Phản Đối Chiến Tranh - Lỗ Tấn
huytran 1 giờ (permalink)
Vừa xong cuốn Bách Gia Chư Tử, nối tiếp với câu chuyện này.
 
PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH

I
 
Công Tôn Cao (1), học trò Tử Hạ (2), đến tìm Mặc tử (3) đã mấy lần, đều đi vắng cả, chưa được gặp. Đến lần thứ tư hay lần thứ năm thì may mắn gặp ngay ở cửa vì Công Tôn Cao vừa đến thì Mặc tử cũng vừa về. Cả hai cùng đi vào nhà.
Công Tôn Cao đáp lễ xong, mắt nhìn vào lỗ rách ở chiếc chiếu (4), ôn tồn hỏi:
- Tiên sinh chủ trương không đánh hay sao?
Mặc tử nói:
- Đúng như vậy.
- Thế ra đã là quân tử thì không đánh nhau?
Mặc tử nói:
- Phải.
- Heo, chó cũng phải cắn xé nhau nữa là người...
- Ứ hừ! Nhà nho các ông hễ mở miệng là tán tụng Nghiêu Thuấn, mà đến khi làm, lại bắt chước heo, chó. Thật đáng thương hại! (5)
Mặc tử đứng dậy đi vun vút xuống bếp, còn nói thêm:
- Ông không hiểu ý tôi!
Mặc tử đi qua nhà bếp, ra bờ giếng ở cổng sau, rút dây thùng, múc lên nửa thùng nước, bưng lấy uống hơn mười ngụm, rồi bỏ cái gáo bằng sành xuống, chùi miệng, bỗng nhìn về góc vườn, gọi:
- Liêm à! Sao lại về đấy?
Liêm cũng đã nhìn thấy ông, đang chạy lại. Đến nơi thì đứng nghiêm, rất lễ phép, tay buông xuống chào:
- Thưa thầy.
Rồi có vẻ tức tối, nói tiếp:
- Con không làm. Họ nói một đường làm một nẻo. Đã hứa đưa cho con một nghìn bát thóc, lại chỉ đưa có năm trăm bát. Con đành phải về.
- Nếu họ đưa cho con hơn một nghìn bát, con có về không?
Liêm đáp:
- Thưa không.
- Thế thì không phải họ nói một đằng làm một nẻo, chỉ vì ít đấy chứ!(6)
Mặc tử vừa nói vừa trở vào bếp, rồi gọi:
- Trụ (7) à! Lấy bột ngô nhào cho ta đi!
Canh Trụ tử, một thanh niên mặt mũi sáng sủa, từ nhà trên vừa chạy xuống, hỏi:
- Thưa thầy, làm mười ngày lương khô phải không ạ?
Mặc tử nói:
-Phải đấy! Ông Công Tôn Cao về rồi.
Canh Trụ tử cười:
- Bẩm, về rồi ạ! Ông ta giận lắm, nói rằng chúng ta chủ trương kiêm ái, không biết đến cha mẹ, chẳng khác gì cầm thú. (8)
Mặc tử cũng cười.
- Thầy sang nước Sở hay sao ạ?
- Ừ, phải. Con cũng biết rồi à?
Mặc tử để cho Canh Trụ tử đổ bột ngô, còn ông thì đi lấy đá lửa và bùi nhùi, nhóm mấy cành khô đun nước, mắt nhìn ngọn lửa, thong thả nói:
- Lão Công Thâu Bàn, người đồng hương của ta ấy mà, cậy có chút thông minh, muốn làm mưa làm gió (9). Sáng chế được móc câu rồi xúi vua Sở đánh người Việt còn chưa đủ, nay lại nghĩ ra cái thang mây ghê gớm ấy để cho vua Sở đánh người Tống. Tống là nước nhỏ thì ngăn sao được một cuộc tấn công như thế. Ta phải đi chặn tay hắn ta lại.
Mặc tử thấy Canh Trụ tử đặt bánh vào nồi hấp, rồi mới trở về phòng. Ông ta lấy ở nhà bếp một vắt dưa muối mặn, một con dao đồng đã cùn, lại tìm được một chiếc tay nải rách. Chờ Canh Trụ tử hấp chín bánh bưng lên thì gói cả vào một bao. Quần áo, khăn rửa mặt đều không mang theo, chỉ thắt giải lưng lại cho thật chặt, rồi ra ngoài, lấy đôi giày cỏ mang vào, đeo chiếc bao tải bên lưng, thế là đi thẳng, không ngoảnh đầu nhìn lại. Hơi bánh trong bao tải bốc ra ngùn ngụt.
- Thưa thầy, bao giờ thầy về ạ?
Canh Trụ tử ở đằng sau hỏi to.
- Cũng phải độ gần hai mươi ngày.
Mặc tử vừa trả lời, vừa cắm đầu bước.
 
II
 
Khi đi vào biên giới nước Tống thì đôi giày cỏ đã ba bốn lần đứt dây, bàn chân cứ bỏng rát lên. Mặc tử bèn dừng lại nhìn xem, đế giày đã vẹt đi một mảng to, bàn chân mấy chỗ thành chai, mấy chỗ phồng lên (10), nhưng ông ta không hề để ý đến, cứ đi. Xem tình hình dọc đường thì dân số không phải là ít, nhưng vết tích của thủy tai, chiến họa bấy lâu để lại đâu đâu cũng còn thấy; nhân dân hàn gắn cũng chậm chạp lắm. Đi ba ngày trời mà không thấy một ngôi nhà lớn, không hề thấy một cây đại thụ, không hề thấy một người nào lanh lợi, không hề thấy một mảnh ruộng phì nhiêu.
Như thế cho đến đô thành.
Tường thành cũng rất cũ nát, nhưng có đôi chỗ chất thêm đá mới. Trên bờ hào quanh thành, có mấy đống bùn, dường như có người vừa đào lên, nhưng lại chỉ thấy mấy ông nhàn rỗi ngồi bên bờ hào đang câu cá.
Mặc tử nghĩ bụng:
- Chắc họ cũng đã biết tin rồi!
Nhìn kỹ những người câu cá, nhưng chẳng có ai là học trò của mình cả.
Ông định đi xuyên qua thành, cho nên đi vào cửa Bắc, rồi cứ đi theo con đường chính, đi một mạch thẳng về phía Nam. Trong thành cũng rất tiêu điều, nhưng cũng rất yên tĩnh. Các quán đều dán giấy hạ giá hàng, nhưng không thấy người mua, mà trong quán cũng chẳng có hàng hóa gì. Trên đường cái thì ùn lên những đống đất vàng vừa nhỏ vừa nhão.
Mặc tử nghĩ bụng:
- Như thế này mà còn định kéo tới đánh!
Ông cứ tiến bước, nhưng ngoài cảnh nghèo nàn, yếu đuối ra, không thấy gì khác cả.
Tin nước Sở định sang đánh, có lẽ họ biết rồi, nhưng bị đánh nhiều lần quen, cho là tất nhiên phải chịu đựng, không có gì đặc biệt. Và lại, ai thì cũng chỉ còn trơ có cái thần xác, không áo không cơm, cho nên chẳng ai nghĩ đến chuyện tản cư nữa. Mãi đến khi nhìn về cửa Nam mới thấy độ hơn mươi người tụ tập ở một góc đường, hình như đang nghe ai kể chuyện.
Khi Mặc tử đến gần, mới thấy người đó vung tay lên, nói to:
- Chúng ta cho chúng nó thấy dân khí nước Tống! Chúng ta sẽ liều chết! (11)
Mặc tử nhận ra là tiếng nói của học trò mình, Tào Công tử.
Nhưng ông cũng không chen vào chào hỏi, cứ một mạch ra khỏi cửa Nam, cắm cổ đi. Lại đi một ngày nữa, và quá nửa đêm mới nghỉ lại, ngủ nhờ dưới mái hiên một nhà nông dân cho tới sáng. Ngủ dậy lại đi. Đôi giày cỏ đã tả tơi từng mảng, không đi được nữa. Chiếc tay nải còn có bánh, không có thể dùng để bó chân được, đánh phải xé một mảnh vải ở quần vậy.
Nhưng vải mỏng mà đường làng gồ ghề đâm vào gan bàn chân, đi càng khó. Đến xế chiều, ông ngồi dưới gốc một cây hòe nhỏ, mở tay nải ra ăn trưa, và cũng để nghỉ chân luôn thể. Bỗng thấy một người to lớn, đẩy một chiếc xe nhỏ chất nặng, từ đằng xa đi tới. Khi đến gần, người đó đỗ xe lại, rồi đi đến trước Mặc tử, vừa kéo vạt áo lên lau mồ hôi trên mặt, miệng thở hồng hộc, vừa chào to:
- Thưa thầy!
Mặc tử nhận ra là Quản Kiềm Ngao, học trò mình, bèn hỏi:
- Cát phải không?
- Vâng ạ. Để chống thang mây đấy ạ!
- Còn chuẩn bị gì nữa?
- Bẩm, đã tập trung được ít dây gai, tro và sắt. Nhưng vất vả lắm. Kẻ có thì không cho, kẻ muốn cho thì không có. Nói mồm thì rất nhiều.
- Hôm qua, ta đi qua thành nghe Tào Công tử diễn thuyết, nào là "dân khí", nào là "liều chết". Anh đến bảo anh ta đừng hão huyền nữa, chết được cũng hay thôi, và cũng khó lắm. Nhưng có chết thì cũng chết thế nào có lợi cho dân chứ!
Quản Kiềm Ngao buồn bã đáp:
- Bẩm, anh ấy thì khó nói lắm. Anh ta làm quan ở đây hai năm rồi, và không thích nói chuyện với chúng con đâu...
- Còn Cầm Hoạt Ly thế nào?
- Bẩm, anh ta bận lắm. Vừa mới thử một thứ nỏ liên châu, bây giờ chắc còn xem địa thế ở phía cửa Tây, cho nên không gặp được thầy. Thầy sang nước Sở tìm Công Thâu Bàn phải không ạ?
Mặc tử nói:
- Đúng đấy! Nhưng hắn có nghe ta hay không thì chưa biết được. Các anh vẫn cứ chuẩn bị đi, không nên chỉ trông vào sự thành công của ba tấc lưỡi.
Quản Kiềm Ngao gật gật đầu, nhìn Mặc tử lên đường, một lúc lâu mới lại đẩy xe cút ca cút kít tiến vào thành.
 
III
 
Thành Sính (12) nước Sở khác hẳn nước Tống. Đường rộng thênh thang, nhà cửa thẳng tắp, trong các cửa hàng lớn, hàng hóa bày la liệt: vải trắng tinh, ớt đỏ chói, da hươu chấm lốm đốm, hạt sen béo tròn. Người đi ngoài đường, tuy so với người phương Bắc có thấp hơn một tí, nhưng ai nấy đều lanh lợi, hoạt bát, áo quần rất tươm tất. Mặc tử vào đây thật giống như một lão ăn mày "cựu triều", quần rách áo vá, hai bàn chân bó giẻ.
Lại đi thẳng vào khu chính giữa thì thấy một bãi đất rộng, có những gian hàng, người chen chúc nhau rất đông. Đó cũng là chợ và cũng là ngã tư đường. Mặc tử liền tìm một cụ già trông có vẻ kẻ sĩ, hỏi thăm chỗ ở của Công Thâu Bàn. Nhưng tiếc thay, ngôn ngữ bất đồng, nói mãi không hiểu. Đang viết chữ vào tay áo cho ông cụ xem, chợt nghe vang lên một tiếng, rồi ai nấy bắt đầu hát. Số là cô Trại Tương Linh (13), mà ai cũng nghe tên, vừa hát bài Hạ lý ba nhân, nên lôi kéo được nhiều người trong nước đồng thanh hát theo.
Ngay lúc đó, chính ông cụ kia, miệng cũng lẩm bẩm hát. Mặc tử biết ý ông cụ chẳng muốn quay lại xem mình viết gì, nên mới viết được nửa chữ "Công", cũng thôi, và bỏ đi chỗ khác. Nhưng đến đâu người ta cũng bận hát, không hỏi ai được. Mãi rất lâu, mới dần dần yên tĩnh lại, có lẽ đã hát xong. Mặc tử tìm đến một hàng thợ mộc, hỏi thăm chỗ ở của Công Thâu Bàn.
Người chủ hàng, béo mập, mặt vàng, râu đen, biết rõ lắm:
- Cái ông người Sơn Đông, tên là Công Thâu Bàn, làm móc câu ấy chứ gì? Cũng gần thôi. Ông đi quay trở lại, qua chỗ ngã tư, theo con đường nhỏ thứ hai bên tay phải, quặt về đằng Đông, rồi hướng về phía Nam mà đi, lại rẽ sang hướng Bắc, đến cái nhà thứ ba là đúng nhà ông ta đấy!
Mặc tử lại viết vào lòng bàn tay, nhờ ông ta xem lại, xem mình có nghe nhầm hay không, cố nhớ nhập tâm, rồi cám ơn và rảo bước đi thẳng một mạch đến nơi ông chủ hàng chỉ cho. Quả nhiên không sai. Trên cổng lớn nhà thứ ba có treo một tấm bảng gỗ nam mộc chạm trổ cực kỳ công phu, có khắc sáu chữ triện to tướng: Lỗ quốc Công Thâu Bàn ngụ.
Mặc tử gõ vào chiếc vòng đồng đỏ ở cánh cửa toong toong mấy cái. Không ngờ anh gác cổng ra mở lại trợn mắt, trợn mũi, thấy là đã nạt nộ:
- Ông nhà không tiếp khách. Các anh người đồng hương đến quấy rầy quá lắm!
Mặc tử vừa đưa mắt nhìn hắn ta thì hắn ta đã đóng cửa lại rồi. Gõ thêm mấy hồi, cũng không thấy tăm hơi gì hết. Nhưng cái nhìn của Mặc tử lúc nãy khiến hắn ta không thể yên tâm được.
Hắn ta thấy áy náy trong lòng, đành vào bẩm với ông chủ. Công Thâu Bàn lúc đó đang cầm thước đo cái mô hình thang mây.
Anh gác cổng nói rất khẽ:
- Bẩm ông, lại có một người ở quê xin đến nhờ vả... Người này trông có vẻ cổ quái lắm.
- Tên họ là gì?
- Bẩm, con chưa hỏi.
- Hình dáng thế nào?
- Bẩm, như một người ăn mày. Độ non ba mươi tuổi. Người cao, mặt đen.
- Ái chà! Thế thì nhất định là ông Mặc Địch rồi!
Công Thâu Bàn giật mình, nói to lên, bỏ cả mô hình và thước đo xuống, chạy ra thềm. Anh gác cổng sợ hãi chạy trước mở cổng. Mặc tử và Công Thâu Bàn gặp nhau giữa sân.
Công Thâu Bàn vừa mời Mặc tử đi vào nhà, vừa nói vui vẻ:
- Quả đúng là tiên sinh thật. Tiên sinh vẫn mạnh luôn chứ? Chắc bận lắm phải không?
- Vâng. Vẫn thế...
- Nhưng tiên sinh ở xa tìm đến chắc có điều gì dạy bảo?
Mặc tử trầm tĩnh nói:
- Phương Bắc có người làm nhục tôi. Muốn nhờ đến ngài giết hộ.
Công Thâu Bàn có vẻ không được vui.
Mặc tử lại nói tiếp:
- Tôi xin biếu ngài mười đồng bạc.
Câu nói đó làm cho Công Thâu Bàn không cầm nổi giận. Ông ta sa sầm mặt xuống, lạnh lùng trả lời:
- Vì nghĩa, tôi không giết người được.
Mặc tử rất cảm động, đứng dậy, vái hai vái, rồi nói tiếp, giọng vẫn trầm tĩnh:
- Thế thì hay quá! Nhưng tôi xin có mấy lời. Tôi ở phương Bắc, nghe nói ông đang chế tạo thang mây để đánh nước Tống. Nước Tống nào có tội gì? Nước Sở thì đất có thừa, mà người thì thiếu. Giết cái mình thiếu để cướp cái mình thừa, không thể nói là lợi được. Nước Tống không có tội mà lại đem quân đi đánh, không thể nói là nhân được. Biết mà không can ngăn, không thể nói là trung được. Can ngăn mà không có kết quả, không thể nói là cường được. Theo nghĩa không giết một người, mà giết nhiều người, không thể gọi là biết phân biệt được. Ông thấy như thế nào?
Công Thâu Bàn suy nghĩ, rồi nói:
- Điều đó... tiên sinh nói rất đúng.
- Thế thì, không thể thôi dừng chế tạo thang mây được hay sao?
Công Thâu Bàn buồn rầu trả lời:
- Cái đó thì không được. Tôi đã trót hẹn với nhà vua rồi.
- Thế thì, ông đưa tôi vào yết kiến nhà vua vậy.
- Vâng. Nhưng bây giờ trễ quá rồi. Xin dùng cơm đã rồi hãy đi.
Nhưng Mặc tử không chịu, hai ba lần định đứng dậy. Ông ta nãy giờ vẫn không chịu ngồi yên một chỗ được (14). Công Thâu Bàn biết ép cũng không xong, phải chiều ý đưa vào yết kiến nhà vua ngay. Ông ta chạy vào phòng, lấy một bộ quần áo và một đôi giày, thành khẩn nói:
- Xin tiên sinh thay bộ quần áo này, bởi vì ở đây không giống như ở quê ta. Cái gì cũng phải cho sang trọng. Tiên sinh cứ thay đi thì tiện hơn...
Mặc tử cũng thành khẩn nói:
- Được, được. Thực ra không phải tôi thích mặc áo quần rách, nhưng quả không có thì giờ thay...

IV
 
Vua nước Sở lâu nay vẫn nghe tiếng Mặc Địch là bậc thánh hiền phương Bắc, nên nghe Công Thâu Bàn giới thiệu là lập tức tiếp kiến, không phải để chờ đợi lâu.
Mặc tử mặc quần áo ngắn quá, lòi hai bộ giò cao như sếu, cùng Công Thâu Bàn vào điện, hành lễ, rồi ung dung nói:
- Bây giờ có một người, xe kiệu có thừa mà lại tính ăn cắp chiếc xe gãy của hàng xóm, gấm vóc có thừa mà lại tính ăn cắp chiếc áo cộc của hàng xóm, gạo thịt có thừa mà lại tính ăn cắp bữa cơm tấm của hàng xóm, người như thế là người thế nào?
Vua Sở thẳng thắn trả lời:
- Thế là nhất định có tật ăn cắp rồi!
Mặc tử nói:
- Nước Sở rộng năm nghìn dặm, nước Tống chỉ có năm trăm dặm, thế có khác gì chiếc kiệu so với chiếc xe gãy. Nước Sở có Vân Mộng đầy hươu nai, tê ngưu, có sông Trường Giang, sông Hán Thủy đầy tôm cá, giải, rùa, không đâu bì kịp, còn nước Tống thì đến trĩ, thỏ, cá giếc cũng không có, thế có khác gì gạo thịt so với cơm tấm. Nước Sở có cả gỗ tùng, gỗ văn tử, gỗ nam mộc, gỗ dự chương, còn nước Tống thì không có một cây to, thế có khác gì gấm vóc so với chiếc áo cộc. Cho nên, theo ý thần, việc nhà vua tính đánh Tống có khác gì chuyện kẻ trộm...
Vua Sở gật đầu nói:
- Đúng đấy. Nhưng ông Công Thâu Bàn đã chế tạo thang mây cho ta, thành ra phải đánh thôi.
Mặc tử nói:
- Nhưng thành bại thế nào cũng chưa nói chắc được. Có ít miếng gỗ, thần xin thử ngay ở đây, thế nào thì rõ.
Vua Sở là ông vua thích cái lạ, nghe nói, thú lắm, bảo thị thần chạy mau đi lấy những miếng gỗ nhỏ lại. Mặc tử cởi thắt lưng ra, đặt theo hình vòng cung, coi đó như cái thành, quay về phía Công Thâu Bàn, rồi lấy một chục miếng gỗ, chia làm hai phần, một phần giữ lấy, một phần đưa cho Công Thâu Bàn để làm khí cụ tấn công và phòng thủ.
Thế rồi, hai người đứng hai bên, cầm các miếng gỗ lên, như đánh cờ, bắt đầu đấu với nhau. Bên thế công đưa một miếng gỗ sang, bên thế thủ chống đỡ, bên này thoái, bên kia tiến. Vua Sở và các thị thần nhìn không hiểu gì cả. Chỉ thấy bên tiến bên thoái như thế, cộng tất cả chín đợt, hình như cả hai bên thay đổi đến chín cách tấn công và phòng thủ khác nhau. Sau đó, Công Thâu Bàn dừng tay lại. Còn Mặc tử thì uốn chiếc thắt lưng cong về phía mình, ý chừng lần này đến lượt ông ta tấn công. Cũng lại một bên tiến, một bên thoái, cầm cự nhau. Nhưng mới đến lượt thứ ba, thì các miếng gỗ của Mặc tử đã tiến vào trong vòng thắt lưng.
Vua Sở và các thị thần tuy không hiểu đầu đuôi ra làm sao cả, nhưng thấy Công Thâu Bàn vứt các miếng gỗ xuống trước mặt ỉu xìu, thì cũng biết được rằng cả hai mặt, công cũng như thủ, ông ta đều thua cả.
Vua Sở cũng cảm thấy hơi cụt hứng.
- Đã có cách thắng tiên sinh rồi! - Công Thâu Bàn đứng lại một lúc rồi lẩm bẩm - Nhưng tôi không nói.
Mặc tử điềm nhiên nói:
- Ý ông Công Thâu Bàn là muốn giết thần, cho rằng giết chết thần thì nước Tống sẽ không có người phòng thủ cho nữa, có thể tấn công được. Nhưng ba trăm học trò của thần, như Cầm Hoạt Ly chẳng hạn, đều nắm được khí giới phòng thủ của thần rồi. Họ đang đứng trên thành nước Tống, chờ kẻ địch từ nước Sở kéo sang. Như vậy, dù có giết chết thần, cũng không tấn công nổi.
Vua Sở cảm động nói:
- Tài thật đấy! Thế thì ta không đánh nước Tống nữa!
 
V
 
Sau khi thuyết cho vua Sở ngừng đánh Tống, Mặc tử định trở về Lỗ ngay, nhưng vì còn phải trả lại cho ông Công Thâu Bàn bộ quần áo mượn, nên đành phải đến nhà ông ta lần nữa. Trời đã xế chiều, cả chủ lẫn khách đều thấy bụng đói. Tất nhiên, chủ có lưu khách lại ăn cơm trưa, cũng có thể nói là cơm tối, và khuyên khách ngủ lại một đêm.
Mặc tử nói:
- Thế nào hôm nay tôi cũng phải về. Sang năm sẽ qua, luôn tiện mang bộ sách của tôi dâng vua Sở xem (15).
Công Thâu Bàn nói:
- Tiên sinh lại nói đến chuyện làm điều nghĩa chứ gì? Chỉ có người hèn hạ mới chịu lao tâm khổ trí, cứu khốn phò nguy, bậc đại nhân ai làm. Người ta là một ông vua, ông bạn đồng hương của tôi ơi!
- Cái đó không đúng đâu. Tơ, lụa, gạo, thóc đều là của người hèn hạ làm ra cả, thế mà bậc đại nhân cũng cần đến. Huống hồ là làm điều nghĩa.
Công Thâu Bàn vui vẻ nói:
- Cũng có lý. Khi chưa gặp tiên sinh, ý tôi là đánh lấy nước Tống. Được gặp tiên sinh rồi, thấy là việc bất nghĩa, thì dù có cho không, cũng chẳng màng...
Mặc tử cũng vui vẻ nói:
- Như thế là tôi đã đem nước Tống dâng ông rồi đấy. Nếu ông một mực làm điều nghĩa, tôi sẽ đem cả thiên hạ dâng ông luôn thể. (16)
Đang khi chủ khách đang cười cười nói nói, thì cơm đã bưng lên. Có cá, có thịt, có rượu, Mặc tử không uống rượu, cũng không ăn cá, chỉ ăn mấy miếng thịt. Ông Công Thâu Bàn uống rượu một mình, thấy khách ăn có vẻ uể oải, chẳng biết làm thế nào, đành mời khách ăn ớt vậy.
Công Thâu Bàn chỉ đĩa tương ớt và chiếc bánh lớn, mời rất nhiệt tình:
- Mời tiên sinh! Mời tiên sinh nếm thử. Cũng ăn được. Món bánh ở đây không ngon bằng bánh trên ta.
Công Thâu Bàn rượu vào, càng cao hứng. Ông ta hỏi:
- Tàu chiến của tôi có móc câu, chữ "nghĩa" của tiên sinh có móc câu không?
Mặc tử trả lời, quả quyết:
- Móc câu nhân nghĩa của tôi lợi hại hơn móc câu tàu chiến của ông. Tôi dùng chữ ái mà câu, dùng chữ lễ mà móc. Không câu bằng ái thì không thân, không móc bằng lễ thì phải giả dối với nhau. Không thân mà lại giả dối với nhau thì phải bỏ nhau ngay. Cho nên yêu nhau, kính nhau thì mới có thể cùng có lợi. Bây giờ, ông dùng câu để câu người ta, người ta cũng dùng câu để câu ông, ông dùng móc để móc người ta, người ta cũng dùng móc để móc ông; câu lẫn nhau, móc lẫn nhau, thì sẽ làm hại lẫn nhau. Cho nên cái móc câu nhân nghĩa của tôi lợi hơn cái móc câu tàu chiến của ông nhiều. (17)
Công Thâu Bàn bẽ mặt, liền đổi giọng, trong lời nói có hơi men, vì thực ra ông ta không biết uống rượu.
- Nhưng ông bạn đồng hương của tôi ơi! Cái nhân nghĩa của tiên sinh có thể làm vỡ bát cơm của tôi mất!
- So với việc làm vỡ bát cơm của tất cả nhân dân nước Tống, thì như thế vẫn hơn.
- Thế này thì từ nay về sau tôi đành ngồi làm đồ chơi cho trẻ con thôi! Ông bạn đồng hương của tôi ơi! Hãy chờ đấy, tôi cho xem cái này.
Nói xong, ông ta đứng dậy đi vào nhà sau. Có một tiếng mở hòm. Chỉ một lát, lại trở ra, tay cầm một con chim thước làm bằng gỗ và tre, đưa cho Mặc tử và nói:
- Mở máy một cái là bay được ba ngày cơ đấy! Cái này có thể nói là khá tinh xảo.
Mặc tử xem xong, đặt xuống chiếu, nói:
- Nhưng cũng không tinh xảo bằng bác thợ mộc đóng xe. Bác ta chỉ đẽo ba tấc gỗ là có thể làm được cỗ xe chở nặng năm mươi thạch. Có ích cho mọi người là tốt, là khéo, không có ích cho ai cả là vụng, là hỏng, bỏ đi. (18)
Công Thâu Bàn bẽ mặt lần nữa, lúc đó mới tỉnh ra, nói:
- Ừ, tôi quên mất. Đáng lẽ phải biết trước thế nào tiên sinh cũng nói như vậy.
Mặc tử nhìn vào mặt Công Thâu Bàn, thành khẩn nói:
- Cho nên nếu ông chỉ làm điều nghĩa thì không những tinh xảo, mà thiên hạ cũng sẽ về ông. Thôi đã quấy rầy ông lâu quá rồi, sang năm sẽ gặp lại nhau.
Mặc tử vừa nói vừa cầm lấy tay nải, cáo biệt chủ nhân. Công Thâu Bàn biết không giữ lại được, đành để khách về. Tiễn khách ra đến cổng, ông ta mới quay vào, suy nghĩ một lát, rồi lấy cái mô hình thang mây và con chim thước gỗ cất kín vào đáy hòm ở nhà sau.
Trên đường về, Mặc tử đi hơi chậm, một là đã mệt, hai là chân đau, ba là lương khô hết, bụng không khỏi đói, bốn là công việc thu xếp đã yên, không vội vã như lúc ra đi. Nhưng lần về lại lủi rủi quá. Vừa bước chân vào đất Tống đã bị khám xét hai lần, tới đô thành lại gặp đội lạc quyên cứu quốc (19) quyên nốt chiếc tay nải rách; đến cửa Nam lại gặp một trận mưa rào.
Chạy vào cửa thành định trú mưa thì bị hai bác lính tuần cầm mác đuổi đi, thành ra người ướt dầm dề, rồi ngạt mũi mất mười mấy hôm.
 
Tháng 8 năm 1934
 
Chú thích:
 
(1) Công Tôn Cao, trong sách cổ không thấy có. Có lẽ là tên do tác giả đặt ra.
(2) Tử Hạ, họ Bốc tên Thương, người nước Vệ thời Xuân thu, học trò Khổng tử.
(3) Mặc tử, tên Địch, người nước Lỗ, ở vào thời Xuân thu Chiến quốc, từng làm quan đại phu nước Tống. Ông là một triết gia của Trung Quốc thời cổ đại, người sáng lập ra phái Mặc gia, chủ trương "kiêm ái", phản đối chiến tranh, có tinh thần như trong cách nói của Mạnh tử. "Dù có bị chà xát từ đầu đến chân, có lợi cho thiên hạ cũng làm". Tác phẩm của ông, Mặc tử, hiện còn truyền đến nay, gồm 53 thiên, trong đó có một nửa do học trò biên chép. Thiên truyện này, Lỗ Tấn lấy tài liệu ở thiên Công Thâu, sách Mặc tử, nguyên văn như sau:
“Công Thâu Bàn chế tạo thang mây cho Sở xong, định đưa sang đánh Tống, Mặc tử được tin, từ nước Tề (có lẽ là Lỗ) đi đến Sính mất mười ngày đêm, gặp Công Thâu Bàn.
Công Thâu Bàn nói: ‘Phu tử có điều gì dạy bảo’.
Mặc tử nói: ‘Phương Bắc có người khinh rẻ tôi, muốn cậy nhà ngươi giết đi’. Công Thâu Bàn không vui.
Mặc tử nói: ‘Xin đưa muôn lạng vàng’.
Bàn nói: ‘Vì nghĩa, tôi không giết người’. Mặc tử đứng dậy, lạy hai lạy nói: ‘Ta ở phương bắc, được tin ngươi làm thang mây để đánh nước Tống. Nước Tống có tội gì? Nước Kinh (tức nước Sở) đất rộng, người ít, giết chỗ ít, tranh không thừa, không gọi là trí được. Nước Tống không có tội mà đánh, không gọi là nhân được. Biết mà không can gián, không thể gọi là trung được. Can gián mà không xong, không thể gọi là cường được. Nghĩa không giết một người mà lại giết nhiều người, không thể gọi là biết phân biệt’. Công Thâu Bàn chịu phục. Mặc tử nói: ‘Thế không đánh nữa chứ?’ Công Thâu Bàn nói: ‘Không được, ta lỡ đã nói với vương rồi’. Mặc tử nói: ‘Sao không đưa ta ra mắt vương?’ Công Thâu Bàn nói: ‘Vâng’. Mặc tử ra mắt vương nói: ‘Có người bỏ xe hoa nhà mình mà định ăn trộm xe hỏng của hàng xóm, bỏ gấm vóc nhà mình mà định ăn trộm áo rách của hàng xóm, bỏ cơm thịt nhà mình định ăn trộm tấm mẳn của hàng xóm, thì người ấy là người như thế nào?’ Vương nói: ‘Chắc là mắc tật ăn trộm.’ Mặc tử nói: ‘Đất nước Kinh rộng năm nghìn dặm, đất nước Tống chỉ có năm trăm dặm, nào có khác gì xe hoa so với xe hỏng. Nước Kinh có Vân mộng, đầy tê, ngưu, hươu, nai, có sông Giang, sông Hán, cá, ba ba, rùa, giàu nhất thiên hạ. Nước Tống thì không có trĩ, thỏ, hồ ly (có lẽ là phụ ngư: một thứ cá ngon), nào có khác gì cơm thịt so với tấm mẳn. Nước Kinh có cây tùng lớn, có cây tử có vân, có cây ngạnh đàn, dư chương, còn nước Tống thì không có gỗ tốt, nào có khác gì gấm vóc so với áo rách. Thần lấy ba việc dẫn chứng so với ba việc trên. Thần thấy đại vương làm tổn thương điều nghĩa mà không có kết quả.’ Vương nói: ‘Hay lắm. Nhưng Công Thâu Bàn đã làm thang mây cho ta, thì tất phải đánh.’ Mặc tử lại ra gặp Công Thâu Bàn cởi giải lưng làm thành, lấy thẻ làm khí giới. Công Thâu Bàn chín lần đặt kế đánh, chín lần Mặc tử chống đỡ. Khí giới của Công Thâu Bàn hết, mà mẹo giữ thành của Mặc tử còn thừa. Công Thâu Bàn chịu thua, nói: ‘Ta đã biết cách đánh nhà ngươi, nhưng ta không nói.’ Mặc tử cũng nói: ‘Ta cũng biết những cái nhà ngươi dùng để chống cự lại được ta, nhưng ta không nói.’ Sở vương hỏi đầu đuôi ra làm sao. Mặc tử nói: ‘Ý Công Thâu Bàn chẳng gì khác là muốn giết thần. Giết thần thì Tống không giữ được nữa, nên có thể đánh. Nhưng học trò của thần, bọn Cầm Hoạt Ly đến ba trăm người, đã cầm khí giới, đứng trên mặt thành nước Tống, chờ quân Sở đến. Dẫu có giết thần cũng không tuyệt được ý chí chống cự.’ Sở vương nói: ‘Ta không đánh nước Tống nữa.’ Mặc tử về. Qua nước Tống, trời mưa, vào điếm trú, người canh điếm không cho vào. 
(4) Ngày xưa ở Trung Quốc, người ta trải chiếu ngồi giữa đất. Mặc tử chủ trương tiết kiệm, phản đối xa xỉ. Ở những thiên Tứ quả, Tiết dụng trong sách Mặc tử có nói rõ ý kiến của ông về việc nhà cửa, y phục, ăn uống, xe thuyền. 
(5) Trong thiên Canh Trụ, sách Mặc tử, có đoạn đối thoại sau giữa Mặc tử và đồ đệ Tử Hạ: “Đồ đệ Tử Hạ hỏi Mặc tử: ‘Kẻ quân tử có đánh nhau không?’. Mặc tử nói: ‘Kẻ quân tử không đánh nhau’. Đồ đệ Tử Hạ nói: ‘Chó, lợn còn cắn nhau, sao kẻ sĩ lại không đánh nhau?’ Mặc tử nói: ‘Miệng thì khen vua Thang, vua Văn, mà làm thì ví với chó, lợn. Đáng thương hại!’
(6) Thiên Quý nghĩa, sách Mặc tử có một đoạn như sau: “Mặc tử có một người học trò làm quan ở nước Vệ, vừa đến nhận chức thì trở về liền”. Mặc tử hỏi: “Cớ sao lại về?”. Trả lời: “Họ nói nhưng không giữ lời: như ‘đãi anh một nghìn bát’, thế mà chỉ cho tôi năm trăm bát, nên bỏ về”. Mặc tử nói: “Nếu cho anh hơn nghìn bát, anh có về không?”. Trả lời: “Không về”. Mặc tử nói: “Thế thì không phải vì không giữ lời, mà là vì ít”.
(7) Canh Trụ tử, Tào Công tử, Cầm Hoạt Ly, Quản Kiềm Ngao đều là học trò Mặc tử.
(8) Đó là lời của Mạnh tử công kích Mặc tử, ở thiên Đằng văn công: "Họ Dương (Dương Chu) chủ trương vị ngã, thế là không vua, họ Mặc chủ trương kiêm ái, thế là không cha. Không vua, không cha tức là cầm thú".
(9) Công Thâu Bàn (cũng gọi là Ban, người nước Lỗ thời Xuân thu, có phát minh được nhiều khí giới tinh xảo. Sách cổ xưng ông là “xảo nhân” (người khéo tay).
(10) Thiên Tống sách, trong Chiến quốc sách, chép: “Công Thâu Bàn làm thang mây cho nước Sở để đánh nước Tống. Mặc tử nghe tin, đi trăm dặm đường, chân thành chai, đến gặp Công Thâu Bàn”. Lại ở thiên Tư vụ huấn, sách Hoài Nam tử, cũng chép: “Xưa nước Sở muốn đánh nước Tống, Mặc tử nghe mà thương, từ nước Lỗ đi qua, suốt mười ngày mười đêm, chân thành chai mà không nghỉ, xé quần buộc chân, đi cho đến đất Sính.”
(11) Câu này tác giả dùng để châm biếm chính phủ Quốc dân đảng hồi đó. Năm 1931, đế quốc Nhật xâm chiếm miền Đông bắc Trung Quốc; chính phủ Quốc dân đảng theo chính sách đầu hàng bán nước, bất đề kháng, nhưng ngoài mặt thì thường thường hô hào khí khái để lừa dân.
(12) Sính là đô thành nước Sở, nay ở vào địa phận Giang Lăng, tỉnh Hồ Bắc.
(13) Trại Tương Linh là tên tác giả đặt ra, căn cứ vào chuyện nữ thần Tương Linh ở sông Tương. Tương truyền Tương Linh chơi đàn sắt hay. Chương Viễn du, Sở từ, có câu: “Sử Tương Linh cổ sắt hề, Lĩnh Hải Nhược vũ Phùng di” (khiến Tương Linh gảy đàn sắt, bắt Hải Nhược múa điệu Phùng di).
Hạ lý ba nhân là tên một khúc hát nước Sở. Chương Tống Ngọc trả lời Sở vương, trong Văn tuyển có chép: “Khách hát ở đất Sính, bài thứ nhất là Hạ lý ba nhân. Trong nước, hàng nghìn người thuộc và hát theo”.
(14) Sách Văn tử, thiên Tự nhiên và sách Hoài Nam tử, thiên Tu vụ huấn, đều chép "Mặc tử ngồi chưa nóng chỗ đã đứng dậy đi".
(15) Về việc Mặc tử dâng sách cho Sở vương, Tôn Di Nhượng đời Thanh, trong thiên Quý nghĩa, sách Mặc tử giản hồ, dẫn sách Chữ cung cửu sự đời Đường nói: "Mặc tử đến đất Sính, dâng sách cho Huệ vương. Vương nhận và đọc rồi nói: 'Sách hay!'."
(16) Thiên Quý nghĩa, sách Mặc tử chép: "Mặc tử đi về phía Nam đến nước Sở, yết kiến vua Hiến Huệ vương. Hiến Huệ vương nói là già yếu, từ chối không cho gặp, sai Mục Hạ tiếp Mặc tử. Mặc tử nói chuyện với Mục Hạ. Mục Hạ mừng bảo rằng: 'Lời nói của tiên sinh hay thật, mà quân vương là đại vương của cả thiên hạ, không lẽ nói là việc làm của các kẻ hèn mà không theo'. Mặc tử nói: 'Vì là làm được. Ví dụ như thuốc, vốn là rễ cây cỏ thiên tử ăn mà làm được bệnh, lẽ nào cho là rễ cây cỏ mà không ăn? Nay dân cày nộp thuế cho đại nhân, đại nhân ủ rượu làm xôi tế trời đất, quỷ thần, lẽ nào cho là của kẻ hèn hạ làm ra mà không hưởng?' Thiên Lỗ vấn lại chép: 'Công Thâu tử bảo Mặc tử rằng: "Lúc chưa gặp thì tôi muốn lấy nước Tống, từ sau khi được gặp rồi, thì dù đem nước Tống cho tôi mà không hợp nghĩa, tôi cũng không lấy". Mặc tử nói: "Lúc Địch này chưa được gặp ngài, ngài muốn lấy nước Tống. Sau khi Địch được gặp rồi, lấy nước Tống dâng ngài, mà không hợp nghĩa, ngài cũng không lấy. Thế là tôi đem nước Tống dâng ngài rồi. Nếu ngài cố làm điều nghĩa, tôi sẽ đem dâng ngài cả thiên hạ".'
(17) Thiên Lỗ vấn, sách Mặc tử chép: "Công Thâu tử, nước Lỗ về phương Nam đến nước Sở, mới làm khí giới để thủy chiến, có câu và cường (móc), lúc quân địch thoái thì câu, lúc quân địch tiến thì móc. Thấy câu và cường rất lợi hại nên chế làm khí giới. Quân nước Sở có tiết chế, quân nước Việt không có tiết chế, quân nước Sở nhân đó đánh bại quân Việt.
Công Thâu tử khéo về việc chế câu, cường, nói với Mặc tử rằng: 'Tôi đánh thuyền có câu, cường, chẳng hay nghĩa của ngài có câu cường không?' Mặc tử trả lời: 'Câu cường nhân nghĩa của tôi tốt hơn câu cường đánh thuyền của ngài. Tôi câu bằng tình yêu thương, tôi móc bằng lòng cung kính. Không câu bằng tình yêu thương thì không có thân, không móc bằng lòng cung kính thì phải giảo hoạt mà không thân thì phải ly tán. Cho nên cùng yêu nhau cùng kính trọng nhau thì cùng có lợi. Nay ngài lấy câu câu người ta, người ta câu lại ngài. Ngài lấy móc móc người ta, người ta cũng móc lại ngài, thế là làm hại nhau. Cho nên câu móc nhân nghĩa của tôi tốt hơn câu móc của ngài."
(18) Về con chim thước bằng gỗ, thiên Lỗ Vấn, sách Mặc tử, chép: "Công Thâu tử đẽo gỗ, tre làm con chim thước bay, được ba ngày không hạ cánh. Công Thâu tử tự cho làm khéo". Mặc tử bảo Công Thâu tử rằng: "Ngài làm chim thước không bằng thợ mộc đóng xe. Đẽo ba tấc gỗ mà làm được cỗ xe chịu được 50 thạch. Cho nên làm cái gì lợi cho người thì gọi là khéo, không lợi cho người thì vụng".
(19) Tác giả muốn nêu hành vi lừa dối của chính phủ Quốc dân đảng hồi đó, một mặt thì hành chính sách bất đề kháng đối với đế quốc Nhật, một mặt thì tổ chức những đội lạc quyên "cứu quốc", để lừa gạt nhân dân mà vơ vét ít tiền bỏ túi.
 
Trương Chính dịch
<bài viết được chỉnh sửa lúc 2 phút bởi huytran >
#1
    Chuyển nhanh đến:

    Thống kê hiện tại

    Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
    Kiểu:
    2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9