Vài truyện ngắn trích từ tập Hèn Đại Nhân - Lê Đạt
huytran 10 giờ (permalink)

(20 năm trước, tôi đã đánh máy trên diễn đàn này 1 số truyện ngắn trích trong tập truyện Hèn Đại Nhân của Lê Đạt, lúc đó mới xuất hiện ở hải ngoại. Mấy hôm nay bỗng nhớ đến tập truyện, bèn đánh máy thêm vài truyện nữa mà tôi thấy có ý tưởng thú vị. Nếu các mod có bỏ vào thư viện, tôi nghĩ có lẽ nên bỏ theo dạng các truyện ngắn riêng lẻ, bởi vì nếu đánh máy lại cả tập truyện sẽ thừa).

HÈN ĐẠI NHÂN

Trình làng người dăm chữ ngụ cư
LĐ 


Chưa bao giờ Jean thấy những biểu thức toán học thanh nhã và đẹp đến thế. Anh bóp mười đầu ngón tay tê cứng rồi lại mải miết viết. Những suy nghĩ như con nước đe dọa trào ra khỏi bình óc, nếu Jean không giải phóng chúng trên giấy. Anh chợt nhìn đồng hồ. Kim chỉ hai mươi giờ mười lăm. Jean giật mình. Anh đã quá hẹn với Marie mười lăm phút. Ôi, Marie em xinh đẹp thế… duyên dáng thế… Mà sao khó hiểu… sao rắc rối hơn những phương trình toán phức rất nhiều. Đang vui vẻ đang dịu dàng… bỗng em cau mặt… thế là dông tố nổi lên ầm ầm, có khi đến cấp mười hai, mười ba. Và rồi giữa cơn cuồng nộ em bỗng ôm hôn anh… mắt thăm thẳm… bình yên tuyệt vời. Có phải đó là điểm mà các nhà khí tượng gọi là mắt bão? Đang hát, đang nhí nhảnh như một con chim ức đỏ, mặt em bỗng lạnh tanh dưới không độ… và anh buồn như con hải mã mồ côi.
Toán học… sao toán học lại giống cái [1]? Có phải mọi nỗi niềm say mê đều giống cái? Liệu tâm hồn một người có đủ kích thước để chứa đựng hai niềm say mê đồng thời không? Toán học và Marie. Nhiều lần Jean như linh cảm thấy một đổ vỡ sắp tới. Anh rùng mình. Nhưng bây giờ thì không phải lúc nghĩ tới việc đó nữa rồi. Anh khoác vội chiếc áo ngoài, tóc bù xù vừa đi vừa chải bằng lược năm ngón. Anh định gọi một chiếc xe tốc mã, nhưng khi cho tay đếm tiền trong túi lại thôi. Một con toán nhẩm cấp một cũng dễ dàng cho thấy kết quả là anh chỉ đủ tiền thết Marie một chầu cà phê bánh ngọt, dư một ít bạc vụn phòng ngừa rủi ro. Nhỡ Marie hứng lên, ăn thêm một chiếc bánh. Nhỡ một trong hai người đánh vỡ một chiếc tách. Những bất hạnh lặt vặt thường xảy ra trong đời nhưng là đại họa với đồng lương ít ỏi của một giáo viên trẻ.
Những bước chân hối hả của Jean trên hè đường như chậm chạp một cách bất động. Anh vắt chân lên cổ chạy, nhiều lúc muốn đứt hơi trên hè đường tuyết tan nhầy nhụa bùn.
Nhưng cuối cùng thì cũng tới Rome. Tiệm cà phê Capitole đã hiện ra trước mắt rực rỡ. Jean bước vào. Tấm gương lớn cho thấy hình ảnh một người trẻ tuổi đầu tóc rũ rượi, áo quần nhàu nát, lấm bùn, bệ rạc như một tên ma cà bông. Chỉ có đôi kính long lanh là còn giữ được một phần nào tư thế cho bộ mặt có vầng trán thênh thang như phòng đọc một thư viện quốc gia. Và kề bên là hình ảnh Marie hồng hào, ngon như một chiếc kẹo nuga. Jean nuốt nước bọt. Nhưng nước bọt tắc nghẽn ở cổ họng. Bên cạnh Marie là một viên sĩ quan cỡ trung hay đại úy, quần áo phẳng phiu, khuy cúc, lon sao mạ bóng loáng, mặt mày nhẵn nhụi như vừa ở tiệm hớt tóc ra, với bộ ria đế chế oai hùng màu hung hung đỏ hai đầu xoăn tít như dây mayso. Bao nhiêu giấc mơ thiếu nữ đã thiêu rụi ở đó như những cánh bướm ngũ sắc. Và con số những tình tích chắc chắn còn nhiều hơn những chiến tích trong cuộc đời binh nghiệp của viên sĩ quan trẻ tuổi thời bình kia. Jean tin là Marie đã nhìn thấy mình. Nhưng nét mặt cô thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra.
Jean bây giờ mới thấm mệt. Anh muốn ngồi bệt xuống sàn. Cố gắng lắm anh mới lê lết… tới… được một bàn trống. Khoảng cách vô tận… như khoảng cách Zenon [2]. Anh uống một lúc hai ly đen. Đôi ria mép viên sĩ quan nhảy múa trong một điệu mơnuyê trịnh trọng. Cà phê đắng như có vị thạch tín. Và rực rỡ giữa vùng cà phê đen là chiếc nơ đỏ trên đầu Marie bay… lượn… bay lượn. Với tiếng cười rúc rích. Tan-ta-ran-tan-tan.
Vous avez une très belle moustache [3].
Jean bỗng thấy dâng lên cơn thịnh nộ không sao kìm hãm nổi. Cơn thịnh nộ làm anh choáng váng. Anh lảo đảo đi về phía Marie mặt bừng bừng.
– Marie! Tôi không muốn…
Marie quay về phía anh, mặt lạnh tanh:
– Ông muốn gì?…
Quá lắm, quá lắm! Cơn giận trong người Jean sôi lên vượt ngưỡng báo động, đe dọa nổ tung cái vỏ não mỏng mảnh, nếu không mở một xúpáp an toàn. Người trẻ tuổi bật nói, không cưỡng lại được:
Pute (4)
Viên sĩ quan đứng dậy đẩy Jean ra.
– Ngài có hành vi thiếu lễ độ với phụ nữ.
Jean túm lấy ngực áo hắn.
– Cả mày nữa, mày cũng là một tên vô lại.
Viên sĩ quan đẩy mạnh một cái làm Jean ngã chổng kềnh, chiếc kính rơi xuống đất. Hắn lấy ngón tay búng ngực áo rồi vuốt nhẹ cho phẳng phiu, giọng vẫn ung dung:
– Tay ngài hơi thiếu vệ sinh.
Và hắn nghiêng đầu trước Marie nói:
– Xin lỗi tôi đã không làm tròn bổn phận kẻ vệ sĩ của người đẹp.
Jean sờ soạng nhặt kính. Như trong một giấc mơ, anh chập chờn đến trước mặt viên sĩ quan:
– Thằng khốn nạn, mày có dám quyết đấu với tao không?
Viên sĩ quan cười lớn:
– Nhưng ngài có biết nạp đạn vào súng không?
Câu nói như một viên đá quẳng xuống mặt hồ làm tóe những sóng cười.
Marie đứng dậy nắm tay viên sĩ quan:
– Ta đi thôi.
Jean hét to:
– Mày chưa đi được trước khi nhận lời quyết đấu với tao!
Viên sĩ quan lịch sự cúi đầu:
– Tôi sẵn sàng phục vụ ngài.
Một cuộc quyết đấu được thỏa thuận trong vòng hai mươi ngày tại phía bắc rừng Boulogne.
Hai mươi ngày… Hai mươi ngày… Liệu kỳ hạn ác nghiệt này có đủ cho Jean hoàn thành công trình không? Giờ đây thì cả Marie cả viên sĩ quan mạ kền, cả trận quyết đấu kia cũng đã lui vào hậu trường, trước mắt chỉ có những phương trình mọc lên tua tủa như rừng. Rồi chúng sẽ dẫn dắt Jean đi đến đâu? Đó là một ẩn số. Một người nghiên cứu đích thực cũng như một nghệ sĩ, hình như ít thấy trước được điểm chấm hết của công trình đang tiến hành. Con đường xuất hiện đồng thời với bước chân lấn cõi chưa biết. Đó là một cuộc Gulliver du ký đầy bất ngờ của trí tuệ, và thường khi mình định tâm tìm một vương quốc Ấn Độ huyền ảo… thần may rủi mù lòa lại đưa đến một Tân thế giới.
Jean viết rất nhiều, xóa cũng rất nhiều. Anh có cảm giác mình sắp phát hiện ra một điều gì cực kỳ mới lạ. Ai biết được mặt mũi cái mới lạ ra sao. Jean chỉ linh cảm thấy mình không còn dừng lại ở những định thức toán rời rạc riêng lẻ địa phương mà đang xây dựng một cấu trúc toán đồ sộ lợi hại, nó mở rộng một lục địa toán mênh mông. Jean làm việc ngày, làm việc đêm, mặt hốc hác, râu mọc tua tủa, hai gò má nhô cao, đôi con ngươi cháy long lanh như một kẻ bị ma ám trong hốc mắt ngày một hõm sâu. Một hôm bất thần soi mặt vào gương Jean bỗng giật mình thấy mặt một Đấng cứu thế của Van Dyck mà anh đã được gặp tại Viện bảo tàng Louvre cách đó vài tháng. Mới có nửa năm, nửa năm mà xa lắc xa lơ. Hình như anh đang sống một hệ thời gian khác.
Pierre, người làm chứng trong cuộc quyết đấu, hơn một lần đến vật nài anh nghỉ ít bữa để tập bắn.
– Cậu không nên coi đây là chuyện đùa. Cái viên sĩ quan nộm kia hẳn là đánh giặc rất tồi, nhưng bắn tập thì rất khá, vì bắn cũng là một trò chưng diện chim gái của hắn.
– Viên sĩ quan nào?
Phải một lúc lâu, Jean mới nhớ được là mình đã hẹn quyết đấu với một người.
Nhưng những cái đó đối với Jean bây giờ là vô nghĩa, cả cái sống, cái chết của anh cũng vậy. Anh chỉ nhớ rằng hai mươi hôm nữa anh sẽ có thể vĩnh viễn ra đi và thời gian này anh phải dành ra để hoàn thành một công trình còn quý hơn tính mạng.
Những lời vật nài, kể cả nguyền rủa của bạn như đều thuộc một thế giới ảo.
Cuộc chạy thi với thời gian thật vất vả, nhiều phần Jean đành viết tóm tắt mà không kịp phát triển. Hậu thế hãy tha thứ cho người vận động viên nước rút oan nghiệt này.
Anh vừa gấp tập bản thảo lại cũng là lúc Pierre đến gọi anh đi quyết đấu. Anh lặng lẽ bỏ súng vào túi, đi theo Pierre lên xe như một kẻ mộng du.
Tiếng vó ngựa gõ xuống mặt đường đều đều. Bỗng Jean ra hiệu ngừng xe. Anh nói với Pierre:
– Mình phải quay về cậu ạ.
– Sao, cậu sợ?
– Sợ gì?
Pierre bực mình:
– Sợ chết chứ còn sợ gì? Mình không ngờ cậu lại hèn thế!
Jean cũng chẳng để ý đến lời xúc phạm của bạn:
– Mình vừa chợt nghĩ ra một cách phát triển thanh nhã và đẹp hơn nhiều. Tớ phải về. Thế nào tớ cũng phải về.
Pierre cản lại:
– Cậu có thể hèn, nhưng tớ không thể hèn được. Ta cứ đến nơi hẹn. Nếu cậu sợ, tớ sẽ thay cậu…
– Đã bảo mình không sợ mà.
Phép logic nào có thể giúp cho anh chứng minh được rằng mình không sợ? Jean đành thụ động theo bánh xe ngựa số mệnh.
Khi hai người tới điểm hẹn, viên sĩ quan đã đứng đó cùng với Marie. Tiếng cười của Marie như một gáo nước lạnh làm cho Jean bừng tỉnh. Anh thấy mình không thể hủy cuộc quyết đấu được. Hai người đứng vào vị trí đã định. Trước khi hiệu lệnh bắt đầu, Jean bỗng cho súng vào túi. Anh lặng lẽ tiến đến trước viên sĩ quan, giọng hết sức điềm tĩnh. Anh cảm thấy như mình là một người khác.
– Thưa ông, tôi có một việc tối hệ trọng cần phải hoàn thành, xin ông cho hủy cuộc đấu.
Viên sĩ quan vê ria mép, hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn cố giữ vẻ lịch sự rất thế kỷ mười bảy đọc trong sách của Dumas.
– Tôi sẵn sàng hủy bỏ cuộc quyết đấu với điều kiện ngài phải xin lỗi cô nương đây.
Như một cái máy, Jean đến trước mặt Marie cúi đầu:
– Tôi thành thực xin lỗi cô nương.
Marie lẩm bẩm:
Lâche! [5]
Và cô nhón đầu ngón chân quay hai góc vuông, khoác tay viên sĩ quan bỏ đi, vứt lại một chuỗi cười.
Những biến động lớn của cảnh ngộ đã làm cho tâm thần Jean tê dại. Anh gần như sống trong một trạng thái cơ học. Viên sĩ quan có thể bắt Jean quỳ xuống. Jean cũng quỳ không chút do dự – Nhưng tiếng cười ma quỷ kia, nó như một chiếc vít vô tận khoan sâu đến tận đáy vô thức, một tia xung điện đánh vào chiếc hộp sọ đã quá tải. Jean lấy hai tay bịt tai, và ngã lăn bất tỉnh.

*

Toán học đã cứu anh. Những phương trình toán tuyệt đẹp hình như đã nâng anh lên một thượng tầng không khí, nơi những ỉ eo của cuộc đời không tới được. Ôi khoảng không toán học bao la, nơi những con số kỳ ngộ tạo nên những phương trình tuyệt vời như nàng công chúa trong rừng cổ tích.

*

Jean có một thầy dạy toán lừng lẫy tên là René, mớ tóc bạc trắng như bọt biển lăn tăn với chiếc mũi sư tử, tạo cho ông một dáng suy tư tự nhiên, kể cả khi ông không nghĩ gì cả. Nó đã góp một phần không nhỏ vào uy tín của bậc trí giả.
Công trình Jean gửi xin ý kiến, mấy trang đầu làm ông khó chịu vì những khái niệm kỳ quặc mấp mé sự điên rồ, nhưng càng đọc ông càng say mê. Nhiều chỗ ông không hiểu, nhưng cái khứu giác lâu năm trong nghề khiến ông đánh hơi thấy hình như mình đang đứng trước những phát hiện hết sức lớn lao.
Một người điềm tĩnh như ông mà đêm đó cũng phải dùng đến ba viên gacdinan mà vẫn trằn trọc.
Như người ta nói, đêm là một cố vấn tốt. Hôm sau, ông cho gọi Jean đến. Giọng ông chậm rãi cân nhắc:
– Tôi đã xem công trình của anh. Có một số ý kiến độc đáo… Nhưng chưa được vững vàng, cần phải hoàn chỉnh thêm.
Rồi ông im lặng. Vầng trán đồ sộ nhíu lại. Mấy lần ông định nói, nhưng lại im. Cuối cùng rồi ông cũng nói:
– Tôi sợ một công trình như thế này công bố dưới tên anh sẽ gây phản ứng tiêu cực trong giới toán học, không có lợi cho tác giả. Vì anh còn non trẻ quá…
Ông lấy khăn lau mồ hôi trán:
– Nếu anh bằng lòng… tôi sẽ chỉnh lý, nâng cao và cùng đứng tên với anh…
Nét mặt cũng như cách nói của ông có vẻ đầy thiện ý. Nhưng Jean đang ở trong một thời kỳ khủng hoảng lớn về tinh thần. Anh đùng đùng đứng dậy vơ lấy tập bản thảo và lắp bắp:
– Tôi không phải là một thằng ăn cắp!
Và bỏ đi như một sự khinh bỉ.
Jean không hiểu rằng anh đã dấn thân vào một trận quyết đấu mới với một địch thủ còn thập phần nguy hiểm hơn viên sĩ quan bợm gái.
Một nguồn tin không biết ở đâu nhanh chóng được phát đi về hành động đáng xấu hổ của “thằng hèn đến giờ đọ súng bỗng thun vòi lại”. Người ta còn bổ sung rất nhiều chi tiết hấp dẫn, nào là Jean “quẫn ra bình” [6] nào là Jean quỳ mọp xuống đất hôn mũi giày địch thủ để xin tha mạng, vân vân…
Tin đó chỉ một vài ngày đã lan khắp giới khoa học, như một phản ứng dây chuyền. Người ta xì xào. Có lẽ nhục quá nó hóa điên. Chẳng điên mà đi chửi lại thầy khi ông thân ái góp ý đối với những trò rồ dại của hắn về một “tân toán ngữ”. Đúng là một thằng khốn kiếp. Cũng may, thầy René là người độ lượng. Jean như con cá mắc trong tấm lưới, càng quẫy càng tróc vẩy, chảy máu, càng bị thít chặt…
Và anh bắt đầu nếm thứ hình phạt kinh khủng nhất trần gian: sự ruồng bỏ của đồng loại.
Các bạn anh gặp ngoài đường đều quay đi, đổi vỉa hè, hoặc chăm chú gí mũi vào tủ kính một tiệm tạp phẩm.
Trong những bản năng của loài người, day dứt nhất là bản năng bầy đàn. Cho nên trong các quần thể từ thời nguyên thủy, hình phạt nặng nhất sau án tử hình là sự tống khứ ra khỏi cộng đồng, được gọi bằng những định danh khác nhau như rút phép thông công, khai trừ, lưu đày…
Một người không thể sống suốt ngày với những con số. Người ta thèm hơi ấm của sự chia sẻ, thậm chí từ bất cứ một loại sinh vật nào.
Jean cô đơn đến mức không có cả một con chó làm bạn vào những lúc tàn canh. Cây thánh giá lạnh.
Cho đến một hôm người hàng xóm nghe thấy một tiếng nổ. Khi cảnh sát đạp cửa vào thì đã thấy Jean ngã gục trong vũng máu, quả tim rách bươm còn khét mùi thuốc súng. Jean đã chết vì chính khẩu súng anh chuẩn bị cho trận quyết đấu không diễn ra.
Vì anh tứ cố vô thân, ông René đứng lên lo liệu mọi việc ma chay cho tên học trò bội bạc. Tất cả sách vở, bản thảo của Jean được nhà chức trách trao lại cho ông thầy tốt bụng.
Sau khi chôn cất tươm tất cho người trẻ tuổi, René lên xe phóng vội về nhà.
Ông chốt cửa phòng làm việc lại. Di cảo của kẻ bất hạnh được lục lọi, xem xét với mức cẩn thận của sở mật thám, nhưng bản thảo cần tìm không biết bằng cách nào đã tẩu thoát!

*

Habent sua fata libelli.
Sách vở cũng số phận.
Lần nào đọc câu thơ trên của Terentianus Maurus tôi cũng rùng mình. Tác giả của nó là một nhà thơ mắn đẻ. Ông đã viết rất nhiều tác phẩm nổi tiếng một thời, và chắc chắn tên tuổi ông từ lâu đã bị quẳng vào bãi phế thải mênh mông của lịch sử nếu không có câu thơ quái ác kia, nó như một chiếc đĩa bay chở ông qua hữu hạn đến những vùng biên ngoại vô tận của thi ca nhân loại.
Tôi xin lấy nó làm kết từ cho truyện ngắn này.
Một hôm nhà bác học Do Thái Albert Einstein tình cờ đi dạo trên kè Malaquais, nghĩa trang sách quen thuộc của đủ loại tình nhân thư tịch không riêng Paris mà cả thế giới. Hồi này, nhà vật lý đang bận tâm vì những con toán hóc búa cho lý thuyết trường thống nhất. Tại một quầy sách bụi bặm, ông bỗng chú ý tới một bản thảo vì bút danh kỳ cục của tác giả ghi trên mặt bìa đã ố vàng: Le Lâche [6].
Tiêu đề của bản thảo cũng không kém phần trêu ngươi: Bàn về toán hóa vũ trụ. Giá sách lại quá rẻ: chưa bằng một kilô bánh mì.
Ngay từ mấy trang đầu, bản thảo đã khiến Einstein ngạc nhiên. Một người như ông kể cũng không dễ ngạc nhiên! Và càng đọc, nhà vật lý như càng bị thu hút bởi lực từ trường của những “sự thật quá thật đến mức người ta tưởng là điên rồ”. Trong bản thảo viết vội ông thấy nhiều vỉa đề xuất có trữ lượng lớn, đủ để các nhà khoa học khai thác trong nhiều năm.
Tuy không biết rõ tiểu sử tác giả, nhưng với trực giác của một nghệ sĩ nòi Einstein linh cảm một nỗi khổ nạn bao la phía sau định danh Le Lâche.
Không đành lòng với biệt danh Thằng Hèn khi cho công bố công trình kiệt xuất trên, cũng không tìm được tên cúng cơm của tác giả, vị cha đẻ của thuyết tương đối nghĩ được một cách giải quyết khá đẹp. Chính tay ông nắn nót viết lên bìa bằng chữ hoa:
LÂCHE LE GRAND
HÈN ĐẠI NHÂN

                                HẾT                                                                 

[1] Toán học, trong Pháp ngữ, là từ giống cái.
[2] Triết gia Hy Lạp phủ nhận tính chuyển động.
[3] Anh có một bộ ria tuyệt vời.
(4) Đồ đĩ!
[5] Đồ hèn
[6] Lược dịch lời nói có kèm điệu bộ: “Il fait dans le pantalon”.
[7] Thằng hèn.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19 phút bởi huytran >
#1
    huytran 1 giờ (permalink)
    NGƯỜI HỌA SĨ DA MÀU
     
    *Nơi tên là buổi sớm ở đâu?
    E. DICKINSON
     
    Không biết số phận run rủi làm sao, hôm ấy nhà họa sĩ trẻ người Mỹ bang Alabama lại ra đường vào giờ đó và đi con lộ đó. Có phải vì mùa xuân? Có phải vì nắng gió mời anh rời xưởng vẽ ra đường?
    Ai mà hiểu được những lý do của một cuộc bát phố. Mà hiểu để làm gì? Chỉ biết là lâu lắm Cannon mới lại thấy mình thơ thới như vậy.
    Có những thành phố ta sống ở đó từ rất lâu, thậm chí sinh ra ở đó…, bỗng một hôm khiến ta ngạc nhiên bỡ ngỡ như mới gặp lần thứ nhất.
    Trời đất nhiều khi như một người đàn bà đẹp lúc nào cũng ban đầu, khám phá mãi, du lịch mãi không hết.
    Trên một phố vắng, Cannon bỗng thấy một ông già da màu hình như đang mải miết vẽ gì trên đường.
    Anh lặng lẽ tới gần. Đúng là ông đang vẽ thật. Vẽ mải mê… Vẽ đắm đuối… Như tách khỏi mọi sự đời…
    Tóc ông bù xù, bạc một màu bạc nham nhở, bẩn thỉu. Quần áo rách rưới như của một thằng ăn mày. Cây chì vẽ của ông cũng là một cây chì hạng bét. Bên cạnh ông là một chiếc gậy nhỏ. Ông vẽ trên những tấm các tông hộp đựng hàng nhặt ở nơi đổ rác.
    Cannon theo dõi những hình vẽ. Tưởng chừng như ông già không vẽ những hình ảnh của cuộc sống chung quanh. Có lẽ ông cũng chẳng nhìn chúng nữa, Hình như ông mải theo dõi những hình ảnh của một kiếp sống rất xa xưa.
    Những con người, những cảnh vật phảng phất như những tranh hang động thời tiền sử. Lúc thì như trừu tượng, lúc thì cực hiện thực (hyper – réaliste), lúc lại chập chờn như ma hiện trong một giấc mơ. Nét vẽ ngây thơ như nét vẽ trẻ nhỏ nhưng lại có cái già dặn, cái tính cách độc đáo của một nghệ sĩ thực thụ.
    Những hình vẽ khiến bản thân Cannon cũng phải khâm phục.
    Tình bạn giữa người họa sĩ da trắng trẻ tuổi và người già da màu bắt đầu từ ngày hôm đó.
    Qua câu chuyện của ông già mà ta cứ tạm gọi là Bill cho tiện, Cannon biết ông mang nặng trong mình dòng máu nô lệ của những nhân vật trong Túp lều bác Tom[1]. Có khi chính ông đã từng là nô lệ cũng nên.
    Năm đó ông đã ngoài bảy mươi tuổi. Ông không biết đọc cũng không biết viết. Bệnh tê thấp khiến ông đi lại khó khăn và không kiếm được gì ngoài số tiền 15 đôla trợ cấp hàng tháng của chính phủ. Đối với ông thế cũng là thừa sống. Ở cái nước Mỹ xài sang, nhặt đâu chẳng được một mẩu bánh mì, một mẩu thịt hộp hoặc một miếng pho mát.
    Quần áo của ông cũng đều là của vứt đi cả. Chúng còn tốt chán, chỉ phải cái tội “lỗi thời”. Mà Bill thì bận tâm gì đến thời trang? Bản thân ông cũng là một thứ “has been”[2] của thời kỳ “Theo gió cuốn bay” còn rơi rớt lại. Ông đi qua nền văn minh của thời đại điện tử như một thiên thạch từ ngày xửa ngày xưa.
    Ông chỉ vẽ trên những mảnh các tông hộp cũ. Đã có lần Cannon mua cho ông những tấm các tông chuyên dùng của giới họa sĩ, ông đều cất đi, không dám vẽ. Hình như trong thâm tâm người nghệ sĩ da màu kia nghĩ rằng mình không xứng đáng xài những của sang trọng ấy.
    Cái gậy nhỏ vừa giúp ông đi lại vừa được ông dùng làm thước kẻ.
    Bao giờ trước khi vẽ ông cũng kẻ khung lên miếng giấy bồi như một người nông dân rào kín một khu vực tài sản riêng của mình. Khu vực đó là của ông, không ai có quyền xâm phạm tới. Và ông bắt đầu vẽ.
    Những vết gấp nát trên miếng các tông, thậm chí cả những dấu nhãn hiệu đóng trên bìa cũng đều được ông sử dụng một cách hết sức nhuần nhuyễn như một pháp sư ngày xưa, vốn biết cách chung sống với số phận.
    Một dấu nhãn hiệu tròn đóng giữa miếng bìa đã được ông biến thành một cái rốn tuyệt đẹp trong bức họa nổi tiếng Mẹ và con.
    Họa phẩm của ông đủ các hình thù, theo hình thù ngẫu nhiên của miếng bìa… tròn, vuông, chữ nhật bất kì. Chỉ cần ông kẻ xong mấy đường khung là ông có thể yên tâm bắt đầu cuộc hành trình của mình. Đây là lãnh địa của ông. Không sức mạnh, không tạp niệm nào có thể quấy rối, không một nhân viên giao cảnh nào có thể huýt còi ra lệnh cho ông.
    Và ông vẽ hết bức này đến bức khác như người không biết sống để làm gì ngoài vẽ.
    Nhưng với 15 đôla một tháng, người ta không thể tìm cho mình một nơi trọ tử tế được.
    Bill cũng chẳng bận tâm đến việc này lắm. Đêm ông về ngủ nhờ ở một gara chứa xe đòn đám ma.
    Khi Cannon hỏi:
    - Đêm ma nó có về không?
    Bill cười:
    - Có chứ… Nhất là vào những đêm cuối tháng.
    - Ông không sợ à?
    - Sợ gì? Tôi có cảm giác hình như người sống mới độc ác, hung dữ chứ ma hiền lành lắm. Ma cũng hiền lành như người già. Còn hơn người già nữa kia.
    Cannon mua màu cho người bạn già. Ông thường dùng màu nguyên chất. Và có những hòa sắc rất lạ. Bill đặc biệt ưa màu xanh nước biển. Màu xanh là màu gọi đi…
      
    *
     
    Phải vất vả lắm Cannon mới thuyết phục được Bill bằng lòng triển lãm tranh của mình.
    - Ồ, triển lãm cái của nợ này, ai xem.
    Cannon lo liệu tất cả mọi thứ, từ việc thuê gallery đến việc in thiếp mời, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thậm chí cả việc treo tranh. Nhưng khó khăn nhất là việc ép Bill đến hiệu may cắt cho ông một bộ complet.
    Kể nghệ sĩ thì cũng không cần gì phải ăn mặc sang lắm nhưng cũng không thể quá tã rách như một tên bụi đời. Bộ com lê may đo hẳn hoi mà sao Bill vẫn lúng túng như một người mặc mượn. Nom ông cứng nhắc đến khổ sở.
    Cannon đã chuẩn bị cho ông một bài diễn văn rất ngắn. Ông đã học truyền khẩu suốt một ngày mà đến khi lên nói cũng chỉ lắp bắp được một câu:
    “Xin cảm ơn quý ông quý bà”.
    Ngay hôm đầu tranh đã bán tốt và Bill thu được một món tiền đáng kể. Khi Cannon đưa tiền cho ông, Bill đưa hết trả lại cho bạn.
    - Cậu giữ lấy… Từ bé mình không quen đi lừa… Nhỡ có người nào nghĩ lại đến đòi tiền thì phải trả lại họ.
    Người nghệ sĩ già chưa bao giờ nghĩ được rằng những mảnh các tông bẩn thỉu kia lại có mảnh bán được tới gần nghìn đô la.
    Bill đã có thừa tiền để ở khách sạn. Nhưng Cannon hầu như phải dùng đến “vũ lực” để bắt người nghệ sĩ già từ bỏ cái gara xe đòn đám ma.
    Cô gái hầu phòng đã ngạc nhiên hết sức khi thấy vị khách chỉ vào chiếc giường nệm trắng muốt hỏi: “Tôi có được phép ngủ ở đây không?”
    Mấy ngày đầu Cannon phải đến ở khách sạn cùng với bạn. Vì lúc nào Bill cũng sợ làm không đúng, người ta có thể đuổi mình ra ngoài hay bắt lên đồn cảnh sát.
    Ông kính cẩn chào từ người gác cổng và… bữa ăn đầu tiên, nếu không có Cannon ngăn lại, ông đã định thu xếp bát đĩa đi rửa…
     
    *
     
    Nhưng hôm nay thì Bill đã khác lắm rồi. Từ bộ com lê sang trọng và trễ nải một cách nghệ sĩ, từ chiếc ca vát sặc sỡ và chiếc bê rê rất “paridiêng” cùng điếu thuốc xì gà thường tắt ngậm như một đồ trang trí.
    Không còn ai nhận được cái ông già nô lệ da màu ở gara xe đòn đám ma nữa.
    Ôi cái thân già ê ẩm vì bệnh tê thấp nằm trên chiếc đệm mút dầy đến nửa mét nhún nhẩy mới đã làm sao! Lại được ấp ủ bởi một thân hình mượt mà mây mẩy của một cô gái da trắng người thon dài bất tận như bông hoa loa kèn. Bill không dám ôm mạnh… Chỉ sợ nó tan vỡ như một giấc mộng.
    Và cả vị môi con gái. Nó ngọt như kẹo…, lịm người như một thứ liquor thượng hạng. Bill nhớ rằng thuở nhỏ, bố mình cũng có nhắc đến một thứ hoa môi – con – gái nơi vườn thiên đường… đã từ xa xưa lắm… đã mất… đã héo úa… vì tội lỗi của con người… Có phải thứ hoa môi này chăng?
    Phụ nữ thường nhắc ta nhớ đến tuổi thơ nhỏ. Và cái ông già mấp mé tám mươi kia, suốt đời khổ ải tưởng trái tim đã thành chai, bỗng khóc thút thít trong lòng người gái điếm chỉ đáng tuổi cháu ông... như một đứa trẻ… và có cảm giác lâng lâng như nằm trong vòng tay của Đức Mẹ Đồng trinh…
    Trái cấm là ngọn nguồn của tội lỗi… Bậy… Trái cấm còn là ngọn nguồn của tuổi ngây thơ. Ngày mai kia nếu thế giới không còn đàn bà, có lẽ cả nhân loại già nua sẽ ôm nhau khóc như một lũ trẻ mồ côi trên một quả đất đã trở thành sa mạc, đã hết tiếng rì rào và bóng xanh của lá.
    Đồng đôla như mở cửa cho Bill vào một thế giới khác. Cái ông già không có tuổi nhỏ ấy mua búp bê, thỏ bông, đủ các thứ đồ chơi con trẻ. Lại sắm cả một hệ thống xe lửa điện tử mải mê suốt ngày… Tu tu… con tàu đưa ông về đâu, đến ga nào của thời gian…
    Cái ông già không có thời thanh xuân, không biết có tình yêu đã truy lĩnh tuổi trẻ trong vòng tay nhiều người đẹp cả nể và những cái vuốt ve tưởng có thể làm mềm lòng cả những tượng đá.
    Đúng là có tiền mua tiên cũng được.
    Và đôla không những có thể mua cho ta một chỗ trên con tàu vũ trụ cất cánh vào cõi Thiên hà mà còn có thể cho ta một tấm vé vào nơi thiên đường trần tục và nhỡn tiền nó còn thú vị ngàn lần hơn cái thứ thiên đường toàn phúc nhưng xa vời quá.
    Cái con người suốt ngày đói khát, lê la, nhặt những mẩu bánh vứt đi ngoài đống rác để sống cho qua ngày… trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đã thưởng thức tất cả các món cao lương mỹ vị, kể cả các món ăn cầu kỳ và quái quỷ của các vị hoàng đế Trung Quốc.
    Đồng đôla hình như có thể giúp ta sống được nhiều cuộc đời trong một thời gian ngắn…
    Một hôm nhìn bạn, Cannon bỗng có một nhận xét rất triết gia:
    - Người ta làm quen với hạnh phúc dễ hơn làm quen với cực khổ.
    Và người họa sĩ da trắng bỗng cảm thấy một niềm tự hào lớn trong việc đã giúp đỡ người bạn già nghèo khổ của mình đổi đời. Đúng là đổi đời một trăm phần trăm.
    Bill thật hạnh phúc, hạnh phúc quá.
    Chỉ nguyên cái việc sống cuộc đời thường ngày đã vượt rất xa những giấc mộng ngày xưa của người nô lệ già…
     
    *
     
    Nhưng Cannon không hiểu, không thể hiểu rằng hạnh phúc thừa mứa và độc canh cũng mệt người. Và tới một mức nào đó cũng chán nản như sự bất hạnh.
    Muốn hiểu điều này phải có thời gian và từng trải.
    Báo chí đều coi Bill như một phát hiện lớn. Và dường như để bù cho tội đã quên ông già một thời gian dài, người ta đổ xô đến phỏng vấn và chụp ảnh ông. Kèm đó là những lời khen ngợi đến nhàm chán. Nhiều nhà phê bình không hiểu rằng khen ngợi cũng đòi hỏi phải có văn hóa và trí tưởng tượng. Người ta tưởng lầm rằng những lời khen là của bố thí muốn cho thế nào cũng được miễn là càng nhiều càng hay. Một lời khen ngợi 100 đô tất nhiên phải giá trị hơn một lời khen ngợi 50 đô và cứ quẳng vào cái bị quang vinh của người nghệ sĩ là xong.
    Cũng may Bill không biết đọc.
    Ngay cả cái khuyết điểm này của Bill cũng được tô vẽ thành ưu điểm. Người ta lợi dụng ngay điểm thất học của người nô lệ già để chửi “một số nghệ sĩ khác mà người ta cho là quá trí thức xa rời cái chân chất của người nghệ sĩ nòi”.
    Chao ôi! Cứ đọc họ thì rồi có lẽ các nghệ sĩ phải mù chữ, phải thất học hết mới đạt được tới cái bản chất “uyên nguyên” của con người!
    Vì Bill không biết đọc nên Cannon phải đọc cho bạn nghe. Mỗi ngày Bill phải để hàng giờ để nghe “điểm báo”.
    Hôm nay cũng như thường lệ… vào giờ điểm báo… không hiểu sao Bill bỗng rùng mình phải chạy vội vào nhà toa lét và nôn thốc nôn tháo, nôn bất tử!
    Cannon phải điện mời bác sĩ.
    Bác sĩ cho thuốc an thần để ông già có thể ngủ một giấc dài.
     
    *
     
    Trưa hôm sau Cannon tới khách sạn thì thấy người thường trực đưa cho anh chìa khóa phòng Bill. Cannon chạy vội lên thì phòng vắng tanh. Bill đã bỏ đi. Bộ quần áo nghệ sĩ sang trọng được Bill khoác lên một thằng bù nhìn ở một góc phòng đang đung đưa một cách kệch cỡm.
    Cannon vội chạy tới phố X nọ.
    Từ xa anh đã nhìn thấy ông già Bill trong bộ y phục rách rưới ngày trước đang mải mê vẽ. Mặt ông già rạng rỡ như một người lưu lạc đã lâu nay mới trở về nhà mình.
    Hình như quãng thời gian đã qua chỉ là một kiếp mượn, một cuộc sống rởm ông đã mửa ra hết tại nhà toalét.
    Nhìn ông già vẽ say sưa trên lề đường như một kẻ tử vì đạo lấy nghiệp vẽ làm sự cứu rỗi, Cannon bỗng thấy người nô lệ già kia là kẻ tự do nhất đời và chính mình mới là kẻ nô lệ.
    Một lòng thành kính bất ngờ bỗng dâng lên, dâng lên không ngừng trong lòng Cannon. Anh rón rén quay lui để khỏi quấy rầy một bậc cao thủ đang luyện công tới mức thượng thừa có nguy cơ tẩu hỏa nhập ma bởi những hành động bất cẩn của kẻ dung tục.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 2 phút bởi huytran >
    #2
      Chuyển nhanh đến:

      Thống kê hiện tại

      Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
      Kiểu:
      2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9