CHƯƠNG XVIII
Bác Bill bảo chúng tôi là ngọn hải đăng High Land Light đã chớp đèn báo hiệu có bão lốc; và điều đó đã làm cho bác nôn nao trong dạ. Nhưng đây mới là khúc mở đầu của cơn giông tố, chúng tôi ai cũng biết vậy.
Chúng tôi cố sức cột chặt chiếc thuyền lại, rồi bác Bill lái xe đưa chúng tôi về nhà bằng con đường ở bên bờ sông phía bắc. Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng cát quật vào xe mỗi khi băng qua một chỗ trống trải trên đường; có một hay hai lần chiếc xe nghiêng hẳn đi vì bị luồng gió mạnh thốc tới. Bác Bill cho chúng tôi về nhà, rồi trở lại quan sát thủy triều. Căn nhà của bác không cao hơn chỗ mực nước triều dâng lên trong những ngày biển động là bao.
Mãi cho đến lúc rẽ vào lối về căn lều tôi mới bắt đầu có ý niệm thực sự về sức gió thổi mạnh như thế nào. Ở ngoài đó, trên mặt biển, tôi bận quá; vả lại, một phần nào, chúng tôi là một thành phần của gió bão, bị nó lôi cuốn theo và phải chạy trước nó. Nhưng ở đây, đối diện với khoảng trống mênh mông từ hướng đông nam, toàn thân tôi hứng chịu ngọn gió, và nó quật mạnh vào tôi như trời giáng.
Gió thổi qua sông Pamet thành một luồng liên tục, gần giống như một dòng sông không khí vào kỳ nước lụt. Không hề ngừng lại, nó tràn đến, nặng nề, dầy đặc và mau lẹ; nó thổi những đám cỏ trên đầm lầy rạp xuống, và bẻ quặp những ngọn thông cong xuống đến một góc vuông. Có cái gì không tự nhiên về thứ gió này; nó như từ rất xa thổi tới, nhưng mỗi lúc như thêm gần lại, khiến tôi có cảm tưởng là chính bóng đen đang tiến đến, và là thứ sức mạnh không thuộc về trái đất này. Tim tôi đập mạnh. Tôi cảm thấy lạnh và xốn xang. Tôi có thể nghe thấy thứ âm thanh kỳ lạ mà tôi đã nghe thấy ở ngoài vịnh, một thứ tiếng rầm rì đến đinh tai từ tít trên cao và tận ngoài xa vọng tới; và bức tường màu vàng xám vẫn còn đó ở phía nam. Hay là nó đã tiến lại gần hơn rồi? Tôi không dám nói chắc. Tôi nhìn xuôi sườn đồi xuống dòng sông, nước sông dâng ngập hết các đầm lầy, một thứ nước màu nâu ngầu bọt vàng. «Tôi lấy làm hài lòng vì chúng mình đã về tới đây,» tôi nói với Arne, gào lên để át tiếng gió. Hắn mỉm cười, lần đầu tiên. «Nếu cái nhà này cầm cự nổi,» hắn đáp.
Một cành cây minh quyết gần bờ nước bỗng gẫy rắc, bị nước cuốn trôi tới mấy thước ngược sườn đồi lên phía chúng tôi. «Thôi,» tôi nói, «vào nhà đi.»
Chúng tôi đi vòng về lối sau, để tránh luồng gió quất thẳng vào người. Trong lúc chúng tôi đi vắng người bán thực phẩm đã đem đến một hộp trứng đặt ở lối vào cửa sau; trứng bị vỡ tung tóe khắp trên nền nhà. Tôi nghĩ, ngày mai tha hồ mà thu dọn, nhưng tôi chưa kịp đứng lại, gió đã quấn lấy chúng tôi xô hắt vào trong, và chúng tôi phải tì người đẩy mạnh mới cài được then cửa.
Trong nhà lạnh và tĩnh mịch nhưng tiếng ù ù vẫn dai dẳng trong tai tôi, sau những giờ lênh đênh trên mặt vịnh. Một lúc sau, tai hết ù, tôi lại có thể nghe thấy chính tiếng gió bão, và cái tiếng rầm rì kỳ lạ từ trên cao và tận ngoài xa.
Arne nhóm lửa, tôi lấy chai whiskey ra. Tôi tợp một hớp lớn; tôi nghe hơi rượu nóng ran khắp người.
Chúng tôi đứng trước ngọn lửa, và nhìn nhau. Tôi cảm thấy căn nhà chốc chốc lại rung chuyển, và tôi nghe tiếng những khung cửa sổ vặn mình; tôi tự hỏi không biết có nên đóng cửa chớp lại không, tôi cố nhớ ra những gì mình đã từng đọc được về các trận bão lốc.
Nhưng rồi tôi bỗng nhớ ra là căn nhà này không có cửa chớp. Cho nên chẳng còn gì để mà có thể làm nữa cả.
«Không biết chiếc thuyền có cầm cự nổi trước sóng gió không,» tôi nói.
«Khó thoát lắm,» Arne đáp.
«Dù sao chúng mình thật cũng đã gặp may,» tôi nói.
Tôi rót thêm một ly rượu nữa. «Không biết ở Provincetown thiên hạ xoay sở ra sao nhỉ?» tôi hỏi.
Arne buồn bã lắc đầu. «Sẽ tai hại lắm, đó là cái chắc,» hắn nhận xét.
Lúc đó, mưa bắt đầu đổ xuống. Không hẳn là mưa như thác lũ, nhưng mưa xiên thật mau. Chừng mười phút sau, có một vũng nước khá lớn ngay lối cửa vào. Tôi lấy chiếc khăn tắm bịt chặt bậu cửa để ngăn nước.
Gió có vẻ mỗi lúc mỗi mạnh hơn, hai ba lần gió lắc căn nhà mạnh đến nỗi tôi tưởng mấy bức tường sẽ bị bứt tung. Chẳng có việc gì để làm, chỉ còn cách ngồi đợi xem có gì xảy đến không. Một lúc sau Arne đề nghị chúng tôi nên ra ngoài quan sát cảnh vật. Hắn nói hắn muốn biết một cơn bão lốc thực sự như thế nào. Chúng tôi lại ra ngoài bằng lối cửa sau, và phải khó nhọc lắm mới đóng nổi cánh cửa sau lưng chúng tôi. Nhưng khi đi vòng ra phía trước thì không sao thở nổi, gió móc không khí ngay ra khỏi miệng chúng tôi. «Nàу bồ», Arne nói, hai tay đưa lên che lấy mặt, «tớ sung sướng vì hiện không ở ngoài vịnh lúc này. »
Tôi nhường mắt cố nhìn ra ngoài vịnh, nhưng nó mất hút trong một khoảng mịt mù, ngộp thở; mưa, bọt sóng và cát tung bay. Tôi nhận ra những cột dây thép phía bên kia đảo Cat Island bị gãy gục, và tôi giơ tay chỉ vào những cây cột gãy. Cùng lúc đó cây du lớn đằng sau nhà tôi bị bật gốc.
Nó từ từ ngả xuống, với một tiếng tựa như tiếng thở dài, bưng cả một khối đất lớn lên theo. Arne chẳng nói gì, nhưng đôi mắt hắn có tia nhìn man dại bên trong. Hắn nắm lấy cánh tay tôi và trỏ sang phía bên kia bờ sông. Một lúc sau chúng tôi nhìn thấy căn nhà cũ của bác Bill Worthington đổ nghiêng về một bên, và bị gió kéo xềnh xệch xuống phía sông. «Có lẽ tụi mình phải ra tiếp cứu.» Tôi ghé vào tai Arne mà hét. Hắn phác một cử chỉ bất lực. «Làm sao mà ra đó được?» Hắn cũng gầm lên.
Chúng tôi còn nhìn theo căn nhà của bác Bill, đứng sát nhau, hai tay ôm chặt lấy một trong những gốc thông đang dẫy dụa, khi chiếc xe tuần tiễu duyên hải đi qua. Chiếc xe đậu lại ngay sau chúng tôi, và một người tuần phiên đi ủng, bận áo mưa tiến lại. «Trời đất ơi,» hắn hỏi, «làm trò gì đây mấy cha nội?» Chúng tôi bảo hắn là chúng tôi đang theo dõi căn nhà của bác Bill bay xuống sông. «Thôi,» hắn đáp, «không bao lâu nữa rồi dưới sông sẽ còn lắm thứ khác nữa. Nước biển đã phá vỡ tất cả và ùa vào ở khúc đồi cát Dune Hollow ». Hắn trở lại chỗ xe đậu rồi xe lại chạy về hướng đảo Cat Island và ngôi nhà của ông John Rule nằm bên bờ đầm lầy.
Chúng tôi ở trên cao cách mặt nước khá xa, và tôi nghĩ rằng mực nước biển không thể dâng cao lên tới đây được. Ấy vậy mà chúng tôi chẳng phải đợi lâu, chỉ trong khoảng mươi phút chúng tôi nhìn thấy những lớp sóng từ biển xô lên chỗ chúng tôi đứng, dọc theo thung lũng. Trông sóng dâng không cao lắm — chỉ như một đường bọt nước màu nâu, có lẫn những cành cây và cát, thế mà nó lại thật là khủng khiếp. Nó cuồn cuộn dưới chân chúng tôi, và rồi không còn dấu vết của những đầm lầy đâu nữa, chỉ có nước, chảy thật xiết. Và một lúc sau, tôi nhìn thấy nàng. Nàng ở phía dưới tôi, hơi chếch về hướng đông, gần bến tàu thành phố, đang cố gắng từ dưới mé sông bò lên dốc. Trông nàng có dáng mệt mỏi, và luồng gió như một con chó đang quấy rầy nàng. Trong lúc tôi đang theo dõi nàng, nàng mất thăng bằng, té nghiêng sang một bên; và rồi, nàng lại bắt đầu trượt lùi lại phía nước sông. Một đợt sóng khác từ hướng đông chảy ùa xuống thung lũng, tôi trông thấy làn sóng tràn đến.
Tôi không biết bằng cách nào tôi đã xuống được dưới ngọn đồi ngược với chiều gió mà đến được gần nàng, nhưng tôi đã xuống được. Tôi vươn tay ôm được nàng vừa đúng lúc và kéo được nàng lên cao một chút, thoát khỏi cơn sóng mà ngọn nó liếm tới sát ngay phía dưới, chỉ cách chỗ chúng tôi đứng chừng một bộ. Nàng dựa vào tôi, trắng nhợt và mệt nhoài, hai mắt nhắm nghiền. «Anh yêu quí của em, em đã sợ là em không tới nổi đây,» nàng nói.
Tôi ôm chặt lấy nàng. Ngay lúc ấy, dù cơn sóng cuồng nộ cuồn cuộn dưới chân, tôi vẫn nghĩ là chúng tôi sẽ thoát khỏi bình an. Tôi cúi đầu xuống và dán mặt tôi vào sát mặt nàng; đôi má nàng lạnh như thây ma. Nàng từ từ đưa hai bàn tay lên như thể là chúng nặng lắm, và vòng hai cánh tay ôm lấy cổ tôi. «Em phải ở đây với anh, Eben ơi,» nàng nói.
«Chúng mình phải vội lên mới được, Jennie,» tôi bảo nàng. Tôi cố lôi nàng theo, vươn lên triền dốc, nhưng nàng nặng như một tử trọng. Nàng mỉm cười với tôi, nụ cười đầy trắc ẩn, và nàng lắc đầu. «Lên đi Eben,» nàng bảo tôi, «em không lên nổi đâu.»
Tôi cố nhấc bổng nàng lên, nhưng nàng nặng quá, tôi không thể nào đặt chân trên cái dốc trơn như mỡ này. Nước mỗi lúc một dâng cao, đã lên tới chân chúng tôi; một lớp sóng lăn tăn màu đen ngậm đến mắt cá chân tôi: «Jennie!» tôi kêu lên, «vì Thượng đế...»
«Hãy cho em nhìn mặt anh,» nàng thều thào. Tôi không nghe tiếng nàng nói, nhưng tôi biết nàng nói gì. Nàng nâng khuôn mặt tôi trong lòng hai bàn tay, và nhìn tôi một lát với đôi mắt mở to, đen nhánh. «Lâu quá rồi, anh yêu nhỉ,» nàng nói.
Tôi không muốn nói gì, tôi chỉ muốn thoát khỏi chỗ này, tôi chỉ muốn vực được nàng lên trên dốc, xa mặt nước.
«Xem này,» tôi nói, «để anh cõng em trên lưng nghe...»
Nhưng hình như nàng không nghe tiếng tôi nói.
«Vâng,» nàng nói tựa như nói với chính nàng. «Em đã không lầm mà.»
«Jennie,» tôi gào lên, «anh van em...»
Đôi vòng tay nàng xiết chặt quanh tôi một hồi. «Ôm em thật chặt vào, Eben,» nàng nói. «Bây giờ chúng mình ở bên nhau rồi nhé.»
Tôi ôm chặt lấy nàng, nhưng tâm trí tôi thì rối loạn. Tôi không nhấc nổi nàng lên, tôi không lôi nàng đi được, và mặt đất nơi chúng tôi đứng bắt đầu lún xuống. «Arne,» tôi hét lên hết sức mình, «Arne!»
Chính vào lúc ấy tôi thấy cái đó trào tới.
Từ vịnh thúc lên, một ngọn sóng lớn mầu nâu, quét ngược thung lũng đổ về hướng biển. Không có cách nào thoát khỏi cơn sóng đó; sẽ không bao giờ chúng tôi leo lên được để thoát khỏi, sóng ùa đến vừa nhanh vừa mạnh, với một thứ tiếng mút chùn chụt kỳ lạ.
Thôi, tôi tự nhủ, dầu sao đi nữa, chúng mình sẽ cùng đi với nhau.
Cúi gập người xuống, tôi hôn đắm đuối lên đôi môi nàng. «Jennie ơi,» tôi gọi, «chúng mình đang gần gũi nhau đây.»
Nàng ý thức được điều đang đe dọa chúng tôi, «Eben,» nàng thì thào, áp khít vào má tôi, «chỉ có một mối tình... không có gì thay đổi được. Tất cả những gì còn lại đều rất tốt đẹp, anh yêu, dù có gì xảy ra chăng nữa, vì chúng ta sẽ mãi mãi gần gũi bên nhau... ở một nơi nào đó...»
«Anh biết,» tôi đáp.
Và rồi sóng xô mạnh vào chúng tôi. Tôi cố ghì lấy nàng thật chặt, nhất định cùng đi với nàng, nhưng sóng đã chia rẽ chúng tôi. Tôi thấy nàng tuột khỏi cánh tay tôi; sóng nâng tôi lên, rồi dìm tôi xuống, và tôi thấy mình lại bị nhồi lên, rồi lại bị hút xuống, rồi lại bị bắn tung lên. Có một cái gì tan vỡ trong tôi, và đó là tất cả những gì tôi còn biết được.
Arne bắt gặp tôi nằm vắt lên một ngọn cây, phân nửa ở dưới nước, phân nửa ở trên, và hắn lôi tôi về nơi yên ổn. Làm sao hắn có thể mang tôi lên dốc về nhà trong trận cuồng phong ấy, tôi không biết nữa. Hắn đặt tôi lên giường, và đổ cho tôi gần hết một hũ rượu whiskey; và hắn ngồi bên tôi suốt đêm hôm ấy. Về sau hắn kể là hắn phải ghì tôi xuống giường, vì tôi không ngừng vùng vẫy đòi trở ra ngoài sông. Tôi không nhớ gì về chuyện ấy, tất cả đều tăm tối đối với tôi, tất cả điều tôi nhớ được chỉ là sự tối tăm đó.
Mất một tuần tôi mới đi lại được, nhưng điều đó cũng chẳng quan hệ gì, vì đường xá bị hư hại hết, và dù có muốn chúng tôi cũng không thể ra ngoài được. Tôi nằm liệt giường, Arne cho cái gì thì ăn cái ấy, và tôi cố không nghĩ về những gì đã xẩy ra. Arne đem tin tức từ bên ngoài về, hắn bảo tôi rằng Truro không thiệt hại quá như chúng tôi đã nghĩ; rất nhiều cây đổ ở dưới Provincetown, và một chiếc thuyền đánh cá bị quật vào ghềnh đá; bao nhiêu lưới cá của ông John Worthington thả ở khu Bắc Truro đều bị bung hết, nhưng nhờ biển ùa vào được bằng đường sông Pamet nên không hư hại lắm. Ngay đến căn nhà của bác Bill cũng thoát nạn, mặc dầu nước ngập lên tận cửa sổ. Trên bãi bể, ở phía đồi cát Dune Hollow, người ta cũng bắt đầu xây dựng lại, chẳng bao lâu nữa mọi vật sẽ lại như trước.
Tôi trở lại Nữu Ước trong một ngày thu đẹp, trời xanh thẫm, nắng vàng trên các đường phố và những tòa nhà to lớn vươn lên nổi bật trong không khí nhẹ nhàng trong sáng. Ông Mathews chờ tôi ở phòng tranh. «Chúng tôi lo cho cậu lắm, cậu Eben,» ông nói, «cô Spinney và tôi... chúng tôi lâu rồi không được tin tức gì.»
Ông vụng về vỗ nhẹ vào vai tôi. «Này cậu, gặp lại cậu tôi mừng thiệt tình,» ông nói. «Tôi — tôi vui mừng khôn tả...»
Cô Spinney chẳng nói năng gì. Cô nhìn tôi như thể là cô vừa khóc.
Chính bác Gus đã trao cho tôi một mẩu báo cắt nho nhỏ. «Mack này, tôi nghĩ là có thể anh chưa đọc cái tin này,» bác nói.
Đó là mẩu báo cắt từ tờ
Times ra ngày 22 tháng Chín. «Chiếc tàu biển
Latania,» báo viết, «hôm nay đã báo cáo bằng điện tín về sự mất tích của một hành khách, trong trận bão, cách tầu hải đăng Nantucket Lightship khoảng một trăm dặm. Cô Jennie Appleton, đang trên đường về Hoa Kỳ sau tám năm trời cư ngụ tại ngoại quốc, đã bị cuốn đi mất bởi một cơn sóng dâng cao làm hư hại một phần boong tầu và làm một số hành khách khác bị thương. Các nhà hữu trách của hãng tầu đang cố gắng dò hỏi tin tức quyến thuộc của cô Appleton trong nước Hoa Kỳ.»
Bác Gus có vẻ ngần ngừ; bác nhìn tôi, rồi ngó đi nơi khác. «Tôi nghĩ là có lẽ anh không biết,» bác nói. «Thành thực chia buồn cùng anh, Mack ạ.»
Tôi trả lại bác mẩu báo cắt. «Không,» tôi nói, «tôi biết rồi mà.»
«Tất cả đều tốt đẹp,» tôi tiếp, «tất cả đều còn tốt đẹp.»
<bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >