VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I )
Thay đổi trang: << < 10 | Trang 10 của 10 trang, bài viết từ 136 đến 146 trên tổng số 146 bài trong đề mục
tamvanvov 21.03.2024 14:45:47 (permalink)
Một người  là “bà đỡ văn chương”,...
 
 
        Người ấy là nhà báo Trịnh Bá Ninh, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp Việt Nam.
          Tôi từng có bài viết về ông, bài“P16 Thụy Khê có một căn phòng” in trong tập bút ký, ký sự “Nơi tận cùng xứ sở” (NXB Hội Nhà văn, 2018). Ở bài viết đó, tôi đã kể tên hàng loạt nhà văn, nhà thơ, cây bút, có cả những người rất nổi tiếng, một thời  bao cấp khốn khó từng lui tới, ta túc tại căn phòng rộng 9 m2 của nhà báo Trịnh Bá Ninh tại khu tập thể Bộ Nông nghiệp ở P16 phố Thụy Khuê, Hà Nội. Giờ xin phép không nhắc lại chuyện cũ đó, tuy nhiên, theo thiển nghĩ của tôi, việc đó chứng tỏ một điều, nhà báo Trịnh Bá Ninh và vợ ông (bà Trần Thị Mai) không khác gì việc đỡ đầu cho nhiều tác phẩm văn học của các nhà ấy thai nghén và ra đời,...
          Thực ra, cách ví này chưa chuẩn. Khi ấy, nhà báo TRịnh Bá Ninh chỉ là phóng viên đơn thuần, mà đời sống xã hội lại cực kỳ thiếu thốn, làm được  như vậy cũng  thật đáng nể trọng bởi không dễ mấy ai làm nổi. Về sau, khi nhà báo Trịnh Bá Ninh giữ cượng vị Phó Tổng biên tập báo Nông nghiệp Việt Nam chuyên trách mảng nội dunng, ông đã làm  người thúc đẩy và  có thể nói là đỡ đầu cho nhiều tác phẩm văn học có giá trị của một số nhà văn ra đời,  đến với công chúng . ...
          Trước hết, với nhà thơ Trần Đăng Khoa. Với thần đồng thơ nổi tiếng này, lại là bạn học cùng trường phổ thông ở quê, sau cùng đội tuyển học sinh giỏi văn tỉnh Hải Hưng, ở thời điểm đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước, gia tài văn chương, ngoài tập thơ Góc sân và khoảng trời, cùng một số bài thơ sáng tác thời tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam và bộ đội Hải quân ra Trường Sa, thì Trần Đăng Khoa vẫn chưa có gì nhiều đẻ làm dày dặn thêm gia  tài của mình. Chỉ đến khi, xuất bản tập phê bình văn học, Chân dung và đối thoại, thêm làn nừa nữa tên tuổi Trần Đăng Khoa nổi như cồn. Tập sách này, cùng một số chân dung văn học được Trần Đăng Khoa viết khi làm việc ở Tạp chí Văn Nghệ quân đội, giữ chuyên mục Đối thoại tháng, thì nhiều bài viết khác do Trịnh Bá Ninh gợi ý và đặt hàng, chẳng hạn như những bài viết về các nhà văn Phù Thăng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường...  Đây thực sự là những chân dung văn học hay, trước hết là về người được khắc họa, tính cách và sự đóng góp của người đó cho văn học. Thứ đến, là bút pháp, phong cách, giọng điệu “rất Trần Đăng Khoa” về thể loại chân dung văn học. Theo tôi, những chân dung văn học của Trần Đăng Khoa mà Trịnh Bá Ninh gợi ý đặt hàng là những bài viết hay, góp phần làm nên thành công cho tập Chân dung và đối thoại,  tiêu biểu về thể loại chân dung văn học trong tiến trình phát riển văn học Việt Nam  hiện đại.
          Riêng với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, trước hết, nhà báo Trịnh Bá Ninh biết đến với tư cách là một đọc giả yêu thích truyện ngắn của tác giả này. Tôi nhớ, hồi Nguuyễn Huy Thiệp mới nổi sau những truyện ngắn xuất sắc đăng trên Báo Văn Nghệ, đã có lần, Trịnh Bá Ninh rủ tôi tìm đến nhà ông này ở Khương Hạ, Thanh Trì, Hà Nội. Hôm ấy, Nguyễn Huy THiệp vắng nhà nên chúng tôi chỉ ngó nghiêng quanh quất khu nhà vườn tuềnh toàng và chuyện xã giao dăm ba câu với người vợ của ông. Quan trọng là, từ sự yêu thích văn chương và ngưỡng mộ con người nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, sau này, khi có cơ hội, Trịnh Bá Ninh đã dám làm và có công trong việc đăng các truyện ngắn của ông.
          Ngày Nguyễn Huy Thiệp  mất (tháng 4.2021), trong một bài viết ngắn vĩnh biệt nhà văn đăng trên trang cá nhân, nhà báo Trịnh Bá Ninh đã kể lại  chuyện ông và các đồng nghiệp ở Báo Nông nghiệp Việt Nam tìm cách cho xuất hiện lại truyện của Nguyễn Huy Thiệp. Số là sau khi đăng hàng loạt truyện ngắn lấy đề tài lịch sử, người ta cho rằng ông “hạ bệ thần tượng”, rồi cơ quan quản lý sờ đến, cho ý kiến nọ kia,... Thế là, các tờ bao9s ngán ngẩm, engaij, thậm chí từ chối đăng truyện của ông. Cứ thế, mấy năm liền văn đài vắng bóng truyện Nguyễn Hu Thiệp, như ông “mất tích” đâu đó.
          Rồi đến một mùa xuân, trong vô vàn báo tết báo xuân, bạn đọc bỗng thấy truyện ngắn Thiên văn của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên số tết báo Nông nghiệp Việt Nam. Chuyện là, trước tết năm ấy, Trịnh Bá Ninh với cương vị Phó Tổng biên tập, cùng phong viên-nhà văn Văn Chinh tìm đến tận nhà ông đặt bài xin truyện.  Chính Nguyễn Huy Thiệp cũng không tin cũng không tin là tờ báo này dám phợt lờ lệnh trên mà đăng truyện của mình. Trịnh Bá Ninh kể rằng, ông và đồng nghiệp cũng dè chừng, rất có thể sẽ có chuyện chẳng lành và nghĩ cách phòng thủ, bóc bài khi cần thiết.  Ấy là việc in  truyện của Nguyễn Huy Thiệp thành một tay báo riêng, để khi có biến là gỡ bỏ thày truyện khác vào vẫn kịp phát hành trước tết. May mà, mọi sự êm xuôi, lãnh đạo Bộ chủ quản còn khen báo tết  hay, truyện cảu Nguyễn Huy Thiệp hay. Nghe ngóng dư luaajun chung, cũng không thấy ban này bộ kia nhắc nhở  chuyện ấy. Tòa soạn thở phào, nhưng có lẽ mừng nhất, chẳng kém gì tác giả truyện, là Trịnh Bá Ninh, người đề xuất và sẵn sàng nhận trách nhiệm  nếu bị cho là sai sót từ việc ấy. Kể từ đấy, nhiều tờ báo khác bắt đầu cho đăng các sáng tác mới của Nguyễn Huy Thiệp. Đương nhiên, hầu như tết nào, Nguyễn Huy Thiệp cũng dành riêng một tryện ngắn cho báo Nông nghiệp Việt Nam., tờ báo ông  quý trọng từ nội dung đến nhân cách người làm báo. Cũng  vì thế, lúc còn sống, nhiều lúc Nguyễn Huy Thiệp cà phê Hàng Hành hay bát phố cổ thi thoảng ghé Tòa soạn báo Nông nghiệp Việt Nam uống trà chuyện phiếm cùng Trịnh Bá Ninh...
          Nâng niu, chăm nhà cây bút  thượng thặng là Trần Đăng Khoa và Nguyễn Huy Thiệp, Trịnh Bá Ninh cùng các đồng nghiệp của mình ở báo Nông nghiệp Việt Nạ cũng rất biết cách chiêu dung nhân tài, vì thế mà nhiều cây bút nổi tiêng xứ ta như Mà Văn Kháng, Bảo Ninh, hay những cây bút nổi tiếng gai góc như Tạ Duy Anh, Trần Huy Quang, Dạ Ngân ... đều góp mặt ở đây. Thời kỳ Trinhju Bá Ninh quản lý nội dung tờ báo cùng là thời kỳ có nhiều nhà văn đầu quân làm phong viên bản báo như Văn Chinh, Đỗ Bảo Châu, Vũ Hữu Sự, Thái Sinh,...
Báo  Nông nghiệp Việt Nam là một tờ nhật báo chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp, nội dung chính chủ yếu các vấn đề về Tam nông (Nông nghiệp, nông thôn, nông dân) nên Trịnh Bá Ninh và ban biên tập tờ báo chủ trương bám sát các vấn đề thời sự về Tam  nông, lấy tiêu chí phục vụ cho các lợi ích của nông dân la hàng đầu, tuy nhiên, khi ra các số báo nhân dịp lễ te4ets, kỷ niệm này nọ, có điều kiện làm văn thì hàm lượng và chất lượng văn chương ở đây không kém một số tờ báo chuyên về văn chương, thậm chí chất lượng bài còn cao hơn, theo đánh giá của bạn đọc, bởi có nhiều bài viết hay, rất hay của các cây bút và nhà văn hàng đầu của Việt Nam. Có một điều quan trọng nữa là, phong cách làm báo của ông, tôi tạm gọi là là “phong cách báo Trịnh Bá Ninh” làn truyền sang thế hệ đàn em và để lại dấu ấn đậm nét đến giờ, kể cả  thái độ ứng xử, sự tôn trọng và độ tinh tế văn chương.
Là dân làm báo với nhau, biết nhau, hiểu nhau cả, Làm được như Trịnh Bá Ninh không dễ chút nào. Giờ nghỉ hưu, ông vẫn được một  số kênh truyền thông mời tham gia tư vấn trực tiếp về tam nông và nhiều vấn đề văn hóa xã hội khác.
Riêng về văn chương, không còn  là những khát khao cháy bỏng thuở nào, mà là độ đằm sâu đầy trách nhiệm.
Cùng với những bút ký đoạt giải các cuộc thi bút ký văn hijc từ những năm 80-90 thế kỷ trước, nhà báo Trịnh Bá Ninh còa hàng trăm bài thơ. Song đưa thơ mình ra với công chúng thế nào, là quyền của riêng ông ,..../.
 
 
tamvanvov 28.06.2024 16:06:56 (permalink)
Xem đêm, nhận diện  Phùng Cung,
 
I. Có một nông thôn trong thơ Phùng Cung
 
          Lâu rồi, một ngày cuối thu. Đầu óc u u minh minh với việc công sở. Tản bộ ra một hiệu sách gần, nhà sách của Trung tâm văn hóa và ngôn ngữ Đông Tây nằm trên phố Bà Triệu. Nhìn những giá sách mới ngồn ngộn những quyển, những bộ dày mình, bóng lộn và sặc sỡ đến hoa mắt choáng đầu.  Thầm nghĩ, tri thức nhân loại đầy cả đây mà sao phân vân chẳng biết mua quyển gì. Bèn ngó nghiêng sang quầy sách đại hạ giá cũ kỹ đầy bụi phủ. Rút bừa một cuốn bìa xám sỉn lép xẹp trên cái kệ có treo bảng ghi giá chung cho mọi quyển là 5 nghìn đồng. Lại là thơ ư ? Lâu nay mình đã ớn  thơ phú lắm rồi. Song khi nhẩm đọc tên sách, tên người và cảm thấy, hình như mình đã đọc hoặc nghe ai đó từng nói về cái nhà ông Phùng Cung, tác giả của tập thơ này, có cuộc đời truân chuyên, chìm nổi lắm lắm... Thôi thì thử đọc xem sao...
          Nào ngờ, cái tập thơ Xem đêm ( NXB Văn hóa thông tin-1995 ) đã được in từ mấy năm trước, nay thuộc diện hàng chậm luân chuyển, bỏ bán lấy vốn ấy, đã đem đến cho tôi sự thích thú. Cảm nhận thì nhiều, song trước hết, xin bàn về hình bóng một nông thôn lạ lẫm, vừa sâu rộng, lại có gì đó chập chờn nửa thực nửa hư ...
          Ấy là một nông thôn đầy sắc màu, thanh âm ngồ ngộ, lạ mắt lạ tai, song vẫn rất thân thuộc và gần gũi : " Sông chảy bồn chồn hoa nắng/ Chim chả nguệch bàn cờ bến vắng " ; " Ngô lúa quanh làng/ Một màu xanh-cánh-chấu ;   "Hoa bầu rụng/ Lèo tèo tóp mỡ/ Pháo đất bốp bờ ao " ; " Tu hú trên ngọn sung chùa/ Giật mình, xông giọng " ; " Ốc luộc lá bòng thơm tấy ngõ/ Lúa non chấp chới dậy thì/ Nhũng nhẵng dây cò-phơi tã " ; " Hạt mồng tơi kênh đất nghe trời/ Chuối con gái vội hong búp lụa " ; " Con sộp phùm vỗ hão bóng hoa lay/ Lá tre rụng/ Nhuộm hoàng hôn tím đỏ " ; " Diều lá vông cỡn gió/ Con rắn bay/ Đuổi gấp vầng trăng " v.v và v.v...
          Một vùng nông thôn trũng úng, lầm lụi sống, vật vã với cái đói cái rét, nhẫn nại trong lam lũ cực nhọc để mà vượt lên : " Trắng lưng trời/ Làng thôn nơm nớp/ Củ ráy đẫy gang " ; " Tép riu sang khế/ Khăn bùn thuyền thúng-đăm chiêu/ Đồng chiêm ơi/ Khóe mắt ngời nắng cũ " ; " Lẻ tấm/ Búng rền/ Đũm mắm/ Đểnh đoảng mùi cháo canh "; " Ngô phong cờ/ Chó chạy hở đuôi/ Cái đói-tròn/ Lăn-kín bốn mùa"; " Gió bấc về/ Gà con lên cơn sốt/ Nhong nhóc đi, đứng/ Chen nhau tìm chỗ ấm/ Cẳng gày lội gió " ; " Bến đò quán chợ-ngã ba/ Vật vã mùi cháo thí đêm hè "; " Tiếng cuốc bèo da diết gọi ngày mai " ...v.v...
          Và trong những cảnh huống ấy, trăn trở, nặng trĩu, nghèn nghẹn, da diết một nỗi niềm người, nỗi niềm ta : " Bạc tóc trở về quê/ Bỡ ngỡ tìm dò bến mới/ Nhìn dáng lạt bó rau/ Nhận được người làng " ; " Mảnh tình riêng/ Dạt nẻo hoa trôi " ; " Em vừa ốm dậy/ Cơm bắp, dưa sung/ Thèm canh chuối/ Sảy tay vỡ bát/ Em run rảy nhìn ngơ ngác " ; " Xì xẹt sái nhì-tắc điếu/ Cút tương kiến gió đánh đai/ Rổ không hờ hững quang treo/ Nắng thả chào mào nghiêng nghé " ; " Sáo diều ai hóc-gió ven sông " ; " Nhớ người đi xa/ Đãy sắn khô/ Lão đẽo-thơm-giáp hạt " ; " Sương chiều nghe-lạnh bước chân/ Khách áo cũ/ Tìm về bến cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi đầy mùi khói cuối năm " ; " Đêm  chợt nghe/ Trong gối vọng tiếng ru/ Lắng tai nghe mới rõ/ Tiếng tóc mình chuyển bạc " ; " Lúc ra đi/ Đãy quê thao thức gối đầu/ Trót-dông dài-trăng nước/ Mặt va-giông chớp/ Rạc mái phong lưu/ Gót nhọc/ Men về thung cũ/ Quỳ dưới chân quê/ Trăm sự cúi đầu/ Xin quê rộng lượng " ...v.v...
          Quả là tôi không thể nhắc hết được những câu thơ như thế. Nhiều lắm những chữ, những câu, những tứ lạ, súc tích và ám ảnh. Nguyên là một cây bút về văn xuôi, bẵng đi mấy chục năm, khi tái xuất lại bằng thơ, không ngọt như mía lùi kiểu Hoàng Cầm, không ấn tượng như Hoàng Hưng, Phùng Cung lặng lẽ , thâm trầm mà như khắc như tạc...
          Tôi biết, thơ phú bây giờ nhiều vô kể. Cứ mỗi ngày trôi qua, có cơ man những bài thơ được đăng báo, có bao nhiêu tập thơ từ các câu lạc bộ thơ xã phường đến các sa-lông văn học sang trọng nơi đô thị, rồi các nhà xuất bản tiếng tăm ở trung ương cho ra lò, trình với làng thơ ca ? Rồi nữa, quan niệm về thơ, về thơ hay luôn trong cảnh chín người mười làng, mỗi kẻ một phách, mấy ai chịu nhau. Riêng với tôi, thơ hay là đọc rồi, nó cứ ám ảnh mình mãi. Tôi cũng lại biết, có nhiều nhà thơ, nhà phê bình đang sốt ruột lắm, vì họ cho là nền thi ca Việt Nam cứ ì ạch mãi thế này thì có đến mùng thất cũng không giật được cái Nobel văn chương. Thế rồi họ cách tân, họ cổ súy, thi nhau đăng đàn mà tiếp thị thơ, tung hô cái sự cách tân. Song le, hết thơ văn xuôi, thơ không vần, thơ diễn nôm na ná dịch nghĩa thơ Tàu thơ Tây, và gỉ gì gi nữa, rốt cuộc thiên hạ vẫn không mấy ai thuộc, cũng chẳng mấy ai bị ám ảnh, ngoại trừ sự tự kỷ ám thị của họ. Thực ra, đổi mới luôn là một ý đồ tốt, là một biểu hiện bình thường của sự vận động xã hội  nói chung, huống chi là văn chương, thơ phú .
          Xem đêm của Phùng Cung đã thực sự ám ảnh tôi, lấy lại tình yêu với thơ ca ở nơi tôi, kích hoạt tôi làm việc... Cứ xem cho kỹ, thơ Phùng Cung cũng mới đấy chứ. Câu chữ, ý tứ, nhịp điệu, hình ảnh, vần vèo đều mới cả. Mới song không sượng, nhuyễn mà không cũ. Đấy là cách tân chứ phải tìm đâu xa. Và thế, tôi cho là thơ hay !...
          Đọc rồi, cứ rẩm riu tự hỏi, sao các nhà ông này lại thấu hiểu thôn quê đến thế, viết hay đến thế ? Ngẫm ra, thấy những bài mình viết về thôn quê chẳng đáng giá gì. Tôi không rõ quê ông cụ thể ở đâu, song cứ qua thơ mà đoán, thì hẳn là một quê chiêm trũng thuộc đồng bằng Bắc bộ. Cũng na ná như vùng quê tôi. Mùa thối chiêm khê, cấy chay bừa chùi, đồng xa bước chầy bước thụt nặng những gánh lúa ướt sũng, hạt ngâm nước lâu ngày lên mộng mạ, đập ra đánh đống nơi sân kho hợp tác xã hâm hấp nóng bốc hơi nước mờ mịt mùi men rượu ... Thóc vậy mà đâu có được ăn cho no bụng, vì vẫn phải đủ nghĩa vụ lương thực, còn dành dụm cho tiền phương. Cứ thế, thắt lưng buộc bụng, khoai sắn, rau dưa độn vào cho ấm lòng. Vậy mà không một ai kêu ca, eo xèo, bởi mọi người đều hiểu rằng, có thấm tháp gì với những gian khổ hy sinh nơi chiến trận. Giá của mỗi chiến thắng ngoài mặt trận, của mỗi ngày bình yên chốn làng quê ấy phải đổi bằng máu, bằng mồ hôi nước mắt, bằng chính những bó lúa mộng mạ nóng hổi hơi nước kia !... Những ngày tháng đầy gian khổ lo âu ấy trôi qua nặng nề làm sao mà cũng bình thản làm sao. Không một người dân quê nào hiểu nổi nó đã trôi qua bằng cách nào, chỉ biết mình vẫn sống, làng quê mình vẫn sống, dân tộc mình vẫn tồn tại một cách vững chãi. Tôi đã cảm nhận được một nông thôn như thế qua những bài thơ của Phùng Cung, tất nhiên, trong đó có cả những nỗi niềm riêng tây, nỗi đau bản thể. Phùng Cung đã khắc họa bằng ánh sáng sắc màu, thanh âm và cảm quan để ra một nông thôn của một thời đã qua, chân thực đến xót xa, đẹp một cách âu sầu, song lại vô cùng lung linh huyền ảo. Hiểu một nông thôn như thế trong quá khứ chưa xa, mới càng thấm thía một nông thôn đang khởi sắc của ngày nay!...
Tôi có nguồn gốc nông thôn. Tuy sinh ra ở thành phố, song đến tuổi đi học lại về quê sinh sống. Bản thân bạch diện thư sinh nên công việc đồng áng không mấy thạo, tuy cũng lóng ngóng làm được đôi ba việc nhà nông. Thôi thì cứ mạo nhận là nông dân nửa mùa. Lúc theo nghiệp cầm bút, viết về thành phố thì như kẻ ngô ngọng. Đành tập tọng kể chuyện làng quê vậy. Biết cũng chẳng hay ho gì, nhưng còn có cái để mà viết. Lâu lâu rồi cũng thành quen, lại tự nhận thấy rằng, cái sự nửa tỉnh nửa quê của mình phần nhiều là dở, dở hơi dở hám, nhưng cũng có cái được. Mình nhìn làng quê, nông thôn lại thấy ngồ ngộ hay hay, cũng ra chiều nên thơ, chứ không đến mức tẻ nhạt, chán ngắt như chính bà con nông dân tự nhìn nhận về đời sống và cảnh ngộ của họ. Nghĩ thế rồi, nên cứ yên tâm mà viết. Đều đều, đường được. Có tặng sách cho người này người nọ, rồi cũng có người mua sách của mình. Cũng lại chưa thấy ai chê bai. Mà có lẽ, người ta không chê, không muốn chê và chẳng thèm chê. Có lẽ, phần vì không để ý, vì không nỡ, hoặc giả có đi  chăng nữa thì cũng chẳng có gì đáng để chấp nê ...?
Nông thôn ta ngàn đời vẫn vậy, dẫu đời sông nông dân có khấm khá lên nhiều, song thói quen tằn tiện, chịu khó chịu khổ vốn đã ăn sâu vào máu thịt thì đâu dễ phai lạt. Còn là ở cái tâm lý: " Được mùa chớ phụ ngô khoai. Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng ". Thì cứ cho là những câu thơ của Phùng Cung viết về nông thôn như ngô như khoai đi. Bình thường chỉ là ăn chơi, mấy ai để ý. Đến khi xót lòng, mang ra ăn, càng nhai càng ngọt càng bùi. Đấy là chưa kể, mấy ai đâu đã nghĩ, một ngày nào đó, ngô khoai lại trở thành đặc sản như bây giờ !...
Giờ mới thấy, những gì mình đã viết về nông thôn chỉ ngô khoai, còn thơ của Phùng Cung thì thành đặc sản rồi.
 
II. Không đổi giọng Tân Cương                            
 
          Sau khi tình cờ mua được tập thơ Xem đêm của Phùng Cung, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần và càng đọc càng thấy thích. Theo thiển ý riêng tôi, đây là một tập thơ hay nhất được xuất bản trong những năm gần đây. Tôi đã viết một bài về tập thơ ấy đăng báo, đó chính là phần 1 trên đây. Thực lòng khi ấy, tôi không biết gì nhiều về ông ngoài chút thông tin rằng ông chính là tác giả của truyện ngắn Con ngựa già của Chúa Trịnh. Và chính vì truyện ngắn đó mà cuộc đời ông long đong, khổ ải.
          Rồi những thông tin về ông cứ ngày một nhiều và rõ dần ra, nhất là khi đọc Cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài. Thế nhưng, phải đến khi cuốn sách Ba phút sự thật của nhà văn Phùng Quán ra đời, thì tôi mới có hình dung tương đối rõ hơn về con người và văn chương Phùng Cung, kể cả mối quan hệ của ông với cụ Nguyễn Hữu Đang và Phùng Quán, cùng các văn nghệ sĩ khác .
          Trước đây, qua tập thơ Xem đêm, tôi cứ hình dung rồi đồ rằng, Phùng Cung chắc sinh ra và lớn lên ở một làng quê đồng bằng Bắc bộ như Thái Bình hoặc Hà Nam chi đó. Nào ngờ ông quê Sơn Tây, xứ Đoài với sông Đáy, sông Đà, núi Tản thơ mộng, nơi đã từng nuôi dưỡng hồn thơ Quang Dũng. Lại nữa, ông đã từng vì chuyện văn chương mà phải sống cuộc sống cách biệt với đời thường và môi trường văn chương những đủ vòng năm con giáp. Rồi những tháng ngày khó khăn thiếu thốn, để sinh nhai và nuôi con khôn lớn ông từng phải lăn lộn với nghề đập đinh nặng nhọc, kể cả việc phụ vợ làm bánh rán thêm thắt. Khi đã có thơ rồi thì không có tiền in. May mà được Phùng Quán chăm chút bản thảo và còn định mở một đợt lạc quyên lấy tiền in sách cho ông. Lại may, được cụ Nguyễn Hữu Đang dồn tiền dành dụm dè sẻn của mình, mang cho in sách. Thế mới có tập thơ Xem đêm ra đời  (NXB Văn hóa thông tin, năm 1995 ), in trên giấy xấu, trình làng với bạn yêu thơ. Tôi biết cảm ơn ai đây vì được đọc tập thơ này, Phùng Cùng- Phùng Quán-Nguyễn Hữu Đang, và còn những ai nữa ?
          Càng đọc, lại càng thấm. Những bài thơ ngắn- nhưng nỗi đau đời thì dằng dặc- song đầy xẻ chia, an ủi- rồi trải mênh mang như sự  thiền định- và nữa, ngộ ra để tự răn như những bài kệ nhà Phật...
          Ta thử đồng hành cùng Phùng Cung. Thoạt đầu là những nỗi đau đời nếm trải : " Tội nghiệp nhà thơ/ Hợm mình/ Lầm lạc/ Bởi không biết sống/ Nên không biết chết/ Nửa thế kỷ/ Bị lưu đày/ Trong cõi tung hô "  ( Tội nghiệp ) ;  " Binh lửa bay rồng đá/ Còn đây vũng trâu đầm/ Màu càn khôn lăn lóc/ Gào thét sóng-hoa-văn " ( Vết cũ ) ; " Vạn thuở hồn xanh cỏ/ Mặt đất thơ gắn bó/ Bất hạnh nào hơn/ Già rụi quê người ..." (Ăn năn ); " Phận-lấm/ Tối ngày đào ngoáy/ Lưng nắng-vẽ/ Hoa văn tiền sử/ Chài chãi đồng chiêm/ Mấy kiếp rồi " ( Cua đồng ) ; " Tôi đập nghiên gấm/ Ném vút lên vòm trời Gô-tich/ Gõ cửa phái mê hồn/ Xem lên tiếng ra sao/ Tôi ghép chữ-thơm/ Bắc cầu lên hỏi/ Cõi bất tử siêu phàm/ Liệu có dung nổi một nhà thơ " ( Kỳ vọng ) ; " Đêm đen/ Kìm kẹp ngọn đèn/ Gãy lửa/ Vẫn vinh danh nguồn sáng" ( Nguồn sáng ) .v.v...
          Còn đây là những xẻ chia, an ủi - với người, với vạn vật đất trời, với cõi hư vô, cũng là để tự mình : " Mưa nhỏ ngang sông/ Cò vạc thay nhau/ Săn dòng nước đục/ Cái phù du giả chết/ Vật vờ trôi... " ( Giả chết );" Đầu trần/ Chân đất/ Đường cơm áo vụng về/ Kéo lê cái bóng/ Thân nhơ bóng sạch..."  (Vụng về ) ; " Nửa đời/ Nước thải/ Hưu non/ Vã mồ-hôi-son/ Tảo tần chiều sớm/ Quốc lủi lưng vơi/ Ngấm câu thành ngữ/ Mắt trước mắt sau/ Kinh hoàng di lụy/ Tóc bạc-vào-mùa/ Răng hơi bị đuối/ Trệu trạo trái sung/ Ruột tím cơ hàn " ( Tím cơ hàn ) ; " Đèn bên sông/ Hay bụi-sao rơi/ Mà hiu hắt/ Cơ hồ muốn tắt/ Có phải hình bóng người đã khuất/ Mộng công hầu chưa đạt/ Nay lại lần về mượn cửa tái sinh " ( Bụi sao rơi ) ; " Ai làm cho bạc- tuổi nhau/ Nhìn trời xanh/ Nhớ mái đầu xanh xưa/ Tuổi xanh bạc giữa bất ngờ/ Trời xanh quên nửa bài thơ đoạn trường " ( Bạc tuổi ); " Mái rạ trở mình/ Mưa-hơi-thô/ Hoa dứa gai/ Thơm-lại mùi biên ải/ Đêm trằn trọc/ Xé đôi giấc ngủ/ Nửa giấc tù ngồi/ Nửa giấc trăng " ( Trằn trọc ) ; " Trở giấc xem đêm/ Cuối trời trăng-mỏi/ Trái gấc chín-ngập ngừng/ Tóc rụng trạt lối đi... " ( Xem đêm ) v.v ...
          Cái tính A.Q. đã giúp Phùng Cung xoa dịu mọi nỗi đau đời, để trở về trạng thái cân bằng - một cân bằng động. Dẫu vậy, đấy là con đường tất yếu để người ta qua những trải nghiệm mà đến với Thiền. Phùng Cung lắng đọng và chắt lòng mình ra những bài kệ : " Trăng tà/ Trĩu ánh/ Sương rơi/ Đong-trăng lá lạnh/ Đầy vơi bao lần " (Đong trăng ) ; " Cổng hè đổ vụn-nắng son/ Con trâu gốc phượng/ Nhai-mòn-gần xa " ( Trưa hè ); " Lênh đênh muôn dặm nước non/ Dạt vào ao cạn/ Vẫn còn lênh đênh " ( Bèo ); " Ai chuốc rượu/ Cánh buồm say lảo đảo/ Quanh quẩn quãng sông chiều/ Quên nẻo ra khơi " ( Say ); " Lạnh nhịp sương rơi/ Chiều-gạo-đổ/ Dế đào chân mộ/ Trăng lên... " ( Nghĩa trang ) ; " Em mải hái dâu/ Chiều-sông- nước/ Tằm đau lạc bến/ Trong kén tơ/ Thấp thoáng bóng thuyền " ( Bóng thuyền );  "Sống quá khó khăn/ Chết chẳng dễ dàng/ Tôi phải sống/ Hẳn tôi còn được chết/ Chết là chơi nốt/ Một trò chơi/ Mãn khóa hỗn sinh " ( Trò chơi ) ; " Mặt chịn nắng/ Ngả màu chum vại/ Hỳ hụi lối mòn-tử đạo/ Mồ hôi tháo/ Lưng cơm chan đẫm phong trần " ( Phong trần ) ; " Ngón son/ Đu nhành biếc/ Trái bồ hòn/ Con vành khuyên hót-ngọt/ Đắng-dư âm " ( Chim vành khuyên ) ; " Dưới bóng đại hùng/ Băng hà, núi lở/ Cái kiến con ong tất tả/ Cõi hỗn sinh/ Tội chết đói/ Hồn không nhập mộ/ Nhà ơi! cây nhót bán rồi/ Hết chua, hết ngọt hết lời nhỏ to " ( Nhỏ to ) v.v...
          Đại loại, còn nhiều, nhiều lắm những bài thơ ngắn như thế, hao hao thể thơ Haiku của Nhật Bản, lại mang phong vị thơ Thiền, và dáng dấp kệ kinh nhà Phật.
          Đây là tập thơ để đời của Phùng Cung. Cứ theo như Phùng Quán, thì cụ Nguyễn Hữu Đang từng đánh giá thơ Phùng Cung còn hay hơn văn của ông. Tôi không được đọc văn Phùng Cung nên không dám so sánh. Song hai trăm bài thơ trong tập, hẳn được Phùng Cung chắt chiu, nghiền ngẫm đằng đẵng nhiều năm trời, cả khi ông bị bứt khỏi đời sống thường và môi trường văn chương, lẫn lúc ông lăn lộn cực nhọc để kiếm sống sau này. Ấy là những bài thơ nằm lòng, mỗi bài như một khúc ruột đau. Đau tái tê đến độ cảm thấy như không. Đạo của người quân tử là vậy chăng? Đạo của Trà, đạo của Thi văn, đạo của Người :
                             " Quất mãi nước sôi
                               Trà đau nát bã
                               Không đổi giọng Tân Cương ."
 
 
          III. Đọc  lại Xem đêm, thẫm nỗi đau Phùng Cung.
 
          Những ngày xuân tháng giêng Tân Sửu, đúng thời điểm dịch Covid 19 bùng phát lại, cầm chân không du xuân lễ hội đâu được. Ở nhà, viết và đọc sách giải khuây. Tôi đọc lại tập Xem đêm của Phùng Cung.
          Số là, từ hơn chục năm trước, tôi đã tình cở mua được tập thơ Xem đêm lần xuất bản đầu và đọc thấy thích. Rất thích là đàng khác. Tôi đã viết tiểu luận  “Có một nông thôn trong thơ Phùng Cung”, gửi đăng báo. Sau đó, tôi phát triển thành chân dung văn học “Phùng Cung, người tôi chỉ biết qua thơ” (in trong tập Trời đất thu hay lòng ta thu, Nxb Dân trí 2016). Trong những lần đàm đạo văn thơ cùng bạn bè, nhiều lần tôi khen tập thơ Xem đêm, khiến mọi người tò mò mượn đọc, vì thế mà thất lạc. Tôi tiếc lắm. Trước tết Tân Sửu, tôi nhờ người quen mua được tập Xem đêm, bản mới do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Sách in đẹp và phần nội dung có thêm Phụ Lục với các bài viết của Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm về thơ văn của ông, còn có cả truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trình, mà vì nó Phung Cung đã dính án văn chương ngày nào...
          Đọc lại, vẫn nguyên cảm giác thú vị, nhưng đằng sau câu chữ, vấn điệu, còn thấy được ý tứ sâu xa về thân phận con người nói chung và thân phận với nỗi cay đắng riêng ông.
          Trong bài viết này, tôi không nhắc lại những gì đã nói, đã bàn ở các bài viết trước, như việc khắc họa một nông thôn Bắc bộ điển hình một thời xưa cũ khốn khó còn chưa xa; hay đâu như sự ngộ ra, để rồi tự an ủi, răn mình mang tính thiền định, kinh kệ nhà Phật,,,
          Ở đây, tôi muốn đi sâu tìm hiểu sự ám ảnh, hàm ý về một thân phận bị dập vùi mà vẫn gắng gỏi ngoi lên, loe lói sáng như muốn chứng ninh cho sự trong sạch của bản thân...; và không thể không nói đến một điểm mạnh, ấy là nghệ thuật ngôn từ và tạo dựng không gian thơ của Phùng Cung,
          1. Có lẽ, trong tập thơ này, khó có bài thơ nào hàm súc, ám ảnh, ấn tượng hơn bài Trà: “Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương”. Nó thể hiện nỗi niềm về thân phận, sự kiên định, ý chí, bản lĩnh và cả khao khát khẳng định sự thanh sạch của bản thân tác giả.
          Có thế thấy, hàm ý về nỗi niềm thân phận bị vùi dập, ý chí, bản lĩnh muốn khẳng định sự thanh sạch và khao khát vượt lên số phận ẩn giấu trong nhiều câu thơ, bài thơ...
Ví như: “Thánh thần ơi/ Phải đâu nhật thực triền miên/ Ngày tối hơn đêm/ Đêm-vó-ngựa/ Quỳ gối chống tay/ Vẫn còn sợ ngã/ Mặt đất quá cheo leo” (Đêm vó ngựa); “Thương cây đào ốm/ Xuân về chẳng nở hoa/ Lá gày run gió lạnh/ Cây cũng có thời vận ư?” (Cây đào); “Trời đất uy nghi/ Xanh vĩnh cửu/ Chim bay hình thánh giá muôn phương/ Cung tên tạo hình thánh giá/ Bắn con chim hình thánh giá tử thương” (Vĩnh cửu); “Phận lấm/ Tối ngày đào khoáy/ Lưng nắng-vẽ/ Hoa văn tiền sử/ Chài chãi đồng chiêm/ Mấy kiếp rồi” (Cua đồng); “Tổ tan/ Trứng mất/ Có trời biết vì sao/ Bỏ hót/ Chỉ kêu/ Mỏ run run rớm máu” (Con chích chòe); “Dông bão trẩy qua xóm nhỏ/ Giập gãy hết rồi/ Ngô độn chuối xanh/ Xì xằng qua bữa/ Kẻng thúc ngũ liên/ Săn lùng đào ngũ/ Chẫu mắt mù/ Nhìn-đóng-cọc vào đêm” (Giập gãy); “Trở giấc xem đêm/ Thiên hà ngọc vụn/ Gió thổi một mình/ Mặt đất tròng trành/ Ma hoa nhày múa” (Xem đêm); “Hệ lụy với tôi/ Là ăn là uống/ Miếng ăn miếng uống/ Hành hạ suốt đởi/ Mấy ai dám cả gan/ Đùa dai với đói khát” (Miếng sống); “Trái đất lênh đênh/ Chênh chênh mùa nắng/ Gió trĩu cành/ Tải bốn mùa cười khóc/ Sóng biển xanh/ Nát bóng hải âu” (Tâm tư);
Thậm chí, Phùng Cung còn cân nhắc. sắp đặt số phận mình, và cho cả cái chết của mình, nếu ông không được sống: “Vạn thuở hồn cỏ xanh/ Mặt đất thơ gắn bó/ Bất hạnh nào hơn/ Già rụi quê người” (Ăn năn); “Sống quá khó khăn/ Chết chẳng dễ dàng/ Tôi phải sống/ Hẳn rôi còn được chết/ Chết là chơi nốt/ Một trò chơi/ Mãn khóa hỗn sinh” (Trò chơi); “Mô hình tôi/ Một trẻ thơ/ Ngoạm củ ráy/ Đứng thẳng người trong xóm/ Quỹ đạo tôi/ Thư thái-loằng ngoằng/ Xó bếp-bở ao/... Khi tôi chết/ Tôi thèm cái lặng lẽ/ ... Nếu tái sinh/ Tôi chẳng ước ao gì khác/ Chỉ mong được như kiếp trước/ Xó bếp đói. No/ Bờ ao tắm mát/ Phận cánh cò/ Mưa-nắng-phong dao” (Thanh thản); “Nhập nhoạng đóm đèn/ Đêm chó mực/ Trạt mùi hạ nhục/ Già trẻ sụt sùi/ Ôm đầu số phận/ Cúi mặt nhìn ngang/ Nghe lanh chân nhang” (Đoàn viên)...
          Dẫu là “phận lấm”, dẫu có “xó bếp, bờ ao” hay “lênh đênh”, “ngày tối hơn đêm” di chăng nữa, thì với Phùng Cung, vẫn quặn thắt một nỗi đau đời-một khao khát vươn lên trên số phận: “Trăng qua song sắt/ Trăng thăm ngục/ Bỗng ta chợt tỉnh-sững sờ/ Trên vai áo tù/ Trăng và lụa/ Ngày xưa ơi!/ Xa mãi đến bao giờ...” (Trăng ngục); “Ai giùm tôi thủ tục làm vô tận/ Thỏa thích trải trời xanh cõi không cùng/ Tôi khao khát huy động/ Những chùm sao đẹp/ Đêm về lung linh chòm xóm nghèo sao” (Khát vọng): “Hỡi bầu trời/ Hãy rộng thêm nhiều nữa/ Để phi đoàn cất cánh/ Xếp đội hình thánh giá uy nghi/ Rộn rã chuông chiều/ Cất giọt mưa sa/ .../ Giải phóng những nếp nhăn/ Trên từng vầng trán hoài nghi” (Giải phóng); “Đêm khuya trằn trọc/ Tôi bắt gặp/ Mùa thiêng hoa chết/ Ngoại giới mưa bay/ Trong hồn tơi tả/ Trăng úa-đầy trời-lá rụng/ Không gian khát vọng khúc giải oan(Khát vong)...
          Chịu khó tìm nhặt, trong Xem đêm, vẫn đây đó những câu thơ hàm ý dạng này, nhưng tôi không sa đà, để khám phá nghệ thuật thi ca tài tình của Phùng Cung...
          2. Nghệ thuật thi ca của Phùng Cung, trong Xem đêm thật tài tính.
          Có thể nhận định một cách ngắn gọn nhất, ấy là sự chắt lọc câu chữ, ý tứ hàm súc, ám ảnh, ấn tượng, không gian sống động, đầy thanh âm, hình ảnh, sắc màu, hương vị và trạng thái cảm xúc...
          Chắc chắn, ngày ấy, Phung Cung và cả chúng ta, không một ai biết đến khái niệm 3D, song tài tình thay, mỗi bài thơ trong tập thơ này đều như một cuốn phim ngắn 3D. Tôi chọn một số bài thơ để minh chứng cho điều này: “Mặt trời hạ-thổ/ Núi-giội-chàm/ Đò chuyến cuối/ Nhìn nhau nhọ mặt/Sữa con so ướt yếm/ Thơm-mùi-khoai-luộc/ Dốc bến tối gà/ Đom đóm rối guồng-tơ-lửa/ Nghe đêm trung giang thả-gió-gọi diều” (Chiều soi bãi); “Sương chiểu nghe-lạnh bước chân/ Khách áo cũ/ Tìm về bạn cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi dầy mùi khói-cuối-năm” (Khói cuối năm); “Chó sủa dông dài/ Giò chuyển canh/ Trái thị cuối thu/ Thơm mùi trăng-úa/ Ao khuya nước thở thì thầm” (Đêm cuối thu); “Thoảng mùi ruộng ải/ Thóc giống cựa mình/ Nắng vắt ngọn-tre-đuôi-én/ Đủng đỉnh điệu cu cườm/ Lạc nhịp-gió may” (Mùa gieo mạ); “Gió quẩn lùm ngỉa cứu/ Mùi ngộ cảm đầy vườn/ Chếch bóng chĩnh tương/ Con vằn say bả/ Hoa chuối tiêu lầm lũi/ tím Tam-giang” (Nôn nao); “Chó sủa làng xa/ Sủa gơn xóc ốc/ Sao diều ai hóc-gió/ ven sông” (Đêm ven sông); “Mảng rêu chiều nắng ghé/ mênh mông/ Con dế loanh quanh/ Tìm lại tiếng mình đêm trước/ Vườn hàng xóm ngổn ngang/ mùi khế rụng” (Chiều nắng ghé); “Oèng oẹc trời khuya/ Chim lợn xổ giọng hãi hùng/ Tôi nhìn sông/ Đầy ắp sao xanh/ Ngoằn ngoèo phun tím/ Lửa-hoa-đăng/ Rần rật rím-luân-hồi” (Sông đếm); “Mành rách gió lay/ Chim chích đu mình săn nhện/ Góc sân nắng hanh/ Lá mít rụng trờ mình-nghé bếp/ Chó hàng xóm/ Sủa cầm chừng vài tiếng/ Lỗi bước lên hè/ Guốc nằm chiếc ngửa chiếc nghiêng” (Nhà vắng);  vv ... vv...
Nhiều lắm, khó mà trích dẫn ra hết được. Bài thơ nào cũng kiệm lời, gạn đến mức cảm giác không có từ nào thừa cả. mỗi từ đều phải gánh một phần ý tứ. Về tư duy, hình thức thơ, có thể thấy, ở đây có sự kết hợp nhuần nhuyễn tính hàm súc, tinh tế, ý tại ngôn ngoại của Đường thi, phong vị thiền và sự chắt lọc của thơ Haiku Nhật Bản, lại gần gũi thân thuộc của tục ngữ, ca dao Việt Nam,
Phần lớn, các bài thơ trong tập này của Phùng Cung là thơ tự do, câu ngắn, ngắt dòng liên tục. và nhiều câu được ngắt nối bằng dấu ngang ( - ), giàu nhạc điệu. Có bài là lục bát, hoặc thơ dạng bốn câu, nhưng được ngắt dòng, nên mới mẻ và ấn tượng. Ở vào thời ký ấy, có thể thấy, Phùng Cung đã rất ý thức trong việc cách tân thơ. 
Ví như: “Trăng lên/ hàm tiếu/ thẫn thờ/ Nửa chững trăng xế/ Chịu giờ mãn khai” (Hoa quỳnh); “Này em!/ Cây khế gãy rồi/ Nỗi chua vẫn hỏi thăm/ Người trồng cây” (Cây khế); “Chút lòng dây gấm khăn điều/ Cảm thương cái nhện/ Chiều chiều giăng tơ/ Không gian đứt nối sững sờ/ Khăn điều dây gấm/ Ngẩn ngơ mấy chiều” (Giăng tơ); “Dáng gày-đầy đặn-trữ tình/ Thuyền au đậu bến Lan Đình/ Trăng xa/ Tử sinh lỡ một lần ba/ Ruột tằm đau/ Mối tơ thừa gió bay” (Trăng xa); “Lênh đênh muôn dặm/ nước non/ Dạt vào ao cạn/ Vẫn còn lênh đênh” (Bèo); “Sen vàng từ thuở lên ngôi/ Bâng khuâng du khách/ Ngậm ngùi vần thơ/ Cồng chùa nhện mải giăng tơ/ Chuông thiêng ngân mãi/ Tiếng thừa trong không” (Chùa Kim Liên); “Lá súng lát mặt ao/ đếm ngọc/ Con sộp phàm vồ bão/ bóng hoa lay/ Lá tre rụng/ Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch/ Tiếng cuốc bèo da diết/ gọi ngày mai” (Ao con); “Bờ ao trưa gió lay lá cỏ/ Vang khẽ lời ru nhỏ xanh xanh***/ Cách cách giòn tan/ Con cào cào dội phách/ Khoe cánh điều/ Bay ngập nắng-bổ-cau” (Nắng bổ cau); “Cành xoan cu gáy đứng/ chào mùa/ Ung dung đổ lèo ba/ dõng dạc/ Mùi cơm mới/ Xoắn mùi cá kho nhạt/ Hoa cải thơm quấn quýt/ quanh làng. Một lũy thơm” (Lũy thơm),...
Đổi mới hình thức thơ trên nền tảng các thể thơ cũ bằng cách ngắt nhịp song vẫn giữ mạch thơ khiến người ta xem bằng mắt hay đọc bằng âm đều không thấy nhàm và vẫn dễ nhớ dễ thuộc.
Tuy còn chưa đi sâu phân tích nghệ thuật ngôn ngữ thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tôi nghĩ, Phùng Cung đã có những đóng góp nhất định trong tiến trình đổi mới thi ca Việt Nam hiện đại !..../.
 
 
 
 
tamvanvov 02.10.2024 16:45:52 (permalink)
Phùng Quán,
người đi trọn đời mình trên con đường sự thật !...
 
 
          Một dạo, có mấy sự kiện trong thế giới sách ở Việt Nam. Sách dịch thì có mấy cuốn thuộc diện best seller là Rừng Na-uy, Biên niên ký chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển (Murakami), Cô đơn trên mạng (Wisnewski) , Tô-tem Sói (Khương Nhung), Kitchen (Banana Yoshimoto), Mật mã Da Vinci, Thiên thần và ác quỷ (Dan Brow)... Sách trong nước thì phải nói, ồn ã nhất là cuốn tự truyện Lê Vân yêu và sống, rồi đó là cuốn tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh. Gần đây thì đồng thời là tiểu thuyết Ba người khác của Tô Hoài, hồi ký văn học Ba phút sự thật của Phùng Quán v.v...
          Đọc Ba phút sự thật của Phùng Quán, tôi thực sự ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng bởi những thông tin, câu chuyện, những chân dung con người, trong đó có mấy người rất nổi tiếng, mà tôi vốn chỉ biết lờ mờ, như Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Tuân Nguyễn... Ngỡ ngàng bởi văn viết giản dị, chân tình, sâu sắc, cuốn hút và cũng rất chi là trách nhiệm. Điều quan trọng, là qua tác phẩm này, tôi có được sự hình dung đầy đủ hơn về một Phùng Quán, xứng đáng với danh xưng “người đi trọn đời trên con đường sự thật” mà người đời dành tặng ông, đến mức dù chỉ thấy ông có một lần, nhưng giờ thì tôi có thể phác thảo một chân dung ông, chí ít là theo sự mường tượng và cách nghĩ của riêng tôi.
          Vâng. Tôi đã diện kiến Phùng Quán một lần. Đúng một lần thôi, song khá ấn tượng, bởi trong một hoàn cảnh rất chi là ấn tượng.
          Tôi sẽ trở lại sự diện kiến Phùng Quán sau, để nói về những gì mình biết về ông qua dư luận. Rằng ông vốn là cháu bên ngoại với nhà thơ Tố Hữu, trước khi bước vào làng văn chương, từng tham gia vệ quốc đoàn từ lúc còn nhỏ tuổi, tưng chiến đấu nhiều năm ở mặt trận Thừa Thiên Huế quê hương mình. Tác phẩm khiến độc giả biết đến Phùng Quán là tiểu thuyết Vượt Côn Đảo, được xuất bản khá sớm và còn được giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam, nghe đâu còn được xuất bản bằng tiếng Nga, rồi ai đó lại dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt để in ở Việt Nam. Rồi sau đó ông bị dính vào án văn chương mà mất tên trên diễn đàn văn học nước nhà. Lại nghe tiếp rằng ông chuyên sống bằng nghề câu cá Hồ Tây và vẫn viết văn, đăng báo, in sách dưới bút danh và cả tên người khác, những người thương ông muốn giúp ông không dứt đoạn mạch văn chương và quan trọng hơn cả là ông có một khoản thu nhập để sinh sống cùng giúp giập thêm gia đình. Vì thế mới có cái đuôi gắn vào thành Phùng Quán- cá trộm văn chui . Mới nghe thế thôi cũng đã ly kỳ rồi.
          Tôi diện kiến Phùng Quán trong không khí đổi mới về văn nghệ, không nhớ chính xác là vào năm 1989 hay 1990. Trước đó, hàng loạt văn nghệ sỹ thuộc diện có vấn đề trước đây, người trước kẻ sau xuất hiện trở lại với các sáng tác đăng rải rác trên báo, hoặc xuất bản cái mới, tái bản cái cũ như Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Hà Minh Tuân, Văn Linh, Vũ Bão ... Riêng Phùng Quán tái xuất giang hồ văn chương với bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, và đã thành công vang dội. Sự thành công của bộ tiểu thuyết cùng người cha tinh thần của nó đã vượt ra khỏi địa hạt văn chương tràn sang cả điện ảnh khi nó được chuyển thành phim truyện. Bộ phim cùng tên do đạo diễn Vinh Sơn dựng.
          Lần ấy, nhà thơ Trần Phương Trà (Trần Nguyên Vấn) rủ tôi và một vài đàn em báo chí đến dự buổi chiếu phim ra mắt bộ phim Tuổi thơ dữ dội do Hội đồng hương Huế tại Hà Nội tổ chức ở Hội trường Bộ Tài chính vào ngày chủ nhật. Tôi nhớ, người đến dự khá đông, phần lớn là những ngưòi lớn tuổi nói giọng Thừa Thiên Huế, số ít là thân nhân gia đình họ và bạn bè kéo theo xem ké vì hiếu kỳ, giống như chúng tôi. Trước buổi chiếu, ban tổ chức có đôi lời phi lộ, rồi mời Phùng Quán lên bày tỏ tình cảm và cảm ơn. Phùng Quán lên, chưa kịp nói gì mọi người đã vỗ tay hoan nghênh, không khí khá náo nhiệt. Hình như, sau nhiều năm sống lặng lẽ trong lãng quên của độc giả, bầu không khí náo nhiệt ấy và tấm thịnh tình của mọi người, ông lặng đi. Hắng giọng mấy lần rồi ông cũng lên tiếng, giọng hơi run vì quá xúc động. Ông nói chậm rãi, đưa mắt quan sát khắp hội trường, như vừa nghe ngóng xem người ta đón nhận những lời phi lộ của mình thế nào. Rồi giây phút ấy qua nhanh, ông nói liền mạch và cũng đỡ xúc động hơn. Tôi không nhớ lắm những gì ông nói, song cũng chỉ loanh quanh việc tiểu thuyết của mình được xuất bản, được dựng thành phim và cảm ơn những người đồng hương, anh em bạn bè và đông đảo độc giả khán giả đã đón nhận... Khi ông đang say sưa nói, chợt có một người đứng tuổi, ngồi phía sau hàng ghê chúng tôi, đứng lên, nói rất to, đại ý rằng, Phùng Quán không được nói thế, định nhân cớ mượn diễn đàn tự minh oan hay diễn thuyết gì ở đây ? Hãy xuống đi. Phùng Quán khựng lại, tắc nghẹn họng. Tôi thấy, miệng ông há ra, không thành lời và cũng không khép lại được, như cá đớp khi khi mắc cạn. Thật khó mà biết được diễn biến tình cảm, tâm lý ông lúc ấy. Dáng người thô ráp khắc khổ của ông sụn xuống. Trong sự ngạc nhiên, sự bất bình phản đối của nhiều người với ý kiến của người vừa nói, ông cố gắng như kẻ  ngọng tập nói cho sõi mấy câu cảm ơn ngắn rồi xin phép xuống. Giọng ông tôi thấy có nước mắt !... Buổi chiếu phim bắt đầu khi mọi người vẫn con ấm ức bàn tán khen chê, bày tỏ thái độ và sự phân bua của chính người cắt ngang vừa nãy... 
          Cả buổi chiếu phim rất dài, mặc dù nhiều tình tiết phim cuốn hút, song tôi không tài nào gạt bỏ được hình ảnh Phùng Quán trước buổi chiếu. Ông ngồi ở hàng ghế đầu, cách chúng tôi dăm hàng, nên tôi chỉ thấy cái đầu bù của ông nhô lên trong bóng tối. Và dường như nó cứ to lên, to lên dần, choán hết màn ảnh. Có lẽ do chịu ảnh hưởng của sự việc vừa rồi nên tôi thấy thế chăng ? Tôi không phán xét việc làm của người nọ đúng sai thế nào, nhưng với Phùng Quán, ứng xử với ông như vậy thì có gì đó bất nhẫn, thậm chí là tàn nhẫn. Thực lòng mà nói, khi ấy, tôi cũng thấy giận người đã hét to làm gián đoạn lời phi lộ của Phùng Quán trước buổi chiếu. Đoạn kết, bộ phim dừng ở chi tiết khá đắt, đó là chú bé Mừng bị đồng đội, bạn bè nghi ngờ phản bội, chú đã kêu lên rằng Tôi không phản bội . Tiếng kêu ấy vang vọng khắp núi rừng, núi rừng nghe thấy đấy, song đồng đội có biết cho chăng ? Chẳng cần phải liên tưởng gì thì cũng nảy sinh trong tôi cái ý nghĩ rằng, chú bé Mừng ấy là Phùng Quán, nếu không, chí ít cũng kêu hộ nỗi lòng Phùng Quán ?   
          Sau này, tôi không đọc thêm tác phẩm nào củn Phùng Quán nữa, ngoài đôi ba bài báo trên Tiền Phong. Sự nghiệp văn chương của ông, trừ những tác phẩm viết cho thiếu nhi ký bút danh hoặc mượn tên người khác  (văn chui ), còn lại đều được. Tuy nhiên, tôi không thích lắm, dù rất quý trọng sự chân thật và thô nhám trong văn của ông. Song đến tập sách Ba phút sự thật (NXB Văn nghệ- Tp.Hồ Chí Minh-2006) thì tôi vừa kính phục vừa thích. Bài đầu tiên của tập là một tuyên ngôn nghệ thuật của Phùng Quán, những câu chuyện, những con người trong cả tập sách đều đáng nể. Tôi đặc biệt thích các thiên hồi ký về Tuân Nguyễn, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Phùng Cung... Đọc tác phẩm này, tôi bất ngờ về tài viết tiểu luận và chân dung văn học của Phùng Quán. Quan trọng hơn, qua đây người ta còn có thể thấy được nhân cách của ông. Không có gì là quá, khi bài sau cuốn sách trích bài viết Đứa con không quên lời mẹ dặn của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về cuốn sách này  : "Đây là một lời tự bạch phản ánh chân thực nhân cách nhà văn của Phùng Quán: Khát vọng suốt đời về sự thật. Bởi sự thật không phải là thứ có sẵn như chiếc bật lửa trong túi áo, mà chính là số phận và khát vọng của Nhân Dân. Nhân Dân là Người Mẹ đẻ đau mang nặng để sinh ra đứa con làm Nhà Văn, và vì thế, đứa con Phùng Quán suốt đời không quên Lời Mẹ dặn :
                   Người làm xiếc đi trên dây rất khó
                   Nhưng không khó làm bằng nhà văn
                   Đi trọn đời mình trên con đường chân thật".
          Tôi nghĩ, ngoài những cảnh huống cuộc đời truân chuyên vất vả mưu sinh “văn chui cá trôm”, về tác phẩm, cùng với bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội, sau là tập bút ký và chân dung văn học Ba phút sự thật, nhà văn Phùng Quán đã thực hiện được lời mẹ dặn, là : Đi trọn đời mình trên con đường sự thật !...
          Gần đây, trong một lần đối ẩm trà với nhà thơ Trần Đăng Khoa ở tòa soạn tạp chí Nhà văn & cuộc sống của Hội Nhà văn Việt Nam, chuyện về các nhà văn, nhân nhắc đến nhà văn Phùng Quán, ông kể một câu chuyện thú vị về Phùng Quán. Chuyện rằng, chừng đâu năm 1968, Phùng Quán đã về nhà Trần Đăng Khoa ở Trực Trì, Nam Sách, Hải Dương (khi đó ghép tỉnh là Hải Hưng). Phùng Quán kẽo kẹt đạp xe từ Hà Nội về, ý chừng muốn xem cậu bé được mệnh danh là “thần đồng thơ” này ngô khoai ra sao. Lần ấy, chuyện chán rồi Phùng Quán lựa lời hỏi thần đồng: “Cháu thấy thơ của nhà thơ Tố Hữu thế nào? Hay không? Không hay ở chỗ nào?”. “Cháu thấy thơ chú ấy hay ạ”- Trần Đăng Khoa bảo thế, song cứ nhìn thái độ và cái cách ông hỏi thì hình như ông ấy chờ đợi câu trả lời ngược lại. Khoa lại bảo “Nhưng chú ấy cũng ối chỗ viết không đúng”. Phùng Quán thích thú xoắn lấy ngay “Không đúng ở chỗ nào?”. Khoa  bảo “Ví như bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, chú ấy viết “Chúng bay chỉ một đường ra/ một là tử địa hai là tù binh”, vậy là hai đấy chứ,... Sao chú ấy không viết,  Chúng bay chỉ đường ra,  như thế câu sau một hai gì cũng đúng hơn không”. Rồi thần đồng còn dẫn thêm mấy chỗ nữa mà theo cậu là không chính xác trong thơ Tố Hữu, khiến Phùng Quán ngạc nhiên thích thú,... Hôm ấy, Phùng Quán còn lôi Khoa đi câu, bằng cần câu lưỡi chùm không dùng mỗi mà ông cất công mang theo về. Kết quả chẳng được con cá nào. Chú cháu về tay trắng. Giờ nhắc lại chuyện cũ, Trần Đăng Khoa cười toét miệng bảo: “Ao làng khi ấy chỉ toàn đòng đong cân cấn, cá cờ, thi thoảng mấy con rô ron giếc cặn sót lại thì lấy cá đâu cho ông ấy câu giật cơ chứ,...Đâu có lắm chép kềnh mè khủng như Hồ Tây để ông ấy câu giật....”. Trần Đăng Khoa còn đồ rằng, mình chỉ nói điều ấy với riêng Phùng Quán hôm đó, nhưng sau này thiên hạ cứ đồn Trần Đăng Khoa dám sửa cả thơ Tố Hữu, có lẽ từ đấy mà ra rồi thiên hạ thêu dệt thêm lên, ...?
Theo Trần Đăng Khoa, khi ấy, Phùng Quán đã khác người, bởi có cái nhìn khác, mặc dù Phùng Quán họ hàng gần gũi với Tố Hữu, gọi Tố Hữu bằng cậu, trong khi người ta, bao gồm cả những nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu và phê bình văn học uy tín đều tung hô, ngợi ca hết lời thơ Tố Hữu. Phùng Quán thì không. Điều ấy, đủ thấy nhân cách và bản lĩnh ông như thế nào!
          Tôi nghĩ, không sùng bái kẻ trên, đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc và chia sẻ với những người bị vùi dập, ấy là phẩm cách của Phùng Quán. Vì vậy, ông mới viết nên các chân dung lay động tâm can về Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Phùng Cung,... trong cuốn sách Ba phút sự thật để đời của mình.
          Đó cũng là cái cách nhà văn Phùng Quán “Đi trọn đời trên con đường chân thật” ./.
 
 
tamvanvov 21.12.2024 14:52:20 (permalink)
 TRẦN ĐÌNH HIẾN
Dịch & văn
 
 
 
Tôi thật không ngờ mình lại có chút duyên được gặp dịch giả Trần Đình Hiến thường xuyên đến như vậy.
Trần Đình Hiến là người nổi tiếngtrong làng văn chương và giới dịch thuật văn học nghệ thuật nước nhà. Có thể nói, dịch giả-nhà văn Trần Đình Hiến là người có công trong việc giới thiệu và quảng ba văn học Trung Quốc nói chung và Mạc Ngôn nói riêng (nhà văn Trung Quốc, Nobel văn học năm 2012) vào Việt Nam.
Có thể khẳng định, với Trần Đình Hiến, dịch các tác phẩm của Mạc Ngôn là quá trình ông chuyển ngôi vị từ một người dịch thuật trở thành nhà văn đúng nghĩa. Điều này cho thấy ông đã đồng hóa được nguyên tác và biến nó thành một ngôn ngữ khác (tiếng Việt) chứ không chỉ là người chuyển ngữ thông thường. Đây là cái tài của riêng ông mà không phải người làm công việc dịch thuật nào cũng làm được. Thế nên, Trần Đình Hiến, dịch để trở thành nhà văn là vậy.
Trong số nhiều tác phẩm của nhà văn Mạc Ngôn được dịch và xuất bản ở Việt Nam thì dịch giả Trần Đình Hiến chiếm 6 cuốn mà theo giới nghiên cứu, đó là những tác phẩm điển hính đại diện cho phong cách Mạc Ngôn (Báu vật của đời, Đàn hương hình, Cây tỏi nổi giận, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, 41 chuyện tầm phào). Cùng với đó, nhà văn Trần Đình Hiến còn là dịch giả một số tác phẩm nổi tiếng của các nhà văn Trung Quốc khác như: Cây hợp hoan (Trương Hiền Lượng), Tô tem sói (Khương Nhung),  Cây không gióNgân thành cố sự (Lý Nhuệ).
Chất lượng cao và sự thành công qua các bản dịch của nhà văn, dịch giả Trần Đình Hiến về văn học đương dại Trung Quôc, đặc biệt những tác phẩm của Mạc Ngôn đã được giới dịch thuật và bạn đọc Việt Nam khẳng định, nên ở đây, tôi chỉ bàn về tính  đặc thù trong văn chương Mạc Ngôn sau khi nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết của ông nhà văn này, để thấy sự khó khăn và cÁi tài dịch thuật của Trần Đình Hiến mà thôi.
Để thấy được diều này, ta cùng trở lại lý do vì sao mà Hội đồng Nobel văn học thuộc Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao giải cho Mạc Ngôn: “chủ nghĩa hiện thực ảo giác hòa quyện với những câu chuyện dân gian, lịch sử và đời sông hiện đại được sáng tạo ngay trên mảnh đất quê hương ông”; thêm nữa, thi pháp tiểu thuyết của Mạc Ngôn, ấy là, khác với lối kể chuyện truyền thống xuôi chiều trong văn chương Trung Hoa cổ trung đại, Mạc Ngôn đã làm ngược lại, ông đi tìm, nhặt nhạnh đâu đó các câu chuyện dân gian, hoặc hiện đại mang ra kể, và từ các chuyện kể đó khái quát nên xã hội rộng lớn, mà người đọc thấy thời cuộc, thấy được bóng dáng thời đại mình để rồi tự rút ra những thông điệp cho mình, nói chung là vậy, song cần phải nói đến cái tài của Mạc Ngôn là các câu chuyện đời thường, có vẻ rất thật, thậm chí trần trụi lại được ông nhào luyện, khuấy đảo tít mù, đến mức gây ảo giác,...tạo không gian truyện riêng có, đặng gây hiệu ứng tâm lý me hoặc....
Thế nên, khi chuyển ngữ tác phẩm của Mạc Ngôn dịch giả sẽ rất khó khăn trong việc bao quát chung, nắm bắt ý tưởng, theo kịp mạch văn, “khúc chiết hóa” từng phân đoạn để không sa vào tình trạng mất phương hướng, không kiểm soát được tình tiết và nội dung câu chuyện trong đó. Qua đó, đủ thấy sự am hiểu khá tường tận về văn hóa Trung Hoa để đạt đến độ “thấu tình đạt lý” trong bản dịch. Thêm nữa, văn của Mạc Ngôn giàu chất uy-mua, một thứ hài “ý tại ngôn ngoại” nên không dễ chuyển ngữ chút nào, bởi không khéo, bản dịch sẽ mất chất này.
Trở lại những cuộc đàm thoại với dịch giả-nhà văn Trần Đình Hiến. Biết tiếng ông đã lâu, nhưng phải đến khi về lam biên tập ở tạp chí Nhà văn &cuộc sông của Hội Nhà văn Việt Nam thì tôi mới lần đầu gặp ông. Trần Đình Hiến bảo, ông yêu quý tờ tạp chí này, bởi lịch sử lâu dài và uy tin của nó từ ngày đầu thành lập mang tên Tác phẩm mới rồi trải qua năm tháng với nhiều lần đổi tên Tạp chí Nhà văn, Tạp chí Nhà vaw và tác phẩm và nay là Tạp chí Nhà văn &cuộc sống. Ông cũng quý trong các vị tồng biên tập qua các thời kỳ, nhất là những năm gần đây là nhà văn Nguyễn Trí Huân và nhà thơ Trần Đăng Khoa. Vì quý trong, yêu mến mà đến thăm tòa soạn, để gặp gỡ và đàm đạo văn chương thôi, chứ không phải để tạo quan hệ gửi bài công tác thông thường. Quả là không ít lần, nhà thơ Trần Đăng Khoa và tôi mời Trần Đình Hiến công tác nhưng ông đều cười hiền từ chối, bảo không có bản dịch hay để ông gửi đăng cả. Lại bảo, nếu có gì đặc biệt, mình sẽ gửi các bạn.
Từ đầu năm 2020 đên cuối năm 2022, Trần Đình Hiến hay đến Tạp chí lắm. Tòa soạn Tạp chí rời từ 65 Nguyễn Du về trụ sở Hội Nhà văn ở số 9 Nguyễn Đình Chiểu, ông vẫn hay lui tới, kể cả thời điểm hạn chế đi lại vì phòng dịch Covd 19 tuy có thưa hơn nhưng ông vẫn đến khi có thể. Ông tự đi bằng chiếc xe máy Cub Tôm đời cũ, bảo nhà gần (phố Phan Bội Châu, Hà Nội) đi xe máy cũng nhanh và tiện. Chuyện trò gần trưa thì ông về, dù nhiều lần nhà thơ Trần Đăng Khoa níu giữ,  mời ông dùng bữa trưa. Ông từ chối khéo bảo về kẻo vợ con chờ cơm. Mỗi lần dến, ông đều ăn mặc lịch sự, hay mang theo quà, sô-cô-la cho phái nữ và thuôc lá ngon cho phái mày râu,...Khen ông sức khỏe tốt, ông bảo, nhờ trời vẫn đi được xe máy, rồi ông còn khoe, vài năm trước ông vẫn tự chạy xe máy về quê cách mấy chục cậy số. Còn khỏe ấy là còn lao động dịch thuật được. Thật mừng cho ông và hy vọng cho bạn đọc chờ đợi,...
Chẳng biết các thành viên khác của Tạp chí thế nào, nhưng tôi tin mọi người đều quý trong một người có tài, có tâm và lịch lãm như vậy. Riêng tôi, thực lòng tôi rất quý trọng ông, nên mỗi lần ông xuất hiện ở Tạp chí, tôi vui vì biết mình sẽ tếp nhận và học được từ nơi ông nhiều điều sau mỗi buổi gặp gỡ như vậy. Có những lần thưa khách, cả buổi sang chỉ tôi với ông ở tòa soạn, thầy trò đàm thoại vơi nhau, mặc sức chuyển từ vấn đề này dến vấn đề khác, chuyện nọ sang chuyện kia, say sưa, không bị ai quấy rồi. Tôi đặc biệt “khai thác” từ nơi ông, mà tôi xem như “mỏ quặng quý” tất thảy những gì thuộc về văn hóa, văn học Trung Hoa. Cứ rỉ rả mà khai thác, mỗi lần một chút, ddawcngj tích lũy thêm kiến thức cho mình về lĩnh vực này. Sách thì đầy rãy ra đấy nhưng qua sự thẩm thấu cùng những bình phẩm sâu săc của ông, vẫn thích hơn nhiều. Về Mạc Ngôn, về các nhà văn đương thời, ngược sử về cận đại, trung đại, cổ đại Trung Hoa, ông đều am hiểu, thấu tỏ. Có một vấn đề tôi đặt ra, ấy là tại sao, trong khi văn xuôi đương đại Trung Hoa vẫn tiếp nối dòng chày cổ-trung-cận đại thì ở lĩnh vực thơ phú, mặc dù từng có một nền thi ca Đường, Tống rạng rỡ bậc nhất đông tây kim cổ thế giới, nay lại không có một tác giả, tác phẩm thơ nào khả dĩ cả? Hình như, ông tỏ ra bất ngờ và lúng túng trước câu hỏi này của tôi. Hiện thực cho thấy, cùng với Cao Hành Kiện và Mạc Ngôn đã giật Nobel văn học, văn xuôi Trung Quốc đương đại còn hàng loạt tên tuổi khác như Vương Mông, Giả Bình Ao, Thiết Ngưng, Vương, Tô Đồng...  và gần đây nổi bật với cái tên Tàn Tuyết. Ngẫm nghĩ, ông bảo là có thế thật, nhưng lý giải cho thỏa đáng thì không dễ chuta nào. Rồi ông chuyển hướng, bảo là thơ hiện đại thì Đài Loan khá hơn Trung Hoa đại lục, có lẽ bởi, người Đài Loan hiện giờ phần đông gốc rễ đại lục và dù họ đã qua mấy đời thì vẫn mang nỗi tha hương, ấy là nỗi nhớ về quê cha đất tổ ở đại lục kia; chính nỗi hoài quê hoài quán đó làm nên sắc thái u hoài đầy nỗi riêng chung trong thơ họ. Tôi đồng ý với Trần Đinh Hiến về nhận định này. Nhưng còn lý giải sự mờ nhạt và thiếu bản sắc thơ Trung Quốc đương đại thì vẫn còn là một câu hỏi mở,...
Tôi thử  lý giải hiện trạng này, Trung Hoa quá tự hào về nền thi ca Đường, Tống đỉnh cao của mình hàng ngàn năm nay, đến mức, vô hình chung tự  giàng buộc minh mà không thoát ra nổi. Cùng với đó, sự phát triển quá nhanh chong về đời sống xã hội và văn minh vật chất khiến văn hóa nói chung và văn học (thi ca) không bắt kịp. Văn xuôi dễ bung phá, chứ thi ca thì không. Chính sự hoàn thiện của thể loại, tính chất niêm luật chặt chẽ của Đường thi, Tống từ vô hình chung gò bó trói buộc khiến các nhà thơ khó thoát ra được, mà sự cách tân vón không dễ thành.
Cách lý gải này của tôi, Trần Đình Hiến nghe, gật gù, lẽ thế chăng. Song tôi biết, có thể ông thấy có lý nhưng chưa hẳn đồng tinh !?
Bẵng đi, đâu giữa năm 2023 thì phải, không thấy ông đến Tạp chí, tôi tìm hiểu thì ai đó, hình như nhà thơ Quang Hoài bảo là ông yếu đi nhiều, gần như một chỗ không ra khỏi nhà. Vậy là qua cái tuổi chín chục, con người ta có cố gắng cũng khó vượt qua cái ngưỡng tuổi tác. Thế cũng là ông trời chiều lắm rồi.
Có một điểm mờ trong cuộc đời và sự nghiệp của Trần Đình Hiến, nhưng lại là điểm mở, biến ông với tư cách là một nhà ngoại giao thành một nhà văn-nhà dịch thuật chuyên nghiệp. Tôi nghe nhà văn này, nhà thơ nọ bàn về ông trong những lúc trà dư tửu hậu, rằng khi ông  còn làm việc ở đại sứ quán Việt Nam tai nươc bạn, vì đam mê tìm hiểu và thu thập tài liệu gì đó khiến phía họ nghi ngờ này nọ, nên buộc ông phải về nước. Vậy là sự nghiệp ngoại giao của ông bị đóng lại. Nếu không, rất có thể ông thăng tiến lên vị trí cao hơn song chắc gì văn học Việt Nam có được một nhà dịch thuật tiếng Trung xuất sắc như vậy? Biết vậy nên nhuwqxng làn gặp gỡ ông, tôi không khai thác được gì về chuyện này, bởi không dễ hỏi và đã có lần tôi dợm hỏi thì ông né. Với ông, may hay không thì tự ông rõ mà thôi.
Chẳng hiểu ông trời có cho Trần Đình Hiến khỏe lại, để ông tiếp công việc nghiên cứu và dịch thuật của mình thêm ít năm nữa? Thiết nghĩ, con người ta, có tài đến mấy thì tinh anh cũng chỉ phát tiết ở một thời điểm và kéo dài đến một thời gian nào đó, chẳng thể dài cả đời được. Vậy nên, chúng ta cũng không nên trông chờ ở người đã đến ngương U100        như Trần Đình Hiến.
Bởi với ngần ấy thôi, dịch giả-nhà văn Trần Đình Hiến cũng đủ để ngạo với đời rồi,...
 
 
 
tamvanvov 05.02.2025 15:01:01 (permalink)
NGUYỄN HUY DUNG
đủng đỉnh báo và thơ
 
          Vậy là nhà báo nhà thơ Nguyễn Huy Dung về cõi vĩnh hằng đã ngót chục năm rồi đấy. Tôi nhớ không nhầm thì ông mất vào dịp cận tết năm 2015 sang 2016 thì phải. Tôi dự định viết một cuốn sách, phác họa chân dung các văn nghệ sĩ từng làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), việc đầu tiên là điền tên các nhân vật định viết, thì Nguyễn Huy Dung là cái tên sau cùng.
          Thường là viết về ai thì phải thật sự hiểu biết về người đó, hay chí ít cũng phải có một kỷ niệm nào sâu sắc với người ấy. Với Nguyễn Huy Dung thì tôi không có cả hai, mặc dù tôi làm việc cùng ban biên tập với Nguyễn Huy Dung và là thuộc cấp của ông là lâu nhất, khoảng 15 năm trời (1994 – 2008). Như thế kể cũng lạ ,...Đấy cũng là lý do tôi điền tên ông sau cùng trong tập sách viết dở của mình.
          Nguyễn Huy Dung quê cạnh Chùa Thày, Quốc Oai thuộc xứ Đoài, nhưng ông bảo gốc gác dòng Nguyễn Huy thi thư chữ nghĩa mãi trong Hà Tĩnh di ra hơn trăm năm trước. Học Tổng hợp văn, về Đài Tiếng nói Việt Nam làm báo sau khi tốt nghiệp đại học, yêu văn chương và làm thơ khá sớm, nhưng hình như Nguyễn Huy Dung không là hội viên của một hội văn chương nào. Tôi biết là ông đã xuất bản dăm tập thơ nhưng tôi không mấy thuộc thơ ông, ngay cả nhớ tên các tập thơ của ông cho chính xác cũng không nốt. Sao vậy nhỉ, tôi tự hỏi mình mà chưa lý giải được. Hy vọng là bài viết này, phác họa chân dung ông,  tôi vỡ vạc điều gì chăng?
          Vậy là tôi đành nhờ công cụ tìm kiếm nhưng kết quả chỉ cho ra một người trùng danh tính, vị giáo sư tiến sĩ, thày thuốc nhân dân Nguyễn Huy Dung, ông này có làm thơ. Có lẽ, rất ít người viết về nhà báo nhà thơ Nguyễn Huy Dung, đồng nghiệp của tôi, hoặc giả có thì cũng không đưa lên mạng xã hội nên chẳng thể tìm được thông tin gì. Đành phác thảo chân dung ông theo trí nhớ của mình thôi.
          Thực ra, về Đài TNVN vài năm, tôi đã biết đến ông. Khi đó Nguyễn Huy Dung là trưởng phòng phát thanh “Dành cho dồng bào xa tổ quốc” mà dân nhà Đài (VOV) quen gọi tắt là Phòng phát thanh Việt Kiều. Tôi yêu văn chương, tập tọng làm thơ viết truyện nên cùng cơ quan có ai sáng tác văn thơ là lân la làm quen. Với các bậc đàn anh văn chương lừng lững ở Ban Văn nghệ thì e ngại vì nhìn các vị ấy cao vời vợi, nên tôi mon men bắt quen với các cây bút ở các ban biên tập khác, như Nguyễn Huy Dung (Ban Thời sự), Trần Ngọc Thụ, Nguyễn Hiếu, Nguyễn Quang Huy (Ban Chuyên đề)... Trong số ấy, Nguyễn Hiếu tếu táo hài hước và Nguyễn Huy Dung nhỏ nhẹ gần gũi nên dễ làm quen. Ngày ấy ai cũng nghèo, đâu quán xá gì. Đến phòng làm việc của nhau, chén nước trà vài câu chuyện phiếm thôi. Tôi chuyển qua vài ban biên tập khác nhau rồi về Ban Văn hóa xã hội thành thuộc cấp của Nguyễn Huy Dung. Thời điểm ấy, Nguyễn Huy Dung được đề bạt từ Trưởng phòng phát thanh Việt Kiều lên Phó trưởng ban biên tập Văn hóa xã hội, giúp việc cho Trưởng ban, nhà báo Nguyễn Đình Lương.  Vậy là tôi có mười mấy năm làm việc cùng ban biên tập với ông,...
          Dáng vẻ ngoài, Nguyễn Huy Dung hiền lành giản dị, ông đi chậm, nói khẽ, rành rẽ từng câu từ, nói theo dân làm báo là không cần biên tập. Nguyễn Huy Dung là người cẩn trọng, kỹ tính trong cả nghề làm báo và nghiệp thơ. Tiếng là làm thời sự, nhưng dành cho Việt kiều nên không phải cái gì cũng vội, sốt sột kiểu “nóng hổi bừ thổi vừa ăn”, nói ngay ra mà phải làm cho nguột bớt đi và đợi chín rồi mới nói. Tính cách người và tính chất việc ngấm vào mà nên định dạng ông chăng? Trước nữa, Nguyễn Huy Dung chuyên theo dõi mảng giáo dục nên sau về làm lĩnh vực Văn hóa xã hội thật hợp với ông. Đây la thời gian Nguyễn Huy Dung thoải mái, sảng khoái nhất, đủng đỉnh báo và thơ cho đến lúc nghỉ hưu.
          Nguyễn Huy Dung đủng đỉnh làm thơ, đăng báo thơ chơi với bạn bè, với đời, chẳng có gì phải sốt ruột cả, đủ bài thì in tập, cả đời thơ ông đâu có ba bốn tập (Nguyệt cầm trong bão, Sau mưa, Ẩn trong cây và tập dự kiến xuất bản là Phố có người còn nhớ). Trong mấy tập thơ đã xuất bản thì Ẩn trong cây là chín nhất, bởi ở đó Nguyễn Huy Dung dằm về cấu tứ và ngôn từ, nhiều bài thơ được bạn bè và bạn đọc nhớ, như: Một lát nữa mùa thu sẽ đến, Bản xô-nát thất lạc, Phố Khúc Hạo có người còn nhớ, Ý nghĩ trước mùa lá đổ, Chợ mai, Hoa đại núi Thày, Cô gái có đôi giày đỏ...
          Ngoài đời, hiếm khi Nguyễn Huy Dung to tiếng, cứ nhỏ nhẹ, rủ rỉ, cốt sao được việc. Với ông, người sao thơ chiêm bào làm vậy. Thơ Nguyễn Huy Dung như sự tự nhủ mình, những suy tư rẩm riu trong lòng,  những nỗi niềm khó nói ra được, nói chung nó như một âm bản của cuộc sống sôi động bên ngoài.... Đời sống xao động bao nhiêu đi chăng nữa khi thẩm thấu vào thơ Nguyễn Huy Dung lại nhẹ nhàng êm ả bấy nhiêu. Cảm giác lăng kính cuộc đời của ông như chiếc rây bột để lại trên rây những hạt to và thô, chỉ lọc lấy những bụi mịn li ti,...
          Có lẽ,  “Một lát nữa mùa thu sẽ đến” là bài thơ của Nguyễn Huy Dung được nhiều bạn thơ biết và thích hơn cả: “Không có tín hiệu nào của thiên nhiên/ Nói mùa thu nhiều gió/ Không bờ sông, không lối cỏ/ Không hoa cúc vàng, không cánh bướm tiên tri/ Không có gì/ nói mùa thu sẽ lại/ Dưới vòm trời của cây khế nhiều tuổi/ Chỉ em ngồi và đếm rất lặng im/ Hoa tím rơi trên vạt áo vô tình/ Mà không biết vì sao bấy giờ anh lại nói/ - Chỉ lát nữa mùa thu sẽ đến/ Chỉ em ngồi đến giọt tím hoa rơi/ Thời gian trôi/ Lặng im và chậm/ Điệp khúc môi anh vẫn chỉ bấy nhiêu lời/ Một lát nữa mùa thu sẽ đến,...”  Bạn thơ của ông có người còn đùa vui Nguyễn Huy Dung là ông-“một lát nữa mùa thu sẽ đến”. Bị trêu vậy ông cười típ mắt đón nhận như một phần thưởng, vì có được một biệt danh như vậy với người làm thơ thật không phải dễ, bởi có nhiều người làm thơ cả đời mà người ta không nhớ nổi một bài thậm chí một câu nào.
          Cảm thức thời gian bốn mùa luân chuyển rõ nét trong thơ Nguyễn Huy Dung:  “Phố Khúc Hạo có người còn nhớ/ Dạ lan hương đuổi bắt suốt đêm hè/ Phố Khúc Hạo có người còn nhớ/ Hạt cốm mềm thành câu đố mùa thu” (Phố Khúc Hạo có người còn nhớ); “Em cầm mùa hạ trên tay/ Bông sen đỏ buổi mai ngày mới lên/ Phải chăng năm tháng ưu phiền/ Lòng còn gắng giữ mùa sen giữa bùn?” (Mùa Hạ); “Tôi đứng trên cao, ngôi nhà cuối phố/ nhìn xuống lòng đường/ những trận gió mùa đông cũ/ đan g quét đi từng trận lá vàng/ Trong gió thổi dọc ngang/ những cơn lốc lá vàng quay tít/ Hàng cây rung lộc biếc/ trong rộn ràng tiếng chim/ Có gì không yên,...” (Ý nghĩ trước mùa lá đổ) v.v... Thực ra, Nguyễn Huy Dung mượn sắc thái mùa, những biến đổi thiên nhiên lúc giao mùa là để trang trải cõi lòng mình cùng thế thái nhân tình. Có điều, cảm giác là ông chỉ nói cho có chuyện thôi chứ thực ra chưa chạm đến độ da diết, khắc khoải hay đau đáu với nỗi đời,... Thơ ông âm bản là vậy chăng?
          Vùng quê của Nguyễn Huy Dung chân núi Sài Sơn, nơi gần ngàn năm trước thiền sư Từ Đạo Hạnh chọn làm nơi tu hành và đắc đạo, nay dấu tích vẫn còn đó, hang Thánh hóa, đường lên giời đường xuống địa phủ,... chân núi có chùa Thày tọa lạc, điển hình văn hóa xứ Đoài, cũng có thể xem là vùng đất văn vật của đồng bằng Bắc Bộ, nên ít nhiều ảnh hưởng đến thơ ông. Quả là hồn vía đất Quốc Oai, Sơn Tây, xứ Đoài thấp thoáng ẩn chứa đâu dó trong những câu thơ bình dị của Nguyễn Huy Dung: “Chợ gọi theo tên làng/ mùa nào hoa quả nấy/ dẫu nắng hạn mưa dông/ chợ không hề vắng buổi/ Sớm mai đi chợ Mai/ ngỡ là câu nói lối,...” (Chợ Mai); “Thị xã nhiều phố đất không tên/ mấy phố chính đi một lần đã nhớ/ nhà lợp toàn mái gianh mái cọ/ chúng mình vẫn đùa cửa ngõ trung du,...” (Sơn Tây); “Đồi xanh xanh, bờ bãi xa mờ/ Trẻ thả bò hát đồng dao rồng rắn/ Chất giọng Hương Sơn cái thời ta bế ẵm/ Giờ trở về gặp lại thấy yêu hơn” (Mẹ ở Hương Sơn); “Thân cây gày guộc già nua/ Rút từ ruột đá nắng mưa nhọc nhằn/ Nở hoa hương sắc nồng nàn/ Hương thơm cho đến lúc tàn vẫn thơm” (Hoa đại núi Thày”,...
          Thơ Nguyễn Huy Dung không có gì nổi trội nhưng người ta cảm nhận được sư ấm áp chân tình, thứ mà chính những người làm thơ nhận thấy và cần để giao du đàm đạo với nhau chăng? Nhóm bạn thơ thân thiết của ông, những Quang Khải, Nguyễn Hoàng Sơn, Vũ Từ Trang, ... trên nữa là nhà thơ Trần Lê Văn, nhà văn Băng Sơn...cũng chgo thấy điều ấy. Bài thơ “Nghệ thuật” của ông, tôi xem như một quan niệm về nghệ thuật nói chung và về thơ của Nguyễn Huy Dung. Ông mượn hình tượng một chàng gù yêu một cô nàng xinh đẹp cùng phố (kiểu như chàng gù nhà thờ Dức Bà Paris si mê cô gái bô-hê-miêng xinh đẹp Exmeranda của văn hào Victor Huygo) vì yêu nàng mà chàng vẽ tranh và làm thơ để ca ngợi sắc đẹp của nang nhưng không được nàng đáp lại, rồi một ngày nàng lên xe hoa cùng một tay tỉ phú nọ, bỏ lại chàng gù vẫn vẽ tranh, làm thơ... Nghệ thuật là thế đó, say mê nghệ thuật, thi ca là thế đó: “Chàng gù vẫn vẽ tranh, chàng gù vẫn làm thơ/ Chàng không tin chuyện này có thật/ Chỉ ảo ảnh ngang qua rồi vụt mất/ Chàng chỉ tin trái tim không lầm chỗ bao giờ/ Trong hạnh phúc âm thầm chàng vẽ tranh, làm thơ...”. Thi ca, với Nguyễn Huy Dung như vậy là đủ, dù một chiều, yêu thì theo, bất cần sự đáp lại thế nào?...
          Tôi nhớ, khi tuổi dần cao, thi lực giảm đi nhiều, có lần ông tâm sự, rằng mắt kém nhiều khi không nhận ra người quen nên không chào hỏi lại bị trách là khinh người. Thôi đành vậy, biết thanh minh thế nào. Nhưng mà cũng có cái hay, nhìn người không rõ nét mặt, nên phụ nữ, ai cũng thấy xinh, được nhiều hơn mất, Nguyễn Huy Dung cười rõ tươi. Chẳng bù những năm tháng trai trẻ sung sức, đạp xe kẽo kẹt qua ngày qua tháng đi về giữa Hà Nội và Sài Sơn, Quốc Oai thăm vợ con ở quê, rồi cả những chuyến đi cả tháng trời dọc miền Trung nắng gió vào tận Cẩm Xuyên Hà Tĩnh để viết về giáo dục. Vừa đạp xe người đẫm mồ hôi, đèo lỉnh kỉnh vật dụng, vừa nhẩm câu thơ trong đầu, lấy đó làm động lực. Yêu thơ và làm thơ là thế đó.
          Nguyễn Huy Dung, học chuyên ngành văn Đại học Tổng hợp, rồi làm báo, làm thơ. Yêu thơ mà đeo đuổi nó, đâu vì trở thành nhà này nhà nọ ở hội này hội kia. Thế nhưng, bạn bè giao du với mình đều vào hội cả rồi thì mình cũng nên vào cho vui. Nhưng không hiểu sao, qua nhiều mùa kết nạp vẫn chưa thấy tên ông. Đã có lần trong lúc trà dư tửu hậu tôi ướm hỏi, ông bảo, à có nhà thơ đàn anh nọ có vai trò quan trong trong hội đồng vốn không ưa ông, bởi nhà thơ đàn anh ấy nghe ai đó nói rằng ông chê thơ ông ta, vậy nên...
          Tiếng là nhà thơ thì quan trọng nhất là làm ra thơ hay, nhưng không vào hội như bạn thơ cùng trang lứa, với Nguyễn Huy Dung, nó cứ sao sao ấy... Những năm gần tuổi nghỉ hưu, mỗi mùa kết nạp hội viên, Nguyễn Huy Dung vẫn có ý mong chờ, tôi biết thế... Nhưng không.
Có lẽ, với Nguyễn Huy Dung, đời báo nghiệp thơ, thì đây là chút còn chưa toại nguyện của ông chăng?...
Mà cần chi đâu, chỉ biết là, hễ nhắc đến nhà thơ Nguyễn Huy Dung, bạn yêu thơ lại nhơ câu thơ: “Một lát nữa mùa thu sẽ đến”.
Thế là đủ!?...
 
 
tamvanvov 01.03.2025 09:52:24 (permalink)
PHAN QUANG
tài hoa và bền bỉ...
 
          Trước hết, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng ông, của một người cầm bút, một đồng nghiệp báo chí, văn chương thuộc thế hệ sau.
          Ông là nhà báo, nhà văn Phan Quang; một nhà báo lão thành và lão luyện; một cây bút tài hoa và bền bỉ; một con người suốt đời miệt mài lao động chữ nghĩa;...
          Bởi thế, viết về ông thật khó, khi mà bản thân ông đã viết và xuất bản khoảng năm chục đầu sách và có hàng trăm bài viết về ông của các tác giả trong và ngoài nước,...
          Thế nhưng, trong cái nền chung ấy, tôi nghĩ, vẫn có góc nhìn của riêng mình qua những gì tôi biết và nghĩ về ông.
          Phan Quang quê Hải Lăng, Quảng Trị. Sinh ra trong một gia đình khoa bảng (có ông nội đỗ Cử nhân dưới triều Tự Đúc nhà Nguyễn)  nên ông được học hành. Ông sớm gia nhập phong trào thanh niên từ đầu năm 1945 và trong cách mạng Tháng Tám, Phan Quang tham gia cướp chính quyền ở Quảng Trị. Kể từ đấy ông tham gia hoạt động cách mạng, khi mới 20 tuổi, Phan Quang bước vào cuộc đời làm báo. Năm 1948, Phan Quang làm báo Cứu Quốc ở Quảng Trị, theo đó suốt cả cuộc đời cho đến tận bây giờ, ông miệt mài cùng sự nghiệp báo chí, văn chương, kinh qua nhiều chức vụ trọng yếu ở các cơ quan báo chí.
          Phan Quang viết được nhiều thể loại như phóng sự, điều tra, thời luận, tản văn, tùy bút, bút ký, truyện ngắn, biên khảo, nghiên cứu và dịch thuật. song phải đến tác phẩm dịch thuật “Nghìn lẻ một đêm” của Anoine Galland thì tên tuổi Phan Quang về lĩnh vực văn học mới nổi bật. Những tác phẩm văn học thuở ban đầu của ông tôi không có vinh hạnh được đọc nên không dám bàn, song tác phẩm khảo cứu “Đồng bằng sông Cửu Long” của ông thì tôi thực sự ấn tượng. Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, năm 1981 tôi vào miềnTây Nam bộ trong vai trò một kỹ sư nông nghiệp tham gia khai phá đồng bằng sông Cửu Long, tôi đã mang theo mình cuốn sách này của ông như một cẩm nang đặng đối chiếu và so sánh với thực địa, cùng với đống sách kỹ thuật nông nghiệp. Hy vọng và thất vọng đều  có, nhưng xin không bàn ở đây, chỉ biết là những gì ông viết trong đó đã mở mắt cho tôi nhiều điều. Qua bài viết này, tôi muốn bày tỏ sự biết ơn Phan Quang vi cuốn sách đó của ông!
          Tiếng tăm ông là thế nhưng phải khi về làm phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) vào cuối năm 1987, tôi mới gặp mặt ông. Khi đó, vừa giải thể Ủy ban Phát thanh truyền hình Việt Nam để thành lập Bộ Thông tin, Bộ mới này được thành lập trên cơ sở của Ủy ban cũ, nên bộ máy quản lý của nó nằm chung trụ sở 58 Quán Sư, Hà Nội với Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Nhà báo Phan Quang được bổ nhiệm Thứ trưởng bộ mới, giúp việc cho Bộ trưởng, nhạc sĩ Trần Hoàn.  Ban biên tập Thính giả của tôi nằm chung trụ sở này, nên hàng ngày đi làm hay chạm mặt Phan Quang. Chung chỗ, khác cơ quan, vả lại dáng vẻ ngoài ông nghiêm cẩn nên không dễ gần. Chạm mặt ông thì chào xã giao vậy thôi.
          Nhưng rồi, đâu đó vài năm, Bộ Thông tin sáp nhập vào Bộ Văn hóa rời về phố Ngô Quyền, nhà báo Phan Quang được điều động làm Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), ông trở thành thủ trưởng cao nhất cơ quan tôi. Trớ trêu thay, phòng làm việc của chương trình phát thanh Tiếp chuyện bạn nghe đài của chúng tôi ở tầng 3 ngay trên đầu phòng làm việc của TGĐ Phan Quang ở tầng 2. Hàng ngày, gặp mặt chan chát ở cầu thang bộ. Mấy chị em nữ cùng phòng tôi bắt đầu biết ăn diện soan phấn váy vó và giày cao gót đi lại lộp cộp lắm. Lâu lâu, anh cán bộ Ban biên tập lại cau mặt nhắn bảo dạy dỗ “Này mấy cô, đi lại nhẹ cái chân thôi, anh Phan Quang nhờ tôi nói lại giùm là các cô cứ gõ gót giày ầm xuống phòng của anh ấy, khó tập trung làm việc lắm... Anh ấy là người lịch sự tinh tế nên chỉ nhắn thế, chứ không mệnh lệnh đâu nhé”. Mỗi lần vậy, mấy chị em le lưỡi so vai bụm miệng cười bảo nhau nhẹ nhàng, nhưng rồi lại quên, đâu đóng đấy. Có là Tổng giám đốc thì cũng đành bấm bụng chịu thôi.
           Là lãnh đạo cao nhất của Đài TNVN, ông kiêm cả chức vụ Tổng thư ký rồi Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, đồng thời cũng là đại biểu Quốc hội mấy khóa liền, nên đi công tác trong và ngoài nước liên miên nhưng ông rất chu đáo quan tâm đến các việc nhỏ riêng của nhân viên thuộc cấp. Bằng chứng, có lân gặp, ông lưu tôi ở sảnh trước cửa phòng làm việc của ông, bảo: “Cậu chịu khó viết nhỉ. Tôi có đọc mấy truyện ngắn của cậu đăng trên báo. Được đấy. Đừng bỏ văn , văn và báo bổ trợ cho nhau cũng tốt mà”. Tôi hiểu ông khuyên tôi như cái cách ông đã làm, báo và văn song hành. Tôi nghe theo bởi thực tâm tôi thấy hợp lý. Khi cưới vợ, tôi băn khoăn việc đưa thiếp mời ông dự, tôi ngại không mời thì thất lễ mà mời thì ông bận bịu vậy chắc khó dự, nhưng rồi vẫn gửi thiếp mời. Quả nhiên, ông bận đi công tác nước ngoài song vẫn nhớ gửi thiếp qua thư ký riêng của mình đến tôi, chúc mừng hạnh phúc và cáo lỗi không dự được. Đủ thấy ông lịch thiệp và chu đáo thế nào. Nhưng thôi bởi ở đây, tôi muốn phác thảo con người văn chương của ông.
          Chỉ riêng lĩnh vực văn chương, Phan Quang viết khá sớm và  đều tay. Năm 1954 ông đã xuất bản tập truyện ngắn đầu tay, rồi song hành cùng nghề làm báo, ông viết văn và dịch thuật (tiếng Pháp). Vì song hành báo-văn nên hai lĩnh vực này trong các tác phẩm của ông ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau, không hãm mà đôn nhau lên. Ông viết báo có chất văn, và viết văn lại thấy sự sắc sảo và tính thời luận của báo. Với nhiều người khác ở ta, kiểu nửa văn nửa báo thường là hãm nhau, làm giảm chất lượng chung, nhưng với Phan Quang thì không, ông là số ít, nếu không nói duy nhất thành công ở định dạng này. Tôi nghĩ, sở dĩ vậy, ông quá hiểu sự chông chênh đó mà vẫn lựa chọn phong cách này là bởi tính chất song hành của công việc bó buộc, còn thành công được là nhờ ông giỏi văn phạm, chữ nghĩa trau chuốt trên nền tảng của kiến thức uyên thâm. Vô hình chung, Phan Quang đã tạo dựng nên một phong cách văn-báo của riêng mình.
          Đọc Phan Quang, dù ngắn hay dài, chí ít người ta đều thu hái được thông tin hay thông điệp gì đây mà không thấy uổng công. Vậy thôi nhưng không dễ, bởi phải có tính chuyên nghiệp cao. Xin không bàn rộng, tôi lấy mấy bài bút ký của ông mà tôi rất ấn tượng để bàn luận đôi điều như một minh chứng cụ thể ...
          Ở bài viết về những suy nghĩ bên mộ vua Tần, Phan Quang mượn cớ chuyến ông viếng thăm khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc mà bàn rộng ra lịch sử và văn hóa Trung Hoa mấy ngàn năm; sự hình thành nền văn minh Hoa Hạ; sự hình thành các hệ tư tưởng (Bách gia chư tử); sự tạo dựng nhà nước phong kiến phân quyền và tập quyền; sự mâu thuẫn chính trị quyền lực, sắc tộc, tôn giáo trong xã hội trung hoa cổ và trung đại ; sự xâm lăng và bị xâm lăng cùng tính hai mặt của chiến tranh v.v...
          Ở bài bút ký viết về nghĩa trang danh nhân ở Paris, Pháp – nghĩa trang Père-Lachaise, nơi yên nghỉ ngàn thu của người chết trong đó có nhiều danh nhân châu Âu và thế giới, được xem như  công viên cho dân Paris và khách thập phương du lịch, Phan Quang lại bộc lộ sự am tường về văn minh văn hóa phương Tây. Đọc bài viết của ông về nghĩa địa dành cho người chết là để cho người sống nghĩ về quá vãng, suy ngẫm hiện tại và chờ đợi tương lai. Tịch mịch mà không u ám, thú vị xen chút hoài niệm, ý thức về sự nhẹ nhàng của cái chết cùng sự vĩnh hằng của con người nên không thấy sợ... và quan trọng người ta ý thức được giá trị của sự sáng tạo cống hiến khi còn sống,... Khách tham quan như cảm nhận được anh linh  các danh nhân lừng danh một thời đang dạo chơi đâu đó trong vườn cây nghĩa trang, Honorre de Balzac, La Fontaine, Moliere, Colette, Ferèdẻic Chopun, Osca Wilde...
          Một bài viết nữa của ông về chuyến hành phương Bắc của một vị vưa triều Nguyễn, từng đi qua và nghỉ đêm ở làng quê ông thuộc Hải Lăng, Quảng Trị. Gia đình ông là gia đình khoa bảng, khá giả nên cũng là chỗ nghỉ đêm cho đám tùy tùng của nhà vua. Câu chuyện ông thuật theo lời kể trong gia đình ông đã cho thấy phần nào diện mạo của triều chính nhà Nguyễn khi ấy và rộng ra là xã hội Việt Nam nghèo nàn lạc hậu trong bối cảnh thoái triều của nhà Nguyễn, đồng thời cũng thấp thoáng ánh lửa của sức mạnh nhân quần đòi quyền sống dưới sự cai trị của chế độ thực dân phong kiến,...
          Đương nhiên, ngoài mấy bài viết mà tôi dẫn ra minh chứng cho một phong cách văn-báo của Phan Quang, ông còn nhiều bài viết, cuốn sách khác hay và bổ ích. Tới nay, sau ngót 70 măm cầm bút, Phan Quang đã cho ra đời trên dưới năm chục đầu sách, điều đó cho thấy sức lao động cần mẫn và bền bỉ của ông. Có lẽ, trong làng báo làng văn xứ mình hiếm người đạt được những con số  ấy như ông?...
          Gặp mặt thấp thoáng ở cơ quan thì nhiều lắm, nhưng gặp riêng và chuyện lâu thì tôi hân hạnh tiếp kiến ông đôi ba lần. Ấy là vào dịp Đài (VOV) kỳ niệm 70 năm thành lập (07/9/2015), theo hẹn trước, Phan Quang đến phòng làm việc của tôi ở tầng 7 trụ sở 58 Quán Sứ. Tiếp riêng ông, tôi có phần ái ngại, đơn giản bởi phòng làm việc của tôi, cấp trưởng ban mà rộng gấp đôi và tiện nghi đầy đủ hiện đại hơn phòng làm việc của ông trước đây khi còn đưởng kim Tổng giám đốc Đài. Thấy ông vui vẻ bình thường, tôi bớt phần ái ngại. Thày trò rủ rỉ bao nhiêu chuyện, báo chí văn chương, quá khứ hiện tại... Hôm ấy trời mưa rả rích, tới trưa tôi giữ ông mời dùng bữa trưa tại căng-tin nhà đài nhưng ông nhẹ nhàng từ chối khéo bảo sáng đi đã hẹn vợ về ăn cơm. Còn lần sau vào đầu thu năm 2017, Phan Quang ra sách mới, tập bút ký “Từ nguồn Thạch Hãn đến bờ Hồ Gươm”, ông mượn phòng họp của Đài để làm nơi tổ chức  lễ ra mắt sách. Cả một buổi chiều, ngồi giúp ông ký tặng sách, lại rỉ rả hầu chuyện đỡ việc ông. Cảm giác thật gần gũi và ấm áp bên người đồng nghiệp lớn.
          Phan Quang từng kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo khác nhau nên dù không định nhưng tôi vẫn muốn đưa ra nhận định theo góc nhìn của mình. Ở mỗi vị trí lãnh đạo, quản lý nhà nước hay chuyên môn, công tác Hội, Phan Quang đều làm tròn vai nhưng ông không phải là nhà quản lý giỏi. Có lẽ, tính nhân văn, lịch lãm pha chất hào hoa trong con người ông đã khiến ông khó có thể thể mạnh tay quyết đoán trong quản lý hay xử lý một ai đó liên quan đến thân phận con người. Theo tôi, ông có vai trò quan trọng việc góp phần đưa dòng chủ lưu báo chí nước nhà hòa nhập với báo chí thế giới qua tổ chức OIJ (Tổ chức Nhà báo Quốc tế). Thế nhưng, không phải ai cũng đánh giá cao, việc này từng bị một số đồng nghiệp phê phán là hữu khuynh.
          Phan Quang, tài hoa và bền bỉ. Giờ đây, ở độ tuổi gần chín mươi, ông vẫn chưa ngừng nghỉ. Và như thế, bạn đọc vẫn có quyền mong chờ những đầu sách mới của ông,..../.
 
 
 
 
tamvanvov 20.05.2025 16:23:08 (permalink)
TRẦN MẠNH THƯỜNG
và những tùy bút đêm giao thừa
 
 
          Khi tôi về làm phóng viên nhà Đài (VOV) thì nhà thơ Trần Mạnh Thường đã như ông Hộ pháp trấn giữ ở Phòng Văn học thuộc Ban Văn nghệ (Văn học nghệ thuật và âm nhạc). Thời điểm ấy, niên tập viên văn học toàn những cây bút tên tuổi là Hoàng Ngọc Anh, Trần Nhật Lam, Nguyễn Bùi Vợi, Trần Mạnh Thường, Trần Nguyên Vấn, Trúc Thông, Tuấn Vinh, Lâm, Huy Nhuận, Lê Đình Cánh, Trương Hữu Lợi,... Còn nhà thơ Vũ Quần Phương thì nghe đâu rời khỏi Đài trươc đó ít lâu.
          Hàng ngày, thấp thoáng bóng dáng to đạm của nhà thơ Trần Mạnh Thường với cặp kính cận dày cộm, dắt chiếc xe đạp cà tàng. Có lần tôi chào ông thì ông giữ lại bảo: “Nghe nói cậu cũng viết văn, có cài gì, bút ký hay truyện ngắn gửi lên chỗ mình, được là cho phát sóng chương trình văn nghệ”. Ông chân tình thế, tôi chỉ biết nghe theo. Thú thật, trước đó, viết được dăm ba cái nhưng ngại không dám gửi, hoặc nếu có thì chỉ dám đưa qua nhà thơ Trần Nguyên Vấn, người tôi quen biết từ hồi chưa về Đài với lời dặn cấn thận: “Anh xem giúp em cái này, nếu thấy được thì anh hãy chuyển Phòng duyệt xem có dùng được không ạ”. Đại khái thế. Giờ nhà thơ Trần Mạnh Thường, cán bộ Ban biên tập mở lời, với tôi, đùng là được lời như cởi tấm lòng.
          Trần Mạnh Thường tính thẳng thắn, bộc trực, không quanh co bao giờ, khác hẳn chất khéo léo có chút hoa hàng kẻ chợ vốn có của của dân thành Nam, mặc dù ông chính gốc họ Trần ở Lộc Vượng, Mỹ Lộc, Nam Định, nơi tọa lạc cung Trùng Hoa  Phủ Đệ tứ thuộc Hành cung Tức Mặc phủ Thiên Trường của Vương triều Trần xưa. Sau này thành quen thân, thi thoảng lúc vui chuyện, tôi bỡn ông vậy, ông chỉ cười. Có lần tôi đùa bảo: “Tên anh, Trần Mạnh... em ngỡ sẽ là Hùng, Dũng hay gì gì đấy, nhưng anh lại Thường...Mạnh mà thường thì còn gì là mạnh.”. Ông nheo mắt kính, xuề xòa:Cái thằng...”. Với đàn em, thân tình, quý mến rồi, ông xưng hô mày tao, bỏ qua sự trịnh trọng trên dưới không cần thiết.
          Chuyện vui về con người Trần Mạnh Thường là vậy. Giờ tôi phác thảo một Trần Mạnh Thường với tử cách nhà thơ, người gác cửa đên văn chương nhà Đài một thời gian dài (ông giữ cương vị Phó trưởng ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam cùng với nhà thơ Trần Nhật Lam, Trưởng ban và sau đó làm Trưởng ban khi Trần Nhật Lam nghỉ hưu).   
          Trần Mạnh Thường viết chậm và kỹ, không sốt ruột tập này tập kia như nhiều nhà thơ cùng thời. Ông tập trung vào công việc của một phóng viên, biên tập viên văn nghệ và cả khi giữ cương vị lãnh đạo. Người làm biên tập viên thơ có cái hay và cũng có cái không hay; hay là được tiếp xúc với nhiều giọng điệu thơ khác nhau đặng phong phú thêm hiểu biết cho mình và qua đó có thể học hỏi thêm ở người; lại không hay ở cái dễ chai lỳ cảm xúc, lâu thành trơ và không khéo lại bị ảnh hưởng của ai đó mà không thoát ra được. Đọc thơ Trần Mạnh Thường tôi cảm nhận trạng thái này ở ông, may là ông tự tìm lối thoát ra được.
          Bài thơ “Năm hòa bình trên xe qua khu bốn”  sau rút tít gọn thành”Năm hòa bình” có mặt ở nhiều tuyển thơ khác nhau. Có lẽ, Trần Mạnh Thường tâm đắc với bài thơ nửa chiến tranh nửa hòa bình này của mình. Hòa bình rồi mà chiến tranh vẫn hiện hình váng vất trong ý nghĩ người ta khi băng qua mảnh đất khói lửa khu bốn: “... Những xóm làng vút qua hối hả/ Hệt như đang chạy tìm tôi/ Lấy cái im lặng thay lời/ Để nói một điều gì hệ trong/ -Đằng trước có bom nổ chậm/ Ngày xưa tôi đã nghe/ Câu ấy không ai nói nhỏ bao giờ...Tất cả có chung khuon mặt/ Lặng lẽ vụt qua/ và hiện lên phía trước/ Như có điều gì muốn nói cùng tôi/ Thành phố đã đi sơ tán cả rồi... / Quên sao được những hầm sâu Quảng Trạch/ Bao vướng víu dọc đường em đã gỡ cho tôi/ Những trái bom nổ chậm cũng gỡ cả rồi/ Cầu đã thông xe/ xe tôi về thành phố/ Một giờ sáu mươi cay số/ Mưa nắng mơ hồ sau tấm kính thời gian...
          Thơ Trần Mạnh Thường nặng những suy tư, cả khi ông viết về hoa tầm xuân: “Nhọc nhắn kết nụ/ Nhọc nhằn nở/ Gày guộc âm thần/ CHẳng mong chi được cắm trong bình/ Lặng lẽ giữ một chút hồng dầu dãi/ Một chút hương cho hoa bớt dại/ Dọc những lối mòn/ Suôt đời đi tìm mùa xuân” (Hoa tầm xuân). Phàm những người viết chậm và kỹ, nếu không tìm được ý tứ thì không viết, song khi có tứ rồi thì chỉ nhăm nhăm biểu đạt cái ý của mình mà quên đi giai điệu, nên câu chữ hay bị gò. Hiếm người được cả ý tứ, câu chữ và giai điệu như nhà thơ Chinh Hữu (Tập thơ “Đầu súng trăng treo). Nhận định vậy, không có nghĩa là tôi nói riêng về thơ Trần Mạnh Thường mà điều này dường như phổ quát rồi.
          Bài thơ |”Cái cò lặn lội” là một bài thơ được Trần Mạnh Thương nâng niu và khác cái tông của ông. Tôi biết nài này ông viết riêng cho vợ con mình mà vô tình nói hộ bao người. Thời bao cấp khôn khó, vợ ông phair đi lao đông xuất khẩu lao động ở Liên Xô, đảy ông vào cảnh “gà trống nuôi con” mấy năm trời chóng mặt chăm hai con nhỏ: “Cái cò lặn lội tuyết trắng mênh mông/ Lạnh buốt dong sông cành mềm gió đập/ Hạt gao lăn qua biết mấy vòm trời/ Lặng lẽ tơi giữ lòng mặt chát/ ... Bao giờ mẹ về từ trời cao thẳm/ Nơi có chòm sao như hình chiếc gàu sòng/ Bao giờ mẹ về bát cơm ủ ấm/ Chỉ nhìm con ăn cũng thấy no lòng/ Cài cò lăn lội tuyết trắng mênh mông”. Tôi nói khác tông với ông như thường thấy, ở đây là sự trải lòng, nói cho chính mình, chứ không phải là sự gắng gượng nói những điều mà người khác hay nói, vẫn nói, cần mình nói để thể hiện tính công dân này nọ.
          Trần Mạnh Thường có viết trường ca. Tập “Thơ và Trường ca” (NXB Hội Nhà văn, 1997), cùng một số bài thơ lẻm Trần Mạnh Thường in trọn trường ca “Lời chào” sau chuyến ông đi thực tế Côn Đảỏ. Hòn đảo chơi vơi ngoài đại dương sóng gió, thành địa ngục trần gian do thực dân Pháp và Mỹ Ngụy biến làm nơi giam giữ những chiến sĩ cách mạng, những người Việt Nam yêu nước, dễ khơi gợi cho người cầm bút. Đã có nhiều người viết và Trần Mạnh Thường cũng muốn thử sức mình ở thể loại trường ca nên ông đã chọn. Và ông đã hoàn thành ý đồ là kể câu chuyện mình muốn kể, nhưng quả thật, gia tài thơ văn của ông dày dặn hơn và phong phú thêm vì có trường ca, như nhiều nhà thơ cùng thời (Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo, Anh Ngọc...), song về phương diện nghệ thuật, ngôn ngữ thi ca thì hầu như không có đóng góp gì đáng kể.
          Là nhà thơ nhưng Trần Mạnh Thương có một thứ có xem là “đặc sản” của nhà Đài (VOV), ấy là tùy bút đêm giao thừa. Ngày ấy, theo thông lệ, chương trình phát thanh đón giao thừa (Tết Nguyên đán) hằng năm của nhà Đài bao giờ cũng có phần văn nghệ mà ở đó nhất thiết phải có tùy bút, được giao cho Ban biên tập Văn học nghệ thuật đảm trách. Thế là Trần Mạnh Thường được lựa chọn thực hiện, có đặt bài người  khác nhưng phần lớn do ông phóng bút. Bài tùy bút nửa văn nữa báo này phải ngắn gọn súc tích, đủ tâm đủ tầm, bao quát được dòng sự kiện chủ lưu có điểm nhấn của năm trước và cả dự cảm tương lai. Đại loại thế. Trần Mạnh Thường làm rất tốt việc khó khăn này và dần trở thành thế mạnh của ông, theo đó cũng làm nên uy tín của ông trong con mắt đồng nghiệp báo chí. Còn là thương hiệu của Trần Mạnh Thường, bởi không ít bạn bè đồng nghiệp gọi yui ông là “Ông tùy bút giao thưa
          Chuyện nghề là thế, là nhà thơ đâu phải chỉ chuyên tâm sáng tác và biên tập thơ, còn phải làm đủ thứ theo yêu cầu của ban biên tập. CHuyện vui, có lần tôi gửi Trần Mạnh Thường một bài bút ký tôi viết về vunggf Bảy Núi, An Giang sau chuyến trở lại vùng đất này nơi tôi từng công tác hai mươi năm trước. Trong bài ký có trích câu thơ mà nhà báo Nguyễn Huấn, bạn đồng hành, nỡm tôi “Tri Tôn ơi hỡi Tri Tôn/ Ra đi anh nhớ cái ... nón của em”. Ít hôm sau, tình cờ gặp Trần Mạnh Thường ở sảnh cơ quan, ông gọi giật tôi lại, nheo nheo sau cặp mắt kính cận dày, toét miệng cười bảo: “Này, bài bút ký của mày phát sóng cuối tuần này nhớ... Nhưng tao cắt bỏ cấu thơ tếu của thằng Nguyễn Huấn... Lếu láo quá, chúng mày định chơi xỏ tao đấy à?...”. Tôi cười càu tài: “Là em thử tài biên tập của anh đấy... Xem anh có đọc duyệt kỹ không... hay là cứ ký đại?”. Ông cười: “Mấy thằng nỡm”. Còn một chuyện nữa, tôi muốn nêu ra đây. Trần Mạnh Thường trở thành nhà báo, nhà thơ vào đúng thời kỳ ác liệt của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ông có nhiều bài viết và sáng tác thơ văn về chủ đề này. Sau này, kết thúc chiến tranh, Việt Nam phát triển và hội nhập thế giới, quan hệ VIệt-Mỹ được cải thiện. Con gái của Trần Mạnh Thường làm quen và kết duyên với một chàng trai người Mỹ làm việc cho một tổ chức thuộc Liên hiệp quốc tại Việt Nam. Mọi người lại có cớ đùa ông: “Bác ngày trước chống Mỹ kịch liệt nhỉ... giờ lại chọn một ông Mỹ con làm rể nhi”. Ông chỉ nheo mắt cười: “ Thì thời thế nó thế... nên thế thôi”... Chuyện vui là vậy, đặng thêm một góc nhìn về nhà thơ Trần Mạnh Thường.
          Tôi để ý, Trần Mạnh Thường hầu như không có thơ tình. Trong đời sống ông xuề xòa thoải mái, không thấy tán tỉnh hay trêu đàu đông nghiệp nữ, ngỡ ông khô khan. Nhưng không. Một lần lãnh đạo Đài tổ chức cấp trưởng, phó các ban biên tập nghe đài tập thể đặng lấy ý kiếm nhằm cải tiến chương trình phát thanh nói chung. Mày ngày cuối tuần, kéo quân lân một resort ở Mộc Châu, Sơn La. Tôi và Trần Mạnh Thường ở chung một phòng khách sạn. Tiết đầu thu, thảo nguyên se lạnh và sương khói, dương như tác đông đến tâm trạng con người. Sau bữa cơm tôi có hơi men, hai anh em tôi tán gẫu. Chuyện nọ dọ chuyện kia, Trần Mạnh Thường bông nhiên cởi mở. Ông kể chuyện thời sinh viên cảm một cô bạn cùng lớp, xinh và hiền lắm. Cô bạn ấy cũng có cảm tình với Trần Mạnh Thường và nhận biết tình cảm người bạn trai dành cho mình. Những rồi không ai thổ lọ, chỉ lặng thầm dành cho nhau tình thương mến. Ra trường, chia đôi ngả, cô bạn được phân công lên Tây Bắc dạy học. Tình duyên thầm  kín chẳng nên chuyện gì, vẫn phong trong tâm tưởng mỗi người. NÓi theo người xưa, có duyên mà không có phận. Không rõ cô bạn gái kia thế nào, còn Trần Mạnh Thường thì chắc không phai hình bóng cũ, bởi ông vẫn dõi theo để biết cô bạn ấy truân chuyên đường gia thất và cả công việc sau này... Tôi hỏi ông: “Bác lãnh mạn phết chứ không khô khan như em vẫn nghĩ... Chỉ lạ, hình như bác không có thơ tình nhỉ?”. Ông cươi trừ, ậm ừ cho qua chuyện,...
          Khi nghỉ hưu, Trần Mạnh Thường vẫn say việc nhà Đài, ông giữ chân kiểm thính mảng văn hóa xã hôi và văn học nghệ thuật, cho đến lúc mất đột ngột sau một cơn đột quỵ. Ông rời xa cõi tạm chừng mươi năm rồi đấy,...
          Giờ nhớ lại chuyện cũ và viết về nhà thơ Trần Mạnh Thường, bỗng tôi thèm được đọc một bài, hay vài ba câu thơ tình của ông?!...
 
 
 
 
 
 
 
 
tamvanvov 07.10.2025 16:19:56 (permalink)
 
VĂN CAO,
mùa bình thường,...
 
 
Văn Cao là một người tài hoa.
          Gọi ông là nhạc sĩ, thi sĩ hay họa sĩ đều được.
          Song tôi nghĩ, gọi ông là nhạc sĩ, chuẩn hơn cả, bởi đó là điểm khởi đầu và cũng là lĩnh vực ông bộc lộ tài năng nhất và cũng thành công nhất. Nhưng hãy khoan bàn về điều này, để phác họa mấy nét về con người Văn Cao qua ấn tượng của tôi sau hai lần gặp mặt ông,...
        1.
        Lần đầu, ấy là vào mùa thu năm 1994, cách nay tròn ba mươi năm, dịp kỷ niệm 40 năm tiếp quản thủ đô Hà Nội. Khi ấy, tôi đang là phong viên của chương trinh Tạp chí truyền thanh Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Chúng tôi làm chương trình đặc biệt này với thời lượng phát sóng 45 phút.  Không thể không gặp gỡ hỏi chuyện Văn Cao về cảm hứng sáng tác ca khúc Tiến vè Hà Nội. Điện thoại trước đến nhà ông và được ông đồng ý cho cái hẹn. Đúng hẹn, tôi và nhà báo Trần Nhật Minh mang máy ghi ấm đến nhà riêng của Văn Cao ở phố Yết Kiêu. Ông và vợ, bà Thúy Băng đợi chúng tôi ở phòng khách. Văn Cao ngồi trên chiếc ghế mây thấp chân ngay phòng khách, mặt hướng vào cây đàn piano, trên bàn là một chén rượu nhỏ. Khi chúng tôi tự giới thiệu và đặt yêu cầu, Văn Cao chậm rãi vẻ am tường “ Mình đồng ý, nhưng mà hẵng từ từ...” Ông khẽ nheo mắt hóm hỉnh: “ Mình biết, các bạn thường thu rất nhiều, nhưng khi phát chỉ trích một chút thôi... Mình cứ kể, dùng thế nào là tùy hai bạn trẻ nhé...” Văn Cao cười nhẹ ra chiều thông cảm, chiêu một hớp rượu, trầm ngâm, cái nhìn xa xăm: “ Đây là bài ca tôi hái lượm được trong chuyến đi thực tế ở khu 3. Tiến về Hà Nội được sáng tác từ năm 1949, mà mãi năm 1954 ta mới giải phóng Thủ đô... Ngày ấy, chúng tôi sinh hoạt văn nghệ, vẽ tranh là chính. Làm xong tranh thì có lệnh vào Tết năm 1949, và điều ấy gây nên sự hào hứng khác thường trong lúc mình đang nhớ Hà Nội da diết. Lúc đó, chúng tôi đang ở chợ Đại (Nam Hà), đêm đêm nhìn về, thấy quầng sáng hắt lên từ Hà Nội, nhớ lắm. Những người kháng chiến ra đi tháng rộng năm dài... Mỗi khi tụ nhau thường nghĩ tới Hà Nội, bàn về Hà Nội, thế nên mới có câu thơ của Quang Dũng: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm... Tuy mới nghe nói chuẩn bị tổng phản công, mà lòng ai cũng nghĩ tổng phản công đến nơi rồi. Anh Chu Hà, Tổng biên tập báo Thủ đô cho gọi tôi họp cùng với anh em trong nội thành để nhận nhiệm vụ mới. Riêng điều đó cũng đủ làm sôi lửa. Anh em ở Tòa báo bảo tôi nên làm ngay một bài hát về tổng phản công. Tôi viết bài hát đó, thể hiện cái không khí hào hùng của Thủ đô, của chung dân tộc, mà có chút mộng mơ của riêng mình. Hồi đó mộng mơ lắm... Chưa có Không quân đã nghĩ tới Không quân, chưa có Hải quân cũng đã nghĩ đến Hải quân... Có ai dám nghĩ rằng bài hát cho Tổng Liên đoàn thành bài ca của công nhân, bài Chiến sĩ Việt Nam lại có tác dụng như tiếng kèn xung trận... và dường như, những điều ấy luôn ẩn chứa ở người nghệ sĩ cách mạng trong sự sáng tạo của mình, nên thế, bài hát viết từ năm 1949 nhưng 5 năm sau khi tiếp quản Thủ đô, tình hình giống như mình đã viết...” – Văn Cao lặng đi, thân hình khô gày, cớm nắng của ông lút đi trong chiếc ghế mây thấp chân, rồi ông chậm rãi như nói với chính mình, như thể không có ai đang ở bên cạnh ông: “ Nếu viết những lời thơ mộng mà nói cảnh quân ta tiến về Hà Nội thì nhẹ nhàng quá... Hà Nội mình như một đài hoa mở ra năm cánh mà sương nhỏ vào từng cánh. Đoàn quân ấy trở về nhìn Hà Nội với con mắt như vậy... Và đoàn quân ấy sẽ ươm lại những vườn hoa đẹp cho Hà Nội sau này...”.
Rồi Văn Cao còn kể về ấn tượng mạnh trong ông khi Hà Nội kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng Thủ đô 10/10, đó là năm 1984. Khi đó, ông đang ở Thái Bình. Hôm ấy, Đài Tiếng nói Việt Nam có phát bài hát Tiến về Hà Nội, ông nghe mà hình dung ra cảnh đoàn người đi quanh Hồ Gươm và hát vang bài hát đó. Ông bảo, ông biết có một nhạc sĩ ở châu Âu xưa được người ta kể lại rằng khi chơi bản nhạc của ông thì cả thành phố đều nhảy, gọi là Tout la ville dance, nên khi mường tượng như vậy, Văn Cao đã gọi bài hát của mình là Tout la ville chante, nghĩa là bài hát cả thành phố đều hát
Ấn tượng của tôi về ông là cây đàn piano kê áp ngay của sổ nhìn xuống phố ngách bên, tường treo mấy bức ảnh và tranh chữ, cái dáng còng còng, thân hình gày guộc, gương mặt đầy nếp nhăn, mái tóc xòa bạc phơ. Vì  chúng tôi dùng máy ghi âm chuyên dụng ghi lại để phát sóng nên sau đó tôi đã rải băng, chỉ cắt bỏ những chỗ ông ậm ừ nên có văn bản ông nói về quá trình sáng tác ca khúc Tiến về Hà Nội. Trong bài viết này, tôi đưa lại nội dung văn bản lưu lại, nhằm cung cấp cho bạn đọc, những ai còn chưa biết, th êm thông tin về ca khúc đó của Văn Cao.
Hôm ấy, Văn Cao còn đưa tôi xem và ký tặng tôi một bài thơ ông mới làm, bài “Tôi ở“,  và poster ca khúc Suối Mơ của ông với bút tích đề tặng. Tôi vẫn giữ chúng và coi như một kỷ vật về người nghệ sĩ tài hoa ... Tôi chép lại bài thơ này của ông ra đây: “Tôi ở/ Một căn nhà bên đầu ngọn suối/ Chỗ nước rỏ ra chính nơi tích tụ/ Và hình thành con suối./ Những mùa thay lá/ Những mùa cảm xúc/ Rừng vẫn bao dung với bóng lá trên đầu,/ Tôi sống/ Nhìn những chiếc lá trôi theo dòng nước/ Đến mùa gió Nam thổi/ Tôi lại đi theo những chiếc lá/ Phiêu du/ Tới bao giờ tôi gặp được biển. ( Hà Nội, tháng Tám 1994)”.
Sau này, có ý kiến cho rằng, rất có thể, bài thơ này là bài thơ cuối cùng của Văn Cao, bởi đến khi ông mất vào năm 1995, không thấy ông công bố thêm bài thơ nào nữa. Không rõ trong di cảo của Văn Cao còn bài thơ nào ông sáng tác sau bài thơ “Tôi ở” nữa hay không?
2.
Sau lần gặp ấy không lâu, tôi được gặp ông lần nữa. Khi ấy nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tốt nghiệp trường Gorky ở Nga, về đầu quân ở Văn nghệ Quân đội. Tôi hay ghé vào số 4 Lý Nam Đế thăm Khoa. Nhân một lần chuyên gẫu giữa các nhà văn nhà thơ ở Nhà số 4 với nhau, có nhắc đến Văn Cao, Khoa bày tỏ muốn gặp Văn Cao, nhờ tôi liên hệ giúp. Gọi điện đến nhà Văn Cao, biết Trần Đăng Khoa muốn đền thăm, ông đồng ý ngay, còn đùa: “Tôi cũng muốn gặp cậu ấy… xem mặt mũi sáng sủa thế nào… độ này thơ phú ra sao?”.
Theo hẹn, tôi đưa Trần Đăng Khoa đến gặp Văn Cao, Hai con người tài năng, một già một trẻ ấy, lần đầu gặp nhau, chuyện vãn cả buổi sáng. Tôi thành người chầu rìa, hóng chuyện, vô tình là nhân chứng câu chuyện giữa hai nhân tài đất Việt. Văn Cao hỏi Trần Đăng Khoa về việc học hành ở nước ngoài, về thi ca... Phần mình, Khoa đưa ra những nhận xét rất tinh về ca khúc của Văn Cao. Thoáng chốc mà đã hết cả buổi. Tôi không thể nhớ hết, hai nhân tài ấy đã nói qua lại với nhau những gì. Thâm tâm, tôi nghĩ, hai con người tài năng ấy tuy thuộc về hai thời kỳ khác nhau, song hình như họ có điểm chung, ấy là tài năng âm nhạc và thi ca bẩm sinh trong người, và nó chỉ được phát lộ, thăng hoa nhờ thời đại, nhờ lịch sử đấu tranh giành tự do độc lập của dân tộc, mà ở đó, thân phận mỗi người dân cần lao hiện rõ trong hành trình đầy gian khổ hy sinh…  kích hoạt mà thành !... Qua cuộc chuyện trò, tôi thấu hiểu tấm lòng Văn Cao, cũng là tấm lòng của người trí thức một lòng đi theo cách mạng đầy nhiệt huyết vì lý tưởng và sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc. Cũng chính vì lẽ đó, mà bài hát Tiến quân ca của ông đã được chọn làm Quốc ca, và bài hát Tiến về Hà Nội, cùng nhiều bài hát khác do ông sáng tác trở thành bài ca cách mạng, mà đến nay, tuy ông không còn nữa, những bài ca ấy vẫn tồn tại và được nhiều người yêu thích!...
Hôm ấy, Văn Cao và Trần Đăng Khoa còn nói nhiều về thơ và hội hoạ. Ra  về, Khoa bảo, Văn Cao là người đa tài, âm nhạc, thơ ca và hội hoạ, gì cũng thạo, nhưng nổi bật và thành công hơn cả là âm nhạc. Có thể nói, trong nền âm nhạc Việt Nam hiện đại, Văn Cao là nhạc sĩ tài năng hàng đầu,… Riêng về thơ, Văn Cao viết ít, khá chắt lọc, nhưng có thể nói, ông thuộc diện đầu tiên cách tân thơ bằng những câu thơ không vần, giàu ý tưởng,… Ngay từ năm 1956, với trường ca Văn Cao viết về Hải Phòng -“Những người ra đi từ cửa biển”, ông đã được nhìn nhận là người sớm cách tân thơ bằng lối thơ không vần nhưng giàu hình ảnh và âm điêu, đủ thấy ông chủ trương trình diện một lối thơ riêng, để sau này có một Văn Cao – thơ, khác người.
Tôi cơ bản đồng ý với nhận định của Trần Đăng Khoa về Văn Cao. Tôi nghĩ, sự nghiệp của Văn Cao là âm nhạc. Ở lĩnh vực này, ông thực sự tài năng, được khẳng định. Còn thơ ca và hội họa của ông, là cái cách ông “thi hóa” và “hình hóa” âm nhạc của ông mà thôi.
Trước hết vê âm nhạc, các ca khúc “Buồn tàn thu”, “Cung đàn xưa”, “Đàn chim Việt”, “Đống đa”, “Bạch Đằng giang”, “Thăng Long hành khúc”, “Suối mơ”, “Thiên thai”. “Trương Chi”, “Thu cô lieu”… đã sớm làm nên tên tuổi Văn Cao. Đặc biệt những các khúc cách mạng và kháng chiến càng lam cho Văn Cao nổi bật, như “Tiến quân ca” (sau là Quốc ca Việt Nam), “Bắc Sơn”, “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”, “Chiến sĩ Việt Nam”, “Làng tôi”, “Ngày mùa”, “ Sông Lô”, “Tiến về Hà Nội”, v.v… và sau này là “Mùa xuân đầu tiên”. Tài năng và nổi tiếng như vậy, có những đóng góp lớn cho âm nhạc Việt Nam thời tiền chiến và cả trong cách mạng cùng kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng Văn Cao lại gặp vấn đề về tư tưởng khiến sự nghiệp âm nhạc của ông khựng lại,…
Có lẽ vậy, sự thăng hoa về âm nhạc của Văn Cao có cơ hội chuyển dần sang thơ và họa. Tôi nghĩ, sáng tác thơ và họa của ông cũng khác người. Thực ra, Văn Cao làm thơ như ông viết lời cho ca khúc vậy. Trong số các nhạc sĩ sáng tác nhạc mới ở ta thì Văn Cao và Trịnh Công Sơn là hai trong số ít người không phổ thơ người khác mà tự viết lời cho ca khúc của mình. Nhiều ca khúc của họ, nếu bóc tách riêng rẽ phần lời, có thể đứng vững thành nột bài thơ. Thế nên, đọc thơ Văn Cao, tuy không vần nhưng giàu âm điệu. Còn hội họa, tôi không được xem tranh màu nước hay sơn dầu của ông nên không dám bàn, nhưng để ý, các ký họa, phác thảo minh họa cho báo, tôi nhận thấy ông phác họa đấy nhưng không đơn thuần cho nội dung câu chuyện cần minh họa, mà  phóng  bút theo cảm hứng từ sự liên tưởng của mình là chính. Ấy cũng là khác người rồi.
Trở lại với thơ. Trước hết, với tư cách người làm thơ, Văn Cao là một trong những nhà thơ tiên phong về thơ không vần. Tuy nhiên, là nhạc sĩ tự viết lời cho ca khúc của mình nên ông làm thơ không mấy khác việc làm lời cho ca khúc. Thơ không vần của Văn Cao giàu hình ảnh và nhạc điệu nên vô hình chung có bản sắc riêng. Cứ xem lời các ca khúc của ông, nhất là giai đoạn đầu đến với tân nhạc và thời tiền chiến, bóc tách lời mỗi ca khúc của ông, đều thành thơ cả. Văn Cao đã quen thế, nên giai đoạn sau, cả thời kháng chiến, thơ với nhạc quấn quện với nhau như hình với bóng. Hãy đọc lời các ca khúc “Làng tôi”, “Ngày mùa” và trường ca “Sông Lô”… lời đẹp như thơ, đúng hơn là thơ. Nhân đây, tôi muốn so sánh đôi chút với “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm; cùng trường ca viết về kháng chiến chống Pháp, nhưng lời thơ Hoàng Cầm êm dịu ru rín, làm duyên làm dáng như liền anh liền chị quan họ hát giao duyên, còn “Sông Lô” của Văn Cao, tách riêng phần lời với tư cách như một trường ca thơ, thì ngổn ngang những cảnh huống, nỗi đời và chất chứa các cung bậc cảm xúc….  Mang đối chiếu với nhau cứ như âm bản và dương bản vậy. Cho tôi được chọn, thì tôi chọn dương bản của Văn Cao. Những năm ông bị nạn “về tư tưởng”, mất đi cảm hứng sáng tác âm nhạc thì thơ là chốn để ông ký thác tâm tư, như một sự cứu rỗi tâm hồn mình. Vậy nên, cũng không có gì lạ cả khi Văn Cao thăng hoa về thi họa.
Hơn một lần, tôi nghe nhà thơ Trần Đăng Khoa khen ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao. Thực ra, về chất liệu âm nhạc, ca khúc này chẳng có gì mới hơn , hay hơn nhiều ca khúc khác của Văn Cao, song về ý tưởng lời ca khúc thì khác người đấy. Ca khúc được sáng tác sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Vậy mà mười năm sau, ca khúc này mới được phổ biến, phát sóng. Vậy thì phải có lý do riêng của  nó. Phải chăng, trong khi mọi người, từ lãnh đạo đến người dân bình thường, nhất là các văn nghệ sĩ bằng các rtacs phẩm nghệ thuật của mình ở tất cae các loại hình thi ca n hạc họa, sân khấu điện ảnh đều dung các mỹ từ  ngợi ca thì Văn Cao lại gọi là “mùa bình thường”. Vĩ đại, rực sáng là thế mà lại chỉ bình thường thì nhất định không được rồì? Song vậy mới là Văn Cao. Hãy nghe ông lý giải qua lời ca khúc :”Rồi dập dìu mùa xuân theo én về, mùa bình thường mùa vui nay đã về, mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên với khói bay trên song, gà đang gáy trưa bên sông, một trưa nắng vui cho bao tâm hồn,… một cuộc đời êm ấm, từ đây người biết quê người, từ đây người biết thương người, từ đây biết yêu người…” Thực tình, tôi muốn nêu trọn vẹn lời ca khúc ra đây để thấy rõ cái tài Văn Cao khi ông viết lời thơ cho ca khúc này của minh… Thiên nhiên muôn đời là vậy, vô tư luân chuyển các mùa với bao cảnh sắc theo đó, ấy là cái lẽ của mùa bình thường. Song le, Nguyễn Du bảo “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, cảnh buồn hay vui là từ lòng người ma ra cả đấy, nên cái mùa xuân đầu tiên ấy, là lòng người vui nên nhìn thiên nhiên cũng thấy cảnh sắc, vạn vật vui theo con người… Cần chi phải dùng những mỹ từ, những từ ngữ đao to búa lớn để diễn đạt cái phấn khích của con người đâu. Mùa xuân đàu tiên ấy, với Văn Cao, cả lời thơ và âm nhạc nhất quán, quấn quện, dặt dìu như cánh én xuân, ngôn ngữ bình dị để nói cái vĩ đại, cái khác thường, nói như không ấy mới là tài chứ. Dĩ nhiên, với những ai đó thích nói năng to tát là việc của họ, còn Văn Cao là vậy, nhỏ nhẹ khoan hòa là cái “tạng” mà cũng là cái “tài” của riêng ông, làm nên khí chất con người ông chăng!? Còn như ai đó, không hiểu hoặc hiểu sai ông là lỗi của họ… Chứ ông, một con người nhỏ thó, hiền hòa, giản dị, dễ gần như tôi thấy, lại giàu cảm hứng sáng tạo nghệ thuật như ông thì làm gì nên tội?...
Có một chi tiết nhỏ, mấy lần đến nhà Văn Cao, chẳng rõ nếp sinh hoạt ngày thế nào, để ý, ngay cả khi tiếp khách, ông chỉ ngậm kẹo và thi thoảng nhấp ngụm rượu suông. Lần đầu tôi đến phỏng vấn Văn Cao, ông có hỏi quê tôi ở đâu, tôi bảo quê ở Văn Lâm, Hưng Yên, và để dễ hình dung, tôi nới gần ga Lạc Đạo,  ông à một tiếng rồi thủng thẳng khen: “Này, rượu Lạc Đạo quê nhà em  là ngon lắm đấy…”. Tôi phấn khởi vâng dạ vì ông nhắc đến đặc sản vùng quê mình. Song tôi thật đoảng, vì lần sau đưa nhà thơ Trần Đăng Khoa đến thăm ông, đã quên không thủ theo một chai rượu Lạc Đạo nút là chuối khô chính hiệu để biếu ông nếm thử. Giờ nghĩ lại cứ ân hận làm sao!
Vậy là nhạc họa thi ca đã xong cả rồi ạ, chỉ xin khất ông chai rượu Lạc Đạo nữa mà thôi!...
 
tamvanvov 04.01.2026 10:10:52 (permalink)
PHẠM HỔ -
người thắp lửa
 
 
          Tôi định viết về ông nhưng rồi lần lữa mãi. Về con người, tôi chỉ vào hàng con ông, phần vì ngại. Về sự nghiệp, ông đã thành danh với những tác phẩm thơ văn dành cho thiếu nhi. Tôi biết ông có rất nhiều bài thơ hay và độc đáo cho trẻ em, song thú thực, cho đến giờ tôi thuộc duy nhất một bài, ấy là bài thơ Xe cứu hỏa. Đơn giản bởi bài thơ đó được đưa vào sách giáo khoa cấp 1 từ thời tôi đi học.
           Hè năm 2007, nhà thơ Phạm Hổ mất, báo chí đăng nhiều bài viết về ông.  Tình cờ, tôi có gặp và trò chuyện đôi chút với con gái của ông, nhà văn Phạm Sông Hồng khi chị thay mặt gia đình đến Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam cảm ơn sau lễ tang ông. Đây cũng là lần đầu tiên tôi gặp Phạm Sông Hồng.
           Thuở học trò, tôi biết đến Phạm Hổ với tư cách là một nhà thơ viết cho thiếu nhi. Càng về sau, tôi thấy thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ khá tài hoa, độc đáo và không kém phần ngộ nghĩnh. Có người đã ví ông với ông Marshak ( S.J Marshak, 1887-1964, nhà thơ Nga, nổi tiếng thế giới , viết cho thiếu nhi rất hay, và là một trong những người sáng lập nền văn học thiếu nhi ở Liên Xô cũ), và còn gán cho Phạm Hổ biệt danh là Marshak Việt Nam. Rồi còn biết, ông có tới những ba ái nữ, tên gọi cũng rất chi là đặc sắc, hai ả tố nga đầu là Sông Hồng và Sông Đông, đều tài hoa giỏi giang. Sông Hồng thì thành danh với dịch thuật và một số truyện ngăn ngắn. Ở vào cái thời truyện ngắn đang nổi đình đám trên văn đàn , nhiều cây bút truyện ngắn tài năng lộ diện, nhiều truyện ngắn có tầm vóc như truyện vừa, mà Phạm Sông Hồng lại chuyên trình làng những truyện ngắn mi-ni thì xem ra cũng là độc đáo. Người con thứ hai của ông, Sông Đông học cùng khóa Tổng hợp Văn với mấy người bạn của tôi  (Ts. Nguyễn Hữu Sơn và Ts.Trịnh Bá Đĩnh ở Viện văn học Việt Nam ), và sở dĩ tôi biết vậy là vì trong các câu chuyện ngày ấy của mấy chàng sinh viên này thấy có bóng dáng của cô nàng.
           Tôi có nghe một giai thoại liên quan tới Phạm Hổ. Rằng ông là một người rất hiền lành, nhưng khá giỏi võ thuật, mà là võ Bình Định kia. Chuyện là, có một chàng nọ muốn tiếp cận ông, nhờ ông giới thiệu hay bỏ phiếu chi đó nhằm vào Hội nhà văn nhưng bị ông từ chối, lời qua tiếng lại thế nào, chàng kia nổi khùng xông vào ông động thủ. Ông không buồn đánh lại, chỉ né tránh và một động tác võ thuật nhẹ nhàng đã quật chàng ta ngã nhào, khiến anh chàng xanh mắt mà thôi luôn. Chuyện thật hư thế nào không rõ.
          Và rồi, có một chuyện khiến tôi ấn tượng mạnh về Phạm Hổ. Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào mùa hạ năm 1995, tôi tham dự Trại sáng tác văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam mở tại Hà Nội. Lúc bấy giờ, tôi chủ yếu viết truyện ngắn cho người lớn, tuy nhiên cũng có dăm ba cái truyện thiếu nhi gửi phát trên chương trình Văn nghệ thiếu nhi của Đài Tiếng nói Việt Nam mà nhà thơ Lê Đình Cánh làm trưởng phòng. Khi ấy, Lê Đình Cánh còn là ủy viên Hội đồng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn, ông động viên tôi tham dự. Thực tình tôi ngại nhưng nể ông mà đồng ý, gửi trước đến Ban tổ chức Trại sáng tác hai truyện ngắn là "Con chó Mực của bà tôi " và " Có một bà già ai nhớ ". Cả hai truyện này đã được đăng trước đó ở Báo Người Hà Nội. Hôm đến Hội nhà văn làm thủ tục, tôi gặp nhà thơ Phạm Hổ và nhà văn Vân Thanh, là những người phụ trách Trại sáng tác. Có thêm sự động viên của hai đại lão gia trong làng văn học thiếu nhi, tôi thêm vững tâm.
           Trước hôm khai mạc, nhà thơ Lê Đình Cánh gặp tôi, ông  vui vẻ vỗ vai tôi bảo : " Hai cái truyện của cậu được nhà văn Nguyên Ngọc đọc thẩm định. Cụ ấy khen đấy. Hôm này khai Trại, Ban Tổ chức dự định là sau phần diễn văn khai mạc, đến phần của trại viên, nhà văn Nguyên Ngọc sẽ đọc nhận xét thẩm định tác phẩm của em, kế đó em sẽ tự đọc truyện ngắn của mình ". Tôi nghe mà ớn cả ngươi, rồi trối đây đẩy. Nhà thơ Lê Đình Cánh cười tủm tỉm, đông viên: "Có gì mà ngại. Nhà văn là người của công chúng rồi . Tác phẩm của mình đem công bố hệt như mũi tên đã bắn ra khỏi cung, trúng trật, khen chê thế nào là việc của thiên hạ ”. Nghe thấy chí lý, tôi có vẻ xuôi, song thực lòng vẫn ngần ngại lắm. Mấy ngày phâp phỏng không yên đợi hôm khai trại.
         Rồi cũng đến ngày đó. Trại được tổ chức tại khoa sinh viên nước ngoài trong khu Đại học Bách khoa Hà Nội. Tôi đồ chừng khoảng ba chục người từ các địa phương về dự. Tôi không thuộc hết mặt, chỉ loáng thoáng biết và nhớ là có Thai Sắc ( Đồng Tháp ), Hoài Khánh ( Hải Phòng ), Thái Chí Thanh, Lê Minh Hoài ( Hà Nội ) và hình như còn mấy bạn trẻ lứa tuổi học trò ở Hà Nam Ninh thì phải... ( Nếu hiện có bạn nào trong số ấy nay thành danh trên văn đàn, thì cho tôi xin lỗi vì đã không nhớ được quý danh, không phải vì khinh thị, mà chẳng qua khi đó tôi chỉ dự buổi khai mạc, không học tập và sinh hoạt cùng anh chị em trong trại viết, vả lại lâu rồi nên không nhớ nổi ).
          Sự lo ngại khiến tôi chẳng nghe thấy gì khi ngưới ta khai mạc. Đúng như dự kiến, nhà văn Nguyên Ngọc đọc bài thẩm định hai tác phẩm gửi tham dự Trại của tôi. Chi tiết thế nào tôi không còn nhớ, song khen cũng nhiều và chê cũng không ít. Sau đó, tôi được mời lên, ngồi vị trí trang trọng nơi bộ bàn ghế kê chính diện trước hội trường. Tôi đã đọc cái truyện ngắn của mình "Con chó Mực của bà tôi". Lúc đầu còn e ngại, rồi bạo dần lên, rồi nữa như nhập đồng. Tôi vừa đọc vừa ứa nước mắt, nấc thành tiếng. Tôi quên hết mọi người, tôi nhớ đến bà ngoại tôi, đến mẹ tôi, đến con chó Mực nhà tôi... Bà ngoại tôi bị mù lòa từ ngày còn trẻ, vậy mà vẫn những mười lăm lần sinh nở, nuôi con đến trưởng thành còn chín người. Hết nuôi con rồi lại chăm cháu, đầy đàn đầy đống. Suốt những năm chiến tranh chống máy bay Mỹ, đám cháu nội ngoại từ thành phố ùn ùn kéo nhau về sơ tán, bà ngoại tôi nhận chăm sóc tất thảy. Bao nhiêu là chuyện phải lo, cơm cháo, rau khoai, tắm giặt, học hành, lúc khỏe mạnh cũng như lúc ốm đau...Chẳng thế mà sau này, lũ cháu chúng tôi nên người, đi đây đó khắp xứ ta xứ tây, luôn nhớ về bà với tâm niệm bà như một bà tiên trong cổ tích. Giờ thì bà ngoại tôi đã mất và cỏ đã xanh lần hai trên mộ. Con chó Mực cũng đã chết lâu rồi. Chỉ còn mỗi mẹ tôi. Mẹ tôi đang sống hiu quạnh ở chốn quê nhà, ngày ngày chăn nuôi lợn gà, quét tước lá tre, trông giữ đất vườn và nếp nhà gianh, cho mấy chị em tôi thoả sức bay nhảy nơi phố xá đô thị ... Tất thảy sống dậy trong tôi. Tôi mường tượng lại tuổi thơ tôi sống với bà ngoại thế nào, bà yêu quý và chăm chút tôi ra sao...Và tôi đã khóc. Khóc vì sao ư ? Không rõ nữa. Có lẽ vì tất cả. Chỉ biết là cố kìm nén mà không nổi. Tôi đã phải ngừng đọc những mấy lần, để nuốt tiếng nấc nghẹn, để lau nước mắt vì chữ nghĩa trước mắt cứ nhòe đi. Lúc ấy, trong tôi chỉ còn một ý nghĩ là cố gắng làm sao đọc cho xong cái truyện, chẳng tâm trí đâu để ý xem mọi người ra sao. Song quả là tôi có thấy, nhà thơ Phạm Hổ cũng rân rấn nước mắt. Điều ấy khiến tôi tự tin hơn, và bỗng dưng tôi thấy cái sự khóc của mình không vô lý nữa, giúp cho tôi đủ sức đọc tiếp mà không bỏ dở. Gần cuối, khi đã bình tĩnh tôi bắt đầu nhận thấy đâu đó những tiếng rì rầm ở bên dưới của những trại viên, hình như cũng lại chuyện khen chê này nọ...
          Sau phần của tôi, nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét những sáng tác của mấy bạn trẻ ở Hà Nam Ninh. Tôi không được đọc truyện của họ, song chỉ qua thẩm định của nhà văn Ma Văn Kháng thì có thể thấy những sáng tác ấy khá hay. Có lẽ còn do nhà văn Ma Văn Kháng viết nhận xét rất giỏi. Tôi nghe ông đọc lời nhận xét thấy hay và thật đáng nể phục. Tôi rẩm riu nghĩ, trước đây mình đã phục ông nhà văn này qua mấy tiểu thuyết " Mưa mùa hạ ", "Đồng bạc trắng hoa xòe " và " Mùa lá rụng trong vườn ", nay lại phục tài viết phê bình nữa. Lúc nghỉ giải lao, tôi nhận thấy hình như mọi người vẫn tiếp tục trò chuyện với nhau, đưa ra những ý kiến nhận xét này nọ. Và loáng thoáng đâu đó, có lời chê bai chi tiết này, câu chữ nọ từ cái truyện của tôi. Lại nữa, còn có cả lời bai, rằng tại sao cái tay ấy lại có thể khóc khi đọc truyện nhỉ v.v... Thú thật là lúc ấy tôi chạm tự ái, nóng mặt. Đó cũng là lý do khiến tôi đứng một mình nơi hành lang, không nhập vào nhóm nào, cũng chẳng muốn trò chuyện cùng ai cả.
         Đúng lúc ấy, nhà thơ Phạm Hổ đến bên tôi. Ông vỗ nhẹ lên vai tôi, miệng cười hiền vẫn còn nguyên vẻ xúc động nói đưat quãng: "Em khá lắm... Viết cảm động lắm... Viết cho thiếu nhi không khó ... Điều khó là ...cần một tấm lòng...Vì ở đấy không có chỗ cho cái ác...". Tôi thấy rõ là ông thể hiện sự xúc động một cách chân thành, thế nên tôi cảm động lắm. Sự cảm động còn bởi một lý do riêng tư, trong khi đám đông coi thường sự cảm động của mình, thì lại có một vị đại lão gia biết trân trọng nó. Tôi không muốn, nhưng không thể không so sánh. Ông còn căn dặn thêm gì đấy, song sự cảm động khiến tôi không còn tỉnh táo để mà ghi nhớ. Đợi ông dừng lời, tôi dụt dè xin phép ông và Ban Quản lý Trại sáng tác được vắng mặt một số buổi vì công việc cơ quan không cho phép tôi dự đủ. Điều này tôi cũng đã bày tỏ với nhà thơ Lê Đình Cánh từ trước. Ông cười hiền, bảo: "Thế à. Tiếc nhỉ ! Nhưng hễ rảnh buổi nào là đến với anh em bạn bè của Trại cho vui đấy nhé". Lúc quay lại hội trường, Phạm Hổ ân cần dăn: "Này em, chớ có nản mà bỏ viết cho thiếu nhi đấy nhớ... Đồng hành với trẻ em là khó lắm đấy... Đã có nhiều người bỏ cuộc rồi ... ". Ông lại cười, một nụ cười buồn...
         Sau buổi khai mạc, phần vì bận việc cơ quan, phần vì tự trong lòng thấy ngài ngại, nên tôi không tham dự thêm một buổi nào nữa. Hôm bế mạc và liên hoan kết thúc, tôi có đến dự. Không khí bia rượu và sự chia tay thường chỉ đem đến cho người ta một cảm xúc có phần thái quá. Khách khứa từ các cơ quan báo chí và Hội nhà văn đến đông lắm. Các nhà văn Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, nhà thơ Phạm Hổ là tâm điểm vây quanh của mọi người. Tôi đứng ở một góc, cụng ly bia với nhà thơ Trần Nhật Lam. Lê Đình Cánh, những người mà tôi quen biết. Mới chỉ khẽ chạm đến văn chương thôi cũng là đủ để biết "mùi ca ngâm" của nó... Tôi nghĩ, thây kệ, điều quan trọng là mình có viết được hay không và viết ra sao thô ?... Tôi muốn chào Phạm Hổ một câu nên đành phải đợi lúc vãn người. Ống đứng nói chuyện với nhà văn Vân Thanh và nhà thơ Lê Đình Cánh. Ông nhận ra tôi, vỗ nhẹ vai tôi bảo: “Mình có để ý những hình như em không đến sinh hoạt cùng Trại?” Tôi vâng khẽ nhận lỗi và lắp bắp lời giải thích. May có nhà thơ Lê Đình Cánh đỡ lời biện hộ cho. Phạm Hổ lại cười hiền: “Không sao mà… Nhớ là đừng bỏ viết cho thiếu nhi đấy, em…”.
          Những năm sau này, lâu lâu lại thoáng thấy Phạm Hổ ở đâu đó, phần lớn là qua tivi. Thấy ông mỗi năm mỗi già song sự điềm đạm và hiền hậu thì dường như mỗi dày thêm. Tôi nhớ, có một lần bật ti vi lên, thấy đưa cảnh nhà thơ Phạm Hổ đến thăm một trường mâm non nào đó ở Hà Nội (hình như trương Việt Triều thì phải ?). Ông cười hiền, trả lời rất hóm hỉnh các câu hỏi của đám trẻ. Ông đọc thơ ông cho chúng nghe. Và trong số đó có bài thơ Xe cứu hỏa, bài thơ mà tôi thuộc lòng từ tấm bé : "Mình đỏ như lửa/ Bụng chứa nước đầy/ Tôi chạy như bay/ Hét vang thành phố/ Nhà nào có lửa/ Tôi dập được ngay/ Ai gọi cứu hỏa/ Có ngay, có ngay!".
          Phạm Hổ đọc chậm rãi. Nhịp điệu theo từng câu từng chữ. Vừa đọc ông vừa làm điệu bộ. Đám trẻ con khoái lắm, chúng thích chí cười. Ông cười theo, và tôi thoáng thấy nơi khóe mắt có ngấn nước. Nước mắt của sự nhân hậu, bao dung và sẻ chia. Nước mắt của người suốt đời đi theo bọn trẻ. Chúng như đám con cháu ông ngày ngày quây quần bên ông. Nước mắt của người tự lượng sức mình, biết chẳng bao lâu sẽ xa chúng mà đi vĩnh viễn ...
          Tôi lại nhớ lời nhắc nhở của ông ngày ấy, rằng hãy viết gì đó cho thiếu nhi, chớ nên bỏ cuộc. Tuy đã xuất bản được mấy tập sách cho người lớn song tôi không quên viết cho thiếu nhi. Đăng rải rác, rồi đến năm 2001, tôi cũng tập hợp lại thành một tập truyện cho thiếu nhi ("Công cống mùa thu " - NXB Kim Đồng).
           Khác với chiếc xe cứu hỏa của mình, hễ cứ thấy ở đâu có lửa cháy là lao đến dập tắt ngay, còn riêng ông, ông lại luôn tìm cách thắp lửa. Ấy là những ngọn lửa nơi tâm hồn mỗi đứa trẻ, những ngọn lửa sáng tạo trong mỗi cây bút trẻ mà ông biết!... Đành rằng, viết về nhà thơ thì phải bám vào tác phẩm của họ, nhưng theo tôi, Phạm Hổ, cao hơn là phẩm cách tốt đẹp và lòng nhân hậu ông cho trẻ em, đối tượng mà ông đã dành cả đời văn. Còn với riêng tôi, Phạm Hổ - người thắp lửa!
 
          Thú thật, đã lâu rồi tôi không viết cho thiếu nhi, trong số ba chục đầu sách đã ấn hành của tôi vẫn chỉ có một cho thiếu nhi. Tôi không quên lời Phạm Hổ căn dặn, nhớ nằm lòng đấy nhưng quả thật viết cho thiếu nhi không dễ khi mình đã già cỗi. Biết đâu, nay nhắc lại chuyện ông xưa, Phạm Hổ lại “thắp lửa” viết về thiếu nhi cho tôi?!...    
 
tamvanvov 20 giờ (permalink)
               NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
                   Người đi Ma ở lại,...
                                                         
          Khi nảy ý định viết một cuốn sách, kiểu như chân dung văn học, kể cả khi không phải là chân dung đúng nghĩa, chỉ là phác thảo về một văn nhân, thi nhân nào đó, hay nói theo dân họa, là phảy mấy nét, thấy bóng dáng thôi, tôi lại nghĩ đến nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Thế là trong bản danh sách mà tôi nêu ra, cùng các nhà văn nổi tiếng như Kim Lân, Đỗ Chu, Vũ Thư Hiên, Trần Đình Hiến... tôi điền tên ông, Nguyễn Khắc Trường.
        Có lẽ, trước hết, bởi ấn tượng về ông mà tôi thấy trong buổi cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa, Phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cùng mấy cán bộ hội đên tận nhà riêng để trao cho nhà văn huy hiệu 45 năm tuổi Đảng. Một Nguyễn Khắc Trường ốm yếu nhiều năm, khó khăn nhích từng chút từ giường nằm đến bên bàn viết ngay cạnh đó. Vậy là ông buông bút rồi. Bất lực với công việc mà mình theo đuổi cả đời, sống vì nó, vui buồn vị nó,...
        Với nhà văn Nguyễn Khắc Trường, tôi biết trước tiên là bút danh Thao Trường cùng các sáng tác của ông chủ yếu trên tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Văn Nghệ. Mặc dù vậy, không có gì nổi trội, ông vẫn lẫn vào dàn nhà văn cầm bút và trưởng thành trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc. Thú thật, tôi chẳng nhớ gì về các tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường trước đó, cho đến khi tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” xuất hiện. Công bằng mà nói, tiểu thuyết này của Nguyễn Khắc Trường nổi lên như một hiện tượng của văn xuôi Việt Nam hiện đại, trước tiên là tự thân tác phẩm. Hội tụ đủ các yếu tố cấu thành nên tác phẩm, từ không gian truyện, nội dung câu chuyện trong bối cảnh hiện thực xã hội nông thôn xứ ta, ngôn ngữ, giọng điệu kể chuyện, chi tiết, nhân vật điển hình và thông điệp nhà văn gửi gắm,... hợp thành làm nên thành công cho tác phẩm.
        May mắn sao, cùng các tác phẩm khác (“Bến không chồng” của Dương Hướng…), “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nuyễn Khắc Trường được Hội Nhà văn Việt Nam tặng thưởng hằng năm, tạo thành chiếc kiềng ba chân vững chắc, đánh dấu sự đổi mới của Văn học Việt Nam hiện đại. Vậy là, đã vững lại càng thêm vững.
        Thêm nữa, ấy là sức lan tỏa của tác phẩm này tăng lên bội phần nhờ việc được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập, phim “Đất và người”, do Nguyễn Hữu Phần và Phạm Thanh Phong đạo diễn, khiến đông đảo người xem chưa từng đọc tác phẩm in, được tiếp cận qua hình thức tác phẩm điện ảnh với thế mạnh riêng có.
        Vậy nên, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường trở thành hiện tượng nổi trội là đương nhiên.
        Trở lại chuyện về Nguyễn Khắc Trường, con người nhà văn. Lần đầu tôi gặp ông là ở số 4 Lý Nam Đế, trụ sở của tạp chí Văn nghệ Quân đội, quãng đầu những năm 90 thế kỷ 20. Khi ấy, nhà thơ Trần Đăng Khoa vừa tốt nghiệp trường Gorky bên Nga, về nhận công tác ở đây. Tôi là phóng viên của Đài Tiếng nói Việt Nam ở 58 Quán Sứ, nên hay tranh thủ tạt sang chỗ Khoa, tán gẫu hoặc rủ nhau đi ăn trưa. Phía sau tòa nhà kiến trúc Pháp là dãy nhà cấp 4, Khoa ở một phòng dãy ấy. Tôi nhớ, có phòng của nhà văn Khuất Quang Thụy, nhà văn Nguyễn Khắc Trường, nhà thơ Vương Trọng và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thì phải. Các nhà hay tạt sang phòng nhau chuyện phiếm. Nhờ thế mà tôi gặp nhà văn Nguyễn Khắc Trường và các vị khác. Trần Đăng Khoa giới thiệu tôi với các vị, đại khái đây là bạn học, làm thơ cùng thời với Khoa, giờ có viết truyện ngắn, đang làm việc ở Đài... Còn các vị cũng cười đãi bôi kiểu xoa đầu thằng bé “à thế à”. Tôi khép lép, vâng dạ, chủ yếu nghe các vị đàm thoại với nhau, tự coi mình là kẻ tập tọng văn chương, nghe ké học lỏm, thế cũng là vui rồi.
        Ấn tượng ban đầu của tôi về nhà văn Nguyễn Khắc Trường là vẻ xuề xòa dễ chịu, chẳng có gì là tinh vi tinh tướng cả, mặc dù khi ấy ông nổi lên lừng lững như trái núi với tiểu thuyết vừa xuất bản “Mảnh đất lắm người nhiều ma” thu hút bạn đọc cả nước và khiến giới cầm bút xứ ta nể trọng và thèm muốn có được cuốn sách như vậy.
        Sau đó, nghe tin nhà văn Nguyễn Khắc Trường rời khỏi Nhà số 4 Lý Nam Đế chuyển sang làm việc ở Báo Văn nghệ, rồi nữa là Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Cả quãng thời gian này, tôi không gặp ông và hầu như cũng không đọc được tác phẩm mới nào của ông. Cứ như ông không còn tồn tại ngoài cái tên và tác phẩm đã mang lại vinh quang nghề viết cho ông. Lâu lâu, lại nghe tin ông đã nghỉ hưu, rồi ốm đau bệnh tật gì đó, ngồi một chỗ. Biết vậy, tôi vẫn nghĩ, một ngày nào đó sẽ được đọc tác phẩm mới của ông,...
        Tôi về làm trang Web của Hội Nhà văn Việt Nam, rồi chuyển sang làm biên tập ở Tạp chí Nhà văn & cuộc sống do nhà thơ Trần Đăng Khoa làm Tổng biên tập. Những lúc hầu chuyện các bậc đàn anh văn chương, mọi người hay nhắc chuyện cũ, rằng nhà văn Ma Văn Kháng ốm thế này, nhà thơ Y Phương bệnh thế nọ, nhà văn Đào Thắng tật thế kia, nhà văn Tô Đức Chiêu cũng ngồi một chỗ... và trong các cuộc chuyện gẫu hay đàm luận văn chương như thế, người ta nhắc đến nhà văn Nguyễn Khắc Trường cùng các tác phẩm của ông.
        Đầu năm 2024, trước tết Giáp Thìn, nhà thơ Trần Đăng Khoa rủ tôi đi cùng ông đến nhà riêng của nhà văn Nguyễn Khắc Trường đặng trao huy hiệu 45 năm tuổi Đảng cho ông. Vậy là tôi may mắn được chứng kiến cuộc gặp gỡ đầy vinh dự và cảm động, cũng được xem là lần gặp gỡ cuối cùng của nhà thơ Trần Đăng Khoa và nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Hôm ấy, ông tỉnh táo và minh mẫn, duy chỉ không đi lại được, con cái dìu chật vật mới di chuyển được ông từ giường ra ghế ngồi để thực hiện nghi thức trao quyết định và gắn huy hiệu. Xong việc chính, Trần Đăng Khoa chuyện đùa tếu táo cốt để gây bầu không khí vui vẻ. Tôi hỏi chuyện xem ông có viết được nữa không, thì ông cười nhẹ, lắc đầu bảo không. Thế còn đọc, trả lời, chút chút thôi cho đỡ buồn. Vậy xem như là chấm hết rồi, tôi thầm nghĩ. Khi Trần Đăng Khoa báo tin cho ông việc nhà văn Nguyễn Trí Huân đang điều trị bệnh hiểm nghèo, Nguyễn Khắc Trường cứ thế à, thế á, rồi ông nhệu nhạo, lặp đi lặp lại một câu “Huân nó tốt lắm’, nước mắt nhòe khóe mắt ông...!
        Thế rồi ông lặng lẽ ra đi vào một ngày thu đẹp nắng hanh hao với chút lạnh se se vào đêm và sáng sớm. Không xuất bản thêm tác phẩm nào nữa sau tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Dường như, nhà văn Nguyễn Khắc Trường xem thế là đủ đối với ông, bởi từ khi cho ra mắt tiểu thuyết đến cho đến khi ông tạ thế là hơn ba mười năm và trong quãng thời gian dài ấy, ông có ít nhất hai mươi năm sung sức. Vậy vì sao nhỉ? Tôi tự hỏi và lại tự tìm cách lý giải,...
        Thật lòng, ngay sau hôm đến thăm nhà Nguyễn Khắc Trường cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa, tôi có tìm hiểu, được biết, ông chỉ xuất bản vỏn vẻn 4 tập sách, bao gồm “Cửa khẩu” (1972), “Thác rừng” (1976), “Miền đất mặt trời” (1982) và sau cùng là “Mảnh đất lắm người nhiều ma” (1990). Tôi mang điều này thắc mắc với Trần Đăng Khoa và được biết, sau đó Nguyễn Khắc Trường có khởi thảo một tiểu thuyết nữa có tên là “Trang trại” nhưng bỏ dở chừng hoặc giả đã xong nhưng không xuất bản (đã in mấy chương trên tạp chí Nhà văn & tác phẩm), mà nguyên do một phần là từ lời bàn ra của Trần Đăng Khoa. Gần đây, trong một bài viết mang tính vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Khắc Trường sau khi ông tạ thế, ở đấy, Trần Đăng Khoa tiết lộ rằng, khi viết “Trang trại”, ông có đưa bản thảo nhờ Trần Đăng Khoa đọc thẩm định. Lời khuyên của Trần Đăng Khoa là không nên xuất bản cuốn này bởi nó đã “mất chất nhung tuyết Nguyễn Khắc Trường” và ông đã nghe lời khuyên ấy, quyết định không cho ra mắt đứa con tinh thần này. Tôi nghĩ, đấy chỉ là một cách nói khéo của Trần Đăng Khoa, bởi trong câu chuyện bên ngoài, Khoa bảo, cuốn ấy Nguyễn Khắc Trường viết na ná cuốn trước, về mô-típ nhân vật, cách kể chuyện, mà văn phong lại kém đi. Trần Đăng Khoa bảo, mình đã nói với Nguyễn Khắc Trường rằng, cuốn sau không nhất thiết phải hay hơn cuốn trước và cũng có thể kém hơn, chẳng sao, nhưng quan trọng nó phải khác hẳn. Chẳng rõ, Nguyễn Khắc Trường tiếp thu nhận xét của Trần Đăng Khoa ra sao song rõ ràng là ông quyết không xuất bản tiểu thuyết này nữa.
        Tôi lại nghĩ, có lẽ Nguyễn Khắc Trường bị ám thị bởi chính tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của mình. Ông xem như đó là ngọn núi mà mình đã chinh phục được và không muốn ngọn núi sau mình chinh phục lại thấp hơn ngon núi trước.
        Không xuất bản sách nữa, Nguyễn Khắc Trường chuyên tâm việc biên tập, nâng đỡ các nhà văn trẻ, chăm chút nâng giấc cho các tác phẩm của họ đăng đàn trên báo Văn nghệ, được xuất bản thành sách qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn. Việc làm đó của ông thật trân quý!
        Giờ nhà văn Nguyễn Khắc Trường khuất bóng ở cái tuổi 78, chưa đến cái ngưỡng đại thọ nhưng cũng đã là già. Xưa cụ Nguyễn Du bảo “thác là thể phách hồn là tinh anh”, thế nên, tinh anh Nguyễn Khắc Trường vẫn lừng lững đó nơi tác phẩm “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của ông. Thú vị nữa, các nhân vật điển hình mà ông tạo dựng nên trong tác phẩm này như lão Hàm, Chu Văn Quềnh… đã bước ra khỏi sách vào đời sống xã hội hàng ngày!
        Vây nên, với Nguyễn Khắc Trường và tác phẩm của ông, nói vui, đúng là Người đi, Ma thì ở lại!

 
tamvanvov 1 giờ (permalink)
 
ADAM & PHẦN CÒN LẠI CỦA THẾ GIỚI
 
1. Cứ mỗi khi Hoàn buộc miệng ngâm nga một câu thơ mà y tình cờ đọc được rồi thích, là thế nào cũng có ít nhất một trong số năm người đàn bà cùng văn phòng với y bảo: “Hâm vừa chứ! Này lấy vợ đi. Đầu ba, đít to rồi đấy. Kẻo lại…”. Đại loại những câu tương tự như vậy. Nghe rồi, hoặc y cụt hứng, mặt sầm sì, hoặc y nổi hứng bỡn cợt lại.
Chẳng hiểu trời xu đất khiến làm sao, Hoàn lọt vào cái văn phòng có sáu người cả thẩy, thì mỗi mình y cùng chủng với Ađam. Và thế rồi, từ nói đùa, năm người đàn bà “còn lại của thế giới” gán cho y biệt hiệu Ađam. Hoàn Ađam. Xét về tuối tác y đứng hàng thứ tư. Nhiều khi rỗi rãi, y thu mình ngồi im ở cái xó của y suy nghĩ lan man về mọi người, mọi chuyện, và lẩn thẩn xếp các sự kiện theo nhận xét của y vào trong bộ nhớ, hệt như người ta hay trình bày các thư mục theo file rồi kích chuột vào save ở máy vi tính. Một công việc nhàm chán.
Người đầu tiên là chị Nguyệt, tuổi ngoài năm mươi, được người, có nét phúc hậu, con gái Hà Nội gốc. Sống với ông chồng hơn chị hàng chục tuổi, đã về hưu, hai đứa con, một gái, một trai đi học đại học và lấy người nước ngoài, định cư ở Pháp và Úc.
Người thứ hai, chị Thoa, ngoại tứ tuần, da dẻ hồng hào, mắt nhanh, nụ cười tươi thắm, dễ tính. Có chồng là giám đốc một công ty kinh doanh, đi nước ngoài như đi chợ. Chỉ có một con trai đang đại học.
Người thứ ba là Thủy, trưởng phòng, hơn y vài tuổi, hòa nhã, chu đáo trong ứng xử song khá kín đáo, khó hiểu. Có chồng là Vụ trưởng, anh này trẻ, nổi tiếng hào hoa, và còn là một tay nhiếp ảnh tài tử có hạng. Họ có hai con gái.
Người thứ tư có cái tên kép rất điệu - Thu Liễu. Trái với tên cô có thân hình cao to lừng lững như cầu thủ bóng chuyền, nét mặt khá xinh, và không mất vẻ nữ tính. Kém y vài tuổi song Thu Liễu lấy chồng sớm, có một con gái thì góa chồng.
Người thứ năm, cô út của phòng, con một ông Cục trưởng thuộc Bộ nhà. Không vào được đại học, bố đem vào học trường văn thư lưu trữ, rồi giải quyết luôn đầu ra theo lối ta về ta tắm ao ta. Về cơ quan mấy năm đã giải quyết xong cái bằng đại học tại chức. Tuy không giỏi giang, bù lại, Kiều Linh khá nhanh nhẹn, tháo vát trong ứng xử, giỏi vi tính, sành nhạc và bập bõm tiếng Anh.
Có lần phòng liên hoan, y quá chén, bảo: “Hôm nào rảnh… tôi sẽ soạn lý lịch trích ngang quý bà quý cô, trên vi tính hẳn hoi… dán ngay cửa phòng, dưới cái biển hiệu “phòng thư viện tư liệu”. Mọi người cười, chị Thoa hỏi sỗ: “Này… thế còn cậu để đâu? Xin lỗi… Để cho chó nó ị à?...”. Y cười to, chợt im bặt. Mặt trịnh trọng: “Tôi sẽ soạn riêng cho mình một bản, chỉ không đầy dòng: “Hoàn Ađam- kẻ nô lệ của phần còn lại thế giới”…
2. Buổi sáng đến cơ quan, vừa đẩy cửa phòng, y đã thấy chị Thoa đang tráng ấm pha trà, thấy y, hỏi liền:
- Ađam, đã biết tin gì về nhà bà Nguyệt chưa?
- Sao? Có chuyện gì vậy? - Y thoáng ngạc nhiên, rồi chuyển ngay sang vẻ tưng tửng, hơi giễu cợt thường ngày - Không cháy nhà, chết người chứ?
- Nỡm ạ!... chị Thoa cười - Nào, có muốn nghe không thì người ta nói cho mà nghe.
- Thưa quý bà! - Y khẽ cúi người điệu đàng - Tôi xin nghe.
- Này… - chị Thoa thì thào như sợ người ngoài nghe - Con gái bà Nguyệt vừa ở nước ngoài về đấy… mang theo một thằng cu con lai mắt xanh, tóc vàng, xinh ơi là xinh… Mình có con trai lớn rồi mà nhìn thằng cu con yêu yêu là, lại thấy thèm…
- Thèm thì đẻ… bà thử liều, bỏ quách cái lão giám đốc cả ghen đi, làm me Tây… Người có dáng mợ như bà, cười khẽ một cái ối trai tơ theo!...
- Nỡm! Đừng có mà xui trẻ con ăn cứt gà sáp - Chị Thoa đong đưa.
Vừa lúc ấy cửa phòng xạch mở. Chị Nguyệt hiện ra với bó hồng vàng trên tay. Chị Thoa reo lên. Chị Nguyệt đưa hoa cho Thoa bảo:
- Thoa cắm hộ mình. Con bé bán hoa ngay gần nhà mời khéo quá, thấy hoa đẹp lại rẻ, mua lên phòng.
- Này bà… nói thật đi - Chị Thoa thăm dò - Hoa mừng lên chức bà ngoại phải không?
- Không đâu!... Cháu nó mang con về thăm ông bà… chuyện bình thường ấy mà… Hôm nào, mình cho cháu lên phòng, gọi là lễ ra mắt các bà trẻ, ông trẻ.
Cả ba người cùng cười bởi câu đùa của chị Nguyệt. Để ý, y thấy chị Nguyệt không vui, và hình như không muốn nói tiếp chuyện ấy nữa, bèn bấm nhẹ vào tay chị Thoa làm hiệu.
Rồi tất cả mọi người trong phòng đều biết, song ý tứ không ai hỏi thêm. Mà thời nay, chuyện ấy cũng có gì đáng nói đâu. Chẳng qua, cánh đàn bà hay rỗi hơi.
Với chị Nguyệt, cuộc đời cho đến lúc này, ít ra cũng có thể gọi là toại nguyện, nhất là người không mấy tài năng và tham vọng, được người được nết như chị. Là con nhà buôn bán khá giả ở Hà Nội, lấy chồng khi chưa đầy hai mươi tuổi, về làm dâu một nhà khá giả khác theo lời hứa gả bán của hai người cha. Anh chồng lẻo khẻo, yểu tướng, mà chị thì đẹp rờ rỡ, đầy sức sống. Được hai năm thì anh ta củ ngoẻo. Thế là chị Nguyệt góa chồng ngay từ khi còn thanh xuân, chưa con cái gì, lại bị mẹ chồng đổ tiếng ác là người có tướng sát chồng. Chị về ở với bố mẹ đẻ.
Chị Nguyệt xin vào làm Nhà nước, ở văn phòng của một cơ quan văn nghệ mỹ thuật. Ở cơ quan này, cánh cán bộ quản lý phần lớn nghiêm túc, trái lại đám nhân viên thì đều chứa trong mình máu văn nghệ sĩ, thích phiêu bạt, bông đùa, thành ra trong sinh hoạt cơ quan tự dưng chia làm hai phái. Chị Nguyệt xinh đẹp, trẻ trung trở thành người ở giữa, làm trung gian hòa giải. Đẹp, nhẹ nhàng, chu đáo song không kém phần nghiêm nghị khi cần thiết. Chị Nguyệt tuy là đối tượng cho nhiều người dòm ngó, nhưng không một ai dám bỡn cợt, quá trớn. Khi ấy, ông Toản, chồng chị bây giờ là phó văn phòng, tuy hơn chị nhiều tuổi nhưng vẫn là trai tơ. Ông ta người quê, từng tham gia trận Điện Biên Phủ. Nghe đâu, hồi còn nhỏ ở nhà, đã bị bố mẹ bắt lấy vợ tảo hôn lúc mới mười ba tuổi. Tiếng là một đời vợ nhưng coi như không. Chị Nguyệt biết anh phó văn phòng để ý mình, nhưng không nghĩ là sẽ lấy anh ta. Một người khô khốc, tính chi tiết, tỷ mỷ và mặt luôn cau có như thế không thể làm chồng chị. Là cấp dưới, lại phụ nữ chị vẫn nhẹ nhàng ân cần, không lả lơi lợi dụng và cũng không làm mếch lòng, sao cho anh ta đủ hiểu rằng tôi không tình ý gì với anh.
Cuộc đời chị không biết sẽ đi đến đâu, sẽ lấy ai, nếu như không có một người thứ ba xen vào. Ấy là một chàng sinh viên mỹ thuật thực tập. Không hiểu anh chàng thực tập được những gì ở cái văn phòng bàn giấy, nơi diễn ra các cuộc tán gẫu, những đàm luận về gia đình và xã hội không đầu không cuối, chẳng có chút gì dính dáng đến nghệ thuật ấy, nếu như anh ta không gặp được người đàn bà, mà sau này si mê, đã tự nhận là Vệ nữ của lòng tôi. Còn chị Nguyệt, ngay từ buổi đầu gặp mặt anh chàng, chị đã cảm nhận được sự si mê trong ánh nhìn của anh ta. Và không hiểu sao, thường ngày với mấy anh cán bộ quá thừa nghiêm trang, với tư cách nhân viên nghệ sĩ ba hoa chích chòe hễ mở miệng là tán, chị thấy dửng dưng, thậm chí cười thầm giễu cợt, thì với chàng sinh viên mỹ thuật, chị lại xao xuyến. Biết anh chàng để mắt đến mình, tự dưng chị hay mủm mỉm, hoặc đứng lên đi lại nhẹ nhàng uyển chuyển, như thể là khoe dáng, khoe mẽ. Những lúc một mình nghĩ lại, chị cũng thấy buồn cười là tại sao mình đi đỏm dáng với một cậu sinh viên non choẹt, kém mình những bốn tuổi. Ừ, nhưng mà mình đã già đâu, mới hai mấy tuổi đầu, chỉ tại cái tiếng gái góa, dở dang…
Thế là chị Nguyệt có một quãng thời gian vừa hạnh phúc, vừa cơ khổ. Chị như một con thuyền không lái trôi giữa đôi bờ, bên tả là ông phó văn phòng nghiêm nghị và cẩn thận, ân cần, còn phía hữu là chàng sinh viên mỹ thuật đẹp trai, hào hoa và thêm phần quai - quái. Cuộc đời con người ta, nhất là người đàn bà, không ai dòm ngó đến cũng khổ, và nhiều người để ý tán tỉnh cũng cực. Mỗi buổi sáng, chị vừa muốn đến cơ quan, vừa ngài ngại. Còn ban đêm, hễ cứ đặt lưng nằm là đầu óc tràn ngập những ám ảnh, mộng mị.
Một lần, chàng sinh viên mỹ thuật nhân lúc văn phòng vắng người, bảo chị: “Tôi đã ngắm chị nhiều ngày…”. Chị đỏ mặt: “Chắc thấy tôi xấu như ma lem?...”. Anh chàng hài hước: “Vâng, xấu như Thần Vệ Nữ… Chị Nguyệt này, tôi thấy chị có nhiều nét của Vệ Nữ… Tôi muốn chị ngồi mẫu cho tôi vẽ vài buổi… Tôi sẽ tạo ra một Vệ Nữ Á Đông, không, đúng ra là một Vệ Nữ Made in Việt Nam chính hiệu. Nói dại miệng… mai sau chị có thành một bà lão chín mươi, thịt xương có thành cát bụi thì bóng dáng chị vẫn tồn tại vĩnh cửu với thời gian… Ôi, cuộc đời con người ta mới ngắn ngủi làm sao, chỉ như bóng câu qua cửa sổ, lại toàn những toan tính, mưu mô vụn vặt, chỉ có di hài, bóng ảnh của mình mới là vĩnh cửu…”. Anh chàng nói như nhập đồng, và không hiểu sao chị đã rung động, đã bị những lời có cánh ấy chinh phục, lôi kéo để đồng ý đến ngồi mẫu cho anh ta.
Chủ nhật, chị đến nhà chàng sinh viên mỹ thuật. Anh chàng vui lắm, cứ lấn quấn quanh chị như cậu bé con, hết vấp chân lại đụng tay đánh đổ vật này, vật nọ. Anh ta sống với một người mẹ và cô em gái tật nguyền. Cả hai đan len để có thêm thu nhập. Chị ngồi mẫu để anh ta nặn tượng. Buổi trưa, bà mẹ già sẽ sàng mời con trai và người mẫu ăn cơm. Nhìn mâm cơm đạm bạc, chị nổi máu nội trợ, chạy ù đi mua thêm thức ăn, trổ tài nấu nướng. Bữa cơm thành ra thịnh soạn ngon lành. Anh chàng cảm động, cô em gái thì luôn miệng suýt xoa khen ngon, còn bà mẹ nhìn chị ra chiều âu yếm. Buổi chiều, chị ngồi mẫu trong tâm trạng viên mãn bởi mình đã mang lại được niềm vui cho người khác. Trời chạng vạng, chị nhìn ánh tà dương ngoài cửa sổ mà lòng hiu buồn nghĩ đến một ngày nào đó, mình về làm chủ gia đình này, hàng ngày chăm sóc các thành viên. Vừa lúc ấy thì anh chàng đổ sụp trước mặt chị, lắp bắp những lời yêu thương, cầu xin được lấy chị, rằng mẹ và em gái mình quý mến chị, rằng… Chị đã xúc động mạnh. Chí ít là lúc ấy, chị thấy mình thành Đấng Cứu Thế, sẵn sàng hy sinh mình để đem lại niềm vui cuộc sống tất thẩy nhân loại, chứ không chỉ riêng cho ba sinh linh yếu ớt của gia đình này. Chị từ bỏ thế ngồi mẫu định vươn dậy thành người khổng lồ và đỡ chàng trai yếu đuối lên mà cưu mang, thì đúng lúc ấy, chàng trai như một mãnh hổ, chồm lên vồ lấy chị, xiết chặt, hôn ngấu nghiến. Và chị, Đấng Cứu Thế chợt nhận ra, mình cũng chỉ là kẻ trần mắt thịt, chỉ là người đàn bà đa đoan khốn khổ không cứu nổi mình. Chị ra khỏi căn phòng - xưởng họa của anh với tư thế của một kẻ bỏ chạy, khiến bà mẹ và cô em gái tật nguyền của anh ta ngỡ ngàng…
Trở về nhà, chị thấy căn phòng riêng của mình khép hờ, sáng đèn. Mẹ chị ngồi ở phòng khách thủng thẳng: “Có anh gì, nói là thủ trưởng của con… anh ta đến từ chiều… Mẹ có nói chuyện với anh ta… thấy anh là người đứng đắn, có tư cách… Anh ta nói là có câu chuyện gì đó cần phải nói với con ngay nên cố chờ. Mẹ mở cửa phòng con cho anh ta ngồi… Con đi đâu mất mặt cả ngày, bỏ cơm trưa… Mà sao mặt con tái nhợt thế kia!”…
Chị đã vào phòng. Đối mặt với ông Toản và nghe ông phó văn phòng chậm rãi từng câu, khúc chiết, kể về việc ông ta biết chuyện chị đi ngồi mẫu, rằng thế nọ thế kia và nghe ông ta ngỏ lời cầu hôn. Mãi sau này, chị vẫn không hiểu nổi tâm trạng chị khi ấy thế nào, chỉ có điều này thì chị nhớ, mặc dù chẳng theo tín ngưỡng nào, nhưng lúc ấy chị đã cầu xin cả Đức Phật, lẫn Chúa Trời cứu rỗi chị…
Chừng nửa năm sau cái ngày ấy, đám cưới giữa chị và ông phó văn phòng được tổ chức gọn nhẹ mà vẫn tưng bừng theo kiểu mít tinh hô khẩu hiệu tại hội trường cơ quan. Rồi cuộc sống bình lặng trong vất vả trôi qua, mỗi người chịu lún đi một tý, ông Toản vẫn nghiêm nghị nhưng bớt khó tính, chị Nguyệt bớt diện và chăm chút việc nhà. Để dễ bề công tác, tránh việc chồng làm thủ trưởng của vợ rồi lại mang tiếng “lệnh ông không bằng cồng bà”, ông Toản nhờ người giúp chuyển vợ sang bộ phận khác. Hai đứa con lần lượt ra đời, lăn lóc mà lớn, ngoan và học giỏi. Cái cuộc sống bình lặng ấy lại vô tình bị xới lên, chao động bởi một việc không đâu. Số là ông Toản trước khi về hưu đương chức cấp trưởng, có tay nhân viên xu nịnh vị phó sắp lên thay, nhân một lần đi dự cắt băng một triển lãm tranh tượng, về kháo um lên rằng, ở đấy có một bức tượng của nhà điêu khắc nổi tiếng nọ mà khuôn mặt giống hệt chị Nguyệt. Ông Toản nghe được ở cơ quan, tức lắm về trút hết bực dọc lên đầu vợ. Lời qua tiếng lại, việc bé xé ra to, ông Toản buộc miệng: “Này, tôi nói cho cô biết, con Nguyệt Thu chắc gì là con tôi… Có khi là con của thằng cha đã tạc tượng cô!?...”.  Chị Nguyệt sửng sốt, cứng họng không biết nói gì. Chị như hóa đá, rồi lại tan như bùn vữa. Oan này đích thực là oan Thị Kính. Tự lòng mình chị biết, con Nguyệt Thu là con ai chứ. Suốt cả cuộc đời, chị cúc cung tận tụy, chăm sóc chồng con, giờ thành công cốc, lại còn chịu tiếng trăng hoa, không hiểu ông Toản mới sinh nghĩ vậy, hay ngấm ngầm từ bao giờ. Chị Nguyệt không quen thói lăng loàn, bù lu bù loa, nên kể từ đó, chị sống im lặng, vẫn chu đáo với chồng, song luôn giữ sự cách biệt. Chị không thể tha thứ. Ở công sở chị vui vẻ hào hiệp là thế, nhưng hễ về đến nhà chị thành một con người khác.
Con Nguyệt Thu không biết điều đó, và thằng em nó cũng không biết. Vợ chồng chị biết điều chỉnh để các con yên ấm, không bợn chút nào về cha mẹ. Con Nguyệt Thu sang Pháp học mỹ thuật, ngỏ ý xin bố mẹ cho lấy chồng Tây, chị đồng ý và ông Toản cũng không phản đối. Thằng cu em du học ở Úc, xong đại học ở thêm nghiên cứu làm luận án tiến sĩ, chị cũng chấp nhận. Và không chấp nhận cũng không được. Lớp trẻ bây giờ nghĩ khác. Ông Toản sống trong sự hối lỗi. Người ta bảo xảy chân còn đỡ được, chứ xảy miệng thì coi như hết…
Từ ngày về phòng này, cứ nghe lỏm nghe hớt chuyện râu ria của cánh đàn bà, xâu chuỗi lại, y có được câu chuyện có đầu, có đuôi, có suy nghĩ và ý tưởng về những gì chị Nguyệt trải qua. Sau những ngày đám phụ nữ trong phòng đàm luận nhân chuyện con Nguyệt Thu mang đứa con lai về chơi, y được biết thêm, trước đấy không lâu, nhà mỹ thuật nổi niếng nọ - chàng sinh viên mỹ thuật năm nào vừa mở một triển lãm tranh tượng tại Paris. Nguyệt Thu mê mỹ thuật và theo nghề đó nên có đến dự. Nó còn chụp hàng lô ảnh, trong đó có cả bức tượng Venus in Vietnam, đây là cách gọi quen miệng về bức tượng Vệ nữ của giới hội họa mỹ thuật. Nó khoe bộ ảnh với mẹ một cách vô tình, còn hết lời ca ngợi tài năng của ông ta. Chiều con chị lật lướt, không dám dừng lâu ở bức ảnh chụp bức tượng Vệ nữ, khen chiếu lệ. Ông Toản ngồi uống nước ở bàn trà, rít thuốc phả khói lơ đãng như không quan tâm đến xung quanh. Thế nhưng chị Nguyệt biết, câu chuyện giữa hai mẹ con sẽ không một lời, một cử chỉ nào lọt khỏi ông…
Hôm chị Nguyệt đưa thằng cu con lai Tây đến phòng, mọi người trầm trồ, sờ nắn người nó như một thực thể lạ ngoài hành tinh. Thằng bé bạo dạn, nói mấy câu tiếng Việt ngô ngọng mới học xổi, chen lẫn những câu tiếng Pháp mà bà nó và mọi người đều không hiểu. Lúc mọi người bớt vồ vập, y mới nhìn nó, khuyến khích nó lại gần, hỏi chuyện bằng mấy câu tiếng Pháp bồi. Nó toét miệng cười rồi sà ngay vào bên máy vi tính, nhoay nhoáy ngón tay gọi ra ngay một chương trình trò chơi, quên hết mọi chuyện. Nhân lúc chị Nguyệt chạy quanh mấy phòng bên cạnh, chị Thoa bảo:
- Thằng cu xinh và dễ yêu quá… nhưng mà cứ thế nào ấy nhi?
- Thế nào là thế nào? - Kiều Linh vênh mặt - Bà Thoa cổ hủ bỏ đời… Chứ xê-ri đời mới như bọn này cứ là Tout de suite!. Nói trước nhá, cháu đang định chài một thằng Tây Thụy Sĩ mà cháu mới gặp và quen trong chuyến đi pic-nic hôm nọ. Nếu thành công, cháu dẫn về đây giới thiệu… Mợ nào mà ì xèo là cháu tung hê liền, phá nát cái phòng này cho coi!
- A… con ranh này, mày định dọa chúng tao phỏng? Chị Thoa ré lên - Họa là chúng mày hám tiền của tụi nó, chứ nó hôi như tổ cú… còn cái của nợ… thì có gì hơn mình.
Chị Thoa cười hi hí. Khiến Thủy từ nãy chỉ mủm mỉm theo dõi cũng lây chuyện, đùa:
- Cái Linh, mày đừng tin bà Thoa… Bà ấy miệng thế thôi chứ bụng chắc thèm lắm. Đến chị mày đây, có hai con gái rồi, giá bây giờ tao được một thằng cu như vậy thì phải biết!...
- Thủy ơi… việc gì phải cầu phải ước - Chị Thoa tấn công lại - Chỉ cần về bắt nọn cái tay nhiếp ảnh gia phong lưu đa tình nhà mày thôi cũng đi ra rồi… Hắn có là gửi hàng tá con trai nhờ thiên hạ nuôi giúp. Thích thì rước một đứa về mà nuôi sau này nó hương khói.
Mỗi người thêm một vài câu. Cười ré lên một lượt, làm thằng cu lai Tây giật mình bỏ màn hình vi tính ngơ ngác tưởng người ta nói gì đến nó. Vừa lúc ấy, Thu Liễu xổ vào phòng:
- Ôi ôi… Mọi người vui vẻ gì thế? Cho tôi vui với nào. Đang bực hết cả mình đây. Chợt nhận ra thằng bé lai đang lúi cúi trước máy vi tính, Thu Liễu tròn mắt, ố á…
3. ở trong phòng, Thu Liễu như người trên trời rơi xuống. Thoắt ẩn thoắt hiện, vừa nghe tiếng nói ông ổng đấy chút sau có việc tìm cô đã lặn mất tăm. Việc Thu Liễu hay bỏ văn phòng đi việc riêng lúc đầu làm Thủy khó chịu lắm, nhưng sau mỗi người thêm vào một câu, Thủy mới xuôi. Thực ra, hàng ngày có mặt đông đủ ở phòng nhưng việc thì ít, ngày nào cũng giống ngày nào, chỉ cần vài ba người cũng an nhàn chán, lương lại ba cọc ba đồng, ai có tài cán gì, ăn bớt thời gian Nhà Nước để kiếm thêm thôi thì cũng làm ngơ. Có lần, chị Nguyệt, với tư cách là người cao tuổi nhất phòng tâm sự với Thủy: “Ở phòng mình thì mình già sắp về hưu rồi không nói làm gì. Thoa với Thủy thì chồng đều có địa vị xã hội, kinh tế gia đình khá giả. Còn cậu Hoàn với con Kiều Linh, một thân một mình bay nhảy không lo nghĩ gì. Chỉ có mỗi cái Liễu, góa chồng, nuôi con một mình. Thôi thì mọi người trong phòng làm cố mỗi người một tý, cho nó rộng chân kiếm thêm con nuôi… Với lại, ra ngoài giao tiếp rộng biết đâu có thằng nào nó để mắt tới mà nên vợ nên chồng, chứ cứ ru rú ở phòng thì có mà chết già à?... Em ơi, em đủ đầy nên không thấu đấy thôi, chứ cảnh mẹ góa con côi cực lắm!... Chị đã từng thế nên chị hiểu…”. Thủy nghe chị Nguyệt thở dài, động lòng. Mọi người cũng không ai thắc mắc gì.
Thu Liễu lấy chồng sớm. Hai đứa học cùng lớp phổ thông, chơi thân với nhau, rồi lại cùng vào đại học. Vừa tốt nghiệp xong là cưới. Và may mắn, chưa đầy năm mẹ đã đầy tháng con. Những năm tháng đầu tuy khó khăn về kinh tế, nhưng gia đình đầm ấm, Thu Liễu chịu khó và tỏ ra có tài buôn bán. Tuy không có vốn, chỉ là buôn bán vặt, song cô chịu khó xoay xở, nên cũng tùng tiệm. Tay chồng chăm chỉ đèn sách nuôi chí làm luận án Phó tiến sĩ. Và rồi cơ hội đã đến, Đoan, chồng cô đi Nga làm nghiên cứu sinh. Luận án Phó tiến sĩ ngành xã hội học xuất sắc. Ông thầy hướng dẫn người Nga khuyên phát triển thêm lên thành luận án Tiến sĩ. Đoan ở lại thêm. Lại hai năm miệt mài đèn sách và bảo vệ thành công, lấy bằng tiến sĩ. Thật bõ công ngày trước vợ luôn chân luôn tay buôn bán thêm lấy tiền nuôi chồng dùi mài kinh sử, bõ công những đêm dài đằng đẵng đẫm nước mắt ôm gối chờ chồng. Cái ngày chồng vinh qui bái tổ, ngày cảnh vợ chồng đoàn viên trong vinh quang - “võng anh đi trước, võng nàng theo sau”. Giấc mơ của Thu Liễu sắp thành sự thật. Chồng điện về báo tin, Thu Liễu lên phòng không giấu nổi niềm vui kể hết cho mọi người. Chỉ ngày một, ngày hai nữa thôi…
Đùng một cái, Đoan lại điện về báo tin, hoãn ngày về nước theo dự định bởi còn sang Đức chơi một chuyến cho bõ công đi Châu Âu. Thu Liễu buồn xịu, nhưng cô vẫn hy vọng, đã đợi được năm năm, huống chi thêm một vài tháng nữa. Nhưng rồi một tháng, hai tháng, nửa năm trôi qua, Đoan vẫn không về. Và thay vào đó là những bức thư giải thích này nọ. Rồi thư cũng thưa dần. Cho đến một hôm, Thu Liễu vừa bước vào phòng đã mếu máo. Cả phòng đổ xô đến, hỏi dồn dập xem chuyện gì xảy ra. Thấy mọi người quan tâm, cô òa khóc nức nở vừa khóc vừa nói. Nghe rồi mọi người cũng hiểu ra rằng, Đoan, chồng của Thu Liễu sang Đức chơi, ở lại buôn bán và sống với một phụ nữ nào đó, không về nữa. Khóc một hồi cho thỏa, Thu Liễu ngồi bần thần lẩm bẩm một mình: “Đời ai học hết chữ ngờ… Bạn bè gì nó… Sao nó lại khốn nạn như thế… Cướp trắng chồng của bạn… ngày xưa, nó toàn nói với mình những lời đạo đức, giáo huấn… Đúng là cái quân miệng Nam mô, bụng bồ dao găm…”.
Những ngày sau đó, dần dà mọi người biết được sự thật câu chuyện qua lời kể của Thu Liễu. Khi Đoan cùng mấy người bạn sang Đức chơi, nhân một lần đi mua sắm quà định mang về cho vợ con, tình cờ gặp lại Diệu, người bạn gái cũ của cả hai vợ chồng họ, đang làm chủ một cửa hiệu buôn bán. Lúc đầu là niềm vui, bạn bè cũ lâu ngày gặp nhau ở xứ người. Sau đó là đi lại thăm nhau, rồi tình duyên bén. Diệu khuyên Đoan ở lại cùng cô ta làm ăn, và còn dọa anh chàng rằng, nếu về nước thì cái bằng tiến sĩ xã hội học của anh không đáng hai xu, rằng miếng ăn đút vào miệng còn thiếu, ai hơi đâu mà nghĩ đến xã hội học. Thoạt đầu, Đoan còn chưa quyết, dùng dằng chuyện ở về, sau vì Diệu tấn công sát sạt, dùng thân xác ra để quyến rũ, thế là anh chàng kỵ sĩ kính trắng, quen được vợ hầu, lộ rõ cái chất kỵ sĩ rởm của mình, ngã nhào khỏi ngựa, cam tâm làm kẻ phụ giúp bán hàng ban ngày và con đực ban đêm cho cô ta. Bao nhiêu sách vở, tài liệu về xã hội học được chuyển thành giấy gói hàng. Ở nhà, qua thư từ của Đoan, Thu Liễu không biết gì về chuyện ấy, cho đến khi một người họ hàng của cô cũng là dân lao động xuất khẩu ở Đức về nước, kể lại cho, cô mới biết.
Sau những ngày chấn động, suy sụp tinh thần. Thu Liễu bình tĩnh lại và nuôi ý định đi Đức một chuyến. Cô bảo là không phải sang đấy để đánh nghen, để giành lại chồng, bởi cái con người ấy là đáng bỏ đi, mà là sang để cho rõ mặt quân bội bạc và kẻ phản bạn, tỏ rõ cái thế của người chính nguyên. Ý định này, Thu Liễu ngỏ trước tiên với Kiều Linh. Linh bảo: “Em chưa có chồng nên không hiểu thế nào cho phải. Còn theo ý riêng em, cái lão trí thức dỏm ấy có đáng gì. Đá phắt đi cho nhẹ bụng. Trên cõi đời này thiếu gì người đáng mặt đàn ông!... Mà ngay ở phòng mình đây cũng có… Ađam đấy”. Kiều Linh đưa mắt về phía y và hai đứa cười rúc rích với nhau. Y đang tư lự trong góc của mình, nghe lọt nhưng làm ngơ không biết, chỉ nhẩm bụng: “Được rồi, cứ để xem…”.
Chuyện ấy, Kiều Linh kể bô bô cho chị Thoa và chị Nguyệt nghe. Chị Thoa toang toác: “Theo tôi, đi hay không đều được. Sang đấy, tỏ mặt anh thư, dạy cho chúng nó một bài học… còn như không, thì phải biết quên, coi như chúng không có ở trên đời… Xin lỗi, nhẹ đũng quần!”. Chị Nguyệt cười. Kiều Linh hô: “Hoan hô mợ Thoa. Thế mới đáng mặt phụ nữ Việt Nam chứ”… Còn bõ Nguyệt lắc đầu: “Tao chịu mày!... Này, thật lòng mình muốn khuyên nó đừng đi, chỉ tổ tốn tiền, mất thời gian để mua lấy cái bực mình mà thôi”. Kiều Linh vờ làm quan tòa, gõ cái cục chặn giấy xuống mặt bàn: “Ý kiến đó nghe lọt tai, tòa chấp thuận… Thế còn anh, hỡi Ađam?!... Y từ nãy vẫn mủm mỉm cười nghe mọi người nói chuyện, khi nghe Linh chuyển giọng trên, y đứng phắt lên, phảy tay: “Bảo nó quên ngay cái bọn mèo mả, gà đồng ấy đi. Nếu còn thích lấy chồng… thì đây sẽ duyệt!”. Và y vênh mặt lên rất kiểu cách. Chị Thoa ré lên: “A ha… thật đáng mặt anh hùng”. Kiều Linh gân cổ: “Đúng rồi! Anh có mẽ đẻ con trai đấy. Để em bảo chị Liễu. Tuần sau chọn ngày tốt cưới liền”. Chị Nguyệt hết khùng khục, lại gật gù…
Đấy, đại loại những chuyện phiếm trong phòng như thế đã giúp Thu Liễu dần nguôi ngoai. Có lẽ, anh chàng tiến sĩ ngành xã hội học ấy sẽ chẳng còn gây ra một vụ xì-căng-đan nào đáng để các thành viên trong phòng quan tâm.
Nhưng rồi, lại đùng một cái nữa. Thu Liễu mếu máo báo tin cho cả phòng biết, tay chồng cũ của cô ở bên Đức vừa mới chết. Trong chuyện làm ăn buôn bán của Diệu, người vợ mới của anh ta có gì đó mờ ám không song phẳng, bọn họ đòi nợ và thanh toán lẫn nhau, tay tiến sĩ xã hội học bị vạ lây. Thiêu xác để lọ tro, chờ ngày đưa về nước, vì gia đình anh ta muốn vậy, còn cô vợ mới thì chỉ muốn tống khứ cái lọ chết tiệt ấy đi sớm ngày nào tốt ngày ấy.
Những ngày này, Thu Liễu buồn lắm. Cái buồn hiếm thấy ở cô, ngay cả khi bị chồng phụ tình cô cũng không buồn đến thế. Quan sát bộ dạng, chị Thoa phán: “Giời ạ… Con Liễu nó vẫn còn yêu cái tay kia”. Chị Nguyệt trầm ngâm: “Dẫu sao cũng tình nghĩa vợ chồng, ngần ấy năm đầu gối tay ấp, có một mụn con với nhau”. Còn Thủy thì cau có: “Tôi cũng lạ… cái Liễu thương gì con người bạc tình bạc nghĩa ấy chứ. Bao nhiêu năm ky cóp nuôi nó ăn học thành tài, đến khi công thành danh toại nó lại đi bưng bô cho kẻ khác. Những người như thế, có mà…”. Chị Nguyệt chua xót: “Em ơi, đời con người biết thế nào… có ai nắm tay từ sáng đến tối được đâu…”. Kiều Linh nói như hét lên: “Các cụ khốt ơi, sao cứ ca mãi sáu câu vọng cổ thế! Phụ tình thì tình phụ. Quên đi mà lấy chồng… Nào, ngài Ađam có duyệt bà Liễu không thì khẳng định đi một tiếng… Nếu không, tôi sẽ giới thiệu một thằng Tây, lúc ấy thì đừng có thèm rỏ rãi nhá…”.
Chuyện ấy qua đi. Thu Liễu lấy lại niềm vui, sống hào hứng và sôi nổi. Cô vẫn bôn ba xuống đường làm thương mại như ngày trước nhưng bây giờ ở trình độ cao hơn. Thay vì buôn bán nhỏ kiếm lời, nay cô buôn nước bọt, môi giới, quảng cáo gì đấy. Suốt ngày cô nhông nhông trên chiếc xe Spacy. Còn lúc ngồi làm việc tại phòng thì liên lạc điện thoại gọi tới, rồi điện thoại di động, máy nhắn tin tít liên tục, nhiều khi cô rối lên chộp lung tung không biết tít ở máy nào. Mỗi lần thế, chị Thoa lại cười trêu: “Liễu ơi, mày cứ tít ở đâu ấy. Sao không tít ở phòng?”. Thu Liễu cười típ, bảo: “Ở phòng mình, em cũng tít đấy chứ. Nhưng mà… phần còn lại của thế giới không suy suyển. Chẳng lẽ, em lại bầy cả ra trước mặt, mời à?... Liễu cười rung người, khiến chiếc ghế lò xo không chịu nổi tụt hẫng xuống, cô mất đà chút nữa ngã bổ chửng. Y bị trêu tức, lẩm bẩm: “Cho đáng đời! Đúng là khủng long quật đuôi”. Rồi y kể một chuyện, rằng lúc còn sinh viên, y đọc nhiều sách và sáng láng lắm. Một lần y đi thực tập, đến một thành phố công nghiệp, y ăn ở tập thể cùng công nhân xí nghiệp. Một bữa, y xếp hàng đưa           phiếu lấy suất ăn cơm của mình, khi vừa giơ tờ phiếu ra thì y thấy một cánh tay thò từ trên cao xuống ngáng trước mặt, y tức quá lầm bầm rủa kẻ chen ngang, chợt y thấy gáy mình bị vật gì đó chèn, thoạt đầu tưng tức rồi âm ấm nong nóng. Y ngoảnh lại nhìn, mắt lướt từ đôi bàn chân đi trong giày vải xanh to tướng, đến hai chân lừng lững như cột đình, rồi lên cao nữa đến “đôi gò bồng đảo” - hai cục vừa chèn vào gáy y, và cuối cùng là gương mặt đàn bà thản nhiên. Y cứng họng, chờ lấy suất cơm của mình mang ra bàn ăn. Người chen ngang là cô vận động viên bóng chuyền của xí nghiệp cao những ngót hai mét. Y bảo là từ khi y bị chèn vào gáy, trí nhớ y giảm sút rõ rệt. Nghe chuyện y kể, mọi người cười rũ, còn Thu Liễu thì giãy đành đạch: “Khỉ gió cái nhà anh này. Anh mà nói thêm câu nữa, tôi sẽ kích chuột xếp anh đứng thứ năm trong hàng, cho bọn đàn ông các người nổ tung biến đi khỏi màn hình như trò chơi Lines. Nói cho mà biết, đây không thèm tính điểm đâu nhé. Đây chỉ muốn những kẻ vô tích sự như… biến mất khỏi địa cầu”.
Thu Liễu là người có sức sống mãnh liệt, kể cả nhu cầu tình cảm. Cô không hề có ý định ở vậy nuôi con, chết già để lấy cái bằng tiết hạnh khả phong. Một lần, Thu Liễu đưa một cậu đến ra mắt phòng, lúc chàng ta đi khỏi, ý kiến mỗi người đưa ra một kiểu. Thủy bảo: “Cậu ta trông có vẻ nho nhã. Chỉ tội hơi yểu tướng”. Chị Thoa bổ sung: “Đúng đấy… cậu ta mà đi với cái Liễu, nói xin lỗi, tớ cứ mường tượng đến cái cảnh hai chú bọ ngựa đi tơ, đang dở dang thì con cái đã ngoạm mất đầu con đực, xơi một cách hỉ hả”. Mọi người phá lên cười làm Thu Liễu đỏ mặt. Kiều Linh chen ngang: “Này các dì các mợ ơi, anh chàng trông như cái giá áo, đã thế, cạp quần lại đeo một chùm chìa khóa tướng, còn nặng hơn cả người. Bà Liễu mà rước cái của nợ ấy về thì hàng ngày cứ là phải cõng hắn đi rửa chân, kể cả đi… Còn hắn đi đâu thì hắn sẽ xích bà bằng chục cái khóa bố!”. Kiều Linh ngửa người ra mà cười, cười đến sặc nước bọt. Chị Nguyệt bảo: “Chúng mày thì ai cũng chê, nhất là cái con Linh kia, ác khẩu vừa chứ… Rồi có ngày đến cái thân mày!”… Linh thôi cười, mặt nghiêm chỉnh: “U ơi, lo con bò trắng răng. Con ấy à, sống được là phải thật khỏe, còn khi đã dặt 6  dẹo, thì… hoặc là dăm chục viên thuốc ngủ êm ru, hoặc là lên nóc cao ốc nhảy dù…”. Chị Thoa choe chóe: “Phỉ phui cái miệng lưỡi mày”.
Những chuyện xung quanh hôn nhân, tình yêu của Thu Liễu bi hài lắm. Y biết cả, biết mong muốn của mọi người trong phòng gán ghép Thu Liễu cho y. Với Thu Liễu, yêu y thì chắc là không, song có lẽ cô ta cũng có cảm tình, và trong cảnh ngộ góa trẻ hiện nay thì có thành đôi cô ta chắc không từ chối. Còn y, cám cảnh cho cô ta lắm, song có lẽ y ngại cái tính xông pha của cô, thêm nữa, dù sao y cũng là trai tân. Có lần chị Nguyệt đã kể chuyện mình, song là để bóng gió y, rằng khi trước, sở dĩ chị đồng ý lấy ông chồng bây giờ là bởi ông ta chân thành, quyết tâm và sẵn sàng bất chấp mọi chuyện. Khi ấy, cơ quan bạn bè cũng từng trêu đùa ông ta rằng: “Trai tơ lấy phải nạ lòng. Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu”.
Trong số những người đàn bà ở phòng, chỉ có Thủy là có vè không ủng hộ chuyện này. Có lẽ bởi bản tính kín đáo, cẩn thận vốn có, bởi sự tận tụy cho gia đình đến quên cả mình của Thủy?
4. Không hiểu từ bao giờ, cánh đàn bà gán cho vị trưởng phòng của mình nhãn hiệu người đàn bà của gia đình. Thực ra, đã là đàn bà thì ai mà chẳng vì gia đình. Không phải ngẫu nhiên mà người xưa đòi hỏi người đàn bà phải có tứ đức - công, dung, ngôn,   .
Những lúc cả phòng nói chuyện, bình phẩm nghiêm túc về những giá trị truyền thống ở phụ nữ thời nay, Thủy đã viện dẫn ra như vậy, lôi cả Khổng Tử, Mạnh Tử vào cuộc. Trước lý luận mang tính kinh viện, ai cũng gật gù tán thành, song với cuộc sống hôm nay, thì đằng sau nó luôn có một chữ nhưng
Ừ, giá trên đời này không có chữ nhưng thì có lẽ mọi chuyện đều xuôi chèo mái mát, đều êm thấm cả, chẳng phải thời nay mà  thời xưa cũng thế. Nhưng thôi, đấy là chuyện về sau… chuyện gia đình nhà Thủy, hơn một lần, chị Nguyệt công khai khen trước đám  đông. Chị phân tích, này nhé, vợ mảnh mai, hiền thục, chu đáo, hết lòng vì chồng con; còn chồng, to cao, đẹp trai, có chí tiến thủ, có chức tước, lại thêm phần hào hoa phong nhã, thử hỏi mấy người hơn? Còn như hai con gái thì thời nay, quan điểm hiện đại, con nào cũng là con, miễn học giỏi, hiếu thảo và sau này thành đạt. Nghe chị Nguyệt phân tích, mọi người ngẫm nghĩ, thấy có lý, gật gù tán thành song trong thâm tâm, dường như ai cũng cảm thấy ở cái gia đình ấy còn thiêu thiếu một cái gì đấy, không rõ hình hài, khó gọi thành tên. Thủy nghe mọi người tán thưởng, miệng chối, nhưng thái độ thì có vẻ mãn nguyện.
Y nhớ, có lần trong phòng chỉ có hai người, chị Thoa đã kể cho y nghe chuyện nên vợ nên chồng của Thủy. Ngày ấy, Thủy là con gái Hà Nội gốc, nhưng học xong đại học, được phân công về một bảo tàng tỉnh. Còn Vinh, chồng Thủy xuất thân nông thôn song lại may mắn công tác ở một cơ quan trung ương. Trong một chuyến đi công tác, Vinh đi thăm bảo tàng tỉnh, tình cờ gặp cô hướng dẫn viên xinh xắn, ăn nói có duyên, sinh mến. Từ mến thành thầm nhớ. Hễ có dịp về công tác tỉnh ấy là anh chàng thế nào    cũng mò đến bảo tàng để được gặp, được ngắm và hỏi chuyện cô hướng dẫn viên. Lâu thành quen, thành yêu, rồi lấy nhau. Sau khi có đứa con đầu, Vinh tìm mọi cách chuyển vợ về Hà Nội. Hợp lý hóa gia đình, vợ chồng con cái hằng ngày bên nhau, tưởng gia đình ngày đêm đầm ấm, ai ngờ mâu thuẫn lại nảy sinh. Trước đây, vợ chồng xa nhau, tháng vài ba lần chồng từ Hà Nội về tỉnh thăm vợ, lâu lâu đôi ba tháng vợ theo chồng lên Hà Nội chơi kết hợp thăm bố mẹ, cặp vợ chồng thấy quý những ngày giờ ở bên nhau, lần nào cũng ngỡ như tuần trăng mật, bao nét đẹp đều bộc lộ, nết xấu bị xuê xoa. Khi ở gần nhau, những nhớ mong khắc khoải, khát khao đam mê về nhau không còn, thêm nữa, đời sống kinh tế, tinh thần hạn hẹp, bao nhiêu nết xấu ngày một ngày hai phơi ra hết, thế là sinh chuyện. Thế nhưng, những va chạm sinh hoạt hàng ngày không đáng kể, cái lớn hơn là sự mâu thuẫn, nghi kỵ lẫn nhau. Thủy không thật đẹp, song điệu bộ nói năng tươi tắn dễ gây được sự cảm mến từ phía người đối thoại, nên trong quan hệ với người cùng cơ quan, với người ở cơ quan khác, Thủy thường được họ quan tâm, chầm bập. Vinh khó chịu với điều đó, về nhà hay cáu bẳn với vợ. Mặc dù Thủy bị động trong các mối quan hệ và nhiều lần giải thích cho chồng nghe, nhưng mỗi lần như thế, không những anh ta có thể hiểu và thông cảm, thì ngược lại Vinh càng thêm bực tức. Có lần, chị Thoa bảo Thủy: “Thủy ơi, mày hạnh phúc thật đấy, luôn được chồng yêu”. Chị Nguyệt nghe rồi cười, từng trải bảo: “Chưa chắc đâu, mấy cô ơi. Cánh đàn ông nó ích kỷ lắm. Có khi đầu óc nó mơ tưởng đến bóng hồng nào khác, nhưng lại muốn vợ phải thủy chung, tận tình với mình. Nó bực, nó ghen, nhiều khi chỉ là để xác định quyền sở hữu”. Thủy nghe, nghệt mặt: “Ừ nhỉ! Sao trước không nghĩ ra”. Thủy cười gượng, cái cười khiến khuôn mặt trăng mười sáu của cô thành trăng mười chín. Y nghe đám phụ nữ bình phẩm, ngứa miệng thêm vào với mục đích cơi chuyện, trêu tức: “Khốn nỗi, mấy chục năm trước, khi chưa có luật hôn nhân gia đình mới, đàn ông thoải mái vợ hai, vợ ba. Nay cắt suất của người ta, đàn ông mới thành vụng trộm. Ngày trước, nhiều khi bà cả đi hỏi vợ lẽ cho chồng ấy chứ…”. Quả nhiên, cánh đàn bà mắc mưu, nhảy lên hết: “Thế thì còn đâu là nam nữ bình quyền. Đây nói cho mà biết nhớ… Ông ăn chả thì bà ăn nem!”. Chị Thoa nói như hét, mặt vênh lên, mắt long lanh. Còn Thủy nhăn nhó: “Vì có những tay đàn ông một mình dăm bảy suất… thế nên… mới có kẻ bốn mươi cái xuân xanh vẫn lẻ bóng, đơn chiếc…”. Y biết Thủy kháy y, định phản công, nhưng chợt y nhận thấy mặt Thủy đột nhiên thay đổi, buồn xịu.
Có lẽ, chỉ mình y hiểu tại sao Thủy thay đổi nhanh chóng như vậy. Thủy cám cảnh mình. Trêu người chẳng bõ phận mình là thế. Bề ngoài hàng ngày, không mấy người hiểu hết nỗi đau, sự ám ảnh và sức chịu đựng của Thủy. Số là, sau đứa con thứ hai, Thủy mất đi sự mỡ màng duyên dáng của “gái một con trông mòn con mắt”. Thêm nữa sự bận bịu chăm sóc chồng con chu đáo, tuổi tác ngày một nhiều và cách ăn mặc cũng giản đơn nên từ lâu, Vinh chồng Thủy, chàng Vụ trưởng trẻ tuổi bắt đầu những cuộc săn bóng hồng. Thoạt đầu từ cái cớ chụp ảnh, rồi nữa là những gỉ gì gi… Vinh vốn là tay ảnh nghiệp dư từ trẻ. Anh ta say mê nhiếp ảnh và ít nhiều gặt hái được thành công, một vài bức được giải thưởng trong nước và cả quốc tế, cũng đã từng mở triển lãm ảnh chung với vài người bạn. Dăm ba năm nay khi xã hội có phong trào người đẹp, người mẫu thời trang, từ người hay chụp ảnh phong cảnh, Vinh thích thú chuyển sang chụp ảnh người mẫu.
Người nhẫn nhịn như Thủy mà còn nhiều phen nổi giận vì cái thú chụp ảnh người mẫu, ca sĩ của chồng. Vinh chơi ảnh nghiệp dư, nên không có studio riêng, song anh ta có bạn bè làm ảnh chuyên nghiệp và cả tá những tay ảnh cần phải làm quen, phải xun xoe anh ta vì muốn cầu thân để nhờ vả. Vinh chơi ảnh người đẹp như một đam mê mới, đam mê đó không mang đến cho anh ta danh vọng nghề nghiệp và tiền bạc cũng không nốt, thậm chí còn thâm thủng. Hàng tháng, Vinh phải tính toán từng khoản tiền thêm nếm ngoài lương mà trước đây anh từng nâng niu đưa thêm cho vợ với niềm hạnh phúc trân trọng, thì nay để vào quỹ đen, sử dụng là ảnh phí, chiêu đãi phí. Với Vinh, chụp ảnh với các đối tượng này, anh ta thỏa mãn được cái thú ngắm nghía người đẹp ở mọi góc độ, được cầm nắm chân tay các cô khi sửa tư thế, và cũng có thể được… nhiều hơn nữa.
Tất cả những việc ấy, trước sau Thủy đều biết, và ít nhiều chấp nhận. Hồi mới chuyển về phòng này, trong những câu chuyện phiếm hàng ngày, cánh phụ nữ người này kẻ nọ đều kêu ca chuyện chồng con, chuyện bên nhà chồng, thì riêng Thủy, động nói đến là khen và chưa bao giờ ai nghe thấy Thủy phàn nàn. Đến mức chị Thoa người hay kêu ca bên nhà chồng nhất, bực mình nói kháy: “Với cái Thủy ý à, thì đến con mèo, con chó bên nhà chồng nó cũng đẹp, cũng tốt”. Vì câu nói ấy mà chị Thoa và Thủy giận nhau đến nửa tháng trời. Sau đấy, dù có làm lành, hai người sinh bằng mặt không bằng lòng, khác hẳn cái hồi thân nhau chị chị em em, con chấy cắn đôi. Cũng có lẽ vì thế, mặc dù tính bộc tuệch, tốt bụng, song thói quen đàn bà khiến chị Thoa hay để ý chuyện gia đình nhà Thủy. Lúc vợ chồng Thủy còn nồng thắm, chứ chưa chủng chẳng như sau này. Vinh vốn tính hay ghen, đã có lần Vinh không kìm được mình, đã đánh Thủy một cái tát, khi Thủy đi làm về muộn lại đi nhờ xe người đàn ông khác đến tận cửa nhà. Chuyện này, chị Thoa đã thầm thào kể cho y nghe, bảo với y là cùng theo dõi để xem từ đó trở đi, Thủy còn mở miệng là khen chồng và gia đình nhà chồng nữa không. May mà y là người kín đáo, không hé chuyện cho người nào nữa, chứ không thì rầy rà to…
Với Thủy, thế là thành há miệng mắc quai. Chồng sinh chuyện sinh tật gì, cay đắng, âm thầm, cắn răng, nuốt nước mắt mà chịu một mình. Là người tinh ý, tinh khôn, hình như Vinh biết được điều đó, anh ta cứ ngày một lấn tới, còn Thủy thì cứ nhất nhất tuân thủ một điều nhịn là chín điều lành, lùi mãi, yếu thế… 
Có một dạo, cả phòng thấy Thủy sầu não, đến cơ quan vật vờ như xác không hồn, thường ngồi im ở bàn của mình chẳng nói năng gì, động ai hỏi đến là giật mình như ngủ mê sực tỉnh, công việc thì nhớ nhớ quên quên. Cánh đàn bà thầm thào hỏi nhau, chịu không biết chuyện gì, song tất cả phỏng đoán nhất định là gia đình Thủy có chuyện chẳng lành. Lại dò hỏi y, y cũng lắc đầu nốt, Thủy có buổi đến văn phòng chốc lát đầu giờ rồi đi đâu mất tăm đến quá trưa sang chiều mới về phòng, bộ dạng thất thểu, mệt mỏi. Chị Nguyệt săn sóc, dò hỏi: “   !”. Thủy giật mình, lắc đầu quầy quậy kêu không việc gì. Một dạo lâu như thế, Thủy dộc đi, mắt trũng sâu, thâm quầng kiểu người thiếu ngủ. Thu Liễu phỏng đoán: “Hay là chị ấy bị bệnh hiểm nghèo nên giấu?”. Chị Thoa gắt: “Nhưng bệnh hiểm nghèo là bệnh gì mới được chứ?”. Thu Liễu thì thầm: “Ung thư?... hay là… HIV chẳng hạn… Này nghe đâu ông Vinh nhà bà ấy dạo này trăng hoa lắm thì phải… ừ mà biết đâu đấy, anh ta chơi bời ở đâu, tha bệnh về nhà… đổ cho vợ?”. Nghe đến đây, chị Thoa bỗng mắt sáng lên, và a một tiếng kéo dài, vỗ đùi đánh đét, như ngày xưa Ac-si-mét phát hiện ra định luật mới.
Cái điều khiến chị Thoa cảm thấy như ông Ac-si-mét xưa kia phát hiện định luật mới dần dà được rỉ tai người nọ người kia và đến tai y có lẽ là người cuối cùng? Chuyện là thế này, mọi người nghi Vinh, chồng Thủy có một đứa con riêng. Xuất xứ của điều bí mật này bắt đầu từ chồng chị Thoa. Số là Kim - chồng chị Thoa có lần hỏi vợ mình tìm hiểu xem trong cơ quan vợ có vị nào chồng tên Vinh không. Chị Thoa bảo có, nhưng giấu không nói rõ đấy chính là chồng Thủy. Thế là Kim kể rằng, có một cô kế toán trong công ty của anh ta, nhà ở cùng ngõ với một cô gái người tỉnh lẻ, nghe đâu đã tốt nghiệp một ngành gì đó về văn hóa. Cô gái tỉnh lẻ này thuê nhà ở đấy, với một đứa con trai chừng vài ba tuổi gì đấy. Chỉ có hai mẹ con sống với nhau, khi hàng xóm xì xào về chuyện chồng con, có lần cô gái đã khoe với cô kế toán về hoàn cảnh của mình, vợ anh ta thì ở cơ quan nọ. Vì không thể bỏ mẹ con cô, nên anh ta đã phải thuê nhà cho hai mẹ con ở. Chuyện nọ dọ chuyện kia, vì thế mọi người mới nghi ngờ Vinh - chồng Thủy có con riêng với người khác và lén vợ thuê nhà cho người tình và đứa con riêng của mình sống. Nghi thì vẫn nghi, song nhìn dáng vẻ của Thủy, mọi người nghĩ có thể chuyện đó là thật. Nhưng lúc vắng mặt Thủy, cả phòng bàn luận tự do, chị Nguyệt bảo: “Khổ thân nó, gia đình như thế, tưởng hạnh phúc. Ai ngờ!...”. Chị Thoa gạt phắt: “Bà này cổ hủ quá, gì thì gì, mình vẫn là chính thất, đố tay Vinh dám ngo ngoe. Nó vụng trộm kệ nó, cái Thủy có hai con gái, bây giờ bỗng nhiên có thêm thằng cu, tay Vinh có người nối dõi tông đường, chắc từ nay hết lăng nhăng… cứ là è cổ mà nuôi những… hai vợ, ba con”. Mọi người cười rộ lên nhưng rồi lắng ngay. Câu nói đùa của chị Thoa chỉ khuấy động giây lát, bởi hình như ai cũng ngẫm nghĩ về thân phận người đàn bà sao khổ thế, nghĩ chuyện người rồi lại ngẫm thân phận mình.
Nhưng đấy là chuyện của hai năm trước, bây giờ thì khác hẳn. Vợ chồng Thủy đổi nhà thành đất ở ngoại ô, xây biệt thự theo kiểu tây có tầng trệt làm gara và nhà kho hẳn hoi. Nhà bốn người đều có phòng riêng. Vợ chồng Thủy ngoài phòng ngủ chung thì mỗi người lại có một phòng để làm việc riêng của mình với đầy đủ tiện nghi đến mức nếu có chiến tranh lạnh thì mỗi vị hoàn toàn có thể lấy đó làm lô cốt cố thủ lâu dài. Mỗi phòng ấy đều có cửa thông ra hành lang bao cả tòa nhà. Hôm mọi người đến dự tân gia, nhân lúc Vinh chạy đâu đó, Thu Liễu bảo: “Chị Thủy ơi, nhà thiết kế kiểu này thì vợ chồng dễ xa nhau lắm. Em mất chồng vì nhẹ dạ cả tin. Giờ có đi bước nữa, em kiên quyết giữ chặt, có xây nhà thì sẽ không làm theo kiểu nhà chị”. Thủy cười độ lượng: “Ờ chị quen rồi… Đã qua cái thời tranh đấu với nhau rồi. Cũng sắp già cả mà!”. Nực cười, khuôn mặt rạng rỡ biểu lộ sự tự tin, điều hiếm thấy trước đây ở Thủy. Chị Thoa buột miệng: “Mất thì cũng đã mất rồi. Có sao đâu? Bây giờ, có các thêm tiền thì lão Vinh cũng đố dám bỏ… Mất toi cái nhà bạc tỷ ngay!”. Chị Nguyệt đưa tay che miệng xuỵt, bảo: “Cái Thoa chỉ được phũ miệng. Đây không phải là chỗ đùa quá như thế đâu”. Kiều Linh kêu lên: “Mợ ơi, mợ lúc nào cũng cẩn trọng, điều độ thế. Cuộc đời được mấy mươi năm… Mà này, các chị ơi, không khéo nhà này giờ giữ giam lẫn nhau, ông Vinh giữ chiều khóa cửa thoát hiểm của bà Thủy và ngược lại…”. Kiều Linh khoái chí cười khiến mọi người cười rộ lên. Thủy mắng yêu: “Cái con ranh này… Rồi còn cuộc đời người đấy ngươi ơi! Cười người hôm nay, ngày mai người cười…!”. Chị Thoa thấy Vinh vẫn vắng mặt, tranh thủ đùa: “Nhà rộng thế này, bỏ không tổ bụi… Thủy ơi, xem có phòng nào cho Ađam của bọn mình thuê một phòng”. Thủy tấn công lại: “Nhà chị cũng rộng chẳng kém nhà em, chị cho Ađam ở nhờ đi!”. Chị Thoa bị bất ngờ, ớ người: “Không được! Lão nhà tao…”. Y chen vào cắt ngang cuộc khẩu chiến giữa hai người: “Cái tay O-ten-lô dởm kiêm tỷ phú của nhà bà Thoa thì có các vàng đây cũng chả nhìn mặt nữa là ở gần lão. Họa có bà Thoa miệng hùm dạ sứa cam chịu sống cả đời…”. Chị Thoa a a một hồi rồi nín lặng, và dường như tất cả mọi người đều bất ngờ với câu nói sống sượng của y…
5. Điểm mặt đám đàn bà trong phòng, có thể nói chị Thoa là người dễ chịu hơn cả. Chị Nguyệt cẩn trọng và đúng mực, Thủy thu mình và có vẻ khôn khôn, Thu Liễu linh hoạt và bốc đồng, còn Kiều Linh thì luôn luôn Delux và tự nhận là xê-ri đời chót, chỉ có chị Thoa là xởi lởi, chu đáo, nhiệt tình với mọi người, mọi việc xong phải cái hơi bỗ bã nên nhiều khi mất lòng. Về hình thức, chị Thoa cũng sắc nước hơn tí chút. Là người bạo miệng, nói thẳng ý nghĩ của mình trong những cuộc chuyện phiếm quanh bàn trà văn phòng, và cũng không ngại mất lòng hay không, ấy thế mà chị Thoa lại ngậm miệng lảng tránh khi y buông lời giễu cợt Kim và đời sống vợ chồng chị. Cũng như Thủy, chị Thoa được nhiều người trong cơ quan cho là sung sướng, hạnh phúc hơn người. Chồng bảnh bao, hái ra tiền, con cái khỏe mạnh, ngoan ngoãn, công việc nhàn hạ, mưa không rát mặt, nắng không tới đầu, thử hỏi còn gì hơn nữa. Mới lại, trông dáng vẻ bên ngoài quý phái, trang phục đẹp nền nã như một mệnh phụ phu nhân, thêm nụ cười tươi tắn trên môi, ai nghĩ là chị Thoa khổ. Riêng chị Nguyệt, là người từng trải, có lần bảo nhỏ với y: “Người như cái Thoa, chỉ riêng cái nhìn vời vợi những lúc riêng một mình, đủ thấy là người khổ cái tâm. May mà, hoặc nó là người tự tin, hoặc giả vô tư nên chỉ thoáng qua ngoài khó thấy được”. Y cho là chị Nguyệt tinh ý, còn riêng y, từ ngày mới về cơ quan được một thời gian, y đã có ý nghĩ như vậy. Thêm nữa, nhìn cái miệng nói cười tươi và đằm thắm, với những khóe môi ham muốn đầy biểu cảm của chị Thoa, y hiểu đây là một con người chân tình nhưng cả đời khổ tâm về những chuyện tình cảm, vì lòng tốt của mình.
Có lần, cả phòng đi vắng, chỉ có y và chị Thoa, mỗi người đều lúi húi với công việc của mình, chợt chị Thoa gọi: “Này… chị hỏi thật nhá… cậu đã có người yêu chưa?... Đã từng yêu bao giờ chưa?...”. Y ngạc nhiên, nhìn trân trân. Chị Thoa như khẽ cười, vẻ khuyến khích. Y bảo: “Chưa… nhưng đã từng có…”. “Thế à!... Người như cậu, khó gần và khó yêu… nhưng khi đã yêu thì khó dứt bỏ…”. Chị Thoa nói như nhà tâm lý. Y giễu: “Thật thế à… Vậy mà đây chẳng hiểu nổi mình…”. Chị Thoa nhìn thẳng vào mắt y: “Này… cũng hỏi rất thật lòng nhá… không thích thì không phải trả lời”. Y tỉnh queo: “Lẽ dĩ nhiên!”. Chị Thoa đỏ mặt, cười cười: “Thế cậu… đã bao giờ gần gũi đàn bà chưa?...”. Y thấy ngượng mồm nhưng không thể nói dối: “Rồi… nhưng mà không phải hoàn toàn như vậy…”. Chị Thoa: “Thế là thế nào?” “Hồi còn dạy học ở Tây Bắc, có một cô học trò chỉ kém có vài tuổi… nghĩa là đã lớn rồi… cô bé thích… Nhân một bận cô bé rủ đến thăm nhà một học sinh khác vào buổi tối… Đường rừng. Cô bé giả vờ ngã, mình đỡ, cô bé cứ ôm riết lấy mình, nói là yêu và đòi… Hoàn cảnh khi ấy… cũng xiêu lòng… tưởng mọi chuyện đã xảy ra nhưng rồi kìm được… có lẽ, phần vì nghĩ cô ta là học trò, vả lại không yêu… nhưng có lẽ hơn cả là nỗi sợ… Sợ dính vào cô bé mà để lại hậu quả, sợ cô bé là người dân tộc sau đó sẽ bắt lấy, sợ cả bùa ngải bùa yêu gì đó của họ… Tóm lại là vì sợ… Thế thôi!” “Không… với người yêu cơ”- Chị Thoa vẫn chưa chịu buông tha: “Không… là với người yêu cơ”. Thấy y không trả lời, chị Thoa dời bàn làm việc lại chỗ bàn trà, rót nước sôi vào ấm, chắt ra hai chén bảo: “Ra uống nước này”. Rồi không đợi, tự cầm lên một chén, uống xì xụp một mình, vừa uống vừa xuýt xoa vì nóng, như thể đang chết khát. Y ra ngồi đối diện, cũng cầm lên một chén, ngửa mặt lên trần: “Thế thì chưa”. Rồi cũng xì xụp uống. “Nếu như… có khi cũng chả dám… Ngữ ấy có mà vừa… vừa run”. Không nhìn nhau song y biết chị Thoa đỏ mặt, và y cũng đỏ bừng mặt, cố tình trai lơ: “Sao lại không dám… Đây sợ gì!...”. Bốn mắt gặp nhau, và y cảm thấy một bàn chân mềm mại ấm nóng chà nhẹ lên bàn chân mình nơi gầm bàn. Y gợn người rồi một cảm giác dễ chịu lan tỏa khắp mình. Chị Thoa đặt chiếc chén cạn xuống mặt kính hơi mạnh, nén thở dài, đứng bật dậy: “Thôi làm đi… kẻo chưa được việc gì đã trưa”. Vừa lúc ấy thì cửa phòng mở toang, Kiều Linh ùa vào, toét miệng trêu: “A, phòng chỉ có hai ông bà này với nhau thôi à. Đi đâu hết cả rồi? Này nhé, có tranh thủ tán tỉnh nhau không đấy mà anh ả mặt đều đỏ lựng lên thế kia?”. Chị Thoa cố làm cho tự nhiên: “Con ranh kia, không ai vu oan giá họa như mày… Tao già rồi, chứ có non mỡ như mày thì cái ngữ ấy cũng…”- nói để trấn áp Kiều Linh nhưng mắt lại liếc xéo về phía y. Cử chỉ ấy không qua mắt Kiều Linh, nó bèn tru lên: “Này… bà đừng có cả vú lấp miệng em nhớ. Đây nói cho mà biết, đây vừa bắt được quả tớm, mắt liếc đưa tình với trai lại còn bù lu bù loa, mồm năm miệng mười cãi trắng à? Không hối lộ đây cái gì thì đây không bỏ qua cho đâu”. Kiều Linh cười bả lả. Hai người đàn bà đùa nhau đủ thời gian cho y bình tĩnh lại, bèn xen vào lạnh tanh: “Mày chậm chân rồi em ơi. Sớm chút nữa là chụp được một cene đẹp hết chỗ nói”.  
Kể từ hôm đó, y nhìn chị Thoa bằng cái nhìn khác. Càng ngẫm càng thấy những nhận xét của chị Nguyệt về chị Thoa đúng. Cũng từ đấy, cách xưng hô giữa hai người có khác đi. Nếu trước đây, y với chị Thoa xưng hô chị em với nhau thì nay chỉ lúc đông người vẫn vậy, còn khi có hai người với nhau, chị Thoa chủ động xưng mình và y thì nói trống không. Tự thân, không hiểu vì sao. Mà cũng chẳng cần phải truy nguyên ra làm gì. Cái gì đến thì nó sẽ tự đến. Thế thôi. Song y thấy cuộc đời có vẻ như đáng yêu hơn, tuy chẳng dễ chịu hơn chút nào. Trái lại, phiền toái hơn.
Sự phiền toái đầu tiên mà y cảm nhận được là cách xưng hô. Cái cách mình mình, tớ tớ lửng lơ con cá vàng những lúc riêng hai người với nhau lâu rồi cũng thành quen miệng, và điều ấy đôi khi làm cho cả hai lúng túng trước đông người, khó chị chị em em như trước đây. Điều này không lọt qua mắt đám người rỗi việc, trước tiên vẫn là con ranh Kiều Linh. Một lần, khi mọi người đang tán gẫu với nhau, bắt được một câu xưng hô hớ của chị với y, Kiều Linh cất giọng ngân nga: “Trai tơ vớ phải nạ dòng…”. Không ngờ câu ca mà Kiều Linh ấm ử đó lại làm động lòng hai người. Chị Nguyệt nghiêm mặt, phiếm chỉ: “Cuộc đời con người ta không ai nắm tay được từ sáng đến tối cả đâu!...”. Còn Thu Liễu thì lại tưởng Kiều Linh ám chỉ người bạn tình mới của mình, tuồn tuột khai: “Con ranh kia… Vểnh tai lên mà nghe đây, chị mày nói cho biết nhá… Lão bồ mới của tao cũng chẳng trong trắng, chính quyên cái con tườu gì, lão một vợ hai con ở quê nhưng chê quê mùa, li dị rồi… Đây thích thì yêu chơi, còn lấy hay không thì hẵng chờ đấy, còn lâu lắm em ơi!...”. Mọi người vừa ngạc nhiên vừa buồn cười, ồ cả lên, rồi xôn xao bàn tán nên không để ý Kiều Linh đánh trượt mục tiêu chính, không chịu, ngầm nhấm nháy với Thủy và đánh mắt về phía y và chị Thoa ám chỉ. Không biết Thủy có hiểu hay không song vẫn vô tình như không? Mọi động thái của Kiều Linh không qua nổi mắt y bởi ngay từ lúc Kiều Linh khai cuộc y đã hiểu nó nhằm vào chuyện riêng của y với chị Thoa rồi. Trong khi đó, chị Thoa vẫn vô tư, sôi nổi bàn chuyện bồ mới của Thu Liễu. Và nhân đà tát nước theo mưa, y cũng hùa theo nhằm át chuyện của mình. Kiều Linh tức quá, im bặt, bặm môi, rãy rãy hai chân, lẩm bẩm: “Coi như lần này hụt một keo. Chờ đấy!...”. Nói câu này, Kiều Linh nhắm thẳng vào y, cười nửa miệng…
Chuyện lấy chồng của chị Thoa nghe đâu cũng buồn cười và ly kỳ lắm. Y nghe mọi người nói, nọ kia lâu ngày chắp nối lại, cũng đủ hình dung ra mọi chuyện. Số là, lúc đang học cấp hai, đúng vào thời điểm Mỹ bắt đầu đánh phá miền Bắc bằng không quân, Thoa phải sơ tán về quê mẹ. Đấy là một vùng quê chiêm trũng cách Hà Nội không xa lắm. Làng quê nằm men theo một con sông nhỏ, nên đám trẻ làng lớn bé trai bé gái đều biết bơi cả. Chiều chiều, Thoa hay theo đám trẻ con dì con cậu ra cầu sông tắm. Thoa nhát nước, thường mặc cả quần áo đứng ven ven chỗ nước nông đến đầu gối. Một lần, đám trẻ quê hò reo ê ê và té nước trêu Thoa chán, một đứa táo tợn lén lặn xuống mò vào nắm hai cổ chân Thoa lôi thật mạnh ra ngoài. Thoa bị bất ngờ mất đà té nhào ra xa, sặc nước rồi chìm nghỉm. Bọn trẻ không hiểu được trò đùa của mình, bị bất ngờ nên lung túng chẳng biết xử trí ra sao. Vừa lúc ấy thì một cậu bé từ trên cành cây đa chĩa ra trên mặt sông nhảy ùm xuống, bơi lại chỗ Thoa đang chìm. Cậu ta lặn xuống giây lát đã ngoi lên, nắm trong tay bím tóc của Thoa, mắm môi vừa bơi vừa lôi Thoa vào bờ. Thoa mới sặc nước nên vẫn tỉnh, chỉ sợ thôi. Lúc ấy, Thoa không đủ bình tĩnh để nhìn người đã cứu mình. Hôm sau, qua đám trẻ, Thoa mới biết cậu bé ấy tên là Kim, người xóm trên. Thoa định bụng tìm gặp Kim bằng được để nói lời biết ơn. Thì ra, Kim học ngay sau Thoa một lớp ở trường làng. Nhân một lần ra chơi, để ý thấy Kim đứng một mình ở góc sân trường và hình như cậu ta cũng đang lén nhìn mình, Thoa bạo dạn đi thẳng đến nơi. Cậu ta định lảng đi thì Thoa gọi giật lại. Kim đứng sững, mắt nhìn xuống đất và mặt đỏ bừng. Thoa nói lời cảm ơn và còn hỏi tuổi, anh em trong nhà. Cậu ta lúng túng trả lời như một tội nhân bị hỏi cung. Thoa cố nén để không bật cười. Không ngờ, bọn trẻ để ý từ bao giờ, ùa ra chế. Cậu ta nhân lúc lộn xộn lẩn mất, còn lại mình Thoa khẩu chiến với bọn trẻ, và như mọi lần cãi nhau khác, Thoa không bao giờ thua. Nếu cứ nhìn bề ngoài đen đủi bé chắt của Kim như thế, Thoa không ngờ cậu ta lại hơn mình đến hai tuổi. Chuyện ngày nhỏ đi học là vậy, mãi sau này, khi Thoa đã tốt nghiệp đại học và đi làm rồi, Thoa gặp lại Kim trong một tình thế ly kỳ cũng không kém. Lần đó, buổi tan tầm, Thoa về nhà, lúc vượt qua đoạn đường có chắn tàu thì chuông báo tàu đến réo vang. Thoa vội vàng luống cuống thế nào để bánh xe đạp quẹo ngang kẹt xuống rãnh đường sắt. Tiếng còi tàu hú và tiếng bánh sắt ba-ri-e càng làm cho Thoa cuống không thể lôi chiếc bánh xe kẹt lên được. Đúng lúc ấy thì có một thanh niên nhảy qua ba-ri-e chạy lại chỗ Thoa bình tĩnh lôi chiếc bánh xe kẹt lên. Cả hai người và chiếc xe đạp chỉ kịp nép vào sát bên thì đoàn tàu ngang qua. Khi còn chưa hết sợ, mặt Thoa lại tái dại đi khi nhận ra chiếc bánh trước bị kẹt vênh cong không thể nào đi được. Người thanh niên vác chiếc xe của Thoa và bảo Thoa dắt theo chiếc xe của anh ta lên hè phố. Với túi đồ nghề mang theo, anh ta ngả chiếc xe của Thoa ra chữa. Lúc này, hai người mới có thời gian hỏi han tên, địa chỉ của nhau và thế là nhận ra nhau. Riêng Thoa không ngờ cậu bé Kim bé choắt đen đủi và quê kệch ngày nào nay lại trở thành một chàng thanh niên chững chạc, cứng cỏi như vậy. Từ lúc nhận ra người quen và ân nhân cũ, Thoa nói chuyện ân cần hơn nhiều và cũng không hề giấu giếm sự duyên dáng xinh đẹp của mình. Kể từ đó, Thoa thường nghĩ đến Kim với tình cảm trìu mến. Rồi một hôm, hết buổi làm việc, khi Thoa dắt xe ra khỏi cổng cơ quan thì cô đột nhiên sững người nhận ra Kim bảnh bao trong trang phục áo trắng xơ-vin chống chiếc xe cuốc đợi bên ngoài. Biết chắc là Kim đợi mình, song Thoa làm dáng khẽ nghiêng đầu mỉm cười chào rồi dắt xe đi thẳng. Thoa chỉ dừng lại khi nghe tiếng Kim gọi tên mình thảng thốt, lạc giọng. Đấy là buổi đầu tiên hai người đi chơi với nhau.
Chuyện nên vợ nên chồng của Thoa với Kim còn dài dòng lắm. Gia đình bên Thoa không đồng ý cho Thoa lấy Kim, Thoa đã phải viện cớ rằng tuy Kim là công nhân nhưng là người có chí hướng và hiện đang hàm thụ đại học. Rồi cả chuyện Kim là ân nhân của Thoa những hai lần… Lúc tỉ tê có hai mẹ con với nhau, mẹ Thoa hỏi thẳng Thoa có yêu Kim không. Thoa ngập ngừng không nói được, bởi tự lòng mình, Thoa chỉ quý Kim xen chút biết ơn và kính trọng hơn là yêu, song Thoa biết là Kim rất yêu mình. Mẹ Thoa bảo rằng, như thế là khổ, bởi không yêu lấy khổ một nhưng yêu mà không được yêu lại vẫn lấy thì khổ những mười. Thoa cười cho rằng như thế thì người khổ mười là Kim chứ không phải mình. Mẹ Thoa bảo không ủng hộ song cũng không phản đối, lấy nhau sau này sướng khổ thế nào ráng chịu. Thế là họ cưới nhau và có với nhau hai mặt con.
Phải thừa nhận, chục năm đầu, tuy vật chất gia đình còn thiếu thốn song gia đình đầm ấm, Kim nhất mực chiều Thoa, thằng cu con kháu khỉnh, khỏe mạnh. Thoa chẳng đòi hỏi gì hơn nữa. Kim chăm chỉ và thăng tiến ở cơ quan, được cử đi học ở nước ngoài. Ba năm vắng chồng, nuôi con, dẫu không thấm gì so với những người đàn bà phải đợi chồng đi chiến trận, song Thoa cũng phải vất vả, nén chịu nhiều thứ. Có lẽ Thoa sợ nhất là để lại điều ong tiếng ve khi chồng về nước. Và rồi, giữ đến mấy cũng không tránh khỏi, cái điều Thoa sợ nhất ấy đã đến. Chủ ý giữ gìn, và cũng chẳng có kẻ nào đáng mặt làm Thoa để ý, song con người nó vậy, cái duyên cứ toát ra ngoài, lôi kéo kẻ khác tự tìm đến với mình. Có một tay nhạc sĩ dọn đến ở gần nhà Thoa, nhân một lần bắt gặp Thoa dắt thằng cu con ngoài ngõ, hắn bắt chuyện bảo rằng thằng bé có quý tướng, dẫu chẳng được như mẫu thân tống thái tổ ở bên tàu xưa một gánh hai vua, thì đây cũng cỡ cắp nách tiến sĩ. Thoa ngạc nhiên và ít nhiều cảm động trước lời phỉng nịnh của hắn, nói lại đôi câu. Được dịp, hắn nhẹ nhàng giới thiệu mình và khen rằng Thoa rất có nét, rằng hắn là dân nhạc chuyên nghiệp, rất dễ rung động trước cái đẹp và hễ có dịp như vậy là phải chớp ngay lấy, biết đâu đấy lại làm được một tác phẩm nghệ thuật để đời. Đến đấy thì Thoa sợ vì cảm giác được sự không an toàn khi quen biết con người này. Và một lần, vào chủ nhật, Thoa gửi hai con sang bà ngoại, dọn dẹp nhà cửa, lôi chăn màn ra máy nước công cộng để giặt. Trưa đó, có người gõ cửa, Thoa ra mở thì ra anh chàng nhạc sĩ nọ, và khi còn chưa hết ngạc nhiên thì anh ta chìa ra trước mặt Thoa một tờ giấy mà trên đó nhằng nhịt những ký xướng âm. Thoa lúng túng không biết xử trí ra sao, thì hắn ta chủ động bảo đấy là một bản tình ca viết tặng riêng Thoa, rằng ở trong đó có tiếng chim hót, tiếng lá rụng, tiếng vòi nước chảy và cả tiếng người mệnh phụ nén thở dài tiếc tuổi xuân đang trôi khỏi cuộc đời mình từng giây phút… Và hắn lấy giọng hát lên khe khẽ. Thoa hoảng quá nhận đại cho xong chuyện. Dù không mời anh ta vào nhà, tìm cách đuổi khéo, song Thoa thấy đẹp lòng vì mình được người khác ngưỡng mộ. Sau đó khổ nỗi là mỗi ngày đều nén lòng đến mấy, Thoa cũng không khỏi lôi bản tình ca trên giấy ra ngắm, và mỗi lần như vậy, hình bóng chàng nhạc sĩ đẹp trai để râu chòm, ăn mặc hơi lập dị cứ lảng bảng nơi tâm trí. Và cũng đến lúc ấy, Thoa mới phần nào cảm nhận lời khuyên trước đây của mẹ mình. Tự nhiên Thoa thấy chồng mình sao đơn giản là vậy, lúc nào Kim cũng chỉ nhăm nhăm công việc cơ quan, lo tiến thân lập nghiệp cho riêng mình mà ít chú ý đến sở thích, nhu cầu của vợ, còn khi chiều vợ cũng lại đơn điệu vô lối. Thực tình, khi đó Thoa chỉ cảm thấy như thế thôi chứ chưa đến mức ý thức được rằng những suy nghĩ đại loại như vậy bắt đầu cho sự lục đục trong đời sống gia đình sau này.
Thoa cũng không ngờ Kim lại có máu ghen tuông đến quá quắt. Chẳng những Kim ghen với anh chàng nhạc sĩ kia, anh ta còn ghen với bất cứ người đàn ông nào dù là người quen cùng cơ quan, bạn cũ của Thoa, thậm chí cả cánh hàng xóm nếu thấy người đó nói chuyện với vợ mình. Lúc đầu Thoa còn cảm thông, cho là mình ít nhiều có lỗi trong chuyện ghen tuông đó, nên trong công chuyện nơi công sở, Thoa thường tỏ ra bênh vực chồng mỗi khi có ai đó chê bai Kim về việc ghen tuông. Chị Nguyệt là người tỏ ra thông cảm với Thoa nhất. Không ít lần chị Nguyệt bảo: “Thoa ơi, chị với em thật chẳng may, sao cuộc đời chúng mình lại dính vào mấy cái tay nghệ sĩ dở hơi ấy chứ. Cái tay họa sĩ ngày xưa mê chị thì có khác gì gã nhạc sĩ hâm mộ em sau này. Mà chị em mình có hư hỏng gì đâu cho cam. Nói thì mọi người bỏ quá cho là nhận vơ, chứ trời cho chút nhan sắc lại hành hạ đến quá tội. Chẳng lẽ cả cuộc đời cứ phải nhăn mặt làm xấu với cả thiên hạ để lấy tiếng à, mà sống bình thường như mọi người thì lại không được…”. Kiều Linh nghe thế phản đối ngay: “Mợ ơi, được như vậy mới gọi là có tý chút để mà sống, chứ cả đời nhạt nhẽo cùng chồng con thì khác nào chết không chôn. Người đời có câu ca Một ngày tựa mạn thuyền rồng. còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài đấy sao. Dù đám nghệ sĩ chẳng đáng mặt rồng rắn gì và cũng hèn bỏ xừ, song cũng là những kẻ khác người. Chịu ghen một tý, vừa được tiếng là chồng yêu, vừa ra điều ta đây đáng mặt quần hồng, chẳng kém cạnh ai”. Nghe chị Nguyệt và Kiều Linh đấu khẩu với nhau, y nghĩ bụng, cái con ranh con này ghê ra phết, rất mô-đéc mà lại vẫn có vẻ già dặn, từng trải. Y bèn thủng thẳng: “Gớm thật, xin lỗi các quý bà, quý cô, chứ ghen nó cũng có đến ba bảy đường cơ đấy. Này nhá, ghen vì yêu, ghen vì sĩ diện, và ghen chỉ là để xác định quyền sở hữu, rằng đó là của cải hàng hóa, rằng cái của nợ ấy có đáng vứt vào sọt rác thì tôi cũng đã phải bỏ tiền ra mua, đứa nào mà đụng vào là tôi đánh cho bỏ đời. E rằng, các đức ông chồng của quý vị ghen ở trường hợp thứ ba… đây!?”. Cánh đàn bà lặng đi vì bất ngờ, ít nhiều về sự xác đáng trong lý lẽ y đưa ra. Chị Nguyệt lên tiếng: “Em ơi, sao lúc nào em cũng lạnh lùng, rạch ròi ra làm vậy. Chị em chúng tôi không hẳn là không hiểu chút nào, nhưng mà… đôi khi cũng phải dối lòng, phải mù mờ, AQ đi một tý cho nó dễ sống…!”. Y thấm thía câu nói và thầm nghĩ, ừ mà sao mình lại ác khẩu làm vậy. Thu Liễu lầm bầm, trái hẳn với bản tính: “Chả trách… người như thế… ế xưng ế xỉa… đàn bà đứa nào mà vớ phải thì thật khốn nạn…!”. Nghe câu trách của Thu Liễu, y không thấy tức, mà lại nhẹ lòng… Mọi người hiểu và thương quý y thật…
Trở lại chuyện chị Thoa. Kim, chồng chị thật là con người không ngoan. Bao năm trời bao cấp, tuy lương ba cọc ba đồng song Kim tranh thủ thời gian học hết bằng này đến bằng khác. Gặp thời đổi mới kinh tế, Kim xin ra khỏi biên chế Nhà nước, lập công ty riêng, kinh doanh làm ăn phát đạt, phất lên nhanh chóng. Giờ ở phòng thì nhà chị Thoa là giàu có nhất. Chị đi làm, chẳng qua cho đỡ buồn, cho có việc làm, nói như Kiều Linh thì “quyền cao nhất của con người là quyền được lao động và bà Thoa đáng được hưởng cái quyền đó”. Một lần Kiều Linh bảo: “Cái nhà bà Thoa này nghỉ quách đi mà lo trông nom nhà cửa, lo con cái học hành. Lão giám đốc công ty vô trách nhiệm không thời hạn nhà bà thiếu gì tiền”. Chị Thoa bảo: “Tao chả dại gì làm ô-sin cho cha con nhà nó. Đi làm tuy lương thấp, chí ít là tao cũng có cảm giác không phải là người thừa, không phụ thuộc vào ai cả. Với lại, tao quý chị em phòng mình và… Ađam cũng dễ thương đấy chứ?...”. Mọi người cười ồ cả lên, Kiều Linh châm chọc: “Ađam ơi, được người đẹp khen như thế, anh có phải nai lưng ra làm thân trâu ngựa giúp đỡ người đẹp cũng chớ có ca thán nhé, mà hổ tiếng người chỉ thiếu mỗi cái xương sườn”.
Trong phòng, ai cũng cho là chị Thoa trông bên ngoài quí phái thế song khổ. Là khổ cái tâm thôi. Riêng Thủy bảo: “Khổ cái nỗi gì, mọi người cứ bênh bà Thoa, chứ tôi thấy bà ấy chẳng có gì mà khổ tâm cả. Ừ thì cứ cho rằng chồng ghen một tí đi, chẳng qua cũng là gia vị của cuộc đời, cho đỡ tẻ nhạt. Với lại, ở đời mấy ai tự nhận là mình sung sướng, hạnh phúc cả đâu! Có khi trong bụng tự mãn sướng hơn người, song vẻ ngoài cũng phải làm ra khô khổ một chút cho cùng cảnh ngộ với nhân loại chứ!?...”. Chị Nguyệt gật gù: “Thủy nói có lý lắm… Nhưng mà cái Thoa nó bận tâm thật đấy. Nó không phải là người tâm địa lắt léo, nên cũng không đến mức cố tình làm ra thế này, thế nọ… Cánh đàn ông, bình thường họ vị kỷ, và họ sẽ cố chấp hơn khi ghen tuông. Họ muốn được nhiều, càng nhiều càng tốt và không muốn bị mất bất cứ cái gì mà họ đang sở hữu, dù đó là của thừa… Mà cái Thoa lại không phải là đồ bỏ đi, phải thế không nào!?”. Mọi người cười ồ vì câu pha trò của chị Nguyệt. Thu Liễu bĩu môi bảo: “Cái nhà bà Thoa này cũng dớ dẩn lắm cơ. Tưởng đâu phòng mình chỉ có gái này là dại dột. Tôi kể chuyện này mọi người đừng cho là thóc mách, nói xấu sau lưng nhé!...”. Kiều Linh thêm vào: “Này, thế có cháy nhà, chết người, hay ngoại tình lâm ly không thì hãy kể”. Thu Liễu ấn tay vào trán Kiều Linh: “Không cháy nhà chết người song ngoại tình thì có đấy…”. Thu Liễu cười bí hiểm, làm Kiều Linh sốt ruột: “Này… có phải bà Thoa với… ấy… không?”. Y nghe vậy thoáng chột dạ. Chị Nguyệt vội vàng ngăn: “Này con Liễu kia, chuyện gì không rõ thì chớ có nói lung tung mà rồi không thành có, một thành mười mà tan của nát nhà người ta đấy”. Thu Liễu phảy tay, bô bô: “Cụ Khốt-ta-bit Nguyệt ơi! Tình thương yêu đồng loại của cụ hơi bị bao la đấy. Hơi đâu cụ lại cứ đi lo cho thiên hạ. Lo con bò trắng răng. Chuyện là như thế này…”. Thấy Thu Liễu hắng giọng, e hèm đến mấy bận chưa kể, Kiều Linh sốt ruột nghển cổ lên: “Kìa… Châu Mỹ đang ở trước mắt nhà người đấy!... Hỡi Cristophe Colombo, con của Chúa!”. Thu Liễu kể: “Chuyện ngoại tình thật đấy… nhưng không phải bà Thoa, mà là tay Kim nhà quê của bà ta… Cách đây ít lâu, bà Thoa nghe đâu biết được lão Kim bắt bồ với một cô bé là nhân viên thư ký hay kế toán gì đấy trong cái công ty vô trách nhiệm không thời hạn của lão. Lúc đầu bà Thoa không tin vì cho rằng cái nhan sắc U50 của mình vẫn đủ làm mê tơi lão chồng, mà bằng chứng là lão ta vẫn ghen tuông với bà ấy…”. Y chen ngang: “Đấy, tôi đã bảo rồi cơ mà, thằng cha ấy ghen là vì sĩ diện, vì cái quyền sở hữu…”. Kiều Linh dẩu mỏ: “Này, may cho nhà anh đấy! Rõ cái lão ấy mù dở, ghen cũng không biết đường ghen, ghen vớ ghen vẩn… chứ không thì tan xác cái nhà anh”. Thu Liễu cười phá lên một hồi rồi kể tiếp: “Thấy bà Thoa vẫn bình thường như không, bà chị gái mới hỏi thì bà Thoa bảo là có thật thì cũng chẳng ghen. Bà chị liền tư vấn, xui hãy giả vờ ghen, chí ít cũng làm cho tay Kim chột dạ và về sau không dám ghen với bà Thoa nữa. Bà Thoa nghe bùi tai, làm theo… nhưng khốn nỗi không biết làm thế nào. Bà chị lại xui bà Thoa theo dõi tay Kim làm sao bắt quả tang một lần đi với bồ, để có cớ sau này xử trí… Thế là một bận, bà Thoa lén theo dõi chồng và thấy tay Kim dừng xe ở một chỗ và hình như đang đợi ai đó. Bà Thoa cũng dừng xe cách đấy một quãng rình xem sao. Không ngờ, đúng lúc ấy bà Thoa phát hiện ra một người bạn gái quen từ thuở học phổ thông liền gọi. Hai người gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng, líu ríu hỏi thăm chuyện của nhau, lúc chợt nhớ ra, mới nhìn lại thì tay Kim đã biến mất khỏi chỗ hẹn từ bao giờ chẳng rõ… Thế là cho đến tận bây giờ bà ấy vẫn không rõ là chồng mình có bồ bịch thật không. Rõ cả tẩm!...”. Mọi người phá lên cười. Tan cười, Thủy mới thủng thẳng: “Thế mọi người có biết chuyện ấy còn khẳng định một điều gì khác không, về phía bà Thoa?”. Chị Nguyệt mủm mỉm ra điều biết nhưng không muốn nói. Còn y thì làm thinh như không nghe thấy. Chỉ có Thu Liễu và Kiều Linh thi nhau đưa ra nhận định của mình. Chán chê, Thủy vẫn lắc đầu, bảo: “Chứng tỏ bà Thoa không yêu chồng… Không yêu thì không buồn ghen… Còn ai làm bà Thoa không yêu chồng thì hậu xét…”. Mọi người gật gù tán thưởng. Tự nhiên y thấy bải hoải cả người. Tình yêu, sự ghen tuông, lòng thù hận… rồi công danh, sự nghiệp, con cái… tất cả đều rối tinh rối mù, chẳng có ranh giới rõ ràng. Thoắt thế này, thoắt thế kia. Y cũng chẳng cảm thấy lo lắng về chuyện mọi người nghi ngờ chị Thoa có tình ý với y. Cuộc đời khốn khó, xáo trộn như thế, con người ta sống với nhau, yêu thương được nhau chút nào là quý hóa, là may mắn cho nhau chút đó. Hà cớ gì cứ phải so đo, câu nệ điều tiếng, để rồi dày vò nhau, hành tội lẫn nhau?...
Chị Thoa dùng chân đẩy cửa phòng, hai tay hai túi xách nặng những đồ hàng sau khi chị lượn lờ khắp chợ cùng siêu thị, đã chấm dứt dòng suy tư miên man của y và giải tán đám chuyện gẫu. Ai về việc nấy, cặm cụi trên mặt bàn một cách vô hồn, trong khi ấy chị Thoa nóng quá, lê ghế ngồi gần quạt, kéo ống quần bò lên ngang bắp chân, để lộ đôi chân trắng mẫm, thông thốc kể như tháo khoán chuyện giá cả, chợ búa… Y ngồi gần bàn kiều linh nên nghe rõ tiếng cô ta lầm bầm trong miệng: “Cái nhà bà này rõ vô duyên”. Y nghĩ, có thể trong phòng này, ai đó ngầm ghen, chê chị Thoa thế này thế nọ, chẳng qua là thấy chị xinh đẹp, hồn nhiên, vô tư trong ứng xử hơn mình mà thôi. Riêng bản thân, y thấy người như chị Thoa dễ sống hơn ối người. Có thể là đôi lúc vô tâm một chút, song quả là, từ chị luôn toát lên sự quyến rũ, dễ chịu và một cái gì đó gần với tự nhiên…
6. Trong phòng thì Kiều Linh trẻ tuổi nhất, lại con nhà khá giả nên có thể nói không biết khổ là gì. ở nhà với cha mẹ thì được chiều chuộng, thích gì được nấy, đi học được bạn bè tôn làm sư phụ với các trò nghịch ngợm tinh quái, học xong gia đình chạy cho vào cơ quan hành chính, nhàn hạ mát mặt mà lương bổng cũng không đến nỗi nào. Tuy vậy, Kiều Linh cũng không phải là loại người chỉ biết dựa dẫm, hoặc động tý lên mặt ta đây con nhà giàu có, trên tiền. Chính vì thế, trong công việc cũng như sinh hoạt ở cơ quan, chín người mười làng, khó lựa, song Kiều Linh vẫn được mọi người quý mến. Như thế đủ biết Kiều Linh sống ra sao.
Trong cái gọi là Documents của y, File K.L có những dòng tóm tắt đại loại là: hình thức khá, tính tình xởi lởi, khá thẳng thắn, có vẻ thương người, ít nhiều có chí tiến thủ, đôi khi hơi bốc đồng, thậm chí có gì đó lập dị v.v… Những cuộc đấu khẩu tay đôi hay đông người, Kiều Linh thường tỏ ra nhanh trí, không ít lần chuyển bại thành thắng. Song việc gì cũng có mặt trái của nó, sự hiếu thắng của Kiều Linh đôi khi gây khó chịu cho người khác. Được cái, mọi người trong phòng đều xuề xòa, bỏ qua, duy chỉ có Thủy là khe khắt hơn, phần bởi tính cách, phần bởi cương vị trưởng phòng. Thủy bảo không hề ghét Kiều Linh song quả thực khó chấp nhận được tính cách hiện đại của Linh. Có lần chị Thoa bảo Thủy: “Bọn trẻ bây giờ thế cả đấy. Thằng cu nhà tôi cũng vậy, hễ về đến nhà, nó chui tọt vào phòng riêng đóng chặt cửa, bố mẹ cần gì gọi dăm bảy lần nó mới thưa. Đến bữa ăn, miễn cưỡng làm một tô tú hụ hổ lốn thức ăn bê vào phòng, phôn nghe nhạc cắm tai, tay nhoay nhoáy bấm chuột vi tính chơi điện tử, miệng vừa nhai vừa ấm ử hát. Biết làm sao được?!... Rồi đây, hai con bé nhà cậu lớn thêm tý nữa, chúng cũng thế cả thôi, Thủy ạ!”. Thủy trầm ngâm, vẻ đồng tình, rồi thở dài bảo: “Chẳng phải đợi lâu, bây giờ chúng nó cũng đã thế cả rồi… Chúng ta thành già lão, thủ cựu tuốt tuột. Thế mới biết thời thế chuyển xoay chẳng biết sao mà lường!...”. Y nghe mấy bà nạ dòng ngán ngẩm, thở ngắn than dài với nhau sau khi so sánh với bọn trẻ, bèn động viên thật lòng: “Các bà tự nhận là thủ cựu, nhưng dẫu sao các bà còn là phụ nữ, là giống cái, với nhan sắc của mình các bà vẫn có thể xoay chuyển cả vũ trụ… Chứ như cái thằng tôi đây, dở ông dở thằng, dở Ta dở Tây dở Tàu, tôi còn chẳng lo nữa là…”. Thủy bĩu môi: “Thảo dân chân đất mắt toét chúng tôi đâu lại dám phân bì với nhà hiền triết, nhà nọ nhà kia như cậu”. Chị Thoa xì một tiếng, liếc xéo sang y một cái sắc lẻm, cười cười, lẩm bẩm: “Rõ là… đồ…”. Y hiểu là chị Thoa tức, cố tình trêu y là đồ ái nam ái nữ, là bởi y cứ lưng chừng trong mọi chuyện, kể cả chuyện tình ái, thiếu tính quyết đoán, chất thích chiếm đoạt kiểu đàn ông.
Kiều Linh tính bạo dạn, ít bạn trai, nhiều bạn gái. Cô ta có cả một hội bạn gái dăm bảy đứa. Lâu lâu chúng lại phôn cho nhau, rủ nhau đi mua sắm mỗi khi túi rủng rỉnh tiền. Những lúc hội của Kiều Linh đến phòng, chúng mang đến bầu không khí trẻ trung hiện đại. Cả phòng chỉ mỗi Thủy không thích, còn đâu đều vui lây. Chị Thoa và Thu Liễu như trẻ lại dăm bảy tuổi, chị Nguyệt vui cái vui của người lớn cảm thông và chút gì đó tiêng tiếc cho mình khi trẻ đã quá cẩn trọng, cổ hủ, còn giờ đây thì cái già đã xộc đến. Riêng y là giữ thái độ bình thản. Thâm tâm, y cũng không ưa gì những gì những trò ồn ào, bắng xắng, song cũng không vì thế mà y hẹp hòi đến mức không chấp nhận cách sống của người khác. Y hiểu, thực ra Kiều Linh đang sống bằng mẫu hình của thế hệ cô ta. Xã hội đang có những bước chuyển đáng kể. Những kiểu người như y và mấy bà nạ dòng ở đây và cả thế hệ trước nữa không mấy thích hợp với thời đại mới nếu như cứ cố chấp, cố tình lấy mình ra làm khuôn mẫu bắt thế hệ sau phải noi theo, trong khi bản thân mình chưa hề và cũng không có ý định điều chỉnh lối sống của mình. Mâu thuẫn và bi kịch là ở đấy. Không riêng ở công sở, mà ngay trong mỗi gia đình, mâu thuẫn thế hệ đều bộc lộ khá rõ. Nếu như ở công sở, chín người mười làng, hàng ngày gặp nhau tám tiếng, ai có công việc của người nấy, dễ bỏ qua cho nhau những gì thuộc về mâu thuẫn thế hệ thì ở gia đình, người ta lại thường cố chấp. Kiều Linh, ở cơ quan, ngày nào cũng kể bằng một chất giọng hoạt kê vài ba câu chuyện đấu khẩu giữa cô với “ông bà cụ thân sinh ra tôi”, một cách chỉ bố mẹ mình, mà ở đấy biểu hiện “sự mâu thuẫn giữa nền quân chủ chuyên chế với nền cộng hòa”. Sau những câu chuyện như vậy, nếu y có chêm lời tỏ ra không đồng quan điểm với cô ta là Kiều Linh xì miệng, buông ngay cái câu: “Anh rõ giống hệt bố em… từ quan điểm triết học đến cách dùng nước chấm. Cứ phải chém to kho mặn, là nước mắm nguyên chất không pha phách gì thêm… Chao ơi, cứng nhắc và khó chịu”. Câu nói cửa miệng ấy của Kiều Linh dành riêng cho y bao giờ cũng làm mọi người cười và kích hoạt ba bốn cái miệng đàn bà khác ngoác to cùng be lên, kể tội y. Vì đã quá quen nên ít khi cáu, thậm chí y cảm thấy khoái trá là đã chọc đúng cái tổ ong vò vẽ cho loạn xì ngậu cả lên còn mình thì chui vào bụi rậm tránh được mấy mẹ nạ dòng, riêng với Kiều Linh thì khó. Một khi đã tham chiến, cô ta bao giờ cũng hết mình, luôn chiếm thế thượng phong, có cách lôi tuột y ra mà đôi khi chỉ bằng một câu phiếm chỉ. Phàm đã là đàn ông đàn ang, thường không mấy sợ người khác, nhất là phụ nữ chê tài hèn sức mọn, là công không thành danh không toại, ấy nhưng, hễ bị động chạm gì đến tính nam, đến bản chất giống đực của mình là dễ nổi khùng lên. Kiều Linh đã bạo dạn đánh thẳng vào điểm yếu ấy của y ở mọi khía cạnh. Sau những lần như vậy, y nhẩm bụng hoặc lầm bầm ra miệng: “Con ranh… Ngươi cứ đợi đấy, rồi cuộc đời ngươi sẽ tàn phai bởi vớ phải một gã nhập nhằng tai quái, không ra hồn người!...”. Thực ra, kể cả khi bực mình, y rủa thế thôi chứ không bụng dạ nào ác ý với Kiều Linh. Song có một điều y không biết, thậm chí không hề ngờ tới…
Kiều Linh tính cách mạnh mẽ. Tính cách ấy được cô ta giải thích bằng tử vi, rằng lá số của cô là dương nữ. Thôi thì, cha mẹ sinh con trời sinh tính. Mà đã là trời cho thì bắt phong trần phải phong trần, thậm chí gánh tội vạ cho cả gia đình, cả thiên hạ cũng phải chịu, có muốn khác đi cũng không được. Và theo Kiều Linh, tính cách mạnh, thậm chí cứ cho là giàu nam tính đi chăng nữa thì cũng là đặc trưng làm cho cô khác người, còn hơn là cứ nhàn nhạt. Rằng người nhàn nhạt, sống nhạt thếch thì chẳng thà không còn hơn. Hơn một lần Kiều Linh bày tỏ trước đông người. Y nghe, nhẩm bụng, ái chà, hiện sinh gớm nhỉ. Hẳn là con ranh này vớ đâu đấy được mớ tiểu thuyết của Sagan hay Jean Paul Sartre nghiền ngẫm, rồi tiêm nhiễm. Song cô em ơi, em mới biết một mà không biết mười. Cần gì phải Tây hả cô em? Các cụ mình ngày xưa cũng đâu kém cạnh gì khi bảo rằng Một ngày tựa mạn thuyền rồng… kia chứ? Lại còn thần tình hơn khi chẳng cần phải viết hàng ngàn trang mà chỉ khái quát qua một câu lục bát là xong. Nhưng rồi cũng phải bỏ để vươn tới các giá trị vĩnh hằng của con người. May mày không buột miệng nói ra, chứ không thế nào Kiều Linh cũng làm điệu bộ chắp tay lạy: “Thôi thôi… con vái cả nón, xin các ông các bà, làm ơn cho… có một câu nói xửa xừa xưa mà hết bà cụ Nguyệt lại đến ông cụ non này mang ra để răn dạy…”. Tiếng thế thôi, chứ thực ra lối sống của Kiều Linh không nhất quán, vừa ra vẻ hiện sinh đấy nhưng rồi lại hết sức cũ kỹ ngay, cả trong ăn mặc lẫn ứng xử. Chẳng hạn, buổi trưa, Thu Liễu hứng lên rủ cả phòng đi ăn món mì ống kiểu Ý thì Kiều Linh lại nằng nặc từ chối bảo là sáng nay đã nhận lời về nhà ăn trưa cùng bố mẹ rồi, nên không thể thay đổi được. Thu Liễu bảo: “Mày phôn một cú bảo ông bà khốt tự ăn với nhau. Một bữa không chết ai”. Kiều Linh vẫn một hai về Chị Thoa bực quá bảo: “Mày sợ không về thì mang tội bất hiếu hay sao?”. Riêng y tủm tỉm công kích: “Đã hiện sinh thì hiện sinh cho trót, đến sống chết cũng bất chấp chứ chuyện vặt này có đáng gì!”. Kiều Linh nguýt y một cái rõ dài, chào mọi người, dứt khoát khoác túi ra về. Thế là bữa mì ống kiểu Italy của Thu Liễu không thành, bởi sau một hồi lời qua tiếng lại với Kiều Linh thì nhuệ khí giảm đi một nửa. Lại đành điện thoại cơm hộp chán chết.
Thực ra, chuyện tính cách của Kiều Linh này nọ chỉ được mọi người bàn luận khi ai đó trong phòng có va chạm gì đó với cô. Ai cũng hiểu Kiều Linh sắc lẻm nên chẳng dại dây vào mà có phen mất mặt. Biết thế, nhưng hễ động chạm đến chuyện chồng con của Kiều Linh là mọi người ngứa mồm, không nói thì kém miếng khó chịu. Hơn nữa, đây còn là đề tài không biết chán của mọi người mỗi khi Kiều Linh vắng mặt. Về chuyện này, chị Nguyệt bao giờ cũng tỏ ra độ lượng, bảo: “Nó xinh đẹp, thông minh, con nhà khá giả, sống không đến nỗi nào, vội gì… Cứ bình tĩnh như thế đỡ chọn nhầm”. Chị Thoa thì choe chóe: “Ôi dào… Cứ cành cao không tới, cành thấp chim ỉa… rồi dăm ba năm nữa lại không ế xưng ế xỉa ấy à?”. Thu Liễu lại hơi chợ búa: “Lấy đại đi. Sống không nổi thì bai bai. Đò nhanh biết đâu cũng kịp vài ba chuyến… Thú vị ra trò!”. Thủy thì luôn đắn đo theo bản tính của mình: “Nghĩ mà thấy tiêng tiếc… Nó được mọi bề như thế mà lại… họa là cánh đàn ông có mắt như mù mới không nhìn ra…”. Đến nước ấy thì y không thể không lên tiếng: “Các bà các mẹ ơi… đâu phải đàn ông không nhìn ra nó mà nó không nhìn ra đàn ông!”. Thu liễu trề môi: “Thế Ađam cũng bị nó phát hiện ra nửa nọ nửa kia à?”. Cả phòng lại được một trận cười chí chết. Y nhăn nhó, đành cười theo. Cười cho tới khi thấy khóe mắt mình nhòe ướt mới thôi. Mà ngẫm kỹ thấy thật bi hài. Thế giới này dường như có một cái gì đó đang chuyển biến lạ. Văn hóa thì kim cổ, đông tây, sắc tộc, tôn giáo khác nhau lẫn lộn và rồi dường như bị xâm lăng chung bởi một thứ văn minh vật chất. Còn con người ư? Trai thì buộc tóc đuôi ngựa, đeo khuyên đầy tai đầy mũi, son phấn dầu thơm đủ cả. Nữ thì tóc húi cao, trang phục từ quần áo đến giày mũ như trai, rượi mạnh nốc cả chai và thuốc lá rít phả khói mù mịt chẳng thua kém gì. Và cả hai cái chủng người này có chung một sở thích là thích nghe nhạc pop rock, luôn miệng nhai kẹo cao su. Sự nhập nhòa về văn hóa và giới tính này chẳng phải biểu hiện ở đâu xa, cứ nhìn đám bạn bè và đàn em của Kiều Linh thì rõ. Mà ngay ở cái phòng làm việc một nhúm người của y thôi cũng thấy được. Cái sự muộn vợ và tính lừng khừng của y được xem là chập mạch. Y thì không hay tán gẫu hoặc bộc bạch ý kiến, chứ Kiều Linh thì mồm năm miệng mười, khi cần biện hộ một điều gì đó, bất kể đúng sai đều có thể viện dẫn ra hàng lô xích xông những chuyện trên giời dưới bể để minh chứng. Chẳng hạn, về cái việc chậm chồng của mình, một bận nghe ai đó xa xôi, Kiều Linh bèn kể ngay câu chuyện về một người bạn thân của mình. Chuyện rằng, cô bạn gái nọ, nhà đông chị em gái và trong số đó có đến mấy người muộn chồng. Đến lượt mình, cô bạn gái của Kiều Linh định bụng sẽ lấy sớm khi có cơ hội. Duyên trời, ngay sau khi tốt nghiệp, đi làm tạm cho một văn phòng công ty, cô quen một chàng trai là khách hàng của công ty. Hai người có cảm tình với nhau, rồi là những hẹn hò đi uống giải khát, đến những bữa cơm trưa bình dân, và kết thúc là đám cưới sau hơn năm quen biết. May mắn chỉ trong vòng năm năm trời sinh hai đứa đủ nếp tẻ. Công việc của cả hai cũng suôn sẻ, thu nhập ổn định. Những tưởng thế là hạnh phúc, chỉ còn mỗi cái việc nuôi con cái phương trưởng là bồi đắp thêm cho hạnh phúc gia đình. Nào ngờ, sau những hào nhoáng của hạnh phúc, những đam mê thân xác, những lo toan vật chất, những bận rộn con cái, đến một lúc mọi cái đều lưng lửng thì mới sinh chuyện. Chợt một đêm nào đó, thức giấc, trong ánh đèn ngủ vàng vọt, cô gái nọ ngắm chồng ngủ, nhìn cái vẻ nằm co quắp, miệng he hé với vệt nước dãi đẫm đệm, cô thấy chồng mình nửa như một thằng bé con đã được mẹ nó cho tý no bụng và xoa đầu khen ngoan, nửa lại như một kẻ có gì đó vô vị, bạc nhược và hèn hèn là khác. Khi không có cặp mắt kính dày cộp mà trước đây mình nhìn ngỡ trí thức, nay thấy chồng hệt một gã nông phu dớ dẩn vì mất ruộng. Và ngoài cái sự lọ mọ mọi việc vặt vãnh trong nhà thì gã ta chẳng có chút chí tiến thủ nào cả… Cô gái nọ đâu biết, trong khi mình phát hiện ra chồng như vậy thì gã chồng đã có cái nhìn về mình khác hẳn trước đây. Trong ý nghĩ của gã chồng, cô gái nọ đã mất đi vể hiền thục, duyên dáng của một cô gái thành thị có học thức, thay vào đó là một bà la sát với chồng, nhưng hễ ra đến ngoài, dù là đi chợ mua mắm tép cá khô cũng son phấn bự mặt, còn trước mặt đàn ông thì luôn ra vẻ cừu non ngơ ngác dễ thương… “Đấy, hôn nhân kiểu ấy thì đây xin kiếu… Chồng gì, có mà chồng bát chồng đĩa…”. Kiều Linh kết luận như vậy để chấm dứt câu chuyện về gia đình người bạn gái mình, mà cũng xem như một tuyên ngôn cá nhân…
Bẵng đi một thời gian dài, mọi người hầu như không ai nói gì đến chuyện hôn nhân của Kiều Linh nữa, bởi mỗi lần như vậy cô ta đều xù mình lên như lông nhím, với lại việc ấy sớm hay muộn cũng chẳng sống chết gì đến mình. Đã thế thì mặc xác. Thế rồi, cứ như là rỗi hơi, không nói thì sợ miệng lên da non, nên đám đàn bà trong phòng lại bắt đầu rỉ tai nhau rằng, hình như con bé ấy đồng tính thì phải. Cứ để ý mà xem, trong đám bạn gái đàm đúm với nó có đứa luôn ăn mặc giống hệt nó, hễ thấy Kiều Linh nói chuyện đến anh chàng nào là cô bạn kia khó chịu ra mặt. Không PD với nhau thì là cái gì? Từ khi phát hiện ra chuyện ấy, mọi người bắt đầu nhìn Kiều Linh bằng con mắt lạ. Có vẻ gì đó ghê ghê là khác, y nhận thấy như vậy. Ngẫm cũng chẳng có gì lạ. Y chậm lấy vợ mà mọi người cũng đổ cho tiếng lại cái nữa là. Chao ơi, cái thế giới này vừa hỗn mang vừa cỏn con làm sao! Muốn yên lành cũng chẳng có chỗ mà trốn. Đã có lúc, y nghĩ, hay là mình chơi trò khủng bố, tán ngay Kiều Linh, biết đâu nên duyên phận cũng là. Hai đứa mà lấy nhau là chó chết hết chuyện. Nghĩ rồi y lại tự giễu cợt mình. Con bé xinh xắn và trẻ thế, chắc gì nó ưng cái thằng gàn dở là mình. Mà lấy nó để rồi nó làm chồng à. Y tự viện ra đủ thứ chống lại mình. Tốt nhất, quên nhanh đi cho chóng tiến bộ. Song cái trò đời, một khi không nghĩ đến thì thôi, đã nghĩ đến rồi thì quên đi thật khó. Đã có những đêm trằn trọc không ngủ được, y thầm ao ước được ôm hôn tấm thân Kiều Linh hấp dẫn trong vòng tay. Những lúc như thế, tự nhiên y lại trách mình sao tới tận bây giờ mới phát hiện ra Kiều Linh đầy nữ tính nhỉ. Đã chẳng có lúc mình cũng nghĩ cô ta đồng tính là gì. Hay là chính bản thân y cũng là một kẻ đồng tính nên không phát hiện ra chất giống cái ở cô ta? Nghĩ đến thế thì y hoang mang. Nhưng rồi có một cái gì đấy tự thẳm sâu trỗi dậy chống lại. Rõ ràng y cũng là một con đực mạnh mẽ, bởi mỗi khi nhìn ngắm những cô gái nở nang, gợi cảm thì bản năng giống đực của y, như chú rắn ngóc cao đầu liên láo chực mổ. Hỡi ôi, trời chẳng chiều người, nên y và Kiều Linh ở cùng một chỗ, mà cứ như ở hai cực của tinh cầu, hễ thấy mặt nhau, mở miệng đôi câu là chọc ngoáy, công kích lẫn nhau… Bây giờ lại thêm chuyện cô ta đồng tính nữa. Thật nực cười…
7. Y tự thấy mình là một tay gàn dở, cố chấp. Người ta cũng bảo y thế. Lúc đầu y không tin, còn bây giờ y không nghi ngờ. Y tự thấy hình bóng và tính cách mình phản chiếu qua tính cách và thân phận mỗi thành viên trong phòng. Với chị Nguyệt, y là một cậu em út ngoan ngoãn song nhõng nhẽo quá so với độ tuổi già câng của mình. Với chị Thoa, y vừa như một cậu em khó tính, lại vừa như một tình nhân nửa nạc nửa mỡ. Với Thủy, y như là một kẻ hai mặt, bề ngoài tôn trọng song trong bụng coi thường. Với Thu Liễu, y vừa như ông anh cả gia trưởng lại như gã trai lơ sáo rỗng, trâng tráo. Còn với Kiều Linh, y vừa như kẻ chán đời lại giống như một con đực khát tình ẩn mình chờ cơ hội… Còn với chính mình, y là một kẻ bất mãn vặt và vô trách nhiệm. Bất mãn và vô trách nhiệm với quá khứ, hiện tại và tương lai y. Có kiến thức, ưa chiêm nghiệm, thiếu quyết đoán và sợ phiền toái, y sống vật vờ qua ngày đoạn tháng… Y tự tìm thấy khoái cảm, một thứ khoái cảm thiếu lành mạnh trong hình bóng y phản chiếu nơi mỗi người đàn bà xung quanh y. Nhấm nháp chút khoái cảm ấy, y tự thấy mình như Ađam ở cõi hỗn mang, và mỗi sự tham góp của y vào đời sống họ khiến y có cảm giác ban phát khi bẻ từng chiếc xương sườn mình để Đấng Tối Cao thổi linh hồn khai sinh họ vậy. Y chưa bao giờ nghĩ đến một gã đàn ông với lồng ngực không còn chiếc xương sườn nào thì tim phổi sẽ phơi bày ra sao? Ha ha ha…
Một bữa nọ, y ốm dở song vẫn cố bò dậy lên đến cơ quan cho đỡ buồn. Ngạc nhiên khi đã muộn mà cửa phòng vẫn khóa. Một mảnh giấy, chữ chị Thoa to cộ nguệch ngoạc trỏng trơ trên mặt bàn của y: “Trưởng phòng bận việc nhà nghỉ. Cánh tớ lượn siêu thị đây. Ađam chịu khó gác chùa nhé. Ngoan ngoãn trưa sẽ được thưởng kẹo!”. Y thở dài, uể oải bật máy. Mở Documents, các File xương sườn loáng nhoáng hiện ra sau tiếng gõ bàn phím lách cách của y. Y lắc đầu, một lần, vài ba lần như không tin vào những gì mình đang cảm nhận. Chị Nguyệt mặt tươi tắn nhưng ánh nhìn lại ra chiều buồn buồn, miệng cười nụ cười thương mại. Chị Thoa đầy vẻ quyến rũ lẳng lơ, khẽ nheo mắt vẻ giễu cợt, này cậu em ơi, chị mới thử vờn mà cậu em đã nhũn chi chi, còn non nớt lắm bé con ạ. Còn Thủy thì vẻ mặt bình thản song cặp mắt vằn lên những tia hằn học, khó chịu, như đe, liệu hồn đấy thằng lỏi ma lanh, mày dám nhờn với tao, rồi có ngày tao sẽ trị mày đến nơi đến chốn. Thu Liễu thì dáng điệu chợ trời, cong cớn bảo, là tôi thấy anh không đến nỗi nào nên phóng sinh, chứ cái ngữ ấy tôi vừa chài vừa thải chỉ trong vòng tuần lễ. Và Kiều Linh thì nhìn y nửa đồng cảm nửa chê bai, rằng anh đừng tưởng mình cao đạo, ta đây dạy khôn người khác, chứ thực ra họ chỉ nhìn anh bằng nửa con mắt thôi. Lại còn vào hùa nghi ngờ tôi đồng tính. Còn cái thân anh nữa, anh biết chưa? Rõ đồ ngốc…
Y thừ người. Ngả vào ghế, ngửa mặt nhìn trần nhà trân trối. Chưa bao giờ y có cảm giác phẫn nộ như vậy. Ra thế. Các người quá quắt lắm!... Ta sống với các người đâu đến nỗi nào? Không xem ta là đàn ông ư? Được rồi, để đấy… Hỡi những cái xương sườn kia! Ta sẽ chứng minh cho các người biết ta thế nào!...
Y nhổm phắt dậy, nhoài người nhanh như cắt, tắt phụt công tắc điện máy vi tính. Màn hình tối đen. Lần đầu tiên y quyết liệt như thế…!
 
8. Hình như, cú tắt công tắc điện tắt vi tính đột ngột, thay vì đóng máy theo trình tự nhằm bảo vệ máy, đã vô tình kích hoạt cái hạt nhân liều arn giấu đâu đó trong con người y,...
Y bỗng trở thành một con người khác. Người đầu tiên nhận ra sự thay đổi của y là chị Thoa.  
 
 
Thay đổi trang: << < 10 | Trang 10 của 10 trang, bài viết từ 136 đến 146 trên tổng số 146 bài trong đề mục
Chuyển nhanh đến:

Thống kê hiện tại

Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
Kiểu:
2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9