Hèn Đại Nhân - Lê Đạt
huytran 1 ngày và 13 giờ (permalink)
MỞ ĐẦU

1. Hầu hết nhà văn Việt Nam đều biết Lê Đạt là một người làm thơ già. Hiếm hoi biết Lê Đạt là một người viết văn trẻ.
Truyện ngắn đầu tay của tôi Bài Haiku in cùng một lúc trên tuần báo Tuổi Trẻ Chủ NhậtVăn Nghệ được viết sau những truyện của Hồ Anh Thái, nhà văn trẻ tuổi nhất được kết nạp hội viên vào dịp Trần Dần và tôi tái hồi văn kịch.
Vậy thì đề nghị độc giả đọc với thái độ chiếu cố già và nâng đỡ cây bút trẻ liệu có thể xem là quá đáng, hay dính chút “tham ô” không.
2. Một nhà văn đàn anh thuộc lớp sừng sỏ trong làng văn xuôi, bên một cốc bia, đã nói với tôi: “Ông thử viết truyện Việt Nam xem nào, cứ viết Tây Tàu như vậy ai biết nội lực ông ra sao?”
Lạy chúa. Hay tôi lầm. Vì khi cầm bút, tôi cứ đinh ninh mình viết truyện Việt Nam. Hơn nữa “đi thực tế văn hóa Tây Tàu” cũng đáng được coi như đi thực tế Tây Bắc hay nông thôn của ông bạn tôi chứ?
Đó là một thực tế khác, càng quan trọng hơn vào thời Việt Nam mở cửa làm bạn với thế giới.
Có ai nỡ lấy đầu đề một sáng tác để đánh giá một nhà văn.
Những sáng tác có giá trị thực chất đều ít nhiều vô đề.
3. Một bạn văn nữ có kể cho nghe một truyện khá thượng thặng, nó đã giúp tôi rất nhiều trong nghiệp chữ.
“Một thiền sư thấy một đệ tử thắc mắc vì từ khi nhập môn ít được thầy bảo ban, bèn đưa cho anh ta một cái hũ, bảo anh mở.
Người đệ tử loay hoay mãi không mở được vì cái hũ nút kín bưng.
Đã có lúc anh định đập tan cái hũ quái quỷ kia cho rồi, nhưng sợ thầy nên không dám.
Thiền sư đá cho trò một cái thật mạnh, lật ngược cái hũ lên rồi lẳng lặng bỏ đi. Người trò trẻ tuổi chợt ngộ. Thì ra thói quen đã khiến anh mù lòa. Anh không nhìn thấy cái hũ của thầy mở ở phía đáy.
Xin phép được mượn câu truyện trên của bạn tôi mở đầu cho tập truyện ngắn đầu tay này.
4. Lê Đạt hình như là một kẻ ngây ngô bẩm sinh
Tuổi lú lẫn ngược nhầm ga trẻ dại
Hay ngây thơ không biết lối về già
Tha thẩn chữ ngã ba
Ở ngã ba chữ này, tình cờ đã khiến tôi gặp ba bạn trẻ: Bảo Hưng, Hồng Hưng, Tất Thắng. Cả ba đều rất lấy làm sung sướng đỡ đần cho tập truyện ra đời.
Cảm ơn họ, cùng lúc tôi không thể không cảm ơn những biên tập viên tận tâm của Nhà Xuất Bản Phụ Nữ mà tôi quen gọi là vườn chữ nữ đã hết lòng ưu ái tác giả.

LÊ ĐẠT
 
 
BÀI HAIKU

Hương thắp gọi ba lần không đáp lửa
Hồn có nhà hay bát mộ đi xanh.
 
Tướng quân Yôđa là shôgun lẫy lừng một thời. Ông bỗng chán cảnh binh đao rửa tay gác kiếm, gửi lại quyền bính cho người em ruột, rút lui vào một tu viện do chính ông cất công xây dựng ngay trong quần thể dinh cơ của mình. Tu viện không đồ sộ, tráng lệ như cung shôgun nhưng cũng đường bệ, u mặc, oai nghiêm không kém gì những tu viện lớn ở Kyôtô.
Tướng quân đã cho người đi sưu tập nhiều tác phẩm của các bậc đại danh họa, trong đó có những bức nổi tiếng nhất thời đó như bức Con chó có tính Phật không? Chơi đàn không dây, Hoàng Bá đánh ngã Nghĩa Huyền và Nghĩa Huyền bạt tai Hoàng Bá, v.v... Yêu những tác phẩm hội họa đến mức như Yôđa kể cũng vào loại người xưa nay hiếm. Sớm sớm sau khi thức giấc, ông sửa sang mũ áo tề chỉnh đến cúi rạp đầu chào các bức tranh rồi ngồi ngay ngắn tư thế hoa sen, thiền mặc với cổ nhân, đôi mắt lim dim như cất khỏi những phức lụy của cõi tục, để đối thoại với vô cùng. Ông thường dạy các môn đồ: “Các con hãy hội kiến một đại họa phẩm như hội kiến một đại vương hầu. Phải cúi đầu trước kiệt tác và nín thở đợi nghe nó nói...”
Chẳng bao lâu, tu viện của ông trở thành một nơi hành hương nổi tiếng vùng Nagoya. Đám đông, sùng đạo có, tò mò có, từ khắp nơi kéo tới. Yôđa nay trở thành một thượng tọa danh tiếng còn lẫy lừng hơn cả thời trận mạc ngày xưa. Không ai nghĩ cái con người trầm mặc kia nhất cử nhất động đều khoan thai, dịu dàng đã có một thời... máu đổ đầu rơi nơi cung kiếm. Tu viện của ông sạch như lau cũng như nét mặt thuần khiết và nghiêm cẩn của ông... Tưởng chừng không có bất cứ chỗ nào khuất tất cho một tạp niệm; một chớt nhả hay dung tục ẩn bụi. Có thể nói đây là một diện mạo công khai toàn phần.
Một người đã một nhát chặt đứt mọi tơ vương với người hoa hậu và đám tì thiếp, người xoàng nhất cũng quyến rũ hơn bất cứ gesha hảo hạng nào nơi kinh kỳ, người ấy phải có một tấm lòng thuần khiết ở mức thượng đỉnh.
Chiều chiều trên con tùng lộ, nơi ông đi mặc tư về lẽ trầm luân của thế sự, con họa mi trống nhiều lần đã phải bỏ dở bản tình ca ba mươi sáu điệu, e làm kinh động những ý nghĩ siêu đẳng của bậc cao tăng.
Tu viện có một thư viện đặc biệt quý giá. Tướng quân đã cử người sang tận Trường An mua bản sao có đánh số của bộ kinh Phật toàn tập do thầy Đường Tăng cùng Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới thỉnh từ Tây Trúc về. Kho sách về đạo Thiền cũng chiếm mấy kệ đầy ắp, nhưng như chúng ta đã biết, những đại thiền sư thường hiếm khi trước tác nên phần lớn chỉ là sách chuyên khảo của các nhà Thiền học.
Ngoài ra còn có bộ đồ trà thiên hạ vô song, men chảy mỏng như lá lúa, thuộc một nghệ thuật gốm đã thất truyền.
Hình như đấng tối cao cũng chứng cho lòng thành của người kiếm sĩ dốc lòng đổi nghiệp nên những hạt mộng bỗng nảy mầm trái tim quen với sự sát phạt, như bầy chim ngậm những chồi xanh thả mùa xuân phủ bóng rợp lục chiến trường trơ trụi ngày xưa. Tướng quân Yôđa bỗng làm thơ... Và thơ ông được truyền tụng chẳng kém gì những chiến tích thuở trước. Chỉ ít lâu ông đã trở thành trưởng môn của trường phái thơ Nagoya một cách hết sức dân chủ tuy chẳng thông qua bỏ phiếu kín. Mọi người thành thật tín nhiệm ông và bầu ông bằng tấm lòng thành im lặng của mình. Ông có thừa tiền để tự xuất bản, nhưng thấy không cần phải làm việc đó, vì giới mộ điệu tại Nagoya ai mà chẳng thuộc của ông ít nhất trên một bài... Nỗi ao ước lớn của Yôđa là gặp được Basô, người tu sĩ lang thang kiêm nhà thơ danh tiếng nhất thời đó.
Mà gặp Basô có khi còn khó hơn gặp Hoàng đế, vì Hoàng đế tuy cao sang còn có địa chỉ. Basô thì vô định như một đám mây ma cà bông vào một ngày thu nổi gió.
Yôđa đã cho người đi khắp nơi cố tìm mua một bức chân dung của Basô. Không được cái may hội ngộ thì cũng được gặp nhau qua nét vẽ cho thỏa lòng ngưỡng vọng. Nhưng tìm hoài không đâu có. Hình như Basô mặt mũi quá xoàng để có thể ghi lại được bằng nét vẽ. Thiên hạ đồn rằng một lần có một nhóm họa sĩ mến mộ tài Basô đã khẩn khoản mời nhà thơ tới để vẽ một bức chân dung. Basô vốn tính cả nể và thích rượu mà nhóm họa sĩ kia đều là những nghệ sĩ nổi danh và càng nổi danh hơn về cái khoản tửu sĩ. Điều kiện lại hấp dẫn, Basô không phải ngồi bất động làm người mẫu mà cứ thoải mái hành tửu trong lúc các họa sĩ hành nghề. Một chục nhà danh họa vẽ Basô, người nào cũng khăng khăng phác thảo Basô của mình mới đích thực. Và trong khi mọi người tranh luận hăm hở về Basô đích thực thì ông Basô bằng xương bằng thịt sau khi đã tu hết rượu, bản thân cũng chẳng biết mình đích thực là thế nào đã lặng lẽ bỏ đi. Trời chuênh choáng gió như thế này ai mà lại hóa dại ngồi một chỗ khi con đường trước mặt tung tăng như một lời mời viễn du.
Cuộc vẽ bỏ dở và cho mãi đến giờ Basô vẫn chưa có chân dung.
“Người thì thậm xấu hát thì thậm hay”. Ai đã có được bức chân dung Trương Chi? Không biết Basô có thậm xấu như Trương Chi không nhưng thơ Basô quả thậm hay. Đã bao lần Yôđa đọc lại bài haiku của Basô:
Trong đại im
Tiếng dế ăn vào
Thớ đá...
Theo trí nhớ uyên bác của Yôđa thì chưa có nhà thơ nào nói tới cái cõi đại im kia.
Chỉ non một chục chữ. Ôi ước gì mỗi chữ như một chiếc hộp, ta có thể tháo nắp ra xem bên trong nó chứa đựng những gì mà tinh vi mà ảo diệu đến vậy... Ước gì trong những giờ thiền định của mình Yôđa chỉ một lần đạt được cõi đại im kia.
Đã nhiều đêm Yôđa theo dõi những chữ của bài thơ như người cổ sơ theo dõi chùm thất tinh lấp lánh trên nền trời... thầm hỏi về ý nghĩa của cuộc đời: Trong cõi đại im đêm mênh mông... những ngôi sao, những con chữ cứ lấp lánh... lấp lánh mãi... hàng nghìn tín hiệu ánh sáng thăm thẳm nghĩa.
Cho nên khi được tin Basô đang quanh quất ở địa phương, Yôđa lập tức ra lệnh cho đám môn đồ chia các ngả đi kiếm bằng được người kỳ sĩ mời về tu viện.
Một nhóm tam tam may mắn gặp Basô đang ngủ dưới một gốc cây bàng già, cả người toát ra mùi sakê, quần áo xộc xệch, mặt mũi dung tục như một nông phu. Chẳng lẽ một kẻ tục tử như thế kia lại là nhà thơ Basô lừng danh? Người môn đồ tâm phúc của Yôđa đã hỏi đi hỏi lại ông già quán gần đó: “Có đúng ông này là nhà thơ Basô không?”. Ông già quán trả lời thật thà: “Không biết có phải là nhà thơ Basô không nhưng ông ta đúng là Basô thường nợ tiền rượu của lão”.
Người môn đồ thất vọng. Chẳng lẽ nhà thơ Basô lại đi uống rượu chịu? Nhưng vốn biết tính sư phụ rất nghiêm khắc, anh ta cứ cho võng cái thằng cha say rượu có cái tên là Basô kia về.
Nhìn con người bụi bẩn rơi đầy tạp chất trên nền sạch như gương của tu viện, nằm ngủ chảy cả dãi xuống nệm quý, Yôđa không khỏi băn khoăn. Đây có phải đích thực Basô không?
Nhưng kìa nhà thơ đã tỉnh giấc. Yôđa trân trọng lấy bộ đồ trà cực quý như ta đã biết, hai tay nâng bát trà lên ngang mày cung kính mời khách. Chừng say rượu nên khát nước, Basô cầm bát trà, chẳng để ý đến loại men quý cũng chẳng cần đáp lễ, uống đánh ực một cái. Và chẳng đợi chủ nhân tiếp thêm, ông tự tay múc trà uống thêm hai bát nữa như phường ngưu ẩm. Người dày công hàm dưỡng như Yôđa mà cũng phải nhíu mày. Kẻ phàm phu này là nhà thơ Basô thật ư? Nhưng nom ông uống hồn nhiên và ngon lành quá đến mức người ta có thể nghĩ tất cả những nghi thức uống trà đều là trò rắc rối thiên hạ bịa ra để làm phiền nhau một cách vô tích sự. Yôđa hơi dao động. Đây là kẻ tục tử hay một thánh nhân đạt tới mức bình thường tâm mà đại thiền sư Cổ Đức đã gói gọn trong một lời kệ nổi tiếng: “Khi đói ta ăn, khi mệt ta ngủ?”. Uống nước xong, vẻ đã đỡ khát, Basô ngước nhìn những bức đại họa phẩm. Ông cười hi hí như trẻ thơ. Không những thế, khi đến trước bức tranh Hoàng Bá đánh ngã Nghĩa Huyền và Nghĩa Huyền bạt tai Hoàng Bá, ông còn giơ tay tát thêm cho Hoàng Bá một cái vẻ hết sức thú vị: “Cho hắn một cái tát nữa”.
Dung tục hết chỗ nói nhưng...
Nhưng câu hỏi quái ác “dung tục hay thánh nhân”, “thánh nhân hay dung tục” cứ vọng động mặt hồ vốn tĩnh lặng của một tâm hồn dày công tu luyện đã gần tới bậc thượng thừa.
Yôđa cách đó ít ngày có sáng tác một bài haiku đặc biệt ưng ý:
Con chuồn chuồn ngô
Bứt hai cánh
Quả ớt
Bài thơ được các thi hữu trường phái Nagoya cực lực tán thưởng. Nó không những đột ngột về mặt nghệ thuật mà còn thâm hậu về mặt tư tưởng. Chỉ mấy dòng thơ ngắn mà diễn được vòng luân hồi và thuyết vạn vật nhất thể của đạo Phật.
Yôđa đã chép bài thơ trên một mảnh giấy lụa siêu hạng, nét bút tung hoành như đường kiếm tuyệt luân. Tướng quân nửa cung kính nửa tự hào đưa Basô. Ông ta liếc mắt xem qua rồi từ từ xoay ngược tờ giấy.
Thế này thì quá lắm!  Chắc Basô giả đứt đuôi đi rồi. Chẳng lẽ làm thơ lại không biết chữ, lại đọc ngược?
Cố nén bực tức nhưng vẫn không rũ bỏ được hết gay gắt, Yôđa nói:
-        Ngài đọc ngược...
Tướng quân bỗng rùng mình. Ông cảm thấy như mắt Basô lấp loáng những ánh trắng biếc của thứ thần kiếm. Đúng không? Hay đó chỉ là một ảo giác. Yôđa chưa kịp xác định thì đã nghe thấy Basô thản nhiên, chẳng biết nghiêm túc hay bông lơn:
-        Ngược thế mới thuận.
Và ông lấy bút viết nguệch ngoạc:
Quả ớt
Chắp hai cánh
Chuồn chuồn ngô
Yôđa cầm tờ giấy lặng người: Chao ôi! Chỉ một cái đảo ngược mà đường trường vạn thủy thiên sơn có khi trọn đời tu dưỡng ông chưa chắc đã vượt qua nổi.
Ông triền miên trong ý nghĩ, thương cho cái sát kiếp còn quá nặng căn của mình. Khi ông bừng tỉnh thì Basô đã biến mất từ bao giờ.
Tướng quân gọi người môn đồ tâm phúc.
-        Basô đại nhân đâu? Người chạy đi tìm ngay về cho ta.
Người môn đồ hớt hải chạy tới chỗ người gác cổng vừa thở vừa hỏi:
     -   Basô đại nhân đâu?
Người gác cổng ngơ ngác:
-        Đại nhân nào? Có phải cái lão đạo sĩ say rượu hồi nãy không? Chết, lão ta ăn cắp cái gì của tướng quân... Tôi biết ngay mà... Nom lão gian lắm... Tôi đã khám bị rồi. Chỉ toàn một thứ giẻ rách với một bình rượu.
Rồi hắn giậm chân xuống sàn nhà bình bịch:
-        Khổ quá, tôi quên không khám bình rượu... Chắc lão ta xoay thứ mỹ tửu của tướng quân!
Người môn đồ ngắt lời:
-        Ông ta có gửi lại gì không?
Người gác cổng gãi tai:
-        Có... có... lão ta có gửi lại một tờ giấy bẩn thỉu tôi quẳng đây không biết bay đâu...
Người môn đồ nghiêm nét mặt:
-        Ngươi tìm ngay... nếu mất thì ăn đòn...
Người gác cổng giơ tay lên trời:
-        Khổ quá, cậu không tin tôi sao. Chỉ có tờ giấy trắng hạng bét không có chữ.
Trước nét mặt lầm lì của người môn đồ, lão gác cổng đành lúi húi bò tìm các xó nhà, các gầm ghế... Tìm mãi mới thấy.
Thì ra hắn nói đúng. Chỉ có một tờ giấy thứ phẩm... chưa viết. Người môn đồ đem vào dâng thầy.
Yôđa cầm mảnh giấy trắng trơn, suy nghĩ rất lung... Rồi thấy ông từ từ đứng dậy, treo mảnh giấy bên những đại họa phẩm... Ông đứng ngắm hồi lâu. Bỗng ông ôm bụng cười. Cười ngặt nghẽo như cả đời ông chưa từng bao giờ được thỏa chí một bữa cười ngon như vậy...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 1 giờ bởi huytran >
#1
    huytran 1 ngày và 5 giờ (permalink)
    NGƯỜI HỌA SĨ DA MÀU
     
    *Nơi tên là buổi sớm ở đâu?
    E. DICKINSON
     
    Không biết số phận run rủi làm sao, hôm ấy nhà họa sĩ trẻ người Mỹ bang Alabama lại ra đường vào giờ đó và đi con lộ đó. Có phải vì mùa xuân? Có phải vì nắng gió mời anh rời xưởng vẽ ra đường?
    Ai mà hiểu được những lý do của một cuộc bát phố. Mà hiểu để làm gì? Chỉ biết là lâu lắm Cannon mới lại thấy mình thơ thới như vậy.
    Có những thành phố ta sống ở đó từ rất lâu, thậm chí sinh ra ở đó…, bỗng một hôm khiến ta ngạc nhiên bỡ ngỡ như mới gặp lần thứ nhất.
    Trời đất nhiều khi như một người đàn bà đẹp lúc nào cũng ban đầu, khám phá mãi, du lịch mãi không hết.
    Trên một phố vắng, Cannon bỗng thấy một ông già da màu hình như đang mải miết vẽ gì trên đường.
    Anh lặng lẽ tới gần. Đúng là ông đang vẽ thật. Vẽ mải mê… Vẽ đắm đuối… Như tách khỏi mọi sự đời…
    Tóc ông bù xù, bạc một màu bạc nham nhở, bẩn thỉu. Quần áo rách rưới như của một thằng ăn mày. Cây chì vẽ của ông cũng là một cây chì hạng bét. Bên cạnh ông là một chiếc gậy nhỏ. Ông vẽ trên những tấm các tông hộp đựng hàng nhặt ở nơi đổ rác.
    Cannon theo dõi những hình vẽ. Tưởng chừng như ông già không vẽ những hình ảnh của cuộc sống chung quanh. Có lẽ ông cũng chẳng nhìn chúng nữa, Hình như ông mải theo dõi những hình ảnh của một kiếp sống rất xa xưa.
    Những con người, những cảnh vật phảng phất như những tranh hang động thời tiền sử. Lúc thì như trừu tượng, lúc thì cực hiện thực (hyper – réaliste), lúc lại chập chờn như ma hiện trong một giấc mơ. Nét vẽ ngây thơ như nét vẽ trẻ nhỏ nhưng lại có cái già dặn, cái tính cách độc đáo của một nghệ sĩ thực thụ.
    Những hình vẽ khiến bản thân Cannon cũng phải khâm phục.
    Tình bạn giữa người họa sĩ da trắng trẻ tuổi và người già da màu bắt đầu từ ngày hôm đó.
    Qua câu chuyện của ông già mà ta cứ tạm gọi là Bill cho tiện, Cannon biết ông mang nặng trong mình dòng máu nô lệ của những nhân vật trong Túp lều bác Tom. Có khi chính ông đã từng là nô lệ cũng nên.
    Năm đó ông đã ngoài bảy mươi tuổi. Ông không biết đọc cũng không biết viết. Bệnh tê thấp khiến ông đi lại khó khăn và không kiếm được gì ngoài số tiền 15 đôla trợ cấp hàng tháng của chính phủ. Đối với ông thế cũng là thừa sống. Ở cái nước Mỹ xài sang, nhặt đâu chẳng được một mẩu bánh mì, một mẩu thịt hộp hoặc một miếng pho mát.
    Quần áo của ông cũng đều là của vứt đi cả. Chúng còn tốt chán, chỉ phải cái tội “lỗi thời”. Mà Bill thì bận tâm gì đến thời trang? Bản thân ông cũng là một thứ “has been” của thời kỳ “Theo gió cuốn bay” còn rơi rớt lại. Ông đi qua nền văn minh của thời đại điện tử như một thiên thạch từ ngày xửa ngày xưa.
    Ông chỉ vẽ trên những mảnh các tông hộp cũ. Đã có lần Cannon mua cho ông những tấm các tông chuyên dùng của giới họa sĩ, ông đều cất đi, không dám vẽ. Hình như trong thâm tâm người nghệ sĩ da màu kia nghĩ rằng mình không xứng đáng xài những của sang trọng ấy.
    Cái gậy nhỏ vừa giúp ông đi lại vừa được ông dùng làm thước kẻ.
    Bao giờ trước khi vẽ ông cũng kẻ khung lên miếng giấy bồi như một người nông dân rào kín một khu vực tài sản riêng của mình. Khu vực đó là của ông, không ai có quyền xâm phạm tới. Và ông bắt đầu vẽ.
    Những vết gấp nát trên miếng các tông, thậm chí cả những dấu nhãn hiệu đóng trên bìa cũng đều được ông sử dụng một cách hết sức nhuần nhuyễn như một pháp sư ngày xưa, vốn biết cách chung sống với số phận.
    Một dấu nhãn hiệu tròn đóng giữa miếng bìa đã được ông biến thành một cái rốn tuyệt đẹp trong bức họa nổi tiếng Mẹ và con.
    Họa phẩm của ông đủ các hình thù, theo hình thù ngẫu nhiên của miếng bìa… tròn, vuông, chữ nhật bất kì. Chỉ cần ông kẻ xong mấy đường khung là ông có thể yên tâm bắt đầu cuộc hành trình của mình. Đây là lãnh địa của ông. Không sức mạnh, không tạp niệm nào có thể quấy rối, không một nhân viên giao cảnh nào có thể huýt còi ra lệnh cho ông.
    Và ông vẽ hết bức này đến bức khác như người không biết sống để làm gì ngoài vẽ.
    Nhưng với 15 đôla một tháng, người ta không thể tìm cho mình một nơi trọ tử tế được.
    Bill cũng chẳng bận tâm đến việc này lắm. Đêm ông về ngủ nhờ ở một gara chứa xe đòn đám ma.
    Khi Cannon hỏi:
    - Đêm ma nó có về không?
    Bill cười:
    - Có chứ… Nhất là vào những đêm cuối tháng.
    - Ông không sợ à?
    - Sợ gì? Tôi có cảm giác hình như người sống mới độc ác, hung dữ chứ ma hiền lành lắm. Ma cũng hiền lành như người già. Còn hơn người già nữa kia.
    Cannon mua màu cho người bạn già. Ông thường dùng màu nguyên chất. Và có những hòa sắc rất lạ. Bill đặc biệt ưa màu xanh nước biển. Màu xanh là màu gọi đi…
      
    *
     
    Phải vất vả lắm Cannon mới thuyết phục được Bill bằng lòng triển lãm tranh của mình.
    - Ồ, triển lãm cái của nợ này, ai xem.
    Cannon lo liệu tất cả mọi thứ, từ việc thuê gallery đến việc in thiếp mời, quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, thậm chí cả việc treo tranh. Nhưng khó khăn nhất là việc ép Bill đến hiệu may cắt cho ông một bộ com lê.
    Kể nghệ sĩ thì cũng không cần gì phải ăn mặc sang lắm nhưng cũng không thể quá tã rách như một tên bụi đời. Bộ com lê may đo hẳn hoi mà sao Bill vẫn lúng túng như một người mặc mượn. Nom ông cứng nhắc đến khổ sở.
    Cannon đã chuẩn bị cho ông một bài diễn văn rất ngắn. Ông đã học truyền khẩu suốt một ngày mà đến khi lên nói cũng chỉ lắp bắp được một câu:
    “Xin cảm ơn quý ông quý bà”.
    Ngay hôm đầu tranh đã bán tốt và Bill thu được một món tiền đáng kể. Khi Cannon đưa tiền cho ông, Bill đưa hết trả lại cho bạn.
    - Cậu giữ lấy… Từ bé mình không quen đi lừa… Nhỡ có người nào nghĩ lại đến đòi tiền thì phải trả lại họ.
    Người nghệ sĩ già chưa bao giờ nghĩ được rằng những mảnh các tông bẩn thỉu kia lại có mảnh bán được tới gần nghìn đô la.
    Bill đã có thừa tiền để ở khách sạn. Nhưng Cannon hầu như phải dùng đến “vũ lực” để bắt người nghệ sĩ già từ bỏ cái gara xe đòn đám ma.
    Cô gái hầu phòng đã ngạc nhiên hết sức khi thấy vị khách chỉ vào chiếc giường nệm trắng muốt hỏi: “Tôi có được phép ngủ ở đây không?”
    Mấy ngày đầu Cannon phải đến ở khách sạn cùng với bạn. Vì lúc nào Bill cũng sợ làm không đúng, người ta có thể đuổi mình ra ngoài hay bắt lên đồn cảnh sát.
    Ông kính cẩn chào từ người gác cổng và… bữa ăn đầu tiên, nếu không có Cannon ngăn lại, ông đã định thu xếp bát đĩa đi rửa…
     
    *
     
    Nhưng hôm nay thì Bill đã khác lắm rồi. Từ bộ com lê sang trọng và trễ nải một cách nghệ sĩ, từ chiếc ca vát sặc sỡ và chiếc bê rê rất “paridiêng” cùng điếu thuốc xì gà thường tắt ngậm như một đồ trang trí.
    Không còn ai nhận được cái ông già nô lệ da màu ở gara xe đòn đám ma nữa.
    Ôi cái thân già ê ẩm vì bệnh tê thấp nằm trên chiếc đệm mút dầy đến nửa mét nhún nhẩy mới đã làm sao! Lại được ấp ủ bởi một thân hình mượt mà mây mẩy của một cô gái da trắng người thon dài bất tận như bông hoa loa kèn. Bill không dám ôm mạnh… Chỉ sợ nó tan vỡ như một giấc mộng.
    Và cả vị môi con gái. Nó ngọt như kẹo…, lịm người như một thứ liquor thượng hạng. Bill nhớ rằng thuở nhỏ, bố mình cũng có nhắc đến một thứ hoa môi – con – gái nơi vườn thiên đường… đã từ xa xưa lắm… đã mất… đã héo úa… vì tội lỗi của con người… Có phải thứ hoa môi này chăng?
    Phụ nữ thường nhắc ta nhớ đến tuổi thơ nhỏ. Và cái ông già mấp mé tám mươi kia, suốt đời khổ ải tưởng trái tim đã thành chai, bỗng khóc thút thít trong lòng người gái điếm chỉ đáng tuổi cháu ông... như một đứa trẻ… và có cảm giác lâng lâng như nằm trong vòng tay của Đức Mẹ Đồng trinh…
    Trái cấm là ngọn nguồn của tội lỗi… Bậy… Trái cấm còn là ngọn nguồn của tuổi ngây thơ. Ngày mai kia nếu thế giới không còn đàn bà, có lẽ cả nhân loại già nua sẽ ôm nhau khóc như một lũ trẻ mồ côi trên một quả đất đã trở thành sa mạc, đã hết tiếng rì rào và bóng xanh của lá.
    Đồng đôla như mở cửa cho Bill vào một thế giới khác. Cái ông già không có tuổi nhỏ ấy mua búp bê, thỏ bông, đủ các thứ đồ chơi con trẻ. Lại sắm cả một hệ thống xe lửa điện tử mải mê suốt ngày… Tu tu… con tàu đưa ông về đâu, đến ga nào của thời gian…
    Cái ông già không có thời thanh xuân, không biết có tình yêu đã truy lĩnh tuổi trẻ trong vòng tay nhiều người đẹp cả nể và những cái vuốt ve tưởng có thể làm mềm lòng cả những tượng đá.
    Đúng là có tiền mua tiên cũng được.
    Và đôla không những có thể mua cho ta một chỗ trên con tàu vũ trụ cất cánh vào cõi Thiên hà mà còn có thể cho ta một tấm vé vào nơi thiên đường trần tục và nhỡn tiền nó còn thú vị ngàn lần hơn cái thứ thiên đường toàn phúc nhưng xa vời quá.
    Cái con người suốt ngày đói khát, lê la, nhặt những mẩu bánh vứt đi ngoài đống rác để sống cho qua ngày… trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đã thưởng thức tất cả các món cao lương mỹ vị, kể cả các món ăn cầu kỳ và quái quỷ của các vị hoàng đế Trung Quốc.
    Đồng đôla hình như có thể giúp ta sống được nhiều cuộc đời trong một thời gian ngắn…
    Một hôm nhìn bạn, Cannon bỗng có một nhận xét rất triết gia:
    - Người ta làm quen với hạnh phúc dễ hơn làm quen với cực khổ.
    Và người họa sĩ da trắng bỗng cảm thấy một niềm tự hào lớn trong việc đã giúp đỡ người bạn già nghèo khổ của mình đổi đời. Đúng là đổi đời một trăm phần trăm.
    Bill thật hạnh phúc, hạnh phúc quá.
    Chỉ nguyên cái việc sống cuộc đời thường ngày đã vượt rất xa những giấc mộng ngày xưa của người nô lệ già…
     
    *
     
    Nhưng Cannon không hiểu, không thể hiểu rằng hạnh phúc thừa mứa và độc canh cũng mệt người. Và tới một mức nào đó cũng chán nản như sự bất hạnh.
    Muốn hiểu điều này phải có thời gian và từng trải.
    Báo chí đều coi Bill như một phát hiện lớn. Và dường như để bù cho tội đã quên ông già một thời gian dài, người ta đổ xô đến phỏng vấn và chụp ảnh ông. Kèm đó là những lời khen ngợi đến nhàm chán. Nhiều nhà phê bình không hiểu rằng khen ngợi cũng đòi hỏi phải có văn hóa và trí tưởng tượng. Người ta tưởng lầm rằng những lời khen là của bố thí, muốn cho thế nào cũng được miễn là càng nhiều càng hay. Một lời khen ngợi 100 đô tất nhiên phải giá trị hơn một lời khen ngợi 50 đô và cứ quẳng vào cái bị quang vinh của người nghệ sĩ là xong.
    Cũng may Bill không biết đọc.
    Ngay cả cái khuyết điểm này của Bill cũng được tô vẽ thành ưu điểm. Người ta lợi dụng ngay điểm thất học của người nô lệ già để chửi “một số nghệ sĩ khác mà người ta cho là quá trí thức xa rời cái chân chất của người nghệ sĩ nòi”.
    Chao ôi! Cứ đọc họ thì rồi có lẽ các nghệ sĩ phải mù chữ, phải thất học hết mới đạt được tới cái bản chất “uyên nguyên” của con người!
    Vì Bill không biết đọc nên Cannon phải đọc cho bạn nghe. Mỗi ngày Bill phải để hàng giờ để nghe “điểm báo”.
    Hôm nay cũng như thường lệ… vào giờ điểm báo… không hiểu sao Bill bỗng rùng mình phải chạy vội vào nhà toa lét và nôn thốc nôn tháo, nôn bất tử!
    Cannon phải điện mời bác sĩ.
    Bác sĩ cho thuốc an thần để ông già có thể ngủ một giấc dài.
     
    *
     
    Trưa hôm sau Cannon tới khách sạn thì thấy người thường trực đưa cho anh chìa khóa phòng Bill. Cannon chạy vội lên thì phòng vắng tanh. Bill đã bỏ đi. Bộ quần áo nghệ sĩ sang trọng được Bill khoác lên một thằng bù nhìn ở một góc phòng đang đung đưa một cách kệch cỡm.
    Cannon vội chạy tới phố X nọ.
    Từ xa anh đã nhìn thấy ông già Bill trong bộ y phục rách rưới ngày trước đang mải mê vẽ. Mặt ông già rạng rỡ như một người lưu lạc đã lâu nay mới trở về nhà mình.
    Hình như quãng thời gian đã qua chỉ là một kiếp mượn, một cuộc sống rởm ông đã mửa ra hết tại nhà toalét.
    Nhìn ông già vẽ say sưa trên lề đường như một kẻ tử vì đạo lấy nghiệp vẽ làm sự cứu rỗi, Cannon bỗng thấy người nô lệ già kia là kẻ tự do nhất đời và chính mình mới là kẻ nô lệ.
    Một lòng thành kính bất ngờ bỗng dâng lên, dâng lên không ngừng trong lòng Cannon. Anh rón rén quay lui để khỏi quấy rầy một bậc cao thủ đang luyện công tới mức thượng thừa có nguy cơ tẩu hỏa nhập ma bởi những hành động bất cẩn của kẻ dung tục.
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 20 giờ bởi huytran >
    #2
      huytran 2 giờ (permalink)
      MI LÀ NGƯỜI BÌNH THƯỜNG
       
      *Lời rườm mơ ước rởm gửi ngoài kia
       
       
      Vua Philippe nước Macédoine là một người may mắn. May mắn trước hết là làm vua. Không những làm vua, còn đẹp trai, giỏi giang việc nước. Thôn xóm khắp nơi âu ca… Mấy nước láng giềng háu ăn và hỗn láo… đều một phép.
      Những kỳ tích của nhà vua, Viện Hàn Lâm chép mãi không hết. Tôi xin dẫn ra đây một kỳ tích chưa xếp hạng.
      Con tuấn mã đầu bò của nước Athènes nổi tiếng dữ dằn. Chưa từng một kỵ sĩ nào chế ngự nổi. Nghe đồn vua Philippe là tay giỏi ngựa, người Athènes đem đến dâng vua. Vốn bậc phong lưu mã thượng, nhà vua không nhận quà biếu, mà chỉ đánh cuộc với chủ ngựa: Nếu nhà vua giáo dục được ngựa, ngựa sẽ thuộc về nhà vua; nếu thất bại, nhà vua sẽ mất cho chủ ngựa ngàn lạng vàng (nghĩa là gấp mười lần trị giá ngựa) và con tuấn mã vẫn thuộc sở hữu chủ cũ.
      Ngày ngàn năm có một đã tới. Cả kinh thành lũ lượt kéo đến vận động trường vui như hội. Vua Philippe ra bãi. Cả vận động trường bật dậy, tiếng hoan hô nổ như sấm. Vua khẽ giơ hai tay lên đầu đáp lễ (Lối đáp lễ này sau được các vận động viên bóng đá cải tiến và đại chúng hóa), rồi vua chỉnh tề nhung y oai phong lẫm liệt tiến về phía ngựa dữ. Sân bãi nín thở theo bước chân người anh hùng. Con ngựa bỗng rùng mình… hí lên. Nó sắp giở món đá hậu đặc sản đây! Vua Philippe vẫn trực chỉ, hai con mắt quăng quắc. Con ngựa rung bờm thở phì phì. Sút!!! Không. Con ngựa từ từ quỳ hai chân trước xuống, và vua Philippe ung dung bước lên lưng ngựa, chạy kiệu một vòng giữa những tiếng hoan hô long trời lở đất.
      Các giới ngựa học hội thảo nát ra mà không thống nhất được ý kiến… Người thì cho là vua Philippe có hổ uy. Người thì cho là con ngựa láu cá, biết phép tiến thân… Vì từ hôm đó ngựa được vua phong áo gấm, đeo lục lạc vàng và móng bịt bạc.
      Nước Macédoine còn có một nhân vật nổi tiếng khác. Đó là ông già dở dở ương ương Santos mà thiên hạ quen gọi là nhà triết học. Ông thường ngồi độc tửu dưới gốc cây trắc bá cổ thụ, nói cho những ai muốn nghe những câu bông lơn sâu xa về đạo làm người.
      Santos cũng có nhiều kỳ tích nhưng vì không làm vua nên không được ghi chép thành văn trong chính sử, chỉ được truyền miệng qua những bài hát của các thi sĩ mù lang thang, mà dân gian đặt cho một cái tên yêu mến là xẩm. Tôi cũng xin ghi lại đây một giai thoại.
      Dân hai bên bờ một con suối nọ muốn thiên hạ chú mục đến địa phương mình bèn liên kết xây một cây cầu lớn nhất vùng Salonique. Cầu xây xong, đốt pháo ăn mừng, bánh pháo dài đến năm thước. Ai cũng khen cây cầu hoành tráng vĩ đại. Chỉ tiếc con suối lạc hậu không tiến kịp vẫn nông choèn một dòng nước nhỏ bé bất lịch sự. Nhưng chi tiết này không làm giảm được lễ khánh thành cực kỳ long trọng. Múa hát của đoàn văn nghệ địa phương tự biên tự diễn đã đành. Các cụ bô lão còn mời được cả thi quan của triều đình, cao thủ vừa giật được vành nguyệt quế trong cuộc thi ông Hoàng thơ năm trước. Vị thi quan đọc một bài thơ trường thiên bị ngắt quãng bởi những tràng vỗ tay nhiệt liệt, trong đó có những câu cẩm tú đại khái như:
      Bồng lai cảnh sắc dị kỳ
      Cong cong mấy nhịp cũng vì cầu xây. (1)
      Muốn cho lễ khánh thành thêm rôm rả, ban tổ chức có sáng kiến cho mời ông già Santos tới. Ông già vốn khó tính nhưng lại phải cái tật thèm rượu ngon, mà rượu ở vùng Cầu thì từ lâu đã nổi tiếng mỹ tửu không kém gì rượu Hiđrômen trên núi Olympe.
      Sự có mặt của ông già trong buổi lễ đã là hạnh ngộ, nhưng một vị chức sắc lại hứng lên xin ông mấy dòng “chữ vàng” lưu niệm. Ông già tuy là nhà triết học, nhưng cũng rất thực tế. Ông tranh thủ mấy suất rượu đúp rồi mới khai bút. Chữ bay múa như một nghệ sĩ thư pháp Trung Quốc.
      “Dân hai bên bờ bán cầu đi lấy tiền mua nước”.
      Viết xong, ông lăn ra ngủ. Mọi người lúc bấy giờ mới để ý đến con suối chậm tiến kia. Con suối chừng như sợ quá, càng co ro, càng nhỏ bé, thảm hại. Nhưng vì mâm tiệc còn đầy ắp, người ta thể tình cho ông lão về tội “tửu nhập ngôn bĩnh” và để đối trọng, kèn trống lại càng rộn rã nhịp Allegro hùng tráng.
      Vào thời tột đỉnh của mình, một hôm vua Philippe bất chợt nghĩ đến ông già nhân sĩ kia và nảy ý muốn đến thăm lão.
      Vua phải dụi mắt mấy lần mới tin rằng mình không mơ ngủ: Cái ông già quần áo rách mướp như thằng ăn mày kia là nhà triết học nổi danh thật sao? Nom lão còn xoàng hơn thằng chăn ngựa của triều đình.
      Nhưng rất lạ quanh cái đầu bù xù của ông già ong bướm bay tấp nập… nhất là đàn ong thợ. Chúng nối đuôi nhau làm việc rất khẩn trương, như đương khai thác một vỉa nhụy cao cấp, mà sau này người ta gọi là chất xám, từ mớ tóc rậm rối, bụi bặm kia… tạo nên một thứ vòng hào quang sống động. Thành thử nom ông cụ vừa bẩn thỉu, vừa cao sang kỳ ảo, nó khiến vua Philippe không dám coi thường. Vả lại đức vua có tiếng là một ông vua dân chủ.
      Vua Philippe:
      -            Thưa thầy, mọi công việc nơi triều chính tôi đã hoàn thành xuất sắc. Thầy cho biết tôi cần phải làm gì nữa.
      Ông già lấy tay xua lũ bướm văn công, trả lời như không cần nghĩ:
      - Cần làm… làm một người bình thường…
      Vua Philippe ngạc nhiên:
      -            Trẫm tưởng làm anh hùng mới khó chứ làm một người bình thường thì khó gì…
      Ông già cười xì xì… không nói.
      Vua Philippe:
      -            Thầy có thể mách Trẫm biện pháp cụ thể để làm một người bình thường không?
      Ông già:
      -            Mỗi sớm khi tỉnh giấc, bước chân ra cửa, nhà vua cần cho bố trí một người túc trực tại đó nói lớn “Philippe, mi là một người bình thường”.
      Đúng là một ông già ấm đầu. Vua Philippe hạ lệnh cho quan quân nhảy vào lửa chúng cũng nhắm mắt tuân theo, nữa là làm một việc quá ư dễ dàng này. Hai người đánh cuộc và hẹn sẽ gặp nhau sau một tuần trăng.
      Ông già nghiêm trang:
      -            Nếu tôi thua, tôi sẽ mất chỗ ngồi của tôi cho nhà vua…
      Vua Philippe cười thầm thú vị. Ông làm như chỗ ngồi của ông báu lắm không bằng. Nhưng theo phép lịch sự, nhà vua không nói gì… Không những thế còn tỏ ra cực kỳ hào phóng.
      -            Nếu ta thua, thầy muốn gì… trong phạm vi ta có thể làm được ta cũng sẽ làm vừa lòng thầy.
           Trên đường về, vua bụng bảo dạ: Thì ra thiên hạ chúa là hay đồn nhảm. Cái lão già dở người kia mà cũng triết ra với triết vào!
           Nhưng vua Philippe là người trọng lời hứa… ngài lập tức hạ lệnh cho quan nguyên soái (ông này quen hô ba quân nên giọng nam cao sang sảng như kèn đồng) thực hiện nhiệm vụ nói trên. Sớm hôm sau vừa thức giấc bước chân ra cửa vua đã thấy quan nguyên soái chờ sẵn đó. Ông vươn thẳng tấm thân hai thước, dọn giọng. Và dõng dạc hô lớn:
      - Kính chúc bệ hạ vạn thọ vô cương.
      Vua Philippe chán quá nhưng không nỡ làm phật lòng người bề tôi trung thành (xét cho cùng vị tướng kia có tội gì đâu) vua ban cho nguyên soái một chén ngự tửu.
      Lần này vua phân công cho một gián quan có tiếng kiên nghị.
      Sáng hôm sau vừa thức giấc bước ra cửa đã thấy vị gián quan chờ sẵn đó… Ông đứng thẳng người như một cây ngay. Bỗng đầu gối ông như bị ai chém đứt, ông khuỵu xuống, miệng lắp bắp.
      - Thánh thượng vạn tuế…
      Vua Philippe đã luân phiên hầu hết các cận thần, nhưng không vị nào làm tròn nhiệm vụ.
      Sau một ngày suy nghĩ rất lung, vua Philippe bèn chọn một người lính thường. Vua lập luận như sau: Một người lính thường hầu như không có bổng lộc gì, nên dễ hư tâm làm việc đó hơn. Sáng hôm sau vừa thức giấc bước ra cửa vua đã thấy người lính chờ sẵn đó trong bộ quân phục mới. Anh ta ưỡn ngực thét…
      - Vua Philippe, mi…
      Một phản xạ tự nhiên thoáng làm vua tức giận. Lần đầu có người dám gọi vua như vậy. Philippe cau mày, mắt hình như lóe lửa. Nhưng chỉ một tích tắc ngài tự chế ngự được ngay và mỉm cười. Nhà vua chờ đợi, chờ đợi, chờ đợi mãi không thấy tên lính hô tiếp…
      Thì ra hắn sợ quá, lưỡi đã rụt lại từ bao giờ, cấm khẩu.
      Thế là vua Philippe thua cuộc. Cái việc thoạt nhìn dễ ợt ai ngờ lại khó đến thế. Nhà vua vừa tức giận, vừa vui. Giận vì mình thua cuộc, nhưng vui vì trăm họ vẫn khiếp oai trời.
      Khi nhà vua đến, ông già đang ngủ ngon, ngáy giòn giã. Chừng ông già cũng chẳng nhớ hôm nay là ngày được tiếp kiến mặt rồng. Gọi đến mấy lần ông già mới thức giấc. Nhà vua nói:
      - Thầy được cuộc rồi… Vậy nhà thầy muốn gì?
      Nhà triết học như vẫn chưa tỉnh ngủ nói:
      -            Ta muốn nhà vua đứng xê ra đừng che mất ánh mặt trời của ta.
           Và ông lại nằm xuống trên nệm lá tiếp tục giấc điệp bỏ dở. Vua Philippe sững sờ. Vua nhìn trời. Trời nắng đẹp quá. Nhìn ông già. Ông già ngủ ngon quá. Cỏ thì xanh. Gió thì mát.
           Vua bỗng ngồi bệt xuống bãi cỏ, một tiếng nói như từ thâm tâm vọt ra cực kỳ sảng khoái:
      - Philippe, mi là một người bình thường.
      Đám quan hầu ngơ ngác không biết xử trí ra sao. Theo thói quen thuận tiện chúng nhất tề quỳ xuống tung hô:
      - Thánh thượng vạn thọ vô cương.
           Giọng tênô của vua và giọng nam thấp của đám quần thần như một khúc hợp xướng hai bè ngân vang trong nắng thu.
       
      (1) Bạn đọc thấy không hay xin lượng thứ, vì thời đó người ta dịch thơ rất ẩu.
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 50 phút bởi huytran >
      #3
        huytran 1 giờ (permalink)
        HÈN ĐẠI NHÂN

        *Trình làng người dăm chữ ngụ cư
        LĐ 


        Chưa bao giờ Jean thấy những biểu thức toán học thanh nhã và đẹp đến thế. Anh bóp mười đầu ngón tay tê cứng rồi lại mải miết viết. Những suy nghĩ như con nước đe dọa trào ra khỏi bình óc, nếu Jean không giải phóng chúng trên giấy. Anh chợt nhìn đồng hồ. Kim chỉ hai mươi giờ mười lăm. Jean giật mình. Anh đã quá hẹn với Marie mười lăm phút. Ôi, Marie em xinh đẹp thế… duyên dáng thế… Mà sao khó hiểu… sao rắc rối hơn những phương trình toán phức rất nhiều. Đang vui vẻ đang dịu dàng… bỗng em cau mặt… thế là dông tố nổi lên ầm ầm, có khi đến cấp mười hai, mười ba. Và rồi giữa cơn cuồng nộ em bỗng ôm hôn anh… mắt thăm thẳm… bình yên tuyệt vời. Có phải đó là điểm mà các nhà khí tượng gọi là mắt bão? Đang hát, đang nhí nhảnh như một con chim ức đỏ, mặt em bỗng lạnh tanh dưới không độ… và anh buồn như con hải mã mồ côi.
        Toán học… sao toán học lại giống cái [1]? Có phải mọi nỗi niềm say mê đều giống cái? Liệu tâm hồn một người có đủ kích thước để chứa đựng hai niềm say mê đồng thời không? Toán học và Marie. Nhiều lần Jean như linh cảm thấy một đổ vỡ sắp tới. Anh rùng mình. Nhưng bây giờ thì không phải lúc nghĩ tới việc đó nữa rồi. Anh khoác vội chiếc áo ngoài, tóc bù xù vừa đi vừa chải bằng lược năm ngón. Anh định gọi một chiếc xe tốc mã, nhưng khi cho tay đếm tiền trong túi lại thôi. Một con toán nhẩm cấp một cũng dễ dàng cho thấy kết quả là anh chỉ đủ tiền thết Marie một chầu cà phê bánh ngọt, dư một ít bạc vụn phòng ngừa rủi ro. Nhỡ Marie hứng lên, ăn thêm một chiếc bánh. Nhỡ một trong hai người đánh vỡ một chiếc tách. Những bất hạnh lặt vặt thường xảy ra trong đời nhưng là đại họa với đồng lương ít ỏi của một giáo viên trẻ.
        Những bước chân hối hả của Jean trên hè đường như chậm chạp một cách bất động. Anh vắt chân lên cổ chạy, nhiều lúc muốn đứt hơi trên hè đường tuyết tan nhầy nhụa bùn.
        Nhưng cuối cùng thì cũng tới Rome. Tiệm cà phê Capitole đã hiện ra trước mắt rực rỡ. Jean bước vào. Tấm gương lớn cho thấy hình ảnh một người trẻ tuổi đầu tóc rũ rượi, áo quần nhàu nát, lấm bùn, bệ rạc như một tên ma cà bông. Chỉ có đôi kính long lanh là còn giữ được một phần nào tư thế cho bộ mặt có vầng trán thênh thang như phòng đọc một thư viện quốc gia. Và kề bên là hình ảnh Marie hồng hào, ngon như một chiếc kẹo nuga. Jean nuốt nước bọt. Nhưng nước bọt tắc nghẽn ở cổ họng. Bên cạnh Marie là một viên sĩ quan cỡ trung hay đại úy, quần áo phẳng phiu, khuy cúc, lon sao mạ bóng loáng, mặt mày nhẵn nhụi như vừa ở tiệm hớt tóc ra, với bộ ria đế chế oai hùng màu hung hung đỏ hai đầu xoăn tít như dây mayso. Bao nhiêu giấc mơ thiếu nữ đã thiêu rụi ở đó như những cánh bướm ngũ sắc. Và con số những tình tích chắc chắn còn nhiều hơn những chiến tích trong cuộc đời binh nghiệp của viên sĩ quan trẻ tuổi thời bình kia. Jean tin là Marie đã nhìn thấy mình. Nhưng nét mặt cô thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra.
        Jean bây giờ mới thấm mệt. Anh muốn ngồi bệt xuống sàn. Cố gắng lắm anh mới lê lết… tới… được một bàn trống. Khoảng cách vô tận… như khoảng cách Zenon [2]. Anh uống một lúc hai ly đen. Đôi ria mép viên sĩ quan nhảy múa trong một điệu mơnuyê trịnh trọng. Cà phê đắng như có vị thạch tín. Và rực rỡ giữa vùng cà phê đen là chiếc nơ đỏ trên đầu Marie bay… lượn… bay lượn. Với tiếng cười rúc rích. Tan-ta-ran-tan-tan.
        Vous avez une très belle moustache [3]
        Jean bỗng thấy dâng lên cơn thịnh nộ không sao kìm hãm nổi. Cơn thịnh nộ làm anh choáng váng. Anh lảo đảo đi về phía Marie mặt bừng bừng.
        – Marie! Tôi không muốn…
        Marie quay về phía anh, mặt lạnh tanh:
        – Ông muốn gì?…
        Quá lắm, quá lắm! Cơn giận trong người Jean sôi lên vượt ngưỡng báo động, đe dọa nổ tung cái vỏ não mỏng mảnh, nếu không mở một xúpáp an toàn. Người trẻ tuổi bật nói, không cưỡng lại được:
        Pute [4]
        Viên sĩ quan đứng dậy đẩy Jean ra.
        – Ngài có hành vi thiếu lễ độ với phụ nữ.
        Jean túm lấy ngực áo hắn.
        – Cả mày nữa, mày cũng là một tên vô lại.
        Viên sĩ quan đẩy mạnh một cái làm Jean ngã chổng kềnh, chiếc kính rơi xuống đất. Hắn lấy ngón tay búng ngực áo rồi vuốt nhẹ cho phẳng phiu, giọng vẫn ung dung:
        – Tay ngài hơi thiếu vệ sinh.
        Và hắn nghiêng đầu trước Marie nói:
        – Xin lỗi tôi đã không làm tròn bổn phận kẻ vệ sĩ của người đẹp.
        Jean sờ soạng nhặt kính. Như trong một giấc mơ, anh chập chờn đến trước mặt viên sĩ quan:
        – Thằng khốn nạn, mày có dám quyết đấu với tao không?
        Viên sĩ quan cười lớn:
        – Nhưng ngài có biết nạp đạn vào súng không?
        Câu nói như một viên đá quẳng xuống mặt hồ làm tóe những sóng cười.
        Marie đứng dậy nắm tay viên sĩ quan:
        – Ta đi thôi.
        Jean hét to:
        – Mày chưa đi được trước khi nhận lời quyết đấu với tao!
        Viên sĩ quan lịch sự cúi đầu:
        – Tôi sẵn sàng phục vụ ngài.
        Một cuộc quyết đấu được thỏa thuận trong vòng hai mươi ngày tại phía bắc rừng Boulogne.
        Hai mươi ngày… Hai mươi ngày… Liệu kỳ hạn ác nghiệt này có đủ cho Jean hoàn thành công trình không? Giờ đây thì cả Marie cả viên sĩ quan mạ kền, cả trận quyết đấu kia cũng đã lui vào hậu trường, trước mắt chỉ có những phương trình mọc lên tua tủa như rừng. Rồi chúng sẽ dẫn dắt Jean đi đến đâu? Đó là một ẩn số. Một người nghiên cứu đích thực cũng như một nghệ sĩ, hình như ít thấy trước được điểm chấm hết của công trình đang tiến hành. Con đường xuất hiện đồng thời với bước chân lấn cõi chưa biết. Đó là một cuộc Gulliver du ký đầy bất ngờ của trí tuệ, và thường khi mình định tâm tìm một vương quốc Ấn Độ huyền ảo… thần may rủi mù lòa lại đưa đến một Tân thế giới.
        Jean viết rất nhiều, xóa cũng rất nhiều. Anh có cảm giác mình sắp phát hiện ra một điều gì cực kỳ mới lạ. Ai biết được mặt mũi cái mới lạ ra sao. Jean chỉ linh cảm thấy mình không còn dừng lại ở những định thức toán rời rạc riêng lẻ địa phương mà đang xây dựng một cấu trúc toán đồ sộ lợi hại, nó mở rộng một lục địa toán mênh mông. Jean làm việc ngày, làm việc đêm, mặt hốc hác, râu mọc tua tủa, hai gò má nhô cao, đôi con ngươi cháy long lanh như một kẻ bị ma ám trong hốc mắt ngày một hõm sâu. Một hôm bất thần soi mặt vào gương Jean bỗng giật mình thấy mặt một Đấng cứu thế của Van Dyck mà anh đã được gặp tại Viện bảo tàng Louvre cách đó vài tháng. Mới có nửa năm, nửa năm mà xa lắc xa lơ. Hình như anh đang sống một hệ thời gian khác.
        Pierre, người làm chứng trong cuộc quyết đấu, hơn một lần đến vật nài anh nghỉ ít bữa để tập bắn.
        – Cậu không nên coi đây là chuyện đùa. Cái viên sĩ quan nộm kia hẳn là đánh giặc rất tồi, nhưng bắn tập thì rất khá, vì bắn cũng là một trò chưng diện chim gái của hắn.
        – Viên sĩ quan nào?
        Phải một lúc lâu, Jean mới nhớ được là mình đã hẹn quyết đấu với một người.
        Nhưng những cái đó đối với Jean bây giờ là vô nghĩa, cả cái sống, cái chết của anh cũng vậy. Anh chỉ nhớ rằng hai mươi hôm nữa anh sẽ có thể vĩnh viễn ra đi và thời gian này anh phải dành ra để hoàn thành một công trình còn quý hơn tính mạng.
        Những lời vật nài, kể cả nguyền rủa của bạn như đều thuộc một thế giới ảo.
        Cuộc chạy thi với thời gian thật vất vả, nhiều phần Jean đành viết tóm tắt mà không kịp phát triển. Hậu thế hãy tha thứ cho người vận động viên nước rút oan nghiệt này.
        Anh vừa gấp tập bản thảo lại cũng là lúc Pierre đến gọi anh đi quyết đấu. Anh lặng lẽ bỏ súng vào túi, đi theo Pierre lên xe như một kẻ mộng du.
        Tiếng vó ngựa gõ xuống mặt đường đều đều. Bỗng Jean ra hiệu ngừng xe. Anh nói với Pierre:
        – Mình phải quay về cậu ạ.
        – Sao, cậu sợ?
        – Sợ gì?
        Pierre bực mình:
        – Sợ chết chứ còn sợ gì? Mình không ngờ cậu lại hèn thế!
        Jean cũng chẳng để ý đến lời xúc phạm của bạn:
        – Mình vừa chợt nghĩ ra một cách phát triển thanh nhã và đẹp hơn nhiều. Tớ phải về. Thế nào tớ cũng phải về.
        Pierre cản lại:
        – Cậu có thể hèn, nhưng tớ không thể hèn được. Ta cứ đến nơi hẹn. Nếu cậu sợ, tớ sẽ thay cậu…
        – Đã bảo mình không sợ mà.
        Phép logic nào có thể giúp cho anh chứng minh được rằng mình không sợ? Jean đành thụ động theo bánh xe ngựa số mệnh.
        Khi hai người tới điểm hẹn, viên sĩ quan đã đứng đó cùng với Marie. Tiếng cười của Marie như một gáo nước lạnh làm cho Jean bừng tỉnh. Anh thấy mình không thể hủy cuộc quyết đấu được. Hai người đứng vào vị trí đã định. Trước khi hiệu lệnh bắt đầu, Jean bỗng cho súng vào túi. Anh lặng lẽ tiến đến trước viên sĩ quan, giọng hết sức điềm tĩnh. Anh cảm thấy như mình là một người khác.
        – Thưa ông, tôi có một việc tối hệ trọng cần phải hoàn thành, xin ông cho hủy cuộc đấu.
        Viên sĩ quan vê ria mép, hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn cố giữ vẻ lịch sự rất thế kỷ mười bảy đọc trong sách của Dumas.
        – Tôi sẵn sàng hủy bỏ cuộc quyết đấu với điều kiện ngài phải xin lỗi cô nương đây.
        Như một cái máy, Jean đến trước mặt Marie cúi đầu:
        – Tôi thành thực xin lỗi cô nương.
        Marie lẩm bẩm:
        Lâche! [5]
        Và cô nhón đầu ngón chân quay hai góc vuông, khoác tay viên sĩ quan bỏ đi, vứt lại một chuỗi cười.
        Những biến động lớn của cảnh ngộ đã làm cho tâm thần Jean tê dại. Anh gần như sống trong một trạng thái cơ học. Viên sĩ quan có thể bắt Jean quỳ xuống. Jean cũng quỳ không chút do dự – Nhưng tiếng cười ma quỷ kia, nó như một chiếc vít vô tận khoan sâu đến tận đáy vô thức, một tia xung điện đánh vào chiếc hộp sọ đã quá tải. Jean lấy hai tay bịt tai, và ngã lăn bất tỉnh.

        *

        Toán học đã cứu anh. Những phương trình toán tuyệt đẹp hình như đã nâng anh lên một thượng tầng không khí, nơi những ỉ eo của cuộc đời không tới được. Ôi khoảng không toán học bao la, nơi những con số kỳ ngộ tạo nên những phương trình tuyệt vời như nàng công chúa trong rừng cổ tích.

        *

        Jean có một thầy dạy toán lừng lẫy tên là René, mớ tóc bạc trắng như bọt biển lăn tăn với chiếc mũi sư tử, tạo cho ông một dáng suy tư tự nhiên, kể cả khi ông không nghĩ gì cả. Nó đã góp một phần không nhỏ vào uy tín của bậc trí giả.
        Công trình Jean gửi xin ý kiến, mấy trang đầu làm ông khó chịu vì những khái niệm kỳ quặc mấp mé sự điên rồ, nhưng càng đọc ông càng say mê. Nhiều chỗ ông không hiểu, nhưng cái khứu giác lâu năm trong nghề khiến ông đánh hơi thấy hình như mình đang đứng trước những phát hiện hết sức lớn lao.
        Một người điềm tĩnh như ông mà đêm đó cũng phải dùng đến ba viên gacdinan mà vẫn trằn trọc.
        Như người ta nói, đêm là một cố vấn tốt. Hôm sau, ông cho gọi Jean đến. Giọng ông chậm rãi cân nhắc:
        – Tôi đã xem công trình của anh. Có một số ý kiến độc đáo… Nhưng chưa được vững vàng, cần phải hoàn chỉnh thêm.
        Rồi ông im lặng. Vầng trán đồ sộ nhíu lại. Mấy lần ông định nói, nhưng lại im. Cuối cùng rồi ông cũng nói:
        – Tôi sợ một công trình như thế này công bố dưới tên anh sẽ gây phản ứng tiêu cực trong giới toán học, không có lợi cho tác giả. Vì anh còn non trẻ quá…
        Ông lấy khăn lau mồ hôi trán:
        – Nếu anh bằng lòng… tôi sẽ chỉnh lý, nâng cao và cùng đứng tên với anh…
        Nét mặt cũng như cách nói của ông có vẻ đầy thiện ý. Nhưng Jean đang ở trong một thời kỳ khủng hoảng lớn về tinh thần. Anh đùng đùng đứng dậy vơ lấy tập bản thảo và lắp bắp:
        – Tôi không phải là một thằng ăn cắp!
        Và bỏ đi như một sự khinh bỉ.
        Jean không hiểu rằng anh đã dấn thân vào một trận quyết đấu mới với một địch thủ còn thập phần nguy hiểm hơn viên sĩ quan bợm gái.
        Một nguồn tin không biết ở đâu nhanh chóng được phát đi về hành động đáng xấu hổ của “thằng hèn đến giờ đọ súng bỗng thun vòi lại”. Người ta còn bổ sung rất nhiều chi tiết hấp dẫn, nào là Jean “quẫn ra bình” [6] nào là Jean quỳ mọp xuống đất hôn mũi giày địch thủ để xin tha mạng, vân vân…
        Tin đó chỉ một vài ngày đã lan khắp giới khoa học, như một phản ứng dây chuyền. Người ta xì xào. Có lẽ nhục quá nó hóa điên. Chẳng điên mà đi chửi lại thầy khi ông thân ái góp ý đối với những trò rồ dại của hắn về một “tân toán ngữ”. Đúng là một thằng khốn kiếp. Cũng may, thầy René là người độ lượng. Jean như con cá mắc trong tấm lưới, càng quẫy càng tróc vẩy, chảy máu, càng bị thít chặt…
        Và anh bắt đầu nếm thứ hình phạt kinh khủng nhất trần gian: sự ruồng bỏ của đồng loại.
        Các bạn anh gặp ngoài đường đều quay đi, đổi vỉa hè, hoặc chăm chú gí mũi vào tủ kính một tiệm tạp phẩm.
        Trong những bản năng của loài người, day dứt nhất là bản năng bầy đàn. Cho nên trong các quần thể từ thời nguyên thủy, hình phạt nặng nhất sau án tử hình là sự tống khứ ra khỏi cộng đồng, được gọi bằng những định danh khác nhau như rút phép thông công, khai trừ, lưu đày…
        Một người không thể sống suốt ngày với những con số. Người ta thèm hơi ấm của sự chia sẻ, thậm chí từ bất cứ một loại sinh vật nào.
        Jean cô đơn đến mức không có cả một con chó làm bạn vào những lúc tàn canh. Cây thánh giá lạnh.
        Cho đến một hôm người hàng xóm nghe thấy một tiếng nổ. Khi cảnh sát đạp cửa vào thì đã thấy Jean ngã gục trong vũng máu, quả tim rách bươm còn khét mùi thuốc súng. Jean đã chết vì chính khẩu súng anh chuẩn bị cho trận quyết đấu không diễn ra.
        Vì anh tứ cố vô thân, ông René đứng lên lo liệu mọi việc ma chay cho tên học trò bội bạc. Tất cả sách vở, bản thảo của Jean được nhà chức trách trao lại cho ông thầy tốt bụng.
        Sau khi chôn cất tươm tất cho người trẻ tuổi, René lên xe phóng vội về nhà.
        Ông chốt cửa phòng làm việc lại. Di cảo của kẻ bất hạnh được lục lọi, xem xét với mức cẩn thận của sở mật thám, nhưng bản thảo cần tìm không biết bằng cách nào đã tẩu thoát!

        *

        Habent sua fata libelli.
        Sách vở cũng số phận.
        Lần nào đọc câu thơ trên của Terentianus Maurus tôi cũng rùng mình. Tác giả của nó là một nhà thơ mắn đẻ. Ông đã viết rất nhiều tác phẩm nổi tiếng một thời, và chắc chắn tên tuổi ông từ lâu đã bị quẳng vào bãi phế thải mênh mông của lịch sử nếu không có câu thơ quái ác kia, nó như một chiếc đĩa bay chở ông qua hữu hạn đến những vùng biên ngoại vô tận của thi ca nhân loại.
        Tôi xin lấy nó làm kết từ cho truyện ngắn này.
        Một hôm nhà bác học Do Thái Albert Einstein tình cờ đi dạo trên kè Malaquais, nghĩa trang sách quen thuộc của đủ loại tình nhân thư tịch không riêng Paris mà cả thế giới. Hồi này, nhà vật lý đang bận tâm vì những con toán hóc búa cho lý thuyết trường thống nhất. Tại một quầy sách bụi bặm, ông bỗng chú ý tới một bản thảo vì bút danh kỳ cục của tác giả ghi trên mặt bìa đã ố vàng: Le Lâche [7].
        Tiêu đề của bản thảo cũng không kém phần trêu ngươi: Bàn về toán hóa vũ trụ. Giá sách lại quá rẻ: chưa bằng một kilô bánh mì.
        Ngay từ mấy trang đầu, bản thảo đã khiến Einstein ngạc nhiên. Một người như ông kể cũng không dễ ngạc nhiên! Và càng đọc, nhà vật lý như càng bị thu hút bởi lực từ trường của những “sự thật quá thật đến mức người ta tưởng là điên rồ”. Trong bản thảo viết vội ông thấy nhiều vỉa đề xuất có trữ lượng lớn, đủ để các nhà khoa học khai thác trong nhiều năm.
        Tuy không biết rõ tiểu sử tác giả, nhưng với trực giác của một nghệ sĩ nòi Einstein linh cảm một nỗi khổ nạn bao la phía sau định danh Le Lâche.
        Không đành lòng với biệt danh Thằng Hèn khi cho công bố công trình kiệt xuất trên, cũng không tìm được tên cúng cơm của tác giả, vị cha đẻ của thuyết tương đối nghĩ được một cách giải quyết khá đẹp. Chính tay ông nắn nót viết lên bìa bằng chữ hoa:
        LÂCHE LE GRAND
        HÈN ĐẠI NHÂN

                                        HẾT                                                                 

        [1] Toán học, trong Pháp ngữ, là từ giống cái.
        [2] Triết gia Hy Lạp phủ nhận tính chuyển động.
        [3] Anh có một bộ ria tuyệt vời.
        [4] Đồ đĩ!
        [5] Đồ hèn
        [6] Lược dịch lời nói có kèm điệu bộ: “Il fait dans le pantalon”.
        [7] Thằng hèn.
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 51 phút bởi huytran >
        #4
          huytran 1 giờ (permalink)
          NGƯỜI MẸ ĐIÊN
           
          *Lòng trọn đời thương tật nỗi thiên thanh.
            
           
          Nước Môngtelô có một phụ nữ nông dân nghèo, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bà chẳng có một đặc điểm gì đáng lưu truyền sử sách. Người ta cũng chẳng nhớ tên bà. Nhưng bà có một vị con danh giá, vua Lơxíp đệ nhất, người ta gọi bà là mẹ vua Lơxíp.
          Khi bà sinh Lơxíp, mây ngũ sắc chẳng về tụ trên mái nghèo, hương chẳng tỏa hoa sen ngào ngạt. Cũng chẳng phải bà đi rừng trót dẫm vào một lốt chân thần hay ăn lỡ một quả bầu đã phù phép... Một tên sở khanh nào đã qua đó... và phủi quần ra đi như sự phản bội.
          Lơxíp... Hồi đó con bà chưa có cái tên Lơxíp lẫy lừng nước Môngtelô, bà gọi nó là thằng Chíp vì lúc lọt lòng nó bé bỏng quá, như một con chim chíp.
          Người đàn bà mồ côi bố mẹ và mồ côi chồng này quý đứa bé hết xẩy. Chíp là con, là chồng, là bố mẹ, là niềm an ủi, nó neo sự cô đơn của bà vào bến ấm dòng sông lạnh chảy xiết của cuộc đời.
          Quý, nhưng bà không có thì giờ chăm sóc nó. Bà còn phải vất vả đầu hôm sớm mai kiếm mồi nuôi con... Và thằng bé lớn lên như tự nhiên, khỏe mạnh, phóng khoáng, rắn rỏi, chơi nghịch với con bê mũi đỏ, con ngựa non háu đá, cặp họa mi cứ chiều lại tấu tình trong bụi cây tinh huyền hay con sơn ca cưỡi tiếng hát thăng thiên lên trời sớm.
          Cũng chẳng có sự kiện gì lớn lao trong cái cuộc sống vất vả khổ sở không tên của hai mẹ con. Trừ một việc. Một buổi chiều, Chíp đánh bẫy được một con gà gô to, vừa đi vừa huýt sáo khải hoàn bỗng thấy một ông già máu me đầm đìa nằm bất tỉnh trước cửa. Vốn tính thương người như phần lớn trẻ nghèo, Chíp bế ông cụ vào nhà. Hai mẹ con đun nước rửa vết thương cho người bất hạnh. Bát xúp gà gô khiến ông cụ tỉnh dần. Hai mẹ con Chíp không biết rằng đó là một võ sư nổi tiếng bị trò phản thùng, đánh trọng thương, hủy bỏ công lực, quăng ra bìa rừng. Ông già lê đến nhà Chíp thì kiệt sức, té xỉu.
          Sự chăm sóc tận tình của người mẹ quen với đủ thứ dược thảo hào phóng của đất trời và món gà gô không mất tiền mua của đứa bé sát cầm đã khiến ông già mau chóng bình phục. Mặc dầu bị hủy hết công lực, yếu như một kẻ bất túc, trí óc ông vẫn minh mẫn. Ông dành những ngày tàn của đời mình truyền lại cho Chíp chút ít chữ nghĩa và tuyệt kỳ võ học.
          Và thời gian qua đi rất nhanh, với đứa bé thì là tuổi trẻ, với người mẹ thì là bóng xế... Với ông già thì là nấm mồ.
          Giữa lúc đó, giặc Xít [1] (không biết có phải tiền thân của phát xít không) kéo đến cướp phá đất nước Môngtelô tươi đẹp. Lũ giặc dã man đến mức chỉ nghe nói đến chúng, nhiều bà mẹ đã chột thai hoặc băng huyết.
          Giặc đến nhà đàn bà phải đánh huống hồ Chíp. Chàng thanh niên lên đường và chẳng bao lâu trở thành một vị chỉ huy nổi tiếng của nghĩa quân.
          Nhưng bà mẹ không được hưởng niềm vui đó. Một đêm, trong khi ngủ, chẳng biết bà mơ thấy những gì mà không muốn tỉnh nữa. Cũng có thể thần Zeus đã sai nữ thần Giấc Ngủ trùm tấm lưới bằng tơ bướm vàng lên năm tháng vất vả của người mẹ. Để làm gì? Ai biết được những toan tính của Trời mà các nhà thơ thường biểu hiện dưới hình tượng một vị thần định mệnh mù mắt.
          Người mẹ ngủ liên tục mười lăm năm thâm niên.
          Trong thời gian đó, nhiều biến đổi đã xảy ra trên đất nước Môngtelô. Giặc Xít đã bị đánh lui. Chíp, đứa con trai yêu quý của mẹ, sau những chiến công hiển hách đã trở thành đức vua chí tôn chí kính của vương quốc Môngtelô rừng vàng biển bạc.
          Nhưng có đấng quốc vương nào lại xưng đế hiệu là Chíp đệ nhất.
          Tể tướng vốn là người thạo việc và mưu lược liền sáng tác ngay ra một biệt danh rất đắt: Lơxíp. Biệt danh này gần với âm Chíp, tên cúng cơm của nhà vua... Hơn nữa lại na ná Lơđíp, tên một vị anh hùng thời dựng nước. Khi thằng Chíp con bà thành vua Lơxíp đệ nhất, bà mẹ vẫn ngủ.
          Thấm thoát vua Lơxíp trị vì đã được mười năm.
          Mười năm trong đời một người ngủ thì hầu như không có chuyện gì. Nhưng mười năm trong đời một người, nhất là trong đời một ông vua thì bộn bề thật không sao kể xiết.
          Những trò vui, những yến tiệc thâu đêm suốt sáng của triều đình, những nỗi đau... những oan khuất của dân đen bị đám tham quan ô lại bịt mồm móc họng, cướp ngày cướp đêm như ong đánh mồi, những đòn hiểm của đám đàn bà và đám quan thiến nơi hậu cung... Cuộc chiến đầy quỷ kế của lũ sủng thần tranh ghế. Và mái tóc nhà vua đã bắt đầu xuất hiện nhiều sợi bạc.

          *

          Một hôm, bà mẹ chợt tỉnh cũng thình lình như lúc bà chợt ngủ.
          Bà đi lại, ăn uống bình thường. Nhưng thỉnh thoảng mắt bà có những ánh lạ. Có thể là ánh mắt của mười lăm năm trước chưa bị nhiễm đục của cuộc đời nhiễu nhương ngày một xuống cấp. Cũng có thể là ánh mắt của một người đã một lần bắt chợt sự thật ở một hẻm chiêm bao chưa đánh số. Nôm na hơn, có thể là ánh mắt của một người bất thường hóa dại. Nó trong và sáng kỳ dị.
          Quan địa phương lập tức cho lính khinh kỵ đốt lửa phi nhật dạ về kinh báo tiệp.
          Một tình cảm mười lăm năm bỏ quên xó bụi của ký ức bỗng trỗi dậy như một chứng bệnh bột phát, vua Lơxíp những muốn một người một ngựa phóng ngay về thăm mẹ như ngày nào. Nhưng không được. Một ông vua không thể sống vo theo tình cảm hồn nhiên mà phải theo những nghi lễ, những ước lệ nhiều khi thậm sân khấu.
          Người đầu tiên có ý kiến là quan tể tướng. Đất nước trải qua gần mười lăm năm hưng thịnh giờ đang lâm vào bước suy vi. Đá khóc tu tu trên đỉnh Thương Sơn và đổ kềnh xuống Lũng Lành. Gà mái mọc ba chân và gáy te te như gà trống. Nước con sông Đônxê bỗng chảy ngược đỏ như máu, đạo đức băng hoại, em chửi anh, con đánh cha, luân thường đảo ngược.
          Quan tể tướng thấy cần phải tổ chức lễ “Kiến Mẫu” thật là trọng thể đặng nhân dịp này chấn hưng đạo lý cho toàn dân. Ông sức một thi quan đến đặt làm một thiên trường ca về gương thập hiếu của vua Lơxíp. Trong một ngày thi quan đã nằm ổ một bài dài... lâm ly khiến nhà vua cũng phải mủi lòng.
          “Thằng cha này không biết mò đâu những tình tiết xúc động làm vậy?”
          Chỉ có điều là nhiều chỗ không đúng sự thật lắm.
          Trải bao nâng giấc sớm hôm
          Canh gà lạnh mũ trăng sương buốt hài.
          Lời thơ thật mùi, nhưng khốn nỗi bà mẹ ngủ một mạch mười lăm năm thì việc gì phải nâng giấc sớm hôm. Nhưng đó là chi tiết.
          Bài thơ lập tức được truyền đi khắp trong nước qua hệ thống loa Tao Đàn. Thi quan được thưởng hai tấm vóc hồng và tăng ba bậc lương.
          Ngày lễ Kiến Mẫu long trọng khỏi phải nói. Các địa phương đều cử đại diện về phó hội. Có đốt pháo bông cao mười thước, có múa lân và cờ đèn kèn trống náo động cả một vùng.
          Bà mẹ bây giờ được gọi là quốc mẫu vẫn chưa định thần hẳn. Chao ôi, trong có mấy ngày phải tốc hành một chặng đường dài dằng dặc mười lăm năm, bà như rơi tõm từ một cõi mộng ngủ vào một cõi mộng thức.
          Nhưng cái gì thì bà còn có thể mơ hồ chứ cái dáng đi nghiêng đầu về phía trước, đôi chân hơi chữ bát kia thì dầu có ngủ đến trăm năm bà cũng không lầm được. Bà gọi không thành tiếng “Chíp... Chíp” rồi chạy vội lên ôm lấy con.
          Ôi! Đứa con thân yêu, mười lăm năm mẹ không được gặp mặt.
          - Chíp... Chíp...
          Theo một lệnh của vị tể tướng, những tiếng hò la lập tức vang lên tứ phía:
          - Vua Lơxíp muôn năm! Vua Lơxíp muôn năm!
          át tiếng gọi con Chíp Chíp của bà mẹ. Bà nhìn nhà vua chằm chằm... Bỗng bà lùi lại... Có phải đúng con bà không? Hay bà lầm?... Cái ánh mắt kia, cái ánh mắt kia không phải của Chíp. Mắt nó to tròn, đen lánh và hiền lành như mắt một con bê non. Mắt Lơxíp cũng to tròn, cũng đen lánh nhưng sắc lạnh như ánh dao găm. Nụ cười hồn nhiên mất hẳn, thay vào đó là một nét nhếch mép kiêu kỳ. Bà mẹ lưỡng lự.
          Giữa lúc đó, bầy thiếu nhi áo quần sặc sỡ đến dâng hoa. Bỗng một thằng bé không biết con nhà ai... lem luốc, cởi truồng tồng ngồng thấy hay cũng chạy sấn vào. Vua Lơxíp hơi cau mày. Lập tức hai cận vệ to lớn như hai hộ pháp xách thằng bé như con nhái ném ra ngoài giữa tiếng khóc thất thanh của tuổi nhỏ.
          Một hình ảnh bỗng kéo đầy ắp mắt bà như một grôlăng.
          Ngày ấy, cách đây mười lăm năm trước khi bà rơi vào giấc ngủ. Chíp lúc đó đã là một vị chỉ huy nhiều uy quyền, cùng với một số tùy tướng đi ngựa tranh thủ về thăm mẹ. Ngựa phóng đại trên con đường bụi mù. Bỗng một đứa bé cũng bẩn thỉu và rách rưới như đứa bé vừa rồi lẫm chẫm chạy qua trước vó ngựa của Chíp. Thằng bé thế nào cũng bị ngựa dẫm vỡ sọ.
          Bà mẹ rú lên, hai tay che kín mặt không dám nhìn.
          Khi bà bỏ tay ra thì bà đã thấy Chíp mặt đầm đìa máu... tập tễnh ôm đứa bé giữa đám tướng lĩnh náo động. Thì ra Chíp đã thình lình kìm cứng cương ngựa. Con tuấn mã đương đà phi, hất ngã chủ xuống đất. Hình ảnh Chíp áo quần bê bết bụi máu tươi cười ẵm đứa bé như một bức tranh chạm lõm, axít ăn sâu vào màng nhớ của bà mẹ.
          Nó quá xa lạ với ánh mắt khó chịu và lạnh của Lơxíp khi đám cận vệ quẳng đứa nhỏ ra lề đường.
          Bà mẹ bỗng xua tay lùi lại:
          - Ông, ông không phải con tôi.
          Trước sự sững sờ của nhà vua, quan tể tướng nhanh trí hô lớn:
          - Quốc mẫu lại lên cơn rồi... Ngự y đâu đưa Người vào chữa trị.

          *

          Nhà của người mẹ điên được sửa sang lộng lẫy đồ sộ. Có một phòng mênh mông giả cảnh đồng ruộng, một phòng giả cảnh rừng, một phòng giả cảnh biển y như thật. Bà mẹ lúc nào cũng có sẵn sơn thủy phục vụ tại nhà. Nhưng bà vẫn khôn nguôi nhớ Chíp. Ngày nào bà cũng thắp hương một lòng cầu đấng Tối cao phù hộ nhà vua nghĩ lại trả con cho bà.


             [1] Một dân tộc du mục hiếu chiến vùng Pont-Euxin. (Tức là vùng Biển Đen bây giờ).
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 4 phút bởi huytran >
          #5
            Chuyển nhanh đến:

            Thống kê hiện tại

            Hiện đang có 0 thành viên và 3 bạn đọc.
            Kiểu:
            2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9