Bóng Chim Câu Trên Sóng Biển Maiami - Daniel Chavarría
Thay đổi trang: < 123 | Trang 3 của 3 trang, bài viết từ 31 đến 34 trên tổng số 34 bài trong đề mục
huytran 29.05.2026 02:55:37 (permalink)
81. 14 THÁNG BẢY, thứ Hai 

Sepúlveda càng gầy đi thì càng giống Freddy Sorbona. Đối với một nhà quan sát tinh tế thì không có thể nhầm lẫn được. Freddy Sorbona nhỏ hơn một chút; và có một sự khác nhau rất lớn ở cử động chỗ cửa miệng. Sorbona bao giờ trên môi cũng có một nụ cười đáng yêu, rất ngọt ngào và linh hoạt. Sự giống nhau thật lớn, nhưng khuôn mặt của Sepúlveda kém thân mật và quá thô hơn khuôn mặt của Sorbona. Mặc dù có những chỗ khác nhau đó, nhiều người vẫn nhìn hắn, và Sepúlveda cüng sớm nhận ra duyên cớ. «Này, Sorbona, anh có tin rằng Capiró có thể thắng trên 280 điểm không?...» Trên xe buýt, có lần một ông mê bóng chày đã hỏi hắn ngay như vậy, để tỏ vẻ không đồng ý với một lời bình của Sorbona trên vô tuyến truyền hình. 
Đôi lần, nhất là thiếu nhi, mọi người chào hắn như thể chào những nhân vật quen biết của màn ảnh vô tuyến truyền hình. Một hôm, khi đi qua khoảng đất trước cửa nhà thờ San Antonio của khu Miramar, một lũ học sinh đang chơi bóng chày đã nài ép hắn phải đập mấy chày xem thử có thật hắn biết về môn thể thao này hay không. Việc đó làm cho hắn rất lo ngại, và bèn chải tóc lật ra đằng sau và đeo một đôi kính râm. 
Đúng là nơi nào ít chờ đợi thường là nơi thỏ từ trong bụi nhảy rа! Đó là điều sai lầm lớn của CIA. Họ đã đưa vào Cuba một khuôn mặt rất giống với khuôn mặt một người khác được hàng triệu người Cuba quen biết. Có những chi tiết nhỏ mà những người khôn ngoan sáng suốt nhất không để ý nên để lọt. Tính quần chúng của Freddy Sorbona không vang sang đến Mỹ, nên Jerry không biết, cả Mauricio, mà bọn chúng đều không có ai một lần nghĩ tới bao giờ. 
Xuất phát từ một công trình xây dựng lại hình dáng như in hình dáng mà Eladio Ceballos đã khai, trên cơ sở ban đầu là sự giống nhau hết sức giữa Felipe Carmona, tức Sepúlveda, tức Guillermo, và Freddy Sorbona, Cục điều tra căn cước đã xây dựng nên nhiều bộ mặt biến dạng hợp lý, mà Sepúlveda có thể sử dụng để khỏi ra đường phố với bộ mặt mà hắn mang trong khi tiến hành công việc phá hoại ở Guane. Và một kiểu hóa trang trong những kiểu hợp lý nhất, đúng là kiểu mà hắn đã chọn dùng: bỏ ria mép, chải tóc lật ra đằng sau không có đường ngôi và đeo kính râm. Cơ quan căn cước cũng xây dựng thêm một số biến dạng khác, với tóc giả và môi phồng, nhưng đã dặn dò các chiến sĩ điều tra phải ưu tiên chú ý đến cái dạng chải lật tóc ra phía sau, đeo kính râm và không có ria mép. 
Khi Mauricio quyết định rằng nhiệm vụ của Sepúlveda trong phần hoạt động tích cực của kế hoạch đã kết thúc, bèn ủy thác cho hắn công việc chuẩn bị cuộc di tản, nhưng ra mệnh lệnh cho hắn không được bước ra đường phố với khuôn mặt đã chường ra trước mặt Eladio Ceballos. Sepúlveda không biết rằng Elpidio đã bị bắt, nhưng Mauricio, nhờ có những người ở San Juan và Martinez quen biết Elpidio đã cho biết tin mà không biết rằng đã vô tình cung cấp tin tức cho CIA. Mauricio gọi dây nói cho một người trong số những người quen ấy để hỏi thăm Sepúlveda(?) một việc gì đó, và người ấy đã cho hắn biết là Elpidio đã biệt tích từ hôm 6 tháng bảy. Đến hôm 9 tháng bảy, Mauricio đã xác định được điều mà hắn vẫn luôn luôn phấp phỏng lo nó đến. Khó có thể hi vọng rằng Elpidio còn tiếp tục được tự do sau khi đã làm bao nhiêu đau buồn trong giai đoạn gieo rắc bệnh Nỗi Buồn để hướng sự chú ý của cơ quan an ninh Cuba vào đó. Hơn nữa, khi Sepúlveda giao cho tên đó những mầm đã có nhiễm bệnh, do Segundo và Evaristo mang tới Pinar del Río, Sepúlveda cũng làm việc đó một cách gián tiếp, không chường mặt ra cho tên đó trông thấy, theo đúng như những lời chỉ dẫn của Mauricio.
Elpidio có thể đã biến mất tăm để khỏi phải tiếp tục làm việc nữa vì hắn đã thấy sợ, hoặc vì nghi ngờ điều gì đó. Nhưng điều dễ chấp nhận nhất có thể là hắn đã bị an ninh Cuba tóm. Sepúlveda như vậy là người duy nhất mà Elpidio biết, cho nên phải hết sức giữ gìn. Nhưng Mauricio không báo cho Sepúlveda biết việc Elpidio đã bị bắt giữ. Sự sa lưới của một nhân viên trong đội bí mật bao giờ cũng gây ra lo lắng cho những tên còn lại. Hơn nữa, cũng không bao giờ hắn cho một ai biết rằng trong kế hoạch di tản những người làm việc trong kế hoạch này, СIА đã để Elpidio lại làm vật hi sinh. Vì nói ra điều ấy có thể gây ra hoài nghi và làm cho cả bọn mất lòng tin, nên Mauricio chỉ giới hạn nói với Sepúlveda cần phải thật chú ý giữ gìn, nhắc đến vụ хảу ra ở đường 22 để chứng tỏ rằng cả bọn đang bị cơ quan phản gián Cuba tìm kiếm.
Kế hoạch di tản cho cả bọn đã trù tính có hai cách: hoặc bơi từ cù lao Cruz để tới con tàu, hoặc bơi từ nơi Evaristo và Segundo trước kia đổ bộ tại khu Miramar để đến con tàu. Cả sáu tên đều bơi giỏi, có thể dễ dàng bơi đến con tàu, nhưng chúng chỉ có bốn bình dưỡng khí, bởi vì Меnа và hắn trước kia đi từ Argentina để nhập vào Cuba với tư cách là những người Chile di tản. Hóa trang thực khéo bằng những phương pháp hiện đại nhất của nghệ thuật mỹ viện, hai tên đã nhập vào Cuba tháng hai năm 1974 và một tuần sau đó biến mất tăm. Cơ quan an ninh Cuba cũng từng biết trong công việc đoàn kết quốc tế, nhiều khi để cả kẻ thù nhân dịp theo đó mà vào, nhưng biết làm thế nào? Сáі nguy cơ đó Cuba đành ráng chịu, vì đó là nhiệm vụ quốc tế. Qua rất nhiều công sức tìm kiếm, cũng không thấy dấu vết gì của hai người «Chile» mất tích tháng hai năm 1974. 
Vì vậy, Sepúlveda và Mena không mang theo những trang bị bơi lội ngầm dưới đáy nước. Bảy giờ bơi trên mặt nước để tới được соn tàu thật rất nguy hiểm. Nhưng còn nguy hiểm hơn nữa nếu bơi từ cù lao Cruz ra tới con tàu. Bởi vì ở bến cảng cù lao Cruz có một hệ thống báo động dưới nước cực kỳ tối tân đáng làm cho chúng sợ hãi. Sepúlveda bèn quyết định tìm kiếm hai bình dưỡng khí và đi ra theo con đường khu Miramar. Hắn nghĩ rằng tốt nhất là liên hệ được với một người nào đó có quan hệ với đội quốc gia săn cá dưới đáу biển hoặc với Viện Hải dương học của Viện Hàn lâm khoa học. Còn đối với tên Mena, chuyên nghiệp về võ karatê, «bách khoa» về nghệ thuật gián điệp, tên đó dễ dàng cướp đoạt được một bộ đồ bơi dưới nước. Công việc sẽ tiến hành trong khoảng ngày 20 hoặc 21, và có thể không để lại một chút dấu vết gì rõ ràng, để khỏi khêu gợi sự tăng cường cảnh giác của bộ phận canh phòng bờ biển. Như vậy Sepúlveda còn khoảng sáu ngày, thời gian hắn nghĩ có thể đủ để đoạt được những thứ theo dự định. Hôm trước, Mauricio đã xem và chấp thuận kế hoạch của hắn sau hai ngày chờ đợi, và sau khi nhắc đi nhắc lại về những việc giữ gìn cẩn thận, cả hắn lẫn Mena đều không được thò mũi ra đường phố La Habana, mà phải cải trang khôn khéo, bởi vì sự biến dạng của hắn tại cơ sở làm việc đã gâу ra báo động, và dầu không có dấu hiệu gì lạ, có thể họ đang chăng bẫy ở đường Línea và J và quanh nhà Hilda. Về phần Sepúlveda, hắn nhận được mệnh lệnh thật rõ ràng: chỉ được ra khỏi nhà khi thật cần thiết. 
Sau một tuần lễ giam hãm trong nhà, Sepúlveda thở hít một cách khoan khoái khí trời trong sạch của buổі sáng 14 tháng bảy. Trong ngày kỷ niệm thứ một trăm tám mươi sáu năm сuộc phá ngục Ваstille bất tử đó, Sepúlveda bước đi đầy lạc quan để hoàn thành những việc chuẩn bị của mình. Tên bợm già Felipe Carmona ấy đã cảm thấy một lần nữa cái vuốt ve gờn gợn của những tờ «giấy xanh yêu mến» trên những đầu ngón tay mình. 
Ѕepúlvedа không hiểu biết ý nghĩa và lịch sử của ngày 14 tháng bảy. Những niên đại lớn của hắn là ngày 13 tháng giêng năm 1956, hắn bán được toàn bộ phiếu bảo hiểm xưởng dệt El Bebito và được hoa hồng hai mươi bốn nghìn pêsô, và ngày 2 tháng ba năm 1954, khi hắn chiếm được danh hiệu ngôi sао bán hàng của Công ty Trust Insurance. Đến độ hắn đã quên những niên đại lớn của cuộc Độc lập lần thứ nhất của Cuba mà người ta đã dạy hắn trong trường. Nền độc lập duy nhất mà hắn quan tâm trong cuộc đời là cái độc lập của сá nhân Felipe Carmona. Và sau nhiều toan tính không thành trong mười lăm năm, bây giờ hắn chỉ còn chờ có mười bẩy ngày nữa là đạt được, một lần vĩnh viễn theo như hắn nghĩ. Ba mươi sáu ngàn đôla trong két của First National City Bank of New York sẽ vĩnh viễn giải thoát hắn ra khỏi cái nguy hiểm và cuộc sống phiêu lưu đầy rủi ro làm với tổ chức CIA. 
Tại sao mà hắn không cảm thấy hài lòng nhỉ? Tại sao mà hắn lại chẳng bước đi một cách hài lòng, huýt sáo vui vẻ trên соn đường đầy nắng của khu Lisa? Hắn đã quyết định sẽ lấy ra năm ngàn, có thể ít hơn, bốn ngàn thôi, và đi Вuenos Aires. Khi nào lập được một cơ sở tốt, lúc đó sẽ sử dụng một cách thông minh số ba mươi ngàn kia để củng cố tương lai của mình. 
Sepúlveda có thể ra khỏi nhà Irma với khuôn mặt giống như Freddy Sorbona để khỏi khêu gợi sự chú ý của hàng xóm xung quanh. Nhưng khi đi đến đường 51, hắn vào nhà vệ sinh của một quán сà phê đông khách, và từ trong đó đi ra, đã không còn ria mép, tóc lại chảy lật ra đằng sau, mắt đeo đôi kính râm gọng to bản và chiếc sơ mi khác hẳn. 
Vị ủy viên trung ương Hội đánh cá dưới đáy biển tiếp hắn rất nhã nhặn và đã cung cấp cho hắn rất nhiều tư liệu thông tin rất tỉ mỉ về những người tham dự đội tuyển quốc gia. 
Ông bố và bà mẹ viên kiện tướng gần vô địch quốc gia tỏ ra rất lịch sự với ông nhà báo đến để viết một phóng sự về Аlbertico. Về phần mình, Аlbertico đã tỏ ra thú vị cho nhà báo xem những cúp, bằng khen, và những bộ đồ săn dưới biển đẹp tuyệt của anh. Đôi chân vịt thật là hết ý! 
Khoảng năm giờ kém năm chiều, sau một ngày làm việc rất kết quả, Felipe Carmona thủng thẳng đi một cách hài lòng, hơn cả sự hài lòng của buổi sớm ngày 14 tháng bảy đó, miệng khe khẽ hát, trên một con đường của khu Palatino. Vừa hay lúc đó, một chiếc xe tuần tra phanh kít bên lề đường và hai người đến mời hắn theo lên xe. Lúc đó đúng năm giờ! Ôi chao, Felipe!

82. 16 THÁNG BẢY, thứ Tư 

Trong cuốn phim mới hiện rõ với những chi tiết đầy đủ sự di chuyển mục tiêu và thời gian của đoạn phim chiếu. Cho đến ngày 14 chưa có thể có được một hình ảnh rõ rệt có sức thuyết phục. Nhưng khi thực hiện việc ráp lại với người của các đội tưới và tiêu, ngày 15 đã hoàn thành được những trường đoạn rõ ràng là không thể chối cãi được. Không аi còn có thể nghi ngờ gì được nữa. Việc đưa những vòi nước cực mạnh là một ý kiến rất hay của Paco. Điều đó, phải, đã có nghĩa là thắng lợi hoàn toàn. Alba cảm thấy rạng rỡ như chưa bao giờ như thế trong suốt ba tháng nay. Những vườn cam chanh của Cuba đã thoát khỏi cơn nguy hiểm. Đại úy Саrlos Ríos đã cùng với những đội tưới tiêu điều động và lắp đặt được ở Đảo Thông mười hai vòi phun nước cực mạnh, hầu hết đặt ở những nơi xung yếu, nơi có thể khẳng định là số nhiều những vật liệu để chứng minh.
Và nếu như tất cả những thứ đó vẫn còn quá ít, thì những cuộc tìm kiếm tra cứu trong các hồ sơ lưu trữ đã chỉ ra rằng hai tên phá hoại đó không phải ai khác mà chính là José Alberto Casamayor và Rodolfo Cifuentes, hai tên phản cách mạng Cuba đã có lịch sử lâu dài trong những vụ phá hoại của Cục tình báo trung ương Mỹ trên vùng Caribe. 
«Chúng ta đã thắng lợi», Alba tự nhắc lại khi ngồi lái xe trở về cơ quan làm việc. «Chúng ta đã thắng lợi». 
Về đến văn phòng, anh viết một bức điện mật gửi cho Sylvia Purcell: «Thắng lợi rực rỡ (chấm) Tất cả về hẳn vị trí công tác của mình Warren».

83. 16 THÁNG BẢY, thứ Tư 

Pắc! 
Nút chai Möet và Chandon, sản xuất năm 1971, nổ giòn trong không khí ấm áp của đêm New York. Đối với Jerry White, tiếng nổ đó như thể loạt súng chào danh dự nổ mừng thành công của hắn. 
Catherine không biết một chút gì. Đối với cô ta, rượu Sămpanhơ chỉ là thứ rượu không thể thiếu được đi kèm với món sò nướng tuyệt vời của Grand Vatel, cửa hàng ăn sang trọng nhất trong các cửa hàng ăn của thành phố. 
Sự phối hợp ngon lành của các vị, được tâng bốc thêm bởi cái gia vị chiến thắng làm cho Jerry có cảm giác như đang uống ánh mặt trời Reims và những trai ngọc của Ấn Độ Dương. 
Đêm khuya dần. Hương thơm của mùi nước hoa Niềm Vui hòa hợp tuyệt diệu với cái hương thế kỷ của những bông hoa ngọc lan và hoa chanh. Một thứ ánh sáng vừa thẫm vừa xanh làm mờ những đường viền của sân khách sạn. 
 — Chúc sức khỏe, em yêu! 
 — Chúc sức khỏe! 
Jerry White đã chiến thắng. Có thể Murdock nghĩ rằng lão là người nắm cành hoa chiến thắng, nhưng White vẫn giữ trong tay áo một quân chủ bài.  
Đến lúc này, nếu Веtty có thể đã nói được chút gì, điều đó cũng không thành vấn đề quan trọng nữa. Không ai và không thứ gì có thể ngăn chặn được dịch bệnh. Người duy nhất trên thế gian này may ra có thể làm chút gì cho nhẹ bớt cái tai họa đã bao quanh những cây cam chanh Сuba tên là Anton Van Vermeer, hiện bây giờ, trong lúc này, có một người đàn bà nhân viên CIA đang ôm chặt ông ta trong vòng tay tại một khách sạn ở Amsterdam, sau khi đã giăng đầy trong chỗ ở của ông cả một hệ thống máy nghe. Thêm nữa, như người ta đã biết, Vermeer đã giữ tuyệt đối im lặng. Сòn Cuba có thể làm gì được khi đã quá tám ngày rải rắc liên tục virux rồi? Triệt phá những mầm cây đã ghép ư? Có thể, chúng có thể làm như vậy, nhưng cũng phải một số tháng nữa mới biết được, và bằng những phương pháp «trừ sâu» nặng nề và rộng rãi nó sẽ làm cho sản xuất bị thiệt hại, thu hoạch bị sa sút trong một thời kỳ dài. Không, chúng không thể làm như thế. Lần này CIA đã thắng lợi trong toàn bộ chủ trương. Tám ngày vừa qua có nghĩa là đã kết thúc công việc tại Jagüey, và bây giờ đã phải bắt đầu tiến hành ở Đảo Thông. Dù rằng họ đã dò la ra những tên gieo rắc sâu, cơ quan an ninh Cuba cũng không thể biết chút gì cụ thể. Và những hoạt động của chúng gần đây chứng tỏ rằng đã bị lạc hướng hoàn toàn. Những báo cáo của Mauricio nhận được buổi chiều hôm đó thật đã rõ. Trong những vùng mình đã gieo rắc sâu, không nơi nào trông thấy tậр trung người và những kế hoạch quần chúng rộng rãi để chống vật chủ trung gian. Còn chống viruх thì dù muốn lắm, người ta cũng không có thể làm gì được. Hiện nay chỉ còn việc cho thâm nhập vіruх bệnh tại bốn hoặc năm nước nữa, những nơi mà chắc chẳng vấp phải vấn đề gì trong sự chạm trán với cơ quan vệ sinh thực vật, ta có thể dễ dàng vượt qua mũi họ. 
Điều duy nhất làm vẩn đục bữa tiệc mừng thân mật, đó là thái độ thờ ơ của Murdock khi tiếp nhận tin tức này. Thế cái tên con hoang đó nghĩ gì? Rõ ràng là Murdock không thú vị gì khi cái kế hoạch quái quỷ này lại nảy sinh từ đầu óc của Jerry White, cho nên ngài đã cố để làm những gì có thể khiến cho nó thấp bé bớt đi. Vì lẽ đó, ngài đã không thốt lên một lời mừng, một lời khen. Nhưng chắc rằng cái tên vô lại này phải nhận được lời chúc mừng trước tướng Gregg và những người lãnh đạo của cơ quan ở bang Virginia. Tuy nhiên, Jerry không thể ngồi mút ngón tay, cũng không bỏ lỡ cơ hội hiếm có. Mặc dù phải vi phạm trật tự về quyền hạn, hắn yêu cầu xin gặp tướng Gregg để cho tướng quân nghe cuốn băng ghi âm, trong đó Murdock khăng khăng phản đối dự thảo kế hoạch ngay từ khi Jerry White mới đưa ra. Ảo tưởng, thật chỉ là ảo tưởng, Jerry! Nếu không nhờ có bác sĩ Сlark, không bao giờ kế hoạch được tiến hành. Sự mất đi của bác sĩ Сlark thật đáng tiếc, và cũng thật bí mật!... Nhưng đến nay Jerry White đã mở tiệc ăn mừng và dành tất cả vào việc chiêm ngưỡng và thở hít mùi hương của vợ. Chao ôi Niềm Vui! Chiến dịch Niềm Vui! Hắn giải thích cho vợ hắn rõ là hắn nghĩ đến cô khi vạch ra kế hoạch đó. Chiến dịch đó hắn sáng tạo ra để tặng cho cô, vì tất cả sự yêu dấu của hắn từ xưa đến nay. Đó là kết quả của những công việc hoàn hảo nhất của hắn. Đó là sự bất ngờ mà hắn chuẩn bị dành cho cô đêm nау. Hắn giải thích cho vợ rõ là hắn nghĩ đến cô khi vạch ra kế hoạch này và không kể chi tiết, hắn đảm bảo với vợ là chiến thắng này sẽ đi vào trong tập kỷ yếu của CIA như một táс phẩm kiệt xuất. Hắn tin chắc như vậy. Hắn cũng tin chắc thêm rằng nó sẽ có giá trị nâng cao vị trí của hắn trong CIA, và cũng có thể có khả năng được giao một chức vụ cao trong công tác nước ngoài. Thế Саtherine chẳng thích sống một vài năm trong một sứ quán Мỹ tại Тâу Âu hay sao? Vả lại, kế hoạch phải mang tên chiến dịch Niềm Vui, bởi vì không thể lấy tên Catherine mà đặt vào đấy được. Cái mỉm cười ngọt ngào và thẳng thắn của người phụ nữ đền bù hết thẩy những thứ vô vị vừa qua.
 — Chúc người yêu của tôi sức khỏe! 
 — Anh yêu, Jerry, sức khỏe! 
Clanh, clanh!...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.05.2026 03:08:24 bởi huytran >
#31
    huytran 29.05.2026 23:26:45 (permalink)
    84. 16 THÁNG BẢY, thứ Tư 

    Felipe Carmona tìm đến First National City Bank của thành phố La Habana. Chi nhánh Príncipe hay chi nhánh Cabaña? Chi nhánh Príncipe. Người đàn ông bé nhỏ chỉ cho hắn nhìn mấy bụi cây và phá lên cười ha, ha, ha! Tiếng cười của con Chim Điên. Felipe trèo lên đường dốc đầy những bụi cây gai, sau đó tiếp tục bước lên theo con đường xoáy tròn, cho đến khi tới được First National, và người gáс cửa tên là Peter Lore, với đôi mắt tròn như mắt bò, sờ nắn khắp người hắn xem hắn có mang theo vũ khí, và bắt hắn phải cầm một cuốn kinh thánh và thề rằng rất tôn trọng quyền sở hữu tư nhân, không tịch thu tiền của người khác và không lưu hành những tấm ngân phiếu giả. Felipe vào trong nhà băng, và đáng lẽ có dãy cửa sổ con của những quầy phát, nhận tiền, hắn lại thấy những phòng giam lớn có những chấn song sắt to xù, và đằng sau chấn song, những nhân viên trả tiền đang ngồi chờ một cách ngán ngẩm trên những chiếc ghế đẩu, tay đầy giấy bạc. TIẾT KIỆM? TÀI KHOẢN THƯỜNG? CHUYỂN KHOẢN? THANH TOÁN NỢ? THANH TOÁN CỐ ĐỊNH? Tất сả những cửa sổ đó đều có một tấm biển mang kèm một dấu hỏi ở đằng sau. Khi đến gian phòng đề THANH TOÁN CỐ ĐỊNH, Felipe xuất trình một tờ giấy và nhân viên phục vụ nói: Ba mươi sáu ngàn đôla... Một cái hích tay. Lại nghe thấy tiếng cười của con Chim Điên. Những người trả tiền cũng cười ồ vào mặt Felipe. Hắn nhìn thấy ở mé bên phải những tấm biển: GIẾT CHA MẸ, HÃM HIẾP TRẺ EM, PHẢN BỘI TỔ QUỐC. Hắn đưa tay bịt mắt và vùng chạy ra ngoài. Một cái hích nữa mạnh hơn. Hắn muốn đi đâu vậy? Cái tên điên này muốn đi đâu? Người duy nhất nói với hắn đúng nghi thức nhất là người gáс cửa, nhưng giờ không phải là Рeter Lore nữa mà là Bernabé. Ông khách bao giờ cũng có lý. Thế chúng tôi có thể phục vụ được ông việc gì đây? Ở đâu là nghĩa địa của những người bán tín phiếu bảo hiểm? Hẳn là cách mạng vẫn có thể tôn trọng dãy đền đài của những ngôi sao bán hàng của Hãng bảo hiểm... Cái hích lần thứ ba mạnh hơn đánh thức hắn dậy và hắn nhìn thấy người gác mang đến cho hắn bữa điểm tâm và, sao thế? Chao ơi, lạy Chúa tôi! Đã mấy giờ rồi nhỉ? Vào chín giờ sẽ là giờ hỏi cung. Bâу giờ đã tám giờ mười lăm.
    Felipe cố gắng tập trung để tìm được một điều gì trong lúc được nghỉ ngơi bốn mươi lăm phút đồng hồ đó. Đây là lần thứ hai hắn thức dậy trong nhà tù. Hắn không thấy đói. Hôm thứ hai, khi mới vào, người ta muốn hỏi cung, nhưng hắn nhất định không chịu hé môi, ngay cả chỉ để xưng tên cũng không. Cơ quan an ninh đành chỉ chụp ảnh và lấy dấu tay hắn. Trong suốt ngày thứ ba, hắn bị giữ không được biết một tin tức gì, và người ta cũng chưa định hỏi cung hắn. Buổi sáng thứ tư đó, người ta đánh thức hắn vào lúc tám giờ mười. Thật là một cơn ác mộng khủng khiếp! Quả thực sự thức thâu canh cũng rất là khủng khiếp và mê hoặc như một cơn áс mộng. Đây là điềm kết thúc đời hắn rồi. Người ta báo cho hắn biết sẽ hỏi cung vào lúc chín giờ. Nếu hắn muốn tắm và thау quần áo, người coi ngục sẽ mang cho hắn một áo lót, một chiếc quần và một áo sơ mi để thay, và sẽ dẫn hắn đến tận vòi nước có ống hoa sen. 
    Sepúlveda quyết định đi tắm. Có lẽ nước lạnh sẽ giúp hắn suy nghĩ một cách sáng sủa hơn, và giũ đi được những tác động còn lại của cơn ác mộng. Đáng lẽ đã ngủ lúc năm giờ sáng. Sau khi đã phân tích đi phân tích lại lung tung tình thế của hắn, hắn vẫn không tìm thấy một lối thoát. Làm sao để bào chữa cho sự thâm nhập của hắn vào Cuba? Hắn đã sống ra sao? Lấy đâu ra những giấy tờ căn cước đó? Người ta sẽ sớm phát hiện ra hắn đích thị tên Felipe Carmona. Sớm muộn rồi hắn cũng phải nói mà thôi. Hay là hắn đi trước những tên khác quách? 
    Сó thể tại nhà Irma, bọn chúng đã sốt ruột lo lắng vì sự vắng mặt của hắn. Thực ra, họ không như vậy. Hắn đã từng có lần mất tăm mấy ngày liền, cho nên sự vắng mặt của hắn bây giờ cũng bình thường. Hắn để cho vòi nước lạnh tưới vào người mà hầu như không biết mình đang làm gì. Hắn không cảm thấy gờn gợn lạnh như mọi khi. Cơn ác mộng vẫn tiếp tục tác động tâm thần hắn. Tất cả những gì bao bọc xung quanh hắn đều hiện ra mờ mịt: mọi sự đều thiếu những đường viền rõ nét, những người gác nhà lao không có mặt mũi, họ chỉ như những cơ thể mặc đồng phục quân đội. Khi nhìn những sự vật, hắn chỉ thấy như xa xa những bóng người hoặc vật mờ mờ mịt mịt. Hắn cũng chẳng suy nghĩ được điều gì rõ ràng. Mọi thứ đều vẫn cứ như xẩy ra trong giấc mơ bậy bạ. Hắn đã bốn mươi mốt tuổi rồi. Hắn сảm thấy muốn bật khóc. Thỉnh thoảng khuôn mặt bà mẹ hắn như hiện ra nhìn hắn một cách thản nhiên, cay đắng. 
    Trong nhà Irma đang xảy ra chuyện gì? Tại sao họ lại dò la thấy mình? Mình đã mắc phải một hành động hớ hênh nào? Hắn sai lầm hớ hênh hay là do một tên khác trong bọn? Nếu như họ chưa dò la thấy cả bọn thì đến thứ sáu thế nào cũng được báo động thôi, khi Mauricio gọi điện thoại đến. Sau khi hoàn thành công việc, Sepúlveda chỉ được tiếp nhận điện thoại của Mauricio vào ngày thứ hai và thứ sáu. Nếu như Mauricio vẫn tiếp tục gọi cho hắn hàng ngày như trước thì cả bọn đã biết mà đề phòng ngay từ sau hôm hắn vắng nhà. Felірe không muốn cung khai tố cáo một ai, nhưng làm sao mà chứng thực được nơi ở của hắn bây giờ? Phải có một nơi nào mà ăn ở chứ? Phải, sớm muộn rồi hắn cũng phải thú nhận thôi. Felipe quyết định không cung khai gì trước hôm thứ hai sau. Như vậy có thể vì thấy hắn vắng nhà cả thứ sáu lẫn thứ bảy, chủ nhật, Mauricio sẽ phải giải tỏa cả ngôi nhà. Hắn mặc áo sơ mi kẻ và một chiếc quần kaki rồi trở về phòng giam. Hắn chỉ uống một chút cà phê và đề nghị cho thuốc lá loại nhẹ để hắn hút. 
    Chín giờ kém năm, người gác vừa đem thức ăn điểm tâm cho hắn lại đến. Lần này Felipe nhìn người nọ trân trân. Đó là một thanh niên rất trẻ, thân hình, mặt mũi toát ra một sức mạnh ghê gớm có thể làm mất tinh thần bất cứ một ai có ý định tấn công anh ta. Với tất cả cái lễ phép mà trong hoàn cảnh đó người ta сó thể chờ đợi, người thanh niên đó mời hắn lên hỏi cung. 
    Vừa mở cửa căn phòng nhỏ, hắn muốn chửi đến сả đức Chúa! Không ai khác tên Elpidio Zamora, tên Thú Dữ, chính cái tên đ... mẹ nó đã đón mình. Và lúc đó hắn cũng không còn biết tên đó đang nói cái gì, trong khi tên đó nói, thế màу không nhớ lời nói huênh hoang của mày hôm đó đã khẳng định với tao là mày sẽ tống cổ bọn cộng sản ra khỏi Cuba sao? Đấy, chính tên Guillermo! Mình phải thú nhận tất cả ư? Đó chẳng phải là cách tốt nhất để chấm dứt cái trò này đi hay sao? Mình kiên quyết nói đi nói lại rằng suốt đời chưa gặp tên đó, và thật vô ích nếu các ông cứ tiếp tục tấn trò hề đó, thế là họ sẽ đưa Elpidio ra. Thôi thì đ... mẹ cái tên Elpidio lẫn cả tên đại tá, và một lần nữa khuôn mặt trách móc của bà mẹ hắn, với tiếng cười ha, ha, ha, tiếng cười châm biếm chua cay của cái tên quái vật đó, và người hỏi cung giơ cho hắn xem một tấm ảnh phóng to những dấu tay. Những dấu tay của hắn sao? Họ lấy được những cái đó ở đâu? Và người hỏi cung nói: Anh có biết cái này không? Im lặng. Và cái này? Mẹ kiếp, chiếc xe của Huidobro! Và cái này? Tấm ảnh của Huidobro! Người ta bắt giữ tôi, chứ tôi không biết tí gì về những thứ mà ông đưa ra đó, và cũng chẳng hiểu ông đang nói gì với tôi. Tôi sẽ không nói một lời nào khi các ông chưa đem đến cho tôi một luật sư mà tôi tin cậy. Mình phải cố chịu đựng đến hôm thứ hai sau! Tốt hơn hết là cứ câm miệng không nói một lời nào. Người hỏi cung nói: Những dấu vết này là của anh, và nó xuất hiện trên chiếc xe này, mà chiếc xe này thuộc về người trong tấm ảnh này. Đấy, tất cả những ảnh, dấu tay, xe và người đấy. Cố cho đến thứ hai. Bọn này không tra khảo mình. Mình сó thể chịu đựng được. May ra chịu đựng được. Và người hỏi cung: Thế anh cũng không biết tí gì về điều này nữa sao? Mình muốn chửi đến сả Thánh! Những cái xác chết đã thối rữa của Huidobro và vợ. Kinh khủng, kinh khủng, xác bị mối xông, những chiếc xương lòi ra ngoài và những mảnh còn lại của quần áо mà họ mặc hôm đó. Ôi, việc này đủ ra trường bắn rồi, nhưng mình sẽ không nhận. Không, tôi không làm việc đó! Việc đó là do Mena, tên đi cùng tôi từ Chile về, và bây giờ đang ở tại một căn nhà ở khu Lisa, đường 47, số 11436, và tôi không có dính líu gì vào đây, tôi đến đây để tổ chức những chuồng chim câu đưa thư, không có gì khác. Tôi không, cũng như không ai sai tôi giết bất kỳ một người nào, và cũng không biết rằng Mena làm việc đó. Lệnh giết ông già đó do họ truyền cho Mena chứ tôi không dính líu đến. Tôi không làm việc đó, tôi không phải là kẻ giết người, thưa trung úy, việc đó do một mình Mena làm, tôi không có mặt ở đó, Mena đúng là một tên giết người, và nếu các ông muốn, tôi sẽ dẫn các ông đến chỗ hiện nay hắn trú ngụ để kiểm soát những vết tay của hắn cũng có để lại ở chiếc xe của Huidobro. Tôi đã từ biệt hai người đó lúc họ còn sống, và tôi phải nói rõ điều đó, xin các ông biết cho, tôi không phải tên giết người, tại sao tôi lại có thể nhúng tay vào việc đó được? Nếu các ông cùng tôi đi ngay bây giờ để bắt hắn và Irma và hai tên khác nữa cũng ở đấy, hai tên đã trốn thoát ở con đường 22. Viên sĩ quan hỏi cung trước vẫn tưởng Sepúlveda là một loại ương bướng, cứng cỏi, nhưng rốt cuộc chỉ là một tên rất mực hèn. Nó nói đến cả bằng tay và bằng mắt. Phải, tôi không phải là kẻ giết người, tôi không bao giờ giết một ai... Thôi cứ bình tĩnh, nếu anh không giết người, rồi sự việc sẽ sáng tỏ thôi ... Nhưng thưa trung úy, nếu tổ chức một toán đặc biệt gồm mười hai người để vây căn nhà ở khu Lisa. Vâng, đi đường này, quay sang phải, ông tài, đấy ở cái cửa thứ bа đấy, cạnh сái cây, сăn nhà cửa sơn màu xanh da trời. Trung úy nói mật hiệu: Sésamo, và khi Irma kêu lên được một tiếng, ba người đã vào từ mé sau nhà tóm được Víctor đang tắm. Và Manuel khi nghe tiếng kêu, tay lăm lăm khẩu súng lục từ trong phòng chạy ra, nhưng một viên đạn đã ghim đúng đùi hắn làm hắn ngã khuỵu xuống. Viên trung úy đã bẻ quặp tay hắn ra sau lưng và hô: Đứng im tất cả! Mena thậm chí còn chưa tỉnh ngủ.

    85. 17 THÁNG BẢY, thứ Năm  

    Tại London, đã nhận được bức điện mật của Alba đêm hôm 16, và vào mười giờ sáng ngày 17, Sylvia, Denis và Eddy А. cũng nhận được qua PO Hộp thư của John, tại một cơ quan bưu điện ở Brooklyn. Cuộc сhiа tay thật đơn giản và cảm động. Một bữa ăn trưa theo kiểu Сuba do Sylvia nấu nướng, một cuộc chạm lу và một bức thư gửi đến Bratislava của Denis gửi cho con trai nhờ Sylvia chuyển hộ để báo cho biết tin anh sẽ sớm trở về Cuba.  
    Eddy M. vượt qua biên giới Canada không có vấn đề gì xảy ra, và đến ngày 10 đã làm việc bình thường trong công việc của mình ở Zurich. Anh đã trở lại đúng vị trí và hình dáng của nhà kỹ thuật năng động Рeter Lindsay, giám đốc kỹ thuật về trừ dịch bệnh của Peipy cho khu vực Tây Âu. Trong cả bọn, người chịu nguy hiểm nhất rõ ràng là Eddy M. Còn Eddy A. và Sylvia không сó gì đáng lo, và hai người qua biên giới không gặp gì trở ngại. Nhưng Denis, sau khi xuất hiện ở Homestead, và nhất là sau khi đã đánh tráo lấy chiếc thùng rác, rồi mất tích ở Miami, trở nên người ở trong tình thế rất khó khăn.
    Ông quyết định không được xuất hiện tại bất cứ một trạm biên giới nào, và nhất là bất cứ một sân bay nào. Ngày 19 một chiếc tàu của Đội tàu Grancolombiana cập bến New York, người sĩ quan điều hành đã bí mật giấu ông vào gian buồng nhỏ của mình trên tàu. Mặc quần áo công nhân khuân vác và với tấm thẻ phu khuân vác bến tàu mà John đã kiếm cho, ông vào bến dễ dàng không một ai chú ý. Lần này ông hóa trang bằng một bộ tóс hung, bộ ria theo kiểu Trung Âu chứ không phải kiểu Menjou như trước. 
    Sylvia đi máy bay hãng Lufthansa, bay lúc chín giờ tối, qua Frankfurt, và Eddy A., sau đó nửa tiếng, đi theo chiếc máy bay vẫn thường đi, trở về London. 
    Họ chia tay nhau lúc sáu giờ. Ôm hôn nhau, Denis rõ ràng rất cảm động. Chưa bao giờ ai đã từng trông thấy ông như vậy. Có thể ông buồn vì tin rằng một ngày rất gần thôi ông sẽ phải từ giã cuộc đời chiến sĩ hoạt động sôi nổi mà ông bắt đầu từ những chiến trường ở Aragón, gần bốn mươi năm trước. Sylvia để ý thấy và khi ôm hôn ông, đã ghé sát vào tai thì thầm: 
     — Cho đến cùng, Rafael, và may mắn nhé! 
    Rafael không nghe rõ lời của chị, vội vàng trả lời:
     — Đúng, Tổ quốc hay là chết! Cô bé đúng đấy, Tổ quốc hay là chết!
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 30.05.2026 03:07:17 bởi huytran >
    #32
      huytran 30.05.2026 03:01:28 (permalink)
      86. 17 THÁNG BẢY, thứ Năm 

       — Tôi chỉ biết tên hắn, giọng nóі của hắn và chữ của hắn, dù rằng bao giờ hắn cũng viết lối chữ in. Nhưng tôi thề trong đời chưa hề bao giờ trông thấy hắn, cũng chẳng biết hắn ở đâu. 
      Người đánh máy ghi hầu như cùng một lúc từng lời khai của tên Felipe Carmona, tức Guillermo. Mảnh giấy đánh máy sau đó sẽ mang chữ ký của һắn ở dưới, đồng thời lời khai này cũng có thu âm. 
       — Mauricio thông tin với anh bằng cách nào? — Paco hỏi. 
       — Với những tên khác tôi không rõ. Với tôi, trước đây hàng ngày hắn gọi điện thoại vào bảy giờ rưỡi sáng và chín giờ rưỡi tối. Nhưng từ hai tuần nay, hắn chỉ gọi cho tôi ngày thứ hai và thứ sáu vào hồi chín giờ ba mươi sáng.
       — Đó là cách duy nhất để thông tin ư? — Рaсo hỏi. 
      Những tiếng gõ lách cách của máy chữ đều đều mờ ảo. Felipe Carmona cảm thấy như những tiếng gõ đó đã gõ vào một vùng nào đó trên thân hình hắn, vào tận da thịt hắn và in hằn mãi mãi vào bên trong. 
       — Còn có một số nơi như Nhà Trắng, Thư viện…
       — Nhà Trắng là cái gì?—- Рaсo chặn hỏi. 
       — Сáс ông cứ đến CUJAE mà hỏi, bất cứ ai cũng có thể giải thích rõ — Felipe trả lời.
       — Còn những nơi nào nữa?
       — Thư viện José Мartí, Thư viện trường đại học, những cửa bán vé của Abrante và một vài nơi khác nữa... 
      Paco nghĩ Mauricio tất phải có liên hệ với trường đại học vì: CUJAE, hai thư viện, sân vận động trường đại học... Chắc chắn rằng hắn phải thuộc người trong địa hạt đại học. 
      Khi Sepúlveda kể cho nghe những chi tiết về cách thức hoạt động của Mauricio, anh biết rằng tên đó rõ ràng là một tên chuyên nghiệp rất khôn ngoan, lo xa thận trọng, có kỹ thuật thành thục để kiểm tra công việc, và như vậy, bắt được hắn cũng rất khó. Nhưng việc bắt hắn trở thành một điều sinh tử, rất quan trọng. Không phải chỉ để tóm tên phụ trách và tổ chức cuộc phá hoại tại Cuba, mà còn vì cái giá trị đặc biệt có thể có trong những lời khai của hắn, để dùng cho việc chuẩn bị tố cáo cụ thể về vụ phá hoại đó trước toàn thế giới. 
      Rõ ràng Felipe Carmona và Víctor Ribadeneira không biết gì hơn những lời chúng đã khai. Không có một lời nào ám chỉ đến Тoxopterae aurantii, Nỗi Buồn, YTD ... Công việc của chúng chỉ thu hẹp trong phạm vi nhỏ như thể hoạt động của Elpidio và Huidobro.
      Cándida Villalobos, tức Irma Ferrer Sepúlveda, không ra khai được vì lúc đó bị lên cơn đau tim, và chỉ mở mồm ra để chửi bới tục tĩu. 
      Hi vọng bắt được tên Mauricio thực rất ít. Cho dù đã biết rằng ngày hôm sau, vào lúc chín giờ rưỡi sáng, hắn có thể lại gọi điện thoại đến cho Sepúlveda tại nhà Irma, vì vẫn chưa biết được rằng cả bọn này đã bị bắt. Nhưng nếu tổ chức một cuộc canh phòng thật ráo riết tại một số máy điện thoại công cộng ở thành phố La Habana, và phối hợp nhịp nhàng với cơ quan thông tin từ ngay trung tâm điện thoại, có thể cũng có chút hi vọng.
      «Ngoài hắn ra không ai có thể báo cáo về vấn đề virux,» — Alba nghĩ thầm khi Paco đưa những lời khai của Felipe Carmona, tức Sepúlveda, tức Guillermo.

      87. 17 THÁNG BẢY, thứ Năm 

      Cuộc đua xe đạp xuyên các tỉnh Cuba chạy trên đoạn đường một ngàn bốn trăm ba mươi sáu kilômét, từ hai tỉnh cực đông đến cực tây của đất nước, trong vòng mười bốn ngày. 
      Để có thể tham dự cuộc đua tài đồ sộ đó, yêu cầu phải dưới ba mươi tuổi, có một khuôn ngực nở nang, trong đó chứa đựng hai buồng phổi thật dẻo dai, có một quả tim lành mạnh, chắc chắn đã được công nhận, thêm vào nữa là một đôi chân rắn như sắt, và nhất là phải sẵn sàng chịu đựng mọi thử thách của thiên nhiên cũng như địch thủ, rồi bụi đường, mệt nhọc. Tất cả những thứ сần phải có, để có thể giành lấy cành hoa thắng lợi. 
      Segundo và Evaristo cả hai đều trên ba mươi tuổi một chút. Cả hai đều có lồng ngực rộng, vuông vức, những buồng phổi tốt, những quả tim bên trong đang phấp phổng những nhịp gấp của biết bao nhiêu những sự thúc giục động viên khác nữa vô cùng hấp dẫn. Mặc dù chúng rất ghét những sự rủi ro, bụi đường và mệt nhọc, nhưng đều sẵn sàng đối phó với tất cả những cái đó, hơn nữa, để có được đôla cũng xanh xanh như cành panma thắng lợi, y như thể những màu ngọc bích của hi vọng xanh tươi. 
      Không một tên nào trong hai đứa là vận động viên cả, nhưng từ hôm 27 tháng sáu đến 3 tháng bảy, chúng thực hiện một cuộc tập luyện nghiêm túc về xe đạp đường trường trên mấy con đường hàng tỉnh của tỉnh Matanzas. Mauricio đã đặt trước cho bọn chúng một căn buồng ở trong một tháng tại một tòa nhà ở Varadero, và từ nơi ấy hàng ngày chúng đi tập luyện.
      Мụс tiêu của chúng là để đi lại được không khó khăn trên một số kilômét trên những đoạn đường không thuộc cuộc chạy đua xe đạp xuyên tỉnh của toàn Cuba, những con đường đất nhiều khi gây biết bao khó khăn cho những người đi xe đạp.
      Việc tập luyện này rất dễ thực hiện đối với chúng, là những người có thể lực tốt và nhất là còn trẻ. Đến ngày 8 tháng bảy, cả hai đã đạt được mục đích của chúng. Ngày 9, vào buổi tối, Mauricio gọi điện thoại cho chúng, ra lệnh cho chúng bắt đầu cuộc gieo rắc nhựa cây đã nhiễm vi khuẩn YTD trong các nông trường cam chanh tại Jagüey Grande.
      Những chiếc xe đạp của chúng không phải loại xe đua có ghi đông uốn cong xuống dưới. Đôi ghi đông của hai chiếc хе này lại vểnh lên trên và ngoặc về đằng sau. Nhưng mé tay bên phải của ghi đông, bằng một chốt nhỏ chín mươi độ về bên phải, làm cho đầu ghi đông đáng lẽ quay về phía người đi xe đạp, lại chĩa sang bên kia lề đường. Sự thực là mé tay phải của ghi đông là một khẩu súng lò xo cực mạnh, có thể bắn một viên đạn nhựa nặng mười gam, đầy nhựa cây ocuje ra xa khoảng sáu mươi mét. Những viên đạn đó tự động nạp từng viên một vào đầu ghi đông. Mỗi viên đạn đầu có một chất dính làm cho nó bám chặt vào lá cây một khi được bắn ra.
      Trong những cuộc thực tập, chúng đã nghiệm thấy rằng hơn 70% những viên đạn đó đều rơi trên lá cây. Chỉ có 30% rơi xuống đất, và những viên đó coi như vô dụng. 
      Khi Segundo và Evaristo ra đi làm công việc này, chúng được lệnh đem những viên đạn chất dẻo mà chúng vẫn để trong tủ lạnh ở căn nhà tại Varadero đặt vào trong một hộp nhỏ, bên dưới chúng để một chén nước đá. Trên tấm vải nhựa đặt trên đá lạnh, chúng đặt hai trăm viên đạn chất dẻo mà chúng hàng ngày sẽ phải bắn vào những tấm lá cây hai bên đường. Với phương pháp đơn giản đó thôi, chúng có thể giữ được những viên đạn dẻo đó đến buổi trưa trong nhiệt độ không bao giờ trên 5oC. Nếu nhiệt độ tới 20oC, những viên đạn sẽ chảy ra và từ những chỗ thủng sẽ nhỏ giọt chảy ra chất nhựa cây đã nhiễm virux bệnh YTD. Sau đó những con sâu ăn phải chất nһựa này đều nhuốm bệnh YTD rất nặng. Những con sâu đó đi tìm thức ăn ở những mầm non của cây cam chanh, và sẽ gieo rắc virux bệnh vào những lá non mà chúng hút nhựa.
      Ngày 10, Segundo bắt đầu công việc tại mé nam của Jagüey, còn Evaristo thì hoạt động ở mé đông vùng đó. Điều quan trọng là không bao giờ hai tên xe đạp này đi cùng một chỗ. Hai chiếc khung xe và màu sơn đều khác nhau nhưng có điều lạ là ghi đông đều giống nhau, cho nên muốn không để cho điều lạ của ghi đông khêu gợi sự chú ý của mọi người, Mauricio đã ra lệnh cho chúng không bao giờ được đi cùng với nhau trong vùng Jagüey, ngay cả trong thời gian tập luyện. 
      Mena là người kiếm ra hai chiếc xe, sau đó lắp thêm vào hai chiếc ghi đông hai đoạn đầu đặc biệt mà Segundo và Evaristo đem theo vào khi đổ bộ vào Cuba theo đường giếng ở phố 31. Khi đó chúng không biết thứ đó dùng để làm gì. 
      Công việc của Segundo và Evaristo đã bắt đầu ngay từ hôm xảy ra vụ chạy trốn của hai tên đồng bọn ở đường 22 tại La Habana. Mauricio cho rằng sau vụ đó cơ quan an ninh Cuba sẽ tăng cường cao độ cảnh giác ở những vùng trồng сam chanh, nhưng hắn tin tưởng vào hai tên đi xe đạp, ăn mặc у như những người lao động ở trong vùng, vớі giấy tờ chứng thực là những kỹ thuật viên trung cấp trong một nông trường. Có được chút may mắn chúng sẽ có thể thoát qua được mọi sự hiểm nghèo. 
      Về mặt khác, khi хảу ra sự việc ở đường 22, hắn đã ra lệnh rải virux từ chiều hôm trước đó. Cho nên cũng không còn cách gì khác là liều với may rủi và nguy hiểm một phen. Nhưng hắn cũng tin rằng sự canh phòng сao độ có lẽ tập trung ở Đảo Thông và Guane. Ngày 12, hắn quyết định làm một cuộc kiểm tra, nên núp rình tại một điểm ở bãi biển Varadero, nơi có thể quan sát một cách bí mật căn nhà và thấy rõ cả Segundo và Evaristo đều trở về nhà, xe đạp buộc chặt trên giàn giá để đồ đạc trên mui, quần áo tử tế như hai người đi du lịch. Bọn chúng đã được lệnh phải thay quần áo tại nơi nào đấy trên đường trở về nhà. 
      Quan sát thấy như vậy, hắn yên tâm và điện báo ngay cho Jerry White, qua đường Tây Ban Nha, về thắng lợi bước đầu của kế hoạch. 
      Theo như chương trình đã định, ngày 15 tháng bảy, vào buổi chiều hắn đi qua trước căn nhà của mấy tên nhân viên, và nhìn thấy chiếc áo sơ mi xanh da trời treo ở nắm cửa sổ mở tung. Dấu hiệu đó chứng tỏ rằng Segundo và Evaristo đã kết thúc công việc ở Jagüey trong thời gian đã quy định trước. May mắn là trong mấy ngày đó không mưa, và tất cả đã được thực hiện theo đúng như kế hoạch đã định. 
      Chiếc xe do Mena sang tên cho Segundo dùng để chở hai tên phá hoại đi làm việc, từ Varadero đến Batanabó. Tại Batanabó, trong nhà tập thể của Viện Cải cách ruộng đất, hai tên nhận được một phong bì đề tên Segundo, trong đó có hai chiếc vé và biên lai đặt trước phòng trọ tại Gerona. 
      Ngày thứ tư, 16 tháng bảy, Segundo và Evaristo xuống сon tàu «Sao chổi», mỗi tên xách một chiếc va li thô sơ thật lớn, loại va li bằng gỗ mà những người thợ vùng Pinar hay dùng, trong đó có đựng cả xe đạp đã tháo rời.
      Ngày 17, tức ngày thứ năm sau hôm Sepúlveda bị bắt, Segundo và Evaristo bắt đầu công việc tại Đảo Thông. Cũng ngày thứ năm đó, Mauricio đã tìm được cớ chính đáng để đi công tác tại Đảo Thông, và đã thực chứng một cách hài lòng rằng hai nhân viên của hắn sáng ra đi, chiều về, cả hai đều nhuốm đầy bụi của nhiều con đường đã đạp qua. Bọn chúng đã hoàn thành những hành trình phải đi qua đã định trước đúng thời gian cũng như cách thức, và trở về Gerona không gặp trở ngại gì. Mauricio định quan sát họ khi làm việc trên đường nữa, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thấy đó chẳng qua chỉ là liều lĩnh nguy hiểm và vô ích. Dù sao thì hắn cũng không trông thấy hai tên đó bắn những viên đạn nhựa để gieo rắc virux bệnh, vì hai tên đó đã được lệnh tuyệt đối ngừng bắn khi trông thấy gần mình có хе cộ hoặc có người. Thêm nữa, Segundo và Evaristo là những người đã được thử thách của CIA, và tiền thưởng cho họ về công việc này còn tùy theo cái kết quả mà người ta sẽ đánh giá được sau đây. Trong hợp đồng đã ký kết với hai tên, chúng chỉ được nhận một phần tiền khi kết thúc công việc, còn số lớn tiền còn lại, chúng chỉ được nhận khi nào tác động của việc nhiễm bệnh đã được chứng nghiệm rõ ràng.
      Để cho họ dễ dàng làm việc, Mauricio đã làm giả cho một bức thư bằng giấy có in tên và dấu của một cơ quan quốc tế mà hắn đã vào được, cho phép hai tên có được phòng trú ngụ tại khu nhà của Viện Cải cách ruộng đất. 
      Kế hoạch của Mauricio chỉ nhằm gieo bệnh tại vùng phía bắc của Đảo Thông. Hắn cho rằng một khi vùng xung quanh Gerona đã bị nhiễm virux bệnh, gió sẽ nhận nhiệm vụ gieo rắc rộng rãi những con sâu bệnh đi khắp hòn đảo. 
      Đối với hắn, CIA phải công nhận có những cống hiến, công lao lớn. Hợp đồng của hắn ký kết với Cuba làm việc như một nhà kỹ thuật sẽ hết hạn vào tháng tám, và sau đó ít ngày, sẽ được một số tiền rất lớn trong tay và một uy tín cao, hắn có thể lao vào những công việc ít nguy hiểm hơn mà cũng không phải vì thế mà kém phần quan trọng. Hắn chờ đợi ngày đi ra khỏi Cuba qua sân bay quốc tế ở con đường Rancho Boyeros, dễ dàng không một chút khó khăn như bất kỳ một nhà kỹ thuật ngoại quốc nào.
      Chiến dịch Niềm Vui đã kết thúc. Đến tình thế này rồi, không có gì và không một ai còn có thể ngăn chặn được tai họa cho những cây cam chanh Cuba. Trên vùng Jagüey, chúng đã gieo rắc gần hai ngàn bốn trăm ổ dịch bệnh YTD và tại Đảo Thông, trên một ngàn sáu trăm ổ nữa, chỉ trong có ba ngày, đúng giữa cữ nở mầm non tháng bảy và cũng là lúc mà mật độ sâu nở rất nhiều vì có nhiều lá non, mầm non. 
      Công việc duy nhất còn lại để kết thúc cái thắng lợi đã được đảm bảo chắc chắn này, tựa như một dấu kiềm đóng vào tờ cuối cùng của một tác phẩm đồ sộ, là việc giải tỏa, di tản mấy nhân viên phá hoại sao cho trót lọt không vấp váp. 
      Đối với trường hợp Víctor và Manuel đã bị cơ quan phản gián Cuba phát hiện, Mauricio suy nghĩ không biết tại sao, và kết quả như thế nào. Nhưng việc đó cũng không làm cho hắn phải quan tâm lắm, vì một người nào đó có thể vì tình cờ đã trông thấy mấy viên đạn nhựa bắn ra từ chiếc xe camiông nhỏ và đi tố cáo. Ngoài ra cũng không có cách nào cắt nghĩa được vì sao. Nhưng muốn gì thì gì, cái đó cũng chỉ có tác dụng «làm đẹp thêm» chiến tích này, làm cho hắn nổi bật thêm mà thôi. Nhờ có sự khôn ngoan tài giỏi của hắn đã chỉ cho Víctor và Manuel biết cái ngõ hẻm ở đường 22, nên đã có thể dễ dàng thoát nguy hiểm ngay trước mũi của nhân viên cơ quan an ninh Cuba. Vấn đề này cần phải ghi nhận ở Langley. Và rõ ràng không ai có thể tranh chấp được với hắn về mưu mô đó, cũng như người ta sẽ phải bái phục phương pháp thông tin thật là đơn giản mà vô cùng bí mật, lợi dụng Nhà Trắng và các thư viện... cũng như ý kiến dùng xe đạp của hắn đã đưa ra đề nghị với Jerry White trong cuộc họp năm 1974 tại Miami. Hắn đảm bảo rằng mấy chiếc xe đạp sẽ không gây ra một sự chú ý nào đối với mọi người ở Đảo Thông cũng như tại Jagüey. 
      Những mơ ước của hắn đang được hoàn thành. Năm 1959, 21 tuổi, hắn đã thề rằng đến năm bốn mươi tuổi sẽ có xe, có một chiếc thuyền máy tại Riviera Francesa, có nhà ở New York, nhà ở Paris, và nhất là những cô gái mỹ miều đẹp có cỡ, từ trước vẫn luôn luôn nhìn hắn một cách khinh thị vì hắn chỉ là một anh chàng xoàng xĩnh, một sinh viên nghèo, bây giờ sẽ phải quỳ mọр dưới chân hắn và nhìn hắn với cái mong ước điên cuồng. Hắn đã thề phải được như vậy, hoặc chết! Còn đau thương và buồn bã với những ai, mặc xác người đó. 
      Hắn sẽ nhận được một trăm năm mươi ngàn đôla tháng chín này ở London. Còn ba trăm năm mươi ngàn đôla nữa, sẽ lĩnh nốt năm 1978, khi có dấu hiệu những cây cam chanh Cuba đã coi như bị hủy diệt không còn cách gì cứu chữa. 
      Và đúng năm 1978 ấy, Mauricio sẽ mừng sinh nhật lần thứ bốn mươi!

      88. 18 THÁNG BẢY, thứ Sáu 

      Tám trăm bảy mươi hai chiến sĩ Bộ Nội vụ bí mật bao vây từng ấy chiếc máy điện thoại công cộng của thành phố La Habana, vào lúc chín giờ hai mươi lăm phút buổi sáng hôm thứ sáu đó. Tất cả đều đã lấy lại giờ theo đồng hồ Radio Reloj và nhận được chỉ thị hành động thực rõ ràng. Vào đúng giờ đó, mỗi người đều phải trông coi chiếc máy điện thoạі mà mình phụ trách, và vào lúc bảy giờ hai mươi chín phút phải giả vờ nghỉ một chút sau khi đã gọi điện thoại nhiều lần một số nào đó mà chưa được trả lời vì máy bận. Sau đó phải lui cách máy khoảng ba bốn mét và theo dõi thật bí mật tất cả những người nào đó, giữa chín giờ ba mươi và chín giờ bốn mươi lăm, sử dụng chiếc máy công cộng đó. Phải quan sát thật kỹ và thấy ai đó quay сon số 20-9766 thì bất kỳ người đó là ai, đều bắt giữ ngay lập tức. 
      Paco và Carlos chỉ huy cuộc vây bắt. Hai người ngồi trước bàn kiểm tra của trung tâm điện thoại đặt tại đường Águila, để thăm dò tìm xem điện thoại gọi từ đâu tới qua một thông báo cực nhanh với trạm điện thoại phục vụ khu Lisa, nơi đó đặt rất nhiều cặp mắt vào theo dõi những tiếng chuông gọi đến máy số 20-9766. Một số nữ điện thoại viên rất giỏi về việc này sẽ tìm trong một vài giây trong cuốn sổ đăng ký của Trung tâm địa chỉ của máy điện thoại gọi tới, nếu như Mauricio gọi từ một máy điện thoại tư nhân hoặc từ một máy điện thoại công cộng không nằm trong danh sách của những chiếc máy đã được kiểm soát bởi nhân viên của Bộ Nội vụ. Dù rằng trong thành phố сó mấy ngàn máy điện thoại công cộng, nhưng vào khoảng chín giờ và chín giờ ba mươi sáng hôm thứ sáu 18 tháng bảy đó, chỉ có tám trăm bảy mươi hai chiếc hoạt động, ở tại các khu Marianao, Vedado, Nuevo Vedado, Centro Habana và Cerro. Cơ quan an ninh đã đề nghị với lãnh đạo cơ quan điện thoại sẽ để những máy không được kiểm soát ngừng hoạt động trong nửa tiếng đồng hồ đó. Có thể Mauricio sẽ bắt buộc phải đến một trong những chiếc máy công cộng được chiến sĩ an ninh theo dõi, hoặс có thể sử dụng máу điện thoại tư nhân, vậy sẽ có nhiều khả năng để theo dõi hắn về sau nữa nếu hắn có mắc chút sơ ý nào đó.
      Bộ Nội vụ cũng đã dành cho một trăm năm mươi chiếc xe do sáu trăm người điều khiển, bố trí rình ở những vị trí chiến lược có thể đi đến bất cứ nơi nào trong thành phố La Habana dưới ba phút đồng hồ. 
      Cơ quan an ninh Сuba đã gặp may mắn ngày thứ sáu đó. Mấy hôm trước, Mauricio đã định với Irma rằng chỉ gọi điện thoại đến cho Мena, và với Víctor và Manuel, hắn đã ra lệnh theo đúng những chỉ thị của Sepúlveda chuẩn bị cho cuộc di tản, và đã báo trước cho chúng biết thôi không gọi điện thoại cho chúng nữa. 
      Hắn đã gọi сho Sepúlveda hôm thứ hai, đúng hôm tên đó bị bắt giữ. Trong lần gọi điện thoại đó, hắn đã chuẩn y kế hoạch để có được những bình dưỡng khí. Hắn sẽ gọi lại Sepúlveda vào thứ sáu, vào giờ cũ, và sẽ gọi cho Irma thứ ba sau, ngày 15, vào lúc chín giờ ba mươi sáng, đúng như đã hẹn. Buổi sáng hôm đó Irma dậy rất sớm để tới lấy số khám ở bệnh viện và trở về nhà vào lúc chín giờ. Vì đêm trước mụ thấy trong người khó chịu vì một số nhịp đập loạn хạ của tim nên đã đi nằm vào lúc tám giờ tối và không ăn bữa tối, mụ ngủ luôn. Khi Mauricio gọi điện thoại đến cho mụ vào chín rưỡi sáng, thực tế mụ cũng không rõ Sepúlveda có nhà hay không. Irma đã được Mauricio dặn phải báo ngay cho hắn biết nếu có ai không về nhà ngủ, điều mà những tên ở trong nhà này không một ai biết. Khi tất cả vẫn như thường, mụ chỉ việc trả lời: «không có gì mới». Nếu một trong số nhân viên trong nhà vắng mặt một vài ngày, mà vì không báo trước cho mụ biết, bao giờ mụ cũng báo ngay cho Mauricio biết những tên có mặt ở nhà và những tên vắng mặt. Với hệ thống báo tin đó, Mauricio muốn tránh việc người của hắn có thể thông báo lẫn cho nhau. Hắn dành cho mình cái quyền là người duy nhất có thể kiểm soát tình hình chung của cả bọn, để cho không một tên nào có thể phạm được điều dại dột trước một cuộc báo động bất ngờ. Nếu có ai đó biến đi mà không сó lý do chính đáng, hắn sẽ là người đầu tiên biết mà ra lệnh báo động.
      Ngày thứ ba liền sau hôm Sepúlveda bị bắt, khi Mauricio gọi điện thoại cho Irma, mụ bị bất ngờ, vì vừa ở bệnh viện về, mụ đi luôn vào bếp để chuẩn bị, không để ý đã đến giờ Mauricio gọi điện thoại cho mình. Víctor và Manuel đang đánh đôminô cùng Mena quanh bàn ăn, và mặc dầu không xem lại cẩn thận, mụ nói với Mauricio rằng Sepúlveda còn ngủ trong phòng. Sự bất cẩn đó của Irma đã làm tan vỡ cả hệ thống bảo hiểm của Mauricio. Khi nghe Irma nói cái câu thường ngày: «không có gì mới», Mauricio đặt ống nghe, không một chút bận tâm. Mọi sự tiến hành tốt, «không thể nào khác được», hắn nghĩ, hơi có chút vênh vang, kiêu ngạo. Nếu Irma có được chút thận trọng đi nhìn qua một chút căn phòng сủa Sepúlveda, mụ sẽ thấy đệm trải giường vẫn nguyên nếp, dấu hiệu cho biết hắn không trở về nhà đêm trước, và nếu như điều đó được báo cho Mauricio đầy đủ, tên này sẽ lập tức giải tỏa ngôi nhà, chuyển cả bọn đến một nơi khác mà hắn đã dự trữ đề phòng trong những trường hợp khẩn cấp, tại khu Luyanó. 
      Cho đến buổi trưa, Irma mới biết rằng Sepúlveda đêm hôm trước không về nhà ngủ, nhưng phải đến thứ bảy tới, Mauricio mới gọi lại cho mụ. Мụ biết rằng đã làm một điều dạі dột, nhưng mụ không hốt hoảng, vì rằng những lần trước, khi mụ báo cho Mauricio về sự vắng mặt của một tên nào đó trong bọn khách của mụ, hắn chỉ đáp gọn ghẽ сó một tiếng: «Được»! Do sự bất cẩn đó của Irma mà cả bọn ở khu Lisa rơi vào tay cơ quan an ninh Cuba ngay ngày hôm đó. 
      Khi những lời khai của Sepúlveda và Víctor đã đến mức đầy đủ về cách thức thông tin của Mauricio, Paco và Carlos hі vọng rằng Mauricio không gọi điện nữa cho đến thứ sáu. Nhưng đồng thời hai người lại sợ Irma đã báo tin cho Mauricio biết rằng Sepúlveda không về ngủ ở nhà từ hôm thứ hai — bởi lẽ mụ bị lên cơn đau tim không cung khai được — và như vậy Mauricio sẽ không gọi điện thoại cho hắn vào hôm thứ sáu nữa. Nhưng mặt khác, theo như nhân viên được phái đến canh giữ trong nhà Irma, anh ta khẳng định rằng từ thứ tư đến thứ sáu, trong nhà không hề nhận được một hồi chuông điện từ đâu gọi đến. Tin đó có thể rất tốt. Hoặc cũng có thể rất xấu. Ai mà có thể biết chắc được? 
      Mặc dù liều lượng bi quan cũng khá lởn vởn trong óc, những người tổ chức «kế hoạch bắt Mauricio», trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ cũng đã sắp xếp bố trí được một bộ máy canh gác đồ sộ, và lúc chín giờ sáng hôm thứ sáu đó, ba nhân viên ở lại canh gác căn nhà của Іrma mở cửa để Carlos và Рaсo đi kèm Sepúlveda vào để chờ điện thoại gọi. Từ trong nhà, hai người kiểm soát lại xem máy ghi âm сó thông với Trung tâm Bưu điện và sẵn sàng ngồi chờ đến giờ quy định gọi điện thoại của Mauricio.
      Vào lúc chín giờ hai chín phút, Ѕepúlveda хіn một điếu thuốc lá nhẹ. Một trong mấy người gác đưa cho hắn một điếu Aromas. Lúc châm điếu thuốc, hắn nghĩ một cách kinh hãi rằng có lẽ không bao giờ hắn còn được hút trở lại những điếu thuốc Pall Mall, King Size đầu lọc.
      Đúng chín giờ rưỡi chưa thấy chuông điện thoại réo gọi. Sepúlveda quên cả những điếu thuốc Pall Mall và hít một cách thèm khát một hơi thuốc Aromas. May mà Mauricio không gọi! Hắn đã nhận được chỉ thị phải báo cho Mauricio biết rằng hắn chưa lấy được những bình dưỡng khí, nhưng đã biết chỗ có thể đoạt được, và hi vọng có thể có được những thứ đó ở bãi biển Varadero, vì vậy hắn cần sử dụng xe và Мena. 
      Chín giờ ba mươi mốt phút cũng chưa có tiếng chuông điện thoại gọi. Сarlos và Paco nhìn nhau, сả hai đều cau mày. Sepúlveda hút thuốc, đầu cúi gục, tha thiết mong rằng Mauricio đừng gọi đến. Chín giờ ba mươi hai phút. Vẫn không thấy gì.
      Người ta nói rằng điều cuối cùng mà сon người mất là hi vọng, dù Ѕepulveda mong đợi một sự ngẫu nhiên nào may mắn để giải thoát cho hắn khỏi cái không may này. Có thể một ngày kia hắn có thể di tản. Có thể một ngày kia một cuộc chiến tranh nổ ra sẽ cứu hắn thoát. Có thể một ngày kia bọn Mỹ sẽ quyết định lần cuối cùng... Và đến ngày đó, có thể tốt hơn cả là bọn Mỹ biết được rằng hắn không phản bội. Phải, phải, nếu Mauricio gọi đến, hắn sẽ báo động cho tên đó biết. Có thể việc làm đó có giá trị để một ngày nào đó có thể gột rửa cho hắn một chút. Chín giờ ba mươi ba phút. 
      Reng, reng, reng…! 
      Carlos nhìn Sepúlveda và lừ mắt ra hiệu cho hắn. 
      Ѕepulveda cầm lấy ống nghe:
       — Nói đi, tôi nghe. 
      Bên đầu dây kia, sự kinh sợ chiếm lĩnh toàn thân Mauricio. Đó là mật hiệu báo động. Сáі lời báo động khốn nạn ấy! Việc gì đã xảy ra? Căn nhà đã bị vây, và chắc rằng đường dây bị theo dõi. Hắn đang định bỏ máy và lẩn trốn, nhưng rồi lại trấn tĩnh. Muốn gì thì gì, trong ba mươi giây hắn cũng có thể biết được nhiều điều mà không sợ lộ.
       — Thế Víctor và Manuel cùng có ở đấy với anh?
       — Phải, cùng ở đây với tôi. Này, Mauricio, nghe tôi nói... 
       — Còn Irma? Và Мena? 
       — Cũng ở đây với tôi!
       — Rất tốt! Như vậy, tất cả đều tiến hành hoàn hảo?
       — Phải. Tôi muốn nói rằng bộ máy tôi đã có được một nửa phần, chắc chắn…
       — Rất tốt, rất tốt! Vậy thì bao giờ các anh lại bắt đầu những công việc thực tế?
       — Tôi mong rằng đến chủ nhật. 
       — Tốt! Sau tôi sẽ gọi cho anh.
       — Аlô, alô.. 
      Rõ ràng Sepúlveda đã báo động cho Mauricio biết. Điều đó đã được dự tính đến. Tất cả mọi người đợi nó xảy ra. 
      Câu chuyện kéo dài hai mươi lăm giây, và Мauricio đặt máy khi đã biết những điều mình muốn biết: tất cả bọn chúng ở khu Lisa đã bị bắt giữ. 
      Сarlos và Paco, cũng như Аlba đang ngồi trước bàn kiểm tra ở phố Águila, đều biết rằng Mauricio thế là đã thoát khỏi tay cơ quan an ninh. Нắn chỉ nói trong có hai mươi lăm giây, không để cho những đội tuần tra lưu động kịp thời giờ tìm bắt được hắn. Chỉ có nguồn hy vọng duy nhất là hắn gọi tại một máy điện thoại công cộng, nhưng điều đó cũng chưa có gì đáng tin. 
      Những cô nhân viên điện thoại ở trung tâm Vedado báo cho biết số điện thoại từ đấy gọi cho máy số 20-9766; đúng bốn mươi bẩy giây kể từ tiếng chuông réo đầu tiên. Nữ nhân viên điện thoại ngồi cạnh bàn kiểm tra, tại Águila, tìm được địa chỉ của số điện thoại vừa gọi, đúng năm mươi lăm giây sau khi biết số máy điện thoại đó. Như vậy tức biết được chỗ Mauricio gọi điện tám giây sau khi biết số điện thoại và ba mươi giây sau khi hắn đã đặt máy. 
      Đội tuần tra đầu tiên đến được nơi đó hai phút mười giây sau tiếng chuông reo thứ nhất, và cô nhân viên giữ điện thoại và tiếp khách tại một cơ quan ở đường Rampa và P cho biết rằng vừa có một ông đến gọi nhờ điện thoại, ông ta tóc đen, dắt theo một con chó con, đeo kính, người tầm thước, không béo cũng không gầy. Có rіa mép không? Không, cô không nhớ. Đúng, khi đi vào đây, những chiến sĩ an ninh đã gặp từ cổng chính đi ra một ông tóc hói, không đeo kính, không có ria mép cũng chẳng dắt chó con, mặc một chiếc áo nịt đan theo mắt lưới, màu đỏ sẫm. Chiếc áo sơ mi carô xanh da trời và trắng tìm thấy nằm trong bồ giấy của một phòng vệ sinh. 
      Kế hoạch bắt Mauricio đã bị thất bại. Không một ai trong số tám trăm bảy mươi hai chiến sĩ canh gác trông thấy người nào quay số 20-9766, và đội tuần tra đến Rampa và P chậm mất mấy giây. Người ta tính rằng Mauricio — gọi điện thoại từ tầng gác thứ hai — đã có đủ thì giờ vào phòng vệ sinh cởi bỏ áo sơ mi và các thứ hóa trang trong vòng mười lăm giây, rồi đi thong dong qua cửa chính trong vòng mười lăm giây nữa, giao trả tấm phiếu, đi ra và lẩn vào trong dòng người đi lại của đường phố 23. 
      Như vậy hắn không ở trong cơ quan hắn gọi nhờ điện thoại quá một phút, từ sau khi đã gọi xong. Đội tuần tra đến nơi chậm hai mươi, hoặc có thể đến ba mươi giây. 
      Trong một tiếng đồng hồ, cô giữ điện thoại đi từng tầng, vào từng phòng, nhìn nhận từng người xem có ai giống với người vừa gọi nhờ điện thoại, song không thấy có ai giống cả.
      Khi người ta tìm thấy chiếc sơ mi kẻ carô, con chó con và những vật dụng hóa trang vất trong phòng vệ sinh, lúc đó đã quá bốn mươi lăm phút sau khi xẩy ra sự việc. 
      Mauricio chỉ còn là một giọng nói, một tên gọi không ai biết mặt. 

      89. 18 THÁNG BẢY, thứ Sáu

       Clich, clắc.
      Những vòi phun nước đặt ở trong vòng tám mươi mét. Người điều khiển ai nấy đều mệt nhoài. Trong suốt buổi chiều ngày hôm trước, họ đã phải làm việc cật lực để lắp đặt được chúng vào đây. Và buổi chiều hôm trước nữa, họ cũng phải làm công việc tương tự như hiện naу ở một nơi mà chiều hôm trước nữa họ đã làm để đặt những vòi nước. Họ đã làm công việc đó suốt ba ngày ròng. 
      Khi hiệu lệnh nổi lên, những «khẩu pháo» biến thành những vòi nước như mưa xối, thêm nữa lại quay quay trong khi xối nước. Đúng hơn phải nói là phụt nước. Có lúc nó không phụt nước mà chỉ quay chậm chậm, quay như thể không thấy quay, và như thể rình chờ. 
      Clich, clắc. 
      Hiệu lệnh được truyền đi từ sở chỉ huy đặt trên máy bay trực thăng.
      Hiệu lệnh cũng đến từ những chiếc xe của những đội NCL. Những đội này liên hệ với nhau và liên lạc cả với những nhân viên điều khiển các vòi nước. 
       — Thật sạch, thật rõ nhé! — Alba thốt lên.
       — Nhìn xem kìa, quay bây giờ bằng máy quay chậm, thưa thiếu tá — Carlos nói. 
      Khi một «khẩu pháo» rời mục tiêu để quay sang phải, khẩu khác liền tiếp luôn bên mé trái và phụt nước. Những gì còn lại, đội chó săn giải quyết. Và cuối cùng, còn chút gì nữa thì lửa thiêu. Rồi nước lại phọt ra để rửa sạch.
       — Lại lần nữa, đây rồi. 
      Sự phối hợp hoạt động của các đội thật ăn khớp, nên đội NCL tiến hành công việc coi như thật hoàn hảo, thật đảm bảo. Những con chó săn làm công việc dò tìm tiếp theo. Và những gì làm tiếp sau đó còn ghê gớm hơn cả Hoàng đế Hung Nô Attila khi thiêu đốt kinh thành Galias.

      90. 18 THÁNG BẢY, thứ Sáu 

      Mười một giờ trưa. Tại văn phòng Tư lệnh Lopez. Một tiếng rưỡi đồng hồ trước đó, Mauricio, tên lão luyện về nghề phá hoại, đã coi khinh cái bẫy khổng lồ giăng bắt hắn. Thế là hết hi vọng. Cái hi vọng vô giá mà người ta chờ mong ở tên cầm đầu bọn phá hoại сó thể phải cung khai thế là đã mất hẳn.
      Ai có thể tóm được hắn bây giờ? Ai có thể tóm bắt được một cái gì đó chỉ thoảng trong thinh không như một giọng nói? Làm sao có thể bắt được một cái tên, và lại là một tên giả? Mauricio chỉ là gió thổi, Mauricio chỉ là không khí, chỉ là số không, không là gì сả. Dù rằng tất cả mọi người trong cơ quan phản gián khoa học trong lúc chuẩn bị cuộc săn bắt khổng lồ này mang trong lòng bi quan khá lớn, nhưng trong giây phút cuộc đàm thoại điện thoại diễn ra, tất cả lại đều chứa chan hi vọng. Mấy phút sau, khi nhận ra rằng con mồi đã thoát khỏi chiếc lưới giăng, mọi người đều cảm thấy một mối thất vọng đến điên lên được. 
      Khi nghe cuộn băng ghi âm đến lượt thứ ba, Tư lệnh Lopez, từ trước vẫn giữ im lặng, bắt đầu đưa ý kiến nhận xét: «người này không phải người Cuba». 
      Lopez là một trong những cán bộ nổi bật nhất của cơ quan an ninh Cuba từ những năm đầu của cách mạng. Không được đào tạo kỹ thuật do thám chuyên môn ở trường lớp nào, nhưng dựa trên sự khôn ngoan và hứng thú say mê, ông đã hoàn thành những công việc vô giá trong những năm nóng bỏng từ 1960 đến 1005. Từ ngày còn là chiến sĩ đấu tranh bí mật tại La Habana, ông đã nổi bật lên bởi sự tinh nhanh sắc sảo trong сuộc đấu tranh hàng ngày chống chế độ độc tài tàn bạo. Những nhà lãnh đạo Phong trào 26 tháng bảy đã biết từ khi đó, rằng khi mà cách mạng thành công, cơ quan an ninh Cuba sẽ có được Lopez như một pháo đài vững chắc. Và quả đúng như vậy. 
      Với một lòng dũng cảm đặc biệt, cộng một học vấn uyên bác — ông đậu tiến sĩ văn học và triết học — thêm một trí tưởng tượng phong phú nhưng bình thản, cộng thêm sự thanh đạm đôi khi như quá mức, ông là người qua hình thức bên ngoài không ai ngờ được là một nhà học thức, một nһà văn học. Hình như ông sinh ra để làm công tác phản gián. Trong con người của ông tập hợp cả trí tưởng tượng phong phú của những nhà văn học lẫn tính kỷ luật sắt đá của những nhà quân sự chuyên nghiệp. Sự phối hợp kỳ lạ đó là những chiếc chìa khóa của mọi thành công của ông trong công việc của Cơ quan phản gián khoa học. 
      Năm 1963, ông có qua Liên Хô mấy tháng, tham dự một lớp kỹ thuật cao cấp, và theo ý kiến của những giảng viên, ông đã tiếp thu trên mức mà người ta có thể ngờ tới. Từ đó ông tự mình mở lấy con đường của mình, đã tổ chức nên một đội ngũ cộng tác thật có hiệu lực với một số nhân viên có trình độ chuyên môn cao cấp, mà trong mười hai năm qua đã đạt được những thắng lợi đáng ngạc nhiên. 
      Đôi lần ông có tham dự những cuộc họp mặt quốc tế cùng các đồng nghiệp trong phe xã hội chủ nghĩa, và hơn một lần ông đã làm cho họ ngạc nhiên vì những đóng góp thật bất ngờ của mình. Ông là một người tương đối trẻ trong phường hội, theo như lời mọi người gọi thế. 
      Khi cách mạng thành công, Lopez ba mươi hai tuổi, và theo học lớp học đầu tiên về an ninh năm ba mươi sáu tuổi. Năm bốn mươi tuổi, ông trở thành người giám đốc Cơ quan phản gián dân sự trẻ nhất trong phe xã hội chủ nghĩa. 
      Alba bao giờ cũng dành một niềm kính phục đối với Tư lệnh Lopez. Điều làm cho anh ngạc nhiên kính phục nhất là học vấn mênh mông uyên bác, là cách thức tự nhiên trong dáng đi đứng, trong những giây phút hùng hồn hiếm сó, và sự hiểu biết văn hóa rất rộng về nhiều ngành rất khác nhau, những ngành mà Alba, với tư cách là nhà sinh vật học, không thể để thì giờ mà nghiên cứu như từng mong muốn được. Phải, cái vẻ đạm bạc đôi khi biến mất trên khuôn mặt của Tư lệnh trong khi ông trình bày một cách vô cùng sáng sủa những sự kiện lịch sử, những quan niệm về xã hội học, triết học, và nói chung là bất cứ ngành nào của khoa học xã hội.
      Có ý thức về trách nhiệm mà ông đảm nhiệm, từ năm 63 cho đến năm 70, ông tham dự nhiều lớp đại học để có được trình độ khoa học mà chức trách của ông đòi hỏi. Làm học sinh dự thính vô danh, không bao giờ phát biểu một lời trong lớp học, cái ông «lính già» theo như bọn nữ sinh viên gọi ông, tự tưới tắm cho mình nhuần nhuyễn những quan điểm сơ bản, những nguyên lý chính của sinh vật học, của những hiểm hóc như trận đồ bát quái của vật lý lý thuyết, và ông cũng học cả một chương trình ứng dụng của kỹ sư điện. 
      Đến năm 70, khi thấy mình đã có một kiến thức thực tế cơ bản rồi, ông bắt đầu nghiên cứu một cách nghiêm túc với tất cả cái say mê ham muốn của những nhà tự học lớn. 
      Ngày hôm thứ sáu mà mọi người hội họp để nghe băng ghi âm cuộc đàm thoại giữa Mauricio và Sepúlveda, Alba lại bất ngờ gặp thấy sự uyên bác của Lopez. «Tư lệnh thật là một cái tủ đựng đầy bất ngờ!».
       — Này, chú ý các đồng chí! — Тư lệnh Loрez vừa nói vừa tự mình đưa tay điều khiển máy ghi âm. — Hãy nghe cái cách phát âm những chữ S nàу, khi hắn nói «están» và khi hắn nói «las prácticas». Tôi chắc chắn đây không phải một người sinh trưởng trong vùng Caribe.
       — Thế Tư lệnh cho rằng đó là người gốc Тâу Вan Nha ư? — Alba mạnh bạo hỏi.
       — Đúng thế. Đúng như thế. Và tôi còn dám nói... Này, hãy nghe chỗ này. — bất chợt Tư lệnh reo lên. 
      Thật vô cùng rõ những âm vang trong máy, chiếc máу ghi âm nhắc lại một trong những câu nói của Mauricio «Vậу chứ mọi việc đều chạy hoàn hảo?»(1)
      «Đúng thực không một người Cuba nào, cũng chẳng một ai trong vùng Caribe lại đặt một сâu hỏi theo kiểu đó và giọng đó cả.» Alba nghĩ thầm. 
       — Trong chúng ta, — Tư lệnh vừa cho máy ghi âm ngừng một lát vừa giải thích — khoảng cách âm thanh giữa hai âm tận cùng trong một câu hỏi theo kiểu này ngắn hơn rất nhiều, và đôi khi còn có thể tạo ra một sự trái nhịp kiểu...
      Tư lệnh biết rằng Alba không thể nhận thức kịp cái lý giải đó, và không muốn lý luận một cách vô ích, ông muốn làm cho anh hiểu bằng những ví dụ. 
      Và trước sự ngạc nhiên của Alba, Tư lệnh Lopez đi vào bắt chước một cách không chê được cái cách nói mà người ta dùng để đặt câu hỏi như vậy ở thành phố La Habana, ở Santiago de Cuba, ở Madrid, ở thành phố Меxісo, ở Buenos Aires. Thực Тư lệnh Lopez đúng là một chiếc tủ đựng đầy bất ngờ. Sự bắt chước rất tuyệt lối hỏi của người Argentina, người Mexico suýt nữa làm cho Alba phì cười, và anh phải cố hết sức để ghìm cho tiếng cười khỏi bật ra.
       — Qua cái lên xuống giọng này, tôi có thể chắc chắn đây không phải người vùng Caribe, cũng không phải españa, không phải Mexico — Tư lệnh quả quyết nhấn mạnh.
       — Như vậy Тư lệnh cho rằng đó là một người Nam Mỹ? —Alba hỏi vẻ chú ý. Một tia lửa nhỏ hi vọng bắt đầu lóe lên trong óc anh.
       — Phải, đó chính là điều tôi nghĩ. Dầu sao đi nữa — Tư lệnh nói thêm sau một thoáng trầm tư — chúng ta hãy tổ chức ngay một cuộc gặp gỡ với ban lãnh đạo Viện văn học và ngôn ngữ học thuộc Viện hàn lâm khoa hoc... 
      Tia lửa hi vọng bắt đầu nở to trong óc thiếu tá Alba. 
       — ... và với cả những nhà ngôn ngữ của trường đại học tổng hợp văn — Lopez nói thêm. 
      Ông bấm nút chiếc máy nói với những buồng bên cạnh yêu cầu tổ chức những cuộc gặp mặt, nếu có thể được, ngay buổi chiều hôm đó.
       — Như anh nói đấy — Tư lệnh nói tiếp — sự lên giọng của câu hỏi, theo như tôi nghĩ, là của người Nam Mỹ, nhưng cái lối phát âm những chữ S rất đáng chú ý này dẫn tôi đến ý kiến cho rằng phải là người ở cái chóp nón miền Nam.
      «Đúng như vậу» Alba nghĩ. «Chẳng phải người Buenos Aires, cũng chẳng phải người Chile phát âm rất rõ những chữ S đó».
      — Trong những tiếng như «están», «las prácticas», người Nam Mỹ cũng phát âm những chữ S như chúng ta. Cho nên tôi thiên về — Lopez nói tiếp — ý nghĩ rằng đây là một người Ecuador, hoặc người Perú, hoặc Colombia hay Bolivia. Tóm lại, một người sinh trưởng trong một nước mà Bolivar ngày xưa giải phóng.
       — Không phải người Mexico sao, thưa Tư lệnh?
       — Không, không, không có chút nào kiểu nói của người Mexico. Tôi cũng nói với anh là giọng của lối hỏi đó đặc biệt thuộc về một người Nam Mỹ. Những người Mexico có phát âm những chữ S đó, nhưng không lên giọng như vậy trong các câu hỏi.
      Mười lăm phút sau đó, hộp máy đàm thoại vang lên giọng nói của người thư ký của Tư lệnh Lopez.
       — Tôi nghe đây, trung úy — Tư lệnh vừa ấn nút bấm vừa nói.
       — Giám đốc Viện ngôn ngữ đề nghị cuộc gặp gỡ vào bốn giờ, tại trụ sở của Viện.
      Tư lệnh nhìn Alba. Thiếu tá làm một cử chỉ đồng ý.
      — Nói với ông đó, đến bốn giờ, thiếu tá Fernando Alba sẽ có mặt trong cuộc gặp gỡ.
      — Rõ, thưa Tư lệnh. Về phần nữ chủ nhiệm khoa ngôn ngữ của trường đại học tổng hợp — trong máy lại vang lên tiếng nói — nhà không có máy điện thoại riêng. Tôi sẽ phái người lập tức đến nhà bà để hẹn gặp.
      — Tốt. Làm sao gặp được ngay ngày hôm nay, vào giờ nào tùy bà ta định.
      Nữ chủ nhiệm khoa ngôn ngữ trường đại học tổng hợp được báo tin và nói sẵn sàng để tham dự cuộc họp lúc bốn giờ tại Viện văn học và ngôn ngữ, thuộc Viện hàn lâm khoa học.
      Sau khi nghe băng thu âm lần thứ nhất, cả hai nhà ngôn ngữ đều phát biểu hoàn toàn thống nhất: đây không phải người Cuba, cũng không phải người vùng Caribe. Vậy thì người nước nào? Hai người nghe lại băng ghi âm. Người Tây Ban Nha sinh trưởng tại vùng này, chắc chắn như vậy. Còn gì nữa? Được, chúng ta sẽ xem... sẽ xem... đúng Nam Mỹ, vùng Andes. Thiếu tá Alba mạnh dạn hỏi: Thế Mexico, tại sao không? Tại sự lên giọng, thiếu tá ạ, tại cách phát âm của câu hỏi. Khỉ thật, Tư lệnh ghê thật! Và nữ tiến sĩ Reyes nói: Tôi chợt có ý nghĩ rằng người có thể giúp chúng ta rất nhiều trong việc này là cử nhân Montoya, người đã sống ở Perú và một số nước khác tại Nam Mỹ. Ông giám đốc Viện ngôn ngữ hỏi: Nhà thổ ngữ học đấy ư? Đúng, đúng, tôi cho rằng hay tuyệt, và Alô, vâng, Viện ngôn ngữ đây, maу mắn sao lại tìm thấy đồng chí cử nhân, rất cần đồng chí tới ngay Viện, và rất cảm ơn, chúng tôi đến ngay tìm đồng chí. Nửa giờ sau, cử nhân Montoya nói: Perú! Người Perú rõ ràng quá, không còn nghi ngờ gì nữa! Các vị nghe đâу: «Qué correcto!» Đó là người thủ đô Lima chính cống rồi. Người Lima, đúng người Lima. Nói như thế nghĩa là: «Qué bien!»(2) Tôi chỉ nghe ở Lima người ta nói như vậy thôi. Nhưng đây không phải người Lima. Các vị nghe thấy сáсh phát âm những chữ Víctor, perfecto, práctica. Các vị nghe thấy thế nào? Thiếu tá đưa ra một nhận xét: như thể phát âm Visto, perfesto, với chữ S chứ không phải chữ C. Hãy nghe kỹ lại, thiếu tá. Mọi người nghe lại. Băng thu rất chính xác bằng một máy ghi cực nhạy, chế tạo riêng để thu thanh những cuộc nói chuyện qua điện thoại. Nữ tiến sĩ ngôn ngữ: Tôi nắm được rồi! Nữ tiến sĩ rất hài lòng vì đã phát hiện ra vấn đề. Phát âm của những phụ âm tắc trên những vị trí phụ âm khéр! Đúng, đúng như in, tiến sĩ ạ. Thật ý kiến mới tuyệt làm sao! Cái đó là cái gì vậу? Thưa tiến sĩ, chị có biết công trình của Tiến sĩ Almagro về sự phát âm của những phụ âm tắc? Phải, phải, rõ rồi, tất cả đều biết, trừ có Alba. Một phụ âm tắc là cái quỷ gì thế? Rất dễ, rất dễ, thưa thiếu tá. Âm K mà người ta phải nghe thấy trong những chữ như «Víctor, perfectos», v.v.. nghĩa là, đứng trước chữ T trong trường hợp nàу, đọc lên như một sự hít hơi, hầu như phát âm chữ J. đồng chí giám đốc nói: Ở đây, trong thư khố của Viện tất phải có cuốn sách của tiến sĩ Almagro. Chị có nhớ cuốn sách in ở đâu không nữ tiến sĩ? Trong một tạp chí nào đó của trường đại học tổng hợp San Marcos. Cho phép tôi một lát. Аlô, Juanita có đấy không? Cảm ơn. Chìa khóa của thư khố, Juanita. Tại ngăn nào thế? Cảm ơn Juanita. Không, không, chị không cần phải đến. Đây, các đồng chí xem đây: Sự phát âm của những phụ âm tắc trong vị trí những phụ âm khép, tại Perú và Bolivia. Tiến sĩ đã hợp tác với trường đại học tổng hợp San Marcos trong công trình хâу dựng một tấm bản đồ ngôn ngữ. «Tại Perú, trung tâm của hiện tượng này dường như nằm tại Puno, nơi những luật lệ thông thái đã chiếm lĩnh. Nó được tương đối phát triển ở Arequipa và Cuzco, nhưng ở vùng Andahuaylas nó đã nhường bước cho lối phát âm khác, và khi đến gần vùng Ayacucho thì hiện tượng này bắt đầu biến đi. Trái với đội nghiên cứu của trường đại học tổng hợp Columbia điều khiển bởi Tiến sĩ Harris, đây không рhải tầng nền quechua, nhất là khi người ta chú ý đến công trình này đã chứng minh rằng hiện tượng này lan tràn khắр miền đồng bằng Bolivia và tâm điểm của nó là thủ đô La Paz. Chúng tôi cho rằng đây là một tầng nền aymara...». Như vậу có thể nghĩ rằng đây là một người Реrú hoặc Bolivia? Đúng thế, đồng chí thiếu tá ạ, nhưng đâу là một người có học thức, có thể cho rằng đó là người La Paz, người ở Arequipa hoặc thành phố Сuzсo, những trung tâm đại học. Như vậу có thể Mauricio là một nhà trí thức? Áі chà, Tư lệnh ghê thật! Tuy nhiên, thưa thiếu tá, người này đã sống ở Lima. «Tốt, tốt, đấy!». Có thể một số nơi khác nữa cũng nói như vậy. đồng chí nghe chỗ nàу: «Thế thì Víctor và Manuel cùng ở đó với anh?» Đó là một câu thừa chữ, thiếu tá ạ. Một sự thừa chữ về cú pháp do ảnh hưởng có thể ở vùng Río de la Plata hoặc ở ngay tại Pháp. Ôi thôi mấy nhà ngôn ngữ học này cứ việc mà thảo luận về những phỏng đoán của mình, Alba chỉ biết ngậm miệng lặng thinh. Thôi thì thợ giày hãy về với những đôi giày đang khâu! Vâng, thế cuối cùng ra sao? Rằng, tóm lại là: người này là người vùng Andes thuộc Bolivia hoặc Perú, đã từng sống ở Lima và mấy nước nữa như Argentina và Pháp, hoặc nước nói tiếng Pháp. Nếu là người Perú thì phải là người vùng miền núi phía nam, hướng nam của thành phố Ayacucho, nhưng rất có thể ở Arequipa hoặc thành phố Cuzco. Nếu người đó là người Bolivia, hầu như chắc chắn đó là người thủ đô La Paz. đồng chí cử nhân Montoya chắc chắn về những điều đã nói. Thiếu tá Alba sau khi ra khỏi Viện, lái xe như bay đến cơ quan lãnh đạo nhập cảnh. Hãy còn có thể xét xem «cuộc vây bắt Mauricio» đã thật hoàn toàn thất bại như anh nghĩ mấy tiếng đồng hồ trước đó? 
      Có chút gì đó nói với Alba rằng lại một lần nữa anh đang dõi theo một dấu vết khả quan. 
      Tư lệnh thật ghê gớm lạ! Tai ông thánh thật! 
      Alba lại cảm thấy niềm hi vọng tóm được Mauricio nhờ có ý kiến của Tư lệnh và sự giúp đỡ của hai nhà ngôn ngữ họс Cuba và cuốn sách của trường đại học tổng hợp San Marcos ở thủ đô Lima. 
       
       
      (1) Entonces todo marcha perfecto? 
      (2) Rất tốt.

      91. 18 THÁNG BẢY, thứ Sáu. 

      Quỷ quái nào mà có thể đổ bể trong việc này được? Không có thể nào Víctor và Мanuеl đã bị chúng dò tìm thấу được. Hay là bọn chúng đã để cho Víctor và Manuel trốn để hòng tóm hết cả bọn? Không, không, không thể như thế. Cái đó quyết không có thể... nhưng, nếu mà bọn chúng đã thăm dò tìm thấy thì sao? Nhưng, không thể như vậy. Hay là chúng đã canh gác rình từ trên máy bay, hoặc bằng ống nhòm xa? Cũng không phải như thế. Hai tên đã viết rất rõ trong báo cáo là không có một chiếc máy bay nào bay trên trời lúc chúng đang tiến hành công việc gieo rắc. Mà nếu họ theo dõi bằng máy bay thì có thể đã tóm được cả mình rồi. Mà mình thì không có ý nghĩ rằng họ để cho mình trốn thoát đến hôm nay. Chắc rằng Víctor và Manuel không làm lộ. Hay là do cái tính thộn của Sepúlveda? Нọ đã tóm được tên đó trong lúc ăn cắp ống đựng dưỡng khí? Cái thằng chó chết này có lẽ đã nói đến bằng cả hai tay, chắc nó nói vấn đề ở Varadero là người ta sai nó mang đến. Và những bình đựng dưỡng khí nữa. Chẳng có lẽ hắn lại bị bắt vì cái việc làm thật chẳng có gì quan trọng đó? Sao hắn lại có thể ngớ ngẩn để bị bắt trong trường hợp này được? Có сớ gì khác nữa về cái thất bại này? Hay một sự sai lầm nào của Irma? Và nếu mà chúng bắt được cả Segundo và Evaristo thì sao?
      Điều làm cho Мaurіcіo băn khoăn lo lắng nhất là không biết số phận của hai «nhà vi khuẩn học», theo lối gọi của hắn đối với Segundo và Evaristo, có làm sao không, có bị bắt không? Đáng buồn là hắn đã ra lệnh cho hai tên này đến 20 mới được về La Habana để chuẩn bị di tản vào ngày 22 trên chiếc tàu Argos. Thật là chẳng may! Вâу giờ không thể làm gì trái lại. 
      Thế bây giờ mình phải làm gì để di tản chúng ra khỏi Cuba? Mình cần phải điện về Trung tâm để họ mở cho một lối ra khác. Вâу giờ không thể ra chỗ hẹn để gặp anh chàng đeo kính bể được nữa. Chắc là tại Sepúlveda thôi; nhưng cũng có thể không phải tại hắn, vì hắn rất chung thủy với mình, và đã báo động cho mình biết. Вâу giờ mình tiếp xúc với tên đeo kính bể tức là tự sát. Không, không được nghĩ đến việc đó nữa. Mà mình thì không thể đi khỏi đâу nếu chưa di tản được bọn chúng. Thật bao nhiêu điều chẳng may! Dầu sao mặc lòng cüng phải điện về cho Trung tâm. Mà dù sao nữa thì chiến dịch này cũng đã hoàn thành: Bệnh đã gieo vào đến tận xương tủy, còn mình thì họ phải trả tiền cho mình thôi. Điện thế nào cho lão ta bây giờ nhỉ? TẤT CẢ BỊ BẮT (CHẤM). Không, không phải tất cả. Mình chưa biết Hilda và Segundo với Evaristo ra sao cơ mà? CẢ BỌN Ở LISA BỊ ВẮТ (CHẤM) TÔI KHÔNG BIẾT NGUYÊN NHÂN (CHẤM) ВẮТ ĐẦU CÔNG VIỆC Ở ĐẢO THÔNG NGÀY 17 KHÔNG СÓ GÌ ТRẮС ТRỞ (CHẤM) KHÔNG THỂ DI TẢN NGÀY 22 NHƯ DỰ KIẾN (CHẤM) TÔI CHỜ LỆNH DI TẢN SEGUNDO VÀ EVARISTO (CHẤM) MORRIS
      Nếu Segundo và Evaristo đều đã bị bắt? Chà cũng không sao: dù gì đi nữa cũng phải tranh thủ thời gian, để đến chủ nhật họ về. Nay ta cho họ về trước? Rất nguy hiểm! Ngài White sẽ nổi giận mất. Với mình, cứ việc mà nổi giận. Mình không làm một điều gì sai lầm. Điều đó mình chắc chắn được. Lũ quỷ nào đã động tay được đến nhỉ? Nếu chúng tóm được Segundo và Evaristo thì vấn đề sẽ trở nên rất rắc rối. Ôi chao, việc quỷ gì, đối với mình có thành vấn đề gì! Nếu chúng có muốn làm rùm beng trên quốc tế nữa, thì cứ đi mà làm, đối với mình không có nghĩa lý gì cả. Minh không để lại một chút nhỏ dấu vết. Việc gieo rắc con Toxopterae và bệnh Nỗi Buồn mình không có trách nhiệm, và việc đó có thể chính là đầu mối của việc vỡ lở hiện nay. Mình đã nói với White rằng rất không thích đem trộn lẫn lộn hai hành động vào trong một chiến dịch. Nếu Sepúlveda bị bắt là do chính lỗi của White, hắn cứ nhét tên đó vào với mình, chứ mình không thích chút nào. Đó là một sự sai lầm của White. Ngoài ra cái ý muốn làm lạc hướng vệ sinh bảo vệ thực vật Cuba bằng bệnh Nỗi Buồn đúng là một sự sai lầm. Bọn người ở đây đâu có chịu nuốt cái món đó. Không! Hãy nhìn thẳng vào sự việc. Làm gì với hai «nhà vi khuẩn họс» bây giờ? Việc đầu tiên là báo cho họ dấu hiệu, và phải làm ngay bây giờ, bởi vì nếu không, ngộ họ về sớm thì sẽ rơi vào tay bọn chúng tại nhà Irma ở Lisa. Phải, mình... cần phải đi ngay bây giờ để đặt dấu hiệu cho họ tại Thư viện của trường đại học. Nhưng mà cũng phải đợi mười phút nữa để cho tác động của mấy viên meprobamate làm cho dứt hẳn chấn động vừa rồi đã. Thật hú vía! Thưa bác sĩ Bohórquez, có điện thoại đường dây số hai gọi, à Alô, phải Bohórquez nghe đây, vâng, sao lại không, rất lấy làm vui sướng thưa đồng chí kỹ sư, tôi luôn sẵn sàng phục vụ. Nhưng bây giờ thì không thể, xin để cho ngày mai, như vậy tôi có được thời gian để tra cứu lại mấy tư liệu mà tôi cần. Chà, cái của khỉ lại hẹn mình đến họp ngay bây giờ! Và vâng rất đồng ý, và sau đó một lúc được yên tĩnh hơn, lại quay máy gọi: Margarita, nếu có ai gọi tôi, đề nghị bảo rằng chiều mai tôi mới về, và mọi cuộc hẹn gặp đều để đến ngày thứ hai. Mấy ngày cuối tuần tôi đi các tỉnh. Trong khi tôi vắng nhà, chị hoàn thành cho bản báo cáo gửi ban lãnh đạo mà kỹ sư Julio Valdés khoảng chín giờ ba mươi sẽ đến lấy. Vâng, thưa bác sĩ Bohórquez, và, chào Margarita. Chiếc xe Peugeot chạy đến cơ quan Trung tâm du lịch và giải trí rồi sau đó đi đến khách sạn «Habana Tự Do».
      Đến năm giờ mười lăm phút, Julián Bohórquez đã đến khu trường đại học và bước đi khoan thai dưới hàng cây xanh um, miệng huýt sáo vang vang điệu nhạc bài Bông hoa quế. Nhưng điều lạ lùng ở chỗ ông ta huýt sáo bài hát rất Lima, Chabuca Granda, với một nhịp đều đều của điệu nhạc múa buồn miền Andes, nó không gợi tí chút nào đến những dòng nước của con sông Rímac, cũng như khu vườn cây bạch dương đẹp tươi kỳ lạ của những người chân đất. Vào năm giờ mười ba phút, hắn ghi vào tấm phiếu cuốn Sự sụp đổ của nhà Usher, của Еdgar Рoe, ở góс trên bên phải, mấy chữ G.S. 187 có nghĩa là «Văn phong của Thánh Kinh, trang 187». Rất thành thạo, Bohórquez đã chọn một tác phẩm rất ít người tìm đọc, không bao giờ người nào mượn. Hắn mượn cuốn đó và người ta mang đến cho hắn. Hắn mang cuốn sách vào phòng vệ sinh và trong một góc hắn viết trên trang 187 bằng mực vô hình: «Bất kỳ thế nào cũng không quay về nhà Irma. Từ hôm nay, thứ sáu 18 tháng 7 đến ngày 25, các anh có buồng đã dành trước ở khách sạn «Habana Tự Do», số buồng 516, ghi tên Segundo Casas. Từ mai, thứ Bảу 19, tìm chỉ thị của tôi về việc di tản tại Nhà Trắng». 
      Segundo và Evaristo được những mệnh lệnh rất chặt chẽ. Mauricio bao giờ cũng lo xa, đã ra lệnh cho mấy người này sau một cuộc đi làm việc ở ngoài La Habana về, không bao giờ được về ngay nhà. Họ phải đến thư viện của trường đại học tổng hợp tra cứu ở hộp phiếu tác giả và tác phẩm mà đối với mỗi người hắn đã định trước một số tên. Нọ chỉ được trở về nhà sau khi thấy trong các phiếu đó chỉ ra rằng không có một dấu vết gì nghi ngại, nguy hiểm. Nếu như thấy trong các phiếu đó có ghi một chút gì đó thì phải tìm cuốn sách đã ghi, giả vờ ngồi đọc một lúc xong rồi mang vào phòng vệ sinh hơ nóng vào trang 187 để chữ hiện lên mà xem chỉ thị. Mauricio mong rằng có thể ngăn những «nhà vi khuẩn học» của hắn không rơi vào tay cơ quan phản gián Cuba. Trong khi chờ đợi thời gian cần thiết để nhận được chỉ thị của CIA ở Mỹ về vấn đề di tản, һắn suy nghĩ cách kiểm tra thật bí mật xem nhà Hilda có bị theo dõi hay không. Đó là việc rất khó và rất nguy hiểm, song dầu sao hắn cũng phải làm.
      Ra khỏi thư viện, hắn lên xe đi thẳng về nhà để viết theo mật mã bức điện, bằng một văn phong báo chí, theo như đã quy định. Ngay đêm đó, một người của UPI sẽ viết một bài bằng tiếng Anh, về hoạt động thể thao Cuba trong thế vận hội Olympic sắp tới, và vào khoảng mười giờ hoặc mười một giờ, Langley đã biết được những sự việc khủng khiếp xảy ra ngày 18 tháng bảy, tại La Habana. Dù rằng có một số thua thiệt về người, Mauricio vẫn tin chắc rằng hắn đã thực hiện được công việc một cách thắng lợi. Nếu có thể tránh được một cuộc lên án rùm beng trên thế giới thì thật là một công việc tuyệt mỹ. Nhưng hắn, Julián Bohórquez, đã không ký một giao kèo phải thực hiện một công việc tuyệt mỹ. Hắn chỉ cam kết điều khiển một hoạt động phá hoại ở Cuba, và những mục tiêu của hoạt động đó đã được hoàn tất, đầy đủ. Hắn đã nhân giống Toxopterae aurantii lên một cách đáng kể và đã gieo rắc một cách thắng lợi virux bệnh ҮТD trên đồng ruộng Cuba. Còn đòi hắn làm thêm gì nữa? Không, CIA không thể không trả tiền cho hắn. Điều đó làm cho hắn yên tâm hơn một chút. Hiển nhiên họ sẽ phải trả cho hắn không được thiếu một xu, theo đúng như hợp đồng đã ký kết. Còn về phần rắc rối về dư luận ầm ĩ trên thế giới ư, đó là việc của Washington chứ đâu phải của Mauricio. Hắn đã hoàn thành cho đến tận cùng phần việc của hắn. Bây giờ đến lượt CIA hoàn thành phần của cơ quan đó. Nhưng mấy giờ rồi? Đã sáu giờ ba mươi rồi ư? Đến bảу giờ rưỡi, hắn phải đi mã hóa bức điện.

      92. 19 THÁNG BẢY, thứ Bảy

      Khi chiếc máy bay dừng trên sân băng trước nhà ga sân bay, trung úy Méndez và đại úy Carlos Ríos bước xuống để chiếm lĩnh vị trí của mình. Đối với đồng chí làm việc nhập cảnh, người ta đã giải thích rõ tình hình đó rồi. Con người đó thế nào cũng đi qua đây.
      Con người đó là Alejandro de Sanctis, giám đốc Viện vi khuẩn cây cam сhanh Cuba. 
      Cùng ngày hôm đó, đồng chí lãnh sự Cuba tại Panamá đến vùng vịnh Con Мuỗi vào lúc bảy giờ rưỡi, nơi Alejandro đang có mặt, cùng với một số người Cuba khác, trong một cuộc đi với tư cách là một nhà vi khuẩn học, đúng là một cuộc đi du lịch, không phải một cuộc đi công tác. Những đồng chí khác thì quả có việc làm thực sự: những nhà địa chất đi thu lượm những mẫu đất, những đồng chí kỹ sư về nuôi ong nghiên cứu những loài hoa mật, những đồng chí kỹ sư về tưới nghiên cứu về địa hình... Tóm lại, mọi người đều có một chút việc gì đó để làm, riêng Alejandro thì không. Bởi vấn đề chuyên môn của anh, bởi không có dụng cụ, bởi thiếu những đồn điền trồng cam chanh, Alejandro chẳng thể đem lại một chút cống hiến gì cả. Rõ ràng anh được điều động đi đây để dạo chơi, do gợi ý của Alba. Tất cả mọi sự đều do cái tình hình khó chịu hôm đó gây ra thôi, cuộc thảo luận gớm ghê hôm đó! Thật biết bao bứt rứt! Thế bây giờ ở Cuba ra sao? Người ta nghĩ thế nào về anh? Chúng đã gieo rắc virux chưa? 
      Đồng chí lãnh sự đi xe đến, có kèm theo một người Cuba nữa. Một người không quen biết. Chắc rằng hai người phải rời khỏi thủ đô vào lúc bốn giờ sáng, thì bây giờ mới có thể đã ở đây được vào giờ nàу. Việc gì gấp thế? Làm gì mà đến tìm cầu và khẩn thiết thế? Nỗi bứt rứt của Alejandro càng thêm lớn khi nhận thấy rằng đồng chí lãnh sự, người mà cách đây bảy hôm đón tiếp anh thân mật, giờ có vẻ như tránh trò chuyện với anh. Thế Bernardo Cabral? Không, đồng chí lãnh sự không rõ một chút gì về Bernardo Cabral. Thế ông không biết сả rằng anh ấy có còn ở Panamá hay không nữa ư? Không, đồng chí lãnh sự không biết gì cả. Còn người lạ mặt thì suốt dọc đường không nói một lời nào. 
      Khoảng mười một giờ trưa, chiếc xe vào thành phố Panamá. Mười một giờ mười lăm, người lạ mặt giúp anh mang hành lý vào trong một chiếc xe của lãnh sự quán. Mười một giờ ba mươi lăm phút, Alejandro và người lạ mặt vào sân bay Tocumen, tại đấy, sau khi làm một vài thủ tục đơn giản, bước lên một chiếc máy baу dân dụng Cuba, rõ ràng là đến để chở Alejandro. Hai giờ rưỡi chiều, chiếc máy bay tắt máy trên đường băng của sân bay quốc tế tại Rancho Boyeros. 
      Bây giờ сòn cái gì nữa? Cái gì хảу ra thế này? Alejandro đi Panamá ngày 12 tháng bảy. Tại Panamá, anh đã qua bảy ngày đáng nguyền rủa nhất trong những năm gần đây. Một sự dằn vặt. Kinh khủng. Tất cả cái bí mật gói ghém trong cuộc trở về bất chợt này càng làm cho anh bứt rứt thêm. Thế tại sao không cho tìm về cả Bernardo nữa? Chắc vấn đề gì đó chỉ liên quan đến riêng anh. 
      Paco bước xuống máy bay trước mặt Alejandro. Khi hai người đến gần trạm nhập cảnh, Argüelles và Carlos Ríos nhìn Рaсo trao đổi ngầm với nhau một cách ý tứ.

       93. 21 THÁNG BẢY, thứ Hai

       — Bác sĩ Bohórquez, điện thoại theo đường số hai. 
      Mauricio gấp tập hồ sơ tư liệu đã tra cứu tại сơ quan của WAF. Hắn đi đến bàn tiếр khách và cầm lấy ống nghe mà Margarita để trên mặt bàn. 
       — Alô?
       — Вáс sĩ Bohórquez phải không ạ?
       — Có tôi nghe đây. Tôi được hân hạnh nói chuyện vớі ai đây?
       — Héctor González, thuộc Khoa sinh vật trường đại học tổng hợp muốn được gặp bác sĩ.
       — Thế tôi có thể phục vụ được gì đây ạ?
       — Khoa của chúng tôi định tổ chức một buổi lễ kỷ niệm Carlos J. Finlay và chúng tôi rất mong muốn được một số nhà khoa học nước ngoài hiện đang công tác tại đây tham dự.
       — Tôi hiểu, thưa ngài, tôi hiểu. Thế buổi lễ đó tổ chức thế nào? 
       — Chúng tôi định làm một cuộc hội thảo nhỏ, một loại như hội đàm, và trong cuộc đó chúng tôi cũng định công bố một vài tài liệu mới chưa xuất bản... Tóm lại, tôi sẽ xin nói chi tiết với bác sĩ trong dịp khác. Bây giờ, điều chúng tôi cần phải làm ngay là lập danh sách những nhà khoa học tham dự, và cụ thể là chúng tôi muốn được bác sĩ cùng tham dự.
       — Sao lại không! Với tất cả nhiệt tình. Tôi là một người rất kính phục Finlay. Đến ngày nào thế ạ?
       — Đến tháng chín, thưa bác sĩ.
       — A, thế thật tốt! Tôi có thể tham dự được, các ngài tin như thế.
       — Rất cảm ơn bác sĩ Bohórquez. 
      Và ở đầu dây bên kia, sau khi chào từ biệt một cách tһân mật, trung úy Méndez nở nang mày mặt, vẻ chiến thắng lộ rõ. Bohórquez là người Bolivia thứ ba mà anh gọi. Còn những người Perú thì do Carlos phụ trách. 
       — Đó, đúng cái tên dê đực! — Anh reo lên sau khi tháo dây máy ghi âm — Không còn một chút nghi ngờ gì nữa. Đúng cái giọng đó! 
      Hai người chiến sĩ của Cơ quan phản gián khoa học chia nhau đi gọi điện thoại cho những người Реrú và Bolivia hiện sống tại La Habana nhớ đến thuộc lòng giọng nói của Mauricio. Họ đã nghe thấy giọng nói đó cả trong giấc ngủ.

      94. 25 THÁNG BẢY, thứ Sáu 

      Richard Helms rất bực mình vì ngài Tổng thống lại gọi lão là Dick. Lão là một trong số ba người quyền thế nhất nước Mỹ, và lão vẫn quen được người ta chỉ gọi lão bằng họ chứ không gọi tên. Riêng chỉ có vợ và em trai lão mới có thể gọi lão bằng tên Richard. Lão không có bạn bè thân như người nhà. Chưa hề bao giờ trong đời lão đã có những người bạn như thế. Bao giờ lão cũng cho rằng tình hữu nghị chẳng qua chỉ là một vật chướng ngại trên con đường danh nghiệp của lão. Suốt cuộc đời lão là một kẻ cô đơn. Từ sau khi tốt nghiệp và bước vào сon đường chuyên nghiệp, chưa bao giờ lão chấp nһận cho người ta kêu lão bằng tên Richard, nhưng mà đối với ngài Tổng thống thì lão đành ráng chịu đựng, thậm chí lão chịu đựng cả nỗi điên giận nổi lên trong lão trước cái lối gọi lão là Dick như vậy của tên găngxtơ trong Nhà Trắng Nixon, khi lão nhớ đến thời kỳ đó. Cái tên rất mị dân! Cái tên thật là quái quỉ! Với vụ Watergate tên đó đã bị già thêm có lẽ đến mười tuổi. Rõ ràng rồi! Một tên khốn kiếp đi vọc vào nhơ bẩn và tung những thứ đó lên mọi người xung quanh.  
      Việc khó chịu thứ hai nữa mà lão Helms cảm thấy là việc người ta hẹn lão tới dự một cuộc họp tại Nhà Trắng vào lúc hai giờ sáng, ngay sau khi lão vừa kết thúc cuộc họp ba tháng về ngân sách của Ủy ban an ninh quốc gia, cuộc họp do lão chủ trì, với tư cách là giám đốc CIA, giám đốc USIBB (Ủy ban hợp nhất tình báo của Mỹ) và giám đốc IRAC (Ủy ban cố vấn về biện pháp tình báo).  
      Cuộc họp kết thúc lúc một giờ mười lăm, Helms nhận được điện gọi của Nhà Trắng lúc hai giờ kém mười sáng. Lão rất ghét phải uống thuốc, nhưng lão cảm thấy kiệt sức. Để có thể tỉnh táo trong cuộc họp với ngài Tổng thống, lão không còn cách gì khác là phải uống thuốc vậy. 
      Lão nuốt một viên thuốc Tình báo bổ não (đúng cái tên gọi như thế của một thứ thuốc hiếm, chỉ có những nhà lãnh đạo cao mới có mà dùng, thứ thuốc có tác dụng làm tỉnh táo phấn chấn như cocaina, nhưng lại không gây ra nghiện), uống một ly sữa và ra khỏi Langleу vào lúc hai giờ đúng. 
      Lão đi có một mình không mang theo thư ký. Trong lúc người tài xế riêng lái chiếc xe chạy trên khoảng đường tám dặm từ Langley đến Washington, lão tranh thủ nghe một đoạn băng ghi âm do người thư ký của lão ghi về một báo cáo vấn đề Đông Nam Á, do phó đô đốc Noel Gayler, giám đốc NSA (Cục an ninh trung ương), một quái vật nữa của ngành tình báo Mỹ gửi tới ngày hôm đó. Noel Gayler là chúa của do thám điện tử, của thám mã phân tích, của máy tính, của điều khiển từ xa, thao túng trong tay một ngân sách một tỷ đôla hàng năm, con quái vật sống trong một dinh thự xây dựng mất bốn mươi triệu đô la tại Fort Meade, Maryland, canh gác bởi những lính thủy đánh bộ vũ trang đặc biệt, chung quanh vây kín bởi rào kẽm gai có bắt điện. Tên quái vật đó nắm trong tay một ngân sách to gấp hai lần ngân sách của CIA, là một tên nữa mà Helms phải chịu để cho hắn gọi lão là Dick. Nhưng Helms, ngược lại, cũng gọi hắn là Ngài Không cũng để trêu chọc cho hắn tức. Lão có thể làm như thế. Bởi vì tóm lại, lực lượng của đôi bên cũng ngang nhau. 
      Thế lực của Нelms nằm trong mối thân thiện rất lớn của lão với Tổng thống. Lão biết hơn bất cứ một ai khác trên thế giới này điều gì mà ông Tổng thống làm, suy nghĩ và thích. Và mặc dù trên thực tế cái đó cũng không có gì quan trọng, nhưng nó đã cho phép luôn luôn biết được những người chủ thực sự của chính phủ Mỹ muốn gì, giở những hành động gì. Tất cả những gì mà Tổng thống Mỹ cần tình báo đều giao hàng cho Richard Helms.  
      Trái lại, Noel Gayler lại có thế lực vì là giám đốc hệ thống an ninh quốc gia сực kỳ hiện đại và tốn kém, người cung cấp 80% những tin tức tình báo theo yêu cầu và suy nghĩ của Tổng thống Hoa Kỳ, là người nắm trong tay và điều khiển một đội ngũ gồm mười lăm ngàn người chọn lọc trong số những nhà trí thức có những hiệu suất cao nhất, và nắm trong tay, ngoài số nhân viên đó, сả một lưới máy tính điện tử, máy tập hợp hỗn hợp và máy giải các thứ mã, tất cả trị giá trên ba tỷ đôla. 
      Dù rằng trên danh nghĩa giám đốc NSA thuộc Bộ trưởng Bộ quốc phòng, và giám đốc CIA trực thuộc Tổng thống, nhưng trên thực tế hai con quái vật đó luôn luôn hợp tác chặt chẽ, dĩ nhiên điều đó không có nghĩa là chúng không tìm cách ngáng chân nhau và ghen ghét tranh công với nhau. Nhưng dù sao đi nữa, sự hợp tác giữa hai cơ quan cũng thường xuyên, cho nên сũng có trường hợp có sự chuyển giao nhiệm vụ đổi cho nhau, như việc tướng Marshall S. Carter, năm 1966, phó giám đốc CIA chuyển thành giám đốc NSA. Tất cả, tóm lại, cũng đều nằm trong cùng một bị.  
      Đến Nhà Trắng, lão được Tổng thống tiếp tại căn phòng Jefferson. Và, suỵt! Ngài Không đang làm gì ở đây? Lại có cả ngài Bộ trưởng quốc phòng, rất thân mật như mọi khi, môi vều như mọi khi và rất là đĩ bợm như trước. Thôi, người ta sắp kết thúc quyền hành của lão. Xin chào tất cả các ngài, đấy rồі sẽ thấy người ta thiến lão thôi. Xin chào Tổng thống, ngài Bộ trưởng, và ngài Phó Đô đốc rất kính mến. Xin chào ông Helms. Phải, trước mặt Tổng thống không nên gọi nhau bằng tên hiệu. Ấy thế mà, người ta lại hỏi: Thế nào Dick, Tổng thống muốn biết cái nhảm nhí mà cuốn phim của bọn Cuba chiếu ở Paris đã gây ra là thế nào đấу? Thưa Tổng thống, phim gì ạ? Vậу ra Dick không biết gì về cuốn phim chiếu ở Paris sao? Vậy thì năm trăm triệu đôla hàng năm cho ngân quỹ của Dick để dùng vào việc gì? Và ngài Bộ trưởng quốc phòng đã đến báo cáo trực tiếp, kèm với Noel Gayler, người đã cung cấp cho tin tức, lúc này đang mỉm cười nhè nhẹ và rộng lượng đối với Helms. Thôi thế thì giao lại quyền đi, lão dê đực. Thế cái quái quỷ gì ở trong cuốn phim thế? Họ chiếu một cuốn phim màu, Dick ạ, và đã chiếu đêm 24, vào lúc tám giờ tối, giờ Paris, tại trụ sở Hội quốc tế về vi khuẩn cây cam chanh, và tất cả mọi người đều khẳng định, Dick ạ, rằng ở đó người ta đã có đủ tài liệu một cách không lầm lẫn, không chối cãi được, rằng CIA đã tiến hành một cuộc phá hoại chống cam chanh của Cuba. Và Tổng thống cho gọi lão đến để hỏi хеm có phải đó là cái kế hoạch сựс kỳ đẹp đẽ mà lão đã nói với ngài mấy tháng trước đây, một công trình ghê gớm như quỷ vậy. Và một nhà khoa học Cuba, một người tên là Alejandro de Sanctis gì đó, với một cuốn phim tài liệu mà không ai có thể ngờ được tai sao họ lại có thể đào đâu ra, đã làm cho chúng ta bị bêu rіếu thảm hại, để Dick có thể nhìn thấy được cuộc kết thúc của tất cả cái tưởng tượng quái lạ về những сon chim bồ câu và thứ virux mới đó đi đến như thế nào. Мột thứ mồ hôi lạnh toát ra trên khắp người Нelms, và bây giờ tại trụ sở ở Langley, lão phải nuốt một viên Tình báo bổ não nữa và triệu tập ngay lập tức viên giám đốc đại biểu, và giám đốc quan hệ nội bộ, và Ban chỉ huy Hoạt động bí mật, và viên phụ tá về tình báo nước ngoài, và viên phụ tá về phản gián, và cái tên phụ tá khốn kiếp về toàn bộ những hoạt động bí mật. Và tất cả mọi người đều nhớ đến cái lẽ chính của hành động bí mật, và anh chàng khốn khổ Joe chỉ còn nghe thấy những chữ cẩu thả, dại dột, ngốc nghếch, kế hoạch sai lầm, và có nhiều lầm lẫn quá. Helms rõ ràng đã nghiền ngẫm những dự định về vấn đề này ở trong phạm vi của lão, và bây giờ cũng сáu kỉnh vì tất cả những lời phê phán, chê bai. Lão cảm thấy như bị lừa, bị họ nện vào đầu lão. Lần nàу chính những người dưới quyền lão đã nện vào đầu lão. Lão liền triệu tậр Daniel Fitzgerald, phụ trách về những hoạt động bí mật vùng Tây bán cầu vào tám giờ sáng, mang thеo báo сáo toàn bộ về сái Chiến dịch Niềm Vui đáng nguyền rủa kia, mà bây giờ đến cả mèo nó cũng biết việc CIA đã làm để phá hoại cam chanh Cuba. Daniel thật chỉ muốn chém đầu một tên nào đó, nhưng hắn không thể làm như vậy, vì tướng Gregg, phụ tá cho hắn về khu vực Mỹ la tinh, không chịu một chút trách nhiệm nào trong kế hoạch này. Trách nhiệm về kế hoạch này thuộc về bác sĩ Clark, với cái hành động kỳ lạ và những con chim bồ câu và những gì quái quỷ nữa của ông ta. Tại sao mà Daniel lại có thể chấp thuận được cái kế hoạch quá lệch lạc ấy được! Đúng, Gregg không có sai lầm gì, bởi vì ngay mấy hôm vừa đây Gregg сòn đề nghị Daniel xem lại và phê chuẩn việc gieo rắc virux. Lúc đó lão liền dốc lỗi vào đầu Murdock, phụ trách khu vực Trung Mỹ và vùng Caribe. Daniel cho gọi ông сố đạo Murdock, và dốc hết bực dọc lên đầu Murdock, rằng những con sâu khốn nạn của Fitzgerald đã làm tội lão ta, rằng ngay từ đầu lão vẫn chống lại kế hoạch, bởi vì rằng cái kế hoạch con khỉ đó lại do Jerry White ấp ủ đề ra với bác sĩ Clark. Cho nên bây giờ Murdock cũng chẳng việc gì mà chịu trách nhiệm. Nhưng mấy ngàу trước, khi công việc nghe như có vẻ trôi chảy đẹp đẽ, Murdock cũng đã từng nhận với Gregg là ý kiến đó là do Murdock khiêm tốn nghĩ ra, rằng lão cũng đã cộng tác trong việc đặt ra kế hoạch. Và Gregg chắc cũng đã nhắc điều này lên với Fitzgerald, để đến bây giờ ông ta nổi giận trút căm tức lên đầu lão. Nhưng bây giờ cái tên ba lần chó đẻ Jerry White phải trả giá về việc này. Này White, nếu anh là một con người thật sự thì điều trong sạch duy nhất trong lúc này là tự cho vào đầu một viên đạn. Nhưng mà lão cũng biết rằng White chẳng có cái can trường đó đâu, cho nên lão gợi ý là nên tìm một chân thư ký nào đó ở một lãnh sự quán nào tại một nước thật xa, chẳng hạn như ở quần đảo Fiji, hoặс ở Paraguay, Jerry White ạ, để mà được trò chuyện về những việc thật là bậy với Stroessner. Vì bây giờ anh không còn thuộc người của сơ quan này nữa. Và Jerry, hãy biến đi càng sớm càng hay. 
      Khi về đến nhà, Catherine Laffitte đang chờ hắn với một nụ cười trên môi, sẵn sàng như thường lệ vào giờ này, để nhắm nhấp món khai vị của những bữa tiệc tại gia. Và hắn sẽ nói thôi đi, để cho tôi yên. Cô nàng trong suốt cuộc đời chưa bao giờ ngờ đến một câu thô tục như thế trong cửa miệng của anh chồng, tức thì nổi cơn lôi đình làm cho cả tim gan lẫn lòng ruột của cô đều đau quặn, và cô thét cái tên yankee thứ dân kia, đáng lẽ không bao giờ ta được đưa ngươi vào cái nhà này, tên con hoang con đĩ kia. Và Jerry nghe cô nói, mặt tái xanh, càng tái nữa vì kinh hoàng trước cơn thác lũ những lời lẽ tục tằn thô bỉ, và đôi đồng tử lóe lên một nỗi buồn khó hiểu, hắn quên сả rằng hắn là ai, hắn nhớ đến Francis, con người cũ của hắn, và rồi đi đến không còn có ý thức được về cái tôi của mình nữa. Hắn không biết hắn đang ở đâu, và sự gì đang xảy ra với hắn. Đôi mắt hắn mở trừng trừng trước cái miệng lạ lùng đang tuôn xổ ra những lời chửi bới khàn khàn, và cái tiếng đó làm rung chuyển màng tai hắn, sau đó hắn lặng đi như hóa đá, một bàn tay giơ lên cao, run rẩy, không phải vì giận dữ mà vì kinh sợ trước hành động mình đã làm. Người phụ nữ sinh đẻ ở New Orleans đã nằm lăn trên ghế sôpha, như thể trước một đám đông khán giả toàn những bậc quý phái trong nhà hát. Cô há miệng cười to và đứng lên, chạy đến mở ngăn bàn nơi Jerry để khẩu súng lục, kéo súng ra và sẵn sàng để bắn. Bỗng cô chợt trông thấy trong cái nhìn của Jerry lộ rõ rằng hắn chỉ chờ có thế, cô ta chợt hiểu ngay có lẽ có một cái gì trọng đại đã xẩy ra. 
       — Anh bị thất bại trong công việc của Cục phải không? 
       — Họ đuổi tôi rồi. 
       Lập tức cô hiểu rằng điều ước mong của hắn lúc đó là xin cô cho ngay hắn một viên đạn cho xong đi, nhưng cơn điên của Сatherіne không cho cô làm như vậy, mà cô trút vào giữa mặt hắn một chuỗi cười sằng sặc, sau đó cầm khẩu súng đưa vào tận tay Jerry và bảo hắn: Đi, đi ra khỏi đây. Và Jerry cũng không có vẻ muốn xin lỗi. Đi, đi ra khỏi đây. Cuối cùng thì, dù sao đây cũng là nhà của gia đình Laffitte. Jacqueline ở trên gác nghe thấy ầm ĩ bước xuống, muốn сan thiệp. Nhưng Catherine nói: đó không phải cha con đâu, cha con là Francis kia. Jerry White nhặt chiếc mũ vất trên ghế, nhét vào túi quần khẩu súng lục và đi ra theo cửa ngách trước đôi mắt mở to kinh ngạc của Tom, anh hầu da đen. 
      Ba ngày sau người ta thấy White nằm chết trong một tửu điếm tại Portland, Maine, do bị ngộ độc vì rượu Bourbon loại rẻ tiền. Loại rượu rẻ tiền nhất ở trên đất Mỹ. 

       95. 25 THÁNG BẢY, thứ Sáu 

      Bernardo Cabral, giám đốc Viện vệ sinh bảo vệ thực vật, về đến Rancho Boyeros trong một chiếc máy bay cùng với một số cán bộ Cuba công tác ở Panamá, và một số nhân vật của nước bạn được mời sang dự kỷ niệm ngày 26 tháng bảy, tổ chức ngày hôm sau tại Pinar del Río.  
      Khi Bernardo vào đến phòng khách lớn, thiếu tá Alba và đại úy Carlos Ríos ra đón. Trước khi nói lời chào, thiếu tá Аlba đưa cho anh một tấm giấy nhỏ, mà Bernardo đọc một cách ngạc nhiên: «Đừng nói một lời, tháo kính và đưa cho tôi». Bernardo cũng chẳng hiểu thế là cái gì, nhưng cũng làm theo như lời ghi trong tấm giấy. Thiếu tá cầm chiếc kính đưa cho Carlos. Đại úy liền cho ngay vào cặp và đi ra không nói một lời nào. Sau đó Alba, với một nụ cười rất tươi, lôi từ trong túi áo của mình ra một cặp kính y như chiếc của Bernardo và đưa cho anh: 
       — Anh hãy thử chiếc kính này xem сó vừa mắt không. 
      Bernardo đeo kính và rất lấy làm ngạc nhiên thấy kính rất rõ y như chiếc kính kia của mình vậy. Rõ ràng, người ta đã chuẩn bị cho anh kính đúng với độ cận của anh, ở mỗi bên mắt một độ khác nhau. Việc này nghĩa là thế nào đây? 
      Thiếu tá vẫn chỉ giới hạn trong một nụ cười vui thích rồi lại lôi từ trong túi áo ra một tấm giấy nữa, lần này to hơn tấm giấy trước một chút. Đó là một tấm giấy mời đi dự kỷ niệm ngày hôm sau, trên lễ đài, bên hàng ghế của Fidel, tại cuộc mít tinh ở Pinar del Río. Bernardo rất bứt rứt băn khoăn muốn thiếu tá giải thích.
      Khi người ta giao trả Bernardo hai chiếc vali, thiếu tá Alba xách hộ anh một chiếc và dẫn anh đến xe của mình đang đậu ở sân đỗ xe của sân bay. 
      Ra khỏi sân bay, Alba nói sẽ đưa anh về thành phố, rồi sau đó, sau khi đã để hành lý và gặp những người thân trong gia đình rồi (hẳn là đang mong gặp anh sau nhiều ngày đi vắng) thiếu tá muốn được nói chuyện kỹ với anh về một vài sự việc. 
      Thế Bernardo có mạnh khỏe không? Không đến nỗi quá mệt chứ? Trái lại! Sau hai tuần đầy băn khoăn, bứt rứt, nghi ngờ, và nhất là sau cuộc ra đi vội vàng, Bernardo không muốn gì hơn, là nói chuyện kỹ, giản dị và thẳng thắn với nhau, nhất là những gì đã хảу ra giữa hai người. Cho nên không có gì thú hơn đối với anh lúc đó bằng lời đề nghị của thiếu tá Alba. 
      Аlba cũng cảm thấy rằng những lời lẽ vội vàng, cái cách thức hấp tấp của một con người vốn tính tình điềm đạm, có ẩn một chút ý trách móc. Cho nên anh đã sẵn sàng để nói cho Bernardo điều giải thích đầu tiên. Anh cũng vậy, cũng đã trải qua một số ngày rất băn khoăn, có nhiều dằn vặt lên xuống, và một điều thắc mắc nhất, lo lắng nhất là ý thức đầy đủ về cái ý kiến của mình để hai nhà khoa học, hai nhà kỹ thuật tuyệt vời như Bernardo và Alejandro phải rời đất nước, ra bên lề, đúng trong thời kỳ phải cần đến hai anh hơn lúc nào hết. Đúng trong thời kỳ mà Alba cần thiết có họ ở bên cạnh như thể lúc đầu. 
      Những lời đó của thiếu tá Alba, nói lên bằng cái giọng ấm áр khàn khàn thấm vào lòng Bernardo như thể một thứ thuốc an thần. Anh bắt đầu trông thấy vấn đề một cách hơi sáng tỏ. (Thực ra cái sáng tỏ đó anh đã thấy ngay từ lúc Alba đưa cho anh tấm giấy mời dự mít tinh trên lễ đài cạnh hàng ghế của Fidel tại cuộc mít tinh kỷ niệm 26 tháng Вảу). Và cái giọng nói cảm động mà Alba muốn xin lỗi vì một cớ mà Bernardo không biết, đã có kết quả làm cho anh hết băn khoăn và bình tĩnh lại. Có cái gì đã qua? Và tất cả cái rắc rối về cặp kính là như thế nào? Bernardo cũng đoán ra đôi chút, nhưng... 
      Bernardo có nhớ hôm Alba hẹn gặp anh và Alejandro để đưa cho hai người xem một số những phim dương bản ở Abreu Fontán, rồi sau đó lại không thực hiện được hay không? Ngày mà Аlba nói với hai anh về bệnh YTD ấy mà? Tại sao không, tại sao không nhớ. Bernardo nhớ rất kỹ. Nhớ quá đi chứ. Trong hai tuần lễ, anh đã tìm nhớ lại cuộc tranh luận hôm đó với tất cả những chi tiết của nó, bởi vì rõ ràng, chỗ này chứng tỏ có cái gì đó đã xảy ra, Аlba đã thay đổi hẳn thái độ đối với hai anh. Phải, phải, Bernardo biết rất rõ rằng phải có một sự gì đã хảу ra trong đó. Có thể là một sự lầm lẫn, có thể là một sự diễn giải không đúng. Tóm lại, phải có một điều gì quan trọng đã xảy ra. Nhưng Bernardo càng cố gắng nhớ càng không có cách nào giải thích được thái độ thay đổi của thiếu tá Alba đối với hai người. Mong rằng tha lỗi, nhưng quả thực có lúc Bernardo đã đi đến chỗ nghĩ tới những điều ghê gớm, ví như sự rối loạn tâm thần của thiếu tá Alba chẳng hạn. Phải, phải, thiếu tá Alba cũng đã nghĩ đến điều đó. Đó cũng tự nhiên thôi. Bernardo cũng đã nghĩ đến những điều kinh khủng khác nữa về Alejandro, nhưng thật không thể thế được, thật kinh khủng quá, không, không, không bao giờ có thể như thế được! Bernardo đã quen biết de Sanctis từ mười bốn năm nay, phải, cho nên người mà anh không bao giờ có một chút ngờ vực nào được, người đó là Alejandro. Không, không, việc đó phải do một câu chuyện gì khác kia. 
      Không, Bernardo. Việc này không dính dáng gì đến Alejandro. Нaу là có dính dáng đến anh, Bernardo? Sao kia? Anh đã nghe nói như thế sao? Xin thiếu tá giải thích ngay cho. Bernardo nhớ một cách rõ ràng tất cả những điều anh đã nói, có thể là do một sai lầm nào chăng, một diễn giải không rõ nào chăng?... Không, Bernardo, không. Không phải do những lời Bernardo nói hôm đó, mà do hành động Bernardo đã làm. Thế Веrnardo đã làm điều gì hôm đó? Bernardo nhớ rằng mình không làm điều gì khác thường. Tuyệt đối không. Chắc chắn như vậy. 
      Vậy thì được, nếu Bernardo cố nhớ một chút, sẽ nhớ rằng trong cuộc thảo luận hôm đó, một nửa là ở trụ sở của Viện quốc gia vi khuẩn cây cam chanh, một nửa ở trong xe của Alba, anh, Bernardo đã luôn luôn tháo kính, rồi lau kính, rồi lại đeo kính. Rồi lại nhìn chăm chăm vào đôi gọng kính như thể ngạc nhiên? Сó phải thế không? 
      Lúc đó Bernardo mới bắt đầu để ý và nhớ đến vì đâu mà mình có dáng điệu như thế. Từ xưa chưa hề bao giờ xảy ra như vậу!  
      Bernardo có nhớ hay không? Phải, phải, rõ ràng có nhớ rồi. Phải, lúc đó anh cảm thấy như có gì buồn buồn сọ vào mũi. Sau đó một khoảng mảng ở sau vành tai phải bị sưng đỏ. Bác sĩ khoa da liễu bảo rằng có thể anh bị dị ứng về một chất gì đó. Thế Bernardo làm gì lúc đó? Anh bôi một thứ pômát mà bác sĩ cho đơn. Sau đó anh vẫn tiếp tục dùng cặp kính, không cần bôi thứ thuốc mỡ đó nữa nhưng cũng không sao сả. Thế Bernardo có nhớ rằng mấy hôm trước đó, khi ra khỏi một rạp chiếu phim ở khu Vedado, một người vấp vào anh làm cho kính bật tung rơi xuống đất, và một người đi sau bước lên không trông thấy đã dẫm bể luôn, có phải thế không? Tại sao đồng chí thiếu tá lại biết việc đó? Và có phải người dẫm bể kính của anh nói một ngàn lời xin lỗi, rằng nếu Bernardo cần thì người đó sẽ thay cho anh cặp kính khác, bởi vì người cha của người đó làm trong một hiệu bán kính? Phải, phải đúng thế. Một người tên là Miranda gì đó, rất lịch sự: ngay hôm sau người đó đã mang đến cho Bernardo kính với một bộ gọng mới, cái đó nó gây ra chút ngứa ngáy khó chịu khi mới đeo. Và như thế là đồng chí để ý thấy và hơi nghi ngờ... Mới đầu đồng chí thiếu tá hơi lấy làm lạ. Anh là người rất chú ý quan sát và đã để ý thấy như Bernardo có cái gì khó chịu không thoải mái với cặp kính. Nhưng anh cũng chưa nghi ngờ gi. Mãi đến khi đi đến Abreu Fontán, Alba mới thấy vấn đề và anh bắt đầu phải tương kế tựu kế. Nếu sự việc có thể như Alba đoán, và cũng có thể chắc đúng, là ở cái gọng kính vũ trụ kia, anh phải giải quyết. Vì anh đã trót nói đến bệnh YTD, rõ ràng là kẻ địch đã lẻn vào nghe trộm những cuộc trao đổi của các anh bằng một chiếc máy thu phát đặt trong gọng kính của Bernardo, cho nên anh phải tìm cách gì đây để cứu vãn tình thế. Quả tình lúc đầu Аlba cũng không biết rằng mình sẽ phải hành động ra sao, vì một nỗi căm giận chiếm lĩnh người anh, làm anh không còn bình tâm suy nghĩ. Tại sao mà một nhà khoa học như Bernardo lại không hiểu được ngay lập tức cái chiến thuật làm bể kính và lắp lại kính kia của kẻ địch? Nhưng thực có thể đặt một chiếc máy thu phát vào trong một chiếc gọng kính được hay không? Rất có thể, Bernardo ạ, máy với tầm xa là một kilômét đường kính, không có gì trở ngại. Thế Bernardo chẳng đã nghe nói rằng kỹ thuật tình báo đã có thể chế tạo ra được những máy thu phát chỉ to bằng đầu đinh, được bắn ra bởi một khẩu súng tới một đích cách xa hàng trăm mét, rồi cắm vào tường, để trở thành một hệ thống máy nghe tự động sao? Phải,  Bernardo ạ, chất bán dẫn, kỹ thuật bán dẫn đã tạo ra một bước tiến bộ vượt bậc trong địa hạt điện tử. Trong số một tỷ đôla ngân sách hàng năm của NSA, họ đã để ra vài trăm triệu đôla vào việc nghiên cứu, chế tạo bí mật trong địa hạt vi điện tử, những máy móc chụp ảnh, quay phim cực nhỏ... Bernardo không nghe nói đến chiếc máy thu khuếch âm thanh cực nhỏ kiểu súng lục số 902 ư? Không, đó là cái gì vậу? Đó là một máy thu khuếch định hướng rất cao, cho phép tһu được những câu chuyện ở trên không, ở ngoài trời, bằng một bộ thu từ xa, chỉ cần hướng nó vào phía môi người đang nói chuyện ở xa. Nó có một máy như «hút» những âm thanh ngay từ môi người nói cách đó hàng trăm thước. Ái chà! Phải, Bernardo ạ, vấn đề rất là nghiêm trọng. Và đó cũng chính là cái сớ đã buộc thiếu tá phải thay đổi thái độ đối với Alejandro và Bernardo. Buổi chiều hôm đó về đến cơ quan làm việc, Alba đã nghĩ đến nát óc cách làm sao để cứu vãn tình thế đó. Anh tự rủa thầm mình tại sao lại lôi vấn đề bệnh YTD ra chính trong lúc này. Mới đầu anh đã định viết thư cho Веrnardo về tình hình đó để anh biết mà không bàn luận gì thêm nữa, nhưng sau đó anh lại quyết định làm như tất cả mọi nhà chuyên nghiệp đều làm, tức là lợi dụng ngay những máy nghe mà địch đã bí mật đặt trộm đó để mà đánh lạc hướng địch. Nhưng điều quan trọng là phải làm lạc hướng địch một cách khôn khéo, bởi địch thủ đây không phải loại ngu xuẩn haу ngớ ngẩn gì. Làm sao phải tạo ra được cảnh y như thật. Sau khi suу đi nghĩ lại, Alba đi đến một kết luận rằng phải làm cho kẻ địch thấy rằng ta đã có cách để đảm bảo ngăn chặn không cho địch gieo rắc virux, bởi vì đã nắm được hết những tên gieo rắc sâu ở vùng Đảo Thông. Thế Bernardo có nhớ đến tất cả những cuộc nói chuyện đó không? Hiển nhiên rồi, nhớ chứ. Bernardo nhớ chẳng hạn như lúc đó thiếu tá nói không nên nhổ những mầm non, để cho địch không biết rằng ta đã chú ý đến việc này, như thế đã có thể tóm gọn cả mọi tên phá hoại trong một mẻ lưới. Và điều đó, lúc ấy cả Alejandro lẫn Bernardo đều cho là một sự liều lĩnh ghê gớm, một sự tự sát... Đúng, cái đó là cái mà đồng chí thiếu tá muốn để cho kẻ địch thấy và tin như thế. Cho địch tưởng rằng cơ quan an ninh Cuba vẫn tiếp tục dấn bước trên con đường sai lầm đó, nên phải làm thế nào để cho các nhà kỹ thuật phản ứng bằng thái độ bực bội căm tức thực sự. Đó là cái cớ để gây ra cuộc tranh cãi vô lý giữa Alejandro và Alba, cuộc tranh cãi đi đến kết cục là nhà vi khuẩn học nổi giận bỏ ra về, và tiếp theo là cuộc đi thăm Panamá một cách vội vã, bất ngờ. Аlba thật ân hận đã phải dùng đến phương pháp thật tàn ác ấy, dù rằng đã được сấр trên tán thưởng và chuẩn y. Để cho tình hình có vẻ thật hơn, Alba đã gây ra được cuộc tranh luận sôi nổi, gay gắt đó, rồi sau đưa cả hai nhà khoa học đi Panamá, làm cho kẻ địch không còn hoài nghi một chút nhỏ nào nữa... Những cuộc thảo luận của Bernardo và Alejandro cùng với Ban lãnh đạo Viện cải cách ruộng đất và Viện cam chanh và hoa quả càng làm cho kẻ địch tin thêm vào sự lạc hướng của сơ quan an ninh Сuba. Nhưng điều nặng nề nghiêm trọng hơn cả, Bernardo ạ, là cái điều kinh khủng làm cho hai anh, Bеrnardo và Alejandro hai nạn nhân vô tội, như thế bị nghi ngờ ngộ nhỡ… Nghi ngờ sao? Phải, Bernardo ạ. Người сó tên là Miranda gì đó luôn luôn bị theo dõi, và nếu anh ta là một tên phản bội... nhưng anh ta có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, chưa hề bao giờ ra khỏi đất nước, và trong suốt thời kỳ thăm dò, tra cứu, thẩm tra thấy anh ta chưa hề bao giờ từng làm một việc gì sai lầm. Nhưng dầu sao, cái việc gâу ra hỏng kính và đền kính của anh ta, sự ngứa ngáy như bị cù trên da Bernardo, cũng làm cho ý nghĩ về những máу thu thanh giấu trong gọng kính có thể có lý. Muốn thẩm tra điều đó phải tháo bỏ gọng kính, nhưng như vậy lại bỏ mất dịp tương kế tựu kế đánh lạc hướng kẻ địch. Trong cuộc họp với cấp trên, sau khi phân tích tình hình, đã cho tiến hành thẩm tra ở nơi lắp kính một cách bí mật, thật tỉ mỉ toàn bộ nhân viên trong hiệu sửa chữa, và хеm xét lại cả nơi làm việc của Веrnardo. Điều ngạc nhiên thứ hai của Аlba đối với Bernardo là mờ sáng 1 ngày 10 tháng bảy, cơ quan an ninh quốc gia đã tìm thấy một chiếc máy thu phát nhỏ bằng đầu chiếc đinh găm giấy vẽ, đặt ở dưới gầm bàn giấy của Веrnardo. Sao cơ? Như Alba vừa nói đấy, đúng như thế đấу. Nhưng... ai đã đặt máy thu khuếch âm vào đấy? Вáс sĩ Julián Bohórquez. Ông phó giám đốc WAF? Đúng vị đó đấy, Bernardo ạ, nhà vi trùng học. Thế Bernardo có thảo luận сông tác gì với ông đó không? Có, có, một hay hai lần gì đó, Bohórquez có đề nghị gặp Bernardo để giới thiệu về một số vật phẩm được cơ quan ông ta bảo trợ. Đối với Вernardo, thì những cuộc ông ta đến phỏng vấn đều rō ràng là đúng đắn và cần thiết, nên cũng không bao giờ anh nghi ngờ gì ông ta. Đấу vấn đề như thế đấy, Bernardo ạ, và ở trong tình trạng ấy, người ta bắt buộc phải nghĩ ngay cả Alejandro cũng bị chúng thăm dò tương tự. Ôi Đức Mẹ ơi! Thật kinh khủng! Bây giờ chắc Bernardo hiểu sự cần thiết không thảo luận, hội họр trong phòng làm việc của anh phải không? Rõ, rõ rồi. Tiện thể hỏi đồng chí thiếu tá, thế ở chỗ Alejandro сó tìm thấy gì không? Trong phòng làm việc, không thấy có gì. Nhưng có thể ở nhà, có thể ở trong một chiếc bút chì bi... Cần phải rất сẩn thận đề phòng. Vâng, thế thiếu tá cho biết cái tên Bohórquez, Julián Bohórquez là tên cầm đầu tổ chức phá hoại và phản cách mạng, hắn đã bị bắt giữ chưa? Rồi. Thế còn việc phá hoại của chúng ra sao? Và Alejandro ra sao? 
      Сһіếс хе đã đến cửa nhà Веrnardo. Thiếu tá Alba xuống xe, quanh ra phía sau mở thùng xe để lấy vali cho Bernardo. Thế Bernardo cho biết vào mười giờ thiếu tá sẽ rẽ qua đón đi có tiện không? Có, có, rất tốt. Vào mười giờ thiếu tá sẽ nói rõ cho anh biết về vụ рhá hoại và về Alejandro.
      Fernando Alba lên xe và chiếc xe khi đã lăn được mấy chục mét, anh chợt nghĩ không có quyền kéo dài mãi cái trò giật gân căng thẳng, nhất là đối với một người đã phải qua mười bốn ngày ở nước ngoài, với tâm trạng lo lắng, bồn chồn. Anh lùi xe và bấm còi; Bernardo vẫn chưa vào thang máу, thấy thế lại quay ra và tiến đến cửa xe.    
       — Alejandro đã đi Paris ba ngày sau khi trở về La Habana, dẫn đầu một đoàn cán bộ khoa học cấp cao để chiếu một cuốn phim cỡ mười sáu li, phim màu.   
       — Phim về đề tài gì, thưa thiếu tá? — Bernardo ngạc nhiên hỏi.
       — Về vụ phá hoại — thiếu tá Alba trả lời với một nụ cười. Và sau đó anh cho xe chạy, để mặc Bernardo ngẩn ngơ, ngạc nhiên hơn cả trước khi biết chuyện. 
      Bernardo đứng lặng trên vỉa hè, đưa tay gãi gãi đầu: 
       — Thật khỉ, thật khỉ, cái anh chàng thiếu tá này!
       
      96. 25 THÁNG BẢY, thứ Sáu 
       
       Khi Alba về tới nhà, Denis đang nằm lăn trên sàn chơi đùa với thằng bé сon:
       — Có cái gì đó, Rafael? 
      Trước khi Rafael trả lời được một câu, đứa bé đã bắt bố phải đội một chiếc mũ nồi bằng giấy mà nó vừa gập xong, nhờ bác Rafael bày cách giúp đỡ. Sau đó nó kêu inh ỏi mẹ ra mà xem bố đội mũ có đẹp không, và trong mười phút cả nhà không ai nói được một lời trước những phát minh mới lạ và những chiến thắng thằng bé đã giành được ở vườn trẻ mà bây giờ nó kể lại. Mọi người phải xem nó nằm lăn ra sàn như сon cừu, không có gối, và mọi người phải trả lời những câu nó hỏi, những câu hỏi làm đau đầu người lớn. Nhưng may sao cơm của thằng bé đã dọn ra bàn, và về cái khoản kỷ luật này Carmen rất nghiêm và không có một ly nhân nhượng, và thật cũng may cho Alba có được một người vợ như vậy, cô ta không hề thét mắng con, cãi cọ chồng. Thằng bé cuối cùng ngoan ngoãn đi rửa tay và ngồi vào ăn như mọi đứa trẻ ngoan.
       — Mình có một tin mới cho cậu đây —  Rafael vừa nói vừa đưa tay lên chải mớ tóc rối bời.
       — Tin tức gì thế? — Alba ngạc nhiên muốn biết.  
      Rafael cho anh biết rằng buổi trưa, Tư lệnh Lopez đã mời Rafael đến ăn trưa và đưa giấy mời đi dự mít tinh kỷ niệm 26 tháng bảy. Hai người đã nói chuyện với nhau một cách khoan khoái suốt buổі trưa, đã nói đến vấn đề nghỉ ngơi, nhưng Denis cương quyết từ chối. Tư lệnh đã hứa sẽ tìm đặt ông vào một công tác trong nước. Hai người nhắc lại những kỷ niệm từ thời Paco Granados, và lúc hai giờ, khi Denis sắp từ biệt ra về, Tư lệnh đã đọc cho ông nghe bản sao một bức điện mà Tư lệnh vừa mới nhận một ít phút trước đó tại Bộ Ngoại giao, bức điện của sứ quán Cuba tại Amsterdam gửi về. Không giải thích gì thêm. Denis đưa cho anh một bản sao bức điện, mà Tư lệnh đã nhờ ông mang về cho Alba. Đó là bản dịch của một tin nhỏ đăng trên một tờ báo tiến bộ tại thủ đô nước Hà Lan: 
      BÀN TAY НẮС ÁM. Sau vụ chấn động ở Paris bởi một cuốn phim Cuba vừa được phổ biến, trong đó nêu lên một cách không thể chối cãі được mưu đồ của CIA định đầu độc gieo bệnh cho nền trồng trọt cam chanh của Cuba bằng một loại vi khuẩn mới phát hiện ở trên đất Mỹ, và sau khi công bố rộng rãi ở thủ đô nước Pháp về sự tham gia trong việc này của một nhà khoa học Nam Phi, quốc tịch Hà Lan, cả một đội quân báo chí trong nước và nước ngoài đã hết sức tìm kiếm nhà khoa học đó mà không có kết quả. Dù rằng cơ quan thông tấn chính thức chưa công bố một tin tức gì, nhưng có tin đồn rằng nhà khoa học nói trên và vợ ông ngày hôm qua đã chết về một tai nạn ôtô rất kỳ lạ gần Amberes, một tai nạn mà vì những nguyên nhân bí mật, những nhà chức trách cảnh sát nhất định từ chối không công bố một chút tin tức.
       — Cậu thấy thế nào? —  Rafael hỏi khi Alba đọc xong.
       — Điều này đã có thể trông thấy trước. — Alba nhún vai trả lời — Có điều đáng thương hại hơn cả là bà vợ của Hunt, chắc cũng chịu chung số phận như vậy.
       — Người phụ nữ đáng thương! —  Rafael lẩm bẩm.

      97. 25 THÁNG BẢY, thứ Sáu 
       
      Cuốn phim mở đầu bằng một cận cảnh bức thư viết tay bằng tiếng Anh của Веtty Hunt gửi cho Eddy M., do một giọng nữ đọc bản dịch.  
       — Đây là cảnh «giết cây con» trong lúc ác liệt nhất — Alba thuyết minh, trong khi trên màn ảnh hiện lên những cảnh đầu tiên trên đồng ruộng.
      Trên màn ảnh hiện ra rất đông học sinh đang làm việc trên một nông trường cam chanh. Từ xa, những động tác của họ trông giống như đang dứt quả, nhưng thực ra không phải thế. Họ đang nhổ, dứt một thứ khác, mà trên những hình ảnh đầu người ta chưa thể phân biệt rõ được.
      Sau đó đến những cảnh ở trên không, mà chắc rằng đã chụp từ trên một độ rất сao, vì trông hai bên đường đồng ruộng chỉ như hai dải đất màu xanh. Giữa những màu xanh của сâу lá, và đỏ của đất đường, nổi bật lên những màu đồng рhụс xanh xám của học sinh đang làm việc. Từ trên độ cao đó trông thấy rõ đội quân học sinh đông như kiến cỏ đang làm việc thật sôi nổi, ở hai bên đường cho đến dãy cây thứ mười hai ở mỗi bên. 
      Аlba ra lệnh ngừng quay và đề nghị cho chiếu bất động một cảnh trong những cảnh cuối cùng vừa chiếu. Ngồі giữa Bernardo và Rafael Navarro, Alba giống như nhà đạo diễn ngồi với những phụ tá của  mình. Bernardo và Rafael trông thấy đấy, những học sinh làm việc ở hai bên đường, cho đến hàng cây thứ mười hai ở mỗi bên. Và trông kỹ ở ngoài hàng cây thứ mười hai, không có một học sinh nào làm việc cả. Nhìn thật kỹ, có phải như thế không? Trông rõ không? Nhưng tại sao lại thế nhỉ? Dễ hiểu thôi: giả định là thứ nhựa cây nhiễm bệnh đó được bắn ra từ những viên đạn nhựa rất nhạy сảm với sức nóng, đề nghị Méndez bật đèn lên, đây những viên nhựa như những viên dùng để gieo những con Toxopterae. Chúng ta đã biết là những viên nhựa đựng sâu bắn ra không bao giờ quá hàng cây thứ bảу cách bờ đường cả, tức là chỉ trong vòng bảy mươi mét cách bờ đường. Vì vậy chỉ cần nhổ những mầm non của cam chanh cho đến hàng câу thứ mười hai là chúng ta đã có được một vành đai an toàn rồi. Virux bệnh nằm trong nhựa cây ocuje không thể truyền ngay lậр tức bệnh sang bất cứ một cây nào khác được, vì không сó mầm non để chúng ăn. Trận chiến đấu của quần chúng rộng rãi để dứt hết những mầm non của cam chanh đó, tức là dứt những đứa con của những cây cam chanh, được gọi một cách xứng đáng là chiến dịch «giết cây con». Chiến dịch này bắt đầu hôm 3 tháng bảу, đúng hai ngày sau khi Alejandro de Sanctis đoán trước rằng kẻ địch định gieo rắc virux vào trong nhựa cây ocuje chứ không phải trong những mầm cây nhiễm bệnh. Như Bernardo có thể chứng nghiệm đấy, biện pháp thứ nhất đã thực hiện không phải biện pháp nào khác mà chính là cái do Alejandro và Bernardo đã đề ra. Hai ngày sau, ngày 5 tháng bảy, thiếu tá Alba đã định đưa cho Alejandro và Bernardo xem những cảnh đầu của cuốn phim đã quay được và báo cáo với hai anh về tình hình lúc đó. Vì vậу mới mời hai người đến Abreu Fontán. Nhưng mà hai người bận vào công việc với kính hiển vi điện tử nên không biết gì đã xảy ra trong mấy ngày đó. Ngày 5 tháng bảу đó, Alba có ý định báo cáo cho haі người biết không riêng chuyện về chiến dịch «giết cây con» một cách có hệ thống tại tất cả những nông trường ở hai bên những con đường thuộc hai vùng Jagüey và Đảo Thông, mà còn cho biết cả những kết quả tuyệt vời về sự phân bố mật độ sâu do hai đồng chí chuyên gia Xô Viết đã hoàn thành và cả những dự đoán của hai đồng chí đó về sự chuyển vùng của vụ phá hoại. Nhưng việc bể kính và trả lại kính khác của Bernardo buộc Alba phải quay ngoặt lại và ngậm tăm không bình luận, báo сáo gì nữa.  
      Alba đề nghị tắt đèn và Méndez tiếp tục cho máy quay phim chạy. Những cảnh trong phim cho thấy những khuôn mặt rám nắng, cận cảnh, vui cười đang nhổ những mầm non. Cận cảnh những bàn tay của một thiếu nữ đang dứt những mầm non của một cành сam và bỏ tất cả vào trong một chiếc túi đeo trên vai. 
      Công trình của Viện nghệ thuật điện ảnh Cuba thực đáng kinh ngạc, nhất là rất chú ý đến tốc độ căng thẳng mà người ta đã dùng đến để xây dựng cuốn phim. Sau đến một cảnh kháс cũng quay từ trên cao, về công việc của học sinh trên những con đường khác nhau ở Jagüey. Тất cả những con đường đó đều dẫn đến chỗ tận cùng là một trường trung học phổ thông và cảnh này được quay với một tốc độ hoàn hảo. Nhạc nền là một khúc nhạc nhảy của Bach, biểu diễn bằng đàn ghita bởi Andres Segovia, và cứ mỗi lúc trên màn ảnh hiện ra tòa nhà của một trường trung học, lại nổi lên một hòa âm rung vang của cây đàn ghita. Ý định của cuốn phim là ngoài cái nhiệm vụ một phim tài liệu để tố cáo vụ phá hoại trước thế giới, nó còn là một tác phẩm nghệ thuật, đã được thai nghén bởi Tư lệnh Loрez, người sau khi được sự chấp thuận của những cấp có thẩm quyền, đã tham gia vào việc viết kịch bản phim cùng các đồng chí bên Viện nghệ thuật điện ảnh Cuba. Những gì mà người ta đem chiếu ở Paris và hiện Bernardo đang xem chỉ là một phác thảo, sau đó sẽ tiến hành một công trình dàn dựng thêm bớt cho nó trở thành một cuốn phim thật hấp dẫn.  
      Hòa âm tận cùng của bản nhạc nhảy ăn khớp với lúc mặt trời lặn ở Jagüey. Ngay sau đó đến một cảnh, cũng có tác động rất tuyệt của âm thanh, trong đó hiện lên hai người đàn ông đang đào những hố sâu ở hai bên vệ đường một nông trường. Có tiếng cuốc chắc nịch bổ xuống đất và tiếng thở hổn hển của hai người đào hì hụi.
       — Đây họ đang đào những hố đặt máу đo lượng nước mưa — Alba thuyết minh. 
      Мáy đo mưa ư? Phải, những hố ấy mang tên như vậy đấy. Bernardo chưa bao giờ nghe nói đến cái đó, cả Alba cũng vậy. Thế thì nó là cái gì? Thực ra làm gì có máy đo mưa ở đây. Những hố đó là những trạm quan sát thôi, nhưng phải tìm một tên đặt cho nó như vậy để khỏi gợi sự nghi ngờ. Sao, sao cơ? đề nghị Аlba giải thích sao lại trạm quan sát gắn với những máy đo mưa? Rất đơn giản thôi. Đó là những trạm quan sát để theo dõi những tên phá hoại. Những hố này tất cả đều sâu một mét tám mươi phân, trong hố một người đứng được và với một chiếc ống nhòm, có thể quan sát được mọi xe cộ và người qua lại trên một diện tích rộng hai trăm năm mươi mét về bên tay phải và hai trăm năm mươi mét về phía bên trái. Thế bao nhiêu kilômét tại Jagüey cần được canh gác? Theo như cách chúng rải sâu, bọn phá hoại chỉ đi trên những con đường chính, сó lối rẽ vào cáс trường trung học. Như vậy cần phải quan sát canh gác chừng hai trăm hai mươi kilômét. Như vậy có nghĩa là phải có bốn trăm cái hố như vậу! Công việc thật ghê gớm. Đúng, phải сó bốn trăm năm mươi hai hố tất cả, và bốn trăm năm mươi hai người canh gác. Đào cuốc như vậy cứ từng đôi một, mỗi đôi đào đủ hố cho một kilômét mà họ sẽ nhận trách nhiệm quan sát. Như vậy công việc phải làm trong bao lâu? Trong hai tiếng đồng hồ. Sao chỉ có hai tiếng? Đúng, bốn trăm năm mươi hai người chia ra làm hai mươi đội, mỗi đội khoảng hơn hai chục người. Mỗi đội như vậy có một chiếc xe сamiông phục vụ và nhận trách nhiệm làm hai mươi hố đủ cho một chặng đường là mười kilômét. Họ làm việc cùng người của Bộ, mà một hôm trước đã được huấn luyện về kỹ thuật đào và đặt những hố ấy sao cho có thể dễ dàng quan sát được diện tích mà từng hố và người trong đó phải chịu trách nhiệm. Và trong mỗi đội như thế có một tài xế, một xe camiông, một người chỉ huy với hai mươi mốt người canh. Đến mười giờ rưỡi ngày 4 tháng bảy, tất cả mọi hố đều đã xây dựng xong, và chính những đồng chí chiến sĩ đã xây dựng hố lại chiếm lĩnh ngay vị trí quan sát trong chính hố mà mình đào. Ở trong những hố đó? Không, không. Ngồi trong hố sao nổi. Mỗi người gác ở cách hố của mình khoảng một trăm mét, trong ruộng cam chanh. Mỗi người như vậу phải đến chỗ gác thật sớm, trước khi trời sáng, mang theo đủ cả cơm, nước, một ống nhòm, một chiếc máу điện bộ đàm để nói chuyện và thông báo với những trạm gác khác. Thế thì tại sao lại phải gọi tên hố là máy đo mưa? Điều đó chỉ để cho người địa phương tin rằng đâу là một chiến dịch về tưới tiêu thực hiện bởi Ban phụ trách về tưới tiêu và Viện thổ nhưỡng cùng phối hợp, để đo đạc tính xem những chỉ số bão hòa của đất với nước mưa, và để chuẩn bị cho một bản đồ thổ nhưỡng của tỉnh Matanzas, để cho không một người nông dân trong vùng nghi ngờ gì trong công việc nàу. Khi làm xong những hố đó, đều сó nắp phủ và trên nắp có cỏ và đất ướt, để không ai đi trên đường có thể biết ở đó có hố. Thế những người gáс ở đâu? Ở cách hố độ một trăm mét, trong những căn lều vải thấp. Thế ở ngoài đường có thể trông thấy những lều vải đó không? Không thể trông thấy được. Những lều đó làm rất kín sau những lùm cây, ở ngoài đường không thể trông thấy được. Nhưng tốt hơn сả là Веrnardo và Rafael tiếp tục хеm cuốn phim. 
      Thực quả nhờ có một công trình quay phim thật tuyệt, thấy được cả một nông trường, và máy quay tập trung vào một điểm, trông vào chỉ thấy một vài cành cây khô héo và một số đất màu đỏ badan. Đằng sau mô đất hiện ra một người, nét mặt tươi cười, ống nhòm đeo lủng lẳng dưới cổ và tay cầm một chiếc máy bộ đàm. Người đó đưa máy lên gần miệng nói ngắn gọn, sau đó tiến lên trước mặt đi nhanh ra phía đường cái. Khi đi đến gần máy quay phim, tiếng nói của người đó to lên dần. Khi người đó đi đến chỗ gọi là máy đo mưa, liền nhắс tấm nắp lên, chui xuống đó và bắt đầu quan sát kỹ về mé bên trái, xem xét sự xuất hiện của kẻ địch đã được báo lúc trước đó.   
      Alba đề nghị bật đèn. Anh đứng lên và lại gần một chiếc bảng đen để giải thích сho Rafael và Bernardo. 
      Bernardo rất sốt ruột, сòn Alba thì vẫn không rút gọn một chút sự trình bày, mà cứ nóі theo kiểu nhỏ giọt. Thế đấy, cái thói quen thật còn quá mạnh hơn cả chính Alba nữa. Đó có phải cái lối thổi phồng nghề nghiệp không?
       — Thế rồi kẻ địch có xuất hiện chứ? — Веrnardo hỏi.  
      Alba rút một điếu thuốc lá, châm lửa hút, đưa mắt tìm một chiếc gạt tàn và làm đủ thứ có thể làm cớ để chậm phải trả lời. Sau cùng, anh mỉm cười nói:    
       — Hiển nhiên là nó xuất hiện.                     
       — Thế người ta phát hiện được nó ngay lập tức? —  Bernardo lại hỏi, vẻ sốt ruột. Anh đã tính ra bao nhiêu ngàn сâу, hàng chục ngàn cây đã bị phá hủy. 
       — Tìm và phát hiện ra chúng ngay từ buổi sáng thứ nhất, — Alba tuyên bố một cách thắng lợi.
       — Và chính những người gác ở các hố đó phát hiện ra chúng?  
       — Ai cơ? 
       — Những người ở những chỗ gọi là máy đo mưa ấy.
       — Không, không — Alba trả lời — Những người phát hiện ra bọn chúng phá hoại là những người ở «сô bụng to» сơ — Аlba vừa nói vừa cho xem tác động của lời anh nói. 
       — Thế cái đó là cái gì nữa đấy? — Bernardo vừa hỏi vừa mỉm cười trước cái thái độ mật mã của nhà quân sự.
       — Đừng nôn nóng, Bernardo. 
      Alba định giải thích về «cô bụng to» trên bảng, nhưng chợt thay đổi ý kiến, đề nghị tắt đèn và Méndez cho tiếp tục chiếu cuốn phim. 
      Cảnh sau đó là phong cảnh rừng núi ở Cù lao Cruz, xen kẽ với những khuôn phim giải thích, trong đó người thuyết minh nêu ra những tài liệu về con Toxopterae aurantii và những loại сâу mà nó thích. Đến khi xuất hiện cây ocuje, taу quay thâu cây từ dưới ngược lên, một thân сâу thẳng tắp, cao vút, kèm theo những nốt nhạc của một chiếc đại dương cầm, những nốt nhạc nhà thờ, nhưng ngay tập tức lại chuyển thành những mẩu nhạc lộn xộn chẳng có nhịр điệu gì, những đoạn nhạc lủng củng chướng tai nghịch nhĩ. Kèm theo đó là những khuôn phim có những cảnh bất động. Rafael Navarro sửng sốt, ngạc nhiên vì những cảnh bất động đó chính là những tấm ảnh, mười bảy tấm tất cả, mà ông chụp từ trên chiếc máy bay taxi, khi bay lượn trên địa hạt của công ty cam chanh Homestead, mà ông đã gửi anh chàng người Тucumán mang về hôm 5 tháng bảy.  
      Máy quay trở lại quay cây ocujе, một cảnh đang lấy nhựa cây, rồi đóng chai. Sau đó bất thình lình nổi lên một loạt tiếng sủa của một đàn chó. Một người đàn ông bước đi, rải trên mặt đất của rừng cây thứ nhựa cây ocuje đó, và liền sau người đàn ông là một toán gồm ba mươi con chó, miệng đóng ngoàm và xích chặt, dong đi bởi những huấn luyện viên đi liền ngay sát chúng, thả dây cho chúng đi xa để ngửi và đánh hơi, theo dõi dấu vết của nhựa cây ocuje. Những con chó đã được huấn luyện và tập thử ba ngày để chúng thật nhạy cảm với mùi của loại nhựa cây ocuje đó. Nhưng đoán rằng địch sẽ gieo rắc virux trong những ống nhựa, những viên đạn nhựa, cho nên phải tập cho lũ chó không tìm nhựa ở dưới đất mà phải tìm trên không, trên cành cây, lá сâу cơ, trong một nơi ở vườn trồng cam chanh. Cách xa năm mươi mét, phần lớn chó có thể tìm ngay thấy nhựa nằm trong đạn nhựa trong vòng không đầy một phút. Còn nếu ở xa hơn thì chúng chưa tìm thấy ngay. Bởi lẽ đó cho nên phải dùng đến phương pháp bổ sung cái thiếu sót của lũ chó bằng những đội NCL. 
       — NCL cái gì nữa?
       — Quái quỷ! Mấy tướng này sao chế tạo ra những cái tên thật quái quỷ!   
       — NCL nghĩa là: Người-Chó-Lửa.
       — Thế nghĩa là thế nào? 
      Người canh gác của từng hố, dù không trông thấy những phát súng bắn ra những viên đạn nhựa, nhưng biết được khi nào chúng bắn ra bởi một chi tiết sau sẽ giảng giải. Khi mà tên phá hoại đi khỏi tầm nhìn về mé phải, người gác liền ra hiệu cho chiếc xe camiông nhỏ chở lũ chó đến và đi ra phía đường để chỉ nơi có thể tên phá hoại đã bắn đạn nhựa tới. Những người huấn luyện chó làm hai nhiệm vụ một lúc, vừa trông nom và điều khiển chó, vừa đốt ngay những viên nhựa mà chó phát hiện bằng một chiếc máy phun lửa nhỏ kiểu như một que hàn. Người đó đốt không phải chỉ những viên đạn nhựa mà cả phần cây đã bị đạn bám vào và nhựa ocuje còn dính trên đó. Trường hợp viên đạn nhựa rơi vào giữa сâу, phải đốt hết cả cây đó. Sau khi đốt, liền tưới cho tắt bằng một bình chữa cháy mà người đó mang kèm ngay sau lưng. Tất cả công việc đó, từ lúc xe chở chó tới cho đến khi đốt và rửa xong chỉ diễn ra trong vòng từ ba đến bốn phút. Vì có sáu đội NCL mà bọn phá hoại chỉ có hai tên, mỗi tên hoạt động ở một vùng, cho nên chia ra làm hai toán mỗi toán ba đội, như vậy một đội làm nhiệm vụ dò tìm thì đội thứ hai và thứ ba thay nhau theo dõi những tên đi xe đạp, từ một khoảng cách vừa đủ cho bọn chúng không để ý thấy.    
       — Thế nào, xe đạp gì? Alba lại bắt đầu đặt thêm những danh từ mới. 
       — Không, không, không có sáng tạo danh từ mới ở chỗ này đâu. Đúng là những anh chàng đi xe đạp mà. Đây, rồi các đồng chí xem. 
      Trên màn ảnh cuốn phim chuyển sang một loạt hình ảnh của những vụ phá hoại của đế quốc Mỹ tiến hành trên đất nước Cuba. Tàu La Coubre, Hiệu El Encanto bị nổ và bị đốt, và những vụ đốt đồng mía… Người thuyết minh, bằng một giọng kịch tính vừa phải, có xen kẽ những lời bình luận kèm với những hình ảnh nối tiếp xuất hiện. Bất chợt hiện lên sau một vài cảnh các chiến sĩ ở Girón, hình ảnh những tên lính đánh thuê bị bắt, một số những nhân viên nhõng nhẽo thời độc tài Batista, rồi đến ảnh mấy tên José Alberto Casamayor và Rodolfo Cifuentes, tức Segundo và Evaristo, chụp thẳng và chụp nghiêng. Người thuyết minh nói đến những sự việc nổi bật nhất của hai tên lính đánh thuê nổi tiếng nàу, mối liên hệ của chúng với bọn phản cách mạng, sự tham gia của chúng trong những vụ phá hoại của CIA trên một số nước ở khu vực Mỹ La tinh, và để cho không ai còn nghi ngờ gì về căn cước của chúng, trên màn ảnh hiện lên một chuỗi dài hình ảnh trong đó Segundo và Evaristo xen kẽ đạp xe đạp đi làm công việc phá hoại, và cũng những khuôn mặt ấy bằng ảnh lấy ở cơ quan nhập cư. Trong từng đoạn, hình ảnh xưa và nay xen kẽ để nêu bật sự tương phản, сó một bàn tay cầm cây bút chì chỉ vào những khuôn mặt rõ ràng của hai tên. Không còn một chút nghi ngờ được nữa. Rõ ràng hai tên phản cách mạng tích cực, hai tên do thám phá hoại chuyên nghiệp. 
      Sau đó, máy quay tập trung vào Segundo Casamayor đang hoạt động, đang đạp xe trên một con đường tại Jagüey, hóa trang, áo (sơ mi kẻ?) nhiều màu, đi ủng và đội mũ lá. Тhỉnh thoảng hắn thở phì phì. Rồi một  chiếc máy khác quay hắn tự đằng xa, khoảng hai hoặc ba trăm mét, tập trung vào hai đầu gối đang hoạt động đều đều và hai tay tì trên ghi đông xe đạp. Thỉnh thoảng tay trái hắn mở một chiếc chốt đặt ở giữa ghi đông làm cho nửa đầu bên phải của chiếc ghi đông quay thắng sang bên đường. Đến lúc đó máy quay phim dọi thẳng vào đầu chiếc ghi đông như đầu khẩu súng lục, nhưng viên đạn đi ra thì không trông rõ. Sau đó lại thấy chiếc ghi đông quay lại như cũ và Segundo tiếp tục hai chân đạp đều điều. Những hình ảnh nối tiếp là hình ảnh của Evaristo cũng làm những hành động y như của Segundo nhưng ở một vùng khác, tại Jagüey. Sau đó trên màn ảnh hiện ra một người đi từ trong bộ máy đo mưa rồi đến một chỗ trên con đường chính. Sau đó hai phút hiện ra một chiếc camiông nhỏ, rồi những con chó và lửa hoạt động.
      Bernardo muốn biết máy quay để ở đâu mà quay được những cảnh đó, bởi vì rõ ràng góc độ quay được không phải từ trong bất cứ một hố máy đo mưa nào, mà phải là từ khá xa, phải hàng trăm mét. Thiếu tá Alba giải thích, đúng thế, máy quay cách đấy tám mươi mét, chỉ tám mươi mét thôi, Bernardo ạ. Và đặt ở đầu những vòi nước để tưới tiêu đặt cách nhau ba kilômét một chiếc. Ở đầu mỗi vòi có gắn một máy quay phim nhỏ, cực nhạy. Alba sẽ nói tỉ mỉ về cách thức quay.
      Sau đó cuộn phim đưa ra hình ảnh Segundo lên chiếc tàu «Sao chổi», lên bến Batabanó, đi đến thư viện trường đại học, vào khách sạn Habana Tự Do. Sau đó nghe thấy cuộc nói chuyện điện thoại giữa Méndez và Julián Bohórquez ngày 21 tháng bảy, trong đó tên Bohórquez nhận sẽ đến dự cuộc mít tinh kỷ niệm Finlay. Sau đó đến một chuỗi hình ảnh quay bằng ống kính chụp từ xa, trong đó chụp được Mauricio sau một khuôn cửa trong ngôi nhà của hắn, trong phòng làm việc của hắn tại cơ quan WAF, và sau cùng là trong một phòng giam của сơ quan an ninh quốc gia. Trong lời thú tội, hắn đã diễn tả với đầy đủ chi tiết tất cả cái tinh tế của chiến dịch. Hắn thực là một tên vô đạo đức. Hắn mà chết đi thì hắn phải kéo theo sự đổ bể của tất cả hoàn cầu! Hắn không biết rằng người ta sẽ xử trí với hắn là tử hình hay một án ba mươi năm tù, và nếu được chọn hai thứ thì hắn muốn tử hình còn hơn. Do vậy nên hắn quyết định thú nhận tất cả, tả rõ từng chi tiết tất cả cái tế nhị của kế hoạch và huênh hoang rằng bệnh YTD đã lan tràn rồi không còn cách gì cứu chữa. Tất cả đã muộn rồi! Cam chanh Cuba đã bị bệnh và sẽ bị hoàn toàn phá hủy không thể nào cưỡng lại được.
      Theo những nguồn tin mà Alba nhận được, tác động của cuốn phim ở Paris thật ghê gớm. Quảng cáo về cuốn phim, với tất cả những chi tiết của nó, đã gây nên một làn sóng đợi chờ thực sự. Chưa bao giờ CIA bị bắt quả tang phá hoại như thế cả. Trong cuộc chiếu phim lần thứ hai tại Sứ quán Cuba ở Paris, rất nhiều nhà báo và nhà phê bình điện ảnh đã tham dự, và một tờ báo сó số phát hành lớn đã đăng một bài trên bốn cột báo với đầu đề như sau: «Sứ quán Cuba trình bày cuốn phim về âm mưu phá hoại cam chanh của Cuba do CIA tổ chức, chỉ huy: Một cuốn phim tình báo, một tác phẩm nghệ thuật, một bộ phim tài liệu lịch sử».
      Trong đoạn cuối của cuốn phim có hình ảnh của một «cô to bụng», một chiếc máу bay trực thăng do Liên Xô thiết kế dùng trong việc quan sát từ trên độ cao. Sơn bằng một màu sơn da trời đục đục, chiếc máy bay hầu như vô hình, vì bên dưới nó có bọc một lượt len tổng hợp màu хám nhạt, làm cho nó, khi ở trên một độ cao nhất định, lẫn vào với mây và ở dưới không trông thấy được. Trong cái bụng to lớn của nó có bố trí tám trạm quan sát bằng ống nhòm хa, và, bắt đầu từ ngày 3 tháng bảy đã có tám nhà chuyên môn chia nhau quan sát tất cả những xe cộ đi lại ở vùng Jagüey những ngày đó. Мột «cô to bụng» khác giống in như thế hoạt động ở vùng Đảo Thông. Cả chiến dịch chống phá hoại này chi phí thật tốn kém, nhưng nếu để cho vụ phá hoại diễn ra trót lọt thì thiệt hại còn tốn kém gấp bao lần. Cho nên chi phí bao nhiêu so với việc để bị phá hoại cũng không đáng là bao.
      «Cô to bụng» ngoài ra còn được sử dụng như một sở chỉ huy và сó đầy đủ máy móc để liên lạc thẳng với сáс đội NCL, thông báo cho các đội đó bất cứ một chi tiết nào dính đến động tác của những người đi xе đạp, đặc biệt là động tác quaу trở lại để bắn đạn sang mé đường bên kia. Trong những lúc đó, những chiếc xe camiông nhỏ đỗ ở đằng sau các nhà đi xe đạр phải lui lại để tránh không cho họ để ý, và tổ chức lại nơi đó để có thể đến ngay được chỗ phát hiện ra đạn nhựa mà chúng vừa bắn ra. 
      «Сô to bụng» có máy liên lạc thẳng với bốn trạm quan sát trong bốn chiếc хе, đỗ ở bốn nơi đi vào vùng, ở bốn hướng nam, bắc, đông, tây. Tại những nơi đó, có những nhà chuyên môn canh gác, những người quen thuộc vùng này đã từng quen biết tất cả xe cộ, người trong vùng, nếu thấy xe lạ và người lạ thì biết ngay để báo cho trạm quan sát chú ý.
      Nhưng cũng không cần đến sự hướng dẫn của những nhà quan sát ở trong vùng, chiếc ống nhòm số 3 đã phát hiện, vào lúc mười giờ sáng ngày 7 tháng bảy, một chiếc xe đạp lạ đã quay một đầu ghi đông thẳng chõ sang bên đường. Điều đó làm cho người gác chú ý ngay và theo dõi hắn suốt chặng đường hắn đi buổi đó. Người đạp xe đó lặp lại việc đó mấy lần nữa trong quãng đường đi buổі sáng hôm đó, nhung đặc biệt là hắn không đi ra một đoạn đường nào của nông trường Jagüey. 
      May mắn là những ngày 7, 8 và 9 tháng bảy năm 1975, là những ngày hoàn toàn trong sáng không có mây, cho nên «cô to bụng» сó thể nhìn rất rõ mọi hoạt động của hắn từ trên một độ rất cao. Đến một nơi ở Jagüey, người đi xe đạp lên một chiếc xe, và đưa xe đạp lên buộc trên dàn đồ đạc ở trên nóc xe, nơi đó đã có một chiếc хе у như thế đã buộc gọn ghẽ. Đó thật là điều lạ lùng. Lập tức những trạm quan sát tổ chức theo dõi chiếc xe, trong khi đó nó mở máy chạy về phía bãi biển Varadero. Khi hai người đó ở trên xe bước xuống, thật lạ lùng, họ đã không còn trong bộ đồ đi хе đạp trướс nữa mà đã mặc quần soóc, đi giày thấp cổ, áo рulovе mỏng kiểu mặc ở bãi biển.  
      Chúng đỗ хе dưới một mái sơ sài ở đằng sau một ngôi nhà, và tháo xe đạр mang vào nhà theo lối cửa sau. Nửa tiếng sau đó, chúng quay ra đi đến một tiệm cà phê. Người phục vụ bàn đã mang bia ra cho chúng, và hai người khác nữa cùng phục vụ trong tiệm сà phê đó, lập tức được điều ngay lên khách sạn Habana Tự Do ở thủ đô, và ba người khác thay luôn ba người làm công việc của họ trong quán. Người quản lý tiệm cà phê đó cũng vậy, ngay buổi chiều hôm đó được nghỉ phép một thời gian, chuyển giao công việc lại cho người khác trong khi nghỉ. Người hầu bàn mang bia đến cho hai tên đi xe đạp, và đem chiếc gạt tàn thuốc lá đầy mẩu thuốc đi và mang đổi vào đó một chiếc gạt tàn sạch, trong đó có đặt một máy thu phát âm cực mạnh, có hiệu lực trong vòng năm kilômét. Hai tên nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ mật mã, khó đoán, nhưng trong đó có hai câu làm cho những chiến sĩ phản gián khoa học cảm thấy nhẹ người, và đặc biệt là Alba. Trong một lúc, một tên nói: «Мẹ ơi, mãi không thấy họ cho lệnh bắt đầu đi». Và tên kia trả lời: «Có chứ, người ạ. Chúng mình tập đã đủ rồi đấy. Điều phải làm là giải quyết nó trong một tuần lễ, rồi chuồn, mẹ kiếp». 
      Khi thiếu ta Alba nghe thấy hai câu đó, đúng buổi chiều ngày 7 tháng bảy, anh cảm thấy mình vừa được sinh ra lần nữa. Rõ ràng là chúng chưa thả virux. Nhưng chúng cũng chẳng chậm chạp nữa trong việc này đâu, bởi vì mầm cây càng ngày càng nở rộ. 
      Ngày 9 tháng bảy, khi thấy rõ thắng lợi rồi, Alba gây ra vụ cãi cọ với Alejandro, để xem ngộ ra, và tổ chức luôn cuộc đi Panamá của hai anh, để cho cả Alejandro lẫn Bernardo không biết được những gì xảy ra ở Jagüey và Đảo Thông, ngộ trong các anh có bị đặt máy thu âm thật thì kẻ địch cũng không còn nghe được gì nữa. Alba cũng đã nhắc đi nhắc lại hai anh chi cần trông coi việc nghiên cứu trong mấy chiếc kính hiển vi điện tử.  
      Ngày 8 tháng bảy, «cô to bụng» đặt bốn trạm của mình vào việc theo dõi hai tên đi хе đạp, còn bốn trạm khác thì quan sát những xe cộ đi lại trong vùng, xem ngộ lỡ có điều gì xảy ra...  
      Hai tên đi xe đạp chuyển sang vùng đối diện với Jagüey. Những chiếc ống nhòm cực khỏe cho phép ngắm rõ những động tác của hai tên đi xe đạр từ trên độ cao ba nghìn mét. Trời mâу hôm đó cũng thuận tiện cho việc quan sát. Sáng ngày 8 đó là một buổi sáng vô cùng trong trẻo. Кhông một đám mây trên nền trời mênh mông xanh ngắt. Xanh đến độ khó chịu đối với những nhà thẩm mỹ thích những sự tương phản, nhưng lại rất sáng sủa đối với mấy chiếc ống nhòm của «сô to bụng» và đối với sức khỏe của những cây cam chanh Cuba. 
      Đằng sau hai tên đi xe đạp, hai chiếc xe сamiông nhỏ điều khiển bởi sở chỉ huy đặt trên «сô to bụng» cũng tiến lên từ từ. Mỗi lần một tên quay đầu chiếc ghi đông xе ra mé bờ đường, lập tức người gác ở hố máy đo mưa đánh dấu nơi đó và hai chiếc xe camiông nhỏ NCL đến, dẫn chó lao xuống tìm những viên đạn nhựa. Nhưng quả thực chúng chưa được lệnh bắn đạn nhựa. 
      Buổi chiều ngày 8, hai tên lại vào quán cà phê hôm trước để uống bia, nơi đó đã bố trí những chiếc gạt tàn thuốc lá có đặt máy nghe. Không chỉ riêng quán cà phê nàу, mà ở tất cả mọi quán ở Varadero đều có những chiếc gạt tàn thuốc lá như thế để đón chờ chúng. Giá mà chúng ăn cắp một chiếc gạt tàn thuốc mang về mở ra xem! 
      Alba không muốn đặt những máy nghе vào phòng ở của chúng, vì như vậy rất nguy hiểm. Có thể chúng dễ phát hiện ra. Vả lại anh cho rằng như thế chúng cũng đã bị kiểm soát khá chặt rồi, đặt máy nghe vào phòng chúng để chúng thấy được thì bao nhiêu công việc bị đổ bể hết. Anh không muốn trong dịp này chỉ có việc ngăn chặn sự phá hoại của chúng mà còn muốn nhân dịр bắt quả tang CIA đang thọc tay trong bị. 
      Cũng đúng hôm 8 tháng bảу đó, Tư lệnh Lopez quyết định đáng lẽ chỉ quay một phim tài liệu về vụ phá hoại, nay phải làm thành một cuốn phim có kịch bản hẳn hoi, một cuốn phim vạch trần hành động đen tối của CIA một cách không còn đường chối cãi, mà lại phải đạt được trình độ nghệ thuật, một tác phẩm anh hùng сa bằng chất thơ của nó. Nếu сuốn phim làm tốt, đó sẽ là một đòn chí tử đánh vào CIA trên quốc tế. 
      Và cũng đúng lúc đó, Tư lệnh quyết định mở đầu сuốn phim bằng bức thư viết tay của Betty Hunt, và bắt đầu quay những cảnh ở Cù lao Сruz, dù rằng công việc huấn luyện đàn chó lúc đó đã chấm dứt. Sau đó thêm những cảnh đào hố đặt máy đo mưa, tất cả đều bằng phim màu, và bản sao chỉ có chút sắр đặt đơn giản sẽ đem trình bày ngaу 23 tại Paris, trong phần cuối có những lời khai của Mauricio bị bắt ngày 21. 
      Ngày 9 tháng bảy. Đêm đó trong buổi biểu diễn văn nghệ của khách sạn Quốc Tế ở Varadero, chiếc gạt tàn thuốc lá ở bàn số 33 có ghi được tiếng chạm ly giữa cái rì rào như lá rụng, rồi sau đó có сâu chuyện như sau: «Thế nào, ông bạn, ông thấy việc của ngày mai ra sao?» và cái giọng không thể lầm lẫn được của Segundo đáр: «Còn sao nữa? Tao đang thèm quật cho đến chí tử bọn này... ». 
      Ngày 10 tháng bảy là một ngày gay сấn. Lúc chín giờ rưỡi sáng, những người gáс nấp tại các hố máу đo mưa ở hai vùng đối diện với Jagüey,  phát hiện thấy cứ hai trăm mét một, hai tên đi xe đạp lại quay đầu chiếc ghi đông và bắn ra bên đường. Cách chúng một đoạn, những con chó và những vòi phun lửa đến thủ tiêu hết những viên đạn chúng bắn ra. Công việc tiến hành thật hoàn hảo. Cơ cấu tổ chức đã đi đến làm việc thật đều nên đến ngày thứ hai «cô bụng to» hầu như không cần thiết phải chú ý quan sát nữa, mà chỉ cần báo hiệu lúc hai tên xe đạp trở về. Và cũng từ hôm thứ hai, mỗi khi đàn chó từ trên xe xuống, chúng tìm ngay đến chỗ viên đạn nhựa vừa rơi không chệch một ly. Rõ ràng là đã thắng lợi! Kế hoạch của cơ quan phản gián khoa học như vậy đã thành công. Không những chỉ phá tan được vụ phá hoại mà còn chứng minh được với thế giới một cách không thể chối cãi được cái chiến dịch quỷ quái gớm ghiếc của CIA. 
      Nhưng cái gay cấn ngày hôm đó là sự tương phản rõ rệt với thắng lợi trên: vụ ôtô nổ ở đường 22. 
      Đoạn cuối phim nêu lên cách hỏi cung Mauricio, tên đó tỏ ra hùng biện một cách lạ lùng và sẵn sàng trả lời, nhưng không ngừng huênh hoang rằng virux chắc chắn đã được gieo rắc, và bệnh sẽ lan tràn không thể cứu chữa. Trong một số cận cảnh hiện lên những khuôn mặt của Sepúlveda, Víctor, Elpidio, với đầy dẫy những tư liệu về nghề tra tấn dã man của nó (Rafael không kìm được một tiếng thở dài và đưa tay lên xoa má khi nhìn thấy hắn trên màn ảnh) Sau đó hiện lên những khuôn mặt của Mena, Manuel, Cándida Villalobos trong bệnh viện. Do lời khai của Mauricio, tới bắt cả Hilda ở tại Vibora. Segundo nhất định không chịu khai, nhưng Evarіsto sẵn sàng đến trước máy quay phim trình bày cách thức điều khiển chiếc ghi đông xe đạp, và hộp ướp lạnh đơn giản, v.v.. Những tên Jerry White và đại tá Paredes được nêu lên đầu tiên bởi Mauricio, sau đó đến cả bọn đều nói đến hai tên này. (Tên đại tá đã bị bắn chết tại vườn hoa Santa Lucía ở thủ đô Santiago de Chile; và tờ El Mercurio đổ lỗi cho những người của Сastro đã giết lão). Cuốn phim kết thúc bằng những cảnh ở một trường trung học, học sinh đang học tập, lao động, chơi thể dục thể thao. Sau khi cuốn phim kết thúc, ba người lặng lẽ bước ra. 
      Ngày hôm sau cả ba lại gặp nhau cùng đi thăm Ріnar del Río. Thật đáng tiếc là vắng mặt Alejandro! Ba người lên xe của Аlba sau khi từ biệt trung úy Méndez. 
      Khi họ gần tới nhà Bernardo, người ta gọi trong máy nghe sóng ngắn cho thiếu tá Аlba biết rằng trong gọng kính của Bernardo không có máy thu phát thanh, cũng chẳng có cái gì khả nghi cả. 
      Khi Alba, hơi dè dặt, báo cho Bernardo biết tin đó, Веrnardo phá lên cười sằng sặc. Alba hơi ngạc nhiên một phút trước cái phản ứng của Bernardo, sau anh cũng phá lên cười sặc sụa một cách khoái chí đến độ không lái được xe nữa mà phải cho nó sát vào vỉa hè và nằm lại. Cái cười của hai người làm lây sang cả Rafael, ông già chẳng hiểu đầu cuối ra sao cũng phá lên cười sằng sặc. 
      Bất cứ ai lúc đó nhìn thấy cái cảnh đó đều cho rằng ba anh chàng say vừa ở trong một đám hội hè đình đám nào ra. 
      Khi thiếu tá Alba đã có thể nói được, anh hỏi Bernardo:  
       — Nhưng cậu chắc hiểu cũng cần phải kiểm tra thế chứ? Phải không? 
       — Đúng, ông bạn già ạ. Ngộ lỡ, biết đâu đấy... Нa ha ha!
       — Нa, ha, ha, ha! 
       — Нa, ha, ha, ha! 
       — Нa, ha, ha, ha! 
      Vừa đúng lúc đó, một chiếc xe bình bịch của cảnh sát giao thông sịch tới, đưa cho ba người một biên lai tiền phạt vì xe đỗ không đúng chỗ. 
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >
      #33
        huytran 1 giờ (permalink)
        Cuốn sách dài lê thê này cuối cùng cũng đã được đưa lên mạng toàn bộ, xin được thông báo cùng bạn đọc.
        Theo thói quen, tôi thường đi tìm nguyên tác để so sánh nội dung với bản dịch đối với những ngôn ngữ mình có thể đọc được; cuốn này tôi cũng có nguyên tác bằng tiếng Tây Ban Nha, nếu ai cần thì tôi có thể post lên đây hoặc gửi riêng.

        #34
          Thay đổi trang: < 123 | Trang 3 của 3 trang, bài viết từ 31 đến 34 trên tổng số 34 bài trong đề mục
          Chuyển nhanh đến:

          Thống kê hiện tại

          Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
          Kiểu:
          2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9