Nhân Chứng Ẩn Mình - Nora Roberts
Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 31 bài trong đề mục
Thanh Vân 29.11.2023 19:22:03 (permalink)

16


Dường như rất dễ dàng, gần như tự nhiên. Cô băn khoăn không biết mình đã vượt qua ranh giới và có cuộc sống bình thường như cô vẫn luôn mong mỏi chưa. Cô không biết còn được sống thế này bao lâu nữa, cho nên từng khoảnh khắc được sống bình thường một cách dễ dàng, tự nhiên đều tươi sáng và quý giá như kim cương.
Anh ở bên cô gần như tất cả các buổi tối, thỉnh thoảng cô nấu nướng, thỉnh thoảng anh mua đồ ăn. Họ có thể ngồi ngoài trời hoặc đi dạo tới địa điểm cô ưa thích để ngắm nhìn núi đồi. Anh giúp cô làm vườn, dạy cô chơi bài đôi vào một đêm mưa, rồi giả vờ bực bội khi ván nào cô cũng thắng anh.
Anh làm cô cười.
Khi anh chạm vào cô trong bóng tối, mọi lo lắng, mọi ngờ vực nhen nhóm trong cô đều tan biến. Mỗi lần cô thức giấc có anh trên giường ngay bên cạnh, tâm trạng ngạc nhiên sung sướng cứ đọng lại trong cô hàng giờ liền.
Qua anh cô biết về người dân thị trấn, chắp ghép những bức tranh trong đầu mình qua những câu chuyện vui hoặc những nhận xét không chút khách sáo mà anh đưa ra. Nhân viên thu ngân vẫn thường phục vụ cô ở siêu thị hóa ra luôn là nhà quán quân không đối thủ tại cuộc thi ăn bánh tổ chức tại công viên vào ngày quốc khánh hằng năm. Giám đốc ngân hàng là một nhà ảo thuật nghiệp dư thường biểu diễn tại các bữa tiệc của lũ trẻ. Người bạn thân nhất, lâu nhất của Brooks thì đang sắp đón đợi đứa con thứ hai.
Vào buổi tối, Brooks có thể bị gọi đi, và đã hai lần anh phải xử lý những cuộc gọi lúc nửa đêm. Mỗi khi còn lại một mình, cô đều thấy căn nhà rất khác. Không còn như lúc ban ngày khi công việc, thói quen sinh hoạt cuốn cô đi, mà như thể thiếu vắng thứ gì đó rất quan trọng.
Những lúc như vậy, cô lại cố gắng gạt bỏ cái cảm giác khó chịu rằng khi tất cả kết thúc, sẽ chẳng bao giờ có lại sự cân bằng và toàn vẹn nữa. Vì thế cô chỉ biết tập trung vào từng khoảnh khắc, từng giờ, từng ngày, từng đêm. Cứ như vậy. Cô cố gắng thoải mái và để mọi việc tự tiến triển.
Họ cùng nhau đứng ngắm luống hoa vừa trồng. Cô tự tay trồng và chăm sóc hầu hết cây cối trong nhà kính, và việc được ngắm chúng phát triển đúng như hình dung trong đầu khiến cô thấy sung sướng.
Cô phát hiện ra chuyện được giúp thêm một tay chẳng hề tổn hại gì đến niềm sung sướng ấy cả.
Cô thích cái cảm giác hơi bẩn thỉu một chút, hơi nhớp nháp mồ hôi một chút, hơi mệt một chút, và sung sướng biết rằng món bánh rau chân vịt và pho mát hấp mà cô chế biến trước đó sắp được đưa vào lò.
“Trông rất hấp dẫn.”
“Trông rất tuyệt,” anh đính chính.
“Trông rất tuyệt. Nhưng trông sẽ ngon hơn sau vài tuần nữa. Cảm ơn anh đã giúp em.”
Anh cười với cô. “Thật đấy chứ?”
“Thật mà. Anh uống bia không?”
“Anh bị gọi rồi, cho nên không uống thì hơn. Nhưng một lon Coke thì được.”
“Vâng.”
Thật đơn giản, cô nghĩ thầm lúc đi vào trong. Cô rất thích được lấy đồ uống cho anh, được chuẩn bị bữa ăn cho anh. Cô phát hiện ra rằng, nấu nướng cho ai đó ngoài mình ra đem lại cảm giác cực kỳ mãn nguyện. Cô cũng thích anh gợi ý để anh mang về một chiếc pizza hay xếp vài suất thịt băm viên lên vỉ nướng.
Cô cứ tưởng sẽ rất chật chội - căn nhà, cuộc sống của cô, nếp sinh hoạt của cô - khi có thêm anh, nhưng thế nào lại có cảm giác rộng rãi hơn. Cô cứ lo lắng rằng việc của mình - công việc và các lịch trình riêng - sẽ bị ảnh hưởng vì ai đó chiếm mất thời gian và không gian của cô, nhưng mấy tuần vừa qua cô lại làm việc rất hiệu quả. Rất nhiều nhiệm vụ nho nhỏ hay việc vặt mất ít thời gian hơn, vì đã có anh thế chỗ giúp đỡ hoặc đích thân làm luôn.
Họ không sống chung, cô tự nhủ mình, lúc rót Coke vào đá lạnh. Cô không thể để mọi việc đi nhanh như thế. Nhưng anh có một bộ đồ vệ sinh cá nhân trong phòng tắm, vài bộ quần áo trong tủ.
Cô thích nhìn thấy những thứ đó khi anh không có mặt. Chỉ cần nhìn áo sơ mi, dao cạo râu, đôi tất của anh thôi.
Chúng là bằng chứng hữu hình về sự hiện diện của anh trong cuộc đời cô.
Hoặc là cuộc đời mà cô đang cố gắng tạo dựng.
Cô ngó qua cửa sổ khi nghe thấy tiếng chó sủa, tiếng cười của Brooks.
Bert đuổi theo quả bóng tennis màu vàng như thể thế giới của nó tùy thuộc vào việc phải bắt được quả bóng. Trò chơi không chỉ đem lại sự thích thú mà còn là bài tập rất tốt. Thêm nữa, cũng khá kỳ lạ khi thấy chú chó dễ quen với anh như vậy.
Bạn bè, cô nghĩ.
Đúng, họ đã trở thành bạn bè.
Cô nhấc ly nước đá của mình lên, mang nó cùng cốc Coke của anh ra ngoài.
“Cảm ơn em. Chó của em sẽ đuổi theo quả bóng đến tận Texas nếu anh có thể ném tới đó.”
“Nó thích chạy nhảy, như thế tốt cho nó. Nó rất thích khi anh ném bóng, tại anh ném được xa hơn em.”
“Nó cũng giúp anh tập luyện đấy. Với nhịp độ này thì thứ Bảy anh sẽ chẳng cần tập ngoài bãi nữa.”
Khi điện thoại reo, cô thấy nhẹ lòng. Anh sẽ không hỏi lại, anh sẽ không ép cô. Nhưng cô biết anh muốn cô đến công viên vào thứ Bảy xem anh chơi bóng chày.
Cô chưa sẵn sàng, và anh không biết liệu cô đã bao giờ sẵn sàng chưa, để đối diện với tất cả những người sẽ xuất hiện, sẽ nói với cô hoặc về cô.
Cô nhặt trái bóng tennis nham nhở, ướt nhoét lên, ném nó đi để Bert tiếp tục trò chơi của nó.
Cô nghe thấy Brooks trả lời, “Tôi đang trên đường.” Rồi khi cài bộ đàm vào thắt lưng, “Vớ vẩn quá.”
“Lại có chuyện hả anh?”
“Một thằng ranh lắm tiền hư hỏng phê thuốc, đập phá ở sảnh khách sạn, gây gổ với người quản lý.”
“Ồ. Bạn anh Russ Conroy ấy hả?”
“Phải. Thằng ranh ấy tên Justin Blake. Nó định đánh nhau với bảo vệ khách sạn, và bây giờ thì bị họ giữ lại chờ anh tới đó. Anh xin lỗi.”
“Vì công việc thôi mà.”
“Việc này cũng mất một lúc đấy, vì nó dính đến một thằng khốn gây rối hiếu chiến; rồi ông bố có thế lực và khó chịu của nó; và cả gã luật sư đang chịu đựng cách hành xử của thằng ranh vì bị giữ chân bằng mấy đôi giày hiệu Gucci và rượu Chivas Regal. Có thể tối nay anh không quay lại được đâu.”
“Không sao đâu anh.”
“Em nói thì dễ rồi, em có bị trượt món lasagna đâu.”
“Em sẽ chừa phần anh một ít. Để lâu được mà.”
“Cảm ơn em. Anh sẽ gọi cho em. Anh phải rửa tay một chút trước khi đi.” Anh cầm lấy tay cô, cúi xuống hôn cô. “Anh sẽ nhớ em đấy.”
Cô rất thích khi nghĩ anh sẽ nhớ cô - một chút thôi. Được ai đó nhớ nhung là một trải nghiệm đầu tiên khác nữa trong đời cô.
Chú chó lon ton chạy lại khi Brooks đi vào trong, rồi đứng lên, thở hổn hển, trái bóng ngậm trong miệng, mắt dán vào cửa.
“Anh ấy sẽ quay lại nếu còn kịp,” Abigail nói. “Không có anh ấy, chúng ta cũng ổn mà. Phải biết tự lo cho mình chứ.”
Lúc ném trái bóng đi lần nữa, cô nghĩ cô sẽ làm món salad cho bữa tối. Tự mình ăn món lasagna có vẻ quá cô đơn.
***
Khách sạn mang tên quán trọ Ozark tọa lạc trên một quả đồi thoai thoải ngay trong phạm vi thị trấn. Tòa nhà kiểu Victoria bốn tầng này được một tay bán rượu lậu rất thành đạt xây dựng từ những năm 1920 để làm trang viên. Vận hên của ông ta chấm dứt đột ngột chỉ vài ngày trước khi lệnh cấm bán rượu lậu kết thúc, do bị một đối thủ dùng súng trường Henry bắn gục lúc ông ta vừa rẽ trên hiên nhà với một tay người Cuba và một ly rượu đế.
Bà góa phụ không bao giờ trở lại ngôi nhà ấy, và vài năm sau đó, nó rơi vào tình trạng xuống cấp. Tay con trai cả, vốn rất mê chơi ngựa, bán ngay khi anh ta được thừa kế tòa nhà.
Ông của Russ tự mình xây dựng và thiết kế lại, và mở làm khách sạn vào mùa xuân năm 1948. Mặc dù không phất như diều vào thời đó, nhưng nó vẫn khá ổn. Khi cộng đồng họa sĩ ra đời vào thập niên 1970 và 1980, nó xuất hiện trên rất nhiều bức vẽ, một trong số đó có may mắn lọt vào mắt xanh của một nhà sưu tập giàu có ở New York.
Được bức tranh truyền cảm hứng, nhà sưu tập, cùng với một số bạn bè và người quen của mình, bắt đầu biến khách sạn thành chốn ẩn náu lý tưởng, vừa làm việc vừa giải trí và là điểm dừng chân cho những cuộc hẹn hò bí mật.
Kết quả là bước sang thế kỷ mới, khách sạn được cải thiện mặt tiền và thêm spa cùng một bể bơi trong nhà. Tầng bốn của khách sạn còn kèm theo cả chế độ phục vụ 24/24, và là căn phòng nổi tiếng nhất trong tòa nhà.
Có Russ bên cạnh, Brooks đứng trong căn phòng với những bức tường vàng nhạt, những món đồ cổ sắc thẫm sáng bóng, và sản phẩm nghệ thuật địa phương rực rỡ.
Trên sàn nhà màu nâu hạt dẻ bóng loáng là những khối pha lê vỡ nát, bị rơi ra từ cái đèn chùm trong đại sảnh. Chiếc bình thủy tinh nặng trịch hẳn đã bị ném thẳng vào cái TV màn hình phẳng cỡ lớn, những mảnh vỡ rải khắp trên tấm thảm dệt tay giờ đã loang đầy vết tích từ một trong ba chai rượu vang đã cạn sạch. Những gì còn lại của cây đèn Tiffany vẫn phát sáng trên đống mảnh vỡ của bát đĩa, thức ăn thừa, khay đựng xà phòng toàn đầu mẩu thuốc lá và đống đĩa phim đen nằm vung vãi.
Lớp lụa màu cam và vàng bọc ngoài chiếc ghế sofa đầy vết xém thuốc lá, chẳng khác gì những con mắt xấu xí.
“Và cậu cần xem qua phòng ngủ,” Russ cố hé cái môi rách toạc và sưng vều đề nghị. “Lũ mả mẹ.”
“Xin chia buồn về vụ này, Russ.”
“Bồn tắm trong nhà tắm chính cũng đầy rượu vang, nước tiểu. Một thằng còn đập gãy vòi nước. Nhà vệ sinh thì đừng có nhắc đến.”
“Chúng ta sẽ cần đến hình ảnh trước và sau vụ việc. Cậu có thể áng chừng thiệt hại rồi quy thành tiền để giúp tớ hình dung được không?”
“Hơn bảy mươi lăm nghìn đô la, có lẽ gần một trăm đấy. Trời ơi, tớ không biết nữa, Brooks. Có khi còn hơn cả những gì chúng ta trông thấy nữa. Và ngửi thấy.”
“Bao nhiêu người đã ở đây?”
“Ba. Rồi đám đàn bà ra vào nữa. Chúng đặt phòng bằng tên bố của thằng Justin, dùng thẻ của ông ấy để làm thủ tục nhận phòng. Justin và một cô ả. Chiều tối hôm qua. Đêm qua còn có thêm một bọn nữa - chúng ta sẽ kiểm tra các băng ghi hình an ninh ở sảnh chính - vẫn là nhóm đàn đúm của nó, hai thằng Chad Cartwright và Doyle Parsins cùng hai cô ả nữa vào. Justin bảo lễ tân cho bọn chúng lên. Luật không cấm chuyện tiếp khách trong phòng. Chúng ở lại cả đêm. Lễ tân và an ninh có nhận được lời phàn nàn từ một số khách khác về chuyện ồn ào. Tớ có thể xác nhận lũ con gái ra về chiều hôm nay, còn ba thằng kia cả ngày hút cần sa, gọi dịch vụ phòng, xem phim con heo. Khoảng sáu giờ, chúng tớ lại bắt đầu nhận được phản ánh - tiếng hò hét, tiếng đổ vỡ, tiếng cười hô hố, tiếng đập phá. Chúng đã chẹn cửa lại, không mở cho quản lý tầng vào. Tớ liền chạy lên. Trời ạ, cậu có thể ngửi thấy mùi cần sa trong sảnh đấy.”
Brooks chỉ gật đầu, cứ để cho Russ xả hết ra. Hai bàn tay người bạn của anh vẫn run run do những gì Brooks hiểu là sự giận dữ và đau xót.
“Tớ bảo với thằng chó đó rằng nếu nó không chịu mở cửa thì tớ sẽ gọi cảnh sát và bố nó. Cậu thì khỏi phải nói, Brooks, nhưng tớ nghĩ chính lời đe dọa gọi cho lão già nhà nó - và đám phụ huynh còn lại của cả lũ - mới giúp tớ lọt được vào trong. Rồi thằng mất dạy đó châm chọc tớ. Chế nhạo, và chửi tớ. Căn phòng đã được thanh toán. Tớ phải chứng kiến những gì chúng đã làm ở đây, hoặc là một phần của sự việc. Thấy hai thằng kia bò lê bò càng trên sàn. Tớ điên đến mức chẳng nén được, cậu biết ý tớ là gì chứ.”
“Tớ biết.”
“Tớ bảo nhân viên quản lý tầng lúc ấy có mặt cùng tớ đi gọi an ninh. Đó là lúc thằng chó chết đấm tớ.” Anh ta thận trọng xoa xoa đầu ngón tay lên trên cái môi giập. “Rồi Carolee - cậu nhớ Carolee không?”
“Tớ nhớ.”
“Cô ấy vớ lấy bộ đàm, gọi cho Ben, bảo anh ta gọi thêm vài nhân viên cao to đến. Cô ấy rất nhanh trí. Sau đó tớ ấn thằng khốn đó vào cửa, và hai thằng kia phê thuốc đến mức chúng vừa đái vừa cười rũ rượi với nhau. Còn nó thì rũ ra ở cửa, lại còn cười cái mả bố nó với Carolee và bảo cô ấy nhập bọn với chúng nó.”
“Không thể tin được.”
Cố giữ bình tĩnh, Russ ấn mấy ngón tay vào mắt. “Nó vẫn không chịu thôi, Brooks ạ. Ben và mấy người nữa chạy đến, khi đó nó bắt đầu đá, tìm cách đấm, rồi gào thét. Carolee gọi tới đồn, và Boyd đến ngay. Anh ấy còn cử Ash yểm trợ, và tất cả chúng tớ đều cho rằng bọn họ nên báo cho cậu biết.”
“Phải báo thôi. Nó chắc chắn đã ăn trộm thẻ của bố, còn đám phụ huynh, họ sẽ bênh nó, nói rằng họ để cho nó sử dụng thẻ. Không thể chứng minh khác được, nhưng thiệt hại ở đây, rồi vụ hành hung...”
Brooks nhận ra bản thân anh cần bình tĩnh một chút. Tớ sẽ bảo Boyd cùng với Alma đến; cô ấy chụp ảnh tốt. Cô ấy sẽ lập hồ sơ toàn bộ vụ này, và Boyd sẽ tiến hành khám nghiệm hiện trường chính thức, với sự có mặt của cô ấy, của cậu hoặc Carolee, để tìm các chất cấm. Dẫu chúng có hút hít sạch cả rồi thì kiểu gì cũng vẫn còn dấu vết. Và mẹ kiếp, tớ có thể thấy cần sa lẫn với thuốc lá trong mấy cái khay xà phòng kia. Bố nó sẽ không cứu nổi thằng mất dạy hư hỏng ấy thoát khỏi vụ này đâu. Sẽ không thể nếu cậu đòi kiện nó.”
“Tớ sẽ kiện đến cùng.”
“Tốt. Giờ tớ sẽ gọi họ đến. Nếu cậu để Carolee lo vụ này thì cậu có thể đi cùng tớ. Cậu có thể gửi đơn kiện chính thức, buộc tội chúng. Cậu bảo nhân viên bảo hiểm của cậu lo vụ này, rồi giúp tớ đánh giá thiệt hại.”
Russ gật đầu. Sắc diện bừng bừng trên mặt anh ta bắt đầu dịu bớt thành màu trắng ốm yếu chẳng lấy gì làm khá hơn. “Tớ gọi cho họ rồi.”
“Vậy thì tốt rồi. Cậu có cần nghỉ ngơi chút không?”
“Không.” Russ đưa hai tay ôm mặt, xoa mạnh. “Chúa ơi, tớ thấy mệt. Tớ sẽ phải báo với bố mẹ tớ. Tớ thấy mệt với những gì chúng đã làm ở đây, nhưng tớ không cần thời gian đâu.”
“Vậy chúng ta bắt đầu thôi.”
Brooks thầm nghĩ tới màn kịch mà mình đã biết trước này. Justin Blake tác oai tác quái, chính quyền được mời đến và tạm giữ thằng khốn ngạo mạn. Trước khi kịp nói lệnh bắt thì tay Lincoln Blake đã sải chân bước vào, luật sư theo sau.
Lúc Brooks lái xe tới khách sạn, xem xét khu vực bị phá hoại nặng nhất, nói chuyện với Russ, sau đó lái xe về đồn thì tay Lincoln Blake đã chờ sẵn cùng với luật sư của mình. Blake hùng hổ bước tới.
Gã khoe một vóc dáng bệ vệ với đôi vai rộng trong bộ complet may đo rất chuẩn, cái cổ bò mộng của gã chật cứng trong chiếc cà vạt kẻ sọc. Đôi mắt xanh lơ lãnh đạm chòng chọc nhìn ra trên cái mũi cao.
Mái tóc xám của gã cắt ngắn kiểu nhà binh, mặc dù người ta vẫn đồn Blake đã trốn tránh tòng quân, đúng dịp có đợt nhập ngũ.
“Russell, tôi hiểu con trai tôi và bạn bè nó có thể phải chịu trách nhiệm về chút thiệt hại ở khách sạn của anh. Tôi xin cam đoan rằng nếu đúng như vậy thì tôi sẽ lo vụ này. Giờ anh không phải lo đâu.”
“Ông Blake, tôi xin lỗi vì có phần lỗ mãng, mặc dù vào lúc này thì không có gì phải chân thành cả, nhưng tôi không muốn tiếp chuyện ông. Brooks, tớ sẽ tới ngồi ở đồn của cậu, nếu được phép.”
“Cứ tự nhiên.”
“Thôi nào, Russell,” Blake bắt đầu, nhưng Russ vẫn cương quyết bỏ đi. Mặt Blake đanh lại. “Một chủ khách sạn cần dự trù ngân sách cho những thiệt hại hoặc chi phi phát sinh mà.”
“Ông Blake, tôi cũng không muốn nói chuyện với ông lắm.”
Khi Brooks cho thấy chiều cao vượt hẳn lão, Blake không còn khụng khiệng được nữa, nhưng thái độ thì rất rõ ràng.
“Anh là một nhân viên làm công ăn lương của thị trấn này, và anh sẽ không trụ nổi một năm ở vị trí này với thái độ đó đâu.”
“Cứ để rồi xem. Tôi chắc ông sẽ bảo tôi rằng Justin được phép sử dụng thẻ tín dụng của ông để đặt phòng ở khách sạn, đặt mọi dịch vụ phòng và đủ mọi khoản phí.”
“Dĩ nhiên.”
“Vậy thì đó là việc của ông. Những gì còn lại là của tôi.”
“Tôi muốn con trai tôi được thả ngay lập tức. Chúng tôi sẽ đền bù mọi khoản thiệt hại.”
“Vậy ông nên biết số thiệt hại kia sẽ ngót nghét, nếu không nói là còn vượt hơn, sáu con số đấy. Phải.” Brooks gật đầu trong khi mắt Blake tròn xoe, còn mặt gã đỏ lửng. “Chúng làm đủ trò ở mấy cái phòng đó.”
“Nếu Russell Conroy hoặc cha cậu ấy, người tôi luôn kính trọng, biết nghĩ chút thôi thì họ đã có thể khuếch trương cơ sở kinh doanh này để khai thác...”
“Hai sĩ quan của tôi đến khách sạn bây giờ, lập hồ sơ mọi thiệt hại. Nhân viên bảo hiểm cũng đang trên đường đến. Tôi cũng vừa từ đó về và tận mắt thấy tất cả. Các sĩ quan của tôi cũng sẽ tìm kiếm các chất phi pháp, vì chỗ đó nồng nặc mùi cần sa. Tôi không rõ con trai ông và bạn bè nó lấy vang đỏ hay rượu mạnh, bia và đủ loại rượu khác ở đâu ra, vỏ chai còn đầy ở chỗ đó, nhưng bọn chúng đều chưa đến tuổi được uống rượu hợp pháp. Thêm nữa, con trai ông tấn công Russ - lần này ông không hăm dọa tôi chứ,” Brooks đáp trả. “Nó tấn công Russ, trước mặt các nhân chứng. Nó cũng tấn công nhân viên bảo vệ, ngay trước mặt các nhân chứng.”
“Tôi muốn nói chuyện với con trai mình. Ngay bây giờ.”
“Không. Tôi sẽ nói với cậu ta, và luật sư của cậu ta có thể có mặt và cùng trò chuyện. Mặc dù chưa đủ tuổi uống rượu hợp pháp nhưng về mặt pháp lý cậu ta đã trưởng thành. Hơi vô lý, nhưng đó là luật. Ông sẽ được nói chuyện với con trai khi tôi đã xong việc với cậu ta. Mà quý ngài Blake này, ông không mua chuộc nổi nhà Conroy như ông đã làm với những người khác đâu. Họ sẽ không bị mua. Lần này, Justin sẽ phải trả giá cho những gì cậu ta gây ra.”
“Làm căng quá đấy, Gleason, anh làm căng vụ này thì rồi anh sẽ mất việc đấy.”
“Tôi nói rồi, cứ để rồi xem. Tôi đoán Justin đòi có luật sư, nhưng tôi phải kiểm tra cái đã. Chưa tới lúc cậu ta đòi luật sư thì không ai được trò chuyện với cậu ta cả.”
Brooks bước lại chỗ Jeff Noelle, một trong những nhân viên bán thời gian của anh, lúc này đang cố hết sức để tỏ ra vô can. “Nó có đề nghị luật sư không, Jeff? Cậu có để ý không?”
“Có thưa sếp. Nó cứ to mồm đòi luật sư lúc Ash và Boyd dẫn nó vào, và còn quát tháo bắt hai tù nhân khác ngậm mồm.”
“Thế thì được rồi.” Brooks quay lại. “Ông có thân chủ rồi đấy, Harry.”
“Tôi muốn nói chuyện riêng với thân chủ của mình ngay.”
“Được thôi. Jeff, cậu dẫn ông Darnell tới chỗ thân chủ của ông ấy.”
“Rõ thưa sếp.”
Mặc kệ Blake, Brooks đi về văn phòng mình rồi đóng cửa lại. “Justin gọi luật sư, đúng như dự kiến. Họ sẽ nói chuyện, sau đó tớ sẽ thẩm vấn nó. Cà phê nhé?”
“Không. Tớ xin ít nước. Tớ không nghĩ mình có thể nhồi thứ gì được.”
“Tớ sẽ lấy lời khai chính thức của cậu. Chúng ta sẽ tiến hành việc này theo đúng tuần tự, Russ. Tớ cảnh báo trước rằng tay Blake sẽ tìm cách gây sức ép bắt cậu và gia đình nhận tiền đền bù, để bỏ qua cho thằng ranh này đấy.”
Hai má Russ đỏ bừng, chẳng khác gì màu tóc anh ta. “Đời này tiền chưa phải là tất cả. Mẹ tớ mua cây đèn chùm đó tận Waterford, Ireland, vận chuyển nó về tận đây chỉ để treo ở phòng khách. Nó là niềm tự hào và niềm vui của bà. Chỉ riêng thứ đó thôi, Brooks ạ.”
“Tớ hiểu. Tớ sẽ ghi lại chi tiết này.”
“Được.” Russ nhắm mắt lại một lúc, gật đầu. “Được.”
Khi họ xong việc, Brooks xem xét kỹ mặt người bạn của mình. Vẻ giận dữ đã nhạt nên những đốm tàn nhang hiện rõ lấm tấm trên sắc diện nhợt nhạt của anh ta. “Tớ muốn Jeff lái xe đưa cậu về nhà, nhưng chắc cậu muốn quay lại khách sạn.”
“Tớ phải quay lại đó.”
“Tớ biết. Cậu ấy sẽ đưa cậu đi. Tớ phải ở đây một lát. Tớ sẽ ghé chỗ cậu khi xong việc, nếu cậu muốn.”
“Cảm ơn cậu, Brooks. Nếu cậu có thể gọi điện được, cứ báo cho tớ biết tình hình thế nào nhé.”
“Được rồi, và tớ sẽ tới chỗ cậu sau khi tớ xong. Tớ không muốn bất kỳ ai dọn dẹp hiện trường vội, được chứ?”
“Cậu nghĩ mất bao lâu - mà thôi.” Russ giơ một tay lên. “Kệ đi.”
“Tớ bảo Boyd dán băng cảnh sát lên cửa rồi. Tớ biết cậu không thích thế, nhưng chúng ta càng làm căng việc này thì càng có nhiều cơ hội chiến thắng nếu nhà Blake quyết định ra tòa.”
“Cậu cứ làm những gì phải làm.”
“Còn một việc cuối cùng.” Brooks mở một ngăn kéo và lấy ra một chiếc máy ảnh kỹ thuật số. “Nói chết tiệt đi.”
Russ hơi bật cười, thở dài. Rồi quắc mắt nhìn vào máy ảnh. “Chết tiệt.”
Khi Brooks rời văn phòng, anh nhận ra Blake không còn ở khu ngoài nữa. Có lẽ đã chuồn để tìm thị trưởng, hoặc làm nghẽn các tháp điện thoại di động bằng những cuộc gọi cho dân biểu đại diện bang, cho ngài thống đốc tính khí đồng bóng.
“Hậu quả đáng tiếc,” Alma nói, và trao cho Brooks một chiếc phong bì. “Tôi chụp được cả tấn ảnh, như cậu dặn. Tim tôi như muốn vỡ tung luôn.”
“Thứ này thì không.” Boyd giơ ra ba cái túi đựng bằng chứng. “Chúng tôi đã thấy cần sa, cả cocaine và một ít thuốc gây nghiện Oxycodone nữa cho đủ bộ.”
“Được đấy. Hai người lập hồ sơ chưa?”
“Tất cả đều đâu vào đấy và đúng quy trình. Chúng tôi cũng lấy máy quay video như sếp nói, và Ash đã xem trong khi tôi tìm kiếm. Không thể lập hồ sơ rõ hơn được nữa.”
“Mọi người làm tốt lắm. Harry vẫn ở đằng sau kia à?”
“Ông ta vẫn chưa ra.”
“Tôi sẽ ra phía sau, bắt đầu với thằng đầu sỏ đã. Boyd, anh thẩm vấn thằng Chad Cartwright đi, còn Ash, cậu lo thằng Doyle Parsins. Hai người nhắc lại cho chúng quyền của chúng, được chứ? Và ghi âm lại tất cả mọi thứ. Nếu có đứa nói ‘luật sư’ thì hai người dừng ngay.”
“Chúng vẫn chưa đòi, cũng chẳng yêu cầu gọi điện,” Ash nói với anh. “Lần cuối tôi kiểm tra, cả hai thằng vẫn say như chết.”
“Gọi chúng dậy đi.”
Brooks đi về gian phòng họp bé xíu. Anh đập cửa, đẩy mở ra. “Đến lúc chú mày và ta nói chuyện rồi, Justin.”
Justin vẫn nằm ườn trên ghế, một tay vắt hờ hững qua lưng ghế. Nó chỉ nhếch mép.
“Sếp trưởng, tôi có mấy lời muốn nói với anh.” Harry đứng lên, thì thầm gì đó với Justin khiến thằng ranh nhún vai.
Harry đi ra, đóng cửa lại. Ông ta thấp hơn Brooks một cái đầu và hơn anh khoảng mười lăm tuổi. Ngày xưa, chính Harry đã huấn luyện đội Little League của Brooks giành được một chức vô địch.
“Brooks, tôi biết ba thanh niên này có gây ra một số thiệt hại cho căn phòng khách sạn đó, và tôi hiểu có tình trạng uống rượu khi chưa đủ tuổi. Thực tế là các cậu ấy sẽ đền bù mọi thiệt hại nếu có, và trong trường hợp đó khách hàng của tôi được phép có bên thẩm định độc lập. Và cả hai chúng ta đều biết vụ uống rượu sẽ chẳng đi đến đâu cả. Chỉ phạt hành chính, có khi tư vấn tâm lý một chút là cùng. Còn về chuyện tấn công, Justin kể với tôi rằng Russ tỏ ra bực bội là điều dễ thông cảm, và cả hai đã có chút va chạm. Giờ...”
Brooks lôi tấm ảnh phần môi rách và sưng vù của Russ trong hồ sơ ra. “Ông gọi thế này là có chút va chạm hả?”
Harry trân trân nhìn bức ảnh, sau đó chỉ biết thở dài, đưa hai tay lùa vào mớ tóc màu nâu cắt ngắn của mình.
“Ông không thấy mệt vì làm cái việc này à?”
Harry phẩy một tay, lắc đầu. “Tôi phải làm công việc của tôi thôi, Brooks.”
“Ông biết là có những hôm tôi thấy công việc của mình như cứt. Công việc của ông còn cứt hơn.” Brooks mở cửa. Anh lấy ra một máy ghi âm, đặt lên bàn.
Anh nhận thấy sự việc đêm qua đã tiêu hao phần nào diện mạo công tử hào hoa quyền quý của Justin. Tốt, Brooks nghĩ, nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu trâng tráo.
“Cậu sẵn sàng với các quyền của mình chưa, Justin?”
“Rồi. Tôi có quyền chửi ông.”
“Justin,” Harry cảnh báo.
“Tự do ngôn luận mà.”
“Tôi cũng sẽ thực hiện đúng quyền đó. Ông muốn xem những thứ này không, ông luật sư.” Brooks trút cả đống ảnh ra bàn lúc ngồi xuống.
Trong khi Harry xem ảnh, Brooks quan sát thằng nhãi.
Justin Blake, con một của Lincoln và Genny Blake, sinh ra với tiền bạc, thanh thế và hình thức ưa nhìn. Với những đường nét như tạc, cái miệng hay hờn dỗi, đôi mắt biêng biếc và mái tóc óng ả dày dặn khiến cho thằng bé luôn được đám con gái để ý suốt những năm trung học.
Có thể thằng bé đã làm được gì đó, Brooks nghĩ - có lẽ nó sẽ vẫn làm được gì đó - nhưng cho đến lúc này tiền bạc, thanh thế và hình thức lại biến thành thói ngạo mạn, tính cách đê tiện và thái độ xấc xược với bất kỳ lực lượng chức năng nào.
“Justin Blake, cậu bị buộc tội phá hoại tài sản, uống rượu khi chưa đủ tuổi và hành hung người khác theo ba điểm.”
“To chuyện thấy mẹ.”
“Ồ, sẽ như vậy đấy. Và các tội danh tàng trữ nữa. Chúng tôi tìm thấy cần sa, cocaine và Oxycodone mà cậu và đồng bọn mang vào phòng.”
Justin chỉ cười khẩy. “Tôi không biết ông đang nói chuyện gì.”
“Chúng tôi đã có sẵn dấu vân tay của cậu trong hồ sơ. Tôi dám cá chúng tôi sẽ tìm thấy những thứ đó trên túi cần sa, túi cocaine, thậm chí có khi cả trên những viên thuốc nữa. Cậu được nộp tiền tại ngoại, và một trong các điều kiện để làm vậy là không dính tới ma túy, không uống rượu, không gây rối. Cậu vi phạm cả ba rồi.”
“Một tiếng nữa là bố tôi sẽ đưa tôi ra khỏi đây thôi. Nếu ông Harry muốn kiếm được khoản tiền công hào phóng thì ông ấy sẽ thu xếp mọi việc còn lại trước buổi sáng.”
“Không, và không. Lần này thì không. Russell Conroy vừa chính thức khởi kiện. Các sĩ quan của tôi cũng đã phỏng vấn nhân chứng. Như cậu thấy, chúng tôi có hồ sơ ảnh về tình trạng phá hoại mà cậu gây ra. Chúng tôi tìm được ma túy, rượu và chả mấy lúc chúng tôi sẽ gọi được mấy cô gái mà các cậu giải trí đêm qua. Tôi nghĩ sẽ càng phiền nếu có cô nàng nào tình cờ chưa đủ mười tám tuổi, vì khi đó tôi phải bổ sung thêm tội danh cưỡng bức như luật quy định và như thế là phạm pháp vị thành niên nặng thêm đấy. Nhưng cho dù không phạm tội thêm thì lần này cậu cũng không được bảo lãnh tại ngoại, tư vấn và lao động công ích đâu. Cậu sẽ làm vậy vào lúc khác.”
Justin giơ ngón tay giữa lên. “Một tiếng.”
“Cậu đã vi phạm điều kiện bảo lãnh tại ngoại, và nhìn thời gian xem! Đã qua tám giờ rồi. Quá muộn để nghe giải trình tại ngoại trong tối nay rồi. Cậu sẽ làm khách tại cơ ngơi rất tốt của chúng tôi cho tới mười giờ sáng mai, đến lúc đó chúng ta sẽ tới gặp thẩm phán và trưng tất cả ra.”
“Vớ vẩn.”
“Cảnh sát trưởng Gleason,” Harry bắt đầu, “phụ huynh của thân chủ tôi là những nhân vật đáng kính của cộng đồng. Tôi tin chúng ta có thể thả Justin để họ giám sát an toàn một tối.”
Brooks nhìn như xoáy, nghiêm nghị. “Sẽ không có chuyện đó. Cậu ta ở lại. Tôi có thể không cản được thẩm phán cho nộp tiền tại ngoại vào sáng mai, nhưng trước lúc đó thì cậu ta thuộc thẩm quyền của tôi.”
“Ông chẳng là cái đinh gì. Ông chỉ là một thằng cớm hãnh tiến đang cố khoe mẽ thôi. Bố tôi sẽ dùng tiền đập chết ông. Ông chẳng làm đếch gì được tôi đâu.”
“Đúng là cái hạng chỉ biết đem tài khoản ngân hàng của bố ra khoe - ai thèm sợ cái thằng trẻ ranh xoắn quẩy bên trong cậu. Biết tôi sẽ làm gì với cậu không? Tôi có thể bắt giữ rồi buộc tội cậu và tôi đã làm rồi. Tôi có thể tống giam cậu cho tới lúc thẩm phán bảo tôi làm khác. Tôi có thể - tôi sẽ làm thật đấy, không đùa đâu - làm chứng trong phiên tòa xử cậu, nếu cậu dám đem vụ này ra tòa, và kể chi tiết từng hành vi phá hoại, vô tích sự, xấu xa của cậu.”
“Tôi cần ở riêng với thân chủ của mình một lúc.”
“Ông đã có hơn nửa tiếng với cậu ta rồi.”
“Brooks, tôi cần ở riêng với thân chủ của mình.”
“Được thôi. Khi nào các vị xong, nó sẽ vào buồng giam.”
Brooks bước ra. Chưa đầy mười giây đã nghe thấy tiếng gào. Anh biết mình có phần nhỏ nhen, và có vẻ hơi vi phạm đạo đức nghề nghiệp, nhưng trong lòng anh thấy thật khoan khoái khi nghe Justin nổi cơn tam bành như một đứa trẻ ranh hai tuổi.
#16
    Thanh Vân 29.11.2023 19:22:36 (permalink)

    17


    Trong căn nhà yên ắng với chú chó ngáy khò khò dưới chân, Abigail xem qua một lượt các tài liệu của FBI mà cô xâm nhập được. Cô thấy vui vì đặc vụ Elyse Garrison đã lần theo đầu mối mà cô để lại và tiếp tục điều tra. Con số năm phẩy sáu triệu mà chiến dịch của FBI đã tịch biên ngang là một cú đòn ngoạn mục đau điếng, đủ để phát điên, theo như Abigail thấy. Và sáu nhân vật sẽ bị bắt.
    Rất khó để khiến nhà Volkov ngừng hoạt động, nhưng việc này sẽ làm chúng bực tức và khiến chúng sục sâu hơn vào tổ chức, cố gắng tìm cho ra nguồn tiết lộ.
    Hài lòng, cô đóng các file tài liệu lại, tự nhủ mình cần phải đi ngủ. Đã gần nửa đêm, và cô đã ký được hợp đồng hai công việc mới trong tuần. Cô cần lấy lại sức để bắt đầu công việc vào sáng mai.
    Nhưng cô không mỏi mệt. Abigail tự nhận mình là người không biết ngừng nghỉ. Và những gì cô đang làm, dưới vỏ bọc công việc và nghiên cứu, là chờ đợi điện thoại của mình reo vang.
    Cô tự hỏi, không biết đã bao nhiêu lần cô đọc một cuốn sách hay xem một bộ phim rồi phát bực vì chi tiết một phụ nữ đợi người đàn ông gọi đến? Với cô dường như những người phụ nữ làm vậy không chỉ thiếu sự tự tôn mà còn rất ngốc nghếch.
    Giờ thì cô chỉ có thể phát bực với chính mình.
    Cô không thích thú gì cái cảm xúc đã trải qua, một sự kết hợp giữa tâm trạng bồn chồn và lo lắng. Chỉ loáng thoáng thôi, nhưng rõ là có.
    Thậm chí cô không muốn mối quan hệ này, cô tự nhủ, và chắc chắn cô không muốn cái vị thế khó chịu và không lấy gì làm hấp dẫn của mình lúc này.
    Cô không hề đòi hỏi những cuộc điện thoại, những buổi hẹn ăn tối hay tán gẫu... đại loại thế. Tất cả những điều đó xen vào nhịp sống thường ngày của cô, làm rối thời gian biểu của cô và quan trọng hơn, chỉ dẫn tới những điều phức tạp mà cô không thể mạo hiểm.
    Nhưng cô phải thừa nhận rằng thật tuyệt sau khi có được những điều đó, được quên đi - chỉ trong vài phút thôi - và đơn giản được là Abigail.
    Cô nàng Abigail mà anh ta si mê và thích được ở bên.
    Nhưng như thế chẳng phải là lọt vào cũng cái bẫy mà cô đã tự giăng ra cho mình nhiều năm trước chăng? Thuyết phục bản thân rằng cô có thể là những gì không phải là cô, có những gì mà cô không thể có chăng?
    Thật tốt, tốt hơn cả - không, tốt nhất - là anh không gọi. Cô có thể điều chỉnh bản thân ngay lập tức, cuộc sống của cô sẽ trở lại y như trước khi anh làm thay đổi.
    Cô sẽ pha cho mình một ít trà thảo mộc. Cô sẽ mang lên gác và đọc sách đến khi buồn ngủ. Thế mới hợp lý chứ. Thế mới là cô chứ.
    Khi cô đứng lên, chú chó choàng tỉnh ngay. Nó theo chân cô vào bếp và ngồi đợi khi trông thấy cô đổ nước vào siêu.
    Một chú chó ngao, cô nghĩ thầm, khi đặt siêu lên bếp lò, một căn nhà an toàn, thoải mái và công việc vừa ý. Đó là những thứ duy nhất cô thấy cần để được toại nguyện, và sự toại nguyện là tất cả những gì cô cần.
    Rồi khi hệ thống báo động của cô phát tín hiệu, cô không còn cảm giác căng thẳng và sẵn sàng như thường lệ nữa. Thay vào đó, cô cảm thấy trào lên một niềm hy vọng. Bị cảm giác đó kích thích, cô liền hướng mắt về phía màn hình để quan sát cảnh Brooks lái xe tới chỗ căn nhà.
    Anh quá bạo, cô nghĩ, khi đến nhà cô sau nửa đêm. Cô ước gì lúc này mình đã tắt hết đèn và lên giường. Nếu cô làm vậy, ít nhất anh sẽ không có lý do gì nghĩ cô vẫn đợi anh.
    Cô sẽ bảo anh cô sắp đi ngủ và rất mệt không muốn có ai ở bên. Đơn giản và hợp lý, cô nghĩ, lúc đi ra cửa.
    Cô mở cửa lúc anh bước ra khỏi xe, và nhờ ánh sáng những ngọn đèn an ninh, cô nhìn gương mặt anh, những cử động của anh, vẻ mệt mỏi, giận dữ, buồn phiền.
    “Xin lỗi em.” Anh đứng một lúc ở thềm hiên nhà, ngập trong ánh sáng rực rỡ. “Lẽ ra anh nên gọi điện sớm hơn. Lẽ ra anh nên về nhà.”
    “Anh có làm vậy đâu.”
    “Không. Mọi việc rất phức tạp.” Anh thọc một bàn tay qua mái tóc. “Và anh đến đây khi còn chưa kịp nghĩ xem đã muộn thế nào rồi. Em vẫn còn thức.”
    “Vâng.” Vẻ cương quyết của cô dịu hẳn và tan biến khi cô nhìn kỹ gương mặt anh. “Em đang pha trà. Anh muốn uống trà không?”
    “Tốt quá.” Anh đi lên bậc tam cấp. “Anh xin lỗi anh đã không cho em biết anh sẽ đi lâu như vậy.”
    “Anh có công việc. Em cũng vừa làm việc xong.”
    Không nói gì, anh quàng tay quanh người cô, áp mặt vào tóc cô. Không phải để vui thích, cô nhận ra như vậy. Cô phải mất một lúc mới giải mã được ý nghĩa của cái ôm ấy. Anh tìm thấy sự thoải mái. Anh tìm đến cô vì muốn được thoải mái, và không ai khác làm được vậy.
    Cô định vỗ nhẹ lưng anh nhưng lại thôi. Nhắm mắt lại, cô cố gắng hình dung những gì mình muốn. Cô xoa xoa lưng anh theo những vòng tròn nhỏ, cho tới khi cô nghe thấy anh thở dài.
    “Siêu nước đang sôi,” cô bảo anh khi nghe thấy tiếng còi rít lên.
    “Phải.” Nhưng anh chần chừ một lúc nữa rồi mới lùi lại.
    “Anh vào đi. Em cần khóa cửa.”
    “Để anh làm cho.”
    “Không, em...” Cô sẽ chẳng cảm thấy thực sự yên tâm nếu không tự mình khóa cửa.
    “Được rồi. Anh sẽ giải quyết siêu nước.”
    Khi cô xong việc, cô thấy anh đang rót nước sôi vào ấm trà đã được cô đong sẵn.
    “Hương chanh, đúng không? Thỉnh thoảng buổi tối mẹ anh cũng làm y hệt.”
    “Rất dễ chịu.”
    “Anh xin một tách vậy.”
    Cô lấy ra bộ tách đĩa thứ hai. “Bạn anh ổn chứ?”
    “Không hẳn.”
    “Thế à?” Lập tức thấy xấu hổ vì sự khó chịu lúc nãy của mình, cô liền quay lại. “Anh ấy có bị đau không?”
    “Chỉ là một nắm đấm trúng mặt thôi, trước đây anh ta từng được nếm mùi rồi. Anh ấy chỉ bị lại thôi.”
    Im lặng, cô sắp xếp tách, ấm, bát đường và thìa lên bàn. “Anh ngồi xuống đi. Trông anh rất mỏi mệt. Chúng ta sẽ phải dùng chung cái lọc trà khi ngâm vào nước rồi. Em chỉ có mỗi một cái.”
    “Không sao đâu.”
    Cô vẫn đứng trong khi anh ngồi xuống. “Anh có muốn ăn gì không? Em còn lasagna. Có thể đem hâm nóng lại.”
    “Không. Không cần, nhưng cảm ơn em.”
    “Anh có vẻ không vui,” cô buột miệng.
    “Cũng có phần nào. Tại cũng gặp nhiều chuyện vớ vẩn nữa. Anh phải gạt bỏ tất cả trước khi xử lý vào ngày mai.”
    “Anh có muốn kể cho em không, hay em cần đổi chủ đề?”
    Anh hơi mỉm cười. “Em ngồi xuống đi, Abigail, và uống trà đi.”
    “Em không biết em có giỏi việc này không,” cô nói trong lúc ngồi xuống.
    “Việc uống trà à?”
    “An ủi. Hoặc xoa dịu. Vì anh vừa giận vừa buồn, nên cần cả hai thứ.”
    Anh đặt nhẹ một tay lên tay cô, sau đó rót trà ra. “Lát sẽ biết ngay. Gia đình Russ sở hữu khách sạn đến nay đã ba đời. Với họ, nó không chỉ là cơ sở kinh doanh, cũng không chỉ là kế sinh nhai.”
    “Nó là một phần quan trọng trong lịch sử gia đình họ, và vị trí của họ trong cộng đồng.”
    “Phải. Đó còn là niềm tự hào và tình yêu. Justin Blake, em đã nghe đến tên Blake chưa?”
    “Rồi ạ. Đó là một gia đình giàu có và thế lực trong vùng.”
    “Justin là một thằng nhãi cứng đầu chuyên quậy phá, từng say rượu lái xe, hư thân mất nết. Nó đã phải bóc lịch dài dài nếu ông bố của nó không dùng tiền bạc và ảnh hưởng, hay áp lực chính trị - bất cứ thứ gì được - để cứu nó. Thằng ranh không biết tôn trọng pháp luật hay bất kỳ thứ gì khác.”
    “Rất khó để phát triển một con người nếu cậu ta được phép hành xử vô lối mà không bị trừng phạt. Em xin lỗi,” cô nói nhanh, “Em nên nghe đã.”
    “Không sao. Nhưng mà vụ mới nhất của nó đây. Nó và mấy đứa mèo mả gà đồng mà nó vẫn giao du đặt cái phòng đẹp nhất tại khách sạn và phá phách. Phá hủy nơi đó.”
    “Tại sao?”
    “Vì thích quậy phá, vì nhàn cư vi bất thiện, bởi chúng có thể làm như vậy. Gây chuyện.” Brooks nhún vai, rồi đưa tay xoa mặt. “Tối nay Russ đến xử lý chúng khi khách khứa phàn nàn về tình trạng ồn ào. Kết cục là thằng Justin đấm anh ấy, đánh cả bảo vệ, và bị bắt. Lần này thì nó sẽ không thoát được đâu. Chắc thiệt hại phải hơn một trăm nghìn đô cơ đấy. Có khi còn hơn.”
    “Thế thì lớn quá.”
    “Phải, chính thế, và Russ cùng bố mẹ anh ấy sẽ không nhượng bộ khi Lincoln Blake bức bách họ. Lúc tối anh đã nói chuyện với anh ấy và thằng ranh kia.”
    “Anh cũng sẽ không nhượng bộ.”
    “Phải, anh sẽ không nhượng bộ. Justin và lũ bạn nó đang qua đêm trong buồng giam. Ngày mai chúng sẽ nộp tiền tại ngoại, Blake sẽ làm việc đó. Nhưng Justin có hai lựa chọn. Nó giải trình và ngồi tù, hoặc nó ra tòa và ngồi tù, nhưng lần này nó xong rồi. Và dù thế nào thì nhà Blake cũng phải đền bù thiệt hại đầy đủ. Trời ạ, bực cả mình.” Anh bật dậy, đi nhanh về phía cửa sổ. “Lẽ ra anh nên về nhà.”
    “Anh sẽ không bực tức ở nhà à?”
    “Không, anh nổi cáu ở bất kỳ đâu. Cái thằng cha khốn kiếp hút thuốc như ranh, hãnh tiến và béo ị ấy lại đe dọa anh chuyện công việc, và anh sợ gã chắc?”
    “Gã bố à?”
    “Phải, là gã bố.”
    “Gã có đuổi việc được anh không?”
    “Nếu gã làm được thế thì người ta cứ giao việc cho ai thì giao. Anh chẳng thèm nếu anh không làm nổi việc đếch gì. Không có chuyện một thằng cậy quyền cậy thế ất ơ nào đó thích làm gì thì làm trong khi anh cứ phải nhắm mắt làm ngơ đâu.”
    “Đồng tiền là sức mạnh mà,” Abigail nói khẽ, “nhưng nó không phải là sức mạnh duy nhất.”
    “Chúng ta sẽ biết thôi. Anh đã đến nói chuyện với bố mẹ Russ, rồi với Russ và Seline - vợ anh ấy- sau khi anh làm việc với luật sư. Bà cụ khóc. Bà Conroy ấy. Người phụ nữ vui tính, đáng mến lúc nào cũng có lọ bánh quy đậu phộng bơ này gần như suy sụp và chỉ biết khóc. Lẽ ra anh đã phải tìm cách tống khứ thằng ranh mất dạy kia trước khi mọi việc đến nước này.”
    “Trách cứ bản thân vì những gì nó làm hay những gì bố nó có thể làm cũng vô ích thôi, nhất là khi chúng đã quen thói như vậy từ trước khi anh đảm nhận vị trí cảnh sát trưởng. Việc cần làm là bắt giữ nó, thì anh đã làm rồi, và chuẩn bị bằng chứng để công tố viên kiên quyết ra một bản cáo trạng buộc tội khi xét xử. Còn như thế không phải là đồng cảm đâu,” cô nhận xét.
    Brooks lại ngồi xuống, nhấc cốc trà của mình lên. “Nói vậy nhưng mọi việc khá suôn sẻ. Anh biết cách xử lý mà, Abigail.”
    “Nhưng bạn anh và gia đình anh ấy bị tổn thương. Chuyện này dính dáng đến cảm xúc cũng như tài chính, sức khỏe và hình sự. Chúng sẽ phải trả giá cho hành động của mình. Gánh chịu hậu quả. Cũng như công lý.”
    Bàn tay cô co lại thành nắm đấm trên bàn một lúc rồi cô mới thả lỏng ra.
    “Khó mà nén nổi cảm giác buồn, giận, thậm chí là tuyệt vọng khi những điều xấu xa xảy ra, bởi nỗi sợ, quyền lực và tiền bạc thường vẫn lấn lướt công lý.”
    Anh nhổm về phía trước, đặt một bàn tay lên tay cô. “Ai đã làm tổn thương em vậy?”
    Cô lắc đầu, không nói gì.
    “Thôi anh không hỏi nữa.”
    “Ngày mai anh định làm gì?”
    “Anh có một cuộc gặp lúc bảy rưỡi với công tố viên để điểm lại mọi việc lần nữa. Bọn anh sẽ nghe tố cáo, nghe điều trần việc nộp tiền tại ngoại. Anh đoán họ sẽ thả Justin và bọn kia cho tới khi mở phiên tòa. Anh không nghĩ nó sẽ chấp nhận thỏa thuận nhận tội. Chắc phải chờ tới khi gần tuyên án, nếu đám luật sư không làm rối thêm. Gia đình Conroy rất bực nên sẽ theo đến cùng vụ kiện dân sự. Anh sẽ không ngăn cản chuyện đó. Đã đến lúc cần có sức ép từ phía bên kia.”
    “Vậy thì anh biết mình phải làm gì và tiến hành như thế nào. Bọn họ hung hăng không?”
    “Thằng ranh cứ thích tỏ ra bố đời.”
    “Ý em là họ có thể hoặc có tìm cách làm hại anh hoặc gia đình bạn bè anh không? Dùng bạo lực như một cách hăm dọa.”
    “Không nói chắc được, nhưng anh sẽ không để xảy ra chuyện đó đâu. Blake thường dùng tiền làm vũ khí thôi.”
    Abigail trầm ngâm. “Em không tin bọn họ có thể sa thải anh.”
    “Em không tin ư?”
    “Nói một cách khách quan, gia đình anh là không thể thiếu vắng trong cộng đồng. Được quý mến và kính trọng. Anh cũng được quý mến và kính trọng. Em cho rằng là một gia đình kinh doanh đã nhiều thế hệ, với một món bất động sản quan trọng trong cộng đồng, bạn anh và gia đình anh ấy cũng rất được coi trọng. Tài sản của họ bị hủy hoại bởi lối hành xử vô lối và ích kỷ, cho nên họ sẽ nhận được sự cảm thông và bất bình. Đó cũng chính là vũ khí. Ngoại suy từ những gì anh nói tối nay, em phỏng chừng rằng nhà Blake khiến người ta sợ sệt chứ không hề được yêu quý. Chắc trong cộng đồng có nhiều người rất vui nếu thằng con trai nhà ấy bị trừng phạt vì những hành vi của nó.”
    “Ngoại suy. Sao em có thể dùng được những từ ngữ như thế mà vẫn khiến cho anh cảm thấy khá hơn rất nhiều nhỉ?”
    “Thế ạ?”
    Lần này anh đặt một bàn tay lên tay cô và cứ để nguyên thế. “Em đã nói đúng về chuyện buồn phiền. Anh thấy như vậy, và rất cáu, lại thất vọng nữa. Chúng ta sẽ phải thêm một chút cảm giác rầu rĩ cho chính anh nữa. Giờ thì anh chỉ còn thấy tiếc và muốn điên lên vì phải chờ để trừng trị chúng nó - nói về mặt pháp lý ấy.”
    “Thế ổn chứ?”
    “Quá ổn luôn.” Anh siết chặt nắm tay. “Anh nên về thôi.”
    “Giá mà anh ở lại được.”
    Anh lật bàn tay cô để cho những ngón tay họ đan vào nhau. “Đúng ý anh rồi.”
    “Chúng ta đi ngủ thôi.”
    “Hai bộ óc, một suy nghĩ.”
    “Muộn rồi anh,” cô nói rồi đứng dậy thu dọn đồ uống trà. “Anh mệt rồi. Và vẫn còn chút buồn bực. Tình dục sản sinh ra endorphin, cho nên trong nhất thời anh sẽ cảm thấy...” Cô hơi bối rối khi quay lại và thấy anh đang cười cô.
    “Anh yêu em một nửa rồi đấy,” anh bảo cô, “và đang tiến rất nhanh thành ba phần tư.”  
    Trong cô có gì đó bừng lên như ánh nắng rồi tan biến đi và một cảm giác hoảng hốt trào lên. “Xin đừng làm vậy.”
    “Anh không nghĩ đó là chuyện em làm được hay không. Nó là chuyện xảy ra hoặc không xảy ra.”
    “Đó là sự pha trộn của cuốn hút thể xác và nhục dục, cùng với cảm giác mới lạ và tình trạng căng thẳng giữa lợi ích chung và xung đột lợi ích. Mọi người thường nhầm lẫn giữa phản ứng hormone và những sự đồng điệu nào đó với những gì họ nghĩ là tình yêu.”
    Anh vẫn mỉm cười lúc đứng lên, nhưng có gì đó lấp lánh trong mắt anh khiến cô thận trọng lùi lại một bước lúc anh tiến về phía cô.
    Anh đặt tay lên vai cô, cúi đầu áp môi mình lên môi cô. Anh nói, “Suỵt,” và lại hôn cô. “Em không cần nói cho anh biết anh cảm thấy hay không cảm thấy gì, nếu không anh có thể lại nổi khùng mất. Chúng ta không muốn thế, phải không nào?”
    “Phải, nhưng...”
    “Suỵt,” anh lặp lại, đôi môi anh thì thầm sát môi cô. “Nàng Abigail xinh đẹp, luôn đầy nghi ngờ và lập luận sắc sảo. Lại hay lo lắng nữa.”
    “Em không lo lắng.”
    “Lo lắng,” anh nhắc lại, ngón tay cái lướt dọc bầu vú cô trong khi miệng anh tiếp tục đùa giỡn với miệng cô. Cọ xát, lướt qua, vuốt ve. “Khi em không chắc về điều gì tiếp theo, khi em không nắm rõ mọi việc, hay một tương lai mờ ảo. Anh thích cảm giác lo lắng.”
    “Tại sao?”
    “Và anh thích câu hỏi tại sao đầy tò mò.” Anh kéo áo của cô lên và cởi ra, nhìn vẻ ngạc nhiên - và, đúng, chỉ còn một chút lo lắng - ánh lên trong mắt cô. “Anh thích thú được biết em không hình dung ra việc này.” Hai bàn tay anh lướt dọc sườn cô ngược lên, đến hai bầu vú của cô, rồi đi xuống. “Hành động và phản ứng, phải không? Anh thích những phản ứng của em.”
    Cô thừa nhận có tâm lý lo lắng. Dường như tâm lý ấy lan theo da cô, phía bên dưới, co cụm lại ở bụng cô, siết chặt trái tim cô làm tăng nhịp đập. Mọi thứ trong cơ thể cô đều có cảm giác êm ái, sau đó sắc lạnh, buông chùng rồi rối bời.
    Cô biết thích nghi thế nào đây.
    “Chúng ta lên gác thôi.”
    Cô cảm nhận được môi anh áp vào cổ cô, và những ngón tay anh lần ngược phía sau lưng cô và lần mở móc khóa áo ngực của cô. “Anh thích gian bếp của em.” Anh đổi chân, kiễng hẳn mũi giày lên. “Chỗ đó ấm áp. Và hiệu quả. Anh thích cách cảm nhận của em dưới bàn tay anh. Abigail.”
    Cô chìm vào nụ hôn, hấp tấp, hổn hển khiến cô thấy chóng mặt và yếu đuối. Sức cám dỗ. Mặc dù cô chưa bao giờ cho phép mình bị cám dỗ - điều đó là không cần thiết - nhưng tâm trí của cô nhận ra cảm xúc đó. Còn cơ thể cô hoàn toàn khuất phục.
    Thèm khát cảm nhận da thịt anh, các cơ bắp của anh, xương của anh, cô lùa hai bàn tay dưới áo sơ mi của anh, thấy rõ sự ấm áp, rắn chắc, êm ái. Hơi thở của cô thêm hổn hển khi anh xốc cô lên, đặt cô ngồi trên quầy bếp. Cảm giác bất ngờ còn chưa bộc lộ hết thì miệng anh đã áp sát ngực cô.
    Thật nóng bỏng, thật ướt át, thật mạnh mẽ, cô bật lên tiếng kêu đầy khoái cảm. Lẽ ra chỉ lát nữa cô sẽ nghĩ đến trạng thái cực khoái lan khắp cơ thể cả do bất ngờ lẫn cảm xúc. Nhưng lúc này điều đó đến với cô lúc chưa kịp chuẩn bị, khiến cô run rẩy và không có khả năng tự vệ.
    “Brooks.” Cô muốn nói với anh chờ đã, chờ cho tới khi cô vững tâm, nhưng miệng anh đã lại áp vào miệng cô, cuốn cô đi thật nhanh, thật sâu, nên cô chỉ biết run rẩy và chấp nhận.
    Trước kia cô chưa bao giờ bị cuốn đi, anh nhận ra như vậy. Không như thế này, khi cô hoàn toàn chịu thua, khi cô không thể tách một phần nhỏ của mình ra để duy trì sự kiểm soát.
    Và lạy Chúa, anh muốn cuốn cô đi, phá tan cái sự kiểm soát bẩm sinh và hấp dẫn đó.
    Anh kéo mạnh khóa kéo của cô xuống và, hơi nâng cô lên, kéo tuột quần bò của cô ra. Không để cho cô có thời gian bình tĩnh lại, anh áp miệng mình lên miệng cô lần nữa, nuốt chửng luôn sự phản kháng bản năng của cô. Anh vuốt ve cô, chòng ghẹo và nhẹ nhàng. Cô đã nóng rực, đã nhễ nhại, đã cân bằng lại. Anh muốn cô cuốn đi, duy trì cái cảm giác đó cho tới khi nó chế ngự và lấn át tất cả.
    Anh muốn nhìn thấy cô như vậy.
    Không khí, đặc quánh và ngọt ngào, khiến cô cảm thấy ngất ngây với từng hơi thở. Cảm giác đê mê anh mang đến cho cô thật trọn vẹn, thật thuần túy, dường như cô kẹt cứng trong đó, lún sâu và chìm nghỉm. Hàm răng anh cắn lấy đầu vú cô, mang cô đến một trạng thái tinh tế ngấp nghé cảm giác đau khi anh đẩy cho sức nóng ấy lên cao nữa.
    Đến lúc cô nghĩ mình không thể chịu đựng được, không thể kiềm chế được, mọi thứ như bung ra. Cô nghe rõ tiếng mình rên rỉ, thứ âm thanh kéo dài trong cổ họng khi đầu cô gục mạnh trên vai anh.
    Cô muốn quấn chặt lấy anh, thu mình trong lòng anh, nhưng anh đặt cô nằm nghiêng, vắt đôi chân run rẩy của cô quanh eo anh. Và anh đưa vào người cô.
    Sự dụng chạm rất mới mẻ, khoái cảm rất mới mẻ. Mạnh mẽ, nhanh và cuồng nhiệt. Cơn lũ đang trào dâng ào ạt biến thành ngọn sóng triều dữ dội. Anh kéo cô xuyên qua nó, nhấn chìm cô trong nó, cho tới khi ngọn triều dữ dội hất tung cô lên mặt nước. Cô chỉ có thể lềnh bềnh ở đó, cho tới khi anh hòa cùng cô.
    Lúc này, dần dần, cô cảm nhận được tim anh đập thình thịch sát ngực cô, và những tiếng thở hổn hển của anh rõ mồn một bên tai cô. Cô cảm nhận được bề mặt trơn nhẵn của quầy bếp phía dưới mình, ánh sáng chói lòa của những ngọn đèn bếp đập vào mi mắt khép chặt của cô.
    Cô cần một hai khoảnh khắc, chỉ một hoặc hai khoảnh khắc để cân bằng trở lại, khi đó cô có thể...
    Anh lại làm cô bất ngờ khi xốc cô khỏi quầy bếp, ôm gọn trong cánh tay anh.
    “Anh không phải...”
    “Suỵt,” anh lại nói, và bế cô lên gác.
     
    Sáng ra, cô xuống nhà trước và chỉ biết dừng lại sững nhìn. Cô đã để nguyên đèn đóm, một sự bất cẩn gây lãng phí điện. Nhưng dường như cô không thể tỏ thái độ quá về chuyện đó. Quần áo vương vãi khắp nền nhà, của cô và của anh.
    Cô xem xét quầy bếp với vẻ ngạc nhiên. Cô chưa bao giờ biết đến khoái cảm tình dục ở những nơi kỳ cục hoặc khác thường cả. Sao phải thế khi mà một chiếc giường, thậm chí một chiếc đi văng lại thoải mái và thuận tiện hơn nhỉ?
    Dù đôi khi cô thực sự thích ân ái trong phòng tắm.
    Rõ ràng quan điểm của cô còn quá hạn hẹp, mặc dù cô thắc mắc không biết phải mất bao lâu cô mới có thể làm các công việc bếp núc bình thường với tâm trạng bình thản được.
    Còn lúc này, cô chuẩn bị cà phê, sau đó thu gom tất cả quần áo, gấp lại thật gọn gàng. Lúc Brooks xuống - trần như nhộng thì cô đã thu dọn xong gian bếp và bắt đầu chuẩn bị bữa sáng.
    “Hình như anh để quần áo dưới này.” Thích thú thấy rõ, anh nhặt chiếc quần bò cô đã gấp gọn, mặc vào người. “Em không cần phải dậy sớm chuẩn bị bữa sáng thế này.”
    “Em thích dậy sớm, và đừng ngại chuyện chuẩn bị bữa sáng. Anh sắp có một ngày vất vả đấy. Anh sẽ cảm thấy tốt hơn nếu anh có được một bữa ăn. Cũng chỉ là một suất trứng ốp lết và vài lát bánh mì thôi mà.”
    Khi cô quay lại, anh đã mặc xong áo sơ mi và đang nhìn cô, chỉ nhìn cô, bằng đôi mắt linh động, láu lỉnh kia.
    “Em ước gì anh đừng nhìn em như thế.”
    “Như thế nào?”
    “Em...” Cô quay đi để rót cà phê. “Em không biết.”
    Anh đến sau lưng cô, vòng tay quanh eo cô, gắn một nụ hôn lên gáy cô. “Vòng qua gôn số ba rồi chạy về gôn nhà ăn điểm,” anh thì thầm.
    “Đó là một thuật ngữ bóng chày. Chúng ta có chơi bóng chày đâu. Em không biết thế nghĩa là sao.”
    Anh xoay người cô lại, hôn nhẹ lên môi cô. “Có, em biết. Chẳng có gì phải hoảng hốt cả.” Anh xoa xoa trạng thái căng cứng trên vai cô. “Chúng ta cứ đơn giản thôi. Ốp lết kiểu gì vậy em?”
    “Ba lát pho mát với rau chân vịt và tiêu.”
    “Ngon thế. Anh sẽ lấy bánh mì.”
    Anh vòng qua bếp rất nhanh nhẹn, như thể anh thuộc về nơi này vậy. Cảm giác hốt hoảng lại râm ran trong cổ họng cô. “Em không...” Người ta nói thế nào nhỉ “Em không hợp với việc này.”
    “Việc gì?”
    “Bất kỳ việc gì như thế này.”
    “Anh thì có.” Anh bỏ bánh mì vào lò nướng, tựa vào quầy bếp. “Anh không dám chắc về chuyện đó, cho tới khi gặp em. Nhưng anh hợp với tất cả chuyện này. Anh thấy vậy đấy, cả em cũng thế. Cho nên chúng ta cứ để tự nhiên đi.”
    “Em không phải là người như anh nghĩ đâu.”
    Anh chăm chú nhìn cô, từ từ gật đầu. “Có lẽ không đúng đến từng chi tiết. Có lẽ không hẳn. Nhưng anh đang ngắm em, Abigail, anh đang nghe em, và em đúng là người như anh nghĩ.”
    “Đó không...” Cô suýt nói với anh rằng đó không phải là tên thật của cô. Làm sao cô lại trở nên rắc rối, khinh suất thế này chứ? “Đó không phải thứ anh nắm rõ được.”
    “Anh biết đó không phải là những gì em định nói. Anh rất giỏi đọc ý nghĩ người khác. Người vùng này có biệt tài như vậy. Anh biết em sợ gì đó, hay ai đó. Em đã một hai lần va vấp, và phải làm những gì em có thể để tự vệ. Đừng trách mình vì chuyện đó.”
    Ánh sáng ùa vào cửa sổ phía lưng anh, tỏa một vầng hào quang quanh mái tóc anh. Mái tóc sẫm màu, vẫn rối bù sau giấc ngủ đêm và cả do hai bàn tay cô.
    “Em không biết nói gì với anh nữa.”
    “Em có rất nhiều bí mật ẩn sau đôi mắt em, và rất nhiều gánh nặng đè lên vai. Anh vẫn tin rằng một ngày nào đó em sẽ chia sẻ những bí mật ấy và gánh nặng ấy với anh, và chúng ta sẽ cùng nhau giải quyết chúng.”
    Cô chỉ lắc đầu, quay đi để xúc trứng ốp lết ra đĩa. “Chúng ta không nên nói về chuyện này, đặc biệt là bây giờ. Anh sẽ bị muộn phiên tòa đấy, còn em có hai hợp đồng nữa phải thực hiện.”
    “Chúc mừng em. Tối nay em có muốn anh đem món nào đó tới không?”
    “Em có lasagna rồi.”
    “Càng tốt.”
    Cô đặt đĩa xuống vừa lúc bánh mì nướng xong, rồi ngồi xuống với vẻ. “Em có mời anh đâu.”
    “Chúng ta qua giai đoạn đó rồi.”
    “Em không biết thế nào là qua giai đoạn đó.”
    Anh mang bánh mì nướng lại, đặt một lát lên đĩa của cô rồi ngồi xuống.
    “Trông ngon đấy.”
    “Anh lại đổi chủ đề, hay anh đồng ý chứ không tranh cãi. Vì anh biết chắc rằng cuối cùng anh sẽ lại được theo ý mình.”
    “Em cũng giỏi đọc vị người khác đấy.” Anh cắn một miếng trứng. “Rất ngon. Em có thể thành đầu bếp đấy.”
    “Anh thật nhiễu sự.”
    “Anh biết, nhưng bù lại anh khá ưa nhìn.”
    Cô không muốn cười nhưng chẳng thể nén được. “Anh không ưa nhìn lắm đâu.”
    Anh bật cười và ăn bữa sáng của mình.
    Lúc anh ăn xong, cô ngẫm nghĩ về những lựa chọn của mình. Cô không thể kể cho anh, dĩ nhiên rồi, nhưng giả sử nếu cô làm vậy thì kết quả có thể là gì nhỉ?
    Cô vẫn đang bị truy nã về việc sát hại hai cảnh sát Tư pháp. Là một sĩ quan hành pháp, anh có nghĩa vụ giao nộp cô. Việc cô sống được để ra làm chứng là rất không chắc chắn. Nhà Volkov sẽ tìm cách lần ra và loại bỏ cô, bằng cách thông qua một trong những tên sĩ quan tay sai của chúng.
    Nhưng, vẫn về mặt giả thuyết, nếu Brooks tin cô, và tin cuộc sống của cô sẽ bị tước đoạt nếu anh thực thi nhiệm vụ của mình thì anh sẽ không ham hố hoàn thành nhiệm vụ đó nữa.
    Cô thử hình dung việc có thể nói với anh về John và Terry, về Julie, và mọi chuyện đã xảy ra sau những buổi tối hãi hùng ấy. Đơn giản là cô không thể hình dung nổi, không thể khái quát được sẽ cảm thấy như thế nào khi có thể nói chuyện với anh, với bất kỳ ai, để chia sẻ gánh nặng.
    Anh là người tử tế, cô nghĩ bụng, và hết lòng vì công lý, làm điều đúng đắn vì những lý do đúng đắn. Bằng nhiều cách, bằng những cách cơ bản và sinh động, anh gợi cho cô nhớ đến John.
    Nếu cô kể với anh, nếu anh tin cô, anh có thể hết lòng bảo vệ cô, giúp đỡ cô, giống như John. Chẳng phải như vậy sẽ khiến cuộc sống của anh rủi ro sao?
    Lại thêm một lý do nữa khiến cô giữ bí mật của mình, tiếp tục như cô vẫn làm suốt nhiều năm qua.
    Nhưng mọi thứ đã thay đổi, cô tự nhủ. Mọi thứ không còn như cũ. Anh đã làm được điều đó; cô đã cho phép điều đó xảy ra.
    Cho nên nếu kể hết với anh, vì trạng thái cân bằng đã thay đổi cô sẽ phải chuẩn bị ra đi, bỏ chạy lần nữa, thay tên đổi họ lần nữa - cho dù anh có tin cô hay không.
    Do đó, theo lý trí, cô không thể kể với anh. Mối quan hệ của họ sẽ dần dần giảm bớt cho tới khi trạng thái cân bằng trở lại như cũ. Cho tới khi nào cuộc sống của cô trở lại như trước kia.
    Lẽ ra những kết luận của cô sẽ làm cho cô cảm thấy tự tin hơn, bình tĩnh và chắc chắn hơn. Thay vào đó, chúng lại khiến cô không vui và rối bời.
    #17
      Thanh Vân 29.11.2023 19:23:04 (permalink)

      18


      Công việc buổi sáng tiến triển đúng như Brooks phán đoán, thêm vài điểm cho phe người tốt.
      Anh cứ đinh ninh Justin và đám bạn đần độn của nó nộp tiền tại ngoại, và đã tính rằng quan tòa sẽ quy định mức tiền đủ cao để trừng phạt một chút. Nhưng ông ấy quy định cao để trừng phạt rất nặng.
      Harry phản đối, dĩ nhiên là vậy - ông ta phải làm công việc của mình - nhưng quan tòa vẫn kiên quyết. Nhà Conroy có thể không giàu có bằng nhà Blake, nhưng họ rất được kính trọng, và được quý mến hơn hẳn.
      Lần này Justin đã chọc nhằm tổ ong vò vẽ, Brooks nghĩ bụng.
      Từ vị trí của mình trong phòng xét xử, anh quan sát Blake cáu kỉnh, Justin khinh khỉnh, còn hai đứa đang bị phán xét kia thì gục đầu cúi mặt trong khi cha mẹ chúng ngồi với bộ mặt trơ trơ như đá.
      Anh đã phải cố kìm nụ cười ngoác đến tận mang tai khi quan tòa tán thành yêu cầu của công tố viên rằng cả ba đã bị quản chế và phải giao nộp hộ chiếu.
      “Đây là sự xúc phạm,” Blake chồm lên trước quyết định của quan tòa, và lần này Brooks nhảy múa sung sướng trong đầu. “Tôi sẽ không bỏ qua việc ám chỉ rằng con trai tôi sẽ bỏ trốn vì những lời buộc tội vô lý này. Chúng tôi sẽ chờ vụ xử chính thức!”
      “Các vị cứ việc làm vậy.” Quan tòa Reingold, người vẫn chơi golf với Blake vào các Chủ nhật, nện búa. “Và ông phải đúng mực trong phòng xét xử này, ông Lincoln. Ông ngồi xuống và giữ trật tự ở đây hoặc tôi sẽ đuổi ông ra.”
      “Đừng nghĩ ông có thể ngồi đó và dọa dẫm tôi. Tôi đã giúp ông có được cái ghế này đấy.”
      Sau cặp kính gọng thép của mình, đôi mắt Reingold lóe lên. “Và chừng nào tôi còn ngồi đây, ông phải tỏ ra tôn trọng. Ngồi xuống, im lặng, nếu không thì xin cam đoan rằng tôi sẽ bắt giữ ông vì tội khinh rẻ tòa án.”
      Blake xô Harry sang bên khi tay luật sư tìm cách xen vào. “Tôi sẽ cho ông thấy thế nào là khinh bỉ.”
      “Ông đã làm vậy rồi.” Reingold lại nện mạnh búa. “Năm trăm đô la. Chấp hành viên, dẫn ông Blake ra khỏi phòng xét xử trước khi ông ấy bị phạt một nghìn.”
      Mặt đỏ gay, răng nghiến lại, Blake đứng lên và khệnh khạng đi ra ngoài. Gã dừng lại một lúc, ném cho Brooks một ánh nhìn rát bỏng.
      Brooks ngồi dự hết phần còn lại của buổi đấu lý, những lời hướng dẫn, cảnh báo, kế hoạch hầu tòa. Anh đợi tới khi Justin và bạn của nó bị dẫn trở lại buồng giam để chờ người nhà nộp đủ khoản tiền bảo lãnh cho chúng.
      Quá hài lòng Brooks phải kìm không nhảy cẫng lên khi anh tiến đến nói chuyện với Russ và gia đình anh ta. Rõ ràng trong đầu anh, chứng cứ của cả gia đình Conroy - cái môi rách của Russ, những giọt nước mắt uất nghẹn của bà Conroy - đã tác động đến phán quyết của Reingold.
      “Cái tay Blake hung hăng tự cao tự đại ấy tự làm khó mình và mấy thằng mất dạy.” Seline, đôi mắt đen sáng ngời khác hẳn tính khí mềm mỏng thông thường của cô, choàng cánh tay quanh vai mẹ chồng đầy bao bọc. “Con thấy rất hài lòng. Con chỉ muốn gã mở mồm ra lần nữa để bị phạt nặng thêm.”
      “Bố không chắc Stan dám ra mặt chống Lincoln.” Ông Mick Conroy gật gật đầu về phía băng ghế. “Bố cảm thấy đỡ hơn rồi. Bố sẽ đưa mẹ con về nhà,” ông nói với Russ.
      “Có cần con ghé qua không?”
      Bà Hilly lắc đầu, đôi mắt vẫn còn u ám, mái tóc sáng màu mà bà truyền lại cho con trai mình được vấn thành một túm đuôi ngựa. Bà hôn lên má Russ. “Bố mẹ sẽ ổn thôi. Russ.” Đến lượt bà hôn lên má Brooks. “Nhà bác rất biết ơn con.”
      “Bác không cần phải nói thế.”
      “Bà vẫn còn buồn,” Seline thì thào, khi gia đình chồng cô đi ra ngoài. “Bà không sao nổi khùng lên được. Em lại muốn bà nổi khùng lên. Làm được thế bà sẽ cảm thấy đỡ hơn.”
      “Em nổi khùng cũng đủ cho tất cả chúng ta rồi.”
      Seline hơi mỉm cười. “Chúa mới biết. Em phải đến trường. Có lẽ giờ bọn trẻ nhốn nháo vì tiết học thay thế sáng nay rồi.”
      Cô ôm chặt Brooks, rồi quay sang Russ, ôm lấy chồng một lúc lâu. “Đừng bực dọc quá, anh yêu,” cô nói với chồng.
      “Để tớ mời cậu một cốc cà phê,” Brooks nói với Russ khi chỉ còn lại họ.
      “Tớ cần về chỗ khách sạn.”
      “Vài phút thôi, giảm bớt áp lực ấy mà.”
      “Thế cũng được. Tớ sẽ gặp cậu ở quán.”
      Lúc Brooks đi vào quán, Kim cầm lấy ấm cà phê và đi dần về phía anh. Cô ấy chỉ một quầy, lật ngửa chiếc cốc trên mặt bàn, rót ra.
      “Sao?” cô nói.
      “Chỉ cà phê thôi, cảm ơn chị.”
      Cô ta huých vào vai anh. “Làm sao tôi còn giữ được vị trí là Nữ hoàng Tin tức nữa nếu cậu không chiếu cố cho tôi? Cậu muốn tôi bị hạ cấp à?”
      “Đâu có. Chúng ta chưa nói được. Chúng phải nộp tiền bảo lãnh đã.”
      Miệng cô ấy trề ra, thảng thốt. “Tôi lại cứ đinh ninh Stan Reingold sẽ né Lincoln Blake cơ.”
      “Giờ thì tôi sẽ không nói vậy đâu, Kim. Tôi đã đoán chúng phải nộp tiền bảo lãnh, nhưng không ngờ quan tòa phạt cao như vậy và tôi có thể đảm bảo với chị rằng Blake cũng không nghĩ vậy.”
      “Thú vị đấy.”
      “Và ông ấy còn tịch thu hộ chiếu của chúng cho tới sau khi kết thúc phiên xử.”
      “Hay quá.” Môi chu ra, Kim gật đầu hài lòng. “Tôi xin rút lại nhận định. Vụ đó chắc khiến Blake nóng đít lắm đây.”
      “Ôi, gã đã nếm mùi rồi. Gã lỡ mồm, và quan tòa phạt gã năm trăm vì tội vô lễ với tòa.”
      Lần này thì cô ấy đập mạnh vào vai Brooks. “Cậu lại định lừa tôi đây mà.”
      “Thề có Chúa.”
      “Tôi rút lại lần hai. Lần tới Stan Reingold đến, tôi sẽ mời ông ấy ăn bánh. Nghe thấy không, Lindy?” cô ấy gọi về phía người đàn ông đứng bên bếp nướng. “Stan Reingold phạt Lincoln Blake năm trăm đô tội vô lễ với tòa.”
      Nắm chặt chiếc bay rán bên hông, Lindy quay lại. “Sắp tới lúc thái độ vô lễ báo hại gã, bởi vì gã khốn đó sẵn như vậy mà. Chỗ cà phê đó tôi mời, Brooks.” Lindy hất cằm về phía cửa. “Và cậu ấy nữa.”
      Kim nhận ra Russ bước vào, liền lật chiếc cốc thứ hai lên. “Cậu ngồi luôn xuống đây đi.” Cô kiễng chân để hôn lên má anh ta. “Và không phải trả tiền cà phê hay bất kỳ món gì cậu muốn đâu. Cậu cần nói cho bàn dân thiên hạ biết rằng bất kỳ kẻ khốn nào ở cái thị trấn này cũng đều phải hối hận về những gì đã xảy ra, và biết điều một trăm phần trăm.”
      “Tôi sẽ làm thế. Cảm ơn chị. Rất ý nghĩa.”
      “Nhìn cậu mệt mỏi rồi. Làm một miếng bánh táo Pháp mà cậu vẫn thích để ấy lại sinh lực được không?”
      “Giờ thì tôi chịu. Có lẽ để lần sau.”
      “Vậy thì tôi sẽ để các cậu nói chuyện, cần gì thì cứ gọi tự nhiên nhé.”
      Brooks vờ dỗi. “Chị ấy không thèm mời tớ một mẩu bánh nào.”
      Russ gượng cười. “Chị ấy cảm thông với cậu đầu tiên còn gì. Cậu đã biết vụ hộ chiếu chưa?”
      “Tớ biết chúng ta định đề nghị việc đó, nhưng tớ không ngờ Reingold lại phán quyết cho phe ta. Ông ấy làm tớ ngạc nhiên, và có lẽ đó là do tớ.”
      “Trước ngày hôm nay, ông ấy đã bỏ qua cho thằng ôn nhà Blake nhiều rồi.”
      “Phải, chính thế, và tớ nghĩ ông ấy cảm thấy áp lực của việc đó. Ông ấy có thể là bạn chơi golf với Blake, nhưng ông ấy không thể - và tớ nghĩ là sẽ không - phớt lờ chuyện kiểu này được. Tớ tin sáng nay Ngài rất thấm rồi. Và tớ tin Blake sẽ không để Harry bảo với thằng ôn nhà hắn thỏa thuận nhận tội vụ này đâu. Hắn muốn xét xử bởi vì hắn rất tin tưởng mình và người của mình thừa quan trọng để lèo lái pháp luật. Thằng ôn đó rất suy sụp, Russ, và có khi nó còn suy sụp hơn tớ tưởng. Tớ chẳng động lòng chuyện đó.”
      “Tớ cũng vậy.”
      Brooks nhổm về phía trước. “Tớ muốn nói với cậu vài phút bởi vì tớ chắc như đinh đóng cột rằng Blake sẽ làm bất kỳ việc gì có thể để mua chuộc cậu hoặc gây sức ép buộc cậu rút những cáo buộc tấn công người khác. Gã muốn theo hướng đó, gã sẽ nghĩ mọi việc chủ yếu liên quan đến tiền bạc. Đại loại là bồi thường xong xuôi, tìm cách thao túng dịch vụ cộng đồng và một số trung tâm cai nghiện, một bản án treo cho thằng bé.”
      Cái miệng bầm giập của Russ trơ như đá. “Không có chuyện đó đâu, Brooks. Cậu có thấy bố tớ sáng nay không? Trông cụ già hơn đến chục tuổi. Tớ chẳng quan tâm đếch gì chuyện bị đấm, và nếu không phải vì vấn đề còn lại, tớ đã cho qua rồi. Nhưng tớ sẽ không phớt lờ chuyện này để thằng ranh mất dạy đó thoát đâu.”
      “Tốt lắm. Nếu Blake tìm cách bức bách cậu, cứ cho tớ biết. Tớ sẽ quy tội quấy rối và xin lệnh cách ly.”
      Russ ngồi xuống, và nụ cười của anh ta dễ dàng hơn. “Thực ra cậu muốn trừng phạt gã bố?”
      “Theo tớ là hai trong một. Cả hai đều cần một bài học nhanh và nhớ đời. Tớ không biết liệu có phải Justin sinh ra đã là đồ bỏ đi không, nhưng bố nó chắc chắn góp phần biến nó tệ hơn.” Anh khuấy cốc cà phê của mình nhưng nhận ra chẳng còn hứng mà uống. “Ở tòa tớ không trông thấy mẹ nó.”
      “Nghe nói bà Blake xấu hổ và mệt mỏi về chuyện phải giải quyết việc này. Và tay Blake bắt bà ấy im tiếng. Gã toàn quyền trong nhà mà.”
      “Có thể như vậy, nhưng gã không phải là chủ thị trấn này.”
      “Là cậu hả cảnh sát trưởng?”
      “Tớ vì nước vì dân mà,” Brooks nói, mắt nhìn ra cửa sổ. “Nhà Blake sẽ được biết như thế nghĩa là sao. Còn ngài thị trưởng đây thì sao nhỉ?”
      “Có thể sẽ khó thắng tranh cử hơn khi tay Blake hậu thuẫn cho bất kỳ ứng viên nào chạy đua với tớ, nhưng tớ vẫn làm thôi.”
      “Vì nhiệm kỳ mới.” Brooks nâng cốc. “Chúc mừng.”
      “Sáng nay cậu rất bảnh đấy, chàng trai. Là nhờ phán quyết của Reingold à?”
      “Chuyện đó không đáng kể, mà là nhờ tớ đã có một người phụ nữ xinh đẹp tuyệt vời mà tớ phải lòng. Phải lòng ác liệt luôn.”
      “Tốc hành nhỉ.”
      “Do di truyền đấy. Bố mẹ tớ chẳng yêu từ cái nhìn đầu tiên đấy là gì. Cô ấy chiếm được tớ rồi, Russ ạ. Ngay ở đây.” Anh đập đập nắm tay lên tim mình.
      “Không phải cả vì cái chuyện kia nữa sao?”
      “Thì cả chuyện ấy nữa. Nhưng trời đất, Russ ạ, cô ấy làm việc đó vì tớ. Tớ cứ nghĩ tới khi cô ấy và tớ ở bên nhau. Tớ ngắm cô ấy, và tớ thề tớ có thể ngắm cô ấy hàng giờ. Cả ngày trời.” Brooks bật cười, có phần ngạc nhiên. “Tớ xong rồi. Tớ bị chinh phục rồi.”
      “Nếu cậu không đưa cô ấy tới ăn tối, Seline sẽ xem như đời tớ chẳng đáng sống nữa đấy.”
      “Tớ sẽ thu xếp việc đó. Tớ nghĩ tớ sắp bị mấy người phụ nữ trong nhà đề nghị đúng như thế đấy. Abigail là mẫu người cần từ từ. Có gì đó bên trong,” anh nói thêm. “Có gì đó từ trước. Cô ấy chưa sẵn sàng đón nhận tớ đâu. Tớ đang thuyết phục dần.”
      “Vậy là cô ấy không nghĩ cậu cứ sáp vào, thúc bách và ca cẩm cho tới khi cậu biết được những gì muốn biết hoặc thu được những gì muốn có?”
      “Tớ đang làm cô ấy lóa mắt với sự ân cần và quyến rũ.”
      “Cậu nghĩ cách đó sẽ kéo dài được bao lâu?”
      “Tớ vẫn còn thời gian để cò cưa mà. Cô ấy cần giúp đỡ. Chỉ là cô ấy không hiểu điều đó, hoặc không sẵn sàng đón nhận. Chưa thôi.”
      ***
      Abigail sung sướng dành cả buổi sáng bên máy tính, thiết kế lại hệ thống an ninh riêng cho một công ty luật ở Rochester. Cô vô cùng hài lòng với kết quả, vì cô được giới thiệu công việc đó, và suýt lỡ mất khi đối tác cao cấp gây khó dễ lúc cô từ chối gặp riêng ông ta.
      Cô tin ông ta và các đối tác khác sẽ vô cùng hài lòng với hệ thống và những gợi ý của cô. Nếu họ không như vậy ư? Thì đó chính và cái giá cô trả cho việc làm ăn theo nguyên tắc của chính mình.
      Để đầu óc thư thái, cô chuyển sang làm vườn.
      Cô muốn trồng thêm mấy khóm hoa sặc sỡ dọc góc phía nam gian buồng của mình, và đã đọc cũng như tìm hiểu về cách trồng hiệu quả nhất. Có Bert ở bên cạnh, cô gom dụng cụ, chất lên xe cút kít. Cô thấy vui khi nhìn thấy vườn rau xinh xinh mà cô đã trồng đang phát triển rất tốt, ngửi thấy mùi cỏ cây đẫm trong ánh nắng lúc cô đẩy xe đi qua. Khe suối hẹp của cô róc rách kề bên, và tiếng chim hót hòa theo. Làn gió nô giỡn và mấy cây sơn thù du mọc hoang thấp thoáng hiện ra như những linh hồn hoa.
      Cô rất hạnh phúc, cô nhận ra như vậy, khi đánh dấu khoảnh đất của mình bằng cọc và dây. Thực sự hạnh phúc. Với mùa xuân, với công việc, với căn nhà của cô. Với Brooks.
      Trước kia đã bao giờ cô thực sự hạnh phúc chưa, chắc chắn đã có những lúc cô thấy hạnh phúc - ít nhất là thời thơ ấu của cô, quãng thời gian ngắn ngủi cô ở Harvard, thậm chí có những lúc sau khi mọi chuyện thay đổi hoàn toàn.
      Nhưng cô không nhớ từng có cảm giác thế này. Bồn chồn. Brooks nói đúng về chuyện lo lắng, và không hẳn là cô thấy thích khi anh đúng. Nhưng vượt trên và xuyên suốt cảm giác đó là một sự nhẹ nhàng mà cô không biết phải làm sao.
      Lúc cô bật máy xới đất, cô ngâm nga nhịp theo tiếng nghiến của máy, theo tiếng suối rầm rì, theo tiếng chim ca. Không, cô không biết phải làm sao, nhưng nếu được, cô sẽ giữ chặt lấy những khoảnh khắc này, những cảm xúc này - thật chặt - mãi mãi.
      Cô đã có công việc rất vừa ý, đã có mảnh vườn của mình, điều cô thích thú còn hơn cả mường tượng. Cô đã có một người đàn ông cô kính trọng và hứng thú - còn hơn cả cô hình dung - người sẽ đến ăn tối, trò chuyện, cười vui, ở bên cô.
      Có thể không kéo dài, nhưng cứ làm cho chính cô không vui thì ích gì chứ? Hãy giữ chặt lấy nó, cô tự nhủ lúc trộn thêm phân vào đất. Khoảnh khắc này đây.
      Cô đẩy chiếc xe cút kít về nhà kính, ngập trong mùi đất ẩm nồng nồng; những mầm hoa đang đâm chồi; những luống rau khỏe khoắn, lựa chọn những giống cây cô chăm chút cho dự án đặc biệt này.
      Lao động chân tay liên tục trong buổi chiều ấm áp. Điều đó cũng làm cô thấy hạnh phúc. Ai biết được cô lại có khả năng hạnh phúc chứ?
      Cô đi bốn vòng, khẩu Glock áp vào hông, chú chó chạy lon ton sát gót cô, rồi mới bắt tay vào kế hoạch mà cô đã vạch ra trong những đêm đông giá lạnh.
      Hoa chuông đỏ cùng với cúc tía, vòi voi hương thơm phức lẫn với hoa ngũ sắc hăng hăng, cỏ roi ngựa dập dờn, vẻ đẹp của cúc tây New England đua cùng vẻ duyên dáng của loa kèn phương đông chuyên thu hút chim hút mật. Cô đã trồng hướng dương và thục quỳ để làm chỗ dụ lũ côn trùng trưởng thành tới đẻ và làm thức ăn cho con non.
      Cô sắp xếp đi sắp xếp lại, nhóm ra nhóm vào, dần dần chệch khỏi bố cục ban đầu có phần rất mang tính toán học của mình, khi cô nhận thấy mắt mình cũng hài lòng với những chi tiết bớt cứng nhắc và chính xác hơn.
      Có lúc cô lấy điện thoại ra và chụp vài góc khác nhau rồi mới cầm lấy xẻng để đào cái hố đầu tiên.
      Một tiếng sau, cô bước lùi lại và kiểm tra tiến triển của mình rồi mới vào nhà lấy đá lạnh cho thêm vào nước trà mà cô để dưới nắng.
      “Sẽ rất đẹp,” cô nói với Bert. “Và chúng ta sẽ được ngồi trước hiên nhà ngắm bướm bay lượn. Chị nghĩ chúng ta sẽ lôi kéo được bọn chim ruồi nữa. Chị rất thích chứng kiến khu vườn này mọc lên và nở hoa, ngắm bướm và chim. Chúng ta ngày càng gắn bó với nơi này đấy Bert à. Càng gắn bó chị càng thấy thích hơn.”
      Cô nhắm mắt, ngửa mặt nhìn về phía mặt trời.
      Ồ, cô rất thích những âm thanh, mùi vị trong không khí. Cô thích nhịp công việc và niềm vui cô thấy ở đây, những khoảnh khắc yên tĩnh, những lúc bận rộn. Cô thích cái cảm giác chú chó dựa vào chân cô và cái vị trà man mát trong cổ họng.
      Cô yêu Brooks.
      Cô mở bừng mắt ra.
      Không, không, cô chỉ đắm trong những khoảnh khắc hạnh phúc ở đây thôi. Trong tâm trạng hưng phấn vì có được mọi thứ đúng như cô muốn. Và cô cho phép mình hòa trộn cảm xúc đó với những gì anh nói với cô sáng hôm đó, với cái cách anh nhìn cô.
      Hành động và phản ứng mà thôi, cô nhủ mình. Không hơn.
      Nhưng nếu hơn thế thì sao?
      Hệ thống báo động của cô phát tiếng kêu, sống lưng và vai cô cứng đờ khi cô đặt một tay lên báng khẩu Glock.
      Cô đâu có đợi kiện hàng nào.
      Cô đi nhanh tới màn hình mà cô bố trí trên hiên. Cô nhớ chiếc xe hơi trước cả khi nhận ra người lái. Mẹ của Brooks - ơn Chúa - và hai phụ nữ khác.
      Họ vừa nói vừa cười, khi bà Sunny cho xe chạy về phía ngôi nhà.
      Cô còn chưa kịp quyết định phải làm gì thì chiếc xe đã vòng ở khúc quanh cuối cùng. Bà Sunny bấm còi kêu tin tin đầy vui vẻ khi nhận ra Abigail.
      “Này, đằng kia kìa!” bà Sunny ré lên qua cửa sổ xe rồi ba người bọn họ mới thò đầu ra.
      Người phụ nữ ngồi đằng trước hẳn là chị gái Brooks, Abigail nghĩ. Nước da, khổ người, đường nét mắt và miệng quá giống nhau không lẫn đi đâu được. “Trông này! Một vườn hoa đủ màu.”
      “Vâng. Thành quả của chiều nay đấy ạ.”
      “Ôi, sẽ tuyệt vời lắm đây,” bà Sunny bảo cô. “Có mùi hoa vòi voi! Trong xe bác chở theo Plato đấy. Cháu có nghĩ Bert muốn gặp nó không?”
      “Cháu... cháu nghĩ là được.”
      “Mẹ chỉ mải lo nghĩ chuyện cho mấy cún con làm quen nhau, chẳng bận tâm gì đến người cả. Chị là Mya, chị gái của Brooks, và đây là cô em xen giữa bọn chị, Sylbie.”
      “Rất vui được gặp cả hai chị,” Abigail gắng gượng bắt tay họ.
      “Hôm nay bọn chị đang rảnh,” Mya cười tươi, một phụ nữ cao gầy với mái tóc tém toát lên vẻ lanh lợi. “Công việc, con cái, đám đàn ông. Bọn chị tự thưởng cho mình một bữa trưa ngon lành của cánh phụ nữ, và giờ đang tính đi mua sắm một chút.”
      “Bọn chị nghĩ có thể em thích đi cùng,” Sybill nói.
      “Đi cùng?” E dè, ngạc nhiên, một mắt trông chừng chú chó, Abigail phải cố gắng đứng vững.
      “Mua sắm,” Mya nhắc lại. “Sau đó, chúng ta sẽ đi làm vài ly margarita.”
      Chú cún con nhảy chồm chồm, lăn lộn, nhảy và nói chung như phát cuồng quanh Bert vẫn ngồi im, run run, ánh mắt nghếch nhìn Abigail.
      Ami. Jouer.[24]
      Ngay lập tức, nó cúi xuống, đầu hạ thấp, đuôi vểnh lên ngoáy tít, và dúi đùa khiến Plato ngã chổng kềnh.
      “Ồ, trông chúng đáng yêu chưa kìa” bà Sunny lên tiếng.
      “Nó sẽ không làm đau con cún đâu.”
      “Cưng à, bác nhận ra mà. Cậu bé khổng lồ ấy hiền như cừu, và Plato xứng đáng được chạy nhảy một chút. Nó đã ở trên xe hoặc bị cột suốt cả buổi chiều. Cháu đã gặp hai cô gái của bác chưa?”
      “Rồi ạ.”
      “Bọn con đang cố bảo cô ấy buông xẻng và cùng đi mua sắm rồi thưởng thức margarita.” Sybill nhoẻn một nụ cười ấm áp, thoải mái với Abigail, khơi ra nhưng lúm đồng tiền duyên.
      “Cảm ơn các chị đã rủ.” Abigail nghe rõ cả sắc thái cứng nhắc trong giọng mình khi so sánh với thái độ thoải mái của mấy người phụ nữ kia. “Nhưng em thực sự cần trồng cây cho xong. Em đã bắt đầu công việc muộn hơn so với kế hoạch rồi.”
      “Ôi dào, trông đẹp rồi mà.” Sybill đi lại gần để nhìn rõ hơn. “Chị không được thừa hưởng khả năng trồng trọt của bố mẹ, cho nên chị rất ghen tị đấy.”
      “Các chị thật tốt khi ghé qua mời em.”
      “Phải rồi,” Mya tán đồng, “nhưng chủ yếu Syb và chị chỉ muốn được tận mắt ngắm em và biết về người phụ nữ làm cho Brooks mê mẩn thôi.”
      “Ồ.”
      “Em không phải là kiểu người chị hình dung và sẽ làm nó đổ kềnh như vậy.”
      “Ồ” là tất cả những gì Abigail có thể nghĩ ra lần nữa.
      “Có gì trong đầu Mya,” bà Sunny lên tiếng, choàng một cánh tay quanh người con gái mình, “thì đều trôi tuột hết ra miệng.”
      “Con có thể rất lịch thiệp và ngoại giao mà, nhưng với con như thế chẳng tự nhiên chút nào. Nhân tiện, chị nói thế là có ý khen thôi, một điều tốt.”
      “Cảm ơn chị.”
      Mya cười to. “Không có gì. Vấn đề là Brooks - hồi trước có xu hướng trọng hình thức mà không nhất thiết cần cơ sở thực chất. Còn em thì xinh đẹp và tự nhiên, thừa mạnh mẽ và thông minh để tự lập sống ở đây, thừa khéo léo để trồng được một khu vườn thiết kế rất tuyệt - chị thì có sẵn gian làm vườn rồi - và em còn có một công việc tự do nữa thì phải. Với khẩu súng to thế kia đeo bên hông, em cũng quá biết cách tự lo cho mình ấy nhỉ?”
      “Vâng.”
      “Em đã bao giờ bắn ai chưa?”
      “Chị Mya. Kệ xác chị ấy,” Sybill nói. “Chị ấy là cả và cũng lắm mồm nhất. Em có chắc là sẽ không đi cùng bọn chị không?”
      “Em thực sự cần làm xong mảnh vườn này, đành cáo lỗi vậy.”
      “Nhà bác sẽ tổ chức ăn ngoài trời vào chiều Chủ nhật,” bà Sunny nói. “Brooks sẽ đưa cháu đến.”
      “Ồ, cảm ơn bác, nhưng...”
      “Chẳng có gì ghê gớm đâu. Chỉ là một bữa tiệc nướng barbecue ở ngay sân sau thôi. Và bác còn ít cây diên vĩ vàng cần phân phát bớt nữa này. Bác sẽ đưa cháu một ít. Trông sẽ chẳng khác gì một nơi nhiều nắng bên suối. Bác sẽ xích con cún lại và chúng ta sẽ gặp cháu vào Chủ nhật.”
      “Em đã quen Brooks một thời gian rồi nhỉ?” Mya nhận xét.
      “Có lẽ vậy.”
      “Em có biết nó cứ ân cần chinh phục em từng tí một cho tới khi nó đạt được mục đích không?”
      “Em biết chứ.”
      Mya nháy mắt và cười. “Nó làm việc đó rất tự nhiên. Sẽ gặp em vào Chủ nhật nhé.”
      “Đừng lo.” Sybill khiến Abigail ngạc nhiên bằng việc cầm lấy tay cô khi chị gái mình rời đi để giúp bà mẹ giải quyết chú cún. “Sẽ ổn thôi. Chó của em vẫn ổn với bọn trẻ con xung quanh chứ?”
      “Nó sẽ chẳng làm hại ai cả.” Trừ phi mình bảo nó, cô nghĩ thầm.
      “Vậy em cứ dắt nó theo. Em sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi có chó đi cùng. Nhà chị toàn người dễ chịu thôi, và đều có xu hướng quý mến bất kỳ ai làm cho Brooks hạnh phúc. Em sẽ ổn,” cô nói, siết mạnh tay Abigail rồi mới chịu buông ra và đi về phía xe.
      Rất nhiều tiếng cười nói, rất nhiều cái vẫy tay và còi xe vui vẻ quá bất ngờ, Abigail cứ đứng thừ ra, chú chó đầy phấn khởi của cô ở bên cạnh, cô lịch sự giơ một tay lên vẫy khi những người phụ nữ nhà O’Hara-Gleason phóng xe đi khỏi.
      Chẳng khác gì bị nghiền nát bởi một chiếc xe lu làm bằng hoa, Abigail nghĩ thầm. Thực sự không hề đau đớn, mà rất tuyệt vời và ngọt ngào. Nhưng bạn vẫn bị là phẳng lì.
      Cô sẽ không đến, dĩ nhiên rồi. Xét kiểu gì thì việc đó cũng khó xảy ra. Có lẽ cô sẽ viết một lời nhắn từ chối thật lịch sự cho mẹ của Brooks.
      Cô đeo găng tay làm vườn lên. Cô muốn làm cho xong mảnh vườn; thêm nữa, chính cô đã viện ra cái cớ này nên cô càng phải làm cho xong.
      Cô chưa bao giờ được rủ đi mua sắm và uống margarita, nên cứ thắc mắc lúc cô đào đất. Cô biết mọi người đi mua sắm ngay cả khi họ chẳng cần gì cả. Cô chẳng hiểu thế thì có gì hấp dẫn, nhưng cô biết những người khác thì hiểu.
      Cô nghĩ tới cái ngày, rất lâu rồi, ở khu mua sắm cùng với Julie. Thật vui làm sao, thật háo hức và tự do làm sao lúc thử quần áo và giày cùng một người bạn. Dĩ nhiên, họ không hề là bạn. Không thực sự là bạn. Tất cả chỉ là mối quan hệ đôi bên cùng có lợi mà thôi. Và mối quan hệ ấy đã dẫn tới tai họa và thảm kịch.
      Cô biết, theo logic, hành động nổi loạn vô hại là đi mua sắm quần áo cùng giày dép không hề gây ra thảm kịch. Thậm chí cả sự ngu ngốc bất cẩn của cô khi làm giả căn cước, đồng ý đến vũ trường cũng không hề gây ra những sự kiện tiếp theo.
      Nhà Volkov và gã Yakov Korotkii chịu trách nhiệm đó.
      Thế nhưng, làm sao cô có thể không liên hệ chúng với nhau, không cảm thấy sức nặng và tội lỗi sau tất cả những việc ấy? Cuộc tranh đấu với mẹ cô đã làm khởi phát cả chuỗi phản ứng kết thúc bằng căn nhà bảo vệ nhân chứng bị nổ tung. Nếu không chịu hết trách nhiệm thì cô cũng là một trong những mắt xích của cả chuỗi đó.
      Và khi cô trồng cây, cô băn khoăn không biết sẽ như thế nào khi ngồi cùng xe với những người phụ nữ cười đùa vui vẻ, khi mua sắm những thứ không cần thiết, khi uống margarita và buôn chuyện tào lao.
      Cũng như thắc mắc chuyện liệu có nên bỏ bớt những năm tháng tuổi trẻ ra khỏi thú vui thưởng thức âm thanh và mùi vị của trạng thái cô độc.
      Cô trồng cho hết, bổ sung thêm, làm việc cho hết cả buổi chiều sang tận lúc chập tối chỉ để chở những túi đất bồi tới khoảnh vườn. Lấm lem, mồ hôi mồ kê, hài lòng, cô vừa dựng hai bình tưới lên thì hệ thống báo động của cô lại phát tín hiệu.
      Lần này cô trông thấy Brooks lái xe về phía nhà.
      Cô nhớ ra mình đã không hề để ý đến thời gian. Cô đã định đi vào, cho món lasagna vào lò hâm nóng lại trước khi anh đến. Và chắc chắn là còn muốn rửa ráy sạch sẽ một chút.
      “Chà, nhìn kìa.” Anh bước ra, một bó diên vĩ tím cầm trên tay. “Giờ trông chúng hơi héo rồi.”
      “Rất đẹp mà. Đây là lần thứ hai anh mua hoa cho em. Anh là người duy nhất làm vậy.”
      Anh thầm nhủ sẽ thường xuyên mang tới nữa. Anh trao hoa cho cô, rút một miếng da thô cho Bert. “Không hề quên chú mày đâu, anh chàng khổng lồ ạ. Chắc chắn chú mày đã phải lao động nửa ngày trời trong khoảnh vườn kia rồi.”
      “Không lâu đến thế, nhưng cũng mất chút thời gian. Em muốn thấy lũ bướm.”
      “Em sẽ thấy chúng thôi. Đẹp hết mức rồi đấy, Abigail. Em cũng vậy.”
      “Em lấm lem tùm lum đây này,” cô nói, bước lùi lại khi anh cúi xuống hôn cô.
      “Anh chẳng quan tâm. Em biết anh sẵn sàng cùng em trồng cây rồi mà. Anh rất giỏi việc đó.”
      “Em bắt tay vào làm, rồi cứ thế mải miết.”
      “Sao anh lại không lấy ít vang cho cả hai nhỉ? Chúng ta có thể ngồi ngoài này và ngắm công trình của em.”
      “Em cần tắm và hâm nóng lại món lasagna.”
      “Thế thì em đi tắm đi. Anh có thể cho đồ ăn vào lò, và lấy rượu vang. Theo những gì nhìn thấy thì hôm nay em làm việc chăm chỉ hơn anh rồi. Đây.” Anh cầm lại bó hoa. “Anh sẽ cắm vào nước cho em. Gì vậy em?” anh nói khi cô chỉ đăm đăm nhìn anh.
      “Không sao. Em... em xong ngay đây.”
      Cô không biết chắc phải làm gì, anh kết luận, khi nghe anh đề nghị giúp đỡ ở mức tối thiểu và cơ bản nhất. Nhưng cô đã chấp thuận, anh nghĩ bụng lúc đi vào trong đổ nước vào bình. Mà chẳng hề tranh cãi hay viện cớ gì. Đó là một bước tiến mới.
      Anh đặt hoa lên quầy bếp, hy vọng cô sẽ bài trí lại sau, và chắc chắn là khi anh không ở bên. Anh bật lò nướng, đặt ở chế độ thấp, cho món thịt hầm vào.
      Anh lấy rượu vang và hai chiếc ly mang ra hiên trước, và sau khi rót ra, anh cầm riêng ly của mình đứng tựa vào cột, ngắm hoa của cô.
      Anh thừa hiểu về chuyện làm vườn để thấy rằng công việc ấy chiếm của cô hàng tiếng. Anh cũng thừa hiểu về chuyện làm vườn để nhận ra cô rất có sở trường về màu sắc, phối cảnh và mạch ý tưởng.
      Và anh thừa hiểu về con người để quả quyết rằng việc trồng mảnh vườn ấy là một tín hiệu sở hữu và ổn định cuộc sống nữa. Đất của cô, vườn của cô.
      Một tín hiệu tốt.
      Lúc cô bước ra, anh ngoảnh nhìn cô. Mái tóc còn ướt hơi ôm lấy khuôn mặt, và từ cô tỏa ra mùi thơm như chính mùa xuân vậy.
      “Đây là mùa xuân đầu tiên của anh từ khi trở lại Ozark,” anh nói và đưa cho cô một ly vang. “Anh đang ngắm mùa xuân trở lại. Đồi núi dần phủ sắc xanh, hoa dại bung nở, sông suối đều có nước chảy róc rách. Ánh sáng, khoảng tối, ánh nắng trên những cánh đồng hoa màu mới trồng. Tất cả lại bắt đầu một mùa mới. Và anh biết mình chẳng muốn sống ở đâu khác. Từ giờ trở đi, nơi đây lại là nhà.”
      “Em cũng cảm thấy thế. Đây là lần đầu tiên em cảm thấy như vậy. Em rất thích thế.”
      “Mừng cho em. Anh ngắm em, Abigail, ngửi hương xuân, hoa của em đang bừng nở hay chúm chím chờ nở, mắt của em rất sành, đẹp chết đi được, một cảm giác gắn bó. Không còn nơi nào khác. Không còn ai khác.”
      “Em chẳng biết phải làm sao với cảm xúc bắt nguồn từ anh. Em sợ rằng cuộc đời sẽ đổi thay và em sẽ chẳng còn có được cái cảm xúc này lần nữa.”
      “Anh làm em cảm thấy như thế nào?”
      “Hạnh phúc. Rất hạnh phúc. Rồi sợ hãi và bối rối nữa.”
      “Chúng ta hãy tạo dựng hạnh phúc cho tới khi em cảm thấy thoải mái và an tâm.”
      Cô đặt ly rượu của mình xuống, đi tới chỗ anh, nắm lấy tay anh. “Có thể em chẳng bao giờ được vậy.”
      “Em đã ra ngoài mà không mang theo súng đấy thôi.”
      “Thì anh cũng mang súng rồi mà.”
      Anh mỉm cười hôn tóc cô. “Đó cũng còn ý nghĩa khác đấy. Đó là sự tin tưởng, một khởi đầu rất tốt.”
      Cô không biết, không nhận ra tất cả những cảm xúc đó. “Chúng ta có thể ngồi trên bậc cấp, và anh có thể kể cho em biết chuyện gì xảy ra sáng nay.”
      “Chúng ta có thể làm vậy.” Anh hơi nghiêng đầu cô ra sau, hôn nhẹ cô. “Bởi vì anh đang cảm thấy rất vui với chuyện đó.”
      #18
        Thanh Vân 29.11.2023 19:23:35 (permalink)

        19


        Anh kể chuyện cho cô nghe trong khi những bóng râm đổ dài và khu vườn mới của cô thỏa thuê tắm mát dưới vòi phun.
        Cô luôn nhận thấy luật pháp rất hấp dẫn, những nét riêng của thủ tục pháp lý, những điều phi lý - và, theo quan điểm của cô, thường cả thiên kiến - được thẩm thấu và các quy định, bộ luật và thủ tục pháp lý bởi nhân tố con người. Công lý dường như với cô là rất rõ ràng, nhưng luật pháp để theo đuổi công lý, thực thi công lý, lại đen tối và không đáng tin cậy.
        “Em không hiểu tại sao, vì người ta có tiền, nên người ta được thả tự do.”
        “Vô tội cho tới khi bị chứng minh là có tội.”
        “Nhưng chúng có tội mà,” cô khăng khăng, “và điều đó đã được chứng minh. Chúng thuê cái phòng đó và phá phách. Justin Blake tấn công bạn anh ngay trước mặt các nhân chứng đấy thôi.”
        “Chúng được quyền đợi đến ngày ra tòa.”
        Cô lắc đầu. “Nhưng lúc này chúng được tự do dùng tiền hoặc biện pháp hăm dọa để chống lại các nhân chứng và những người khác có liên quan, hoặc để chạy, hoặc tìm cách trì hoãn. Bạn của anh đã phải chịu thiệt hại, và những kẻ gây ra điều đó thì lại được tự do lo cuộc sống và việc của chúng. Hệ thống luật pháp rất không hoàn chỉnh.”
        “Có thể như vậy, nhưng không có nó, sẽ rất hỗn loạn.”
        Theo kinh nghiệm của cô, tình trạng hỗn loạn đi kèm với nó.
        “Hậu quả, hình phạt, công lý, cần mau lẹ và ổn định, không có những cửa thoát thân bằng tiền, những luật sư láu cá và những quy định phi lý.”
        “Anh hình dung hầu hết lũ vô lại đều nghĩ như vậy khi chúng bị thòng lọng tròng vào cổ.”
        Cô cau mày nhìn anh. “Anh bắt giữ những kẻ vi phạm pháp luật. Anh biết chúng vi phạm luật khi anh bắt chúng. Anh chắc chắn thấy chán ngán, thậm chí giận dữ, khi biết rằng một trong số chúng tìm cách lách lỗ hổng luật pháp hoặc không bị trừng trị do sai lần của con người.”
        “Anh thà thấy một kẻ phạm tội được tự do còn hơn thấy một người vô tội bị oan. Đôi khi, có những lý do để phạm luật. Anh không nói về chuyện ba thằng khốn kia mà là nói chung ấy.”
        Vẻ thư thái thấy rõ, Brooks duỗi dài hai chân, dùng bàn chân gãi gãi Bert. “Không phải lúc nào cũng trắng đen, đúng sai phân minh. Nếu em không xem xét mọi khía cạnh và tình huống, em sẽ không thể có được công lý.”
        “Anh tin như thế.” Các cơ bụng cô thắt lại, run run. “Rằng có thể có lý do để phạm luật.”
        “Chắc chắn là vậy. Tự vệ, bảo vệ người khác. Hoặc việc gì đó đơn giản như là chạy tốc độ cao. Vợ sắp sinh đến nơi rồi ư? Anh sẽ không đời nào buộc tội em là chạy quá tốc độ khi đang trên đường đến bệnh viện.”
        “Anh xem xét tình huống.”
        “Chắc chắn rồi. Nhớ hồi anh đi tuần, bọn anh được gọi đến xử lý một vụ tấn công. Tay này mò tới một quán rượu và đánh ông chú của gã. Bọn anh gọi ông chú ấy là chú Harry. Bọn anh phải bắt gã kia về tội tấn công người khác, nhưng hóa ra chính ông Harry lạm dụng cô con gái mười hai tuổi của anh chàng kia. Phải, lẽ ra anh ta chỉ cần gọi cho cảnh sát và Cục Bảo vệ Trẻ em để họ giải quyết, nhưng liệu anh ta có sai khi đấm vỡ mặt ông Harry không? Anh không nghĩ vậy. Em phải nhìn tổng thể bức tranh, cân nhắc mọi tình huống. Đó là những gì tòa án cần phải làm.”
        “Vấn đề quan điểm,” cô lẩm bẩm.
        “Phải. Là quan điểm.” Anh di một ngón tay dọc theo cánh tay cô. “Em đã từng phạm luật chưa, Abigail?”
        Đó là một cánh cửa, cô biết, mà anh mời cô bước qua. Nhưng sẽ ra sao nếu nó khóa chặt lại sau lưng cô? “Em chưa bao giờ bị phạt chạy quá tốc độ, nhưng em đã từng vượt giới hạn quy định. Em đi kiểm tra món lasagna đã.”
        Mấy phút sau lúc anh đi vào, cô đang đứng bên quầy bếp, thái cà chua thành lát.
        “Lúc trước em đã thu hoạch được một ít cà chua và húng quế ở nhà kính.”
        “Em bận rộn quá.”
        “Em thích bận rộn. Em đã xong một hợp đồng sớm hơn một chút so với dự tính, cho nên em thưởng cho mình bằng cách làm vườn. Và em đã có một vài vị khách.”
        “Thế cơ à?”
        “Là mẹ và các chị gái anh đấy.”
        Anh đang định rót thêm rượu cho cô. “Em nói lại xem nào?”
        “Hôm nay họ ra ngoài. Họ có hoạt động mà mẹ anh gọi là bữa trưa ngon lành của cánh phụ nữ, và định đi mua sắm rồi uống margarita lạnh. Họ mời em cùng tham gia.”
        “Ừ, hừm.”
        “Chị Mya giải thích rằng cơ bản là cả nhà ghé qua để ngó mặt em. Em thích sự thành thật của chị ấy, mặc dù lúc đó có phần làm em mất tinh thần.”
        Brooks bật ra một âm thanh nghe như tiếng cười. “Chị ấy là vậy đấy.”
        “Mọi người cũng dẫn theo Plato. Bert rất thích chơi với nó.”
        “Anh biết.”
        “Cười đùa rất nhiều.”
        “Bert và Plato hả?”
        “Không.” Và câu đó khiến cô phì cười. “Mẹ và các chị anh ấy. Có vẻ họ rất vui. Có vẻ họ rất thích bạn bè cũng như người thân quen.”
        “Anh đã nói như vậy mà. Nhà anh đều vậy.”
        “Chị thứ hai của anh, chị Sybill, có phong cách rất nhẹ nhàng và ân cần. Anh có vẻ có những phẩm chất của cả hai bà chị. Trông anh cũng rất giống họ, nhất là chị Mya.”
        “Chị Mya có kể gì xấu về anh không vậy?”
        “Không, mặc dù em rất quan tâm. Em nghĩ chị ấy tò mò về em hơn. Chị ấy có nói về chuyện phụ nữ, về các mối quan hệ...” Abigail ngừng lại một lúc khi cô xếp pho mát thành từng lớp cùng với cà chua. “Trước kia anh có xu hướng trọng hình thức mà không nhất thiết cần cơ sở thực chất.”
        Brooks nhìn cô lúc cô nói, trong khi cô hoàn thành nốt việc bày biện đĩa rau. “Anh cược rằng câu đó đúng từng từ luôn.”
        “Nó lại có thể truyền đạt một tinh thần khác hẳn, thậm chí là ý nghĩa khác hẳn.”
        “Anh chẳng tranh cãi đâu.”
        “Vậy là đúng thế ư?”
        Anh ngẫm nghĩ, rồi nhún vai. “Anh đoán vậy, giờ thì anh đang suy nghĩ điều đó.”
        “Em nghĩ là nói nịnh thôi.” Và điều đó cũng nói lên thái độ lạ lùng mà cô thể hiện sáng hôm đó. Thái độ lạ lùng giảm bớt dần.
        “Anh chỉ ngạc nhiên là mình em phải đối mặt với cả ba người họ, vậy mà em vẫn từ chối được.”
        “Rõ ràng ai cũng thấy là em đang bận làm vườn mà.” Rồi cô nâng ly rượu vang lên uống. “Nhưng mẹ anh thì mời em tới tham gia bữa tiệc thịt nướng ở sân sau vào Chủ nhật này.”
        Anh bật cười, nâng ly của mình lên mời. “Thấy chưa? Họ không chịu chấp nhận lời từ chối đâu.”
        Cô không để ý câu đó, và giờ nhận thấy Brooks nói đúng. “Có vẻ mẹ anh chẳng quan tâm lý do từ chối hợp lý của em. Em nghĩ có lẽ sẽ tốt hơn nếu viết cho bà một lời cáo lỗi thật lịch thiệp.”
        “Tại sao chứ? Bà làm món khoai tây trộn rất tuyệt.”
        “Em đã có kế hoạch làm vườn và việc nhà hôm Chủ nhật rồi.”
        “Gà ơi là gà.”
        “Em biết chắc mẹ anh làm món gà rất ngon, nhưng...”
        “Không. Em đúng là gà.” Anh bật ra tiếng khùng khục khiến cô càng cau mày và có phần khó chịu.
        “Đâu cần phải thô lỗ chứ.”
        “Nhiều khi trung thực mới là thô lỗ. Xem nhé, không có lý do gì phải lo lắng về chuyện ghé tới sân sau và ăn khoai tây trộn cả. Em sẽ rất vui đấy.”
        “Không, đừng hòng, còn kế hoạch của em thì vứt đi đâu. Và em không biết ứng xử chỗ đông người. Em không biết cách trò chuyện với những người không hề quen biết, hoặc chỉ hơi biết, hay xử trí thế nào với sự tò mò khi họ biết anh và em đã quan hệ với nhau.”
        “Tức là có rất nhiều điều em không biết,” Brooks quả quyết, “nhưng anh có thể giúp em giải quyết hết. Anh có thể giúp em làm vườn và việc nhà từ trước. Em trò chuyện rất ổn, nhưng anh sẽ ở sát bên em cho tới khi em thấy thoải mái. Và mọi người có thể tò mò, nhưng họ sẽ rất quý em vì anh và cả mẹ anh đều quý em. Thêm nữa, anh hứa với em một điều.”
        Giờ anh ngừng lại, đợi cho tới khi cô ngước mắt nhìn anh.
        “Hứa điều gì?”
        “Em cứ dành ra một tiếng, và nếu không thấy vui, anh sẽ cáo lỗi. Anh sẽ nói anh có cuộc gọi phải giải quyết và chúng ta sẽ rút.”
        “Anh nói dối gia đình mình ư?”
        “Phải, anh sẽ làm vậy. Mọi người sẽ biết anh nói dối, và sẽ hiểu.”
        Đó, cô nghĩ thầm, một trong những điều phức tạp giằng níu lấy những nghĩa vụ xã hội và các mối quan hệ với mọi người. “Em nghĩ tốt nhất là nên tránh tất cả chuyện đó và chỉ cần gửi một lời nhắn cáo lỗi thôi.”
        “Mẹ anh sẽ đến tìm em đấy.”
        Câu đó khiến cô lại phải ngừng thái đồ ăn. “Làm gì có chuyện.”
        “Dễ vậy lắm, cưng ạ. Bà sẽ đoán là em ngại ngần hoặc bướng bỉnh. Nếu nghĩ em ngại ngần, bà sẽ chăm chút em ở bữa tiệc. Còn nếu là bướng bỉnh, bà sẽ đủn đít em từ đây tới đó luôn.”
        “Em đâu có ngại ngần hay bướng bỉnh.”
        “Cả hai thứ luôn ấy chứ, lại còn một chút sợ sệt nữa.”
        Cô cố ý ấn dao xuống thớt mạnh hơn cần thiết một chút. “Em không thấy có gì hay khi chê bai em lúc em đang chuẩn bị bữa ăn cho anh.”
        “Anh không xem việc ngại ngần hay bướng bỉnh là chê bai. Và tất cả mọi người đều có lúc hơi sợ sệt, tùy thuộc vào hoàn cảnh.”
        “Hoàn cảnh của anh là những gì?”
        “Đấy là một câu hỏi để lái chủ đề, nhưng anh sẽ trả lời em. Đến gặp nha sĩ nửa năm một lần, lũ nhện sói, và hát karaoke.”
        “Karaoke. Vui mà.”
        “Nhưng không vui khi anh hát. Mà thôi, theo lời anh đi. Cứ dành ra một tiếng thôi. Một tiếng không làm hại em đâu.”
        “Em sẽ suy nghĩ chuyện đó.”
        “Thế chứ. Từ tối qua anh cứ nhắc đi nhắc lại với mình, những món đó thơm đấy.”
        “Hy vọng tối nay sẽ yên bình hơn tối qua.”
        Đúng như vậy, tới khi đồng hồ vừa điểm hai giờ sáng được một lúc.
        Khi hệ thống báo động của cô vang lên, cô lăn khỏi giường, vớ lấy súng đặt trên tủ đầu giường và nắm chắc vũ khí khi chân còn chưa kịp chạm sàn.
        “Bình tĩnh đi em.” Giọng Brooks đột nhiên rất bình tĩnh. “Cứ bình tĩnh, Abigail. Chú mày nữa,” anh nói với con chó lúc này cũng chồm lên, khe khẽ gầm gừ trong cổ họng.
        “Có ai đó đang đến.”
        “Anh biết rồi. Không, đừng bật đèn. Nếu đó là kẻ nào mò tới với ý đồ xấu, không đánh động chúng sẽ tốt hơn.”
        “Em không nhận ra chiếc xe này,” cô nói trong khi bật màn hình lên.
        “Anh nhận ra rồi. Chết tiệt.” Tiếng thở dài của anh nghe mệt mỏi hơn là bực dọc. “Là thằng Doyle Parsins, cho nên chắc lại có cả thằng Justin Blake và thằng bạn Chad Cartwright của nó rồi. Để anh mặc quần đã. Anh sẽ lo vụ này.”
        “Chỉ có hai người trên xe thôi.”
        Brooks mặc vội quần dài, vớ lấy áo sơ mi, chui nhanh vào áo trong lúc quay trở lại xem màn hình. “Có lẽ thằng Chad không muốn tham gia, hoặc chúng đã thả nó xuống để vòng ra sau nhà. Anh chẳng đề cao trí khôn của bọn nó nên nhiều khả năng thằng Chad không tham gia vụ này đâu.”
        Rất rắn rỏi, Brooks đặt một tay lên vai cô. “Không phải chuyện của em đâu, Abigail. Thoải mái đi.”
        “Em không thể thoải mái khi có người mò vào nhà em vào lúc hai giờ sáng. Muốn em thoải mái thì không hợp lý tí nào.”
        “Hay đấy.” Anh cầm lấy hai cánh tay cô, nhưng rất lỏng, xoa xoa dọc theo tay. “Anh chỉ nói rằng chúng đang tìm cách khiến anh bực bội. Không phải em. Chúng sẽ mò tới đây - nhìn xem kìa, chúng đang lùi ra xa khỏi nhà. Chắc định đâm thủng lốp xe anh đây mà, có khi là sơn xịt mấy hình bậy bạ lên xe anh. Cứ nghĩ anh sẽ bị bất ngờ vào buổi sáng. Cả hai thằng chúng nó lại đang phê thuốc kìa. Nếu chúng đang phê thuốc thì chưa chắc chúng đã biết điều đâu, biết điều không có trong từ điển của thằng Justin, xin nói thẳng luôn.”
        Và việc mò đến đây thế này càng cho Brooks thấy nó đang dần đổ đốn, giống như Tybal vậy.
        Vừa theo dõi bọn chúng, anh vừa đủ thời gian để cài áo sơ mi. “Em gọi cảnh sát đi. Tối nay Ash trực đấy. Em chỉ cần nói với cậu ấy tình hình. Anh sẽ ra ngoài và giải quyết mọi việc.”
        Anh đi giày phòng trường hợp phải đuổi theo chúng, đeo vũ khí lên. “Em và Bert cứ ở bên trong.”
        “Em không cần hay muốn được bảo vệ trước hai kẻ phạm pháp.”
        “Abigail, anh là người mang phù hiệu cơ mà.” Giọng của anh không cho phép tranh luận thêm. “Và anh là người mà bọn nó muốn gây sự. Chẳng có lý gì lại để chúng khó chịu với em. Cứ làm theo anh bảo, và đợi anh.”
        Anh dò dẫm xuống gác dưới ánh đèn cảnh giới lờ mờ bên ngoài. Vụ việc sẽ rõ ràng hơn, thuyết phục hơn nếu anh xuất hiện đúng lúc chúng đang làm gì đó, hoặc định làm, chứ không phải chỉ lảng vảng xung quanh, lè nhè cười cợt vì say rượu hoặc phê thuốc.
        Giờ Abigail sẽ được thấy quan điểm về công lý của cô, anh nghĩ, khi hai thằng ngồi tù cho tới khi phải ra tòa.
        Anh quan sát chúng qua cửa sổ, và đúng như anh dự đoán, chúng lom khom bên cạnh xe của anh. Justin mở một cái túi, ném một bình xịt cho Doyle.
        Anh cứ để cho chúng bắt đầu. Chiếc xe sẽ phải sơn lại, nhưng bằng chứng cần không thể chối cãi được. Sau đó anh mới bước tới cửa trước, mở khóa và bước ra.
        “Hai cậu lạc đường à?”
        Doyle đánh rơi bình xịt và ngã phịch xuống.
        “Xin lỗi làm gián đoạn chuyến dã ngoại của hai cậu, nhưng tôi tin hai thằng ngốc các cậu đã xâm phạm tư gia rồi. Chúng tôi sẽ bổ sung thêm tội phá hoại nữa, rõ là các cậu vừa phá hoại tài sản của cảnh sát, một tội rất nặng đấy. Và tôi dám cá là sẽ tìm thấy chất cấm hoặc rượu trong máu và trong người các cậu. Tóm lại nhé, các cậu? Chúng mày đúng là lũ khốn.”
        Brooks lắc đầu khi Doyle cố lập bập đứng lên. “Cậu cứ chạy đi, Doyle, và tôi sẽ thêm tội danh bỏ chạy và kháng cự. Tôi biết chỗ cậu sống, cậu ngốc thật, cho nên cứ ở nguyên vị trí. Justin, hãy giơ tay ra cho tôi thấy nào.”
        “Mày muốn thấy tay tao à?”
        Justin xỉa con dao nó cầm vào lốp sau, sau đó bật dậy. “Tiếp theo sẽ là mày đấy, thằng chó.”
        “Để tôi nói thẳng nhé. Cậu có dao. Tôi có súng. Thấy thứ này chứ?” Brooks rút súng rất hờ hững. “Và tôi là thằng chó hả? Justin, cậu quá là ngu ngốc. Nào vứt con dao đó xuống, sau đó nhìn thằng bạn sáng sủa hơn của cậu xem. Thấy nó cúi mặt với hai tay đan lại đặt sau gáy chứ? Làm như thế đi.”
        Trong ánh đèn cảnh giới, Brooks nhận ra hai con ngươi của Justin chỉ bằng đầu đinh ghim.
        “Mày sẽ không bắn được tao đâu. Mày không có gan làm thế đâu.”
        “Tao nghĩ anh ấy dám đấy.” Với khẩu Glock trên tay, Abigail bước ra từ bên hông nhà. “Nhưng nếu anh ấy không bắn mày, thì tao sẽ làm đấy.”
        “Giờ còn nấp sau váy đàn bà à, Gleason?”
        Brooks hơi chuyển vị trí. Không chỉ để cản Abigail nếu Justin ngu đến mức cầm dao lao vào họ, mà bởi vì anh không dám chắc là cô sẽ không nổ súng vào thằng ngu ấy.
        “Trông tôi giống như đang ẩn núp lắm sao?”
        “Em rất muốn bắn nó,” Abigail nói. “Nó xâm nhập tư gia, và có vũ khí cho nên em tin em có quyền của mình. Em có thể bắn vào chân nó. Em bắn rất giỏi, anh biết rồi đấy.”
        “Abigail.” Vừa thích thú vừa lo lắng, Brooks bước tới. “Bỏ dao xuống, Justin, trước khi chuyện này trở nên tệ hại.”
        “Mày sẽ không tống tao vào tù được đâu.”
        “Tối nay mày đã sai lầm bao nhiêu kiểu rồi?” Brooks hỏi.
        Justin xổ tới.
        “Đừng bắn nó, Chúa ơi,” Brooks hét lên. Anh chặn bàn tay cầm dao bằng tay trái của mình, vung cùi chỏ tay phải lên và táng trúng mũi Justin. Anh nghe thấy tiếng lắc rắc ngay trước lúc máu phun ra. Con dao rơi xuống, anh chỉ việc tóm chặn lấy cổ Justin, xô nó tới trước khiến nó loạng choạng khuỵu gối.
        Không chịu đựng được, anh xô Justin úp mặt xuống, đạp một giày lên cổ nó. “Abigail, giúp anh lên gác lấy còng tay được không?”
        “Em có đây rồi.”
        Brooks nhướng mày khi cô rút còng ra khỏi túi phía sau.
        “Em đúng là người chu đáo. Ném lại đây.”
        Anh bắt lấy, quỳ xuống bẻ quặt hai tay Justin ra sau lưng. “Doyle, cậu cứ ngồi yên thế, nếu không cô Lowery có thể bắn vào chân cậu đấy.”
        “Vâng, thưa ngài. Cháu không hề biết nó sẽ làm thế, cháu thề. Chúng cháu chỉ định quậy chiếc xe thôi. Cháu thề có Chúa.”
        “Im lặng đi, Doyle, cậu dại quá nên đừng có nói nữa.” Brooks nhìn lên khi nghe thấy tiếng còi hú. “Trời đất, anh chàng làm gì mà phóng như bay đến vậy?”
        “Em trông thấy con dao lúc trình báo tình hình. Cấp dưới của anh rất lo ngại.”
        “Được rồi. Khốn kiếp. Justin, cậu vừa cầm dao xông vào một cảnh sát. Đó là tấn công với vũ khí giết người nhằm vào một sĩ quan cảnh sát. Công tố viên thậm chí có thể quy thành tội cố ý giết người nếu bọn tôi thêm mắm dặm muối đấy. Cậu xông rồi, nhóc ạ, và mọi việc sẽ không chỉ thế này đâu. Cậu bị bắt về tội xâm nhập tư gia, phá hoại tài sản, hủy hoại tài sản của cảnh sát và tấn công sĩ quan cảnh sát bằng vũ khí giết người. Cậu có quyền giữ im lặng.”
        “Mày làm vỡ mẹ nó mũi tao rồi. Tao sẽ giết mày.”
        “Nếu biết điều thì chớ có mở mồm ra.” Anh uống hết lon nước Miranda thì nhìn thấy ánh đèn từ chiếc xe tuần tra của Ash nhấp nháy trên đường. “Doyle, thằng Chad Cartwright đâu?”
        “Nó không đi cùng. Nó nói nó gặp rắc rối đủ rồi, và bố nó sẽ xử nó nếu còn gây rối thêm nữa.”
        “Thế là tỉnh đấy.” Anh đứng lên vừa hay Ash mở tung cửa xe.
        “Sếp! Sếp ổn chứ? Ôi trời. Anh chảy máu kìa.”
        “Cái gì? Chỗ nào? Chết tiệt.” Brooks nhìn xuống, rít lên vẻ bực bội. “Là máu mũi của thằng Justin. Mẹ kiếp, tôi thích cái áo sơ mi này.”
        “Anh nên ngâm vào nước lạnh và muối.”
        Cả Brooks và nhân viên của mình đều nhìn về phía Abigail đứng, con chó đầy vẻ cảnh giác đứng bên cạnh cô.
        “Chào cô,” Ash nói.
        Lại có tiếng còi rúc lên.
        “Quái gì vậy, Ash?”
        “Chắc là Boyd. Lúc cô Lowery thông báo nhìn thấy dao, và chỉ nhìn thấy có hai thằng trong khi lũ này thường đi ba với nhau, tôi nghĩ nên gọi cho Boyd để yểm trợ. Anh chắc nó không làm anh bị thương chứ?”
        “Ừ, chắc mà. Nó ngu đến mức làm thật, cho nên nó bị buộc tội tấn công sĩ quan cảnh sát. Tôi thấy cậu và Boyd có thể đưa hai thằng đi được rồi. Tôi sẽ theo sau ngay.”
        “Được rồi, thưa sếp. Rất xin lỗi vì vụ gây rối này, thưa cô Lowery.”
        “Anh không phải người gây chuyện đâu, anh Hyderman.”
        Brooks bước lại phía cô. “Sao em không dắt Bert vào trong đi? Mấy phút nữa anh vào thôi mà.”
        “Vâng.” Cô ra hiệu cho chú chó và quay vào đúng theo đường cũ.
        Trong bếp, cô thưởng cho Bert một chiếc bánh quy mà nó thích, sau đó pha cà phê. Cô ngẫm nghĩ một lúc, sau đó mở hộp lấy bánh quy bày lên đĩa.
        Có vẻ đó là việc nên làm. Cô ngồi bên bàn và nhìn Brooks cùng những người khác trên màn hình. Thằng nhóc mà anh gọi là Doyle khóc lóc một chút, nhưng cô chẳng hề thấy thương cảm tí nào. Justin vẫn tỏ vẻ sưng sỉa, gầm gừ như một con chó dại, chửi bới về chuyện hai mắt mà cô dự đoán là chỉ lát nữa sẽ sưng và tím bầm do cái mũi bị gãy.
        Khi hai tù nhân đã bị nhốt kỹ đằng sau xe tuần tra của sĩ quan cảnh sát đầu tiên, Brooks nói chuyện với người của mình một lúc nữa, rồi nói gì đó khiến họ cười to.
        Làm dịu căng thẳng, cô suy đoán. Phải, đó là dấu hiệu của một lãnh đạo giỏi. Cô đứng lên và mở khóa cửa trước, nhưng thấy Brooks đi về phía sau giống mình vừa nãy. Cô bèn bước tới và rót cà phê sẵn cho anh, cho thêm đường đúng kiểu anh thích.
        Anh bước vào, nhìn đĩa bánh. “Bánh quy à?”
        “Em nghĩ có thể anh muốn ăn gì đó.”
        “Đúng vậy. Anh sẽ phải đi để xử lý vụ này.”
        “Vâng, dĩ nhiên rồi.”
        Anh nhấc cốc cà phê của mình lên, lấy một chiếc bánh. “Chắc anh không phải hỏi xem em có ổn không. Em rất vững vàng, và hành xử đúng mực.”
        “Nó đúng là một thằng đần độn, hung hăng, nhưng chúng ta đừng để bị nguy hiểm thực sự. Anh có thể bị đâm, như thế sẽ rất tệ hại. Nó nói đúng à?”
        “Ai, và về chuyện gì?”
        “Thằng Justin Blake, lúc nó nói anh sẽ không bắn nó.”
        Cắn chiếc bánh, Brooks ngả người ra sau thật thoải mái như thói quen của anh. “Chắc vậy. Nếu anh buộc phải làm, ừ, nhưng anh đã không phải làm. Như thế tốt hơn. Thế em có định bắn nó không?”
        “Có.” Cô đáp không chút ngập ngừng. “Em sẽ cân nhắc xem mình có thể hay nên làm vậy, vì nó còn ít tuổi và ngu, nhưng có. Nếu nó đâm anh, em sẽ bắn. Nhưng phản xạ của anh rất tốt, mà nó còn để lộ động tác của mình, và chậm chạp, em đoán là do thuốc hoặc rượu. Anh chẳng hề sợ.”
        “Ban đầu em nên để kệ anh. Anh đã bảo em ở trong cơ mà.”
        “Và em cũng nói với anh là em không cần hay muốn được bảo vệ. Đây là nhà của em, và em có vũ khí.”
        “Lúc nào cũng vậy.” Anh cắn một miếng bánh nữa.
        “Thêm vào đó, mặc dù không thấy gì xuất hiện trên màn hình nhưng em muốn chắc rằng không còn người thứ ba có thể kẹp sườn anh.”
        “Cảm ơn em.”
        “Anh cần ngâm áo trước khi vết bẩn ngấm vào.”
        “Anh có áo dự phòng ở đồn rồi. Abigail, anh sẽ cần có em cung cấp lời khai đấy. Em có thể đến đồn, hoặc anh có thể gửi một người của mình tới đây lấy lời khai.”
        “Ồ, Vâng, dĩ nhiên rồi. Em không thể cung cấp lời khai cho anh trong hoàn cảnh này.”
        “Phải.”
        “Em nghĩ em nên đến đồn. Em có thể đi luôn bây giờ.”
        “Sáng mai cũng được mà.”
        “Nếu em đi luôn, mọi việc sẽ xong xuôi. Em muốn xong việc. Em sẽ thay đồ và lái xe đi.”
        “Anh có thể đợi em.”
        “Thế cũng được. Anh nên đi luôn, làm những việc anh cần làm.”
        “Ừ. Cách em giải quyết vụ này khiến anh nghĩ em đã từng giải quyết rắc rối trước đây rồi. Anh hy vọng em sẽ đủ tin tưởng anh để kể lại vào một ngày nào đó không xa.”
        Mong muốn có sự kết nối, những ngón tay cô nắm lấy cổ tay anh một lúc. “Nếu em có thể nói với ai đó, thì đó sẽ là anh.”
        “Vậy được rồi.” Anh đặt cốc cà phê xuống, hai tay ôm lấy mặt cô và hôn cô. “Cảm ơn em đã hỗ trợ. Và cả món bánh quy nữa.”
        “Chuyện nhỏ thôi mà.”
         
        Ba mươi phút sau khi Brooks tới, Abigail đi vào đồn cảnh sát. Viên sĩ quan lớn tuổi hơn - Boyd Fitzwater, cô nhớ như vậy lập tức đứng dậy khỏi bàn và bước lại đón cô.
        “Cô Lowery, chúng tôi đánh giá cao việc cô đến đây như thế này. Sếp đang ở trong văn phòng nói chuyện với công tố viên và mọi người. Tôi lấy lời khai của cô nhé.”
        “Vâng.”
        “Cô muốn chút cà phê hay gì đó lạnh không?”
        “Không, cảm ơn anh.”
        “Chúng ta có thể ngồi ngay tại đây. Sẽ yên tĩnh. Ash đang ở phía sau với nhân viên y tế chúng tôi mời đến để xử lý cái mũi cho thằng ôn nhà Blake.” Anh ta mỉm cười nói. “Nó bị nặng đấy.”
        “Tôi dám chắc mũi bị gãy vẫn còn hơn ăn một viên đạn. Tôi tin cảnh sát trưởng Gleason có lý do chính đáng để nổ súng khi thằng Justin cầm dao nhảy xổ vào anh ấy.”
        “Tôi sẽ không bàn luận chuyện đó. Mà chúng ta bắt đầu luôn nhé. Tôi sẽ ghi âm lại cho nên chúng ta cứ việc thẳng thắn nhé. Tôi cũng sẽ ghi chép nữa. Cô thấy ổn chứ?”
        “Dĩ nhiên rồi.”
        “Vậy thì được rồi.” Boyd bật máy ghi âm, đọc rõ ngày tháng, thời gian, và tất cả những cái tên liên quan. “Thưa cô Lowery, xin cô hãy kể cho tôi biết những chuyện xảy ra tối nay?”
        “Lúc hai giờ bảy phút sáng, hệ thống báo động quanh nhà tôi báo hiệu có đột nhập.”
        Cô nói rõ ràng, chuẩn xác.
        “Như cảnh sát trưởng Gleason đã cho biết, Justin Blake thường đi với hai tên nữa. Tôi muốn chắc chắn không còn kẻ thứ ba vòng ra sau nhà. Tôi không thấy có báo động nhưng cảm thấy tốt nhất là phải biết chắc. Sau khi tôi thông báo cho sĩ quan Hyderman trên điện thoại, tôi dắt chó và đi ra phía sau nhà. Con chó không có biểu hiện gì cho thấy có người ở quanh đó, cho nên tôi tiếp tục vòng ra phía trước, nơi tôi thấy Gleason đối đầu với hai kẻ xâm nhập. Một thằng, chính là Doyle Parsins, thì đã quỳ trên đất, còn thằng Justin Blake tiếp tục lom khom bên lốp trái phía sau xe tuần tra của cảnh sát trưởng Gleason.”
        “Cô có nghe thấy ai đó nói gì không?”
        “Ồ, có, rất rõ luôn. Buổi tối rất yên tĩnh mà. Cảnh sát trưởng Gleason nói với Justin, ‘Hãy giơ tay ra cho tôi thấy’. Tôi cần phải nói thêm ngay rằng lúc đó, súng của cảnh sát trưởng Gleason vẫn để nguyên trong bao. Justin đáp lại, ‘Mày muốn thấy tay tao à’, và xỉa thẳng con dao nó cầm bên tay phải vào lốp sau bên trái.”
        Cô tiếp tục kể, cung cấp cho Boyd bản tường trình chi tiết từng từ, từng hành động. Boyd chỉ ngắt lời một hai lần để hỏi cho rõ.
        “Thực sự rất chi tiết.”
        “Tôi có trí nhớ thị giác tốt mà - anh có thể gọi đó là chụp ảnh cũng được,” cô nói thêm, mặc dù cô luôn thấy không thoải mái khi phải giải thích với cái cách không lấy gì làm chính xác đó.
        “Thực sự rất hữu ích, thưa cô Lowery.”
        “Tôi hy vọng như thế. Chắc nó sẽ giết Brooks nếu có cơ hội.”
        Mặc dù đã với tay định tắt máy ghi âm, nhưng Boyd vội nhấc tay ra ngay, ngồi xuống. “Sao cơ?”
        “Justin Blake. Nó sẽ đâm cảnh sát trưởng Gleason, và nó sẽ giết anh ấy nếu có cơ hội. Ý định của nó rất rõ ràng, thái độ giận dữ và cả vẻ sợ hãi của nó cũng vậy. Nó sẽ chẳng ngần ngại ra tay, anh hiểu chứ, phá hoặc loại bỏ những gì cản trở nó, những gì ngáng đường. Có những loại người tin rằng chỉ có ý muốn và nguyện vọng của họ là hơn tất cả mọi thứ và mọi người khác.”
        Cô đã chứng kiến cảnh giết người, cô nghĩ thầm. Thằng kia không gợi cho cô nhớ lại gã Korotkii lạnh lùng vô cảm. Nó thiếu cái vẻ lãnh đạm và khả năng ấy. Nhưng nó làm cho cô nghĩ tới Ilya, vẻ giận dữ trên mặt Ilya khi gã chửi bới và đá vào xác gã anh họ của mình.
        “Có lẽ nó chưa từng giết người hay gây thương tích nghiêm trọng trước buổi tối nay. Tôi nghĩ nếu nó đã từng làm vậy rồi, nó đã không kém cỏi trong việc đó như vậy. Nhưng nếu tối nay không xảy ra chuyện này thì sẽ là một ai đó khác, vào một tối khác, một người không có những khả năng, phản xạ và sự trầm tĩnh như cảnh sát trưởng. Sẽ có nhiều thứ phải giải quyết hơn là một cái mũi bị gãy đấy.”
        “Vâng, thưa cô.”
        “Tôi xin lỗi. Thật khó chịu. Còn hơn cả tôi tưởng. Ý kiến của tôi không thích hợp cho lắm. Nếu đó là tất cả những gì các anh cần, thì tôi xin phép về nhà.”
        “Tôi có thể bảo ai đó lái xe chở cô về.”
        “Không, tôi tự lái xe được. Cảm ơn anh, anh rất chu đáo.”
        Cô bắt đầu đi ra cửa, dừng lại khi nghe Brooks gọi tên cô. Anh bước tới, đặt một tay lên cánh tay cô. “Một phút thôi,” anh nói với Boyd, sau đó dẫn cô ra ngoài.
        “Em ổn chứ?”
        “Vâng. Em đã nói với anh rồi mà.”
        “Và em vừa nói với Boyd rằng chuyện này khó chịu hơn em tưởng.”
        “Đúng thế mà, nhưng đâu có nghĩa là em không ổn. Nhưng mà em mệt. Em nghĩ em sẽ về nhà và ngủ một chút.”
        “Tốt rồi. Anh sẽ gọi hoặc ghé qua sau, để xem em sao rồi.”
        “Anh không cần phải bận tâm tới em. Em không cần vậy.” Cô không muốn thế, không muốn Justin Blake gợi cho cô nhớ tới gã Ilya Volkov. “Anh đã ngâm áo chưa, nước lạnh với muối ấy?”
        “Anh bỏ đi rồi. Anh sẽ cứ nhìn thấy máu của nó trên áo cho dù vết máu có còn đó hay không. Anh không cần cái áo đó nữa.”
        Cô nghĩ đến một chiếc áo len rất đẹp, loang đầy vết máu. “Em hiểu. Anh cũng mệt rồi đấy.” Cô chạm tay vào mặt anh. “Em hy vọng anh có thể ngủ một chút.”
        “Anh chẳng sao đâu. Em lái xe cẩn thận nhé, Abigail.” Anh hôn lên trán cô, rồi môi cô, rồi mới bước tới mở cửa xe cho cô.
        “Em nói đúng, những gì em đã nói trong kia ấy. Chuyện nó sẽ rút dao hay súng, vớ lấy một cây gậy để làm hại ai đó chỉ là vấn đề thời gian thôi.”
        “Em biết.”
        “Em sẽ không còn phải lo ngại về nó nữa đâu.”
        “Vậy thì em sẽ không lo nữa.” Đầy tình cảm, cô vòng hai tay quanh người anh, ôm thật chặt. “Em rất mừng vì anh có phản xạ tốt.”
        Cô leo lên xe và phóng đi.
        #19
          Thanh Vân 29.11.2023 19:24:03 (permalink)

          20


          Lúc hơn ba giờ chiều, Abigail nhìn màn hình khi một chiếc Mercedes sẫm màu tiến về phía nhà cô. Nhìn thấy nó khiến sống lưng cô râm ran. Cô không nhận ra chiếc xe, người lái xe - ngót nghét bốn mươi, vai rộng, tóc đen cắt ngắn - hay người ngồi bên cạnh - ngoài năm mươi, tóc muối tiêu, mặt lớn.
          Cô nhập biển số xe vào hệ thống của mình, tự nhủ mình cần chuẩn bị sẵn sàng - cho bất kỳ chuyện gì. Tìm kiếm nhanh qua hồ sơ đăng kiểm cho biết chủ xe là Lincoln Blake, và hai vai cô thấy nhẹ hẳn. Một tình huống xen ngang phiền phức nhưng không phải là mối đe dọa.
          Blake trông rất thành dạt, cô nhận ra như vậy, lúc gã bước ra từ phía ghế phụ. Cô có ấn tượng rằng gã trông thành đạt nhờ bộ complet may đo rất khéo và đôi giày bóng lộn. Người thứ hai cũng mặc complet, và xách theo một chiếc cặp.
          Cô tin mình nhìn thấy một chỗ hơi phồng lên ở hông bên phải của người này khiến cho áo của gã không được đẹp. Gã có mang theo súng.
          Được thôi, cô nghĩ thầm, vậy cô cũng vậy.
          Cô tính chuyện mặc kệ tiếng gõ cửa. Cô không có nghĩa vụ phải trả lời, phải nói chuyện với bố đẻ của một thằng ranh tìm cách giết Brooks. Nhưng cô cũng nghĩ đến thực tế rằng một người như Blake, căn cứ từ tất cả những gì cô được nghe và trực cảm về gã, sẽ không dễ dàng bỏ đi. Dù sao cô cũng thấy tò mò một chút.
          Có Bert sát bên cạnh, cô mở cửa trước.
          “Cô Lowery.” Blake cười tươi và chìa tay ra. “Xin thứ lỗi vì không mời mà đến. Tôi là Lincoln Blake, một hàng xóm của cô.”
          “Nhà ông cách đây vài dặm, ở mé bên kia Bickford. Do đó, ông đâu có sống gần nhà tôi để có thể làm hàng xóm.”
          “Ở đây tất cả chúng ta đều là xóm giềng cả thôi,” Blake nói rất vui vẻ. “Đây và trợ lý riêng của tôi, Mark. Tôi muốn xin lỗi vì việc con trai tôi vô tình xâm nhập trái phép vào nhà cô tối qua. Chúng tôi xin phép vào trong và bàn chuyện này được chứ?”
          “Không.”
          Cô luôn thấy khó hiểu và tại sao mọi người lại có vẻ ngạc nhiên, thậm chí khó chịu, khi hỏi một câu hỏi và nhận được câu trả lời phủ định như vậy.
          “Nào, cô Lowery, tôi đến đây để có lời xin lỗi, vì tôi hiểu con trai mình đã gây cho cô chút khó chịu, và để thu xếp tất cả những việc này. Sẽ hữu ích hơn nếu chúng ta có thể thoải mái khi nói về chuyện này.”
          “Tôi rất thoải mái. Cảm ơn vì lời xin lỗi của ông, ông Blake, mặc dù không phù hợp lắm, vì chính con trai ông mới là kẻ mò vào nhà tôi mà không được phép vào lúc nửa đêm, và định đâm cảnh sát trưởng Gleason. Tôi tin cảnh sát đang giải quyết chuyện này, và chúng ta chẳng có gì để thảo luận vào lúc này cả.”
          “Thế thì tôi mới phải ghé tới. Tôi không thích việc phải cố trò chuyện qua khuôn cửa thế này.”
          “Tôi thì không thích tiếp người lạ trong nhà. Tôi muốn các vị ra về ngay. Ông có thể thảo luận chuyện này với cảnh sát.”
          “Tôi chưa xong mà.” Gã chìa ra một ngón tay. “Tôi hiểu cô rất thân với Brooks Gleason, vậy nên...”
          “Vâng, chúng tôi rất thân nhau. Nếu không thân thì anh ấy đã không ở đây lúc hai giờ sáng khi con trai ông và bạn của nó xâm nhập bất hợp pháp vào khu đất của tôi với ý định phá phách chiếc xe tuần tra của cảnh sát trưởng Gleason. Tuy nhiên, mối quan hệ của tôi với cảnh sát trưởng Gleason không thay đổi được thực tế.”
          “Một thực tế là cô chưa sống ở đây lâu. Cô chưa hiểu hết vị trí của tôi trong cộng đồng này, hay lịch sử của nó.”
          Cô thực lòng thắc mắc tại sao gã lại nghĩ chuyện đó có liên quan, nhưng cô chẳng buồn hỏi.
          “Tôi biết, và vị trí cùng lịch sử của ông chẳng thay đổi được thực tế những gì diễn ra ở đây sáng sớm nay. Rất khó chịu khi bị đánh thức theo kiểu như vậy, và phải chứng kiến con trai ông tấn công cảnh sát trưởng Gleason bằng dao.”
          “Thực tế,” Blake đập đập ngón trỏ vào bàn tay xòe rộng của gã. “Lúc đó là nửa đêm, và do đó trời rất tối. Tôi ngờ rằng tay Brooks Gleason khiêu khích thằng nhà tôi, dọa dẫm nó. Justin chỉ đơn giản là tự vệ thôi.”
          “Không đúng,” Abigail bình tĩnh nói. “Đèn cảnh giới của tôi bật sáng quắc. Tôi có thị lực rất tốt và chỉ dừng cách chưa đầy ba mét lúc diễn ra hành động tấn công. Cảnh sát trưởng Gleason rõ ràng đã yêu cầu con trai ông đưa tay ra, và phản ứng của con trai ông đầu tiên là đâm thủng lốp chiếc xe tuần tra và thứ hai, đe dọa Brooks bằng dao.”
          “Con trai tôi...”
          “Tôi chưa đính chính xong những chi tiết không chính xác của ông,” cô thẳng thừng, và khiến cho Blake im bặt. “Chỉ khi đó, khi con trai ông mở mồm và có cả hành động de dọa anh ấy thì Brooks mới rút súng. Và con ông vẫn không chịu buông dao xuống. Thay vào đó, thậm chí khi tôi đã bước ra cùng với súng của tôi, con trai ông vẫn cầm dao lao vào Brooks. Theo ý tôi, đáng ra Brooks đã có cớ để bắn con trai ông ngay lúc ấy, nhưng anh ấy chọn cách tay không tước vũ khí của nó bất chấp sự an toàn của bản thân.”
          “Quanh đây chẳng ai quen biết cô cả. Cô là một phụ nữ kỳ lạ sống một mình, không hề có tiểu sử hay lịch sử gì ở cộng đồng này. Dù cô có nói câu chuyện ngớ ngẩn đó trước tòa, luật sư của tôi sẽ xé vụn lời khai của cô và làm cô mất mặt đấy.”
          “Tôi không nghĩ vậy đâu, nhưng tôi tin chắc luật sư của ông sẽ phải làm công việc của họ. Nếu mọi chuyện đã xong, tôi rất muốn các ông về đi.”
          “Cô chờ một phút thôi.” Blake bước tới, và Bert xù lên, gầm gừ.
          “Ông đang làm chó của tôi khó chịu đấy,” Abigail nói lạnh tanh. “Và nếu trợ lý của ông định rút súng, tôi sẽ thả chó. Tôi có thể quả quyết với ông là nó di chuyển nhanh hơn anh ta kịp rút súng đấy. Và tôi cũng có súng, như ông có thể thấy rất rõ. Tôi bắn không tệ đâu. Tôi không thích người lạ đến nhà tôi, tìm cách hăm dọa và đe nẹt tôi. Tôi không thích những bậc phụ huynh nuôi dạy những thằng con hung hăng, ngỗ ngược.”
          Giống Sergei Volkov, cô nghĩ thầm.
          “Tôi không thích ông, ông Blake, và tôi đề nghị ông về lần cuối cùng.”
          “Tôi đến đây để giải quyết việc này với cô, để xin lỗi và thỏa thuận chuyện đền bù vì đã gây khó chịu.”
          “Đền bù?”
          “Mười nghìn đô la. Một lời xin lỗi hào phóng về một tai nạn, một sự hiểu nhầm.”
          “Chắc chắn là vậy rồi,” Abigail đồng ý.
          “Tiền là của cô, tiền mặt luôn, nếu cô đồng ý rằng thực ra đó chỉ là chuyện hiểu nhầm.”
          “Đề xuất của ông là tôi nhận mười nghìn đô la tiền mặt từ ông để nói dối về những gì xảy ra ở đây đêm qua à?”
          “Đừng cố chấp vậy. Đề xuất của tôi là cô nhận tiền trong chiếc cặp mà trợ lý của tôi mang theo đây như một lời xin lỗi, và cô chỉ việc đồng ý rằng những gì xảy ra ở đây là một sự hiểu nhầm. Tôi hứa với cô thằng con trai tôi sẽ không bao giờ đặt chân lên đất của cô nữa.”
          “Thứ nhất, lời nói của ông chẳng kiểm soát được cách ứng xử của con trai ông. Thứ hai, sẽ phải là con trai ông, không phải ông, nợ tôi một lời xin lỗi về việc sáng nay. Và cuối cùng, đề xuất của ông cũng là lời mua chuộc, một kiểu dùng tiền đổi lấy việc tôi khai gian. Tôi tin việc tìm cách mua chuộc nhân chứng trong một vụ điều tra hình sự là hành vi có tội. Giải pháp đơn giản nhất, và chắc chắn và kết quả tốt nhất cho ông, là cho tôi được nói không, xin cảm ơn. Và tạm biệt.”
          Cô bước lùi lại, đóng cửa, vặn ổ khóa.
          Gã giơ nắm tay đập đập cửa. Chuyện đó không làm cô ngạc nhiên, Abigail nhận ra vậy. Con trai gã thừa hưởng đúng cái tính khí đồng bóng và ảo tưởng quyền lực ấy. Tay đặt nhẹ lên báng súng, cô đi về phía màn hình trong bếp, quan sát tay trợ lý cố gắng làm cho ông chủ của mình bình tĩnh lại.
          Cô không muốn gọi cho cảnh sát. Càng rắc rối, càng bị làm phiền, càng hành xử kém.
          Cô cũng hơi chấn động một chút, chẳng có gì phải xấu hổ khi thừa nhận điều đó. Nhưng cô đã đương đầu với thái độ hăm dọa, những lời dọa dẫm. Không hoảng loạn, cô tự nhủ, không mảy may muốn trốn chạy.
          Cô không tin vào số phận, không tin vào bất kỳ điều gì được cho là đã định sẵn, nhưng nếu cô tin thì có lẽ - về mặt lý thuyết - cô đã vượt qua được hai trải nghiệm, những gì gợi nhớ lại gã Ilya, và bây giờ là nhớ về bố gã, để chứng tỏ với chính mình rằng cô có thể và sẽ vững vàng.
          Cô sẽ không trốn chạy nữa. Nếu cô tin vào số phận.
          “Chúng ta sẽ cho hắn hai phút, tính từ bây giờ, để lấy lại chút bình tĩnh và ra về. Nếu hắn không chịu, chúng ta sẽ lại ra đó.”
          Nhưng lần này, cô quyết định cô sẽ cầm súng, chứ không phải để trong bao.
          Quyết ý như vậy, cô liền đặt hẹn giờ trên đồng hồ, và tiếp tục theo dõi gã trên màn hình.
          Huyết áp của gã chắc chắn ở cấp độ nguy hiểm, cô nghĩ, vì mặt gã tím bầm, mắt gã lồi ra. Cô có thể nhìn rõ bộ ngực kềnh càng của gã phập phồng khi gã quát trợ lý của mình.
          Cô hy vọng mình sẽ không phải gọi trợ giúp y tế hay nhà chức trách.
          Những gì cô muốn làm là kết thúc công việc của mình và dành chút thời gian làm việc ngoài vườn. Những khó khăn của gã đàn ông này không phải là của cô.
          Lúc thời gian được một phút bốn mươi hai giây, Blake hậm hực trở ra xe.
          Abigail thở phào nhẹ nhõm khi gã trợ lý đánh tay lái một vòng ba phần tư và phóng đi.
          Họa vô đơn chí, cô nghĩ thầm. Liệu có buồn cười khi cô lại trở thành nhân chứng của một vụ phạm tội, và một lần nữa là đối tượng của những lời dọa dẫm và đe dọa?
          Không, cô không tin vào số phận, và... dường như mặc dù vậy nhưng số phận đã định sẵn là giày vò cuộc sống của cô, và dẫn dắt cô vòng trở lại vị trí khởi đầu.
          Đó là một điều cần suy nghĩ.
          Cô nhìn vào công việc của mình và lại thở dài.
          “Chị nghĩ chúng ta sẽ đi bộ một lát,” cô nói với Bert. “Chị cũng chẳng còn bụng dạ nào làm việc giờ này cả.”
          Tâm trạng của cô cân bằng lúc ra ngoài trời, bình tâm lại khi cô đi bộ qua rừng cây, ngắm nhìn sự phát triển của các loài hoa dại, ngẫm nghĩ về chỗ ngồi riêng tư của mình để ngắn cảnh đồi núi. Cô sẽ sớm bắt tay vào tìm kiếm một băng ghế thích hợp.
          Cô cảm thấy... hạnh phúc, cô nhận ra như vậy, khi nhận được một tin nhắn từ Brooks.
          Anh mua mấy món Trung Quốc nhé? Đừng nấu nướng. Có lẽ em mệt rồi.
          Cô ngẫm nghĩ rồi nhắn lại.
          Em không mệt, nhưng em thích đồ ăn Trung Quốc. Cảm ơn anh.
          Một lát sau, cô nhận thêm một tin nhắn nữa.
          Em không phải khách sáo.
          Tin nhắn làm cô bật cười, giúp tâm trạng của cô vui thêm một chút nữa. Vì đã ra khỏi nhà nên cô cho Bert có trọn một tiếng tập luyện, sau đó cô về nhà làm việc với tâm trí không vướng bận gì.
          Cô đã lỡ nhịp thời gian, điều hiếm gặp ở cô, và rất sẵn sàng bị làm phiền tiếp khi hệ thống báo động của cô lại kêu. Nếu cái gã đàn ông cắm cảu đó quay lại, cô sẽ không tỏ ra lịch sự nữa, cô quả quyết vậy
          Tâm trạng của cô vui trở lại khi trông thấy xe của Brooks. Nhìn đồng hồ, cô mới biết mình đã làm việc qua sáu giờ.
          Hôm nay không làm vườn nữa, cô nghĩ bụng, và quy kết việc không có được niềm vui thích đó cho gã đàn ông cắm cảu và tay trợ lý mặt lạnh như tiền của gã.
          Cô tắt máy và vui vẻ đi ra cửa - lần nữa - với hình dung rằng sắp được ăn tối cùng Brooks.
          Nụ cười chào đón của cô biến thành nỗi lo lắng khi cô nhìn thấy gương mặt anh.
          “Anh đã không ngủ?”
          “Bọn anh phải làm thêm nhiều thứ.”
          “Trông anh rất mỏi mệt. Để em mang giúp đồ cho. Chỉ có hai người mà anh mua nhiều thức ăn quá đấy.”
          “Em biết người ta nói gì về món ăn Trung Quốc rồi mà.”
          “Không hẳn vậy đâu. Nếu anh ăn uống phù hợp thì một tiếng sau anh cũng chẳng đói. Em thấy anh mua cả pijin đi kèm nữa.”
          “Thế à?”
          “Bia Trung Quốc,” cô nói lúc dẫn anh đi vào. “Người nông dân Trung Quốc biết nấu bia từ bảy ngàn năm trước Công nguyên.”
          “Anh không nghĩ nhãn hiệu Zhujiang anh chọn loại lâu đời thế.”
          “Đùa vậy thôi. Nó được sử dụng - không phải thứ bia anh mua nhé - trong các nghi lễ. Nhưng phải đến tận thế kỷ mười bảy thì kỹ thuật nấu bia hiện đại mới được đưa vào Trung Quốc.”
          “Thú vị đấy.”
          “Nghe chừng anh mệt rồi. Anh nên ngồi nghỉ, uống một cốc bia đi đã. Em đã ngủ thêm được hai tiếng, rồi đi bộ một tiếng. Em thấy rất thư thái. Em sẽ lo liệu đồ ăn cho.”
          “Anh cứ bảo họ cho đủ cả. Anh không biết em muốn cụ thể món gì.”
          “Em đâu có cầu kỳ.” Cô mở túi đồ ăn. “Rất chia sẻ với anh vì đã có một ngày vất vả. Anh cứ kể cho em nghe nếu anh muốn.”
          “Đám luật sư, tranh tụng, kết tội, đe dọa.” Anh mở một lon bia, ngồi lên quầy bếp. “Hồ sơ giấy tờ, họp hành. Em không cần phải cho tất cả ra bát đâu. Cái hay của đồ Trung Quốc là em có thể ăn ngay trong hộp giấy.”
          “Ăn như thế vừa vội vừa không thoải mái.” Cô biết anh rất cần được thoải mái. “Em có thể sắp ra đĩa nếu anh đã chọn được món.”
          “Gì cũng được. Anh cũng có cầu kỳ đâu.”
          “Sau bữa tối chúng ta nên đi dạo, sau đó anh nên tắm nước ấm và cố ngủ đi. Anh có vẻ rất căng thẳng, mà anh ít khi như vậy.”
          “Chắc anh bực mình vì phải làm việc với đám luật sư, cái lũ cứ tìm cách gây sức ép và dọa dẫm anh cùng đồng sự.”
          “Phải, gã là một kẻ rất khó chịu.” Cô múc cơm ra bát, múc món thịt chua ngọt lên trên, cho thêm một chiếc bánh bao, một ít mì, mấy con tôm. “Em đã phải lên tinh thần cho mình sau khi gã biến đi chiều nay.”
          “Biến đi? Ở đây à? Blake đã đến đây à?”
          “Chiều nay, cùng với trợ lý của gã. Bề ngoài là để xin lỗi vụ ‘vô tình’ xâm nhập trái phép của thằng con trai. Nhưng đó chỉ là trò bịp, che giấu không được khéo cho lắm. Gã bực bội khi em không cho gã vào nhà để thương lượng vụ việc.”
          “Bực lắm đấy. Gã không ưa bị từ chối đâu. Em không mở cửa là đúng đấy.”
          “Em có mở cửa, nhưng không mời gã vào trong.” Cô quyết định thử uống bia trực tiếp từ lon, giống như Brooks. “Anh có biết trợ lý của gã mang theo súng không?”
          “Có. Đừng bảo anh là tay đó rút súng dọa em đấy?”
          “Ồ, không. Không, đừng nổi cáu vội anh.” Cô muốn an ủi anh nhưng lại phản tác dụng. “Dĩ nhiên là hắn không làm vậy. Em chỉ nhận ra hắn giấu súng sau lớp áo thôi, rồi điệu bộ của hắn lúc Bert gầm gừ nữa.”  
          Brooks tợp một ngụm bia to. “Sao em không kể nốt đi.”
          “Anh khó chịu rồi,” cô lầm bầm. “Lẽ ra em không nên nhắc đến.”
          “Không, em nên nói chứ.”
          “Cũng chẳng có gì quan trọng đâu, thật đấy. Gã nói gã đến để xin lỗi, sau đó lật bài ngửa khi em từ chối mời vào nhà. Gã gọi những gì xảy ra là hiểu nhầm, và ý nói rằng đó là do anh. Em lên lớp cho gã chuyện đó, vì em là nhân chứng. Gã ngụ ý rằng em không hiểu vị thế của gã trong cộng đồng, và rằng quan hệ giữa em với anh khiến việc em ra làm nhân chứng sẽ bị nghi ngờ. Gã không nói y chang nhưng đại ý là vậy. Anh có muốn em nói lại chính xác nội dung cuộc nói chuyện không?”
          “Không cần thiết. Ý chính là ổn rồi.”
          “Ý chính. Được rồi. Gã khó chịu và cáu kỉnh khi em bảo gã biến. Em còn cảnh cáo rằng nếu trợ lý của gã rút súng nhắm vào Bert, em sẽ thả Bert để nó tước vũ khí của hắn rất nhanh chóng. Và nhắc cho cả hai biết em cũng có súng.”
          “Không thể tin được.”
          “Đúng như vậy - rất rõ ràng. Có lẽ tốt nhất là cứ nói thẳng nói thật. Tay Blake lặp lại rằng gã đến để xin lỗi, và nói thêm gã đến để đề xuất đền bù. Số tiền là mười nghìn đô la nếu em chấp nhận và đồng ý rằng những gì xảy ra chỉ là sự hiểu nhầm. Vụ đó làm em điên tiết.”
          “Em bảo chúng ra về bao nhiêu lần?”
          “Ba. Em chẳng buồn nói lần nữa, chỉ việc nói tạm biệt và đóng cửa lại. Gã có đập cửa đến gần hai phút sau đó. Gã rất thô lỗ. Sau đó tay trợ lý thuyết phục gã quay vào trong xe.”
          Brooks rời khỏi quầy bếp, đi lại trong bếp. “Sao em không gọi cho anh?”
          “Đâu cần phải vậy. Chuyện đó giải quyết cũng tương đối đơn giản mà. Có bực mình, nhưng đơn giản thôi. Em...”
          Cô im bặt bởi vì lúc anh xoay lại phía cô, cơn giận dữ cố kiềm chế trên mặt anh khiến cổ họng cô như nghẹn lại.
          “Nghe anh nói này. Hai gã em không hề biết đã đến tận cửa nhà em, một trong số chúng có súng. Chúng không chịu bỏ đi khi em yêu cầu, nhiều lần liền. Điều nên làm sau đó là gì?”
          “Đóng cửa lại. Em đã làm vậy.”
          “Không, Abigail. Điều nên làm là đóng cửa, sau đó gọi cho cảnh sát.”
          “Em không đồng ý. Em xin lỗi nếu chuyện đó làm anh giận, nhưng em không đồng ý. Chúng đã bỏ đi.” Cô quyết định tránh làm anh giận dữ thêm bằng cách thôi không nhắc đến việc cô định ra ngoài lần nữa, mang theo súng, sau hai phút.
          Sau đó, cô tự hỏi không biết việc né tránh đó có phải và một rắc rối trong quan hệ giữa hai người không.
          “Em có súng, Brooks, và Bert rất cảnh giác. Em không gặp nguy hiểm gì. Thực tế, Blake rất kích động, em sẽ gọi cho cả anh và nhân viên y tế nếu gã không chịu ra về.”
          “Em có muốn khởi kiện không?”
          “Không. Anh lại nổi cáu rồi. Em không muốn anh giận em. Em đã làm đúng những gì em cảm thấy là tốt nhất ở thời điểm đó, trong hoàn cảnh đó. Nếu cái tôi của anh bị tổn thương chỉ vì em đã không gọi trợ giúp...”
          “Có lẽ một chút. Phải, anh thừa nhận điều đó. Và anh không định nói anh thấy mừng khi biết mình đang ở bên một người phụ nữ có thể tự xoay xở. Nhưng anh biết rõ Blake. Gã đã tìm cách trấn áp và hăm dọa em.”
          “Vâng, gã làm vậy. Nhưng không được.”
          “Tìm cách cũng là đủ rồi. Và gã đã cố mua chuộc em.”
          “Em bảo gã việc gã cố tìm cách mua chuộc nhân chứng khi có vụ việc hình sự là phi pháp.”
          “Anh cũng đoán em sẽ làm vậy.” Brooks thọc một tay vào tóc, ngồi xuống. “Em chưa hiểu gã đâu. Em không biết về loại kẻ thù mà hôm nay em đã gặp, và tin anh đi, em có kẻ thù rồi đấy.”
          “Em nghĩ em biết điều đó rồi,” cô nói khẽ. “Em nghĩ em biết rất rõ. Nhưng gây thù chuốc oán với gã đâu phải là lỗi của em, hay anh.”
          “Có lẽ không. Nhưng chuyện vẫn cứ là như vậy.”
          “Anh sẽ đến gặp thẳng gã?”
          “Chắc chắn anh sẽ làm vậy.”
          “Chuyện đó sẽ không làm hận thù tăng thêm chứ?”
          “Có thể. Nhưng nếu anh không giải quyết, gã sẽ coi đó như một điểm yếu. Gã có thể quay lại, thử lần nữa, coi như em chưa nói gì, gợi ý một khoản đền bù lớn hơn.”
          “Em đã nói rất rõ quan điểm của mình.”
          “Nếu em hiểu loại người em đang phải xử lý, em sẽ nhận ra rằng chuyện đó không có ý nghĩa đếch gì.”
          Mười hai năm đã trôi qua, cô nghĩ. Đúng, cô hiểu. “Anh nói đúng, nhưng ở mức độ cá nhân, em đã nêu rất rõ quan điểm của mình rồi.”
          “Được rồi, như vậy đã. Giờ anh cho em biết, nếu hắn quay lại đừng mở cửa cho hắn. Hãy gọi cho anh.”
          “Để cái tôi của anh thắng của em à?”
          “Không. Có lẽ vậy. Chết tiệt, anh chẳng rõ nữa, mà cũng chẳng bận tâm.”
          Cô hơi mỉm cười. “Chuyện đó để tranh luận sau vậy.”
          Cái cách anh hít một hơi cho cô thấy rằng anh đang cố gắng bình tĩnh lại.
          “Anh khuyên em như vậy là vì gã sẽ còn hăm dọa và đe nẹt khi quay lại. Là vì anh muốn gã hiểu anh có thể làm những gì nếu gã tìm cách quấy rầy em, hoặc bất kỳ ai khác. Anh nói tương tự với Russ, vợ cậu ấy, bố mẹ cậu ấy, bảo các cấp dưới của anh về nói cho gia đình họ được yên tâm.”
          Cô gật đầu, cảm thấy bớt bực bội hơn. “Em hiểu.”
          “Gã đã nổi khùng, Abigail. Tiền bạc và địa vị, như gã đang được chứng kiến, không làm chuyện này êm xuôi được. Con trai gã vẫn ngồi trong tù, và chắc chắn sẽ ngồi tù một thời gian dài.”
          “Gã yêu quý thằng con trai.”
          “Anh không biết chuyện đó, thề luôn. Nhưng anh biết cái tôi của gã đang sôi sùng sục. Không ai được bỏ tù thằng con quý tử của gã. Không ai được làm hoen ố cái tên Blake. Gã sẽ chơi đến cùng, và nếu điều đó có nghĩa là phải loại bỏ em, gã cũng sẽ làm.”
          “Em không sợ gã. Với em chuyện không sợ gì gã cũng là đủ rồi.”
          “Anh hiểu điều đó. Anh không muốn em sợ sệt, nhưng anh muốn em gọi cho anh nếu gã quay lại đây, nếu gã tìm cách nói chuyện với em trên phố, nếu gã hay bất kỳ kẻ nào liên quan tìm cách liên hệ với em bằng bất kỳ cách nào. Em là một nhân chứng, và anh có trách nhiệm bảo vệ em.”
          “Đừng nói vậy.” Tim cô như lỡ một nhịp. “Em không muốn có ai bảo vệ cả.”
          “Thì phải vậy thôi.”
          “Không. Không, không.” Giờ thì tâm trạng hoảng hốt bùng lên, nhanh và dữ dội. “Em sẽ liên hệ với anh nếu gã quay lại đây, thật chẳng còn coi trời đất ra gì khi gã tìm cách ép em nói dối, lại còn phi pháp khi giở trò hòng mua chuộc em. Nhưng em không muốn hay cần được bảo vệ.”
          “Bình tĩnh đi nào.”
          “Em chịu trách nhiệm với chính mình. Em không thể ở bên anh nếu anh không hiểu và không đồng ý rằng em tự chịu trách nhiệm với chính mình.” Cô bước lùi lại vài bước, và chú chó đã xen vào chắn trước cô.
          “Abigail, có thể em đủ khả năng - em thừa sức, anh nói thế mới đúng - giải quyết bất kỳ chuyện gì xảy đến với em. Nhưng anh có nhiệm vụ phải bảo vệ tất cả mọi người sống trong khu vực thuộc thẩm quyền của anh. Bao gồm cả em. Và anh không thích em lợi dụng tình cảm của anh với em như một vũ khí để tự làm theo ý mình.”
          “Em không hề làm thế.”
          “Em đang làm thế đấy.”
          “Không hề.” Cô ngừng lại, cố gắng bình tĩnh. “Em không hề có ý định làm vậy. Em xin lỗi.”
          “Không cần xin lỗi. Đừng dùng những chuyện khiến anh phải đau đầu làm vũ khí.”
          “Anh rất giận dữ với em. Em không hề có ý lợi dụng tình cảm của anh. Em rất vụng về trong tình huống kiểu này. Em chưa bao giờ rơi vào tình cảnh này. Em không biết làm sao, nói gì hay nói như thế nào. Em chỉ không muốn anh cảm thấy phải có trách nhiệm riêng với em. Em không biết phải giải thích mình sẽ cảm thấy khó chịu thế nào nếu anh làm như vậy.”
          “Tại sao em lại không thử xem?”
          “Anh rất giận dữ và mỏi mệt, và bữa tối của anh cũng nguội ngắt rồi.” Cô hoảng hốt khi cảm thấy nước mắt đang chảy tràn xuống má. “Em chưa bao giờ có ý để bất kỳ điều gì như thế này xảy ra. Em chưa hề nghĩ anh lại bực đến vậy với gã Blake. Em đã sai rồi, nhưng em không biết mình sai ở đâu. Em không định khóc lóc. Em biết nước mắt là một thứ vũ khí khác, và em không có ý sử dụng nó.”
          “Anh biết em không hề biết.”
          “Em sẽ... đi hâm lại đồ ăn.”
          “Không cần đâu.” Anh đứng dậy, lấy một cái dĩa trong ngăn kéo, sau đó ngồi xuống. “Vẫn ngon,” anh nhắc lại sau khi múc một ít thức ăn, nếm thử.
          “Anh nên dùng đũa.”
          “Anh không biết cầm.”
          “Em có thể dạy anh.”
          “Anh sẽ nhờ em việc đó vào lúc khác. Em ngồi xuống và ăn đi.”
          “Em - Anh vẫn còn giận. Anh cố nén xuống bởi vì em khóc. Như vậy nước mắt cũng là vũ khí.”
          “Đúng, anh giận, và nén xuống bởi vì em khóc và thấy khó chịu về những gì em không định nói với anh, hoặc cảm thấy không thể nói. Anh nén xuống bởi vì anh yêu em.”
          Những giọt nước mắt cô gần như đã kiểm soát được lại trào ra, nóng bỏng và nhanh như tâm trạng hoảng hốt của cô. Cô nức nở lại về phía cửa, mở khóa, chạy ra ngoài.
          “Abigail.”
          “Đừng anh. Đừng. Em không biết phải làm gì. Em cần suy nghĩ, cần bình tĩnh lại. Anh nên tránh đi cho tới khi em có thể nói năng bình thường được.”
          “Em nghĩ anh nên để em một mình khi em bối rối thế này ư? Anh yêu em mà như thể anh khiến em đau lòng vậy.”
          Cô quay lại, bàn tay cô nắm chặt phía trên lồng ngực, mắt cô đẫm lệ và cảm xúc. “Chưa hề có ai nói điều đó với em. Trong đời em, chưa ai từng nói những lời như thế với em cả.”
          “Anh xin hứa luôn với em rằng em sẽ nghe những lời ấy từ anh hằng ngày.”
          “Đừng - đừng, đừng hứa hẹn. Đừng anh. Em không biết mình đang cảm thấy gì. Làm sao em biết được rằng đó không chỉ là những lời nói suông. Mọi thứ quá xúc động khi được nghe những lời ấy, được nhìn anh, và được thấy anh thể hiện. Hoặc dường như là thế. Làm sao em biết được?”
          “Em không thể biết mọi thứ. Đôi khi em phải tin tưởng. Đôi khi em chỉ cần cảm nhận.”
          “Em muốn vậy.” Một tay cô ôm chặt lấy ngực, như thể nếu cô xòe các ngón tay ra thì quả tim sẽ bay đi mất. “Em luôn muốn vậy hơn bao giờ hết.”
          “Vậy hãy đón nhận đi. Điều đó ở ngay đây thôi.”
          “Không đúng. Như thế không công bằng với anh. Anh không hiểu đâu, anh không thể hiểu.”
          “Abigail.”
          “Đó còn chẳng phải là tên em.”
          Cô đưa tay bưng miệng, thổn thức. Anh chỉ bước lại gần cô gạt đi nước mắt trên má cô.
          “Anh biết.”
          Cô loạng choạng lùi lại, bấu chặt lấy lan can hiên. “Làm sao anh biết được?”
          “Em đang trốn chạy hoặc ẩn náu trước điều gì đó, hay ai đó. Có lẽ cả hai. Em thừa thông minh để không trốn chạy và ẩn náu bằng chính tên mình. Anh thích nàng Abigail, nhưng anh biết đó không phải là con người thật của em. Tên gọi không phải vấn đề. Em đủ tin tưởng anh để nói cho anh biết tất cả. Và chúng ta đang tiến dần đến điều ấy.”
          “Liệu còn ai khác biết không?”
          “Lúc này em cũng sợ sệt vậy. Anh không thích điều đó. Anh không hiểu tại sao có ai đó khác lại biết, hay để tâm. Em đã để ai khác tiếp cận em gần như em với anh chưa?”
          “Chưa. Chưa bao giờ.”
          “Giờ hãy nhìn anh này.” Anh nói thật khẽ khi nhích lại gần cô. “Nghe anh này.”
          “Vâng.”
          “Anh muốn nói với em rằng anh sẽ không bỏ rơi em. Rồi em sẽ tin điều đó, và chúng ta sẽ đi tiếp từ đó. Hãy bắt đầu lại từ đầu. Anh yêu em.” Anh trấn an cô bằng một nụ hôn, thật nhẹ nhàng cho tới khi cô không còn run rẩy nữa. “Đấy, đâu có khó khăn quá. Em yêu anh mà. Anh có thể nhận ra điều đó, và anh có thể cảm nhận điều đó. Sao em không thử nói vậy nhỉ?”
          “Em không biết. Em rất muốn biết.”
          “Vậy cứ thử nói ra thôi, để xem cảm thấy như thế nào. Anh sẽ không ràng buộc em điều đó đâu.”
          “Em... Em yêu anh. Ôi, Chúa ơi.” Cô nhắm mắt lại. “Cảm giác quá thật.”
          “Nói lại đi, và hôn anh nữa.”
          “Em yêu anh.” Cô không tiếp cận từ từ, mà lao bổ vào. Khao khát hiểu biết điều đó, quà tặng, ánh sáng của nó. Tình yêu. Được yêu, trao gửi tình yêu.
          Cô chưa hề tin vào tình yêu. Cô chưa hề tin vào phép màu. Nhưng đây là tình yêu. Đây là phép màu của cô.
          “Giờ em chẳng biết phải làm gì?”
          “Chúng ta đang làm rất tốt mà.”
          Cô hít vào, thở ra. Thậm chí việc hít thở đó cũng trở nên rất khác, Tự do hơn. Căng tràn hơn. “Em muốn hâm lại thức ăn. Em muốn dạy anh cách sử dụng đũa, và ăn tối cùng anh. Chúng ta làm vậy được không? Một lát thôi.”
          “Được chứ.” Nếu cô cần chút thời gian, anh có thể dành cho cô. “Nhưng anh sẽ không hứa hẹn gì về vụ đũa đâu nhé.”
          “Anh làm thay đổi mọi thứ.”
          “Tốt hay xấu đi?”
          Cô ngập ngừng một lúc. “Em không biết. Nhưng anh đã thay đổi mọi thứ.”
          #20
            Thanh Vân 29.11.2023 19:24:41 (permalink)

            21


            Việc loay hoay với bữa ăn giúp cô trấn tĩnh lại - đơn giản và như lệ thường. Anh không ép cô thêm nữa. Cô hiểu đó là kỹ năng và vũ khí của anh. Anh biết cách chờ đợi. Anh biết cách thay đổi sắc thái, dành cho cô thêm thời gian, giúp cô thư giãn để những suy nghĩ của cô không bị trói buộc trong những nút thắt căng thẳng.
            Cách dùng đũa lóng ngóng của anh, mặc dù cô ngờ rằng ít nhất một phần là cố ý, khiến cô bật cười.
            Kể từ khi anh bước vào đời cô, cô đã cười nhiều hơn cả quãng thời gian trước khi có anh. Chỉ riêng điều đó cũng đáng để mạo hiểm rồi.
            Cô có thể khước từ điều đó, xin thêm chút thời gian. Anh sẽ cho cô điều đó, và cô có thể sử dụng thời gian ấy để tìm kiếm một nơi khác, một căn cước khác, lên kế hoạch trốn chạy lần nữa.
            Và nếu cô lại trốn chạy, cô sẽ không bao giờ biết sẽ có chuyện gì. Cô sẽ không bao giờ cảm thấy những gì cô đang cảm nhận lúc này, với anh. Cô sẽ không bao giờ cho phép mình thử lại nữa.
            Cô có thể - và sẽ - được thỏa nguyện, an toàn. Trước kia cô đã có rồi. Nhưng cô sẽ chẳng bao giờ biết đến tình yêu.
            Lựa chọn của cô là làm theo lý trí - ra đi, giữ an toàn. Hoặc mạo hiểm tất cả, sự an toàn, tự do của cô, thậm chí cả tính mạng cô, vì tình yêu.
            “Mình đi dạo nhé?” cô hỏi anh.
            “Được quá đi chứ.”
            “Em biết anh mỏi mệt,” cô bắt đầu nói khi họ bước ra ngoài. “Chúng ta nên đợi một chút để nói về... mọi thứ.”
            “Ngày mai cũng như hôm nay thôi.”
            “Em không biết liệu ngày mai còn đủ can đảm không.”
            “Vậy hãy nói cho anh biết em sợ điều gì.”
            “Rất nhiều thứ. Còn bây giờ, gần như tất cả chăng? Tức là nếu em nói với anh mọi chuyện, anh sẽ không còn cảm nhận như cũ về em - và cho em nữa.”
            Brooks đưa tay xuống, nhặt một khúc cây lên, ném mạnh. Bert nhìn Abigail, nhận được tín hiệu của cô và lao theo.
            “Tình yêu đâu có bật tắt như công tắc đèn.”
            “Em không biết. Em chưa bao giờ yêu. Em sợ đánh mất nó, và anh nữa. Và cuộc sống này. Tất cả những thứ này. Anh có nhiệm vụ, nhưng hơn thế, anh có quy tắc riêng. Em từng biết một người như anh, còn giống anh hơn cả lúc đầu em nhận thấy. Ông ấy chết vì bảo vệ em.”
            “Trước kẻ nào?”
            “Chuyện phức tạp lắm.”
            “Được rồi. Ông ấy yêu em phải không?”
            “Không phải thứ tình yêu đó đâu. Đó không phải là chuyện tình lãng mạn hay nhục dục. Đó là nhiệm vụ. Nhưng ông ấy chăm chút em, còn hơn thế. Ông ấy là người đầu tiên chăm chút cho em.” Cô áp chặt tay lên ngực mình. “Không phải vì những gì em thể hiện hay những gì em hoàn thành, hay những gì em kỳ vọng. Mà vì con người em.”
            “Em nói em không hề biết cha mình là ai, vậy thì không phải là cha em rồi. Một cảnh sát phải  không? Nhiệm vụ. Em thuộc diện nhân chứng được bảo vệ phải không, Abigail?”
            Tay cô run bắn. Anh ấy đã nhìn thấy hay chỉ cảm nhận được? Cô thầm nhủ. Nhưng anh đã cầm ngay lấy tay cô, truyền hơi ấm và trấn an cô.
            “Em được bảo vệ. Em được nhận căn cước mới, cuộc sống mới, nhưng... nhưng tất cả đều trở nên tệ hại.”
            “Cách đây bao lâu?”
            “Lúc em mười sáu tuổi.”
            “Mười sáu?”
            “Em bước sang tuổi mười bảy đúng ngày...” Máu John đầy hai bàn tay cô. “Em đã không kể với anh đúng cách. Em chưa bao giờ hình dung chuyện kể lại với bất kỳ ai.”
            “Sao em không nói với anh từ đầu?”
            “Em không biết nên bắt đầu từ đâu. Có lẽ là khi em nhận ra em không muốn làm một bác sĩ, và em biết điều đó trong học kỳ y khoa dự bị đầu tiên.”
            “Sau khi mọi chuyện trở nên tệ hại?”
            “Không. Em hoàn thành khóa y khoa dự bị, tiêu chuẩn để vào trường y, thời điểm đó. Nếu em học tiếp, theo chương trình của mẹ em, em sẽ tiếp tục vào trường y trong mùa thu tiếp theo.”
            “Em nói em mới chỉ mười sáu tuổi.”
            “Vâng. Em rất thông mình. Trong suốt quá trình đi học, em toàn học các khóa cấp tốc. Học kỳ đầu tiên của em ở Harvard em sống cùng với một gia đình do mẹ em chọn. Họ rất nghiêm khắc. Mẹ em trả tiền để họ làm vậy. Sau đó em có một học kỳ tự lo liệu, tại ký túc xá, nhưng được giám sát chặt chẽ. Em nghĩ em bắt đầu nổi loạn vào cái ngày em mua chiếc quần bò và áo trùm đầu đầu tiên. Thật hồi hộp.”
            “Xem nào. Mới mười sáu tuổi, em đã ở Harvard, học y khoa dự bị, và mua chiếc quần bò đầu tiên cho mình?”
            “Mẹ em mua hoặc giám sát tủ quần áo của em.” Vì dường như chuyên này với cô vẫn còn quá to tát nên cô mỉm cười. “Thật khó chịu. Anh sẽ chẳng buồn nhìn em lúc đó đâu. Em muốn, rất muốn, được như những cô gái khác. Em muốn trò chuyện điện thoại và nhắn tin nói về đám con trai. Em muốn nhìn theo cách đám con gái ở tuổi em nhìn nhận. Và trời đất ạ, em không muốn làm bác sĩ. Em muốn xin vào FBI, làm việc trong bộ phận chống tội phạm mạng.”
            “Anh hình dung được điều đó,” anh khẽ nói.
            “Em tham gia các khóa học, tự học trên mạng. Nếu mẹ em biết được... em không biết bà sẽ làm những gì.”
            Cô dừng lại trước một địa điểm mà cô muốn bố trí một băng ghế dài, và tự hỏi liệu giờ cô đã có lý do để mua một chiếc chưa. Giờ đây, đã quá muộn để ngừng kể chuyện.
            “Mẹ hứa với em về một mùa hè không phải học hành gì. Một chuyến đi nghỉ, một tuần ở New York, rồi ra bãi biển. Bà đã hứa, và điều đó giúp em vượt qua kỳ cuối cùng. Nhưng bà lại sắp xếp cho em tham gia vào một trong những chương trình hè ở hiệp hội của bà. Ngập đầu nghiên cứu, làm việc trong phòng thí nghiệm. Việc đó sẽ làm đẹp hồ sơ của em, tăng thêm hạng cho em. Và em - lần đầu tiên trong đời - thách thức bà.”
            “Thời kỳ nổi loạn.”
            “Có lẽ vậy, nhưng nó cũng mở đầu cho một chuỗi sự kiện kinh khủng. Bà gói ghém hành lý. Bà sắp đảm nhận một nhiệm vụ khác, và chủ trì một hội nghị. Bà sẽ lên đường một tuần liền. Và hai mẹ con em tranh cãi. Không, không chính xác.” Tỏ ra bực bội với chính mình, Abigail lắc đầu.
            Những lúc như thế, sự chính xác là rất quan trọng.
            “Bà không tranh cãi. Đơn giản đó là cách của bà, đương nhiên bà đinh ninh em phải nghe lời. Bà kết luận cách hành xử, những đòi hỏi, thái độ của em là điều hết sức bình thường. Em tin chắc bà có nhắn lại mọi việc để em phải thực hiện. Và bà bỏ mặc em. Người làm bếp đã được nghỉ phép hai tuần, cho nên còn lại một mình em trong nhà. Bà đi mà không nói một lời trong khi em dỗi ở trong phòng. Em không biết tại sao em lại sốc đến vậy khi bà ra đi kiểu như thế, nhưng đúng là em đã cực kỳ sốc. Rồi em nổi cáu, và có lẽ là phấn khởi. Em lấy chìa khóa xe của bà, và em lái tới khu mua sắm.”
            “Tới khu mua sắm?”
            “Nghe có vẻ ngu ngốc phải không? Cảm giác tự do thực sự đầu tiên của em, và em tới khu mua sắm. Nhưng em lại ao ước được lang thang trong khu mua sắm cùng với một đám bạn gái, đùa bỡn về chuyện của đám con trai, giúp nhau thử quần áo. Và em tình cờ gặp Julie. Bọn em từng học cùng nhau một thời gian. Cô ấy hơn em khoảng một tuổi, rất nổi tiếng, rất xinh đẹp. Em nghĩ cô ấy nói chuyện với em ngày hôm đó bởi vì cô ấy vừa chia tay với bạn trai và đang không được vui. Mọi thứ diễn ra từ lúc đó.”
            Cô kể cho anh nghe về quá trình đi mua sắm, cảm xúc của cô khi làm việc đó. Về thuốc nhuộm tóc, về những kế hoạch làm căn cước giả và đi đến vũ trường.
            “Đó là một sự nổi loạn ghê gớm của tuổi mới lớn trong một ngày.”
            “Em nghĩ đó như một cơn bùng nổ.”
            “Anh cũng thế. Em có thể làm giả thẻ căn cước khi mới mười sáu tuổi à?”
            “Cực giống luôn. Em rất thích tìm hiểu về giả mạo căn cước và tội phạm mạng. Em tin mình có năng khiếu điều tra.”
            “Nhìn em là thấy có tài rồi.”
            “Anh nói thế tâng bốc em quá. Chính vì vậy nên mới xảy ra chuyện đấy. Hôm đó, ở khu mua sắm, em chụp ảnh cho Julie, và sau đó tự chụp cho mình. Em cắt tóc, và nhuộm thành màu đen. Rất đen, và em mua đồ trang điểm, sử dụng như cách Julie chỉ cho em. Và em đã quan sát các cô gái khác ở trường, cho nên em cũng biết cách sử dụng.”
            “Chờ một chút, anh muốn hình dung em với tóc đen, cắt ngắn.” Anh ngắm nghía cô, nheo nheo mắt. “Gọn gàng nhưng hơi quậy.”
            “Em không biết, nhưng trông em khác hẳn hình ảnh cũ mà mẹ em đặt ra. Quan trọng là sự khác biệt.”
            “Chắc chắn rồi, và điểm nữa là em được quyền như vậy. Đứa trẻ nào cũng thế.”
            “Có lẽ thế. Lẽ ra em nên dừng lại đó. Như thế là đủ. Quần áo, đầu tóc và son phấn. Và chương trình bà giao cho em sẽ bắt đầu vào ngày thứ Hai đó, nhưng em quyết định không tham gia. Có lẽ bà sẽ rất giận dữ và lẽ ra như thế cũng là đủ rồi. Nhưng em không dừng ở đó.”
            “Thì em đang hứng khởi mà,” anh nhận xét. “Em làm được căn cước giả và lọt được vào một vũ trường cơ mà.”
            “Vâng. Julie chọn vũ trường. Em thì chẳng biết gi về nó, nhưng em đã tìm hiểu về nơi đó, cho nên biết nó thuộc sở hữu của một gia đình nghe đồn - nổi danh thì đúng hơn - là mafia Nga. Nhà Volkov.”
            “Để cố nhớ xem nào. Bọn anh không hay phải đương đầu với đám người Nga ở Little Rock. Chỉ có vài đám du thủ du thực người Ireland và lũ người Ý.”
            “Sergei Volkov đã và đang là ông trùm, sếp sòng của gia đình tội phạm Volkov. Lão và em trai lão sở hữu vũ trường đó. Sau này em biết chủ yếu nó do con trai của Sergei là Ilya điều hành. Anh họ của gã là Alexi làm việc ở đó - bề ngoài là như vậy. Về cơ bản, cũng là sau này em mới biết, Alexi bù khú ở đó, hút ma túy và chơi gái ở đó. Lúc bọn em gặp gã, em không hề biết hay hiểu bất kỳ chuyện gì như vậy. Bọn em uống rượu Cosmopolitan, Julie và em. Thứ đó thịnh hành qua bộ phim truyền hình Sex and the City. Bọn em uống và khiêu vũ, và đó đúng là buổi tối thú vị nhất trong đời em. Rồi gã Alexi Gurevich mò đến chỗ bàn bọn em.”
            Cô kể anh nghe mọi chuyện, những hình ảnh, âm thanh của vũ trường đó gây ấn tượng với cô thế nào. Chuyện Ilya mò đến thế nào, gã nhìn cô thế nào, trò chuyên với cô ra sao. Chuyện lần đầu cô được hôn, và lại bởi một gã trùm xã hội đen người Nga như thế nào.
            “Bọn em còn quá trẻ, và ngu ngốc nữa,” cô nói tiếp. “Em không muốn về nhà Alexi, nhưng em không biết làm cách nào để không phải đi. Em cảm thấy mệt, và khi Ilya phải ở lại, hứa hẹn sẽ gặp bọn em sau, mọi việc càng tệ hơn. Mà nhà của Alexi không xa nhà em lắm. Em muốn được về nhà, nằm nghỉ. Em chưa bao giờ uống rượu trước đó cả. Việc say rượu thật chẳng hay chút nào.”
            “Đúng là như vậy.”
            “Anh đã bao giờ... hồi anh mới lớn ấy?”
            “Russ và anh uống rượu và say vài lần trước khi bọn anh đủ tuổi uống rượu, và vài lần sau đó.”
            “Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của em, và em không bao giờ uống Cosmopolitan nữa. Thậm chí chỉ nhìn thấy thôi cũng làm em thấy khó chịu.” Và có một chút sợ hãi, cô tự thừa nhận. “Gã có một căn nhà đẹp nhìn ra sông. Đồ đạc toàn hàng cao cấp, em nghĩ vậy. Cực kỳ sành điệu. Gã mang thêm rượu, mở nhạc, nhưng em cảm thấy mệt, và em chui vào nhà tắm gần bếp để nôn. Trong đời mình em chưa bao giờ nôn như thế. Em chỉ muốn...”
            “Nằm vật ra sàn và chết phải không?”
            “Đúng. Đúng.” Cô bật cười. “Em cho rằng đó là chuyện rất nhiều người trải qua ít nhất một lần. Lúc ra ngoài em vẫn không cảm thấy khá hơn, và em nhìn thấy... Julie và Alexi đang làm tình ngay trên sofa. Em vừa thích vừa sợ, và xấu hổ nữa. Em bỏ ra ngoài hiên trời qua lối bếp. Ở ngoài trời em cảm thấy đỡ hơn. Em ngồi trên một cái ghế và ngủ thiếp đi. Rồi những tiếng nói đánh thức em dậy.”
            “Em lạnh rồi.” Vì cô bắt đầu run run nên Brooks quàng một tay quanh vai cô.
            “Đêm đó em rất lạnh, vì gió thổi trên sông, hay vì mệt, hoặc - vì những gì xảy ra tiếp theo. Giờ cảm giác cũng y hệt. Em muốn đi bộ về nhà thôi. Có lẽ chúng ta đi bộ sẽ dễ kể cho anh nghe hơn.”
            “Cũng được.”
            “Em có kế hoạch đặt một băng ghế dài ở đây, một thứ gì đó tự nhiên. Một thứ gì đó trông như thể nó mọc lên tại đây. Em thích khung cảnh, rất yên tĩnh, với khe suối róc rách và tiếng chim hót. Anh có thấy Bert rất thích nghịch nước không? Như tất cả đều hòa hợp với em vậy. Ngốc nghếch.”
            “Đâu có.”
            Ngốc nghếch, cô lặp lại trong đầu.
            “Đêm đó, em nhìn qua cánh cửa trượt bằng kính, và em nhìn thấy hai người đàn ông cùng với gã Alexi. Em không thấy Julie. Mới đầu bọn chúng nói bằng tiếng Nga, nhưng em có học tiếng Nga. Em rất thích ngôn ngữ, và em có năng khiếu với chúng. Em hiểu hết. Cái gã đó, tên hắn là Korotkii. Yakov, hắn buộc tội Alexi lấy tiền của gia đình. Chúng cãi nhau, và ban đầu Alexi rất ngạo mạn. Nhưng chuyện đó không được lâu. Korotkii nói gã đã thông tin cho cảnh sát sau khi bị bắt do ma túy. Còn tên kia, hắn to con, bắt Alexi quỳ xuống, và Alexi tỏ ra sợ hãi. Gã tìm cách mặc cả, rồi dọa dẫm, rồi van xin. Anh cầm lấy tay em được không?”
            Anh cầm lấy hơi siết lại. “Cứ dừng lại khi em thấy cần dừng lại.”
            “Cần nói cho xong đã. Korotkii bắn gã một phát, rồi bắn tiếp phát nữa vào thái dương. Hắn bắn gã như việc anh khởi động xe hơi hay mặc áo vậy. Một việc rất bình thường. Rồi Julie xuất hiện. Cô ấy không mặc đồ, và cô ấy cũng bị mệt. Cô ấy chưa kip nói, chưa kịp nhìn, gã Korotkii đã bắn cô ấy, như một phản xạ, như việc anh đập một con muỗi vậy. không thể tin được.”
            “Đây, nào, hãy dựa vào anh.” Anh buông tay để vòng cánh tay quanh người cô, kéo cô sát lại khi họ đi.
            “Mặc dù vậy, hắn tỏ ra bực tức, Korotkii ấy, bởi vì hắn không hề biết cô ấy ở đó, bởi vì tin tức của hắn không hề nhắc đến cô ấy. Hoặc là em. Bọn chúng không hề biết về em, co ro bên ngoài cánh cửa trượt, đờ đẫn. Chỉ biết đờ đẫn.”
            Lẽ ra mình không nên ra ngoài, Abigail nghĩ bụng. Đôi chân cô cảm giác đứng không vững, và bụng cô bắt đầu đảo lộn. Cô ước gì mình có thể ngồi xuống, ước gì cô không phải nhìn, nghe và cảm nhận mọi chuyện rõ ràng đến vậy.
            “Như thế đủ rồi,” Brooks thì thầm. “Để anh đưa em vào nhà.”
            “Ilya đến. Gã đã hôn em, nụ hôn đầu tiên của em. Gã rất bảnh bao, gã hôn em và làm em có cảm giác rất thật. Em không nghĩ em từng cảm thấy rất thật như thế. Ngoại trừ lúc em mua chiếc quần bò và áo, sau đó là lúc em nhuộm tóc.”
            “Chúng đâu có giống nhau.”
            “Có chứ.”
            “Gã đến, và gã nổi điên. Không phải vì anh họ gã bị giết, mà vì đáng ra Korotkii chỉ được hạ thủ Alexi vào đêm hôm sau. Và em hiểu rằng gã đó, người đàn ông đầu tiên hôn em, sẽ giết em. Gã biết em ở đó, và chúng sẽ tìm ra em và giết em. Gã chửi Alexi, gã đá cái xác. Gã kia đã chết rồi nhưng Ilya vẫn rất giận dữ, gã đá xác Alexi. Đêm qua em lại nhìn thấy điều đó ở Justin Blake. Em nhìn thấy những gì em đã thấy ở Ilya trong con người nó. Chúng kinh khủng hơn bất kỳ thứ vũ khí nào.”
            Giờ cô đã ngửi thấy mùi khu vườn của mình, chỉ thoang thoảng và thơm - trong không khí. Nó dễ chịu chẳng khác gì vòng tay của Brooks quanh người cô.
            “Vậy là em chạy. Lẽ ra em nên tháo đôi giày mới của mình, nhưng em quên khuấy mất. Em chạy mà chẳng cần chú ý xem chạy đi đâu. Hoảng sợ đến mụ mẫm, cứ chạy, biết chắc rằng nếu tóm được, chúng sẽ giết em bởi vì em không nghe lời mẹ, làm những việc theo ý mình, và Julie đã chết. Cô ấy chỉ vừa mới mười tám tuổi.”
            “Được rồi. Giờ mọi chuyện ổn rồi.”
            “Không ổn đâu,  không ổn tí nào. Không một chút nào luôn. Em ngã, và ví của em văng mất. Thậm chí em còn không biết mình vẫn đang cầm ví. Điện thoại của em nằm trong ví. Em gọi cho cảnh sát. Họ đến, cảnh sát ấy, và tìm được em. Em kể với họ mọi chuyện xảy ra. Em tiếp xúc với hai thanh tra. Họ rất tốt với em, Thanh tra Griffith và Thanh tra Riley. Họ đã giúp em.”
            “Được rồi, đưa anh chìa khóa của em.”
            “Chìa khóa của em ư?”
            “Giờ chúng ta sẽ vào trong nhà. Anh cần chìa khóa của em.” Cô móc chìa khóa ra, đưa cả cho anh. “Họ đưa em tới một ngôi nhà, là nhà an toàn. Họ ở đó với em, và sau đó chú John đến. Sĩ quan Tư pháp John Barrow, và Sĩ quan Tư pháp Theresa Norton. Anh giống hệt chú ấy, giống chú John. Kiên nhẫn, thấu hiểu và tốt bụng.”
            “Chúng ta sẽ ngồi xuống đã. Anh sẽ đi nhóm lửa, rồi pha cho em ít trà.”
            “Giờ đã quá muộn để đốt lửa sưởi rồi anh.”
            “Anh muốn một đống lửa. Được chứ?”
            “Dĩ nhiên rồi.” Cô ngoan ngoãn ngồi xuống. “Em cảm thấy hơi lạnh.”
            “Cứ ngồi yên, nghỉ ngơi một chút cho tới khi anh xong việc.”
            “Họ gọi cho mẹ em. Bà quay về. Bà không muốn em ra làm chứng, hoặc ở trong nhà an toàn mà cảnh sát Tư pháp bảo vệ, hay chấp nhận Chương trình bảo vệ nhân chứng.”
            “Bà lo lắng cho em thôi,” Brooks nói trong lúc đặt củi mồi.
            “Không phải. Bà muốn em bắt đầu chương trình mùa hè, quay trở lại Harvard, trở thành bác sĩ phẫu thuật thần kinh trẻ nhất trong số đội ngũ nhân viên tại bệnh viện Silva ở Chicago. Em đang làm hỏng kế hoạch của bà, và bà đã tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực. Khi em không đi theo bà, bà bỏ ra ngoài, giống như bà đã làm vậy vào cái ngày mọi chuyện bắt đầu. Em chẳng bao giờ còn nói chuyện với bà nữa.”
            Brooks ngồi quỳ trên hai chân. “Bà ấy không đáng một lời, không đáng một lời từ em.” Anh đánh một que diêm vào mảnh giấy đã vò nhàu, nhìn nó bén lửa, bắt lửa vào củi mồi. Anh nhận ra mình cảm thấy đúng y như vậy, sẵn sàng bùng lên và cháy bừng bừng. Nhưng cô không cần chịu đựng thêm cơn giận của anh nữa.
            “Anh sẽ đi pha trà. Cứ ngồi nghỉ vài phút đi nhé.”
            “Em muốn kể anh nghe toàn bộ câu chuyện.”
            “Được rồi, nhưng em cứ nghỉ ngơi một chút đã.”
            “Anh sẽ gọi cho cảnh sát Tư pháp à? Hay cho FBI?”
            “Abigail.” Đôi bàn tay anh ôm lấy gương mặt cô. “Anh sẽ pha trà cho em. Tin anh đi.”
            Anh muốn đập vỡ, muốn phá hoại, muốn vung nắm đấm vào thứ gì đó cứng để tay bật máu. Cô đã bị ngược đãi như thế, được tìm thấy trong tình trạng bầm tím và xương cốt gãy nát, bởi một người mẹ có thể thản nhiên rời bỏ đứa con khiếp hãi và bị chấn động tâm lý.
            Anh đặt siêu nước lên. Cô cần được sưởi ấm, cảm thấy bình yên và tĩnh tại như cũ. Trước đây anh cứ tò mò về quá khứ của cô, nhưng giờ anh lại ước gì mình để nó tan biến đi, lùi ra xa khỏi cả hai người.
            Trong lúc chờ nước sôi, anh mở sổ tay, viết ra tất cả những cái tên mà cô đã nói cho anh. Rồi anh thảy cuốn sổ tay đi chỗ khác, pha trà cho cô.
            Cô ngồi sững trên ghế, tái nhợt và cứng đờ, đôi mắt cô tối sầm. “Cảm ơn anh.”
            Anh ngồi xuống cạnh cô. “Anh cần nói vài điều với em trước khi em tiếp tục câu chuyện này.”
            Cô trân trân nhìn cốc trà của mình, gồng người lên. “Vâng.”
            “Chuyện này không có gì là lỗi của em cả.”
            Môi cô run run khiến cô phải mím chặt lại. “Em có một phần trách nhiệm. Em trẻ, đúng, nhưng không ai bắt em làm căn cước hay đến vũ trường cả.”
            “Chuyện đó là vớ vẩn, bởi vì cả hai việc này đều không hề khiến em phải chịu trách nhiệm về những gì xảy ra sau đó. Còn mẹ em thật chả khác gì mẹ mìn.”
            Cô ngẩng phắt đầu lên, đôi mắt u ám của cô mở thật lớn. “Mẹ em - bà ấy...”
            “Còn tệ hơn thế. Bà ta là người máy mất rồi, và bà ta cũng muốn biến em thành người máy. Bà ta tuyên bố ngay từ đầu rằng bà ta ‘tạo ra’ em theo những tiêu chí của bà ấy. Tức là em thông minh, xinh đẹp và khỏe mạnh, như thể là em nợ bà ta điều đó. Càng khốn nạn hơn.”
            “Bản chất di truyền của em...”
            “Thôi đi. Anh chưa xong. Bà ta sắm quần áo cho em theo ý bà ta muốn, cho em học hành cũng theo ý bà ta, và anh dám cược rằng để em tiếp xúc với những người bà ta chọn, đọc những gì bà ta chọn, ăn những gì bà ta lựa. Anh có nói sai không?”
            Abigail chỉ có thể lắc đầu.
            “Có thể bà ta chẳng bao giờ giơ tay đánh em, có thể cho em ăn học đầy đủ, với một mái nhà khang trang che mưa nắng, nhưng cưng à, em đã bị ngược đãi suốt mười sáu năm đời mình đấy. Rất nhiều đứa trẻ sẽ tìm cách trốn chạy hoặc tệ hơn nữa. Em cắt tóc và lén đi chơi vũ trường. Em muốn trách cứ ai đó khác ngoài gã sát thủ và chủ của hắn thì hãy trách chính bà ta ấy.”
            “Nhưng...”
            “Em đã bao giờ đi điều trị tâm lý chưa?”
            “Em không điên.”
            “Không, không hề. Anh chỉ đặt câu hỏi thôi.”
            “Theo em nhớ thì em vẫn trị liệu cho tới khi em rời khỏi nhà mình. Bà ấy thuê một trong những bác sĩ nhi hàng đầu ở Chicago.”
            “Ngay cả chuyện bác sĩ em cũng không được lựa chọn.”
            “Không hề,” Abigail thở dài nói. “Không, lựa chọn không có trong lịch trình của bà ấy.”
            Anh ôm lấy gương mặt cô, đặt lên môi cô một nụ hôn. “Em là một phép màu, Abigail. Ở chỗ em có thể xuất thân từ một thứ lạnh lùng, vô cảm, và trở thành con người đúng là em. Em nhớ điều đó nhé. Em có thể kể nốt cho anh phần còn lại khi em sẵn sàng.”
            “Anh sẽ lại hôn em chứ?”
            “Em không cần phải hỏi anh lần thứ hai.”
            Một lần nữa, anh ôm lấy gương mặt cô, cúi xuống và nồng nàn áp đôi môi của mình lên môi cô. Cô khum những ngón tay quanh eo anh để ôm lấy anh, giữ lấy khoảnh khắc đó lâu hơn.
            Cô không biết chắc anh có muốn hôn cô một khi cô kể hết toàn bộ sự việc nữa không.
            Cô kể với anh về John, về Terry, về căn nhà, về chu trình hằng ngày, về những trì hoãn pháp lý. Cuộc sống đó có phần hơi tù túng, cô thừa nhận. Rồi chuyện Bill Cosgrove dạy cô chơi bài poker, còn Lynda làm tóc cho cô.
            “Đó là quãng thời gian đẹp nhất trong đời em, dù theo một cách tồi tệ. Em xem TV, nghe nhạc, tìm hiểu, nấu ăn, học hành, có người để trò chuyện. John và Terry - em hiểu đó là công việc, nhưng họ là gia đình của em. Rồi đến ngày sinh nhật em. Em không nghĩ họ nhớ, hay có ý tổ chức gì đó. Nhưng họ đã có quà cho em, và cả một chiếc bánh nữa. John tặng em một đôi khuyên tai. Mấy hôm trước, em đã xỏ lỗ tai tại khu mua sắm với Julie, và chú ấy tặng em đôi khuyên tai đầu tiên trong đời. Còn Terry tặng em một chiếc áo len đẹp tuyệt vời. Em đi lên phòng để đeo khuyên và mặc áo mới. Em rất hạnh phúc.”
            Cô ngừng lại một lúc, ngẫm nghĩ cách giải thích với anh những gì cô chưa bao giờ giải thích được trọn vẹn với mình.
            “Không như cái hôm ở khu mua sắm. Niềm hạnh phúc không phải được nhen lên nhờ sự nổi loạn, những điều mới lạ và dối trá. Nó rất sâu sắc, rất mạnh mẽ. Em biết em sẽ mặc chiếc áo đó, đeo đôi khuyên tai đó, vào ngày em ra làm chứng trước tòa. Rằng mặc dù em không thể khiến Julie trở lại, nhưng em sẽ góp phần đòi lại công lý cho cô ấy. Và khi việc đó xong, em sẽ trở thành người như em mong muốn. Cho dù họ gọi em bằng cái tên gì, thì em cũng sẽ được tự do là chính mình.
            “Và sau đó... em không biết mọi việc đã xảy ra. Em chỉ đoán chừng thôi. Em chắp nối lại với nhau bằng nhiều cách. Hợp lý nhất là Bill Cosgrove và tay đặc vụ thay thế Lynda tối hôm đó, tên hắn là Keegan, mò vào qua lối bếp như mọi khi. Em nghĩ Terry ở đó một mình, còn John thì ở trong phòng khách. Chắc chị ấy cảm nhận hoặc nghi ngờ gì đó. Em không biết là gì hay tại sao. Chúng giết chị ấy, hoặc thời điểm ấy là vô hiệu hóa chị ấy. Nhưng chị ấy vẫn tìm cách hét to cảnh báo cho John trước, cho nên chú ấy cảnh giác. Nhưng chú ấy không thể tới chỗ em, không thể tiếp cận cầu thang mà không để lộ mình.
            “Em nghe thấy tiếng súng. Mọi thứ diễn ra rất nhanh. Em chạy ra khỏi phòng ngủ và thấy John. Khi John tới được chỗ em thì chú ấy đã bị bắn, vài lần. Chú ấy chảy máu, từ chân, từ bụng. Chú ấy xô em quay vào phòng ngủ, và đổ vật xuống. Em không thể cầm được máu.”
            Cô nhìn xuống hai bàn tay mình. “Em không thể cầm được máu. Em biết phải làm gì, nhưng em chẳng thể hành động được. Chú ấy không có nhiều thời gian. Không có nhiều thời gian. Chú bảo em chạy đi. Lấy những gì có thể và thoát ra khỏi cửa sổ. Em không được tin cảnh sát nữa. Nếu bọn họ có Cosgrove và gã kia, họ còn có những kẻ khác nữa. Nhà Volkov ấy. Em không muốn rời xa chú ấy trong tình trạng như thế. Nhưng em phải chui qua cửa sổ, cùng với tiền em có, laptop, một ít quần áo, và khẩu súng dự phòng ở bắp chân chú ấy. Em tìm cách gọi cứu viện. Có lẽ nếu cứu viện đến kịp thì chú ấy sẽ không chết. Em không biết liệu chị Terry còn sống hay đã chết. Em chỉ chạy được cách một dãy nhà thì căn nhà nổ tung. Em nghĩ bọn chúng đã lên kế hoạch cho nổ tung căn nhà, với em ở trong đó. Chúng đã hạ John và Terry, dàn dựng gì đó và cho căn nhà nổ tung.”
            “Rồi em đi đâu?”
            “Em về nhà. Mẹ em đi làm, cô nấu bếp đi vắng ngày hôm đó. Em vẫn có chìa khóa của mình. Em về nhà để có thể ẩn náu cho tới khi mẹ em về. Và em thấy bà ấy đóng gói tất cả đồ đạc của em. Một số thứ đã khòng còn. Em không biết tại sao điều đó lại làm em buồn bực đến vậy.”
            “Anh hiểu mà.”
            “Chà. Em mở két của bà ấy, và em lấy tiền. Mười nghìn đô la. Như thế là sai, nhưng em đã lấy cắp của mẹ mình và ra đi. Em không bao giờ quay trở lại. Em cứ đi, suy nghĩ miên man. Hôm đó trời vừa nổi cơn dông tố, nhưng lúc đó chỉ còn mưa thôi. Mưa và tối mịt. Em biết John và Terry đã chết, và điều cuối cùng chú ấy nói với em là chạy trốn. Em nhìn thấy một chiếc xe tải chở hàng mang biển Indiana bên ngoài một tiệm cà phê. Em chui lên phía sau, dưới lớp bạt che. Em ngủ thiếp đi lúc nào không biết trong khi xe đang chạy, và khi tỉnh dậy, em đã ở Terre Haute. Em tìm một nhà trọ, trả tiền. Em tới một hiệu thuốc và mua thuốc nhuộm tóc màu đỏ. Thuốc đó khiến tóc em chuyển sang màu cam, nhưng trông em khác hẳn. Em lại ngủ, một giấc dài. Sau đó em bật TV lên. Em xem trên CNN bản tin về John và Terry, về căn nhà, về em. Họ nghĩ em có mặt trong nhà. Họ đang tìm kiếm những gì còn lại của bọn em. Em đã suýt gọi cho cảnh sát. Em vẫn còn danh thiếp của thanh tra Griffith, nhưng em sợ. Em quyết định chờ đợi, em mua một chiếc điện thoại di động, loại dùng một lần. Em đợi thêm một ngày nữa, ăn trong phòng, rất ít ra ngoài, xem thời sự, cố gắng tìm thêm thông tin qua Internet.”
            Cô ngừng lại, hít một hơi dài. “Sau đó em biết thêm thông tin. Họ không nghĩ em có mặt trong nhà nữa. Họ biết em không có ở đó. Có phỏng đoán rằng ai đó đã bắt cóc em, và phỏng đoán khác thì cho rằng chính em gây chuyện, bắn hạ John và Terry, cho nổ căn nhà. Cosgrove và Keegan thông đồng với nhau dựng chuyện, rằng khi chúng đến đó thì chỉ chậm vài giây. Và Cosgrove còn bị thương.”
            “John đã bắn trúng hắn phải không? Thế còn đường đạn thì sao?”
            “Bị bắn xuyên qua. Chúng nói rằng đèn đóm tắt hết, và chúng không biết chắc ai bắn, nhưng Keegan đưa Cosgrove ra ngoài. Căn nhà nổ tung khi hắn định quay vào. Thế là em chạy tiếp. Em đón xe buýt tới Indianapolis. Em mua nhu yếu phẩm, thuê nhà trọ khác, và em chế căn cước mới, dùng nó và một ít tiền để mua một chiếc xe đã sử dụng rồi chạy tới Nashville. Em làm phục vụ bàn ở đó ba tháng trời. Sau đó em lại đổi màu tóc, căn cước và đi tiếp.”
            Cô lại hít một hơi. “Không còn nhiều tin tức thời sự nữa, và em cũng chưa thể dễ dàng truy cập vào hồ sơ của Cục Cảnh sát Tư pháp và Cục Điều tra Liên bang FBI. Em tới học ở Đại học Công nghệ Massachusetts bằng căn cước và học bạ giả, theo học các lớp về máy tính, và bất kỳ thứ gì khác tỏ ra hữu ích. Em liên hệ với một sinh viên ở đó, một nam sinh. Anh ta biết rất nhiều về xâm nhập máy tính. Nhiều hơn hẳn em. Em học hỏi từ anh ta. Em ngủ với anh ta, sau đó em rời bỏ anh ta. Em nghĩ anh ta cũng có quan tâm đến em, nhưng em rời bỏ anh ta chỉ để lại một lời nhắn ngắn gọn khi em đã học được tất cả những gì anh ta có thể dạy em. Cứ vài tháng em lại di chuyển, nhiều lắm là một năm. Thay đổi căn cước, thay đổi ngoại hình. Toàn mấy chuyện linh tinh như vậy thôi.”
            Cô ngừng lại. “Em rất muốn tìm hiểu về vụ sát hại hai cảnh sát Tư pháp.”
            Anh  không nói gì, chỉ đứng lên, bước lại phía cửa sổ.
            Và thế giới như đổ nhào với Abigail. Chắc giờ đây anh sẽ chấm dứt với cô, cô nghĩ thầm. Giờ đây mọi chuyện sẽ kết thúc.
            “Em vẫn theo dõi Cosgrove và Keegan qua ngần ấy năm chứ?”
            “Vâng. Keegan được thăng cấp vài lần.”
            “Tốt lắm, em biết bọn chúng ở đâu, đang làm gì. Như thế sẽ đỡ mất thời gian và công sức.”
            “Em không hiểu.”
            Anh quay lại phía cô. “Em không nghĩ chúng ta sẽ để cho hai thằng khốn đó thoát khỏi tội sát hại hai cảnh sát tốt và gây phiền toái cho em đấy chứ? Rồi chuyện khiến em cứ phải trốn chạy kể từ ngày em bước sang tuổi mười bảy nữa? Chuyện chúng đã làm tất cả những việc đó để một thằng sát nhân nữa cùng với lũ đồng bọn và họ hàng chó chết, giết người, trộm cắp của nó có thể nhởn nhơ giết một cô gái vô tội thì sao?”
            Cô chỉ biết trân trân nhìn anh. “Anh tin em?”
            “Chúa ơi, dĩ nhiên anh tin em. Chẳng cần yêu em thì anh cũng tin em, vì rõ là em nói sự thật.”
            “Anh vẫn yêu em?”
            “Nghe này.” Anh bước lại chỗ cô, kéo cô đứng lên. “Anh muốn - không, anh đề nghị - em tôn trọng anh hơn thế. Anh không phải là loại khốn nạn bất lực tìm cách đánh tháo khi mọi thứ không được hoàn hảo. Anh đã yêu em cách đây một giờ. Giờ anh vẫn yêu em. Anh sẽ vẫn cứ yêu em, cho nên hãy quen với điều đó và đừng có nghĩ anh sẽ bỏ rơi em. Như thế là xúc phạm, và khiến anh bực mình đấy.”
            “Em xin lỗi.”
            “Tốt rồi. Em nên như vậy.” Anh kéo cô vào lòng và hôn, rồi buông cô ra. “Em học bắn súng ở đâu vậy?”
            “Ban đầu chú John dạy em. Em sống ở Arizona một thời gian, và học từ một ông già. Ông ấy là người theo thuyết âm mưu và chủ trương phải sống sót được qua mọi chuyên. Ông ấy rất hay nhưng không hoàn toàn kiên định. Nhưng ông ấy quý em, và rất thông tuệ. Em đã dành thời gian học ở nhiều trường đại học, dưới những cái tên giả. Em cần học hỏi.”
            “Trong căn phòng khóa kín trên gác là gì vậy?”
            “Em sẽ cho anh xem.”
            Cô dẫn anh lên, mở hết ba lượt khóa. “Đây là một phòng an toàn,” cô nói trong khi mở cửa.
            Anh còn nhận ra đó là cả một kho súng đạn. Súng ngắn, súng trường, dao. Những giá chất đầy thực phẩm đóng gói, nước đóng chai, một hệ thống máy tính hiện đại y hệt ở dưới nhà, một phòng vệ sinh xử lý bằng hóa chất, quần áo, tóc giả, thuốc nhuộm tóc, pin dự phòng, anh nhận ra tất cả khi dạo quanh một lượt. Đèn pin, thức ăn cho chó, sách, một cái móc có dây đai để leo trèo, và những dụng cụ khác.
            “Tự em chuẩn bị chỗ này à?”
            “Vâng. Em cần học hỏi mà. Em đã thuộc bài. Em có vài căn cước và hộ chiếu khác nhau ngay ở đây, trong một cái két. Tiền mặt, thẻ tín dụng, nguyên vật liệu em cần để chế thêm thẻ căn cước, nếu cần. Hành vi phạm pháp.”
            “Ồ, phải. Anh sẽ bắt giữ em sau. Được rồi, em biết cách tự bảo vệ mình, và đề phòng trước mọi việc. Em sống như thế này đã bao lâu rồi?”
            “Mười hai năm.”
            “Đủ dài rồi. Đến lúc ngừng trốn chạy rồi.”
            “Em muốn như vậy. Hôm nay, em nghĩ...”
            “Gì nào?”
            “Không hợp lý tí nào.”
            “Chúa ơi, Abigail.” Mặc dù vậy, anh vẫn phải bật cười. “Cứ phi lý đi.”
            “Giống như một vòng tròn vậy. Thấy hình ảnh gã Ilya trong thằng Justin Blake, thấy những gì em nghĩ về lão Sergei Volkov trong gã Lincoln Blake. Thấy rất nhiều điều mà em ngưỡng mộ ở John trong anh. Và thấy em có thể đương đầu với nhà Blake, em có thể làm được những điều đúng đắn và không phải hoảng hốt hay bỏ chạy nữa. Dường như em có thể chấm dứt chuyện trốn chạy, nhưng em không biết liệu mình có làm được không.”
            “Em có thể. Anh muốn một lon bia nữa. Anh muốn suy nghĩ. Chúng ta sẽ tìm ra cách, và chúng ta sẽ giải quyết nó.”
            “Brooks...”
            “Bia, suy nghĩ, tìm cách và giải quyết. Em không còn đơn độc nữa đâu, Abigail. Em cũng phải quen với điều đó đấy. Mà tên thật của em là gì?”
            Cô hít một hơi. “Elizabeth.” Giọng cô nghe khàn đi khi nói ra. “Elizabeth Fitch.”
            Anh nghiêng đầu. “Sao anh thấy em chẳng hợp với cái tên Elizabeth gì cả.”
            “Thì gọi tắt đi, em là Liz.”
            “Phải rồi. Anh thích nàng Abigail, nhưng anh cũng có thể nhận ra nàng Liz. Vậy đấy.” Anh bước tới, nắm lấy tay cô. “Rất vui được gặp em, Liz.”
            #21
              Thanh Vân 29.11.2023 19:25:15 (permalink)

              22


              Cô kiệt sức, Brooks nhận ra như vậy khi anh ngồi uống bia và ngẫm nghĩ. Chắc vì phải kể lại câu chuyện, sống lại quá khứ. Cô nép mình vào một góc chiếc sofa, ngủ gục. Cho nên anh im lặng, để cho cô thiếp đi một lát trong khi lò sưởi nổ lép bép và gió đập vào các ô cửa sổ.
              Cơn bão đang kéo đến, anh nghĩ thầm.
              Mười hai năm trốn chạy. Cô bước sang tuổi mười bảy và chẳng có gì hay có ai để dựa vào ngoại trừ chính mình, hoặc cô tin như vậy.
              Anh nhớ lại chính mình ở tuổi mười bảy, nghĩ về mối quan tâm hay vấn đề lớn nhất của mình lúc ấy. Ao ước có được một cây gậy mạnh hơn, một chiếc găng nhanh hơn, để vươn tới cái mộng tưởng trở thành một tuyển thủ bóng chày nổi tiếng.
              Và ao ước - thèm khát - Sylbie.
              Và anh coi như thế là đã ghê gớm lắm rồi.
              Một chút áp lực học hành, những cuộc chiến giành giật cô nàng Sylbie, sự khó chịu với những yêu cầu và quy định của bố mẹ. Nhưng anh có bố mẹ, gia đình, bạn bè, nền tảng.
              Anh không thể hình dung những gì đến với cô, lúc mười bảy tuổi và trong nỗi sợ triền miên về mạng sống của mình. Chứng kiến một kẻ sát nhân máu lạnh, nhìn người đàn ông đã đem lại cho cô cảm giác an toàn, thậm chí cảm giác về gia đình, chảy máu tới chết và cố gắng làm theo yêu cầu lúc hấp hối của ông ấy.
              John Barrow đã bảo cô chạy trốn, đương nhiên đã cứu được mạng sống của cô bằng mệnh lệnh ấy. Và cô không hề dừng lại.
              Anh đổi chỗ, ngắm nhìn cô trong lúc cô ngủ. Đã đến lúc ngừng trốn chạy, anh nghĩ. Đến lúc tin tưởng ai đó sẽ giúp đỡ, làm điều đúng đắn.
              Sergei và Ilya Volkov, Yakov Korotkii, Alexi Gurevich.
              Anh cần tìm hiểu một chút tất cả những kẻ liên quan, hoặc tận dụng luôn những gì Abigail đã tìm hiểu. Anh chắc mẩm rằng bất kỳ điều gì đã và có thể biết về chúng đều nằm trong các file tài liệu của cô. Và trong đầu cô nữa.
              Hai tên Cosgrove và Keegan cũng phải trả giá.
              Một gã cớm nhơ nhớp cũng phải vào buồng giam chung với những kẻ mà gã bắt vào đó, theo quan điểm của Brooks. Một gã cớm bẩn thỉu sát hại một cảnh sát khác vì lợi ư? Đã có một địa ngục đặc biệt dành riêng cho chúng. Anh muốn góp phần tống Cosgrove và Keegan vào địa ngục ấy.
              Anh có một vài ý tưởng, phải, chỉ một vài ý tưởng, cho việc đó. Anh muốn nghiền ngẫm một chút, tiến hành tìm hiểu, để cho mọi việc thật ăn chắc. Sau cả chục năm thì một vài ngày, thậm chí vài tuần, tìm hiểu và lên kế hoạch sẽ chẳng đáng kể gì. Và anh mong cô cần khoảng thời gian đó để quen với tinh hình mới. Anh cần thời gian đó để thuyết phục cô cho anh làm những gì cần phải làm, một khi anh xác định được chính xác sẽ như thế nào.
              Còn bây giờ, anh nghĩ việc tốt nhất là đặt cô lên giường. Cả hai người có thể chợp mắt một lát.
              Anh đứng dậy, bắt đầu xốc cô lên. Và cô thúc thẳng đầu gối vào hạ bộ anh.
              Anh thề rằng anh cảm thấy đau như bị hoạn, rồi một cú cùi chỏ của cô táng thẳng vào thanh quản anh. Anh cảm thấy hai mắt mình tối sầm khi ngã nhào như một khối đá. Không thở nổi.
              “Thôi chết, thôi chết! Brooks. Em xin lỗi.”
              Vì âm thanh duy nhất anh có thể phát ra là tiếng khò khè nên anh chẳng nói năng được gì. Anh chỉ biết nằm đơ ra đó, chết lịm đi.
              “Chắc em đã ngủ quên. Anh làm em giật mình.” Cô lật anh nằm ngửa lên, gạt tóc vương trên mặt anh. Chú chó liếm mặt anh đầy vẻ thông cảm. “Anh vẫn thở được chứ? Anh đang thở đấy chứ? Anh thở được rồi.”
              Anh bật ho, và cảm thấy rát như phải bỏng chẳng kém gì hỏa ngục đang thiêu đốt ở tận cùng xương chậu anh. “Chết tiệt,” anh gắng gượng, và lại ho.
              “Em sẽ lấy cho anh nước và đá lạnh. Cứ thở chầm chậm thôi.”
              Hẳn là cô đã dặn chú chó ở lại bên anh, nên Bert mới cúi xuống và bốn mắt họ trông thẳng vào nhau. “Cái quái gì thế?” Khi miệng anh thốt ra câu đó, Bert lại liếm mặt anh.
              Anh gắng nuốt xuống, sau đó thận trọng lật người để nhổm lên bằng đầu gối và tay. Anh giữ nguyên như thế một lúc nữa, tự hỏi không biết mình có nôn không. Anh tìm cách ngồi được xuống sàn, những gì trong dạ dày vẫn yên vị, lúc Abigail vội vã trở lại cùng với một túi đá lạnh và một ly nước.
              “Đừng có chườm thứ đó vào hạ bộ anh. Thế đã đủ tai hại lắm rồi.” Anh nhận ly nước, và mấy ngụm đầu tiên buốt chẳng khác gì đang uống cả mớ dao cạo gãy, nhưng cảm giác khó chịu từ từ lắng xuống. “Cái quái gì thế?” anh lại nói.
              “Phản xạ thôi. Em rất xin lỗi. Anh tái nhợt rồi. Em xin lỗi. Em thiếp đi, và em trở lại chỗ đó, nhà Alexi. Ilya tìm thấy em, và... em nghĩ anh chạm vào em, và em tưởng đó là Ilya, cho nên em phản ứng.”
              “Thật đúng là. Nếu gã dám đụng đến em thì toi là cái chắc. Giờ thì có khi anh vô sinh luôn rồi.”
              “Một đòn nhẹ kiểu này vào cơ quan sinh dục ngoài không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản đâu,” cô lên tiếng, rồi nhìn đi chỗ khác. Chính cô cũng tái nhợt. “Em rất xin lỗi,” cô nhắc lại.
              “Anh sẽ ổn thôi. Lần sau anh định bế em lên giường, anh sẽ đeo theo cái cốc. Giờ thì có khi em phải dìu anh rồi.”
              “Em sẽ giúp anh.” Cô hôn nhẹ lên má anh.
              “Anh xin nói đó không phải là chỗ bị đau, nhưng nếu em hôn vào chỗ anh bị đau và anh có phản xạ bình thường thì chắc anh chết mất.” Anh xua cô ra, gượng đứng lên. “Cũng không tệ lắm.” Anh hắng giọng và nháy mắt.
              “Em sẽ giúp anh lên gác.”
              “Anh tự làm được. Anh chỉ định... xem tình hình thế nào cho an tâm ấy mà.”
              “Được rồi. Em sẽ cho Bert ra ngoài trước khi em lên gác.”
              Lúc cô lên gác, anh đã cởi bỏ quần dài nhưng vẫn đứng bên màn hình của cô, ngắm nhìn nó.
              “Mọi thứ có... ừm.”
              “Phải. Em đánh trúng rồi, tử huyệt.”
              “Đó là vùng đặc biệt dễ tổn thương trên người.”
              “Anh có thể xác nhận. Anh sẽ muốn em sớm cho anh biết hệ thống này vận hành như thế nào. Cách em chuyển đổi khung hình, cận cảnh, toàn cảnh và vân vân.”
              “Rất đơn giản thôi. Anh có muốn em cho anh biết ngay bây giờ không?”
              “Ngày mai cũng được. Anh đoán em có rất nhiều dữ liệu về nhà Volkov, về đám đặc vụ bị chúng mua. Anh muốn xem qua những thứ đó.”
              “Vâng.”
              Anh hiểu ý. “Sao nào?”
              “Em vẫn chưa kể hết với anh mọi chuyện.”
              “Giờ là thời gian rất thích hợp cho việc ấy.”
              “Em muốn tắm rửa trước.”
              “Được rồi.” Và để sắp xếp mọi suy nghĩ, anh kết luận.
              Cô lấy một chiếc áo ngủ trong ngăn kéo. “Em chỉ mất một phút thôi,” cô bảo anh, và đi vào phòng tắm.
              Anh tự hỏi liệu còn mất bao lâu nữa khi anh nghe tiếng nước chảy, và quyết định chẳng cần phải dự đoán làm gì. Thay vào đó, anh nằm xuống giường, vặn bớt đèn.
              Lúc cô bước ra, cô lấy hai chai nước trong bình lạnh. Cô đưa anh một chai, sau đó ngồi xuống cạnh giường. “Em nghĩ, nếu em là anh, em sẽ thắc mắc tại sao em lại chẳng bao giờ tìm cách đến các cơ quan chức năng, kể hết mọi chuyện đã xảy ra.”
              “Em không biết tin vào ai.”
              “Đúng vậy, ít nhất là lúc đầu. Và em sợ. Suốt một thời gian dài em luôn gặp ác mộng và nhớ lại chuyện cũ, hoảng loạn. Thỉnh thoảng em vẫn bị lo lắng bất ngờ. Chà, anh thấy rồi đấy. Và thậm chí hơn thế - mặc dù em mất nhiều thời gian mới hiểu được, nhưng em tin em phải làm những gì chú John dặn em. Chú ấy chết lúc đang bảo vệ em. Mọi chuyện diễn ra rất nhanh, quá dữ dội, và quá gấp gáp, khẩn trương. Em nhận ra khoảnh khắc ấy tác động tới chúng ta nhiều như thế nào. Và khi ấy, việc em sống sót được hay không tùy thuộc vào chuyện trốn chạy.”
              “Nếu em không chạy, em sẽ chết. Điều đó rất rõ ràng.”
              “Vâng, em chưa bao giờ thắc mắc chuyện đó. Những ngày đầu, tuần đầu, cảm giác rất hoảng loạn. Trốn chạy, né tránh, ẩn nấp. Nếu nhà Volkov tìm được em, chúng sẽ giết em. Nếu giới chức tìm thấy em, và họ bắt tay với nhà Volkov, họ sẽ giết em. Nếu không dính líu, họ cũng có thể bắt giữ em về tội giết người. Cho nên em chạy, và em ẩn náu, như cách em đã kể với anh.”
              “Chẳng ai có thể trách em chuyện đó.”
              “Có thể không. Em còn trẻ và bị chấn động. Cho dù thông mình thì tuổi mười bảy vẫn chưa đủ phát triển, chưa chín chắn. Nhưng sau một thời gian qua đi, em bắt đầu suy nghĩ rành mạch hơn, nghĩ vượt khỏi thời điểm đó. Chắc chắn có những người khác giống như chú John và chị Terry. Những người khác tin em, lắng nghe, làm bất kỳ điều gì có thể để bảo vệ em. Làm sao em có thể cứ trốn chạy, ẩn nấp mãi được? Làm sao em có thể chẳng làm gì trong khi em là người duy nhất nhìn thấy Julie bị giết, người biết sự thật về việc chú John và chị Terry đã chết như thế nào. Cho nên em mới lén truy cập vào cơ sở dữ liệu của FBI và Cục Cảnh sát Tư pháp.”
              “Em - em làm được việc đó cơ à?”
              “Em làm việc đó thường xuyên, nhưng em lấy được nhiều thông tin nhất trong một hai năm đầu sau khi em ẩn náu. Một phần từ anh chàng em đã kể với anh, một phần nhờ chính mình. Em muốn biết mọi chuyện em có thể biết về Cosgrove và Keegan, về Lynda Peski nữa. Chị ấy báo ốm ngày hôm đó. Có đúng như vậy không? Chị ấy có phải là một tay trong khác của nhà Volkov không? Hồ sơ y tế của chị ấy cho biết chị ấy đã từng phải điều trị ngộ độc thức ăn, cho nên...”
              “Em tiếp cận được cả hồ sơ y tế của chị ta?”
              “Em vi phạm rất nhiều luật. Anh từng nói đôi khi cũng cần phải phạm luật.”
              Anh xoa xoa trán. “Phải, anh có nói. Chúng ta tạm gác chuyện đó đã. Em, xem nào, khoảng mười chín hay hai mươi tuổi, đã có khả năng lén truy cập vào hồ sơ của các cơ quan chính phủ?”
              “Em sẽ là một điều tra viên trên mạng rất giỏi.”
              “Một tài năng chưa được trọng dụng.”
              “Em tin, và vẫn còn tin, chị Lynda Peski không dinh líu. Em không dám chắc, thậm chí lúc này, nhưng chưa có gì cho thấy chị ấy làm gì khác ngoài việc là một cảnh sát Tư pháp mẫu mực - giờ đã xin nghỉ, kết hôn và có hai con. Em ngờ Cosgrove cho gì đó vào đồ ăn của chị ấy để làm chị ấy mệt ngày hôm đó. Nhưng em không chứng minh được, em cảm thấy không an toàn khi liên hệ với chị ấy. Em tin, và vẫn tin các thanh tra Griffith và Riley đều là những sĩ quan trung thực, sạch sẽ. Nhưng em thấy do dự, vì họ là cảnh sát Chicago, không phải cảnh sát liên bang, và cảnh sát liên bang thường thay chân cảnh sát địa phương. Thêm nữa, em e rằng sẽ khiến cuộc sống của họ gặp nguy hiểm. Cứ tiếp tục tìm hiểu có vẻ an toàn và hiệu quả hơn. Đồng thời, em cần tiền. Lúc chạy trốn, em có mười lăm nghìn, nhưng phải chi tiền đi lại, làm giấy tờ, mua quần áo và vân vân. Vì kỹ năng cơ bản của em là máy tính, nên em làm việc về lập trình. Em phát triển một số phần mềm, và bán đi. Rất lãi.”
              “Vậy à?”
              “Vâng, và em đã viết một trò chơi máy tính, thực tế là ba trò chơi nối mạng. Còn được nhiều tiền hơn.”
              “Trò nào?”
              “Trò có tên là Cuộc chiến đường phố. Em nghiên cứu thấy rằng hầu hết người chơi là nam và rất thích các trò chơi thể loại chiến đấu và chiến tranh. Em...”
              “Anh cũng chơi trò đó rồi.” Mắt nheo nheo, anh chỉ tay vào cô. “Russ và anh thường đánh đấu mỗi lần anh từ Little Rock về. Trò đó rất máu me và bạo lực. Và thực sự rất thú.”
              “Đối tượng em nhắm đến rất thích bạo lực và máu me trong trò chơi. Ba trò cùng một seri cũng là điểm mấu chốt. Nếu trò chơi đầu tiên phổ biến, nhóm khách hàng mục tiêu sẽ muốn, và bỏ tiền ra chơi phần tiếp theo. Em đã bán cả bộ ba phần lấy một số tiền lớn. Như thế có vẻ đỡ phức tạp hơn, trong hoàn cảnh của em, so với một hợp đồng ăn tiền tác quyền.”
              “Em giàu lắm phải không?”
              “Vâng. Em có nhiều tiền, em dùng vào lĩnh vực an ninh hiện nay của mình.”
              Anh mỉm cười với cô. “Anh rất thích có được một cô bạn gái giàu có.”
              “Em chưa bao giờ là bạn gái của ai hết.”
              “Chà, anh sẽ biến em thành như vậy. Bởi vì em giàu.”
              Anh khiến cô mỉm cười. “Anh nói yêu em trước khi anh biết em có tiền cơ mà. Có tiền thì sẽ đỡ phức tạp và căng thẳng hơn trong việc thay đổi chỗ, sắp xếp chuyên chở riêng, nếu cần thiết, trang bị và bảo đảm an toàn cho một chỗ mới. Em không muốn ăn cắp.”
              “Và em hoàn toàn có thể làm được chứ?”
              “Ồ, vâng, dĩ nhiên rồi. Em truy cập được vào các tài khoản ngân hàng của Cosgrove và Keegan, tìm thấy những khoản mà em tin là tiền từ nhà Volkov. Em có thể rút bớt tiền từ các khoản ấy. Thậm chí từ chính nhà Volkov luôn.”
              “Khoan đã.” Giờ anh giơ một tay lên, khua thành vòng tròn. “Em bẻ khóa được cả hệ thống của nhà Volkov à?”
              “Vâng. Em sẽ giải thích. Em giữ tiền mình kiếm được trong vài tài khoản khác nhau, bằng những căn cước khác nhau. Em cảm thấy an toàn hơn, bớt sợ hơn nhờ có tiền, và thông tin em thu thập được. Em muốn có thêm thời gian. Em đã bắt đầu tìm hiểu một đặc vụ FBI cụ thể. Em muốn theo dõi chị ấy, xem xét hồ sơ, báo cáo của chị ấy, những đánh giá của chị ấy trong ít nhất một năm trước khi liên hệ. Em đã chuyển tới New York. Em cảm thấy an toàn ở đó. Có nhiều người, rất nhộn nhịp. Quá nhộn nhịp nên em không lo bị lộ. Và khi đó em có thể tự do điều tra bên ngoài căn nhà của mình.”
              Cô nghĩ lại việc đó, hơi có chút bâng khuâng. “Em có một căn nhà rất đẹp ở SoHo. Cũng ở đó em nghĩ đến việc nuôi chó. Cho mục đích an ninh, và bầu bạn. Em bắt đầu làm về vấn đề an ninh, rồi giao dịch trực tiếp với khách hàng. Em sẽ tới chỗ họ, đánh giá hệ thống và nhu cầu của họ.”
              “Chuyện này diễn ra lúc nào?”
              “Em sống ở New York sáu năm trước. Em chỉ hai mươi ba, nhưng theo căn cước thì em hai mươi sáu. Trong những trường hợp này, có tuổi sẽ tốt hơn. Em bắt đầu với quy mô tương đối nhỏ, thiết kế và lắp đặt các hệ thống an ninh cho tư gia và những công ty nhỏ, các mạng lưới máy tính doanh nghiệp. Như thế em có rất nhiều thời gian để nghiên cứu tìm hiểu. Và trong quá trình nghiên cứu, em tìm được một đặc vụ mà em cảm thấy có thể tin tưởng. Em muốn có những gì em ao ước ở tuổi mười sáu. Bạn bè, các mối quan hệ, rất bình thường. Và em muốn làm điều đúng đắn, cho Julie, cho chú John và chị Terry.
              “Em ở đó hơn một năm, quãng thời gian dài nhất em dừng lại ở một nơi. Em đã nghĩ đến chuyện mua một căn nhà ở thôn quê, bởi vì em nhận ra mặc dù em thích tiện nghi của thành phố, nhưng em chuộng sự yên tĩnh hơn. Nhưng ở đó cảm thấy rất an toàn, ở SoHo ấy. Tất cả những con người ấy, với nhịp độ hối hả. Và em ký được một hợp đồng lớn với một hãng luật. Em từng thiết kế hệ thống an ninh cá nhân cho một cổ đông của hãng đó, và ông ta giới thiệu em. Thêm sáu tháng nữa thôi, em nhủ mình như vậy. Em ở lại New York, hoàn thành hợp đồng mới, tiếp tục công việc nghiên cứu. Sau đó, nếu em cảm thấy hoàn toàn tin tưởng đặc vụ này, em sẽ liên hệ với chị ấy và bắt đầu quy trình.”
              “Rồi chuyện gì xảy ra?”
              “Em gần như đã sẵn sàng. Em hoàn thành hợp đồng, và hợp đồng đó lại dắt mối cho em với một khách hàng khác của công ty. Tập đoàn đầu tiên em làm. Đó là một công việc tốt, rất háo hức, rất thách thức. Em hoàn toàn tin rằng cuộc đời mình sắp bắt đầu trở lại. Và em đi ra khỏi khu nhà của khách hàng. Phố Houston, khu trung tâm. Em đang nghĩ xem đi về nhà như thế nào, rồi đổi ý, đi chợ và mua cho mình một chai rượu vang ngon để ăn mừng. Em đang ngẫm nghĩ về quãng thời gian sáu tháng em đặt ra để liên lạc với đặc vụ sắp đến gần rồi. Em đang nghĩ đến chuyện tìm một con chó, đến nơi em muốn sống khi em có thể thực sự được sống trở lại. Em đang nghĩ đến bất kỳ điều gì trừ nhà Volkov. Và hắn xuất hiện ở đó.”
              “Ai cơ?”
              “Ilya Volkov và một tên nữa - họ hàng của hắn, sau này em biết như vậy. Chúng bước ra khỏi xe vừa lúc em tạt ra lề đường để gọi taxi. Em gần như đâm sầm vào hắn. Chả hiểu sao ở thành phố có hàng bao nhiêu người đó em lại suýt va đúng vào kẻ em đã trốn chạy suốt gần tám năm trời. Hắn nhìn thẳng vào em, và em hóa đá đúng như cái đêm em ở ngoài hiên trời. Hắn định mỉm cười, như đàn ông vẫn làm vậy với một phụ nữ đang nhìn thẳng vào mình, em nghĩ vậy. Và rồi hắn nhận ra em, và nụ cười tan biến.”
              “Hắn nhận ra em ư? Em chắc chứ?”
              “Hắn gọi tên em. ‘Liz. Cô đây rồi’. Kiểu như vậy. Hắn tiến lại chỗ em, hắn gần như đã tóm được tay em. Ngón tay của hắn sượt qua tay áo em vừa kịp lúc em giật ra, và em bỏ chạy. Hắn đuổi theo em. Em nghe thấy hắn hét lên bằng tiếng Nga; em nghe thấy tiếng xe rít lên rời khỏi vệ đường. Em nghĩ hắn sẽ bắn vào lưng mình, hoặc tóm lấy em và kéo em vào trong xe.”
              Cô áp chặt một tay lên vùng tim, xoa xoa khi nhịp tim bắt đầu đập mạnh như cái ngày hôm đó ở New York.
              “Em chạy xuống phố. Đúng là điên rồ; em suýt vấp ngã. Em chẳng quan tâm. Giờ có ra sao cũng kệ. Em tuột cả giày. Giống y như cái đêm ấy, chân đất chạy trốn. Nhưng giờ em đã khôn hơn. Mới đầu em hoảng loạn, nhưng sau em trấn tĩnh hơn. Em biết các đường phố. Em để ý chúng, và tách xa dần khi em chạy lẫn vào dòng xe cộ, còn lái xe của hắn không sao rẽ được. Em không biết mình chạy được bao xa thì mới nhận ra em đã thoát được. Em nhảy lên một chiếc xe buýt liên thành phố, sau đó em bắt taxi.”
              Giờ không khí quá ấm, cô nghĩ thầm, và đi tới một ô cửa sổ để mở ra. “Em chẳng còn chiếc giày nào, nhưng có vẻ chẳng ai chú ý hay quan tâm cả. Đó là điểm lợi khi ở một thành phố lớn.”
              “Anh nghĩ anh là trai thôn quê, vì anh không thấy chuyện đó có lợi.”
              “Nhưng hôm đó thì đúng như vậy. Khi về đến nhà, em lấy túi du lịch của mình ra. Em sẽ lại ra đi chỉ với cái túi đó, nhưng em bình tĩnh lại, gói ghém những gì em cảm thấy mình cần. Em không biết mình có được bao nhiêu thời gian. Nếu hắn nhìn thấy tòa nhà nơi em bước ra, nếu hắn có cách tìm ra cái tên em đang sử dụng, hắn sẽ tìm ra địa chỉ của em. Em có một chiếc xe mang tên khác, để trong một gara. Giờ nó tỏ ra thật đáng giá. Và đúng như vậy. Em gọi cho một công ty dịch vụ xe riêng, bảo họ đưa em tới gara. Chúng có thể lần theo tới đó, nhưng như thế sẽ mất thời gian. Đến lúc đó, em đã đi rồi, em mua một chiếc xe mới, đổi căn cước của mình.”
              “Rồi em đi đâu?”
              “Em cứ di chuyển vài tuần liền. Thuê nhà trọ, trả bằng tiền mặt. Em đã xem email của Ilya. Em biết chúng không thể lần ra em trong vài ngày. Em không cần phải bỏ đi quá vội vã. Và chúng không thể lần ra em một khi em rời khỏi khu nhà giàu. Không ai nhìn, hay chú ý tới chuyện em ra đi. Nhưng em học được một bài học. Em đã bất cẩn. Em đã cho phép mình lên kế hoạch sống một cuộc sống bình thường, thậm chí còn sống cuộc sống như thế. Chúng sẽ không bao giờ ngừng truy tìm em, cho nên em phải chấp nhận mọi chuyện như vậy. Và làm những gì em có thể để lấy lại công lý cho chú John cùng chị Terry và Julie theo một cách khác.
              “Em đã thiết lập kênh tiếp cận riêng vào mạng lưới của nhà Volkov - email, file tài liệu, thậm chí cả tin nhắn văn bản. Khi em có được thông tin có vẻ đáng giá, em ẩn danh tiết lộ dữ liệu cho đặc vụ FBI mà em đã tìm hiểu và thấy chị ấy đáp ứng được những tiêu chí của em. Em không biết sẽ còn được an toàn bao lâu nữa khi sử dụng chị ấy làm kênh liên lạc. Nếu người của nhà Volkov liên hệ tới chị ấy, chúng có thể thủ tiêu chị ấy. Em nghĩ, về logic, chúng sẽ tìm cách sử dụng chị ấy để tìm ra nguồn tiết lộ thông tin trước khi ra tay. Nhưng cũng có thể tệ hơn nữa. Chúng có thể tra tấn chị ấy, và chị ấy không thể nói với chúng vì chị ấy không hề biết. Em được an toàn, nhưng chị ấy thì không. Anh cũng vậy, nếu anh dính líu vào.”
              “Theo anh nghĩ thì em đúng là một cảnh sát giỏi, trên mạng hoặc gì đó. Nhưng anh mới là một cảnh sát. Em chỉ là cô bạn gái giàu có của một cảnh sát.”
              “Đừng đùa nữa anh. Nếu chúng liên hệ anh với em, bằng bất kỳ cách nào, chúng sẽ giết anh. Nhưng không chỉ mình anh. Chúng sẽ giết cả gia đình anh. Mẹ anh, bố anh, các chị anh, con cái họ. Tất cả những người anh quan tâm.”
              “Anh sẽ chăm lo gia đình mình, Abigail. Anh đoán giờ gia đình anh sẽ gắn bó với Abigail.” Anh đưa một tay vuốt tóc cô. “Anh sẽ phải quen với nàng Liz khi việc này kết thúc.”
              “Sẽ chẳng bao giờ kết thúc được.”
              “Em sai rồi. Anh muốn em hứa với anh một việc.” Để cho ánh mắt họ ngang nhau, anh đưa tay ôm lấy cằm cô. “Anh muốn em hứa chuyện này. Em sẽ không được giấu giếm anh. Em không được nghĩ rằng mình đang làm những gì tốt nhất cho anh và người thân của anh.”
              “Em không muốn hứa hẹn điều gì em có thể phá vỡ.”
              “Em hứa đi. Anh sẽ tin vào lời em, và em sẽ tin vào lời anh. Em hứa với anh như vậy, và anh sẽ hứa với em anh sẽ không làm bất kỳ điều gì mà em không biết hay không đồng ý. Đó là một lời hứa anh không dễ thực hiện nhưng anh sẽ làm được.”
              “Anh sẽ không làm bất kỳ việc gì trừ phi em đồng ý ư?”
              “Đó là lời hứa của anh. Giờ anh muốn em hứa. Em sẽ không trốn chạy.”
              “Sẽ ra sao nếu chúng tìm ra em, giống như vụ Ilya ở New York?”
              “Nếu em phải chạy, em chạy đến chỗ anh.”
              “Anh giống như chú John. Chúng đã giết John.”
              “Bởi vì ông ấy không hề biết chuyện gì xảy đến. Còn giờ, nếu em nhìn vào mắt anh và nói với anh em thực sự lo ngại rằng lũ mafia Nga ấy sẽ thao túng được Sở cảnh sát Bickford, chúng ta sẽ mang theo Bert và bất kỳ thứ gì khác chúng ta cần rồi lên đường ngay tối nay. Em nói địa điểm đi.”
              “Em không nghĩ thế.”
              “Tốt lắm. Vậy hứa với anh đi.”
              “Anh sẽ không làm gì mà không nói với em. Em sẽ không bỏ chạy mà không nói với anh.”
              “Anh đoán như thế là gần đủ rồi. Tối nay với em đủ rồi. Chúng ta sẽ đi ngủ một chút. Anh sẽ nghĩ thật kỹ chuyện này. Anh có thể có thêm một số câu hỏi, nhưng có thể đợi được. Và sau khi anh đã suy nghĩ một thời gian, chúng ta sẽ bàn về những việc chúng ta sẽ làm. Đó là ‘chúng ta’ nhé. Em không còn đơn độc một mình nữa. Em sẽ không còn đơn độc một mình nữa.”
              Anh giục cô lên giường, kéo cô lại gần sau khi tắt đèn. “Đó. Cảm thấy ổn rồi. Có lẽ anh phải đặt một câu hỏi cho tối nay.”
              “Vâng.”
              “Em đã lén truy cập vào hệ thống của bọn anh ở đồn chưa?”
              Cô thở dài, và trong bóng tối không nhìn thấy anh mỉm cười lúc nghe thấy vậy. “Em cảm thấy cần biết tường tận về lực lượng hành pháp địa phương. An ninh trên hệ thống của các anh không được tốt cho lắm.”
              “Có lẽ anh nên bảo các vị chức sắc thuê em về khắc phục chuyện đó.”
              “Em lấy đắt đấy. Nhưng trong hoàn cảnh này, em có thể khấu trừ cao hơn mức bình thường.” Cô lại thở dài. “Em sẽ bảo đảm an ninh cho máy tính cá nhân của anh miễn phí.”
              “Lạy Chúa.” Anh phì cười. “Em đã đọc email và tất cả các thứ của anh rồi cơ à?”
              “Em xin lỗi. Anh cứ hay mò đến đây và đặt câu hỏi. Anh tìm kiếm thông tin về em. Chà, thông tin đó là do em tạo ra, nhưng phiền toái phết đấy.”
              “Anh đoán vậy.”
              “Anh nên thận trọng khi gọi thị trưởng đương nhiệm là một tay thộn, cho dù chỉ là trong thư từ gửi đến bạn thân của anh. Anh không thể chắc những ai có thể đọc được email của anh đâu.”
              “Hắn ta đúng là tay thộn mà, nhưng anh sẽ nhớ lời em dặn.” Anh xoay đầu, hôn lên đỉnh đầu cô. “Anh yêu em.”
              Cô áp mặt vào cạnh cổ anh. “Nghe thật tình tứ trên giường, trong bóng tối, khi mọi thứ yên tĩnh.”
              “Bởi vì điều đó là thật. Và nó sẽ vẫn là thật vào buổi sáng.” Cô nhắm mắt lại, giữ riêng những lời ấy cho mình lúc anh ôm lấy cô. Và hy vọng khi sáng dậy, anh sẽ lại nói vậy với cô.
              #22
                Thanh Vân 29.11.2023 19:26:03 (permalink)

                PHẦN BA

                Hãy để công lý được thực thi, dù bầu trời có sập xuống.

                — Lord Mansfield
                *

                23


                Roland Babbett làm thủ tục nhận phòng tại khách sạn Quán trọ Ozark vào một chiều xuân nóng nực và ngột ngạt như vào tháng Tám. Trong căn phòng có góc nhìn thẳng ra vùng đồi của mình, anh đặt laptop lên chiếc bàn cũ bóng láng. Anh đánh giá cao các tiện nghi, wifi miễn chê, TV màn hình phẳng, đồ đạc được lựa chọn cẩn thận (anh nghĩ thế), và vòi tắm rất mạnh.
                Anh từng nhiều lần phải làm việc tại những nhà trọ tồi tàn có vòi nước són từng giọt và những mẩu xà phòng hôi rình, hoặc trên xe của mình, nơi các tiện nghi chỉ còn là một chiếc lọ thủy tinh để anh có thể chốc chốc tiểu tiện vào.
                Đó là cuộc đời của một thám tử tư.
                Anh thích vậy, cho dù với những nhà trọ tồi tàn và lọ thủy tinh. Hai năm làm cảnh sát đã dạy anh rằng anh không thể làm việc tốt với những quy định đủ loại. Nhưng anh là một cảnh sát cừ, và nhờ thế dễ dàng chuyển sang làm việc ở công ty thám tử tư Stuben-Pryce. Trong gần mười năm làm việc ở đó, anh đã chứng minh mình là người đáng tin cậy, sáng tạo và lì lợm. Những phẩm chất mà công ty đánh giá cao.
                Anh cũng rất thích những khoản tiền thưởng của mình, và hy vọng nhận được một khoản nữa với công việc lần này.
                Anh bỏ đồ đạc ra - quần lửng và quần dài, áo phông, áo len, giày cao cổ.
                Anh đã chọn trang phục hợp với vỏ bọc của mình là một nhiếp ảnh gia tự do, như thế anh sẽ được lang thang trong thị trấn, vùng ngoại ô, chụp ảnh, trò chuyện với dân địa phương.
                Anh không thích tay khách hàng của mình lắm. Roland coi gã Lincoln Blake là một gã khốn hạng nhất, và thằng con của Blake thuộc dạng ung nhọt của xã hội.
                Nhưng công việc là công việc, và Blake thì rất chịu chi, một gã khốn hạng nhất lắm mồm, huênh hoang và mưu mô. Khi sếp bảo đi thì Roland lên đường thôi. Đặc biệt vì anh có một đứa con đang theo học trường tư, một đứa nữa sắp nhập học vào mùa thu tới và - rất ngạc nhiên - đứa thứ ba sắp ra đời.
                Anh yêu gia đình mình, và khoản lương từ Stuben-Pryce, cộng thêm tiền thưởng, giúp họ có một cuộc sống ổn, bao gồm cả một khoản vay thế chấp kha khá cho căn nhà bốn phòng ngủ mới toanh của họ ở West Little Rock.
                Cho nên khốn kiếp hay không thì khách hàng vẫn là thượng đế. Nếu Blake muốn biết tất cả những gì cần biết - đặc biệt những chuyện nhơ nhớp - về một ả Abigail Lowery nào đó, Roland sẽ tìm ra tất cả những điều cần biết ấy. Cũng như vậy với anh chàng Brooks Gleason, cảnh sát trưởng ở Bickford, mà theo lời khách hàng, là người tình của ả Lowery.
                Khách hàng nói hai người đó, cùng với nhà Conroy - chủ của cái khách sạn có cảnh quan cùng tiện nghi rất bảnh - đã gài bẫy con trai gã để moi tiền. Blake hầm hầm, và to tiếng, phủ nhận chuyện thằng ôn vật nhà gã đã phá tan hoang một căn phòng cao cấp của khách sạn như lời người ta nói, cũng chẳng hề tấn công Russell Conroy, cũng chẳng vung dao nhằm vào cảnh sát trưởng.
                Roland, vốn đâu có ngu ngốc, tin chắc nhưng không thể hiện ra rằng cái nhọt mông kia đã làm tất cả những việc ấy và còn hơn thế. Nhưng anh làm công việc của mình, kiếm tiền cho mình. Và thanh toán các loại hóa đơn của mình.
                Anh kiểm tra các thiết bị máy ảnh, máy ghi âm, sổ tay và bộ dụng cụ mở khóa của mình. Sau đó gọi cho vợ bằng điện thoại di động để báo cho cô biết anh đã đến nơi an toàn.
                Anh bảo với cô rằng anh rất muốn cô có mặt ở đây. Buồng trọ có hẳn một chiếc giường cỡ lớn. Chuyện mang thai càng khiến cho Jen hấp dẫn trong chuyện chăn gối.
                Lúc chuẩn bị đồ đạc để thực hiện chuyến lang thang đầu tiên quanh thị trấn, anh tự hứa rằng sẽ sớm quay lại đây, cùng với Jen, sau khi đứa bé ra đời, và bố mẹ cô vẫn thừa sức chăm nom cả ba đứa trẻ dịp nghỉ cuối tuần.
                Anh xốc túi máy ảnh lên vai, choàng chiếc Nikon quanh cổ bằng chiếc quai có trang trí những ký hiệu hòa bình. Mặc chiếc quần lửng nhiều túi, đi đôi giày dã chiến Rockport và mặc chiếc áo phông in hình nhóm nhạc rock R.E.M, anh đeo kính râm lên, nhìn lại mình trong gương.
                Sáng hôm đó anh chưa cạo râu, chủ ý như vậy, và nghĩ cứ để cho diện mạo thêm chút râu ria. Anh thích những nét cá tính và, nếu được lựa chọn, thì sẽ giữ những nét ấy gần giống với chính mình. Tự nhiên, dễ dàng.
                Anh tự nhận mình là một tay ưa nhìn. Anh có thể trò chuyện với bất kỳ ai về bất kỳ điều gì, một công cụ quan trọng chẳng kém máy tính của anh. Anh không hề khó coi, anh nghĩ thầm trong lúc chụp thêm chiếc mũ Greenpeace cho trọn bộ trang phục.
                Mặc dù vậy, anh đang thấy bắt đầu lo lắng về tình trạng hói đầu. Anh trai anh, lớn hơn hai tuổi so với cái tuổi ba mươi tư của Roland, đã lộ một mảng da đầu nhẵn nhụi bằng nắm tay ngay đỉnh đầu.
                Anh nghĩ nhanh đến việc lựa một ít thuốc mọc tóc Rogaine - tại sao lại không thử những biện pháp ngăn ngừa trước chứ - lúc đi ra khỏi phòng.
                Anh đã phải giành giật một phòng ở tầng trên cùng, mặc cho nhân viên lễ tân đã đề nghị một phòng khác, để khỏi bị tiếng ồn xây dựng làm phiền. Nhưng anh chẳng để tâm đến những cảnh báo và tình trạng bất tiện. Như thế này, anh có thể nhìn được căn phòng mà thằng con trai của gã khách hàng không hề phá phách, nếu như bạn tin vào lời lũ đại gia khốn kiếp.
                Anh lững thững xuống sảnh, chú ý đến cánh cửa đóng chặt, một bảng hiệu cáo lỗi vì đã gây ra những bất tiện do việc sửa chữa ngoài ý muốn. Tiếng ồn, đã được chặn bớt, nghe giống âm thanh chạy thử hơn là sửa chữa.
                Anh sẽ kiểm tra việc đó sau, khi đội thợ và nhân viên khách sạn không quanh quẩn gần đó.
                Còn bây giờ, anh đi bộ xuống cầu thang, vì anh cũng hơi quan tâm đến chuyện sắp mang cái bụng bự của tuổi trung niên, và bước ra ngoài nắng nóng.
                Thị trấn nhỏ bé xinh đẹp, anh nghĩ thầm. Jen sẽ thích mê - các cửa hiệu, nghệ thuật. Anh sẽ lựa thứ gì đó cho cô và lũ trẻ, kể cả đứa nhỏ sắp chào đời nữa, trước khi ra về.
                Rất đông khách du lịch, anh nhận ra như vậy. Một anh chàng đeo chiếc máy ảnh thật dễ để hòa nhập. Anh tận dụng điều đó, chụp vài bức ảnh về khách sạn, lấy cận cảnh vào các cửa sổ của căn phòng có vấn đề, với những tấm rèm được buông kín.
                Anh có con mắt nghệ thuật khá tốt. Anh nghĩ khi đến lúc thôi không làm thám tử tư nữa, anh sẽ thử lấy nhiếp ảnh làm một thú vui công việc. Anh lang thang, chọn cảnh, bấm máy. Một ô cửa sổ hay hay, cận cảnh những bông hoa trồng trong một nửa cái thùng đựng rượu whiskey. Với người bình thường, anh chỉ như ai đó đi vẩn vơ, chẳng có một đích đến cụ thể nào.
                Nhưng anh đã có những địa chỉ đáng quan tâm ở trong đầu. Chỗ của Lowery cần phải lái xe đến, nhưng anh có thể đi bộ qua căn hộ của cảnh sát trưởng, và căn nhà nơi bố mẹ anh ta vẫn sinh sống. Chỉ là để có chút cảm nhận về nơi chốn, con người, Roland nghĩ và dành thời gian ngắm nghía những ô cửa sổ căn hộ của Brooks Gleason phía trên một quán ăn đông đúc.
                Rèm đều kéo lên, anh nhận ra như vậy. Ở đây chẳng có gì để nhìn. Anh vẩn vơ đi vòng về phía sau, chụp vài bức ảnh những chậu hoa trong khi xem xét lối vào đằng sau.
                Những ổ khóa rất tươm tất nhưng chẳng có gì đáng kể, anh cảm thấy rất muốn thăm dò một chút bên trong. Anh cố gắng tránh việc đó, nếu có thể.
                Với tấm bản đồ thị trấn trên tay, một món quà của khách sạn, anh thả bộ trên hè.
                Và dừng lại, hoàn toàn bị cuốn hút và sững sờ trước ngôi nhà có tranh tường. Anh kiểm tra địa chỉ, và khẳng định thực tế đó chính là nơi ở của bố mẹ tay cảnh sát trưởng. Thông tin đã thu thập được cho anh biết bà mẹ là một họa sĩ, còn ông bố là giáo viên trung học.
                Anh nhận định người phụ nữ đầu đội chiếc khăn bảy sắc cầu vồng hiện đang đứng trên giàn giáo trong bộ tạp dề đầy vết sơn chính là mẹ của đối tượng.
                Buộc vào chân giàn giáo là một chú cún nằm cuộn khoanh trong bóng râm và ngủ tít.
                Vừa như sở thích vừa cho công việc, Roland chụp vài bức ảnh, tiến lại gần hơn. Khi anh đến ranh giới khoảnh sân, chú cún con choàng tỉnh sủa ăng ẳng.
                Và người phụ nữ nhìn xuống. Bà ấy hơi hất đầu. “Tôi giúp gì được cậu?”
                “Cháu xin lỗi vì làm gián đoạn. Cháu chỉ đang đi loanh quanh, và... chỗ này thật tuyệt. Là bác vẽ toàn bộ đấy à?”
                “Vâng. Cậu đang tham quan à?”
                “Cháu có vài ngày ở lại thị trấn. Cháu là nhiếp ảnh gia, và cháu đang dành vài tuần ở Ozark. Cháu muốn thực hiện một cuộc triển lãm.”
                “Anh sẽ không thiếu chủ đề ở quanh đây đâu. Được rồi, Plato, tao đến đây.”
                Bà nhanh nhẹn leo xuống, tháo khóa cho chú cún và nó ngay lập tức chạy xô tới hít ngửi Roland. “Cún ngoan.” Anh cúi xuống vuốt ve chú cún. “Cháu đoán chắc cháu làm nó tỉnh giấc.”
                “Nó là một con chó giữ nhà rất chiến, như cậu thấy đấy. Sunny O’Hara,” bà nói thêm, và chìa một bàn tay lấm tấm sơn ra.
                “Roland Babbett. Cháu chụp vài bức ảnh nhà mình có được không ạ? Nhà tuyệt lắm.”
                “Cậu cứ thoải mái. Cậu từ đâu đến, Roland?”
                “Little Rock.”
                “Con trai tôi sống ở đó vài năm. Nó là thanh tra cảnh sát. Tên là Brooks Gleason.”
                “Chắc cháu không biết anh ấy, nhưng cháu sẽ cố gắng không gây rắc rối.”
                Bà ấy cười tươi với anh. “Tốt đấy, bởi vì giờ nó là cảnh sát trưởng ở đây.”
                “Đây đúng là một thị trấn tuyệt vời. Cháu hy vọng anh ấy không quá bận rộn.”
                “Ồ, lúc nào chả có chuyện này chuyện kia. Mà cậu ở chỗ nào?”
                “Cháu đang tận hưởng tiện nghi, vì cháu sẽ chủ yếu cắm trại trong chặng thứ hai của chuyến đi này. Cháu ở Quán trọ Ozark.”
                “Không đâu tốt hơn nữa rồi, nơi đó là một trong những báu vật tuyệt nhất trong hòm châu báu của Bickford đấy. Chúng tôi gặp một vài phiền phức ở đó vài ngày trước, khi chuyện xảy ra. Thằng gây rối ở thị trấn cùng mấy đứa a dua a tòng theo nó đã phá hỏng căn buồng Ozark.”
                “Hóa ra đúng là có chuyện ạ? Cháu ở ngay trên tầng đó, và người ta nói với cháu rằng sẽ có ồn ào một chút. Việc sửa chữa đang được tiến hành.”
                “Rất nhiều chỗ. Có thể cậu muốn chuyển sang tầng khác đấy!”
                “Ồ, cháu chẳng vấn đề gì đâu. Cháu có thể ngủ say bất kể chuyện gì.” Rất vô tình và thân thiện, anh để máy ảnh của mình đung đưa trên quai đeo. “Cháu rất tiếc khi nghe nói về vụ phiền toái. Đó thực sự là một khách sạn đẹp. Kiến trúc, đồ đạc. Nó mang cảm giác như nhà mình vậy - rất thuận tiện. Mà sao họ lại phá nó vậy?”
                “Chắc một số người thích phá mọi thứ, tôi đoán vậy.”
                “Thật xấu hổ. Cháu nghĩ ngay cả các thị trấn nhỏ nhắn xinh đẹp cũng có đám gây rối. Cháu sẽ cố gắng tránh xa cậu ta trong thời gian ở đây.”
                “Nó vào tù rồi, và chắc chắn còn ở đó một thời gian. Cậu sẽ thấy hầu hết mọi người sống ở đây đều thân thiện. Chúng tôi dựa vào khách du lịch, và những nghệ sĩ như cậu. Cậu có cái máy ảnh rất khủng đấy.”
                “Con cưng của cháu đấy.” Anh vỗ vỗ lên máy ảnh. Anh rất muốn chụp ảnh, gần như chẳng kém gì những thông tin mà bà tiết lộ. “Thỉnh thoảng cháu vẫn chụp bằng phim, nhưng lựa chọn chính của cháu vẫn là kỹ thuật số.”
                “Nếu cậu có bất kỳ thứ gì muốn bán, hãy mang tới Phòng trưng bày phố Shop. Họ mua rất nhiều ảnh chụp cảnh trong vùng.”
                “Cảm ơn bác đã mách nước. Bán đi vài món sẽ giúp cháu được ăn bánh mì kẹp xúc xích và đậu hầm trong vài tuần tới.” Anh chuyện phiếm với bà thêm vài phút nữa, sau đó thả bộ về phía trung tâm thị trấn. Nếu bà Sunny O’Hara có chi tiết gì đó đáng nghe theo, Roland nghĩ, thì gã khách hàng sẽ không hài lòng chút nào.
                Anh tiến thẳng đến quán ăn. Thực khách và người phục vụ thường là những nguồn tin rất tốt. Anh chọn một chỗ dễ quan sát những người ra vào, đặt máy ảnh rất cẩn thận lên mặt bàn.
                Anh rất muốn chụp một bức ảnh cô phục vụ - anh thực sự rất mê đắm mình vào khắc họa cá tính, còn cô ấy có gương mặt rất đẹp, đáng chú ý.
                “Cho tôi cà phê.”
                “Một chút bánh ngọt đi kèm thì sao ạ? Hôm nay món bánh anh đào đặc biệt ngon.”
                “Bánh anh đào ư?” Anh nghĩ đến cái bụng bự của tuổi trung niên. Vậy là anh sẽ phải làm thêm năm mươi lần động tác gập bụng trong tối nay. “Tôi không nghĩ mình có thể nói lời từ chối.”
                “Tôi hâm nóng nhé? Anh có dùng kem đậu vanilla không?”
                Được thôi, thêm bảy lăm lần gập bụng. “Vâng. Tôi không biết ai đủ mạnh mẽ để từ chối món đó. Nếu ngon như tên gọi thì tôi sẽ đến đây hằng ngày trong thời gian ở lại thị trấn.”
                “Ngon lắm. Anh đến thị trấn chơi à?” cô hỏi, bằng giọng điệu thoải mái gần như giống hệt bà Sunny.
                Anh giữ nguyên vỏ bọc nhiếp ảnh gia với cô ấy, thậm chí còn cho cô xem vài bức ảnh anh chụp căn nhà tranh tường.
                “Anh chẳng bao giờ biết bà ấy sẽ vẽ gì tiếp theo lên đó đâu. Mấy bức ảnh này cũng rất đẹp.”
                “Cảm ơn chị.”
                “Tôi sẽ mang đồ anh gọi ra.”
                Anh nhâm nhi cà phê trong lúc chờ đợi, nghiên cứu cuốn sách hướng dẫn như một du khách thực thụ. Cô ấy mang trở lại một miếng bánh rất to và lớp kem phết lên trên bánh đang tan chút ít. “Nghe hay mà nhìn cũng thích.” Roland xoáy một miếng. “Nếm lại càng tuyệt hơn. Cảm ơn chị.”
                “Mời anh thưởng thức.” Kim liếc mắt nhìn, khiến anh làm theo, lúc Brooks tiến vào. “Xin chào, cảnh sát trưởng.” Lúc Kim ra hiệu về phía ô ghế trước mặt anh, Roland quyết định tăng gấp đôi tiền boa cho cô ấy.
                “Tôi chỉ uống cà phê thôi.”
                “Cậu chưa được nghe nói về món bánh anh đào rồi. Tôi có thứ bánh ngon đến mức không ai từ chối được đâu.” Cô ấy nháy mắt với Roland lúc nói câu đó, và anh tán thưởng bằng cách xắn một miếng bánh thật bự.
                “Giờ thì với tôi chỉ phí thôi. Đám luật sư.”
                “Chậc, cưng à, như thế cần thêm hai muôi kem đậu vanilla phết lên bánh rồi.”
                “Để lần sau. Tôi chỉ ghé vào làm một cốc cà phê thường thôi, và chút không gian hít thở để xem lại những ghi chép của mình.”
                “Thôi được rồi. Đám luật sư của gã Blake hả?” Kim hỏi trong lúc rót cà phê.
                “Đám mới. Harry thất nghiệp rồi, và nói riêng giữa chị với tôi, tôi nghĩ ông ấy đang sung sướng nhảy múa quanh đống lửa. Blake thuê một công ty tít tận miền Bắc.”
                “Đám luật sư Yankee à?” Miệng Kim chu lại vẻ chế nhạo. “Tôi chả lấy làm lạ.”
                “Toàn complet hiệu Armani và cặp xách hiệu Louis Vuitton thôi, như lời kể của trợ lý luật sư Big John Simpson đang nghiên cứu vụ việc này. Bọn họ nêu hết đề nghị này đến đề nghị khác. Lại còn muốn đổi nơi xử án. Thẩm phán không thích họ, cho nên mới thành chuyện.”
                “Muốn tách ông ấy khỏi đây, khỏi nơi mọi người biết rõ thằng ranh Blake là cái giống khó chịu gì ấy mà.”
                “Chẳng dám nói là tôi trách cứ họ. Nhưng ở đây hay ở sao Diêm vương thì sự thật vẫn cứ là sự thật thôi. Rắc rối là không phải lúc nào sự thật trước tòa cũng đầy đủ.”
                Lùi lại một bước, Kim chống cả hai nắm tay lên hông. “Cậu không nghĩ nó sẽ thoát đấy chứ? Không thể được, sau tất cả những gì nó đã gây ra.”
                “Tôi sẽ không nghĩ điều đó, bởi vì nếu nó thoát được vụ này thì lần sau, tôi biết chắc chắn vậy, nó sẽ giết ai đó thật.”
                “Ôi, lạy Chúa, Brooks.”
                “Xin lỗi chị.” Brooks giụi giụi đôi mắt mỏi mệt của mình. “Tôi nên mang cái tâm trạng dở hơi của mình trở lại đồn thôi.”
                “Cậu cứ ngồi ngay đó và uống cà phê đi, và đừng để mấy chuyện này đè nặng lên mình.” Cô cúi xuống, hôn lên đỉnh đầu anh. “Cậu làm việc cừ lắm, và tất cả mọi người đều biết như vậy. Cậu chẳng làm gì quá chức trách của mình.”
                “Có vẻ như tôi nên vậy. Mà thôi... chỉ uống cà phê thôi.”
                “Cậu cứ kêu nếu muốn thứ gì khác.” Lắc lắc đầu, Kim bỏ đi, rót thêm cà phê cho Roland khi đi ngang qua.
                Roland vẫn ngồi, ngẫm nghĩ. Chẳng có gì anh chàng cảnh sát nói khiến anh thấy sai cả. Chính anh cũng rất khinh thường “cái giống khó chịu” đó. Nhưng đúng như lời cô Kim khôn ngoan và tuyệt vời vừa nói, bạn không thể làm gì quá chức trách của mình.
                Chức trách của anh là tìm ra bất kỳ điều gì có thể làm cho cán cân nghiêng về phía khách hàng.
                Anh gần như bị nghẹn miếng bánh khi nhìn thấy vị khách bước vào.
                Anh biết những thị trấn nhỏ bé miền Nam có thể sản sinh ra một số người đẹp, và theo quan điểm của riêng anh, phụ nữ miền Nam có cách riêng chăm sóc vẻ đẹp đó giống như hoa hồng trong nhà kính vậy. Có lẽ là do thời tiết, không khí, cơ hội được mặc những thứ trang phục mùa hè mỏng manh như những gì vị khách mới vào đang mặc. Có lẽ đó là một bí mật nào đó mà các bà mẹ truyền lại cho con gái mình.
                Cho dù đó là gì thì nó cũng rất hiệu quả. Anh yêu vợ mình, và chưa bao giờ xao lòng trong suốt mười hai năm chung sống - hơn mười năm đeo nhẫn cưới trên tay. Nhưng một người đàn ông có quyền thỉnh thoảng tưởng tượng một chút khi người phụ nữ nóng bỏng nhất từng được sinh ra lọt thẳng vào tầm nhìn của anh ta.
                Cô ấy uyển chuyển đi thẳng tới bàn của Gleason, lách người vào, như miếng bơ tan chảy trên chảo nóng.
                “Không phải lúc thích hợp đâu, Sylbie.”
                Trong thế giới của Roland, lúc nào cũng là lúc thích hợp dành cho Sylbie.
                “Em chỉ có một câu hỏi. Em sẽ không định níu kéo anh hay làm gì kiểu như vậy. Em đã học được bài học của mình từ tháng Ba rồi.”
                “Anh đánh giá cao điều đó, nhưng ở đây và lúc này thì rất không thích hợp.”
                “Trông anh căng thẳng và mệt mỏi đủ thứ rồi. Em xin lỗi vì điều đó. Chúng ta từng là bạn bè cơ mà.”
                Khi anh không nói gì, cô nhìn đi chỗ khác, phát ra một tiếng thở khiến cho bộ ngực cô phập phồng rất quyến rũ.
                “Em nghĩ chúng ta không còn là bạn nữa, và có lẽ đó là lỗi của em. Em đã suy nghĩ rất nhiều kể từ lúc em hạ mình trước anh.”
                “Chúng ta không nên nói chuyện đó nữa.”
                “Với anh nói rất dễ, vì anh đâu phải là người đứng trần truồng ở đó.”
                Trong thâm tâm Roland cảm thấy có lỗi với vợ mình.
                “Đó là một sai lầm, và một phần việc đó là do anh đã không nói rõ với em. Em xin lỗi. Anh cũng xin lỗi em. Chúng ta hãy quên đi thôi.”
                “Em không thể quên cho tới khi nào em biết rõ.”
                “Biết điều gì?”
                “Tại sao lại là cô ta mà không phải em? Vậy thôi. Em cần biết tại sao anh muốn ở bên Abigail Lowery - tất cả mọi người đều biết chuyện giữa hai người - mà anh không muốn ở bên em.”
                Roland cũng rất muốn biết, và không chỉ vì gã khách hàng. Anh đã xem bức ảnh Lowery, và thấy cô ấy rất hấp dẫn, chắc chắn rồi. Xinh xắn, có lẽ thậm chí còn rất đẹp. Nhưng bên cạnh cô nàng Sylbie kiều diễm ư? Cô ấy không phải là món bánh anh đào.
                “Anh không biết phải nói với em sao.”
                “Chỉ cần cho em biết sự thật thôi. Cô ấy tuyệt vời khi ở trên giường hơn em sao?”
                “Lạy Chúa.”
                “Đó là chuyện không nên hỏi.”
                Với một cử chỉ nôn nóng, cô hất mái tóc yêu kiều ra sau. “Em không định hỏi, cho dù em rất thắc mắc. Chỉ xin anh nói với em gì đó, được chứ, để em có thể hiểu được?”
                “Cô ấy khiến anh thấy hạnh phúc. Khi anh ở bên cô ấy anh cảm thấy như thể đó đúng là nơi anh có mặt, nơi anh muốn có mặt. Và mọi thứ đều có ý nghĩa. Anh không biết tại sao người này lại phải lòng người kia, Sylbie ạ. Chỉ là cứ vậy thôi.”
                “Anh yêu cô ta ư?”
                “Anh yêu cô ấy.”
                Cô trân trân nhìn mặt bàn một lúc. “Em nhấp một ngụm cà phê của anh được chứ?”
                “Được.”
                Cô cầm lên, nhăn nhó, đặt xuống như cũ sau khi nhấp một ngụm. “Anh lúc nào cũng uống quá ngọt.”
                “Thói quen không tốt.”
                “Anh đã từng yêu em chưa?”
                “Anh từng muốn em. Có những lúc anh khao khát em như thể anh đang chết đói. Lần đầu tiên, chúng ta đều còn quá trẻ nên chưa hiểu biết. Lần thứ hai ư? Có lẽ cả hai chúng ta đều cùng cố gắng biết. Anh không thể làm cho em hạnh phúc. Em cũng không thể làm cho anh hạnh phúc. Và mấy chuyện thực sự liên quan cũng nào có ý nghĩa gì.”
                “Ân ái có mà.”
                Anh hơi bật cười. “Được rồi, về chuyện đó thì em đúng. Nhưng chuyện ân ái, dù có hay đến mấy, đâu phải là sự khởi đầu, kết thúc hay toàn bộ vấn đề.”
                “Em nghĩ mình đã lường được điều đó sau cuộc lỵ hôn đầu, nhưng chắc em đã không làm được. Và lần thứ hai... em chưa bao giờ muốn trở thành một phụ nữ từng ly hôn hai lần.” Cô ngoảnh đi nhìn đăm đăm ra ngoài ô cửa sổ lớn. “Nhưng em lại như vậy.”
                “Có lẽ em nên nghĩ đấy là hai lần kết hôn. Anh thấy những người kết hôn nhiều hơn một lần đều là những người lạc quan.”
                “Lạc quan.” Với nụ cười nửa miệng, cô đẩy cốc cà phê về lại phía anh. “Nghe ổn hơn là một kẻ thua cuộc.”
                “Em không phải kẻ thua cuộc, Sylbie.”
                “Em sắp hẹn hò Grover.”
                “Em... ôi.” Brooks nhấc cốc cà phê của mình, uống một ít. “Chà.”
                “Em biết. Anh ấy không phải loại người em thường nhắm đến. Anh ấy không điển trai, và anh ấy còn hơi phệ. Nhưng ở anh ấy có sự ngọt ngào rất riêng. Anh cũng vậy, nhưng em không cảm nhận được rõ ràng. Em cảm nhận rõ ràng điều đó ở anh ấy. Bọn em chưa ngủ với nhau, nhưng em cảm thấy ổn khi em ở bên anh ấy. Em cảm thấy tốt hơn về chính mình. Em đoán bọn em là bạn bè theo cách mà anh và em chưa bao giờ có được.”
                “Vậy tốt quá.”
                “Anh ấy làm cho em hạnh phúc, điều em không nghĩ mình có được. Em nghĩ em sẽ biết được liệu mình có hạnh phúc không.”
                “Anh mong em hạnh phúc.”
                “Em cũng mong anh vậy.” Cô đi ra. “Em không nghĩ mình đã sẵn sàng chúc phúc cho anh với Abigail Lowery, nhưng em làm được vậy rồi.”
                “Bắt đầu vậy là tốt rồi.”
                “Em sẽ gặp anh sau.”
                Cô hối hả đi ra. Roland quyết định rằng mình có rất nhiều việc cần làm, nhưng vì anh đã ăn xong suất bánh nên anh cần thực hiện ở chỗ khác. Dù sao, anh chàng Gleason cũng sắp ra về, đặt tiền trên mặt bàn để trả cho cốc cà phê.
                Có lẽ anh sẽ lái xe về phía nhà Lowery, tìm hiểu về nơi đó.
                ***
                Giải lao một chút sau lúc làm việc, Abigail lướt qua một lượt các công thức món ăn trên mạng. Việc đó khiến cô bớt lo lắng. Gần như khiến cô không còn lo lắng. Cô biết Brooks rất muốn nói chuyện về những dự định tiếp theo khi anh đến đây. Cô lo lắng về những thứ mà anh nghĩ sẽ xảy ra.
                Cho nên cô làm việc, giặt giũ, nhổ cỏ trong vườn, làm việc, xem các công thức nấu ăn. Dường như cô không thể ngồi yên, tập trung vào một việc cho tới khi cô hoàn thành.
                Không còn là cô nữa.
                Cô mong anh đến.
                Cô mong mình được một mình.
                Cô mong mình biết những gì mình thực sự mong ước. Cô ghét cái tình trạng do dự này, cái tâm trạng bồn chồn gặm nhấm. Chẳng được tích sự gì.
                Khi hệ thống báo động của cô lên tiếng, cô xoay ghế, đinh ninh rằng việc kể với Brooks - kể với bất kỳ ai - câu chuyện ấy sẽ đưa bọn Volkov tới cửa nhà cô.
                Phi lý. Thực ra là kỳ cục, cô thừa nhận, nhưng tim cô vẫn đập thình thịch khi cô nhìn thấy một người đàn ông đội mũ hiện ra trên màn hình của mình.
                Máy ảnh rất tốt, cô nhận ra ngay. Đôi giày cao cổ thấy đã sờn. Một cái ba lô.
                Một người đi bộ hay du khách đi lang thang đúng đất của cô, bất chấp đã có biển thông báo. Có lẽ là vậy.
                Khi anh ta rút ống nhòm ra, chĩa thẳng vào căn nhà gỗ của cô, tâm trạng lo ngại càng tăng.
                Gã là ai? Gã đang làm gì?
                Đang tiến lại gần. Gần hơn nữa.
                Anh ta lại dừng bước, lia cặp ống nhòm nhỏ gọn một lượt, xoay thật chậm cho tới khi Abigail thấy dường như anh ta đang nhìn chòng chọc thẳng vào một chiếc máy quay. Rồi anh ta lại tiếp tục, tiếp tục xoay tròn.
                Anh ta tháo mũ, vuốt sạch tóc trước khi móc ra một chai nước và uống ừng ực. Thò tay vào túi, anh ta móc ra một chiếc la bàn, bước một bước, vấp chân. Anh ta lần mò tìm chiếc la bàn, đánh rơi nó. Cô nhìn thấy mồm anh ta cử động khi anh ta vớ được nó, nhặt vội nó lên khỏi mặt đất.
                Anh ta lắc nó, ngửa mặt lên nhìn trời, sau đó ngồi xuống đất, gục đầu xuống gối.
                Anh ta cứ nguyên như thế một lúc rồi mới đứng lên. Anh ta lau mặt, rồi tiếp tục đi về phía căn nhà gỗ của cô.
                Sau khi kiểm tra súng ống, Abigail dắt chó ra ngoài, đi vòng quanh.
                Cô nghe rõ tiếng anh ta đến gần. Cách tiếp cận của anh ta không có gì vụng trộm, cô nghĩ thầm, và anh ta đang lầm bầm với mình, hơi thở nhanh, nặng nề. Từ bên hông nhà kính cô quan sát anh ta xuất hiện, nghe thấy anh ta nói, rất rõ, “ơn Chúa,” rồi anh ta tiến thẳng về phía cửa sau nhà cô.
                Anh ta gõ cửa, lau mồ hôi trên mặt, chờ đợi. Anh ta lại gõ cửa, mạnh hơn. “Xin chào! Có ai ở đó không? Làm ơn, phải có ai ở đó chứ.”
                Anh ta rời khỏi hiên, khum tay nhìn vào kính cửa sổ.
                Và cô bước ra, chú chó ngay bên cạnh. “Anh muốn gì?”
                Anh ta nhảy bật lên như thỏ, xoay phắt lại. “Ôi trời, cô làm tôi hết hồn...” Đôi mắt anh ta mở to khi nhìn thấy khẩu súng, và hai tay anh ta giơ thẳng lên trời. “Lạy Chúa, xin đừng bắn tôi. Tôi bị lạc. Tôi lạc đường. Tôi chỉ đang tìm đường trở lại chỗ xe hơi của mình.”
                “Anh đang làm gì trong rừng, trên đất của tôi vậy? Có thông báo rất rõ ràng mà.”
                “Tôi xin lỗi. Tôi xin lỗi. Tôi đang chụp ảnh. Tôi là nhiếp ảnh gia. Tôi chỉ đang đi chụp vài bức ảnh, cảm nhận mọi thứ, và tôi mải mê quá nên đi xa hơn dự định. Tôi xin lỗi, tôi không nên phớt lờ những biển báo cấm vượt qua. Cô có thể gọi cho cảnh sát. Chỉ xin đừng bắn tôi. Tôi - tên tôi là Roland Babbett. Tôi trọ trong Quán trọ Ozark. Cô có thể kiểm tra.”
                “Làm ơn tháo ba lô của anh ra, đặt xuống, bước lùi ra xa.”
                “Được được.”
                Anh ta không mang theo súng - cô đã nhìn anh ta xoay trọn một vòng và thừa sức nhận ra súng. Nhưng có thể anh ta giấu súng trong ba lô.
                “Cô có thể giữ cái ba lô,” anh nói lúc đặt nó xuống. “Ví của tôi trong đó. Cô có thể giữ tiền.”
                “Tôi không cần tiền của anh.”
                “Nghe này, nghe này, tôi bị lạc. Tôi đánh rơi la bàn và làm nó bị vỡ. Tôi nhìn thấy ngôi nhà gỗ qua ống nhòm lúc tôi quét một lượt. Tôi chỉ đến nhờ giúp đỡ. Xin hãy gọi cho cảnh sát giúp tôi.”
                “Anh để xe của mình ở chỗ nào?”
                “Nếu biết tôi đã không bị lạc. Tôi không định lừa gạt đâu,” anh ta nói thêm thật nhanh. “Tôi lái xe ra khỏi Bickford, đi về phía nam thị trấn khoảng một dặm, sau đó tôi đi bộ. Ánh sáng rất tốt, cả các bóng râm nữa. Tôi muốn làm vài phát. Ý tôi là ảnh ấy,” anh ta nói, mắt dè chừng nhìn khẩu súng.
                “Anh nên tôn trọng đất tư.”
                “Vâng, cô nói đúng. Tôi rất xin lỗi.”
                Cô chỉ tay. “Nếu anh đi lối đó, anh sẽ ra đến đường. Rẽ trái. Anh sẽ tìm thấy xe mình sau khoảng một phần tư dặm nữa.”
                “Vâng. Cảm ơn cô. Tôi chỉ...”
                “Cấm lấy ba lô của anh,” cô bảo anh ta lúc anh ta vừa rời khỏi hiên mà không mang theo ba lô.
                “Vâng.” Anh ta nhặt ba lô lên, mắt anh ta rời khỏi khuôn mặt cô, hướng về khẩu súng, về con chó. “Cảm ơn cô.”
                “Không có gì.” Cô nhìn anh ta đi khỏi, rất vội vã, cho tới khi anh ta khuất bóng. Trở vào trong nhà, cô tiếp tục nhìn anh ta trên màn hình khi anh ta thất thểu theo con đường cô chỉ ra phía đường cái, cứ vài phút lại ngoái nhìn đằng sau.
                Cô đã làm cho anh ta sợ, cô nghĩ thầm. Chà, anh ta sợ cô. Cô cho rằng như thế cũng phải.
                 
                Roland biết chính xác xe mình đậu ở đâu.
                Anh không ngờ đến khẩu súng. Anh cũng không ngờ đến những chiếc máy quay. Anh nghe nói cô có hệ thống an ninh, bao gồm các máy quay quanh nhà. Chẳng ai đề cập rằng cô còn bố trí tít tận trong rừng.
                Nếu anh không phát hiện thấy một cái thì anh đã làm hỏng việc.
                Cô ấy đã trang bị quy trình làm những người lạc đường chết khiếp. Sao lại không chứ? Anh đã chết khiếp. Cô ấy cầm khẩu Glock giống như người biết cách sử dụng. Như người sẽ sử dụng.
                Anh phải thừa nhận rằng, cho đến giờ anh vẫn chưa làm hỏng việc.
                Còn con chó nữa. Anh có nghe nói về con chó, nhưng trời ạ, nó đúng là to quá chừng.
                Rồi còn những ổ khóa ở cửa sau nữa. Chúng rất chắc chắn, anh ngẫm nghĩ trong lúc nhét ba lô vào ghế sau. Anh rất thạo dùng dụng cụ mở khóa, nhưng anh chưa bao giờ phải dùng đến. Điểm đáng bàn đấy, và anh không thể xử lý được các máy quay, không thể nếu không có đầy đủ trang thiết bị.
                Hệ thống an ninh rất đầy đủ? Quá đủ.
                Công việc giờ thú vị hơn nhiều. Có phải ai cũng có hệ thống an ninh như thế, với con chó to lớn, khẩu Glock, thái độ đó đâu?
                Cô ấy có gì đó phải che giấu. Anh rất thích tìm cho ra những gì người ta muốn giấu giếm.
                #23
                  Thanh Vân 29.11.2023 19:26:38 (permalink)

                  24


                  Brooks bước vào bếp với một bó cúc trắng điểm những nụ vàng tươi và một khúc xương bằng da thô cho Bert.
                  “Anh lại mang hoa cho em.”
                  “Bố anh tuần nào cũng mua hoa cho mẹ một hoặc hai lần, và anh đoán đó là vì hoa làm cho bà cười, giống như em lúc này.”
                  “Em cứ lo rằng mọi chuyện sẽ không ổn khi anh đến tối nay, rằng sẽ cảm thấy khó xử sau tất cả mọi việc. Nhưng anh còn mang cả cúc tới cho em.”
                  “Vậy là em có thể thôi không phải lo lắng nữa.” Cô lấy một chiếc bình, nhưng ước giá như cô có một chiếc lọ nhỏ xinh, và tự nhủ lần sau vào thị trấn sẽ mua một chiếc.
                  “Mỗi lần anh đến đây đều có gì đó rất thơm, thêm em nữa.”
                  “Là mùi hương thảo đấy,” cô bảo anh trong lúc cắm hoa. “Nó rất thơm. Em tìm được một công thức mới cho món gà mà em muốn thử.”
                  “Rất vui được làm người thử khẩu vị cho em.”
                  “Sẽ rất ngon với rượu vang Pouilly-Fumé.”
                  “Nếu em nói như vậy.” Anh vén tóc cô ra sau, rồi rúc mặt vào gáy cô. “Hôm nay em thế nào?”
                  “Em thấy bồn chồn và mất tập trung, nhưng em đã làm xong một số việc. Em còn bị một người lạc đường - một thợ chụp ảnh, xen ngang nữa. Em không hiểu tại sao mọi người lại không chịu tôn trọng các đường ranh giới. Ở đây thiếu gì đất công cộng, đâu cần phải xộc vào đất tư.”
                  “Đứng núi này trông núi nọ mà. Anh ta vào tận nhà à?”
                  “Vâng. Anh ta kích hoạt hệ thống báo động, và em thấy anh ta trên màn hình. Anh ta đánh rơi và làm vỡ la bàn, và rồi nhìn thấy căn nhà gỗ qua ống nhòm.”
                  Brooks dừng lại lúc đang rót rượu vang dở chừng. “Ống nhòm à?”
                  Cô xem thử món gà. “Vâng. Em thắc mắc không biết anh ta có nhìn thấy máy quay qua đó không, nhưng rõ ràng anh ta tìm đường, hoặc cần giúp đỡ. Em ra ngoài, vòng qua lối nhà kính, cho nên em xuất hiện sau lưng anh ta.”
                  “Em ra ngoài, khi có một gã lạ mặt mò đến nhà mình à?”
                  “Em biết cách tự lo cho mình mà. Em vẫn làm việc đó suốt một thời gian dài, anh nhớ không? Anh ta chỉ có một mình. Em có súng và Bert. Anh ta gõ cửa, gọi ầm lên. Và anh ta rất cuống khi em bước ra, cầm súng.”
                  Brooks rót cho xong rượu, uống một ngụm lớn. “Rồi, anh hiểu chuyện đó.”
                  “Em chẳng ngại làm anh ta sợ. Anh ta không nên xông vào khu vực đã có biển báo. Em hỏi qua anh ta, sau đó chỉ đường cho anh ta chỗ anh ta đậu xe, nếu như anh ta kể chính xác. Anh ta chuồn lẹ luôn.”
                  “Một phụ nữ có súng với một con chó to? Anh ta có là ngốc mới không làm vậy. Anh ta làm gì ở đây?”
                  “Chụp ảnh. Anh ta nói tên anh ta là Roland Babbett, và anh ta đang ở khách sạn của nhà Conroy.”
                  “Như thế dễ kiểm tra thôi.” Brooks rút điện thoại di động. “Trông anh ta thế nào?”
                  “Hơn ba mươi. Cao khoảng một mét tám, nặng tầm hơn bảy mươi cân. Nước da vừa phải, tóc nâu sáng, mắt nâu, cằm chìa. Anh ta đội mũ lưỡi trai nâu có biểu trưng Greenpeace, áo phông đen có tên nhóm nhạc R.E.M, quần lửng vải kaki và giày cao cổ đi bộ. Anh ta có một cái ba lô hải quân, và một máy ảnh Nikon có quai đeo. Cái quai có những biểu tượng hòa bình nhiều màu bên trên.”
                  “Ừ, em sẽ là một cảnh sát giỏi đấy,” Brooks đáp. “Hôm nay anh đã nhìn thấy anh ta ở quán ăn rồi. Bánh anh đào.”
                  “Nghĩa là sao?”
                  “Không có gì. Chỉ tò mò chút. Anh ta đến đây lúc mấy giờ?”
                  “Còi báo động kêu lúc bốn giờ mười tám.”
                  “Ồ, thế thì kỳ lạ đấy. Anh gặp anh ta ở quán ăn trong thị trấn lúc gần bốn giờ. Chưa đầy nửa tiếng sau, anh ta đã ở đây.”
                  Tay cô nắm chặt lấy chân ly rượu của mình. “Anh nghĩ chúng đã tìm ra em.”
                  “Cưng à, trông anh ta có giống mafia Nga không? Và phong cách của chúng lẽ nào chỉ là thuê một gã nào đó lảng vảng tìm kiếm trong khu rừng của em sao?”
                  “Không.” Vai cô thấy nhẹ nhõm hẳn. “Anh ta không có vũ khí. Ít ra thì anh ta không mang vũ khí. Nhà Volkov sẽ không phái đến lẻ loi một người tay không vũ khí.”
                  “Anh nghĩ đó là một ván cược an toàn.” Nhưng anh thấy cần phải đề phòng, và ấn một số điện thoại trên di động của mình. “Chào, Darla, thế nào? Ừ, mấy đợt rét vào dịp xuân có thể đáng kể đấy. Em nghỉ một chút đi. Phải, chính thời điểm đó đấy, được rồi. Được rồi, em có tên vị khách Roland Babbett nào đến nhận phòng không? Không sao. Ừ, hừm. Cần các kiểu, phải không? Ừ.” Anh đảo mắt ra hiệu với Abigail. “Phải, Roland Babbett. Anh ta ở phòng nào? Nào, Darla, anh có phải là kẻ cha vơ chú váo nào dò hỏi đâu. Anh là cảnh sát trưởng. Anh chỉ đang theo sát một việc thôi. Em biết anh có thể gọi cho Russ và hỏi cơ mà. Ừ. Thế à? Hừm-hừm. Không, không có chuyện gì, chỉ là một việc thường lệ thôi. Nhớ cẩn thận với đợt rét đó nhé, nghe chưa? Tạm biệt.”
                  Anh lại nhấc ly rượu lên. “Darla có xu hướng hơi nhiều lời. Đúng là anh ta ở đó đấy. Lấy một phòng - đòi thì đúng hơn - ngay dưới sảnh không xa buồng Ozark.”
                  “Cái phòng thằng Justin Blake và bạn nó phá phách hả?”
                  “Chính thế. Không lạ sao khi anh gặp tay Babbett này trong thị trấn, rồi anh ta mò đến đây, có máy ảnh và ống nhòm, và anh ta ở ngay gần cái phòng đặc biệt đó phải không?”
                  “Có thể là trùng hợp, nhưng cũng rất giống có sắp đặt.”
                  “Có sắp đặt là chuẩn đấy. Do gã Blake sắp đặt.” Tì một hông vào quầy bếp, anh nhấc ly rượu vang của mình lên. “Em cược gì nếu anh chỉ tìm hiểu sơ sơ là biết rằng Roland Babbett là một thám tử tư được trả giá rất cao?”
                  “Em nghĩ em sẽ thắng cược. Anh ta có trông thấy máy quay, và anh ta suy nghĩ rất nhanh, vờ bị lạc đường.” Lừa bịp mình, cô nghĩ bụng, cảm thấy vô cùng bực tức. “Nhưng em chưa hiểu anh ta được gì khi mò đến đây.”
                  “Đi dò la đó mà. Kiểm tra cơ ngơi của em ở đây, cảm nhận một chút. Hôm nay anh ta gặp may, phát hiện ra một máy quay của em, tận dụng luôn nó để tiếp xúc. Anh đoán chắc cách tiếp đón của em làm anh ta hơi hốt một chút, nhưng xét cho cùng, anh ta lại cần như vậy. Anh ta đã trò chuyện, đã nhìn thật gần. Lúc chiều cũng y như vậy khi anh tình cờ bước vào uống cà phê lúc anh ta có mặt ở quán. Anh ta ngồi đó, ăn bánh, và quan sát, và... chết tiệt.”
                  “Sao vậy anh?”
                  “Anh cược là anh ta cũng rất thính tai. Anh cược là anh ta đã gần như nghe được từng lời trò chuyện giữa anh với Sylbie. Anh không chủ động muốn nói chuyện,” anh nói thêm, khi thấy Abigail không nói gì. “Và giờ thì anh hiểu rằng có sai lầm rồi, bởi vì, theo anh nghĩ, đó là cuộc trò chuyện quan trọng. Và có nhắc đến em trong đó.”
                  “Anh nói về em, với cô ấy?”
                  “Giọng điệu như thế, ánh mắt như thế của em khiến anh chẳng muốn kể nữa.”
                  “Em không biết ý anh là gì.” Cô quay đi để cho số đậu xanh cô mua từ trước và đã sơ chế vào lò để hầm. “Em đâu có giọng điệu gì.”
                  “Giọng ấy của em cắt được cả gạch đấy. Nhưng anh chẳng sợ.” Anh chẳng ngại che giấu nụ cười của mình lúc huých nhẹ vào sống lưng cô. “Nói nịnh đấy.”
                  “Em không cần nịnh bợ. Em chẳng quan tâm chuyện anh nói về em với... tình cũ của anh.”
                  “Tình yêu là điều mà Sylbie và anh chưa bao giờ có. Cô ấy vào lúc anh đang uống cà phê, và cô ấy ngồi luôn xuống. Một phần để xin lỗi chuyện đó, bọn anh nói về cái sự cố không may hồi tháng Ba. Sau đó là một câu hỏi. Cô ấy muốn biết tại sao lại là em chứ không phải cô ấy.”
                  Ngẫm nghĩ một lát, Abigail lấy món gà ra khỏi lò. “Đó là một câu hỏi chính đáng với cô ấy. Đó là những gì anh nghĩ. Còn từ phía em, câu ấy vừa vụng vừa khó chịu. Một người như cô ấy quá quen với việc có được bất kỳ ai cô ấy muốn, và sẽ chẳng coi em, nói rất công bằng, ngang với mình. Tuy nhiên sự thật là em vẫn thấy khó chịu. Anh nịnh bợ vì em khó chịu, và điều đó chỉ càng làm em khó chịu thêm.”
                  “Trước khi em hậm hực nữa, em có muốn biết anh đã nói gì với cô ấy không?”
                  “Anh nói gì trong một cuộc trò chuyện riêng thì đâu có phải là việc của em.” Cô lấy đĩa ra, đặt mạnh xuống. “Vâng, em muốn biết.”
                  “Anh bảo cô ấy rằng khi anh ở bên em, anh thấy rất ổn. Có cảm giác như anh được ở đúng nơi dự định dành cho mình. Tất cả đều rất có ý nghĩa. Anh nói anh không biết tại sao một người lại yêu người khác, chỉ là cứ vậy thôi.”
                  Cô quay lại, mắt nhìn thẳng vào anh. “Anh nói với cô ấy là anh yêu em.”
                  “Phải, bởi vì đúng như vậy.”
                  “Em bớt bực rồi đấy.”
                  “Tốt quá. Cứ thẳng thắn thôi. Anh không muốn trò chuyện với cô ấy, nhưng sau khi nói xong, anh thấy thế lại hay. Anh nghĩ bọn anh hiểu nhau hơn trước đó, và như thế sẽ làm cho cả hai bọn anh thoải mái hơn.”
                  “Cũng sẽ thoải mái hơn cho em nếu cô ấy không có ngoại hình như vậy. Như thế thật nhỏ nhen. Em không thích mình nhỏ nhen và hời hợt.”
                  “Vì anh lớn lên cùng hai chị gái, anh có thể nói chắc rằng cô ấy cũng nghĩ về em y như thế. Nhưng điều anh muốn nói là tay Roland Babbett này đã nghe lỏm được.”
                  “Thế thì có ích gì cho các cáo buộc đối với thằng Justin Blake đâu, nếu thực tế Babbett đúng là một thám tử tư làm việc cho bố thằng Justin.”
                  “Đúng vậy, nhưng nó là nhiên liệu. Giống như việc em mang theo súng và có hệ thống an ninh mức cao cũng là nhiên liệu. Những thiện ý ấy của em sẽ đứng vững được đến đâu nào?”
                  “Hồ sơ và lý lịch hiện có của em sẽ vượt qua được quá trình kiểm tra chuẩn mực của cảnh sát. Sẽ chẳng có lý do gì để nghi ngờ chúng cả.”
                  “Thám tử tư thì không phải là cảnh sát,” Brooks nói.
                  “Em tin chúng sẽ vượt qua được kỳ kiểm tra ngặt nghèo. Em chưa bao giờ gặp rắc rối gì.”
                  “Thậm chí bị bắt, bị đưa đi thẩm vấn?”
                  “Không, nhưng em thường xuyên bị khách hàng kiểm tra trước khi ký hợp đồng. Do tính chất nhạy cảm của công việc, và mức tiền công của em, nên hồ sơ và giấy tờ chứng thực của em được bất kỳ khách hàng mới nào kiểm tra rất kỹ.”
                  “Thế thì tốt.” Anh gật đầu hài lòng. “Rất hay biết được điều đó. Điều anh lo ngại, và chỉ là lo ngại ở thời điểm này, là tay Babbett này không làm việc cho một khách hàng muốn thuê em, mà là kẻ đang tìm kiếm chuyện bẩn thỉu, tìm kiếm kiểu gì đó để có thể lợi dụng nhằm hạ uy tín hay đe dọa em.”
                  “Chắc tay Babbett đó phải rất có nghề, và rất quyết tâm.”
                  “Có lẽ chúng ta sẽ cần phải thận trọng.”
                  “Anh có thể dọa anh ta. Anh có quyền và vũ khí. Anh có thể đối diện với anh ta, dọa anh ta và buộc anh ta phải cuốn xéo.”
                  “Anh có thể làm vậy, nhưng việc đó sẽ có chiều hướng làm anh ta thêm tò mò một khi đã ra đi. Trừ phi anh có một đòn bẩy. Em không muốn ra đi.”
                  “Chúng ta sẽ không để chuyện đó xảy ra.”
                  Cô không thích tình huống căng thẳng mới này, điều phức tạp không đáng có này chẳng liên quan gì tới nhà Volkov. “Giá như em ở yên trong nhà, không trả lời khi nghe gọi cửa, hoặc đơn giản là chỉ dẫn cho anh ta thì...”
                  “Anh không nghĩ như thế sẽ khác đi. Anh ta làm việc. Những gì chúng ta sẽ làm - hoặc em sẽ làm, việc mà em làm nhanh hơn và cừ hơn - là tìm ra những gì có thể liên quan đến anh ta. Xem xem chúng ta đương đầu với hạng người nào ở đây. Trong khi đó... anh sẽ mượn một số máy quay của em.”
                  “Tại sao?”
                  “Đề phòng thôi. Nếu Sở cảnh sát Bickford mượn một số thiết bị của em trong một hai ngày có được không?”
                  “Vâng.” Cô rút một chùm chìa khóa ra khỏi túi. “Anh cứ mượn thứ gì anh muốn.”
                  “Cảm ơn em. Anh sẽ bảo Ash hoặc Boyd đến và lấy đi, nếu được vậy. Anh cần gọi vài cuộc để thực hiện bước đề phòng đó.”
                  “Vâng. Em phải nấu cho xong bữa.” Hy vọng việc đó sẽ làm tâm lý cô ổn định. “Em không muốn làm rau nhừ toét.”
                  Cô phải làm việc gì đó, cứ làm gì đó, như vậy mới không vướng vào tâm trạng hoảng hốt. Nếu cô làm những việc thông thường - cho thêm húng tây và bơ vào món đậu xanh, rưới nước sốt rượu vang lên thịt gà, bày lên đĩa kèm với khoai tây chiên - cô có thể có được cảm giác bình thường.
                  Cô đã chuẩn bị và bày biện bữa ăn rất ngon mắt, nhưng cô vẫn không sao bình tâm được một chút.
                  Cô có một kế hoạch dự phòng. Cô luôn như vậy. Tất cả những tài liệu cô cần để tạo nhân dạng tiếp theo đều ở trong phòng an toàn của cô, khóa kỹ. Chờ đợi.
                  Nhưng cô không muốn dùng đến chúng, không muốn lại trở thành ai đó khác. Điều đó nghĩa là cô phải đấu tranh để bảo vệ con người mình lúc này. Những gì cô đang có.
                  “Nếu tay thám tử này có nghề và quyết tâm, anh ta vẫn phải mất thời gian mới lật tẩy được lý lịch và hồ sơ của em,” cô nói. “Em cần thêm thời gian để lên kế hoạch và tiến hành liên lạc với Đặc vụ Garrison.”
                  “Cô ấy ở Chicago à?”
                  “Em muốn ai đó ở Chicago, nơi nhà Volkov đóng đô. Chị ấy sẽ có động lực hơn, và khả năng tiếp cận lớn hơn. Thời gian phản hồi của chị ấy sẽ nhanh hơn, một khi chị ấy thấy tin vào thông tin của em.”
                  “Suy nghĩ rất thấu đáo.”
                  “Nhưng em sẽ phải lên kế hoạch tiếp cận theo đường khác, bởi nếu liên hệ trực tiếp, theo nghĩa vụ chị ấy sẽ bắt giữ em. Nếu điều đó xảy ra, em không tin mình sẽ có thời gian hay cơ hội để chứng tỏ mình trong sạch trước khi bị thủ tiêu.”
                  Anh đi tới, cầm lấy hai tay cô. “Em sẽ không bị bắt giữ, và em hãy tin chắc rằng mình sẽ không bị thủ tiêu. Nhìn anh đây. Giúp em thì chuyện gì anh cũng sẽ làm. Và anh đã suy nghĩ đến các lựa chọn và phương pháp.”
                  “Em đã cân nhắc việc gửi cho Đặc vụ Garrison một email vào tài khoản cá nhân của chị ấy, cho chị ấy biết em là ai, kể lại toàn bộ câu chuyện, mọi chi tiết. Em có thể làm ẩn tung tích của lá thư ấy như đã làm với dữ liệu em gửi cho chị ấy, và sẽ không thể lần ra được. Nhưng nó có thể lọt ra ngoài. Nếu thông tin em gửi cho chị ấy rơi vào tay kẻ khác, nhà Volkov sẽ biết em không chỉ còn sống...”
                  “Ilya Volkov đã trông thấy em. Chúng biết em còn sống.”
                  “Chúng biết em còn sống năm năm trước ở New York. Em có thể đã gặp tai nạn hoặc bị một căn bệnh chết người.”
                  “Cũng được, hơi mong manh, nhưng chấp nhận được.”
                  “Chúng cũng sẽ biết em đã truy cập vào tài khoản của chúng, hệ thống điện tử của chúng, và cung cấp thông tin cho FBI. Lẽ dĩ nhiên, chúng sẽ có các bước để chặn không cho em truy cập, như thế em lại mất thời gian và công sức. Chúng cũng cẩn thận hơn với những gì gửi trên email. Nhưng hơn thế, điều đó sẽ làm chúng nổi điên, và càng ra sức tìm kiếm để thủ tiêu em. Chúng có đội ngũ kỹ thuật viên rất giỏi. Một phần thu nhập của chúng lấy từ những trò gian lận trên máy tính, đánh cắp thông tin tài khoản.”
                  “Em còn giỏi hơn đám kỹ thuật của chúng mà.”
                  “Vâng, em giỏi hơn thật, nhưng em cũng đã mất rất nhiều thời gian nghiên cứu và lập trình, vượt tường lửa, tránh được các hệ thống cảnh báo. Làm lại việc đó phải cần thời gian, nhất là với hệ thống an ninh mới hơn, mạnh hơn. Nếu ở vị thế của chúng, em sẽ giăng bẫy. Nếu em mắc sai lầm, chúng có thể lần ra em. Thời gian, lại lần nữa, là rất quan trọng. Nếu và khi em liên hệ với FBI, quy trình giải quyết Keegan và Cosgrove, vạch mặt những kẻ tay trong khác, bắt giữ Korotkii, Ilya. Tất cả những việc sẽ phải diễn ra thật nhanh.”
                  “Giống như hiệu ứng domino,” anh gợi ý.
                  “Vâng, đổ hết một lượt. Nói chung, bộ máy quan liêu không vận hành kịp thời bao giờ cả. Và trước khi quy trình có thể bắt đầu thì đặc vụ kia, cấp trên của chị ấy, sẽ phải tin tưởng em.”
                  “Họ sẽ như vậy.”
                  “Lời nói của một kẻ trốn chạy, bị nghi ngờ ít nhất là đã giết hoặc chắc chắn có gây ra cái chết của hai Cảnh sát Tư pháp Hoa. Trái ngược với lời khai của hai Cảnh sát Tư pháp khác, một trong số đó còn được vinh danh và thăng chức nữa chứ.”
                  Anh dùng tay mình ấp lấy bàn tay bồn chồn của cô. “Lời một phụ nữ mà khi ở tuổi mười sáu đã cung cấp cho họ thông tin về một sát thủ xã hội đen hạng nhất một cách dễ dàng. Họ mới là những người đáng trách.”
                  “Anh có phần thiên kiến vì anh yêu em.”
                  “Anh yêu em, nhưng anh cũng có bản năng rất tốt. Em nghĩ FBI, Cảnh sát Tư pháp, Sở cảnh sát Chicago sẽ không tìm cách tiêu diệt tổ chức Volkov ư? Họ sẽ làm việc với em đấy, Abigail.”
                  Phải cố lắm cô mới không rút tay khỏi tay anh. “Có phải anh đang đề nghị em tin họ sẽ bảo vệ em không?”
                  “Không. Anh đề nghị em tin vào chính mình, và anh nữa, để làm việc đó.”
                  “Em nghĩ mình có thể làm được.”
                  “Vậy thì những gì chúng ta cần, trước hết, là một người trung gian.”
                  “Em không hiểu.”
                  “Ai đó nói chuyện thay em, đứng ra liên lạc và mở cửa dẫn tới các cuộc thương thuyết.”
                  “Anh không thể...”
                  “Phải,” anh đồng ý, lúc cô chưa nói xong. “Anh không thể. Anh quá thân cận với em, về mặt tình cảm và địa lý. Họ sẽ kiểm tra người trung gian. Nhưng họ không có lý do gì để liên hệ anh - hoặc em - với đội trưởng cũ của anh ở Sở cảnh sát Little Rock.”
                  “Em không biết ông ấy.”
                  “Anh biết. Cứ nghe anh đây. Đại úy Joseph Anson. Em có thể tìm hiểu ông ấy. Đó là một cảnh sát đáng tin cậy, đã được khen thưởng, một người có thâm niên hai mươi lăm năm. Ông ấy có một vợ - người đầu tiên và duy nhất - hai con. Ông ấy là một chỉ huy tốt, một cảnh sát giỏi. Tuân thủ pháp luật cực nghiêm túc, nhưng chưa đến mức không thể phớt lờ vài thứ nếu đó là điều đáng làm. Ông ấy rất được tin tưởng và nể trọng ở sở. Lại gan góc nữa.”
                  Cô đứng dậy, đi tới cửa sổ để ngẫm nghĩ. Một đầu mối trung gian là rất đúng, sẽ tạo ra một lớp đệm hợp lý. Nhưng...
                  “Tại sao ông ấy phải tin em chứ?”
                  “Ông ấy sẽ tin em.”
                  “Cho dù đúng như vậy thì lý do gì đặc vụ Garrison lại tin ông ấy?”
                  “Vì lý lịch của ông ấy, những gì ông ấy làm, bởi vì ông ấy sạch. Bởi vì ông ấy không có lý do gì để nói dối. Ông ấy chỉ còn vài năm là đủ ba mươi năm, đến tuổi về hưu. Tại sao ông ấy phải mạo hiểm điều đó bằng việc nói dối nhân viên liên bang chứ?”
                  Cô gật đầu, đã hiểu ra logic vấn đề. “Nhưng tại sao ông ấy lại mạo hiểm can dự vào vụ này?”
                  “Bởi vì ông ấy là người tốt, và là một cảnh sát tốt.” Brooks đứng lên, đi tới bên cô. “Bởi vì ông ấy có hai đứa con gái, và nếu ông ấy không hình dung được tình cảnh khi chúng ở vào vị trí của em, thì anh sẽ nhét điều đó vào trong đầu ông ấy.”
                  “Anh đề nghị em tin tưởng một người em không hề biết, và chưa hề gặp mặt.”
                  “Anh biết, và đừng có nghĩ anh không hiểu chuyện đó. Nếu em thấy không thể làm vậy, chúng ta sẽ tìm cách khác.”
                  Cô lại quay ra phía cửa sổ. Những khoảnh vườn của cô đang phát triển rất tốt. Cuộc sống của cô rất suôn sẻ, thực sự như vậy, trong năm qua. Nhưng thực ra cũng chẳng có gì phát triển cho tới khi cô mở cửa với Brooks.
                  “Anh có tin ông ấy bằng cả sinh mạng mình không?”
                  “Anh dám làm vậy. Giờ em là cuộc sống của anh cơ mà.”
                  “Ôi trời, anh nói như vậy và em cảm thấy em sẽ héo mòn nếu em để mất những gì em đã tìm thấy khi có anh. Anh làm cho em muốn đánh đổi sự yên tĩnh này, Brooks ạ, và em từng nghĩ cuộc sống yên tĩnh này là tất cả những gì em muốn.”
                  “Em không thể cứ trốn chạy mãi, Abigail.” Ôm lấy hai vai cô, anh xoay cô đối diện với anh. “Em không thể cứ khép mình mãi được.”
                  “Em từng nghĩ em có thể làm vậy, nhưng không phải, em không thể. Anh sẽ làm điều đó thế nào đây?”
                  “Anh lái xe đến Little Rock. Chúng ta không thể mạo hiểm gọi điện thoại hay gửi email. Phải gặp mặt trực tiếp, không chỉ để xóa dấu vết mà còn vì Anson là kiểu người muốn gặp mặt trực tiếp. Anh có thể tới đó trong chưa đầy hai tiếng, đề cập việc này, quay trở về trước buổi sáng.”
                  “Ngay tối nay ư?”
                  “Sao lại phải chần chừ chứ? Có một tay thám tử tư mà anh tin chắc đang cắm đầu vào laptop của gã ngay lúc này, lùng sục tìm kiếm thông tin. Chúng ta có lợi thế, tại sao lại bỏ phí chứ?” Anh đứng lên. “Em lấy laptop hoặc iPad của em đi. Tìm hiểu về ông ấy trên đường đi. Nếu em thấy không hài lòng, chúng ta vòng trở lại.”
                  “Anh muốn em đi cùng à?”
                  “Muốn chứ. Trong trường hợp này anh muốn ông ấy trông thấy em, nghe tiếng em. Anh muốn em nói với ông ấy đúng như em kể với anh. Em sợ hãi. Anh không trách em.” Anh nắm lấy cánh tay cô. “Em muốn thêm thời gian, phân tích, tính toán, vạch ra mọi chi tiết chứ gì. Nhưng đó không phải là những việc em làm khi em thoát ra khỏi nhà an toàn đó. Đó không phải là những việc em làm ở New York khi chúng đuổi theo em. Em làm theo bản năng, và em thắng chúng.”
                  “Em đi lấy căn cước thay thế của em, và tiền nữa. Cả túi đồ khẩn cấp của em. Nếu việc này sai lầm, em không thể quay trở lại đây nữa.”
                  “Nếu sai lầm, anh sẽ đi cùng em.”
                  “Em hiểu. Ý anh là giờ thì...”
                  “Giờ chúng ta là một cặp. Em hãy lấy bất kỳ thứ gì em nghĩ em cần đến.”
                  “Em muốn đưa cả Bert theo.”
                  Giờ anh mỉm cười. “Anh sẽ không để mọi chuyện khác đi đâu.”
                  ***
                  Anh lái xe của cô. Xóm giềng sẽ không nghĩ nhiều về chuyện một chiếc SUV có mặt ở nhà Anson, nhưng họ sẽ nhớ một chiếc xe tuần tra của cảnh sát Bickford khi bị tra hỏi.
                  Trong lúc anh lái xe, Bert làm cái việc mà lũ chó vẫn làm khi ở trên xe hơi, thò đầu ra khỏi cửa sổ đằng sau với bộ mặt ngây thộn, còn Abigail làm việc trên máy tính.
                  “Đại úy Anson của anh có lý lịch rất tuyệt.”
                  “Ông ấy là một cảnh sát tốt.”
                  Lợi thế hay bất lợi đây? Abigail băn khoăn.
                  “Nếu ông ấy đồng ý giúp, anh sẽ biết liệu ông ấy có nói sự thật hay không à?”
                  “Đúng. Cứ tin anh.”
                  “Em tin.” Cô nhìn ra cửa sổ ngắm khung cảnh lờ mờ. “Hơn bất kỳ ai khác em tin tưởng trong cả chục năm. Nếu việc này suôn sẻ, và những người khác tin em, sẽ đi đến những vụ bắt giữ, xét xử, lời chứng của em. Và có thể có những hậu quả. Anh phải hiểu điều đó.”
                  “Chúng ta có thể làm như thông thường, mặc kệ chúng. Và cả hai chúng ta - anh nghĩ cả hai chúng ta - sẽ chẳng bao giờ cảm thấy hoàn toàn ổn thỏa với chuyện đó. An toàn hơn, nhưng không hoàn toàn ổn thỏa.”
                  “An toàn suốt một thời gian dài thế là đủ rồi.” Cô nhìn lại anh, vẫn thắc mắc làm thế nào một người lại có thể làm thay đổi tất cả mọi thứ như vậy. “Không phải bây giờ nữa. Nhưng sẽ vẫn không đủ để phá tan tổ chức của nhà Volkov đâu, chỉ gây thiệt hại cho chúng thôi. Để ổn thỏa và an toàn, chúng ta phải tiêu diệt chúng.”
                  “Ta đang làm điều đó đây.”
                  “Em có vài ý tưởng. Nhưng không phải tất cả đều hợp pháp.”
                  Cô nhìn nụ cười xuất hiện trên mặt anh. “Anh đâu lạ chuyện đó. Em có suy nghĩ gì nào?”
                  “Em đang thực hiện một việc, nhưng em cần hoàn chỉnh thêm một chút. Nó liên quan đến kỹ thuật.”
                  Anh liếc mắt, và nhìn xuống máy tính của cô. “Chiến tranh mạng đây mà.”
                  “Em định vậy. Đúng, chiến tranh mạng. Nếu chúng ta tiến hành việc này, em sẽ cần dành thêm thời gian và công sức cho những chương trình em đang phát triển. Trong thời gian đó, nếu sếp cũ của anh đồng ý, anh phải quyết định cách thức thông tin liên lạc. Một khi ông ấy liên hệ với FBI về việc này, họ sẽ theo dõi mọi liên lạc của ông ấy.”
                  “Chúng ta sẽ dừng lại dọc đường, chọn vài cái điện thoại di động trả trước. Như thế sẽ che giấu được trong thời gian tới.”
                  “Nên vậy.”
                  Anh nhoài người, đặt nhẹ tay lên tay cô. “Chúng ta sẽ tìm ra cách.”
                  Cô tin anh. Mọi chuyện thật bất thường, trái với mọi logic, nhưng cô tin anh.
                  Thần kinh của cô căng lên khi Brooks lái xe vào con phố yên tĩnh ở một khu dân cư đẹp. Những hàng cây cổ kính, những bãi cỏ xanh mướt, ánh đèn hắt lên kính cửa sổ.
                  Đại úy Anson có thể bắt giữ cô tại chỗ. Ông ta có thể yêu cầu liên hệ với nhân viên liên bang.
                  Ông ta có thể không ở nhà, và như thế thì đúng là cùng quẫn và có phần thêm căng thẳng.
                  Ông ta có thể...
                  “Thoải mái đi em,” Brooks nói và dừng lại trước một căn nhà nhỏ bé hai tầng có gara liền kề và một cây phong đỏ rất đẹp ở sân trước.
                  “Không thể được.”
                  Anh ngó sang để hai người mặt đối mặt. “Vào hay đi, Abigail? Tùy em chọn thôi.”
                  “Vào, nhưng em không sao thoải mái được.”
                  Nếu cô phải trốn chạy, cô sẽ không cho phép anh theo cô. Cô không cho phép anh từ bỏ cuộc sống, gia đình, thế giới của anh. Cô có một bộ chìa khóa dự trữ trong túi, và có thể thoát ra ngoài và đi, nếu cần. Nếu chuyện đó xảy ra...
                  “Bất kỳ chuyện gì xảy ra, em cần anh biết rằng mấy tuần qua là quãng thời gian tuyệt nhất đời em. Ở bên anh đã làm thay đổi em. Với em chẳng còn gì như cũ được nữa, và em rất vui vì điều đó.”
                  “Chúng ta sẽ chiến thắng vụ này, bắt đầu từ giờ.”
                  “Vâng.” Cô ra lệnh cho Bert ở lại, và ra khỏi xe.
                  Sau khi Brooks đi vòng qua mũi xe, anh nắm lấy tay cô. Cô phải cố hết sức tập trung vào mối liên hệ ấy trong lúc tim cô bắt đầu đập thình thịch.
                  Ánh đèn vẫn sáng qua cửa sổ, và cô có thể ngửi thấy mùi mùa xuân, và mùa hè đang đến gần - mùi cỏ, cây vòi voi, cẩm chướng, vài bông hoa hồng nở sớm. Cô cảm thấy nỗi lo lắng hình thành, như một khối đè nặng trên ngực cô, và nhắm mắt lại để trấn tĩnh một lúc trong khi Brooks gõ cửa.
                  Người đàn ông ra mở cửa có đôi vai rộng và mái tóc đã ngả bạc thưa dần ở thái dương. Ông mặc quần kaki và chiếc áo phông kiểu chơi golf màu xanh dương với cặp kính đọc sách gài trên túi.
                  Chân ông để trần, và ở đâu đó phía sau, Abigail nghe rõ tiếng bình luận về một trận bóng.
                  Mắt ông màu xanh biếc, nghiêm nghị, cho tới khi nụ cười nở trên gương mặt ông.
                  “Chết tiệt, là cảnh sát trưởng Gleason đến nhà tôi cơ đấy.”
                  “Rất vui được gặp sếp, Đại úy!”
                  “Chết tiệt,” Anson lặp lại, sau đó một tay ôm choàng lấy Brooks trong khi nhìn Abigail thăm dò. “Cậu định giới thiệu phu nhân đấy à?”
                  “Tôi là Abigail Lowery, thưa Đại úy Joe Anson.”
                  “Rất vui được gặp cô, Abigail. Trời ạ, Nadine sẽ rất tiếc vì không được gặp hai người đấy. Cô ấy đưa mẹ đi lo chuyện phụ nữ rồi - đến spa - nhân dịp sinh nhật của bà cụ. Đến Chủ nhật cô ấy mới về cơ. Nào, vào nhà đi.”
                  Phòng khách trông rất thoải mái, Abigail nghĩ, dễ chịu, với những bức ảnh gia đình đóng khung đặt trên một cái giá trên tường và những chậu cây trồng trong nhà bố trí trên bậu cửa sổ.
                  “Tôi đang theo dõi trận đấu. Để tôi tắt đi đã.”
                  “Xin lỗi, vì đã làm gián đoạn, ghé thăm đường đột thế này.”
                  “Không sao. Đêm thứ hai tôi ở một mình rồi. Tôi cũng đang chán ngấy đây.” Ông biến vào một góc khuất trong phòng khách. Mấy giây sau, âm thanh tắt ngấm, và một con chó săn giống Labrador Retriever lông vàng già nua theo chân Anson chui ra khỏi ổ.
                  “Nó hiền lắm,” Anson nói với Abigail.
                  “Tôi thích chó. Trông mặt nó rất thông minh.”
                  “Huck rất khôn. Giờ thì lòa hẳn rồi, và cũng điếc nặng, nhưng nó vẫn rất khôn. Sao chúng ta không vào phòng lớn và ngồi xuống nhỉ? Mà ông cụ nhà cậu thế nào, Brooks?”
                  “Ông cụ khỏe. Rất khỏe.”
                  “Thế thì tốt quá. Còn công việc?”
                  “Tôi thấy thích, Đại úy ạ. Tôi thích nơi mình ở và việc mình làm.”
                  “Cậu ấy là một cảnh sát tốt,” Anson nói với Abigail. “Tôi không thích bị tuột mất cậu ấy. Làm một ly bia nhé?”
                  “Tôi không từ chối đâu.”
                  “Tôi cũng vậy,” Abigail nói, rồi nhận ra thật thà quá có khi lại thành thiếu ý tứ. “Ý tôi là tôi muốn dùng một chút nước.”
                  “Chắc chắn rồi. Tôi có nước chanh. Không đến nỗi.”
                  “Thế quá tốt rồi, cảm ơn ông.”
                  Theo hướng dẫn của Anson, họ vào một khu vực nói chuyện kế bên gian bếp thoáng rộng. Phía sau, những cánh cửa kính lớn mở ra một khoảng hiên, nơi cô nhìn thấy gì đó mà cô cho là một bếp nướng rất lớn phủ dưới tấm che màu đen, cùng vài cái ghế và bàn ngoài trời.
                  Khi Anson lấy đồ uống, con chó già lết tới, hít ngửi cô, rồi ghếch đầu lên gối cô.
                  Cô vuốt đầu nó, xoa xoa tai nó.
                  “Nếu nó làm phiền cô, chỉ cần bảo nó ngồi xuống thôi.”
                  “Nó không làm phiền tôi đâu.”
                  “Abigail cũng có một con chó. Rất tuyệt. Bert đang ở ngoài xe.”
                  “Sao các vị lại để nó ngoài đó làm gì? Đón nó vào đi. Chúng ta sẽ cho ông này ra phía sau, để cả hai con làm quen và bầu bạn với nhau.”
                  “Bert sẽ rất thích. Nếu ông cho phép thì tôi sẽ đón nó vào. Tôi ra lệnh cho nó ở lại, để nó không chui ra khỏi xe theo Brooks.”
                  “Cô đi đi, và cứ dẫn nó vòng ra phía sau luôn. Cửa hông ở bên trái ấy.”
                  “Cảm ơn.”
                  Lúc cô đi ra ngoài, Anson đưa bia cho Brooks, hất hất ngón tay cái. “Có chuyện gì vậy, Brooks?” ông hỏi lúc họ bước ra ngoài.
                  “Rất nhiều chuyện.”
                  “Phu nhân của cậu che giấu giỏi lắm, nhưng cô ấy lo lắng đến mức đủ năng lượng để thắp sáng cả thành phố Little Rock đấy.”
                  “Cô ấy có lý do đấy. Tôi đã bảo cô ấy tìm đến đây, đến ông, bởi vì cô ấy cần giúp đỡ. Và bởi vì tôi yêu cô ấy.”
                  Anson thở một hơi dài, uống một ngụm bia lớn. “Cô ấy gặp rắc rối gì vậy?”
                  “Tôi muốn chính cô ấy kể ra, và tôi cần ông nghe cô ấy kể. Toàn bộ. Xin nhờ ông đấy, Đại úy.”
                  “Cô ấy không phải người quanh đây, cũng không phải từ nơi cậu đến.”
                  “Không phải, nhưng giờ Bickford là nhà của cô ấy. Cả hai chúng tôi đều muốn sẽ là như vậy.”
                  Họ nghe thấy tiếng cổng mở ra rồi đóng lại. Đầu Huck nghếch lên - không phải vì nghe thấy tiếng động, Anson biết vậy - mà vì ngửi mùi.
                  Cặp lông mày của Anson nhướng lên khi Abigail đi vòng quanh nhà cùng với Bert.
                  “Một tay điển trai to lớn đấy.”
                  “Nó rất biết điều,” Abigail trấn an ông. “Ami,” cô nói khi Huck run run đi lại đánh hơi anh bạn mới. “Ami. Jouer.”
                  Những cái đuôi ngoáy tít trong không khí, hai con chó hít ngửi nhau. Huck đi đến hàng rào, nghếch một chân lên, Bert làm theo. Rồi chúng vật nhau.
                  “Huck vừa làm thân với chú chó.” Anson đưa nước chanh cho Abigail, ra hiệu mời ngồi. “Brooks nói cô có chuyện muốn kể cho tôi, cô Abigail.”
                  “Vâng. Tôi xin bắt đầu bằng việc nói rõ rằng tên tôi không phải là Abigail Lowery. Chính danh phải là Elizabeth Fitch. Lúc mười sáu tuổi tôi đã chứng kiến một gã tên Yakov Korotkii, là sếp sòng trong tổ chức tội phạm Volkov, giết anh họ của gã là Alexi Gurevich và bạn tôi là Julie Masters.”
                  Anson ngồi xuống. Một lát sau, ông ấy ngó Brooks. “Cậu đã nói là có rất nhiều chuyện.” Rồi ông hướng đôi mắt nghiêm nghị về phía Abigail. “Sao cô không kể cho tôi nghe chuyện đó chứ?”
                  #24
                    Thanh Vân 29.11.2023 19:27:03 (permalink)

                    25


                    Cô không biết ông ấy có tin cô không. Gương mặt ông ấy không thể hiện gì, không ngạc nhiên, không nghi ngờ, không thấu hiểu. Cũng như Brooks, thỉnh thoảng ông ấy ngắt lời bằng những câu hỏi, sau đó chỉ gật đầu để cô tiếp tục.
                    Cô chưa kể xong thì hai chú chó quay trở lại và cả hai đều nằm ườn ra, mệt lử vì đùa nghịch, lúc cô dừng lại.
                    “Tôi vẫn nhớ một số chi tiết những gì cô kể với tôi,” Anson lên tiếng. “Hồi đấy đó là một sự kiện thời sự lớn, đặc biệt trong lực lượng hành pháp. Hai cảnh sát Tư pháp bị giết, một người nữa bị thương, nhân chứng trong một vụ giết người kép liên quan đến băng đảng biến mất. Tên và mặt cô tràn ngập các phương tiện truyền thông cả nước vài tuần liền, và có rất nhiều biên bản liên ngành về cô.”
                    “Vâng, tôi biết.”
                    “Cũng như có hẳn lệnh truy nã vì tội danh bỏ trốn khỏi hiện trường. Một bản mô tả đối tượng. Cô bị tìm kiếm để đặt câu hỏi liên quan đến cái chết của những sĩ quan ấy, và vụ nổ tung nhà an toàn.”
                    Những ngón tay của cô đan vào nhau, siết chặt trên đùi. “Thông tin nội bộ cho biết người ta tin theo lời của Keegan và Cosgrove. Truy nã để thẩm vấn thực ra là một mẹo để buộc cho tôi tội danh giết người, hoặc đồng lõa giết người.”
                    “Làm sao cô biết được thông tin nội bộ?”
                    Không nói gì, Brooks nhoài người, gỡ các ngón tay cô, và đặt tay anh trên tay cô.
                    “Tôi là một chuyên gia máy tính, và chuyên về hệ thống an ninh. Tôi cũng là một hacker.”
                    “Ý cô là cô có thể truy cập vào các tài liệu mật bên trong Cục Cảnh sát Tư pháp Hoa Kỳ và FBI?”
                    “Vâng. Tôi rất có kỹ năng, và đây là ưu tiên với tôi. Cả Keegan và Cosgrove đều khai rằng bọn họ tiến vào, thấy Terry nằm trong bếp và súng không còn. Lúc họ bắt đầu gọi hỗ trợ, họ bị một kẻ nào đó không rõ bắn, và Cosgrove bị một vết thương. Khi Keegan bắn lại, đèn đóm tắt hết. Keegan đưa được Cosgrove ra ngoài, gọi hỗ trợ. Nhưng hắn chưa kịp quay vào cứu Terry, hay tìm tôi hoặc John, thì căn nhà nổ tung. Hắn cũng khai rằng hắn tin đã nhìn thấy ai đó tẩu thoát.”
                    “Thế là gần trọn những gì tôi còn nhớ về vụ đó,” Anson đồng ý.
                    “Một trong những giả thuyết chủ yếu là tôi hoảng loạn, hoặc có lẽ buồn chán, và liên hệ với nhà Volkov để thỏa thuận. Chúng lần theo tôi tới nhà an toàn, và tôi đã đụng độ với Terry khi tôi tìm cách thoát ra. Hoặc tôi hoặc kẻ vô danh có liên hệ với nhà Volkov đã bắn John, nổ súng vào Keegan và Cosgrove, còn tôi hoặc đã thoát ra được trong lúc hỗn loạn hoặc đã bị đưa đi. Sau đó những kẻ ám sát cho nổ tung căn nhà để xóa dấu vết - hoặc chính tôi đã làm vậy.”
                    “Một cô gái mười sáu tuổi hạ gục cả hai cảnh sát Tư pháp và cho nổ tung cả một ngôi nhà.” Brooks lắc đầu. “Thật không thể tin được.”
                    “Một cô gái cực kỳ thông minh được đích thân một trong những cảnh sát Tư pháp dạy về vũ khí, đã yêu cầu và nhận được năm nghìn tiền mặt từ quỹ tín thác của mình, đã làm giả được căn cước, đã có cả một mùa hè trong khi quy trình pháp lý từ từ tiến triển, ngẫm nghĩ về những gì sẽ xảy đến với cô ta một khi cô ta ra làm chứng.” Tính logic với Abigail thật rõ ràng. “Hoàn toàn có lý khi tin rằng cô ấy nổi đóa, tìm cách thoát thân.”
                    “Có lý,” Anson nhận xét, “khi không có gì trái ngược với các lời khai và mạch thời gian, chẳng hạn như một lời khai mâu thuẫn từ một nhân chứng.”
                    “Tôi không tin giả thuyết tôi hạ sát John và Terry, hoặc góp phần giết hại họ, sẽ đứng vững,” Abigail nói với ông. “Nhưng tôi tin nếu tôi xuất hiện, chuyện đó sẽ không thành vấn đề. Tôi sẽ chết trong vòng hai mươi bốn giờ. Việc đó có thể được dàn dựng như một vụ tự tử, nhưng tôi thiên về khả năng thủ tiêu trực tiếp hơn.”
                    “Cô tỉnh bơ khi nói về chuyện đó,” Anson nhận xét.
                    “Tôi đã có nhiều năm nghiền ngẫm những gì chúng định làm với tôi nếu có cơ hội.”
                    “Tại sao giờ cô lại xuất hiện?”
                    Cô nhìn Brooks. “Nếu tôi không làm vậy, chẳng có gì thay đổi cả. Và nhiều điều đã thay đổi. Brooks đề nghị tôi tin anh ấy, và làm như vậy, để tin ông. Tôi đang rất cố gắng.”
                    “Cô ấy đang ẩn danh cung cấp cho một đặc vụ FBI ở Chicago những thông tin về tổ chức Volkov.”
                    “Và cô có thông tin vì cô đột nhập được vào mạng lưới nhà Volkov phải không?” Phồng mồm phì một hơi, Anson ngã ra sau. “Chắc chắn cô phải là một hacker tầm cỡ.”
                    “Vâng. Tổ chức Volkov dựa rất nhiều vào máy tính, và chúng tin chúng rất an toàn, được bảo vệ kỹ càng. Chúng có những kỹ thuật viên giỏi,” cô nói thêm. “Tôi còn giỏi hơn bọn họ. Thêm nữa, gã Ilya rất bất cẩn trong lĩnh vực này. Theo quan điểm của tôi, đó là một kiểu ngạo mạn. Gã thường xuyên sử dụng email và tin nhắn cả trong công việc lẫn riêng tư.”
                    “Người ta đã thực hiện nhiều vụ bắt giữ nhờ những thông tin như thế, Đại úy ạ,” Brooks nói.
                    “Ai là đầu mối liên lạc FBI của cô?”
                    Abigail nhìn Brooks, thấy anh gật đầu. “Đặc vụ Elyse Garrison.”
                    “Sao cô lại không đến gặp cô ấy cùng với câu chuyện của cô?”
                    “Nếu bị tiết lộ - và tôi biết ít nhất có một tay trong của nhà Volkov trong văn phòng Chicago - chị ấy có thể bị bắt đi, tra tấn, giết hại. Bị giết ngay lập tức. Chị ấy có thể bị sử dụng để nhử tôi. Chúng không thể lần ra đầu mối liên hệ với tôi. Một khi chúng làm được vậy, mạng sống của chị ấy và tôi đều cực kỳ nguy hiểm.”
                    “Cô muốn ai đó liên hệ cho cô, ai đó không hề - chừng nào còn chưa lần ra - có liên quan gì đến Elizabeth Fitch.”
                    “Một ai đó,” Brooks tiếp lời, “với lý lịch đáng giá trong bộ máy chấp pháp, một ai đó có vị thế và quyền, đáng tin cậy. Một ai đó để đặc vụ Garrison này tin tưởng.”
                    “Và nếu tôi nhận lời việc này, tôi đến Chicago và tiến hành việc liên lạc này, sau đó thì sao?”
                    “Như thế sẽ mở cửa cho chúng tôi sắp xếp một cuộc gặp giữa cô ấy và Abigail, ở một địa điểm chúng tôi chọn.”
                    “Tôi sẽ tiếp tục theo dõi các cuộc liên lạc của cảnh sát, để biết liệu người ta có tìm cách giăng bẫy, hay liệu có người nào đó mà tôi tin hoặc nghi ngờ có liên hệ với nhà Volkov biết được chuyện liên lạc kia không.”
                    “Hai người đang vượt qua rất nhiều ranh giới đấy.” Ông hướng ánh nhìn nghiêm nghị, cứng rắn vào Brooks. “Cả hai người.”
                    “Xin cho tôi biết, Đại úy, ông nghĩ cơ hội sống của cô ấy để ra làm chứng sẽ thế nào nếu cô ấy đi đường thẳng, với cả đám tay trong chực chờ, cùng bè lũ Volkov?”
                    “Tôi tin vào hệ thống pháp luật, Brooks. Tôi tin họ sẽ bảo vệ cô ấy. Nhưng tôi không thể trách cô ấy vì không tin tưởng. Nếu là ai đó tôi yêu thương, tôi cũng không dám chắc tôi sẽ tin tưởng.” Ông thở hắt ra thật dài.
                    Trong khoảng sân yên tĩnh với hai chú chó đang ngáy nhè nhẹ, một đài phun nước róc rách, Abigail băn khoăn lẽ nào cô dốc hết gan ruột vậy mà lại không có tác dụng gì.
                    “Chúng ta có thể làm theo cách của cô, nhử cho Keegan, Cosgrove và những kẻ giống như bọn chúng lộ mặt,” Anson bắt đầu nói. “Chúng ta có thể thực hiện một số cuộc bắt giữ lớn gây tổn hại lớn cho tổ chức Volkov. Nhưng sau đó? Cậu có sẵn sàng chấp nhận Chương trình bảo vệ nhân chứng không?” ông hỏi Brooks. “Từ bỏ nơi cậu muốn sống, từ bỏ con người cậu muốn làm?”
                    “Có.”
                    “Không,” Abigail nói ngay. “Không. Tôi sẽ không đồng ý đến đây nếu tôi tin kết quả sẽ như vậy. Elizabeth Fitch sẽ gặp đặc vụ Garrison, sẽ ra làm chứng. Chỉ có ba người biết Elizabeth Fitch và Abigail Lowery là cùng một người, và điều đó phải nhất quán. Nếu có mối liên hệ giữa họ, tôi sẽ biến mất. Tôi có thể làm được như vậy.”
                    “Abigail.”
                    “Không,” cô nhắc lại, khẽ khàng, quyết liệt, hướng về Brooks. “Anh cần làm điều đúng, và anh cần bảo vệ em. Anh có thể làm cả hai việc. Em tin anh làm được cả hai. Anh phải tin em. Em sẽ lại là Elizabeth, vì việc này, và sau đó cô ấy ra đi. Cô ấy sẽ biến mất, và Abigail có thể sống cuộc đời của mình. Em biết cách đập tan nhà Volkov, và bằng cách em tin chúng sẽ không bao giờ phục hồi lại được. Không phải là súng ống và máu đổ. Tất cả chỉ là bàn phím.”
                    “Cô định gõ phím để đập tan chúng ư?” Anson hỏi.
                    Đôi mắt cô, bình thản và xanh thẳm, nhìn vào ông. “Đúng như vậy. Nếu tôi có thể làm theo kế hoạch đã vạch ra, và cơ quan chức năng nghe và hành động, vụ này sẽ kết thúc. Tôi gửi gắm sinh mạng của mình vào tay ông, Đại úy Anson, bởi vì Brooks tin tưởng và tôn trọng ông mà không chút dè dặt.”
                    “Chúng ta hãy vào trong uống chút cà phê thôi,” Anson nói sau một lúc, “rồi bàn kỹ chuyện này.”
                    ***
                    Cô khăng khăng đòi lái xe về. Brooks đã không ngủ mấy suốt ba mươi sáu tiếng, và sẽ phải đi trực sau sáu tiếng nữa. Cho nên anh ngả ghế ra sau và tranh thủ chợp mắt một chút lúc xe chạy.
                    Và để cô có thời gian xem xét lại mọi việc, lần nữa.
                    Joseph Anson sẽ tới Chicago, tìm cách liên hệ. Ông ấy sẽ không sử dụng hoặc tiết lộ cái tên Abigail Lowery mà nói với đặc vụ Garrison rằng Elizabeth Fitch đã tìm đến chỗ ông ấy, kể cho ông ấy biết câu chuyện, cung cấp tên của đặc vụ. Ông ấy sẽ kể lại những thông tin Abigail đã cung cấp cho Garrison trước đó.
                    Nếu Garrison làm theo đúng cách thức cũ, cô ấy sẽ báo cáo cho sếp trực tiếp của mình. Sau đó quy trình sẽ bắt đầu.
                    Cho nên nhiều chuyện có thể sai sót.
                    Nhưng nếu ổn thỏa...
                    Cô có thể thuộc về người đàn ông đang ngủ bên cạnh cô. Cô có thể học những gì cần làm ở các buổi tiệc thịt nướng ngoài sân. Cô có thể trở thành Abigail để mọi việc diễn ra kể từ thời điểm đó trở đi đều sẽ là sự thật.
                    Cuối cùng cô cũng sẽ từ ghế nhân chứng trong phòng xét xử, nhìn thẳng vào mắt bọn Korotkii, Ilya, Sergei Volkov, và nói sự thật. Với tư cách là Elizabeth.
                    Không, là Liz chứ, cô nghĩ thầm. Ít nhất trong óc cô, cô sẽ cất tiếng nói với tư cách là Liz vì Julie, John và Terry.
                    Và cô sẽ sử dụng mọi thứ mà cô học được trong mười hai năm qua để lột trần tổ chức của nhà Volkov.
                    Anh cựa mình lúc cô ngoặt về phía gian nhà gỗ của cô. “Anh vẫn đang suy nghĩ,” anh nói.
                    “Em cứ nghĩ anh đang ngủ.”
                    “Cả hai việc.” Anh dựng lưng ghế thẳng lên, dùng tay xoa xoa mặt. “Anh nghĩ em nên đề nghị anh chuyển đến sống với em. Giờ thực tế anh đang sống ở đây,” anh nói thêm, khi cô không nói gì cả. “Nhưng có lẽ em có thể chính thức hóa việc đó.”
                    “Có phải anh muốn sống ở đây để có thể bảo vệ em không?”
                    “Đó là một lợi ích phụ. Những lợi ích khác là có sẵn đồ đạc của anh, một góc tủ và ngăn kéo, và dễ ngủ với nhau. Tất cả những điều đó là điểm lợi, nhưng lý do chính anh muốn sống ở đây là bởi vì anh yêu em và anh muốn được ở bên em.”
                    Cô ngồi thừ một lúc, nhìn ngôi nhà của mình. Của mình, cô nghĩ. Ngôi nhà, những khoảnh vườn, ngôi nhà kính, khe suối nhỏ, rừng cây. Cô nghĩ đến chúng như là những thứ của cô, cảm nhận rõ cái quyền sở hữu ấy. Lần đầu tiên, cô nghĩ đến một nơi với tư cách là nhà. Của cô.
                    “Nếu anh chuyển đến, anh cần có mã và chìa khóa.”
                    “Những thứ đó chắc chắn dễ thôi.”
                    “Em muốn suy nghĩ chuyện đó, nếu được.”
                    “Chắc chắn rồi.”
                    Mấy từ vỏn vẹn vậy, rất dễ dàng trong lúc anh ra khỏi xe, mở cửa sau cho chú chó nhảy ra, cho cô thấy anh rất tự tin anh sẽ vượt qua mọi trở ngại mà cô có thể nêu ra, và có cách của mình.
                    Lẽ ra điều đó sẽ làm cô bực, cô nghĩ thầm. Thậm chí lẽ ra còn là xúc phạm cô. Nhưng đều không phải vậy. Đơn giản điều đó nhắc cho cô nhớ anh là người thế nào.
                    Của chúng ta. Cô thử bật ra mấy từ đó, để tự mình thấy ngạc nhiên trong khi hai người cùng đợi Bert đi tè sau chuyến đi.
                    Ngôi nhà của họ trong trời đêm lấp lánh sao, với hoa đua nở, khe suối rì rầm và làn gió nhẹ giục lá thì thầm lời đáp.
                    Ngôi nhà của họ, những khoảnh vườn của họ, ngôi nhà kính cùng khe suối và khu rừng của họ.
                    Những gì của cô an toàn hơn. Yên tĩnh hơn.
                    Những gì của họ. Đầy sự thỏa hiệp và những câu hỏi.
                    Cùng lời hứa nữa.
                    Cô mở khóa cửa trước, đặt lại hệ thống báo động. “Anh có muốn vào trong với em không?”
                    “Chà, một bước lớn đấy. Anh sẽ phải suy nghĩ về chuyện đó.”
                    “Anh vừa nói...” Cô nhìn thấy anh cười toe toét, cảm thấy đôi môi mình bĩu ra lúc khóa cửa lại. “Anh lại trêu em rồi.”
                    “Thôi anh xin.” Anh đặt hai tay lên vai cô, xoay cô lại để đối diện với anh lần nữa. “Nhưng đó là một bước lớn với em, anh biết như vậy.”
                    “Đó là một bước tiến triển tự nhiên hơn với anh. Anh được nuôi dạy trong một gia đình truyền thống có đủ cả bố mẹ mà.”
                    “Hầy, mẹ anh sẽ không thích được gán cho cái mác truyền thống đâu.” Anh choàng một cánh tay quanh vai cô để dẫn cô lên gác. “Chúng ta sẽ giữ điều đó cho em và anh thôi.”
                    “Em chưa bao giờ nghĩ đến chuyện chung một mái nhà với bất kỳ ai. Và em chỉ mới bắt đầu tin rằng em có thể ở đây, có một căn nhà ở đây.”
                    “Hãy tin điều đó, và hãy luôn tin tưởng. Chẳng nên truyền những suy nghĩ tiêu cực vào vũ trụ làm gì.”
                    “Những suy nghĩ tích cực hay tiêu cực đâu có ảnh hưởng đến các sự kiện.”
                    “Làm sao em biết?” vẻ bông đùa, anh xoa xoa tóc cô. “Em không thể biết những người khác nghĩ hay mong ước hoặc tin tưởng điều gì trừ phi họ nói cho em nghe. Và toàn bộ niềm tin có thể dịch chuyển cả dãy núi thì sao nào?”
                    “Em chưa bao giờ nhìn thấy một quả núi dịch chuyển cả, nhờ niềm tin lại càng ít hơn.”
                    “Bộ óc rất tầm thường.” Anh vỗ nhẹ vào trán cô. “Thế núi lửa thì sao? Một quả núi lửa dịch chuyển cả địa ngục ra khỏi lòng núi đấy thôi.”
                    “Thật buồn cười khi cho rằng một đứt gãy ở vỏ trái đất, sự phân kỳ và hội tụ của các mảng kiến tạo, sự giải phóng dung nham, các khí và tro bụi qua những đứt gãy như vậy lại có thể do niềm tin - hoặc việc thiếu niềm tin tạo ra.”
                    “Anh đã bảo thế là đúng à? Bình thường anh đâu có thế.” Anh nhìn cô trợn mắt trong lúc cô đi về phía nhà tắm. “Anh đã chế một quả núi lửa cho một dự án khoa học hồi lớp sáu. Rất hay nhé.”
                    Lần đầu tiên cô không đóng cửa, mà vẫn tiếp tục trò chuyện với anh lúc chuẩn bị giường. “Đó là một dự án rất tốt cho một cậu học sinh.”
                    “Lại còn rất ổn nhé.” Anh đi vào, cầm bàn chải đánh răng của mình trong lúc cô rửa mặt. “Anh muốn đặt tên nó là Phát rắm của quỷ, nhưng bố anh thuyết phục anh rằng điểm số của anh có thể sẽ bị ảnh hưởng.”
                    “Quá đúng.”
                    “Anh gọi như thế trong đầu, thế rồi nó làm cho toàn bộ chỗ dung nham bằng muối nở, màu thực phẩm và dấm phun ra khỏi lớp bột nhão phủ trên miệng chai soda càng thêm đáng nhớ. Anh cược là em rất thích các dự án khoa học.”
                    “Em học rất tốt.” Cảm giác kỳ kỳ, nhưng rất lý thú, khi chia sẻ bồn rửa trong phòng tắm với anh. “Em tạo ra một ngọn núi lửa chìm dưới nước trên các mảng kiến tạo hội tụ để chứng minh các đảo được hình thành như thế nào.”
                    Anh buông bàn chải, nheo mắt nhìn cô trong gương. “Núi lửa chìm dưới nước?”
                    “Vâng. Nước nóng luôn trồi lên mặt nước lạnh, và nổi. Với mô hình bằng đất nung...”
                    “Đất nung?”
                    “Vâng, và các mảng điều khiển từ xa, em có thể tạo ra một vụ phun trào rất đã mắt.”
                    “Lúc đó em mấy tuổi?”
                    “Chín.”
                    “Chém gió.”
                    “Em rất thích học giỏi ở trường. Anh nói chuyện về các dự án khoa học cho nên em sẽ thư giãn và ngủ ngon hơn.”
                    “Anh thấy ổn đấy.”
                    Lúc nằm xuống cạnh anh trong bóng tối, cô nhận ra tâm trí mình lâng lâng, cô cũng thấy rất ổn.
                    ***
                    Brooks tiến hành bắt giữ Roland Babbett như là nhiệm vụ chính thức đầu tiên của anh vào buổi sáng. Anh cảm thấy rất vui vẻ lúc gõ cửa phòng Babbett lúc bảy giờ sáng. Vui hơn nữa khi cái anh chàng Babbett mắt nhắm mắt mở ra mở cửa.
                    “Anh là Roland Babbett?”
                    “Vâng. Có chuyện à?”
                    “Với anh thì có đấy. Tôi là cảnh sát trưởng Gleason của đồn cảnh sát thị trấn Bickford, còn đây là phụ tá của tôi Boyd Fitzwater. Tôi có lệnh bắt giữ anh.”
                    “Hả?”
                    “Và một lệnh nữa khám xét phòng, đồ đạc và xe của anh. Anh cần mặc đồ và đi với chúng tôi.”
                    “Chuyện này là sao? Bị bắt ư? Thật điên rồ.”
                    “Không hề nếu xét đến chuyện anh đang giữ những dụng cụ trộm cắp, và sử dụng thứ đó lúc hai giờ mười lăm phút sáng nay để xâm nhập trái phép vào buồng Ozark. Căn phòng đó đã được khóa chặt và có thông báo.”
                    Hai mắt Roland, giờ không còn nặng trịch nữa, nhìn thật kỹ vào mặt Brooks. “Tôi muốn gọi điện.”
                    “Không thành vấn đề. Anh có thể dùng điện thoại của anh khi anh đến đồn. Tôi sẽ cho anh cơ hội mặc quần áo, hoặc chúng tôi sẽ phải dẫn anh đi trong cái áo choàng khách sạn. Áo choàng đẹp đấy.”
                    “Tôi muốn mặc đồ.”
                    “Được thôi. Boyd, sao anh không đọc cho ông Babbett các quyền của ông ấy trong khi ông ấy mặc quần.” Brooks giơ lệnh lục soát lên trước khi anh tiến vào phòng. “Cảnh đẹp đấy. Ông Conroy làm rất ổn. Anh đã thử ăn tối ở nhà hàng chưa?”
                    “Phục vụ tại phòng.” Roland kéo quần lên, mặc áo phông. “Tôi ăn món thịt nướng.”
                    “Thấy thế nào?”
                    “Máu me và ngon.”
                    “Phải, họ làm rất ổn.” Anh mở chiếc ba lô thủy quân ra, ngó qua, sau đó thả bộ dụng cụ mở khóa vào một cái túi đựng bằng chứng. “Anh đang thăm thú ở đây à?”
                    Bất chấp hoàn cảnh hiện tại, Roland vẫn bật ra một tiếng cười. “Ai cũng hỏi vậy. Còn giờ thì các anh biết tôi ở đây làm việc gì.”
                    “Công ty Stuben-Pryce ở Little Rock.” Lúc bỏ một chiếc máy ghi âm cỡ nhỏ vào túi bằng chứng, giọng Brooks vẫn nhẹ nhàng và thoải mái như không có gì. “Tôi đã từng thực thi nhiệm vụ ở đó. Giờ thì có lẽ anh cũng biết thế rồi. Đó là một hãng luật rất ổn, trả giá cũng ổn, anh Babbett ạ.”
                    “Chúng tôi làm việc đâu ra đấy mà.”
                    “Tôi tin điều đó.” Anh mỉm cười thân thiện với Roland. “Tiếc là anh không có những khách hàng tốt hơn.”
                    “Đâu phải trách nhiệm của tôi. Các anh có phiền nếu tôi đánh răng và xả bớt cái bụng không?”
                    “Anh không làm vậy tôi mới thấy phiền.”
                    Brooks tiếp tục lục soát căn phòng trong khi Boyd đứng ở cửa phòng tắm để mở. “Đây là một thị trấn bình yên,” Brooks nói như trò chuyên. “Ồ, thỉnh thoảng có thể sôi động hơn, đặc biệt là vào thời điểm này trong năm và suốt mùa hè. Rất nhiều du khách, rất nhiều con người trái ngược nhau, anh có thể nói như vậy, chen chúc nhau trong cái nóng. Nhưng chúng tôi không thường xuyên gặp các thám tử tư từ những công ty có tiếng ở thành phố đến thực hiện việc đột nhập gì đó ngay trong cái khách sạn đệ nhất của mình.”
                    “Thế nào tôi cũng bị đá đít vì vụ này mất.” Với một cử chỉ thể hiện thái độ của mình, Roland phun thuốc đánh răng vào bồn rửa. “Mất thưởng. Tôi hy vọng đưa vợ mình đến đây nghỉ ngơi không mang theo trẻ con sau khi cô ấy sinh.”
                    “Khi nào cô ấy sinh?”
                    “Mười lăm tháng Tám.”
                    “Tháng Mười là thời điểm đẹp ở Ozark,” Brooks giải thích, lúc Roland bước ra. “Chúng tôi rất vui được đón các vị, khi các vị đến thăm. Boyd, anh kết thúc lục soát được rồi. Tôi sẽ đưa ông Babbett đi.”
                    “Các anh không còng tôi chứ?”
                    Brooks lại mỉm cười thân thiện lần nữa. “Anh muốn tôi làm vậy à?”
                    “Không. Tôi rất cảm ơn.”
                    “Tôi không nghĩ anh sẽ bỏ chạy, và nếu anh làm như vậy ư? Anh định chạy đi đâu nào?”
                    Anh ta không chạy. Thậm chí nếu có nơi để chạy, thì công việc, tiền lương của anh ta đều sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng.
                    Về đồn, Brooks đưa anh ta một cốc cà phê khá tươm tất, một chiếc điện thoại và vài phút riêng tư - bên bàn chứ không phải trong buồng giam.
                    Sau khi thực hiện xong cuộc gọi, Roland ngồi ủ ê ngẫm nghĩ.
                    “Anh xong rồi à?” Brooks hỏi anh ta.
                    “Vâng. Xong rồi.”
                    “Sao chúng ta không trò chuyện trong văn phòng tôi nhỉ? Jeff?” Brooks nói với nhân viên bán thời gian của mình. “Đừng có đến ngó nghiêng hay chuyển cho tôi cuộc gọi nào được không? Trừ phi rất quan trọng.”
                    “Vâng, thưa sếp.”
                    “Mời anh ngồi.” Brooks đóng cửa văn phòng lại, đi tới tựa một hông vào bàn làm việc của mình. “Chà, tôi sẽ nói thẳng với anh. Ở đây anh đang gặp chút rắc rối đấy, Roland.”
                    “Tôi có luật sư đang trên đường đến.”
                    “Luật sư cứng cựa từ một hãng luật cứng cựa, tôi hy vọng vậy. Nhưng, chúng tôi có bằng chứng rất rõ ràng về vụ đột nhập của anh đấy. Máy quay ghi được hình ảnh ở sảnh, ở cửa, sau đó các máy quay khác có hình anh lục lọi bên tròng gian phòng đó. Có cả bộ dụng cụ mở khóa của anh.” Như thể đầy cảm thông, Brooks thở ra một hơi, lắc đầu. “Ngay cả một luật sư cứng cựa cũng rất mất thời gian giải quyết vụ này đấy, anh không hình dung được sao? Có thể bị giam giữ một thời gian và làm ảnh hưởng đến giấy phép của anh đấy. Mà một đứa nhỏ sắp ra đời rồi. Tôi không thích để vợ anh phải tới thăm tù anh trong tình trạng hiện nay của cô ấy.”
                    “Bị giam thì không chắc, nhưng ảnh hưởng đến giấy phép của tôi... Chết tiệt.” Roland bấm ngón tay lên mắt. “Có thể cũng đành. Vết đầu tiên trong hồ sơ của tôi.”
                    Brooks nhún vai. “Có thể như vậy.”
                    “Tôi thường không làm việc tùy tiện. Tôi đã ngó nghiêng vô ích mất rồi. Tôi không nhìn ra các máy quay.”
                    “Đừng quá trách mình chuyện đó. Chúng không hề có mặt cho tới sau khi anh ghé qua nhà cô Abigail.”
                    “À.” Lúc này, ánh mắt Roland gặp mắt Brooks và cả hai hoàn toàn hiểu ý nhau. “Cô ấy, con chó và khẩu Glock của cô ấy vẫn khiến tôi phát khiếp.”
                    “Anh làm cô ấy sợ. Cô ấy vẫn là một cô gái thành phố,” Brooks nói dối rất vui vẻ. “Một mình ở đó, không có hàng xóm gần cận. Thêm vào nữa là cách cô ấy đang kiếm sống. Tôi tin chắc giờ thì anh đã biết rồi. Làm việc về lĩnh vực an ninh, luôn để ý xem mọi người xung quanh thế nào và làm những việc gì? Cô ấy có hơi hay giật mình.”
                    “Các anh hẳn cũng bố trí máy quay an ninh trong rừng.”
                    “Ồ, cô ấy luôn thử nghiệm, chạy các chương trình và những gì cô ấy gọi là các kịch bản. Vô tình anh đi vào một chỗ như vậy. Làm cô ấy hoảng đến mức khóa chặt trong nhà cho tới khi tôi về nhà. Anh biết đấy, trong trường hợp anh là một sát thủ có nghề chứ không phải một tay máy lạc đường.”
                    “Trông cô ấy chẳng hề hoảng hốt,” Roland lầm bầm.
                    “Chà, Abigail, cô ấy luôn thể hiện ra ngoài rất ổn, và con chó giúp cô ấy tự tin. Cô ấy kể tôi nghe về anh, và tôi buộc phải thắc mắc. Anh đã nói tên thật của mình với cô ấy.”
                    “Căn cước của tôi trong hành lý. Cô ấy có súng. Tôi không muốn làm cô ấy bực với một câu dối trá nếu như cô ấy kiểm tra hành lý của tôi. Nhưng tôi không nghĩ cô ấy, hoặc anh, sẽ chơi tôi.”
                    “Cảnh sát. Rất tự nhiên là chúng tôi cảm thấy nghi ngờ. Cho nên, Roland này, chuyện là thế này. Tôi biết ai đã thuê thám tử tư từ một công ty luật có hạng đến dòm ngó Abigail, tôi, gia đình Conroy và khách sạn ấy.”
                    “Tôi không thể xác nhận hay phủ nhận nếu không có luật sư đại diện.”
                    “Tôi không đề nghị anh phải vậy, tôi chỉ đang nói với anh. Lincoln Blake sẽ làm bất kỳ chuyện gì để cứu thằng con mất dạy của hắn, kể cả việc thuê ai đó tạo bằng chứng và lời khai giả.”
                    Thay vì ngồi ủ rũ trên ghế, giờ Roland ngồi thẳng lên. “Nghe này. Tôi không làm thế, không vì bất kỳ khách hàng nào, không vì bất kỳ khoản tiền nào. Công ty cũng vậy. Chúng tôi không để mất danh tiếng bằng những việc như vậy.”
                    “Nói riêng thôi, tôi cũng tin điều đó. Nhưng về vụ này ư?” Brooks hờ hững nhún vai.
                    “Sau đây là một thỏa thuận phải không?”
                    “Có thể vậy. Russ Conroy là bạn lâu nhất và thân nhất của tôi. Bố mẹ cậu ấy là gia đình của tôi, và mẹ cậu ấy đã suy sụp và khóc hết nước mắt sau khi nhìn thấy thằng mất dạy và bạn bè nó làm như thế với khách sạn. Giờ thì nơi đó khá hơn nhiều, nhưng...”
                    Brooks lấy một tập hồ sơ, trao cho Roland. “Chúng tôi đã chụp số ảnh này sau khi Justin Blake và mấy thằng bạn đần độn của nó giở trò ở chỗ đó.”
                    “Không thể tin được,” Roland lẩm bẩm trong lúc xem những bức ảnh.
                    “Kiểu thiệt hại như thế ư? Đó đâu phải là bất cần hay ngu dốt hay trẻ con. Rõ là hành vi phá hoại. Thằng Justin Blake cố ý đấy.”
                    Brooks nhoài người để lấy lại tập hồ sơ. “Và khi thằng ôn vật tìm cách được tại ngoại, nó mò đến nhà người phụ nữ mà tôi yêu thương, phê thuốc, có vũ khí, vào lúc nửa đêm. Nó ngu đến mức xông vào đâm tôi với con dao nó mang theo để rạch lốp xe tôi. Nó làm người phụ nữ của tôi không hài lòng, và anh Roland ạ, tôi cũng không hài lòng. Anh có thể hiểu tại sao cô ấy phản ứng như cách đã thể hiện khi anh lảng vảng đến ngôi nhà.”
                    “Vâng, có lẽ vậy. Vâng.”
                    “Justin gây thiệt hại cả trăm nghìn đô ở gian phòng đó, nó còn đâm thủng lốp xe của tôi, tìm cách đâm tôi, và làm cho người yêu tôi hoảng sợ. Và thêm nữa là nó như cái gai trong mắt tôi vậy kể từ hồi tôi nhận công việc này. Nó sẽ nhận được những gì nó đã gây ra, Roland ạ. Tôi sẽ coi đó là nhiệm vụ đời tôi phải thực hiện được. Nó tự chuốc lấy hậu quả, và nếu tôi được phán xét, xin nói rằng nó cần bị trừng trị. Nó có gì đó rất không ổn, điều mà cả hai chúng ta đều thấy ở những đối tượng khác, những đối tượng sớm muộn cũng chết hoặc giết hại người ta.”
                    “Tôi muốn nói vài điều, nói riêng thôi.”
                    “Vâng. Chỉ giữa anh và tôi.”
                    “Tôi không hề thích làm việc cho tay Blake. Gã là loại khốn kiếp. Không có gì liên quan đến thằng con gã như anh vừa nói mà tôi lại không đồng ý cả. Tôi sẽ chấp nhận chịu phạt vì vụ này nếu phải vậy, nhưng tôi rất ghét bị phạt vì hai bố con khốn kiếp đó.”
                    “Tôi không trách anh đâu. Cho nên đây là thỏa thuận, trước khi luật sư đến đây. Đi đi, Roland. Ý tôi không chỉ là rời thị trấn - mặc dù tôi đã nói anh cứ trở lại thăm cùng với vợ, chúng tôi sẽ rất vui được tiếp anh chị. Ý tôi là tránh xa vụ này. Vụ này làm bạn bè tôi buồn, làm người yêu tôi buồn. Và anh đang lãng phí thời gian, bởi vì Justin Blake sẽ không chịu thôi vụ này đâu. Tôi không trách bất kỳ ai phải làm công việc mà họ được thuê làm - đứng trên khía cạnh luật pháp, phải như vậy. Nhưng vụ này có thể rất mệt mỏi cho anh, và tôi có thể làm cho công ty anh trả giá. Có thể thế không phải nhiều, nhưng tôi không biết tại sao họ cứ muốn mang tai tiếng.”
                    “Tôi vẫn phải nộp báo cáo của mình.”
                    “Anh cứ thẳng thắn thôi. Anh chẳng tìm thấy gì về tôi, về Abigail, về gia đinh Conroy, bởi vì chẳng có gì để tìm cả. Nhưng nếu anh cứ xoi mói chúng tôi, tôi sẽ tìm cho ra, và mọi việc sẽ khác đấy. Giờ thì anh đã thừa biết máy tính là lĩnh vực tủ của Abigail.”
                    “Ở đây có ẩn giấu lời đe dọa.”
                    “Tôi không ẩn giấu gì cả. Tôi chỉ nói thẳng với anh thôi. Tôi có thể cho qua chuyện này. Anh giữ hồ sơ của mình sạch sẽ, anh nộp báo cáo của mình, và về nhà với vợ con. Luật sư của anh sẽ không phải bận tâm gì cả.”
                    “Tại sao anh lại làm thế?”
                    “Vì những lý do tôi đã nói với anh, và một điều nữa. Tôi không muốn bắt giam anh, Roland, đó là một sự thật nữa. Nếu tôi có cảm nhận khác về anh, nếu tôi nghĩ anh là loại người thích làm việc cho hạng như Blake, loại người dám làm những việc hơn là chỉ vượt qua ranh giới tư gia hay lọt vào một căn phòng khóa kín để ngó nghiêng, anh đã ngồi tù ngay lúc này rồi. Tôi có trách nhiệm để đưa anh vào đó.”
                    “Tôi muốn gọi cho sếp của tôi, thông báo tình hình cho ông ấy.”
                    “Xin mời.” Brooks rời khỏi bàn.
                    “Tôi đã gặp mẹ anh.”
                    Brooks lại dựa vào bàn. “Vậy à?”
                    “Tôi đi dạo - muốn cảm nhận một chút, như anh nói. Căn nhà rất đẹp.”
                    “Chúng tôi là một phần trong đó. Đi gọi điện đi,” Brooks nói với anh ta, và thong thả đi ra.
                    #25
                      Thanh Vân 29.11.2023 19:27:37 (permalink)

                      26


                      Abigail gác mọi việc lại và tập trung hoàn toàn vào việc tạo ra chương trình virus. Cô đã mất rất nhiều công sức tận dụng loại sâu máy tính mà cô đã tạo ra, nhưng kết quả không thỏa mãn.
                      Cô có thể gây thiệt hại đáng kể bằng loại sâu đó, nhưng đi kèm với loại sâu chọc thủng vào hệ thống của nhà Volkov, loại virus đi theo, lây lan qua những lỗ thủng đó, sẽ phá hoại mạnh.
                      Để hoàn tất mọi thứ cô cần, phải rất nhanh, rất hoàn chỉnh, và không gây cảnh báo.
                      Cô luôn xem dự án này là một sở thích, một thứ cô hy vọng sẽ mang lại kết quả ngày nào đó.
                      Còn giờ nó là một nhiệm vụ.
                      Giá như cô có thời gian thiết lập thêm thiết bị, hoặc có thể thuê một hoặc hai kỹ thuật viên giỏi nữa... Nhưng cô không có, cho nên việc này chỉ cô làm thôi.
                      Dù thế nào thì qua thời gian cô cũng đã phát triển được ngôn ngữ lập trình của riêng mình - thứ hiệu quả hơn để ngăn chặn bất kỳ ai tìm cách xâm nhập vào các tài liệu của cô - và thậm chí nếu cô có thể thuê người, cô sẽ phải dạy người đó ngôn ngữ và kỹ thuật của mình.
                      Nhanh hơn, hiệu quả hơn, hãy tự mình thực hiện.
                      Cô cho chạy thử nghiệm lần nữa, nhìn các mã của mình vùn vụt chạy qua, và nghĩ “Không, không, không”. Nó vẫn quá cồng kềnh, quá rời rạc, mất quá nhiều thời gian.
                      Cô ngồi xuống, vấn tóc thành búi trên gáy và cầm lấy cây bút chì. Theo dõi màn hình, cô uống một ít trà xanh lạnh để suy nghĩ được thông suốt.
                      Trà, hai lần giải lao tập yoga cô cho phép mình thực hiện, cùng với sự im lặng tuyệt đối, có vẻ chẳng giúp được gì.
                      Khi hệ thống báo động của cô kêu, và Bert bật dậy cảnh giác, cô kiểm tra màn hình. Cô không nghĩ Brooks đến sớm vậy, cô nghĩ thầm, khi nhìn thấy chiếc xe tuần tra của anh, sau đó cô liếc nhìn đồng hồ.
                      Cô đã làm việc một mạch suốt buổi sáng sang tận nửa buổi chiều.
                      Sáu tiếng, cô nghĩ thầm, mà chẳng tiến triển được mấy.
                      Có lẽ vượt quá tầm của cô.
                      Cô bắt đầu đứng dậy, mở khóa cửa cho anh, sau đó mới nhớ ra cô đã đưa chìa khóa và mã an ninh cho anh. Một bước đi không hề dễ dàng, cô thừa nhận vậy, nhưng cái hay ngay lúc ấy là cô không còn phải ngăn anh vào nhà nữa.
                      Nhưng, cũng sẽ có người khác trong nhà cô, trong không gian của cô. Làm thế nào cô tập trung được vào việc phức tạp, tinh vi như thế này trừ phi cô được ở một mình? Điều đó làm tiêu tan luôn mong muốn của cô về một phòng máy tính hiện đại và một nhóm kỹ thuật viên siêu hạng. Nhưng đó chỉ là mong muốn, bởi vì cô luôn làm việc một mình, cho tới khi...
                      “Này.” Brooks bước vào, đặt một chiếc túi lên quầy bếp. “Mọi việc thế nào em?”
                      “Không được như em muốn. Em cần thử một chuỗi lệnh khác, rồi kiểm tra lại.”
                      “Em đã làm việc đó bao lâu rồi?”
                      “Mất bao lâu không thành vấn đề. Vẫn chưa hoàn thành.”
                      “Được rồi. Cất xong chỗ đồ này là anh sẽ không làm phiền em nữa đâu. Anh mang một ít đồ tới, cho nên để anh tự giải quyết trên gác. Nếu em vẫn chưa làm xong, anh tìm việc gì đó để làm.”
                      “Ừ” là câu trả lời duy nhất của cô. Cô cố gắng không căng thẳng trước tiếng tủ lạnh, chạn mở ra đóng vào. Khi mọi thứ im lặng trở lại, cô thở ra một tiếng nhẹ nhõm và lại đắm mình vào việc.
                      Cô quên luôn anh đang ở đó. Trong suốt hai tiếng tiếp theo, cô đắm mình trong những dòng mã và chuỗi lệnh. Cuối cùng khi cô phải dừng lại vì đau đầu và mỏi mắt, cô đứng lên tìm một ít thuốc, và nước uống.
                      Và nhớ đến anh.
                      Cô đi lên gác. Không gian tuyệt đối im ắng đến mức cô nghĩ chắc anh đang ngủ, nhưng cô không hề thấy anh trong phòng ngủ. Tò mò, cô mở tủ.
                      Có quần áo của anh, cùng với đồ của cô. Áo sơ mi, quần dài. Một bộ complet.
                      Cô chưa bao giờ trông thấy anh mặc complet cả. Cô đưa những ngón tay lần theo ống tay áo trong lúc ngắm nhìn đôi giày và giày cao cổ nằm ở đáy tủ.
                      Họ chung nhau một chiếc tủ, cô nghĩ thầm. Có phần thân mật và quan trọng hơn cả việc chung một chiếc giường. Với tay, cô mở ngăn kéo tủ, cô đã định sắp xếp lại để dành chỗ cho anh, nhưng rồi mải làm việc nên quên mất.
                      Anh đã tự xử lý việc đó. Cô cần thay đổi một vài lựa chọn của anh, nhưng đó chỉ là việc nhỏ.
                      Đóng ngăn kéo lại, cô bước lùi ra, đi một vòng quanh phòng. Cô có nên mua thêm một tủ ngăn kéo nữa không nhỉ?
                      Họ có cần thêm một cái nữa không?
                      Anh sẽ ở lại đây chứ?
                      Có gì đó chuyển động ngoài cửa sổ lọt vào mắt cô, cô nhận ra anh, đang nhổ cỏ trong khoảnh vườn trồng rau của cô. Anh đã vun đất cho các cây khoai tây, công việc mà cô cũng định làm ngày hôm đó.
                      Mồ hôi thấm ướt áo sơ mi của anh, lấp loáng trên cánh tay anh, và một chiếc mũ lưỡi trai che bớt gương mặt anh.
                      Và, ồ, thật cảm động. Một cảm xúc bất ngờ và ngạc nhiên. Quần áo anh treo trong tủ cùng với đồ của cô trong khi cô đứng bên cửa sổ phòng ngủ và ngắm anh làm việc trong vườn dưới bầu trời xanh ngắt.
                      Cô quay người khỏi cửa sổ, thấy hài lòng, và chạy xuống gác.
                      Trong bếp, cô thấy thức ăn mà anh mang đến ở trong tủ lạnh và độ chục quả chanh mà cô mua mấy hôm trước.
                      Cô pha nước chanh tươi, rót đầy hai ly có đá lạnh. Cô đặt bình nước cùng ly lên khay và mang tất cả ra ngoài.
                      “Trời nóng quá không cuốc được đâu anh,” cô gọi to. “Anh sẽ mất nước đấy.”
                      “Gần xong rồi em.”
                      Cô bước đến bên anh cùng với hai ly nước vừa lúc anh xong luống cuối cùng. “Chanh tươi đấy.”
                      Trong khi mồ hôi chảy ròng ròng xuống thái dương anh, anh uống một mạch hết nửa ly. “Cảm ơn em.”
                      “Anh làm được nhiều việc quá.”
                      Tựa người vào cây cuốc, anh ngắm khoảnh vườn. “Anh hy vọng được thử chỗ đậu phơi khô kia, thu hoạch được rồi. Anh rất thích đậu phơi khô.”
                      “Nhưng đó là đậu lima.”
                      “Em đang ở miền Nam, cưng ạ.” Sau một lúc vươn vai, anh uống hết chỗ nước chanh còn lại của mình. “Anh không làm vườn từ hồi anh chuyển đến Little Rock. Không biết rằng anh lại nhớ việc đó thế.”
                      “Nhưng trời nóng và ngột ngạt lắm.” Cô chạm vào bàn tay anh để anh nhìn lại phía cô. “Khi nãy em đã không chào mừng anh cho lắm.”
                      “Công việc đôi khi được phép nhỡ nhàng. Công việc của anh như vậy, và sẽ vậy.”
                      “Còn của em, trong trường hợp này, thật bực mình. Em tưởng đáng ra mình phải tiến xa hơn.”
                      “Anh không giúp được em chuyện đó. Anh không hiểu cái việc em đang làm. Nhưng anh có thể làm vườn, và có thể nướng chỗ thịt anh chọn, như thế em có thêm thời gian làm việc.” Anh nghiêng đầu ngắm cô. “Nhưng anh phải nói rằng đã đến lúc nghỉ tay, và anh rất cần đi tắm rồi.”
                      “Anh nhiều mồ hôi lắm,” cô tán thành, và cầm lấy cái cuốc từ anh để mang tới nhà kho. “Em có thể hái một ít rau diếp, và vài thứ khác, để làm món salad khi anh xong.”
                      “Anh nghĩ là ‘chúng ta’ chứ.”
                      “Anh đã làm nhiều hơn so với phần của anh trong vườn rồi mà.”
                      “Chúng ta không ở vườn nữa.” Anh cầm lấy tay cô, kéo cô về phía nhà. “Chúng ta vào phòng tắm.”
                      “Thực sự em cần...”
                      “Tắm với anh.” Anh dừng lại để cởi đôi giày lấm lem và đôi tất ướt sũng của mình. “Anh đã nói với em về cái hồ bơi bọn anh thường tới chưa nhỉ?”
                      “Chưa.”
                      “Không xa đây lắm, phía trên đồi một chút. Thực sự thì đó là một khúc sông hơn là một hồ nước, nhưng rất ổn.”
                      Cầm lấy ly của cô, anh đặt cả hai xuống quầy bếp trong lúc dắt cô đi qua bếp.
                      “Nước rất dễ chịu. Màu hơi đục, anh phải nói trước vậy, nhưng rất sạch. Russ và anh cùng một vài bạn bè khác thường phóng xe đạp địa hình lên đó vào những ngày nghỉ hè, cởi hết quần áo và nhảy xuống. Lần đầu tiên anh tắm truồng với một cô gái cũng là ở đó, chỗ dân địa phương bọn anh gọi là Hồ Rau đuôi chồn, bởi vì ở đó dương xỉ đuôi chồn mọc dày đặc. Sẽ có lúc anh đưa em đến đó.”
                      “Nghe thú vị đấy, nhưng ngay lúc này...”
                      Anh đưa cô vào phòng ngủ, tìm cách dồn cô lùi về phía phòng tắm. “Em cần bỏ quần áo đi. Để anh giúp em việc đó nào.”
                      “Anh có vẻ rất quyết tâm,” cô nhận xét, lúc anh kéo áo cô lên quá đầu.
                      “Ồ, phải. Phải.” Và đưa tay tháo khóa áo ngực của cô.
                      “Thế thì chắc em chẳng có gì để tranh cãi rồi.”
                      “Tuyệt đối không luôn.” Thò tay ra phía sau cô, anh mở vòi nước, rồi cởi khuy quần của cô.
                      “Vậy thì em nên phối hợp nhỉ.”
                      “Thế mới là hợp lý.”
                      “Em rất muốn làm những việc hợp lý.” Cô kéo áo sơ mi của anh ra, và để mặc cho nó rơi xuống.
                      “Tuyệt lắm.” Nhưng anh chặn cô lại khi cô định nhích vào gần anh. “Để anh xả bớt mồ hôi trước đã.”
                      “Em đâu ngại. Thế là tự nhiên, và...” Cô áp môi vào bên cạnh cổ anh. “Mằn mặn.”
                      “Em giết anh mất, Abigail. Đó là chân lý của Chúa.”
                      Cô muốn, rất muốn làm cho anh thèm muốn, khát khao và run rẩy như anh đã làm với cô. Cô hít lấy mùi gây gây của anh, cái mùi mồ hôi nhờ lao động chân tay lúc cô cởi quần của anh, còn anh cởi quần của cô.
                      Nước mát chảy tràn trên đầu cô, xuống người cô.
                      “Tuyệt quá,” cô thì thầm.
                      Quá tuyệt lúc miệng anh áp lấy miệng cô, tay anh ôm lấy cơ thể cô. Cô nếm được sự khát khao của anh với cô, cảm nhận được nhu cầu của anh với cô.
                      Cô tưởng tượng họ chìm xuống làn nước mát, đùng đục ở khúc sông nơi những cây dương xỉ đuôi chồn mọc dày và xanh mướt trong khi ánh trăng rọi những tia sáng qua các tán lá.
                      “Em muốn đến hồ bơi của anh.”
                      “Chúng ta sẽ đi.”
                      “Dưới ánh trăng,” cô nói, đầu cô ngả ra sau, môi anh lướt qua cổ cô. “Em chưa bao giờ tỏ ra lãng mạn cả, chưa bao giờ trước khi có anh. Nhưng anh làm cho em muốn có ánh trăng, và hoa dại cùng những tiếng thì thầm trong bóng tối.”
                      “Anh sẽ cho em tất cả những thứ đó, và hơn nữa.” Anh vuốt gọn mái tóc ướt của cô ra sau, đưa tay ôm lấy khuôn mặt cô để nâng lên nhìn anh. “Và hơn nữa.”
                      “Những lời hứa và những bí mật, và tất cả những điều em chưa bao giờ hiểu. Em muốn những điều ấy cùng với anh. Em yêu anh rất nhiều. Em yêu anh. Nhiều hơn bao giờ hết.”
                      “Vẫn còn hơn nữa.” Anh cuốn cô vào một nụ hôn, dài, chậm và sâu, trong khi nước chảy tràn xuống họ. Anh sẽ tặng cô cả vầng trăng nếu có thể, và cả đại dương hoa dại.
                      Những lời hứa. Anh có thể trao cho cô những thứ đó. Lời hứa yêu thương cô, giúp cô tìm được sự bình yên trong tâm trí, một nơi trú ẩn an toàn.
                      Và những khoảnh khắc như thế này, một mình, nơi họ có thể chăm sóc nhau, làm cho nhau thích thú. Đóng chặt thế giới và tất cả những phiền toái, áp lực và đòi hỏi của nó lại.
                      Cô tắm cho anh, và anh tắm cho cô - từng phần một. Khơi gợi, lần nữa, kéo dài. Giờ đây mùi mật ngọt và quả hạnh bốc lên, những cử động trơn tuột của tay, của cơ thể, những cái hít hơi thật nhanh, và những tiếng thở ra thật dài.
                      Khi anh ôm cô, khi anh làm cô thấy thỏa mãn, có đủ ánh trăng và hoa dại, có những tiếng thì thầm và những lời hứa. Và hơn thế.
                      Có tất cả mọi thứ, cô nghĩ thầm khi để cho mình bị cuốn đi.
                      Cảm giác mãn nguyện giữ nguyên trong cô lúc cô đứng trong bếp, ngẫm nghĩ chuyện làm gì đó thú vị với khoai tây - Brooks thích khoai tây - để đi kèm với thịt nướng và salad. Cô liếc nhìn máy tính của mình, hơi cảm thấy có lỗi, khi rót rượu vang cho cả hai.
                      “Em cần thử lại lần nữa, giờ chúng ta giải lao một chút.”
                      “Hãy để cho bộ óc lớn của em nghỉ ngơi chút đi. Hãy ngồi xuống một phút. Anh có vài chuyện muốn cập nhật cho em đây.”
                      “Cập nhật ư? Tại sao anh vẫn chưa nói cho em nhỉ?”
                      “Em đã dồn hết tâm trí vào làm việc lúc anh mới về nhà còn gì,” anh nhắc cho cô nhớ. “Sau đó thì em bị nhãng đi lúc mình vui vẻ trong nhà tắm.”
                      Anh ngồi bên quầy bếp, và vì cô đã rót cho anh nên anh chỉ việc nhấc ly nước chanh thứ hai của mình.
                      “Anh đoán chúng ta sẽ thực hiện tuần tự. Anh đã nói chuyện với anh chàng Roland Babbett. Mấy cái máy quay anh mượn em đã phát huy tác dụng, tóm được anh ta mò vào buồng Ozark bằng dụng cụ đột nhập.”
                      “Anh bắt giữ anh ta à?”
                      “Theo kiểu nói chuyện với nhau thôi. Anh phải nói là anh thích tay này, một khi chúng ta công khai mọi việc và giải quyết ổn thỏa.”
                      Anh kể lại sơ qua cho cô nghe, nhưng cô không chịu ngồi. Thay vào đó, hai tay cô vẫn bận rộn kỳ cọ rồi cắt những củ khoai tây vỏ đỏ làm bốn.
                      “Anh bảo anh ta rằng anh ta làm em sợ.”
                      “Có thể anh thêm mắm dặm muối về phản ứng của em hơi khác một chút so với thực tế, nhưng anh đoán lòng tự trọng của em có thể bỏ qua điều đó.”
                      “Anh... vòng vo để anh ta cảm thấy thông cảm cho em và bớt tò mò về những cái máy quay, khẩu súng và vân vân. Anh thích cụm từ ‘vòng vo’. Cụm từ đó rất quan trọng, và dễ nghe hơn ‘nói dối’.”
                      “Anh cũng tin tưởng anh ta, tin anh ta sẽ ra đi và không theo đuổi cuộc điều tra nữa?”
                      “Đúng vậy. Anh ta là một người đàn ông của gia đình, Abigail ạ, và với người vợ đang mong chờ đứa con thứ ba ra đời, anh ta không muốn mạo hiểm cuộc sống của mình vì vụ này hay chuốc lấy những khó chịu và áp lực của một phiên tòa. Công ty của anh ta sẽ chẳng muốn giải quyết chuyện công luận mà chúng ta có thể tạo ra, đặc biệt khi một trong những thám tử của họ đã nhìn thấy những bức ảnh chụp tình trạng thiệt hại ở khách sạn. Và hơn thế, anh ta không hề ưa gã Blake hay thằng con.”
                      “Nhưng anh ta làm cho họ đấy thôi.”
                      “Đường vòng thôi mà. Anh cũng làm việc cho họ, vòng vèo mà, vì anh là công chức. Điều đó không có nghĩa là anh phải ưa bọn họ.”
                      “Anh nói đúng, dĩ nhiên rồi.”
                      “Anh đưa ra một thỏa thuận cho anh ta, một thỏa thuận anh ta có thể thực hiện. Anh ta có thể nộp các báo cáo, hoàn thành hợp đồng với khách hàng, tiếp tục công việc.”
                      “Nếu không còn nguy hiểm từ chỗ đó nữa thì logic anh sử dụng để liên hệ với các cơ quan chức năng hiện nay, để tiến tới việc ra làm chứng, sẽ không cần nữa.”
                      Anh nhoài người để giữ yên hai bàn tay của cô một lúc, kéo ánh mắt cô nhìn anh. “Vẫn như vậy nếu em hiểu rằng ra ngoài đường vẫn có chuyện gì đó như thế này xảy ra lần nữa. Nếu em hiểu rằng em chưa hề cảm thấy gắn bó được ở đây, như điều cả hai chúng ta đều muốn, cho tới khi em kết thúc việc này.”
                      “Đúng vậy, nhưng có lẽ chúng ta có thể trì hoãn lại, dành thêm thời gian để...” Cô ngưng nói khi anh chẳng nói gì, chỉ nhìn cô. “Trì hoãn là một cái cớ. Nhưng đó là sợ hãi, không phải sự can đảm.”
                      “Anh chẳng bao giờ nghi ngờ lòng can đảm của em, hay phê phán cách em xử lý vấn đề.”
                      “Điều đó rất có ý nghĩa với em. Em muốn nó kết thúc, Brooks. Em rất muốn. Việc có những bước đi thích hợp để tiến tới kết thúc là điều rất đáng sợ, nhưng nó cũng là sự giải thoát.”
                      “Vậy anh hy vọng em sẽ được giải thoát khi biết Đại úy Anson ở Chicago. Ông ấy định liên hệ với đặc vụ Garrison tối nay.”
                      “Ông ấy gọi cho anh à?”
                      “Lúc chiều muộn, dùng loại điện thoại sử dụng một lần.”
                      “Em rất biết ơn ông ấy.” Cô bắt đầu xay tỏi, mắt cô chăm chú nhìn vào tay mình, vào con dao, trong khi áp lực dồn nén trong ngực cô. “Em hy vọng cô ấy sẽ tin.”
                      “Em đã lựa chọn một phụ nữ thông minh, có năng lực và trung thực.”
                      “Vâng, em rất cẩn trọng khi lựa chọn.”
                      “Anson là một người thông mình, có năng lực và trung thực. Chúng ta không phải lo đâu.”
                      “Cả hai chúng ta đều có những lựa chọn hợp lý. Thật tốt mọi việc đang diễn ra rất nhanh. Trì hoãn là không hợp lý một khi các quyết định đã được đưa ra, cho nên tốt nhất là tiến hành thật nhanh.”
                      Cô rót dầu ô liu, múc một ít tương mù tạt Dijon vào bát. Sau một lúc lơ đễnh, cô cho thêm một ít dấm thơm. “Ngoại trừ phía em.”
                      “Em sẽ làm được thôi.”
                      “Tại thời điểm này em chưa tự tin.”
                      “Anh cũng vậy, cho nên cần chút thời gian.” Anh nhìn cô múc một ít nước xốt Worcestershire vào bát, rồi thêm một ít gia vị Ý mà anh biết cô hay dùng làm nước xốt. Tiếp đến là tỏi, một ít tiêu, một ít húng tươi đã thái nhỏ.
                      “Em đang làm gì vậy, Abigail?”
                      “Em sẽ phủ khoai tây với món này rồi đem chiên. Em đang thử làm,” cô nói thêm lúc bắt đầu xóc tất cả lên để trộn. “Đây là khoa học, và khoa học giúp em đứng vững. Làm thí nghiệm rất thú vị nếu kết quả như ý. Thậm chí khi không được vậy thì quá trình thử nghiệm cũng vẫn thú vị.”
                      Anh không sao rời mắt được khỏi cô.
                      Cô trộn, ngửi, nheo nheo mắt, cho thêm một ít gì đó nữa.
                      Đẹp như tranh, anh nghĩ thầm, với mái tóc cô vẫn còn ẩm một chút sau khi tắm và quấn gọn ra sau thành một túm đuôi ngựa nâu bóng. Cô mặc một chiếc áo phông cộc tay và chiếc quần bò xắn lên trên đầu gối.
                      Một trong chín khẩu súng của cô nằm trên quầy bếp cạnh cửa sau, ngay trong tầm với.
                      Gương mặt cô, đôi mắt xanh lục to tròn kia, rất tỉnh táo, rất nghiêm túc, khi cô cho khoai tây vào một chiếc bát lớn, rót thứ hỗn hợp thử nghiệm lên trên, và với lấy một chiếc muôi gỗ.
                      “Lấy anh nhé, Abigail.”
                      Cô đánh rơi chiếc muôi. Bert thong thả tiến lại hít ngửi cái muôi.
                      “Chà, câu đó vừa bật ra thôi,” anh nói khi thấy cô trân trân nhìn anh.
                      “Anh đang đùa chứ gì.” Cô nhặt muôi lên, để vào bồn rửa, lấy một chiếc khác trong chiếc ống sứ. “Bởi vì em đang nấu ăn, và đây là không gian nhà bếp.”
                      “Anh không hề đùa. Anh đã định bố trí khung cảnh thật kỹ càng hơn khi anh hỏi em câu đó. Có ánh trăng như em muốn, có hoa, có lẽ cả một chút rượu champagne. Một chuyến dã ngoại là những gì anh đã nghĩ trong đầu. Một chuyến dã ngoại dưới ánh trăng tới địa điểm em thích có khung cảnh đồi núi. Nhưng anh đang ngồi đây, nhìn em, và câu đó cứ bật ra thôi.”
                      Anh vòng qua quầy bếp, cầm lấy cái muôi, đặt nó sang bên cạnh để anh có thể nắm lấy cả hai bàn tay cô. “Lấy anh nhé, Abigail.”
                      “Anh đang nghĩ vớ vẩn đấy. Đây không phải là chuyện chúng ta có thể nghĩ đến, thảo luận càng khó, đặc biệt khi tình thế của em vẫn rất bấp bênh.”
                      “Mọi việc lúc nào cũng bấp bênh. Không phải chỉ thế này,” anh nói thêm. “Anh thề với em chúng ta sẽ kết thúc vụ này, chúng ta sẽ giải quyết nó. Nhưng lúc nào chẳng có chuyện gì đó. Và anh nghĩ giờ là lúc quá thích hợp, trước khi nó kết thúc, trước khi nó được giải quyết, bởi vì chúng ta có thể hứa hẹn với nhau khi mọi điều ngoài kia không được suôn sẻ.”
                      “Nếu hỏng việc...”
                      “Vậy thì việc bị hỏng. Đâu phải chúng ta.”
                      “Kết hôn...” Cô rút hai tay ra, dùng tay trộn lớp phủ trên khoai tây. “Đó là một hợp đồng dân sự thường đổ vỡ ít nhất bằng một nửa thời gian của các giấy tờ khác. Những người đi đến hôn nhân hứa hẹn với nhau mãi mãi, trong khi trên thực tế...”
                      “Anh đang hứa với em mãi mãi đây.”
                      “Anh đâu thể biết?"
                      “Anh tin tưởng.”
                      “Anh - anh chỉ mới chuyển đến. Chỉ vừa mới treo quần áo trong tủ.”
                      “Em nhận ra điều đó phải không?”
                      “Vâng. Chúng ta biết nhau chưa đầy ba tháng.” Cô lấy ra một chiếc nồi đất và mải mê múc rồi trút khoai tây đã trộn xốt vào đó. “Chúng ta có một tình thế khó khăn cần giải quyết. Nếu anh cảm thấy rất chắc chắn về vấn đề này, và tiếp tục cảm thấy chắc chắn, thì em sẵn sàng thảo luận quan điểm của chúng ta về chuyện này vào một thời điểm thích hợp hơn.”
                      “Trì hoãn là một cái cớ.”
                      Cô cho nồi đất vào lò, xoay lại phía anh. “Anh nghĩ dùng gậy ông đập lưng ông là khôn ngoan hả.”
                      “Anh nghĩ thế là thích hợp.”
                      “Và tại sao anh cứ làm cho em mất bình tĩnh vậy? Em không thích bị mất bình tĩnh. Tại sao anh không mất bình tĩnh nhỉ?”
                      “Anh không ngại bị cười.” Anh nhún vai, nhấc ly nước chanh của mình lên. “Lúc này chưa đúng thời điểm. Nhưng anh quan tâm đến cách em ràng buộc mình hơn bởi vì anh yêu em và anh muốn cưới em.”
                      “Em không ràng buộc mình đâu. Em rất rõ ràng đưa ra quan điểm của mình về chuyện kết hôn, và...”
                      “Không, em rất rõ ràng cho anh biết quan điểm của mẹ em thôi.”
                      Rất cẩn thận, cô cầm chiếc khăn lên, lau tay mình. “Anh nói quá đáng rồi.”
                      “Anh không nghĩ vậy, và anh không nói đến điều đó để làm em buồn. Em đang đưa ra những thống kê và logic lạnh lùng. Đó là cách của mẹ em.”
                      “Em là một nhà khoa học.”
                      “Đúng như vậy. Nhưng em cũng là một phụ nữ chu đáo, biết quan tâm. Một người muốn có ánh trăng và hoa dại. Hãy cho anh biết cái phần đó trong em muốn điều gì, cái phần đó trong em cảm thấy thế nào, chứ không phải những gì mẹ em nhồi nhét vào đầu em.”
                      “Sao chuyện này với anh lại dễ dàng vậy?”
                      “Bởi vì em là người anh muốn. Bởi vì anh chẳng bao giờ cảm nhận với bất kỳ ai những gì anh cảm nhận với em. Anh muốn được cả đời bên em, Abigail. Anh muốn một mái nhà với em, một gia đình với em. Anh muốn có con với em, nuôi nấng chúng cùng em. Nếu em thực sự không muốn điều gì như vậy với anh, anh sẽ dành cho em những gì tốt nhất anh có, và hy vọng em thay đổi suy nghĩ. Anh chỉ cần em nói với anh em không muốn vậy.”
                      “Em muốn vậy! Nhưng em...”
                      “Nhưng sao?”
                      “Em không biết nữa! Làm sao người ta suy nghĩ được khi mà người ta cảm thấy rất nhiều chứ?”
                      “Em có thể làm được. Em có bộ óc lớn đi kèm với một trái tim lớn. Lấy anh nhé, Abigail.”
                      Anh ấy đúng, dĩ nhiên rồi. Cô có thể nghĩ được. Cô có thể nghĩ được cuộc đời mình sẽ như thế nào nếu không có anh, và sẽ như thế nào nếu cô gạt bỏ những cảm xúc ấy và chỉ dựa vào cái logic lạnh lùng.
                      “Em không thể viết tên thật của em lên giấy đăng ký kết hôn được.”
                      Anh nhướng mày. “Chà, nếu thế, hãy quên đi.”
                      Cô phì cười. “Em không muốn quên. Em muốn nói đồng ý.”
                      “Vậy hãy nói đồng ý.”
                      “Em đồng ý.” Cô nhắm mắt lại, cảm thấy quay cuồng với niềm vui sướng. “Em đồng ý,” và choàng tay quanh người anh.
                      “Thế này mới đúng,” anh thì thầm, áp môi lên má cô. “Anh là người đàn ông may mắn nhất trên đời.” Anh hôn lên môi cô, lên má bên kia của cô. “Mẹ anh nói rằng phụ nữ khóc khi họ hạnh phúc bởi vì trong họ ngập tràn cảm xúc nên họ muốn để nó trào ra, muốn chia sẻ nó. Và những giọt nước mắt lan tỏa niềm hạnh phúc ấy.”
                      “Đúng như vậy. Em hy vọng món khoai tây rất ngon.”
                      Bật cười, anh tì trán mình vào trán cô. “Em đang nghĩ về món khoai tây à? Lúc này à?”
                      “Bởi vì anh hỏi cưới em khi em đang chế biến món ăn. Nếu nó ngon lành thì sẽ là một món rất đặc biệt. Chúng ta sẽ kể lại câu chuyện cho con cái mình.”
                      “Nếu hỏng thì chúng ta cũng vẫn kể lại câu chuyện mà.”
                      “Nhưng chúng ta sẽ không được thưởng thức khoai tây ngon.”
                      “Chúa ơi, anh yêu em quá đi.” Anh siết chặt cô cho đến khi cô kêu lên.
                      “Em chưa bao giờ tin mình có được thế này, bất kỳ điều gì, và giờ em có được quá nhiều. Chúng ta sẽ tạo dựng cuộc sống cùng nhau, xây dựng một gia đình. Chúng ta là bạn đời.” Cô lùi lại, nắm chặt tay anh. “Và hơn nữa. Chúng ta sẽ hòa quyện cuộc sống của mình lại. Thật tuyệt vời. Con người là những cá thể, với bản chất riêng của mình, nhưng họ vẫn hợp lại và hoạt động như một sinh thể duy nhất. Của anh, của em, nhưng thứ mạnh mẽ nhất lại là của chúng ta.”
                      “Hay đấy, ‘của chúng ta.’ Hãy dùng cụm từ đó thật nhiều.”
                      “Em chạy ra ngoài hái rau diếp của chúng ta để làm món salad của chúng ta, rồi chúng ta còn ăn bữa tối của chúng ta nữa.”
                      “Chúng ta cũng là cụm từ hay. Chúng ta sẽ cùng ra ngoài.”
                      ”Em thích thế hơn.” Cô hướng ra cửa, sững lại khi ý nghĩ của cô trở nên rõ ràng. “Tính phối hợp. Tính hợp nhất.”[25]
                      “Nếu em muốn phối hợp hay hợp nhất gì đó, thì tốt hơn cả hãy lấy món khoai tây ra đi.”
                      “Không phải cấu trúc phân tầng hay gắn kèm. Tích hợp lại. Hợp vào làm một. Những cấu trúc riêng rẽ - các mã cá nhân - nhưng có thể hợp thành một thể.”
                      “Anh không nghĩ em vẫn còn đang nói về chúng ta.”
                      “Đó là câu trả lời. Một mối đe dọa tích hợp, đúng, em đã làm thử như thế, nhưng phải làm thêm - khác hơn chứ không chỉ kết hợp. Phải là phối hợp. Tại sao trước đây em lại không nghĩ ra nhỉ? Em làm được mà. Em tin em làm được. Em cần thử xem sao.”
                      “Em làm đi. Anh có thể lo bữa tối. Trừ việc anh không biết khi nào thì cho món khoai tây ra.”
                      “Ồ.” Cô nhìn đồng hồ, tính toán. “Trộn và vặn thêm mười lăm phút nữa. Khoai sẽ chín sau ba mươi phút.”
                      Chỉ trong một giờ, cô tính toán lại, viết lại các mã, cấu trúc lại thuật toán. Cô kiểm tra sơ bộ, ghi lại những khu vực cô cần điều chỉnh hoặc củng cố.
                      Khi dứt ra khỏi công việc, cô không biết Brooks và Bert ở đâu, nhưng nhìn thấy Brooks đã để lò nướng sang chế độ giữ ấm.
                      Cô thấy cả hai ở hiên sau, Brooks cầm một quyển sách, còn Bert gặm miếng da thô.
                      “Em làm anh phải đợi bữa tối rồi.”
                      “Anh vừa mới nướng thịt thôi. Tình hình thế nào?”
                      “Nó sẽ hoạt động, và vượt xa mức hoàn hảo. Thậm chí khi em hoàn thành, em cần Romulan.”
                      “Làm gì cơ?”
                      “Ồ, đó là một thuật ngữ em dùng trong ngôn ngữ lập trình của em. Romulan là một chủng tộc hư cấu. Lấy từ phim Star Trek. Em thích xem Star Trek.”
                      “Tất cả những người thông minh nhưng ngờ nghệch đều vấp mà.”
                      Cách anh nói câu đó giống như một lời âu yếm, và khiến cô mỉm cười. “Em không biết như thế có đúng không, nhưng với em thì đúng. Chủng Romulan có một thiết bị ngụy trang, khiến cho phi thuyền của họ tàng hình.”
                      “Vậy em cần làm cho virus của em tàng hình. Romulan?”
                      “Vâng. Ngụy trang nó như thể vô hại - giống như con ngựa thành Troy chẳng hạn - là một lựa chọn, nhưng tạo vỏ bọc cho nó còn hay hơn. Và như thế mới đúng hướng. Nó sẽ phát huy tác dụng.”
                      “Sau đó chúng ta tha hồ ăn mừng.”
                      Họ có hoàng hôn, và những gì Abigail xem là bữa tối đính ước của họ.
                      Lúc trăng lên, điện thoại trong túi Brooks đổ chuông. “Là đại úy đấy.”
                      Abigail đặt hai tay lên đùi, đan các ngón vào nhau, siết chặt. Cô cố gắng hít thở từ từ khi nghe thấy Brooks kết thúc cuộc trò chuyện và cố diễn giải những gì Anson nói với anh.
                      “Thế là ông ấy liên hệ rồi,” cô nói, khi Brooks kết thúc cuộc gọi.
                      “Đúng vậy. Cô ấy nghi ngờ. Anh sẽ không đánh giá cao cô ấy nếu như cô ấy không nghi ngờ. Cô ấy kiểm tra phẩm chất của đại úy, đặt rất nhiều câu hỏi. Về cơ bản là tra hỏi ông ấy, cô ấy biết vụ việc của em. Anh đoán mọi đặc vụ và cảnh sát Tư pháp ở Chicago đều biết. Cũng chẳng thể dám chắc cô ấy tin chuyện đại úy không hề biết em đang ở đâu, nhưng cô ấy không tin cũng đành chịu thôi, bởi vì đâu có kết nối hay liên hệ gì giữa hai người.”
                      “Nhưng họ sẽ cần em xuất hiện. Họ sẽ muốn phỏng vấn em, phỏng vấn riêng Elizabeth Fitch.”
                      “Em kiểm soát chuyện đó mà.” Mắt anh nhìn cô, đặt một tay lên đôi bàn tay căng thẳng của cô. “Em tới khi em sẵn sàng. Họ nói chuyện hai tiếng, và đồng ý gặp vào ngày mai. Sau dó chúng ta sẽ biết nhiều hơn.”
                      “Giờ thì cô ấy liên hệ với cấp trên.”
                      “Mười phút sau khi Anson về, cô ấy ra ngoài, lên xe. Ông ấy cũng không dám chắc cô ấy có bị bám đuôi không, nhưng vẫn theo cô ấy tới nhà của trợ lý giám đốc. Anson gọi báo tin ngay sau khi cô ấy vào trong. Rồi ông ấy rời đi luôn. Sẽ chẳng khôn ngoan nếu cứ chầu chực ở đó.”
                      “Giờ thì họ biết em vẫn còn sống. Họ biết em là nhân vật tvoi drug.
                      “Họ nghĩ cả hai điều đó thì đều có lợi cho em mà.”
                      “Có lý.” Cô thở thật sâu. “Giờ thì không quay lại được rồi.”
                      “Cả hai chúng ta.”
                      “Em muốn làm việc, ít nhất là thêm một hai tiếng nữa.”
                      “Được rồi, nhưng đừng cố sức quá. Ngày mai chúng ta có bữa tiệc nướng ngoài trời đấy.”
                      “Ôi, nhưng...”
                      “Dễ thôi, và rất bình thường, và là một đợt giải lao mà cả hai chúng ta đều có thể tranh thủ. Vài tiếng đồng hồ dứt ra khỏi tất cả những chuyện này.” Anh đưa một tay vuốt tóc cô. “Sẽ ổn thôi, Abigail. Tin anh đi. Và chúng ta sẽ thông báo về chuyện đính hôn.”
                      “Ôi trời.”
                      Bật cười, anh giật giật nhẹ túm tóc anh vừa vuốt. “Cả nhà anh sẽ nhảy cẫng lên vì vui, anh đoán vậy. Anh phải chú ý tìm cho em một chiếc nhẫn đây,” anh nói thêm.
                      “Sao anh không đợi hãy nói với mọi người? Nhỡ có gì không ổn...”
                      “Chúng ta sẽ bảo đảm không có chuyện gì.” Anh hôn nhẹ cô. “Đừng làm việc quá muộn nhé.”
                      Làm việc, cô nghĩ thầm lúc anh để cô lại một mình. Ít nhất cô biết mình đang làm gì, biết những gì mình cần chống chọi. Không thể quay lại, cô tự nhủ khi ngồi xuống chỗ làm việc. Cho cả hai người.
                      Nhưng cô vẫn cảm thấy tự tin trước viễn cảnh đánh bại đám Mafia Nga hơn là tham dự một buổi tiệc thịt nướng ngoài trời.
                      #26
                        Thanh Vân 29.11.2023 19:28:16 (permalink)

                        27


                        Cô choàng tỉnh khỏi giấc mơ. Trong đêm tối. Không có tiếng súng, cô nhận ra như vậy, chỉ là tiếng sấm. Không có vụ nổ nào mà chỉ là những ánh chớp.
                        Chỉ là một cơn bão, cô nghĩ thầm. Chỉ có gió và mưa.
                        “Ác mộng à?” Brooks thì thầm, lần tìm tay cô trong bóng tối.
                        “Bão làm em thức giấc.” Nhưng cô vẫn ra khỏi giường, bồn chồn, đi tới bên cửa sổ. Muốn đón chút không khí mát mẻ, cô mở toang cửa sổ, để cho gió thốc lên da thịt, thổi tung mái tóc cô.
                        “Em đã nằm mơ.” Qua một ánh chớp nữa, Cô trông thấy những ngọn cây lay động. “Trước kia anh từng hỏi em có gặp ác mộng hay hồi tưởng lại không. Em chưa trả lời rõ ràng. Em không thường gặp vậy, nhất là khi so với ngày trước, và những giấc mơ là sự tái hiện hơn là ác mộng.”
                        “Thế không phải cũng như nhau sao?”
                        “Về cơ bản là thế.”
                        Cô đứng yên, gió mát lạnh, bầu trời như một quả trứng đen thẫm nứt vỡ vì những tia chớp loằng ngoằng.
                        Anh đợi cô kể cho anh nghe, cô biết vậy. Anh rất kiên nhẫn, nhưng không như mẹ anh, sự kiên nhẫn của anh còn có sự ân cần.
                        “Em ở trong phòng ngủ của mình tại nhà an toàn. Hôm đó là sinh nhật em. Em rất vui. Em vừa mới đeo đôi khuyên tai và mặc chiếc áo len mà chú John và chị Terry tặng em làm quà. Và trong giấc mơ em nghĩ, đúng y như lúc đó, những thứ đó thật đẹp. Em nghĩ em sẽ mang chúng, vì những tình cảm mãnh liệt, tốt đẹp họ dành cho em, khi em ra làm chứng. Rồi em nghe thấy tiếng súng.”
                        Cô vẫn để cửa sổ mở rộng lúc cô quay người nhìn anh ngồi dậy trên giường, đang quan sát cô.
                        Ân cần, cô lại nghĩ. Cô hy vọng cô không bao giờ coi nhẹ sự ân cần bẩm sinh của anh.
                        “Mọi chuyện trong mơ diễn ra rất chậm, mặc dù thực tế không hề chậm. Em nhớ mọi chuyện, mọi chi tiết, mọi âm thanh, mọi chuyển động. Nếu em có khả năng, em đã vẽ ra, từng cảnh một, và dựng lại như một bộ phim hoạt hình.”
                        “Thật khổ cho em vì nhớ rõ ràng đến vậy.”
                        “Em...” Cô không nghĩ đến điều đó. “Em nghĩ đúng như vậy. Hôm đó trời cũng bão, như tối nay. Sấm chớp, gió mưa. Tiếng súng đầu tiên làm em giật mình. Làm mạch đập của em lỡ nhịp, nhưng em không hoàn toàn tin đó là tiếng súng. Rồi đến những tiếng súng khác, không thể nhầm được nữa. Em rất sợ, rất mất tự tin, nhưng em vọt ra ngoài đi tìm chú John. Nhưng trong giấc mơ tối nay, không phải chú John xô em trở lại phòng ngủ, loạng choạng phía sau em, hấp hối dần, máu chảy tràn, ướt đẫm chiếc áo sơ mi em bịt vào vết thương. Không phải chú John. Mà là anh.”
                        “Không khó đoán ra điều đó.” Cô nhìn thấy anh trong một tia chớp nhá lên, mắt anh sáng và bình tĩnh nhìn cô. “Cũng dễ hiểu thôi mà.”
                        “Không, không khó. Căng thẳng, cảm xúc, việc em cứ thấy đi thấy lại tất cả những sự kiện đó. Những gì em cảm nhận về chú John và chị Terry, nhưng đặc biệt với chú John, là sự yêu thương. Em nghĩ, giờ em hiểu những điều như thế rõ hơn, em yêu quý chú ấy. Trong sáng, không nhục dục, nhưng mãnh liệt theo cách của nó. Chú ấy đã thề bảo vệ em, và em tin chú ấy làm vậy. Chú ấy có phù hiệu, vũ khí, nghĩa vụ, như anh vậy.”
                        Cô đi lại phía giường nhưng không ngồi. “Người ta thường nói với người họ yêu thương: Anh sẽ chết vì em. Họ không mong điều đó, dĩ nhiên là vậy, không có kế hoạch như vậy. Họ có thể tin điều đó, hoặc hàm ý như thế, hoặc chỉ đơn giản là một cách biểu thị sự tận tụy. Nhưng em biết điều đó giờ nghĩa là sao, giờ em hiểu cái tầng sâu cảm xúc đó. Và em biết anh sẽ chết vì em. Anh đặt mạng sống của anh trước của em để bảo vệ em. Và điều đó làm em sợ.”
                        Anh cầm lấy tay cô, và hai bàn tay anh kiên định như đôi mắt anh vậy. “Chú ấy không được cảnh báo. Chú ấy không biết kẻ thù. Chúng ta thì biết. Chúng ta không rơi vào ổ phục kích đâu, Abigail. Chúng ta tổ chức phục kích.”
                        “Vâng.” Thế là đủ, cô tự nhủ mình. Thế là đủ. “Em muốn anh biết rằng, nếu anh bị thương trong trận phục kích, em sẽ rất thất vọng.”
                        Cô ngạc nhiên khi nghe anh bật cười. “Thế nếu đó chỉ là một vết thương da thịt thì sao?” Anh nắm lấy tay cô, kéo cô ngồi xuống.
                        “Rất thất vọng.” Cô quay về phía anh, nhắm mắt lại. “Và em sẽ không thông cảm đâu.”
                        “Em là một phụ nữ cứng rắn và mạnh mẽ. Anh đoán anh sẽ phải tránh những vết thương da thịt.”
                        “Tốt nhất là như vậy.”
                        Cô ngả người vào anh, lắng nghe trận bão chuyển dần về phía tây.
                         
                        Buổi sáng, khi bầu trời trong và xanh ngắt, nhiệt độ tăng lên, cô làm việc thêm một tiếng nữa.
                        “Em cần chạy thử xem sao,” Brooks bảo cô.
                        “Vâng. Em cần điều chỉnh cho ổn. Gần đạt rồi, nhưng chưa hoàn hảo. Em không muốn làm gì khác cho tới khi em xem xét được vài lựa chọn. Giờ em đang kiểm tra thứ khác. Không liên quan.”
                        “Anh cũng kiểm tra tình hình chỗ Anson. Ông ấy sẽ gặp Garrison và trợ lý giám đốc Cabot trong chín mươi phút nữa.”
                        “Em đoán chừng em cần thêm một ngày nữa cho chương trình này.” Cô liếc nhanh ra sau. “Em không thể để lộ cho cơ quan chức năng những gì em có kế hoạch thực hiện. Vì nó không hợp pháp.”
                        “Anh rất hiểu mà. Tại sao em không tiết lộ với anh chứ?”
                        “Tốt hơn em đợi đến lúc làm xong, khi em chắc chắn có thể làm những gì em hy vọng làm được.” Cô định nói thêm, rồi lắc đầu. “Thôi để sau vậy. Em chưa biết nên mặc đồ gì cho chiều nay hay...” Cô bỏ lửng, cảm thấy sợ sệt, xoay ghế. “Sao anh không bảo em trước?”
                        “Sao cơ?” Vẻ khổ sở bất ngờ thấy rõ của cô làm anh phải bỏ dở bát ngũ cốc anh vừa đổ ra. “Bảo em gì cơ?”
                        “Em cần mang một món ăn bí mật đến nhà mẹ anh. Anh biết rất rõ là em không quen với các quy tắc. Anh phải nói với em chứ.”
                        “Chẳng có quy tắc gì cả. Chỉ là...”
                        “Trên đây có nói mà.” Cô chỉ ngón tay vào màn hình. “Khách khứa thường mang một món ăn bí mật, có lẽ là một đặc sản riêng.”
                        “Ở đâu cơ?”
                        “Trên mạng. Em đang tìm hiểu về nghi thức tiệc thịt nướng.”
                        “Trời đất ơi.” Vừa thích thú vừa ngạc nhiên, anh rót sữa vào bát. “Chỉ là một buổi họp mặt với nhau, không phải là một công việc trịnh trọng cần đến nghi thức. Anh đã mua thêm bia rồi. Chúng ta sẽ cầm theo một chai vang.”
                        “Em phải làm món gì đó, thế mới đúng.” Cô chạy vào bếp, bắt đầu lục tủ lạnh, chạn của mình.
                        Anh đứng lên, nhìn theo cô và múc ngũ cốc ăn. “Abigail, bình thường thôi. Em không cần làm gì cả. Sẽ có rất nhiều đồ ăn.”
                        “Không phải thế! Món cơm trộn orzo. Em có mọi thứ em cần để làm món orzo.”
                        “Được rồi, nhưng để làm gì?”
                        “Mang một món ăn bí mật em tự chuẩn bị là một biểu hiện lịch sự, và một dấu hiệu bày tỏ lòng cảm kích. Nếu em không kiểm tra thì em đã chẳng biết gì, bởi vì anh có chịu nói với em đâu.” Cô đặt một bát nước lên lò nướng, cho thêm muối.
                        “Anh đáng bị phạt đòn.”
                        “Anh nghĩ thế là vui.” Cô chọn cà chua phơi nắng, dầu ô liu, ô liu đen. “Em có thể không biết chính xác chuyện này có tác dụng gì, nhưng em hiểu rất rõ ý kiến của gia đình anh về em sẽ rất quan trọng.”
                        “Mẹ và các chị anh đều thích em mà.”
                        “Họ có thể theo hướng đó, cho tới khi em mất lịch sự đến dự tiệc thịt nướng mà không mang theo một món ăn đã chuẩn bị. Anh ra ngoài và lựa một ít rau húng trong vườn giúp em.”
                        “Anh rất hân hạnh, nhưng anh không biết trông nó thế nào.”
                        Cô ném cho anh một cái nhìn bực bội rồi tự mình chạy vội ra hái.
                        Như thế khiến tâm trí cô dứt khỏi những loại virus máy tính bất hợp pháp và chuyện liên hệ với nhân viên liên bang, anh nghĩ. Và vì cô đang lo lắng, anh nghĩ có lẽ tránh xa cô vài tiếng là hơn. Lúc cô chạy vào, anh ghi nhớ rằng rau húng là một loại lá màu tía, phòng trường hợp lại như thế này.
                        “Anh cần đến đồn vài tiếng,” anh nói.
                        “Vâng. Anh đi đi.”
                        “Em có cần gì không? Trên đường về anh sẽ mua cho.”
                        “Em có mọi thứ rồi.”
                        “Vậy gặp em sau.” Brooks đảo mắt nhìn Bert trên đường đi ra như thể muốn nói, “Ở lại bên nàng may mắn.”
                        Anh vừa ra khỏi cửa thì điện thoại đổ chuông.
                        “Gleason đây.”
                        “Này, sếp. Có chuyện cần xử lý chỗ Hillside Baptist,” Ash báo với anh.
                        “Tôi không giải quyết việc vào ngày tôi nghỉ.”
                        “Chà, là chuyện với tay Blake và nhà Conroy, cho nên tôi nghĩ có thể sếp muốn xử lý.”
                        “Khốn kiếp. Tôi đến đây.” Anh nhảy lên xe, cho xe lùi ra mà vẫn kẹp điện thoại ở tai. “Chuyện đến mức độ nào?”
                        “Lớn tiếng quy kết và chửi bới, rất có khả năng còn căng nữa. Tôi cũng đang tới.”
                        “Nếu đến đó trước tôi, hãy giảm bớt căng thẳng nhé!”
                        Anh nghĩ thầm, Khốn kiếp - vừa bấm còi hú vừa nhấn ga khi xe ra đến đường cái.
                        Chẳng bao lâu đã tới, và xe anh gần như chạm mũi xe Ash khi họ cùng đến từ hai phía đối diện.
                        “Cậu cạo sạch...” Không thể gọi là râu được, Brooks nghĩ. “Lông mặt.”
                        “Vâng, nóng quá.”
                        “Ừ.”
                        Theo Brooks đánh giá, vụ việc đã biến thành cãi cọ, và chỉ còn cách ẩu đả chút xíu, cho nên anh quyết định đợi để trêu chọc Ash về mớ lông tơ cậu ta cạo sạch trên mặt.
                        Lincoln Blake và Mick Conroy đứng ở giữa, vây quanh họ là rất đông người trong bộ lễ phục Chủ nhật. Họ kích động và đứng về hai phía đoạn dốc trồng cỏ xanh rì ngay trước ngôi nhà thờ xây bằng gạch đỏ.
                        Ngay cả Đức cha Goode, Kinh thánh vẫn cầm trên tay, mặt mũi đỏ lựng vuốt vuốt mái tóc bạc trắng của mình.
                        “Bình tĩnh lại đi nào,” Brooks gọi to.
                        Vài giọng nói lắng xuống; vài thái độ hùng hổ dịu lại khi Brooks đi qua.
                        Blake dẫn theo tay trợ lý mặt lạnh như tiền, và Brooks đoán chắc gã có mang súng. Arkansas vẫn có luật chống lại việc đeo súng trong nhà thờ - Chúa mới biết đã bao lâu rồi - nhưng vẫn có một số người tụ tập trên đoạn dốc cỏ xanh mướt kia mang theo súng cùng với cà vạt và những đôi giày bóng lộn.
                        Thêm súng, anh nghĩ bụng, và vụ việc có thể từ cãi cọ biến thành ẩu đả rồi đến một cuộc tắm máu chỉ trong chớp mắt.
                        “Tất cả đang đứng trước nhà thờ đấy.” Anh tỏ thái độ phản đối, thêm chút chán ngán. “Tôi mong tất cả các vị đều đã dự buổi hành lễ sáng nay. Tôi có nghe nói lúc trên đường đến đây rằng chuyện đó không phù hợp tại địa điểm và thời điểm như thế. Còn bây giờ, tôi sẽ yêu cầu tất cả các quý vị phải biết tôn trọng.”
                        “Do Lincoln khơi mào ở đây đấy.” Bà Jill Harris đứng khoanh tay. “Mick vừa định bước ra khỏi cửa thì Lincoln chạm mặt anh ấy.”
                        “Ai cũng có quyền nói ý kiến của mình.” Mojean Parsins, mẹ của Doyle, vặc lại bà cụ già. “Và bà đừng có nhúng mũi vào việc của người khác.”
                        “Tôi có thể làm việc đó nếu cô đừng có nuôi dạy một thằng du côn.”
                        “Thưa các bà.” Biết rằng mình đang mạo hiểm - phụ nữ rất dễ nhảy dựng lên và cắn xé nhau, và chắc chắn sẽ kéo theo đám đàn ông của họ - Brooks bước vào giữa hai người. “Tốt nhất là các bà, và cả những người khác, về nhà thôi.”
                        “Anh giăng bẫy thằng con tôi, anh và cái mụ Lowery kia. Lincoln đã kể cho tôi biết những việc anh làm. Và nhà Conroy ở đây, họ đang tìm cách trục lợi từ một trò nghịch ngợm của đứa trẻ mới lớn.”
                        Hilly Conroy huých cùi chỏ vào chồng mình đứng kề bên. Qua nét mặt, Brooks khẳng định cuối cùng bà ta cũng đã nổi điên. “Mojean Parsins, cô biết thế là nói dối. Tôi biết tỏng cô mà, và nhìn mặt cô là biết ngay cô đang dối trá.”
                        “Dám bảo tôi dối trá à! Thằng con cô phá tanh bành cái khách sạn đó, và cô đang tìm cách bắt thằng con tôi phải trả tiền cho vụ đó.”
                        “Cô đừng có đem con cô so bì với con tôi, Mojean. Nếu cô làm thế, nếu cô tìm cách rêu rao những lời dối trá ấy, cô sẽ phải hối hận đấy.”
                        “Chết đi cho rảnh.”
                        “Thế là đủ rồi.” Chồng Mojean, ông Clint, bước lên. “Thế là đủ rồi, Mojean. Chúng ta về nhà thôi.”
                        “Ông cần phải bênh vực con trai mình!”
                        “Tại sao chứ? Bà vẫn đứng che chắn cho nó cả đời nó rồi. Tôi rất xin lỗi, Hilly, Mick, về trách nhiệm của tôi trong việc để thằng Doyle gây phiền phức. Mojean, tôi sẽ ra xe rồi về nhà. Bà có thể về cùng hoặc ở lại, tùy thôi. Nếu bà ở lại, tôi sẽ không còn nhà khi bà về đâu.”
                        “Ông đừng bảo tôi rằng...”
                        Nhưng ông ta quay lưng, bỏ đi.
                        “Clint!” Sau khi trợn mắt nhìn quanh, Mojean tất tả chạy theo chồng.
                        “Việc này làm tôi mệt mỏi rồi,” Jill lên tiếng. “Tôi sẽ đi bộ về nhà.”
                        “Sao không để Hilly và tôi đưa chị về, chị Harris?” Mick bước lên, cầm lấy tay bà ấy. “Bác rất xin lỗi về chuyện này, Brooks.”
                        “Bác cứ đưa cô Harris về nhà đi.”
                        “Vụ này chưa xong đâu, Conroy.”
                        Mick ném cho Blake một cái nhìn lạnh lùng nhưng không giấu được nét mệt mỏi. “Tôi xin nói với ông lần cuối cùng, tôi sẽ không làm gì với ông hết. Tránh xa tôi, gia đình và tài sản của tôi ra. Hãy bảo tay trợ lý của ông tránh xa tôi, gia đình tôi va tài sản của tôi.”
                        “Nếu anh nghĩ anh có thể bóp nặn thêm tiền của tôi thì anh nhầm đấy. Tôi đã đề nghị rất sòng phẳng rồi.”
                        “Bác về nhà đi,” Brooks nói với Mick, sau đó quay sang Blake.
                        Ở đây, anh chẳng buồn thể hiện thái độ không hài lòng hay thất vọng, Anh rất căm phẫn, và thể hiện rõ luôn.
                        “Tôi sẽ nói chuyện với ông bà Conroy sau.”
                        “Đang dàn xếp những câu chuyện của các người đây mà.”
                        “Tôi cũng sẽ nói chuyện với Đức cha và bà Goode. Ông có muốn bảo rằng họ cũng nói dối không? Sự thật là, chúng tôi sẽ nói chuyện với tất cả mọi người đã chứng kiến hoặc có liên quan đến vụ việc sáng nay. Nếu tôi tìm ra có sự quấy rối từ phía ông, tôi sẽ khuyên nhà Conroy làm đơn xin lệnh cách ly ông và bất kỳ ai ông đang thuê để bám theo họ. Ông sẽ không thích vậy đâu. Ông sẽ càng không thích nếu có người xin lệnh và ông vi phạm nó.”
                        “Anh không được bắt nạt tôi.”
                        “Ông biết rõ thế nào là bắt nạt, cho nên ông biết đó không phải là những gì tôi đang làm. Tôi chỉ đang phác họa tình hình; có lẽ ông cần bàn bạc với luật sư trước khi ông làm bất kỳ việc gì mà ông có thể thấy hối tiếc. Còn bây giờ, ông nên về đi. Vợ ông trông rất khó chịu, và khó xử.”
                        “Chuyện vợ tôi không phải việc của anh.”
                        “Đúng vậy. Nhưng sẽ là việc của tôi nếu ông gây thêm một vụ cãi vã nữa.”
                        “Lincoln.” Nét mặt đã dịu lại, giọng nói bình tĩnh, Đức cha Goode bước lên. “Ta hiểu con đang gặp rắc rối, ta luôn ở đây nếu con muốn làm nhẹ lòng mình. Nhưng ta phải đề nghị con đưa Genny về nhà. Cô ấy trông rất mệt. Ta phải đề nghị con không quay lại ngôi nhà của Chúa này với một mục đích phi tôn giáo nữa. Giờ về nhà đi, Lincoln, và chăm sóc cho vợ con. Ta sẽ cầu nguyện cho con và gia đình con.”
                        “Cứ giữ lấy mấy lời cầu khấn của cha.” Blake bỏ đi, mặc kệ gã trợ lý giúp Genny đi xuống dốc về phía chiếc xe đang đợi sẵn.
                        “Cha sẽ cần cầu nguyện nhiều đấy, thưa Đức cha.”
                        Goode thở dài. “Chúng ta không thể làm gì hơn nữa.”
                        ***
                        Cô thay quần áo ba lần. Bình thường cô hoàn toàn không để ý đến chuyện quần áo trừ phi việc đó có mục đích tạo ấn tượng hay trà trộn. Theo cô tìm hiểu thì trang phục không cần trịnh trọng, trừ phi được nói rõ như vậy. Nhưng có thể gồm váy thường, mà thứ đó thì hiện cô không có.
                        Giờ cô cảm thấy cần thêm đồ.
                        Nếu họ thành công - không, khi họ thành công, cứ suy nghĩ tích cực theo kiểu Brooks đi - cô sẽ cần một tủ quần áo đa dạng hơn.
                        Giờ cô quyết định chọn một chiếc quần bò bó dài quá gối màu xanh thẫm, áo phông đỏ và đôi sandal mà hiếm khi cô mang và chỉ mua trong một lúc ngẫu hứng. Cô dành nhiều thời gian hơn để trang điểm, điều cô cũng ít khi làm từ khi trở thành Abigail, vì trà trộn và không gây chú ý mới là mục đích. Nhưng cô rất thạo việc này, nếu phải tự nhận xét.
                        Cô sẽ sử dụng kỹ năng đó nếu - khi - cô biến thành Elizabeth, hợp tác với cơ quan chức năng và làm chứng chống lại nhà Volkov.
                        Lúc liếc nhìn màn hình xem Brooks về nhà, cô đeo khuyên tai của John tặng, đeo khi cô cảm thấy cần tự tin.
                        Cô đi xuống nhà, thấy Brooks ở trong bếp, đang cau mày nhìn một lon Coke.
                        “Có chuyện hả anh?”
                        “Không liên quan.” Anh bực bội lên tiếng. “Có chuyện suýt thành ẩu đả ở ngay Nhà thờ Hillside Baptist.”
                        “Tôn giáo có tổ chức vẫn có lịch sử không mấy hay ho về chuyện cổ xúy bạo lực.”
                        Anh chỉ xoa xoa lon đồ uống lạnh lên trán mình. “Chuyện này không phải tôn giáo. Blake cãi vã với nhà Conroy - và hắn ta làm chuyện đó ở nhà thờ sáng nay. Hắn làm om chuyện chỗ đông người, tự làm mất mặt, rồi hắn mất kiểm soát. Hắn sẽ không để chuyện này yên đâu. Anh sẽ phải nói chuyện với nhà Conroy về việc tiến hành các thủ tục pháp lý để...” Cuối cùng anh cũng chăm chú nhìn cô. “Trông em xinh quá.”
                        “Em vừa trang điểm. Em nghĩ thế này là hợp lý.”
                        “Quá ổn.” Khi mỉm cười, vẻ giận dữ và căng thẳng mà cô nhìn thấy trong mắt anh tan biến.
                        “Làm sao anh làm được vậy? Thấy thoải mái rất nhanh ấy?”
                        “Anh sắp đưa một phụ nữ xinh đẹp tới tiệc thịt nướng, và chắc chắn điều đó làm dịu tâm trạng bực bội của anh. Món em làm đâu rồi?”
                        Cô lấy từ trong tủ lạnh ra, kèm theo một lốc sáu lon bia. “Nếu anh cảm thấy anh cần giải quyết vụ kia bây giờ, em chắc gia đình anh sẽ hiểu thôi.”
                        “Em đừng tìm cách thoát thân việc này dễ dàng thế nhé. Lòe loẹt nhỉ,” anh nhận xét lúc bưng cái bát lên. “Sẵn sàng chưa nào?”
                        “Chắc rồi.” Cô móc dây buộc cho Bert. “Anh nên nói qua em biết những lĩnh vực quan tâm của mọi người có mặt ở đó. Như thế sẽ giúp em dễ trò chuyện.”
                        “Tin anh đi nào, trò chuyên không phải là vấn đề đâu.” Anh xé bịch bia trên đường đi ra. “Ngay khi chúng ta tuyên bố sẽ làm đám cưới, tất cả phụ nữ ở đó sẽ xúm lại em hỏi về kế hoạch cưới xin đấy.”
                        “Chúng ta đã có đâu.”
                        “Nhớ lời anh này, cưng, em sẽ có trước khi hết ngày hôm nay.”
                        Cô ngẫm nghĩ về câu đó trong lúc đi đường với bát đồ ăn đặt trên đùi và chú chó của cô hít ngửi khoang sau chiếc xe tuần tra không sót chỗ nào.
                        “Có khi họ không vui.”
                        “Về chuyện gì? Anh và em à?” Anh liếc nhanh cô. “Họ sẽ rất vui.”
                        “Em không nghĩ vậy, nếu họ biết rõ tình hình.”
                        “Anh ước sao anh có thể nói với mọi người để chứng minh là em nhầm, nhưng sẽ hay hơn nếu ta không nói.”
                        “Anh có vẻ rất bình tĩnh. Em đã học cách giữ bình tĩnh khi có chuyện cần thay đổi, nhưng rất khác. Rất khó bình tĩnh được, chờ đợi Đại úy Anson gọi, bản khoắn xem nhà chức trách sẽ nói và làm gì. Rồi chuyện ra làm chứng, chuyện theo sát chương trình.”
                        “Cho dù điều gì xảy ra, chúng ta cũng bên nhau. Điều đó làm anh bình tĩnh.”
                        Cô không dám nói vậy. Bụng cô cuộn lên, tim cô đập thình thịch, và qua mỗi dặm đường cô càng phải cố che giấu tâm trạng của mình. Cô cố nghĩ về chuyện này như là sắp chuyển đến một cộng đồng mới, lần đầu xuất hiện với căn cước mới. Mỗi lần vậy thần kinh cô đều căng thẳng, nhưng cô biết cách che giấu, biết cách trà trộn để bất kỳ ai chú ý đến cô đều thấy đúng những gì cô muốn họ thấy.
                        Cách đó đã có tác dụng hàng chục năm. Có tác dụng cho tới khi gặp Brooks. Anh là gì đó rất khác, gì đó hơn thế, nhưng giờ cô coi nó như một điều may mắn. Nếu không có anh, cô sẽ không có cơ hội về một cuộc sống đích thực.
                        Và cuộc sống đích thực cô có thể có được bao gồm cả những bữa tiệc thịt nướng ngoài sân.
                        Lúc anh đỗ xe, cô nghĩ bản thân mình đã hoàn toàn kiểm soát được.
                        “Thư giãn nhé em,” anh nói với cô.
                        “Trông em căng thẳng lắm à?”
                        “Không. Để anh cầm thứ đó, em dắt Bert.”
                        Anh kẹp cái bát dưới cánh tay, nhấc bịch bia lên, và cùng với cô nắm chặt sợi xích, họ tiến về phía ngôi nhà. Về phía tiếng nhạc và những giọng nói, về phía mùi thịt nướng thơm lừng.
                        Cô nhận ra ba người phụ nữ - là mẹ và hai chị gái của Brooks, còn những người phụ nữ, đàn ông và trẻ con khác thì không. Ý nghĩ phải lọt vào giữa đám đông những người lạ mặt như thế này khiến cổ cô khô khốc và tim cô như thót lại.
                        Cô chưa kịp bình tĩnh lại thì bà Sunny đã đặt một chiếc đĩa xuống và vội vã chạy lại. “Các con đây rồi.”
                        “Con có chút việc phải giải quyết,” Brooks nói với bà.
                        “Mẹ nghe rồi.” Bà Sunny khiến Abigail chẳng kịp nói gì bằng một cái ôm rất nhanh, rất chặt rồi mới quay sang xoa xoa đầu Bert. “Cháu xinh quá. Mà gì thế này?”
                        “Cơm trộn orzo ạ,” Abigail cố gắng. “Cháu hy vọng hợp với thực đơn của bác.”
                        “Thực đơn có rất nhiều món thế này và cả các món khác nữa nên sẽ rất hợp. Trông ngon lành quá. Để lên bàn đi, Brooks, rồi con lấy đồ uống cho Abigail. Cả nhà đang uống margarita đấy.”
                        “Để anh giúp em,” anh nói với Abigail. “Theo sau anh.”
                        “Chị Mya con gái bác - cháu đã gặp Mya và Sybill rồi - pha margarita thì hết sảy. Sao cháu không tháo xích cho Bert để nó chơi với Plato?”
                        Abigail cúi xuống trong khi hai con chó hít ngửi và vẫy đuôi chào nhau.
                        “Nó vẫn ổn khi có bọn trẻ chạy quanh chứ?” bà Sunny hỏi.
                        “Vâng. Nó rất biết điều, rất kiên nhẫn. Nó sẽ không tấn công trừ phi cháu ra lệnh. Hoặc cháu bị tấn công.”
                        “Chúng ta chắc chắn là chẳng có ai tấn công cháu đâu. Nào đến gặp Mick và Hilly Conroy. Họ là bạn cũ, còn kia là con trai họ, thằng Russ - bạn thân nhất của Brooks, - với vợ nó, Seline, và con bé con CeeCee. Nhà họ đang gặp phiền phức,” bà Sunny vừa đi vừa nói. “Bác hy vọng giúp họ vui lên.”
                        “Đúng là chuyện không may. Anh Brooks rất quan tâm đến vụ này.”
                        “Tất cả mọi người ở đây đều vậy. Đây là Abigail,” bà Sunny nói khi họ nhập với cả nhóm.
                        “Vừa đúng lúc.” Người phụ nữ trẻ có làn da nâu mịn màng nổi bật với đôi mắt màu lục mà cô ấy dùng để ngắm Abigail lên tiếng. “Tôi bắt đầu nghĩ có khi là Brooks chỉ hư cấu về cô thôi.”
                        “Không. Không phải vậy đâu.” Abigail vội nói.
                        “Đây là Seline, và bé CeeCee, còn đây là Russ. Bố mẹ Russ, bạn của nhà bác, ông bà Mick và Hilly.”
                        “Bác đã thấy cháu ở thị trấn một hai lần rồi,” bà Hilly nói. “Rất vui cuối cùng cũng gặp được cháu.”
                        “Cảm ơn bác. Xin chia buồn về chuyện khách sạn của bác. Đó là một công trình đẹp.”
                        “Cảm ơn cháu đã an ủi.” Bà Hilly tựa đầu vào cánh tay chồng, như thể tìm kiếm sự khuây khỏa. “Chúng ta sẽ làm lại nó và còn đẹp hơn nữa. Phải không, anh Mick?”
                        “Chắc chắn rồi. Bác nghe nói thằng ranh Blake cũng làm phiền cháu.”
                        “Nó định quấy anh Brooks, nhưng nó không thành công. Nó có vẻ là một đứa rất cáu bẳn, rất ngu ngốc và có xu hướng bạo lực. Nó sẽ phải trả giá.”
                        “Tất cả chúng ta đều có thể uống món kia,” Mya nói, khi cô sải bước tới, mỗi tay cầm một ly margarita. “Bố có việc với Brooks một phút rồi, cho nên chị sẽ phục vụ em đồ uống.”
                        “Ôi, cảm ơn chị. Nhìn rất... nhiều bọt.” Cô thử nhấp một chút, nhận ra rượu tequila đậm và êm thấm qua lớp bọt. Ngon quá.
                        “Cũng được đấy chứ nhỉ?”
                        Trong khi Mya nói vậy, bà Sunny đặt một tay lên vai Abigail. “Cháu nói rất đúng về Bert.”
                        Theo hướng của bà, Abigail nhìn thấy Bert nằm rất ngoan trong khi chú cún nhỏ nhảy nhót quanh nó, một cô bé chân rất dài xoa xoa cổ nó, còn một cậu bé tóc bạch kim vuốt ve lưng nó.
                        “Nó rất biết điều,” Abigail trấn an bà. “Và cháu nghĩ nó rất thích được quan tâm.”
                        “Nó to như một chú ngựa ấy nhỉ,” Seline nhận xét.
                        Abigail không đồng ý. Nói cho cùng, một chú ngựa bình thường cũng vẫn lớn hơn nhiều. Nhưng cô phải nhắc mình không cần quá cụ thể vậy.
                        “Vóc dáng của nó làm cho những kẻ đột nhập phải ngại.”
                        “Làm bớt những chuyện tào lao,” Russ nhận xét. “Giờ chúng tôi sắp sinh thêm em bé rồi, tôi đang bàn với Seline mua một con Labrador.”
                        “Chó xù đi.”
                        “Chó cái nhé.”
                        “Chúng ta đều là nữ.” Cô ấy hôn lên má con gái mình. “Anh là thiểu số rồi.”
                        “Thêm thằng cu này là hòa nhau.” Anh ta đưa mấy ngón tay vỗ vỗ bụng vợ. “Nó cần một chú chó chứ không phải một con cún bé xíu.”
                        “Chó xù khôn mà.”
                        “Đó là giống cực kỳ thông minh,” Abigail đồng ý. “Chỉ có chó collie mới được xem là thông minh hơn. Chúng nhanh nhẹn, và nếu được huấn luyện kỹ, rất giỏi và biết nghe lời.”
                        “Thấy chưa?”
                        “Giống Labrador mới đáng gọi là chó. Chúng rất khôn,” Russ nói thêm, van nài Abigail.
                        “Vâng, dĩ nhiên là vậy. Chúng là loài phổ biến nhất ở nước ta, và ở Anh quốc nữa. Chúng sản sinh ra những con chó hỗ trợ rất tuyệt. Chúng trung thành, và hầu hết đều có khả năng săn lùng rất tốt. Chúng rất tuyệt với trẻ nhỏ.”
                        “Trẻ nhỏ.” Anh ta nhấc bổng CeeCee, làm cho con bé cười khanh khách khi anh ấy tung nó lên không. “Chúng ta có một con như thế rồi, đang định thêm con nữa.”
                        “Chó xù rất hợp với trẻ nhỏ.”
                        Khi Seline quay sang Abigail, bà Sunny cười. “Giờ cháu làm được rồi đấy. Hai đứa này sẽ lấy cháu làm trọng tài trong cuộc chiến này. Bác sẽ cứu cháu, dẫn cháu đi xem vườn. Chỉ vài phút nữa là đồ ăn sẵn sàng thôi.”
                        “Có lẽ họ nên cân nhắc một con Labradoodle,” Abigail thì thầm, lúc bà Sunny dẫn đường cho cô.
                        Không khó khăn mấy, cô nhận ra như vậy. Suốt khoảng hai mươi phút, cô đã đi lại và trò chuyên trong vườn, nói chuyện với gia đình và bè bạn của Brooks, trả lời những câu hỏi thú vị liên quan đến Bert từ những đứa trẻ tò mò.
                        Lúc mọi người chật kín quanh các bàn ăn, cô cảm thấy thoải mái hơn nhiều. Và cũng thư thái hơn khi, với thức ăn lúc này trở thành trọng tâm, mọi sự chú ý không còn tập trung vào cô nữa.
                        Một bữa tiệc thịt nướng ngoài sân cũng có cái hay của nó, cô nghĩ. Một khung cảnh bình thường cho việc hòa nhập xã hội, rất nhiều thức ăn do rất nhiều bàn tay chuẩn bị. Đó là một kiểu nghi thức, cô nhận ra như vậy, và có phần mang tính bộ lạc, với những người lớn giúp chia phần, cho ăn hay chăm sóc lũ trẻ nhỏ, với những con chó ở quanh quẩn gần bên - bất chấp việc cô nhăn mặt không đồng ý - đang thích thú thưởng thức những mẩu đồ ăn ném cho chúng.
                        Và cô thích món margarita có lớp bọt dày.
                        “Em thích chứ?” Brooks hỏi cô.
                        “Vâng. Anh nói đúng.”
                        “Cứ vậy nhé.” Anh ghé vào hôn cô, sau đó nâng cốc bia của mình lên. “Tôi nghĩ tất cả mọi người đều sẽ rất quan tâm,” anh nói, không hề cao giọng để át những tiếng trò chuyện ồn ào quanh bàn, “Abigail và tôi sẽ kết hôn.”
                        Và mọi cuộc trò chuyện, tất cả mọi người, đều ngưng bặt. “Em vừa nói gì cơ?” Mya gặng hỏi.
                        “Những gì cô ấy nói mới là quan trọng.” Anh nắm lấy tay Abigail. “Và cô ấy nói đồng ý.”
                        “Ôi trời ơi, Brooks!” Gương mặt Mya rạng ngời với nụ cười tươi. Cô ấy nắm lấy tay chồng mình, bóp mạnh, sáu đó nhảy vòng qua bàn và ôm chầm lấy Brooks từ phía sau. “Không thể tin được.”
                        Rồi dường như tất cả mọi người cùng cất tiếng một lúc, với Brooks, với cô, với nhau. Cô chẳng còn biết ai để mà trả lời, hay nói gì. Nhịp tim cô lại rộn lên trong khi, bên cạnh cô, Brooks nhìn mẹ anh, và bà nhìn anh.
                        “Mẹ,” anh nói.
                        Bà Sunny gật đầu, bật ra một tiếng thở dài, sau đó đứng lên. Anh đứng lên theo bà, khi bà vươn tay, ôm lấy anh. “Thằng bé của mẹ,” bà thì thầm, rồi nhắm mắt lại. Khi bà mở mắt ra, bà nhìn thẳng vào Abigail, chìa một tay ra.
                        Thiếu tự tin, nhưng Abigail vẫn đứng lên. “Bác...”
                        Bà Sunny chỉ lắc đầu, nắm lấy tay Abigail, kéo cô lại. “Mẹ sắp khóc mất, chỉ nửa phút thôi,” bà Sunny nói với họ. “Mẹ có quyền mà. Rồi mẹ sẽ vào nhà và lấy chai rượu champagne chúng ta để dành từ dịp năm mới để ăn mừng sự kiện này.”
                        Bà cứ ôm chặt, thật chặt, rồi từ từ thả ra để hôn lên cả hai má Brooks. Trước sự ngạc nhiên của Abigail, bà Sunny ôm lấy khuôn mặt cô trong tay bà, lần lượt đặt môi lên hai má của Abigail.
                        “Mẹ rất vui vì việc này. Mẹ sẽ đi lấy chai champagne đó.”
                        “Mẹ con cần một phút.” Loren đứng lên, đi tới chỗ con trai mình. “Bà ấy rất vui, nhưng bà ấy cần một phút.”
                        Ông ôm lấy con trai mình, sau đó quay sang ôm Abigail. “Mừng con đến với cả gia đình.” Ông cười to, sau đó ôm chặt, nhấc bổng cô lên.
                        Mọi người lại cùng nói, và Abigail thấy mình quay cuồng giữa những cái ôm, luống cuống trả lời các câu hỏi về thời gian, địa điểm và chuyện váy cưới của cô.
                        Cô nghe thấy tiếng nút chai champagne nổ át mọi câu hỏi, tiếng cười, lời chúc tụng. Cô dựa vào người Brooks, ngước nhìn lên, gặp ánh mắt anh.
                        Gia đình, cô nghĩ.
                        Cô có thể có gia đinh, và hiểu rằng, giờ đây khi cô có thể chạm tới điều đó, cô sẽ làm bất kỳ điều gì, và mọi điều để gìn giữ nó.
                        #27
                          Thanh Vân 29.11.2023 19:28:51 (permalink)

                          28


                          Kế hoạch cưới xin. Abigail nhìn nhận chuyện ấy như một nắm tuyết nhỏ xíu lăn xuống triền núi. Nó to dần, và to dần, và to dần, tích tụ thêm sức nặng, tốc độ, khối lượng, cho tới khi nó sinh ra một trận lở tuyết dữ dội, khủng khiếp.
                          Vào cái buổi chiều say nắng ở sân sau nhà Gleason, trận lở tuyết ấy ầm ầm lao tới cô.
                          “Vậy là, các em đang định đến mùa xuân năm tới à?” Mya hỏi cô.
                          “Mùa xuân? Em...”
                          “Không.” Bên dưới bàn, Brooks vỗ nhẹ lên đùi Abigail. “Em không đợi lâu đến thế.”
                          “Nói năng cứ như đứa chưa hề mảy may biết phải làm gì để cưới xin ấy. Nhà mình đã phải mất mười tháng cho đám cưới của Sybill và Jake đấy - và làm cật lực mới sắp xếp xong mọi việc kịp thời gian.”
                          “Nhưng việc đó rất tuyệt mà,” Sybill nhắc chị.
                          “Em nghĩ chúng em chỉ việc tới trụ sở tòa án,” Abigail nói, và thấy tất cả đám phụ nữ đều há miệng ngạc nhiên.
                          “Nghĩ kỹ hãy nói nhé.” Mya chỉ vào cô.
                          Sybill huých cùi chỏ vào sườn chị gái. “Các em muốn đơn giản chứ gì?”
                          “Vâng. Rất đơn giản.” Cô nhìn Brooks.
                          “Đơn giản, chắc chắn rồi. Em cược là có rất nhiều chuyện đơn giản giữa việc tới trụ sở tòa án cho đến lễ kỷ niệm kim cương đang hình thành trong đầu chị Mya. Em nghĩ đến mùa thu - đủ thời gian làm một cuộc nho nhỏ, chứ không đủ thời gian thuê một rạp xiếc đâu.”
                          “Thế thì chả đến sáu tháng! Chưa đến sáu tháng để tìm váy, đặt chỗ thuê khách sạn, thợ chụp ảnh.”
                          “Thợ chụp ảnh?” Abigail ngắt lời.
                          “Dĩ nhiên rồi. Làm sao em có thể bảo chú Andy của em chụp ảnh cưới cho em được.”
                          “Em chẳng có chú Andy.” Và cô luôn tránh xa ảnh chụp.
                          Ilya đã nhận ra cô lúc ở New York, chỉ mất mấy giây, ngay trên phố. Nếu một bức ảnh của cô bằng cách nào đó lọt lên mạng hay trên một tờ báo, nó có thể - và chắc chắn - dẫn tới việc phát giác và cả một thảm họa.
                          “Xem xét danh sách khách khứa nhé. Chị có thể hỗ trợ ở phía nhà mình. Chị có danh sách của chị, và của Syb. Thế còn bên em, em áng chừng bao nhiêu người?”
                          “Chẳng có ai cả.”
                          “Ồ, nhưng...” Mya không cần một cú huých bằng cùi chỏ hay cái nhìn cảnh báo từ Brooks mới ngưng nói. Cô nói tiếp như thể “chẳng có ai” là điều rất bình thường. “Vậy đúng là đơn giản. Vậy chúng ta chỉ cần một buổi lên kế hoạch, một bữa trưa của phụ nữ với nhau - bởi vì em không có gì phải lo cả,” cô nói với Brooks kèm một nụ cười ngoác đến tận mang tai. ”Cưới xin theo ý cô dâu thôi.”
                          “Với em thế là ổn.”
                          “Chị biết một cửa hàng áo cưới rất tuyệt ở Little Rock,” Mya nói tiếp.
                          “Hiệu White Wedding,” Seline xen vào. “Rất đẹp. Em tìm được váy của mình ở đó.”
                          “Vậy chúng ta chỉ cần dành ra một ngày, tất cả đám phụ nữ chúng ta, tới đó, thử đồ, ăn trưa, tính toán. Chị sẽ phải xem lịch của mình đã.” Mya móc điện thoại ra, bắt đầu lướt màn hình. “Có lẽ chúng ta có thể xếp lịch vào tuần tới.”
                          “Tuần tới,” Abigail ngỡ ngàng.
                          “Con lúc nào cũng như sếp ấy.” Bà Sunny ngồi xuống, nhấp một ngụm margarita. “Đó là một trong những điều chúng ta mến nó, Abigail ạ, nhưng cũng phải quen dần. Mya, sao con không để cho em nó vài ngày, để ổn định xong việc đính hôn đã?”
                          “Con là sếp.” Mya cười khanh khách và hất mái tóc ra sau trong khi chồng cô chúi vào cốc bia. “Và đến khi chúng ta là chị em ư? Chị còn kinh hơn ấy.”
                          “Chị ấy làm thật đấy,” Sybill nói.
                          Abigail nghe có tiếng rì rì của điện thoại để chế độ rung trong túi Brooks. Lúc cô nhìn xuống, anh đã móc ra, kiểm tra màn hình. “Xin lỗi, con cần nhận cuộc gọi này.” Mắt anh gặp mắt cô rất nhanh lúc anh đứng lên, bước cách ra một quãng.
                          Có vẻ kỳ quặc. Mya tiếp tục nói về các cửa hàng áo cưới, hoa và chuyện đặt bàn ăn hay tiệc tự chọn, và tất cả mọi chuyện trong khi Brooks nói chuyện với Anson về các quyết định sẽ khiến cuộc sống của cô trở nên mạo hiểm.
                          Lại giống như một nắm tuyết, cô nghĩ, cứ lăn, lăn tròn, lớn dần tăng trọng lượng và khối lượng cho tới khi đem theo cùng nó cả quả núi.
                          Không được dừng lại lúc này, cô tự nhủ mình. Cô đã cam kết sẽ vượt qua.
                          “Em vẫn ổn chứ?” Sybill hỏi cô.
                          “Vâng. Vâng, em ổn. Chỉ hơi nhãng đi một chút thôi ạ.”
                          “Chỉ mới bắt đầu thôi mà.”
                          “Vâng.” Abigail liếc nhìn về phía Brooks. “Mới bắt đầu.”
                          Brooks trở lại, đặt một tay lên vai cô. “Xin lỗi mọi người, con phải lo vụ này.”
                          “Vậy thì đi làm anh chàng cớm đi,” Mya lên tiếng. “Bọn chị có thể đưa Abigail về nhà trên đường về.”
                          “Ôi.” Trong khoảnh khắc, tâm trí Abigail trở nên trống rỗng. “Cảm ơn các chị, nhưng em thực sự cần về nhà để giải quyết một vài việc em vẫn còn tồn.”
                          “Vậy chị sẽ gọi cho em sáng mai, hay gửi email cho em. Email có khi tốt hơn, chị có thể gửi cho em vài địa chỉ website. Chỉ cần cho chị...“
                          “Mya.” Bà Sunny nhướng mày. “Để vài ngày cho ổn thì đã sao?” Được rồi, được rồi. Có vẻ con sinh ra đã chuyên lên kế hoạch và tổ chức tiệc tùng rồi.”
                          “Em gửi thư cho chị khi em xong xuôi nhé.” Vớ lấy một chiếc khăn giấy, Mya viết địa chỉ email của mình.
                          Abigail có cảm giác sẽ phải mất nhiều hơn vài ngày. “Vâng. Cảm ơn cả nhà rất nhiều vì buổi chiều nay ạ.”
                          “Abigail.” Bà Sunny đi tới chỗ cô, nắm lấy tay cô, và thì thầm, “Đừng lo. Ta sẽ lo chuyện về Mya trong một hoặc hai tuần.”
                          Lại mất thêm chút thời gian. Rõ ràng, mọi người không chỉ nói lời tạm biệt tại một bữa tiệc thịt nướng. Họ ôm nhau, hoặc trò chuyện thêm, hẹn hò các kế hoạch tới, đùa với chó. Thậm chí còn gọi với theo và vẫy tay khi bạn đã lên xe đi rồi.
                          “Trước khi anh kể cho em biết Đại úy Anson nói gì, em muốn nói gia đình anh rất...”
                          “Ồn ào, nhiệt tình thái quá hả?”
                          “Không. Chà, vâng, nhưng đó không phải là điều em muốn nói. Thân tình. Tự nhiên. Giờ em hiểu anh hơn, vì đã có cả buổi chiều với mọi người. Mẹ anh... Đừng thương hại em nhé. Em không thích thế.”
                          “Được rồi.”
                          “Mẹ anh choàng tay lên vai em. Đó là một cử chỉ rất phóng khoáng. Em nghĩ mẹ chẳng để tâm điều đó, và đã từng làm như thế, nhiều lần, với những người khác. Nhưng khi mẹ làm thế với em, em cảm thấy - em nghĩ - Đây mới là những gì một người mẹ làm. Mẹ đụng chạm, hay ôm lấy mình, chỉ vì là như vậy. Không cần lý do quan trọng gì. Và rồi em nghĩ, nếu có con, em muốn học được cách làm một người mẹ có thể đụng chạm hay ôm ấp mà không phải suy nghĩ, và chẳng cần lý do quan trọng gì. Em hy vọng mình có cơ hội làm điều đó.”
                          “Em sẽ có.”
                          “Anson nói chuyện với FBI rồi phải không?”
                          “Gần như hết cả ngày. Ông ấy bảo thoạt đầu họ muốn qua mặt ông để tìm cách gặp em. Nhưng ông ấy kiên quyết giữ liên lạc bất ngờ. Họ rất cẩn thận với những gì họ chuyển cho ông ấy, nhưng ông ấy tin chắc họ sẽ điều tra Cosgrove và Keegan.”
                          “Ông ấy có nghĩ họ tin câu chuyện của em không?”
                          “Em đã ngả bài, lần lượt, cả những gì John nói với em. Và giờ em là một nguồn tin rất giá trị trong suốt mấy năm qua. Việc gì em phải nói dối về Cosgrove và Keegan chứ?”
                          “Không được hợp lý cho lắm.”
                          “Đúng là không. Họ muốn trực tiếp nói chuyện với em. Họ muốn em ra mặt. Họ hứa bảo vệ em.”
                          “Họ muốn chất vấn em, để chắc chắn rằng em không đồng lõa trong cái chết của chú John và chị Terry. Nếu và khi họ chắc chắn điều đó, họ sẽ muốn em đồng ý làm chứng chống lại Korotkii.”
                          “Đúng, và họ sẽ còn muốn hơn nữa. Em đã lọt được vào bên trong nhà Volkov, truy cập được những dữ liệu có thể, và chắc chắn sẽ tống rất nhiều thành viên của tổ chức này vào tù, làm phần còn lại rạn vỡ.”
                          “Chừng nào dữ liệu xuất phát từ một nguồn ẩn danh thì cơ quan chức năng vẫn có thể sử dụng. Một khi biết dữ liệu thu được bằng cách bất hợp pháp, họ sẽ không thể dùng nữa.”
                          “Đúng như vậy. Họ có thể tìm cách khác.”
                          Cô ngẫm nghĩ điều này, toàn bộ chuyện này. “Em sẽ không cung cấp cho họ cách thức, cho dù họ miễn thứ cho em việc đột nhập hệ thống. Em cần đập tan cả mạng lưới. Họ không thể làm những gì em hy vọng làm được, không thể cả về kỹ thuật lẫn pháp lý. Em sẽ lại xuất hiện khi em có thể đập tan mạng lưới của chúng và rút hết ngân quỹ của chúng.”
                          “Rút hết... Em còn tiếp cận được cả tiền của chúng cơ à?”
                          “Em làm được, rất nhiều. Em đang nghĩ xem chuyển đi đâu một khi em sẵn sàng chuyển tiền từ các tài khoản khác nhau. Em nghĩ đến các khoản quyên góp ẩn danh cho các cơ sở từ thiện thích hợp nhất.”
                          Anh rời mắt khỏi đường, nhìn cô một lúc lâu. “Em sẽ vét sạch túi chúng?”
                          “Vâng. Em nghĩ anh hiểu. Nếu chúng có độ một trăm năm mươi triệu trong các tài khoản để rút ra, thì chúng có thể phục hồi dễ dàng. Và rồi còn bất động sản, nhưng em có vài ý tưởng để xử lý chuyện đó.”
                          “Xử lý?”
                          “Khó khăn về thuế, một kiểu chuyển nhượng quyền sở hữu thôi - các cơ quan chức năng có thể và sẽ sung công một số tài sản, vì chúng được sử dụng cho những mục đích phi pháp. Nhưng số khác được che chắn khá khôn khéo. Chúng sẽ không còn được vậy khi em làm xong. Làm chứng thôi chưa đủ, Brooks,” cô nói, vừa lúc anh cho xe dừng lại nhà cô. “Không đủ để tống Korotkii, khả năng là Ilya, thậm chí Sergei, vào tù. Với nguồn lực của chúng, tiền của chúng, chúng sẽ phục hồi - và chúng sẽ biết em gây ra tất cả. Em không định để chúng biết mạng lưới của chúng bị tấn công như thế nào. Và em không định nói cho cơ quan chức năng. Họ không thể ủng hộ những gì em có kế hoạch thực hiện.”
                          Cô bước ra khỏi xe, nhìn anh qua nóc xe. “Em sẽ không trở lại một ngôi nhà an toàn nào nữa. Em sẽ không để chúng biết em ở đâu, thậm chí nếu và khi em đồng ý ra làm chứng. Em không tin vào sự bảo vệ của họ. Em chỉ tin em, và anh.”
                          “Được rồi.” Anh mở cửa cho chó, rồi chìa một tay đón lấy tay cô. “Chúng ta tìm một nơi ở Chicago khi đến lúc. Em và anh? Chúng ta là những người duy nhất biết nơi đó là đâu. Chúng ta sẽ ở lại đó. Để gặp gỡ, em chọn một địa điểm. Anh nghĩ nên chọn một khách sạn, có lẽ ở Virginia hoặc Maryland, và em đừng cho họ biết địa điểm trước khi em tới đó.”
                          “Rất đúng. Anh không thể đi cùng em.”
                          “Có chứ. Miễn là họ không nhìn thấy anh.”
                          Mọi việc dừng lại, từng chi tiết đều dừng lại, trừ phi anh song hành cùng cô.
                          “Anh nghĩ em cần có tai mắt trong phòng để anh có thể dõi theo, và như thế chúng ta sẽ có một đoạn phim bằng chứng, phòng khi cần đến.”
                          “Em không nghĩ ra chuyện đó. Em sẽ làm vậy, thế là tốt nhất.”
                          “Em nghĩ, anh cũng nghĩ - thế là giải quyết xong.”
                          Cô ngoảnh về phía anh, nép vào lòng anh. “Diễn biến sẽ rất khẩn trương ngay từ khi bắt đầu. Mọi thứ sẽ phải diễn ra thật nhanh, và đúng trinh tự.”
                          Cô sẽ không kéo anh khỏi gia đình nếu mọi việc hỏng. Cô cũng hiểu điều đó, ngay lúc ở bữa tiệc thịt nướng ngoài trời.
                          “Em cần làm cho xong chương trình virus. Không có nó thì việc này chỉ giải quyết được một phần thôi.”
                          “Em cứ lo nốt đi, còn anh sẽ tự điều tra một chút. Anh sẽ tìm cho chúng ta một nơi để gặp gỡ.”
                          “Virginia,” cô nói. “Hạt Fairfax. Đủ xa so với thủ đô, và không đầy một giờ tính từ sân bay vùng đặt tại Maryland. Em sẽ thuê một máy bay.”
                          “Thuê? Em đùa anh?”
                          “Có lẽ anh quên anh có một cô bồ giàu có rồi.”
                          Anh bật cười. “Anh không biết thế nào đầu óc anh lại nhãng đi được.”
                          “Nếu họ muốn dự phòng một cuộc gặp, bám theo em, thì chúng ta có thể cắt đuôi họ trên đường, và chắc chắn họ sẽ theo dõi sân bay Dulles, hoặc Reagan National.”
                          “Chốt kế hoạch.” Anh hôn cô. “Em làm việc đi.”
                           
                          Anh không làm phiền cô. Nhưng trời ạ, sau vài tiếng ngồi trên máy tính, một người đàn ông sẽ thấy thèm bia vào một buổi tối Chủ nhật. Và chút đồ ăn nhẹ, khiến anh phải lẻn vào, vì cô không hề có sẵn tí đồ ăn nào cả.
                          Lúc anh bước vào bếp, cô ngồi đó, tay đặt trên đùi, đăm đăm nhìn màn hình. Anh khẽ mở tủ lạnh, lấy ra một lon bia, liếc nhìn cô, khẽ mở chạn nơi anh cất khoai tây chiên. Vị kem chua và hành.
                          Và cô ngoảnh nhìn.
                          “Anh sẽ ra ngoài một giây nữa thôi.”
                          “Em xong rồi.”
                          Anh quan sát gương mặt cô, đặt lon bia bên cạnh. “Em đã làm xong chương trình virus.”
                          “Vâng. Xong rồi. Về mặt lý thuyết. Em đã thử vài lần. Thực ra em chưa thể cho nó chạy vào mạng lưới trước khi đến thời điểm, cho nên em chưa hoàn toàn chắc chắn. Nhưng em tin là ổn rồi. Chắc chắn nó sẽ hoạt động.”
                          Anh cười, bước lại, nâng cô đứng lên để hôn. “Em đúng là thiên tài.”
                          “Vâng.”
                          “Nhưng sao trông em không được vui?”
                          “Vâng. Em... bị tê, em nghĩ vậy. Em tin mình có thể làm được, nhưng khi em làm xong, em nhận thấy thực ra em không tin mình làm nổi.” Vì hơi đau, cô ấn ngón tay vào thái dương trái. “Vớ vẩn thật.”
                          “Đâu có.”
                          “Brooks. Em có thể phá được mạng lưới của chúng, làm hỏng mọi dữ liệu, mọi chương trình. Em có thể đánh sập chúng, bất kể cá nhân nào sử dụng hệ điều hành hay máy tính gì. Em làm được, và làm vậy ngay sau khi em chuyển hết tiền, chúng sẽ bị hủy hoại. Bị tiêu diệt.”
                          Giờ cô áp một tay lên ngực. “Và trước khi làm vậy, em có thể cung cấp cho cơ quan chức năng đủ thông tin để chấm dứt một chuỗi các hoạt động, sử dụng thứ đó để truy tố những tên tay chân khác, cho tới khi gia đình Volkov tan tác đến mức chúng không bao giờ phục hồi lại được nữa.”
                          “Nghiền nát bọn chúng.”
                          Cô bật cười. “Vâng. Đúng vậy. Em thực sự không tin mình làm được,” cô lẩm bẩm. “Nếu làm được, em đã làm trước khi em đồng ý ra làm chứng rồi.”
                          Anh vẫn giữ nét mặt không biểu lộ gì. “Em có muốn rút lại không?”
                          “Cứ kệ em.” Như anh vẫn thường làm với cô, cô dùng hai tay ôm lấy mặt anh. “Em yêu anh rất nhiều. Anh để em rút lui, cho dù điều đó trái với nguyên tắc của anh. Nhưng không, em sẽ không làm vậy. Đó là một phần của con người em muốn trở thành. Một phần của con người anh mong đợi ở em.”
                          “Anh chỉ mong em làm chính em thôi.”
                          “Giờ thì em mong nhiều hơn. Em mong nhiều hơn ở Elizabeth. Em mong nhiều hơn ở Abigail. Và em muốn anh mong nhiều hơn ở em. Lời chứng của em, dữ liệu của em, việc đột nhập hệ thống, loại siêu virus. Tất cả là một. Khi xong việc, Elizabeth có thể bước đi với lương tâm trong sạch.” Cô nhắm mắt lại, rồi mở ra, mỉm cười nhìn vào mắt anh. “Và Abigail có thể kết hôn với anh. Em rất muốn lấy anh. Thậm chí có khi em còn muốn đến cửa hàng áo cưới.”
                          “Ừ.”
                          “Em có hơi sợ, nhưng em có thể làm được.”
                          “Giờ trông em rất hạnh phúc?”
                          “Vâng. Em rất hạnh phúc. Chừng nào chúng ta tìm thấy khách sạn, em có thể thu xếp chuyện đi lại. Chúng ta có thể để đại úy của anh sắp xếp cuộc gặp. Chúng ta có thể bắt đầu giai đoạn tiếp theo.”
                          “Anh có khách sạn rồi. Ở Tysons Corner, Virginia. Khoảng cách vừa phải, ngay kề đường cao tốc.”
                          “Em muốn xem trang web của khách sạn, và bản đồ khu vực.”
                          “Anh cũng đoán vậy. Anh đã để sẵn trên máy tính của anh rồi.”
                          “Chúng ta có thể đặt phòng, sắp xếp cuộc gặp vào sáng mai hoặc ngày kia. Như thế cảnh sát có ít thời gian để tìm cách tìm ra em hơn.”
                          “Ngày kia đi. Anh cần lên lại lịch để có thể theo được.
                          “Như thế tốt hơn. Em cũng phải thu xếp cho Bert nữa.”
                          “Mẹ anh sẽ chăm nó.”
                          “Ôi. Nhưng...” Cô ngập ngừng, nhìn xuống chú chó. “Em nghĩ một cái lồng có cấp phép, với các chuyên gia.”
                          “Em định cầm tù nó à?”
                          “Một cái lồng đâu phải nhà tù.” Giờ đôi mắt màu nâu đỏ đang chăm chú nhìn cô. “Chiều nay nó rất thích được đến đó, nhưng có vẻ đề nghị bố mẹ anh thì hơi quá.”
                          “Họ quý nó mà. Thêm nữa, thế mới cần đến gia đình. Hãy quen dần đi em. Tiếp tục xem khách sạn nào. Anh sẽ gọi điện cho họ.”
                          “Vâng.”
                          Brooks móc điện thoại ra gọi trong khi Abigail rời bếp. “Chú mày nợ tao đấy nhé,” anh nói với Bert.
                           
                          Mọi thứ đâu vào đấy, Abigail tự nhủ. Cô đứng trong căn phòng an toàn của mình, cẩn thận lựa những gì cô cần dùng cho bước tiếp theo này.
                          Cô đã đặt khách sạn bằng hai tên khác nhau, ở hai thời điểm khác nhau, từ hai máy tính khác nhau. Brooks sẽ đến với tên Lucas Boman - tên huấn luyện viên đầu tiên cho đội Little League của anh. Cô sẽ chế căn cước của anh vào ngày hôm sau. Còn của cô, mà cô sẽ chuyển cho Anson để gửi tới các nhân viên liên bang một khi cô và Brooks đã vào khách sạn, bố trí xong, sẽ là Catherine Kingston, một căn cước cô đã có sẵn. Cô xem xét bộ sưu tập tóc giả, thuốc nhuộm tóc.
                          “Em định đi với mái tóc đó à?” Brooks hỏi khi cô nhấc một mớ tóc suôn, ngắn có màu đỏ vàng lên.
                          “Màu tóc tự nhiên của em có xu hướng nâu vàng. Em không có mớ tóc giả nào hợp với màu tự nhiên của em.”
                          “Xem nào.” Đầu nghiêng nghiêng, anh ngắm nhìn cô. “Em có tóc đỏ à?”
                          “Nâu thì chính xác hơn, nhưng có sắc đỏ.”
                          “Anh chỉ muốn nói anh đã thấy vùng khác trên người em, đâu có màu nâu pha sắc đỏ nhỉ.”
                          “Lẽ ra như vậy, nhưng em rất kỹ càng khi em thay đổi diện mạo.”
                          “Hay đấy. Rất hay. Có lẽ em nên nhắm tới CIA.”
                          “Em chẳng thấy đáng quan tâm. Em nghĩ họ sẽ muốn em thay đổi ngoại hình để gặp mặt. Chỉ thế này là đủ rồi, cùng với chút thay đổi bằng cách trang điểm, và đồ độn. Ngực to hơn chẳng hạn.”
                          “Ngực to không lo chết đói.”
                          “Em tin ngực em vốn đã hơn người rồi.”
                          “Để xem nào.” Anh đưa tay ôm lấy ngực cô, ngắm nghía. “Hơn thật.”
                          “Bị ám ảnh với kích thước vòng một thì cũng ngốc chẳng kém gì bị ám ảnh vì kích thước cậu nhỏ cả.”
                          “Anh tin cậu nhỏ của anh vốn đã hơn người rồi.”
                          Cô phì cười, ngoảnh về phía gương.
                          “Anh đoán em sẽ không kiểm tra cho chắc đâu.”
                          “Có lẽ để sau.”
                          Cô đội tóc giả lên với những động tác nhanh nhẹn, thành thục nên anh hiểu ngay cô vẫn thường xuyên phải làm vậy. “Thay đổi hẳn.”
                          Anh thích cô để tóc dài hơn, anh nghĩ thầm, và kiểu cách bớt cầu kỳ hơn.
                          “Vâng. Em có thể xử lý được việc này. Em sẽ cần mua một bộ tóc gần với màu tự nhiên của em hơn, dài hơn để em có thể tạo kiểu theo vài cách. Em muốn trồng giống như những bức ảnh họ có của Elizabeth, cho dù đã cũ rồi. Em có thể sử dụng kính sát tròng để thay đổi màu mắt - chỉ cần sắc độ thôi - một chút. Hông đầy hơn, ngực to hơn. Và vùng da thẫm hơn với chất làm rám nắng. Vâng, em có thể xử lý được việc này,” cô nhắc lại.
                          Cô gỡ mớ tóc, đặt nó lên giá. “Các điệp viên ở CIA phải nói dối và lừa gạt. Em hình dung đó là sự cần thiết cho những nhiệm vụ họ thực thi. Em đã nói dối và lừa gạt quá nhiều suốt mười hai năm qua rồi. Em muốn có một cuộc sống mà nói dối và lừa gạt không phải một phần trong đời sống hằng ngày của em. Em không thể thôi nói dối, nhưng...”
                          Cô quay về phía anh. “Em có một người biết rõ sự thật, biết mọi chuyện, người em sẽ không bao giờ nói dối. Đó là một món quà. Anh chính là một món quà.”
                          “Anh có một người đủ tin tưởng anh để nói thật với anh, tin anh mọi điều. Đó cũng là một món quà.”
                          “Vậy cả hai chúng ta đều rất may mắn.” Cô nhoài người về phía anh, nắm lấy tay anh. “Em nghĩ chúng ta nên đi ngủ. Em cần thực hiện vài đợt kiểm tra nữa để xác thực cậu nhỏ của anh cũng ổn.”
                          “May cho cả hai chúng ta là anh luôn vượt qua mọi kỳ kiểm tra.”
                           
                          Điện thoại di động của anh reo vang lúc hai giờ kém mười lăm sáng. Brooks nghiêng người ra thành giường để với lấy máy. ”Cảnh sát trưởng Gleason đây.”
                          “Đây, Brooks, tôi Lindy.”
                          “Có chuyện gì vậy, Lindy?”
                          “Chà, có chuyện tôi cần báo. Tybal ở đây cùng tôi.”
                          “Bỏ mẹ.”
                          “Vâng, cũng hơi bỏ mẹ, nhưng không phải như sếp nghĩ đâu. Sếp sẽ muốn nghe những gì Ty phải nói đấy.”
                          Brooks ngồi dậy. “Ông đang ở đâu?”
                          “Ngay lúc này chúng tôi đang trên xe tải của tôi cách nhà cô Lowery khoảng nửa dặm. Vì xe của sếp không ở trong thị trấn nên tôi đoán sếp ở đó.”
                          “Suy đoán cứ như cảnh sát nhỉ, Lindy. Tại sao lại không gặp ở chỗ của hai người chứ?”
                          “Chả nên vậy vì những thứ bỏ mẹ mà chúng ta sắp bàn đến. Tốt nhất là chúng tôi đến đó, nói riêng chuyện này. Mọi người có xu hướng để ý các việc ở trong thị trấn, thậm chí vào cái giờ như thế này. Có lẽ rất đặc biệt.”
                          “Được đấy. Chờ chút.” Anh đặt một tay lên che điện thoại. “Anh vừa nhận điện của Lindy - từ quán ăn?”
                          “Vâng, em biết ông ấy.”
                          “Ông ấy bảo anh là ông ấy đang ở cùng Tybal Crew, và họ cần nói chuyện riêng với anh.”
                          “Ở đây sao?”
                          “Nếu không phải việc quan trọng, và không cần riêng tư thì Lindy đã không gọi anh lúc hai giờ sáng thế này.”
                          “Chờ em mặc quần áo đã.”
                          “Anh sẽ giữ họ ở dưới nhà thôi, không thấy em.”
                          “Em nghĩ nếu có người cần đến đây vào giờ này để trò chuyện với anh thì em nên nghe những gì họ nói.”
                          “Được rồi, như vậy đi.” Anh lại áp điện thoại lên tai. “Ty tỉnh táo chứ?”
                          “Hiện thì tỉnh, hoặc gần vậy.”
                          “Đến đi.”
                          Lùa một tay qua tóc, Brooks đặt điện thoại sang bên. “Anh xin lỗi vì chuyện này.”
                          “Thậm chí mới mấy ngày trước, em chẳng để bất kỳ ai đến đây như thế này. Nhưng em không cảm thấy lo lắng, không thực sự như vậy. Em cảm thấy tò mò hơn. Em pha cà phê nhé?”
                          “Sẽ không ảnh hưởng đến cảm xúc của anh đâu.”
                          Điều đó khiến cô thấy vui vui, nhất là khi nghĩ rằng trong tương lai của cô bên Brooks, những cuộc gọi lúc đêm hôm khuya khoắt, việc pha cà phê cho những người có chuyện, sẽ là một phần trong cuộc sống thường ngày.
                          Cô hy vọng cô sẽ đúng là vợ của một cảnh sát tốt.
                          Nhưng, cô cũng rất vui khi biết rằng Bert, được lệnh nằm yên, vẫn nằm ở góc bếp. Và cô cũng vẫn cẩn thận tắt hết các màn hình máy tính.
                          Cô không biết chắc phải đối đãi thế nào với hai người đến đây lúc nửa đêm, nhưng khi cô mang cà phê ra phòng khách, Brooks đã dẫn họ vào từ cửa trước.
                          Và Lindy, mái tóc dài xám xõa xuống lưng chiếc áo phông Grateful Dead, dẫn đường.
                          “Chào cô.” Ông ta gật đầu. “Tôi rất xin lỗi vì làm phiền cô vào giờ này.” Sau đó đập mu bàn tay vào bụng Tybal.
                          “Vâng, thưa cô,” Tybal đáp lại. “Rất xin lỗi làm cô phải dậy.”
                          “Tôi biết hai người có lý do chính đáng mà.”
                          “Còn hơn thế ấy chứ,” Brooks lầm bầm. “Lạy Chúa, Ty, cậu nồng nặc mùi Rebel Yell.”
                          “Tôi xin lỗi vì điều đó.” Tai anh ta đỏ lựng khi anh ta cúi đầu. “Có những tình tiết giảm nhẹ mà. Tôi đã lấy được thẻ sáu mươi ngày không động đến rượu,[26] và giờ tôi phải làm lại từ đầu.”
                          “Ai chẳng có lúc bĩ cực, Ty,” Lindy bảo anh ta. “Ngày đầu tiên của cậu bắt đầu từ lúc này.”
                          “Tôi vẫn đến các buổi họp mặt.” Ty lê bước chân và nhìn về Abigail như một con gấu bẽn lẽn, lôi thôi lếch thếch. “Lindy là người bảo trợ cho tôi. Tôi gọi cho ông ấy. Tôi biết mình nên gọi cho ông ấy như thế nào trước khi uống rượu, nhưng tôi đã gọi ông ấy.”
                          “Được rồi. Được rồi, ngồi xuống đã, cả hai vị,” Brooks ra lệnh. “Và kể cho tôi nghe hai vị làm cái quái quỷ gì ở đây lúc mới có hai giờ sáng.”
                          “Chuyện là thế này, Brooks, có kẻ muốn tôi giết anh.” Ty siết chặt hai bàn tay thô kệch của mình. “Tôi không làm vậy đâu.”
                          “Tôi thở phào khi nghe vậy.” Ngồi xuống đi đã nào.”
                          “Tôi không biết làm gì.” Ty ngồi xuống trường kỷ, gục đầu. “Khi tôi bắt đầu nghĩ đến whiskey, tôi vẫn không hề biết. Cho nên tôi gọi cho Lindy, và ông ấy giúp tôi tỉnh táo lại, nói chuyện hơn thiệt với tôi. Và ông ấy nói chúng tôi cần đến nói chuyện với anh. Có lẽ Lindy có thể kể thêm với anh. Tôi chẳng biết phải bắt đầu sao.”
                          “Uống chút cà phê đi, Ty, và tôi sẽ kể thay cậu. Có vẻ như vợ Lincoln Blake rời bỏ hắn ta rồi.”
                          “Khi nào?” Brooks cau mày lúc nhấc cốc cà phê của mình lên. “Sáng qua tôi vừa nhìn thấy bà ấy mà.”
                          “Ở nhà thờ, đúng vậy. Tôi nghe nói chuyện đó, chắc hầu hết mọi người giờ cũng biết rồi. Mà phải như vậy thôi, theo cách nghĩ của tôi. Nhưng chuyện tôi nghe được là sau khi họ về nhà, bà ấy gói ghém hành trang vào vài cái va li và bỏ đi. Con bé cháu của bà Harris là Carly có ra khỏi nhà nên nhìn thấy bà ấy cho va li vào xe và có hỏi bà ấy sắp đi chơi phải không. Bà Blake nói, hết sức bình tĩnh nhé, bà ấy định rời bỏ chồng mình và sẽ không quay lại nữa. Rồi lên xe và phóng đi. Có vẻ như hắn trốn tịt trong phòng làm việc cả ngày.”
                          “Kết thúc không êm đẹp nhỉ,” Brooks nhận xét. “Lòng kiêu hãnh của Blake mới nhận một đòn chí mạng lúc sáng cơ mà.”
                          “Đáng đời hắn, phải không nào? Nhân tiện, bà Birdie Spitzer giáng thêm đòn nữa, và không phải là tin đồn đâu nhé, tại sao lại vậy khi mà bà ấy đang làm công ở đó, chắc các vị hỏi tôi vậy. Chính bà ấy nói với tôi nhé. Tôi đoán việc này quá tế nhị không tiện nói rõ được. Bà ấy nói có to tiếng, nhưng nhà đó thì lúc nào mà chả to tiếng, bắt đầu từ phía Blake. Rồi bà vợ bỏ đi, và hắn chui vào phòng. Một lúc sau thì Birdie đến gõ cửa, để hỏi xem hắn có muốn ăn tối không, và hắn gào lên, quát bà ấy cút khỏi nhà hắn và đừng có trở lại nữa.”
                          “Blake đuổi Birdie à?” vẻ ngạc nhiên, Brooks nhướng mày. “Bà ấy làm việc ở nhà đó hai mươi năm rồi cơ mà.”
                          “Hai mươi tư năm, bà ấy nói vậy, tính đến tháng Tám. Tôi đoán có lý do khác khiến bà ấy mang câu chuyện tới quán ăn. Bà ấy không biết liệu có tìm được việc hay không, không biết có muốn công việc đó hay không, hắn có muốn bà ấy trở lại không, đại để thế.”
                          “Giờ gã một mình,” Abigail nói khẽ. “Tôi xin lỗi. Tôi không nên ngắt lời.”
                          “Không sao, và cô nói đúng rồi đấy. Hắn một mình trong cái nhà thênh thang đó trong khi con trai ngồi tù và vợ bỏ đi. Suy luận ra thì tôi dám nói hắn ngồi và suy ngẫm về mọi chuyện, và đi đến kết luận lý do tình cảnh của hắn đều do Brooks cả.”
                          “Đó là một kết luận thiếu chính xác dựa trên những tiêu chí sai lầm,” cô nói. “Ý tôi là kết luận của Blake ấy, không phải của ông.”
                          “Vâng, thưa cô.” Lindy cười. “Nói không ngoa thì hắn đúng là loại chết tiệt, nếu cô không ngại chuyện nói thẳng.”
                          “Không, không sao. Đúng, gã là loại chết tiệt.”
                          Brooks nhấp một ngụm cà phê, hướng về phía Ty. “Gã trả anh bao nhiêu tiền để giết tôi, Ty?”
                          “Ôi, chà, lạy Chúa,” Abigail cố gắng, và đứng lên.
                          “Không sao đâu, cưng, Ty sẽ không làm hại ai cả. Phải không, Ty?”
                          “Không, sếp ạ. Không đâu, thưa cô. Tôi đến để kể với anh mà. Lần này nói như thế là tốt nhất, cho nên tôi ở đây.”
                          “Kể tôi nghe có chuyện gì với Blake.”
                          “Vâng. Hắn gọi tôi đến đó, đến tận nhà. Tôi chưa bao giờ đến đó cả, và chắc chắn là có chuyện rồi. Giống như từ trên trời rơi xuống vậy. Tôi nghĩ có lẽ hắn có việc cho tôi làm, và tôi có thể làm được. Hắn đưa tôi vào thẳng phòng làm việc của hắn, và ngồi xuống chiếc ghế da to tướng. Hắn mời tôi uống. Tôi nói không, cảm ơn. Nhưng hắn cứ rót ra, đặt xuống cạnh tôi. Đúng thứ tôi thích. Tôi có một điểm yếu mà, Brooks.”
                          “Tôi biết rồi.”
                          “Nhưng tôi không uống một giọt từ khi anh bắt tôi, đó là sự thật, không uống mãi cho tới tối nay. Tôi khá căng thẳng, lúc ngồi đó trong căn nhà sang trọng. Hắn cứ nói mãi chuyện uống một ly không hại gì cho tôi cả. Tôi là đàn ông cơ mà, phải không nào? Tôi không uống.”
                          “Được lắm, Ty.”
                          “Nhưng hắn cứ nói mãi, và nói đến chuyện hắn có việc, nhưng hắn không thuê bọn thộn, và rồi tôi đã kể gì với ông nhỉ, Lindy?”
                          “Bọn thái giám. Bỏ mẹ - xin lỗi, nói thật quá.”
                          “Tôi đồng ý với ý kiến của ông,” Abigail bảo ông ấy, rồi nhìn Ty. “Gã khai thác điểm yếu của anh cùng với bản lĩnh đàn ông, thêm cả mong muốn tìm việc làm của anh nữa. Thật độc địa và quỷ quyệt.”
                          “Tôi điên lắm, nhưng thấy hắn nói kể ra cũng đúng. Chuyện anh cố làm cho tôi cảm thấy mất mặt đàn ông, Brooks, và chuyện anh hạ nhục tôi, và thiến - hắn nói anh thiến tôi, và điều đó khiến tôi rất khó chịu. Điên tiết nữa. Mà cái ly Rebel Yell ở ngay đó. Tôi chỉ định uống một ly thôi, chỉ để chứng minh tôi có thể làm được. Nhưng tôi lại thêm ly nữa, và chắc một ly nữa sau đó.”
                          Mắt Ty ngấn nước, và khi anh ta cúi đầu, hai vai anh ta rung lên.
                          Abigail đứng lên, rời khỏi phòng.
                          “Tôi cứ uống tì tì, bởi vì cái ly ở ngay đó, và dường như nó chẳng hề vơi. Tôi nghiện rượu, và tôi biết tôi không thể uống một ly mà không uống tiếp ly nữa.”
                          Mang theo một khay bánh ngọt tới, Abigail quay trở lại. Cô đặt khay lên bàn.
                          Lúc nhìn cô lấy một chiếc bánh, đưa cho anh chàng Tybal nước mắt nước mũi giàn giụa, Brooks nghĩ anh yêu cô hơn hết thảy.
                          “Gã rất ác với anh,” cô nói. “Lẽ ra gã phải thấy ngượng với những gì đã làm với anh chứ.”
                          “Tôi cứ uống, và nổi khùng. Hắn cứ nói về những gì Brooks đã làm, làm cho tôi trông rất hèn yếu và nhu nhược ngay trước mặt vợ mình, rồi chuyện anh ấy đang làm cho cái thị trấn này tan tành. Cứ xem cách Brooks giam giữ con trai hắn thì biết. Cần phải làm gì đó. Hắn cứ nói, và tôi cứ uống. Hắn nói việc cần làm là có ai đó can đảm. Hắn hỏi tôi có gan không, tôi có can đảm không. Đương nhiên là tôi có, tôi đã nói vậy. Có lẽ tôi sẽ đến cho anh một trận, Brooks.”
                          Ty lắc lắc đầu, rồi lại gục xuống. “Tôi vẫn đang đến dự các cuộc họp mặt, và tôi đang tham gia hoạt động nhóm. Tôi hiểu khi mình uống vào là chỉ muốn phá phách gì đó. Tôi làm Missy bị thương cũng vì nó. Và giữa những gì hắn nói và rượu uống vào, tôi bị chi phối hoàn toàn. Có vẻ đúng là việc tốt khi hắn nói cho một trận thôi thì chưa đủ. Cần phải làm dứt điểm. Anh đã hủy hoại bản lĩnh nam nhi của tôi, anh đã làm vậy. Cách duy nhất lấy lại là giết anh. Và vì hắn là người có trước có sau, nên hắn sẽ cho tôi năm nghìn đô. Như một phần thưởng, hắn nói vậy. Hắn đưa luôn tôi một nửa số tiền.”
                          “Gã đưa tiền cho anh rồi sao?” Brooks hỏi.
                          “Tôi cũng nhận rồi. Tôi rất xấu hổ khi phải nói ra, toàn tiền mặt và tôi đã cầm rồi. Nhưng tôi không giữ. Lindy lấy rồi. Những gì hắn nói - Blake nói - là tôi phải về nhà, lấy khẩu súng của tôi. Rồi đợi đến khi trời tối, ngồi phục ở đây, ngay trên đường. Rồi tôi gọi cho anh đến, bảo anh rằng có chuyện. Và khi anh lái xe đến, tôi chỉ việc bắn anh. Thế là tôi về nhà lấy súng. Missy không có nhà, vì cô ấy đang ở nhà chị gái. Tôi lấy khẩu súng trường, nạp đạn, và bắt đầu nghĩ tại sao Missy lại không ở nhà. Tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện cô ấy đã bị tổn thương nhiều. Tôi không biết giải thích sao, nhưng tôi nghe thấy chính mình đang nghĩ về các việc ấy, và tôi cảm thấy buồn. Tôi thấy sợ. Tôi gọi cho Lindy, và ông ấy đến ngay.”
                          “Anh đã làm rất đúng, Ty.”
                          “Không, không phải. Tôi đã uống rượu. Tôi đã cầm tiền.”
                          “Và anh gọi cho Lindy.”
                          “Anh có điểm yếu thôi, anh Crew,” Abigail nói. “Gã lợi dụng điểm yếu của anh, dùng nó để hại anh.”
                          “Lindy cũng nói vậy, cảm ơn cô. Tôi rất xấu hổ phải kể với Missy. Cô ấy vẫn còn hậm hực với anh, Brooks ạ, nhưng cô ấy vui vì tôi sẽ không uống rượu nữa. Mọi chuyện với chúng tôi đã tốt hơn, và cô ấy biết điều đó. Cô ấy sẽ còn hậm hực hơn nếu anh tống tôi vào tù. Lindy nói anh sẽ không làm thế.”
                          “Lindy nói đúng. Tôi cần số tiền đấy, Lindy.”
                          “Tôi khóa kỹ trong xe rồi.”
                          “Và tôi sẽ cần anh đến cung cấp lời khai chính thức đấy, Ty.”
                          “Missy sẽ khó chịu.”
                          “Tôi nghĩ cô ấy có thể hơi bực bội chuyện uống rượu, nhưng khi cô ấy nghe hết chuyện, từ đầu tới cuối ư? Tôi nghĩ cô ấy sẽ tự hào về anh.”
                          “Anh nghĩ vậy à?”
                          “Phải. Tôi tự hào về anh. Tôi rất vui anh đã không tìm cách giết tôi.”
                          “Tôi cũng vậy. Cậu sẽ làm gì, Brooks?”
                          “Tôi sẽ tập hợp tất cả mọi việc lại, chặt chẽ, rồi sẽ bắt giam Blake vì tội xúi giục giết hại một sĩ quan cảnh sát.”
                          #28
                            Thanh Vân 29.11.2023 19:31:50 (permalink)

                            29


                            Bước tiếp theo, Abigail nghĩ, lúc cô về nhà sau khi đưa Bert tới cho bà Sunny. Cảm giác thật lạ, và hơi buồn, cô nhận ra vậy, khi đi vào nhà mà không có Bert. Chỉ một thời gian ngắn thôi, cô tự nhủ mình. Một chuyến đi ngắn - làm thay đổi mọi việc.
                            Khi Brooks về nhà, họ sẽ lái xe ra sân bay, đáp chuyến bay riêng tới Virginia, nhận hai phòng của mình. Cô sẽ có đủ thời gian để cài đặt máy quay.
                            Đủ thời gian để ám ảnh, lo lắng, cả nghĩ, nếu cô cho phép mình làm vậy.
                            Nhưng cô sẽ không làm vậy. Cô tập trung vào nhiệm vụ trước mắt và bắt đầu biến mình thành Catherine Kingston.
                            Lúc Brooks đến, anh gọi to, “Người phụ nữ của anh đâu nhỉ?” và khiến cô mỉm cười.
                            Cô đã thành người phụ nữ khác rồi.
                            “Em ở trên gác. Mọi thứ ổn chứ?”
                            “Rất ổn. Blake lôi cả đám luật sư đến, và anh đoán rồi sẽ có thỏa thuận. Thậm chí gã có thể thoát khỏi vụ này, nếu xét đến chuyện Ty đã thừa nhận là uống rượu, nhưng cho dù vậy, hắn cũng xong ở thị trấn này rồi. Anh không mong...” Anh im bặt lúc đến cửa và nhìn cô.
                            “Anh nhắc lại, ‘Người phụ nữ của anh đâu rồi?’”
                            “Ổn lắm,” cô quyết định lúc ngắm mình trong gương.
                            Kiểu tóc và cách trang điểm kỹ càng làm nổi bật khuôn cằm cô. Đôi mắt xanh của cô càng thẫm hơn. Dụng cụ độn khiến cho cô từ thanh mảnh thành bốc lửa.
                            “Có lẽ họ sẽ hỏi bên khách sạn xem có hỗ trợ an ninh gì không. Khi đó chúng ta đã vào rồi, nhưng họ vẫn kiểm tra để xem liệu em có đến một mình không. Thế nên chúng ta mới đi taxi riêng từ sân bay, và có thời gian nhận phòng khác nhau.”
                            “Trông em cao hơn đấy.” Mắt nhìn cô, anh bước lại, hôn cô. “Cao hơn hẳn.”
                            “Em độn giày lên. Chỉ hơn một phân thôi, nhưng làm tăng cảm giác cao hơn. Nếu có gì được tiết lộ cho tay trong của Volkov, bọn họ sẽ không thấy khớp với em. Abigail không nằm trong tầm ngắm, và như thế sẽ khó liên hệ Catherine Kingston hay Elizabeth Fitch với Abigail Lowery. Em sẵn sàng bất cứ khi nào anh xong.”
                            “Anh đi lấy túi.”
                            Anh chưa bao giờ bay máy bay riêng, và quyết định mình có thể quen với việc đó. Không phải xếp hàng, không trễ chuyến, không chen chúc, chuyến bay thuận lợi và yên tĩnh.
                            Và anh thích những chiếc ghế da rộng rãi được bố trí để anh có thể ngồi đối diện Abigail - hay là Catherine, anh nghĩ thầm - và cái cách ánh sáng chiếu lên mặt cô lúc họ bay lên phía bắc.
                            “Họ đã bắt đầu làm hồ sơ mới về Cosgrove và Keegan,” Abigail nói với anh trong lúc vẫn làm việc trên laptop. “Họ đã xin lệnh theo dõi các hoạt động liên lạc và giao dịch điện tử của bọn chúng. Có thể họ tìm được gì đó. Cosgrove đặc biệt dễ bất cẩn. Hắn ta thích cờ bạc,” cô nói thêm, “cả trên mạng và trong các sòng bài.”
                            “Hắn chơi thế nào?”
                            “Hắn ta thua nhiều hơn thắng, từ những gì em thu thập được qua số liệu tài chính của hắn, và cả hình thức đánh bạc của hắn nữa, thì chính cờ bạc - và các khoản thua tiền - cho phép nhà Volkov gây áp lực buộc hắn phải làm việc cho chúng khi em còn thuộc diện cần bảo vệ.”
                            “Vấn đề cờ bạc,” Brooks suy luận. “Và hắn nhượng bộ khi bị gây sức ép. Hắn sẽ phản ứng sao với một nguồn ẩn danh nói rằng có thông tin về mối liên hệ của hắn với nhà Volkov?”
                            Cô nhìn lên, hơi kéo trễ cặp kính râm gọng lớn mà cô đeo thêm. “Đó là một câu hỏi rất hay.”
                            “Nếu hắn dễ bị gây áp lực, thì thư hăm dọa có thể khiến hắn phạm sai lầm.”
                            “Hắn ta không khôn ngoan bằng Keegan, đó là lý do tại sao hắn không thăng cấp một cách thuận lợi được, em tin vậy - trong hàng ngũ cảnh sát Tư pháp cũng như trong tổ chức của Volkov. Em dự đoán đáng ra nhà Volkov phải loại bỏ hắn ta rồi, nhưng rõ ràng hắn vẫn được xem là có giá trị.”
                            “Em đã câu cá bao giờ chưa?” Brooks hỏi cô.
                            “Chưa. Có vẻ là một trò tiêu khiển hoặc công việc nhàm chán. Em không hiểu câu cá thì liên quan gì tới Cosgrove hay nhà Volkov?”
                            Anh chỉ vào cô. “Thứ nhất, anh sẽ đưa em đi câu lúc nào đó, và em sẽ thấy sự khác biệt giữa thư giãn và nhàm chán. Thứ hai, đôi khi em câu được một con cá nhỏ và nó có thể dẫn em tới một mẻ lớn hơn.”
                            “Em không nghĩ... ồ. Đó là một sự ẩn dụ. Cosgrove là con cá nhỏ.”
                            “Em hiểu rồi đấy. Nhử mồi hắn có thể rất đáng giá đấy.”
                            “Ừ, rất có thể. Tham thì thâm, và động cơ chính của hắn là tiền. Một lời đe dọa, một thứ gì đó đủ thông tin chứng minh nguồn có bằng chứng. Và nếu hắn sử dụng liên lạc điện tử hoặc điện thoại, họ có đủ lý do để đặt câu hỏi về hắn.”
                            “Từ đó có thể dẫn tới con cá lớn hơn. Và càng thêm trọng lượng cho phần làm chứng của em.” Anh chìa túi bánh quy đã mở sẵn ra, nhưng Abigail lắc đầu. “Mồi nhử của em là gì?”
                            “Bởi vì anh cần mồi để câu cho dù là một con cá nhỏ?”
                            Gật đầu, anh cắn một chiếc bánh. “Hãy đợi cho tới khi em thả con mồi đầu tiên của em xuống nước.”
                            “Em thậm chí không thích nghe vậy. Tuy nhiên, từng có một phụ nữ được đưa vào chương trình bảo vệ nhân chứng sau khi làm chứng chống lại bạn trai cũ của mình, một gã lưu manh cấp thấp trong chuỗi mại dâm của nhà Volkov ở Chicago. Người ta tìm thấy cô ấy bị hãm hiếp và đánh đến chết tại Akron, Ohio, ba tháng sau khi tòa kết án.”
                            “Có phải Cosgrove là người bảo vệ cô ấy không?”
                            “Không, hắn không được giao vụ cô ấy, nhưng mọi thứ em có thể thu thập được lúc đó đều cho thấy hắn là kẻ chuyển thông tin của cô ấy cho đầu mối liên hệ của bọn Volkov. Em biết đủ nhiều để soạn một tin nhắn đáng tin cậy và có sức hăm dọa.”
                            “Một viên sỏi nữa dưới lòng sông.”
                            “Sông gì cơ? Con sông có cá hả?”
                            Bật cười, anh dùng chân đụng mạnh vào chân cô. “Có thể lắm, ngoại trừ việc nếu chúng ta cứ theo cái ẩn dụ đó thì em không còn muốn ném thêm hòn sỏi nào nữa đâu. Có thể làm đám cá sợ chạy hết.”
                            “Em thấy hơi rối.”
                            “Trong cái con sông ẩn dụ này, chúng ta ném sỏi vì chúng ta muốn thật nhiều gợn sóng.”
                            “Ồ. Vậy thì một viên sỏi thôi.” Cô ngẫm nghĩ chi tiết này một lúc, rồi bắt đầu viết.
                            Anya Rinki làm chứng buộc tội Dimitri Bardov. Ngày 8 tháng 7 năm 2008. Tham gia Chương trình bảo vệ nhân chứng. Căn cước mới: Sasha Simka. Chuyển đến Akron, Ohio; được tuyển làm nhân viên bán hàng tại Monique & Boutique.
                            Vụ việc được giao cho Cảnh sát Tư pháp Robyn Treacher. Hồ sơ vụ việc bị William Cosgrove tiếp cận ngày 12 và 14 tháng 10 năm 2008 - không có truy cập hay đề nghị chính thức liên quan đến tài liệu.
                            Thư này có đính kèm một bản sao email từ tài khoản cá nhân của William Cosgrove gửi sang tài khoản của Igor Bardov, em trai của Dimitri, vào ngày 15 tháng 10 năm 2008. 15.000 đô la được chuyển vào tài khoản của William Dwyer tức William Cosgrove ngày 16 tháng 10 năm 2008.
                            Anya Rinki, tức Sasha Simka, được phát hiện bị cưỡng hiếp và giết hại ngày 19 tháng 10 năm 2008.
                            Dữ liệu này sẽ được gửi email tới Giám đốc Wayne Powell trong vòng bốn mươi tám giờ trừ phi anh chấp nhận nộp 50.000 đô la. Chi tiết tiền gửi sẽ được cung cấp trong lần liên lạc tới.

                            “Em nghĩ một hòn sỏi cỡ này là ổn,” cô nói, và xoay màn hình để Brooks đọc.
                            Nụ cười của anh từ từ giãn ra rồi anh mới ngước mắt rời khỏi màn hình nhìn cô. “Ổn về kết cấu, trọng lượng cũng ổn. Em nắm được tất cả ngày tháng trong đầu cơ à?”
                            “Đều chính xác hết.”
                            “Thế còn nội dung email em định đính kèm là gì?”
                            “Thế này: ‘Sasha Simka, Akron, 539 Eastwood, Căn hộ 3-B.”’
                            Nụ cười tan dần khi Brooks rời mắt khỏi màn hình máy tính. “Vậy là Cosgrove giết cô ấy vì mười lăm nghìn.”
                            “Đúng, không trực tiếp đánh đập cô ấy đến chết không có nghĩa là hắn ta bớt đi trách nhiệm. Em tin hắn sẽ đáp lại thư này. Em tin hắn sẽ đồng ý nộp tiền. Chừng nào em biết hệ thống giám sát vào cuộc, em sẽ gửi đi.”
                            “Chúng đã trả công gì cho hắn trong vụ của em?”
                            Giọng điệu của anh, cứng rắn và lạnh lùng, khiến cô mất một lúc mới tắt được máy tính. “Hắn nợ năm mươi nghìn tiền bài bạc. Ilya mua lại - chúng gọi là điểm - gã mua điểm của Cosgrove, sau đó dùng khoản nợ đe dọa hắn.”
                            “Thế khi em không... bị loại bỏ?”
                            “Chúng chỉ trả một nửa, và yêu cầu hắn trả nốt số còn lại. Số tiền, thậm chí em vẫn sống, nhiều hơn hẳn so với số tiền cho Anya Rinki. Chắc anh kết luận Korotkii đáng giá với Sergei Volkov hơn là Dimitri Bardov.”
                            Giờ anh nói rất khẽ, và cực kỳ chắc chắn. “Chúng sẽ phải trả giá, Abigail, cho những gì chúng đã làm với em, với Anya Rinki, với tất cả những người khác. Anh xin thề với em.”
                            “Em không muốn anh làm việc gì đó mà anh không thể kiểm soát được.”
                            Ánh mắt anh không hề nhích động khỏi mắt cô. “Cho dù mất gì, mất bao lâu cũng được.”
                            Vì cô hiểu điều đó nên có chút sợ hãi, cô ngó ra ngoài cửa sổ. “Chúng ta bắt đầu hạ cánh rồi.”
                            “Em lo lắng không?”
                            “Không.” Cô phải mất một lúc mới khẳng định. “Không, em không lo lắng những gì sắp xảy ra. Rất ngạc nhiên, thực ra em từng nghĩ rằng mình chẳng bao giờ có thể làm được việc này. Vậy mà giờ em hoàn toàn tin mình có thể làm được, và phải được. Và điều khác biệt là...” Cô cầm lấy tay anh, đan các ngón tay với nhau. “Thế này. Chỉ thế này thôi.”
                            “Thế này,” anh siết chặt bàn tay, “là điều vô cùng quan trọng.”
                            ***
                            Cô làm thủ tục nhận phòng đúng ba mươi phút trước Brooks, cho nên lúc anh gõ cửa phòng, cô đã bố trí xong máy quay và mic tại khu vực tiếp khách ở nơi mà khách sạn gọi là buồng đại gia. Trong phòng anh - bên kia hành lang và xuôi xuống hai phòng - cô lắp đặt các màn hình, kết nối với thiết bị.
                            Chỉ trong hơn một tiếng, cô đã làm xong và kiểm tra thiết bị.
                            “Ngay khi chúng ta liên hệ, nhân viên liên bang sẽ bố trí người tới khách sạn,” Brooks bảo cô.
                            “Em biết. Nhưng càng sớm càng tốt.” Chẳng còn phải làm gì nữa, cô quyết định vậy. Không còn phải thận trọng nữa. “Chúng ta gọi thôi.”
                            Cô phải chờ đợi một mình, nhưng thấy rất thoải mái khi biết anh có thể dõi theo cô. Cho nên cô làm việc trong lúc chờ đợi, và, khi có xác nhận về lệnh theo dõi thiết bị điện tử của Cosgrove và Keegan, cô lập trình quãng thời gian đợi là hai tiếng - đủ lâu cho thiết bị theo dõi vào vị trí - để gửi bức thư hăm dọa của mình đi.
                            Một hòn sỏi ném xuống sông, cô nghĩ thầm, và nhìn thẳng vào máy quay, mỉm cười.
                            Lúc cô theo dõi các hoạt động, cô biết chính xác khi nào chiếc máy bay chở trợ lý giám đốc Gregory Cabot và đặc vụ Elyse Garrison làm thủ tục cất cánh đến sân bay Dulles International.
                            “Giờ họ trên đường rồi,” cô nói rành rẽ, “và sẽ hạ cánh tại Dulles sau khoảng một tiếng bốn mươi phút.”
                            Cô kiểm tra đồng hồ, tính toán. “Em đoán họ sẽ đến khách sạn lúc mười giờ. Họ có thể vẫn chọn cách theo dõi và đợi cho tới sáng, nhưng em nghĩ họ sẽ đến gặp em ngay tối nay, vì như thế họ nắm được khả năng kiểm soát, hoặc họ tin sẽ như vậy.”
                            Cô đứng lên, ao ước có thể mở toang rèm. Nhưng với các thiết bị thích hợp và với góc độ thích hợp từ một tòa nhà xung quanh, người ta có thể nhìn thấy cô trong phòng.
                            “Em nghĩ em sẽ gọi một bữa ăn. Như thế họ sẽ có cơ hội để một đặc vụ cải trang thành một người phục vụ phòng, để họ có thể tận mắt thấy em và phòng ốc. Việc xác nhận em ở đây, một mình, có thể rất có ích.”
                            Cô đặt món salad, một chai nước lớn, một ấm trà. Cảm thấy yên tĩnh một cách kỳ quặc, cô tiếp tục trò chuyện một chiều với Brooks trong khi bật TV lên, vặn tiếng thật nhỏ, vì cô cho rằng người chỉ có một mình trong khách sạn có thể cũng làm vậy.
                            Cô kiểm tra lại lớp trang điểm, tóc giả của mình - dù thực ra cô muốn gỡ bỏ hết - và khi nghĩ một lúc, cô làm cho giường nhăn nhúm một chút để trông như thể cô đã nằm lăn ra xem truyền hình.
                            Lúc đồ ăn chuyển đến, cô mở cửa cho người phục vụ, ra hiệu về phía chiếc bàn trong phòng khách.
                            Anh ta có mái tóc đen, vóc dáng săn chắc và một đôi mắt cô nghĩ là rất linh hoạt.
                            “Cô đến đây vì công việc phải không, thưa cô?”
                            “Vâng.”
                            “Tôi hy vọng cô có thời gian chơi một chút khi cô ở đây. Xin mời thưởng thức bữa tối,” anh ta nói thêm, trong khi cô ký vào hóa đơn. “Nếu cô cần gì, chỉ cần nhấc điện thoại lên thôi.”
                            “Vâng. Cảm ơn anh. Thật ra... có lẽ anh có thể lấy thêm nước, hoặc cà phê, nếu được, khi trợ lý giám đốc và đặc vụ Garrison đến.”
                            “Sao cơ ạ?”
                            “Giày của anh, mắt anh và súng dưới áo choàng phục vụ của anh. Tôi hy vọng anh liên lạc với trợ lý giám đốc và đặc vụ để thông báo rằng tôi sẵn sàng nói chuyện với họ tối nay nếu họ thấy phù hợp.”
                            Nói thế, cô nghĩ, là chuyển đi rất rõ ràng thông điệp rằng quyền kiểm soát vẫn nằm trong tay cô.
                            “Có thể đợi tới sáng mai nếu họ muốn theo dõi tôi lâu hơn, nhưng tôi không định đi đâu cả. Cần tranh thủ thời gian nói chuyện tối nay. Và cảm ơn anh đã mang đồ ăn tới. Món salad trông rất ngon.”
                            Anh ta nhìn cô thật lâu. “Vâng thưa cô,” anh ta nói và để cô lại một mình.
                            “Không phải bốc đồng hay thể hiện đâu. Chính xác đấy. Em cảm thấy nếu họ hiểu là em hiểu chuyện, chúng ta có thể vượt qua quy trình này suôn sẻ hơn. Hòn sỏi ném xuống sông trong khi em nói chuyện với anh chàng phục vụ của FBI,” cô nói thêm. “Em nghĩ em sẽ ăn. Món salad trông ngon thật.”
                            Trong phòng mình, trệu trạo nhai mấy thứ hạt khô, Brooks chỉ biết lắc đầu.
                            Anh có một người phụ nữ hết sảy.
                             
                            Ăn xong, cô để khay ngoài cửa. Rất nhiều vân tay, cô nghĩ, cũng đủ DNA luôn. Họ có thể tìm dấu tay của cô và tiết kiệm thêm thời gian.
                            Cô ngồi xuống, uống trà, theo dõi máy tính của mình để phát hiện các cảnh báo và nghĩ đến việc cô ao ước được ở chung nhà với Brooks, chú chó và mảnh vườn của cô đến mức nào. Lúc này cô biết rằng, thực sự biết rằng, mong ước về một tổ ấm mới thật đáng yêu làm sao.
                            Khi có tiếng gõ cửa, cô tắt máy tính, đi ra cửa và nhìn qua lỗ an ninh thấy một người đàn ông cao ngỏng và một phụ nữ có vóc dáng như vận động viên.
                            “Vâng?”
                            “Cô Elizabeth Fitch?”
                            “Các vị làm ơn giơ căn cước ra để tôi nhìn rõ được không?” Dĩ nhiên cô biết mặt họ, nhưng nếu không thực hiện bước này thì thật ngu ngốc.
                            Cô mở cửa. “Xin mời vào.”
                            “Trợ lý giám đốc Cabot.” Ông ta chìa tay ra.
                            “Vâng, cảm ơn ông đã đến. Và chị nữa, đặc vụ Garrison. Thật vui được gặp riêng các vị.”
                            “Và cả cô, cô Fitch.”
                            “Xin gọi tôi là Elizabeth, hoặc Liz. Chúng ta ngồi xuống thôi. Nếu các vị thích một chút cà phê...”
                            “Chúng tôi nghe nói cô đã đề nghị.” Cabot thoáng mỉm cười. “Chuyện đó lan ra rồi. Nhân viên mà cô phát hiện đang bị các đồng nghiệp trêu chọc.”
                            “Tôi xin lỗi. Tôi đoán các vị cử người đến nếu các vị có cơ hội. Và tôi là người tinh mắt.”
                            “Cô đã tìm cách tránh không bị phát hiện cả một thời gian dài mà.”
                            “Tôi muốn được sống.”
                            “Còn bây giờ?”
                            “Tôi muốn sống. Tôi đã hiểu rằng có sự khác biệt.”
                            Cabot gật đầu. “Chúng tôi muốn ghi lại cuộc gặp này.”
                            “Vâng, tôi thích các vị làm vậy.”
                            “Bố trí đi, đặc vụ Garrison. Tôi sẽ ghi,” ông ta nói, gõ lên cửa.
                            Garrison lấy một chiếc máy tính từ trong cặp ra. “Tôi muốn hỏi cô tại sao cô lại chọn tôi làm người tiếp xúc.”
                            “Dĩ nhiên. Chị có hồ sơ rất tốt. Chị xuất thân từ một gia đình nề nếp, và trong khi có thành tích xuất sắc ở trường, chị cũng đã có thời gian dành cho các hoạt động ngoại khóa, có những tình bạn bền vững. Tôi kết luận chị được quý mến, thông minh và biết phân biệt đúng sai rành rẽ. Đó là những phẩm chất quan trọng cho mục đích của tôi. Thêm nữa, khi tìm hiểu về bậc giáo dục đại học của chị và hồ sơ của chị ở Quantico, rồi ở Chicago, tôi kết luận rằng, dù tham vọng, chị luôn ước muốn thành công và phát huy dựa trên năng lực của chính mình. Chị biết tôn trọng quyền lực và tôn ti trật tự. Chị có thể không thích các quy định, nhưng chị tôn trọng vì đó là nền tảng của hệ thống, và hệ thống là một phương tiện của công lý.”
                            “Ái chà.”
                            “Tôi xin lỗi, vì một số tìm hiểu của tôi về chị bao gồm cả việc thâm nhập thông tin cá nhân. Tôi chỉ có thể bào chữa bằng lý do là muốn được làm một nguồn cung cấp tin về tổ chức nhà Volkov. Mục đích biện mình cho phương tiện. Thường thì đó không phải là lý do để làm việc sai trái, nhưng trong trường hợp này, ở thời điểm đó, tôi tin đó là lựa chọn khả dĩ duy nhất của tôi. Ông có muốn tôi rót cà phê không, ông Cabot?”
                            “Tôi có đây rồi.”
                            Abigail im lặng một lúc trong khi tự đánh giá. Căng thẳng, đúng, cô thừa nhận. Mạch của cô đập nhanh, nhưng không hề hoảng loạn.
                            “Tôi đoán các vị đã xác mình tôi qua những dấu tay trên mấy chiếc đĩa rồi.”
                            Cabot lại gần như mỉm cười. “Cô đoán đúng rồi. Đặc vụ Garrison?”
                            “Vâng, thưa sếp. Chúng ta đã sẵn sàng.”
                            “Cô nói rõ tên để ghi lại được không?”
                            “Tôi là Elizabeth Fitch.”
                            “Cô Fitch, cô đã liên hệ với FBI, thông qua một người liên lạc, bày tỏ mong muốn ra làm chứng liên quan đến những vụ việc xảy ra vào mùa hè và mùa thu năm 2000.”
                            “Đúng vậy.”
                            “Chúng tôi có bản khai viết tay của cô như đã được cung cấp, nhưng một lần nữa, để ghi âm và để nghe những lời của chính cô, cô kể với chúng tôi về những sự việc đó được không?”
                            “Vâng. Ngày 3 tháng 6 năm 2000, tôi cãi vã với mẹ tôi. Chuyện này rất quan trọng, vì tôi chưa bao giờ đến mức cãi vã với bà cả. Mẹ tôi từng là - giờ tôi đoán vẫn vậy - một nhân vật nổi tiếng. Tôi là đứa dễ bảo. Nhưng ngày hôm đó tôi cãi lại ý muốn và mệnh lệnh của mẹ, và chuyện đó kéo theo một loạt sự kiện.”
                            Khi nghe những lời kể lại, tim Brooks thấy xót xa cho cô, tuyệt vọng. Cô đã kể rất kỹ càng, nhưng giờ anh hiểu cô. Anh hiểu cả những lúc ngừng nghỉ ngắn khi cô cố giữ bình tĩnh, những thay đổi rất tinh tế trong chuyển giọng, hơi thở của cô.
                            Cô sẽ phải kể chuyện này bao nhiêu lần nữa? anh tự hỏi. Với các công tố viên, với quan tòa và bồi thẩm đoàn. Cô sẽ phải sống lại những chuyện đó bao nhiêu lần nữa?
                            Cô sẽ phải bắt đầu và dừng lại, bắt đầu và dừng lại bao nhiêu lần nữa, khi người nghe ngắt lời bằng những câu hỏi, đề nghị làm rõ.
                            Nhưng cô không hề nao núng.
                            “Cảnh sát Tư pháp Cosgrove và Keegan đều khai, và bằng chứng ưu thế hậu thuẫn cho những lời khai ấy, rằng cảnh sát Tư pháp Norton bị hạ khi họ tiến vào nhà an toàn để thay ca, rằng họ bị bắn và bắn trả người hoặc nhóm người không rõ. Họ không thể tiếp cận tầng hai vào lúc đó. Khi Cosgrove bị thương, Keegan đưa anh ta ra khỏi nhà. Khi anh ta gọi hỗ trợ, anh ta nhìn thấy một kẻ chạy khỏi hiện trường. Anh ta không thể xác định được nhân dạng của kẻ đó, vì có mưa bão và tầm nhìn hạn chế. Đến lúc này, nhà an toàn nổ tung do thứ sau này được phát hiện là một vụ phá hoại chủ đích bằng lò ga.”
                            “Vâng.” Hy vọng tỏ ra bình tĩnh, Abigail gật đầu với Cabot. “Đó chính xác là lời khai của bọn họ. Họ đã nói dối.”
                            “Ý cô là hai cảnh sát Tư pháp đã cung cấp báo cáo láo?”
                            “Lời khai có tuyên thệ của tôi là hai kẻ này, thông đồng với tổ chức của Volkov, đã sát hại cảnh sát Tư pháp Theresa Norton và John Barrow.”
                            “Cô Fitch...”
                            “Tôi muốn nói hết. William Cosgrove và Steven Keegan, dưới sự chỉ đạo của tổ chức tội phạm Volkov, định giết tôi để ngăn tôi ra làm chứng chống lại Yakov Korotkii và những kẻ khác. Chúng dựng lên vụ nổ để tự che giấu. Lời khai có tuyên thệ của tôi là cả hai kẻ này vẫn tiếp tục nhận tiền của bọn Volkov. John Barrow chết trong tay tôi khi cố gắng bảo vệ tôi. Ông ấy đã đem mạng sống của mình cứu mạng tôi. Ông ấy cứu mạng tôi bằng cách bảo tôi chạy trốn. Nếu ông ấy không làm vậy, tôi đã chết trong căn nhà đó.”
                            Cô đứng lên, đi tới chiếc va li để ngỏ trên giường, lấy ra một cái túi buộc kỹ.
                            “Đây là chiếc áo len và áo lót ngoài mà chị Terry tặng tôi nhân sinh nhật tôi vào tối hôm đó. Tôi lên gác để mặc thử trước lúc Cosgrove và Keegan đến. Tôi đang mặc bộ này lúc tôi ôm chú John, máu chảy tràn từ rất nhiều vết thương do súng ngắn. Đây là máu của chú ấy. Là máu của chú John.”
                            Cô ngừng lại khi giọng cô vỡ òa.
                            Cô đưa cái túi cho Garrison. “Chú John và chị Terry đáng được hưởng công lý, gia đình họ phải được biết sự thật. Tôi đã mất một thời gian dài mới có được sự can đảm nói ra sự thật đó.”
                            “Không có bằng chứng cụ thể nào về kẻ nổ súng ngày hôm đó, nhưng lại có bằng chứng rằng việc đó có thể do một cô gái trẻ, thần kinh căng thẳng đến mức suy sụp nên tìm cách giết những người bảo vệ mình để cố thoát thân.”
                            Abigail ngồi xuống, đan tay đặt trên đùi. “Các vị không tin điều đó. Các vị không tin tôi có thể tấn công và giết hai cảnh sát Tư pháp dày dạn kinh nghiệm, làm bị thương một người nữa, cho nổ tung căn nhà, sau đó trốn thoát. Chắc chắn là có thể làm được, nhưng không logic.”
                            “John Barrow dạy cô cách sử dụng súng,” Garrison nói.
                            “Đúng vậy, và chú ấy dạy tôi rất tốt, nếu xét đến lượng thời gian chúng tôi có. Và đúng, tôi đã đề nghị và nhận được năm nghìn tiền mặt từ tài khoản tín thác của mình,” cô nói thêm, trước khi Garrison định nói. “Tôi muốn an toàn và có cảm giác được độc lập. Tôi biết vụ nổ đã tiêu hủy một số bằng chứng nhưng các vị có thể tái hiện lại. Các vị sẽ biết chị Terry chết trong bếp, còn chú John trên tầng hai. Các vị sẽ biết qua các báo cáo của họ, và qua các báo cáo, phỏng vấn và lời khai từ đại diện của Cục Bảo vệ Trẻ em được phân công lo cho tôi, rằng tôi không hề có dấu hiệu gì của tình trạng căng thẳng như thế cả.”
                            Cô mất một lúc nữa rồi mới tiếp tục. “Nếu các vị tìm hiểu về đời tư của tôi, nếu các vị biết gì về cuộc sống ở nhà của tôi trước tháng Sáu đó, các vị sẽ hiểu rằng thay vì căng thẳng, thực tế tôi lại thấy thoải mái hơn hẳn cuộc sống cũ của mình.”
                            “Nếu Cosgrove và Keegan chịu trách nhiệm về cái chết của cảnh sát Tư pháp Norton và Barrow, bọn họ sẽ bị đưa ra công lý. Lời khai của cô trong vụ giết hại Alexi Gurevich và Julie Masters, và trong cái chết của cảnh sát Tư pháp Norton và Barrow, là rất quan trọng với các cuộc điều tra. Chúng tôi sẽ cần đưa cô vào chương trình bảo vệ và chuyển cô về lại Chicago.”
                            “Không.”
                            “Cô Fitch, cô là một nhân chứng sống, và đối tượng tình nghi nữa.”
                            “Một kẻ tình nghi khó tin, và tất cả chúng ta đều biết thế. Nếu các vị đưa tôi vào chương trình bảo vệ, các vị sẽ giết chết tôi. Chúng sẽ tìm ra tôi, và thông qua bất kỳ ai các vị bố trí.
                            “Elizabeth. Liz,” Garrison nói, nhổm hẳn về phía trước. “Cô đã tin tôi với những thông tin quan trọng sẽ dẫn đến các vụ bắt giữ, cáo buộc. Giờ hãy tin tôi. Đích thân tôi sẽ chỉ huy việc bảo vệ cô.”
                            “Tôi sẽ không chịu trách nhiệm về cái chết của chị, về nỗi đau của bố mẹ chị. Tôi hứa với chị, nếu tôi sống đủ lâu, tôi sẽ lại trốn chạy chứ không ra làm chứng. Tôi rất giỏi ẩn náu, và các vị sẽ không bao giờ có lời chứng của tôi đâu.”
                            “Cô phải tin chúng tôi sẽ không để chuyện gì xảy ra với cô cả.”
                            “Không, tôi không tin. Các vị có thể tin được ai để giao cả sinh mạng của tôi chứ? Đặc vụ Pickto sao?”
                            Garrison ngồi xuống. “Pickto thì sao?”
                            “Đặc vụ Anthony Pickto, tuổi ba mươi tám, được phân công tới Sở Chicago. Đã ly hôn, không có con. Điểm yếu của anh ta là phụ nữ. Anh ta càng thích họ khi họ tỏ ra miễn cưỡng. Anh ta đã cung cấp thông tin về các cuộc điều tra để đổi lấy việc được tiếp cận những phụ nữ nhà Volkov mang từ Nga sang Mỹ, rồi ép bán dâm. Họ cũng trả tiền cho anh ta, nhưng đó chỉ là phụ. Anh ta đang lùng sục đầu mối liên lạc FBI - chị đấy, Đặc vụ Garrison. Anh ta đang đến rất gần. Nếu anh ta biết ai nhận được dữ liệu dẫn tới các vụ bắt giữ, khám xét này, chị sẽ bị giải quyết. Tra hỏi, tra tấn, cưỡng bức. Chúng sẽ đe dọa chị bằng cách hành hạ và giết hại tất cả mọi người chị yêu quý, và có lẽ sẽ chọn một người làm ví dụ để chứng minh chúng nghiêm túc thế nào. Khi chị không còn ích gì nữa, chúng sẽ giết chị. Đặc vụ Pickto báo cáo với ông, Trợ lý Giám đốc ạ.”
                            “Đúng,” Cabot xác nhận, “đúng vậy. Cô đang có những cáo buộc nghiêm trọng về một đặc vụ có hồ sơ tốt đấy.”
                            “Đó không phải là cáo buộc, đó là sự thật. Và chỉ là một trong những lý do tôi không giao mạng sống của mình vào tay các vị. Tôi sẽ giúp các vị loại bỏ những kẻ này, giúp các vị phá tan tổ chức Volkov, nhưng tôi sẽ không nói với các vị tôi ở đâu. Nếu các vị không biết, các vị không thể tiết lộ thông tin khi bị ép buộc.” Cô thò tay vào túi, lấy ra một chiếc USB. “Hãy kiểm tra thông tin tôi đã thu thập về Pickto, sau đó hãy tự hỏi mình rằng liệu, trước khi đọc, kiểm tra nó, ông có giao mạng sống của tôi, mạng sống của đặc vụ này, những người khác dưới quyền, những người khác ở Cục Cảnh sát Tư pháp, cho kẻ này không. Các vị sẽ chẳng bao giờ tìm thấy tôi, nhưng tôi đã tìm đến các vị. Tôi sẽ cung cấp cho các vị mọi thứ các vị cần, và tất cả những gì tôi đề nghị là các vị để tôi sống. Hãy để Elizabeth Fitch sống để giúp đem lại công lý cho Julie, Terry và John. Và khi cô ấy làm xong, hãy để cô ấy chết.”
                            “Tôi không thể hứa làm theo cách của cô. Tôi có những người cần phải trả lời.”
                            Có chút sốt ruột. “Các vị có nghĩ tôi tìm đến các vị nếu tôi không biết các vị có quyết định được đích xác những gì tôi đang đề nghị không? Các vị có quyền, các vị có bằng chứng, và sự hậu thuẫn lớn. Theo cách của tôi, và nhà Volkov sẽ bị giải quyết ở Chicago, ở New York, New Jersey, Miami. Các vị sẽ tìm ra những nhân viên và những quan chức khác trong bộ máy thực thi pháp luật và Tư pháp làm việc cho chúng - tự nguyện hoặc do sợ hãi.”
                            Không thể ngồi tiếp, ra vẻ bình tĩnh mà không hề thấy vậy, Abigail đứng bật dậy. “Tôi chỉ mười sáu tuổi, và đúng, tôi không biết đánh giá. Tôi bất cần. Một tối trong đời, tôi phá bỏ các quy tắc. Nhưng tôi không đáng phải chết vì điều đó, Julie càng không. Nếu các vị giữ tôi không theo ý tôi, vụ này sẽ được tiết lộ cho báo chí. Và họ sẽ nói về cô gái trẻ đó, về mười hai năm đày ải, xuất hiện để đề nghị giúp đỡ bất chấp rủi ro rất lớn.”
                            “Đó là một lời đe dọa chăng?”
                            “Đúng, đó là một lời đe dọa. Cấp trên của các vị sẽ không hài lòng với báo giới, đặc biệt vào thời điểm họ đang tìm cách loại bỏ tổ chức Volkov, đặc biệt khi những nhân viên FBI đáng tin cậy như Anthony Pickto bị liên can. Có lẽ việc giải thích điều đó với những người các vị phải trả lời sẽ cho các vị thêm sự hậu thuẫn.”
                            “Ngừng ghi âm được rồi, đặc vụ Garrison.”
                            “Vâng, thưa sếp.”
                            “Tôi sẽ gọi điện một cuộc.” Nói xong, ông ta bước ra khỏi phòng.
                            Abigail ngồi xuống, đặt tay trên đùi, hắng giọng. “À, tôi gọi thêm cà phê nhé?”
                            “Không, cảm ơn. Tôi ổn. Cô chơi rắn lắm, Liz.”
                            “Tôi đang phải chơi cho mạng sống của mình.”
                            “Đúng vậy. Pickto. Cô chắc chứ?”
                            “Tôi không bôi nhọ tên tuổi, uy tín và sự nghiệp của ai cả.”
                            “Được. Anh ta sẽ nhận được một số câu hỏi. Tôi chẳng hề nghi ngờ gì, chẳng có gì bất thường, nhưng tôi có nghe nói anh ta đã đặt một số câu hỏi về mấy vụ khám xét bọn Volkov mới đây. Và khi tôi đặt những câu hỏi ấy vào hoàn cảnh này, tôi thấy điểm bất thường, rất rõ ràng. Tôi đã từng tin tưởng anh ta,” Garrison thừa nhận.
                            “Dĩ nhiên rồi.”
                            “Cô biết đấy, nếu được lệnh phải dẫn cô tới, Cabot sẽ nhốt cô rất chặt. Tôi muốn cô biết, nếu điều đó xảy ra, tôi sẽ bảo vệ cô an toàn.”
                            “Nếu ông ấy giữ tôi, tôi sẽ trốn thoát, cho dù ông ấy giam tôi chặt đến đâu. Tôi sẽ tìm ra cách. Các vị sẽ không bao giờ nhìn hay nghe thấy tôi nữa.”
                            “Tôi tin cô,” Garrison lẩm bẩm.
                            “Tôi có thể rất giỏi xoay xở.”
                            Phải mất hai mươi phút Cabot mới quay lại. Ông ta ngồi xuống. “Tôi nghĩ chúng ta có thể thỏa thuận với nhau.”
                            “Thật chứ?”
                            “Một nhóm hai người cực giỏi, chỉ có tôi mới biết, bảo vệ cô ở một địa điểm cũng chỉ tôi mới biết.”
                            “Và khi chúng biết, và chúng sẽ biết, ông có thông tin, và chúng sẽ bắt vợ hoặc con ông, khi chúng gửi cho ông một bàn tay hay một cái tai, ông sẽ cứu ai đây?”
                            Cabot nắm chặt tay trên đầu gối. “Cô xem thường hệ thống an ninh của chúng tôi quá.”
                            “Tôi có địa chỉ của ông, tôi biết con ông học trường nào, vợ ông làm việc ở đâu, bà ấy thích đi mua sắm chỗ nào. Ông có nghĩ chúng không thể tiếp cận những thông tin như thế, sẽ không dùng phương tiện gì để tiếp cận khi tổ chức của chúng bị đe dọa ư? Tôi sẽ hợp tác. Tôi sẽ nói với các công tố viên, với cấp trên của ông. Tôi sẽ ra làm chứng trước tòa. Nhưng tôi sẽ không vào nhà an toàn lần nữa, và tôi sẽ không chấp nhận Chương trình bảo vệ nhân chứng một khi việc đó được thực hiện. Đó là cái giá của tôi, và nó rất nhỏ bé so với giá trị tôi đang đưa ra.”
                            “Và nếu chúng tôi tiếp tục vụ này, thúc đẩy theo hướng này, cô sẽ lại trốn chạy?”
                            Cô nhoài người, nhặt chiếc túi chứa chiếc áo len vấy máu. “Áo của chị Terry, máu của chú John. Tôi đã giữ thứ này mười hai năm trời. Dù tôi đi đâu, dù tôi là ai, thứ này vẫn theo tôi. Tôi cần để nó ra đi, và ít nhất cùng một phần nỗi đau, tội lỗi và dằn vặt. Tôi không thể làm được cho tới khi tôi làm được những gì tôi cần làm cho Julie, cho chú John, cho chị Terry. Tôi sẽ giữ liên lạc hằng ngày qua máy tính. Khi họ công bố về việc tìm thấy tôi, tôi sẽ ra làm chứng, chúng sẽ làm mọi việc có thể để tìm xem ai biết tôi ở đâu, ai đang bảo vệ tôi. Nhưng chúng sẽ không tìm thấy gì cả, bởi vì chẳng có gì để tìm. Và khi tôi bước vào phòng xử án, chúng sẽ xong đời. Tất cả chúng ta sẽ xong việc. Đó là thỏa thuận.”
                             
                            Khi họ ra về, cô nằm phịch xuống giường.
                            “Ông ta có giữ lời không?” Cô nhắm mắt lại, hình dung Brooks ở đó cùng cô chứ không phải chỉ quan sát. “Ông ấy có làm không? Em mệt quá. Em rất vui vì anh ở đây. Ngay đây,” cô nói, và nắm chặt một tay, đặt lên ngực trái.
                            Brooks nhìn cô chìm đi, và nghĩ nếu Cabot không giữ lời thì sẽ phải trả giá. Và anh sẽ là người đòi nợ.
                            Nhưng lúc này anh chỉ biết đứng nhìn trong lúc cô ngủ thiếp đi.
                            #29
                              Thanh Vân 29.11.2023 19:32:38 (permalink)

                              30


                              Brooks nhận ra đám nhân viên FBI ngay sau khi anh ngồi xuống ăn sáng tự chọn tại khách sạn. Anh chỉ hơi liếc mắt về vị trí Abigail ngồi, đang đọc tờ báo bên chiếc bàn đơn. Lướt nhìn căn phòng một lượt, anh vờ như gọi và nhận vài cuộc gọi qua điện thoại di động, giống như một con người bận rộn ghé qua đây. Vẫn để điện thoại bên tai, anh bước thẳng ra ngoài cùng với chiếc túi du lịch của mình.
                              Và kéo chuông báo cháy trên đường đi.
                              Anh dừng lại, như bất kỳ ai khác - vẻ ngạc nhiên, có phần hơi khó chịu - và nhìn đám đông trong khu vực ăn sáng tự chọn tản khỏi các bàn, nghe tiếng ồn càng tăng lên lúc người ta đồng loạt nói gì đó.
                              Cô ấy thật cừ, Brooks nhận xét. Abigail lẫn vào đám đông đang chạy ra ngoài. Lúc anh len lách giữa cô và những đặc vụ đang bám đuôi, hòa vào đám người chạy thoát thân, cô đã lách được sang bên và lọt vào phòng vệ sinh. Nếu anh không để ý chuyện này, không biết trước kế hoạch thì anh đã không nhìn thấy động tác di chuyển đó.
                              Anh chậm lại một chút. “Báo cháy,” anh nói vào điện thoại. “Không, không ảnh hưởng đến tôi đâu. Tôi đang ra ngoài rồi,” anh nói thêm, trong lúc tụt lại phía sau những đặc vụ. Sau khi nhét điện thoại vào túi, anh lôi một chiếc mũ lưỡi trai từ trong túi xách ra. Vẫn di chuyển, anh đeo kính, nhét chiếc áo khoác anh mặc lúc ăn sáng vào túi, nới quai túi, rồi khoác chéo qua người.
                              Giờ họ đang tìm kiếm cô, Brooks nhận ra vậy, một người trong số họ quay ngược lại, tìm kiếm trong đám đông, hướng thẳng về sảnh và lối thoát chính.
                              Chưa đầy hai phút sau khi anh kéo chuông, cô đã ra khỏi phòng vệ sinh, tới chỗ anh. Đuôi mái tóc vàng óng dài được luồn qua chiếc mũ lưỡi trai giống như của anh. Cô đi đôi dép tông và chiếc áo có mũ trùm màu hồng, và ngót đi đến năm cân.
                              Họ cùng đi, tay nắm tay, rồi tách khỏi đám đông và lên một chiếc taxi.
                              “Sân bay Dulles,” Brooks nói với lái xe, “American Airlines.”
                              “Anh nghĩ có cháy thật không?” Abigail hỏi, giọng rặt khẩu âm New York.
                              “Không rõ nữa cưng ạ, nhưng giờ chúng ta ra khỏi đó rồi.”
                              Đến Dulles họ xuống nhà ga của hãng American, đi vào trong, vòng quanh, rồi thoát lên một chiếc taxi khác tới nhà ga dành cho máy bay riêng.
                               
                              “Thực sự không thể trách đám nhân viên liên bang vì định bám đuôi em được,” Brooks nói khi họ đã yên vị trên khoang máy bay.
                              “Vâng.”
                              “Mà em có mái tóc vàng đẹp đấy.”
                              Cô hơi mỉm cười, sau đó xoay laptop về phía mình. “Cosgrove trả lời rồi.”
                              “Rồi cơ à?” Brooks nghiêng đầu.
                              Tao không biết mày là ai, nhưng hãy nhớ mày đang hăm dọa một sĩ quan liên bang. Chuyện này sẽ được tiến hành điều tra ngay lập tức.

                              “Lối bịp bợm thông thường đây mà.”
                              “Vâng,” Abigail đồng ý. “Em định nói vậy.” Cô ngước lên. “Em chơi poker rất giỏi, và thật trớ trêu, hắn ta là người dạy em.”
                              Brooks đọc nội dung xuất hiện trên màn hình. “Trò trở thành thầy.”
                              Rudolt Yankivich là đầu mối liên hệ trong tổ chức Volkov của ông về vụ này. Hiện hắn đang thụ án mười đến mười lăm năm ở Joliet. Tôi tin chắc sĩ quan chỉ huy của ông sẽ rất quan tâm đến thông tin này. Số tiền phải trả giờ tăng lên 75.000, và sẽ tiếp tục tăng thêm 25.000 với mỗi câu chuyện như cứt ông đưa ra. Giờ ông có ba mươi bảy tiếng.

                              “Câu chuyện như cứt?”
                              “Vâng, em tin lần này mạnh miệng là phù hợp.”
                              “Anh yêu em quá đi mất.”
                              Tình cảm đó khiến cô mỉm cười. “Em biết nói ‘như cứt’ bằng vài ngôn ngữ. Em sẽ dạy anh.”
                              “Rất mong vậy.”
                              Cô gửi thư đi, thở dài.
                              “Em muốn đón Bert và về nhà quá.”
                              ***
                              Mọi việc có thể như thế này - sẽ như thế này, cô sửa lại - lúc cô ngồi ở hiên sau với một ly rượu vang, chú chó nằm dưới chân.
                              Bình yên, tĩnh lặng, phải - nhưng không đơn độc, mà có Brooks ngồi trên chiếc ghế thứ hai anh mua trên đường về.
                              “Rồi em sẽ quen, anh có nghĩ vậy không? Được làm một con người, được an toàn, được bên anh?”
                              “Anh hy vọng em sẽ vậy, cho dù sẽ đến thời điểm em thấy điều đó rất bình thường.”
                              “Em không nghĩ sẽ có lúc như vậy.” Cô nhoài người nắm lấy tay anh. “Giờ mọi việc sẽ xảy ra rất nhanh.”
                              “Chúng ta sẵn sàng thôi.”
                              Cô ngồi thêm một lúc nữa, tay trong tay anh, nhìn ra khoảnh vườn xinh xắn của mình, ra khu rừng yên tĩnh. Thêm một buổi tối êm đềm nữa, cô nghĩ thầm, lúc xuân dần chuyển sang hè.
                              “Em đi làm bữa tối đây.”
                              “Em cần gì phải vậy. Chúng ta có thể lục đồ gì đó mà.”
                              “Em rất thích nấu nướng. Như một công việc thường lệ. Như mọi ngày.”
                              Cô nhận thấy sự thấu hiểu lúc anh nhìn cô. “Mọi ngày. Nghe hay đấy.”
                              Trong đầu cô, những người chưa từng biết mùi cuộc sống vất vưởng sẽ không thể hiểu được đầy đủ điều đó quý giá như thế nào.
                              Cô thu thập những món mình cần, thấy vui khi anh vào ngồi bên quầy bếp và nói chuyện với cô trong lúc cô nấu ăn. Cô thái cà chua và húng, nghiền một ít tỏi, nạo một ít pho mát, cho thêm một ít tiêu xay và rót dầu ô liu lên trên để ướp. Cô bắt đầu chuẩn bị một khay đồ nguội khai vị.
                              “Em nghĩ chúng ta có thể tìm thêm một con chó nữa, một con cún, làm bạn với Bert. Anh có thể đặt tên cho nó, vì em đã đặt tên cho Bert rồi.”
                              “Hai con chó, hay đấy.” Anh ngẫm nghĩ. “Nó sẽ phải là Ernie.”
                              “Tại sao chứ?”
                              Anh nhón một quả ớt cay trên khay. “Bert và Ernie. Mấy con rối ấy? Sesame Street.
                              “Ồ. Đó là chương trình phim trẻ em. Bert và Ernie là bạn?”
                              “Và có thể còn hơn thế, nhưng vì là chương trình phim trẻ em, nên chúng ta sẽ cứ hiểu là bạn thôi.”
                              “Em đặt tên Bert theo Albert Einstein.”
                              “Anh hiểu mà.”
                              “Nó rất khôn.”
                              Máy tính của cô có tín hiệu.
                              “Thư đến đấy,” cô nói, và bước tới máy tính, cúi xuống và cho hiển thị email. “Là Cosgrove. Hắn cắn câu rồi.”
                              Hăm dọa tao, hăm dọa nhà Volkov. Mày sẽ không sống nổi để tiêu tiền đâu. Giờ hãy rút đi, để mà sống.

                              “Hắn đang gắn mình với nhà Volkov qua cách trả lời này. không cụ thể, dĩ nhiên, nhưng đã bắt đầu.”
                              “Để anh trả lời thư này cho,” Brooks đề nghị, và ngồi xuống. “Ồ...” Sau đó vẻ lưỡng lự của Abigail biến thành một cái gật đầu đồng ý. “Rất hay.”
                              Cứ nói cho bọn Volkov biết ông đang bị hăm dọa, ông là một khoản tiền nợ mà. Chúng loại bỏ những khoản nợ. Nộp tiền đi, để được sống. Tiền nộp giờ là 100.000 đô la. Ông có hai mươi chín tiếng.

                              “Em sẽ gửi đi.”
                              Anh nhường ghế cho cô, đứng sau cô, xoa xoa vai cô, trong khi cô thực hiện những gì anh nghĩ là một màn ảo thuật lạ mắt với bàn phím.
                              “Giờ hắn có thể ngồi thi gan. Hắn có thể chờ cho hết thời hạn xem sao.”
                              “Không, hắn sẽ không làm vậy.” Brooks cúi xuống, hôn lên đỉnh đầu cô. “Hắn sẽ chuyển từ chỗ dùng luật pháp làm chỗ dựa sang sử dụng bọn Volkov. Hắn đang toát mồ hôi. Phản ứng tiếp theo của hắn sẽ là đòi bảo đảm. Làm sao hắn dám chắc chúng ta sẽ không quay lại đòi thêm chứ?”
                              “Như thế không hợp lý.” Khi bức thư đã được chuyển đi, cô xoay ghế nhìn Brooks. “Tất cả đều không trung thực, chỉ là tống tiền. Đòi bảo đảm là không hợp lý, và sẽ mất thêm hai mươi lăm nghìn nữa. Hắn ta hoặc sẽ đồng ý trả tiền hoặc mặc kệ bất kỳ liên lạc nào tiếp theo.”
                              “Cược nhé, mười đô.”
                              “Là sao?”
                              “Anh được mười đô nếu hắn trả lời và đòi bảo đảm.”
                              Hai mày cô nhíu lại. “Anh muốn đánh cược về phản ứng của hắn ta à? Có vẻ không đúng lúc lắm đâu.”
                              Anh toe toét cười với cô. “Em sợ thua vì lỡ mồm à?”
                              “Anh nói gì kỳ cục thế, mà không, em không sợ. Chơi luôn.”
                              Anh kéo cô đứng lên, lọt vào vòng tay anh. Một động tác xoay khiêu vũ.
                              “Anh đang làm gì vậy?”
                              “Bảo đảm rằng chúng ta sẽ có một bức ảnh đẹp lúc đang nhảy tại hôn lễ của mình.”
                              “Em nhảy rất tốt.”
                              “Đúng vậy.”
                              Cô tựa đầu vào vai anh, nhắm mắt lại. “Cảm giác thật lạ, nhảy không nhạc, đánh cược, trong khi chúng ta đang sắp xếp một việc rất quan trọng.”
                              “Vậy sao?”
                              “Không, cũng không hẳn thế.” Cô mở mắt ngạc nhiên khi máy tính báo hiệu có thư đến. “Nhanh thế.”
                              “Hắn đang cuống. Bị dồn ép.”
                              “Em không hiểu lắm.”
                              “Anh sẽ giải thích sau. Hãy xem hắn nói gì đã.”
                              Làm sao tôi biết anh sẽ không quay lại nữa? Chúng ta hãy thỏa thuận.

                              “Trả lời gì mà ngu thế không biết,” Abigail kêu lên.
                              “Em mất mười đô rồi. Ngắn gọn thôi. Nói: ‘Không được. Không thỏa thuận. Giờ là 125.000 đô la, đồng hồ đang điểm.”’
                              Cô ngắm anh một lúc: cái mũi hơi khoằm kia, đôi mắt nâu lục nhạt - giờ màu lục át màu nâu - mái tóc đen bờm xờm đang cần tỉa gọn. “Em nghĩ anh rất giỏi tống tiền.”
                              “Cảm ơn em yêu.”
                              “Em sẽ nấu mì ống trong lúc hắn ta suy nghĩ. Thế giờ hắn ta sẽ làm gì? Cân nhắc à?”
                              “Lo quắn đít, rót một ly rượu, Cố đoán xem kẻ nào đang chơi hắn.” Ồ, phải, Brooks nghĩ, anh có thể hình dung ra cảnh đó. “Có lẽ hắn đang tính chuyện trốn chạy. Không đủ thời gian để lập kế hoạch bỏ trốn, cho nên hắn sẽ trả tiền, và lại kiếm tiền.”
                              Bên quầy bếp, anh bỏ tọt một quả ô liu từ khay vào miệng, sau đó rót thêm rượu vang cho cô. Và khi cô quay lưng, anh ném một khoanh pepperoni cho Bert.
                              Lúc cô luộc mì ống, để cho ráo, tín hiệu lại xuất hiện.
                              Thanh toán một lần. Nếu còn quay lại nữa, tao đành đánh liều với nhà Volkov. Tiêu tiền cho nhanh bởi vì tao sẽ lần theo mày đấy.

                              “Lớn giọng đấy.”
                              “Anh hiểu hắn ta rất rõ,” Abigail nhận xét.
                              “Một phần công việc. Em phải hiểu những kẻ xấu thì mới tóm được chúng. Em định cho hắn chuyển tiền đi đâu?”
                              “Em có một tài khoản sẵn rồi. Một khi hắn ta chuyển tiền, em sẽ tặng cho một quỹ từ thiện giúp đỡ con cái những sĩ quan cảnh sát đã hy sinh.”
                              “Được đấy, và anh không thích từ chối bọn trẻ, nhưng...”
                              “Anh có nơi nhận khác à?”
                              “Keegan. Em có thể chuyển tiền của Cosgrove vào tài khoản của Keegan không?”
                              “Ôi.” Nét mặt cô rạng rỡ giống như một phụ nữ được tặng hồng ngọc. “Ôi, thật láu cá.”
                              “Anh chợt nghĩ ra thôi.”
                              “Còn hơn là chợt nghĩ. Như thế sẽ làm rối cho cả hai. Như thế sẽ khiến FBI có cớ đưa cả hai ra tra xét.”
                              “Cưng à, cho chúng chết cả trong lẫn ngoài luôn.”
                              “Vâng. Đúng như vậy. Mà được, em làm được. Chỉ mất mấy phút thôi.”
                              “Cứ làm đi. Bert và anh sẽ đi dạo một lát trong lúc em làm việc.”
                              Anh thủ thêm vài miếng pepperoni trong lúc đi ra - một cho anh, một cho chú chó. Một buổi tối dễ chịu để đi loanh quanh, anh nghĩ thầm, đủ thời gian để thăm nom khoảnh vườn, nghĩ về những việc anh có thể làm quanh nơi này khi anh đến ngày nghỉ ngơi.
                              “Đây là chỗ của chúng ta,” anh nói với chú chó. “Cô ấy có ý đến đây, còn tao có ý tìm cô ấy ở đây. Tao biết cô ấy nói gì về chuyên đó.” Anh đặt một tay lên đầu Bert, xoa nhẹ. “Nhưng cô ấy nhầm.”
                              Lúc Bert dựa vào chân anh, như nó vẫn làm với Abigail, Brooks mỉm cười. “Ừ, chúng ta biết những gì chúng ta biết, phải không?”
                              Lúc đi một vòng, anh thấy Abigail ra cửa, mỉm cười.
                              “Xong rồi. Bữa tối đã sẵn sàng.”
                              Nhìn cô ấy xem, anh nghĩ thầm, đứng kia với khẩu súng bên hông, nụ cười trên miệng và món mì ống trên bàn.
                              Ồ, phải, anh biết những gì anh biết.
                              “Nào, Bert. Đi ăn thôi.”
                              ***
                              Brooks mất cả buổi sáng - quá nhiều thời gian - để gặp gỡ công tố viên về mấy vụ việc nhà Blake.
                              “Thằng nhóc khóc lóc xin thỏa thuận nhận tội.” Big John Simpson, luôn bảnh bao và chẳng mấy quan tâm đến tương lai chính trị, rất thoải mái tại văn phòng của Brooks. Có lẽ còn tự nhiên hơn cả ở nhà.
                              “Anh đồng ý với nó à?”
                              “Tiết kiệm tiền thuế của dân. Để nó nhận tội tấn công cảnh sát, kháng cự, xâm nhập tư gia. Nó cũng đã bị nhốt về tội phá hoại ở khách sạn và các vụ tấn công ở đó. Những gì chúng ta bắt nó chịu là chuyện mua vũ khí giết người. Chúng ta không bao giờ chấp nhận chuyện có ý định giết người. Nó nhận năm hoặc bảy năm ngồi tù, và quản chế bắt buộc.”
                              “Và lao động công ích hai năm rưỡi, có khi ba năm.”
                              Big John vắt tréo chân khoe ra đôi giày bóng đến soi gương được. “Nếu nó biết cư xử, và đáp ứng các yêu cầu. Cậu chấp nhận chuyện đó chứ?”
                              “Vấn đề gì sao?”
                              Big John nhích một vai, nhấp cà phê. “Tôi đang hỏi mà.”
                              Không, họ không bao giờ chấp nhận chuyện có ý định giết người, Brooks thừa nhận. Vài năm trong tù sẽ chỉ có một trong hai kết cục, anh nhẩm tính. Hoặc sẽ làm cho Justin Blake thành một con người có phần tử tế, hoặc sẽ hoàn thành quá trình lưu manh của nó. Dù thế nào, Bickford cũng sẽ thoát khỏi nó một vài năm.
                              “Tôi chấp nhận được. Thế còn bố nó thì sao?”
                              “Đám luật sư thành phố dàn xếp được rồi, nhưng sự thật là, chúng ta có bằng chứng. Chúng ta có dữ liệu điện thoại chứng minh hắn đã gọi cho Tybal Crew. Có ba nhân chứng khác nhau nhìn thấy xe của Crew ra khỏi nhà đúng hôm đó. Có khoản tiền mặt được chuyển, và dấu tay của Blake trên rất nhiều hóa đơn.” Ông ta dừng lại một lúc, lại bắt tréo chân. “Hắn nói hắn thuê Ty làm vài việc quanh đó, tạm ứng trước cho anh ta bởi vì Ty cần tiền.”
                              Kosseh sher.”
                              “Gì thế?”
                              “Như cứt, bằng tiếng Farsi đấy.”
                              “Gớm đấy chứ nhỉ?” Big John bật cười. “Đúng, tiếng nào thì chuyện đó cũng như cứt cả. Chúng ta có thể gặp cả chục nhân chứng thề thốt Blake không bao giờ tạm ứng, không bao giờ trả tiền mặt, luôn nhận hóa đơn có chữ ký. Đúng là cuối cùng thì Ty cũng đuối lý hẳn, nhưng anh ta không thay đổi câu chuyện một tí gì. Vậy đấy.”
                              Ông ấy nhún vai, uống cà phê. “Nếu Lincoln Blake muốn đưa vụ việc ra xử, tôi thấy chả sao hết. Càng làm nhiều người chú ý. Hắn bị cáo buộc tội xúi giục thuê người giết một sĩ quan cảnh sát. Bọn họ sẽ tìm cách dàn xếp trước khi xong xuôi. Dù thế nào thì hắn cũng phải tốn thời gian.”
                              “Tôi cũng chịu được chuyện đó.”
                              “Quá được.” Ông ta ngọ nguậy thân hình hơn hai mét của mình. “Tôi sẽ dàn xếp với luật sư của thằng nhóc. Anh cừ lắm, xong xuôi việc với cả hai vụ này.”
                              “Thì tôi cũng tính cả rồi mà.”
                              “Tính toán và thực tế không phải lúc nào cũng giống nhau. Tôi sẽ liên hệ sau.”
                              Đúng, không phải lúc nào cũng giống nhau, Brooks nghĩ. Nhưng anh thích quay lại với công việc xong xuôi, ổn thỏa. Vậy thôi. Anh muốn những việc còn lại kết thúc và xong xuôi.
                              Như mọi ngày, Abigail đã nói như vậy. Anh ngạc nhiên thấy mình học được rất nhiều để biết trân trọng mỗi ngày.
                              Anh bước ra khỏi văn phòng. Alma đang làm báo cáo, bút chì giắt trên tai, một chiếc cốc màu hồng đựng trà đường kế bên. Ash ngồi ở bàn, lông mày nhăn tít trong khi mổ cò trên bàn phím, tiếng Boyd lạo xạo trên bộ đàm báo tin một vụ tai nạn giao thông nhẹ chỗ khu Rabbit Run ở Mills Head.
                              Anh muốn điều này, Brooks thừa nhận. Phải, anh muốn thế này. Mỗi ngày.
                              Abigail bước vào.
                              Anh hiểu cô, vì anh nhìn thấy vẻ căng thẳng, mặc dù cô cố giữ vẻ mặt bình thản.
                              Alma nhận ra cô. “Chà chà, đây rồi. Tôi nghe tin rồi. Tôi muốn chúc mừng cô, Abigail, vì giờ cô là người nhà rồi. Cô tìm được một trang nam tử đấy.”
                              “Cảm ơn chị. Vâng, đúng vậy. Một người đàn ông rất tốt. Chào anh, Hyderman.”
                              “Ồ, là Ash, thưa quý cô. Rất vui được gặp cô.”
                              “Là Abigail. Cứ gọi tôi là Abigail. Em xin lỗi vì làm phiền, nhưng anh rảnh không?” cô hỏi Brooks.
                              “Rất rảnh. Em vào đi.”
                              Anh cầm lấy tay cô, vẫn giữ nguyên sau khi khép cửa phòng mình. “Có chuyện gì vậy?”
                              “Vui lắm, những gì xảy ra ấy.” Tin vui làm cô hơi ngộp thở.
                              Garrison liên hệ với em. Báo cáo của chị ấy rất ngắn gọn, có cân nhắc, nhưng đầy đủ.”
                              “Abigail, kể đi.”
                              “Em - ôi. Vâng. Họ đã bắt được Cosgrove và Keegan. Họ đang thẩm vấn, và chuyện đó có thể mất chút thời gian. Chị ấy không nói gì đến thư tống tiền, nhưng em lần theo một số thông tin liên lạc nội bộ nên biết vậy. Đương nhiên, họ tin Keegan tống tiền Cosgrove, và họ sẽ dùng điều đó để ép từng tên một. Hơn thế. Quan trọng hơn thế. Họ đã bắt Korotkii và Ilya Volkov. Họ bắt Korotkii vì tội giết Julie và Alexi, còn Ilya vì đồng lõa.”
                              “Ngồi xuống đi cưng.”
                              “Em không ngồi được. Mọi việc đang diễn ra. Thực tế đang diễn ra. Họ đề nghị em gặp công tố liên bang cùng nhóm của ông ấy để chuẩn bị cho em ra làm chứng.”
                              “Khi nào?”
                              “Sắp rồi. Em có một kế hoạch.” Cô cầm lấy cả hai tay anh, siết chặt. “Em cần anh tin em.”
                              “Nói anh nghe đi.”
                              ***
                              Một sáng tháng Bảy rạng rỡ, một tháng mười hai năm kể từ ngày cô chứng kiến các vụ giết người, Elizabeth Fitch bước vào phòng xét xử. Cô mặc bộ đồ đen đơn giản và áo sơ mi trắng, với nét trang điểm tối giản. Một đôi khuyên tai xinh xắn là thứ trang sức duy nhất của cô.
                              Cô về chỗ, tuyên thệ nói sự thật. Và nhìn thẳng vào mắt Ilya Volkov.
                              Gã chẳng thay đổi mấy, thực sự vậy, Cô nghĩ thầm. Mặt và cơ thể đầy đặn hơn một chút, tóc tạo kiểu chuyên nghiệp hơn. Nhưng vẫn điển trai, vẫn lịch lãm.
                              Và một sự lạnh lùng dưới tất cả những vỏ bọc ấy. Giờ cô có thể nhìn thấy điều đó, thứ mà cô gái trẻ không thấy được. Cái lạnh lẽo như băng bên dưới vẻ hào nhoáng.
                              Gã mỉm cười với cô, và bấy nhiêu năm tháng trôi qua hết.
                              Gã nghĩ nụ cười kia đáng sợ, cô khẳng định. Thay vào đó, nó khiến cô nhớ, và giúp cô tha thứ cho mình vì đã lóa mắt vào cái đêm đó, vì đã hôn một kẻ đồng lõa giết hại bạn của cô.
                              “Xin hãy nói tên cô.”
                              “Tên tôi là Elizabeth Fitch.”
                              Cô kể lại câu chuyện mà đến giờ cô đã phải thuật lại quá nhiều lần. Cô không bỏ sót chi tiết nào và, theo hướng dẫn, cho phép mình thể hiện tình cảm.
                              “Những sự kiện này xảy ra mười hai năm trước,” công tố liên bang nhắc cô. “Tại sao cô phải mất lâu đến vậy mới xuất hiện?”
                              “Tôi đã xuất hiện ngay tối hôm đó. Tôi đã thuật lại với các thanh tra Brenda Griffith và Sean Riley tại Sở cảnh sát Chicago.”
                              Họ đều có mặt trong phòng xử. Cô nhìn họ, cả hai người, thấy những cái gật đầu xác nhận.
                              “Tôi được đưa tới một nhà an toàn, sau đó chuyển sang chế độ bảo vệ của Cục Cảnh sát Tư pháp và chuyển đến một địa điểm khác, nơi tôi vẫn được các sĩ quan cảnh sát Tư pháp John Barrow, Theresa Norton, William Cosgrove và Lynda Peski bảo vệ suốt ba tháng vì có những trì hoãn trong việc xét xử. Cho tới buổi tối sinh nhật lần thứ mười bảy của tôi.”
                              “Chuyện gì xảy ra hôm đó?”
                              “Sĩ quan Barrow và Norton bị giết vì cố bảo vệ tôi khi sĩ quan Cosgrove, và sĩ quan Keegan, người đã dàn xếp để thay chân sĩ quan Peski, tìm cách giết tôi.”
                              Hai bàn tay siết chặt trên đùi, cô ngồi vững bất chấp những lời phản đối.
                              “Làm sao cô biết việc này?” công tố hỏi.
                              Cô nói, và tiếp tục nói, về chiếc áo len và cặp khuyên tai, về chiếc bánh sinh nhật. Về những tiếng hét và tiếng súng, về khoảnh khắc cuối cùng cô ở bên John Barrow và những lời cuối cùng của ông ấy với cô.
                              “Ông ấy có một vợ và hai con trai mà ông ấy rất mực yêu thương. Ông ấy là một người tốt, nhân hậu và can đảm. Ông ấy đã bỏ mạng để cứu tôi. Và khi ông ấy biết mình sắp chết, khi ông ấy biết không thể bảo vệ tôi, ông ấy bảo tôi chạy, bởi vì hai con người ông ấy tin tưởng, hai con người đã tuyên thệ những lời như ông ấy, đã phản bội lời thề. Ông ấy không thể biết còn những kẻ khác không, hay tôi có thể tin ai khác ngoài chính mình. Ông ấy dành những giây phút cuối cùng của mình để làm tất cả những gì ông ấy có thể nhằm giúp tôi an toàn. Cho nên tôi bỏ chạy.”
                              “Và suốt mười hai năm cô sống dưới một cái tên khác và vẫn ẩn náu trước các cơ quan chức năng.”
                              “Đúng vậy, và trước nhà Volkov nữa, trước những kẻ trong các cơ quan chức năng nhưng làm việc cho nhà Volkov.”
                              “Điều gì thay đổi, cô Fitch? Tại sao giờ cô lại ra làm chứng ở đây?”
                              “Tôi còn trốn chạy được thì mạng sống mà cả John và Terry đã hy sinh để gìn giữ còn được an toàn. Nhưng chừng nào tôi còn trốn chạy thì không thể có công lý cho họ, hay cho Julie Masters. Và mạng sống mà họ cứu được chỉ còn có một nửa. Tôi muốn mọi người biết những gì đã xảy ra, và tôi muốn làm cho mạng sống họ cứu được trở nên đáng giá. Tôi thôi trốn chạy.”
                              Cô không hề nao núng. Cô cứ ngỡ cô sẽ rất đau khi bị gọi là kẻ dối trá, đồ nhát gan, đã để cho tính trung thực, động lực và hành động của mình bị bóp méo.
                              Nhưng không hề. Nó chỉ khiến cô đi sâu thêm, nói chính xác hơn. Cô giữ được đôi mắt bình thản, giọng nói mạnh mẽ.
                               
                              Buổi làm chứng trước tòa kết thúc, cô bước ra có người hộ tống và đi vào một phòng họp.
                              “Cô cừ lắm,” Garrison nói với cô.
                              “Tôi hy vọng thế.”
                              “Cô rất vững vàng, trả lời rõ ràng. Bồi thẩm đoàn tin cô. Họ hiểu cô lúc mười sáu, Liz, và lúc mười bảy, đúng như họ hiểu cô lúc này. Cô làm cho họ hiểu cô.”
                              “Nếu đúng vậy, họ sẽ kết án. Tôi tin họ sẽ làm vậy.”
                              “Tin tôi đi, cô đã khởi động mọi việc. Cô sẵn sàng phần còn lại chưa?”
                              “Hy vọng vậy.”
                              Garrison nắm lấy tay cô một lúc, nói khẽ. “Chắc chắn nhé. Chúng tôi sẽ đưa cô ra an toàn. Chúng tôi có thể bảo vệ cô.”
                              “Cảm ơn chị.” Cô chìa một tay cho Garrison. “Vì mọi thứ. Tôi sẵn sàng đi rồi.”
                              Garrison gật đầu, quay đi, ra hiệu xuất phát. Cô ta nhét chiếc USB Abigail tuồn vào tay mình vào túi, tự hỏi sẽ tìm được gì trên đó.
                              Họ vây lấy cô, hối hả đưa cô qua tòa nhà, về lối cửa sau nơi một chiếc xe đợi sẵn. Họ vô cùng thận trọng. Chỉ một nhóm đặc vụ được chọn lựa biết rõ lộ trình của cô, thời gian cô đi ra.
                              Đầu gối cô hơn run run, và một bàn tay nắm lấy cánh tay cô khi cô vấp chân.
                              “Giờ cứ bình thường thôi, thưa cô. Chúng tôi bảo vệ cô.”
                              Cô quay đầu. “Cảm ơn. Đặc vụ Pickto, phải không nhỉ?”
                              “Đúng rồi.” Gã siết tay cô trấn an. “Chúng tôi sẽ bảo vệ cô an toàn.”
                              Cô bước ra ngoài, có hộ tống, di chuyển nhanh về phía chiếc xe đang đợi.
                              Brooks, cô nghĩ thầm.
                              Tiếng súng vang lên như búa nện vào đá. Cơ thể cô nảy lên, và máu loang trên chiếc áo sơ mi trắng của cô. Trong khoảnh khắc, cô nhìn thấy máu loang ra. Màu đỏ trên nền vải trắng, màu đỏ át màu trắng.
                              Cô gục xuống dưới thân mình che chắn của Garrison, nghe rõ những tiếng hô, cảm thấy mình được nâng lên, ấn vào ngực.
                              Cô lại nghĩ, Brooks, rồi mặc cho mọi việc trôi đi.
                              Garrison đẩy Abigail vào ghế sau. “Đi! Đi! Đi!” cô ấy hét to với lái xe. “Đưa cô ấy ra khỏi đây. Tôi không thấy mạch đập, không bắt được mạch. Nào, Liz. Lạy Chúa tôi!”
                              Brooks, cô lại nghĩ. Brooks. Bert. Mảnh vườn xinh xắn của cô, cái nơi thế giới mở ra vùng đồi núi.
                              Cuộc sống của cô.
                              Cô nhắm mắt và để mặc mọi việc.
                              Người ta công bố Elizabeth Fitch đã chết vào lúc ba giờ mười sáu phút chiều.
                              ***
                              Đúng năm giờ chiều, Abigail Lowery lên một chiếc máy bay riêng bay về Little Rock.
                              “Trời đất ơi.” Brooks ôm lấy mặt cô, hôn cô. “Em đây rồi.”
                              “Anh cứ nói thế.”
                              Tì trán vào trán cô, anh ôm chặt cô đến mức cô không thở nổi. “Em đây rồi,” anh lặp lại. “Anh có thể nói vậy suốt quãng đời còn lại của mình.”
                              “Đúng là một kế hoạch tuyệt vời. Em đã nói với anh đó là một kế hoạch tuyệt vời mà.”
                              “Em đâu phải người bóp cò.”
                              “Em còn tin được ai khác để hạ sát em - hạ sát Elizabeth chứ?”
                              “Bắn một cái đích, và tay anh vẫn còn run đây này.”
                              “Em hơi cảm thấy chấn động qua lớp áo vest.”
                              Và khoảnh khắc ấy vẫn làm cô thấy sốc. Màu đỏ loang trên lớp vải trắng, cô lại nghĩ. Thậm chí còn biết mấy viên nhộng đựng máu đã kích hoạt theo lệnh của cô, nhưng vết máu loang vẫn gây sốc.
                              “Garrison rất cừ, và trợ lý giám đốc cũng vậy. Ông ấy lái xe như điên.” Cô cười, hơi loạng choạng. “Có mặt Pickto ngay ở đó, tại hiện trường, biết chắc hắn sẽ báo với nhà Volkov rằng Elizabeth đã chết, không có lý do gì nghi ngờ nữa.”
                              “Và bởi có người muốn bỏ tiền ra mua mạng sống của em, hẳn sẽ có kẻ đứng ra nhận trách nhiệm về vụ ám sát này. Và thậm chí nếu không ai nhận thì vụ việc cũng đã được công bố. Elizabeth Fitch bị bắn và chết trong buổi chiều nay sau khi làm chứng tại tòa án liên bang.”
                              “Công tố liên bang rất tốt với Elizabeth.” Giờ Elizabeth đã ra đi, cô nghĩ. Cô để cho Elizabeth ra đi. “Em xin lỗi vì ông ấy không biết sự thật.”
                              “Ông ấy sẽ càng nỗ lực để kết tội.”
                              “Ngoài anh, chỉ có Đại úy Anson, Garrison và trợ lý giám đốc, và bác sĩ FBI tuyên bố Elizabeth chết là biết mọi việc. Đủ để tin tưởng. Thế còn nhiều hơn mức em đã tin tưởng gần cả đời mình.”
                              Vì anh cần chạm vào cô, tiếp tục chạm vào cô nên anh đặt tay cô lên môi mình. “Em rất tiếc cô ấy đã ra đi?”
                              “Không. Cô ấy đã làm những gì cô ấy cần làm, và có thể thanh thản ra đi. Giờ em còn một việc cuối cùng phải làm cho cô ấy.”
                              Abigail mở laptop. “Em đã chuyển cho Garrison một ổ USB có bản sao mọi thứ về bọn Volkov. Tài chính, mọi thông tin liên lạc, các địa chỉ, danh tính, hoạt động của chúng. Giờ, vì Elizabeth, vì Julie, vì chị Terry, vì chú John, em sẽ lấy hết của bọn chúng.”
                              Cô gửi email tới cho Ilya, sử dụng địa chỉ ả nhân tình hiện tại của gã, với nội dung ngắn gọn nhưng rất gợi cảm bắt chước những điều Abigail đã truy cập được từ trước.
                              Nội dung đính kèm không hiện rõ. Đó, cô tự nhủ một cách đầy tự hào, chỉ là một phần vẻ đẹp thôi.
                              “Mất bao lâu nó sẽ có tác dụng?”
                              “Nó sẽ bắt đầu ngay khi gã mở email. Em đoán sẽ mất khoảng bảy mươi hai giờ để phá hoại hết mọi thứ, còn quá trình này sẽ bắt đầu ngay tức khắc.”
                              Cô thở dài. “Anh có biết em thích gì không? Em thích mở một chai champagne khi chúng ta về đến nhà. Em có một chai, và cảm thấy lúc này là rất đúng dịp.”
                              “Chúng ta sẽ làm vậy, và anh cũng có thứ thêm vào.”
                              “Gì vậy?”
                              “Một điều ngạc nhiên.”
                              “Điều ngạc nhiên gì vậy?”
                              “Là một điều ngạc nhiên.”
                              “Em không biết liệu em có thích những điều ngạc nhiên không. Em muốn... Ôi, nhìn kìa. Gã đã mở email rồi.” Hài lòng, cô gập laptop lại. “Vậy là một điều ngạc nhiên.”
                              #30
                                Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 31 bài trong đề mục
                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 6 bạn đọc.
                                Kiểu:
                                2000-2024 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9