Tiểu thuyêt " Hoa tư dẫn"
Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 16 bài trong đề mục
manhbv 18.04.2012 03:43:52 (permalink)
Tác giả: Đường Thất CôngTử
Dịch giả: Nguyễn Thành Phước
Nhà xuất bản: Nxb văn học - Quảng Văn






Đây là một câu chuyện diễn ra vào thời loạn thế. Những ngày thành tan nước mất, công chúa nước Vệ là Diệp Trăn đã hy sinh thân mình vì nước, nhờ viên giao châu của Quân sư phụ nên chết đi sống lại. Nhưng bây giờ nàng không có hơi thở, không có cảm giác, không có trái tim, trên mặt vẫn còn một vết sẹo không thể xóa mờ. Từ đó nàng đổi tên thành Quân Phất. Quân sư phụ nói rằng ông muốn nàng đi hành thích Trần hầu, kẻ thù của đất nước và vương tộc nàng. Nàng có thể trả được thù nếu có được phép thuật từ viên giao châu. Nếu ai đó uống vào dù chỉ là một giọt máu của nàng, Quân Phất có thể tìm ra điệu Hoa Tư (tên một điệu nhạc cổ) phù hợp nhất với người đó. Đánh điệu nhạc đó lên có thể tạo ra một mộng cảnh, mộng cảnh ấy là sự tái hiện của quá khứ. Muốn thoát ra khỏi mộng cảnh ấy phải xem người đó có thể thoát khỏi tâm mê của chính mình hay không. Quân sư phụ muốn Quân Phất giết Trần hầu theo cách đó.


Nhưng pháp lực của viên giao châu chỉ có thể cho Quân Phất ba năm sinh mệnh. Nếu muốn sống tiếp, Quân Phất phải có được sinh mệnh từ những giấc mơ của người khác, nghĩa là nếu có ai đó ở lại mãi mãi trong mộng cảnh không tỉnh lại, sinh mệnh của người đó sẽ trở thành sinh mệnh của nàng. Để được ở lại với trần thế, nàng cùng với bạn thanh mai trúc mã là Quân Vĩ và con hổ Tiểu Hoàng lên đường đi khắp nơi, theo lời giới thiệu của Quân sư phụ tìm đến những người có mong muốn mơ giấc mơ quá khứ ấy. Đó là Tống Ngưng – phu nhân của đại tướng quân Thẩm Ngạn, là Oanh Ca – sát thủ Trịnh quốc, là Công Nghi Huân – đứa trẻ bị gia tộc Công Nghi lừng lẫy Trần quốc vứt bỏ, và có cả Trần vương mà nàng đang khao khát trả thù. Trong những khúc nhạc được tạo thành từ ma thuật ấy chính là xót xa và đau khổ của người đời. mà nàng và thế tử Trần quốc – hết lần này tới lần khác gặp nhau trong mộng cảnh, thân phận nặng nề, duyên cũng nặng nề. Điệu Hoa Tư thanh bình liệu có thể khiến mỗi người chỉ còn nhớ nhung về những ngày đã qua, không còn đau thương nữa?

Hoa Tư dẫn" là một câu chuyện vô cùng hấp dẫn, đặc sắc và độc đáo. Thực ra chủ đề chính của tác phẩm vẫn là về đề tài tình yêu đôi lứa nhưng lại được xây dựng cực kỳ sáng tạo. Mỗi một mối tình, mỗi cuộc đời của một nhân vật trong Hoa Tư dẫn đều mang một ý nghĩa, một thông điệp, một quan điểm riêng của tác giả về cuộc sống và tình yêu, để lại cho độc giả nhiều điều để suy ngẫm. Đường Thất Công Tử có một lối kể chuyện độc đáo, vừa cổ điển lại vừa hiện đại, hài hước. Bên cạnh những câu chữ mang đậm phong vị văn thơ cổ của một câu chuyện cổ trang, những lời bình luận và những đoạn đối thoại hài hước, đầy bất ngờ của các nhân vật lại mang đến cho người đọc cảm giác hiện đại rất rõ nét. Điều đó khiến cho những câu chuyện tình buồn trong cuốn truyện này được nhìn nhận dưới một góc nhìn khác hơn, không đơn thuần là bi kịch như nhiều truyện khác
<bài viết được chỉnh sửa lúc 23.01.2013 05:32:32 bởi Ct.Ly >
#1
    manhbv 28.04.2012 00:14:03 (permalink)
    Mở đầu

    1. Công chúa tuẫn tiết
    Các vị tiên sinh kể chuyện trong trà lầu, phàm những người luống tuổi chắc hẳn đều từng nghe nói một câu chuyện xảy ra ở quốc đô nước Vệ sáu mươi bảy năm trước.
    Câu chuyện tình tiết thế nào ngày nay không ai nói rõ được, tuy nhiên hết thảy bình luận cho dù nội dung khác nhau, nhưng phần luận về nhân quả sự việc lại hoàn toàn thống nhất.
    Đều nói, Vệ vương những năm trước đắc tội với Trần vương, bốn năm sau Trần quốc tìm cơ hội thôn tính Vệ quốc. Trần thế tử Tô Dự đích thân xuất chinh, đánh thẳng vào Vệ vương đô. Vệ vương yếu hèn lựa chọn quy hàng, công chúa út Diệp Trăn quyết không chịu nhục, trang điểm đẹp đẽ, đứng trên tường thành đanh thép chỉ trích, trên chỉ trích quốc chủ, dưới chỉ trích ba quân, sau đó hướng về vương cung bái biệt ba vái, rồi mình ngọc nhảy từ trên tường thành cao trăm trượng xuống, tuẫn tiết cùng Vệ quốc.
    Các sử quan gọi cố sự này là truyền kỳ, về sau nhiều bậc đế vương hậu thế đã phê ngự bút bên lề sách sử, rằng Vệ công chúa Diệp Trăn bộc lộ chút hào khí cuối cùng của Vệ quốc, xứng là liệt nữ.
    Sáu mươi bảy năm Cửu Châu phân phân hợp hợp, hợp hợp phân phân, truyện xưa lùi vào dĩ vãng, bá tính hồi tưởng lại giống như hồi tưởng giai thoại truyền kỳ. Còn nghĩa cử tuẫn tiết của Diệp Trăn công chúa mặc dù gây xúc động mãnh liệt, sau khi lược bỏ sắc màu thần thánh và truyền kỳ, lại không khiến thiên hạ nhớ lâu bằng thiên diễm tình ngang trái của nàng với Trần thế tử Tô Dự, mặc dù không ai biết thực hư thế nào.
    Sử sách Cửu Châu cũng viết về mối tình Tô – Diệp, nhưng không nhiều, chỉ ghi lại một chuyện nhỏ, kể rằng khi Trần thế tử Tô Dự tiếp nhận quốc ấn quy hàng của Vệ vương ở triều đường Vệ quốc, đã hỏi lão Vệ vương: “Nghe đồn Văn Xương công chúa của quý quốc là đệ nhất tài nữ trong thiên hạ, cầm kỳ thi họa rất mực tinh thông, nhất là tài vẽ tranh sơn thủy, Vệ công từng so sánh quốc ấn này với công chúa, không biết hôm nay bản cung có được vinh hạnh thỉnh cầu Văn Xương công chúa họa cho một bức chân dung?”. Văn Xương công chúa chính là phong hiệu của Diệp Trăn đã tuẫn tiết, với hàm ý văn đức phồn thịnh.
    Sử sách chỉ sơ lược vài nét như vậy, những người biết chuyện năm xưa đã sớm về với cát bụi trong thế tình điên đảo sáu mươi bảy năm. Thiên tình sử truyền kỳ bi tráng đó cũng bị phủ bụi thời gian. Dân gian tuy truyền miệng, cũng chẳng qua như đuổi theo cái bóng, không biết thực hư thế nào. Muốn lần lại câu chuyện này, phải quay về mùa xuân sáu mươi bảy năm trước.
    2. Mất nước
    Mùa xuân sáu mươi bảy năm trước, khắp dải đất phía bắc Trường Giang Cửu Châu, suốt nửa năm ròng ông trời không ban cho nửa giọt mưa. Vệ quốc, một trong những chư hầu của đất Cửu Châu mặc dù ở ngay bên bờ Đoan Hà, nước cũng chỉ đủ cho muôn dân khỏi chết khát, toàn bộ hoa màu nuôi sống muôn dân đều chết khô. Không quá hai mùa, nạn đói hoành hành trên toàn lãnh thổ đại Vệ, quang cảnh vô cùng thê thảm.
    Vệ vương nửa đời vô dụng, kinh động bởi trận thiên tai ác hiểm, lần đầu tiên từ trong đống son phấn hiểu ra, nhanh chóng hạ lệnh quan phủ các nơi mở kho lương thực, cứu tế muôn dân. Quân vương mặc dù nhất thời anh minh, nhưng tệ nạn hủ bại thâm căn cố đế từ lâu nhất thời không có cách nào dẹp được, từng đạo chiếu chỉ đã ban, kho lương đã mở, lương thực đã chia, vạn thạch lương thực kìn kìn chuyển ra, nhưng đến tay dân chỉ còn miếng cháo loãng. Muôn dân giương mắt nhìn quan phủ bố thí cho miếng cháo, không ngờ miếng cháo quả nhiên chỉ được một miếng, không dư một hạt để làm giống cho vụ sau.
    Mắt thấy đã bị tuyệt đường sống, trăm họ đành phải vùng lên. Trăm họ nổi loạn bất chấp đạo vua tôi, tất phải có cớ, họ nói trời đã lâu không ban mưa là do Vệ vương vô đức, khiến ông trời phẫn nộ, để dẹp nộ khí của đấng cao xanh tất phải đuổi Vệ vương vô đức ra khỏi ngôi báu.
    Lời đồn lan tới thâm cung vương đô nhanh như gió, Vệ vương choáng váng bàng hoàng bởi lời kết tội của muôn dân, tức tốc thiết triều lệnh cho quần thần bàn kế dẹp phản. Quần thần quen đạo làm quan, nói vài câu giả dối, ca tụng thánh chúa anh minh, coi như xong bổn phận.
    Chỉ có một cát sĩ (kẻ sĩ tốt) mới tiếp quản chức vụ của thân phụ, chưa có kinh nghiệm làm quan, thật thà tâu lên: “Thiên hạ đều nói Huệ Nhất tiên sinh ở Thanh Ngôn tông trên núi Nhạn Hồi là bậc đại trí, nếu mời được tiên sinh xuống núi, có lẽ sẽ có kế hay, không cần động binh”. Thanh Ngôn tông là quốc tông của Vệ quốc, cầu phúc cho Vệ quốc, phù hộ cho quốc mệnh, tông chủ thế hệ này là Huệ Nhất tiên sinh.
    Có lẽ số phận đã định khí số của Vệ quốc đã tận, chính trong đêm Vệ vương phái sứ giả đến quốc tông mời Huệ Nhất, lão tông chủ tuổi hạc bát tuần đã trút hơi thở cuối cùng. Trước khi tạ thế, Huệ Nhất tiên sinh đã lưu lại một cẩm nang, trong cẩm nang là một tờ giấy trắng, viết tám chữ theo lối bạch thoại: “Hội minh phương dĩ, đại họa đông lai” (Cần liên minh với các chư hầu, đại họa đến từ phía đông). Vệ vương cầm cẩm nang nghiền ngẫm suốt một đêm trong thư phòng. Cung nhân ngủ gật bên ngoài loáng thoáng nghe thấy tiếng nức nở từ thư phòng vẳng ra.
    Huệ Nhất phán đoán như thần, vừa qua mồng chín tháng chín, Trần quốc, láng giềng phía đông dấy binh công phạt Vệ quốc. Lý do là năm trước vào dịp chư hầu hội minh, Vệ hầu vương lúc đi săn đã cố ý bắn rách một nửa góc áo Trần hầu vương, Vệ hầu ngang nhiên coi thường quân uy Trần hầu, hạ nhục Trần quốc. Mười vạn đại quân Trần thế như gió bão, nhất lộ thẳng tiến, hầu như không gặp trở ngại, chưa đầy hai tháng đại quân đã dàn hàng bên ngoài vương thành Vệ quốc.
    Toàn thiên hạ nhìn nhận cuộc chiến này như một trò cười, mấy mưu sĩ của Trần hầu thậm chí còn đánh cuộc sau lưng, xem lão Vệ hầu vô dụng có thể trụ được mấy ngày. Trần thế tử Tô Dự đúng lúc đi ngang qua, phe phảy chiếc quạt bạch ngọc trong tay: “Muộn nhất là giờ ngọ ngày mai”.
    Chính ngọ hôm sau, mặt trời lười biếng trốn sau mây đen, hé ra một vòng sáng trắng, vương đô Vệ quốc giống như chiếc hộp đựng dế chọi treo lơ lửng trên không.
    Giờ ngọ ba khắc, lá cờ hàng trắng quả nhiên kéo lên ở phía đầu thành, từ khi được thiên tử phong hầu, phúc trạch của Vệ quốc kéo dài tám mươi sáu năm, cuối cùng chấm dứt trong năm đó. Lão quốc vương thân hành rước Tô Dự vào cung, tông thất, quần thần lớn bé nhất loạt quỳ phục trước triều đường, họ đều là những thần tử thông tỏ sách thánh hiền, rất hiểu thời cuộc, chim khôn luôn biết tìm cây tốt nương đậu.
    Sau giờ ngọ, mặt trời trốn hẳn sau tầng mây, hoàn toàn không thấy ánh sáng, ông trời hạn hán đã lâu, nay dường như mới mở mắt, đột nhiên rót mấy giọt mưa. Trần thế tử Tô Dự mình khoác áo lông hạc, tay cầm chiếc quạt ngà mười hai nan, đường đường đứng bên vương tọa triều đường, tiếp nhận quốc ấn do lão Vệ vương trình lên, hỏi vài điều về Văn Xương công chúa, không khác một chữ so với ghi chép của sử quan.
    Có điều, thế tử Tô Dự không vinh hạnh có được bút tích của Diệp Trăn, khi chàng nói câu đó với lão Vệ vương trước triều đường, Diệp Trăn đã trèo lên tường thành vương cung. Cuộc hội ngộ đầu tiên của Tô Dự và Diệp Trăn có sử liệu để tra cứu là trong buổi chiều đúng ngày Vệ quốc diệt vong, cách bức thành cao trăm trượng, giữa hai đầu sinh tử.
    Chàng thậm chí không nhìn rõ dung nhan khuynh thành của Diệp Trăn như lời đồn đại, mặc dù chàng nghe đồn từ lâu. Nghe nói một trăm ngày sau khi Diệp Trăn ra đời, Vệ vương chiêm bao thấy một trưởng tăng điên điên khùng khùng, trưởng tăng phán rằng, mặc dù xuất thân hoàng tộc, nhưng công chúa là người bạc mệnh vô phúc, vương cung phế khí quá nặng, nếu nuôi dưỡng trong cung nhất định không thể sống qua mười sáu tuổi.
    Nghe đồn Vệ vương tin lời trưởng tăng, ngay từ nhỏ đã gửi nuôi cô trong Thanh Ngôn tông, quốc tông của Vệ quốc để cầu bình an, thề không gặp lại trước khi công chúa mười sáu tuổi. Lại nghe đồn hai năm trước, vào ngày mừng thọ Vệ vương, Diệp Trăn đã vẽ bức “Sơn cư đồ” làm quà mừng thọ phụ thân, được tân khách trầm trồ thán phục, Vệ vương cả mừng.
    Trong màn mưa mênh mang, Tô Dự tay cầm quạt đứng dưới lầu, chợt nhớ tới lời nói của vương muội Tô Nghi trước lúc chàng xuất chinh: “Nghe đồn Văn Xương công chúa Vệ quốc vô cùng xinh đẹp, lại trí tuệ tài hoa, là một giai nhân tài mạo vẹn toàn, huynh xuất chinh lần này khi giương cờ chiến thắng, liệu có đón được Văn Xương công chúa về cung, làm chị dâu của muội?”. Chiếc váy dài của Diệp Trăn bay phấp phới trên tường thành, đột nhiên bóng người mảnh dẻ từ trên thành cao trăm trượng lao xuống như một con chim trắng, chiếc váy nhuốm đỏ khi nàng nằm trên đất, trong hàng quân bên dưới ào lên tiếng khóc than của tướng sĩ Vệ quốc.
    Tô Dự nhìn thân hình nhuốm máu phía xa, thẫn thờ hồi lâu mới gập chiếc quạt trong tay, nói: “Hậu táng theo chế lễ dành cho công chúa”.
    #2
      manhbv 27.12.2012 22:26:06 (permalink)
      Phần 1: Tận kiếp phù du


      Cô hôn mắt chàng, run rẩy chống tay ngồi dậy, ôm mặt chàng, “Em sẽ cứu chàng, cho dù phải chết, em cũng cứu chàng”.
      chương 1

      Tháng tư, sắc xuân ngập tràn núi rừng, Quân sư phụ cuối cùng đã trở về sau sáu tháng biệt tăm. Có nghĩa là những vết khâu trên cơ thể tôi không lâu nữa có thể cắt chỉ.

      Sáu tháng nay, toàn thân tôi bị băng bó kín. Ban đầu, tôi còn có hứng thú nhảy ra ngoài dọa đồng môn. Nhưng không lâu sau, tôi phát hiện chẳng môn sinh nào sợ hãi khi họ đã bị dọa một lần. Mà tôi lại không thể nhận ra những ai đã từng bị dọa, những ai chưa. Vậy là tôi mất hứng đi trêu mọi người.

      Hai tháng trôi qua, tôi đã thấy hơi khó chịu.

      Nhiều đồng môn tưởng tôi không chịu đựng nổi hàng ngày mang cơ thể quấn đầy băng, đi ngâm bốn canh giờ trong bể thuốc. Thực ra, ngâm thuốc như vậy dưỡng thương rất tốt. Chỉ có điều, sau khi ngâm, phải giữ nguyên những lớp băng ướt sũng như vậy ngồi chờ cho đến lúc khô, điều này khiến tôi vô cùng khó chịu. Sự khó chịu càng tăng khi thời tiết lạnh dần.

      Về sau, tôi nghĩ phàm những anh hùng cái thế, đều phải chấp nhận những thử thách rèn luyện đặc biệt hà khắc của sư phụ. Quân sư phụ ắt là muốn giúp tôi rèn luyện bản lĩnh, nghị lực. Vì vậy, dẫu trong những ngày tháng chạp buốt giá căm căm, tôi cũng cắn răng chịu đựng, quyết không bỏ cuộc, cho dù có thể bị nhiễm thương hàn.

      Kiên trì được nửa năm, qua mấy lần cảm thương hàn, quả nhiên khả năng kháng hàn của tôi tăng lên rõ rệt. Tôi nói chuyện đó với Quân sư phụ, sư phụ trầm tư giây lát, rồi hóm hỉnh trả lời: “À… ta quên không bảo con, cạnh nhà tắm có một cái lò có thể giúp vải băng trên người khô nhanh, ha ha…”.

      Quân sư phụ chính là tông chủ Quân Vu giáo. Quân Vu giáo lập nghiệp trên núi Quân Vu, thuộc địa phận nước Trần. Nghe nói, ông tổ khai sơn lập giáo không phải họ Quân mà là họ Vương, xuất thân nghèo khó, cha mẹ đặt tên là Vương Tiểu Nhị.

      Về sau, Vương Tiểu Nhị được một bậc cao nhân truyền võ, sau khi thành tài, lập ra giáo phái trên núi Quân Vu. Nhưng không chiêu mộ được đệ tử tốt, hỏi ra mới biết, khi nghe danh giáo chủ Quân Vu là Vương Tiểu Nhị, mọi người đều cho rằng đó là lớp dạy nghề phụ việc, đệ tử học xong sẽ phục vụ trong các quán ăn trên khắp nước.

      Vương Tiểu Nhị đành mời một ông thầy đồ gần đó đổi tên cho. Ông thầy xem xét đại thế thiên hạ, rồi phán, các họ lớn như Đông Phương, Tây Môn, Nam Quan, Bắc Đường, Thượng Quan, Mộ Dung đều đã lập giáo phái riêng; Hai họ Đông Quách và Nam Quách mặc dù chưa lập giáo, song nếu lấy họ này sẽ khó khăn trong việc giải thích lai lịch, chi bằng lấy ngay tên địa danh, lập giáo phái trên núi Quân Vu, vậy lấy họ Quân Vu, coi như sáng tạo ra một họ kép mới, họ Quân Vu.

      Nhưng lại nghĩ, tạo ra họ kép phải lập hồ sơ trình quan phủ, thủ tục phức tạp, lại không có người tiến cử, chi bằng tốt nhất dùng ngay họ “Quân”, vả lại họ này nghe rất khí thế, rất “quân tử”. Vương Tiểu Nhị thấy có lý, bèn đổi thành họ “Quân” và nghe theo đề nghị của ông thầy, dựa theo âm cổ dịch trực tiếp hai chữ “Tiểu Nhị” thành Thiếu Song, tên đầy đủ là Quân Thiếu Song.

      Sau khi Vương Tiểu Nhị đổi tên thành Quân Thiếu Song quả nhiên chiêu mộ được rất nhiều đồ đệ. Từ đó thanh thế của Quân Vu giáo mạnh dần. Quân sư phụ chính là cháu bảy đời của sư tổ Quân Thiếu Song.

      Từ nhỏ tôi đã biết Quân sư phụ. Lúc đó tôi còn sống trong Thanh Ngôn tông – quốc tông của nước Vệ. Sư phụ đầu tiên của tôi là Huệ Nhất, tuổi tuy cao nhưng vẫn tráng kiện, ăn uống cũng tốt, đến món đậu phộng rang vẫn còn nhai được. Quân sư phụ đưa con trai đến sống gần Thanh Ngôn tông, ở trong một căn nhà tranh cách núi Nhạn Hồi hai dặm, thường đến chơi cờ với sư phụ tôi.

      Lúc sư phụ đưa tôi lên núi ngắm mặt trời mọc, thường nghỉ lại ở căn nhà đó của Quân sư phụ. Trong nhà chỉ có một chiếc giường. Mỗi lần tôi và sư phụ đến, bao giờ tôi cũng được dành cho chiếc giường đó. Ba người còn lại trải chiếu nằm dưới đất. Điều đó khiến tôi rất khoái trá, vì mỗi lần tới đó, tôi trở thành người đặc biệt.

      Sau này, tôi nói chuyện đó với Quân Vỹ, con trai của Quân sư phụ. Quân Vỹ nói: “Như thế chứng tỏ có lẽ muội là một công chúa bẩm sinh, chỉ có công chúa mới thích khác người”. Nhưng tôi không đồng ý với lý giải của Quân Vỹ, công chúa không phải là thích khác người, mà là quen với sự khác người. Chủ yếu là do không ai dám giống công chúa. Giữa thích và quen rất khác nhau. Điều này nhiều năm sau khi phải đối diện với cái chết, tôi mới thấu hiểu sâu sắc.

      Quân Vỹ là người am tường kim cổ, anh ta biết rất rành về lai lịch những thê thiếp của hoàng đế các triều đại, thậm chí cả những người được hoàng đế ân sủng một đêm, chưa kịp rước về.

      Quân Vỹ cho rằng, gia sự ảnh hưởng quốc sự, quốc sự là việc lớn của thiên hạ, mà gia sự của các bậc đế vương hầu hết là do hậu cung gây ra. Thực ra, chỉ cần các vị hoàng đế không quá ham mê nữ sắc, không nạp nhiều phi tần là sẽ không xảy ra chuyện gì. Nhưng không nạp thêm phi tần thì quả là tàn nhẫn đối với hoàng đế, hoàng đế cảm thấy không thể tàn nhẫn với bản thân, thế là họ lựa chọn tàn nhẫn với thiên hạ.

      Quan điểm của Quân Vỹ là hòa hợp hậu cung của hoàng đế chính là hòa hợp toàn thiên hạ. Từ đó, cả đời anh ta tập trung suy nghĩ, làm thế nào để hòa hợp hậu cung của hoàng đế.

      Ngoài đại sự cả đời đó, Quân Vỹ còn có một niềm đam mê khác. Đam mê viết tiểu thuyết. Nhưng Quân sư phụ rất không tán thành. Bởi lẽ, sư phụ mong muốn con trai sẽ trở thành một kiếm khách nổi tiếng thiên hạ. Hễ thấy anh ta viết tiểu thuyết là tịch thu bản thảo, phạt chép kiếm pháp. Thế là anh ta đành văn võ kết hợp, lén viết tiểu thuyết trong quá trình chép phạt kiếm pháp.

      Trong những bản kiếm pháp Quân Vỹ chép phạt, thỉnh thoảng có đoạn đại loại như: “Mỗi ngày khi mặt trời chiếu sáng, nàng dùng đôi tay trần cởi từng lớp xiêm y, để tấm thân như men sứ lõa lồ dưới ánh mặt trời. Đó là nơi cực lạnh, nàng ngồi trên chiếc giường băng lạnh, phát ra tia sáng trắng lạnh người, lạnh, rất lạnh, vô cùng lạnh, nàng cứ ngồi khoanh chân như thế, mặt hướng về bắc, lưng quay về nam. Hơi khí vận hành đủ một vòng viên mãn. Nàng không hề biết, xa xa cách đó mười trượng, phía sau lớp lớp giậu tường vi mùa đông đang có một đôi mắt đen thẫm lần theo từng tấc da thịt nàng”.

      Thực ra không ai nghĩ, đó là bốn câu luận về tâm thái trong kiếm pháp: “Lúc trời lạnh nhất, ngồi trên giường băng, lõa thể mặt hướng về bắc, vận khí đủ một vòng”. Sau này, Quân Vỹ trở thành kiếm khách giỏi viết tiểu thuyết nhất và tiểu thuyết gia kiếm pháp cao cường nhất.

      Bản thân tôi vì lớn lên trong Thanh Ngôn tông phái, tông phái quy định đàn ông không được để tóc. Cả tông môn gần hai ngàn người, trừ tôi tất cả đều là đàn ông. Vì vậy, toàn tông môn chỉ có mình tôi để tóc dài. Điều này khiến tôi có những lệch lạc trong nhận thức đầu tiên về giới tính, trong một thời gian dài tôi cho là sự khác biệt lớn nhất giữa đàn ông và đàn bà là đàn bà thì để tóc dài, đàn ông thì đầu trọc. Thế là đương nhiên tôi cho rằng Quân sư phụ và Quân Vỹ đều là đàn bà. Cảm giác tương đồng giới tính khiến tôi trở nên thân thiết với họ.

      Rất tự nhiên, sau này tôi cuối cùng cũng vỡ lẽ, cha con họ đều là đàn ông. Nhưng ý nghĩ họ là đàn bà đã thâm căn cố đế trong tôi, khiến sau này tôi không thể nào đối xử với Quân Vỹ theo tình cảm nam nữ. Luôn coi anh ta là chị em của tôi, quan hệ vốn là thanh mai trúc mã, bị tôi biến thành chỉ thuần thanh mai.

      Lúc ba tuổi, vì một cơ duyên ngẫu nhiên tôi biết mình là công chúa nước Vệ, nhưng tôi thấy chuyện này cũng rất bình thường. Chủ yếu là do lúc đó tôi chẳng hiểu “công chúa” là gì. Quân Vỹ lớn hơn tôi một tuổi. Biết hơn tôi một chút, anh ta nói: “Công chúa thực ra là một tầng lớp đặc quyền”. Tôi hỏi: “Đặc quyền nghĩa là gì?”. Quân Vỹ trả lời: “Là mọi điều muội muốn đều có thể làm, những điều không thích có thể không làm”. Nghe Quân Vỹ nói vậy, trưa hôm đó tôi dứt khoát không chịu rửa bát, buổi tối cũng không giặt quần áo, kết quả tôi bị sư phụ phạt quỳ tới nửa đêm.

      Từ đó về sau, tôi thực sự quên mình là công chúa. Cũng năm đó, sư phụ thấy tôi cũng đã lớn liền dạy tôi cầm kỳ thi họa. Sư phụ cho rằng, con người ta sống trên đời nên có gì đó để gửi gắm nỗi lòng.

      Nếu cầm kỳ thi họa tôi đều tinh thông đương nhiên là tốt nhất, coi như đã thành nhân tài. Hoặc nếu chỉ giỏi một trong tứ tài đó cũng tốt, ít nhất cũng là một chuyên gia. Tôi hỏi sư phụ: “Ngộ nhỡ sau này con không những không giỏi mà còn hoài nghi ý nghĩa những thứ phải học đó thì sao?”. Sư phụ trầm ngâm rồi trả lời: “Triết gia, dù gì cũng là một nhà gì đó…”.

      Không biết tại sao, Quân Vỹ không bái sư phụ tôi làm thầy nhưng lại có thể cùng học với tôi. Sư phụ giải thích là học thuật vốn không biên giới, không phân biệt sư môn. Quân Vỹ lại bí mật tiết lộ với tôi, đó là do cha anh ta đã tặng sư phụ mười cây nhân sâm nghìn tuổi.

      Quả nhiên, học thuật là không biên giới, biên giới quốc gia cũng có thể mua được. Học cùng với Quân Vỹ, lúc tập viết chữ còn có thể chịu được, nhưng lúc học đàn thì tôi thực sự khó chịu. Lúc đầu, chúng tôi mỗi người một cây đàn, ngồi đối diện ở hai đầu phòng, cùng chơi đàn. Hậu quả trực tiếp là ở cái tuổi tôi còn chưa hiểu tại sao dư âm của nó có thể dai dẳng ba ngày không dứt, điều đầu tiên tôi hiểu là tại sao tiếng đàn như quỷ ám đó có thể khiến người ta như bị cắn xé, tan nát cõi lòng.

      Chúng tôi mỗi người đều cảm thấy người kia chơi quá tuyệt, làm cho mình đau khổ, lại càng cố tạo ra âm thanh diệu kỳ khiến người kia càng đau khổ để trả thù. Cây đàn trong ấn tượng của tôi là một hung khí, không phải nhạc cụ. Điều đó cũng lý giải vì sao tôi học được cách giết người bằng tiếng đàn mà mãi mãi không học được cách dùng tiếng đàn để cứu người, đó hoàn toàn là ám ảnh tâm lý Quân Vỹ tạo cho tôi. Nhưng sau khi tôi học được cách giết người bằng tiếng đàn, muốn dùng tiếng đàn để cứu người thì tất cả đã chết.

      Lúc mười tuổi, tôi nhặt được một con hổ con vừa mở mắt. Con hổ đó theo tôi suốt đời, thể hiện lòng trung thành tột bậc của một con dã thú. Mặc dù nghĩ lại hồi đó, tôi và Quân Vỹ nhặt con hổ đó chẳng qua chỉ vì định giết thịt nó. Đúng lúc cha Quân Vỹ bị sư phụ tôi thuyết phục, quyết làm một người bảo vệ động vật, khiến Quân Vỹ ba tháng liền không biết tới mùi thịt. Còn tôi sống trong tông phái cũng ít ăn thịt, đúng lúc chúng tôi thèm thịt nhất.

      Sau này, không ăn thịt con hổ đó hoàn toàn là do chúng tôi thấy có thể nuôi nó lớn hơn chút nữa, như vậy thịt mới có thể làm được nhiều món khác nhau. Bây giờ nghĩ lại, lúc đó tôi có thể kìm chế cơn thèm, không giết Tiểu Hoàng đúng là một việc đáng khâm phục. Tiểu Hoàng là tên con hổ đó. Sau này, khi đã tìm hiểu kỹ tôi phát hiện con hổ đó thuộc loài hổ quý. Tôi và Quân Vỹ đều rất vui, bởi vì bán nó có thể kiếm được món tiền to. Nhưng khổ nỗi không tìm được người mua, đành giữ nó lại.

      Đến khi chúng tôi tìm được người mua, thì cả hai đã lớn, chúng tôi cũng dần dần có tiền, không cần phải trông vào tiền bán hổ nữa. Điều đó khiến chúng tôi không khỏi than thở, đời người là vậy, con đường phát tài sao mà gian khổ.

      Số mệnh đã an bài mỗi lần tôi gặp chuyện lớn đều chỉ có một mình, hơn nữa còn bị thương. Sư phụ nói, “Con đã nghe nói chưa, ông trời đặt trọng trách lên vai người nào, trước tiên cũng đều thử gân cốt người đó…”. Tôi có thể tưởng tượng, trọng trách lớn nhất mà ông trời có thể đặt lên vai tôi chắc chắc không ngoài khả năng sau khi sư phụ qua đời, tiếp nhận tông y, trở thành tông chủ. Nhưng về sau, Quân Vỹ lén lấy tông quy cho tôi xem, trong đó quy định rõ, nữ nhi và phù thủy không được đảm nhận chức vụ trong quốc tông, thế là giấc mộng của tôi tan thành mây khói.
      Nhiều người sau khi vỡ mộng thường đi vào tà đạo. Dưới chân núi cũng có một thích khách do mưu việc lớn không thành mà lưu lạc giang hồ, sau chuyển nghề mổ lợn. Lại có nho sinh do hỏng thi mà chuyển sang viết tiểu thuyết dâm ô, vẽ tranh khiêu dâm. Nhưng trước sau tôi vẫn cho rằng, mơ mộng và lấy vợ cũng gần như nhau, cái cũ chưa qua, cái mới sao đến được, hơn nữa cái mới thường tốt hơn cái cũ, mộng cũ tan vỡ là để xây mộng mới. Đó là việc đáng mừng, có gì đáng chán nản.

      Tôi chia sẻ suy nghĩ này với Quân Vỹ, anh ta cũng cho là có lý. Thế là buổi chiều anh ta hăm hở xuống núi an ủi Vương Mục Tượng, người đàn ông vừa mất vợ: “Vợ mất thì sớm muộn cũng có người đàn bà mới đến với anh. Vợ mới chắc chắn tốt hơn vợ cũ. Đó là một việc đáng mừng. Anh cứ vui lên, việc gì phải đau lòng”. Hậu quả là bị Vương Mục Tượng vác chổi đuổi đánh, Quân Vỹ không thể giải thích được gì, thậm chí còn thấy bị tổn thương. Tôi đành an ủi anh ta: “Người đời thường tỏ ra tức giận khi chân tướng bị bại lộ để che đậy nỗi xấu hổ trong lòng”.

      Trong cái đêm giấc mộng trở thành tông chủ tan vỡ, tôi dự định lúc trời sẩm tối sẽ ra ngoài, vào rừng bẫy chim để thay đổi tâm trạng, tìm cảm giác mới mẻ, dệt giấc mơ mới, lấy lại niềm tin. Có thể thấy, tôi thực sự là một người theo chủ nghĩa tích cực.

      Ngoài ra, tính cách tích cực đó còn thể hiện trong cuộc sống riêng tư của tôi. Ví dụ, tôi không bao giờ hoài nghi, một ngày nào sau này tôi có chồng, chẳng may anh ta mất sớm, tôi sẽ không ngần ngại thu dọn hành trang ra đi ngay trong đêm anh ta tắt thở, đi tìm người chồng mới.

      Nhưng cho tới cái đêm tôi bị lây cảm cúm từ Quân sư phụ, vẫn quen cho rằng người chồng tương lai của mình là Quân Vỹ, thấy anh ta vô tư nhảy nhót trước mặt mình, tôi thầm nghĩ: Ôi trời, sao mình có thể lập tức đi tìm hạnh phúc mới khi con người này vừa tắt thở?

      May mà suy nghĩ đó chỉ kéo dài đến cái đêm giữa hạ khi tôi mười bốn tuổi, đêm dự định xây lại giấc mơ đó.

      Về cái đêm giữa hạ đó, có bao nhiêu mỹ tự để mô tả, nhưng chân thực nhất chính là ba chữ: quá tàn nhẫn. Nghe nói trong đêm giữa hạ, rắn độc đặc biệt trở nên hung dữ. Trong tông môn đã có ba người bị rắn độc cắn khi đi ra ngoài vào ban đêm, mong những người khác cảnh giác, phải cẩn thận hơn khi ra ngoài.

      Khi còn nhỏ, tôi luôn tin rằng mình là người đặc biệt, sẽ không giống ba người bất hạnh kia, lần ra ngoài đó không mang theo hùng hoàng(*). Bây giờ nghĩ lại, ba người trong tông môn chết vì bị rắn độc chắc cũng nghĩ rằng mình đặc biệt. Con người ta ai cũng cho rằng mình đặc biệt, thực ra trong mắt người khác chẳng có gì đặc biệt, trong mắt rắn độc lại càng không có gì đặc biệt.

      Có lẽ đối với loài rắn độc, chỉ có người mang theo hùng hoàng thì mới đặc biệt. Lúc còn nhỏ, chúng ta thường muốn tỏ ra khác người, lúc trưởng thành lại muốn giống mọi người. Nếu có thể ngược lại, chẳng phải quá tốt hay sao, chí ít tính mạng của ba người trong môn phái cũng được bảo toàn, cho dù trở thành người thực vật. Nhưng tôi lại không mang theo hùng hoàng, rõ ràng rắn độc thấy tôi chẳng có gì đặc biệt

      Một con rắn xanh, đuôi nhỏ, mồm có viền trắng đớp vào chân tôi một cái, chất độc ngấm vào máu truyền khắp cơ thể. Tôi lảo đảo một lúc, dần dần ngã gục, vào lúc ý thức mơ hồ, cuối cùng tôi hiểu ra đạo lý tôi đã nói ở trên. Tôi lại còn nhớ đến hai bức tranh vẽ ngôi cổ tự trong núi mà tôi phải vẽ hai ngày mới xong, không biết đã được bồi dán chưa, sau khi nhớ lại, cảm thấy chẳng có gì lưu luyến, có thể yên tâm nhắm mắt, tôi dần dần thanh thản nhắm mắt, rồi không mở ra được nữa .

      Đúng lúc đó, có tiếng giày đạp trên lá khô lạo xạo vẳng lại mỗi lúc một gần, cuối cùng dừng lại bên tôi, ôm lấy tôi, thoảng ngửi thấy mùi hương mai thanh lạnh, có thể hình dung ra trong đêm thanh vắng dưới muôn ánh sao sán lạn, hoa mai tháng hai nở đầy các triền núi.

      Lúc tỉnh dậy, cảm thấy huyết dịch sôi sục trong người, chảy xuống tụ ở vùng bụng, tay sờ lên bụng, từng trận đau âm ỉ. Gót chân chỗ bị rắn cắn tê cứng, chạm vào vật gì mềm mềm âm ấm, đầu gối hơi co, bắp chân như bị treo trên không. Toàn thân cảm giác kỳ dị như vậy, tôi không chịu được, muốn mở mắt xem có chuyện gì. Vừa mở ra, thấy ngay một cảnh tượng khủng khiếp. Đó là cảnh trong hang núi, tôi nằm trên chiếc giường đá, dưới ánh trăng bàng bạc, chân phải bị một người đàn ông nắm chặt. Ngón tay mảnh khảnh, trắng muốt, miệng anh ta ngậm chặt vết thương ở gót chân tôi. Tôi chỉ nhìn được phía đó, phía bên kia đã bị món tóc xõa che khuất, khiến tôi chỉ muốn vén tóc anh ta để nhìn cho kỹ. Anh ta không biết tôi đã tỉnh, toàn thân anh ta y phục đen tuyền, lặng lẽ ngồi cạnh mép giường, miệng vẫn ngậm chặt gót chân tôi. Ống tay áo dài rộng trùm trên chân tôi, cúi đầu, có thể nhìn thấy những đường viền hoa văn cùng màu ở cổ tay.

      Mọi vật xung quanh mờ mờ, không thể nhìn rõ. Món tóc đen mướt xõa xuống, chạm vào chân tôi. Trộm nghĩ nếu cả hai không ở tư thế kỳ quặc như vậy, sự hội ngộ giữa một thiếu nữ xinh đẹp và một chàng công tử hào hoa sẽ bay bổng lãng mạn như nét chữ thảo của nhà đại thư pháp. Tự nhiên, tôi cảm thấy đang bị người ta cợt nhả, liền thuận thế đạp cho anh ta một cái. Cú đạp quá mạnh, khiến máu ở chỗ kín trong người ục ra.

      Tôi và người đó lần đầu gặp nhau, tôi đạp anh ta một cái, hậu quả là bật ra máu tháng đầu tiên.

      Anh ta đương nhiên không bị đạp ngã, nhìn thấy tôi ra chân, anh ta lập tức lùi về sau, có thể thấy anh ta phản ứng rất nhanh. Còn tôi hoàn toàn không nhận ra rút cục anh ta làm thế nào đang từ tư thế ngồi chuyển sang tư thế đứng. Tôi nheo mắt nhìn anh ta, dưới ánh trăng màu bạc rọi vào cửa hang, dáng người anh ta to cao thẳng tắp, một chiếc mặt nạ màu bạc che nửa khuôn mặt bắt đầu từ sống mũi tới trán, phía dưới là đôi môi mỏng lạnh lùng, hàm dưới là một đường vòng cung tuyệt đẹp.

      Một thoáng yên lặng.

      Anh ta lau vết máu dính trên môi, nhếch mép: “Ghê gớm thật, tôi cứu cô, vậy mà cô lấy oán trả ơn”.

      Nhưng cơ thể ra quá nhiều máu khiến tôi hoảng sợ, không thể giải thích được gì, đột nhiên òa khóc. Trong khi khóc, vùng bụng vận động quá mạnh, khiến váy tôi dần dần ướt hết, máu trào từng đợt, càng lúc càng nghiêm trọng. Nhưng tồi tệ nhất là, hôm đó tôi mặc váy trắng. Ánh mắt anh ta bắt đầu hướng vào chiếc váy của tôi, ngập ngừng một lát, anh ta hỏi: “Nước hồi à?”.

      Tôi nức nở: “Cám ơn, tôi không khát. Nhưng có lẽ tôi bị xuất huyết, sắp chết rồi”.

      Anh ta tiếp tục chú ý tới chiếc váy của tôi, chặc lưỡi một tiếng: “Cô không chết đâu, chỉ là thấy nước hồi mà thôi”.

      Tôi không hiểu: “Nước hồi là gì?”.

      Anh ta lưỡng lự một lát: “Chuyện này mẹ cô nên nói với cô chứ”.

      Tôi nói: “Anh à, tôi không có mẹ, anh hãy nói với tôi đi”.

      Thật khó tưởng tượng, tôi nhận được toàn bộ kiến thức về “nước hồi” từ một người đàn ông xa lạ. Nhưng càng khó tưởng tượng nếu sư phụ đích thân nói với tôi là, “Nước hồi chính là tử cung xuất huyết có quy luật, theo chu kỳ…”. Ngay ông trời cũng cảm thấy như vậy là làm khó cho một ông lão bảy mươi chín tuổi, nên đã không để cho ông phải nói.

      Anh ta bảo tên anh ta là Mộ Ngôn. Đương nhiên đó không phải là tên thật. Nếu một người đeo mặt nạ, thì cái tên tất nhiên cũng sẽ là tên giả, nếu không sẽ mất đi ý nghĩa của việc giấu mặt.
      Tôi nói với anh ta tôi tên là Quân Phú Quý, hoàn toàn chỉ là do lo sợ, biết đâu con người này là kẻ thù của cha tôi. Một khi biết tôi là con gái của ông rất có thể hắn sẽ giết tôi để rửa hận. Trong lịch sử đã có những bi kịch như vậy, rất nhiều công chúa bị liên lụy, mất mạng, nếu không cũng bị ép gả cho người nào đó, để rồi sống trong hôn nhân bất hạnh.

      Vậy là, chúng tôi ở bốn, năm ngày trong hang núi, uống nước suối bên ngoài, ăn các loài cá dưới suối. Tôi không thể về nhà ngay được vì chất độc còn chưa giải hết, bởi vì Mộ Ngôn cho rằng, đã cứu người phải cứu tới cùng, cũng như tiễn Phật phải tiễn đến tận Tây Thiên, làm nửa vời không phải là tính cách của anh ta.

      Hằng ngày tôi đều phải uống một loại thuốc, sau đó chích cổ tay lấy ra nửa cốc máu. Khi tôi chích máu, Mộ Ngôn thường ngồi trên phiến đá trước giường chơi đàn. Đó là một loại đàn bảy dây, dây được làm bằng tơ tằm, mỗi lần gảy phát ra những âm thanh tròn mượt. Mỗi lần Mộ Ngôn chơi đàn đều khiến tôi nhớ tới Quân Vỹ và tiếng đàn khiến người ta chỉ muốn chết ngay cho xong của anh ta. Rồi lại thấy tiếc là anh ta không được nghe tiếng đàn tuyệt diệu của người ngồi trước mặt tôi, để anh ta xấu hổ mà tự sát, không dám đầu độc tôi bằng tiếng đàn của mình nữa.

      Trong năm ngày, tôi thực sự rất muốn lật mặt nạ của Mộ Ngôn, để xem rốt cuộc mặt mũi anh ta thế nào. Nhưng cứ nghĩ tới làm vậy có thể bị anh ta chém chết, lại không dám động đậy. Cũng chỉ hiếu kỳ mà thôi, có lúc chuyện chẳng liên quan đến mình, nhưng vẫn muốn làm cho rõ, đúng là bới việc ra làm.

      Buổi chiều ngày thứ sáu, vết thương ở chân tôi cũng đã khá hơn nhiều, có thể đi lại được. Mộ Ngôn dặn tôi: “Không cần phải chích máu nữa, sáng sớm mai tôi sẽ đưa cô về”.

      Không ngờ lại chia tay nhanh như vậy, quan trọng là tôi vẫn chưa lật được mặt nạ của anh ta, tôi nhất thời không chịu được, đứng chôn chân tại chỗ. Anh ta hỏi: “Sao, chưa muốn đi hả?”.

      Tôi lắc đầu trả lời: “Không phải, không phải. Nhưng mà, anh không đi với tôi sao? Cái hang núi này làm gì có nhiều đồ, anh cũng đâu phải sẽ sống mãi ở đây”.

      Anh ta trầm ngâm trả lời: “Tôi không đi được, tôi phải ở lại đây”.

      Tôi nói: “Nhưng anh ở lại đây làm gì? Anh có một mình, ở lại đây chẳng có ai nói chuyện với anh, chẳng có ai nghe anh đàn”.

      Anh ta gục đầu trên cây đàn: “Tôi phải đợi một người, e là nếu tôi đi, người tôi cần đợi sẽ không tìm thấy tôi”.

      Tôi lập tức cảm thấy bối rối, nếu tiếp tục hỏi sợ rằng can thiệp quá sâu vào chuyện riêng tư của anh ta, nhưng nếu không hỏi sẽ mãi mãi không biết câu trả lời. Tôi nói: “Chuyện này…”.

      Anh ta đứng dậy, cười: “Nói đến là đến, hôm nay có thể là ngày may mắn”.

      Tôi ngẩng đẩu nhìn, cửa hang có tiếng động. Không biết từ lúc nào, một toán người áo đen, bịt mặt đã đứng ở đó. Lúc tôi ngước nhìn, họ đã nhất loạt rút binh khí. Động tác cũng đều tăm tắp như trang phục của họ, có thể thấy đây là một toán quân có kỷ luật. Điều lạ lùng là động tác của họ giống hệt nhau, từng binh khí sáng loáng rút ra đều tăm tắp. Đương nhiên, sau này tôi mới biết binh khí của họ mặc dù trông tựa như lưỡi hái, thực ra gọi là dao quắm. Chỉ khác một chút thôi, lưỡi hái dùng để cắt lúa, dao quắm dùng để chặt đầu.

      Bởi tôi ít khi xuống núi, chưa từng trải, vừa trông thấy mười mấy lưỡi dao trong tay toán người đứng thành hàng phía trước đã sợ chết khiếp, Mộ Ngôn đứng chắn đằng trước, tôi lo lắng hỏi anh ta: “Anh có đệ tử nào không?”.

      Anh ta chưa kịp trả lời, mười mấy con dao đã vung lên. Anh ta đẩy tôi ra, vọt người lên, chỉ thấy bóng áo choàng đen tung hoành giữa ánh dao sáng loáng, khiến tôi hoa mắt.

      Động tác của anh ta nhanh như chớp, tôi không dám chớp mắt, cũng chỉ thỉnh thoảng nhìn rõ một hai động tác. Ví như, từ đằng sau chộp cổ tay một người áo đen, kéo người đó quay nửa vòng, thanh đao trên tay lập tức chém đứt cổ người áo đen phía sau định đâm anh ta, máu tươi phun ra. Anh ta còn kịp né sang một bên tránh tia máu vọt.

      Trong chốc lát, toán áo đen gần chục người, bị anh ta giải quyết chỉ còn hai, ba. Cuối cùng khi cảnh tượng khủng khiếp sắp trôi qua thì một lưỡi dao phi thẳng về phía tôi.

      Sư phụ tôi cả đời ghét nhất ẩu đả, chưa bao giờ dạy tôi những miếng võ hộ thân. Mắt thấy con dao đang vù vù lao tới, sắp cắm vào cổ họng mình, tôi kinh hãi đứng im. Quả là một tình huống ghê rợn. Thử tưởng tượng, nếu lúc đó tôi sợ nhũn người, đổ sụp xuống, lưỡi dao thẳng đường phi tới bay qua đầu tôi, vậy là tôi có thể tránh được. Nhưng toàn thân tôi cứng đờ, mặc dù sợ đứng tim, chân tôi cũng không khụy xuống, trở thành tấm bia sống

      Đúng lúc tôi tưởng mình chết chắc, bất chợt một màu đen tuyền trùm lên tôi, giống như mây tan, trời nắng sau cơn mưa, bầu trời từ trên cao ép xuống, chân tôi cuối cùng mềm nhũn khụy xuống dưới bóng đen ấy.

      Mộ Ngôn kéo tôi vào lòng, tung người vọt lên không đá nhẹ, lưỡi dao kia bay vút trở lại. “Phập!”. Tiếng dao cắm gọn vào da thịt, một người áo đen kinh hoàng lao về phía tôi, phía dưới, chỗ bụng anh ta một chuôi dao thò ra, con dao vừa rồi đã cắm trúng bụng anh ta, sâu lút tới chuôi. Anh ta từ từ quỵ xuống. Thiện ác cuối cùng đã được trả, thiên đạo luân hồi, người áo đen đó rõ ràng không thể tin thiên đạo có thể luân hồi nhanh như vậy.

      Một cảnh chết chóc, Mộ Ngôn nói: “Không hiểu tiểu đệ bất tài của ta hàng ngày dạy các ngươi thế nào. Nếu là ngươi, ta sẽ giết cô gái ngay khi vừa bước vào hang này, trước tiên phải khiến đối phương bối rối. Cũng may cuối cùng ngươi cũng tỉnh ngộ, nhưng đã muộn”. Người áo đen đó chưa chết hẳn, đồng tử giãn dần, líu lưỡi nói: “Ngươi…”.

      Mộ Ngôn cười nhạt: “Hắn tưởng ta không biết gì sao, e là hắn quá coi thường đại ca này rồi!”.

      Người đó không nói gì nữa, chỉ cúi đầu, tay run run giơ lên, xem ra anh ta muốn rút con dao khỏi bụng. Mộ Ngôn lấy tay bịt mắt tôi, trong động vang lên một tiếng rên khủng khiếp, tôi hỏi: “Anh ta làm gì vậy?”.

      Mộ Ngôn trả lời: “Nước Trần có truyền thuyết, người chết nếu mang hung khí trong người, kiếp sau sẽ vẫn phải theo nghề võ”.

      Tôi nói: “Vậy có phải anh ta thích làm văn nhân?”.

      Mộ Ngôn buông tay nói: “Có thể người ta chỉ thích làm dân thường”.

      Rất nhiều năm trước, tôi luôn tin rằng, con người ta không thể vô duyên cớ làm việc gì đó, mọi việc phải hỏi rõ nguyên do. Ví dụ, đầu bếp nấu cho tôi món ăn tôi không thích, tôi sẽ chạy đi hỏi đầu bếp, tại sao không làm món khoai tây chiên, tại sao, tại sao, tại sao??? Hỏi một hồi như vậy, thông thường, ngay ngày hôm sau trên bàn ăn của tôi sẽ xuất hiện món khoai tây chiên. Điều này dạy cho tôi tầm quan trọng của hiểu biết, phải có hiểu biết mới hạnh phúc và ngược lại. Từ lúc mười bốn tuổi đến mười bảy tuổi, trong ba năm, tôi đã nhiều lần hồi tưởng suy nghĩ tại sao mình lại thích Mộ Ngôn. Kết luận là bởi vì chàng đã cứu tôi hai lần trong vòng bảy ngày, khi chúng tôi chẳng quen biết nhau.

      Quân Vỹ cho rằng, không phải tôi thích thật sự, chỉ là tôi tưởng vậy thôi, còn nếu thích thực sự không cần lý do, không phải hỏi tại sao. Nhưng tôi lại thấy, lý do thích một người, giống như móng của ngôi lầu, trên đời không có ngôi lầu nào không có móng, cũng không có yêu thích không có nguyên do.

      Tình cảm của tôi đối với Mộ Ngôn được xây dựng trên nền móng hai lần chàng cứu tính mạng tôi, cũng có thể nói, trên đời này ngoài tính mệnh của tôi, không có gì quan trọng, thuần túy hơn. Quân Vỹ không thể hiểu logic của tôi, chủ yếu là vì bản thân anh ta không có logic.

      Chịu ơn người ta một, báo đáp người ta mười, giờ chịu ơn người ta mười rồi thì không gì có thể báo đáp được, mà đạo lý ở đời, nếu không có gì để báo đáp, người ta thường đem thân báo đáp. Nếu lúc ấy tôi ý thức được rằng, tình cảm của mình đã manh nha, tôi đã thầm thích chàng ngay từ khi chàng ra tay cứu mạng, nhất định tôi sẽ hứa trao gửi thân mình cho chàng. Nhưng chính lúc bàn tay chàng rời khỏi mắt tôi, trái tim tôi đã đập thình thịch, nhưng tôi không hiểu tại sao.

      Tôi hỏi chàng: “Tại sao vừa rồi anh cứu tôi?”.

      Chàng nói: “Cô mới chỉ là đứa trẻ, phàm là nam nhi không thể thấy chết không cứu”.

      Tôi nói: “Nếu tôi đã lớn rồi thì sao?”.

      Chàng quay người kéo tôi vào trong hang, cười: “Vậy thì càng không thể không cứu”.

      Tôi vốn có cơ hội tuyệt vời nhưng tôi lại không nắm lấy, khốn khổ hơn, lúc sắp mất cơ hội, tôi vẫn không biết, tôi chỉ ngây ra nhìn nụ cười nửa miệng của chàng. Tôi bảo chàng: “Tôi chẳng biết trả ơn anh thế nào, tôi tặng anh một bức tranh được không, tôi vẽ cũng được, anh muốn tôi vẽ gì tặng anh?”.

      Lúc đó, ánh sáng trong hang đang đẹp, chàng nghiêng đầu nhìn tôi: “Sao?”.

      Dáng nghiêng đầu và giọng nói mới tuyệt làm sao.

      Tôi bất ngờ bị mê hoặc, không nén nổi ý nghĩ muốn thể hiện một chút với chàng. Tôi tìm khắp nơi, nhưng trong hang chẳng có cái bút nào. Mặc dù có thể đốt cây, lấy than để vẽ, có thể vẽ tranh than trên giấy bồi. Nhưng trước đó mấy ngày, để tiện tôi đã cắt chúng thành những mảnh bằng bàn tay, cùng lắm chỉ có thể vẽ trứng gà, muốn vẽ người e rất khó.

      Mộ Ngôn thấy tôi lúi húi tìm kiếm mãi, tay cầm nắm giấy nhỏ không biết làm gì, hình như hiểu ra, chàng đưa cho tôi một cành cây, nói: “Dùng cái này đi, nếu cô thực sự muốn vẽ tranh tặng tôi, vẽ trên đất cũng được”.

      Tôi cầm cành cây ngẫm nghĩ một lát, run run bắt đầu nét đầu tiên. Nhưng giống như một nghệ nhân thêu tài hoa, dù khéo léo đến mấy cũng không thể thể dùng que sắt tạo ra hoa văn trên vải, tôi cũng bối rối như họ.

      Tôi vốn định vẽ tư phong trác việt của Mộ Ngôn khi tung người vọt lên, tay không quật ngã hai tên áo đen. Vẽ xong, chàng ngắm nghía hồi lâu rồi nói: “Cô vẽ gì vậy? Trông như con khỉ trèo cây hái đào, lại giống như con gấu chó đang cố với tổ ong…”. Ấn tượng lúc đó tôi để lại cho Mộ Ngôn là như vậy, một cô gái tự cho là mình vẽ rất được, lại vẽ chàng giống hệt như một con khỉ hái quả và con gấu chó trèo cây.

      Bây giờ tôi đã có thể dùng cây vẽ lên đất những nhân vật sinh động như thật, nhưng cuối cùng chẳng có cách nào sửa lại ấn tượng của Mộ Ngôn đối với tôi. Quân Vỹ nói: “Có thể người ta cảm thấy muội vẽ một vật có thể giống bất cứ vật gì, như vậy là rất có tài”.

      Quân Vỹ có suy nghĩ như vậy cho thấy anh ta có tư duy của một kiếm khách. Nhưng vẽ tranh và dụng kiếm khác nhau ở chỗ, khi anh dụng kiếm, trong mắt mọi người, có thể là bất kỳ chiêu nào, đó chính là kiếm thuật xuất chúng. Còn vẽ tranh, nếu vẽ một vật mà người xem lại nhìn thành vật khác thì bức tranh đó chắc chắn không bán được.

      Tôi và Mộ Ngôn do số phận run rủi, sống cùng nhau gần sáu ngày. Đêm thứ sáu, trong khi tôi ngủ, chàng rời hang núi. Tôi đợi chàng bốn ngày trong hang. Nhưng chàng không quay lại. Bốn ngày sau tôi buộc phải ra đi, chỉ vì lúc đó đang là mùa hạ, thi thể những người áo đen đang bắt đầu phân hủy, ruồi nhặng bu đầy, bốc mùi hôi thối khủng khiếp.
      Nếu tôi và chàng gặp nhau vào mùa đông, lúc tôi vẫn mơ hồ không hiểu thế sự, nhất định tôi sẽ tiếp tục chờ đợi cho tới khi tôi tìm ra nguyên do tôi đợi chàng. Tìm ra rồi, tôi lại có lý do đợi tiếp, đợi cho tới ngày chàng quay trở lại, hoặc vĩnh viễn không trở lại, nhưng đó lại là chuyện khác.
      Nhưng thực tế, tôi đã sớm bỏ đi, mang theo nỗi buồn vô tận. Lúc đi tôi vẫn nghĩ đợi chàng bốn ngày là để chính thức cáo biệt chàng. Hiển nhiên, đó là một cách nghĩ quá đơn thuần, tôi đã sớm giải phóng tâm hồn để yêu Mộ Ngôn, nhưng lại không thể đồng thời giải phóng trí tuệ để nhận thức rằng mình đang yêu chàng. Đó chính là nguyên nhân tôi để mất chàng.
      Lúc tôi ra khỏi hang núi, đi được một đoạn xa, quay đầu nhìn lại mới phát hiện, hang này ở phía sau núi Nhạn Hồi.
      Hai năm sau đó, núi Nhạn Hồi trở thành nơi tôi thường lui tới. Mà sau khi bị Quân Vỹ bắt đọc cuốn tiểu thuyết diễm tình anh ta mới sáng tác, cuối cùng tôi đã hiểu ra tại sao thỉnh thoảng tôi lại nhớ về Mộ Ngôn, tại sao khi chẳng có việc gì cũng đi ra sau núi lang thang một mình. Thì ra tôi giống nhân vật nữ trong tiểu thuyết, tình yêu đã manh nha. Điểm khác nhau duy nhất giữa nhân vật nữ trong truyện và tôi ở chỗ, khi tình cảm nảy nở, cô gái ấy rất hiểu tình lang. Còn tôi khi tôi âm thầm thích Mộ Ngôn, tôi không hề biết chàng ở đâu, chàng bao nhiêu tuổi, có nhà, có ngựa không, nhà và ngựa là trả góp hay trả một lần, song thân có còn, chàng có sống chung với họ…
      Từ khi biết mình yêu Mộ Ngôn, tôi vẫn tìm chàng, nhưng bặt vô âm tín, dường như trên đời chưa hề tồn tại con người này, thậm chí tôi còn dựa vào quan hệ của gia tộc để tìm, nhưng cũng không thấy.
      Tôi vẫn nghĩ chàng là người nước Trần, nhưng vào thời đại mà thay đổi quốc tịch còn dễ hơn thay đổi đàn bà thì có thể hôm nay chàng là người nước Trần, ngày mai có thể là thần dân nước Vệ của tôi. Tóm lại, ý nghĩ tìm kiếm chàng từ quốc tịch là không thể thực hiện được. Nhưng ngoài thông tin chàng là người nước Trần, tôi không có bất kỳ manh mối nào khác. Bây giờ nghĩ lại thời thiếu nữ tuổi mười lăm, mười sáu đẹp nhất của tôi đều nhanh chóng trôi qua trong bôn ba tìm kiếm, nhưng vẫn vô vọng, khiến tôi đến lúc chết vẫn khắc khoải tiếc nuối.
      Rừng phong sau núi đã hai lần ngả vàng sắc thu, tôi sống đến năm mười sáu tuổi. Tương truyền trước mười sáu tuổi tôi không được phép sống trong cảnh xa hoa nhung lụa, nếu không sẽ bị chết yểu. Do đó, phụ vương gửi tôi tới Thanh Ngôn tông, hy vọng có thể tránh được kiếp họa đó. Tôi có thể yên ổn sống qua tuổi mười sáu, mọi người đều rất phấn khởi, cảm thấy từ nay không phải lo lắng nữa. Ngày hôm sau, lập tức có sứ giả tới đón tôi trở về vương cung.
      Lúc sắp ra đi, tôi và Quân Vỹ đều rơi lệ, tôi giao chú hổ Tiểu Hoàng cho anh ta chăm sóc. Vì Tiểu Hoàng cần rừng núi, mà Vệ vương cung là một cái lồng son. Lúc đó, Quân sư phụ không biết tại sao lại rời Quân Vu giáo đến ẩn cư ở gần Thanh Ngôn tông, đã đưa Quân Vỹ bái tổ quy tông, và tiếp nhận ngôi vị Quân Vu giáo tông chủ, có nghĩa là với địa vị đó Quân Vỹ đã có đủ tiền có thể nuôi được Tiểu Hoàng. Tôi và Quân Vỹ hẹn nhau, mỗi tháng anh ta sẽ đưa Tiểu Hoàng đến thăm tôi, lộ phí anh ta tự lo.
      Phụ vương phong cho tôi là Văn Xương công chúa, để chứng tỏ tôi là vị công chúa có học thức nhất Vệ vương cung. Nhưng thường ngày sư phụ vẫn chê tôi, mặc dù tôi đã theo học mười bốn năm nhưng mới chỉ học được một phần năm học vấn của sư phụ. Xem ra, trình độ văn hóa của tôi như vậy đã được coi là tương đối cao, chứng tỏ người xung quanh hầu như không có văn hóa.
      Trên tôi còn có ba ca ca và mười bốn tỷ tỷ. Bọn họ đều là con của những phi tần trong hậu cung của phụ vương. Ba ca ca rất có hứng thú, đại ca hứng thú với thơ phú, nhị ca hứng thú với mỹ nhân, tam ca hứng thú với đàn ông. Tóm lại không một ai có hứng thú trị quốc bình thiên hạ.
      Phụ vương mỗi lần nhìn thấy họ đều ngao ngán, chỉ có những lúc trở về hậu cung vui đùa với tân phi mới cảm thấy được an ủi. Lúc mới về vương cung, cảm giác duy nhất của tôi là, trong thời đại loạn, chư hầu phân tranh, quần hùng tranh bá, một quốc gia đã mục rỗng từ trong ra ngoài lại có thể tồn tại đến hôm nay thật đáng kinh ngạc.
      Giả sử tôi không phải người nước Vệ, tôi sẽ khuyên bản triều thôn tính nước Vệ, bởi thực sự nước Vệ rất dễ thôn tính.
      Trước nay tôi không tin vào giấc mơ của phụ vương và vị trưởng tăng trong giấc mơ mơ đó. Giả sử sinh mệnh con người bị chi phối bởi một thế lực hư vô, thì thế lực hư vô đó ít nhất cũng có sức mạnh thể hiện ra một cách cụ thể, ví như tín ngưỡng, quyền lực, chứ không phải là một giấc mơ. Số mệnh đã định tôi phải chết yểu, chuyện này quả thật muốn tránh cũng không thể.
      Tôi chết vào một ngày đông hàn năm mười bảy tuổi.
      Năm đó, nước Vệ xảy ra đại hạn, từ thành Hàn Hà phía bắc tới thành Ẩn Kê phía nam, người chết đói đầy đồng, dân không có gì ăn, cả vương quốc như chiếc bánh nướng vàng khè để trên bờ Đoan Hà chờ có người nhận ra đến lấy đi. Ngày hôm đó, mười vạn đại quân Trần đã đứng ngoài kinh đô, chiến giáp đen sì, binh đao sáng loáng, họ đến thôn tính nước Vệ, kết thúc nền thống trị tám mươi sáu năm của họ Diệp trên đất Vệ.
      Sư phụ tạ thế hai tháng trước đó, lúc lâm chung sư phụ cũng không nghĩ ra cách nào cứu nước Vệ. Tôi là đệ tử đích truyền của ông, điều này có nghĩa, tư duy của thầy trò cùng một mạch, sư phụ đã không có cách gì, tôi càng không có.
      Lúc mới trở về vương cung, tự nghĩ đó là bổn phận của mình, tôi dành thời gian viết tờ biểu “Gián Vệ công thư”, trình lên triều đình, bày tỏ suy nghĩ của mình đối với chính thể hiện tại, phản hồi duy nhất nhận được là, phụ vương xoa đầu tôi nói, chữ con rất đẹp, sau đó ra lệnh giam lỏng tôi.
      Chỉ vì nước Vệ là một quốc gia nằm ở bên rìa đại lục, làn gió chính trị ở vương đô của thiên tử thổi triền miên trên mảnh đất khai phá hàng trăm năm, nhưng dẫu thổi tám mươi sáu năm cũng không tới được nước Vệ, mặc dù ở vương đô đã có phụ nữ làm quan, nhưng phụ nữ nước Vệ chưa bao giờ được tham chính, hơn nữa đất nước chúng tôi có phân công rõ ràng đàn ông cày ruộng, đàn bà dệt vải, khiến phụ nữ chỉ có hai chức năng, dệt vải và sinh con.
      Khi đã sắp mất nước, cuối cùng phụ vương cũng muốn nghe kiến nghị của tôi, nhưng lúc đó tôi đã chẳng còn kiến nghị gì hết, chỉ có một kiến nghị duy nhất là mọi người nên tranh thủ ăn nhiều đồ ăn ngon, đến khi mất nước, tất cả cùng tuẫn tiết, thế là tôi lại bị phụ vương giam lỏng.
      Ông vuốt râu, run run trách tôi: “Tuy lớn lên ở nơi sơn dã, nhưng thân là công chúa, con không có chút tình cảm nào với xã tắc ư?”.
      Sau lần răn dạy ấy, tin đồn tôi là người vô cảm lan truyền khắp vương thất. Các ca ca, tỷ tỷ đều than thở: “Trăn Nhi, muội đọc nhiều sách như vậy, nhưng lại không hiểu đạo lý sách răn dạy, muội lạnh lùng, vô cảm. Phụ vương đã thương nhầm muội rồi”.
      Điều này đúng là khó tưởng tượng, khi cần nghiêm túc họ lại không nghiêm túc, đến khi xảy ra kết cục tất yếu, họ lại giả bộ nghiêm túc, nếu có thể duy trì sự nghiêm túc giả dối đó đến phút cuối cùng, cũng coi như đáng khóc, đáng ca ngợi. Nhưng rõ ràng họ không làm được bổn phận của vương tộc. Theo tôi, vương tộc và đất nước là một, khi nước mất, vương tộc cũng tiêu vong.
      Mùng bảy tháng mười một, bầu trời ảm đạm thê lương.
      Chưa đến ba ngày bị quân Trần vây thành, phụ vương đã quyết định đầu hàng, chưa có nước nào sự diệt vong lại diễn ra lặng lẽ như nước Vệ. Những ghi chép trong thư tịch cổ về cảnh tượng ngày tàn của các quốc gia cổ đại như hoàng đế tự thiêu, quần thần treo cổ, vương tử, công chúa bỏ trốn, tất cả đều không xảy ra. Chỉ có phụ nữ tỏ ra hoảng loạn nhất thời, bởi vì sau khi mất nước, họ không thể sống suộc sống vương giả như trước, nhưng nếu bỏ trốn khỏi vương cung, nếu không bôn ba vất vả thì không thể sinh tồn, huống hồ vương cung hoàn toàn không hỗn loạn. Tất cả vẫn bình yên quy củ, hoàn toàn không cần thiết bỏ trốn. Họ đắn đo cân nhắc, cuối cùng quyết định chờ đợi.
      Sau khi nội giám truyền tin mới nhất, tôi mặc bộ quần áo đẹp nhất từ trước tới nay. Tương truyền đó là bộ áo lông được dệt từ lông của tám mươi mốt con hạc, trắng muốt, nhược điểm duy nhất là quá giống tang phục, cho nên bình thường khó có cơ hội mặc nó.
      Giờ ngọ ba khắc, lá cờ hàng màu trắng rủ trên nóc thành lầu, trời có mưa nhỏ.
      Nước Vệ hạn hán đã lâu, cơn hạn châm ngòi cho cái chết của vương quốc này, khi vương quốc diệt vong lại có mưa tống tiễn.
      Tôi bước lên thành lầu mà không gặp trở ngại nào. Ba vạn tướng sĩ trong thành đều cởi giáp buông giáo, màu sắc của binh khí xem ra ảm đạm hơn vài phần so với quân Trần. Binh khí là sự tiếp nối của sĩ khí, nước mất nhà tan, lại không thể quyết chiến một trận, khiến tướng sĩ sống dở chết dở, mà gươm đao thì đã chết hẳn. Bức tường thành cao sừng sững như vậy, quốc vương cho rằng, tường thành cao mang ấn tượng kiên cố chắc chắn, cao là biểu tượng của sức mạnh. Nhưng sức mạnh đầy ấn tượng như vậy không địch nổi một câu nói, không địch nổi lời nói của đương kim hoàng thượng Vệ quốc: “Chúng ta đầu hàng”.
      Phóng tầm mắt ra xa, đất đai Vệ quốc mênh mông, từ đường chân trời mây đen ùn ùn kéo đến, mưa nhỏ như sợi tơ uốn éo trong gió vương trên mặt binh sĩ nước Trần trong hàng quân nghiêm chỉnh đứng ngoài thành. Tôi nhìn lần cuối quốc thổ dưới chân mình, đó vốn là vùng đất phì nhiêu, nơi thần dân nước Vệ bao đời an cư lạc nghiệp.
      Có tiếng bước chân loạng choạng phía sau, giọng phụ vương khản đặc: “Trăn Nhi, con định làm gì?”.
      Chỉ sau một đêm, phụ vương đã già đi trông thấy. Tuy đã có tuổi nhưng do bồi bổ tốt, trước đây chúng tôi vẫn giả bộ cho rằng ông vẫn còn rất trẻ. Nhưng lúc này, cũng không thể giả bộ được nữa.
      Thực ra tôi không có gì để nói, sự thể đã như vậy, nói cũng vô ích. Phụ vương được một thái giám dìu đi, suy sụp như sắp đổ quỵ. Tôi thầm sắp xếp ý nghĩ trong đầu, nói với phụ vương: “Phụ vương còn nhớ Thanh Ngôn tông chủ, sư phụ Huệ Nhất của con chứ?”.
      Ông chầm chậm gật đầu.
      Gió thổi ù ù, vạt áo bay phần phật, chỉ cần hơi phân tâm là không thể nào nghe rõ, buộc phải nói to. Người bó chặt trong áo choàng lông hạc trắng muốt, tôi trịnh trọng nói: “Sư phụ đã dạy Diệp Trăn đại nghĩa của vương tộc, thường răn rằng vương tộc là tôn nghiêm của xã tắc, tôn nghiêm của vương tộc chính là tôn nghiêm của xã tắc, không thể bị chà đạp. Nhưng khi dâng biểu đầu hàng, phụ vương có coi mình là tôn nghiêm của xã tắc? Nếu Diệp Trăn là vua một nước, chắc chắn sẽ không đầu hàng, khiến xã tắc chịu đại nhục. Phụ vương có thể cho rằng làm như vậy là tránh cho trăm họ nước Vệ thoát khỏi họa binh đao, nhưng hôm nay quân Trần đã ở ngoài kinh đô, suốt dọc đường từ bờ Đoan Hà đến kinh đô, quân Trần đã giẫm lên xương cốt thần dân nước Vệ chúng ta, ba vạn quân sĩ trong thành nhất tề cởi giáp đầu hàng, làm sao xứng với muôn dân đã bỏ mạng vì xã tắc? Bây giờ, những người ở đây đều không phải là nam nhi của nước Vệ, những người đó đã yên nghỉ nơi chín suối. Mặc dù Diệp Trăn từ nhỏ sống trên núi nhưng vẫn mang trong người dòng máu hoàng tộc, đại biểu cho tôn nghiêm của xã tắc, phụ vương dẫn cả tông thất đầu hàng nước Trần, nhưng Diệp Trăn quyết không thể. Nếu Diệp Trăn chỉ là một thảo dân, hôm nay dưới vó ngựa quân Trần đành chịu nhục, nhưng Diệp Trăn lại là công chúa…”.
      Tiếng sấm chớp ầm ầm, mưa trút xuống. Tôi quay người nhìn xuống dưới thành, một công tử y phục hoa lệ không biết đứng đó từ lúc nào, trông rất giống Mộ Ngôn, vừa chớp mắt, lại nhìn như đã biến mất trong màn mưa.
      Tiếng phụ vương giục giã: “Con là công chúa thì sao? Con xuống đi…”. Trận mưa thật sự đã xối rửa sạch sẽ tất cả, nửa năm nay chưa có trận mưa nào như vậy. Nước Vệ diệt vong nhanh chóng như vậy ư? Phải chăng đây là ý trời? Tôi vuốt nước mưa trên mặt, ngẩng nhìn bầu trời cao vút, lòng chợt lâng lâng niềm cảm khái, có thể khái quát bằng một câu: “Xã tắc mất, Diệp Trăn cũng chết, đó vốn là tín ngưỡng của một công chúa”.
      Tôi nhảy từ trên thành xuống, nghĩ tới sư phụ vẫn mong mỏi bồi dưỡng tôi trở thành một triết gia. Đúng là lo sợ điều gì, điều đó sẽ đến, cuối cùng tôi vẫn trở thành một triết gia, nhảy vào vòng xoáy do mình tạo ra, cuối cùng kết thúc bằng cái chết. Điều duy nhất đáng tiếc trên đời là không được gặp lại Mộ Ngôn. Đêm đó, ánh sao vằng vặc, chàng ôm tôi, trong tay áo có mùi hương mai thoang thoảng.
      Chàng nói: “Ghê gớm thật, tôi đã cứu cô, cô lại trả ơn tôi như vậy…”.
      Chàng nói: “Nước hồi chính là huyết xuất ở tử cung có quy luật, có chu kỳ…”.
      Chàng nói: “Cô vẫn còn là đứa trẻ, phàm là nam nhi đều không thể thấy chết không cứu”.
      Chàng nói: “Cô vẽ gì vậy? Vừa giống con khỉ trèo cây hái quả, vừa giống con gấu chó đang với tổ ong…”.
      Có thể chàng đã quên tôi từ lâu, đã thê thiếp hàng đàn, con cái đề huề, nhưng không hề biết có một cô gái nhỏ vẫn đang tìm chàng, lúc sắp chết còn nhớ tới chàng.
      Tiếng gió dội lại tiếng nức nở của tướng sĩ, hòa với tiếng mưa sầm sập. Tôi nghe thấy một bài quân ca mà các tướng sĩ thường hát, giai điệu thâm trầm, tiếng mưa não nề khiến tiếng hát càng bi thương. Tôi nằm trên mặt đất, mắt nhắm nghiền, cảm nhận rất rõ sinh mệnh đang từ bỏ mình. Có tiếng chân dừng ngay bên cạnh, một bàn tay vuốt lên má tôi, có mùi hương mai thoảng trong gió, nhưng rất khó phân biệt rốt cuộc đây có phải là ảo giác, tôi gắng mở miệng: “Chàng… chàng…”. Bàn tay run run trên má.
      Tôi không được nuôi lớn như một công chúa nhưng lại chết như một công chúa. Tôi chết vào mùng bảy tháng mười một, trong tiếng ai ca tống tiễn nước Vệ: “Trăng thanh sao lặn, cố hương xa xăm, khi hoa mai rụng hãy đưa tôi về…”.
      #3
        manhbv 29.12.2012 14:25:48 (permalink)
        Chương 2

        Sau khi tôi chết, nghe nói thế tử Trần quốc là Tô Dự đã hạ lệnh hậu táng tôi theo lễ chế dành cho công chúa. Phụ vương và mẫu phi vốn dĩ ngày hôm sau sẽ bị áp giải về Hạo thành, kinh đô nước Trần, nhưng vì tang lễ của tôi nên hoãn lại một ngày. Lúc khâm liệm, tôn thất vương tộc bắt buộc phải đến xem lễ, để khi về sẽ viết một bài phú, không ai được vắng mặt. Những người dân ở kinh thành còn sống cũng đổ ra đường tiễn biệt công chúa, khiến quãng đường từ vương cung tới vương lăng ngày hôm đó xảy ra một cảnh tượng tắc nghẽn chưa từng có trong cả trăm năm qua. Dân chúng ở bên này đường muốn chạy sang bên kia đường ăn bát mỳ cũng không có cách nào sang được, mọi người đành bất lực.
        Đương nhiên những chuyện đó tôi hoàn toàn không biết, tất cả do Quân sư phụ sau này kể lại. Lúc hay tin kinh thành nước Vệ bị bao vây, ông đã cùng Quân Vỹ đến nước Vệ định đưa tôi đi, nhưng không ngờ tôi đã chết cùng Vệ quốc. Từ nước Trần cách xa vạn dặm tới kinh thành nước Vệ, khi họ đến nơi cũng là lúc tôi được nhập quan. Lúc đó, tôi nằm trong chiếc quan tài bằng gỗ mun, đã là một người chết, phía sau là tiếng kèn thê lương, dưới bầu trời ảm đạm những nắm tiền giấy bay lả tả.
        Quân sư phụ nói: “Trong tám mươi sáu năm nước Vệ được phong hầu, đây là lần đầu tiên ta thấy cảnh tượng tang lễ công chúa long trọng như vậy”. Nhưng tôi nghĩ, đó không phải là cảnh tượng tang lễ của tôi mà là cảnh tượng diệt vong của một quốc gia, mà cái chết của một quốc gia, cho dù long trọng thế nào cũng xứng đáng.
        Quân sư phụ là một cao nhân ngoại thế, từ việc ông ẩn cư trên núi Nhạn Hồi lâu năm như vậy cũng không bị dã thú ăn thịt, chúng ta có thể nhận ra điều đó. Núi Nhạn Hồi là một khu bảo tồn động vật hoang dã đã được đại triều(*) công nhận, nên ở đây thường xuyên bất ngờ xuất hiện dã thú tấn công con người.
        Từ khi tôi quen biết Quân sư phụ, tôi chỉ coi ông là một cao nhân bình thường, không ngờ ông cao siêu tới mức có thể cải tử hoàn sinh. Điều đó trái lại với quy luật tự nhiên. Thử hình dung, kẻ thù ta khó khăn lắm mới giết được, vậy mà hắn có thể sống lại làm ta phải tìm cách giết hắn lần nữa. Nhưng chuyện thần kỳ đó cuối cùng lại xảy ra với tôi. Nên đành phải ngừng bình luận về khả năng kỳ lạ đó của Quân sư phụ, vì phủ nhận nó tức là phủ nhận sinh mệnh của tôi.
        Cái ngày tôi được cải tử hoàn sinh, tôi cảm thấy mình ngủ sâu rất lâu, tôi mở mắt tỉnh lại vào một đêm đông mịt mù.
        Từ cửa sổ nhìn ra, ánh trăng treo trên đầu cành cây, chỉ một màu vàng nhạt, bốn bề tĩnh mịch, thỉnh thoảng có tiếng chim kêu lạc lõng. Tôi nhớ lại lúc mình nhảy từ trên tường thành xuống, cao như vậy mà có thể cứu sống, quả là y thuật cao siêu. Quân sư phụ ngồi trước mặt tôi, đang lật giở một quyển sách cổ, Quân Vỹ gục đầu ngủ trên bàn, ánh đén mờ ảo, họ dường như không chú ý tới tôi.
        Ngước mắt nhìn hình bông hoa sen trắng trên đỉnh màn, tôi nói: “Con vẫn còn sống ư?”.
        Một thoáng im lặng, Quân sư phụ lập tức để cuốn sách xuống án thư, hỏi: “A Trăn, là con nói phải không?”. Quân Vỹ cũng bị đánh thức, dụi mắt tỉnh dậy. Tôi mở miệng, nói một tiếng: “Vâng”.
        Tay Quân Vỹ vẫn đang dụi mắt, sững người nhìn tôi: “A Trăn hả?”.
        Tôi không có thời gian để ý tới anh ta, vì Quân sư phụ đã bước ngay đến bên tôi, ông đặt ngón tay trước mũi tôi, cầm tay tôi bắt mạch.
        Khá lâu, ông thốt lên: “Viên giao châu đó quả nhiên là thần kỳ, A Trăn, con có đau không?”.
        Tôi lắc đầu: “Không đau”.
        Ông cười đau khổ: “Vết thương nặng thế này mà nói không đau, là ta đã mang con về, nhưng con đã chết. Con sẽ không đau nữa, ta đã tự ý làm vậy, con có muốn tỉnh lại không?”.
        Tôi nhìn ông, nhoẻn cười, gật đầu: “Con muốn”.
        Đó không phải là cải tử hoàn sinh, Diệp Trăn đã chết.
        Vạn sự đều có nhân quả, đây chính là nhân quả của tôi.
        Người ta sau khi chết, ý thức dần dần phân tán, cuối cùng tan biến, đó là truyền thuyết của Cửu Châu. Trước đây, tôi vẫn tưởng đó là truyền thuyết, cho tới khi bản thân nếm trải cái chết mới biết truyền thuyết cũng đáng tin cậy.
        Ba ngày sau khi tôi được an táng, nhân lúc đêm khuya, Quân sự phụ lén vào vương lăng, mang thi thể tôi về núi Quân Vu. Lúc đó, phần hồn chưa thoát hẳn, vẫn lưu lại trong cơ thể tôi. Ông đưa thần dược của giáo phái vào cơ thể dập nát của tôi, đó là một viên giao châu sáng chói, dùng để giữ phần ý thức còn sót lại, để nó mãi mãi không thể rời khỏi cơ thể. Về cơ bản, đó chẳng qua là thay đổi trạng thái tử vong, ngoài có thể cử động và suy nghĩ, tôi chẳng khác gì người chết.
        Cơ thể đó không thể lớn thêm được nữa, tôi không thể thở, mất hẳn khứu giác và vị giác, cũng không cần phải ăn để sống, không có cảm giác đau đớn. Bên ngực trái, nhịp đập không phải là của trái tim nóng hổi mà chỉ là của một viên ngọc lặng lẽ nằm đó, rất sáng nhưng lạnh ngắt như một khối băng, khiến tôi rất lạnh. Nhưng rút cục, tôi có thể mở mắt ngắm nhìn thế gian đã là sung sướng lắm rồi.
        Bây giờ tôi không còn là công chúa gì nữa, cũng không phải gánh vác bổn phận gì hết. Quân sư phụ đặt cho tôi một cái tên mới, Quân Phất. Có nghĩa là, cuộc đời tôi nhẹ như hạt bụi, phủi một cái là tan. Tôi nghĩ, đúng là một cái tên bi thương mà ý nghĩa.
        Lần tuẫn tiết đó, tôi đã phải trả giá đắt, mất mạng đã đành, quan trọng là xương sọ bị vỡ, nội tạng cái xô lệch, cái giập nát, chảy rất nhiều máu. Điều đó có nghĩa từ nay về sau, cơ thể sẽ rất yếu, mặc dù không có có cảm giác đau đớn, nhưng thường xuyên nôn ra máu.
        Quân sư phụ dùng giao tơ chỉnh sửa dung mạo cho tôi, chỉnh xong xinh đẹp hơn trước nhiều, chỉ có điều, vết nứt trên sọ quả rất lớn, giao tơ cũng không vá được, để lại một vết sẹo dài từ giữa lông mày, qua trán xuống tai trái. Lúc đầu nhìn thấy mặt tôi, Quân Vỹ mãi không nói nên lời, lúc lâu sau mới nói: “Yêu quái, như thế này quá giống yêu quái, thanh thoát như cũ không tốt hơn sao?”. Tôi nói: “Tôi đã nhìn kỹ rồi, ngũ quan thì không có gì thay đổi, chỉ là nhìn hơi kỳ lạ, yêu ma hơn trước một chút thôi, không sao cả, cứ coi như tôi chỉnh hình thất bại đi”.
        Nhưng những vết sẹo ấy cuối cùng lại rất chướng mắt, Quân sư phụ dùng giấy bạc làm chiếc mặt nạ, che nửa khuôn mặt tôi. Tôi định đề nghị dùng mặt nạ da người, như vậy nhìn sẽ tự nhiên hơn, nhưng thấy mặt nạ da người thông hơi rất kém, nên cuối cùng lại thôi.
        Tôi đã tưởng sau đó, có thể sống những tháng ngày thoải mái tự tại nhưng thực tế không như thế. Chỉ là lúc đó không nghĩ ra, lại cho là người chết rồi thì vô lo vô nghĩ, nhưng ưu phiền đến từ tâm tưởng, tâm tưởng vẫn còn sao có thể vô ưu. Quân sư phụ đã bỏ bao tâm huyết để tôi sống lại. Sư phụ muốn hoàn thành một việc, việc này rất khó, chỉ dễ hơn việc bắt Quân Vỹ sinh cho tôi một đứa con mà thôi.
        Ông muốn tôi đi hành thích Trần vương.
        Ông cấy viên giao châu vào người tôi, đánh thức tâm thức tôi từ hư không trở về. Viên giao châu được thổi vào Hoa Tư dẫn thần bí nhất trong mật la thuật, bí thuật này được đưa vào cơ thể tôi cùng với viên giao châu.
        Nếu có người uống vài giọt máu của tôi, sẽ bị nhiễm hơi khí của giao châu trong cơ thể tôi, dù chỉ một giọt, cũng khiến tôi lập tức nhìn thấy Hoa Tư điệu của họ. Tấu ra khúc nhạc này là có thể dệt mộng cảnh cho người đó. Mộng cảnh này tái hiện một thời đoạn của quá khứ, có thể ra khỏi mộng cảnh hay không, phải xem người đó có thoát khỏi ước vọng trầm luân của mình hay không. Nhưng trên đời rất hiếm người thoát khỏi ước vọng trầm luân của chính mình.
        Quân sư phụ muốn tôi giết chết Trần vương bằng cách đó.
        Về góc độ cá nhân, cho dù nước Trần đã thôn tính nước Vệ, tôi cũng không oán hận Trần vương. Trong thời đại mạng người như cỏ rác, thắng làm vua thua làm giặc, chuyện đó cũng là thường tình. Nhưng tính mạng Trần vương đổi lấy nửa cuộc đời tôi trên nhân thế, tôi cho rằng rất đáng. Tôi muốn đi giết ông ta không phải vì tôi từng là công chúa nước Vệ, mà chỉ vì tôi còn lưu luyến thế gian.
        Quân sư phụ nói: “Chưa vội hành thích Trần vương. Hoa Tư dẫn mới cấy vào cơ thể con chưa lâu, vận dụng chưa thành thục, con cần có thời gian thích nghi”.
        Tôi nghĩ việc này đúng là không nên vội.
        Quân sư phụ nhìn thần sắc, dường như đoán được suy nghĩ của tôi. Lại nói thêm: “Nhưng con cũng không nên quá ung dung, Trần vương bệnh trọng, quy thiên cũng là chuyện hai, ba năm tới. Con vẫn nên chớp thời cơ, nếu ông ta chết trước khi con đến hành thích, thì không hay”.
        Tôi nói: “Vậy thì tốt quá!”.
        Sư phụ nhìn ra dãy núi phía xa, sắc mặt thâm trầm khó đoán: “Như thế không được, vậy báo thù còn có ý nghĩa gì”.
        Thực ra tôi rất muốn thức tỉnh sư phụ, nếu Trần vương bị bệnh tật đau đớn giày vò, rất cần ai đó cho một nhát dao, một liều độc dược kết thúc mọi đau đớn, tôi đi giết ông ta lại hóa ra giúp ông ta, như vậy càng chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng nghĩ lại, giúp người là tốt, cũng là giúp Quân sư phụ tích đức, tôi liền im lặng.
        Nửa tháng sau, Quân sư phụ đưa Quân Vỹ xuống núi, tìm một loại cây thuốc để giúp tôi mau liền các vết thương trên người. Lúc sắp đi, Quân Vỹ an ủi tôi: “Bây giờ muội thành ra thế này chắc chắn là không ai lấy, không sao, không ai lấy thì huynh sẽ lấy. Muội tuyệt đối không nên buồn phiền mà lấy viên giao châu ra khỏi người, phụ lòng sư phụ và huynh”.
        Tôi nói: “Nhưng lấy muội thì họ Quân tuyệt hậu mất”.
        Anh ta lại an ủi: “Sao lại tuyệt hậu? Lấy muội rồi, huynh vẫn phải cưới thêm vài vợ bé nữa chứ. Ha ha ha!”. Kết quả anh ta bị tôi vác gậy đuổi đánh.
        Thấm thoát đã sáu tháng trôi qua, những cành cây khẳng khiu đã nhú mầm non. Tôi đào được một hũ rượu hoa mai dưới gốc cây mơ già trước sân. Quân sư phụ cùng Quân Vỹ trở về, theo sau là Tiểu Hoàng. Trước đó, Tiểu Hoàng ăn nhầm phải con thỏ trắng Quân sư phụ nuôi để dưỡng độc. Con thỏ trắng đó có lẽ là con thỏ độc nhất đại lục này, trong người hội tụ cả trăm loại độc. Ngay Quân sự phụ cũng đành bó tay, đành phải đưa Tiểu Hoàng tới chỗ Thánh dược Bách Lý Việt nhờ giúp đỡ. Mất hơn nửa năm mới giải hết độc trong cơ thể nó.
        Lúc đầu, Tiểu Hoàng nhìn dung nhan kỳ dị của tôi, nó không nhận ra, há mồm nhe nanh rất lâu. Tôi lấy thịt thỏ cho nó ăn nó cũng không vui. Quân Vỹ vuốt ve tai nó, nhẹ nhàng vỗ về: “Đây là mẹ con đấy, con không thể ở với cha mãi mà không nhận ra mẹ, dù sao con cũng là do cô ấy hoài thai mười tháng sinh ra”. Tiểu Hoàng quả nhiên chạy lại dụi đầu vào tôi rất thân thiết.
        Tôi nói: “Huynh mới hoài thai mười tháng sinh ra nó, huynh hoài thai mười tháng sinh ra cả họ nhà nó”.
        Quân Vỹ dứ nắm đấm về phía tôi: “Huynh vẫn còn lòng tốt muốn lấy muội đấy”.
        Tôi nói: “Huynh có thể sinh cho muội một chú hổ nữa để chơi không? Nếu sinh được thì muội sẽ xem xét có nên lấy huynh không”.
        Anh ta ngây ra một lúc, xấu hổ quay sang Tiểu Hoàng: “Con trai, cắn cô ta đi”.
        Dường như biết là đùa, Tiểu Hoàng càng dụi vào tay tôi mạnh hơn.
        Thuốc Quân sư phụ mang về quả nhiên có tác dụng kỳ diệu, nghiền thành bột bôi lên người, một ngày bôi ba lần. Năm ngày sau, vết sẹo trên người đều liền hết. Điều này khiến tôi rất mãn nguyện, tôi liền bôi khắp lên người, cả vết sẹo ở trán. Nhưng vết thương do nứt hộp sọ, cho nên không liền lại được, vẫn nhìn rất rõ. Tôi ngắm mình trong chiếc gương đồng, nghĩ tới tám chữ “Kim ngọc kỳ ngoại, bại tự kỳ trung”. Có nghĩa là, có ai ngờ bên trong diện mạo bừng bừng sức sống đó lại là một cơ thể mục nát, nếu lấy ra viên giao châu, chưa đầy nửa khắc cả cơ thể lập tức biến thành tro bụi. Nghĩ tới cảnh đó, quả thật cũng thấy sợ.
        Sáng sớm ngày thứ sáu, Quân sư phụ tới thăm tôi. Theo sau là Tiểu Hoàng. Hai cây đào trước hiên nhà ra hoa thật đẹp, đầu cành hoa rực rỡ, trên lá vẫn còn đọng sương long lanh như ngọc. Quân sư phụ dắt Tiểu Hoàng ra sân chơi, cho nó bắt bướm rồi quay đầu hỏi tôi: “Nửa năm nay, Hoa Tư dẫn thế nào?”.
        Tôi thực thà trả lời: “Không được thực hành, sao có thể thành thục”.
        Quân sư phụ trầm ngâm một hồi, rồi nói: “A Trăn, con cũng biết viên giao châu này với công lực tự thân của nó chỉ giữ được tính mạng cho con trong ba năm. Công lực của nó được tu luyện do hút giấc mộng đẹp của con người, nếu con muốn sống lâu hơn, chỉ có thể lợi dụng Hoa Tư dẫn dệt ra mộng cảnh hút lấy giấc mộng đẹp của người khác. Con là một đứa trẻ lương thiện, e là không làm được điều đó, nhưng ta phải nghĩ trăm phương nghìn kế để cứu con, quyết không muốn con chỉ sống được thêm ba năm. Ta nói vậy, con có hiểu không?”.
        Sư phụ sợ tôi không hiểu nhưng tôi đã hiểu ngay từ đầu. Tôi không thể chỉ sống ba năm, cũng không thể tùy tiện lạm sát, lấy đi sinh mệnh người khác. Nhưng trên đời có bao nhiêu người hối hận đau khổ vì những người thân đã khuất, vì những lỗi lầm của mình. Hoa Tư dẫn chỉ có thể dệt ảo mộng tái hiện quá khứ, khiến cho con người có thể sửa chữa lỗi lầm đã qua, nếu người đó chìm đắm trong ảo mộng không muốn thoát ra, cam tâm tình nguyện hiến cho tôi tính mệnh nơi trần thế của họ, như vậy đôi bên đều có thể tu nhân tích đức.
        Tôi hỏi: “Sư phụ đã tìm giúp con được mối nào rồi sao?”.
        Quân sư phụ mỉm cười gật đầu: “Đúng, sắp tới, con đi Khương quốc một chuyến”.
        Năm ngày sau, tôi mang theo cây đàn thất huyền, cùng Quân Vỹ và Tiểu Hoàng xuất hiện tại một trấn nhỏ gần biên giới nước Trần. Thực ra, núi Quân Vu cách biên giới hai nước Khương, Trần không xa, đi bộ ba ngày là tới. Lần đó phải kéo dài thêm hai ngày, chủ yếu là do chúng tôi chỉ có một con ngựa. Nếu chỉ thế cũng không có vấn đề gì, nhưng phải liên tục canh chừng Tiểu Hoàng kẻo nó ăn thịt con ngựa, chuyện này quả rất vất vả và mất thời gian. Cuối cùng, chúng tôi quyết định làm thịt con ngựa nướng ăn dần, cùng đi bộ với Tiểu Hoàng. Tất cả được một bữa no nê, hành trình trở nên nhanh hơn rất nhiều.
        Biên giới hai nước Khương, Trần là một mạch núi chạy dài. Vì dân bản địa thường đào được ngọc bích trong núi nên gọi là Bích sơn. Chúng tôi nghĩ, nếu là nguyên nhân đó tại sao không gọi là Ngọc sơn? Hỏi những cư dân trong trấn, mọi người đều đoán là có thể vì chữ “Bích” nhiều nét hơn, nghe có vẻ rất văn hoa.
        Chúng tôi đến đúng vào mùa đông, cả dãy Bích sơn phủ tuyết trắng xóa, ở đây thường xuyên có tuyết lở. Ngoài những thợ săn có kinh nghiệm, hầu như không ai dám vượt núi vào mùa đông. Lúc này, chúng tôi men theo những con đường nhỏ trên núi, vừa đi vừa thưởng thức cảnh đẹp hai bên đường, thực là vui tai vui mắt. Trên núi có những con suối nhỏ chảy róc rách, tôi dùng ống bương đang cúi xuống định múc nước, chợt dừng lại. Quân Vỹ ngồi bên cạnh vục nước suối rửa mặt, lấy tay áo lau xong, nhìn thần sắc của tôi, thấy lạ hỏi: “Sao thế?”.
        Tôi chỉ tay về phía trước, sau bụi tường vi dại: “Kia kìa, huynh nhìn đi, nhìn kỹ đi, xem người ta hoa nguyệt thế nào, tích lấy ít tư liệu mà viết tiểu thuyết”. Quân Vỹ nhíu mày nhìn theo hướng tay tôi.
        Đó là một đôi trai thanh gái tú đang yêu đương nồng nàn. Nam vận áo chùng gấm, nữ diện váy vân mây. Vì khoảng cách khá xa, nên không nhìn rõ mặt, chỉ thấy dáng hình, nam mạnh mẽ như cây trong gió, nữ yểu điệu như liễu dưới trăng. Phía sau họ là một rừng hoa không rõ tên, một con ngựa béo tốt buộc dưới gốc cây cổ thụ bên cạnh. Chúng tôi phải để mắt trông chừng Tiểu Hoàng, hai mắt nó sáng quắc, hau háu nhìn con ngựa, quả nhiên nó đã thèm rỏ dãi, Quân Vỹ chộp gáy nó ấn xuống, nó đành đứng yên. Chàng trai cúi xuống hái một bông tường vi, cài lên tóc cô gái. Cô gái vươn tay ôm lấy chàng, hai người dán vào nhau...
        Quân Vỹ quay đầu, giơ tay che mắt tôi: “Nhìn nhiều mắt sẽ mọc gai”. Mắt vẫn không rời phía trước, tôi vừa hất tay anh ta vừa nói: “Muội cũng phải học hỏi kinh nghiệm chứ”. Anh ta vẫn không nhúc nhích, xem ra chưa chắn được tầm mắt tôi thì quyết không thôi, cuối cùng tôi bực mình, đá anh ta một cái.
        Đúng lúc đó, phía trước đột nhiên có biến, tôi hốt hoảng. Quân Vỹ ngoái lại, trố mắt ngạc nhiên: “Sao nhoáng cái anh chàng đã bị cô nàng đè xuống? Ái chà cô ta cũng quá chủ động, ối, ối, sao thế, sao vừa mới hôn, cô ta đã nhảy lên ngựa chạy mất? Yêu đương kiểu gì thế?”.
        Tôi nói: “Yêu đương cái đầu huynh ấy. Huynh không thấy cô ta đâm anh ta một nhát từ phía sau à. Người ta sợ tội chạy trốn rồi”.
        Quân Vỹ nói: “Sao? Vừa rồi họ còn ôm ôm ấp ấp cơ mà?”.
        Chung quy chỉ là tôi tự tìm rắc rối, tôi và Quân Vỹ khoanh tay đứng nhìn cũng chẳng sao nhưng bóng chàng trai gục xuống như ngọn Bích sơn sụp đổ, đột nhiên khiến tôi nhớ tới một người, Mộ Ngôn. Từ sau khi tỉnh lại, lâu lắm rồi tôi không nghĩ tới chàng, không phải vì tình trong lòng đã phai, mà chỉ là giả sử lúc này gặp lại, không biết sẽ thế nào.
        Trước đây tôi rất đỗi kiên cường, bởi vì tôi là người sống, nhưng giờ đây tôi đã là người chết, không hít thở, không cảm giác, không làm chàng sợ đã khó rồi, nói chi những chuyện khác. Thà không gặp còn hơn.
        Quân Vỹ xem vết thương của anh ta, mặc dù nhát dao đâm khá sâu nhưng không trúng chỗ hiểm. May mà chúng tôi cứu kịp thời mới giữ được tính mệnh anh ta. Tôi ngắm nhìn dung mạo con người đó, lông mày đen rậm, sống mũi rất thẳng, đôi môi mỏng nhợt nhạt, một khuôn mặt đẹp hiếm có. Máu vẫn chảy chẳng mấy chốc đã thấm đẫm đám cỏ bên dưới. Quân Vỹ giúp anh ta cầm máu, cuối cùng quay lại hỏi tôi: “Rốt cuộc, tại sao chúng ta phải cứu anh ta?”.
        Tôi nói: “Huynh xem anh ta đẹp thế kia, chúng ta chữa khỏi cho anh ta rồi bán đi, chẳng phải sẽ kiếm được khoản tiền ư?”. Quân Vỹ bực mình, vẫy tay gọi Tiểu Hoàng: “Con trai, qua đây giúp cha cõng người này”. Tiểu Hoàng ngoẹo đầu. Quân Vỹ lại dỗ dành: “Đến thị trấn, cha sẽ mua gà rán cho mà ăn”. Tiểu Hoàng vui sướng chạy đến.
        Chàng công tử đẹp trai đó nằm hai ngày trong y quán của thị trấn thì tỉnh lại. Ngoài hai tiếng “Tử Yên” gọi trong lúc mê sảng, anh ta không nói gì khác. Tôi đoán Tử Yên là tên một cô gái, chưa biết chừng chính là người đã đâm anh ta nhát dao đó. Nghĩ lại, từ cổ chí kim đều như vậy, anh hùng đều khó qua ải mỹ nhân. Quân Vỹ nói: “Người này sao thế nhỉ, dù gì chúng ta cũng cứu anh ta. Từ lúc tỉnh lại tới giờ, nửa câu cảm ơn cũng không thấy”.
        Tôi nói: “Đẹp trai thế cơ mà, tùy tiện một chút cũng dễ hiểu thôi”.
        Quân Vỹ trợn mắt nhìn tôi: “Đẹp trai thì có thể uống thuốc không trả tiền? Đẹp trai thì có thể mắc nợ ân tình cũng không cám ơn?”.
        Tôi nói: “Ừ”.
        Quân Vỹ ôm ngực, tức tối suýt té xỉu.
        Chúng tôi vẫn nghĩ sẽ nhận được chút gì báo đáp khi cứu anh ta. Nếu nhà anh ta gần đây, chúng tôi sẽ đưa anh ta về rồi mới tiếp tục hành trình. Nhưng sự đời luôn không như ý, ai ngờ, một công tử ăn vận phong lưu như vậy mà trong người lại không có một cắc bạc.
        Tôi bối rối phân trần: “Đưa huynh từ Bích sơn về đây coi như chúng tôi làm việc thiện trên đường, nhưng vết thương của huynh không nhẹ, phải dùng rất nhiều loại thuốc tốt, đều do chúng tôi chi trả. Hành trình của chúng tôi còn dài, lại còn mang theo một con hổ, chi phí rất nhiều, lưng vốn cũng chẳng có bao nhiêu, huynh xem...”.
        Tôi nghĩ, nếu anh ta vẫn không có phản ứng, tôi sẽ cho anh ta một trận.
        Nhưng người đó không cho tôi có cơ hội đánh anh ta.
        Tôi còn chưa nói xong, anh ta đã cướp lời: “Đường xa ư?”. Hàng lông mày rất đẹp hơi nhướn lên, nụ cười thoáng trên miệng.
        Tôi nghĩ, có phải anh ta bị vết thương lòng quá nặng không?
        Anh ta tiếp tục: “Nếu đường xa, lại đèo dốc hiểm trở, ắt nhiều nguy hiểm. Tại hạ bất tài, may mắn từng học vài năm kiếm thuật, cô nương nếu không chê, tại hạ xin được hộ tống bảo vệ cô nương, cũng là để trả ơn cứu mạng”.
        Tôi ngập ngừng: “Nhưng còn tiền thuốc...”.
        Anh ta lập tức rút chiếc nhẫn ngọc lớn trên tay đưa cho tôi: “Đem cầm chiếc nhẫn này cũng được gần một lượng vàng, không những đủ tiền thuốc mà còn đủ tiền lộ phí cho tại hạ đi theo cô nương”.
        Tôi đón chiếc nhẫn ngọc, nhìn anh ta: “Huynh không cần phải bảo vệ tôi, gần một lượng vàng này đã đủ trả ơn cứu mạng rồi”.
        Anh ta cười nhạt: “Mạng của tại hạ không đến nỗi rẻ như vậy”.
        Tôi đắn đo một hồi: “Nhưng ngày mai chúng tôi đã phải lên đường, huynh có đi được không?”.
        Anh ta khẽ cười một tiếng: “Ngày mai ư? Không hề gì”.
        Quân Vỹ không rõ tại sao chàng công tử áo lam đó nhất quyết muốn đi theo chúng tôi. Nghĩ mãi, cảm thấy chỉ có một lý do, chính là anh ta thích tôi. Tôi vốn lòng nở hoa một lúc, nhưng chợt liếc vào gương, thấy dung mạo mình giờ đây đã khác. Trừ phi anh ta là người trọng tình nghĩa hiếm có, nếu không với nửa khuôn mặt bị bọc chặt trong lớp giấy bạc, tôi có gì đáng quý.
        Quân Vỹ nghe tôi nói, trầm ngâm: “Nếu không phải thế thì chẳng có lý do nào khác”.
        Tôi giải thích thêm: “Sự đời đâu phải mọi việc đều có lý, ví như Tiểu Lam, rõ ràng ngời ngời là bậc anh tài, chắc đã khiến không ít ong bướm si mê. Nhưng kết cục, huynh thấy đó, cô gái anh ta thích lại không ngần ngại đâm anh ta một nhát. Nếu không gặp chúng ta, thì đã bỏ xác ở chốn rừng hoang. Lúc chọn bạn đời anh ta không có mắt, khiến bản thân sống dở chết dở, nếu theo đạo lý sao có thể xảy ra chuyện đó”.
        Quân Vỹ nghĩ một lúc, cũng gật gù, lại hỏi tôi: “Tiểu Lam là ai?”.
        Tôi nói: “Chẳng phải là cái người mặc áo lam chúng ta cứu mấy ngày trước đó thôi?”. Nói rồi, tôi quay người, định xuống bếp xem ấm thuốc sắc. Vừa ngẩng đầu, bắt gặp Tiểu Lam trang phục gọn gàng đang nhàn tản tì tay vào khung cửa, mắt lạnh lùng nhìn về phía chúng tôi. Bàn tán chuyện riêng của người khác sau lưng họ, quả là khiếm nhã, bị người ta bắt quả tang, tôi rất bối rối, một lúc sau mới cười gượng một tiếng. Anh ta cũng cười, nhưng ánh mắt nghiêm lạnh, trở gót đi vào trong.
        Quân Vỹ đi đến nói: “Huynh không tin là anh ta thích muội”.
        Tôi quay đầu lại hỏi Quân Vỹ: “Huynh xem, liệu có khả năng anh ta thích huynh không?”.
        Vừa lúc Tiểu Hoàng đi qua trước phòng, Quân Vỹ nghiến răng, chỉ vào tôi nói: “Tiểu Hoàng, cắn cô ta đi”.
        Mười ngày sau, chúng tôi đã đến Nhạc thành, kinh đô Khương quốc.
        Tiểu Lam nói, đường đi núi non hiểm trở, ắt nhiều hiểm nguy. Tôi ngẫm nghĩ, thấy anh ta có vẻ nhiều kinh nghiệm hơn chúng tôi, hoàn toàn tin lời anh ta, luôn sẵn sàng đón đợi hiểm nguy. Nhưng đi suốt mười ngày đều bình an, không gặp một tên sơn tặc, thổ phỉ nào hết. Quân Vỹ hỏi tôi: “Muội nói xem khi nào chúng ta sẽ gặp thổ phỉ?”. Tôi trả lời: “Không biết, cứ đợi xem”. Nhưng đợi mãi, vẫn chẳng thấy tên cướp nào xông ra, khiến chúng tôi rất bực.
        Đêm trước khi vào Nhạc thành, đoàn chúng tôi lại thêm một cô gái, nói là hầu nữ kiêm thị vệ của Tiểu Lam, tên là Chấp Túc. Chúng tôi gặp cô ta khi đang mua bánh nướng bên đường. Trong ánh chiều tà đỏ rực, cô ta cưỡi một con tuấn mã trắng phi tới.
        Quân Vỹ kéo tôi tránh sang bên đường, cô ta nhảy xuống ngựa, tay áo trắng phất qua mặt tôi. Tôi và Quân Vỹ còn chưa hiểu có chuyện gì, cô ta đã quỳ sụp trước mặt Tiểu Lam. Mắt đỏ hoe nhìn anh ta nghẹn ngào: “Công tử, cuối cùng Chấp Túc đã tìm thấy công tử”.
        Chấp Túc có khuôn mặt vô cùng thanh tú, giữa trán có một nốt ruồi son. Việc cô ta khăng khăng đòi đi theo chúng tôi, thái độ của Tiểu Lam không rõ ràng. Quân Vỹ gật đầu, tỏ ra phấn khởi. Chắc vì Chấp Túc quả là một cô gái xinh đẹp, khiến anh ta động lòng trắc ẩn. Nhưng trong khi động lòng bởi Chấp Túc, Quân Vỹ lại rất không hài lòng với Tiểu Lam, anh ta ghé tai tôi nói: “Anh chàng này đến là phong lưu, ngay hộ vệ cũng là nữ”. Nhưng tôi nghĩ, không thể nói như vậy, khi chúng tôi rời khỏi núi Quân Vu, Quân sư phụ đã dặn Quân Vỹ phải chăm sóc cho tôi, cũng có thể coi là hộ vệ của tôi, theo lý lẽ đó, chẳng phải tôi cũng rất phong lưu?
        Buổi tối hôm đó, chúng tôi trọ ở một quán nhỏ. Nửa đêm, Tiểu Hoàng cắn tay áo đánh thức tôi, nhờ ánh trăng tôi nhìn kỹ nó, dường như nó muốn tôi đi với nó. Chúng tôi đi xuyên qua hành lang dài, một chú hổ và một người đã chết, bước chân nhẹ như bay. Vừa lúc sắp bước vào hậu viên, bất chợt nghe thấy tiếng Chấp Túc: “Cô gái đó chẳng có gì đặc biệt, tại sao công tử không chịu cùng Chấp Túc về phủ? Công tử có biết, khi công tử đi vắng, nhị công tử đã làm bao nhiêu việc rồi không? Chấp Túc biết, Tử Yên cô nương đã làm công tử bị tổn thương sâu sắc, nhưng công tử, mong công tử lấy đại sự làm trọng”.
        Tôi nghĩ, chuyện riêng của họ tôi có nên nghe lén? Cuối cùng đạo đức đã chiến thắng tính hiếu kỳ, tôi quyết định không nghe tiếp nữa. Nhưng tôi chưa kịp bỏ đi, Tiểu Lam đã nói, tiếng rất nhỏ, theo gió truyền đến tai tôi, giọng nghe rất quen, “Các ngươi...”, ngừng một lát “... tìm được Tử Yên rồi?”.
        Tôi kéo Tiểu Hoàng lùi về phía cánh cửa hình bán nguyệt, nghe thấy giọng Chấp Túc: “Công tử đối với Tử Yên cô nương tình sâu nghĩa nặng, nhưng cô ta là gian tế của nước Triệu, cô ta rắp tâm hành thích công tử, cô ta...”.
        Tiếng nói dần biến mất sau lưng tôi và Tiểu Hoàng.
        Dưới mái hiên, tôi sực nhớ cảm giác quen thuộc vừa rồi, ngẩn ngơ nhớ lại cái hang núi ba năm trước, Mộ Ngôn ngồi đối diện với tôi, những ngón tay trắng như ngọc gẩy cây cổ cầm, dây bằng tơ tằm, nụ cười trên môi. Đã ba năm, tôi thực sự không thể nhớ tiếng nói của chàng, chỉ có âm thanh từ cây cổ cầm đó thỉnh thoảng lại vẳng bên tai, trầm bổng du dương, là khúc ca ngân mãi trong tôi.
        Ánh trăng trong sáng vằng vặc, tôi đưa tay bịt mắt mình, như chàng đã từng làm vậy. Nhưng đôi mắt đó bây giờ đã chết.
        Chuyện này thực không biết làm sao.
        #4
          manhbv 07.01.2013 18:42:19 (permalink)
          Chương 3

          Ba ngày sau, tôi gặp vị khách Quân sư phụ đã thu xếp cho tôi, Thẩm Tống Thị Tống Ngưng, phu nhân của Khương quốc tướng quân Thẩm Ngạn đồn trấn biên ải. Nói là “khách” cũng chưa thỏa đáng, bởi vì rút cục không biết cô mua một giấc mộng đẹp từ tôi, hay tôi mua một sinh mệnh từ cô.
          Đó là một biệt viện ở ngoại thành, nghe đồn Thẩm Ngạn tướng quân bất hòa với phu nhân, hai năm trước, Tống Ngưng đã chuyển tới tĩnh dưỡng ở biệt viện này, sau không quay về phủ tướng quân nữa. Trong hai năm, đã xảy ra khá nhiều biến cố như, Thẩm Ngạn nạp thiếp, Tống Ngưng bị bệnh. Tóm lại, sức khỏe của Tống Ngưng càng tĩnh dưỡng lại càng suy yếu, bây giờ gần như sắp chết.
          Lão bộc ra đón chúng tôi cho biết, phu nhân muốn gặp riêng tôi, ba người Tiểu Lam, Quân Vỹ và Chấp Túc được đưa về nghỉ ở nhà ngang. Tiểu Lam không ý kiến gì, Quân Vỹ rất không hài lòng, tôi hiểu, anh ta lo cho sự an toàn của tôi. Nhưng tôi không hiểu, với tình trạng một người đã chết như tôi, như thế nào là bảo đảm an toàn. Mọi người thảo luận rất lâu, quyết định để Tiểu Hoàng đi cùng tôi. Quân Vỹ xoa đầu Tiểu Hoàng, căn dặn: “Con trai, cố gắng bảo vệ mẹ nuôi thật tốt”.
          Tôi cũng xoa đầu Tiểu Hoàng, vừa ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt của Tiểu Lam, không biết anh ta có ý gì, lại nhìn tôi cười: “Quân cô nương đi sớm về sớm”.
          Lão bộc dẫn tôi qua hai dãy hành lang, qua những khu vườn hoa lá tốt tươi, vừa đi vừa giới thiệu, những loài cây, giống hoa này được chuyển từ đâu tới, có mùi kỳ hương thế nào nhưng tôi chẳng ngửi thấy gì. Vòng qua một hồ sen rộng, bước lên ngôi thủy tạ trên hồ sen đó, bốn bề có rèm chắn gió. Người phụ nữ nằm trên chiếc giường mây đọc sách ngẩng đầu nhìn tôi.
          Tôi nhìn khuôn mặt của cô như được in ra từ bức họa. Mặc dù gắng tỏ ra vui vẻ nhưng vẫn trắng bợt, ủ rũ. Cho dù tôi không lấy đi tính mạng của cô, thì cô cũng chẳng sống được bao lâu. Điều này không có nghĩa là tôi biết xem tướng mà chỉ là vì trong chuyện này không ai có kinh nghiệm bằng tôi, đó là khuôn mặt của một người sắp chết.
          Huống hồ, tôi đến đây là để lấy tính mạng của cô. Trong một thời gian ngắn, nếu cô không chết tự nhiên, tôi cũng phải làm cho cô chết bất ngờ.
          Gió lay nhẹ bức rèm, bây giờ đã là tháng năm. Thẩm phu nhân đặt cuốn sách xuống, ho nhẹ, lặng lẽ nhìn Tiểu Hoàng đang nằm phục trên đất, một hồi lâu, nhẹ nhàng nói: “Một chú hổ thật hiền, lúc chưa xuất giá, ở quê nhà ta cũng nuôi một con sói nhỏ”. Cô giơ tay, “To bằng ngần này”. Ngón tay cô như bông hoa lan phác ra một hình trên không, dừng lại, khẽ lắc đầu mỉm cười, rồi nhìn tôi, ánh mắt kỳ dị: “Cô nương chính là Quân Phất? Người mà Quân sư phụ nói có thể giúp tôi thực hiện tâm nguyện bấy lâu?”.
          Tôi trả lời: “Dạ phải”. Lúc trả lời như vậy, thực sự tôi chưa nhớ ra Quân Phất là ai. Điều đó chứng tỏ tôi không phải là người có mới nới cũ. Tôi đã là Diệp Trăn được mười bảy năm, tràn đầy tình cảm với cái tên đó, mặc dù đổi tên đã lâu, cũng không thể dễ dàng quên được.
          Cô đặt tay lên mép giường mây, khe khẽ gật đầu, sắc mặt trắng xanh trầm lại dần dần ửng hồng, nhìn rõ lúm đồng tiền rất sâu trên má. Một lúc lâu sau, cô cười: “Quân Phất, tôi muốn có một giấc mơ, cô có biết tôi muốn có giấc mơ thế nào không?”. Tôi ngồi trên lưng Tiểu Hoàng, trang nghiêm nhìn cô: “Tôi không biết, nhưng phu nhân cần nói cho tôi biết”. Nghĩ một lát lại thêm: “Tuy vậy, không phải tôi tới giúp phu nhân, chỉ là đến làm một cuộc trao đổi. Tôi không cần núi vàng núi bạc, mấy ngày lưu ở Nhạc thành này chỉ xin phu nhân bữa cơm. Tôi có thể cho phu nhân một giấc mơ đẹp, phu nhân muốn một giấc mơ thế nào, tôi sẽ cho phu nhân giấc mơ như thế. Phu nhân có thể tự lựa chọn, ở lại trong giấc mơ đó, hay thoát ra ngoài”.
          Cô tỏ ra rất ngạc nhiên: “Sao?”.
          Tôi gật đầu: “Nếu phu nhân lựa chọn thoát ra khỏi giấc mơ, tôi không cần một xu tiền công, nhưng nếu phu nhân lựa chọn ở lại trong mơ...”.
          Cô hơi nheo mắt: “Nếu tôi chọn ở lại trong mơ, Quân cô nương, cô sẽ thế nào?”.
          Tôi nhìn vào mắt cô: “Nếu phu nhân lựa chọn ở lại trong giấc mơ, hãy trả thù lao cho tôi bằng tính mệnh của phu nhân trên trần thế, phu nhân thấy thế nào?”.
          Hàng lông mày thanh tú khẽ nhướn, rồi ngoảnh nhìn bầu trời bên ngoài thủy đình, trầm ngâm hồi lâu, cô đột nhiên mỉm cười: “Được”.
          Ngày hôm đó, tôi không đi sớm về sớm như lời dặn của Tiểu Lam, ngồi trong thủy đình rất lâu. Bởi vì Tống Ngưng kể chuyện cho tôi nghe, đó là tâm nguyện của cô. Cô muốn sửa lại câu chuyện đó, dẫu chỉ trong mơ. Đương nhiên chỉ là tự dối mình. Nhưng cô không hiểu điều đó, nên mới khao khát một giấc mơ như vậy.
          Rèm ở bốn phía được kéo lên, phía xa là mặt hồ đầy nắng. Cô uống vài giọt máu của tôi pha với nước trà, huyết dịch kích thích sinh khí trong người tụ lại, hóa thành những nốt nhạc nhảy múa, xếp hàng trước mặt tôi. Tôi ghi nhớ từng nốt một, đó là Hoa Tư điệu của Tống Ngưng.
          Trong ánh sáng từ mặt hồ hắt lên, cô dần dần nhớ lại. Còn tôi đã nhập tâm Hoa Tư điệu đang nhảy múa trước mặt, nhìn thấy từng cảnh, từng cảnh quá khứ của cô. Cô chậm rãi: “Quân cô nương chắc từng nghe nói, tuy tôi là phu nhân Khương quốc tướng quân, nhưng lại không phải là người nước Khương. Bảy năm trước, tôi mười bảy, cũng bằng cô bây giờ, được gả tới nước Khương, lòng tràn trề tình yêu mãn nguyện, thực là những ngày đẹp như hoa...”.
          Trong những ngày đẹp như hoa đó, Tống Ngưng, em gái Tống Diễn đại tướng quân nước Lê tình cờ gặp Thẩm Ngạn trên chiến trường cuộc chiến giữa hai nước Khương, Lê. Lúc đó, Thẩm Ngạn tướng quân là viên tướng trẻ nhất nước Khương, có cặp mày uy nghiêm, tài năng trác việt, uy danh lẫy lừng bách chiến bách thắng.
          Tống Ngưng xuất thân trong một gia đình võ tướng danh giá, từ nhỏ đã được dạy dỗ nghiêm khắc như một cậu con trai, lúc còn bé tí đã ngơ ngẩn ngắm nhìn thanh kiếm chuôi có dải lụa hồng, mười bốn tuổi đã theo huynh trưởng chinh chiến bốn phương.
          Tuổi mười sáu, mười bảy, là lúc các khuê nữ bận rộn chuẩn bị đồ thêu cho ngày xuất giá, còn Tống Ngưng với cây kiếm mang dải lụa hồng lại lập công xuất sắc ngoài trận mạc. Nước Lê từ cổ nhiều nam ít nữ, các cô gái vô cùng đắt giá. Mùa xuân năm Lê Trang Công thứ mười bảy, những gia đình danh giá phàm có con gái đến tuổi cập kê, đều bị các đám dạm hỏi giẫm mòn bậu cửa. Nhưng phủ đệ đại tướng quân danh giá như vậy lại vắng vẻ đìu hiu, không vị công tử quý tộc nào dám lấy Tống Ngưng.
          Mọi người đều sợ, cưới cô vợ như Tống Ngưng, nếu nạp thiếp, với dòng máu con nhà võ sẽ bị cô đánh chết. Lê Trang Công có thiện ý đích thân đứng ra làm mối gả Tống Ngưng cho nhị công tử ở phủ thừa tướng. Nhị công tử vừa nghe chuyện sợ đến nỗi ngã từ lưng ngựa xuống.
          Tống Ngưng đang ở chiến trường nghe tin đó, đứng trầm ngâm rất lâu bên bờ suối. Tống Diễn tìm thấy cô, cau mày, nói: “Muội đừng lo, đó chỉ là những kẻ nhát gan, huynh sẽ có cách để hắn nhất định phải lấy muội”.
          Tống Ngưng mỉm cười: “Huynh đừng giận, bọn chúng là những gã công tử ham chơi trói gà không chặt, chúng không thích muội, huynh tưởng muội thích chúng sao? Tống Ngưng nếu lấy chồng, cũng phải lấy anh hùng hào kiệt”.
          Vốn tưởng nói vậy để chứng tỏ Tống Ngưng không bận tâm chuyện bị nhị công tử ruồng bỏ. Nhưng sau đó không lâu, quả nhiên gặp được vị anh hùng của đời mình. Chính vào mùa đông năm đó, vị anh hùng cưỡi con hắc mã, tay cầm thanh kiếm nặng bốn chục cân, họ Thẩm tên Ngạn, tự Bạc Đan.
          Mùa đông năm Lê Trang Công thứ mười bảy, tiết trời giá lạnh khác thường, tuyết phủ trắng khắp nơi, ở biên giới hai nước Lê, Khương bỗng xuất hiện một đàn ngựa hoang, hai nước đều muốn nhận là của mình, không bên nào nhường bên nào, dẫn tới xích mích, hận thù, cuối cùng gây nên đại chiến. Tống Ngưng từ lâu đã nghe nói chiến công hiển hách của Thẩm Ngạn, nhưng thâm tâm không phục, luôn muốn tìm cơ hội so tài với chàng.
          Cuối cùng vào một ngày, tuyết rơi dày đặc, hai nước giao tranh trước ải Ngọc Lang. Thời cơ hiếm hoi đã đến, Tống Ngưng, một người vốn điềm đạm cẩn trọng, lại bất chấp ánh mắt cảnh báo của đại huynh, quất ngựa xông lên, hét tên mình và gọi: “Tử Vi thương Tống Ngưng đến lĩnh giáo cao chiêu của Thẩm Ngạn Thẩm tướng quân”. Gió lạnh ù ù truyền tiếng nói như vỡ họng của Tống Ngưng tới trận địa quân Trần. Lá cờ bay phần phật, một vị tướng trẻ mình vận bạch bào cưỡi ngựa khoan thai đi tới. Khuôn mặt anh tuấn lạnh lùng, thanh kiếm lạnh như nước trong tay lóe sáng.
          Trong trận thách đấu đơn phương đó, kiếm pháp của Tống Ngưng chưa bao giờ vụng về đến vậy, chưa đầy năm chiêu, cô đã bị ngã ngựa, suốt ngần ấy năm chinh chiến chưa bao giờ thất bại nhanh như vậy, thảm hại như vậy. Nhưng đối phương vẫn không đổi sắc mặt, chỉ khi dùng mũi kiếm hất mũ giáp trên đầu cô, mới ngạc nhiên thốt lên: “Thì ra là một tiểu thư”.
          Tống Ngưng yêu Thẩm Ngạn vì chàng đánh bại cô. Đó cũng là nguyên nhân tục đấu võ kén chồng rất thịnh hành sau đó, các cô gái mạnh mẽ ngày càng nhiều, các cô gái mạnh mẽ khi lựa chọn lang quân đều mang một trái tim của Độc Cô Cầu Bại(*).
          Muốn có được cô, trước hết phải đánh bại cô. Chỉ cần đánh bại cô, tất sẽ có được cô. Nếu đánh bại cô, lại không muốn có cô, sẽ bắt đầu một cuộc tình bi thảm.
          Tóm lại, cây thương buộc dải lụa hồng bị thanh trường kiếm trong tay Thẩm Ngạn đánh bật ra cách đó hai trượng. Chàng ngồi trên lưng ngựa, hơi cúi xuống, mũi kiếm chớp mắt đã hất lên cây thương dài trên đất, tung lên rồi cắm phập bên cạnh Tống Ngưng, giọng dửng dưng: “Cây thương của tiểu thư”. Gió lạnh mang theo tuyết lồng lộn tung hoành, trong mắt chàng là ba vạn hùng binh phía sau cô, môi cô ẩn nụ cười, trong mắt cô có chỉ hình bóng chàng.
          Thẩm Ngạn sừng sững uy nghiêm như trái núi trong lòng Tống Ngưng. Con chiến mã đen tuyền, bộ chiến bào lóng lánh như ánh trăng bạc, đường kiếm mau lẹ, chuẩn xác, quyết không chịu đớn hèn trong vòng tay đàn bà. Cô nghĩ, đó mới là vị anh hùng của lòng mình, đáng tiếc, đó lại là vị anh hùng của phía địch quân.
          Nhưng anh hùng cũng có lúc thất bại, hơn nữa rồi sẽ thất bại. Các bậc hào kiệt trong lịch sử xứng danh hai chữ “danh tướng” đều như vậy, không phải đã thất bại, thì cũng sắp thất bại.
          Thế là, Thẩm Ngạn gặp Tống Ngưng, từ đó chàng dần dần thất bại... Thực ra, thì cũng không nói như thế được, nói như vậy không đúng, nói như thế có vẻ Tống Ngưng quá ưu thế. Thẩm Ngạn bị thua trong trận chiến trên cánh đồng hoang Thương Lộc quả thật không liên quan đến cô, các nhà quân sự phân tích rất lâu, tìm ra lý do đáng tin cậy nhất có lẽ là sao chiếu mệnh của Thẩm Ngạn chỉ ra ngày hôm đó chàng không nên xuất hành.
          Trong trận chiến trên cánh đồng hoang Thương Lộc, Thẩm Ngạn bị thua dưới tay đại tướng quân Lê quốc Tống Diễn, năm vạn tinh binh đi theo bị tiêu diệt, bản thân chàng cũng trúng mấy mũi tên, suýt mất mạng. Lúc trời vừa rạng, con chim ưng của Tống Diễn bay qua sa mạc, nghiêng cánh chao liệng, rồi đậu xuống tay Tống Ngưng. Tống Ngưng lấy ra ống tre nhỏ buộc ở chân chim, trong đựng mảnh thư lụa báo tin chiến thắng, tay run run, mảnh thư lụa nhỏ bằng bàn tay rơi xuống, con chữ nhập nhòa nghiêng ngả. Tống Ngưng không thể tin Thẩm Ngạn đã chết, bởi thâm tâm cô đã coi Thẩm Ngạn là vị anh hùng bất khả chiến bại. Chưa đầy ba ngày, vị anh hùng đã bại trận, cô không thể chấp nhận điều đó.
          Tống Ngưng mang theo thuốc, phi ngựa ra khỏi quân doanh. Cô nghĩ, nếu Thẩm Ngạn chưa chết, bất luận thế nào cô cũng cứu sống chàng. Còn nếu Thẩm Ngạn đã chết, cô phải tìm được thi thể, tự tay chôn cất chàng. Thẩm Ngạn không thể trở thành bộ xương vô chủ.
          Thẩm Ngạn là người đầu tiên khiến cô rung động, chàng là người đàn ông đích thực, khác hẳn những gã công tử nhà giàu tầm thường ở nước Lê. Kỳ thực làm sao cô biết chàng có phải là người đàn ông đích thực hay không. Cô cũng chưa từng thử, tất cả đều là tưởng tượng, và trong tưởng tượng cô lại càng yêu chàng.
          Một ngày trời âm u, gió sa mạc sắc như dao, gió xoáy mang theo đá vụn quất vào mình ngựa, làm nó đau đớn hí vang, Tống Ngưng cúi rạp mình trên lưng ngựa, giữa sa mạc bao la, cô dùng dải sa trắng quấn ngang che mắt, cố bảo vệ số thuốc quấn trong người, nghiến răng phi ngược chiều gió, tay và mặt bị gió cát quất bỏng rát. Cô liếm vết thương trên tay, tiếp tục phi ngựa trong gió.
          Cô thầm nghĩ, Thẩm Ngạn đang đợi cô ở phía trước. Niềm tin này giúp cô vượt qua quãng đường rất dài trong thời gian ngắn nhất, trên đường còn phải tránh đại quân của đại huynh thắng trận trở về quân doanh. Chung quy có lẽ chỉ mình cô nghĩ như vậy, thực ra, Thẩm Ngạn sao có thể đợi cô? Thậm chí chàng chưa hẳn còn nhớ cô.
          Cánh đồng hoang Thương Lộc đã ở phía trước, những vũng máu bị gió cát phủ lấp quá nửa, giống như chiến trường bị bỏ quên lâu ngày, chỉ có mùi máu tanh vẫn nồng nặc trong không khí nhắc người ta cảnh địa ngục Tu La vừa mới diễn ra. Xác binh sĩ Khương quốc đen ngòm phủ kín cánh đồng Thương Lộc, vừa xuống ngựa đi vài bước, đã vấp phải xác người. Tống Ngưng tay không lật hơn hai ngàn xác chết. Điều đó có vẻ như cô và Thẩm Ngạn không có duyên với nhau. Nếu có duyên, thì xác đầu tiên lật thấy sẽ là Thẩm Ngạn. Nhưng cô vẫn kiên trì quyết không bỏ cuộc. Có lẽ quyết tâm của cô cuối cùng đã động đến trời xanh, khi lật đến xác thứ hai ngàn bảy trăm hai mươi tám, lau hết máu trên mặt một người, nhìn thấy đôi mắt vị anh hùng, cô ôm chặt chàng nghẹn ngào: “Thẩm Ngạn”.
          Tống Ngưng đã không đoán nhầm, những bậc anh hùng thường cao số, Thẩm Ngạn vẫn còn sống. Cô ôm xác chàng nghe thấy tiếng rên vô thức của chàng khi bị chạm vào vết thương, lòng như trút được gánh nặng ngàn cân, nước mắt trào ra, chảy dài trên má: “Em biết mà, em phải đến”. Lúc này, chỉ có hai người giữa ngổn ngang xác chết, Thẩm Ngạn hoàn toàn không biết gì. Mặc dù giữa cảnh địa ngục, Tống Ngưng cũng nở nụ cười, cô ôm mặt khóc, nước mắt đầm đìa.
          Tống Ngưng đã cứu sống Thẩm Ngạn. Thuở nhỏ, trong phủ cô đã từng học y, chỉ tiếc cô không có năng khiếu về mặt này, khi thành nghề cũng chỉ chữa được bệnh thương hàn nhẹ. Vết thương của Thẩm Ngạn lại rất nghiêm trọng, có lẽ ngay cả thần y Bách Lý Việt cũng chưa chắc chữa được. Trong tình hình thuốc thang thiếu thốn như vậy, Tống Ngưng lại không làm Thẩm Ngạn chết, ngược lại khiến chàng khá dần lên, chỉ có thể nói, tấm lòng cô một lần nữa thấu tận trời xanh.
          Nhưng đôi mắt Thẩm Ngạn bị gió cát làm tổn thương, tạm thời chưa thể hồi phục. Chàng ngồi trong hang núi tuyết gần cánh đồng hoang Thương Lộc nhẹ nhàng vuốt thanh kiếm, lạnh lùng nói với Tống Ngưng: “Xin hỏi, ân nhân cứu mạng là một cô nương hay một vị công tử?”.
          Nhưng cuối cùng Tống Ngưng không cho Thẩm Ngạn biết cô là ai. Đại quân nước Lê dẹp bằng cánh đồng Thương Lộc, tiêu diệt năm vạn tinh binh của Thẩm Ngạn, chắc chắn chàng căm hận người Lê đến tận xương tủy, cho nên sao cô có thể cho chàng biết mình là Tống Ngưng của nước Lê?
          Nhưng ý trời khó đoán, đêm hôm đó, vết thương của Thẩm Ngạn phát tác, chàng sốt rất cao, rét run cầm cập, trong hang đốt bao nhiêu lửa cũng không đủ. Tống Ngưng lo lắng bồn chồn, trầm ngâm rất lâu, cuối cùng đành dùng một cách được ghi trong sách cổ, cô cởi bỏ xiêm y, ép người sát vào chàng, ôm chàng thật chặt.
          Trong động bốn bề là lửa, nóng rừng rực, làm tan cả lớp băng trên vách động, nước theo kẽ nứt tí tách nhỏ giọt. Thẩm Ngạn bỗng bừng tỉnh, đẩy mạnh cô ra, cô lại ôm chàng chặt hơn, chàng bất lực nói: “Cô nương, không cần hủy hoại sự trong trắng vì tại hạ”.
          Cô cười thầm, tay viết lên ngực chàng: “Lương tâm thầy thuốc mà, chớ bận lòng”. Kỳ thực, không phải lương tâm nào hết, chỉ là bởi vì đó là người cô yêu, là vị anh hùng của cô, dùng cách gì cứu được chàng cũng rất đáng, dẫu phải đổi mạng cũng cam lòng, huống hồ chỉ là sự đụng chạm da thịt. Thẩm Ngạn không cự tuyệt nữa, nhẹ nhàng đặt tay lên vai cô: “Nếu cô nương không chê, khi tại hạ khỏi bệnh, xin đến quý gia cầu hôn cô nương”. Tống Ngưng run rẩy, gục đầu vào ngực chàng.
          Từ sau đêm đó, tình trạng của Thẩm Ngạn vẫn rất nguy kịch, đêm ngày mê man. Chỗ thuốc đem theo cuối cùng cũng hết, không còn cách nào khác, cô định cõng Thẩm Ngạn vượt qua núi tuyết vào trong trấn tìm lang y. Việc này thực sự vô cùng nguy hiểm, đầu tiên phải nghĩ tới tình hình thời tiết giá lạnh trên núi, họ có thể bị chết cóng trên đường đi, tiếp nữa, có thể gặp tuyết lở, có thể bị tuyết vùi, cuối cùng là có thể bị chết đói do lạc đường trên núi. Tóm lại, thực sự rất gian nan. Nhưng Tống Ngưng nghĩ đi nghĩ lại, cô quyết định cứ đi. Mặc dù ra khỏi hang núi đồng nghĩa với tự tìm cái chết, nhưng ở mãi trong hang cũng là tự tìm cái chết, mạo hiểm để may ra còn tia hy vọng sống. Nhưng cô chưa từng nghĩ đến chuyện để lại Thẩm Ngạn, một mình trở về quân doanh.
          Ba ngày liên tiếp không nghỉ, cô cõng Thẩm Ngạn vượt qua núi tuyết. Khi đến được một y quán trong thị trấn, cũng là lúc sức cùng lực kiệt, chân tay trầy xước rớm máu, đặt Thẩm Ngạn xuống rất lâu nhưng Tống Ngưng vẫn không thể nào đứng thẳng lên được.
          Thẩm Ngạn vẫn mê man.
          Gần mười ngày cô không trở về quân doanh, Tống Diễn vô cùng lo lắng, phái thuộc hạ đi tìm khắp nơi. Cô vừa tới thị trấn, liền nhìn thấy thuộc hạ của đại huynh, biết là không thể ở lại lâu hơn, liền đập miếng ngọc bội của mình thành hai mảnh. Một nửa dùng sợi tơ đỏ xuyên qua đeo lên cổ Thẩm Ngạn, một nửa mình giữ, coi đó là tín vật về sau. Cô gửi gắm Thẩm Ngạn cho hai ông cháu vị đại phu ở y quán, để lại năm lượng vàng, dặn dò: “Đây là Khương quốc tướng quân của các vị, hãy chữa khỏi cho chàng, nhất định sẽ được hậu thưởng xứng đáng”. Vị đại phu có tuổi quỳ sụp trước mặt cô, đứa cháu gái bị câm đứng bên đỡ lấy ông, giơ tay ra hiệu điều gì mà Tống Ngưng không hiểu.
          Bàn tay cô vuốt nhẹ mắt Thẩm Ngạn, khuôn mặt chàng trắng bệch, vẫn hôn mê sâu, chàng không hay biết cô sắp phải rời đi.
          Tống phu nhân kể cho tôi nghe câu chuyện đó, còn những chuyện không có trong ký ức của cô tôi lại nhìn thấy.
          Ngày thứ ba sau khi Tống Ngưng rời đi, Thẩm Ngạn tỉnh lại trong một đêm mưa, đôi mắt chàng được rửa và tra thuốc, đã sáng trở lại. Đứa cháu gái bị câm của vị đại phu ngồi cạnh giường chàng. Chàng chăm chú nhìn cô, mỉm cười: “Thì ra trông cô như thế này, những ngày qua chắc lo cho tôi lắm? Bây giờ chúng ta đang ở đâu?”.
          Khuôn mặt thanh tú của cô gái chợt ửng đỏ, cắn môi, không dám nhìn chàng.
          Chàng nhìn quanh hỏi: “Đây là y quán ư? Cô ngồi lại gần đây”.
          Cô gái câm nhích lại gần chàng. Chàng cau mày: “Cô không nói được ư?”.
          Cô gái bẽn lẽn gật đầu. Chàng nắm lấy tay cô: “Chả trách trước giờ tôi chưa nghe thấy cô nói, thì ra cô không nói được”.
          Cô gái khẽ ngước nhìn chàng, lại bối rối cúi đầu, tay vẫn để yên trong tay chàng.
          Năm Lê Trang Công thứ mười tám, nước Khương thua trận, dâng hai thành ấp biên ải cầu hòa. Lê, Khương kết đồng minh. Đồng minh mới kết chưa lâu, Lê Trang Công nhận Tống Ngưng em gái Khương quốc đại tướng quân làm nghĩa muội, phong là Kính Võ công chúa, phái sứ giả tới nước Khương yết kiến Khương vương, ngỏ ý muốn tác thành hôn sự cho Tống Ngưng và Thẩm Ngạn để thắt chặt mối bang giao hữu hảo giữa hai nước.
          Trước đây Tống Ngưng không để Thẩm Ngạn biết cô là ai, do mối quốc thù, cô sợ Thẩm Ngạn thà chết cũng không nhận ân nghĩa của người nước Lê, không chịu để cô cứu sống. Thực ra, chỉ là cô cả nghĩ, anh hùng không cần biết xuất xứ, nghĩa là khi nhận ơn huệ, anh hùng thường không hỏi xuất xứ của ân nhân.
          Nhưng bây giờ cô sắp được gả sang nước Khương, gả cho người anh hùng của lòng mình. Cô còn nhớ, Thẩm Ngạn nói sẽ cầu hôn cô, không cần biết chàng có yêu cô không, cô muốn chàng thực hiện lời hứa. Đó chính là lý do đàn ông không thích hứa hẹn với phụ nữ. Bởi trí nhớ của phụ nữ quá tốt, hơn nữa họ luôn có cách buộc người hứa giữ lời. Tống Ngưng viết một bức thư dài, lại đính kèm nửa miếng ngọc bội ngày trước, đưa cho sứ giả nhờ chuyển riêng đến tay Thẩm Ngạn.
          Mãi đến khi đoàn đưa dâu sắp khởi hành, Tống Ngưng vẫn không nhận được thư hồi âm của Thẩm Ngạn. Nhưng chuyện đó cũng không có gì quá thất lễ, cùng lắm chỉ là một lỗi nhỏ trong bản hòa ca mà thôi. Cuối cùng Thẩm Ngạn cũng đồng ý hôn sự Lê Trang Công đưa ra. Tống Ngưng thầm đoán, cảm thấy, thứ nhất, chính miệng Thẩm Ngạn nói sẽ lấy cô. Thứ hai, chàng cũng đồng ý lấy cô theo đề nghị của Khương vương, dù chủ động hay bị động, chàng đều bằng lòng, việc này hầu như đã hoàn toàn viên mãn, không thể sai sót.
          Không ngờ cuối cùng lại xảy ra sai sót, âu cũng là ý trời. Đó là sự huyền bí, nhưng nếu không huyền bí sao có thể chứng tỏ sự vô tình của số mệnh, giống như với Tống Ngưng, giống như với tôi.
          Đêm động phòng, vầng trăng tròn vành vạnh treo trên đầu ngọn cây, những áng mây lơ lửng trên trời, trong phòng ánh nến hỉ chập chùng in bóng hoa. Bao tình cảm ấp ủ trong lòng, Tống Ngưng hồi hộp chờ đợi Thẩm Ngạn lật khăn trùm đầu của cô, cô sẽ dành cho chàng nụ cười tươi thắm nhất. Cô rất xinh đẹp, các công tử quyền quý ở kinh đô nước Lê, mặc dù tất cả không muốn cưới cô làm vợ, nhưng tất thẩy đều công nhận nhan sắc mỹ lệ của cô, điều đó thật ra không dễ, nhưng ở một khía cạnh khác có thể thấy trình độ thẩm mỹ của họ rất cao, lại khá thống nhất với nhau. Vì đã là một trang tuyệt sắc, mà trang tuyệt sắc đó lại mỉm cười, tất khiến thành khuynh. Khi Thẩm Ngưng mở tấm khăn trùm đỏ thêu đôi chim uyên ương, nhìn thấy nụ cười khuynh thành đó, chàng bỗng sững người.
          Tống Ngưng nghiêng đầu nhìn chàng, nụ cười tươi rạng như hoa. Nhưng thần sắc chàng lạnh lùng dửng dưng, là bộ dạng cô đã quen thuộc. Cô nghĩ, hạnh phúc đời mình chính là đây. Nhũ mẫu ở nhà đã dặn cô, trong đêm tân hôn phải nói những lời yêu thương, đại loại như: “Phu quân, em trao Tống Ngưng cho chàng, trao hết cho chàng, chàng hãy trân trọng, vân vân…”. Cô đang định nói những lời đó, nhưng còn đang đắn đo, chợt nghe thấy tiếng chàng lạnh lùng: “Chắc cô biết người ngồi trên chiếc giường này đêm nay vốn là ai chứ?”.
          Cô không hiểu chàng nói gì, ngẩng đầu hỏi: “Sao?”.
          Đôi mắt chàng vẫn lạnh băng: “Tôi nghe nói, đại huynh của cô thỉnh cầu Lê vương, muốn tôi cưới cô. Tại sao lại là tôi? Chỉ bởi một lần tôi từng thắng cô ở chiến trường ư? Tống Ngưng, lẽ nào trước đây cô chưa nghe nói, tôi đã có vị hôn thê?”.
          Tống Ngưng lắp bắp: “Nhưng chàng đã nói muốn lấy tôi”.
          Chàng cười lạnh lùng: “Rút cục tôi cũng chỉ là phận bề tôi, chủ lấy tính mạng ra để ép tôi. Sao tôi có thể không nghe. Có điều tôi không muốn được gì từ cô. Cũng phiền cô đừng yêu cầu gì ở tôi”.
          Tống Ngưng ngước nhìn chàng: “Tôi không mong được gì từ chàng, chỉ là...”.
          Chàng ngắt lời cô: “Vậy thì tốt”.
          Chàng phảy tay áo bước khỏi phòng tân hôn, mặt đất trước giường đầy ánh trăng vỡ vụn. Cô nhìn theo bóng chàng, thầm nghĩ, tuyệt đối không thể như thế. Cô gọi chàng: “Thẩm Ngạn” giống như khi trong địa ngục Tu La trên chiến trường Thương Lộc, cô ôm chàng nghẹn ngào, dịu dàng gọi tên chàng. Nhưng chàng không dừng bước, cô không khóc, lòng chỉ hoang mang.
          Cả đời cô chỉ khóc một lần duy nhất. Đó là lúc tìm thấy chàng trên cánh đồng hoang Thương Lộc, phát hiện chàng vẫn sống. Cô cởi áo đỏ đại hỉ, gấp gọn gàng, nằm ngay ngắn trên giường, hai mắt mở to nhìn đôi nến long phượng đã cháy gần hết, ngoài cửa sổ ánh trăng buồn vẫn lặng lẽ buông.
          Ngày hôm sau, Tống Ngưng tới thỉnh an phu nhân lão tướng quân, nghe các hầu gái xì xào, tối qua tướng quân ngủ ở Hòa Phong viện. Hà Phong viện là nơi ở của Liễu Thê Thê, Thê Thê cô nương. Tống Ngưng thầm nghĩ, Thê Thê vừa xanh tươi vừa tràn trề sinh khí, một cái tên hay.
          Tống Ngưng nghe nói chiếc áo Thê Thê khâu cho tướng quân đường kim rất khéo, thêu hình cây trúc rất đẹp, sinh động như nghiêng trong gió. Lại nghe nói canh phù dung hạt sen Thê Thê hầm cho tướng quân là loại sen thượng hạng, món canh hầm tỏa hương thơm phức.
          Lại nghe nói, mặc dù Thê Thê không nói được, nhưng luôn làm cho tướng quân vui lòng.
          Tống Ngưng thầm nghĩ, Liễu Thê Thê nên là vợ của Thẩm Ngạn, mình xen vào nhân duyên của họ, tất trở thành người thừa, quả thật không nên so đo với cô ta. Sau ngày thành hôn, ngoài lần giáp mặt đêm tân hôn, Thẩm Ngạn hầu như không xuất hiện trước mặt cô. Có thể thấy chàng là người rất mực chung tình, quả đáng khâm phục. Cô nghĩ, mình yêu chàng, nhưng sự thể đã vậy, đành biến tình yêu thành niềm ngưỡng mộ mà thôi. Bởi chỉ có ngưỡng mộ mới không thấy tủi thân, chỉ có ngưỡng mộ mới không còn tham vọng.
          Cô thường nghe nói Liễu Thê Thê thế này, Liễu Thê Thê thế kia.
          Mặc dù đã suy nghĩ thông suốt, cố gắng tự an ủi “mình yêu chàng, chẳng liên quan đến chàng” nhưng thâm tâm vẫn muốn gặp mặt Liễu Thê Thê. Tuy nhiên, có những việc không phải cứ muốn là được. Ngay đến hoàng đế cũng không thể muốn có con trai là lập tức có ngay.
          Sinh con trai, con gái hay sinh ra một kẻ ngu đần, dường như đã là số mệnh. Bao gồm cả Tống Ngưng chưa bao giờ có thói quen tản bộ vào mỗi buổi chiều, đột nhiên một chiều nọ lại ra tản bộ sau hoa viên. Thế là hôm đó trong hoa viên có chim hót, hoa nở, có liễu rủ ven hồ, thế là bất ngờ gặp Liễu Thê Thê như lời gia nhân đồn đại.
          Mọi sự đều có nguyên do, khi Tống Ngưng nhặt được miếng ngọc bội trong hoa viên, miếng ngọc bội được viền vàng, rất hoàn hảo, ở giữa còn có một vết nứt khá rõ. Cô nhặt miếng ngọc bội, soi rất lâu dưới ánh mặt trời. Nhận ra đó chính là miếng ngọc bội cô đã bẻ đôi đưa cho Tống Ngưng vào dịp đông hàn năm ngoái, hai nửa đó đã được ghép lại, được viền bằng vàng. Bỗng một cô gái vội vã đi tới, một tay chỉ miếng ngọc bội, một tay chỉ vào ngực mình. Tống Ngưng ngẩng đầu, sau khi nhìn rõ mặt Tống Ngưng, sắc mặt cô gái đột nhiên trắng bệch. Tống Ngưng thầm nghĩ, mình đã từng gặp cô ta ở đâu. Trong làn gió nhẹ thoảng mùi thuốc thơm dịu, mùi thuốc này khiến cô chợt nhớ tới y quán nhỏ phía sau núi tuyết. Tống Ngưng cầm miếng ngọc bội, mỉm cười hỏi cô gái: “Cô cũng ở đây ư? Quả nhiên Thẩm Ngạn không phải là người vong ân bội nghĩa, ông cô đâu rồi?”.
          Cô gái run lập cập, quay người định bỏ đi. Tống Ngưng chau mày, nắm tay kéo cô lại: “Tôi đáng sợ lắm ư? Tại sao cô lại sợ như vậy?”.
          Cô gái cố vùng ra, lùi lại phía sau, đột nhiên sau lưng có tiếng Thẩm Ngạn: “Thê Thê”.
          Thê Thê. Cô kinh ngạc, cô gái trong tay cô đã bị Thẩm Ngạn giằng mất. Chàng đứng chắn trước cô ta, như một cây cổ thụ cao ngất che chở cho thân leo yếu ớt bên cạnh, nét mặt cúi xuống dịu dàng, vẻ âu yếm. Nhưng khi ngẩng đầu nhìn Tống Ngưng, khuôn mặt lại như băng giá, chàng hỏi sẵng: “Cô làm gì ở đây?”.
          Cô không trả lời câu hỏi của chàng, nhìn cô gái Thẩm Ngạn ôm trong lòng: “Thê Thê, cô chính là Thê Thê?”. Cô gái không dám ngẩng đầu.
          Thẩm Ngạn cau mày, ánh mắt dừng lại trên tay Tống Ngưng, lát sau lạnh lùng hỏi: “Miếng ngọc bội của Thê Thê, tại sao cô lại có?”.
          Cô sững người, kinh ngạc nhìn chàng: “Của Thê Thê? Cái gì của Thê Thê? Sao lại của Thê Thê?”. Cô bước lên, chìa miếng ngọc bội trước mặt chàng: “Chàng không đọc lá thư tôi gửi ư? Chàng đã quên đó là tín vật tôi trao cho chàng sao? Chàng đã quên ở trong hang núi gần cánh đồng Thương Lộc, chúng ta đã...”.
          Cô đang định nói tiếp, Liễu Thê Thê bất chợt nắm tay áo chàng lắc đầu. Mắt chàng đột nhiên lóe sáng, ngắt lời Tống Ngưng: “Trận chiến ở cánh đồng hoang Thương Lộc, năm vạn quân Khương đã phải bỏ mạng dưới lưỡi đao của quân Lê các người, mặc dù hai nước Khương, Lê đã có hòa ước, nhưng mối thù đó, ta mãi mãi không quên”.
          Chàng cười khẩy: “Trong hang núi tuyết gần Thương Lộc nếu không phải Thê Thê đã cứu ta thì Thẩm Ngạn hôm nay chỉ còn là một hồn ma lang thang trên chiến trường, sao có thể lấy công chúa Tống Ngưng của nước Lê các người?”.
          Liễu Thê Thê vẫn lắc đầu, nắm tay Thẩm Ngạn, nước mắt tuôn như suối, ướt đầm hai má, làm loang lớp phấn hồng trên mặt.
          Tống Ngưng không tin vào tai mình, cô hét to: “Sao có thể là cô ta cứu chàng? Người cứu chàng... rõ ràng là tôi”. Cô tưởng mình nói rõ ràng, chàng sẽ hiểu ra, thực ra cô đã đánh giá quá cao khả năng lí giải của chàng. Vì lẽ đời thường không như vậy, không phải cứ nói là người khác sẽ nghe ra.
          Thẩm Ngạn nhìn vào mắt Tống Ngưng, giọng giễu cợt: “Cô nói vớ vẩn gì thế? Cô đã cứu tôi? Tống Ngưng, tôi chưa từng nghe nói là cô am hiểu y thuật, người cứu tôi có y thuật rất cao, cô ấy không biết nói, đó chính là Thê Thê. Cô tưởng rằng Thê Thê không nói được là tôi sẽ tin những lời bịa đặt của cô, giá họa cho cô ấy ư?”.
          Tống Ngưng không biết làm gì để chứng minh, bởi vì ban đầu khi cô cứu được chàng hoàn toàn là do ông trời đoái thương. Vậy mà hôm nay, rõ ràng ông trời đã đổi ý, chuyển sang thương Liễu Thê Thê.
          Cô nghĩ, chàng chưa đọc lá thư đó, lá thư thực ra được đưa tới đâu, cô đã biết, bây giờ nhắc lại chuyện này cũng chẳng ích gì, chỉ thấy tủi thân, cho dù Thẩm Ngạn không yêu cô, nhưng chuyện này, cô vẫn phải nói rõ với chàng, khổ nỗi bây giờ cô nói gì chàng cũng không tin, cô đã rất cố gắng nhưng Thẩm Ngạn không cho cô cơ hội. Đúng là một người cố chấp, cố chấp đến bực mình.
          Cô không giải thích thêm nữa. Ánh mắt chàng nhìn cô hoàn toàn băng giá. Lúc đầu Tống Ngưng rất buồn, nhưng không khóc được, đêm đêm cô thường ôm chăn, ngồi đến sáng. Trong những đêm dài, cô thường hồi nhớ lúc chàng đặt tay lên vai cô, dịu dàng nói: “Nếu cô nương không chê, đợi tại hạ khỏi bệnh, sẽ đến quý gia cầu hôn cô nương”. Đó là hồi ức đẹp đẽ duy nhất. Bề ngoài cô có vẻ cương nghị, nhưng chung quy vẫn là nữ nhi, nữ nhi càng cương nghị càng muốn được trân trọng, quá cương dễ gẫy chính là như vậy.
          Chỉ không ngờ, thành hôn chưa được ba tháng, Thẩm Ngạn đã nạp thiếp.
          Chuyện này cũng không có gì lạ, một phong tục hết sức bình thường, thậm chí đàn ông không nạp nhiều thiếp còn bị coi thường, cũng như các đế vương, quan lại đều thê thiếp bầy đàn. Người này lấy, người kia cũng phải lấy, không lấy không được. Quân Vỹ thích nghiên cứu chuyện hậu cung các hoàng đế đã phân tích như vậy, cho rằng hoàng đế lấy thêm thiếp chủ yếu vì hoàng hậu là quốc mẫu, mẫu nghi thiên hạ, là hóa thân của vạn vạn thần dân.
          Thử nghĩ, khi chăn gối cùng quốc mẫu, nhìn khuôn mặt từ bi của bà, lòng rối loạn, ngay cả lúc trên giường cũng gợi nhớ chính sự, làm sao chịu nổi, đành phải nạp thiếp.
          Nhưng rút cục thế nào, làm sao chúng ta biết được, có lẽ là do đàn ông ham nữ sắc nên mới không ngừng nạp thiếp.
          Có điều Thẩm Ngạn nạp người thiếp này là vì cái gọi là tình yêu, hơn nữa lại là chuyện duy nhất khiến người ta không thể chịu được. Người đầu tiên không thể chịu được chính là Tống Ngưng.
          Tống Ngưng nhờ một vị thân vương của Lê Trang Công ngăn chặn chuyện này. Cô ngồi trong một ngôi thủy đình giữa hồ sen, đầy gió và nắng, ven hồ có những cây to không rõ tên, một màu xanh mát quen thuộc, như trong tranh. Thẩm Ngạn đứng trước mặt cô, đó là lần gặp mặt thứ ba sau hôn lễ, chàng cau mày cúi nhìn Tống Ngưng hỏi: “Cố tình phá hôn sự của tôi với Thê Thê, rốt cuộc cô muốn gì?”.
          Cô đặt cuốn sách trên tay xuống, ngước nhìn chàng, một Tống Ngưng từng luôn mỉm cười trên sa trường ác liệt, giọng nói trầm trầm, hai má ẩn hiện lúm đồng tiền mê hồn: “Tôi muốn gì ư? Câu hỏi khéo thật, tôi chẳng muốn gì hết, chỉ là có một vài thứ Liễu Thê Thê không xứng đáng có”.
          Chàng lạnh lùng: “Cô không chịu nổi Thê Thê, còn tôi không chịu nổi cô”.
          Lúm đồng tiền trên má Tống Ngưng càng sâu: “Thẩm Ngạn, chàng không thể không chấp nhận tôi, bởi hôn ước của chúng ta là minh ước giữa hai nước Lê, Khương”.
          Mặt chàng lộ vẻ phẫn nộ cố nén: “Đêm tân hôn chúng ta đã giao ước, tôi và cô không liên quan đến nhau”.
          Cô nhìn bàn tay mình, giọng nói dửng dưng: “Thực ra vốn cũng chẳng có gì, chỉ là thấy hai người ân ái như vậy, mà tôi được gả tới đây, cô đơn một mình, nên rất chạnh lòng”.
          Chàng phẩy tay áo cười khẩy: “Tống Ngưng, cô còn nhớ ban đầu ai đề nghị hôn sự này không?”.
          Bóng chàng biến mất ở chỗ rẽ, một lúc sau, cô cúi đầu giở cuốn sách trên tay, gió lại thổi, những giọt nước mắt rơi trên sách, ướt nhòe con chữ. Cô giơ tay áo lau nước mắt, lại cúi đầu đọc tiếp, như không có chuyện gì.
          Không lâu sau, ở nước Hạ cách Khương một con sông, quốc vương băng hà, công tử Trang Nghi lên ngôi. Hai tháng sau, Hạ Trang Nghi tân đế nước Hạ xuất binh chinh phạt nước Khương. Khương vương lệnh cho Thẩm Ngạn xuất chiến.
          Tháng tư, cỏ héo hoa tàn, trên bầu trời một vầng trăng hoang lạnh, Tống Ngưng ngồi tựa bên song, lặng ngắm vầng trăng lùi dần phía cuối trời. Rút cục cô không thể để Thẩm Ngạn ra đi bỏ mạng ở chiến trường, chàng không phải là đấng phu quân như ý, nhưng nửa năm trước vừa gặp, cô đã thầm yêu chàng, chàng là vị anh hùng của lòng cô. Có những người chưa từng trải, lãng mạn, yêu một lần là nhớ suốt trăm năm, đó chính là Tống Ngưng.
          Giờ Dần, cô lục trong hòm lấy ra bộ chiến giáp mang theo khi xuất giá, tháo tấm bảo vệ trước ngực, váy lê quét đất, một mình băng qua hoa viên đến thẳng Chỉ Lan Viện, nơi ở của Thẩm Ngạn. Đám hầu nữ của Chỉ Lan Viện ấp úng hồi lâu, nói: “Tướng quân, tướng quân... không ở trong phòng”.
          Sắc mặt Tống Ngưng nhợt nhạt: “Ở Hà Phong Viện ư?”.
          Đám người hầu cúi gằm không dám trả lời. Cô nhét tấm giáp bọc trong mảnh lụa vào tay một hầu nữ, nói: “Chàng không có ở đây, vật này nhờ cô...”.
          Chưa nói xong, đám người hầu đột nhiên ngẩng đầu vui sướng: “Tướng quân!”.
          Thẩm Ngạn bước vào cửa viện, trời còn chưa sáng, những chiếc đèn lồng trong sân lờ mờ tỏa sáng, ánh sáng vàng vọt bao trùm bóng chàng. Cô nghe thấy tiếng chàng, ở ngay sau lưng, cứng nhắc: “Cô làm gì ở đây?”.
          Cô quay lại, đứng sững ra đó, nhìn chàng một hồi từ đầu đến chân, mỉm cười. Nụ cười chưa hiện lên mắt, đó chỉ là thói quen của cô.
          Cô đưa cho chàng bọc lụa trong tay: “Không có gì, nghe nói chàng sắp xuất chinh, tôi đến đưa chàng tấm giáp bảo vệ bằng đá Thanh Tùng, chắc chắn hơn nhiều so với tấm giáp thông thường, nó đã không ít lần cứu tôi thoát chết. Bây giờ tôi không ra trận nữa, phiền chàng mang theo ra chiến trường dùng khi cần thiết”.
          Chàng khẽ nhíu mày, nhìn cô, lúc sau nói: “Nghe nói, tấm giáp này là báu vật huynh trưởng tặng cô”.
          Cô ngước mắt, nụ cười thoáng hiện: “Ồ, chàng cũng biết? Nói là báu vật bởi vì nó có thể bảo vệ được tính mạng, không bảo vệ được cũng chẳng là gì. Cho chàng mượn không phải có ý để chàng nợ nần gì tôi. Chàng nói đúng, chúng ta vốn chẳng liên quan đến nhau, nhưng danh phận đã định, nếu chàng chết nơi chiến trường, đại gia đình trong Thẩm phủ này sẽ do tôi gánh vác, thực là vất vả, trách nhiệm của ai do người đó gánh, chàng thấy có đúng không?”.
          Chàng ngắm kỹ tấm giáp màu ngọc bích trong tay, giống như màu xanh của thảm lá sen đang trải trước mắt. Cô gật đầu định đi, chàng kéo lại: “Cô có thể tái giá”.
          Cô nhìn bàn tay nắm ống tay áo mình, ánh mắt nhích lên, dừng lại ở hình cây trúc thêu sống động như nghiêng trong gió trên vạt áo chàng, cười tươi như hoa: “Sao cơ?”.
          Chàng buông tay áo cô nói: “Nếu tôi chết cô có thể tái giá”.
          Cô cúi đầu, trầm tư, lúc sau nói: “À, đúng”.
          Cô ngẩng đầu, hai lúm đồng tiền mê hồn lại hiện trên má: “Vậy chàng nên chết ngoài chiến trường, đừng trở về nữa, mãi mãi không nên trở về nữa”.
          Đám người hầu đứng bên sợ run, nhưng cô lại mỉm cười, ánh mắt lạnh lùng. Đúng là không thể đoán được tâm tư đàn bà, đoán già đoán non, cuối cùng cũng không đoán ra.
          Trên đời có kiểu đàn bà không câu nói nào khiến người khác bận tâm, cũng có kiểu đàn bà mỗi câu nói đều khiến người ta không thể không suy nghĩ.
          Cô đi vội vã, cuối cùng để lại cho chàng một hình bóng đoan trang, duyên dáng, cũng đầy ngạo mạn thách thức. Chàng nắm chặt tấm giáp màu ngọc, nhìn mãi về phía bóng người vừa khuất, ánh mắt thâm trầm.
          Thẩm Ngưng ra đi đã hai tháng.
          Tháng tám, hương quế ngào ngạt, tin vui từ Hà Phong Viện truyền ra, Thê Thê cô nương đã có thai, lão tướng quân và phu nhân vui mừng khôn xiết. Liễu Thê Thê có thể coi là khách của Thẩm phủ, khách trong nhà có thai, cũng là hạt giống nhà mình, điều này cũng phải thôi, nhưng khách lại có thai ngay trước mặt con dâu danh chín ngôn thuận, thực tình cũng khiến lão tướng quân và phu nhân khó xử. Lúc Tống Ngưng đến thỉnh an, lão phu nhân mới ướm một câu: “Rút cục để cho cốt nhục họ Thẩm lưu lạc bên ngoài cũng không hay gì”. Tống Ngưng mỉm cười gật đầu: “Mẹ nói phải”.
          Cuối tháng, hoa quế nở tràn lan trên núi Cù ở ngoại thành, Tống Ngưng nhìn về ngọn núi phía xa, nói với người hầu đem theo khi rời cố quốc: “Hãy mời Thê Thê cô nương ngày mai lên núi Cù thưởng ngoạn hoa quế”. Người hầu gửi thiệp tới Hà Phong Viện, Liễu Thê Thê nhận lời.
          Ngày hôm sau, Tống Ngưng hành lý đơn giản, chỉ mang theo một người hầu. Người hầu một tay xách chiếc làn đựng ít đồ điểm tâm, một tay khoác bọc hành lý. Trái với Tống Ngưng, Liễu Thê Thê long trọng hơn nhiều, ngồi trên kiệu bốn người khiêng, lại thêm hai vú già, bốn hầu nữ.
          Tống Ngưng cười: “Đi ngắm hoa lại mang theo nhiều người như vậy, thật mất hứng”.
          Vú già cười nói: “Có lẽ phu nhân không biết, tướng quân vừa rồi có thư về, dặn dò chúng nô tỳ chăm sóc chu đáo Thê Thê cô nương, giờ Thê Thê cô nương đã mang cốt nhục của tướng quân, chúng nô tỳ không dám sơ suất”.
          Tống Ngưng phe phẩy chiếc quạt, không nói gì. Người hầu của cô cười khẩy: “Nghe vú già nói vậy, không được sơ suất đối với Thê Thê cô nương, nghĩa là có thể sơ suất đối với công chúa của chúng tôi ư. Nói câu này hơi khó nghe, nhưng ở nước Lê chúng tôi, khi công chúa đứng thì kẻ dưới không dám ngồi, khi công chúa ngồi, kẻ dưới nếu chưa được công chúa cho phép vẫn phải quỳ. Đến nước Khương các vị thì ngược lại. Công chúa bộ hành lên núi ngắm hoa, vậy mà cô nương nhà các ngươi lại ngồi kiệu, phải chăng lễ nghĩa của nước Khương là như vậy?”.
          Vú già nghe thế, quỳ sụp xuống đất, tự tát vào mặt mình.
          Rèm kiệu vén lên, Liễu Thê Thê bước xuống đỡ vú già, đôi tay có mùi thuốc thoang thoảng giơ lên làm những động tác rất duyên dáng, đẹp mắt, vú già lo lắng giải thích: “Cô nương nói cô không ngồi kiệu nữa, vừa rồi là cô không hiểu lễ nghĩa, cô ấy sẽ đi bộ theo hầu phu nhân”.
          Ngọn núi Cù cao sừng sững, đi suốt một ngày vất vả, một người mang thai đâu dễ kham nổi. Đêm đó về phủ, Liễu Thê Thê liên tục ra máu. Sáng hôm sau, có tin nói Liễu Thê Thê bị sảy thai. Người hầu của Tống Ngưng lo lắng: “Nếu tướng quân nổi giận thì làm thế nào”. Tống Ngưng ngồi đọc sách bên cửa sổ, hoa quế trong vườn nở rộ, hương quế ngào ngạt trong gió. Liễu Thê Thê bị sảy thai, suy cho cùng là do Tống Ngưng, nhưng đứa trẻ đó không danh chính ngôn thuận nên lão tướng quân và phu nhân mặc dù có thương xót cũng chẳng biết làm thế nào, chỉ có thể bù đắp vật chất cho Thê Thê, nhân sâm, yến sào, hạt sen... mọi thứ quý bổ đều sai người mang tới Hà Phong viện.
          Chỉ có Liễu Thê Thê vẫn khóc ròng, không ăn uống gì. Để khỏi lãng phí đành phải để vú già, người hầu ăn giúp, kết quả là trong thời gian ngắn, ngoài Liễu Thê Thê vẫn giữ được thân hình thon thả, tất cả kẻ ăn người ở của Hà Phong viện đều béo tốt trông thấy, ngay cả hai con chim sẻ làm tổ trên hốc cửa đình viện cũng béo mẫm vì được hưởng lộc thừa.
          Thời gian này, Tống Ngưng cáo bệnh, chỉ ở trong phòng rất ít ra ngoài, không gặp gỡ ai.
          Cuối cùng có một người cô không thể không gặp. Đó là chòm sao ma quỷ trong số mệnh của cô. Cô đã vì chàng cởi bỏ chiến giáp, cài hoa, khoác áo đỏ tân nương, trái tim dịu dàng ăm ắp yêu thương vượt đường trường vạn dặm theo chàng, vậy mà chàng không để mắt đến cô.
          Tháng chín, tin thắng trận truyền về kinh đô, Thẩm Ngạn khải hoàn dẫn quân trở về triều.
          Tống Ngưng ngồi bên hồ thả mồi cho cá, nghĩ ngợi một hồi, ngẩng đầu hỏi hầu nữ: “Chàng đã trở về, ngươi nói xem, liệu chàng có giết ta?”.
          Cốc trà trên tay hầu nữ rơi xuống đất.
          Tống Ngưng cười: “Thân thủ của ta không bằng chàng, nhưng cũng không dễ để chàng lấy mạng, cùng lắm đánh một trận, ngươi khỏi lo”.
          Hầu nữ quỳ trước mặt: “Ở đây công chúa sống chẳng vui vẻ gì, nô tỳ cũng thấy người không vui. Sao chúng ta không trở về nước Lê? Công chúa, chúng ta về nước thôi”.
          Tống Ngưng nhìn đàn cá đớp mồi dưới hồ sen, nói: “Đây là hôn sự giữa hai nước, ngươi tưởng muốn đi là đi được hay sao?”.
          Mọi sự không thể cứu vãn đều bắt đầu từ đêm đó. Tôi nói như vậy là bởi vì tôi nhìn thấy tất cả, nhìn thấy tính mạng Tống Ngưng bắt đầu từ đêm đó nhích dần đến cái chết. Đẩy cô tới cõi chết chính là tình yêu của cô và bàn tay Thẩm Ngạn. Chàng lao đến như mang theo mưa gió, trên mình vẫn mặc bộ chiến bào màu bạc, giống như lần đầu họ gặp nhau, nhưng trong mắt chàng bừng bừng lửa giận, như một vị Tu La đến từ địa ngục.
          Cuối cùng, cô không địch được chàng, chưa đầy hai chiêu, kiếm của chàng đã chẹn dưới họng cô. Cô vội vàng dùng tay nắm thanh kiếm, lưỡi kiếm vừa nhích, lướt qua năm ngón tay cô, sâu tới tận xương. Chắc chắn rất đau nhưng cô không để ý, chỉ nhìn xuống tay mình: “Chàng thực sự muốn giết tôi ư?”.
          Giọng chàng lạnh lùng: “Tống Ngưng, cái thứ dính trên tay cô là tính mệnh con trai tôi. Cô ép Thê Thê lên núi, cô không nghĩ sẽ giết chết nó?”.
          Cô ngẩng phắt đầu, lông mày giãn ra, tiếng rất nhỏ nhẹ: “Đó không phải là lỗi của tôi, tôi chưa từng sinh con làm sao biết được người có thai lại có thể xảy ra chuyện đó, leo núi là có thể bị sẩy thai. Chàng không có duyên với đứa bé đó lại đổ lỗi lên đầu tôi, Thẩm Ngạn, chàng làm vậy có phải quá vô lý không?”.
          Cô nói ra những lời đó không phải là lời lòng cô muốn nói, chỉ là do bị chàng kích nộ. Cô nhìn khuôn mặt rắn đanh của chàng cảm thấy buồn cười, liền bật cười thành tiếng: “Thẩm Ngạn, chàng biết đấy, ngoài tôi ra, không ai đủ tư cách sinh đích tôn cho nhà họ Thẩm”. Cô nghĩ, tình yêu của mình gần như sắp chết, ngày trước cô nhìn Thẩm Ngạn, chỉ mong mọi việc với chàng đều suôn sẻ. Bây giờ, lúc nào cũng muốn chàng không vui. Nhưng chàng không vui, cô cũng không thấy vui, giống như con dao hai lưỡi, làm tổn thương người khác, cũng làm tổn thương chính mình.
          Câu nói vui của cô lại khiến chàng kích động. Cô nhìn thấy cơn sóng phẫn nộ trong mắt chàng. Cô cảm thấy thanh kiếm của chàng sắp xuyên qua tay đâm vào họng mình. Nhưng phán đoán của cô đã sai. Thanh kiếm của Thẩm Ngạn không tiến thêm một phân nào nữa, mà rút khỏi tay cô, dính một vệt máu tươi, đầu thanh kiếm áp vào ngực áo cô, khẽ hất, những chiếc khuy đứt tung.
          Phu quân của cô đang đứng trước mặt cô, dùng một thanh kiếm nhuốm máu hất toạc áo ngoài của cô, sóng hận trong mắt biến thành nụ cười khẩy lạnh lùng trên môi, giọng nói giễu cợt ghê người: “Tống Ngưng, tôi chưa gặp người đàn bà nào độc ác như cô”.
          Lần động phòng chậm đúng chín tháng.
          Cô vùng vẫy giãy giụa, nếu đối phương là một nho sinh, cô không những có thể vùng ra được mà còn đánh cho gã một trận. Nhưng đây lại là một tướng quân, võ nghệ vào bậc nhất nước Lê, lại có sở trường đánh giáp lá cà, cô đành bó tay.
          Bức bình phong trước giường vẽ một đầm nước, trên có vầng trăng lạnh dưới có mấy con vịt trời giỡn nước. Cô lạnh run người, hai tay ôm chặt lưng Thẩm Ngạn. Máu rỉ ra từ vết thương trên ngón tay, nhuộm đỏ một vùng da màu kiều mạch trên lưng chàng, giống như đóa hoa hồng nở trên kẽ đá trên cánh đồng hoang. Cuối cùng cô không thể giả bộ cười được nữa, nước mắt chảy dài xuống má. Tiếng cô bên tai chàng giống như tiếng rên của con thú nhỏ.
          Từ nhỏ cô đã mồ côi cha mẹ, lớn lên nơi chiến trường, đại huynh cũng không có thời gian chăm sóc cô, ngã thì tự đứng dậy, đau quá thì dùng bàn tay nhỏ tự xoa vết thương, Tống Ngưng trên chiến trường luôn mỉm cười, bởi vì cô hiểu, không nên để đại huynh lo lắng, lâu dần thành quen, không biết khóc bao giờ.
          Trong cuộc đời, đó là lần đầu tiên cô bật khóc, bản thân cô cảm thấy hoảng loạn bởi cô thực sự thấy đau, đau đến tận tim, mà không giống như hồi bé, xoa vài cái là hết. Cô nặng nề thở dốc, mũi đỏ ửng, không còn vẻ oai phong như trước, cũng không thể can trường như trước.
          Cô mới mười bảy tuổi. Giọng cô suy sụp, van nài: “Thẩm Ngạn, chàng ghét tôi như vậy, chàng ghét tôi như vậy. Thẩm Ngạn, buông tôi ra, xin chàng buông tôi ra”.
          Nhưng tiếng chàng vẫn ở bên tai cô: “Nỗi đau của cô có bằng nỗi đau mất cốt nhục của tôi không? Tống Ngưng cô muốn gì, tôi sẽ cho cô, chỉ cần chúng ta từ nay rõ ràng, cô có biết rõ ràng là thế nào không?”.
          Trong không khí toàn mùi máu, tôi không ngửi thấy, nhưng có thể nhìn thấy.
          Móng tay cô ấn sâu vào lưng chàng, cô không khóc được nữa, giọng nói tắc nghẹn bay lên không, thê lương như lá mùa thu: “Thẩm Ngạn, chàng đối với tôi như vậy, chàng là kẻ vô tâm”.
          Bàn tay phải Tống Ngưng trở nên tàn phế trong đêm đó, vốn là bàn tay cầm thương, tung ra bảy bảy bốn mươi chín chiêu thương pháp, duyên dáng đẹp như múa, khiến thiên hạ trầm trồ. Thanh kiếm đã làm bàn tay ấy bị thương, làm trái tim cô bị thương, đã hủy diệt tất cả nhiệt thành của cô đối với Thẩm Ngạn.
          Cô tỉnh dậy, Thẩm Ngạn nằm bên cạnh cô, mắt cô lờ mờ nhận ra khuôn mặt tuấn tú, cặp lông mày hơi chau. Cô nghĩ đó là người cô từng yêu, trong mênh mông biển người cô lại chọn đúng chàng. Thanh kiếm của chàng rơi dưới đất, bàn tay phải của cô cũng không cầm lên được, cô nghiêng người, dùng tay trái lần tìm thanh đoản kiếm nặng gần bốn chục cân, làm kinh động chàng, ngay lúc chàng vừa mở mắt, cô nắm chắc chuôi kiếm đâm mạnh vào sườn chàng một nhát. Chàng rên một tiếng, nhìn thấy một giọt nước trào ra từ khóe mắt cô, lăn xuống, để lại một vệt dài trên má.
          Ngày trước, cô đã tìm chàng giữa hàng ngàn thi thể, cô đã cõng chàng vượt qua núi tuyết đi tìm lang y. Cô thức trắng ba ngày ba đêm, nhưng đều là quá khứ. Đã là quá khứ thì không nên nhắc lại. Cô nghiêng đầu nhìn chàng, cuối cùng hiện ra vẻ thơ ngây thiếu nữ, mặt đầy ngấn nước, nhưng môi lại nhếch lên nói ra những câu tuyệt tình: “Thẩm Ngạn, tại sao chàng còn trở về, sao chàng không chết ở chiến trường?”.
          Chàng nắm chặt bàn tay trái cầm kiếm của cô, đột nhiên kéo mạnh cô vào lòng, thanh đoản kiếm sắc đâm càng sâu. Máu trào ra từ miệng, tiếng chàng lạnh lùng lại vang bên tai: “Đây chính là điều cô muốn? Cô muốn tôi phải chết?”.
          Tống Ngưng kể lại với tôi chuyện đêm hôm đó, đã nhiều năm, trên cặp mày nhàn nhạt dường như vẫn hằn nỗi đau khổ, dường như không thể nhớ lại. Cô không biết, thực ra tôi đã nhìn thấy tất cả, đó nhất định là một đêm ma mộng. Mặc dù thực ra tôi không hiểu lắm ma mộng là gì, đó là một từ thường thấy trong tiểu thuyết của Quân Vỹ. Đại khái là từ viết tắt của giấc mộng ma quái gì đó.
          Khung cảnh cuối cùng của hôm đó là một đêm tối mịt mùng, mưa thu tí tách, hoa nguyệt quế lặng lẽ tỏa hương trong mưa.
          Thẩm Ngạn không chết, nhát kiếm đó mặc dù đâm khá sâu, đáng tiếc là không trúng chỗ hiểm, đại phu nói chỉ cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, chưa đầy ba tháng sẽ bình phục như thường.
          Nhưng hai tháng sau, Tống Ngưng có tin vui. Liễu Thê Thê thu dọn quần áo, nửa đêm lặng lẽ rời Thẩm phủ. Ngày hôm sau hay tin, Thẩm Ngạn dù thân đang mang vết thương nặng cũng đi tìm khắp nơi, sau khi tìm được, đưa Liễu Thê Thê đến sống ở một biệt viện, bản thân chàng cũng rời khỏi Thẩm phủ, chuyển đến biệt viện sống cùng Liễu Thê Thê, không coi Thẩm phủ là nhà nữa.
          Tháng sáu năm sau, Tống Ngưng sinh hạ một bé trai.
          Thẩm Ngạn đưa tay đón đứa trẻ, giọng dửng dưng: “Cô hận tôi?”.
          Chàng nhìn bức bình phong trước giường: “Tôi tưởng cô không muốn sinh nó ra”.
          Tống Ngưng nằm sau bức bình phong, cơ thể rất yếu, vẫn hít một hơi dài, khẽ cười: “Sao lại không sinh, đó là đích tôn nhà họ Thẩm. Sau này khi chàng chết đi, nó sẽ nối nghiệp nhà họ Thẩm”.
          Trong mắt chàng lóe ra tia lạnh, trao đứa bé cho vú già bên cạnh, phảy tay áo bỏ đi. Đứa bé oa oa khóc sau lưng, chàng dừng lại ở cửa nói: “Tống Ngưng, thiên hạ có người đàn bà nào một lòng mong chồng chết ở chiến trường?”.
          Giọng Tống Ngưng yếu ớt vượt qua mấy bức rèm: “Sao?”.
          Thấm thoát đã bốn năm, thời gian không quay trở lại, hai nước Khương, Lê lại gây chiến, chiến tranh liên miên. Nhưng chuyện đó chẳng có gì quan trọng đối với vụ trao đổi của tôi, quan trọng là Liễu Thê Thê lại sinh cho họ Thẩm một sinh mạng mới, một bé gái. Chuyện này khiến cả biệt viện buồn bã trong một thời gian dài.
          Vì tôi đứng về phía Tống Ngưng, bất giác nghĩ Liễu Thê Thê buồn bã như vậy là do chỉ sinh được con gái, tài sản được chia sẽ không nhiều. Nhưng cũng chỉ đoán vậy thôi, rất có thể người ta buồn tiếc vì không sinh được con trai cho Thẩm Ngạn.
          Vú già trong biệt viện lại động viên Liễu Thê Thê, rằng đối với Thẩm Ngạn chỉ cần cô sinh hạ bé gái, mẹ tròn con vuông là tốt rồi, vả lại không dễ dàng có được đứa bé này, động viên mãi cô mới nguôi nguôi, đồng thời sự yêu chiều của Thẩm Ngạn đối với đứa bé cũng kịp thời bù đắp an ủi cho cô.
          Tôi bất giác lại nghĩ, Liễu Thê Thê có thể nhanh chóng chuyển buồn thành vui như vậy, có lẽ là do Thẩm Ngạn đã lặng lẽ chia lại tài sản, cho cô ta số tiền lớn. Nếu Quân Vỹ có ở đây thấy tôi nghĩ vậy, nhất định sẽ bảo tôi có tâm hồn đen tối, suy diễn sự việc theo hướng xấu. Nhưng tôi nghĩ, nếu chuyện đó xảy ra thật mà tôi vẫn còn suy nghĩ theo hướng trong sáng, thì e là tôi đã trở thành thánh mẫu rồi.
          Con trai Tống Ngưng càng lớn càng giống mẹ, được đặt tên là Thẩm Lạc.
          Thẩm Lạc hai má cũng có lúm đồng tiền mờ mờ, ba tuổi đã học thuộc những câu rất cao thâm trong sách. Nếu gặp chữ khó, không đọc được cũng nhất định không muốn người khác nhắc, chỉ ngồi yên, chống hai bàn tay bụ bẫm dưới cằm, trầm ngâm cố nhớ lại.
          Mùa đông, mặc áo bông dày, cử động khó khăn, nhưng tính bướng bỉnh, nó nhất định không chịu thay đổi tạo hình, cố chống tay vào cằm, nhưng được cái nọ lại mất cái kia, mấy lần ngã nhào từ trên ghế, đau cũng không khóc, chỉ lấy tay xoa xoa, lại đứng dậy. Điểm này giống hệt Tống Ngưng.
          Thẩm Lạc thông minh lanh lợi, nhưng lại không nhận ra cha ruột, mỗi lần nhìn thấy Thẩm Ngạn, nó đều gọi bằng chú, không gọi cha. Chứng tỏ nó rất ít cơ hội gặp Thẩm Ngạn, nghĩa là mẹ nó và Thẩm Ngạn cũng rất ít gặp nhau. Nhưng một đứa trẻ thông minh, mới hai tuổi đã biết đọc những chữ rất phức tạp, thật sự không thể biết nó không nhận ra Thẩm Ngạn hay chỉ tỏ ra như thế. Nhưng một đứa trẻ đáng yêu như vậy không ngờ lại chết yểu.
          Chuyện xảy ra rất sớm, vào một ngày đông lúc Thẩm Lạc bốn tuổi.
          Hôm đó, Thẩm Ngạn đưa đứa con gái đến Thẩm phủ thăm lão tướng quân và lão phu nhân, cô con gái nhỏ trốn người hầu, một mình vào chơi ở hoa viên thì gặp Thẩm Lạc. Hai đứa trẻ không biết tại sao cãi nhau, giằng co, cả hai không may ngã xuống hồ sen. Lúc cứu lên bờ, cũng chưa việc gì, nhưng vì Thẩm Lạc đang mắc thương hàn, bị nhiễm nước lạnh, khiến bệnh lại càng nặng, sốt cao mấy ngày liền, đến ngày thứ ba, trời còn chưa sáng, đôi mắt to khép lại trên khuôn mặt đỏ ửng vì sốt, phút chốc Thẩm Lạc đã ra đi.
          Sự việc khiến Tống Ngưng gục hẳn.
          Tôi nhìn thấy một vầng mặt trời mùa đông từ từ nhô lên phía cuối Nhạc thành, thân thể bé nhỏ của Thẩm Lạc nằm trong lòng Tống Ngưng, sắc mặt vẫn hồng hào như đang ngủ. Cô ôm con ngồi trên bậc cửa hoa đình, rèm bốn phía cuốn cao, ánh mặt trời vàng vọt chiếu lên người Thẩm Lạc. Cô nâng thằng bé lên cao gọi: “Con trai, mặt trời lên rồi, chẳng phải con đã nói nửa tháng nay không thấy mặt trời, cái chăn của con đã sắp mốc rồi sao? Hôm nay, cuối cùng đã có mặt trời, mau nào, mang chăn của con ra phơi đi”.
          Nhưng Thẩm Lạc không tỉnh dậy được nữa. Nước mắt giàn giụa chảy trên má Tống Ngưng, rơi xuống đôi mắt nhắm nghiền của đứa con, giống như nó đang còn sống, nhìn thấy mẹ đau khổ, nó cũng trào nước mắt.
          Thẩm Ngạn cùng tùy tùng xuất hiện trong hoa viên, Tống Ngưng tay nắm thanh kiếm đi ra khỏi hoa đình, thanh kiếm sắc sáng loáng càng tôn chiếc váy dài màu bạc lóng lánh, khuôn mặt vẫn giữ nụ cười không biểu cảm, như đóa sen hồng nở trên nền tuyết lạnh. Một cô gái đẹp như vậy!
          Thanh kiếm lao vút về phía Thẩm Ngạn, tiếng xé gió làm rung cả cánh hoa. Cô đoán được vị trí chàng sẽ né tránh. Nhát kiếm này vung lên sẽ kết thúc mọi ân oán tình thù giữa hai người, chỉ có điều, không ngờ chàng vẫn đứng yên, mắt trừng trừng nhìn thanh kiếm lao tới.
          Thanh kiếm bất lực, đành đâm chệch sang bên, chàng loạng choạng hai bước rồi đứng lại, nắm bàn tay cầm kiếm của cô: “A Ngưng”.
          Cô ngẩng đầu nhìn chàng, như không hề quen biết: “Tại sao con trai tôi chết rồi, mà các người vẫn còn sống được, chàng và Liễu Thê Thê lại vẫn sống được”.
          Suốt cả đời, tôi chưa từng nghe một giọng nào bi thương đến vậy.
          Thanh kiếm sượt qua ống tay áo Thẩm Ngạn, thấm ra một vệt máu. Cô nhìn vết thương của chàng, muốn rút tay khỏi tay chàng, nhưng không được, cuối cùng, máu ứ đọng bấy lâu trong tim cô phun ra nhuộm đỏ chiếc áo trắng muốt của chàng. Chàng ôm chặt cô, còn cô khụy xuống trong vòng tay chàng.
          Từ đó Tống Ngưng đổ bệnh.
          Mọi chuyện về sau diễn ra như đã biết.
          Câu chuyện là như vậy. Tống Ngưng hôm nay ngồi trên chiếc giường mây trong thủy đình, sắc diện dửng dưng, dường như mọi thứ trong mắt cô đều nhạt nhòa. Cô dùng một câu tổng kết mọi chuyện trong bảy năm qua. “Quân Phất, yêu một người dễ dàng như vậy, hận một người cũng dễ dàng như vậy”.
          Tôi không dám dễ dàng đồng lòng với cô, giống như tôi yêu Mộ Ngôn. Tôi yêu chàng quả thực không dễ dàng. Nếu chàng không hai lần cứu mạng tôi, chúng tôi chỉ như khách qua đường. Khoan nói tôi chủ động yêu chàng, dù chàng chủ động yêu tôi, tôi cũng không cho chàng cơ hội.
          Mà cho dù tôi yêu chàng, cuộc đời này cũng không thể cho chàng cơ hội để chàng làm tổn thương tôi, để tôi hận chàng. Đương nhiên, tất cả chuyện đó có thể xảy ra khi tôi là một người sống. Mà đời này tôi đã chết, bây giờ đã là người chết, ý nghĩ dù kiên định cũng chỉ là ý nghĩ mà thôi, lúc rỗi rãi nghĩ ngợi một chút, tự an ủi mình...
          Thực ra, tôi thấy tất cả bi kịch đều do Thẩm Ngạn quá chung tình. Nếu chàng không chung tình như vậy thì hoàn toàn có thể có được sự hòa hợp viên mãn giữa ba người. Kết cục khiến người sống, kẻ chết, thật tang thương.
          Lúc sắp chia tay, Tống Ngưng mệt mỏi nói: “Bây giờ nghĩ lại, từ đầu đến cuối, người tôi yêu e rằng chỉ là một ảo ảnh trong lòng”.
          Tôi gật đầu đồng tình.
          Cô nhẹ nhàng nói: “Quân Phất, cô có thể giúp tôi sống lại ảo ảnh đó không, trong mơ thôi?”.
          Mặt trời lặn dần về tây, dư quang ánh lên mặt hồ sen. Tôi gật đầu: “Cho tôi thời gian hai ngày, phu nhân xem liệu có đủ để phu nhân lo liệu những việc còn lại trên trần thế. Hai ngày sau, chúng ta vẫn hẹn gặp trên hồ này, tôi sẽ dệt cho phu nhân một giấc mộng”.
          #5
            manhbv 08.01.2013 21:35:56 (permalink)
            Chương 4

            Hai ngày sau, mọi người đang ngồi ăn sáng. Không khí thoáng đãng, muỗi cũng ít. Tôi nhắc tới chuyện hôm nay phải đi vào giấc mộng của Tống Ngưng, sửa lại những điều tiếc nuối, xem Tiểu Lam có thể đi cùng tôi.
            Vì đường đến nước Khương quá thuận lợi, nên anh ta không có cơ hội thể hiện bản lĩnh, thật đáng tiếc cho tấm lòng thành như vậy. Lần này cùng tôi vào giấc mộng ắt xảy ra rất nhiều chuyện khó lường, anh ta sẽ có cơ hội cứu tôi khỏi nước sôi lửa bỏng, vừa có thể bù đắp những điều đáng tiếc anh ta chưa làm được đối với chúng tôi, cũng thực hiện lời anh ta hứa với tôi cách đây mười sáu ngày bốn canh giờ ba khắc.
            Tôi nói xong câu đó, ba người đang ăn nhất loạt đánh rơi đũa, chỉ có Tiểu Lam phản ứng khá nhanh, đôi đũa mới rơi lưng chừng đã nhanh tay chộp lại, còn Quân Vỹ và Chấp Túc đành phải gọi người hầu lấy cho đôi đũa khác. Quân Vỹ ngạc nhiên là bởi thay vì để anh ta cùng tôi đi vào giấc mộng, tôi lại mời Tiểu Lam, trong khi Quân Vỹ mới là người Quân sư phụ ủy thác bảo vệ tôi.
            Nhưng sự lựa chọn của tôi quả thực cũng có nỗi khổ riêng. Bởi Quân Vỹ mặc dù được gọi là kiếm khách, nhưng thực chất vẫn là một tiểu thuyết gia, thường hay nảy sinh cảm hứng trong lúc đối phó với sự cố trên đường, những lúc đó, anh ta thường quyết định kết thúc cuộc đấu, tìm một nơi yên tĩnh để viết tiểu thuyết, bỏ quên bạn đường trong trận địa.
            Đó là nguyên do tại sao Tiểu Hoàng vốn là con hổ đã được thuần dưỡng, có lúc còn hung hãn hơn hổ hoang dã. Tiểu Hoàng cũng không nhớ đã bao lần Quân Vỹ do cảm hứng phát tác đã bỏ quên tôi trong làn mưa tên bão giáo.
            Có thể thấy, nếu mệnh không lớn, tìm một người hộ vệ như Quân Vỹ rủi ro cũng vô cùng lớn, bởi vì... cảm hứng khó nắm bắt như vậy, tai nạn... cũng khó nắm bắt như vậy, nếu lựa chọn, ngay Tiểu Hoàng cũng không lựa chọn Quân Vỹ, huống hồ tôi, một người thân thủ rất bình thường.
            Mặc dù trong lòng nghĩ vậy nhưng tôi không thể làm tổn thương lòng tự trọng của Quân Vỹ, suy nghĩ một lát, tôi nói với anh ta: “Chủ yếu là huynh phải ở lại để bảo vệ cây đàn của muội. Huynh xem, nếu như mọi người đều đi vào giấc mộng của Tống Ngưng, ai đó thừa cơ đến phá đàn của muội thì làm thế nào?”.
            Quân Vỹ nghe xong mặt sa sầm, suy nghĩ một lát, ngoái đầu dặn Tiểu Lam: “Tuy chuyến đi lần này mục đích là để A Phất dệt giấc mộng cho Tống Ngưng. Nhưng cảnh trong mộng, anh và A Phất gặp phải lại là cảnh thật, bị thương là bị thương thật, chết cũng là chết thật. Mọi sự phải nhất nhất cẩn trọng, anh chết không sao, nhưng nhất thiết phải bảo vệ A Phất”.
            Tiểu Lam không nói gì, đang dùng đũa gắp chiếc bánh chẻo nhân tôm bóng mỡ cuối cùng trong lồng hấp, tôi nhìn cái bánh nuốt nước bọt. Đôi đũa dừng lại giữa chừng, đôi mắt đẹp của anh ta liếc về phía tôi, nửa cười nửa không: “Quân cô nương thích món này?”.
            Tôi nhìn theo miếng bánh trên đũa của anh ta, lắc đầu tiếc nuối. Đôi đũa chuyển hướng, trong nháy mắt chiếc bánh rơi trúng đĩa của tôi, màu xanh của đôi đũa tre lẫn với màu vỏ bánh xanh bóng. Cách cầm đũa của anh ta sao mà duyên dáng, nho nhã như một công tử quý tộc được giáo dưỡng nghiêm cẩn.
            Tôi thực sự chẳng thèm thuồng gì cái bánh đó, chỉ là sở thích ngày trước, bây giờ nhìn thấy không khỏi lưu luyến, nhưng vì không có vị giác nên có ăn cũng như nhai nến mà thôi, đã vậy không nên lãng phí, thế là tôi gắp trả vào đĩa anh ta. Lúc đôi đũa của tôi đang ở phía trên bát canh, Quân Vỹ hét lên: “Các người làm gì vậy, không nghe thấy lời tôi nói sao?”.
            Tôi giật bắn người, chiếc bánh rơi tõm vào bát canh, Tiểu Lam nhanh tay kéo tôi về phía sau. Chỉ thấy “bụp” một tiếng, nước canh bắn tung tóe. Quân Vỹ giận dữ nhìn tôi, chiếc áo trắng muốt của anh ta bắn đầy nước canh.
            Tiểu Lam cũng nhìn Quân Vỹ, nói giọng nghiêm túc: “Lời người anh em dặn dò, tại hạ xin ghi nhớ, tại hạ có chết cũng không hề gì, nhất định phải bảo vệ Quân cô nương”.
            Quân Vỹ nghiến răng: “Không cần bảo vệ cô ta, bây giờ anh giết chết cô ta cũng được”.
            Tôi nói: “Ấy, như thế không hay...”.
            Tiểu Lam nhìn tôi nửa cười nửa không, đang định nói thì Chấp Túc nãy giờ im lặng chợt lên tiếng: “Cô nương lại biết mật la ảo thuật, đã lâu đông lục chưa có ai...”.
            Chưa nói hết đã bị Quân Vỹ giận dữ ngắt lời: “Cô ấy gia cảnh bần hàn, học được chút ảo thuật để kiếm sống, có gì đáng lạ?”.
            Mặt Chấp Túc đầy vẻ kinh ngạc.
            Tiểu Lam mỉm cười nhìn tôi: “Gia cảnh bần hàn? Kiếm sống?”.
            Tôi nhìn Quân Vỹ, xem xét vẻ mặt của anh ta, cảm thấy không nên phủ định những gì anh ta xây dựng về tôi, gật đầu: “Đúng...”.
            Chấp Túc: “...”.
            Tiểu Lam: “...”.
            Ăn sáng xong, Quân Vỹ về phòng thay quần áo, Chấp Túc không biết chạy đi có việc gì, chỉ còn tôi và Tiểu Lam ngồi đợi. Tôi ngồi trên chiếc ghế gỗ tử đàn hương, suy nghĩ, làm thế nào để dệt giấc mộng Thẩm Ngạn yêu Tống Ngưng. Giấc mộng do Hoa Tư điệu dệt ra gọi là Hoa Tư mộng, Hoa Tư mộng chỉ là tái hiện quá khứ. Một Thẩm Ngạn trong tưởng tượng mà Tống Ngưng nói kỳ thực không tạo ra được.
            Tôi và Tiểu Lam nhập vào Hoa Tư mộng của Tống Ngưng là để thay đổi quá khứ của cô, để ngăn những chuyện đau khổ xảy ra trong quá khứ, khiến trong giấc mộng cô được sung sướng hạnh phúc, không còn phiền muộn, có điều vui vẻ thế nào, không phiền muộn ra sao, nếu trong lòng vẫn còn tham vọng thì đó chính là nguồn gốc khổ đau.
            Tôi nghĩ, có lẽ chúng tôi có thể bắt cóc Tống Ngưng trên chiến trận ở cánh đồng hoang Thương Lộc, không để cô ta đi cứu Thẩm Ngạn, Thẩm Ngạn lúc đó sẽ chết. Nhưng nếu vậy quá khác so với kỳ vọng của Tống Ngưng, tôi lại nghĩ, hay là đánh cược một phen?
            Đúng lúc đang suy nghĩ miên man thì Tiểu Lam xen vào, cắt ngang luồng suy nghĩ của tôi. Anh ta ngắm nghía cây đàn thất huyền của tôi, một lúc lâu sau, nói: “Quân cô nương nói, có phải nếu cây đàn này bị hỏng sẽ phiền toái lớn?”.
            Tôi trả lời: “Phải”.
            Anh ta ngạc nhiên: “Thế nào là phiền toái lớn? Nếu cây đàn này hỏng nghĩa là Hoa Tư mộng tan vỡ?”.
            Tôi lặng người một lúc, không hiểu tại sao anh ta lại có ý nghĩ đáng sợ như vậy, tôi lắc đầu: “Không phải, chỉ là nếu cây đàn bị hỏng thì tôi phải bỏ ra hai thù vàng(*) để mua cây đàn mới mà thôi”.
            Anh ta nhìn tôi không nói gì.
            Tôi cũng nhìn anh ta.
            Không gian bỗng nhiên tĩnh lặng.
            Đột nhiên đôi mắt đẹp của anh ta dâng lên nụ cười, nụ cười đẹp đến nỗi khiến lòng tôi đau nhói.
            Anh ta cười: “Nhìn Quân cô nương thế này rất giống một người tôi từng quen”.
            Tôi nghe nói vậy thực ra trong lòng không vui. Giống như hồi tôi ở Thanh Ngôn tông, nghe nói một người họ Lưu sống ở chân núi muốn vợ vui lòng, mới khen cô ta giống cô đào nổi tiếng Trương Bạch Chi, kết quả là bị vợ vác xẻng đuổi đánh bảy dặm đường. Mặc dù Trương Bạch Chi đẹp khuynh quốc khuynh thành, trong khi Lưu phu nhân chỉ cao thước mốt, nặng gần sáu chục ký.
            Thực ra lòng dạ nữ nhi trong thiên hạ phần lớn đều như nhau, họ thích độc nhất vô nhị không thích khuynh quốc khuynh thành. Tôi nghĩ, nếu phu quân tương lai của tôi cũng nói một câu như Tiểu Lam nói hôm nay, tôi nhất định bắt anh ta quỳ rách đầu gối. Nghĩ chán, tôi lại thấy ý nghĩ đó đúng là thừa, giả sử sau này tôi cũng có đấng phu quân, người đó chỉ có thể là Quân Vỹ, nhưng con người Quân Vỹ dù có quỳ rách đầu gối cũng không thể có trí nhớ tốt hơn.
            Giờ Thìn, cả đoàn bốn người, cộng thêm tiểu hổ cùng đi đến thủy đình trên hồ như đã hẹn.
            Khí sắc Tống Ngưng đã khá hơn nhiều so với hai hôm trước. Mái tóc vấn cao, một dải lụa trắng buộc ngang trán ở giữa gắn mảnh ngọc bích hình trăng khuyết. Tôi mơ hồ cảm thấy đã gặp cô ở đâu đó, nghĩ mãi, cuối cùng nhớ ra, hai hôm trước qua Hoa Tư điệu tôi đã nhìn thấy cô như vậy trong đêm tân hôn, hôm nay cô cũng trang điểm như thế, chỉ khác là hồi đó cô mặc đại hỉ bào đỏ chói, còn hôm nay chỉ là chiếc váy dài trắng muốt giản dị, toàn thân không hề đeo trang sức.
            Tôi nói: “Phu nhân như thế này...”.
            Cô ta cười: “Nên sửa sang một chút mới đi gặp chàng”.
            Tôi biết chàng mà cô nhắc tới là ai. Chỉ có thể là Thẩm Ngạn, người cô yêu. Năm Lê Trang Công thứ mười bảy, một ngày đông hàn có băng tuyết, trước cửa khẩu Ngọc Lang, Thẩm Ngạn chỉ cần năm chiêu đã khiến cô ngã ngựa. Trên núi tuyết cạnh cánh đồng hoang Thương Lộc, Thẩm Ngạn nói với cô: “Nếu cô nương không chê, đợi tại hạ lành vết thương, xin đến quý gia cầu hôn cô nương”.
            Sai lầm lớn nhất trong cuộc đời Tống Ngưng là chỉ yêu duy nhất một người đàn ông là Thẩm Ngạn. Vì thế một khi mất chàng ta dường như mất tất cả, đến chết cũng không thể nguôi ngoai. Nhưng nếu cô có nhiều đàn ông cùng lúc theo đuổi, mất chàng ta bất quá cũng chỉ là giảm bớt gánh nặng. Lý trí kịp thời không cho phép tôi tiếp tục suy nghĩ lan man, cứ nghĩ tiếp thì câu chuyện này sẽ biến thành truyện nữ tôn(*) mất.
            Tống Ngưng nói với tôi: “Quân Phất, nếu có thể được, tôi còn mong được đoàn viên với Lạc Nhi, có phải vậy là quá tham lam, nếu Lạc Nhi còn sống, tháng sau là sinh nhật tròn sáu tuổi, tôi không biết nếu còn sống đến giờ Lạc Nhi sẽ thế nào, ngày xưa nó đáng yêu vô cùng”.
            Tôi liền giở cây đàn ra, an ủi cô: “Tôi đến đây là để giúp phu nhân thực hiện ước nguyện, tôi sẽ cho mẹ con phu nhân được đoàn viên. Chúng tôi đi đã, phu nhân hãy ngủ một giấc, khi phu nhân ngủ say, tôi sẽ trở lại dệt mộng cho phu nhân”.
            Tống Ngưng nhắm mắt. Những lời nói cuối cùng của Tống Ngưng đã củng cố niềm tin cho tôi. Tôi nghĩ, tôi vẫn muốn đánh cược một lần.
            Hồ sen bạt ngàn một màu lá xanh biếc, điểm xuyết vài bông sen mới hé, người hầu kê giá đàn ven hồ. Tôi thử dây đàn, nhìn thấy Quân Vỹ đang bịt tai, anh ta không biết tôi không còn như ngày xưa nữa, ngón đàn của tôi giờ đã khác.
            Ngày trước tôi không thích chơi đàn vì không biết chơi cho ai nghe. Sư phụ đã có tuổi, mỗi lần nghe tôi đàn thường ngủ gật. Quân Vỹ mỗi lần thấy tôi đàn cũng mang đàn ra gẩy, còn tôi mỗi khi nhìn thấy những ngón tay anh ta bấm dây đàn lại không ngăn nổi ý nghĩ muốn đập đàn vào đầu anh ta.
            Sau này, Mộ Ngôn xuất hiện, dù tôi không biết hình dáng, không nhớ giọng nói của chàng, nhưng dáng chàng cúi đầu ôm cây đàn dưới ánh trăng tôi chưa bao giờ quên, cả những âm điệu du dương tôi chưa từng nghe. Nhớ đến câu thơ “gửi lòng vào tiếng đàn”, sau này tôi chăm chỉ học đàn, chỉ là mong được gảy cho chàng nghe.
            Giờ Mão hai khắc, mặt trời ló khỏi đám mây, trải đầy ánh vàng trên mặt đất. Tôi gảy Hoa Tư điệu của Tống Ngưng. Vốn tưởng cô tính cách can trường như vậy, lại cưỡi ngựa chinh chiến mấy năm, Hoa Tư điệu của cô tất sẽ như tiếng sắt tiếng vàng tiếng vó ngựa chen nhau, nhưng âm thanh tuôn ra dưới dây tơ lại âm thầm như nước chảy, đìu hiu thê lương xé gan xé ruột.
            Hoa Tư điệu là hiện thân của cõi lòng, giai điệu là tính mệnh, từng tiếng đàn như huyết lệ khóc than, không biết trái tim Tống Ngưng đã tan nát thế nào. Dù can trường đến mấy, cô vẫn là nữ nhi, không chết ở chiến trường, lại chết trong tình yêu.
            Gảy thanh âm cuối cùng, trên mặt hồ sen đã có sương mù bay lên, làn sương khói nhuốm hồng mê ly mờ ảo như ẩn như hiện, chỉ có người mang viên giao châu trong cơ thể mới có thể nhìn thấy cảnh tượng kỳ ảo đó.
            Tiểu Lam trầm ngâm nhìn về dãy núi xa, không biết đang nghĩ gì. Tôi rời cây đàn đứng lên, bước tới kéo tay anh ta. Anh ta ngạc nhiên nhìn tôi.
            Tôi đang định giải thích, Quân Vỹ đã cao giọng: “Nam nữ thụ thụ bất thân...”.
            Tôi nói: “Thụ thụ bất thân cái gì, không kéo anh ta, làm sao đưa anh ta vào giấc mộng của Tống Ngưng?”.
            Tiểu Lam không nói gì.
            Tôi vẫn nắm tay anh ta.
            Vì tôi không còn là người trần thế nên nam hay nữ đối với tôi không còn ý nghĩa gì. Nhưng bị Quân Vỹ nhắc nhở nên cũng không thể không để ý đến suy nghĩ của Tiểu Lam và suy nghĩ của Chấp Túc, nữ hộ vệ của anh ta. Nhưng ngoài kéo anh ta, không có cách nào khác đưa anh ta vào Hoa Tư mộng của Tống Ngưng.
            Mặt Chấp Túc lộ vẻ kinh ngạc, miệng đang há ra, rồi dần khép lại. Thấy Tiểu Lam không có ý phản đối, tôi thấy hay là hỏi thẳng anh ta, cân nhắc một hồi tôi nói: “Tôi kéo tay huynh một lúc, huynh không để tâm chứ?”.
            Anh ta thản nhiên ngẩng đầu nhìn tôi, cặp lông mày khẽ nhướn: “Nếu tôi để tâm thì sao?”.
            Tôi cũng thản nhiên nhìn trả: “Vậy đành đợi khi chúng ta thoát khỏi giấc mộng của Tống Ngưng, huynh chỉ việc chặt phăng bàn tay huynh đi là xong”.
            Quân Vỹ nói: “Nếu vậy thì tốt, thế mới là trang nam tử hảo hán”.
            Tôi nói: “Tốt cái đầu huynh ấy”.
            Tiểu Lam nhếch mép cười: “Nói đùa vậy thôi, Quân cô nương không để tâm, sao tôi lại để tâm?”.
            Nụ cười nhếch mép của anh ta đột nhiên khiến tôi hơi ngơ ngẩn. Nhưng lúc này đang làm đại sự, không được nghĩ lung tung. Tôi kéo anh ta cùng nhảy vào quầng sáng màu vàng sương khói mịt mùng trên hồ sen. Nếu có người đi qua, nhất định sẽ nghĩ chúng tôi nắm tay nhau tự vẫn vì tình, lại có Quân Vỹ, Chấp Túc, Tiểu Hoàng đứng trên bờ vẫy tay, chẳng khác gì tiễn biệt, thực không hiểu người ngoài nhìn thấy sẽ nghĩ gì.
            Phía sau quầng sáng chính là Hoa Tư mộng của Tống Ngưng. Đây là cảnh một thị trấn phồn hoa, trên không là vầng mặt trời mùa đông bạc màu. Xa hơn nữa có thể nhìn thấy đỉnh núi tuyết, tuyết đọng long lanh in hình trời xanh, giống như những hồ sữa dài trập trùng. Gió lạnh buốt xuyên qua chiếc váy mỏng lạnh thấu xương.
            Viên giao châu có tính hàn, tôi vốn đã sợ lạnh, lại gặp gió buốt nên hắt hơi liên tục. Mọi việc đã chuẩn bị chu đáo, nhưng lại quên một điều bây giờ đang là tháng năm đầu mùa hạ, mà trong Hoa Tư mộng lại là mùa đông tháng chạp. Tôi run lập cập hỏi Tiểu Lam: “Huynh có mang tiền không, chúng ta đến hiệu quần áo đã”. Chưa nói xong đã thấy hai chiếc áo khoác chìa ra. Tôi không tin vào mắt mình, ngước nhìn Tiểu Lam. Anh ta dúi chiếc áo màu hồng vào tay tôi, còn mình mặc chiếc áo màu trắng. Thấy tôi tròn mắt anh ta nói: “Lúc ăn sáng thấy Quân cô nương nói, khi Thẩm phu nhân cứu Thẩm tướng quân là mùa đông tôi liền sai Chấp Túc đi chuẩn bị hai chiếc áo khoác, không ngờ lại đắc dụng”. Tôi ôm chiếc áo, không ngớt lời khen: “Tiểu Lam, huynh chu đáo quá”.
            Anh ta đứng bên, dửng dưng nhìn tôi: “Chu đáo vừa thôi”. Lát sau lại nói: “Mặc ngược rồi”.
            Mặc áo xong, tôi nói với Tiểu Lam ý nghĩ của mình. Khi chúng tôi tới đây vừa đúng lúc Tống Ngưng tìm thấy Thẩm Ngạn trên chiến trường đầy xác chết và đã đưa chàng vào hang núi tuyết. Thực ra tất cả đều do Thẩm Ngạn nhận nhầm người. Mặc dù không dám đảm bảo, sau khi tỉnh dậy, ánh mắt đầu tiên chàng ta nhìn thấy là Tống Ngưng chứ không phải là Liễu Thê Thê, liệu chàng có lập tức si mê Tống Ngưng như đã si mê Liễu Thê Thê. Nhưng phải thử thôi. Tôi phân tích: Thứ nhất, phải khiến thuộc hạ của đại huynh Tống Ngưng phái đi tìm cô rời khỏi thị trấn, Tống Ngưng mới yên tâm ở lại chăm sóc Thẩm Ngạn trong y quán. Thứ hai, phải khiến Thẩm Ngạn không gặp được cô gái câm Liễu Thê Thê trong y quán, mới loại bỏ được khả năng hai người đó đến với nhau.
            Tiểu Lam cho rằng làm như thế rất đúng, giết chết thuộc hạ của đại huynh Tống Ngưng và Liễu Thê Thê là mọi việc sẽ thuận lợi. Nói ra ý nghĩ ác độc đó trên mặt anh ta vẫn thản nhiên như không, dường như giết người dễ dàng như giết kiến.
            Thực ra tôi cũng thấy như vậy rất giản tiện. Chỉ có điều giấc mộng do viên giao châu dệt nên, pháp lực của viên giao châu được tu luyện dựa vào hấp thụ giấc mộng đẹp của con người. Giấc mộng phải đẹp mới có thể cám dỗ con người, nhưng quá trình cám dỗ đó nếu tùy tiện gây ra cảnh chết chóc lại bất lợi cho việc tu luyện của viên giao châu. Nói cách khác, giết Liễu Thê Thê và những người khác trong giấc mộng, sinh mệnh tôi lấy được của Tống Ngưng có thể giúp tôi sống thêm một năm rưỡi nữa, nhưng nếu không giết bọn họ, sinh mệnh tôi lấy được của Tống Ngưng có thể giúp tôi sống thêm ba năm. Vì thế tôi cảm thấy, chưa bất đắc dĩ, không giết người vẫn hơn.
            Có thể trong ảo mộng đó, để thực hiện lời hứa với Tống Ngưng, cuối cùng tôi vẫn phải giết một người nào đó. Nhưng cuộc trao đổi nào chẳng phải trả giá, chỉ là vạn bất đắc dĩ mà thôi.
            Tôi nói với Tiểu Lam: “Hay là chúng ta đừng chọn giải pháp tàn khốc như vậy, cứ dùng biện pháp mềm dẻo trước đã. Có thể giải quyết sự việc bằng thương lượng vẫn hơn phải động gươm đao”.
            Tiểu Lam trầm tư: “Cô hành sự như vậy, không sợ lỡ việc sao?”.
            Tiểu Lam bỏ mặc tôi, đi thẳng vào tửu quán bên cạnh. Tôi hỏi người đi đường, biết đó là tửu quán lớn nhất thị trấn.
            Bước lên tầng hai, chỉ có cái bàn cạnh cửa sổ còn trống bèn ngồi xuống.
            Xưa nay tôi luôn thích những cái bàn cạnh cửa sổ trong tửu quán, bởi vì trong truyền thuyết, khách lựa chọn ngồi ở vị trí đó thường là những nhân vật khác thường. Nếu là truyền thuyết tình yêu, khách ngồi ở đó không hoàng đế cũng vương gia, nếu là truyền thuyết giang hồ, khách ngồi ở đó không minh sư cũng giáo chủ.
            Những nhân vật huyền bí đó đến tửu lầu dùng bữa hầu như chỉ ngồi bên cửa sổ, những ngón tay thanh tú nâng chung rượu trắng, để lại cho bàn dân thiên hạ xung quanh nửa khuôn mặt nhìn nghiêng, để họ tha hồ bàn tán suy diễn.
            Tôi nhìn trước nhìn sau, hỏi Tiểu Lam, “Một tửu lầu lớn thế, sao chỉ có chỗ chúng ta còn trống?”.
            Anh ta vừa rót trà vừa hất hất cằm.
            Tôi không hiểu ý anh ta, thử đoán, “Lẽ nào đúng là vị trí trong truyền thuyết chỉ có thể để nhân vật trong truyền thuyết ngồi, mọi người đa số cảm thấy mình không phải là nhân vật đó, nên mới chủ động để lại vị trí? Ha, thiên hạ đúng là quá tự giác”. Nói xong tôi hắt hơi.
            Tiểu Lam giơ tay chỉ cửa sổ bên cạnh, “Cánh cửa hỏng, không đóng được”.
            Tôi không tin, nhìn anh ta, “Hả?” rồi lại hắt hơi lần nữa.
            Anh ta trao cho tôi chén trà bốc hơi nghi ngút, chậm rãi nói, “Bên ngoài gió rất to, nếu còn chỗ khác tôi cũng không muốn ngồi ở chỗ đầu gió thế này”.
            Tôi nói, “Cái này...” vừa nói đến đó, lại hắt hơi lần nữa.
            Tiểu nhị nhanh chóng mang thức ăn đến, Tiểu Lam gọi một hũ rượu hâm nóng, thêm mấy món gì đó tôi cũng không để ý, chỉ vô tình nghe thấy bánh chẻo nhân tôm vỏ phỉ thúy. Tôi vừa ngẫm nghĩ vừa xen lời: “Sáng đã ăn bánh chẻo nhân tôm phỉ thúy rồi, đổi món khác đi”.
            Tiểu Lam nói: “Chẳng phải cô rất thích món này sao?”.
            Tôi nói: “Tôi ăn gì cũng được, cái chính là huynh thôi, huynh thích gì cứ gọi”. Đằng nào tôi ăn gì cũng chỉ có một vị, đó là chẳng có vị nào hết.
            Tiểu Lam ngẩng đầu nhìn tôi, tiểu nhị dẻo miệng chen vào: “Cô nương đúng là rất tâm lý”.
            Tôi gật đầu tán đồng, tiếp tục suy nghĩ. Suy nghĩ làm sao dụ được thuộc hạ của Tống Diễn đi mà không cần đổ máu, hơn nữa trong chuyện này việc đầu tiên cần làm là tìm ra thuộc hạ của Tống Diễn trong trị trấn đông đúc này.
            Mặc dù nhờ Hoa Tư điệu của Tống Ngưng tôi có thể thấp thoáng nhìn thấy bóng họ, chỉ có thể nhận ra mấy người đàn ông to khỏe vâm váp, lưng hổ tay gấu, nhưng trong thị trấn này đàn ông như vậy rất nhiều, tôi không thể đến hỏi từng người, “Đại ca, đại ca có phải là binh sĩ nước Lê, mẹ đại ca gọi đại ca về ăn cơm”.
            Làm như vậy đến bao giờ mới tìm được họ.
            Rượu được nhanh chóng mang ra, Tiểu Lam đưa cho tôi, đang định đón lấy ủ tay cho ấm. Anh ta lại cầm chung rượu, vẫn không buông ra, tôi giơ tay lấy, mắt anh ta như đầm sâu tĩnh lặng: “Tôi chỉ đường cho cô gái kia, cô giận gì chứ?”.
            Tôi ngớ ra, không hiểu: “Sao?”.
            Anh ta cau mày lạnh lùng: “Lại giả bộ rồi, tôi ghét nhất cô giả bộ với tôi”.
            Tôi chỉ vào mũi mình: “Huynh đang nói với tôi đấy à, huynh nói cô gái nào...”.
            Anh ta ngắt lời tôi: “Cô gái cầm cây thương vừa rồi, dáng cao cao, áo tím. Từ lúc tôi khen cây thương của cô ta, giọng nói của cô với tôi bắt đầu lạnh nhạt, còn không thừa nhận mình đang giận, cô giận gì vậy?”.
            Tôi không hiểu, “Giận ư? Tôi đâu có giận”.
            Mấy người đàn ông ngồi cách đó vài cái bàn đột nhiên cười rộ, cùng nói: “Chai dấm ở đâu đổ rồi, người anh em, cô ấy đang ghen đấy, ai bảo anh lại khen cô gái khác trước mặt cô ấy, ha ha ha...”.
            Tôi vẫn không hiểu đầu đuôi thế nào, nhưng bị họ nói to như vậy, bao nhiêu thực khách trong tửu lầu đều dồn mắt về phía này.
            Tôi lẩm bẩm: “Cô nương áo tím, dáng cao cao, cầm cây thương?”.
            Anh ta không để ý đến lời tôi, chộp cánh tay tôi, ánh mắt vừa rồi còn lạnh lùng đột nhiên vui như đang cười: “Ghen thật sao?”.
            Mặt tôi vẫn dửng dưng, giật tay về: “Quả thực tôi không ghen”.
            Tiểu Lam buông tay tôi. Bởi vì bàn ăn bên cạnh không biết từ đâu xuất hiện một toán người. Toán người đó vận trang phục theo kiểu người Khương, nhưng giọng nói lại là khẩu âm vùng biên giới nước Lê, vừa nghe đã biết là trá hình. Một người có vẻ là toán trưởng hướng về phía Tiểu Lam: “Tiểu huynh đệ nói vừa gặp một cô gái áo tím, tay cầm cây thương, lại còn chỉ đường cho cô ấy, xin hỏi cô gái đó đi về hướng nào?”.
            Kỳ thực, từ lúc phát hiện ra toán người này, tôi đã lập tức hiểu ý đồ của Tiểu Lam. Cô gái áo tím mà anh ta nói rất nổi bật. Chỉ cần có duyên gặp một lần, tôi không thể không nhận ra cô ta chính là Tống Ngưng.
            Nếu Tiểu Lam có thể đánh lừa được toán người đi tìm Tống Ngưng, điệu họ rời khỏi thị trấn thì tốt. Đang nghĩ như vậy, quan sát biểu hiện của Tiểu Lam tôi hết sức ngạc nhiên. Lúc này mặt anh ta đầy cảnh giác, hỏi mấy người kia: “Cô gái áo tím đó có quan hệ thế nào với các vị? Các vị định làm gì?”. Giống như anh ta quả đã từng gặp cô gái áo tím đó, tuy chỉ thoáng qua, nhưng vô cùng ngưỡng mộ cô, sợ những người đó có ý đồ gì với cô nên muốn bảo vệ cô.
            Toán người nhìn nhau, toán trưởng nói vẻ bối rối: “Quả thật không dám giấu, cô nương áo tím mà tiểu huynh đệ đã gặp chính là tiểu thư nhà chúng tôi bỏ nhà đi. Tiểu thư bỏ đi, thiếu gia chúng tôi rất lo lắng, phái mấy huynh đệ bọn tôi đi tìm. Tiểu thư đi về hướng nào, rất mong tiểu huynh đệ chỉ giúp”.
            Lòng tôi thầm giục, nói đi, nói đi, nói, chỉ bừa một hướng nào đó để họ rời đi, nhưng mặt Tiểu Lam lộ vẻ phân vân. Nghĩ một lát, tôi lập tức hiểu ra, thâm tâm anh ta chắc cũng đang muốn nói một địa chỉ nào đó để bọn họ rời khỏi thị trấn, nhưng vẫn cố nén để họ khỏi nghi ngờ, để họ tin là anh ta nói thật. Kinh nghiệm ở đời cho thấy, bộ dạng càng thật thà càng dễ đánh lừa người khác.
            Đối phương quả nhiên tin lời, trịnh trọng nói: “Mấy huynh đệ chúng tôi đến đây chỉ là để tìm tiểu thư, tiểu huynh đệ yên tâm, nếu cô nương áo tím đó không phải là tiểu thư nhà chúng tôi, chúng tôi cũng không làm khó cô ấy, nếu không giữ lời, chúng tôi sẽ bị sét đánh chết”.
            Tiểu Lam nhìn người đó vẻ đắn đo, mãi sau mới nói: “Đã vậy, nếu cản trở các vị đi tìm người nhà, tại hạ cũng có lỗi... Một canh giờ trước, chúng tôi có gặp một cô nương áo tím ở chân núi Thạch Môn, cô ấy hỏi thăm một kiếm khách họ Kinh trên núi Thang, nói là cần đến thăm kiếm khách đó, hỏi đường lên núi Thang đi thế nào”.
            Chỉ một câu ngắn ngủi nhưng đã bao hàm bao nội dung, phản ánh sự giằng co trong lòng, sự đắn đo giữa nói và không nói, trong đó có nỗi hoang mang bởi cuối cùng đã nói ra, còn cả sự bất lực khi nói ra không biết hậu quả sẽ thế nào. Anh ta thực hiện hoàn hảo vai diễn của mình, không được xem thật đáng tiếc.
            Anh ta vừa nói xong, toán trưởng rên lên: “Đích thực là tác phong của tiểu thư”. Anh ta chắp tay cúi chào chúng tôi, cả toán người tức thì mất hút ở cửa tầng hai tửu lầu.
            Nhìn bóng họ xa dần, Tiểu Lam ngồi lặng rất lâu, trong vẻ băn khoăn dường như phảng phất nỗi buồn, mãi đến khi qua khung cửa sổ thấy họ đã biến mất ở phía chân trời. Tôi quay đầu, nhìn Tiểu Lam thần sắc đã trở lại bình thường, đang ung dung rót rượu ra chung.
            Tôi cảm thấy mình có rất nhiều điều muốn hỏi, Tiểu Lam trước mặt khiến tôi hình như nhìn thấy một khuôn mặt khác của anh ta, tuyệt đối không phải là con người suy sụp chán chường nằm liệt hai ngày sau khi bị cô gái đâm trọng thương. Sự thay đổi của anh ta giống như trồng cây nho kết quả lại kết ra bưởi đào.
            Tuy nhiên ngẫm nghĩ về con người anh ta lại cảm thấy mặc dù hơi ngạc nhiên, nhưng cũng chẳng có gì không thỏa đáng, giống như cây nho kia kết ra bưởi đào chứ không phải là sầu riêng hoặc thanh long. Tôi ngồi đối diện với anh ta, giả vờ hỏi: “Núi Thạch Môn, núi Thang, hình như huynh rất thuộc địa hình ở đây?”. Tiểu nhị bưng lên món gà rưới nước gừng, anh ta vừa quan sát nước gừng chuyển màu vừa nói: “Bảy năm trước tôi có nghe nói về trận chiến Thương Lộc, nhân lúc rảnh rỗi đến đó tham quan, cũng tìm hiểu tình hình xung quanh”. Tôi nói: “Vậy sao huynh biết thuộc hạ của Tống Diễn nhất định ở tửu lầu?”. Anh ta nhấc chung rượu ung dung nói: “Họ đến đây làm việc công, lộ phí dùng bạc công, đúng vào bữa trưa, tất nhiên là sẽ đến tửu lầu nổi tiếng nhất thị trấn. Cô đã thấy ai đi làm việc công lại tiết kiệm tiền cho ngân khố triều đình chưa?”.
            Tôi ngẫm nghĩ, đúng là như vậy.
            Lúc tôi là công chúa nước Vệ, được phụ vương phong hiệu là Văn Xương, theo lời đồn đã trở thành người thông minh nhất trong Vệ vương thất. Mặc dù lời đồn đa phần không có thật, nhưng trong vương cung, so với mọi người tôi cũng có phần tự hào về trí thông minh của mình. Nhưng hôm nay so với Tiểu Lam, lập tức cảm thấy kém hơn nhiều, lẽ nào chứng tỏ nước Vệ diệt vong không phải là do thiên tai địch họa, tất cả đều do vương thất kém người tài?
            Tiểu Lam nói: “Vẻ mặt thế này, cô đang nghĩ gì vậy?”.
            Tôi nói: “Đang nghĩ rất nhiều truyền thuyết thực ra không phải như vậy mà chỉ là do người ta đồn thổi, truyền khẩu rồi thành mà thôi. Truyền thuyết hoàn toàn không xảy ra trong hiện tại, chỉ xảy ra trong quá khứ hoặc tương lai, dưới dạng hư cấu, thực ra không có ý nghĩa, tất cả đều là giá trị ước đoán sai lầm. Nhưng càng sai lầm dường như giá trị càng lớn, mà thực tế giá trị quả nhiên càng lớn...”.
            Tiểu Lam như không hiểu.
            Tôi nói: “Thực ra là...”.
            Anh ta ngắt lời tôi: “Ăn bánh chẻo đi đã, ăn rồi hãy nói”.
            Thế là chúng tôi bắt đầu ăn bánh chẻo.
            Nhưng ăn xong thì tôi lại quên mất định nói gì tiếp.
            #6
              manhbv 10.01.2013 23:33:52 (permalink)
              Chương 5

              Gió mùa đông chuyển thành mưa, mưa như trút nước. Trời đất như hòa làm một, chỉ thấy đỉnh núi tuyết lờ mờ phía xa. Tuy tôi và Tiểu Lam không hiểu tại sao mùa đông lại có mưa to sấm chớp, nhưng ngoài mua hai chiếc ô, chúng tôi cũng chẳng biết làm thế nào.

              Nửa canh giờ trước, chuyện trò với bà chủ quán bánh rán, chúng tôi cũng thăm dò được tình hình của Liễu Thê Thê, được biết lúc này cô ta đang lên núi tuyết hái một loại tuyết liên tử có thể làm thuốc. Theo bà chủ quán nói, Liễu Thê Thê là cháu gái duy nhất của thần y Liễu Thời Nghĩa, tính dịu hiền, hay giúp đỡ mọi người, y thuật cao minh, người cũng xinh đẹp, chỉ có điều không may bị câm.

              Nhưng tôi và Tiểu Lam lại chưa từng nghe danh thần y Liễu Thời Nghĩa, chỉ nghe nói có một xướng ca nước ngoài tên dịch âm sang là Liễu Thời Nguyên.

              Chỉ có một đường độc đạo lên núi tuyết, bà chủ quán chỉ cho chúng tôi con đường đó. Để cám ơn, tôi bảo Tiểu Lam mua cho bà mười cái bánh rán làm lương thực đi đường. Nhưng núi tuyết phía trước quả rất gần, hoàn toàn không phải dùng đến chỗ lương thực đó. Vứt đi thì phí, vậy là chúng tôi vừa đi vừa ăn, để cho đỡ phải mang theo.

              Đi được nửa đường, mưa nhỏ dần, tôi hỏi Tiểu Lam: “Sao huynh không hỏi tôi, sau khi tìm được Liễu Thê Thê sẽ làm gì?”. Anh ta không ngoái lại, thản nhiên nói: “Lẽ nào không phải là trói cô ta lại, cho đến khi vợ chồng Thẩm Ngạn rời khỏi đây mới thả ra?”.

              Tôi gật đầu: “Lúc đầu thực sự tôi cũng nghĩ vậy, nhưng số mệnh thường rất oái oăm, tôi vẫn lo, nhỡ ra một ngày nào đó Liễu Thê Thê gặp được Thẩm Ngạn, yêu anh ta, tình hình còn phức tạp hơn thì làm thế nào? Nếu vậy chuyến đi này của tôi chẳng phải uổng công sao”.

              Giọng anh ta lơ đãng: “Thế à?”.

              Tôi bước hai bước đuổi kịp Tiểu Lam, đi cạnh anh ta, nói: “Thực ra huynh nghĩ xem, nếu trước khi Liễu Thê Thê gặp Thẩm Ngạn trong lòng cô ta đã có người khác, hơn nữa tình cảm lại sâu đậm, cho dù sau này cuối cùng có ngày gặp Thẩm Ngạn thì giữa họ cũng khó xảy ra chuyện gì. Bất luận giữa Thẩm Ngạn và Tống Ngưng kết cục thế nào, cũng coi như giấc mộng của Tống Ngưng đã thành công một nửa, công việc của tôi cũng thành công một nửa”.

              Cuối cùng anh ta cũng dừng bước, giơ cao chiếc ô, vẫn giọng lơ đãng: “Cho nên?”.

              Chính trong thời khắc đó, trong mưa thoảng mùi hương mai, như thấm đẫm vạt áo, chứa đầy tay áo, có lẽ là ảo giác khó phai mờ trong ký ức.

              Bởi vì hồi đó, trời cũng mưa thế này, những hạt mưa như hạt ngọc từ trên trời rơi xuống. Lúc sinh mệnh của tôi sắp trôi đi, tôi đã kịp nhìn thấy chàng trai trẻ cầm chiếc ô sáu mươi tư nan bước về phía tôi trong màn mưa nước Vệ. Chàng giơ cao ô, mắt tôi nhập nhòe nước mưa lẫn máu, nhìn không rõ mặt chàng. Tôi vẫn nghĩ đó là ảo giác của tôi trước lúc lìa đời, cho đến nay vẫn không biết đó có phải cảnh thực hay không.

              Tôi trịnh trọng nói: “Tiểu Lam, tôi đã nghĩ ra một kế sách hết sức vẹn toàn, hãy làm cho Liễu Thê Thê nảy sinh tình cảm sâu đậm với huynh, huynh đồng ý giúp tôi không? Ấy, đương nhiên chuyện này là do huynh tự nguyện, nếu huynh không thích thì thôi”.

              Anh ta nói: “Ồ, cho dù...”.

              Hoa tuyết lẫn hạt mưa đọng trên mặt đất, đẹp như thơ. Tôi nói: “Đó mưa tuyết đấy, thời tiết này thật là! À, nghe nói thân thủ của huynh rất cừ, vậy không cần tôi dẫn cũng có thể thoát khỏi Hoa Tư mộng, đúng không? Thực ra không thoát ra được cũng không sao, nơi này huynh xem, cũng rất tuyệt. Trở lại chuyện vừa rồi, lúc trước huynh định nói gì?”.

              Anh ta nhìn tôi rất lâu, tôi thản nhiên lấy ra chiếc bánh tiếp tục ăn.

              Một hồi lâu sau, anh ta bình thản nói: “Tôi định nói, một việc nhỏ như vậy chẳng là gì hết, Quân cô nương đã có kế sách vẹn toàn thì cứ làm theo kế đó đi”.

              Tôi gật đầu: “Được”.

              Anh ta bổ sung: “Chỉ có điều...”.

              Tôi tò mò hỏi: “Có điều gì...”.

              Anh ta cười: “Tôi thì không sao, tôi và Liễu Thê Thê chung quy cũng chỉ là ảo mộng, chỉ có điều, cho dù Liễu Thê Thê yêu tôi, cũng khó đảm bảo khi gặp Thẩm Ngạn cô ta không thay lòng”.

              Tôi đưa cho anh ta chiếc gương: “Nào, tự tin một chút về dung mạo của mình đi”.

              “...”.

              Đi vào núi tuyết, mưa tạnh, gió ngừng. Chúng tôi đi trên con đường Liễu Thê Thê chắc chắn đã đi qua. Không lâu, quả nhiên phía xa xuất hiện một bóng người loạng choạng. Tôi vội giục: “Làm theo kế hoạch”. Chúng tôi ra khỏi mô tuyết cao, chạy đến chỗ người đó. Khi nhìn rõ mặt, bỗng sững người. Cô gái đó mái tóc xõa tung, xiêm y mỏng manh, trên lưng cõng một người đàn ông to cao bọc trong tấm nhung bào, cả người cô oằn xuống, hình như tất cả chỉ dựa vào cây thương chống trong tay mới không ngã khụy.

              Tôi nhận ra cô, chính là Tống Ngưng bảy năm trước. Mặc dù dung nhan tuyệt sắc dính đầy đất và tuyết, hầu như không còn nhận ra chút tuyệt sắc nào hết. Gặp nhau ở đây thực ra cũng là duyên phận, chỉ có điều cô không phải là người chúng tôi cần tìm. Tôi kìm chế nỗi kinh ngạc, giả làm người đi đường, tôi lướt qua cô như không nhìn thấy. Tay cô vẫn nắm chặt cây thương, tôi liếc thấy những ngón tay trắng bợt của cô, giọng nói khản đặc, khó nghe lại vang lên trong tầng không mênh mông tuyết: “Cô nương xin dừng bước, có phải cô nương sống trên núi này không? Nếu đúng xin cô chỉ cho làm thế nào ra khỏi núi tuyết, làm thế nào tìm được y quán, tôi... tính mệnh phu quân đang nguy cấp, ở lại núi này, e rằng...”.

              Tôi nhìn trước ngó sau rồi ngắt lời cô: “Phía sau có người đàn ông mặc áo trắng lông chồn. Cô đi hỏi anh ta, tôi không thạo thông thổ vùng này”. Nói xong tôi chạy vụt về phía sau cô, nháy mắt đã biến mất. Thực ra không phải tôi không muốn giúp cô, mà đúng là đã quên mất đường, chạy nhanh như vậy là có lý do riêng, bởi vì vừa rồi phóng tầm mắt ra xa, phía cuối tầm mắt đã xuất hiện người tôi cần tìm, Liễu Thê Thê.

              Đúng lúc Tống Ngưng đang nói tình trạng phu quân cô ta, thì Liễu Thê Thê từ một chỗ rẽ đi ra, từ phía sau nhìn thấy chiếc áo khoác dài màu trắng, to sụ, lưng khoác một cái gùi đựng thuốc. Tôi vừa đuổi theo cô ta vừa suy nghĩ miên man. So với cô ta thực ra Tống Ngưng ở gần cửa núi tuyết hơn, bảy năm trước sở dĩ sau khi Liễu Thê Thê đã trở về y quán Tống Ngưng mới cõng Thẩm Ngạn tìm thấy y quán có lẽ là do lúc ra cửa núi không để ý nên bị lạc đường.

              Chỉ còn cách Liễu Thê Thê vài trượng, tôi suy nghĩ, cảm thấy đã có thể hành động, liền vừa rút dao găm ở thắt lưng, vừa thét to: “Cây này do ta trồng, núi này do ta mở, ai muốn qua đây phải đưa lộ phí”, vừa xông ra trước mặt Liễu Thê Thê mảnh mai như cây cỏ.

              Tôi đã bàn tính với Tiểu Lam, anh ta sẽ làm một anh hùng cứu mỹ nhân, khi tôi chưa kịp lao đến trước Liễu Thê Thê, anh ta sẽ đột nhiên vọt ra từ chỗ nào đó, một tay gạt tôi sang một bên, một tay đỡ Liễu Thê Thê lúc này chắc chắn đang run lẩy bẩy ngã trên đất, mỉm cười dịu dàng: “Cô nương không sao chứ?”. Như vậy Liễu Thê Thê sẽ vô cùng cảm kích, bởi vì ngày trước tôi cũng cảm kích rồi yêu Mộ Ngôn như vậy. Tuy tôi đã suy tính kỹ, mọi chi tiết, từ lúc bắt đầu, quá trình diễn ra, ngay cả những tình huống có thể nảy sinh cũng đều liệu trước, chỉ có một điều tôi chưa tính tới, đó là con đường mòn này ở ngay sát bờ vực, tuyết dày, đường trơn, trong lúc chạy tôi làm văng một chiếc bánh rán, khi lao đến lại giẫm đúng vào nó, người tôi trượt đến hai trượng, kéo theo một đám tuyết lở, chính đám tuyết đó đã đẩy Liễu Thê Thê xuống vực, trong khi tôi vẫn bị mắc lại phía trên.

              Tôi hốt hoảng đứng trên miệng vực nhìn xuống, Tiểu Lam xuất hiện từ lúc nào, cũng cúi nhìn, nhưng phía dưới chỉ thấy mờ mịt tuyết trắng, hôm nay Liễu Thê Thê lại mặc chiếc áo khoác trắng, lẫn vào tuyết, chúng tôi chẳng nhìn thấy gì hết.

              Tôi hoảng hốt suýt khóc: “Sao huynh không xuất hiện sớm một chút? Huynh xem, tôi đã làm chết Liễu Thê Thê, vụ này không xong rồi, cô ấy không cần phải chết, tội nghiệp, cô ấy chết còn không kịp kêu một tiếng…”.

              Tiểu Lam kéo tôi đứng lên, nhẹ nhàng nói: “Chẳng phải quá tốt sao, bây giờ vậy là ổn rồi, chúng ta có thể về nhà ngủ một giấc”.

              Tôi cuống quýt: “Không được, vừa rồi tôi không nghe thấy tiếng “uỵch” nhỡ Liễu Thê Thê vướng phải cây chưa chết thì sao? Đừng ngăn tôi, tôi phải đi xem thế nào”. Nói xong tôi định nhảy xuống.

              Không ngờ, Tiểu Lam lại buông tay, vốn tưởng anh ta sẽ sống chết giữ tôi lại, nhưng anh ta lại buông tay, vào lúc tôi không đề phòng nhất. Thực ra cũng không thể nói như vậy, nói vậy có thể oan cho anh ta, thực tế chỉ là tôi chưa chuẩn bị tốt, còn anh ta dường như lại nhanh tay hơn tôi.

              Kết quả anh ta vừa buông tay, cả người tôi đã bay xuống vực như con chim yến, chỉ nghe thấy tiếng anh ta hét lên A Phất. Tôi nhớ tới kiến thức ngày trước Quân sư phụ đã dạy tôi và Quân Vỹ, một quả cầu sắt năm cân và một quả cầu sắt năm lạng nếu đồng thời rơi ở cùng một độ cao, hai quả cầu đó cũng sẽ đồng thời chạm đất.

              Tôi nhìn Tiểu Lam nhảy xuống ngay sau đó, cảm thấy quả là đáng buồn, theo định luật quả cầu sắt, làm sao anh ta có thể đuổi kịp tôi để kéo tôi lại?

              Thực ra, chỉ cần viên giao châu trong ngực tôi không bị vỡ, tôi sẽ không chết, hoặc là có chết cũng chẳng chết thêm được nữa, cho nên tôi ngã xuống vực cũng chẳng sao. Nhưng Tiểu Lam là người phàm bằng xương bằng thịt, lại dám nhảy xuống vực sâu vạn trượng, quả thật không hiểu nổi, có lẽ chỉ có người điên mới làm vậy, như vậy chẳng phải tự tìm cái chết sao?

              Nghĩ đến đây, chỗ đặt viên giao châu đột nhiên lay động, tôi bất ngờ hoảng sợ. Tôi há miệng định hét, nhưng giọng dường như bị nuốt mất, không thể bật ra tiếng, trước mắt chỉ có một màu tuyết trắng xóa bao la, màu trắng đó lọt vào mắt tôi, lọt vào ngực tôi. Cơ thể bị giữ lại trên không, thanh kiếm văng ra đập vào vách đá đóng băng, phát ra âm thanh chói tai, tay phải Tiểu Lam cầm chuôi kiếm, tay trái ôm chặt tôi, đầu nghiêng một bên, má áp vào trán tôi.

              Trong chớp mắt, chúng tôi treo lơ lửng giữa lưng chừng vách đá, người cứng đờ, giọng anh ta từ trên đầu tôi vọng xuống: “Quân cô nương quả to gan, lúc tính mạng ngàn cân treo sợi tóc vẫn có thể bình tĩnh như vậy, nếu là tiểu thư khác đã sợ nhũn người rồi!”.

              Tôi nói: “Tôi cũng run, nhưng âm thầm run trong lòng”. Để tăng độ tin cậy, tôi vòng hai tay ôm cổ anh ta. Ngay sau đó tôi nghe thấy tiếng mũi kiếm va vào lớp băng trên vách đá, Tiểu Lam đạp chân vào vách đá, dụng lực, vận công tung người, tay vẫn ôm chặt tôi như ôm con khỉ, mấy lần như thế, tôi chỉ thấy tiếng gió ù ù bên tai, tay áo trắng của anh ta lướt qua mặt tôi như áng mây cuối trời vào ngày nắng đẹp.

              Tôi vẫn chưa phản ứng được thì đã thấy mình trở lại mặt đất, bị anh ta ôm bay lộn mấy vòng, choáng váng, tôi ngồi bên bờ vực bóp đầu, nhưng anh ta vẫn bình thường như không, giơ tay kéo tôi ra xa bờ vực, không biết nghĩ đến điều gì, anh ta ôm trán, nói: “Cô đã biết đây là ảo mộng, trong ảo mộng giết nhầm một người, định lấy mạng mình đền mạng hay sao, không biết cô quá ngốc hay là quá thật thà”.

              Tôi biết đây là sự hiểu lầm tuyệt vời, nhưng cũng không tiện giải thích, bởi vì bí mật về viên giao châu duy trì mạng sống cho tôi không thể để người ngoài biết, vậy nên cứ để sự hiểu lầm tuyệt vời đó tiếp tục tuyệt vời.

              Tôi vẫn bóp đầu.

              Anh ta cúi xuống hỏi: “Sao thế?”.

              Tôi không tiện nói vừa bị anh ta quay đảo nên choáng váng, đành nói: “Không sao, sợ quá bụng hơi đói thôi”.

              Anh ta nói, “Còn bánh rán không? Ăn một chút đi”.

              Tôi đột nhiên nghĩ ra một chuyện quan trọng, vội kéo áo anh ta: “Huynh làm thế nào phá vỡ định luật quả cầu sắt để cứu tôi?”.

              Chàng ngẩng đầu: “Đó là cái gì?”.

              Tôi nói: “Nói ra dài lắm, thực ra là... ”.

              Anh ta ngắt lời tôi: “Ăn đi đã, ăn xong hãy nói”.

              Vậy là chúng tôi bắt đầu ăn bánh.

              Nhưng ăn xong tôi lại không nhớ vừa rồi định nói gì.

              Chúng tôi ở lại hai ngày trong núi, bởi vì Tiểu Lam cho đây là thời cơ hiếm hoi, bình thường đâu dễ đến biên giới hai nước Khương, Lê du ngoạn, đã đến ít nhất cũng nên tìm hiểu địa hình mới không uổng công, đó là tư duy của một nhà quân sự.

              Nếu lần này đi cùng Quân Vỹ, anh ta chắc chắc bảo tôi lập tức rời khỏi núi, tìm một quán trọ ở hai ngày để anh ta viết tiểu thuyết. Đó là tư duy của một tiểu thuyết gia. Tôi cùng Tiểu Lam thăm dò địa hình, có những chỗ địa hình vô cùng phức tạp, dù đi mấy lần cũng vẫn cảm thấy rối ren nhức đầu, vậy mà anh ta có thể lập tức vẽ lại sơ đồ mà không hề nhầm lẫn. Tôi nhìn anh ta, cảm thấy có vẻ như không có việc gì trên đời anh ta không biết, nhưng lại xua ngay ý nghĩ đó, bởi vì có một điều chắc chắn anh ta không làm được, anh ta sao có thể mang thai sinh con.

              Hai ngày sau, trời vừa nắng đẹp lại đổ mưa, chọn đúng giờ Thìn đêm Thẩm Ngạn tỉnh lại, tôi và Tiểu Lam che ô, thong thả tìm đến y quán. Lần này đi chỉ để nhìn xem khi Thẩm Ngạn tỉnh lại Tống Ngưng sẽ phản ứng thế nào. Thực ra trong lòng tôi không khỏi băn khoăn, không biết lần tự cá cược với chính mình này, rút cục tôi thắng hay thua.

              Duyên phận hai người đó ngăn cách bởi nợ nước thù nhà, không biết Thẩm Ngạn liệu có như tôi, nợ nước, tình riêng phân định rõ ràng.

              Đêm khuya vắng vẻ, chúng tôi nhón chân áp sát cửa sổ gỗ chạm hoa văn của y quán, khẽ vạch lớp rèm mỏng, quan sát cảnh bên trong. Tiểu Lam đẩy tôi sang bên, kéo đến chỗ vắng: “Cô thế này là nhìn trộm đấy!”.

              Tôi vùng khỏi tay anh ta: “Sao lại nhìn trộm, huynh không nên nói tôi xấu như vậy, chỉ là nhìn lén một chút thôi”.

              Tiểu Lam buông tay nhìn tôi.

              Tôi xoa mũi: “Huynh có muốn nhìn không, nhìn lén một mình không thích lắm, ta cùng nhìn đi?”.

              Tiểu Lam bất lực xoa trán: “Một mình cô nhìn thôi, cẩn thận, hai người trong phòng thân thủ cao cường, làm kinh động họ là cô xúi quẩy”.

              Vậy là tôi vui vẻ quay lại nhìn lén.

              Tay khẽ vạch rèm cửa sổ nhìn vào, trong phòng chỉ có một ngọn đèn nhỏ, tất cả đều là tái hiện quá khứ, chỉ có điều nhân vật nữ vốn là Liễu Thê Thê đã không may bị tôi đẩy xuống vực, người ở bên cạnh Thẩm Ngạn lúc này là Tống Ngưng.

              Cô đăm đăm nhìn khuôn mặt Thẩm Ngạn trong giấc ngủ, cúi rất thấp, sống mũi cao cơ hồ chạm vào đôi môi mím chặt của chàng. Tôi nghĩ, nếu là tôi, tôi sẽ hôn chàng, vừa nghĩ vậy, quả nhiên đã thấy Tống Ngưng hôn vào môi chàng. Do nghiêng mặt, thị lực lại rất tốt, tôi nhìn rất rõ, Tống Ngưng nhắm mắt hàng mi rung nhẹ, khuôn mặt trắng đẹp như men sứ ửng hồng, đúng lúc đó Thẩm Ngạn mở mắt.

              Mưa tí tách. Chàng giơ tay, ôm lấy lưng cô. Cô giật mình vùng ra nhưng bị chàng ôm chặt. Chàng lặng lẽ nhìn kỹ cô, ánh mắt lướt từ mái tóc đen buông xõa, qua cặp mày, đôi mắt cô, khuôn mặt tuấn lãng nhợt nhạt của chàng bất chợt hiện ra nụ cười, chàng nói: “Ta đã nhận ra nàng, Tống Ngưng”.

              Ánh mắt Tống Ngưng thoáng sợ hãi nhưng lập tức trấn tĩnh, cô mỉm cười ngẩng đầu, không nói, chỉ cố nhích khỏi chàng, có lẽ đó là sự e thẹn của một cô gái. Tôi hiểu, cô vừa muốn Thẩm Ngạn biết cô là Tống Ngưng, vừa sợ Thẩm Ngạn biết cô chính là Tống Ngưng. Bởi vì Tống Ngưng không chỉ là Tống Ngưng mà còn là tiểu muội của đại tướng quân Lê quốc Tống Diễn.

              Thẩm Ngạn vẫn ôm chặt cô: “Tống Ngưng, tại sao lại cứu ta?”. Giọng nói không có sự vui mừng, nét mặt chàng hoàn toàn không có vẻ dịu dàng khoan dung khi nhìn Liễu Thê Thê năm xưa.

              Lòng bàn tay toát mồ hôi lạnh, nghĩa là tôi đã thua cuộc, quả nhiên số phận đã định, đời này Thẩm Ngạn không thể yêu Tống Ngưng, cho dù trong ảo mộng.

              Tống Ngưng muốn vùng ra: “Chàng đừng lầm tưởng tôi muốn cứu chàng, chỉ vì bị chàng đánh bại, tôi không cam lòng, trước khi tôi đánh bại chàng, chàng không thể chết, tôi tuyệt đối không để chàng chết, chỉ là tôi không cam lòng mà thôi”.

              Tôi không muốn nhìn tiếp, dựa vào tính cách của Thẩm Ngạn có thể đoán biết cảnh tiếp theo sẽ là gì. Tôi đang định chạy đi bàn với Tiểu Lam, đột nhiên thấy ánh nến chao đảo. Khi ngọn lửa đứng yên, trên giường đã biến thành cảnh Thẩm Ngạn nằm trên Tống Ngưng nằm dưới. Tôi ôm chặt lấy cằm không để nó rơi xuống, nhìn dáng Thẩm Ngạn ép chặt Tống Ngưng trên giường chẳng có vẻ là người bị trọng thương vừa hồi phục. Chàng mỉm cười: “Vậy vừa rồi nàng đã làm gì, Tống Ngưng? Nàng dùng đôi môi của mình bắt muỗi cho ta ư?”.

              Mặt Tống Ngưng đỏ ửng, không nói được gì.

              Chàng giơ tay vén tóc mai xõa trên mặt cô, vuốt ve tóc mái của cô, giọng dịu dàng: “Ta vẫn luôn nghĩ, cô gái cứu ta không biết dung mạo thế nào, thì ra là thế này. Tại sao nàng không nói, tại sao không nói với ta nàng là Tống Ngưng từng gặp ta trước ải Ngọc Lang?”.

              Mắt Tống Ngưng ứa lệ, cô ôm chàng bật khóc: “Tại sao em phải nói với chàng, nhất định chàng không muốn em cứu, nhất định chàng ghét em, chàng không muốn gặp mặt em. Chàng tỉnh rồi, tỉnh rồi thì tốt, em sẽ trở về nước Lê, chàng nói chàng muốn lấy em, coi như chàng nói đùa, đằng nào em cũng chưa bao giờ coi đó là thật”.

              Chàng nhìn cô, dở khóc dở cười, khẽ vỗ lưng cô: “Nàng tưởng nàng cứu ta dễ dàng sao? Nàng tưởng ta dễ dàng động lòng hay sao?”.

              Cô càng khóc dữ hơn: “Chàng nói dối, vừa rồi chàng nhìn thấy em mới biết là em”.

              Chàng hôn mắt cô, như khích lệ cô cứ khóc cho vơi nỗi lòng: “Nàng nói đúng, vừa rồi nhìn thấy nàng, ta mới biết đó là nàng, ta yêu người con gái cứu ta, nhưng không biết dung mạo cô ấy thế nào”.

              Tống Ngưng bảy năm sau dường như luôn cố gắng kìm nén tâm trạng, vốn tưởng là bản tính như vậy, hôm nay mới hiểu, thì ra là do người đàn ông mà cô muốn được yêu chiều, nũng nịu đó trong bảy năm trời chưa bao giờ để ý đến cô.

              Cô cũng có lúc vui có lúc buồn, nhưng cô chỉ muốn ý trung nhân của mình nhìn thấy mình trong dáng điệu nũng nịu như vậy, đây mới là một Tống Ngưng thơ ngây đích thực.

              Tôi rời cửa sổ, Tiểu Lam cầm ô đứng trong sân, đang ngắm một cây tiên khách lai sắc hoa nhàn nhạt. Loại hoa này vốn không nên trồng ở vùng núi tuyết, nó sống được đã là hiếm hoi, lại còn ra hoa, thật là điềm lành trời báo.

              Tôi vòng qua Tiểu Lam, vòng qua hàng giậu. Anh ta thong thả đi đến, giương ô che cho tôi: “Hai người đó thế nào?”.

              Tôi nhoẻn cười: “Tôi thắng rồi”.

              Mưa rơi trên ô, phát ra những tiếng lộp bộp vui tai. Tiểu Lam liếc tôi: “Nhưng trông cô không được vui lắm”.

              Tôi nói: “Thực ra không phải tôi không vui. Chỉ là hôm nay nhìn thấy chuyện xảy ra trong mộng, mới hiểu bảy năm trước nếu không có sự hiểu lầm đó, Tống Ngưng và Thẩm Ngạn đã có thể sống rất hạnh phúc, không xảy ra cảnh ngộ như bây giờ, chỉ cảm thấy đáng tiếc mà thôi”.

              “Cảm giác đó cũng giống như huynh đến thanh lâu tìm một cô gái, nhưng cô gái hình như không muốn tiếp huynh, huynh cứ tưởng dung mạo mình khó coi, khiến cô gái không thích, mấy năm sau đột nhiên hiểu ra, thì ra không phải cô gái đó không thích mình, thực ra cô ấy thấy dung mạo huynh rất tuấn tú, rất muốn chia sẻ chăn gối với huynh, chỉ tiếc là huynh xúi quẩy, hôm đó cô ta thấy tháng, không tiện gặp huynh”.

              Anh ta nhìn tôi, nửa cười nửa không: “Quân cô nương...”.

              Tôi ngắt lời anh ta: “Có phải huynh định nói, tôi nói năng sống sượng quá chứ gì? Thực ra thâm tâm tôi là người bảo thủ, bây giờ tôi có thể nói toạc ra chẳng e dè như vậy, chỉ là do mười bảy năm qua tôi quá cẩn trọng ý tứ. Bây giờ tôi chỉ có một mình, tự nhiên thích nói gì là cứ nói thẳng ra, chẳng có lý do gì nín nhịn khiến mình không vui”.

              Anh ta trầm ngâm hồi lâu: “Tối nay Quân cô nương hình như có gì bất thường”.

              Tôi nhìn bầu trời đen kịt phía xa, hỏi anh ta: “Tiểu Lam, huynh nói xem, ở đời cái gì là giả, cái gì là thật? Cảnh trong ảo mộng này xem ra vô cùng viên mãn, nhưng hiện thực lại hết sức thảm khốc. Tôi cảm thấy, tất cả chỉ là suy nghĩ trong lòng. Nếu không cho đó là ảo mộng, thì nó không phải là ảo mộng, trong thế giới ảo mộng tôi dệt cho họ, họ đều rất thật, khóc thật, tình thật, nghĩa thật, sự vô thường bất trắc cũng là thật, thay lòng đổi dạ cũng là thật. Hoa Tư mộng hiện thân của ước nguyện mặc dù hướng về cái tốt đẹp, nhưng bản thân con người lại vô tình, nếu không có một trái tim kiên cường, bất luận là hiện thực hay mộng ảo, đều không thể có niềm vui mãi mãi, nếu có trái tim kiên cường, hoàn toàn có thể sống tốt trong thế giới hiện thực, hà tất phải sống trong ảo mộng”.

              Những lời đó xem ra rất có lý, rất logic, thực ra nói mãi, quay lại, tôi hoàn toàn không biết mình đang nói gì.

              Tiểu Lam trầm ngâm hồi lâu, hỏi tôi: “Vậy điều cô muốn nói là...”.

              Tôi nói: “Tôi không muốn làm vụ này nữa, Thẩm Ngạn và Tống Ngưng cuối cùng vẫn không thể sống bên nhau không phải là ý trời muốn vậy, nếu cô ấy muốn, cô ấy có thể đấu tranh giành hạnh phúc cho mình, chết trong ảo mộng như vậy thực không đáng, thực xót xa”.

              Thâm tâm tôi cũng giằng co không ít, bởi vì đưa ra quyết định như vậy là giúp Tống Ngưng nhìn thấu ảo mộng, như thế chuyến đi này của chúng tôi coi như uổng công. Nhưng lại nghĩ, cảm thấy cuộc sống còn dài, có viên giao châu giúp, ít nhất tôi cũng sống được ba năm, ba năm, hơn một ngàn ngày, thời gian vẫn còn dài, biết đâu còn vụ khác hay hơn.

              Tiểu Lam nhìn tôi hồi lâu không nói, lát sau hỏi, “Cô định thế nào?”.

              Lòng đã quyết, tôi ngẩng đầu: “Tôi đang chờ đợi một trận đại chiến, một trận chiến đẫm máu, một trận chiến xương chất đầy đồng”.

              Anh ta nhìn tôi vẻ suy tư, tôi thản nhiên nhìn lại, đột nhiên nghĩ ra một chuyện nên nói sớm với anh ta, “À phải rồi, ngày hôm nay cứ quên không nói, huynh xem, chiếc áo của tôi chỗ này hơi chật, huynh nhìn này, ở vai có một đoạn tuột chỉ, huynh vạn năng như vậy chắc cũng biết nữ công, huynh khâu giúp tôi được không?”.

              Anh ta kéo áo tôi nhìn kỹ, ngẩng đầu thản nhiên nói: “Tôi rất vạn năng nhưng không biết nữ công, không thể khâu vá”.

              “...”.

              Tôi vừa nói với Tiểu Lam tôi đang chờ một cuộc đại chiến, điều này tôi không nói chơi, tôi đã nghĩ mình nên làm thế nào. Hoa Tư mộng là thế giới hư không, mỗi thanh âm của Hoa Tư điệu ứng với một thời điểm trong thế giới hư không. Chủ nhân của viên giao châu chỉ cần tấu lên Hoa Tư điệu là có thể đi đến một thời điểm bất kỳ trong Hoa Tư mộng, chỗ đi đến chính là chỗ ứng với thanh âm cuối cùng của khúc điệu đã tấu.

              Khúc nhạc mãi mãi chỉ có thể tấu về quá khứ, nếu đi về tương lai, là không thể quay về quá khứ. Vì vậy tôi suy nghĩ rất lâu, tôi sẽ hoàn thành một việc cuối cùng để lương tâm khỏi áy náy, nhưng không biết rút cục tôi sẽ rơi vào thời điểm một năm trước hay ba năm trước. Tôi hỏi Tiểu Lam: “Theo kinh nghiệm của huynh, một đôi tình nhân yêu đương nồng nàn lưu luyến, có với nhau bao hồi ức đẹp, nhìn chung cần cho họ bao nhiêu thời gian?”.

              Mưa đã tạnh, anh ta thu ô lại, thong thả nói: “Nửa năm”.

              Ngày hôm sau, chúng tôi mượn một cây đàn ở hiệu bán đàn trong thị trấn, trong ánh sáng thời gian, ngón tay rơi xuống thanh âm cuối cùng, gió nhẹ dần, mây tan dần, cây khô héo đã đâm chồi nảy lộc, đám hoa lau bên sông nghiêng mình trong gió, đó là quãng thời gian hơn nửa năm sau, chính là lúc quân đội nước Khương chiến thắng đang chuẩn bị hồi triều. Là thời điểm bảy năm trước, lúc Thẩm Ngạn và Tống Ngưng thành thân được chín tháng, nước Hạ động binh chinh phạt nước Khương, Tống Ngưng đã tặng Thẩm Ngạn bộ giáp quý bằng thạch ngọc, trước khi chàng ta cầm quân ra trận.

              Một mình tôi lọt vào bãi lau, lấy ra chiếc mặt nạ da người giấu trong ống tay áo, lột nửa mặt nạ trên mặt, ngồi bên bờ sông, soi xuống nước, cẩn thận dán mặt nạ lên mặt. Quân sư phụ là thợ làm mặt nạ giỏi nhất nước, cách dán mặt nạ sao cho tự nhiên nhất, trông như mặt thật, tôi đều học được từ sư phụ, hôm nay nhìn dung mạo Tống Ngưng chập chờn in bóng dưới nước, tôi đột nhiên có cảm giác, mình còn làm tốt hơn cả sư phụ...

              Giọng Tiểu Lam vọng vào đám lau, “Quân cô nương, cô còn sống không?”.

              Tôi vạch đám lau, giơ tay vẫy: “Tôi ở đây”.

              Anh ta ngắm nghía tôi qua đầu ngọn lau, “Cô hóa trang thế này, định làm gì?”.

              Tôi nói: “Đi tìm Thẩm Ngạn, có một việc tôi nhất thiết phải làm, huynh đợi ở đây, xong việc tôi sẽ quay lại”.

              Anh ta nhìn tôi một hồi, nói: “Mọi việc đều phải hết sức thận trọng!”.

              Ánh nắng thu rạng rỡ, mây bay, gió thoảng. Tôi dùng khăn bịt mặt, vì tuyệt đối không thể để ai phát hiện Tống Ngưng xuất hiện ở đây. Một người lính gác trước cổng quân doanh cầm thư của tôi đi tìm Thẩm Ngạn. Trong thư Tống Ngưng hẹn gặp Thẩm Ngạn ở gò đất cao mọc đầy hoa cúc quỳ trên bờ sông Xích Độ.

              Chàng ta nhất định sẽ đến.

              Trên gò đất cao nở đầy hoa cúc quỳ, dịu mềm viên mãn, gió thu nhẹ làm mặt sông dấy lên những gợn sóng đuổi nhau xa tít. Trước đó mặc dù chưa đến đây, nhưng tôi đã nghe nhiều truyền thuyết về gò đất này. Truyền thuyết kể rằng, gò đất này là nơi chôn cất rất nhiều nghĩa sĩ của triều đại trước, hoa cúc quỳ ở đây tươi tốt, lan tràn là bởi vì đã tắm máu bao nghĩa sĩ, nhổ một bông hoa có thể nghe thấy tiếng thở dài của tử sĩ. Tôi nghĩ, tôi đã tìm cho Thẩm Ngạn một chỗ rất tốt.

              Có tiếng lá khô bị giẫm nát sau lưng, tiếng bước chân lại gần. Tôi quay người mỉm cười nhìn chàng ta, con người mà Tống Ngưng yêu đau đớn, yêu suốt cuộc đời, đến tận lúc chết. Đôi ủng đen lướt trên đám cúc quỳ dịu mềm, chàng ta ôm lấy tôi, ôm rất chặt, giọng nhỏ nhẹ, vang bên tai tôi như tiếng thở dài: “A Ngưng, ta nhớ nàng”. Trong gió có mùi máu, mùi máu mỗi lúc mỗi đậm, tôi rút con dao găm khỏi lưng chàng ta, khẽ nói vào tai chàng ta: “Em cũng nhớ chàng!”.

              Mùa thu năm Lê Trang Công thứ mười tám, ngày mùng bốn tháng chín, nước Khương mặc dù thắng trận, binh soái đã hồi triều, nhưng kinh đô không thấy vang khúc khải hoàn, bởi vì chủ tướng bị hành thích, lương tướng qua đời, cả nước đau thương.

              Phủ tướng quân vang lên tiếng khóc bi ai, tôi và Tiểu Lam đứng lẫn vào đám người đến viếng, nhìn thấy trong linh đường, trên hương án cao đặt bài vị của Thẩm Ngạn, trong bình thủy tinh bên cạnh cắm đầy hoa lạ.

              Dưới ngọn nến trắng, chiếc quan tài bằng gỗ mun đổ bóng thê lương trên mặt đất, Tống Ngưng đứng cạnh quan tài, đôi mắt đen trống rỗng, kiên cường, nhìn chằm chằm người nằm trong đó. Thỉnh thoảng có khách viếng đến an ủi, cô không hề có phản ứng.

              Tiểu Lam hỏi tôi: “Đây chính là giấc mộng đẹp cô dệt cho cô ta?”.

              Tôi nói, “Huynh thấy đó là giấc mộng đẹp sao? Là ác mộng thì có!”.

              Tôi phá giấc mộng đẹp để Tống Ngưng nhìn rõ hiện thực. Trên đời có một kiểu đẹp có thể lấy tính mạng con người, đại đa số người ta đều nghĩ ngay đến phụ nữ, nhưng phụ nữ sao phải làm khó chính mình, điều tôi nói không phải là phụ nữ, mà chính là Hoa Tư mộng.

              Tôi vốn định giải thích với Tiểu Lam, nhưng anh ta nhanh chóng chuyển chủ đề, “Hôm đó cô giết nhầm Liễu Thê Thê, buồn phiền mãi, tôi thật không nghĩ cô có thể có gan tự tay giết một người”.

              Tôi nói: “Bởi vì tôi đã khác rồi, huynh nên nhìn tôi bằng con mắt khác”.

              Đêm buông xuống, khách viếng đã ra về, trên trời, một vầng trăng cô lẻ chơi vơi, thời khắc lựa chọn đã đến. Linh đường rộng lớn chỉ còn vợ chồng họ, một người sống, một người chết, âm dương cách biệt. Khuôn mặt tái nhợt của Tống Ngưng kề sát quan tài, giọng thầm thì tản trong gió đêm vang vọng trong linh đường, thấm vào ánh nến: “Cuối cùng chỉ còn hai ta”.

              Ngón tay thon mảnh của cô vuốt ve mặt quan tài gỗ mun, giọng thầm thì như trong chốn khuê phòng: “Em vốn định đợi chàng khải hoàn trở về, sẽ đích thân báo với chàng tin đó, mọi người muốn viết thư, em đều ngăn lại, em chỉ muốn thấy chàng vui sướng thế nào. Chàng biết không, em chờ ngày này đã lâu, em muốn gặp chàng, em rất mong gặp chàng”.

              Bên ngoài, một con chim trên cây đột nhiên kêu một tiếng, trong phòng ngọn nến chao đảo, cô dùng tay che mắt, giọng nghẹn ngào: “Thẩm Ngạn, chúng ta đã có con”. Nhưng cô không khóc, giọng dịu dàng, vô cùng dịu dàng, ngân nga trong linh đường, giống một lời thổ lộ êm ái. Cô nói với chàng, nhưng chàng đã không còn nghe được nữa.

              Đúng lúc đó tôi bước vào linh đường, những lá phướn trắng bay bay trên cao, cô ngẩng phắt lên: “Thẩm Ngạn?”.

              Tôi đi ra từ phía sau cờ phướn, bước ra chỗ ánh nến để cô nhìn rõ.

              Đôi mắt như nước mùa thu của cô chiếu vào y phục màu đỏ của tôi, ánh sáng chợt lóe lên trong đó, rồi lập tức tắt lịm, nét mặt âm thầm, trống rỗng.

              Gió trong phòng phất qua chân váy, tôi nhìn cô: “Tôi không phải là Thẩm Ngạn. Tống Ngưng, tôi đến để đưa cô ra khỏi ảo mộng”.

              Mặt cô lộ vẻ hoang mang: “Ảo mộng?”. Nhưng chỉ một khắc lại tỉnh táo trở lại, “Tôi đã nhớ ra cô, trong núi tuyết bên cánh đồng hoang Thương Lộc tôi đã gặp cô, cô là…”.

              Tôi bước đến gần cô hơn, cười nói: “Lần đầu tiên cô nhìn thấy tôi, không phải ở trên núi tuyết. Tống Ngưng, tất cả, tất cả chỉ là ảo mộng tôi dệt cho cô mà thôi”.

              Tiểu Lam xuất hiện bên tôi không biết từ lúc nào, đang thong thả nhìn ngắm linh đường.

              Tôi lại tiến đến gần cô hơn: “Trong ảo mộng phu quân của cô đã chết, tang lễ lớn như vậy nhưng trong thế giới hiện thực, chàng ta vẫn sống rất tốt, chàng ta đã phụ cô, thành thân với người đàn bà khác, đã sinh con. Cô đã dùng tính mệnh của mình trao đổi với tôi, để tôi giúp cô dệt giấc ảo mộng hai người yêu nhau đến bạc đầu. Cô xem, trong ảo mộng tôi dệt cho cô, quả nhiên chàng ta đã yêu cô. Nhưng tất cả chỉ là ước mơ của cô, thực ra đều là giả”.

              Tôi nói ra những lời đó, nhìn thấy khuôn mặt trắng nhợt của cô xám dần, ánh mắt lộ vẻ sợ hãi, đây không phải là Tống Ngưng mà tôi quen bảy năm sau. Cô loạng choạng lùi mấy bước, làm đổ chiếc bình thủy tinh sau lưng, chiếc bình vỡ choang, người gục xuống, mảnh thủy tinh cứa vào những ngón tay xinh đẹp của cô.

              Tôi hỏi: “Tống ngưng, cô không tin tôi sao?”.

              Thời gian dừng lại, tôi đã nói trắng ra tất cả, cái chết của Thẩm Ngạn khiến Tống Ngưng đau lòng như vậy, cô sẽ không đồng ý ở lại trong ảo mộng vô vọng này. Không có gì đáng sợ hơn mất đi người yêu dấu, trải qua đau khổ như vậy, không có được tình yêu của Thẩm Ngạn trong hiện thực có là gì, bệnh của Tống Ngưng là tâm bệnh, chỉ cần cô nghĩ thoáng, rời khỏi giấc mộng này nhất định cô sẽ nhanh chóng bình phục.

              Cô vội vàng nhặt những mảnh vỡ trên nền đất, tôi cúi xuống định nhặt giúp cô, bị Tiểu Lam ngăn lại, cô âm thầm nhặt những bông hoa rơi trên đất, cầm lên ngắm nhìn những bông hoa mùa thu bạc màu: “Cô có biết, bấy lâu nay tôi vẫn mơ một giấc mơ, một giấc mơ đáng sợ, mỗi lần tỉnh lại, tôi đều sợ run người, thì ra chính là giấc mơ đó, tất cả những cảnh đó”. Cô từ từ, rất từ từ ngẩng đầu, “Tất cả những cảnh đó đều là thật”.

              Hai giọt nước mắt lăn ra từ khóe mắt, cô hỏi tôi: “Hiện thực mà cô không nói ra, có phải là còn có... con trai tôi. Tôi có một đứa con, tên là Thẩm Lạc, nó đã chết trong một trận cảm thương hàn?”.

              Tôi không trả lời, cô đăm đăm nhìn tôi, trong đôi mắt ướt hiện ra nụ cười, cô nói: “Tôi muốn ở lại đây”. Trong đầu tôi “ù” một tiếng.

              Cô cúi đầu nhìn ngón tay mình, nước mắt chảy xuống bàn tay, rất lâu sau lại quay đầu ngước nhìn linh vị Thẩm Ngạn: “Cô nói đây là ảo mộng cô dệt cho tôi, không phải sự thật, những gì tôi nhìn thấy trong mơ mới là thật, nhưng sự thực đó e là quá đau lòng. Hiện thực mà cô nói và ảo mộng tôi đang ở, rút cục chỗ nào đau khổ hơn? Hiện thực đó, tôi chỉ thấy trong mơ cũng đã run lên, không thể chịu nổi, càng khỏi nói đích thân trải qua, nếu đúng như cô nói, thật sự có bảy năm đó tôi làm sao chịu nổi? Nghĩ đến điều đó, tôi cảm thấy trong ảo mộng, Thẩm Ngạn dù đã ra đi, tôi cũng không khó chịu đựng như vậy, chúng tôi ít nhất cũng có hồi ức đẹp, tôi sẽ sinh con cho chàng, tôi nghĩ tôi còn có thể sống tiếp, phải rồi, tôi còn có thể sống tiếp, chàng cũng muốn tôi sống tiếp. Nhưng cô để tôi cùng cô quay về cái gọi là hiện thực, một hiện thực bi đát như vậy, Thẩm Ngạn trong thế giới đó không hề yêu tôi, chàng không muốn tôi sống, vậy tôi còn sống làm gì?”.

              Những lời đó của Tống Ngưng tôi không biết đối lại thế nào. Chỉ thấy gió ngoài linh đường thổi càng mạnh, lá cây bay rào rào.

              Tôi muốn cứu cô, nhưng không cứu nổi.

              Cô bíu vào quan tài đứng lên, đem chỗ hoa trong tay cắm ngay ngắn vào một bình hoa khác, quay lưng lại phía tôi, nên tôi không nhìn thấy sắc mặt cô lúc đó, chỉ nghe thấy tiếng nói hững hờ: “Nghe cô nương nói, tôi dùng tính mạng đổi lấy ảo mộng này, trong thế giới hiện thực đó có phải tôi đã chết? Nếu như vậy, phiền cô hãy hỏa thiêu xác tôi, sau đó mang tro của tôi... mang tro của tôi về nước Lê, trao cho đại huynh tôi”.

              Tôi há miệng, hồi lâu sau mới phát ra một tiếng: “Được”.

              Năm ngày sau tôi và Tiểu Lam rời khỏi Hoa Tư mộng của Tống Ngưng, trong thời gian đó chúng tôi lại qua núi tuyết cạnh cánh đồng hoang Thương Lộc một lần nữa, chỉ do thời gian quá gấp, Tiểu Lam vẫn còn hai nơi chưa thăm dò hết, vô tình được biết Liễu Thê Thê quả nhiên chưa chết, nghe nói bị ngã xuống vực, mắc vào một cây tùng bên vách núi, được một người đi săn cứu sống, để trả ơn cứu mạng, Liễu Thê Thê hứa lấy anh ta, cuối cùng hai người thành thân.

              Ngay Liễu Thê Thê cũng có một mái ấm rất yên ổn.

              Tôi nói với Tiểu Lam: “Thực ra không nên giết Thẩm Ngạn, chỉ không ngờ mặc dù như vậy, Tống Ngưng cũng không muốn thoát khỏi ảo mộng. Tôi muốn cứu cô ấy nên mới giết Thẩm Ngạn, nhưng lại thành ra hại cô ấy”.

              Tiểu Lam nhìn tôi hồi lâu, trầm ngâm, “Đó mới là giấc mộng đẹp thật sự, Thẩm phu nhân khao khát một người yêu mình suốt đời, Thẩm tướng quân chết đi trong lúc yêu cô ấy nhất, cô ấy muốn sống tiếp với tình yêu chung thủy của anh ta, chỉ cần vượt qua những ngày đau buồn đó chính là sự yên lành vô lo mà cô ấy mưu cầu suốt đời. Nếu không giết Thẩm Ngạn tướng quân, hậu họa sẽ khôn lường, cô sao có thể đảm bảo, trong ảo mộng này, anh ta có thể suốt đời chung thủy với Tống Ngưng?”.

              Tôi tỏ vẻ kinh ngạc: “Huynh lại nói với tôi một đạo lý lớn như vậy, đàn ông các người chẳng phải không thích nói những chuyện tình ái tầm thường hay sao?”.

              Anh ta nhìn tôi, “Có chuyện đó ư? Nếu đúng là vậy, thanh lâu trên đất nước này đã phải đóng cửa từ lâu”.

              Tôi nghĩ, câu trả lời đó thật quá thẳng thắn.

              Tôi nắm tay Tiểu Lam rời khỏi ảo mộng, anh ta lại nắm tay tôi, thản nhiên nói: “Ảo mộng là ảo mộng, cô đừng so sánh ảo mộng với hiện thực”.

              Khi anh ta nói câu đó, có một đôi vân nhạn bay ngang trời.

              Thời gian nửa năm trong Hoa Tư mộng chỉ ứng với một ngày ngắn ngủi trên trần thế.

              Thoát khỏi mộng cảnh, một dòng nhiệt lưu đi thẳng vào ngực chỗ có viên giao châu, huyết dịch toàn thân tôi vụt nóng bừng. Đó là do giao châu đã hút tính mệnh của Tống Ngưng. Tống Ngưng đã chết, trong một chiều hoàng hôn đượm buồn, nhưng trong thế giới hiện thực không ai biết.

              Gia nhân trong biệt viện vẫn ngay ngắn đứng hầu bên ngôi thủy đình, Quân Vỹ và Tiểu Hoàng ngủ gật cạnh cây đàn, ánh mặt trời nhàn nhạt tỏa xuống, tất cả vẫn bình yên tĩnh mịch, như không có chuyện gì xảy ra. Chấp Túc nhìn thấy Tiểu Lam, sung sướng reo lên: “Công tử!” khiến Tiểu Hoàng và Quân Vỹ giật mình tỉnh dậy, một người, một hổ vội chạy ra đón tôi. Chính trong lúc đó, từ ngôi thủy đình phía xa một ngọn lửa bùng lên, chớp mắt đã bốc cao cả trượng.

              Quân Vỹ sững người: “Tống Ngưng vẫn còn trong đó?” rồi lập tức lao đi cứu, bị tôi ngăn lại.

              Tiểu Lam nói nhỏ: “Hình như Thẩm phu nhân đã tiên liệu kết cục cuối cùng”.

              Tôi nói với Quân Vỹ đầu đuôi sự việc, nhìn những bức rèm xung quanh ngôi thủy đình lộ ra hình thù kỳ dị trong ngọn lửa, sực nhớ tới lời Tống Ngưng trong mộng, nhờ tôi thiêu xác cô.

              Tống Ngưng đến chết vẫn là người chu đáo, không phiền tôi động tay, trước khi vào ảo mộng, cô đã thu xếp hậu sự đâu vào đấy. Cách nửa hồ sen, mấy nô bộc trung thành kinh sợ gào khóc, trùm những tấm chăn dày nhúng nước xông vào thủy đình, đều bị ngọn lửa rừng rực ngăn lại. Tống Ngưng quả nhiên đã thu xếp chu toàn, mỗi phân đất trong thủy đình đều bị lưỡi lửa liếm sạch, cô muốn thân xác mình thiêu thành tro, đựng trong một bình gốm đẹp, trở về cố quốc sau bảy năm xa cách.

              Lửa được gió càng cháy mạnh, bốc cao, chiếu rực nửa bầu trời, chiếc xà ngang từ trên cao rơi xuống hồ sen bốc khói ngùn ngụt, bốn chiếc cột lớn ở bốn góc thủy đình từ từ sụp đổ, có thể nhìn thấy chiếc giường mây bị cháy, trong đó Tống Ngưng đã yên nghỉ, đang chìm trong ánh lửa mênh mông.

              Trong truyền thuyết dân gian, một câu chuyện như vậy trong giờ phút đó luôn có một trận mưa lớn trút xuống đúng lúc, nhưng ngôi thủy đình cháy trụi đến khi không còn gì để cháy, ông trời cũng không đổ một giọt mưa, gió muộn đã mang hơi lạnh, ánh mặt trời tàn đỏ như máu. Ánh mặt trời tàn đỏ như máu phủ lên đống hoang phế trên hồ sen, phía trước đống hoang phế đó, một đám gia nhân vẫn quỳ sụp, không ai dám vào chuyển di cốt của Tống Ngưng.

              Tôi nói với Tiểu Lam: “Đi thôi, chúng ta lượm xác cô ấy”.

              Anh ta nhìn về phía sau lưng tôi, thong thả nói: “Không cần chúng ta, người lượm cô ấy đã đến”.

              Tôi hiếu kỳ ngoái đầu, nhìn thấy dưới bóng cây liễu già bên con đường lát sỏi, người đến lượm di thể Tống Ngưng mà Tiểu Lam nói, người đã dồn Tống Ngưng vào chỗ chết.

              Thẩm Ngạn, phu quân của Tống Ngưng.

              Chàng ta vận áo chùng gấm trắng toát, vạt áo và cổ tay điểm những hoa văn chìm màu tối, trông như một chiếc áo tang sang trọng, bộ xiêm y thực là hợp cảnh. Chàng ta đi thẳng đến trước mặt chúng tôi, chiếc áo chùng gấm làm nổi bật gương mặt trắng bệch của chàng ta, nét mặt vẫn vẻ lạnh lùng đã thấy, giọng nói lại run run: “Cô ấy đâu, cô ấy ở đâu?”.

              Tôi chỉ đống hoang phế trên hồ sen: “Ngài nghe tin, đến để lượm xác cô ấy phải không? Tống Ngưng nói với tôi, cô ấy chỉ cần một bình đựng tro, một chiếc bình gốm màu xanh đế trắng, ngài có mang đến không?”.

              Chàng ta há mồm không nói, quay người bước vội đến chỗ tôi vừa chỉ, người loạng choạng chực ngã. Đám gia nhân quỳ trước thủy đình vội nhường đường. Tôi ôm cây đàn đuổi theo, nhìn thấy người chàng ta lảo đảo, sụp xuống bên đống hoang tàn, ánh mặt trời phía sau kéo bóng chàng ta đổ dài trên đó.

              Qua vai chàng ta có thể nhìn thấy di hài Tống Ngưng, sáng nay khi gặp tôi, cô còn vấn tóc cao, trên má thoa phấn hồng, xinh đẹp rạng rỡ.

              Sáng còn là hồng nhan, chiều đã là nắm xương tàn.

              Ánh sáng và thời gian ngừng lại, tôi nhìn thấy Thẩm Ngạn lặng lẽ quỳ trong vầng sáng im lìm đó.

              Một khúc gỗ đang cháy nổ bốp một tiếng, như đột nhiên sực tỉnh, chàng ta ôm chầm di hài cô, động tác mạnh đến nỗi đầu ngón tay trắng nhợt, giọng nói lại hết sức nhẹ nhàng: “Chẳng phải em đã nói, dù chết em cũng phải nhìn thấy ta tắt thở trước mặt em sao? Chẳng phải em nói, ta có lỗi với em, em phải nhìn thấy ông trời trừng phạt ta thế nào sao? Em hận ta như thế, ta còn chưa chết, sao em lại chết trước ta?”. Không có ai trả lời chàng ta.

              Chàng ta ôm chặt cô, thận trọng như ôm báu vật, khuôn mặt trắng bệch dán vào mái đầu xưa là mái tóc dài óng ả, giờ đã cháy đen của cô, như thầm thì với người yêu: “A Ngưng, em nói đi”.

              Đống hoang phế đỏ rực trong ánh hoàng hôn, mịt mờ một bầu không khí ma quái, mặt đất cũng bị đốt nóng ran.

              Tôi đứng nhìn tất cả cảnh tượng đó, đột nhiên cảm thấy sự mong manh của sinh mạng, mệt mỏi hỏi chàng ta: “Ngài muốn cô ấy nói gì? Bây giờ cô ấy không nói gì được nữa, cho dù ngài muốn nghe, cô ấy cũng không thể nói được nữa. Cô ấy đã bảo tôi đêm tân hôn cô ấy muốn nói những lời ngọt ngào với ngài. Cô ấy vừa được gả đến nước Khương, lạ cảnh lạ nhà, cô ấy thực lòng muốn thổ lộ với ngài, “Phu quân, em đã trao Tống Ngưng cho chàng, trao hết cho chàng, chàng nhất định phải trân trọng”, nhưng đáng tiếc ngài không cho cô ấy nói”.

              Chàng ta ngẩng phắt đầu lên.

              Tôi ngồi xuống nhìn vào mắt chàng ta, “Ngài nói Tống Ngưng hận ngài, thực ra chưa bao giờ cô ấy hận ngài, trên đời này chưa một cô gái nào yêu ngài như cô ấy”.

              Chàng ta nhìn tôi đăm đăm, như bị vật gì đánh trúng, khuôn mặt trắng bệch không còn sắc máu, rất lâu sau lại phát ra tiếng cười nhỏ khô khan, nói dằn từng chữ từng chữ: “Cô ấy yêu tôi? Sao cô dám nói thế. Cô ấy không hề yêu tôi. Cô ấy còn hận sao tôi không chết ở chiến trường”.

              Tôi tìm một chỗ ngồi xuống, để cây đàn lên đầu gối: “Cô ấy nói trái lòng mình”.

              Tôi ngẩng đầu nhìn chàng ta: “Thẩm tướng quân, nghe nói suốt hai năm qua ngài không hề gặp Tống Ngưng một lần nào, ngài còn nhớ hình bóng cô ấy không? Tôi cho ngài nhìn thấy hình bóng Tống Ngưng năm xưa, được chứ?”.

              Không đợi chàng ta trả lời, tôi đã đánh thanh âm cuối cùng trên phím đàn. Đánh ngược Hoa Tư điệu để cho ảo mộng đã dệt cho Tống Ngưng có thể hiển hiện trên thế giới hiện thực. Tôi không đợi chàng ta trả lời, bất luận chàng ta có muốn hay không, có một số điều tôi cần cho chàng ta biết.

              Trong cảnh hoàng hôn thê lương, trên đống hoang phế mịt mờ khói trắng, từng cảnh của quá khứ lướt trên không trung, in hình xuống mặt nước hồ sen.

              Trên sa mạc hoang vắng, bao la tuyết, Tống Ngưng rạp mình trên lưng ngựa, vượt qua sa mạc lổn nhổn đá, gió mang theo cát và đá vụn táp vào mặt, vào cánh tay để lại những vết sây sát loang lổ, cô ôm cổ ngựa thúc giục con ngựa chiến đã gần kiệt sức: “Chạy nhanh hơn nữa đi, xin mày đấy chạy nhanh lên, Thẩm Ngạn không đợi được nữa rồi”.

              Trên địa ngục cánh đồng hoang Thương Lộc, cô xuống ngựa, loạng choạng lao vào chiến trận đầy xác chết, cánh tay và mặt bị gió táp thâm tím vết thương, y phục dính đầy máu, môi mím chặt, người cứng đờ đi lật từng xác chết, từ lúc bình minh đến đêm khuya, cuối cùng tìm được người cần tìm. Cô dùng tay áo lau máu trên mặt người đó, ôm chặt chàng: “Thẩm Ngạn, em biết mà, em cần đến đây”. Nói xong ôm mặt, lệ tuôn như mưa.

              Trong hang núi tuyết gần chiến trường, chàng nằm bất động, trên người đắp tấm nhung bào, cô ngậm từng ngụm nước mớm cho chàng, kiên trì ép chàng uống từng ngụm. Bên ngoài, trên trời sao còn chưa mọc, gió lạnh buốt rít ù ù, cô co người run rẩy phục trên ngực chàng: “Bao giờ chàng tỉnh lại, có phải chàng không bao giờ tỉnh lại không? Thẩm Ngạn, em sợ lắm”.

              Cô ép sát vào người chàng, ôm thật chặt. Suốt ba ngày cô cõng chàng, mấy lần ngã lăn trên dốc núi, cô đứng không vững nhưng vẫn cố gượng dậy, hôn mắt chàng, ôm mặt chàng: “Em sẽ cứu chàng, cho dù phải chết, em cũng cứu chàng”.

              Hoa Tư điệu đột ngột dừng lại, tôi hỏi chàng ta: “Ngài đã từng nhìn thấy một Tống Ngưng như vậy chưa?”.

              Lời chưa dứt, chàng ta đã cắt ngang: “Không phải, tôi không tin”. Thẩm Ngạn một tay ôm ngực, trán toát mồ hôi, người run lẩy bẩy, nhưng lại nhìn tôi nói ra những lời tàn nhẫn, “Những cái đó không đúng, tôi không tin!”.

              Tôi cảm thấy buồn cười, bật cười thành tiếng: “Thẩm tướng quân, rút cục là giả hay thật, trong lòng ngài rõ nhất. Tống Ngưng luôn muốn nói với ngài tất cả câu chuyện đó, nhưng ngài chưa bao giờ cho cô ấy cơ hội”.

              Tôi nói: “Thẩm tướng quân, ngài có biết Tống Ngưng chết thế nào không? Chết trong ảo mộng. Cô ấy chìm đắm trong ảo mộng, từ bỏ tính mạng của mình. Bởi vì trong ảo mộng đó, cuối cùng ngài đã yêu cô ấy, hai người thề sống bên nhau trọn đời. Tống Ngưng chìm đắm trong ảo mộng hư không đó. Nhưng về sau ngài chết ngoài chiến trường, mặc dù ngài đã chết, cô ấy cũng không muốn ra khỏi ảo mộng đó. Cô ấy nghĩ đến nỗi đau ngài đã gây ra cho cô ấy trong cuộc sống hiện thực, còn đau đớn gấp vạn lần nỗi đau vĩnh viễn mất ngài trong ảo mộng. Tống Ngưng đã lệnh cho gia nhân thiêu di hài cô ấy, không muốn lưu lại cho ngài bất cứ thứ gì. Thẩm tướng quân, ngài không hề biết, cô ấy đã yêu ngài, luôn yêu ngài suốt bảy năm qua”.

              Tôi nói xong những lời đó, nhìn thấy ngón tay run run của chàng ta vuốt ve chiếc vòng ngọc ở chỗ xương cổ tay cô, rồi nắm chặt lấy, các khớp ngón tay trắng bệch, toàn thân đột nhiên đổ về phía trước, thổ ra máu, máu tươi vẩy trên di hài Tống Ngưng, trong ánh hoàng hôn ánh lên một màu yêu ma quái dị. Chàng ta thét gọi một cái tên, như đau đớn không sao chịu nổi, miệng há ra mấy lần, vẫn không thốt lên lời: “A Ngưng”. Nhưng cô đã không thể trả lời.

              Tôi ôm đàn đứng dậy: “Tống Ngưng bảo tôi đem tro của cô ấy mang về Lê quốc, từ nay về sau hai người không còn bất cứ quan hệ gì nữa, Thẩm tướng quân, sau ba ngày nữa tôi đến lấy tro của Tống Ngưng”.

              Chàng ta không để ý lời tôi, ôm di thể Tống Ngưng, từng bước ra khỏi thủy đình, bước chân xiêu vẹo.

              Gia nhân phục trên đất khóc thảm thiết.

              Tôi ngây người, nói: “Vậy cũng được, phiền Thẩm tướng quân hoàn thành tâm nguyện cuối cùng của cô ấy, để cô ấy vào một bình gốm xanh đế trắng đưa đến nước Lê trao tận tay đại huynh cô ấy”.

              Lặng lẽ, lạnh như một thanh kiếm sắc, giọng chàng ta thảng thốt vọng lên từ trong tiếng khóc than của đám gia nhân, “Trước khi chết cô ấy có gì muốn nói với tôi không?”.

              Tôi nhìn theo bóng chàng ta: “Không, không một lời nào hết, cô ấy đã không còn mong muốn điều gì ở ngài nữa”.

              Không lâu sau khi câu chuyện này trôi qua, nghe nói hai nước Khương, Lê lại xảy ra chiến tranh, quân đội nước Lê do đại tướng quân Tống Diễn chỉ huy, quân đội nước Khương do tướng quân trấn ải Thẩm Ngạn thống lĩnh. Lúc này, chúng tôi đang du sơn ngoạn thủy ở biên giới hai nước.

              Trong mưa đêm ngày mùng bảy tháng năm, Tiểu Lam mang đến một tin, Thẩm Ngạn đã chết trên chiến trường Thương Lộc, trận này vốn dĩ chàng ta chiếm ưu thế, lẽ ra có thể toàn thắng, nhưng không hiểu sao lại bại trận thân vong. Nghe nói trước khi chết chàng ta dặn thuộc hạ chôn chàng ta ở cánh đồng hoang Thương Lộc, lúc hạ táng, họ phát hiện bên người chàng ta có một bình gốm xanh đế trắng, bên trong bình đựng đầy tro xương của ai đó.

              Thê thất của chàng ta ở phủ nghe tin chàng ta tử trận, tối đó tất cả thắt cổ tự vẫn trong hoa đình.

              Tiểu Lam hỏi tôi nghĩ gì, tôi cười nói với anh ta: “Nếu Kính Võ công chúa Tống Ngưng còn sống trên đời, có lẽ Thẩm Ngạn sẽ không chết, trên đời chỉ có một người không tiếc tính mạng yêu chàng ta, cứu chàng ta, đáng tiếc người đó đã chết quá sớm”.

              Tiểu Lam trầm ngâm hồi lâu, nói: “Có phải bởi Tống Ngưng đã chết, nên chàng ta không muốn sống?”.

              Tôi nói: “Thế ư?”.

              Anh ta không nói gì.

              Tôi nhìn màn mưa rả rích bên ngoài, lơ đãng nói: “Tôi không tin”. Cúi đầu hỏi Tiểu Hoàng: “Mày có tin không?”. Tiểu Hoàng đang lẳng lặng gặm nửa con gà nướng, nghe tôi gọi liền ngẩng đầu băn khoăn nhìn tôi một lát rồi lại cúi đầu gặm tiếp.

              Hai chúng tôi ngồi đối diện, yên lặng rất lâu, tôi hỏi Tiểu Lam: “Sao dạo này không thấy huynh mặc màu lam?”.

              Anh ta cười: “Tại sao tôi nhất định phải mặc màu lam?”.

              Tôi đáp: “Bởi vì tôi gọi huynh là Tiểu Lam”.

              Anh ta nhướn cặp lông mày đẹp như nét vẽ: “Tôi cũng thấy lạ, tại sao chưa bao giờ cô hỏi tên tôi, Tiểu Lam chẳng phải là…”.

              Anh ta làm ra vẻ suy nghĩ, giống như đang tìm một từ phù hợp, hoa đèn bất chợt nổ “bép” một tiếng, Tiểu Lam nhìn tôi, nét mặt êm đềm như mặt nước thu, “ … chẳng phải là tên thân mật cô đặt cho tôi sao?”.

              Tôi nghĩ lại toàn bộ câu chuyện, nhận ra quả nhiên như vậy, vội cầm ấm trà rót thêm vào cốc: “À, huynh vốn cũng có một cái tên nào đó, chẳng qua tôi thấy tên cũng chỉ là một ký hiệu, gọi Tiểu Lam quen rồi, thành ra lại quên hỏi tên huynh, vậy huynh tên gì?”.

              Anh ta nhẹ giọng: “Mộ Ngôn, Mộ trong nhớ nhung ngưỡng mộ, Ngôn trong không còn lời nào để nói, đó là tên tôi”.

              Tay tôi run bắn, trà trong cốc sánh đầy ra đất.
              #7
                manhbv 14.01.2013 04:56:07 (permalink)
                Phần 2:Thập Tam Nguyệt - Chương 6

                Nhìn bóng cô khuất dần dưới ánh trăng, chàng muốn gọi tên cô, Oanh Ca, cái tên đó đã vang lên trong lòng cả trăm lần, chỉ là chưa bao giờ chàng thốt ra với cô, “Oanh Ca”, chàng thì thầm. Nhưng cô đã đi xa.
                Hôm đó trời nắng đẹp, chúng tôi rời nước Khương, vượt qua dãy núi Thương Lan vào biên giới nước Trịnh.
                Mộ Ngôn định hôm sau sẽ đi, chàng nói nhà có việc gấp gọi về, ân tình nợ tôi ngày sau chàng sẽ trả.
                Thực ra, Mộ Ngôn không nợ nần gì tôi, nếu còn nhớ, chàng sẽ hiểu ra món nợ giữa chúng tôi là như thế này: Tôi nợ chàng trước, nợ hai tính mạng, vừa rồi cứu mạng chàng một lần, coi như đã đền được một tính mạng, vẫn còn nợ chàng một mạng nữa, là tôi phải trả chàng, chứ không phải chàng phải trả tôi, nhưng rõ ràng chàng không nhớ. Thực ra điều đó cũng chẳng có gì, nữ nhi mười tám biến, tôi hôm nay khác hẳn ba năm trước, lại luôn đeo mặt nạ, chàng không nhận ra cũng là chuyện thường.
                Tôi nghĩ, tôi yêu chàng ba năm, không ngờ đời này lại được gặp chàng lần nữa, ông trời đã cho chúng tôi cơ hội trùng phùng, nhưng lại ở hai đầu sinh tử, thật quá đau lòng. Nhưng như thế cũng tốt, đối với chàng coi như không có chuyện gì xảy ra, cũng không có gì kết thúc, đối với tôi, tất cả đã xảy ra, tất cả đã kết thúc. Chút tình giữ trong lòng hôm nay chẳng qua là hoài niệm của vong hồn, không phải là thứ hiện hữu trên đời, lưu luyến mấy cũng chẳng ý nghĩa gì.
                Chỉ có điều vẫn không thể nào quên, vừa nhắm mắt lại hiện ra trong đầu, chỉ toàn hình ảnh chàng cúi đầu ôm cây đàn trong hang núi Nhạn Hồi, mặt nạ màu bạc, áo dài đen, tay bấm dây tơ, tiếng đàn tuôn chảy dưới ánh trăng, nhặt khoan như tiếng suối lúc êm đềm lặng trôi, lúc ào ạt trút đổ.
                Tôi nghĩ, tôi phải để chàng lưu lại gì đó cho tôi, gì cũng được, coi như là kỷ niệm.
                Mùa hè ngày dài, mãi mới vào đêm. Tôi cầm một bình rượu, bồi hồi đi tìm chàng giả bộ chẳng có gì suy nghĩ vẩn vơ, đi tìm chàng là do muốn uống rượu ngắm trăng, còn chàng được lựa chọn, thuần túy là vì có lẽ đêm nay chúng tôi tương đối có duyên.
                Chàng ngồi hóng mát trong sân quán trọ, trên ghế đá có bình rượu, tự rót uống một mình. Tôi đi đến, để bình rượu trong tay sang một bên, nhìn chàng: “Uống một mình thật vô vị”.
                Chàng ngẩng đầu: “Cô muốn uống cùng tôi?”.
                Tôi nhìn chung rượu bằng gốm trắng trong tay chàng: “Mộ Ngôn, trước khi chia tay, huynh gảy một khúc đàn cho tôi nghe đi”.
                Chàng ngạc nhiên nhìn tôi, không nói gì, để chung rượu xuống hỏi: “Muốn nghe khúc gì?”.
                Tôi nghĩ một lát: “Cũng không có khúc nào đặc biệt muốn nghe”.
                Chàng giơ tay vẫy Chấp Túc đứng phía xa, ngoái đầu nói với tôi: “Vậy thì...”.
                Tôi ngồi xuống, ngắt lời: “Vậy thì cứ chơi khúc nào huynh biết”.
                “...”.
                Chấp Túc nhanh chóng mang đàn đến, để trong đình hóng mát.
                Xung quanh đình, bà chủ quán trọ trồng đầy hoa thiên ngưu, từng đám lớn tắm ánh trăng, từ màu trắng chuyển sang hồng, lan tràn như mây trắng nhuốm ánh hồng. Tôi cúi nhìn Mộ Ngôn, chàng ngồi giữa áng mây hồng đó, khuôn mặt không đeo mặt nạ đẹp như thiên thần, ngón tay dài mảnh, nhàn tản đặt trên dây đàn, đầu hơi ngẩng lên nhìn tôi mỉm cười: “Nếu chơi hết các khúc tôi biết, e là đêm nay cô không ngủ được”.
                Tôi không nói gì, lòng thầm nghĩ, em có thể suốt đời ngồi nghe chàng đàn.
                Tiếng đàn vang lên, là một khúc tôi chưa từng nghe, tôi gục đầu trên chiếc bàn tròn ba chân bên cạnh, tay chống cằm hỏi: “Mộ Ngôn, huynh chưa lập gia thất chứ?”.
                Khúc nhạc hơi ngừng, chàng khẽ nghiêng đầu, ậm ừ một tiếng, “Chưa”.
                Tôi nói: “Huynh có muốn lấy một người đã chết làm vợ không?”.
                Chàng dừng tay đàn, ánh trăng mờ tỏ chiếu lên khuôn mặt thiên thần, đẹp đến sững sờ.
                Tôi lấy hết can đảm nói với chàng: “Cô gái đó cũng khá đẹp, tính tình cũng được, các vị trưởng bối đều thích cô ấy, cưới về nhà tuyệt đối không có chuyện bất hòa mẹ chồng nàng dâu, hơn nữa, cầm kỳ thi họa cũng biết ít nhiều, tuyệt đối không để huynh mất thể diện trước thiên hạ. Ngoài ra, nấu ăn tuy không giỏi lắm nhưng cũng biết làm vài món, chỉ có điều... chỉ có điều... đã chết...”.
                Tôi tự khoe mình một hồi, thầm nghĩ sao mình có thể mặt dày như vậy, càng tự khen càng thấy không ổn, chàng chống cằm nhẫn nại ngồi nghe, một hồi lâu sau, dở khóc dở cười hỏi: “Cô định nói tới âm hôn(*) sao?”.
                Tôi không biết, giả sử tôi và chàng thành hôn liệu có gọi là âm hôn, nhưng cũng không có định nghĩa nào chính xác hơn, đành ậm ừ gật đầu.
                Chàng nhẫn nại nhìn tôi một lát, giơ tay đàn tiếp, lắc đầu nói: “Không hiểu cô nghĩ gì, không phải cô định mai mối tôi cho một cô gái đã chết nào đó chứ?”.
                Tôi sáng mắt nói: “Chính là thế!”.
                Dây tơ đàn phát ra thanh âm run run, chàng cười: “Đúng là giống chuyện cô thường làm, nhưng Mộ gia chúng tôi không thể tuyệt hậu, cảm ơn thịnh tình của cô”.
                Tôi lại gục trên bàn, nhắm mắt lại, gió đêm ấm áp là vậy, lại cảm thấy toàn thân lạnh toát. Mặc dù rất hiểu sinh tử khác nhau, âm dương cách biệt, hôn nhân là không thể, nhưng bất chợt có lúc không tránh khỏi hy vọng mong manh vào may mắn ngẫu nhiên nào đó, muốn thử một lần, biết đâu sẽ khác, nhưng cuối cùng chỉ khiến mình càng thêm thất vọng.
                Tôi rất muốn nói với chàng, cô gái đeo mặt nạ chàng đi theo để trả ơn chính là cô bé suýt bị rắn độc cắn chết ở núi Nhạn Hồi năm xưa, bây giờ đã lớn thế này, luôn ước ao muốn lấy chàng, trên trời dưới đất tìm chàng, tìm suốt ba năm. Nhưng sao có thể nói ra, cô gái đeo mặt nạ này quả thực là đã chết.
                Đêm đó tôi gục trên chiếc bàn ba chân, ngủ thiếp từ lúc nào trong tiếng đàn của Mộ Ngôn. Nghe Quân Vỹ nói, lúc canh tư, Mộ Ngôn bế tôi vào phòng. Nhưng khi tôi tỉnh dậy, chàng đã rời đi. Giống như cái đêm ở núi Nhạn Hồi ba năm trước, chúng tôi luôn chia tay trong lặng lẽ, bất ngờ. Nhưng cũng không có tình cảm đặc biệt gì, chỉ có nơi đặt viên giao châu dường như trở nên trống rỗng.
                Nơi tôi định đến là thành Tứ Phương, quốc đô nước Trịnh.
                Thoạt nghe tên đó, cứ nghĩ thành này có lẽ được xây dựng theo nguyên lý hình học không gian tinh thâm. Thực ra không phải tên thành là Tứ Phương, chỉ là do dân chúng trong thành đa phần rất thích chơi mạt chược. Bầu đoàn ba thành viên, tôi, Quân Vỹ và Tiểu Hoàng hân hoan nhằm thành Tứ Phương thẳng tiến, bởi vì Quân sư phụ cho chim đưa thư báo, đã tìm được một vụ làm ăn cho tôi ở trong thành, khách lần này nhân thân tương đối đặc biệt, là một quý phụ sống trong vương cung Trịnh quốc.
                Nội địa Trịnh quốc nhiều sông nhiều núi, có nghĩa phần lớn hành trình chúng tôi đều đi bằng thuyền, nhưng sự có mặt của Tiểu Hoàng khiến chúng tôi gặp rất nhiều rắc rối, ngày càng ít chủ đò đồng ý chở chúng tôi, họa hoằn mới tìm được một chủ đò hám tiền, nhưng thường đòi tiền công rất cao mới được bước lên con thuyền rách của họ. Nghĩ đến chuyện không thể làm thịt Tiểu Hoàng nướng ăn như đối với con ngựa, đành nghiến răng không còn cách nào khác.
                Nhưng tiền mang theo mỗi ngày cạn một nhanh, như thế này khó lòng đến được thành Tứ Phương theo dự kiến. Vạn bất đắc dĩ, tôi và Quân Vỹ đành phải ép chủ đò: “Tiền không có, nhưng mạng thì có, nếu ông không chở, chúng tôi sẽ thả con hổ, nó sẽ cắn ông chết tươi”.
                Không ngờ biện pháp đó lại rất hiệu quả. Chúng tôi đi hoàn toàn thuận lợi, chỉ có điều, lúc gần đến thành có người báo quan, bị quan phủ địa phương phạt món tiền lớn, đó lại là khoản tiền lộ phí cuối cùng của chúng tôi.
                Lúc này còn cách thành Tứ Phương năm mươi dặm, nhanh nhất cũng phải ba ngày mới tới, nhưng trong người chúng tôi đã không còn một cắc bạc. Quân Vỹ nói trên đường đi vừa rồi anh ta đã sáng tác xong một cuốn tiểu thuyết mới, nói về sự bạc tình đang rất ăn khách, có lẽ sẽ bán chạy, có thể thử bán cuốn tiểu thuyết này lấy ít tiền lộ phí. Tôi và Tiểu Hoàng đều rất vui, cảm thấy hết mưa là nắng, phấn khởi bày sách bên đường rao bán, lòng đầy hy vọng.
                Kết quả không bán được.
                Về sau phân tích mới thấy, nguyên nhân chính là trong sách không có những chỗ mô tả chuyện gối chăn. Nhưng lúc đó chúng tôi chưa nhận ra điều ấy, chỉ thấy rất bế tắc. Suy nghĩ rất lung, cảm thấy biện pháp duy nhất... chỉ có để Tiểu Hoàng biểu diễn tài ăn cỏ, trái với bản tính của loài hổ.
                Chính trong quá trình ép Tiểu Hoàng biểu diễn tài ăn cỏ, chúng tôi gặp được Bách Lý Tấn lên núi hái thuốc trở về, đây là nhân vật vô cùng quan trọng, mà lúc đó và rất lâu về sau, chúng tôi đều không biết anh ta thực ra xuất thân từ một gia tộc thánh dược, là cháu ngoại duy nhất của thánh dược Bách Lý Việt. Đương nhiên cũng có nguyên do, bởi vì anh ta xuất hiện với bộ dạng hoàn toàn không xứng với họ tộc trứ danh của mình, trên tay không phe phảy chiếc quạt quý, thắt lưng cũng không đeo kiếm báu, chiếc áo dài trắng mặc trên người lại loang lổ chỗ đen chỗ trắng, lưng lại khoác chiếc gùi cũ, không hề có dáng một công tử thế gia, khiến người ta vừa nhìn đã nhận ra là bậc cao nhân, hoặc là hậu duệ của bậc cao nhân.
                Cảnh đó diễn ra vào đúng lúc mặt trời lặn, chim đang về tổ. Chúng tôi chuẩn bị địa bàn mãi nghệ, hái một bó lớn rau dại và cỏ để bên đường, Tiểu Hoàng đã được ý tứ buộc chặt vào chiếc cọc tre.
                Nông dân đang lục tục vác nông cụ về nhà, đi qua nhìn thấy cảnh đó tò mò đứng lại, chẳng mấy chốc đã quây kín một vòng.
                Mọi người chứng kiến Tiểu Hoàng dáng điệu khổ sở lép bép nhai một củ cà rốt, nông dân chặc lưỡi khen lạ.
                Lúc đó Bách Lý Tấn vất vả chen vào trong, cúi xuống rất tự nhiên lấy một củ cải trắng to đùng trong đống rau cỏ, ngẩng đầu nhìn Quân Vỹ: “Này, củ cải bán thế nào?”.
                Quân Vỹ ngây người.
                Bách Lý Tấn ngắm nghía một hồi, không biết lý giải thế nào biểu hiện đó của Quân Vỹ, lại cúi đầu lựa chọn một hồi, lấy ra một củ cà rốt: “Này, tôi mua hai củ cải, anh có thể tặng thêm một củ cà rốt không?”.
                Tôi giương mắt nhìn Quân Vỹ nhướn mày hai cái, sau đó thản nhiên chỉ vào Tiểu Hoàng đang gặm cà rốt bên cạnh, tỏ ý chúng tôi đang biểu diễn, không phải bán củ cải.
                Bách Lý Tấn nhìn Tiểu Hoàng, nhảy dựng lên: “Chao, mua củ cải còn được tặng hổ ư?”.
                Tôi giương mắt nhìn Quân Vỹ lại nhướn mày hai cái, nhếch mép: “Không tặng hổ, không tặng hổ”.
                Bách Lý Tấn hiểu ý giơ củ cà rốt ở tay phải, “Ồ, không sao, không tặng hổ thì tặng tôi một củ cà rốt vậy”.
                Quân Vỹ lại nhếch mép: “Cà rốt cũng không tặng!”.
                Bách Lý Tấn ngạc nhiên giơ củ cải ở tay trái: “Tôi không để anh cho không đâu, tôi trả tiền, tôi mua nhiều không phải để anh kiếm tiền, mà là muốn anh cho thêm một củ cà rốt nhỏ...”.
                Tôi đoán Quân Vỹ sắp không chịu nổi rồi, còn chưa nghĩ xong thì đã thấy một bóng trắng xám xám bay ra khỏi vòng người, Quân Vỹ nghiêm nghị nhìn Bách Lý Tấn vừa bị ném đi, phủi tay vài cái rồi lau lên áo tôi.
                Đó là cuộc gặp đầu tiên của chúng tôi với người cháu trẻ nhất trong gia tộc Bách Lý, Quân Vỹ lần đầu tiên thể hiện rõ nhất dũng khí nam nhi.
                Hai ngày sau, chúng tôi tích đủ lộ phí đến thành Tứ Phương, tạm đủ tiền ăn ở dè sẻn. Tôi nghĩ, lúc này bất đắc dĩ phải kiếm ít tiền còn được, không nên để Tiểu Hoàng mệt mỏi quá, chỉ cần đến thành phố là chỗ nào cũng đầy cơ hội kiếm tiền, chẳng hạn có thể để Quân Vỹ bán thân, nhưng lại một nữa bị báo quan.
                Quan phủ sau khi tra xét thấy đúng, bởi chúng tôi hoàn toàn chẳng làm gì trái pháp luật, nên không thể ra tay, nhưng họ cũng không chịu tay trắng ra về, cuối cùng phạt tiền chúng tôi với tội danh bắt hổ mãi nghệ, ngược đãi động vật, số tiền phạt coi như vẫn còn nhân tính, vẫn để lại cho chúng tôi một ít bạc lẻ làm lộ phí.
                Quân Vỹ nói: “Đây nhất định là việc hay ho do gã tiểu tử nói giọng đàn bà đó làm”. Anh ta đang nói tới Bách Lý Tấn, nhưng tôi thấy chuyện này chẳng liên quan tới anh chàng đó, bởi tôi thật sự cho rằng, thực ra anh chàng đó có thể cũng không biết hổ là loài thú hoang ăn thịt hay ăn cỏ, chưa biết chừng anh ta lại tưởng thiên tính của hổ là ăn củ cải.
                Vốn tưởng Bách Lý Tấn chẳng qua là người qua đường, tôi và Quân Vỹ đều không chú ý, ai ngờ chập tối ngày thứ tư lại gặp nhau trong một quán trọ duy nhất ở ngoại ô thành Tứ Phương, hơn nữa Quân Vỹ lại nằm cùng giường với anh ta.
                Có duyên như vậy kể cũng hiếm, bởi vì quán trọ đó quả thật rất nhỏ, khi chúng tôi đến chỉ còn một phòng trống duy nhất. Vì thanh danh của tôi, đương nhiên tôi và Quân Vỹ không thể ở cùng phòng, nhưng để anh ta nằm trong kho củi hoặc dưới gốc liễu bên ngoài cũng thật tàn nhẫn.
                Nghĩ đến nếu hủy hoại danh dự của tôi nhất định sẽ bị Quân sư phụ đánh chết, Quân Vỹ mặc dù lòng vô cùng ấm ức cũng đành ôm chăn chiếu xuống kho củi ngủ tạm một đêm. Tôi và Tiểu Hoàng nhìn anh ta với con mắt cảm thông. Không ngờ vừa ôm chiếu đi qua cầu thang, một cái bóng trắng đột nhiên sấn đến: “Này? Cô không phải là người bán củ cải mấy hôm trước ư? Các người sao vậy?”. Chúng tôi nhìn kỹ, thì ra là Bách Lý Tấn.
                Chủ quán trọ nép vào một góc tủ quầy, vừa chú ý động tĩnh của Tiểu Hoàng vừa giải thích với anh ta. Bách Lý Tấn ngoái nhìn kỹ một hồi, vòng qua Quân Vỹ đến trước mặt tôi: “Thì ra là thiếu phòng? Phòng của tôi rất rộng, hay là cô ở tạm cùng tôi một đêm, tiền phòng chúng ta chia đôi, hi hi hi”. Tôi không kịp cười, Quân Vỹ không biết dùng thân pháp gì, đã lặng lẽ đứng chen giữa chúng tôi, hiền hậu mỉm cười với Bách Lý Tấn đang nhăn nhở: “Được, chúng ta chung phòng”.
                Bách Lý Tấn thôi nhăn nhở.
                Mọi người cùng ăn chung bữa cơm, vậy là quen nhau.
                Ăn xong từng đôi về phòng.
                Trước lúc ngủ, mí mắt tôi nháy liên tục, cảm thấy sẽ xảy ra chuyện gì. Từ nhỏ đến giờ linh cảm của tôi luôn rất hiệu nghiệm, nếu dự cảm có chuyện xấu xảy ra, bất luận thế nào cũng xảy ra chuyện gì đó thật.
                Lòng tôi thấp thỏm, không thể ngủ được, mắt trừng trừng thức đến tận bình minh ngày hôm sau, nhưng cả đêm yên tĩnh, không hề xảy ra bất cứ chuyện gì đặc biệt, chỉ là khi dẫn Tiểu Hoàng xuống lầu ăn sáng, nhìn thấy Quân Vỹ và Bách Lý Tấn ngồi bên cửa sổ, cảm giác thần thái hai người hơi kỳ quái. Bách Lý tiểu đệ húp một miếng cháo ngẩng đầu nhìn Quân Vỹ mỉm cười, húp miếng nữa lại ngẩng đầu nhìn Quân Vỹ mỉm cười, còn Quân Vỹ ngoài sắc mặt hơi trầm, không có biểu hiện gì khác lạ.
                Tiểu Hoàng vẫy đuôi quanh quẩn dưới chân tôi, ngẩn mặt nhìn nửa bát cháo trước mặt, lát sau chớp chớp mắt nhìn Quân Vỹ vẻ tội nghiệp.
                Quân Vỹ sốt ruột: “Hôm nay không có gà nướng cho mày ăn đâu, chúng ta chẳng còn mấy đồng nữa”.
                Tiểu Hoàng ngoẹo đầu không tin. Bách Lý Tấn cười hề hề ghé lại gần tôi: “Cô có biết A Trăn là ai không?”.
                Đôi đũa đang gắp dưa muối trong tay Quân Vỹ dừng lại, quay về phía Bách Lý Tấn, hất hàm với Tiểu Hoàng: “Con trai, nếu quả thực con muốn ăn thịt, ở đây đã có sẵn rồi đấy”.
                Tiểu Hoàng đứng dậy liếm nanh thật, Bách Lý Tấn kêu thét một tiếng nhảy lên bàn, run cầm cập, tay chỉ Quân Vỹ: “Một đêm vợ chồng, trăm năm ân nghĩa, Quân Vỹ huynh là kẻ vong ân bội nghĩa”.
                Miếng cháo trong miệng tôi bắn đầy ra bàn, đôi đũa trong tay Quân Vỹ rắc một tiếng bị bẻ làm đôi.
                Tôi nói: “Hai người…”.
                Quân Vỹ thu đôi đũa gẫy, lườm Bách Lý Tấn, nghiến răng nói “Không có gì, đừng nghe hắn nói bậy”.
                Bách Lý Tấn chặc chặc lưỡi, lắc đầu, ngồi xổm trên bàn, vẻ mặt mờ ám ghé lại gần, tôi hứng thú ghé sát lại.
                Anh ta ghé gần tai tôi, “Cô không biết, người này tối qua nằm mơ, trong mơ huynh ấy...”. Lời chưa dứt bị một miếng bánh bao chay nhét vào miệng.
                Tôi giật mình, vội nhìn sang Quân Vỹ, “Huynh và Bách Lý tiểu đệ… không phải thấy người ta dung mạo đẹp như hoa mùa xuân, tối qua trăng lặn sao thưa, mới vô tình…”. Lời chưa dứt cũng bị miếng bánh bao nhét vào miệng. Quân Vỹ tức tối bảo Tiểu Hoàng: “Con trai, hai thứ giẻ rách này thuộc về con, bữa sáng của con đó”.
                Đúng lúc mâu thuẫn nội bộ sắp gia tăng, thì từ vị trí cách chúng tôi mấy chiếc bàn vang lên tiếng cười khe khẽ, và một giọng không biết nói với ai: “Vị công tử phẩm tính hiền đức mà các người nói chính là Trần thế tử Tô Dự, Tô Tử Khác, người đã chém sạch những trung thần cuối cùng của Vệ vương thất, sau khi Vệ quốc diệt vong ư?”.
                Thấy nhắc đến Vệ quốc, tôi và Quân Vỹ bất giác đều cùng ngoái đầu lại, phát hiện cách đó mấy bàn có mấy vị khách dậy sớm đang châu đầu bàn luận quốc sự, người vừa nói là một văn sĩ trung niên.
                Văn sĩ vẫn muốn nói tiếp, bị một thanh niên áo trắng cùng bàn ngắt lời: “Lời huynh thậm sai, người chém đại thần nước Vệ không phải là thế tử Dự. Khi nước Vệ bị diệt, thế tử được lệnh Trần vương thống lĩnh Trần quân giám hộ Vệ quốc, không may nhiễm bệnh, đành trở về Hạo thành dưỡng bệnh. Là tể tướng Doãn Từ đã tiến cử diên uý Công Dương Hạ làm thích sử, thay thế tử giám quốc. Công Dương Hạ vốn hiểm độc, muốn nhanh chóng lập công với Trần vương, vừa đến đất Vệ đã giết những cựu thần cuối cùng của Vệ vương thất có khả năng phản kháng, giết gà dọa khỉ, lại đuổi dân chúng ở Lịch thành và Yến thành ngay gần kinh đô, đưa dân nước Trần đến ở, khiến dân chúng hai thành lâm vào cảnh ly tán không nhà không cửa. Lại cho xây thích sử phủ nguy nga, thế tử lúc đó đang bệnh nặng, hoàn toàn không hay biết. Đến khi bình phục, thế tử chỉnh đốn quốc sự, chẳng phải đã lập tức phi ngựa đến Vệ quốc, ra lệnh chém Công Dương Hạ trước thích sử phủ còn chưa kịp hoàn tất, bêu đầu trước môn thành kinh đô nước Vệ, lấy đó để tạ tội với dân chúng hay sao? Bây giờ dân chúng nước Vệ đều coi thế tử như phụ mẫu tái sinh, nước Vệ diệt vong chưa quá nửa năm, dân chúng đã cam tâm tình nguyện quy thuận nước Trần, hai chữ hiền đức, chẳng lẽ thế tử không xứng?”.
                Văn sĩ kia nói: “Chẳng qua là mượn dao giết người, đầu tiên là mượn tay Công Dương Hạ, làm hết việc mình muốn nhưng không thể làm, sau đó trở mặt giết người ta mà thiên hạ vẫn phải cảm ơn đại ân đại đức, quả nhiên là thế tử hiền đức!”.
                Mấy người cùng bàn với chàng trai trẻ đập bàn đứng dậy, “Ông…”. Chủ quán thấy tình hình không ổn, vội vàng chạy đến can: “Xin đừng bàn quốc sự, xin đừng bàn quốc sự”.
                Quân Vỹ gắp dưa muối vào bát tôi: “Nói suy nghĩ của muội xem?”.
                Tôi nghĩ một hồi, cảm thấy chẳng có suy nghĩ gì, chỉ là thấy lạ về chuyện trong Vệ vương thất vẫn còn những người gọi là trung thần.
                Quân Vỹ nhìn Bách Lý Tấn ngồi xổm trên ghế, mở miệng định nói, có lẽ cảm thấy một số chuyện không nên nói ra trước mặt người ngoài. Đắn đo một hồi, cuối cùng cúi đầu tiếp tục húp cháo. Tôi đoán Quân Vỹ lo lắng tôi vẫn nhớ mình là công chúa nước Vệ, sẽ để bụng, coi Tô Dự là kẻ thù, định hành thích báo thù.
                Nhưng quả thật tôi không có ý nghĩ đó, cảm thấy để Quân Vỹ yên lòng, tôi vừa khều một sợi củ cải trong dưa muối, vừa thong thả nói: “Nếu là Tô Dự, chắc muội cũng làm như vậy, minh quân thánh chủ thời loạn phải là người xảo quyệt hung bạo như hổ, hiền đức chỉ để cho thiên hạ xem, chỗ nào cần hiền đức thì tỏ ra hiền đức để thiên hạ nhìn thấy là được rồi”.
                Bách Lý Tấn không biết từ lúc nào đã buông chân xuống, ngồi ngay ngắn trên ghế góp chuyện: “Theo cô nói, Tô Dự làm nhiều việc như vậy chỉ là để tạo một hình ảnh hiền đức với thiên hạ?”.
                Tôi lắc đầu: “Nếu đúng vậy, anh ta không phải là hiền đức, mà là rỗi việc. Chẳng phải Công Dương Hạ đã giết hết cựu thần của Vệ vương thất rồi sao? Sau đó nước Vệ đã không còn hy vọng phục quốc nữa, thật đáng chúc mừng. Công Dương Hạ đã di chuyển một bộ phận dân chúng nước Trần sang sinh sống ở hai thành Lịch, Yến ngay gần kinh đô nước Vệ. Những người đó bình thường làm ruộng sinh sống, khi nước Vệ xảy ra binh biến có thể trở thành lực lượng tại chỗ rất hữu hiệu, khỏi phải tốn kém điều binh từ nước Trần đến...”.
                Bách Lý Tấn tỏ ra ngạc nhiên. Tôi nghĩ phải lấy ví dụ chứng minh để anh ta dễ hiểu, nghĩ một lát nói tiếp: “Cũng giống như các vị đến nước khác mở lầu xanh, mang rất nhiều cô gái đến, nhưng luật nước đó lại quy định chỉ vào dịp lễ tết mới được kinh doanh lầu xanh, như vậy các vị hàng ngày phải bỏ tiền nuôi các cô gái đó rất tốn kém, nếu chia cho họ ít ruộng, để họ tự trồng cấy, nuôi thân, vậy chẳng phải các vị sẽ giảm rất nhiều chi phí sao?”.
                Bách Lý Tấn vò đầu: “Nhưng nếu nước đó chỉ cho phép vào dịp lễ tết mới được được kinh doanh lầu xanh, vậy chúng tôi tại sao phải đến một nước xa xôi như vậy để mở lầu xanh?”.
                Tôi cảm thấy bất lực, không thể nào chia sẻ với anh ta được.
                Mà lúc đó, văn sĩ trung niên kia hình như đã được chủ quán đưa ra chỗ khác khuyên giải, bàn bên đó đột nhiên vang lên tiếng nói, không biết bắt đầu từ lúc nào, tôi chỉ nghe thấy câu sau: “… Nước Vệ diệt vong đúng là chuyện nực cười, chỉ tiếc cho công chúa Văn Xương tuẫn tiết, nghe nói công chúa từ nhỏ đã theo học thánh nhân Huệ Nhất tiên sinh, là nữ đệ tử duy nhất của Huệ Nhất tiên sinh, tài mạo song toàn, nhan sắc khuynh quốc, nguyệt thẹn hoa hờn, lại thông tuệ tuyệt đỉnh, mười sáu tuổi đã có bao nhiêu công tử các nước chư hầu đến cầu hôn…”.
                Tiếng người khác lại tiếp: “Tại hạ từng nghe, vào sinh nhật lần thứ hai mươi hai thế tử Tô Dự được nhìn thấy một bức họa của công chúa Văn Xương, nhìn xong lại nói một câu rất lạ “Ồ, đây là Diệp Trăn à, đã trở thành thiếu nữ rồi”. Chuyện bí mật lưu truyền trong cung đình không biết có đáng tin hay không, nhưng theo lời đồn công chúa Văn Xương phẩm hạnh đoan trang, chim sa cá lặn, cầm kỳ thi họa đều tinh thông, thế tử…”.
                Quân Vỹ hỏi tôi: “Sao muội run thế?”.
                Tôi lẩm bẩm: “Không biết tại sao khắp người nổi da gà… không sao đâu, ăn đi ăn đi”.
                Quân Vỹ ra hiệu bảo tôi im lặng: “Chuyện phong nguyệt họ nói hết rồi, bây giờ bắt đầu nói chuyện chư hầu phân tranh, muội yên lặng, để huynh nghe tiếp”.
                Tôi ngạc nhiên: “Sao?”.
                Quân Vỹ đáp: “Nói thế nào nhỉ, lúc thiên hạ đại loạn, thân là nam nhi nên có trách nhiệm”.
                Tôi ngạc nhiên nhìn anh ta: “Đâu phải huynh làm cho nó loạn, can hệ gì đến huynh? Thế sự loạn đến đâu chỉ liên quan đến hoàng đế và các vương hầu, một người ra sức không để nó loạn, một người ra sức muốn cho nó loạn. À, phải rồi, còn có một tông giáo không rõ có mục đích gì, họ chỉ mong thế sự đại loạn, nhưng đó thuộc phạm trù tôn giáo, thuộc về ý thức thần bí, chúng ta không cần quan tâm”.
                Quân Vỹ lẩm bẩm: “Huynh quan tâm đến chính trị…”.
                Tôi vỗ vai anh ta: “Người chính trực không làm chính trị được đâu, nghề đó không hợp với huynh, huynh quan tâm vũ trụ, viết tiểu thuyết vẫn hợp hơn. Nào, ăn đi, ăn đi”.
                Bách Lý Tấn ghé lại gần tôi hỏi: “Tại sao người chính trực không thể làm chính trị?”.
                Tôi giải thích: “Anh thấy đấy, trong thế giới đại loạn, bản thân chính trị là một sự lệch lạc, nếu anh không lệch lạc, anh không thể làm gì được nó, trái lại bị nó quật lại”.
                Bách Lý Tấn hiểu ra: “Có nghĩa là nói con người ta nếu không lệch lạc không thể làm chính trị?”.
                Tôi nói: “Cũng không phải thế, nhưng không thể quá lệch, phải vừa lệch vừa thẳng”. Nghĩ một lát, tôi tiếp: “Giống như Tô Dự…”.
                Bách Lý Tấn đăm đăm nhìn tôi rất lâu vẻ suy tư, sau đó trịnh trọng nói: “Đã có ai nói với cô rằng, cô sinh ra là phận nữ nhi thật đáng tiếc?”.
                Quân Vỹ lạnh nhạt nói: “Chẳng có gì đáng tiếc, chẳng qua là được thầy giỏi truyền dạy mà thôi”.
                Tôi chỉ vào Quân Vỹ nói với Bách Lý Tấn: “Có nhận ra tôi và huynh ấy đều do một thầy dạy không? Không nhận ra chứ gì? Hai chúng tôi khác biệt như bây giờ, chẳng liên quan gì tới nỗ lực cá nhân, hoàn toàn là do vấn đề tư chất”.
                Quân Vỹ nhìn tôi vẻ tức tối, hình như đang âm thầm giở trò gì.
                Tôi ngạc nhiên: “Huynh làm gì vậy?”.
                Anh ta cũng ngạc nhiên: “Đạp chân muội, huynh đang đạp thật lực vào chân muội dưới gầm bàn, muội không thấy sao?”.
                Tôi càng ngạc nhiên: “Hả? Không thấy”.
                Bách Lý Tấn đột nhiên ôm chân nhảy dựng, miệng la: “Ối ôi, ối ôi, đau, đau, đau quá!”.
                Trên đời chẳng có bữa tiệc nào không tàn, khi mặt trời lên được ba con sào, chúng tôi dùng xong bữa trà, thu xếp hành lý chia tay với Bách Lý Tấn. Bức tường thành màu vàng phía xa xa đã là kinh đô nước Trịnh, bức tường thành cao sừng sững lấp lánh dưới nắng hạ. Tôi nghĩ, nếu nó bằng vàng có phải tốt không, dỡ một hòn gạch là phát tài to, cái chính là không cần buộc Quân Vỹ bán thân kiếm tiền.
                Bước năm bước khỏi quán trọ, Quân Vỹ đã liên tục ngoái đầu, tôi cũng ngoái lại liếc thấy Bách Lý Tấn khoác một cái bọc trên lưng đang đứng trước cửa quán trọ, liền thăm dò Quân Vỹ: “Bách Lý tiểu đệ đến là kháu trai”.
                Quân Vỹ lạnh lùng nhìn tôi .
                Tôi tiếp tục: “Tối qua huynh và Bách Lý tiểu đệ có phải đúng là đã…”.
                Anh ta không trả lời, lại liếc tôi lần nữa, liếc xong, lại ngoái đầu .
                Nhìn phản ứng đó của anh ta, tôi giật mình, che miệng khẽ hỏi: “Huynh thích người ta thật hả? Huynh lưu luyến người ta phải không?”.
                Quân Vỹ không nghe rõ: “Cái gì?”.
                Tôi nói to hơn: “Huynh thích người ta à? Huynh lưu luyến người ta phải không?”.
                Quân Vỹ vẫn chưa nghe rõ: “Gió to quá, muội nói to lên!”.
                Tôi đành nói to: “Có phải huynh thích anh chàng Bách Lý Tấn kia ~ ~ ~. Huynh liên tục ngoái lại như thế là lưu luyến, không muốn xa anh ta ~ ~ ~”. Nói xong vẫn giữ cao độ đó nhắc nhở anh ta, “Nếu huynh làm bậy, Quân sư phụ sẽ cho huynh nhừ đòn”.
                Xung quanh đột nhiên yên lặng, người qua lại đều dồn mắt nhìn chúng tôi, mặt Quân Vỹ hết xanh lại trắng, lúc sau nghiến răng nói từng chữ: “Quân Phất, muội đang ngứa da phải không?”.
                Tôi theo phản xạ lùi về sau.
                Bách Lý Tấn ở cách đó năm bước, sung sướng chạy lại, nheo mắt nhìn tôi và Quân Vỹ: “Hai người lưu luyến tôi ư? Không sao không sao, nhà tôi ở ngay cái sân lớn nhất trong ngõ Tâm Thủy thành Tứ Phương, lúc nào xong việc mời hai người ghé chơi”.
                Tôi vui vẻ nói: “Nhất định, nhất định sẽ đến!”.
                Quân Vỹ ôm trán không nói lời nào.
                Nói xong mấy câu xã giao với tôi, Bách Lý Tấn quay sang buồn bã nhìn Quân Vỹ, tay bối rối vò nhàu vạt áo: “Không phải huynh thích tôi thật đấy chứ? Rõ ràng trong giấc mơ, huynh đã…”.
                Quân Vỹ nghiến răng: “Câm mồm, ông không thích mi”.
                Bách Lý Tấn kinh ngạc: “Vừa rồi huynh liên tục ngoái đầu nhìn tôi”.
                Thái Dương Quân Vỹ nổi gân xanh: “Ông không ngoái nhìn mi, ông ngoái nhìn con trai Tiểu Hoàng, nó vào bếp ăn trộm gà rán, chưa thấy quay ra”.
                Bách Lý Tấn lạ lùng nhìn anh ta: “Tiểu Hoàng đang đi bên cạnh Quân cô nương đấy thôi!”.
                Quân Vỹ ngoái đầu, bắt gặp đôi mắt to long lanh như nước của Tiểu Hoàng.
                Dưới cái nhìn nghiêm khắc của Quân Vỹ, Tiểu Hoàng vừa ngấu nghiến xong một suất gà rán, vội dùng vuốt chân hất xương đầu gà về phía sau, xong xuôi ngượng nghịu khẽ liếc Quân Vỹ một cái, thấy anh ta vẫn nhìn chằm chằm, hơi hoảng lùi về phía sau.
                Quân Vỹ ngây ra nhìn Tiểu Hoàng một lát, hỏi tôi: “Nó về lúc nào?”.
                Tôi mới vỡ lẽ, thì ra tất cả là hiểu lầm, đang định nói với anh ta Tiểu Hoàng vừa chui ra từ bụi cây ven đường, Bách Lý Tấn bên cạnh lại lên tiếng: “Muốn kiếm cớ cũng nên kiếm cái cớ hay một chút, không cần giải thích, cũng không cần giấu giếm, huynh thích tôi…”.
                Quân Vỹ im lặng hồi lâu, nhìn tôi, không biết nói sao.
                Tôi hiểu cái nhìn ngầm cầu giúp đỡ của anh ta, lập tức xen lời: “Ha ha, Bách Lý Tấn, chuyện này chúng ta tạm thời không nói, tôi hỏi anh một chuyện”. Thực ra tôi cũng không biết muốn hỏi anh ta chuyện gì, chỉ là để chuyển chủ đề, nghĩ một lát, không nghĩ ra chuyện gì có thể nói với anh ta, đành lấy vụ làm ăn ở thành Tứ Phương Quân sư phụ giao cho tôi để chống chế: “Vậy, anh, anh là người nước Trịnh, anh có nghe nói đến Thập Tam Nguyệt, phu nhân của Trịnh Bình vương?”.
                Bách Lý Tấn đang yên lặng, ngẩng phắt đầu, trợn mắt nghĩ một lúc, nói: “Cô định nói là Nguyệt phu nhân?”.
                Nghĩ một lát lại tiếp: “Phu nhân đã quy thiên rồi”.
                Tôi ngớ ra: “Không thể, sư phụ tôi nói, mấy ngày trước còn nhận được thư của phu nhân…”.
                Bách Lý Tấn nhíu mày suy nghĩ, lát sau nói: “À, người cô nói là Nguyệt phu nhân của Bình hầu Dung Tầm, tôi lại tưởng cô nói…”. Chưa hết câu, lại đổi ý: “… nhưng vừa rồi cô nói Thập Tam Nguyệt?”.
                Anh ta ngẩng đầu nhìn tôi phân vân: “Nguyệt phu nhân mà cô nói đó không phải là Thập Tam Nguyệt, người đó và phu quân cô ta đều là giặc, Thập Tam Nguyệt thật sự…”. Anh ta dừng lại: “... Đã chết rồi”.
                #8
                  manhbv 14.01.2013 18:39:37 (permalink)
                  Chương 7

                  Bảy ngày trôi nhanh, đêm hai mươi lăm tháng năm trăng sáng sao thưa, tôi, Quân Vỹ và Tiểu Hoàng trốn khỏi thành Tứ Phương.
                  Cho đến hôm nay, tôi đã làm hai vụ, chưa tổng kết, nhưng không nén nổi khái quát một câu, trong sứ mệnh dệt ảo mộng của tôi có lẽ chẳng bao giờ thoải mái nhẹ nhàng như chuyến đi nước Trịnh lần này, chỉ cần đánh một khúc đàn, gửi một bức thư là xong, lại còn được cả một tính mạng. Đương nhiên đó là mặt tốt.
                  Mặt không tốt là Nguyệt phu nhân, vị khách trong vụ trao đổi này là người ăn chay. Chuyện này cũng chẳng sao, chỉ có điều không chỉ một mình ăn chay, phu nhân còn thích động viên mọi người cùng ăn, là khách của phu nhân, chúng tôi không thể chối từ, khiến Quân Vỹ và Tiểu Hoàng khổ sở một phen.
                  Vốn định trốn ra ngoài cung vào tửu quán chén một bữa đã miệng, nhưng vương cung, biểu tượng quyền lực thực ra cũng chẳng khác gì kỹ viện, sòng bạc, đều là muốn vào phải chi tiền, muốn ra còn phải chi nhiều tiền hơn, chúng tôi mặc dù đã từng là người có tiền, nhưng bị quan địa phương bắt phạt mấy lần, tiền đã cạn, đây cũng là nỗi khổ chung của những người có tiền ở đất nước này.
                  Do quá thèm thịt, sau khi kết thúc vụ việc với Nguyệt phu nhân, ra khỏi Trịnh vương cung, mọi người đều phấn khởi. Để thể hiện niềm vui, Tiểu Hoàng mặt gầy hõm sau mấy ngày không được ăn thịt còn lăn mấy vòng trên đất, kết quả lăn quá đà, mãi không đứng lên được.
                  Tôi vỗ vai Quân Vỹ: “Ra đỡ con trai huynh dậy đi”.
                  Quân Vỹ tức giận: “Ai sinh ra thì đi mà đỡ!”.
                  Tôi nói: “Chẳng phải huynh và Bách Lý Tấn sinh ra nó hay sao?”.
                  Quân Vỹ quay đầu, ngó sát mặt tôi: “Muội là đồ chết giẫm”.
                  Trăng lơ lửng giữa trời, tôi và Quân Vỹ quyết định tách làm hai ngả, anh ta cùng Tiểu Hoàng đi về hướng đông, tôi đi về hướng tây. Hai bên hẹn gặp ở hướng bắc.
                  Có nghĩa là chúng tôi nhất thiết phải chạy trốn theo lộ trình hình tam giác, cuối cùng gặp nhau ở giao điểm đường trung bình của tam giác đó, Quân Vỹ học toán không tốt, tôi đã có thể tưởng tượng kế hoạch này nhất định sẽ thất bại, cuối cùng anh ta sẽ lạc đường, sau đó bị người ta bắt được, đem bán cho hý viện, cả đời dùng thanh sắc phục vụ người ta, nếu may mắn sẽ gặp được một huyện lệnh nào đó chuộc về làm thiếp. Nghĩ đến đó tôi bất giác rùng mình, cảm thấy trao Tiểu Hoàng cho anh ta đúng là hành động sáng suốt.
                  Bởi vì nếu gặp phải nguy hiểm, ít nhất cũng có Tiểu Hoàng bảo vệ. Mặc dù mục đích ban đầu vạch ra lộ trình chạy trốn đó là do Tiểu Hoàng quá gây chú ý, Trịnh hầu vương truy đuổi chúng tôi chắc chắn sẽ lấy đó làm mục tiêu, quả thật Tiểu Hoàng đi với ai cũng dở.
                  Chúng tôi đoán Trịnh vương Dung Tầm nhất định sẽ cho quân truy đuổi gắt gao chúng tôi, bởi vì một canh giờ trước, chúng tôi đã kết thúc tính mạng Thập Tam Nguyệt, Nguyệt phu nhân, mỹ nhân ông ta sủng ái nhất vương cung, vị phu nhân mà thiên hạ vẫn đồn đại. Quan trọng hơn là trước khi bỏ chạy chúng tôi còn nhân thể mang đi bộ trang sức bằng vàng cài trên tóc của phu nhân.
                  Trước đây tôi có đọc một cuốn sách viết về một phụ nữ sống bằng nghề bói toán, biết một ảo thuật đặc biệt, những người được gặp bà không ai có thể nhớ được dung mạo bà. Thập Tam Nguyệt, Nguyệt phu nhân chúng tôi gặp trong Trịnh cung có cảm giác giống như người phụ nữ trong cuốn sách đó, khiến người gặp chỉ cần quay đi là quên.
                  Chúng tôi từng suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, cảm thấy nhất định có bí ẩn nào đó, cô nhất định có một tố chất đặc biệt về dung mạo, không phải là cô không đẹp, không nổi bật, chỉ là đường nét gương mặt quá nhạt, giống như vài nét vẽ trong tranh thủy mặc, không có cảm giác là người thật.
                  Thập Tam Nguyệt là một người kỳ lạ, uống vài giọt máu của tôi pha với trà, khiến tôi nhìn thấy Hoa Tư điệu của cô, nhưng lại không nói với tôi cô muốn gì, chỉ để vào tay tôi một bức thư, giọng nhẹ nhàng: “Quân sư phụ nói cô có thể tái hiện quá khứ trong ảo mộng, giúp tôi viên tròn ước nguyện. Có điều trong ảo mộng đó tôi sẽ không nhớ mọi chuyện trong hiện thực, vậy phiền cô nương dệt ảo mộng tái hiện quá khứ cho tôi, sau đó chuyển bức thư này tới tôi trong quá khứ đó”. Ngay giọng nói của cô cũng nhàn nhạt.
                  Tôi nắm chặt bức thư nhẹ tênh trong tay, hỏi cô: “Không cần tôi làm gì cho phu nhân sao? Phu nhân có biết trong vụ trao đổi này, phu nhân phải trả một giá thế nào không?”.
                  Cô ngẩng đầu: “Cái giá đó tôi cầu không được”.
                  Tất cả diễn ra như cô mong muốn, ba ngày sau, tôi tấu Hoa Tư điệu, chuyển bức thư niêm phong cẩn mật trao tận tay Thập Tam Nguyệt của quá khứ, bởi không được biết chuyện của cô, khi vào Hoa Tư mộng rất khó nhận biết thời gian, chỉ thấy trong ảo mộng nét mặt cô rất buồn phiền, tôi đoán quá khứ này thực ra không hoàn toàn là quá khứ, bởi trong vụ này từ hiện thực đến mộng ảo đều mang màu sắc kỳ lạ, hơn nữa đương sự hình như cố ý làm cho nó thêm thần bí, khiến tôi tò mò muốn tìm hiểu. Quả nhiên, sau khi đưa thư đến, tôi chưa rời đi, quyết định nằm phục trên xà ngang trong tư phòng Thập Tam Nguyệt cố chờ xem kết quả, tôi rất muốn biết ước nguyện của cô rút cục là gì.
                  Nằm phục hai ngày trên xà ngang tư phòng của Thập Tam Nguyệt, cuối cùng tôi cũng được chứng kiến một cảnh tượng bi thống hơn bao giờ hết.
                  Những tia nắng sớm mỏng manh vừa hiện ra, ngoài cửa gió kèm bụi tuyết lùa vào tán lê, những cánh hoa lê trắng tan tác trong gió, phủ một lớp mỏng trong hoa viên. Người đàn ông tóc đen mướt, áo dài tím như mang theo hơi lạnh bước vào tẩm thất của Thập Tam Nguyệt, đó là một khuôn mặt anh tú sáng sủa.
                  Tôi nín thở, sợ bị phát hiện, nín thở hồi lâu mới sực nhớ mình vốn không có hơi thở, lại mặc toàn đồ đen lẫn vào bóng đêm, hoàn toàn không cần lo lắng.
                  Chính trong lúc tôi ngây người nhìn người đàn ông đó, người đó đã bước đến trước tấm gương đồng, ánh sáng của tấm gương hắt lên mái tóc đen mướt của anh ta, khuôn mặt trang nghiêm ẩn nụ cười: “Vừa rồi ngang qua hoa viên, vướng vào cành lê làm sổ búi tóc, Nguyệt nương, lại đây buộc giúp ta”.
                  Thập Tam Nguyệt thong thả đi đến, từ chỗ nấp phía trên, tôi nhìn rất rõ con dao găm trong tay cô, vẻ mặt chất chứa u buồn, người run run. Người đàn ông không để ý, nhìn vào gương gỡ dải lụa màu tím cùng màu áo trên búi tóc sổ tung, tự búi rồi buộc lại. Mặc dù người đàn ông không nhận ra và đương nhiên không hề cảnh giác, nhưng theo tưởng tượng của tôi, tư thế của Thập Tam Nguyệt lúc này, muốn hành thích anh ta cũng rất khó thành, rất có thể khi ra tay, tay cô run như vậy, sẽ bị anh ta phát hiện giữ chặt lấy. Người đàn ông nói: “Nàng định giết ta?”. Thập Tam Nguyệt lắc đầu không nói, hai giọt nước mắt như hai hạt đậu lớn từ khóe mắt lăn xuống, sau đó hai người ôm nhau khóc. Tôi đang ngẩn ngơ suy nghĩ, đột nhiên nghe thấy người đàn ông khẽ rên một tiếng, định thần nhìn kỹ, con dao trong tay Thập Tam Nguyệt đã thuận thế đâm xuống, xuyên từ lưng vào trúng tim anh ta, nhát dao vừa chuẩn xác vừa hung bạo.
                  Tôi đoán đúng kết quả, nhưng không đoán đúng quá trình. Thập Tam Nguyệt quả nhiên nước mắt lã chã, tiếp tục ấn con dao sâu hơn nữa.
                  Người đàn ông cúi đầu, nhìn mũi dao nhọn đâm xuyên từ lưng nhô ra trước ngực, chầm chậm ngẩng đầu, trong gương hiện lên khuôn mặt nhìn nghiêng không biểu cảm của anh ta, máu đỏ tươi từ khóe mép chảy xuống,
                  Anh ta nghiêng đầu hỏi: “Tại sao?”.
                  Từ góc độ đó, anh ta không nhìn thấy khuôn mặt đẫm nước mắt của cô.
                  Còn cô bám vào chiếc ghế đàn hương chân cao từ từ sụp xuống, như thể cú đâm đó đã lấy hết sức lực trong người.
                  Cô vùi đầu vào cánh tay anh ta, bật khóc: “Chị thiếp đã chết rồi, chị đã bị chàng hại chết, không, cả thiếp nữa, chị ấy đã bị chúng ta hại chết, rõ ràng thiếp phải hận chàng, nhưng tại sao... tại sao...”. Cô túm chặt ống tay áo anh ta, như túm lấy sợi dây cứu mạng, “Dung Tầm, tại sao thiếp lại yêu chàng!”.
                  Tôi bất ngờ đến nỗi suýt tuột tay rơi xuống. Dung Tầm, quân vương Trịnh quốc, Trịnh Bình hầu.
                  Lúc đó mới nhớ ra cử chỉ của người đàn ông quả nhiên là phong độ quý tộc vương thất quen thuộc.
                  Gió lạnh thổi tung bức rèm hoa trên cửa, làm bay giấy tờ trên án thư, Dung Tầm cơ hồ không trụ được nữa, cả người dựa vào chiếc tràng kỷ rộng, nhắm mắt lại, nhẹ giọng, nói: “Cẩm Tước”.
                  Bờ vai gầy của Thập Tam Nguyệt run run, đột nhiên cô bật khóc, “Dung Tầm, chúng ta có lỗi với chị ấy, có lỗi với Thập Tam Nguyệt…”. Nói xong tay run run rút con dao khỏi ngực anh ta ra, trở mũi dao đâm vào ngực mình, khuôn mặt nhợt nhạt đẫm nước mắt, môi mím chặt, lại hơi hé mở, cuối cùng mỉm cười thở một hơi dài.
                  Máu tuôn ướt đẫm lớp lớp áo trắng, tôi nhắm mắt.
                  Thật không ngờ ước nguyện của Thập Tam Nguyệt lại như vậy.
                  Mặc dù không xem bức thư cô trao cho tôi, nhưng đã có thể hiểu nội dung thư, cô đã hiểu tất cả, viết ra tất cả những gì đã biết giao cho chính con người cô còn u mê trong quá khứ, bức thư đó là một mật lệnh hạ sát cô giao cho chính mình.
                  Điều đó chứng tỏ, cô vốn đã định tự vẫn, nhưng không muốn tất cả kết thúc như vậy, trước khi chết, muốn kéo Dung Tầm cùng đi, nhưng lòng lại không đành, vậy là tìm đến tôi từ vạn dặm xa xôi, kéo Dung Tầm cùng chết với mình trong ảo mộng.
                  Chung quy vẫn chỉ bởi cô yêu anh ta, muốn giết anh ta, nhưng lại không nỡ, đành giết anh ta trong tưởng tượng cho hả lòng.
                  Việc làm đó thật không thể tưởng tượng.
                  Đến khi đi ra khỏi ảo mộng của Thập Tam Nguyệt, tôi vẫn trầm ngâm băn khoăn về nguyên nhân cô lựa chọn hủy diệt như vậy. Suy nghĩ rất lâu, cuối cùng cảm thấy có ba khả năng: Một là, chị gái cô yêu Dung Tầm, cô cũng yêu anh ta, chị gái cảm thấy không cạnh tranh được với cô, vậy là tự sát, cô thấy có lỗi với chị, liền mời Dung Tầm đến giết anh ta, rồi tự vẫn. Hai là, người chị gái rất yêu cô, nhưng cô lại yêu Dung Tầm, chị gái thấy không cạnh tranh được với Dung Tầm, vậy là tự sát, cô thấy có lỗi với chị, kết quả cũng như trên. Ba là, lúc nhỏ cô đã được mẹ dạy dỗ, con gái phải biết trân trọng bản thân mình, nhưng cô lại nghe nhầm thành con gái phải tàn nhẫn với bản thân, cho nên cuối cùng đã tàn nhẫn với bản thân.
                  Tôi nói với Quân Vỹ ba giả thiết đó, anh ta bảo, khả năng suy luận của tôi đã có tiến bộ lớn, chỉ có một điều, tại sao trong các giả thiết đó, Dung Tầm lại dường như là người vô tội. Tôi không muốn trả lời anh ta, đấu đá tranh giành trong cung vốn là chuyện của đàn bà với nhau, người đàn ông trong bối cảnh đó thực ra là đối tượng giành giật, để tiết kiệm giấy mực, không bàn chuyện đó.
                  Sau đó là chạy trốn.
                  Chia tay Quân Vỹ và Tiểu Hoàng, một mình một đường thật buồn tẻ.
                  Nhưng đó không phải là vấn đề chủ yếu nhất, vấn đề chủ yếu nhất là Quân Vỹ lúc đi quên không chia cho tôi một nửa số trang sức mang theo, khiến tôi không một xu dính túi, tài sản đáng tiền nhất trong tay là chiếc nhẫn ngọc Mộ Ngôn gán cho. Tôi lấy giấy cẩn thận bọc chiếc nhẫn để vào ngực, chỗ gần tim nhất, có lẽ đời này không gặp lại nữa, mà đó là vật duy nhất chàng trao tôi, tôi nhất định giữ gìn thật kỹ, cho dù kẻ cướp cầm dao kề cổ, tôi cũng không đem nó ra cầm cố.
                  Tôi rất nhớ chàng.
                  Nhưng không có cách nào khác.
                  Trăng sáng vằng vặc, tôi để chiếc nhẫn vào ngực áo, tay khẽ vỗ lên đó. Nhớ nhung, nhưng biết làm sao.
                  Chạy theo đúng lộ trình hình tam giác đã định, mười ngày sau đến biên giới nước Trần. Thực ra, ban đầu tôi không biết đây chính là đường về nhà, cuối cùng vẫn quay về Bích sơn, có thể thấy đó là định mệnh. Một tháng trước, tôi gặp lại Mộ Ngôn ở đây.
                  Lúc mười ba tuổi, sau khi bị rắn độc cắn, sư phụ đã dặn dò mỏi miệng, rằng cách sống ở vùng rừng núi hoang dã là nhất định không được ra khỏi nhà…
                  Do không có tiền ở nhà trọ, ban đêm tôi buộc phải ở bên ngoài, trong mười ngày chạy trốn đó, đêm nào tôi cũng tìm một cái cây cao, ngồi trên đó ít nhất cũng tránh được tầm mắt của dã thú tìm mồi.
                  Nhưng đêm nay tôi muốn đi dạo, muốn nhìn lại rừng hoa trên Bích sơn nơi tôi gặp lại Mộ Ngôn, thực ra việc này để ngày mai cũng được, chỉ là vừa nảy ra ý nghĩ đã không thể chờ đợi, hình như muốn đi gặp chính bản thân Mộ Ngôn. Rồi bất chợt lại nghĩ, biết đâu Mộ Ngôn quả thực đang chờ tôi ở đó, lòng thấy vui vui, rồi lại nghĩ ngộ nhỡ chàng chờ cô gái khác, lòng lại thấy buồn, cuối cùng không biết mình mong hay không mong chàng chờ ở đó.
                  Suốt dọc đường tôi cứ vấn vương ý nghĩ như vậy, lúc vui lúc buồn, hoàn toàn không biết có mối nguy hiểm rình rập phía sau. Đang đi đột nhiên sau lưng có tiếng “hự”, hoảng hốt giật nảy mình, đang định ngoái nhìn thì bị kéo giật lại, cả người ngã bổ chửng về sau, thầm nghĩ hỏng rồi, vậy là ngày mai phải giặt bộ váy trắng này rồi, đúng lúc đó eo lại bị một bàn tay ôm chặt.
                  Lưng đập vào một vật cứng nào đó, không thể cảm nhận độ ấm của nó, chỉ biết đó là một bộ ngực rộng.
                  Tôi sững người, cổ họng như thít lại.
                  Trên đầu vang lên giọng nói giễu cợt quen thuộc: “Nửa đêm ra đường, sao không cẩn thận một chút?”.
                  Tôi há miệng mấy lần, đều không nói ra được, Mộ Ngôn, rõ ràng cái tên đã thầm gọi cả ngàn lần trong lòng. Tôi sợ phát khóc, lần đầu trong đời cảm thấy buồn nẫu ruột vì không làm được điều mong muốn, vốn định nói một câu thật hay, gây cho chàng ấn tượng sâu sắc, nhưng ngay tên chàng lúc này cũng không gọi ra được.
                  Chàng buông bàn tay giữ eo tôi, để tôi đứng ngay ngắn, nhìn lướt từ trên xuống dưới, ánh mắt cười cười: “Một tháng không gặp, Quân cô nương không nhận ra tại hạ chăng?”. Nụ cười đó thờ ơ như muốn chọc tức tôi. Tôi rất vui, muốn vui hơn nữa, nhưng lại không biết nói thế nào, nhẫn nhịn một lát mới nói: “Hai nhăm ngày”. Lại tiếp: “A Phất”.
                  Dưới ánh trăng, khuôn mặt chàng vẫn thế, toàn thân áo chùng đen, tay cầm thanh nhuyễn kiếm, mũi kiếm dính máu đỏ, miếng ngọc bội đeo ở thắt lưng lóng lánh ánh lên màu xanh lam dịu dàng.
                  Tôi nhìn chàng, chàng công tử mã thượng, người của lòng tôi.
                  Một khắc trước bồn chồn muốn gặp lại chàng, một khắc sau quả nhiên gặp lại, tôi vui lắm, nhưng cúi đầu nhìn đôi giày đen lấm đất và chiếc váy trắng đầy bụi lem nhem, lập tức lại muốn tỏ ra không quen biết.
                  Chàng nhướn mày: “Hai nhăm ngày, A Phất?”.
                  Tôi co chân giấu vào trong váy, trả lời: “Ý tôi là, chúng ta đã quen thuộc thế rồi, huynh không cần luôn mồm cô nương, cô nương. Gọi tôi là A Phất, còn nữa, chúng ta chia tay chưa đầy một tháng, mới có hai nhăm ngày”. Một lúc không thấy trả lời, tôi hơi ngẩng đầu liếc chàng, không thấy chàng có biểu cảm gì đặc biệt, đoán là có lẽ chàng không tin, nghĩ một lát tôi xòe tay tính, “Huynh đi ngày mười tháng năm, hôm nay mồng năm tháng sáu, huynh xem, chẳng hai nhăm ngày là gì…”.
                  Chàng lại ngắt lời tôi: “A Phất”.
                  Tôi nói: “Sao?”.
                  Chàng cười: “Có phải cô muốn tôi gọi cô như vậy?”.
                  Trên núi vô cùng yên ắng, chỉ có tiếng chàng, thỉnh thoảng có tiếng côn trùng, nhưng tôi bỏ qua tiếng côn trùng. Thầm nghĩ mặt mình nhất định rất đỏ, may có mặt nạ che. Nhưng lại nghĩ, có mặt nạ lại dở, bởi vì nếu không có mặt nạ, biết đâu chàng có thể đoán ra tâm tư của tôi. Mặc dù đã biết tình cảm của mình không có kết quả gì, nhưng nếu có cơ may để chàng biết cũng không hẳn không hay.
                  Chàng cúi đầu nhìn tôi, hình như chờ tôi trả lời, tôi ậm ừ bối rối nhìn về sau, đang định nói “phải”, nhưng mắt vừa ngước đã sợ nhũn người suýt ngã lăn ra đất.
                  Trên con đường núi tối hun hút, xác một con sói nằm chềnh ềnh sau lưng tôi, đôi mắt đen sì mở trừng trừng, đã không còn ánh sáng, máu từ cổ tuôn ra thành vũng.
                  Nhìn sắc mặt tôi, Mộ Ngôn nửa cười nửa không: “Chắc cô không phát hiện sau lưng có con sói đi theo?”.
                  Tôi gật đầu xác nhận, đồng thời hai chân bắt đầu run, như thế này tôi hoàn toàn không tự nhúc nhích được. Chàng kéo xác con sói lùi ra một chút: “Vậy cô cũng không nghe thấy khi tôi đâm vào cổ con sói, nó gầm lên ngay sát tai cô?”.
                  Tôi tưởng tượng có một con sói nuốt nước bọt đi theo tôi rất lâu, nếu không có Mộ Ngôn ra tay, bây giờ tôi đã nằm trong bụng sói, bất chợt người bủn nhủn, mắt đỏ hoe, hốt hoảng: “Tiếng to như vậy chắc chắn tôi nghe thấy, lúc ấy tôi đang định ngoái lại xem là con gì đang kêu...”.
                  Chàng vỗ vai tôi: “Đừng sợ, chẳng phải đã giết con sói rồi sao, cô sợ gì nữa?”. Nói đoạn cau mày, “Quân huynh đệ và con hổ đó đâu? Sao không đi cùng cô, sao để mình cô lang thang trên núi vào lúc muộn thế này?”.
                  Tôi lau nước mắt: “Họ bỏ trốn vì tình rồi”.
                  Mộ Ngôn: “…”.
                  Tôi gặp lại Mộ Ngôn như thế, dù trong lòng tràn đầy tình cảm lãng mạn, nhưng thực ra cũng hiểu, chàng xuất hiện trong thời khắc thần kỳ, ở một địa điểm khó hiểu như vậy tuyệt đối không thể lý giải bằng cơ duyên trời định kiểu như “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”.
                  Tôi có rất nhiều điều muốn hỏi chàng, nhân lúc chàng cúi nhìn con sói trong đầu đã chuẩn bị xong, đang định mở miệng đột nhiên thấy từ những bụi cây đen sì phía trước, mấy con chim bay vụt lên, kêu loạn xạ.
                  Bảy người áo đen xuất hiện trước mắt chúng tôi như từ dưới đất chui lên.
                  Tôi nghĩ có lẽ lịch sử lặp lại, chắc họ lại đến truy sát Mộ Ngôn, đang lẳng lặng lùi sau một bước, rồi lại lùi bước nữa, một bước nữa. Còn chưa kịp trốn sau lưng Mộ Ngôn, đám người áo đen phía trước đã soàn soạt chống kiếm xuống đất quỳ một chân trước mặt chúng tôi: “Thuộc hạ đến muộn...”. Giọng nói đều răm rắp, hình như đã được tập dượt nhiều lần, đồng thời nét mặt ai nấy đều ngượng nghịu bối rối.
                  Tôi quay đầu nhìn Mộ Ngôn, chàng thu kiếm trong tay, vẻ hờ hững, không quan tâm đến bọn người đó, lại hỏi tôi: “Có tự đi được không?”.
                  Tôi băn khoăn nhìn chàng.
                  Chàng nhếch mép cười: “Chẳng phải cô đã sợ nhũn chân rồi ư?”.
                  Tôi lập tức phản bác: “Chân tôi chưa nhũn”.
                  Chàng lắc đầu: “Nói dối”.
                  Tôi cãi: “Tôi không nói dối”.
                  Chàng nhìn tôi có vẻ thú vị: “Vậy cô chạy hai bước thử xem”.
                  “...”.
                  Mộ Ngôn nói đúng, tôi đang nói dối.
                  Quả thật tôi đã sợ nhũn cả chân, mấy bước lùi lúc nguy cấp vừa rồi chỉ là khả năng tiềm ẩn được bất chợt phát huy. Ai cũng có điểm yếu, điểm yếu của tôi là chó sói và rắn. Chỉ là bị Mộ Ngôn nói thẳng ra như vậy, tôi thấy hơi ngượng.
                  Bởi vì chân nhũn ra không đi nổi chứng tỏ sự yếu đuối, mà tôi lại không muốn để chàng thấy tôi yếu đuối, nếu Quân Vỹ hỏi như vậy, tôi nhất định bướng bỉnh đốp lại anh ta: “Lão nương sợ nhũn chân thì sao, nhà ngươi định làm gì ta?”.
                  Nhưng với Mộ Ngôn thì khác, tôi chỉ muốn cho chàng nhìn thấy mặt tốt nhất của mình. Đạo lý này cũng đơn giản như không muốn để ý trung nhân biết thực ra mình cũng cần đi vệ sinh. Có điều, thú thực tôi quả thật không cần đi vệ sinh.
                  Đang mải suy tính, đắn đo, hai tiếng “mạo phạm” vang ngay bên tai, người đột nhiên nhẹ bẫng, bị Mộ Ngôn bế bổng lên. Tôi không biết bị ai rút mất lưỡi, không nói được gì, bốn bề tĩnh mịch, lưỡi tôi rõ ràng đã bị rút mất, ngẩng đầu chỉ nhìn thấy ánh trăng hòa với màu trời mênh mang. Mặc dù bế tôi đi như vậy, hình như chàng chẳng khó nhọc tí nào, vẫn nhàn tản bước, chỉ lúc đi qua bọn người đang quỳ dưới đất thì hơi dừng lại.
                  Mọi người lập tức cúi thấp hơn, giọng Mộ Ngôn vẳng trong không trung giữa triền núi: “Có biết thế nào là hộ vệ không? Kiếm của các ngươi phải rút ra trước ta thế mới là hộ vệ của ta”.
                  Giọng nói bình thường nhưng lại khiến đám người áo đen càng cúi thấp đầu hơn nữa. Đó là cái uy của người ở ngôi cao trong chốn cung đình nhiều năm, sở dĩ tôi không ngạc nhiên là bởi vì trong Vệ vương cung cũng thường xuyên chứng kiến, như phụ vương tôi, mặc dù không có tài trị quốc, nhưng có thể dùng cái uy đó để dọa mấy bà phu nhân của ông...
                  Đang mải nghĩ, bất chợt ngẩng đầu phát hiện một người áo đen quỳ ở giữa đứng bật dậy, đưa tay lần theo đường viền chân tóc ở trán. Tôi đã trấn tĩnh trở lại, không biết là động thái gì, ngây người hỏi Mộ Ngôn: “Anh ta đang làm gì vậy?”.
                  Mộ Ngôn nhìn tôi: “Cô nói xem!”.
                  Tôi tự trả lời: “Hình như đang lột mặt nạ?”.
                  Chính lúc tôi nói câu đó, người áo đen quả nhiên lột ra chiếc mặt nạ da người mỏng dính, thở hai hơi: “Nóng chết được”. Tôi nhìn kỹ anh ta, kinh ngạc phát hiện, khuôn mặt vừa lột đó là mặt con gái, một khuôn mặt vô cùng xinh đẹp.
                  Mộ Ngôn nhướn mày, giọng hờ hững: “Ta đang nghĩ dạo này bọn họ chẳng ra gì, đã bí mật đến lại còn làm kinh động bầy chim, thì ra họ vì muội mà bị liên lụy”.
                  Cô ta làm ngơ, nhoẻn miệng cười ghé lại gần Mộ Ngôn: “Thực ra cũng không thể trách bọn muội được, phải rút kiếm trước huynh mới có tư cách bảo vệ huynh, đòi hỏi như vậy thiên hạ làm gì có ai làm được hộ vệ của huynh. Ồ, cho muội xem tay huynh ôm gì vậy. Muội tưởng huynh vẫn si mê Tần Tử Yên, người này là chị dâu tương lai của muội sao, cuối cùng huynh đã chịu buông Tử Yên rồi? Ồ, chị dâu? Tỷ là chị dâu tôi ư? Tôi là Mộ Nghi, tỷ tên là gì...”.
                  Tôi giật mình, mím môi, Mộ Ngôn cúi đầu ngắt lời cô ta: “A Phất vẫn còn nhỏ”.
                  Mộ Nghi ngượng nghịu: “Vậy còn Tử Yên, huynh với cô ấy...”.
                  Nghe họ nói với nhau nhu vậy, lòng tôi như chìm xuống, nhưng người tôi ép sát Mộ Ngôn, khi nhắc tới Tử Yên không thấy chàng có phản ứng nào đặc biệt, nhưng cũng có thể người ta có phản ứng mà tôi không nhận ra, suy cho cùng, sống nhờ viên giao châu, cảm giác của tôi đa phần đã mất, những gì còn lại quả thật không đủ nhạy cảm.
                  Mộ Ngôn không trả lời, chỉ liếc qua đám người áo đen quỳ dưới đất, nói: “Về bản doanh trước đi”.
                  Chàng bế tôi đi phía trước, những người khác theo sau. Được chàng bế suốt dọc đường như vậy, lẽ ra tôi thấy vui mới phải, nhưng lòng vẫn không kìm được nỗi buồn, cô gái tên Tử Yên đó tôi vẫn còn nhớ. Bỗng thấy tiếc nuối, sao mình không gặp Mộ Ngôn sớm hơn.
                  Ánh trăng xuyên qua kẽ lá, chiếu khắp mặt đất, tạo những vệt sáng bạc gọn gàng như kéo cắt. Tôi im lặng hồi lâu, cảm thấy khóe mắt nóng lên, nhưng âm thanh phát ra chỉ như tiếng muỗi vo ve, tôi nói: “Cô gái đó không tốt, cô ấy muốn giết huynh, huynh không nên thích cô ấy”.
                  Mộ Ngôn hơi cúi đầu: “Cái gì?”.
                  Tôi hít một hơi, không có can đảm nói lại lần nữa, ngẩng nhìn trời: “Không có gì, huynh xem, đêm nay sao rất tròn”.
                  Lúc lâu sau, Mộ Ngôn đáp: “Cái cô nói... hình như là trăng...”.
                  Chim ngủ yên trong tổ, đêm lạnh như nước, tất cả vật sống đều biến mất, đi trên đường núi vắng nếu không nói chuyện thì vô cùng buồn tẻ. Sau khi chia tay với Mộ Ngôn, những chuyện xảy ra sau đó kỳ thực cũng không có gì đáng nói, đáng nói nhất chỉ có chuyện của Thập Tam Nguyệt tương đối bí ẩn, ly kỳ, có thể coi là mới mẻ, cuốn hút. Trên đường núi khúc khuỷu, tôi thong thả kể cho chàng nghe. Thực ra đến giờ tôi vẫn không hiểu, tại sao Thập Tam Nguyệt tự vẫn, hơn nữa càng tìm hiểu càng thấy ly kỳ, kể ra chuyện đó kết thúc có phần vội vàng, nhưng sự quan tâm của Mộ Ngôn rõ ràng không phải ở phần kết câu chuyện.
                  “Ý cô nói, chỉ cần chủ nhân lưu lại trong Hoa Tư mộng mà cô dệt cho họ, bất luận trong ảo mộng họ sống hay chết, trong hiện thực họ đều không thoát khỏi cái chết?”. Chàng hơi cúi đầu về phía tôi, do đi ngược ánh trăng, nhìn không rõ vẻ mặt chàng, chỉ có những sợi tóc đen quệt qua má tôi, ngưa ngứa nhồn nhột như quệt vào lá liễu.
                  Doanh trại mà Mộ Ngôn nói đóng trên một con đèo rộng, đoạn đường đến đó cũng khá dài, nhưng tôi lại thấy nó quá ngắn, vậy là một lần nữa nghiệm chứng thuyết tương đối không phải nói bừa, thử hình dung nếu đi cùng Quân Vỹ tôi nhất định cảm thấy đoạn đường rất xa, hơn nữa tôi sẽ vừa đi vừa ngủ gật.
                  Đêm nay, tôi ngủ cùng trướng với Mộ Nghi, nhưng nhất thiết phải đợi cô ta ngủ say mới dám vào, bởi vì lo sợ bị cô ta phát hiện người nằm bên là một người chết. Nhưng Mộ Nghi không hiểu nỗi khổ của tôi, lại nhiệt tình cùng tôi ra ngồi trước trướng ngắm sao.
                  Nói chuyện với cô ta tôi mới càng hiểu, tối nay có thể may mắn gặp Mộ Ngôn ở đây quả nhiên không phải là hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, chỉ là chàng xử lý xong một số việc trong gia tộc, vòng qua Bích sơn trở về phủ đệ riêng cách nhà cả vạn dặm mà thôi. Tôi nghĩ, cảm thấy có chút an ủi, xem ra chàng không sống cùng cha mẹ, nếu cưới chồng mà không phải hầu hạ cha mẹ chồng thì sung sướng biết mấy. Nhưng lại thấy nực cười, mình đúng là hay suy nghĩ lung tung
                  Tôi do dự nhìn Mộ Nghi đang vui vẻ ngắm trăng, hỏi một câu xưa nay rất muốn hỏi nhưng không có ai giải đáp: “Đại ca của cô năm nay bao nhiêu tuổi? Đã lập gia thất chưa?”.
                  Mộ Nghi ngẩn người, đưa cốc lên miệng, tươi cười nhìn tôi: “Chuyện này...”.
                  Tôi cảm thấy cổ nghẹn lại.
                  Cô ta uống một ngụm trà, vẫn tươi cười nhìn tôi: “Chuyện này...”.
                  Tôi sốt ruột muốn bóp chết cô ta.
                  Trong thời gian đó cô ta lại uống hai ngụm trà nữa, chép miệng, lại uống tiếp hai ngụm, mới thong thả nói: “Chưa”.
                  Tôi lặng lẽ kìm chế nanh vuốt của mình, nhưng cô ta lại vẫn tươi cười, nhích lại gần tôi: “Tỷ hỏi chuyện đó để làm gì?”.
                  Tôi hắng giọng hai tiếng, ngồi lui về sau một chút: “Không có gì, tôi có một tiểu muội, định mai mối cho đại ca cô”.
                  Cô ta sáng mắt nhìn tôi.
                  Tôi che miệng hắng giọng: “Thật đấy”.
                  Cô ta chống cằm, nheo mắt nhìn tôi: “Huynh tôi rất thích tỷ, ở nước Trần chúng tôi, các cô gái đẹp si mê huynh ấy nếu nắm tay nhau đứng thành vòng có lẽ sẽ quây kín một vòng quanh Hạo thành, nhưng huynh ấy chưa bao giờ để mắt đến họ, hôm nay chân tỷ đau, huynh ấy lại chủ động giúp tỷ, nếu bị các cô gái tương tư Mộ Ngôn biết được, tỷ sẽ bị họ đánh chết”.
                  Tôi không tỏ ra yếu thế, thản nhiên nói: “Trước đây người tương tư tôi cũng rất nhiều, nếu họ xếp hàng từ đầu đường trước cửa nhà tôi có thể sẽ kéo dài đến tận cuối đường”. Đương nhiên, những người đó một nửa là vì tiền, còn nửa kia là vì quyền, chuyện đó khỏi cần nói.
                  Mộ Nghi chớp mắt: “Ôi, vậy tỷ và đại ca tôi quá tương xứng rồi”.
                  Nghe cô ta nói vậy, thâm tâm tôi rất vui nhưng vẫn tỏ vẻ thản nhiên: “Đừng nói bừa, đại ca cô chẳng phải đã có ý trung nhân rồi sao, cô Tử Yên gì đó...”.
                  Nhưng Mộ Nghi đã lắc đầu, xua tay ngắt lời: “Cô ta không được, dạo trước cô ta dám hành thích đại ca tôi, đời này cô ta không có phúc làm chị dâu tôi rồi”.
                  Tôi nghi ngờ: “Chẳng lẽ họ bí mật hẹn hò”.
                  Mộ Nghi cười khúc khích, “Tỷ đừng đùa, nói thật nhé, đã xảy ra chuyện như vậy, phụ thân tôi nhất định không cho Mộ Ngôn lấy Tử Yên, hơn nữa, đối với những chuyện phong nguyệt, huynh ấy...”.
                  Chưa nói hết, Mộ Nghi như nhớ ra điều gì, “À, A Phất, nếu tỷ thật lòng với đại ca, có một cô gái tỷ phải cảnh giác hơn so với Tử Yên”.
                  Mộ Nghi thôi cười, nhìn tôi: “Có một người con gái duy nhất mà đại ca kính trọng ở đời, chắc tỷ cũng từng nghe tên, cô gái lừng danh thiên hạ tuẫn tiết theo nước Vệ, Văn Xương công chúa Diệp Trăn.
                  Chuyện Mộ Nghi nói chỉ mới xảy ra nửa năm trước, nhưng có cảm giác đã cách cả một cuộc đời, dưới ánh trăng ngập tràn, Mộ Nghi cầm cốc trà trên tay, nét mặt đăm chiêu, nhớ lại: “Tôi không chứng kiến cảnh đó, chỉ nghe nói nước Vệ đã lâu không có mưa, khi Diệp Trăn tuẫn tiết trời lại đổ mưa ầm ầm, mọi người đều nói, đó là ông trời nhỏ lệ thương khóc Văn Xương công chúa. Họ nói bức tường thành cao trăm trượng, Diệp Trăn không do dự nhảy từ trên thành xuống, ngay các tướng sĩ nước Trần cũng cảm phục lòng can trường của công chúa. Chính đại ca tôi từng nói Diệp Trăn là độc nhất vô nhị, huynh ấy nói đại lục rộng lớn này bao đời hết hợp lại ly, chỉ có duy nhất một vị công chúa xả thân vì xã tắc như thế, còn nói nếu không phải sinh ra là phận nữ nhi, lại không nhỏ tuổi như vậy, có lẽ công chúa sẽ làm nên nghiệp lớn. Tôi cũng cảm thấy đáng tiếc, người ta đồn Diệp Trăn rất đẹp, lại có học vấn, lẽ ra có thể lưu danh sử xanh, vậy mà đã sớm qua đời, thật đáng tiếc, sinh ra trong hoàng tộc vương thất...”.
                  Tôi nói: “Cô nói nhiều như vậy, thực ra định nói...”.
                  Cô ta để cốc trà xuống, gãi đầu: “À, phải... vừa rồi tôi định nói gì nhỉ?”.
                  Tôi ôm ngực mình, không cảm thấy tiếng tim đập, lát sau nói: “Sinh trong hoàng tộc vương thất là thế, từ nhỏ đã được hưởng biết bao đặc ân, đặc quyền, tất cũng phải gánh vác trọng trách, Diệp Trăn chết cũng đáng, với thân phận của cô ấy đương nhiên cần làm một việc gì đó cho phải đạo, đúng với bổn phận địa vị của mình. Khi cô ấy được muôn dân thiên hạ phụng dưỡng thì không hận mình sinh ra trong hoàng tộc vương thất, rồi khi cần gánh vác trách nhiệm với muôn dân xã tắc lại oán hận mình sinh ra trong hoàng tộc vương thất, nếu vậy quả thực đáng buồn”.
                  Nói xong, cảm thấy câu chuyện đang phát triển theo hướng luận đàm cao thâm, vội vàng hạ mã.
                  Tôi hỏi: “Chúng ta nói đến đâu rồi?”.
                  Mộ Nghi ngẩn người nhìn tôi hồi lâu: “Tôi cũng không biết...”.
                  Thực ra tôi có thể không ngủ, cũng giống như có thể không ăn, không uống, không đi vệ sinh, không mặc y phục, ồ mà y phục vẫn nên mặc. Sống được đến lúc này, tôi đã coi những cái đó là niềm vui, thấy vui là tìm cái gì ăn, là ngủ, là đi vệ sinh, mặc dù chắc chắn chẳng đi ra được.
                  Đằng nào chỉ cần có viên giao châu, tất cả đều bị tịnh hóa, bao gồm cả lúc này vốn nên buồn ngủ, bao gồm quả cà chua có vẻ rất chua nửa khắc trước do nể mặt Mộ Nghi mới ăn. Tóm lại, có viên giao châu, tất cả đều tiện lợi rất nhiều.
                  Hai chúng tôi ngồi mãi, cuối cùng Mộ Nghi thua trước, ngáp dài, vén rèm đi vào trong trướng. Tôi ôm ngực, vẫn không thấy có gì động đậy, nhưng cảm giác trong lòng rất ngọt ngào.
                  Mộ Nghi nói đại ca cô rất kính trọng tôi, những lời như vậy tôi nghe cũng đã nhiều, chỉ là từ trước tới giờ luôn cho rằng những người khâm phục hành động nhảy từ tường thành xuống của tôi quả là hồ đồ. Bởi vì việc đó đâu có gì là anh hùng, anh hùng thật sự phải là những người ngồi trên lưng ngựa xông pha ngoài trận mạc, lập đại công, danh lưu thiên thu. Trong thời loạn lạc, thắng làm vua, thua làm giặc, tôi chẳng qua là một kẻ thất bại, lấy cái chết để tạ tội với xã tắc, lòng không khỏi oán hận mình không đủ tài để vùng vẫy một phen, chung quy tâm có dư mà sức không đủ. Đương nhiên những huynh, tỷ của tôi, những hoàng tử công chúa của Vệ vương thất không tuẫn tiết vẫn sống đàng hoàng lại càng bất tài, nhưng nhìn ra xung quanh ai cũng thế, mọi người đều bất tài, cũng đủ tủi hổ, đâu có gì hay để đem ra cười nhạo nhau.
                  Núi trập trùng liên miên, không gian khoáng đạt, tôi đứng dậy vận động gân cốt, ngoái đầu lại nhìn thấy Mộ Ngôn đang ngồi trước một ngôi trướng phía xa, cúi đầu chăm chú làm gì đó, trước mặt là một đống lửa nhỏ, xung quanh màn đêm mênh mông, trong ánh lửa chập chờn mờ tỏ, cái đầu cúi xuống vô cùng chăm chú, hình như không hề buồn ngủ.
                  Tôi thầm nghĩ, đây là lúc rất thích hợp để hai chúng tôi ngồi riêng với nhau, mình có nên chạy ra đó không nhỉ?
                  Còn đang nghĩ như vậy chân đã bước nhanh tới đó. Việc này xem ra có phần xấu hổ. Quân Vỹ từng kể với tôi những chuyện như vậy, trong câu chuyện của anh ta những thiếu nữ sống nơi lầu son gác tía gặp đàn ông đều “bẽn lẽn thẹn thùng”, như vậy mới đáng yêu, nhưng tôi quả thực không thể lĩnh hội được cái gọi là “bẽn lẽn thẹn thùng” đó, hơn nữa chỉ cần gặp Mộ Ngôn, chân tay tôi luôn nhanh hơn đầu óc một bước.
                  Tôi sán lại hỏi: “Huynh làm gì vậy?”.
                  Con dao nhọn trong tay chàng dừng lại, “Tạc một đồ chơi, giết thời gian”. Nói xong ngẩng đầu nhìn tôi, cau mày: “Chưa ngủ sao? Muộn thế này?”.
                  Tôi vốn không buồn ngủ, nhìn thấy Mộ Ngôn càng không buồn ngủ, nhưng lại không thể nói thẳng ra như vậy, đành ậm ừ qua loa, ngồi xổm một bên, nhìn những ngón tay thanh mảnh rất đẹp của chàng cầm con dao nhọn tạc từng đường lên một thỏi ngọc.
                  Lát sau, Mộ Ngôn đột nhiên nói: “À, chiếc nhẫn ngọc của tôi vẫn còn ở chỗ cô chứ?”.
                  Tôi lắc đầu: “Đem đi cầm rồi?”.
                  Chàng dừng tay, “Cầm?”.
                  Tôi cúi đầu giả bộ chăm chú quan sát động tác của chàng, giọng nhỏ như tiếng muỗi, “Đúng”.
                  Chàng không nói, tiếp tục chăm chú vào thỏi ngọc đã định hình dưới mũi dao, một lúc lâu sau, một con hổ nhỏ xinh xắn, rất sinh động đã ở trong tay.
                  Tôi trầm trồ khen: “Đẹp quá!”.
                  Chàng xoay xoay con hổ: “Thật à? Vốn định dùng cái này để đổi chiếc nhẫn ngọc lần trước”.
                  Tôi nghĩ một lát, lặng lẽ lấy trong ngực áo chiếc nhẫn ngọc xâu bằng sợi chỉ đỏ để vào tay chàng, lại lặng lẽ cầm lên con hổ ngọc vừa tạc xong.
                  Mộ Ngôn ngớ ra.
                  Tôi nói: “Con hổ này rõ ràng đắt hơn, tôi thích nó”.
                  Thực ra không phải thế, chỉ là tôi cảm thấy chiếc nhẫn đó là vật chết, nhưng con hổ này là do Mộ Ngôn tự tay tạc nên, mặc dù không phải chủ ý làm cho tôi, nhưng cả đại lục này chỉ có một, tôi coi như chàng tự tay làm để tặng tôi, sau này nghĩ đến sẽ thấy ấm lòng. Nhưng vẫn có chút không cam tâm, rụt rè ghé lại gần Mộ Ngôn, “Huynh, huynh có thể sửa lại một chút không, sửa con hổ này một chút?”.
                  Chàng ngắm nghía con hổ tôi chìa ra: “Ồ, cần sửa chỗ nào? Mắt hay tai?”.
                  Tôi ngồi ngay ngắn trước mặt chàng: “Huynh xem, huynh có thể sửa nó sao cho trông giống tôi không?”.
                  Mộ Ngôn: “...”.
                  Chung quy bởi vì chàng có đôi tay khéo, không chỉ giỏi đàn, tạc khắc cũng làm rất tốt, xung quanh chỗ chúng tôi ngồi, rất nhiều hoa bán chi liên đang nở rộ, dưới ánh lửa hồng trông càng thắm sắc. Chàng ngước mi, khi ánh mắt chạm vào tôi, tôi cảm thấy một khoảng không êm đềm, có hoa mai trắng ngập tràn trên núi, nhưng tiếc là tôi lại không cảm nhận được hương mai đó.
                  Mộ Ngôn cười, “Muốn khắc giống cô, phiền cô bỏ mặt nạ ra, nếu không làm sao tôi khắc giống được”.
                  Lòng run run, cổ nghèn nghẹn, tôi lắc đầu.
                  Chàng nhẹ giọng: “Tại sao?”.
                  Tôi sờ lên mặt nạ, hơi lùi lại phía sau: “Tại vì... tại vì... mặt tôi rất xấu”.
                  Lần đầu gặp Mộ Ngôn, tôi mới mười bốn tuổi, trên mặt vẫn còn nét trẻ con, lúc mười bảy là tuổi đẹp nhất lại không gặp được nhau để chàng nhìn thấy một lần. Bây giờ, trên đầu có một vết sẹo lớn như vậy, bất luận thế nào cũng không thể để chàng nhìn thấy. Tôi cúi nhìn những ngón tay mình, lần đầu tiên buồn bã vì nhan sắc bị hủy hoại. Tôi muốn Mộ Ngôn nhìn thấy tôi trong dáng hình đẹp nhất, nhưng dáng hình đẹp nhất đó đã chết. Nước mắt âm thầm chảy dưới mặt nạ, tôi cúi đầu, khẽ hít, cũng may Mộ Ngôn không nhìn thấy.
                  Đêm đó tôi ôm con hổ ngọc Mộ Ngôn tạc cho, ngủ rất say. Mãi đến nửa đêm, không biết ai đó làm tôi thức giấc. Mơ hồ mở mắt, giơ tay dụi mắt, lại dụi tiếp.
                  Như hoa nở dưới trăng tàn, người tặng tôi con hổ ngọc mỉm cười dưới trăng: “Đừng dụi nữa”.
                  Mộ Ngôn giơ tay kéo tôi, ống tay áo rộng, trùm lên tay tôi, “Nào, chúng ta tranh thủ thời gian rời khỏi đây”.
                  Tôi nheo mắt nhìn chàng, giống như nhìn một thiên thần đột nhiên xuất hiện, nhìn kỹ, thấy cả nụ cười lấp lánh trong mắt chàng, tôi hỏi: “Đi đâu?”.
                  Chàng liếc nhìn Mộ Nghi nằm cạnh tôi, giọng ung dung: “Chẳng phải cô nói đến giờ vẫn mơ hồ câu chuyện của Nguyệt phu nhân sao? Chúng ta đến nước Trịnh tìm lời giải, chưa biết chừng dọc đường lại gặp Quân Vỹ và Tiểu Hoàng”. Dùng một lát, lại tiếp, “Yên tâm, toán hộ vệ của tôi một canh giờ rưỡi nữa vẫn chưa tỉnh đâu, để bọn họ đi theo rất phiền, chúng ta lén đi đêm, bỏ lại bọn họ nhẹ nhàng bao nhiêu”.
                  Tôi chìa tay cho chàng, nghĩ một lát nói: “Nhưng vẫn nên lưu lại bức thư, để họ khỏi lo lắng”.
                  Mộ Ngôn kéo tay tôi: “Không sao đâu, từ năm mười hai tuổi tôi đã thường xuyên một mình ra khỏi nhà, họ quen rồi”.
                  Tôi chỉnh lại váy trên người, lại hơi lo lắng: “Nhưng, tôi theo huynh thế này liệu có phải là trốn đi với nhau?”.
                  Mộ Ngôn: “...”.
                  #9
                    manhbv 17.01.2013 23:39:40 (permalink)
                    Chương 8

                    Vượt qua Bích sơn đi vào miền trung nước Trần.
                    Chúng tôi từ bỏ ý định đi qua nước Khương, quyết định từ phía đông nước Trần vòng qua nước Triệu đến nước Trịnh để đánh lạc hướng Mộ Nghi và toán hộ vệ áo đen, cuối cùng thành công.
                    Suốt dọc đường bôn ba như vậy vốn rất mệt mỏi, nhưng do đi cùng Mộ Ngôn tôi chẳng thấy mệt chút nào. Trong thâm tâm tôi còn mong hành trình dài hơn chút nữa, nhưng không có Tiểu Hoàng vướng chân, nguyện vọng đó không dễ thực hiện, tôi cũng cố tình dềnh dàng nhưng vẫn nhanh chóng đến biên giới hai nước Trịnh, Triệu.
                    Trăng treo giữa trời tỏa sắc vàng óng ánh, chúng tôi tìm một lữ quán, ai về phòng nấy ngủ. Tôi nằm trên giường vừa tính lộ trình đến thành Tứ Phương nước Trịnh, vừa âm thầm nhớ Tiểu Hoàng, trong lòng hơi oán thán, tại sao họa hoằn mới có lần cần đến nó thì nó lại không có mặt, đúng là một con hổ đáng ghét.
                    Sáng sớm hôm sau, rửa mặt súc miệng xong xuôi, xuống lầu ăn sáng đã thấy Mộ Ngôn đợi ở phòng lớn lữ quán. Chàng đã thay áo chùng gấm màu lam óng ánh, trong ánh sáng buổi sớm trong như ngọc bích, toàn thân chàng như phủ màn khói lam mờ. Tôi dừng chân thầm nghĩ, trên đời có lẽ không ai hợp với màu lam hơn chàng, ai dám mặc màu lam trước mặt chàng là tự biến mình thành kệch cỡm.
                    Lại nghĩ, lần sau gặp Quân Vỹ nhất định phải khuyên anh ta nên kiên trì màu trắng hiệp sỹ, không nên thấy màu lam không dễ bắt bụi mà chuyển sang mặc màu lam. Ngắm nhìn lam y trên người Mộ Ngôn, lại nhìn lam y trên người Quân Vỹ, e sẽ thấy ngay sự khác biệt.
                    Nghĩ xong đi tiếp xuống lầu, nhân tiện chỉnh lại cái váy, ngẩng đầu nhìn thấy Mộ Ngôn vốn đang nghiêng đầu nhìn ra cửa sổ, không biết từ lúc nào đã chuyển sang nhìn tôi, khi ánh mắt gặp nhau, chàng mỉm cười với tôi, hậu quả trực tiếp là tôi ngã lăn xuống cầu thang.
                    Cho dù Mộ Ngôn thân thủ phi phàm, lần này cũng không giải cứu thành công, bởi vì không phải là khoảng cách từ tầng bảy xuống tầng một, chỉ là từ bậc cầu thang thứ bảy xuống mặt đất, khoảng cách của tôi với mặt đất quá gần, trong khi khoảng cách với chàng lại quá xa, ấy là chưa nói giữa đường còn có những vật cản như bàn ghế.
                    Điều đáng buồn là trong khoảnh khắc tiếp đất nhanh như tia chớp, đầu tôi đang nghĩ liệu cái váy có bị lấm bẩn, nhưng trong họa có phúc, trong đầu lóe lên ý nghĩ, cú ngã này hóa ra lại tốt, tôi sẽ có lý do giả bệnh, nấn ná ở lại thị trấn nhỏ vùng biên này là có thể, là có thể ở bên Mộ Ngôn lâu hơn nữa.
                    Chỉ bực từ trước không nghĩ ra biện pháp tự lực cánh sinh như vậy, một lòng gửi gắm hy vọng vào Tiểu Hoàng cách xa nghìn vạn dặm không biết giờ đang làm gì. Nhưng giả bộ đau đớn cũng không đơn giản, bởi vì bây giờ tôi đã không còn cảm giác đau đớn thể xác nữa, chỉ cố nhớ lại cảm giác ngày xưa, đang nghĩ như vậy thì bị Mộ Ngôn nâng dậy: “Đi cầu thang cũng ngã, cô bao nhiêu tuổi rồi?”.
                    Tôi giả bộ xuýt xoa rên rỉ, tỏ ra mình rất đau.
                    Chàng cau mày điều chỉnh tư thế ôm tôi: “Đau ở đâu?”.
                    Tôi khổ não nhìn chàng: “Chỗ nào cũng đau”.
                    Chàng dừng lại: “Vậy phải đến y quán gặp đại phu”.
                    Tôi hốt hoảng, thầm nghĩ trò đùa này hơi quá rồi, vội vã vùng khỏi lòng chàng, cười cười: “Chẳng đau ở đâu hết, không đi y quán, tôi đùa huynh đấy”.
                    Chàng nhìn tôi không chớp mắt.
                    Tôi lau mồ hôi trên trán, vẫn cười cười: “Đến y quán thì to chuyện quá, huynh xem, tôi rất khỏe, đùa huynh tí thôi, hồi nhỏ tôi ngã liên tục, quen rồi, chẳng đau tẹo nào”.
                    Chàng cau mày: “Thật không?”.
                    Tôi gật lia lịa: “Thật”.
                    Chàng vẫn cau mày, “Lúc nhỏ là thời kỳ cơ thể phát triển, nếu bị trật xương sau này sẽ rất phiền phức”.
                    Tôi trả lời: “Tôi mười bảy rồi”.
                    Chàng mỉm cười bất lực, lát sau đã chuyển chủ đề: “Không sao thì tốt, đi ăn sáng thôi”. Mới bước hai bước lại hỏi: “A Phất, bữa sáng cô muốn ăn gì?”.
                    Cuối cùng Mộ Ngôn không đưa tôi đến y quán khám bệnh, nhưng tôi vẫn phấp phỏng, mặc dù tỏ ra hùng hổ mạnh mẽ, nhưng lúc bước đi quả thật cũng hơi tập tễnh, có điều nếu không tỏ ra hùng hổ mạnh mẽ sẽ bị đưa đến y quán, sau đó bị phát hiện là một người chết, rồi bị đưa đến một cơ quan nghiên cứu những sinh vật kỳ lạ thì phiền phức to.
                    Có lẽ tôi nhảy nhót quá mạnh, cứ như hồi quang phản chiếu ấy, Mộ Ngôn càng cho là tôi cần nghỉ ngơi, quyết định lưu lại một đêm ở thị trấn vùng biên này.
                    Thị trấn rất sầm uất, bán đủ thứ, có đồ chơi hình thiếu nữ bằng lông vũ, kết tóc kiểu như ý, có cả một chiếc khăn quàng nghe nói là của một người đàn ông phong lưu rất điển trai nào đó qua đời đã lâu, còn có cả bạch trùng tử phơi khô, đặc sản của nước Triệu, nghe nói đem pha nước uống có thể chữa được bệnh tương tư.
                    Tôi rất hứng thú với bạch trùng tử đó, thầm nghĩ nếu đúng có công hiệu như vậy, có thể mua một ít nghiền nhỏ cho vào thức ăn của Mộ Ngôn, để chàng quên Tử Yên cô nương, để làm lại từ đầu.
                    Nhưng hỏi thăm tiểu nhị, phát hiện cái đó chỉ có thể pha nước uống, không thể đem một con bạch trùng tử đó pha nước, đổ vào bát cơm của Mộ Ngôn và nói với chàng: “Nào, cho huynh ăn món này, huynh xem, hình như trùng tử này... thực ra nó đúng là trùng tử, nhưng không phải là trùng tử thường...”.
                    Có lẽ tôi còn chưa nói hết, chàng đã đổ sạch cơm, như vậy e quá lãng phí.
                    Người biên giới rất giỏi nấu rượu, bữa trưa dùng rượu hoa mai pha tuyết, vẫn là Mộ Ngôn trả tiền, sau đó được chàng dẫn đi nghe kể chuyện ở một trà quán rất trang nhã gần khu chợ. Chúng tôi không đi dạo phố nữa.
                    Tôi còn nhớ Quân Vỹ có một quan điểm, anh ta cho là, đàn ông hầu hết đều không thích đưa các cô gái đi chơi, bởi vì nếu cô gái thích thứ gì nhất định đàn ông phải trả tiền, đàn ông chẳng qua chỉ là cái túi tiền mà thôi, còn giả sử cô gái không thích gì... điều này không bao giờ xảy ra, quả thực không bao giờ xảy ra. Đương nhiên quan điểm hẹp hòi đó không thể áp dụng đối với tôi và Mộ Ngôn, chúng tôi đến trà quán nghe kể chuyện chỉ là do lúc đó bên ngoài đang là nắng tháng sáu, bỏng rát đầu.
                    Trong quán trà không còn chỗ trống, đành phải ngồi ké với một người khách ở chân cầu thang, Mộ Ngôn rút trong ống tay áo một cái quạt gấp, xòe ra đủ mười hai nan, quạt phe phảy, hơi gió mát thoảng qua mặt. Lão tiên sinh kể chuyện ngồi ngay ngắn đang kể đến một trường đoạn rất thê lương: “Mười lăm tháng năm là một đêm trăng, nhị công tử Tô Tạ nghe nội giám truyền mật báo, nói: ‘Trần hầu vương bệnh trọng đã lâu, hiện đã trút hơi thở cuối cùng, lúc tạ thế chỉ có tể tướng Doãn Từ phục hầu trước long sàng, nửa khắc trước, Doãn Từ đã sai tâm phúc đi đón thế tử Tô Dự đang ở cách xa tám trăm dặm về cung kế thừa vương vị, nhị công tử nếu muốn khởi sự, đêm nay là thời cơ tốt nhất, nếu để thế tử trở về, cục diện khó bề vãn hồi’. Tô Tạ bao năm khổ công chính là chờ đợi ngày này, phụ hoàng đã cưỡi hạc tây quy, huynh trưởng kế vị đang bị trọng thương, lang thang cách cả gần ngàn dặm chưa về, thời cơ thuận lợi hiếm có. Vậy là, đêm đó Tô Tạ khởi sự bức cung, thế mạnh như chẻ tre, chém giết, xông thẳng vào vương cung, vệ úy Quang Lộc Huân trở giáo đầu hàng, Hạo thành bị đốt, lửa ngùn ngụt sáng rực suốt bảy chục dặm, cả vương đô mù mịt mùi khói lẫn mùi máu tanh. Trong vụ chính biến ở vương cung, do thế tử kế vị vắng mặt, ai cũng tưởng đại cục đã định, người kế vị Trần hầu vương đương nhiên là nhị công tử Tô Tạ. Nhưng sự đời thay đổi khó lường, khi Tô Tạ còn chưa kịp tra thanh bảo kiếm dính máu vào bao, cánh cổng vương cung đóng chặt đột nhiên từ từ mở ra...”.
                    Tôi nói: “Cánh cổng đó nhất định là nhiều năm không bảo dưỡng”. Vừa dứt lời, hoảng hốt nhận ra lão tiên sinh đã rất mệt mỏi đang uống nước lấy lại sức, trong khi mọi người xung quanh vẫn ngồi im phăng phắc, đắm chìm trong bầu không khí căng thẳng của cuộc binh biến trong cung, cả lầu hai trà quán im lặng rất lâu, lời nói của tôi nghe rõ mồn một.
                    Mộ Ngôn phe phẩy quạt, trong mắt hơi cười cười, nhưng không nói gì. Tôi lè lưỡi, cúi mặt xuống bàn, chấp nhận những ánh mắt bất bình của mọi người.
                    Bên ngoài, nắng vẫn gay gắt, lá liễu mỏng manh bị nắng đốt khô vàng, cong queo, tiếng ve trong tán lá dày khàn đặc như kiệt sức. Lão tiên sinh uống nước xong, tiếp tục kể: “Nghe đồn, Trần thế tử Tô Dự có một đội quân riêng gồm ba trăm thiết vệ, mỗi người là một thanh lợi kiếm vô cùng lợi hại, trở thành đội kỵ binh dũng mãnh không gì ngăn được. Trước đó, chuyện về đội quân bí mật của thế tử Tô Dự đa phần chỉ là đồn đại, nhưng chính lúc nhị công tử Tô Tạ tạo biến, đại cục sắp ổn định, từ phía sau cổng cung mở rộng, ba trăm thiết vệ cưỡi ngựa vó bọc sắt lần đầu xuất hiện. Từ dưới vó sắt của đội kỵ binh quét ra một đường máu thảm đạm, từ cổng chính đồ sộ màu nhạt của vương cung, một con hắc mã chân đạp tuyết thong thả đi vào, thế tử Tô Dự vốn tưởng đang ở cách vạn dặm lại đường hoàng cưỡi trên lưng chiến mã, trong tay cầm thủ cấp đẫm máu của trưởng cấm vệ quân Hình Vô Giai. Tình thế lập tức xoay chuyển, mấy phó cấm vệ quân phần lớn là do Tô Dự bí mật tiến cử giờ đã đứng về phía Tô Dự, Tô Tạ dù có là hổ mọc cánh thì lúc này cũng không thể khống chế cục diện”.
                    Tôi cảm thấy mình sắp ngủ gật đến nơi, tiếng kể chuyện như tiếng ru ngủ bên tai, tôi gắng chống đầu khẽ nói: “Câu chuyện này dài ghê”.
                    Mộ Ngôn vừa uống trà vừa hỏi: “Cô đã nghe đoạn kết chưa? Kết cục rất đơn giản, Trần hầu vương thực ra không chết, chỉ hôn mê một thời gian, khi tỉnh dậy thấy đứa con bất hiếu nhân lúc mình bệnh nặng làm phản, lập tức ban cho cái chết. Nhị công tử Tô Tạ bị xử tử chưa được mấy ngày, nước Đường, láng giềng của Trần bị nước Tấn xâm lấn, bèn cầu viện Trần. Trần hầu vương vừa ốm dậy, lại phiền não vì vụ binh biến của nhị công tử, hơn nữa thâm tâm cho rằng, trong cuộc chiến Đường - Tấn, tốt nhất Trần nên đứng ngoài cuộc, vì vậy không muốn xuất binh trợ Đường. Thế tử Tô Dự lại dâng biểu xin dẫn binh viện Đường, bàn luận mấy ngày, cuối cùng Trần - Đường liên thủ đánh bại Tấn”. Nói xong ngước nhìn tôi, “Những chuyện đánh nhau liên miên như vậy, cô còn nhỏ chắc là không muốn nghe?”.
                    Tôi nhìn chàng suýt khóc: “Tôi chỉ cảm thấy câu chuyện hơi dài, đâu phải tôi không muốn nghe, tại sao huynh lại coi thường tôi thế, lại còn coi thường lộ liễu như vậy, tôi hận huynh muốn chết!!!”.
                    Mộ Ngôn: “...”.
                    Một ấm trà sắp uống hết, lão tiên sinh cũng sắp kể đến đoạn kết cuộc chiến Đường - Tấn, bên ngoài nắng đã nhạt, ánh nắng lọt qua kẽ lá liễu dịu dàng tỏa xuống, hắt bóng nhảy nhót lên tường. Sau khi bị Mộ Ngôn chọc tức, tôi không còn thấy buồn ngủ nữa, gục đầu trên bàn lơ đãng quan sát nhân tình thế thái.
                    Lát sau, Mộ Ngôn đột nhiên nói: “Chuyện kể ở đây rất hay, mặc dù đa phần là nói quá, coi như nghe câu chuyện ly kỳ, cũng thấy thú vị”.
                    Đang nói đến đây, một chàng trai có vẻ rất hăng máu hét lên: “Tô Dự chẳng qua cũng chỉ có thế, nếu là tôi, cuộc chiến Đường - Tấn, vũng nước đục đó nhất định tôi sẽ không đi, đợi khi cả hai đại bại mới nhảy vào kiếm chác, chẳng phải quá tốt sao?”.
                    Xung quanh có người phụ họa.
                    Tôi lắc đầu, giơ tay cầm ấm trà, tỏ vẻ không tán đồng quan điểm đó.
                    Mộ Ngôn thong thả gập cái quạt trong tay: “Cô định nói gì à?”.
                    Tôi liếc nhanh chàng một cái, cúi đầu ấp úng: “Thôi”.
                    Chàng vừa rót trà cho tôi, vừa gặng hỏi: “Sao thế?”.
                    Tôi nói, “Bởi vì nói ra dài lắm, sau đó huynh lại bắt tôi ăn bánh bao, bánh chẻo gì đó, ăn xong tôi lại quên mất định nói gì”.
                    Bàn tay rót trà của chàng hơi run, bật cười: “Lần này tôi không bắt cô ăn, cô muốn nói gì cứ nói”.
                    Tôi nói: “Ồ, mà cũng chẳng có gì, chỉ là muốn bộc bạch một chút, định nói là thực ra cuộc đời giống như chiếc đồng hồ quả lắc, có vẻ như chỉ có hai khả năng, bên phải và bên trái, thực ra đúng là chỉ có hai khả năng bên phải và bên trái... huynh có thể nói trong quá trình quả lắc dao động diễn ra bao nhiêu khả năng, nhưng đều không phải là khả năng, chỉ là con đường dẫn tới khả năng, cuối cùng không ở bên phải thì ở bên trái. Tất cả đều có khả năng, nhưng cái gọi là tất cả đó chẳng qua cũng chỉ có hai khả năng hoặc bên phải, hoặc bên trái, chỉ có sự bất biến trong đó là không thể có, trừ phi đồng hồ hỏng, đó là hình dáng của sự sống dừng lại”. Nói xong liếm môi, hỏi chàng: “Huynh có hiểu không?”.
                    Chàng lắc đầu.
                    Tôi nghĩ phải nói thế nào đây, nghĩ hồi lâu cuối cùng nghĩ ra một ví dụ để đơn giản hóa ý của mình: “Thực ra chính là nói, giống như thế gian này, thế gian này không là đàn bà thì là đàn ông, đương nhiên nhân yêu cũng không phải không có, nhưng nếu anh ung dung làm một nhân yêu, nhất định sẽ bị xã hội kỳ thị, hơn nữa rất khó tìm bạn đời”. Tôi liếm môi hỏi, “Huynh hiểu không?”.
                    Chàng nói không hiểu.
                    Tôi bực mình “Thực ra rất đơn giản, ý tôi muốn nói chuyện này rất giống cảnh ngộ của Tô Dự, giả sử anh ta giữ thái độ trung dung, đứng ngoài cuộc, thì sau này anh ta sẽ rất khó tìm đồng minh trong các nước chư hầu. Những người kia đều suy nghĩ quá đơn giản, họ không biết thế sự rối loạn cũng giống như cuộc đời, không anh thì tôi, không tôi thì anh, nếu bản thân nước mình không đủ mạnh, về cơ bản không có tư cách trung dung, minh quân thánh chủ trong thời loạn thế lập trường phải rõ ràng. Đương nhiên nếu minh quân thánh chủ này đã là bá chủ một phương thì chẳng còn gì để nói”. Tôi nghiến răng: “Lần này huynh hiểu chưa?”.
                    Mắt chàng như cười, nhìn tôi: “Hay là chúng ta ăn chút gì đi, ăn xong hãy nói”.
                    “...”.
                    Nhớ lại thì đây là lần thứ hai tôi nghe thiên hạ bàn tán về Tô Dự ở chỗ đông người.
                    Nửa năm trước, con người đó dẫn mười vạn thiết binh nhẹ nhàng đánh bại Vệ quốc trong nụ cười nhạt, chứng tỏ dụng binh hết sức cơ mưu lại rất ung dung, trong cuộc khảo thí tuyển chọn quan lại ở đế đô, anh ta đã ra đề thi liên hệ với tình hình thời cuộc rất hóc búa, khiến cho những người hỏng thi vô cùng căm hận, người đó vinh hạnh trở thành nhân vật hoàng tộc bị giới nhân sĩ trí thức không ưa nhất trong năm.
                    Từ đó có thể thấy con người Tô Dự nhất định sau này sẽ làm nên nghiệp lớn, nhưng không phải là nói anh ta còn trẻ đã quyền cao chức trọng, hoặc có tài huấn luyện binh mã, chỉ có điều trong lịch sử, những người có thể ảnh hưởng đến tuyển lựa người làm quan cho triều đình đã chết sạch, anh ta là người sống duy nhất, khiến thiên hạ nhìn bằng con mắt khác. Hơn nữa có thể đồng thời bị nhiều người ghét như vậy cũng là một minh chứng, minh chứng anh ta hoặc là có ngoại hình xuất chúng, hoặc là nhà rất giàu sang, hoặc là rất có tài gì đó. Cho dù cả ba điều này đều không phải, ít nhất cũng chứng minh sự hiện hữu của con người anh ta rất nổi bật.
                    Nhưng bất luận thế nào, ngày hôm nay cũng là một ngày vô cùng viên mãn.
                    Đêm đen, gió vô tình khơi gợi tâm tư, tôi ngồi chong đèn viết những điều tâm đắc ngày hôm nay rồi thu xếp dọn dẹp chuẩn bị đi ngủ. Vừa tắt nến, ngoài cửa sổ cách giường hai bước đột nhiên có những tiếng động rất gấp, rồi có người rơi xuống đất, nền nhà bằng gỗ đàn hơi rung, tôi nghiêm giọng hỏi: “Ai?”.
                    Có vật gì lạnh ngắt chớp mắt đã kề cổ tôi, lúc này tay tôi đang mò tìm cái đánh lửa trong người. Về sau bao nhiêu lần nhớ lại cảnh đó, tôi cảm thấy mình đúng là đã thể hiện chí khí anh hùng, lúc nguy biến không hề sợ hãi. Nhưng thực ra chỉ là không biết vật kề cổ mình rút cục là vật gì. Sau đó xoẹt một cái, lửa lóe lên, tôi thận trọng cúi nhìn, một con dao găm sáng loáng .
                    Ánh lửa mờ mờ chiếu sáng một góc phòng, trên nền nhà là một đôi giày thêu có đường viền màu trắng, phía trên đôi giày là đường chân váy màu tím, cô gái kề dao vào cổ tôi khẽ cười: “Đao kiếm vô tình, cô nương xin chớ động đậy kẻo bị cứa đứt cổ”.
                    Tiếng cười gần trong gang tấc. Tôi liếc qua khóe mắt, quan sát người đó, ánh mắt vừa chạm mắt cô ta lại rùng mình kinh ngạc. Đó là khuôn mặt tôi đã nhìn thấy ở Trịnh vương cung, một khuôn mặt như hiện ra từ tranh thủy mặc, hoàn toàn giống hệt! Thập Tam Nguyệt.
                    Nhưng Hoa Tư dẫn tuyệt đối không thể sai sót, không như độc dược Quân sư phụ chế ra, chỉ làm người ta tắt thở tạm thời, cơ bản không đầu độc chết người, mặc dù nhìn đúng là đã chết, nhưng lúc khâm liệm lại là người sống.
                    Tôi vẫn còn nhớ nửa tháng trước, đêm hai mươi lăm tháng năm trong Dụ Cẩm viên của Trịnh vương cung, tôi chơi Hoa Tư điệu tự tay kết thúc tính mạng của Thập Tam Nguyệt. Lúc này cô ta có lẽ đã là cái xác mục nát dưới ba tấc đất, cho dù Dung Tầm có mật dược bảo quản tốt đến mấy cũng chỉ có thể như tôi, sắc mặt nhợt nhạt, người tỏa mùi tử khí, đương nhiên tử khí này người thường khó nhận ra, cho dù nhận ra cũng chỉ cảm thấy một khí chất khác thường. Nhưng Thập Tam Nguyệt trước mặt tôi sắc mặt hồng hào, còn đẹp hơn nhiều so với lần trước tôi gặp, quả thật không thể nào hình dung đó là người đã chết.
                    Tôi nhìn cô ta: “Tôi không biết cô, cô là ai?”.
                    Cô ta tiến gần tôi một chút, hơi cau mày, khóe miệng nhếch lên, từ từ nở nụ cười: “Là người qua đường thôi, muốn nhờ phòng cô nương một lát, trốn kẻ thù, băng bó vết thương”.
                    Con dao găm kề cổ tôi khẽ nhích, có lẽ muốn uy hiếp, nhưng cảm giác của tôi hết sức chậm chạp, thiếu nhạy cảm nên hiệu quả uy hiếp không như mong muốn. Nụ cười trong mắt cô ta càng rõ, mép lại nhếnh cao hơn: “Cô nương bạo gan đấy”. Giọng nói đó giống như tiếng thở dài gió đêm mang đến. Sau đó cô ta ép tôi vào cánh cửa phòng, con dao găm sượt qua tóc tôi, cắm vào cánh cửa gỗ, nụ cười vẫn trong mắt, nhưng không biết cười thật hay cười giả, giọng nói lại cực nhẹ: “Đề nghị của tôi, cô nương có bằng lòng không?”.
                    Tôi vội gật đầu: “Bằng lòng, bằng lòng”. Kết quả một viên gì đó đột nhiên đã ở trong họng tôi, trượt xuống cổ, tôi mím môi suy nghĩ không biết viên giao châu trong người tôi liệu có thể giải độc .
                    Cô gái áo tím tự nói ra tên cô là Oanh Ca, nhưng tôi không tin, bởi vì ý nghĩa của cái tên chúng tôi đã tìm hiểu kỹ, kết luận rút ra là, phàm những kẻ lưu lạc giang hồ, ai chẳng có một nghệ danh.
                    Sau khi đầu độc xong, Oanh Ca thản nhiên ngồi lên giường sai tôi: “Thuốc, băng, nước sạch, dao, nến”. Vừa sai bảo tôi vừa cau mày cởi khuy áo, lộ ra vết thương ở bả vai, làn da trên bờ vai không bị rám nắng trắng lóa dưới ánh nến, máu thấm ra lớp vải băng trắng, trông như bông hoa đỗ quyên đỏ tươi, nở xòe trên bờ vai trắng như tuyết.
                    Những thứ cô cần hầu như đều có sẵn, tôi đưa cho cô thuốc cầm máu, nhìn vết kiếm thấu đến tận xương, tôi lè lưỡi ái ngại: “Đau lắm hả?”.
                    Cô nghiêng đầu nhìn tôi, răng cắn vào môi hằn lên mấy vết sâu nhợt nhạt, mặt vẫn gượng cười: “Cô thử đoán xem, trước khi lấy chồng tôi làm nghề gì?”.
                    Tôi lắc đầu, nói tôi vừa không biết cô đã lấy chồng, vừa không biết cô làm nghề gì.
                    Cô hơ con dao trên ngọn lửa, đột nhiên nhắm mắt, con dao cạo trên vết thương, lấy ra lớp thịt nát, trong phòng yên tĩnh, lát sau, nghe thấy một giọng khản, đứt quãng như từ dưới đất vọng lên: “Lúc đó tôi là một sát thủ, ngày nào dao cũng dính máu, giết người, bị giết, mấy lần đã đến quỷ môn quan, đau đớn mấy cũng đã trải qua”. Cô cười gằn, trong đêm tối có một vẻ ma quái, “Không ngờ nhàn rỗi mấy năm, hôm nay chỉ đau thế này đã không chịu nổi”.
                    Nói xong nghỉ một lát, lại bôi thuốc vào vết thương, mồ hôi toát ra trên trán, mép lại nhếch lên, “Cô nương sợ phải không? Tôi chỉ quấy quả đêm nay, sáng mai sẽ đi, sự chăm sóc của cô nương đêm nay, tôi xin cảm tạ trước”.
                    Thâm tâm tôi thấy thực ra chuyện này chẳng có gì đáng sợ, cũng không hiểu sao cô lại hỏi như vậy. Huống hồ, nếu nói sợ, có lẽ cô mới là người sợ, thử tưởng tượng đêm khuy vắng, ở chung phòng với một xác chết, hơn nữa xác chết này có thể nói chuyện với mình, đảo vị trí cho nhau, quả thực cô sợ mới phải.
                    Còn tôi vừa nghĩ xong điều đó, lòng đột nhiên chấn động, cảm thấy mớ hỗn loạn trong đầu đột nhiên lóe ra tia sáng, tôi hỏi cô: “Oanh Ca là tên thật của cô chứ?”.
                    Cô ngoẹo đầu trên thành giường, sắc mặt trắng xanh, trán lấm tấm mồ hôi, thật không thể tưởng tượng, lúc đau đớn như vậy cô vẫn có thể làm được bao động tác khó như thế, giọng nói vẫn ngắt quãng, nhưng đã có lực hơn: “Tên thật thì sao, tên giả thì sao, từ năm mười một tuổi đã không có ai gọi cái tên đó, Oanh Ca, Oanh Ca. Cô nói xem, thực ra cái tên đó hay đấy chứ. Ồ, cô đừng nhìn tôi lạ lùng như vậy, cũng không phải có gốc tích gì đặc biệt, khi sinh ra chị em tôi, cha tôi đã cõng cả một vại dưa muối đến nhờ ông giáo làng đặt giúp một cái tên sao cho vừa dễ nuôi vừa nho nhã. Tôi khóc to hơn cô em, tên là Oanh, nhưng hoàng oanh là loài chim quý yểu điệu, con nhà nghèo, lại là gái, sao có thể mang cái tên đó. Ông thầy nghĩ một lát, điền thêm một chữ Ca vào sau, ngụ ý để cho thần linh trên trời nhìn thấy tưởng rằng tôi là con trai, sẽ xứng đáng mang tên Oanh đó”.
                    Tôi đăm đăm nhìn cô, vẻ ngạc nhiên: “Thật thú vị!”. Lại hỏi tiếp: “Cô nói cô có một em gái? Vậy em cô tên gì?”.
                    Cô nheo mắt nhìn tôi từ đầu xuống chân, mỉm cười mơ hồ, “Quên rồi”.
                    Trên đời không thể có hai thứ giống hệt nhau, ngay quả trứng do một con gà mái đẻ ra cũng mỗi quả một vẻ, huống hồ con người.
                    Tôi suy nghĩ rất lâu, thầm đặt giả thiết: Oanh Ca và Thập Tam Nguyệt thực ra là một người, nhưng lại lập tức gạt đi. Giả thiết khác, dung mạo này của Oanh Ca thực ra là giống hệt dung mạo của Thập Tam Nguyệt đã chết, nhưng tại sao cô ta phải đội lốt Thập Tam Nguyệt lại trở thành một vấn đề mới. Còn một khả năng nữa, giả sử cô chị mà Thậm Tam Nguyệt nói trong Hoa Tư mộng thực ra chưa chết, cô chị đã khiến Thập Tam Nguyệt đau khổ day dứt đến mức lấy cái chết để tạ tội liệu có phải chính là Oanh Ca?
                    Trong thuốc có chất gây mê, Oanh Ca sau khi bôi thuốc, băng bó xong, lập tức ngủ thiếp đi, điều đáng quý nữa là trước khi ngủ cô còn xé một mảnh vải trói tay chân tôi lại.
                    Tôi nằm bên mép giường ngắm nhìn khuôn mặt cô, hai mắt nhắm, lông mày vẫn hơi chau, tôi thầm nghĩ điều bí ẩn tôi và Mộ Ngôn đang bôn ba tìm kiếm có lẽ câu trả lời đã ở trước mắt, chỉ có điều đó là một thứ quả vỏ cứng, tạm thời chưa biết ra tay thế nào.
                    Trong lòng nhất thời bấn loạn, mãi không ngủ được, khoảng một canh giờ sau, trong ánh trăng rọi đầy phòng, có tiếng sột soạt vang lên. Một con chuột lặng lẽ bò lên giá nến, định ăn trộm nến, tôi mở to mắt quan sát, sau lưng đột nhiên truyền đến tiếng thút thít khe khẽ, con chuột sợ quá chui xuống bàn chuồn mất, còn tôi lại lăn xuống đất.
                    Khó khăn ngồi dậy, Oanh Ca vẫn chưa tỉnh, trong giấc ngủ, khuôn mặt trắng nhợt đầy ngấn nước mắt, nước mắt vẫn đang tràn ra từ khóe mắt nhắm nghiền, một giọt to tròn rơi trên mặt chiếc gối gốm, nhưng không còn tiếng thút thít nữa, tôi quỳ trên nền đất, nhích lại gần một chút, nhìn kỹ mặt cô, thầm nghĩ có lẽ cô đang nằm mơ, không biết là giấc mơ như thế nào.
                    Cái quả vỏ cứng đó cuối cùng lộ ra kẽ nứt, muốn biết bí mật của cô lúc này chính là cơ hội tốt. Nhưng chuyện này liên quan đến vấn đề đạo đức, nghĩa là không nên dùng công lực của viên giao châu để đi vào giấc mơ của người khác. Nghe đồn những người có Hoa Tư dẫn trăm nghìn năm nay đều từng đối diện sự lựa chọn khó khăn như vậy, vấn đề này một thời cùng với vấn đề “đàn bà hoang thai liệu có thể phá thai” của triều đại nào đó trở thành vấn đề luân lý được xã hội rất quan tâm, cuối cùng biện pháp giải quyết vấn đề sau là đàn bà hoang thai sẽ bị nhốt trong chuồng lợn.
                    Thực ra dưới sức mạnh của bạo lực, mọi vấn đề đều không phải là vấn đề, bởi vì bản thân bạo lực đã là vấn đề lớn nhất. Tóm lại, lúc này tôi đang do dự, cái cớ giúp tôi đưa ra lựa chọn là một cơn giãy giụa của Oanh Ca trong mơ, đó là dấu hiệu bị đè nén, muốn vùng vẫy thoát ra. Tôi tìm một lý do cho mình, tôi cần đi vào giấc mơ của cô để đưa cô trở lại.
                    Tôi nắm chặt tay Oanh Ca, tập trung tinh lực, cảm nhận thần trí của cô để đi vào giấc mộng đang đè nén cô, mặc dù đây là lần đầu tiên dùng giao châu làm chuyện này nhưng cũng không thấy mệt, đó là do tôi là người chết, ít ham muốn đối với cuộc đời hơn các bậc tiền bối từng tu luyện Hoa Tư dẫn.
                    Không gian trước mắt xuất hiện một con đường cổ tối om, có tiếng trống điểm canh văng vẳng, một chiếc cầu bắc qua sông, có lẽ đây chính là chiếc cầu đi vào giấc mơ của Oanh Ca, tôi hít một hơi, đang định bước vào thì tay đột nhiên bị ai nắm lấy, bên tai có tiếng nói nhỏ “A Phất,”. Tôi sững người, định vùng khỏi bàn tay đó nhưng không kịp, tiếng trống điểm canh tan biến trong tận cùng bóng đêm, chớp mắt, tôi đã rơi vào giấc mơ của Oanh Ca.
                    Tôi đang ở một nơi xa lạ, ngẩng đầu nhìn thấy Mộ Ngôn đang nắm tay tôi, hỏi: “Sao cô lại vào đây?”.
                    Chàng hơi nhướn mày, mắt lại nhìn về phía trước, ở đó là một con ngõ sâu, hai bên là nhà dân tường đen ngói xanh, trên những mái hiên cong phủ lớp tuyết mỏng, trên trời trăng suông, bốn bề tĩnh mịch. Mộ Ngôn thôi không nhìn con ngõ, quay lại nói với tôi: “Nghe thấy phòng cô có tiếng động liền ghé qua, không ngờ...”. Chàng dừng lại: “Đây là đâu? Cô gái trong phòng cô là ai?”.
                    Tôi nói vắn tắt câu chuyện, người rét run cầm cập, đây chính là nỗi khổ của người đi xa không nắm được tình hình thời tiết. Mộ Ngôn vẫn giữ tay tôi, lát sau nói: “Sao tay cô lạnh thế?”.
                    Tôi thầm nghĩ, thật nực cười, tay người chết sao không lạnh, nhưng vẫn khinh suất rùng mình, định rút tay ra, Mộ Ngôn nhìn tôi, tôi nói khẽ: “Có thể là do... xương như ngọc, thịt như băng như truyền thuyết nói”.
                    Mộ Ngôn: “...”.
                    Trong con ngõ phía trước vẳng đến tiếng vó ngựa và tiếng bánh xe lăn trên đường đá, tôi đi lên trước vài bước, loáng thoáng nhìn thấy một người ăn mày rách rưới ngồi co ro trên đường, Mộ Ngôn kéo tôi lại, tôi ngoái đầu giải thích với chàng: “Người đó không nhìn thấy chúng ta”.
                    Nghĩ một lát lại bổ sung, “Người trong giấc mơ này không nhìn thấy chúng ta”. Một chiếc xe ngựa có mui từ trong ngõ tối phóng nhanh ra, cảm tưởng như sắp nghiến qua người ăn xin, phu xe vội kéo giật dây cương, con ngựa đen chồm hai vó trước, hí vang, trong xe có tiếng nói vọng ra: “Sao thế?”. Phu xe vội lùi xe ngựa về sau: “Có một người ăn xin ngáng đường”.
                    Rèm xe vén lên, lộ ra ống tay áo màu tím, phu xe nhảy xuống giữ con ngựa, kéo người ăn xin sang một bên, giọng nói nhỏ nhẹ, lạnh lùng trong xe lại vang lên sau bức rèm: “Đưa về phủ”. Phu xe nói: “Chúa thượng đây là...”.
                    Sau bức rèm vẳng ra tiếng cười: “Chưa biết chừng cô bé chính là... sát thủ tốt nhất trời ban cho ta như thầy bói phán”.
                    Tiếng vó ngựa mất hút trong ngõ, cảnh trước mắt trở nên vắng lặng, ngay sau đó đã thấy một căn phòng rộng sáng choang, ánh nến trùng trùng, từ chiếc đỉnh đá trên hương án khói bốc nghi ngút, trên giường một cô gái nhỏ nằm co quắp, đoán là người ăn xin bị ngất trên đường mấy khắc trước, có vẻ đã được thu xếp ổn thỏa, chỉ có điều không nhìn thấy mặt, một thiếu niên áo chùng tím đứng chếch trước giường. Xiêm y sang trọng, dáng dong dỏng nho nhã, cậu ta hơi cúi đầu: “Tên cô là gì, nhà có những ai?”. Cô gái nhỏ mở mắt định ngồi dậy, bị cô hầu bên cạnh giữ lại, chỉ thấy dưới lần chăn lộ ra khuôn mặt nhỏ như bàn tay, vàng võ, nhưng không hề sợ hãi: “Oanh Ca, nô tì lên là Oanh Ca, năm ngoái quê nhà bị lụt, cha mẹ nô tì đều qua đời, trong nhà chỉ còn bà nội và hai chị em nô tì”.
                    Tôi đi lại gần, mặt cô bé quả nhiên hơi nhang nhác Oanh Ca, không ngờ cô gái áo tím có nụ cười vừa dịu hiền vừa nghiêm khắc nửa thật nửa giả nhảy vào phòng trọ của tôi mặt mũi lúc nhỏ lại như vậy. Nhưng nhìn vào đôi mắt đen láy của cô bé, cuối cùng tôi đã có cảm giác hòa nhập vào cô bé. Viên giao châu phát huy công lực khiến thần trí tôi hòa nhập vào thần trí chủ nhân giấc mơ, cái hay là tôi có thể hiểu được suy nghĩ của họ, cái dở là có hiểu cũng chẳng ích gì.
                    Bởi vì tôi muốn khách quan nhìn thấy toàn cảnh sự việc, bởi tư tưởng con người nhiều khi đầy định kiến.
                    “Oanh Ca?”. Thiếu niên áo tím mỉm cười, “Vậy em gái cô chắc là OanhVũ”.
                    Đôi mắt đen láy của cô bé mở to nhìn thiếu niên, không hiểu cậu ta nói gì. Thiếu niên lơ đãng liếc nhìn khuôn mặt xanh xao của cô bé, rồi quay người nhìn ánh trăng vằng vặc ngoài cửa sổ, thong thả: “Cái tên Oanh Ca quả là rất tuyệt, đêm nay đúng vào đêm mười ba tháng Chạp, là lúc trăng sáng nhất, vậy từ nay gọi cô là Thập Tam Nguyệt, ta đưa cô về đây, từ nay cô hãy theo ta”.
                    Cùng với ánh nến, tôi nhìn rõ khuôn mặt tuấn lãng đoan nghiêm đó, vẫn còn vẻ non nớt thiếu niên, chiếc đai ngọc nổi bật giữ tà áo chùng tím, mặc dù đang cười, vẻ mặt lại lạnh như tuyết. Đó là... Trịnh hầu vương Dung Tầm thuở thiếu thời.
                    Tôi cúi nhìn tay mình, Thập Tam Nguyệt nửa tháng trước bị tôi chính tay giết chết thì ra đã bị tráo đổi sao?
                    Sau đó ánh nến trong phòng tan dần, cảnh trước mắt liên tục thay đổi, cảnh trí loang loáng chuyển động, tôi thầm nghĩ may mà mình không dễ say xe.
                    Lát sau cảnh trí dừng lại, một rừng trúc yên tĩnh mở ra trước mắt. Trên trời lác đác có những ngôi sao mọc sớm, giữa khoảng đất rộng đầy lá rụng có một đống lửa cháy không đượm lắm, đôi ủng da giẫm lên lá khô, dừng lại bên đống lửa, dọc theo đôi ủng nhìn lên trên, quả thật không thể tưởng tượng, người vừa đến chính là Dung Tầm.
                    Chàng nhìn quanh, khi liếc nhìn, trong ánh mắt lạnh như có ánh cười, nhưng nét mặt vẫn dửng dưng, giả bộ cúi nhìn đống lửa trên mặt đất, chính lúc đó trên không đột nhiên truyền đến tiếng lá trúc rào rào, một bóng dáng màu tím từ trên trời rơi xuống, người chàng hơi dịch sang phải né tránh, một con dao găm sắc bén sượt qua giải lụa trên búi tóc chàng, cắm sâu vào một thân trúc to sau lưng chàng, chàng không hề né tránh, mắt mở to nhìn bóng tím từ trên trời rơi xuống mỗi lúc mỗi gần.
                    Sau đó tất cả xảy ra rất nhanh, mấy chiêu giao đấu trực diện cơ hồ kết thúc trong nháy mắt, khi tôi định thần, nhìn rõ đã thấy Dung Tầm bị cô gái áo tím ép chặt xuống mặt đất. Cô gái trẻ hơn Oanh Ca bây giờ một chút.
                    Đống lửa cháy nổ lép bép, lửa hắt lên ánh trăng mờ tỏa xung quanh, vị công tử hào hoa bình thản nằm trên mặt đất trải đầy lá vàng khô, xung quanh trúc xanh lả lướt, cô gái áo tím đè trên ngực chàng, hai gối chống đất, mái tóc dài như dải lụa đen óng, tay trái nắm vạt áo chàng, nửa lưỡi dao găm dài sáng loáng cắm xuống đất.
                    Hai má cô đỏ hồng, động tác dứt khoát, tay trái dụng lực càng mạnh, ép càng chặt, chàng khẽ rên dưới thân cô, cô mở to đôi mắt đen láy nhìn chàng “Hôm nay, đao của em nhanh hơn hôm qua chứ?”.
                    Chàng giơ tay gối đầu, mỉm cười nhìn cô: “Nguyệt nương, em làm rất tốt, em có thể làm tốt hơn”.
                    Trên mặt cô lộ vẻ đắc ý, bàn tay nắm áo chàng hơi buông, khóe mắt chàng lóe ra tia lạnh, tay bất chợt vung lên như tia chớp khống chế bàn tay còn lại của cô, người bất ngờ bật lên, xoay chuyển tình thế, đè cô xuống đất, cả người cô đã bị khống chế, mặt lộ vẻ phẫn nộ, chàng nhìn cô, tươi cười: “Ta nói bao lần, muốn làm một sát thủ giỏi, từ mai phục đến ra tay, kết thúc, khâu nào cũng phải hết sức thận trọng”.
                    Cô cắn chặt môi, mặt lộ vẻ tủi thân, không cam chịu, hai tay vùng vẫy. Chàng giơ tay vuốt môi cô, bật cười thành tiếng: “Sao cắn chặt thế, không nén được giận sao”.
                    Mặt cô càng đỏ, ánh mắt nhìn chàng càng long lanh giận dữ.
                    Mộ Ngôn bên cạnh đột nhiên nói: “Hình như sắp mưa”, lời vừa dứt, trên trời đột nhiên xuất hiện ánh chớp, tiếp đó là trận mưa ầm ầm trút xuống. Oanh Ca vẫn còn ấm ức, ngồi thẳng người, ngay sau đó nép vào lòng Dung Tầm. Chàng nhẹ nhàng vỗ lưng cô, như an ủi đứa trẻ: “Vẫn sợ sấm? Như thế này sao có thể trở thành sát thủ giỏi”.
                    Cô nghiến răng ôm chặt cổ chàng, vẻ mặt đầy quyết liệt, nhưng lời nói ra lại hết sức trẻ con, “Em sợ thêm lần này nữa thôi”.
                    Chàng ngồi thẳng người nhìn cô đăm đăm, tay vuốt má cô, thở dài: “Thật hết cách”.
                    Sắc đêm trong rừng trúc không ngớt lay động như muốn vỡ tung, mưa sắp ập xuống, khi hạt mưa rơi trên áo tôi, cảnh trí trước mặt lại thay đổi. Đây là một sự thần kỳ, tôi có thể nhìn rõ từng hạt mưa rơi, lại có thể mang hạt mưa đó di chuyển sang cảnh sau.
                    Mộng cảnh này thật vô lý, tôi vừa nghĩ như vậy, vừa thầm tiếc, vừa rồi trên trời rơi xuống sao không phải là vàng bạc châu báu, khi đầu óc tỉnh táo trở lại, phát hiện bị Mộ Ngôn kéo đến đứng trước một khung cảnh rất đẹp, xung quanh rất nhiều hoa, còn có một cô gái đẹp như hoa.
                    Không biết tại sao, tôi biết, có lẽ là do thần trí hòa nhập, giống như ai đó viết lên trên não, nói với tôi đây là sinh nhật lần thứ mười sáu của Oanh Ca, nửa tháng trước cô đã tự dựng lên cảnh ngộ, bán mình vào lầu xanh này, quỳ phục giữa những cô gái trẻ đẹp, hôm nay sẽ giết chết một người mà định mệnh đã định phải chết trong tay cô, chính thức trở thành sát thủ bí mật của Dung gia, hoàn tất lễ trưởng thành của một sát thủ.
                    Tôi còn nhớ quanh cảnh lễ trưởng thành mười sáu tuổi của tôi, tôi trói chân tay Quân Vỹ ép anh ta nghe tôi đánh đàn suốt một ngày, tôi rất khoái trá, chỉ có điều hơi tàn nhẫn với Quân Vỹ, còn lễ trưởng thành của Oanh Ca đối với bất kỳ ai cũng là tàn nhẫn.
                    Mộ Ngôn ở phía sau gập quạt giấy đập lên vai tôi: “Cô dáo dác ngó quanh là muốn tìm ai?”.
                    Tôi hất chiếc quạt của chàng: “Tìm Dung Tầm”.
                    Chàng tỏ vẻ hứng thú: “Sao? Cô cho là chàng ta nhất định đến?”.
                    Tôi không chắc chắn lắm: “Cũng phải”. Nghĩ một lát hỏi chàng, “Nếu là huynh, huynh có đến không?”.
                    Chàng gập cái quạt: “Nếu sát thủ dưới tay tôi là cô, tôi sẽ đến”.
                    Tôi ngớ người, ngây ngây nhìn chàng.
                    Chàng liếc tôi, thong thả nói: “Cô ngốc thế, nếu tôi không đến, cô giết nhầm người thì sao?”.
                    Tôi tức giận: “Sao tôi có thể giết nhầm. Có lúc, có lúc tôi cũng hơi hồ đồ một chút, nhưng vào thời điểm quan trọng như vậy, tôi sẽ rất lợi hại”.
                    Chàng lại cười: “Thời điểm quan trọng? Lần trước găp chó sói trong đêm, nếu tôi không đến kịp, cô sẽ thế nào?”.
                    Tôi nói: “... Được, coi như chưa có cuộc trò chuyện vừa rồi”.
                    Chàng vẫn không chịu: “Lần trước trong Hoa Tư mộng của Thẩm phu nhân Tống Ngưng, cô bị rơi xuống núi, nếu tôi không theo kịp, thì cô thế nào?”.
                    Tôi nhích xa chàng một chút: “Chuyện đã qua sở dĩ đẹp chính là vì nó đã trở thành quá khứ, quá khứ hãy để cho tan thành mây khói, nào, chúng ta suy nghĩ vấn đề hiện thực quan trọng hơn”.
                    Chàng phe phảy cái quạt, dường như vẫn muốn nói tiếp, ánh mắt như cười, nhìn tôi không nói gì.
                    Tôi bảo chàng: “Huynh xem chuyện của Thập Tam Nguyệt, Thập Tam Nguyệt của Trịnh vương đã chết vì tình lúc còn sống luôn mồm nói có lỗi với chị gái, còn Oanh Ca còn sống lại giống hệt Thập Tam Nguyệt. Cô ấy có một cô em gái, chính cô ấy nói với tôi, cô ấy quên tên cô em đó rồi. Dung Tầm xem ra dường như rất có tình với Thập Tam Nguyệt trong Trịnh vương cung, nhưng rõ ràng cũng biết Thập Tam Nguyệt thật sự rút cục là ai, hơn nữa, cũng không có vẻ vô tình với Oanh Ca”.
                    Tôi vốn chỉ định chuyển chủ đề, nhưng cuối cùng lại bị cuốn hút bởi vấn đề vừa nêu, nghĩ một lát vẫn không tìm ra manh mối gì hơn, đành thở dài.
                    Tôi nói với Mộ Ngôn suy nghĩ của mình: “Dung Tầm kia cũng rất khó hiểu, cần tiếp xúc nhiều may ra biết thêm được gì. Ôi, nhưng cũng khó nói, phương ngôn có câu người trong cuộc thường mù quáng, có ý khuyên răn người đời cố gắng bình tĩnh trước những vấn đề nan giải, nhưng lại có câu không tìm hiểu, không có quyền phát ngôn. Ôi chao, tôi rất băn khoăn”.
                    Mộ Ngôn xua tay: “Tôi cũng rất băn khoăn. Cô lạc đề rồi, cô vừa nói gì tôi nghe chẳng hiểu gì hết”.
                    Trong hoa đình, trên sân khấu cao các cô ca kỹ đang biểu diễn, có một cây to, cành lá tươi tốt cao vút sum suê, dưới gốc cây đàn sáo tưng bừng, điệu múa lời ca dập dìu, làm như thiên hạ thái bình thịnh trị.
                    Chỉ có điều, tất cả đều là giả dối. Thật đáng buồn cho hoàng đế lúc vi hành thường thích đến chốn lầu xanh, bởi vì cho rằng nơi đây thượng vàng hạ cám hội tụ, có thể nghe thấy tiếng nói của muôn dân, nhưng rốt cuộc chỉ khiến cho hoàng đế càng thêm phong tình mà thôi.
                    Tôi kéo Mộ Ngôn vào một lầu nhỏ có rèm che màu hồng phía sau sân khấu, đi vòng qua một cái cửa gỗ chắc chắn, mở một cánh cửa, đúng lúc nhìn thấy Oanh Ca trang phục gọn gàng từ cửa sổ đối diện nhẹ nhàng nhảy vào. Có mấy cô gái cúi đầu đứng một bên, chờ được hầu hạ khách, hoàn toàn không hay biết gì, lập tức bị chuôi đao nhanh như cắt đập vào đầu, khụy xuống, bị kéo vào giấu dưới gầm giường, thời điểm chưa đến, Oanh Ca mười sáu tuổi bước đến trước đài gương, cầm lên chiếc quạt lụa có vẽ một khóm mẫu đơn mùa thu, kéo rèm cửa sổ, ngồi uống rượu một mình.
                    Tôi đã nhập được vào thần trí của Oanh Ca, tự nhiên biết cô ở đây, Mộ Ngôn cũng hiểu, chỉ hơi thán phục khung cảnh kỳ diệu của ảo mộng.
                    Không lâu sau, bên ngoài có tiếng bước chân, cánh cửa gỗ bị đẩy ra, một người đàn ông đi vào, mình mặc áo chùng lụa màu đen, khuôn mặt rất bình thường, hình như đã uống khá nhiều, bước chân lảo đảo.
                    Oanh Ca nhàn tản ngồi dựa mép giường, xòe chiếc quạt trong tay, miệng mỉm cười, đôi mắt đen láy đong đưa. Trông rất lả lướt phong tình, một vẻ phong nguyệt lão luyện, như người đàn bà lăn lộn đã lâu ở chốn nguyệt hoa.
                    Người đàn ông nheo mắt, đôi tay được chau chuốt kỹ càng âu yếm vuốt ve cái cổ thon nhỏ trắng bóc của cô: “Nghe nói nàng là người nước Lầu? Con gái nước Lầu da thịt trắng như mỡ, hôm nay phải cho ta xem...”. Tay anh ta hất tấm chăn mỏng phủ trên bụng cô, cúi đầu thô bạo cắn vào bờ vai trắng tuyết của cô: “... Xem có phải da nàng cũng trắng như mỡ”. Người đàn ông bắt đầu hôn từ bờ vai lên cổ, sắp phủ lên mặt cô, nhưng Oanh Ca vẫn không nhúc nhích.
                    Tôi thán phục nhìn con dao găm cắm vào lưng người đàn ông, hỏi Mộ Ngôn: “Huynh có nhìn rõ động tác rút dao vừa rồi của Oanh Ca không? Thật nhanh gọn”.
                    Người đàn ông chết trên người cô như vậy, cô lại chưa lập tức rút hung khí, mắt hoang mang nhìn đỉnh màn, không thấy nhanh nhẹn như khi cắm dao vào lưng người đàn ông. Lát sau, như sực nhớ ra điều gì, cô vội thu dọn hiện trường, xong xuôi ngoái lại nhìn khắp một vòng, rồi vội vã nhảy qua cửa sổ theo lối cũ.
                    Mộ Ngôn lập tức kéo tôi đuổi theo, phát hiện cô chưa ra khỏi đây, chỉ nhảy vào một gian phòng ở lầu dưới.
                    Mộ Ngôn khẽ cười bên tai tôi: “Đúng rồi, ai dám nghi ngờ cô gái ở bên cạnh Dung công tử lại là hung thủ giết người, cho dù có người nghi ngờ, Dung Tầm cũng sẽ đứng ra làm chứng, cô ta vẫn uống rượu, ngắm trăng họa vần với chàng ta, làm gì có thời gian đi hành hung”.
                    Mộ Ngôn ôm eo tôi cùng nhảy vào căn phòng Oanh Ca vừa vào, nói: “Đây chẳng có gì đáng gọi là cao mưu, mà dựa vào thân phận của Dung Tầm nên không có sai sót gì, Oanh Ca cô nương lần đầu giết người coi như làm rất tốt”.
                    Không ngoài dự đoán của Mộ Ngôn, Dung Tầm quả nhiên ở trong phòng. Trên chiếc bàn tròn bằng gỗ đàn màu tím viền đá vân hoa bày mấy món điểm tâm đơn giản, chiếc cốc bạc tinh xảo trong tay chàng ta, rượu chưa hết nửa. Bóng chàng ta đổ dài trong ánh nến, in lên tấm bình phong sau lưng vẽ cảnh đầm sen mùa thu dưới trăng. Ngoài cửa sổ, bắt đầu nổi gió lớn, những ánh nến chao đảo suýt tắt, gió vừa thổi qua là tiếng sấm đinh tai, ầm ầm như ở chân trời có vị thần ra sức khua chiêng.
                    Tôi cảm thấy hơi lạnh, khẽ dựa vào Mộ Ngôn, chàng nhìn tôi, kéo tôi lại gần hơn.
                    Sấm chớp từng trận nối nhau càng dầy đặc, Dung Tầm thong thả đặt chiếc cốc bạc trong tay xuống bàn, cầm một đài nến vòng qua tấm bình phong đi đến bên giường. Ánh nến màu vàng chiếu lên Oanh Ca nằm thu mình trên giường. Người cô run run, mắt lại mở rất to, lông mày chau lại, răng cắn ngập vào môi.
                    Chàng để ngọn nến một bên, giơ bàn tay mảnh khảnh vuốt ve đuôi mắt cô, dường như muốn lau những giọt nước mắt vô hình, cô ngây ngây nhìn chàng: “Em giết người”. Cô giơ cánh tay phải trắng như tuyết, đặt lên bờ vai Dung Tầm đang cúi xuống, “... Chính bàn tay này”.
                    Một tiếng sấm xé tai, mưa ầm ầm dội trên mái nhà, cô co người run rẩy, Dung Tầm hơi chau mày, nắm hai tay cô, nằm nghiêng, đối mặt với cô, cái gối bằng gốm không đủ rộng, chàng dịch sát vào cô, kéo thẳng đôi chân co quắp của cô, ôm cô vào lòng. Hai người đều mặc áo tím, giống như hai con bướm tím ôm chặt nhau. Môi chàng kề sát mái tóc đen của cô: “Em đã làm rất tốt”.
                    Cô lại lắc đầu, ngước mắt nhìn chàng, nói khẽ: “Em dùng dao găm đâm một nhát trúng tim, lúc chết hắn ta còn kinh ngạc trợn mắt nhìn em, máu hắn ta vọt ra, bắn đầy ngực em, cả đời em sẽ không quên vẻ mặt hắn ta lúc đó, mạng sống con người mong manh như vậy, em cảm thấy rất sợ, em sợ làm sát thủ, em sợ giết người”.
                    Cô gái nói ra những lời yếu đuối như vậy, trên mặt lại không có bất kỳ biểu cảm nào, mắt vẫn mở rất to.
                    Nến cháy gần hết chảy thành dòng xuống giá, chỉ còn lại đoạn lõi cuối cùng vẫn đang cố sức vùng vẫy, phát ra ánh sáng yếu ớt. Chàng giơ tay vuốt tóc cô, lát sau cười nhẹ: “Năm xưa lúc ta nhặt được em, em vẫn còn rất nhỏ, ta hỏi em có muốn theo ta không, em mở đôi mắt to, trong veo gật đầu lia lịa, điệu bộ thật đáng yêu. Ta nghĩ em sẽ là tác phẩm hoàn mỹ nhất của ta”.
                    Chàng hôn trán cô, ôm chặt cô vào lòng, nói vào tai cô, “Nguyệt nương, vì ta, hãy trở thành sát thủ tốt nhất của Dung gia này”.
                    Ngoài cửa sổ, mưa lạnh heo hắt rơi trên những khóm trúc tháng hai, từng giọt từng giọt rơi vào lòng tôi.
                    Sau đó cảnh trí thay đổi rất nhanh.
                    Thế giới sát thủ vô tình, chỉ có ánh đao lóe như chớp, vết máu loang và sự vùng vẫy của sinh mệnh trong khoảnh khắc giữa sống và chết. Tôi nhìn thấy thế giới của Oanh Ca ngày càng chìm sâu trong đó, eo giắt thanh đoản đao, như một đóa anh túc nở dần, cánh hoa là ánh dao sắc lạnh, còn hàng lông mày rậm của cô lạnh dần trong những bóng đao. Cảnh trí liên tục thay đổi giống như tấm gương vỡ trải trước mắt tôi, có những tiếng nói lao xao không biết từ đâu truyền đến: “Cô nương áo tím lúc nào cũng đi theo đình úy đại nhân lai lịch thế nào? Chậc, một khuôn mặt đẹp như vậy”, “Hừ, một khuôn mặt đẹp như vậy, lại nghe nói giết người không chớp mắt, đó là đệ nhất cao thủ của đình uý phủ, hộ vệ thiết thân của đình uý đại nhân”.
                    Những mảnh nhỏ trong tấm gương vỡ đó cùng với tiếng người xa dần rồi mất hẳn, thay vào đó là một sân khấu cao, một cô ca kỹ trang điểm cực kỳ xinh đẹp uốn mình như bông hoa lan, mắt sóng sánh đong đưa, bội phần quyến rũ, giọng mềm như nước đang hát một ca từ trong vở kịch tư xuân, ánh mắt quyến rũ mời gọi luôn hướng về Dung Tầm đang nhàn tản dựa tay vào lan can trên đài cao. Khoảng cách hai người không xa, cũng không gần, khi ánh mắt giao nhau, Dung Tầm mơ hồ mỉm cười.
                    Chính lúc đó, một cô gái áo xanh bưng khay trà đi đến bên Dung Tầm, đột nhiên rút từ ống tay áo một con dao găm sáng loáng. Cô gái còn chưa kịp ra tay đoản đao của Oanh Ca bên cạnh phi ra cắm vào giữa mặt cô ta, thanh đao sắc lẹm cắm vào giữa hai hàng lông mày, nhanh như tia chớp, khuôn mặt khá đẹp của cô gái bị xẻ làm hai nửa nhầy nhụa, máu phun vào khuôn mặt làn với da trắng tuyết của Oanh Ca. Cô cũng không hề chớp mắt. Trên đài cao chỗ Dung Tầm đang ngồi có tiếng kêu huyên náo, Oanh Ca lại như không nghe thấy, rút đao về, lau vết máu vào vạt áo tím, ngẩng đầu nhìn khuôn mặt trầm tư của Dung Tầm, mỉm cười với chàng: “Không sao chứ?”.
                    Dung Tầm liếc nhìn cô gái áo xanh nằm gục trên đất, hai mắt vẫn mở trừng trừng, cau mày: “Nhát đao quá hiểm”.
                    Oanh Ca cúi xuống, nhìn ngắm vết đao trên mặt cô gái: “Như thế này không đẹp lắm, hơi làm người ta sợ, sau này nên cắt đứt cổ thì hơn”.
                    Dung Tầm chìa tay kéo cô đứng lên, chậm rãi nói: “Ta còn nhớ lần đầu tiên em giết người, sợ run nép vào lòng ta”.
                    Cô mím môi: “Cuối cùng em đã lớn”. Cô dựa người vào lan can chăm chú nhìn Dung Tầm, nói: “Em sẽ trở thành sát thủ tốt nhất của Dung gia”. Nói xong má ửng hồng, nổi bật trên làn da trắng đẹp mê hồn.
                    Dung Tầm lại không nhìn cô, ngoái nhìn ra xa, chỗ đó gió xuân đang vờn ngọn cây cao, bên dưới là thảm hoa đủ sắc màu, một đôi cò trắng cất tiếng kêu lanh lảnh, bay về phía chân trời xanh xa tít.
                    Oanh Ca không thể trở thành sát thủ tốt nhất của Dung gia, cũng như Quân Vỹ không thể trở thành tiểu thuyết gia chuyên nghiệp, bởi vì hai người đều bị phân tâm. Một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp nên một lòng một dạ chuyên tâm viết tiểu thuyết, nhưng Quân Vỹ ngoài viết tiểu thuyết còn phải làm một kiếm khách để an ủi người cha.
                    Cũng như vậy, sát thủ tốt nhất nên một lòng một dạ chuyên tâm giết người, nhưng Oanh Ca ngoài giết người còn phân tâm bởi chuyện yêu đương với Dung Tầm, sát thủ tuyệt nhiên không thể có tình yêu, bởi giả sử sát thủ có người yêu, sát thủ sẽ bối rối khi người yêu xuất hiện đúng lúc sát thủ sắp ra tay, vậy là công việc bị cản trở, mà một khi công việc không thành, sát thủ coi như cũng khó giữ tính mạng.
                    Vì Dung Tầm, Oanh Ca khiến lòng mình trở nên sắt đá, vì Dung Tầm cô mới giết người, nhưng trái tim cô rốt cuộc vĩnh viễn không thể sắt đá đến mức một sát thủ cần có.
                    Đầu mùa hạ khi Oanh Ca mười chín tuổi, bà nội qua đời, cô lại đang bận một vụ việc ở xa, không thể về nhà nhìn mặt bà lần cuối, khi trở về Dung phủ, Dung Tầm đã cho người đón cô em gái của cô ở quê lên kinh thành.
                    Đó là một mùa hè mát mẻ, khắp đại viện của đình uý phủ nở đầy hoa tử dương, em gái vận đồ tang trắng toát, khuôn mặt giống hệt cô, hai hàng nước mắt đầm đìa đứng sau bụi hoa, tay ôm bình gốm đựng tro cốt bà nội.
                    Cô vội vàng trở về, vẫn màu áo tím trang nhã, dính đầy vết máu chưa kịp thay, gió thổi qua có thể ngửi thấy mùi máu tanh trên người cô. Cô em gái mím môi, điệu bộ giống hệt cô lúc mười lăm tuổi, vừa yếu đuối vừa kiên cường, lao vào tay cô, nghẹn ngào: “Bà rất muốn gặp chị, bà bảo nhất định phải gặp chị lần cuối mới nhắm mắt được”. Cô run run giơ tay đón bình tro, mặt không biểu cảm, hồi lâu sau mới nói: “Để bà yên tâm ra đi”.
                    Dung Tầm thong thả bước đến, nhìn hai chị em Oanh Ca ôm nhau, nói nhẹ nhàng: “Em mệt rồi, về nghỉ đi”.
                    Cô ngây người, buông em gái ra, tay vẫn ôm bình tro, chàng chăm chú nhìn cô: “Nghe nói ba ngày nay em không chợp mắt, việc hậu sự của bà nội em, ta sẽ lo liệu”.
                    Nói xong, chầm chậm quay đầu nhìn em gái cô, lại quay sang nhìn cô, “Vẫn tưởng tên cô ấy là Oanh Vũ, không ngờ lại là Cẩm Tước”. Cẩm Tước mặt vẫn còn nước mắt ngẩng phắt đầu, tròn mắt nhìn chàng, một đôi bướm trắng từ trong khóm hoa tử dương bay ra, bắt gặp ánh mắt đó của cô, Dung Tầm ngẩn người.
                    Hai con bướm trắng đùa giỡn trên khóm hoa bỗng chốc bốc cháy thành dải khói đen, lòng tôi đột nhiên trống rỗng, bỗng có một dự cảm chẳng lành, có lẽ cảnh ngộ này chính là nỗi khổ trong lòng Oanh Ca, còn đối với tôi phút nguy hiểm nhất cuối cùng đã đến.
                    Trong Hoa Tư mộng do tôi dệt ra, nơi hạnh phúc dừng chân chính là đau khổ, khi hy vọng tuyệt đỉnh chính là tuyệt vọng, tất cả vẫn rõ ràng như logic hiện thực. Nhưng trong cuộc sống, người ta thường dùng những phương thức cực đoan để chống lại sự bất lực của mình trước hiện thực.
                    Giống như tôi thích Mộ Ngôn, nhưng lại không có được chàng, vậy là tôi muốn giết chàng, chia cho chàng nửa viên giao châu để chúng tôi vĩnh viễn bên nhau, nhưng đây là ý nghĩ điên rồ. Chỉ cần còn lý trí, tôi sẽ không làm như vậy.
                    Nhưng hàng ngày tôi vẫn có ý nghĩ đó, đành thể hiện trong giấc mơ, sau đó trong giấc mơ tôi trở thành kẻ giết người, đó chính là dùng hành động cực đoan chống lại hiện thực. Hoặc là tôi phải độc ác hơn một chút, cảm thấy số phận mình quá thê thảm, muốn tất cả thiên hạ đều phải cùng chết với tôi, vậy là trong giấc mơ của tôi, xuất hiện cảnh trời long đất lở, biển cạn, đá mòn, đó chính là dùng phương thức cực đoan chống lại hiện thực... đây cũng là nguyên nhân Quân sư phụ khuyên tôi không nên tùy tiện nhập vào giấc mơ của người khác, giả sử tôi nhập vào giấc mơ của người nào đó, trong mơ người đó đang mơ cảnh trời long đất lở để xả thù hận trong lòng, tôi đột nhiên xuất hiện, không may bị đá lớn rơi trúng người, đè nát viên giao châu trong ngực, vậy là tôi chết chắc.
                    Giấc mơ của người sống đối với họ chỉ là mơ, nhưng với tôi lại vô cùng nguy hiểm. Giả sử tôi chết trong giấc mơ của họ, có nghĩa là sinh mệnh tôi chấm dứt thực sự.
                    Oanh Ca trong giấc mơ lúc này muốn hủy diệt tất cả, tôi không biết hy vọng và đau khổ của cô là gì, chỉ biết cô lựa chọn hủy hoại tất cả để kết thúc mọi hạnh phúc đau khổ của mình, còn tôi phải tìm cách nhanh chóng đưa cô ra khỏi giấc mơ trước khi cô làm việc đó.
                    Nhưng rõ ràng đã không kịp, chính lúc tôi giằng khỏi tay Mộ Ngôn chạy thục mạng về phía Oanh Ca, trời đất đột nhiên một dải trống không, không gian bao la trong chớp mắt đã nhấn chìm khóm hoa tử dương trắng, mây đen như mực cuồn cuộn phía chân trời, ào ạt tản ra che kín bầu trời, đây chính là ảo mộng, một khắc trước vẫn còn là cuộc sống hồng trần tràn đầy sinh khí, một khắc sau trời đất đã đổi thay, chỉ còn một màu đen như mực.
                    Bóng Oanh Ca biến mất trong màu đen đó, tôi đột nhiên hoang mang, dừng lại không biết nên chạy hướng nào, bỗng cả người bị kéo giật về sau, cánh tay áo màu lam quàng vào cổ tôi, hơi thở của Mộ Ngôn đã sát bên tai, nặng nề đầy nộ khí: “Chạy nhanh thế, không biết đang rất nguy hiểm sao?”.
                    Tôi nắm tay áo chàng chạy thục mạng, chỉ tay về phía trước: “Ô, thần kỳ quá, huynh xem, đó là gì vậy?”.
                    Chàng dừng lại, nắm cánh tay tôi đi về phía ánh sáng đột nhiên hiện ra trong mây đen. Trong màn đêm đen hun hút trống vắng như cánh đồng hoang, chỉ nghe thấy tiếng bước chân chúng tôi bì bõm như đang giẫm lên nước.
                    Màn đêm đen kịt rạn dần, trên trời hiện ra một vầng trăng bạc rất tròn. Trong ánh trăng trắng lạnh, một cây anh đào lớn ngả nghiêng trong gió, từng cánh hoa phấn hồng bay lả tả như những bông hoa tuyết màu hồng.
                    Oanh Ca mình vận áo tím, tay cầm bình rượu nhàn tản ngồi dựa gốc cây, hơi ngẩng đầu nhìn người đàn ông áo trắng vẻ mặt nghiêm lạnh đứng trước mặt. Mộ Ngôn đã được coi là vô cùng tuấn tú, nhưng người đàn ông này còn tuấn tú hơn, cả thân mình như khoác ánh trăng bạc, sắc mặt càng lạnh lùng.
                    Gió lạnh tháng ba mang theo cánh hoa anh đào và giọng nói Oanh Ca truyền đến: “Nếu đường đao của bệ hạ nhanh hơn thiếp, ngoài chấp nhận những nghi thức cung đình phiền hà, thiếp cũng sẽ tình nguyện hầu bệ hạ chuyện gối chăn...”.
                    Lời cô chưa dứt, một đường đao dài đã vạch một đường vòng cung lóe sáng trong không trung, rồi nhanh chóng thu về, người đàn ông vẫn đứng bất động, dải lụa hồng trên búi tóc cuốn cao của cô đứt phựt cùng với âm thanh sắc gọn, mái tóc đen óng như tơ xõa vuống vai, mấy cánh hoa anh đào bị chém đứt, tơi tả bay trước ngực cô.
                    Cô sững người nhìn chàng một lát, cười khanh khách: “Hóa ra trường đao ở thắt lưng chàng không phải đeo làm vì”.
                    Đôi mắt đen của chàng sóng sánh phong tình, nhưng vẫn trầm mặc không hề suồng sã. Chàng bước lên hai bước, hơi cúi người chìa tay cho cô: “Vụ cá cược vừa rồi của phu nhân, quả nhân đã thắng”.
                    Cô giơ tay, làm như định nắm tay chàng, nhưng lại chộp lấy vai chàng, tay vừa giơ lên, chớp mắt đã kéo tuột dải lụa trên búi tóc chàng. Cô cười nhạt, vỗ tay: “Như thế mới công bằng”.
                    Trong cánh hoa anh đào phơ phất, tay cầm bình rượu cô loạng choạng bước đi, nụ cười trên mặt như có như không. Chàng đi sau, sắc mặt lạnh lùng, nhìn thân người lảo đảo xiêu vẹo của cô cũng không dìu đỡ. Lớp mây dày tản ra, có tiếng hát du dương vọng ra sau đám mây: “Chuyện xưa như một tiếng than, mộng vàng tan vỡ hồng trần hư không, tình sơn nghĩa hải trầm luân, ngoái đầu phút chốc đã thành thiên thu...”.
                    Mộ Ngôn hỏi tôi: “Có nên đi theo không?”.
                    Tôi lắc đầu. Mộng cảnh này đã quá nguy hiểm, sau khi người đàn ông áo trắng xuất hiện tất cả cơ hồ đang phát triển theo hướng tốt. Tôi hỏi Mộ Ngôn: “Huynh có biết người đàn ông áo trắng là ai không?”.
                    Chàng dừng lại nói: “Trịnh quốc tiên vương, Cảnh hầu vương Dung Viên, thúc phụ cùng tuổi với Bình hầu vương Dung Tầm”.
                    Tôi còn chưa kịp đưa Oanh Ca thoát khỏi giấc mơ, giấc mơ đó của cô đã tự kết thúc trong hòa bình, bị ném ra khỏi giấc mơ quả thực khó chịu, điều này có thể đoán được qua cái cau mày của Mộ Ngôn, tôi quả không có cảm giác gì, nhưng để chàng khỏi nghi ngờ, cũng đành giả bộ khó chịu.
                    Khi Mộ Ngôn đã trở về phòng của mình, Oanh Ca mới tỉnh hoàn toàn, mắt mơ màng nhìn tôi: “Tài cởi trói của cô cũng không tồi”. Tôi nghĩ quả thực không tồi, lúc nhỏ tôi và Quân Vỹ thường hay chơi trò đó, dù anh ta trói kiểu gì tôi cũng nhẹ nhàng thoát được, huống hồ cô chỉ trói sơ sài.
                    Tôi cầm đèn đi lại gần cô, hỏi: “Cô vừa mơ thấy gì?”.
                    Cô cau mày, trầm tư một lát, cười: “Phu quân của tôi”. Lúc sau, lại nói: “Người ta bảo chàng đã chết, nhưng tôi không tin”.
                    Trăng lạnh gió thanh, cô ngồi trên giường, co một chân gục vào đầu gối, lại mỉm cười như thật như ảo: “Còn mơ thấy rất nhiều chuyện cũ, miên man mãi, đột nhiên nhớ ra người ta bảo phu quân tôi đã chết, tôi liền nghĩ, nếu phu quân quả thực đã xa tôi mãi mãi, vậy tôi còn cần đến giấc mơ an ủi này làm gì? Chi bằng phá hủy cho xong”.
                    Cô ngẩng đầu nhìn tôi: “Cô thấy đúng không?”.
                    Tôi gật đầu, “Đúng”. Quả thật trong lòng tôi đã nghĩ như vậy, nếu có ngày Mộ Ngôn rời xa tôi, và giả sử tôi có sức mạnh hủy diệt thế giới này, nhất định tôi sẽ hủy diệt tan tành, nhưng may cuối cùng không phải chàng rời xa tôi trước, mà chính tôi rời xa chàng trước.
                    Lần đầu tiên tôi thấy may mắn vì mình đã chết.
                    #10
                      manhbv 23.01.2013 04:53:42 (permalink)
                      Chương 9

                      Ngày hôm sau trời nổi gió nam, gió thổi từ nước Triệu đến nước Trịnh, cũng chính là lộ trình chúng tôi định đi. Nếu đi bằng thuyền sẽ thuận chiều gió, nhanh hơn nhiều. Tôi và Mộ Ngôn đều cho rằng, so với đi tìm Thập Tam Nguyệt theo kế hoạch đã định thì thà lẳng lặng đi theo Oanh Ca biết đâu lại tìm ra manh mối sớm hơn.
                      Nhưng Oanh Ca lại đi đường thủy ngược chiều gió từ Trịnh đến Triệu, lẽ ra có thể cưỡi sóng đạp gió lướt băng băng cuối cùng lại chịu cảnh nhích từng bước. Lại còn một khó khăn khác, chính là lúc này chỉ có một chuyến thuyền đi nước Triệu, việc theo dõi Oanh Ca chắc chắn rất dễ bị phát hiện.
                      May có Mộ Ngôn thân thủ khá trên đường đi mới không bị mất mục tiêu. Oanh Ca đang lơ đãng đứng tựa lan can thuyền, đầu đội mũ sa rộng, từng lớp rèm sa mỏng dài, màu tím xung quanh vành mũ rủ xuống tận đầu gối, bao bọc khuôn dung và vóc dáng yêu kiều, chỉ lộ một đường chân váy màu tím bạc và suối tóc dài chấm gót chân.
                      Tôi hơi ngạc nhiên, đêm qua dưới ánh nến mờ, quả thật không nhận ra mái tóc cô lại dài như vậy. Hơn nữa hôm nay dáng điệu và trang phục của cô lại ung dung trang nhã đến thế, giống hệt tiểu thư quý tộc của một gia đình gia giáo nghiêm khắc, trang trọng đi du ngoạn, có lẽ ăn vận như vậy là để tránh kẻ thù. Nếu không theo sát suốt dọc đường, chắc tôi đã không thể tin cô tiểu thư kiêu sa trước mặt chính là sát thủ áo tím đã kề dao vào cổ tôi đêm qua.
                      Lúc sắp xuống thuyền, Mộ Ngôn giữ tôi lại, nói là cần đi làm một việc quan trọng. Tôi đành đứng đợi, lúc thuyền sắp nhổ neo mới thấy chàng xách một cái lồng chim quay lại. Lồng chim bằng gỗ mun, trên chiếc cột đơn chạm trổ hoa văn rất tinh xảo, bên trong có một con chim màu đen thoạt nhìn hơi giống quạ, nhưng hai bên mỏ có đường viền màu tím hồng, khác hẳn quạ.
                      Bước lên thuyền, để không bị Oanh Ca chú ý, chúng tôi tìm một góc vắng ngồi hóng mát. Cảm thấy buồn tẻ tôi ngồi trên ván thuyền bắt đầu ngắm nghía con chim đen trong lồng, ngắm một lúc, hỏi Mộ Ngôn: “Vừa rồi huynh đi mua con chim này phải không? Mua để làm gì?”.
                      Chàng cúi đầu nhìn tôi, thong thả đáp: “Mua cho cô chơi, thích không?”.
                      Lòng run run, tôi nắm chặt con hổ ngọc trong ống tay áo, sực nhớ lần trước chàng dùng con hổ này để đổi lấy cái nhẫn ngọc của tôi, do dự một hồi lâu, lại rụt rè hỏi: “Không phải huynh định dùng con chim quèn này để đổi con hổ ngọc chứ?”.
                      Con chim quèn trong lồng mở to mắt, kêu éc một tiếng. Mộ Ngôn ngây người, ánh mắt bắt gặp ánh mắt tôi, miệng nhoẻn cười.
                      Tôi lườm chàng, ngoảnh mặt đi: “Con chim quèn này chẳng đáng tiền”.
                      Lời vừa dứt, túm lông vũ trên đầu con chim dựng ngược, nó xông về phía tôi kêu một tiếng. Tôi bực mình khẽ đẩy cái lồng ra xa, tay nắm chặt con hổ ngọc, không biết thái độ của Mộ Ngôn thế nào.
                      Thực ra con hổ này tôi đã gần như cưỡng đoạt của chàng, cho dù Mộ Ngôn đòi lại cũng đành chịu. Hơn nữa đây lại là món đồ quý, chàng có thể đòi lại bất cứ lúc nào. Nhưng tôi vẫn trợn mắt: “Tuyệt đối không đổi đâu, tôi không thích con chim quèn này tẹo nào”.
                      Con chim quèn kích động nhảy lên, đập cánh loạn xạ, kêu ầm ĩ, mọi người trên thuyền đổ mắt nhìn lại, Mộ Ngôn kéo tôi đứng lên, lúng túng: “Vừa cảm thấy trông cô ra dáng một cô gái giờ lại trẻ con rồi”.
                      Tôi nghĩ đây không phải là trò trẻ con, mà là quyến luyến, những bậc chân tu gọi là lòng tham, cho là xấu, nhưng lòng tham của tôi bé nhỏ như vậy, ngoài làm tổn thương chút tình cảm của con chim, thật sự chẳng hại đến ai, cho nên tuyệt đối chẳng có gì là xấu.
                      Tôi và Mộ Ngôn cuối cùng cũng sẽ xa nhau, tình cảm của tôi với con hổ ngọc chính là tình cảm với Mộ Ngôn, theo cách nói văn chương có thể gọi là gửi gắm tình cảm, nhưng có lẽ điều này không ai hiểu, chỉ có mình tôi biết.
                      Tôi nhìn Mộ Ngôn, tôi không biết chàng thích một cô gái như thế nào, tôi vẫn luôn muốn chàng nhìn thấy tôi trong dáng vẻ đẹp nhất, nhưng lúc nào cũng không như ý, khiến chàng cảm thấy tôi bướng bỉnh, cảm thấy tôi chỉ là đứa trẻ. Tuy là một người chết, không có tim tôi vẫn thấy đau lòng, quả là bất lực.
                      Phía xa xa là trời xanh nước biếc, Mộ Ngôn nhìn tôi, tôi sịt mũi tỏ vẻ phấn khởi, định chuyển chủ đề câu chuyện, bỗng bị chàng kéo mạnh vào lòng. Má ép vào ngực chàng, Mộ Ngôn ôm rất chặt, khiến tôi muốn ngoái đầu cũng khó.
                      Lòng run run, ý nghĩ đầu tiên là Mộ Ngôn có lẽ cũng hiểu lòng tôi, còn chưa kịp nảy sinh ý nghĩ thứ hai, giọng chàng đã từ trên đầu vọng xuống: “Đừng động đậy”. Tiếp đó là tiếng cười rất nhỏ: “A Phất, người cô muốn tránh cũng ở trên thuyền này”.
                      Tôi nép vào ngực chàng, vừa thất vọng thầm nghĩ mình đúng là khéo suy diễn, vừa lục tìm trong đầu xem gần đây người mình muốn tránh là ai, bất giác hỏi: “Huynh nói là ai?”.
                      Giọng chàng thản nhiên: “Bình hầu vương Dung Tầm”.
                      Tôi vội vàng chúi sâu hơn vào ngực chàng.
                      Trên sàn thuyền truyền đến những rung chấn mạnh mẽ, đều tăm tắp, chắc chắn phải là bốn người trở lên bước chân đều tăm tắp mới đạt hiệu quả như vậy, tiếng bước chân từ sau lưng vọng lại, lát sau, Mộ Ngôn kéo tôi ra, đoàn tùy tùng của Dung Tầm đã lên lầu .
                      Tôi vô thức nhìn về phía Oanh Ca ngồi tựa mạn thuyền phía xa, tưởng là lần này cố nhân tương phùng, có thể hé ra manh mối nào đó, nhưng cô vẫn ngồi ung dung, cơ hồ không thay đổi.
                      Điều thần tình là ánh mắt Mộ Ngôn cũng đánh về phía Oanh Ca, nhưng chỉ thoáng qua, cuối cùng quay lại nói vẻ dửng dưng: “Đừng nhìn, Dung Tầm ở trên lầu, không chạm trán Oanh Ca cô nương”. Chàng hơi dừng, lại tiếp:
                      “Trước khi lên thuyền tôi nghe được một bí mật cung đình rất thú vị, có muốn nghe không?”.
                      Tôi vui vẻ gật đầu lia lịa.
                      Trong gió sông mang hơi lạnh, Mộ Ngôn kể cho tôi nghe bí mật cung đình thú vị đó, cũng như mọi bí mật khác, thực ra chẳng có gì là bí mật, cũng chẳng có gì thú vị, nhưng cái hay là do chuyện xảy ra đã lâu, tình tiết phức tạp, tôi vẫn hào hứng lắng nghe.
                      Bí mật này truy về Trịnh hầu vương hai đời trước, tức là cha của Cảnh hầu Dung Viên, ông nội của Bình hầu Dung Tầm.
                      Theo tổ chế xa xưa, Trịnh hầu vương lúc đầu lập con trưởng là người kế vị, chính là thế tử, cha của Dung Tầm, nhưng do lão Trịnh hầu vương là người phúc dày, lập thái tử đã ba mươi năm vẫn không thấy dấu hiệu cưỡi hạc tây quy, khiến cha Dung Tầm vô cùng sốt ruột, mưu hoạch đã lâu, cuối cùng vào một đêm tối trời lặng gió quyết định phản loạn bức cung, kết cục tất yếu là bị giết, để lại đại gia đình thế tử bị lưu đày đến miền tây bắc xa xôi, bao gồm cả Dung Tầm mới mười bốn tuổi văn võ song toàn nức tiếng vương đô.
                      Lão Trịnh hầu vương một đời phong lưu, con cái rất nhiều, nhưng dòng đích đa phần là gái, chỉ có bốn trai, trong đó hai người đã chết yểu, chỉ còn con trưởng và con út. May con trưởng mặc dù phạm tội phản nghịch, nhưng con út Dung Viên xem ra có tài kinh bang trị quốc hơn con trưởng. Năm sau, lão Trịnh hầu vương bố cáo thiên hạ lập con út Dung Viên làm thế tử, trở thành người kế thừa vương vị sau này.
                      Năm đó, Dung Viên mười lăm tuổi, ngoài danh hiệu công tử đẹp nhất Trịnh quốc còn được mệnh danh là Trịnh quốc đệ nhất đao thủ. Sau chuyện con trưởng phản loạn bức cung, lão Trịnh hầu buồn phiền mãi, trở thành mối tâm bệnh lớn, hai năm sau qua đời, Dung Viên mười bảy tuổi lên ngôi, trở thành Trịnh quốc Cảnh hầu vương.
                      Sau khi Cảnh hầu vương kế vị, rất thích tài năng của Dung Tầm, nhân lúc quốc gia cầu hiền, liền triệu đại gia đình huynh trưởng từ miền tây bắc trở về vương đô, vừa trấn áp, vừa trọng dụng. Dung Tầm quả không phụ lòng thúc phụ, chức đình úy làm rất tốt, quan hệ chú cháu vô cùng hòa hợp, sáu năm trước, Dung Tầm còn tặng thúc phụ một đại mỹ nhân, về sau được phong là Như phu nhân.
                      Nghe dân gian đồn, Dung Viên vốn lạnh tình quả dục lại tỏ ra rất mực sủng ái mỹ nhân mà người cháu tặng, mỹ nhân đó trong lúc thưởng hoa lãm nguyệt đã làm một câu thơ, “Cung hoàn thâm thâm nguyệt dung dung”(*). Dung Viên bèn đổi tên cung của mỹ nhân đó thành Dung Nguyệt cung.
                      Còn Trịnh sử lại ghi Dung Nguyệt cung phu nhân sau khi vào cung chưa đầy hai năm liền được phong chính cung phu nhân, phong hiệu Tử Nguyệt, mẫu nghi Trịnh quốc. Có vẻ là một giai thoại phong lưu của vương thất, nhưng chưa quá một năm sau, Tử Nguyệt phu nhân luôn được Cảnh hầu vương sủng ái lâm bệnh qua đời.
                      Sau khi Tử Nguyệt qua đời, Cảnh hầu phiền não bi thương, cuối năm đó bệnh nặng quyết định nhường ngôi, do không có con trai bèn truyền ngôi cho cháu ruột là Dung Tầm, năm sau tạ thế ở hành cung, tuổi mới hăm bảy.
                      Buổi tối hôm Cảnh hầu vương qua đời, hành cung Đông Sơn bốc cháy dữ dội, lửa ngút trời, không chỉ hành cung cháy trụi ngay cả anh đào trồng trên núi cũng cháy thành tro, ly kỳ hơn nữa là từ đó về sau anh đào ở đó không bao giờ ra hoa đỏ nữa.
                      Nghĩ lại cảnh trong mơ, Oanh Ca khuôn mặt xinh đẹp ửng hồng nói với Dung Tầm: “Em sẽ trở thành sát thủ tốt nhất của Dung gia”.
                      Nghĩ đến bóng cô loạng choạng dưới bầu trời lả tả cánh hoa anh đào, tôi hỏi Mộ Ngôn: “Mỹ nhân mà Dung Tầm tặng Dung Viên sau được phong Tử Nguyệt phu nhân chính là Oanh Ca phải không?”.
                      Chàng phe phảy cái quạt gật đầu: “Rõ ràng”.
                      Tôi băn khoăn: “Vậy cái chết của Tử Nguyệt phu nhân sau này là thế nào?”.
                      Mộ Ngôn ngập ngừng: “Theo chiếu bố cáo với thiên hạ, Cảnh hầu vương chủ động nhường ngôi, nhưng trước kia có tin đồn chính Bình hầu ép Cảnh hầu thoái vị, nguyên do cũng vì một cô gái”. Chàng mím môi cười. Tôi rất thích cử chỉ đó của chàng.
                      “Cô gái đó chính là Tử Nguyệt phu nhân. Đây quả là một tin thú vị, nhưng không biết thật giả thế nào, nghe đồn Bình hầu đã kề kiếm vào cổ Cảnh hầu, hỏi một câu: ‘Tôi đã trao nàng nguyên vẹn cho thúc, tại sao thúc lại giày vò nàng tan nát’, thì ra ngày xưa vẫn cho là một đồ vật, hôm nay mới biết là một mỹ nhân”.
                      Tôi lẩm bẩm: “Nhưng chàng ta đã đem cô ấy tặng người khác, còn trách ai? Thật không thể hiểu, nếu có người bảo tôi đem người trong lòng tặng cho kẻ khác, đánh chết tôi cũng không chịu”.
                      Mộ Ngôn liếc tôi: “Sao? Không chịu đem ai đi tặng?”.
                      “Chàng chứ ai”, mấy chữ đó đã ở trong miệng, ngập ngừng một lát, dưới cái nhìn ý tứ mập mờ của chàng, tôi đổi giọng: “Tiểu Hoàng...”.
                      Cái quạt đập lên đầu tôi, “Lại nói bừa”.
                      Phía xa núi trập trùng nhấp nhô, sương khói vấn vít, khu rừng cây trên núi xanh ngắt thấp thoáng trong sương. Mộ Ngôn lơ đãng nói: “Con người ta thường có rất nhiều ước vọng, nhưng trở thành hiện thực không nhiều, cho nên cần phân ra cái gì cần nhất, cái gì tương đối cần, cái gì có thể có, có thể không...”.
                      Tôi nghĩ một lát, “Ý huynh là chỉ cần đạt được cái mình cần nhất?”.
                      Chàng cười: “Không, cái cần nhất và cái tương đối cần đều phải đạt được, ví như Bình hầu, lúc đầu đem Oanh Ca cô nương tặng cho người khác có lẽ cảm thấy Oanh Ca cô nương không quan trọng lắm”.
                      Tôi nhìn chàng: “Ý huynh nói nếu huynh là Dung Tầm sẽ không mang Oanh Ca đi tặng, nhưng Oanh Ca không phải là thứ quan trọng nhất của huynh cơ mà?”.
                      Chàng phe phảy quạt như cười như không nhìn tôi: “Ai nói cái quan trọng nhất chỉ có một?”.
                      Tôi hiểu lơ mơ, nhưng chàng không nói gì nữa.
                      Nhìn lên phía mui thuyền, Oanh Ca không biết đã đi đâu, thuyền ra giữa sông, gió mạnh dần, tôi tìm một chỗ vắng, lấy mặt nạ da người đeo lên mặt, Mộ Ngôn ngắm nghía nói: “Đây là khuôn mặt thật của cô sao?”. Tôi nghĩ, nếu không có vết sẹo trên đầu đó, khuôn mặt tôi còn đẹp hơn nhiều, nhưng nghĩ lắm ích gì, quá khứ tốt đẹp nên quên hết thì hơn, để khỏi thêm buồn.
                      Tôi lắc đầu: “Không, tôi rất xấu, không muốn để ai nhìn thấy”.
                      Thực ra tôi chỉ không muốn để chàng nhìn thấy.
                      Bước lên lầu hai, nhìn thấy Dung Tầm toàn thân áo tím ngồi dựa lan can chạm trổ hoa văn, uống rượu một mình. Đây là quân vương Trịnh quốc, lúc này lại xuất hiện trên chiếc thuyền bình dân ở biên giới Trịnh, Triệu, thật là điều khó tưởng tượng. Cẩm Tước, Oanh Ca, Dung Tầm, tất cả lần lượt xuất hiện trước mắt tôi, giống như một lớp kịch đã diễn xong, lại giống như đóa hoa mùa thu chưa nở hết đã tàn, có gì đó khiến người ta muốn kêu lên, khiến người ta muốn dừng lại cũng không được, nhưng vẫn không tìm ra bất cứ manh mối nào.
                      Dung mạo của Dung Tầm phía trước vẫn tuấn lãng đoan nghiêm như trong giấc mơ của Oanh Ca, những ngón tay dài cầm chiếc cốc gốm Long Tuyền màu xanh trông thanh tao nho nhã như nét cọ trong tranh thủy mặc.
                      Tôi vẫn chưa tìm được chỗ ngồi, đột nhiên nghe thấy dưới lầu có tiếng ẩu đả liền nhìn xuống, mặt nước sông bên ngoài thuyền đục ngầu, vọt cao cả trượng, khách trên thuyền kinh sợ tản ra tứ phía, dưới sông đột nhiên vọt lên mấy sát thủ áo đen bịt mặt. Thích khách áo đen thế hung mạnh, lưỡi kiếm lạnh lùng ép về phía cô gái áo tím dáng yêu kiều trên thuyền.
                      Tôi đã nhìn thấy Oanh Ca giết người không chỉ một lần. Nhưng đây là lần đầu nhìn thấy cô giết người bằng trường đao, bóng thanh đao dài hẹp lóe như tia chớp từ không trung thu về, tư thế vẫn không đổi, nhưng đều là nhát đao chí mạng, chính là chiêu thức Dung Viên đã dùng dưới tán anh đào.
                      Ngọc thạch màu lam khảm trên chuôi đao lóe lên lóng lánh trong chùm tia nước trắng xóa bắn lên từ dưới sông, tương phản với màu đỏ tươi của máu vọt ra từ cổ người áo đen, tạo nên một vẻ đẹp yêu ma. Còn Oanh Ca toàn thân áo tím vẫn ung dung đứng trên mũi thuyền, trông tựa bức sa nhẹ rủ trên mũi thuyền, mũi trường đao chạm đất, giết chết sáu người, thanh đao sắc chỉ dính một vết máu nhạt, quả là thanh đao tốt.
                      Xung quanh sặc mùi máu tanh, nhưng trên người cô lại không một vết máu. Một thủ pháp giết người sạch tinh nhanh gọn.
                      Tìm được chỗ quan sát, tôi và Mộ Ngôn đều nhìn chăm chú, chỉ tội cho một số khách trên thuyền sợ run lập cập, trong gió đã có hơi lạnh, trời sắp mưa, trời nước tĩnh lặng. Trong cái tĩnh lặng mênh mông, tiếng cười của Oanh Ca đột nhiên vang lên lạnh như nước: “Tại hạ đã được giáo huấn sát nhân cũng là một nghệ thuật, phải nhanh và gọn, đó là chính cái đẹp của sát nhân. Hôm nay chúa thượng các ngươi cử đến nhiều người như vậy để giết một tiểu nữ yếu đuối, tha lỗi cho tại hạ không chú ý tới vẻ đẹp của sát nhân”.
                      Một tiếng “choang” vang lên, tôi ngoái nhìn, thấy Dung Tầm bàn tay vẫn giơ ra như nắm cốc rượu, nhưng trong tay lại chẳng có gì, trên nền những mảnh gốm xanh vỡ nát, ánh mắt chàng ta theo dõi sát Oanh Ca chiến đấu với những người áo đen, khuôn mặt lạnh băng lộ vẻ thất kinh.
                      Oanh Ca đã phóng lên không, bóng trường đao lại lóe lên trong chùm tin nước vọt cao, dáng cô phóng lên giống như con bướm tím phá kén chui ra. Tôi đến gần Mộ Ngôn: “Cô ấy sẽ bị thương”, mối lo của tôi chưa bao lâu đã được giải tỏa khi mấy hộ vệ mặc thường phục bên cạnh Dung Tầm nhảy xuống tầng một tham chiến. Tôi chăm chú nhìn Oanh Ca, mặc dù đã thấy Dung Tầm tham chiến, tay vung trường đao vào người áo đen vẫn không một chút bối rối. Cô quả là một sát thủ đầy bản lĩnh.
                      Khi người áo đen cuối cùng mất mạng rơi xuống nước dưới trường đao của Oanh Ca, trường kiếm trong tay Dung Tầm lại lật trở lại hướng vào mũ sa của cô, cự ly nửa cánh tay, vốn không thể sơ sẩy, nhưng cô đã khéo léo xoay người đứng trên mép thuyền, sau lớp mạng không nhìn rõ nhưng có lẽ cô đang quan sát người đàn ông trước mặt. Gió sông ù ù, rèm sa bay phần phật, tựa như có một dải mây màu tím bỗng hé ra ở đường chân trời lúc ngày tàn.
                      Trường dao trong tay cô kề cổ Dung Tầm, chàng ta tiến lại gần, chỗ lưỡi kiếm cứa vào da rỉ ra một vệt máu. Trong tiếng gió ù ù vị công tử phong lưu hơi cau mày, nói như than: “Là em sao, Nguyệt nương?”. Thanh đao trong tay cô thu lại, không trả lời, quay người nhảy xuống mặt sông sủi nước đục ngầu, Dung Tầm vội giơ tay kéo lại, nhưng chỉ túm được một mảnh rèm sa. Một tiếng ùm vang lên, thị vệ bên cạnh kêu to: “Mau cứu lão gia, lão gia không biết bơi!”.
                      Tôi đứng ngây ra nhìn, tất cả cảnh tượng vừa diễn ra chỉ có thể mô tả bằng hai chữ “quá đẹp” rồi lập tức lại nghĩ hỏng rồi, “Chúng ta đã mất dấu vết Oanh Ca”.
                      Mộ Ngôn đã ngồi xuống rót trà vào cốc, nói vẻ nghiêm túc: “Oanh Ca cô nương mặc dù là sát thủ cao cường, nhưng với trình độ theo dõi của tôi, có lẽ không thành vấn đề, vấn đề là vướng cô, trình độ phải chia đôi, thực lực giảm không ít”.
                      Tôi buông chiếc cốc quay người đi xuống lầu: “Núi cao không đổi, sông dài vẫn chảy, hôm nay chia ly, sẽ là mãi mãi”. Bị chàng kéo lại, “Tôi không định theo cô ta suốt dọc đường, một sát thủ như vậy, chỉ cần cô ta hơi sinh nghi là lập tức thoát khỏi chúng ta, như vậy chẳng phải bao công sức vừa rồi đi tong, cho nên mới mua con chim này, cô có nghe nói thuật theo dõi bằng cách dùng bột hoa tây mộc chưa, giấu bột đó trong người kẻ bị theo dõi, dù người đó đến chân trời góc bể con chim này cũng sẽ theo mùi hoa mà tìm được”.
                      Tôi lắc đầu: “Chưa từng nghe nói”.
                      Chàng gật đầu: “À, cũng phải thôi, đó là thuật theo dõi do tổ tiên chúng tôi truyền lại, người ngoài làm sao biết”.
                      Tôi “...”.
                      Thuyền cập bến, chỉ thấy Dung Tầm, không thấy Oanh Ca.
                      Địa điểm đến là thành Tùy Viễn ở biên giới nước Triệu, chúng tôi đi vào thành, chờ Oanh Ca đến, nghe Mộ Ngôn nói, nếu Oanh Ca vào thành, con chim nhất định phát hiện được. Nhưng điều rắc rối là, nếu gặp chim mái con chim đực trong lồng cũng có phản ứng như vậy, thật hết cách, đành chờ xem sao, bởi vì loài chim hiếm này đâu dễ gặp.
                      Tôi cảm thấy nếu đi lâu dài với chúng tôi, nhất thiết phải đặt cho con chim một cái tên, nghĩ một lát, tôi hỏi Mộ Ngôn: “Huynh thấy gọi nói là Tiểu Hắc được không?”.
                      Chàng trợn mắt “Cô dám?”.
                      Mới sực nhớ ra, hồi đầu tôi đặt tên cho chàng là Tiểu Lam.
                      Sau đó không lâu, lại nhận được thư của Quân Vỹ do chim bồ câu đưa đến. Mộ Ngôn tỏ ra kinh ngạc khi thấy tôi có thể nhận được thư trên đường đi, nhưng cơ chế vận hành của con bồ câu thực ra cũng gần như con chim đen của chàng, như vậy cũng dễ giải thích. Tôi mở thư ra xem. Nét chữ rồng bay phượng múa, vẫn mở đầu như sau:
                      “A Phất tiểu muội của huynh, xa cách bấy lâu, huynh nhớ muội vô chừng, muội có nhớ huynh chăng?
                      Ngủ trưa chiêm bao, mơ thời thơ ấu, huynh đến vương đô thăm muội, tay trái dắt Tiểu Hoàng tay phải cầm cây thương, tứ bề quạnh quẽ, lệ rơi hàng ngàn. Buồn thay!
                      Mấy hôm trước ngủ trưa, vẩn vơ nhớ muội, từ mắt đến tim, nhớ nhung chở mấy thuyền cho đặng, đang lúc mơ màng túi tiền bị người ta lấy mất...
                      Huynh nghĩ rất nhiều, chuyện này muội tự làm, muội nên tự chịu...”.
                      Mộ Ngôn hỏi: “Viết gì vậy?”. Tôi nói: “Anh ta ngủ trưa, không cẩn thận bị kẻ trộm lấy mất tiền, sau đó Tiểu Hoàng không chịu mãi nghệ, anh ta đành đem Tiểu Hoàng cầm cố cho một vườn thú, bảo tôi dùng con bồ câu này chuyển ngân phiếu cho anh ta”.
                      Mộ Ngôn lục hầu bao lấy ngân phiếu, tôi ngăn lại: “Không cần”. Tôi viết hồi âm cho Quân Vỹ: “Nội trong mười ngày nếu không chuộc Tiểu Hoàng ra, muội sẽ bán huynh cho kỹ viện, mong huynh sớm lo liệu”. Đợi thư khô mực, cuộn lại cho vào ống trúc nhỏ, buộc vào chân chim bồ câu thả cho bay, chuyện vậy là giải quyết xong.
                      Chúng tôi thu xếp chỗ ở trong thành Tùy Viễn, ở liền năm ngày. Chập tối ngày thứ sáu, con chim đen trong lồng bỗng hưng phấn khác thường, có thể quanh đây xuất hiện con chim mái, cũng có thể cuối cùng Oanh Ca đã vào thành, quả thật không biết thế nào.
                      Mộ Ngôn lặng lẽ quan sát màn đêm xung quanh, mở lồng chim, con chim đen lập tức xông ra, giương cánh bay vút lên, chúng tôi đuổi theo sau. Tôi thấp thỏm, không nén nổi hỏi Mộ Ngôn: “Huynh nói xem, sao nó hưng phấn thế? Có phải đã đánh hơi thấy bạn tình?”.
                      Mộ Ngôn không ngoái đầu: “Sao có thể”.
                      Tôi thở dốc chạy theo chàng: “Nhỡ thật thì sao”.
                      Chàng thản nhiên: “Thì làm thịt nó hầm cho cô ăn”.
                      Con chim trên trời giật mình kêu oác một tiếng.
                      Một canh giờ sau, quả nhiên phát hiện Oanh Ca ngã gục trên đám cỏ ở ven sông, toàn thân ướt sũng, cũng không biết năm ngày vừa rồi đã xảy ra chuyện gì.
                      Tôi còn nhớ vết thương trên vai cô, vội mở lớp vải băng dính kết, thấy một vết thương rất đáng sợ đã trắng nhợt vì ngấm nước sông.
                      Đêm đó chúng tôi ở lại một y quán phía bắc thành.
                      Lão đại phu kiểm tra vết thương, lấy ra thuốc tốt nhất của y quán, đem sắc với nhân sâm dùng thìa bón từng miếng cho Oanh Ca. Bón được quá nửa bát thuốc, cô vẫn chưa tỉnh, cơn sốt vẫn chưa hạ, trong mê sảng miệng liên tục lắp bắp nói gì chúng tôi không hiểu, dường như đang rơi vào ác mộng khủng khiếp nào đó.
                      Lão đại phu nói đại ý rằng nếu sáng hôm sau cô nương này vẫn không tỉnh, thì chỉ còn cách ra cổng sau rẽ phải, bên hàng xóm có cửa hiệu bán quan tài, cũng kiêm luôn lo liệu tang sự.
                      Chúng tôi hiểu ý tốt của lão đại phu, nhưng Oanh Ca tuyệt đối không thể chết ở đây. Cô chết, trước hết chúng tôi phải mua quan tài, sau đó đi tìm mua chỗ chôn cất, thuê người đào huyệt... việc nào cũng phải bỏ tiền, thật hậu họa vô cùng. Kế sách hiện nay là vẫn dùng kế cũ, đi vào giấc mơ của Oanh Ca, đưa cô ra khỏi ác mộng trước bình minh.
                      Tôi cảm thấy yêu một người nhất thiết phải trân trọng người đó, có nghĩa là không thể để Mộ Ngôn gặp bất kỳ nguy hiểm nào, nhưng tôi vẫn không kìm được đưa chàng vào mộng cảnh đầy nguy hiểm, điều đó làm tôi sợ, tôi biết trong tiềm thức, tôi vẫn muốn để chàng chết, chỉ không ngờ lý trí đã bị tiềm thức đánh bại nhanh như thế.
                      Nói cách khác, lý trí con người xưa nay đa phần không thắng nổi tiềm thức. Thắng được tiềm thức họa chăng chỉ có những bậc tu hành.
                      Đã nghe thấy tiếng trống điểm canh, bước vào mộng kiều nhìn về xa, không như cảnh đổ nát chia ly lần trước, lần này giấc mộng của Oanh Ca rất liền mạch cũng rất rõ ràng.
                      Nhất định phải tìm ra bí ẩn trong nội tâm của cô, hóa giải bí ẩn đó, mới có thể đưa cô trở về thuận lợi, chúng tôi không thể không bỏ thời gian lần theo dấu vết câu chuyện. Trong lòng bao hồ nghi thắc mắc, có những điều đã được giải đáp, nhưng vẫn chưa thể làm rõ bí ẩn của Oanh Ca thực ra là gì, mỗi nút thắt của câu chuyện này xem ra đều có khả năng giúp tìm ra bí ẩn đó. Đó chính là số phận của một sát thủ, một số phận bi thảm như thế nhắc người đời quả thật không thể suốt đời sống bằng nghề sát thủ.
                      Câu chuyện bắt đầu từ năm thứ bảy sau khi Cảnh hầu lên ngôi.
                      Năm Cảnh hầu thứ bảy, mùa xuân đã đi được quá nửa, hoa trên cành đã rụng lác đác.
                      Oanh Ca hai mươi tuổi là sát thủ giỏi nhất đình úy phủ, bắt đầu từ năm mười sáu tuổi lần đầu tiên giết người, bốn năm nay, bao người đã bỏ mạng dưới đoản đao của cô.
                      Những năm tháng đẹp nhất của đời con gái trôi qua trong màu đỏ choáng váng của máu tươi, trong mùi tanh và phế khí, dung mạo đẹp dần lên nhưng quanh năm làm bạn với đoản đao trường kiếm, chút yếu lòng cuối cùng trước phút sinh tử đã bị xóa sạch không còn dấu vết, từng cử chỉ, động tác, nụ cười đều lạnh toát như thanh lợi kiếm.
                      Những kẻ ăn người ở trong Dung phủ đều sợ cô, không ai dám nói chuyện với cô, cho nên cô thường xuyên vò võ một mình, không một ai lai vãng thăm hỏi, mọi việc đều tự làm. Có điều như thế cũng không hoàn toàn là không tốt, ít nhất lúc xem tiểu thuyết cũng không bị ai quấy rầy.
                      Trái ngược hoàn toàn, rõ ràng mặt mũi giống hệt nhau, Cẩm Tước được đón vào Dung phủ sau khi bà nội qua đời lại khiến người ta vừa nhìn đã yêu, nhân khí không mập mờ như Oanh Ca.
                      Tổng kết nguyên nhân, một là Cẩm Tước hay cười, lúc nói chuyện chưa nói đã cười, như một đóa hướng dương nở bừng trong ngày mưa, xinh đẹp, lại sạch sẽ. Hai là, Cẩm Tước thích giúp đỡ mọi người, nhổ cỏ giúp thợ vườn, nấu cơm, giặt giũ giúp nhà bếp, lại còn nhiệt tình dạy các cô hầu thêu thùa vá may.
                      Cẩm Tước bình dị dễ mến, có tất cả những đức tính tốt đẹp của một thiếu nữ mười bảy tuổi. So với cô em, Oanh Ca không hề biết nữ công là gì, chỉ duy nhất biết giết người, mà giết người rõ ràng không được coi là nữ công, nếu cũng được lớn lên bình thường như các cô gái khác, như cô em mỗi tháng có tiền của chị gửi về, đương nhiên những việc nấu ăn thêu thùa cô đâu chịu kém ai.
                      Nhưng cô không bận lòng, chín năm trước Dung Tầm nhặt được cô, Dung Tầm là ân nhân của cô, chàng ta muốn cô trở thành như thế nào thì cô sẽ cố trở thành như thế. Ví dụ cô nhìn thấy máu là choáng, nhưng lại trở thành sát thủ. Ví dụ cô sợ sấm, nhưng lại có thể thản nhiên ra tay lấy mạng sống của người khác trong tiếng sấm ầm ầm.
                      Ngày mười bảy tháng tư, sinh nhật lần thứ hai mươi tư của Dung Tầm.
                      Mưa xuân dai dẳng. Oanh Ca bị thương trong khi đi làm một vụ việc ở nước Triệu, cánh tay bị trúng một nhát kiếm dài khá hiểm, lẽ ra nên nghỉ ngơi chữa trị, nhưng lại nhớ sinh nhật Dung Tầm, cô đi suốt ngày đêm, vội vàng gấp gáp trong bảy ngày kịp về thành Tứ Phương trước một ngày, ngày mười sáu tháng tư.
                      Nước Triệu có đặc sản đồ gốm trắng, cô muốn tự tay làm một món đồ gốm từ nước Triệu mang về tặng sinh nhật Dung Tầm, đáng tiếc là vết thương quá nặng, tay lóng ngóng cử động đau đớn khó khăn, học theo sư phụ mấy ngày mới gắng làm ra một cái cốc trông là lạ, uống rượu thì hơi lớn, uống trà lại hơi nhỏ, không biết gọi là gì.
                      Nhưng màu sắc rất đẹp, nhẵn bóng sáng long lanh, thoạt nhìn biết ngay không tầm thường. Cô dùng vải lụa bọc kỹ mấy lớp, đi bảy ngày đường mang về thành Tứ Phương, vừa bước vào Dung phủ đã nóng lòng chạy ngay đến phòng Dung Tầm muốn khoe với chàng.
                      Mọi người đều nói Oanh Ca lạnh tình, người lạnh tình khi bộc lộ tính trẻ thơ thực ra là đáng yêu vô cùng.
                      Mưa rất to, cây ngô đồng trước sân tán lá che kín cả khoảng trời, những trận sấm xuân ẩn sau tán lá sum suê, hoa ngô đồng run rẩy trong mưa. Người hầu đứng ở cửa đưa cho cô chiếc ô, cô cởi áo ngoài bọc lại chiếc cốc đã được bọc mấy lần vải lụa, miệng cười mãn nguyện, tay giương ô đội mưa đi vào.
                      Không cho hầu nữ ở phòng ngoài bẩm báo, cô muốn dành cho chàng một bất ngờ, đang thầm nghĩ chàng nhìn thấy cô lúc này sẽ như thế nào, hàng lông mày sẽ nhướn cao ra sao, môi giãn ra nụ cười nửa có nửa không thế nào, thậm chí nghĩ đến câu đầu tiên chàng nói khi nhìn thấy cô: “Sao về nhanh thế, đi đường có vất vả không?”.
                      Đường xa, ngựa phóng gấp, bụi đường còn bám trên áo choàng, cô cởi áo choàng, trao chiếc ô cho cô hầu, chỉ ôm chiếc cốc, nhanh nhẹn lách qua cánh cửa phòng khép hờ. Chân trời lóe lên một tia chớp, giống như cây kiếm bạc trong tay thần sấm vung lên trong màn đêm mênh mang. Trong ánh chớp, nhìn Dung Tầm đứng trong thư phòng sau án thư đang cúi đầu viết gì đó.
                      Ngoài ra, trong thư phòng của chàng vốn rất ít người được bước vào, cô em Cẩm Tước cũng chống cằm tư lự ngồi bên án thư.
                      Trong phòng rất yên tĩnh, có thể nghe thấy tiếng ngòi bút lông cáo đi trên giấy, Dung Tầm chăm chú viết một hồi, ngẩng đầu nhìn Cẩm Tước, ánh mắt như cười: “Hai chữ này là Cẩm Tước, tên của nàng”.
                      Cẩm Tước tò mò đứng lên, ngắm nghía tờ giấy: “Vậy hàng chữ nhỏ bên cạnh là gì...”. Lời chưa dứt đã hốt hoảng bịt tai, miệng hét lên cùng với tiếng sấm đột nhiên bùng nổ phía chân trời, người run run, ngồi sụp xuống đất.
                      Dung Tầm tay đang cầm bút, sững người nhìn cô, giơ tay kéo cô lên: “Lớn thế này vẫn sợ sấm ư?”. Chưa dứt lời, một tiếng sấm nữa lại nổ vang, Cẩm Tước vừa được kéo đứng lên, lại bịt tai lùi về sau, chân va vào án thư suýt ngã, chàng đã kịp thời giơ tay kéo cô vào lòng, tránh cho cô khỏi va vào góc án thư, cau mày: “Sao lại không cẩn thận thế”.
                      Hồi lâu sau, chàng vẫn không buông ra. Hai tay Cẩm Tước vẫn bịt tai.
                      Có những thứ càng cố giữ càng không giữ được, giống như tình yêu của Oanh Ca, giống như chiếc cốc gốm trong tay cô. Phòng ngoài một tiếng động nặng nề vang lên, Cẩm Tước đột nhiên mở mắt, ánh mắt dừng lại trên đường gấu váy ở ngưỡng cửa thư phòng.
                      Trên giá nến đồng chỉ có một ngọn nến đang cháy, trong phòng ánh sáng lờ mờ. Trong ánh sáng lờ mờ đó, giọng Dung Tầm nhàn tản: “Ai?”.
                      Chân váy tím di chuyển, xiêm y gấm sột soạt như tiếng lá ngô đồng trước sân vào một ngày nắng đẹp có gió, Oanh Ca toàn thân váy tím đứng ở cửa phòng, mái tóc rối dính nước mưa bết vào trán, vào hai má, sắc mặt lạnh như nước mưa tháng tư.
                      Lại một tiếng sấm bùng nổ, như chiếc búa khổng lồ đập nát bầu trời, Cẩm Tước run lập cập trong lòng Dung Tầm, vội đẩy mạnh chàng ra, loạng choạng ngã xuống đất, chàng lại nắm tay cô, lửa nến ánh lên ống tay áo tím thêu hoa mộc lan.
                      Sau khi dìu Cẩm Tước đứng lên, Dung Tầm ngẩng đầu nhìn Oanh Ca đứng ở cửa thư phòng, dường như bấy giờ mới phát hiện ra cô: “Sao về nhanh thế, đi đường có vất vả không?”. Câu nói đúng như cô đoán, một chữ không sai.
                      Cô nhìn chàng, trên khuôn mặt lạnh hiện ra nụ cười, nụ cười đó lan dần đến góc mắt, giống hệt một cây khô đang từ từ nở hoa. Vẻ phong tình lộ trên khuôn mặt, giả dối như một gái lầu xanh lão luyện, khiến khách làng chơi nổi giận.
                      Nụ cười phong tình đó ẩn dưới hàng mi như cánh bướm, chưa lan đến đáy mắt: “Công việc xong sớm, nên trở về sớm”.
                      Trong phòng tĩnh mịch, Dung Tầm ngẩng đầu nhìn cô, lại cầm lên chiếc bút lông: “Vậy nghỉ ngơi đi”. Mắt liếc nhìn bọc vải trên đất, “Cái gì kia?”.
                      Cô quay người định đi, nghe vậy nhặt lên bọc vải vừa rồi đánh rơi, dừng một lát nói: “Không có gì, những thứ không quan trọng nên vứt đi”.
                      Công việc ở nước Triệu xử lý nhanh chóng, gọn gàng, Dung Tầm thưởng cho Oanh Ca ngôi nhà lớn bên đầm sen gọi là Thanh Đầm cư, món quà thưởng quả thực quá hậu, tự cổ chí kim mọi vật đều biến động thất thường, duy chỉ có nhà đất không ngừng tăng giá.
                      Trong Dung phủ, Thanh Trì cư chỉ đứng sau Thanh Ảnh cư nơi ở của Dung Tầm, có nghĩa là hai toà viện lớn như vậy để phù hợp đối xứng trong thẩm mỹ kiến trúc, nhất định phải thiết kế ở hai đầu đông tây hoặc nam bắc trong phủ đệ, tóm lại tuyệt nhiên không thể tọa lạc cạnh nhau. Oanh Ca chuyển khỏi Tập Âm các sát bên tẩm cư của Dung Tầm, chuyển đến Thanh Trì cư cách Dung Tầm mười vạn tám ngàn dặm.
                      Cô sống sáu năm trong Tập Âm các, từ năm mười bốn tuổi đến năm hai mươi tuổi, cuối cùng chuyển ra ngoài, còn vị khách chuyển đến Tập Âm các thế chỗ cô là cô em Cẩm Tước.
                      Có một dạo người trong Dung phủ xì xầm bàn tán đủ kiểu. Có người cho rằng Oanh Ca đã bị thất sủng hoàn toàn, nhưng lại thấy, nếu đã bị thất sủng như vậy Dung Tầm không thể thưởng cho cô một ngôi nhà lớn như thế, về sau lại có tin nói, căn nhà đó có thể là Dung Tầm bù đắp cho Oanh Ca để chia tay.
                      Lại có tin, Dung Tầm yêu Cẩm Tước, nhưng ở đời phàm một người đàn ông vì một người đàn bà mà bỏ một người đàn bà chỉ có thể có một nguyên nhân, người đàn bà thứ hai phải cực kỳ giầu có lại rất đẹp, nhưng Cẩm Tước và Oanh Ca giống hệt nhau, nếu Dung Tầm thật sự vì Cẩm Tước mà bỏ Oanh Ca thì quả khó lý giải.
                      Về sau người ta lại cho rằng tình cảm vốn là chuyện mơ hồ, thế giới tình cảm của đàn ông càng mơ hồ, nếu không là đàn ông có lẽ mãi mãi không thể lý giải. Có điều, theo cách nói đó, đàn ông và đàn bà ở với nhau vĩnh viễn không thể hòa hợp bằng đàn ông ở với đàn ông, bởi vì cơ hồ chỉ có đàn ông với nhau mới dễ hiểu nhau. Vậy là lý lẽ khi phát triển đến nước này, người ta đành bỏ cuộc.
                      Trong khi Dung phủ không ngớt bàn tán xung quanh sự việc này thì hai trong số ba người trong cuộc lại tỏ ra vô cùng điềm tĩnh.
                      Dung Tầm thân ở ngôi cao, xưa nay vốn điềm tĩnh. So sánh hai người, sự điềm tĩnh của Oanh Ca càng khó hiểu. Hầu như tôi chưa từng thấy cô tỏ ra bối rối, cho dù cái đêm lọt vào phòng tôi, trong khi mơ mặt đầy nước mắt, nhưng không hề khóc lóc thở than. Người duy nhất không thể bình tĩnh là Cẩm Tước.
                      Hôm Oanh Ca chuyển khỏi Tập Âm các, Cẩm Tước đứng đợi cô ở bên ngọn giả sơn trên con đường thông đến Thanh Trì cư, mặt tiều tụy, đôi mắt hay khóc không một chút khí sắc, nhìn chị gái đăm đăm: “Sao chị không mắng em? Sao không trách em, có phải chị, có phải chị ghét em, ghét em...”.
                      Lời chưa dứt đã nước mắt chứa chan, ướt đẫm vạt áo, phía trên những đám hải đường đỏ cháy như lửa. Cô lao vào lòng Oanh Ca, ép cô vào vách hòn giả sơn, níu lấy cổ cô, giống như hồi nhỏ, nước mắt đẫm má.
                      Oanh Ca bị cô ôm riết, cuối cùng cúi đầu nhìn cô, trong tròng mắt đen thẳm in hình khuôn mặt cô em, như hai bông hải đường trên một cành. Cẩm Tước nghẹn ngào: “Chị, chúng ta hãy rời khỏi đây, Dung Tầm không phải là người tốt với chị đâu”.
                      Oanh Ca dựa lưng vào hòn giả sơn, trên chiếc váy dài gấm màu tím thêu những con bướm vờn hoa, một cảnh xuân sắc ngời ngời ở trên người cô lại trở nên lạnh lẽo đìu hiu. Cẩm Tước ôm chặt cô khóc nức nở. Đầu cô gối lên một mỏm đá nhô ra trên hòn giả sơn, hơi hếch cằm, nhìn bầu trời xanh miên viễn trên cao, khẽ cười: “Em có biết, sát thủ được Dung gia nuôi nếu rời bỏ chủ, hậu quả sẽ thế nào? Năm năm qua vì Dung gia chị đã gây cho mình biết bao kẻ thù”.
                      Cô em nép chặt vào người chị ngẩng đầu: “Kiếm cớ, chị không muốn đi bởi chị thích Dung Tầm phải không?”.
                      Hơi lạnh tụ trong mắt Oanh Ca.
                      Cẩm Tước vẫn ôm riết cô, răng đánh vào nhau lập cập: “Em sẽ chứng minh cho chị, chàng ta tuyệt đối không đối tốt với chị”.
                      Tay cô định đặt lên vai cô em, lại buông thõng, vẫn hơi ngẩng đầu, trong mắt ánh lên sắc hoa hải đường đỏ chói, giọng dửng dưng: “Cẩm Tước, bấy lâu nay chị không ở bên em, em buồn lắm phải không?”.
                      Sự chứng minh của Cẩm Tước đến rất nhanh, nhanh như con dao trong tay Oanh Ca, giả sử trong những việc khác cũng hiệu quả như vậy thì Cẩm Tước sớm đã thành một thiếu nữ tự cường.
                      Có điều, tiền đề là thích khách đêm mười sáu tháng năm đó chính là do cô em bố trí. Nhưng như vậy có vẻ như nghĩ về người khác quá xấu, có lẽ tất cả chỉ là ý trời, Cẩm Tước chẳng qua mượn ý trời.
                      Ý trời để cho khóm hoa trong hoa viên Dung Phủ nở đúng đêm đó, ý trời để Dung Tầm đột nhiên nổi hứng đưa Cẩm Tước đi dạo hoa viên ngắm trăng, ý trời để Oanh Ca không ngủ được, đang đêm chạy đến mài dao trên bậc cầu ao trước hoa viên, ý trời để thích khách đột ngột xuất hiện khi ba người họ không hẹn mà nên ánh mắt gặp nhau.
                      Phải nói, chức đình úy cai quản lao ngục Trịnh quốc của Dung Tầm khiến chàng ta luôn có thích khách viếng thăm, chuyện thích khách nhảy vào phủ mọi người đã quen, chẳng có gì đáng ngạc nhiên, chỉ có điều mục tiêu lần này của thích khách không phải là Dung Tầm, dưới ánh trăng, bóng kiếm như một con rắn lao thẳng vào Oanh Ca đang cúi xuống cầu ao.
                      Nhát kiếm đó nhanh đến mức hầu như không thể tránh, nếu Oanh Ca không phải là sát thủ lão luyện, có thể đã mất mạng ở đây, may mà ngày ngày cô nghiên cứu cách giết người, cũng nghiên cứu cánh tránh kẻ địch giữ mạng sống, theo bản năng cô lăn lên bờ ao, thoát được.
                      Đối với thích khách, sau nhát kiếm đó đã mất thế chủ động, không dễ lấy lại. Chính lúc Oanh Ca cầm dao kháng cự, một đường kiếm khác đã nhằm thẳng lưng Dung Tầm đâm tới.
                      Khi đó tôi mới phát hiện hóa ra có hai thích khách hành sự, người trước chỉ khống chế Oanh Ca, người sau mới là người ra tay thực sự. Nhưng điều tôi không biết là thân thủ của Dung Tầm vượt xa Oanh Ca.
                      Thích khách áo đen kinh hoàng cúi nhìn mũi trường kiếm xuyên qua ngực mình, dường như không tài nào hiểu nổi, tại sao đình úy đại nhân vừa rồi còn quay về phía mình túm lấy cô gái áo hồng, vậy mà trong nháy mắt đã lấy đi tính mạng của mình. Nhưng mắt lóe lên tia ác độc cuối cùng, lật thanh kiếm trong tay lao vào Oanh Ca đang đấu với thích khách kia. “Chị!”. Tiếng hét thất thanh xé màn đêm hoa viên, Cẩm Tước vừa kêu vừa chạy vụt về phía thanh kiếm đang phi tới. Thanh kiếm đang đà đâm thẳng vào bụng phát ra một tiếng “bụp” nặng nề.
                      Cùng lúc đó, đoản đao của Oanh Ca đã xuyên qua cổ thích khách, đoản đao của thích khách cũng đồng thời đâm trúng hõm vai cô, ngập tới tận chuôi. Máu trào ra thấm xuống ngực, may trên người cô mặc màu áo tím sẫm nên cũng không rõ lắm, cô ngước nhìn về phía vừa phát ra tiếng kêu, thấy Dung Tầm hay tay run run ôm lấy Cẩm Tước trong vũng máu.
                      Chưa bao giờ nhìn thấy chàng thất thần như vậy, thực ra mũi kiếm đó đâm vào bụng, nhìn có vẻ nghiêm trọng, nhưng không trúng chỗ hiểm, năm mười tám tuổi cô cũng đã bị thương như vậy, nằm nghỉ mấy tháng là khỏi, chỉ có điều rất đau.
                      Cẩm Tước rên rỉ như con mèo trong lòng chàng: “... Đau... em đau...”.
                      Mặt Dung Tầm ghé sát mặt cô, giọng khàn khàn, nhỏ nhẹ: “Đừng sợ, có ta ở đây, lập tức đưa em đến đại phu, ngoan nào, cố chịu một chút”. Rồi thận trọng bế cô lên.
                      Cẩm Tước sục sùi: “Chị... chị.”. Dung Tầm cau mày, lúc này mới ngoái nhìn Oanh Ca.
                      Oanh Ca mặt tái nhợt, gượng cười, cố đi đến gần: “Chị đây”. Dừng lại một lát: “Chị không sao”.
                      Cẩm Tước nghe vậy gật đầu yên tâm rồi ngất đi, nhưng người Dung Tầm run run, nỗi kinh hoàng như sắp mất báu vật quý nhất đột nhiên xuất hiện trong mắt.
                      Oanh Ca sững người, lơ đãng nhìn chàng, “Không nghiêm trọng đâu, cô ấy chỉ bị choáng do nhìn thấy máu thôi”. Nhưng Dung Tầm cơ hồ không nghe thấy, cũng không nhìn cô, quay người bế Cẩm Tước đi thật nhanh.
                      Cô nhìn theo bóng chàng, cuối cùng kiệt sức, ngã khụy, sau đó một mình nằm trên bờ ao, gấu váy chấm mặt nước, trông như chiếc lá sen lớn màu tím, con dao găm lại cắm sâu hơn vào da thịt, khi cô ngã xuống, cuối cùng cô mới bật rên một tiếng, mắt mở to nhìn bầu trời đầy sao, nghĩ đến lời nói của Dung Tầm trong sinh nhật lần thứ mười sáu của cô: “Nguyệt Nương, vì ta, hãy trở thành sát thủ tốt nhất của Dung gia”.
                      Cô cười thành tiếng: “Cuối cùng chàng đã không cần tôi nữa”.
                      Không có tiếng trả lời, chỉ thỉnh thoảng có tiếng côn trùng kêu. Cô thôi cười, giơ tay, nhìn kỹ mười ngón tay dính máu: “Thực ra, mình rất ghét, rất ghét giết người”.
                      Dưới bầu trời sao, trên mặt ao đột nhiên có mấy bông hoa súng trắng hé nở, ánh trăng bạc màu trải trên mặt ao, những bông hoa súng thấm đẫm ánh trăng trông như hoa mùa thu làm từ băng tuyết. Oanh Ca nằm trên bờ cỏ, bên cạnh là mặt nước với mấy bông hoa súng trắng, từ từ nhắm mắt, giơ tay đè lên đó, nước mắt lặng lẽ rỉ ra từ kẽ ngón tay, lát sau tay vừa buông, mắt lại phẳng lặng như hồ thu, không chút xao động.
                      Đó là phút yếu mềm của một sát thủ, dẫu yếu mềm, cũng yếu mềm ở nơi không ai nhìn thấy, ngay chính mình cũng không nhìn thấy.
                      Vết thương của Cẩm Tước quả nhiên không nghiêm trọng, nhưng thể lực không bằng cô chị, vẫn phải nằm hơn một tháng, từ đó Dung Tầm ít gọi Oanh Ca theo hầu, giống như Dung phủ chưa từng có cô.
                      Nghe nói một số sát thủ khi đi làm nhiệm vụ muốn Oanh Ca cùng phối hợp, chủ động nói với Dung Tầm, mặt chàng lạnh lùng: “Dung phủ không có những hộ vệ không thể bảo vệ chủ, càng không có những hộ vệ phải nhờ người khác che chắn”. Chàng vứt bỏ cô như vậy, thậm chí còn không nói một tiếng.
                      Chàng là chủ, cô là tớ. Từ cái đêm chàng cứu cô, cô đã trao tính mạng cho chàng, chàng cũng chỉ coi như nắm trong tay một tính mạng, một thứ thuộc về mình, cần thì dùng, không cần thì vứt, không hề nghĩ đó là một trái tim chân thật độc nhất trên đời.
                      Tháng chín là mùa chim nhạn, vương thất tổ chức đi săn. Cẩm Tước cuối cùng đã bình phục hẳn, Dung Tầm sợ cô ở lâu trong phủ buồn chán, đưa cô đi chơi cho khuây khỏa. Có lẽ là giờ xuất hành không tốt, ngay chuyến xuất phủ đầu tiên đã xảy ra chuyện. Tuy nhiên chuyện chẳng có gì lạ, chỉ trách Dung Tầm sơ suất, có tài không nên lộ ra, tài nữ cũng không nên lộ diện, huống hồ Cẩm Tước lại đa tài như vậy.
                      Trong buổi đi săn, con báo gấm bé tí của Cảnh hầu vương Dung Viên không may bị trúng mũi tên vu vơ nào đó, đúng lúc gặp Cẩm Tước đang lạc đường bắt gặp, cứu chữa, xem ra chỉ là người tốt việc tốt, nhưng ngày hôm sau, con báo gấm với chi trước băng bó cẩn thận được một người trong cung ôm đến Dung phủ.
                      Phụ thân của Cảnh hầu vương là Thanh hầu do một con báo gấm mà nên duyên với mẫu thân Cảnh hầu là Hạ Mạt phu nhân, đó là mối lương duyên đẹp đẽ truyền khắp Trịnh quốc, con báo gấm nhỏ xinh bên cạnh Dung Viên là cháu của con báo gấm năm xưa, đưa nó đến Dung phủ, ý tứ của Dung Viên thế nào, khỏi nói ai cũng rõ. Nói đơn giản nghĩa là Cảnh hầu vương thích Cẩm Tước, ngầm ý bảo Dung Tầm đưa mỹ nhân đó vào cung.
                      Đang đêm, Oanh Ca nhận được mật thư của Dung Tầm, đó là lần đầu tiên trong ba tháng liền, thanh kiếm dài treo trên tường đã lâu không thấm máu, phần nào mất đi sát khí. Sắc mặt dửng dưng, ánh mắt đột nhiên sinh động, lóng lánh như thủy tinh. Bức thư run run trên tay, mãi mới mở được ra. Ánh nến chiếu sáng mực đen giấy trắng, Oanh Ca bình thường lạnh lùng, khó xúc động, khuôn mặt nhuận hồng đột nhiên không còn sắc máu, tia sáng long lanh trong mắt tắt ngấm, tay bám góc bàn lảo đảo, rất lâu sau mới bật cười một tiếng, trong đôi mắt đen in một hàng chữ rồng bay phượng múa, thanh thoát mà cứng cáp: “Thay Cẩm Tước vào cung”.
                      Cô cầm bức thư rất lâu, rồi đưa nó lại gần ngọn nến, lưỡi lửa liếm một cái, nháy mắt biến thành tro.
                      Đêm đó trăng hiện ra trên nền trời sao mờ như bụi. Thanh Ảnh cư của Dung Tầm lại một lần nữa đón thích khách, chủ nhân Dung Tầm không hổ danh là đại thần bị ám sát nhiều nhất đương triều, điều đó cho thấy chức đình úy quả thật nguy hiểm. Ánh trăng nhảy múa trên tán cây ngô đồng, lá xào xạc ngân nga như hát. Dung Tầm lặng lẽ đứng bên án thư, trong tay vẫn cầm nghiên mực, nến bị gió quạt tắt, từ lõi vừa tắt bốc ra làn khói xanh, đao của Oanh Ca kề sát cổ chàng.
                      Chàng ngẩng đầu nhìn cô: “Không ngờ, đao của em lại có ngày kề vào cổ ta”.
                      Cô cười: “Tôi cũng không ngờ”.
                      Gió đập cánh cửa lách cách, cô khẽ nghiêng đầu, thần sắc trở nên u ám: “Chàng không sợ bởi vì chàng biết tôi sẽ không giết chàng, chàng không tin tôi sẽ giết chàng phải không?”.
                      Chàng không nói, chỉ nhìn cô.
                      Người cô áp lại gần, cơ hồ đầu sắp đặt lên vai chàng, nếu không kể thanh đoản đao kề vào cổ chàng vẫn không một chút lỏng tay thì đó chính là tư thế tình tự âu yếm. Giọng cô nhẹ nhàng: “Tôi cũng không tin”.
                      Giọng dịu dàng nhưng lời hung mãnh, trong chớp mắt cô đã ấn thanh đao vào tay Dung Tầm, cô nắm bàn tay chàng đang cầm chuôi đao, trở mũi hướng thẳng vào ngực mình. Mũi đao nhọn dừng lại trên ngực, máu tươi men theo năm ngón tay nắm chuôi đao của Dung Tầm tụ thành một dòng đỏ, chàng cau mày, trầm giọng phẫn nộ: “Em điên rồi”.
                      Cô nhìn chàng dường như không hiểu, một lát sau như tỉnh ngộ: “Tôi không điên, tôi rất tỉnh, chàng xem, tôi vẫn biết đây không phải là nhát đâm chí mạng”.
                      Giọng cô thanh nhẹ ôn tồn, vang trong đêm: “Dung Tầm, tôi không thể giết chàng. Chàng đã cứu tôi, cứu cả nhà chúng tôi, đại ân như vậy tôi không dám quên, vì chàng chuyện gì tôi cũng làm là để báo ơn, báo ơn cứu mạng, ơn nuôi dưỡng, nhưng chàng để tôi làm chuyện đó, để tôi thay Cẩm Tước vào cung lấy thúc phụ chàng, chỉ bởi chàng không thể xa Cẩm Tước”.
                      Cô dừng lại, nụ cười trên môi trong sáng như hồi mười lăm tuổi, nhưng chỉ trong chớp mắt nụ cười đó lan qua mắt, miên man như ngàn sợi tơ, không biết thật tâm hay giả ý, cô nhìn Dung Tầm, chầm chậm nhắm mắt, tay nắm bàn tay cầm đao của chàng nhằm vào ngực mình: “Giết tôi đi, tôi sẽ được tự do”.
                      Ánh trăng lốm đốm trên tán lá ngô đồng, cô muốn hủy hoại bản thân, tay chàng cũng nắm chặt mũi đao, máu trên năm ngón tay tụ thành dòng nhỏ xuống, giọng chàng vang lên tai cô: “Ta không cần mạng của em. Thay Cẩm Tước vào cung, em giúp ta làm nốt một việc cuối cùng, sau đó em tự do”.
                      Hai mắt cô đột nhiên mở ra, kinh ngạc nhìn thẳng vào đôi mắt mông lung của chàng, cuối cùng nhòe ướt.
                      Tính cô vốn không nhẫn nại, nhẫn nhịn lâu như vậy, chỉ là bởi vì có lý do không thể đau lòng. Một người như thế khóc cũng phải nén, không bật thành tiếng, chỉ có nước mắt lặng lẽ tuôn. Đoản đao rơi xuống đất “cạch” một tiếng, cô nhìn vũng máu nhỏ trên nền đất, khó nhọc ngẩng đầu: “Dung Tầm, có phải chàng cho rằng sát thủ là kẻ không tim?”.
                      Chàng im lặng.
                      Cô từ từ sụp xuống đất, như người kiệt sức, uy phong ngày xưa và vẻ dữ dằn nhất thời hoàn toàn tiêu tan, toàn thân co rúm, run rẩy như một đứa trẻ: “Sao có thể không có tim, tôi đã để nó ở chỗ chàng rồi, nhưng Dung Tầm, chàng để nó ở đâu?”. Lại như hỏi chính mình, “... vứt nó ở đâu?”.
                      Người chàng khẽ run. Lát sau, đưa bàn tay không bị thương cho cô: “Hãy đứng lên đã”.
                      Cô ngây người, mặt lấm lem nước mắt, nhìn chàng nhưng không khóc, hơi cau mày: “Tôi vẫn muốn hỏi một câu, bao năm nay, tôi là gì trong lòng chàng?”.
                      Lát sau, chàng chậm rãi đáp: “Nguyệt Nương, trước nay em làm rất tốt, là thanh đao tốt nhất của Dung gia”.
                      Cô từ từ ngẩng đầu, từ từ đứng lên, sự yếu đuối vừa rồi đã tiêu tan vô hình vô ảnh, hình như sự bi lụy vừa rồi chỉ là ảo giác. Giơ ống tay áo lau nước mắt, xong xuôi lại là một Oanh Ca băng lạnh như xưa. Cô nhìn chàng, như đã quen chàng cả một cuộc đời, lại như chưa bao giờ quen, mắt hé ánh cười lạnh nhạt: “Tôi sẽ làm cho chàng nốt việc cuối cùng, sau đó tôi không nợ chàng gì nữa”.
                      Cô sải bước qua cửa phòng, đến bậc cửa hơi dừng lại: “Dung Tầm, nếu có ngày chàng không yêu Cẩm Tước nữa, xin hãy đối xử tốt với nó, đừng như đối với tôi, nó không giống tôi, không phải là sát thủ”.
                      Từ đó có thể thấy, lòng tin nên thận trọng, không thể tùy tiện đặt lung tung, giống như Oanh Ca mù quáng tin rằng mình là người đặc biệt nhất của Dung Tầm, bởi vì mình là sát thủ tốt nhất của Dung gia.
                      Tự cô đã đánh giá mình quá cao, đánh giá Dung Tầm quá thấp. Điều bất hạnh là từ năm mười một tuổi đến năm hai mươi tuổi, chẵn chín năm cô mới hiểu đạo lý đó. May mắn là cuối cùng cô đã hiểu ra.
                      #11
                        manhbv 24.01.2013 23:10:42 (permalink)
                        Chương 10

                        Một tháng sau, Thanh Trì cư bỗng nhiên có rất nhiều đại phu ra vào, những lão đại phu đó đều bị bịt mắt, từng người thay nhau được cáng đưa vào phòng Oanh Ca, không lâu sau lại được cáng ra. Con lạch thoát nước chảy từ trong ra ngoài có màu bã thuốc, bã thuốc màu nâu mỗi ngày một đậm. Cả Thanh Trì cư vẫn tĩnh mịch như chết trong dòng đời cuộn chảy. Một tháng yên tĩnh như vậy, những vết thương cũ trên cơ thể Oanh Ca đã biến mất như kỳ tích, có thể thấy kỹ thuật chỉnh hình của Trịnh quốc thời đó quả rất cao siêu.
                        Có lẽ Dung Tầm muốn Oanh Ca biến thành Cẩm Tước từ trong ra ngoài. Về cốt cách thì không thể, nhưng ít nhất thân thể phải giống Cẩm Tước, nghĩa là tuyệt đối không thể có một vết sẹo. Cho dù có, cũng không thể là vết đao, vết kiếm, cùng lắm chỉ là vết đứt tay do dao gọt hoa quả gây ra mà thôi, như thế mới giống thiếu nữ xuất thân thanh bạch, đáng để Dung Viên vừa gặp đã yêu.
                        Dung Viên trị quốc xưa nay thái bình, hầu như không xảy ra cố sự. Oanh Ca vào cung trở thành đại sự của nước Trịnh năm đó, các sử quan rất phấn khởi, cũng phải thôi, thử nghĩ, nếu Oanh Ca không vào cung, năm đó họ biết viết gì vào Trịnh sử.
                        Có thể dẫn Mộ Ngôn bước qua mộng kiều vào giấc chiêm bao của Oanh Ca là do viên giao châu khiến tôi và cô thần trí tương thông ở mức độ nhất định, nhưng cho dù vậy, tôi cũng không thể đoán được cái đêm vào cung, Oanh Ca ngồi trong điện Chiêu Ninh phía tây vương cung thực ra trong lòng nghĩ gì.
                        Lúc đó rõ ràng là mùa thu tháng mười, tay cô vẫn cầm chiếc quạt ngà chỉ dùng trong mùa hạ. Đôi mắt bẩm sinh hơi lạnh giờ đây trở nên vừa nhu mì vừa e dè nhẫn nhịn, hoàn toàn không nhận ra bóng dáng sát thủ. Khi cô cầm cái quạt gõ lên đầu con báo gấm dưới chân, ý bảo nó nhích xa một chút, chúng tôi hiểu công dụng cụ thể của chiếc quạt đó, chỉ là chưa kịp nghiên cứu thêm đã thấy Dung Viên xuất hiện ở cửa tẩm điện.
                        Thực ra, từ chỗ tôi và Mộ Ngôn đứng, quả khó có thể nhìn thấy Dung Viên xuất hiện, chỉ cảm thấy bầu không khí khác thường phả đến, ngẩng đầu đã thấy thân hình dong dỏng của Trịnh hầu vương ở ngay trước mặt, làm lu mờ ánh nến trước điện.
                        Điều đó chứng tỏ Dung Viên là mệnh đế vương. Một người khí chất mạnh mẽ tự lộ phát như vậy chính là bậc đế vương, chiếc quạt gõ trên đầu con báo hơi dừng lại, biến thành động tác vuốt ve âu yếm. Đối với Oanh Ca, những vật mềm mại được chia làm hai loại, có thể ăn được và không thể ăn được, nhưng lúc này, trước mặt Dung Viên, trong mắt Dung Viên cô là Cẩm Tước dịu hiền đã cứu con báo, một Cẩm Tước thân thiết ân cần với cả con kiến, còn bản thân cô ghét nhất những trò yểu điệu như cưng nựng vuốt ve động vật, tuy nhiên Dung Viên không biết cô không phải là Cẩm Tước.
                        Do ngược sáng, mặc dù khoảng cách gần mấy thước cũng không nhìn rõ biểu hiện trên mặt Dung Viên, chỉ thấy chiếc áo chùng màu trắng lóng lánh ánh sao, giống như một thân cây màu bạc, mỗi bước đi đều lóng lánh phát sáng trong ánh nến.
                        Oanh Ca miễn cưỡng ôm con báo gấm đang ư ử vùng vẫy trong lòng ngồi bên mép giường, đầu hơi cúi, vẻ như e thẹn, có lẽ vốn muốn tỏ vẻ e thẹn nhưng cố gắng lâu như vậy vẻ mặt cô lại không hiện ra nét ửng hồng e lệ như ý mà khuôn mặt xinh đẹp dưới làn tóc mai càng trắng xanh. Dung Viên đứng trước mặt, đôi mắt đen như đầm sâu lướt qua con báo gấm đang cố vùng vẫy trong lòng cô, lại lướt qua mái đầu cúi thấp của cô: “Hầu nữ đâu?”.
                        Con báo cuối cùng thoát ra được, luồn qua đầu gối cô lẻn ra ngoài, cô ngây người: “Đông người khiến thiếp nhức đầu, thiếp cho bọn họ lui rồi”.
                        Chàng gật đầu, giơ tay kéo bức rèm trước giường, ánh nến từ giá nến cao hắt lên bức rèm in bóng hai người áp sát vào nhau, giọng chàng trầm trầm phía trên đầu cô: “Vậy đêm nay nàng thay áo cho quả nhân”.
                        Ánh nến hồng lờ mờ, những ngón tay thon thả của Oanh Ca từ từ nắm lấy dải đai áo của Dung Viên, tiếng ngọc bội rung nhè nhẹ.
                        Chàng đột nhiên trở tay nắm tay cô, cô ngẩng đầu ngạc nhiên nhìn chàng, môi chàng lướt trên má cô.
                        Trên bức rèm in bóng hai người giao vào nhau, xiêm áo Dung Viên vẫn còn trên người chàng, chiếc váy tím dài trên người Oanh Ca đã trượt từ vai xuống, lộ ra làn da trắng tuyết.
                        Rõ ràng đang hôn, nhưng mắt hai người vẫn mở to, chứng tỏ cả hai đều tỉnh táo. Hơn nữa ép vào nhau lâu như vậy, tư thế hai người vẫn không thay đổi, đối với cả hai đều là một đòn đau, buông ra giữa chừng, Oanh Ca thở gấp, đôi môi vốn hơi tái chuyển màu hồng rất đẹp, khóe mắt nhòe ướt. Ngón tay Dung Viên chạm vào đuôi mắt cô, hỏi nhỏ: “Khóc ư?”. Cô nhìn chàng không nói. Chàng chống tay bên gối, hơi cau mày: “Sợ hả?”. Không chờ cô trả lời đã quay người nằm thẳng, gối lên chiếc gối khác. “Sợ thì ngủ đi”.
                        Tôi thất vọng thở dài, chưa thở hết một hơi, lại thấy Oanh Ca nửa người để trần ngồi trên bụng Dung Viên: “Bệ hạ để thiếp tự làm, thiếp sẽ không sợ”.
                        Mắt đỏ hoe, môi mím, thần sắc kiên định... nhìn không giống đang nói đùa...
                        Mặc dù Oanh Ca thuận theo lời Dung Viên thừa nhận mình sợ, nhưng tôi hiểu không phải cô khóc vì sợ, một người ngay sự sống chết cũng xem thường, thì cũng có thể xem thường trinh tiết, huống hồ Dung Viên là một người đàn ông ưu tú, dung mạo ngời ngời.
                        Thần trí của tôi và Oanh Ca lúc thông lúc không, khiến tôi hiểu cô chỉ đột nhiên nghĩ đến Dung Tầm, lòng thấy buồn. Nhưng cô buồn không phải do Dung Tầm thay lòng đổi dạ yêu Cẩm Tước, mà là do chàng biết đêm nay sẽ xảy ra chuyện gì, vô số đêm sau này sẽ xảy ra chuyện gì nhưng chàng vẫn đưa cô vào cung dâng cho Dung Viên, cô khóc vì lẽ đó.
                        Đôi mắt Dung Viên sâu thẳm, mở to nhìn cô. Cô vùi đầu vào vai chàng, mái tóc xõa theo sống lưng, như dòng thác đen đổ xuống, một lúc sau, cô cười, “Nhất định có ngày cùng bệ hạ như vậy, chi bằng ngay đêm nay, bệ hạ thấy đúng không?”. Nói xong quả quyết, ngẩng đầu cởi áo chùng gấm không một nếp nhăn trên người chàng, bàn tay quen cầm đao run run, nhưng vẫn không dừng lại.
                        Thần sắc Dung Viên chìm trong bóng cô phủ lên người chàng, lát sau chàng hỏi: “Nàng có thể không?”.
                        Theo bản năng, thực lòng tôi muốn xem tiếp. Người luyện Hoa Tư dẫn nhất định không được sợ máu, sợ bạo lực, sợ chuyện phòng the, và bạo lực phòng the.
                        Luyện Hoa Tư dẫn thành bại quyết định ở chỗ phải biết quan sát nhận ra ẩn tình trong rất nhiều chi tiết của mộng cảnh. Nhưng lúc này có Mộ Ngôn bên cạnh, nhất định chàng sẽ cho rằng như vậy là đáng xấu hổ, từ khi Dung Viên hôn Oanh Ca tôi đã nghĩ chàng sắp kéo tôi ra khỏi điện Chiêu Ninh.
                        Và tôi cũng đã nghĩ xong câu ứng phó với chàng. Có thể chàng sẽ nói: “Cô còn nhỏ không nên nhìn cảnh người ta ân ái, đi theo tôi”. Tôi sẽ nói: “Mỗi người một khác, hôm nay họ động phòng, cái huynh nhìn thấy chỉ là chuyện ân ái hoan lạc hay sao? Xin lỗi, cái tôi nhìn hoàn toàn khác, tôi muốn nhìn để biết cái gì khiến Oanh Ca chìm mãi vào giấc mơ không tỉnh, nhìn thấy trăm mối tâm tư trong lòng cô ấy”. Chàng nhất định xấu hổ hỏi tôi: “Vậy tâm tư của cô ấy là gì?”. Tôi sẽ trả lời: “À, hiện chưa tìm hiểu toàn diện, để tôi xem hết đoạn này hẵng hay”.
                        Lúc Oanh Ca ôm cổ Dung Viên, cuối cùng Mộ Ngôn lên tiếng, nhưng lời nói khác hẳn giả định của tôi. Chàng phe phảy cái quạt, chậm rãi hỏi tôi: “Hay không?”.
                        Đương nhiên không tiện nói là hay, ấp úng một hồi, tôi trả lời, “Không, không hay”.
                        Chàng vẫn phe phảy quạt: “Đã không hay, vậy sao còn xem tiếp?”.
                        Tôi nói: “Cũng tạm...”.
                        Chàng hỏi: “Sao, cô nói gì? Cô cảm thấy chuyện đó rất hay?”.
                        Tôi nói: “Không, không xem, cái đó rất khó coi, không hợp tuổi tôi chút nào”.
                        Chàng gật đầu: “Vậy ta đi thôi”.
                        Chàng đi mấy bước về phía cửa điện, ngoái đầu nhìn tôi nửa cười nửa không: “Sao còn chưa đi?”.
                        Tôi liếc nhìn bức rèm trước giường, bực mình chạy đuổi theo chàng: “Đi đây”.
                        Năm Dung Viên gặp Oanh Ca, chàng mới hai nhăm tuổi âm, hậu cung có tám vị phu nhân, năm trước một vị lâm bệnh qua đời, còn bảy vị, Oanh Ca vào cung, vừa may bổ sung chỗ trống trên bàn mạt chược, khiến hậu cung Trịnh quốc luôn vang tiếng cười, mọi người hòa hợp vui vẻ...
                        Tuy nhiên đấy là hình dung của tôi, kỳ thực Oanh Ca không chơi mạt chược, bảy vị phu nhân cũng không chơi mạt chược.
                        Có thể hình dung, nếu Quân Vỹ hai nhăm tuổi, lấy tám bà vợ, anh ta sẽ chỉ còn là bộ xương, nhưng Dung Tầm hai nhăm tuổi có tám vị phu nhân, thiên hạ lại cảm thấy quân vương Trịnh quốc thật là thanh tâm quả dục, thích thanh tịnh. Có thể thấy yêu cầu của thiên hạ đối với quân vương quả là rất thấp.
                        Nhưng nói vậy, cho dù hậu cung chỉ có tám vị phu nhân, cạnh tranh vẫn vô cùng ác liệt, vị nào cũng bận chải chuốt, trang điểm, chăm sóc dung nhan, ngay lúc ngủ cũng không lơ là. Ai cũng muốn dùng diện mạo đẹp nhất hấp dẫn quân vương, cho dù có khi Dung Viên nửa đêm canh ba chạy đến cung nào đó cũng phải xinh đẹp rạng ngời trước mắt chàng ta, thậm chí cả khi chàng ta đến lúc họ đang bận đi vệ sinh.
                        Lâu dần họ trở thành những người đi vệ sinh nhanh nhất Trịnh quốc.
                        Tình trạng đó kéo dài đến khi Tâm Liễu phu nhân sau khi sinh hạ công chúa Hy Hòa lâm bệnh qua đời.
                        Tâm Liễu phu nhân lâm bệnh qua đời, để lại công chúa Hy Hòa năm tuổi, Hy Hòa công chúa Dung Đàm là tử tức duy nhất của Dung Viên.
                        Một bên là quân vương thanh tâm quả dục, đế dạ khó dò, chiếm được lòng cũng không dễ. Một bên là tiểu công chúa còn nhỏ mất thân mẫu, không có bất kỳ uy hiếp nào, chỉ cần nuôi dưỡng công chúa, nhất định tương lai được đảm bảo.
                        Vậy là bảy vị phu nhân trong cung từ bỏ lối sống cũ, lao vào cuộc chiến tranh giành nuôi dưỡng tiểu công chúa. Nhưng sự đời nhiều khi tranh tức là không tranh, không tranh tức là tranh, kết quả cuộc đấu hậu cung là Dung Tầm thân chinh đưa tiểu công chúa đến điện Chiêu Ninh giao cho Oanh Ca mới vào cung vài tháng.
                        Tiểu công chúa mặt buồn bã ôm một con thỏ bị thương đứng trước Oanh Ca: “Phụ vương nói phu nhân có thể băng bó vết thương cho thỏ. Ở đây, ở đây, ở đây, con thỏ bị nô tài xấu đánh đau, một, hai, ba, ba vết thương. Phu nhân, mau băng cho nó đi”.
                        Hai cây anh đào trước điện Chiêu Ninh đã rụng hết lá, cô ngẩng đầu bắt gặp ánh mắt Dung Viên đứng sau tiểu công chúa, dáng thanh tú như ngọc, dưới cây anh đào trụi lá, đôi mắt đen như đầm sâu bình thản khó dò. Chưa làm mẹ đã làm mẹ kế là một chuyện phiền phức.
                        Cũng may Oanh Ca không mơ hồ về cuộc sống như những cô gái đẹp thông thường, không ôm ảo tưởng lãng mạn về cuộc sống vương giả trong cung. Từ lúc bước vào hậu cung của Dung Viên, cô vẫn luôn chờ đợi thời cơ, một thời cơ để cô có thể bỏ trốn trót lọt.
                        Nửa đời trước cô là sát thủ, sống vì Dung Tầm, nhưng Dung Tầm không đắn đo đem cô vứt vào hậu cung hưu quạnh của Trịnh quốc. Cô mới hiểu mình sống bằng ấy năm thực ra chỉ là một công cụ, công cụ chỉ cần hoàn thành sứ mệnh của công cụ, một công cụ không nên yêu cầu chủ nhân suốt đời có trách nhiệm với mình, một công cụ tốt không cầu báo đáp, chỉ một lòng hoàn thành tâm nguyện của chủ, lúc chết còn muốn hóa thành bùn bón cho cỏ cây trong hoa viên của chủ.
                        Lúc này, Oanh Ca cảm thấy cô đã làm đủ sứ mệnh của một công cụ, giờ rơi vào chiếc lồng khổng lồ này, không ai cứu cô, cô sẽ tự cứu mình, không ai tốt với cô, cô phải tự tốt với mình.
                        Trong ánh mặt trời ấm áp hiếm hoi của mùa đông, trong điện Chiêu Ninh cô đưa ra một quyết định xem ra không tồi: Nếu có cơ hội rời khỏi thành Tứ Phương cô sẽ tìm một ngôi làng nhỏ có sông có suối, mua vài mẫu đất, học nghề dệt vải như những người đàn bà khác, tự nuôi sống mình mà không phải giết người.
                        Thời cơ đó đến rất nhanh.
                        Mùa đông tháng mười hai, vào ngày giỗ của Tâm Liễu phu nhân, mẫu thân tiểu công chúa, Oanh Ca dẫn công chúa lên linh sơn thắp hương tế bái, Dung Viên phái một toán cấm vệ quân đi theo. Chiếc kiệu đi đến lưng chừng núi bất thần gặp một toán thích khách không biết từ đâu ra, mặc dù được cấm vệ quân bảo vệ chu đáo, nhưng sơ sẩy vẫn khó lường, lại thêm thế núi hiểm trở, Oanh Ca ôm công chúa ngã lăn xuống núi.
                        Thực ra theo ý Oanh Ca không nên đem theo công chúa, nhưng không có cách nào khác, tất cả xảy ra quá nhanh, cô còn chưa kịp chớp đúng thời cơ, chuẩn bị chủ động lăn xuống núi, đã thấy Hy Hòa công chúa ôm con thỏ lăn xuống trước, nếu cô không cứu công chúa sẽ chết, làm mẹ kế hai tháng cô cũng không đành lòng.
                        Rơi thẳng từ sườn núi xuống, tay ôm đứa trẻ, thân thủ tốt đến mấy cũng không dễ làm gì để giảm nhẹ hậu quả. Nhưng may núi cũng không quá cao, trong khi lăn xuống cô đã cố một tay ôm công chúa, tay kia cởi thắt lưng quăng móc vào thân cây để làm chậm đà rơi, vì vậy khi tiếp đất chỉ có xương bàn chân phải bị gẫy. Tiểu công chúa nằm trên người cô, tay vẫn ôm chặt con thỏ con bị thương hai tháng trước, công chúa không bị thương, chỉ sợ quá ngất đi.
                        Dưới chân núi bóng đêm đặc dần, cô chống người bò dậy, bế công chúa vào một cái hang gần đó, đốt lửa, làm thịt con thỏ, xiên cành cây nướng vàng ươm, xong xuôi bóc hết xương, chỉ còn thịt nạc để trên chiếc lá to đặt cạnh công chúa.
                        Rừng núi đêm đông, chim náu trong tổ, mọi sinh vật sống đều đã ngủ, tiếc là giờ cô đã bị què chân, cho dù tứ chi vẹn toàn, trong cảnh ngộ thế này cũng khó tìm cái ăn, may khi ngã công chúa vẫn ôm con thỏ, như vậy cho dù cô bỏ đi, thị vệ của Dung Viên cũng chưa thể tìm được cô ngay, có chỗ thịt thỏ nướng, tiểu công chúa sẽ không bị đói, chắc chắn sáng ngày mai họ sẽ tìm thấy công chúa.
                        Khi lê được cái chân đau ra ngoài, Oanh Ca kiếm một cành cây to làm gậy chống, hình dung ra bộ dạng của mình, cô bất giác bật cười.
                        Nhưng chưa được hai bước nụ cười đã đông cứng trong mắt.
                        Phía trước, bên một cái đầm bốc khói mù mịt, đột nhiên hiện ra một bóng người như từ trên trời rơi xuống, áo chùng gấm màu bạc lóe sáng. Mấy con chim trên ngọn cây chí chóe cãi nhau, nửa vầng trăng ló khỏi đám mây, tỏa ánh sáng trắng mờ lạnh lẽo, xung quanh không có chỗ nào có thể trốn, cô nắm chặt cái gậy, mắt tối sầm, trân trân nhìn Dung Viên khoác ánh trăng bước đến. Ủng mềm đạp trên cành lá khô, chàng dừng trước mặt cô cách hai bước, ống tay áo dính đất và vụn cỏ, nét mặt tư lự, dáng thanh tao, khuôn mặt đẹp của chàng dưới ánh trăng như dát bạc, đôi mắt đen trầm tư lướt qua cái gậy trong tay cô, lướt qua bàn chân đau của cô: “Sao lại ra nông nỗi này?”.
                        Cô ngẩng đầu, mắt lại nhìn về đầm nước bốc khói: “Hy Hòa không sao, chỉ bị kinh động vẫn đang ngủ, thiếp đi ra...”. Cô dừng lại: “... kiếm nước cho công chúa”.
                        Chàng nhìn cô không nói.
                        Cô ngây người, gượng cười: “Chân thiếp... cũng không sao...”.
                        Đôi mắt đen bỗng lóe lên giận dữ, vừa trở tay đã ép cô vào vách núi bên cạnh, bàn chân gãy bị kéo đi đột ngột, đau xói đến tận óc, nhưng Oanh Ca chỉ nghiến chặt răng, hơi cau mày.
                        Chàng khóa cô giữa hai cánh tay mình, “Đau không?”.
                        Cô cắn môi không đáp, chỉ có làn hơi lạnh lọt qua kẽ răng. Mắt chàng tối lại, bỗng giơ tay giật dải lụa buộc trên búi tóc, nhét vào miệng cô, mái tóc xõa xuống, chàng cúi đầu, hai tay nắm chặt bàn chân gẫy của cô: “Nếu đau cứ kêu lên”.
                        Một tiếng “rắc” nhẹ, chỗ xương gãy bị chệch đã được kéo về đúng vị trí, trán cô toát mồ hôi, cơn đau từ chỗ xương gẫy như làn sóng lập tức lan ra toàn thân, đau ứa nước mắt, nhưng cô cắn môi không để bật ra tiếng rên, nộ khí trong mắt chàng càng tăng, nhìn cô đăm đăm: “Ai dạy nàng như thế, chân gẫy cũng không nói, đau mấy cũng cố chịu?”.
                        Cô ngây người nhìn chàng.
                        Chàng cau mày đón nhận ánh mắt đó, ngón tay đưa lên chạm vào đuôi mắt cô, nét mặt dịu dần, lại trở về là một Dung Viên thâm trầm, mắt cô vừa chớp, long lanh ngấn nước, cô vội ngẩng đầu.
                        Chàng giữ chặt đầu cô không cho động đậy, cứ vậy nhìn thẳng vào đôi mắt ngấn nước của cô, nhìn giọt nước lăn ra từ khóe mắt, áp trán vào trán cô, nhẹ nhàng nói: “Cẩm Tước, hãy khóc đi”.
                        Tiếng khóc khi đã bật ra không thể kìm lại, sụt sùi, sau đó bật thành tiếng, nức nở, đau đớn, có lẽ Oanh Ca cũng không biết tại sao mình khóc, nhưng ít nhất cũng khiến chúng tôi hiểu, thì ra các cô gái trên đời không có ai sinh ra đã không biết khóc.
                        Chàng ôm chặt cô, dưới ánh trăng, bên mặt đầm khói phủ, giọng trầm trầm: “Được rồi, có ta ở đây”.
                        Oanh Ca khóc to như vậy, tôi nghĩ nguyên nhân một nửa là do khó khăn lắm mới tìm được cơ hội bỏ trốn, cuối cùng lại bị Dung Viên phá hỏng, niềm tiếc nuối cần được xả ra, khi tôi nói suy nghĩ đó với Mộ Ngôn, chàng phán một câu: “A Phất, cô là người rất thực tế”.
                        Chung quy tôi là người làm ăn, mặc dù tự biết vẫn là người đa sầu đa cảm. Nhưng khi thần trí bất tương thông, tôi hầu như không hiểu được suy nghĩ của Oanh Ca, đây là một cô gái rất thực tế, có ý thức cảnh giác cao nhất mà tôi từng gặp.
                        Bởi vì đây là giấc mơ của Oanh Ca trong lúc hôn mê, không phải là ảo mộng tôi dệt cho cô, đành chỉ có thể nhìn mọi cảnh trôi qua như là xem đèn kéo quân mà thôi, không thể tác động vào. Không biết sau lần ngã xuống núi đó tình cảm giữa Dung Viên và cô có gì tiến triển, điều đó quả khó phán đoán, nhưng dường như những gì cần tiến triển đều đã tiến triển hết. Bởi vì đêm đó, sau khi được kiệu đưa về Trịnh cung, Oanh Ca không ở điện Chiêu Ninh nữa, mà chuyển đến điện Thanh Lương, tẩm cung của Dung Viên.
                        Tẩm cung của Trịnh hầu vương Dung Viên có tên là Thanh Lương, bày trí trong cung rất trang nhã, đơn giản, cạnh giá nến cao có một chiếc bình gốm cắm hai cành anh đào trắng khô héo, giữa tiết đông hàn trông càng lạnh lẽo cô liêu. Vết thương ở chân Oanh Ca được các ngự y trong cung chăm sóc chu đáo, nhưng do bị giày vò lâu, vừa vào đến giường đã mệt mỏi nhắm mắt ngả đầu xuống gối. Hầu nữ thắp thêm nến, Dung Viên đầu tựa thành giường, tay cầm cuốn sách, vẻ bồn chồn, cả hai đều im lặng.
                        Tôi cảm thấy chẳng có gì đáng xem, định kéo Mộ Ngôn đi ngắm sao, chưa kịp nắm ống tay áo Mộ Ngôn, đã nhìn thấy Dung Viên vừa giở sách vừa ngẩng nhìn Oanh Ca, rồi lại cúi xuống trang sách, giọng nhẹ nhàng: “Nằm lui lại đây”.
                        Mộ Ngôn nghiêng đầu nhìn tôi, tôi dừng bước. Oanh Ca lặng lẽ trở người, mắt vẫn nhắm, tấm chăn hơi phồng lên, có vẻ như thu hẹp khoảng cách giữa hai người, thực tế chỉ là thay đổi tư thế nằm, Dung Viên ngẩng đầu khỏi trang sách, cau mày đắn đo một hồi, lại cúi đầu đọc tiếp: “Ta sợ lạnh, lại gần hơn chút nữa”.
                        Lần này Oanh Ca không nhúc nhích, chắc là giả bộ ngủ. Thực tế đã nằm cùng một giường giả bộ ngủ hay không cũng thế. Quả nhiên, lát sau Oanh Ca bị Dung Viên kéo vào lòng. Cô hơi giãy giụa trong lòng chàng, điều này chỉ đoán ra thông qua chuyển động của tấm chăn, tiếng cọ xát của xiêm y và lời nói của Dung Viên.
                        Trong ánh nến hồng mờ ảo, giọng Dung Viên trầm lạnh vang lên: “Sao khó bảo thế, đã nói rồi, ta sợ lạnh”. Giọng Oanh Ca: “Bảo người đi lấy thêm...”. Lát sau, nghe thấy giọng Dung Viên vui vẻ, rõ ràng đang đùa nhưng nghiêm túc như một mệnh lệnh: “Nằm yên nào”.
                        Đàn ông muốn ngủ cùng phụ nữ là một chuyện, nhưng đắp chung chăn với phụ nữ thuần túy chỉ để nói chuyện lại là chuyện khác, từ đó có thể thấy Dung Viên là một minh quân, đương nhiên, nếu người khác phủ định tôi cũng chẳng nói gì. Nhưng tôi nghĩ, một người đàn ông có thể chuyện trò chia sẻ, lắng nghe ý kiến của người đàn bà của mình nhất định là người đàn ông tốt, huống hồ người đàn ông đó lại là bậc quân vương.
                        Ngày hôm sau khi Oanh Ca thức dậy, nắng ấm tỏa trên cao. Ngoài cửa sổ có tiếng chim hót vang, ánh mặt trời hắt qua cửa sổ chạm hoa văn, chiếu lên chăn lụa óng ánh như dát vàng. Chân Oanh Ca vẫn đau, đang mơ màng ngơ ngẩn.
                        Vừa ra khỏi cung đã xảy ra chuyện lớn ngã xuống núi, là một người chồng có trách nhiệm, trong thời gian sau đó đương nhiên không nên để vợ ra khỏi cửa. Nhưng tư duy của những đệ nhất không thể dùng đạo lý thông thường để suy đoán, cho dù là đệ nhất gọt táo, đệ nhất cắn hạt dưa, huống hồ Dung Viên lại là Trịnh quốc đệ nhất đao thủ.
                        Chỉ nửa tháng, vết thương của Oanh Ca đã lành hẳn, ban đêm Dung Viên đến điện Chiêu Ninh, ánh mắt dừng lại trên bàn chân nhỏ đã khỏi hẳn dưới gấu váy tím, lát sau chàng nói: “Vào cung đã ba tháng, chắc nàng buồn lắm, ngày mai quả nhân sẽ đưa nàng đi loanh quanh”.
                        Có lẽ đi loanh quanh mà Dung Viên nói chỉ là đi dạo trong vương cung, thật sự được đưa ra đường phố của thành Tứ Phương, vốn điềm tĩnh như Oanh Ca cũng nhất thời cơ hồ không dám tin. Còn tôi và Mộ Ngôn chỉ cảm thấy sự phồn hoa của phố phường kinh đô Trịnh quốc cũng chẳng khác hiện tại bao nhiêu.
                        Quý công tử dung sắc lạnh nhạt, nghiêng đầu hỏi tân nương mới cưới ba tháng: “Muốn đi đâu?”.
                        Cả người Oanh Ca bọc kín trong chiếc áo dài mền bông dày, bên ngoài còn khoác thêm áo choàng gió bằng lụa tím viền lông cáo, dưới vành mũ lộ ra đôi mắt lóng lánh tuyệt đẹp: “Nếu bệ hạ để thần thiếp lựa chọn...”, nghĩ một lát, nói “... thiếp muốn đến Bích Phù lầu”.
                        Dung Viên hơi ngước mắt, vẻ ngạc nhiên, nhưng chỉ thoáng qua, rồi giơ tay phẩy chiếc lá vàng rơi trên mũ của cô.
                        Dung Viên ngạc nhiên là có nguyên do, bởi vì Bích Phù lầu mặc dù nghe tên rất phong nhã, giống như nơi bán hoa sen, nhưng thực tế là sòng bạc nổi tiếng ở thành Tứ Phương.
                        Thường xuyên có khách lân quốc vượt ngàn dặm đến đây đánh bạc, chuyện này vốn là phi pháp, nhưng khách láng giềng nhàn rỗi đến chơi, vô tình thúc đẩy du lịch địa phương phát triển, đây quả là vấn đề gay cấn.
                        Tông pháp tổ tiên vốn quý, nhưng nếu cản trở kiếm tiền thì cũng nên bỏ. Triều đình suy tính sao cho vẹn toàn cả hai, vậy là quyết định đưa đánh bạc trở thành một nghề. Các sòng bạc lớn nhỏ được chính quyền cổ vũ ra sức cạnh tranh tàn sát, ba năm sau chỉ còn lại Bích Phù lầu lớn nhất, ông chủ sòng những tưởng một mình làm vua một cõi, ai ngờ bị cưỡng chế bán cho nhà nước với giá gốc.
                        Có lẽ tôi hiểu tại sao Oanh Ca muốn đến Bích Phù lầu, khi còn là sát thủ của Dung gia, Dung Tầm chủ trương các sát thủ phải tu thân dưỡng tính, không kiêu ngạo, không nóng nảy, không mù quáng tham lam, đánh bạc là tham lam, hơn nữa đối tượng ám sát không ai mê cờ bạc, khiến Oanh Ca hai mươi năm sống trong chốn bụi hồng, chưa bao giờ bước chân đến sòng bạc, nơi hội tụ những người giàu tham vọng của thế gian.
                        Nhìn thân hình ung dung chậm bước phía trước, tôi nén không nổi hỏi Mộ Ngôn: “Dung Viên cũng biết Oanh Ca đã khỏe hẳn, mà vẫn cho cô ta mặc nhiều như vậy, bó chặt như cái bánh chưng, nếu có thích khách, làm sao ra tay? Hay là muốn cô ta lăn một vòng đè chết thích khách?”.
                        Mộ Ngôn dừng bước, nhưng không phản bác như mọi lần, trái lại có vẻ suy nghĩ nghiêm túc: “Đàn ông đa phần như vậy, người con gái mình yêu dù mạnh mẽ đến mấy cũng vẫn là nhi nữ, không muốn để nàng chịu khổ hay lâm vào cảnh đáng sợ, phải tận mắt nhìn thấy nàng sống sung sướng đủ đầy mới yên tâm”.
                        Trong ngực có gì nảy lên, tôi nhìn sang bên: “Huynh nghĩ như vậy, cô gái nào sau này lấy được huynh thật có phúc”. Nhưng số tôi không có phúc đó.
                        Nhưng chàng lại nghiêm trang gật đầu, ánh mắt hướng về tôi, như cười như không nhìn tôi: “Đúng, lấy tôi rất hời”.
                        Lòng càng buồn thêm, tôi không thể trở thành cô gái của chàng, cũng không hy vọng trở thành cô gái của bất kỳ ai. Chợt lại nảy sinh ý nghĩ ác độc, chàng đã không thể yêu tôi, vậy nhất định không để chàng yêu cô gái khác, hoặc dứt khoát để chàng đi yêu đàn ông.
                        Bích Phù lầu trên đường Huyền Vũ, hiên cong mái lượn, tráng lệ lộng lẫy, kiến tạo mô phỏng dinh thự làm việc của quan lại trong triều, đối lập với tửu lầu bên trái và thanh lâu lớn nhất thành Tứ Phương bên phải.
                        Đi vào trong, chọi gà đấu chó, mạt chược, cờ vây, xúc xắc, rất nhiều trò chơi, cơ hồ mọi trò cờ bạc của thiên hạ ở đây đều có, chẳng trách những kẻ ham cờ bạc nhưng không có tiền chơi cũng đến xem cho thỏa.
                        Nhưng nghe đồn, Bích Phù lầu này không có con bạc, chỉ có khách đánh bạc.
                        Khách đánh bạc của Bích Phù lầu đều là những người giàu, một lần vung tay cả ngàn lạng, thắng thua đều tính bằng ngàn lạng, tôi thầm nghĩ hôm nay Oanh Ca đến đây là có ý đồ khác, không phải muốn đánh bạc, không ai mang theo ngân phiếu ngàn lượng đi dạo phố. Khách vây quanh bàn xúc xắc đông nhất, Oanh Ca bước đến bên bàn, Dung Viên đi sau.
                        Tiểu nhị thoáng nhìn đã biết chàng công tử áo trắng đi sau Oanh Ca rõ ràng ngời ngời phú quý, bèn tiến lại gạ gẫm nói, vị công tử áo gấm ngồi ở bàn kia là một cao thủ lục bác kỳ(*), cao thủ cao thủ đại cao thủ, chơi ở sòng bạc này đã ba năm chưa bao giờ thua, nếu Dung Viên có hứng, xin hãy thử so tài với anh ta một phen.
                        Nói mãi Dung Viên vẫn không động đậy, tiểu nhị chưa hiểu thế nào, lại tiếp tục tán dương công tử áo gấm, nào là người đó rất bí hiểm, rằng không ai biết tên anh ta, càng không biết thân thế anh ta, chỉ biết đâu như là người Tân Lương nước Lầu, do mấy năm nay chỉ chơi lục bác kỳ, cho nên mọi người ở đây gọi anh ta là Tân Lương bác khách, một cách gọi vừa thân thiết lại không thất lễ.
                        Tiểu nhị nói một hồi, Dung Viên vẫn không động lòng, nhưng lại làm động lòng Oanh Ca đứng bên, đôi mắt đen liếc chàng: “Thật thú vị, bệ... à, phu quân chơi lục bác kỳ rất giỏi, sao không thử một ván, biết đâu có thể thắng anh ta?”.
                        Dung Viên nhìn cô: “Có thể ư?”, dừng một lát, “… Không mang tiền”.
                        Tiểu nhị: “…”.
                        Tân Lương bác khách đã ăn đứt của đối phương ba quân đen, thắng bại đã rõ ràng, khách đứng xem trầm trồ xuýt xoa. Dung Viên vừa mới nói không mang tiền, lại ngồi ngay vào ghế của người bị thua vừa đứng lên. Tân Lương bác khách ngồi đối diện ngẩn người, nói giọng lễ phép: “Hôm nay ngày mười lăm, số mười lăm tại hạ chỉ có thể chơi ba ván, ba ván đã mãn, thứ lỗi cho tại hạ không thể hầu các hạ”.
                        Dung Viên tung con bài trắng trong tay, dung sắc thản nhiên: “Nghe nói ba năm nay anh chưa từng thua. Ta nói có thể thắng anh, phu nhân ta không tin, hôm nay muốn thử một ván, anh muốn đánh bao nhiêu không thành vấn đề”.
                        Chàng trai trẻ được gọi là Tân Lương bác khách lộ vẻ kinh ngạc, ánh mắt dừng lại sau lưng Dung Viên, cất tiếng cười giòn tan: “Khẩu khí của các hạ thật lớn, đã vậy tại hạ sẽ phá lệ, hôm nay sẽ đánh thêm ván này, tại hạ xin đưa vợ mình ra cược, các hạ đưa vị phu nhân đứng sau các hạ ra cược, thế nào?”.
                        Khuôn mặt Oanh Ca vốn đỏ hồng bỗng trắng nhợt. Tôi biết là vì sao.
                        Bầu không khí im lặng bắt đầu từ bàn cờ lan ra, toàn nội đường im phăng phắc, quân cờ trắng trong tay Dung Viên “cạnh” một tiếng đập lên mặt bàn gỗ hoa, giọng dửng dưng: “Thay vật cược”.
                        Tân Lương bác khách lộ vẻ hứng thú: “Chẳng phải vừa rồi các hạ nói như đinh đóng cột ván này nhất định thắng tại hạ? Đã vậy tạm thời để quý phu nhân chịu tủi một chút, được không?”.
                        Quân cờ bằng ngà trong tay Dung Viên bị bẻ làm bốn miếng không một tiếng động, chàng mặt không biểu cảm xòe bàn tay, hai vết đứt như bị dao cắt: “Một khắc trước ta còn muốn trân trọng nó, một khắc sau lại muốn bóp nát nó, có thể thấy trên đời không có gì là tuyệt đối. Mạo hiểm người mình yêu như thế...”. Chàng dừng lại “... thì quả là khinh suất”.
                        Oanh Ca còn đang chưa kịp định thần, ngẩng phắt đầu, tay đón cây trường đao Dung Viên ném cho, miếng ngọc thạch màu lam khảm trên chuôi cây đao lóe ra ánh sáng chói mắt, không biết phải phá bao nhiêu ngọn núi mới thu được một mẩu ngọc thạch quý đó, ánh mắt hai người thoáng gặp nhau, chàng quay người lại: “Hãy đưa thanh đao này cho ông chủ, bảo ông ta đổi mười vạn ngân bạc”.
                        Hai câu trước là nói với Oanh Ca, hai câu sau là nói với chàng trai trước mặt, “Nếu anh còn muốn đưa vợ ra đặt cược, tùy anh, nhưng cũng không để anh chịu thiệt, ván này ta đặt mười vạn thù vàng”.
                        Lời Dung Viên vừa dứt, Bích Phù lầu lập tức náo loạn, khách đổ dồn đến, không ai muốn bỏ qua canh bạc lớn chưa từng có kể từ khi khai trương Bích Phù lầu.
                        Chiếc bàn của Dung Viên và bác khách huynh đệ trong nháy mắt đã bị vây kín vòng trong vòng ngoài, trong khi khách chơi ở dưới lầu nghe tin vẫn đang ùn ùn kéo tới.
                        Không có vật gì bảo vệ che chắn tốt hơn đám đông, tôi nghĩ đây chính là thời cơ bỏ trốn tốt nhất, có lẽ Dung Viên cố tình cho Oanh Ca một cơ hội bỏ trốn, nhất định là thế. Bởi vì chàng vốn có thể trực tiếp đưa thanh đao quý đặt cược với phu nhân của bác khách, nhưng lại bảo Oanh Ca đem đi đổi, nếu không phải lý do đó, quả rất khó tìm ra lý do nào khác.
                        Bất luận thế nào Oanh Ca cũng nắm lấy cơ hội này. Cần phải tìm cho mình một người đồng hành tâm đầu ý hợp trong cuộc đời hỗn loạn này, có lẽ cuối cùng Dung Viên cũng nhận ra Oanh Ca không phải là người đó, cô đã chán cuộc sống tù túng trong cung, luôn muốn bỏ trốn, luôn luôn muốn.
                        Lầu hai rộng rãi, Mộ Ngôn tìm được một vị trí có thể quan sát ván bài của Dung Viên. Lát sau ông chủ Bích Phù lầu cầm túi bạc run run rẽ đám người đến bên bàn, cúi gập người nâng túi bạc như nâng thánh vật dâng trước mặt Dung Viên.
                        Bàn tay Dung Viên cầm quân bài bằng ngà dừng lại trên không: “Phu nhân ta đâu?”. Ông chủ Bích Phù lầu lau mồ hôi hột trên trán không biết nói sao. Lúc sau, Dung Viên bất ngờ đặt quân bài xuống bàn: “Ta thua rồi”. Trên ván cờ hai bên đen trắng rõ ràng đang triển khai hết sức gay cấn, huynh đệ bác khách đối diện kinh ngạc tròn mắt, hồi lâu sau, nghiến răng: “Các hạ thế này... là ý gì?”.
                        Ông chủ sòng đứng bên hoảng hốt giật mình, vội đi đến bên bàn: “Vị công tử này không muốn chơi nữa thì thôi, anh được không mười vạn đồng, anh cũng là khách quen của chúng tôi, đều là chỗ thân tình, đừng làm khó lão hủ này”.
                        Tôi nghĩ điều Dung Viên muốn nói không chỉ là ván cờ, chàng cho Oanh Ca cơ hội, nhưng không muốn cô bỏ đi thật, giống như tôi biết rõ đi theo Mộ Ngôn thế này chỉ ngày càng quyến luyến chàng, một vong hồn lại dung thứ bản thân ngày càng lưu luyến thế gian, nỗi đau thế nào khi phải chia ly chỉ một mình mình biết, giống như ván cờ vô vọng kia, giống như tâm trạng Dung Viên lúc này.
                        Khách xem tản dần, có vẻ tiếc rẻ, thông thường họ có thể nài chơi tiếp, nhưng có lẽ đoán Dung Viên là một quan lớn nào đó đành thôi, vốn tưởng được chứng kiến một ván bài nảy lửa xứng với mười vạn thù vàng đặt cược, không ngờ lại kết thúc như vậy.
                        Vị quân vương trẻ tuổi trầm ngâm ngồi bên bàn tròn, quân cờ trắng trong tay đột nhiên bị bóp vụn, bụi trắng lọt qua ngón tay rơi xuống mặt bàn, một lúc lâu sau chàng đứng lên, thần sắc lại bình thường như chưa xảy ra chuyện gì, dường như hôm nay từ đầu đến cuối chỉ có một mình chàng bỗng dưng nổi hứng đến chỗ này, bỗng dưng nổi hứng tham gia một canh bạc, canh bạc chưa tàn vẫn mãn nguyện một mình hồi cung. Cảnh đường phố trước Bích Phù lầu vẫn sầm uất náo nhiệt, chàng đứng ngây ở bậc thềm rất lâu, dáng cô đơn, dường như trước giờ vẫn cô đơn như vậy, giữa cảnh phồn hoa trông không hề lạc lõng.
                        Một cậu bé rao bán kẹo hồ lô đi qua, chàng gọi lại, bạc đã móc ra, đột nhiên sực nhớ điều gì, lại thôi: “Không mua nữa”.
                        Sau lưng vang lên một giọng nữ dịu dàng: “Sao lại không mua? Thiếp muốn ăn”.
                        Dung Viên cứng người, vẫn giữ tư thế nhét tiền vào ống tay áo, mãi vẫn chưa hiểu ra, tôi cũng mãi chưa hiểu ra. Mộ Ngôn gập cái quạt, nhìn tôi, nói vẻ đắn đo: “Dung Viên hồn xiêu phách lạc, không phát hiện Oanh Ca cô nương vẫn đứng ở lầu hai đã đành, nhưng đừng nói với tôi cô cũng không phát hiện ra. Cô ấy thậm chí… đứng ngay cạnh cô”.
                        Tôi quả thực không phát hiện ra.
                        Mộ Ngôn lại xòe cái quạt, mủm mỉm nói nhỏ: “Quả nhiên”.
                        Tôi tức điên vì nụ cười giễu cợt của chàng: “Tôi, tôi cũng hồn xiêu phách lạc”.
                        Mộ Ngôn: “…”.
                        Tôi nói thật, nhưng chàng không tin, tưởng là tôi biện hộ, nhìn Dung Viên dường như tôi nhìn thấy bản thân mình, nhưng Mộ Ngôn vĩnh viễn không biết, thực ra cũng không cần chàng biết. Tôi tự an ủi mình, A Trăn, đừng buồn, chàng không biết là tốt, ở đời có quy tắc vuông tròn không thể phế bỏ, người sống có thế giới của người sống, người chết có thế giới của người chết, chỉ cần được nhìn thấy chàng là tốt rồi, tham lam quá cũng không hay.
                        Oanh Ca mình khoác áo gió màu tím đứng sau Dung Viên năm bước, vừa thoáng ngoái nhìn, chàng lại đắn đo không ngoái hẳn, tựa hồ như trên đường phố sầm uất đột nhiên hiện ra một khoảng trống, trong đó chỉ có hai người, khách qua đường là ngoại cảnh, thời gian ngừng lại. Cuối cùng là cậu bé bán hồ lô phá vỡ bầu không khí yên lặng, nhìn Oanh Ca lại nhìn Dung Viên: “Công tử có mua không?”.
                        Oanh Ca bước đến chọn hai chiếc to nhất: “Mua chứ, sao lại không mua”. Cậu bé lắc đầu: “Vậy ai trả tiền?”.
                        Đôi mắt đen lúng liếng nhìn Dung Viên đứng bên: “Sao còn đứng ngây ra thế, trả tiền đi”. Ánh mắt cô chứa muôn ngàn tia sáng, như thuở mười lăm đẹp nhất, bàn tay còn chưa dính máu, là một giai nhân tuyệt mỹ, nhất là đôi mắt, hơi cười là sóng sánh xuân tình.
                        Cậu bé được tiền thưởng sung sướng chạy biến, gió bắc lớn dần, Dung Viên cuối cùng ngoái đầu lại, khuôn mặt anh tú vẫn lạnh lùng, giơ tay gạt những sợi tóc mai xõa xuống mặt cô, cử chỉ vô cùng cẩn trọng, nhưng giọng nói vẫn không chút xao động: “Đi đâu vậy?”. Tôi nghĩ vị quân vương trẻ tuổi này quả rất giỏi kiềm chế.
                        Mắt Oanh Ca như cười: “Người đông, ngại chen vào, xem ở lầu trên. Tại sao giữa chừng đã nhận thua, lại thua nhiều như vậy, tiền đó thà thưởng cho thiếp”.
                        Tai Dung Viên hơi đỏ, nhưng mặt vẫn lạnh: “Không muốn chơi thì không chơi nữa, mà nàng cần nhiều tiền thế làm gì, tiền tiêu hàng tháng trong cung vẫn chưa đủ sao?”.
                        Cô nhìn chàng, hai người rẽ vào ngõ bên phải vắng người, nói giọng khổ não: “Thì ra bệ hạ cũng biết món tiền thua hôm nay rất lớn, trong các gia đình bình thường, người chồng thua bạc, vợ càu nhàu vài câu là chuyện thường”. Đoạn quay đầu lườm chàng: “Huống hồ chàng thua nhiều như vậy”.
                        Tai Dung Viên càng đỏ, mặt cũng càng lạnh: “Vậy nàng muốn ta thắng, dẫn vợ người ta vào cung xưng hô tỷ muội với nàng?”.
                        Tôi giơ tay ôm trán, cảm thấy rất thú vị, quân vương trẻ này còn biết khiêu khích nữa, rõ ràng đã xúc động đỏ cả tai, nhưng câu nói khiêu khích đó đã đánh trúng tâm lý Oanh Ca.
                        Oanh Ca quả nhiên lạnh mặt, nói dỗi: “Nếu bệ hạ có ý đó, là phúc của cô ta…”.
                        Lời chưa hết đã bị Dung Viên ép vào góc tường. Ánh nắng rọi xuống, bị gió thổi tan ra, chàng cau mày nâng mặt cô lên: “Vậy còn nàng, ở bên ta nàng có cảm thấy đó là phúc phận?”.
                        Cô nhìn chàng, dường như muốn nặn ra nụ cười ở khóe mắt, như cô vẫn làm thế, nửa thật nửa giả, dường như không gì có thể làm cô tức giận. Môi chàng đã bất ngờ áp vào đôi mắt ấy: “Nàng có biết, tình yêu của quân vương là thế nào không?”.
                        Cô nói ngay: “Ân trạch ban khắp muôn dân”.
                        Môi chàng rời mắt cô, nhìn hai má cô dù cố trấn tĩnh vẫn ửng hồng, bàn tay lại vuốt tóc cô: “Ta không giống họ”.
                        Tôi không biết Oanh Ca có yêu Dung Viên, chỉ biết cơ hội chạy trốn hiếm có gần như được Dung Viên ngầm cho phép, cô đã bỏ qua.
                        Gió mùa đông thổi gấp, thành Tứ Phương như một con thú khổng lồ phủ phục ở nơi màu mỡ nhất Trịnh quốc.
                        Mấy ngày tốt cuối năm có liền mấy đám cưới, lão thừa tướng gả con gái, Hổ Phần tướng quân tục huyền, thiếu phủ Khanh nạp người thiếp thứ chín. Mấy việc tốt liền nhau, ngay đình úy đại nhân cũng cưới vợ, chuyện này không có gì lạ, Dung Tầm cưới vợ đương nhiên sẽ cưới Cẩm Tước, mỹ nhân chàng đã bỏ bao công sức giữ lại.
                        Đương nhiên Cẩm Tước lúc này không phải là Cẩm Tước mà là Oanh Ca, Thập Tam Nguyệt, vốn thân phận không xứng làm chính thất, nhưng trong triều đều biết Thập Tam Nguyệt có một cô em gái, mấy tháng trước đã vào cung được phong Như phu nhân.
                        Toàn thành Tứ Phương tưng bừng hỉ khí, trong thời đại cười người nghèo không ai cười kẻ xướng ca, chỉ cần thân phận tương xứng mọi chuyện khác đều không thành vấn đề, ít nhất ngoài tôi, chưa thấy ai bận tâm chuyện Dung Viên và Dung Tầm là chú cháu, Oanh Ca và Cẩm Tước là chị em ruột, sau này gặp nhau mọi người sẽ xưng hô thế nào.
                        Em gái xuất giá, mặc dù chỉ từ Thanh Trì cư của đình úy phủ gả đến Thanh Ảnh cư của đình úy phủ, chị gái cũng nên đến dự. Do quan hệ nội tộc, không chỉ Oanh Ca đi dự, Dung Viên cũng đi.
                        Sảnh đường cao rộng, khắp nơi treo những chữ hỉ đỏ to tướng, Dung Tầm toàn thân hỉ bào đỏ chói, mắt sáng mày thanh, thân hình tựa chi lan ngọc bội đứng một bên kính cẩn nghênh đón Dung Viên.
                        Triều thần quỳ phục hai bên sảnh đường, Dung Viên mình vận triều phục, màu ngọc thạch, đai ngọc lóng lánh, ánh mắt thoáng dừng trên mặt Dung Tầm, rồi dắt Oanh Ca ngồi lên vị trí tôn quý dành sẵn cho mình, vừa yên vị đã khoan thai lên tiếng: “Sau khi thành hôn cũng nên để Thập Tam Nguyệt vào cung chơi với Cẩm Tước, một mình nàng trong cung cũng rất buồn”.
                        Dung Tầm ngẩng đầu, ánh mắt chạm vào dung nhan trang điểm đoan nghiêm của Oanh Ca, chàng sững người. Không biết lúc này lòng chàng thế nào, có lẽ hoàn toàn không có cảm giác gì, giống như gặp lại một con mèo, con chó đã vứt đi, đây là lần đầu tiên hai người gặp lại sau khi Oanh Ca vào cung, nhưng lại ở một nơi như vậy, trong hoàn cảnh như vậy.
                        Mười ngón tay thon thả của cô đón cốc trà từ tay hầu nữ, lòng bàn tay hơi ngửa, không hề tìm thấy dấu vết một thời cầm đao, cô cúi đầu thổi trà trong cốc, giọng dịu dàng. “Đã có Hy Hòa suốt ngày ríu rít, thiếp đâu có buồn”.
                        Dung Viên hơi nghé mắt: “Nàng chỉ nói vậy thôi”.
                        Hai gò má mịn như ngọc ửng hồng vẻ giận dỗi nhưng bị cốc trà che khuất, cô âu yếm lườm chàng.
                        Dung Tầm đứng cách hai bước, đôi mắt dài hẹp thoáng lộ vẻ băn khoăn, nhưng quan khách không ai để ý, họ đâu có như tôi lúc nào cũng chăm chú quan sát biểu hiện của Dung Tầm, có lẽ các thiếu nữ cũng muốn vậy, nhưng mấy ai dám làm như thế. Dung Tầm dường như bẩm sinh thích màu tím, thực ra chàng càng hợp màu đỏ thẫm hơn máu.
                        Khi chàng ngẩng đầu nhìn cô lần nữa, thần sắc lại bình thường như không, xem ra có vẻ chăm chú, nhưng ít nhiều lạnh lùng xa cách. Chàng nhìn cô, chậm rãi nói: “Mấy ngày trước Nguyệt nương bị ốm, nên vẫn chưa vào cung thăm phu nhân, chưa đến giờ cát tường, nếu phu nhân không bận gì, có thể đến Thanh Trì cư chuyện trò với Nguyệt nương”.
                        Cô khoan thai đặt cốc trà xuống bàn, ánh mắt lướt qua hỉ bào đỏ chói của chàng, mỉm cười, giờ cô đã không còn là con người luôn dằn vặt đau đớn chỉ vì một câu nói của chàng ngày trước: “Bệ hạ mấy hôm nay bị thương hàn, kẻ dưới không hiểu biết, ta phải hầu bên người mới yên tâm, mấy ngày nữa nhân đại tiệc đêm trù tịch tỷ muội hàn huyên cũng được”.
                        Mắt Dung Tầm lóe ra tia lạnh, môi lại cười vẻ chân thành: “Cũng được”.
                        Dung Viên ngồi bên hơi cau mày, đưa cốc trà cho Oanh Ca: “Trà nóng quá, ta đã bảo bọn họ thay cốc khác”.
                        Làm hoàng đế cũng khó, khó ở chỗ phải cư xử sao cho vẫn giữ được chủ ý của mình lại không làm mất lòng quần thần, ngoài ra còn phải chịu đựng mọi con mắt săm soi, đánh giá của thuộc hạ, ngay đến tối nay ngủ với mỹ nhân nào trong hậu cung cũng bị thuộc hạ và thuộc hạ của thuộc hạ bàn luận suy đoán mãi, có khi ân sủng đã ban xong cho mỹ nhân, kẻ dưới vẫn chưa bàn luận xong.
                        Như đã nói, hôn lễ của Dung Tầm là một ngày đại cát, đó cũng là ngày Hổ Phần tướng quân tục huyền, thiếu phủ Khanh nạp thiếp, để không làm mất lòng đại thần, Dung Viên đã đến hôn lễ của Dung Tầm thì không thể không đến mừng hôn lễ của Hổ Phần tướng quân và thiếu phủ Khanh. Oanh Ca lại không cần đi, được Dung Viên giao cho lưu lại đình úy phủ chủ trì hôn lễ, cho dù muốn rút lui sớm cũng không thể, để tránh bị quan khách chú ý, đành nhẫn nhịn tuân thủ.
                        Giống như tôi năm mười sáu tuổi được Đường quốc công tử đến cầu hôn, không ngờ lại là một đứa trẻ miệng còn hơi sữa, nhìn tiểu công tử ôm khư khư bức chân dung của tôi, tôi chỉ muốn đá cho cậu ta một nhát, nhưng nghĩ đến tình bang giao giữa hai nước nên đành nhẫn nhịn.
                        Theo tính cách dễ xúc động của Cẩm Tước, vốn tưởng giữa chừng sẽ xảy ra chuyện khó xử, đại loại đột nhiên hất bỏ khăn trùm đầu ôm lấy chân Oanh Ca khóc lóc, nhưng may không xảy ra chuyện gì.
                        Nhờ phúc của ngày tốt, mọi việc đều thuận lợi, tân lang phong lưu tuấn tú, tân nương xinh đẹp dịu hiền, cặp đôi tân nhân nắm chặt tay nhau trước mặt Oanh Ca, thực hiện mọi nghi thức, nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phu thê tương bái, trong tiếng hô dõng dạc của chủ hôn.
                        Trịnh hầu vương phu nhân ngồi trên chiếc kỷ trang trọng cạnh chiếc kỷ bỏ trống của Dung Viên, trong tiếng chúc mừng của quan khách, nụ cười trong mắt như một đóa hướng dương mùa đông có đủ ánh mặt trời, không thể đoán lúc nào nở thật, lúc nào không, giống như cô sau năm mười một tuổi, trong ánh dao và sắc máu đã dần dần học được cách hành xử nửa thật lòng nửa giả dối. Ánh mắt Dung Tầm ngưng lại trên gương mặt kiều diễm đoan nghiêm của cô, dường như muốn tìm biết điều gì, tôi nhìn theo ánh mắt chàng ta, nhưng cũng chẳng biết gì hơn.
                        Trong yến tiệc đông vui náo nhiệt, chớp nhoáng gặp riêng cũng không khó lắm. Trên bầu trời, những bông hoa tuyết bay tơi tả trong gió lạnh ù ù, đậu kín cành cây trụi lá, trong rừng mai phía xa nở rộ hoa trắng, chi chít trên cành, run rẩy trong gió lạnh.
                        Oanh Ca toàn thân áo tím, đứng dưới tán mai trắng, mái tóc đen dài chấm gót, vầng trán trắng ngần vương hoa tuyết trông như tuyết rơi trên bạch ngọc, môi hơi mím, cô ngoái đầu, ngay tôi đã quen nhìn mỹ nhân cũng không khỏi sững sờ, vội vàng nhìn sang Mộ Ngôn đang uống trà bên cạnh, sắc mặt chàng vẫn bình thường, không thấy tỏ ra xúc động. Có tiếng chân bước đến gần, trong rừng mai vắng, giọng Oanh Ca chầm chậm vang lên: “Đại nhân mời Cẩm Tước ra đây không biết vì nguyên cớ gì?”.
                        Tiếng bước chân dừng lại, người đàn ông vận đại hỉ bào tay cầm chiếc ô màu nhạt, đứng yên trong khoảng trống đầy hoa tuyết: “Oanh Ca…”.
                        Khuôn mặt thanh thú của mỹ nhân áo tím lộ vẻ băn khoăn: “Đại nhân… đại nhân nhận nhầm người rồi!”.
                        Môi ép ra nụ cười: “Cẩm Tước, Cẩm là cẩm tú lương duyên, Tước là dương tước cầu hoàn, phu nhân thứ chín của Trịnh hầu vương. Oanh Ca mà đại nhân vừa nói đã chết từ bốn tháng trước, tôi không phải là Oanh Ca, người đại nhân cưới hôm nay mới là Oanh Ca”.
                        Dãy núi phía xa uy nghi tĩnh mịch, tuyết lẫn trong gió, Dung Tầm đứng trước cô, cách năm bước, môi động đậy, nhưng không thành lời, lát sau, rút trong người ra một cái cốc gốm hình thù kỳ quái, thành sáng bóng nhưng đầy vết rạn, có vẻ như đã được ghép lại từ những mảnh vỡ.
                        Chàng nhìn cô, ánh mắt thâm sâu đặc như mực: “Ta thấy vật này ở Thanh Trì cư, nghe nói đó là món quà em định tặng ta?”. Cô giơ tay đón chiếc cốc, “Thế ư? Để tôi xem”. Cô buông tay, chiếc cốc rơi đúng vào hòn đá dưới chân, vỡ vụn.
                        Chàng nhìn cô, trầm ngâm: “Em hận ta?”.
                        Bất chấp uy nghi của phu nhân quân vương, cô ngồi xuống, cúi nhìn những mảnh gốm vỡ, lát sau đột nhiên bật cười: “Chiếc cốc này tôi từ nước Triệu phi ngựa trăm dặm hộc tốc mang về, định tặng chàng, chỉ sợ không kịp sinh nhật chàng, tay bị thương, lẽ ra phải đợi chữa trị xong quay về cũng không muộn, sao có thể muộn, lúc đó tôi quá ngốc, đã nghĩ là cả năm chàng chỉ có một ngày sinh, không ngờ tôi về sớm mà vẫn muộn, tôi đã đưa chàng lên quá cao, đến mức nhất định phải trân trọng, phải đối xử tinh tế chu toàn, kỳ thực chàng hoàn toàn không cần sự trân trọng và tinh tế chu toàn của tôi, trong mắt chàng tôi chỉ là một công cụ”.
                        Cô đưa tay vuốt món tóc mai ướt tuyết, môi vẫn cười, “Tôi giữ lời, giúp chàng nốt việc cuối cùng để hôm nay chàng có thể cưới Cẩm Tước như ý nguyện, tôi không nợ chàng nữa. Nhớ quá sâu sẽ bị tổn thương. Chàng thấy có phải không?”.
                        Chiếc ô màu nhạt hơi rung rung, rừng mai tĩnh mịch, chỉ có tiếng lạo xạo tuyết rơi, giống như ai đi chân trần trên lá khô mùa thu. Chàng giơ tay định kéo cô lên, nhưng cô đã tự đứng dậy.
                        Giọng chàng khe khẽ dưới tán ô: “Ta đã phụ em”.
                        Cô gật đầu: “Chàng đã phụ tôi. Chàng và Cẩm Tước, hai người đã phụ tôi”.
                        Chiếc ô rơi xuống đất, chàng không cúi nhặt, ánh mắt trở nên âu yếm dịu hiền, tôi nghĩ tôi không nhìn nhầm, nhưng tôi mong là tôi nhìn nhầm, thần sắc đó giống như cái buổi sáng lúc cô mười lăm tuổi, trong rừng trúc chàng luyện đao cho cô, lúc đó cô vẫn là đứa trẻ, sợ sấm sét, nhìn thấy máu là choáng, chàng thường cười cô, nét mặt cũng như bây giờ thật âu yếm thật dịu hiền.
                        “Ta đã phụ em, hận ta đi, như thế cũng tốt”.
                        Có những phụ nữ hâm mộ kẻ giết người, có vẻ vô lý, thực ra xuất phát từ ý nghĩ lãng mạn, cho rằng sát thủ rất mạnh mẽ yêng hùng, khi gắn bó với anh ta mới biết thật thảm khốc.
                        Giết chết một sát thủ không khó, làm sát thủ động lòng mới khó, cuộc đời của họ giống như đi trên dây giữa hai bờ vực thẳm, chỉ có nguy hiểm, với xã hội họ luôn có thái độ thù địch chống đối.
                        Có một cách khiến sát thủ động lòng, chính là giao tính mệnh của mình cho họ. Điều này có cơ sở logic vững chắc, thử nghĩ, những người đó luôn phải đối mặt với hiểm nguy sinh tử, hiểu rõ nhất sự yếu đuối rất nhân tính trước cái chết, chỉ cần giữ được tính mạng, mọi thứ khác đều không quan trọng, dẫu là kẻ keo kiệt nhất hạng, khi kề dao vào cổ hỏi cần tiền hay cần mạng, nhất định kẻ đó cũng không nói tôi cần tiền, hãy giết tôi đi.
                        Nếu có thể trao tính mạng cho người khác, không nói một sát thủ, một thích khách, cho dù một phàm nhân cũng khiến họ cảm động đến có thể xả thân tương cứu. Tôi không biết Dung Viên có hiểu, nhưng bất luận có hiểu hay không, trong đêm trừ tịch ở vương cung, khi một con báo gấm to đã trưởng thành điên cuồng lao vào Oanh Ca, phản ứng đầu tiên của chàng không phải là trốn vào một góc mà là kéo Oanh Ca về phía sau.
                        Dung Viên là Trịnh quốc đệ nhất đao thủ, người trong thiên hạ hình dung đao thuật Trịnh hầu vương nhanh như chớp giật, hoàn toàn không thể nhìn ra chiêu thức, ánh dao vừa lóe, đao đã thu về cắm vào bao, người bị chém thậm chí chưa kịp nhận ra, người ra tay đã đi xa. Theo lý, đao pháp như vậy, chém hai con báo là chuyện có thể, cái khó ở chỗ, trong bữa tiệc đêm trừ tịch đó Dung Viên lại không mang đao theo người, phản ứng của cơ thể nhanh đến mấy, trong tay ôm một người, né tránh cũng khó khăn.
                        Còn con báo gấm vồ mồi vốn rất nhanh, khi thịnh nộ càng khủng khiếp.
                        Bộ vuốt sắc bất ngờ chồm lên vai trái Dung Viên, bảy vị phu nhân xung quanh đồng thanh thét lên, cùng lúc các thị vệ lao đến, một người kịp thời đâm kiếm trúng ngực con báo, con vật trúng thương gầm lên, lao đến ngoặm đứt nửa cánh tay thị vệ đó. Cả toán thị vệ lập tức quây vòng tròn quanh con thú, bảo vệ Dung Viên phía sau. Nhưng con báo trúng thương điên cuồng lồng lộn còn lao đến cắn xé làm mấy thị vệ bị thương nặng.
                        Oanh Ca mặt tái nhợt, tay giằng đao của thị vệ đứng gần, Dung Viên cau mày, nghiêng người khéo léo cướp thanh đao trong tay cô, trở tay đẩy cô vào lòng Dung Tầm lúc này vừa xông ra cứu.
                        Đèn lồng trong cung sáng suốt mười dặm trong màn đêm bảng lảng sương khói, hoa tươi khắp nơi, một cảnh đêm đông huy hoàng hiếm có, phút chốc ánh nến hồng đã loang loáng ánh đao, nhuộm sắc máu, Trịnh hầu vương trẻ tuổi ung dung thể hiện đao pháp nhanh như ánh sao băng, chỗ ánh đao lướt qua chùm tia máu vọt lên không trung tản mạn sương khói, con báo giãy giụa gục xuống, đầu lăn lông lốc mấy vòng như một quả cầu.
                        Trong hoa đình bất chợt im phăng phắc, môi Oanh Ca run run, một tay đẩy Dung Tầm ra, lê váy dài loạng choạng chạy về bên Dung Viên đang cầm trường đao, giơ tay vuốt bờ vai bị thương của chàng, chợt tròn mắt thất kinh, máu đen đang thấm qua thường phục màu bạc, thần sắc chàng vẫn không thay đổi, hơi nhíu mày nhìn cô, vẻ không vui: “Cướp đao nhanh như thế để làm gì?”. Ngừng lại rồi tiếp, “Những lúc như thế này chỉ cần đứng sau ta là được”.
                        Cô không thể nói nên lời, mặt càng tái nhợt, môi run run, ôm chặt cánh tay chàng, dường như mọi nỗ lực của chàng đều là gắng gượng, quả nhiên chàng gục xuống ngay sau đó.
                        “Độc, vuốt con báo đó có độc”.
                        Sự thật là Dung Viên đã quá gắng sức, khi ngự y hốt hoảng đi đến, chàng vừa ngã ra, trường đao rơi xuống, Oanh Ca cố đỡ chàng, nhưng cả hai đều ngã ra đất. Cô nhổm dậy, quỳ trên nền tuyết nhuốm máu đỏ ôm lấy chàng, hoang mang nhìn vết thương vẫn đang tuôn máu trên vai chàng, nhìn đôi mắt nhắm nghiền và khuôn mặt đã trắng bợt của chàng, đôi môi tím ngắt ghé sát vành tai cứ xúc động là đỏ ửng của chàng, cô khẽ nói: “Nếu chàng chết, em sẽ đi theo chàng”.
                        Dung Tầm bên cạnh nghe vậy ngẩng phắt đầu, nhìn thẳng vào Oanh Ca đang ôm Dung Viên, nhìn sâu vào đôi mắt đen như nhân hạnh đào của cô, lúc này dù ánh trăng chiếu vào cũng không thấy ánh sáng.
                        Dung Viên đúng là bị trúng độc, mặc dù tôi tin là có nhiều người mong chàng ta chết, nhưng chung quy không phải là kịch độc có thể nôn ra máu chết ngay, cho dù cách thức đầu độc cao tay hơn nhiều so với dùng thuốc chuột.
                        Oanh Ca túc trực ở điện Thanh Lương suốt ba ngày đêm không ngủ, Dung Viên cuối cùng tỉnh lại, mặc dù vẫn suy yếu xanh xao, đôi mắt đen lại tràn đầy sinh khí khác thường. Chàng khoác áo choàng mỏng ngồi dựa đầu giường chăm chú nhìn Oanh Ca bê bát thuốc đi đến: “Lúc đó nàng đã nói gì?”.
                        Cô cúi đầu, múc một thìa thuốc đưa lên miệng thổi, đưa sát miệng chàng, “Uống thuốc đi đã, hết nóng rồi”.
                        Chàng cụp mi mắt: “Không uống”.
                        Mặt cô lộ vẻ bất bình, đổ thìa thuốc vào bát, lặng lẽ nhìn chàng, từ từ lấy ra trong ống tay áo một con xúc xắc: “Vậy, cái này tặng chàng”.
                        Chàng nhìn cô, cầm xúc xắc nhìn kỹ dưới đèn, miệng lẩm nhẩm: “Xúc xắc gắn đậu tương tư...”. Lát sau, cầm xúc xắc trong tay, ánh mắt như cười: “Tại sao tặng ta quân xúc xắc này?”.
                        Cô ngẩng đầu lườm chàng, “Chàng không biết ư?”.
                        Dung Viên lắc đầu: “Ta không biết”.
                        Cô nhao đến hai tay ôm mặt chàng, dụi mũi vào mũi chàng: “Chàng không biết thật ư?”.
                        Chàng nắm tay cô, ngẩng nhìn cô: “Không ai dám đối với ta như vậy, như thế là khi quân, đợi ta bình phục...”.
                        Cô nghiêng đầu nhìn chàng, má ửng đỏ như hoa mùa xuân lại nở sau tiết đông hàn. “Đợi chàng bình phục thì sao?”.
                        Chàng không nói, lặng lẽ nhìn cô.
                        Cô trượt xuống, gục trên đầu gối chàng, nói như tự an ủi: “Thiếp đợi chàng bình phục, nhanh bình phục nhé”.
                        Xúc xắc gắn đậu tương tư, thiếp tương tư chàng, chàng hỡi có hay.
                        Sau đó, mọi chuyện như Mộ Ngôn nói, Oanh Ca và Dung Tầm chung sống ba năm, được sủng ái nhất Trịnh cung, mùa xuân năm sau được phong đệ nhất phu nhân. Tôi không biết trên đời liệu có tình yêu vĩnh hằng, hoặc như Mộ Ngôn nói, một cuộc tình dang dở giữa lúc đẹp nhất mới có thể vĩnh hằng, như Thẩm Ngạn và Tống Ngưng ngày nào.
                        Sử Trịnh không thấy ghi chép chuyện này, đó là bí mật cung thất được giấu kín. Dung Viên bố cáo thiên hạ Tử Nguyệt phu nhân lâm bệnh qua đời, từ khi biết thân phận Oanh Ca chúng tôi đã biết nhất định có sự cố, nhưng không nghĩ sự cố chỉ là sự tự tôn của bậc quân vương. Năm Cảnh hầu thứ mười, chuyện Oanh Ca tráo đổi thân phận vào cung bị bại lộ. Dung Viên nổi giận. Oanh Ca bị phạt giam mười năm trong núi Đình Hoa để sám hối, mười năm không được xuống núi.
                        Núi Đình Hoa ở ngay sát biên giới Trịnh - Triệu, đó là ngọn núi thiêng của nước Trịnh, tương truyền là nơi hóa thân của một nữ thần được vương thất sùng bái, đàn ông không được đến, đàn bà nếu không được vương thất cho phép, cũng không được lui tới, ai trái lệnh sẽ bị chu di.
                        Năm đó Oanh Ca hai mươi ba tuổi, lừa dối Dung Viên ba năm, chàng chôn vùi mười năm tuổi xuân của cô ở nơi núi sâu cách biệt thế gian. Thị vệ trói cô áp giải khỏi Dung Nguyệt cung, cô muốn gặp chàng lần cuối cũng không được.
                        Hai tháng đầu bị nhốt ở núi Đình Hoa, ngày đêm cô suy tính tìm cách phá trận pháp trong núi trốn ra, cuối cùng mình đầy thương tích, cô cũng thoát ra được, đi suốt ngày đêm trở về vương cung ở kinh thành, dọc đường nghe tin triều đình ra bố cáo mình bị bệnh qua đời, và vị phu nhân thứ sáu của Dung Viên, Như phu nhân Hồng Châu đã hoài thai cốt nhục của chàng.
                        Do mình đầy vết thương, cô đi rất chậm, mới đến nửa đường đã bị thị vệ truy đuổi bắt được. Đường trường hoang vắng, trên trời một mảnh trăng lưỡi liềm cùng mấy đốm sao tàn, Dung Viên tưởng là đang ở kinh thành xa ngàn dặm bỗng vén rèm kiệu, dưới ánh trăng nghiêng, hiện ra khuôn mặt ẩn phong sương.
                        Mũi đao dài kéo lê trên đất, cô khó nhọc lết từng bước đến trước mặt chàng, như một đóa hoa rơi, để lại vệt máu dài sau lưng. Cô ngẩng đầu nhìn chàng, mắt ngấn lệ long lanh, giọng nghẹn ngào: “Lúc đó chàng đã nói với thiếp, chàng không như họ, chàng quên rồi ư?”.
                        Cô nắm ống tay áo chàng: “Xúc xắc thiếp tặng, chẳng phải ngày đêm chàng vẫn mang bên người đó sao, chàng...”.
                        Dung Viên ngắt lời cô, rút trong ống tay ra con xúc xắc, khẽ bóp, lớp bột trắng rơi xuống như cát: “Cô nói vật này?”.
                        Cô kinh ngạc nhìn chàng, ánh nước trong mắt càng dâng, nhưng trước khi tụ thành giọt đã bị ép tan đi, môi run run rất lâu, mới phát ra tiếng: “Kỳ thực chàng đã sớm biết thiếp không phải là Cẩm Tước đúng không? Cố tìm lý do để giam cầm thiếp”. Đột nhiên cô bật cười, “Chàng đã chán thiếp rồi chăng?”.
                        Cô giơ tay bịt mắt mình, giọng thấm buồn như nói với mình, hai má lại ngấn nước: “Sao thiếp có thể tin chàng như vậy, những người trong vương thất đâu có hiểu sự quý giá của nhân tâm”.
                        Xung quanh tĩnh lặng, cô từ từ buông tay, khóe mắt vẫn còn ánh nước, hai mắt lại mở to kiên cường, “Nghe nói Hồng Châu phu nhân đã hoài thai, chúc mừng chàng”. Những mạt bụi từ mảnh ngà bị bóp vụn bay theo gió, trong bóng đêm như dệt ra một dải sa mỏng, tay Dung Viên chợt cứng đờ, ngẩng đầu nhìn cô, đôi mắt sâu hoang vắng, xa xăm như ánh sao cuối trời ngày xuân.
                        Ngày xưa khi tình vẫn nồng, Dung Viên thường dạy đao pháp cho Oanh Ca, chị đã từng là hộ vệ của Dung Tầm, em biết đao thuật cũng chẳng có gì lạ, nhưng dạy thì dạy, chưa bao giờ thực sự đấu với cô một lần. Trận duy nhất này lại là đêm nay sau khi đã chia lìa. Ngàn vạn đóa anh đào tan tác dưới ánh đao như bóng chớp của chàng, theo gió bay xa, chàng chộp tay cô giao cho thị vệ: “Không đưa được phu nhân về núi, hãy mang đầu đến gặp quả nhân”.
                        Đó là lần cuối cùng họ gặp nhau.
                        Núi Đình Hoa quanh năm hưu quạnh, mặc dù nhân gian khắp nơi khói tỏa, duy chỉ nơi này bị lãng quên, xuân về oanh ca lảnh lót, hạ đến cây xanh ngút ngàn, thu sang lá đỏ xao xác, đông tới tuyết trắng mênh mang. Oanh Ca không nhắc tới Dung Viên nữa, cũng không tìm cách trốn khỏi núi Đình Hoa. Trong ba năm Trịnh quốc đã xảy ra bao biến cố, nhưng không một tin tức nào lọt tới núi này.
                        Ba năm sau, vú già được lệnh chăm sóc Oanh Ca ốm nặng, lúc lâm chung bà nắm chặt tay cô, đôi mắt đục rơi lệ: “Bệ hạ lệnh cho lão nô hầu hạ phu nhân mười năm, hôm nay lão nô đành phụ ủy thác của bệ hạ, phu nhân oán giận bệ hạ, nhưng hai năm trước bệ hạ đã lâm bệnh quy thiên, người đã chết, mọi oán hận cũng nên hóa thành cát bụi, bệ hạ mong phu nhân được sống bình yên, câu này lẽ ra mười năm sau mới được nói với phu nhân, nhưng lão nô mệnh bạc, không được hầu hạ phu nhân thêm nữa, phu nhân đã suy ngẫm tội lỗi ba năm, thực ra chẳng có lỗi gì, nhưng ba năm, ba ngàn ngày, thế gian dâu bể, có lẽ phu nhân đã nghĩ thông rồi?”.
                        Gió thổi qua cửa làm tắt ngọn nến, một lúc sau giọng Oanh Ca vang vọng, tan trong gió: “Vừa rồi vú nói gì? Dung Viên, chàng, chàng làm sao?”.
                        Sự thực cho thấy Oanh Ca vẫn chưa nghĩ thông, nếu nghĩ thông thì đã suốt đời làm bạn với ngọn đèn xanh trong núi, chứ không bôn ba vượt núi truy tìm kết cục năm xưa. Có thể thấy vú già không hiểu cô, cả đời cô luôn sống rất tỉnh táo, đã quen như vậy, không biết rằng hồ đồ một chút chính là phúc, người ta không nên làm khó chính mình.
                        Nhưng xuống núi cũng không có tiền, chưa bao giờ nghe có chuyện người bị giam lỏng còn mang một đống tài sản vàng bạc, cho dù xiêm y lụa là ngọc bội kim thoa do Dung Viên tặng cũng không thể tùy tiện đem cầm, đành quay lại nghề cũ, vừa giết người kiếm tiền vừa đi tìm Dung Viên.
                        Trên thế gian có bao nhiêu kẻ muốn giết người nhưng không có bản lĩnh ra tay, may họ có nhiều tiền, lần đầu tiên gặp Oanh Ca, cô nói cô không tin Dung Viên đã chết, xem ra cô không tin thật.
                        Đó chính là giấc mơ của cô, mơ đến chỗ này lại ngoảnh đầu, nghiền ngẫm lại những hồi ức đẹp đẽ của quá khứ, chìm đắm trong đó không thể thoát ra. Cuối cùng tôi đã hiểu cô muốn gì, cô muốn Dung Viên, cho dù Dung Viên đã nhốt cô trong núi, cô vẫn muốn chàng ta.
                        Nếu Dung Viên chưa chết, đối với cô chàng chỉ là người phụ bạc, ba năm, năm năm, bảy năm, nhất định có ngày cô sẽ quên, nhưng mọi người đều nói chàng đã chết, để lại bao mối hoài nghi, mà khi người đã chết, sự chia ly cuối cùng lại biến thành hoài niệm, ngay cả những lời độc ác ngày xưa cố tình nói ra để làm đau lòng cả hai dường như cũng không làm người ta đau lòng nữa, giống như hồi ức về một cây xanh bị chặt, người ta chỉ còn nhớ hình ảnh huy hoàng cành lá sum suê, mà quên đi vẻ khô héo điêu tàn của nó khi đông về.
                        Nhưng càng sợ hãi càng không thể sợ hãi, bởi vì không có ai ở bên mình, cô nói không tin Dung Viên đã chết, nói chắc như đinh đóng cột nhưng trong lòng lại vô cùng sợ hãi, vậy là ngày nghĩ đêm mơ. Giấc mơ phản ánh mong muốn trong lòng, người ta trong lúc yếu đuối điều khó nhất là chống lại dục vọng trong lòng, Oanh Ca mãi không tỉnh lại, bởi vì bản thân cô không muốn.
                        Mộ Ngôn đập cái quạt: “Làm thế nào đưa cô ta ra, đã nghĩ ra cách chưa?”.
                        Chàng hỏi rất đúng lúc, tôi đang định nói ra ý nghĩ đó, không trung đột nhiên bùng nổ những tiếng sấm ầm ầm, giống như sông ngân hà trên trời nổi sóng, chớp mắt đã mưa như trút nước, nước mưa theo tiếng sấm xé tầng mây dày xối xả trút xuống, màn mưa chọc thủng bầu trời lớp lớp bao vây thành Tứ Phương trong đêm.
                        Từ xa một âm thanh kinh hoàng truyền đến, cổng thành đóng chặt đột nhiên bật tung, một con sóng khổng lồ cao mấy trượng ồ ạt tràn vào thành, như con mãnh thú tham lam há mồm đầy máu. Đã tưởng giấc mơ này tương đối bình yên, không ngờ nguy hiểm ập tới trong chớp mắt. Nước lụt không ảnh hưởng đến tôi, tôi không cần hít thở, chỉ cần viên giao châu không bị tổn hại là không sao. Mộ Ngôn lại khác, chàng là người sống. Đầu tôi đột nhiên trống rỗng, tại sao tôi lại đưa chàng vào giấc mơ của Oanh Ca, để chàng gặp nguy hiểm. Nước lũ đục ngầu chớp mắt đã dâng lên tới cổ, viên giao châu trong ngực đập thình thình, như một trái tim thực sự, một trái tim sống, tôi nghĩ nhất định là do Mộ Ngôn, không còn khả năng nào khác, giơ tay túm lấy Mộ Ngôn, tay vừa giơ lại bị chàng túm lấy, má chạm vật gì ấm áp, giơ cánh tay còn lại sờ soạng xung quanh, sờ đúng gò mũi thẳng và đôi môi mềm mềm âm ấm của chàng. Đúng là Mộ Ngôn, chàng đang ở bên tôi.
                        Mộ Ngôn biết bơi, cho dù phải kéo tôi cũng bơi rất tốt, nhưng sóng từng trận lớn ập tới, dù bơi giỏi đến mấy cũng khó khăn.
                        Trong thế giới câm lặng trùng trùng sóng nước, mắt dần thích nghi ánh sáng, nhưng không có phản ứng gì nhất định sẽ khiến Mộ Ngôn lo lắng, tôi liền giơ tay ôm mặt chàng, cách làn nước cũng có thể nhìn thấy vẻ mặt ngạc nhiên của chàng, đây là ánh mắt tôi luôn muốn nhìn, là đôi môi tôi luôn muốn hôn.
                        Khi tôi hôn Mộ Ngôn, không biết vẻ mặt chàng thế nào, khoảng cách quá gần đương nhiên không thể nhìn thấy. Tôi đang tiếp khí cho chàng trong nước, nhưng không biết làm thế nào để mở hàm răng, chuyện này sư phụ đã dạy tôi, Quân Vỹ cũng từng viết trong tiểu thuyết, dụng cụ cần sử dụng chỉ có thể là đầu lưỡi, nhưng phải vừa dán môi vào môi chàng để nước khỏi tràn vào, vừa phải dùng đầu lưỡi cậy răng chàng nên hơi khó khăn.
                        Chúng tôi duy trì tư thế môi dán môi, sóng nước cuộn dềnh rùng lắc từng cơn, một tay Mộ Ngôn quắp eo tôi, cơ thể càng ép sát, tôi nắm chắc vai Mộ Ngôn, dán môi càng chặt, đẩy khí trong ngực vào miệng chàng. Hai mắt Mộ Ngôn bất chợt mở to, không khí nhiều như vậy, thực ra đã đủ, nhưng tôi vẫn không muốn rời môi khỏi môi chàng, sau này có lẽ không còn cơ hội như thế nữa.
                        Trong nước thực ra cũng có cái hay, ai cũng nín thở, hôn nhau trong khoảng cách gần như vậy, Mộ Ngôn cũng sẽ không phát hiện ra tôi không có hơi thở. Mặc dù cơ bản không giống nụ hôn, nhưng tôi có thể giả vờ coi là thế.
                        Con người mà tôi yêu này thực sự rất mạnh mẽ, nhưng trong thời khắc này cũng cần tôi bảo vệ, tôi sẽ bảo vệ chàng thật tốt, không để chàng bị một vết thương nào, mặc dù nguy hiểm chàng lâm vào là do tôi gây ra...
                        Khi thế nước nhỏ dần, chúng tôi tóm được một khúc gỗ, Mộ Ngôn bế tôi lên đó, phóng mắt nhìn quanh, đúng là một vùng quê trong mơ, nhưng không nhìn thấy Oanh Ca ở đâu, cho dù muốn đưa cô ra khỏi giấc mơ cũng không biết làm sao.
                        Nhưng lại nghĩ, đây là giấc mơ của Oanh Ca, mộng cảnh đều do tiềm ý thức của cô tạo ra, cô là tất cả trong giấc mơ đó, giống như Hoa Tư mộng tôi dệt cho khách, mặc dù không nhìn thấy họ, nhưng đâu đâu cũng có ý thức của họ...
                        Tôi thầm nghĩ, cuối cùng hiểu, cúi đầu nhìn dòng nước lũ cuồn cuộn bên dưới khúc gỗ, tôi nói ra một câu lẽ ra nên nói sớm hơn: “Dung Viên chưa chết, chàng đang đợi cô, tôi biết chàng ở đâu, cô có muốn đi cùng tôi?”.
                        Cơn lũ đột nhiên dừng lại. Tôi chỉ tia sáng phía trước, chính là mộng kiều để ra khỏi giấc mơ, nói tiếp: “Đi ra từ chỗ kia, cô sẽ tìm thấy chàng”.
                        Trong y quán, Oanh Ca cuối cùng mơ màng tỉnh lại, mắt mơ hồ nhìn chúng tôi, không nói một câu. Trong mơ cô sẽ chỉ nghe thấy tiếng tôi mà không nhìn thấy tôi. Do toàn thân ướt sũng tôi và Mộ Ngôn phải về phòng thay quần áo, đành gọi lão đại phu dậy chăm sóc Oanh Ca. Vầng đông đã hơi rạng, qua hàng giậu thấp bao quanh đình viện, có thể nhìn thấy cánh đồng lúa bát ngát phía xa. Mộ Ngôn cười: “Đi ra từ chỗ kia cô sẽ tìm thấy chàng là thế nào? Tôi cứ tưởng cô chưa bao giờ nói dối, chưa bao giờ đánh lừa người khác”.
                        Tôi khẽ thanh minh: “Không phải là đánh lừa, nếu trong mộng, suốt đời cô ấy cũng không thể tìm thấy Dung Viên, trong hiện thực, bất luận Dung Viên sống hay chết, nhất định có ngày cô ấy có thể tìm ra sự thật. Oanh Ca đầu óc luôn tỉnh táo, không tự dối mình, cũng không muốn dùng thứ khác đánh lừa bản thân, cho dù trong mơ”.
                        Chàng ngắt lời tôi: “Thế còn cô?”.
                        Tôi lắc đầu đi nhanh về phía trước: “Tôi chưa bao giờ nằm mơ”. Người chết không nằm mơ, ngủ tôi còn không cần, huống hồ là mơ.
                        Chàng dừng lại, thay đổi chủ đề khác hóc búa hơn: “Vậy vừa rồi trong nước lũ, cô làm gì vậy?”.
                        Tôi choáng váng, quay đầu giả bộ trấn tĩnh nhìn chàng: “Tôi tiếp khí cho huynh, huynh xem, mặc dù tôi biết Hoa Tư dẫn, nhưng vẫn cần có một số dị năng khác”.
                        Chàng mỉm cười nhìn tôi, nhưng không nói gì chỉ gật đầu: “Đi thay quần áo thôi”.
                        #12
                          manhbv 31.01.2013 22:16:34 (permalink)
                          Chương 11

                          Oanh Ca ra đi không cáo biệt. Mặc dù lão đại phu của y quán vô cùng kinh ngạc, nhưng chuyện này thực ra cũng nằm trong dự liệu của tôi, hai ngày trước, vừa mới xuống giường được cô đã nóng ruột muốn đi, chỉ là cơ thể còn quá yếu, mới ra đến cổng gặp gió đã ngã gục.
                          Nhìn Oanh Ca lảo đảo khụy xuống, tôi nghĩ, chỉ cần có sức để bước, cô ấy sẽ lập tức rời y quán, không đợi thêm một ngày. Cô nôn nóng muốn tìm câu trả lời, không thể chờ thêm một khắc. Quả nhiên, chưa đến hai ngày, cô để lại tiền thuốc, lẳng lặng ra đi.
                          Tôi không biết có nên tiếp tục đuổi theo Oanh Ca, bởi vì thân phận Thập Tam Nguyệt phu nhân thật giả thế nào hầu như đã biết, ngoài Dung Viên rốt cuộc đã chết hay chưa, thực ra không còn nghi vấn nào nữa, nhưng nếu chuyện này kết thúc ở đây, có nghĩa là ngày chia tay giữa tôi và Mộ Ngôn sắp đến.
                          Tôi không biết nên làm gì để cứu vãn, tôi muốn ở bên chàng thêm ít nữa, có thể do chàng không yên tâm để tôi đi một mình, ít nhất sẽ cùng tôi đi tìm Quân Vỹ và Tiểu Hoàng? Nếu thế, liệu có nên viết thư cho Quân Vỹ bảo anh ta hãy trốn thật xa, cả đời này đừng để cho chúng tôi tìm thấy?
                          Cho dù thế nào cũng nên thăm dò ý tứ Mộ Ngôn.
                          Đi thật nhanh đến tìm chàng, nhưng Mộ Ngôn không có trong phòng, mới sực nhớ nửa canh giờ trước nhìn thấy một con chim bồ câu đưa thư đậu vào cửa sổ phòng chàng, có lẽ Mộ Ngôn ra ngoài gặp khách. Tôi vừa quay ra vừa suy nghĩ chuyện về Thập Tam Nguyệt, nếu Dung Viên quả thật đã chết, vậy lời đồn chàng ta bị bệnh qua đời liệu có đáng tin?
                          Trong lịch sử cũng có không ít những truyền thuyết như vậy, nhưng vương cung là nơi quy tụ những danh y giỏi nhất nước, một bậc quân vương khó có thể chết vì bệnh. Nếu đúng như Mộ Ngôn nói, Bình hầu vương Dung Tầm lên ngôi là do bức cung chứ không phải Cảnh hầu chủ động nhường ngôi, như vậy tin đồn cái chết vì bệnh của Cảnh hầu nửa năm sau rất đáng nghi ngờ.
                          Tôi nghĩ lại, tiền triều tông thất bạc nhược, xã tắc suy yếu, có nhiều chư hầu, công tử Tương Tuyên Mộc của Tây Tấn giết phụ thân và huynh đệ cướp ngôi, bị Tề hầu vương lên án, mới liên kết với chư hầu trong thiên hạ cùng thảo phạt Tây Tấn, không đầy hai tháng, Tây Tấn đại bại, quốc thổ chia năm xẻ bảy, phần lãnh thổ lớn nhất bị nhập vào nước Tề.
                          Nếu tôi là phận nam nhi, biết Hoa Tư dẫn có thể thăm dò bí ẩn riêng tư của người khác, biết đâu nước Vệ sẽ không bị diệt.
                          Trí tưởng tượng của tôi từng bay bổng cho rằng mình không gặp thời. Ý nghĩ không thể nào gạt đi đó khiến tôi không khỏi bàng hoàng tiếc nuối, cuối cùng tôi hiểu tại sao các bậc tiền bối tu luyện Hoa Tư dẫn bằng cách lấy mạng sống của người khác không ai có kết cục tốt đẹp, bởi vì bản thân bí thuật đó đã là một tham vọng, dễ mê hoặc lòng người nhất, khi gieo mầm tham vọng, nếu không tự kiềm chế, cuối cùng sẽ có ngày sẽ bị chính bông hoa lớn nở ra từ mầm tham vọng đó đè chết.
                          Ngay bản thân tôi dù chỉ là người chết cũng không kìm nổi ảo tưởng có Hoa Tư dẫn tôi sẽ được những gì, nhưng chung quy, nếu nhìn nhận lại biến cố của Trịnh cung, ngoài có giá trị đối với các nước chư hầu trên mảnh đất đại lục sóng gió này thì chẳng liên quan gì đến tôi.
                          Ra khỏi y quán, nhìn núi non trùng điệp phía xa, không biết nên đi đâu tìm Mộ Ngôn, băn khoăn một hồi, quyết định đi dạo men theo con phố. Không có Tiểu Hoàng đi cùng, cảm thấy hơi buồn, nhưng lại nghĩ, nếu có Tiểu Hoàng, tìm thấy Mộ Ngôn, chẳng phải nó sẽ cản trở hai chúng tôi hay sao, vậy là lại không muốn có nó nữa.
                          Ngày đã tàn, nền trời xanh màu ngọc bích, mặt trời lặn hắt lên chùm hào quang sáng rực, gió vẳng đến tiếng hát từ những thuyền cá trên sông, thành trì nhỏ lúc hoàng hôn thực êm ả. Thong thả, lúc đi lúc dừng, ngẫu nhiên bước vào một cửa hiệu bán đồ cổ, thực ra tôi không mấy hứng thú với đồ cổ, nhưng lúc này mắt vừa liếc đến một nơi, hai chân đã không thể nhúc nhích, đó là một chiếc trâm bạch ngọc chạm khắc tinh xảo lóng lánh trong ánh chiều muộn.
                          Đứng ngây trước quầy hồi lâu, cảm thấy chưa đã, lay ông chủ đang ngủ gật bên cạnh lấy ra cho xem, cầm lên ngắm nghía, lại ngơ ngẩn một hồi.
                          Lão chủ quán nheo nheo hai mắt: “Chiếc trâm này có đến hai trăm năm tuổi, là ngọc thượng hạng, chế tác thượng hạng, vừa mới nhập hôm qua, cô nương vừa nhìn đã thích vậy là rất có duyên với nó, nếu cô nương thích, lão xin để lại cho cô ba với giá trăm thù vàng”.
                          Tôi lại thở dài, thẫn thờ hồi lâu, đừng nói ba trăm thù vàng, ngay một đồng tôi cũng không có. Nhưng chiếc trâm này quả thực rất hợp với Mộ Ngôn, khiến tôi không thể bỏ đi.
                          Chia tay với Mộ Ngôn là tất yếu, mà ngày tái ngộ lại xa vời vô định, hai mươi năm nay chàng gặp gỡ bao nhiêu cô gái, hai mươi năm sau, và hai mươi năm sau nữa chàng còn gặp bao nhiêu cô gái nữa, tôi chỉ là một trong những cô gái chàng đã gặp mà thôi, nhất định có ngày chàng sẽ quên.
                          Tôi vùi đầu vào lòng bàn tay, hồi lâu, ngẩng đầu buồn bã nhìn ông chủ: “Tôi có thể dùng vật gì để đổi lấy cái này?”.
                          Ông ta băn khoăn, lại hỏi sang chuyện khác: “Chiếc trâm này có can hệ gì với cô nương ư?”.
                          Tôi lắc đầu: “Không có can hệ gì, chỉ là tôi muốn có nó để tặng một người nhưng không có tiền, tôi nghĩ có lẽ người ấy sẽ thích vật này, sẽ suốt đời...”. Nói đến đây lại ngẩn ra, cảm thấy Mộ Ngôn sẽ không suốt đời dùng chiếc trâm này, lại miễn cưỡng nói chữa: “Đằng nào khi người ta giữ nó, có lẽ sẽ nhớ đến tôi”.
                          Chủ quán nhìn tôi hồi lâu: “Vậy cô nương định dùng vật gì để đổi?”.
                          Tôi ngẫm nghĩ: “Ở đây ông có nhận nuôi hổ không, bốn chân, vẫn còn sống”.
                          “...”.
                          Cuối cùng tôi dùng một bức họa để đổi lấy chiếc trâm bạch ngọc đó, lão chủ quán còn trả lại tôi một trăm thù vàng, khi nhận bức họa còn cười nói: “Nếu không biết rõ lai lịch, lão cơ hồ còn tưởng bức họa này của cô nương là bút tích của Văn Xương công chúa”.
                          Tôi sửng sốt: “Bác thật uyên thâm, nếu là bút tích thật, bác bảo nó đáng giá bao nhiêu?”. Ông ta vuốt râu cười: “Không dưới một vạn đồng vàng”. Tôi kìm chế để khỏi xông vào lấy thêm vài món đồ cổ nữa. Lại thầm nghĩ, trên đời này ngoài tôi ra, còn ai biết bức sơn thủy vẽ thành Tùy Viễn này trị giá một vạn đồng tiền vàng, mà nếu như quả thật tôi còn sống, bức họa đó sao có thể có giá như vậy. Diệp Trăn đã chết, bút họa của Diệp Trăn cũng chết, cho dù tôi có vẽ tiếp, những gì vẽ ra cũng chỉ là phế phẩm mà thôi.
                          Khi ra khỏi hiệu đồ cổ, các nhà trên phố đã lên đèn, gặp lão đại phu của y quán đi mua rượu, qua ông ta được biết, Mộ Ngôn đến Trích Tiên lầu. Tôi tưởng đó là tửu lầu, đang định vào ăn tối, cầm cái trâm trong tay phấn khởi hỏi đường đến đó, vào đến cửa lầu mới biết đó là lầu xanh.
                          Nhất thời không biết cảm giác thế nào, chưa bao giờ nghĩ Mộ Ngôn có thể vào lầu xanh, nhưng coi như vẫn giữ được bình tĩnh, lót tay ít tiền cho một người làm công trong đó mới đến trước một cái đình hóng mát trên đài cao, nhìn thấy một cô gái tư dung xinh đẹp ngồi trước cây đàn thập huyền, còn Mộ Ngôn dáng ung dung nhàn nhã đang ngồi pha trà bên bộ ấm chén bằng đá mộc ngư.
                          Trong đình có một chiếc lò sưởi nhỏ rất xinh xắn, trong lò than củi cháy đượm bốc ngọn lửa xanh, chắc là đốt bằng than gỗ trám, tôi nghĩ đến một cái tên, đã cảm thấy mặt mình trắng bệch, Tần Tử Yên. Nghĩ đến đây, sự phẫn nộ của người đến hỏi tội bỗng chốc tiêu tan, nếu cô gái kia là Tử Yên thật, lúc này tôi đến có thể làm được gì? Thử hình dung khi tôi đến Mộ Ngôn sẽ giới thiệu thế này: “Đây là Tử Yên, sang năm chúng tôi sẽ thành hôn, nhân tiện mời cô đến dự tiệc rượu”. Phản ứng kìm chế nhất mà tôi có thể nghĩ ra là xông đến bóp cổ chàng rồi cùng chết với chàng. Trở gót định quay ra, ngẩn đầu phát hiện ánh mắt hai người ngồi trong đình đã cùng lúc dừng trên người tôi, đây là một cái đài cao đơn độc ở hậu viên Trích Tiên lầu, có nghĩa xung quanh không có bất kỳ chỗ nào để trốn.
                          Tôi ngẩng đầu trợn mắt nhìn Mộ Ngôn, lát sau, đủng đỉnh đi đến, ngồi xuống một chỗ cách họ khá xa, Mộ Ngôn nhìn lướt tôi một cái, lại cúi đầu pha trà, chàng làm gì trông cũng rất duyên dáng.
                          Lúc này màn đêm đang lan tràn, bốn góc mái hiên cong của đình hóng mát đã treo đèn lồng, trong ngôi lầu chính phía trước vẳng ra tiếng hát, có ngân lượng hậu hĩnh thì sẽ có hưởng thụ âm nhạc đích thực, đây là nơi đơn giản nhất thế gian.
                          Nhưng vẫn còn một vấn đề cần giải quyết, tôi ghé đầu hỏi cô gái ngồi sau cây đàn: “Cô là Liên Tinh thật sao?”.
                          Cô gái không trả lời, người tiếp lời là Mộ Ngôn: “Liên Tinh cô nương hôm trước từ Kim thành kinh đô nước Triệu đến thành Tùy Viễn, sẽ lưu lại đây hai tháng, bái vũ sư ở Trích Tiên lầu học múa”.
                          Tôi liếc chàng: “Hai người quen nhau?”.
                          Chàng đang rót nước nóng tráng ấm chén, rót lên cả nắp ấm, cử chỉ rất duyên dáng đẹp mắt, như lưu thủy hành vân, “Không quen, sao?”.
                          Tôi nghiêm mặt: “Nói dối!”.
                          Cuối cùng chàng ngẩng đầu: “Ồ? Sao tôi lại nói dối?”.
                          Tôi nhìn mặt chàng, cảm thấy khuôn mặt đó quả thực rất đẹp, sao có thể lừa dối: “Huynh nói cô ấy mới đến hai ngày, huynh cũng lần đầu đến thành Tùy Viễn, sao có thể ngồi với nhau?”.
                          Liên Tinh nét mặt như cười như không, lên tiếng: “Nô gia trước đây quả thực chưa gặp Mộ công tử, hôm nay có thể cùng công tử hàn huyên, chẳng qua là cơ duyên, vả lại có những điều...”. Nói đoạn mỉm cười, liếc Mộ Ngôn “... khá hòa hợp với công tử mà thôi”.
                          Mộ Ngôn gật đầu tán đồng: “Chính là thế”. Nói xong vẫn tiếp tục tráng cốc chén, rồi như chợt nhớ ra: “Ăn tối chưa?”.
                          Cảm giác của tôi lúc này là tức muốn chết.
                          Chàng cười, quay đầu nói với Liên Tinh: “Bảo mang ít đồ ăn, xem ra cô ấy đói rồi”.
                          Tôi nghiến răng, đứng dậy bỏ đi: “Huynh mới đói, cả nhà huynh đói”.
                          Kết quả đứng lên quá vội, chân giẫm vào gấu váy, suýt ngã vào lò sưởi, bị chàng kéo lại: “Định đi đâu?”.
                          Tôi mím môi, ép nước mắt không cho chảy ra: “Đi dạo!”.
                          Chàng để tôi ngồi xuống: “Ăn xong hãy đi”.
                          Tôi hất tay chàng: “Không ăn, tôi quen đi dạo trước bữa tối”.
                          Chàng cau mày: “Có thói quen đó từ lúc nào? Sao tôi không biết?”.
                          Tôi nghiến răng: “Bắt đầu từ hôm nay”.
                          Đi khá xa, sau lưng truyền đến tiếng cười nhẹ của Liên Tinh: “Xem ra tiểu cô nương giận lắm”. Chỉ trách thính giác tôi quá tốt, nhưng đồng thời lại muốn nghe phản ứng của Mộ Ngôn, dỏng tai nghe, chỉ có một câu, “Kệ cô ấy”.
                          Nước mắt lập tức trào ra, thầm nghĩ, đáng ghét, con người đó thật đáng ghét.
                          Trên trời sao dần dần mọc dầy, giống như lẵng hoa nở trong đêm, tôi ngồi trong cái lều tranh phía sau y quán suy nghĩ sự đời, gió hồ thổi qua, cảm thấy hơi lạnh, rụt tay vào ống tay áo.
                          Cái gọi là nghĩ thì dễ làm thì khó, đúng là một đạo lý bất biến từ cổ chí kim, giống như tôi luôn mong mình suy nghĩ thông thoáng, cũng luôn cho là thực ra mình đã nghĩ thông, khi xảy ra sự việc mới thấy, nghĩ thông hay không chỉ là trong ý niệm, mà ý niệm này quả là đa biến. Ngửa nhìn bầu trời có những vệt sao rơi, tôi thở dài.
                          Chưa thở hết, sau lưng có tiếng chân bước, không cần ngoái đầu cũng biết là Mộ Ngôn, tôi vội ngậm miệng, giả bộ không phát hiện ra chàng, cũng tuyệt nhiên không mở miệng hỏi chàng. Mộ Ngôn mỉm cười, tự ý đến ngồi bên cạnh: “Vừa rồi biết được một tin rất thú vị, có muốn nghe không?”.
                          Tôi ngoảnh mặt đi: “Không!”.
                          Chàng để hộp thức ăn xuống: “Tôi lại tưởng cô sẽ vui”. Chàng dừng lại, “Là tin về Cảnh hầu vương Dung Viên”.
                          Tôi ngoảnh lại: “Sao? Vậy thì nghe tạm”.
                          Tôi tưởng sẽ được tin về tung tích của Dung Viên, nhưng chỉ thấy hơi ngạc nhiên khi được tin, sau khi Dung Viên thoái vị, luôn có thánh dược Bách Lý Việt bí mật ở bên, Mộ Ngôn tay cầm cái quạt vẻ phấn khởi: “Bách Lý Việt là người cuối cùng ở bên Cảnh hầu vương, Dung Viên sống hay chết, vụ hỏa hoạn ở hành cung Đông Sơn là thế nào, chỉ cần hỏi ông ta là biết”.
                          Ý nghĩ nào đó lóe lên trong đầu, tôi vội hỏi: “Có phải Oanh Ca đến thành Tùy Viễn là để tìm Bách Lý Việt? Ông ta bây giờ ở đâu?”. Mặc dù biết Quân sư phụ có qua lại với Bách Lý Việt, nhưng nghe nói, hành tung của thánh dược luôn bất định, chắc là ẩn cư ở một nơi hoang vắng nào đó.
                          Mộ Ngôn mỉm cười gật đầu: “Đoán rất đúng, không chỉ có thế, Bình hầu vương Dung Tầm sở dĩ xuất hiện trên chiếc thuyền bình dân kia, có lẽ cũng là đến thành Tùy Viễn tìm Bách Lý Việt”.
                          Tôi hơi ngạc nhiên: “Chàng ta tìm Bách Lý Việt làm gì? Lẽ nào Cảnh hầu vương thực sự chưa chết, ngay chàng ta cũng không biết tông tích Dung Viên?”.
                          Mộ Ngôn đăm chiêu nhìn tôi: “Chuyện đó không nghe nói, theo tin tôi hỏi được, Nguyệt phu nhân được Bình hầu vương sủng ái trong cung không hiểu sao tự nhiên chết, lúc sắp an táng, một thầy bói thân tín nói Nguyệt phu nhân số chưa tận, còn có thể cứu, vậy là đi khắp nơi tìm danh y, mười mấy ngày trước đã hỏi thăm biết được Bách Lý Việt đang ẩn cư ở thành Tùy Viễn”.
                          Tôi không nén nổi, bật cười: “Chàng ta đúng là rất có lòng, thân là quân vương tôn quý lại thân chinh đi thỉnh cầu lang y, tình với Cẩm Tước quả là sâu nặng”. Vừa nói như vậy bỗng dưng nhớ ra, như thế này hóa ra đang nói chuyện tâm tình với Mộ Ngôn, vội vàng mím môi, làm bộ giận dữ, từ giờ bất luận chàng nói gì, nhất định không chịu tiếp lời.
                          Chàng cau mày: “Vừa rồi còn tốt thế, lại sao rồi?”. Nhưng tôi vẫn làm thinh.
                          Lát sau, chàng thở dài: “Đói bụng nên phá quấy phải không? Ăn tối chưa?”. Hóa ra từ đầu chí cuối chàng đều tưởng tôi đói nên giận dỗi, tôi thở một hơi dài, ngoái đầu lườm chàng: “Đây không đói! Không ăn!”.
                          Bàn tay đang mở nắp hộp cơm dừng lại: “Cái gì?”.
                          Tôi đang định hùng hồn nhắc lại lần nữa, miệng đã bị chàng nhét một viên bánh chẻo to đùng, nheo mắt nhìn tôi: “Vừa rồi nói gì, nói lại xem”.
                          Miệng tôi bị nghẹn bởi cái bánh, lòng có dư, sức không đủ, cố sức định nhè cái bánh ra. Chàng lại tiếp: “Dám nhè ra thử xem”. Tôi vốn định thử nhè ra, nhưng sau lưng bỗng nhiên có con gì kêu “choác” một tiếng, giật nảy người, nuốt vội cái bánh, đang định mở miệng nói, đôi đũa gắp chiếc bánh khác đã đưa sát miệng tôi: “Vừa rồi đã mua cho cô bánh chẻo nhân tôm phỉ thúy trên phố, nào, ăn cái nữa”.
                          Mặc dù vừa rồi coi như bị thua, nhưng nhất quyết không chịu lép vế, tôi tức giận ngoảnh đầu sang bên: “Không ăn, đã nói là không ăn, huynh lắm chuyện quá”.
                          Đôi đũa dừng trên không, chàng thu đũa về, giọng thản nhiên: “Được, không ăn thì đem cho người khác”.
                          Tôi còn tưởng vừa rồi mình nói quá, nghe thấy chàng nói vậy, lại tức sôi người, vốn định kiềm chế, nhưng không kiềm được, cảm thấy mắt sắp đỏ lên, giả bộ tỏ ra lạnh lùng, chẳng biết làm gì nữa, đành cố nén khóc: “Mang đi thì mang đi, mang cho cái cô Liên Tinh kia ăn, cô ta nhất định cảm kích, ăn xong sẽ đánh đàn cho huynh nghe, đằng nào tôi cũng chẳng biết gì, miễn cưỡng đánh một khúc là lấy tính mạng người ta”.
                          Tôi như bị nghẹn, không nói được nữa, trong ống tay áo là chiếc trâm mua định tặng chàng, chiếc trâm bỏ bao nhiêu công sức mới có được, vậy mà chàng lại đầu mày cuối mắt với cô gái khác. Lại còn cho là tôi giận dỗi vì đói bụng. Chàng không biết cả đời này tôi không biết đói là thế nào.
                          Mộ Ngôn nhìn tôi, ánh mắt lạ lùng, như có gì suy nghĩ, lại mông lung như mặt đầm sâu dưới trăng, lúc sau bỗng hạ giọng nói: “A Phất, cô...”.
                          Tôi ngắt lời chàng: “Tôi xấu xí, lại luôn quấy rầy huynh, đằng nào chuyện của Thập Tam Nguyệt cũng làm rõ rồi, ngày mai huynh đi đi, đi tìm cô Liên Tinh kia đi, đừng theo tôi nữa”.
                          Nói xong ngay tôi cũng giật mình, bất giác run run. Sao tôi lại muốn đuổi chàng, hơn nữa tôi cũng đâu thấy phiền phức gì, nhưng lời tiếp lời cứ thế nói ra, khiến lòng tôi đau nhói từng cơn, hình như Mộ Ngôn cũng buồn.
                          Chàng lại mỉm cười, thong thả phe phẩy cái quạt: “Đã đuổi tôi đi, vậy thanh toán hết tiền công cho tôi”.
                          Tôi cảm thấy lạ: “Tôi nợ huynh tiền công bao giờ?”.
                          Chàng chống đầu nhìn tôi: “Sau khi gặp lại ở Bích sơn tôi đã làm hộ vệ cho cô mười ngày, không nhanh quên như vậy chứ?”.
                          Tôi tức giận: “Tôi không nói thuê huynh làm hộ vệ, là huynh tự làm!”.
                          Chàng không nói, chỉ phe phẩy quạt.
                          Tôi cảm thấy bực mình, chủ yếu là không ngờ chàng đáng ghét như vậy, còn nhớ hôm nay dùng bức tranh đổi chiếc trâm, sau khi hối lộ lão bộc ở Trích Tiên lầu còn lại hơn chín mươi thù vàng, vừa lần túi tiền trong ống tay vừa bực mình hơn, tôi còn chưa kịp móc tiền ra, chàng đã gập quạt lại, lạnh lùng nói: “Một ngày một trăm thù vàng, chỉ tính nửa tháng thôi, vậy là một nghìn năm trăm thù, trả xong tiền công, sáng mai tôi lên đường, không làm phiền cô nữa”.
                          Bàn tay tôi dừng lại trong ống tay áo, kinh ngạc nhìn chàng: “Sao lại đắt thế?”.
                          Chàng dửng dưng nhìn tôi, dửng dưng phe phẩy quạt, dửng dưng mở miệng: “Con người tôi, so với những hộ vệ khác cũng chẳng có gì đặc biệt, chỉ khác một chữ thôi, đó là: đắt”.
                          Tôi bị chàng chọc tức muốn chết.
                          Buổi tối hôm đó kết thúc bằng việc tôi ném túi tiền vào đầu Mộ Ngôn.
                          Nhưng ngày hôm sau đã cảm thấy nên đi xin lỗi Mộ Ngôn. Nghĩ lại, nếu chàng cho tôi là người thất thường cũng chẳng có gì lạ, chàng không hề biết tôi thích chàng, giống như một lính hầu đi công cán với quan phủ, khi cần đi bộ lại nhất định cưỡi ngựa, còn đòi cưỡi chung ngựa với quan phủ, mà lại ấp úng không nói ra được nguyên do, quan phủ đó ngoài cảm thấy anh ta bị thần kinh cũng chẳng có ý nghĩ nào khác.
                          Từ trước tới giờ tôi chẳng qua chỉ mong một cái ngoái đầu của Mộ Ngôn, ôm hy vọng mong manh như vậy để quên thời gian, cuối cùng ngày chàng xa tôi càng tới gần, mỗi ngày càng gần, nhưng không hề khiến tôi thỏa mãn, trái lại càng muốn được nhiều hơn.
                          Luôn không muốn nghĩ, nhưng cuối cùng đã có thể bình tĩnh, suy nghĩ kỹ, mới nhận ra tình trạng như vậy thật đáng sợ. Tình cảm của tôi đối với Mộ Ngôn thực ra không thuần túy như tôi tưởng, cứ thế này nhất định không ổn, có lẽ thực sự cần suy nghĩ lại, chủ động rời xa chàng.
                          Chưa sắp xếp xong ý nghĩ trong đầu, chợt cửa phòng bị đẩy ra, tôi ngẩn người nhìn Mộ Ngôn nét mặt thản nhiên đứng ở cửa, nói theo phản xạ: “Chào...”. Chưa nói xong, không biết có phải do căng thẳng, đột nhiên cắn vào lưỡi.
                          Trong ấn tượng của tôi, tư thái Mộ Ngôn luôn phong nhã nhàn tản, rất ít khi thấy chàng nghiêm túc, lại còn có một cử chỉ thất lễ, tự đẩy cửa vào khi chưa được người ta cho phép. Một bức họa được mở ra trên bàn, tôi ghé lại nhìn, lại cắn vào lưỡi lần nữa, chính là bức họa tôi bán cho ông chủ hiệu đồ cổ hôm qua.
                          Ngẩng nhìn qua cửa sổ, trên bờ giậu tre, dây tơ hồng bò tràn lan, xen lẫn những bông hoa màu tím rất đẹp. Mộ Ngôn ngồi bên bàn, cánh tay nhàn tản chống mép bàn, ánh mắt lạ lùng hướng vào tôi vẻ thăm dò, lát sau mỉm cười, cúi đầu nhìn bức tranh sơn thủy mở rộng trên bàn, khẽ nói: “Vẽ khá lắm, nhưng từ nay đừng vẽ nữa”.
                          Tôi thấy lạ, hỏi: “Sao huynh có bức họa này?”.
                          Chàng không phủ nhận: “Cô kiếm được rất nhiều tiền, thành Tùy Viễn bé tí, đột nhiên cô có nhiều tiền như vậy, hỏi loanh quanh là biết ngay”.
                          Tôi không nói gì, bụng nghĩ mình vẫn giận chàng, không nên tỏ ra thân mật, nhưng vừa rồi đã quyết định xin lỗi chàng, vậy là bỗng dưng không biết nên tỏ thái độ thế nào.
                          Chàng lại như chưa yên tâm, ngón tay gõ xuống bàn, vẻ mặt nghiêm túc, nhắc lại lần nữa: “A Phất, nhớ đấy, từ nay không được vẽ nữa”.
                          Tôi không hiểu: “Tại sao?”.
                          Chàng không trả lời, tiếp tục ngắm bức tranh: “Nghe ông chủ hiệu nói, bức tranh này đáng giá bốn trăm thù vàng, vậy cô gán nợ cho tôi, tính ra cô vẫn còn nợ tôi một ngàn thù vàng, ồ, nên tiếp tục cố gắng”.
                          Tôi bất lực, phản đối: “Huynh không thể vô lý như vậy”.
                          Chàng cười giễu tôi: “Với trẻ con lý lẽ làm gì, trước giờ lúc nào cô chẳng vô lý!”. Không đợi tôi phản ứng, chàng đã mang nghiên mực đến: “Tranh đẹp đấy, nhưng tiếc là chưa có đề từ, muốn một đề từ thế nào?”.
                          Ánh nắng chiếu xiên, tôi nhìn chàng trong ánh sáng vàng như mật đó, bỗng nghĩ tới cái đêm sao đầy trời năm xưa, tôi bị rắn độc cắn ngất xỉu, chàng bế tôi, xiêm áo thoảng mùi hương mai, đêm trường mênh mang.
                          Mộ Ngôn lại giục: “A Phất?”.
                          Tôi lặng lẽ nhìn chàng: “Đối hoa đối tửu, lạc mai thành sầu, thập lý trường đình thủy du du”(*).
                          Vốn tưởng như vậy coi như hòa giải, hòa giải như vậy thực ra rất tốt, kết quả khi Mộ Ngôn vừa viết xong đề từ, thì đại phu đến tìm, sau lưng có một cô gái đi theo, tự xưng là nha đầu ở Trích Tiên lầu hầu hạ Liên Tinh cô nương, phụng mệnh cô nương đến mời Mộ công tử lại phủ hàn huyên.
                          Mộ Ngôn cuộn bức tranh, theo cô gái đi ra, đến cửa ngoái lại nói: “Tôi đi một lát về ngay”.
                          Tôi vốn đã nghĩ, cứ nhịn cho xong, bèn cố nhịn, nhưng một lần nữa không nhịn được: “Huynh đi luôn đi không cần quay lại nữa!”.
                          Cô gái đứng bên che miệng cười. Chàng dường như cảm thấy nực cười: “Lại giận gì thế, tôi đi làm chính sự, từ trước đến giờ chẳng phải rất…”, chàng nghĩ một lát, dùng từ “ngoan”, “... sao mấy ngày nay động tý là nổi cáu?”.
                          Tôi nghĩ, thì ra chàng đã bắt đầu chê bai tôi, quả nhiên vừa rồi quyết định chủ động rời xa chàng là đúng, nhưng trong lòng lại thấy tủi thân, buồn bã ngoảnh đầu đi.
                          Còn chàng dừng ở cửa một lát, không nói gì nữa, quả quyết đi theo cô gái. Người tôi thích thực ra chẳng hề quan tâm đến tôi, trước đây tôi nghĩ chỉ cần được ở bên chàng, chỉ cần được nhìn thấy chàng là vui rồi, bởi vì chàng không thích tôi, cũng không thích người khác ngay trước mặt tôi, nhưng bây giờ sự thể đã thế này, tôi ngắm nhìn bàn tay mình, mọi chuyện chẳng có ý nghĩa gì hết.
                          Tôi gục đầu xuống bàn, mặc cho nỗi buồn xâm lấn, lát sau cố nghĩ lại những chuyện vui để thay đổi tâm trạng, nửa canh giờ sau cảm thấy dễ chịu hơn.
                          Mộ Ngôn có cuộc sống riêng của chàng, tôi có cuộc sống riêng của tôi, còn tôi nên cùng với Quân Vỹ, thầm nghĩ, có nên đi tìm Quân Vỹ, vừa ngẩng đầu, đã giật nảy người, ôm ngực rất lâu, mãi mới cất tiếng chào người vừa đi đến: “Oanh Ca cô nương, cô không sao chứ?”.
                          Từ sau khi cô bỏ đi, tôi đã nghĩ sau này sẽ khó gặp lại, không biết hôm nay cô chủ động đến đây là có việc gì, chỉ cảm thấy trông cô có gì rất khác so với cô gái áo tím gặp ban đầu, lúc đó trong mắt cô có ánh sáng, lúc này hoàn toàn trống rỗng.
                          Cô nhìn tôi như thể không nghe thấy lời tôi, không biết bao lâu sau nới chậm rãi nói: “Tôi nghe nói thánh nhân không nói chơi, tôi đã gặp một thánh nhân, ông ta kể với tôi một số chuyện, nhưng tôi lại không tin những chuyện đó là thật. Ông ta nói cô là người duy nhất có thể giúp tôi, dùng ảo thuật của cô có thể nhìn thấy những gì người đời không nhìn thấy, những gì tôi muốn biết cô đều có thể giúp tôi nhìn thấy hết, ông ta bảo tôi đến tìm cô”.
                          Ánh mặt trời rọi qua cửa sổ, tôi đoán được điều cô muốn, nhưng không biết mình có đoán đúng, dừng lại một lát, tôi chống tay lên trán hỏi cô: “Cô muốn biết điều gì?”.
                          Môi cô động đậy: “Tôi muốn biết về phu quân của tôi”, lời chưa dứt đã nghẹn ngào, nhưng lập tức kiềm chế, “... muốn biết tại sao chàng bỏ tôi, bây giờ, chàng ở đâu?”.
                          Ngoài dệt mộng cảnh, Hoa Tư dẫn còn có công năng đó, có thể nhìn thấy quá khứ của người khác khi người đó không có mặt, nhưng nhất định phải có một vật mà người đó rất yêu thích làm vật dẫn cùng với máu của tôi, như vậy đánh bất cứ khúc đàn nào cũng không quan trọng.
                          Có điều dẫu phải dụng công như vậy, quá khứ nhìn thấy cũng chỉ là một ý nghĩ, một quá khứ của người đó liên quan tới vật dẫn. Giống như tôi muốn nhìn thấy quá khứ của Mộ Ngôn, lựa chọn dùng cây đàn của chàng làm vật dẫn, ngâm trong máu của tôi hai canh giờ, trong một không gian khép kín, dùng cây đàn đó đánh bất cứ khúc nào, trong không gian sẽ hiện ra cảnh tương tri, tương ngộ, và mọi cảnh liên quan của chàng với cây đàn kia, nhưng ngoài cái đó cũng không thể biết gì hơn.
                          Hơn nữa làm vậy rất hao tổn nguyên khí, lại không giống Hoa Tư mộng có thể giúp tu luyện viên giao châu, trái lại chỉ tiêu hao pháp lực của viên giao châu mà thôi, một lần tiêu hao pháp lực của viên giao châu tôi phải đổi hai năm sinh mạng của mình .
                          Chuyện này khiến tôi không thể không cân nhắc, thâm tâm tôi cũng thông cảm với cô, nhưng bản thân tôi cũng có nỗi khổ riêng, tôi đắn đo đưa ra đề nghị: “Cô muốn tôi dùng pháp thuật giúp cô, tôi không biết như thế có thể gọi là giúp hay không, bởi vì pháp thuật mà tôi làm được chỉ có thể là cô phải hiến thân mình cho tôi, tôi sẽ dùng xương cốt của cô làm thành cây cổ cầm, dùng cây cổ cầm đó đánh ra mộng cảnh, tái hiện quá khứ của cô và phu quân. Trong mộng cảnh đó cô sẽ nhìn thấy tất cả quá khứ của cô và phu quân liên quan tới cây cổ cầm, nếu phu quân cô hiện còn sống, tôi sẽ tặng chàng cổ cầm đó, nếu chàng đã chết, tôi sẽ táng cô cùng với chàng, để hai người mãi mãi bên nhau, nếu cô bằng lòng, tôi sẽ giúp”.
                          Khuôn mặt Oanh Ca vốn trắng bợt, lại càng trắng bợt hơn, đôi mắt đen đã hoàn toàn thất thần. Phải, có ai bằng lòng dùng tính mạng đi đổi lấy một kết cục chưa biết. Tôi đứng lên: “Oanh Ca cô nương, xin lỗi tôi không tiễn...”.
                          Lời chưa dứt, cô đã cắt ngang: “Tôi bằng lòng”.
                          Tôi ngẩng lên: “Cô nói gì?”.
                          Hai tay cô ôm trán, giọng lạnh lùng cố trấn tĩnh nhưng vẫn run run: “Gần đây, tôi thường nghĩ mình giống một mầm cây cố bật lên khỏi đất, muốn tìm một cây khác leo bám, nhưng không sao tìm được, lại không biết làm thế nào trồng lại mầm cây đó. Chỉ có thể cảm thấy rễ mình đang bắt đầu khô héo, dần dần khô héo từ thân tới lá, có lẽ sắp chết. Cô không biết cảm giác chết khô dần dần như thế nào đâu. Trước đây tôi cũng không biết”.
                          Cô dừng một lát, bình tĩnh lại, “Nếu quả thực có thể dùng thân tôi làm thành cây đàn thì quá tốt, sẽ tốt hơn chết khô dần dần, lại còn được ở bên chàng, cũng không cần chạy khắp nơi, chạy khắp nơi tìm chàng nữa”.
                          Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy Oanh Ca nói dài như thế, nhẹ nhàng hơn, nặng nề hơn bất cứ câu nào cô từng nói trước đây. Tôi lặng lẽ nhìn cô, lát sau, nói: “Tôi đùa cô đấy, tóc cô rất dài, rất đẹp, tôi không cần xương cốt của cô, chỉ cần đưa tôi mái tóc, tôi sẽ dùng nó làm dây đàn cũng có thể làm được cây đàn tôi muốn”.
                          Sau đó cần một gian mật thất, một chiếc đàn không dây, một cái bát, một con dao.
                          Hai canh giờ sau, tôi vớt tóc Oanh Ca khỏi bát máu, tẽ ra trên lòng bàn tay giống như dải lụa đỏ dùng để may áo cưới.
                          Những giọt máu li ti đậu chắc trên sợi tóc, dù đem giũ cũng không rơi, tôi se chúng thành bảy sợi dây đàn, lắp vào cây đàn gỗ phong, những dây đàn màu đỏ óng ánh dưới ánh nến.
                          Sở dĩ cần một gian mật thất là bởi vì nếu đang làm có người quấy rầy tất cả sẽ uổng công, làm lại từ đầu cũng không dễ bởi vì tôi vẫn còn máu, nhưng tóc Oanh Ca không thể mọc nhanh như vậy.
                          Đang lúng túng thì cửa phòng bị gõ nhẹ hai tiếng, từ cách gõ cửa có thể đoán khách là ai, tôi lững thững ra mở cửa, đột nhiên sực nhớ vấn đề có thể giải quyết, vội bước nhanh ra mở then cửa, Mộ Ngôn đứng ngoài, ánh mắt dừng lại sau lưng tôi, nhìn một lượt rồi lại nhìn tôi: “Đang làm gì vậy?”. Tôi liếc chàng, cắn môi ngoảnh mặt sang bên: “Cho chàng cơ hội lập công chuộc tội, được không?”.
                          Mộ Ngôn lắc đầu, “Không cần!”. Tôi chặc lưỡi, lườm chàng: “Người ta chủ động giảng hòa còn làm bộ!”. Chàng thở dài: “Thôi được!”.
                          Có Mộ Ngôn đứng canh, căn phòng tối đã thăng lên thành mật thất, tôi hoàn toàn yên tâm.
                          Vừa bấm phím đàn, đã thấy Oanh Ca chấn động, dây đàn dệt bằng tóc Oanh Ca gửi gắm tất cả thần thức của Dung Viên về cô, những mảnh quá vãng cô không chỉ có thể nhìn thấy, còn hiểu được Dung Viên nghĩ gì, tôi là người đánh đàn đương nhiên cũng biết.
                          Trên tầng không dần xuất hiện cảnh trong điện Chiêu Ninh đêm tân hôn, bên ngoài điện những cánh hoa lê mỏng manh bay trong tuyết, anh đào y hẹn cũng ra hoa. Lần trước chúng tôi cũng nhìn thấy cảnh này nhưng không biết Dung Viên nghĩ gì, lần này có thể hiểu ý nghĩ của Dung Viên từ ánh mắt đầu tiên nhìn thấy Oanh Ca.
                          Lần đầu nhìn thấy Oanh Ca, Dung Viên không biết cô gái xiêm y màu tím ngồi bên mép giường cúi đầu vuốt ve con báo gấm không phải là người chàng muốn cưới. Chuyện đó cũng không có gì lạ, ấn tượng của chàng về Cẩm Tước thực ra rất mờ nhạt, trên bãi săn cũng không nhìn kỹ, chỉ nhớ khi đưa con báo gấm bị thương cho chàng tay cô run run. Bàn tay thon thả trắng ngần không có dấu vết đao kiếm, không phải thích khách.
                          Cho dù Oanh Ca và Cẩm Tước không giống nhau, chàng cũng chưa hẳn nhận ra, sở dĩ lấy Cẩm Tước là chẳng qua là do Vương thái hậu nghe một thầy bói thân tín nói, trong buổi đi săn hôm đó chàng sẽ gặp một người con gái trong định mệnh của chàng.
                          Còn mãi đến đêm tân hôn, từ khoảng cách nửa điện Chiêu Ninh chàng mới lần đầu nhìn kỹ cô gái sẽ trở thành phu nhân của mình. Cô có hàng lông mày thanh dài, đôi mắt đen thẳm, dưới ánh nến đầy vẻ ấm áp dịu hiền, nhưng lại ngấm ngầm tỏa ra hàn khí, giống như món bánh tráng miệng bằng kem trong yến tiệc, lớp nước mai chua hoa quế rưới bên ngoài khiến món bánh trông như bốc hơi nghi ngút, nhưng bên trong lại là lớp lớp kem lạnh.
                          Chàng nắm tay cô, nhìn thấy vẻ hoảng loạn vừa lóe lại tắt trong mắt cô, đoán là cô sợ, nhưng đó là vẻ sợ hãi có bản lĩnh, cơ thể cứng đờ là phản kháng, nhưng tay lại không có ý vùng ra, cố tỏ ra nhu mì phục tùng nhưng lại không biết nhu mì phục tùng thật sự không phải là trấn tĩnh chấp nhận, mà là hoàn toàn tự nhiên bộc lộ nỗi bất an trong lòng.
                          Thân là quân vương, chàng chưa gặp một cô gái nào mà vẻ ngoài và nội tâm lại mâu thuẫn như vậy. Khi chàng hôn, cô cũng vẫn mở to mắt, đó là một đôi mắt rất đẹp, đen thẳm khi chăm chú nhìn chàng. Sau đó chàng nhìn thấy ánh nước hiện ra trong đôi mắt đó, ngón tay chàng vuốt ve đuôi mắt cô, bỗng như vừa chạm vào nguồn nước, cô bật khóc.
                          Cô khóc cũng tốt, trong khoảnh khắc đó chàng cảm thấy thích bộ dạng này của cô hơn, giống như khuôn mặt mất đi lớp phấn son che phủ, mọi bi hoan lộ ra chân xác nhất.
                          Mắt cô đỏ hoe, như có nỗi tủi rất lớn, lòng căng thẳng lại cố làm ra vẻ ung dung, nhìn thật đáng thương. Chàng an ủi cô, “Nếu sợ thì ngủ đi”, lời vừa dứt, cô đã xiêm áo lộ nửa người ngồi lên người chàng.
                          Trong chuyện này, chàng chưa bao giờ ở thế hạ phong, bản năng muốn nhổm dậy lấy lại quyền chủ động, vì nghĩ cô gái trên người trói gà không chặt, lực khí đã giảm đi nhiều, nhưng cũng đủ đảo vị trí lật cô xuống dưới. Nhưng sự thực là chàng không dậy nổi, nhưng vẫn cảm nhận được tấm thân áp vào mình đang run rẩy thế nào. Chàng nghĩ cô nhất định rất căng thẳng, căng thẳng đến mức không nhận ra một nữ nhi yếu ớt sao có thể bạo phát lực khí lớn như vậy.
                          Tóc cô rất dài, bàn tay nuột nà, óng mịn không có bất kỳ dấu vết nào, ngay bảy vị phu nhân xuất thân quý tộc chính thống trong hậu cung cũng không bằng. Nhưng trừ hài nhi mới sinh, ai có thể có đôi bàn tay không dấu vết như vậy, huống hồ nghe nói ở Dung phủ cô rất thích làm việc nhà.
                          Tóc cô quệt vào tai chàng nhồn nhột, chàng nghe thấy giọng cô: “Nhất định có ngày như thế này với bệ hạ, chi bằng ngay đêm nay, bệ hạ thấy có đúng không?”. Chàng thầm nghĩ cô gái này thật yếu đuối cũng thật kiên cường, vừa âm thầm nhẫn nhịn vừa gan góc đương đầu.
                          Đội quân ngầm không phải nuôi chơi, chuyện này rốt cuộc thế nào lập tức được làm rõ. Kết quả như dự đoán, thì ra Cẩm Tước không phải là Cẩm Tước mà là Oanh Ca, sát thủ Thập Tam Nguyệt, chàng nghĩ đến người cháu của mình, xưa nay vốn hành xử tỉ mỉ cẩn trọng nhất lại có thể không hiểu một điều, giấy sao bọc được lửa. Thà mắc tội khi quân cũng không chịu đưa Cẩm Tước thật vào cung, tất là yêu quý vô chừng. Từ cổ chí kim, các bậc minh quân, thánh chủ tối kỵ tranh giành với hạ thần hai thứ, một là tài sản, hai là đàn bà.
                          Chàng chậm rãi ngẩng đầu khỏi trang sách, liếc thị vệ đang quỳ dưới đất: “Hôm nay quả nhân không nghe thấy gì”. Thị vệ trẻ thật thà cúi đầu: “Bệ hạ nói phải, hôm nay thuôc hạ cũng không bẩm báo gì”. Chàng gật đầu, ý bảo lui ra, khi thị vệ ra đến cửa chàng lại gọi: “Vừa rồi ngươi nói, Dung Tầm làm thế nào xóa hết mọi vết sẹo trên người khi cô ta làm sát thủ?”.
                          Thị vệ ngập ngừng, mặt lộ vẻ xót xa: “Tâu bệ hạ, thay da”, nước trà trong cốc sánh ra rơi trên sách, chàng cúi đầu nhìn những dòng phê chú bằng mực đỏ ngấm nước trà lan ra, thầm nghĩ lúc đó nhất định cô ấy rất đau.
                          Đêm đó, phê xong chồng tấu chương trước án đã gần canh ba. Chàng không buồn ngủ, thong thả men theo Dụ Cảnh viên đi dạo, bất giác đi tới điện Chiêu Ninh lúc nào không hay, cả ngôi điện lớn phía đông hầu như không có bóng người, vắng vẻ cô quạnh, trước cửa điện có hai cây anh đào, một tiểu thái giám ngủ gật dưới gốc cây.
                          Trong điện có ánh đèn, chàng thong thả đến gần, cách năm bước liền dừng lại, tiểu thái giám thức giấc định hô báo, chàng ngăn lại. Từ chỗ đứng có thể nhìn qua ô cửa sổ chạm hoa văn quên chưa đóng, thấy cảnh trong phòng, Oanh Ca vẫn xiêm áo màu tím co gối ngồi trước ngọn đèn nhỏ, tay cầm quả cầu bằng lông khổng tước xoay xoay ngắm nghía dưới ánh đèn.
                          Một quả cầu như thế đứa trẻ nào hồi nhỏ chẳng được chơi, cho dù không phải làm bằng lông chim khổng tước nhưng niềm vui cũng như nhau. Chẳng có gì lạ, nhưng cô cầm quả cầu như cầm một vật quý, lặng lẽ nhìn hồi lâu, sau đó tung lên cao, ống tay áo phất lên làm ngọn đèn chao đảo, khi quả cầu rơi xuống cô đã đứng lên, khẽ nâng đùi dưới chiếc váy sát đất, quả cầu ngũ sắc bay vọt từ dưới lên theo đường cánh cung, vút thẳng lên sà ngang, cô nghiêng đầu ngắm nghía, đột nhiên bật cười, trông rất đỗi thơ ngây.
                          Quả cầu lại từ từ rơi xuống trúng đầu gối, cô hất nhẹ, lại bay lên không, cô xoay người muốn đón bằng gót chân, nhưng “bốp” một tiếng, quả cầu đã rơi xuống đất. Chàng lặng lẽ nhìn, lúc này cô đang ngạc nhiên ngoái đầu, mắt mở to nhìn quả cầu trên nền đất, vẻ mặt nghiêm túc đến buồn cười, nhìn một lát mới mấp máy môi gọi hầu nữ, đứng dưới bóng cây bên ngoài chàng nghe thấy cô nói với người hầu: “Đem vứt cái này đi”.
                          Cô hầu ngạc nhiên: “Vứt đi, phu nhân nói không cần nữa sao?”. Cô trở gót đi vào trong: “Vứt đi, nó không thích ta, ta cũng không thích nó”.
                          Đèn trong cung đã tắt, bên tai lại vẳng lên những lời thuộc hạ bẩm báo về quá khứ của Oanh Ca, cô được nuôi lớn, học giết người, sống đến hai mươi tuổi trong ánh đao ánh kiếm, bị thương, bị Dung Tầm vứt bỏ, cuối cùng bị coi là vật thế thân vào cung thay cô em thế nào, từng đoạn trường thuộc hạ đều nói rõ.
                          Chàng không sành đánh giá vẻ đẹp của phụ nữ, nhưng cảm thấy khi Oanh Ca đá cầu dưới ánh đèn vừa rồi nhẹ nhàng như con bướm tím chao lượn, duyên dáng như tiên nữ du xuân. Dặn dò tiểu thái giám mấy câu, chàng trở bước, theo đường cũ quay về, gió thu hiu nhẹ, hải đường chớm trổ hoa. Chàng thầm nghĩ Dung Tầm đã ngốc khi vứt bỏ cô, nhưng đưa cô vào cung hóa ra lại tác thành cho mình, đây quả là duyên phận.
                          Không phải vừa gặp đã yêu, từ thương xót đến yêu chỉ vẻn vẹn ba ngày, có thể người đời sẽ nghĩ ba ngày quá ngắn, nhưng có thể người ta chưa hẳn biết, đối với mối tình định mệnh, một cái nhìn cũng là dài, huống hồ ba ngày, huống hồ nhiều cái nhìn như vậy, chàng xót xa yêu.
                          Chuyện sau đó như đã nhìn thấy trong giấc mơ của Oanh Ca. Dung Viên hỏi cô có biết tình yêu của bậc quân vương là gì, cô trả lời, tình yêu của quân vương rộng lớn như hải hà, ân trạch ban khắp nơi, chàng không tán thành, như vậy sao có thể gọi là yêu, đó chỉ là bổn phận của quân vương đối với muôn dân.
                          Chàng không giống những bậc quân vương chỉ ban ơn mưa móc. Ở ngôi cao thường lạnh, hiểu cô, chàng muốn có cô bên mình, vị trí đó ba người quá chật, một người quá cô đơn, chàng chỉ muốn con người duy nhất đó, con người vừa yếu đuối vừa kiên cường, vừa âm thầm nhẫn nhịn, vừa gan góc đương đầu, từng là sát thủ, nhầm lẫn vấp váp thế nào cuối cùng trở thành người của chàng.
                          Chàng biết cô muốn bỏ đi, tìm mọi cách giữ cô lại, ngoài tự do những gì cô muốn chàng đều có thể cho cô. Chàng cũng biết, con người cô đã phủ lớp băng dày, cho dù được tự do, cô cũng không thể sung sướng, quá khứ đớn đau khiến cô ngay cả khi khóc cũng không biết khóc thật lòng.
                          Chàng muốn trân trọng cô, muốn cô sung sướng vô lo, giống mọi cô gái nhỏ thơ ngây không bận tâm thế sự, để chàng nâng niu trong lòng bàn tay.
                          Chàng đã tính xong tất cả, nhưng lại sơ suất quên một điều, đó là số mệnh. Trong kế hoạch của chàng, cô sẽ chung sống lâu dài bên chàng, chàng sẽ bảo vệ cô, giống như bảo vệ mỗi tấc đất của lục địa dưới chân, khi trăm tuổi họ sẽ nằm trong một chiếc quan tài, dẫu trong lăng tẩm lạnh lẽo, hai người cũng không cô đơn.
                          Nhưng khi số mệnh đến chàng mới thấy cuộc đời mình không dài như đã nghĩ, nói chi đến trăm năm.
                          Dung Viên sinh thiếu tháng, lúc nhỏ nhiều bệnh tật, phụ thân chàng đã mời danh y khắp nơi, đa phần dự đoán tiểu công tử nếu được chăm sóc chu đáo có thể sống qua tuổi mười tám, nếu muốn sống lâu hơn, chỉ có cầu xin ông trời.
                          Lão Trịnh hầu vương không còn cách nào khác, dứt khoát đưa chàng đi học đao thuật, mong qua đó có thể bồi dưỡng tăng cường sức khỏe. Không biết cơ duyên thế nào, ở chỗ sư phụ dạy đao thuật, chàng lại gặp thánh dược Bách Lý Việt người vốn thoắt ẩn thoắt hiện, không biết bằng cách nào vị thánh dược đó đã chữa khỏi mọi bệnh tật hồi nhỏ của chàng, từ đó cả Trịnh vương thất tôn Bách Lý Việt là thượng khách.
                          Từ khi lãoTrịnh hầu qua đời, tám năm chàng không gặp lại Bách Lý Việt, lần gặp lại chính là vào dịp cuối năm khi Oanh Ca được phong Tử Nguyệt phu nhân. Bạn vong niên tái ngộ, câu đầu tiên Bách Lý Việt sắc mặt nghiêm trọng, hỏi: “Một năm trở lại đây bệ hạ có bị trúng độc gì không?”.
                          Đến nước này chàng mới hiểu, chất độc chàng bị ngấm từ móng vuốt con báo gấm khi chàng chế ngự nó trong đêm trừ tịch năm trước mặc dù không phải là chất kịch độc, nhưng với riêng chàng lại là đòn chí mạng. Thì ra, năm xưa Bách Lý Việt trị bệnh cho chàng dùng rất nhiều độc vật để luyện thuốc, vạn vật tương sinh tương khắc, một khi đã dùng những thuốc đó, cả đời tuyệt đối không thể chạm đến ba cây thuốc là, tử quỳ vân anh, tương mộ cúc, đông hoặc thảo. Nghe đồn trên đất Cửu Châu này đông hoặc thảo đã tuyệt diệt, người thiên hạ không biết hình dạng thế nào, tính chất ra sao, nhưng chất độc bôi vào vuốt con báo lại chứa không ít đông hoặc thảo.
                          Ngự Cẩm viên lạnh giá, mái hiên cong của Dung Nguyệt cung thấp thoáng dưới tán cổ thụ, chàng nhìn đăm đăm về hướng đó hồi lâu, thong thả hỏi Bách Lý Việt: “Quả nhân còn sống được bao lâu?”.
                          “Khoảng ba tháng nữa bệ hạ bắt đầu thổ huyết, một năm sau…”.
                          “Một năm sau?”.
                          “… sẽ thổ huyết mà qua đời”.
                          Mặt chàng tái nhợt, giọng vẫn bình thản: “Ngay cả tiên sinh cũng bó tay sao?”.
                          Bách Lý Việt là thánh dược, không phải là thần. Đông hoặc thảo vào cơ thể chàng đã gần một năm, không thể hóa giải. Lần đầu tiên chàng tự dối mình, hy vọng thánh dược Bách Lý Việt chưa bao giờ nhầm lần này sẽ nhầm, chàng chẳng trúng độc đông hoặc thảo, hạ hoặc thảo nào hết, chỉ là cơ thể hư yếu sau chấn động mà thôi.
                          Mãi đến ba tháng sau, trong khi chàng đang phê duyệt tấu chương, bất ngờ thổ ra huyết, chàng mới tin cái gọi là số mệnh, tính chàng vốn lạnh, xưa nay hỷ nộ không thể hiện ra ngoài, đêm hôm đó chàng đã nổi cơn thịnh nộ, đập nát mọi thứ trong ngự thư phòng. Nhưng sự đã thế, đành thu xếp hậu sự.
                          Mười ngày sau, chàng hạ lệnh giam Oanh Ca ở núi Đình Hoa với tội khi quân để ăn năn sám hối, ngày hôm sau ra chiếu bố cáo với thiên hạ Tử Nguyệt phu nhân lâm bệnh qua đời. Bách Lý Việt chơi cờ với chàng, cầm lên một quân trắng, nói: “Đến ngày cuối, nhớ lại hôm nay, nhất định bệ hạ sẽ hối hận”.
                          Nhưng không còn cách nào tốt hơn, chàng nghĩ, sau khi chàng quy thiên, Oanh Ca chỉ có hai con đường, một là tuẫn táng theo chàng, hai là cô quả một mình trong thâm cung. Nếu để cô lựa chọn, với tính cách của cô nhất định Oanh Ca sẽ tự đâm vào ngực mình trước long sàng của chàng. Con người cô tưởng chừng phức tạp nhưng thực ra rất đơn giản, yêu một người là sống chết cùng nhau, còn giả sử đêm đó khi nhìn thấy cô chàng không thích cô, liệu Oanh Ca có thể sống tốt hơn?
                          Chàng giam cô mười năm, Đình Hoa sơn cách biệt thế gian, mười năm sau cô sẽ quên chàng, mặc dù tuổi xuân không còn, cô vẫn có thể tự do sống cuộc sống ngày xưa cô muốn. Còn việc giao giang sơn này vào tay ai, bằng cách nào, chàng sẽ tự cân nhắc.
                          Mấy ngày sau trong cung có tin truyền ra, Hồng Châu phu nhân có tin vui, nói là Bách Lý Việt đích thân xem mạch, chẩn đoán là con trai.
                          Hồng Châu phu nhân có tin vui là thật, nhưng không phải cốt nhục của chàng, đã hơn hai năm chàng không gặp Hồng Châu phu nhân, đứa trẻ đó là của phu nhân với một thị vệ thân tín của cô ta. Bách Lý Việt xem mạch chẩn đoán là đúng, chàng đích thân đưa thánh dược đến am Phương Trúc, Hồng Châu phu nhân quỳ dưới đất run lẩy bẩy, thị vệ dan díu với phu nhân bị xử tử ngay trước mặt cô ta.
                          Hai tin đầu trong lời đồn là thật, nhưng chẩn đoán hài nhi là trai lại đầy hồ nghi, đương nhiên cho dù Bách Lý Việt y thuật cao siêu, cũng tuyệt đối khó có thể biết đích xác hài nhi chưa thành hình rốt cuộc là trai hay gái, nhưng do chính miệng Bách Lý Việt nói ra mọi người ai cũng tin, mà như vậy là đủ. Chàng chỉ muốn quần thần đều hiểu, chàng sắp có một người nối dõi, sau khi chàng băng hà người thừa kế ngôi Trịnh hầu vương sẽ không phải là Dung Tầm, nhất là để cho Dung Tầm hiểu.
                          Bách Lý Việt đắn đo: “Đây vốn là đại sự của Trịnh quốc không liên quan đến hạ thần, nhưng bệ hạ đã định nhường ngôi cho Dung Tầm sao lại sắp đặt như vậy để ép ông ta soán vị cướp ngôi?”. Chàng nhấc chén trà lên, dung sắc lạnh lùng: “Nếu quả nhân có thể thọ trăm tuổi, nếu Tử Nguyệt phu nhân có thể sinh cho quả nhân người nối dõi, ông cho là Dung Tầm sẽ nhẫn nhịn đến lúc nào mới chống lại quả nhân? Dung Tầm có tài trị quốc, nhưng quá dã tâm, nuôi hắn như nuôi mãnh hổ, quả nhân từng nghĩ có đủ thời gian mài bớt móng vuốt của hắn, hôm nay...”. Chàng cau mày, hừ một tiếng, đặt chiếc chén trà trở lại bàn, “Quả nhân đã nhường ngôi cho hắn, lẽ nào lại tặng hắn cả Tử Nguyệt?”.
                          Đây là thâm ý của chàng. Chàng biết Dung Tầm có tình với Oanh Ca, chuyện của mười năm sau chàng đã không thể nhìn thấy, nhưng chàng biết chỉ cần hôm nay Dung Tầm bức cung chống lại chàng, sau này Dung Tầm không thể có Oanh Ca.
                          Bách Lý Việt ngạc nhiên: “Bệ hạ đã không muốn Tử Nguyệt phu nhân tuẫn táng, muốn phu nhân được sống, cũng nên lường trước có ngày phu nhân lấy người khác”.
                          Chàng nhìn phía chân trời: “Lấy ai cũng được, Dung Tầm không được”.
                          Lần cuối cùng gặp Oanh Ca là trên đường trường hoang vắng vào một đêm có sao. Nghe tin cô trốn khỏi Đình Hoa sơn, chàng vô cùng lo lắng, không biết cô có bị thương, lấy cớ bị bệnh, chàng hủy bỏ mấy buổi thiết triều, mang theo thị vệ vội vã rời cung. Không biết đi bao nhiêu dặm, cuối cùng nhìn thấy Oanh Ca mình đầy thương tích đứng trước mặt chàng, tay cầm đao, mặt tái nhợt, gấu váy loang lổ máu.
                          Chàng nghĩ, chàng nên bất chấp tất cả kéo cô vào lòng, nhưng sao có thể. Cô đau đớn hỏi chàng: “Sao thiếp có thể tin chàng như vậy, những người trong vương thất đâu có hiểu sự quý giá của nhân tâm”.
                          Chàng nhìn mái tóc rối tung của cô, nước mắt tràn ra từ những ngón tay đè trên mắt, từng giọt lớn lăn xuống, răng cắn chặt vào môi, chàng muốn nói câu gì, nhưng máu đã ứ trong miệng, nỗi đau của cô là vũ khí lợi hại nhất có thể đối phó với chàng. Nhưng chàng vẫn đưa cô về núi.
                          Nhìn bóng cô đi xa dần dưới ánh trăng, chàng muốn gọi tên cô, Oanh Ca, Oanh Ca, cái tên đó đã vang trong lòng chàng cả trăm, cả ngàn lần, nhưng chưa một lần thốt ra trước mặt cô.
                          “Oanh Ca”. Chàng khẽ gọi. Nhưng cô đã đi xa.
                          Không lâu sau, Dung Tầm quả nhiên bức cung. Trận cung biến diễn ra lặng lẽ và mau lẹ, bởi vì chàng không định kháng cự. Như lời đồn, Dung Tầm hùng hổ áp trường kiếm vào cổ chàng, khàn giọng hỏi: “Tôi trao nàng nguyên vẹn cho thúc, tại sao thúc lại giày vò nàng tan nát?”.
                          Còn chàng hơi ngẩng đầu, lạnh lùng: “Dù có nát, Tử Nguyệt cũng nên nát trong lòng ta”. Kiếm của Dung Tầm rung rung, ép vào cổ chàng lộ ra vệt máu nhỏ, chàng lại không để ý: “Bao nhiêu năm qua, những việc ngươi làm có hai việc khiến ta hài lòng nhất, một là trao Tử Nguyệt cho ta hai năm trước, hai là bức cung hôm nay”.
                          Dung Tầm nhìn chàng rất lâu, toàn thân như rã rời, lát sau cay đắng nói: “Nàng ra đi thế nào, có phải chịu đau đớn không?”.
                          Chàng cười nhạt: “Cho dù đau đớn, cuộc đời này còn đau đớn nào nàng không chịu được”.
                          Sau đó Dung Viên nhường ngôi, Dung Tầm lên ngôi. Sau khi nhường ngôi, Dung Viên lánh về dưỡng bệnh ở hành cung Đông Sơn, đó là vào tháng năm khi mùa hoa anh đào đã tàn. Tất cả đều được chép vào sử, thời đại thuộc về Trịnh Cảnh hầu đã trôi qua, để lại cho hậu thế hai trang giấy mỏng.
                          Năm sau, khi hoa anh đào nở tràn trên núi, cái ngày cuối cùng mà Bách Lý Việt nói cuối cùng đã đến, tôi có thể biết bởi vì máu trên dây đàn từng giọt nhỏ xuống theo ngón tay tôi, chứng tỏ cảnh đã kết thúc.
                          Trước mắt là suối nước nóng màu ngọc bích bốc hơi ngùn ngụt, phía sau là một rừng hoa anh đào. Đông hoặc thảo cơ hồ không giày vò Dung Viên bao nhiêu, ít nhất thần sắc vị quân vương xem ra khá tốt, chỉ có thân hình hơi tiều tụy, nhưng đây là ngày cuối cùng, khí sắc khác thường đó có lẽ là hồi quang phản chiếu.
                          Ánh nắng cuối cùng của ngày tàn hắt ra dệt thành dải lụa đỏ ối ở chân trời, cả rừng anh đào sau suối nước nóng sáng rực như tuyết đỏ.
                          Chàng lơ đãng sai tiểu đồng đằng sau: “Hôm nay ta khỏe ra nhiều, đi lấy cho ta cuốn sách, ta muốn tắm suối nước nóng”.
                          Tiểu đồng nhanh nhẹn chạy về phía thư phòng. Chàng khép tà áo bước xuống hồ nước, tựa vào bờ, lấy trong ống tay áo ướt một con xúc xắc xinh xắn. Con xúc xắc Oanh Ca tặng chàng vốn đã bị bóp vụn, lẫn vào gió đêm trên đường trường hoang vắng, giờ đây trong buổi hoàng hôn đỏ ối này lại lặng lẽ nằm trong bàn tay chàng.
                          Chàng chăm chú nhìn nó, đôi mắt đen dường như lấp lánh xuân tình, ngọt ngào êm lắng, một lúc lâu sau, chàng nắm chặt tay, nhắm mắt mỉm cười. Một con chim đâu đó bỗng kêu một tiếng, rừng anh đào phía sau đột nhiên bốc cháy, thế lửa rùng rùng như mãnh hổ nhanh chóng lan ra, rừng cây cháy nổ lép bép, hoa anh đào màu đỏ nhảy múa trong biển lửa, giống như vô vàn con bướm hồng, lửa chiếu sáng khuôn mặt tuấn lãm khác thường của Dung Viên, nhưng trong làn hơi nóng cuồn cuộn, đôi mắt chàng không mở ra nữa.
                          Khi Oanh Ca lao đến, cơ thể Dung Viên tựa bờ hồ trượt dần xuống nước, toàn thân run rẩy, cô muốn ôm chàng, không để chàng trượt xuống, nhưng lại quên rằng núi này, lửa này, hoa anh đào này, hồ nước này, bao gồm cả Dung Viên đều đã là quá khứ được tôi tái hiện bằng cây thất huyền cầm làm bằng tóc của cô.
                          Hàng lông mày đen như mực, đôi mắt nhắm nghiền, sống mũi cao, đôi môi mỏng, tất cả từ từ chìm xuống nước, mặt nước dềnh lên một chút rồi trở lại phẳng lặng, tịch mịch chỉ còn lại rừng anh đào trên núi cháy ngợp trời, còn Oanh Ca đứng lặng nhìn mặt hồ yên ả trước mắt, lát sau, vai rung rung, bật khóc đau đớn như một con thú nhỏ cô đơn.
                          Khung cảnh dần biến mất, Dung Viên quả thực đã chết.
                          Đó là toàn bộ câu chuyện, Oanh Ca ít nhiều đoán được nhưng vẫn không muốn tin.
                          Nhìn lại, mối thâm tình này tựa như một làn pháo hoa, nở bừng sáng rực rồi lập tức phai tàn, cuộc đời Dung Viên quá ngắn ngủi, chàng quyết dùng cách riêng của mình để bảo vệ cô, đó chính là tình yêu của bậc quân vương như chàng nói.
                          Trong thời loạn thế, trên đại lục rộng lớn này có bao nhiêu vương cung, trong đó âm thầm chôn vùi bao nắm xương khô của những bậc hồng nhan, vậy mà lại chứng kiến một mối thâm tình như vậy, giống một đóa hoa duy nhất nở trong đêm tối mênh mông đột nhiên bị gót sắt của số mệnh giẫm đạp, vẫn kiên cường nảy mầm đâm rễ.
                          Oanh Ca ngất đi trong cảnh đêm tối tiêu tan, Mộ Ngôn đỡ cô lên chiếc giường nhỏ bên cạnh, cúi đầu nhìn tôi.
                          Những giọt máu từ phím đàn nhỏ xuống nhuộm đỏ cây đàn gỗ phong, tôi trở tay nhìn ngón tay mình, mới phát hiện ngón tay tôi cũng loang lổ máu. Giống như năm xưa nhảy từ trên tường thành xuống, cảm giác từng tấc từng tấc sinh mệnh mình mất đi, muốn đứng lên nhưng không còn sức lực. Đây là lần đầu tiên tôi nhận thức rõ không có tính mệnh viên giao châu ban cho, tôi chỉ là một cái xác tàn.
                          Giọng Mộ Ngôn từ trên vọng xuống: “Một vũng máu lớn thế này, làm sao đây?”.
                          Ngẩng đầu như vậy nhìn chàng hơi khó khăn, tôi mấp máy môi, ý bảo chàng ngồi xuống.
                          Chàng ngồi xuống bên tôi, sắc mặt đột nhiên rất khó coi: “Là máu của cô hay của Oanh Ca?”.
                          Tôi lắc đầu, nói nghiêm túc: “Là tiết gà”. Thấy chàng không nói gì, lại bổ sung: “Bắt đầu nghi thức này cần tế trời, cho nên chúng tôi giết một con gà”.
                          Mộ Ngôn cau mày: “Đừng nói bừa, nói thật đi. Hay là cô muốn tôi nhốt cả hai người vào y quán”.
                          Tôi vùng ra: “Tiết gà thật mà...”.
                          Chàng lườm tôi: “Thử nói dối nữa xem”.
                          Tôi cúi đầu: “Bởi vì trông huynh có vẻ lo lắng, muốn nói thực ra huynh không cần lo lắng, không có gì đâu, tôi có nhiều máu, hơn nữa vết thương cũng không đau, tôi không muốn đến y quán, tự băng bó cũng được”.
                          Chàng chống tay lên trán nhìn tôi hồi lâu, thở dài: “Cô đúng là luôn khiến tôi đau đầu”.
                          Tôi dè dặt nhìn chàng, đặt tay lên hai bên Thái Dương chàng, chàng ngẩn ra: “Làm gì vậy?”.
                          “Đừng giận nữa, tức giận dễ già đi đấy, nào để tôi xoa cho, còn đau đầu nữa không?”.
                          “...”.
                          Không biết sau này Oanh Ca sẽ đi đâu làm gì, nhưng bất luận cô lựa chọn thế nào, chúng tôi cũng không thể can thiệp.
                          Nhớ lại khi cô đến tìm tôi, ánh mắt ảm đạm và những lời quyết tuyệt lại thấy mủi lòng. May lúc đó một con bồ câu nhỏ màu nâu vừa đậu vào cửa sổ bay thẳng vào tay tôi.
                          Đây là bồ câu đưa thư của Quân sư phụ. Tôi ngây ra, không ngờ nhanh như vậy lại có một vụ khác.
                          Mở thư xem, không kìm nổi, giơ bức thư nói với Mộ Ngôn: “Huynh nói Dung Tầm đi khắp nơi trong thiên hạ tìm danh y có thể cứu sống Cẩm Tước quả nhiên không sai, lần này đã tìm đến sư phụ tôi”.
                          Chàng đang lau cây đàn, nghe vậy ngẩng đầu: “Sao? Hoa Tư dẫn lại còn có cả công năng đó nữa sao, có thể làm người chết sống lại?”.
                          Tôi do dự: “Không hẳn làm người chết sống lại, chỉ là mạng đổi mạng”.
                          Nghĩ một lát bổ sung: “Đối với những người bình thường thì không cứu được, chỉ có thể cứu sống người đã mất tính mạng trong cuộc sống hiện thực do lựa chọn Hoa Tư mộng, nhưng với điều kiện có một người cùng huyết thống bằng lòng đổi mạng”.
                          Chàng trầm ngâm: “Cho nên, sư phụ cô gửi thư bảo cô dùng tính mạng của Oanh Ca cô nương đổi lấy tính mạng của Cẩm Tước cô nương?”.
                          Tôi gấp lá thư, lắc đầu: “Sư phụ hoàn toàn không biết Cẩm Tước còn một người chị gái đang sống trên đời, chỉ bảo tôi thử đi một chuyến, bởi vì Trịnh vương đích thân đến tìm, sư phụ quả thật khó chối từ”.
                          Nói xong đi tìm bút mực: “Phải hồi âm cho sư phụ, ngày mai lên đường tìm Quân Vỹ và Tiểu Hoàng, làm gì có thời gian. Cẩm Tước đã một lòng muốn chết, hà tất phải khổ công tìm cách cứu sống như vậy, người được cứu chắc gì đã cảm kích chàng ta”.
                          Lúc đó đang đến gần chiếc giường thấp, khi chạm vào người Oanh Ca, đột nhiên bị một bàn tay nắm chặt. Tôi ngạc nhiên cúi đầu: “Cô tỉnh rồi sao?”.
                          Oanh Ca nhắm mắt, vẫn nắm tay tôi, lát sau nói, “Quân cô nương, nếu có thể cứu được em tôi, xin hãy cố cứu”.
                          Tôi nhìn cô: “Sao cô ngốc nghếch thế? Trừ phi dùng tính mạng của cô đem đổi. Nếu quả thật vừa nhìn thấy phu quân cô đã sung sướng muốn từ bỏ tính mạng, thà cho tôi tính mạng đó, tôi sẽ dệt giấc mộng cho cô để cô và Dung Viên mãi mãi bên nhau”.
                          Cuối cùng Oanh Ca cũng mở mắt, đôi mắt đen thẳm nhưng hoàn toàn trống rỗng, có lẽ là tim cô đã chết vì đau khổ, thoạt nhìn còn giống người chết hơn tôi.
                          Một lúc lâu sau hình như mới hiểu lời tôi nói, cô nghiêng đầu nghi hoặc nhìn tôi, trong mắt vẫn một màu trống rỗng: “Điều đó phỏng có ích gì, là mộng đâu phải là thật”.
                          Tôi mới nghĩ ra xưa nay cô luôn là người sống thật, thà đau khổ rõ ràng còn hơn hạnh phúc lơ mơ, trong toàn bộ câu chuyện này, người tỉnh táo nhất là cô.
                          Còn tôi không biết nói sao.
                          Cô xoay người nhìn lên xà nhà, giọng bình thản: “Năm nay tôi hai mươi sáu tuổi, cảm thấy cuộc đời mình rất tốt, rất dài, không còn gì lưu luyến nữa”. Ngừng một lát, lại tiếp: “Chỉ có một nguyện vọng, sau khi tôi chết, hãy chôn tôi cùng với phu quân tôi”.
                          Tháng bảy, vài cánh hoa đỏ thưa thớt, trên cành cây, lá đã mọc sum suê.
                          Vội vàng trở về Trịnh quốc.
                          Nơi làm phép thuật được chọn là một gò đất cao phía đông thành Tứ Phương chuyên dùng để tế lễ. Tôi nghĩ có lẽ Oanh Ca không muốn gặp Dung Tầm, lấy cớ không thể bị quấy rầy khi thực hiện nghi thức, không cho ai đến gần trong vòng năm dặm, chỉ để lại Mộ Ngôn uống trà dưới chân đài.
                          Giờ Dậu, quan tài của Cẩm Tước được đưa đến tế đàn. Đã gần một tháng, nhưng cơ thể vẫn nguyên vẹn như xưa, chỉ có sắc mặt hơi nhợt nhạt, có thể thấy Dung Tầm đã bỏ không ít công sức.
                          Cuối giờ Dậu, Oanh Ca là người đến cuối cùng, tấm rèm sa vén lên, nhìn thấy mái tóc dài chấm thắt lưng, một gương mặt không thần sắc. Tôi đưa nước trà pha huyết cho cô: “Bây giờ hối hận vẫn kịp”. Cô liền uống ngay. Tôi nhìn cốc trà đã uống cạn, vẫn muốn thuyết phục cô: “Chuyện này quả thật tôi cũng không chắc chắn”.
                          Tôi chỉ cho cô thấy hai cây đàn trên bàn: “Tôi phải đồng thời tấu Hoa Tư điệu của cả hai chị em cô, không được sai một nốt, còn phải khởi động viên giao châu dẫn dụ tinh thần cô...”. Cô ngắt lời tôi: “Nếu thất bại, liệu có gây hậu quả xấu gì đối với Quân cô nương?”. Tôi lắc đầu: “Không, chỉ là cho dù có thể cô không sống được, cũng không cứu được em cô”. Oanh Ca liếc Cẩm Tước trong quan tài, ánh mắt mơ màng: “Như vậy cũng không sao, Quân cô nương bắt đầu đi”.
                          Đứng trên đài cao, toàn bộ thành Tứ Phương đều thu vào tầm mắt, ánh nắng cuối ngày trải vàng trên những mái ngói nhấp nhô như vảy cá, đây đó đã có khỏi bếp bốc lên từ những mái nhà đó, hạnh phúc bình thường trong những ngôi nhà bình thường.
                          Tiếng đàn lành lạnh, gió lồng lộng trên đài cao, Oanh Ca nằm trên một tảng đá, từ từ nhắm mắt, mảnh sa tím trên chiếc váy dài bay phấp phới, giống như thân cây lớn dần, cuối cùng trùm lên người cô. Tạm biệt, Thập Tam Nguyệt.
                          Tôi nhắm mắt, đang tập trung tinh lực khởi động viên giao châu, khi mở mắt, một thanh kiếm đã cắm trên cây đàn thất huyền trước mặt, dây tơ đứt tung, gió lớn ù ù lập tức dừng lại. Tôi sững người, ngẩng đầu nhìn tế đài bằng đá phía trước, thấy thân hình rất thẳng của một người đàn ông vận áo chùng tím, hoa liễu phất phơ bay lả tả như ai cắt lông ngỗng tung lên trời. Tôi ôm cây đàn đứt dây vội đi đến, người đàn ông cúi người mở tấm rèm sa trùm trên mặt Oanh Ca, những ngón tay dài run run vuốt ve mắt cô, giọng nói lại vô cùng bình tĩnh: “Nàng ngủ rồi sao?”.
                          Tôi thi lễ, lại trùm tấm sa lên mặt cô, chèn chắc các góc, kéo ống tay phủ hết bàn tay lạnh của cô: “Hai vị phu nhân chỉ có thể một người sống, bệ hạ muốn cứu Nguyệt phu nhân, tôi đã tìm Tử Nguyệt phu nhân để đổi mạng. Tử Nguyệt phu nhân không chết, Nguyệt phu nhân không thể sống. Hai vị phu nhân chỉ có thể giữ lại một, xin bệ hạ suy xét”.
                          Tôi chờ Dung Tầm trả lời, nhưng chưa được bao lâu, tấm rèm khẽ lay, Oanh Ca dần dần tỉnh lại, vốn tưởng cô sẽ hôn mê, nhưng đôi mắt đen như nhân hạnh đào lại từ từ mở ra. Lúc sau, đôi mắt đó đột nhiên ánh lên ngàn tia sáng, cô nhìn người đàn ông áo tím nét mặt trầm tư đó, đột nhiên lao vào lòng chàng ta, giọng thơ ngây như trẻ nhỏ: “Cuối cùng chúng ta đã được bên nhau”. Chàng ta sững người, giơ tay ôm cô, cô vùi đầu vào lòng chàng ta: “Cuối cùng chúng ta lại được bên nhau, Dung Viên”. Sắc mặt chàng ta đột nhiên trắng bệch.
                          Từ từ kéo cô ra, giữ cô trong tay, chàng ta mở to mắt nhìn cô: “Ta là ai?”.
                          Mắt cô đỏ hoe, long lanh nước, đăm đăm nhìn mặt chàng ta, rồi lại vòng tay ôm cổ chàng ta, gục đầu vào vai chàng ta nghẹn ngào: “Họ nói chàng đã chết, thiếp không tin, nếu chàng chết, thiếp sẽ ra sao?”.
                          Tay Dung Tầm cứng đờ, buông thõng xuống, một lúc lâu sau, cất giọng khản đặc: “Nguyệt nương...”.
                          Tôi thong thả xen lời: “Bệ hạ đừng ngại, chắc là cô ấy bị điên, thuật huán mệnh tối kỵ gián đoạn, e là sẽ... nếu bệ hạ vẫn muốn cứu Nguyệt phu nhân, Tử Nguyệt phu nhân như thế này cũng không sao, chỉ phiền bệ hạ cho tôi một cây đàn khác”.
                          Dung Tầm như không nghe thấy lời tôi, trên dung sắc trắng bệch hiện ra nụ cười đau khổ: “Cho dù nàng bị điên, cuối cùng ta cũng có được nàng”.
                          Tôi nhìn chàng ta: “Nếu cô ấy tỉnh lại, việc đầu tiên cô ấy làm sẽ là tuẫn tiết cùng Cảnh hầu vương”.
                          Bông liễu rơi lả tả đầy trời như những bông hoa tuyết rơi trên tế đài, Dung Tầm ôm cô vào lòng, bước từng bậc đi xuống: “Vậy cứ để nàng mãi mãi không tỉnh lại”. Mũ sa của cô rơi xuống đất, gió cuốn bay đi, như một con bướm gãy cánh.
                          Tôi đứng mãi trên tế đài, băn khoăn không biết nên thế nào, bây giờ xem ra tất cả đều tốt, mọi người cầu được ước thấy, Dung Viên muốn Oanh Ca sống, cô ấy đã sống. Dung Tầm muốn có Oanh Ca, bây giờ họ đã ở bên nhau, Oanh Ca muốn có Dung Viên, trong ý thức của mình quả thực cô đã có được chàng. Giống như một giấc mộng Hoa Tư viên mãn hư ảo.
                          Đi xuống tế đài, nhìn thấy Mộ Ngôn đang ung dung đun trà, tôi bực mình nói: “Vừa rồi sao huynh không ngăn Dung Tầm?”.
                          Chàng ung dung nhìn tôi: “Tôi đã gọi chàng ta đến, sao lại ngăn chàng ta?”.
                          Tôi trợn mắt.
                          Mộ Ngôn đưa cốc trà nóng cho tôi: “Nên để mỗi người có cơ hội lựa chọn, cô thấy đúng không, A Phất”.
                          Tôi không biết có đúng hay không, chỉ biết bao nhiêu người chìm đắm trong Hoa Tư mộng hư ảo, đắm đuối trong tình yêu, muốn giữ mãi cho mình tình yêu đó, kỳ thực đều là những người yếu đuối.
                          Con người ta điều quý nhất là gì? Không phải là tình yêu, mà là lòng can đảm tiếp tục sống vì tình yêu. Nhưng những người tôi gặp không ai hiểu đạo lý này.
                          Ít lâu sau, chúng tôi rời khỏi thành Tứ Phương, nghe nói Cẩm Tước được hậu táng, vào giờ tốt ngày lành tháng này Oanh Ca sẽ thành hôn cùng Dung Tầm, khi nghe được những tin đó tôi lại không có cảm giác gì đặc biệt. Nhưng sáng ngày thứ chín, lại nghe nói Oanh Ca mất tích đúng đêm hôn lễ, Dung Tầm đi tìm khắp thành Tứ Phương không thấy. Mộ Ngôn hỏi tôi: “Theo cô, Oanh Ca sẽ đi đâu?”.
                          Lúc này tôi đang viết thư cho Quân Vỹ, hẹn rõ địa điểm gặp nhau, nghe Mộ Ngôn hỏi, lơ đãng trả lời: “Có lẽ đã tỉnh lại, đi hoàn thành tâm nguyện cuối cùng của mình thôi”.
                          “Sau khi tôi chết, hãy chôn tôi cùng với phu quân tôi”. Tôi còn nhớ lúc đó Oanh Ca đã nói vậy, đó là ý nguyện cuối cùng của cô.
                          Mộ Ngôn trầm ngâm hồi lâu, đi đến tiện tay mài mực giúp tôi.
                          Đêm đó, Mộ Ngôn xưa nay vốn phong độ ngời ngời lại xuất hiện trong phòng tôi với bộ dạng hơi nhếch nhác. Gió đêm đập vào cánh cửa lạch cạch. Tôi vừa giơ tay đóng cửa vừa kinh ngạc hỏi chàng: “Ăn vận thế này, huynh vừa ở đâu về?”.
                          Chàng rút trong ống tay áo một mảnh sa tím, mỉm cười, thong thả nói: “Nhặt được ở lăng mộ Dung Viên”.
                          Tôi ngẩn người, dừng tay rót trà, lát sau hỏi: “Oanh Ca ở trong lăng mộ Dung Viên sao?”.
                          Chàng cầm ấm trà trong tay tôi, tự rót cho mình: “Chính xác hơn là trong quan tài của Dung Viên”.
                          Tôi sững người hồi lâu: “Chẳng trách bọn họ không tìm thấy cô ấy”.
                          Mộ Ngôn cười: “Không ai dám động đến lăng mộ của Cảnh hầu vương, bọn họ mãi mãi không thể tìm thấy cô ấy”. Ngừng một lát, lại thêm một câu, “... trừ tôi”.
                          Tôi gật đầu tán đồng: “Đúng, trừ huynh”. Rồi chỉ ống tay áo chàng, “Hình như huynh bị thương”.
                          Chàng thản nhiên rụt tay lại: “Không sao”.
                          Tôi kéo tay Mộ Ngôn, vén ống tay áo bôi thuốc vào vết trầy xước, phát hiện người chàng chợt cứng lại, tôi ngẩng đầu nhìn chàng, ngượng nghịu: “Có những lúc tôi quá bướng phải không?”.
                          Chàng một tay chống lên trán nhìn tôi, mủm mỉm cười: “Không, như thế là được”.
                          #13
                            manhbv 18.02.2013 04:27:28 (permalink)
                            Chương 12


                            Vẫn không nhận được thư hồi âm của Quân Vỹ khiến tôi lo lắng. Mộ Ngôn cho rằng có Tiểu Hoàng bảo vệ, không có gì phải lo, thấy chàng lạc quan như vậy, tôi cũng không tiện nói ra, Tiểu Hoàng đã bị đem cầm cho vườn thú đến giờ cũng không biết đã chuộc về chưa. Theo hiểu biết của tôi về Quân Vỹ, chuyện này khó có hy vọng gì, rồi lại nghĩ tại sao trên đời có nhiều đàn ông thích nhau đến thế, tại sao Quân Vỹ có hình thể đẹp như vậy để lắm kẻ mê, tâm trạng cứ ngổn ngang bấn loạn. Xem ra nhà họ Quân có cơ tuyện hậu thật rồi.
                            Năm trước anh ta còn hứa hẹn, nếu không có ai lấy tôi, anh ta sẽ lấy, số phận đã an bài như thế, thật ngao ngán. Nhưng biết làm sao, rút cục nước xa không cứu được lửa gần, hơn nữa bây giờ chúng tôi cũng không biết anh ta đang ở đâu, đành chờ xem sao.
                            Ý Mộ Ngôn là Quân Vỹ mãi không có hồi âm, vậy nhân chuyến đến Tiều đô, tiện thể chàng sẽ đưa tôi về núi Quân Vu. Mộ Ngôn phải đi một chuyến đến kinh đô của Thiên tử ở phía bắc Trung Châu(1), một việc dự định từ lâu cuối cùng mới có cơ hội thực hiện.
                            Trước giờ tôi vẫn nghĩ, Mộ Ngôn không rỗi việc đến mức đưa tôi đi du sơn ngoạn thủy, tìm hiểu phong tục nơi này nơi kia, tôi vẫn đợi chàng nói lời từ biệt, cuối cùng ngày đó đã tới, lòng vừa buồn vừa thở phào nhẹ nhõm.
                            Đi qua vùng rừng núi hoang vu, qua bình nguyên rậm rạp, qua những con sông nước xiết, qua những làng bản hiu quạnh, tôi cảm nhận rất rõ thời gian trôi qua, mỗi khi mặt trời lặn tôi lại đếm đốt ngón tay, tính thời gian chia tay với chàng, nhưng lại không thể chần chừ trì hoãn cuộc hành trình như lần trước. Mộ Ngôn cảm thấy buồn cười, hỏi: “Sao cô cứ luôn nhìn tôi như vậy, trên mặt tôi có vết gì chăng?”.
                            Tôi mạnh dạn ghé lại gần: “Đúng, có vết, nào, lại đây tôi chỉ cho xem”.
                            Chàng hơi ghé lại, ánh mắt cười cười: “Vậy nhìn kỹ đi”. Tôi nghĩ chàng đang giễu tôi, nhưng không sao, đằng nào cũng chia tay, mặt dày một chút cũng chẳng hề chi.
                            Tôi gật đầu: “Huynh nhắm mắt lại”. Chàng lại ngoan ngoãn làm theo. Củi trám trong lò đang cháy đượm, bốc lên ngọn lửa xanh, bên ngoài tiếng côn trùng nhặt thưa từng hồi, chàng ung dung ngồi đó, dáng vẻ như muốn nói thích làm gì tôi thì làm, khiến tôi bất giác muốn vuốt ve khuôn mặt gần trong gang tấc, đôi mắt gần trong gang tấc đó nhưng lại không dám.
                            Lòng bàn tay toát mồ hôi, từ từ giơ ngón tay đến gần đuôi mắt chàng, lấy hết can đảm chạm vào vầng trán trắng xanh, cảm giác và độ ấm truyền đến ngón tay lúc đó tôi sẽ nhớ mãi. Tất cả chỉ do không thể tự rời xa chàng, bất luận thế nào, cũng không thể. Đôi mắt, hàng lông mày, sống mũi, bờ môi, khuôn mặt đẹp, biểu cảm trên mặt, tất cả đều khắc vào lòng tôi, dù chia ly nhưng tôi sẽ nhớ suốt đời.
                            Chàng hơi nghiêng đầu, Thái Dương áp sát ngón tay tôi, lặng lẽ mở mắt, “A Phất?”.
                            Tay tôi hơi run, vội rụt về, củi cháy lép bép trong lò, lát sau, tôi chìa tay trước mặt chàng: “Nhìn này, trên trán có vật gì, lấy xuống cho huynh rồi”.
                            Ánh mắt chàng nhìn bàn tay trống không của tôi: “Đâu?”.
                            Tôi giả bộ ngạc nhiên, “Sao, không nhìn thấy à?”. Mắt chàng như cười, vẫn nhìn tôi, tay chống cằm không nói gì. Rất nhiều lúc, tôi không biết chàng nghĩ gì, lòng thấy hoang mang nhưng cũng chẳng sao, chỉ cần tôi biết mình nghĩ gì là được.
                            Quân Vỹ nói thích một người là sẽ trở nên ưu tư, bởi vì luôn phải suy tính được mất. Anh ta nói có lý, ở bên Mộ Ngôn, tôi luôn suy tính được mất, nhưng mất Mộ Ngôn thực ra tôi cũng chẳng có gì gọi là được, là mất, cái còn lại chỉ là bóng dáng phong nhã tuyệt vời của chàng trong ký ức, lòng như nở một đóa hoa lớn quý báu, quý báu nhất.
                            Chim yến không về, hoa tử vi tắm ánh trăng, phía bắc hoa nở, phía nam hoa tàn. Suốt dọc đường đi gấp, đến biên giới Khương - Trần lại xảy ra một chuyện vốn tưởng sẽ xảy ra ngay từ khi câu chuyện bắt đầu, nhưng mãi chẳng thấy gì, đã tưởng tất cả đều suôn sẻ, cuối cùng lại bất ngờ xảy ra.
                            Một chuyện lớn.
                            Tôi bị bắt cóc.
                            Khi xuống núi, Quân sư phụ đã dặn dò Quân Vỹ bảo vệ tôi cẩn thận, ông lo nhất là chuyện đó. Sự huyền diệu của Hoa Tư dẫn tuy thiên hạ không mấy người biết, nhưng không phải hoàn toàn không ai biết, nó được lưu truyền một cách ly kỳ, rằng đó là phép thuật có thể làm người chết sống lại, đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ nên tu luyện như thế nào để đạt được công năng huyền diệu đó khiến ai được nghe đều không khỏi xiêu lòng .
                            Khi một thứ được nhiều người ngưỡng mộ, người sở hữu thứ đó đương nhiên dễ gặp nguy hiểm. Ghi chép thật sự về Hoa Tư dẫn lại vô cùng ít ỏi, do vậy mặc dù tồn tại mấy trăm năm nhưng đến nay vẫn huyền bí khôn lường. Vốn tưởng nó chỉ tồn tại mơ hồ trong dân gian, chưa chắc có ai tin, nên lúc đầu khi Quân sư phụ cho Quân Vỹ đi theo bảo vệ tôi, thâm tâm tôi ngấm ngầm phản đối, giờ mới thấy sự chu đáo của sư phụ quả không thừa.
                            Trời tối dần, do bị bắt cóc, chân tay đương nhiên bị trói, nhưng tôi vốn có tài cởi trói, nhanh chóng cởi nút dây thừng thoát ra, nhìn rõ ràng mình bị quấn trong một tấm chăn, ngẩng đầu, thấy ánh vàng lóng lánh trên đỉnh trướng, trước mắt, là bức bình phong sáu cánh.
                            Bức bình phong chắn trước giường có sáu cánh, trên mỗi cánh là một bức tranh kỳ lạ, có sông có núi và một cặp uyên ương, lúc sánh vai du ngoạn, lúc họa thơ đối ẩm dưới trăng, còn hai bức vẽ một chàng công tử ung dung ôm đàn bên cạnh bộ đồ uống trà, nhìn rất quen. Trong đầu thoáng nghĩ tới một chuyện nhưng lại lập tức gạt đi, bởi vì cảm thấy bút pháp của người đó không thể kém đến vậy.
                            Tôi nghĩ mặc dù kẻ bắt cóc tôi ra tay nhân lúc Mộ Ngôn đi ra ngoài, nhưng như trên đã nói, chắc chắn kẻ đó không biết cái gọi là bí thuật thượng cổ thần kỳ đó thực ra được phong ấn vào một hạt giao châu, đưa vào cơ thể tôi, hơn nữa nhất định không biết tôi là một người chết, cho dù tìm ra bí mật này, thiết nghĩ họ cũng không thể tin, dùng thân thể người chết tu luyện Hoa Tư dẫn, từ thời khai sơn lập địa, trên đất Cửu châu này chỉ có tôi là duy nhất.
                            Tôi còn chưa kịp suy nghĩ kỹ hơn về tình hình trước mắt, bức bình phong đóng chặt “xoạch” một tiếng bị đẩy ra. Tôi vội vàng thu người vào trong chăn, hé mắt nhìn ra, thấy một ngọn đèn yếu ớt phía xa.
                            Người đẩy bức bình phong là một cô hầu, sau khi bước vào, cô cuốn cao bức rèm trướng rồi đứng sang một bên, cả người như lẫn vào màn đêm. Nhìn tương đối rõ là cô gái đối diện, không phải là dung mạo mà là hai ống tay áo rộng thùng của cô ta chiếm nhiều không gian như vậy, đập ngay vào mắt. Ánh nến nhỏ như hạt đậu chỉ chiếu sáng một khoảng nhỏ, quả thật không thể nhìn rõ mặt cô ta, chỉ cảm thấy ánh mắt lạnh lẽo của cô ta như xuyên thấu tận xương.
                            Ánh nến sáng dần, tôi nhìn thấy trên bàn trà có một chung rượu bằng đồng đen trong đựng đầy rượu màu ngọc bích. Cuối cùng nhìn rõ thân hình cô gái có ánh mắt tỏa ra hơi lạnh đó, một nửa khuôn mặt lộ ra dưới ánh nến, một nửa bị bóng cột nhà che khuất, khí chất lạnh lùng nhưng lại là một mỹ nhân hiếm thấy.
                            Miệng bị nhét khăn mùi xoa, không nói được. Tôi làm bộ vùng vẫy, cô gái hơi nhấc tay ra hiệu cho cô hầu, vừa giơ lên lại đột nhiên buông xuống, cười khẩy một mình: “Đúng là hồ đồ, cởi trói cho cô làm gì, hôm nay cô chỉ cần có hai cái tai là được”.
                            Nói đoạn, cầm chung rượu trên bàn uống cạn, loạng choạng bước tới trước giường, né tránh bàn tay đỡ của cô hầu, một tay tóm lấy cằm tôi, sau khi lột chiếc mặt nạ của tôi, cô ta ngẩng phắt đầu, tôi không biết phản ứng thế nào, thầm nghĩ, chắc cô ta không đến nỗi cho là tôi giấu Hoa Tư dẫn trong mặt nạ này chứ?
                            Lúc sau, ngón tay thanh mảnh trắng ngần của cô ta lần trên vết sẹo ngoằn ngoèo trên trán tôi, ánh mắt lạnh lùng sa sầm, “Thì ra là một mỹ nhân, lẽ nào cô không biết, không được tự tiện động vào đồ của người khác?”.
                            Trong phòng rất yên tĩnh, tôi ngẩng đầu nhìn vào mắt cô ta, không biết cô ta nói gì, nhưng không thể tỏ ra yếu thế, nhìn nhau rất lâu, cô ta cười khẩy một tiếng, giọng lạnh lùng: “Lại còn giả bộ thờ ơ, việc mới làm đã nhanh quên thế sao?”.
                            Tôi vẫn không hiểu cô ta nói gì, nhưng có cảm giác cô ta không phải bắt cóc tôi để đòi Hoa Tư dẫn, chẳng lẽ bắt nhầm người? Nhưng tôi vẫn ưỡn thẳng lưng, lúc này đầu cô ta đang ghé sát mặt tôi, mấy sợi tóc mai chạm vào trán tôi, hơi thở phả bên tai, giọng rất nhẹ: “Cô thích chàng, nhân lúc không có tôi, mon men đến bên chàng, cố tình gặp mặt, cố tình để chàng chú ý, múa may như một con rối. Thật nực cười, lẽ nào cô không biết chàng đã có ý trung nhân, đã có hẹn ước?”.
                            Tôi sững ra một lát, như có một tia sáng lóe lên, đầu như vỡ tung, không thể tin nổi. Một cách bản năng, tôi lục tìm trong trí nhớ hình ảnh cô gái hành thích Mộ Ngôn ở Bích sơn, nhưng chỉ nhớ ra một biển hoa tường vi, đó là dịp cuối xuân tháng tư.
                            Cô gái nghiêng đầu nhìn bộ dạng ngây ngô của tôi, những ngón tay thanh mảnh của cô ta đặt lên tóc tôi. Lúc này tôi mới chú ý, giữa mái tóc đen mướt của cô ta cài một bông hoa tường vi kết bằng dải lụa tối màu.
                            Nếu cô ta chính là Tử Yên, nhất định cô ta chưa quên Mộ Ngôn.
                            Nhưng cô ta đã hành thích Mộ Ngôn.
                            Tôi không biết nên tỏ thái độ thế nào, cũng không biết tâm trạng mình bây giờ ra sao. Chỉ nghĩ nếu mình có thể sớm tìm thấy Mộ Ngôn, tìm thấy chàng trước khi chàng gặp cô ta, hôm nay sẽ thế nào?
                            Nhưng ba năm, bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm tôi không tìm thấy chàng, lúc sắp chết cũng không được gặp chàng một lần, ý trời là vậy.
                            Cô ta ngồi gần lại, ngón tay rê trên trán, cau mày, có lẽ đã chếnh choáng, khuôn mặt say rượu dưới ánh nến hồng toát ra một vẻ đẹp tuy hơi lạnh lùng nhưng thực sự say lòng, như nhìn tôi, lại như nhìn vào một điểm hư không nào đó, thoáng mím môi, lại tiếp: “Lúc đó tôi là nhạc sư trong Triệu cung, gặp chàng trong một đại yến, chiến công lừng lẫy của chàng ai không biết, cả Triệu vương cung, bao gồm mấy vị công chúa, không ai không ngưỡng mộ chàng”.
                            Ánh mắt cô ta dừng trên mặt tôi, miệng lại hơi nhếch: “Nhưng chàng chỉ đưa mình tôi về nước”. Ngừng một lát, mắt vẫn hướng vào tôi như cười, “Cô chỉ nhìn thấy tư phong nho nhã, trác việt của chàng, nhưng đã bao giờ nhìn thấy chàng nhẫn nại, ôn tồn dịu dàng âu yếm chưa?”.
                            Tôi lắc đầu. Cô khẽ cười: “Những gì chúng tôi có với nhau, cô không thể tưởng tượng được đâu”.
                            Lòng tôi nổi từng cơn sóng, lớp lớp dềnh lên, ép tới, nặng như đá tảng, nhưng lại không thể tỏ ra yếu thế, giống như gặp chó sói trên đồng hoang, dù sợ hãi đến mấy cũng phải ngẩng đầu nhìn nó, kẻ cúi đầu xuống trước là thua.
                            Cả cuộc đời, phụ vương không dạy được tôi điều gì hữu ích, ngoài một điều khi lòng càng hoảng loạn càng phải tỏ ra bình tĩnh. Thực ra tôi muốn hỏi cô ta, đã thích chàng như vậy, sao nỡ hại chàng, làm chàng bị thương nặng như thế, cũng không ngoái nhìn một lần. Chung quy chỉ tại tôi không hiểu, làm tổn thương người yêu cũng là một cách thể hiện tình yêu.
                            Ở đời người ta thường hay suy nghĩ không thông, trong tình cảm lại càng như thế, tất cả những suy nghĩ của tôi đều chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân mà về mặt này rõ ràng tôi chưa từng trải.
                            Bên ngoài có tiếng bước chân, mặt cô ta biến sắc, đứng bật dậy, kéo xoạch bức bình phong, ánh sáng trước mắt lập tức mờ hẳn, chỉ lưu lại một ám ảnh nặng nề lan dần trong đầu mà trước đó tôi còn chưa biết là gì, bây giờ xem ra chính là những tưởng tượng mơ hồ về cảnh cô ta và Mộ Ngôn âu yếm bên nhau, lại thêm chiếc khăn mùi xoa nhét trong miệng, khiến tôi không thể cất lời.
                            Vẫn còn ôm một hy vọng mong manh, cố nhướn lưng, mong được thấy cảnh tượng khác, có thể an ủi bản thân, lại nghe thấy ba tiếng gõ cửa quen thuộc, cánh cửa phòng từ từ mở ra. Một giọng nói vang lên, nhẹ mềm như một nhành tơ liễu ngày xuân, cùng với tiếng cười: “Tôi tìm em đã lâu, Tử Yên”. Đó là Mộ Ngôn. Cô gái nghẹn ngào: “Em vẫn đợi chàng, vẫn luôn đợi chàng đến tìm em”.
                            Vai và lưng đột nhiên như rũ xuống, không thể chịu đựng hơn nữa, bải hoải tựa vào tường, cái lạnh như khi sắp chết từ sống lưng lan ra, chỗ viên giao châu trong lồng ngực đột nhiên thấy đau. Quả rất kỳ lạ.
                            Đúng lúc đó, ván giường như bị lật nghiêng, khi trấn tĩnh được đã thấy bị ném vào chỗ nào đó, một tia sáng lờ mờ không biết từ đâu lọt ra, tôi đoán đây là một cái hang núi dài. May trước đó tôi đã cởi được dây trói, dù bị ném xuống hố sâu cũng không bị thương.
                            Ngồi tựa vách hang nhìn lên, không biết lúc này cảnh tượng trong phòng thế nào.
                            Có thể hình dung bên ngoài nhất định là một bầu trời sao sáng, chàng giẫm lên ánh trăng đẩy cửa đi vào, vẫn phong nhã du nhàn như vốn dĩ. Có câu nói thế nào nhỉ, hình như là, “Bóng trăng lay động đầu cành, tường hoa in bóng văn nhân lại gần”. Nhưng không phải đến vì tôi.
                            Logic của tôi rất đơn giản, cho rằng Tử Yên đã đâm chàng, nhất định không còn là người của chàng, chàng sẽ không thích cô ta, tôi là một người chết, thực ra không có tư cách gì, nhưng mong chàng có thể tìm được người tốt hơn.
                            Thực ra, tôi đang nói dối, tôi không hề mong chàng tìm được cô gái tốt hơn. Nói trắng ra tôi ích kỷ, nhưng nếu nhất định phải lựa chọn, tôi thà thấy chàng yêu cô gái khác, nhất định không thể là Tử Yên, giống như suy nghĩ của Dung Viên. Nhưng họ vẫn gặp nhau, xem ra cả hai vẫn còn nhiều lưu luyến.
                            Tử Yên nói rất phải, tôi giống một con rối nực cười. Nhưng nếu đó chính là tình yêu của tuổi trưởng thành thì quả thực tôi không hiểu. Nhìn bàn tay mình, bàn tay phải đã mất đường sinh mệnh, càng nghĩ càng không hiểu, lòng buồn thấm thía nhưng không biết tự an ủi ra sao.
                            Tôi cầm lên chiếc mặt nạ dưới đất, lấy tay áo lau sạch, đeo vào mặt, còn có thể như thế nào nữa, vậy là chia tay. Tôi nhớ chàng, nghĩ tới sau này không bao giờ gặp lại, cuộc đời tôi kết thúc quá sớm, gặp chàng lúc còn nhỏ, không biết yêu là gì, khi hiểu được, chàng đã yêu người khác. Trong hang dài tịch mịch như vô tận, tôi từ từ khụy xuống, gục mặt vào hai đầu gối, bật khóc.
                            Khóc một lúc cũng thấy dễ chịu hơn, thực tế cho thấy, nỗi buồn có thể giải tỏa bằng nước mắt đều không phải là nỗi buồn. Những tiếng nức nở vang lên trong động, đập vào vách hang, vọng lại như có người đứng bên an ủi, lại cảm thấy có một chút can đảm.
                            Bám vách hang đứng lên, men theo vách đá tập tễnh đi ra, trên đường đụng phải rất nhiều xương khô, tôi bỗng thấy sợ hãi, trước kia không nhận ra, bây giờ rời xa Mộ Ngôn tôi mới hiểu chàng bảo vệ tôi quá kỹ, khiến tôi có cảm giác mình là cô gái bình thường, quên đi mình là người chết. Suy cho cùng không nên sợ hãi, bởi họ thực ra cũng như tôi, chỉ là bộ xương mục đen sì trong hang núi.
                            Vất vả lần ra đến cửa hang, bên ngoài là đêm đen, không phải bầu trời sao như tưởng tượng, một trận mưa lớn trút xuống đầu.
                            Tôi đội mưa đi trong đêm. Lúc Tử Yên nhốt tôi trong hang núi, chắc không ngờ tôi có thể thoát ra, nhưng Mộ Ngôn thích cô ta, chàng không biết chính cô ta bắt cóc tôi, nghĩ đến những bộ xương vừa vấp phải trong hang, cô ta chủ tâm vứt tôi vào đó nghĩ là tôi sẽ chết vì trúng độc chướng khí, đâu có biết tôi vốn là một người chết.
                            Ngọn núi như con thú nằm ngang trước mặt, há cái mồm khổng lồ đầy máu, bóng cây cao vút nhảy múa trong đêm tối, trong màn mưa tạo ra những hình thù kỳ dị. Gió réo bên tai, thổi bạt những sợi mưa, quất vào người, cái lạnh từng lớp thấm qua da thịt, thấm vào lòng, lạnh như băng.
                            Trời vẫn mưa như trút nước. Phía xa đình viện thấp thoáng lọt ra ánh sáng nhưng lại chính là nơi nguy hiểm nhất với tôi. Tôi không biết đường đến núi Quân Vu, chỉ biết chạy thục mạng ngược hướng ánh sáng nguy hiểm đó. Đường núi trơn, dù đã quen nhìn trong bóng tối, cũng có lúc không nhìn kỹ, tôi vấp ngã liên tục, người lấm đất.
                            Cảm thấy đã chạy được khá xa, không sợ bị đuổi kịp tôi mới yên tâm, nhìn thấy một bụi cây thấp ven đường, tôi chạy vào định tránh mưa.
                            Viên giao châu khiến tôi lạnh hơn người thường, không cần phải vội, tôi trấn tĩnh tinh thần, cảm thấy nước mưa và đất nhão bám vào từng tấc cơ thể, lạnh rúm người. Mưa tạnh thì sẽ ổn thôi, tôi nghiến răng, ôm gối tự an ủi. Mưa tạnh sẽ ổn thôi.
                            Trận mưa lớn nơi núi sâu đủ dài để xảy ra mọi chuyện, tôi đã nghĩ đến rất nhiều nguy hiểm, chỉ duy nhất quên một điều, có những loài mãnh thú quen tìm mồi trong mưa.
                            Khi phát hiện ra, con báo đó đã đứng cách tôi mười trượng, hình như nó chưa trưởng thành, đôi mắt xanh lét như hai đốm lửa quái dị trong đêm, ánh lên lớp lông ướt đẫm nước mưa, lộ những đường vằn hoa. Con báo hình như vừa thôi bú chưa lâu, dè dặt nhìn tôi, có lẽ đang suy nghĩ cái thân hình lấm đất trong bụi cây là vật gì, liệu có thể cho vào bụng. Còn tôi trong người chỉ có một vật duy nhất có thể tự vệ là con dao găm nhặt được trong hang núi.
                            Lúc này không nghĩ gì hết, cũng không ngây thơ tưởng tượng Quân Vỹ, Tiểu Hoàng từ trên trời rơi xuống, hoặc thần kỳ hơn, Mộ Ngôn từ trên trời rơi xuống. Nếu nghĩ vậy thì chết chắc.
                            Nhìn nhau một lát, con báo cuối cùng nhún hai chi sau lấy đà lao đến, còn tôi không biết lấy đâu ra can đảm, không né tránh, tay nắm chặt chuôi dao găm nhằm cổ con báo đón đợi.
                            Đương nhiên là không đâm trúng. Cho dù móng vuốt con báo cào lên người tôi cũng không đau, không hề gì. Không thể giương mắt nhìn nó ngoạm mình từng miếng, vẫn kiên trì dùng dao đâm vào cổ họng nó, dốc sức toàn thân, chỉ nghe thấy tiếng gầm đau đớn của con thú, lòng thấp thỏm ý nghĩ phải giết nó thật nhanh, không để tiếng gầm của nó lôi kéo mãnh thú khác đến.
                            Khi dao găm đâm trúng họng con báo như ý muốn, máu đỏ vọt ra như mưa, phun vào ngực tôi, nhanh chóng lan ra, đỏ ngầu một mảng. Bầu trời cao, mưa đêm vô tận, con dao trong tay cầm không chắc, suýt rơi, máu con báo lẫn nước mưa và đất nhão. Chỉ thấy tiếng gió mưa, không có tiếng thở của tôi, xung quanh không một vật sống.
                            Nỗi sợ cuối cùng cũng xâm chiếm từ chân lên đầu. Quân Vỹ luôn cho là tôi bạo gan, chẳng sợ gì, đó là lúc còn nhỏ, sau này lớn lên cảm thấy rất nhiều thứ không thể bị mất, càng ngày gan càng bé đi, thái độ gan góc không sợ hãi chỉ là giả bộ trước mặt Quân Vỹ mà thôi.
                            Lấy tay che mắt, nghĩ đến cảnh tượng một tháng trước, trong đêm trăng gặp con sói, đêm đó ánh sao mênh mông như dát bạc lên triền núi, có một người đứng trước mặt tôi mỉm cười: “Không nhận ra con sói đi theo hay sao?”, rồi vỗ lưng tôi an ủi: “Đừng sợ, con sói bị giết rồi, còn sợ gì nữa?”.
                            Rõ ràng biết nước mắt cũng chẳng ích gì, nhưng lại không kìm được, trong màn mưa lạnh cô đơn, một lần nữa tôi bật khóc, nước mắt chảy dài theo kẽ ngón tay, tôi nhớ chàng: “Mộ Ngôn, chàng ở đâu, em sợ lắm”.
                            Em sợ lắm.
                            Không biết thời gian đã trôi qua bao lâu, mưa vẫn không có dấu hiệu ngớt, vẫn ầm ầm trút nước.
                            Thấp thoáng nghe thấy tiếng gầm gào, hình như là tiếng hổ gầm.
                            Tôi khó nhọc đứng lên, thầm nghĩ, dùng đá ném liệu có được, kết quả là không được. Sức lực yếu ớt đâm chết một con báo chưa trưởng thành là do ông trời ngủ gật, lại còn muốn giết một con hổ trưởng thành có lẽ phải chờ ông trời ngủ mãi không tỉnh.
                            Tôi không hy vọng lại gặp may lần nữa. Không biết viên giao châu bị con hổ nuốt chửng sẽ thế nào. Quân sư phụ nói viên giao châu được phong ấn Hoa Tư dẫn huyền bí, với công lực tự thân đã có thể làm cho người chết sống lại trong ba năm.
                            Tôi không biết nó sẽ khiến cho con hổ sống thêm bao nhiêu năm. Tình huống xấu nhất sẽ là sau tối nay trên đời sẽ xuất hiện một con hổ trường sinh bất lão, lại không phải là Tiểu Hoàng, không biết sẽ tác động thế nào đến cân bằng sinh thái. Tôi chạy thục mạng ngược hướng con hổ, thực ra thế nào cũng được, tôi chẳng có tài cán gì, có lẽ không thể sống qua đêm nay, nhưng dù không thể sống mà ra khỏi khu rừng này cũng không thể gây hại cho người khác.
                            Mặc dù hơi sợ, tôi vẫn nắm chặt con dao găm đã bị nước mưa xối rửa sạch sẽ, run run thử ướm vào ngực mình. Nếu bị con hổ phát hiện, phải đâm dao vào ngực, nhất định phải hủy viên giao châu.
                            Tôi căng thẳng chờ đợi, không nghe thấy tiếng hổ gầm nữa, chỉ có tiếng bước chân loạng choạng vang lên sau lưng. Trời mưa to như vậy nhưng tôi vẫn nghe thấy hơi thở gấp gáp của người đó.
                            “A Phất”. Tiếng gọi khàn đến mức không giống giọng của chàng. Tôi đang ngây người đứng đó, chờ đợi cả nghìn vạn năm nhưng không có can đảm ngoái đầu. Khóe mắt liếc thấy thanh kiếm trong tay chàng, miếng thạch ngọc khảm trên chuôi kiếm phát ra ánh sáng màu lam lóng lánh, ánh lên một góc tay áo đỏ như đóa yên chi, trông tuyệt vời nho nhã.
                            Đó chính là chàng. Có thể cảm thấy bàn tay chàng chầm chậm đặt lên vai tôi, hơi ngừng lại rồi kéo tôi vào lòng. Mưa trút xối xả nhưng tôi không nghe thấy bất kỳ âm thanh nào, chỉ cảm thấy thiên hoang địa lão, bể dâu cũng hóa thành tro bụi. Môi chàng áp sát vành tai tôi, tôi nghe thấy hơi thở dần bình ổn của chàng, một lúc lâu sau chàng khẽ nói: “Cô làm tôi sợ chết đi được”.
                            Đó chính là chàng, rõ ràng không ngửi được nhưng tôi lại cảm thấy hương hoa mai thoang thoảng quanh mình, hai tay run run ôm lấy cánh tay chàng tựa như nhìn thấy một vạn bông mai nở trên núi tuyết.
                            Đó chính là chàng, tôi nghe thấy giọng mình run rẩy: “Tôi tưởng không bao giờ được gặp huynh nữa”. Chàng ôm chặt hơn nhưng vẫn thận trọng né tránh vết thương ở bả vai do vuốt con báo gây ra, ngón tay lạnh lẽo vuốt ve mắt tôi.
                            Một khắc trước còn cảm thấy không thể sống qua đêm nay, còn lúc này Mộ Ngôn đã ở đây, tất cả mọi bất an đã hóa thành tro bụi bay đi, nhưng nỗi buồn lại ứ dâng, vốn định tỏ vẻ bất cần, không muốn để chàng nhìn thấy sự yếu đuối bi lụy của mình nhưng không thể, nước mắt đã trào ra, tôi khóc nức nở, càng khóc càng không kìm được, Mộ Ngôn lặng lẽ ôm tôi, ngón tay dán vào mặt nạ, lau nước mưa và nước mắt. Nhưng chỉ uổng công, lát sau chàng áp má vào trán tôi, thở dài.
                            Bấy lâu nay, tôi luôn nghĩ nếu tôi có một người trong lòng, nhất định sẽ đem mọi sung sướng khổ đau của mình phổ thành khúc nhạc gảy cho chàng nghe. Người của lòng tôi, lúc này, đang ở đây.
                            Không nhìn rõ bóng chàng, chỉ cảm thấy người mình từ từ quay lại. Những ngón tay lành lạnh lướt qua mái tóc, dừng lại trên đuôi mắt tôi: “Có tự đi được không?”.
                            Tôi gật đầu, ngừng một lát, lại lắc. Người bị nhấc bổng lên, giọng ai sát bên tai: “Không biết bị đau chỗ nào, nếu đau thì nói”.
                            Tôi lắc đầu, ngừng một lát, lại gật. Nhất định chàng thấy tôi rất đáng thương, sự xót thương một con chim sẻ bị bắn gẫy cánh, rất hy vọng sẽ là tình yêu, ước gì được như thế. Tôi biết mình mù quáng, nhưng cho dù mù quáng, tôi cũng muốn mù quáng thêm lát nữa.
                            Tôi được Mộ Ngôn bế về quán trọ, suốt chặng đường không ai nói gì, mưa vẫn không ngớt. Trước cửa quán trọ, Chấp Túc xa cách đã lâu tay cầm chiếc ô đứng đợi. Không biết tại sao cô ấy đột nhiên xuất hiện, có lẽ hộ vệ của Mộ Ngôn vẫn bí mật bám theo suốt dọc đường, tuy không lộ diện nhưng vẫn theo dõi hành tung của chủ, khi chủ gặp nguy hiểm lập tức ra tay.
                            Chấp Túc thu cái ô lại, định đón tôi từ tay Mộ Ngôn, tôi đang do dự không biết có nên đứng xuống, lại cảm thấy bàn tay ôm khoeo chân và eo mình xiết chặt. Nhờ ánh sáng của ngọn đèn lồng, tôi ngẩng đầu nhìn rõ bờ môi mím chặt, mái tóc ngấm mưa ướt đẫm, sắc mặt trắng xanh của Mộ Ngôn.
                            Chưa bao giờ thấy chàng tỏ ra lạnh lùng như vậy, như lớp lớp băng đóng trên mặt sông mùa đông. Tôi giơ tay định bám vai chàng, tay vừa chạm vào cổ áo, bàn chân chàng trên sàn nhà trọ đã dừng lại: “Đau à?”.
                            Nước mưa nhỏ từ tóc xuống, từng trận gió lớn làm ngọn đèn lồng trong tay Chấp Túc chao đảo, cuối cùng tắt phụt. Trong bóng tối, tôi len lén ôm cổ chàng, không thấy có phản kháng, khẽ trả lời: “Không đau”, nghĩ một lát, lại hỏi chàng: “Tôi nặng lắm phải không, huynh vất vả quá!”.
                            Tôi biết chàng sẽ trả lời thế nào, nhất định là nửa cười nửa không châm biếm tôi: “Cũng nghĩ đến sự vất vả của tôi cơ đấy?”. Nhưng lần này chàng không nói như vậy. Có vật gì khẽ chạm vào đầu, phả hơi âm ấm. Tôi nghĩ ra đó là gì, mặt chợt nóng bừng.
                            Hành lang ván gỗ của quán trọ kêu cót két dưới chân. Cửa phòng mở ra, tôi thấy sau bức bình phong vẽ khóm hoa tử oanh thấp thoáng cái chậu gỗ to nước bốc hơi nghi ngút, khiến ba chiếc đèn lồng treo trên giá đồng đen loang loáng nhập nhòe.
                            Mộ Ngôn để tôi xuống, kiểm tra vết thương trên người tôi, phát hiện chỉ có mấy vết xước trên vai do vuốt con báo cào rách, gọi Chấp Túc lại dặn dò. Sau đó như muốn đi ra, tôi vội túm ống tay áo: “Huynh định đi đâu?”. Mặt chàng cuối cùng lộ ra nụ cười: “Đi thay quần áo, cô tắm đi, lát nữa tôi quay lại”.
                            Mặc dù nghe nói Chấp Túc rất giỏi băng bó vết thương cũng phải uyển chuyển từ chối, đành bịa ra một lý do, cô ấy bán tín bán nghi, nhưng có lẽ cảm thấy con người tôi đầy bí hiểm, nên vẫn đi ra để mặc tôi tự lo liệu.
                            May vẫn còn giữ được một lọ thuốc trị thương Quân sư phụ đưa cho lúc lên đường, tuy bị ngấm chút nước mưa nhưng vẫn dùng tốt. Bôi thuốc lên vết thương, thay quần áo sạch xong, tiếng gõ cửa của Mộ Ngôn vang lên, vẫn là kiểu gõ thong thả ba tiếng.
                            Cửa mở, Mộ Ngôn hiện ra trước ngưỡng cửa, toàn thân áo chùng đen, tay và cổ áo nổi những hoa văn thêu chỉ bạc, tay bê bát nước gừng kháng hàn. Tôi chờ chàng đến, lúc tắm đã nghĩ chàng đến làm gì, nghĩ mãi rồi cảm thấy chàng đến làm gì không quan trọng, chỉ cần được ở bên chàng thêm một khắc, cho dù chàng đến chỉ để đưa bát nước gừng uống cho ấm bụng.
                            Kết quả chàng quả nhiên đến đưa bát nước gừng, ý nghĩ đầu tiên của tôi là mình thật ngốc, sao vừa rồi không giả thiết chàng đến thổ lộ tình yêu với mình.
                            Sì sụp uống hết bát nước gừng vẫn không thấy chàng có ý đi ra, ngồi bên giường ngây ngây nhìn tôi uống cạn giọt nước gừng cuối cùng, lát sau nói: “Khi tôi mười hai tuổi lần đầu tiên theo phụ thân xuất chinh”.
                            Đây là câu chuyện kể tuyệt vời trước khi ngủ, tôi để cái bát không lên chiếc bàn nhỏ cạnh đầu giường, kéo cao chăn, tựa đầu giường nghe chàng kể.
                            “Lúc đó tuổi nhỏ khí hăng, trúng kế dụ binh của địch, bị kẹt ở giữa vùng núi sâu vắng vẻ. Cũng là một đêm mưa, một trăm tinh binh dưới tay bị thiệt mạng, xác ngổn ngang trên núi, khó khăn lắm họ mới bảo vệ được tôi, giấu vào một hang núi, trong hang tôi nghe thấy phía xa có tiếng mãnh thú gầm gừ tranh mồi, biết là chúng đang tranh nhau xác chết của binh sỹ mình. Lúc đó tôi cũng bị trúng tên, dù im lặng nằm một góc, mùi máu tanh cũng sẽ dụ chúng đến, biến thành bữa tiệc cho chúng. Nhưng nếu đốt đuốc đuổi thú dữ, sẽ bị địch phát hiện, cả hai đều là đường chết.
                            Chàng chống tay lên trán, tựa như suy nghĩ, dáng tư lự khác hẳn bộ dạng tôi thường thấy.
                            Xem ra chàng cũng không thường xuyên kể chuyện cho em gái nghe, bởi vì câu chuyện kể trước khi ngủ nên là những chuyện tình cảm nhẹ nhàng, không nên hồi hộp thót tim như vậy, tôi nắm chặt ống tay áo chàng, sốt ruột giục: “Sau đó thế nào?”.
                            Mộ Ngôn ngước nhìn tôi, dưới ánh đèn, mắt chàng đen thẳm như biển sâu: “Tôi sống đến bây giờ, tình huống gay go nhất đã gặp chỉ có lần đó, nhưng lúc đó tôi không hề thấy sợ”.
                            Tôi gật đầu: “Ờ, huynh rất dũng cảm, nhưng, nhưng, về sau thế nào, huynh làm sao thoát ra được?”.
                            Chàng cầm cốc trà lên, không trả lời câu hỏi của tôi, xoay xoay trong tay: “Vốn đã tưởng ngay tình huống đó cũng không thấy sợ, có lẽ trong cuộc đời này sẽ chẳng sợ gì nữa”.
                            Ngừng một lát, chàng ngước mắt nói: “Bao gồm cả lần tôi bị Tử Yên đâm trúng mà cô nhìn thấy”.
                            Thấy tôi ngạc nhiên, chàng cười rất nhẹ, vẫn xoay cốc trà bằng gốm thô trong tay: “Tôi đã tính rồi, dùng tư thế đó, cô ấy sẽ đâm trúng chỗ nào trên người tôi, tôi sẽ bị thương như thế nào, cần dưỡng thương bao lâu, có bao nhiêu thời gian để cho tiểu đệ của tôi thừa cơ phản loạn”.
                            Chiếc cốc trong tay chàng đã xoay một vòng, “Chuyện này rất nguy hiểm, chỉ cần sai sót một chút là có thể mất mạng, nhưng đến khi con dao đâm xuống theo dự đoán, tôi điều chỉnh tư thế cho dễ chịu hơn, cũng không cảm thấy sợ hãi bao nhiêu”.
                            Chiếc cốc gốm chuyển sang tay trái, chàng thản nhiên nói: “Hình như tôi sinh ra đã không biết sợ, bẩm sinh đã thiếu cảm giác đó”.
                            Tôi kinh ngạc không nói ra lời, một lát sau chỉ có thể nói một câu: “Ngộ nhỡ bị đâm chết thì sao?”. Nghĩ đến Tử Yên cô nương, nghĩ đến chàng, đến kế hoạch chu toàn đó của chàng, quan hệ giữa chàng và Tử Yên cô nương là thật hay giả, nhưng cũng không mấy bận tâm, điều bận tâm nhất vẫn là ngộ nhỡ thì sao? Ngộ nhỡ lúc đó chàng bị Tử Yên cô nương đâm chết, chết trước mặt tôi, tôi tìm chàng cả đời, cuối cùng chứng kiến chàng thân mình đẫm máu nằm trước mặt, lại không biết chàng là ai. Tôi thở phào, may ông trời không để chuyện đó xảy ra.
                            Cốc trà được để lên bàn, ánh nến chao đảo, chàng khe khẽ lặp lại “ngộ nhỡ” nhưng lại khẽ cười: “Sẽ không có ngộ nhỡ nào hết. Giống như giải một đề toán, có một vạn bước, mỗi bước đều chính xác, nghĩa là một vạn trên một vạn. Sẽ không xảy ra sai sót một phần vạn nào hết, nếu có, chỉ là do khi giải, tính toán không cẩn thận...”.
                            Tôi ngắt lời chàng: “Nhưng sự đời không phải mọi chuyện đều như giải đề toán, con người có tình sẽ thấy sợ hãi, khi sợ hãi nhất định lo lắng đến tình huống ngộ nhỡ”.
                            Chàng chống tay lên trán: “Sao? Vậy cô nói xem, A Phất, tại sao người ta sợ?”.
                            Vấn đề này hoàn toàn không cần suy nghĩ, “Bởi vì có những thứ muốn giữ gìn bảo vệ”.
                            Chàng nhìn tôi rất lâu, chậm rãi nói: “Cô nói đúng, đó là nguyên nhân tối nay lần đầu tiên tôi đã thấy sợ”.
                            Không biết thế nào, câu chuyện lại đột nhiên chuyển hướng như vậy, đầu óc phản ứng không kịp, lúc sau, tôi ngây ngây nhìn chàng: “Nhưng huynh nói chưa bao giờ huynh sợ...”.
                            Chàng giơ tay nắm tay tôi: “Tối nay tôi rất sợ”.
                            Tôi sững người, khi hiểu được chàng đang nói gì, toàn thân bỗng cứng đờ, tay hơi rụt lại một cách bản năng lại bị chàng nắm chặt: “Là tôi đã sai, không nên để em một mình trong quán trọ”.
                            Tôi bối rối: “Cũng không thể trách huynh...”.
                            Chàng bổ sung: “Biết rõ em ngốc như vậy, thân thủ không tốt, lại dễ tin người”.
                            “ ... Đủ rồi”, tôi bực mình nhìn chàng, “Thực ra là huynh...”.
                            Lại bị chàng ngắt lời: “Tôi thích em”.
                            Sự chuyển hướng quá đột ngột khiến người tôi bủn nhủn.
                            Tay run run.
                            Những lời hay như vậy, chuyện tốt như vậy, đây nhất định là đang nằm mơ. Cơ hồ nhắm mắt theo bản năng, bốn bề yên tĩnh, chỉ nghe tiếng mưa nhỏ dần bên ngoài.
                            Quả nhiên là mơ, chẳng phải thường nghe thấy những chuyện như thế sao, làm gì có bánh nướng từ trên trời rơi xuống.
                            Cánh cửa sổ “cạch” một tiếng, tôi giật nảy mình, mở mắt, nhìn thấy một con chim sẻ ướt đẫm bay vào, loạng choạng trong phòng. Căng thẳng nhìn lướt phía trước giường, vật đầu tiên lọt vào mắt là một đôi giày, nhích lên một chút, Mộ Ngôn nhăn nhó nhìn tôi: “Tôi đang chờ em trả lời, em nhắm mắt giả bộ ngủ là ý gì?”.
                            Hóa ra không phải chiêm bao.
                            Tôi líu lưỡi lắp bắp, hỏi lại: “Trả... trả lời gì kia?”.
                            Chàng cầm bàn tay tôi để bên ngoài chăn, nắm chặt trong tay mình, mỉm cười chăm chú nhìn vào mắt tôi: “Tôi thích em, A Phất, có phải em cũng thích tôi?”.
                            Tôi hoang mang nhìn chàng, đầu óc đột nhiên trống rỗng, nghe thấy giọng nói bình tĩnh của mình: “Thích mà huynh nói là như thích em gái sao? Nếu là thích như vậy, tôi cũng thích huynh như thích anh trai...”. Chẳng biết mình đang nói gì.
                            Chàng khẽ kéo tôi lại, hơi cúi đầu, như vậy có thể bốn mắt nhìn nhau. Chàng nhìn tôi, vẻ mặt nghiêm túc xa lạ, nói từng tiếng: “Em nghĩ tình cảm của tôi với em là thế nào? Trước đây tôi đã nói, lấy tôi có nhiều cái hời. Nếu cả đời tôi chỉ lấy một mình em, em có đồng ý lấy tôi?”.
                            Tôi nhìn thấy biển hoa mai trắng dâng lên, dệt thành một tấm thảm trắng, dâng dần dâng dần trong màn mưa đêm, lạnh buốt, trải khắp phòng. Thực ra đều là hoang tưởng, như cái đêm sao sáng lần đầu tôi gặp chàng đó, cảm tưởng như nhìn thấy hoa mai trắng tháng hai nở đầy triền núi. Trên môi chàng nở nụ cười, lặng lẽ, lặng lẽ nhìn tôi, gió lạnh lùa qua cửa sổ, hoa tử vi bên ngoài chi chít đầy cành, rung rung trong gió, cánh hoa tím lặng lẽ khoe sắc trong đêm.
                            Ông trời để chúng tôi tái ngộ đã là phúc lớn, trong lòng tôi cũng thầm mơ ước chàng thích tôi, nhưng chưa bao nghĩ điều đó sẽ thành hiện thực, chưa bao giờ, chàng hỏi tôi có bằng lòng không, sao có thể không bằng lòng. Nhưng tôi đâu có thể được gọi là con người.
                            Tôi như vậy, muốn ôm chàng cũng không dám.
                            Sống và chết là hai cõi khác nhau, chỉ là tôi quá quyến luyến. Đây là người tôi thích nhất, lòng âm thầm trân trọng chàng, muốn bảo vệ chàng, không bao giờ muốn hại chàng.
                            Gật đầu là chuyện dễ nhất, nhưng nếu có một ngày, chàng biết người chàng yêu thương là một người chết, chàng sẽ ra sao? Tôi sẽ ra sao?
                            Như qua cả một cuộc đời, tôi lấy hết can đảm nắm tay chàng, run run đặt lên mũi mình. Sắc mặt chàng có chút lạ lùng, tôi không dám nhìn biểu hiện tiếp theo của chàng, cố kìm nỗi cay đắng trong lòng: “Có cảm thấy gì không...? Mộ Ngôn, tôi không có hơi thở”.
                            Ngón tay chàng hơi dừng lại, đã nói ra được câu đó, dường như tôi có thể thẳng thắn nói ra tất cả: “Có phải rất nhiều lúc huynh ngạc nhiên tại sao tôi không thấy đau”. Tôi cắn môi, khó nhọc đẩy cái vật chắn trong họng, “Bởi vì tôi hoàn toàn không cảm thấy đau, cũng không ngửi thấy mùi hương hoa nồng nàn, cũng không ngửi thấy mùi cao lương mỹ vị của tửu lầu mà huynh ca ngợi. Tôi tỏ ra rất thích bánh chẻo nhân tôm, thực ra ăn nó không có vị gì, chỉ là trước đây, trước đây tôi từng thích món đó”.
                            Ngẩng đầu, hai tay che mắt, nước mắt bắt đầu tuôn, tất cả đã hết. Ép chặt vào đầu giường như bám vào khúc gỗ nổi giữa biển nước mênh mông: “Huynh nói huynh muốn lấy tôi, tôi cầu mong không được, nhưng tôi thế này, huynh còn dám lấy không?”. Tất cả đã hết.
                            Hồi lâu sau, ngón tay lành lạnh của chàng dừng trên tai tôi, men theo lớp mặt nạ bạc từ từ trượt lên trán. Với tâm trạng bát nước đã đổ, không thể cứu vãn, tôi đợi chàng lột mặt nạ của mình.
                            Khi mặt nạ được nhấc ra, tôi không dám mở mắt nhìn, chàng nhất định hoảng sợ khi thấy khuôn mặt trắng nhợt của tôi, nhất định nhìn thấy vết sẹo dài trên trán tôi, một khuôn mặt xấu xí chấp chới giữa sống và chết, cảm giác của chàng sẽ thế nào?
                            Tôi từng nghe một câu chuyện, một con rối bằng gỗ đem lòng yêu chủ nhân của mình, do nhân duyên ngẫu hợp thế nào bị một thuật sĩ làm bùa phép biến thành một cô gái, cuối cùng lấy được người mình yêu, nhưng đến ngày bùa phép hết công lực, chủ nhân đã sợ hãi ngất xỉu khi con rối hiện nguyên hình, con rối với trái tim thiếu nữ gục ngã bên cạnh chủ, cuối cùng dùng thanh kiếm tự kết liễu đời mình.
                            Tôi lúc này giống như con rối đó, chủ nhân của cô hoảng sợ khi nhìn thấy cô, nhưng không biết cô còn sợ hơn anh ta vạn lần.
                            Ngón tay từ giữa hai hàng lông mày từ từ vòng qua trán, di chuyển về tai trái, chính là chỗ vết sẹo đó, là nơi tôi không muốn chàng chú ý nhất, nhưng ngón tay chàng thậm chí đã dừng ở đó, người run lên, tôi chờ câu nói của chàng, “Duyên phận đã hết, chúng ta đoạn tuyệt từ đây”, câu Quân Vỹ thường viết trong tiểu thuyết.
                            Tóc mai bị vén lên. Trong tiếng cánh cửa sổ bị gió thổi va lạch cạch, giọng chàng rất nhẹ: “A Phất, mở mắt nhìn tôi”.
                            Tôi căng thẳng nắm chặt ống tay áo, vừa cảm thấy không thể từ chối đề nghị đó vừa sợ mở mắt nhìn thấy cái không muốn nhìn. Cuối cùng tình cảm chiến thắng lý trí, tôi mở mắt ngước nhìn, thần sắc trên mặt Mộ Ngôn quả nhiên lạ lùng chưa từng thấy, nhưng không phải là vẻ kinh hoàng, khiếp sợ hay ghét bỏ, giống như đứng trước một trận chiến không biết thắng hay thua, điềm tĩnh đến mức tựa như trang nghiêm.
                            Tôi ngây ngây nhìn chàng.
                            Cặp mày hơi cau của chàng cuối cùng giãn ra, kéo tôi lại gần hơn: “Chuyện đó em có thể tự nói ra với tôi, tôi rất vui”.
                            Tôi giơ tay che vết sẹo trên trán: “Huynh, huynh không sợ sao?”.
                            Chàng lắc đầu, như nghe thấy chuyện buồn cười: “Tại sao lại sợ?”.
                            Sao có thể không sợ, có lúc ngủ mơ, nghĩ đến bản thân sống như chết, chính mình cũng thấy sợ, sao chàng lại bình tĩnh chấp nhận như vậy.
                            Đối diện với gương mặt bối rối phản chiếu trong chiếc gương đồng, tôi lùi vào bóng tối, cười đau khổ, “Tôi không giống một người sống thực sự, hơn nữa, huynh nhìn thấy rồi, tôi là một quái vật xấu xí”.
                            Chàng kéo tôi ra khỏi bóng tối, nhìn kỹ tôi, nơi ánh mắt chàng quét qua, da thịt tôi như bị lửa thiêu, rồi lại bị dìm trong băng lạnh. Tôi ngoảnh mặt sang bên, trong cái nhìn hai tầng băng hỏa tương khắc đó, chàng nghiêng người gỡ bàn tay tôi đang ôm trán, nắm trong tay mình: “Tại sao lại cho rằng mình xấu xí, nếu như ngay... danh chấn thiên hạ...”.
                            Nói đến đó, chàng cúi đầu cười, như tự nói với mình: “Tôi vốn nghĩ đó chỉ là... nhưng không ngờ lại đúng như vậy”. Khi ngẩng đầu chàng lại giơ tay vuốt ve vết sẹo trên trán tôi, “Nếu hồi đó tôi có thể đoán ra, chúng ta...”. Nhưng cuối cùng lại không nói hết. Tôi không biết chàng định nói gì, chỉ lờ mờ hiểu, đó là điều tôi không thể, cũng không cần tìm hiểu.
                            Bàn tay chàng dừng trên má tôi: “Vui lên đi, vết sẹo nhỏ đó không ảnh hưởng đến nhan sắc của em, em là cô gái đẹp nhất tôi từng gặp”. Ngón tay chàng lau nước mắt cho tôi, chăm chú nhìn mắt tôi, “Những chuyện đó đã có tôi, em chỉ cần cố sống đến khi tôi tìm ra cách, có làm được không?”. Ngoài gật đầu tôi không thể làm gì khác. Nếu đây là mộng, cả đời này tốt nhất tôi không nên tỉnh lại.
                            Chính trong lúc tôi gật đầu lia lịa, một miếng ngọc bội vân mây xâu chỉ đỏ đã tròng vào cổ tôi. Bạch ngọc Dương Chi trước ngực sáng lóng lánh, chàng ngắm nghía kiệt tác trước ngực tôi, môi cười rất đẹp: “Đây là tín vật của tôi, tôi đưa cho em vật quan trọng nhất thân mẫu để lại cho tôi, em trao tôi vật gì?”.
                            Tôi không biết nên trao chàng vật gì, tìm khắp người, lục tung mọi thứ, gia tài của tôi gồm có lọ thuốc trị thương đã dùng hết nửa, con hổ ngọc của chàng đưa lần trước, một bức họa nhỏ vẽ trộm chân dung chàng, chiếc trâm bạch ngọc vân hoa mua cho chàng nhưng vẫn chưa đưa.
                            Chàng hiếu kỳ nhìn tôi: “Đây là...”.
                            Tôi đẩy những vật đó đến trước mặt chàng: “Tùy chàng chọn”. Tôi không có tiền, không mua được những thứ quý hiếm, chỉ mong những thứ lặt vặt đó có thể chàng sẽ thích.
                            Chàng nhìn tôi một lát, nhặt lên chiếc trâm bạch ngọc: “Em vẽ bức họa đó là để đổi lấy chiếc trâm này tặng tôi?”.
                            Tôi bối rối gật đầu, ngượng nghịu giải thích: “Nghe nói đó là loại ngọc cổ, đã có hai trăm tuổi, chế tác cũng khéo, do một thợ nổi tiếng nào đó làm ra, ông chủ nhất định đòi ba trăm thù vàng...”.
                            Lời chưa dứt bỗng thấy ánh nến hơi tối, chàng đã nghiêng người, bất ngờ hôn vào môi tôi. Có thể cảm thấy hơi thở âm ấm bên má. Tôi sững người nhìn chàng, không biết rằng, trong tình huống như thế này hầu hết các cô gái sẽ nhắm mắt. Khuôn mặt đẹp kề sát, hàng mi dài, ánh mắt như cười. Tôi thật vô dụng, ngay hôn cũng không biết, chàng bèn nhẫn nại chà xát, dụ dỗ, dùng môi tách môi tôi, để chàng ngọt ngào mút mát. Nghĩ đến con đường gập ghềnh đã qua, mắt cay cay, nước mắt bỗng trào ra.
                            Chàng áp trán vào trán tôi, lấy tay lau nước mắt không ngừng trào ra của tôi, mỉm cười chế giễu: “Đồ mau nước mắt”.
                            Tôi bám lấy chàng, ôm chặt cổ chàng nức nở: “Em không mau nước mắt”.
                            Tay chàng vò rối tóc tôi: “Sao? Có lý lẽ hay ho gì nói nghe nào?”.
                            Tôi nhích ra một chút: “Được, em mau nước mắt. Nhưng mau nước mắt không phải là xấu. Em cảm thấy nước mắt là thứ không cần kìm nén nhất trên đời, có lúc em cũng muốn kìm nén, để mọi người thấy em rất kiên cường, bởi vì về sau em hiểu rằng kiên cường chỉ là một phẩm chất của lý trí, mau nước mắt không phải không kiên cường, sau khi khóc xong vẫn có thể đứng dậy, có thể nhìn rõ nên đi con đường nào, làm việc gì, em muốn là một người như thế. Chàng nghĩ coi, nếu như ngay nước mắt em cũng phải nén vào trong, những nỗi lo lắng, sợ hãi và cả hạnh phúc của em nên lấy gì để chứng minh, lấy gì chứng minh em vẫn còn sống”.
                            Ánh lửa chiếu lên đôi mắt sáng, sâu như biển của Mộ Ngôn, như có vì sao ở bên trong, ngoài cửa sổ mưa gió đã yên.
                            Lúc sau, chàng kéo tôi vào lòng: “A Phất, từ nay em có thể cứ khóc thoải mái cho tôi nghe”.
                            Tôi gục vào vai chàng, giống như một giấc mộng lớn, đây là điều lòng tôi hằng khao khát, là Hoa Tư mộng của tôi, tóc chàng chà vào mặt tôi, có một cái cây nhỏ đang lớn dần trong lòng tôi, nở đầy một tán hoa, bóng hai người ôm nhau in lên bức rèm màu tím ngập tràn trong mắt tôi.
                            Chú thích:
                            (1) Trung Quốc cổ đại có chín châu, Dự Châu ở giữa gọi là Trung Châu. Ngày nay chỉ khu vực tỉnh Hà Nam, thuộc vùng trung du sông Hoàng Hà.
                            #14
                              manhbv 06.03.2013 21:11:53 (permalink)
                              Chương 13


                              Buổi sáng hôm nay, cuối cùng chúng tôi nhận được thư của Quân Vỹ, được biết anh ta đang ở cùng với Bách Lý Tấn. Thư viết, lúc này hai người đang ở Bối Trung tập trung nghiên cứu một bí thuật, bí thuật đó là làm thế nào dùng thuốc điều khiển chính xác sự chuyển biến từ người thành thú.
                              Những bí thuật lưu truyền xưa nay Quân Vỹ không hề biết, anh ta không nên nhúng tay vào những việc đó mới phải, có lẽ ngẫu nhiên gặp Bách Lý Tấn, bị anh ta lôi kéo đi làm những việc không công. Thư cho biết, nghiên cứu hiện đang ở giai đoạn sơ khai, muốn chuyển đổi thành công, trước hết phải tìm ra bí dược khiến người ăn xong biến thành dã thú, hỏi tôi có đề nghị nào hay.
                              Tôi cho là không có bí dược biến người thành thú, muốn biến thành thú, có thể mua ít xuân dược kích dục, con người sau khi dùng xuân dược đó sẽ trở nên giống cầm thú, càng dùng nhiều càng giống cầm thú, rồi sinh ra một đống tiểu cầm thú...
                              Mộ Ngôn nghe vậy, suy nghĩ một lát, quyết định đổi ý đích thân đưa tôi đến Bối Trung. Chuyện này cảm giác giống như các bậc phụ huynh trước khi đi đâu đó làm việc lớn nhất định phải đưa con cái gửi gắm một nơi nào đó, kết quả những bậc phụ huynh đi làm việc lớn kia thường không hay trở về hoặc không thể trở về nữa, những đứa con để lại lần lượt trở thành trẻ hư... Tôi cảm thấy một cách bản năng nên đi theo Mộ Ngôn, nhưng chàng cho là tôi nên chờ đợi ở một nơi an toàn, Bối Trung là một nơi an toàn, tuyệt đối sẽ không có sơ sẩy gì.
                              Mặc dù lập tức bày tỏ có thể cùng chàng đồng cam cộng khổ nhưng lại bị phản bác: “Một số nơi rất nguy hiểm với phụ nữ, còn đối với đàn ông chỉ là hơi nhạy cảm một chút, em đến đó mới làm tôi lo lắng”.
                              Tôi cảm thấy nên tin tưởng chàng, nhưng vẫn phải dùng thủ thuật để chàng bỏ ý định đưa tôi đến chỗ Quân Vỹ: “Chàng không biết sao, Quân Vỹ từ lâu đã nói muốn lấy em, sao chàng ngốc thế, nhất định đưa em đến bên anh ta, như vậy không an toàn”. Nói câu đó xong, mới sực nhớ ra là chàng luôn thích khiêu chiến, lập tức tôi bị nhấc lên ấn vào xe ngựa: “Anh ta cứ thử xem”.
                              Đi thâu đêm, đến thẳng Bối Trung.
                              Hai nước Vệ, Trần chung một con sông, đó là Đoan Hà, Đoan Hà bắt nguồn từ Bối Trung của nước Trần. Nhưng Bối Trung không nổi tiếng bởi con sông đó, mà nổi tiếng bởi có dòng họ Công Nghi làm nghề đúc kiếm lừng danh thiên hạ.
                              Nghe đồn dòng họ Công Nghi tồn tại từ xa xưa, tổ tiên từng tham gia cuộc quyết chiến giữa con người với sứ thần nhà trời ở bồn địa đá, sau đó buông kiếm chuyển sang buôn bán, lập nghiệp ở đất Bối Trung, nhiều đời làm nghề đúc kiếm, do từng lập công với Trần triều nên được hưởng nhiều đặc quyền, đến khi Trần quốc phong đất, gia sản đã giàu có vô địch thiên hạ. Mỗi đời Trần vương đều gả một vị công chúa sủng ái nhất cho dòng họ đó, khiến dòng họ Công Nghi có những quan hệ chằng chéo về huyết thống hết sức phức tạp với vương thất Trần quốc.
                              Người trong thiên hạ cho rằng, mục đích nước cờ đó của Trần vương là hướng tới tài sản khổng lồ của dòng họ Công Nghi, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tuy nhiên bất luận thế nào, dòng họ Công Nghi có bảy trăm năm lịch sử được kế truyền hai mươi nhăm đời đã bị hủy diệt bởi một trận đại hỏa hoạn bảy năm trước.
                              Bảy năm trước quả thật đã xảy ra không ít biến cố, lúc đó tôi còn nhỏ không biết, sống trong Thanh Ngôn tông, tin đồn về một gia tộc ở xa xôi đâu đó bị hủy diệt bởi một trận đại hỏa hoạn lọt qua những bức tường sừng sững của quốc tông giáo truyền đến tai tôi, tôi cảm thấy chuyện đó chẳng liên quan đến mình.
                              Sư phụ nói: “Con là công chúa nước Vệ, cũng nên hiểu ít nhiều thế sự thiên hạ, dòng họ Công Nghi giàu có như thế, bị hủy diệt khác nào chặt mất một cánh tay của Trần vương, bất luận thế nào đối với nước Vệ cũng là chuyện tốt”.
                              Tôi thầm nghĩ, ai biết chuyện đó không phải do Trần vương gây ra?
                              Sư phụ trầm ngâm hồi lâu, sau đó lần đầu tiên tôi được nghe sư phụ kể về truyền thuyết hung thú Thiên Hà. Hung thú Thiên Hà, sau nghìn kiếp nạn máu chảy thành sông là thần hộ vệ của dòng họ Công Nghi, ngủ yên dưới đáy sông, bảo vệ dòng họ Công Nghi đời đời thái bình. Thực ra tôi hơi nghi ngờ, cảm thấy cái gọi là hung thú đó sao có thể gọi là Thiên Hà, giả sử nhất định phải có ngụ ý sau khi trải qua nghìn tai họa máu chảy thành sông, gọi là Hậu Hà cũng hay hơn Thiên Hà.
                              Nhưng đó không phải là vấn đề chủ yếu, vấn đề chủ yếu là, tại sao một gia tộc cường thịnh như vậy, lại có riêng một vị thần bảo hộ, lại có thể bỗng chốc bị hủy diệt tan tành, Trần vương không làm được, chỉ có một lý giải duy nhất, dòng họ Công Nghi bị chính vị thần bảo hộ đó hủy diệt.
                              Bài học tôi rút ra được từ câu chuyện này là nuôi thần hộ vệ cũng rất nguy hiểm, còn sư phụ lại nhìn xa hơn: “Rất nhiều việc có nhân mới có quả, có quả tất có nhân, dòng họ Công Nghi bị tai họa triệt diệt như vậy tất có nhân từ xa xưa, ví như một ngày nào đó Vệ quốc bị diệt, cũng do nguyên nhân từ xa xưa, con có thể không hiểu nhân quả, nhưng con phải nhìn thấy hậu quả, trước khi làm gì hãy nghĩ tới hậu quả”.
                              Ấn tượng của tôi về gia tộc Công Nghi sở dĩ rất sâu chính do những lời dạy đó của sư phụ, những lời đó đến giờ tôi vẫn nhớ, ngoài ra còn cảm thấy nhiều tiền như vậy bị lửa thiêu hết thật đáng tiếc. Đương nhiên một gia tộc lâu đời như thế có thật bị hỏa hoạn tàn phá như đồn đại hay không, đến nay vẫn còn là bí ẩn, nhưng lại có tin đồn, hai năm sau, Công Nghi Phỉ, trưởng tộc đời thứ hai nhăm của gia tộc Công Nghi đã tái dựng môn đình từ đống đổ nát, chàng ta còn là một trang nam nhi tuấn kiệt, chỉ có điều gia tộc Công Nghi sau khi tái thiết không sinh sống bằng nghề đúc kiếm nữa, chuyển sang kinh doanh đất đai, châu báu. Đấy là những tin sau này nghe được .
                              Bỗng dưng nhớ tới chuyện cũ chẳng qua là do lần này nơi Mộ Ngôn định đưa tôi đến chính là gia tộc Công Nghi ở đất Bối Trung. Trước khi chàng trở lại, tôi sẽ chờ ở đó. Suy cho cùng cũng là chuyện thường, người đời chẳng phải luôn ở trong trạng thái chờ đợi và được chờ đợi đó sao, thước đo khoảng cách giữa hai cái đó chính là lòng người. Khoảng cách gần trong gang tấc mà biển trời xa cách ngày xưa hy vọng sau này có thể trở thành xa cách cả biển trời mà gần trong gang tấc, nhưng tốt nhất là chỉ nên gần trong gang tấc thôi.
                              Chưa đầy một ngày đã tới chân núi Cô Trúc, thuộc địa phận Bối Trung.
                              Mộ Ngôn nói Phật Tang uyển, biệt cư của gia tộc Công Nghi tọa lạc trên lưng chừng núi Cô Trúc, ngày mai sẽ có người đến đón chúng tôi lên núi, nghĩ đến lúc này Quân Vỹ và Tiểu Hoàng đang ở gần đây, bất luận là nơi nào, một điều chắc chắn là sẽ gặp lại sau bao ngày xa cách, chắc chắn hơn nữa, khi gặp nhau Quân Vỹ nhất định hỏi thẳng tình hình của tôi từ ngày xa nhau, những vết thương trên vai tôi không thể giải thích với anh ta.
                              Tôi nằm trên giường thầm nghĩ, xa nhau đã lâu tôi cũng hơi nhớ Quân Vỹ, con người anh ta có lúc thần kinh nhập nhằng, nhưng ngoài lúc đó cũng là một người có tiền đồ, nhưng không muốn bị anh ta cằn nhằn, chỉ có cách hoãn cuộc gặp thêm vài ngày. Nghĩ vẩn vơ mãi, đầu óc dần mơ màng, đó là dấu hiệu sắp ngủ.
                              Cái chết chỉ là bóng đêm, vạn vật trên đời rồi cũng đến lúc trở về bóng đêm, những người sống đang nhích từng bước đến bóng đêm đó, đây cũng chính là giấc ngủ của người chết. Khi bóng tối quen thuộc dần dần bao phủ, trước mắt tôi bỗng nhiên hé ra một luồng sáng. Luồng sáng bùng phát tỏa khắp nơi, lát sau dần dần biến mất, thay vào đó là một màn sương mù dày đặc cuồn cuộn lan tỏa, thềm đá màu xanh cao cả trăm bậc ẩn hiện trong sương, cuối những bậc đá tít trên cao là một cái cổng lớn uy nghi.
                              Sương mù lan tràn, tầng tầng hoa phật tang màu vàng trải khắp nửa ngọn núi ẩn hiện trong mênh mang sương khói. Sơn môn sừng sững, cột đá uy nghi, lầu gác trùng trùng, trước lầu môn treo một bức rèm châu ngũ sắc cực lớn, gió lay động bức rèm, tiếng ngọc châu va chạm lanh canh.
                              Bên cạnh bức rèm châu có một cô gái đang đứng, tay giương chiếc ô lớn, cán trúc hơi cong, tán ô màu trắng toát, không có bất kỳ trang trí nào, giống như một món đồ tang, dưới tán ô lộ ra một vầng trán trắng ngần với một dải lụa đen đính ngọc buộc vắt ngang, hai hàng lông mày dài cong như mảnh trăng non, mắt băng lạnh, sống mũi thẳng, môi nhạt màu, hơi mím.
                              Toàn thân cô gái là một màu trắng toát, vật trang điểm duy nhất là mái tóc đen buông xõa tựa dòng thác đen từ trong sương mù đổ xuống, dài chấm gót chân. Một mỹ nhân như tạc từ băng.
                              Cách ba bậc thềm đá màu xanh trên có những vết nứt, một chàng trai áo trắng đang cúi người nhặt lên chiếc vòng tay bằng ngọc màu đen óng ánh, khi ngẩng đầu mới thấy đó là một khuôn mặt hao hao giống cô gái, chỉ có khác cặp lông mày không cong như mảnh trăng non, ánh mắt không lạnh như băng tuyết.
                              Mặc dù cũng xiêm áo trắng muốt như cô gái, nhưng cổ tay áo thêu hoa phật tang bằng chỉ tím, bàn tay cầm chiếc vòng ngọc màu đen lộ ra dưới ống tay áo: “Chiếc vòng này là của cô nương?”. Ánh mắt chàng trai long lanh như cười, “Hình như tại hạ đã gặp cô nương ở đâu?”.
                              Mưa lất phất, những đám rêu xanh trên bậc thềm đá ngấm nước mưa, màu sẫm dần, ở chóp mái hiên hai lớp cong vút nạm bạch ngọc treo tấm gương đồng cực lớn phản chiếu biển hoa màu vàng trên núi.
                              Chàng trai dung mạo tuấn tú, rạng ngời hơi ngẩng đầu nhìn cô gái, trong màn sương mù vần vũ, cạnh tấm rèm ngũ sắc trên bậc thềm, cô giương ô bước từng bước, đôi giày thêu màu trắng ướt nước mưa lộ ra đường viền màu vàng chanh.
                              Dừng lại cách chàng một bậc cô đón chiếc vòng ngọc màu đen bóng loáng nước mưa trong tay chàng, những ngón tay trắng bóc chạm vào tay chàng, chàng nắm tay cô, cô ngước mắt nhìn vẻ mặt hơi ngơ ngẩn của chàng: “Đa tạ”.
                              Cô chờ chàng buông tay, có tiếng sáo từ một nơi không xa nào đó từ từ vọng đến, chàng vẫn nắm tay cô: “Tại hạ là Công Nghi Phỉ ở Bối Trung, dám hỏi quý danh cô nương?”.
                              Cô hơi nâng chiếc ô, ngước nhìn chàng đăm đăm, lát sau, giọng nói trong như tiếng châu ngọc va nhau, lạnh như hoa phật tang nở trong tuyết vang lên: “Vĩnh An, Khanh Tửu Tửu”.
                              Vội mở bừng mắt, nếu có hơi thở tôi nhất định thở hổn hển, bên ngoài một vầng trăng tròn treo cao, ánh trăng lặng lẽ lọt qua cửa sổ, soi trước giường lúc mờ lúc tỏ.
                              Đây không phải là mộng, mà là ý thức tàn dư mà Hoa Tư dẫn viên giao châu phong ấn bắt được, nó vấn vương lơ lửng trên núi Cô Trúc, lẩn khuất trong sương mù, lạnh lùng và cao ngạo, trong suốt như ánh trăng dưới đáy nước giữa phồn hoa cuộc đời, lại như bức tranh thủy mặc dang dở cô đơn đợi chờ ai đó vẽ nốt những nét cuối cùng.
                              Ý thức phiêu du giữa đất trời được Hoa Tư dẫn cảm tri chỉ có thể là ký ức của người chết đối với thế gian, là những ký ức đặc biệt được khắc ghi.
                              Một cánh cổng sơn môn, một bức rèm châu ngũ sắc, một khung trời mờ sương, một chiếc ô trúc, mùa hoa phật tang, một đôi nam nữ tương ngộ, tất cả hình ảnh này nhất định có ý nghĩa đặc biệt nào đó đối với người đã chết. Nhớ lại cảnh tượng vừa nhìn thấy trước sơn môn, tôi thầm nghĩ, người đã chết có thể là chàng trai áo trắng nắm mãi tay cô gái, bất giác thầm tiếc nuối.
                              Nhưng lại nghĩ đến hai cái tên nghe được vừa rồi, cảm thấy có lẽ không đúng, Công Nghi Phỉ ở Bối Trung, nếu không trùng tên, trưởng tộc đời thứ hai mươi lăm của gia tộc Công Nghi hẹn sáng mai xuống núi đón chúng tôi cũng mang tên đó. Nếu vậy... cảnh tôi nhìn thấy có phải là ý thức tàn dư của cô gái áo trắng kia?
                              Thì ra cô mới là người đã chết, Vĩnh An, Khanh Tửu Tửu.
                              Cả đêm không ngủ, tôi luôn cảm thấy có bóng hình ẩn hiện, nhưng lờ mờ không rõ.
                              Ngày hôm sau tỉnh giấc trong tiếng đàn dạt dào như nước, đầy một trời ánh nắng, mấy con chim lạ đậu trên cửa sổ hân hoan ríu rít, là khung cảnh sáng sớm mùa hè.
                              Bước xuống giường vừa dụi mắt vừa mở cửa sổ, mấy con chim vỗ cánh bay vụt đi, ngẩng đầu nhìn ra chiếc sân rộng, thấy Mộ Ngôn đang ngồi khoanh chân dưới gốc cây hợp hoan cuối sân.
                              Hầu như mỗi lần chia tay chàng đều đánh đàn. Chấp Túc đứng bên cạnh, không xa có một chàng trai áo trắng đang đứng ngược chiều ánh sáng, nhìn không rõ mặt, đoán là người đến đón tôi, có lẽ là tùy tùng nào đó của Công Nghi Phỉ, nghĩ đến đây, cảm thấy không hài lòng.
                              Cây hợp hoan cao to rợp bóng, nở đầy những bông hoa trông như quả cầu nhung, ánh nắng sớm rạng ngời chiếu trên tán lá, lung linh nhảy múa trên cây đàn thất huyền, lóng lánh như hòa quang trên những ngón tay Mộ Ngôn.
                              Một giai điệu êm lắng, nhẹ như nước chảy, như gió lốc sa mạc thổi qua ốc đảo màu xanh, chỉ có chàng mới có thể đánh ra cầm âm như vậy, ấm áp khẽ khàng chầm chậm chảy vào lòng, tôi mở cửa chạy ra.
                              Tiếng đàn dừng đột ngột, đồng thời lúc đó tôi cảm thấy chân như vấp phải vật gì, người mất thăng bằng chúi đầu về phía trước, bị Mộ Ngôn bước vội tới kéo vào lòng: “Vừa sáng sớm đã được tặng một cái ôm, làm người ta hoảng hồn vì đắc sủng”. Tôi nghĩ, rõ ràng tôi hoảng hồn hơn chàng, thầm nghĩ được ôm chàng thêm chút nào hay chút đó, thừa cơ nép vào chàng, liếc xuống chân, thì ra là một bụi cỏ.
                              Đằng sau thoáng có tiếng đằng hắng, chắc là thấy tôi mãi không nói, giọng Mộ Ngôn ở ngay trên đầu: “Sao thế?”.
                              Tôi xoa mũi, hai tay ôm riết lưng chàng, khẽ nói: “Không có gì, cho chàng ôm thêm lát nữa, có vui không?”.
                              Tôi còn nhớ trong tiểu thuyết của Quân Vỹ những cảnh chia ly của cổ nhân luôn xảy ra trong màn mưa bụi ngợp trời, hay bên nắm tay nhau rơi lệ, uống cạn chén rượu chia ly, hái cành liễu tặng nhau. Nhưng lúc này là buổi sáng nắng chan hòa, mặt trời đang lên cao, nhìn quanh chẳng thấy bóng dáng nửa cây liễu, quả thật không biết làm sao tạo khung cảnh sầu bi.
                              Tôi lưu luyến Mộ Ngôn, lẽ ra phải buồn khi xa chàng, nhưng từ khi biết chàng thích tôi, ngưỡng mộ tôi gì gì đó như chàng nói, mọi nỗi buồn bã, quyến luyến đều trở nên ngọt ngào, lòng thầm nhủ chàng sẽ quay về, sẽ đến tìm tôi, vậy là can đảm lại tăng gấp trăm lần, chẳng còn một chút sầu bi.
                              Nhưng dù sao lúc chia ly cũng nên thể hiện một chút, không có liễu, đành lấy cành cây khác thay thế. Tôi cố bẻ một cành hợp hoan để vào tay Mộ Ngôn.
                              Vừa định căn dặn chàng mấy câu, lại nghe thấy tiếng cười khúc khích, ngẩng đầu nhìn thấy chàng trai áo trắng đứng cách không xa. Vị trí của người này quả rất hiểm, ở khoảng cách gần như vậy lại không nhìn rõ mặt, chỉ thoáng thấy một vật hình tròn màu đen anh ta cầm trong tay. Tôi căng mắt nhìn về phía đó nhưng vẫn nhìn không rõ mặt anh ta, vừa ngoảnh đầu định tiếp tục dặn dò Mộ Ngôn, thấy chàng đăm đăm nhìn cành hợp hoan trong tay, ánh mắt khó dò.
                              Tôi ngạc nhiên nhìn chàng, không biết cành cây xoàng đó có gì đáng nhìn.
                              Lát sau, Mộ Ngôn nén cười ngước mắt: “Khi chia tay, người ta tặng nhau cành liễu, ngụ ý là lưu luyến không muốn xa, hôm nay chúng ta chia tay A Phất lại tặng cành hợp hoan, có phải là muốn...”.
                              Tôi càng ngạc nhiên nhìn chàng: “Muốn gì”.
                              Chàng cầm cành cây, giọng trang nghiêm: “Hợp hoan”.
                              “... Hợp cái con khỉ!”.
                              Trong khi chúng tôi nói chuyện, Chấp Túc đứng bên thần sắc bình thường, chàng trai áo trắng lại luôn mỉm cười như kẻ ngẩn ngơ, lúc này cuối cùng không nhịn được, bật cười to: “Thế... công tử, công tử tìm đâu ra bảo bối này vậy?”.
                              Giọng nói hơi quen, Mộ Ngôn cúi đầu sửa lại cổ áo cho tôi, không nói gì, còn tôi thầm lục tìm trong trí nhớ, xem đã nghe thấy giọng nói này ở đâu. Còn chưa kịp tìm ra, qua tấm gương đồng phản chiếu, nhìn thấy chàng trai áo trắng thong thả bước tới.
                              Dưới ánh nắng sớm, tôi tròn mắt há miệng nhìn khuôn mặt rõ dần trước mắt, mái tóc như dao cắt, lông mày như vẽ, mắt như nước mùa thu sóng sánh đào hoa, bước chân nhàn tản ung dung, so với chàng trai đêm qua nhìn thấy trong mơ, ngoài vài nét phong sương hoàn toàn không có gì khác biệt. Công Nghi Phỉ ở Bối Trung. Ngoài ra, vật tròn tròn màu đen chàng ta vẫn cầm trong tay dưới tán cây cũng lọt vào mắt tôi. Tôi nhướn mày, không biết tại sao lại buột miệng hỏi một câu: “Chiếc vòng trong tay huynh là của ai?”.
                              Chàng ta sững người, lại giơ chiếc vòng ngọc màu đen ra trước ánh nắng ngắm nhìn: “Cô nương cũng thấy nó đẹp ư?”. Khóe mắt như cười có vẻ âu yếm, lời nói ra lại lạnh lùng: “Không biết, hình như sinh ra đã mang nó”. Không hề nhắc đến chủ nhân thực sự của chiếc vòng.
                              Mộ Ngôn gửi gắm tôi cho Công Nghi Phỉ, rõ ràng tôi đầy thắc mắc trước biểu hiện của chàng trai áo trắng vừa rồi, nhưng nghĩ đến triết học xử thế trong thời loạn mà sư phụ đã dạy, ví dụ, ở đời nên ít quan tâm những chuyện không đâu, trên đường thấy chuyện bất bình nên tránh xa, liền lặng lẽ xua đuổi ý nghĩ muốn làm rõ chuyện này, kiên nhẫn chờ Mộ Ngôn xong câu chuyện với Công Nghi Phỉ.
                              Không biết hai người nói những gì, loáng thoáng nghe thấy tiếng cười ranh mãnh của Công Nghi Phỉ: “Nói ra e chẳng ai tin, Mộ công tử có tiếng là người cẩn trọng, mọi việc dự trù đủ đường lui, vậy mà lại có điểm yếu, chính là một cô gái yếu ớt ngây thơ, hai vị công chúa Đường quốc và Lầu quốc nếu biết chắc tức ói máu”.
                              Tôi dỏng tai, nghển cổ nhìn phản ứng của Mộ Ngôn, thấy chàng phe phảy quạt hơi liếc về phía tôi, lại lập tức quay đi, nghiêng đầu có thể nhìn thấy nụ cười thoáng trên miệng chàng, giọng dù cố hạ thấp, nhưng vẫn bị tôi nghe thấy: “Việc này chẳng phải huynh hiểu rõ nhất sao? Cái gọi là điểm yếu, hoặc là nên tự tay phá hủy, hoặc là giữ gìn cẩn mật. Mặc dù từ thượng cổ, phàm những kẻ làm việc lớn đều chọn phương án thứ nhất, nhưng con người tôi luôn cảm thấy đời người nơi trần thế tựa phù vân ngắn ngủi, nếu có điểm yếu cũng là chuyện tốt”.
                              Công Nghi Phỉ ngạc nhiên nhìn chàng, thú thực tôi cũng ngạc nhiên không kém, sửng sốt nhìn chàng, có lẽ cảm thấy ánh mắt tôi, mắt chàng hơi liếc lại, tôi vội vàng khép áo ngồi ngay ngắn, giả bộ không nghe thấy gì, ngoẹo đầu thầm nghĩ mình phải đối xử thật tốt thật tốt với chàng.
                              Lát sau, hai người nói chuyện xong, Công Nghi Phỉ đi theo sau Mộ Ngôn, một trước một sau thong thả bước đến. Mặt trời đã lên tới đỉnh đầu, sắp đến giờ lên đường, thấy Mộ Ngôn như có gì muốn nói với tôi,
                              Nhưng tôi không cho chàng cơ hội, tranh nói trước, sợ không đủ thời gian, nắm tay áo chàng vội vàng nói ra những điều vẫn luôn muốn nói với chàng:
                              “Buổi tối nên đi ngủ sớm, không được thức khuya”. Có thể chàng sẽ cho là quá ấu trĩ.
                              “Lúc ngủ phải chèn chăn thật chặt, không được đạp chăn ra”. Nếu là các cô gái từng trải, lúc xa người yêu chắc sẽ có những cách thức từng trải hơn.
                              “Trời lạnh phải mặc nhiều áo, đừng nghĩ mình có sức khỏe mà bất chấp”. Nhưng những chuyện đó tôi không biết.
                              “Không nên kén ăn, rau xanh, thịt, đều phải ăn”. Nếu tôi ở bên, sẽ dần dần học cách chăm sóc chàng như vậy.
                              Cả khu nhà trúc bỗng yên tĩnh, cũng không nghe thấy tiếng cười châm chọc của ai, còn một điều quan trọng nhất chưa nói ra, tôi liếm môi, phải lấy can đảm mới nói được, cổ hơi khô, đang định mở miệng, đột nhiên bị Mộ Ngôn cười ngắt lời: “Những điều đó tôi phải dặn em mới đúng...”.
                              Tôi lườm chàng: “Em nghiêm túc đấy”.
                              Chàng nhìn tôi một lát, không cười nữa, gập cái quạt trong tay, gật đầu: “Được tôi nhớ, còn gì nữa?”.
                              Khó khăn lắm mới lấy đủ can đảm nhưng lại bị ngắt lời, có cảm giác khó nói tiếp, ngẩng đầu liếc nhanh chàng một cái, đằng hắng một cái, nhìn xuống đất: “Còn, còn nữa chính là…”, tỏ ra dữ dằn: “Không được nhìn các cô gái đẹp, có cô gái đẹp nào làm quen cũng không được bắt chuyện!”.
                              Chàng khẽ cười, đặt tay lên vai tôi: “Ờ, còn gì nữa?”.
                              Đột nhiên hơi buồn, tôi cúi đầu ủ rũ nhìn mũi giày dưới chân: “Phải sớm quay về đón em”.
                              Đầu bị nâng lên, chàng chăm chú nhìn tôi một lát, môi ai chạm nhẹ vào trán: “Khi hoa phật tang tàn, tôi sẽ đến đón em”.
                              Trong một sớm mùa hè chói nắng, chúng tôi mỗi người mỗi ngả, người xuôi xuống núi, người lên núi, hai con đường trước mặt như vươn ra ngàn dặm, như số phận chia ly.
                              Tôi không thể biết trước, nhưng mơ hồ cảm thấy bất an, tự cổ đến nay, phàm những đôi khi chia tay lấy mùa hoa làm lời hứa hẹn, cơ hồ đều lỡ dở, vì lỡ mùa hoa nên không tìm lại, vì không tìm lại nên lỡ dở.
                              Cảnh vật rộn ràng lướt qua bên cạnh, suốt đường yến hót oanh ca, không lâu sau trước mặt tôi xuất hiện những bậc đá xanh trải dài, lốm đốm ánh nắng, bóng cây soi trên bậc đá phủ rêu xanh, giống như một mảnh gấm thêu chìm đường chỉ cùng màu trên mặt đá. Dừng chân ngẩng đầu nhìn lên, những chiếc cột sừng sững, lầu gác trùng trùng, chóp mái hiên cong viền bạch ngọc, rèm châu ngũ sắc lóng lánh hào quang, sơn môn uy nghi trước mặt, tất cả giống hệt cảnh nhìn thấy đêm qua.
                              Công Nghi Phỉ ngoái nhìn tôi: “Có lẽ Quân cô nương thấy mệt?”.
                              Thực ra, chỉ là do trong đầu hiện lên bóng người thướt tha cầm chiếc ô cán trúc. Tôi lắc đầu, đi theo chàng ta, bước lên những bậc đá cổ xưa, khi đến gần sơn môn, cuối cùng vẫn không kìm được, buột miệng hỏi: “Cô Trúc sơn này là sản nghiệp của Công Nghi gia?”.
                              Công Nghi Phỉ dừng chân, một chiếc gương đồng lớn treo trước lầu chính trên cao phản chiếu bóng áo trắng của chàng ta: “Trước đây không phải, Cô Trúc sơn là thánh địa của hoa phật tang, mỗi năm đến kỳ hoa nở, khách đến thưởng hoa đông như hội cho nên năm năm trước tôi đã mua lại, một nơi thanh tịnh thế này nên yên tĩnh thì hơn”.
                              Tôi bước hai bậc lại gần chàng ta, đến trước sơn môn, giơ tay chạm bức rèm châu lóng lánh: “Sơn môn trông khá cổ kính, bức rèm ngũ sắc này xem chừng lại rất mới”.
                              Công Nghi Phỉ nửa cười nửa không, xoay xoay chiếc vòng ngọc trong tay, “Quân cô nương, xin mời!”. Rèm châu rung lên, tiếng ngọc lanh canh.
                              Tôi giơ tay chạm một chuỗi ngọc: “Thực ra có thể tháo bức rèm này, luôn thay mới có phần lãng phí”.
                              Chàng ta cúi đầu, tư lự, “Nhưng nếu tháo đi sẽ cảm thấy thiêu thiếu”.
                              Tôi nhìn chàng ta: “Thiếu gì cơ?”.
                              Chàng ta hơi sững lại, tay hất một chuỗi ngọc trên bức rèm, giọng trầm tư: “Có lẽ là khoái cảm đốt tiền”.
                              “...”.
                              Tôi không biết sơn môn này có ý nghĩa thế nào đối với Công Nghi Phỉ, hình như chàng ta không bận tâm, cõ lẽ đã quên một cô gái từng gặp thuở thiếu thời, cô gái tóc đen áo trắng cầm chiếc ô cán trúc, không biết đã chết ở đâu, từ bao giờ. Những cây cổ thụ chọc trời mọc hai bên đường, vừa bước vào đã cảm thấy có vô số đôi mắt ẩn giữa tán lá rậm rạp đang lạnh lùng nhìn tôi, cánh cổng sơn môn đồ sộ này là ký ức tàn dư không thể tiêu tan của cô gái đã chết.
                              Phía sau sơn môn lại là thềm đá trăm bậc, trên thềm đá, một đại viện đồ sộ uy nghi thấp thoáng bóng cây cổ thụ, quy mô có thể sánh với hành cung vương thất, thầm nghĩ Công Nghi Phỉ quả nhiên rất giàu có, giàu như thế, sau lưng không phải là thế lực nắm thóp triều đình, thì là thế lực phản triều đình.
                              Mộ Ngôn có quan hệ với gia tộc như thế thật đáng lo ngại.
                              Dọc đường không ai nói gì, đến gần biệt viện, thấy cửa biệt viện đóng chặt, trước cửa không có ai, tôi cảm thấy rất lạ, một thiếu nên có vẻ là người hầu cưỡi một con ngựa gầy loạng choạng không biết từ đâu đến, hình như bị ngã ngựa, quỳ khóc trước mặt Công Nghi Phỉ: “Đại nhân, đại nhân đã về, phu nhân và đại tiểu thư đánh nhau, Tiêu Phong sắp chết rồi, Thúy Nhi tỷ tỷ bảo nô tài đi tìm đại nhân...”.
                              Lời chưa dứt, bóng trắng trước mắt vụt lóe, Công Nghi Phỉ thoắt cái đã kéo tôi lên lưng con ngựa đang thở dốc, như một mũi tên vòng qua bức tường vây cao sừng sững của biệt viện, phóng vọt đi. Tôi ngồi trên ngựa chỉ kịp hỏi một câu: “Những ai vậy, phu nhân, đại tiểu thư nào?”.
                              Giọng Công Nghi Phỉ ngập ngừng phía trên: “Đại tỷ và phu nhân tôi bất hòa đã lâu, thỉnh thoảng lại xích mích, để Quân cô nương nhìn thấy, thật hổ thẹn”. Nhưng lại không thấy chàng ta có vẻ hổ thẹn chút nào.
                              Tiếng gió rít bên tai, tôi nói như ma xui quỷ khiến: “Đại tỷ có phải là song sinh với huynh?”.
                              Người phía sau chợt lặng thinh, lát sau khẽ cười, giọng bình thường, mạch lạc: “Phải”.
                              Bàn tay nắm bờm ngựa suýt tuột, tôi suýt lăn xuống đất, sao có thể, tôi lẩm nhẩm ba chữ đó trong đầu, cuối cùng cố nén không để bật ra miệng.
                              Chuyện Công Nghi Phỉ có chị gái song sinh còn sống trên đời cũng lạ lùng và khó tin như chuyện Quân Vỹ từ nhỏ đến giờ vẫn thầm yêu tôi. Nghe đồn, gia tộc Công Nghi sinh sống ở Bối Trung tuyệt nhiên không cho phép tồn tại trẻ song sinh, nếu sinh đôi nhất định giữ một bỏ một.
                              Chuyện này chủ yếu là do hung thú Thiên Hà, thần hộ vệ của gia tộc Công Nghi quá vô dụng. Trước nay, trưởng tộc Công Nghi xác lập quyền uy của mình chủ yếu dùng phép chiêu hoán hung thú, nhưng hung thú vô dụng đó không thể phân biệt được sự khác nhau giữa hai người song sinh, ví dụ trong họ có người sinh ra một cặp anh em song sinh, nếu có ngày người anh được kế thừa ngôi vị trưởng tộc, sau khi cắt máu tuyên thệ với Thiên Hà, có khả năng sai khiến Thiên Hà, người em trai có cùng huyết thống nếu mạo danh anh trai sai khiến Thiên Hà tạo phản thì quá dễ dàng.
                              Giống như một vị anh hùng vô địch, trên đời không ai địch nổi nhưng một khi vị anh hùng mắc bệnh hiểm nghèo thì cũng không sống nổi. Những cặp song sinh chính là nguyên nhân gây ra căn bệnh hiểm nghèo cho gia tộc Công Nghi, căn bệnh đó chính là nội loạn. Một gia tộc dù mạnh đến đâu cũng sẽ suy yếu nếu có nội loạn, đó là kinh nghiệm. Những bậc trưởng lão cơ mưu đã sớm nhìn ra điểm đó. Gia tộc Công Nghi kế truyền bảy trăm năm, có không ít người xúi quẩy sinh đôi, cho dù là thai long phượng cũng đều bị xử lý, người được lựa chọn là niềm tự hào của trời, từ đó được mọi người tôn sùng, người không được chọn thì nhỏ mọn như cây cỏ, lập tức mất mạng.
                              Điều thú vị là nhiều thế hệ trưởng tộc có thành tựu nhất lại hầu như đều xuất thân song sinh. Món nợ đầu tiên phải gánh chịu khi đặt chân đến thế gian chính là máu của huynh đệ cùng huyết thống, cảnh ngộ đó có lẽ khiến người ta trở nên vô tình.
                              Bảy năm trước, lúc gia tộc Công Nghi bị hủy diệt, hình như nghe nói trưởng tộc thế hệ này có một người chị song sinh, dạo đó nghe chuyện chỉ biết thở dài. Bây giờ lại biết người chị đó vẫn sống, thật là chuyện kỳ lạ khó tin, chẳng phải người chị đó khi ra đời đã bị ném xuống Đoan Hà tế thần hộ vệ của dòng họ rồi sao?
                              Chuyện về sau chứng minh sự kinh ngạc của tôi là không đáng, điều kỳ diệu của sự việc không chỉ dừng ở đó, như một triết gia đã nói, cuộc sống luôn luôn có những chuyện đáng kinh ngạc, bạn không sắp kinh ngạc thì cũng đang kinh ngạc.
                              Con ngựa gầy hổn hển đưa chúng tôi tới một bãi cỏ xanh rộng lớn, đến một khoảnh đất đỏ trống không, tôi thấy một con tuấn mã đen bóng hí lên rồi khụy xuống, đất đỏ bốc lên mù mịt.
                              Công Nghi Phỉ kéo tôi nhảy xuống ngựa, khi vừa chạm đất, mới nhìn thấy một cô gái áo hồng tay cầm kiếm, quỳ bên cạnh con ngựa, đang ôm cánh tay phải hình như bị thương, khuôn mặt như hoa tường vi đầy ấm ức, một vẻ đẹp phong mãn mơn mởn. Nô bộc hoảng hốt nhất tề nhường lối đi, Công Nghi Phỉ vội chạy đến đỡ cô gái dậy, có lẽ chạm vào vết thương, cô rên một tiếng, kiếm dài chống đất, cánh tay không bị thương giơ lên níu cánh tay chàng ta, giọng tủi thân, nói như khóc: “Hãy đi xem Tiêu Phong thế nào, có phải bị người đàn bà điên đó đánh chết rồi không!”.
                              Công Nghi Phỉ vốn dĩ mặt luôn tươi cười, lúc này cau mày, nhẫn nại dìu cô gái áo hồng đi đến kiểm tra con tuấn mã vừa ngã. Còn mắt tôi lại đăm đăm nhìn cô gái áo trắng đứng bên cạnh chuồng ngựa phía xa. Mái tóc đen như thác nước, đôi mắt lạnh như đầm sâu, một dải lụa đen đính ngọc buộc ngang trán, trong tay là chiếc roi chín khúc màu bạc.
                              Vĩnh An, Khanh Tửu Tửu. Cô gái tôi vốn tưởng đã chết đứng dưới ánh sáng như một bức tượng ngọc tạc, bóng đổ dài dưới chân, một người sống thực sự. Tôi nhìn kỹ một lát, không kìm nổi muốn đi ra chỗ cô, bỗng nghe tiếng Công Nghi Phỉ trầm giọng hỏi: “Huân tỷ, đã xảy ra chuyện gì?”.
                              Chàng ta ngẩng đầu nhìn về phía cô, cô gái áo hồng đang chúi trong lòng chàng ta hai tay run run, đôi mắt phẫn nộ đẫm nước, con ngựa đen bên cạnh gọi là Tiêu Phong sau khi thở hắt ra mấy hơi đã nằm im bất động.
                              Huân tỷ?
                              Giọng cô thanh như tiếng ngọc bội va nhau, lạnh lùng vang lên: “Tôi kiếm thuật kém, không cẩn thận bị tuột tay, làm cô ấy bị thương. Còn về con ngựa chẳng phải tối qua nó đã làm ngã đệ, một con ngựa tồi ngay chủ cũng không nhận ra giữ lại làm gì”.
                              Tôi nhìn kỹ cô gái áo trắng đang nói, ánh mắt cô lướt tới, lạnh như băng tuyết nghìn năm không tan trên núi, dừng một lát, thu lại cái roi, quay phắt người bỏ đi.
                              Cô gái áo hồng khóc to: “Cô ta đánh chết Tiêu Phong, lại còn làm thiếp bị thương vậy mà chàng vẫn để cô ta đi…”.
                              Công Nghi Phỉ lạnh lùng ngắt lời cô: “Nàng cũng quá bướng, đầu óc tỷ tỷ có vấn đề, bảo nàng hãy tránh xa, nàng lại đi chọc tức người ta”.
                              Cô gái áo hồng trợn mắt nhìn chàng: “Rốt cuộc chàng có phải là phu quân của thiếp không?”.
                              Công Nghi Phỉ dìu cô đứng dậy: “Hỏi hay lắm, ngoài ta, thử hỏi trên đời còn ai có thể dung túng cho nàng như thế”.
                              Cô gái áo hồng đẩy chàng ra đứng lên, mắt vẫn còn ánh nước, lại mím môi, nói cứng: “Trên đời này người thương thiếp nhất là cha thiếp, nhưng cha thiếp, cha thiếp…”. Chưa nói hết đã ngồi sụp xuống đất òa khóc.
                              Công Nghi Phỉ cũng ngồi xuống, lấy chiếc khăn mùi xoa từ trong ống tay áo đưa cho cô: “Đừng khóc, nhìn xem, trông nàng có ra dáng phu nhân không”.
                              Giọng có vẻ nghiêm khắc nhưng lời lại dịu dàng.
                              Tôi ngẩng đầu nhìn về phía Khanh Tửu Tửu vừa đi, mặt trời di chuyển sau những đám mây nhỏ để lại những bóng râm dị hình trên bãi cỏ, gió lại thổi tan đi, bồ công anh rung rinh múa, hoa phật tang vàng rực nở ngập cánh đồng và triền núi, dập dờn đuổi nhau như sóng, bóng trắng đó đi xa dần, khuất hẳn ở phía cuối cánh đồng hoa phật tang.
                              Năm ngày sau đó tôi không gặp Khanh Tửu Tửu, nô bộc trong biệt viện nói, đó không phải là Khanh Tửu Tửu nào hết, mà là Công Nghi Huân, chị em song sinh của Công Nghi Phỉ, từ nhỏ lưu lạc bên ngoài, cảnh ngộ rất đáng thương, vào một đêm trăng hai năm trước được đưa tới biệt viện của Công Nghi gia, chia lìa nhiều năm cuối cùng trở về đoàn tụ với tiểu đệ song sinh.
                              Nghe nói đêm đó phu nhân của Công Nghi Phỉ không thể tin chuyện đó, cho rằng người đó mạo danh, hầm hầm đi đến hoa đình, nhưng lại sững người khi nhìn thấy dung mạo của Công Nghi Huân. Tôi muốn hỏi dò phần kết câu chuyện, người nô bộc đang hào hứng kể bỗng dừng lại, sau đó mặc cho tôi gạn hỏi thế nào cũng nhất định không chịu mở miệng, tôi đoán có lẽ một đại tiểu thư đầu óc không bình thường, gia nhân cũng không tiện nói ra với người ngoài.
                              Tôi không biết đầu óc Công Nghi Huân có phải bất bình thường thật không, nhìn có vẻ không giống, nhưng Công Nghi Phỉ đã nói cô ta không bình thường, nghĩa là cô ta không bình thường thật, giống như khi phụ vương nói tôi là kẻ máu lạnh vô tình, cho dù tôi nhiệt huyết sục sôi cũng vô nghĩa, đây chính là sức mạnh của quyền lực.
                              Qua nhiều lần lân la hỏi chuyện gia nhân trong nhà, tôi được biết thêm, Công Nghi Phỉ có thái độ kỳ thị đối với người chị sinh song của mình. Nghe nói khi Công Nghi Huân mới trở về, cậu em trai mặc dù tình cảm không thật thân thiết nhưng cũng không có vấn đề gì lớn, thực ra chị em thất lạc đã lâu, có những xa cách nhất định cũng là lẽ thường.
                              Nhưng bầu không khí có vẻ hòa hợp đó chỉ kéo dài trong hai tháng đầu, dần dần mọi người phát hiện, có những lúc, việc làm của Công Nghi Huân thật rất khó lý giải. Đương nhiên, hầu như cô ít làm việc, nhưng động làm việc gì hầu như đều xảy ra chuyện.
                              Tháng thứ ba sau khi Công Nghi Huân trở về Công Nghi gia, có người đến mời Công Nghi Phỉ tham dự cuộc thi đấu chim ưng, hai con chim ưng trên không hăm hở lao vào nhau, một con sau khi bị thương muốn chạy trốn, con kia hiếu thắng truy đuổi đến cùng, hai con xông thẳng về phía Công Nghi Phỉ ngồi xem trên đài cao, bị Công Nghi Huân ngồi bên cạnh dùng chiếc roi chín khúc quật chết trong chớp mắt, cuối cùng phải bồi thường không ít tiền cho vị khách chủ nhân của con chim.
                              Đó là lần thứ nhất, Công Nghi Huân luôn muốn bảo vệ Công Nghi Phỉ. Hai năm sau đó những việc tương tự xảy ra không biết bao nhiêu lần, Công Nghi gia do vậy phải bồi thường không biết bao nhiêu tiền. Đồng thời, thích khách hãm hại hoặc sắp hãm hại Công Nghi Phỉ bị chết dưới chiếc roi chín khúc của Công Nghi Huân cũng không ít.
                              Mặc dù tôi có nhiều anh chị, nhưng đều cùng cha khác mẹ, hơn nữa hầu như không đi lại với nhau, tôi không hiểu chính xác cái gọi là tình anh em, từ nhỏ thân thiết nhất có lẽ là Quân Vỹ, nhưng tôi hình dung ra một chuyện như sau, giả sử có một ngày, Quân Vỹ thích viết tiểu thuyết, hy vọng có được cuốn tiểu thuyết độc quyền của một tiểu thuyết gia danh tiếng nào đó, nhưng con trai tiểu thuyết gia đó lại ra điều kiện chỉ có gả tôi cho anh ta thì Quân Vỹ mới được độc quyền cuốn tiểu thuyết của cha anh ta. Tôi suy nghĩ một lát xem mình có vì Quân Vỹ mà nhận lời không, cuối cùng cảm thấy, cho dù Quân Vỹ đánh ngất tôi đem gả cho người ta, khi tỉnh dậy tôi cũng nhất định trốn về… Nhưng trước một hoàn cảnh tương tự, Công Nghi Huân lại chủ động nhận lời, chỉ vì một cuốn kỳ phổ quý hiếm, vì muốn người em song sinh có được món quà sinh nhật vừa ý nhất.
                              Theo lời đồn, khi đối phương mang sính lễ đến cửa Công Nghi Phỉ mới biết chuyện, một người trước nay cho dù núi Thái Sơn sụp đổ cũng không thay đổi sắc mặt, lần này lại nổi giận thực sự, đem một đội quản gia, người hầu cùng đồ sính lễ vứt ra khỏi cửa Công Nghi gia như vứt một món đồ.
                              Sau đó quan hệ chị em vốn không thân thiết dần dần xa cách, đến hôm nay, theo cách nói của gia nhân trong nhà, Công Nghi Phỉ hầu như không coi mình có người chị đó nữa.
                              Công Nghi Phỉ nói Công Nghi Huân đầu óc không bình thường, tôi nghĩ không phải chàng ta nói bừa, có lẽ trải qua những chuyện đó chàng ta thực sự cảm thấy đầu cô có vấn đề. Nhưng tôi biết một điều mà chàng ta không biết. Bất luận bọn họ cho là thế nào, tôi biết Công Nghi Huân chính là Khanh Tửu Tửu.
                              Đương nhiên Khanh Tửu Tửu cầm chiếc ô đứng trước sơn môn đã chết, trên thế gian có một dạng tồn tại, ý thức và tinh thần đã phân tán được nhập trở lại vào cơ thể, sau đó, họ quên hết con người trước đây của mình, sinh vật đó nếu đến thế gian được gọi là ma.
                              Tôi không tin Khanh Tử Tửu là chị em song sinh với Công Nghi Phỉ, gia tộc Công Nghi xưa nay rất cương quyết trong chuyện xử trí trẻ song sinh. Nếu Khanh Tửu Tửu không phải là chị em song sinh của Công Nghi Phỉ, vậy thì Công Nghi Huân do hồn phách của Khanh Tửu Tửu nhập vào đương nhiên cũng không phải.
                              Nhưng suy đến cùng, đó chỉ là trực giác của tôi.
                              Quân sư phụ không muốn tôi ra ngoài gây chuyện. Lúc còn nhỏ tôi cho rằng biết nhiều mới hạnh phúc, không biết là bất hạnh, sau khi lớn lên bị dồn ép không còn lối thoát, mới cảm thấy nhiều lúc vô tri là phúc, hiểu biết nhân gian càng ít càng nhẹ nhõm thoải mái. Do vậy tôi kìm chế ý muốn tiếp cận Công Nghi Huân.
                              Nhưng tôi không đi tìm cô, cô lại chủ động đến tìm tôi.
                              Hôm đó có gió lạnh, trong tiểu viện dành cho khách, Hoa tử vi màu tím trong vườn đung đưa trong tán lá xanh, cả một tấm thảm hoa lớn dềnh lên như sóng mỗi khi có gió thổi. Công Nghi Huân rẽ hoa đi vào, xiêm áo trắng muốt du nhàn như ẩn hiện, như một đóa hoa được sóng đẩy đến trước mặt tôi, chúng tôi đối diện qua song cửa sổ: “Thiên hạ thênh thang quả không hiếm sự lạ, tôi là một bóng ma, còn cô là một người chết hồi sinh do luyện Hoa Tư dẫn”.
                              Cô hơi cụp mắt, một đôi mắt không có thần, màu lam nhạt như dòng nước chảy qua nghìn núi in bóng trời xanh, trên trời dưới đất một màn tuyết mỏng.
                              Tôi chống tay vào má nhìn cô: “Vì sao cô đến tìm tôi? Muốn tôi dệt cho cô giấc mộng ư? Cô đã được nghe về Hoa Tư dẫn thì nhất định đã biết cái giá phải trả nếu muốn tôi dệt cho mộng cảnh?”. Tôi nhìn mắt cô: “Cái giá này cô không trả được, sinh mệnh của một con ma không có ý nghĩa với tôi”.
                              Cô ngước mắt, ánh mắt lướt qua thảm hoa tử vi nhấp nhô ngoài cửa sổ, “Dệt mộng ư? Thuật sỹ giúp tôi nhập vào cơ thể mới từng nói đến công dụng này của Hoa Tư dẫn. Nhưng tôi không muốn ảo mộng nào từ cô. Tôi không biết Hoa Tư dẫn dệt mộng cần một cái giá như thế nào, thiên hạ cũng chẳng mấy người biết, điều tôi muốn chân thực hơn rất nhiều. Cô nhìn tôi, “Cô nhất định có thể nhìn thấy phần ký ức của cuộc đời trước đây được phong ấn vào cơ thể tôi”.
                              Mặt tôi suýt đập xuống bàn, có thể thấy lời cô khiến tôi chấn động thế nào, nếu có tái sinh, bóng ma cơ hồ tương đương với chuyển kiếp của con người, giống như chúng ta sinh ra đều quên hết ký ức về tiền kiếp của mình, ma lại càng thế, làm sao có thể có cái gọi là ký ức của cuộc đời trước.
                              Có lẽ nhìn thấy băn khoăn của tôi, ngón tay trắng như tuyết của cô đưa lên che mắt, đó là đôi đồng tử màu lam nhạt: “Ở đây phong ấn ký ức của tôi với tư cách là người.
                              Nghe nói sau khi tôi chết bảy năm trước, thuật sỹ dùng năm năm giúp tôi tái sinh, lấy ra phần ý thức tàn dư trước khi chết phong vào hai viên ngọc châu, đưa vào cơ thể tôi. Nhưng tôi bây giờ không phải là tôi trước đây, không có ký ức đó, tôi chẳng là gì hết”.
                              Tôi lạ lùng nhìn cô: “Vậy vì sao cô đến tìm tôi? Chỉ cần nhờ thuật sỹ kia mở phong ấn ra là được, như vậy cô sẽ là cô hoàn chỉnh”.
                              Gió lùa qua cửa sổ, trong mắt cô lóe lên bao điều, còn chưa kịp nắm bắt đã yên tĩnh trở lại: “Tử Khác nói đúng, trẻ như thế đã chết, không phải là một số phận tốt, những ký ức đó không cần cũng được. Chàng nhờ thuật sỹ tái sinh cho tôi, nghe nói tiền kiếp tôi nợ A Phỉ rất nhiều, tâm nguyện duy nhất là được trả ơn, mượn cơ duyên đó sống lại trở thành một sinh mệnh mới. Nhưng gần đây tôi nghĩ, một cuộc đời dù không tốt đến đâu cũng có những ký ức đẹp, khi Tử Khác đưa tôi đến Công Nghi gia đã nói A Phỉ vẫn nhớ nhung tôi. Nhưng bây giờ tôi lại hoài nghi những lời đó. Những ký ức được phong ấn vào cơ thể tôi thuật sỹ không có cách nào nhìn thấy, như cô nói, chỉ cần mở phong ấn, nhưng ký ức xấu khiến người ta đau khổ tôi không muốn biết, chỉ cần những ký ức đẹp. Hoa Tư dẫn có lẽ làm được điều đó, nếu cô đồng ý giúp tôi, cô muốn gì tôi sẽ cố làm cho cô. Còn ký ức của tôi, sau khi cô nhìn thấy, xin hãy kể cho tôi nghe những gì đẹp nhất”.
                              Cô nói phải, Hoa Tư dẫn quả thực có thể nhìn thấy ký ức được phong ấn, chuyện này giống như lén đi vào giấc mơ của người khác, chỉ là khi vào ký ức của cô phải chú ý giữ an toàn cho bản thân, ngoài ra không bị hao tổn gì.
                              Lát lâu sau, tôi khẽ nói: “Tử Khác? Tên tự của Trần thế tử Tô Dự?”.
                              Cô nhìn tôi khẽ gật đầu: “Phải, Tô Dự, Tô Tử Khác”.
                              Tôi cười: “Tôi có thể giúp cô, tôi không cần trả ơn gì hết”.
                              Quân sư phụ cứu sống tôi, mục đích là để tôi đi hành thích Trần vương, thấm thoát ra đi đã kha khá thời gian, nhưng vẫn chưa có chuẩn bị nào cho việc đó, lần này vừa may có thể mượn ký ức của Công Nghi Huân để thăm dò. Cũng cần nói thêm, gia tộc Công Nghi bảy năm trước có thể coi là một cánh tay của nước Trần.
                              #15
                                Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 16 bài trong đề mục
                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
                                Kiểu:
                                2000-2024 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9