Mùa Biển Động (Tập I) - Nguyễn Mộng Giác
huytran 2 giờ (permalink)
Nguồn:nguyenmonggiac.com
 
TẬP I: NHỮNG ĐỢT SÓNG NGẦM
 
Lời Thưa Trước

Toàn bộ trường thiên tiểu thuyết Mùa Biển Động không phải là một bộ tiểu thuyết lịch sử. Tác giả không có khả năng, mà cũng không có ý định ghi lại các biến chuyển lịch sử Việt Nam từ 1963 đến nay. Tác giả chỉ mong ước ghi lại biến chuyển tâm trạng của một thế hệ thanh niên trong giai đoạn đó mà thôi.
Cho nên mặc dù tác phẩm có mô phỏng một số mẫu sống, một số nhân vật, một số sự kiện lịch sử có thật, nhưng Mùa Biển Động chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Nhũng người từng tham dự vào các biến động lịch sử trong giai đoạn này chắc chắn thấy rõ điều đó.
Sở dĩ có lời thưa này, là vì cho đến nay, vẫn còn rất nhiều bạn đọc không muốn phân biệt giữa sự thực lịch sử và sự thực tiểu thuyết.
Đâu là sự thực của đời sống? Đó là điều tác giả quan tâm trước tiên khi dự định viết bộ trường thiên tiểu thuyết này.
Nguyễn Mộng Giác
 
Chương 01
 
Bà Thanh Tuyến gọi con gái:
– Quỳnh Như đâu, lo sửa soạn đi cưng! Tám giờ kém mười lăm rồi!
Cô con gái út nghe mẹ gọi từ dưới bếp chạy lên, tay còn cầm cái muỗng bằng sứ dính kem. Lửa lò gaz làm cho đôi má cô bé hồng rơn và ươn ướt mồ hôi. Bộ quần áo ngủ bằng lụa vàng nhạt có thêm những đóa hoa cúc xinh xắn bắt đầu đẫm mồ hôi ở lưng và ngực, làm nổi rõ cái xu-chiên hiệu Lou cắt khéo. Bà Thanh Tuyến thấy con gái mình xinh quá, mắng yêu:
– Coi kìa! Kem dính lên cả mép. Mười tám tuổi đầu rồi đấy cô. Hồi trước ở vào tuổi đó, me đã…
Quỳnh Như vừa đưa lưỡi liếm sạch cái muỗng kem vừa hỏi:
– Đã thế nào hở me?
Bà Thanh Tuyến lim dim đôi mắt nhớ đến hồi còn trẻ, giọng lạc hẳn đi:
– Không trẻ con như các cô bây giờ đâu. Con gái mười tám tuổi đã biết chưng diện áo Lemur, quàng khăn lụa đi dạo hàng Đào. Nhiều người đã tay bồng tay dắt rồi.
– Áo Lemur là áo gì hở me?
– Là áo Cát Tường. Mốt tân thời hồi đó, tiểu thư Hà nội ai cũng mặc cả.
Quỳnh Như quan sát chiếc muỗng đã sạch sẽ, đưa lưỡi liếm môi có vẻ tiếc rẻ, rồi hỏi:
– Có giống cái áo tứ thân tụi con mặc để múa ” Hội Chùa Hương ” không me?
– Khác chứ, đại khái giống với cái áo dài của các con bây giờ, nhưng rộng eo hơn nhiều. Mặc eo như các con bây giờ các cụ đập cho. Cổ tay áo có ren, nhiều cô đơm thêm hàng nút. Vai áo phồng vì may dun.
– Còn cổ áo, me? Có dám may áo cổ hở như áo bà Nhu không?
– Ông họa sĩ Cát Tường cũng có vẽ kiểu ấy, Nhưng chỉ có các cô dưới Khâm thiên là dám mặc thôi. Hạng con nhà thì vẫn mặc áo cổ tròn.
– Các cô Khâm thiên là ai thế me?
– Là các cô Khâm thiên! Các cô ả đào. Con này hôm nay hay tọc mạch lắm.
– Các cô ả đào? Ðào cải lương hay đào hát bóng vậy me?
Bà Thanh Tuyến bắt đầu bực. Vả lại bà không muốn con gái út của mình biết thứ cuộc sống về đêm trụy lạc của Hà nội ngày trước. Bà gắt:
– Mày học đệ nhị mà không biết ả đào là gì. Hôm qua mới nghe mày ê a học:
Hồng Hồng Tuyết Tuyết
Mới ngày nào chẳng biết cái chi chi
Mười lăm năm thấm thoắt có xa gì
Ngoảnh mặt lại đã đến kỳ tơ liễu.
Quỳnh Như reo lên:
– A! Con hiểu rồi. Các đào nương hát nói chứ gì. Thời nào cũng thế. Các cô ca sĩ lúc nào cũng ăn mặc bạo!
– Họ còn tệ hơn ca sĩ bây giờ nữa cơ!
Nói xong bà Thanh Tuyến mới thấy hối. Nhưng Quỳnh Như không để ý đến các cô gái Khâm thiên nữa. Cô đang cúi xuống nhìn bộ áo lụa đẫm mồ hôi của mình, suy nghĩ một lúc rồi ngửng lên hỏi:
– Tối nay con nên mặc áo gì hở me?
Bà Thanh Tuyến ngắm cái dáng mảnh mai gọn ghẽ của Quỳnh Như, trong lòng man mác vui, bà đáp:
– Tùy ý con chứ, con mời những ai nào?
Quỳnh Như đến ngồi trên chiếc divan cẩm lai gần cạnh mẹ, đưa bàn tay trắng trẻo búp măng ra đếm:
– Toàn bạn bè quen biết hết cả me ạ. Con Diễm bạn cùng lớp con bên bác Bỗng này, con có nhắn nó mời luôn anh Ngô, không biết anh ấy có chịu đi không. Me nhớ anh Ngô không hả me? Cái anh đen đen ít nói, thường đến rủ anh Tường đi uống cà phê đấy. Bức tranh “Thiếu nữ bên hoa cúc” con treo trong phòng ngủ là anh ấy vẽ đó me. Bên bác Văn con có mời chị Nam, chị Quế. Anh Tường định rủ thêm anh Ngữ. Không biết đêm nay có nhằm phiên trực của anh ấy không?
– Chỉ có bấy nhiêu thôi à!
Quỳnh Như e dè một lúc, rồi sà lại gần mẹ, nũng nịu:
– Còn chứ. Nhưng con nói chuyện này, me đừng mắng nhé!
Bà Thanh Tuyến nghiêm nét mặt, ngờ vực hỏi:
– Chuyện gì thế? Rủ thêm một bọn cầu bơ cầu bấc phải không? Tấm thảm len trên phòng khách thầy mày quí lắm đấy. Coi chừng chúng nó bôi bùn bê bết cả lên.
Quỳnh Như vội nói:
– Không đâu me! tụi nó ăn mặc sang hơn cả nhà mình nữa. Giầy đánh bóng không vướng một hạt bụi.
Bà Thanh Tuyến mất kiên nhẫn, hỏi dồn:
– Nhưng chúng nó là ai? Mày quanh co mãi.
Quỳnh Như nắm lấy cánh tay mập tròn của mẹ, giọng vừa rụt rè, vừa nũng nịu:
– Con có nhờ thằng Lãng con bác Văn mời ban nhạc Royal Youth Club đến đàn cho vui.
Rồi sợ mẹ chưa yên tâm, Quỳnh Như thêm:
– Họ đàn hay lắm me. Tết năm ngoái họ được giải nhất đại hội nhạc trẻ đấy.
Bà Thanh Tuyến giật mình hỏi lại:
– Nhạc trẻ à! Có ồn ào đến đinh tai nhức óc như mấy đĩa nhạc mình bán dưới cửa hàng không?
Quỳnh Như lo ngại, nhưng không dám dối mẹ, chỉ cố vớt vát:
– Nhưng con đã dặn họ chơi nhỏ một chút thôi, vừa đủ nghe thôi.
Một lần nữa bà Thanh Tuyến gắt con gái:
– Chơi nhỏ thế nào được! Cái đàn ghi-ta điện kêu oang oác, trống chiêng lùng tùng xòe me còn lạ gì. Nhưng mày đã mời chúng nó chưa.
Quỳnh Như rơm rớm nước mắt, ngước lên nhìn mẹ, rồi chỉ nói được một tiếng:
– Me!
Chỉ bấy nhiêu cũng đủ cho bà Thanh Tuyến nhượng bộ. Mình già rồi nên ghét sự ầm ỹ. Phải cho tuổi trẻ chúng nó sống rộn rã chứ. Bà vuốt tóc con âu yếm bảo:
- Thôi được. Thầy mày cũng không cổ lỗ lắm đâu, miễn đừng làm bẩn cái thảm mới.
Quỳnh Như mừng quá đứng bật dậy vỗ tay reo:
– Hoan hô me! Con biết thế nào me cũng cho phép, mấy giờ rồi me? Tám giờ kém năm. Chết! Con mặc áo gì bây giờ? Mặc đầm nhé?
Bà Thanh Tuyến lắc đầu chầm chậm:
– Không nên, sinh nhật năm ngoái năm kia mặc thế được. Năm nay con lên mười tám, mặc áo dài cho ra vẻ thiếu nữ.
– Áo dài nào hở me? Áo lụa màu hoàng yến, hay cái áo gấm Thượng hải thầy me mua cho con dạo nọ? Hay cái Orlon màu tím hoa cà có thêu?
– Con nên mặc cái áo màu hoàng yến. Phòng khách thầy mày mới chưng dọn lại toàn dùng màu vàng. Mặc áo đó hợp cảnh hơn.
Quỳnh Như định vào buồng thay áo thì bà Thanh Tuyến đã hỏi thêm:
– Quỳnh Trang nó làm xong cái bánh sinh nhật chưa?
Quỳnh Như đáp giữa tiếng mở tủ và tiếng áo quần sột soạt:
– Xong rồi me à, nhờ thế con mới được hưởng phần kem thừa.
– Còn mười tám cây nến?
– Anh Tường hứa đi dạy về sẽ mua luôn thể.
– Anh con về chưa?
– Hình như về rồi me ạ!
– Sao lại hình như?
– Vì lúc nãy lên phòng khách xếp soạn ly cốc, con nghe có tiếng động trong ấy. Có cả khói thuốc lá lọt qua khe cửa nữa.
Bà Thanh Tuyến chậc lưỡi than:
– Cái thằng! Thế nào ấy.
Quỳnh Như mặc áo mới từ trong buồng đi ra, lo ngại hỏi me:
– Có được không me?
Bà Thanh Tuyến trố mắt ngạc nhiên. Con gái bà đẹp quá. Nước da trắng hồng nổi bật trên màu hoàng yến. Đôi mắt sáng rỡ biết cười, trong khi đôi môi nhỏ cố mím lại để che cái răng cời bên mép phải. Mái tóc uốn ngắn để lộ đôi vai tròn. Dù chưa trang điểm, nhưng Quỳnh Như vẫn biểu lộ qua ánh mắt ấy, khuôn mặt bầu bĩnh hồng hào ấy, cách mím môi bối rối và tinh nghịch ấy, (cả cái nốt ruồi nằm chếch trên môi trái ấy) cái gì thật giống với sức sống rộn rã chỉ chực dâng trào. Bà Thanh Tuyến cũng rộn rã cả lòng, bảo con gái đến gần kéo lại vạt áo trước cho thẳng hơn. Làn vải mịn bó sát lấy bộ ngực chưa phát triển hết, tròn trĩnh và gọn ghẽ. Bà vuốt lại mái tóc, vén mấy sợi tóc mai để lộ hai vành tai nhỏ. Quỳnh Như ngẩng mặt ngoan ngoãn để cho mẹ nâng niu vuốt ve một lúc, rồi bất chợt đưa ống tay áo lên lau mồ hôi trán. Bà Thanh Tuyến hốt hoảng gắt lên:
– Ơ kìa, khăn tay đâu mà quệt bừa thế. Dơ cả ống tay áo. Đưa me xem nào!
Ống tay áo dài hoàng yến hơi bẩn. Bà mẹ chau mày trong khi Quỳnh Như cười dòn. Cô cầm tay mẹ lén hôn rồi nói:
– Thôi được rồi me, chưng diện nhiều con ngượng chết. Ủa, đôi giầy của con đâu rồi?
Hai mẹ con lại lo đi tìm giầy. Họ tìm chưa ra thì đã có tiếng gõ cửa.

***
Quỳnh Như hốt hoảng kêu:
– Chết, các anh ấy đến để mắc dây điện cho giàn trống đó mẹ. Làm sao bây giờ, me cho con mượn đôi dép đi.
Bà Thanh Tuyến chưa kịp phản ứng thì Quỳnh Như đã lột đôi dép Nhật ra khỏi chân mẹ, lật đật xỏ vào rồi chạy xuống cầu thang. Vì quá vội vàng cô bé mang dép ngược, nhưng tiếng gõ nôn nóng vào cửa sắt dưới cửa hàng không cho phép cô dừng lại sửa dép. Lúc cô lấy hết sức đẩy tấm cửa lưới sắt nặng nề ra, Quỳnh Như mới thất vọng. Không phải ban nhạc trẻ Royal Youth Club. Một người đàn ông đứng tuổi ăn mặc chải chuốt hỏi cô:
– Có ba ở nhà không cháu?
Quỳnh Như lễ phép đáp:
– Thưa bác thầy cháu ở nhà đấy ạ.
– May quá phòng khách ở đâu? Cháu dẫn bác vào gặp ba cháu có chút việc.
Quỳnh Như ái ngại không biết có nên mời khách lạ vào không, nhất là lúc cô bỏ cả buổi chiều trang hoàng căn phòng khách rộng để tiếp đón các bạn trẻ. Khăn bàn đã trải xong. Hai lọ hoa đã đặt trên tấm ren đan hình tròn do chính Quỳnh Như làm lấy. Chén, đũa, ly, tách, bánh, nước ngọt, và cả rượu đã bày sẵn. Hai người lớn bàn công chuyện làm ăn ở đó không hợp tí nào, mà còn làm cấn-cái bọn trẻ. Trong lúc đó, giờ hẹn là tám giờ ba mươi để cố gắng về sớm lúc mười một giờ. May mắn cho Quỳnh Như là đúng lúc đó, ông Thanh Tuyến ở trên lầu chạy xuống. Có lẽ ông cũng vội chẳng kém gì con gái, nên ông đi chân không, vừa đi vừa cài hàng nút áo pyjama trắng sọc xanh lơ. Thấy khách đứng ở cửa, ông Thanh Tuyến nói lớn:
– Trời ơi anh Toàn! Rồng bay đi đâu mà lạc đến nhà tôm thế này?
Quỳnh Như đứng né sang một bên mỉm cười mời ông khách vào. Ông Toàn khẽ gật đầu cảm ơn, rồi đáp lời ông Thanh Tuyến:
– Tôm đến nhà rồng để cầu viện đây.
Ông Thanh Tuyến cố giữ vẻ vui đùa tuy trong lòng hơi ái ngại. Không muốn cho khách thấy thái độ hồ nghi của mình, ông vội mời:
– Anh lên nhà đã, đứng đây nói chuyện đâu có tiện. Quỳnh Như, bật thêm cái đèn cầu thang cho thầy đi con!
Ông Toàn nhìn khắp cửa hàng, trong hai dãy tủ kính bày đủ các loại radio Nhật, Hoà lan, Mỹ, cái nào cũng đẹp đẽ bóng nhoáng. Ngay giữa cửa hàng bày thêm hai cái máy quay dĩa Telefunken mới toanh. Tủ kính đối diện với cửa ra vào bày các dĩa hát cả ngoại quốc lẫn Việt nam. Hình các ca sĩ bày hàng thật mỹ thuật. Cửa hàng có đầy đủ, có thể nói là dư thừa, dấu hiệu của đời sống sung túc và tân tiến. Ông Toàn hơi chóa mắt vì đống hàng hóa sang trọng, nên nhận xét:
– Anh làm ăn phát đạt như thế này, chắc phải lớn vốn lắm.
Ông Thanh Tuyến không đáp, chỉ đưa tay mời:
– Anh lên phòng khách đã. Quỳnh Như, đóng cửa lại rồi lên mở cho thầy chai rượu.
Vừa lên cầu thang, ông Toàn cố hỏi cho thân mật:
– Anh cho con gái gọi mình là “thầy”à?
– Vâng, “thầy me”. Gia đình ngoài Bắc chúng tôi vẫn quen gọi thế. Vả lại…
Ông Toàn cắt lời chủ nhà:
– Tôi thấy xưa xưa thế nào ấy. Nếu gọi “thầy me” thì sai con mang lồng áp và pha trà Thiết Quan Âm mới xứng hợp.
Họ đến cửa phòng khách. Thấy cảnh bày biện trong phòng, ông Toàn khựng lại, ông hỏi:
– Có lẽ tôi đến không đúng lúc.
Ông Thanh Tuyến vội đến chỗ đặt bộ sa lông nhung xỏ đôi dép da cho chỉnh tề, rồi mới đáp:
– Ấy, tối nay là sinh nhật con bé Quỳnh Như. Con bé vừa mở cửa cho anh đấy. Chúng nó xin phép tổ chức hội họp bạn bè cho vui. Mời anh ngồi xuống đây đã. Anh kê cái gối này cho êm lưng. Thế nào, bây giờ anh được làm ăn thong dong rồi chứ gì?
Ông Toàn cười ha hả, tự nhiên rút một điếu thuốc Craven A trên bàn bật diêm hút, rồi nói:
– Vâng, quả có thế. Hồi trước đi đâu cũng đụng đầu bọn đàn em mụ Cả Lễ. Mấy vụ thầu trong Đà nẵng tôi trúng, nhưng nửa chừng phải bỏ dở vì chúng nó ra lệnh cho bên tài chánh ngân khố làm khó dễ chuyện tiếp nhận từng phần và thanh toán. Bây giờ nhà Ngô đổ rồi, chúng ta được rộng đường làm ăn. Này, anh có biết tôi họ hàng với trung tướng Tôn Thất Đính thế nào không?
Ông Thanh Tuyến dè dặt nói:
– Có lẽ gần lắm!
Ông Toàn vỗ đùi cười đắc chí:
– Còn có lẽ gì nữa, hắn kêu tôi bằng chú. Hôm qua hắn đưa máy bay ra Phú bài mời chú có rảnh vào Sài gòn chơi vài hôm rồi sẽ có máy bay riêng đưa về. Tôi không kẹt chuyện làm ăn thì đã vù đi rồi. Nghe nói một tháng nay Sài gòn vui như Tết. Ăn uống thả cửa. Nhảy nhót lu bù. Cả chú Tôn Thất Đính nhà tôi cũng dẫn đầu một băng sĩ quan trẻ đi hết vũ trường này đến vũ trường khác. Đúng là thế hệ trẻ trung.
Quỳnh Như bưng ra cái mâm tráng bạc trên đó có hai cốc rượu mùi. Ông Thanh Tuyến nhìn nét mặt phụng phịu của con, biết nó nóng ruột lắm rồi. Ông liếc nhìn đồng hồ, đã tám giờ mười lăm. Ông chưa tìm cớ nào để tạ khách, tuy chính ông cũng đã chán cái trò khoe khoang các dây mơ rễ má. Sau một lúc do dự ông hỏi.
– Chắc anh có việc cần lắm.
Ông Toàn hiểu ý chủ nhà, đặt cốc rượu xuống nói:
– Vâng, có thế. Tôi đến rủ anh hùn vốn để làm ăn lớn đây.
– Chuyện gì vậy anh?
– Vẫn vụ thầu xây cất. Này nhé. Nhiều công trình do bọn tay chân mụ Cả Lễ đang xây cất dang dở, một phần vì trương mục bị phong tỏa, một phần vì chúng bị bắt. Cần Lao mà! Có đứa tép riu không việc gì nhưng sợ quá không dám tiếp tục nữa. Tôi có thể nhờ Đính nó can thiệp để mình tiếp tục các công trình này. Nhiều lắm làm không xuể. Mình cần ít vốn làm qua loa cho xong rồi mới tiếp nhận. Thủ tục sau đó dễ thôi. Đính nó chỉ cần viết cho tấm cạt nhỏ là xuôi. Tôi tìm quanh bạn bè chỉ thấy có anh là đàng hoàng, đáng tin cậy. Nhớ tới anh tôi mừng quá, và chén cơm chưa xong đã chạy vội đến đây. Anh bằng lòng hợp tác nhé!
Ông Thanh Tuyến nghiêm mặt nói:
– Anh để cho tôi hỏi lại nhà tôi đã. Tôi chỉ được cái chân chạy, còn việc tiền nong lời lỗ thế nào, chỉ có nhà tôi nắm chắc. Anh làm ơn thư thả cho nhé. Chừng nào trung tướng cho máy bay ra, anh báo cho tôi hay để xin quá giang với.
Ông Toàn cố làm ra vẻ hối tiếc, đầu gật gù:
– Uổng nhỉ, tôi cứ tưởng anh chủ trì mọi việc. Các bà thì không bao giờ chịu nhìn xa trông rộng. Bọn đàn ông chúng mình mới có thể nhìn được quá cái chái nhà bếp. Hôm 1-11 biết đích xác Ngô triều đã đổ và Đính nó dám chơi liều, tôi nghĩ liền: “Cơ hội nghìn năm một thuở đây”. Thôi để các cháu còn vui sinh nhật. Cháu Quỳnh Như đâu rồi?
Ông Thanh Tuyến ngạc nhiên hỏi:
– Anh gọi cháu có việc gì ạ? Để tôi đưa anh xuống.
Vào lúc đó Quỳnh Như cũng bước vào phòng khách, gương mặt buồn rầu ngơ ngác. Ông Toàn vồn vã nói:
– Bác không biết hôm nay là sinh nhật cháu, nên đến tay không. Bác sẽ gỡ cái lỗi ấy sau. Bây giờ bác xin chúc cháu một đêm sinh nhật vui. Sang năm cháu lên mấy rồi?
– Thưa bác cháu sắp qua năm mười tám.
– A, mười tám tuổi, lớn lắm rồi. Bác chúc qua năm thứ mười tám trong đời, cháu học giỏi, mạnh khỏe và gặp được hạnh phúc. Cháu còn thích điều gì nữa để bác chúc tiếp?
Quỳnh Như bị cái giọng thân mật tự nhiên của khách lạ lôi cuốn, nền quên ngay sự khó chịu, đáp lại:
– Cháu vẫn thích có kẹo Nougat ăn hoài đấy ạ!
Cả khách lẫn chủ đều cười ồ vì câu trả lời bất ngờ. Ông Toàn bám vào cơ hội tốt để chữa cái thẹn của người gõ nhầm cửa, nên cười lớn hơn ai hết. Cười xong, ông nói:
– Được. Mai bác sẽ gửi kẹo Nougat cho cháu ăn đủ mấy ngày đầu năm mười tám tuổi. Bây giờ bác về cho cháu tiếp khách. Xin phép anh.
Ông Thanh Tuyến đưa ông Toàn ra đến cửa thì Lãng cùng mấy cậu tóc dài mặc quần jeans áo da giống như một ban nhạc Rock nước ngoài chở trống đàn bằng cyclo đến. Quỳnh Như lấp ló chỗ cửa sắt chưa biết phản ứng của cha sẽ như thế nào. Nếu ông Toàn ra về ngay cho, cô bé sẽ dễ tính biết mấy! Quỳnh Như biết tuy cha đã trên năm mươi, tuy công việc mua bán đòi hỏi sự tính toán vừa chi li vừa lạnh lẽo, nhưng tận thâm tâm, lúc nào ông Thanh Tuyến cũng có nỗi áy náy của người lái buôn bất đắc dĩ. Ông không bỏ bất cứ cơ hội nào để chứng tỏ mình không hẳn là một người lái buôn. Buôn bán chỉ là cần câu cơm của ông đấy thôi. Phần cao quý của tâm hồn ông, niềm hãnh diện thầm kín của ông, là cái nghệ sĩ tính phơi phới trẻ trung mà nhiều bạn buôn của ông không thể thấy được. Đồng trang lứa với ông không hiểu ông, thì đã có bọn trẻ. Vì vậy ông coi đám bạn bè của Tường, của Quỳnh Trang, Quỳnh Như như bạn ông. Nghe nhạc rock nhức đầu đấy, nhưng thà chịu đựng để sau đó nốc vài ngụm thuốc an thần còn hơn là công khai chê trách lũ trẻ hiếu động ưa la hét hơn là ca hát. Hiểu được tâm trạng cha nên khi mời được ban nhạc Royal Youth Club, cô chỉ lo có me. Quỳnh Như biết hỏi ý cha, ông có thể ngần ngừ không vui. Nhưng nếu đặt ông Thanh Tuyến vào một sự đã rồi, như sự đã rồi lúc này đây, không bao giờ ông dám tỏ thái độ lạnh nhạt khó chịu với bọn trẻ. Khổ nỗi khách chưa chịu về cho! Ông Toàn hơi kinh ngạc khi thấy hai chiếc cyclo chở trống đàn và bọn tóc dài mất dạy đậu ngay chỗ mình đứng. Ông trố mắt nhìn lũ con trai ăn mặc cầu kỳ dơ dáy như nhìn quái vật. Bỗng đôi mắt ông sáng lên. Ông vừa đọc thấy trên mặt trống lớn của bộ nhạc cụ ba chữ Anh viết tắt: RYC. Chữ Y viết tắt cầu kỳ như một đàn anh dang tay che chở cho hai đàn em R và C hai bên. Đúng lúc đó ông nhận ra Lãng, ông hỏi:
– Cậu Lãng đó à? Đi đâu vậy?
Lãng vuốt cái ót bù xù để che bối rối. lí nhí đáp:
– Dạ cháu dẫn các bạn này đến chơi nhạc ở… ở…
Ông Thanh Tuyến đáp giúp, hãnh diện ra mặt:
– Các cháu nó thích nhạc trẻ nên mời đến chơi sinh nhật đấy. Các cháu ban nhạc vào đi. Quỳnh Như ơi! Dẫn các anh lên.
Ông Toàn cũng không muốn bị xem là già nua. Ông chỉ bộ trống mang chữ RYC hỏi Lãng:
– Ai cho các cháu mượn bộ trống của Câu lạc bộ Thanh niên Hoàng gia thế? Rõ ràng mấy chữ Royal Youth Club đây này.
Lãng bước đến lễ phép đáp, sợ ông già làm lớn chuyện:
– Con có đến gặp anh Mân, anh ấy chờ bác về, nhưng vì lâu quá và giờ hẹn với gia đình Quỳnh Như đã đến, nên anh ấy cho phép chở đi và sẽ thưa lại với bác sau. Sẵn gặp bác ở đây, cháu xin… cháu xin…
Ông Toàn không thèm nghe hết câu, ưỡn ngực quay lại nói vói ông Thanh Tuyến:
– Câu lạc bộ ấy do thằng Mân con tôi sáng lập đấy. Hồi Ngô triều hoàng tộc chúng tôi bị ép đổi ra họ Nguyễn Phước. Bây giờ chúng nó đổ rồi, mình có quyền tỏ tình đoàn kết gia tộc. Không tạo cơ hội cho bọn trẻ nhận họ nhận hàng thì vài năm nữa thế nào cũng có cảnh loạn luân. Royal Youth Club, nghe cũng hay hay đấy chứ!
Ông Thanh Tuyến chán nản không thèm che cái ngáp dài, chỉ đáp:
– Vâng, nghe được lắm. Thôi, xin để anh về.
Ông Toàn đành phải gọi chiếc cyclo đến. Ông kỳ kèo thêm bớt một hồi lâu rồi mới chịu lên xe. Lên ngồi xong, ông dặn:
– Chạy chậm chậm, cẩu thả tôi không trả tiền đâu!
Lãng vừa ì ạch khiêng bộ trống lên lầu thì cả Quỳnh Như lẫn Quỳnh Trang bu lại hỏi dồn dập. Quỳnh Như cười tíu tít hỏi:
– Sao, hú hồn nhé! Không ngờ ngẫu nhiên ông già anh Mân lại đến đây để bắt quả tang bộ trống mượn ẩu. Lãng có nói qua với anh Mân không?
Quỳnh Trang kiên nhẫn chờ em gái nói xong mới hỏi:
– Chị Nam đâu? Sao chưa đến?
Lãng đáp cả một lúc cùng hai câu hỏi:
– Em chờ anh Mân về nhưng nghe chú làm vườn bảo anh ấy đang đi tìm máy ronéo in nhờ bản điều lệ cho hội. Anh ấy quyết làm cho ra trò chuyến này. Dạ chị Nam bảo nếu chị Quế đi thì chị ấy mới đi, và vì về khuya một mình sợ lắm. Chị Quế… à, tôi chờ được mười phút, sợ Quỳnh Như nóng ruột, nên vào xưng đại mình cũng là sáng lập viên hội Royal Youth Club, và cần đem bộ trống đi sửa. Chị Quế chịu đi đó chị Trang. Dĩ nhiên có đủ hai chị em, lúc em đi thì hai bà đang ủi quần áo. Không, em đi tận hồi bảy giờ. Thế nào họ cũng đến mà.
Quỳnh Như thích thú vì sự mạo hiểm cỏn con của Lãng, hỏi:
– Lỡ sau này họ khám phá ra Lãng chẳng có máu vua chúa gì cả, họ bêu riếu xấu hổ thì làm sao?
Lãng vênh mặt đáp:
– Ai dám bảo tôi không thuộc hoàng gia? Mạ tôi là Công tằng tôn nữ Quyên. Tôi cũng là người họ ngoại của vua chúa chứ bộ.
Cả bọn trẻ cười vang. Quỳnh Trang yên tâm đã có bạn thì đến lượt Quỳnh Như lo âu. Cô bé đi ra đi vào hỏi:
– Không biết sao bây giờ con Diễm chưa chịu đến? Cả anh Ngô nữa! Mấy giờ rồi chị Trang?
Quỳnh Trang đưa tay lên xem giờ rồi đáp:
– Tám giờ ba mươi lăm phút. Ủa, cả anh Tường nữa sao chưa thấy xuống đây!
Hai chị em xem xét lần chót các ly cốc, rượu bia, nước ngọt, rót nước cho ban nhạc lúc ấy đang hì hục nối dây điện và thử đàn thử trống. Tiếng đàn điện ngân lớn, vài khi hú lên do chưa điều chỉnh bộ khuếch âm làm cho Tường lật đật chạy từ phòng riêng trên lầu hai xuống phòng khách. Quỳnh Trang vui mừng bảo anh:
– Quá giờ của con Như rồi anh. Anh lấy Vespa chạy lại đằng bác Văn xem thử hai chị em con Nam đi chưa.. Tối nay anh có rủ anh Ngữ chứ?
Tường trừng mắt nhìn về phía ban nhạc có vẻ khó chịu. Họ lại vừa làm cho tiếng đàn hú lên, còn anh chàng tóc dài mặt choắt chơi trống thì đập liên hồi lên mặt trống lớn như thù hằn với cái tên RYC. Tường dằn, không muốn gây chuyện, nhưng giọng nói hơi cáu kỉnh:
– Các cô bao giờ cũng đi trễ, Trang chưa biết sao. Còn thằng Ngữ nó nhắn trước là đừng có đợi. Nếu vào tiểu khu nhờ người trực thế được, nó sẽ qua đây. Nếu không đừng có chờ.
Quỳnh Như làm nũng:
– Thôi anh đi chở con Diễm lại cho em đi. Anh Ngô và con Diễm thì nhất định phải tới rồi. Đi giùm em đi anh.
Tường đưa mắt liếc về phía ban nhạc, định quay về phía Quỳnh Như trách móc, nhưng chàng bất chợt nhận thấy đêm nay Quỳnh Như lớn hẳn lên, đẹp dịu dàng thanh tao như một thiếu nữ Hà nội thường tả trong tiểu thuyết tiền chiến.
Lòng Tường dịu lại. Chàng bảo em:
– Như mặc cái áo này hợp lắm. Hôm nào nhờ Ngô vẽ cho bức tranh với cái áo này. Nói trước nó nghèo lắm. Muốn vẽ các cô phải chi tiền sơn và tiền khung.
Quỳnh Như láu lỉnh đề nghị:
– Thế thì em và chị Trang nhờ anh ấy vẽ chung một bức. Chị Trang để dành được bao nhiêu tiền sẽ bao cho em.
Quỳnh Trang gạt đi, nét mặt vuông phúc hậu chỉ tươi lên một chút rồi nghiêm trở lại, khiến cô em không dám tin bà chị nói đùa hay nói thật:
– Chị xấu òm vẽ làm gì. Anh Tường, hình như có tiếng gõ cửa dưới nhà. Gớm mấy ông tướng nhạc trẻ đập ồn lên không nghe gì cả. Để em nghe xem. Đúng rồi. Khách đến.
Quỳnh Như mừng quá chạy trước xuống cầu thang lầu. Quỳnh Trang và Tường lững thững bước chậm theo sau. Trang bảo anh:
– Em hơn nó hai tuổi, mà sao nó với em khác nhau thế. Nó con nít quá khiến em thấy mình như bà già.
Tường cười, chỉ mái tóc hơi dài và hàm râu chưa cạo của mình:
– Còn anh là ông cụ non. Hai mươi bốn tuổi, mà ra đường đã được các cô gọi bằng “chú”. Vài năm nữa được gọi bằng “bác”, rồi “bẩm cụ ạ”.
Quỳnh Trang mỉm cười nhưng nghiêm ngay nét mặt lúc thấy Quỳnh Như hí hứng dẫn Diễm, Quế, Nam và Ngô lên phòng khách. Quế và Diễm cười nói tíu tít với Quỳnh Như. Nam bạn học với Quỳnh Trang mặt hơi buồn đang nói gì đó với Ngô, đi sau cùng. Quỳnh Như dẫn Quế và Diễm đến giới thiệu với bốn cậu trong ban nhạc RYC. Quỳnh Trang kiên nhẫn đợi cô bạn thân ở đầu cầu thang, ánh nhìn âu yếm lặng lẽ. Tường và Ngô gặp nhau hằng ngày nên họ chỉ bắt tay nhau rồi đến ngồi chỗ bộ xa-lông rút thuốc hút. Hai người bạn gái còn lại cảm động ôm vai nhau, người nọ rưng rưng nước mắt âu yếm nhìn người kia. Nam run run hỏi:
– Học dược trong đó có vui không? Đã biết Sài gòn chưa? Sao đang học lại về được? Hôm nào lại vào?
Quỳnh Trang nheo mắt cười, nhận xét:
– Mày hỏi nhiều quá có cho tao trả lời đâu. Tao đáp chầm chậm cho mày khỏi bộp chộp nữa. Học hành được gì đâu mà biết vui hay buồn! Mới vào làm thủ tục, nộp niên liễm, xin nội trú, thì các ông tướng đùng đùng đoành đoành. Thế là xong. Thiên hạ kéo nhau ra đường hoan hô mấy ông tướng cách mạng, kể cả sinh viên và giáo sư. Chán quá về đây ăn sinh nhật Quỳnh Như xong vài hôm lại vào. Độ này mày có vẻ ốm hơn. Có đau yếu gì không?
– Không, có lẽ tại mình có đánh chút phấn. Đánh vụng quá nên mặt hóa ra tái mét, đúng thế không? - Nam vừa nói nhỏ với bạn vừa liếc nhìn về phía Tường, lo ngại bị nghe thấy.
Quỳnh Trang cười, hỏi nhỏ:
– Mày có đánh kem lót không?
Nam thành thực đáp:
– Không, cần gì phải lót kem. Dùng phấn nụ cũng được chứ gì.
Quỳnh Trang cười khúc khích rồi bảo:
– Không được đâu. Hèn chi. Nghe nói mày học Dự bị Văn khoa phải không?
– Vâng! Kể cũng vui. Cái thú là được tự do lựa chọn và suy nghĩ về bộ môn mình thích, đúng là Faculté libre.
Lúc bấy giờ hình như do yêu cầu của ba cô choai choai, ban nhạc bắt đầu so dây rồi chơi bài Crazy Love. Hai cô gái tính ít hiếu động không dám tỏ ra khó chịu vì sợ mất lòng các nhạc công. Họ đến hoàn toàn vì thiện chí, và hiện giờ đang vật vã gào thét đến tháo mồ hôi để cho ba cô choai choai khâm phục, cũng hoàn toàn do thiện chí. Nam yếu tim không chịu đựng nổi nữa, đề nghị với bạn:
– Quỳnh Trang dẫn mình đi chào hai bác. Tệ quá, lên đây từ lâu mà vô phép quá.
Quỳnh Trang gạt đi:
– Thầy me mình sắp ra bây giờ đấy. Chờ họ la hét xong bài này thì mời vào tiệc, Nam ngồi gần mình nhé!
– Còn mời thêm ai nữa không?
– Toàn bạn bè thôi. Chỉ còn thiếu anh Ngữ của Nam. Lúc nãy anh Tường bảo anh ấy có dặn trước rồi.
Nam vội nói:
– Phải. Hôm nay đến phiên trực của anh Ngữ.
Bài Crazy Love chấm dứt. Đám thiếu nữ choai choai hoan hô trong khi từ đằng xa chỉ có tiếng vỗ tay rời rạc, gượng gạo. Ông bà Thanh Tuyến từ trong phòng bên cạnh trang trọng bước ra phòng khách. Mọi người kể cả con cái trong nhà lật đật đứng dậy cúi chào. Ông Thanh Tuyến đến bắt tay các cậu thanh niên như Ngô, Lãng, bốn nhạc công RYC một cách kiểu cách. Ông bắt tay vì muốn họ nhận ra sự hậu đãi chiếu cố thật trẻ trung, thật nghệ sĩ của ông, chứ không phải vì họ xứng đáng. Chỉ có Ngô, và Tường nhận ra điều đó. Năm cậu kia hãnh diện lắm. Họ được mời ngồi vào bàn tiệc sang trọng với đầy đủ muỗng, nĩa, khăn ăn, chén bát riêng, rượu khai vị v.v… Bữa tiệc bắt đầu.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 2 giờ bởi huytran >
#1
    huytran 2 giờ (permalink)
    Chương 02
     
    Đáng lý bữa tiệc sinh nhật của Quỳnh Như chấm dứt hồi mười một giờ đêm. Nhưng ăn xong, đồng hồ đã chỉ mười giờ rưỡi. Nhân vật chính của đêm nay là Quỳnh Như nên thầy mẹ, các anh chị và bạn bè đã ngầm đồng ý với nhau nhường cho cô bé cái quyền hướng dẫn cuộc vui. Chính ông Thanh Tuyến xác nhận điều đó thành lời hẳn hoi, khi Quỳnh Như vừa thổi tắt dễ dàng mười tám ngọn nến cắm trên bánh sinh nhật.
    Vì đột ngột được ủy nhiệm làm quản trò, nên Quỳnh Như ngộp thở vì quyền hành. Cô nghĩ ai cũng có tài cả, và ai cũng muốn nhân dịp này trổ tài cho mọi người thưởng thức. Y như Quỳnh Như vậy!
    Còn chỗ nào lý tưởng hơn! Phòng khách ấm cúng, ngọn đèn tường núp trong các vỏ sò nến ánh sáng mát dịu ấm áp, lại thêm mầu vàng hài hòa của các thứ trang bị căn phòng như gợi cảm giác quyến luyến man mác. Lòng từng người dịu lại. Đã đến giờ của tâm sự, giữa khung cảnh lý tưởng nhất. Quỳnh Như loay hoay chưa biết chỉ định người nào hát hoặc đàn địch, làm trò vui trước, thì chợt để ý đến bộ trống đàn cồng kềnh. Quả tình đem cả giàn trống này đến đây chẳng khác lấy dao chém ruồi. Thế mà họ cũng chịu đến, chịu khó thật. Quỳnh Như hãnh diện về mình. Cô nhìn cách ban nhạc hút thuốc thơm, uống rượu, thấy họ rụt rè khác hẳn lúc họ hát bài Crazy Love. Dường như xa đàn xa trống, họ lúng túng quê kệch đến đáng thương, như cô ca sĩ đang hát trên sân khấu thì micro bị hư. Nghĩ như vậy nên Quỳnh Như mời họ cầm đàn cầm dùi trống trở lại, biểu diễn “nhè nhẹ” cho vài bản Rock và Twist. Đến lượt Quỳnh Như được các cậu yêu cầu ngồi vào duơng cầm đàn cho họ nghe bản Sérenata của Schubert. Quỳnh Như say sưa với vai trò nhân vật chính nhiều quá nên bị lỗi khá nhiều nhịp. Ông Thanh Tuyến nổi hứng kể chuyện vui lúc ông cùng bà tản cư về sống tại một làng quê cách Hà nội khoảng năm mươi cây số. Ông kể chuyện không được mạch lạc, lại không vui như cách ông cười giáo đầu. Tuy nhiên giới trẻ vẫn vỗ tay nồng nhiệt. Ông vui quá, bảo bà hát lại cho “các con các cháu” nghe bài hát ông mê mệt hồi đó. Hồi cô tiểu thư Hà nội đi tản cư và nhờ có nhan sắc và giọng hát, được tuyển vào ban ca kịch xung phong tuyên truyền. Bài hát thiếu chất tuyên truyền lại “tuyên truyền” được ông Thanh Tuyến là Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong. Bà Thanh Tuyến từ chối không được, cuối cùng phải hát. Ba đứa con bà phải trố mắt kinh ngạc. Bà hát thật hay. Quỳnh Như tối hôm đó không tài nào ngủ được vì nhiều lý do, trong đó có giọng hát hơi khao khao, đặc biệt lê thê chán chường của mẹ. Cô bé lay chị Trang dậy hỏi:
    – Chị có bao giờ ngờ me hát hay như vậy không? Tiếc nhỉ! Tại sao me không làm nghề ca sĩ?
    Quỳnh Trang cũng không dỗ được giấc ngủ, quay lại nói:
    – Lúc ấy tân nhạc chỉ mới nhóm lên thôi, đã được như bây giờ đâu. Sống được bằng ca hát chỉ có các ả đào.
    Quỳnh Như nhớ lời mẹ hồi tối, hỏi chị:
    – Hát đào nương thì có gì xấu đâu mà me không muốn em biết nhiều. Em hỏi về khu Khâm thiên, me nói qua loa rồi lánh sang chuyện khác. Sao thế?
    Quỳnh Trang nhìn em để đo lường xem Quỳnh Như giá vờ hay nói thật. Ánh mắt Quỳnh Như thắc mắc chân thành, nên Quỳnh Trang bảo:
    – Họ vừa hát vừa tiếp khách đấy.
    Quỳnh Như chợt hiểu, đỏ mặt lên, thì thào:
    – Ghê quá. Sao họ nỡ tàn nhẫn thế nhỉ?
    Quỳnh Trang nhạc nhiên hỏi em:
    – Như bảo ai tàn nhẫn?
    – Bọn đàn ông. Chẳng bù với các cụ Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, trọng vọng các cô đến nỗi làm ra thơ lưu lại hậu thế cho mình học. Như hai cô Hồng và Tuyết của cụ Dương Khuê.
    Quỳnh Trang chờ cho em nói hết, mới bảo gọn:
    – Các cụ cũng chẳng hơn gì đâu.
    Quỳnh Như ngồi hẳn dậy. Cái giường nệm trắng hai chị em ngủ trở mình kêu cót két. Quỳnh Như hỏi dồn:
    – Chị căn cứ vào đâu mà lại nói thế?
    Quỳnh Trang đủng đỉnh đáp:
    – Vào chính thơ văn của các cụ.
    – Nhưng trong thơ văn có điều gì… điều gì thô tục đâu!
    – Không thô tục, nhung các cụ khinh các cụ bà ở nhà ghê lắm. Ai đời đem tiền nhà đi hát, đã không giấu vợ cho phải phép lại còn thản nhiên làm thơ để truyền tụng ở đời. Các cụ bà ngày trước hiền đấy. Giả thử bây giờ thầy làm như các cụ thử xem. Me đem me xé xác ra chứ! .
    Quỳnh Như thấy ngộ nghĩnh quá, cười vang. Cô bé lại hỏi:
    – Giả sử… em chỉ nói giả sử me mình hát hay, thầy có cho me đi hát đào nương không?
    – Không đâu. Người ta lấy ả đào về làm vợ, chứ ai lại cho vợ đi làm ả đào.
    Quỳnh Như lại nằm xuống giường, kéo chăn đắp đến cổ, mắt lim dim, mỉm cười một mình. Cuộc sống êm ái thật. Me hát hay, thầy trẻ trung, phòng khách ấm cúng sang trọng, tiếng đàn dương cầm thánh thót, những tiếng cười dòn dã, ánh sáng mát dịu của ngọn đèn ngủ trong phòng hai chị em. Kể cả chị Quỳnh Trang nữa, sao đêm nay chị ấy hiền hậu dễ thương quá! Phải! Mình bộp chộp bạ đâu nói đấy thì phải có một bà chị như chị Quỳnh Trang kiềm chế mình bớt, nếu không hóa ra lố lăng. Chị ấy không bao giờ cười thành tiếng. Chỉ cười nụ, hoặc cười nhỏ một tiếng rồi lấy tay che miệng lại. Bàn tay chị ấy đều đặn như khuôn mặt và thân thể chị ấy. Dù thế, mỗi lần chị cười, mình vẫn thấy được đôi mắt trong sáng vừa dọ dẫm vừa liều lĩnh trước cuộc vui của chị. Quỳnh Như thấy phục chị, thương chị quá. Cô lại lay chị và hỏi:
    – Chị Trang ơi, chị ngủ chưa?
    Quỳnh Trang nắm lấy bàn tay em, bóp nhẹ âu yếm rồi mở mắt đáp:
    – Chưa, nhưng đừng nói lớn, khuya rồi.
    Từ đó hai chị em thì thào nói chuyện, sợ xao động cái ánh sáng êm ả của cuộc sống đêm nay.
    – Chị ơi!
    – Cái gì thế?
    – Đêm nay chị thấy ai đẹp nhất?
    – Mày biết rồi còn hỏi.
    – Ý em đâu phải thế! Em mà đẹp gì. Cái răng cời nhổ đi có sao không chị?
    – Sao lại nhổ?
    – Để thấy kỳ lắm. Mỗi lần cười không thoải mái chút nào.
    – Mày để như vậy có duyên hơn. Chính vẻ bối rối của mày khi nhớ tới cái răng cời làm cho mày có vẻ lấp lửng e ấp thật đặc biệt. Con Nam cũng nói với tao thế.
    – Chị Nam độ rày hơi ốm, chị Trang nhỉ!
    – Ừ.
    – Hiệu sách của bác Văn ra sao, chị đến chưa?
    – Nhỏ thôi. Nằm ở khu vực đó, ế là phải.
    – Khu nhà bác Văn à? Em thấy ở quanh đấy có nhiều trường học. Ðáng lẽ phải khá chứ.
    – Tâm lý khách mua sách không như thế đâu. Sách không phải là một nhu cầu tối cần thiết như cơm áo, nên chỉ mua kèm khi nhân dịp mua thứ khác còn tiền lẻ. Hiệu sách mở giữa phố đông bao giờ cũng đắt hơn.
    – Khi hôm chị Nam mặc áo gì chị Trang nhỉ? Em bu lu quá nên không để ý.
    – Chỉ áo dài trắng thôi. Cái áo cũ mặc từ năm học đệ nhất với chị.
    – Sao chị biết?
    – Vì vết mực ở ống tay áo do chị sơ ý làm bẩn vẫn còn đó.
    – Chị mập ra, nhiều cái áo cũ không mặc được. Đem tặng chị Nam vài cái đi!
    Quỳnh Trang im lặng một lúc, không trả lời. Quỳnh Như tưởng chị tiếc của, nói:
    – Chị không mặc được, để làm gì! Thân thể em không vừa kích thước áo chị đâu!
    Quỳnh Trang gắt:
    – Mày tưởng chuyện đem cho dễ làm hay sao. Cho không khéo, chẳng khác nào chửi vào mặt người nhận.
    Quỳnh Như công nhận lời chị quá đúng. Ừ nhỉ! Quả có những trường hợp như thế thật. Cuộc đời sao rắc rối quá! Giá nó đơn giản hơn chút nữa, đơn giản như cách suy nghĩ và mong ước của Quỳnh Như thì hay biết mấy! Quỳnh Trang nói:
    – Tội nghiệp! Nam nó chưa biết cả cách đánh phấn nữa.
    Quỳnh Như không tin được, hỏi lại:
    – Chị ấy có đánh phấn à?
    – Có đấy.
    – Sao bữa nay chị ấy làm dáng thế. Chẳng lẽ để làm vui lòng em.
    – Mày biết rồi còn giả vờ mù.
    – Chị nói gì lạ thế?
    – Thôi ngủ đi.
    – Ngủ sao được. Chị chưa giải thích rõ, nhất định em không cho chị ngủ.
    – Chuyện người lớn mày biết làm gì?
    – Ơ hơ, em đã thành người lớn rồi. Chị quên sao?
    – Thôi được, nói cho mày để yên tao ngủ. Con Nam nó yêu anh Tường đấy.
    – Chị chỉ tưởng tượng. Có thấy anh Tường tỏ ra điều gì khác thường đâu?
    – Hiện nay thì chưa. Nhưng cảm tình của con Nam thì chắc lắm rồi. Mỗi lần phải đến gần anh Tường, hoặc mỗi lần tao nhắc đến tên anh ấy, khuôn mặt nó lạ lắm.
    – Lạ thế nào chị?
    – Thật khó nói. Gần như nó không còn kiểm soát được đôi mắt, nụ cười, đôi tay của nó nữa.
    Thấy ý chị ngộ nghĩnh, Quỳnh Như cười lớn, cười xong mới nhớ, nên trùm chăn lên mặt cười rung rúc một hồi. Sau khi đã cười thỏa mãn, Quỳnh Như lật chăn ra hỏi:
    – Còn cái miệng. Chị ấy có kiểm soát được không?
    – Dĩ nhiên được. Nó đâu có lém mồm như mày. Nhưng qua cách nó liếc nhìn về chỗ anh Tường, sau đó cười bẽn lẽn như bị bắt quá tang, rồi đưa tay măn măn cái chéo khăn bàn, mình đoán lòng nó dễ lắm.
    – Anh Tường mình có thấy không?
    – Chắc không. Lúc ấy, ảnh nói gì với anh Ngô ra vẻ sôi nổi lắm.
    Quỳnh Như xịu mặt, nói giọng hờn dỗi:
    – Em chịu, càng ngày càng xa cách với ảnh. Chị đi Sài gòn có hơn tháng, em ở đây chịu đựng đủ điều.
    – Chuyện gì mà mày bi thảm hóa thế?
    Giọng Quỳnh Như tức tối:
    – Cái gì ảnh cũng la rầy. Tuần trước em may xong cái áo gấm Thượng hải, đem về chỉ định khoe với thầy me thôi. Nhưng thầy me bận đi đâu cả, em chịu không nổi, nao nức mặc áo đi vào khoe với ảnh. Ảnh ngắm một hồi không khen cũng không chê. Qua lối ảnh nhìn, em biết ban đầu ảnh phục em mặc đẹp. Nhưng sau đó ảnh chau mày hỏi em: “Công may hết bao nhiêu thế́?” Em nói giá và cẩn thận phân bua vì vải hiếm, thợ may sợ cắt hư phải đền nhiều tiền nên lấy giá cao. Anh bĩu môi phán một câu: “Bấy nhiêu tiền đủ cho một gia đình nghèo ở gầm cầu Gia hội sống một tháng đấy”. Chị Trang nghĩ xem, đang vui mà nghe như thế, có bực không!
    – Rồi mày nói sao?
    Giọng Quỳnh Như trở nên hăng hái:
    – Em gọi ảnh là “ông thánh”. Xin “ông thánh” anh tôi cứ đem hết quần áo ra phân phát cho những người chui rúc ở tất cả các gầm cầu. Chị có biết ảnh nói sao không?
    – Ảnh nói gì?
    – Ảnh nói một mình ảnh làm không đủ. Phải có nhiều người làm việc đó. Kinh nghiệm cổ kim cho thấy nhỏ nhẹ khuyên lơn, hoặc van xin thì không ai chịu làm như thế cả. Chỉ còn một cách.
    Quỳnh Như láu lỉnh dừng lại, giả vờ ngáy dài, lơ mơ muốn ngủ. Quỳnh Trang kiên nhẫn chờ mãi không được, thúc cùi chỏ vào hông em hỏi:
    – Cách gì thế?
    Quỳnh Như phá lên cười, cười xong nhớ cần im lặng cho người khác ngủ, lại giấu mặt dưới tấm chăn len.
    – Anh ấy nói chỉ có một cách duy nhất là tước đoạt tài sản do bọn giàu có bóc lột được lâu nay đem trả lại cho dân nghèo. Làm như thế là thực hiện công lý vĩnh cửu, theo ý muốn của Thượng đế.
    Quỳnh Trang không ngờ anh mình có những ý tưởng như vậy, lo sợ vu vơ không nói gì được. Quỳnh Như tưởng chị đã ngủ, hỏi hơi lớn:
    – Chị còn nghe em nói không?
    – Còn. Gì vậy?
    – Hôm chị vào Sài gòn học dược được nửa tháng, thầy với anh Tường có cãi nhau một bữa thật gay go.
    – Thật thế à? Chuyện gì vậy?
    – Vẫn chuyện ấy. Anh cứ nói theo cái giọng trách móc dấm dẳng khó chịu như thế. Hôm đó me vào Đà nẵng nhận hàng nên chỉ có em, thầy và anh ấy ở nhà. Anh không dám nói thẳng như đã nói với em, nhưng thầy hiểu liền. Thầy quát: “Tao không muốn nghe cái luận điệu đó trong nhà nầy”.
    – Rồi anh Tường phản ứng thế nào?
    – Anh ấy không sợ hãi gì cả. Anh nhìn thẳng vào mặt thầy, mím môi nhìn một lúc rồi nói: Thầy không muốn nghe người trong nhà nói thì cũng phải có lúc người ngoài phố chận thầy lại, sau khi đập nát cửa kính, đốt cháy chiếc Toyota trắng của thầy, họ sẽ quát vào mặt thầy: “Ê, xuống đi. Thằng nhà giầu bần tiện. Mày đổ chính máu tụi tao, mồ hôi tụi tao vào cái xe của mày để làm nhiên liệu, mày biết không?”
    Quỳnh Trang ngạc nhiên quá, chống tay ngồi dậy nhìn em sững sờ. Có thể như vậy được sao? Quỳnh Trang run run hỏi:
    – Sau đó thầy làm gì?
    – Thầy đánh cho anh Tường một bạt tai. Chị về kỳ này có thấy anh ấy thay kính hay không? Cái gọng nâu bị gẫy từ hôm ấy.
    Quỳnh Trang thì thào:
    – Hèn chi hồi nãy Nam nó hỏi, chị không đáp được. Nó hỏi tại sao cặp kính cận trước đây rất hợp với khuôn mặt xương xương của anh ấy, sao bây giờ lại đổi sang gọng vuông. Nam nó theo dõi anh ấy từng ly từng tí.
    Có tiếng ho húng hắng bên phòng ngủ của ông anh. Hai chị em sợ anh đã nghe thấy, nhìn nhau lo ngại, rồi cố dỗ giấc ngủ. Có lẽ bây giờ đã quá một giờ khuya.
    Nằm yên chưa được đầy mười lăm phút, Quỳnh Như lại gọi nhỏ:
    – Chị Trang ơi!
    Quỳnh Trang không ngủ được, nhưng vờ nằm yên xem con em làm gì. Quỳnh Như se sẽ ngồi dậy thật nhẹ, để cái lò xo dưới nệm khỏi kêu cót két, se sẽ chống tay choàng qua Quỳnh Trang, lém lỉnh cúi xuống thật gần. Hình như bà chị đã ngủ thật vì mặc dù Quỳnh Như nhìn chị lâu, hơi thở Quỳnh Trang vẫn đều đặn. Quỳnh Như ngắm chị, thấy khuôn mặt chị phúc hậu thật. Hai má bầu, cái mũi thẳng, môi trên hơi đầy nhưng bù lại, cái miệng khá rộng thành thử vẫn giữ được nét cân đối. Quỳnh Như tưởng tượng người đàn ông có diễm phúc được làm chồng chị Quỳnh Trang, được áp lên đôi má êm và mịn màng này, được hôn lên đôi môi đầy này, được vuốt ve mớ tóc dầy kia… Quỳnh Như cảm thấy xao xuyến. Trong vòng tay cô, bà chị vẫn ngủ say. Hình như quá say thì phải, vì Quỳnh Trang bắt đầu ngáy. Quỳnh Như ngờ ngợ điều gì. Cô mĩm cười, cúi sát thêm vào gần mặt chị, bậm môi làm cho cái mồm méo xệch. Quỳnh Trang không nhịn được nữa, bật cười kêu lên:
    – Mày làm cái trò gì thế, con quỉ.
    Quỳnh Như cũng cười rúc rích:
    – Ai bảo chị ngáy lớn. Nghe chị ngáy lớn quá, em biết chị giả bộ liền.
    – Thôi ngủ đi. Quá khuya rồi.
    – Em không ngủ được. trong lòng cứ nao nao thế nào!
    – Hay mày phải lòng đứa nào rồi? Đêm nay có thấy đứa nào coi được đâu.
    Quỳnh Như thành thực tâm sự:
    – Em chả chú ý đến ai cả. Em chỉ thích có mỗi một mình em. Đêm nay em thấy mình lạ quá. Em lớn hẳn lên, đẹp hẳn lên. Qua mười tám tuổi, chao ơi, thiên hạ không ai dám gọi em là con bé nữa nhé. Phải kêu “cô” đàng hoàng. “Thiếu nữ”. Ừ nhỉ, em đã thành một thiếu nữ như ai. Từ nay nhất định em không thèm mặc jupe xanh đi học nữa. Phải áo dài. Chị biết không, hồi tối anh Ngô mời em làm người mẫu cho anh ấy vẽ bức tranh thi tốt nghiệp đấy.
    Quỳnh Trang hơi ganh tị, hỏi xẵng:
    – Thật thế à?
    – Lại không thật. Nếu chị muốn, em sẽ nhờ anh ấy vẽ luôn cho chị.
    Quỳnh Trang giận. nói ngay:
    – Chả thèm.
    Quỳnh Như cố giữ thể diện cho mình:
    – Anh ấy vẽ đẹp đấy chứ. Anh Tường bảo anh Ngô sẽ trở thành một họa sĩ lớn. Chắc chắn thế.
    Giọng Quỳnh Trang mỉa mai:
    – Còn mày sẽ trở thành một người mẫu lớn. Sướng chưa!
    Quỳnh Như ngơ ngẩn chưa hiểu nổi vì sao đột nhiên chị mình cau có mỉa mai, nằm xuống giường suy nghĩ. Càng nghĩ cô càng tủi thân. Năm nay lên mười tám tuổi, trong nhà không ai hiểu cho cô cả. Thầy me có nuông chiều thật đấy, nhưng chiều chuộng là một đàng, hiểu con là một đàng. Còn lại ba anh em trong nhà. Anh Tường dở chứng đăm đăm suốt ngày. Xem tiện nghi và sự giàu sang đang hưởng là một thứ chất độc làm ung loét tâm hồn, một nỗi ô nhục nên giấu đi mà hưởng chứ không nên khoe ra. Chỉ còn mỗi một mình chị Quỳnh Trang để tâm sự. Thế mà chị ấy có chịu nghe cho đâu. Mình định kể cho chị ấy nghe niềm hãnh diện đáng yêu của mình đêm nay, niềm thương bao dung mình muốn mọi người trên thế gian đều được chia sẻ âu yếm. Thiếu nữ! Mười tám tuổi! Thiếu nữ! Ôi chao, thật là tuyệt vời. Quỳnh Như bất giác cười khúc khích.
    Quỳnh Trang quay lại hỏi:
    – Mày còn định bày trò gì nữa!
    Quỳnh Như cười, rồi đáp:
    – Chẳng có trò gì. Thấy vui nên cười, thế thôi.
    – Con này điên rồi.
    – Có lẽ.
    Họ lại cố dỗ giấc ngủ.
    …….
    Tối hôm ấy sau bữa tiệc sinh nhật. Ngô rủ Tường đèo nhau qua tiểu khu xem có thể rủ Ngữ đi về xưởng vẽ uống cà phê nói chuyện hay không. Nghe gợi ý của bạn, Tường sáng mắt lên. Nhưng ngay sau đó, chàng nói:
    – Qua chỗ đó mình không thích tí nào cả.
    Ngô quên thói quen suy nghĩ của bạn, hỏi lại:
    – Chỗ đó là đâu?
    Tường đáp, giọng khinh miệt:
    – Những chỗ chuyên bàn tính chuyện bắt người và giết người. Tiểu khu không làm chuyện đó thì làm gì? Thằng Ngữ có nói gì thì nói, giữa bạn bè vì thương nhau nên thông cảm cho nhau. Nhưng nó vẫn cứ là cái mắc xích cần thiết cho bộ máy đàn áp. Nó bảo chỉ lo việc vặt như tiếp công văn đến, chuyển công văn đi ư? Thử tưởng tượng nếu nó bỏ phứa hết cả, công văn đến thì lấy đi cầu, công văn đi thì cho trẻ con thắt thuyền, kết quả sẽ ra sao? Nó tình nguyện làm cái mắc xích ngoan ngoãn, để mặc cho người ta lâu lâu bôi dầu bôi mỡ, thì bảo không liên can sao được.
    Ngô cau mày khó chịu. Tường nói thật hăng, thật lâu, nhưng Ngô không nghe gì thêm được. Bạn chàng đã nhai đi nhai lại từng ấy lập luận biết bao nhiêu lần rồi. Thành thực mà nói, trong ba người thường đi lại thân mật với nhau là Tường, Ngô và Ngữ, chỉ có nhà Tường là khá giả. Do đó mọi khoản chi phí như tiền trả cà phê, đường, tiền mua xăng đổ vào chiếc vespa công cộng, tiền mua các cuốn sách cần thiết để làm tài liệu tranh luận, kể cả khoản tiền bù khú trên đò Thương bạc, đều do Tường xuất ra cả. Ngô và Ngữ mặc nhiên xem điều đó tự nhiên, vì biết tiền lương giáo sư triết của Tường chỉ đủ cho chàng tiêu vặt, hút thuốc và may quần áo. Ông bà Thanh Tuyến giàu có, đứa con trai đầu có lấy tiền ăn tiêu với bạn bè cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Họ chỉ khó chịu khi Tường làm như chưa hề biết xuất xứ các món tiền mình đem tiêu hàng ngày. Chàng làm như mình hoàn toàn vô can, đứng ngoài với bàn tay sạch sẽ để chê kẻ này, trách kẻ kia. Ngô xin về để tháp tùng cô em gái. Diễm chờ ông anh từ lâu ở trước của hiệu radio Thanh Tuyến, cho nên Ngô không kịp nói điều mình muốn nói. Chàng chỉ dặn bạn:
    – Sáng mai đem vespa lại đằng tao. Tao đến tiểu khu chở thằng Ngữ về, rồi ba đứa đi uống cà phê Thành nội. Sáng mai mày có giờ dạy không?
    – Không. Ðược, khoảng tám giờ tao qua mày.
    Tường đến đúng giờ hẹn. Nhà Ngô nằm trong khu cư xá hỏa xa nằm dọc theo sông đào An cựu. Trước đây khi ngành hỏa xa còn hoạt động bình thường, có lẽ căn nhà gạch này không đến nỗi tồi tàn lắm. Cách kiến trúc nặng nề từ thời Pháp thuộc với những tường ghép đá và cửa lá sách cao lớn, với mái ngói nhọn như mái các lâu đài châu Âu thời trung cổ, nói chung căn nhà chắc chắn nhưng thiếu bề rộng cho cả gia đình, chưa nói tới sự ngăn nắp phân chia rõ ràng phòng ăn, phòng ngủ, phòng khách theo lối sống mới. Ngoài cái buồng trong dành cho đàn bà con gái, còn đàn ông con trai từ lớn tới nhỏ làm gì cũng ở cái phòng rộng bên ngoài. Trong phòng, chỉ có một cái bàn gỗ khá chắc trên đó chi chít các dấu dao khắc, gọt, lem luốc dấu mực của biết bao thế hệ con cái nhân viên hỏa xa. Quanh cái bàn phong trần ấy là hai cái băng gỗ có dựa. Phòng khách ở đấy. Phòng ăn cũng ở đấy, tại cái bàn phong trần. Đặt khay nước có bốn cái tách trà bốc khói thì thành bàn khách. Đặt cái mâm thau với song cơm, đĩa rau muống, chén nước chấm, đĩa cá kho tiêu… thì thành bàn ăn. Hai bên bàn kê thêm một cái giường gỗ trải chiếu và một cái đi-văng cũ mặt láng vì mồ hôi. Ngô đã sống từ nhỏ tới lớn ở căn nhà này, đã nhìn hàng ngày những chuyến xe lửa chạy qua trước mặt mình, khi thì hiền hậu chậm chạp, khi thì mệt nhoài thở dốc, khi thì hung dữ gào thét. Ngô thường bâng khuâng đứng bên đường rầy nhìn theo cái đèn đỏ xa dần xa dần phía sau đuôi toa tàu couchette, lòng chán nản vu vơ. Những cảm giác ấy tích lũy lâu ngày thành một thứ hoài cảm thân thiết, quí giá đến nỗi dù muốn dời nhà bao nhiêu, cuối cùng gia đình Ngô vẫn ở căn nhà xập xệ đó.
    Từ khi vào học cao đẳng Mỹ thuật, Ngô mới thấy cần một chỗ rộng và yên tĩnh hơn để vẽ. Mấy năm gần đây ngành hỏa xa sa sút vì đường sắt bị phá hoại ở nhiều đoạn, lâu lâu chỉ còn chạy được chặng đường Huế- Đà nẵng. Một phần cơ sở phải chuyển nhượng qua Air Vietnam. Ga Huế không đủ kinh phí tu bổ nến nhiều dãy nhà kho, khu sửa chữa, khu gia cư bị hoang phế. Ngô tìm được một góc kho hàng khá tịch mịch và sáng sủa, sửa dọn lại, che kín thành một xưởng vẽ. Trừ hai bữa cơm, thường thường, các bạn bè của Ngô đến tìm chàng ở đây. Họ sống được thoải mái tùy thích, không phải ràng buộc vì lễ phép hoặc vì công lệ, thành thử cuối cùng, xưởng vẽ của chàng trở nên một nơi tụ tập văn nghệ lý tưởng, ở đó không có cái sang trọng ngăn nắp làm cho khách rụt rè khó chịu vì sợ làm điều gì thất thố, cũng không có cái bừa bộn dơ dáy thái quá của những căn phòng bọn độc thân. Khoảng vườn chuối kế tiếp với xưởng vẽ không rậm lắm nên ánh sáng mặt trời lọc qua các khe lá non chiếu hắt vào xưởng thứ ánh sáng trong xanh lung linh; lá chuối khô sột soạt, tiếng chim sẻ ríu rít trên ngọn nhãn và ở những mái kho bỏ trống, mấy toa xe cũ đứng án ngữ trước mặt như quay lưng với cuộc mưu sinh. Làm gì ngoài đời thì làm, nghĩ xuôi ngược thế nào cũng được, nhưng hễ đến đây, dường như mọi người đều được cảnh vật chung quanh dặn trước: “Hãy sống thoải mái. Hãy để mặc cho Tạo Hóa sinh diệt, tàn phai rồi nẩy mầm. Hãy lắng nghe tiếng chim chíp và tiếng nước rủ rỉ ngoài sông đào. Xin được yên tâm”. Có lẽ đó là nét quyến rũ của xưởng vẽ.
    Ngô để mặc cho Tường quét dọn và nấu nước sẵn pha cà phê, lấy vespa chở Ngữ về. Họ đã đổi ý, muốn vừa uống cà phê tại nhà vừa nói chuyện tầm phào hơn là đi la cà tận Thành nội.
    Ngữ và Ngô về thì cà phê cũng vừa pha xong. Tường mở kính cận ra lau, đôi mắt lờ đờ nhìn Ngữ khiến Ngữ cảm thấy nhột nhạt. Ngữ đột nhiên thấy bạn già nua, cau có khác thường. Chàng cười gượng hỏi bạn:
    – Đêm qua có vui không?
    Tường nói:
    – Chờ mày mãi.
    Ngô giải thích rõ hơn:
    – Các cô cứ cá với nhau thế nào mày cũng tới. Một bên thách, một bên bắt, lần lần canh bạc lên cao lắm. Mày biết bao nhiêu không?
    – Bao nhiêu?
    – Một chầu bún bò.
    – Ai thua ai được vậy?
    – Mấy cô em gái của mày bị thua. Không biết anh em trong nhà hiểu nhau đến thế nào mà các cô ấy nhất định bảo mày sẽ tới. Quế còn nói chắc: “Anh ấy không tới thì chặt đầu em đi”.
    Ngữ cười bảo:
    – Tại tụi nhỏ thấy mình cạo râu kỹ quá. Tao định đi dự thật, nếu…
    – Nếu thế nào?
    – Nếu vào phút chót không có lệnh viết gấp diễn văn cho đại tá tiểu khu trưởng.
    Tường bực dọc khai pháo:
    – Mày hạ mình làm những chuyện lăng nhăng ấy sao?
    Ngữ đã quen với những câu khiêu khích loại ấy, nên cười đáp:
    – Những chuyện đó lăng nhăng, đúng, khỏi cần bàn cãi nữa. Cái trò làm lớn thật lố lăng. Nếu không tự ứng khẩu để nói thì phải tự viết mà đọc. Sai cấp dưới làm bài sẵn để lên bục đọc chính tả, thực chẳng biết xấu hổ là gì. Khôi hài hơn nữa là những người đứng nghe đều biết rằng ngài đại tá chỉ có việc đọc bài người khác viết sẵn, rằng ngài vừa đi ăn phở về hoặc mới ở sòng xì tố với ngài tỉnh phó nên không có hứng ban huấn từ. Biết tẩy như thế nhưng vẫn lễ phép cung kính lắng nghe. Nghe xong gật gù đắc ý, rồi lên cảm ơn đại tá đã sáng suốt ban toàn lời vàng ngọc.
    Tường hỏi:
    – Mày thấy rõ như thế sao còn viết giùm cho hắn?
    Ngữ hỏi lại:
    – Nếu mày ở vào hoàn cảnh tao, mày sẽ làm gì?
    – Tao đâu có buông xuôi để đến nỗi phải ở thế kẹt của mày. Mày đặt câu hỏi không đúng!
    Ngữ thấy chóng mặt. Chàng bậm môi lại nhìn Tường. Khuôn mặt xương xương. Mái tóc dài. Đôi mắt hơi nhỏ có đuôi, mỗi lần không nhìn ai thì lờ đờ còn khi chủ ý nhìn thì muốn tọc mạch xoáy sâu vào tâm hồn kẻ khác. Đôi môi thâm vì hút nhiều thuốc lá. Trên khuôn mặt hơi bệnh hoạn ấy, có điều gì bất thường, thiếu sự quân bình hài hòa. Ngữ nói một mạch dài:
    – Vâng. Mày là thằng có bàn tay sạch nên mạnh bạo chê bai kẻ khác. Mày có ý chí làm chủ được cuộc đời mình nên chưa hề bị du vào thế kẹt. Mày muốn làm gì thì làm, và chỉ làm điều mình cho là hợp lý. Tao với mày thân nhau quá, biết nhau từ hồi còn học lớp đệ thất nên khỏi cần phải khách sáo làm gì. Mày tự hào chưa hề yếu đuối, thỏa hiệp? Mày nhớ lại coi. Nhớ lại cái thời tao với mày còn học đệ nhị, và đột nhiên cả hai đều khám phá ra cái nhạt nhẽo vô vị của những điều mình học. Tao bỏ trường, còn mày, mày sợ thầy mẹ buồn. Lên đệ nhất mày cũng than phiền chương trình triết học chắp vá, và chỉ đưa đến những ảo vọng về trí tuệ, những ngộ nhận về hạnh phúc. Rồi chính mày học thuộc lòng những ảo vọng, những ngộ nhận đó, thuộc đến nỗi mày vừa đậu được cái bằng tú tài triết vừa đậu luôn vào Ðại học Sư phạm̉. Mày chịu khó học thuộc bài hơn ai hết, dù mày không tin chút xíu nào giá trị trong các bài đó. Nhờ chịu buông xuôi từ đầu nên mày khỏi kẹt vào khúc cuối. Mày được hoãn dịch vì công vụ, khỏi mặc áo lính, nên khỏi phải nghe lời thằng cha căng chú kiết nào hết. Tay mày sạch. Được rồi. Nhưng muốn giữ tay sạch, mày phải nhờ vả vào bàn tay không được sạch lắm của nhiều người, trong đó có cả tao. Mày nhớ chưa?
    Tường không chờ đợi những phản ứng dữ dội như vậy, nên ngơ ngác nhìn hết Ngô đến Ngữ. Ngữ vừa dứt lời, Ngô đã tiếp:
    – Tối hôm qua, tao cũng muốn nói với mày như vậy.
    Tường hỏi cho có hỏi:
    – Lúc nào?
    – Lúc mày từ chối không chịu qua tiểu khu đón thằng Ngữ về.
    Tường lại giở kính ra chùi, chùi xong đeo vào mắt trở lại. Chàng hấp háy mắt nhìn hết Ngô đến Ngữ, như hy vọng với một đôi kính trong, hình dáng các bạn sẽ khác đi. Khi thấy cả hai đều kiên nhẫn chờ mình trả lời, Tường hỏi:
    – Chúng ta có nên nói huỵch toẹt những gì chúng ta nghĩ về nhau không?
    Ngữ thấy cách lau kính của Tường đủ biết bạn ở vào trạng thái kích động cao độ, nên cười giả lả, tìm kế hoãn binh:
    – Nên lắm. Nhưng nên từ từ. Sự thật không nên đến một lúc ồ ạt như thác đổ. Bây giờ hãy tạm uống cà phê sáng đã. Gớm, buồn ngủ thật.
    Tường hơi cụt hứng, định nói gì đó, sau lại thôi. Ngô ở vai chủ nhà cứ sợ có đổ vỡ cãi vã giữa hai người bạn thân, bây giờ mới yên tâm. Ngô thầm phục sự điềm tĩnh của Ngữ. Sợ Tường quay lại chuyện hóc búa để trả lời Ngữ, Ngô chỉ bức tranh mình vẽ dở dang bảo hai bạn:
    – Mình vừa tìm được cái mầu nền “đã lắm”. Không hẳn là xanh ngọc bích. Bầu trời ngọc bích quang đãng không như vậy. Có thể có khá nhiều mây, nhưng sự u ám chưa đủ đậm để tuyệt vọng. Ðó là tình trạng lơ lửng giữa ngậm ngùi, bồi hồi, vui không duyên cớ, buồn không hiểu vì sao buồn. Ðã lắm.
    Tường uống một ngụm cà phê, rút thuốc Capstan ra hút, rồi bảo Ngô:
    – Mày tìm được cái thứ lơ lửng như thế này mà kêu đã lắm đã lắm hoài. Đã cái gì?
    Ngô tiên cảm lại có một cuộc tranh luận mới, mỉm cười hỏi lại:
    – Mày đòi gắn ngòi nổ vào mấy hộp sơn của tao sao?
    Tường đáp ngay:
    – Khỏi cần. Thứ mầu sắc u ám với đám thiếu nữ ho hen của mày, có gắn được ngòi nổ thì tim dẫn lửa cũng tịt thôi. Không khí toàn ẩm mốc đìu hiu. Trước kia tụi mình bất lực, viết vẽ như thế được. Bây giờ Ngô triều đổ rồi, bọn quan lại về vườn hết. Đúng là lúc thế hệ trẻ có thể làm được việc. Không làm được thì thôi, đừng nói dóc nữa.
    Ngô kêu lên:
    – Tao có nói dóc đâu. Tao chưa hề, và chưa bao giờ muốn ống sơn dầu của tao lộn bất cứ loại hột nổ nào, dù hột nổ nhãn hiệu USA hay nhãn hiệu USSR. Tao vẽ cho tao. Cái gì tao thấy đã thì tao vẽ, hôm nay thấy đã mà ngày mai hết thấy đã thì xóa đi. Ngày mốt lại thấy đã, thì vẽ lại. Lẩm cẩm quá chứ gì. Tao không mong làm cho cuộc đời đơn giản hơn. Ngược lại.
    Tường hỏi:
    – Mày cóp được ở đâu bao nhiêu ý tưởng ích kỷ thế? Mày tưởng hễ là nghệ sĩ là chúa rồi, chỉ còn biết vâng theo cảm hứng của ta thôi hay sao?
    Ngữ chen vào hỏi Tường, giọng hơi khôi hài châm chọc:
    – Mày định ăn ghém văn nghệ phải không? Thái nhỏ văn nghệ ra kẹp với chả cá chính trị rồi ăn ngay, khỏi cần kiên nhẫn chờ luộc chín hoặc để lên men chua thành dưa. Coi chừng. Bọn văn nghệ thâm lắm. Ăn vội, nhiều khi trúng độc phát đau bụng liền.
    Ngô cười lớn, khôi hài:
    – Tụi mình đúng là dân ăn tục nói phét. Một thằng giáo sư triết chán triết, một thằng vẽ vời chưa nên hình, một thằng viết được vài ba cái truyện ngắn chưa đâu chịu đăng, thế mà bàn đến sứ mệnh văn nghệ như những đại đại triết gia, đại đại họa sĩ, đại đại văn hào. Hô hô. Khôi hài không chịu được.
    Quả nhiên câu nói đùa của Ngô một lần nữa làm cho cuộc tranh luận hạ bớt nhiệt độ. Tuy nhiên, mỗi người vẫn ấm ức dậm chân tại chỗ. Tường cảm thấy khó chịu vì hai người bạn thân không đồng ý với cách nhìn của mình, Ngữ không quên được những lời khinh thị của bạn về địa vị thấp kém của mình trong quân đội, còn Ngô thì chưa dễ quên câu chê bai phũ phàng của Tường. Họ im lặng uống hết mấy tách cà phê nguội, băn khoăn tìm kiếm đề tài nào ít gai góc hơn.
    Người ái ngại nhất là Tường. Chàng cảm thấy mình đã làm phiền lòng hai bạn. Cho nên khi bắt gặp cái nhìn làm hòa của Ngữ, Tường vui vẻ nói:
    – Khi hôm mày không đến thật uổng.
    – Sao thế?
    – Kể ra có mấy cô choai choai ca hát líu lo cũng khá vui. Có cả cái ban nhạc Thanh niên Hoàng gia nữa.
    Ngữ trố mắt kinh ngạc hỏi lại:
    – Hoàng gia nào?
    Cả Tường lẫn Ngô đều cười. Tường nhường cho Ngô nói trước:
    – Thì đúng là hoàng gia trăm phần trăm chứ có mạo hóa đâu. Thời ông Diệm hoàng gia bị buộc phải đả đảo quốc trưởng, để thề trung thành với Ngô chí sĩ. Bây giờ chí sĩ chết, hoàng gia lại lên chân. Thằng Mân con ông thầu khoán Tôn Thất Toàn bên An cựu, mày biết không? Nó là sáng lập viên của cái gọi là Royal Youth Club đấy. Câu lạc bộ chưa có hội viên, nhưng trống kèn và ca sĩ thì đã có rồi. Mặt trống đề chữ RYC bay bướm lắm.
    Tường cười, nói thêm:
    – Mày nên chuẩn bị xin gia nhập hội đi thì vừa.
    Ngữ cười ha hả ra vẻ thú vị lắm. Chàng nói:
    – Ai cho vào. Chỉ có hoàng tộc thôi.
    Tường vội nói:
    – Nhưng mày được bên họ ngoại. Bà cụ là Tôn nữ chứ gì. Thằng Lãng đã xin được vào dự bị hội viên đấy.
    Ngữ thôi cười, trầm ngâm nhận xét:
    – Thật đáng sợ. Cái óc trục lợi tham danh của loài người thật kinh khủng. Mới có một tháng sau ngày gia đình ông Diệm đổ, ở cái xó ẩm mốc này người ta còn nghĩ ra được Royal Youth Club huống chi ở các nơi như Sài gòn. Tụi mày có thấy cái mốt tư tưởng của giáo sư và sinh viên đại học Huế này thay đổi không? Trước đây các thầy các cậu chuộng cái kiểu “chứng nhân minh triết” của Camus vì nó ít nguy hiểm và giữ được thế giá. Chịu đựng phi lý nhưng hiểu tận chân tơ kẽ tóc nó, thế mới oai. Bây giờ, thời thế thay đổi. Các thầy bị tù trở về, thế nào cũng đòi hỏi một chỗ đứng coi được. Làm nhân chứng, lỗi thời rồi. Có thể lại có cái mốt mới: thứ “hiện sinh dấn thân” của Jean Paul Sartre.
    #2
      huytran 1 giờ (permalink)
      Chương 03
       
      Buổi chiều Tường có giờ dạy ở Quốc học nên trong xưởng vẽ chỉ còn Ngô và Ngữ. Tường vừa lấy vespa đi xong, Ngô đã nói với bạn:
      – Nó đã đi hơi xa rồi đó. Ai nó cũng mỉa mai được. Khi hôm không có tao chắc hai cha con lại gây sự với nhau.
      – Chuyện gì nữa?
      – Vẫn bấy nhiêu chuyện ấy. Nó tính tiền một bao Craven A và qui xem một gia đình ở gầm cầu Gia hội mua được bao nhiêu gạo.
      Ngữ cười:
      – Sao nó cứ lấy đơn vị là những gia đình ở gầm cầu Gia hội? Về điểm này, nó ít có sáng kiến. Vả lại, mày có bao giờ quan sát nếp sống của những gia đình ấy chưa?
      – Chưa! Có gì lạ đâu!
      – Lạ lắm chứ! Lũ nhóc không quần áo vì suốt ngày bơi lội bì bõm dưới sông. Ðầu khét nắng, mũi thò lò, bụng ỏng, lâu lâu có cơ hội thì ăn cắp vặt. Những điều ấy mày tưởng tượng ra được vì thông thường. Nhưng mày có thể không chú ý đến lối nhìn đời của người lớn. Thản nhiên lắm. Các bà bỏ mặc đám con cái lăn lóc dơ dáy, xúm nhau lại đánh tứ sắc trên chiếc chiếu rách, ngay bên cạnh đống rác hôi hám. Các ông thì nằm ngay trên xe cyclo gác dưới gốc cây, mắt đỏ kè vì đang nhậu. Một tay cầm cái cổ gà, một tay cầm xị rượu đế. Giá thằng Tường có đem tiền dành mua Craven A xuống tặng họ, có lẽ họ không đi mua gạo như ước mong của nó đâu. Hoặc người mẹ sẽ nướng thêm vào sòng tứ sắc, hoặc người cha có thêm chút ít để mua thêm cái cổ gà mút mút nhậu cho hết xị rượu còn lại.
      Ngô cười đưa nhận xét:
      – Mày chưa khỏi được cái bệnh hoài nghi. Nếu họ ăn xổi ở thì như vậy, thì lỗi không do họ. Họ không còn gì để toan tính lo xa cả. Vì vậy, họ chỉ cần chuyện trước mắt.
      – Tao cũng đồng ý như vậy. Nhưng tại sao lại cứ nêu trường hợp những gia đình sống dưới gầm cầu như những kẻ sẽ nắm vận mệnh tổ quốc trong tương lai? Lúc nãy tao nói như vậy có gì quá đáng không?
      Ngô đáp:
      – Không đâu. Nhiều lúc tao cũng muốn nói như mày. Nhưng Ngữ ạ, phải rán hiểu nó. Tường nó đang ở trong một cơn khủng hoảng trầm trọng, gần như khó tìm được lối thoát. Nó gây sự với mọi người, khinh rẻ mọi người. Trong lúc đó, nó chưa tìm được cái gì thật đáng tin để bám vào. Chúng mình lớn lên trước một sự đã rồi. Tụi mình còn quá bé để được cha mẹ hỏi ý kiến vào những năm kháng chiến giành độc lập. Tường nó khó chịu tại sao thầy mẹ nó đã có tinh thần yêu nước đủ để tham gia võ trang tuyên truyền ở khắp miền chiêm trũng, về sau lại đào ngũ dinh tê về thành. Về thành rồi, sao không hoạt động nội tuyến để chống thực dân, lại còn làm giàu mau chóng nhờ các cuộc đấu thầu xây lô cốt, trại lính, kho đạn. Năm 1954 Tường đã khá lớn; mười ba mười bốn rồi còn gì nữa, sao thầy mẹ không hỏi ý kiến con trước khi đem cả gia đình di cư vào Nam. Đại khái nó đã lập luận như vậy để cuối cũng thấy sự giàu có hiện đang hưởng thật đáng thẹn. Nó biết muốn mở một cửa hiệu buôn máy thu thanh, máy hát phải có nhiều vốn, và cái vốn đó không phải là của nhà tích lũy lâu đời. Rắc rối do đó mà ra cả.
      Ngữ nói:
      – Mỗi thế hệ chịu trách nhiệm về những ngây thơ hoặc lầm lạc của mình. Trách móc, đổ thừa qua lại chẳng có ích gì. Nếu hối tiếc cho lớp cha ông mình lỡ làng, thì ai cũng có, hoặc nhiều hoặc ít. Chẳng hạn như tao với ba tao ít khi thỏa thuận được với nhau về rất nhiều điều quan trọng. Một hôm ba tao cao hứng kể chuyện thanh niên miền Bắc nam tiến lúc Pháp thay chân quân Anh tái chiếm Nam bộ. Ba tao say sưa kể các cuộc chiến đấu hồi đó ở Vạn giả, Ninh hòa, và cứ lấy làm tiếc là vì tổ chức còn kém và thiếu vũ khí nên chống cự chưa bao lâu đã phải tan rã. Ba tao mất liên lạc, lang thang đói khát một thời gian, về sau gặp má tao ở phố Ninh hòa rồi gửi rể ở đó luôn. Ba tao coi chỉ có ngày tháng sôi động đó là đáng kể trong đời. Những chuỗi ngày còn lại, từ lấy vợ, sinh con, đi dạy học, trôi nổi theo vận nước đều chỉ là thừa thãi, những ngày lêu bêu trôi giạt. Tao bạo gan đặt câu hỏi: “Nếu ba không mất liên lạc, thì bây giờ sẽ thế nào?” Mắt ba tao sáng lên. Ông cụ nói: “Không mất liên lạc hả? Không mất liên lạc thì…” Ông cụ khựng lại, không nói được hết câu. Rồi ông cụ trách tao sớm nhiễm cái tinh thần hoài nghi của kẻ chủ bại.
      Ngô nói:
      – Hèn gì thầy hợp với thằng Tường. Tao cứ thấy nó đến thăm thầy hoài. Có lẽ nó lấy cớ đi tìm mày, nhưng thật ra là đến tìm thầy.
      Ông Văn từng dạy cả Ngô, Ngữ lẫn Tường, nên mỗi lần nhắc đến ba Ngữ, Ngô vẫn dùng cách xưng hô kính cẩn ấy.
      Ngữ gật gù rồi nói:
      – Phải. Nó hợp với ba tao hơn với tao.
      Ngô hỏi:
      – Một tháng nay sau khi ông Diệm chết, thiên hạ xôn xao mơ ước vận hội mới, thầy có nói gì với mày không?
      Ngữ cười buồn, trầm ngâm một lúc, mới đáp:
      – Khi nào tâm sự với con cái cũng khó khăn hơn với học trò. Ba tao nói mỗi lần giảng bài nhìn xuống lớp bắt gặp đôi mắt tao nhìn lên, ông mất ngay hứng khởi. Tao cũng vậy. Tao vẫn thích học người khác hơn học ba tao.
      Ngô thấy chuyện hay hay, hỏi:
      – Ừ nhỉ, tại sao vậy? Anh em trong nhà cũng vậy. Tao có thể tâm sự chân thành tự nhiên với Nam, với Quế, nhưng với con Diễm em tao thì chịu. Sao thế nhỉ?
      Ngữ vừa suy nghĩ vừa cố giải thích:
      – Vì những người thân ruột thịt quá hiểu nhau, đến nỗi khỏi cần dùng tới lời nói. Một cái nhìn, một tiếng ho, một cái liếc mắt, đủ rồi. Sự thông cảm gần như trầm lặng ấy không thu nạp được những lối nói quanh co, những môi miếng giả dối, những điệu bộ phường tuồng hay lời hay ý đẹp. Những xảo thuật ấy chỉ xài được với người lạ. Đối với người thân, nó trở thành vô ích. Cho nên nhiều lúc mình trải qua kinh nghiệm này: Giả sử hai anh em, tao với con Nam đang ngồi với nhau. Bạn con Nam đến chơi. Tự nhiên tao ba hoa, tao cố tỏ ra văn chương thơ mộng, tao làm điệu làm bộ như một thứ triết nhân hiểu đời. Tao trầm ngâm, tao đăm chiêu. Lúc đó tao say mê với vai trò của mình quá nên không thấy gì bất thường. Cho đến khi bạn con Nam về rồi, chỉ còn hai anh em với nhau, em gái tao chợt nhìn tao, cười. Tao đỏ mặt muốn độn thổ ngay lúc ấy. Quan hệ cật ruột luôn luôn có những nỗi cấn-cái phiền phức như vậy.
      Ngô đưa nhận xét:
      – Được. Mày cứ giữ cái thói quen sắc mắc mổ xẻ thái độ cử chỉ của người khác, chân thành mổ xẻ chính mày. Nghề văn cần như vậy. Giữ được lòng chân thực, và dám đi đến tận cuối những gì thiên hạ chỉ dám nói một nửa, hình như Dostoievsky đã nói như vậy. Lâu nay mày viết được gì không?
      – Cứ viết rồi xé mãi.
      – Sao thế?
      – Chắc mày vẽ tranh cũng phải trải qua tâm trạng như tao. Từ lúc có ý muốn viết cho đến lúc viết xong, tao trải qua nhiều cảm giác phức tạp và mâu thuẫn quá. Ban đâu là một cái ý ngộ ngộ. Mình thấy có thể viết một cái truyện ngắn đây. Dĩ nhiên ở trình độ sơ cấp của mình hiện nay, truyện phải có truyện, nghĩa là phải có nhân vật, có cảnh ngộ éo le, có thắt nút mở nút. Ðể diễn tả cái ý hay hay ấy, phải nhờ đến chàng hoặc nàng, hoặc cả hai. Ðược. Nhờ cả hai cho đủ đôi vì độc giả thích cái gì vui vui trọn vẹn. Mình chiều ý độc giả vậy. Dựng hẳn nhân vật theo tưởng tượng là chuyện phiền phức và dễ gặp tai nạn. Chẳng hạn đầu truyện cho nàng có cái nốt ruồi dưới cằm, cuối truyện nốt ruồi lên trán. Hoặc đầu truyện chàng nung núc những mỡ mà đến giữa truyện chàng cởi áo giơ đủ mấy cặp xương sườn. Cho nên phải đưa vào một mẫu có thực trong đám thân nhân bạn bè, rồi phiên phiến thay đổi thêm thắt cho hợp nhu cầu. Nhiều lần mày với thằng Tường đã bị tao “xài xể” theo kiểu đó. Mày yên tâm. Tao cho mày đẹp trai hơn cái vốn của mày nhiều lắm, lại được các cô đua nhau chết mê chết mệt vì tranh mày quá đẹp, quá siêu.
      Ngô nóng ruột bảo:
      – Mày không đùa đấy chứ! Viết xong chưa, phải đưa tao xem trước.
      Ngữ cười vì chọc quê được bạn, nói tiếp:
      – Tao chỉ mới dự định thế thôi chứ đã viết ra đâu. Tao chỉ lấy ví dụ. Vì phải dựa vào người thật việc thật, nên nhân vật truyện và cuộc đời cứ co cưỡng nhau mãi. Bên nào cũng đòi thắng thế. Nhân vật truyện cong cớn nói: “Vì là truyện nên được như vậy”. Nhân vật đời thì bảo: “Nói láo, đời làm gì có chuyện ấy”. Kết quả ra sao tùy nội lực của người viết. Thường thường tao không hiểu hết những gì tao viết ra, vì lúc viết, tao bị lôi cuốn. Tao bất lực trước đà truyện và đòi hỏi tự do của nhân vật. Lúc đó óc tao không có gì rõ ràng. Tay tao viết một câu, đầu óc tao liền nghĩ ra câu nữa, rồi câu nữa. Viết câu này thì câu tiếp chưa hiện thành lời. Chỉ khi nào chấm câu dừng lại, thì ý mới hiện rõ lên, và tay lại viết. Cho nên đọc lại sau khi viết, thường thường mình bàng hoàng kinh ngạc: “Những thứ này của mình viết ra đấy sao?” Đôi khi vừa viết xong đọc lại, tao thấy dở tệ. Phần nhiều trường hợp đọc lại cả truyện thấy âm điệu du dương, đối thoại mạch lạc, tình tiết ly kỳ, chàng tung nàng hứng, hay quá đi mất. Bèn cẩn thận trang trọng xếp vào phong bì, đặt tên, ghi lúc và mới viết. Vài hôm sau nao nức giở ra đọc lại lần nữa để chép bản khác gửi đăng báo, thì than ôi, thấy dở thậm tệ. Văn viết trúc trắc, đối thoại lẩm cẩm, đầu Ngô mình Sở, tình tiết quá cải lương, kết cuộc gượng gạo. Mình nhìn quanh, sợ có người đến bắt gặp đòi đọc thì nguy! Phải xé đi! Xé liền! Thế là giỏ rác thêm một mớ giấy vụn chi chít chữ. Lâu nay tao đã trải qua cơn vật vã mang nặng đẻ đau như vậy đấy. Mày có lẩm cẩm thế không?
      ***
      Mỗi lần bạn bè đến chơi, Ngô thích tiếp khách ở “xưởng vẽ” của mình hơn là ngồi ở chỗ cái bàn nước sát cửa ra vào. Lý do chính là chuyện thể diện. Trong ba gia đình, gia đình Ngô chật vật hơn cả. Khỏi cần nhắc lại nếp sống phong lưu giàu sang của gia đình Thanh Tuyến.
      Bên phía gia đình Ngữ, ông Văn đi dạy học tuy lương ít nhưng nếp nhà cần kiệm đã quen, khách khứa ít, nên không phải trải qua những thăng trầm lớn lao. Họ không dư nhiều cũng như không thiếu nhiều. Có dư chút đỉnh, họ nhường cho nhau ưu tiên may thêm bộ quần áo, hoặc để dành mua thêm bộ sách. Thường thường họ chỉ thiếu. Cho nên bà Văn mới mở thêm một quán sách nhỏ ngay phòng trước. Con đường trước nhà ông bà Văn không đến nỗi vắng vẻ. Hai đầu đường lại có hai trường trung học tư thục, nhất là trường nữ tư thục do các sơ dòng Mai Khôi quản trị lại càng có nhiều học sinh con nhà khá giả hơn. Trước giờ học, vào giờ ra chơi hoặc tan học, lũ con trai cứ tụ tập ngay trước cửa nhà để đón nhìn, ngắm, hoặc bạo hơn là ghẹo bâng quơ các cô nữ sinh. Bà Văn mở quán sách càng giúp cho họ thêm lý do chính đáng. Để đỡ nóng ruột, bọn con trai vào xem báo, mua sách, hoặc bỏ vài đồng bạc lẻ mua lấy những thứ rẻ tiền như cái ngòi viết, cục phấn, miếng giấy thấm. Nhiều cô cậu còn mượn quán sách làm nơi hẹn hò hoặc làm “hộp thư”. Đáng lẽ một địa điểm thuận lợi như vậy phải đem lợi tức cho bà Văn khá lắm. Nhưng số thu vào hằng ngày chỉ đủ bù tiền chợ! Một phần những người quyết tâm mua sách không xuống tận đây vì trái đường, một phần vì cách chọn sách của ông Văn có phần thiếu thực tế. Ông chỉ cho phép vợ bán những thứ sách gì ông xếp vào loại tốt. Một lần thấy có nhiều cô cậu hỏi sách tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm của Phi Long như ”Con tàu máu”, “Bàn tay đẫm máu”, “Cánh buồm ma”, bà Văn ham lời lên phố mua về một ít cho thuê. Ông Văn biết được bảo đem đốt đi. Ông nói:
      – Mình quên là các con nó cũng xem hay sao. Không chọn sách, có khác nào mua thuốc độc về cho tụi thằng Ngữ, con Nam, con Quế, thằng Lãng chúng nó uống.
      Bà Văn không dám cãi lời chồng. Cho nên việc buôn bán chỉ cầm chừng ở mức độ vài tờ giấy thấm, vài cái ngòi bút, viên phấn, cuốn vở. Lâu lâu mới có ông khách già lơ ngơ vào hiệu xem qua, rồi vớ được những cuốn sách ám khói đầy bụi do ông Văn đích thân chọn mua, mừng quá vội rút ví trả tiền, như sợ bà chủ đổi ý. Bà Văn thường đem những mẩu chuyện vui ấy kể lại cho chồng nghe. Ông Văn mừng như đã gặp được bạn tri âm. Nếu ông khách quý đó còn trở lại lần nữa, thế nào bà Văn cũng hỏi thăm địa chỉ, quí danh, và từ đó về sau, mặc sức ông bà chủ hiệu tốn nước trà để khách quí huyên thiên về đủ thứ quan điểm nhân sinh cổ kim.
      Ngô thường đến chơi nhà Ngữ nên vẫn mơ ước có được nếp sống mẫu mực ấy. Gia đình Ngô không được may mắn như gia đình Ngữ. Ông Bỗng ba Ngô hồi nhỏ cũng được cha mẹ cho ăn học, nhưng có lẽ vì ham chơi nên không đi tới đâu. Ðến lúc cần có một nghề mưu sinh, lại ngại các nghề chân tay vất vả. Lêu bêu mãi đến gần ba mươi tuổi mới xin được chân kiểm vé ở ga Vinh. Ngô ít nghe cha mẹ đem cuộc hôn nhân của họ ra khoe với con cái như một kỷ niệm đẹp đáng hãnh diện, như đã nghe ông bà Thanh Tuyến khoe tối hôm trước. Lâu lâu, Ngô được nghe thầy Văn cha của Ngữ tế nhị nhắc lại một kỷ niệm cũ, và bà Văn đỏ mặt vì sung sướng. Học trò, con cái có tra vặn “điển tích” tình ái ấy, hai ông bà nhất định không nói gì. Ngô thấy sự kín đáo ấy vừa thơ mộng vừa cổ điển, quí giá như một chiếc lọ cổ đặt trong tủ khảm xa cừ. Ba mạ Ngô không có gì để khoe, mà cũng không có gì đáng giá để giấu. Các con chỉ biết lờ mờ rằng ba gặp mạ trên xe lửa, và họ quen nhau, cảm nhau, sau nay về sống với nhau nhờ đã cộng tác với nhau mua bán trên đường sắt. Hồi đó, ông Bỗng đã được đề bạt lên làm trưởng tàu trên chuyến tàu chợ Vinh – Huế. Ông giữ chức chef train ấy cho đến ngày nay, và có lẽ còn giữ được cho đến nay cái thói ăn nói buông tuồng, giao tiếp dễ dãi với các chị con buôn trên tàu lửa. Có thể vì vậy mà mạ không bao giờ hỏi đến chuyện làm ăn của ba. Mỗi lần đi làm về, ông Bỗng mang theo khi vài chục trái su, khi trái bí, khi nửa bao cát gạo, khi vài xâu cá biển. So với hình ảnh ông Thanh Tuyến lái xe Toyota trắng, một tay mang đồng hồ vàng gác trên cửa xe một tay ôm hờ cái vô-lăng bọc nhung, so với thầy Văn ăn mặc chững chạc xách cặp da bước lên bục giảng văn chương kim cổ, Ngô thấy thẹn thùng khi nghĩ đến ông Bỗng đội cái mũ két đã cũ, quần áo nhớp nhúa, tay ôm bao cát gạo tay xách xâu cá thất thểu lê bước từ thềm ga về nhà. Ngô còn biết những thức đó không phải ba bỏ tiền ra mua. Việc gì phải bỏ tiền, khi trên tàu có khối chị con buôn đi lậu vé.
      Một lần Ngô rủ Ngữ vào Ðà nẵng chơi. Ngô cố dò hỏi trước để khỏi đi chung chuyến với ba. Hai cậu mua vé đàng hoàng, lên toa hạng ba ngồi, yên chí. Không ngờ có thay đổi nhân sự vào phút chót, ông Bỗng lại làm trưởng tàu chuyến ấy. Ngô và Ngữ đang nhìn ra cửa xem cảnh bãi biển Lăng Cô, thì có tiếng van xin và tiếng đập xô thúng mủng sau lưng. Chính ông Bỗng. Chưa bao giờ Ngô thấy cha hung tợn tàn ác đến thế. Chàng xấu hổ cúi gầm mặt không dám nhìn Ngữ suốt đoạn đường còn lại. Chàng hiểu cái giá của những bữa cơm đạm bạc của gia đình. Từ đó về sau, mỗi lần gắp một miếng bí nấu canh, vẽ một miếng cá kho, hoặc cắn một trái chuối Ngô biết rõ xuất xứ, chàng thường nghẹn một lúc mới nuốt được. Tình cảm của chàng đối với cha tuy thế khống đơn giản chút nào. Khi thì chàng ác cảm với cha. Ðôi lúc, chàng thấy thương cha. Nếu hành khách lẫn các chị buôn hàng chuyến có nhìn cha với đôi mắt khi dễ, căm hờn, chẳng qua chỉ vì cha chàng muốn cho lũ con khỏi thèm khát một trái chuối, một tán đường. Cha là cái vành bánh xe chịu lăn giữa bùn cho các con ngồi sạch trên nệm. Từ lúc nghĩ như vậy, Ngô nể cha hơn. Tuy thế chàng vẫn ngại lúc các bạn đến nhà gặp ông Bỗng đang mang xách các thứ chiến lợi phẩm lỉnh kỉnh ấy về.
      Buổi trưa, Diễm qua gọi Ngô về ăn cơm, chàng vội hỏi em gái:
      – Ba đã về chưa?
      Diễm cúi đầu chào Ngữ rồi đáp:
      – Ba ngủ chưa dậy.
      Ngô bối rối chưa biết phải xử trí thế nào. Nếu ông Bỗng ngủ ngày thì cái đi-văng cạnh bàn ăn không ai được ngồi lên cả. Nhà lại đông. Cho nên mâm cơm phải dời qua cái giường còn lại. Cảnh kẻ ngồi người đứng chan húp xì xụp chỉ có thể chấp nhận giữa người nhà với nhau.
      Có nên mời Ngữ ở lại dùng cơm trưa không? Ngô đang chưa biết tính sao thì Diễm đã nói:
      – Anh mời anh Ngữ ở lại luôn. Để em mang thức ăn sang cho.
      Ngô mừng quá reo lên:
      – Phải đấy. Chịu khó anh thưởng cho.
      Diễm bĩu môi, hỏi lại:
      – Thưởng cái gì nào?
      – Hôm nào có hứng anh vẽ cho bức tranh.
      – Thèm vào! Anh cứ vẽ cái cổ dài ngoằng, cái thân ốm tong teo, đến kỳ.
      Ngữ cười nói:
      – Nhà phê bình chính xác thật. Mày phải liệu mà điều chỉnh quan điểm đi. Cổ dài, thân ốm, nền mờ, tình bâng khuâng, sợ hết ăn khách rồi đó.
      Ngô bắt đầu đổ quạu:
      – Tao có bán cho ai đâu mà cần ăn khách.
      Ngữ nói liền:
      – Ngay mày vẽ để biếu không, các cô còn chê.
      Diễm quay sang bênh vực anh:
      – Em nói đùa thế, chứ có bao giờ anh Ngô thèm vẽ cho em. Hôm qua, em nghe anh nằn nì xin vẽ cho con Quỳnh Như, có không?
      Ngô đỏ mặt không trả lời được, chỉ càu nhàu:
      – Mày chỉ lắm chuyện.
      Biết tính anh hay cộc khi bối rối, nên Diễm không dám đùa thêm nữa. Diễm nói:
      – Ðể em về mang đồ ăn sang.
      Ngô dặn với:
      – Nhớ mang cả chai nước lọc nữa.
      Diễm đi rồi. Ngữ mới bảo bạn:
      – Ý kiến của Diễm không phải hời hợt đâu. Tao thành thực hỏi mày: Đến lúc nào mày mới hết níu gấu áo ông Modigliani?
      Ngô bậm môi không đáp. Ngữ không chịu bỏ lỡ cơ hội thành thực tranh luận với bạn, nên nói thêm:
      – Tao không đồng ý lối lập luận của thằng Tường. Mày thấy đấy, tao đã châm biếm cái tính nóng nảy đòi ăn ghém hội họa văn chương của nó. Lối giải thích màu sắc, âm thanh, vần điệu một cách terre-à-terre như nó, tao không chịu được. Nhưng mày cũng nên nhớ rằng nghệ thuật chỉ có ý nghĩa khi lấy sức mạnh từ thực tại. Mày muốn nói hộ cho anh chàng họa sĩ gốc Ý lang thang ở Ba lê hay sao? Ở đây không có chuyện gì để vẽ ư?
      Ngô hỏi cộc lốc:
      – Mày chê tao mô phỏng Modigliani à?
      Ngữ không do dự đáp:
      – Phải.
      – Nếu mày chưa hề xem tranh Modigliani in trong sách hội họa, thì xem tranh tao, mày có nghĩ thế không?
      – Dĩ nhiên là không. Nhưng tao sẽ vẫn thấy thế nào!
      – Thế nào là thế nào?
      – Là cái gì không quen thuộc, cái gì khơi khơi như chưa bao giờ chạm chân vào mặt đất Huế. Tao lấy ví dụ tiểu thuyết để dễ nói hơn. Nếu kể về lai lịch, tuổi tác, dòng giống, địa vị, ngôn ngữ, tôn giáo… thì tụi mình xa lạ với những Natasha Rostov, André Bolkonski, Pierre Bezoukhov biết mấy. Nhưng tại sao đọc Guerre et Paix, ta thấy thân thuộc với họ còn hơn với cả các nhân vật của Lê Văn Trương... Chính điều ấy mới đáng quan tâm.
      Ngô buồn rầu hỏi:
      – Mày khuyên tao nên vẽ các cô gái tươi vui, khỏe mạnh? Nền tranh có mặt trời mọc? Hoặc cảnh nhà máy khói phun mù trời? Có phải thế không?
      – Không phải thế.
      – Vậy mày muốn gì? Tao chẳng hiểu gì ráo!
      – Tao muốn thấy mầy là mầy, chứ không phải cái bóng của bất cứ ai.
      Ngô trầm ngâm buồn rầu một lúc, rồi thú thực:
      – Tao chưa hiểu rõ tao là ai, tao muốn gì. Khi tao thấy mình giống người này, khi tao thấy mình giống kẻ khác. Nhiều lúc tao ước được đậm nét như thằng Tường. Thế mà khỏe.
      Có bóng Diễm lấp ló ở cửa “xưởng vẽ”. Ngô ngạc nhiên hỏi lớn:
      – Cái gì thế?
      Tiếng Diễm hơi e dè, như lo âu điều gì:
      – Em vào được không?
      Ngô chưa hết bực, gắt với em:
      – Tự nhiên nổi chứng khách sáo thế.
      Diễm mang vào hai ổ bánh mì gói trong tờ báo cũ và một hộp cá nhỏ. Ngô ngơ ngẩn chưa hiểu. Chàng nhìn em gái, thấy đôi mắt Diễm đỏ hoe như vừa khóc. Không muốn cho bạn biết chuyện gia đình, Ngô đến gần hỏi em:
      – Có chuyện gì vậy?
      Diễm liếc nhìn Ngữ. Ngô bảo bạn:
      – Mày đói chưa? Mở giùm hộp cá trước đi.
      Diễm nói nhỏ cho anh nghe thôi:
      – Ba dậy rồi.
      Ngô bảo em:
      – Ra ngoài này anh hỏi.
      Hai anh em dẫn nhau ra đứng dưới gốc cây nhãn.
      Diễm thút thít kể:
      – Em vừa sớt đồ ăn sang cho anh thì ba dậy…
      Ngô đoán biết đoạn sau, cắt lời em:
      – Phiền nhỉ. Em lấy tiền đâu mua bánh mì thế?
      – Em mua chịu của bác Tín trước ga. Ba mạ đang cãi nhau bên đó.
      – Chuyện gì nữa?
      – Chuyện gửi tiền cho anh Ngọc.
      – Ba lãnh lương chưa?
      – Mạ lên ga hỏi mới biết ba mượn trước từ hồi nào rồi. Anh Ngọc lại xin đủ tiền để mua bộ dao mổ thực tập. Em chẳng biết anh ấy nghĩ sao mà xin học y khoa. Bảy năm, lâu quá. Ba mạ kham đâu có nổi. Chắc từ nay về sau còn nhiều vụ to tiếng với nhau thêm nữa.
      Ngô đau nhói cả lòng, hiểu trong lời nói của em gái lời trách móc kín đáo dành cho chàng. Phải. Ngô là trưởng nam. Nếu anh có ý thức trách nhiệm hơn, Ngô phải tìm một công việc rõ ràng nào đó để có đồng lương kha khá và ổn định. Đằng này, chàng lại chọn mỹ thuật, và suốt ngày đốt hết điếu thuốc này đến điếu khác tìm kiếm một mầu sắc, một đường nét cho riêng mình. Chàng phải cố sắm bộ mặt cau có sẵn sàng gây sự mới tránh được những lời mỉa mai trách móc của ba mạ và các em. Vẽ vời mà làm gì, trong khi cơm không đủ bữa! Nói đến hội họa trở thành một điều mỉa mai đối với Ngô, trừ các bạn thân. Nhưng các bạn thân đã nói gì về nỗi thao thức tìm kiếm của chàng? Tường chê ẩm mốc ho hen! Ngữ chê bắt chước Modi! Ngô bậm môi lại để dằn xúc động. Diễm lo ngại, sợ anh nổi cộc, nên hỏi lảng:
      – Em mua từng ấy, đủ không?
      Ngữ chờ lâu quá chưa thấy Ngô vào, bước ra khỏi xưởng tìm kiếm. Chàng thấy Diễm bối rối gạt vội một ngấn nước mắt, rồi cố lấy giọng vui vẻ hỏi:
      – Anh Ngữ đói rồi phải không? Em biết thế nên mua bánh mì ăn tạm với cá hộp, vì tụi em chờ ba dậy, lâu quá.
      Ngữ nhìn vẻ bối rối của hai anh em, nhìn khuôn mặt dàu dàu của Ngô và đôi mắt ươn ướt của Diễm, đủ biết họ có điều buồn muốn giấu mình. Ngữ cũng vui vẻ hỏi:
      – Diễm chưa để dành phần cho mình à?
      Diễm đáp:
      – Khi hôm em ăn tiệc sinh nhật Quỳnh Như, đến giờ còn thấy anh ách. Anh Ngữ không đến thật uổng. Tụi em chờ anh mãi.
      Ngữ nhớ chuyện thách đố, liền hỏi:
      – Hay Diễm để bụng ăn bún bò của tụi con Nam nhà anh?
      Diễm chợt nhớ, reo lên:
      – Phải đấy. Anh nhắc em mới nhớ. Chốc nữa anh có về cho em gửi thư hỏi chị Nam bao giờ thì dẫn tụi em đi trả nợ.
      Ngữ thầm thương và phục cô em gái của bạn. Diễm xin phép về bên nhà. Ngữ định hỏi thật Ngô chuyện gia đình, khi hai người cầm bánh mì lên ăn với cá hộp. Nhưng thấy nét mặt Ngô vẫn đăm đăm, Ngữ ngại
      Hai người im lặng gặm bánh mì, từ lâu không ai nói với ai một lời nào. Ngô cẩu thả để nguyên bàn tay dính sơn dầu mầu xanh lá cây cầm ổ bánh mì. Ngữ cẩn thận hơn, dùng một mảnh giấy báo cuốn tròn lại. Hơi ấm qua tay chàng. Ngữ thú vị tưởng hơi ấm ấy không phải do ổ bánh mì còn nóng, mà do hơi nóng bàn tay của Diễm. Hình ảnh đôi mắt Diễm đỏ hoe, và nụ cười gượng vui khiến Ngữ lan man xúc động thật lâu. Chàng vốn mẫn cảm trước những ngấn lệ trên gương mặt đàn bà. Ðôi khi chàng dửng dưng trước những cảnh bi thảm như một tai nạn xe cộ gặp ngoài phố, cảnh những chiếc trực thăng chở về tiểu khu những đống xác chết, cảnh những ngôi mộ tập thể. Chàng có người bạn thân trốn nguy hiểm bằng cách xin về liệm xác tại trung đội chung sự trung đoàn. Những hộc đựng xác trong phòng lạnh, những dãy quan tài bọc kẽm chờ giao, những tiếng khóc rên ở bệnh viện dã chiến, máu mủ bệnh hoạn, nghĩa là tất cả những hình ảnh từng gây khủng khiếp bi thương cho người khác, đối với Ngữ lại chẳng nhằm nhò gì. Chàng không đủ xúc động để thử viết một cái truyện thời thượng về chiến tranh. Nhưng chàng lại bàng hoàng trăn trở nhiều đêm khi trông thấy giọt nước mắt lặng lẽ chảy trên gò má nhăn nheo của một người mẹ, hoặc tiếng khóc ỉ ôi của một đứa bé gái đội khăn tang đi lạc trước nhà xác.
      Quen tính lặng lẽ phân tích xúc cảm của mình, nhiều lần Ngữ tự đặt câu hỏi vì sao. Chàng không tìm được lời đáp nào thỏa đáng. Có lẽ chàng vốn yếu đuối trước sự khổ đau của kẻ yếu. Có thể do lòng bất nhẫn. Tự nhiên chàng thấy thương xót Diễm, và chàng nghẹn ở cổ họng không nuốt trôi được miếng bánh mì nhai dở. Ngô vội hỏi:
      – Mày uống nước không? Con Diễm lại quên mang sang chai nước lọc rồi.
      Ngữ xua tay bảo:
      – Không cần. Hình như cái ấm nấu nước pha cà phê còn đấy.
      Ngô đến rót cho bạn nửa cốc nước nguội, rồi để xua tan sự im lặng nặng nề, Ngô hỏi:
      – Mày khuyên tao nên làm gì?
      Câu hỏi đột nhiên khiến Ngữ chưa hiểu bạn muốn gì. Chàng nhớ đến đôi mắt đỏ hoe của Diễm, liền nói:
      – Mày cũng nên làm cái gì đó, như vẽ bảng hiệu, như mở lớp dạy vẽ truyền thần, để giúp thêm bác trai một tay.
      Ngô bị chạm đến chỗ tế nhị nhất, nên ngửng phắt đầu lên, giọng sừng sộ:
      – Mày nói cái gì thế?
      Ngữ biết mình lỡ lời, vội nói:
      – Chứ mày định hỏi tao cái gì?
      – Mày trách tao mô phỏng Modi. Dù rất buồn, tao cũng phải thành thực nhận rằng lời chê bai của mày đúng. Tao chưa hiểu được tao, chưa biết mình là ai nên chưa tìm được cái nét riêng. Phải làm gì bây giờ?
      Ngữ không biết phải nói điều gì. Chính chàng cũng chưa tìm được bản ngã của mình. Chàng loay hoay tìm đủ tài liệu, thử đủ thứ kỹ thuật, khi bắt chước Chekhov, khi bắt chước Hemingway, khi thử đi sâu vào thế giới tiềm thức như Buzzati, nhưng thử hoài vẫn thấy gượng gạo, vướng víu. Suy nghĩ một lúc Ngữ e dè nói:
      – Mày thử đi đến tận cùng cái mày cho là “đã lắm”. Như cái mầu ngọc bích lơ lửng mày khoe lúc nãy.
      Giọng Ngô bực tức:
      – Nhưng thằng Tường vừa chê là ẩm mốc tiêu cực xong.
      – Mày sợ người khác chê à? Đã “đã lắm” thì còn kể gì lời khen chê.
      Ngô gật gù tỏ vẻ đồng ý, nhưng không nói gì. Một lúc sau, chàng mới nói:
      – Cái khổ là nhiều lúc bị cơm áo ám ảnh, tao lại thấy cái mầu ấy hết “đã”. Phù phiếm vô cùng. Tao đã nhiều lần lấy sơn trắng quệt be bét lên cái nền ngọc bích ấy rồi. Giá tao được như thằng Tường…
      Ngữ cười cướp lời bạn:
      – Còn thằng Tường thì nói giá được như mày…
      Ngô giận dữ nói lớn:
      – Nó làm bộ làm tịch, như bọn con gái nhà giàu ưa vào hội từ thiện để chủ nhật lái xe hơi đi làm việc nghĩa. Đáng lý mày phải viết một cái truyện ngắn thật chua chát để móc lò bọn đạo đức giả đó. Mày sợ nó giận không bao uống cà phê hút thuốc Capstan thơm nữa ư? Thì hãy viết chuyện ông hoàng nào đó chán bọn công chúa lá ngọc cành vàng lặn lội đi tìm cho được con Tấm mồ côi.
      Ly nước trên tay Ngô run run. Ngữ ái ngại nhìn đôi mắt đỏ ngầu của bạn, do dự một lúc mới nói:
      – Mày biết rồi. Không thể viết hoặc vẽ được cái gì nên thân giữa cơn giận dữ.
      Ngô nói lớn hơn, giọng lắp bắp:
      – Mày lại học đòi làm chứng nhân bình tĩnh sáng suốt kiểu Camus. Tao chán cái trò giả dối lừa người lừa mình của Đại học Huế mấy năm nay rồi. Xin cho tôi yên, xin quí vị công tử dòng dõi hoàng tộc và con nhà trâm anh thế phiệt nhung nhúc khắp các hành lang của cái khách sạn Morin đó. Xin cho tôi yên.
      Ngữ biết không nên nói thêm gì nữa. Ngô dịu dần cơn giận, bắt đầu thấy mình giận bạn vô cớ, nhưng chàng không muốn xin lỗi Ngữ. Chàng nhìn bức tranh vẽ dở của mình, và lại thấy mầu ngọc bích lơ lửng trở nên ấm áp quen thuộc.
      #3
        Chuyển nhanh đến:

        Thống kê hiện tại

        Hiện đang có 0 thành viên và 9 bạn đọc.
        Kiểu:
        2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9