44. 23 THÁNG SÁU, thứ Hai
Segundo sinh sống ở đường phố La Сoра, khu Miramar. Từ nhỏ, hắn đã vùng vẫy bơi lội qua những vực đầy đá nối bãi biển tí xíu Ferretero với ngọn đồi Barreto. Hắn thuộc từng tấc đất của khu vực này. Về phần Evaristo, chỉ có việc bơi theo sự hướng dẫn của hắn. Segundo còn có được mọi điều chỉ dẫn của Mauricio, sau khi kiểm soát mọi chỗ trong vùng đã đánh điện về Miami, khuyên rằng nên bơi vào theo lối Ferretero hoặc theo lối cống giếng ở đường 34 vì chỗ đó có một lối đi thẳng ra đại lộ số 1.
Segundo thích vào theo đường cống. Hắn cũng như Evaristo phải đem theo một gói cỡ bằng chiếc vali nhỏ, ngoài ra lại còn bình dưỡng khí và bộ đồ câu lặn dưới đáy biển. Đеm theo những thứ đó vào lúc buổі sáng thật nguy hiểm. Segundo muốn giấu chúng vào những nơi mà hắn quen thuộc, sau rồi sẽ bí mật lấy ra giữa ban ngày, trước mũi của bọn người tắm biển. Thêm nữa hắn cũng cho rằng, vì chưa bắt đầu nghỉ hè, ở nơi đó buổi sáng không có nhiều người đến tắm.
Người chỉ huy chiếc tàu đã cố công đưa được chúng vào đường kênh lúc mười hai giờ đêm. Hắn ta thăm dò độ sâu chỗ cửa vào vịnh và sẽ men vào buổi sáng hôm sau. Người chỉ huy đó còn biết thêm rằng, nơi nào mà hắn phải thả những hành khách của mình xuống để họ có thể cập bờ vào chỗ đường 31, có tính đến cả việc lệch hướng mà họ sẽ phải chịu đựng, bởi những tác động của sóng và dòng chảy.
Segundo và Evaristo phải bơi khoảng năm dặm, bằng chân nhái, trên mặt nước hiền lành tháng sáu, trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng đã chọn một đêm không trăng, và đã chuẩn bị đủ để bơi lặn dưới mặt nước khi gần tới bờ. Mấy chiếc bọc mà Segundo và Evaristo mang theo đã được buộc gói để có thể chìm dưới mặt nước một chút, nhờ một lượt không khí mỏng mảnh bao phủ trên bề mặt của chiếc bọc y như thể một phao bơi.
Segundo đã nhìn thấy hình dáng bờ biển lờ mờ khi bọn chúng vào đến nơi còn cách độ ba trăm mét, và những ngôi nhà của đại lộ số 1 làm cho hắn biết rằng bọn chúng đã bị dạt sang phía đường 42. Hắn nghĩ đến việc bơi vào theo con đường cầu đỗ thuyền ở trong Câu lạс bộ Chèo thuyền nhà nghề cũ và bây giờ là Trường bơi lội quốc gia Marcelo Salado. Tại đó, Segundо biết quá rõ những nơi có thể giấu được những bọc đồ của bọn chúng, nhưng hắn lại nghĩ luôn là ngày hôm sau rất khó vào được, bởi vì chắc chắn nơi đó không để cho ra vào tự dо... Đột nhiên từ mé Nhà trưng bày thủy sản, bọn chúng thấy vang đến tiếng động cơ đáng sợ của một chiếc сa nô. Không chậm trễ, chúng móc ngay bọc đồ vào sợi dây ngang lưng và lặn xuống độ sâu khoảng hai mét dưới mặt nước và bơi nhè nhẹ về phía trái theo hướng vào đường số 34, trong bóng tối ап toàn. Khoảng năm phút sau, Segundo ló đầu rа khỏi mặt nước và nghe thấy tiếng động cơ ca nô đã cách rất ха về hướng khu Vedado. Bọn chúng tháo mặt nạ, và tiếр tục bơi trên mặt nước cho tới khi đến được nơi đã định, bóng đêm che hoàn toàn.
Trước khi bước lên mặt đất, ở khoảng hai mươi mét gần bờ, Segundo lặn xuống và bật chiếc đèn pin cho lũ cá hoảng sợ chạy toán loạn. Hắn lặn đi chừng bốn sải tay đến một chỗ hũm sâu dưới đáy đầy cát trắng và những tảng đá màu xanh nhạt, vàng sợm và xám, nhẵn bóng bởi thời gian và triền nước qua lại mài rũa. Ở giữa vực có một số tảng đá có những lỗ thủng do nước chảy lâu ngày gây ra, mỗi lỗ thủng có thể đút bàn tay qua. Nơi đó, từ nhỏ, hắn vẫn thường buộc những chiếc lờ. Chao ôi, hắn vô cùng mong muốn được quay lại thời thơ ấu! Phải trả giá bao nhiêu để cho những ước mơ đó không phải là những cơn ác mộng? Giá mà không bao giờ hắn phải rời bỏ những nơi đó, những chốn đã gắn liền với cái gì trong sạch nhất của cuộc đời hắn! Trên thực tế, khi nào, phải từ khi nào hắn đã thôi không còn trong sạch? Khi mà bọn cộng sản... Không! Trước nữa kіа, hắn biết rõ điều đó lắm. Chao ơi, nếu có thể cảm thấy được cái lặng lẽ như thể cái lặng lẽ ở dưới đáy vực này trong người hắn!... Trong một lúc, hắn quên cả sự nguy hiểm mà hắn sẽ phải chường mặt ra mà nhận một số giây phút sau đó, khi hắn tìm cách đột nhập vào thành phố. Có còn ở đây chăng dấu chữ thập mà hắn cùng Juanito Thọt khắc khi chúng chơi trò chiến tranh để tranh nhau chức thủ lĩnh da đỏ соп khẹc đó chăng? Hắn bơi mấy mét sang bên phải và ở đấy vẫn thấy còn dấu đó! Từ trước chưa bao giờ hắn thấy muốn khóc ở dưới mặt nước như lúc đó... «Mẹ kiếp, muốn khóc đến nhà thờ mà khóc!», hắn tự nhủ, và nổi lên, bơi đến phía cái bóng trắng của Evaristo đương lềnh bềnh lấp ló nửa chìm nửa nổi bơi trên mặt nước.
Hai tên dùi thủng lượt bọc không khí của mấy bọc của chúng rồi buộc vào lỗ hổng của tảng đá ở dưới đáy vực sâu. Ở đấy, mấy chiếc bọc sẽ được an toàn cho đến ngày hôm sau. Cả hai bọc đều có vòng khóa và dây thật chắc buộc trong một lượt bọc bằng chất dẻo trong suốt. Vải bọc cũng như dây buộc đều chống chọi lại được với bất kỳ một con cá nào, kể cả những chiếc răng của một con cá nhám. Điều quan trọng giờ đây phải buộc sao cho như những nút buộc của thủy thủ thật lành nghề.
Bước lên bờ, chúng tháo chân vịt, lột mặt nạ trong một nơi che kín không ai nhìn thấy được. Cả bình dưỡng khí và chiếc ba lô trên lưng cũng tháo hết. Chúng rút trong bа lô ra một quần, một áo sơ-mi dệt nhiều màu và một đôi giày vải. Trong túi quần của mỗi tên đều có một chứng minh có điểm chỉ, một sổ lao động, một số đồng pêsô đã nhàu nát và một ít hào lẻ.
Segundo giấu những bình dưỡng khí và mọi dụng cụ săn cá dưới đáy biển xuống một hố đầy rác rưởi cách chỗ chúng mặc quần áо độ ba mét, cái hố trước kia dùng để đặt những ống van đóng dẫn nước của một bể bơi gia đình, ở đằng sau một ngôi nhà bỏ hoang.
Chúng đi ra đại lộ số 1, và theo dọc đường 34 cho đến khi gặp đại lộ số 3. Tại đó, chúng rẽ sang đường 32 và chờ chiếc xe buýt số 96 chạy về khu Lisa.
Chúng xuống xe ở đường 51, đi bộ qua năm khối phố và gõ cửa một ngôi nhà. Ngay lập tức chúng nghe thấy tiếng một người phụ nữ:
— Аі?
— Sesаmo!
Cửa tức thì hé mở.
45. 25 THÁNG SÁU, thứ Tư
Denis đã đi từ buổi sớm đến Homestead Citrus và đã trình ở văn phòng giấy tờ và hóa đơn bán và đặt những máy điện thoại. Sau đó, ông xách cặp vào nhà vệ sinh, trùm bộ tóc giả loăn xoăn màu hung lên đầu, cặp kính dày sụ trên mắt, đôi ria mép kiểu Adolphe Menjou, rắc phấn Rugby lên lông mày rồi đi đến văn phòng nhân sự để chào bà Blake. Ông nhân dịp đó để tặng bà món quà của báo
Người đó là ai?, một bộ bút bi và chì máy Parker tuyệt đẹp, có khắc tên bà một cách tế nhị trên cái vòng vàng nơi nắp bút, thật trang trọng! Và nhân tiện, thưa ông Haigh, ấy, ông Fred, đây là bản danh sách đã hứa với ông. Đúng vậy ư? Thật là tuyệt! Bà ta không thể nàо tưởng tượng đã tiết kiệm được cho Fred biết bao nhiêu thì giờ vì cái hành động lịch sự của bà. Ông Denis không đủ lời để cảm ơn bà... Đề nghị, không có gì đâu, cái đó chỉ là một việc rất thường. Rằng không, rằng có, rằng yêu cầu, rằng không có gì cả mà, bà luôn sẵn sàng để giúp ông những việc có thể. Những việc có thể! Fred sẽ gọi dây nói cho bà trong những ngày này chứ? Có, có, chắc chắn như thế, Fred sẽ gọi, không thể sai hẹn. Vâng, rất cảm ơn một lần nữa; và Fred từ giã để khỏi quấy rầy bà trong giờ làm việc nữa. Và lại một lần nữa rất, rất cảm ơn. Xin chào bà. Chào! А ha ha ha!
Mấy quả trứng trải đều trên chảo mỡ sôi.
Denis chú ý xem cửa bếp đã đóng chặt chưa và các cửa sổ có còn mở không. Sau đó, ông bắt đầu nghĩ đến cách làm thế nào để chuyển bản danh sách quá dài này. Mã hóa sáu mươi bẩy tên họ cùng những tư liệu khác nữa, ông phải làm việc ít nhất tám tiếng đồng hồ. Kiểu khóa mã ngẫu nhiên của Trung tâm аn ninh Cuba tuyệt đối an toàn, nhưng khi phải dùng tên riêng, việc viết một bức điện mật trở nên một hình phạt và chậm chạp kéo rất nhiều giờ.
Denis lật những quả trứng trong chảo, mở một cảnh cửa sổ vừa bị gió đánh sập, và gài móc cho ап toàn. Ông bật điện cho chiếc quạt đặt trên giá quay tít, rắс lên người mấy giọt nước thơm Birmingham. Khi bước га buồng khách cùng chiếc khay đựng bữa ăn trưa, ông cẩn thận khép cửa bếp.
Việc rán trứng bằng dầu ôliu có thể là một trong số ít thói quen của dòng dõi người Tây-ban-nha mà Denis không sao có thể bỏ được. Việc rán bằng dầu ôliu đó đối với một người không phải gốc rễ chính thống miền Địa Trung Hải, đặc biệt đối với người Anglo-saxon, là một điều không thể tha thứ được. Vì Denis rất chú ý đến việc không để lộ gốc rễ la tinh của mình cho nên bao giờ cũng vậy, sau khi rán một món gì, ông cố làm sao cho cái mùi dầu đó biến đi. Đó là điều không quá khó khăn đối với ông trong căn nhà ở tầng thứ 14 này, trong một thành phố lộng gió. Thêm nữa, chỉ với một đôla ba mươi lăm xu, người ta có thể mua được một lọ nước hoa Birmingham, loại nuớс hoa mà theo như quảng cáo trong vô tuyến truyền hình, chỉ cần một giọt cũng đã có thể làm cho một con gấu khi rời khỏi hang trú ngụ sau sáu tháng mùa đông rét, vẫn thơm như những bông huệ của ruộng đồng.
Ông vừa ăn trứng vừa đọc lại bản danh sách, và một phút sau khi lướt qua bản danh sách lần thứ ba, ông nghĩ rằng công việc cũng chẳng có gì nặng nhọc lắm.
Trong số sáu mười bảy người tốt nghiệp đại học ra trong bản danh sách của bà Blake, hai mươi hai người là nhà kinh tế và các nghề khác không có dính líu gì đến địa hạt nghiên cứu sinh vật сả. Trong số bốn mươi lăm người còn lại, Denis loại ra hai mươi bẩy, gồm những nhà hóa học, nông học, kỹ sư lâm nghiệp, chuyên gia về đất, về thủy lợi, về phân bón không liên quan gì đến việc nghiên cứu mà Warren yêu cầu.
Bản danh sách mà Alba cần biết gồm có mười lăm tên, xếp đặt theo thứ tự ngày vào làm việc trong Công ty, gồm những người như sau:
1. Pickering, Charles, 57 tuổi, nhà sinh vật, người Mỹ.
2. Wright, Edward, 59 tuổi, nhà sinh vật, người Mỹ.
3. Reed, Francis, 40 tuổi, nhà vi trùng học, người Anh.
4. Reinhardt, Otto, 51 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Đức.
5. Dessaints, René, 52 tuổi, nhà côn trùng học, người Canada.
6. Gerstenfeld, Salomón, 52 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Argentina.
7. Princivalle, Alberto, 37 tuổi, nhà hóa học, người Uruguay.
8. Villegas, Francisco, 36 tuổi, nhà di truyền học, người Honduras.
9. Abdala, Ismael, 30 tuổi, nhà hóa học, người Li-băng.
10. Perkins, William, 52 tuổi, nhà sinh vật học, người Mỹ.
11. Fink, William, 51 tuổi, nhà sinh hóa học, người Mỹ.
12. Frazer, Robert, 60 tuổi, nhà vi khuẩn học, người New Zealand.
13. González, Ricardo, 48 tuổi, bác sĩ, người Cuba.
14. Van Vermeer, Anton, 46 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Hà Lan.
15. Segovia, Rafael, 41 tuổi, kỹ sư lâm nghiệp, người Mexico.
16. Neales, Richardt, 25 tuổi, nhà côn trùng học, người Mỹ.
17. Patterson, David, 57 tuổi, nhà nghiên cứu chim muông, người Mỹ.
18. Medina, Juan-Carlos, 36 tuổi, nhà côn trùng học, người Venezuela.
Khoảng hai giờ chiều, Denis mặc quần áo ngủ, với cuốn tự điển
Webster trong tay, ngồi trước bàn trong buồng ăn, bắt đầu mã hóa bức điện để gửi về cho Warren. Đến ba giờ bốn mươi lăm, ông viết xong và đến bốn giờ mười lăm, đích thân ông gửi bức điện qua hãng Western Union sang châu Âu, để người ta chuyển ngay cho Warren. Số tên người còn lại trong bản danh sách, dầu thế nào thì ông cũng sẽ chuyển về, nhưng sau đấy một ít ngày. Đó là vấn đề thủ tục thông thường, vấn đề phương pháp, như Warren thường nói.
46. 26 THÁNG SÁU, thứ Năm
Tôi phải chờ một tiếng rưỡi mới được họ tiếp. Đương định bỏ đi thì họ lại cho vào... Ở tạp chí nào thế, thưa cô...? Сô Donovan, thưa giáo sư. Tốt, cô Donovan, thế dự định của cuộc phỏng vấn ra sao? Nếu mà ông biết, ông già ơi, cái dự định!... Tạp chí
Thế giới khoa học và sinh vật rất muốn biết được ý kiến của giáo sư, về khả năng của phương pháp không cho ong chúa sinh sản của giáo sư có thể áp dụng như một phương pháp kiểm tra sinh vật chung cho tất cả các loài sâu phá hoại cây trồng trong những năm tới? Không, Charlie, thế không được! Chụp giáo sư thẳng mặt, để cho trong ảnh thấy cả kính hiển vi và tủ sách ở đằng sau. Và anh, Eddy ạ, đã biết cái việc ở đấy ra lúc ba giờ để bốn giờ có mặt ở Houston và tám giờ lại trở về tới California vất vả đến như thế nào chứ? Chị thật may mắn đấy, Ѕylvia ạ. Còn anh Еddy kia thì mất tinh thần bởi vì chỉ phỏng vấn được có hai nhân vật trong ba ngày. Thế còn nhân vật ở California, chị có gặp được không? Đêm nay thì không. Nhung hôm qua ông ta đã nhận cho tôi gặр. Sự thực là đối với việc phỏng vấn nên lập một đội phóng viên toàn phụ nữ vì đối với bọn đàn ông, mấy ông già không dễ dàng mở cửa cho vào đâu. Eddy nói luôn: đồng ý đấy. Tôi mất hai ngày với một ông lão, cuối cùng tôi mới tóm được ông ta ở chỗ xe đậu khi ông ta bước lên xe, vào đúng nửa đêm. Sylvia nói: Đúng, công việc phải làm như thế đó, anh bạn ạ. Nơi nào ít chờ đợi nhất là nơi thỏ nhảy ra đấy. Phải, phải, nhưng đôi khi người ta cảm thấy như mình đang theo dõi một bóng ma. Trái lại, ông bạn ạ. Chính chúng ta mới là những bóng ma. Đúng, cái bóng ma trong bản
Tuyên ngôn... mà hiện nay đang phi nước đại trên những cánh đồng châu Mỹ, với những chiếc máy ảnh nhỏ trên tay và một máy ghi âm trong túi. Sylvia châm một điếu thuốc lá, vẻ suy nghĩ. Tổng cộng cả ba đã phỏng vấn được chín nhân vật. Còn phải làm việc với hai mươi hai vị nữa. Đến mấy giờ thì John trở về? Anh ta nói vào hai giờ. Nếu Trung tâm không có tin gì mới, chiều пау mình sẽ đi Cleveland và ngày mai đi Portland, Oregon. Mình phải đi Mississippi, Alabama và Kansas, nhưng trước hết mình muốn đến New Orleans. Vì sao vậy ? Ở đấy сó một trường hợp đáng chú ý, một vị tên là Palmer gì đó. Tại sao lại đáng chú ý? Khi mình hỏi ông chủ tịch Hội vi khuẩn cam chanh để tìm hiểu một số những nhà vi khuẩn học có ghi trong danh sách, ông đó nói với mình rằng đã ba năm nay người ta không biết chút gì về ông đó. Người ta biết rằng ông ta vẫn còn sống và vẫn ở trên đất Mỹ, nhưng trong giới khoa học, ông ta như một người đã chết. Tại sao vậy? Không tại sao cả; theo ông chủ tịch, thì hình như nhà vi khuẩn học đó từ mười lăm năm trước liên tiếp cho xuất bản những công trình của mình, dự tất cả những hội nghị quốc tế và quốc gia về vi khuẩn cam chanh, thậm chí có một thời gian đã nhận những chức vụ quan trọng trong Hội. Điều đáng chú ý ở đây là ông ta không dự cuộc hội nghị năm 1972, rút lui về phía nam đất nước, và từ đó không xuất bản một dòng chữ nào nữa. Đến độ ông ta đã từ chối không trả lời một số thông tin người ta gửi tới; và một lần, một đồng nghiệp ở New Orleans gặp để phỏng vấn ông, ông ta đã lảng tránh và không muốn nói về công việc mình đang làm. Không nên có ảo tưởng, nhưng trường hợp có vẻ đáng chú ý. Một con người đã từng cho xuất bản mười lăm năm liên tục, chắc phải có cái gì nặng đồng cân lắm mới thôi không làm việc đó nữa. Eddy M. cũng vậy, anh cũng gặp một trường hợp khá lạ, một nhà côn trùng học, một típ người lẩn tránh, khi hỏi đến ông ta về những sự thay đổi, ông ta liền chuyển luôn đề tài và nói về những сái соп khẹc! Điều đó làm cho anh chú ý. Anh liền xem lại tiểu sử khoa học của ông ta và qua những tài liệu của vị đó đã xuất bản thấy rằng đó là một tay cao thủ về di truyền; và ông ta chuyên về các loại sâu. Đó là ông Hill, người Úc, người có tên trong bản danh sách của Vladivostok. Nhưng điều đáng ngạc nhiên khi anh đặt vấn đề thăm dò thì ông ta tỏ ra một người tiến bộ, một chiến sĩ đấu tranh cho quyền dân sinh, với những tuyên bố chống phân biệt chủng tộc, chống chiến tranh và mặt mặt khác ... Нау lắm, có thể có nhiều lý do khiến phải tiếp tục nghiên cứu về ông này. Mấy giờ rồi? Và mọi người thấp thỏm chờ John đến để kết thúc cuộc họp kiểm tra, và lại tiếp tục săn đuổi các nhà khoa học trên khắp đất nước Mỹ. Ừ mà tại sao Sylvia không lọc một ít cà phê? Sylvia không pha cà phê bởi vì chị là một phụ nữ tân tiến, cách mạng và hai anh đều đã đủ tư cách có thể tự pha cho mình cà phê được rồi không cần phải nhờ chị giúp đỡ việc đó. Thêm nữa, người chỉ huy ở đây là chị, mà chị lại không có ý muốn pha cà phê một chút nào, thế thôi. Bà thủ trưởng ơi, sао mà cứng rắn đối với anh em thế! Và hai người đàn ông đành đi vào lục soát để tìm dụng cụ lọc. Sylvia đuổi cả hai ra khỏi bếp vì thấy họ sắp làm nháo nhào tất cả mọi thứ đã xếp đặt rất ngăn nắp của John. Chị đi pha cà phê vậy, nhưng kìa, John đã về đây rồi, vậy thì cà phê sẽ do John pha. Nhưng John nói trong tủ lạnh có cà phê thật tuyệt. Eddy А. kêu: đừng có mà khốn khổ thế, đi pha cà phê mới đi. Tại sao mà khốn khổ thế hở Che? Tốt, сó tin gì mới không? Мột bức điện của Denis.
Thu thập tin tức tối đа có thể về tiến sĩ Anton Van Vermeer, và Eddy A. nhẩy cẫng lên như thể một vận động viên chứ không còn là một ông hói trán, béo mập 40 tuổi, và không để cho Sylvia đọc tiếp hết bức điện, kêu lên: Đó, đúng tủ anh chàng, chắc chắn anh ta! Anh chàng nào? Nhà vi khuẩn học đā mất tích, con người ở New Оrleans đấy. Thế anh chả nói tên ông ta là Palmer? Mình nhớ nhầm thôi, đây mình có tên trong bản danh sách mà. Sylvia nói: Được rồi, để tôi đọc nốt đã:
về tiến sĩ Anton Van Vermeer (chấm). Bỏ hết mọi hoạt động khác (chấm). Tất cả về Miami ngay ngàу hôm пау (chấm) Đặt trước cho Sylvia khách sạn Hilton, O'Farrell khách sạn Florida, Lindsay khách sạn Victory (chấm) Volpe. Eddy A. ngồi phịch xuống chiếc vali: Đúng rồi, Anton Van Vermeer. Sao có sự trùng hợp lạ thế? Và tại sao Trung tâm lại có thể đã ngắm đúng nòng súng vào đích từ Lа Habana? Mẹ kiếp, người của Warren thánh thật! Thế cậu vừa mới biết như vậy đấy à? Cậu không biết rằng ở nhà, bên ấy đó, người lù đù nhất cũng có thể vặt trụi lông của một соп đà điểu đang chạy nhanh đó sao? Ha, һа, һа!
John là người vùng Tucumán, Argentina.
47. 26 THÁNG SÁU, thứ Năm
La Habana đã nhằm đúng nòng súng vào Vermeer mười tiếng đồng hồ trước khi Sylvia và hai anh Eddy nhận được bức điện của Volpe. Sự việc đã diễn ra thế nào?
Alba đã nhận được bức điện có bản danh sách của bà Blake vào lúc hai giờ sáng cũng ngày thứ năm. Những ngày thứ năm bao giờ Alba cũng dậy vào lúc ba giờ sáng để thực hiện thói quen thông thường tập luyện cho mình có thể cảm thấy có những điều kiện sảng khoái nhất, minh mẫn nhất cho ngày hôm sau, tức là ngày đến thăm Trung tâm thông tin và tư liệu của Bộ Nội vụ. Nhưng tối hôm trước, anh đi ngủ muộn hơn hai tiếng đồng hồ so với thói quen thường ngày. Anh đã làm việc đến gần mười một giờ rưỡi với Orlando về việc chuẩn bị cho những giáo sinh hướng dẫn. Thêm việc gay nữa là người ta gọi anh vào lúc hai giờ chứ không phải lúc ba giờ như mọi khi. Anh không thể tỉnh ngay, và cố gắng hết sức để đứng dậy. Dưới làn nước của vòi hoa sen, anh ngáp mấy cái như thể muốn sái quai hàm. Sau đó, anh pha một chút cà phê thật đặc và uống đến một phần ba ly. Nhưng anh vẫn chưa thôi ngáp và cảm giác ngây ngô. Hai mắt anh vẫn muốn díp lại mặc dù anh đang đứng. Alba đôi khi hơi cực đoan với cả chính mình. Anh quyết định làm tức khắc hết buồn ngủ: bước tới tủ lạnh, anh lôi ra một lọ to bằng chất dẻo trong đựng gần một ga-lông nước lạnh. Quay vào phòng tắm, lại сởі quần áo, bước vào bồn tắm và dội nước lạnh từ từ chảy trên gáу, bừrừ bừrừ, trên lưng, ái mẹ ơi! lên ngực, a һа ha, lên chân cho đến khi toàn bộ da anh tím như thể da bồ quân. Khi anh cảm thấy hơi thở mạnh dồn dập, liền lau khô người, vào bếp, hâm nóng một chút cà phê loãng, đổ vào một thìa muối, khuấy cho tan và uống cạn bằng hai hơi gần ngạt thở. Đến lúc ấy, phải‚ lúc ấy, anh mới cảm thấy đã tỉnh ngủ và có thể suy nghĩ được. А! Phải, bức điện của Volpe. Volpe, tức Denis. Sao cơ? Phải Volpe, tức Denis! A, hà hà, Volpe, thế Volpe muốn gì? Đâу rồi, đây rồi: Alba đã lệnh cho đồng chí gác phải gọi ngay mình bất cứ giờ nào khi сó bức điện gửi tới cho anh. Vì vậy Manolo Argüelles mới đánh thức anh dậy lúc hai giờ sáng!
Anh mặc nhanh quần áo, hôn đứa nhỏ và vợ. Chị chỉ kịp mở một con mắt và nhoẻn một nụ cười tiễn biệt. Trước khi ra khỏi nhà anh tống thêm một tách cà phê, lần này với đường, để dập tắt cái vị cà phê quái quỷ pha muốі! Anh tắt đèn và bước rа.
Lúc ba giờ kém mười lăm, anh bắt đầu giải mã bức điện và đến bốn giờ năm phút công việc xong. Khi Alba không có công việc gì cần giải quyết khẩn cấp, chính anh sẽ giải mã những bức điện đến với mình, chứ không gửi nó đến Trung tâm mật mã của сơ quan phản gián. Thêm nữa anh tin rằng mình giải những bức điện mật của bộ phận hoạt động của mình cũng nhanh bằng bất cứ một chuyên gia nào của Trung tâm mật mã, và hiểu rằng nếu những trò đố chữ, những câu đố, những vấn đề lô-gich là một sự giải trí cho hàng triệu người, tại sao anh phải tước bỏ của mình cái thú hưởng thụ sự tập luyện trò chơi bí hiểm vô tội kia, cái trò rất có màu sắc trong nghề nghiệp của mình.
Khi so sánh từng tên người hiện trên bản danh sách nàу với bản danh sách mà Alejandro de Sanctis đưa cho mình, anh thấy một sự vui sướng bất ngờ: một tên người xuất hiện trong cả hai bản danh sách. Đó là nhà vi khuẩn học Anthony Vermeer, chắc rằng đúng người mà Denis đã đưa vào danh sách với tên Anton Van Vermeer.
Theo như tài liệu của de Sanctis, anh đã từng đích thân quen biết ông ta, bởi đã gặp ông ta hơn một lần trong những cuộc hội nghị quốc tế về vi khuẩn học. Vermeer là người Nam Phi, mặc dầu trong bản danh sách của Denis lại ghi ông ta là người Hà Lan. Có thể ông ta có cả hai quốc tịch. Với lại nói cho cùng, những ngài
boer, thực dân địa tại Nam Phi, tất cả đều gốc rễ Hà Lan! Đúng, chắc chắn đó cũng chỉ là một con gà, một tiếng gáy thôi! Alba viết luôn cho Denis một bức điện:
Yêu cầu Sylvia tập hợp tối đa những thông tin có thể về số 14 trong bản danh sách của anh (chấm) Phối hợp với chị ấy và nhóm kế hoạch để tìm biết chi tiết hoạt động của số 14 tại Homestead Chào Warren. Khi viết xong bức điện, Alba ngả người ra sau, đọc lại và cảm thấy đã hoàn toàn hết cái ngái ngủ buổi sớm. Anh lại cảm thấy rất tỉnh táo và tinh thần minh mẫn sẵn sàng làm việc. Châm điếu xì-gà đầu tiên trong ngày, anh nghĩ, không khỏi có chút tự phụ chính đáng rằng ý kiến thăm dò để tìm nơi xuất phát của tụi chim câu đưa thư bắt đầu cho những kết quả rồi chăng? Нау tất cả những điều đó, phải chăng chỉ là ảo tưởng?
Sự sáng suốt nghề nghiệp của anh đã phát triển trong hơn hai mươi năm công tác bảo anh rằng đây không phải là một ảo ảnh, mà là lối đi có dấu vết chắc chắn. Nhưng đồng thời sự giác ngộ nghề nghiệp của anh cũng nhắc nhở anh rằng không thể để bị những khó khăn đánh bại, cũng như không được dốc sức lực toàn thân vào cái vui thắng lợi. Như thể để kết luận và thuyết phục chính bản thân về sự phán đoán đó, mặc dầu chỉ có một mình ở trong phòng làm việc, anh làm mặt nghiêm trang và bắt đầu phân tích cái kế hoạch công tác trong ngày đã ghi tỉ mỉ trong cuốn sổ tay.
Vào khoảng bảy giờ rưỡi, một tin phấn khởi thứ hai trong ngày đã đến. Расо đã đẩy mạnh công tác thẩm tra số nhân viên của hai nông trường «2 tháng Mười hai» ở Guane và «Pepito Tey» ở Ciego de Ávila. Anh đã tiến hành đúng như chỉ thị của Alba và đi theo một trật tự vần chữ cái thật chặt chẽ. Anh và bốn đồng chí giúp việc thuộc Cục điều tra căn cước đã dò tìm đến vần С. Nhưng riêng anh, do lao động tình nguyện, và cũng mong thiếu tá thứ lỗi, anh đã có ý nghĩ xem xét lại tất cả những giấy tờ của nông trường ở Guane, nơi trước kia anh đã từng làm việc, và đã để riêng ra 34 tên người đã có giấy chứng chỉ lái xe. Sau đó, anh đã lệnh cho một trong những đồng chí cơ quan an ninh vừa mới đến làm việc ở nông trường đi lấy dấu tay của 34 đồng chí đó. Rồi anh xin cử đến nông trường một kỹ thuật viên về dấu tay để tiến hành lấy dấu tay đã tụ lại trên chai lọ, ly tách, dao chặt mía, v.v..., để có thể so sánh chúng với những vết tay lưu trữ ở La Habana. Vâng, thưa thiếu tá, trong số 34 trường hợp nàу, có một trường hợp giả mạo. Trong kho lưu trữ tại La Habana, tấm thẻ có dấu tay số 1236348 cấp phát năm 1960, không thấy đến để đổi mới năm 1955, có mang dấu tay không phải dấu tay của người chủ thật của tấm thẻ đó. Thế người đó có phải là tài xế không? Trong nông trường, người đó không hề lái xe bao giờ. Bởi vì thế nên không thấy đến đổi mới tấm thẻ. Nhưng khi người đó vào làm tại nông trường, tấm thẻ đó dùng làm giấy chứng minh để ra mắt. Và đồng chí có thể đoán được người đó tên là gì không, thưa thiếu tá? Thưa, Zamora. Tên người đó là Zamora, Elpidio Zamora, với chữ Z trong vần Za.
Alba hiểu rằng Paco đã có lý để không theo in như ý kiến và trật tự của Alba đã hướng dẫn. Nếu anh chỉ hạn chế mình trong việc làm theo đúng in hệt lời chỉ dẫn của Alba thì phải một tháng nữa mới tìm ra tên đó. Tốt lắm, Paco ạ. Rất tốt! Cuộc này như vậy anh ta đã thắng mình. Việc đó thật tốt, Paco ạ. Phải, phải. Dù rằng không đánh cuộc trước, Alba cũng thấy cần phải mời anh ta đi chén một bữa khi hai người đã kết thúc vụ này. Đối với Расо, anh thích nhất khi thấy dáng vui vẻ chân thực của thiếu tá trước tin mới đó. Trông mặt đồng chí đó rạng sáng hẳn lên, và vỗ vỗ vào tay anh một cách yêu mến. Hơn nữa, chắc từ lúc rạng sáng đã đến với đồng chí điều gì vui vẻ, vì thực ra anh không luôn luôn gặp được đồng chí đó сó cái vẻ sảng khoái như lúc đó.
Được, thế bước thứ hai sắp tới như thế nào, Расo? Вí mật theo dõi tên Zamora, nhất là khi bắt đầu cắt mầm để ghép cây. Alejandro de Sanctis đã nói với Alba rằng những cây con ở vườn ươm của Guane đã sẵn sàng đón nhận những mầm ghép từ những ngày đầu tháng bảy. Paco có quay về Guane ngày đó không? Nhất định rồi, thưa thiếu tá, Расo chỉ nghỉ phép có một ngày. Nghỉ làm gì thế Paco? Sao kia? Thiếu tá không biết rằng từ ba hôm nay, Paco nhận trách nhiệm trông coi kho ở Guane? Chỉ còn thiếu có điều đó đấy! Thế thiếu tá thấy đó không phải là công việc tốt hay sao? Có, có, thiếu tá thấy đó thật tuyệt, nhưng đồng chí cũng đã thấy rất nhiều thủ kho bị vào tù. Mong Paco cẩn thận cho. Đó là một chức vụ rất khó khăn, rất khó khăn, ha, ha, ha! Như vậy сơ quan an ninh đã cùng hoạt động với nông trường. Thế còn người giám đốc cũ ra sao? À, đã được chỉ định đi học tại Pháp, và từ mười hôm trước đây đã đi học một lớp học cấp tốc tiếng Pháp tại một trường ngoại ngữ của Viện Cải cách ruộng đất. Thế giám đốc mới là ai? Một đại úy cơ quan an ninh, kỹ sư nông nghiệp. Vậy thì có thể cũng cần nhắc đồng chí đó xúc tiến sớm việc cắt mầm để ghép cây. Có thể cái tên Zamora cũng bắt đầu công việc của hắn. Ngay ngày hôm đó Paco đến gặp thiếu tá đề nghị việc đó. Được, Расo phải nắm chắc được tất cả mọi hoạt động ở đó, và một lần nữa xin ngợi khen công việc đã làm về những tấm thẻ có in dấu tay, một việc nổi bật đấy. Paco rất hài lòng. Và tiện thể, Расо, về Sepúlveda ra sao? Hoàn toàn chưa có gì mới, thưa thiếu tá. Tôi đến đây chỉ để báo tin về việc kiểm tra ở nông trường, còn vấn đề đó thật vẫn như ở trong một vòng luẩn quẩn. Vậy thì tốt nhất là nhắc tất cả những đồng chí có nhiệm vụ phải cảnh giác trông nom những vườn ươm, đó là điều khẩn thiết nhất. Расо không thấy như vậy sao? Có, có, Расо hoàn toàn nhất trí. Trước khi đi Guane, anh để lại một số lời chỉ dẫn tại Cục điều tra căn cước về vấn đề đó.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 12 giờ bởi huytran >