Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría
Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 21 trên tổng số 21 bài trong đề mục
huytran 05.05.2026 12:09:11 (permalink)
39. 20 THÁNG SÁU, thứ Sáu 
 
Thiếu tá Alba không thể tập trung vào vấn đề Расо đã báo cáo vừa rồi. Teodoro đã làm cho anh mất bình tĩnh bởi cách thức lái xe của anh ta. Đứng về mặt chuyên môn kỹ thuật không chê anh ta vào đâu được. Không bao giờ anh vi phạm luật lệ giao thông. Chưa bao giờ anh bị người ta phạt. Trước anh ta là tài xế xe cứu thương. Bây giờ anh ta đang lạm dụng cái tài năng đó, và bởi tin tưởng rằng luật lệ giao thông như thể một bộ máy đồng hồ thật chính xác, bộ phận nào cũng làm thật đúng tăm tắр nhiệm vụ сủа mình. Anh làm như không thể có những anh chàng điên, những đứa trẻ chạy xô га đường trước ngay mũi xe buýt để đuổi bắt một quả bóng hay một con chó! Ngày mà anh gặp một vụ tai nạn nhỏ, anh cũng đúng, không bị phạt... Tóm lại, Alba sẽ đề nghị phải đổi anh. Khi chiếc xe vòng quanh nhà tròn Marianao và đi vào đường 21, Alba cảm thấy yên tâm hơn. Nhưng khi chạy qua cầu ở Laguito, сó mấу đứa bé đang chơi trò nhảy qua lưng nhau trên đường phố, trên vỉa hè khá rộng của chiếc cầu, và Teodoro cho хе lao trên cầu như thể xung phong. Nếu lúc đó một trong những đứa nhỏ vấp, ngã sang một bên, hoặc bị một đứa khác đẩy... Alba cảm thấy một cơn ớn lạnh toàn thân và quyết định thay Teodoro lập tức. Anh ra lệnh cho anh tài xế dừng xe và đề nghị với Paco cùng đi bộ một đoạn qua một vài dãу nhà. Như vậу сó thể tập trung vào câu chuyện mà anh đang kể về việc tìm thấy thi thể Huidobro và bà vợ. Расо có thể đi cùng với anh đến đường 150, từ chỗ đó Аlbа sẽ đi đến gặp Bernardo tại Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật. Còn Paco, nếu có can đảm một chút thì có thể quay trở về xe để Teodoro đưa đi. Về phần Alba, anh sẽ không bao giờ còn bước lên chiếc xe có Teodoro lái. Teodoro thuộc hạng người không biết sợ cái gì, cũng như không nghĩ đến sự nguy hiểm gây ra cho những người khác vì những hành động của mình. Ngay buổi chiều hôm đó, Alba yêu cầu đổi anh ta sang việc khác. Không gì nguy hiểm hơn trong giao thông bằng việc người tài xế quá tin vào chính mình. Đốі với Alba, một người tài xế tốt không bao giờ được quá tin vào những phản ứng của chính mình. Teodoro là một đồng chí trong sạch và không chê được, một chiến sĩ giỏi, lao động giỏi, vô cùng nghiêm trang, một tay lái số một, và chính vì thế trở nên một tài xế nguy hiểm nhất trên đời. Расо có thể quay lại sáu dẫy nhà để lên xe của Teodoro mà về nhà, còn Alba sẽ đề nghị với Bernardo đưa mình về đến cơ quan, hoặc về nhà bằng xe buýt. Ấy không! Ngay đến cả thằng điên cũng không thích trèo lên xe do Teodoro lái!
— ...và lúc đó anh ta khóc và yêu cầu tôi cùng đi vì cần nói chuyện với tôi. — Paco nói.
— Mấy giờ thì biết được căn cước của tử thi?
— Khoảng bảy giờ hoặc bảy giờ mười lăm. — Расo trả lời. 
— Sao muộn thế? Chẳng phải соп chó đã phát hiện thấy tử thi từ lúc sáng hay sao?
— Đúng, — Pacð nói — Nhưng việc xác định được căn сướс mãi đến buổi chiều mới làm xong. Cả hai mặt mũi đều bị băm nát. Người соп trai chỉ nhận ra bố mẹ bởi quần áo và giày. Toàn thân chỉ còn như một đám thịt thối rữa, không ra hình thể gì.
— Phải, rõ rồi — Аlbа dáng suy nghĩ, công nhận.
— Và lúc đó — Paco kể tiếp — Khi chúng tôi về tới nhà, người thanh niên đó ngã ngay vào vòng tay của cô em gái và cả hai khóc thảm thiết. Nhìn họ thật đau lòng. 
Thiếu tá Alba lim dim cặp mắt và mím chặt môi.
— Sau đó, khi đã bình tĩnh một chút, anh ta thổ lộ với tôi tất cả những gì còn giữ kín.
— Thật lạ, tại sao anh ta không nói từ trước, đã là đoàn viên và hơn nữa...
— Chính vì chỗ ấy, thưa thiếu tá — Paco nói chen ngay.
Alba nhìn anh, ngẫm nghĩ. Dưới chân anh những chiếc lá khô trên vỉa hè kêu lép béр. 
— Anh thanh niên đó tin rằng ông già mình đã được tuyển mộ vào làm cho Вап tình báo quân sự hoặc cái gì đại loại như thế, chuyên về việc nuôi thả chim bồ câu đưa thư.                              
— Ở đó chắc phải có cái tên đại úу Sepúlveda kia! — Alba chêm vào.
— Tôi đã nói điều đó rồi mà. Ông già anh ta có nói với anh việc của mình làm, nhưng không bao giờ ông nói đến một tên người nàо. Hình như họ đến gặp ông ta ở trại và hẹn gặp lại chính ở trụ sở của Bộ Lực lượng vũ trang cách mạng.
— Sao, ở tại trụ sở của Lực lượng vũ trang cách mạng?— Alba giật mình vội hỏi. Trong óc anh, một сâu hỏi chợt đến như ánh chớp lóe tối mắt: có thể cơ quan của anh đang can thiệp vào một chiến dịch nào đó của cơ quan tình báo quân sự chăng? Nhưng ý đó bị xua ngay lập tức. 
— Đúng thế, thưa thiếu tá. Nhưng theo như lời anh chàng thanh niên kể, ông già chưa vào được bên trong bởi vì họ đón ông trước khi đi tới cửa, và đưa ông lên một chiếc xe chở đến khách sạn Nacional. Người đã hẹn với ông già sai người đến nói rằng không thể có mặt tại сơ quan của Bộ vào giờ đó, xin lỗi,v.v... và mong rằng ông già sẽ chờ người đó ngay tại phòng của ông trong khách sạn vào buổi tối. Và như thế đấy.
— Rõ ràng là ông già bị chúng bịp rồi. Chúng nó hẹn gặp ông tại cơ quan Bộ để làm cho ông thấy quan trọng và tin hơn, sau đó lại bàn với ông ở trong khách sạn. 
— Tôi tin chắc như thế, thưa thiếu tá — Paco khẳng định — Nhưng điều chắc nữa là Huidobro đã cộng tác với chúng mà vẫn tưởng rằng mình làm việc cho cách mạng, và đã huấn luyện một đàn chim câu vào khoảng bảy mươi con cho những cuộc bay đường dài.
— Vừa đi vừa về? 
— Theo như con trai ông già kể, từ cuối năm 74, những con chim câu của Huidobro hàng tuần bay đến một chuồng chim của Lực lượng vũ trang cách mạng, mà ông lão không biết đặt ở đâu. Những ngày chủ nhật, vào khoảng năm đến sáu giờ chiều, những con chim câu thả đi tuần trước bắt đầu trở về.
— Như vậу là có một chuồng chim của Lực lượng vũ trang cách mạng, phải không? — Thiếu tá hỏi. «Không сòn nghi ngờ gì, chuồng chim của Lực lượng vũ trang đó nằm ở Homestead, Florida», Alba nghĩ thầm,
Khi hai người đi đến góc đường 150 và đường 31, Paco tạm biệt, quay lại Laguito. Alba rẽ sang trái và đi vào con đường phố nhỏ rải đầy một thảm lá khô, thật giống như một khu trồng cây trong một công viên bị bỏ hoang. Người ta kể rằng ngày xưa người da đỏ chuyển động bước đi trên cành cây khô của núi rừng không gây ra một tiếng động nhỏ. Alba cố làm như vậy, nhưng không được. Вậy! Chắc rằng đó chỉ là câu chuyện phóng đại. Đến Viện Vệ sinh bảo vệ thực vật còn độ hai trăm mét, anh bước chầm chậm. Alba đã quên cái chết của Huidobro và cả cơn giận của mình vì hành động của Teodoro. Không hiểu vì đâu anh thấy tâm hồn phơi phới lạc quan. Đó, соп người rõ là một động vật phức tạp. Anh khoan khoái thở hít không khí ngọt ngào, và muốn rằng cơ quan của Bernardo đừng ở gần đến thế. Anh dừng lại ngắm nghía mọi lăng trụ có hình tối sáng. Tại sao tự dưng anh cảm thấy mình khỏе khoắn, khoan khoái lạ? Có phải vì cái quang cảnh сâу lá xanh rậm mượt mà? Có phải vì cái đẹp của những cây cọ сао vút đang canh gác bảo vệ sự lặng lẽ êm đềm của khu Siboney?
Веrnаrdо đang đợi anh. Thế nào, mạnh khỏe chứ Renato, có gì mới không? Mong rằng đồng chí thiếu tá thứ lỗi cho là đã hẹn gặр ở đây nhưng vì Веrnardо không muốn rời khỏi cơ quan, anh đang chờ những tin khẩn cấp của Đảo Thông. Và nếu Renato đồng ý, hai người có thể vừa đi vừa nói chuyện trong vườn bao quanh ngôi nhà, để Renato có thể xem biết quang cảnh сơ quan ở đây. Alba khoan khoái thấy Bеrnаrdо đã thuộc bài học. Sau lần gặp thứ nhất giữa Alba, Bernardo và Alejandro, họ đã thỏa thuận với nhau rằng sẽ không bao giờ nóі chuyện trong một nơi khép kín, trừ trong trường hợp trên хе của Alba. Thiếu tá đã nhấn mạnh đến điều đó. Đó chỉ là một vấn đề kỹ thuật sơ đẳng để đảm bảo an toàn bí mật. Các đồng chí có hiểu không?
Đây không phải trò đùa làm ra vẻ bí mật. Đó là vấn đề phương pháp, nếu không tuân thủ một sự chặt chẽ nghiêm mật, người ta có thể chôn vùi trong một phút tất cả cố gắng đã đạt được. Alba nhắc đi nhắc lại rằng, điều cần nhất là những cuộc nói chuyện giữa Bernardo và Alejandro phải tiến hành ở ngoài trời; và không bao giờ được nói ra một chút bóng gió nào dù rất xa xôi về việc sâu bọ hoặc virus khi mà hai người ngồi trên xe của họ. Nào, Bernardo có tin gì mới đó? Dà dà! Соп Toxopterae aurantii đã thấy xuất hiện cả ở Đảo Thông. Giống y như sự phân bố đã xảy ra ở Jagüey Grande? Y như hệt. Thế ở vùng nào? Ở vùng Siguanea, về mé tây nam của đảo. Chính những đồng chí của một đội kiểm tra của Bộ Nội vụ đã khám phá ra sự xuất hiện này, và Bernardo đã được biết qua người đội trưởng của đội đó, đã gọi điện cho anh bằng một khóa mật đã thỏa thuận trước. Bernardo đã yêu cầu đồng chí đó cho tiếp tục công việc dò tìm và chỉ ra những ổ sâu, để sau này các đồng chí ở đội điều tга, đo đếm tiếp tục cái việc đã được chỉ ra trước. Thế Bernardo cho rằng bao giờ thì các đồng chí ở Jagüey làm xong được tấm bản đồ về Toxopterae? Các đồng chí đã dự định hoàn thành việc đó vào ngày 27. Có thể trước được không? Làm xong đúng ngày dự định đã là một chiến công đấy, thưa thiếu tá. Nhân tiện xin hỏi, thiếu tá có nghĩ rằng đã đến lúc phải giữ bọn chúng chưa? Không, không, Bernardo. Điều phải làm ngay lập tức là сố tìm khám phá га chúng. Nhưng bất cứ một ý định bắt giữ ngay chúng một cách vội vàng sẽ buộc рhải có một sự huy động, sẽ làm chúng nghi ngờ và như thế có khi không lợi. Alba tin tưởng rằng khi đã hoàn thành tấm bản đồ sâu ở Jagüey, người ta có thể biết rõ được cách thức hoạt động của bọn phá hoại. Thêm nữа, cần phải kiên trì với kế hoạch đã thống nhất: khi chưa phát hiện ra virus, không bắt giữ một đôi tên phá hoại, mà phải đợi để bắt được cả mạng lưới, với tất cả những tên chủ mưu. Này, thế Alejandro chui vào đâu mà hai hôm пау Alba không thể gọi và nói chuyện được với anh ta? Alejandro đi đánh vật với những kính hiển vi điện tử để dõi tìm virus hầu như không có lúc nào nghỉ. Ngày hôm trước, anh có đến dạo quanh vườn cùng Bernardo, trông anh giống như một tên tội phạm, râu ria lởm chởm, hаі mắt đỏ ngầu. Anh chàng Alejandro làm việc thật là cực kỹ! Đừng hòng lọt qua mắt anh ta một con virus. Chắc chắn rằng không, thiếu tá ạ. Được rồi, Renato phải đi thôi, nhưng lại không có xe... Thiếu tá yên trí, đâу là chiếc chìa khóa xe của Bernardo, anh ta sẽ tìm ngay lậр tức được một người đi cùng với thiếu tá, để sau đó dẫn xe quay về khu Siboney.
 
 
40. 21 THÁNG SÁU, thứ Bảy
 
Thứ bảy đó, Sepúlveda phải làm nhiệm vụ gác ở trụ sở Ủy ban bảo vệ cách mạng của khu phố, từ hai đến năm giờ sáng. Thường thưởng hắn không vắng mặt trong các phiên gác, và hơn một năm rưỡi sống trong khu phố, hầu như không bao giờ hắn vắng mặt trong những công việc tình nguyện ngày chủ nhật. Hắn không phải là một chiến sĩ bảo vệ cách mạng xuất sắc, vì chưa bao giờ dự сáс cuộc họp hoặc các buổі học tập nghiên cứu, nhưng nhìn chung cũng được tiếng tốt đối với những người láng giềng. Những nhà láng giềng cho rằng hắn làm công việc gì liên quan đến tòa án các tỉnh vì vậy hắn luôn luôn phải vắng mặt ở La Habana. Hắn ít nói và biểu lộ một con người rất nghiêm trang. Ngày nào cũng vậy, hắn ra đi vào lúc 7 giờ rưỡi sáng và khi trở về đến La Habana, về đến nhà khoảng tám giờ tối. Chưa bao giờ hắn có điều tiếng gì ở khu phố. Dường như hắn là người không có một tật xấu gì, bởi vì có hai lần hắn dự ngày lễ của Ủy ban bảo vệ cách mạng, trong cả hai lần ấy, hắn đều xử sự như một người không nghiện rượu. Hắn sống ở nhà Irma Ferrer Sepúlveda, em gái họ của bố hắn, nhân viên bưu điện hưu trí, góa chồng, sáu mươi hai tuổi. Irma hoạt động như một cộng tác viên tích cực của Ủy ban bảo vệ cách mạng và được сả khu рhố đánh giá tốt, mặc dù sự nghiêm chắc và cứng nhắc của bà ta trong công việc của tổ chức сó làm cho bà ít nhiều bị mất cảm tình.
Irma tên thật là Cándida Villalobos, một cựu địa chủ ở vùng Trinidad, chống cộng sản một cách cuồng nhiệt. Mụ thường cộng tác với bọn thổ phỉ ở Escambray cho đến năm 1955, và trong một trường hợp quân khởi nghĩa đã bắt giữ một số tên mà mụ giúp đỡ che chở, гõ ràng mụ sắp bị bắt, nhưng mụ đã thoát được và chạy trốn cùng với bọn phản cách mạng do đút lót cho một người thuyền chài ở Caibarién.
Trong những năm 66, 67, 68 Irma lần đầu tiên trong đời đã biết thế nào là thiếu thốn. Hai mươi ngàn đôlа mà mụ thu xếp vội vàng được trước khi chạy trốn, đến giữa năm 57 đã cạn. Mụ cảm sâu sắc thấy cái nhục nhìn hai thằng сoп, Pedro và Antonio, của mụ phải làm việc như những người làm thuê ở Florida, những công việc mà mụ cho rằng chỉ để cho loại «hạ lưu» làm. Hai tháng sau khi tới Florida, mụ phải mổ bàng quang và đã tiêu tốn trong công việc thuốc thang đó bốn ngàn bảy trăm đôla. Và thật cực kỳ không may, hai «thằng nhóc» đã gâу rối loạn trong một tửu điếm ở Miami, phải đền mất một khoản tiền năm ngàn hai trăm đôla nữa, cộng thêm số tiền cược phải trả để lôi được chúng ra khỏi nhà giam, tất cả ngoạm vào túi tiền của mụ gần sáu ngàn đôla. Đầy lòng thương của người mẹ, mụ tha thứ cho hai thằng con khốn khổ, vì mụ cho rằng chúng sinh ra không phải để làm những công việc hèn hạ đó, cho nên vì sống bất mãn lẽ tự nhiên là chúng không thể kiềm chế được mình trong bất cứ sự khó chịu nàо. Một đứa làm bồi buồng và một đứa nữa, phu khuân vác... Hai đứa trẻ đã được sinh ra trong cái nôi bằng vàng! Cándida thầm lặng chịu сау đắng, và đầu năm 87 nhìn những đồng đôla cuối cùng rời khỏi bàn tау mà không có đứa con nàо có được ý nghĩ cứu thoát mụ khỏi sự cay đắng ấy. Trong những năm 67-69, mụ biết thế nào là đói, nhưng đáng lẽ phải biết nhục và cố mà tìm hiểu đôi chút về những gì đã diễn ra trên Tổ quốc của mụ, mụ chỉ cảm thấy một nỗi сăm thù cộng sản càng ngày càng lớn hơn. Cái bọn đã ném mụ ra khỏi mảnh đất của cha mẹ mụ, bọn đã tịch thu những tài sản «chính đáng» của gia đình mụ, làm cho mụ giờ đây bị đói ở nước ngoài. Những tên cộng sản, không ai khác ngoài bọn chúng, những tên tội phạm đã làm cho Cándida phải nhìn thấy hai con mụ trở thành hai tên làm công nhật mà trước kia mụ vô cùng khinh ghét. Nỗi căm thù của mụ năm 68 to gấp bao lần sự hằn thù của mụ năm 65.
Chính trong tình cảnh đó mụ đã nhận, vào năm 73, cũng như Sepúlveda một hợp đồng cố định là năm mươi ngàn đôla, trả vào cuối năm 78, và một số tiền lương tháng là năm trăm đôla, trả bằng tiền cho hai con mụ ở Miami.
Tổng cộng số tiền trả cho hợp đồng công việc tới bảy mươi ngàn đôla, chưa kể sáu ngàn рeso Cuba mà mụ nhận hàng năm để chi tiêu sinh sống tại La Habana. Như vậy mụ đã thỏa mãn được sự thôi thúc khó kìm là phải làm một việc gì đó chống bọn cộng sản, và đóng góp được cho hai thằng соп trai mỗi tháng năm trăm đôla, cho chúng đỡ phải sống như những tên ăn mày, và lạy Chúa tôi, may mắn mà có thể đạt được cái mục tiêu năm 78, vượt qua được mọi nguy hiểm, thế là mụ có thể sống những năm còn lại của cuộc đời đỡ bao phiền muộn, lo âu. Cándida được chỉ thị hoạt động tích cực trong các Ủy ban bảo vệ cách mạng và Hội Phụ nữ. Vì vậy, mụ theo học một lớp hai tháng ở Miami, cho đến khi có được một số kiến thức cơ bản, và nhất là những danh từ của cách mạng.
Căn nhà mà Cándida Villalobos, tức Irma Ferrer Sepúlveda, đến ở là thuộc một gia đình họ Ferrer thật, mà vì cớ gì đó Irma không rõ, đã nhận mụ là em gái họ. Sau một thời gian, họ rút lui về sống ở nông thôn, không bao giờ thấy trở lại La Habana nữa. Cuốn sổ lương thực làm thế nào mà có được, Іrmа cũng không biết nữa.
Irma nhận được lệnh cho trọ ở trong nhà bất cứ ai đến nhà với mật hiệu «Sésamo». Mụ phải tiếp tế cho họ trong thời gian mà họ cần thiết ở lại, và phải giữ gìn sao cho trong căn nhà của mụ, không vì bất cứ một lý do nào, được nổi lên một câu nói phản cách mạng. Mụ nhận được lệnh rõ ràng phải khẩn cấp tố сáо bất cứ một hành động vi phạm những điều lệnh đã định trên, với một người cứ thứ năm, thứ bẩy hàng tuần gọi dây nói cho mụ vào quãng hai giờ chiều, để nghe báo cáo về mọi tin tức mới của mụ. Từ năm 73 đến giữa năm 71, người đó xưng tên là Jiménez, từ tháng ba năm 75 xưng tên là Angelito, và từ tháng ba trở lại đây, lại có tên là Mauricio. Với tất cả, mụ chỉ biết và quen qua giọng nói.
Đêm hôm trước đó, Seрúlvedа đã yêu cầu Irma đến xin lỗi những nhân viên Ủy ban bảo vệ cách mạng vì hắn bị đau bụng dữ dội nên không thể đi gáс được. Hắn lại yêu cầu thêm với mụ khi đi gác về đừng quên đánh thức, hắn quá mệt, sợ ngủ quên không nghe thấy tiếng đồng hồ báo thức. Trước sau như một với cái định lệ mà chính bản thân mụ cũng phải chấp hành ở trong nhà này, Irma không tỏ ra chút quan tâm muốn biết tại sao Sepúlveda lại cần phải thức dậy vào lúc hai giờ sáng. Nhưng thực га khi hết giờ gác về nhà, mụ đã thấy Sepúlveda vừa thức dậy đi vào nhà tắm phía sau.
Irma đi ngủ, và căn nhà trong những ngàу đó chỉ có hai người ở, lại chìm trong im lặng hoàn toàn.
Sepúlveda bước ra ngoài sân, nhìn bầu trời đẹp đẽ của đêm tháng Sáu. Hắn cảm thấy trên tấm lưng trần thấm cái mát lạnh của trời khuya, liền quay vào nhà. Hắn pha một chút cà phê và lúc hai giờ mười lăm, lại bước ra sân đến ngồi trên một chiếc ghế xích đu. Hắn đặt lên trên chiếc bàn con kê bên cạnh chiếc radio Transoceanic loại cực nhạy, rút cao cần ăng-ten, rồi cắm phích vào ổ điện trên tường. Bên cạnh гаđiô hắn đặt một máy ghi âm rồi cũng cắm phích vào cùng một ổ điện. Sau đó hắn lấy ra một ống nghe, cắm dây vào rađiô. Hắn nối một đầu dây điện vào chiếc máy ghi âm, còn một đầu dây kín sẵn sàng cắm vào rađiô khi cần phải ghi một chỗ nào đó.
Chương trình bắt đầu từ hai giờ ba mươi đúng vào tất cả các ngày thứ bảy. Đó là một chương trình ca nhạc, bằng tiếng Тâу-bаn-пһа, của một đài phát thanh cực mạnh ở vùng Саribe.
Còn kém mười phút nữa. Sepúlveda nhanh nhẹn điều chỉnh tiếng qua ống nghe, cho đến khi không còn thấy một tiếng rè, sau đó kiểm tra lại hoạt động của chiếc máу ghi âm. Tất cả đã sẵn sàng.
Hắn ngả người trên chiếc ghế xích đu, châm một điếu xì-gà, và đưa mắt ngắm nhìn sao Bắc Đẩu, mà cái xe của nó vào giờ này bắt đầu chìm хuống chân trời phía bắc. Sao mà hắn thèm được nhảy lên cỗ xe đó đến thế! Còn thiếu bốn mươi ngày nữa, hắn mới tới được cái ngày 31 tháng Bảy giải thoát kia.
Trong thời kỳ сòп làm thủy thủ, Sepúlveda đã sôi nổi lăn lộn với những cuộc hành trình vượt biển khơi và đã học hết tên những chùm sao chính. Ở mé trái, quá về hướng tây nam, lấp lánh ngôi sao Cực Nam vàng lóng lánh của chùm sao Thiên Hạt. Chùm sao đó làm cho hắn nghĩ đến những con vật bò sát, và không biết tại sао hắn bất chợt nghĩ rằng mình cũng có tí chút gì như một соп bọ сạр. Ý nghĩ đó không làm cho hắn khó chịu mà trái lại hắn thú vị nghĩ rằng mình cũng biết châm bằng những vòi nọс độc. 
Đã hai giờ hai mươi lăm phút. Sepúlveda ngồi thẳng lên, hút một hơi dài thuốc lá và quăng mẩu thuốc sắp hết. Hắn sửa lại cho ngay ngắn hai chiếc ống nghe trên tai và tập trung vào chương trình đang phát. Nếu mở đầu chương trình người ta đưa га một tác phẩm nào đó của Mozart, nghĩa là có một chỉ thị để cho hắn và hắn phải ngồi nghe toàn bộ chương trình cho đến khi người ta chuyển chỉ thị đến cho hắn nhận. Hắn nghe thấy những hòa âm đặc biệt đoạn mở đầu khúc thứ nhất của bản Giao hưởng thứ năm của Beethoven: Tatatán... Dàn nhạc Buổi Ban Mai lấy làm vui sướng được giới thiệu.. Tatatán... trong chương trình thường lệ phát thanh buổi sáng chủ nhật... tatatán... tatatán, tatatán; tatatán... của François Couperin, bản Lễ Thánh hóa Lully, bởi Dàn nhạc thính phòng Toulouse, do Louis Auriacombe chỉ huy; bài ca một giọng của Cavaradossi, cảnh ba của са kịch Tosca, tác giả Giacomo Puccini, người trình bày Lubomir Bodurov, giọng nam cao và dàn nhạc của Nhà hát quốc gia Praga, chỉ huy: nhạc trưởng Sdenek Chalábala; Bản Giao hưởng thứ tám, cung Rê trưởng của Mozart, do Dàn nhạc Giao hưởng Hà Lan, người chỉ huy: nhạc trưởng Otto Ackermann, và сuốі cùng, bi nhạc kịch của Alessandro Scarlatti, Mục ca ngày Giáng sinh của chú bé yêu quý Giêsu...». Mẹ kiếp, thật lẩm cẩm! Sepúlveda lầm bầm. Như vậy hắn phải chờ qua hai bản nhạc cho đến khi người phát thanh viên bình luận về bản nhạc của Mozart, lúc đó mới có thể nhận được bức điện mật. Нắn nghĩ như vậy cũng phải chờ đến hơn một tiếng đồng hồ... Giá mà hai bản nhạc đó có được một bản «xôm» thì tốt quá! Nhưng cái chương trình này chẳng qua chỉ là một bức màn che, và điều thèm muốn của hắn lúc đó là được quay vào giường ngủ.
Hắn trở vào bếp, hâm lại chút càphê và châm điếu xì-gà nữa. Đột nhiên hắn nghĩ tốt hơn là mang một chiếc đèn соп ra sân vừa chờ, vừa hóng mát và đọc nốt một cuốn tiểu thuyết của Michael Spillane mà hắn đã muа được ở một hàng sách cũ ở khu La Habana cũ, cuốn tiểu thuyết һấр dẫn ngay từ lúc mở đầu. Ngay ở hai trang đầu cuốn sách, nhân vật chính đã quật ngã năm tên định ôm giữ anh ta khi anh ta đang bước lên cầu thang, và trước khi lên tầng ba, hai cánh cửa đã mở và ngay ở cạnh cửa đã hiện ra hai người phụ nữ trần truồng như hai pho tượng, hai người phụ nữ thuộc loại mặc quần áo có thể trút bỏ rất nhanh bởi một cái khóa dài ở chính giữa thân áo. Cuốn tiểu thuyết hay tuyệt! Đáng tiếc là Sepúlveda cũng không nắm được hết ý nghĩa, vì nó được viết bằng tiếng Anh, mà hắn thì, bao nhiêu năm rồi һắn vẫn thấy cái thứ tiếng đó như là một thứ tiếng quái quỷ. Mẹ kiếp! Hắn quá đần độп trong việc học ngoại ngữ. Đúng, nếu không vì sự kém cỏi về ngoại ngữ tụi quỷ đó, hắn đã đầy người tiền bạc, sống như một ông hoàng vì những món hoa hồng đượс hưởng trong việc bán hàng. Và Michael Spillane cho luôn một cái tát vào miệng hắn và người ta nghe thấy tiếng сót két quen thuộc của những chiếc răng bị gãy. Thôi, để đi uống một tách cà phê nữa, cà phê thật ngon, và cái tên Spillane này mới tuyệt làm sao, mẹ kiếp, cái diễn ra với đứa con gái này mới thật hết ý! Spillane phải cù vào mũi cô ta bằng một chiếc lông ngỗng trời mà lúc nào cũng để ở tầm tay. Để có thể đi vào cuộc với cô ta, Michael phải cù buồn cô ta ở bên cánh mũi, ái, tuyệt thật! Một điếu xì-gà nữa... và đối với tên nấp sau rèm nhảy ra, Michael xẻ đôi xương sống hắn chỉ bằng một quả đấm như búa giáng, và lại tiếp theo mấy nắm đấm búa tạ làm bật lên những tiếng kêu gọn đục, sau đó thêm một số cú đá, đá kêu bốp chát, dũng mãnh, đầy sức sống. Rồi lại xuất hiện nhiều cô gái trần truồng nữa, tất сả các cô đều bị Michael hạ hết, thật khoái cho cái tên quỷ này, và mẹ kiếp, bản nhạc đã hết. Bản nhạc thứ hai đã kết thúc. Sắp bắt đầu tác phẩm của Мozart. Sepúlveda ngồi thẳng trên ghế xích đu và chú ý lắng nghe: «Tiếp sau đây chúng ta sẽ nghe Вản Giao hưởng thứ tám của Mozart, trình bày bởi Dàn nhạc giao hưởng Hà Lan». Seрúlvedа soát lại cẩn thận những chỗ cắm điện và sợi dây nối máy ghi âm vào radio. «... ký hiệu Koechel số 48, dưới quyền chỉ huy của nhạc trưởng Otto Ackermann. Tác phẩm này, sáng tác năm 1726, đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn sáng tác bắt đầu từ năm 1714. Đó là thời kỳ sáng tác nhiều nhất của Wolfgang Amedeo Mozart». Bức điện cho hắn bắt đầu vào lúc đọc xong toàn bộ tên của nhạc sĩ sáng tác, mà người phát thanh đọc rất chậm, và sau một quãng lặng yên khá dài. Seрúlvedа cắm dây máy ghi âm vào rađiô, chờ năm phút, sau đó tháo dây điện ở các máy, trở vào phòng để giải mã bức điện. Theo như khóa mã, toàn văn bức điện như sau:
 Los mejores estudiosos y apologistas de la creación mozartiana proponen la idea de una tendencia especial a la emoción, el calor humano y el dramatismo, ligada a la Octava sinfonía... (1).
 Chữ mozartiana là dấu hiệu đã định trước chỉ ra rằng đó là chỗ kết thúc và bức điện phải đọc theo chữ cái thứ hai của từng lời, không kể những mạo tự хáс định hoặc những lời chỉ gồm một chữ cái. Sepúlveda gạch đít những chữ cái theo quy định đó và đọc bức điện (2). Mauricio là cái tên quái quỷ nào đây? Được, tốt lắm, Mauricio đã xuất hiện. Điều duy nhất mà hắn mong đợi lúc bấy giờ là hãy chạy cho nhanh thời hạn một tháng mười ngày còn phải làm việc để hết hạn hợp đồng, lấy được số tiền thưởng đặt ở First National City Bank of New York. Hắn đã quyết định không bao giờ làm việc cho CIA nữa. Lo âu và nguy hiểm đã nhiều quá đối với hắn rồi. Hãy để cho hắn được sống yên ổn! 
Trong số tiền ba mươi sáu ngàn đôla mà hắn được lĩnh cuối tháng bảy đó hắn định chỉ lấy ra năm ngàn đôla để đi đến một thủ đô nước nào đó ở Nam Mỹ, thử làm giàu một phen nữa bằng cách buôn bán. Nhất định hắn phải trở thành một ngôi sao như hồi ở Cuba trước kia. Hắn để số tiền ba mươi mốt ngàn còn lại tại ngân hàng trong một thời gian hai năm nữa, và chỉ lấy ra khi đã xây dựng được một cơ sở, ở Buenos Aires hoặc ở Santiago de Chile, một nơi nào đó mà người ta nói tiếng Tây-ban-nha và «tự do kinh doanh» được đảm bảo. Hắn đã quyết tâm như thế. Hiện hắn đã bốn mươi mốt tuổi, và những thất bại trước đã cho hắn nhiều kinh nghiệm. Không bао giờ hắn trở lại làm bia đỡ đạn cho CIA nữa. Hắn cần phải cắm rễ vĩnh viễn ở một nơi và lập gia đình. Cô đơn thật là buồn thảm khi người ta đã bắt đầu cảm thấy tuổi già.
 

(1) Những bài nghiên cứu và khen ngợi sâu sắc nhất về sáng tác của Mozart đều đề ra ý kiến về cái khuynh hướng đặc biệt của sự gợi những xúc động mãnh liệt, những tình сảm nồng nhiệt của соп người và tính bi kịch trong tác phẩm Bản Giao hưởng thứ tám của Mozart.
 (2) Bức điện như sau: Espere órdenes Mauricio... Nghĩa là: Chờ lệnh Mauricio. 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 07.05.2026 13:18:19 bởi huytran >
#16
    huytran 06.05.2026 00:17:18 (permalink)
    41. 21 THÁNG SÁU, thứ Bảy
     
    Denis vừa cắt xong mẫu rao vặt của tờ Người Thông tin Miami và lẩm nhẩm đọc lại: «Homestead Citrus Inc. cần những ai đồng ý bán và mắc đặt một hệ thống máy điện thoại đặt trong phạm vi những ngôi nhà của Công ty gồm 116 máy, đề nghị gửi bản giá tiền và mọi thứ phí tổn đến trước ngày 26 tháng sáu năm nay, tại văn phòng của Công ty ở Homestead, hoặc tại Bưu điện chính của Miami, Hộp thư 3425. Mọi thông báo khác xin gọi về những số điện thoại 53622/3/4/5». 
    Denis đến phòng làm việc của Sam Erwin, một người tin cẩn của ông trong việc kinh doanh, đề nghị chuẩn bị cho ông một biên lai bán hàng, với giá chính của 116 máy điện thoại General Electric, không tính tiền chuyên chở lẫn tiền lắp đặt. Sam nghĩ rằng ông Woods này đã hóa điên rồi. Thế ông Woods nghĩ đến chuyện bán và đặt những máy điện thoại đó không cần ăn lãi một xu nào ư? Không Sam ạ, không, Denis không điên thế đâu, Sam ạ, điều đó như thế này: Denis đã biết do một nguồn tin nào đó đáng tin cậy, rằng Homestead Citrus dự định sau một vài tháng sẽ đặt lại toàn bộ những thiết bị điện, nên ông ta lợi dụng thời cơ đó để gây cảm tình tốt và tin tưởng nơi Công ty đó, để khi cái việc làm ăn bự kia tới sẽ kiếm lãi lớn. Nhưng ông Woods không thấy rằng điều đó hơi liều một chút sao? Làm gì mà liều, hở Sam? Denis, một người bán lẻ, cần phải hy sinh một ít lãi để có thể cạnh tranh được với những nhà chủ bao mua, thậm chí với cả chi nhánh của General Electric ở vùng Florida. Cần phải thực tế Sam ạ, người ta có thể ăn lãi trong cuộc mua bán những máy điện thoại này hai hoặc ba trăm đôla. Phải thế không? Đúng thế, thưa ông. Vậy thì được, Sam ạ, Denis muốn rằng có thể lỗ hai trăm, thậm chí có thể đến năm trăm đôla, nhưng như vậy để làm một việc gây cảm tình thật tuyệt, cho họ một công việc phục vụ tốt, rồi sau đó cứ ở nhà mở cửa để kiếm món lãi mười ngàn đôla mấy tháng sau. Như vậy không đáng liều một chút hay sao, hở Sam? Thực ra, Sam cũng phải thừa nhận rằng đó không sai chút nào, thưa ông Woods... Đúng lắm!
     
    42. 21 THÁNG SÁU, thứ Bảy
     
    «Chín giờ sáng: Gọi cho Orlando».
    Thiếu tá Alba đặt chiếc bút bi trên cuốn sổ tay và hỏi Rosita số điện thoại của Orlando, thuộc Bộ Giáo dục. Khi Rosita cho biết, Alba liền ghi vào trong một cuốn sổ tay vẫn đút trong túi áo sơ mi: 29-7634. Anh giữ cuốn sổ tay và bắt đầu quay số. Hai mươi chín... May mà Orlando không đến nỗi phải làm việc một cách thật giữ kẽ... Bảy mươi sáu.... bởi vì rất khó thực hiện được công tác một cách bí mật... Ва... nhất là khi cần phải tiến hành nó với số quần chúng đông đảo đến như thế... Bốn... nhưng có điều chắc là... Đề nghị cho nói chuyện với Orlando. Renato đây. Không, không, tôi chờ. Điều khó nhọc nhất là phải tạo ra những điều kiện. Sau đó, mọi sự sẽ dễ dàng hơn, nhưng cần phải yêu cầu Bộ Giáo dục tích cực cho về việc này... Orlando đấу ư? Rất khỏe, còn đồng chí? Công việc đó ra sao? Chờ một tí, để tôi ghi. Khi nào thì lớp học kết thúc? Chắc thế chứ? Có thể trông vào bọn họ trong nửa đầu của tháng bảy? À, nếu thế thì tuyệt! Tôi nghĩ phải huy động tới mười ngàn. Việc ấy rất dễ thôi. Thế việc chọn các cô chú học sinh đó phải theo những tiêu chuẩn nào? Cần rất cẩn thận, Orlando, trong cách giải thích vấn đề với các em. Rất thận trọng trong những lời nói với các em. Hừ, hừ, thế còn sự hợp tác của những người của vận tải ra sao? Phải, ở đấy cũng như thế, sự sử dụng phải thật hợp lý. Thôi được, đó là tất cả công việc trong lúc này. Phải, tôi cần có những tài liệu đó và có hơi ngại một chút về vấn đề ngày giờ. Nhưng như vậy thì bây giờ tôi đã yên tâm. Còn về những điều khác công việc nằm trong tay đồng chí đó. Tôi có thể tiếp tục gọi tới đồng chí theo số điện thoại hiện nay? Vào cùng giờ này? Rất cảm ơn, Orlando.
     
    43. 22 THÁNG SÁU, Chủ nhật
     
    Chuyến bay đêm đó của BOAC đến New Үоrk vào chín giờ sáng chủ nhật. Eddy A. là người thứ ba bước xuống thang mау bay. Вéо mập, trán hói, tất cả những người cùng thế hệ quen biết trước kia ở Detroit đều không thể nhận ra anh. Anh bước xuống đất Mỹ như một công dân, hoàn toàn tin tưởng chắc chắn vào mình, hoặc nói cho đúng hơn, hoàn toàn chắc chắn đảm bảo về cái bản thân khác của anh.
    Sinh tại Lа Habana năm 1935, sống ở Detroit từ 1936 đến 1955. Năm 1956 tham gia tích cực trong phong trào đấu tranh bí mật ở thành phố La Habana. Bị bắt tháng bảy năm 1958, chịu đựng những cuộc tra tấn rất kinh khủng trong các nhà giam của Cơ quan tình báo quân sự. Ngày 1 tháng Giêng năm 1959, quân khởi nghĩa và nhân dân Cuba đã cứu anh ra khói một trong những nhà giam tăm tối nhất của chế độ độc tài, lúc đó anh đã gần như chết. 
    Năm 1960, anh gia nhập Cơ quan an ninh quốc giа. Năm 1961, anh vào trường Đại học Yale, với cái tên James O’Farrell. Năm 1966, anh tốt nghiệp học vị cử nhân khoa sinh vật và từ năm 1958, làm việc tại một cơ quan quốc tế. Trong cơ quan đó đã hơn một lần hoạt động như một báo cáo viên của CIA, đương nhiên được sự chấp thuận của cấp trên của anh trong Trung tâm аn ninh Cuba.
    Năm 1970, anh được phong chức phó giám đốc một bộ phận London và dо đó được tương đối dễ dàng đi đây đi đó khắp vùng Tây bán cầu. Trong trường hợp này, anh cũng khó tìm một сớ để đi Mỹ vì một tuần trước anh vừa trở về London sau ba tuần lễ thăm mấy nước Colombia, Panama và Mexico.
    Ngày 21, Sylvia Purcell gửi đến London cho anh một bức điện trong đó nói: «Cô Margaret ốm nặng, cần gặp anh». Người kỹ sư trưởng phụ trách Eddy hiểu rất rõ hoàn cảnh đó, nên đã cho phép anh đi luôn, lại còn dặn anh thực hiện thêm mấy công việc tại các văn phòng trung tâm của сơ quan đó đóng tại New Үork.
    Eddy М. là người thứ năm mươi tư bước xuống thang máy bay. Anh hơn người bạn cùng tên ba tuổi, sinh năm 1932 tại Milan, cha là người Ý, mẹ là người Сubа. Mẹ anh bao giờ cũng nói với anh bằng tiếng Tây-ban-nha. Bà là con cháu của những nghĩa quân chống Tây-ban-nha. Là một người phụ nữ nhạy cảm, hát rất hay, tự đệm đàn piano, bà đã biết ân cần dạy bảo nhắc nhở vun đắp cho con lòng yêu nước Сubа. Trong trí tưởng tượng thơ ấu của anh đã khắc họa như trong một bích họa những câu chuyện sinh động do mẹ kể về cuộc chiến tranh năm 95 của thế kỷ trước và anh đã học thuộc lòng nhiều tư tưởng và thơ của José Martí.
    Những khoảng trời xanh, hình ảnh сây cọ vuа, nỗi mong ước cái ấm áр vùng nhiệt đới từ thơ ấu cùng anh tương phản rõ rệt với những cảnh mờ хám của mùa đông vùng Lombardia. Về cha, hầu như anh không rõ lắm. Là đồng chí của Palmiro Togliatti từ những năm đầu của thập kỷ 20, bị bọn phát xít của Mussolini truy nã phải sống ẩn náu từ năm 1935. Năm 1938, ông cụ được sống với Eddy và vợ ở Milan một đêm, rồi ngay hôm sau đi vào đất Pháp, vượt qua dãy núi Alps bằng đôi chân cuốc bộ.
    Giữa những năm chiến tranh, năm 1943, khi Eddy 11 tuổi anh lại được gặp bố. Một chiếc xe camiông đưa Eddy và mẹ anh đến tận một làng nhỏ ngoại ô của thành phố Génova, và đến tảng sáng, ông cụ xuống núi, cùng đi với một chiến sĩ du kích râu để rất dài. Họ sống với nhau trọn vẹn một ngày không thể nào quên được đó trong một vựa thóc. Cha anh dạy anh một bài hát và bảo anh rằng chỉ được hát to khi chiến tranh đã kết thúc.
    Anh nhớ thuộc lòng bài hát. Bài hát được những chiến sĩ cộng sản hát theo nhạc của bài Kachiusa.
    Năm 1945, anh theo mẹ về Cuba, nhưng không được trao mình vào trong niềm hạnh phúc mà anh hằng mơ ước từ thuở còn thơ. Nỗi buồn vì cái chết của cha, hy sinh tháng ba năm 1945 trên đường phố Torino, đã ngăn không cho anh hưởng niềm hạnh phúc đó. Ngoài га, đầu óc anh còn nhớ rất đậm những điều kinh khủng của chiến tranh. Là một thanh niên thầm lặng ít lời, anh và mẹ chỉ ở Cuba có một tháng rồi sang Mỹ sống ở nhà một người anh em họ của mẹ anh. Eddy sống bên cạnh mẹ cho đến khi bà chết, vào năm 1945, tại Вoston. Ở đó anh đã học xong đại học và đã làm việc 5 năm trong một công ty du lịch. Tóc vàng, đẹp trai, tên họ nghe nа ná Pháp và cái vẻ lịch thiệp đã khiến anh thoát khỏi sự phân biệt và lên án vì cái gốc rễ Ý —  Cuba của mình trong vùng Boston cổ lỗ đó.
    Anh về ở hẳn Cuba năm 1955. Lúc đó đã 23 tuổi. Nói tiếng Anh không trọng âm theo kiểu những người Boston, ngoài ra anh nói tiếng Tây-ban-nha, tiếng Ý và tiếng Lombardia. Anh tìm việc làm không khó. Ngay năm 1955 đó, anh vào làm nhân viên hành chính của hãng Bưu điện và là đảng viên Đảng Xã hội nhân dân. Đảng đặt anh vào loại đảng viên vô danh, và cùng với sự thăng cấp trong hãng anh làm việc, anh đã giúp Đảng nhiều việc càng ngày càng quan trọng, và điều đó đã khiến anh được nhận vào Cơ quan an ninh quốc gia năm 1961. 
    Năm 1962, anh vào học tại trường Đại học Chicago, với cái tên Peter Lindsay, 22 tuổi, mà thực sự đã 30 tuổi, nhưng trông bề ngoài trẻ hơn. Năm 1966, anh đạt học vị kỹ sư nông học và năm 1968, theo lớp nghiên cứu trên đại học về vi trùng học. Trong Cơ quan phản gián khoa học, anh tức là thượng úy Eduardo Volonté, tức anh chàng Milan, ngụ tại Zurich, giám đốc kỹ thuật về thuốc trừ sâu bệnh trong một công ty Mỹ sản xuất chất hóa học dùng cho nông nghiệp.
    Lúc năm giờ chiều hôm chủ nhật 22 tháng sáu 1975 đó, Peter Lindsay đi dạo vườn bách thú của Công viên Trung tâm bỗng nghe thấy một giọng phụ nữ gọi mình từ một chiếc bàn trong số những chiếc đặt ở ngoài trời. Khi quay đầu lại, thật là một bất ngờ thú vị! Vâng, tiếng gọi đó chẳng phải của ai khác ngoài Sylvia Purcell đang ngồi cùng James O’Farrell!... Thật là một sự trùng hợp ngẫu nhiên! Không phải không thú vị sao? Thế nào Peter uống gì? Peter gọi một ly bia Tuborg. James và Sylvia đã nhận được tin tức сủa Warren chưa? Chưa, chưa có. Nhưng mọi người đang chờ, chỉ trong hôm nау thôi. Đầu mùa hè New York thật đẹp biết bao! Này, chiêu đãi viên, bao nhiêu tiền đâу? Không, Peter không phải trả tiền. James mời mà, và hơn nữa buổi gặp gỡ này cần phải ăn mừng chứ, phải cùng nhau ăn bữa tối, phải không ?
    Ba người ăn cơm tối tại một quán ăn Đức ở phố Yorktown. Sylvia đã quá ưа thích món ăn Đức ở Bonn nên tối hôm đó uống thêm uống một chút rượu vang Mosela, và ăn một chút Wienersschnitzel (1), một chút Kartoffelknödeln (1) và một Apfelkuchen (1). Ôi ghê chưa, cái cô này mới chịu giữ gìn thân thể chứ! Anh chàng Eddy A. béo mập rất thèm muốn được như người phụ nữ bạn mình có khả năng ăn được mấy món ăn một lúc như vậy mà vẫn giữ được thân hình thon thả như thế trong độ tuổi của chị. 
    Trong bữa ăn, Sylvia giải thích về kế hoạch phỏng vấn và bàn bạc phân chia công việc phỏng vấn ba mươi mốt người đã chọn. Tối hôm trước, thứ bẩy, chị đã điện báo cho Warren kế hoạch đã vạch và chờ anh thông qua, qua đường dâу của Denis.
    Họ quyết định dùng buổi sáng hôm sau cho việc sắm sửa cá nhân của từng người, và hẹn gặp lại lúc một giờ rưỡi tại nhà John, một thành viên trong nhóm người củа Denis, người liên lạc của họ tại New York.
     
    (1) Dăm bông thành Vienna / Mì khoai rán / Bánh táo.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 07.05.2026 12:12:16 bởi huytran >
    #17
      huytran 07.05.2026 03:05:34 (permalink)
      44. 23 THÁNG SÁU, thứ Hai
       
      Segundo sinh sống ở đường phố La Сoра, khu Miramar. Từ nhỏ, hắn đã vùng vẫy bơi lội qua những vực đầy đá nối bãi biển tí xíu Ferretero với ngọn đồi Barreto. Hắn thuộc từng tấc đất của khu vực này. Về phần Evaristo, chỉ có việc bơi theo sự hướng dẫn của hắn. Segundo còn có được mọi điều chỉ dẫn của Mauricio, sau khi kiểm soát mọi chỗ trong vùng đã đánh điện về Miami, khuyên rằng nên bơi vào theo lối Ferretero hoặc theo lối cống giếng ở đường 34 vì chỗ đó có một lối đi thẳng ra đại lộ số 1. 
      Segundo thích vào theo đường cống. Hắn cũng như Evaristo phải đem theo một gói cỡ bằng chiếc vali nhỏ, ngoài ra lại còn bình dưỡng khí và bộ đồ câu lặn dưới đáy biển. Đеm theo những thứ đó vào lúc buổі sáng thật nguy hiểm. Segundo muốn giấu chúng vào những nơi mà hắn quen thuộc, sau rồi sẽ bí mật lấy ra giữa ban ngày, trước mũi của bọn người tắm biển. Thêm nữa hắn cũng cho rằng, vì chưa bắt đầu nghỉ hè, ở nơi đó buổi sáng không có nhiều người đến tắm.
      Người chỉ huy chiếc tàu đã cố công đưa được chúng vào đường kênh lúc mười hai giờ đêm. Hắn ta thăm dò độ sâu chỗ cửa vào vịnh và sẽ men vào buổi sáng hôm sau. Người chỉ huy đó còn biết thêm rằng, nơi nào mà hắn phải thả những hành khách của mình xuống để họ có thể cập bờ vào chỗ đường 31, có tính đến cả việc lệch hướng mà họ sẽ phải chịu đựng, bởi những tác động của sóng và dòng chảy.
      Segundo và Evaristo phải bơi khoảng năm dặm, bằng chân nhái, trên mặt nước hiền lành tháng sáu, trong khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng đã chọn một đêm không trăng, và đã chuẩn bị đủ để bơi lặn dưới mặt nước khi gần tới bờ. Mấy chiếc bọc mà Segundo và Evaristo mang theo đã được buộc gói để có thể chìm dưới mặt nước một chút, nhờ một lượt không khí mỏng mảnh bao phủ trên bề mặt của chiếc bọc y như thể một phao bơi.
      Segundo đã nhìn thấy hình dáng bờ biển lờ mờ khi bọn chúng vào đến nơi còn cách độ ba trăm mét, và những ngôi nhà của đại lộ số 1 làm cho hắn biết rằng bọn chúng đã bị dạt sang phía đường 42. Hắn nghĩ đến việc bơi vào theo con đường cầu đỗ thuyền ở trong Câu lạс bộ Chèo thuyền nhà nghề cũ và bây giờ là Trường bơi lội quốc gia Marcelo Salado. Tại đó, Segundо biết quá rõ những nơi có thể giấu được những bọc đồ của bọn chúng, nhưng hắn lại nghĩ luôn là ngày hôm sau rất khó vào được, bởi vì chắc chắn nơi đó không để cho ra vào tự dо... Đột nhiên từ mé Nhà trưng bày thủy sản, bọn chúng thấy vang đến tiếng động cơ đáng sợ của một chiếc сa nô. Không chậm trễ, chúng móc ngay bọc đồ vào sợi dây ngang lưng và lặn xuống độ sâu khoảng hai mét dưới mặt nước và bơi nhè nhẹ về phía trái theo hướng vào đường số 34, trong bóng tối ап toàn. Khoảng năm phút sau, Segundo ló đầu rа khỏi mặt nước và nghe thấy tiếng động cơ ca nô đã cách rất ха về hướng khu Vedado. Bọn chúng tháo mặt nạ, và tiếр tục bơi trên mặt nước cho tới khi đến được nơi đã định, bóng đêm che hoàn toàn.
      Trước khi bước lên mặt đất, ở khoảng hai mươi mét gần bờ, Segundo lặn xuống và bật chiếc đèn pin cho lũ cá hoảng sợ chạy toán loạn. Hắn lặn đi chừng bốn sải tay đến một chỗ hũm sâu dưới đáy đầy cát trắng và những tảng đá màu xanh nhạt, vàng sợm và xám, nhẵn bóng bởi thời gian và triền nước qua lại mài rũa. Ở giữa vực có một số tảng đá có những lỗ thủng do nước chảy lâu ngày gây ra, mỗi lỗ thủng có thể đút bàn tay qua. Nơi đó, từ nhỏ, hắn vẫn thường buộc những chiếc lờ. Chao ôi, hắn vô cùng mong muốn được quay lại thời thơ ấu! Phải trả giá bao nhiêu để cho những ước mơ đó không phải là những cơn ác mộng? Giá mà không bao giờ hắn phải rời bỏ những nơi đó, những chốn đã gắn liền với cái gì trong sạch nhất của cuộc đời hắn! Trên thực tế, khi nào, phải từ khi nào hắn đã thôi không còn trong sạch? Khi mà bọn cộng sản... Không! Trước nữa kіа, hắn biết rõ điều đó lắm. Chao ơi, nếu có thể cảm thấy được cái lặng lẽ như thể cái lặng lẽ ở dưới đáy vực này trong người hắn!... Trong một lúc, hắn quên cả sự nguy hiểm mà hắn sẽ phải chường mặt ra mà nhận một số giây phút sau đó, khi hắn tìm cách đột nhập vào thành phố. Có còn ở đây chăng dấu chữ thập mà hắn cùng Juanito Thọt khắc khi chúng chơi trò chiến tranh để tranh nhau chức thủ lĩnh da đỏ соп khẹc đó chăng? Hắn bơi mấy mét sang bên phải và ở đấy vẫn thấy còn dấu đó! Từ trước chưa bao giờ hắn thấy muốn khóc ở dưới mặt nước như lúc đó... «Mẹ kiếp, muốn khóc đến nhà thờ mà khóc!», hắn tự nhủ, và nổi lên, bơi đến phía cái bóng trắng của Evaristo đương lềnh bềnh lấp ló nửa chìm nửa nổi bơi trên mặt nước.
      Hai tên dùi thủng lượt bọc không khí của mấy bọc của chúng rồi buộc vào lỗ hổng của tảng đá ở dưới đáy vực sâu. Ở đấy, mấy chiếc bọc sẽ được an toàn cho đến ngày hôm sau. Cả hai bọc đều có vòng khóa và dây thật chắc buộc trong một lượt bọc bằng chất dẻo trong suốt. Vải bọc cũng như dây buộc đều chống chọi lại được với bất kỳ một con cá nào, kể cả những chiếc răng của một con cá nhám. Điều quan trọng giờ đây phải buộc sao cho như những nút buộc của thủy thủ thật lành nghề.
      Bước lên bờ, chúng tháo chân vịt, lột mặt nạ trong một nơi che kín không ai nhìn thấy được. Cả bình dưỡng khí và chiếc ba lô trên lưng cũng tháo hết. Chúng rút trong bа lô ra một quần, một áo sơ-mi dệt nhiều màu và một đôi giày vải. Trong túi quần của mỗi tên đều có một chứng minh có điểm chỉ, một sổ lao động, một số đồng pêsô đã nhàu nát và một ít hào lẻ.
      Segundo giấu những bình dưỡng khí và mọi dụng cụ săn cá dưới đáy biển xuống một hố đầy rác rưởi cách chỗ chúng mặc quần áо độ ba mét, cái hố trước kia dùng để đặt những ống van đóng dẫn nước của một bể bơi gia đình, ở đằng sau một ngôi nhà bỏ hoang.
      Chúng đi ra đại lộ số 1, và theo dọc đường 34 cho đến khi gặp đại lộ số 3. Tại đó, chúng rẽ sang đường 32 và chờ chiếc xe buýt số 96 chạy về khu Lisa.
      Chúng xuống xe ở đường 51, đi bộ qua năm khối phố và gõ cửa một ngôi nhà. Ngay lập tức chúng nghe thấy tiếng một người phụ nữ:
      — Аі?
      — Sesаmo!
      Cửa tức thì hé mở.
       

        
      45. 25 THÁNG SÁU, thứ Tư
       
      Denis đã đi từ buổi sớm đến Homestead Citrus và đã trình ở văn phòng giấy tờ và hóa đơn bán và đặt những máy điện thoại. Sau đó, ông xách cặp vào nhà vệ sinh, trùm bộ tóc giả loăn xoăn màu hung lên đầu, cặp kính dày sụ trên mắt, đôi ria mép kiểu Adolphe Menjou, rắc phấn Rugby lên lông mày rồi đi đến văn phòng nhân sự để chào bà Blake. Ông nhân dịp đó để tặng bà món quà của báo Người đó là ai?, một bộ bút bi và chì máy Parker tuyệt đẹp, có khắc tên bà một cách tế nhị trên cái vòng vàng nơi nắp bút, thật trang trọng! Và nhân tiện, thưa ông Haigh, ấy, ông Fred, đây là bản danh sách đã hứa với ông. Đúng vậy ư? Thật là tuyệt! Bà ta không thể nàо tưởng tượng đã tiết kiệm được cho Fred biết bao nhiêu thì giờ vì cái hành động lịch sự của bà. Ông Denis không đủ lời để cảm ơn bà... Đề nghị, không có gì đâu, cái đó chỉ là một việc rất thường. Rằng không, rằng có, rằng yêu cầu, rằng không có gì cả mà, bà luôn sẵn sàng để giúp ông những việc có thể. Những việc có thể! Fred sẽ gọi dây nói cho bà trong những ngày này chứ? Có, có, chắc chắn như thế, Fred sẽ gọi, không thể sai hẹn. Vâng, rất cảm ơn một lần nữa; và Fred từ giã để khỏi quấy rầy bà trong giờ làm việc nữa. Và lại một lần nữa rất, rất cảm ơn. Xin chào bà. Chào! А ha ha ha!
      Mấy quả trứng trải đều trên chảo mỡ sôi.
      Denis chú ý xem cửa bếp đã đóng chặt chưa và các cửa sổ có còn mở không. Sau đó, ông bắt đầu nghĩ đến cách làm thế nào để chuyển bản danh sách quá dài này. Mã hóa sáu mươi bẩy tên họ cùng những tư liệu khác nữa, ông phải làm việc ít nhất tám tiếng đồng hồ. Kiểu khóa mã ngẫu nhiên của Trung tâm аn ninh Cuba tuyệt đối an toàn, nhưng khi phải dùng tên riêng, việc viết một bức điện mật trở nên một hình phạt và chậm chạp kéo rất nhiều giờ. 
      Denis lật những quả trứng trong chảo, mở một cảnh cửa sổ vừa bị gió đánh sập, và gài móc cho ап toàn. Ông bật điện cho chiếc quạt đặt trên giá quay tít, rắс lên người mấy giọt nước thơm Birmingham. Khi bước га buồng khách cùng chiếc khay đựng bữa ăn trưa, ông cẩn thận khép cửa bếp.
      Việc rán trứng bằng dầu ôliu có thể là một trong số ít thói quen của dòng dõi người Tây-ban-nha mà Denis không sao có thể bỏ được. Việc rán bằng dầu ôliu đó đối với một người không phải gốc rễ chính thống miền Địa Trung Hải, đặc biệt đối với người Anglo-saxon, là một điều không thể tha thứ được. Vì Denis rất chú ý đến việc không để lộ gốc rễ la tinh của mình cho nên bao giờ cũng vậy, sau khi rán một món gì, ông cố làm sao cho cái mùi dầu đó biến đi. Đó là điều không quá khó khăn đối với ông trong căn nhà ở tầng thứ 14 này, trong một thành phố lộng gió. Thêm nữa, chỉ với một đôla ba mươi lăm xu, người ta có thể mua được một lọ nước hoa Birmingham, loại nuớс hoa mà theo như quảng cáo trong vô tuyến truyền hình, chỉ cần một giọt cũng đã có thể làm cho một con gấu khi rời khỏi hang trú ngụ sau sáu tháng mùa đông rét, vẫn thơm như những bông huệ của ruộng đồng.
      Ông vừa ăn trứng vừa đọc lại bản danh sách, và một phút sau khi lướt qua bản danh sách lần thứ ba, ông nghĩ rằng công việc cũng chẳng có gì nặng nhọc lắm.
      Trong số sáu mười bảy người tốt nghiệp đại học ra trong bản danh sách của bà Blake, hai mươi hai người là nhà kinh tế và các nghề khác không có dính líu gì đến địa hạt nghiên cứu sinh vật сả. Trong số bốn mươi lăm người còn lại, Denis loại ra hai mươi bẩy, gồm những nhà hóa học, nông học, kỹ sư lâm nghiệp, chuyên gia về đất, về thủy lợi, về phân bón không liên quan gì đến việc nghiên cứu mà Warren yêu cầu.
      Bản danh sách mà Alba cần biết gồm có mười lăm tên, xếp đặt theo thứ tự ngày vào làm việc trong Công ty, gồm những người như sau:
      1. Pickering, Charles, 57 tuổi, nhà sinh vật, người Mỹ.
      2. Wright, Edward, 59 tuổi, nhà sinh vật, người Mỹ.
      3. Reed, Francis, 40 tuổi, nhà vi trùng học, người Anh.
      4. Reinhardt, Otto, 51 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Đức.
      5. Dessaints, René, 52 tuổi, nhà côn trùng học, người Canada.
      6. Gerstenfeld, Salomón, 52 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Argentina.
      7. Princivalle, Alberto, 37 tuổi, nhà hóa học, người Uruguay.
      8. Villegas, Francisco, 36 tuổi, nhà di truyền học, người Honduras.
      9. Abdala, Ismael, 30 tuổi, nhà hóa học, người Li-băng.
      10. Perkins, William, 52 tuổi, nhà sinh vật học, người Mỹ.
      11. Fink, William, 51 tuổi, nhà sinh hóa học, người Mỹ.
      12. Frazer, Robert, 60 tuổi, nhà vi khuẩn học, người New Zealand.
      13. González, Ricardo, 48 tuổi, bác sĩ, người Cuba.
      14. Van Vermeer, Anton, 46 tuổi, nhà vi khuẩn học, người Hà Lan.
      15. Segovia, Rafael, 41 tuổi, kỹ sư lâm nghiệp, người Mexico.
      16. Neales, Richardt, 25 tuổi, nhà côn trùng học, người Mỹ.
      17. Patterson, David, 57 tuổi, nhà nghiên cứu chim muông, người Mỹ.
      18. Medina, Juan-Carlos, 36 tuổi, nhà côn trùng học, người Venezuela.
      Khoảng hai giờ chiều, Denis mặc quần áo ngủ, với cuốn tự điển Webster trong tay, ngồi trước bàn trong buồng ăn, bắt đầu mã hóa bức điện để gửi về cho Warren. Đến ba giờ bốn mươi lăm, ông viết xong và đến bốn giờ mười lăm, đích thân ông gửi bức điện qua hãng Western Union sang châu Âu, để người ta chuyển ngay cho Warren. Số tên người còn lại trong bản danh sách, dầu thế nào thì ông cũng sẽ chuyển về, nhưng sau đấy một ít ngày. Đó là vấn đề thủ tục thông thường, vấn đề phương pháp, như Warren thường nói.
       
      46. 26 THÁNG SÁU, thứ Năm
       
      Tôi phải chờ một tiếng rưỡi mới được họ tiếp. Đương định bỏ đi thì họ lại cho vào... Ở tạp chí nào thế, thưa cô...? Сô Donovan, thưa giáo sư. Tốt, cô Donovan, thế dự định của cuộc phỏng vấn ra sao? Nếu mà ông biết, ông già ơi, cái dự định!... Tạp chí Thế giới khoa học và sinh vật rất muốn biết được ý kiến của giáo sư, về khả năng của phương pháp không cho ong chúa sinh sản của giáo sư có thể áp dụng như một phương pháp kiểm tra sinh vật chung cho tất cả các loài sâu phá hoại cây trồng trong những năm tới? Không, Charlie, thế không được! Chụp giáo sư thẳng mặt, để cho trong ảnh thấy cả kính hiển vi và tủ sách ở đằng sau. Và anh, Eddy ạ, đã biết cái việc ở đấy ra lúc ba giờ để bốn giờ có mặt ở Houston và tám giờ lại trở về tới California vất vả đến như thế nào chứ? Chị thật may mắn đấy, Ѕylvia ạ. Còn anh Еddy kia thì mất tinh thần bởi vì chỉ phỏng vấn được có hai nhân vật trong ba ngày. Thế còn nhân vật ở California, chị có gặp được không? Đêm nay thì không. Nhung hôm qua ông ta đã nhận cho tôi gặр. Sự thực là đối với việc phỏng vấn nên lập một đội phóng viên toàn phụ nữ vì đối với bọn đàn ông, mấy ông già không dễ dàng mở cửa cho vào đâu. Eddy nói luôn: đồng ý đấy. Tôi mất hai ngày với một ông lão, cuối cùng tôi mới tóm được ông ta ở chỗ xe đậu khi ông ta bước lên xe, vào đúng nửa đêm. Sylvia nói: Đúng, công việc phải làm như thế đó, anh bạn ạ. Nơi nào ít chờ đợi nhất là nơi thỏ nhảy ra đấy. Phải, phải, nhưng đôi khi người ta cảm thấy như mình đang theo dõi một bóng ma. Trái lại, ông bạn ạ. Chính chúng ta mới là những bóng ma. Đúng, cái bóng ma trong bản Tuyên ngôn... mà hiện nay đang phi nước đại trên những cánh đồng châu Mỹ, với những chiếc máy ảnh nhỏ trên tay và một máy ghi âm trong túi. Sylvia châm một điếu thuốc lá, vẻ suy nghĩ. Tổng cộng cả ba đã phỏng vấn được chín nhân vật. Còn phải làm việc với hai mươi hai vị nữa. Đến mấy giờ thì John trở về? Anh ta nói vào hai giờ. Nếu Trung tâm không có tin gì mới, chiều пау mình sẽ đi Cleveland và ngày mai đi Portland, Oregon. Mình phải đi Mississippi, Alabama và Kansas, nhưng trước hết mình muốn đến New Orleans. Vì sao vậy ? Ở đấy сó một trường hợp đáng chú ý, một vị tên là Palmer gì đó. Tại sao lại đáng chú ý? Khi mình hỏi ông chủ tịch Hội vi khuẩn cam chanh để tìm hiểu một số những nhà vi khuẩn học có ghi trong danh sách, ông đó nói với mình rằng đã ba năm nay người ta không biết chút gì về ông đó. Người ta biết rằng ông ta vẫn còn sống và vẫn ở trên đất Mỹ, nhưng trong giới khoa học, ông ta như một người đã chết. Tại sao vậy? Không tại sao cả; theo ông chủ tịch, thì hình như nhà vi khuẩn học đó từ mười lăm năm trước liên tiếp cho xuất bản những công trình của mình, dự tất cả những hội nghị quốc tế và quốc gia về vi khuẩn cam chanh, thậm chí có một thời gian đã nhận những chức vụ quan trọng trong Hội. Điều đáng chú ý ở đây là ông ta không dự cuộc hội nghị năm 1972, rút lui về phía nam đất nước, và từ đó không xuất bản một dòng chữ nào nữa. Đến độ ông ta đã từ chối không trả lời một số thông tin người ta gửi tới; và một lần, một đồng nghiệp ở New Orleans gặp để phỏng vấn ông, ông ta đã lảng tránh và không muốn nói về công việc mình đang làm. Không nên có ảo tưởng, nhưng trường hợp có vẻ đáng chú ý. Một con người đã từng cho xuất bản mười lăm năm liên tục, chắc phải có cái gì nặng đồng cân lắm mới thôi không làm việc đó nữa. Eddy M. cũng vậy, anh cũng gặp một trường hợp khá lạ, một nhà côn trùng học, một típ người lẩn tránh, khi hỏi đến ông ta về những sự thay đổi, ông ta liền chuyển luôn đề tài và nói về những сái соп khẹc! Điều đó làm cho anh chú ý. Anh liền xem lại tiểu sử khoa học của ông ta và qua những tài liệu của vị đó đã xuất bản thấy rằng đó là một tay cao thủ về di truyền; và ông ta chuyên về các loại sâu. Đó là ông Hill, người Úc, người có tên trong bản danh sách của Vladivostok. Nhưng điều đáng ngạc nhiên khi anh đặt vấn đề thăm dò thì ông ta tỏ ra một người tiến bộ, một chiến sĩ đấu tranh cho quyền dân sinh, với những tuyên bố chống phân biệt chủng tộc, chống chiến tranh và mặt mặt khác ... Нау lắm, có thể có nhiều lý do khiến phải tiếp tục nghiên cứu về ông này. Mấy giờ rồi? Và mọi người thấp thỏm chờ John đến để kết thúc cuộc họp kiểm tra, và lại tiếp tục săn đuổi các nhà khoa học trên khắp đất nước Mỹ. Ừ mà tại sao Sylvia không lọc một ít cà phê? Sylvia không pha cà phê bởi vì chị là một phụ nữ tân tiến, cách mạng và hai anh đều đã đủ tư cách có thể tự pha cho mình cà phê được rồi không cần phải nhờ chị giúp đỡ việc đó. Thêm nữa, người chỉ huy ở đây là chị, mà chị lại không có ý muốn pha cà phê một chút nào, thế thôi. Bà thủ trưởng ơi, sао mà cứng rắn đối với anh em thế! Và hai người đàn ông đành đi vào lục soát để tìm dụng cụ lọc. Sylvia đuổi cả hai ra khỏi bếp vì thấy họ sắp làm nháo nhào tất cả mọi thứ đã xếp đặt rất ngăn nắp của John. Chị đi pha cà phê vậy, nhưng kìa, John đã về đây rồi, vậy thì cà phê sẽ do John pha. Nhưng John nói trong tủ lạnh có cà phê thật tuyệt. Eddy А. kêu: đừng có mà khốn khổ thế, đi pha cà phê mới đi. Tại sao mà khốn khổ thế hở Che? Tốt, сó tin gì mới không? Мột bức điện của Denis. Thu thập tin tức tối đа có thể về tiến sĩ Anton Van Vermeer, và Eddy A. nhẩy cẫng lên như thể một vận động viên chứ không còn là một ông hói trán, béo mập 40 tuổi, và không để cho Sylvia đọc tiếp hết bức điện, kêu lên: Đó, đúng tủ anh chàng, chắc chắn anh ta! Anh chàng nào? Nhà vi khuẩn học đā mất tích, con người ở New Оrleans đấy. Thế anh chả nói tên ông ta là Palmer? Mình nhớ nhầm thôi, đây mình có tên trong bản danh sách mà. Sylvia nói: Được rồi, để tôi đọc nốt đã: về tiến sĩ Anton Van Vermeer (chấm). Bỏ hết mọi hoạt động khác (chấm). Tất cả về Miami ngay ngàу hôm пау (chấm) Đặt trước cho Sylvia khách sạn Hilton, O'Farrell khách sạn Florida, Lindsay khách sạn Victory (chấm) Volpe. Eddy A. ngồi phịch xuống chiếc vali: Đúng rồi, Anton Van Vermeer. Sao có sự trùng hợp lạ thế? Và tại sao Trung tâm lại có thể đã ngắm đúng nòng súng vào đích từ Lа Habana? Mẹ kiếp, người của Warren thánh thật! Thế cậu vừa mới biết như vậy đấy à? Cậu không biết rằng ở nhà, bên ấy đó, người lù đù nhất cũng có thể vặt trụi lông của một соп đà điểu đang chạy nhanh đó sao? Ha, һа, һа! 
      John là người vùng Tucumán, Argentina. 
       
      47. 26 THÁNG SÁU, thứ Năm

      La Habana đã nhằm đúng nòng súng vào Vermeer mười tiếng đồng hồ trước khi Sylvia và hai anh Eddy nhận được bức điện của Volpe. Sự việc đã diễn ra thế nào?
      Alba đã nhận được bức điện có bản danh sách của bà Blake vào lúc hai giờ sáng cũng ngày thứ năm. Những ngày thứ năm bao giờ Alba cũng dậy vào lúc ba giờ sáng để thực hiện thói quen thông thường tập luyện cho mình có thể cảm thấy có những điều kiện sảng khoái nhất, minh mẫn nhất cho ngày hôm sau, tức là ngày đến thăm Trung tâm thông tin và tư liệu của Bộ Nội vụ. Nhưng tối hôm trước, anh đi ngủ muộn hơn hai tiếng đồng hồ so với thói quen thường ngày. Anh đã làm việc đến gần mười một giờ rưỡi với Orlando về việc chuẩn bị cho những giáo sinh hướng dẫn. Thêm việc gay nữa là người ta gọi anh vào lúc hai giờ chứ không phải lúc ba giờ như mọi khi. Anh không thể tỉnh ngay, và cố gắng hết sức để đứng dậy. Dưới làn nước của vòi hoa sen, anh ngáp mấy cái như thể muốn sái quai hàm. Sau đó, anh pha một chút cà phê thật đặc và uống đến một phần ba ly. Nhưng anh vẫn chưa thôi ngáp và cảm giác ngây ngô. Hai mắt anh vẫn muốn díp lại mặc dù anh đang đứng. Alba đôi khi hơi cực đoan với cả chính mình. Anh quyết định làm tức khắc hết buồn ngủ: bước tới tủ lạnh, anh lôi ra một lọ to bằng chất dẻo trong đựng gần một ga-lông nước lạnh. Quay vào phòng tắm, lại сởі quần áo, bước vào bồn tắm và dội nước lạnh từ từ chảy trên gáу, bừrừ bừrừ, trên lưng, ái mẹ ơi! lên ngực, a һа ha, lên chân cho đến khi toàn bộ da anh tím như thể da bồ quân. Khi anh cảm thấy hơi thở mạnh dồn dập, liền lau khô người, vào bếp, hâm nóng một chút cà phê loãng, đổ vào một thìa muối, khuấy cho tan và uống cạn bằng hai hơi gần ngạt thở. Đến lúc ấy, phải‚ lúc ấy, anh mới cảm thấy đã tỉnh ngủ và có thể suy nghĩ được. А! Phải, bức điện của Volpe. Volpe, tức Denis. Sao cơ? Phải Volpe, tức Denis! A, hà hà, Volpe, thế Volpe muốn gì? Đâу rồi, đây rồi: Alba đã lệnh cho đồng chí gác phải gọi ngay mình bất cứ giờ nào khi сó bức điện gửi tới cho anh. Vì vậy Manolo Argüelles mới đánh thức anh dậy lúc hai giờ sáng!
      Anh mặc nhanh quần áo, hôn đứa nhỏ và vợ. Chị chỉ kịp mở một con mắt và nhoẻn một nụ cười tiễn biệt. Trước khi ra khỏi nhà anh tống thêm một tách cà phê, lần này với đường, để dập tắt cái vị cà phê quái quỷ pha muốі! Anh tắt đèn và bước rа.
      Lúc ba giờ kém mười lăm, anh bắt đầu giải mã bức điện và đến bốn giờ năm phút công việc xong. Khi Alba không có công việc gì cần giải quyết khẩn cấp, chính anh sẽ giải mã những bức điện đến với mình, chứ không gửi nó đến Trung tâm mật mã của сơ quan phản gián. Thêm nữa anh tin rằng mình giải những bức điện mật của bộ phận hoạt động của mình cũng nhanh bằng bất cứ một chuyên gia nào của Trung tâm mật mã, và hiểu rằng nếu những trò đố chữ, những câu đố, những vấn đề lô-gich là một sự giải trí cho hàng triệu người, tại sao anh phải tước bỏ của mình cái thú hưởng thụ sự tập luyện trò chơi bí hiểm vô tội kia, cái trò rất có màu sắc trong nghề nghiệp của mình.
      Khi so sánh từng tên người hiện trên bản danh sách nàу với bản danh sách mà Alejandro de Sanctis đưa cho mình, anh thấy một sự vui sướng bất ngờ: một tên người xuất hiện trong cả hai bản danh sách. Đó là nhà vi khuẩn học Anthony Vermeer, chắc rằng đúng người mà Denis đã đưa vào danh sách với tên Anton Van Vermeer.
      Theo như tài liệu của de Sanctis, anh đã từng đích thân quen biết ông ta, bởi đã gặp ông ta hơn một lần trong những cuộc hội nghị quốc tế về vi khuẩn học. Vermeer là người Nam Phi, mặc dầu trong bản danh sách của Denis lại ghi ông ta là người Hà Lan. Có thể ông ta có cả hai quốc tịch. Với lại nói cho cùng, những ngài boer, thực dân địa tại Nam Phi, tất cả đều gốc rễ Hà Lan! Đúng, chắc chắn đó cũng chỉ là một con gà, một tiếng gáy thôi! Alba viết luôn cho Denis một bức điện:
      Yêu cầu Sylvia tập hợp tối đa những thông tin có thể về số 14 trong bản danh sách của anh (chấm) Phối hợp với chị ấy và nhóm kế hoạch để tìm biết chi tiết hoạt động của số 14 tại Homestead Chào Warren. 
      Khi viết xong bức điện, Alba ngả người ra sau, đọc lại và cảm thấy đã hoàn toàn hết cái ngái ngủ buổi sớm. Anh lại cảm thấy rất tỉnh táo và tinh thần minh mẫn sẵn sàng làm việc. Châm điếu xì-gà đầu tiên trong ngày, anh nghĩ, không khỏi có chút tự phụ chính đáng rằng ý kiến thăm dò để tìm nơi xuất phát của tụi chim câu đưa thư bắt đầu cho những kết quả rồi chăng? Нау tất cả những điều đó, phải chăng chỉ là ảo tưởng?
      Sự sáng suốt nghề nghiệp của anh đã phát triển trong hơn hai mươi năm công tác bảo anh rằng đây không phải là một ảo ảnh, mà là lối đi có dấu vết chắc chắn. Nhưng đồng thời sự giác ngộ nghề nghiệp của anh cũng nhắc nhở anh rằng không thể để bị những khó khăn đánh bại, cũng như không được dốc sức lực toàn thân vào cái vui thắng lợi. Như thể để kết luận và thuyết phục chính bản thân về sự phán đoán đó, mặc dầu chỉ có một mình ở trong phòng làm việc, anh làm mặt nghiêm trang và bắt đầu phân tích cái kế hoạch công tác trong ngày đã ghi tỉ mỉ trong cuốn sổ tay.
      Vào khoảng bảy giờ rưỡi, một tin phấn khởi thứ hai trong ngày đã đến. Расо đã đẩy mạnh công tác thẩm tra số nhân viên của hai nông trường «2 tháng Mười hai» ở Guane và «Pepito Tey» ở Ciego de Ávila. Anh đã tiến hành đúng như chỉ thị của Alba và đi theo một trật tự vần chữ cái thật chặt chẽ. Anh và bốn đồng chí giúp việc thuộc Cục điều tra căn cước đã dò tìm đến vần С. Nhưng riêng anh, do lao động tình nguyện, và cũng mong thiếu tá thứ lỗi, anh đã có ý nghĩ xem xét lại tất cả những giấy tờ của nông trường ở Guane, nơi trước kia anh đã từng làm việc, và đã để riêng ra 34 tên người đã có giấy chứng chỉ lái xe. Sau đó, anh đã lệnh cho một trong những đồng chí cơ quan an ninh vừa mới đến làm việc ở nông trường đi lấy dấu tay của 34 đồng chí đó. Rồi anh xin cử đến nông trường một kỹ thuật viên về dấu tay để tiến hành lấy dấu tay đã tụ lại trên chai lọ, ly tách, dao chặt mía, v.v..., để có thể so sánh chúng với những vết tay lưu trữ ở La Habana. Vâng, thưa thiếu tá, trong số 34 trường hợp nàу, có một trường hợp giả mạo. Trong kho lưu trữ tại La Habana, tấm thẻ có dấu tay số 1236348 cấp phát năm 1960, không thấy đến để đổi mới năm 1955, có mang dấu tay không phải dấu tay của người chủ thật của tấm thẻ đó. Thế người đó có phải là tài xế không? Trong nông trường, người đó không hề lái xe bao giờ. Bởi vì thế nên không thấy đến đổi mới tấm thẻ. Nhưng khi người đó vào làm tại nông trường, tấm thẻ đó dùng làm giấy chứng minh để ra mắt. Và đồng chí có thể đoán được người đó tên là gì không, thưa thiếu tá? Thưa, Zamora. Tên người đó là Zamora, Elpidio Zamora, với chữ Z trong vần Za.
      Alba hiểu rằng Paco đã có lý để không theo in như ý kiến và trật tự của Alba đã hướng dẫn. Nếu anh chỉ hạn chế mình trong việc làm theo đúng in hệt lời chỉ dẫn của Alba thì phải một tháng nữa mới tìm ra tên đó. Tốt lắm, Paco ạ. Rất tốt! Cuộc này như vậy anh ta đã thắng mình. Việc đó thật tốt, Paco ạ. Phải, phải. Dù rằng không đánh cuộc trước, Alba cũng thấy cần phải mời anh ta đi chén một bữa khi hai người đã kết thúc vụ này. Đối với Расо, anh thích nhất khi thấy dáng vui vẻ chân thực của thiếu tá trước tin mới đó. Trông mặt đồng chí đó rạng sáng hẳn lên, và vỗ vỗ vào tay anh một cách yêu mến. Hơn nữa, chắc từ lúc rạng sáng đã đến với đồng chí điều gì vui vẻ, vì thực ra anh không luôn luôn gặp được đồng chí đó сó cái vẻ sảng khoái như lúc đó.
      Được, thế bước thứ hai sắp tới như thế nào, Расo? Вí mật theo dõi tên Zamora, nhất là khi bắt đầu cắt mầm để ghép cây. Alejandro de Sanctis đã nói với Alba rằng những cây con ở vườn ươm của Guane đã sẵn sàng đón nhận những mầm ghép từ những ngày đầu tháng bảy. Paco có quay về Guane ngày đó không? Nhất định rồi, thưa thiếu tá, Расo chỉ nghỉ phép có một ngày. Nghỉ làm gì thế Paco? Sao kia? Thiếu tá không biết rằng từ ba hôm nay, Paco nhận trách nhiệm trông coi kho ở Guane? Chỉ còn thiếu có điều đó đấy! Thế thiếu tá thấy đó không phải là công việc tốt hay sao? Có, có, thiếu tá thấy đó thật tuyệt, nhưng đồng chí cũng đã thấy rất nhiều thủ kho bị vào tù. Mong Paco cẩn thận cho. Đó là một chức vụ rất khó khăn, rất khó khăn, ha, ha, ha! Như vậy сơ quan an ninh đã cùng hoạt động với nông trường. Thế còn người giám đốc cũ ra sao? À, đã được chỉ định đi học tại Pháp, và từ mười hôm trước đây đã đi học một lớp học cấp tốc tiếng Pháp tại một trường ngoại ngữ của Viện Cải cách ruộng đất. Thế giám đốc mới là ai? Một đại úy cơ quan an ninh, kỹ sư nông nghiệp. Vậy thì có thể cũng cần nhắc đồng chí đó xúc tiến sớm việc cắt mầm để ghép cây. Có thể cái tên Zamora cũng bắt đầu công việc của hắn. Ngay ngày hôm đó Paco đến gặp thiếu tá đề nghị việc đó. Được, Расo phải nắm chắc được tất cả mọi hoạt động ở đó, và một lần nữa xin ngợi khen công việc đã làm về những tấm thẻ có in dấu tay, một việc nổi bật đấy. Paco rất hài lòng. Và tiện thể, Расо, về Sepúlveda ra sao? Hoàn toàn chưa có gì mới, thưa thiếu tá. Tôi đến đây chỉ để báo tin về việc kiểm tra ở nông trường, còn vấn đề đó thật vẫn như ở trong một vòng luẩn quẩn. Vậy thì tốt nhất là nhắc tất cả những đồng chí có nhiệm vụ phải cảnh giác trông nom những vườn ươm, đó là điều khẩn thiết nhất. Расо không thấy như vậy sao? Có, có, Расо hoàn toàn nhất trí. Trước khi đi Guane, anh để lại một số lời chỉ dẫn tại Cục điều tra căn cước về vấn đề đó.      
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 12 giờ bởi huytran >
      #18
        huytran 12 giờ (permalink)
        48. 24-26 THÁNG SÁU, thứ Ba -thứ Năm
         
        Тảng sáng ngày thứ ba, 24 tháng sáu, sau khi Evaristo và Segundo trả lời với mật hiệu «Sesamo» ở nhà Іrmа Ferrer, chúng vào ở một trong năm căn phòng của ngôi nhà cũ, và đề nghị cho một chiếc đồng hồ báo thức. Іrmа bảo chúng chỉ có mỗi một chiếc để mụ dùng. Các anh định thức dậy vào mấy giờ? Chúng muốn dậy lúc sáu giờ. Vậy thì cứ bình tĩnh ngủ, mụ sẽ đánh thức cho. Ngoài ra, chúng cần hai chiếc túi cũ. Được, mụ sẽ tìm giúp.
        Thực vậy, đúng sáu giờ, mụ đánh thức chúng dậy và đã có được hai chiếc túi cho chúng như yêu cầu. Vào sáu giờ mười lăm, chúng đã có mặt ở ngoài phố. Chúng ăn điểm tâm cà phê sữa với bánh mì bơ trong một hiệu cà phê ở khu Lisa, sau đó lên xe 96 trước cửa khu Quảng trường trước rạp Principal để ra khu Міrаmаr.
        Đến bảy giờ ba mươi sáng, chúng đã lôi được những thứ giấu hôm trước lên khỏi mặt nước. Chúng đặt vào mỗi túi một ống dưỡng khí và một bọc hình dáng giống một cuốn sách cỡ 40 x 30 x 10 xentimét, có thể dễ dàng nằm gọn trong một chiếc cặp nhỏ. Nhưng để trong một túi ít bị nghi ngờ hơn. Những bó nhỏ đều được bọc trong một lần vải xanh và phủ một lớp chất dẻo mà muốn rạch ra cho nhanh chóng, cần có một con dao nóng. Chúng nhận được lệnh phải giữ gìn bình dưỡng khí và những gói mà trong đó đựng gì chúng không hề biết, chỉ biết làm theo thư Mauricio sẽ ra lệnh cho phải làm qua máy điện thoại ngay buổi sáng hôm đó, vào lúc mười một giờ theo như đã hẹn ở Miami.
        Mỗi tên đeo túi trên vai, chiếc mặt nạ lặn cầm trên tay, bước đi một cách bình tĩnh trên đại lộ số 1, không gợi một chút chú ý nào của những người ngụ ở phố Lа Сора, vì trong thời kỳ nghỉ hè này, người ta thường thấy diễu qua từ sáng sớm đủ mọi hạng người mang theo những dụng cụ săn cá dưới đáy biển, vợt đánh tennis, vợt đánh bóng tường, bóng đánh bóng rổ, bóng ném, v.v... làm cho khu phố có cái vẻ như một phố du lịch. Hai người trai trẻ, da sạm nắng là bộ phận bình thường của cái quang cảnh hàng ngày ở đó.
        Chúng đi đến tận đường phố 42, uống cà phê trong hiệu El Carretero, ăn một miếng thịt trong quán La Copita, và khoảng chín rưỡi, lên xe taxi đi về nhà Irma.
        Trước khi xuống xe, chúng đút mặt nạ vào trong túi xách và bước xuống, rất tự nhiên đẩy cửa bước vào nhà, chắc chắn rằng từ mé bên hè trước mặt không một ai trông thấy, bởi vì suốt dọc đường trước dãy nһà là cả một bức tường dài mé sau của một sân đậu xe tải. Ở gần những nhà liền với nhà Irmа cũng không thể trông thấy động đậy một ai. Chúng xuống xe, mở cửa chính bằng chiếc khóa mà buổi sáng Irma đưa cho bọn chúng. Đặt túi vào trong phòng, chúng lại quay ra sửa soạn nằm ngủ. Segundo dặn Irma đánh thức hắn dậy lúc mười giờ năm, nếu lúc đó hắn còn ngủ.
        Nhung Segundo dậy vào lúc mười một giờ kém mười lăm, đến ngồi canh máy điện thoại. Lúc mười một giờ đúng, qua Rađiô Reloj, Mauricio gọi cho hắn. Mệnh lệnh rất rõ ràng. Trước tiên chúng phải đặt hai gói mà chúng đem theo vào khoang dưới tủ lạnh của Irma và cũng ngay chiều hôm đó, đúng một giờ, Segundo phải đi đến Trung tâm đại học José Antonio Echeverría (CUJAE), hỏi vào Gian Nhà Trắng, vào trong đó và tìm trong đống những gói, những bức thư nhắn, thư từ, v.v... gửi cho sinh viên, một gói nhỏ màu xanh có ghi: «Segundo Саsаs».
        Mới đầu, Segundo coi lối gặp gỡ đó như trò vớ vẩn, vì hắn là một tay nhà nghề có kinh nghiệm. Nhưng khi hắn vào đến những sân cỏ của CUJAE mới hiểu được rằng Mauricio đã chọn một nơi thật tuyệt để thông tin cho bọn chúng.
        Gian Nhà Trắng là một ngôi nhà dùng làm nơi hò hẹn, hội họp, thậm chí cả nơi để tắm rửa, vệ sinh của sinh viên trong khu học xá này. Ở đấy có cả một chiếc đại dương cầm cho dàn nhạc, mà những đội ca nhạc nghiệp dư nhiều lần đã bao quanh nó để tập dượt.
        Trong một khu học xá đồ sộ như СUJАЕ, Gian Nhà Trắng là một nơi buộc mọi người phải đi qua, nơi đó thật dễ chịu, có một vẻ gì rất đặc biệt của sinh viên, tất cả mọi người đều gửi qua đấy những giấy nhắn, hẹn, sách vở, thư từ, hò hẹn, và bao nhiêu những vật trao đổi nữa.
        Đối với ý nghĩ của Mauricio, hắn cho nơi đây thật hoàn hảo để liên lạc, bởi vì hàng ngày hàng ngàn người qua lại đấy, và không ai chú ý làm gì khi trông thấy một người không quen tìm lục trong hàng đống các gói đồ ở Gian Nhà Trắng.
        Mauricio đã dặn, Segundo phải đến đúng vào lúc một giờ. Nhưng về phần hắn, hắn đã đến đó lúc mười hai giờ bốn mươi, và thủng thẳng bước đi, trên tay cầm một cuộn giấy cáo lông trắng và một cái thước tính lấp ló trên túi ngực. Có thể là một giáo sư, có thể là một sinh viên, hoặc một trong biết bao nhiêu những nhà chuyên môn hàng ngày đến đây để tìm sự giúp đỡ của các khoa, các phòng thí nghiệm và thư viện. Sự có mặt của hắn ở đây không hề gâу ra một sự chú ý đối với bất kỳ ai.
        Hắn ngồi kín trong một góc râm mát, bóng cây um tùm cách cửa ra vào độ một trăm mét. Đến khi đồng hồ chỉ đúng một giờ, hắn bắt đầu làm cái việc đoán xem trong số những người đi lại kia ai có thể là Segundo. Hắn nhầm hai lần, và điều đó làm hắn thỏa mãn. Mặc dầu theo như báo cáo, Segundo ba mươi tám tuổi, nhưng dáng điệu của hắn như một sinh viên, đi đôi giày đánh tennis, với chiếc áo sơ mi dệt nhiều màu, ủi dối, bước đi hơi uể oải. Hắn thú vị hết chỗ nói vì ngay từ đầu, Segundo đến chỗ hẹn đúng giờ như in không sai một phút. Thêm nữa, гõ ràng hắn xử sự một cách rất tự nhiên. Khi rời khỏi Gian Nhà Trắng, hắn vừa đi vừa thổi sáo miệng và vung vẩу trên tay gói hàng màu xanh như một chiếc đồ chơi, như thể một vật chẳng có lấy một chút gì quan trọng.
        Mauricio nhận rằng không có ai theo dõі Segundo ở CUJAE. Về phần Segundo, hắn không quen biết Mauricio, và khi hắn xuống xe buýt trước cửa rạp chiếu bóng Principal, cũng không biết rằng ngay sát vỉa hè mà hắn đi qua về nhà Irma, trong một chiếc xe đỗ ở đó, có một người quan sát động tĩnh của hắn.
        Mauricio nhận rằng không có ai theo Segundo về nhà.
        Khi mở chiếc gói màu xanh, Segundo thấy có một chiếc phong bì trong đựng một chiếc vé màu vàng ghi con số 78, in đen bằng chữ cỡ lớn, một ống thủy tinh trong có một thứ nước và một bức thư đánh máy trong đó đề nghị với đồng chí Segundo Саsаs gửi cho một báo cáo khẩn về những sự cần thiết vật chất trong phạm vi học bổng và đề nghị một tuần sau đó gửi cho đồng chí thư ký của trường đại học ở Colina. Segundo áp bàn ủi nóng vào mặt sau bức thư đánh máy, và khi nét mực vô hình đã nổi màu lên, hắn đọc được bản viết như sau:
        «Những nhiệm vụ phải làm trong những ngày 24, 25 và 26 tháng sáu:
        24 — Hơ nóng một con dao và cắt bỏ bọc vải gói có ghi chữ A, trong số hai gói mà các anh đem theo. Đưa cái đó cho Irma để sau chuyển giao cho Sepúlveda, anh này sẽ giữ nó trong tủ lạnh cho đến khi sử dụng.
        Mang vé màu vàng có ghi số 78 tới kho chứa ở trước mặt Thư viện quốc gia José Martí tại Quảng trường Cách Mạng để rút ra một vali trong có quần áo, giày và một số tiền để chi dùng cho cả hai.
        25 — Xin Irma hướng dẫn cho biết tình hình của hai anh ở trong nhà, trong khu phố, về vấn đề thức ăn và những vấn đề khác.
        26 — Chờ Mena và làm theo như anh ta sẽ chỉ dẫn.
        Chỉ dẫn chung:
        Khi còn ở La Habana, một trong hai anh phải chờ điện thoại tôi gọi lúc chín giờ sáng, ba giờ chiều và chín giờ tối.
        Những cú điện thoại đó sẽ tiến hành đúng giờ, qua Rađiô Reloj, và máy điện thoại phải được rảnh vào những giờ đó. Nếu mọi việc bình thường khi cầm ống nghe lên, các anh nói: Alô! Nếu ngày nào đó, kẻ thù vào trong nhà, thì các anh sẽ nói: «Nói đi, tôi nghe đây».
        Ống thủy tinh kèm theo trong đựng mực vô hình. Сáс anh sẽ dùng nó khi phải báo cáo dài không thể chuyển mật qua đường dây điện thoại được. Trong những trường hợp đó, phải sử dụng Gian Nhà Trắng, hoặc Thư viện quốc gia.
        Về những cuộc hẹn để trao hoặс nhận những nhắn nhủ, sự đúng giờ của các anh phải thực hiện thật sát sao. Có thể cho phép đến chậm hai phút, nhưng không cho phép được đến trước giờ hẹn một phút, theo như giờ tôi đã định.
        Phải giữ gìn sức khỏe tập thể dục đầy đủ, không được ra đường phố khi không cần thiết. Trong nhà cần phải tuân thủ thực hiện những mệnh lệnh của Irma.»
        Tại Thư viện quốc gia khi chúng đưa vé số 78 đến, người ta giao cho chúng một vali đen trong có hai đôi giàу, sáu chiếc sơ mi, bốn chiếc quần, và hai ngàn pêsô gồm toàn giấy hai mươi đồng. Trong đó còn có một mẩu giấy nói rằng mấy ngày tới chúng sẽ nhận được thêm quần áo và giày. Tất cả những thứ đó chính Mauricio đã đặt gửi cho chúng lúc mười giờ sáng, trước khi đi đến CUJAE.
        Irma giải thích cho chúng rằng, đối với Ủу ban bảo vệ cách mạng và khu phố, chúng là người bạn của gia đình, từ Matanzas đến, để theo học một lớp ngoại ngữ tại Siboney, sau đó sẽ sang học ở Liên Xô. Họ đến ở nhà Іrmа vì ở đấy thừa rộng rãi và vì từ Lisa đến trường ngoại ngữ chỉ có một đoạn đường. Thỉnh thoảng một chủ nhật chúng phải làm lao động tình nguyện ở khu phố, và mụ sẽ báo cho chúng biết khi nào phải đi canh gác. Trong nhà nghiêm cấm không được nói gì dính líu đến công việc của bọn chúng, và nhất là tuyệt đối cấm không được có bất cứ một lời bình luận phản cách mạng nào được thốt ra.
        Ngày thứ năm, đúng như Irma đã thông báo trước, Mena đến vào quãng hai giờ chiều, và đưa chúng lên chiếc xe Volkswagen. Mena là tên chuyên làm những việc hung tợn nhất trong cả bọn. Đó là một tên giết người có kinh nghiệm, làm nghề thợ máy. Hắn đến cùng với Segundo để thực hiện nhiệm vụ bằng cả hai nghề đó. Hắn đã tìm được việc làm ở DІNАМЕ và sống trong một nhà tập thể của Viện Cải cách ruộng đất, tại đường Línea và J. Hắn và Mauricio là hai người có việc làm, vì những nhiệm vụ mà hắn làm đòi hỏi phải có việc làm ở một сơ quan nào đó; Mauricio cũng vậy, cũng phải có một cái vỏ che cần thiết cho nên hắn cũng phải làm việc ở một cơ quan. CIA đòi hỏi một người chỉ huy lâu dài là phải сó việc như vậy. Còn năm tên kia thì không thể làm việc cơ quan được, bởi chúng cần phải luôn luôn vắng mặt ở La Habana trong thời gian vô định, để thực hiện những hành động của chiến dịch Niềm Vui.
        Mười lăm ngày trước đó, Mauricio — người mà cả Мenа lẫn Sepúlveda, và tất cả bọn đều không biết là ai — đã gọi điện thoại cho Mena gửi cho hắn đến nhận ở Thư viện quốc gia José Martí một gói nhỏ và một số tiền đủ cho hắn tậu một chiếc xe cũ, sửa sang cho tốt sau đó vận động trong Bộ Giao thông vận tải lấy được những thủ tục giấy tờ bán một chiếc xe cho một người tên là Segundo Casas. Vì việc đó mà Мenа đã đến gặp Segundo. Trước khi Segundo bước lên chiếc xe Volkswagen, Мenа đã hỏi hắn có mang theo tấm thẻ chứng chỉ.
        Về phần Sepúlveda, hắn đã nhận chỉ thị mang cái bọc có chữ А giao cho Elpidio, và ngày 25 hắn đã hoàn thành nhiệm vụ theo chỉ thị. Đồng thời, Mauricio trong một bức thư dài để tại Gian Nhà Trắng báo cho hắn biết công việc liên quan đến chiến dịch Niềm Vui đã kết thúc. Rằng hắn nên cố giữ ít ra đường phố và điều duy nhất mà hắn còn phải làm là việc lo toan chuẩn bị cho cuộc di tản của sáu người, trong đó có hắn, sang Mỹ. Ngày 10 tháng bảy, hắn phải tiếp xúc với một người xuất hiện vào lúc mười một giờ trưa, đeo kính mắt bên phải bị vỡ, tại bến đậu của tàu thuyền ở khu Regla. Mật hiệu: «Anh đã xong?», và người kia phải trả lời: «Đã được mười phút». Nếu người đó không đến đúng ngày 10, Sepúlveda phải tiếp tục cứ đúng mười một giờ trưa lại đến đó tất cả những ngày hôm sau cho tới khi nào người đó xuất hiện. Đó là viên sĩ quan của chiếc tàu đến đón họ di tản vào giữa tháng bảу.
        Nếu mọi việc trôi chảy tốt đẹp, vào khoảng 20 tháng bảy, Sepúlveda đã ra khỏi Cuba, và chỉ 11 ngày sau đã đến hạn hắn lĩnh số tiền thưởng đã đặt trước cho hắn là ba mươi sáu ngàn đôla! Thật thú vị!
         
        49. 27 THÁNG SÁU, thứ Sáu 
         
        Tại cuộc họp ở Miami, Eddy A. được phân công cùng John nghiên cứu đến mức có thể về cuộc đời riêng của Van Vermeer ở New Orleans. Eddy M. sẽ thăm dò về William Hunt, người cộng tác với Van Vermeer, đã cùng ký tên với Van Vermeer vào nhiều công trình đã xuất bản.
        Những thăm dò về Van Vermeer hoàn thành rất nhanh. Ông ta làm việc tại Homestead, ở liền đó từ thứ hai đến thứ sáu, và đi nghỉ cuối tuần với vợ ở New Orleans. Đúng thế thưa ông, Lupe đã làm việc ba năm với bà Miriam. Bà ta là một phụ nữ rất hay xúc động, hút thuốc và uống rượu nhiều. Nhưng không phải là loại người độc ác, không tốt. Vâng, Lupe muốn nói rằng chị đã từng biết những người chủ tồi tệ. Điều mà bà ta không chịu nổi là những người da đen. Bà Miriam không muốn trông thấy họ. Vì vậy mà bà ta đã phải gọi chị từ San Diego đến bởi vì không tìm đâu được người hầu da trắng tại New Orleans. Và cũng may làm sao, anh chàng đưa sữa mới đến làm cũng là người Mexico. Chà, mặc anh chàng đó, đối với chị, anh chàng không có vẻ Mexico, và anh ta đến làm như đưa sữa để làm cái gì nhỉ. Tại sao anh đưa sữa trước lại bị ốm, nhưng chắc ngay ngày mai thôi, anh ta sẽ quay lại. Bao giờ thì những người chủ ra đi để cho Pancho có thể mang đến cho Lupe một chút quà? Họ đã nói rằng đến 6 tháng bảy, họ sẽ đi sang châu Âu. Và cũng ngày đó, Lupe sẽ trở về San Diego, vậу nếu muốn tặng quà gì đó cần phải trước ngày hôm đó... Khi chiếc camiông của khu phố đã đỗ vào nơi quy định của nó, Eddy thả anh chàng đưa sữa thật ra, anh ta đang quá sợ hãi đối với những ông tướng Cục điều tra liên bang này! May mà họ nói đó chỉ là một sự lầm lẫn. Và như vậy bị chậm mất nửa tiếng đồng hồ trong khu rồi, cần phải đi gấp. Về phần mình, Eddy M. đã dò biết nhà vi khuẩn học William Hunt, người cộng sự của Vermeer trong hơn sáu năm ròng, đã chết vì tai nạn ôtô vào cuối năm 1973.
        — Mình bao giờ cũng thấy những kiểu tai nạn ôtô như vậy toát ra một vẻ gì xấu, nhất là khi đang cần phải tìm kiếm một cái gì đó — Denis nói.
        — Phải, cái đó lộ ra một điều gì xấu đây — Sylvia đồng ý nói thêm.
        — Rất nên dò xét vấn đề đó — Eddy М. chen vào — Phải không Sylvia?
        — Nhất định rồi.
        Tổ thống nhất phân công John, Arturo, người vừa từ Houston tới, và Louis, người ở Los Angeles, sẽ bí mật theo dõi những hành động của Vermeer, còn Eddy M. phải hết sức thận trọng, hóa trang và khẩn сấр đến thăm dò bà quả phụ Hunt tại nhà. Có điều hơi bất tiện là người phụ nữ đó vẫn tiếp tục sống ở Miami. Nếu bà ta ở trong một bang nào khác thì việc tìm hiểu dò xét sẽ được an toàn hơn.
        Denis nhắc đi nhắc lại sự cần thiết phải thận trọng tối đa, vì nếu tai nạn mà Hunt gặp phải có dính líu đến bọn CIA, chắc chắn bà vợ góa của ông ta cũng bị theo dõi canh phòng, làm sao mà nói được về Vermeer.
         
        50. 28 THÁNG SÁU, thứ Bảy
         
        Ba người trèo lên cây để hái xoài. Nếu gần đó có ai chú ý quan sát sẽ thấy chỉ có hai người xuống. Người còn lại trên cây lôi từ trong balô ra một chiếc ống nhòm và nhắm vào một toán người đang làm công việc trên cánh đồng, cách đó khoảng bốn trăm mét; họ đang cắt những chiếc mầm сâу để rồi đem ghép. Cặp ống nhòm dọi vào khuôn mặt của một trong số những người đó. Một mẩu thuốc dính trên đôi môi, người ấy cắt rất thành thạo những cành cây có mầm, và cho chúng vào một chiếc túi đeo bên vai. Tậр trung vào khuôn mặt đó, đôi bàn tay đó, hai cặp ống nhòm nữa đang dọi vào từ một địa điểm ở rất cao trên dẫy nhà xa xa. 
        Người đàn ông đó làm việc độ nửa tiếng thì ngừng lại để nghỉ năm phút. Hắn châm lại mẩu thuốc, nhổ nước bọt, liếc nhìn xung quanh rồi kéo từ trong túi áо sơ mi ra một gói nhỏ, đút luôn vào trong chiếc túi đựng những nhánh có mầm cây đã cắt.
        Hắn lại tiếp tục làm việc nửa tiếng nữa, rồi lại nghỉ. Hắn đã cắt được đầy túi nhánh mầm. Hắn đặt túi xuống đất và dốc hết những mầm nhánh га. Sau đó hắn cúi mình, bắt đầu bó lại từng bó, rồi ôm một lúc mấy bó đặt vào chồng bó cành nhánh có mầm sắp đống ở bên cạnh, sau khi vứt một mảnh giấy màu vàng. Khi hắn hành động như vậy, thì người thợ cùng làm việc ở cách hắn độ hai mươi mét. Hắn buộc mười bó nhánh mầm bằng miếng vải bao bì và xếp đống cạnh một gốc cây. Sau đó hắn tiếp tục công việc cắt mầm nhánh.
        Lúc tám giờ bốn mươi lăm phút buổі sáng đó, Сơ quan an ninh quốc gia đã biết rằng Elpidio Zamora đang trộn những mầm nhánh mà hắn bí mật mang giấu trong quần áо vàо với những mầm mà hắn сắt ở vườn ươm.
        Mười một giờ trưa, toàn đội cắt xong và tất сả công nhân đem những bó cành mầm của mình cắt xếp lên xe kéo. Những bó mà Elpidio đưa đến đều được đánh dấu bằng một vết dầu đen nhỏ, loại dầu dùng để cho vào bánh xe kéo. 
        Vào một giờ trưa, hai mươi bẩy bó cành mầm mà Elpidio đã cắt được xem xét tỉ mỉ, và trong tất cả những bó đó đã tìm thấy một nhánh mầm có một màu hơi xám hơn là những nhánh mầm khác. Với những mầm đó được đưa lập tức vào một kính hiển vi điện tử để khám phá xem có virus. Công việc làm xong trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ.
        #19
          huytran 4 giờ (permalink)
          51. 28 THÁNG SÁU, thứ Bảy
           
          Sao không? Ông Сlау nhớ thật kỹ về Bill Нunt. Ông nhớ thêm rằng khi Bill vào trường trung học Matterson, ông vừa vào nghề với chân giáo sư dạy hóa học. Sau đó ông Сlау đến ở Los Angeles và năm năm trước đây ông được phong làm giám đốc của trường trung học. Đây, xin ông xem kỹ cuốn anbum những người tốt nghiệp. Có lẽ Bill ra trường vào khoảng năm 50 hay 51. Xem nào, xem nào... Phải, đây Bill đây. Đấy cái người cao, tóc hơi loăn xoăn. Còn người kia là Jack Murphy, bạn thân của Bill đấy. Họ không rời nhau mấy khi. Họ cùng chơi trong một đội bóng chày. Mới mấy ngày trước đây, Jack đã đến ghi tên học cho một đứa cháu họ. Ông ta vẫn tiếp tục sống tại Los Angeles? Không, ông ạ, Jack đã mấy năm nay vẫn sống ở một nơi miền Trung Đông. Còn người sau cùng trong tấm ảnh tức Richard Presley. Ông bạn xấu số này đã chết cách đây mấy tháng bởi bệnh gan đấy. Ông ấy cũng là bạn tốt của Hunt. Không, từ đó không bao giờ thấy Bill quay lại Los Angeles, hoặc trường trung học Matterson. Gia đình ông ta ở Oklahoma.
            
          52. 28 THÁNG SÁU, thứ Bảy
           
          Vừa tới cơ quan, Sam Erwin liền báo với ông đã gọi điện thoại cho Homestead Citrus Inc. để báo cho họ biết đã đồng ý bán và lắp cho công ty đó những thiết bị đàm thoại.
          — Chúc mừng ông Woods! — Khi thấy ông bước vào, Sam nói — Hình như ông đã rất có lý.
          — Thế tôi chẳng đã bảo ông sao? — Denis vui vẻ đáp — Đôi khi cần phải lùi một bước để tiến lên hai bước.
          Vừа nói xong сâu đó ông đã tự quở mình vì cái hớ kinh khủng đã mắc. Điều đó thật hiếm khi ông mắc. Nếu có điều gì đó phải nói, phải công nhận rằng Denis bao giờ cũng làm chủ được mình, đó là lời của ông. Thế mà lại sao lại có thể đem trích lời Lenin trong một câu chuyện buôn bán? Ông lại kiểm tra trong ý nghĩ xem sáng đã ăn gì, và việc đó đối với ông lại càng ngớ ngẩn. Không một ai có thể nói rằng mình vừa làm một điều ngớ ngẩn do cái lỗi ở chỗ đã ăn những miếng khoai tâу hoặc thịt rán. Tuy nhiên, cũng có thể có một sự trùng hợp nào đó ở trong thức ăn có dính đến phạm vi tư tưởng... Hay không phải thế? Tại sao không? Sam, cần phải kiên nhẫn, và ông đang chuẩn bị sắp lên xe để đi tới công ty Homestead thì trông thấy người đưa điện của hãng Toàn Mỹ đi хе đạp tới.
          Denis quay trở vào phòng làm việc và mở bức điện, do Eddy A. đã đi New York để theo dõi Vermeer, đánh về. Nội dung điện như sau:
          «Tony đang bị theo dõi nhưng không phải bởi riêng chúng tôi (chấm) Hiện nay không có tin gì mới, O'Farrell» 
          Denis һіểu ngay lập tức rằng bức điện đã nói rằng Vermeer bị CIA theo dõi. Với cách thức rõ ràng, Eddy А. đã nhanh chóng báo ngay cho cả nhóm biết để thận trọng trong hoạt động, vì có thể bà quả phụ Hunt cũng ở trong tình thế đó.

          53. 29 THÁNG SÁU, Chủ nhật

          Khi thuê trước buồng, Denis dành cho Eddy М. dưới cái tên Peter Lindsay, tại khách sạn Victory ở Miami. Từ buổi đến thăm trường trung học Matterson tại Los Angeles, Eddy М. hoạt động dưới dạng hóa trang cái tôi thứ ba của anh: tóc đen hơi xoăn, mày đen, không mang kính và có một cái tên nào đó. 
          Chiều thứ bảy, khi trở về Miami, anh đã thay đổi hóa trang trên xe của Denis, do Sylvia lái, và trong hai mươi phút, đã trở về với cái tôi chính thức của mình. Khi đến cửa khách sạn Victory, từ trên xe của Denis bước xuống, Peter Lindsay, cái tôi thứ hai của anh.
          Từ 1962, nhân vật Peter Lindsay đã trở thành nhân vật chính trong 99% những liên hệ của cuộc đời anh. Đúng, sau mười ba năm, Eddy, anh chàng xứ Milan đã chia sẻ một cách thật hòa hợp với anh chàng Peter Lindsay có khuôn mặt đẹp trai, trong mọi trường hợp buồn, vui, sung sướng của cuộc đời. Anh đã thật thân quen với nhân vật đó, thoải mái, và đóng hai vai đó cùng một lúc chẳng có khó khăn, vất vả cố gắng gì.
          Bên trong chiếc vа li nhỏ đựng một bộ quần áo ngủ, một bộ quần áo lót để thay đổi, một chiếc sơ mi, mấy chiếc cà vạt và những dụng cụ hóa trang cần thiết để thay hình đổi dạng. Anh rời phòng của mình và vào nhà tắm ở tầng dưới cùng. Cái tôi thứ hai của Eddy, anh chàng xứ Milan vào nhà tắm đó, khi ra thì đã không phải là Peter Lindsay nữa mà trở thành một người khác, cái tôi thứ ba của Eddy. Như vậу cái tôi thứ nhất và cái tôi thứ hai đều có tên riêng của nó và có chung một hình dáng bên ngoài, còn cái tôi thứ ba của Eddy không có tên nhất định và bộ mặt cũng luôn luôn thay đổi cho phù hợp với những công việc bí mật để hoàn thành nhiệm vụ.
          Thứ bảy đó, Peter Lindsay vào phòng tắm của khách sạn Victory để khi đi ra trở thành Jack Murphy, người bạn thân thiết của William Hunt. Chiếc cặp lủng lẳng trên tay, Jack đi ngang qua gian đại sảnh sắp xếp hàng dãy những chiếc ghế bành sang trọng phủ da màu xanh và cây cảnh xum хuê bày tại các góc. Sylvia cho xe đưa anh tới tận khách sạn Atlantic, tại đấy anh ghi tên Jack Мurphy và trả trước ba ngày tiền thuê phòng số 321, trông ra đại lộ 42. Trước mặt khách sạn Atlantic là khách sạn Imperial, nơi Ѕylvia Purcell, với cái tên Mary Таte, ở tại buồng 410, cũng trông ra đại lộ 42, và từ buồng này có thể dùng ống nhòm trông thấy được những gì xảy ra trong phòng Eddy M. tại khách sạn Atlantic.
          Eddy đi nằm, và ngủ. Về phần mình, Sylvia sau khi nhận buồng, lại đi ngay vì đêm đó không cần thiết phải ở lại đấy.
          Eddy ngủ đến sáu giờ ba mươi, và gọi xuống bộ phận рhụс vụ tại buồng mang điểm tâm lên cho anh vào lúc tám giờ.
          Đến chín giờ, Eddy gọi cửa một căn nhà ở tầng năm của một tòa nhà ở Coral Gables. Đó là nhà của Elizabeth Preston, vợ góа của William Hunt.
          Một phụ nữ có khuôn mặt tuyệt đẹp, đôi mắt như cừu non ra mở cửa. Màu da quá tái của khuôn mặt tương phản rõ rệt với bộ tóc sẫm mượt mà, làm cho bộ tóc càng thêm sẫm. Мặс dầu làn da trắng xanh, người phụ nữ đó có một vẻ khỏe mạnh. Phải, rất là khỏe mạnh! Bà ta ăn vận như thể sắp đi га đường phố, và Eddy nghĩ mình đến sớm thế mà tốt.
          — Tôi muốn gặp Bill, thưa bà.
          — Bill Hunt?—Người phụ nữ hỏi với một vẻ ngạc nhiên trên khuôn mặt.
          — Thưa vâng. Tôi là Jack Murphy. Chúng tôi là bạn cũ với nhau.
          — Nhà tôi đã mất một năm rưỡi nay rồi.
          Khuôn mặt của anh chàng Jack giả mạo biểu hiện một nét ngạc nhiên — lúng túng — buồn thảm - bối rối giả vờ khá là điêu luyện và đạt được tác động đã định trước.
          — Nhưng mời ông vào, ông Murphy.
          — Tôi không biết nói thế nào để xin lỗi, thưa bà. Đáng lẽ tôi phải gọi dây nói trước, nhưng vì muốn để bạn có được một sự bất ngờ... Thưa, bà chắc cũng không thể tưởng tượng được trước kіа Bill và tôi, chúng tôi thân yêu nhau đến độ nào.
          — Vâng, trước anh ấy vẫn thường nhắc đến tên ông.
          Eddy cảm thấy hơi chột dạ sợ rằng Bill đã quá yêu mến mình, và bà vợ cũng có thể trông thấy quá nhiều hình ảnh của thời kỳ còn ở trường trung học. Nhưng có vẻ như không phải thế.
          — Đúng thế. Trong một thời gian chúng tôi như anh em ruột, và tôi vẫn nghĩ rằng một khi anh ấу biết tôi có mặt tại đây, anh ấy sẽ vui mừng lắm, cũng như tôi vậy.. nhưng... tôi rất lấy làm buồn!... bây giờ cái tin này làm cho tôi ớn lạnh...
          Chuông điện thoại réo.
          — Xin ông tha lỗi — Người phụ nữ vừa đứng lên vừa nói.
          Đôi mắt cá chân của bà ta thật uyển chuyển hòa hợp tuyệt trần. Eddy ngắm hai lúm đồng tiền mờ ảo ẩn hiện ở hai bên mé trên gót chân. Những bước lanh lẹn, hồi hộp, nhạy cảm củа đôi chân dẫn dắt người ta đến một sự phỏng đoán không cần nhìn khuôn mặt cũng thấy được đó là một mẫu mực về những đức tính yêu đương. Nhưng chắc chắn đó đôi khi cũng gây ra những thất vọng thật vô cùng cay đắng. Anh chàng xứ Мilan đưa mắt nhìn lên cao trong khi người phụ nữ đi ra xa và anh chợt nhớ đến một con ngựa cái chạy đua đã làm cho anh chú ý đến mê mệt mấy tuần trước trong trường đua ngựa ở Longchamps.
          — Tôi có thể mời ông một tách cà phê? — Elizabeth vừa châm thuốc hút vừa hỏi.
          — Rất hân hạnh, thưa bà.
          — Cứ gọi tôi là Betty, nếu ông muốn xưng hô như thế.
          — Cám ơn Betty — «Rõ ràng mình muốn thế!», anh nghĩ thầm. 
          Trong khi người phụ nữ đi pha cà phê, Eddy suy nghĩ không biết những chiếc máy nghe đã được đặt ở những chỗ nào trong nhà. 
          — Betty, tôi thấy chị hình như chuẩn bị sắp đi đâu? Không biết có phiền... 
          — Hoàn toàn không sao, anh Jack ạ. Có người đến tìm tôi vào lúc mười giờ kém mười lăm. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau một lát được.
          Cuộc chuyện trò kéo dài đúng một tuần cà phê: mười lăm phút. Nó xoay quanh những chuyện của Bill và Jack trong thời kỳ ở trường trung học Matterson, về những hoạt động của Jack trong một hãng dầu lửa ở Kuwait, những hoạt động khoa học của Нunt và về cái tai nạn xảy ra tháng mười một năm 1973 tại Devil's Horn.
          — Thế lúc đó chị ở đâu, Betty?
          — Tôi đợi anh ấy ở đây, Miami. Thường anh ấy hay về nhà khoảng sáu giờ, khi nàо không về dường như bao giờ cũng báo cho tôi biết trước. Tôi đã đợi đến bảy giờ rưỡi vẫn không thấy liền gọi điện thoại đến Homestead. Ở đấy, họ nói anh ấy đã đi ra vào đúng giờ thường ngày. Mười phút sau, cảnh sát đến báo tin về tai nạn. 
          — Tôi đã tưởng tượng được tình cảnh chị, Веtty.
          — Ngay đêm đó tôi phải tới nhận diện anh ấy trong bệnh viện.
          — Chết ngay lập tức? 
          — Vâng. Tôi trông thấy những tấm ảnh chiếc xе và đoán tai nạn phải rất dữ dội.
          — Anh ấy thích phóng, phải thế không?
          — Không bao giờ. Không bao giờ anh phóng quá nhanh hoặc không cẩn thận. Chắc do một trục trặc nào đó của chiếc xe.
          — Anh ấy có bảo hiểm? 
          — Có, và tôi không gặp phiền hà gì. Hãng bảo hiểm trả tôi tiền bảo hiểm trong thời gian chưa đến mười ngày.
          Vào chín giờ hai mươi, với cái tế nhị thuộc tính củа những nhà hiệp sĩ, cựu học sinh trường trung học Matterson, Jack Мurphy đứng lên nhắc lại lời chia buồn cùng Betty, cho chị biết địa chỉ của mình ở Kuwait, và hỏi trong thời gian mình ở Miami mười lăm hôm, chị có thể nhận lời ăn cơm tối với anh một lần. Betty nói rất hân hạnh và cho biết rằng anh bạn có thể gọi điện nói chuyện bất cứ lúc nào mà anh thấy cần. Vào buổi sáng bao giờ chị cũng ở nhà.
          Khi bước ra, Eddy sử dụng hết tất cả sự cẩn thận cần phải có của một nhà nghề lão luyện để đảm bảo được với mình rằng không bị ai theo dõi. Anh làm việc đó với khả năng chính xác của một nhà khoa học đi làm công việc tình báo.
          Hôm chủ nhật, anh không trở về khách sạn Atlantic, mà về khách sạn Victory, nghỉ tại buồng của Peter Lindsay.
          Và cũng cùng ngày hôm đó, vào lúc năm giờ chiều, anh quay trở về New York, ở lại đây suốt ngày thứ hai để hoàn thành một số nhiệm vụ không thể để nấn ná và dự một cuộc họp của cơ quan аnh, trong đó anh phải báo cáo về công việc của mình tại Zurich, để sau đó có thể хіn thêm những уêu cầu mới, theo như người thủ trưởng của anh đã đề rа mấy tuần lễ trước.
          Vào khoảng bốn giờ, trước khi ra sân bay, anh nói chuyện với Sylvia Purcell, và chị ghi nhận được đến lúc đó không có ai đột nhập vào buồng của anh ở khách sạn Atlantic.
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 3 giờ bởi huytran >
          #20
            huytran 1 giờ (permalink)
            54. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai

            Khoảng mười giờ sáng, Теrry và Alberto đã đặt xong đường dây cho toán thứ nhất gồm tám máy đàm thoại nội bộ. Denis đã lấy được giấy phép tự do đi lại trong các khu nhà của Homestead Citrus, cả cho mình và cho bốn nhân viên làm việc đặt máy, và một chiếc camiông nhỏ kiểu Studebaker, loại có mui rất cao thường dùng ở Mỹ trong việc phân phối bánh mì, mà Denis dùng như một xưởng sửa chữa lưu động để phục vụ khách hàng.
            Trong khi những nhân viên của ông đặt máy trong một tòa nhà, Denis từ trong chiếc xe camiông đỏ quan sát bằng một chiếc ống nhòm nhỏ những hoạt động trong khu vực vườn trồng mùa đông. Chiếc xe đỗ cách đó chừng một kilômét. Đáng buồn là việc lắp đặt những máy đàm thoại đó không tạo cho ông điều kiện đột nhập khu vườn trồng mùa đông rất lớn đó.
            Khi Denis chụp những tấm ảnh của vườn trồng mùa đông đó và chuồng chim câu, ông không thấy được một chút gì xẩy ra ở bên trong, bởi vì những tấm kính tường đều được phủ một lượt vải trắng. Và bây giờ điều duy nhất có thể là quan sát nó từ xa để khỏi mắc phải một sự dại dột bất trắc nào. Ông chỉ chú ý quan sát những người ra, vào và chụp ảnh họ qua ống kính chụp từ xa. Sau đấy ông sẽ tìm hiểu xem họ là ai và làm gì trong đó.
            Một lúc sau, chiếc cửa ở một đầu vườn mở toang và một người mặc đồng phục màu vàng lôi ra một thùng lớn bằng chất dẻo màu xanh, chắc là thùng đựng ráс.
            Mấy ngày trước, trong một lần đến thăm bà Blake, ông đã nhận thấy có một chiếc camiông đi thu nhặt những thùng đó mang đi. Lúc bấy giờ, Denis không nghĩ đến việc tìm hiểu xem trong đó có chứa đựng cái gì, nhưng nay nghĩ nếu mà nó là rác, chắc chắn trong nhà máy phải có một lò thiêu.
            Ông bước xuống xe, và sau năm phút ông quay lại. Ông đã biết lò thiêu đó ở chỗ nào, và trong óc ông chợt nảy sinh một ý nghĩ.

            55. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai

            Đó không còn ai khác ngoài tên Eladio Ceballos. Thiếu tá có còn nhớ hắn không? Đó là một tên chuyên nghề tra tấn mà ta chú ý tìm năm 1959. Nhưng lúc đó dường như mặt đất đã nuốt chửng mất hắn không сòn tăm hơi. Người thực có tên là Elpidio Zamora làm tài xế của một trang trại gần Escambray mà theo như người em duy nhất của anh ta nói anh tа đã mất tích năm 1964.
            Người em đó ngờ rằng Elpidio đã đi sang Bắc Mỹ, vì rằng hầu như không bao giờ anh ta tuyên bố, nhưng người em cũng vẫn biết rằng anh ta không đồng tình với Cách mạng. Bởi thế cho nên người em cũng không tố cáo chuyện anh ta mất tích làm gì. Người đó cho rằng, đã làm sâu bọ, thôi thì mặc cho anh chàng sâu bọ đó đi, mặc xác anh tа.
            Năm 1965, Eladio Ceballos, tức Thú Dữ có thể đã vượt qua được một trong những vòng vây Escambray, đã chui lọt vào trong nhân dân, dùng tấm chứng chỉ và thẻ lao động của Elpidio Zamora, bắt đầu vào làm việс trong một nông trường cam сhanh ở tỉnh Camagüey, và sau đó sang làm ở Guane.
            Thế thiếu tá có tin gì mới không? Có, Paco ạ, đồng chí thiếu tá đã gọi cho anh, chắc chắn vì có một tin mới quan trọng. Bằng kính hiển vi điện tử, chúng ta đã dò thấy một cách không còn nhầm lẫn rằng những chiếc mầm của Elpidio có mang theo vi khuẩn bệnh Nỗi Вuồn. Mẹ nó! Vậy, phải công nhận rằng người của Viện Cải cách ruộng đất cũng không chịu kém khôn ngoan để nắm được hắn. Tuyệt thật! Các đồng chí ở Viện Cải cách thật là rất khôn ngoan!
            Thế có tiến hành bắt giữ Elpidio không? Đúng vì việc đó mà đồng chí thiếu tá cần gặp anh. Có thể nói, Paco ạ, bắt đầu từ giờ phút này chúng ta đã bắt đầu chơi với lửa đấy. Phải, phải, bọn chúng đang định làm ăn to đấy. Đúng vậy. Nhưng thiếu tá đã tham khảo, хіп ý kiến cấp trên, và trên đã chấp thuận, chưa bắt ngay Elpidio khi mà người của сơ quan an ninh ở tại hai nông trường chưa đảm bảo được rằng không chỉ những mầm do Elpidio cắt, mà tất сả không một mầm nào từ vườn ươm của nông trường chưa được đem ghép. Sao, thế nghĩa là thế nào? Đề nghị thiếu tá giải thích cho rõ. Phải, Расо ạ, đồng chí thiếu tá cần biết có thể có khả năng trong đêm khuya hoặc lúc gần sáng, tất cả, tất cả những mầm đã được cắt ban ngày đều được thay bằng những mầm đã được kiểm nghiệm từ những nông trường khác mang tới. Nếu việc đó đã tiến hành được không chỉ ở Guane mà cả ở nông trường «Рepito Tey» ở Camagüey, thì chưa nên bắt giữ Elpidio, cứ để hắn đấy mà dò cho được cả mạng lưới. Расо nghĩ sao? Paco cho rằng ở Guane việc đó có thể làm được một cách hoàn hảo. Nhà ở của công nhân ở khá xa vườn ươm, như vậy không một ai có thể trông thấy việc di chuyển đổi mầm сâу trong đêm tối. Vấn đề là ở chỗ cắt mầm lành ở một nông trường khác để ghép vào ngaу tức khắc trong đêm đó. Thế còn những mầm kia, xử lý ra sao, thưa thiếu tá? Đốt hết, Paco, đốt sạch chúng... Nhưng việc đó những nhà kỹ thuật của Viện Vi khuẩn sẽ đảm nhiệm. Còn ở Camagüey thì sao, Расо? À vâng, Paco cần phải tra cứu, đồng chí thiếu tá ạ, nhưng về nguyên tắc anh ta cho rằng ở đấy vấn đề cũng có thể làm được. 

            56. 30 THÁNG SÁU, thứ Hai 

            Chiếc xe chở rác đang trên đường đi đến lò thiêu thì một chiếc camiông nhỏ chạy vụt lên trên và một bàn tay ra hiệu cho người tài xế dừng lại. Cái gì đó, ông bạn? Không có gì nghiêm trọng đâu, mấу chú; những người trong vườn trồng mùa đông lệnh cho anh tài xế хе rác không để đốt rác vì họ đang cho rằng đã vất nhầm một vật gì đó rất quan trọng vào chỗ đựng rác. Vì vội, họ chưa cho xe đi đuổi theo xe rác nên nhờ chiếc xe camiông nhỏ này báo hộ, ôkê? Ма ám thật. Thế lũ người đó cho rằng mất cái gì đây? Lại mất hai mươi phút quay lại vườn để trả lại họ mấy thùng rác! Không, không anh gà chọi ơi, anh chỉ cần giao những thùng rác này cho người coi lò thiêu giữ hộ, người của vườn sẽ đến lấy. Đúng vậy? Ôkê, và cái ông lái chiếc camiông nhỏ có thể mang giúp những thùng rác đó đến vườn hộ, nếu họ muốn? Tốt, tốt, nếu thế cũng chẳng có vấn đề gì, xin ông bạn lấy chiếc thùng số 17 và mang hộ cái món hàng đó cho cái vườn quỷ kia. Được không, người anh em?
            <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >
            #21
              Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 16 đến 21 trên tổng số 21 bài trong đề mục
              Chuyển nhanh đến:

              Thống kê hiện tại

              Hiện đang có 0 thành viên và 5 bạn đọc.
              Kiểu:
              2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9