Nhân Chứng Ẩn Mình - Nora Roberts
Thay đổi trang: 123 > | Trang 1 của 3 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 31 bài trong đề mục
Thanh Vân 29.11.2023 19:10:10 (permalink)
NHÂN CHỨNG ẨN MÌNH
Tác giả: Nora Roberts
Dịch giả: Xuân Hồng
Thái Uyên phát hành
Nhà xuất bản Lao Động - 2016
ebook©vctvegroup
 
*

PHẦN MỘT - Chương 1

Cá tính là gì ngoài sự quyết định của biến cố?
Biến cố là gì ngoài sự thể hiện của cá tính?

— Henry James
*

1


Tháng 6 năm 2000

Cuộc nổi loạn tuổi dậy thì ngắn ngủi của Elizabeth Fitch bắt đầu với hộp mỹ phẩm L’Oréal Pure Black, một cây kéo và một thẻ nhân dạng giả. Vụ việc kết thúc đẫm máu.
Gần như suốt quãng đời mười sáu năm, tám tháng và hai mốt ngày, cô nghiêm túc theo đúng những chỉ dẫn của mẹ. Bác sĩ Susan L. Fitch đưa ra chỉ dẫn, không phải mệnh lệnh. Elizabeth tuân thủ triệt để thời gian biểu mà mẹ cô lập ra, ăn theo bữa do chuyên gia dinh dưỡng của mẹ mình xác lập và đầu bếp của mẹ chế biến, mặc quần áo do nhà tư vấn thời trang của mẹ lựa chọn.
Bác sĩ Susan L. Fitch ăn mặc khá bảo thủ, cho phù hợp - theo quan niệm của bà - với cương vị là trưởng khoa ngoại bệnh viện Silva Memorial ở Chicago. Bà kỳ vọng, và định hướng, ái nữ của mình cũng làm như vậy.
Elizabeth học rất chăm, tuân thủ và tỏ ra xuất sắc trong những chương trình học luật mà mẹ cô vạch ra. Mùa thu, cô trở lại Harvard để theo đuổi ngành y. Như thế cô có thể trở thành bác sĩ giống như mẹ - chuyên khoa ngoại, giống như mẹ.
Elizabeth - chưa bao giờ bị gọi là Liz hay Lizzie hoặc Beth - nói trôi chảy tiếng Tây Ban Nha, Pháp, Ý, tiếng Nga thì tàm tạm còn tiếng Nhật ở mức sơ đẳng. Cô biết chơi cả piano lẫn violin. Cô đã từng tới châu Âu và châu Phi. Cô vừa gọi được tên tất cả các loại xương, thần kinh và cơ trong cơ thể người, vừa chơi được trôi chảy bản concerto viết cho piano của Chopin - cả bản Số 1 và 2.
Cô chưa bao giờ hẹn hò hay hôn một cậu trai nào. Cô cũng chưa bao giờ lang thang trong khu mua sắm với cả đám bạn gái, dự một buổi tiệc ngủ lại qua đêm ở nhà chủ tiệc hay rúc rích với bạn bè về món pizza hay kem hoa quả.
Với mười sáu năm, tám tháng và hai mốt ngày, cô là một sản phẩm từ kế hoạch đầy chi tiết và tỉ mẩn của mẹ mình.
Điều đó sắp thay đổi.
Cô nhìn mẹ sắp xếp đồ đạc. Susan, với mái tóc nâu rất đẹp tết gọn thành kiểu đặc trưng của bà, treo gọn một bộ cánh nữa vào chiếc túi đựng quần áo ngăn nắp, rồi xem lại tài liệu in từng ngày trong chương trình hội thảo y khoa kéo dài cả tuần được chia thành từng mục. Tài liệu in này có cả một bản kê từng sự kiện, cuộc hẹn, buổi gặp và bữa ăn, tất cả được lên lịch trình với trang phục, giày dép và các phụ kiện đã chọn sẵn.
Những bộ cánh thiết kế riêng; giày dép Ý, dĩ nhiên là như vậy rồi, Elizabeth nghĩ. Người ta phải mặc quần áo may đẹp, vải tốt. Nhưng không thể có màu tươi và đẹp trong cả mớ đen, xám, nâu thẫm. Cô tự hỏi làm thế nào mẹ cô có thể xinh đẹp khi chủ tâm mặc toàn thứ u ám như vậy được.
Sau hai học kỳ gấp rút ở trường, Elizabeth nghĩ cô bắt đầu có lẽ vậy - phát triển được thị hiếu thời trang của riêng mình. Thực tế, cô đã mua quần bò, áo có mũ trùm và một vài đôi giày cao cổ đế dày ở Cambridge.
Sử dụng tiền mặt, nên hóa đơn sẽ không thể hiện trên biên lại thẻ tín dụng của cô, trong trường hợp mẹ cô hay nhân viên kế toán của họ kiểm tra và hỏi về những món đồ ấy, tất cả hiện đang được giấu kỹ trong phòng cô.
Mặc những thứ đó, cô cảm thấy mình như một người khác hẳn, khác đến mức cô bước thẳng vào một hiệu McDonald và gọi suất Big Mac đầu tiên kèm gói khoai tây chiên cỡ lớn và chocolate.
Cảm giác vui sướng thật hết sảy, cô đã phải vào khu vệ sinh, ẩn kín trong một buồng và khóc một lúc.
Ngày hôm đó, mầm mống nổi loạn đã được gieo xuống, cô nghĩ như vậy, hoặc có lẽ chúng vẫn luôn nằm ở đó, im lìm, và chất béo cùng muối mặn đã đánh thức chúng.
Nhưng cô có thể cảm nhận được chúng, thực tế và cảm nhận rõ chúng đang nảy mầm trong bụng cô lúc này.
“Kế hoạch của mẹ thay đổi. Nhưng đâu nhất thiết vì vậy mà kế hoạch của con cũng phải thay đổi theo.”
Susan mất một lúc mới xếp gọn được túi giày vào chiếc va li hiệu Pullman bằng đôi tay phẫu thuật khéo léo và xinh xắn của bà, với bộ móng được cắt tỉa chỉn chu. Cắt tỉa theo phong cách Pháp, luôn như vậy - và không hề vẽ sơn.
“Elizabeth.” Giọng bà nhẹ nhàng và bình thản như cái tủ quần áo của mình. “Phải rất mất công mới lên lịch trình lại và cho con được tiếp nhận vào chương trình hè trong học kỳ này đấy. Con sẽ hoàn tất những yêu cầu để được tiếp nhận vào trường Y Harvard trước hạn cả một học kỳ.”
Chỉ nghĩ tới chuyện đó thôi cũng làm bụng Elizabeth quặn thắt. “Con được hứa hẹn có một kỳ nghỉ dài ba tuần, kể cả tuần tới, tại New York kia mà.”
“Nhưng đôi khi lời hứa đành phải gác lại. Nếu mẹ bỏ mất tuần tới đây thì mẹ sẽ không thể thay bác sĩ Dusecki đến hội nghị được.”
“Lẽ ra mẹ có thể từ chối mà.”
“Như thế thật ích kỷ và thiển cận.” Susan phủi qua chiếc áo khoác bà vừa treo lên, bước lùi lại để kiểm tra bản danh sách của mình. “Chắc chắn con đã đủ lớn để hiểu rằng những yêu cầu của công việc còn vượt cả niềm vui và sự rảnh rỗi.”
“Nếu con đã đủ lớn để hiểu điều đó thì tại sao con lại chưa đủ lớn để tự quyết định cho mình. Con muốn kỳ nghỉ này. Con rất cần.”
Susan chẳng hề liếc cô con gái mình lấy một lần. “Một cô bé ở tuổi con, thể chất và trí lực không cần phải nghỉ ngơi do học tập và các hoạt động khác. Thêm nữa, bà Laine đã có chuyến đi biển hai tuần mất rồi, và mẹ không thể đề nghị bà ấy hoãn kỳ nghỉ của bà. Chẳng còn ai nấu nướng cho con và trông nom nhà cửa.”
“Con có thể tự nấu ăn và chăm nom nhà cửa.”
“Elizabeth.” Giọng Susan cố thể hiện sắc thái rõ ràng và nhanh pha với vẻ chịu đựng đã lâu. “Mọi việc đã chốt rồi.”
“Nên con không được nói gì thêm phải không? Thế còn chuyện rèn luyện tính tự lập và sống có trách nhiệm thì sao ạ?”
“Tự lập hình thành theo từng mức độ, tinh thần trách nhiệm và tự do lựa chọn cũng vậy. Con vẫn cần được chỉ bảo và hướng dẫn. Nào, mẹ vừa gửi mail cho con thời gian biểu đã cập nhật dành cho tuần tới, và phong bì có tất cả thông tin về chương trình nằm trên bàn của con. Nhớ trực tiếp cảm ơn bác sĩ Frisco vì đã thu xếp chỗ cho con trong học kỳ mùa hè đấy.”
Vừa nói, Susan vừa đóng túi đựng quần áo lại, rồi đến cái va li Pullman nhỏ gọn của mình. Bà bước tới bàn làm việc của mình để kiểm tra lại đầu tóc và thỏi son.
“Mẹ chẳng hề lắng nghe bất kỳ chuyện gì con nói cả.”
Trong gương, ánh mắt Susan dịch về phía cô con gái. Lần đầu tiên, Elizabeth thầm nghĩ, mẹ cô cảm thấy áy náy khi nhìn cô từ lúc cô bước vào phòng ngủ. “Dĩ nhiên là mẹ nghe. Mẹ nghe mọi điều con nói, rất rõ ràng.”
“Nghe khác với lắng nghe.”
“Có thể đúng như vậy, Elizabeth, nhưng chúng ta đã thảo luận chuyện này rồi.”
“Thế đâu phải là thảo luận, đó là mệnh lệnh.”
Miệng Susan thoáng mím lại, dấu hiệu khó chịu duy nhất. Bà quay lại, đôi mắt xanh lơ hết sức bình thản, điềm nhiên. “Mẹ xin lỗi vì con cảm thấy như vậy. Là mẹ của con, mẹ phải làm những gì mẹ tin là tốt nhất cho con.”
“Còn theo con, những gì tốt nhất cho con là để con làm, sống, nói, nghĩ, hành động, mong muốn, trở thành đúng những gì mẹ quyết định cho con trước khi mẹ thụ thai với một tinh trùng đã được lựa chọn chính xác.”
Cô nghe thấy giọng mình tăng lên nhưng không sao kiểm soát nổi, cảm thấy dòng nước mắt nóng hổi trong mắt nhưng không tài nào ngăn được. “Con mỏi mệt vì phải làm vật thí nghiệm của mẹ rồi. Con mỏi mệt với từng phút của tất cả các ngày đều được sắp xếp, bố trí và dàn dựng để thỏa mãn kỳ vọng của mẹ rồi. Con muốn được tự mình lựa chọn, mua quần áo cho mình, đọc những cuốn sách con muốn đọc. Con muốn sống cuộc sống của chính con thay vì của mẹ.”
Susan nhướng mắt, vẻ đã quan tâm một chút. “Ờ. Thái độ của con không phải là lạ, nhất là ở tuổi này, nhưng con lại chọn một thời điểm rất không phù hợp để tranh cãi và tỏ thái độ ngang bướng.”
“Xin lỗi mẹ. Chuyện này nằm ngoài lịch trình.”
“Châm chích là chuyện bình thường, nhưng không nên như vậy.” Susan mở cặp xách, kiểm tra lại những gì bên trong. “Mẹ con mình sẽ nói tất cả những chuyện này khi mẹ trở về. Mẹ có hẹn với bác sĩ Bristoe.”
“Con không cần trị liệu! Con cần một người mẹ biết lắng nghe, biết ngó ngàng một chút xem cảm xúc của con như thế nào.”
“Kiểu nói năng như vậy chỉ càng cho thấy sự thiếu trưởng thành và hiểu biết.”
Đầy cáu kỉnh, Elizabeth vung tay, khua thành những vòng tròn. Nếu cô không thể bình tĩnh và lý trí được như mẹ, cô sẽ nổi khùng. “Vớ vẩn! Vớ vẩn! Vớ vẩn?”
“Lặp đi lặp lại càng chứng tỏ như vậy. Thời gian còn lại cuối tuần là để cho con suy ngẫm về hành vi của mình. Đồ ăn của con đều để sẵn trong tủ lạnh, có ghi rõ rồi. Danh sách đồ đạc thì ở trên bàn của con. Nhớ đến báo với cô Vee trong trường lúc tám giờ sáng thứ Hai. Con tham gia vào chương trình này thì mùa thu năm sau sẽ chắc chỗ trong HMS. Còn giờ giúp mẹ mang túi quần áo xuống nhà. Xe sẽ đến đón mẹ bất kỳ lúc nào.”
Ôi, những hạt mầm kia đang nhú lên, tách lớp đất trống và nhọc nhằn lách qua. Lần đầu tiên trong đời, Elizabeth nhìn thẳng vào mắt mẹ và nói: “Không.” Cô xoay người, nặng nề bỏ đi và đóng sầm cửa phòng mình lại. Cô buông mình xuống giường, đăm đăm nhìn lên trần nhà với đôi mắt nhòa lệ. Và cô chờ đợi.
Bất kỳ khoảnh khắc nào, bất kỳ giây nào, cô tự nhủ. Mẹ cô sẽ bước vào, yêu cầu cô phải xin lỗi, yêu cầu cô phải nghe lời. Và Elizabeth sẽ không chấp nhận làm gì hết.
Họ sẽ xảy ra xung đột, một cuộc chiến thực sự, với những hăm dọa trừng phạt kèm theo nhiều hậu quả. Có lẽ họ sẽ to tiếng với nhau. Có lẽ nếu họ to tiếng thì cuối cùng mẹ cô sẽ lắng nghe cô.
Và có lẽ, nếu họ to tiếng, cô mới có thể nói được tất cả những điều chất chứa trong lòng mình suốt năm qua. Những điều cô nghĩ giờ đã nằm trong lòng cô mãi mãi.
Cô không muốn làm bác sĩ. Cô không muốn phải sống từng giờ theo thời gian biểu hay phải giấu giếm một chiếc quần bò chỉ vì nó không vừa mắt mẹ.
Cô muốn có bạn bè, thay vì phải chấp nhận những cuộc hẹn xã giao. Cô muốn nghe loại nhạc mà những cô gái ở tuổi cô vẫn thường nghe. Cô muốn biết họ hay thì thầm, đùa cợt và nói về chuyện gì trong khi cô bị gạt ra rìa.
Cô không muốn làm một thiên tài hay một cá nhân xuất chúng. Cô muốn là một người bình thường. Cô chỉ muốn được như tất cả mọi người khác.
Cô lau nước mắt, ngóc dậy, nhìn sững ra cửa.
Bất kỳ khoảnh khắc nào, cô lại nghĩ, kể từ bây giờ. Mẹ cô chắc rất cáu. Bà ấy chắc sẽ xộc vào và khẳng định uy quyền. Chắc chắn.
“Làm thế đi nào,” Elizabeth lẩm nhẩm trong khi từng giây nhích dần thành phút. “Đừng để con lại phải nhượng bộ. Xin mẹ, xin mẹ, đừng bắt con phải nhượng bộ. Xin hãy yêu thương con trọn vẹn. Chỉ một lần này thôi.”
Nhưng nhiều phút cứ đằng đẵng trôi qua, Elizabeth nhoài ra khỏi giường. Cô biết, kiên nhẫn là vũ khí mạnh nhất của mẹ. Thứ vũ khí đó, và quan niệm bất di bất dịch rằng mình luôn đúng, đã hạ gục mọi đối thủ. Và chắc chắn cô con gái không đủ khả năng cự lại.
Thất bại, cô bước ra khỏi phòng, tiến về phía phòng của mẹ.
Túi quần áo, cặp xách, chiếc va li nhỏ hiệu Pullman có bánh xe đều đã biến mất. Ngay cả khi chạy xuống nhà cô cũng biết rằng mẹ mình đã đi rồi.
“Mẹ bỏ rơi mình. Mẹ cứ lẳng lặng bỏ đi.”
Trơ trọi, cô nhìn quanh phòng khách gọn gàng, trang nhã. Mọi thứ đều hoàn hảo - vải rèm, màu sắc, nghệ thuật, cách bài trí. Những món đồ cổ được truyền lại qua nhiều thế hệ của dòng họ Fitch - một sự trang nhã đến câm lặng.
Trống rỗng.
Cô nhận ra chẳng có gì thay đổi. Và sẽ không thay đổi.
“Vậy thì mình sẽ làm.”
Cô còn không cho phép suy nghĩ, thắc mắc hay phỏng đoán. Thay vào đó, cô quay trở lên, gom hết mấy cái kéo ở góc học tập của mình.
Trong phòng tắm, cô ngắm nghía gương mặt mình trong gương - những đặc điểm màu sắc thừa hưởng của cha mẹ - tóc màu nâu vàng, dày như tóc mẹ cô nhưng không có những lượn sóng mềm mại duyên dáng. Hai gò má cao cũng của mẹ, và những nét của người cha - cho dù ông ấy là ai - như đôi mắt màu lục sâu thẳm, nước da trắng trẻo, cái miệng rộng.
Khá quyến rũ đấy chứ, cô nghĩ thầm, bởi vì đó là vấn đề gien di truyền và mẹ cô sẽ phải chấp nhận. Nhưng không xinh đẹp, không ấn tượng như Susan, không hề. Và cô cho rằng đó là một điểm đáng thất vọng mà ngay cả mẹ cô cũng không giải quyết được.
“Quái vật,” Elizabeth áp một tay lên gương, tỏ vẻ khinh ghét những gì cô thấy trong đó. “Mày là đồ quái vật. Nhưng cho đến lúc này, mày không phải là đứa hèn nhát.”
Hít một hơi thật sâu, cô cắt phăng một lọn tóc dài đến bờ vai của mình và thẳng tay ném đi.
Cứ mỗi nhát kéo cô lại cảm thấy mình thêm mạnh mẽ. Tóc của cô và quyền lựa chọn của cô. Cô cứ để mặc những lọn tóc vừa bị cắt rời rơi lả tả xuống sàn. Trong lúc cắt lấy cắt để mái tóc, trong tâm trí cô dần hiện lên một hình ảnh.
Nhắm mắt lại, đầu nghiêng nghiêng, những nhát cắt của cô chậm dần. Thực ra thì cũng chỉ là vấn đề hình học và vật lý thôi mà. Tác động và phản ứng.
Trọng lượng - về mặt vật lý và ẩn dụ, cô nghĩ bụng - vừa bớt đi. Và con bé trong gương trông sáng sủa hơn. Mắt nó dường như to hơn, gương mặt không còn mỏng quẹt nữa, cũng không còn u sầu.
Trông nó... rất mới mẻ, Elizabeth nhận ra như vậy.
Rất cẩn thận, cô buông kéo xuống, và, khi nhận thấy mình đang thở hổn hển, cố gắng chủ động thở chậm lại.
Ngắn quá. Để kiểm tra, cô đưa một tay lên phần gáy và tai đã lộ hẳn ra, rồi vuốt vuốt phần tóc mái cô vừa cắt. Đều quá, cô tự nhủ. Cô lục tìm chiếc kéo cắt móng tay, thử tạo dáng cho chính mình.
Không tệ. Trông không ổn lắm, cô thừa nhận, nhưng khác hẳn. Mấu chốt là ở chỗ đó. Cô trông, và cảm thấy, mình rất khác.
Nhưng vẫn chưa xong.
Để mặc mớ tóc vụn vẫn vương vấn trên sàn, cô quay về phòng mình, thay sang những bộ quần áo bí mật của mình. Cô cần đồ làm đẹp - đó là cách nói của đám con gái. Sản phẩm tạo kiểu tóc. Và mỹ phẩm trang điểm. Rồi thêm nhiều quần áo.
Cô cần đến khu mua sắm.
Vô cùng hồi hộp, cô lẻn vào phòng làm việc của mẹ, lục lấy chìa khóa xe dự phòng. Tim cô đập thình thịch đầy phấn khích khi cô chạy vội xuống gara. Cô ngồi sau vô lăng, nhắm mắt lại một lát.
“Lên đường nào,” cô nói thầm, rồi bấm nút mở cửa gara và cho xe lùi ra ngoài.
 
Cô đã xỏ xong lỗ tai. Có vẻ đó là một quyết định mạnh bạo nếu không nói là có hơi đau, và rất hợp với màu thuốc nhuộm tóc mà cô lấy trên giá sau khi đã nghiên cứu và cân nhắc cẩn thận khá lâu. Cô mua thêm keo xịt tóc, vì cô đã thấy một cô bạn ở trường sử dụng thứ này và nghĩ mình có thể bắt chước. Ít nhiều gì đó.
Cô bỏ ra 200 đô la mua đồ trang điểm bởi vì cô không biết chắc loại nào là phù hợp.
Sau đó cô đã phải ngồi xuống nghỉ bởi vì hai đầu gối cô run bắn. Nhưng vẫn chưa xong, Elizabeth tự nhắc mình, trong khi nhìn theo từng đám choai choai, các nhóm phụ nữ, các nhóm gia đình, đi lại quanh mình. Cô cần về lại với nhóm của mình.
Cô cần quần áo, nhưng cô chưa có kế hoạch gì cả. Cơn bốc đồng mua sắm lên rất nhanh và tiêu tan cũng nhanh. Cái tâm trạng đã đẩy cô đến thời điểm này giờ để lại trong cô một cơn đau đầu ghê gớm, và hai dái tai cô hơi nhoi nhói.
Việc làm hợp lý và có lý trí lúc này là về nhà, nằm nghỉ một lát. Sau đó lên kế hoạch rõ ràng, lập một danh sách những thứ cần mua sắm.
Nhưng như thế vẫn là con bé Elizabeth ngày xưa mất rồi. Con bé ấy đang gắng lấy lại nhịp thở.
Vấn đề cô gặp phải lúc này là không biết mình nên đến cửa hàng hay các cửa hàng nào. Có quá nhiều cửa hàng, và ô cửa sổ nào cũng đầy ắp các món đồ. Cho nên cô đành đi vơ vẩn, tìm kiếm những cô gái trạc tuổi mình. Cô đi đến những chỗ mà họ hay đến.
Cô vớ lấy túi xách, gượng đứng lên - và đâm sầm vào ai đó.
“Tôi xin lỗi,” cô lên tiếng, rồi nhận ngay ra cô gái kia. “Ồ, Julie.”
“Ừ.” Cô gái có mái tóc vàng óng ả, không chê vào đâu được cùng đôi mắt màu chocolate nhìn Elizabeth vẻ thắc mắc. “Tớ có biết cậu không nhỉ?”
“Có lẽ không. Chúng ta học cùng trường. Tớ là giáo sinh lớp tiếng Tây Ban Nha của cậu. Elizabeth Fitch.”
“Elizabeth, đúng rồi. Học trò cưng.” Julie nheo nheo đôi mắt đầy vẻ hờn dỗi. “Trông cậu khác quá.”
“Ờ, tớ...” Cảm thấy bối rối, Elizabeth đưa tay lên tóc. “Tớ mới cắt tóc.”
“Được đấy. Tớ cứ tưởng cậu đã chuyển đi hay gì đó.”
“Tớ chuyển lên đại học. Tớ về nhà nghỉ hè.”
“À, phải, cậu tốt nghiệp sớm. Lạ nhỉ.”
“Tớ cũng nghĩ vậy. Cậu cũng lên đại học mùa thu này chứ?”
“Tớ định vào Brown.”
“Trường đó rất tuyệt.”
“Ừ. Chà...”
“Cậu đang đi mua sắm đấy à?”
“Sạch túi rồi.” Julie nhún vai - còn Elizabeth nhìn trang phục của cô bạn một lượt - quần bò bó, cạp trễ ngay hông, áo phông ngắn chỉ trên bụng ôm sát người, túi khoác vai quá khổ và dép xăng đan đế dày. “Tớ đến khu mua sắm để gặp bạn trai - bạn trai cũ, vì tớ với hắn chia tay rồi.”
“Tớ rất tiếc.”
“Quên hắn đi. Hắn làm ở Gap. Bọn tớ định đi chơi tối nay, nhưng giờ hắn nói hắn phải làm việc tới tận mười giờ, sau đó lại muốn tụ tập với anh trai hắn. Tớ gặp kiểu này rồi, cho nên tớ phớt lờ hắn.”
Elizabeth bắt đầu nói rằng anh chàng kia không đáng bị phạt vì phải hoàn thành trách nhiệm của mình, nhưng Julie vẫn cứ nói huyên thuyên - Elizabeth chợt nhận ra kể từ khi họ biết nhau, cô bạn nói chuyện với mình không quá vài chục từ.
“Cho nên tớ chạy lại chỗ của Tiffany, xem cô nàng có định hẹn hò không, bởi vì dịp hè này tớ không còn bạn trai nữa rồi. Thật vô vị. Tớ đoán cậu có hẹn hò với đám bạn đại học.” Julie nhìn cô vẻ dò hỏi. “Đi dự tiệc hội nam sinh[1], tiệc bia thùng[2], đại loại thế.”
“Tớ... Ở Harvard có rất nhiều nam sinh.”
“Harvard.” Julie đảo mắt. “Có người nào ở Chicago dịp nghỉ hè không?”
“Tớ không biết.”
“Một chàng sinh viên đại học, đó là những gì tớ cần. Ai thèm một gã thi trượt làm việc ở khu mua sắm chứ? Tớ cần người biết làm trò, biết đưa tớ đi chơi, mua rượu bia. Đừng có mơ nhé, trừ phi cậu lọt được vào các vũ trường. Đó là nơi người ta vẫn hẹn hò. Chỉ cần có căn cước giả thôi.”
“Tớ làm được.” Ngay khi những lời ấy vọt ra, Elizabeth thầm tự hỏi không biết chúng từ đâu mà có. Nhưng Julie đã nắm lấy cánh tay cô, mỉm cười với cô như thể họ là bạn bè.
“Không hư cấu?”
“Không hề. Tức là, không khó làm được chứng minh thư giả nếu có đủ đồ nghề. Bản phôi, ảnh, cán nhựa, máy tính có phần mềm Photoshop.”
“Đúng là chuyên gia. Cậu cần thứ gì để làm cho tớ một cái giấy phép lái xe giúp tớ lọt được vào vũ trường?”
“Tớ nói rồi, một bản phôi...”
“Không, trời ạ. Cậu muốn đổi lấy cái gì?”
“Tớ...” Đang mặc cả đây mà, Elizabeth nhận ra như vậy. Một vụ trao đổi. “Tớ cần mua một ít quần áo, nhưng tớ không biết cần mua gì. Tớ cần ai đó giúp tớ.”
“Cậu cũng đi mua sắm à?”
“Ừ. Ai đó biết biết. Cậu hiểu rồi đấy.”
Cặp mắt không còn hờn dỗi nữa, giọng nói cũng không còn vẻ chán chường, Julie đầy vẻ rạng rỡ. “Đó là sở trường của tớ. Và nếu tớ giúp cậu lựa chọn một ít quần áo thì cậu sẽ làm căn cước cho tớ chứ?”
“Được. Và tớ cũng muốn đi cùng cậu tới vũ trường. Cho nên tớ cần chọn đúng quần áo cho việc ấy.”
“Cậu á? Nổi loạn đấy à? Vượt xa chuyện thay đổi đầu tóc đấy nhé, Liz.”
Liz. Cô là Liz. “Tớ cần một tấm ảnh, và cũng phải mất chút thời gian để làm căn cước. Tớ có thể hoàn thành vào ngày mai. Chúng ta sẽ đến vũ trường nào?”
“Có thể tới vũ trường nổi nhất trong thành phố. Warehouse 12. Brad Pitt[3] từng đến đó khi sống ở thành phố đấy.”
“Cậu có biết anh ấy không?”
“Giá mà biết thì tốt. Được rồi, bọn mình đi mua đồ.”
Cô thấy choáng váng, không phải vì cái cách Julie dẫn cô tới một cửa hàng, vớ lấy cả mớ quần áo sau khi chỉ xem xét qua loa. Mà chủ yếu vì cái ý tưởng cho vụ này. Một người bạn cùng đi mua sắm. Không phải là một người lựa chọn trước những thứ được xem là thích hợp rồi bắt cô mặc. Chỉ là một người vớ đại lấy rồi bảo là trông sẽ rất nóng bỏng, phong cách, thậm chí là gợi tình.
Chưa hề có ai từng nói với Elizabeth rằng trông cô cũng gợi tình.
Cô nhốt mình trong phòng thay đồ với cả rừng màu sắc, trang kim lấp lánh, kim loại phản quang, và phải gục đầu giữa hai gối.
Mọi việc xảy ra quá nhanh. Cứ như thể bị mắc kẹt trong một trận sóng thần. Con sóng cứ thế cuốn phăng cô đi.
Ngón tay cô run bần bật khi cô cởi đồ, khi cô cẩn thận gấp quần áo lại, sau đó đăm đăm nhìn tất cả những món đồ treo trong gian buồng nhỏ xíu.
Cô biết mặc thứ nào đây? Thứ nào đi kèm với thứ nào? Làm sao cô nhận biết được?
“Tớ tìm được cái váy hết sảy!” Julie xộc thẳng vào, thậm chí chẳng thèm gõ cửa. Rất bản năng, Elizabeth lấy hai tay che ngực.
“Cậu vẫn chưa thử bộ nào à?”
“Tớ chẳng biết phải bắt đầu từ đâu.”
“Bắt đầu với thứ hết sảy này đi.” Julie nhét bộ váy vào tay cô.
Nhưng thực sự với độ dài này thì nó giống một chiếc váy dài hơn, Elizabeth nghĩ bụng, lại có màu đỏ đến tức cười, xếp nếp dọc hai bên sườn. Mấy cái quai mỏng như dao cạo thì lấp lánh ánh bạc.
“Tớ mặc cái này kèm với gì?”
“Giày khủng bố. Không, nói áo lót ra trước đã. Cậu không thể mặc áo lót với loại váy đó được. Cậu có thân hình thực sự đẹp đấy,” Julie quan sát.
“Tớ đã có thiên hướng về mặt di truyền, và giữ dáng cùng sức khỏe nhờ tập luyện đều đặn hằng ngày.”
“Nhất cậu.”
Và cơ thể người trần truồng - hay gần như vậy - là hết sức tự nhiên, Elizabeth tự nhủ. Chỉ có da, cơ, xương và thần kinh thôi mà.
Cô đặt áo lót lên trên bộ quần áo đã gấp gọn, rồi chui luôn vào bộ váy.
“Ngắn quá,” cô lên tiếng.
“Rồi cậu sẽ vứt hết máy cái quần chíp bà già kia để mua quần lọt khe thôi. Thứ đó mới xứng tầm dân chơi.”
Elizabeth hít một hơi, xoay về phía chiếc gương ba mặt. “Ôi.” Ai kia nhỉ? Cô gái trong chiếc váy đỏ là ai vậy? “Trông tớ...”
“Hết sảy,” Julie tuyên bố, và Elizabeth nhìn thấy một nụ cười rạng rỡ trên chính gương mặt mình.
“Hết sảy.”
Cô mua bộ váy, và hai chiếc nữa. Và cả những chiếc váy ngắn. Cô mua mấy cái áo chỉ dài đến eo, quần trễ dưới eo. Cô mua quần lọt khe. Cô còn cưỡi con sóng thần đó bằng đôi giày gót bạc mà cô sẽ phải tập đi đi lại lại cho quen.
Và cô cười, như bất kỳ cô gái bình thường nào đi mua sắm cùng với một người bạn ở khu mua sắm.
Cô mua một chiếc máy ảnh kỹ thuật số, sau đó quan sát Julie trang điểm gương mặt trong phòng tắm. Cô chụp lại ảnh của Julie, và vài tấm dự phòng trên nền xám nhạt của cánh cửa quầy hàng.
“Sẽ hiệu quả chứ?”
“Ừ, tớ có thể làm cho mọi việc ổn. Cậu muốn bao nhiêu tuổi? Tớ nghĩ tốt nhất là chúng ta càng sát tuổi theo quy định càng tốt. Tớ có thể sử dụng mọi chi tiết trong giấy phép lái xe thực của cậu và chỉ việc thay năm thôi.”
“Cậu đã từng làm việc này chưa?”
“Tớ đã thử rồi. Tớ đã đọc và nghiên cứu về giả mạo nhân dạng, tội phạm mạng. Thú vị phết. Tớ định...”
“Định sao?”
“Tớ định nghiên cứu về tội phạm máy tính và cách ngăn chặn, điều tra, nghiêm túc hơn nữa. Tớ định xin vào FBI.”
“Mơ à? Giống như Dana Scully.”
“Tớ không biết người đó.”
“Phim X-Files, Liz. Cậu không xem TV à?”
“Mỗi tuần tớ chỉ được xem chương trình truyền hình phổ thông và trả phí trong vòng một tiếng thôi.”
Julie đảo đôi mắt nâu chocolate to tròn. “Cậu mấy tuổi rồi, chẳng lẽ mới sáu tuổi thôi à? Không thể tin được.”
“Mẹ tớ có những quan niệm rất rành mạch.”
“Cậu đã vào đại học rồi, trời ạ. Cứ việc xem những gì cậu muốn. Mà thôi, tớ sẽ qua chỗ cậu vào tối mai. Chín giờ được không? Bọn mình bắt taxi từ đây. Nhưng tớ muốn cậu gọi cho tớ khi cậu xong cái căn cước, được không?”
“Rồi.”
“Nói cho cậu biết, cắt đứt với Darryl là việc hay nhất tớ từng làm. Nếu không, tớ đã lỡ tất cả những việc này. Chúng ta sẽ đi dự tiệc, Liz.” Cười phá lên, Julie thực hiện ngay một điệu nhảy lắc hông rất nhanh ngay trong phòng vệ sinh nữ. “Tuyệt vời. Tớ sẽ đi. Chín giờ. Đừng để tớ thất vọng.”
“Không. Yên tâm đi.”
Phấn khởi sau cả một ngày, Elizabeth nhét tất cả túi xách vào trong xe. Giờ thì cô đã biết đám con gái nói về chuyện gì trong khu mua sắm.
Về con trai. Về chuyện đó. Julie và Darryl đã làm việc đó. Về quần áo. Âm nhạc. Cô có hẳn một danh sách những nghệ sĩ cô cần tìm hiểu. Những nghệ sĩ truyền hình và điện ảnh. Rồi cả những cô gái khác. Những cô bạn khác mặc đồ gì. Những cô bạn khác làm việc đó với ai. Và lại trở lại đề tài con trai.
Cô hiểu tất cả những nội dung trò chuyện và các chủ đề rất phổ biến và muôn đời không khác. Nhưng đó lại là thứ mà cô bị cách ly cho tới tận ngày hôm nay.
Và cô nghĩ Julie đã thích cô, ít nhất là một chút. Có lẽ họ bắt đầu tụ tập với nhau. Có lẽ cô còn hẹn hò với bạn của Julie là Tiffany nữa - cái cô bạn đã làm chuyện đó với Mike Dauber khi anh chàng này về nhà trong đợt nghỉ xuân.
Cô biết Mike Dauber, hay cô từng có tiết học cùng anh ta. Và có lần anh ta chuyển cho cô một tờ giấy. Hoặc anh ta chuyển cho cô một tờ giấy để chuyển cho ai đó khác, nhưng thế là ổn rồi. Thế là có liên hệ rồi.
 
Về nhà, cô đặt hết túi xách lên giường.
Lần này cô bày trần xì tất tần tật mọi thứ ra. Và cô gạt bỏ luôn mọi thứ cô không thấy thích - gần như tất cả những thứ cô đã có - và đóng thùng lại để gửi làm từ thiện. Rồi cô xem phim X-Files, nghe nhạc Christina Aguilera, N'Sync và Destiny’s Child.
Và cô đổi cả ngành học.
Nghĩ về chuyện đó khiến tim cô như vọt lên tận cổ. Cô sẽ học những gì cô muốn học. Và khi cô giành được bằng về tội phạm học, khoa học máy tính, cô sẽ xin vào FBI.
Mọi thứ đã thay đổi. Ngày hôm nay.
Đầy quả quyết, cô lục tìm thuốc nhuộm tóc. Vào phòng tắm, cô sắp xếp mọi thứ, tiến hành thử điểm như khuyến nghị. Trong lúc chờ đợi, cô gội sạch mái tóc đã cắt ngắn, sau đó dọn dẹp tủ, ngăn kéo, treo hoặc gấp số quần áo mới thật gọn gàng.
Cảm thấy đói bụng, cô đi xuống bếp, hâm nóng lại một suất ăn đã được chỉ định rõ và ăn trong lúc dùng laptop xem một bài viết về làm giả căn cước.
Rửa chén đĩa xong xuôi, cô trở lên gác. Với tâm trạng lo lắng pha chút phấn khích, cô làm theo chỉ dẫn trên bình thuốc nhuộm tóc, đặt hẹn giờ. Xong việc, cô sắp xếp mọi thứ cần để làm căn cước. Cô mở chiếc CD của Britney Spears mà Julie gợi ý, nhét vào ổ đĩa trên máy tính của mình.
Cô vặn to âm lượng để có thể nghe được nhạc trong lúc vào phòng tắm gội sạch màu trên tóc.
Nước đen đặc!
Cô gội đi gội lại, cuối cùng chống tay lên tường phòng tắm trong khi bụng cô chuyển sang trạng thái dè chừng nhưng không hề mảy may sợ sệt. Khi nước đã trong trở lại, cô lấy khăn lau khô, rồi lấy một chiếc khăn nữa quấn quanh đầu.
Phụ nữ đổi màu tóc hàng thế kỷ nay rồi, Elizabeth tự nhủ. Sử dụng các loại quả mọng, dược thảo, rễ củ. Đó là một... nghi thức trưởng thành, cô quyết định như vậy. Đó là lựa chọn cá nhân.
Mặc nguyên áo choàng, cô nhìn vào gương.
“Lựa chọn của mình,” cô nói, và kéo chiếc khăn khỏi đầu.
Cô đăm đăm nhìn cô gái có nước da xanh xao và đôi mắt to màu lục, cô gái với mái tóc ngắn đen cháy tua tủa bao quanh gương mặt dài xương xương. Cô đưa một tay và dùng những ngón tay lùa qua tóc, cảm nhận chất tóc, và nhìn tóc chuyển động.
Rồi cô đứng thẳng người, mỉm cười.
“Xin chào. Mình là Liz.”

#1
    Thanh Vân 29.11.2023 19:11:45 (permalink)

    2


    Nghĩ lại tất cả sự giúp đỡ từ Julie, dường như với Elizabeth thì công bằng nhất là làm giấy phép lái xe cho Julie trước tiên đã. Việc tạo phôi rất đơn giản. Mọi nguồn cô tìm hiểu đều nói chất lượng của căn cước tùy thuộc rất lớn vào chất lượng của giấy và nhựa ép.
    Chẳng thành vấn đề, vì mẹ cô không tin vào việc giảm bớt khoản chi tiêu bằng việc chọn những thứ văn phòng phẩm rẻ tiền. Với máy quét và máy tính, cô làm ra một bản mẫu khá ổn, và bằng Photoshop cô dán tấm ảnh kỹ thuật số lên.
    Kết quả khá ổn nhưng chưa hoàn hảo.
    Phải mất vài tiếng và ba lần làm cô mới cảm thấy mình tạo ra được một sản phẩm sẽ lọt qua bộ phận kiểm tra ở một hộp đêm. Thực tế, cô nghĩ nó còn có thể lọt qua cả chỗ kiểm tra của cảnh sát. Nhưng cô hy vọng mọi việc sẽ không đến mức đó.
    Cô đặt tấm thẻ của Julie sang bên.
    Đã quá muộn để gọi cho Julie, Elizabeth nhận ra như vậy khi cô nhìn đồng hồ và thấy đã gần một giờ sáng rồi.
    Để đến sáng vậy, cô nghĩ bụng, và bắt đầu làm thẻ cho chính mình.
    Ảnh trước tiên, cô quyết định, và dành gần một tiếng để trang điểm, cẩn thận lặp lại từng thao tác cô đã xem Julie thực hiện ở khu mua sắm. Làm đậm mắt, làm môi tươi lên, thoa thêm màu lên má.
    Cô không hề biết rằng thao tác với phấn màu, chổi và bút lại thú vị đến vậy - và cũng tốn công sức nữa.
    Liz trông già dặn hơn, cô nghĩ thầm khi ngắm nhìn kết quả. Liz trông xinh đẹp và tự tin - và rất bình thường.
    Háo hức với thành công này, cô mở sản phẩm tạo kiểu tóc ra.
    Cần khéo léo hơn, cô phát hiện ra vậy, nhưng cô tin - cùng với việc thực hành - cô đã học được cách làm. Nhưng cô thích kiểu tùy tiện, một dạng gì đó như những cái gai tua tủa. Khác hẳn với mái tóc nâu đỏ suôn dài và tẻ ngắt của cô, mái tóc này ngắn ngủn, tua tủa, đen nháy.
    Liz mới tinh. Liz có thể và sẽ làm những việc Elizabeth còn không dám hình dung. Liz nghe Britney Spears và mặc quần bò để khoe rốn. Liz đi tới các vũ trường vào tối thứ Bảy cùng với cô bạn gái, và nhảy nhót, cười đùa và... chớt nhả với lũ con trai.
    “Và bọn con trai chớt nhả lại Liz,” cô lầm bầm. “Bởi vì Liz xinh đẹp, cô ấy vui nhộn, và cô ấy không sợ gì cả.” Sau khi tính toán và bố trí các góc độ, cảnh nền, cô dùng chiếc máy ảnh mới của mình chụp vài kiểu với chế độ hẹn giờ.
    Cô bận rộn cho tới hơn ba giờ sáng, nhận thấy mọi việc với hồ sơ thứ hai dễ dàng hơn hẳn. Đã gần bốn giờ lúc cô thu dọn tất cả dụng cụ và thiết bị, rồi cẩn thận tẩy trang sạch sẽ. Cô biết chắc mình chưa hề ngủ - tâm trí của cô quá bận rộn.
    Cô cứ như vậy cho tới lúc mắt díp dại.
    Và lần đầu tiên trong đời, ngoại trừ lúc ốm, cô ngủ ngon lành tới tận trưa.
    Việc đầu tiên cô làm là chạy bổ tới trước gương để biết chắc rằng mình không hề nằm mơ. Việc thứ hai là gọi cho Julie.
    “Bọn mình đều ổn chứ?” Julie hỏi, sau khi cô nàng nhấc máy trả lời chỉ sau nửa hồi chuông.
    “Ổn. Tớ có tất cả mọi thứ rồi.”
    “Và hoàn toàn ổn, phải không? Sẽ có tác dụng chứ?”
    “Đồ giả tuyệt vời. Tớ không thấy có vấn đề gì.”
    “Hết sảy! Chín giờ. Tớ sẽ đón taxi, bảo xe đợi sẵn - cho nên sẵn sàng nhé. Và nhớ chú ý ăn mặc cho hợp, Liz.”
    “Đêm qua tớ đã thử trang điểm. Tớ sẽ thực hành khoản này, còn đầu tóc thì để chiều nay. Mà còn phải tập đi giày nữa.”
    “Cậu làm đi. Tớ sẽ gặp cậu sau. Ăn chơi thôi!”
    “Ừ, tớ sẽ...” Nhưng Julie đã gác máy.
    Cô đã dành cả ngày cho những gì lúc này cô xem như là Dự án Liz. Cô mặc thử những thứ quần áo mới mua, trang điểm mặt, làm tóc. Cô đi đôi giày mới, và nhảy nhót khi cô cảm thấy mình đã quen chân.
    Cô tập thử trước gương, sau khi tìm được một kênh nhạc pop trên đài. Trước đây cô đã từng nhảy như thế này rồi - một mình trước gương - tự luyện những động tác cô quan sát được tại các buổi khiêu vũ ở trường trung học. Khi ấy cô đã từng rất tủi thân đứng ngoài nhìn, quá nhỏ và ngây thơ nên chẳng cậu bạn trai nào chú ý cả.
    Mấy cái gót giày khiến cho việc di chuyển, xoay người hơi có vấn đề, nhưng cô thích cái cách chúng làm cho cô hơi mất thăng bằng, buộc cô phải thả lỏng đầu gối và hông.
    Đến sáu giờ, cô lấy một suất ăn đã có chỉ định sẵn, ăn sạch trong khi tranh thủ kiểm tra mail. Nhưng chẳng có gì, không hề có gì do mẹ cô gửi. Cô cứ đinh ninh sẽ có một bài rao giảng hay đại loại thế. Nhưng sự kiên nhẫn của bà Susan là vô tận, và bà là bậc thầy sử dụng biện pháp im lặng.
    Lần này thì không có tác dụng rồi, Elizabeth quả quyết. Lần này bà Susan sẽ bị bất ngờ. Bà lên đường bỏ lại Elizabeth, nhưng bà sẽ về nhà để gặp Liz. Và Liz sẽ không thực hiện chương trình hè ở trường đại học. Liz sẽ điều chỉnh lịch trình và các lớp học của mình trong học kỳ tới.
    Liz sẽ không làm bác sĩ phẫu thuật. Liz sẽ làm việc cho FBI, trong lĩnh vực tội phạm mạng.
    Cô dành ba mươi phút tìm hiểu các trường đại học có những chương trình được xếp hạng cao nhất trong lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ của mình. Có thể cô phải chuyển đổi, và điều đó có thể làm nảy sinh vấn đề. Mặc dù số tiền học đại học dành cho cô đã trao hẳn vào quỹ tín thác của cô - và chuyển qua ông bà ngoại của cô - nhưng ông bà có thể cắt mất. Họ sẽ nghe lời con gái mình, nghe theo sự chỉ đạo của mẹ cô.
    Nếu như vậy, cô sẽ xin học bổng. Thành tích học tập của cô sẽ bảo đảm cho cô điều đó. Cô sẽ lỡ một học kỳ, nhưng cô lại có được một công việc. Cô sẽ đi làm. Cô tự tìm con đường theo số phận của chính mình.
    Cô tắt tất cả mọi thứ, nhắc mình nhớ rằng tối nay là để vui vẻ, để khám phá. Không phải để lo lắng hay nghĩ về những kế hoạch.
    Cô lên gác để diện đồ cho lần đi chơi tối đầu tiên. Tối đầu tiên cô được thực sự tự do.
    Vì sửa soạn xong quá sớm nên Elizabeth có quá nhiều thời gian để suy nghĩ, đặt câu hỏi hay nghi ngờ. Liệu có phải cô mặc quá nhiều đồ, trang điểm chưa kỹ và tóc tai không hợp chăng. Sẽ chẳng ai mời cô nhảy bởi vì chưa từng có ai làm vậy cả.
    Julie đã mười tám tuổi, lớn tuổi hơn và có kinh nghiệm hơn, lại biết cách ăn mặc, biết cách xã giao, biết cách trò chuyện với đám con trai. Bản thân cô thì rất dễ làm hoặc nói gì đó lố. Cô sẽ làm Julie xấu hổ, khi đó Julie sẽ chẳng bao giờ trò chuyện với cô nữa. Tình bạn mong manh đó sẽ tan vỡ mãi mãi mất.
    Cô dần rơi vào tâm trạng phấn khích một cách hoang mang khiến lòng cảm thấy bồn chồn, nôn nao. Hai lần cô phải ngồi bệt xuống, gục đầu giữa hai gối, cố chế ngự tâm lý lo lắng, và cô ra mở cửa đón Julie vẫn với hai bàn tay ướt sũng và tim đập thình thịch.
    “Trời đất ạ!”
    “Không ổn. Không ổn.” Tất cả mọi nghi ngại và sợ sệt lên đến đỉnh điểm thành tâm lý tự thấy xấu hổ và ghê tởm lúc Julie nhìn sững cô. “Tớ xin lỗi. Cậu cứ lấy căn cước đi thôi.”
    “Tóc cậu kìa.”
    “Tớ không biết mình đang nghĩ gì. Tớ chỉ muốn thử...”
    “Hết sảy! Trông cậu hết chỗ chê. Tớ suýt không nhận ra cậu. Ôi trời, Liz, cậu chẳng khác gì hai mốt tuổi, và thực sự gợi tình.”
    “Thật thế à?”
    Julie khuỳnh một bên hông, bàn tay nắm lại đặt lên đó. “Cậu tuyệt lắm.”
    Mạch đập trong cổ họng cô nhoi nhói chẳng khác gì một vết thương. “Thế cũng ổn thật à? Trông tớ ổn à?”
    “Trông cậu ổn quá đi chứ lị.” Julie dùng ngón tay vẽ thành vòng tròn trong không khí, ngây nhìn. “Xoay người xem nào, Liz. Để ngắm tổng thể cái nào.”
    Mặt đỏ bừng, gần như phát khóc, Elizabeth xoay một vòng tròn.
    “Ôi thế chứ. Chúng ta sẽ hạ gục bọn con trai tối nay.”
    “Trông cậu cũng hết sảy. Lúc nào cậu cũng như vậy.”
    “Câu ấy nghe thật dễ chịu.”
    “Tớ thích cái váy của cậu.”
    “Của chị tớ đấy.” Julie xoay một vòng và tạo dáng với chiếc váy ngắn màu đen hở vai và lưng. “Chị ấy sẽ giết tớ nếu chị ấy biết tớ lấy nó mặc.”
    “Có thích không? Có chị gái ấy?”
    “Có một bà chị mặc đồ cùng cỡ như tớ thì cũng không tệ, cho dù đến phân nửa thời gian bà ấy rất đáng ghét. Cho tớ xem căn cước nào. Đồng hồ tính cước vẫn đang chạy đấy, Liz.”
    “Ồ. Phải.” Liz mở chiếc túi dùng cho buổi tối mà cô chọn trong bộ sưu tập của mẹ, lấy bằng lái giả của Julie ra.
    “Trông như thật,” Julie nói sau một lúc nhíu mày soi xét, rồi mở to đôi mắt đen nhìn sững Elizabeth. “Ý tớ là, cậu biết không, cực kỳ thật.”
    “In ra rất ngon lành. Tớ có thể làm chuẩn hơn nữa, tớ nghĩ vậy, nếu có thiết bị chuyên dụng hơn, nhưng với tối nay thì thế cũng được rồi.”
    “Thậm chí cảm nhận cũng rất thật,” Julie thì thào. “Cậu đúng là có năng khiếu đấy, cô bạn ạ. Cậu có thể kiếm bộn tiền. Tớ biết có những đứa sẵn sàng chi cả đống để có những giấy tờ thế này.”
    Tâm trạng hoang mang lại tràn về. “Đừng có hé ra cho ai biết. Chỉ dành cho tối nay thôi. Bất hợp pháp đấy, và nếu có người phát giác...”
    Julie đưa một ngón tay vạch phía trên ngực trái, sau đó đến môi. “Không đời nào họ phát giác từ tớ được đâu.” Chậc, ngoại trừ Tiffiny và Amber, cô nghĩ. Cô  mỉm cười với Elizabeth, nhất định cô có thể thuyết phục người bạn chí thân mới quen của mình chế thêm vài thứ nữa cho những đứa bạn thân.
    “Chúng ta bắt đầu tiệc tùng thôi nào.”
    Sau khi Elizabeth đóng và khóa cửa, Julie nắm lấy tay cô và kéo cô chạy nhanh về phía chiếc taxi đợi sẵn. Cô ấy chui tọt vào xe, nói với lái xe tên vũ trường, sau đó lắc lư trên ghế.
    “Được rồi, kế hoạch hành động đây. Trước tiên là phải tỏ ra lạnh.”
    “Tớ có cần mang áo len không?”
    Julie cười, sau đó nháy mắt khi nhận ra vẻ nghiêm túc của Elizabeth. “Không, ý tớ là bọn mình phải tỏ ra điềm tĩnh, cư xử như thể chúng ta tới các vũ trường thường xuyên. Như hôm nay thì không phải là vấn đề lớn với bọn mình. Tối thứ Bảy khác ấy.”
    “Ý cậu là bọn mình phải tỏ ra bình tĩnh và hòa đồng.”
    “Đúng vậy. Một khi đã vào được bên trong, bọn mình sẽ chọn một bàn và gọi Cosmos.”
    “Là gì thế?”
    “Cậu không biết à, giống như các cô trong phim Sex and the City ấy?”
    “Tớ có biết bọn họ đâu.”
    “Không sao. Theo mốt ấy mà. Chúng ta hai mươi mốt tuổi,” Julie nhắc, “chúng ta ở trong một vũ trường sôi động. Chúng ta gọi những đồ uống thời thượng.”
    “Ờ.” Elizabeth xích lại gần hơn, hạ thấp giọng. “Bố mẹ cậu không biết cậu uống rượu à?”
    “Mùa đông năm ngoái họ ly dị nhau rồi.”
    “Ôi. Tớ xin lỗi.”
    Julie nhún vai, nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc. “Thế lại hay. Nhưng mà tớ không được gặp bố cho tới tận thứ Tư, còn mẹ tớ chỉ đi vắng dịp cuối tuần tụ tập với mấy người bạn chán ngắt của bà ấy. Chị Emma thì ra ngoài hẹn hò, với lại chị ấy cũng chẳng quan tâm. Tớ có thể làm gì tùy thích.”
    Elizabeth gật đầu. Cả hai đều giống nhau. Chẳng có ai ở nhà để ý cả. “Chúng ta sẽ dùng Cosmos.”
    “Giờ là cậu nói nhé. Xong bọn mình nhử mồi. Vì thế mà bọn mình sẽ nhảy với nhau trước đã - như thế bọn mình có thời gian kiểm tra bọn đàn ông - và để bọn họ kiểm tra chúng mình nữa.”
    “Đó là lý do con gái thường nhảy với nhau à? Tớ cứ thắc mắc suốt.”
    “Thêm nữa là rất vui - và rất nhiều anh chàng không muốn nhảy. Cậu có di động chứ?”
    “Ừ.”
    “Nếu bị tách nhau, bọn mình sẽ liên lạc nhé. Nếu có gã nào xin số, đừng có cho số ở nhà đấy. Số di động là được rồi, trừ phi mẹ cậu giám sát các cuộc gọi của cậu.”
    “Không. Không ai gọi cho tớ.”
    “Đó là cậu nghĩ thế thôi, tối nay sẽ đổi khác đấy. Nếu cậu không muốn gã biết số của mình, cho gã số giả. Tiếp theo. Cậu lên đại học rồi, cho nên cậu phải giả vờ. Bọn mình sẽ nói là bạn cùng phòng. Tớ là sinh viên ngành nghệ thuật tự do. Mà ngành cậu học là gì nhỉ?”
    “Tớ định vào trường y, nhưng...”
    “Tốt hơn cả là cứ vin vào đó. Nói thật khi có thể. Cậu sẽ không bị lộn xộn.”
    “Tớ sẽ vào học trường y, sau đó thì đi thực tập.” Nhưng chỉ nghĩ đến thế cô đã thấy rất chán ngán. “Nhưng tớ không muốn nói về chuyện học hành trừ phi buộc phải nói.”
    “Dù sao thì bọn con trai cũng chỉ thích nói về bản thân thôi. Ôi trời, bọn mình sắp đến nơi rồi.” Julie mở ví, soi lại dung nhan qua một chiếc gương nhỏ, thoa lại lớp son môi, cho nên Elizabeth cũng làm theo y hệt. “Cậu trả tiền xe được không? Tớ móc được đúng 100 đô từ chỗ mẹ tớ giấu tiền, nếu không tớ chẳng có xu nào.”
    “Được rồi.”
    “Tớ trả lại cậu sau. Bố tớ rất dễ chuyện tiền bạc.”
    “Tớ không để tâm lắm chuyện trả tiền đâu.” Elizabeth móc tiền trả taxi ra, tính toán luôn cả tiền bo.
    “Ôi trời, tớ nổi da gà rồi. Tớ không dám tin mình sắp bước vào Warehouse 12? Choáng thật?”
    “Giờ bọn mình làm gì?” Elizabeth hỏi khi họ chui ra khỏi xe taxi.
    “Bọn mình cần xếp hàng đã. Không phải ai họ cũng cho vào, cậu biết đấy, kể cả có căn cước.”
    “Tại sao?”
    “Bởi vì đây là vũ trường thời thượng, cho nên họ không cho một số đối tượng vào. Nhưng họ luôn cho những cô nàng nóng bỏng vào. Mà bọn mình đúng là nóng bỏng quá rồi.”
    Hàng người xếp hàng rất dài, trời đêm lại ấm áp. Giao thông ầm ì qua lại, át cả tiếng trò chuyện của những người đang chờ đợi. Elizabeth tiếp nhận cái khoảnh khắc này - những âm thanh, mùi vị, cảnh tượng, tối thứ Bảy, cô nghĩ bụng, và cô đang xếp hàng trước một vũ trường thời thượng cùng với những con người xinh đẹp. Cô đang mặc một chiếc váy mới - một chiếc váy đỏ - cùng đôi giày cao gót, rất cao khiến cô cảm thấy mình cao lớn và mạnh mẽ.
    Chẳng ai để mắt đến cô, như thể cô không thuộc về nơi này.
    Người đàn ông kiểm tra căn cước ở cửa vận một bộ complet cùng đôi giày bóng lộn. Mái tóc sẫm màu và bóng lộn được túm đuôi ngựa khiến cho gương mặt anh ta không có khuôn rõ nét. Một vết sẹo chình ình trên gò má trái. Một chiếc đinh lấp lánh ở dái tai phải.
    “Tay đó là bảo kê,” Elizabeth thì thào với Julie. “Tớ đã tìm hiểu qua rồi. Hắn tống khứ những kẻ gây rối. Trông hắn rất khỏe. Tất cả những gì bọn mình phải làm là lọt qua gã và vào bên trong.”
    “Vũ trường này thuộc sở hữu của Five Star Entertainment. Đứng đầu công ty là Mikhail và Sergei Volkov. Người ta tin rằng bọn họ có quan hệ với mafia Nga.”
    Julie đảo mắt. “Mafia kiểu Ý, như trong phim The Sopranos ư?”
    Elizabeth cũng chưa xem phim đó. “Kể từ hồi Liên Xô sụp đổ, tội phạm có tổ chức ở Nga nổi lên. Thực ra thì tội phạm đã rất có tổ chức rồi, và do phát xít SS chỉ huy, nhưng...”
    “Liz. Thôi bài học lịch sử đi.”
    “Ừ. Tớ xin lỗi.”
    “Chỉ cần đưa hắn căn cước của cậu, và cứ tiếp tục trò chuyện với tớ.” Julie lại cao giọng khi họ len dần tới cửa. “Bỏ được gã thộn đó là điều tuyệt vời nhất tớ làm được trong vòng mấy tháng qua. Tớ kể với cậu là gã gọi tớ ba lần trong ngày hôm nay chưa nhỉ?”
    Mỉm cười nhanh với gã bảo kê, Julie đưa căn cước của mình ra trong khi tiếp tục cuộc trò chuyện với Elizabeth. “Tớ bảo gã quên đi. Đừng mất thời gian với tớ, đã có người khác lo rồi.”
    “Tốt nhất là không hẹn hò nghiêm túc gì cả, nhất là ở giai đoạn này.”
    “Cậu hiểu rồi đấy.” Julie chìa tay ra để đóng dấu của vũ trường. “Và tớ sẵn sàng kiếm bạn trai mới. Chầu rượu đầu tớ mời.”
    Cô bước vòng qua gã bảo kê trong khi gã này thực hiện thủ tục kiểm tra tương tự và đóng dấu cho Elizabeth, nụ cười của cô nàng rộng đến mức Elizabeth tự hỏi liệu có đủ để nuốt gọn gã ta không.
    “Cảm ơn,” cô nói khi gã kia đóng dấu lên mu bàn tay cô.
    “Chúc các quý cô vui vẻ.”
    “Chúng tôi là niềm vui đấy thôi,” Julie đáp lời gã, sau đó túm lấy tay Elizabeth và kéo tuột cô vào bức tường âm thanh.
    “Ôi trời, chúng ta lọt vào rồi!” Julie bật ré lên, nhưng gần như bị nhấn chìm bởi tiếng nhạc, rồi nhảy cẫng lên khi ôm chầm lấy Elizabeth.
    Sững người trước cái ôm ấy, Elizabeth như hóa đá, nhưng Julie lại nhảy lên lần nữa. “Cậu quả là có tài.”
    “Ừ.”
    Julie cười to, đôi mắt hơi có chút man dại. “Được rồi, chọn bàn, Cosmos, nhảy và săn mồi.”
    Elizabeth hy vọng tiếng nhạc khỏa lấp được tiếng tim cô đập thình thịch kể từ lúc Julie ré lên. Quá nhiều người. Cô không quen có mặt với quá nhiều người ở cùng một chỗ như thế này. Tất cả mọi người đều di chuyển hay trò chuyện trong tiếng nhạc liên hồi, một cơn lũ tràn ngập đến từng hơi thở. Người ta chen vai thích cánh trên sàn nhảy, lắc lư, quay cuồng, mồ hôi nhễ nhại. Họ chen nhau vào các ô ghế, quanh những chiếc bàn, hay tại quầy rượu làm bằng thép không gỉ uốn cong.
    Cô quyết định tỏ ra “lạnh lùng,” nhưng một chiếc áo len thì đúng là không cần thiết. Sức nóng của thân người tỏa khắp mọi nơi.
    Việc len qua đám đông - luồn lách, len lỏi, xô những thân người - khiến nhịp tim của Elizabeth như ngựa phi. Nỗi lo lắng bóp nghẹt lấy cổ họng cô, đè nặng lên ngực cô. Cái nắm tay như siết của Julie là thứ duy nhất giúp cô không bỏ chạy.
    Cuối cùng Julie cũng tiến thẳng tới một chiếc bàn chỉ bằng cái khay đựng đồ ăn tối.
    “Đây rồi! Ôi trời ạ, cứ như tất cả mọi người đều ở đây vậy. Chúng mình sẽ tiếp tục tìm kiếm bàn ở gần sàn nhảy. Hết sảy nhé. DJ đang nện kia kìa.” Cuối cùng cô cũng chú ý đến gương mặt Elizabeth. “Này, cậu vẫn ổn chứ?”
    “Đúng là náo nhiệt thật.”
    “Lại chả. Làm gì có ai muốn đến một vũ trường lạnh lẽo, vắng hoe chứ? Nghe này, bọn mình cần đồ uống và ngay lúc này, cho nên tớ sẽ đến chỗ quầy. Tớ sẽ mua, vì cậu đã chi tiền taxi rồi. Việc đó sẽ cho tớ thời gian quan sát. Cậu cũng làm đúng như thế từ chỗ này nhé. Hai ly Cosmos, nào!”
    Không còn bàn tay Julie níu lấy mình, Elizabeth tự nắm chặt lấy tay mình. Cô nhận ra những dấu hiệu - lo lắng, cảm giác sợ bị nhốt kín - nên cố để tập trung ổn định nhịp thở. Liz không tỏ ra hoảng loạn chỉ vì bị chìm nghỉm vào giữa một đám đông. Cô ra lệnh cho mình thư giãn, bắt đầu từ các ngón chân và nhích dần lên.
    Lúc lên đến bụng, cô thấy đã đủ bình tĩnh để thực hiện vai trò của một người quan sát. Chủ vũ trường - và kiến trúc sư của họ - đã tận dụng rất tốt không gian nhà kho, kết hợp phong cách công nghiệp đô thị với những đường ống lộ thiên, những bức tường gạch cũ. Những chi tiết thép không gỉ - quầy rượu, bàn, ghế tựa, ghế cao - phản chiếu lại ánh đèn nhấp nháy - một xung động nữa, cô nghĩ thầm, khớp với tiếng nhạc.
    Phần cầu thang sắt lộ thiên ở một bên hông dẫn thẳng lên gác hai. Người ta bu kín tay vịn chỗ đó, hay chen chúc quanh những chiếc bàn. Chắc chắn có một quầy rượu thứ hai trên tầng đó, cô nghĩ. Đồ uống là lợi nhuận mà.
    Dưới này, trên một nền cao khá rộng, bên dưới ánh đèn nhấp nháy, DJ đang làm việc. Một quan sát viên nữa, Elizabeth khẳng định. Chễm chệ trong một vị trí đầy quyền lực vinh dự, nơi anh ta có thể nhìn thấy cả đám đông. Mái tóc dài sẫm màu của anh ta tung bay trong lúc anh ta làm việc. Anh ta mặc một chiếc áo phông có họa tiết. Từ khoảng cách này, cô không tài nào nhận ra họa tiết gì, nhưng cái màu cam chói lọi tương phản hẳn với nền vải đen.
    Ngay bên dưới vị trí vắt vẻo của anh ta, vài cô gái uốn éo, lắc lư hông như để mời gọi bạn nhảy.
    Bình tĩnh lại, cô chú ý đến tiếng nhạc. Cô thích loại nhạc này - nhịp mạnh, lặp đi lặp lại; tiếng trống nện; tiếng kim loại rít chói lói của đàn ghi ta. Và cô thích cái cách mà những vũ công khác nhau lựa chọn để di chuyển theo tiếng nhạc. Người thì cánh tay giơ trong không khí, người thì cánh tay lại khuỳnh ra như võ sĩ, khuỷu tay thúc mạnh, những bàn chân bám chặt, nhưng cũng có bàn chân nhấc hẳn lên.
    “Ăn mừng nào.” Julie đặt mấy ly martini đựng đầy thứ chất lỏng màu hồng lên bàn trước khi ngồi xuống. “Tớ suýt đánh đổ mấy thứ này lúc quay lại, mà như thế thật phí của. Mỗi ly mất tám đô đấy.”
    “Đồ uống có cồn đem lại nguồn lợi nhuận lớn nhất trong các vũ trường và quán rượu.”
    “Tớ cũng đoán thế. Nhưng chúng đáng tiền mà. Tớ đã uống một ít rồi, giống như vỡ òa ấy!” Cô cười, ghé sát lại. “Bọn mình cần nhâm nhi cho tới khi tìm được vài gã mua đồ uống cho bọn mình.”
    “Sao họ lại mua đồ uống cho bọn mình?”
    “Trời ạ. Bọn mình xinh đẹp, bọn mình lại chưa có ai. Uống một chút đi, Liz, rồi ra chỗ kia và thể hiện bản lĩnh thôi.”
    Elizabeth ngoan ngoãn nhấp một chút. “Được đấy.” Để kiểm nghiệm, cô nhấp thêm một ngụm nữa. “Và rất ngon.”
    “Tớ muốn chơi tới bến luôn? Này, tớ thích bài này. Đến lúc nhảy rồi.”
    Lại một lần nữa, Julie nắm lấy tay Elizabeth.
    Khi đám đông khép vòng vây quanh cô, Elizabeth nhắm nghiền mắt lại. Chỉ có tiếng nhạc thôi, cô nghĩ bụng. Chỉ có tiếng nhạc thôi.
    “Này, nhảy đẹp đấy.”
    Elizabeth thận trọng mở mắt ra, chăm chú nhìn Julie.
    “Sao cơ?”
    “Tớ cứ sợ cậu bị xem là ngố, Liz ạ. Nhưng cậu vừa có mấy động tác. Cậu biết nhảy đấy,” Julie khen ngợi.
    “Ôi. Nhạc này được viết để kích thích mà. Đơn giản chỉ là cách phối hợp chân và hông. Và bắt chước. Tớ đã nhìn người khác nhảy rất nhiều rồi.”
    “Cậu nói sao cũng được mà, Liz.”
    Elizabeth rất thích đánh hông. Giống như với giày cao gót, việc này giúp cô có cảm giác mạnh mẽ, và chiếc váy cọ xát lên da cô càng làm tăng thêm yếu tố nhục dục. Những ánh đèn làm cho mọi thứ trở nên siêu thực, và bản thân tiếng nhạc dường như nuốt chửng tất cả mọi thứ.
    Tâm trạng khó chịu với đám đông của cô đã giảm hẳn, cho nên khi Julie nhún nhảy hông theo cô, cô cười rất vui.
    Họ nhảy, và tiếp tục nhảy quay về chiếc bàn nhỏ xíu của mình, họ uống Cosmos, và khi có một nhân viên phục vụ đi qua, Elizabeth không ngần ngại gọi thêm.
    “Nhảy làm tớ thấy khát lắm,” cô nói với Julie.
    “Tớ thấy hơi biêng biêng rồi. Và anh chàng đằng kia cứ dán mắt vào bọn mình suốt. Đừng, đừng nhìn!”
    “Làm sao tớ thấy được anh ta nếu tớ không nhìn chứ?”
    “Nghe tớ tả này, anh ta ổn lắm. Tớ sẽ nhìn anh ta và hất tóc, sau đó cậu, thật tình cờ thôi nhé, xoay ghế của cậu. Anh ta tóc màu vàng, hơi quăn. Anh ta mặc áo phông bó màu trắng và áo khoác đen cùng quần bò.”
    “Ồ đúng, lúc trước tớ đã nhìn thấy anh ta, chỗ quầy rượu. Anh ta nói chuyện với một phụ nữ. Cô ta tóc dài, vàng óng, mặc váy hồng tươi để lộ khe ngực rất rõ. Bên tai trái anh ta đeo khuyên vàng, còn ngón giữa bàn tay phải đeo nhẫn vàng.”
    “Chúa ơi, cậu đúng là có mắt sau gáy, đúng như kiểu của mẹ tớ thì phải? Làm sao cậu biết trong khi cậu chưa hề nhìn?”
    “Tớ đã thấy anh ta, chỗ quầy rượu,” Elizabeth nhắc lại. “Tớ chú ý đến anh ta vì người phụ nữ tóc vàng có vẻ rất cáu với anh ta. Tớ có trí nhớ thị giác nên nhớ lại ngay.”
    “Có hại không?”
    “Không, đó không phải là một chứng bệnh gì cả. Ôi.” Hơi đỏ mặt, Elizabeth nhún vai. “Cậu lại đùa rồi. Thường người ta vẫn gọi là trí nhớ hình ảnh, nhưng như thế là không chính xác, vì nó liên quan đến thị giác nhiều hơn.”
    “Sao cũng được. Sẵn sàng đi.”
    Nhưng Elizabeth quan tâm đến Julie hơn - ánh mắt, kèm theo một nụ cười bí hiểm, chậm rãi và một cái đảo mắt dưới hàng mi. Tiếp sau động tác này là một cái lắc và hất đầu rất nhanh khiến tóc Julie tung lên rồi lại buông xuống.
    Khiếu bẩm sinh chăng? Hay đó là cách hành xử học được? Một sự kết hợp cả hai chăng? Trong trường hợp nào thì Elizabeth cũng nghĩ cô có thể bắt chước được, mặc dù cô không còn tóc để hất nữa.
    “Đã nhận được thông điệp rồi. Ôi, anh ấy có nụ cười đáng mến làm sao. Ôi trời, anh ấy đang tiến lại. Đúng là anh ấy đang tiến lại.”
    “Nhưng cậu muốn anh ta làm vậy mà. Đó là lý do cậu... Phát thông điệp đi.”
    “Ừ, nhưng - tớ cá anh ấy ít nhất cũng phải hai mươi tư. Tớ cá đấy. Theo chỉ dẫn của tớ nhé.”
    “Xin lỗi hai em?”
    Elizabeth ngước lên cùng lúc với Julie nhưng không vội mỉm cười. Cô cần thực hành trước.
    “Anh băn khoăn không biết các em có giúp anh một việc được không.”
    Julie thực hiện động tác hất tóc. “Cũng có thể.”
    “Anh lo lắng là trí nhớ của anh kém đi bởi vì anh chưa bao giờ bỏ nhãng một phụ nữ xinh đẹp cả, nhưng anh lại không nhớ nổi cả hai em. Chắc các em sẽ bảo anh rằng các em chưa từng đến đây.”
    “Lần đầu tiên đấy.”
    “À, thảo nào.”
    “Em đoán anh rất thường đến đây.”
    “Tất cả các tối. Đây là vũ trường của anh - thế thôi,” anh ta nói kèm một nụ cười rạng rỡ, “Anh rất chú ý đến nó.”
    “Anh là một trong hai Volkov à?” Elizabeth nói mà chẳng cần nghĩ, sau đó cảm thấy tim mình đập nhanh khi anh ta hướng cặp mắt xanh biếc vào mình.
    “Alex Gurevich. Anh họ.”
    “Julie Masters.” Julie chìa tay ra, Alex nắm lấy, hôn rất kiểu cách lên các khớp tay. “Còn bạn em là Liz.”
    “Chào mừng tới Warehouse 12. Các em thấy hài lòng chứ?”
    “Nhạc tuyệt lắm.”
    Khi người phục vụ mang đồ uống lại, Alex với lấy phiếu thanh toán trong khay. “Phụ nữ xinh đẹp lần đầu đến vũ trường của anh không được phép mua đồ uống.”
    Dưới gầm bàn, Julie thúc vào chân Elizabeth trong khi cười tươi với Alex. “Vậy thì anh sẽ phải nhập bọn với bọn em.”
    “Anh rất mong vậy.” Anh ta thì thầm gì đó với nhân viên phục vụ. “Các em đã thăm thú Chicago chưa?”
    “Dân thổ địa rồi,” Julie đáp lời anh ta, uống một ngụm rượu lớn. “Cả hai bọn em. Bọn em về nhà nghỉ hè. Bọn em học ở Harvard.”
    “Harvard à?” Anh ta nghiêng đầu, ánh mắt kinh ngạc. “Xinh đẹp và thông minh. Anh thấy yêu rồi đấy. Nếu các em biết nhảy nữa thì anh bái phục luôn.”
    Julie uống thêm ngụm nữa. “Anh thua chắc rồi.”
    Anh ta cười, chìa hai tay ra. Julie nắm lấy một tay, đứng dậy.
    “Lên nào, Liz. Cho anh ấy thấy hai cô gái Harvard là như thế nào nào.”
    “Ơ, nhưng anh ấy muốn nhảy với cậu mà.”
    “Cả hai.” Alex vẫn chìa tay ra. “Như thế anh thành người đàn ông may mắn nhất trong gian phòng này.”
    Cô vừa định từ chối thì Julie đã đánh mắt với cô lần nữa từ phía sau lưng
    Alex, kèm theo rất nhiều động tác đảo mắt, nhíu mày, nhăn mặt. Vậy là cô cầm lấy tay anh ta.
    Thực tế anh ta không mời cô nhảy, nhưng Elizabeth đánh giá cao phong cách của anh ta khi anh ta đã không để cô ngồi lại một mình ở bàn. Cô cố gắng hòa nhập mà không gây trở ngại. Nhưng không thành vấn đề, cô thích nhảy nhót. Cô thích tiếng nhạc. Cô thích những tiếng ồn ào nổi lên quanh mình, những chuyển động, các loại mùi.
    Elizabeth mỉm cười, không cần phải thực hành, chỉ cần nhích môi một cách thật tự nhiên. Alex nháy mắt và cười nhăn nhở với cô khi anh ta đặt tay lên hông Julie.
    Sau đó anh ta hất cằm ra hiệu về phía ai đó phía sau cô.
    Thậm chí cô chưa kịp quay lại nhìn, đã có ai đó nắm lấy tay cô xoay tròn cô rất nhanh khiến cô gần như suýt ngã.
    “Lúc nào cũng thế, thằng anh họ tôi luôn tham lam. Nó có đến hai em trong khi tôi chẳng có ai cả.” Chất Nga ào ạt tuôn ra qua giọng nói. “Trừ phi em thấy thương hại và nhảy với anh.”
    “Em...”
    “Đừng nói không chứ, quý cô xinh đẹp.” Anh ta kéo tuột cô lại gần. “Chỉ là một điệu nhảy thôi mà.”
    Cô chỉ còn biết ngước nhìn lên. Anh ta cao, cơ thể anh ta rắn chắc áp lấy cô.
    Trong khi Alex trắng trẻo thì anh chàng này lại ngăm ngăm - mái tóc lượn sóng, đôi mắt gần như đen khác hẳn nước da kia. Khi anh ta mỉm cười với cô, trên má anh ta thấp thoáng lúm đồng tiền. Tim cô đập rộn và run rẩy trong lồng ngực.
    “Anh thích váy của em đấy,” anh ta nói.
    “Cảm ơn anh. Hàng mới đấy ạ.”
    Nụ cười của anh ta như rộng thêm. “Lại đúng màu anh thích. Anh là Ilya.”
    “Em là... Liz. Em là Liz. Ừm. Priyatno poznakomit’sya[4].”
    “Anh cũng rất vui được gặp em. Em nói được tiếng Nga.”
    “Vâng. Nhưng chỉ một chút thôi. Ừm.”
    “Một cô gái xinh đẹp mặc đúng màu anh ưa thích lại biết nói tiếng Nga. Tối nay anh thật là may mắn.”
    Không, Liz nghĩ, trong khi, vẫn giữ cô sát mình, anh ta nâng bàn tay cô lên môi mình. Ôi, không. Phải là buổi tối may mắn của cô mới đúng chứ.
    Đây là buổi tối tuyệt vời nhất trong đời cô.
    Chú thích:
    [1]
    [4]
    #2
      Thanh Vân 29.11.2023 19:12:42 (permalink)

      3


      Họ tiến lại một ô ghế. Mọi việc diễn ra thật suôn sẻ, không một chút cấn cá, cứ như có phép màu vậy. Kỳ diệu như ly nước màu hồng rất đẹp xuất hiện trước mặt cô.
      Cô là nàng Lọ Lem trong buổi khiêu vũ, và thời khắc nửa đêm thì còn xa lắc xa lơ.
      Khi họ ngồi xuống, anh ta ngồi sát lại, mắt không thôi nhìn gương mặt cô, cơ thể anh nghiêng về phía cô như thể đám đông và tiếng nhạc không hề hiện diện. Anh ta chạm vào cô trong lúc nói, và mỗi lần những ngón tay của anh ta lướt trên mu bàn tay, cánh tay hay vai cô đều khiến cô thấy run rẩy.
      “Thế em học gì ở Harvard?”
      “Em học trường y.” Điều đó sẽ không đúng, cô thầm hứa với mình, nhưng lúc này thì vẫn đúng.
      “Làm bác sĩ. Thế phải mất nhiều năm lắm nhỉ? Em sẽ trở thành bác sĩ chuyên khoa gì?”
      “Mẹ muốn em nối nghiệp trong ngành phẫu thuật thần kinh.”
      “Tức là bác sĩ phẫu thuật não à? Một vị trí rất quan trọng.” Một đầu ngón tay anh ta lướt nhẹ xuống thái dương cô. “Vậy chắc em học giỏi lắm.”
      “Vâng. Rất giỏi ạ.”
      Anh ta cười như thể cô vừa nói gì đó rất quyến rũ. “Hiểu về mình thế là rất tốt. Em nói việc này là ý mẹ em muốn. Thế không phải là em muốn à?”
      Cô nhấp một ngụm, và nghĩ anh ta cũng rất thông minh - hay ít nhất cũng sắc sảo. “Không, không nhiều lắm.”
      “Vậy thì em muốn thành bác sĩ ngành gì?”
      “Em không muốn làm bác sĩ tí nào.”
      “Không á? Vậy làm gì?”
      “Em muốn làm việc trong lĩnh vực tội phạm mạng cho FBI.”
      “FBI à?” Đôi mắt đen của anh ta mở to.
      “Vâng. Em muốn điều tra tội phạm công nghệ cao, gian lận máy tính - khủng bố, lạm dụng tình dục. Đây là một lĩnh vực quan trọng thay đổi hằng ngày khi công nghệ phát triển. Càng có nhiều người sử dụng và phụ thuộc vào máy tính cùng đồ điện tử thì nhân tố tội phạm sẽ càng lợi dụng sự phụ thuộc đó. Trộm cắp, lạm dụng lòng tin, ấu dâm, thậm chí cả khủng bố.”
      “Đây là đam mê của em?”
      “Em... Em nghĩ vậy.”
      “Vậy thì em phải theo đuổi. Chúng ta phải luôn theo đuổi đam mê của mình, phải không?” Khi bàn tay anh ta lướt qua đầu gối cô, một làn hơi ấm êm dịu, chầm chậm lan khắp bụng cô.
      “Em chưa làm.” Đây là đam mê ư? Cô tự hỏi. Cái cảm giác ấm áp êm dịu chầm chậm này ấy? “Nhưng em muốn bắt đầu.”
      “Em cần tôn trọng mẹ, nhưng bà ấy cũng phải tôn trọng em. Một phụ nữ đã trưởng thành. Và người mẹ nào chẳng muốn con mình hạnh phúc.”
      “Mẹ không muốn em hoài phí trí tuệ của mình.”
      “Nhưng trí tuệ là của em mà.”
      “Em cũng bắt đầu thấy tin điều đó. Anh đang học đại học à?”
      “Anh học xong rồi. Giờ anh tham gia kinh doanh cùng gia đình. Việc ấy khiến anh thấy rất vui.” Anh ta ra hiệu cho một nhân viên phục vụ tiếp thêm đồ uống trong khi Elizabeth còn chưa kịp nhận ra ly của mình đã gần như cạn sạch.
      “Vì đó là đam mê của anh?”
      “Chắc là vậy. Anh theo đuổi những đam mê của mình - như thế này.”
      Anh ta định hôn cô. Trước đây cô chưa hề được hôn, nhưng cô vẫn thường xuyên hình dung về nó. Cô phát hiện ra rằng trí tưởng tượng không phải là thế mạnh của mình.
      Cô biết rằng hôn truyền những thông tin sinh học qua các pheromone[5], tức là hành động ấy kích thích các đầu dây thần kinh có rất nhiều ở môi, lưỡi. Nó gây ra một phản ứng hóa học - một phản ứng dễ chịu giải thích vì sao hôn lại là một phần trong văn hóa nhân loại, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi.
      Nhưng cô nhận ra rằng được hôn lại là vấn đề hoàn toàn khác so với việc chỉ thuộc lý thuyết về hoạt động này.
      Môi anh ta mềm và êm ái, khe khẽ chạm lên môi cô, từ từ áp lại, tăng dần khi bàn tay anh ta trượt từ môi cô xuống lồng ngực. Tim cô như nhảy tung lên lòng bàn tay anh ta trong khi lưỡi anh lách nhẹ qua môi cô, hững hờ lướt trên lưỡi cô.
      Hơi thở cô tắc lại, rồi bật ra cùng với một âm thanh không chủ tâm, gần như đau đớn - và thế giới quay cuồng.
      “Thật ngọt ngào,” anh ta thì thầm, thấy rõ cả sự rung động của những lời ấy phả lên môi cô, hơi thở ấm áp của anh ta trong miệng cô, tạo thành một cơn rùng mình chạy dọc theo sống lưng cô.
      “Rất ngọt ngào.” Răng anh ta lướt qua môi dưới của cô khi anh lùi lại, ngắm nhìn cô. “Anh thích em.”
      “Em cũng thích anh. Em thích hôn anh.”
      “Vậy thì mình làm lại nhé, trong lúc khiêu vũ.” Anh kéo cô đứng lên, lại áp môi mình và môi cô. “Em không hề - từ gì, từ gì nhỉ... tẻ nhạt. Đúng là từ này. Khác hẳn rất nhiều phụ nữ đến đây nhảy nhót, bù khú và cợt nhả với đàn ông.”
      “Em không có nhiều trải nghiệm với những việc đó.”
      Đôi mắt đen ánh lên trong ánh đèn nhấp nhoáng. “Vậy thì những anh chàng khác không may mắn bằng anh rồi.”
      Elizabeth liếc nhìn lại phía Julie khi Ilya kéo cô ra sàn nhảy và nhận thấy cô bạn mình cũng đang được hôn. Không hề nhẹ nhàng, không hề chậm rãi, nhưng dường như Julie thích điều đó, đúng ra là tự nguyện hoàn toàn. Rồi Ilya kéo cô vào vòng tay mình, lắc lư cùng với cô khác hẳn tất cả những người khác xoay tít hay giật đùng đùng. Chỉ nhẹ nhàng lắc lư trong khi miệng anh lại áp gần miệng cô.
      Cô thôi không nghĩ về những phản ứng hóa học và đầu dây thần kinh nữa. Thay vào đó, cô đã gắng hết mình để nhập cuộc hoàn toàn. Bản năng nâng hai tay cô nên vòng quanh cổ anh. Khi cô cảm nhận được thay đổi trong anh, một thứ cứng ngắc áp vào cô, cô biết đó là một phản ứng vật lý vô thức rất bình thường. Nhưng cô cũng biết điều kỳ diệu của phản ứng ấy. Chính cô tạo ra phản ứng ấy. Anh ta muốn cô, trong khi chưa có ai như vậy cả.
      “Những thứ em gây cho anh,” anh ta thì thầm vào tai cô. “Vị của em, mùi hương của em.”
      “Pheromone đấy mà.”
      Ilya cúi nhìn cô, nhíu mày. “Gì cơ?”
      “Không có gì đâu.” Cô áp mặt mình vào vai anh.
      Cô biết chất cồn làm giảm khả năng phán đoán của mình, nhưng cô chẳng bận tâm. Thậm chí biết rằng lý do cô không bận tâm chính là vì sự giảm sút ấy, cô vẫn ngước mặt nên lần nữa. Lần này cô chủ động hôn.
      “Chúng ta ngồi nghỉ đi,” anh ta nói sau một lúc lâu. “Em làm hai đầu gối anh nhũn ra rồi.”
      Anh ta nắm lấy tay cô khi họ quay trở lại bàn.
      Julie, hai mắt long lanh, gương mặt đỏ bừng, bật dậy. Cô lảo đảo một lúc, cười to, rồi vớ lấy ví của mình.
      “Bọn em sẽ quay lại. Đi nào, Liz.”
      “Đi đâu?”
      “Đâu được nữa? Vệ sinh nữ.”
      “Ôi. Tớ xin lỗi.”
      Julie khoác tay cô để giữ thăng bằng và cũng thêm thân tình. “Ôi lạy Chúa. Cậu có tin nổi không? Chúng mình kiếm được những anh chàng nổi nhất vũ trường này. Chúa ơi, các chàng gợi tình quá. Và chất giọng anh chàng của cậu nữa. Tớ ước gì chàng của tớ cũng có chất giọng ấy, nhưng anh ấy hôn tuyệt hơn Darryl nhiều. Thực tế anh ấy là chủ vũ trường, Liz ạ, và hình như có hẳn một ngôi nhà bên hồ. Tất cả bọn mình sẽ rời khỏi đây và đến đó.”
      “Tới nhà anh ấy à? Cậu nghĩ bọn mình nên làm thế không?”
      “Ôi, nên chứ.” Julie mở bung cửa phòng vệ sinh, nhìn cả dãy buồng. “Tớ phải đi vệ sinh! Tớ thấy quay cuồng! Anh chàng của cậu thế nào - anh ấy hôn có tuyệt không? Tên anh ấy là gì ý nhỉ?”
      “Ilya. Có, anh ấy rất tuyệt. Tớ thích anh ấy, rất thích, nhưng tớ không dám chắc bọn mình có nên đi với họ tới nhà Alex không.”
      “Ôi, đơn giản đi, Liz. Cậu không thể làm tớ mất hứng được. Tớ sẽ làm việc ấy với Alex, và tớ không thể đi đến đó với một mình anh ấy - không làm thế trong lần hẹn hò đầu tiên. Cậu không phải làm việc ấy với Ilya nếu cậu vẫn còn trinh trắng.”
      “Làm tình là việc làm cần thiết và tự nhiên, không chỉ để sinh sản mà, ở con người còn để đạt khoái cảm và bớt căng thẳng.”
      “Được đấy.” Julie huých cô. “Vậy là cậu đừng có nghĩ tớ là đứa hư hỏng vì làm việc ấy với Alex nhé?”
      “Xã hội phụ quyền sản sinh ra một kết quả phụ rất đáng ghét là phụ nữ bị xem như hư hỏng hoặc mạt hạng nếu quan hệ tình dục để có khoái cảm trong khi đàn ông thì được xem là đầy sức sống. Trinh bạch không phải là một giải thưởng cần phải giành giật hay tước bỏ. Màng trinh không hề có các đặc tính trao thưởng, và cũng không đem lại sức mạnh. Phụ nữ cần - ồ không, phải mới đúng - được phép theo đuổi sự hài lòng về tình dục của chính họ, cho dù sinh sản có phải là mục tiêu hay mối quan hệ có lành mạnh một vợ một chồng hay không, giống như nam giới được tự do làm việc đó.”
      Một phụ nữ tóc đỏ cao lênh khênh hất tóc rồi cười tươi với Elizabeth khi đi ngang qua. “Hát đi, em gái.”
      Elizabeth ghé sát lại Julie khi người phụ nữ kia đi ra ngoài. “Sao tớ lại phải hát?” cô thì thào.
      “Chỉ là một kiểu diễn đạt thôi. Cậu biết không, Liz, tớ đã ra hiệu cho cậu làm động tác bắt tréo chân, đừng đụng chạm từ thắt lưng trở xuống và chỉ trên bề mặt quần áo thôi.”
      “Chuyện thiếu kinh nghiệm cũng chẳng làm tớ thành người đoan trang đâu.”
      “Đúng rồi đấy. Cậu biết không, tớ đã nghĩ tớ sẽ bỏ mặc cậu một mình khi bọn mình vào được bên trong và tớ đi câu mồi, nhưng cậu rất thú vị - mặc dù cậu nói năng cứ như một bà giáo ấy. Liz à, tớ xin lỗi vì đã có lúc suy nghĩ như vậy nhé.”
      “Không sao mà. Không có gì đâu. Tớ biết tớ không giống như bạn bè của cậu.”
      “Này.” Julie vòng một cánh tay quanh vai Elizabeth và ghì lấy. “Giờ thì cậu là bạn của tớ rồi, phải không?”
      “Tớ mong vậy. Tớ chưa bao giờ...”
      “Ôi, tốt quá.” Vừa nhiệt thành bật lên câu đó, Julie lảo đảo lao bổ vào một buồng vệ sinh để ngỏ. “Vậy bọn mình sẽ đến nhà Alex chứ?”
      Elizabeth nhìn quanh nhà vệ sinh đông nghịt người. Người nào cũng đang trang điểm và sửa sang lại tóc tai, xếp hàng đợi tới lượt, cười đùa, trò chuyện.
      Có lẽ cô là trinh nữ duy nhất trong khu vực này.
      Trinh tiết không phải là một giải thưởng, cô tự nhắc mình. Cho nên nó cũng không phải là một gánh nặng. Đó là thứ cô tự quyết định giữ hay để mất. Lựa chọn của cô. Cuộc sống của cô.
      “Liz?”
      “Ừ.” Hít một hơi cho vững tâm, Liz bước lại phía buồng trống bên cạnh. “Ừ,” cô đáp lại lần nữa. Cô khép cửa lại, và cả hai mắt. “Bọn mình sẽ đi. Cùng nhau.”
       
      Bên bàn, Ilya nâng ly bia lên. “Hai con bé này mà hai mươi mốt thì tôi phải sáu mươi.”
      Alex chỉ cười, nhún vai. “Cũng gần đến rồi. Và con bé của anh đang khát trai, tin anh đi.”
      “Nó say rồi, Alexi.”
      “Vậy thì sao? Anh có đổ rượu vào họng nó đâu. Anh muốn chút thịt tươi thôi mà, và tối nay anh sẽ chơi gái bỏ mẹ luôn. Đừng có nói là cậu không ủ mưu đốn đổ em gái ngăm ngăm kia, ông em nhé.”
      “Con bé rất ngon.” Một nụ cười nhếch ra trên miệng Ilya. “Cũng chỉ là một em chanh cốm thôi mà. Nó không say bằng con bé của anh. Nếu con bé sẵn lòng, tôi sẽ đưa nó lên giường. Tôi thích suy nghĩ của nó.”
      Alex chúm môi. “Khó tin quá nhỉ.”
      “Không, tôi nói thật đấy. Nó có thêm chút gì đó.” Gã liếc quanh. Quá giống nhau, gã nghĩ về những người phụ nữ qua lại, quá dễ đoán ra. “Tươi mới - từ này mới đúng.”
      “Con bé tóc vàng đang rất hứng nên chúng ta sẽ về chỗ anh. Cả nhóm. Nó nói nó sẽ không đi trừ phi bạn nó đi cùng. Cậu có thể dùng phòng trống.”
      “Tôi thích ở chỗ tôi hơn.”
      “Nào, hoặc cả hai đứa hoặc chẳng đứa nào hết. Anh không bỏ công suốt hai tiếng đồng hồ cho con bé phè phỡn rồi để nó vác đít biến khỏi đây chỉ vì cậu không kết thúc được thỏa thuận với cô bạn.”
      Mắt Ilya đanh lại nhìn ly bia. “Tôi có thể thỏa thuận được.”
      “Thế cậu định sẽ kết thúc ở chỗ nào, ông em? Cái căn hộ chó ỉa cậu đang trú ngụ hay căn nhà bên hồ của anh?”
      Ilya hẩy vai. “Tôi thích không gian giản dị của tôi, nhưng không sao. Chúng ta sẽ đến chỗ anh. Không thuốc nhé, Alexi.”
      “Ôi trời ạ.”
      “Không thuốc.” Ilya nghiêng vào, xỉa một ngón tay lên bàn. “Anh phải duy trì mọi việc hợp pháp. Chúng ta chưa biết bọn nó, nhưng con bé của tôi, theo tôi nghĩ, sẽ không chịu đâu. Nó nói nó muốn làm cho FBI.”
      “Cậu chơi anh rồi.”
      “Không. Không thuốc, Alexi, hoặc tôi không đi - và anh không được chơi gái.”
      “Được rồi. Bọn nó quay lại kìa.”
      “Đứng lên.” Ilya đá Alex dưới gầm bàn. “Phải làm như anh là một người đàn ông lịch lãm.”
      Gã đứng lên, chìa một tay ra đón Liz.
      “Bọn em muốn ra khỏi đây,” Julie tuyên bố, vòng tay quanh người. “Bọn em rất thích thăm nhà anh.”
      “Vậy thì chúng ta sẽ làm như vậy. Chẳng có gì ngăn cản được một bữa tiệc riêng tư.”
      “Việc này với em ổn chứ?” Ilya thì thầm khi họ đi ra.
      “Vâng. Julie rất muốn đi, mà bọn em đi cùng nhau, cho nên...”
      “Không, anh không hỏi những gì Julie muốn. Anh hỏi em có muốn hay không kìa.”
      Cô nhìn gã, cảm nhận rõ một tiếng thở phào và tâm trạng náo nức. Điều đó có ý nghĩa với anh ấy, những gì cô muốn. “Vâng. Em muốn đi với anh.”
      “Thế thì tốt.” Gã cầm lấy tay cô, áp lên ngực mình khi họ len qua đám đông. “Anh muốn ở bên em. Và em có thể kể thêm cho anh nghe về em. Anh muốn biết mọi thứ về em.”
      “Julie nói đám con trai - à quên đám đàn ông - chỉ muốn nói về bản thân họ thôi.”
      Gã cười, vòng tay ôm lấy eo cô. “Vậy làm sao họ biết được về những người phụ nữ quyến rũ chứ?”
      Khi họ ra đến cửa, một người đàn ông mặc complet tiến đến, vỗ vào vai Ilya.
      “Chờ anh một phút thôi,” Ilya nói với Liz rồi bước sang bên.
      Cô không nghe được gì nhiều, và lại bằng tiếng Nga. Nhưng nhìn nghiêng Ilya, cô vẫn thấy anh ta không hài lòng với những gì nghe được.
      Tuy vậy cô biết chắc rằng cái cụm từ chyort vozmi[6] mà anh ta bật ra là một câu chửi thề. Anh ta ra hiệu cho người kia đợi, sau đó dẫn Liz ra ngoài, nơi Alex và Julie đợi sẵn.
      “Anh có việc phải giải quyết. Anh xin lỗi.”
      “Không sao. Em hiểu mà.”
      “Vớ vẩn quá, Ilya, để người khác giải quyết đi.”
      “Chuyện làm ăn,” Ilya nói nhanh. “Không lâu đâu - không quá một tiếng đâu. Em đi cùng với Alexi và bạn em đi. Anh sẽ đến ngay khi xong việc.”
      “Ôi, nhưng...”
      “Nào, Liz, sẽ ổn thôi mà. Cậu có thể đợi anh Ilya ở nhà Alex. Anh ấy có mọi loại nhạc - và một cái TV màn hình phẳng.”
      “Em đợi nhé.” Ilya cúi xuống, hôn Elizabeth thật lâu và nồng nàn. “Anh sẽ đến sớm. Lái xe cẩn thận đấy, Alexi. Anh có chuyến hàng rất quý giá.”
      “Giờ anh có hai người phụ nữ xinh đẹp.” Không muốn bỏ mất động lực, Alex nắm lấy tay cả hai cô gái. “Ilya cứ quan trọng hóa mọi việc. Anh thích tiệc tùng. Chúng ta còn trẻ việc gì phải nghiêm trọng hóa.”
      Một chiếc SUV màu đen trờ tới lề đường. Alex ra hiệu, rồi bắt lấy chìa khóa người phục vụ vừa thảy cho. Anh ta mở cửa xe. Theo phép lịch sự, Liz leo lên ghế sau. Cô đăm đăm nhìn khuôn cửa vũ trường, nghển cổ nhìn nó mãi kể cả khi Alex đã phóng đi, trong khi Julie hát theo tiếng nhạc trên xe.
       
      Mọi việc không ổn nữa. Không có Ilya, cảm giác phấn khích giảm dần, khiến mọi thứ trở nên nhạt nhẽo và u ám. Kết hợp với rượu, ngồi ở ghế sau ô tô khiến cô thấy mệt. Nôn nao, và bỗng nhiên vô cùng mệt mỏi, cô tựa đầu vào cửa sổ bên.
      Họ không cần đến cô, Elizabeth nghĩ thầm. Cả Julie và Alex đều hát và cười cợt. Anh ta lái xe quá nhanh, mỗi lần rẽ lại khiến ruột gan cô muốn vọt ra. Cô sẽ không bị say. Ngay cả khi khắp người cô nóng bừng bừng, cô vẫn cố bắt mình phải thở, chậm và đều. Cô sẽ không tự làm bẽ mặt mình vì bị say ở ghế sau chiếc SUV của Alex.
      Cô hạ bớt cửa kính xuống vài phân, để cho không khí ùa lên mặt. Cô muốn nằm xuống, muốn ngủ. Chắc cô đã uống quá nhiều, và đây lại là một phản ứng hóa học khác. Và không hề dễ chịu như một nụ hôn.
      Cô tập trung vào việc hít thở, vào không khí lùa qua mặt, vào những căn nhà, chiếc xe, đường phố. Bất kỳ thứ gì trừ đầu óc và bụng dạ đang quay cuồng của cô.
      Khi anh ta cho xe vòng vào đường Lake Shore, cô nghĩ họ khá gần, một cách tương đối, nhà cô ở công viên Lincoln. Nếu cô về được nhà, cô có thể nằm nghỉ trong yên tĩnh, ngủ để quên cơn buồn nôn và cái đầu quay cuồng. Nhưng khi Alex chạy đến một căn nhà hai tầng cũ, cô nghĩ ít nhất cô cũng có thể ra khỏi xe, đứng trên mặt đất vững chãi.
      “Khung cảnh rất tuyệt,” Alex nói khi cùng Julie ra khỏi xe. “Anh đã nghĩ đến chuyện mua một phần đất còn lại chung[7], nhưng anh thích riêng tư. Có không gian rộng rãi để tiệc tùng ở đây, và không ai phàn nàn chuyện nhạc nhẽo quá to.”
      Julie loạng choạng, cười ha hả trong khi Alex tóm lấy cô ta và đưa tay bóp mạnh mông cô.
      Elizabeth lẽo đẽo theo sau như một kẻ thừa nôn nao khổ sở.
      “Anh sống một mình ở đây,” cô gắng gượng.
      “Đủ không gian cho cả một đại đội.” Anh ta mở cửa trước, làm hiệu. “Ưu tiên phụ nữ.”
      Và anh ta chớt nhả vỗ vào mông Elizabeth khi cô bước vào.
      Cô muốn nói với anh ta rằng anh ta có một căn nhà đẹp, nhưng thực tế và mọi thứ quá rực rỡ, quá mới, quá hiện đại. Tất cả đều có cạnh sắc, bề mặt sáng bóng và bọc da hào nhoáng. Một quầy rượu đỏ rực, một cái sofa bọc da đen to tướng và một cái TV treo tường vật vã choán hết cả phòng khách, trong khi những khuôn cửa và cửa sổ lắp kính dẫn tới một hiên trời mới là điểm nhấn chính yếu.
      “Ôi trời, em mê nơi này rồi.” Julie lập tức nhảy chồm lên, dang rộng chân tay. “Ăn chơi quá.”
      “Ý tưởng là vậy đấy, cưng.” Anh ta nhặt một thiết bị điều khiển từ xa, bấm nút và cả căn phòng tràn ngập tiếng nhạc ầm ĩ. “Anh đi chuẩn bị đồ uống cho em.”
      “Anh biết pha Cosmos không?” Julie hỏi anh ta. “Em chỉ thích Cosmos thôi.”
      “Anh sẽ chiều em.”
      “Cho em một ít nước được không?” Elizabeth đề nghị.
      “Ôi, Liz, đừng phá đám thế chứ.”
      “Tớ thấy khát nước.” Và cô đang cần thêm không khí nữa. “Em ngắm nghía bên ngoài có được không?” Cô bước lại phía cánh cửa ra hiên trời.
      “Cứ tự nhiên. Mi casa es suca.[8]
      “Em muốn nhảy!”
      Trong khi Julie lảo đảo ngồi dậy, bắt đầu nhún nhảy và quay cuồng thì Elizabeth kéo cửa mở và thoát ra ngoài. Cô hình dung khung cảnh sẽ rất tuyệt nhưng hóa ra mọi thứ đều nhòe nhoẹt khi cô lê bước đến bên lan can, tựa vào đó.
      Họ đã làm gì không biết? Họ đã uống gì không biết? Đây đúng là một sai lầm. Một sai lầm hấp tấp và ngu ngốc. Họ phải về. Cô phải thuyết phục Julie ra về.
      Nhưng thậm chí trong tiếng nhạc ầm ĩ, cô vẫn có thể nghe thay tiếng cười lạc đi vì Cosmos của Julie.
      Có lẽ cô nên ngồi nghỉ ở ngoài này vài phút, đợi cho đầu óc tỉnh táo lại, dạ dày ổn định. Sau đó cô có thể nói rằng mẹ cô gọi về. Thêm một lời nói dối nữa trong cả buổi tối hôm nay thì có sao? Cô sẽ cáo lỗi - một lý do thật hợp lý và ổn thỏa để ra về. Một khi đầu óc cô đã tỉnh táo lại.
      “Em đây rồi.”
      Cô quay lại trong khi Alex bước ra ngoài.
      “Một ly nào.” Lấp loáng trong ánh sáng nhờ nhờ, một tay anh ta cầm ly nước có đá còn tay kia là một ly martini màu hồng rất đẹp - thứ đó khiến cho dạ dày cô muốn lộn ngược.
      “Cảm ơn anh. Nhưng chỉ nước thôi, em nghĩ vậy.”
      “Tuyệt lắm đấy, cưng.” Nhưng anh ta đặt đồ uống sang bên. “Em không cần phải ra ngoài này một mình.” Anh ta xoay người, ấn cô tựa vào lan can. “Cả ba bọn mình sẽ mở tiệc. Anh có thể chăm sóc cả hai em.”
      “Em không nghĩ...”
      “Ai mà biết Ilya có đến không? Công việc, công việc, công việc, lúc nào cậu ta chẳng vậy. Cho dù em lọt vào mắt cậu ta rồi. Cả anh nữa. Vào trong nhà thôi. Chúng ta sẽ cùng vui vẻ.”
      “Em nghĩ... Em sẽ đợi Ilya. Em cần vào nhà tắm của anh.”
      “Thiệt cho cưng thôi.” Mặc dù anh ta chỉ nhún vai, nhưng cô tin mình đã nhìn thấy gì đó ánh lên trong mắt anh ta. “Bên trái. Ngay kế bếp.”
      “Cảm ơn anh.”
      “Mà nếu em có đổi ý,” anh ta gọi với theo khi cô chạy tới cửa.
      “Julie.” Cô nắm lấy tay Julie khi cô nàng đang cố thực hiện một điệu xoay trên sàn nhảy không lấy gì làm vững.
      “Tớ đang rất vui vẻ. Hôm nay đúng là buổi tối tuyệt vời nhất.”
      “Julie, cậu uống quá nhiều rồi.”
      Sau tiếng phun phì phì, Julie hất tay Elizabeth ra. “Làm gì có chuyện.”
      “Bọn mình phải đi thôi.”
      “Bọn mình phải ở lại và mở tiệc!”
      “Alex nói cả hai bọn mình lên giường ngủ với anh ta.”
      “Ồ.” Phá lên cười, Julie lại quay cuồng. “Anh ấy chỉ tào lao cho vui thôi mà, Liz. Đừng có trút hết cả lên tớ đấy. Anh chàng của cậu sẽ đến đây mấy phút nữa thôi. Cứ thêm ly nữa đi.”
      “Tớ không muốn uống thêm gì nữa. Tớ thấy mệt. Tớ muốn về nhà.”
      “Đừng về nhà. Ở đấy làm quái gì có ai bận tâm. Thôi nào, Lizzy! Nhảy với tớ đi.”
      “Tớ chịu.” Liz ấn một tay lên bụng trong khi da cô rịn mồ hôi. “Tớ cần...” Không cưỡng lại nổi, cô chạy vội sang trái, thoáng nhìn thấy Alex đang dựa vào những ô cửa ra khu vực hiên trời, nhìn cô cười nhăn nhở.
      Nấc lên, cô loạng choạng đi qua bếp và gần như ngã nhào xuống nền khi cài được chốt cửa phòng tắm.
      Cô vẫn không bỏ lỡ nửa giây để cài chặt cánh cửa phía sau mình, sau đó mới khuỵu gối xuống ngay trước bồn vệ sinh. Cô nôn thốc tháo thứ chất lỏng màu hồng, nhầy nhớp, và khó khăn lắm mới kiểm soát được hơi thở rồi lại nôn tiếp. Nước mắt giàn giụa chảy ra khi cô gắng đứng lên, bíu lấy bồn rửa mặt để lấy đà. Chẳng nhìn được rõ, cô xả nước lạnh, vục một ít vào miệng và tạt lên mặt.
      Rùng mình, cô ngước lên, nhìn bóng mình trong gương - bệch bạc như sáp, màu mi mắt và mỹ phẩm trang điểm mắt nhòe nhoẹt bên dưới mắt cô chẳng khác gì những vệt bầm tím. Một ít còn chảy xuống hai gò má như những dòng nước mắt đen kịt.
      Cô cảm thấy rất xấu hổ mặc dù một cơn buồn nôn mới khiến cô lại phải khuỵu gối lần nữa. Kiệt sức, cảm giác cả căn phòng quay cuồng quanh mình, cô co mình trên nền gạch và khóc. Cô không muốn bất kỳ ai nhìn thấy mình trong tình trạng thế này.
      Cô muốn về nhà.
      Cô muốn chết.
      Cô nằm run rẩy, má cô áp xuống nền gạch lát lạnh lẽo cho tới khi cô nghĩ mình có thể đánh bạo ngồi dậy. Gian buồng nồng nặc mùi chất nôn và mồ hôi, nhưng cô không thể bước ra ngoài cho tới khi rửa ráy sạch sẽ đã.
      Cô cố hết sức dùng xà phòng và nước, tẩy rửa mặt cho tới khi chỉ còn da “mộc”, cứ vài phút lại nghỉ để dựa người, cố chống chọi với một cơn buồn nôn khác.
      Giờ trông cô nhợt nhạt và nhem nhuốc, mắt cô đờ đẫn và quầng đỏ. Nhưng hai tay cô run bắn, cho nên khi cố gắng chỉnh trang lại, cô chỉ càng làm cho tình hình tệ hại thêm chứ chẳng có tác dụng gì.
      Cô cần phải gắng chịu nỗi bẽ bàng. Cô sẽ bước ra khu vực hiên trời, ra chỗ không khí trong lành, và đợi Ilya đến. Cô sẽ đề nghị anh ấy đưa mình về nhà, và hy vọng anh ấy hiểu.
      Có thể anh ấy sẽ không còn muốn gặp lại cô nữa. Có thể anh ấy sẽ không bao giờ hôn cô nữa.
      Gieo gió gặp bão thôi mà, cô tự nhủ. Cô đã nói dối, nói dối và nói dối, và kết quả là nỗi tủi nhục này, tệ hơn nữa, nhìn cảnh tượng này, chỉ càng thấy bẽ bàng thêm.
      Hạ nắp bồn cầu xuống, cô ngồi thừ ra, bóp chặm cái ví, cố động viên mình việc cần làm tiếp theo. Mệt mỏi, cô tháo giày. Có sao nào? Chân cô đau nhức, và thời khắc nửa đêm của nàng Lọ Lem đã đến rồi.
      Cô cố giữ vẻ đĩnh đạc hết mức khi đi qua gian bếp có những thứ đồ đạc đen sì và những cái bàn trắng đến lóa mắt. Nhưng khi cô vừa ngoặt vào phòng khách, cô nhìn thấy Alex và Julie, cả hai đều trần truồng, đang làm tình ngay trên chiếc sofa bọc da.
      Sững sờ, đờ đẫn, cô đứng như trời trồng một lúc, trân trân nhìn hình xăm trên lưng Alex và hai bờ vai lắc lư theo từng cú nhún hông của anh ta. Nằm bên dưới anh ta, Julie đang phát ra những tiếng rên rỉ từ trong cổ họng.
      Cảm thấy xấu hổ trước cảnh tượng ấy, Elizabeth lặng lẽ quay lưng và lần sang hiên trời qua cửa bếp.
      Cô sẽ ngồi trong bóng tối, ngoài trời, cho tới khi họ xong việc. Cô không phải là người cả thẹn gì. Nói cho cùng thì cũng chỉ là chuyện nhục dục. Nhưng cô đã nghĩ, rất dứt khoát, rằng họ sẽ làm tình phía sau cánh cửa phòng ngủ khép kín.
      Rồi cô ao ước cô có thêm nước cho cái họng bị hành hạ của mình, và một tấm chăn vì cô cảm thấy lạnh - lạnh và trống rỗng và rất, rất yếu đuối.
      Rồi cô chợp ngủ, co ro trên chiếc ghế tựa trong một góc tối của hiên trời.
      Cô không rõ cái gì khiến cô tỉnh dậy - những giọng nói, tiếng loảng xoảng- nhưng cô tỉnh hẳn, cứng đờ và lạnh ngắt trên ghế. Nhờ đồng hồ cô biết mình mới chỉ ngủ khoảng mười lăm phút, nhưng cô cảm thấy còn tệ hơn cả lúc trước.
      Cô cần về nhà. Rất thận trọng, cô rón rén đi tới cửa để xem Julie và Alex đã xong chưa.
      Cô không hề thấy Julie, nhưng thấy Alex - chỉ mặc đúng một chiếc quần lót ống rộng màu đen - và hai người đàn ông ăn mặc chỉnh tề.
      Cắn chặt môi, cô rón rén lại gần hơn một chút. Có lẽ họ đến để báo cho Alex biết Ilya đến trễ. Ôi trời, cô ước gì anh ấy đến đây, đưa cô về nhà.
      Nhớ lại hình ảnh mình lúc nãy, cô cố ẩn trong bóng tối trong lúc lần ra phía cánh cửa Alex vẫn để ngỏ.
      “Mẹ kiếp, nói tiếng Anh đi. Tao đẻ ở Chicago mà.” Bực bội thấy rõ, Alex hùng hổ tiến về phía quầy rượu, rót vodka vào một cái ly. “Mày muốn gì, Korotkii, mà không đợi được đến ngày mai hả?”
      “Sao phải để đến mai chứ? Như thế mới đủ chất Mỹ cho ông anh phải không?”
      Người đàn ông vừa lên tiếng có thân hình chắc nịch như vận động viên. Ống tay áo ngắn của chiếc áo phông đen ôm chặt lấy bắp tay gã. Hai cánh tay gã phủ kín hình xăm. Cũng giống như Alex, gã có mái tóc vàng và khá điển trai. Có họ hàng không nhỉ? Elizabeth tự hỏi. Nét giống nhau chỉ phảng phất nhưng rõ ràng là có.
      Người đàn ông đi cùng gã to con hơn, già hơn và đứng sững như một người lính.
      “Ờ, mày đúng là một thằng Mỹ thộn ăn hại.” Alex thảy chai vodka trở lại. “Giờ làm việc hết rồi nhé.”
      “Ông anh làm việc tích cực quá.” Giọng nói trơn tuột của Korotkii như lướt đi. Nhưng ẩn dưới cái chất giọng trơn tru đầy kích thích ấy là tiếng rít ken két của một khối đá xù xì, thô nhám. “Tích cực cũng phải, ăn cắp của ông chú cơ mà.”
      Alex sững lại khi đang trút thứ bột trắng từ một cái túi trong vào một tấm gương hình vuông nho nhỏ trên quầy rượu. “Mày nói gì thế? Tao đâu có ăn cắp của chú Sergei.”
      “Anh ăn cắp của các vũ trường, của nhà hàng; anh hớt tay trên từ các vụ trên Internet, từ lợi nhuận nhà chứa. Từ tất cả những gì anh đụng tới được. Anh nghĩ thế này không phải là ăn cắp của chú anh à? Anh nghĩ ông ấy là gã ngốc sao?”
      Nhếch mép cười, Alexi nhặt một dụng cụ bằng kim loại rất mảnh và bắt đầu đập đập lên chỗ bột.
      Cocaine, Elizabeth nhận ra ngay. Ôi, Chúa ơi, cô đến đây làm gì cơ chứ?
      “Tao luôn trung thành với chú Sergei,” Alexi nói khi gã chia chỗ bột, “và sáng mai tao sẽ nói với chú ấy về chuyện vớ vẩn này.”
      “Anh nghĩ ông ấy không biết làm thế nào anh trang trải được những Rolex, Armani, Versace, căn nhà này, tất cả những thứ đồ chơi khác - và cả ma túy của anh hay sao, Alexi? Anh nghĩ ông ấy không biết anh thỏa thuận với cớm à?”
      Cái dụng cụ nhỏ bé kêu lanh canh khi Alex buông rơi nó. “Tao không bắt tay với cớm.”
      Anh ta nói dối, Elizabeth nghĩ. Cô có thể nhìn thấy điều đó trong mắt anh ta, nghe thấy nó trong giọng nói của anh ta.
      “Chúng đã tóm mày hai hôm trước, vì lý do tàng trữ.” Korotkii làm hiệu về chỗ cocaine, đầy vẻ ghê tởm. “Và mày đã thỏa thuận với chúng, mudak[9]. Phản bội gia đình mày để đổi lấy tự do, đổi lấy cuộc sống sung sướng của mày. Mày có biết chuyện gì xảy ra với những thằng ăn cắp và phản bội không, Alexi?”
      “Tao sẽ nói với chú Sergei. Tao sẽ giải thích. Tao phải cung cấp cho bọn nó gì đó chứ, nhưng chỉ là những chuyện vớ vẩn thôi. Rất vớ vẩn. Tao chơi bọn chúng.”
      “Không, Alexi, họ chơi mày đấy. Và mày thua rồi.”
      “Tao sẽ nói với chú Sergei.” Khi gã lùi lại, gã đàn ông thứ hai di chuyển - rất nhanh nhẹn - bẻ quặt hai tay Alexi ra sau lưng.
      Nỗi sợ hãi hiện rõ trên mặt gã, và cả trong giọng nói bằng tiếng Nga của gã.
      “Đừng làm thế. Yakov, chúng ta là anh em họ kia mà. Mẹ chúng ta là chị em ruột. Chúng ta cùng chung máu mủ.”
      “Mày là nỗi ô nhục của mẹ mày, của dòng máu mày. Quỳ xuống.”
      “Đừng. Xin đừng.”
      Gã đàn ông thứ hai đạp Alexi xuống đất.
      “Đừng. Làm ơn. Chúng ta là họ hàng. Hãy cho anh một cơ hội.”
      “Phải, cầu xin đi. Hãy cầu xin giữ lại cái mạng vứt đi của mày đi. Lẽ ra tao để Yegor bẻ vụn mày ra, nhưng chú của chúng ta nói rằng phải biết khoan dung vì bà chị của ông.”
      “Làm ơn. Tha cho anh.”
      “Đây là sự khoan dung của mày.” Korotkii rút ra một khẩu súng giắt ở thắt lưng, ấn nòng vào trán Alexi và bóp cò.
      Hai chân Elizabeth nhũn xuống. Cô khuỵu xuống, tay cô bịt chặt miệng để ngăn tiếng thét phát ra.
      Korotkii nói rất khẽ trong lúc kê súng vào thái dương Alexi, bắn thêm hai phát nữa.
      Nét mặt gã chẳng hề thay đổi, giữ nguyên như một cái mặt nạ khi gã giết người. Sau đó nét mặt ấy đanh lại khi gã ngước lên và nhìn về phía bếp.
      “Em cảm thấy không khỏe, anh Alex. Em cần nằm xuống, hoặc có lẽ chúng ta nên làm vậy... Các anh là ai?”
      “A, mẹ kiếp,” gã lầm bầm, và bắn Julie hai lần, đúng chỗ cô ta đứng. “Sao bọn mình lại không biết thằng này đi cùng với điếm nhỉ?”
      Gã đàn ông thứ hai bước qua người Julie, lắc đầu. “Con này mới. Trẻ lắm.”
      “Trẻ mãi không già nhé.”
      Mắt mũi Elizabeth tối sầm. Đúng là một giấc mơ. Một cơn ác mộng. Do uống rượu và bị mệt mà thôi. Cô sẽ tỉnh lại bất kỳ lúc nào. Co rúm người trong bóng tối, cô đăm đăm nhìn Alex. Chẳng còn thấy máu chảy nữa, cô nhận ra như vậy. Nếu mọi việc là thật tại sao không còn thấy máu chảy nữa?
      Tỉnh dậy, tỉnh dậy, tỉnh dậy nào.
      Nhưng nỗi kinh hoàng chỉ càng tăng lên khi cô nhìn thấy Ilya bước vào.
      Bọn kia cũng sẽ giết anh ấy mất. Gã đàn ông sẽ bắn anh ấy.
      Cô phải giúp. Cô phải...
      “Mẹ kiếp, anh đã làm gì thế này?”
      “Những gì tôi được lệnh làm.”
      “Mệnh lệnh của anh là bẻ gãy tay nó và đến tối mai mới được làm việc ấy cơ mà.”
      “Lệnh thay đổi rồi. Tay trong của chúng ta đã thông báo. Alexi bắt tay với bọn cớm.”
      “Trời ạ. Thằng chó đẻ.”
      Elizabeth kinh hãi quan sát trong khi Ilya đá vào cái xác Alex, một lần, hai lần, ba lần.
      Một người trong bọn chúng, cô nghĩ thầm. Gã cũng là một người trong bọn chúng.
      Ilya ngừng lại, vò đầu, rồi nhìn cái xác của Julie. “Khốn kiếp. Có cần phải thế không?”
      “Ả nhìn thấy bọn tôi rồi. Bọn tôi được thông báo con điếm của hắn đã bỏ đi với một đứa khác.”
      “Thằng này đúng là vận đen mới đi tìm thịt tươi. Thế còn con kia đâu?”
      “Con kia à?”
      Đôi mắt đen tuyệt đẹp vụt lạnh như băng. “Có hai đứa. Con này và một con nữa - tóc ngắn, màu đen, váy đỏ.”
      “Yegor.”
      Gật đầu, gã đàn ông cao lớn rút ra một con dao và bắt đầu lao lên gác. Ilya ra hiệu, và theo mệnh lệnh, Korotkii tiến về phía bếp trong khi Ilya lần ra phía cửa.
      “Liz,” gã lầm bầm. “Được rồi, Liz. Tôi sẽ chăm sóc cô.” Gã móc một con dao từ trong giày ra, thủ sẵn đằng sau lưng, với tay bật những ngọn đèn phía bên ngoài. Gã nhìn thấy giày của cô, mắt quét nhìn một lượt, chạy bổ tới lan can.
      “Ở đây không có ai cả,” Korotkii nói với gã từ phía cửa. “Không thấy. Tìm con bé đi.”
      #3
        Thanh Vân 29.11.2023 19:13:55 (permalink)

        4


        Cô chạy cuống cuồng, mắt mở to thẫn thờ, hơi thở thoát ra khỏi phổi cô thành những tiếng hổn hển và nức nở. Cô không thể bật ra tiếng kêu thét đang vít chặt lấy cổ họng. Bọn chúng có thể nghe thấy. Nếu bọn chúng nghe thấy, nếu bọn chúng tóm được cô, chúng sẽ giết cô. Giống như Julie.
        Cô gắng kiềm chế bản năng để không chạy ra phố. Bọn chúng có thể còn người, những kẻ giống như Ilya. Làm sao cô nhận biết được chiếc xe hơi cô vẫy lại không phải là xe của bọn chúng. Làm sao cô biết được nếu cô gõ cửa một nhà nào đó, lại không phải là một kẻ trong số chúng ra mở?
        Cô phải chạy, tránh được càng xa càng tốt. Cô phải ẩn náu.
        Nếu gặp một hàng rào, cô sẽ trèo qua. Còn nếu có một bờ rào, cô sẽ tìm cách vạch lối chui qua. Khi nền đất cào xước đôi chân trần của cô, cô phải cố nén những tiếng kêu đau đớn. Cô tránh ánh trăng sáng, quờ quạng như một con chuột chũi trong những chỗ tối tăm.
        Một con chó sủa điên cuồng khi cô chạy băng qua một khoảnh sân.
        Đừng để chúng nghe thấy, đừng để chúng tìm đến. Đừng nhìn lại.
        Có gì đó cứa vào sườn cô. Trong khoảnh khắc hãi hùng khi cô lao về phía trước, cô nghĩ mình đã bị bắn. Nhưng cô nằm trên mặt đất, co hai gối lại, tiếng thở khò khè khiến họng cô đau rát.
        Chuột rút, chỉ là chuột rút. Nhưng cùng với nó là một cơn buồn nôn dữ dội. Chống hai tay vào đầu gối lên, cô ọe, nức nở, rồi lại ọe, vật vã vì những đợt nôn khan.
        Sốc, cô tự nhủ mình trong khi hai hàm răng va lập cập. Vừa vã mồ hôi lại vừa rùng mình, chóng mặt, nôn mửa, mạch đập nhanh. Cô bị sốc, và cô cần suy nghĩ.
        Để làm ấm cơ thể, cô xoa xoa hai tay thật nhanh lên cánh tay trong khi cố thở chậm lại. Cô lật người để tìm lại cái ví đã văng khỏi tay lúc cô ngã. Cô cố giữ chặt cái ví trong suốt chuyến đi, cho nên cô an ủi mình rằng cô vẫn đang suy nghĩ ở mức độ nào đó.
        Cô cần gọi cho cảnh sát, cô cần giúp đỡ.
        “Lấy điện thoại ra,” cô thì thào, tự chỉ dẫn mình. “Bấm nút nhớ 1. Báo cho họ biết... báo cho họ...”
        “911 đây, cô gặp tình huống khẩn cấp gì?”
        “Cứu tôi. Xin cứu tôi?”
        “Tình trạng khẩn cấp của cô là gì?”
        “Hắn đã bắn họ.” Nước mắt trào đầy hai mắt cô, khiến giọng cô như chìm đi. “Hắn bắn họ, và tôi bỏ chạy.”
        “Thưa cô, cô đang báo về một vụ nổ súng phải không?”
        “Hắn đã giết họ. Hắn giết Julie. Tôi bỏ chạy.”
        “Tôi sẽ cử người tới giúp. Cho tôi biết vị trí của cô.”
        “Tôi không biết mình đang ở đâu.” Cô đưa tay bưng miệng, cố không để mình gục xuống. “Tôi chạy. Tôi chỉ biết chạy. Tôi nghĩ tôi ở gần đường Lake Shore. Đợi đã. Đợi tôi được chứ? Xin đừng bỏ đi.”
        “Tôi vẫn ở đây. Tên cô là gì?”
        “Tôi là Elizabeth. Tôi là Elizabeth Fitch.”
        “Elizabeth, cô có nhận ra được gì không? Một dấu mốc, một địa chỉ chẳng hạn?”
        “Tôi sẽ cố tìm. Tôi ở sau một căn nhà. Một căn nhà bằng đá xám có tháp.” Cô tập tễnh đi về phía căn nhà, giật bắn mình khi cô bước vào cả quầng đèn an ninh chói chang. “Nó có... nó có một lối chạy xe lát gạch, và một ga ra rất lớn. Có các sàn và... nhiều vườn.”
        “Cô có đi ra phố được không?”
        “Tôi có. Tôi có thể nhìn thấy đường phố. Có đèn đường. Nếu tôi ra chỗ có ánh sáng và chúng đến, chúng sẽ nhìn thấy tôi mất.”
        “Cứ giữ liên lạc. Cứ giữ điện thoại của cô, Elizabeth. Chúng tôi đang dùng tín hiệu của cô để tìm cô?”
        “Tôi nhìn thấy một địa chỉ rồi. Tôi nhìn thấy con số.” Cô đọc lên.
        “Cảnh sát đang trên đường tới. Trợ giúp đang tới, Elizabeth. Cô có bị thương không?”
        “Không. Không, tôi chạy. Tôi ở ngoài khi chúng xông vào. Tôi ở ngoài hiên trời. Chúng không biết. Chúng không nhìn thấy tôi. Hắn bắn họ. Hắn giết Julie.”
        “Thật thương tâm. Vụ việc xảy ra ở đâu?”
        “Tôi không biết. Tôi không có địa chỉ. Nó nằm trên đường Lake Shore. Lẽ ra chúng tôi không nên đến đó. Chúng tôi không nên đến ngôi nhà đó. Julie chết rồi.”
        “Julie là ai, cô Elizabeth?”
        “Julie Masters. Julie là bạn tôi. Có một chiếc xe đang chạy đến. Tôi phải núp đã.”
        “Là xe tuần tra đấy. Trợ giúp đấy.”
        “Anh có chắc không?” Tâm trạng hoảng loạn bóp nghẹt ngực cô, như chặn hết không khí. “Anh có chắc không?”
        “Giờ họ đang giữ liên lạc bộ đàm, tiếp cận địa chỉ đó. Tôi sẽ bảo họ bật đèn nháy. Cô sẽ nhìn thấy.”
        “Vâng. Vâng. Ơn trời. Tôi thấy rồi.” Cô loạng choạng chạy tới ra hẳn chỗ sáng. “Cảm ơn anh.”
         “Giờ cô an toàn rồi, Elizabeth.”
        Họ muốn đưa cô tới bệnh viện, nhưng khi thấy cô chỉ càng lo lắng, họ liền đưa cô về đồn. Cô co ro dưới tấm chăn một sĩ quan choàng lên vai cô, và tiếp tục rùng mình ở ghế sau chiếc xe tuần tra.
        Họ đưa cô vào một gian phòng có bàn và mấy cái ghế tựa. Một sĩ quan ở lại cùng cô trong khi người kia đi lấy cà phê cho cô.
        “Kể cho tôi biết chuyện gì xảy ra nào.”
        Anh ấy nói với cô tên của mình, cô vẫn còn nhớ. Sĩ quan Blakley. Anh ấy có gương mặt lạnh lùng và đôi mắt mỏi mệt, nhưng anh ấy lại là người mang chăn cho cô.
        “Chúng tôi đến vũ trường. Julie và tôi, chúng tôi tới vũ trường?”
        “Julie tức là Julie Masters.”
        “Vâng.”
        “Vũ trường nào?”
        “Warehouse 12. Tôi...” Cô phải kể sự thật. Không được nói dối nữa. “Tôi đã làm căn cước giả cho chúng tôi.”
        Gương mặt anh ấy thoáng vẻ ngạc nhiên khi ghi vào cuốn sổ tay của mình. “Cô bao nhiêu tuổi?”
        “Mười sáu. Tháng Chín này tôi sẽ được mười bảy.”
        “Mười sáu,” anh ấy lặp lại, quan sát cô, giọng nói và ánh mắt không biểu lộ gì. “Cha mẹ cô đâu rồi?”
        “Chỉ có mẹ tôi thôi. Bà ấy rời khỏi thành phố đi dự một hội nghị y tế.”
        “Sẽ phải thông báo với bà ấy.”
        Elizabeth chỉ biết nhắm nghiền mắt. “Vâng. Mẹ tôi là bác sĩ Susan L. Fitch. Bà ấy nghỉ ở khách sạn Westin Peachtree Plaza, tại Atlanta.”
        “Được rồi. Và cô đã giả mạo giấy tờ để lọt vào Warehouse 12.”
        “Vâng, tôi xin lỗi. Các anh có thể bắt tôi, nhưng các anh phải tìm những kẻ đã giết chết Julie.”
        “Cô nói các cô đã ở trong một ngôi nhà, không phải vũ trường.”
        “Chúng tôi gặp Alex ở vũ trường. Chúng tôi tới nhà anh ta. Lẽ ra không nên như vậy. Chúng tôi uống rượu. Lẽ ra không nên làm vậy. Tôi say, rồi tôi ra ngoài vì...” Nước mắt lại thi nhau tràn xuống hai gò má của cô. “Tôi ra ngoài, và có hai gã đàn ông vào. Họ bắn Alex, sau đó khi Julie bước vào phòng, họ bắn luôn cô ấy. Tôi bỏ chạy.”
        “Cô không biết căn nhà này ở đâu à?”
        “Tôi có thể tìm ra nó. Tôi có thể chỉ cho các anh, hoặc vẽ cho các anh một tấm bản đồ. Nhưng tôi đã không nhìn địa chỉ. Thật ngu ngốc. Tôi thật ngốc. Làm ơn, chúng ta không thể bỏ lại cô ấy ở đó.”
        “Cô có tên đầy đủ của anh chàng Alex này không?”
        “Tôi... Có!”
        “Ơn Chúa!”
        “Alex, nhưng gã giết anh ta gọi anh ta là Alexi. Alexi Gurevich.”
        Blakley im phắc, và ánh mắt anh ấy đanh lại. “Cô nói với chúng tôi rằng cô đã tới nhà Alexi Gurevich, và chứng kiến một vụ giết người kép?”
        “Vâng. Vâng. Vâng. Làm ơn.”
        “Đợi một phút.” Anh ấy đứng lên khi viên sĩ quan thứ hai bước vào cùng với cà phê. Blakley nói nhỏ với người này. Anh ta nói gì đó khiến người đồng nghiệp nhìn nhanh Elizabeth rồi vội vã bước ra khỏi phòng.
        “Xét theo tuổi của cô,” Blakley nói với cô, “chúng tôi sẽ thông báo với Cục Trẻ em. Một thanh tra sẽ có mặt ở đây để nói chuyện với cô.”
        “Nhưng còn Julie. Liệu tôi dẫn các anh tới ngôi nhà trước được không. Tôi đã bỏ lại cô ấy. Tôi vẫn còn bỏ cô ấy lại đó.”
        “Chúng tôi biết Gurevich sống ở đâu.”
        Anh ấy để cô lại một mình, nhưng chỉ mười lăm phút sau, có người bước vào và đưa cho cô một cốc xúp gà mua từ máy bán hàng tự động. Cô không nghĩ mình có thể ăn nổi, nhưng chỉ một hớp đầu tiên, cái dạ dày kiệt quệ của cô đã đòi thêm nữa.
        Dù đã ăn và uống cà phê, phản ứng cơ thể cô vẫn là tình trạng mệt mỏi rã rời. Không dừng được, Elizabeth gục đầu lên bàn, nhắm mắt lại.
        Phía bên ngoài, thám tử San Riley bước lại chỗ tấm gương hai chiều bên cạnh cộng sự của mình. “Vậy kia là nhân chứng của chúng ta.”
        “Elizabeth Fitch, tuổi mười sáu, con gái bác sĩ Susan L. Fitch, trưởng khoa ngoại, Silva Memorial.” Brenda Griffith uống ly cà phê Starbucks một lúc lâu. Cô làm cảnh sát đã mười sáu năm, cho nên những cuộc gọi lúc nửa đêm là chuyện cơm bữa. Nhưng cà phê giúp giảm bớt căng thẳng. “Người của Cục Trẻ em đang đến.”
        “Chúng ta xác minh chưa?”
        “Gurevich bị một phát vào trán, hai phát phía sau tai. Cỡ nòng nhỏ, tầm bắn gần. Nạn nhân nữ - căn cước của cô ta để tên Julie Masters - hai mốt tuổi, nhưng theo lời nhân chứng, đó là tuổi giả. Các sĩ quan ở hiện trường cho biết cô ta bị bắn hai phát vào đầu.”
        “Mãi mãi tuổi mười sáu.” Riley, một cựu binh hai mươi năm mắc chứng đau lưng mãn tính và có mái tóc nâu lưa thưa, lắc lắc đầu. “Con bé rất may mới còn sống được.”
        “Đúng thế, chúng ta hãy xem cô ta biết được gì.” Brenda bước ra. “Để tôi làm trước, nhẹ nhàng thôi. Nếu một nửa những gì cô ấy khai là đúng thì quả là cô ấy đã có một buổi tối địa ngục. Bên Cục Trẻ em đến rồi đấy.”
        “Tôi đi lấy cho con bé một lon Coke hoặc gì đó,” Riley nói. “Cả hai chúng ta đều sẽ khởi đầu thật nhẹ nhàng.”
         
        Elizabeth tỉnh lại với vẻ hãi hùng, nhìn sững người phụ nữ có gương mặt khả ái và mái tóc đen vấn ngược ra sau thành một túm đuôi ngựa.
        “Xin lỗi. Tôi không định làm em giật mình. Tôi là thanh tra Griffith. Đây là cô Petrie từ Cục Trẻ em. Đồng nghiệp của tôi sẽ vào đây ngay. Anh ấy nghĩ có thể em muốn ăn một ít bỏng.”
        “Em đã ngủ quên. Bao lâu...” Cô nhìn đồng hồ của mình. “Trời ạ. Đã gần sáng rồi. Julie...”
        “Xin chia buồn về trường hợp bạn em.”
        “Đó là lỗi của em. Lẽ ra bọn em không nên đi. Em biết đó là sai lầm. Em chỉ muốn... em đã làm giả bằng lái xe.”
        “Tôi đã nghe nói rồi. Tôi xem của em được không?”
        “Vâng.” Elizabeth lấy bằng lái từ trong ví.
        Griffith xem xét tấm bằng, lật ngược lại, đưa lên ngang mày, rồi nhìn Elizabeth. “Em vừa bảo tôi chính em đã làm thứ này à?”
        “Vâng. Em đang thử nghiệm xem mọi việc ra sao. Rồi Julie muốn đi tới Warehouse 12, thế là em làm cho cô ấy. Em biết như thế là phạm pháp. Chẳng có lý do biện minh nào cả. Em bị bắt phải không?”
        Griffith liếc nhìn Petrie, rồi quay sang Elizabeth. “Tôi nghĩ chúng ta tạm chưa nói đến chuyện đó. Em có quen với Alexi Gurevich từ trước buổi tối qua không?”
        “Không. Anh ta tự đến bàn bọn em. Bọn em cùng uống Cosmos.” Cô đưa tay bưng mặt. “Trời đất, sự thật là đây sao? Em đã tìm hiểu về vũ trường trên Internet trước khi bọn em đến đó. Em chưa bao giờ đến một hộp đêm cả. Em đọc được vài bài báo nói rằng người ta nghi ngờ chủ của vũ trường có dính đến mafia Nga. Nhưng em chẳng hề suy nghĩ - khi anh ta tiến lại, Ilya ấy...”
        “Ilya à? Có phải Ilya Volkov không?”
        “Vâng. Bọn em nhảy với họ, rồi vào một ô ghế ngồi nghỉ, rồi anh ta hôn em. Trước đó chưa có ai từng hôn em cả. Em muốn biết cảm giác đó như thế nào. Anh ta rất lịch thiệp với em, và rồi...” Cô ngừng lời, ánh sợ hãi lại hiện lên trong mắt cô khi cánh cửa mở ra.
        “Elizabeth, đây là cộng sự của tôi, thanh tra Riley.”
        “Chú lấy cho cháu một lon Coke. Con gái chú không thể sống mà thiếu Coke vào buổi sáng.”
        “Cảm ơn chú. Cháu không định uống...” Elizabeth hơi bật cười. “Thật ngu ngốc, phải không ạ? Cháu đã uống rượu cho tới khi say mèm. Cháu đã chứng kiến hai người bị giết. Vậy mà giờ cháu không muốn làm trái lời mẹ khuyên về chuyện uống nước ngọt.” Cô mở lon nước, rót ra một chiếc cốc nhựa. “Cháu cảm ơn,” cô nói lại lần nữa.
        “Elizabeth.” Griffith chờ đợi đến khi Elizabeth chú ý trở lại. “Có phải em, Julie, Gurevich và Ilya Volkov rời Warehouse 12 và đi về nhà của Gurevich không?”
        “Không. Chỉ có ba bọn em. Ilya phải giải quyết chuyện gì đó ở vũ trường. Anh ta bảo sẽ đến - và đúng là như vậy, nhưng muộn hơn. Đến sau.”
        “Có phải Ilya Volkov giết Gurevich và Julie?”
        “Không. Là một gã có tên Yakov Korotkii. Em có thể miêu tả gã, hoặc vẽ phác lại, hoặc làm việc với một họa sĩ của cảnh sát. Em vẫn nhớ mặt gã. Em nhớ rất rõ. Em có trí nhớ hình ảnh rất tốt. Em không quên. Em không hề quên,” cô nhắc lại, giọng cao lên, cơ thể run bắn.
        “Các vị,” bà Petrie lên tiếng. “Elizabeth đã trải qua một tổn thương nghiêm trọng, quá đủ cho một đêm rồi.”
        “Không. Không. Cháu cần giúp đỡ. Cháu cần làm gì đó.”
        “Chúng tôi đã được mẹ cô bé cho phép hỏi cô bé,” Griffith tuyên bố.
        “Mẹ em?”
        “Bà ấy đã được thông báo mọi chuyện. Bà ấy sẽ bay về vào sáng mai.”
        Elizabeth nhắm mặt lại. “Được rồi.”
        “Elizabeth. Việc này rất quan trọng. Làm sao em biết người giết Gurevich và Julie là Yakov Korotkii?”
        “Alex gọi anh ta bằng họ tên khi hai người nói chuyện. Julie... chắc cô ấy ở trong phòng tắm. Em đã thiếp ngủ một lúc, bên ngoài hiên trời. Tiếng của họ - Alex và hai người đàn ông - làm em tỉnh giấc.”
        “Hai người.”
        “Người kia to con hơn, vạm vỡ hơn. Korotkii gọi hắn là Yegor. Korotkii nói Alex đã ăn cắp của chú anh ta. Alex gọi người đó - ông chú ấy - là Sergei. Anh ta chối, nhưng anh ta nói dối. Em có thể nhận ra anh ta nói dối. Korotkii, gã đúng là... Các chị đã nhìn thấy một con rắn hổ mang giết một con chuột chưa? Cách nó nhìn, rất kiên nhẫn. Làm sao nó lại có vẻ thích thú cái khoảnh khắc trước những cú mổ cũng như thích chính những cú mổ thế chứ? Đúng y như thế. Alex rất tùy tiện, cứ như thể anh ta là người đứng đầu. Nhưng anh ta không hề đứng đầu. Korotkii mới đứng đầu. Và Alex sợ hãi thấy rõ khi Korotkii nói họ biết anh ta hợp tác với cảnh sát. Rằng Sergei biết. Anh ta van xin. Các chị có cần biết họ nói gì với nhau không?”
        “Chúng ta sẽ quay lại tình tiết đó.”
        “Gã đàn ông vạm vỡ đạp Alex quỳ xuống. Sau đó Korotkii rút một khẩu súng ở thắt lưng ra. Chắc anh ta có bao súng. Em không hề nhìn thấy. Gã bắn anh ta ở chỗ này.” Elizabeth chạm ngón tay lên trán. “Gã gí súng vào trán anh ta, và gã bắn anh ta. Một tiếng nổ nhỏ thôi. Sau đó gã bắn anh ta thêm hai phát nữa. Ở đây. Em đã suýt thét lên. Em phải đưa tay bịt miệng để không thét lên. Korotkii gọi Alex là một... Đó là một từ chửi rất tục tĩu trong tiếng Nga.”
        “Em nói được tiếng Nga?”
        “Không trôi chảy lắm. Em chưa bao giờ nghe cách diễn đạt này trước đó, nhưng em hiểu nghĩa ngay. Em chỉ nhắc đến nó bởi vì mọi việc diễn ra quá nhanh. Gã gọi Alex, mặc dù anh ta đã chết rồi, bằng một cái tên. Rồi... Julie bước vào, từ phía nhà bếp. Có một phòng vệ sinh ở phía bếp. Cô ấy nói, ‘Anh Alex, em cảm thấy không khỏe. Chúng ta nên...’ Tất cả chỉ có vậy. Korotkii quay lại, và gã bắn cô ấy. Cô ấy ngã xuống. Em nhìn rõ cô ấy chết, nhưng gã vẫn bắn thêm. Và gã còn chửi thề bằng tiếng Nga. Em không nghe được lúc đầu. Trong đầu em có những tiếng gào thét. Em không tài nào nghe được. Rồi em nghe thấy tiếng Ilya. Em nghĩ bọn kia cũng sẽ giết anh ta. Em muốn báo cho anh ta, giúp anh ta. Thế rồi...”
        “Cứ bình tĩnh.” Riley dịu dàng nói với giọng điệu mà Griffith biết rõ vốn không phải là giọng nói cố tình dịu dàng mà là sự quan tâm rất chân thành. “Cháu cứ bình tĩnh mà kể.”
        “Họ nói bằng tiếng Nga, nhưng cháu vẫn hiểu được hết - hoặc gần hết - những lời ấy. Ilya rất giận dữ, nhưng không đến mức khiến Alex phải chết.”
        Cô nhắm mắt lại, hít một hơi, và nhớ lại những đoạn đối thoại cô nghe rõ từng lời.
        “Rất chính xác,” Riley nhận xét.
        “Cháu có trí nhớ thị giác rất tốt mà. Cháu bỏ chạy, bởi vì Ilya biết cháu đến ngôi nhà đó. Cháu biết anh ta hỏi về cháu. Cháu biết chúng cũng sẽ giết cháu. Cho nên cháu bỏ chạy. Cháu không để ý mình chạy đi đâu - cháu chỉ biết chạy thôi. Cháu vứt giày lại. Đi giày thì cháu không chạy được, do gót giày, cho nên cháu vứt lại chỗ hiên trời. Cháu chẳng kịp nghĩ. Cháu chỉ phản xạ thôi. Nếu suy tính, cháu đã mang giày theo. Chắc chắn bọn chúng đã tìm thấy giày. Cho nên chúng biết cháu nhìn thấy. Chúng biết cháu đã nghe thấy.”
        “Bọn tôi sẽ bảo vệ em, Elizabeth.” Tôi hứa với em Griffith vươn người, đặt một tay lên tay Elizabeth. “Chúng tôi sẽ bảo vệ em an toàn.”
         
        Griffith bước ra khỏi phòng cùng với Riley, hai tay ôm đầu. “Trời đất, Riley, đúng là trời giúp mình. Anh có biết chúng ta có được gì không?”
        “Chúng ta có một nhân chứng có trí nhớ như một máy tính, lại nói được tiếng Nga. Chúng ta nắm được thằng Korotkii chó chết, thằng Ilya Volkov khốn kiếp. Và nếu Chúa phù hộ, chúng ta sẽ tóm được Sergei. Nếu cô bé ổn, cô bé sẽ cho bọn Volkov đi đời.”
        “Cô bé sẽ ổn.” Ánh mắt đanh lại và sáng quắc, Griffith nhìn về phía khuôn cửa. “Riley, chúng ta phải gọi người đưa cô bé lánh đi. Chúng ta sẽ cần đến Cục Cảnh sát Tư pháp[10] đấy.”
        “Thôi mà.”
        “Không thì họ sẽ giành mất vụ này. Nếu có lời trước, chúng ta sẽ vẫn được tham gia.”
        “Mẹ kiếp, cô phán chuẩn. Cứ bắt tay làm thôi. Cô có biết tôi còn nhận ra điều gì về nhân chứng không?”
        “Gì nữa nào?”
        “Cô bé trông mệt mỏi với việc mẹ mình sẽ xuất hiện chẳng kém gì lúc phải xoay xở với những chuyện khác của vụ này.”
        “Tôi nghĩ con bé lo lắng việc sẽ bị phạt.”
        ***
        Elizabeth thấy mắt mờ đi. Họ đưa cô đi đâu không quan trọng. Cô chỉ muốn ngủ. Cho nên cô ngủ ngay trong xe cùng với hai thanh tra và bà Petrie. Khi xe dừng lại, cô bước ra mà chẳng hề than vãn gì, cứ gà gật vào một ngôi nhà nhỏ xây bằng ván ghép. Cô nhận chiếc áo phông và quần chẽn vải bông mà thanh tra Griffith đưa cho, rồi cố thay quần áo ngay trong gian phòng ngủ nhỏ xíu có một chiếc giường đơn hẹp. Cô sợ những giấc mơ của mình nhưng thấy bất lực trước tình trạng kiệt sức.
        Cô nằm xuống giường, dùng chiếc chăn của cảnh sát đắp lên người. Cô cảm thấy nước mắt rịn qua những hàng mi lúc cô nhắm mắt lại.
        Rồi cô chẳng cảm thấy gì nữa.
        Cô tỉnh lại lúc đã nửa ngày, khát khô và đói cồn cào.
        Cô không biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Suốt đời mình, cô luôn biết chính xác những gì được định sẵn cho cô, đúng như kỳ vọng. Nhưng giờ không hề có danh sách, lịch trình để dựa vào đó.
        Cô thấy xấu hổ vì đói, thèm cà phê, thèm được tắm, thèm một cái bàn chải đánh răng. Những việc hằng ngày, những việc thông thường. Julie thì sẽ chẳng bao giờ còn biết đói hay làm những việc bình thường được nữa.
        Nhưng cô ngồi dậy, hơi nhăn mặt khi hai bàn chân đau nhức chạm xuống sàn. Cô bị đau khắp người, cô nhận ra như vậy. Cô đáng bị đau, cô tự nhủ. Cô đáng phải chịu sự hành hạ.
        Rồi cô nhớ đến mẹ. Mẹ đang về, mà có khi về rồi. Cô biết đó sẽ là sự trừng phạt còn hơn cả đau đớn và đói khát.
        Muốn bị phạt, cô mở cửa. Lắng nghe.
        Cô nghe thấy những giọng nói - chỉ là những tiếng rì rầm - ngửi thấy mùi cà phê. Ngửi thấy mùi mình, cô nhận ra như vậy với một cái nhăn mặt nữa. Cô muốn bị trừng phạt nhưng lại mong được tắm rửa trước khi đối mặt với nó.
        Cô bước ra, đi về phía có những tiếng nói.
        Và cứng đờ người.
        Một người lạ mặt đứng trong gian bếp nhỏ sơn màu vàng trong. Một người đàn ông cao lớn, chẳng khác một tay đầu gấu, ông ấy đang rót cà phê từ một chiếc bình vào cái ca màu trắng dày dặn. Ông ấy ngừng lại, mỉm cười với cô.
        Ông ấy mặc quần bò, áo trắng - và đeo bao súng ở vai.
        “Chúc buổi sáng tốt lành. Ồ chiều chứ nhỉ. Chú là sĩ quan Cảnh sát Tư pháp John Barrow. Không sao đâu, Elizabeth. Bọn chú ở đây để bảo vệ cháu an toàn.”
        “Chú là cảnh sát Tư pháp.”
        “Đúng vậy. Một lát nữa, bọn chú sẽ đưa cháu tới nhà an toàn khác.”
        “Thanh tra Griffith có ở đây không ạ?”
        “Lát nữa cô ấy sẽ đến. Cô ấy đi lấy cho cháu quần áo, một vài thứ.” Ông ấy ngừng lại một lúc nữa trong khi Elizabeth chỉ đăm đăm nhìn ông ấy. “Cháu đã đưa cô ấy chìa khóa, bảo cô ấy cứ việc tới nhà cháu, lấy cho cháu một ít quần áo, bàn chải đánh răng, mấy thứ như vậy.”
        “Vâng. Cháu nhớ.”
        “Chú cá là cháu có thể uống một chút cà phê, một ít thuốc aspirin.”
        “Cháu... cháu muốn tắm, nếu được.”
        “Chắc chắn rồi.” Ông ấy lại mỉm cười, đặt cái bình và cốc xuống. Ông ấy có đôi mắt xanh lơ nhưng không giống mắt mẹ cô. Mắt ông ấy sâu hơn, và ấm áp. “Chú sẽ đi lấy túi đồ của cháu. Chú ở đây cùng sĩ quan Theresa Norton. Chú muốn cháu cảm thấy an toàn, Elizabeth - người ta gọi cháu là Liz phải không?”
        Mắt cô lại ngân ngất nước. “Julie gọi cháu là Liz. Julie gọi vậy.”
        “Chú rất lấy làm tiếc về chuyện bạn của cháu. Chắc cháu đã rất khổ tâm về chuyện đó, Liz. Cô Theresa và chú sẽ cảnh giới cho cháu.”
        “Chúng sẽ giết cháu nếu chúng tìm ra cháu. Cháu biết điều đó.”
        Đôi mắt xanh ấm áp kia nhìn thẳng vào cô. “Chúng sẽ không thể tìm ra cháu. Và chú sẽ không để chúng làm tổn thương cháu.”
        Cô muốn tin lời ông ấy. Ông ấy có gương mặt phúc hậu. Xương xương, giống như cả người ông ấy, trông rất tri thức. “Cháu sẽ phải ẩn náu bao lâu?”
        “Hiện tại thì tạm thời là một ngày. Chú sẽ đi lấy đồ của cháu?”
        Cô vẫn đứng nguyên ở vị trí của mình cho tới khi ông ấy quay lại, mang theo chiếc túi du lịch hiệu Pullman của cô.
        “Chú đi chuẩn bị ít thức ăn trong lúc cháu tắm rửa nhé,” ông ấy gợi ý. “Chú nấu ăn giỏi hơn cả Terry đấy. Điều đó cũng chẳng nói được gì nhiều, nhưng mà chú không làm cháu ngộ độc đâu.”
        “Cảm ơn chú. Cháu xin phép.”
        “Cứ tự nhiên nhé.”
        “Cháu xin lỗi. Cháu không biết phòng tắm ở đâu.”
        “Lối này.” Ông chỉ tay. “Rồi rẽ phải.”
        Ông nhìn theo cô đi khuất, rồi lại nhấc bình cà phê, đăm đăm nhìn nó. Ông lại đặt cái bình xuống vừa lúc cộng sự của ông từ phía ngoài đi vào.
        “Con bé tỉnh rồi,” ông nói. “Ôi trời, Terry, trông nó giống đứa mười hai hơn là hai mốt. Lẽ ra nó đừng bao giờ xuất hiện ở cái vũ trường đó.”
        “Anh nhìn thấy cái căn cước con bé chế xem. Con bé có thể kiếm ra tiền.” Nhỏ nhắn, rắn rỏi, xinh xắn như một đóa cúc, Terry nhìn bình cà phê. “Tình trạng con bé thế nào?”
        “Lì như đá, nếu cô hỏi tôi thì là như vậy. Và lịch thiệp chắc cỡ bà cố của cô.”
        “Bà cố của tôi mà còn thì chắc cũng lọm khọm trên xe lăn rồi.”
        “Con bé không hề hỏi gì đến mẹ. Nó hỏi về Griffith, nhưng không hề nói về mẹ mình. Điều đó đáng để cô lưu ý đấy. Tôi đi lấy cho con bé một ít thịt nguội và trứng.”
        Ông mở tủ lạnh, lấy ra những thứ mình cần.
        “Anh có muốn tôi liên lạc với bên Công tố không? Anh biết là ông ấy muốn nói chuyện với con bé càng sớm càng tốt mà.”
        “Để cho con bé có thời gian nhét một ít vào bụng đã. Ừ, nhưng tốt hơn cả là để cho ông ấy gặp con bé ở đây trước khi chúng ta đưa nó đi. Và tốt hơn là con bé nên có một chút thời gian trước khi nó nhận ra có thể phải sống trong nhà an toàn hàng tháng trời.”
        “Có lẽ hàng năm ấy chứ. Làm sao một người có thừa thông minh để vào học Harvard - ở tuổi mười sáu, không hơn không kém - lại vướng phải lũ Volkov chứ?”
        “Nhiều khi mười sáu tuổi cũng đã đủ rồi.” John cho thịt muối vào chảo rán, khiến chảo kêu xèo xèo.
        “Tôi đi gọi điện. Bảo họ có hai giờ - để con bé có thời gian thay đồ, ăn và nghỉ ngơi.”
        “Kiểm tra luôn thời gian dự kiến hạ cánh của mẹ con bé nhé.”
        “Được rồi.”
        #4
          Thanh Vân 29.11.2023 19:14:38 (permalink)

          5


          Lúc Elizabeth quay lại, mặc quần bò và chiếc áo ba lỗ xanh dương có một dải đăng ten mảnh ở viền, thì ông ấy đã chất đầy một đĩa toàn thịt muối, trứng và bánh mì nướng.
          “Thanh tra Griffith có lấy đủ mọi thứ cháu cần không?”
          “Đủ ạ. Cháu không rõ phải làm gì với cái va li. Chú nói chúng ta sẽ không ở lại đây mà.”
          “Đừng lo chuyện đó. Ăn đi cho nóng.”
          Cô nhìn đĩa thức ăn. “Nhiều thức ăn quá.” Thịt muối ư? Chuyên gia dinh dưỡng của cô bảo dễ bị đột quỵ.
          Ý tưởng phản kháng làm cô mỉm cười.
          “Trông cháu đói lắm.”
          “Đúng là thế.” Nụ cười vẫn giữ nguyên khi cô ngước nhìn ông ấy. “Nhưng cháu không định ăn thịt muối.”
          “Tại sao vậy?”
          “Thịt đã chế biến, muối natri, mỡ động vật. Thứ này không nằm trong danh mục đã được chỉ định của cháu. Mẹ cháu và chuyên gia dinh dưỡng của cháu đã đặt ra một khẩu phần ăn uống rất cụ thể.”
          “Vậy cơ à? Ồ, nhưng để lãng phí thì thật không hay.”
          “Đúng thế.” Mùi thơm kéo cô tới bên bàn. “Mà chú lại còn phải vất vả chuẩn bị cho cháu nữa chứ.” Cô ngồi xuống, chọn một lát thịt muối, cắn một miếng. Cô nhắm mắt lại. “Ngon quá.”
          “Thứ gì với thịt muối cũng ngon hơn.” Ông đặt một cốc nước quả đầy cùng ba viên Tylenol cạnh đĩa của cô. “Uống đi nhé. Chú có thể thấy cháu vẫn còn khó chịu vì chất cồn.”
          Giờ thì nụ cười vụt tắt. “Lẽ ra các cháu không nên uống rượu.”
          “Đúng, lẽ ra cháu không nên. Cháu luôn làm những việc nên làm phải không?”
          “Vâng. Ý cháu là tính đến trước hôm qua. Và nếu hôm qua cháu làm đúng những việc cần làm thì Julie đã sống.”
          “Liz, Julie chết vì Yakov Korotkii là một kẻ giết người, vì nhà Volkov là những kẻ xấu. Cháu và Julie đã làm một việc dại dột. Cô ấy không đáng phải chết vì việc đó. Và cháu không phải chịu trách nhiệm. Uống Tylenol đi, uống nước quả nữa. Ăn đi cháu.”
          Giờ thì cô vâng lời vì thói quen luôn nghe lời hơn là muốn vậy. Nhưng, ôi, thức ăn thật ngon, thật dễ chịu.
          “Chú cho cháu biết bây giờ sẽ thế nào chứ? Cháu không rõ giờ như thế nào, và biết rõ cháu cần làm gì thì sẽ dễ hơn.”
          Ông cầm cà phê tới bên bàn, ngồi xuống với cô. “Rất nhiều việc sắp tới tùy thuộc vào cháu đấy.”
          “Bởi vì lời khai của cháu liên quan đến những gì đã xảy ra, những gì cháu nhìn thấy, những gì cháu nghe thấy, sẽ rất cần thiết để kết án Yakov Korotkii về tội danh giết người, và gã đàn ông kia là đồng phạm. Còn Ilya là kẻ đồng lõa. Thêm nữa, còn có thể liên can đến Sergei Volkov, mặc dù có thể chỉ là tin đồn, cháu không được rõ chuyện đó lắm. Ông ta là mục tiêu quan trọng nhất, bởi vì có vẻ ông ta là trùm sỏ, hoặc một trong những ông trùm của tổ chức.”
          John ngả người trên ghế. “Có vẻ cháu hiểu rất rõ tình hình, đúng như thực tế.”
          “Cháu có theo học một số khóa tư pháp hình sự, và đọc rất nhiều tài liệu.”
          “Từ hôm qua à?”
          “Không.” Cô suýt phì cười, nhưng kịp ghìm lại trong cổ họng. “Từ khi bắt đầu vào đại học. Cháu rất thích.”
          “Nhưng cháu định học để làm bác sĩ kia mà.”
          Cô nhìn xuống đĩa đồ ăn của mình, cẩn thận múc một miếng trứng bác lên. “Vâng.”
          Ông đứng lên, mở tủ lạnh lần nữa, lấy ra một lon Coke cho mình, rồi thêm lon thứ hai. Ông nhướng một mắt như hỏi ý.
          “Cháu không định - Vâng, cũng được. Cháu xin một lon Coke.”
          Ông ấy mở cả hai lon, rồi ngồi xuống trong khi một phụ nữ rắn rỏi có mái tóc vàng vấn thành túm đuôi ngựa rất xinh bước vào. “Liz, đây là sĩ quan cảnh sát Tư pháp Norton. Terry, đây là Liz.”
          “Hôm nay cháu thế nào, Liz?”
          “Khỏe hơn ạ, cảm ơn cô.”
          “Liz đang hỏi về quy trình, mặc dù cháu có vẻ đã hiểu rồi. Cô Terry đã liên hệ với Văn phòng Biện lý. Cháu sẽ có một đại diện từ Cục Bảo vệ Trẻ em hiện diện khi họ nói chuyện với cháu, nếu mẹ cháu không về kịp lúc. Việc hợp tác của cháu là tự nguyện, Liz, nhưng...”
          “Cháu có thể là một nhân chứng quan trọng. Điều đó sẽ không cần thiết. Cháu phải hợp tác, cháu phải làm chứng. Các chú nói cho cháu biết có phải nhà Volkov là mafia Nga không ạ?”
          “Cái mà các chú tin và có thể chứng minh...”
          “Cháu muốn biết các chú tin cái gì,” Elizabeth ngắt lời. “Cháu nghĩ cháu cần biết tình hình của mình. Cháu có thể còn nhỏ tuổi, về mặt luật pháp, nhưng cháu không phải là một đứa trẻ. Cháu có chỉ số IQ hai trăm mười, cùng những khả năng lĩnh hội rất tốt. Cháu biết cháu đã hành xử ngớ ngẩn, nhưng cháu không ngớ ngẩn. Cháu hiểu nếu cháu đã chứng kiến những vụ giết người được thực hiện theo mệnh lệnh của cái thứ gọi là pakhan - ông trùm - thì cháu đã trở thành một mục tiêu. Nếu cháu làm chứng, Korotkii hay một kẻ như gã sẽ làm bất kỳ việc gì có thể làm để ngăn cản cháu. Thậm chí sau khi cháu làm chứng, và đặc biệt lời khai của cháu dẫn tới những lời tuyên án thì cháu vẫn sẽ là một mục tiêu. Vì báo thù.”
          Cô dừng lại, uống một ngụm Coke trực tiếp từ lon. Thật tuyệt.
          “Đêm qua cháu rất mệt mỏi - sáng nay, nói thế chính xác hơn. Do uống rượu, bị say, và cả do xốc nữa. Cháu đã không đánh giá hết tình hình. Nhưng giờ thì cháu đã biết. Nếu nhà Volkov là bọn người xấu, một lũ côn đồ và tội phạm thì tình hình lúc này rất khó khăn. Nếu chúng là tội phạm có tổ chức, nếu chúng là mafia Đỏ, thì còn tệ hơn nữa. Cho nên cháu muốn biết.”
          Cô nhìn hai viên cảnh sát đưa mắt nhìn nhau.
          “Một khi được dùng máy tính,” Elizabeth nói thêm, “cháu có thể tìm hiểu và tự tìm ra câu trả lời.”
          “Chú cược là cháu làm được như vậy,” John lẩm bẩm. “Các chú tin - không, là biết chứ - nhà Volkov là tội phạm có tổ chức. Các chú biết chúng can dự sâu vào buôn vũ khí và buôn người, gian lận máy tính - một chuyên môn đấy - bảo kê, trộm cắp, ma túy. Chúng là một tổ chức rộng, với những quyền hợp pháp đáng kể - hoặc tương đối hợp pháp - như các hộp đêm, nhà hàng, vũ trường thoát y và bất động sản. Lực lượng hành pháp có thể xóa sổ một ít, nhưng vẫn chưa động vào được hệ thống cốt tủy của chúng. Các chú biết Korotkii là công cụ của Sergei Volkov - tay đâm thuê chém mướn của hắn. Nhưng các chú vẫn chưa thể tóm được gã.”
          “Gã rất thích thú khi giết Alex. Gã rất coi thường Alex. Còn với Julie... giết Julie khiến gã khó chịu. Không hơn, không kém. Cháu xin lỗi, cháu không thể ăn được hết.”
          “Không sao.”
          Cô nhìn xuống hai tay mình một lúc, sau đó ngước lên nhìn vào mắt John. “Cháu sẽ không thể trở lại Harvard. Cháu sẽ không thể trở về nhà. Nếu cháu làm chứng, cháu sẽ phải theo Chương trình bảo vệ nhân chứng. Có phải mọi chuyện sẽ như vậy không?”
          “Cháu cầm đèn chạy trước ô tô rồi,” Terry bảo cô.
          “Cháu luôn nghĩ trước mọi việc. Hôm qua cháu lại không làm vậy, và đã phải trả giá khủng khiếp. Liệu cháu có thể đến một trường đại học khác, với cái tên khác được không?”
          “Các chú có thể làm được việc đó,” John nói. “Các chú sẽ bảo vệ chu đáo nhân chứng của mình, Liz. Cháu có thể tìm hiểu chuyện đó qua máy tính.”
          “Cháu sẽ làm. Chúng không biết cháu là ai. Ý cháu là cháu không nói họ của mình cho Ilya. Gã chỉ biết tên cháu là Liz - thường được hiểu là viết tắt của Elizabeth. Và cháu... trước khi chúng cháu đến vũ trường, cháu đã cắt và nhuộm tóc. Cháu trông không hề giống thế này.”
          “Cô thích tóc cháu,” Terry nói. “Trông cháu xinh hẳn.”
          “Trông cháu rất khác. Đêm qua, có trang điểm, mặc váy, kiểu tóc, trông cháu khác hẳn bình thường. Có lẽ có cách ra làm chứng mà không để chúng phát hiện ra cháu là ai. Cháu biết đó là một cơ hội mong manh, nhưng cháu rất muốn tin như vậy, nhất là trong lúc này.”
          Terry đứng lên khi điện thoại di động của cô kêu. Cô móc điện thoại trong bao đeo ở thắt lưng. “Norton đây. Vâng. Đã rõ.” Cô cất điện thoại vào bao. “Người ta đang đưa mẹ cháu vào.”
          “Vâng.” Elizabeth đứng lên, bỏ dĩa của mình vào bồn rửa. “Cháu sẽ rửa chén đĩa.”
          “Chú giúp cháu một tay,” John nói.
          “Không. Nếu cô chú không phiền, cháu muốn một mình một lát trước lúc mẹ cháu vào đây.”
          “Được rồi.” Ông đặt tay lên vai cô. “Sẽ ổn thôi, Liz.”
          Cô chỉ gật đầu và cô giữ cho hai tay mình bận rộn làm gì đó. Như thế để không ai phát hiện ra chúng đang run lên.
          Lúc những nhân viên mặc thường phục đưa mẹ cô tới cửa, cô cảm thấy đã kiểm soát được bản thân mình. Trong phòng khách bài trí sơ sài, Elizabeth đứng lên lúc bà Susan bước vào. Ánh mắt nhìn nói với cô rằng lời xin lỗi của cô vẫn là không đủ.
          “Chúa ơi, Elizabeth, con đã làm gì với tóc của con vậy?”
          “Con...” Như mất thăng bằng, Elizabeth đưa một tay lên tóc. “Con xin lỗi.”
          “Mẹ tin là con biết lỗi.”
          “Tiến sĩ Fitch, tôi là cảnh sát Tư pháp Barrow, còn đây là sĩ quan Norton. Chúng tôi hiểu đây là một tình thế rất khó khăn. Nếu chúng ta có thể ngồi xuống, chúng tôi sẽ giải thích chính xác chúng ta cần phải có những biện pháp đề phòng gì để bảo vệ con gái bà.”
          “Chuyện đó không cần thiết. Tôi đã được nói qua rồi. Nếu các vị bỏ qua, tôi xin phép được nói chuyện riêng với con gái mình.”
          “Rất xin lỗi, thưa tiến sĩ Fitch, vì bảo vệ cô bé, cần thiết ít nhất phải có một người trong chúng tôi ở cùng Elizabeth mọi thời điểm.”
          Elizabeth liếc nhìn về phía ông, thắc mắc tại sao vừa nãy ông ấy lại để cô một mình trong bếp.
          “Cũng được. Ngồi xuống đi, Elizabeth.” Susan vẫn đứng. “Không chấp nhận được bất kỳ lời giải thích, bất kỳ lý do gì cho hành xử của con. Nếu đúng như những gì mẹ được biết, con đã phạm luật khi làm giấy tờ giả để lọt vào một vũ trường cùng với một bạn vị thành niên khác. Ở đó con đã uống rượu. Những chuyện này có đúng không?”
          “Đúng. Vâng, tất cả đều đúng.”
          “Tệ hơn nữa là con còn đi cùng một gã đàn ông con vừa mới quen về nhà anh ta. Con đã quan hệ tình dục với người đó chưa?”
          “Chưa.”
          “Bắt buộc con phải trả lời trung thực đấy, vì con có thể bị lây bệnh hoặc có thai.”
          “Con không ngủ với ai cả.”
          Bà Susan nhìn cô lạnh lùng như một tiêu bản dưới kính hiển vi. “Mẹ không thể tin những lời của con. Con sẽ phải đi kiểm tra càng sớm càng tốt. Hành động nào cũng có hậu quả, Elizabeth, con thấy rồi đấy.”
          “Con không ngủ với ai hết,” Elizabeth thản nhiên nói. “Julie ngủ với Alex, và giờ bạn ấy chết rồi. Có vẻ hậu quả quá đắt.”
          “Với những hành động của mình, con khiến cho bản thân và cô bạn ấy rơi vào tình thế cực kỳ nguy hiểm.”
          Những lời ấy như những hòn đá tảng, ném thẳng vào chân cô, làm gãy xương.
          “Con biết. Con không hề bào chữa.”
          “Bởi vì không có gì để bào chữa. Giờ thì một cô bé đã chết, còn con thì phải có cảnh sát bảo vệ. Con còn có thể đối diện với những cáo buộc hình sự...”
          “Tiến sĩ Fitch,” John xen vào. “Cho phép tôi làm bà và Elizabeth an tâm. Sẽ không có cáo buộc nào cả.”
          “Ông quyết định được việc đó à,” bà vặc lại, rồi quay ngoắt lại Elizabeth. “Mẹ hiểu rằng những cô gái ở tuổi con thường thiếu suy xét, thường bất chấp luật lệ. Mẹ đã châm chước điều đó trong cuộc trò chuyện của chúng ta trước lúc mẹ đi Atlanta. Nhưng mẹ kỳ vọng những điều tốt đẹp hơn là vụ lùm xùm này từ một người với trí thông minh như con, năng lực như con, được nuôi dạy như con. Nhờ trời phù hộ nên con mới không bị giết.”
          “Con đã chạy trốn.”
          “Ít nhất cũng thể hiện được chút khôn ngoan. Bây giờ, thu xếp đồ đạc của con đi. Mẹ sẽ hẹn một bác sĩ phụ khoa kiểm tra cho con trước khi chúng ta về nhà.”
          “Nhưng... con không thể về nhà.”
          “Đây không phải lúc để thể hiện tính độc lập không đúng chỗ.”
          “Elizabeth đang được Cục Cảnh sát Tư pháp Hoa Kỳ bảo vệ,” John lên tiếng. “Cô bé là nhân chứng duy nhất của một vụ giết người kép. Kẻ thực hiện những vụ giết người đó có khả năng là một sát thủ của ông trùm Volkov. Đó là mafia Nga, thưa tiến sĩ Fitch, không rõ những chi tiết đó có tác động đến bà không?”
          “Tôi hiểu những gì Elizabeth đã báo với cảnh sát.”
          Elizabeth biết rõ cái giọng điệu đó - giọng điệu của trưởng khoa phẫu thuật luôn đòi hỏi không có những điều vô lý, không cho phép tranh luận, không chấp nhận thảo luận.
          “Tôi cũng được báo rằng gã kia không trông thấy con bé, và hắn cùng những kẻ đi cùng không hề biết tên nó. Tôi định đưa con gái mình về nhà, nơi nó sẽ bị kỷ luật thích đáng vì cách hành xử nông nổi của nó.”
          “Bà có thể dự định bất kỳ việc gì bà muốn, thưa tiến sĩ Fitch, nhưng Liz đang được Cục Cảnh sát Tư pháp Hoa Kỳ bảo vệ.” John nói rất điềm tĩnh, rất rành rọt, đến mức Elizabeth chỉ biết nhìn sững ông.
          “Cô bé sẽ được đưa ra khỏi chỗ này trong tối này, tới một chỗ chúng tôi cảm thấy an toàn hơn. Nhà của bà không phải là địa điểm an toàn, và sự an toàn của cô bé là ưu tiên của chúng tôi. Và tôi nghĩ đó cũng là ưu tiên của bà.”
          “Tôi có đủ khả năng để thuê an ninh riêng, nếu cần. Tôi đã liên hệ với luật sư của tôi. Elizabeth không bắt buộc phải làm chứng vụ này.”
          “Họ không hề ép buộc con. Chính con đồng ý ra làm chứng.”
          “Con vẫn suy xét rất thiếu cẩn trọng. Đây là quyết định của mẹ.”
          Ông ấy gọi mình là Liz, Elizabeth nghĩ thầm. Ông ấy gọi cô là Liz và thách thức chỉ đạo của tiến sĩ Susan L. Fitch - trước mặt bà ấy. Cho nên cô sẽ là Liz. Cô sẽ không còn là Elizabeth.
          “Không, không.” Cô lên tiếng. “Con phải làm chứng. Con không thể về nhà.”
          Vẻ sững sờ thoáng át cơn giận dữ lạnh lùng trên mặt Susan. “Con có hình dung được hậu quả của việc này không? Con sẽ không thể tham gia vào chương trình, hay học ở Harvard mùa thu này. Con sẽ làm chậm và đổ vỡ chương trình giáo dục của mình, con sẽ đặt cuộc sống của mình, cuộc đời của mình, Elizabeth, vào tay những người mà mục đích thực sự chỉ là kết tội gã đàn ông đó, mặc con phải gánh bất kỳ cái giá nào.”
          “Julie đã chết.”
          “Không gì thay đổi được chuyện đó nữa, nhưng quyết định này có thể hủy hoại cuộc đời con, mọi kế hoạch của con, tương lai của con.”
          “Làm sao con có thể về nhà cứ như thể chẳng có chuyện gì xảy ra quay lại cuộc sống của mình ư? Và những kế hoạch của mẹ nữa, bởi vì chúng chưa bao giờ là của con cả. Nếu chương trình của họ là kết án những kẻ giết người thì con chấp nhận điều đó. Chương trình của mẹ dành cho con là không làm gì cả, là vâng lệnh, và sống cuộc sống mẹ vạch ra cho con. Con không thể. Con không thể làm vậy được nữa. Con phải làm những gì là đúng đắn. Đó là hậu quả, mẹ ạ. Và con phải chấp nhận hậu quả đó.”
          “Con sẽ chỉ càng làm cho sai lầm của mình thêm tệ hại thôi.”
          “Tiến sĩ Fitch,” John lên tiếng. “Công tố viên liên bang đang đến đây để nói chuyện với Liz...”
          “Elizabeth.”
          “Bà sẽ nghe những điều mà ông ấy phải nói rõ. Các bước phải thực hiện. Bà có thể mất chút thời gian. Tôi hiểu đây là một cú sốc. Chúng tôi sẽ đưa bà và con gái tới một chỗ mới, nơi hai người có vài ngày để cân nhắc, để trò chuyện.”
          “Mẹ không có ý định đi bất kỳ đâu với con, và mẹ không có nghĩa vụ phải đi bất kỳ đâu với con. Mẹ mong con sẽ nhận thức lại trong một hai ngày tới,” bà ấy nói với Elizabeth. “Khi con nhận ra những giới hạn tình thế hiện tại của mình, cùng mức độ thực sự của những hậu quả ấy. Mẹ sẽ bảo bác sĩ Frisco rằng con bị ốm, và sẽ cố học đuổi sau. Hãy suy nghĩ cho kỹ, Elizabeth. Có những bước đi không bao giờ làm lại được nữa đâu.”
          Bà chờ đợi, miệng mím chặt khi Elizabeth không trả lời.
          “Liên lạc với mẹ khi con sẵn sàng về nhà. Thưa các vị cảnh sát,” bà ấy nói, và đi ra phía cửa.
          John chặn bà ấy ở cửa. “Xin chờ một chút, thưa tiến sĩ.” Ông ấy nhấc bộ đàm. “Barrow đây. Tiến sĩ Fitch đang ra ngoài. Cần có người hộ tống bà ấy về nhà.”
          “Tôi hiểu. Ngoài này ổn cả.”
          “Ông không tán thành quyết định của tôi trong tình huống này mà,” Susan nói.
          “Bà không hề cần hay muốn sự tán thành của tôi, nhưng đúng là không. Không một chút nào.”
          “Ông nói đúng. Tôi không hề cần hay muốn sự tán thành của ông.” Bà bước ra mà không hề nhìn lại sau.
          Khi ông bước vào, ông thấy Terry đang ngồi trên tay ghế của Elizabeth, một tay nhẹ đặt lên vai cô bé.
          “Người ta phản ứng trước sự sợ hãi và lo lắng theo những cách khác nhau mà,” ông lên tiếng.
          “Mẹ cháu không hề sợ hãi hay lo lắng, hay ban đầu là như vậy. Trước hết, bà ấy nổi giận và thấy bực tức. Cháu hiểu điều đó.”
          “Bà ấy không đúng,” Terry nói với cô. “Cô biết bà ấy là mẹ cháu, nhưng bà ấy không hiểu thực tế.”
          “Mẹ cháu chẳng bao giờ sai, và bà ấy cũng chưa bao giờ là một người mẹ đúng nghĩa. Cháu về phòng một lúc có được không?”
          “Được chứ. Nhưng, Liz này,” John nói thêm khi cô đứng lên, “chẳng có ai không bao giờ sai sót cả đâu.”
          “Khốn nạn,” Terry rít lên khi Elizabeth rời khỏi phòng. “Lạnh nhạt, đến đây, là lượt từ đầu đến chân, để rỉa rói con bé đúng vào lúc như thế này.”
          “Bà ấy chưa bao giờ thực sự hiểu con bé,” John lẩm bẩm. “Bà ấy chưa bao giờ vòng tay ôm con bé, chưa bao giờ hỏi nó thế nào, chưa bao giờ nói bà ấy thấy mừng vì nó không sao. Tội nghiệp, nếu cuộc sống của con bé là như thế này thì Chương trình bảo vệ nhân chứng có thể lại là một bước cải thiện.”
          ***
          Elizabeth dành ra hai tiếng với ông Pomeroy từ Văn phòng Biện lý Hoa Kỳ. Cô phải kể lại toàn bộ một lượt, tất cả mọi việc của buổi tối hôm ấy, nhưng lần này có những chỗ bị ngắt lời để làm rõ, khiến cô phải kể lại, nhảy cóc, rồi lại vòng lại. Cùng đi với ông ấy còn ba người nữa, tất cả đều mặc đồ đen. Một người trong số họ ghi chép, mặc dù họ đã ghi âm lại cuộc phỏng vấn.
          Các thanh tra Riley và Griffith cũng đến, cho nên có cảm giác căn nhà rất nhỏ nhưng quá đông người.
          Đến một lúc, Pomeroy ngả người trên ghế, nhíu mày. “Bây giờ, Elizabeth, cháu thừa nhận cháu có uống một vài ly rượu. Là bao nhiêu ly? Ba hay bốn? Hay hơn?”
          “Hơn bốn ly một chút. Cháu không uống hết ly cuối cùng. Khi bọn cháu tới nhà Alex, cháu uống một ít nước. Anh ta mời cháu một ly nữa, nhưng cháu không thích. Cháu cảm thấy không khỏe.”
          “Và còn bị say nữa. Sau khi cháu say, cháu thiếp ngủ ở hiên trời. Cháu có hay uống rượu không?”
          “Cháu không. Ý cháu nói là cháu đã từng uống một chút rượu vang, vì mẹ cháu tin rằng cháu nên luyện khẩu vị thật tinh tế, nhưng cháu chưa bao giờ uống rượu pha trước đó.”
          “Vậy đó là trải nghiệm đầu tiên của cháu với loại rượu đó, và cháu uống gần năm ly trong suốt buổi tối, bị say, ngủ - hoặc bất tỉnh - bên ngoài. Nhưng cháu nói cháu có thể nhận diện những người vào nhà và bắn Alexi Gurevich cùng Julie Masters phải không? Và ở khoảng cách bao nhiêu nhỉ?”
          “Khoảng ba mét. Nhưng cháu rất chắc chắn. Cháu nhìn thấy họ rất rõ. Họ ở trong khu vực có ánh sáng.”
          “Chẳng lẽ cháu không hề bị ảnh hưởng gì sau khi đã uống ngần ấy rượu, sau khi đã trác táng đến mệt lử vậy à?”
          Xấu hổ, cô đăm đăm nhìn hai tay mình nắm chặt để trên đùi. “Cháu biết rõ thời gian phản ứng của cháu bị ảnh hưởng, và chắc chắn cả nhận định của cháu nữa. Nhưng thị lực và thính lực của cháu thì không.”
          Pomeroy gật đầu với một người cùng đi với ông ấy. Người này bước tới, đặt vài tấm ảnh lên bàn.
          “Em có nhận ra ai trong số những người này không?” anh ta hỏi cô.
          “Có.” Cô chỉ một người ở góc bên phải của xấp ảnh. “Đó là Yakov Korotkii. Đó là kẻ đã bắn Alex, sau đó là Julie. Trong ảnh tóc gã dài hơn.”
          “Cháu có biết người này không?” Pomeroy hỏi cô. “Cháu đã gặp người này từ trước chưa?”
          “Cháu chưa bao giờ gặp gã. Cháu chỉ nhận thấy gã, và chỉ mới đêm qua, khi gã bắn Alex và Julie.”
          “Được rồi.” Pomeroy nhặt số ảnh lên, và người kia lại đặt một xấp khác xuống. “Em có nhận ra người nào ở đây không?”
          “Người này. Bọn họ gọi gã là Yegor. Cháu không biết tên đầy đủ của gã. Gã đi cùng Korotkii. Gã giữ tay Alex, sau đó đạp anh ta quỳ xuống.”
          “Một lần nữa nhé.” Những tấm ảnh được bỏ đi, những tấm khác được trải xuống.
          “Kia là Ilya.” Vì hai môi cô run run, nên cô phải mím chặt lại. “Ilya Volkov. Anh ta vào sau... sau khi Julie và Alex đã chết. Chỉ vài phút sau đó. Anh ta rất tức giận. Anh ta nói bằng tiếng Nga.”
          “Làm sao cháu biết anh ta tức giận?”
          “Cháu nói được tiếng Nga, không thạo lắm. Bọn họ nói... đây là lời dịch nhé. Như thế có được không ạ?”
          “Được.”
          Cô hít một hơi, nhắc lại cuộc trò chuyện.
          “Rồi cháu bỏ chạy. Cháu biết bọn họ bắt đầu lùng tìm cháu, và nếu họ tìm thấy cháu, họ sẽ giết cháu vì cháu đã nhìn thấy hết. Khi cháu ngừng chạy, cháu gọi cho 911.”
          “Tốt lắm. Cháu làm rất tốt, Elizabeth. Chúng ta sẽ bắt giữ những người này. Có thể cần cháu phải nhận dạng chúng lần nữa, xếp hàng ra. Chúng sẽ không thể nhìn thấy cháu.”
          “Vâng, cháu biết.”
          “Lời khai của cháu sẽ giúp tống những kẻ rất nguy hiểm vào tù. Văn phòng Biện lý rất biết ơn cháu.”
          “Không có gì ạ.”
          Ông ấy mỉm cười trước câu đó. “Chúng ta sẽ nói chuyện nữa. Chúng ta sẽ còn gặp nhau rất nhiều trong mấy tuần tới. Nếu cháu cần bất kỳ điều gì, Elizabeth, bất kỳ điều gì, một cảnh sát Tư pháp sẽ thực hiện cho cháu, hoặc cháu có thể liên hệ với chú. Các chú muốn cháu thấy thoải mái nhất có thể.”
          “Cảm ơn các chú.”
          Sự căng thẳng mà cô không hề nhận thấy tan biến khi ông ấy rời đi.
          Cũng giống như Terry đã làm lúc trước, Griffith ngồi lên tay ghế của cô. “Ông ấy phải nghiêm nghị với em vì mọi việc sẽ rất khó khăn. Những gì em phải làm, những gì nhóm bào chữa sẽ làm để bác bỏ lời chứng của em. Đó sẽ là một con đường rất không dễ dàng.”
          “Em biết. Chị vẫn tham gia điều tra chứ?”
          “Đây là cuộc phối hợp điều tra, vì chính chú Riley và chị thúc đẩy nó. Đây là vụ việc cấp liên bang, nhưng chúng ta vẫn phải vào cuộc thôi. Em sẽ trụ được chứ?”
          “Em ổn. Mọi người đều rất quan tâm. Cảm ơn chị đã lấy đồ đạc cho em.”
          “Không có gì đâu em. Em còn cần gì nữa không?”
          “Em cần laptop. Lẽ ra em nên nhờ chị từ trước, nhưng em nghĩ không ra.”
          “Em sẽ không thể gửi mail cho bất kỳ ai, không vào các nhóm trò chuyện trên mạng, không đăng tải gì.”
          “Không phải những việc đó. Em muốn học, và nghiên cứu. Giá em có máy tính của mình, cùng một ít sách vở...”
          “Chị sẽ thử tìm giúp em.”
          Như thế là quá đủ.
           
          Khi đêm xuống, họ đưa cô lên một chiếc xe cùng với John và Terry. Griffith và Riley lái xe phía sau; thêm mấy cảnh sát khác dẫn đường.
          Khi họ phóng trên đường cao tốc, cô chợt nhớ rằng mới chỉ hai tư tiếng đồng hồ trước cô còn mặc bộ váy đỏ mới và đi đôi giày cao gót bóng lộn của mình. Và Julie, đôi mắt sáng rực, giọng nói phiêu phiêu, ngồi bên cạnh cô trong một chiếc taxi. Còn sống.
          Mọi thứ hoàn toàn khác.
          Giờ đây mọi thứ lại đổi khác.
          Họ tiến thẳng vào gara một tòa nhà hai tầng giản dị có sân rộng, sâu. Nhưng gara thì trống tuềnh trống toàng - không dụng cụ, không hòm xiểng, không phế thải.
          Cánh cửa dẫn vào trong nhà như phô ra sự bế tắc. Người mở cửa có mấy sợi tóc điểm bạc trên mái tóc nâu sẫm. Dù cao gần bằng John nhưng ông ấy to con hơn - trông vạm vỡ với quần bò và áo phông, vũ khí của ông ấy đeo trễ bên hông.
          Ông ấy bước lùi lại để họ có thể tiến vào bếp - rộng hơn gian nhà họ vừa rời đi. Đồ đạc hiện đại hơn, sàn lát gạch màu vàng nâu.
          “Liz, đây là sĩ quan Cosgrove.”
          “Chú là Bill.” Ông ấy chìa một tay và mỉm cười động viên Elizabeth. “Chào mừng cháu về nhà. Chú Peski - kia là cô Lynda - đang kiểm tra vòng ngoài. Đêm nay, các cô chú sẽ bảo vệ cháu an toàn.”
          “Ôi... Nhưng...”
          “Bọn chú sẽ quay lại vào buổi sáng,” John bảo cô. “Nhưng bọn chú sẽ để cháu ổn định mọi thứ rồi mới đi.”
          “Để cô dẫn đường và chỉ cho cháu phòng cháu nhé,” Terry gợi ý, và Elizabeth chưa kịp đồng ý hay phản đối thì Terry đã nhấc va li của cô lên và bước ra.
          “Con bé trẻ hơn tôi hình dung,” Bill nhận xét.
          “Con bé mệt mỏi, vẫn còn hơi thảng thốt. Nhưng con bé rất vững vàng. Nó chịu được suốt hai tiếng với Pomeroy mà không hề lóng ngóng. Hội đồng xét xử sẽ rất quý nó cho mà xem.”
          “Một cô bé vị thành niên hạ gục nhà Volkov.” Bill lắc đầu. “Không thể tin được.”
          ***
          Selgei Volkov đang rất sung mãn, một quý ông giàu có xuất thân từ nghèo hèn. Mới lên mười, lão đã là một thằng trộm cắp có số má biết tường tận mọi ngóc ngách, hang hốc ở cái khu ổ chuột tởm lợm của mình tại Moscow. Tay lão nhuốm máu lần đầu năm mười ba tuổi, đâm thủng ruột nạn nhân bằng một con dao dã chiến Mỹ. Con dao đó lão đã thó được từ một địch thủ bị lão bẻ gãy tay, một thằng nhóc mười sáu tuổi ranh như quỷ. Lão vẫn còn giữ con dao ấy.
          Lão trưởng thành qua hết các phẩm cấp của hệ thống bratva[11] Moscow, trở thành toán trưởng khi chưa đầy mười tám tuổi.
          Tham vọng của lão leo cao nữa cho tới khi, cùng với em trai mình là Mikhail, lão tiếp quản bratva bằng một cuộc đảo chính đẫm máu, tàn bạo ngay khi Liên Xô tan rã. Theo tư duy của Sergei, đó là thời khắc của vận hội và thay đổi.
          Lão kết hôn với một phụ nữ có khuôn mặt đáng yêu và có khiếu thẩm mỹ với những thứ đẹp đẽ. Bà ta sinh cho lão hai cô con gái, và lão rất ngạc nhiên rằng lão vô cùng yêu thương chúng ngay từ lúc chúng mới chào đời. Lão đã khóc khi lão bế con lần đầu tiên, vô cùng sung sướng, ngạc nhiên và tự hào.
          Nhưng cuối cùng, khi lão có con trai, chẳng còn tí nước mắt nào nữa. Niềm sung sướng đó, sự ngạc nhiên và tự hào đó, quá sâu xa đến không thể chảy nước mắt.
          Con cái lão, tình yêu và hoài bão lão dành cho chúng, đã khiến lão quyết định di cư sang Mỹ. Ở đó, lão có thể tặng cho chúng những cơ hội, với một cuộc sống giàu sang hơn.
          Và lão cho rằng đã đến lúc bành trướng.
          Lão chứng kiến đứa con lớn kết hôn với một chàng luật sư, và lão đã được bế đứa cháu đầu tiên. Và đã khóc. Lão gây dựng cho con gái thứ hai - họa sĩ của lão, đứa mơ mộng của lão - xưởng nghệ thuật riêng.
          Nhưng con trai lão, à, thằng con lão, doanh nhân của lão với tấm bằng của Đại học Chicago, đó mới là di sản của lão. Con trai lão thông minh, khỏe mạnh, nhạy bén, và máu lạnh.
          Mọi hy vọng và thèm khát của gã thiếu niên ở khu ổ chuột Moscow được hiện thực hóa trong đứa con trai.
          Giờ lão làm việc trong khu vườn râm mát tại điền trang ở Gold Coast của mình, đang đợi Ilya đến. Sergei là một người đàn ông rắn rỏi và điển trai với những lọn bạc điểm trên mái tóc đen, đôi lông mày đen rậm bên trên cặp mắt màu mã não. Lão giữ cho thân hình rắn chắc và thỏa mãn được cả vợ, bồ và thỉnh thoảng là mấy ả gái làng chơi.
          Những khu vườn của lão là niềm tự hào nữa. Dĩ nhiên, lão có thuê người làm vườn và cả lao công, nhưng mỗi tuần lão vẫn dành ra nhiều giờ làm những việc lặt vặt, đào bới đất, trồng một giống mới nào đó bằng chính từ bàn tay mình.
          Nếu không trở thành một bố già, Sergei tin lão có thể sống một cuộc sống hạnh phúc, rất giản dị của một người làm vườn.
          Mặc chiếc quần cộc thùng thình, những hình xăm ngôi sao trên đầu gối lão vấy đầy đất và phân phủ cho cây mới trồng, lão cứ tiếp tục đào bới nhưng vẫn nghe rõ tiếng con trai lại gần.
          “Phân gà,” Sergei nói. “Thứ đó rẻ tiền, dễ kiếm, và làm cho cây cối rất thích.”
          Khó chịu, lúc nào cũng vậy, trước cao thủ thích bẩn thỉu của bố mình, Ilya lắc lắc đầu. “Và ngửi toàn mùi cứt gà.”
          “Một cái giá nho nhỏ phải trả thôi mà. Mấy khóm ngọc trâm của bố rất thích, con thấy kia không? Khóm phế thảo sắp nở hoa đến nơi rồi. Có rất nhiều bí mật trong những chỗ râm mát và tối tăm.” Sergei nhìn lên, hơi nheo mắt. “Thế nào. Tìm được con bé chưa?”
          “Vẫn chưa. Nhưng sẽ thấy thôi. Con đã cho người kiểm tra ở Harvard. Chúng ta sẽ sớm tìm ra tên nó, và từ đó, chúng ta sẽ tóm được nó.”
          “Đàn bà luôn dối trá, Ilya.”
          “Con không nghĩ nó nói dối vụ này. Nó học y ở đó, và có vẻ không thích. Mẹ nó, một bác sĩ phẫu thuật, sống tại Chicago này. Con tin chi tiết này cũng đúng. Chúng ta đang tìm kiếm bà mẹ.” Ilya khom người xuống. “Con sẽ không vào tù đâu.”
          “Không, con sẽ không vào tù. Yakov cũng vậy. Bố cũng đang tìm những lối khác nữa. Nhưng bố không hài lòng vì một toán trưởng của ta hiện đang bị giam?”
          “Anh ta sẽ không hé răng đâu.”
          “Chuyện này không làm bố lo. Nó sẽ chẳng nói gì cả, giống như Yegor sẽ không nói gì. Cảnh sát Mỹ thì sao? Là cứt.” Lão ví họ như những thứ rác rưởi cùng với một động tác phẩy tay. “Chúng sẽ chẳng bao giờ phá được những thứ như thế này. Chúng cũng không làm gì được con nếu chúng ta không thuyết phục được thẩm phán về chuyện bảo lãnh. Nhưng con bé này, nó làm bố thấy lo. Bố rất lo, Ilya, rằng con bé vẫn còn sống đâu đó. Bố lo rằng Yakov không biết rằng con bé và ai đó khác đã có mặt ở chỗ đó.”
          “Nếu con không bị chậm lại thì con cũng đã có mặt ở đó, và sẽ ngăn được mọi việc. Lúc đó dù cũng chẳng còn nhân chứng nữa.”
          “Chuyện liên lạc là cả một vấn đề đấy. Kiểu gì cũng phải xem lại.”
          “Bố nói là để mắt đến nó, theo sát nó cho tới khi có thể trừng phạt nó về tội ăn cắp.” Ilya nhích tới, giật phắt cặp kính của mình. “Con sẽ đích thân chặt tay nó vì tội ăn cắp của gia đình. Bố đã cho nó mọi thứ, nhưng nó chỉ biết đòi hỏi thêm. Nhiều tiền, nhiều ma túy, nhiều đàn bà, nhiều thứ để khoe. Thằng anh họ của con đấy. Tham lam.” Gã rít lên những lời nói về kẻ phản bội. “Nó nhổ vào mặt chúng ta, hết lần này đến lần khác. Bố đã rất tốt với nó, bố ạ.”
          “Cháu họ của mẹ con. Bố nỡ nào lại không hết lòng? Nhưng bố đã rất hy vọng.”
          “Bố cho nó nhập hội, nó và Yakov.”
          “Và thằng Yakov đã chứng tỏ nó xứng đáng với món quà đó. Còn Alexi?” Sergei nhún vai. “Cứt gà,” lão nói với nụ cười nhếch lên. “Giờ thì nó sẽ là phân bón. Ma túy. Nó chết vì thứ đó. Đây là lý do vì sao bố rất nghiêm khắc với con và các chị. Ma túy chỉ là thứ để kinh doanh. Vì ma túy - đó chính là gốc rễ - nó ăn cắp của chúng ta, phản bội chúng ta và dòng máu của chính nó.”
          “Giá như con biết, con đã có mặt ở đó, để chứng kiến nó cầu xin như một con đàn bà. Để chứng kiến nó chết.”
          “Thông tin nó bị bắt, và thỏa thuận thằng khốn đó đưa ra với cảnh sát, chỉ đến tai chúng ta vào đúng đêm đó. Cần phải giải quyết nó thật nhanh. Bố phái Yakov và Yegor tới kiểm tra nhà nó, xem nó có ở đó không. Cho nên có lẽ nó bị giải quyết quá nhanh. Phạm ngay phải sai lầm, như dân Mỹ vẫn nói. Trước giờ con đâu có giao hảo với Alexi. Gu của nó lúc nào cũng kém xa con.”
          “Lẽ ra con đã ở đó,” Ilya nhắc lại. “Và con bé, cô ta thật hấp dẫn. Tươi trẻ, chưa hư hỏng. Buồn. Một chút buồn. Con thích cô ta.”
          “Còn vô khối đứa khác mà. Con bé chết chắc rồi. Giờ con sẽ ở lại ăn tối. Việc đó làm mẹ con vui đấy, cả bố nữa.”
          “Vâng.”
          #5
            Thanh Vân 29.11.2023 19:15:12 (permalink)

            6


            Hai tuần trôi qua, rồi lại bắt đầu tuần mới. Số lần Elizabeth được phép rời khỏi căn nhà chỉ đếm trên đầu ngón tay. Và không bao giờ đi một mình cả.
            Cô không bao giờ một mình.
            Cô, vốn từng mong mỏi có người bầu bạn, giờ đây lại thấy việc thiếu đi sự cô quạnh còn khổ sở hơn khi chỉ có bốn bức tường vây quanh.
            Cô đã có laptop. Họ chặn không cho cô dùng mail và chat. Để cho đỡ chán và vì tò mò, cô đã hack qua tường lửa. Dù không định liên lạc với ai, nhưng việc đó cho cô cảm giác có thành tích.
            Cô giữ riêng thắng lợi nho nhỏ đó cho mình.
            Cô gặp nhiều ác mộng, và cũng chẳng hề nói ra.
            Họ mang cho cô một ít sách và đĩa CD nhạc. Cô chỉ cần đề nghị. Việc thỏa thuê ngốn tiểu thuyết bình dân và thứ âm nhạc mẹ cô cực lực phản đối lẽ ra phải giúp cô có cảm giác được tự do. Thay vào đó, nó chỉ càng cho thấy rõ cô thiếu rất nhiều, và cô biết quá ít ỏi về thế giới thật.
            Mẹ cô chẳng hề xuất hiện.
            Sáng sáng John và Terry đổi ca đêm, và mỗi buổi chiều Bill và Lynda lại thay họ. Thỉnh thoảng họ tự nấu ăn; bữa sáng dường như là đặc sản của John. Nhưng phần lớn thời gian, họ mua sẵn. Pizza hoặc bánh kẹp, gà rán hoặc đồ ăn Tàu. Cảm giác mình có lỗi và một phần để phòng vệ - Elizabeth bắt đầu thử nấu ăn. Thực đơn thì cứ theo công thức mà làm. Gian bếp trở thành một dạng phòng thí nghiệm.
            Và nhờ thử nghiệm, cô tìm thấy sự ham thích. Cô thích việc chặt thịt và đảo thức ăn, mùi hương, các hỗn hợp.
            “Thực đơn có gì nào?”
            Ngồi bên bàn, Elizabeth ngước lên nhìn John bước vào. “Cháu nghĩ cháu có thể thử món gà rang khô này.”
            “Nghe được đấy.” Ông tự rót cà phê cho mình. “Vợ chú làm món rang khô để lừa bọn trẻ con ăn nhiều rau.”
            Cô biết ông ấy và vợ, Maddie, có hai con. Một cậu bé bảy tuổi, Maxfield, đặt tên theo họa sĩ Maxfield Parrish, và Emily - theo Emily Bronte - lên năm.
            Ông ấy đã cho cô xem ảnh, mấy tấm ảnh trong ví ông ấy, và kể cô nghe những câu chuyện buồn cười về bọn trẻ.
            Để thân tình, cô hiểu như vậy. Và đúng như vậy, nhưng điều đó cũng khiến cô nhận ra chẳng hề có những câu chuyện buồn cười về cô lúc còn bé.
            “Các em ấy có lo lắng về chú không? Vì làm trong lực lượng hành pháp ấy?”
            “Max và Em hả? Chúng còn nhỏ nên chưa biết lo. Chúng biết chú truy lùng bọn xấu, và cho đến giờ thì chuyện đó vẫn ổn. Còn Maddie hả?” Ông ngồi xuống cùng với cốc cà phê. “Ờ, thỉnh thoảng. Là một phần trong hành trang rồi. Và có thể điều đó rất khó khăn với cô ấy, giờ làm việc kéo dài, thời gian vắng nhà nữa.”
            “Chú nói cô là một thư ký tòa án nhỉ.”
            “Ờ, cho đến khi Max ra đời. Ngày đẹp nhất trong đời chú, cái ngày ở tòa án ấy. Chú gần như chẳng nhớ nổi tên mình khi cô ấy ngồi ở đó. Người phụ nữ xinh đẹp nhất chú từng gặp. Chú chả hiểu làm sao chú lại có đủ may mắn để rủ cô ấy hẹn hò với chú, rồi lại còn cưới chú nữa.”
            “Chú là một người đàn ông rất vững vàng,” Elizabeth nói. “Hấp dẫn về hình thức. Chú tốt bụng và có thế giới quan rộng, nhiều thứ quan tâm. Và thực tế chú làm công việc quyền lực, mang vũ khí, cũng có thể hấp dẫn một phụ nữ về mặt bản năng.”
            Mắt ông như cười giễu cô. “Cháu chẳng hề giống ai cả, Liz ạ.”
            “Cháu lại mong được như vậy.”
            “Đừng. Cháu là một cô gái cá tính, thông minh phát sợ, can đảm, nhân hậu - và cháu cũng có rất nhiều mối quan tâm. Chú không theo đuổi được nhiều thứ. Khoa học, thực thi pháp luật, sức khỏe và dinh dưỡng, âm nhạc, sách vở, giờ là nấu ăn. Ai biết tiếp theo sẽ là gì nữa?”
            “Chú dạy cháu sử dụng súng được không?”
            Ông hạ cốc cà phê xuống. “Ý tưởng đó từ đâu vậy?”
            “Có thể là một trong những mối quan tâm đa dạng của cháu.”
            “Liz.”
            “Cháu vẫn thường gặp ác mộng.”
            “Ôi, cháu yêu.” Ông ấy đặt một tay lên tay cô. “Kể chú nghe đi.”
            “Cháu vẫn mơ về cái đêm đó. Cháu biết đó là một phản ứng bình thường, một phản ứng tất yếu.”
            “Điều đó không làm cho mọi việc dễ dàng hơn.”
            “Không hề.” Cô trân trân nhìn cuốn sách dạy nấu ăn, băn khoăn không biết thế giới của mình có trở lại đơn giản như việc chế biến món ăn không.
            “Và cháu mơ thấy mọi việc tiếp diễn, phải nhận diện những kẻ tình nghi. Chỉ có gã nhìn cháu, Korotkii ấy. Cháu biết gã nhìn cháu, bởi vì gã mỉm cười. Và gã thò tay ra sau lưng, giống như gã đã làm cái buổi tối hôm đó. Mọi thứ chậm lại khi gã rút súng ra. Không ai phản ứng lại. Gã bắn cháu xuyên qua lớp kính.”
            “Gã không hề nhìn thấy cháu, Liz.”
            “Cháu biết. Điều đó hợp lý và logic. Nhưng đây lại là nỗi sợ hãi và cảm xúc - nỗi sợ và cảm xúc tiềm thức. Cháu cố gắng chế ngự nó, cố gắng để mình bận rộn.”
            “Tại sao chú lại không thử liên lạc với mẹ cháu nhỉ? Tại sao chứ?”
            Vẻ hoang mang hiện rõ khiến ông làm một tiếng chửi thề lại. “Cháu biết là các chú có một bác sĩ tâm lý cho cháu. Cháu từng bảo không muốn nói chuyện với bác sĩ, nhưng...”
            “Cháu vẫn không muốn. Có ích gì đâu chứ? Cháu hiểu chuyện gì đang xảy ra và tại sao. Cháu biết đó là một quá trình trí não cháu phải trải qua. Nhưng gã giết cháu, chú hiểu không. Hoặc ở ngôi nhà ấy bởi vì trong mơ gã tìm thấy cháu, hoặc tại chỗ nhận diện bởi vì gã nhìn xuyên được qua kính. Cháu sợ gã sẽ tìm thấy cháu, gã sẽ nhìn thấy cháu, gã sẽ giết cháu. Và cháu cảm thấy bất lực. Cháu không có sức mạnh, không có vũ khí. Cháu không thể tự vệ. Cháu muốn có thể tự bảo vệ mình. Cháu không muốn mình bất lực.”
            “Và cháu nghĩ học bắn súng sẽ giúp cháu cảm thấy an tâm hơn, đỡ mong manh hơn?”
            “Cháu nghĩ đó là một đáp án.”
            “Vậy chú sẽ dạy cháu.” Ông ấy lấy vũ khí ra, tháo hộp đạn đặt sang một bên. “Đây là một khẩu Glock 19. Loại tiêu chuẩn. Ổ đạn mười lăm viên.”
            Elizabeth đón lấy khẩu súng. “Được làm từ polyme tổng hợp. Cháu đã tìm hiểu về nó.”
            “Chú cũng đoán thế.”
            “Nó không nặng như cháu nghĩ. Nhưng nó chưa lắp đạn, cho nên chỗ đó cũng chiếm trọng lượng đáng kể.”
            “Hiện giờ chúng ta sẽ để súng không nạp đạn. Hãy nói về vấn đề an toàn trước.”
            Cô ngước lên, nhìn vào mắt ông. “Được ạ.”
            Sau một vài quy tắc cơ bản, ông bảo cô đứng lên, chỉ cho cô cách ngắm, cách nắm chắc súng.
            Rồi Terry bước vào. “Lạy Chúa, John.”
            “Súng không nạp đạn đâu ạ,” Elizabeth nói nhanh.
            “Tôi nhắc lại, vì Chúa.”
            “Để cho cô chú một phút nhé, Liz.”
            “Ồ. Được ạ.” Với thái độ miễn cưỡng hơn là cô nghĩ, cô trao khẩu súng lại cho John. “Cháu sẽ ở trong phòng mình.”
            “Anh đang nghĩ cái quái gì vậy?” Terry chất vấn ngay khi Elizabeth ra khỏi phòng.
            “Con bé muốn học cách sử dụng súng.”
            “Chà, tôi muốn George Clooney[12] trần truồng nằm trên giường của tôi, nhưng tôi không tìm cách bắt cóc. Chưa hề.”
            “Con bé gặp ác mộng, Terry.”
            “Vớ vẩn.” Terry giật mạnh cửa tủ lạnh, lấy ra một lon Coke. “Tôi xin lỗi, John, toàn bộ việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến con bé. Nhưng để nó nghịch vũ khí tác nghiệp của anh không phải là lời giải đâu.”
            “Con bé lại nghĩ khác. Nó không muốn cảm thấy bất lực. Ai có thể trách nó được chứ? Chúng ta có thể suốt ngày bảo nó rằng nó an toàn, chúng ta sẽ bảo vệ nó, nhưng nó vẫn cảm thấy bất lực. Vấn đề không phải là chúng ta nói gì với nó, mà là con bé cảm thấy như thế nào.”
            “Tôi biết điều đó, John, tôi biết. Tôi hiểu con bé sợ, và nó thấy chán. Chúng ta không thể thay đổi được điều đó, thực sự là không.”
            “Cuộc sống của nó sẽ chẳng bao giờ như cũ được nữa, Terry, và chúng ta không thể quên điều đó. Chúng ta không thể quên con bé không chỉ là nhân chứng, nó còn là một cô bé mới lớn. Nếu học đúng quy tắc an toàn và sử dụng súng ống đúng cách giúp cho nó, thì tôi sẽ tán thành dạy cho nó. Bởi vì điều tối thiểu nó được hưởng là một giấc ngủ ngon vào ban đêm.”
            “Vớ vẩn,” Terry nhắc lại. “Được rồi, tôi hiểu. Tôi biết. Nhưng...”
            “Nhưng?”
            “Tôi đang suy nghĩ.”
            “Tốt, hãy cứ làm việc đó. Tôi sẽ thử thuyết phục cả sếp nữa. Tôi muốn một sự phê chuẩn chính thức để sử dụng sàn tập bắn.”
            “Cứ mơ đi. Có thể như thế hữu ích đấy.”
            John mỉm cười và đi vào phòng bên cạnh, móc điện thoại của mình ra.
            Terry thở hắt một hơi. Sau một lúc cân nhắc, cô lấy ra một lon Coke thứ hai, rồi đi lên gác tới phòng Elizabeth. Cô gõ cửa.
            “Mời vào.”
            “Nghịch súng lúc nào cũng khiến cô khát khô.” Terry bước lại bên giường nơi Elizabeth ngồi, đưa cho cô lon Coke.
            “Cháu hy vọng cô không giận chú John. Đó là lỗi của cháu.”
            “Cô có giận đâu.” Terry ngồi xuống cạnh cô bé. “Việc đó khiến cô hơi bất ngờ, có vậy thôi. John kể với cô rằng cháu hay gặp ác mộng. Cháu sợ. Cô có thể bảo cháu đừng như vậy, nhưng sự thật là, ở địa vị cháu, cô cũng sợ.”
            “Cháu không thể làm gì. Trong những cơn ác mộng, cháu không thể làm gì, cho nên gã cũng giết cháu. Cháu muốn học cách tự chăm sóc mình. Các cô chú không phải lúc nào cũng có mặt. Cô và chú John hay chú Bill và cô Lynda. Hay bất kỳ ai người ta cử đến. Sẽ có ngày các cô chú không có mặt, và cháu phải biết mình có thể tự lo cho bản thân. Mẹ cháu sẽ không đến.”
            “Cháu không hiểu...”
            “Cháu rất hiểu.” Cô nói rất bình tĩnh, không hề có cảm xúc, ngạc nhiên là mình lại thấy bình tĩnh và vô cảm. “Khi nào đến lúc các cô chú chuyển chỗ cho cháu, hãy cho cháu một nhân dạng mới, bà ấy sẽ không đi cùng cháu đâu. Cuộc sống của bà ấy ở đây, sự nghiệp của bà ấy. Cháu sắp mười bảy rồi. Cháu có thể nộp đơn xin sống tự lập nếu cần. Cháu sẽ làm vậy. Khi cháu mười tám tuổi, cháu sẽ có một ít tiền từ quỹ tín thác của cháu. Và có thêm nữa khi cháu hai mươi mốt. Cháu có thể học tập, và cháu có thể làm việc. Giờ cháu biết nấu ăn một chút rồi. Nhưng cháu không thể tự vệ nếu có chuyện gì đó xảy ra.”
            “Cháu đủ thông minh để tự tìm hiểu về chương trình này. Bọn cô đã có một nhân chứng biết tuân thủ những chỉ dẫn an ninh.”
            “Cháu đã làm theo chỉ dẫn của người khác cả đời mình rồi, cho nên cháu đã quen với việc đó.”
            “Ôi, Liz. Thật tệ.”
            “Thật thụ động,” Elizabeth thở dài nói. “Cháu xin lỗi. Nhưng mấu chốt là, bọn chúng sẽ không thôi lùng tìm cháu. Chúng tin vào việc trả thù và ăn miếng trả miếng. Cháu biết các cô chú sẽ làm mọi việc có thể để ngăn bọn chúng tìm ra cháu, nhưng cháu cần biết, nếu chuyện tồi tệ nhất xảy ra, nếu chúng tìm ra cháu, cháu có thể chống lại.”
            “Có nhiều cách chống lại chứ không chỉ với một khẩu súng.”
            “Nhưng cô cũng mang một khẩu đấy thôi.”
            “Hai.” Terry vỗ vỗ vào mắt cá chân. “Vũ khí dự phòng đã được phê chuẩn. Nếu cháu muốn học cách bắn súng, John sẽ dạy cháu. Nhưng còn nhiều cách khác nữa. Cô có thể dạy cháu một số thế võ tự vệ. Đối kháng trực tiếp.”
            Đầy vẻ tò mò, Elizabeth ngồi lên. “Đánh nhau thật ạ?”
            “Cô nghĩ là những động tác tự vệ thì đúng hơn, nhưng, ờ, là đánh trả.”
            “Cháu rất muốn học. Cháu học nhanh lắm.”
            “Bọn cô thấy điều đó rồi.”
            John bước đến cánh cửa để ngỏ. “Năm giờ sáng. Sẵn sàng nhé. Chúng ta được phép sử dụng sàn tập bắn.”
            “Cảm ơn chú. Cảm ơn rất nhiều.”
            “Terry?”
            “Năm giờ. Buổi sáng. Trời ạ. Thôi đành vậy.”
            ***
            Ba lần một tuần trước khi mặt trời mọc, John đưa cô xuống sàn tập bắn dưới hầm. Cô dần quen với cảm giác của khẩu súng trong lòng bàn tay, hình thù, sức nặng, độ giật. Ông dạy cô cách nhắm bắn hình nộm, cách bắn liên thanh, cách nạp đạn.
            Khi cô biết phiên tòa bị trì hoãn, cô trút tất cả sự thất vọng của mình vào những loạt đạn.
            Cứ đều đặn ngày cách ngày, Terry dạy cô cách tự vệ. Cô học cách lợi dụng trọng lượng và thăng bằng của đối thủ để có lợi cho mình, cách thoát ra khi bị kìm giữ, cách dùng vai thúc đối thủ.
            Những cơn ác mộng vẫn xảy ra, nhưng không phải đêm nào cũng vậy. Và thỉnh thoảng, trong những cơn mơ đó, cô chiến thắng.
            Tháng đầu tiên trôi qua, cuộc sống cũ của cô dường như càng ít là của cô. Cô sống trong ngôi nhà hai tầng bày biện sơ sài với hàng rào an ninh cao, đêm đêm đi ngủ và có các cảnh sát Tư pháp liên bang canh chừng.
            Lynda cho Elizabeth mượn những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, truyện kỳ bí, tiểu thuyết kinh dị trong bộ sưu tập của mình. Mùa hè nóng nực sang đến tháng Tám, Lynda lại cắt tóc cho Elizabeth - với tay nghề cải thiện đáng kể - và chỉ cho cô biết cách chỉnh trang lại chân tóc. Vào những buổi tối im ắng, lê thê, Bill dạy cô chơi poker.
            Và thời gian cứ chầm chậm lê bước như vô tận.
            “Cháu cần một ít tiền,” cô nói với John.
            “Cháu cần vay tạm không, cô bé?”
            “Không, nhưng cảm ơn chú. Cháu muốn dùng tiền của chính mình. Cháu có một tài khoản tiết kiệm, và cháu muốn rút một ít ra.”
            “Đưa cháu tới ngân hàng là mạo hiểm không cần thiết. Nếu cháu cần gì đó, các cô chú sẽ lấy cho cháu.”
            “Mẹ cháu cũng rút được tiền. Chuyện này giống chuyện dùng súng. Vì lý do an toàn.” Cô đã nghĩ rất kỹ chuyện này. Cô có nhiều thời gian để suy ngẫm mọi thứ. “Cuối cùng khi cháu ra làm chứng, cháu lại bị nhận diện, và cháu nghĩ việc đó sẽ xảy đến nhanh thôi. Cháu muốn có tiền - tiền của cháu - khi có chuyện xảy ra. Cháu muốn biết cháu có thể mua được những gì mình cần và không cảm thấy bị buộc phải hỏi xin.”
            “Cháu muốn có bao nhiêu?”
            “Năm nghìn đô ạ.”
            “Thế là rất nhiều tiền, Liz.”
            “Không nhiều lắm đâu ạ. Cháu cần một máy tính mới, và những thứ khác. Cháu muốn nghĩ về ngày mai hơn là hôm nay. Hôm nay vẫn chỉ là hôm nay thôi.”
            “Chú biết phải chờ đợi là rất khó chịu.”
            “Chúng sẽ cố trì hoãn càng lâu càng tốt, hy vọng tìm ra cháu. Hoặc hy vọng cháu sẽ mất can đảm. Nhưng chúng không thể trì hoãn mãi được. Cháu phải nghĩ đến quãng đời còn lại của mình. Sẽ đi đến đâu, cháu sẽ thế nào đây. Cháu muốn quay lại trường học. Cháu có ngân quỹ học đại học chuyển giao được. Nhưng còn có những chi phí khác nữa.”
            “Để chú xem chú có thể làm gì được.”
            Cô mỉm cười. “Cháu rất thích khi chú nói vậy. Với mẹ cháu thì lúc nào cũng là có hoặc không. Mẹ cháu hiếm khi nói có lẽ, vì như thế không dứt khoát. Chú nói chú sẽ xem có thể làm gì được, như thế không phải là có lẽ, không phải là do dự. Như thế nghĩa là chú sẽ có hành động gì đó. Chú sẽ cố gắng. Như thế tốt hơn nói không rất nhiều, và gần như chính là nói có.”
            “Đúng vậy.” Ông ngập ngừng một lúc. “Cháu chưa bao giờ nhắc đến bố cả. Chú biết ông ấy chưa xuất hiện, nhưng trong tình hình này...”
            “Cháu không biết ông ấy là ai. Ông ấy là một người hiến tặng.”
            “Người hiến tặng à?”
            “Vâng. Khi mẹ cháu quyết định sinh con, muốn có trải nghiệm đó, mẹ cháu đã xem xét rất nhiều người hiến tặng, cân nhắc phẩm chất của họ. Đặc điểm thể chất, tiền sử y tế, lịch sử gia đình, trí tuệ và vân vân. Mẹ cháu lựa chọn ứng viên tốt nhất và sắp xếp việc thụ tinh.” Cô ngừng lại, nhìn xuống hai tay mình. “Cháu biết chuyện này nghe thế nào.”
            “Thật ư?” ông lầm bầm.
            “Về mặt trí tuệ, cháu vượt xa kỳ vọng của mẹ. Sức khỏe cháu lúc nào cũng tốt. Thể chất cháu rất khỏe. Nhưng mẹ cháu không thể gần gũi được với cháu. Cái phần đó của quy trình đã không thành công. Mẹ cháu luôn dành cho cháu sự chăm sóc, chế độ dinh dưỡng, nơi ăn chốn ở, nền giáo dục tốt nhất có thể. Nhưng mẹ cháu không thể yêu thương cháu.”
            Câu đó khiến tim gan ông nhói lên. “Sự thiếu hụt ở bà ấy.”
            “Vâng. Và việc biết được cái phần thất bại đó càng làm cho mẹ cháu khó cảm thấy hoặc thể hiện tình yêu thương. Cháu nghĩ, suốt một thời gian dài, cháu bị trách cứ. Nhưng cháu biết điều đó là không đúng. Cháu biết khi mẹ cháu rời xa cháu. Mẹ cháu rời xa cháu vì bà ấy làm được như vậy, vì cháu tạo ra lựa chọn cho phép mẹ cháu bỏ đi. Cháu có thể làm cho mẹ tự hào về cháu, tự hào về những gì bà ấy đạt được ở cháu, nhưng cháu không bao giờ có thể làm cho mẹ yêu cháu.”
            Ông không sao kìm được mình. Ông kéo cô sát lại mình, vuốt ve mái tóc cô cho tới khi cô phát ra một hơi thở dài, dựa hẳn vào người ông. “Cháu sẽ ổn thôi, Liz.”
            “Cháu rất muốn vậy.”
            Qua đỉnh đầu cô, ông bắt gặp đôi mắt Terry, thấy trong đó những hạt lệ long lanh và cả niềm thương cảm. Thật tốt là cô ấy đã nghe được, John nghĩ. Bởi vì cô bé được hai người quan tâm, và sẵn sàng làm mọi thứ nếu cần để bảo đảm cho cô bé được ổn thỏa.
            ***
            Sergei gặp em trai và cháu trai mình, cùng với Ilya và một trong những toán trưởng đáng tin cậy nhất của lão. Bọn trẻ con nhào xuống hồ bơi dưới cặp mắt giám sát của đám phụ nữ trong khi những người khác ngồi bên những chiếc bàn dã ngoại dài bố trí sẵn với thức ăn ê hề. Các loại đồ uống lạnh bỏ đầy trong những thùng thép không gỉ to tướng đựng đá. Trên bãi cỏ, mấy đứa trẻ chơi bóng rổ hoặc bóng chuyền trong khi tiếng nhạc phát ra một nhịp điệu không ngừng nghỉ.
            Không mấy thứ làm Sergei hài lòng hơn một bữa tiệc đông đúc, ồn ào với gia đình và bè bạn. Lão đứng chủ trì cái bếp nướng khổng lồ mà cô con gái đầu và chàng rể tặng lão nhân ngày sinh nhật, để phục vụ cái truyền thống Mỹ quốc này. Chiếc đồng hồ Rolex vàng cùng cây thánh giá đeo trên cổ lão lấp lánh trong ánh mặt trời mùa hè hừng hực, trong khi lão mặc trùm lên chiếc áo sơ mi vải bông cùng chiếc quần dài, một cái tạp dề đỏ tươi mời gọi tất cả mọi người hãy hôn ngài đầu bếp.
            Khi bếp nướng bốc khói, lão lật những viên thịt băm béo ngậy, những rẻ sườn toàn thịt và những xiên rau củ dài có phết món nước xốt bí mật của lão.
            “Bà mẹ phải đi tới bệnh viện,” đứa cháu tên Misha của Sergei nói. “Bà ta phải ở đó nhiều giờ mỗi ngày, thường hết cả đêm nữa cơ. Bà ta ăn tối có lẽ chỉ một lần một tuần với tay nhân tình. Bốn lần mỗi tuần, bà ta tới phòng tập rất đẹp có huấn luyện viên riêng. Bà ta tới thẩm mỹ viện làm tóc, làm móng tay móng chân. Bà ta sống như thể không hề có con gái ấy.”
            Sergei chỉ gật đầu trong lúc chuyển rau củ ra một cái đĩa.
            “Tôi đã đến nhà ả,” tay toán trưởng nói với lão. “Tôi đã kiểm tra điện thoại của ả. Các cuộc gọi đến bệnh viện, cho bạn trai, cho một vị bác sĩ khác, cho thẩm mỹ viện làm tóc. Không có cuộc nào cho cảnh sát, cho cảnh sát Tư pháp, cho FBI.”
            “Ả phải gặp con bé,” Mikhail khăng khăng. Lão mập hơn anh trai mình, và tóc lão đang ngả sang màu bạc với những lọn lớn. “Ả là một người mẹ cơ mà.” Lão ngước về phía bể bơi, nơi vợ lão đang ngồi cười với cô con gái trong khi đám cháu ngoại nô giỡn trong bể.
            “Con nghĩ họ không gần gũi.” Ilya nhấp ly bia.
            “Một người mẹ vẫn là một người mẹ thôi,” Mikhail khăng khăng. “Ả phải biết con gái mình ở đâu, chúng ta có thể tóm bà ta,” Misha gợi ý. “Trên đường bà ta tới bệnh viện. Chúng ta có thể... thuyết phục bà ta cho chúng ta biết con bé ở đâu.”
            “Nếu một người mẹ là một người mẹ thì ả sẽ không nói đâu.” Sergei bắt đầu xếp thịt viên lên một cái đĩa khác. “Ả sẽ chết trước. Nếu ả không phải là một người mẹ như vậy, và nếu thông tin của ta chúng như thế thì có lẽ ả không hề biết. Chúng ta bắt ả, bọn họ sẽ chuyển con bé đi, tăng cường người bảo vệ. Cho nên, chúng ta sẽ chỉ theo dõi kẻ không hề là một người mẹ đó.”
            “Trong nhà,” tay toán trưởng nói, “chẳng có gì của cô con gái ở bên ngoài phòng ngủ cả. Và ở đó cũng chẳng có nhiều thứ. Có gì thì đều đóng thùng cả. Giống như thể cất đi.”
            “Các vị thấy rồi đấy.” Sergei gật đầu. “Ta có một cách khác, một cách kết thúc vụ này và không để lại dấu vết gì. Dặn Yakov kiên nhẫn thêm một thời gian nữa, Misha. Lần sau chúng ta mở tiệc, sẽ là để ăn mừng nó trở về. Còn bây giờ...” lão nhấc đĩa lên, đầy ú ụ thịt viên và xúc xích nóng, “ta ăn đã.”
            ***
            Mùa hè trôi dần, Elizabeth luôn tự nhủ mình rằng nếu ở nhà, cô sẽ ghi danh - chắc chắn như vậy - và sẽ chấp nhận chương trình học hè ở bệnh viện. Nếu không, cô sẽ không làm việc gì khác với những việc cô làm lúc này.
            Nghiên cứu, đọc sách. Trừ ra giờ cô còn nghe nhạc, xem phim trên DVD hoặc truyền hình của chương trình Buffy me Vampire Slayer phát lại vào mùa hè, cô tin rằng mình đã bắt đầu học được tiếng lóng hiện tại.
            Khi nào có thể trở lại trường, cô có thể biết thêm vốn ngôn ngữ và có thể hòa nhập tốt hơn.
            Để tiếp tục bảo đảm an ninh cho mình, cô vẫn tập bắn. Cô cũng học cách tự vệ và chơi poker.
            Không có cách nào khiến Julie sống lại, và cứ dằn vặt rằng sẽ ra sao nếu như thế này thế kia là điều rất vô nghĩa. Hay hơn cả là nhìn vào những lợi thế của chính việc cô phải giam chân một chỗ dịp hè.
            Cô sẽ chẳng bao giờ trở thành bác sĩ phẫu thuật.
            Sẽ đến lúc cô lấy căn cước mới, có cuộc sống mới, và tìm cách phát huy điều đó. Cô có thể học bất kỳ thứ gì cô muốn. Cô có cảm giác việc xin vào FBI sẽ chỉ còn là một sớm một chiều, nhưng cô chưa dám hỏi. Chuyện đó có thể rất ngốc nghếch, nhưng không biết rõ một câu trả lời rành rẽ vẫn để lại chút hy vọng mong manh.
            Cô quen với hoạt động đều đặn hằng ngày, càng thấy thoải mái với việc đó.
            Ngày sinh nhật của cô cũng không làm thay đổi lịch trình. Nó chỉ có ý nghĩa rằng hôm nay cô đã mười bảy tuổi. Cô không hề cảm thấy gì khác biệt, hay nhìn bất kỳ điều gì khác đi. Năm nay sẽ không có bữa tối sinh nhật - món sườn nướng tái kèm rau cùng với chiếc bánh cà rốt - cũng chẳng có khả năng nhận chiếc xe hơi mà mẹ cô đã hứa. Tùy thuộc vào thành tích học tập và thái độ cư xử của cô, dĩ nhiên là như vậy.
            Nó chỉ là một ngày nữa, một ngày đến gần hơn với việc cô xuất hiện ở tòa và những gì cô nghĩ là sự tự do.
            Khi thấy cả Terry lẫn John đều không nhắc gì đến ngày sinh của mình, cô chắc mẩm họ quên. Nói cho cùng, tại sao họ lại phải nhớ chứ? Cô dành tặng mình món quà là một ngày không học hành nghiên cứu gì cả, và quyết định sẽ làm một bữa tối đặc biệt - không phải sườn nướng - để tự mình kỷ niệm riêng.
            Trời mưa xối xả và tiếng sấm ùng oàng. Cô tự nhủ điều đó càng giúp cho việc bếp núc thêm không khí gia đình hơn. Cô cân nhắc việc nướng một chiếc bánh, nhưng có vẻ phải tự xoay xở. Cô chưa bao giờ thử nướng bánh cả. Chỉ nội việc chuẩn bị mì ống và thịt viên thôi cũng đã đủ chật vật lắm rồi.
            “Trời đất, món đó thơm thế.” Terry đứng sững giữa bếp, hít hà. “Cháu khiến cô phải nghĩ đến chuyện học cách làm gì đó ngoài món mì ống trộn pho mát rồi đấy.”
            “Cháu thích làm món này, đặc biệt khi có gì đó mới. Cháu chưa bao giờ làm thịt viên cả. Rất thú vị.”
            “Chúng ta ai cũng có niềm vui riêng của mình mà cháu có thể để một ít nước xốt và thịt viên vào hộp cho cô mang về nhà. Cô chỉ việc cho thêm mì vào thôi. Cháu làm nhiều lắm.”
            “Chà, Lynda thông báo bị ốm, cho nên cháu sẽ có chú Bill và Steve Keegan. Cô cá là hai chú ấy sẽ gói mang về đấy.”
            “Ôi. Cô Lynda lại bị ốm rồi.” Lệ thường thôi, Elizabeth nghĩ. Cô luôn cảm thấy giật mình khi có gì đó thay đổi liên quan đến cô. “Cô có biết chú Keegan?”
            “Không nhiều. John thì có biết một chút. Chú ấy vào ngành được năm năm rồi, Liz. Đừng lo.”
            “Không, cháu không lo. Chỉ là cháu lại phải mất thêm chút thời gian làm quen với người mới, cháu đoán vậy. Cũng chẳng sao. Cháu sẽ đọc sách sau bữa tối, và có lẽ đi ngủ sớm.”
            “Trong ngày sinh nhật của cháu ư?”
            “Ôi.” Elizabeth hơi xúc động. “Cháu không ngờ cô nhớ đấy.”
            “Ở đây thì cháu làm gì có bí mật.” Bật cười, Terry bước lại và hít hà món nước xốt lần nữa. “Cô biết cháu thích đọc, nhưng lẽ nào cháu lại không nghĩ ra gì khác thú vị hơn trong ngày sinh nhật của mình à?”
            “Chưa nghĩ ra gì ạ.”
            “Vậy cháu cần hỗ trợ rồi.” Cô ấy vỗ nhẹ lên vai Elizabeth trước khi đi ra ngoài.
            Đọc sách rất thú vị, Elizabeth tự nhủ. Cô kiểm tra thời gian biểu, chẳng có gì làm thay đổi lịch trình cả. Món nước xốt có thể sôi liu riu thêm cho tới khi Bill và vị cảnh sát mới muốn ăn, nhưng thực sự cô đã làm rất nhiều, cho nên cô sẽ lấy một ít vào hộp cho John và Terry. Như là một món quà sinh nhật tặng ngược, cô quyết định như vậy.
            “Hỗ trợ tới rồi đây.”
            Elizabeth quay lại trong khi đang với tay vào chạn lấy mấy chiếc hộp có nắp đậy.
            Terry đứng cười rạng rỡ cùng với một cái hộp bọc giấy hồng có những sợi ruy băng thắt thành chiếc nơ màu trắng rất to. Bên cạnh cô ấy, John cầm một túi quà nhỏ và một hộp bánh màu trắng.
            “Cô chú... cô chú đem cả quà cho cháu.”
            “Dĩ nhiên cô chú có quà cho cháu chứ. Là ngày sinh nhật của cháu mà. Và chúng ta có cả bánh nữa.”
            “Bánh ạ.”
            John đặt cái hộp xuống bàn, mở nắp ra. “Bánh chocolate hai tầng với kem bơ.”
            “Cô chọn đấy,” Terry khoe. “Chúc mừng sinh nhật cháu, Liz.”
            “Cảm ơn cô.” Chiếc bánh cũng nói lời cảm ơn, bằng dòng chữ kem màu hồng hấp dẫn. Nó còn có những nụ hồng và những chiếc lá xanh dìu dịu nữa.
            “Không phải bánh cà rốt,” cô nói khẽ.
            “Cá nhân cô không thích bất kỳ thứ bánh nào làm từ rau quả,” Terry nói.
            “Thực sự thì thứ đó rất ngon. Nhưng loại này ngon hơn nhiều. Loại này trông... giống bánh sinh nhật thực sự. Rất đẹp.”
            “Chúng ta phải để dành bụng cho món bánh và kem,” John nói. “Sau bữa tối sinh nhật. Chúng ta định ăn pizza, nhưng cháu đã làm món thịt viên, cho nên chúng ta thay đổi một chút.”
            Mọi thứ thật tươi sáng, như thể mặt trời vừa bừng lên sau cơn mưa xối xả. “Các cô chú sẽ ở lại đây chứ.”
            “Cô nhắc lại, hôm nay là sinh nhật cháu. Không đời nào cô bỏ lỡ món kem và bánh đâu. Chúng ta sẽ đợi những người khác rồi ăn, nhưng cô nghĩ giờ cháu nên mở quà của mình đi.”
            “Thật không ạ? Được như vậy chứ ạ?”
            “Rõ ràng, thần đồng không hiểu hết sức mạnh của ngày sinh nhật rồi. Đây này.” Terry đẩy hộp quà vào tay Elizabeth. “Mở quà cô tặng đi. Cô đang rất mong nhìn xem cháu có thích không.”
            “Cháu đã thích luôn rồi.” Và cô bắt đầu cẩn thận gỡ dây buộc.
            “Tôi biết ngay mà. Con bé là người như vậy. Là người mà,” Terry giải thích, “bỏ ra cả mười phút để mở một món quà chứ không xé toạc ra.”
            “Giấy bọc đẹp quá. Không biết là quà gì đây?”
            “Cháu thử đoán luôn đi,” John bảo cô.
            “Đúng là bất ngờ đấy ạ.” Sau khi gập giấy lại, Elizabeth mở nắp hộp. Cô lấy ra một chiếc áo len mỏng có những diềm xếp nếp chạy dọc đằng trước và những bông hoa tím xinh xinh rải đều khắp áo.
            “Đẹp quá. Ôi, nó còn có sẵn luôn áo lót.”
            “Nó không phải kiểu áo len của mẹ cháu,” Terry nói. “Cháu có thể mặc với quần bò, hoặc mặc trùm bên ngoài áo sơ mi. Trông rất hợp với cháu.”
            Chưa có ai từng bảo trông cô hợp với những diềm xếp nếp và hoa tím cả. “Cháu thích lắm. Thực sự rất thích. Cảm ơn cô rất nhiều.”
            “Đến lượt chú. Chú phải nhờ vợ chú đi chọn thứ này đấy. Cho nên nếu cháu không thích, cứ trách vợ chú nhé.”
            “Vợ chú giúp chứ à? Cô ấy thật tốt. Chú phải cảm ơn cô giúp cháu nhé.”
            “Có lẽ cháu nên xem nó là gì trước đã.”
            Bối rối, hồi hộp, Elizabeth luồn tay vào lớp giấy mỏng của chiếc hộp nhỏ nhắn. Đôi khuyên tai gồm ba vòng bạc mỏng gắn kết lại nhờ một viên ngọc nhỏ xíu.
            “Ôi, tuyệt vời quá. Đẹp quá.”
            “Chú biết cháu luôn đeo đồ trang sức vàng, nhưng cô Maddie nghĩ có thể cháu thích thứ này.”
            “Cháu thích lắm. Cháu rất thích chúng. Cháu chẳng có gì ngoài mấy đồ trang sức dạng cài. Hôm trước cháu đã xỏ lỗ tai... mới hôm trước. Đây là bộ khuyên tai thực sự đầu tiên của cháu đấy.”
            “Chúc tuổi mười bảy vui vẻ, Liz.”
            “Nào, thử cả đi,” Terry giục. “Cháu biết là cháu rất muốn thử mà.”
            “Vâng. Không sao chứ ạ?”
            “Sức mạnh ngày sinh nhật kia mà. Nào.”
            “Cảm ơn cô chú.” Đầy phấn kích, cô ôm chầm lấy Terry. “Rất nhiều. Cháu cảm ơn cô.” Rồi đến John. “Cháu rất vui. Cháu đã mười bảy tuổi rồi.” Cô vơ lấy những món quà và chạy về phía cầu thang.
            “Có kết quả rồi.” Terry thở dài. “Con bé đã ôm. Nó chưa bao giờ ôm cả.”
            “Chưa bao giờ làm thế. Tôi đưa số điện thoại an ninh cho mẹ nó. Bảo bà ấy là chúng ta sẽ mua cho Liz một cái bánh nhân dịp sinh nhật, và chúng ta sẽ thu xếp để đưa bà ấy tới đây. Bà ấy từ chối. Rất lịch sự.”
            “Một kẻ khốn lịch sự thì vẫn chỉ là kẻ khốn thôi. Tôi rất vui khi chuyện này kết thúc cho con bé. Và cho cả chúng ta nữa. Nhưng tôi sẽ rất nhớ con bé.”
            “Tôi cũng vậy. Tôi sẽ gọi cho Maddie, cho bà ấy biết Liz thích cặp khuyên tai.” Ông ấy nhìn giờ. “Tôi sẽ liên lạc, kiểm tra xem áng chừng khi nào Cosgrove và Keegan đến. Tôi hy vọng nghe thông báo giờ họ đang trên đường rồi.”
            “Tôi đi dọn bàn, xem tôi có thể làm cho không khí ra dáng tiệc tùng một chút không.”
            Cô lấy đĩa và nghĩ đến cả hoa. “Này, John?” Vẻ khẩn trương, cô tiến về phía phòng khác. “Xem liệu Cosgrove có thể dừng đâu đó, lựa một ít hoa không. Làm nhanh cho kịp đi.”
            Ông gật đầu tán đồng, vẫn tiếp tục trò chuyện với vợ. “Ừ, con bé thích lắm. Nó đang trên gác để thử đồ. Này, cho bọn trẻ nghe máy nào. Có lẽ anh sẽ không kịp về nhà trước khi bọn trẻ lên giường hết rồi đâu.”
            Terry quay trở lại bếp, nghĩ bụng cô nên thử một ít nước sốt đo đỏ kia, chỉ để biết chắc rằng món đó ổn. Khi cô vừa với lấy cái thìa, John gọi to. “Giờ họ đang vào đây rồi.”
            “Đã nhận.” Theo thói quen, một tay đặt lên vũ khí, Terry đi về phía cửa gara, đợi có tín hiệu. Ba tiếng gõ nhanh, ba tiếng gõ chậm.
            “Các anh vào chung vui đi. Chúng tôi vừa...”
            Bill lao nhanh vào. “Chúng ta gặp rắc rối. John đâu?”
            “Trong phòng khách. Chuyện...”
            “Bill nghĩ anh ấy bị theo đuôi,” Keegan nói. “Nhân chứng đâu?”
            “Cô bé...” Có gì đó không ổn. Có gì đó bất thường. “Các anh thông báo chưa?” cô hỏi, và móc điện thoại ra.
            Cô gần như tránh kịp cú đánh đầu tiên, vì thế nó trượt xuống thái dương cô. Máu rỉ xuống mắt cô khi cô móc vũ khí, hét to báo hiệu cho John.
            “Khóa nòng kìa!”
            Báng súng của Keegan nện mạnh vào gáy cô. Cô ngã xuống, đè lên chiếc ghế đẩu khiến nó đổ loảng xoảng xuống sàn.
            Vũ khí đã móc ra, John áp chặt người vào tường phòng khách. Ông cần tiếp cận cầu thang, lên chỗ Liz.
            “Đừng bắn hắn,” Keegan nói khẽ trong lúc nhét súng vào bao và lấy súng của Terry. “Hãy nhớ, chúng ta không muốn hắn thủng lỗ nào trên người cả.”
            Bill gật đầu.
            “Tôi hạ hắn rồi, John. Tôi hạ thằng khốn rồi. Terry bị hạ rồi! Cô ấy bị hạ rồi,” Keegan đang thông báo. “Bảo vệ nhân chứng.”
            John nghe rõ tiếng Keegan át cả tiếng mưa, đang lặp lại rất nhanh tình hình.
            Và ông nghe thấy tiếng ván sàn cọt kẹt.
            Ông nhô ra, vũ khí sẵn sàng. Ông nhìn thấy Bill đang tiến lại phía mình, nhìn vào mắt anh ta ông nói. “Bỏ vũ khí xuống. Bỏ xuống!”
            “Terry bị hạ rồi! Bọn kia đang tiếp cận cửa trước.”
            “Bỏ vũ khí của anh xuống ngay!”
            John nhìn Bill liếc về phía trái, bèn xoay người, thúc cùi chỏ về phía sau trước lúc Keegan kịp ra đòn. John nhào sang phải thì Cosgrove nổ súng. Viên đạn trúng sườn ông, rát bỏng. Nghĩ đến Elizabeth, ông bắn trả lại trong lúc chạy nhanh về phía cầu thang. Một viên đạn nữa trúng chân ông, nhưng ông vẫn không chậm chân. Ông thoáng thấy Keegan chạy vào vị trí, liền vừa chạy vừa bắn.
            Và ông bị thêm viên đạn thứ ba vào bụng.
            Mắt ông tối sầm, nhưng ông vẫn cố di chuyển. Ông nhìn thấy Elizabeth chạy ra khỏi phòng.
            “Vào trong đi. Quay vào trong đi?”
            Ông lảo đảo tiến tới, xô mạnh cô vào trong, khóa cửa lại rồi mới khuỵu gối.
            “Ôi trời ơi.” Cô vớ lấy chiếc áo vừa cởi ra, áp chặt nó lên bụng ông.
            “Là bọn Cosgrove và Keegan.”
            “Họ là cảnh sát cơ mà.”
            “Có kẻ mua bọn họ rồi.” Răng nghiến chặt, ông đánh bạo nhìn vết thương ở bụng, cảm thấy mình không còn tỉnh táo nữa. “Ôi, lạy Chúa. Có lẽ bọn họ đều bị mua từ lâu rồi. Terry. Cô ấy bị hạ rồi. Có lẽ chết rồi.”
            “Không.”
            “Chúng biết chú ở trong này cùng cháu, biết chú sẽ bắn bất kỳ kẻ nào tìm cách lọt qua cửa.” Cho đến giờ ông vẫn cầm được súng. “Nhưng chúng biết chú đã trúng đạn.” Ông dùng tay trái nắm chặt cổ tay cô. “Rất tệ, Liz.”
            “Chú sẽ không sao.” Nhưng cô không sao cầm được máu. Chiếc áo sơ mi của cô đã ướt sũng, và máu vẫn đang chảy ra, phun như suối. “Chúng ta sẽ gọi hỗ trợ.”
            “Mất điện thoại rồi. Keegan, hắn có kết nối - lúc làm nhiệm vụ; hắn được kết nối. Hắn di chuyển rất nhanh. Không biết còn ai khác nhúng tay vào đâu. Không thể biết được. Không an toàn đâu cháu. Không an toàn.”
            “Chú phải nằm yên. Cháu phải cầm máu.” Ép chặt, cô tự nhủ. Ép chặt hơn nữa.
            “Chúng sẽ tìm cách hạ chú. Còn kế hoạch khác đấy. Không an toàn đâu. Nghe này. Nghe chú này.” Các ngón tay ông bấu chặt vào cổ tay cô. “Phải ra ngoài. Qua cửa sổ. Trèo xuống, nhảy xuống. Nhưng phải thoát ra. Cháu chạy. Cháu trốn ngay.”
            “Cháu sẽ không bỏ chú đâu.”
            “Cháu phải đi. Lấy tiền của cháu. Đừng tin cảnh sát, không phải lúc này. Còn nhiều kẻ nhúng tay đấy. Chắc chắn như vậy. Lấy tiền của cháu đi, những gì cháu cần. Nhanh. Mẹ kiếp. Đi đi!”
            Cô làm theo để ông lấy lại bình tĩnh. Nhưng cô sẽ không rời bỏ ông ấy.
            Cô nhét tiền vào túi, vài món quần áo vơ đại lấy, và laptop.
            “Kia rồi. Chú đừng lo,” cô nói. “Sẽ có người đến.”
            “Không, họ không đến đâu. Ruột chú bị bắn thủng rồi, Liz, mất nhiều máu quá. Chú sẽ không qua được đâu. Chú không bảo vệ được cháu. Cháu phải chạy đi. Cầm lấy khẩu súng thứ hai của chú - khẩu súng giấu ở ống chân ấy. Lấy đi. Nếu có kẻ nhìn thấy cháu, đuổi theo cháu, thì cứ sử dụng.”
            “Đừng bắt cháu rời bỏ chú. Xin chú, cháu xin chú.” Cô áp mặt mình vào mặt ông. Ông ấy rất lạnh. Quá lạnh.
            “Không phải bắt. Đó là khuyên. Công việc của chú. Đừng để chú thất bại. Đi đi. Đi ngay đi.”
            “Cháu sẽ tìm người giúp.”
            “Chạy đi. Đừng dừng lại. Đừng nhìn lại. Cửa... cửa sổ. Ngay đi.”
            Ông đợi cô đến chỗ cửa sổ. “Đếm đến ba,” ông ra lệnh trong lúc bò ra cửa. “Sau đó thì làm. Chú sẽ kìm chân chúng cho cháu.”
            “Chú John!”
            “Hãy khiến chú thấy tự hào, Liz. Đếm đi.”
            Cô đếm, lách ra ngoài. Cô bám chặt lấy máng nước trong khi mưa quất vào mặt cô. Cô không biết liệu cái máng có chịu được cô không, nhưng cô không nghĩ thêm nữa. Rồi cô nghe thấy tiếng cả loạt đạn, và trườn xuống như một con khỉ.
            Tìm người giúp, cô tự nhủ, và bắt đầu chạy.
            Cô chạy chưa được năm mươi thước thì căn nhà nổ tung phía sau cô.
            #6
              Thanh Vân 29.11.2023 19:16:16 (permalink)

              PHẦN HAI

              Sống trước hết - phải là chính mình.
              Điều đó phải luôn vậy, như đêm tiếp theo này.
              Đừng bao giờ lẫn mình là ai khác.

              — William Shakespeare.
               
              *
               

              1213


              Arkansas, 2012

              Làm cảnh sát trưởng ở một thị trấn nhỏ nép mình trong dãy Ozark như một con mèo ngái ngủ nằm gọn trong khuỷu tay nhiều khi cũng rất tệ.
              Chẳng hạn, việc bắt giữ một gã bạn đã từng cùng chơi bóng hồi ở trung học chỉ vì lớn lên gã thành một tên khốn. Mặc dù Brooks xem việc trở thành một tên khốn là một cái quyền trời định chứ không phải một tội hình sự. Còn cái gã Tybal Crew hiện vẫn ngủ li bi vì đã nốc quá nhiều thứ whiskey hiệu Rebel Yell. Brooks coi việc bê tha trong whiskey, thỉnh thoảng, là một cái quyền trời định nữa. Nhưng khi sự bê tha lúc nào cũng khiến cho một người đàn ông ngả nghiêng về nhà và khiến vợ gã có thêm vài vết bầm giập trên mặt thì lại thành vượt quá ranh giới và phạm tội rồi.
              Và việc đó tệ. Rất tệ.
              Tình hình càng tệ hại đến không chịu nổi như hoa cúc lại nở vào mùa xuân, khi Missy Crew - cựu đội trưởng đội cổ động trường trung học Bickford - sẽ lao bổ vào đồn lúc gần trưa, báo rằng Ty không hề đánh cô, ôi không. Cô ấy chỉ là đã va cả vào cửa, vào tường, trượt cả trên cầu thang.
              Trò chuyện, cảm thông, bực bội, dụ dỗ, đe dọa cũng không thuyết phục được cô ấy - hay gã kia - rằng họ cần giúp đỡ. Họ hôn nhau và vui vẻ với nhau như thể Ty đã ra trận cả năm trời, sắp về nhà và sẽ quấn lấy nhau một cách điên cuồng vậy.
              Chỉ một hoặc hai tuần nữa, Ty sẽ lại vớ lấy một chai Rebel Yell, và rồi tất cả mọi việc lại đâu vào đấy.
              Brooks ngồi trong quầy mà anh ưa thích tại quán Lindy’s Café and Emporium, nghiền ngẫm về tình hình trong khi ăn bữa sáng.
              Không ai rán trứng, thịt xông khói cùng thịt rán được như Lindy, nhưng mỡ và món nghiền cũng chẳng làm Brooks phấn khởi.
              Sáu tháng trước anh trở lại Bickford để nhận nhiệm vụ cảnh sát trưởng sau khi cha anh bị đột quỵ. Ông Loren Gleason - người đã cố gắng dạy Ty và Crew, và gần như tất cả những học sinh trung học khác những điều kỳ bí của môn đại số - đã phục hồi. Và với chế độ dinh dưỡng và tập luyện mà mẹ của Brooks đặt ra cho người đàn ông tội nghiệp, ông ấy đã khỏe hơn hẳn so với trước.
              Thế nhưng, biến cố cũng khiến Brooks bàng hoàng, và cần đến gia đình. Vậy là sau một thập niên ở Little Rock, một thập niên làm việc ở Sở cảnh sát Little Rock, năm năm nữa với tư cách thanh tra, anh đã gác lại công việc chuyên môn và chấp nhận vị trí cảnh sát trưởng mới bị bỏ trống gần đây.
              Đáng nói là được về nhà cũng rất tốt. Anh không hề biết rằng mình nhớ nhà nhiều đến thế nào cho tới khi anh chuyển hẳn về đó. Anh cũng nghĩ rằng có lẽ anh sẽ nói điều tương tự về Little Rock, nếu có dịp quay lại đó, nhưng giờ thì Bickford rất hợp với anh. Rất tuyệt diệu. Thậm chí khi công việc chán chết.
              Anh rất thích ngồi ăn sáng một hoặc hai lần mỗi tuần tại quán Lindy, thích cảnh núi đồi bên ngoài cửa sổ văn phòng và sự ổn định của công việc.
              Anh thích thị trấn, những nghệ sĩ, những thợ gốm, thợ dệt, nhạc sĩ - những nhà du già, đồng cốt, và tất cả các cửa hàng, tiệm ăn và quán rượu thu hút du khách đến để thử các sản phẩm.
              Những thanh niên hippie đến và định cư ở đây từ những năm sáu mươi - Chúa mới biết tại sao mẹ anh, người đổi tên của mình từ May Ellen thành Sunshine, hay còn gọi là Sunny, đại từ Pennsylvania, phiêu bạt đến đây khoảng một thập niên sau đó. Và rồi Sunshine đã bỏ bùa hoặc cám dỗ - tùy vào ai là người kể lại câu chuyện - một anh giáo dạy toán năm thứ nhất trẻ măng.
              Họ cùng nhau thề non hẹn biển bên bờ sông, và xây dựng tổ ấm. Một vài năm sau với hai đứa con ra đời, Sunny đã phải chấp nhận cái áp lực nhẹ nhàng nhưng liên tục mà chỉ có cha anh mới tạo ra được, và làm cho điều đó trở thành hợp pháp.
              Brooks rất thích trêu chọc các chị của mình rằng anh là người duy nhất của nhà Gleason được sinh trong giá thú. Họ phản bác rằng anh cũng là người duy nhất nhà Gleason phải mang súng bên người để làm việc.
              Anh trở lại với cốc cà phê của mình, bình tâm bước vào ngày mới bằng việc ngắm mọi người qua lại bên ngoài cửa sổ.
              Vẫn còn quá sớm nên hầu hết các cửa hàng chưa mở cửa, nhưng The Vegetable Garden thì đã đưa biển hiệu ra ngoài. Anh cố gắng thành khách quen của các cửa hàng quanh đây nên thỉnh thoảng có ghé vào đó ăn xúp, nhưng anh vốn quen ăn thịt, và không thấy có gì ý nghĩa ở những thứ kiểu như đậu phụ giả làm thịt cả.
              Cửa hàng bánh - hiện tại, họ đang có một ít khách. Còn tiệm Cup O’ Joe chắc chắn chật kín. Tháng Hai ngấp nghé sang tháng Ba đến nơi, nhưng du khách từ tít miền Bắc thường la cà xuống ngay từ đầu năm để tránh cái rét nghiệt ngã nhất của mùa đông. Lê ở Bradford đã chớm nở. Chỉ một tuần nữa, chúng sẽ thỏa sức khoe sắc. Thủy tiên thì ken dày trong các chậu trên hè, sắc vàng rực như màu bơ tươi.
              Chiếc xe tải của Sid Firehawk nổ pành pạch khi chạy ngang qua. Brooks thở dài, lưu ý trong đầu sẽ nhắc nhở Sid một lần nữa nhớ thay cái bộ giảm thanh chết tiệt của anh ta ngay đi.
              Những vụ say rượu đánh vợ và những thứ gây ô nhiễm tiếng ồn, Brooks nghĩ thầm. Cả một chặng đường cách rất xa nghiệp vụ điều tra trộm cướp giết người. Nhưng nó lại rất hợp với anh. Thậm chí khi rất chán ngán.
              Cả khi không như vậy, anh nghĩ, ngồi thẳng trên ghế để nhìn rõ hơn.
              Anh phải thừa nhận với chính mình rằng anh đã mọc rễ ở cái ghế này từ rất sớm, vừa đúng thời điểm cô ấy đến thị trấn.
              Abigail Lowery có mái tóc màu nâu ấm áp, cặp mông hiếm có và hơi hướng bí ẩn. Đôi mắt mèo quyến rũ, anh nghĩ thầm, mặc dù chủ yếu cô giấu đôi mắt ấy đằng sau cặp kính râm.
              Cô có dáng đi quả quyết. Cô chẳng bao giờ la cà, bách bộ hay vơ vẩn ra ngoài. Cô ấy chỉ vào thị trấn vài tuần một lần, đi mua sắm tạp phẩm. Lúc nào cũng từ rất sớm trong ngày nhưng không bao giờ vào cùng một ngày cụ thể. Những dịp hiếm hoi hơn, cô ấy tới một trong những cửa hiệu khác, giải quyết nhanh việc của mình.
              Anh thích điều đó ở cô. Quả quyết, nhanh nhẹn. Anh nghĩ mình có thể còn thích cô nhiều hơn nữa, nhưng cô giữ mình theo cái cách làm cho một nhân vật sống ẩn dật điển hình cũng thành người rất quảng giao.
              Cô lái một chiếc SUV màu đen, khá lớn, đồ sộ, nhưng không phải vì cô ấy rất hay chạy quanh quẩn mới khiến anh chú ý.
              Theo anh được biết cho đến giờ, cô ấy sống trên mảnh đất của mình, đẹp như tranh vẽ và lúc nào cũng ngăn nắp đâu ra đấy, theo lời đám nhân viên FedEx và UPS mà anh khôn khéo moi được tin tức.
              Anh biết cô trồng cả một vườn rau và vườn hoa vào mùa xuân, lại có hẳn nhà kính và nuôi một con ngao bull có bộ da nâu đốm mà cô gọi tên là Bert.
              Cô ấy độc thân - ít nhất cô ấy không có ai ngoài Bert sống cùng, và không đeo nhẫn. Đám nhân viên chuyển phát nói cô ấy rất lịch sự và hào phóng, cho tiền thưởng vào dịp Giáng sinh, nhưng hơi khó gần.
              Hầu hết dân thị trấn nói cô ấy kỳ cục.
              “Tôi chế thêm cho cậu nhé?” Kim, nhân viên phục vụ, mang bình cà phê tới.
              “Vâng, rất cảm ơn.”
              “Chắc cậu phải làm việc. Lúc bước vào trông cậu không được vui, còn bây giờ thì tươi rồi.” Kim vỗ nhẹ lên má anh.
              Kim luôn có phong cách như người mẹ, làm anh chỉ biết cười tươi hơn, mặc dù Kim chỉ hơn anh có năm tuổi. “Tôi đang nhập cuộc mà.”
              “Còn cô ta thì nhập cuộc rồi đấy.” Kim hất cằm về phía Abigail khi cô tiến và siêu thị ngay góc gần đó. “Khả ái, ai cũng thấy như vậy, nhưng cô ta là người lạ lùng. Cô ta sống ở đây gần một năm rồi, vậy mà chưa một lần bước chân vào đây, hay bất kỳ tiệm nào khác. Cô ta cũng gần như chẳng bén mảng đến bất kỳ cửa hiệu nào. Hầu như đặt hàng mọi thứ qua mạng.”
              “Tôi cũng nghe vậy.”
              “Mua sắm qua Internet không có gì xấu. Tôi cũng làm vậy. Nhưng ngay ở thị trấn này chúng ta cũng có nhiều thứ mà. Tuy vậy cô ta cũng chẳng mấy khi mở lời. Lúc nào cũng nhã nhặn, nhưng rất kiệm lời. Gần như lúc nào cũng chỉ ở nhà cả ngày. Một mình.”
              “Không ồn ào, lịch thiệp, thu mình. Dễ cô ấy là kẻ giết người hàng loạt.”
              “Brooks.” Kim khịt mũi và bước sang bàn tiếp theo, lắc lắc đầu.
              Anh cho thêm chút đường vào cà phê, hờ hững khuấy trong khi mắt hướng về siêu thị. Anh quyết định, không có lý do thì anh không tiến tới được. Anh biết cách la cà. Có lẽ kiếm vài chai Coke mang về đồn hoặc... anh sẽ nghĩ ra gì đó.
              Brooks nhổm người lấy ví, móc ra mấy tờ tiền rồi nhét vào quầy.
              “Cảm ơn, Kim. Hẹn gặp lại, Lindy.”
              Ông già cò hương với bím tóc bạc dài đến tận mông hầm hừ gì đó, huơ huơ cái bay làm bếp của mình.
              Anh bước ra ngoài. Anh thừa hưởng chiều cao của cha, và với chế độ ăn trước khi Loren bị đau tim, họ còn chung nhau vóc người lêu nghêu nhưng gầy gò. Mẹ anh nói anh có mái tóc đen như mực của vị chiến binh da đỏ Algonquin, người đã bắt bà cao tằng tổ - và có lẽ còn xa nữa - của anh về làm vợ.
              Thêm vào đó, mẹ anh thường xuyên có những việc khó chịu, và cũng thường do chủ ý. Đôi mắt nâu pha lục của anh có khả năng chuyển màu từ xanh lục sang hổ phách hoặc có khi biêng biếc. Mũi anh hơi lệch sang trái, kết quả của một cú đánh bóng chày vào gôn số ba, lỡ trớn và tính sai thời gian. Thỉnh thoảng anh lại bảo với một phụ nữ, nếu cô ta hỏi, rằng anh bị như vậy trong vụ đánh nhau đầu tiên.
              Rất nhiều lúc anh gây khó chịu, y như mẹ mình.
              Siêu thị cao cấp có những loại thực phẩm tuyệt vời với mức giá tuyệt vời. Anh rất thích mùi các loại rau thơm tươi, thích màu sắc sống động của hàng hóa, những chai lọ lấp loáng đựng đầy các loại dầu đặc sản, và thậm chí cả những dụng cụ làm bếp sáng choang anh chẳng mảy may biết sử dụng như thế nào.
              Trong suy nghĩ của anh, đàn ông biết sử dụng một vài loại dao, bay rán và muôi xẻ rãnh là đủ. Còn bất cứ thứ gì khác đều chỉ là thể hiện.
              Trong bất kỳ trường hợp nào, khi anh cần phải đi mua thực phẩm - một công việc anh ghét chẳng kém thuốc chuột - anh hay lủi tới tiệm Piggly Wiggly.
               
              Anh nhìn ngay thấy cô lúc cô chọn một chai dầu đắt tiền, tiếp đến là một chai dấm khá lạ.
              Và mặc dù không dễ nhận ra, nhưng anh đoán chắc cô có mang theo vũ khí bên hông ngay dưới chiếc áo choàng có mũ.
              Anh cứ men theo lối đi ngắn, suy tính.
              “Cô Lowery.”
              Cô quay đầu, và lần đầu tiên anh được ngắm kỹ mắt cô. To và xanh lục, giống như lớp rêu dưới bóng râm của một cánh rừng.
              “Vâng.”
              “Tôi là Brooks Gleason. Tôi là cảnh sát trưởng.”
              “Vâng, tôi biết.”
              “Tôi xin phép mang giỏ giúp cô được không? Chắc chắn rất nặng.”
              “Thôi, cảm ơn anh. Không sao đâu.”
              “Tôi chẳng bao giờ hình dung nổi mọi người làm gì với những món đồ kia. Dấm mâm xôi,” anh nói thêm, vỗ tay lên các chai trong giỏ hàng của cô. “Dường như không giống một cuộc hôn nhân khả thi.”
              Trước ánh mắt không bộc lộ cảm xúc của cô, anh cố nở nụ cười tươi tắn nhất. “Quả mâm xôi, dấm. Theo suy nghĩ của tôi thì hai thứ không hợp nhau lắm. Ai lại nghĩ ra những thứ như thế nhỉ?”
              “Những người nấu nướng. Nếu anh không phiền, tôi...”
              “Còn tôi, tôi là loại cứ chém to kho mặn thôi.”
              “Vậy thì anh chẳng có nhu cầu dùng dấm mâm xôi. Xin phép anh. Tôi phải trả tiền hàng.”
              Mặc dù theo kinh nghiệm của anh, nụ cười nhìn chung dễ làm phụ nữ thay đổi, nhưng anh không muốn cảm thấy nản lòng. Anh chỉ theo cô đi đến quầy thanh toán. “Cô sinh hoạt ở khu Skeeter cũ ổn chứ?”
              “Rất ổn, cảm ơn anh.” Cô rút một chiếc ví mỏng ra khỏi ngăn túi có khóa kéo.
              Anh để ý thấy cô cầm nghiêng ví, khiến anh không thể liếc thấy bên trong được.
              “Tôi lớn lên ở đây, chuyển tới Little Rock một dạo. Tôi chuyển lại về đây sáu tháng sau khi cô tới đây. Điều gì đã đưa cô tới Bickford?”
              “Xe hơi của tôi,” cô đáp, và khiến cho nhân viên thu ngân phải cố nín cười.
              Không dễ xơi, anh nhận định, nhưng anh đã từng gặp những đối tượng còn khó nhằn hơn kia. “Xe đẹp thật. Nhưng ý tôi là điều gì thu hút cô tới cái xó của rặng Ozark này kia?”
              Cô lấy tiền ra trả khi nhân viên thu ngân cho biết con số tổng cộng. “Tôi thích địa thế. Tôi thích sự tĩnh lặng.”
              “Thế ở ngoài kia cô không được một mình sao?”
              “Tôi thích sự yên tĩnh,” cô nhắc lại, và nhận tiền thối.
              Brooks tựa vào quầy thu ngân. Cô ấy lo lắng, anh nhận thấy điều đó. Nó không thể hiện trên nét mặt cô ấy, mắt cô ấy, ngôn ngữ cơ thể của cô ấy. Nhưng anh cảm nhận được nó. “Ở ngoài kia cô làm gì nhỉ?”
              “Sống thôi. Cảm ơn,” cô nói với nhân viên thu ngân khi anh này xếp hàng hóa vào túi đi chợ mà cô mang theo.
              “Rất hân hạnh, cô Lowery. Hẹn gặp cô lần sau.”
              Cô vác chiếc túi đi chợ lên vai, đeo kính râm lên, và đi ra mà chẳng nói thêm một lời.
              “Không nhiều chuyện để nói, cô ấy là như vậy phải không?” Brooks nhận xét.
              “Đúng là không. Lúc nào cũng rất lịch thiệp, nhưng cô ấy không nói nhiều.”
              “Cô ấy luôn trả bằng tiền mặt à?”
              “À... Hình như vậy, anh nói tôi mới để ý.”
              “Chậc. Giờ anh làm việc đi.”
              Brooks nói vọng lại trong khi đi ra xe. Thiếu kỹ năng trò chuyện chỉ là một chuyện. Vũ khí đeo bên mình lại càng khả nghi. Rất nhiều người anh biết có súng ống, nhưng không nhiều người trong số họ giấu súng dưới áo khi ra ngoài mua dấm mâm xôi.
              Có vẻ cuối cùng anh cũng có lý do để phóng xe tới chỗ cô.
              Anh ghé vào đồn trước. Dưới quyền anh có ba cảnh sát làm việc toàn thời gian thay phiên nhau trực, hai người làm bán thời gian, một nhân viên trực máy toàn thời gian và một người nữa làm bán thời gian. Vào mùa hè, khi không khí nóng nực như trong lò nung, anh sắp xếp những người làm bán thời gian vào làm toàn thời gian để giúp xử lý những đối tượng nóng tính, hiện tượng phá hoại tài sản công do rảnh rỗi quá, và cả những du khách chú ý tới cảnh quan hơn cả đường sá.
              “Ty đúng là thằng cha phiền phức.” Anh Hyderman, anh chàng sĩ quan trẻ nhất của anh, than phiền tại bàn làm việc. Dịp mùa đông, anh ta đã cố nuôi một bộ râu dê mà không gặp may lắm, thế nhưng vẫn chưa chịu bỏ cuộc. Anh ta trông như vừa bôi bẩn môi trên và cằm bằng kem bơ đường vậy.
              “Tôi đã mang bữa sáng cho gã như sếp dặn. Gã hôi như một ả điếm rẻ tiền vậy.”
              “Sao cậu biết mùi một ả điếm rẻ tiền như thế nào, Ash?”
              “Thì tôi cứ tưởng tượng thôi. Tôi định về nhà, được chứ, Brooks? Tôi đã gánh trọn ca đêm kể từ lúc chúng ta tóm cái gã Ty hôi hám ấy. Mà cái giường chết tiệt kia làm gãy lưng anh mất thôi.”
              “Tôi cần ra ngoài một chút. Boyd sắp đến trực bây giờ. Anh ấy có thể tiếp quản. Alma cũng đến trực. Họ đến đây là có người thay chúng ta thôi.”
              “Anh đi đâu vậy? Có cần hỗ trợ không?”
              Brooks nghĩ Ash không mong gì hơn là có một lũ khùng gào rú trong thị trấn, đập phá mọi thứ. Như vậy anh ta có thể đóng vai trò hỗ trợ.
              “Tôi chỉ muốn kiểm tra chút việc thôi. Không lâu đâu. Tôi sẽ liên lạc bộ đàm nếu có chuyện gì. Dặn Boyd tìm cách nói chuyện có tình có lý với Missy khi nào cô ta đến kêu rằng Ty có bao giờ dám chạm đến cô ta đâu. Chẳng ích gì, nhưng anh ấy vẫn nên thử xem.”
              “Vấn đề là, Brooks, tôi nghĩ chắc chắn cô ta thích như thế?”
              “Chẳng ai thích bị đấm vào mặt cả, Ash. Nhưng việc đó có thể riết thành quen. Cả hai vợ chồng họ. Tôi giữ liên lạc bộ đàm,” anh nhắc lại, rồi đi ra.
              ***
              Abigail cố gắng kiềm chế tâm trạng lo lắng, mất bình tĩnh, bực bội khi có công việc cô đặc biệt thích thú nhưng lại bị phá hỏng bởi một tay cảnh sát trưởng lắm mồm chẳng làm được gì hơn là quấy nhiễu cô.
              Cô chuyển tới cái góc Ozark xinh xắn này chính xác bởi cô không muốn có hàng xóm, người lạ, hay bị gián đoạn trong bất kỳ chu trình này mà cô tự lập ra.
              Cô lái xe dọc theo con đường riêng uốn khúc chạy về căn nhà của cô trong rừng. Phải mất hàng tuần để nghĩ ra thiết kế cho các thiết bị cảm biến, những thứ sẽ không kích hoạt nếu một con thỏ hay sóc tiến đến gần ngôi nhà. Cần thêm thời gian để lắp đặt thiết bị và máy quay, rồi kiểm tra.
              Nhưng kể ra cũng bõ công thật. Cô yêu căn nhà bằng gỗ súc đẽo thô và có hiên kín này. Lần đầu tiên trông thấy nó, cô đã nghĩ ngay về một mái ấm như trong truyện cổ tích.
              Một sự nhầm lẫn, cô biết như vậy. Cô đã ngăn bản thân mình trước mọi cảm xúc quyến luyến, nhưng cô lại “gục ngã” trước địa điểm này. Tĩnh lặng đến mức cô có thể nghe được tiếng khe suối rì rầm. Riêng tư và khuất nẻo trong rừng sâu. Lại an toàn nữa.
              Đích thân cô xem xét vấn đề an ninh, và cô không tin tưởng một ai khác. Phải vậy, cô nghĩ thầm, khi đỗ xe lại. Trừ Bert.
              Chú chó to lớn ngồi ở hiên trước của ngôi nhà gỗ hai tầng. Tấm thân đầy vẻ cảnh giác, cặp mắt sáng quắc. Khi cô bước ra khỏi xe, cô ra hiệu cho nó bình tĩnh lại. Nó nhảy chồm lên cô, toàn bộ trọng lượng ngót sáu chục cân của nó cuống quít mừng rỡ.
              “Cậu bé đáng yêu của chị. Chú chó tuyệt vời nhất thế giới. Khôn lắm. Cứ khôn như vậy nhé.” Cô vuốt ve nó rồi mới cầm lấy chiếc túi đi chợ. “Em sẽ không tin được buổi sáng nay của chị đâu.”
              Cô lấy chìa khóa ra trong lúc họ cùng tiến về phía căn nhà men theo lối đi hẹp rải đá. “Đang tập trung vào việc của chị, đang mua đồ thì tay cảnh sát trưởng mò vào siêu thị tra hỏi. Em nghĩ việc đó thế nào?”
              Cô mở hai lượt chốt cửa, cùng với thanh chặn cửa, rồi mới bước vào trong để tắt hệ thống báo động bằng mật mã cứ ba đến năm ngày cô lại đổi một lần.
              “Chị cũng nghĩ như vậy.” Cô khóa cửa, chèn thanh chặn. “Gã thật bất lịch sự.”
              Cô đi qua phòng khách được cô bài trí phục vụ mục đích thư giãn. Cô rất thích ngồi thu mình ở đây, với một bếp lửa lách tách, Bert nằm ngay dưới chân. Đọc sách hoặc xem một đĩa DVD. Và cô chỉ việc bấm nút là có ngay hình ảnh của các máy quay an ninh xuất hiện trên cái màn hình phẳng loại lớn.
              Cô đi vào bếp, nơi có hẳn khu vực làm việc phụ mà cô bố trí thay cho phòng ăn.
              Theo thói quen, cô kiểm tra các khóa cửa hậu, những chỗ đánh dấu cô để trên các cửa sổ. Nhưng ở đây cô không thấy sợ. Cô tin tưởng, rốt cuộc, cô cũng tìm được một nơi cô không thấy sợ hãi. Nhưng thận trọng vẫn không bao giờ là thừa. Cô bật màn hình TV trong bếp để hiện hình ảnh từ các máy quay an ninh. Cô để chỗ hàng hóa sang bên - tất cả những thứ cô mua được trước khi bị quấy rầy - và kiểm tra một vòng.
              Cô cho Bert ăn loại thức ăn riêng hảo hạng của nó mà cô để trong một hộp thiếc. Cô luôn tin rằng nó có khả năng phân biệt được sự khác nhau giữa thức ăn ấy với món bánh quy dành cho chó chất lượng kém hơn.
              Là vệ sĩ của cô, nó xứng đáng được hưởng thứ ngon nhất.
              “Chị có vài việc phải làm sau đây. Chị phải lấy khoản phí của chị trên tài khoản Bosto. Rồi chúng ta sẽ ra ngoài, tập tành một chút. Cho chị một tiếng, sau đó...”
              Cô im bặt, còn Bert đầy vẻ cảnh giác khi có tín hiệu cảnh báo xe vang lên.
              “Chúng ta làm gì có ai giao hàng hôm nay.” Cô đặt tay vào khẩu súng đeo bên hông. “Có lẽ là ai đó rẽ nhầm đường. Lẽ ra chị nên bố trí cổng, nhưng chúng ta có rất nhiều người đến giao hàng.”
              Cô cau mày khi nhìn thấy chiếc xe hơi tiến đến, rồi chạy về phía màn hình, hiện to dần.
              “Ôi trời. Hắn muốn gì không biết?”
              Giọng nói của cô khiến Bert khe khẽ gầm gừ trong họng. “Gối đầu.” Khẩu lệnh ám chỉ đứng im giúp chú chó bình tĩnh lại nhưng vẫn dõi theo cô xem có hiểm nguy gì không. “Gối đầu,” cô nhắc lại, rồi ra hiệu cho nó đi theo cô.
              Bert có cách đuổi khách rất thành công.
              Cô tắt hệ thống báo động, mở khóa cửa trước và bước ra hiên khi anh chàng cảnh sát trưởng đỗ xe đằng sau chiếc SUV của cô.
              Điều đó khiến cô thấy khó chịu. Anh ta không chặn ngay sau xe cô, cũng không cản cô lên xe. Cô có thể lánh anh ta nếu cần. Nhưng ý đồ thì đã rành rành, và cô không thích điều đó.
              “Cô Lowery.”
              “Sếp Gleason. Có chuyện gì à?”
              “Chà, buồn cười là cô lại hỏi trước, bởi lẽ đó phải là câu hỏi của tôi mới đúng. Trước khi hỏi, cho phép tôi nói rằng con chó bự thật đấy.”
              “Đúng vậy.”
              Tư thế đứng nghênh nghênh, tay đút trong túi áo trước, ngôn ngữ cơ thể của anh ta rất thoải mái và tự nhiên. Nhưng đôi mắt của anh ta, Abigail nhận thấy như vậy, rất sắc bén và tinh tường. Rất quyền uy.
              “Liệu nó có xé tan họng tôi nếu tôi bước lại đó không?”
              “Không, trừ khi tôi ra lệnh.”
              “Vậy cô đừng ra lệnh nhé. Sao chúng ta không vào trong nhà nhỉ?”
              “Tại sao chúng ta lại phải vào?”
              “Như thế sẽ thân thiện hơn. Nhưng ở ngoài này cũng được. Nơi này trông rất ổn. Ổn hơn hẳn so với trước đây.” Anh gật gù nhìn về một khoảnh đất cô đã dọn sạch và phủ bằng chất dẻo màu đen. “Định trồng hoa hay rau vậy?”
              “Hoa. Nếu anh bỏ công đến tận đây chỉ để hỏi có chuyện gì không thì tôi cũng chỉ nói với anh rằng không. Ở đây không có chuyện gì cả.”
              “Vậy tôi hỏi tiếp nhé. Tại sao cô mang theo súng?”
              Cô biết mình đã thoáng tỏ ra ngạc nhiên, và ước sao mình có đeo kính râm. “Tôi sống một mình. Tôi không biết anh, và anh không mời mà đến, cho nên tôi phải có súng và chó để phòng thân. Tôi có giấy phép đấy.”
              “Cô có thì tốt rồi. Vấn đề là, cô mang theo cả khẩu súng đó khi cô đi mua dấm. Tôi không nghĩ cô cần phòng thân ở siêu thị thực phẩm.”
              Sắc bén và tinh tường, cô lại nghĩ, và thầm trách mình không mang theo thứ vũ khí nhỏ gọn hơn. “Tôi được phép mang vũ khí kín. Tôi làm đúng các quyền của mình thôi.”
              “Tôi sẽ đề nghị được xem giấy phép, cảm phiền cô.”
              “Tôi thấy phiền đấy. Tại sao người ta lại cứ phải nói vậy khi họ biết rất rõ cái người mà nghe họ nói vậy chắc chắn sẽ thấy phiền nhỉ?”
              “Thì cũng chỉ cho có thôi, tôi đoán vậy.” Anh nói rất vui vẻ, kiên nhẫn - cô nghĩ khả năng đó chính là một biệt tài, và một vũ khí nữa.
              “Tôi rất muốn xem giấy phép, chỉ để nắm được mọi việc - cô Abigail, được không?”
              Cô quay đi không nói gì, móc chìa khóa ra. Cô cảm thấy anh bám theo cô lên đến hiên. “Tôi sẽ mang ra.”
              “Cô biết không, cô khiến tôi thắc mắc tại sao cô nhất mực chặn tôi ở bên ngoài. Cô có phòng bào chế ma túy, nhà chứa, kho súng ống, chế tạo chất nổ gì chăng?”
              “Tôi chẳng hề làm mấy chuyện đó.” Mái tóc cô, một dải tóc màu vàng nâu xõa đến vai, bay tung khi cô xoay lại. “Tôi không hề biết anh.”
              “Brooks Gleason, cảnh sát trưởng.”
              Đúng, cô quyết định, bất kỳ ai có thể châm chọc bằng cái giọng kéo dài vui vẻ và nụ cười dễ dàng như vậy, đều rất có nghề.
              “Tên tuổi và nghề nghiệp không thay đổi được thực tế là tôi không biết anh.”
              “Đã hiểu. Nhưng cô có một con chó khủng ở kia cứ luôn để mắt đến tôi vì nó biết cô khó chịu và tôi chính là lý do. Chắc nó phải nặng ngót nửa tạ.”
              “Hơn sáu mươi cân.”
              Brooks nhìn Bert rất lâu. “Tôi nặng hơn nó chục cân, nhưng nó lại có hàm răng sắc bén hơn và cô thì có súng.”
              “Anh cũng vậy mà.” Cô đẩy cửa mở ra, và khi Brooks dợm bước vào, cô giơ một tay ra. “Tôi muốn anh đợi ở đây. Tôi sẽ bảo nó canh chừng. Nó sẽ kìm chân anh nếu anh không chịu ở đây. Anh không có quyền sục sạo trong nhà tôi.”
              “Được rồi.”
              “Bert. Giữ.” Cô xoay về phía cầu thang, đi lên.
              “Tức là ‘kìm chân’ đây.”
              Gần như mất kiên nhẫn - tay cảnh sát trưởng có vẻ hơi quá đà - cô dừng lại, gắt, “Cứ ở nguyên tại chỗ của anh và anh sẽ không phải thấy cảnh đó đâu.”
              “Được rồi, đành vậy.” Anh thở hắt ra khi cô biến mất trên gác.
              Anh và chú chó nhìn nhau chằm chằm. “Này, Bert, chú mày làm gì ở đây để khuây khỏa hả? Không nói chuyện, phải không? Địa điểm đẹp đấy.” Rất thận trọng, Brooks vẫn đứng yên, chỉ ngó ngoáy đầu. “Gọn gàng, ngăn nắp.”
              Ba ổ khóa, một thanh chặn, cửa sổ chắc chắn, hệ thống báo động tối tân. Abigail Lowery là nhân vật quái quỷ nào vậy, và cô ta sợ điều gì - hay sợ ai nhỉ?
              Cô đã đi xuống, tay cầm một tờ giấy, đưa cho anh.
              “Một khẩu Glock 19 à? Đó là loại súng đáng gờm đấy.”
              “Súng nào cũng đáng gờm cả.”
              “Cô nói không sai.” Anh trả lại giấy phép cho cô, nhìn thẳng vào mắt cô. “Và cô nói không sai rằng cô không biết tôi. Tôi có thể nói với cô tên đội trưởng cũ của tôi ở Little Rock. Tôi thuộc lực lượng cảnh sát ở đó suốt mười năm trước khi tôi chuyển về quê. Tôi là một cảnh sát tốt, cô Abigail. Nếu cô cho tôi biết cô đang gặp rắc rối gì, tôi sẽ cố gắng giúp cô.”
              Cảnh sát trưởng Gleason không phải là người duy nhất có nghề, cô nhủ mình. Ánh mắt và giọng nói của cô vẫn hoàn toàn đều đặn và không thay đổi. “Tôi không gặp chuyện gì cả. Tôi chỉ đang sống cuộc sống của mình. Tôi có việc để làm, và tôi tin chắc anh cũng có việc phải làm. Tôi rất muốn giờ anh về đi.”
              “Được thôi. Nếu cô đổi ý.” Anh rút một tấm danh thiếp ra, đặt lên chiếc bàn cạnh cửa trước. “Số di động của tôi trên đó. Nếu cô cần giúp đỡ, cô cứ gọi.”
              “Tôi không cần giúp đỡ.”
              “Cô có hẳn một thanh chắn và ba ổ khóa hạng nhất ở cửa trước, chấn song an toàn lắp ở cửa sổ, và một hệ thống báo động còn tốt hơn cả ngân hàng của tôi. Tôi không nghĩ tất cả những thứ đó chỉ để giữ cho chú chó kia không chạy ra ngoài.”
              Anh mở cửa trước, xoay lưng lại để nhìn cô. “Cô có thích trò ghép hình không?”
              “Có, nhưng tôi không thấy chuyện đó có liên quan gì.”
              “Tôi cũng thích. Hẹn gặp cậu, Bert.” Anh đóng cửa lại.
              Abigail bước qua bên, khóa cửa lại rồi nhắm chặt mắt, quỳ gục xuống sàn và áp mặt vào cái cổ rắn chắc của chú chó.
              #7
                Thanh Vân 29.11.2023 19:17:02 (permalink)

                8


                Boyd Fitzwater, mái tóc hoa râm và bụng phệ, ngồi lì bên bàn. Ông ngừng mổ cò trên bàn phím máy tính khi Brooks bước vào.
                “Cô Crew có đến đấy. Đúng như cậu dự đoán, cái mắt thâm tím đêm qua chỉ là một tai nạn. Lần này cô ta rất sáng tạo. Nói rằng cô ta trượt ngã trên thảm và Ty cố gắng đỡ cô ta.”
                “Cho nên cô ta ngã trúng vào nắm đấm của anh ta chứ gì?”
                “Đúng những gì cô ta nói đấy. Còn anh ta thì có hơi chếnh choáng, nên anh ta tính toán nhầm khi cố đỡ cô ta.”
                “Và hàng xóm gọi chúng ta đến là vì cô ta bán khỏa thân chạy ra khỏi nhà và la hét à?”
                “Chuyện đó?” Cố nín cười, Boyd lắc đầu. “Cô ta trông thấy một con chuột, và không phải thứ trên mắt cô ta[13]. Phản ứng thái quá, và lẽ ra hàng xóm không nên làm phiền chúng ta. Mà cậu khỏi phải hỏi, lý do cô ta nói Ty động chân động tay với cô ta tối qua là cô ta nhầm lẫn. Bởi vì đúng là anh ta có như vậy, nhưng chỉ là tìm cách đỡ cô ta khỏi ngã thôi.”
                “Anh để gã đi rồi à?”
                “Nếu không còn biết làm gì được.”
                “Không, nhưng chuyện vớ vẩn này sẽ chấm dứt thôi. Lần sau chúng ta được gọi tới chỗ họ, tôi muốn bất kỳ ai trực thì cũng gọi cho tôi. Tôi muốn xử lý việc này.”
                “Rất hoan nghênh sếp. Tôi cũng đã thử rồi, Brooks. Thậm chí còn bảo Alma nói chuyện với cô ta, cứ nghĩ có thể cô ta chịu nghe một phụ nữ khác khuyên bảo tôi.”
                “Ôi dào, cô ta chẳng nghe đâu.” Alma Slope từ phòng giải lao bước vào. Hôm nay bà vừa sơn móng tay màu cam cho hợp với chuỗi hạt to quanh cổ. Túm tóc quăn màu vàng kim của bà ấy được giữ chặt ra sau bằng một dải lụa hoa màu da trời.
                Bà hớp một ngụm cà phê trên tay, để lại một vệt son đỏ đậm rất rõ trên vành cốc. Đôi mắt màu lục nhạt, thứ duy nhất nhạt ở Alma, nhìn ra từ phía sau cặp kính gọng mắt mèo khảm kim cương giả.
                Khuôn mặt bà ấy, với những đường nét thanh tú, thể hiện rõ vẻ khó chịu trong khi một nắm tay tì vào hông chiếc quần bò phai hiệu Levis.
                Alma phải đến sáu mươi, nhưng bà ấy phải đến sáu mươi từ trước khi Brooks lên Little Rock rồi, cho nên anh không tài nào đoán được tuổi thật nhân viên trực máy của mình nữa. Anh cũng chẳng dám chắc Alma có biết tuổi mình không nữa.
                “Tôi đưa cô ta vào phòng giải lao, bảo cô ta ngồi xuống và nói chuyện tâm tình với cô ta. Cô ta bắt đầu khóc, cho nên tôi nghĩ mình nên tránh đi đâu đó. Nhưng cô ta nói cô ta rất yêu Tybal, và anh ta chỉ hơi xấu tính lúc say rượu thôi. Và đây mới là chuyện. Rằng mọi chuyện sẽ ổn thỏa nếu như cô ta có thai.”
                “Lạy Chúa.”
                “Cô ta nói cô ta đang thực sự rất cố. Một khi họ có con, Ty sẽ bình tâm tĩnh trí ngay thôi.”
                “Tôi muốn được thông báo khi đến lúc đó,” Brooks nhắc lại. “Cảm ơn chị đã cố gắng, Alma. Anh có thể đi tuần, Boyd. Tôi có mấy công việc giấy tờ phải xử lý.”
                “Tôi sẽ làm ngay.”
                “Cậu có muốn cà phê không, sếp?” Alma hỏi anh.
                “Cảm ơn chị.”
                “Tôi sẽ lấy cho cậu. Đang rảnh mà. Hôm nay khá yên ổn.”
                “Hy vọng sẽ tiếp tục như vậy.”
                Anh đi vào văn phòng, khởi động máy tính, nhấc cái lò xo đồ chơi Slinky cũ trên mặt bàn mình lên. Đi tới bên cửa sổ, anh di chuyển hai tay lên xuống để các vòng lò xo chạy rào rạo. Anh rất thích thứ tiếng này, cảm thấy nó thật nhẹ nhàng, như một tấm chăn cũ hay một đôi chân trần trên cỏ ấm.
                Anh tự nhận mình - và được những người biết anh nhìn nhận - là mẫu đàn ông điềm đạm. Một số người nói còn hơi có phần lạnh lùng. Cho nên anh thấy ngạc nhiên vì sự việc với Abigail Lowery lại khiến anh khó chịu đến vậy.
                Nhắc đến con chó. Một chàng chó đẹp, nhưng chắc chắn nếu anh cử động sai lầm, hoặc cô ấy chỉ ra hiệu, chàng chó điển trai đó sẽ cắn ngập hàm răng của nó vào người anh ngay.
                Brooks không ngại những tình huống rối rắm, bởi vì anh thích giải quyết chúng, tìm ra câu trả lời hoặc giải pháp. Làm việc, đem lại sự bình yên. Nhưng anh rất khó chịu khi phải thất thế trước một phụ nữ có vũ khí cùng con chó vệ sĩ to lớn của nàng.
                Không có vi phạm pháp luật, anh nghĩ. Không hề. Và chưa hề.
                Có một số người bẩm sinh đã không thân thiện. Anh chẳng bao giờ hiểu được loại người ấy, nhưng anh đã biết họ, đã đối phó với họ. Còn tệ hơn với người phụ nữ này kia. Hơn rất nhiều.
                Anh nhận thấy ở cô một sự pha trộn rất lạ lùng và thú vị giữa tự tin và kích động, thẳng thắn và kín đáo. Ngữ điệu miền Bắc, anh nhận ra như vậy. Vẫn chưa đầy ba mươi, theo mắt đánh giá của anh, và trừ Alma ra, thường thì anh luôn đánh giá đúng.
                Nhìn nhận đơn giản thì vậy, nhưng ở đây vẫn có điều đáng chú ý. Xinh đẹp, mặc dù cô ấy không hề trang điểm, và trang phục của cô ấy giản dị. Giày cao cổ loại tốt, mòn đều. Không đồ trang sức, không sơn móng, không màu sắc sặc sỡ.
                Theo như anh thấy, cô ta muốn nói rằng đừng có nhìn tôi. Đừng chú ý đến tôi.
                “Chuyện gì khiến cậu bồn chồn thế?” Alma bước vào, đặt cà phê của anh lên bàn. “Cậu còn đang nghịch món đồ chơi của mình nữa chứ,” bà ấy nói thêm khi anh quay lại.
                “Chỉ đang suy nghĩ.”
                “Chuyện gì đó liên quan đến cô gái mua khu Skeeter cũ phải không?”
                “Dạo này chị lại biết cả bói toán nữa cơ à?”
                “Tôi dành cái đó cho con gái mình.”
                “Caliope thế nào?” Con gái Alma biết đọc bài tarot, chỉ tay và khí sắc - và là một người bạn rất thân thiết của mẹ anh.
                “Đêm trước con bé phục vụ một tiệc đính hôn. Nhờ buổi đó lại có thêm luôn ba cuộc hẹn nữa.”
                “Tốt quá rồi.”
                “Kiếm sống thôi mà. Tôi nghe nói cậu đã làm được những gì được coi là một cuộc trò chuyện với cô gái Lowery ở chỗ mua đồ ăn.”
                “Cô ấy không phải người hay chuyện.” Anh ngồi xuống, nhấc ly cà phê lên, gác giày lên bàn. Một hình thức mời Alma ngồi lại. “Chị biết gì nào?”
                “Không nhiều, nhưng cũng khiến tôi thấy bứt rứt. Những gì tôi moi được từ Dean McQueen, vì anh ta chuyên bán nhà cửa, là cô ta liên hệ với anh ta qua email. Xem hàng trên mạng, đặt vài câu hỏi, cảm ơn anh ta rất lịch sự. Vài ngày sau, cô ta gửi email lần nữa để trả giá. Không phải là giá chào, nhưng Dean bảo tôi có cao hơn một chút so với mức giá anh ta hy vọng bán được, và cô ta trả bằng tiền mặt.”
                “Tiền mặt.”
                “Đúng vậy. Trả ngay tức thì. Dân Skeeter xôn xao. Chậc, sếp biết Dean đấy, anh ta là dân kinh doanh, và anh ta thích nói vống lên. Anh ta nói anh ta không thu được gì nhiều từ cô ấy ngoài những từ có và không. Cô ta chuyển khoản tiền đặt cọc từ một ngân hàng ở Kansas City. Lái xe tới cùng với con chó của mình để thanh toán hết, kéo theo cả một xe thùng U-Haul. Ký giấy tờ, trao séc rút tiền, lần này thì từ một ngân hàng ở Fairbanks, Alaska. Dean muốn mời cô ta ăn trưa để ăn mừng, nhưng cô ta gạt phắt ngay. Muốn dẫn cô ta đến khu nhà, hướng dẫn qua cho cô ta, và lại bị gạt phắt lần nữa. Cô ta cầm giấy tờ, chìa khóa, cảm ơn tất cả mọi người và chỉ có vậy.”
                “Đúng là một câu đố,” Brooks lầm bầm.
                “Mọi người ai sống thế nào thì sống phải không? Như tôi thấy thì họ có sống mãi được đâu.” Bà đứng lên khi bộ đàm khu vực điều phối vang lên. “Sẽ rất thú vị nếu nắm được thóp của cô ta.”
                “Đúng vậy,” Brooks tán thành. Khi Alma đi ra để trả lời bộ đàm, điện thoại của anh vang lên. “Sở cảnh sát Bickford, Cảnh sát trưởng Gleason nghe đây.” Lúc này, anh tạm gác nàng Abigail Lowery lại.
                Anh xử lý giấy tờ, các cuộc điện thoại, rồi bách bộ đi tuần, nghe chủ một cửa hàng gốm than phiền việc người chủ cửa hàng kế bên lại đỗ xe chắn mất lối vào giao hàng của ông ấy.
                Và rồi lại phải nói chuyện với người bị kêu ca.
                Anh chọn một suất bánh mì kẹp thịt hun khói kèm pho mát, và trong khi dùng bữa trưa muộn màng của mình tại bàn làm việc, anh bắt đầu giải quyết câu đố.
                Anh lục tìm dữ liệu của cô trong lúc nhai suất bánh kẹp của mình. Anh đọc ngày sinh của cô, nhận ra rằng cô mới hai mươi tám, như vậy là anh đã đúng.
                Giấy phép của cô không hề bị hạn chế gì. Cô còn là người hiến tạng với hồ sơ lái xe rất sạch.
                Anh truy cập vào cơ sở dữ liệu và tìm lý lịch hình sự của cô.
                Không tiền án tiền sự.
                Thế là đủ rồi, anh tự nhủ. Theo dữ liệu, cô ấy là một công dân tuân thủ pháp luật chưa hề có lấy dù chỉ một vé phạt chạy quá tốc độ.
                Nhưng...
                Tò mò, anh tìm trên Google về cô. Anh có vài trường hợp trùng tên, nhưng không trường hợp nào là nàng Abigail Lowery của anh.
                Anh tiếp tục sục sạo. Anh đã có tên, địa chỉ, ngày sinh, dữ liệu giấy phép lái xe của cô. Vì anh biết cô có giấy phép mang vũ khí, anh bắt đầu tìm kiếm phần đăng ký súng ống.
                Khi dữ liệu xuất hiện, anh ngồi nán lại.
                “Chà, cả một kho súng cơ đấy,” anh lầm bầm.
                Ngoài khẩu Glock 19, cô còn có giấy phép sử dụng một khẩu Glock 36, một khẩu Glock 26, một khẩu Beretta 9mm, một khẩu Sig tầm xa, một khẩu Colt Defender 9mm và một khẩu Smith & Wesson 1911, cùng một cặp Walther P22.
                Người phụ nữ này cần nhiều súng ống như vậy để làm gì chứ? Anh là một cảnh sát, ơn trời, và ngoài vũ khí công vụ, anh cũng chỉ được dùng hai khẩu nữa. Cô là hạng người nào vậy?
                “Này, Brooks.”
                Quả bom tóc vàng đứng tạo dáng ngay ngưỡng cửa phòng anh. Mái tóc của Sylbie xõa thành từng lọn óng ánh xuống hai bờ vai chiếc áo sơ mi đăng ten trắng thắt lưng hờ phía trên chiếc quần bò trông giống như một lớp sơn mỏng phủ trên cặp chân dài. Cô ta có đôi mắt gợi cho anh nhớ đến một con hổ, vàng nâu và hơi hoang dã.
                Hồi còn học trung học, anh chết mê chết mệt cô. Và khi anh có được cô, cuộc sống của anh trở thành cái bập bênh giữa hạnh phúc và sự chịu đựng.
                Như một phản ứng tự động, anh ẩn màn hình làm việc đi. “Tình hình sao rồi, Sylbie?”
                “Ôi, em ổn mà. Em làm việc suốt từ lúc bình minh, nên em cho phép mình giải lao một chút.” Cô đi như lướt vào phòng trên đôi chân dài miên man kia, ngồi vắt vẻo lên một góc bàn anh, người tỏa ra mùi nước hoa đầy quyến rũ. “Em nghĩ em nên ghé qua gặp anh, và xem xem liệu anh có muốn tối nay gặp nhau không.”
                “Anh còn rất nhiều việc phải làm ở đây.”
                “Nếu cảnh sát trưởng còn không rảnh buổi tối thì ai rảnh được chứ?”
                “Luật pháp luôn phải cẩn trọng mà.”
                Cô bật cười, hất cái bờm tóc xinh xắn kia. “Thôi nào, Brooks. Em nghĩ em sẽ mua một chai vang ngon đấy.” Cô nghiêng người tới. “Và anh có thể lợi dụng em.”
                Dù không cảm thấy ra dáng đàn ông cho lắm, nhưng anh phải thừa nhận rằng trong những lần ít ỏi họ bên nhau kể từ khi anh trở về nhà, anh luôn có cảm giác mình là người bị lợi dụng.
                Anh không bận tâm vào thời điểm ấy. Nhưng sau đó...
                “Lời mời hấp dẫn đấy, Sylbie, nhưng tối nay anh phải làm việc.”
                “Tới muộn cũng được.”
                “Anh không nghĩ vậy.”
                “Anh đang làm em tổn thương đấy.”
                “Anh không muốn như vậy.” Nhưng anh cũng chẳng muốn điên vì yêu lần nữa. Họ đã cách xa thời trung học, khi cô chiếm trọn trái tim anh, sau đó hủy hoại nó - và mới đây thôi, cô lại vừa ly dị lần hai.
                “Nếu anh không muốn để tâm,” cô nói và tụt xuống khỏi bàn.
                “Anh không như vậy.” Cô sẽ luồn vào lòng anh ngay nếu anh không đứng lên. “Xem nào, Sylbie.”
                Khi anh trông ra cửa, anh thấy Abigail bước vào, nhìn thấy ngay vẻ bối rối của cô.
                “Cô Lowery,” anh nói, khi cô chưa kịp quay người.
                “Tôi xin lỗi vì xen ngang, tôi sẽ quay lại sau.”
                “Không, không sao. Anh sẽ nói chuyện với em sau, Sylbie.”
                “Em sẽ mua chai rượu vang đó,” cô nói khẽ, và mỉm cười với anh. Cô quay đi, hơi nghiêng đầu để soi xét Abigail. “Cô là người phụ nữ sống ở khu Skeeter.”
                “Vâng.”
                “Tất cả mọi người đều thắc mắc mình cô làm gì ở chỗ đó.”
                “Họ chẳng nên như vậy.”
                “Làm người ai chẳng tò mò. Điều đó cũng tự nhiên thôi. Tôi là Sylbie MacKenna.”
                “Một thợ gốm trong vùng. Cô làm rất khéo. Tôi đã từng mua bát của cô.” Abigail lại nhìn Brooks. “Tôi có thể nói chuyện với anh sau, cảnh sát trưởng Gleason.”
                “Giờ cô đã ở đây rồi. Sylbie phải đi rồi.”
                “Trịnh trọng quá. Anh ấy không hay như vậy đâu.” Cô ta nhìn Abigail mỉm cười ranh mãnh. “Em sẽ gặp anh sau, Brooks.”
                “Cô ấy rất quyến rũ,” Abigail nhận xét.
                “Luôn như vậy mà.”
                “Tôi xin lỗi xen ngang. Cái người phụ nữ, nhân viên...”
                “Nhân viên trực máy?”
                “Vâng. Bà ấy nói lẽ ra tôi nên quay lại sau.”
                “Không sao. Mời cô ngồi.”
                “Tôi đóng cửa được không?”
                “Vâng.”
                Sau khi làm vậy xong, và ngồi xuống chiếc ghế dành cho khách, cô im lặng mất một lúc.
                “Tâm trí cô vướng bận chuyện gì ư?” anh hỏi cô.
                “Vâng. Tôi nhận ra tôi xử lý sai việc... của chúng ta sáng nay. Lúc ở siêu thị, và khi anh đến nhà tôi. Tôi chưa được chuẩn bị.”
                “Cô phải chuẩn bị tinh thần cho một cuộc trò chuyện cơ à?”
                “Tôi không phải là người quảng giao, cho nên tôi không dám trò chuyện nhiều, đặc biệt với những người tôi không biết. Lúc ở siêu thị, tôi cảm thấy không thoải mái khi anh quan tâm đến những gì tôi mua.”
                “Việc tôi quan tân đến những gì cô mua chỉ là mánh để gợi chuyện thôi.”
                “Vâng.”
                Mọi thứ ở cô ấy đều điềm đạm, anh nghĩ, và bình tĩnh. Anh nhận thấy cô giống như cực đối lập với Sylbie, người luôn sôi nổi, và dường như luôn hoạt động.
                “Chúng ta sống trong một thị trấn nhỏ, cô Abigail. Một thị trấn nghỉ dưỡng nhỏ, toàn những tín đồ trào lưu Tân Kỷ nguyên[14] và những người hippy cũ, những hippy thế hệ thứ hai, các nghệ sĩ. Chúng tôi rất thân thiện.”
                “Tôi thì không được vậy. Tôi rất xin lỗi nếu tôi có phần thô lỗ nhưng đó là thực tế. Tôi không phải người thân thiện, và tôi chuyển đến đây để được sống yên tĩnh, được tĩnh mịch. Khi anh đến nhà ngay sau lúc ở siêu thị, việc đó khiến tôi lo lắng, và bực bội. Tôi có những lý do riêng để phải mang theo súng. Tôi không có nghĩa vụ phải nói rõ những lý do đó. Tôi chẳng làm gì sai cả.”
                “Rất mừng được biết như vậy.”
                “Tôi rất thích căn nhà của mình, và vùng đất quanh nó. Tôi cũng thích thị trấn này. Ở đây tôi cảm thấy thoải mái. Tôi chỉ muốn được một mình.”
                “Những gì Sylbie nói về chuyện tò mò là sự thật. Điều đó cũng hết sức tự nhiên thôi. Cô càng bí ẩn, mọi người càng thắc mắc.”
                “Tôi không bí ẩn.”
                “Cô là một sự bí ẩn di động.” Anh đứng lên, vòng qua bàn. Lúc làm vậy, anh thấy cô rất gắng gượng, đầy cảnh giác, thậm chí khi anh ngả người dựa vào mặt trước chiếc bàn.
                Anh muốn hỏi ai làm cô tổn thương, ai làm cô sợ. Nhưng anh sẽ mất cô nếu anh làm vậy.
                “Cô là một phụ nữ thực sự hấp dẫn nhưng lại sống một mình - với một chú chó to, lực lưỡng - biệt lập hẳn bên ngoài thị trấn. Chẳng ai biết rõ cô từ đâu đến, tại sao cô lại đến đây, cô làm gì để sống. Bởi đây là miền Nam, nên chẳng ai biết gốc gác của cô. Cô là dân miền Bắc, nên mọi người sẽ tò mò về cô. Quanh dây, chúng tôi đều thích sự lập dị, điều đó rất hợp với cộng đồng này. Nếu mọi người xác định cô là người lập dị, họ sẽ thôi không thắc mắc nữa.”
                “Theo những tiêu chí nhất định thì tôi là người lập dị. Tôi có thể còn lập dị hơn nếu điều đó khiến mọi người hài lòng.”
                Anh cười tươi với cô, không nén được. “Cô hoàn toàn khác. Cô làm gì để sống, Abigail? Nếu đó không phải là một bí mật, hoặc vấn đề an ninh quốc gia, cô có thể nói cho tôi biết. Và điều đó cũng là cuộc trò chuyện rất đơn giản.”
                “Tôi lập trình máy tính và thiết kế phần mềm, làm tự do. Tôi cũng thiết kế các hệ thống an ninh, và cải tiến hoặc thiết kế lại các hệ thống hiện có, chủ yếu cho các công ty.”
                “Thú vị quá! Nghe kể thì có vẻ dễ dàng.”
                “Công việc của tôi có nhiều khía cạnh rất nhạy cảm. Tất cả đều phải bí mật nữa.”
                “Tôi hiểu. Hẳn cô rất thông minh.”
                “Tôi rất thông minh.”
                “Cô học ở đâu?”
                Cô chăm chú nhìn anh, điềm tĩnh, bình thản, tự chủ. “Anh biết đấy, khi anh hỏi tôi tất cả những câu hỏi này, không có cảm giác giống nói chuyện cho lắm. Giống như thẩm vấn mới đúng.”
                “Ồ, vâng. Vậy hãy đặt câu hỏi cho tôi đi.”
                Cô cau mày nhìn anh chằm chằm. “Tôi chẳng có câu hỏi nào cả.”
                “Nếu cô thông minh như vậy, cô có thể nghĩ ra câu hỏi.” Anh rời khỏi bàn, đi tới bên chiếc tủ lạnh to tướng và lấy ra hai lon Coke. Anh đưa cho cô một lon, bật nắp lon thứ hai. “Có gì đó không ổn ư?” anh hỏi, trong khi cô cứ trân trân nhìn lon nước trên tay mình.
                “Không. Không. Không sao, một câu hỏi đây. Tại sao anh lại làm trong ngành hành pháp?”
                “Đó, một câu hỏi rất hay.” Anh chỉ tay vào cô vẻ tán đồng, rồi lại tựa vào chiếc bàn, những thay đổi sau lưng anh hiện rõ bên ngoài ô cửa sổ. “Tôi thích giải quyết vấn đề. Tôi tin vào rất nhiều điều. Cũng không tin nhiều thứ, nhưng một trong những điều tôi tin là có những chuyện đúng và có những điều sai. Không phải ai cũng phân biệt được đúng sai như nhau. Chuyện nhìn nhận sẽ mang tính chủ quan. Khi cô là một cảnh sát, đôi khi đây là vấn đề đen và trắng, và đôi khi cô phải quyết định - trong tình huống này, với những người này, chuyện đó là sai ư, hay chỉ là có vấn đề cần giải quyết?”
                “Có vẻ rất khó hiểu.”
                “Không hẳn. Chỉ là chuyện giải quyết vấn đề, và cách duy nhất thực sự giải quyết được chúng là sử dụng cái đầu của mình. Và cả khí phách của mình nữa.”
                “Trí tuệ là tiêu chí đánh giá chính xác hơn tình cảm. Trí tuệ xử lý được dữ kiện. Còn tình cảm hay thay đổi và không đáng tin cậy.”
                “Và rất nhân văn. Luật pháp còn gì tốt đẹp nếu chúng không nhân văn?”
                Anh đặt lon Coke của mình xuống và cầm lấy lon của cô. Anh mở nó và đưa lại cho cô. “Cô có cần cốc không?”
                “Ồ. Không. Cảm ơn anh.” Cô uống một ngụm nhỏ. “Cảnh sát trưởng Gleason.”
                “Brooks. Cô không định hỏi tôi làm sao tôi lại có cái tên Brooks à?”
                “Tưởng đó là họ anh.”
                Anh lại chỉ vào cô. “Cô nghĩ sai rồi. Nào, cô không tò mò ư?”
                “Tôi... Có, chỉ một chút thôi.”
                “Brooks Robinson.”
                “Tôi chưa hiểu?”
                “Tôi biết mà. Bóng chày, cô Abigail. Brooks là một trong những vệ thủ số ba cừ nhất từng bảo vệ góc hiểm. Mẹ tôi là người ở Baltimore, nơi ông ấy chơi. Mẹ tôi, bà rất mê bóng chày. Thậm chí khi bà chuyển về đây, suốt từ hồi cuối thập niên 1970, bà vẫn theo đuổi môn bóng chày, và tôn thờ đội Baltimore Orioles. Theo lời bà, khi bà xem Brooks đoạt danh hiệu năm 1970, qua mặt đội Cincinnati Reds, bà đã thề khi sinh con trai, bà sẽ đặt tên con là Brooks.”
                “Chắc mẹ anh mê bóng chày dữ lắm.”
                “Ồ, vâng. Thế còn cái tên Abigail xuất xứ từ đâu?”
                “Chỉ là một cái tên thôi.”
                “Tôi thích Abigail. Một cái tên truyền thống.”
                “Cảm ơn anh.” Cô đứng lên. “Tôi phải đi rồi. Hôm nay tôi còn nhiều việc phải làm. Tôi xin lỗi khi có phần mất lịch sự sáng nay, hy vọng tôi đã giải thích rõ ràng.”
                “Tôi đánh giá cao việc cô tới đây. Những gì tôi nói sáng nay vẫn vậy. Nếu cô cần bất kỳ điều gì, xin cứ gọi.”
                “Tôi sẽ không gặp chuyện gì đâu, nhưng cảm ơn anh về lon Coke và cuộc trò chuyện.” Cô trả lại lon nước cho anh. “Chào anh.”
                Khi cô đi khỏi, anh mân mê cái lon. Những gì nó nói với anh, anh tự hỏi, và anh đang nghĩ đến việc gửi nó đi để xét nghiệm DNA và dấu tay
                Có vẻ không hay lắm, ở vài khía cạnh, anh quyết định như vậy. Nhưng anh vẫn cầm lon nước ra nhà tắm, đổ hết những gì bên trong xuống bồn. Trở lại văn phòng mình, anh nhét chiếc lon rỗng vào một túi đựng chứng cứ, và cất nó vào ngăn kéo dưới cùng. Phòng khi cần.
                 
                Suốt cả ngày Brooks luôn có cảm giác bất ổn, và đó không phải là tâm trạng bình thường của anh. Anh không muốn gặp cô bồ, và bởi đã viện cớ phải làm việc để từ chối khéo Sylbie, nên anh không thể tạt vào quán McGrew làm một chầu bia, đánh một ván bi-a, và chuyện phiếm một chút được.
                Thay vì chạy thẳng về nhà, anh lái xe tới cuối phố Shop, rẽ trái và tấp vào căn nhà bừa bộn vẫn còn dang dở ngay sau chiếc Prius của mẹ anh.
                Giàn giáo vẫn kê bên hông nhà, nơi anh có thể theo dõi tiến độ bức tranh tường hiện nay của bà. Những nàng tiên gợi cảm, anh nhận ra như vậy, với mái tóc suôn, những đôi cánh mềm mại. Bên dưới gờ mái trước, có những nam thanh nữ tú nước da láng bóng, cơ bắp săn chắc cưỡi trên những con rồng lóng lánh sắc hồng ngọc, ngọc lục bảo và bích ngọc.
                Một tác phẩm ấn tượng, anh nghĩ thầm. Có lẽ hơi khác lạ cho một căn nhà để ở, nhưng ai nhìn cũng nhận ra đó là nhà của O’Hara-Gleason.
                Anh bước lên hiên nhà màu đỏ dâu để tới chỗ cánh cửa có những chú yêu tinh tai nhọn hoắt chầu hai bên.
                Và bước vào không gian ngập tiếng nhạc, mùi hương và màu sắc. Ồn ào và tiện nghi, thấm đẫm nghệ thuật của mẹ anh, thêm tươi tắn nhờ những bông hoa cha anh mang về nhà ít nhất hai lần một tuần.
                Những bông tulip để đón mừng mùa xuân đang về, Brooks quả quyết. Đủ cả bảy sắc cầu vồng và ẩn trong những chiếc bình, bát, lọ rải rác khắp căn phòng. Chú mèo mun cha anh đặt tên là Chuck vẫn cuộn tròn trên sofa và chỉ hơi hé mắt để nhận ra Brooks.
                “Thôi, không cần phải tỉnh dậy,” Brooks nói trong tiếng hát của Fergie[15] tràn ngập khắp căn nhà.
                Anh đi ra phía sau, qua phòng làm việc của cha anh, thư viện nhỏ chật ních, và bước vào khu trung tâm - gian bếp.
                Là căn phòng lớn nhất trong ngôi nhà, nơi này pha trộn giữa vẻ hiện đại rất rõ của những món đồ láng cóng - bếp nấu có lò nướng trong nhà, chiếc tủ rượu lắp kính - và vẻ hấp dẫn của những lọ gia vị, một cây chanh Meyer tươi tốt đang trổ hoa. Những hạt pha lê đủ mọi hình dáng bắt nắng lấp loáng chỗ cửa sổ. Thêm nhiều ánh sáng tràn vào qua cửa trời trên trần xép, bên trên vô số hoa, dây leo và quả mà mẹ anh đã vẽ trên nền màu vàng dịu.
                Anh ngửi thấy mùi bánh mì mới, và sự hấp dẫn của món gì đó mẹ anh đang xào nấu trên bếp trong lúc hòa tiếng cùng Fergie. Mẹ còn khiến Fergie chạy dài, Brooks nghĩ bụng.
                Theo như anh biết, mẹ anh gần như có thể làm bất kỳ việc gì, làm mọi việc.
                Bà tết mái tóc vàng của mình ra phía sau, với những hạt bạc toòng teng trên tai. Hai bàn chân trần của bà nhịp nhịp theo nhạc. Một hình xăm biểu tượng hòa bình trên mắt cá chân phải của bà hé lộ những cảm xúc thập niên 60 của bà.
                “Chào mẹ, mỹ nhân.”
                Bà há hốc miệng vì ngạc nhiên, sau đó quay lại và cười phá lên, đôi mắt màu hạt dẻ thật ấm áp. “Chào anh chàng điển trai. Mẹ không nghe thấy tiếng con vào.”
                “Mẹ chẳng nghe thấy gì đâu. Bao nhiêu lần con đã bảo mẹ vặn nhỏ nhạc thôi rồi nào?”
                “Nó giúp cho quá trình sáng tạo mà.” Nhưng bà vẫn nhấc điều khiển và tắt phụt tiếng Fergie. “Có chuyện gì không con?”
                “Cũng tàm tạm. Bố con đâu?”
                “Ông ấy có cuộc họp với phụ huynh. Ông ấy về nhà giờ đấy mà. Ở lại ăn tối chứ con?”
                “Có món gì ạ?”
                “Xúp thịt, bánh mì hương thảo và salad rau xanh.”
                “Vâng.” Anh mở tủ lạnh, lấy một chai bia, huơ lên.
                “Được thôi, nếu con đã muốn.”
                “Vậy đi mẹ.” Anh lấy chai bia thứ hai, mở cả hai.
                “Nào.” Bà thúc nhẹ vào bụng anh. “Có chuyện gì thế. Mẹ biết tỏng cái mặt anh rồi.”
                “Thì của mẹ cho con chứ ai.”
                “Mẹ làm tốt mà. Con lại có rắc rối phải không, cưng?”
                “Không hẳn. Chiều nay Sylbie ghé qua đồn con.”
                Bà uống một ngụm bia. “Hừm.”
                “Con biết cái ‘hừm’ của mẹ đấy. Cô ấy muốn ngủ với con tối nay.”
                “Nhưng anh lại đang ở trong bếp nhà mẹ và chọn món xúp thịt.”
                “Mẹ nấu món xúp thịt ngon tuyệt mà. Con đã nói dối cô ấy.”
                “Cho nên anh là sinh vật hiếm hoi, một cảnh sát trung thực chứ gì?”
                Giờ thì anh huých bà. “Mẹ đang xem thường uy thế con cưng của mình đấy. Mà thôi, nói dối đối tượng tình nghi, công việc là vậy mà. Lại thêm lần nói dối nữa. Con đâu có thích.”
                “Mẹ biết. Nhưng sao phải vậy?”
                “Để tránh hoặc là trì hoãn tình thế mà con nhận định là vớ vẩn. Con không muốn trở lại thời trung học. Tới đó, làm chuyện ấy, trở thành ngôi sao thể thao. Vả lại cô ấy đâu có muốn con, cô ấy muốn người khác kia. Tình dục tốt thật đấy, nhưng chẳng còn gì khác.”
                “Vậy mà con mong muốn nhiều thứ hơn chỉ là tình dục.” Sunny giả vờ quệt nước mắt. “Con trai tôi lớn rồi.”
                “Có lẽ. Con chẳng biết nữa. Nhưng con biết mình không muốn điều đó với Sylbie. Con hy vọng mọi việc suôn sẻ. Ai đó khác lọt mắt cô ấy và cô ấy chẳng còn bận tâm nữa.”
                “Mẹ tưởng con không muốn trở lại như thời trung học chứ.”
                “Vâng. Con biết con đã phải giải quyết chuyện đó rồi, và con cần làm vậy lúc cô ấy đến ngày hôm nay. Dở là con lại không làm. Cho nên con sẽ phải làm.”
                “Tốt lắm. Cô ấy không phải là người phụ nữ gia đình, Brooks. Cô ấy đánh đồng giá trị của mình với bề ngoài và bản năng giới tính của mình, và cô ấy sẽ không thể hạnh phúc cho tới khi nào không làm như vậy nữa. Mẹ nghĩ lẽ ra cô ấy đã có thể hạnh phúc, và làm cho ai đó hạnh phức, một khi cô ấy nhận ra mình có nhiều thứ để dâng hiến. Con chỉ cần nhớ con có thể giải quyết được vấn đề, nhưng con không thể thay đổi được cô ấy.”
                “Mẹ nói đúng. Con sẽ giải quyết việc này.”
                “Nào, còn gì nữa. Vẫn còn gì đó.” Bà vỗ vỗ má anh.
                “Hôm nay, chính thức con đã gặp Abigail Lowely.”
                “Ồ, tốt đấy. Đây đúng là chuyện hay đáng phải ngồi xuống kể tường tận rồi.” Bà ngồi xuống bên bàn ăn, vỗ vỗ chiếc ghế bên cạnh. “Mẹ háo hức muốn nghe chuyện đó. Cô ấy thế nào?”
                “Mới đầu con phải nói là cô ấy ăn nói có hơi thô, cộc lốc và không thân thiện, nhưng thêm một chút cởi mở, con cho là mọi chuyện chỉ là vụng về trong giao tiếp thôi.”
                “Tội nghiệp.”
                “Cái cô nàng tội nghiệp đó còn mang theo cả một khẩu Glock bên hông lúc đi siêu thị cơ.”
                “Súng à? Khi người ta nhận ra rằng đeo vũ khí đi lại chính là đề nghị...”
                Bà ngừng lại khi anh đập nhẹ một ngón tay lên môi bà.
                “Con biết cảm giác của mẹ về súng ống, chuyện kiểm soát súng và những gì mẹ xem như là tình trạng xiên xẹo của Tu chính án thứ hai[16].”
                Bà nhún vai, hậm hực, “Nhắc lại chuyện đó chẳng thừa đâu. Nhưng mà tiếp tục đi nào.”
                Anh kể cho bà về chuyện ở siêu thị, rồi đến nhà cô, con chó, những ổ khóa. Lúc anh phải xem xét giấy phép của cô, và số súng có đăng ký mà cô sử dụng, Sunny quyết định uống thêm chai bia thứ hai vì câu chuyện này.
                “Cô ấy sợ gì nhỉ?”
                “Mẹ cũng thấy thế à? Chính xác. Đó là điều con muốn biết. Là cảnh sát trưởng ở khu vực này, đó là điều con cần biết. Nhưng định giải quyết thì Sylbie lại xen vào.”
                Khi anh đã kể hết những gì còn lại, thái độ hậm hực của bà về chuyện súng ống đã giảm hẳn, và sự chú ý của bà đã thay đổi. “Chuyện đó làm mẹ buồn.”
                “Chuyện gì ạ?”
                “Cưng ơi, cô ấy quá cô đơn. Dĩ nhiên cô ấy vụng về trong giao tiếp khi cô ấy phải tự phòng thủ cho mình, và đối phó điều chỉ có Chúa mới biết. Nghe có vẻ cô ấy không phải là một trong những người còn sống sót hay một trong những kẻ điên khùng nghĩ họ phải có cả đống súng ống và ổ khóa để làm cách mạng hay chỉ vì si cuồng. Con nói cô ấy chuyên lập trình, và làm về an ninh. Có lẽ cô ấy đã phát hiện ra gì đó hoặc phát minh ra gì đó. Giờ thì Chính phủ truy lùng cô ấy.”
                “Sao lúc nào cũng phải là Chính phủ thế mẹ?”
                “Bởi vì mẹ thấy thường như vậy, đó là lý do. Cô ấy có thể là một điệp viên mạng hay đại loại như thế.”
                “Con rất yêu mẹ.”
                Bà nheo mắt, khẽ đá vào ống chân anh. “Giờ anh đang định dùng mấy từ có cánh đó để nịnh bợ đấy.”
                Anh không sao che giấu được nụ cười tự mãn. “Xin nói rằng cô ấy không hề cho con cảm giác là gián điệp.”
                “Chà, họ không đời nào lại để như vậy, phải không? Họ phải hòa nhập chứ.”
                “Nếu thế, cô ấy là một điệp viên dở, bởi vì cô ấy không hề hòa nhập.”
                “Được rồi, có khi cô ấy đang trốn tránh một gã bạn trai lạm dụng.”
                “Con không thấy có điều gì trong hồ sơ của cô ấy liên quan đến chuyện đó.”
                “Một số phụ nữ không hề tới báo cảnh sát. Một số người chỉ biết bỏ trốn thôi.”
                Anh nghĩ đến cô nàng Missy và con mắt tím đen của cô ta. “Còn một số thì vẫn ở lại. Con chỉ biết chắc là qua cách cô ấy vũ trang và phòng thủ, cho dù cô ấy đang phải lẩn tránh điều gì, thì nó cũng rất tệ. Và nếu điều tệ hại ấy tìm ra cô ấy, nó sẽ tìm cô ấy ở đây. Con chịu trách nhiệm ở đây, và cho dù cô ấy có thích hay không, thì con cũng chịu trách nhiệm về cô ấy.”
                “Mẹ rất yêu con.”
                “Như thế có phải là nịnh bợ không nhỉ?”
                “Không.” Bà ôm lấy khuôn mặt anh. “Đó là sự thật.”
                #8
                  Thanh Vân 29.11.2023 19:17:42 (permalink)

                  9


                  Trong lúc Sunny lượn vòng theo con đường dẫn tới căn nhà của Abigail Lowery, bà tự hỏi không biết con trai mình có tán thành việc này không. Nhưng bà có thói quen làm theo ý mình, chừng nào điều đó chẳng làm tổn thương ai - trừ phi họ đáng bị như vậy. Trong vụ này, chuyến thăm của con trai bà ngày hôm trước khiến bà có lý do rất chính đáng để ghé tới.
                  Bà đỗ xe, tặc tặc lưỡi khi thấy chiếc SUV ngốn xăng như uống nước. Nhưng bà rất thích căn nhà, cách nó hòa mình với khung cảnh nơi đây. Bà có thể nhìn thấy những luống đất được chuẩn bị sẵn để trồng trọt vào dịp xuân. Và một góc nhà kính lọt vào mắt bà, khiến bà thấy thèm muốn.
                  Một buổi sáng rất thích hợp để thăm thú, bà quả quyết như vậy, với tiếng suối róc rách văng vẳng trong không khí, những vòm lá tạo thành bức màn xanh diễm lệ, và những lùm sơn thù du mọc hoang rải rác xung quanh.
                  Sáng hôm đó, bà đã nướng sẵn một chiếc bánh việt quất. Chẳng ai lại không mê món bánh việt quất của bà cả.
                  Bà ra khỏi xe, đi tới và gõ cửa.
                  Khi cánh cửa hé ra vài phân một cách thận trọng, bà nở một nụ cười tươi.
                  “Chào cháu. Bác bà Sunny O’Hara, mẹ của Brooks.”
                  “Vâng.”
                  “Bác biết hôm qua Brooks đã đến thăm cháu, cho nên bác nghĩ bác cũng nên làm như vậy. Bác nghĩ, tại sao cô gái sống ở đây gần một năm rồi mà bác lại chưa đến thăm cô ấy chứ.”
                  “Cảm ơn bà, thưa bà O’Hara, nhưng...”
                  “Sunny. Bác đã nướng cho cháu một chiếc bánh việt quất.”
                  “Ôi.”
                  Trong đời mình, Sunny chưa bao giờ nhìn thấy bất kỳ ai thất bại vì một cái bánh.
                  “Cảm ơn bà. Bà thật tốt quá. Cháu e rằng cháu phải làm việc, cho nên...”
                  “Ai chẳng có thể dành ra vài phút ăn bánh. Người ta có gọi cháu là Abby không vậy?”
                  “Không, không, không hề.”
                  “Chà, Abigail là một cái tên truyền thống rất hay. Abigail, cần nói với cháu ngay rằng bác là một phụ nữ có xu hướng làm bằng được việc mình muốn. Cháu sẽ thấy rằng cứ mời bác vào nhà vài phút sẽ dễ hơn là lảng tránh bác cho tới khi rốt cuộc cháu vẫn phải mời bác vào nhà. Nào, bác tin cháu có súng trên người hoặc quanh đây thôi. Bác không thích súng ống, nhưng bác chẳng lên lớp cháu chuyện đó đâu. Chưa phải lúc.”
                  Bà lại nhoẻn cười, tươi tỉnh đúng như tên của bà. “Bác chẳng có lấy một khẩu, hay bất kỳ thứ gì khác nguy hiểm trên người. Trừ cái bánh. Nó chứa hơi nhiều calo, nhưng cháu mảnh mai như một thân liễu vậy, cho nên cháu có thể hấp thụ một ít calo được.”
                  “Cháu không muốn tỏ ra bất lịch sự, nhưng...”
                  “Ôi, bác ngỡ là cháu muốn vậy cơ,” Sunny ngắt lời, với vẻ hân hoan thấy rõ. “Ai dám trách cháu chứ? Bác thỏa thuận với cháu nhé. Cháu mời bác vào nhà, ăn một miếng bánh. Sau đó cháu có thể tỏ ra bất lịch sự, và bác sẽ không mất lòng đâu.”
                  Lấn bấn và khó chịu, Abigail bỏ tay khỏi khẩu súng gắn bên hông chiếc bàn cạnh cửa. Cô không nghi ngờ người phụ nữ này là mẹ của Brooks Gleason. Bà ấy cũng có tính cách phô trương dưới vẻ thân thiện và cấu trúc xương giống y hệt.
                  Không nói gì, Abigail mở rộng cửa hơn, bước lùi lại.
                  “Đó, nào, thế chứ - ồ, chú chó đẹp quá đi.” Chẳng hề sợ sệt, Sunny ấn cái bánh vào tay Abigail và phục xuống. “Ôi, xin chào, chú bé to xác.” Bà ngước lên. “Bác âu yếm nó được không? Nhà bác để mất Thor cách đây sáu tuần. Lúc nhà bác buộc phải để nó ra đi thì nó đã mười bảy tuổi, và bị lòa.”
                  “Xin chia buồn ạ.”
                  “Cảm ơn cháu. Bác đã khóc hết nước mắt. Nhà bác vẫn còn con Chuck già. Con mèo của nhà bác ấy mà, nhưng nó thì không như vậy. Nhà bác sẽ tìm một con chó khác, nhưng bác chỉ chưa sẵn sàng yêu thương một con như thế nữa. Rất là đau xót khi cháu phải nói lời chia tay đấy.”
                  Chẳng biết làm sao, Abigail chỉ biết giữ khư khư chiếc bánh. “Ami,”[17] cô nói với chú chó. “Ami, Bert. Giờ bà có thể vuốt ve nó được rồi.”
                  Bert đón nhận những cái vuốt ve, thậm chí còn ư ử khe khẽ vì khoan khoái. “Ami à? Đó là tiếng Pháp. Cháu là người Pháp à?”
                  “Không. Cháu nói được tiếng Pháp.”
                  “Thế nào nhỉ. Bert, con nói được tiếng Pháp chứ? Con rất điển trai. Nó có đôi mắt màu nâu lục nhạt, hơi giống mắt Brooks. Con là một chàng chó bảnh quá đi.”
                  Đôi mắt bà rơm rớm, bà khụt khịt nén nước mắt khi bộc bạch. “Bác xin lỗi. Chỉ là bác vẫn chưa vượt qua được mất mát.”
                  “Cái chết vốn khó khăn mà.”
                  “Chắc chắn như vậy.” Sunny hẩy bím tóc của mình ra sau, thở hắt ra khi liếc nhìn xung quanh. “Cháu rất gọn gàng, phải không?”
                  “Chắc vậy ạ. Cháu thích mọi thứ ngăn nắp.”
                  “Bác thì thích sự lộn xộn. Bác chẳng bao giờ duy trì được cái gì ngăn nắp lâu cả. Bác có một bức tranh rất hợp với phòng khách của cháu. Là tác phẩm bác vẽ. Bác là họa sĩ mà.”
                  “Cháu biết.”
                  “Chủ yếu bác vẽ những đề tài thần thoại và truyền thuyết. Tiên, tiên cá, các vị thần, rồng, nhân mã - những thứ như vậy.”
                  “Thần thoại là mảnh đất màu mỡ cho các họa sĩ và người kể chuyện. À... có phải bà vẽ những tranh tường ở ngôi nhà trên phố Shop không?”
                  “Đúng. Đó chính là nhà bác.”
                  “Rất thú vị. Tác phẩm rất đẹp.”
                  “Cảm ơn. Bác thích công việc đó. Một chút cà phê dùng với chỗ bánh kia thì sao nhỉ?”
                  Abigail đăm đăm nhìn chiếc bánh. “Bà O’Hara.”
                  “Sunny.”
                  “Sunny. Cháu không giỏi giao tiếp.”
                  “Ôi, cháu yêu, có sao đâu. Bác thì giỏi mà.”
                  Cho dù có thể ngượng nghịu và đáng ngại, nhưng chắc chắn phải dễ dàng hơn - và hiệu quả hơn - khi cứ việc để cho người phụ nữ này có mấy phút của bà ấy. Và mọi việc sẽ đâu vào đấy.
                  “Cháu sẽ đi pha cà phê.”
                  Cô nhìn về phía bếp, nghĩ đến việc đây là lần thứ hai trong hai ngày nhà cô có khách. Nhưng người phụ nữ này không có ý xấu. Trừ phi...
                  “Con trai bác bảo bác đến đây phải không?”
                  “Không. Thật ra, nếu nó phát hiện ra thì nó sẽ không hài lòng với bác vì tự tiện đến gặp cháu. Nhưng bác - ối chà chà! Bác mê cái bếp của cháu đấy. Nhìn cái không gian quầy bếp của cháu kìa. Bác có cái bếp y như thế này - đời cũ hơn. Và cháu còn tự trồng rau thơm nữa chứ. Bác cũng vậy. Nhìn chỗ kia kìa, chúng ta đã tìm được điểm chung rồi đấy. Bác rất thích nấu nướng. Việc đó cũng giống vẽ vời, chỉ là cháu trộn các loại rau, gia vị và nước sốt thay vì pha màu.”
                  “Cháu nghĩ đó như một môn khoa học. Có công thức. Nếu bác thay đổi công thức, bác có thể tạo ra thứ gì đó mới hoặc hơi khác đi.”
                  Sunny chỉ mỉm cười. “Nhưng khi xem xét tổng thể, cháu sẽ không thể có một gian bếp như thế này trừ phi cháu thích nấu nướng và giỏi việc đó.”
                  Bà đi vòng để nhìn ra ngoài cửa sổ. “Bác ghen tị với cái nhà kính của cháu. Bác chỉ có một cái bé xíu do ông Loren và bác tự xây. Bọn bác không đủ chỗ cho cái to hơn. Bác thấy cháu trồng cả rau diếp. Trông như một vườn rau xinh xắn.”
                  “Cháu tự trồng hầu hết các loại rau cỏ.”
                  “Nhà bác cũng vậy. Bác đến đây sống từ những năm bảy mươi với một nhóm ba người tự do nữa. Bọn bác thành lập một dạng công xã, một cộng đồng nghệ sĩ, cháu có thể coi như vậy - và tự trồng trọt lương thực, tự dệt vải - bán sản phẩm của mình. Rất nhiều người trong bọn bác vẫn còn ở đây. Những người hippy cũ.”
                  “Bác là người theo trào lưu phản văn hóa.”
                  “Bác rất muốn nghĩ mình vẫn còn như vậy.”
                  Trong khi Abigail pha cà phê, lấy cốc và đĩa thì Sunny nhìn đến khu vực làm việc. Và nhướng mày khi nhìn thấy đường xe chạy vào nhà, khu phía sau, bên hông, trên màn hình máy tính.
                  “Thú vị đây! Chẳng ai lẻn được vào nhà cháu phải không? Cháu chuyên làm về hệ thống an ninh thì phải?”
                  “Vâng ạ.”
                  “Đã có thời kỳ quanh đây chẳng có ai thèm gõ cửa, và nếu cháu mở cửa hàng và cần phải ra ngoài, cháu chỉ việc để lại lời nhắn. Mọi người có thể tự vào, và để lại tiền trên quầy nếu như họ muốn mua gì đó trước lúc cháu trở về. Đôi khi tiến bộ và thay đổi là điều tốt, đôi khi lại không.”
                  “An toàn vẫn tốt hơn.”
                  Giao tiếp vụng về, Brooks đã nói vậy. Nhưng cô gái đã bày những chiếc đĩa đẹp ra, cho sữa vào một cái bình nhỏ, chuẩn bị đường, giấy ăn. Cô ấy biết cách chiều khách, cho dù vị khách đó không mời mà đến và không được đón chào.
                  Sunny ngồi xuống bên quầy bếp. Bà ngờ rằng Abigail chỉ có hai chiếc ghế vì chúng đi thành một cặp đôi. Sunny cho thêm sữa và khá nhiều đường vào cà phê của mình, rồi vỗ vỗ lên chiếc ghế thứ hai.
                  “Đến đây và ngồi đi. Kể bác nghe về Abigail.”
                  “Chẳng có gì để kể đâu ạ.”
                  “Lúc nào cũng phải có gì đó chứ. Cháu thích làm gì?”
                  “Cháu thích công việc của mình.” Vẻ do dự thấy rõ, Abigail ngồi xuống.
                  “Được thế là tốt rồi. Còn ngoài công việc ra?”
                  “Cháu làm việc rất nhiều.” Khi Sunny vừa nhướng mày, Abigail đã cố tìm thêm chi tiết. “Bert cần tập luyện, cho nên bọn cháu đi bộ hoặc chạy. Đó là một nét hấp dẫn của khu đất này, tức là luôn có đủ đất. Cháu làm việc trong nhà kính hoặc ngoài vườn. Rất dễ chịu. Cháu thích đọc sách. Cháu thích xem truyền hình.”
                  “Bác cũng vậy, còn hơn cả mức độ người ta khuyên nên làm. Nhưng họ thì biết gì chứ? Và cháu thích yên tĩnh?”
                  “Đúng vậy.”
                  “Khi bác còn nuôi ba đứa con, bác thường nghĩ sẽ trả bất kỳ giá nào để có được vài giờ một mình.”
                  “Cháu không biết con trai bác còn có anh chị em.”
                  “Hai chị gái.”
                  “Bác còn rất trẻ để có con tầm tuổi ấy, đều đã hơn ba mươi, cháu nghĩ vậy.”
                  “Mười chín tuổi thì bác đến Bickford. Bác đã lênh phênh khoảng hai năm trời.”
                  “Bác... bác rời nhà năm mười bảy tuổi à?”
                  “Ngay hôm sau khi bác tốt nghiệp trung học. Bác đã bỏ quá nhiều thời gian cho việc đó chỉ để được rời nhà. Nhưng một khi việc đó xong xuôi, bác lên đường.” Sunny bật ngón tay cái tách. “Bác vốn không hợp với bố mẹ, chuyện cũng chẳng có gì lạ, khi nhìn nhận mọi việc, ý bác là tất cả mọi việc, đều từ hai phía đối lập. Giờ cũng vẫn vậy, hầu hết, nhưng nhà bác cũng có điều chỉnh. Khi bác đến đây, bác gặp một anh giáo trẻ. Ông ấy nhút nhát, dễ chịu và thông minh, lại còn có đôi mắt màu nâu lục nhạt rất đẹp nữa. Bác quyến rũ ông ấy.”
                  “Cháu hiểu.”
                  “Việc đó quá dễ, bác khá hấp dẫn mà,” bà ấy nói và cười to. “Cái không dễ là đến lúc nhận ra bác ngủ với người mà bác đã phải lòng. Bác quả quyết mình không muốn cuộc sống như thế. Người đàn ông, nhà cửa, con cái, gia đình. Nhưng ông ấy là người rất hấp dẫn. Ông ấy muốn cưới bác. Bác nói không, chuyện đó không phải cho bác.”
                  “Hôn nhân là một phần trong kết cấu nền văn hóa của chúng ta, nhưng nó vẫn chỉ là một dạng hợp đồng, và không cần thiết, vì nó rất dễ tan vỡ.”
                  “Cháu nói y như bác thời đó. Khi bác biết bác có mang Mya, bác đồng ý đính hôn. Khi đó bác đang tham gia trào lưu Wicca[18]. Bọn bác đã có một nghi lễ thú vị bên bờ sông, và chuyển đến một túp lều nhỏ, ôi, không bằng một nửa chỗ này. Còn không có hệ thống nước trong nhà, ấy thế bác vẫn hài lòng với chuyện đó.”
                  Bà thở dài nhìn cốc cà phê khi hồi tưởng lại. “Bác sinh hai đứa con ở đó. Mọi việc không hoàn toàn ổn thỏa. Người đàn ông của bác muốn kết hôn thực sự, một căn nhà thực sự. Ông ấy để cho bác theo ý mình suốt gần ba năm. Bác nhận ra đã đến lúc theo ý của ông ấy. Vậy là hai bác đem lũ trẻ đến gặp thẩm phán trị an[19], làm thủ tục pháp lý. Và sống bằng số tiền bác kiếm được từ hoạt động nghệ thuật - bác đã có một hợp đồng làm bưu thiếp chúc mừng khá hời. Rồi cả tiền ông ấy tiết kiệm được nhờ dạy học, hai bác mua được căn nhà cũ ở phố Shop. Hai bác bắt tay sửa sang, rồi Brooks ra đời. Bác chẳng hề hối tiếc bao giờ. Không hề.”
                  Abigail không chắc đây có phải là trò chuyện khi mà một người lạ mặt cứ kể lể dông dài về chuyện đời mình. Nhưng nó khá thú vị.
                  “Bác rất may mắn.”
                  “Ồ, đúng vậy. Món bánh thế nào?”
                  Abigail chớp mắt, ngó xuống. Cô đã ăn gần hết một nửa, trong khi theo dõi câu chuyện của Sunny. “Rất tuyệt.”
                  “Bác sẽ cho cháu công thức.”
                  “Cháu chưa bao giờ làm bánh cả. Có mỗi mình cháu. Cả một cái bánh có vẻ không thiết thực lắm.”
                  “Bánh trái thì không có gì thiết thực cả đâu. Chúng ta sẽ trao đổi. Bác sẽ trao đổi với cháu công thức làm bánh.”
                  “Cháu không biết bác thích gì.”
                  “Tùy cháu thôi.”
                  Sau một lúc tranh đấu nội tâm, Abigail bước lại phía laptop của mình, mở file công thức món ăn của cô. Cô in ra bản công thức món gà hầm ớt bột. “Bác có thể gia giảm các gia vị theo khẩu vị.”
                  “Món này tuyệt đấy. Bác nghĩ bác sẽ ghé qua chợ trên đường về nhà, chọn lấy những gì bác chưa có, và làm thử món này luôn tối nay. Đây, để bác viết công thức làm bánh.” Bà rút một cuốn sổ ghi chép và cây bút trong ví ra.
                  “Bác ghi nhớ được cơ à?”
                  “Bác làm món bánh này trong biết bao nhiêu năm không còn đếm xuể nữa rồi. Nó là món ưa thích của ông Loren mà.”
                  “Bác mỉm cười khi bác nhắc đến tên bác ấy.”
                  “Vậy à? Hai bác kết hôn - bác tính từ lúc đính hôn - đã được ba mươi sáu năm. Ông ấy vẫn làm cho bác thấy hạnh phúc.”
                   
                  Đó là, Abigail nghĩ khi cô lại được một mình, câu nói quan trọng và có sức thuyết phục nhất về một mối quan hệ. Niềm hạnh phúc đó có thể trường tồn.
                  Cô xem xét công thức món ăn trong tay mình. Cô sẽ đưa nó lên máy tính sau. Cô thu dọn đĩa chén, và ngạc nhiên khi để ý đến thời gian.
                  Thế nào mà cô đã dành ra đến ba mươi phút trong bếp, ăn bánh, uống cà phê và có cuộc trò chuyện thú vị với một người xa lạ.
                  “Mình đoán thế có nghĩa là giờ bác ấy không còn là người lạ nữa.”
                  Cô không xác định được điều này làm cho cô cảm thấy thế nào, không tài nào giải mã được. Cô ngó tới công việc của mình, ngắm chú chó của mình. “Chà. Chúng ta đi dạo nào.”
                  ***
                  “Mẹ đã làm gì cơ?” Brooks há hốc miệng nhìn mẹ.
                  “Con nghe mẹ nói rất rõ đấy thôi. Mẹ mang một cái bánh tới nhà Abigail. Hai người đã ăn bánh, uống cà phê và có một cuộc trò chuyện rất tuyệt. Mẹ thích cô ấy.”
                  “Mẹ...”
                  “Mẹ nghĩ vụng về trong giao tiếp là cách nói rất đúng. Cô ấy không hề bẽn lẽn, chỉ hơi kém khi phải giao tiếp thôi. Nhưng khi hai bên tiến triển thì lại rất ổn. Mẹ và cô ấy đã trao đổi cả công thức món ăn.”
                  “Mẹ...” Ngồi bên bàn, Brooks gục đầu vào hai tay. “Mẹ có nghe con nói tối qua không vậy?”
                  “Dĩ nhiên là mẹ có nghe.”
                  “Rất có thể cô ấy đang trốn chạy. Có thể cô ấy đang gặp rắc rối. Rất có thể nguy hiểm, nếu cái sự rắc rối đó tìm ra cô ấy. Và mẹ lại vừa góp gió với món bánh ngọt sao?”
                  “Việt quất. Mẹ phải làm hai cái để bố con không tị nạnh đấy. Cô ấy có cái bếp rất tuyệt. Và cứ xem công thức món ăn cô ấy đưa cho mẹ thì mẹ dám cá cô ấy là người nấu nướng khá. Cô ấy cũng có rất nhiều máy quay hoặc thứ như vậy bố trí khắp quanh nhà. Mẹ đã nhìn thấy trên màn hình máy tính của cô ấy. Mẹ nhìn thấy hình ảnh lối chạy xe, phía đằng sau và còn nữa cơ.”
                  “Trời ạ.”
                  “Cô ấy còn nói tiếng Pháp với con chó.”
                  Câu đó khiến anh ngẩng phắt đầu lên. “Sao cơ?”
                  “Chỉ là mẹ thắc mắc tại sao lại có người dạy tiếng Pháp cho chó của mình, thế thôi. Phong thái của cô ấy rất lịch thiệp. Cô ấy nghe mẹ nói rất chăm chú. Ở cô ấy có gì đó cuốn hút mẹ. Mẹ thề mẹ muốn âu yếm cô ấy giống như mẹ đã làm với chú chó.”
                  “Mẹ... mẹ đã âu yếm cái con chó yêu quái khổng lồ ấy à?”
                  “Cô ấy nói với nó bằng tiếng Pháp rằng mọi việc ổn. Nó rất ngoan ngoãn. Nó tuân phục cô ấy, mẹ có thể thấy điều đó. Chẳng bao giờ chạy ra xa quá nửa mét. Nó là một con chó rất tuyệt, và mẹ chắc chắn nó còn là một người bạn tốt. Nhưng cô gái đó cần có một người bạn. Giờ mẹ phải ghé qua cửa hàng và lựa một vài thứ. Mẹ muốn thử công thức món ăn cô ấy đưa cho mẹ.”
                  “Mẹ, con không muốn mẹ lại tới đó cho tới khi nào con biết được nhiều thêm.”
                  “Brooks.”
                  Anh đã ba mươi hai tuổi, và cái ngữ điệu đó, ánh mắt đó, vẫn khiến anh cảm thấy mình thật bé bỏng.
                  “Con đã trưởng thành, nhưng vẫn chưa đến được mức con dặn mẹ phải làm gì. Nếu con muốn biết thêm nhiều về cô ấy, tại sao con không ra ngoài đó và tỏ thái độ thân thiện, như mẹ đã làm ấy?”
                  “Và mang cho cô ấy bánh ngọt à?”
                  “Con có thể thử với một chai rượu vang.”
                  ***
                  Anh đến mang theo một chai vang trắng loại ngon. Có vẻ khá hợp lý, thân thiện mà không gợi lên quá nhiều ngụ ý. Chắc do mọi sự đang khiến anh bù đầu nên anh chẳng nghĩ gì nữa mà chỉ phóng xe tới đó.
                  Cơn mưa ập đến đêm hôm trước làm tăng thêm chút màu xanh. Lúc này, ánh mặt trời cuối ngày lung linh qua những cành cây xanh mướt, lấp loáng trên đường, nhảy nhót trên làn nước hối hả của khe suối uốn mình chảy qua.
                  Anh lao thẳng xe lên lối chạy xe của cô, mắt nhìn thấy ngay làn khói cuộn lên từ ống khói.
                  Rồi anh trông thấy cô.
                  Cô đang đứng, chú chó lực lưỡng kè kè ngay dưới đôi ủng cao gót màu đen. Cô mặc quần bò, chiếc áo khoác da đen, và đeo súng bên hông.
                  Anh quyết định phớt lờ cái thực tế là mọi thứ liên quan đến cô vào ngay thời khắc này đã tạo cho anh ấn tượng gợi tình ghê gớm.
                  Chỉ có điều - trên gương mặt cô vẫn còn vẻ khó chịu.
                  Anh cầm lấy chai rượu, lách ra khỏi xe.
                  “Xin chào.” Anh đi về phía cô cứ như thể cô không hề mang theo một khẩu Glock, không hề có một chú chó có thể cắn ngập hàm răng của nó vào cổ họng anh trước khi anh kịp rút vũ khí của mình ra khỏi bao.
                  Cô nhìn cái chai anh mang theo. “Thứ gì vậy?”
                  “Thực ra là vài thứ. Thứ nhất, đó là một chai vang rất ngon. Thứ hai, nó còn là một lời xin lỗi.”
                  “Vì việc gì?”
                  “Mẹ tôi. Tối hôm trước tôi đến đó ăn tối, và có nói chuyện tôi đã tới đây. Bà cụ vớ ngay lấy chuyện đó. Cho nên... rất xin lỗi vì đã đường đột.”
                  “Vậy là anh đường đột tới để xin lỗi cho một sự đường đột khác.”
                  “Đại loại vậy. Nhưng đây là một chai vang rất ngon. Cho nên, chúng ta ra ngoài đi dạo được chứ?”
                  “Tại sao?”
                  “Trên ủng của cô còn dính bùn. Đêm qua có mưa. Mưa khiến mọi thứ xanh tươi, nhưng nó cũng tạo ra bùn lầy. Cô luôn mang theo súng khi dắt chó đi dạo à?”
                  Cô luôn mang theo súng, nhưng đó đâu phải chuyện của anh ta. “Tôi đang tập bắn mục tiêu. Rượu vang không cần thiết rồi.”
                  “Rượu vang không cần thiết, nhưng nó lại là yếu tố vui vẻ không thể thiếu.” Anh xoay cái chai để rượu vang màu vàng rơm quyến rũ bắt sáng. “Cô bố trí chỗ nào, cho việc tập bắn mục tiêu ấy?”
                  “Sao anh hỏi lắm thế? Sao các người cứ tìm đến đây, cùng với chai rượu và bánh trái của các người vậy? Các người bị sao vậy? Các người đang cười cợt gì vậy?”
                  “Cô muốn tôi trả lời câu hỏi nào trước tiên?” Khi cô ném về anh một cái nhìn lạnh lùng, anh nhún vai. “Vậy cứ theo thứ tự nhé. Tôi vốn là kiểu người tò mò bẩm sinh, lại làm cảnh sát. Cho nên đặt câu hỏi là một phần trong đó. Chắc tôi thừa hưởng một chút tò mò từ mẹ mình, người đã đến đây với bánh ngọt. Bà là mẫu phụ nữ thân thiện. Tôi đã giải thích về chai vang. Theo tôi thấy thì chúng tôi chẳng có gì không ổn cả. Chúng tôi chỉ đúng như bản thân mình. Quan điểm của cô có thể khác. Tôi cười bởi tôi không rõ phản ứng của cô sau đó thế nào. Nó làm cho cô rạng rỡ hẳn lên. Rất tuyệt khi được nhìn thấy ánh sáng. Tôi đã nói rõ chưa?”
                  Đôi mắt ánh màu hổ phách trong ánh nắng xế chiều, và nụ cười của anh thật quyến rũ. Cô nghĩ anh sở hữu cái phong cách trò chuyện cởi mở ấy giống như những người đàn ông khác sở hữu những đôi tất vậy. “Anh nghĩ mình rất quyến rũ thì phải.”
                  “Đúng vậy. Có thể đó là một thói xấu, nhưng ai chẳng muốn hoàn hảo. Tôi đã trả lời các câu hỏi của cô rồi, nhưng cô thì lại chẳng trả lời tôi. Cô bố trí ở chỗ nào?”
                  “Tại sao anh cứ muốn biết chứ?”
                  “Có vài lý do. Thứ nhất, vẫn là tò mò. Thứ hai, là một cảnh sát, khi gặp một phụ nữ mang súng theo người như một thói quen, đúng không nào, tôi rất muốn biết liệu cô ấy có thể xử lý được thứ cô ấy mang theo không.”
                  “Tôi bắn không tệ.”
                  “Đấy là cô nói. Tôi có thể khoe với cô tôi nhảy tango như dân Argentina, nhưng trừ phi tôi chứng minh được, nếu không có thể là tôi nói dối - hoặc khoác lác.”
                  “Chưa chắc tất cả dân Argentina đều biết nhảy tango.”
                  “Thì cũng được như người biết nhảy.”
                  “Nếu tôi chứng minh khả năng bắn súng của tôi, anh sẽ để tôi yên chứ?”
                  “Chà, Abigail, tôi không thể thỏa thuận như vậy được. Có thể tôi vẫn phải quay lại. Nếu một nhóm quá khích tìm cách bắt cóc cô thì sao? Hay những sinh vật lạ. Quanh đây chúng ta có khối người thề đã gặp sinh vật lạ đấy - ý tôi là người ngoài hành tinh. Thực tế, tay Beau Mugsley còn nói ông ta bị bắt cóc cứ hai lần một năm đều như vắt chanh vậy.”
                  “Thật vớ vẩn.”
                  “Nhưng theo Beau Mugsley thì không. Chớ có để ông ấy thấy mấy cái que dò hậu môn. Gác chuyện đó sang bên, cô là một phụ nữ hấp dẫn.”
                  “Tôi không muốn hấp dẫn.”
                  “Thấy không? Giờ thì cô càng hấp dẫn hơn.”
                  “Và nếu có sự sống thông minh trên các hành tinh khác, tôi không nghĩ họ lại bỏ thời gian cố bắt cóc một người chỉ quan tâm đến công việc.”
                  “Làm sao cô biết được, phải không?”
                  Đơn giản là cô không biết phải tranh luận sao với một người như anh, một người vô vị và lại quá vồn vã chuyện đó. Lại còn dai như đỉa cộng với thói quen tò mò của cảnh sát nữa, cô xác định là mình không thoát được.
                  “Tôi sẽ đáp ứng mối quan tâm không đúng chỗ của anh về khả năng bắn súng của tôi. Sau đó thì anh có thể ra về.”
                  “Mở đầu như thế là ổn đấy.” Anh nhận ra cô đặt một tay lên đầu chú chó trước khi quay đi. “Mẹ có nói với tôi chó của cô hiểu được tiếng Pháp,” Brooks nói trong khi bước tới bên cạnh cô. “Tôi gần như chỉ dành hai năm trung học - không, là dành trọn - để ngắm cô giáo tiếng Pháp. Cô ấy quá nóng bỏng rực lửa. Chưa đến mức chết mê chết mệt, nhưng tôi đã dành ra hai năm để ngắn nhìn cô Gardner nóng bỏng.”
                  “Nghiên cứu cho thấy con trai vị thành niên thường có những quyết định dựa trên tình dục. Rất nhiều anh chàng chỉ nghĩ đến chuyện đó là giỏi.”
                  “Không thể trách chúng tôi vì đặc tính di truyền được. Bố trí thế này ấn tượng đấy.” Anh dừng lại xem xét khu vực tập bắn của cô.
                  Ở chỗ anh đinh ninh có một vài bia hình tròn, cô lại bố trí ba hình nộm kiểu của cảnh sát trên ròng rọc kéo, phía sau có ván độn bông thật dày. Thiết bị bảo vệ tai và mắt đặt trên một băng ghế gỗ cùng với hộp đạn dự trữ. Theo áng chừng của anh, cô bố trí ở khoảng cách đến mười lăm mét.
                  “Tôi không có bộ bảo vệ tai hay kính thứ hai đâu,” cô nói khi đeo thiết bị lên.
                  “Không sao.”
                  Anh bước lùi lại, ép chặt hai tay vào tai khi cô đứng vào vị trí.
                  Tư thế của cảnh sát, anh nhận xét, và cô thực hiện động tác rất uyển chuyển và thành thục. Cô bắn luôn một lèo sáu phát, rồi nhét vũ khí vào bao xong mới kéo bia lại.
                  “Gọn đẹp,” anh nhận xét. Tất cả sáu phát đạn đều nằm gọn giữa hồng tâm, thành một bố cục sát sao, gần như hoàn hảo.
                  “Anh thấy đấy nhé, tôi bắn không tệ. Tôi có nghề mà.”
                  “Không nghi ngờ chuyện đó,” anh nói trong khi cô nhặt vỏ đạn đồng, thả vào một cái xô. “Tôi thử được chứ?”
                  Cô chẳng buồn trả lời, chỉ tháo thiết bị bảo vệ và kính rồi đưa cho anh.
                  Cô nhìn lại vị trí chú chó đang ngồi kiên nhẫn chờ đợi.
                  “Gối đầu.”
                  “Sao cơ?”
                  “Tôi đang nói với chó của tôi. Nếu không nó sẽ... phản ứng khi anh rút vũ khí ra đấy.”
                  “Đừng làm thinh.” Brooks đưa cho Abigail chai vang, đeo kính và thiết bị bảo vệ tai.
                  “Anh dùng khẩu Glock 22,” cô nhận xét. “Đó là loại súng tốt.”
                  “Phục vụ công việc mà.” Giờ anh lấy tư thế, thả lỏng hai vai, bắn luôn sáu phát.
                  Anh liếc nhìn chú chó trong lúc cất súng vào bao. Bert không hề nhúc nhích.
                  Abigail kéo bia lại, đứng một lúc, xem xét nhóm lỗ đạn gần như giống hệt của cô.
                  “Anh cũng là tay súng cừ đấy.”
                  “Tôi luôn hình dung nếu mang theo vũ khí, ta nên ngắm và bắn cho trúng. Tôi sử dụng súng trường rất tốt. Mẹ tôi thì cực lực phản đối súng ống, có lẽ đó là lý do tại sao tôi lại rèn luyện những thứ đó. Chắc cũng là một sự nổi loạn.”
                  “Vâng.” Cô nhìn anh. “Anh đã bắn ai chưa?”
                  “Đến giờ thì chưa. Tôi rất muốn được tiếp tục nói như vậy. Tôi đã phải rút vũ khí vài lần, nhưng chưa bao giờ đến mức phải nổ súng.”
                  “Thật sao?”
                  “Ừ.”
                  “Làm sao anh biết nếu như anh chưa bao giờ phải làm vậy?”
                  “Bảo vệ và phục vụ.” Anh nhìn cô, đôi mắt dễ thay đổi kia giờ rất nghiêm nghị. “Bảo vệ trước nhất. Nếu tôi không thể bảo vệ thì còn mang theo phù hiệu làm gì. Tôi rất mừng khi chưa phải ghim một viên đạn và ai đó.” Anh cũng tự nhặt vỏ đạn của mình. “Còn cô?”
                  “Bắn ai đó hả? Chưa. Vả lại, nếu có từng nổ súng thì tôi cũng sẽ chối thôi. Khai ra chuyện bắn nhau chỉ càng gợi ra nhiều câu hỏi.”
                  “Cô nói không sai. Mà cô sẵn sàng nổ súng à?”
                  “Vâng. Sẵn sàng.” Cô đợi một lúc. “Anh không hỏi làm sao tôi biết vậy à.”
                  “Tôi không nhất thiết phải hỏi. Cô còn phần bánh nào không? Và trước khi cô hỏi tại sao, tôi sẽ nói luôn. Chúng ta vừa chứng minh cho nhau thấy chúng ta là những tay súng giỏi nên tôi nghĩ chúng ta có thể mở chai rượu kia được rồi, cùng nâng ly và thưởng thức bánh.”
                  “Chai rượu đúng là một âm mưu.”
                  “Một phần thôi, nhưng nó vẫn là một chai rượu vang ngon mà.”
                  Anh có sự hấp dẫn của mẹ, cô nhận định, và chắc chắn cũng có kỹ năng tương tự trong việc tìm ra cách đi của mình. Không phủ nhận rằng cô thấy anh rất hấp dẫn về hình thức. Phản ứng hormone của cô trước vẻ ngoài, vóc dáng, thái độ, thậm chí cả giọng của anh chăng? Hoàn toàn tự nhiên.
                  “Tôi không thể ăn hết cả cái bánh. Quá nhiều cho một người.”
                  “Nhưng lãng phí thì cũng không nên.”
                  Cô xếp gọn thiết bị bảo vệ lên băng ghế. “Được rồi. Anh có thể ăn bánh và uống rượu vang. Nhưng tôi sẽ không ngủ với anh đâu đấy.”
                  “Cô làm tổn thương cảm xúc của tôi rồi.”
                  “Không, không hề.” Quyết định làm rõ quan điểm của mình, cô tiến về phía nhà. “Tôi thích tình dục.”
                  “Thấy chưa, chúng ta vừa tìm ra điểm chung rồi. Nếu cứ tiếp tục thế này, chúng ta sẽ trở thành bạn bè trong vòng một tuần chứ mấy.”
                  “Nếu tôi muốn có bạn bè, tôi đã tham gia một câu lạc bộ sách rồi.”
                  Bớt căng thẳng hơn, anh nghĩ thầm, có chút vui vẻ với lời châm chọc. “Tôi thích đọc sách, lại một ưu điểm chung nữa. Nhưng chúng ta đang nói về tình dục.”
                  “Hành vi tình dục là một chức năng thể chất bình thường, và một trải nghiệm dễ chịu.”
                  “Cho đến giờ, chúng ta vẫn cùng chung quan điểm.”
                  Cô lấy chìa khóa ra, mở cửa. Lúc đã vào nhà, cô đặt lại chế độ báo động.
                  “Có thể anh thấy tôi hấp dẫn về thể chất ở một mức độ nào đó đấy.”
                  “Thực tế và tất tần tật.”
                  “Và đó có thể là lý do anh đến đây, với chai rượu vang. Tôi sẽ uống một ly với anh, nhưng tôi sẽ không ngủ với anh đâu nhé.”
                  “Được rồi.” Vô cùng hào hứng với cô, anh theo chân cô vào bếp. “Có lý do từ chối cụ thể nào không, ngoài thực tế là chúng ta thậm chí còn chưa chia nhau bánh?”
                  “Anh hỏi tôi quá nhiều câu hỏi. Trả lời cho hết rất mệt và khó chịu.”
                  “Cái tính tò mò chết tiệt. Trời đất, Abigail, cô cười đấy à?”
                  “Có thể là nhăn nhó đấy.”
                  “Giờ thì cô đùa đấy nhé. Chắc cô sắp sửa đội mũ dạ tiệc và nhảy múa trên bàn cho mà xem.”
                  “Anh buồn cười quá đi. Tôi không được vậy, cho nên tôi đánh giá cao người nào có khiếu hài hước tự nhiên.” Cô cởi áo khoác, mở ô cửa dẫn vào một phòng chứa đồ nhỏ và cô treo áo lên một cái mắc. “Và anh cũng hấp dẫn và sung mãn. Tôi thích ngủ với người sức khỏe sung mãn.”
                  Cô lấy một chiếc mở nút chai, chẳng đợi anh cầm lấy và mở chai rượu cho cô, thì cô đã nhanh nhảu làm việc đó rất thành thục.
                  Trời ạ, anh nghĩ bụng và ngồi xuống. “Cho đến giờ điều khó chịu duy nhất về tôi là tính tò mò à?”
                  “Còn những điều khác nữa. Trạng thái gần gũi, chắc chắn rồi, khiến cho mọi việc trở nên khó xử và có vấn đề khi tôi không còn muốn ngủ với anh nữa.”
                  “Điều gì khiến cô nghĩ cô sẽ không muốn ngủ với tôi chứ?”
                  Cô lấy ra hai cái ly, hai cái đĩa nhỏ, hai cái dĩa. “Quy luật quân bình.”
                  “Ồ. Tôi phản đối quy luật quân bình.”
                  “Rất nhiều người tin là họ phản đối quy luật ấy. Không, không phải.” Cô rót rượu, nhìn kỹ anh khi cô đưa mời một ly, “Tôi thích mũi của anh.”
                  “Abigail, cô bỏ bùa tôi đấy. Tại sao cô lại thích mũi tôi chứ?”
                  “Sẽ đến lúc nó bị gãy. Thiếu cân đối làm cho khuôn mặt anh thêm nét đặc sắc và thú vị đấy. Tôi thích nét đặc sắc.”
                  “Nhưng không có chuyện ngủ với tôi chứ gì?”
                  Cô lại mỉm cười, lần này cười hẳn. “Tôi tin chắc anh có những lựa chọn khác.”
                  “Đúng vậy. Tôi có khối người muốn, giống như tại một tiệm bánh ấy.” Anh đợi cho tới khi cô lấy chiếc bánh ra, mở giấy bọc. “Cô có muốn biết tại sao tôi sẽ không ngủ với cô không?”
                  Anh làm cô ngạc nhiên, anh nhận ra điều đó. Kích thích sự tò mò của cô. “Vâng, tôi rất muốn biết.”
                  “Cô hấp dẫn, và trông cô xinh đẹp... rất sung mãn với tôi. Cái cách cô nhìn tôi tạo cảm giác như thể cô đang nhìn xuyên tới tận não của tôi vậy. Tôi không biết tại sao điều đó lại quyến rũ, nhưng đúng là như vậy. Cô cần giúp đỡ đấy.”
                  “Tôi không muốn bất kỳ sự giúp đỡ nào cả.”
                  “Tôi đâu nói gì về chuyện mong muốn. Cô cần sự giúp đỡ, và tôi hay mủi lòng trước những người cần giúp đỡ. Tôi rất thích con chó của cô mặc dù tôi đoán nó nguy hiểm, hoặc cũng gần gần như vậy, chẳng kém khẩu Glock bên hông cô. Tôi thích cách cô nói, thích cô tỏ ra hơi bực bội. Tôi muốn được cảm nhận hình dáng khuôn miệng của cô bên dưới miệng tôi. Tôi thích điều đó hơn cả mức mình tính. Nhưng...” Với một tiếng thở dài cường điệu lên, anh giơ hai tay rồi buông thõng xuống. “Tôi sẽ luôn có những câu hỏi. Vấn đề là ở đó. Và vì tôi là một trang nam tử, cho nên tôi luôn nghĩ đến tình dục nếu có một phụ nữ phát tín hiệu cho tôi, nói chung tôi muốn được biết về cô ấy trước. Ăn tối, trò chuyện, những việc như vậy.”
                  “Hẹn hò. Tôi không ưa hẹn hò.”
                  “Nghe cô nói thế không khiến tôi thấy ngạc nhiên. Nào, chúng ta đã cùng tập bắn. Chúng ta vừa có những cuộc trò chuyện và chia sẻ các quan điểm. Giờ chúng ta đang cùng thưởng thức rượu vang và bánh. Nếu tôi biết tận dụng cơ hội này thì có thể được đằng chân lân đằng đầu thành một cuộc hẹn hò ngay.”
                  Cái nhìn cô dành cho anh rõ ràng là trạng thái chếnh choáng hơi men. “Đó không phải là hẹn hò.”
                  “Thì đó là theo đánh giá của cô.” Anh làm hiệu với cô bằng cả chiếc dĩa còn nguyên miếng bánh việt quất. “Tôi có cách đánh giá của riêng tôi. Có nghĩa là điều duy nhất ngăn cản tôi ngủ với cô là bản tính tò mò bẩm sinh của tôi. Tôi có thể khắc phục điều đó. Tôi có thể xác định đó không phải là vấn đề cho tôi; khi đó điều duy nhất ngăn tôi ngủ với cô là sự sẵn sàng của cô.”
                  “Tôi chưa sẵn sàng, cho nên nếu chúng ta định trò chuyện, cần nói về chuyện khác. Đó không phải là một lời thách thức,” cô nói thêm về ý tưởng vừa xuất hiện. “Tôi không có ý đưa ra một lời thách thức tình dục.”
                  “Không, tôi hiểu cô không có ý đó, nhưng chắc chắn như thế lại thêm hứng thú. Rất tuyệt. Như món bánh vậy.” Anh xúc một miếng. “Cô thiết kế hệ thống an ninh ở đây phải không?”
                  Trông cô lại đầy cảnh giác. “Đúng vậy.”
                  “Cả các máy quay nữa à?”
                  “Vâng. Đương nhiên, tôi không làm ra các thiết bị rồi.”
                  “Đương nhiên rồi.” Anh nghiêng người nhìn khu vực máy tính của cô. “Bố trí rất ổn.”
                  “Nghề của tôi mà.”
                  “Tôi khá thạo máy tính. Tôi có thể xử lý những gì tôi cần xử lý, thường là tìm ra những gì tôi cần tìm. Bố tôi, chà, ông ấy rất tuyệt. Tôi nói chưa chuẩn, ông ấy là thần tượng của tôi. Ông ấy đúng là người ngộ toán. Cô có phải là người ngộ toán không?”
                  Đã có thời, cô nhớ lại, tất cả mọi thứ. Có lẽ giờ vẫn như vậy. “Tôi thích toán. Logic của nó.”
                  “Tôi biết mà.” Anh nghiêng lại nhìn cô, uống một chút vang. “Tôi thích chỗ của cô. Mẹ tôi rất muốn có gian bếp của cô.”
                  “Anh nên mua một chú chó cho bà?”
                  “Sao cơ?”
                  “Mẹ anh nói bà chưa sẵn sàng, nhưng qua cách bà đối xử với Bert thì rõ ràng là bà đã sẵn sàng rồi. Mẹ anh rất nhớ việc từng nuôi một chú chó. Mẹ anh - mà tôi xin lỗi.” Hai má cô ửng hồng. “Không phải việc của tôi.”
                  “Ở đây chúng ta không phải khách khí quá thế. Mẹ tôi rất yêu con chó đó. Tất cả chúng tôi đều yêu nó. Chúng tôi đã rất buồn khi phải xa nó.”
                  Anh cúi nhìn Bert, ngần ngừ - bởi vì anh rất muốn giữ nguyên vẹn bàn tay của mình - đưa tay ra để vuốt ve chú chó. “Cô thực sự nghĩ mẹ tôi đã sẵn sàng nuôi một con khác à?”
                  “Lẽ ra tôi không nên đề cập chuyện này.”
                  “Đằng nào cô cũng đã nói rồi. Tôi đang hỏi ý kiến cô.”
                  “Vậy thì đúng như vậy. Với tôi có vẻ mẹ anh cảm thấy sẽ là hành động phản bội nếu chính bà tìm một con chó khác. Nhưng nếu là một món quà, từ một người con. Điều đó thì khác, phải không?”
                  “Đúng vậy. Cảm ơn cô. Bà ấy thích cô, mẹ tôi ấy.”
                  “Tôi cũng quý bà. Anh nên cầm nốt phần bánh còn lại, là món của mẹ anh đấy.” Abigail đứng lên bọc chỗ bánh còn thừa lại.
                  “Mũ đây, sao gấp gáp thế.”
                  “Mũ nào cơ?”
                  “Đó là một thành ngữ. Giống như đi đâu mà vội mà vàng ấy.”
                  “Ồ. Vậy đấy, anh phải đi thôi. Tôi cần cho chó ăn, và tôi có việc đang đợi. Nhờ anh nói với mẹ anh rằng tôi rất thích món bánh.”
                  “Tôi sẽ nói,” Anh đứng lên, nhặt gói đồ ăn lên.
                  “Và cảm ơn vì chai rượu. Tôi sẽ tiễn anh.”
                  Đến cửa trước, anh đợi cô mở khóa, tắt báo động. Sau đó anh đặt gói bánh lên chiếc bàn nhỏ.
                  “Bảo chó của cô bình tĩnh nhé.”
                  “Vì sao vậy?”
                  “Bởi vì tôi muốn chạm tay vào em, và tôi sẽ cần đôi tay để lái xe sau khi đã làm thế. Tôi không muốn nó cắn đứt cổ tay.”
                  “Tôi không thích bị chạm vào người.”
                  “Em thích tình dục. Một nụ hôn nằm đâu đó giữa việc bị chạm vào người với lên giường. Em có tò mò không, Abigail?”
                  “Một chút.” Cô đăm đăm nhìn gương mặt anh như đang soi chiếu X-quang, rồi nhìn về phía chú chó. “Ami,” cô nói, đặt nhẹ một bàn tay lên cánh tay Brooks. “Ami, Bert.”
                  Nhưng cô vẫn cứng người khi Brooks cầm lấy bàn tay cô - tay cầm súng của cô.
                  Ami,” anh thì thầm. “Từ đó rất ấn tượng với tôi. Cho nên chúng ta hãy thân mật với nhau nhé.”
                  Anh đưa bàn tay kia lên má cô, từ từ nhích vào. Và cô cứ nhìn anh. Cái nhìn sẵn sàng, kiên định trong mắt cô làm rung sợi dây nào đó trong anh. Anh giữ cho tình huống lúc này thật êm ái, có lẽ hơi vượt lên mức tình bạn, nhưng êm ái và dịu dàng. Môi chạm môi, mắt nhìn nhau.
                  Anh siết mạnh, chỉ thêm một chút nữa, cơ thể chạm cơ thể, cho tới khi tay cô lên đến vai anh. Cho tới khi bàn tay ấy lần lên tới gáy anh, luồn vào tóc anh. Cho tới khi lưỡi cô đùa với lưỡi anh, và đôi mắt cảnh giác kia chuyển sang màu lục sâu thẳm hơn.
                  Lúc anh bước lui lại, anh buông tay cô ra. Anh lắc đầu, nhấc gói bánh lên. “Tôi sẽ phải quay lại mất thôi.”
                  “Đúng là sai lầm.”
                  “Với ai chứ?”
                  “Với cả hai chúng ta.”
                  “Hãy nhớ là quan điểm khác nhau thôi.” Anh cúi người tới, rất nhanh - và lần này rất thân mật - chạm môi mình vào môi cô. “Tôi sẽ quay lại. Chào cậu bé, Bert,” anh nói thêm lúc bước ra phía xe của mình.
                  Abigail khép cửa, khóa chặt mới nghe thấy tiếng động cơ xe của anh vang lên. Cô thở hắt ra, nhìn xuống chú chó.
                  “Đúng là sai lầm,” cô nhắc lại.
                  #9
                    Thanh Vân 29.11.2023 19:18:20 (permalink)

                    10


                    Brooks dành cả ngày trời dồn hết tâm trí vào nhóm ba chú nhóc còn chưa đến tuổi vị thành niên chuyên ăn trộm đồ trong cửa hàng, xử lý một vụ tai nạn giao thông - mà cơ bản là ngăn hai tài xế xông vào choảng nhau - giải quyết hồ sơ giấy tờ liên quan, và nghe Sim Firehawk than vãn khi mà rốt cuộc Brooks cũng phải triệu tập ông ta vì cái bộ giảm thanh kêu như súng bắn.
                    Để tự thưởng cho mình, anh định tranh thủ chạy ù tới cửa hàng bánh để nhâm nhi một ít cà phê ngon và một chiếc bánh quy xốp, nhưng Alma lại ló đầu vào phòng anh. Mấy cái biểu tượng hòa bình bảy sắc cầu vồng to bằng nắm tay trẻ con đung đưa trên tai bà ấy.
                    “Grover gọi tới. Có một vụ cãi vã ở Ozark Art.”
                    “Tranh cãi kiểu gì?”
                    “Anh ấy chỉ nói mọi việc đang căng lên một chút, và đề nghị sếp ghé tới.”
                    “Được rồi. Tôi sẽ chạy tới đó. Trên đường về tôi có thể ghé và cửa hàng bánh nếu chị muốn gì đó.”
                    “Tránh xa tôi ra, ông quỷ sứ.”
                    “Là nói vậy thôi.” Brooks đứng lên khỏi bàn, vớ lấy áo khoác.
                    “Nếu một chiếc bánh quy chocolate hạnh nhân và một ly cà phê nâu không béo tìm được đường lên bàn tôi thì kể ra cũng được đấy.”
                    “Nào có ai trách chị đâu.” Lúc Brooks đi ra, anh cứ thắc mắc tại sao bà ấy lại cho sữa không béo vào cà phê trong khi bà lại gọi bánh quy. Nhưng đó chính là một trong những điều bí ẩn của phụ nữ mà anh không muốn mình phải đau đầu tìm hiểu.
                    Anh ngước nhìn bầu trời trong lúc đi. Nhiệt độ không chịu ổn định hẳn, tăng vọt lên, rồi tụt xuống và đụng nhau ở giữa như trải thảm mời gọi những trận lốc xoáy. Nhưng bầu trời vẫn giữ một màu xanh dương nhàn nhạt.
                    Anh băng qua phố Shop, vui vẻ khi thấy buổi chiều thứ Bảy có rất đông người dân địa phương và khách du lịch. Anh đi qua siêu thị, nghĩ đến Abigail, và men theo một dãy nhà nữa tới Ozark Art.
                    Anh chẳng hề thấy dấu hiệu nào của một cuộc cãi vã qua ô cửa sổ trưng bày cả. Thực tế, anh chẳng thấy Grover hay khách hàng hoặc bất kỳ ai khác. Cái chuông nhỏ lanh canh khi anh bước vào, nhìn một lượt gian trưng bày chính cùng các bức tường treo tranh, các bệ bày tác phẩm điêu khắc, các giá bày đồ sứ địa phương và đồ thủy tinh thổi tay.
                    Không khí mang mùi hương của một khu rừng vào xuân bắt nguồn từ một trong những cái lọ tạo mùi. Tác phẩm của Grover đây mà, anh lơ đễnh nghĩ. Thấy trông như một thần lùn buôn sách, và một phù thủy của các loại hương.
                    Anh đăm đăm nhìn về phía nhà kho và văn phòng ở phía sau, chẳng thấy ai ở quầy thanh toán cả.
                    Rồi nghe thấy tiếng lộp cộp của đế giày trên nền gỗ.
                    Sylbie, tóc rối bời, mắt buồn ngủ, lách ra từ căn phòng phía sau.
                    “Ôi, đây rồi... Cảnh sát trưởng.”
                    “Có chuyện gì thế, Sylbie?”
                    “Em sẽ kể với anh.” Cô gập cong một ngón tay, hất tóc làm tỏa thứ mùi hương riêng của cô trong lúc mở cánh cửa phòng sau. “Ở trong này.”
                    “Grover đâu?”
                    “Mấy phút nữa anh ấy sẽ về. Phải có ai đó trông cửa hàng.”
                    Brooks cảm thấy như cánh cửa của một cái bẫy vừa cọt kẹt dưới chân mình.
                    “Sylbie, Grover gọi đến đồn, nói rằng có một vụ cãi vã cần sự can thiệp của cảnh sát.”
                    “Có một vụ cãi vã, nhưng không nhất thiết phải còn. Cứ vào trong cái đã, và chúng ta sẽ giải quyết việc đó.”
                    “Chúng ta sẽ giải quyết ở đây.”
                    “Được thôi, vậy thì.” Cô mặc chiếc váy có những vòng xoáy đen và trắng. Và rồi cô chẳng mặc nữa.
                    “Trời đất, Sylbie.”
                    Cô cười phá lên, lại hất tóc cho tỏa mùi hương trước khi dựa hẳn vào rầm cửa, trần truồng, trừ đôi giày cao gót đỏ chót khoe ra bộ móng chân được sơn cùng màu với giày.
                    “Đêm trước anh đã không đến gặp em, Brooks. Em phải uống hết chai vang đó một mình.”
                    “Anh đã nói với em anh bận mà. Mặc lại quần áo đi nào.”
                    “Ôi, vấn đề là em không nhớ anh đã nói vậy trong quá khứ.”
                    Mắt anh vẫn nhìn cô, ngạc nhiên và hơi bối rối vì cũng khá khó để giữ cho mắt khỏi “lang thang” xuống dưới. “Giờ anh đang nói đây. Mặc đồ vào đi, Sylbie.”
                    “Anh đến đây và gần em đi.”
                    “Em có chuyện gì vậy?” anh thắc mắc. “Em xúi Grover gọi đến dồn, đòi cử một sĩ quan đến kia mà.”
                    “Không phải sĩ quan nào cũng được, cưng ạ.” Cô dẩu môi thành một nụ hôn. “Em muốn anh cơ.”
                    “Thôi nào.” Anh sắp cảm thấy mất bình tĩnh dù hiếm khi như vậy. “Nếu em không mặc lại đồ trong vòng mười giây nữa, anh sẽ bắt giữ em đấy.”
                    “Ôi... anh muốn đùa theo cách đó kia đấy.”
                    “Nhìn anh này, chết tiệt thật. Anh đang đùa bỡn ư?”
                    Giọng điệu, nét mặt anh, cuối cùng cũng có tác dụng. Trong mắt cô có vẻ bực tức khi cô cúi xuống, kéo váy lên.
                    “Anh không buồn suy nghĩ lấy một phút về việc anh lại có thể nói với em bằng cái giọng như vậy kia đấy.”
                    “Anh sẽ còn làm nhiều hơn là nói với em, nếu như em còn giở trò gì như thế này lần nữa. Anh là Cảnh sát trưởng, Sylbie. Anh đang làm nhiệm vụ.”
                    Cô vùng vằng cài lại quai váy. “Thì cũng như bất kỳ chuyện gì từng xảy ra quanh đây thôi.”
                    “Anh sẽ cho em biết chuyện gì sắp xảy ra. Anh sẽ đi tìm Grover, và anh sẽ phạt anh ta vì đã báo cáo sai sự thật.”
                    “Anh sẽ không làm vậy.”
                    “Tin anh đi.”
                    Cô ấy bước nhanh tới. “Đừng làm thế, Brooks. Đừng. Anh ấy chỉ làm vì em nhờ mà thôi.”
                    “Vậy thì lần sau anh ta sẽ nhớ hơn. Và em cũng vậy.”
                    “Tại sao anh lại hành xử như thế này chứ?” Nước mắt đã trào ra át cả thái độ bực tức. “Chính anh khiến em phải tìm mọi cách tiếp cận anh, và hành động của anh là nổi khùng. Hồi còn ở trung học, có lúc nào anh rời tay khỏi em đâu.”
                    “Đây không phải là thời trung học. Anh không muốn ở thời trung học nữa.”
                    “Anh không muốn em nữa thì có.”
                    Anh biết những giọt nước mắt kia. Anh đã bơi qua nhiều con sông nước mắt như thế rồi, và đúng là chúng rất chân thành. “Sylbie, em rất xinh đẹp, có lẽ là người phụ nữ xinh đẹp nhất anh từng để mắt tới. Em có tài, và khi em nỗ lực, em là một bạn đồng hành tuyệt vời. Nhưng anh không muốn em theo cái cách ngày xưa anh đã làm nữa. Anh không muốn những gì chúng ta đã có thời đó nữa.”
                    “Anh đâu có nói như thế cách đây vài tuần khi anh còn nằm trên người em trên giường của em.”
                    “Đúng, anh không hề nói, và anh xin lỗi, Sylbie.” Có rất nhiều lời xin lỗi sắp tới, theo anh nhìn nhận. “Chuyện đó giữa anh và em lúc nào cũng ổn, nhưng chúng ta chưa bao giờ đi xa hơn thế.”
                    “Anh để tâm làm gì, anh có phải cam kết gì đâu?”
                    “Cưng, em nên nghĩ cho mình hơn. Anh đang nghĩ cho em đấy.”
                    “Anh có vấn đề mất rồi.” Gương mặt cô bừng bừng vẻ giận dữ và bối rối. “Anh nên ham muốn em khi em đề nghị.”
                    “Nếu em chỉ muốn vậy thôi thì có hàng tá người xung phong kìa.”
                    “Nhưng lại không có anh.”
                    “Không, không phải anh.” Họ đã đi tới cuối chặng đường, anh nhận ra như vậy, và cảm thấy khá nhẹ nhõm. “Không còn như vậy nữa. Có lẽ chúng ta sẽ thích nhau hơn mà không cần đến tình dục. Một điều anh có thể hứa với em, và em nên nghe anh. Nếu còn bày trò như thế này lần nữa, em sẽ bị tống vào khám đấy.”
                    Sắc diện cô vẫn bừng bừng, nhưng nét mặt cô thì trơ trơ và lạnh tanh. “Anh thay đổi mất rồi, Brooks.”
                    “Anh hy vọng như vậy. Tốt nhất là em trông nom cửa hàng cho tới khi Grover quay về.” Anh đi ra, ngó lại sau. “Cái váy đó đẹp đấy, Sylbie. Cứ mặc vậy nhé.”
                    Khi anh bước ra, anh nhận ra Grover - thân hình phục phịch, vai gập và đầu hói - đang hút một điếu Marlboro trong khi ngồi trên băng ghế đặt giữa cửa hàng của anh ta và cửa hàng kế bên.
                    “Ôi, đây rồi, sếp.”
                    “Này, Grover. Đi luôn với tôi.”
                    “Ơ kìa...”
                    “Có một án phạt vì lỗi báo cáo sai sự thật, và anh sẽ phải nộp tiền đấy.”
                    “Nhưng tôi...”
                    “Lần sau khi một phụ nữ khả ái đề nghị anh làm việc gì ngu ngốc thì hãy nghĩ kỹ trước đã.”
                    “Nhưng cô ấy bảo...”
                    “Anh đem chuyện đó mà tâm sự với Sylbie nhé. Tôi nói anh không được gọi hỗ trợ trừ phi anh cần hỗ trợ. Anh không được lãng phí thời gian của tôi, hoặc thời gian của Sở cảnh sát Bickford. Tôi có thể tống giam anh vì những gì anh đã làm đấy.”
                    Gương mặt Grover tím tái, vừa đỏ bừng vừa trắng bệch trong khi chân run bắn. “Tống giam? Trời ạ. Tôi chỉ...”
                    “Đừng có ‘chỉ’ như thế nữa. Tiền phạt là hai nghìn đô la.” Anh sẵn sàng bắt Grover, ông ta sẽ ngất xỉu mất, mà chuyện đó xảy ra đến nơi.
                    “Tôi-tôi-tôi...”
                    “Tôi sẽ giảm bớt xuống hai mươi lăm đô la, giảm trừ cho anh vì yếu tố ngớ ngẩn. Cuối ngày anh ghé tới nộp phạt, hoặc sẽ lại là hai nghìn đấy. Rõ chưa?”
                    “Vâng, thưa sếp. Tôi xin lỗi. Tôi cứ nghĩ...”
                    “Không, anh đã chẳng chịu nghĩ. Bài học cho lần sau, Grover.”
                    Sylbie bước ra. “Đó là lỗi của tôi. Tôi sẽ trả tiền phạt.”
                    “Tôi không cần biết tiền từ đâu, chỉ biết phải nộp lúc năm giờ.”
                    “Anh không cần dọa anh ấy đến thế.” Sylbie ngồi xuống ghế, kéo Grover ngồi xuống cạnh mình và choàng tay quanh vai ông ta. “Đó là lỗi của em.”
                    “Không cần tranh luận. Nộp phạt, rất rõ ràng rồi nhé.”
                     
                    Mặc dù anh chẳng còn thèm ăn bánh ngọt nữa nhưng anh vẫn đi sang cửa hàng bánh, lựa đồ theo yêu cầu của Alma. Anh để đồ trên bàn của bà ấy, đi vào văn phòng mình và viết một tờ lệnh phạt.
                    Anh phân vân lúc ghi lỗi, rồi quyết định viết “báo tin sai.” Có vẻ như vậy là phù hợp, và sẽ không làm ai khó xử.
                    Anh cầm ra, đặt bên cạnh cốc cà phê của Alma. “Grover hoặc Sylbie sẽ đến nộp lệnh phạt này. Đừng có hỏi gì.”
                    “Khi người ta nghe câu ‘Đừng có hỏi gì,’ họ sẽ cảm thấy muốn tìm hiểu.”
                    “Nhưng không như thế khi có người khác mua cho họ cà phê và một suất bánh quy chocolate hạnh nhân.”
                    Alma gõ gõ bộ móng tay sơn xanh lên chiếc cốc nhựa. “Như vậy là hối lộ rồi.”
                    “Có thể hiểu như vậy. Đừng có hỏi gì, Alma.” Anh ngước lên nhìn khi Ash bước vào.
                    “Tôi vừa phải đi ván trượt xuống tận bãi đỗ xe chỗ ngân hàng. Lần nữa đấy. Và tôi đã lôi tay Doyle Parsins đến vì lỗi tốc độ. Cũng lần nữa đấy. Một số người chẳng chịu thuộc bài. Hai người có bánh quy à?”
                    “Một cái thôi,” Alma nói. “Duy nhất. Của tôi.”
                    “Tôi có ngang qua công viên Little League. Thấy cái thằng nhóc Draper đánh được một cú bóng chày ăn trọn điểm cả ba gôn[20]. Tôi cũng mua suất ăn của mình rồi. Thêm một cái bánh ngọt nữa là trọn bữa đấy.”
                    Alma vừa mỉm cười vừa thong thả cắn một miếng, đảo mắt vẻ khoan khoái. “Măm măm!”
                    “Keo quá đấy.”
                    Mặc kệ hai người, Brooks trở lại văn phòng mình, đóng cửa lại. Anh dành chút thời gian tìm hiểu thêm về Abigail Lowery - người mà anh phát hiện ra rằng có bằng thạc sĩ về khoa học máy tính, và một bằng nữa về thiết kế công trình an ninh, đều tại Học viện Công nghệ Massachusetts. Rất ấn tượng.
                    Sau một lúc, anh biết cô làm việc tự do cho một công ty có tên Global Network.
                    Anh chuyển sang tập trung tìm hiểu về công ty này. Anh phát hiện ra đây là công ty tư nhân, do một tay Cora Fiense nào đó, ba mươi ba tuổi, thành lập. Không có ảnh trên hồ sơ anh tìm được. Nhưng anh đã lướt xem vài bài viết mô tả về cái công ty nhỏ bé do một nhân vật sợ khoảng rộng và ngại tiếp xúc với truyền thông khởi xướng này.
                    Trang web không cung cấp thông tin thực sự về chủ nhân hay nhân viên, mà chỉ thông báo giản dị rằng Global cung cấp dịch vụ thiết kế và phân tích hệ thống an ninh.
                    Anh ngồi lại, tự hỏi tại sao mình lại cứ cố tìm hiểu. Cô ấy chẳng làm gì sai cả, theo như đến giờ anh biết. Anh thích cô, nhưng vẫn có một sự bứt rứt mà anh không thể lờ đi được. Nó như muốn báo với anh rằng anh nên tiếp tục tìm kiếm thì anh sẽ phát hiện ra thứ gì đó... khác.
                    Anh tắt màn hình khi nghe thấy tiếng gõ cửa.
                    “Vâng.”
                    “Tôi về đây,” Alma bảo anh. “Các cuộc gọi sẽ được chuyển vào di động của cậu. Ash ngồi làm việc đến tám giờ, Boyd thì đi tuần trên đường.”
                    “Tốt lắm.”
                    “Sylbie và Grover cũng đến rồi, đã nộp phạt.”
                    “Tốt.”
                    “Tôi không biết cái bánh quy có đáng cho việc này không. Nhưng mà cậu đã hết ca trực mười phút trước rồi. Về nhà thôi.”
                    “Một lát thôi. Cảm ơn chị, Alma.”
                    Anh kiểm tra lịch của mình, nhận ra anh có cuộc họp hằng tháng với các ủy viên hội đồng địa phương vào thứ hai - rất thú vị. Và anh cần hoàn thành các đánh giá và điều tra hằng quý vào cuối tháng. Anh có thể về nhà, hoàn thành xong vài việc trên. Có vẻ anh không có nhiều hoạt động lắm.
                    Anh thừa nhận đó là lỗi của chính mình. Anh có thể ghé qua quán rượu, hoặc chỉ việc gọi cho một người bạn, xem có chuyện gì tiếp theo. Nhưng anh không có bụng dạ nào.
                    Sự việc với Sylbie làm cho anh hơi chán, dễ cáu. Và hứng tình nữa. Và cái cô nàng hứng tình ấy đã hạ gục anh. Bởi vì sau phản ứng sốc và bực bội của mình, anh đã bị kích thích. Chỉ bị kích thích một chút.
                    Cũng khó trách mình việc này, anh nghĩ, rồi đứng lên, tiến đến cửa sổ. Một thằng đàn ông chắc chắn đã chết cả năm trời thì mới không bị cô nàng Sylbie trần truồng kích thích.
                    Giờ thì anh thấy bực dọc và bức bối, và mãi cho tới lúc đi tới Ozark Art, anh luôn có tâm trạng rất ổn. Giờ thì khó chịu rồi, anh nghĩ, vì chính anh đã tự tước bỏ một cuộc ân ái cuồng nhiệt, món cà phê thơm ngon và một chiếc bánh quy.
                    Nhưng Sylbie nói đúng. Anh đã thay đổi. Anh hy vọng mình sẽ không đánh mất cảm xúc ân ái cuồng nhiệt, nhưng anh không còn muốn cái cảm giác tội lỗi và trống rỗng sau đó khi mà mọi việc chẳng còn ý nghĩa gì.
                    Điều anh cần là tiêu khiển. Có lẽ anh sẽ phóng xe tới nhà chị Mya, ăn chực một bữa tối, quây quần với bọn nhóc. Không gì khiến tâm trí một người đàn ông quên chuyện tình dục chắc chắn hơn là một vài đứa nhóc say sưa chiến đấu bên máy chơi game Wii hoặc PlayStation.
                    Anh tắt máy, cầm lấy áo khoác. Anh gọi chào tạm biệt Ash trên đường đi ra. Có thêm động lực, anh nhún nhảy ghé vào cửa hàng hoa, tranh thủ năm phút trước giờ đóng cửa.
                    Một bó hoa tulip để đổi lại bữa ăn và tiêu khiển là ổn rồi, anh nghĩ bụng.
                    Anh lái xe ra khỏi thị trấn, chuẩn bị rẽ về phía căn nhà rộng rãi, ồn ào của chị gái nằm gần sông. Đến khi anh rẽ vào đường khác, anh mới nhận ra mình đã thay đổi suy nghĩ.
                    ***
                    Bếp lửa của Abigail nổ lép bép rất vui tai. Trên bếp lò, một nồi xúp mì ống đang sôi lục bục. Cô đã nướng một mẻ bánh mì vị ô liu, định dùng chung với món salad trộn dấm mâm xôi.
                    Tất cả những công việc cô lưu ý làm trong ngày đều đã hoàn thành. Cô dành chín mươi phút tập tạ và luyện nhịp tim, luyện tập cho Bert.
                    Cô sẽ tự đãi mình bữa tối và một bộ phim - có khi xem hẳn hai bộ liền, với món bỏng ngô cho phim thứ hai.
                    Xem xét tất cả những tình huống bị xen ngang thì cô đã có một tuần rất năng suất và ổn. Khoản tiền cho công việc cô vừa hoàn thành sẽ làm đầy thêm tài khoản ngân hàng của cô và đầu óc cô thêm thư thái.
                    Còn Chủ nhật ư? Cô sẽ cho máy tính nghỉ ngơi. Cô sẽ lau chùi vũ khí, làm việc ngoài vườn và trong nhà kính, có khi đi bộ một chút. Rồi sau đó giải quyết nốt chỗ xúp còn thừa và đọc sách vào buổi tối. Với cô, như thế là hoàn thành một kỳ nghỉ cuối tuần tuyệt vời.
                    “Chị nghĩ tới một bộ phim hành động/phiêu lưu đi kèm một bộ phim hài,” cô nói với Bert trong lúc khuấy lại nồi xúp. “Và rượu vang. Anh chàng cảnh sát trưởng nói đúng. Đó là loại rượu rất ngon. Đốt lửa vào buổi tối sẽ không còn dễ chịu được lâu nữa đâu, cho nên chúng ta nên tận dụng. Chị nghĩ chúng ta nên...”
                    Cả hai đều bật dậy khi hệ thống của cô kêu tít tít. “Có người đến,” cô lầm bầm, và đặt tay lên vũ khí bên hông.
                    Hai mày cô nhíu lại khi nhìn thấy chiếc xe phóng vèo vào sân. “Sao anh ta lại đến đây nhỉ?”
                    Cô tiến đến bên máy tính, kéo hình ảnh vào gần để biết chắc đúng là Brooks ngồi sau tay lái và chỉ có một mình. Sau một lát suy nghĩ, cô tháo bao súng. Anh ta sẽ thắc mắc đủ thứ nếu trông thấy cô vẫn mang súng trong nhà vào buổi tối thứ Bảy.
                    Cô nhét súng vào ngăn kéo, đợi tới khi anh đỗ xe hẳn. Ít nhất lần này anh cũng đỗ ngay bên cạnh xe cô, chứ không phải đằng sau.
                    Cô đi tới cửa, mở khóa, nhấc then. Cô đặt sẵn tay vào khẩu súng ngắn để dưới bàn trong khi mở hé cửa vài phân.
                    Và cô càng cau mày khi nhìn thấy bó tulip.
                    “Tại sao lần này anh lại phải xin lỗi?”
                    “Tôi không xin lỗi. Ồ, bó hoa. Buồn cười thật. Tôi định dùng chúng để ăn chực một bữa của bà chị gái, nhưng rồi lại phóng đến đây.”
                    Đôi mắt anh như càng ánh lên màu hổ phách trong thứ ánh sáng trầm, và nụ cười tự nhiên của anh không hoàn toàn thật cho lắm.
                    “Dùng chúng để mua chuộc tôi à?”
                    “Nào dám nghĩ thế. Liệu chúng có giúp tôi lọt được vào trong nhà không?”
                    Cô hé cửa thêm chút nữa. “Hoa rất đẹp. Lẽ ra anh nên đến đưa cho chị gái.”
                    “Có lẽ, nhưng tôi sẽ tặng em. Tôi đã có một ngày không vui lắm. Mở đầu thì không như thế nhưng kết thúc thì lại rất vớ vẩn. Tôi đã định tới chỗ chị Mya để không khí gia đình của chị ấy giúp thoát khỏi tâm trạng này. Nhưng rồi tôi nghĩ chắc cũng chẳng ăn thua.”
                    “Đến đây chưa chắc sẽ làm tâm trạng anh thay đổi đâu.”
                    “Thay đổi rồi.” Anh nhìn cô và nở nụ cười gần như rộng đến tận mang tai. “Có mùi gì đó rất thơm, ngoài mùi của em.”
                    “Tôi không biết tại sao anh lại đến đây.”
                    “Tôi cũng không biết. Em có thể đóng sập cửa lại. Nhưng em vẫn nhận được hoa.”
                    Trước kia, chưa từng có ai tặng hoa cô cả, và cô đã suýt nói ra điều đó nhưng kịp ghìm lại. “Tôi định uống một ly rượu vang anh mang đến, và giờ anh lại mang thêm hoa. Anh làm tôi cảm thấy mang nợ.”
                    “Tôi sẵn sàng làm chủ nợ, để thấy ngày tệ hại hôm nay của tôi đã kết thúc.”
                    Cô bước lùi lại, đóng và khóa cửa phía sau anh. Và khi cô quay lại, anh chìa bó hoa ra cho cô.
                    “Cảm ơn anh, mặc dù anh mua hoa cho chị gái.”
                    “Không có gì.”
                    “Chúng cần nước rồi.”
                    Anh theo chân cô, và mùi đồ ăn, về phía nhà bếp.
                    “Đúng là một buổi tối thích hợp để ăn xúp và ngồi bên lò sưởi,” anh nhận xét, hy vọng sẽ nhận được cả hai thứ đó. “Tối nay có thể có sương giá một chút. Rồi ngày mai, nhiệt độ sẽ vọt lên đến hơn hai mươi độ. Em đã bao giờ trải qua một trận bão xoáy chưa?”
                    “Tôi đã chuẩn bị cho nó rồi.” Cô lấy một chiếc bình gốm sắc lục và nâu từ trong tủ.
                    “Em mua thứ đó ở một cửa hàng quanh đây phải không?”
                    “Đúng. Các nghệ sĩ ở đây rất giỏi.”
                    Cô lại lấy một bịch bột nuôi hoa từ bên dưới bồn rửa, cho vào bình một muỗng nhỏ trước khi đổ nước vào. Anh ngồi yên, chẳng nói gì trong khi cô cắm bó tulip.
                    Cô đặt hoa lên quầy bếp, rồi nhìn anh đúng cái cách anh nhìn một nghi phạm. “Anh có thể dùng một ly vang.”
                    “Thế thì tốt quá.”
                    Cô lấy chai rượu, ly, rót một ít ra. “Có vẻ anh muốn kể với tôi về vấn đề của anh ngày hôm nay. Tôi không biết tại sao anh lại muốn vậy, vì tôi không phải là một phần trong quy trình của anh.”
                    “Có lẽ đó lại là lý do. Ngoài ra, tôi nhận ra em là một phần trong đó, gián tiếp.”
                    “Sao lại như vậy?”
                    “Tôi sẽ nói với em.” Anh mời rượu, nhưng cô chẳng nhấp môi cũng không ngồi xuống. Anh nhún vai. “Được rồi. Tôi gặp một tình thế bất bình thường và khó chịu với một phụ nữ ngày hôm nay. Hồi còn học trung học, cô ấy là tình yêu của đời tôi. Em hiểu chứ nhỉ?”
                    Abigail nhớ đến hình ảnh, rõ như gương, gương mặt Ilya Volkov. Gã thật gần và cũng chẳng gần tí nào. “Không hẳn.”
                    “Em chưa bao giờ tan nát cõi lòng à?”
                    “Tôi tham gia những khóa học tăng tốc, nên tôi luôn học trước các bạn cùng trang lứa ở trường.”
                    “Cũng thế thôi. Mà nói về tôi cái đã.” Anh nâng ly lên, cụng với cô, rồi uống. “Cô ấy là tình đầu của tôi. Tình đầu luôn chiếm một vị trí quan trọng, phải không?”
                    “Ý anh là lần đầu đại khoái cảm tình dục à. Tôi không hề có vương vấn cảm xúc gì với bạn tình đầu tiên của mình.”
                    “Em là một khán giả khó tính, Abigail. Khi cô ấy phản bội tôi vì một anh chàng mới vào đại học, đội trưởng đội bóng - cô ấy đã chơi tôi một đòn rất đau. Phải nói là đau chẳng kém gì bị đá vào hạ bộ lại còn bị đấm gãy răng.
                    “Tôi không hiểu tại sao người ta lại chọn cách làm tổn thương người yêu cũ của mình rồi mới tìm đến tình mới. Tiếc là cô ta đã như vậy.
                    “Tôi vượt qua được, hoặc nghĩ rằng mình làm được vậy. Rồi tôi chuyển đến Little Rock, làm việc mười năm. Khi trở về, người phụ nữ ấy đang chuẩn bị ly dị người chồng thứ hai.”
                    “Ra vậy.”
                    Anh nhận ra toàn bộ câu chuyện nghe như thế nào, cũng như khiến cho hình ảnh Sylbie như thế nào - tất cả đều từ góc nhìn của anh. “Cô ấy không nhẫn tâm như tôi đang mô tả, nhưng tôi vẫn hơi bực mình, và điều đó làm méo mó câu chuyện. Cho nên khi trở về, rồi tiếp nhận công việc ở đây, tôi bận rộn suốt mấy tháng đầu tiên. Ổn định mọi thứ, mà bố tôi thì lại không khỏe.”
                    “Khổ thân anh. Mong ông chóng khỏe.”
                    “Ông ổn rồi, cảm ơn. Giờ khỏe lắm. Trở về được một thời gian ngắn, Sylbie và tôi quay lại với nhau.”
                    “Anh đã ngủ với cô ta rồi.”
                    “Đúng vậy, một hai lần gì đó. Mấy tuần trước, bọn tôi có làm chuyện đó. Nhưng nào phải do tôi.” Anh cau mày nhìn ly rượu của mình. “Có lẽ chúng tôi không nên quay lại.”
                    “Thế tại sao anh vẫn quay lại, nếu làm vậy là sai lầm?”
                    “Hay đấy. Nhưng, em biết mà, tình dục. Tôi quyết định mình phải kìm nén lặp lại việc này lần nữa, và phải nói rõ với cô ấy - nói thẳng thay vì cứ lảng tránh. Chiều hôm nay, cô ấy... chà, cô ấy đã xui cái tay chủ cửa hàng nơi cô ấy trưng bày một vài tác phẩm nghệ thuật của mình, và là nơi cô ấy làm việc bán thời gian, gọi tôi tới đó. Kiểu cấp báo với cảnh sát.”
                    Cách trò chuyện của anh, Abigail nghĩ, giống hệt bà mẹ. Chuyện cá nhân, lan man. Rất thú vị. “Ông ấy báo tin một vụ phạm pháp à?”
                    “Một vụ cãi vã, đòi tôi phải can thiệp. Nhưng hóa ra cô ấy ở đó một mình, với ý định là bọn tôi sẽ tận dụng luôn gian buồng đằng sau.”
                    “Làm tình ư?”
                    “Phải. Tôi tin cô ấy có ý đó, rồi nhất là khi tôi không muốn nhập cuộc, cô ấy liền tụt váy xuống. Cô ấy...” anh phẩy tay, “thản nhiên tụt váy xuống và đứng trần như nhộng với mỗi đôi giày đỏ.”
                    “Cô ấy tự tin và chắc mẩm anh sẽ đồng ý?”
                    “Tự tin ghê gớm, nhưng tôi đã từ chối. Tôi đã...”
                    “Anh đã bảo như thế thật kỳ cục và khó xử.”
                    “Đúng như vậy. Nhưng tôi vẫn bị...”
                    “Anh bị kích thích. Chuyện đó cũng là lẽ thường.”
                    “Giống như một phản xạ. Nhưng việc đó chỉ khiến tôi bực mình. Tôi đang làm nhiệm vụ, và cô ấy dùng lời đường mật khiến một gã cả tin gọi tôi đến.”
                    Abigail xem việc này như một ví dụ thú vị về động lực và tương tác nhầm lẫn ở con người. “Có vẻ cô ấy không hiểu rằng anh là một thanh niên nghiêm túc.”
                    “Tôi đâu phải là một chú choai hứng tình. Tôi là cảnh sát trưởng cơ mà.”
                    Cái vẻ giận dữ căng thẳng của anh, và cảm giác phạm lỗi thể hiện rất rõ trong câu nói, cho thấy thêm một mức độ thú vị nữa. “Anh vẫn còn giận cô ấy, và giận cả bản thân vì cái vụ phản xạ tự nhiên?”
                    “Kể cũng đúng. Tôi đã phải nói thẳng ra là tôi không muốn cô ấy một phần vì cái nguyên cớ tôi đã phải che giấu ở đây, một phần vì, trời ạ, cô ấy chẳng hề thể hiện một tí tôn trọng nào cả. Một phần nữa là biết rằng tôi sẽ phải phạt cái gã Grover tội nghiệp vì đã gọi điện, dọa cho gã quắn đít lên để gã không còn diễn trò ngu dại thế này lần nữa.”
                    “Có vài lý do cơ đấy.”
                    “Mà tôi vẫn còn một lý do nữa. Tôi nhận ra khi mình nhìn người phụ nữ xinh đẹp khỏa thân mà mình từng yêu khi mới mười sáu tuổi đầu, tôi không còn muốn cô ấy nữa vì tất cả những lý do trên. Và vì tôi muốn em.”
                    Cô quay đi, khuấy nồi xúp. Thật trùng hợp, cô nghĩ thầm, vì anh đã khuấy lên điều gì đó trong cô.
                    “Tôi đã nói sẽ không ngủ với anh. Anh nghĩ tôi nói thế để khích anh à?”
                    “Không. Tôi nghĩ em chỉ nói những gì trong đầu mình, trừ thứ đằng sau những lớp cửa khóa chặt trong đó. Nhưng tôi thấy em sẽ không đời nào nói thế nếu chính em không có một chút ham muốn nào đó.”
                    Cô quay lại, vẫn đứng ở phía bên kia quầy bếp. “Có lẽ anh không nên đến đây khi vẫn còn giận dữ và vẫn đang ít nhiều hứng tình do sự cố này.”
                    “Chà, tôi thích cái cách em nói chuyện. Em nói đúng, đúng là không phải nước đi khôn ngoan nhất rồi.”
                    “Nếu tôi xem xét lại vì...”
                    Cô ngừng nói khi anh giơ một tay lên.
                    “Cho tôi một đặc ân được không? Đừng vội xem xét lại ngay. Nếu em đổi ý chuyện đó, tôi sẽ rất khó từ chối. Nếu em không đổi ý, chậc, tôi sẽ rất thất vọng. Tôi đâu đến đây vì tình dục, dù đúng là rất khó từ chối. Chỉ là tối nay chúng ta nên tạm gác vấn đề này lại. Tôi đã sẵn sàng bình tĩnh thưởng thức một chút xúp và trò chuyện.”
                    Cô không muốn thích anh, không muốn thấy mình bị ràng buộc bởi một người đàn ông - một sĩ quan cảnh sát - có cách nói chuyện chọc thủng thế phòng ngự của cô và ngồi ngay trong gian bếp của cô, cuốn hút sự chú ý của cô bằng một câu chuyện rất riêng tư.
                    Nếu khôn ngoan thì cô nên bảo anh ra về. Nhưng cô lại không muốn vậy, và tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô làm gì đó chỉ hơi ngốc nghếch một chút.
                    “Tôi định xem một bộ phim trong lúc ăn tối.”
                    “Tôi thích điện ảnh.”
                    “Tôi định xem Steel Magnolias.”
                    Anh thở một tiếng dài thườn thượt. “Tôi đi chết đây.”
                    Khi cô mỉm cười, với anh dường như cả căn phòng bừng lên.
                    “Thực ra tôi sẽ xem Live Free or Die Hard.
                    “Đáng ra tôi nên mua thêm hoa cho em.”
                    Anh nhận ra cô là một đầu bếp rất cừ, và rằng anh thấy thích món salad dầu dấm quả mâm xôi. Anh cũng biết được cô xem phim rất chăm chú - không huyên thuyên.
                    Kể ra với anh cũng ổn, đặc biệt là chú chó có vẻ cũng quen với sự hiện diện của anh nên cứ nằm cuộn tròn và ngủ dưới chân Abigail. Dù Brooks biết chắc rằng nếu anh có một động tác sai lầm, Bert sẽ chồm lên, cảnh giác, và ghim chặt lấy anh bằng đôi mắt không chớp kia, chưa kể hàm răng.
                    Anh thấy thư thái. Thức ăn ngon, phim hay, một bếp lửa reo vui và một người phụ nữ im lặng. Khi chiếu đến danh sách hậu trường, cô đứng lên thu dọn bát dĩa.
                    Đúng như đã lường trước, chú chó tỏ ra chăm chú, nhìn Brooks với ánh mắt như nói: Tôi đang theo dõi anh đấy, anh bạn ạ.
                    “Để tôi làm giúp cho.”
                    “Không. Để tôi tự làm.”
                    “Vậy tôi sẽ giúp xếp chúng.” Anh xếp bát đĩa thành chồng trước khi cô kịp từ chối. “Em đã làm tâm trạng tôi thay đổi rồi đấy Abigail,” anh nói khi họ quay trở lại bếp.
                    “Mừng vì giúp được anh.” Cô đặt chồng đĩa lên quầy bếp, quay sang anh. “Giờ anh nên về thôi.”
                    Anh phì cười. “Được rồi. Nghe này, tại sao tôi lại không đền ơn em vì đã giúp tôi nhỉ? Mời em ra ngoài ăn tối.”
                    “Chúng ta vừa ăn tối đấy thôi.”
                    “Buổi khác cơ.”
                    “Tôi không ăn ở ngoài.”
                    “Chưa hề?”
                    “Là nguyên tắc, tôi thấy thoải mái hơn khi ở đây.”
                    “Vậy thì tôi sẽ mang bữa tối tới. Tôi rất khéo chọn pizza.”
                    Cô rất thích pizza. “Không cần thiết phải vậy.”
                    “Vậy cũng không cần thiết phải cho tôi ăn xúp và xem Bruce Willis. Thế là hòa rồi. Tôi cá rằng em thích những thứ đẹp đẽ và hài hòa.”
                    “Tôi không phải là một bạn đồng hành xuất sắc.”
                    “Em sai rồi. Tôi sẽ gọi cho em.”
                    “Tôi đã đưa anh số điện thoại nào đâu.”
                    “Abigail.” Anh vuốt một ngón tay dọc xuống má cô, một cử chỉ thân mật đến mức khiến nhịp đập tim của cô rộn lên. “Tôi là một cảnh sát.”
                    Cô không sao quên được điều đó, cô vẫn luôn nhắc nhở mình. Không tài nào quên được điều đó. “Tôi sẽ tiễn anh ra.”
                    “Em có phải nhắc chú chó rằng tôi là một người bạn mỗi lần tôi hôn em không?” anh hỏi khi cô mở khóa cửa.
                    “Không, trừ phi tôi nói với nó một mệnh lệnh khác.”
                    “Tốt quá.”
                    Lần này, anh đặt tay lên hông cô, bước sát lại cô. Anh áp vào miệng cô trong khi hai bàn tay lướt ngược lên cơ thể cô, đánh thức thần kinh, khơi dậy những nhu cầu.
                    Trong khoảnh khắc, cô đã quên đi. Trống không khi ban đêm mát lạnh, miệng anh thật ấm, cô quên hết mọi thứ trong khoái cảm đụng chạm. Để cho chính mình đón nhận cái khoái cảm ấy, để cho cơ thể cô áp chặt vào anh. Môi hé mở, môi chạm răng, và cái sức nặng êm ái ở bụng.
                    Cô ao ước - cô ao ước cảm nhận da thịt của anh dưới bàn tay cô, da thịt anh nóng rực và ẩm ướt áp và cô. Ao ước, ao ước bàn tay anh, miệng anh áp vào ngực cô, cơ thể cô. Và cả động tác đưa vào người cô thật mạnh mẽ. Thèm khát cái sự tiếp xúc rất nguyên thủy của con người mà cô đã không cho phép mình được thèm khát gần một năm nay.
                    Khi anh ngừng hôn, lý trí và thể xác cô xung đột với nhau. Nếu cô để cho thể xác của mình chiến thắng...
                    Rồi anh nói, “Chúc ngủ ngon, Abigail.”
                    “Chúc ngủ ngon.”
                    “Bình tĩnh nào, Bert.” Anh bước ra, và cô đón lấy cái không khí mát lạnh ùa đến. Rồi anh dừng bước, nhìn lại cô bằng đôi mắt tinh anh, bằng nụ cười thoải mái kia. “Rượu vang, trò chuyện, ăn tối, một bộ phim và một nụ hôn tạm biệt. Đúng là một cuộc hẹn hò lần hai.”
                    “Đó...”
                    “Em có thể tra cứu định nghĩa. Tôi nói rằng chúng ta đã hẹn hò. Mong sớm tới buổi hẹn hò thứ ba.”
                    Khi cô đóng cửa mà không nói một lời, anh cười.
                    Hứng tình, anh nghĩ thầm, trong khi cười tươi cho đến hết quãng đường ra xe, không phải lúc nào cũng là một phản xạ. Đôi khi nó là kết quả.
                    #10
                      Thanh Vân 29.11.2023 19:18:53 (permalink)

                      11


                      Sau cuộc họp ngày thứ Hai với hội đồng địa phương, trong đó anh luôn cảm thấy hơi giống như một sự lừa lọc, Brooks đi thẳng tới quán Lindy cùng với Russ Conroy. Anh bạn cũ, nay là ủy viên hội đồng và cũng là ứng viên mới tuyên bố cho vị trí thị trưởng dịp bầu cử mùa thu.
                      “Thị trưởng Conroy.”
                      “Kế hoạch là vậy nhé. Hãy bầu sớm, bầu thường xuyên.”
                      Brooks lắc đầu. Họ đã học cùng nhau suốt từ thời mẫu giáo cho đến tận khi tốt nghiệp trung học. Họ đã chơi bóng chày cùng nhau, Russ ở vị trí ném bóng còn Brooks ở vị trí số ba. Họ đã nói dối và chê bai đám con gái, rồi đám phụ nữ - và nếu Russ không nói dối thì họ đều là trai tân trong cùng một tuần.
                      Anh còn là phù rể trong đám cưới Russ ba năm trước, và nhận làm cha đỡ đầu cho con gái của họ khi Cecily chào đời khoảng mười tám tháng sau đó.
                      Anh đã chứng kiến Russ, một gã tóc đỏ tầm thường với khuôn mặt đầy tàn nhang và hàm răng quá cỡ so với cái đầu, tiến bộ từ một kẻ lắm điều rất khó chịu ở khách sạn do gia đình Conroy sở hữu thành một tay quản lý đâu ra đấy cũng của chính khách sạn đó.
                      Người bạn nối khố của anh đã trở thành một doanh nhân lọc lõi, một người chồng trìu mến và một người cha tận tụy đến mù quáng.
                      Nhưng anh chẳng bao giờ ngờ có ngày anh bỏ lá phiếu của mình cho tân thị trưởng Russell Conroy.
                      “Tại sao cậu lại muốn làm thị trưởng?”
                      “Vì tớ sẽ làm tốt và giỏi việc đó.” Russ kéo mở cánh cửa quán ăn, ngoắc tay gọi người phục vụ trong lúc nhắm thẳng tới một quầy riêng. “Bickford rất tốt với tớ. Nó cho tớ mái nhà, cuộc sống, và hơn thế, nó cho tớ Seline và CeeCee. Tớ muốn có cơ hội phát triển nó lên - bền vững, thúc đẩy ngành du lịch đây đó.”
                      “Cậu sẽ thành công.” Brooks ngồi xuống trong khi Kim mang cho họ cà phê mà chẳng cần đợi gọi, còn Russ tán chuyện với cô ấy.
                      Có lẽ cậu ta sinh ra để làm việc đó, Brooks nhận ra như vậy.
                      “Thị trưởng Conroy,” Brooks lầm bầm trong khi nhấc cốc cà phê của mình lên.
                      “Cảnh sát trưởng Gleason.”
                      “Nghe hoành tá tràng phết nhỉ? Chúng ta đều trưởng thành cả rồi. Đặc biệt cậu đấy, ông bố ạ.”
                      “Bố lần thứ hai, tháng Chín tới.”
                      “Lại có à? Chắc không?”
                      Niềm tự hào và khoái chí hiện rõ trên mặt Russ. “Chắc như bắp luôn.”
                      “Này, chúc mừng cậu, Russ. Cậu cừ lắm.”
                      “Bọn tớ định giữ kín thêm một tháng nữa, nhưng tin tức cũng lọt ra thôi.” Anh ta ghé sát lại một chút. Trong cái không khí yên tĩnh như sáng thứ Hai của quán ăn này, những đôi tai luôn dỏng lên để hóng tin đồn. “Seline sáng nào cũng nghén. Một vài giáo viên - kể cả ông cụ nhà cậu - đã nhận ra rồi đấy.”
                      “Ông chẳng nói với tớ một lời nào, mà hôm qua tớ vừa gặp ông một lúc.”
                      “Cô ấy xin cụ không nói gì đấy. Ông cụ nhà cậu rất kín tiếng.”
                      “Ông cụ đúng là vậy.”
                      “Cho nên, khi tớ là một người trưởng thành có gia đình và một ông bố, tớ phải sống làm gương chứ.” Russ ngó ngoáy cặp lông mày hung hung. “Có hẹn hò nóng bỏng cuối tuần qua phải không?”
                      “Người ta gọi cho tớ ngay trước lúc mười một giờ để giúp giải tán một vụ xô xát ở Beaters. Thằng Justin Blake, lúc nào cũng bắt nạt bạn mới.”
                      “Thằng nhóc ấy rất hay gây rối.”
                      “Hay gây gổ, hư hỏng mà vẫn chưa đủ tuổi. Rồi còn những lần lạm dụng chất gây nghiện nữa. Bố của nó khó chịu với tớ vì đã tống giam ông con trai đầu lòng của hắn.”
                      “Tay Lincoln cũng là chúa gây rối, rồi dùng tiền để chống lưng. Tớ thấy lạ khi người ta vẫn tiếp thằng nhóc ở Beaters.”
                      “Theo những nhân chứng tớ tiếp xúc thì không phải vậy. Nó cứ xộc vào, rồi gây rối khi người ta không phục vụ nó và tìm cách tống nó ra. Nhưng rồi tay Blake và luật sư của hắn kéo nhau tới đồn.”
                      “Nghe có vẻ cậu không có được một buổi tối thứ Bảy vui vẻ nhỉ.”
                      “Và gần hết cả Chủ nhật,” Brooks bổ sung. “Nhưng thằng nhóc đã được bảo lãnh rồi. Nó sẽ phải vào trường cai rượu, tham gia lao động công ích, nộp phạt và các khoản bồi thường thiệt hại. Gần mười chín, bị tống cổ khỏi hai trường đại học, đã hai lần lái xe trong tình trạng không tỉnh táo và nhiều lần vi phạm tốc độ mà tớ chẳng nhớ nổi nữa. Theo luật thì nó không được lái xe trong năm tới, nhưng có vẻ không ngăn được nó say xỉn hoặc phê thuốc, sau đó mò tới chỗ nào đó đánh nhau.”
                      “À, tuổi trẻ mà.”
                      Brooks làm hiệu với cốc cà phê của của mình. “Chúng ta chẳng bao giờ ngu ngốc hay ngỗ nghịch như vậy.”
                      “Bọn mình cũng khá ngu ngốc, nhưng không, không phải như vậy. Bọn mình chẳng bao giờ leo lên cầm lái sau khi đã bí tỉ với cái thứ bia mà bọn mình còn quá trẻ không được phép mua vài nơi.” Russ ngồi xuống, gạt một lọn tóc màu nước cà rốt của anh ta khỏi trán. “Cậu cần có một tối thứ Bảy nghỉ ngơi, nhóc ạ. Cậu biết Seline có cả một danh sách bạn bè mà cô ấy rất muốn gán đôi cho cậu đấy.”
                      “Tớ sẽ giết cậu trước, và là cảnh sát trưởng, tớ biết cách xử lý việc đó đấy.”
                      “Là nói vậy thôi. Trừ phi cậu vẫn còn cặp kè với cô nàng Sylbie.”
                      “Xong rồi. Ổn thỏa rồi.”
                      “Tức là...”
                      “Thực ra, gần đây tớ có dành chút thời gian với Abigail Lowery.”
                      “Không đùa chứ?” Mắt sáng lên, Russ lại nhích tới. “Kể xem, ý tớ là tới đi.”
                      “Tớ có việc phải đi đây.”
                      “Đừng có bỏ lửng giữa chừng và kết thúc như vậy chứ.”
                      “Xin nói rằng cô ấy rất thú vị, bí ẩn, hấp dẫn mà không cần phải cố tỏ ra như vậy. Cô ấy có một con chó to và khôn đủ để điều khiển được cả một cỗ máy nặng nề. Và cô ấy còn biết sử dụng một khẩu Glock.”
                      “Vậy tại sao cô ấy lại bỏ thời gian ra với cậu?”
                      “Tớ cứ tiếp cận cô ấy. Tớ có việc phải đi đây. Trả tiền cà phê đi, và tớ sẽ bỏ phiếu cho cậu.”
                      “Nghe cũng được đấy. Này, tới ăn tối đi, mang theo cả cô ấy tới.”
                      “Tớ vẫn đang tìm cách để cô ấy quen với việc cho tớ vào nhà đã,” Brooks nói trong lúc lách ra khỏi quầy. “Đưa được cô ấy ra khỏi nhà thì còn phải mất công nữa cơ.”
                       
                      Xế chiều, Brooks dành chút thời gian riêng xử lý vài việc vặt để hoàn thành nốt một nhiệm vụ. Lúc anh xong mớ việc và phóng xe tới nhà cha mẹ, cha anh đã thay đổi từ trang phục đi làm sang quần áo làm vườn.
                      Ông bà Sunny và Loren đang làm việc ở một luống đất trước nhà, trồng mấy thứ cây thường niên đủ màu sắc.
                      Cả hai người đều đội mũ, cha anh mang một chiếc mũ bóng chày đã sờn có từ thời Brooks còn chơi ở vị trí số ba, còn trên đầu mẹ anh là một chiếc mũ rơm rộng vành với một nhành hoa đỏ đính lên sợi ruy băng.
                      Anh rất thích hai người cùng nhau làm việc, vai kề vai, với tiếng nhạc vọng qua những ô cửa sổ có rèm và cả cửa lớn - tất cả đều mở rộng, mặc dù không khí vẫn có chút lành lạnh.
                      Lúc Brooks xuất hiện, ông Loren nhổm dậy, đứng thẳng trên đôi chân dài của mình. Sắc mặt ông khỏe khoắn, Brooks nghĩ bụng, nụ cười thường trực, tóc lộ ra dưới vành mũ, đã nhuốm bạc cả nhưng vẫn còn rất dày.
                      Ngày nào đó, có lẽ vậy, anh sẽ không còn được thấy cha khi ông phải nhập viện trước khi qua đời. Không còn thấy ông xanh xao, già nua và có một chút sợ sệt.
                      Mẹ anh cũng đứng lên, chống tay vào hông. Brooks vẫn nhớ vẻ e ngại trong mắt bà. Bà luôn hoạt ngôn khi họ chờ đợi, đi lại hay cầu nguyện. Nhưng cái vẻ e ngại thì luôn thể hiện trong mắt bà.
                      Lúc này trông họ đúng như hình dung của anh, anh nghĩ thầm. Bụi đất vì đang làm vườn, hân hoan khi nhìn thấy anh, và vẫn luôn bên nhau.
                      Anh đi ra, hy vọng rằng anh không phạm sai lầm lớn, và lấy cái lồng nhốt thú nuôi ở phía sau xe ra.
                      “Con trai,” cha anh lên tiếng.
                      “Chào bố. Chào mẹ.”
                      “Con có gì thế?”
                      “Con mua tặng mẹ một món quà.” Trong lúc anh nói thì cái vật ở trong lồng tỉnh giấc và đáp lại đầy vẻ nôn nóng và hưng phấn.
                      “Ôi.” Bà Sunny chắp tay sau lưng. “Brooks, mẹ nói với con rồi mà, mẹ chưa sẵn sàng...”
                      “Nó về đây là có sự trao đổi đấy. Bố mẹ biết Petie ở chỗ trạm nhốt chó mèo lạc của hạt mình đây không? Cậu ấy đã linh động các quy định một chút để mẹ có thể ngắm trước con cún này, cũng là để nó quen với mẹ, trước khi thủ tục giấy tờ xong xuôi.”
                      “Brooks, chỉ là mẹ không thể... Ôi, trông cái mặt nó kìa.”
                      “Petie bảo hình như nó có một phần dòng dõi chó chăn cừu và chó săn mồi, và có trời mới biết còn những gì nữa. Nhưng bản tính nó rất dễ chịu, và can đảm. Những con bình thường đều phải ra đi, đó là quy luật, nhưng nó thì đúng là một con can trường.”
                      “Ôi, Brooks. Anh Loren, làm gì đi chứ.”
                      “Chúng ta nên để nó ra ngoài, em có nghĩ thế không?” Ông Loren quàng một tay lên vai bà Sunny. “Ít ra cũng tận mắt nhìn nó xem sao.”
                      “Được rồi, để nó ra ngoài đi. Không lẽ nào lại bắt nó phải ở trong lồng như một kẻ tội đồ.”
                      “Đúng vậy.” Brooks đặt cái lồng xuống, mở cửa và nhìn cái cục bông đuôi ngoáy tịt, lưỡi liếm láp đầy phấn khích chui ra. “Nó được khoảng mười tuần tuổi. Nếu nó không tìm được một gia đình trong một tháng nữa thì mọi việc sẽ chấm hết. Nó phải chết. Cho điện giật.”
                      Rất khoan thai, bà Sunny khoanh tay lại. “Thôi nào.”
                      “Chú cún con mang án tử đang đi,” Brooks nói thêm trong khi mẹ anh thở dài còn cha anh thì phải cố không phì cười. “Sao nào?” Brooks nhấc mõm con cún sát lên tận tai mình. “Mày chắc chứ? Được rồi. Nó nói nó muốn con bảo mẹ... ‘Không một ai biết được nỗi khổ tôi phải chứng kiến,’” Brooks nói bằng giọng rầu rĩ.
                      “Ôi, đưa con cún cho mẹ nào.” Bà Sunny bước tới, đón lấy chú cún run rẩy một cách trìu mến trong khi nó liếm liếm mặt bà. “Ôi, thiệt tình. Thiệt tình. Thiệt tình,” bà nói lần thứ ba, lời nói dịu dàng và nghẹn ngào áp vào bộ lông chú cún.
                      Cạnh bà, ông Loren giơ ngón tay cái với con trai rồi mới xoa xoa tai chú cún. “Nó đã ăn tối chưa?”
                      “Dạ chưa, nhưng con để mọi thứ bố mẹ cần trong xe rồi. Tức là, nếu mẹ sẵn lòng cứu mạng nó.”
                      “Ít nhất ta cũng cần thử đét đít chú mày.” Bà nhấc bổng chú cún lên khiến cho bốn chân nó khua khoắng trong không khí còn đuôi nó ngoáy tít. “Anh Loren, nó sẽ đào bới những luống hoa và lăn lộn trên sàn. Nó sẽ nhai mọi thứ mà nó có thể nhét vào hàm răng sửa kia.”
                      “Ồ, đúng.” Ông Loren với tay, cù cù và bụng con cún. “Nó sẽ là cả một thế giới phiền phức đấy.”
                      Bà đặt chú cún xuống, giữ chặt nó bên mình. “Lại đây nào thằng ranh.”
                      “Mẹ đang nói với con đấy à?” Brooks hỏi bà.
                      “Con là thằng ranh duy nhất mẹ nhìn thấy trong sân trước nhà mình.” Khi anh tới đủ gần, bà liền túm lấy tai anh, kéo anh vào. “Cảm ơn con.” Rồi bà gục đầu bên vai Brooks và khóc một lúc. “Tình yêu lại đến. Mẹ không nghĩ mẹ vẫn còn tình yêu để làm việc này, cảm nhận điều này lần nữa. Nhưng tình yêu lại đến.” Bà khịt mũi, thẳng người lại. “Mẹ sẽ mang nó ra phía sau, cho nó biết chỗ ở của nó. Con có thể mang hết đồ của nó ra khỏi xe được rồi.”
                      “Thế nào con lại mua cho bà ấy một con cún vậy?” Ông Loren hỏi.
                      “Thật ra, có người gợi ý cho con, và con thực hiện ngay.”
                      “Hay lắm. Chúng ta lấy đồ cho nó nào.”
                      “Con nghĩ nó cần có đồ riêng, không dùng lại đồ cũ. Vì thế con mua đủ mọi thứ rồi,” Brooks nói trong lúc họ bắt đầu tháo đồ xuống. “Đồ chơi, giường ngủ, xương để gặm, xích, vòng cổ, bát ăn, thức ăn riêng. Còn cả giấy tờ đây nữa. Nó phải đến chỗ bác sĩ thú y để tiêm mũi cuối cùng và...” Anh làm động tác cắt bằng mấy ngón tay. “Mai con sẽ cầm bản sao trở lại chỗ Petie.”
                      “Bố mẹ sẽ chăm sóc nó. Nó là cả thế giới với mẹ con, và với bố. Bố đã rất muốn được nuôi chó. Bố cược là nó lanh lẹ chẳng kém con Chuck xưa.”
                      “Ít nhất cũng có thể khiến con mèo kia phải rời khỏi đi văng vài lần một ngày.”
                      “Có lẽ vậy. Mẹ con sẽ bận rộn với con cún cho mà xem. Bố cho mấy viên thịt băm lên vỉ nướng được chứ?”
                      “Con xin nói là - hết sảy,” anh nói vừa lúc bộ đàm của anh loẹt xoẹt vang lên. “Cảnh sát trưởng Gleason đây.”
                      “Này, Brooks, cậu đã về chỗ người thân chưa đấy?”
                      “Rồi, ngay ngoài sân,” anh đáp lời Alma.
                      “Bà Willowby lại báo có kẻ đột nhập.”
                      “Được rồi, tôi chỉ cách đó có hai phút thôi. Tôi sẽ thu xếp.”
                      Lúc tắt máy, anh nhún vai. “Cái bà cụ Willowby mỗi tuần lại báo có kẻ đột nhập một lần. Căn nhà bị lún, vòi nước nhỏ giọt, mặt trời chiếu không đúng kiểu lên cửa sổ, tất cả cứ nhằm vào bà ấy. Thế nào con cũng phải ở lại đó uống trà loãng với bánh quy cũ sau khi đi một vòng căn nhà cho mà xem.”
                      “Vậy bố mẹ sẽ chờ để cùng ăn thịt viên nhé.”
                      “Thế thì tuyệt quá. Không nhiều nhưng cũng phải mất ba mươi phút.”
                      “Chúng ta có định đi đâu đâu.”
                      ***
                      Mỗi tuần một hai lần, khi công việc cho phép, Abigail lại bỏ ra vài tiếng buổi tối làm những việc cá nhân. Theo thường lệ, cô thanh toán bất kỳ hóa đơn nào không thanh toán tự động khi chúng được gửi đến, mua sắm trên mạng khi có nhu cầu - hoặc đôi khi chỉ là ý nghĩ chợt đến. Cô theo dõi thời sự, một vài blog hằng ngày hoặc tuần, và thậm chí cho phép mình dành ra một chút thời gian mỗi ngày để chơi game.
                      Vì cô chuyên thiết kế, lập trình và hy vọng làm thêm nhiều việc như thế mỗi ngày nên cô cảm thấy mình cần phải theo kịp với các trào lưu và công nghệ hiện tại.
                      Nhưng cứ một hai lần một tuần, cô lại thâm nhập vào máy tính. Cô theo dõi tình hình của mẹ cô bằng cách lén truy cập vào các tài khoản ngân hàng, tài khoản môi giới, lịch làm việc ở bệnh viện.
                      Cô biết Tiến sĩ Susan L. Fitch đã có kế hoạch đi nghỉ ba tuần vào tháng Năm tại Provence. Cô biết những khách sạn bà Susan đã đặt phòng, dịch vụ tàu xe thuê riêng mà bà ấy và bạn trai của bà mấy tháng qua - một ông Walter P. Fennington III nào đó - sẽ sử dụng.
                      Cô biết kha khá về cuộc sống, các hoạt động, tình hình tài chính của mẹ cô.
                      Họ đã không hề gặp gỡ hay nói chuyện với nhau kể từ cái đêm bà Susan bỏ cô lại với Terry và John tại nhà an toàn đầu tiên ở Chicago.
                      Nhưng cô vẫn kiểm tra, thỉnh thoảng, do tò mò, và cũng để trấn an bản thân rằng nhà Volkov chưa có hành động trả đũa nào ở khu vực đó.
                      Tại sao chúng lại phải ra tay? Abigail nghĩ. Chúng có tay trong trong bộ máy pháp luật. Và đám tay trong đó biết rõ bà Susan Fitch chẳng biết gì, chẳng bận tâm gì đến cô con gái mà bà ấy đã mang nặng đẻ đau, rồi từ bỏ.
                      Cô kiểm tra tình hình gia đình John. Cô hy vọng ông yên lòng khi thấy vợ ông đã tái hôn được tám năm sau ngày ông mất. Ông hẳn thấy hạnh phúc khi các con ông yên ổn và rất hạnh phúc. Cô biết nơi họ sống, làm việc, học tập. Cô cũng biết bố mẹ của Terry đã chuyển đến Sarasota.
                      Cô đã lập trình một chương trình tự động tìm kiếm để bất kỳ thông tin gì trên bất kỳ cơ quan truyền thông nào đề cập đến nhà Volkov cũng sẽ hiện ra trên máy tính của cô. Cô theo dõi chúng rất cẩn thận. Ilya đã đính hôn; một lễ cưới vào mùa thu đã được lên kế hoạch. Hôn thê của gã xuất thân từ một gia đình giàu có có quan hệ với một bratva khác. Cô xem đây là một kiểu cấu kết, mặc dù cô hình dung Ilya rất hài lòng, vì cô gái kia rất xinh đẹp.
                      Việc xâm nhập vào máy tính của Ilya thường mất nhiều công sức, thời gian hơn và phải bỏ công nghiên cứu rất nhiều. Nhưng cô không ngại. Mỗi lần truy cập, cô lại sao chép và tải tất cả các file, email của gã về, lưu trữ, tìm hiểu tất cả những website gã ghé vào.
                      Những kẻ như gã cứ nghĩ chúng thận trọng, nhưng không hề. Cô biết rõ công việc của gã gần như chẳng kém gì gã, theo như cô hình dung. Cô biết cuộc sống của gã, cuộc sống hôn thê của gã, việc gã tiêu tiền như thế nào, nơi gã mua quần áo, giày dép. Mọi thứ.
                      Và cô biết nhà Volkov vẫn tìm kiếm cô.
                      Cô không phải là một mục tiêu ưu tiên, nhưng từ những gì suy luận được, thì cô không đơn giản và một công việc còn dang dở. Elizabeth Fitch là một nhân tố then chốt. Cô cần phải được tìm ra và loại trừ.
                      Chừng nào Sergei Volkov còn đứng đầu bratva, cô sẽ vẫn là một mục tiêu. Và cô tin chắc rằng mình sẽ vẫn là mục tiêu khi Ilya chính thức thay thế lão.
                      Cô biết Yakov Korotkii tiếp tục vai trò đao phủ. Dựa trên thông tin truy cập được, cô đã lập một danh sách về những người mà cô tin đã bị hắn trừ khử. Cô biết Cục Điều tra Liên bang FBI, Cục Cảnh sát Tư pháp Hòa Kỳ và Interpol, cùng nhiều cơ quan khác, có những danh sách tương tự.
                      Nhưng lại chẳng có gì dính với Korotkii. Hắn, có lẽ vì cô, là một công cụ được bảo vệ kỹ lưỡng và rất được chuộng.
                      Cô cũng biết FBI và cảnh sát Tư pháp tiếp tục tìm kiếm cô. Hoặc tìm kiếm Elizabeth Fitch.
                      Cô vẫn là một nhân chứng trong vụ sát hại Julie Masters và Alexi Gurevich, và cũng là một người đáng lưu ý liên quan đến cái chết của John Barrow và Theresa Norton.
                      John đã nói sự thật, đã bảo vệ cô tới cùng. Cô chẳng thể tin tưởng ai. Với nhà Volkov, cô là một mục tiêu cần trừ khử, không còn là chuyện danh dự và nguyên tắc nữa mà bởi vì cô có khả năng đứng ra làm nhân chứng. Đối với các cơ quan chức năng, cô là nhân chứng vụ sát hại hai cảnh sát Tư pháp liên bang, hoặc, tùy vào phân tích, một đối tượng đào tẩu mà vì tuyệt vọng, buồn chán, điên cuồng nên có thể đã hạ gục một cảnh sát Tư pháp liên bang, giết chết một người khác, làm bị thương một người nữa, vì Cosgrove đã bị bắn trúng hông trong trận hỗn chiến.
                      Một số người đặt giả thuyết cô đã gây ra một vụ nổ khí ga để che giấu những tội danh của mình trong khi bỏ chạy.
                      Kế hoạch loại trừ cô đã được sắp đặt, cô hình dung như vậy, trong nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, từ trước sinh nhật lần thứ mười bảy của cô. Keegan và Cosgrove khởi xướng vụ ấy.
                      Dự định là cô cùng chết với John và Terry trong vụ nổ.
                      Mấy tháng đầu tiên trốn chạy, năm đầu tiên ẩn náu, cô không dám nghĩ đến sự kiện hãi hùng và đau đớn ấy. Nhưng cô đã tìm được cách riêng của mình.
                      Giờ cô có một cuộc sống, và cô quyết giữ gìn nó.
                      Với chú chó nằm dưới chân, cô thận trọng truy cập vào các tài khoản của Ilya. Gã đều đặn thay đổi mật khẩu, cập nhật hệ thống an ninh, tường lửa.
                      Nhưng cô đã bỏ ra cả mười năm trời nghiên cứu, phát triển, lập trình các hệ thống - dữ liệu vào, dữ liệu ra của chúng. Gã có xây dựng bất kỳ thứ gì, cô đều có thể chọc thủng. Cô cảm thấy rất thỏa mãn khi thâm nhập, theo dõi được thế giới riêng của gã, quấy rối sự riêng tư của gã.
                      Sự tiếc nuối duy nhất của cô là gã chẳng bao giờ biết điều đó.
                      Gã chưa bao giờ sợ hãi như cô đã từng sợ hãi.
                      Nhưng cô sẽ bắt gã trả giá.
                      Thỉnh thoảng, khi có đầy đủ, khi cô tin tưởng vào dữ liệu và sự an toàn của chính mình, cô tìm cách tiết lộ các mẩu thông tin cho một đặc vụ FBI - một người cô đã tìm hiểu kỹ lưỡng, người cô cảm thấy cô biết rõ như cô biết về chính mình vậy.
                      Là bất kỳ ai cô cảm nhận như vậy tại thời điểm đó.
                      Cô ký tên dưới những nội dung ngắn gọn nhưng đầy ắp dữ liệu ấy là tvoi drug. Từ tiếng Nga mang nghĩa “một người bạn.” Đã có nhiều hồ sơ, văn bản, nghiên cứu, chất vấn về nhân vật tvoi drug. Hầu hết đều tin rằng người cung cấp thông tin là nam giới, và có mối liên hệ ngay trong bratva nhà Volkov.
                      Tvoi drug được đánh đổi từ nhiều mạng sống. Abigail hy vọng cô đã cứu được vài mạng người. Thành tích lớn nhất, theo tiêu chí của cô, là tập hợp đủ thông tin để tạo ra một cuộc đột kích vào một nhà kho ở South Chicago, triệt phá và tiêu diệt đường dây ép buộc bán dâm đang hoạt động tại đây.
                      Giờ cô đang nghiên cứu hoạt động gần đây. Các loại mã, các cụm từ khó hiểu, những cái tên giả. Cô bỏ qua thông tin về các vụ lừa đảo qua mạng sơ đẳng. Nếu quan chức liên bang không thể tự giải quyết được những vụ đó thì họ không đáng để nhận giúp đỡ.
                      Nhưng còn chuyện rửa tiền thì cô buộc phải cân nhắc.
                      Sục sạo được vào tận cùng của nhà Volkov đem lại cảm giác thỏa mãn. Có lẽ không phải cái cảm giác thỏa mãn bản năng và sâu thẳm do biết được rằng cô đang đóng một phần nhỏ bé để giải thoát hơn hai mươi cô gái khỏi kiếp nô lệ tình dục, mà là tiêu hao những khoản quỹ khiến công việc của chúng khó triển khai hơn.
                      Đúng, rửa tiền sẽ là một dự án riêng mới của cô. Cô coi nó là một món quà cưới tặng cho Ilya.
                      Cô bắt đầu thu thập các mẩu thông tin từ mail của Ilya, của nhân viên kế toán, một vài đầu mối liên lạc khác. Lúc nào cô cũng thấy ngạc nhiên trước những điều người ta để lộ ra qua các động tác gõ bàn phím, trước sự bất cẩn của họ. Trong lúc làm việc, cô suy nghĩ bằng tiếng Nga, đặt mình vào thứ ngôn ngữ ấy. Tập trung cao đến mức khi điện thoại của cô đổ chuông, cô đã khẽ bật ra cả một câu chửi thề tiếng Nga.
                      Cô không muốn có cuộc gọi đến, nhưng một vài khách hàng có vẻ thích trò chuyện điện thoại hoặc nhắn tin hơn là gửi email. Cô liếc nhìn màn hình. Cau mày.
                      Brooks đã tìm ra số di động của cô. Việc đó không hẳn là khó lắm, nhưng cũng phải mất chút thời gian và công sức.
                      Tại sao nhỉ?
                      Rất cảnh giác, cô trả lời điện thoại.
                      “A lô.”
                      “Này. Brooks đây.”
                      “Vâng, tôi biết.”
                      “Em muốn thứ gì trên món pizza của mình?”
                      “Tôi... thế nào cũng được.”
                      “Thứ phủ trên pizza quan trọng đấy, Abigail. Rất quan trọng cho bánh.”  
                      Cô cứ nghĩ anh ấy đã hiểu. Và cô ước gì mọi thứ về anh không quyến rũ và gây lúng túng. “Tôi thích ô liu đen và đặc biệt là ớt cay.”
                      “Sẽ như vậy. Xúc xích heo rắc tiêu em có phản đối không?”
                      “Không.”
                      “Tuyệt. Tôi sẽ ghé qua sau nửa tiếng nữa.”
                      “Tôi có mời anh tới đâu.”
                      “Phải, tôi biết. Em nên bắt đầu mời tôi đi.”
                      “Tôi đang làm việc.”
                      “Hẹn lúc bảy giờ nhé. Giải lao một chút đi. Thêm nữa, tôi có tin cho em.”
                      “Tin gì vậy?”
                      “Sẽ đến cùng với món pizza. Khoảng nửa tiếng nữa. Hẹn gặp em.”
                      Cô bỏ điện thoại xuống, ngẫm nghĩ.
                      Cô không hề chuẩn bị. Tại sao anh luôn chen ngang và xuất hiện khi cô không chuẩn bị nhỉ? Giờ thì cô lại phải gác công việc lại.
                      Và cô đã định làm món gà rán ăn tối.
                      Anh ta muốn trò chuyện, và cô không dám chắc cô còn muốn thế không nữa. Cô chẳng muốn nghe hai mẹ con anh trò chuyện tâm tình nữa.
                      Thế nhưng, cô vẫn thắc mắc ý anh là sao khi nói đến tin tức.
                      Vẻ cam chịu, cô tắt máy, sau đó miễn cưỡng cất súng và bao súng vào ngăn kéo. Cô cho rằng anh cũng muốn nhâm nhi, cho nên cô xem xét số rượu vang mình có và chọn một chai Chianti.
                      Sau đó cô ngừng lại, đăm đăm nhìn chai rượu.
                      Cô lại sắp ăn tối với anh. Thế tức là hai lần một tuần, và còn chưa tính đến lần ăn bánh việt quất.
                      Cô đang hẹn hò với một cảnh sát trưởng.
                      “Trời ạ. Sao anh ta lại làm được thế nhỉ? Mình không hẹn hò. Mình không thể hẹn hò.”
                      Cô đặt chai rượu vang xuống và làm một việc mà cô không hay làm. Cô đi tới đi lui. Cô cần tìm ra một giải pháp, một hướng giải quyết cho... tình huống này. Rõ ràng từ chối gặp sẽ chỉ khiến anh ta càng thêm quyết tâm và nghi vấn. Dù cố gắng thế nào thì đi theo hướng đó cũng đều thất bại thôi.
                      Cô hiểu rõ khái niệm theo đuổi và chinh phục. Con đực cảm thấy bị thách thức, buộc phải truy đuổi, tóm bắt, chinh phục. Có lẽ cô nên nghĩ lại việc ngủ với anh. Bằng tình dục, quá trình truy đuổi sẽ kết thúc, thách thức sẽ bị loại bỏ. Mối quan tâm của anh sẽ bắt đầu phai nhạt.
                      Đó là những lý do rất hợp lý.
                      Việc đó cũng bao gồm cả lợi ích là loại bỏ được niềm khao khát này. Một khi những nhu cầu thể xác của chính cô được đáp ứng, mối quan tâm của anh nhạt dần, cô sẽ không còn lý do gì để nghĩ về anh vào những thời điểm không thích hợp. Mọi việc sẽ trở lại bình thường.
                      Cô thấy giả thuyết đó rất có giá trị.
                      Họ quan hệ với nhau, sau đó mỗi người sẽ tiếp tục cuộc sống và lịch trình riêng của mình.
                      Thấy nhẹ nhõm, hài lòng với quyết định của mình, cô đi lên gác - Bert theo sát-  để bảo đảm rằng không có bất cứ thứ gì trong phòng ngủ, phòng tắm hay bất kỳ đâu trên tầng hai, đập vào mắt anh.
                      Anh ta sẽ không có lý do gì để hỏi về phòng ngủ thứ hai, và khung cửa được gia cố. Cô mất thêm một lúc nữa tự hỏi rằng liệu việc phá vỡ những tiền lệ của chính mình - những tiền lệ tốt - và có một cuộc ân ái với một chàng trai địa phương, trong chính ngôi nhà của cô, có phải là lựa chọn hợp lý nhất không.
                      Cô tin đó chính là giải pháp. Cô tin mình có thể giải quyết được sự việc bất thường chưa có tiền lệ này.
                      Cô nhìn về phía phòng ngủ khi có tín hiệu của hệ thống an ninh. Khẽ nói để Bert bình tĩnh.
                      Brooks thật đúng giờ, cô nghĩ thầm khi nhìn thấy anh lái xe về phía nhà mình.
                      Cô thích pizza, cô quyết định như vậy khi cô bắt đầu xuống gác. Cô thích ân ái. Lúc mở cửa, cô trấn an mình rằng kế hoạch rất ổn, và cả hai phía sẽ hoàn tất nó một cách ổn thỏa.
                      #11
                        Thanh Vân 29.11.2023 19:19:25 (permalink)

                        12


                        Cô ấy kia rồi, anh nghĩ thầm, anh bạn chó đồng hành ngay bên cạnh và đôi mắt của cô toát lên sự thận trọng mà anh biết rằng trong đó ẩn chứa những bí mật.
                        Lần này, cô không tỏ vẻ gì khó chịu cả, và cô vẫn dõi theo từng cử động của anh khi anh bước ra khỏi chiếc xe tải cùng với hộp bánh pizza và một lốc sáu chai bia Rolling Rock.
                        Cô và Bert tiếp tục nhìn theo anh khi anh bước lên hiên, cúi xuống và hôn cô.
                        “Chào em.”
                        “Chào.” Cô bước lùi lại, sau đó thực hiện quy trình khóa cửa thường lệ. “Anh mang cả bia. Tôi có rượu vang đây, nhưng...”
                        “Thế cũng được mà. Chúng ta sẽ bỏ thứ này vào tủ lạnh.” Anh đưa cho cô thùng bia, sau đó mới móc từ trong túi ra một khúc xương làm bằng da thuộc. “Quà cho Bert, nếu nó thích.”
                        Món quà làm cô cảm động. Dù là một âm mưu hay không thì cô nghĩ việc đó cũng vẫn thể hiện sự tử tế. “Nó sẽ không chịu nhận của anh đâu.”
                        “Vậy thì em đưa cho nó.”  
                        Anh đưa cho cô khúc xương, nhìn đôi mắt Bert cứ ngó qua lại hai người, và khúc xương. Nhưng chú chó không hề cử động lấy một bắp cơ nào.
                        “Anh thật chu đáo. Nó thích đấy.” Cô quay lại chú chó, lầm bầm một mệnh lệnh. Bert ngồi phệt xuống sàn.
                        “Đấy không phải tiếng Pháp.”
                        “Tiếng Ý.” Cô đưa Bert khúc xương, kèm theo một mệnh lệnh nữa.
                        “Nó còn biết cả tiếng Ý. Đúng là một chú chó sành điệu. Nó đang cười kìa.”
                        “Chó đâu có cười.”
                        “Thật khó tin, nhìn đôi mắt xem. Nó đang cười. Em muốn ăn pizza ở đâu đây?”
                        “Bếp là hay nhất. Tâm trạng anh vui nhỉ.”
                        “Tôi sắp được ăn pizza với một phụ nữ xinh đẹp, người thích ớt cay, một gu rất riêng. Và cô ấy cũng đã mở rượu vang. Tôi không phải làm việc cho tới tám giờ. Có ngốc thì tâm trạng mới không tốt.”
                        “Anh đâu có ngốc.” Cô lấy ly rượu xuống. “Và mặc dù công việc của anh rất căng thẳng nhưng anh hiếm khi tỏ ra căng thẳng. Tôi quan sát thấy vậy.”
                        “Tôi thích công việc này mà.”
                        “Nhưng nếu bố anh không bị ốm thì anh vẫn còn ở Little Rock mà.”
                        “Ờ, có lẽ vậy. Thực ra tôi cũng có ý về nhà, nhận công việc này và ổn định ở đây.”
                        Cô lắc đầu trong lúc lấy đĩa ra. Cô nhận ra mình đã nói chuyện nhiều hơn hẳn. “Làm gì có cái gọi là tiền định hay số phận. Cuộc sống là một chuỗi những lựa chọn và hoàn cảnh, hành động và phản ứng, và kết quả lựa chọn của những người khác. Việc bố anh ốm khiến anh phải chọn vị trí này, vào thời điểm này. Tôi nghĩ đó là một lựa chọn đáng quý và hiếu thảo, nhưng không nằm trong dự tính.”
                        Anh tự rót rượu ra. “Tôi tin vào lựa chọn, cũng như số phận.”
                        “Như thế nào? Chúng ta không thể vừa tự do lựa chọn lại vừa tuân theo định mệnh được.”
                        “Một câu đố khó phải không?”
                        Trông anh rất tự nhiên khi ở trong bếp của cô, trong không gian của cô, với quần bò và áo phông, đôi giày đế mềm cao cổ và áo khoác da đã sờn. Cô có cần phải lo ngại về điều đó không nhỉ?
                        “Sao chúng ta không dùng bữa ở hiên sau nhỉ? Tối nay trời đẹp mà.”
                        Câu đó khiến cô lưu ý. Cô chưa bao giờ dùng bữa ngoài trời, và chưa bao giờ ra ngoài mà không có vũ khí.
                        “Em nên đổi gió chút đi.” Anh búng ngón tay vào thái dương cô. “Em đã làm việc gần hết cả ngày rồi, tôi đoán vậy. Tôi không tin em lại mua chỗ này nếu như em không biết tận hưởng một tối xuân dịu dàng.”
                        Lại một lựa chọn nữa, cô nghĩ. “Được thôi.” Cô mở ngăn kéo, lấy bao súng ra. “Tôi sẽ không ra ngoài mà không mang súng.”
                        “Cũng được.” Lại là khẩu Glock 19, một lựa chọn ưa thích. “Giá mà em kể cho tôi nghe điều gì khiến em sợ.”
                        “Tôi không sợ.” Nếu đó là một lời nói dối thì cũng không quá nghiêm trọng. Cô thấy mình đã chuẩn bị rất kỹ càng và chu đáo cho điều đáng sợ thực sự. “Chỉ là tôi thích mang theo súng khi ở bên ngoài.”
                        “Được thôi.” Anh đợi trong khi cô đeo súng lên, mở cửa bếp. “Nhưng nếu em kể ra, tôi sẽ tìm cách giúp em.”
                        “Sao anh biết chắc tôi không phải là tội phạm chứ? Một kẻ đang trốn truy nã chẳng hạn?”
                        “Em có tin vào bản năng không?”
                        “Có, dĩ nhiên rồi. Đó là...”
                        “Em đâu cần giải thích. Cứ để mọi việc dựa theo bản năng.”
                        Ngoài hiên cô có một chiếc bàn nhỏ, một cái ghế đẩu duy nhất, Brooks đặt pizza xuống, đi vào trong để lấy thêm một cái ghế bên bàn làm việc.
                        “Ngoài này thật tuyệt, cảnh quan, không khí. Em bắt đầu làm vườn rồi à.” Anh ngồi xuống ghế, nhấp ly vang của mình. “Em trồng gì trong nhà kính?”
                        “Cây cối. Hoa, một ít rau. Còn mấy cây cho trái nho nhỏ nữa. Chúng phát triển rất tốt trong môi trường nhà kính.”
                        “Chắc chắn rồi.”
                        Thấy cô ra hiệu, Bert nằm xuống bên chân cô và bắt đầu gặm khúc xương của nó.
                        “Nó lại cười kìa.”
                        Lần này cô lại lắc đầu nhưng hơi mỉm cười. “Anh có bản tính rất kỳ khôi.”
                        “Có lẽ để bù cho áp lực.” Anh cầm lấy miếng pizza cô đưa cho đặt chiếc đĩa nằm vững trên đùi, rồi duỗi dài chân, im lặng.
                        Cô cũng làm như vậy.
                        “Em chẳng hỏi han gì cả,” anh vào chuyện. “Đó là khả năng kiểm soát của em ư, Abigail?”
                        “Sao cơ?”
                        “Tôi nói có tin tức, nhưng em chẳng hỏi về chuyện đó. Đa phần mọi người không thể đợi được ba phút là đã hỏi rồi.”
                        “Có lẽ anh định bày trò gì đó.”
                        “Lần này thì không.” Anh đợi một lúc, thở dài thật lớn. “Giờ em chẳng hỏi bởi vì em đang bực mình.”
                        Cô lại nhoẻn cười, và đúng là chết tiệt nếu như anh không hề cảm thấy đắc thắng mỗi lần anh làm cho đôi môi kia phải cong lên. “Được rồi, được rồi, nếu em không định chất vấn chuyện đó thì tôi sẽ nói với em vậy. Tôi đã làm theo lời khuyên của em. Cứu một chú cún khỏi trạm giữ chó mèo để mang về cho mẹ.”
                        “Bà có vui không?”
                        “Bà đã khóc, sung sướng. Hôm nay chị tôi nhắn tin bảo tôi đúng là thằng nịnh bợ, và mẹ vẫn quý chị ấy hơn. Giữa bọn tôi luôn vậy. Chị ấy trêu đùa thôi,” anh nói thêm khi thấy Abigail cau mày. “Bọn tôi thích chọc ghẹo nhau. Sau một cuộc tranh cãi quyết liệt, trong khi tôi chỉ ăn thịt viên và ngậm chặt miệng, hai bậc phụ huynh đầy sung sướng đã đặt tên cho đứa con mới của họ, bởi vì nó sẽ được đối xử đúng như vậy, là Plato. Bố tôi thì muốn là Bob hoặc Sid, nhưng mẹ tôi nói con cún trông rất triết gia và sáng sủa, và đáng được mang một cái tên quan trọng.”
                        “Cái tên hay đấy. Những tên gọi có phụ âm mạnh dễ dùng khi rèn luyện hơn. Đúng là tin vui. Tin rất vui.”
                        “Tôi nghĩ vậy.” Anh móc điện thoại chỗ thắt lưng. “Tôi có một bức ảnh của nó đây.” Anh lướt nhanh rồi chìa ảnh ra.
                        “Nó rất xinh, lại có đôi mắt sáng, lanh lợi.” Cô thấy lòng dịu hẳn khi nhìn vào đôi mắt ấy, tưởng tượng ra cảnh con cún được sống trong một căn nhà tràn ngập yêu thương. “Anh là một người con rất tốt.”
                        “Họ đều dễ tính mà. Còn bố mẹ em thì sao?”
                        “Tôi chỉ còn mẹ thôi. Hai mẹ con như người dưng rồi.”
                        “Tội nghiệp em. Bà ấy ở đâu?”
                        “Mẹ con tôi không liên lạc đã vài năm rồi.”
                        Đề tài cấm kỵ, Brooks suy diễn. Cấm ky. “Tôi liên lạc với bố mẹ gần như hằng ngày. Cuộc sống ở một thị trấn nhỏ như thế là tốt hay xấu thì tùy em nghĩ.”
                        “Tôi nghĩ với anh thì như vậy kể cũng hay, một cuộc sống dễ chịu.”
                        “Đúng vậy. Lúc thiếu niên tôi cứ nghĩ như vậy là bình thường, nhưng trẻ con đứa nào chẳng vậy. Coi đó là mặc nhiên. Khi sống ở Little Rock, tôi trò chuyện hoặc gửi email rất nhiều. Và tháng nào cũng về thăm họ, thăm các chị gái, bạn bè, những người vẫn sống ở đây. Nhưng tôi chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện chuyển về.”
                        “Thì anh vui khi ở Little Rock, và thích công việc của mình ở đó.”
                        “Đúng thế. Nhưng khi bố bị ốm, tôi không những cảm thấy mình phải về mà còn nhận ra mình muốn về.”
                        Anh chỉ một tay vào cô. “Đúng là có duyên.”
                        Cô phản ứng lại hành động đó bằng một cái lắc đầu nhè nhẹ và nụ cười mà anh càng lúc càng thấy thích. “Anh có một gia đình rất gần gũi.”
                        “Em cứ khen thoải mái. Món pizza thế nào?”
                        “Rất ngon. Khi tự làm bánh, tôi làm cùi bánh bằng lúa mì nguyên, nhưng thế này ngon hơn.”
                        “Tự làm cơ à? Loại đã chế biến sẵn phải không?”
                        “Nếu thế thì đâu phải tự làm.”
                        “Tôi thì toàn nấu đồ đã chế biến sẵn. Có đúng tự làm pizza từ đầu đến cuối không đấy?”
                        “Chuẩn đấy, khi tôi bỗng nổi hứng.”
                        “Đến mẹ tôi cũng không làm được thế.” Anh đặt một miếng bánh nữa lên đĩa của cô, một miếng lên đĩa của mình, rồi rót thêm rượu vang cho cả hai. “Có lẽ sau đây em sẽ cho tôi xem khu nhà kính.”
                        “Tôi có trồng cần sa đâu?”
                        Anh cười, rất nhanh, rất vui vẻ, khiến cô hơi nhổm lên. “Chuyện đó chẳng thú vị sao? Mà tôi có ám chỉ thế đâu. Tôi lớn lên cùng với những người làm vườn nên thấy thích thôi. Đó là chưa kể quanh đây cũng có người trồng thứ cây ấy, để dùng riêng hoặc như một nguồn thu phụ. Chính mẹ tôi cũng trồng thứ đó cho tới khi bà có con. Và bà sẵn sàng nhào vào tranh luận về chuyện hợp pháp hóa cần sa.”
                        “Hợp pháp hóa, kiểm soát và đánh thuế cần sa sẽ làm đỡ đi gánh nặng ngân sách phải chi cho cảnh sát, và tạo nguồn thu đáng kể đấy.”
                        “Mỗi người một quan điểm.”
                        Chú chó đổi tư thế, ngồi dậy, đăm đăm nhìn Abigail. “Allez,”[21] cô nói, và nó rời khỏi hiên, tiến về một cái cây.
                        “Lại dùng tiếng Pháp. Có phải nó vừa xin phép đi tiểu không?”
                        “Nó sẽ không rời khỏi hiên mà chưa được tôi cho phép.” Cô cũng đổi tư thế, nhấp một ngụm rượu vang. “Tôi vừa cân nhắc lại.”
                        “Quá muộn, em đã ăn miếng bánh thứ hai rồi.”
                        “Không phải pizza. Tôi cân nhắc lại chuyện ân ái với anh.”
                        Anh rất mừng là anh vừa nuốt xong nếu không anh đã bị sặc. “Thật thế chứ?”
                        “Ừ. Sau khi cân nhắc nặng nhẹ, tôi quyết định ân ái với anh sẽ thỏa mãn cả hai. Anh rất hấp dẫn và vui tính. Lại sạch sẽ. Anh hôn rất tuyệt, đó không phải lúc nào cũng là chuẩn mực đánh giá tin cậy cho các kỹ năng giường chiếu, nhưng thường như vậy. Nếu anh đồng ý, chúng ta có thể kết thúc bữa tối, tôi sẽ cho anh xem nhà kính, sau đó chúng ta có thể vào trong và ân ái. Tôi đã tránh thai, nhưng anh phải dùng bao cao su.”
                        Anh gần như không nói được gì. “Một đề nghị, ái chà.”
                        “Anh không chấp thuận à?” Cô không nghĩ đó là một lời từ chối. “Tôi nghĩ anh muốn tôi, về mặt thể xác. Không phải vậy sao?”
                        Anh đặt đĩa của mình xuống, đứng lên. Quên cả chuyện để tâm đến những gì chú chó nghĩ - hoặc làm - Brooks kéo Abigail đứng lên, mạnh tay kéo tuột cô sát vào anh.
                        Lần này thì không phải nụ hôn dịu dàng, cũng không phải sự thăm dò. Lần này là sự bùng nổ, làm những “mảnh bom” đánh trúng toàn bộ các giác quan của cô. Cô loạng choạng, mất thăng bằng. Cô phải bám chặt lấy anh không sẽ ngã nhào.
                        “Khoan đã. Khoan đã.”
                        Có lẽ trong giọng nói của cô có sự run rẩy - hay tiếng gừ gừ cảnh báo của chú chó - nhưng mặc dù không buông cô ra, anh vẫn dịu lại.
                        Ami. Ami.” Tay cô run bắn như chính giọng của cô khi cô khẽ đặt tay lên má Brooks. Sau đó cô lại ra hiệu thêm bằng tay cho chú chó. “Ami, Bert. Gối đầu.”
                        Khi chú chó ngồi xuống, Abigail mới thở ra một tiếng run rẩy. “Nó tưởng anh đang làm đau tôi.”
                        “Em đau à?”
                        “Không. Nhưng tôi muốn ngồi xuống.”
                        “Nhìn tôi này.”
                        Cô lấy lại nhịp thở, rồi ngước lên nhìn anh. “Anh đang giận.”
                        “Không, không hề. Tôi không chắc mình trông ra sao, nhưng tôi không điên.”
                        “Anh không muốn tôi.”
                        “Liệu tôi có phải trả lời câu hỏi đó lần nữa, và nếu vậy, tôi có cần xe cứu thương khi chú chó của em tấn công không?”
                        “Tôi...” Anh nghe được sắc thái bẽ bàng trong tiếng kêu của cô khi cô nhắm mắt lại và gật đầu. “Đã hiểu. Tôi quá thẳng thừng, quá thực tế. Lẽ ra phải đợi anh khơi mào trước, hoặc không thì cũng đừng tỏ ra toan tính như vậy. Cho tôi ngồi xuống đi.”
                        Anh buông cô ra, ngồi xuống cạnh cô. “Thứ nhất, tôi chẳng bận tâm gì ngoài những cảm xúc tích cực về chuyện em sẵn sàng lên giường với tôi. Vấn đề là tôi có cảm giác em đang coi chuyện này như một công việc cần giải quyết cho xong.”
                        Chính xác như vậy, cô nghĩ, ý tốt nhưng cách làm thì sai. “Tôi xin lỗi. Tôi nghĩ đó là một cách tiếp cận ổn thỏa. Anh không giận, nhưng thấy hơi bị xúc phạm. Tôi xin lỗi.” Cô thu hết can đảm nhìn anh. “Tôi biết cách tiếp cận rất quan trọng với một số người. Tôi biết điều đó. Thật thô thiển và yêu sách hệt như cái cô nàng ở Ozark Art.”
                        “Tôi đâu nghĩ xa đến thế. Cũng mong rằng sẽ có lúc nào đó em nghĩ lại.”
                        “Vậy đi tôi sẽ không... Tôi đã lo lắng và xử lý không đúng.”
                        “Lo lắng ư?”
                        “Thường tôi không làm vậy... Tôi không biết giải thích sao.”
                        “Em chẳng cần giải thích nhiều đâu. Ổn cả mà. Hay là thử thế này xem. Chúng ta sẽ uống hết ly vang này, và em sẽ cho tôi xem nhà kính. Chúng ta sẽ xem mọi việc tiến triển thế nào.”
                        “Tôi không giỏi trong việc xem xét mọi việc tiến triển thế nào.”
                        “Tôi lại rất giỏi chuyện đó. Chúng ta cứ thử xem. Nếu em không thích, chúng ta luôn có thể làm mọi việc theo cách của em. Tôi sẽ chẳng chịu từ bỏ đâu.”
                        “Ý anh là thế nào anh cũng ân ái được.”
                        Anh lại bật cười, với lấy bàn tay cô và siết chặt. “Đúng là phụ nữ. Để rồi xem - đùa nhau đây.” Anh buông tay khi điện thoại di động đổ chuông. “Cứ giữ lấy ý nghĩ đó. Vâng, Ash à, có vấn đề gì thế?”
                        Cô thấy vẻ mặt anh thay đổi khi anh nghe điện, thấy nét mặt ấy chuyển sang trầm mặc và có phần đanh lại. “Không, anh làm đúng rồi. Tôi đến ngay. Đợi nhé, nghe thấy không? Đợi cho tới khi tôi đến đó.”
                        “Tôi xin phép,” anh nói với Abigail khi tắt máy.
                        “Không sao.” Nhưng cô không nhìn anh lúc đứng lên và thu dọn đĩa.
                        “Đây là một phần công việc,” anh nói.
                        “Tôi hiểu mà. Nhưng anh đã hết giờ làm việc rồi mà.”
                        “Nên tôi sẽ viện lý do lý trấu ư? Làm người ai làm thế.” Rất nhẹ nhàng, anh đặt một tay lên cánh tay cô. “Không, Abigail. Đây và sự vụ đặc biệt mà tôi đã ra lệnh rằng bất kỳ ai nhận được cái tin báo không sớm thì muộn cũng tới này đều phải liên lạc ngay với tôi. Dù nghỉ hay đang trực. Tôi cần giải quyết trường hợp này.”
                        “Tôi hiểu.”
                        “Tôi rất muốn quay lại.”
                        “Không cần đâu...”
                        “Abigail, tôi muốn được quay lại nếu có cơ hội. Còn nếu không, tôi sẽ gọi cho em. Tôi cũng chưa nói trước được đâu.”
                        “Bởi vì anh còn phải xem tình hình thế nào.”
                        “Đúng vậy. Tôi phải đi rồi.” Anh cúi xuống, hôn cô. “Giá mà tôi ở lại được.”
                        Cô tin anh, và niềm tin ấy sưởi ấm thứ gì đó trong cô khi anh rời khỏi hiên và đi vòng ra chỗ để xe.
                         
                        Cái việc chết tiệt xảy ra đúng tối nay, Brooks nghĩ trong lúc lái xe về phía nhà Tybal và Missy Crew. Nhưng anh đã suy nghĩ rất nhiều về tình huống này kể từ lần cuối Ty uống xỉn. Tối nay, bằng cách này hay cách khác, Brooks dự định sẽ giải quyết dứt điểm.
                        Những ô cửa sổ nhà Crew sáng trưng, trong khi hàng xóm túm tụm trên các bãi cỏ như thể tình trạng lộn xộn trong nhà chính là một bữa tiệc. Ash giữ cho họ lùi xa căn nhà nơi tiếng nhạc chát chúa dội qua cánh cửa mở toang và thỉnh thoảng lại vang lên những tiếng đổ vỡ.
                        Khi Brooks bước ra khỏi xe, Jill Harris - người hàng xóm cạnh nhà - bước lại. “Ai đó phải vào trong kia trước khi gã đập tan những gì còn sót lại đấy.”
                        “Missy có trong đó không?”
                        “Cô ta chạy ra ngoài, chân đất, khóc lóc, miệng chảy máu. Tôi không thể cứ tiếp tục gọi điện báo thế này, còn các anh chẳng chịu làm gì.”
                        “Cô có đơn kiện không?”
                        “Tôi phải sống ngay bên cạnh.” Với chiều cao chỉ một mét rưỡi, Jill khoanh tay trước ngực, trên người khoác chiếc áo len hồng. “Tôi đã thử nói chuyện với Missy về việc này một lần rồi, lúc cô ấy ngồi trong bếp nhà tôi chườm một thứ đậu đông lạnh lên con mắt tím bầm. Thế mà cô ta gọi tôi là đồ khốn đừng có chõ mũi vào việc của cô ta. Giờ cô ấy không thèm nói với tôi. Anh nghĩ tôi muốn gã đó nện cửa phòng tôi đêm nào đó say khướt à?”
                        “Được rồi, cô Harris. Đi nào, Ash.”
                        “Sếp có muốn cử ai đó đi tìm Missy không?”
                        “Không. Cô ta đâu đó quanh đây thôi, hoặc cô ta chuồn về nhà chị gái rồi. Cô ta biết chúng ta sẽ đến mà.”
                        Một phần trong anh tự hỏi liệu cô ta có xuất hiện để thưởng thức tấn kịch này hay không, và anh chẳng thích câu hỏi ấy chút nào.
                        “Cô ta sẽ đợi chúng ta giải quyết gã đã,” Brooks nói tiếp, “sau đó cô ta mới mò về, đợi tới sáng để đến bảo chúng ta cô ta bị trượt chân vì một bánh xà phòng hay thứ vớ vẩn gì đó. Tôi muốn cậu cứ đứng ngoài cuộc thôi, chớ nói gì với gã. Tôi không muốn cậu nói gì cả.”
                        “Tôi sẽ làm thế.”
                        Brooks chẳng buồn gõ cửa, vì Missy vẫn để cửa mở toang hoang lúc cô ta bỏ chạy. Anh đứng lại chỗ đoạn cuối cầu thang, gọi lớn.
                        “Không biết gã có nghe thấy hay không nữa,” Ash nói.
                        “Gã nghe thấy. Chúng ta sẽ không vào. Cứ đợi ở ngoài này, nơi chúng ta có đến cả tá nhân chứng.”
                        “Cho việc gì?”
                        “Cho những gì sắp tới. Ty! Anh có khách này.”
                        “Tôi bận” Brooks nhìn thấy một ngọn đèn nhá lên bên kia phòng khách. “Tôi đang sửa sang lại nhà cửa.”
                        “Thấy rồi. Phiền anh một phút thôi.”
                        “Vậy thì cứ vào đi. Xin mời tham gia bữa tiệc?”
                        “Tôi mà vào đấy, tôi sẽ tống anh vào tù. Nếu anh ra ngoài này, chúng ta sẽ chỉ nói chuyện thôi.”
                        “Ối trời. Một thằng đàn ông không được thu vén việc vặt trong chính nhà mình sao?” Ty lảo đảo ra cửa, mắt lờ đờ, máu lấm tấm trên mặt ở những vị trí Brooks đoán do kính vỡ cắt phải. “A, chào Ash. Giờ tôi có thể làm gì cho các đầy tớ của nhân dân tối nay đây?”
                        “Trông như anh vừa nốc hết cả chai Rebel Yell rồi,” Brooks nói, trước khi Ash kịp quên lời dặn và lên tiếng trả lời.
                        “Có luật nào cấm đâu. Tôi ở trong ngôi nhà bỏ mẹ của tôi kia mà. Tôi đâu có lái xe. Tôi đâu có vận hành máy móc.” Gã cố lên giọng, nhưng phải cúi gập người và thở khò khè vì sặc lúc cười.
                        “Missy đâu?”
                        “Tôi biết chết liền. Tôi về nhà. Không thấy bữa tối trên bàn. Nhưng cô ta thì lại có thời gian lải nhải. Hết lải nhải rồi lại chì chiết. Tôi đã ở đâu, tôi đã làm gì và tôi đi với ai.”
                        “Đó là lúc anh đánh cô ấy phải không?”
                        Đôi mắt đờ đẫn đầy vẻ tinh quái. “Anh biết cô ta vụng về thế nào mà. Và khi cô ta đã lải nhải với chì chiết thì cô ta không minh mẫn nữa đâu. Con đĩ đần đó đâm sầm vào cửa. Rồi ả lặn mất tăm.” Anh ta khua tay, nhận ra những người hàng xóm quanh đó. “Đám vô công rồi nghề chẳng còn việc gì khác hơn là đứng túm tụm bên ngoài kia. Tôi ở trong nhà tôi mà.” Ty chỉ vào bàn chân mình để chứng minh. “Đang tân trang nhà cửa.”
                        “Nghe được đấy.”
                        “Có khi anh bớt thời gian sửa sang lại nhà cửa và thêm thời gian ngủ với vợ, cô ta sẽ không đâm vào tường và lặn mất tăm.”
                        “Tôi sẽ kiếm một ít sơn và... Anh nói gì ý nhỉ?”
                        “Anh nghe thấy rồi đấy.” Bên cạnh anh, Ash trợn mắt, nhưng Brooks vẫn giữ nguyên đôi mắt lành nghề của mình ở Tybal. “Tôi đoán anh không thể làm cho cái cọng rơm kia dựng cột cờ được nữa đâu.”
                        Ty lắc lư trên đôi ủng cỡ lớn của gã, hấp háy đôi mắt đỏ ngầu. “Mày nên ngậm mõm vào.”
                        “Lại nhé, của quý đã bé rồi chớ, lại cứ cố thể hiện làm gì?”
                        “Cút khỏi nhà tao, thằng khốn.” Ty đẩy mạnh anh, và chỉ có thế. Nhưng Brooks muốn kết thúc dứt điểm.
                        “Chỉ dám thế thôi à?” Brooks cười chế nhạo. “Đúng kiểu một thằng bất lực chỉ biết xô đẩy như một con đàn bà. Tiếp theo, anh sẽ giật tóc tôi và khóc đây mà.”
                        Mặc dù anh đã chuẩn bị tinh thần nhận một cú đấm và Ty vẫn loạng choạng vì say, nhưng cú đấm vẫn không hề nhẹ. Brooks cảm thấy vị máu trong khi Ash bật ra tiếng than trời đầy ngạc nhiên ngay bên cạnh.
                        Trong cơn phẫn nộ, Ty lại tấn công.
                        Brooks bước tránh sang bên, xoay chân vừa đủ để khiến Ty vướng chân và ngã bổ chửng ra sân.
                        “Giờ thì anh đã gây chuyện rồi. Anh bị bắt vì tấn công một sĩ quan cảnh sát.”
                        “Tao sẽ giết mày.” Lóp ngóp bò dậy, Ty nhào tới Brooks, hai nắm tay khua khoắng.
                        “Lại thêm tội kháng cự lệnh bắt giữ.” Brooks né người hoặc đỡ được hầu hết các cú đòn. “Cậu muốn giúp tôi tóm tù nhân không, Ash?”
                        “Vâng, thưa sếp.” Bừng tỉnh sau khi sững sờ đến há hốc miệng, Ash chạy tới.
                        “Bỏ tay khỏi người tao, thằng chó.” Gã vung nắm đấm vào Ash, hụt, nhưng vẫn chạm được vào vai anh ta.
                        “Vậy sẽ là tội lần thứ hai tấn công một sĩ quan đấy. Rõ là chúng ta phải tống giam gã say gây rối này thôi.”
                        Với sức hai người, họ đè nghiến Ty xuống đất, còng tay lại. Mặc gã ra sức vùng vẫy và chửi bới, Brooks xốc gã dậy rồi nhìn một lượt các nhân chứng trên các bãi cỏ xung quanh.
                        “Lát nữa tôi sẽ cử một cấp dưới đến,” anh nói, hơi lên giọng. “Anh ấy sẽ lấy lời khai từ tất cả các vị. Tôi không muốn bất kỳ chuyện vớ vẩn nào, các vị nghe rõ chứ? Các vị nói những gì các vị nhìn thấy. Bất kỳ ai làm khác, tôi sẽ xử lý vì tội cản trở người thi hành công vụ. Đừng có thách tôi đấy.”
                        Anh đặt một tay lên đầu Ty, ấn gã vào phía sau chiếc xe tuần tra, rồi lấy mu bàn tay quệt lên chỗ môi còn dính máu của mình. “Sĩ quan Hyderman, cậu theo tôi vào trong.”
                        “Rõ, thưa sếp.”
                         
                        Anh mặc kệ những lời lải nhải của Ty lúc lái xe về đồn, cố gắng quên đi cả cái hàm đau nhói. Ánh mắt cảnh báo của anh với Ash khiến cho người cộng sự chẳng dám mở miệng tới khi họ tống Ty vào một buồng giam.
                        “Tao muốn có luật sư. Tao sẽ kiện lũ khốn chúng mày, tao sẽ làm cho ra ngô ra khoai vì dám chửi tao?”
                        “Chửi gì anh cơ?” Brooks khóa cửa buồng giam.
                        “Chửi là tao bất lực, và tao không cứng được để chơi ả Missy. Thằng chó kia.”
                        “Mẹ kiếp, Ty, anh còn say hơn cả vẻ bề ngoài. Tôi chưa hề nhìn thấy hàng họ của anh suốt từ thời tắm chung hồi trung học, mà tôi nào có bận tâm gì nhiều tới nó cho cam. Tôi chưa hề phát ngôn gì về nó cả.”
                        “Mày đúng là thằng dối trá, mày nói nó chỉ... chỉ... bé xíu.”
                        “Anh say rồi, anh bị ong đầu vì nhạc rồi. Anh còn không biết mình nghe thấy gì. Ash, tôi có nói gì động chạm đến thể diện đàn ông của tù nhân không?”
                        “Tôi... à. Tôi chẳng nghe thấy gì cả.”
                        “Tôi sẽ cử sĩ quan Fitzwater đi lấy lời khai của các nhân chứng. Còn đây là những gì sắp tới, Ty, và lần này anh nên nghe cho thủng. Anh có thể gọi luật sư, được thôi. Anh sẽ cần người bào chữa đấy. Tôi sẽ lập hồ sơ các tội danh tấn công, kháng cự, uống rượu say xỉn và gây rối nơi công cộng. Anh sẽ phải ngồi tù, và không chỉ một đêm là xong đâu. Lần này đừng hòng thoát.”
                        “Vớ vẩn.”
                        “Tấn công sĩ quan cảnh sát à? Đó là trọng tội đấy, Ty. Anh phạm hai lần liền, cộng thêm tội chống đối nữa. Anh có thể ngồi tù năm năm đấy.”
                        Bộ mặt bừng bừng tức giận của gã chuyển sang tái nhợt.
                        “Vớ vẩn.” Và mấy tiếng ấy run run.
                        “Anh cứ ngẫm mà xem. Luật sư có thể làm giảm xuống còn, ờ, mười tám tháng, có thời gian thử thách. Nhưng anh sẽ phải ngồi tù, không chạy được đâu.”
                        “Anh không thể tống tôi vào tù được. Tôi còn phải kiếm sống.”
                        “Thế anh làm gì mấy năm qua? Tôi không gọi như thế là kiếm sống.”
                        Anh nghĩ về Tybal lúc ra đến sân giữa - đôi chân nhanh nhẹn, một tay nhanh như tên lửa. Nghĩ về Ty và Missy tỏa sáng suốt thời trung học. Và tự nhủ mình rằng những gì anh đã làm, những gì anh sẽ làm, đều là vì đôi vợ chồng sáng ngời đó.
                        “Tối nay anh hãy nghĩ về chuyện đó đi, Ty. Nghĩ về việc dành một hai năm tới, hoặc hơn nữa, tít tận Little Rock. Hoặc là cơ hội tôi có thể dành cho anh để sử dụng khoảng thời gian đó theo hình thức thử thách, tùy thuộc vào việc tham gia và hoàn tất quá trình cai rượu, kiểm soát cơn giận và tư vấn hôn nhân.”
                        “Anh nói gì tôi chẳng hiểu.” Ty khuỵu xuống giường, hai tay ôm đầu. “Tôi thấy mệt.”
                        “Anh mệt. Anh cứ nghĩ về chuyện đó đi.” Brooks lùi lại, khóa chặt cửa dẫn vào khu buồng giam.
                        “Anh giăng bẫy gã.”
                        “Cậu đang nói gì vậy, Ash?”
                        “Thôi nào, sếp, gã không nghe được chúng ta ở ngoài này đâu. Sếp giăng bẫy cho gã tấn công.”
                        “Ash, tôi sẽ nói chuyện này một lần thôi. Sớm hay muộn, sẽ không chỉ là chuyện Missy bị rách môi hay tím mắt đâu. Còn hàng xóm, họ đã mệt mỏi với việc phải gọi chúng ta tới rồi. Có lẽ một người trong số họ sẽ nghĩ đến chuyện tự mình chấm dứt chuyện đó. Hoặc Missy thấy mệt mỏi vì bị tẩn vào mặt đấy, một khẩu súng mà họ có trong ngôi nhà đó đấy. Hoặc chính anh ta mệt mỏi với việc rượt vợ chạy ra ngoài và nện cô ta nặng tay đến mức cô ta không còn chạy nổi nữa.”
                        “Gã chưa bao giờ phá phách như tối nay.”
                        “Không. Anh ta được đằng chân lân đằng đầu. Tôi không muốn bị gọi đến đó để giải quyết một hoặc cả hai cái xác của họ.”
                        “Sếp có làm được như sếp nói không? Buộc gã đi cai nghiện ấy?”
                        “Đúng, tôi sẽ bảo đảm việc đó. Chính thức ư? Những gì cậu nghe tôi nói với anh ta tối nay vẫn đúng như những gì cậu nghe tôi nói lúc trước. Anh ta đã đánh Missy, cô ta ở đâu, vấn đề là gì, và vân vân. Cậu hiểu chứ?”
                        “Tôi hiểu mà.”
                        “Vậy thì được rồi, tôi sẽ viết giấy cử Boyd đến đó để lấy lời khai của nhân chứng, và kiểm tra để biết chắc Missy đã quay về nhà.”
                        “Cô ta sẽ về vào ngày mai, lúc này cũng vậy.”
                        Phải, cô ta sẽ như vậy, Brooks nghĩ. Nhưng lần này cô ta phải đưa ra lựa chọn khác. “Và tôi sẽ giải quyết cô ta. Cậu có thể về nhà được rồi.”
                        “Không, thưa sếp. Tôi sẽ ở đây tối nay.”
                        “Cậu đã làm lần trước rồi mà.”
                        “Tôi sẽ ở lại. Sếp nên chườm đá cái cằm đi. Sếp bị một cú nặng đấy. Đến sáng, có lẽ nhờ sếp mua giúp mấy cái bánh ngọt.”
                        “Được thôi. Cà phê nữa nhé.”
                        “Họ có món đó với chocolate và phủ kem đánh bông bên trên.”
                        “Tôi biết rồi. Cái vai thế nào?”
                        “Không đến nỗi nào. Có lẽ bầm tím một chút, nhưng vậy thì càng có sức ảnh hưởng đến vụ này. Gã Tybal rất oách khi không rượu chè. Có lẽ, nếu những gì sếp nói có tác dụng thì gã sẽ ổn.”
                         
                        Mất nhiều thời gian hơn anh tưởng, nhưng đèn nhà Abigail vẫn sáng lúc anh quay trở lại chỗ cô. Bốn viên Motrin anh uống làm cho cảm giác giật giật ở hàm chỉ còn là một chút đau khó chịu. Chỗ đó sẽ ổn thôi, nhưng bớt đau chỗ này thì lại lòi ra mấy chỗ khác mà Ty đã đấm hoặc đá trúng.
                        Lẽ ra nên đi về nhà, anh tự nhủ lúc bước ra khỏi xe. Anh nên về nhà, tắm nước nóng khoảng một tiếng, nhấp chút whiskey rồi đi ngủ.
                        Vụ việc với Ty đã khiến anh mất hết tâm trạng.
                        Lẽ ra anh nên hẹn cô lần sau, từ lúc anh lái xe khỏi đây.
                        Cô mở cửa trước khi anh kịp gõ, đứng đó chờ sẵn rồi ngắm kỹ mặt anh.
                        “Có chuyện gì vậy?”
                        “Chuyện dài lắm.”
                        “Anh cần túi chườm đá,” cô nói khi bước và trong.
                        Lần đầu tiên, anh nghĩ, cô để anh vào mà không cần anh hỏi hoặc tìm cách rào trước đón sau. Anh đi vào.
                        “Cũng mất một lúc lâu. Xin lỗi em.”
                        “Tôi cũng vừa xong một vài việc.” Cô và chú chó đi trở vào bếp. Cô mở tủ lạnh, lấy ra một túi chườm lạnh và chìa cho anh.
                        “Người ta thường dùng đậu đông lạnh.”
                        “Thứ này hiệu quả hơn, và đỡ lãng phí hơn.”
                        Anh ngồi xuống, áp túi chườm vào hàm. “Em có thường hay bị đấm vào mặt không?”
                        “Không. Còn anh?”
                        “Cũng lâu rồi. Tôi quên mất nó đau chết cha đi được. Chắc em không có sẵn whiskey phải không?”
                        Chẳng nói gì, cô bước tới một cái tủ ly. Cô lấy ra một chai Jameson - và ngay lúc đó anh chỉ muốn quỳ xuống hôn chân cô - và rót cho anh hai phân rượu đựng trong một chiếc cốc đế dày rộng miệng.
                        “Cảm ơn em.” Ngụm đầu tiên nhấp từ từ làm dịu hẳn tâm trạng khó chịu của anh. “Có thứ gì em không có sẵn không?”
                        “Những thứ tôi thấy chưa cần dùng đến.”
                        “Ra vậy.”
                        “Anh có muốn kể đầu đuôi mọi chuyện không?”
                        “Cưng ơi, tôi là dân Ozark. Biệt tài chém gió thành bão luôn đấy.”
                        “Biết rồi.” Cô lấy chiếc ly thứ hai, rót thêm whiskey, rồi ngồi xuống.
                        “Trời đất, em đúng là một phụ nữ biết thư thái.”
                        “Không hẳn vậy đâu.”
                        “Ngay lúc này đấy thôi, phải thế chứ.” Anh ngồi xuống, mặc kệ những cơn đau, và nhấp một ngụm whiskey thật từ từ. “Nhân vật chính là Tybal và Missy. Hồi bọn tôi còn học trung học, họ là một cặp đôi hoàn hảo. Em hiểu ý tôi không?”
                        “Họ rất nổi tiếng trong trường.”
                        “Ông hoàng bà chúa đấy. Gã là vận động viên hàng siêu sao. Tiền vệ bóng bầu dục với đôi tay thần diệu. Côn thủ trung tâm với cú đánh thần sầu. Còn cô ta là đội trưởng đội cổ động, tuyệt vời như một ly kem dâu vậy. Gã đến bang Arkansas nhờ học bổng vận động viên, và cô ta đi theo. Theo những gì tôi được nghe, ở đó họ cũng tỏa sáng tưng bừng. Cho đến năm đại học thứ ba, khi đầu gối gã bị chấn thương trong một trận đấu. Mọi lời tán dương rằng gã sẽ đi theo con đường chuyên nghiệp đều tan vỡ. Kết thúc bằng việc trở lại nhà. Họ chia tay, hàn gắn, chia tay, cứ như thế. Rồi họ kết hôn.”
                        Anh lại nhấp thêm whiskey. Nhờ mấy viên Motrin và vẻ thư thái của người phụ nữ, anh cảm thấy đỡ hẳn.
                        “Gã huấn luyện đội bóng trung học một thời gian, nhưng không đâu vào đâu. Gã không biết cách dẫn dắt, tôi đoán vậy. Rồi gã chuyển sang làm thợ xây dựng. Còn Missy, cô ta thử làm người mẫu, nhưng không ăn thua. Cô ta làm việc cho Flower Pot. Họ chẳng hề chuẩn bị cho lúc sa cơ lỡ vận, cho nên mới giải quyết chẳng đâu vào đâu. Ty bắt đầu trượt dài với Rebel Yell.”
                        “Anh ta reo hò ư?”
                        “Không, cưng ơi, đó là một loại whiskey không được ngon như loại em rót cho tôi. Người tiền nhiệm của tôi đã cảnh báo trước về gã ta. Các vụ uống rượu lái xe, đánh nhau ở quán rượu, rồi cái gì bạo lực nữa ấy nhỉ?”
                        “Bạo hành trong gia đình. Anh ta trở nên bạo lực và lạm dụng khi uống rượu.”
                        “Đúng thế. Khoảng năm ngoái, tình hình càng tệ hơn.”
                        “Sao anh ta không bị bắt?”
                        “Đã bị rồi, kết cục là bị cảnh cáo hoặc lao động công ích. Missy không thừa nhận cáo buộc khi anh ta thượng cẳng chân hạ cẳng tay với cô ta, và phủ nhận mọi chuyện xảy ra. Cô ta ngã, cô ta trượt chân, cô ta va vào cánh cửa.”
                        “Cô ta dung túng anh ta.”
                        “Chính thế. Và sự thật là mọi người nhắm mắt làm ngơ với chuyện này. Cái hào quang mà họ từng có chiếu sáng rất lâu trong một thị trấn nhỏ như thế này. Nhưng vì đã có thời gian đi xa nên có lẽ tôi nhìn nhận nó, cũng như họ, khác đi. Sau những cố gắng lặp đi lặp lại nhằm đưa họ đi điều trị, cai nghiện, tư vấn đều thất bại, tôi liền chơi cách khác.”
                        “Cách đó khiến anh bị thương.”
                        “Đúng thế. Khi cộng sự gọi đến cho biết bọn họ lại giở trò - có nghĩa là Ty lại say khướt về nhà, nện cô ta, cô ta bỏ chạy - tôi dụ cho Ty lướt khướt chui ra, trước sự chứng kiến của mười bốn người đứng bên ngoài. Gã bật nhạc đến ong đầu để át bớt những tiếng đổ vỡ đồ đạc trong nhà. Thế mà lại hay, vì chẳng ai ngoài Ty và cộng sự của tôi nghe được lời tôi khích cái gã khốn kiếp say xỉn này gây chuyện, bằng cách đề cập đến kích thước cậu nhỏ và khả năng tình dục của gã. Nếu cách đó không ăn thua, tôi đã chuẩn bị khơi gợi rằng cô vợ khờ dại và khốn khổ của gã có thể thấy kích cỡ và khả năng cậu nhỏ của tôi hợp gu với cô ta hơn.” Thở dài thườn thượt, anh lắc đầu. “Tôi mừng vì không phải đến mức đó. Gã đấm vào mặt tôi trước các nhân chứng, và giờ đang ngẫm nghĩ về thời gian lao động công ích vì một hai tội khá nặng.”
                        “Một chiêu rất hay. Đàn ông vốn nhạy cảm với cơ quan sinh dục của mình.”
                        Anh hơi sặc whiskey, sau đó lấy tay xoa xoa lên mặt cười. “Bản chất đàn ông.” Rồi anh nghiêm túc trở lại, nhấp một ngụm nhỏ. “Trời cũng không đổi được.”
                        “Phương pháp của anh không theo lệ thường, nhưng kết quả rất ổn. Nhưng anh cảm thấy hối tiếc và hơi buồn. Sao vậy?”
                        “Gã từng là một người bạn. Không thân nhất, không gần nhất, nhưng là một người bạn. Tôi quý họ và thích sự tỏa sáng của họ. Tôi thấy tiếc khi nhìn họ sa sút thế này. Tôi thấy tiếc vì là một phần khiến họ sa sút.”
                        “Anh sai rồi. Mọi việc sẽ tùy thuộc vào cách họ giải quyết và tìm kiếm sự giúp đỡ cho những vấn đề của họ, nhưng chừng nào cả hai người vẫn không thể làm điều đó thì họ sẽ chẳng bao giờ giải quyết được những vấn đề ấy. Những gì anh làm khiến anh ta chỉ có hai lựa chọn. Vào tù hoặc nhận sự giúp đỡ. Nhiều khả năng là khi tỉnh táo và đối mặt với những lựa chọn cùng kết quả ấy anh ta sẽ chọn cách nhận sự giúp đỡ. Và có vẻ cô ta cũng rất lệ thuộc nên cô ta cũng sẽ chọn như vậy. Tôi nghĩ những hành động của anh rất phù hợp với nhiệm vụ và tinh thần của công việc. Cũng như trong khuôn khổ tình bạn.”
                        Anh đặt ly whiskey chưa uống hết sang một bên. “Tôi đã nghĩ mình nên về nhà với tâm trạng cùng cơn đau và sự bực bội. May mà tôi chưa làm vậy.” Anh tiến tới nắm lấy tay cô. “Để anh đưa em lên giường, Abigail.”
                        Ánh mắt cô nhìn anh. “Vâng.”
                        Vâng. Anh ngạc nhiên khi thấy mọi việc diễn ra thật ngọt ngào, thật suôn sẻ. Cô đã biến nó thành đơn giản.
                        Vâng.
                        Anh đứng lên, kéo cô đứng dậy. “Có lẽ em nên chỉ đường cho anh.”
                        “Ý anh là tới phòng ngủ?”
                        “Đúng vậy. Anh chỉ biết những gì chúng ta sẽ làm ở đó thôi.”
                        Nét cười lóng lánh trong mắt cô, quanh miệng cô. “Em sẽ rất thất vọng nếu không đúng như vậy.”
                        Anh vẫn nắm tay cô khi họ quay vào phòng khách, lên gác. “Nghĩ đến những gì chúng ta sắp làm nhé, và anh hy vọng em không chất vấn về kích thước và khả năng của anh, nhưng còn con Bert thì sao?”
                        “Nó được rèn rất kỹ, nên về lý thuyết nó sẽ không xen vào.”
                        Brooks ngó lại con chó. “Về lý thuyết thôi ấy à? Và nói đến chuyện xen vào, ý em là nó sẽ xé họng anh ra phải không?”
                        “Nó sẽ không làm thế đâu.”
                        Đến cửa phòng ngủ, Brooks xoay người cô lại, nheo nheo mắt quan sát cô. “Anh đang cố hình dung xem liệu em có buồn cười không.”
                        “Hài hước có thể khỏa lấp bớt tình trạng lúng túng nếu có. Em không nói rõ được. Nhưng nếu Bert nghĩ anh làm hại em, hoặc có ý đó, phản ứng đầu tiên của nó sẽ là bảo vệ em - ngăn chặn anh. Nó đã thấy anh chạm vào em, và em đã hướng dẫn nó rằng anh là bạn, và nó cứ bình tĩnh. Nó thấy em đưa anh lên đây mà không hề bị cưỡng ép, thấy em chạm vào anh.”
                        Cô đặt một tay lên ngực Brooks rồi nhìn chú chó, ra lệnh cho nó.
                        “Tiếng gì thế?” Brooks hỏi khi chú chó đi về phía chiếc giường ngủ rộng rãi của nó, quay vòng vòng ba lần và nằm xuống với một tiếng thở phì.
                        “Tiếng Farsi.”
                        “Thật không? Em và Bert nói tiếng Farsi à?”
                        “Không thạo lắm, nhưng em vẫn đang nghiên cứu. Em bảo nó đi ngủ. Em không muốn để nó ra khỏi phòng ngủ. Nó sẽ không hiểu.”
                        “Được rồi. Kia là một con gấu bông trên giường nó đấy à?”
                        “Chó là loài động vật thích bầy đàn.”
                        “Em, và một con gấu bông là đàn của Bert sao?”
                        “Giúp nó thấy thoải mái. Em cần gập giường xuống đã.”
                        “Anh sẽ giúp em một tay.”
                        “Không. Em có cách của...”
                        “Riêng em. Được thôi.” Anh bước vẩn vơ, xem xét khu máy tính được bài trí giống hệt dưới tầng một.
                        “Anh thắc mắc phải không.” Cô gập chiếc chăn lông vịt giản dị lên chiếc ghế dài dưới chân giường. “Em đang làm việc. Em rất tin vào vấn đề an ninh, và cảm thấy có nghĩa vụ phải sử dụng và kiểm tra các sản phẩm và hệ thống.”
                        “Anh nghĩ điều đó đúng thôi. Nhưng thế không phải là tất cả.” Anh quay người, ánh nhìn lộ vẻ cảm kích khi cô lấy một chiếc bao cao su từ ngăn kéo chiếc bàn đầu giường và đặt lên mặt bàn. “Và chúng ta không cần nói về chuyện đó lúc này. Anh để vũ khí lên bàn được không?”
                        “Vâng. Em cởi đồ nhé?”
                        “Không. Anh có cách riêng mà.”
                        Sau khi tháo súng, đặt xuống bàn, anh đến bên cô, một bàn tay vuốt dọc mái tóc, gờ má, vai cô. “Anh thích tự mình phát hiện xem thứ gì nằm bên dưới cơ.”
                        Anh hôn cô, kiểm tra, đùa bỡn, những ngón tay anh vẫn lướt nhanh, trên mặt cô, xuống sườn cô, ngược lên lưng cô. Nhẹ nhàng và thoải mái vì anh có thể cảm nhận được cô đang cố nén.
                        “Đôi tay anh tuyệt quá.”
                        “Anh vẫn chưa sử dụng chúng nhiều ở chỗ em quan tâm nhất đâu.”
                        “Nhưng anh sẽ làm thôi. Em rất muốn thấy,” cô nói khi bắt đầu cởi áo sơ mi của anh. “Anh không mặc đồng phục như cấp dưới của anh.”
                        “Anh đã bỏ thói quen ấy. Cũng chẳng muốn đóng bộ thêm lần nữa.”
                        “Em thích anh như vậy. Anh thể hiện uy quyền theo một cách khác.” Cô mở áo sơ mi của anh, xòe rộng hai bàn tay trên ngực anh. “Thân hình anh rất rắn chắc.”
                        “Cảm ơn em.”
                        Và ngước mắt nhìn vào anh. “Em cũng vậy.”
                        “Anh thấy rồi.”
                        “Em có vóc người khỏe khoắn, và cũng cực kỳ dẻo dai.”
                        “Em là những gì gợi cảm nhất, theo những cách thức lạ lùng nhất.” Anh lột áo cô và quăng đi.
                        “Em...”
                        “Suỵt.” Anh áp môi mình lên môi cô trong khi đẩy cô ngã lên giường.
                        Chú chó không hề gây một tiếng động, nhưng Brooks vẫn cảm nhận được ánh mắt cảnh giác đang xoáy vào lưng anh khi anh từ từ đè lên người Abigail.
                        Da thịt cô rất mềm mại, ấm nóng và mịn màng, những bắp thịt ở cánh tay cô, bả vai cô căng lên. Và mặc dù miệng cô đáp lại miệng anh một cách cuồng nhiệt, nhưng đôi mắt kia thì vẫn cảnh giác chẳng kém gì chú chó của cô.
                        “Nhắm mắt lại em,” anh thì thào, lần xuống cổ và lưng cô.
                        “Em muốn nhìn,” cô nhắc lại.
                        “Hãy nhắm mắt lại một phút thôi, và chỉ cần cảm nhận.”
                        Anh đợi cho tới khi cô làm như vậy, và cũng nhắm mắt lại. Rồi để cho mình chìm xuống, sâu hơn một chút. Cô cảm nhận. Những đầu mút thần kinh, những điểm tiếp xúc, làn da, tất cả nồng nàn ân ái hơn khi mắt cô nhắm lại. Một kiểu cân bằng để kiểm soát.
                        Cô vẫn an toàn, cô tự nhủ mình vậy. Cô vẫn ham muốn. Và cô cần yêu.
                        “Đừng nghĩ gì cả.” Hàm răng anh lướt nhẹ trên cằm cô. “Hãy cảm nhận thôi.”
                        Cô không dám chắc mình biết dừng nghĩ ngợi là thế nào. Nhưng cô giữ im lặng vì có vẻ anh thích điều đó, cố gắng để cho đầu óc cô thư thái.
                        Rất khác, mọi thứ rất khác ở đây, với anh. Cô muốn phân tích tại sao, nhưng cảm giác quá dễ chịu nên chỉ còn biết tận hưởng thôi.
                        Chỉ một lần này thôi, cô tự nhủ.
                        Cô trùng xuống bên dưới cơ thể anh, chỉ một chút. Chỉ vừa đủ. Anh đưa môi lướt dọc bầu ngực căng tròn của cô ngay phía trên quai áo lót, đưa lưỡi luồn bên dưới lớp vải bông, nghe tiếng thở của cô nín lặng. Anh cứ nấn ná ở đó, kích thích cô hưng phấn trong lúc đôi tay anh thoải mái khám phá.
                        Cô vẫn để một ô cửa sổ mở hé cho gió đêm lùa qua, mang theo hương rừng, và cả bản nhạc bất tận của khe suối.
                        Ánh trăng tỏa sáng lung linh mờ ảo.
                        Anh mở khuy quần dài của cô, kéo xuống vài phần và mân mê một vết sẹo nhỏ xíu nằm khá cao trên hông cô.
                        Anh dành thời gian, muốn có đủ thời gian, để khám phá cô, từng góc cạnh, đường cong và chỗ trũng, mùi hương thanh thanh bình dị của da thịt cô, cái cách những thớ thịt ở bụng cô rung rung khi môi anh lướt qua đó.
                        Phản ứng của cô thật đơn giản, tương tác, tiếp xúc, cong chân và hông khi anh tiếp tục cởi đồ cho cô.
                        Và rồi.
                        Cô bùng nổ dưới cơ thể anh, bật dậy, vung mạnh đôi chân dài rắn chắc, vặn thân hình săn chắc, và cô đã đè lên anh. Miệng cô ghì chặt miệng anh, xé tan sự lừng khừng của anh thành những mảnh vụn và thiêu rụi những mảnh vụn ấy ra tro. Hơi thở của cô dồn dập khi cô đưa hàm răng miết trên vai anh, trượt xuống dưới, mềm mại và nguy hiểm như một con rắn, ghim chặt ở ngực anh trong khi hai bàn tay cô giằng mạnh thắt lưng anh.
                        Anh gồng lên để kéo miệng cô gần lại miệng mình, để nhận lấy hơi nóng tỏa ra từ người cô. Thật gấp gáp, gấp gáp và thèm khát.
                        Cô cong người ra sau, mềm như một sợi dây cung, và áp mặt anh vào ngực cô.
                        “Em muốn.”
                        Anh nghe thấy cô rên lên khi cưỡi lên anh và lắc lư người cho tới khi anh ấn sâu những ngón tay mình vào hông cô để không nổ tung.
                        “Em muốn.”
                        Cô đang trong cơn vận động cuồng loạn. Chìm trong cơn bão của cô, anh để cho mình bị cuốn đi, bị quăng quật, khi họ cùng công phá nhau.
                        Quá nhiều, nhưng chưa đủ, cô điên cuồng nghĩ thầm khi tất cả những nhu cầu kia cào cấu cắn xé. Cô phải lấy được, phải có được trước khi khoái cảm tuyệt vời này khiến cô vỡ tan thành từng mảnh. Cơ thể anh, thật mạnh mẽ, thật rắn rỏi, kích thích rất nhiều ham muốn, miệng và đôi tay anh đem lại thật nhiều cảm giác. Anh có thể đem cô tới khoảnh khắc giải thoát ấy.
                        Cuồng loạn, cô vồ lấy chiếc bao cao su và xé toang ra.
                        “Để em nào,” cô thì thào, bủn rủn đến mức hai tay cô không sao vững vàng được khi cô lồng bao cao su cho anh.
                        Cô đè lên anh. Trong ánh đèn phòng ngủ dìu dịu, anh có thể thấy xúc cảm mãnh liệt trong mắt cô, làn da ửng hồng của cô. Rồi cô đưa anh vào. Trong khoảnh khắc nín thở ấy, mọi thứ như ngưng đọng. Khung cảnh, âm thanh, cử động. Đôi mắt dữ dội ấy ghim chặt lấy anh khi cơ thể họ hợp vào nhau.
                        Mắt bão, anh nghĩ, rồi cô cuốn phăng anh đi.
                        Cô đẩy anh đi như thể cuộc sống của cô thật bấp bênh, với tốc độ khẩn trương, tập trung. Anh cuốn theo cô, theo nhịp cuồng loạn, trong khi tim anh đập điên cuồng.
                        Đến khi cô bật ra một tiếng nửa như nức nở, nửa như gào thét, đôi mắt quyến rũ kia mới nhắm lại, thân hình mỹ lệ kia uốn cong, trong khi hai tay cô giơ lên ôm lấy đầu mình trong trạng thái khoái cảm tột đỉnh.
                        Đôi mắt ấy lại bừng mở khi anh kéo mạnh cô xuống, lật cô xuống dưới anh.
                        Miệng cô há ra, mềm và căng mọng khi anh đón được, khi anh nuốt lấy tiếng kêu ngạc nhiên, mau mắn của cô lúc anh đưa mạnh vào người cô.
                        Giờ anh ở trên, dẫn dắt cô, liên tục thấy hài lòng lúc cô run rẩy, khi cô bấu chặt lấy anh. Anh cảm nhận được sự cực khoái lan khắp người cô, cảm nhận được móng tay cô bấu vào lưng anh. Và để mặc cho khoảnh khắc cao trào nhất xé tan anh thành từng mảnh.
                        Anh phải mất một lúc - hay hai - mới nhận ra mình đổ gục lên người cô, hơi thở của anh phì phò như một vận động viên marathon sau cú nước rút qua vạch đích.
                        Anh lăn nghiêng, nằm ngửa ườn ra, hy vọng rằng nếu anh có bị một cơn đau tim thì cô cũng sẽ thực hiện sơ cứu.
                        Anh cố thốt ra một tiếng “Wow”.
                        Ngó quanh, anh thấy Bert vẫn yên vị trong ổ của nó nhưng đã đứng lên và nhìn chăm chú. “Anh không biết chó của em tò mò hay đang ghen, nhưng có khi em cần để nó biết em vẫn ổn đấy.”
                        Cô ra lệnh Bert bình tĩnh. Trong khi chú chó nằm xuống, mắt nó vẫn dán vào giường.
                        “Em ổn chứ?” Brooks hỏi khi cô không nói gì nữa.
                        “Vâng. Đã vài tháng rồi em mới lại quan hệ. Em nhận ra em đã hối thúc anh.”
                        “Theo anh thấy thì chúng ta căn giờ vừa khớp. Trời đất, em như một người khác vậy, Abigail. Mọi thứ gần như hoàn hảo.”
                        “Em rất thích của anh. Rất cân đối, cơ bắp đâu ra đấy.”
                        Câu đó khiến anh thấy rất vui, cho nên anh trở mình để dành cho cô một nụ hôn. Nụ cười của anh tắt dần khi anh nhìn vào đôi mắt ấy. Một người đàn ông lớn lên cùng mẹ và hai chị gái biết rất rõ nước mắt của phụ nữ khi còn chưa trào ra.
                        “Có chuyện gì vậy em?”
                        “Không sao. Làm tình tuyệt lắm. Cảm ơn anh.”
                        “Lạy Chúa tôi, Abigail.”
                        “Em khát nước,” cô nói nhanh. “Anh có muốn một ít nước không?”
                        Anh đặt một tay lên cánh tay cô lúc cô bắt đầu lăn ra khỏi giường. “Abigail.”
                        “Em cần ở một mình, và một chút nước.”
                        Cô bước ra ngoài mà không hề mặc quần áo. Điều đó khiến anh ngạc nhiên, vì anh cứ đinh ninh cô là mẫu người e lệ trong chuyện đó. Vậy là, người phụ nữ này tiếp tục là một câu đố bí ẩn.
                        “Chú mày biết rõ những điều bí mật,” anh nói với Bert. “Thật chán là chú mày lại không nói được.”
                        Mặc dù có trữ sẵn nước trên tầng hai nhưng cô vẫn đi xuống bếp. Cô thực sự cần được ở một mình.
                        Cô hiểu rõ rằng tình dục và kết quả ngay sau đó chính là một khoảng thời gian rất dễ tổn thương, cho cả thể xác lẫn lý trí. Cô hãnh diện với bản thân vì có thể nhập cuộc trọn vẹn, cũng như bình tâm lại rất nhanh. Thực ra là ngay lập tức.
                        Tại sao cô lại run rẩy và... cô không dám chắc về những gì mình đang trải nghiệm. Có thể vì cô biết anh ở mức độ cá nhân hơn hẳn những bạn tình khác.
                        Cô chỉ biết chắc là trải nghiệm lần này không như bất kỳ trải nghiệm nào khác trước đó.
                        Tại sao nó lại khiến cô muốn khóc? Nếu chỉ ở một mình, cô sẽ cuộn mình trên giường và khóc cho cái cảm giác không giải thích nổi này tan biến đi.
                        Cô đang mất dần đi lý trí, hay sự khôn ngoan. Cuộc mây mưa thì rất, rất ổn. Anh ta cũng thích nó nữa. Cô bắt đầu có cảm tình với anh, và có lẽ đó và một phần của mối bất an. Nhưng cô đã quá chán ngán cái cảnh bất an rồi.
                        “Chuyện thường ngày ở huyện thôi mà,” cô lầm bầm, và lấy hai chai nước lạnh từ trong tủ.
                        Cô cứ day dứt về điều đó trong lúc trở lại trên gác, nơi Brooks đã ngồi dậy trên giường, đang nhìn cô.
                        “Em không biết phải ứng xử sao.” Cô thốt lên và đưa cho anh một chai nước.
                        “Em muốn mọi chuyện ở mức độ nào?”
                        “Bình thường thôi.”
                        “Bình thường.” Anh gật đầu, vặn nắp chai, uống vài ngụm lớn. “Được rồi, anh có thể giúp em chuyện đó. Trở lại giường đi.”
                        “Em rất muốn ân ái với anh nữa, nhưng...”
                        “Em có muốn anh cho em thấy thế nào là bình thường không?”
                        “Vâng.”
                        “Vậy thì lên giường đi.”
                        “Được rồi anh.”
                        Cô nằm xuống cạnh anh, cố gắng không cứng người khi anh kéo cô lại phía anh. Nhưng thay vì khơi mào cuộc ân ái mới, anh kéo cô lại để đầu cô tựa lên vai anh và cơ thể cô ngả về phía anh.
                        “Thế này rất bình thường, theo tiêu chuẩn của anh. Hoặc sẽ như vậy nếu em thư giãn.”
                        “Tuyệt lắm.” Cô đã đọc nhiều sách, cô đã xem phim. Cô biết kiểu tư thế này. Nhưng cô chưa bao giờ thử làm trước kia cả. Chưa bao giờ muốn thử. “Rất thoải mái, và cơ thể anh rất ấm.”
                        “Với sức nóng mà chúng ta giải phóng ra thì chắc chết được một tuần rồi xác anh mới lạnh đi.”
                        “Đó là một câu đùa, và cũng là lời tán tụng.” Cô hơi ngóc đầu lên để nhìn anh, mỉm cười. “Cho nên, ha ha, cảm ơn anh.”
                        “Thế chứ, em vui vẻ lại rồi.” Cầm lấy tay cô, anh đặt lên vùng tim mình. “Và khi anh yếu đến không cười nổi, em đã lộn trái anh ra rồi đấy, Abigail.” Lại một lời tán tụng nữa anh nói thêm, khi không thấy cô trả lời.
                        “Em cần nghĩ một lời khen cho anh.”
                        “Được thôi, nếu em phải nghĩ đến chuyện đó.”
                        “Em không có ý...” Cô lại ngước lên, chăm chú, rồi nhận thấy có tia lấp lánh trong mắt anh. “Anh đang trêu em.”
                        “Nào, đây là lúc, theo thước đo thông thường của anh, chúng ta tâm sự với nhau rằng chúng ta ấn tượng thế nào. Đặc biệt là em nói cho anh biết.”
                        “Bởi vì cái tôi của một người đàn ông thường gắn liền với khả năng tình dục của anh ta.”
                        “Đó cũng là một cách nhìn nhận. Những chuyện kiểu như em thấy Chúa hay trái đất quay chẳng qua cũng đều là cách nói bóng gió mà thôi.”
                        “Trái đất luôn chuyển động không ngừng, cho nên đó không phải là một lời tán tụng hay. Câu hay hơn phải là trái đất đã ngừng quay, cho dù điều đó không xảy ra, và là một thảm họa nếu đúng như vậy.”
                        “Anh sẽ vẫn xem đó là một lời tán tụng.”
                        Bàn tay anh vuốt ve dọc lưng cô, đúng như cách thỉnh thoảng cô vuốt ve Bert. Chẳng trách chú chó rất thích như vậy. Nhịp tim của cô đập chậm đều đều, và mọi thứ trong cô đều mở toang.
                        Rất đỗi bình thường, cô nghĩ thầm, và thú vị như cô vẫn luôn hình dung.
                        “Hãy nói với anh một điều,” anh nói. “Chỉ một điều về em thôi. Chẳng cần chuyện gì to tát đâu,” anh nói thêm khi cô tỏ ra căng thẳng. “Chẳng cần phải là bí mật gì đâu. Gì cũng được mà. Có thể là màu sắc em ưa thích cũng được.”
                        “Em chẳng thích màu nào cả, có quá nhiều màu nên em không biết chọn màu nào. Hay ý anh là các màu cơ bản thôi?”
                        “Được rồi, chuyện màu sắc phức tạp quá. Lúc còn nhỏ, em muốn làm gì khi lớn lên? Anh sẽ nói trước. Anh muốn trở thành Wolverine.”
                        “Anh muốn làm một con chồn wolverine ư? Quái lạ.”
                        “Không phải là chồn. Là Wolverine trong nhóm dị nhân X-men ấy.”
                        “Ồ. Em biết đó là ai rồi. Một nhân vật đột biến trong truyện tranh và phim ảnh.”
                        “Đúng gã đấy.”
                        “Nhưng làm sao anh có thể là anh ta được khi mà anh ta đã tồn tại rồi và sự tồn tại của anh ta là hư cấu?”
                        “Anh có mười tuổi thôi mà, Abigail.”
                        “Ồ.”
                        “Thế còn em?”
                        “Em phải học để làm bác sĩ.”
                        “Phải học ư?” Anh đợi một lúc. “Em không muốn làm bác sĩ?”
                        “Không hề.”
                        “Vậy là em không trả lời câu hỏi. Em muốn làm gì cơ mà?”
                        “Em phải học để làm bác sĩ, và cứ nghĩ mình sẽ phải vậy, cho nên khi em lên mười, em không nghĩ đến chuyện làm gì khác. Em chỉ trả lời được thế thôi. Đâu được như anh.”
                        “Đây có phải cuộc thi đâu. Mà em giống nhân vật Storm đấy. Cô ta rất hấp dẫn.”
                        “Nhân vật trong phim do Halle Berry thủ vai đây mà. Cô ấy rất đẹp. Cô ta điều khiển thời tiết. Nhưng Wolverine không hề ân ái với cô ta. Anh ta có tình cảm với Jane, cô bác sĩ, trong khi nhân vật này lại bị giằng xé giữa tình cảm của mình dành cho Cyclops và Wolverine.”
                        “Em biết rõ về mối quan hệ giữa họ quá nhỉ.”
                        “Em xem phim đó rồi.”
                        “Bao nhiêu lần?”
                        “Một lần, vài năm trước. Thật thú vị khi Wolverine không nhớ được quá khứ của mình, và bản năng che chở bất đắc dĩ của anh ta dành cho cô gái Rogue càng khiến cốt truyện hấp dẫn. Anh ta là một nhân vật tốt cho các cậu bé bắt chước. Đội ngũ biên kịch đã tạo ra một bối cảnh rất khó khăn cho nhân vật Rogue, khi năng lực đột biến khiến cô ta không thể an toàn tiếp xúc trực tiếp với người khác được. Cảnh đầu phim với bạn trai cô ta rất buồn.”
                        “Em chỉ xem có một lần mà nhớ rất nhiều chi tiết nhỉ.”
                        “Em có trí nhớ thị giác rất tốt. Thỉnh thoảng em đọc sách hoặc xem phim lần hai hoặc ba, nhưng không phải vì em không nhớ nội dung.”
                        Anh nhổm lên để nhìn cô. “Đấy, em đã nói với anh một chuyện rồi đấy. Vậy là em lưu giữ mọi thứ ở đây.” Anh vỗ vào thái dương cô. “Tại sao đầu em lại không bự hơn nhỉ?”
                        Cô cười vang, rồi dừng lại, ngập ngừng. “Anh nói đùa phải không?”
                        “Phải.” Anh gạt tóc vương trên má cô, chạm môi mình vào đó. “Em đã làm bánh kếp bao giờ chưa?”  
                        “Rồi ạ.”
                        “Tuyệt quá, bởi vì em nhớ được cách làm bánh.”
                        “Anh đói à? Anh muốn ăn bánh à?”
                        “Sáng ra.” Anh vuốt tay lên phía trên cơ thể cô, lùa vào trong, ngón cái lướt nhẹ qua đầu vú cô.
                        “Anh muốn ở lại đây, ngủ ở đây, tối nay à?”
                        “Không thì làm sao anh được ăn món bánh kếp em sắp làm cho anh?”
                        “Em không thích ngủ chung. Em chưa từng nằm qua đêm với người khác.”
                        Hai bàn tay anh ngập ngừng trong một phần mấy giây, sau đó tiếp tục vuốt ve. “Vậy thì em không biết mình có ngáy hay không rồi.”
                        “Em không ngáy?”
                        “Anh phải kiểm tra chứ.”
                        Có quá nhiều lý do cô không thể - không nên - chấp nhận việc đó. Nhưng anh lại hôn cô, chạm vào cô, kích thích cô.
                        Cô sẽ bảo anh đừng. Khi đã xong.
                         
                        Cô tỉnh giấc ngay trước lúc trời sáng, nhưng vẫn nằm im. Cô nghe rõ tiếng anh thở - chậm, đều. Một thứ âm thanh khác, nhẹ hơn cả Bert. Bert có ngáy ngủ. Một chút.
                        Cô thấy buồn ngủ, thực tế là ngủ thiếp đi, sau khi họ ân ái lần thứ hai. Cô đã không bảo anh ra về, dù đã định như vậy. Cô đã không kiểm tra căn nhà và các màn hình lần cuối. Cô đã không để vũ khí của mình lên chiếc tủ cạnh giường.
                        Cô cứ nằm yên trong cái tư thế bình thường, thoải mái ấy, và chìm vào giấc ngủ bằng cách nào đó trong lúc anh trò chuyện với cô.
                        Không chỉ đột ngột, cô nghĩ, mà còn đáng lo nữa. Sao cô có thể hoàn toàn lơ là cảnh giác với anh cơ chứ? Với bất kỳ ai?
                        Giờ cô làm gì đây? Cô có nếp sống đã thành lệ, và nếp sống đó không hề bao gồm một vị khách ở lại qua đêm.
                        Cô phải cho Bert ra ngoài, cho nó ăn, kiểm tra các màn hình, email công việc.
                        Giờ cô làm gì đây?
                        Cô định sẽ làm bánh kếp.
                        Khi cô chuồi ra khỏi giường, tiếng thở của chú chó thay đổi. Cô nhìn thấu mắt nó mở trong ánh sáng tờ mờ, và đuôi nó thực hiện màn chào hỏi buổi sáng như thường lệ.
                        Cô thì thào mệnh lệnh ra ngoài bằng tiếng Đức khi cô mặc lại áo choàng và Bert duỗi mình. Họ cùng nhau khẽ khàng ra khỏi phòng và đi xuống gác.
                        Khi cửa đóng lại, Brooks mở mắt, mỉm cười. Anh đã hình dung cô là người dậy sớm. Bản thân anh, anh sẽ chẳng ngại nằm thêm một tiếng nữa, nhưng nghĩ đến đại cục, anh vẫn có thể nhấc mình ra khỏi giường.
                        Và có lẽ anh có thể thuyết phục cô trở lại giường một khi cô đã cho chú chó ra ngoài làm công việc buổi sáng của nó. Anh đi thẳng tới phòng tắm. Sau khi đi vệ sinh xong anh chợt nghĩ đến cà phê. Anh đưa lưỡi cọ răng một lượt.
                        Anh không muốn tự tiện lục lọi để tìm bàn chải dự trữ, nhưng thấy chẳng hại gì khi dùng nhờ một chút thuốc đánh răng.
                        Anh mở ngăn kéo bàn trang điểm, thấy một tuýp Crest, và khẩu Sig của cô.
                        Ai đời lại cất cả một khẩu bán tự động trong ngăn kéo cùng với chỉ nha khoa và kem đánh răng chứ? Anh kiểm tra thì thấy khẩu súng đã nạp đầy đạn. Đêm qua cô đã tâm sự với anh một chút. Anh phải thuyết phục cô kể thêm nữa.
                        Anh bôi kem Crest lên ngón tay rồi đánh răng, rồi đi vào mặc quần. Lúc xuống gác, anh ngửi thấy mùi cà phê mới, nghe thấy tiếng chương trình tin tức buổi sáng.
                        Cô đứng bên quầy bếp, đang khuấy thứ anh hy vọng là bột làm bánh kếp trong một chiếc bát màu lam thẫm.
                        “Chào em.”
                        “Chào anh. Em pha cà phê rồi đấy.”
                        “Anh ngủ mà vẫn ngửi thấy mùi thơm. Em không ngáy đâu.”
                        “Em đã nói với anh là em...” Cô bị cắt ngang khi môi anh áp và môi cô.
                        “Vừa mới xác minh,” anh nói, trong khi chọn lấy một cái cốc mà cô đã bày sẵn. “Anh dùng một ít thuốc đánh răng.” Anh rót cà phê cho mình, và cho cô, nhìn ánh mắt cô chăm chú hướng vào mình. “Em có muốn nói cho anh biết tại sao em lại có một khẩu Sig trong tủ không?”
                        “Không. Em có giấy phép.”
                        “Anh biết, anh đã kiểm tra rồi. Em có tới mấy cái giấy phép cơ. Có đường không nhỉ? Ồ, phải, ngay đây.” Anh thục chiếc thìa cô đặt bên cạnh cốc vào tô đường, múc hai thìa đầy. “Anh có thể còn kiểm tra, cái này, cái kia và cái khác nữa. Anh rất giỏi mò mẫm. Nhưng anh sẽ không làm vậy. Anh sẽ không kiểm tra thêm nữa trừ phi anh báo em trước.”
                        “Anh sẽ không kiểm tra chừng nào em còn ngủ với anh thì có.”
                        Đôi mắt xanh lục của anh ánh lên sắc vàng khi anh hạ cốc xuống. “Đừng xúc phạm cả hai chúng ta. Anh sẽ không kiểm tra bởi vì anh sẽ không chơi sau lưng em, bởi vì chúng ta đã là gì đó của nhau tính đến thời điểm này. Anh muốn lại được ân ái với em, nhưng đó không phải là điều kiện. Anh muốn tiếp tục gặp em bởi vì chúng ta thích nhau, cả trên giường và ở ngoài. Thế có chính xác không?”
                        “Đúng.”
                        “Anh không thích nói dối. Không phải là anh chưa từng và sẽ không nói dối. Nhưng ngoài công việc ra, anh không nói dối. Anh sẽ không nói dối em, Abigail, chuyện bí mật kiểm tra em thì có khác gì dối trá chứ.”
                        “Tại sao em phải tin anh?”
                        “Tùy em thôi. Thì anh cứ nói trước như vậy. Cà phê ngon tuyệt, không phải vì anh được uống ké đâu. Bánh kếp à?”
                        “Vâng.”
                        “Giờ trông em thậm chí còn xinh đẹp hơn mười giây trước. Liệu anh có lại tìm thấy một khẩu súng nữa khi anh lấy đĩa và đồ bày lên bàn không thế?”
                        “Có đấy.”
                        “Em là người phụ nữ thú vị nhất mà anh quen.” Anh mở tủ bát nơi anh từng thấy cô lấy đĩa để ăn pizza.
                        “Em nghĩ anh sẽ ngừng lại.”
                        “Ngừng chuyện gì?”
                        “Một khi chúng ta đã ngủ với nhau, em nghĩ anh sẽ không còn muốn đến đây, không còn thắc mắc.”
                        Anh mở ngăn kéo lấy dao dĩa, và thấy một khẩu Glock. “Có thể em quên rồi, nhưng trái đất đã ngừng quay.” Anh bày dao dĩa ra trong khi cô múc bột đổ lên vỉ nướng. “Đâu phải chỉ là tình dục, Abigail. Sẽ dễ dàng hơn nếu chỉ có thế. Nhưng còn... điều gì đó. Anh không biết nó là cái quái gì, nhưng còn điều gì đó. Cho nên, chúng ta cứ mặc thôi, để xem chuyện gì xảy ra.”
                        “Em chẳng biết phải làm sao nữa. Em đã bảo anh rồi.”
                        Anh lại nhấc cốc cà phê của mình lên, bước tới hôn lên má cô. “Anh thì thấy em đang làm rất tốt. Nước đường đâu nhỉ?”
                        #12
                          Thanh Vân 29.11.2023 19:20:04 (permalink)

                          13


                          Thức giấc với Brooks ở bên, chuẩn bị bữa sáng, và xử lý chút bất thường trong lề thói hằng ngày của mình đã khiến cho Abigail lệch tiến độ. Anh dành hết thời gian của mình cho bữa sáng. Có vẻ anh luôn có chuyện gì đó để nói, và làm cho suy nghĩ của cô rối tung. Đến lúc anh đi, cô đã trễ kế hoạch trong ngày hơn một tiếng, chưa kể khoảng thời gian cô bị mất từ đêm trước.
                          Đến giờ thay vì đến siêu thị ngay khi mở cửa, cô cần hoàn thành nghiên cứu và hồ sơ của mình về hoạt động rửa tiền từ Chicago tới Atlantic City của nhà Volkov. Nếu cô không chuyển được dữ liệu cho đầu mối FBI của mình trong vòng hai ngày tới thì họ sẽ lỡ mất chuyến hàng lớn trong tháng này.
                          Những thứ này mất thời gian, cô nghĩ, khi ngồi xuống làm việc. Cần thời gian thu thập, giải mã, liên kết với nhau, gửi đi. Thông tin của cô phải mới mẻ và tuyệt đối chính xác.
                          Và có lẽ lần này sẽ có gì đó gắn với Ilya. Có lẽ lần này gã phải trả giá. Hoặc ít nhất, như trước, cô quấy rối gã, phá gã, gây cho gã tốn kém về tiền bạc và con người.
                          Theo hình dung của cô, công việc này sẽ đẩy nhà Volkov đến chỗ bại vong, phơi bày bọn chúng, lột trần bọn chúng. Korotkii, Ilya - tất cả bọn chúng - sẽ dành quãng đời còn lại trong nhà tù. Keegan và Cosgrove bị phát hiện, cách chức và kết án.
                          Và cô để những hình dung ấy bay xa đến cái ngày tất cả bọn chúng sẽ biết chính cô làm cho chúng phải trả giá.
                          Nhưng vẫn chưa đủ. Julie vẫn đã chết ở tuổi mười tám. John và Terry vẫn bị giết khi cố gắng bảo vệ cô an toàn.
                          Tốt hơn cả nên thực tế, và làm mọi điều có thể để tiêu hao dần lợi ích, thói quen và tâm trí của chúng.
                          Cô làm việc đến tận chiều mới cảm thấy hài lòng. Giờ nên dứt ra một hai tiếng, cô quyết định như vậy, và sẽ quay lại kiểm tra dữ liệu lần cuối trước khi gửi đi.
                          Giờ cô sẽ đi siêu thị, mặc dù không đúng lịch trình trong ngày. Sau đó cô sẽ về nhà, dắt Bert ra ngoài tập luyện.
                          Rồi cô sẽ kiểm tra lại dữ liệu, lập trình một loạt thư tự động trả lời cho hệ thống mail của cô. Sau đó, cô sẽ tập luyện đến mướt mồ hôi, vì cô muốn được xả căng thẳng sau khi hoàn thành nhiệm vụ của mình.
                          Với buổi tối rảnh rỗi, cô sẽ bỏ ra vài tiếng nghiên cứu loại virus máy tính cô bắt đầu phát triển trong mười tám tháng qua.
                          Cô đổi vũ khí, đeo khẩu Glock gọn nhẹ hơn, phủ lên trên bằng một chiếc áo chui đầu. Chả mấy nữa nhiệt độ sẽ tăng cao không thể mặc được áo khoác, và cô sẽ phải sử dụng loại bao súng đeo ở cổ chân.
                          Lúc kiểm tra và cài đặt lại hệ thống báo động, cho Bert ra ngoài để canh giữ nhà, cô đã nghĩ đến chuyện kiếm thêm một khẩu súng mới. Buổi tối, cô có thể tiến hành tìm hiểu về vũ khí một chút.  
                          Ý tưởng ấy khiến cô thấy thư thái, và cô thừa nhận mình thấy thoải mái khi lái xe vào thị trấn trong ánh nắng chiều, ngắm nhìn ánh nắng chiếu qua những lá non mỡ màng đang trổ biếc.
                          Cô nhìn lướt thảm cây thảo Bắc Mỹ, sắc vàng thẫm của hoa loa kèn răng chó bắt những đốm nắng dọc bờ suối ngay trước khi dòng nước tuột nhanh khỏi triền đá. Lẫn trong đám lá xanh dìu dịu, những trái mận dại điểm xuyến thêm vào tấm phông nền đầy màu sắc.
                          Mọi thứ dường như rất tươi mới và tràn trề hy vọng. Mùa xuân đã tới, cô nghĩ, đem lại sự khởi đầu mới kia. Đây là mùa xuân trọn vẹn đầu tiên của cô ở nơi mới này, nơi cô rất muốn biến thành nhà của mình.
                          Mười hai năm. Lẽ nào còn chưa đủ? Lẽ nào đây không phải là nơi cho cô ở lại? Để trồng và chăm sóc mảnh vườn của mình, nhìn nó sinh sôi và thu hoạch. Để làm công việc của mình, thanh toán món nợ cũ - và sống tiếp.
                          Làm sao chúng tìm được cô ở đây, trong vùng đồi núi này, trong không gian yên tĩnh này chứ? Làm sao chúng có thể liên hệ người phụ nữ mang tên Abigail Lowely với cô gái trẻ ngốc nghếch, bất cẩn một thời - và từng là một mục tiêu dễ dàng được chứ?
                          Chừng nào cô vẫn sẵn sàng, vẫn cảnh giác, vẫn không gây chú ý - gần như vô hình - thì cô hoàn toàn có thể có một căn nhà và một cuộc đời.
                          An toàn. Chừng nào cô an toàn, cô có thể tiếp tục gây hao tổn cho nhà Volkov và thanh toán món nợ cũ.
                          Cô rất thích thị trấn này, cô nghĩ thầm, lúc rẽ vào phố Shop. Cô yêu những đường phố xinh xắn và những cửa hàng nhộn nhịp, những sắc màu hòa quyện ở đó với những chậu và thùng thủy tiên vàng cùng tulip đủ màu. Khách du lịch càng làm tăng thêm sự náo nhiệt, với những người lạ mặt qua lại. Một số người chắc chắn sẽ quay lại đây, vào dịp lễ hoặc chuyến thăm ngắn ngày khác. Họ đến vì không khí yên tĩnh, cảnh quan, thú leo núi, nghề thủ công và đồ mỹ nghệ.
                          Đâu phải vì các hộp đêm và thú vui thành thị, những hình thức giải trí quyến rũ đám người như Ilya.
                          Cô rất tin rằng cô sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy gã hay bất kỳ ai liên quan đến gã đi lang thang dọc các đường phố tại đây, câu cá trên sông, leo bộ ở vùng đồi.
                          Và chắc chắn nếu có bất kỳ ai từ Cục Cảnh sát Tư pháp Hoa Kỳ, FBI, thậm chí là cảnh sát Chicago, ghé đến nơi này, cô cũng không bị nhận ra. Cô đã lánh đến nơi khác, và già thêm cả chục tuổi, cô cũng nhuộm và để kiểu tóc khác.
                          Nếu tìm kiếm, họ có thể thấy. Nhưng chẳng có lý do gì để tìm kiếm Elizabeth Fitch ở cái thị trấn du lịch xinh xắn vùng Ozark này.
                          Nếu cái ngày đó đến, cô biết cách bỏ trốn, thay đổi và lẩn mình ở một nơi khác.
                          Nhưng không phải hôm nay, cô thầm hứa với bản thân như vậy khi đỗ xe gần siêu thị. Và ngày nào còn bình yên đều là một món quà.
                          Cô ra khỏi xe và khóa cửa lại. Ngay lúc nghe thấy tiếng khóa bập vào ổ, cô trông thấy Brooks băng qua phố về phía cô.
                          Cô lúng túng khi mạch đập rộn lên, có gì đó hơi nhộn nhạo... trong lòng cô. Anh bước tới thật thản nhiên làm sao, cô nghĩ, mà vẫn rút ngắn khoảng cách rất nhanh. Anh đã đứng ngay bên cô trong khi cô chưa kịp quyết định phải làm gì hay nói gì.
                          “Thế này là đúng lúc hay tình cờ đây.” Anh cầm lấy tay cô - anh luôn chạm vào cô - và choán hết cô bằng nụ cười của anh.
                          “Em định vào siêu thị.”
                          “Phải, anh thấy rồi. Đi dạo với anh trước đã. Em đúng là những gì anh cần đấy.”
                          “Cho việc gì chứ?”
                          “Đại khái cứ nói thế thôi. Buổi sáng nặng nề, và anh vẫn chưa rũ bỏ được nó.”
                          “Em cần mua ít đồ.”
                          “Sau đấy em có hẹn hò à?”
                          “Hẹn hò?” Mọi người đang nhìn họ. Cô cảm nhận được những ánh mắt dán vào gáy mình. “Không.”
                          “Tốt rồi. Chúng ta tới công viên. Anh chỉ dành ra nửa tiếng thôi. Em không hay đi mua sắm vào chiều muộn thế này.”
                          “Em thích buổi sáng.” Nhưng cô nhận ra mình phải thay đổi thói quen đó. Không được để những thói quen bị chú ý.
                          “Em có làm được gì hay ho sáng nay không?”
                          Thế nào mà họ đã cùng nhau đi, và anh vẫn cầm tay cô. Cô phải làm gì với chuyện đó đây? “Em xin lỗi, gì cơ?”
                          “Sáng nay, em đã làm được việc gì hay ho chưa?”
                          Cô nghĩ đến chuyện rửa tiền, đám tội phạm Nga, FBI. “Chẳng có gì đặc biệt.”
                          “Giờ đến em hỏi xem anh đã làm được gì rồi.”
                          “Ồ. Vâng. Anh làm gì?”
                          “Anh chủ yếu bị bới móc hoặc lên lớp. Đúng như dự đoán, Missy tìm đến nói bị sẩy chân, và muốn anh thả Ty. Cô ấy không hài lòng với những tội danh gán cho anh ta, hay những hậu quả của chúng. Giờ khi tỉnh táo lại, thực tế Ty còn hiểu chuyện hơn cô ấy.”
                          Khi Brooks giơ tay vẫy ai đó bên kia đường, Abigail cố kìm không nhăn mặt. Thế là có người trông thấy mất rồi.
                          “Sau khi cô ấy hết bới móc anh,” Brooks kể tiếp, “cô ấy lại khóc lóc rền rĩ. Khi anh để họ nói chuyện với nhau, cả hai đã khóc rất nhiều. Sau đó, cô ấy lùng sục và gọi đến một tay luật sư cả đời chỉ là một gã bần tiện. Đấy chính là lúc anh phải nghe rao giảng. Có vẻ gã cảm thấy anh vượt quá thẩm quyền của mình khi đề nghị đi cai nghiện và tư vấn thay cho một phiên tòa và khả năng ngồi tù.”
                          “Thẩm quyền của anh không phải là thương lượng với bên bị cáo.”
                          “Cả hai vị đều nói đúng, cho nên anh thông báo cho gã bần tiện kia rằng thế cũng được. Ty có thể cứ ngồi yên trong đó cho tới khi bọn anh cùng đi gặp quan tòa, tiến hành một phiên bảo lãnh và vân vân. Rồi khả năng anh ta có nguy cơ mất vài năm trong tù như thế nào.”
                          “Khỏe không, cô Harris?” anh gọi với về phía một phụ nữ nhỏ thó đang tưới một chậu hoa bên ngoài hiệu sách Read More Books.
                          “Tôi vẫn ổn, Brooks. Anh thế nào?”
                          “Không có gì phải phàn nàn. Anh nói đến đâu rồi nhỉ?” anh hỏi Abigail.
                          Cô cảm nhận được ánh mắt của người phụ nữ nhỏ thó dán vào cô khi cô tiếp tục đi trên vỉa hè, đang nắm tay Brooks.
                          “Anh nói với gã luật sư bần tiện rằng Ty có nguy cơ mất vài năm trong tù. Em cần...”
                          “Được rồi. Cho nên, đến lúc ấy, Missy và Ty bắt đầu quát tháo nhau. Cá nhân anh không hiểu nổi những người vẫn sống được với nhau trong khi họ mâu thuẫn và khinh bỉ nhau đến mức gọi nhau bằng đủ thứ mỹ từ. Nhưng Ty xung đến mức trút hết lên anh, thề sẽ làm cho trót những gì anh ta làm tối qua và đá đít anh.”
                          “Nghe ra kịch tính và đáng ngại.”
                          “Chuẩn không cần chỉnh. Câu thề thốt của Ty khiến cho gã bần tiện kia khó chịu, vì điều đó làm cho cái tuyên bố thân chủ của gã bị giảm sút năng lực hay bất kỳ thứ chết tiệt gì mà gã đang vin vào tan thành mây khói. Gã càng khó chịu hơn khi Ty thò tay ra ngoài chấn song và tóm ngay được cái cổ bần tiện của gã... Này, Caliope. Những cây hồng đó trông đẹp hết sảy.”
                          Một phụ nữ với chiếc váy dài sặc sỡ, chiếc mũ rơm to tướng và đôi găng tay làm vườn in hoa vẫy vẫy từ sân nhà mình. “Tôi biết anh sẽ nói thế mà.”
                          Anh cười to. “Con gái bà Alma. Cô ấy là một bà đồng.”
                          Abigail định nói là người phụ nữ với những khóm hồng đẹp lại có năng lực tâm linh là điều khó tin, nhưng Brooks đã tiếp tục câu chuyện.
                          “Anh cũng xin khai rằng phản ứng của anh chỉ là từ từ kéo Ty tách khỏi gã bần tiện, cũng do màn thét lác và rao giảng của gã.”
                          Đầu cô có lẽ đang quay mòng mòng, nhưng cô vẫn theo được. “Anh để cho tù nhân của mình quạt luật sư của anh ta, và thấy thế là hài lòng, giống như chính anh được quạt anh ta vậy.” Brooks lắc mạnh cánh tay cô và cười toe toét. “Mặc dù anh không thể hiện rõ như vậy, nhưng sự thật đúng là thế. Liền sau đó, gã bần tiện bỏ cuộc - và những tình cảm mà Ty dành cho gã, thứ được thể hiện căng cả phổi khi gã rút lui, biến thành sự tự mãn mà anh không tin gã bần tiện hấp thụ nổi. Missy cũng chạy ra ngoài theo chân gã bần tiện, la hét và khóc lóc. Và kết quả của tấn bi kịch ấy là anh đang được trò chuyện nửa tiếng với một phụ nữ khả ái.”
                          “Có một số người cho rằng không nên áp những quy tắc, hay luật pháp cho trường hợp riêng của họ, vì họ giàu có hay nghèo khổ ốm đau bệnh tật gì đó. Hoặc bất kỳ lời biện minh nào cũng phù hợp nhất với bản chất và hoàn cảnh cá nhân của họ.”
                          “Anh hoàn toàn đồng ý như vậy.”
                          “Nhưng hệ thống tòa án lại thường tin vào quan điểm đó thông qua việc thỏa hiệp với những kẻ phá bỏ các quy tắc và luật pháp vì lý do cá nhân.”
                          “Anh cũng đồng ý như vậy, nhưng luật pháp, và hệ thống, cũng phải thở chứ.”
                          “Em không hiểu.”
                          “Luật pháp cần chút không gian, chút linh hoạt, để tính đến yếu tố con người, hoàn cảnh.” Nghe thấy tiếng còi xe tin tin, anh ngó ra phố, vẫy tay với một người đàn ông có hàm râu đen xồm xoàm đang lái một chiếc xe tải không mui gỉ sét. “Cái người ăn cắp một ổ bánh mì,” Brooks nói tiếp mà không hề lỡ nhịp, “bởi anh ta đang chết đói và tuyệt vọng thì không nên bị xét xử giống như người ăn cắp với ý định đem bán kiếm lời.”
                          “Có lẽ vậy. Nhưng nếu luật có sự nhất quán hơn thì những người ăn cắp để kiếm lời sẽ ít có cơ hội để tái phạm hơn.”
                          Anh nhìn cô cười theo cái cách khiến cô băn khoăn không biết mình đã nói gì đó hay ho hoặc ngốc nghếch. “Em đã bao giờ nghĩ đến việc làm cảnh sát chưa?”
                          “Không hẳn. Em cần quay lại và...”
                          “Brooks! Dẫn cô gái đó lại đây đi.”
                          Điếng người, Abigail xoay lại, nhìn đăm đăm vào ngôi nhà có những con rồng, tiên cá và thần tiên. Và nhìn thấy mẹ Brooks đang từ giàn giáo leo xuống. Chiếc áo choàng tạp dề và đôi giày của bà đều lấm tấm sơn. Trên đầu bà phủ một chiếc khăn choàng đỏ rực.
                          Chân bà chưa kịp chạm đất thì chú cún con đã bắt đầu ăng ẳng và nhảy cẫng lên khi nghe thấy tiếng chủ, rồi nó nhảy lên cao đến mức bật hẳn lên lưng chừng không trung rồi mới nhào xuống lăn kềnh ra.
                          Người phụ nữ cười vang, bế thốc nó lên trong khi tháo dây xích cho nó.
                          “Nào!” bà lại gọi. “Tới đây và giới thiệu Abigail cho cậu em bé bỏng của con đi.”
                          “Giờ cũng là cậu con trai mẹ anh cưng nhất,” Brooks nói với Abigail. “Cùng chào hỏi chút nhé.”
                          “Em cần quay lại siêu thị ngay.”
                          “Một ngày anh chưa bị thét lác và rao giảng đủ hay sao?” Anh nhìn Abigail vẻ khổ sở. “Thương anh chút được không?”
                          Mình không thể ẩn mình nếu người ta chú ý đến mình, cô nghĩ thầm, và càng tệ hơn nếu cô khiến người ta thấy rõ là cô muốn ẩn mình. Mặc dù cô rất mong Brooks buông tay cô ra - có vẻ quá ư thân mật - nhưng cô vẫn băng qua quãng đường ngắn ngủi tới khoảnh sân của ngôi nhà mà cô nghĩ là khá hấp dẫn.
                          “Bác cứ luôn mong cháu ghé qua chơi,” bà Sunny nói với Abigail.
                          “Thực ra, cháu...”
                          “Con bảo cô ấy cùng đi dạo trước khi cô ấy đi siêu thị.”
                          “Ai lại phí phạm một ngày như thế này ở trong nhà chứ. Gặp Plato đi này.”
                          “Nó rất bảnh.”
                          “Và nghịch như quỷ. Bác rất thích con quỷ này,” bà Sunny nói, gí mũi vào con cún, rồi đến Brooks. “Lại khôn nữa.”
                          “Con hay con chó?”
                          Bà Sunny cười xòa, vỗ nhẹ má Brooks. “Cả hai. Thằng cu này thì ngồi yên khi được lệnh nhưng nó thì không chịu yên bao giờ. Nhìn xem nhé. Plato, nào, ngồi xuống.”
                          Bà Sunny lệnh cho con cún ngồi xuống, đặt một tay lên hông nó trong khi tay kia lục tìm một miếng mồi chó trong túi. “Ngồi xuống nào. Các con thấy chưa, một thiên tài đấy!” Bà để cho chú cún đớp lấy miếng mồi khi nó ngồi xuống cỏ.
                          Rồi chỉ hai giây sau nó lại vùng dậy và nhảy, uốn éo, sau đó cào cào ống chân Abigail.
                          “Bác đang dạy nó vào khuôn phép.”
                          “Nó vẫn chỉ là một con cún.” Không cưỡng được, Abigail thụp xuống, mỉm cười khi Plato tìm cách leo lên đầu gối cô, bật cười khi nó nhảy lên và liếm. “Nó có đôi mắt rạng ngời.” Cô nhẹ nhàng bóp hàm nó khi nó tìm cách gặm và nhai. “Giờ thì không được. Phải rồi, mày rất bảnh và hạnh phúc.”
                          Như thêm phấn khích bởi lời khen, nó nhảy xuống, lăn xoài ra phơi cả mảng bụng.
                          “Nó cũng rất có gu,” bà Sunny nhận xét, khi Abigail gãi gãi bụng Plato. “Cả hai thằng nhóc của bác. Hôm nay trông cháu rất rạng rỡ, Abigail.”
                          “Cháu thích chó.” Nhưng cô nhìn đến ngôi nhà, chuyển đề tài. “Nhà bác rất đặc sắc và bắt mắt. Rất đáng để cho những người qua đường được cùng thưởng thức tác phẩm nghệ thuật này.”
                          “Giúp bác đỡ phải ra đường và tránh được chuyện bao đồng. Thường là vậy.”
                          “Quá tuyệt. Cháu rất thích thấy những gì bác làm và tiếp tục làm kể từ khi cháu chuyển về đây. Cháu thích sự trái khoáy của nó.”
                          Khi bà Sunny cười, Abigail cảm thấy sau gáy nóng ran. “Cháu nói chưa được chuẩn lắm. Ý cháu là...”
                          “Bác hiểu chính xác ý cháu là sao, và cháu hoàn toàn đúng. Bác cũng thích như vậy. Hai đứa vào nhà đi. Sáng nay mẹ có làm một ít trà đào, và mẹ còn một ít bánh gừng với kem chanh mà con thích đấy, Brooks.”
                          “Con có thể xin một cái bánh.” Buông tay xuống, anh lướt nhẹ bàn tay trên tóc Abigail.
                          “Rất cảm ơn bác, nhưng cháu cần đi siêu thị, và còn về nhà lo cho con chó của cháu nữa.” Abigail xốc chú cún khi cô đứng lên, trao cả thân hình đang vặn vẹo của nó cho bà Sunny. “Rất vui lại được gặp bác, và gặp Plato.”
                          Cô rời đi thật nhanh, cố gắng nhận biết cái lằn ranh giữa bận việc và bỏ chạy.
                          Họ đã mê hoặc cô, cám dỗ cô. Chàng trai, bà mẹ, thậm chí cả chú cún con. Cô đã để cho mình bị cuốn đi. Trò chuyện, những lời mời, chiếc bánh, chuyện ân ái.
                          Mọi người đã nhìn thấy cô đi cùng Brooks. Tay trong tay anh. Trò chuyện với mẹ anh. Và người ta sẽ bàn tán về chuyện đó. Về cô.
                          Chỉ vì cô không phải là một phần của một mạng lưới xã hội đâu có nghĩa cô không hề biết nó vận hành ra sao.
                          Cô không thể là một phụ nữ bình thường, ít ai chú ý sống tại Bickford nếu cô trở thành một phần của cộng đồng này thông qua Brooks.
                          Tại sao anh ta không hành xử như một gã đàn ông thông thường. Họ đã làm tình. Anh đã chiếm được cô. Giờ anh ta nên chuyển qua một mục tiêu khác.
                          Khi có ai đó nắm lấy cánh tay cô, cô phản ứng lại không cần suy nghĩ. Bản năng thuần túy khiến cô xoay người, lách sang bên bằng eo lưng và hông, cú thúc nối tiếp đã chớm tung ra.
                          Brooks đập một tay lên nắm đấm của cô chỉ vài phân trước khi nó chạm đích, khiến nó chững lại, rút lui.
                          “Chà.” Anh cũng vừa kịp chặn được cú thúc. “Phản ứng tuyệt vời đấy.”
                          “Em xin lỗi.” Lộ trình tới siêu thị lại thành một cơn ác mộng. “Anh làm em giật mình.”
                          “Ít nhất là vậy. Thật may, phản xạ của anh rất tốt. Nếu không anh đã nhận một vết bầm nữa trên mặt.”
                          “Em xin lỗi mà.” Giờ cô đanh giọng. “Anh xuất hiện từ phía sau và nắm lấy em.”
                          “Hiểu rồi.” Như để dỗ dành, anh đưa một tay vuốt tóc cô. “Cưng à, cuối cùng em sẽ phải nói cho anh biết kẻ nào đã làm em tổn thương thôi.”
                          “Đừng nói với tôi kiểu đó. Mọi việc sẽ không như thế đâu. Anh đã được quan hệ rồi.”
                          “Anh nghĩ chúng ta đã làm vậy. Sao em không gợi ý cho anh về bước tiếp theo?”
                          “Dự kiến là anh sẽ biến đi.” Vẻ khó chịu, cô hất một tay qua mái tóc, nhìn quanh. “Tôi không thể bàn chuyện đó lúc này, ở đây. Tôi không hiểu sao phải bàn chuyện. Giờ không phải lúc để anh quan tâm đâu.”
                          “Với người thông minh như em thì em có thể rắn như đá. Anh đã quan hệ với em vì anh quan tâm. Và vì chúng ta đã ngủ với nhau nên anh lại càng quan tâm hơn.”
                          “Tại sao chứ? Không, đừng trả lời. Anh lúc nào cũng có câu trả lời. Anh làm tôi rối trí. Tôi không muốn cảm thấy như thế này nữa.”
                          “Như thế nào?”
                          “Tôi không biết! Tôi cần đi siêu thị, rồi về nhà, rồi làm cho xong công việc, rồi...”
                          “Em cần hít thở.” Anh liền đặt tay lên vai cô. “Hít thở đi, Abigail.”
                          “Đúng là cần hít thở.” Cô nhắm mắt, cố kiềm chế tâm trạng hoảng hốt. Ôi trời, sao cô lại không ở nhà chứ?
                          “Tốt rồi, chỉ cần hít thở thêm chút nữa. Từ từ thôi, cứ thế. Giờ chúng ta làm thế này nhé.”
                          “Đừng có bảo tôi chúng ta sẽ làm những gì. Không hề có chuyện chúng ta nữa đâu.”
                          “Thực ra là có đấy. Thế để anh gợi ý được không? Tại sao chúng ta không tới văn phòng anh. Em có thể ngồi nghỉ, uống một ít nước.”
                          Cô lắc đầu. “Tôi phải tới siêu thị.”
                          “Được rồi, em tiếp tục đi siêu thị đi. Sau đó, khoảng sáu hoặc sáu giờ ba mươi, anh sẽ đến. Anh sẽ mang vài miếng thịt đến và nướng lên. Chúng ta sẽ ăn tối, rồi xem xem liệu chúng ta có thể phân định việc này không.”
                          “Chúng ta không cần ăn tối hay phân định gì cả. Tôi chỉ cần...”
                          Rất nhẹ nhàng, rất khẽ khàng, anh đặt môi mình lên môi cô. Khi anh ngẩng đầu lên, cô run rẩy thở ra.
                          “Anh vừa hiểu được đó là những gì em không muốn cảm nhận. Nhưng em đã nhận ra, và anh cũng vậy. Cho nên chúng ta nên phân định xem sao.”
                          “Anh không chịu bỏ cuộc?”
                          “Còn phải xem mọi việc phân định thế nào đã. Nếu phải đến bước ấy, anh sẽ ngừng lại. Anh sẽ không làm hại em, Abigail, và anh sẽ cố gắng hết sức để làm em hạnh phúc. Nhưng khi hai người cảm thấy gì đó, họ nên tôn trọng đủ để cho nó một cơ hội.”
                          “Anh không hiểu đâu.”
                          “Phải, cưng à, anh không hiểu. Nhưng anh muốn hiểu. Để anh đưa em tới siêu thị.”
                          “Em không muốn anh đi cùng em trở lại đó. Em muốn được một mình.”
                          “Được rồi. Anh sẽ gặp em tối nay.”
                          Lại thêm một cuộc trò chuyện nữa, cô tự nhủ, lúc cô vội vã bỏ đi. Thêm một cuộc hẹn nữa ở nơi cô luôn bình tĩnh và lý trí. Cô cứ đơn giản giải thích rằng cô không quan tâm hoặc có ý định tiến tới một mối quan hệ. Công việc của cô quá bận rộn, không thể xao lãng vì những bữa tối và những vị khách ngủ lại qua đêm.
                          Cô sẽ kiên quyết, và anh ta sẽ hiểu.
                          Họ cần chấm dứt tình hình này cho dù nó là gì, thứ lẽ ra không nên biến thành thân mật.
                          Và mọi thứ sẽ bình lặng trở lại.
                          Chừng nào cô về đến nhà, cô sẽ làm đúng những gì cô nói và như cách cô đã nói.
                          Cô đã sẵn sàng.
                           
                          Cô đã bỏ mất thói quen, nên phải nhắc mình rằng ưu tiên của cô, lúc nào cũng vậy, là công việc. Có lẽ việc phân mảng ra có rắc rối hơn cô kỳ vọng một chút, nhưng cô vẫn cẩn thận xem xét lại toàn bộ dữ liệu đã thu thập được và có một vài điều chỉnh nho nhỏ. Và viết email.
                          Thông tin quý vị có thể thấy hữu ích. Cảm ơn đã quan tâm và bất kỳ hành động nào cũng rất đáng quý.

                          Người bạn
                          Sử dụng hệ thống tự thiết kế, cô cho email đi qua một loạt địa chỉ khác nhau rồi đóng tài khoản tạm thời. Như thường lệ, cô nghĩ mình sẽ rất hứng thú được giao tiếp với đầu mối FBI của mình, trao đổi suy nghĩ và quan điểm, nhưng cô còn phải tĩnh tâm để thu thập thông tin từ tài liệu hoặc bản ghi nhớ mà cô bẻ khóa được.
                          Sau khi tắt tài khoản, cô tạo ra một bản lưu an toàn cho dữ liệu.
                          “Chúng ta đi dạo thôi,” cô nói với Bert. “Chị sẽ thực hành những gì chị cần nói với Brooks trong lúc chúng ta đi dạo. Ngày mai, mọi chuyện sẽ trở lại như cũ. Chúng ta phải làm việc để kiếm sống nữa, phải không?”
                          Lúc cô đút chìa khóa vào túi, Bert dụi dụi cơ thể vào chân cô. “Hôm nay chị gặp một chú cún khác. Nó rất tuyệt. Chị nghĩ em sẽ thích nó.”
                          Khi cô bước ra ngoài, Bert theo sát gót cô. “Em như một người bạn ấy. Sang năm, chị sẽ kiếm thêm một con con. Em sẽ giúp chị dạy nó, và nó sẽ là một người bạn đồng hành cho cả hai chúng ta. Chúng ta chỉ cần vậy thôi, phải không? Chỉ cần vậy thôi.”
                          Cùng với Bert, cô dạo xung quanh xem xét vườn rau mới lên của mình. “Cần chăm sóc một chút rồi đây, và đã đến lúc trồng thêm một ít hoa nữa. Lúc nào rảnh rỗi. Chị đã xao nhãng, nhưng chúng ta sẽ quay lại thói quen cũ. Chị còn chút việc phải làm với chương trình virus. Sẽ có ngày, Bert ạ, khi đúng thời điểm và chị hoàn thiện được nó, chúng ta sẽ khiến cho nhà Volkov như gặp đại dịch.” Cô thở dài. “Nhưng chị chưa thể nghĩ đến chuyện đó lúc này. Chị còn phải lo cho cái tình thế này đã.”
                          Cô mở khóa chiếc áo có mũ trùm khi họ tiến vào rừng, đặt hờ tay lên báng súng.
                          Những cây mận dại bừng nở, những cánh hoa thơm thấp thoáng trong tán lá xanh mướt, và cây liễu ai đó trồng nhiều năm trước xõa những nhánh lá thướt tha xuống dòng suối chảy miên man. Hoa tử la lan trải dài cả một thảm màu tím biếc.
                          Trong không khí yên tĩnh, trong hương thơm, trong sắc màu, cô thấy bình tâm khi họ cùng đi dạo trong ánh nắng và bóng râm.
                          Run run trong trạng thái đề phòng, Bert nhìn cô, và sung sướng lao theo bờ suối nhảy tùm xuống nước. Lúc nào cũng vậy, cô luôn cười vang khi nhìn anh chàng chó to lớn đùa giỡn như một chú cún con trong vũng nước.
                          Cô cho nó tận hưởng khoảnh khắc của nó trong lúc cô nhìn khu rừng một lượt. Tiếng chim gọi nhau ríu rít hòa thành một bản nhạc hân hoan cùng với tiếng tốc tốc của một con chim gõ kiến đang kiếm mồi. Mặt trời qua những tán lá non tỏa xuống thứ ánh sáng huyền ảo.
                          Trời sẽ sáng rõ hơn khi họ đi dạo tiếp, cô biết vậy, và cảnh quan sẽ mở sang vùng đồi núi. Cô rất thích quan sát từ vị trí trên cao, nhìn thế đất nhấp nhô lên xuống. Và nơi đây, trong ánh sáng dìu dịu và bóng râm, với tiếng chim ríu rít và trong suối rì rầm, tiếng chú chó vẫy nước - nơi đây, cô nghĩ, giống một tổ ấm hơn là một căn nhà.
                          Cô sẽ mua một băng ghế. Đúng vậy, cô sẽ lên mạng và tìm kiếm thứ gì đó bằng chất gỗ hữu cơ. Thứ gì đó trông như thể mọc lên ở đó. Dĩ nhiên, những chiếc ghế không tự mọc được, nhưng phải tạo cảm giác như vậy. Và cô có thể ngồi ở nơi thế giới mở ra cảnh đồi núi, nơi chú chó của cô nô đùa dưới suối. Có lẽ một ngày nào đó cô sẽ cảm thấy đủ an tâm để mang theo một cuốn sách. Ngồi trên ghế trong khu rừng của mình với những ngọn đồi trải ngút ra, và đọc sách trong khi Bert nghịch nước.
                          Nhưng cô phải ngừng nghĩ về tương lai. Cô phải giải quyết thực tại lúc này, hoặc là buổi tối sắp tới.
                          “Được rồi.” Cô ra hiệu cho chú chó, giữ một khoảng cách trong khi nó lao lên và lắc ra cả một trận bão nước tung tóe trong không khí. “Brooks,” cô bắt đầu nói, trong lúc họ đi tiếp, “’mặc dù em thấy anh hấp dẫn và chắc chắn là rất thích ngủ với anh, nhưng em không ở hoàn cảnh có thể theo đuổi một mối quan hệ’ - không được, ‘em không sẵn sàng tiến tới một mối quan hệ.’ Như thế quyết liệt hơn. ‘Em không sẵn sàng tiến tới một mối quan hệ.’ Anh ta sẽ hỏi tại sao. Kiểu của anh ta như vậy, cho nên chị phải có câu trả lời sẵn. ‘Công việc là ưu tiên của em, nó cần không chỉ rất nhiều thời gian mà còn cả sự tập trung nữa.’”
                          Cô lặp lại, thử các tình huống khác nhau.
                          “Như thế là đủ, nhưng anh ta rất gan lì. Chị cần nói gì đó để cảm ơn sự quan tâm của anh ta. Chị không muốn làm anh ta nổi khùng hoặc thất vọng, hoặc làm tổn thương sự tự tôn của anh ta. ‘Cảm ơn anh đã quan tâm. Em được ưu ái quá.’ Dùng từ ưu ái ổn đấy. Phải rồi.”
                          Cô hít một hơi dài, an tâm khi tâm trạng bất an không thấy trở lại.
                          “Phải rồi,” cô lặp lại. “Chị có thể nói, ‘Em được ưu ái quá.’ Và đúng và như thế. Nếu mình chân thành thì sẽ dễ nghe hơn. ‘Em được anh ưu ái quá, em cũng rất thích những cuộc trò chuyện của chúng ta.’ Chị có nên nhắc đến chuyện tình dục nữa không nhỉ? Trời ạ! Người ta xử lý việc này thế nào nhỉ? Mà tại sao phải thế? Phức tạp và phiền toái quá.”
                          Cô ngẩng mặt về phía mặt trời, hít lấy hơi ấm và ánh sáng lúc cô bước ra khỏi rừng cây. Phóng mắt nhìn đồi núi, cô thấy băn khoăn. Rất nhiều người ở ngoài kia, với rất nhiều mối liên hệ, tất cả những mối quan hệ chằng chéo. Cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè, người yêu, giáo viên, ông chủ, hàng xóm.
                          Tất cả bọn họ đã giải quyết điều này như thế nào? Họ đã hòa trộn và sắp đặt tất cả những nhu cầu và động lực ấy như thế nào? Tất cả những kỳ vọng và cảm xúc ấy?
                          Sống âm thầm và một mình dễ dàng hơn, với kế hoạch của riêng bạn, những mục tiêu của riêng bạn, thỏa mãn những kỳ vọng và nhu cầu của riêng bạn, không bị quấy nhiễu liên hồi bởi những người khác.
                          Đó chính là điều mẹ cô đã làm, và đương nhiên là quý bà Susan Fitch đã thành công trên mọi lĩnh vực. Đúng, rốt cuộc chỉ có cô con gái là đem tới nỗi thất vọng, nhưng đó vẫn là hậu quả của việc để tâm tới một ai khác.
                          “Mình không giống mẹ,” Abigail lẩm bẩm, trong lúc cô đặt một tay lên đầu Bert. “Mình không muốn giống thế. Mà dù có muốn các mối quan hệ và những điều phức tạp thì mình cũng không thể. Không khả thi chút nào. Thôi thì ta cứ bắt đầu lại hết vậy. ‘Mặc dù em thấy anh hấp dẫn,’” cô mở màn.
                          Cô cứ tập dượt nội dung, ngữ điệu, kết cấu bài nói, thậm chí cả ngôn ngữ cử chỉ cơ thể, suốt gần một tiếng, điều chỉnh cho thật hợp lý rồi cô mới cùng Bert đi bộ trở lại nhà.
                          #13
                            Thanh Vân 29.11.2023 19:20:34 (permalink)

                            14


                            Cho rằng cuộc trò chuyện và bữa tối cần phải lịch thiệp, cô mở một chai vang Shiraz. Và uống nửa ly để cho tinh thần vững vàng. Lúc sáu rưỡi cô phải buộc mình không được đi tới đi lui, và rót thêm nửa ly rượu vang nữa.
                            Khi anh lái xe đến lúc sáu giờ bốn mươi lăm, tinh thần của cô đã đủ thời gian để ổn định. Cô nhắc lại những nội dung đã chuẩn bị trong đầu để trấn an bản thân lúc đi ra phía cửa.
                            Thực ra thì anh ta cũng dễ gây thiện cảm, cô nghĩ thầm. Có lẽ phải mất một lúc thì phản ứng hóa học cô trải nghiệm với anh mới lắng dịu.
                            “Xin lỗi, anh đến trễ.” Một tay mang theo đống đồ ăn, anh bước về phía hiên. “Anh có vài việc phát sinh.”
                            “Không sao đâu.”
                            “Này, Bert.” Rất tự nhiên, Brooks xoa xoa một tay lên đầu Bert lúc anh đi vào nhà, sau đó xoay người, đặt môi lên môi Abigail. “Em thế nào?”
                            “Em ổn, cảm ơn anh. Để em mang túi vào bếp.”
                            “Anh làm được mà.” Anh gật gật đầu về phía chai rượu vang trên quầy bếp khi đặt cái túi xuống. “Tuyệt.”
                            “Anh nói món thịt nướng. Thứ vang này rất hợp với thịt đỏ.”
                            “Tuyệt, bởi vì trong này anh có vài miếng thăn lưng bò.”
                            “Anh không nói rõ anh muốn dùng gì với thịt nướng, cho nên em chưa chuẩn bị gì hết.”
                            “Không cần đâu. Anh có rồi.” Anh lôi ra hai củ khoai to tướng và một túi salad.
                            “Gì đấy?” Abigail vỗ vỗ cái túi.
                            “Rau trộn. Một túi salad.”
                            “Salad.” Mặc dù lo ngại, nhưng cô vẫn bĩu môi. “Em có rất nhiều rau tươi để làm món trộn.”
                            “Như thế em lại phải thái thiếc các kiểu mà. Tốt nhất là cứ mua luôn một túi salad làm sẵn. Sao em không ngồi xuống nhỉ? Anh sẽ làm món khoai tây.”
                            Cô không nghĩ mình sẽ chịu ngồi im. Cô không có thói quen ngồi im. “Anh có muốn chúng ta bàn thảo gì đó trước bữa ăn không?”
                            “Chúng ta chỉ có một lần này thôi à?”
                            “Sao cơ?”
                            Anh ngó lại phía cô trong lúc cầm số khoai tây tới chỗ bồn rửa. “Chỉ có một lần này thôi à? Thế chúng ta trò chuyện trước, trong và thậm chí sau bữa tối thì sao.”
                            “À, vâng, dĩ nhiên rồi. Nhưng về chuyện làm rõ tình cảnh hiện nay. Chúng ta có nên nói ngay, hay anh muốn đợi cho tới bữa ăn?”
                            “Tình cảnh gì?”
                            “Em và anh... Mối liên hệ tình cảm này. Mối quan hệ giữa cá nhân với nhau.”
                            Anh đặt khoai tây lên quầy, và với nụ cười ấm áp đến mức làm cô thấy có gì đó nhói lên trong lòng, hai bàn tay anh bưng lấy khuôn mặt cô. “Mối quan hệ giữa cá nhân với nhau. Anh sắp phát điên vì em mất.” Anh hôn cô, mạnh mẽ, thật lâu, cho tới khi cảm giác nhói đau tan đi. “Em rót cho anh chút rượu vang được không?”
                            “Em... được. Không, ý em là, để em rót rượu vang. Chúng ta cần bàn thảo...”
                            “Em à, ‘bàn thảo’ nghe như sắp bàn đến chính trị ấy.” Anh cau mày nhìn lò nướng một lúc, sau đó đặt chế độ nướng khoai. “Tại sao chúng ta không gọi là trò chuyện chứ?”
                            “Được thôi. Chúng ta cần trò chuyện.”
                            “Về mối liên hệ tình cảm và quan hệ giữa cá nhân của chúng ta.”
                            Theo phản xạ, cô ngớ người ra. “Anh đang chọc em?”
                            “Một chút thôi. Món này sẽ mất một chút thời gian. Có lẽ chúng ta nên ngồi xuống. Anh có thể nhóm lửa sưởi.”
                            Thật quá ấm cúng, cô nghĩ bụng. “Này Brooks.”
                            “Cuối cùng em cũng nói ra.”
                            “Nói ra?”
                            “Tên anh. Lần đầu tiên em nhắc đến nó.”
                            Không thể thế được. Có lẽ nào? “Anh đang làm em rối lên đấy. Em còn chưa bắt đầu mà anh đã làm em rối lên.”
                            “Em lo lắng về những gì đang diễn ra giữa hai chúng ta. Phải vậy không?”
                            Cảm thấy nhẹ nhõm để bắt đầu, cô hít một hơi. “Mặc dù em thấy anh hấp dẫn, và em thích quan hệ với anh, nhưng em chưa sẵn sàng tiến tới một mối quan hệ.”
                            “Chúng ta đã có rồi mà.”
                            “Em - gì cơ?”
                            “Đây là một mối quan hệ, Abigail, cho nên em đã tiến tới nó rồi còn gì.”
                            “Em không có ý định vậy. Em chưa sẵn sàng để tiếp tục một mối quan hệ.”
                            “Tại sao lại vậy?”
                            “Em được anh ưu ái, và em rất thích những cuộc trò chuyện của chúng ta. Tuy nhiên, công việc của em đòi hỏi rất nhiều thời gian, và cả sự tập trung tuyệt đối. Em không thích bị phân tâm, và em tin anh cần một người bạn đồng hành quảng giao và dễ bảo hơn.”
                            Anh nhấp một ngụm rượu vang. “Em đã chuẩn bị trước phải không?” Anh chỉ vào cô. “Em đã tập sẵn rồi.”
                            Từng phần trên cơ thể cô đều cứng đờ vì xấu hổ. “Em chẳng hiểu sao chuyện em muốn sắp xếp những suy nghĩ và ý kiến một cách rõ ràng lại khiến anh khoái chí vậy.”
                            Giọng nói lạnh băng của cô chẳng khiến nụ cười toe toét của anh bớt đi. “Anh đoán em đã phải đóng cả vai của anh.”
                            “Đó chỉ là một cách để bộc lộ quan điểm thôi, không thể thiếu vai trò của anh được.”
                            “Phải, nó phụ thuộc vào cách nghĩ của anh. Abigail, anh đoán em đã phải nghiền ngẫm cái bài diễn văn ấy mất một lúc, bởi vì hầu hết nó thật vớ vẩn.”
                            “Nếu anh không thể có được một cuộc bàn luận nghiêm túc, thì anh nên đi đi.”
                            Tay cầm ly vang, cơ thể chênh chếch quay về phía quầy bếp, anh vẫn hết sức thư thái trong khi cô tỏ ra cứng rắn. “Em không hề có kế hoạch thảo luận. Em định diễn thuyết bài diễn văn đã tập trước của mình, sau đó dự kiến là anh sẽ phải cuốn xéo. Nếu em muốn anh đi, Abigail, thì anh nghĩ em sẽ phải nói cho anh biết điều gì khiến em khó chịu, em sợ gì, và em cảm thấy gì đấy.”
                            “Em nói em không quan tâm mà.”
                            “Nhưng em không thành thật. Anh không muốn ở bên người phụ nữ không muốn ở bên anh. Cho nên nếu đúng là như vậy, hãy nói rõ với anh, hãy tôn trọng và lịch sự với anh để anh giải thích, và anh sẽ nướng thịt. Chúng ta sẽ có một bữa ăn tươm tất, và anh sẽ đi. Anh nghĩ thế là ổn.”
                            “Em đã bảo rồi. Công việc của em...”
                            “Abigail.”
                            Trong cái từ nói ra này có sự kiên nhẫn vô cùng, và nó nhen lên trong cô một ngọn lửa.
                            “Tại sao khó giải thích với anh thế? Tại sao anh không thể đáp lại một cách logic chứ? Em không thể thảo luận với người cứ không chịu nghiêm túc.”
                            “Có thể em không vui nhưng từ vị trí của anh thì anh cũng nghiêm túc như bất kỳ ai.”
                            “Vậy hãy thôi đi.”
                            “Thôi nghiêm túc ư?”
                            Cô phẩy tay. “Em không nghĩ nổi!”
                            “Hãy trả lời câu hỏi này. Em có cảm xúc với anh không?”
                            “Em không muốn.”
                            “Anh xem như thế tức là có. Tại sao em không muốn?”
                            “Em không biết làm gì với những cảm xúc ấy. Với anh. Với chuyện này. Em chỉ muốn được yên tĩnh như cũ. Em chỉ muốn một nếp sống bình thường. Em nghĩ như thế là hợp lý.” Giọng cô lại căng lên đầy hoảng sợ, nhưng cô không sao kìm nén được. “Khi anh ở đây, em không sao tĩnh tâm được, và mọi thứ đều chệch tiến độ và không tài nào dự đoán được. Thậm chí em còn không thể đi mua sắm vì mải đi dạo cùng anh và trò chuyện với mẹ anh, chơi với con cún, rồi mẹ anh mời em uống trà đào nữa. Em chỉ muốn được một mình. Em biết cách sống một mình.”
                            “Chúng ta ra ngoài chút nhé.”
                            “Em không muốn ra ngoài!”
                            “Cưng à, em đang run, và em đang hít thở khó khăn đấy. Chúng ta chỉ mất một phút thôi, hít thở chút không khí, rồi bình tĩnh lại.”
                            “Xin đừng quan tâm đến em! Em vẫn tự chăm sóc mình từ khi em mười bảy tuổi. Em không cần ai cả.”
                            Brooks mở khóa cửa sau. “Nào, Bert.” Và, cầm lấy tay Abigail, kéo cô ra ngoài. “Nếu đúng như thế thì đã lâu rồi mới có ai đó chịu thi thoảng sẵn sàng để mắt đến em. Còn giờ thì hít thở ngay đi.”
                            “Đừng có lên giọng với em.”
                            “Thở đi, và anh sẽ không phải làm thế nữa.”
                            Cô vùng ra khỏi anh, tựa vào cột hiên. Nước mắt chảy tràn theo nhịp thở, cho nên cô phải úp mặt vào cột.
                            “Em muốn anh quỳ gối xin lỗi, như thế mới đúng đây mà.” Xoa xoa tay lên mặt, Brooks tỏ ra hết sức điềm tĩnh. “Abigail, nếu chính anh làm cho em cảm thấy không vui thế này thì anh hứa rằng anh sẽ rút lui. Nhưng rất mong em sẽ để anh giúp.”
                            “Anh không thể giúp được em.”
                            “Làm sao em biết được chứ?”
                            Cô ngoảnh mặt về phía anh. “Anh quan tâm làm gì?”
                            “Anh dám nói em chưa đủ tương tác xã hội hoặc các mối quan hệ giữa người với người nếu như em chưa hiểu tại sao ai đó lại như vậy.”
                            “Anh lại đang chọc em rồi.”
                            “Lần này thì không hề.” Anh không chạm vào người cô, nhưng giọng anh chính là sự vuốt ve dịu dàng thần kinh của cô. “Anh có tình cảm với em. Anh chưa nói rõ được nhưng anh thích cảm xúc đó.”
                            Cô lắc đầu. “Đó chỉ là một phản ứng hóa học.”
                            “Là em nói đấy nhé. Anh có học hóa ở trung học. Nhưng học kém lắm. Mà anh đang làm cho em không vui hả?”
                            Cô muốn nói đúng vậy, bởi vì cô tin anh sẽ ra đi và giữ khoảng cách. Nhưng cô không thể nói dối khi anh nhìn vào mắt cô. “Không. Em hạnh phúc khi em nhìn thấy anh. Em không muốn hạnh phúc vì anh.”
                            “Như vậy được hạnh phúc lại làm em không vui.”
                            “Em biết điều đó nghe không hợp lý, nhưng chính xác như vậy. Em xin lỗi đã cư xử như thế.”
                            “Không cần xin lỗi đâu.”
                            Anh thò tay vào túi, móc ra một chiếc khăn màu xanh lam đã gấp gọn. “Của em đây, nào.”
                            Cô khụt khịt mũi. “Cảm ơn anh.”
                            “Anh sẽ hỏi em một câu. Nếu em không sẵn sàng trả lời, em cứ nói. Nhưng đừng nói dối anh. Có phải là một người chồng, chồng cũ, bạn trai hay đại loại thế đã làm em tổn thương phải không?”
                            “Không. Không. Không hề có ai như vậy. Không ai làm em tổn thương cả.”
                            “Em tổn thương thấy rõ. Hay ý em là không có ai đánh đập hành hạ em?”
                            “Vâng.” Bình tĩnh hơn, cô chấm chấm mắt bằng chiếc khăn mềm, rồi đăm đăm nhìn khu nhà kính của mình. “Em có thể tự chăm lo cho mình. Em không có chồng hay bạn trai hay các mối quan hệ.”
                            “Giờ em có một mối quan hệ rồi đấy.” Bước lại, một tay anh đỡ lấy cằm cô, tay kia lau đi những vệt nước mắt đang khô dần trên má cô. “Em sắp phải vận dụng bộ óc siêu đẳng của em để tìm cách thích nghi với việc đó.”
                            “Em không như những người khác, Brooks.”
                            “Em rất kỳ lạ. Tại sao em lại không thể như vậy chứ?”
                            “Anh không hiểu đâu.”
                            “Vậy hãy giúp anh hiểu.”
                            Liệu cô có thể nói được với anh đến chừng nào? Nếu anh hiểu, vừa đủ, có thể mọi việc sẽ kết thúc.
                            “Em muốn một chút rượu.”
                            “Anh sẽ đi lấy.” Cô chưa kịp có ý kiến gì anh đã bước trở vào bên trong. Cô tranh thủ lúc đó sắp xếp lại những ý nghĩ của mình. Mong ước có thêm thời gian chuẩn bị chẳng ích gì cả, cô nhủ mình.
                            “Em không cần anh làm mọi việc cho em,” cô bắt đầu nói, lúc anh mang rượu ra. “Việc để em tự làm là rất quan trọng.”
                            “Rượu vang ư? Nghiêm túc chứ?” Anh cầm chỗ rượu của mình đi tới bậc hiên, ngồi xuống. “Hành xử cũng rất quan trọng. Lịch thiệp một cách đơn giản thôi. Mẹ anh là một phụ nữ độc lập, rất tháo vát, nhưng anh vẫn lấy cho bà ly rượu vang. Từ những gì anh thấy, những gì anh biết, em cũng rất tháo vát. Điều đó không có nghĩa là anh không thể làm gì đó lịch thiệp với em.”
                            “Thật ngốc quá.” Hơi mất phương hướng, cô nhìn xuống chiếc khăn, gấp nó lại trong bàn tay. “Em không thích tỏ ra ngốc nghếch. Và đấy không phải là những gì em muốn nói.”
                            “Tại sao em không ngồi xuống đây và nói những gì em định nói?”
                            Cô ngập ngừng, sau đó ra hiệu cho Bert rằng nó có thể ra sân, và cô ngồi xuống.
                            “Em có khả năng làm hầu hết mọi việc, nhưng em không tin mình có khả năng duy trì một mối quan hệ.”
                            “Bởi vì?”
                            “Khi mẹ em quyết định có con, bà đã tìm hiểu những người hiến tinh trùng.”
                            “Vậy là bà ấy không dính líu đến bất kỳ ai cả.”
                            “Phải. Bà không muốn sinh nở với ai cả.”
                            Sinh nở, Brooks nghĩ thầm. Đó bà một từ rất ấn tượng.
                            “Cuộc đời bà đi đến lúc bà muốn có con. Như thế cũng không chính xác,” Abigail quyết định. “Bà muốn có hậu duệ, và bà có những yêu cầu rất cụ thể, rất chi tiết dành cho người hiến tặng. Mẹ em là một phụ nữ cực kỳ thông minh, và đương nhiên bà muốn tạo ra một... hậu duệ thông minh. Bà đòi hỏi tri thức cao, sức khỏe tốt, kể cả bệnh sử gia đình. Bà có những yêu cầu về thể chất, về ngoại hình và vóc dáng, thể lực ổn định.”
                            “Anh hiểu rồi.”
                            “Khi bà quyết định được người hiến tặng, bà lên lịch ngày thụ thai, thông qua biện pháp thụ tinh nhân tạo, phù hợp với lịch công tác và việc riêng của bà. Đương nhiên, bà cũng sắp xếp việc chăm sóc trước sinh tốt nhất, và em ra đời bằng biện pháp mổ đẻ theo kế hoạch, và rất mạnh khỏe, cân nặng và kích thước đều thích hợp. Dĩ nhiên, bà cũng đã sắp xếp sẵn một hộ lý, cho nên em được chăm sóc rất kỹ, và được kiểm tra đều đặn để bảo đảm quá trình phát triển của em thật tốt.”
                            Dường như có tiếng chim cất lên lạc chỗ, nghe rất vui vẻ, khi bất ngờ một con chim ruồi nhào lộn về phía một chậu cẩm chướng đỏ thắm.
                            “Em biết tất cả những chuyện này vì em phát hiện ra, hay vì bà nói với em?”
                            “Bà nói với em. Em cũng luôn tự biết. Kiến thức là một phần nền tảng giáo dục của em. Giáo dục, cùng với sức khỏe thể chất của em, là ưu tiên. Mẹ em rất đẹp, và bà ấy có hơi thất vọng một chút rằng dù các nét của em khá ổn, nước da của em cũng đẹp, nhưng ngoại hình của em chưa đạt đến mức độ như bà ấy mong đợi, bù lại em thông minh, khả năng vận động và khả năng ghi nhớ tốt. Xét tổng thể, bà rất hài lòng.”
                            “Ôi, cưng ơi.”
                            Cô ngả người nép vào anh khi anh quàng tay quanh vai cô. “Đừng tỏ ra thương hại em.”
                            “Sẽ có lúc em phải nghĩ lại đấy.”
                            “Em kể anh nghe chuyện này để anh hiểu bản chất di truyền của em. Mẹ em, mặc dù hài lòng với em về tổng thể, lại không hề yêu thương em hay muốn vậy. Bà không bao giờ chấp nhận em có những mục đích, ước vọng hay kế hoạch của riêng mình. Với em, những điều ấy ở bà rất cụ thể và chi tiết. Suốt một thời gian dài em nghĩ bà không hề yêu thương em vì em khiếm khuyết ở lĩnh vực nào đó, nhưng rồi em hiểu ra rằng đơn giản là bà không yêu thương. Bà không có khả năng hay khuynh hướng yêu thương, và không có kỹ năng thể hiện tình cảm. Do nhân tố di truyền và môi trường nên em cũng thiếu hụt năng lực này. Có thể em không có kỹ năng cho các mối quan hệ, nhưng em hiểu được cảm xúc và tình cảm là những nhu cầu cơ bản để phát triển và duy trì các mối quan hệ.”
                            Brooks nghĩ thật đúng là tào lao. Nhưng anh trả lời một cách thận trọng. “Cho anh nói thẳng việc này. Vì mẹ em lạnh lùng, ích kỷ và có vẻ có tất cả những cảm xúc của một tảng đá cho nên về mặt di truyền em cũng giống vậy.”
                            “Điều đó thật nghiệt ngã.”
                            “Anh còn thấy nghiệt ngã hơn.”
                            “Không cần vậy. Khi xét đến yếu tố di truyền và môi trường, những thứ dường được gọi là bản chất và sự dưỡng dục...”
                            “Anh biết nó khó chịu thế nào.”
                            “Anh nổi cáu rồi đấy.”
                            “Nói thế là còn nhẹ nhàng đấy, nhưng không phải cáu với em. Để anh hỏi em chuyện khác. Nếu về mặt di truyền em không có khả năng đối với tình yêu và cảm xúc thì làm sao em lại yêu thương được chó và nó yêu quý lại em được. Và đừng lấy lý do là nhờ đào tạo.”
                            “Bọn em cần đến nhau.”
                            “Nhu cầu chỉ là một phần thôi. Nếu nó bị thương hay ốm và không thể làm chó bảo vệ được nữa, em có loại bỏ nó không?”
                            “Dĩ nhiên là không.”
                            “Bởi vì như thế là lạnh lùng, ích kỷ và hết sức tầm thường, và em không phải như thế. Em yêu thương nó mà.”
                            “Nó là một con chó, không phải người. Có những người có cảm xúc mạnh mẽ dành cho động vật, nhưng lại không có những tình cảm tương tự dành cho con người.”
                            “Em có cảm xúc gì đó dành cho anh mà.”
                            Không biết trả lời sao, Abigail đăm đăm nhìn ly rượu của mình.
                            “Thế còn cha em?”
                            “Người hiến tặng.”
                            “Được rồi, thế còn về người hiến tặng? Nếu bà ấy không nói cụ thể cho em biết ông ấy là ai, em tìm ra được mà. Em thừa thông minh để tìm ra.”
                            “Bà không hề cho em về tên tuổi hay các chi tiết cụ thể của ông ấy. Khi em được mười hai tuổi em... truy cập được thông tin.”
                            “Bà ấy còn lưu hồ sơ?”
                            “Kết luận của em là... bà ấy cảm thấy cần theo dõi tình hình sức khỏe của ông ấy, bất kỳ vấn đề tiềm tàng nào. Vì thế, bà ấy lưu hồ sơ. Em xâm nhập được vào đó.”
                            “Lúc mười hai tuổi.”
                            “Em luôn quan tâm đến máy tính. Ông ấy là một nhà vật lý. Rất thành công và được trọng vọng. Ông ấy chỉ mới ngoài hai mươi lúc hiến tặng, trẻ hơn mẹ em vài tuổi.”
                            “Ông ấy có biết về em không?”
                            “Không. Không hề biết.”
                            “Em có thể liên hệ với ông ấy.”
                            “Tại sao? Tại sao em lại làm phiền cuộc sống, gia đình ông ấy. Chúng em chỉ có mối liên hệ sinh học và chẳng còn gì khác.”
                            “Ông ấy có gia đình?”
                            “Vâng, ông ấy lập gia đình năm ba mươi mốt. Lúc em truy cập được thông tin, ông ấy có một đứa con và chuẩn bị có đứa nữa. Giờ ông ấy có ba đứa. Không tính em trong đó. Em chỉ là kết quả của một lần hiến tặng.”
                            “Quan hệ hôn nhân của ông ấy vẫn ổn chứ?”
                            “Vâng.”
                            “Như vậy và ông ấy có thể phát triển và duy trì một mối quan hệ. Em cũng có những gien của ông ấy.”
                            Mất một lúc, một lúc rất lâu, cô cứ nhìn theo đường bay của con chim ruồi - một vệt ngọc bích mờ mờ - cho tới khi nó mất hút.
                            “Tại sao anh lại muốn ở bên một người mà các kỹ năng và xu thế kết nối cá nhân đều kém cỏi?”
                            “Chắc tại anh thích chứng kiến cảnh những thứ ấy phát triển, và là một phần của quá trình ấy. Trên hết là anh mê em quá đi. Sau tất cả những thứ kia.”
                            “Có những lý do khác là em không nên để chuyện này tiếp tục. Em không thể nói rõ với anh về chúng.”
                            “Chưa thôi. Anh biết em đang trốn chạy điều gì đó, điều gì đó đủ khiến em sợ hãi đến mức em cần chó, hệ thống an ninh như thế này, và tất cả số súng ống kia. Cho dù nó là gì thì nó cũng đã giam cứng em, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Khi em đủ tin tưởng anh, khi em hiểu rằng cần đến sự giúp đỡ không đồng nghĩa với tỏ ra yếu đuối và nhu nhược, thì em sẽ nói với anh. Nhưng còn bây giờ, anh cần nhóm lửa nướng thịt đã.”
                            Cô đứng lên cùng anh. “Mối quan tâm của anh dành cho em có bao nhiều phần là thắc mắc về những gì ở sau các ổ khóa?”
                            Cô cần sự trung thực, có lẽ cần hơn bao giờ hết, cho nên anh dành cho cô sự trung thực. “Ban đầu là như thế. Đến giờ anh vẫn còn thắc mắc, một phần cũng vì nghề nghiệp thôi. Nhưng lý do chủ yếu ư? Khi em mở những ổ khóa ấy, thậm chí một chút thôi, Abigail, em đã có được anh. Em có được anh,” anh nhắc lại, cầm lấy tay cô, đặt nó lên phía tim mình.
                            Cô nhìn bàn tay cô, cảm nhận nhịp đập đều đều, mạnh mẽ. Và để cho mình cuốn đi, để cho mình áp má lên đó. Khi hai cánh tay anh vòng quanh người cô, cô nhắm nghiền mắt lại và mọi cảm xúc dâng lên thật nhanh, thật mạnh mẽ và nhanh. Được ôm như thế này vào một buổi tối mùa xuân mát lành bởi một người biết quan tâm. Điều đó như một phép màu, thậm chí với cả người không tin vào phép màu.
                            “Em vẫn không biết phải làm gì với chuyện này, với anh. Với tất cả.”
                            “Cứ để mặc nó đi em.”
                            “Để em thử xem. Tối nay anh ở lại chứ?”
                            Anh áp môi lên đỉnh đầu cô. “Cứ tưởng em không bao giờ đề nghị.”
                            Cô bước lùi lại, trấn định mình bằng cách nhìn vào mắt anh. “Em sẽ đi trộn salad.”
                            Và thoáng thấy vẻ hài hước trên gương mặt anh.
                            “Tuyệt quá.”
                            Lúc cô vào trong nhà, anh bước tới, mở nắp bếp nướng của cô. Ôi, đúng là tình yêu, anh nghĩ, còn hơn cả dễ chịu. Nhưng anh tin mình sẽ quen với điều đó, giống như anh tin sẽ không khó mở những ổ khóa kia, mỗi lần một ít, rất đáng để cố gắng.
                            #14
                              Thanh Vân 29.11.2023 19:21:26 (permalink)

                              15


                              Tại Chicago, chỉ cách hai dãy nhà tính từ vũ trường nơi Ilya từng gặp gỡ Elizabeth Fitch vào một tối hè, gã dạo một vòng quanh căn hộ bẩn thỉu nơi bố trí một trong những hoạt động tội phạm máy tính có lãi nhất của chúng. Gã thường tự mình để mắt đến khu vực này, cho nên mặc dù sự hiện diện của gã tạo ra một chút căng thẳng nhưng công việc vẫn tiến hành trôi chảy.
                              Vài nhân viên điều hành làm việc trên máy tính, gửi đi cả loạt tin nhắn rác quảng cáo: những mời chào công việc như làm việc tại nhà, các hãng dược phẩm Canada, hẹn hò trên mạng, các chương trình tải về miễn phí. Một số mục phải đóng lệ phí được giao cho các nhân viên trực điện thoại chuyên phỉnh phờ những kẻ gọi điện khờ khạo hoặc muốn thử vận may. Một số mục khác chỉ đơn giản là trộm thông tin thẻ tín dụng để bán lấy tiền hoặc đánh cắp căn cước.
                              Với trò này, chi phí bỏ ra chẳng đáng là bao, nhưng lợi nhuận đem lại nhiều và đều đặn.
                              Đích thân gã đã thiết kế một biến thể của phần mềm lừa đảo kiểu Nigeria[22] hiện vẫn là thứ kiếm tiền hàng đầu của chúng.
                              Nó khiến cho gã rất tự hào.
                              Gã thích công việc, và xem nó như một bài tập trí tuệ. Công việc kinh doanh rất tốt, tăng trưởng so với năm trước. Không hề có cảnh báo gì xuất hiện trên mạng, được tung ra trong các bản tin đêm, nhằm đánh vào sự thèm khát tiền bạc trong bản chất con người.
                              Và những vũ khí duy nhất cần để móc túi lũ ngốc là máy tính và điện thoại. Gã cũng chấp nhận bạo lực, sử dụng đến nó khi cần, ra lệnh dùng nó khi được bảo đảm. Nhưng gã thích phạm tội không đổ máu hơn.
                              Gã tự xem mình là một doanh nhân, và sắp lấy vợ, xây dựng gia đình của riêng mình. Gã sẽ dạy các con mình thành doanh nhân, và để máu tanh cho những kẻ khác. Những kẻ như Korotkii lúc nào cũng hữu ích, nhưng gã có những kế hoạch cao xa hơn cho những đứa con của mình.
                              Gã rất thích nghe tiếng điện thoại đổ chuông, và các “nhân viên trực” đọc kịch bản đã chuẩn bị sẵn, ứng biến một chút khi cần. “Vâng, quý vị có thể kiếm tiền tại nhà. Tăng thu nhập của quý vị, lập tiến độ của riêng mình. Chỉ với một khoản phí không đáng kể, chúng tôi sẽ cung cấp cho quý vị tất cả những gì quý vị cần.”
                              Dĩ nhiên, chúng chẳng cung cấp gì hữu ích cả, nhưng tiền phí đã ký thác rồi. Hạn mức sẽ chỉ dưới bốn mươi đô la Mỹ. Quả là cái giá rất nhỏ cho một bài học mà thôi.
                              Gã trao đổi qua với tay giám sát, ghi ra khoản tiền thu được trong ngày, rồi sải bước ra cửa.
                              Gã cũng rất thích cái tiếng thở phào nhẹ nhõm của cả bọn vang lên sau lưng khi gã bước ra khỏi cửa.
                              Gã sinh ra để nắm quyền lực, và nắm lấy thứ đó tự nhiên như việc gã mặc những bộ đồ hiệu Versace mà gã ưa thích vậy.
                              Gã ra khỏi khu căn hộ để tới chỗ xe hơi đang đợi sẵn. Gã leo lên ghế sau, chẳng nói gì với tài xế cả. Khi chiếc SUV lăn bánh khỏi lề đường, gã nhắn tin cho cô bồ của mình. Gã muốn cô ta sẵn sàng chờ gã trong hai tiếng nữa. Sau đó gã mới nhắn tin cho hôn thê của mình. Gã sẽ trễ nhưng vẫn hy vọng sẽ kết thúc cuộc gặp của gã và những công việc khác vào lúc nửa đêm.
                              Chiếc xe lại tấp vào lề đường bên ngoài nhà hàng, kết thúc buổi tối này bằng một bữa tiệc riêng.
                              Tháng nào ông già gã cũng khăng khăng tổ chức cuộc họp trực tiếp này, mặc dù theo quan điểm của Ilya, nhiều việc có thể giải quyết hiệu quả hơn qua Skype và điện thoại.
                              Nhưng, Ilya cũng thấy một số giá trị của việc tiếp xúc cá nhân, lại còn cả thức ăn ngon, rượu vodka ngon, cùng rất nhiều người có mặt.
                              Vào trong nhà, gã trao chiếc áo choàng cashmere của mình cho người phụ nữ xinh đẹp có đôi mắt màu mận gai. Khi có thời gian, gã rất khoái làm tình với cô ta trong lúc cô ta đeo cặp kính gọng đen kia.
                              Ông già gã đã ngồi với vài người khác bên chiếc bàn lớn kê trong phòng ăn chính. Nụ cười của lão Sergei nở rộng khi lão nhìn thấy con trai mình.
                              “Đến đây, ngồi đi, ngồi đi. Con trễ đấy nhé.”
                              “Con có chút việc.” Ilya cúi xuống, hôn bên má bố, rồi đến ông chú. “Con có số liệu từ hoạt động ở phố 51. Con muốn mang cho bố tối nay. Bố sẽ rất hài lòng.”
                              “Tốt lắm.” Sergei đích thân rót vodka cho Ilya rồi mới nâng ly. Ở tuổi bảy mươi, lão vẫn tráng kiện, một con người biết tận hưởng tối đa những lạc thú của cuộc sống.
                              “Mừng cả nhà,” lão chúc. “Mừng bạn bè và công việc suôn sẻ.”
                              Họ bàn về công việc trong lúc ăn, và ở những cuộc họp như thế này, họ luôn ăn những món Nga truyền thống. Ilya múc xúp đỏ[23], trong lúc nghe các báo cáo từ các toán trưởng và những tay chân tin cẩn. Với thái độ tôn trọng, gã chỉ đặt câu hỏi khi nhận được cái gật đầu từ bố. Sau món cừu hầm, Ilya báo cáo về những công việc mà đích thân gã trông nom.
                              Các vấn đề được đem ra thảo luận - việc một gã tay chân bị bắt giữ vì các tội danh liên quan đến ma túy, một ả điếm cần đem xử trí, việc thẩm vấn và hạ sát một kẻ bị tình nghi cung cấp tin tức.
                              “Misha sẽ phát biểu,” Sergei tuyên bố, “về vấn đề người của ta trong bọn cớm.”
                              Ilya gạt đĩa của mình sang bên. Quá nhiều thức ăn nhồi vào bụng và gã sẽ không còn hứng thú trọn vẹn với cô bồ nữa. Gã nhìn gã em họ của mình trong lúc nhấm nháp rượu vang.
                              “Pickto bảo tên cớm đó vẫn chưa thể tìm ra làm thế nào một số thông tin về công việc của ta lại rơi vào tay FBI.”
                              “Vậy thì sao ta phải trả tiền cho hắn?” Sergei hỏi.
                              “Vâng, thưa chú, cháu đã hỏi như thế. Hắn đã kịp thời cảnh báo chúng ta trong một số trường hợp để ta có hành động bảo vệ lợi ích của mình, nhưng hắn không thể xác minh được đầu mối trong cục, hay cách thức truyền thông tin. Hắn tin đầu mối liên hệ là một trong ba người, nhưng bọn họ giữ rất kín việc này. Hắn xin thêm thời gian, và cả tiền nữa.”
                              “Thêm tiền?”
                              “Để hối lộ, hắn bảo vậy.”
                              Misha, giờ đã có bốn đứa con, tiếp tục ăn một cách khoái trá. Ilya biết rõ thằng em họ mình không có bồ để thỏa mãn. “Con không nghi ngờ lòng trung thành của hắn, nhưng con bắt đầu nghĩ hắn, và hai tay nữa chúng ta có, chưa vươn tới đủ tầm để đáp ứng yêu cầu của ta.”
                              “Chúng ta sẽ tìm hiểu ba gã này. Ilya, con và Misha sẽ đảm nhận việc này. Dù gã cảnh sát FBI này là ai, kẻ đưa tin là ai, chúng ta cũng sẽ kết liễu hắn. Việc này làm chúng ta mất tiền, người, thời gian. Và kiện tụng nữa.”
                              Giờ Sergei gạt đĩa của mình sang bên. “Việc này làm ta nhớ lại chuyện cũ. Chúng ta không quên con bé Elizabeth Fitch.”
                              “Không có liên hệ gì với mẹ cô ta,” Ilya lên tiếng. “Không phát hiện có liên hệ gì với cảnh sát. Nếu còn sống, cô ta đang sống trong sợ hãi. Cô ta không phải là mối đe dọa.”
                              “Chừng nào nó còn sống, nó còn là một mối đe dọa. Và là một sự sỉ nhục. Gã Keegan này, chúng ta trả tiền hắn, và hắn rất hữu dụng. Nhưng hắn không tìm được con bé. Những thằng khác, chúng cũng không tìm ra nó. Nó chỉ là một con đàn bà.” Lão nện nắm đấm lên bàn. “Chúng ta còn mặt mũi nào nữa nếu bị một con đàn bà đánh bại?”
                              “Chúng ta sẽ không ngừng tìm kiếm mà bố,” Ilya trấn an lão.
                              “Đúng, chúng ta sẽ không bao giờ ngừng. Đây là vấn đề danh dự. Phải không Yakov?”
                              “Vâng, thưa chú.” Năm tháng có hơi tác động đến Korotkii, giống như tác động lên một con người yêu thích công việc của anh ta.
                              “Nói chuyện với Keegan. Nhắc cho hắn biết tại sao việc này lại quan trọng. Và nói cả với Pickto nữa. Tiền là động cơ, phải. Sự sợ hãi cũng vậy. Hãy làm cho chúng sợ.”
                              “Vâng, thưa chú.”
                              “Tốt. Thế là tốt. Nào.” Sergei vỗ vỗ tay. “Chúng ta sẽ tráng miệng.”
                              Chú thích:
                              [23]

                              #15
                                Thay đổi trang: 123 > | Trang 1 của 3 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 31 bài trong đề mục
                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
                                Kiểu:
                                2000-2024 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9