đồng ý. «Gởi cho tôi tấm bưu ảnh nghe.»
Tôi ngập ngừng một lúc trước khi xách hành lý lên.
«Bác có nghĩ là Thượng đế sẽ truyền dạy tôi điều chi không?» Tôi hỏi nửa đùa, nửa thực.
«Tôi không dám bắt Ngài đứng mé ngoài đâu,» bác đáp.
«Đứng ngoài cái gì?» tôi la lên.
Bác lắc đầu. «Tôi không muốn biết tới,» bác nói.
Tôi tới Provincetown xế trưa ngày hôm sau. Lúc chúng tôi băng qua cây cầu ở Bourne, tôi hít thở làn hương ấm nắng trời toát ra từ những rặng thông, những bụi cây kim tước, tôi cảm thấy sự thanh bình của mùa hè tràn vào xâm chiếm cơ thể tôi. Tại vùng Yarmouth những cây sầu đông nở hoa nơi những góc sân và trước những ngưỡng cửa, còn ở vùng Brewster, những cây lê và những cây mận dại trổ những cụm hoa trắng xóa như tuyết. Những đồng lầy ở Wellfleet mướt một mầu xanh như bạc mạ, và ở phía bên kia thị trấn Truro, mặt vịnh lặng lẽ và sáng loáng, xanh hơn cả cánh chim bói cá, và tít cuối chân trời, Plymouth nổi bật lên, xám tối và xa vời.
Arne đang đợi tôi; hắn có một căn phòng ở phía tây thành phố, xuôi dưới xưởng tàu của Furtado, và hắn đã đưa tôi xuống đó tắm giặt và thu dọn chỗ ở. Tôi ra cửa sổ, hít một hơi dài làn không khí của quá khứ. Cái mùi đó tôi mới nhớ làm sao! Mùi tanh ngai ngái của cỏ và của cá từ dòng thủy triều bốc lên; những cánh hải âu lượn quanh và kêu quang quác ở ngoài bến, và trên bãi cát phía dưới chúng tôi, gã Manuel đang gõ búa trên cái vỏ trắng của chiếc tàu lưới tôm hùm. Chiếc thuyền buồm Mary P. Goulart đang neo trong bến, sát cạnh những đoàn ngư thuyền; và tôi trông thấy chiếc tàu đánh cá thu Bocage của ông John Worthington đang chạy xình xịch rẽ dòng nước xanh từ vùng đánh lưới Bắc Truro xuống, mũi tầu làm tung bọt nước lên. Lặng lẽ và chậm chạp, bầu trời và mặt biển sẫm lại; mặt trời lặn phía trên đỉnh dẫy Peaked Hill Bars, và làn ánh sáng màu ngọc bích hiện ra ở Wood's End, và một làn ánh sáng khác, màu trắng, bật lên ở phía mỏm Point.
Chúng tôi đi xuôi về bến cá, qua cửa hàng bán đồ sắt của ông Dyer, qua xưởng sửa xe của ông Page, qua nhà bưu điện, và khu công trường nhỏ có những cây du lớn. Những người đi nghỉ hè chưa tới, và thành phố còn tĩnh mịch, chỉ có dân thổ cư đi trên đường phố. Những ngư phủ mặt đen xạm ngồi thờ thẫn trước cửa nhà, nói chuyện với nhau bằng thứ ngôn ngữ riêng của họ, nửa là tiếng lóng, nửa tiếng Bồ Đào Nha; và những cô gái đi qua, từng đôi một trong bóng hoàng hôn, đầu trần không nón, cười cười nói nói. Chúng tôi đi vào quán Taylor ăn bữa tối, tôi gọi món canh hải vị thập cẩm nấu theo lối địa phương. Tôi muốn biết tất cả mọi tin tức về Provincetown: — ông thầy nào giảng dạy năm nay, và các lớp học năm nay hoạt động ra sao, không biết họa sĩ Jerry Farnsworth còn mở phòng vẽ riêng không, và không biết Tom Blakeman có trở lại học tiếp môn điêu khắc hay không. Và dĩ nhiên sau đó tôi kể cho Arne nghe về bức chân dung. Khi tôi bảo hắn rằng ông Mathews hi vọng sẽ đem bán cho một viện bảo tàng nào đó, hắn hoảng hốt giơ hai tay lên:
«Đừng có làm vậy, Eben,» hắn quát lên. «Đừng bao giờ cho phép ai làm việc ấy. Bảo tàng là cái quái gì? Là cõi chết của tâm hồn.»
«Hẳn đi rồi,» tôi nói. «Giống như Innes, hay Chase.»
«Họ chết cả rồi,» hắn đáp. «Tất cả đều đã qua và đã chấm dứt.»
«Vậy hả?» tôi hỏi. «Tôi không tin chắc như vậy đâu.»
«Trời ơi,» hắn rống lên một cách nhiệt thành, «quá khứ ở đằng sau chúng ta. Còn gì nữa chứ?»
«Vẫn còn Rembrandt,» tôi nói, «và còn Van Gogh. Chúng ta đâu đã dứt khoát với họ... Quá khứ không ở đằng sau chúng ta. Arne à — nó bao quanh chúng ta. Và ở đây, tại miền Cape này, ta lại càng phải nhận thức rõ điều ấy là nơi mà năm nọ kế tiếp năm kia như những đợt thủy triều trên dòng sông Pamet, và là nơi mà những chiếc tàu cập bến hàng ngày chở cùng loại cá chúng đã chở xưa kia.»
Tôi mỉm cười với hắn qua mặt bàn. «Tôi mới bắt đầu suy nghĩ về những chuyện như thế,» tôi nói.
«Này,» hắn đau khổ nói, «tớ mong cậu đừng làm như vậy. Người nghệ sĩ không nên suy nghĩ nhiều, có hại cho cảm quan về màu sắc.»
Rồi từ đó, chúng tôi trở lại cuộc tranh luận cũ rích, suốt bữa ăn chúng tôi chỉ toàn bàn về màu sắc, đường nét, biểu tượng, hình thể, và quần chúng thưởng ngoạn.
«Tớ bảo thật cậu,» Arne gắt lên, tay xoắn lấy bộ râu, «chúng ta cần phải trở lại như bọn trẻ thơ. Chúng ta phải đem màu sắc trả lại cho cuộc đời. Đó là mục đích màu sắc dùng để làm gì, để được ngắm nhìn. Đừng có suy nghĩ: hãy vẽ. Giống như bọn trẻ thơ.»
Hắn đấm tay xuống bàn, xoắn chặt bộ râu, và rống lên như con bò mộng. Hắn hoàn toàn sung sướng. Tôi hỏi hắn có nghĩ rằng bọn con nít hiểu nổi những bức tranh của hắn không, thì hắn ném cho tôi một tia nhìn khinh rẻ và nói, «Chỉ có người nghệ sĩ mới có hi vọng hiểu nổi công việc mà một nghệ sĩ khác theo đuổi thôi. Cũng tại thế nên quần chúng rất ít hiểu biết về nghệ thuật.
«Cũng giống hệt như vậy,» hắn kết luận chẳng mạch lạc gì, «trong những viện bảo tàng lúc nào cũng nhung nhúc những trẻ thơ.»
Với Arne thì lúc nào cũng như vậy cả.
Lúc chúng tôi ăn xong đi ra khỏi quán đang trên đường về, hắn nói với tôi giọng tràn đầy hy vọng.
«Hè năm nay liệu người mẫu của cậu có đến đây nghỉ không, Eben?»
Tôi trả lời hầu như không suy nghĩ gì cả. «Có chứ,» tôi đáp. «Mai mốt gì đó.»
Hắn gật gù cái đầu to lớn một cách đăm chiêu. «Tốt,» hắn nói. «Chính tớ cũng định họa một bức chân dung cô nàng.»
Ý định của Arne làm tôi khoái trá, và tôi cười thầm trong bóng tối. Chắc bức họa ấy sẽ lắm điều hay để mà chiêm ngưỡng.
Nhưng điều hắn nói cũng bỗng nhiên làm cho tôi cảm thấy cô đơn. Tôi tự hỏi không biết giờ đây Jennie đang ở đâu và đang làm gì — ở một nơi nào xa xôi, cách trở, nơi mà buổi chiều xuân êm ả của chúng tôi, xanh mượt như nhung, đã từ lâu rồi thoảng qua như một làn gió nhẹ. Lúc này chắc nàng còn đang lênh đênh trên mặt biển? Đêm về, bóng tối thâm u bị hất ra ngoài trái đất ngập tràn trên mặt biển, nhưng mặt trời ban mai đã mọc sẵn trên sườn phía đông dãy núi Ural. Và mặt trời của hôm qua thì mọc ở đâu? Nó có còn soi sáng trên bức tường đá thấp bên cạnh bãi cỏ xanh, ven khu rừng nhỏ nữa không? Vẫn còn là hôm nay, vẫn còn là buổi trưa, trên Thái Bình Dương, trên những đợt sóng xanh dạt xô vào hải đảo Hạ Uy Di. Hôm qua... ngày mai... chúng ở đâu?
Còn lâu lắm Jennie mới trở lại tìm tôi. Không trước khi nào chúng mình có thể vĩnh viễn xum họp bên nhau; nàng đã nói vậy. Một mùa hè dài lê thê... Lẹ lên, tôi giục giã nàng, trong đáy tim tôi.
Tôi biết rằng không thể giải thích nổi điều này cho Arne nghe. Nên tôi đã chẳng nói.
Không khí biển cả, ẩm ướt mằn mặn và man mát từ những đầm lầy bốc lên, đôi khi đột nhiên được gia thêm hương liệu của những khu vườn nở hoa của thị trấn Provincetown, bao quanh chúng tôi trên đường về nhà dưới những ngọn đèn đường màu trắng. Trong bến, những ngọn đèn lái của chiếc tàu Mary P. Goulart chập chờn đong đưa trong bóng đêm; những luồng ánh sáng của những ngọn hải đăng đặt trên đỉnh Long Point và Wood End nhấp nháy rọi xuống vịnh; và cây thập tự trắng to lớn đặt trên ngọn hải đăng High Land Light ở khu Bắc Truro sáng lòa như những chiếc nan hoa của một bánh xe chạy giữa trời. Những vì sao lấp lánh âm thầm trên đỉnh đầu chúng tôi... cách đây đã bao nhiêu năm rồi những tia sáng kim khí này đã khởi hành từ quê hương chúng băng qua những tầng không gian trống rỗng để đến trên quê hương chúng ta? Lâu, lâu lắm rồi; lâu hơn cái ngày xưa xa vời nhất của chúng ta.
Những chú hải âu ngủ ngay trên mặt nước, trong bóng tối xanh thẫm, lặng yên và quên lãng, xếp thành hàng dọc theo những boong tàu đánh cá trống vắng. Những đường phố thì yên tĩnh và hoang liêu; chúng tôi nghe tiếng bước chân mình lẽo đẽo theo mình về nhà.


(*) Bác Gus người gốc Do-thái.
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 8 giờ bởi huytran >
#16
    huytran 5 giờ (permalink)
    CHƯƠNG XVI
     
    Nhưng tôi không muốn ở lại Provincetown suốt mùa hè. Tôi còn lại hơn hai trăm đô-la tiền gửi bán bức chân dung, và tôi quyết định mướn một căn nhà nhỏ ở Truro, trên bờ sông Pamet. Ðúng ra nó còn nhỏ hơn một túp lều, dựng trên mỏm vách đá, soi xuống mặt nước; những cây thông mọc sát nhau, dệt thành tấm thảm bằng những lá nhỏ như kim chung quanh căn nhà, và ta có thể nhìn xuống dòng sông qua những cành thông. Tôi có thể nghe tiếng sóng nước ở dưới vịnh rì rào không ngừng, và tiếng gió reo trên những ngọn thông, không khác chi tiếng sóng biển dạt dào. Không khí ấm áp và ngọt ngào với hương thơm của đất và của nắng trời, và ở đây là nơi tôi tránh những cơn mưa đằng đẵng, những ngọn gió tây bắc nổi lên mãnh liệt và lạnh buốt từ trên ngọn Cornhill sau lưng tôi. Tôi ở ngay chính giữa luồng gió đông nam, hay đúng hơn là luồng tây nam mịt mờ sương khói, nhưng đó lại là lợi thế, bởi những luồng gió từ hướng nam thổi tới lại là những cơn gió của tiết trời đẹp, thổi vào êm ái và ấm áp. 
    Lúc thủy triều xuống, dòng sông Pamet chỉ còn là một lạch nước mỏng lách mình giữa lau sậy; nhưng vào đúng tuần trăng, khi nước triều lên, nó tràn ngập cả những đầm lầy, và người ta có thể hình dung ra nổi trước đây, trước khi cát bồi lấp cửa bến sông, nó đã từng là một con sông sâu và rộng tới mức hàng ba chục chiếc tầu đánh cá voi có thể vào đó buông neo. Nhưng đó là chuyện đời xưa. Ngày nay dòng sông Pamet đổ ra vịnh qua một lòng sông nhỏ hẹp, và cuốn nước từ vịnh chẩy vào ngoằn ngoèo qua vũng Cape, giữa vịnh và đại dương. Vào khoảng hơn trăm thước, cách nơi dòng sông Pamet khởi nguồn, những cồn cát thấp bắt đầu nổi lên, và hai bên những cồn cát ấy là bãi bể và mặt biển. Quãng đường từ đại dương vào vịnh không bao xa; vũng Cape khúc cuối rất hẹp, chiều rộng không đầy ba dặm.
    Những căn nhà nhỏ nép mình trong những chỗ trũng, tránh né những luồng gió tây vốn thổi rất lộng trong mùa đông. Nơi đó có những cây thông, những cây sồi cằn cỗi, cây minh quyết, cây hoàn diệp liễu và cây du, còn có cả cây dã nhân sâm, cây kim tước chi, cây lộc đề thảo, cây mận, cây đào. Cây nào cũng nhỏ cả; những ngọn đồi và những chỗ trũng tí hon, nhìn bao quát từ xa chúng có dáng dấp của những ngọn núi và những thung lũng. Hai ngọn tháp nhọn của hai ngôi giáo đường cổ và nhà hội quán chế ngự mọi vật; chúng mọc trên mỏm núi cao nhất, và đứng đó canh chừng, một cách thanh thản và trìu mến, tất cả những thung lũng.
    Nhiều giòng họ gốc gác tự xa xưa nay vẫn còn sinh sống ở Truro, như gia đình Snows, Dyers, Atwoods, Atkinses, Cobbs, Paines, Riches. Những tên cổ kính, những giòng họ cổ xưa của miền Cape Cod... Đây là xứ sở, quê hương của họ, nó thuộc về họ. Họ là những người trầm lặng và hiền lành, những người chịu thương chịu khó.
    Phần tôi, tôi cũng quyết định làm việc. Nhưng vào lối hơn một tuần, màu sắc của vùng Cape làm trì độn cảm quan tôi — màu vàng lợt của cát, màu xanh non của lá cây, và màu xanh úa, lợt của biển và vòm trời sẫm lại rồi ngả sang màu tím ở đằng xa. Trên đường bay về hướng Bắc, những đàn di điểu ngừng cánh ghé thăm; những chú họa mi sục sạo kiếm ăn trên bãi cỏ, những chú chim sâu vụt ra vụt vào những vòm cây như những con chim bói cá, và một cặp hoàng anh đã làm tổ trên ngọn cây du đằng sau nhà tôi.
    Vào tháng sáu bụi dã nhân sâm trở vàng, hoa kim tước chi nở hồng và trắng xóa dưới chân đồi; những cụm sa thảo với nhau trong cỏ. Tôi xuống sông bơi lội; dòng sông chảy xiết và mát rượi, những con cua nho nhỏ màu xanh trốn né tôi, bỏ chạy vào những chỗ nước cạn. Có mấy đứa trẻ có mặt tại đây từ trước, đang nô đùa trong một chiếc bụng tàu cũ nát được kéo lên để trên bờ. Một đứa trong bọn, có mái tóc màu cỏ khô, đang đóng vai tướng cướp. Đồng bọn của nó, gồm em gái nó và một cây súng giả, sẵn sàng nghênh chiến. Nó không tìm ra được kẻ thù nào cả.
    Suốt mùa hè lũ trẻ nô đùa trên bãi bể. Chúng vui vẻ và thân thiện, cứ mỗi lớp sóng ùa vào bãi cát, những đứa nhỏ hơn lại quay lưng lại phía biển và cuống quít chạy. Khi lớp sóng ngầu bọt nước bắt đầu rút thì chúng đuổi theo làm bộ như vặn tay lái điều động biển cả trước mặt chúng. Nhưng đến lớp sóng sau, chúng lại chạy trốn như trước, ồn ã và cuồng cuồng. Nắng sưởi ấm những cặp chân nhỏ bé rám nắng của chúng, và chúng hăng say nhặt những mảnh vỏ sò, những viên sỏi, và những viên đá màu bị nước biển xoi mòn. Những đứa lớn hơn nhào vào sóng như những con cá heo nho nhỏ. Nước biển thì trong và lạnh.
    Thời gian như đứng dừng ở Truro; những tuần lễ trôi qua, tuần này qua tuần khác. Về tháng sáu có gió đông bắc thổi, gió thổi rít từ ngoài khơi vào, lùa mưa đi gần như ngang ngay trước gió; gió lộng suốt ba ngày, những cánh cửa sũng nước và đóng kín mít, những hộc bàn mở không được, và một lớp mốc xanh đã xuất hiện trên vài tấm tranh lụa của tôi. Ngay cả lò sưởi gỗ thông cháy xình xịch suốt ngày cũng không giữ cho căn nhà tôi được khô hoặc ấm. Rồi gió chuyển sang hướng tây, mặt trời lại ló rạng, và mùa hè lại trở lại, màu vàng nhợt của cát, màu xanh mướt của cỏ, và màu xanh úa lợt của vòm trời.
    Tôi vẽ được nhiều: tôi vẽ cho cô Spinney ngôi nhà thờ ở phía nam Truro, tòa nhà cổ, lẻ loi và hoang liêu trên cồn cát, đứng nhìn xuống vịnh; và một bức tranh thủy thái cảnh biển nhìn từ thung lũng Long Nook. Cảnh hôm đó, trời gió hiu hiu, gió hướng đông-bắc, mặt biển tối sẫm, màu sẫm của rượu vang thân thiết với các họa sĩ Hy Lạp, lẫn những giải mầu xanh, tối sẫm về phía chân trời; và bầu trời thì giống như phía trong một chiếc bát sứ màu xanh có tráng men trắng trong. Tôi gởi cả hai bức vẽ về cho ông Mathews. Nhưng bức mà tôi ưng ý nhất là bức vẽ ngư phủ đi lưới cá buổi sớm mai. Phần lớn tôi vẽ theo ký ức: những ngư thuyền ra khơi trước khi trời sáng tỏ.
    Cảnh vật lặng lẽ và đen tối, nước từ bóng tối trào lên từng đợt. Những ngư thuyền xăm xăm lướt sóng... ở phía đông bầu trời trở xám, rồi hồng, bình minh ló rạng dần dần. Những vì sao mờ đi, những sắc xanh bắt đầu xuất hiện trên nền trời. Ngoài xa bờ, một chiếc ngư thuyền tiến vào khu vực đặt lưới sẵn, vừa chạy vừa kéo lưới theo. Những chú cá ở dưới đó, bơi qua bơi lại dưới gầm thuyền như những bóng đen. Lưới càng lúc càng lên cao, bỗng bứt khỏi mặt nước trong một đợt sáng bạc, và các ngư phủ bắt đầu xúc cá từ tứ phía. Mặt trời mọc, mặt vịnh long lanh trong ánh chiêu dương, cá sáng như bạc, đầy khoang. Nặng nề và chậm chạp, một trong số những ngư thuyền băng qua vịnh trở về Provincetown, trong khi những chiếc khác quay mũi chạy vào bờ.
    Tôi muốn Arne cùng đi với tôi, nhưng hắn nói cảnh đó không đủ màu cho hắn vẽ. Hắn đang vẽ cảnh Nhà Máy Thuỷ Điện của thành phố Provincetown; hắn nói là nhà máy này tượng trưng cho kỹ nghệ, và kỹ nghệ biểu trưng cho thế giới hiện thực thời nay, mà người nghệ sĩ cần tìm trong thế giới hiện thực đề tài tương xứng với tài nghệ của y.
    «Chúng ta đừng tự lừa dối mình, Eben ạ,» hắn la lớn. «Cái đẹp chỉ cao cả khi nó hữu dụng. Biểu tượng của thế giới ngày nay là một nhà máy điện; và nếu chúng ta thấy nó xấu xí ấy là tại chúng ta không nhìn đúng khía cạnh.»
    Nhưng hắn đến Truro vào tháng bảy, để đi cắm trại ngoài bãi biển. Chúng tôi nằm trên cát ở bãi Cornhill, trong lúc mặt trời lặn, và mặt trăng mọc trên đồi phía sau chúng tôi, những người đàn ông bận quần đùi vải có sọc nổi và những người đàn bà khăn tay buộc tóc chụm đốt những mẩu gỗ trôi dạt lượm được trên bãi bể. Hoàng hôn phai tàn, ngả sang màu hồng và màu xanh lá mạ; đêm xanh già nua buông xuống tối tăm, mờ ảo trên bãi biển, và bên kia bờ vịnh những chiếc đèn lồng của thành phố Provincetown lấp lánh trong bóng đêm. Trong khoảng ánh vàng chập chờn của lửa trại có những bóng người đi qua đi lại; củi được tiếp thêm, những rổ đồ ăn được giở ra, những chiếc mền được trải rộng. Khi những ngọn lửa tàn lụi thành than, những miếng bip-tết và những chiếc xúc-xích được đem ra nướng; một xoong đậu lớn được đặt bên đống lửa, bên một thùng sò, một bình cà-phê. Sau đó chúng tôi ca hát, ngồi quanh đống lửa, trong khi mặt trăng lặng lẽ trôi trên đỉnh đầu, và dòng thủy triều tạt những lớp sóng nhỏ xô mình vào cát... «Tôi mơ tới nàng Jeannie có mái tóc nâu tươi...»
    Hay trong những buổi xế chiều êm ả và ấm áp của tiết trời tháng tám, chúng tôi cùng bơi lội ngoài biển, trong lúc những đợt sóng dài chạy xộc vào, xanh và trong, lao mình vỡ tan thành bọt trắng, rồi rít lên trườn tới và lặn chìm vùi sâu trong bãi cát. Ở tít đằng xa, bên kia đường chân trời, quá tầm con mắt, bên trên bờ thế giới là Âu Châu, nơi đã tan tác vì chiến cuộc; nhưng ở đây là cảnh thanh bình, là bãi bể hoang vu uốn cong mình trải dài vô tận, xa tít về phương nam dưới nắng hè, cơn gió nhẹ lay động những ngọn cỏ trên cồn cát, chỉ có tiếng trẻ con vang lên chống trả với tiếng gầm thét của sóng nước đại dương.
    Chính lúc đó tôi thương nhớ Jennie khôn cùng, trong những lần tương tự, khi vẻ đẹp của thiên nhiên xâm chiếm trọn vẹn tâm hồn tôi. Tuy vậy, thật là khó diễn tả, tôi không cảm thấy mình cô độc; vì tôi có cảm tưởng — như tôi vẫn thường cảm thấy từ lâu — tôi không còn cô độc — cảm tưởng là thế giới và Jennie, và tôi là một, kết hợp với nhau trong một đơn vị không biết gọi là gì, một «nhất thể» không diễn tả được. Ngay cả sự vắng mặt của nàng, không những xa tầm con mắt tôi, nhưng còn xa cả những ngày đang chậm chạp quay quanh bên tôi, làm cho ý thức về thời gian của tôi mờ ảo; nàng không hiện diện trong thời tiết ở đây. Những trận mưa thổi qua miền Cape không phải những trận mưa rơi trên bóng nhỏ của nàng đang hấp tấp ở nơi đâu — trong một thành phố nào, trong một năm nào? Nhưng cũng vì lý do ấy tất cả mọi thời tiết đối với tôi đều như nhau, tất cả những mùa của quá khứ đều pha trộn với những giấc mơ của tôi trong mùa hè quanh tôi. Vì nàng hiện ở một nơi nào đó trên thế gian này; và bất kỳ nàng ở đâu, nơi đó cũng có một chút gì là của tôi.
    Nàng đã từng nói: «Thế gian này mới đẹp biết bao, anh Eben. Nó chẳng được tạo nên vì cái gì khác hơn ngoài cái đẹp — dù bây giờ chúng ta đang sống, hay đã sống từ ngày xưa cũng vậy.»
    Chúng tôi đã cùng chia sẻ cái đẹp đó. Chúng tôi sẽ không bao giờ mất nó.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 4 giờ bởi huytran >
    #17
      huytran 2 giờ (permalink)
      CHƯƠNG XVII
       
      Đã cuối hè sang thu mà Jennie chưa trở lại. Sang tháng chín những trái dã nhân sâm chín đỏ, và người ta đi hái trái mận hoang mọc trên những cánh đồng dọc theo đường lộ để làm mứt. Những khóm lau sậy ven bờ sông trổ màu nâu bạc; và những buổi xế chiều mặt trời xiên bóng qua những ngọn thông chung quanh căn nhà của tôi. Những chú chim đã lánh mặt hầu hết mùa hè, đã bắt đầu xuất hiện, lên đường bay về phương nam. Những con chim gõ mõ đầu đỏ, những con chào mào, chim sâu, chim sáo. Những cánh én bay lượn cuống cuồng trong không trung, và đôi khi lúc xế chiều tôi nhìn thấy cái mũi hình tam giác hợp bởi những cánh ngỗng trời bay về phương nam dật dờ trên nền trời.
      Tôi đã nhận được một tấm chi phiếu khá lớn của ông Mathews, và quyết định dùng một phần số tiền đó để thuê một chiếc thuyền buồm của người em ông John Worthington, tên là Bill, sống gần cầu xe lửa, gần chỗ cửa sông Pamet đổ xuống vịnh. Tôi biết chèo thuyền, dẫu không khá lắm, nhưng tôi nghĩ rằng mình sẽ không lúng túng. Chiếc thuyền lòng gỗ tốt dài 15 bộ, tiện dụng trong những chuyến đi gần, neo gần cửa sông, trong một con lạch nhỏ thông vào dòng suối chảy xiết. Phải chèo một quãng xa, qua khúc sông đèo hẹp, mới ra tới vịnh, thủy triều và hướng gió phải thuận, nhưng về tháng này hầu như chỉ có gió đông, từ trên hướng quần đảo Bermuda thổi lại, sừng sững như một đám mây vô hình, khủng khiếp tụ ở một nơi nào đó trên mặt biển. Và với một luồng gió nhẹ thổi lùa sau lưng, tôi vẫn thường ra được tới ngoài vịnh, bất chấp ngọn nước thủy triều. Khi trở lại tôi phải đợi con nước, và rồi trở buồm theo hướng gió. Arne là thành phần của thủy đội; hắn ngồi phía trước lấy tay ghì cột buồm xuống thấp khi cần, và hắn điều khiển những cánh buồm với một vẻ uy nghiêm man dại. Thật là phấn khởi khi phải đương đầu với gió, và thấy chiếc thuyền chồm lên trước gió; khi thấy dòng nước xanh rẽ ra, và nghe tiếng sóng vỗ dào dạt vào mạn thuyền. Đây cũng là một lối thể dục hay, nó khiến hai cánh tay tôi đau nhức, và tạo nên những cục chai trong lòng bàn tay.
      Chúng tôi thường chèo thuyền ra vịnh, đôi khi ra tận chỗ người ta giăng lưới cá, và một hay hai lần lên tận Provincetown. Con thuyền tự nó là một thế giới; thế giới trên mặt nước, trong ánh nắng chói chang, thế giới của màu xanh vô tận, của gió lộng, của những khoảng sáng xa xôi hình vòng cung, và tôi cảm thấy sung sướng.
      Cuối tháng chín có tin một trận cuồng phong ở đảo Caribbean. Chúng tôi không để ý mấy, mùa này hàng năm vẫn có những trận bão lốc, vấp vào những cù lao tụ ở vịnh Florida, hoặc là tan trên mặt Đại Tây Dương. Riêng trận cuồng phong này thì hình như đang cuốn về Florida.
      Trên vũng Cape chúng tôi đang hưởng một thời tiết tươi đẹp khác thường — điềm trời xấu đó, Arne nói. Chúng tôi đang cố tận hưởng, vì mùa hè sắp hết gió bão sắp đến, và sau đó trời sẽ lạnh và biển nhiều sóng gió không bơi thuyền được. Ngày nào chúng tôi cũng đi chơi thuyền. Khí hậu ấm áp — ấm áp khác thường vào mùa này trong năm — gió thổi hướng đông nam. Chúng tôi chờ cho gió chuyển sang hướng bắc.
      Bữa thứ hai tin báo là trận bão đã không thổi vào Florida, và đang tiến về hai tiểu bang Bắc và Nam Carolina. Thế có nghĩa là sẽ mưa và có gió mạnh hướng tây nam; nhưng ngày thứ ba chúng tôi lại nghe tin bão lại quay lại hướng đông, và sẽ tan ngoài biển. Như vậy là chúng tôi còn mấy ngày đẹp trời để bơi thuyền, và chúng tôi quyết định làm cuộc hành trình dài ngược ven bờ biển, ở lại đêm tại hòn Great Island đối diện với bờ Wellfleet, và sẽ trở về ngày hôm sau. Chúng tôi khởi hành một lúc trước trưa ngày thứ ba, có gió thổi đều đều theo hướng đông nam, và chúng tôi nhờ hướng gió mà đi được một quãng xa.
      Đêm hôm đó, chúng tôi ở lại trên đảo và nhóm một đống lửa trên bờ cát. Chúng tôi ngồi nói chuyện rất lâu bên ánh lửa. Những bóng tối nhảy múa chập chờn giữa những bụi cây sau lưng chúng tôi; vòm trời xám nhợt, rải rác những vì sao, nằm như một mặt hồ lớn trên đầu chúng tôi, và chiếc thuyền nhỏ được neo lại nhè nhẹ đu đưa trên sóng thủy triều. Tôi cố gắng giải thích cho Arne về những điều mình cảm nghĩ, về thân thế tôi, và về thế giới này. «Chúng mình biết ít quá,» tôi nói, và còn nhiều điều cần phải học hỏi. Chúng ta sống bằng vị giác và xúc giác; chúng ta chỉ nhìn thấy những cái ở dưới mũi mình thôi. Còn những hệ thống tinh cầu trên đầu chúng ta, rộng lớn hơn thái dương hệ của chúng ta, và có trọn vẹn nhiều vũ trụ trong một giọt nước. Và thời gian trải ra vô tận theo đủ mọi chiều hướng. Trái đất này, đại dương này, cái lúc ngắn ngủi chúng ta đang sống này tự nó chẳng có nghĩa lý gì... Hôm qua cũng có thực như hôm nay, chỉ tại chúng ta quên mà thôi.
      Arne gật đầu. «Đúng,» hắn nói. «Đúng vậy. Thôi đi ngủ đi.»
      «Và tình yêu,» tôi nói, «thì cũng vô tận; và mẩu hạnh phúc nhỏ bé hôm nay chỉ là một phần của tình yêu.»
      «Đi ngủ đi,» Arne nói. «Ngày mai là một ngày khác.»
      Đêm hôm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi chiêm bao thấy Jennie. Tôi mơ tới cuộc gặp gỡ đã qua lâu rồi, tôi ôn lại trong mơ những chuyện đã xảy ra; tôi nhìn thấy nàng nhỏ bé, đi dọc theo dãy băng dài trống vắng trong công viên, và tôi nghe thấy lời nàng đã nói lúc đó. «Em mong ông chờ em khôn lớn, nhưng em sợ là ông sẽ chẳng đợi em đâu.» Và trong giấc chiêm bao, tôi nhớ cả những lời ca của bài hát ngắn không cung điệu của nàng.
      «Gió thổi, nước trôi...»
      Tôi choàng thức dậy trong một cảm giác hoảng hốt với cảm tưởng có chuyện bất tường. Gió vẫn đang thổi, ấm áp và đều đặn theo hướng đông nam, nhưng tôi nghĩ là gió thổi có mạnh hơn một chút. Có làn sương vàng đục trong không khí, và vài đám mây hình dáng kỳ dị bay trên đầu. Chúng có vẻ bay đi vội vã. Tôi quay người lại và lay vai Arne. «Dậy, dậy mau,» tôi gọi. «Phải về gấp.»
      Chúng tôi giương buồm và đi theo hướng bắc về Truro. Chúng tôi không để mất thời giờ. Trên mặt nước ngoài khơi, gió có phần mạnh hơn; gió thổi lộng vào đuôi thuyền và chúng tôi để mặc cho cánh buồm căng phồng lên hứng gió. Chật vật lắm mới giữ được bánh lái cho chặt, vì sóng biển nhồi dữ, và con thuyền tròng trành. Arne không nói gì; hắn đăm đăm nhìn trời.
      Làn sương dần dần dầy đặc, nhưng mây càng lúc càng nhiều; mây kết thành nhiều lớp cao thấp khác nhau trôi mau, và tạo thành những hình dáng tôi chưa thấy bao giờ — những hình ống dài, những hình vòi thú vật, hình những ngón tay mờ mờ sương khói, chúng cũng có một mầu trắng khác lạ, tựa như bông gòn lấm bụi. Tôi đã cột chặt dây lèo cánh buồm lớn, nhưng thầm hỏi không biết cánh buồm có cầm cự nổi không. «Arne,» tôi gọi hắn, «có nên cuộn bớt buồm không?»
      Hắn gật đầu không nói, và tôi loay hoay lái được con thuyền theo hướng gió. Tôi nhận thấy những ngón tay tôi run lẩy bẩy. Và tôi thấy dường như Arne cũng tái mặt đi. Có một sự thôi thúc kỳ lạ của luồng gió. «Chúng mình phải cố ra khỏi nơi này mới được,» tôi nói. 
      Cuộn bớt dây buồm, con thuyền lao đi, và tôi ráng xoay thuyền lại nương theo hướng gió, tính lợi dụng sự che chở của bờ biển. Sóng nổi dậy mãnh liệt hơn, húc đầu vào những mỏm đá, tôi phải đu người lên bánh lái để ghìm giữ con thuyền. Tôi cảm thấy thực tình lo lắng, và tự hỏi không biết có nên quay ngay mũi thẳng vào bờ không, nhưng không có nơi trú ẩn nào khác hơn là dòng sông Pamet ở Truro. Tôi không còn biết là gió thổi mạnh đến độ nào nữa, nhưng tôi biết chắc là nó thổi rất mạnh. Và có một âm thanh kỳ lạ, từ một nơi xa xăm nào đó vang vọng lại. 
      Trước lúc giữa trưa một chút, tôi thấy Arne chỉ tay về phía sau và tôi dõi mắt nhìn theo hắn về phía đuôi thuyền. Chân trời đã biến mất ở phía nam đằng sau một lớp sương màu xám. Sương cũng không xám hẳn, mà là xám vàng, giống như màu đất bùn. Tôi nghĩ có lẽ là mưa, nhưng lại không có vẻ gì là mưa cả. Mình phải ra khỏi nơi này, tôi thầm nhủ.
      Hai cánh tay và hai bàn tay tôi đau nhừ vì ghì tay lái, và hai cẳng chân tôi cũng mỏi nhừ vì những cố gắng để dựa vào sườn tàu. Tôi ra dấu gọi Arne ra mé sau thế tôi, để tôi ra đằng trước tát nước đã tràn vào đằng mũi thuyền. Ở phía dưới khoang thuyền, sóng có vẻ lớn hơn bao giờ hết, phía sau lái, con thuyền chồm lên, chúng tôi lơ lửng trên đầu ngọn sóng để rồi lao xuống triền con sóng và quay cuồng trong chỗ trũng cho tới khi Arne lấy lại được hướng cho con thuyền. Mỗi lần cái ngọn cột buồm chao nghiêng đập vào mặt nước, tôi lại nghĩ là mình bị đắm tầu. Cổ tôi khô rát, nhưng tôi không cảm thấy khiếp sợ, mà cũng chẳng làm gì có thì giờ để mà khiếp sợ. Tôi tiếp tục nghe tiếng gió gào, tiếng gió không giống bất cứ âm thanh nào tôi đã từng nghe trước đây.
      Một lúc sau đó chúng tôi tìm cách cho thuyền hướng về sông Pamet. Tôi ra giữ tay lái, và bảo Arne giữ dây buồm, và buông nó ra khi nào chúng tôi bị nghiêng quá. Hắn cố hết sức cuốn thật chặt dây buồm quanh một khúc cây, vậy mà còn phải ráng hết sức bình sinh mới giữ nổi. Chúng tôi ngồi ngược hướng gió trên boong thuyền, hai chân dang ra chống vào cái vỏ khoang thuyền. Những đợt sóng bạc đầu dội vào thuyền phía sau chúng tôi, bọt nước bắn tung tóe lên trên mui, và nước biển màu xanh đục tràn dọc khắp boong thuyền tới tận những ô cửa vuông thông xuống lòng thuyền. Tôi thấy hình như chúng tôi nhìn xuống biển ở ngay dưới chân chúng tôi; đôi khi nó chồm lên và một lưỡi sóng liếm cuốn lên tận mũi phòng lái, lúc đó tôi đá vào tay lái và thuyền lại nhô lên. Phần lớn thời gian đó, chúng tôi như nửa ở ngoài, nửa ở trong nước, tôi không thể nói rõ thế nào. «Tôi nghĩ là dầu sao rồi mình cũng thoát,» tôi nói. Arne lắc đầu, «Có lẽ,» hắn trả lời.
      Vào khoảng hai trăm mã cách bờ cánh buồm chính bật tung, rách ở phía đầu ngọn cột buồm; một lúc sau đến mảnh buồm phụ. Tôi nghĩ thế là chúng tôi đành tịch rồi; nhưng hai mảnh buồm đều vướng vào dây buồm, bám lủng lẳng trên đó, và con thuyền chạy êm. Tôi thấy bao lâu mà chúng còn dính vào nhau, chúng tôi còn có một chiếc buồm kép; và chúng tôi không phải đi xa lắm nữa. «Tôi nghĩ chúng mình sẽ thoát nạn, Arne ơi,» tôi nói.
      Tôi hầu như không nhìn thấy cửa sông đâu cả vì những ngọn sóng giúp tôi có ý niệm là con nước dâng cao đến mực nào; nhưng tôi cứ lấy cầu xe lửa làm chuẩn, và phó thác cho sự may rủi. Chúng tôi đi trúng đường và vượt qua một cơn lốc bọt nước trắng xóa cuồng nộ, đậu trên một ngọn sóng gầm rống, nó lượm lấy chúng tôi rồi cuốn chúng tôi vào con lạch tựa như cuốn một khúc gỗ, để rồi quẳng chúng tôi lên bãi cát, xa vịnh tới hàng trăm thước. Arne mò ra trước, nhưng trước khi hắn hạ được tấm buồm chính xuống, gió đã thổi nó bật khỏi tay hắn và tung nó ra giữa sông, phồng lên, một trái banh với nửa cây cột còn dính trên nó. Chúng tôi lấy cây neo ra nhưng tôi biết là nó cũng không neo nổi. Những đợt sóng nổ tung đổ ào vào cửa sông, cao tới sáu bộ, tràn vào con lạch như những bầy ngựa hoang. «Vô ích mà, Arne,» tôi nói. «Thủy triều sắp lên, thuyền sẽ bị cuốn tuột xuống cầu, và bị gẫy cột buồm.» Chúng tôi chẳng làm gì nổi. Tôi không ngờ là thủy triều lại có thể lên cao tới độ ấy.
      Bill Worthington đã nhìn thấy chúng tôi về. Bác đứng đợi chứng tôi leo lên đường từ cái đống để lại trên bãi. «Trời đất ơi!» bác nói, «hú vía nhé, mấy cậu.»
      Tôi gượng cười với bác, nhưng tôi cảm thấy run quá. Hai chân tôi run lẩy bẩy, và tôi không sao làm cho răng hết khua lập cập.
      «Mong bác cảm phiền về vụ chiếc thuyền, bác Bill,» tôi nói. «Tôi không ngờ bão lớn đến thế.»
      Bill nhìn tôi, rồi lắc đầu. «Bão hả, bỏ đi nghe,» bác nói. «Lần này thì đúng là bão lụt thật đấy.»
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >
      #18
        Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 18 trên tổng số 18 bài trong đề mục
        Chuyển nhanh đến:

        Thống kê hiện tại

        Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
        Kiểu:
        2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9