GIÓ ĐÔNG - Truyện dài Lâm Du-Yên
Lâm Du Yên 28.09.2019 13:01:03 (permalink)
GIÓ ĐÔNG
Tryện dài Lâm Du-Yên
 
 
CHƯƠNG MỘT

Tiếng gió nghiến răng khi ép sát rạt để lách qua khe cửa, cùng lúc với tiếng điện thoại reo một cách hối hả khiến Lam giựt mình. Cô lật đật tốc mền ngồi dậy chui ra khỏi mùng. Gió lập tức thoa lên hai cánh tay trần, mặt và cổ Lam một luồng khí lạnh buốt. Cô định lấy cái áo khoác máng sau cánh cửa để mặc vào. Tiếng điện thoại reo không ngừng ngăn Lam lại, cô có linh cảm, người ở đầu dây bên kia đang rất sốt ruột.
Khuya lắm rồi! Lam ngại tiếng reo lồng lộng kia sẽ đánh thức cái chòm nhà nhỏ, vốn hết sức yên tịnh ngay cả ban ngày nầy nên chạy vội ra phòng khách, chụp cái ống nghe thật nhanh rồi nói nhỏ:
-A lô!
Giọng rất lạ của một người đàn ông:
-Xin lỗi! Số điện thoại này có phải của cô giáo Lam?
Lam đáp:
-Dạ đúng! Tôi là Lam đây!
Lam nghe một hơi thở nhẹ nhỏm hắt ra cùng lời cảm thán:
-Cám ơn trời phật!
Lam hỏi:
-Xin lỗi…
Chưa kịp thêm mấy chữ “ông là ai?” thì một câu hỏi nữa cắt ngang:
-Cô vẫn còn đi dạy hả cô? Cô có mạnh giỏi không cô?
Rồi như muốn chọc cho Lam bực, y hỏi tiếp:
-Cô đã lập gia đình chưa?
Lam tự nhủ thầm trong bụng:”Cái thằng cha gì đâu mà bất lịch sự hết chỗ nói! Không chịu xưng tên mà cắm đầu, cắm cổ hỏi một lèo”.
Cô không thèm đáp, hỏi lại bằng hai chữ cộc lốc:
-Ai vậy?
Y ta như chợt nhớ ra, rối rít:
-Em là Đông nè!
Lam ngạc nhiên, xóc tung bộ nhớ lên cũng không thấy cái mặt của tên Đông nầy nằm ở chỗ nào!
-Chắc cô không nhớ ra em phải không?
Câu hỏi như trách đó khiến Lam phải nói dóc:
-Xin lỗi nghe! Tôi đang bị bịnh quên, tên ba má mình có khi còn không nhớ.
-Trời ơi! Vậy sao? Cái bịnh đó nguy hiểm lắm! Chắc em phải về thăm lẹ lẹ để nhắc cô nhớ lại mới được.
Câu nói mang đầy vẻ lo lắng ấy khiến Lam hối hận, cô hỏi:
-Ở đâu mà “về”?
-Em ở Úc .
-Vậy là Việt kiều hả? Đi hồi nào vậy?
-Dạ! Cái lần em rủ mà cô không chịu đi đó, em đi lọt lót luôn!
“Xạo thấy bà cố! Có thằng cha nào rủ mình vượt biên đâu nè! Đã vậy còn xưng em, làm như y ta là học trò của mình vậy. Học trò thì làm sao dám rủ cô giáo làm cái việc phạm pháp đó chớ? Chắc mình đang là nạn nhân của mấy cái chuyện khuấy rối rồi!” Lam nghĩ thầm trong bụng.
Cô không muốn tiếp chuyện nữa, sẵn buồn ngáp, Lam không thèm đưa điện thoại ra thật xa mà kê sát miệng vô cái ống nghe, ngáp một cái muốn trẹo quai hàm rồi nói:
-Xin lỗi! Lộn số, lộn người rồi! Thôi…
Như hiểu được sự nghi ngờ của Lam, người tên Đông kia hấp tấp:
-Khoan khoan đừng cúp máy! Cô đúng là cô Lam “ tím” của em chớ không ai khác.
Chữ “tím” mà y ta vừa thốt lên, khiến ống điện thoại dừng lại giữa chừng khi cách cái giá treo chừng một gang tay. Nó khẳng định rằng y ta nếu không phải là học trò ruột của Lam, thì cũng chẳng phải là cái tên bá vơ, bá láp nào. Bởi chữ “tím” đó, là biệt danh do nhóm học trò hết sức thân thuộc dành riêng cho cô.
Năm ấy vừa đậu tú tài hai xong, Lam xin đi dạy ngay. Thời chiến tranh nên hầu hết nhân lực đều tập trung cho quân đội. Tụi học trò thỉnh thoảng lại được nghĩ học giữa buổi bởi khi thì do ông thầy trẻ bị điều ra mặt trận, khi thì cô giáo nghỉ bệnh hoặc hộ sản…
Do nhu cầu cấp thiết nên bộ giáo dục cho phép nhà trường ký hợp đồng với những người không học qua cao đẳng hoặc đại học sư phạm. Họ chỉ cần có tú tài đôi là được nhận vào dạy. Những giáo viên nầy thường phụ trách các môn hệ số thấp như giáo dục công dân, sử địa...
Lúc còn là học sinh, năm nào Lam cũng được lãnh thưởng. Cô lại liên tục giữ “chức” trưởng ban báo chí từ đệ thất đến đệ nhứt. Cô được nhà trường gửi đi thi, khi có những cuộc thi văn trên toàn quốc. Vậy nên ngoài mấy môn gạo bài, Lam còn được phân công dạy văn, mà dạy mấy cái lớp đệ nhị cấp mới ác!
Ngay khi được ký hợp đồng với một ngôi trường trong tỉnh, Lam đã đi chợ mua mấy xấp vải cùng một tông màu tím với sắc độ đậm, nhạt khác nhau, để may áo dài. Cái tên “tím” ấy, do mấy đứa học trò lớp lớn tung ra, đã đeo dính cô ngay từ tuần lễ đầu tiên đi dạy.
Không biết nhờ gương mặt dễ coi, giọng nói truyền cảm, hay do vì tận tụy với nghề mà Lam được tụi học trò quý mến. Lam hay đem thơ văn trộn vào các bài giảng để học trò dễ tiếp thu. Cô cố khai thác các vẻ đẹp trong câu chữ, sắp xếp chúng một cách hài hòa nên dù những đề tài khô không khốc cũng được cô diễn tả một cách sinh động mượt mà, giúp cho mấy cặp mắt lim dim mở to và ngăn chặn các linh hồn đang chực chờ chấp cánh khỏi bay ra cửa sổ.
Lam nghe lòng nao nao, cảm động đến rưng rưng khi nghe y ta kể vanh vách:
-Em còn nhớ cô có tới ba cái áo dài mang màu tím: Tím than, tím Huế và tím hoa cà. Chiếc áo mà cô mặc đẹp nhất là cái áo màu tím than, cổ thuyền. Cây dù cô che cũng màu tím. Đôi hài cườm cô mang cũng màu tím… Còn nữa, cây kẹp tóc của cô cũng là màu tím. Cây viết Hê Rô của cô cũng có màu tím và mực trong ruột của nó cũng mang màu tím nữa.
Để tác động vào ký ức của Lam một cách sâu xa hơn, y nhắc tiếp:
-Cô có nhớ khoảng thời gian mấy thầy trò mình tham gia chiến dịch xóa mù chữ ở núi Cấm không? Nhớ cái lần cô bị trợt té đứt quai dép, rồi em lột đôi dép đang mang cho cô mượn không?
Lam giật mình một cái đụi. Thông tin đó giống như một làn hơi thật mạnh, bật tung cái nấp của nồi súp de. Cô chưa kịp lên tiếng xác nhận thì y lại nói tiếp:
-Rồi sau đó em còn…
Cô bàng hoàng thốt :
-Ôi! Vậy ra em là Đông “ngông “ đó hả?
Tiếng cười khoái trá thay cho lời khẳng định. Y ta hỏi với vẻ hài lòng, nhuốm chút bùi ngùi:
-Cô vẫn còn nhớ cái biệt danh của em sao?
Lam cười:
-Nhớ chớ!
Rồi cô bổ sung thêm, để khẳng định với Đông rằng cậu ta là một trường hợp “độc nhứt, vô nhị”:
-Cả xứ nầy có ai mà khùng như em đâu! Học trò mà dám… Bây giờ chắc hết rồi phải không?
Đông cười khanh khách rồi nói:
-Còn khùng nặng hơn nữa cô ơi! Cô biết vợ em tên gì không?
Lam hỏi:
-Tên gì?
Đông đáp :
-Vợ em tên Lâm, nhưng ở bên đây không xài dấu nên coi như trùng tên với cô đó!
Khi không mà Lam nghe xao xuyến rồi tự nhiếc mình liền: ”Mầy cũng khùng lắm đó Lam ơi!”.
Như đọc được ý nghĩ của Lam, Đông “tố” thêm:
-Cô có biết em tìm số điện thoại của cô khó nhứt, lâu nhứt, cực nhứt không? Vừa biết là em gọi liền, quên phức bây giờ bên mình đã hơn nửa đêm. Chắc cô đang ngủ ngon lắm hả?
Lam nói dối:
-Mới ngủ thôi!
Đông chắt lưỡi:
-Sao cô ngủ trễ quá vậy?
Lam nói đùa:
-Tại biết có người sắp gọi nên thức chờ .
Biết Lam đùa nhưng Đông vẫn cười một cách thích thú rồi hỏi:
-Cô còn dạy trường mình không? Còn ở trọ nhà của bà ba bán bánh canh không?
Lam lắc đầu, rồi đáp:
-Cô về hưu rồi! Bà ba cũng chết lâu rồi!
Đông hụt hẩng:
-Vậy sao? Thế là cái dự định rủ cô ăn bánh canh không thành rồi.
Lam hỏi:
-Bộ Đông thích ăn bánh canh lắm sao?
Đông nói như tâm sự:
-Hồi đó ngày nào em cũng đi học thật sớm để ghé ăn bánh canh. Vừa ăn vừa nơm nớp, sợ gặp mấy thằng bạn rồi bị ghẹo. Em gần như là người mở hàng cho bả mỗi ngày.
Lam cãi:
-Không phải Đông đâu, cô mới là người mở hàng nè! Ngày nào cũng vậy, nấu xong là bả múc cho cô một chén, hối ăn liền cho nóng rồi nói là nhờ cô mở hàng nên cái nồi bánh canh bán đắc như tôm tươi.
Rồi Lam thở dài áo não:
-Bả làm cô sợ cái món bánh canh cá lóc nước cốt dừa cho tới bây giờ.
Đông phân bì:
-Còn em thì thèm muốn chết lại không có mà ăn. Có một lần tự nấu mà dở òm, ăn không vô!
Đông than tiếp:
-Bả chết rồi thì cái ước mơ của em cũng tan tành thành mây khói! Cô không biết chớ mỗi sáng nuốt cái món sữa trộn ngũ cốc lạnh ngắt, là em lại nhớ tới tô bánh canh bốc khói đến nao lòng. Tưởng tượng một ngày nào đó được cầm cái muỗng nhôm đầy vung, với mấy cọng bánh nằm trong vũng nước dừa béo ngậy, với miếng cá lóc trắng phau, thổi phù phù rồi cho vào miệng là em...
Lam an ủi:
-Con gái út của bả cũng còn ở cái nhà đó. Cổ nối nghiệp, nhưng không bán bánh canh mà bán bánh xèo, bánh khọt với chuối kèn dừa.
Đông xuýt xoa:
-Nghe cô nhắc tên mấy món đó sao mà thèm quá! Kỳ nầy về cô phải dắt em đi ăn đó nghe!
Lam gật đầu. Lát sau Đông hỏi:
-Được không cô?
Lan chợt nhớ ra mình đang nói chuyện với Đông qua điện thoại, làm sao y thấy cái dấu hiệu của sự đồng ý đó, liền bật cười đáp:
-Được rồi! Cô sẽ mời hai vợ chồng em…
Đông ngắt lời :
-Vợ em mất rồi. Ba năm nay em trở lại làm trai độc thân rồi cô ơi!
Lam nghe tim nhồn nhột. Cô lại nhiếc mình:
-“Mầy khùng quá Lam ơi!”

Gió nãy giờ bị bỏ quên nên tức tối, bèn lòn tay vuốt từ ót xuống sống lưng rồi chui vô mũi. Lam “ách xì” một tiếng thật to, lần nầy cố đưa cái ống điện thoại ra thật xa mà không kịp.
Đông hỏi:
-Bộ cô đang bị cảm hả?
Lam lắc đầu, rồi chợt nhớ ra nên nói:
-Đâu có, tại gió chui vô mũi nên nhột đó thôi!
Đông hỏi liền:
-Bên mình mùa nầy có lạnh không cô?
Lam gật và nói cùng một lúc:
-Năm nay mùa đông về trễ, gần tết rồi mà trời còn lạnh.
Lam định bảo Đông chờ một chút để mình đi lấy áo khoác mặc thêm vào. Thế nhưng Đông bỗng nói tiếp, giọng đầy ấp cảm xúc:
-Cô có nhớ cái đống un trong trường mình ngày lửa trại cuối năm không? Cái năm mà nhà trường tổ chức cho học sinh cắm trại, căng lều ngủ tại sân trường, thi văn nghệ, nấu ăn luôn đó! Hình như năm đó trời lạnh lắm, gió nhiều lắm phải không cô?
Rồi Đông nhắc tiếp:
-Mấy cô trò mình gom mấy cái lá phượng, lá me, lá điệp lại để đốt. Sao trường mình trồng toàn những cây có lá bé xíu vậy cô? Đống lá nhỏ quá nên tụi em phải trèo lên bẻ mấy cành cây khô thảy xuống mới đủ cho một đống lửa. Cô sợ tụi em té nên rầy quá trời!
Lam hào hứng đến quên cả cái lạnh:
-Nhớ chớ sao không? Đó là năm đầu tiên cô đi dạy mà! Cô còn nhớ lớp em thi văn nghệ, được giải nhì, giải ba gì đó phải không?
Đông cãi:
-Đâu mà có! Lớp em được giải nhứt lận!
Lam cãi lại:
-Giải nhứt thuộc về lớp đệ nhị “A”! Cô có trong ban giám khảo nên nhớ rõ lắm. Mấy em nữ sinh lớp đó hợp ca bài “Chiến sĩ vô danh” hay quá trời, khiến ai cũng nổi da gà hết trơn!
Đông bất mãn:
-Tại giám khảo là nữ nên thiên vị, chớ không thôi…
Lam chợt nhớ ra Đông đại diện lớp đệ nhị “B “lên thi. Đông độc tấu ghi ta bài “Bao giờ biết tương tư”, được học trò vỗ tay rần rần. Đông đàn rất hay nhưng nội dung bài hát không phù hợp với cái chủ đề “Xuân Tri Ân”, nhầm khơi gợi lòng yêu nước và nhớ ơn chiến sĩ. Thế nên dù ngón đàn hết sức điêu luyện, hết sức truyền cảm, được tán thưởng nhiều hơn hết nhưng vẫn hụt cái giải nhứt.
Dáng cao gầy cùng mái tóc phủ trán và mấy ngón tay thư sinh chạy thoăn thoát trên phím đàn của Đông vào cái ngày xa xưa ấy bỗng hiện lên, chói lọi trong miền nhớ khiến Lam nghe lòng bùi ngùi quá đỗi.
Cô hỏi:
-Đông còn chơi ghi ta không?
Đông đáp, giọng buồn buồn:
-Làm tối tăm mặt mũi, thì giờ đâu mà chơi hả cô?
Lam chắt lưỡi:
-Uổng ghê! Bây giờ sao cô thèm nghe lại bản nhạc đó quá chừng!
Lam khép mắt, tiếng đàn ngày xưa theo dòng hoài niệm, tuôn chảy từ ký ức vào tim rồi lan ra các mạch máu. Lam chợt rùng mình khi nhớ đến cái khoảng lặng rất lâu và tiếng vỗ tay như nước vỡ bờ sau đó.
Những giây phút xuất thần ấy tuy ngắn ngủi nhưng phát ra một năng lượng rất mạnh. Nó nâng bổng Lam lên cách mặt đất cả trăm, cả ngàn mét, để rồi nhìn xuống thấy trái đất sao mà xanh, mà mát đến thế! Thấy con người sao mà nhỏ bé và hiền lành đến thế!
Lam bỗng nói:
-Cám ơn Đông nghe!
Đông hỏi:
-Cám ơn về chuyện gì?
Lam đáp :
-Về bản nhạc “Bao giờ biết tương tư” mà Đông đàn hôm đó!
Đông nín thở mấy giây rồi hỏi lại:
-Bộ cô biết em đàn bản nhạc ấy để dành tặng cho cô sao?
Nước mắt làm giọng nói của Lam đục ngầu:
-Cô đâu có biết! Nếu vậy, cô xin cám ơn Đông thêm một lần nữa.

Đông hỏi, giọng xúc động:
-Cô đang khóc đó hả?
Biết không thể chối, Lam nói:
-Cô cảm động vì không ngờ Đông quý mến cô nhiều như vậy, nên không cầm được nước mắt.
Đông nói:
-Còn hơn quý mến nữa cô ơi! Em rất…
Lam lật đật hỏi liền:
-Năm đó lớp em có thi nấu chè không?
Đông đáp:
-Có chớ sao không!
Rồi Đông làm thinh. Lam nghĩ bụng chắc nồi chè dở tệ, không được xếp hạng nên Đông mới im ru.
Bèn “châm” thêm:
-Năm đó lớp đệ nhị “A” nổi như cồn. Hai tay ôm hai giải nhất: Một của văn nghệ, một của nấu ăn.
Đông nói:
-Lớp em cũng ôm hai giải nhì vậy, có điều giải nhì nấu ăn thì từ dưới đếm lên.
Lam hỏi:
-Lớp Đông nấu chè gì?
Đông đáp:
-Chè đậu xanh để nguyên vỏ. Cô có chấm điểm mà!
Lam ngạc nhiên:
-Vậy hả? Sao cô không nhớ chút nào hết vậy?
Cô hỏi tiếp:
-Món chè đó dễ nấu lắm! Ai nấu vậy? Có phải Đông không?
Đông đùa:
-Em mà nấu thì chiếm giải nhứt rồi! Tại cái thằng Hưng nôn ăn quá! Đậu xanh vừa nở là nó cho đường vào liền, hột đậu bị sượng, cứng ngắc như còn sống. Cũng may cái nồi chè của tụi lớp đệ tam “B” còn tệ hơn, đã sống còn khét nữa chớ không thôi bị nằm lót đường, quê một cục.
Rồi Đông cười:
-Cũng nhờ vậy mà em biết tánh của mấy hột đậu, biết cách “xử” tụi nó. Kể từ đó, nấu bất cứ thứ chè đậu nào: đen, đỏ, vàng, trắng gì em cũng để cho nó nở tanh bành rồi mới bỏ đường vô.
Rồi Đông hỏi:
-Tụi đệ nhị “A” nấu món chè gì mà được hạng nhứt vậy cô?
Lam đáp:
-Chè bà ba.
Đông hỏi:
-Chè bà ba có cái gì ở trỏng?
Lam kể:
-Nó có hầu hết các thứ khoai như khoai lang, khoai mì, khoai cao…
Đông nói:
-Khoai không ăn ngán thấy mồ! Làm sao mà ngon được.
Lam cười:
-Có thêm bột khoai, đậu phọng, đậu xanh cà bỏ vỏ, phổ tai, hột sen… hầm bà lằng thứ nữa. Nhưng cái lực lượng nồng cốt giúp nó đánh bại mấy loại chè khác chính nhờ vị béo của nước cốt dừa và mùi thơm lá dứa.
Đông nghĩ ngợi một lát rồi nói:
-Em thấy cái vị nước cốt dừa với mùi lá dứa rất hợp với nhau. Hai món nầy y như vợ với chồng, đeo nhau dính khắn. Hầu hết mấy món bánh, món chè hể có nước cốt dừa là có lá dứa hà!
Lam nghi ngờ:
-Vậy sao?
Đông khẳng định:
-Chớ còn gì nữa? Cô coi nè: Bánh đúc có lớp lá dứa xanh ăn với đường thắng và nước cốt dừa; Bánh lọt ; Chè thưng; Bánh da lợn… Món nào cũng hòa chung hai thứ đó vào. Thức ăn thì có: Cháo trắng lá dứa chan nước cốt dừa ăn với cá kho tiêu; Cháo đậu đỏ lá dứa nước dừa ăn với dưa mắm cá linh; Cơm lá dứa nước cốt dừa ăn với tép rang vân vân và vân vân!
Rồi Đông nói tiếp:
-Còn nữa! Em thấy cái gì mang tên “Bà Ba” đều được bà con mình hâm mộ. Chắc ngày xưa có một “Bà Ba” nào đó tài sắc vẹn toàn cho nên hể cái gì đẹp, tốt, ngon là người ta lấy tên bả.
Lam hỏi:
-Như cái gì? Đâu Đông kể thử coi!
Đông cười:
-Áo bà ba nè, chè bà ba nè, xà bông Bà Ba nè, bánh Bà ba nè…
Lam chận ngang:
-Ê, ê…đừng có ăn gian. Làm gì có xà bông Bà Ba, chỉ có xà bông thơm hiệu “Cô Ba” thôi. Còn bánh thì bánh bà lai chớ không phải bánh bà ba.
Đông cãi:
-“Cô Ba” ngày xưa nếu còn thì bây giờ cũng trở thành “Bà Ba“ rồi chớ “Cô” sao nổi. Mà cô có biết cái “Cô Ba” mặc áo dài, bới tóc, đeo dây chuyền in nổi trên cục xà bông là ai không?
Lam đáp:
-Là Hoa hậu đầu tiên của Sài Gòn chớ ai. Nghe đâu cổ là người tài sắc vẹn toàn lại đoan trang nữa. Đến bây giờ vẫn còn nhiều người thích cái nét đẹp của cổ.
Đông bỗng hỏi:
-Cô thứ mấy vậy cô?
Lam ngập ngừng rồi nói dóc:
-Thứ tư.
Đông cười:
-Em biết trên cô có một người anh và dưới cô là một người em gái, cho nên bắt buộc cô phải thứ ba.
Rồi Đông chắc lưỡi:
-Hèn chi.
Lam cười:
-Đừng có so sánh với cô Ba, bà ba nào đó à nghe! Cô không có bằng ai đâu!
Đông nói:
-Trong mắt em, cô không hề thua ai, kể cả cái cô Ba hoa hậu xà bông đó!
Lam cười một cách thích thú rồi nói lãng:
-Bộ qua bển Đông làm bếp trưởng hay sao mà để tâm nghiên cứu mấy món ăn dữ vậy?
Đông cười:
-Ai là người Việt mà không tự hào về nền ẩm thực của mình hả cô? Việt kiều nào về thăm quê hương cũng có mục đích đi tìm và thưởng thức lại mấy món ngày xưa. Nỗi nhớ quê mang mùi khói bếp nặng lắm cô ơi! Tại cô không ở xa nên không biết đó thôi!
Lam cãi:
-Sao không biết? Lên đệ tam là cô phải đi học xa rồi. Lần nào sắp về thăm nhà là lập sẵn một danh sách trong đầu, món mặn, món ngọt đủ thứ, đến độ má cô phải nói “con nhỏ nầy nó mà nhớ ai! Nhớ cái bếp thì có”.
Rồi Lam ngậm ngùi:
-Bây giờ ăn canh chua là cô lại nhớ má! Má cô nấu canh chua ngon lắm!
Đông hỏi:
-Cô thích ăn canh chua lắm hả?
-Ừa! Hồi nhỏ cô thích nhứt là canh chua, thích nhì là canh bù ngót nấu với thịt nạt bầm. Còn Đông?
Đông đáp liền không chút do dự:
-Mắm! Cô có thích ăn mắm không?
Lam trả lời một cách hấp tấp:
-Có, cô thích lắm! Ăn hoài không chán.
Rồi nói tiếp:
-Cô bái phục tổ tiên mình quá đổi. Đã nghĩ ra mắm còn lọc ra thêm mấy thứ rau, trái ăn kèm cho phù hợp nữa. Em biết không mỗi món mắm đều có một loại đặc biệt đi kèm.
Đông ngạc nhiên:
-Vậy hả cô?
Lam nói một cách tự hào:
-Để cô kể cho mà nghe: Mắm kho ăn với rau ghém. Mắm chưng thịt bầm hột vịt ăn với rau tần dày lá. Mắm chưng gừng với tóp mỡ có xoài chín, chuối chín chấm vô là ngon nhức nhối! Canh mắm phải bầm xoài sống, nêm ngò gai xát nhuyễn, bỏ tiêu cho nhiều vô ăn mới ngon.
Rồi ca tụng thêm:
-Chẳng những vậy ông bà mình còn nghĩ ra món dưa mắm, đu đủ mắm nữa, khiến cái món mắm càng thêm phong phú.
Đông làm bộ nuốt nước miếng thật to:
-Nghe cô nói mà em muốn bay cái vèo về nước mình liền! Kỳ nầy em về cô phải đãi em món mắm kho ăn với mười thứ rau đó nghe!
Lam giẩy nẩy:
-Làm gì có tới mười thứ rau?
Đông đáp :
-Tới chớ sao không? Còn hơn nữa đó! Để em kể cho cô nghe nè: Chuối cây, bông súng, điên điển, rau dừa, rau nhút, giá, rau húng cây, lá gừng non, ngò gai, hẹ, khóm, dưa leo… Đó là rau ghém. Chưa tính cà tím, đậu bắp, đậu đũa, khổ qua, xả, ớt, thịt heo, cá lóc nấu chung với mắm nữa.
Lam tiếp nối cái chủ đề mắm:
-Bên nầy đang thịnh hành cái món "lẩu mắm". Đông có ăn chưa?
Đông vừa đáp, vừa hỏi:
-Chưa! Nó có cái gì ở trỏng?
Lam vừa hỏi, vừa đáp:
-Bộ chỗ Đông ở không có món đó sao? Nó cũng giống như mắm kho nhưng loảng hơn, lạt hơn. Không có nấu chín hết ráo rồi cho vô tô. Người ta chỉ nấu cho mắm rả ra rồi lượt bỏ xác, rót vô cái cù lao. Khi ăn thì nhúng tôm, mực, cá, thịt bò còn sống nhăn với rau vô ăn.
Đông hỏi:
-Ngon không cô?
-Cũng ngon nhưng cô không thích! Ăn kiểu đó thấy điệu đà quá! Ăn mắm kiểu truyền thống mới ngon. Lua lua, gấp gấp, chan chan mới đã…


Đông cười hì hì trong ống nghe. Lam hỏi:
-Đông cười cái gì vậy?
Đông giải thích:
-Hồi trước em có làm một bài luận nộp cho cô. Chừng cô chấm xong trả bài lại, em thấy cô khoanh tròn chữ “rất đã” đặt trước cái dấu chấm than, rồi trừ em một điểm. Em có hỏi thì cô bảo là chữ đó rất thô, làm cho bài văn xấu đi. Từ đó em không dám xài nó nữa mà dùng chữ “sướng” thế vào.
Lam nghe quê quê, cô chống chế:
-Tại bây giờ thiên hạ hay dùng chữ “tự sướng” nhiều quá nên cô dùng chữ khác cho nó cân bằng. Đông bắt lỗi thì mai mốt cô dùng chữ “thích” vậy!
Đông lật đật thanh minh:
-Em đâu có dám bắt lỗi cô. Chỉ nói để cô biết là cô mà dạy điều gì là em tuân theo răm rắp thôi!
Lam cười:
-Thiệt hông?
Đông đáp:
-Thiệt mà! Em không hút thuốc nè! Không uống rượu nè! Không đánh bài nè! Cũng không đánh vợ luôn!
Lam cười rủ rượi:
-Bộ cô có dạy mấy cái chuyện đó nữa sao?
Đông nhắc:
-Cô có nhớ sau lưng trường mình là một xóm lao động? Có nhà của cái ông gì mà hay nhậu say rồi đánh vợ không? Có một lần ổng đập bả tưng bừng. Lúc đó cô đang dạy trong lớp em. Cô bỏ ngang bài giảng về chinh phu, chinh phụ, mà chửi cái thứ đàn ông vũ phu một trận tơi bời. Em còn nhớ khi ấy cô giận thật sự, mặt cô đỏ lên trông rất đẹp.
Lam bắt lỗi:
-Xạo, giận thì làm sao mà đẹp?
Đông cãi:
-Giận chuyện mình mới xấu. Giận chuyện bất công trong thiên hạ là cái giận đẹp nên mình cũng đẹp. Cô còn nói…
Đông cười hì hì không nói tiếp.
Lam hỏi:
-Cô nói sao?
-Cô nói là cô hy vọng là tất cả học trò của cô sau nầy không có ai giống ông đó! Lúc đó thằng Sĩ nó hỏi rủi mai mốt cô bị chồng đánh thì sao? Cô nói cô sẽ rình khi ổng ngủ, cột cứng vô giường đánh lại một trận cho thừa sống thiếu chết rồi bỏ về nhà ba má. Bây giờ cô có thực hành đúng y như vậy không cô?
Lam cười:
-Chắc tại cô nói một cách hùng hồn quá, rồi học trò cô phóng đại lên nữa nên không ai thèm rớ tới cô hết!
Đông buộc miệng:
-May quá …
Đông bỏ lửng nhưng Lam đâu dám hỏi. Cô lật đật tìm chủ đề khác:
-Em được mấy cháu rồi?
Đông đáp :
-Em lập gia đình rất trễ nên chưa có đứa nào hết!
-Sao em lập gia đình trễ quá vậy?
Đông ngần ngại, giây lâu rồi đáp:
-Em bị ở tù tới mấy năm mới ra!
Lam hết hồn:
-Sao vậy?
Đông thở dài:
-Em lái xe gây tai nạn, cho nên…
Lam an ủi:
-Thôi bỏ qua đi, đừng buồn nữa kẽo cô áy náy.
Đông trấn an:
-Thật ra em cũng không buồn nhiều lắm khi nhớ lại. Trong cái rủi có cái may, không phải lo kiếm tiền nên thời gian đó em tập trung vào việc học. Em may mắn gặp được những người bạn tù rất tốt. Chính ở nơi đó mà em nhận ra gần hết cạm bẩy của cuộc sống nên không bao giờ bị rơi vào nữa.
Rồi Đông bỗng hỏi:
-Em hỏi câu nầy cô đừng giận nghe?
Lam đáp một cách bất đắc dĩ:
-Chắc cũng là cái câu mà cô nghe đều đều chớ gì? Câu “sao không lấy chồng?” Phải hông?
Đông cười xòa:
-Sao cô đoán hay quá vậy! Em nhớ ông thầy Thỏa đeo cô dữ lắm mà?
Lam rầy :
-Đừng có nói bậy tới tai vợ thẩy không hay! Nghe đâu cổ cùng họ với cái bà Hoạn thư đó!
Rồi Đông hỏi:
-Cô có từng yêu ai chưa cô?
Lam đáp:
-Sao mà không! Tới bây giờ cũng còn.
Đông hỏi tới:
-Ai vậy, tên gì, em có biết không?
Lam cười:
-Chắc chắn là em biết rồi. Ông sách đó!
Đông lặng thinh giây lâu rồi hỏi lại:
-Ông Sách nào? Cái tên lạ quá, hình như em mới nghe lần đầu thì làm sao mà biết?
Lam cười:
-Lần đầu sao được? Ổng đang ở trong nhà em đó, không phải một mà hổng chừng có rất nhiều ông nữa kìa!
Đông cười sung sướng:
-Ông đó thì nói gì! Ai mà không yêu ổng?
Lam cũng cười rồi nói:
-Tới bây giờ cô cũng chưa gặp ai như ổng nên chưa sửa túi, nâng khăn cho ai hết.
Đông trách:
-Em hỏi thật mà cô cứ nói giỡn hoài!
Lam đáp, giọng ngậm ngùi:
-Thật ra cô cũng có thương một người. Người đó muốn làm dân Sài gòn nên bỏ cô đi cưới người khác. Từ đó trái tim cô bị thủng một lỗ lớn nên bỏ ai vô cũng lọt ra ngoài.
Đông tiếc hùi hụi:
-Biết vậy em không đi vượt biên. Em…
Lam chặn họng:
-Đừng có nói em ở lại đặng ráng học, đậu cao, làm lớn rồi cưới cô đó nghe!
Đông nói một cách nghiêm túc:
-Cô có biết lúc ở đảo em nhớ cô tới phát bệnh hay không? Gía mà biển chỉ lớn gấp ba, gấp năm con sông Tiền của mình, chắc em dám kết bè chống về lắm!
Lam hỏi:
-Nếu vậy sao em dám liều mạng mà đi?
Đông thở dài:
-Có cái gì níu em lại quê hương đâu cô? Em là cô nhi sĩ tử của chế độ cũ nên bị xã hội quay lưng cái rột. Má em tái giá, ông cha dượng với em đều muốn giành má cho riêng mình nên đâu ưa nổi nhau và làm bà khổ. Em lại theo đuổi một mối tình đơn phương... Ở lại thì làm sao mà sống?


“Làm sao mà sống?” Bốn tiếng ấy như những nốt cuối trong một bản nhạc buồn nào đó! Lam bỗng nghe ăn năn. Cảm giác nầy giống như ngày xưa, khi cô vì hấp tấp nên lỡ hái trái ớt non đầu tiên, khiến cây ớt tổn thương rồi không bao giờ ra trái nữa.
Lam hỏi, áy náy:
-Bây giờ Đông đã vượt qua tất cả những nỗi đau đó chưa? Những vết thương ấy đã liền da, liền thịt chưa?
Đông cười:
-Nó không còn làm mủ nữa, nhưng vẫn còn để thẹo.
Rồi Đông hỏi:
-Em bây giờ thân thể đầy kín thẹo, xấu lắm! Cô có ghê sợ em không?
Lam trách:
-Đông đừng có hỏi cô như vậy, làm cô còn buồn thêm! Ở những người bị đời làm tổn thương hay làm tổn thương đời, cô đều thấy bắt nguồn từ nỗi bất hạnh. Cô đã vô tình tạo ra một trong những vết thương đó thì làm sao có tư cách để phê phán Đông được?
Đông nói :
-Cô đừng có nói là thấy thương hại em nghe, em không…
Lam nói như gắt :
-Cô là ai mà dám thương hại Đông? Đông vượt qua những nghịch cảnh ấy, rồi sống một cách kiên cường, khiến cô khâm phục quá trời! Còn cô nè! Mới ra gió một lần là bị cảm rồi chết ngắc luôn, không ngóc cái đầu dậy nỗi. Còn kéo thêm gia đình vô gánh chung với mình nữa.
Đông hỏi dồn:
-Cụ thể là sao? Cô kể cho em nghe đi!
Lam thở dài:
-Đông biết số điện thoại của cô, chắc cũng đã nghe kể sơ về cô rồi. Cái người cô thương là bạn của anh cô. Khi biết hắn thay lòng đổi dạ, cô hết muốn sống nữa. Cô tự vận, thế là rộ lên cái tin đồn là cô muốn phá thai, uống ký ninh nên bị lặm thuốc. Có người nghi ngờ bèn hỏi hắn. Cô với hắn chưa từng quan hệ, thế mà hắn nói úp úp, mở mở làm ai cũng tin như vậy. Cô sống không được, chết cũng không xong. Anh cô tức quá đập cho hắn một trận. Anh cô bị giáng chức còn cô bị hạ tầng công tác.
Đông kêu:
-Trời đất! Không ngờ người hiền như cô mà bị đối xử tệ đến vậy? Chắc cái tên đó phải bị ông trời thay mặt công lý, trừng phạt hắn một cách thê thảm lắm hả cô?
Lam đùa nhưng giọng nghe buồn nghiến:
-Ừ! Quả báo khủng khiếp nên hắn giàu lắm! Bây giờ ra nước ngoài sống rồi. Cô mà biết hắn đi định cư ở Ca na đa thì đâu có mua đất ở cù lao Châu Ma ở để mà tránh.
Đông hỏi:
-Mà tại sao cô phải tránh? Hắn sống sao thì mặc kệ hắn!
Lam thở dài:
-Nói dễ chớ làm không dễ đâu Đông ơi! Vườn nhà cô với vườn nhà hắn có chung một cái hàng rào. Lâu lâu hắn đi xe hơi, chở vợ con về là lối xóm ì xèo. Cái vết thương của cô vừa ráo mủ, chưa kịp lên da non là bị bóc mài, nhiễm trùng hoài nên xém thành ung thư. Ghét một người, cho dù họ hết sức đáng ghét cũng khiến mình rất mệt mỏi, rất khổ sỡ! Bởi vậy cô ít dám về thăm nhà, không được báo hiếu cho ba má, đó là điều mà cô ân hận nhứt.
Đông an ủi:
-Mấy người Việt ở Ca na đa cực lắm! Bên đó lạnh tới gãy tai, gãy mũi luôn. Cứ tưởng tượng cô nằm ở trong thùng nước đá coi có sướng không? Em có một thằng bạn ở đó, nó than nghe mà bắt sợ. Nó nói thời gian mặc đồ cho mỗi lần ra đường là phải mất tới hơn ba mươi phút. Đứng đón xe buýt là phải vừa nhảy tưng tưng, vừa tát vô hai gò má, vừa véo mũi liên tục.
Lam ngạc nhiên:
-Chi vậy?
-Không làm như vậy là có nguy cơ trở thành cây nước đá. Nó nói có lần nó xém chết vì hụt xe buýt.
Lam rên:
-Trời đất ơi! Như vậy thì làm sao chịu nổi?
Đông cười:
-Cô thấy chưa, cô là người may mắn lắm đó! Hắn ta mà tốt với cô thì giờ nầy chắc cô hổng chừng đã mất một cái lỗ tai. Cái thú nằm tòn teng trên chiếc võng treo trong vườn đâu còn nữa! Cái thú che dù đi tà tà trong mưa lâm râm của cô cũng triệt tiêu luôn!
Lam hỏi:
-Làm sao Đông biết cô thích mấy thứ đó? Cô giấu kín lắm mà!
Đông ưởm ờ:
-Bí mật!
Lam gặng:
-Đông đoán phải hông?
Đông cười:
-Có bằng chứng hẳn hoi mới dám nói chớ bộ!
Rồi nhảy sang chủ đề khác liền:
-Hiện giờ cô không sống với gia đình sao? Cô ở với ai vậy?
Lam lắc đầu, nói:
-Cô ở một mình, một cù lao. Lâu lâu ra bến đò nằm phía tay phải để về thăm nhà. Lâu lâu ra bến đò phía tay trái để đi thăm trường.
Đông ghẹo:
-Cô nói một mình, một cù lao! Bộ cô mua hết cái cù lao đó hả?
Lam cười:
-Câu đó có ngụ ý là cô sống một mình ở một nơi hẻo lánh, chớ không phải là cô mua hết cái cù lao. Cô thì tiền đâu mà làm được việc đó?
Đông hỏi, giọng nghiêm túc:
-Mai mốt em về cô có cho em tá túc không?
Lam nói:
-Chỗ của cô rất buồn, rất kém tiện nghi.
Đông bác lại:
-Nhà cô có điện thoại, chắc đâu đến nổi nào?
-Đường dây điện thoại mới có thôi! Cô vừa gắn chưa đầy một năm, để nói chuyện với anh cô mỗi ngày.
Đông cười:
-Nhà có điện thoại là quá tiện nghi rồi! Tại cô...
Lam ngắt ngang:
-Đừng có hiểu sai cái ý của cô! Để cô giới thiệu căn nhà của mình cho Đông nghe. Nhà cô nền đất, mái lá, chõng tre, lu nước, gáo dừa…
Đông xuýt xoa:
-Trời ơi! Đúng như lòng em mong mỏi. Em thường mơ ước được sống trong một căn nhà y chang như vậy!
Lam cười, kêu lên thích thú:
-Đông ngộ quá Đông ơi!
Đông cũng cười, lập lại y khuôn:
-Cô ngộ quá cô ơi!
 
 
(Xem tiếp CHƯƠNG HAI)
 
 
#1
    Lâm Du Yên 28.09.2019 13:06:48 (permalink)
    GIÓ ĐÔNG
    Tryện dài Lâm Du-Yên
     
     
    CHƯƠNG HAI

    Tiếng con Phèn sủa tưng bừng khiến Lam dội ngược liền kêu to:
    -Dì Út ơi! Dì Út!
    Thắm, dì Út, vừa chạy ra mở cổng vừa nói:
    -Con chó nó sủa mừng đó! Không có cắn đâu đừng có sợ!
    Đúng như lời dì nói. Cửa cổng vừa mở là con Phèn đã nhảy chồm lên liếm tay, liếm mặt…Thấy Lam né, dì Út bèn nạt:
    -Phèn nằm xuống, nằm xuống…
    Rồi rầy nó như nói với con nít:
    -Đừng nhiệt tình quá làm ai cũng sợ, biết chưa?
    Thắm trách Lam:
    -Sao qua trễ dữ vậy?
    Lam không dám kể với Thắm là do mình nấu cháo điện thoại cả tiếng đồng hồ nên mệt quá, ngủ quên rồi dậy không nổi.
    Cô nói dối :
    -Con đọc sách tới khuya. Ngủ trễ nên sáng bét mới dậy ! Dì đi chợ chưa?
    Thắm trề môi (cô có cái tật, trước khi chê ai, chê thứ gì là trề cái môi dưới ra cả tấc. Bị gán thêm cái chữ "trề" theo tên mà cũng không thèm ngán, không thèm sửa):
    -Đi rồi! Ở đó mà chờ mầy chắc bà ngoại đói meo quá!
    Bà ngoại của Thắm là bà cố của Lam. Hôm nay là ngày giỗ của bà. Những người thuộc lớp xưa thường giỗ đến ba đời, cha mẹ, ông bà nội ngoại, rồi ông bà cố nữa là hết. Nghe bà ngoại nói, vào thời của bà, phải giỗ đến ông sơ, bà sơ của mình. Đến đời Lam đã bỏ bớt, chỉ còn hai đời tính từ người có vai vế lớn nhứt. Đám giỗ cũng không còn làm hai ngày: Chiều hôm trước cúng tiên, trưa hôm sau cúng chánh nữa. Gom chung một lần vào ngày chánh mà thôi!
    Lam thấy vắng teo chẳng có ai bèn hỏi:
    -Bộ dì không mời bên bãi hả?
    Thắm nói:
    -Giỗ ông bà, con cháu nhớ thì tới, không thì thôi, tao hổng có mời ai hết!
    Lam vặn lại:
    -Vậy sao dì biểu con bữa nay phải qua?
    Thắm chống chế:
    -Mầy thì khác! Tại cái tánh mầy hay quên nên tao phải nhắc vậy thôi !
    Thắm tuy mang chức dì nhưng lại bằng tuổi Lam. Má của Lam cứ nhắc hoài cái chuyện bà với má mình đập bầu một lượt. Thắm và Lam đều được bú cả hai người, có lẽ vì vậy mà hai dì cháu thương nhau như chị em.
    Trên bộ ván sau bếp, mấy túi rau chưa lặt đang bày đầy ra đó.
    Lam hỏi:
    -Có hai dì cháu mà dì nấu chi cho nhiều vậy?
    Thắm đáp:
    -Bữa nay bà ngoại chắc chắn rủ ông ngoại, ba má tao với ba má mầy về ăn chung nên năm nay tao không theo ý mình. Hể ai thích món gì tao nấu món đó cúng.
    Lam hỏi:
    -Ông bà cố, ông bà ngoại thích món nào?
    Thắm đáp:
    -Nghe má tao nói bà ngoại hồi xưa thích nhứt là cái món cá rô mề thiệt bự nướng rưới mỡ hành, không chan nước mắm tỏi ớt mà giầm tương ta. Tao đi giáp chợ không có ai bán tương ta hết trơn, nên xài tương tàu thí mạng. Còn ông ngoại thì thích gà xé phai chấm nước ba khía. Má tao thích canh chua lươn, ba tao thích thịt kho tàu ăn với dưa cải. Chị hai cũng thích canh chua, anh Hai thì tao hổng biết nên làm mấy món đó thôi.
    Lam hỏi:
    -Tương ta ra sao hả dì?
    Thắm hỏi lại:
    -Bộ mầy chưa ăn tương ta lần nào sao?
    Rồi cắt nghĩa:
    -Nó cũng y như tương tàu nhưng có bỏ nếp vô, ăn trúng mấy hột nếp nghe bùi bùi, ngon ngon.
    Lam lại hỏi:
    -Chị Hai con có qua hông dì?
    Thắm lại trề môi, còn dài hơn hồi nãy:
    -Con nhỏ đó khôn tổ mẹ! Nó biết qua đây là cực nên né, đổ thừa mắc công chuyện nên không đi được. Nó nói sẽ làm sẵn bánh khoai mì nướng rồi đưa thằng chồng đem qua cúng.
    Lam thở dài:
    -Cái bánh đó làm cực thấy mồ! Nào là phải lột khoai mì ngâm qua một đêm, đem bào nhuyễn. Rồi còn phải thọc dừa khô xuống, lột vỏ, cạo sạch sẻ, bửa đôi, đem nạo vắt lấy nước cốt dừa chế vô bột. Rồi nhóm lửa quạt than cho đỏ để nướng nữa. Chỉ than bận mà làm chi cái món rắc rối đó!
    Thắm xí một hơi dài thòn rồi mới nói:
    -Nó đâu có tự nguyện. Tao biết nó lấy cớ để tránh mặt nên ghét. Nó nói để làm bánh gửi qua cúng nên tao biểu, nếu thật sự có lòng thì làm bánh đó đi vì bà ngoại hồi trước khoái bánh khoai mì nướng nhứt!
    Lam hỏi:
    -Bộ bà cố thích bánh đó thiệt hả dì?
    Thắm cười hì hì:
    -Tao đâu có biết! Tại tao thèm với biết bánh ấy tốn công nhứt nên sai làm cho bỏ ghét. Nó sợ cực hả? Tao cho nó cực thấy bà cố luôn !
    Lam biết dì Út không ưa bà chị dâu của mình nên nói đỡ :
    -Gần tết nên chỉ bận túi bụi dì ơi! Ông anh Hai của con năm nào cũng bắt chỉ làm đủ thứ nào là dưa kiệu, dưa cải, dưa hành. Mấy năm nay ổng nghe ai bày ăn tỏi ngâm tốt cho sức khỏe nên còn đòi thêm món đó nữa. Mấy lần con gọi điện thoại tính tâm sự với chỉ mà có được đâu. Nói hai ba câu là chỉ hối “cúp nghe! Chị bận lắm, mai mốt gọi lại”. Riết rồi con cũng hết dám gọi luôn!
    Thắm xí một hơi dài:
    -Tại nó hổng muốn nói chuyện với mầy đó thôi! Gặp mấy đứa em ruột của nó coi! Nói tới nổ máy luôn chớ ở đó mà...
    Lam thở dài. Thành kiến của dì Út đối với chị Hai, dính khắn như mủ chuối bám trên cái áo sơ mi trắng của Lam ngày nào, cho dù Lam có tẩy cách mấy cũng không sạch nổi!
    Thấy Lam tần ngần Thắm giục:
    -Mầy xăn tay áo lên rồi lo lặt rửa mấy cái mớ nầy giùm tao. Tao phải nhổ lông con gà đem luộc liền để lấy nước nấu canh chua nữa.
    Lam hỏi:
    -Dì nhắm làm kịp hông đó?
    Thắm gật đầu:
    -Kịp chớ sao không! Ba khía tao trộn hôm qua rồi. Chỉ còn luộc gà, nấu canh chua rồi nướng cá là xong.
    Rồi dặn tiếp:
    -Mầy rửa rau xong rồi hãy xắc bắp chuối nghe!
    Lam hỏi:
    -Cây chanh có trái chưa dì?
    Thắm hỏi lại :
    -Chi vậy?
    Lam đáp:
    -Con ra hái đặng vắt vô thau nước cho bắp chuối trắng.
    Thắm xua tay:
    -Khỏi, khỏi. Bắp chuối hột không bị đen đâu, đừng có lo!
    Lam hỏi:
    -Bộ dì kho thịt rồi hả? Hồi nãy mới bước chưn tới cửa là con nghe liền mùi thịt kho thơm lừng, làm đói bụng quá trời, quá đất!
    Thắm hỏi lại:
    -Bộ mầy chưa ăn lót lòng hả?
    Lam cười:
    -Chưa! Cũng may lúc tới bến đò thì gặp con nhỏ học trò. Nó dắt xe xuống giùm còn lột mấy trái chuối nấu mời ăn cho bằng được nên cũng bớt cào ruột.
    Thắm cười:
    -Làm nghề giáo như tụi mình coi vậy mà sướng. Đi đâu cũng gặp học trò. Tao nhớ cái lần đi bệnh viện. Tao tới hơi trễ, nhìn thiên hạ ngồi chờ đông ken mà nản. Đang tính bỏ về thì gặp con nhỏ học trò. Thấy nó mặc áo bờ lu trắng, đeo ống nghe là mừng hết biết, kêu liền. Con nhỏ đó dễ thương ghê! Nó gặp tao là mừng rối rít, bỏ hết công chuyện, dắt đi một lèo từ khám, xét nghiệm cho tới mua thuốc. Bà con nhìn mình một cách ganh tị tới tao mắc ngại, nhưng cũng khoái khoái trong lòng.
    Lam thở dài:
    -Thì con cũng vậy nè! Lần nào đi qua tỉnh mà đón trúng xe của thằng Cơ là nó nhứt quyết không lấy tiền, ngại thấy mồ!
    Thắm nói:
    -Có một, hai chục ngàn nhầm nhò gì mà ngại! Con nhỏ học trò nó dắt tao đi khám bịnh, còn trả hết tiền thuốc luôn!
    Lam cãi:
    -Nó làm bác sĩ giàu thấy mồ, bao nhiêu mà nhầm nhò gì. Còn thằng Cơ, học trò của con, nó mướn xe của chủ để chạy nên con hổng đành lòng.
    Lặt rau xong Lam đem ra sàn nước để rửa. Cô mang theo bọc vú sữa hái từ nhà qua, định rửa luôn thì Thắm liền ngăn lại:
    -Đừng có rửa vú sữa!
    Lam hỏi:
    -Sao vậy?
    Thắm cắt nghĩa:
    -Ăn không hết để lâu là thúi. Tại nước nó ngấm từ cuống vô, lau thôi!
    Rồi sai:
    -Lấy khăn giấy trong cái túi lưới treo kế cái bếp mà lau.
    Lam trêu:
    - Lau vú sữa bằng khăn giấy? Sao dì xài sang quá vậy?
    Thắm cười hì hì:
    -Sang cái giống gì! Hôm bữa ngày nhà giáo, học trò cũ kéo tới thăm rần rần. Tụi nó còn mua đồ đem lại ăn. Mấy đứa con gái xài khăn giấy hoang phí quá! Chấm sơ sơ cái miệng rồi liệng. Miếng nào cũng còn trắng tinh nên tao bỏ không đành, bèn gom lại để dành chùi bếp.
    Lam cười, nghĩ thầm trong bụng chắc cái gien "tiếc của" nầy di truyền từ thời bà sơ, bà cố, nên bà ngoại, má, dì Út và Lam đều có cùng một tật. Cái gì cũng không dám bỏ. Trong nhà ngoại vẫn còn giữ nào là cây kiếm sét sẹt nghe đâu có từ thời vua Gia Long mặc tả; Cây đờn kìm gãy cán còn mỗi cái vành cũng được bà ngoại tận dụng làm chảo vòng cản khói; Cái đồng hồ đã bị đứt dây thiều, nằm chết queo trong hộc tủ cũng chưa được cho đi đầu thai!
    Lam ghẹo Thắm:
    -Dì xài mót khăn giấy phải cẩn thận đó nghen!
    Thắm ngạc nhiên:
    -Tại sao phải cẩn thận?
    Lam cắt nghĩa:
    -Thời buổi kích cầu nầy mà dì xài kiểu đó chắc bị mấy nhà sản xuất đem ra xử bắn để làm gương quá!
    Thắm khoái chí, cười hì hì .
    Lam đang sắp trái cây bày lên bàn thờ thì nghe tiếng xe gắn máy dừng trước cổng. Con Phèn lại sủa inh ỏi. Tiếng sủa nghe có vẻ hăm dọa chớ không hiền như lúc nãy.
    Lam nghe tiếng đàn ông kêu to:
    -Cô giáo ơi!
    Từ sàn nước, Thắm “ơi” một tiếng lớn rồi bảo Lam:
    -Mở cửa cho khách đi Lam! Tay tao ướt nhẹp, dơ hầy hà!
    Lam lật đật chạy ra, đứng án ngữ trước mũi con Phèn rồi nạt nó:
    -Lui đi mầy!
    Sợ người đàn ông trước mặt hiểu lầm, Lam vội nói:
    -Mời anh vô nhà! Dì Út đang lỡ tay…
    Người đàn ông trạc tuổi Lam cười với cô rồi cho xe chạy qua cánh cổng vừa mở. Con đường vào nhà dì Út được lót gạch tàu, hai bên lề trồng kín hẹ tây. Mấy cái bông màu hồng và những chiếc lá nhỏ, dài và xanh mướt như lá hẹ ấy hết sức yếu lòng. Chiếc xe lướt qua rất nhẹ, không hề chạm đến mà chúng cứ nghiêng theo như cố níu lại.
    Người khách dựng xe dưới bóng mát của cây xoài. Lam đóng cổng trở vào, thấy trên tay ông ta là một giỏ trái cây, có trùm giấy kiếng và thắt nơ rất đẹp .
    Thắm vừa chạy ra đón khách, vừa chùi tay vô quần, vừa hỏi:
    -Kiếm nhà có dễ hông?
    Người đàn ông cười :
    -Cũng dễ. Qua bến đò hỏi thăm là người ta chỉ tới đây liền.
    Thắm chỉ vô Lam rồi nói:
    -Cháu của tui nè!
    Ông ta lại cười với Lam thêm một lần nữa. Lần nầy còn tươi gấp đôi, rồi nói:
    -Chắc cô là Lam! Tôi là Sơn, bạn của cô Thắm.
    Thắm bổ sung:
    -Anh Sơn là hiệu trưởng của dì lúc dì mới ra trường đó Lam!
    Lam cúi đầu:
    -Dạ chào thầy!
    Thắm chỉnh lại:
    -Con gọi là anh cho thân mật. Ảnh lớn hơn con có vài tuổi hà!
    Lam đang nghĩ thầm, chắc ông nầy đang rắp ranh “bắn” cái bà dì của mình. Nghe Thắm bảo kêu bằng anh thì giựt mình rồi bắt đầu cảnh giác!

    Thắm rầy ông khách:
    -Tới đốt cây nhang là được rồi! Anh chở cái giỏ trái cây lùm xùm như vầy chắc xuống đò khó lắm hả?
    Không chờ ổng trả lời, cô bảo Lam:
    -Con đốt ba cây nhang cho ảnh giùm dì.
    Rồi nói với khách:
    -Anh ngồi ngói chuyện với cháu tui nghe. Tui đang lỡ tay…
    Thắm lại quay sang Lam:
    -Con tiếp chuyện anh Sơn giùm dì, dì phải…
    Chưa nói hết câu là chạy cái ào vô bếp.
    Lam quay lưng về phía ông khách để đốt nhang và để giấu nụ cười. Tâm hồn Thắm quá trong trắng nên hể tư tưởng nào xuất hiện trong đầu đều bị Lam soi thấu. Đây không biết là lần thứ mấy Thắm cố giới thiệu bạn bè, cố tìm chồng cho Lam.
    Có lần Lam cự nự:
    -Dì cũng “ống chề” như con, mắc cái gì không lo chia cho mình mà cứ “bán cái” qua con hoài vậy?
    Thắm trả lời nửa đùa, nửa thật:
    -Thì tao phải đem mầy ra thí nghiệm trước, nếu thành công thì mới…
    Khi Lam đưa ba cây nhang cho Sơn thì thấy y đang mĩm cười. Cô tự hỏi không biết y cười vì cái bộ tịch quýnh quáng của Thắm hay là muốn tạo thiện cảm với mình.
    Lam đi lại cái bàn dài ở giữa nhà để rót ly trà cho khách. Nước trong bình trà còn đầy nhóc và nóng hổi, mùi bông lài thơm ngát khiến Lam xúc động. Chắc Thắm đã dậy sớm để đi chợ, vừa về đến nhà là nấu nước châm trà liền để đón khách, bởi không dám nấu trước, sợ trà nguội rồi người ta đánh giá cháu mình. Cái hộp bánh Đa ni sa cũng được bày sẵn, còn mới tinh chưa tháo sợi băng keo trong quấn quanh cái nấp.
    -Chắc của học trò tặng hôm lễ nhà giáo, không dám ăn để dành cúng tết đây mà!
    Lam nghĩ thầm khi cố tìm cái mối để tháo hộp bánh.
    Sơn thấy Lam loay hoay thì bảo:
    -Cô đừng tháo. Tui kỵ món ngọt.
    Lam nghe Sơn gọi mình bằng cô xưng tui thì cảm thấy nhẹ nhỏm. Cô kéo cái ghế ra mời:
    -Mời thầy ngồi xuống uống hớp trà.
    Sơn hỏi:
    -Nghe Thắm nói cô Lam cũng đi dạy hả?
    Lam đáp:
    -Dạ!
    Sơn hỏi tiếp:
    -Chắc cô dạy ở tỉnh khác nên tui chưa gặp lần nào .
    Lam chỉ tay về phía kia của bờ sông:
    -Tui dạy bên đó!
    Sơn gật gù:
    -Hèn chi!
    Rồi hỏi tiếp:
    -Cô Thắm là dì ruột của cô hả?
    Lam gật đầu:
    -Dạ. Má với ngoại sanh một lượt nên hai dì cháu cùng năm cùng tháng, cách nhau có năm ngày thôi!
    Rồi đùa:
    -Tui giành ra trước nên dì Út ức lắm!
    Sơn cười:
    -Cô Thắm có tính cạnh tranh lớn lắm, không thích kém ai cho dù là tuổi. Lúc còn dạy ở trường tui, năm nào cổ cũng được xếp loại A. Đoạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi liên tục cho tới khi chuyển trường.
    Lam lại đùa:
    -Thầy có ăn hiếp dỉ hay không mà dỉ bỏ trường vậy?
    Sơn lắc đầu:
    -Cổ được cưng nhứt đó chớ! Tại tui lỡ lời có một câu thôi mà cổ nhứt quyết xin đổi cho bằng được.
    Sau câu nói đó, gương mặt Sơn bỗng đượm buồn.
    Trong đầu Lam chợt hình thành một câu hỏi:
    -“Cha nội nầy tới đây vì dì Út hay là mình?”
    Muốn hỏi liền coi ổng lỡ lời nói câu gì mà gây hậu quả trầm trọng đến vậy nhưng ngại.
    Lam quyết tìm ra đáp án nên khai thác thêm:
    -Dì Út tui tính tình đơn giản lắm! Thương hay ghét gì là lộ ra mặt liền. Bà ngoại tui khi còn sống hay nói là dỉ có cái tánh “bồng chanh”. Tới bây giờ tui cũng không biết cái tánh bồng chanh đó là như thế nào.
    Sơn cười :
    -Theo tui, nếu câu đó áp dụng lên cô Thắm thì nó ám chỉ một người con gái rất sôi nổi, rất dễ thương, rất nhiệt tình, rất bồng bột.
    Lam lại hỏi:
    -Theo thầy thấy thì cái tánh đó có đáng bị lên án hay không?
    Sơn cười:
    -Ông bà mình ngày trước thích con gái phải nhu mì, ít nói, ít cười. Đòi hỏi họ phải biết tự kềm chế, vui hay buồn mặt cũng không hề đổi sắc. Họ phải rập khuôn theo hình tượng trong “Gia huấn ca”, cho nên tính cách của cô Thắm chắc bị kỵ dữ lắm! Nếu thế gian nầy chỉ có một dạng người, thiên nhiên có mỗi một loại hoa thì đơn điệu, nghèo nàn quá! Những người như cô Thắm, giúp cuộc sống thêm sinh động, thêm phong phú, đáng quí lắm đó!
    Rồi Sơn hỏi:
    -Chắc ngày xưa cổ hay bị rầy lắm hả?
    Lam lắc đầu:
    -Bà ngoại rầy chớ ông ngoại thì chìu dỉ hết mức luôn. Dỉ là đứa con nít được uốn tóc đầu tiên, được mặc áo đầm đầu tiên, được chụp hình đầu tiên, được làm chủ chiếc xe đạp nhỏ xíu đầu tiên trong xóm. Khi ông ngoại mất dỉ bị bịnh rất nặng. Bà ngoại phải cho dỉ làm con nuôi của bà chúa Xứ mới còn sống tới bây giờ. Từ đó bà ngoại không dám la rầy, cho nên dỉ như cái bụi kiểng mọc tự nhiên không bị cắt tỉa uốn nắn gì hết.
    Sơn gật gù:
    -Hèn gì mà cái tánh của cổ vẫn giữ y nguyên nét hồn nhiên.
    Lam thêm vô:
    -Nhờ vậy mà dỉ trẻ lâu. Hai dì cháu đi chung mà ai cũng tưởng tui là chị của dỉ.
    Sơn cười:
    -Cô nhờ có bà dì như vậy nên cũng được cười hoài, cũng trẻ lây. Chắc cô mang ơn cô Thắm lắm hả?
    Lời khen ý nhị đó khiến Lam đâm ra có cảm tình với Sơn. Câu chuyện trở nên không còn gò bó.
    Lam nói như tâm sự:
    -Tui có một đứa em gái kế mà không thương nó bằng dì Út. Hai dì cháu đi chơi, đi học chung với nhau từ nhỏ. Dì Út được ông ngoại dạy thứ gì là truyền lại cho tui liền: Quấn kèn, thắt cào cào bằng lá dừa… Thậm chí trốn học đi mót khoai cũng rủ nhau đi chung, rồi về nhà là nằm cúi chung trên bộ ván một lượt. Con ai nấy đánh. Tui bị ba mình quất thẳng tay còn ông ngoại thì đánh dì nhẹ hều như gãi ngứa. Vậy mà dỉ cũng khóc thảm thiết chẳng thua gì tui.
    Sơn cười thích thú rồi hỏi tiếp:
    -Chắc hồi đó cô bị đòn vì bà dì của mình nhiều lắm hả? Vậy mà cô không ghét, không sợ cổ sao?
    Lam lắc đầu:
    -Tui mê dỉ gần chết chớ ở đó mà sợ. Chơi với dỉ vui lắm! Chưa kịp chán cái nầy là bắt qua cái khác. Mà dỉ tài lắm nghe! Chơi món gì cũng “ăn” tui hết vốn, cũng hạ tui sát ván.
    Sơn gật đầu, nói một cách tin tưởng:
    -Thì tui đã nói với cô là cổ có tánh cạnh tranh hết sức cao mà!
    Tiếng bầm xả rầm rầm từ nhà bếp vọng ra khiến Lam xót ruột. Cô biết Thắm đang bận túi bụi nhưng chẳng biết rút lui bằng cách nào. Lam làm thinh không bắt chuyện thêm rồi cứ liếc hoài vô bếp.
    Sơn nâng ly trà lên uống rồi khen:
    -Thơm mùi bông lài quá!
    Lam muốn nói cho y biết là Thắm vốn thích mùi lài nên trồng mấy cụm để ướp trà, nhưng lại sợ câu chuyện cứ kéo dài thêm mãi. Nghĩ đến bà dì đang tối tăm mặt mũi còn mình thì ngồi chơi xơi nước Lam bức rức không yên. Cô tỏ vẻ nôn nóng, ngó vô bếp nhiều hơn, lâu hơn mà Sơn chẳng nhận ra. Cuối cùng đành phải nói toẹt móng heo:
    -Thầy cảm phiền ngồi uống nước rồi đi xem vườn cho thong thả nghen. Tui phải vô bếp tiếp dì Út một tay.
    Sơn hăng hái:
    -Cho tui giúp với, để đói bụng đặng ăn cho ngon.
    Lam chưa biết từ chối cách nào thì lại nghe tiếng con Phèn sủa inh ỏi.
    Cô lật đật nhìn ra cổng rồi mừng húm, kêu to:
    -Anh Hai con tới rồi nè, dì Út ơi!

    Lam bỏ chưn chạy cái vù ra mở cửa cổng.
    Cô vừa cười toe vừa hỏi người đàn ông:
    -Sao anh Hai tới trễ quá vậy?
    Chương, người đàn ông ốm nhom đi chiếc xe đòn giông có hai cái bánh to đùng, nhìn gương mặt với niềm vui phừng phừng của cô em gái, ngạc nhiên tự hỏi:
    -“Hai anh em mới nói chuyện với nhau hôm kia, đâu có lâu lắc gì mà nó làm như mấy năm không gặp”.
    Con Phèn nhảy chồm lên liếm mặt, liếm cổ. Chương bỗng dưng nghe xúc động dạt dào, đưa chiếc xe cho Lam dắt rồi cúi xuống ôm cái đầu con Phèn mà gãi tai, gãi cổ nó túi bụi.
    Lam giục:
    -Anh vô tiếp khách giùm em liền đi, để em vào bếp phụ dì Út.
    Chương lật đật buông con phèn ra, phủi mấy sợi lông chó bám trên người rồi xâm xâm vào trước. Lam hạ cái chống xe xuống, dựng chiếc xe đạp cạnh chiếc xe gắn máy của Sơn, lấy cái túi ni lông chứa ổ bánh đang treo tòn teng ra khỏi ghi đông.
    Cô nghe tiếng Chương kêu một cách ngạc nhiên:
    -Ủa! Anh Sơn!
    Lam nghĩ thầm họ đã biết nhau rồi, mình đâu cần phải giới thiệu, bèn không vào cửa chính mà đi vòng qua sân để ra cửa sau.
    Thắm đang ở trong bếp, nghe tiếng chân biết là Lam chớ không ai khác nên sai:
    -Rút một mớ lá dừa ôm vô đây giùm dì lẹ lẹ.
    Vườn nhà ngoại rất rộng, trồng cả mấy chục cây dừa nên Thắm xài lá dừa, bẹ dừa làm củi. Lam đặt cái túi đựng bánh lên giàn củi rồi rút một ôm lá dừa to đùng, ôm bằng cả hai tay đem vào.
    Nhà ngoại dùng bếp trấu, loại bếp dùng cho những chất đốt có thể tích nhỏ xíu như trấu, vỏ đậu, lá khô… Loại bếp nầy có miệng rộng và ống khói to cao nên khói bị hút rất mạnh, bay tuốt hết lên trời chớ không quẩn quanh trong bếp. Xài bếp trấu tuy không bị khói làm cay mắt nhưng rất tốn công, phải ôm miết cái bếp, liên tục gạt trấu để lửa cháy đều. Cái công đoạn nhúm lửa cũng khó hơn các loại bếp khác.
    Lam bỏ ôm lá dừa vào cái cằn xé sát bên chưn Thắm rồi hỏi:
    -Dì xài lá dừa rồi lấy than đâu mà nướng cá?
    Thắm nói:
    -Khỏi lo, dì có thảy vô mấy cái gáo dừa, than nhiều lắm tha hồ mà nướng.
    Lam nghe dì Út xưng “dì” còn nói năng nhỏ nhẹ thì mắc cười, định ghẹo nhưng sợ dì quê rồi đổi dĩa, hư bột, hư đường hết ráo nên ráng nhịn.
    Thắm hỏi:
    -Thằng Chương có đem bánh qua không?
    Lam vỗ tay lên trán một cái "chách" rồi nói:
    -Í quên!
    Cô lật đật chạy ra lấy cái bọc bánh còn nằm bí xị trên giàn củi. Lam mở bánh ra ngửi thử. Mùi đường, nước cốt dừa và va ni thơm lừng, khiến hai hàm răng cô chỉ muốn cắm phập vô cái mặt tròn vo của nó. Lam không gói lại mà xách chạy vào bếp, đưa bánh tận mũi của dì Út.
    Cô hối:
    -Ngửi coi! Ngửi coi! Thơm quá trời luôn! Màu vàng ươm! Chị Hai nướng bánh bánh khéo ghê! Hổng biết ăn ra sao nhưng mà nhìn là bắt thèm.
    Thắm cũng hít một hơi rồi nói:
    -Ngó cái màu, ngửi cái mùi là biết ngon rồi! Chị dâu mầy khéo có tiếng ai mà hổng biết!
    Lam chắc lưỡi, xót xa :
    -May mà dì nhắc chớ không thôi để ngoài nắng cả mấy tiếng đồng hồ chắc bánh thiu, chua lè. Đem bỏ chớ ăn sao nổi, uổng biết mấy !
    Thắm kề tai Lam nói nhỏ:
    -Vợ thằng Chương có hỏi bánh ngon không, thì mầy nói là “ăn cũng được” nghe! Đừng có khen rối rít, nhớ làm đúng như tao dặn đó!
    Lam ngạc nhiên:
    -Sao vậy? Tại sao không khen cho chỉ vui đặng mai mốt còn làm cho mình ăn nữa?
    Thắm trề môi:
    -Ngu sao mà khen, đặng nó lên mặt với mình hả? Con nhỏ đó “kiêu hãnh” lắm! Nó tự khen ênh hoài hà, khen thêm làm chi cho uổng. Để dành ba cái lời có cánh đó mà xài cho mấy người còn dỡ dỡ để họ lên tinh thần. Khen nó để nó khinh tụi mình thêm hả?
    Lam cự lại:
    -Lúc nầy con thấy dì thành kiến với chị Hai dữ lắm đó! Sao vậy?
    Thắm đáp:
    -Tại mầy không thấy đó thôi! Nó coi thường tao với mầy lắm! Chê tụi mình là gái già, không nên nết nên hổng ai thèm rớ. Nó làm như dòng họ mình được nó về làm dâu là có phước ba mươi đời.
    Lam cãi:
    -Chị Hai không có nghĩ như vậy đâu… Chỉ đối xử với con tốt lắm! Ai cũng nói anh Hai con có phước mới cưới được chỉ. Con cũng thấy y như vậy.
    Thắm gạt ngang:
    -Muốn biết con vợ tốt hay không thì nhìn thằng chồng là rõ. Mầy không thấy thằng Chương từ ngày có vợ là giảm phong độ rõ rệt sao? Người ốm nhom như cây tre miễu, ăn mặc lè phè. Vợ chồng đi chung mà ai cũng tưởng bà giám đốc đi với thằng gạt đờ co!
    Lam cười:
    -Thời buổi nầy mấy người gạt đờ co, vệ sĩ đó, họ ăn mặc lịch sự lắm dì ơi! Không có như anh Hai đâu. Tại ảnh không thích chưng diện chớ đâu phải tại chỉ. Chỉ làm thợ may chắc may đồ cho chồng, cho con cả đống. Cái tánh anh Hai thích giản dị nên không mặc đó thôi!
    Rồi nói thêm:
    -Ai cũng khen chỉ hết trơn có một mình dì là chê.
    Thắm thở dài:
    -Tại ai cũng khen nó nên thằng cháu tao mới khổ.
    Rồi nói thêm
    -Tao thấy cái nghề làm vợ thì chỉ cần chồng khen là đủ. Chị Hai mầy khéo mà không khôn, bỏ hình, bắt bóng. Nó lo lấy lòng thiên hạ mà không thèm o bế chồng. Tới chừng bị mất thì than trời trách đất, phân bua tùm lum với bà con là tui như vầy, như vầy mà còn bị ổng chê, đi theo mấy con ma cà bông.
    Lam không nhịn được liền ghẹo:
    -Nãy giờ con ngồi nói chuyện với thầy Sơn, nghe ổng khen dì không hà!
    Thắm đỏ bừng mặt, không biết vì bếp nóng hay vì câu nói của Lam, bỏ nắm lá dừa đang cầm trong tay ra để phát nhẹ lên vai cô rồi nói nhỏ hết mức:
    -Con quỷ, đừng có nói bậy! Tao rủ thằng chả tới để làm mai cho mầy đó!
    Lam bắt chước Thắm, trề môi dài thòng rồi nói:
    -Tui có rồi bà ơi! Lo cho bà đi!

    Thắm trợn mắt nhìn Lam rồi hỏi:
    -Mầy có rồi sao? Hồi nào?
    Liền đổi vui thành giận:
    -Vậy mà im ru không nói tiếng nào hết. Bộ sợ tao ganh tỵ hả?
    Lam lật đật đính chánh:
    -Mới tức thời hà! Có kịp nói cho dì biết đâu!
    Rồi Lam kể vắn tắt chuyện của mình và Đông.
    Thắm chú ý vào câu chuyện đến độ quên phức công việc trước mặt, cứ đút lá dừa vô miệng lò liên tục, chẳng thèm chú ý đến cái món đang nấu. Nồi canh sôi ùng ục, mấy giọt nước nhảy ra khỏi nồi, té xuống cái chảo vòng nóng hổi, trước khi bay mất còn kêu một tiếng “xèo” như trách móc.
    Lam dừng lại, nhắc:
    -Canh sôi dữ lắm rồi đó dì Út!
    Thắm dừng nửa chừng cái bàn tay đang rút lá dừa, cầm cái vá lên hớt bớt túm bọt ít ỏi còn sót lại, múc một tí lên nếm rồi cho thêm vô nồi canh một chút muối, đường và một muỗng bột nêm.
    Lam hỏi:
    -Sao dì không xài bột ngọt mà dùng bột nêm?
    Thắm đáp:
    -Bí quyết đó mầy. Nấu canh chua là phải có một miếng khóm, nêm đường với thêm một chút bột nêm mới ngon. Nêm bột ngọt là có vị chát.
    Thấy Lam bán tín bán nghi, bèn nói:
    -Không tin nếm thử coi!
    Liền lập tức nhúng cái vá vô nồi, múc chút xíu nước trong, thổi phù phù rồi kề miệng vá sát vô môi Lam.
    Thắm hối:
    -Nếm thử đi, coi tao nói có đúng hông.
    Lam chu mỏ hút một cái ót, ngậm trong miệng một lát rồi mới nuốt. Cô bỗng rùng mình, vừa đưa ngón tay cái lên ngang trán, vừa nói:
    -Ngon số dzách, ngon rùng rợn, ngon không nói nổi.
    Thắm cười khoái trá, cho ngò gai, lá quế, ngò om, hành lá, ớt... xắc nhuyễn, đang nằm trên thớt vô nồi canh rồi nhấc xuống đặt lên cái rế để sẵn.
    Rồi nói thêm:
    -Còn nữa nè!
    Cầm cái chén đựng tỏi, xả phi lên, Thắm trút vô nồi. Cho thêm một muỗng nước mắm vào sau cùng rồi khuấy nhẹ. Một mùi thơm ngào ngạt bốc lên.
    Lam chắc lưỡi:
    -Bể lỗ mũi rồi dì Út ơi!
    Rồi cô hỏi :
    -Bộ canh chua nào dì cũng phi tỏi với xả bỏ vô hả?
    Thắm lắc đầu:
    -Chỉ có canh chua lươn mới bỏ thêm xả thôi, mấy thứ khác phi tỏi đủ rồi.
    Rồi hỏi :
    -Biết nó thơm là nhờ thứ gì hông?
    Lam hỏi lại:
    -Nhờ thứ gì?
    Thắm nhấn mạnh:
    -Nhờ nước mắm đó! Bí quyết nằm ở cái chỗ mình phải cho nước mắm vô cuối cùng, ngay sau khi bỏ tỏi phi. Cho nước mắm trước là hư nồi canh liền.
    Lam chấp tay xá một cái thật sâu rồi nói:
    -Đa tạ sư phụ!
    Thắm cười khanh khách, đặt cái vĩ nhôm lên miệng lò đang đỏ rực lửa than, ghim chiếc đũa có cái đầu nhọn hoắc xuyên qua giữa cục mỡ bằng ngón chưn cái rồi thoa đều lên vĩ.
    Cho ba con cá rô lên xong là Thắm quay lại hối Lam liền:
    -Rồi sao nữa mậy? Kể tiếp đi!
    Lam lập lại những lời Đông tâm sự, bỏ bớt những tình tiết quá ướt át vậy mà Thắm cũng xúc động đến rơm rớm nước mắt. Nghe một cách chăm chú không hỏi đi, hỏi lại một tiếng nào.
    Nghe xong cô cầm bàn tay của Lam, đặt lên ngực mình rồi hỏi :
    -Có cảm nhận được cái gì không?
    Lam đáp:
    -Mềm!
    Thắm cụt hứng trách:
    -Vô duyên. Bộ không nghe tim tao đang thổn thức sao?
    Lam hỏi:
    -Sao vậy?
    Thắm gắt:
    -Thì xúc động quá, mừng quá chớ sao!
    Lam kềm cái giọng thật thấp như muốn đè cái nhiệt tình đang phun trào của dì Út mình nằm sát rạt:
    -Chưa biết ra sao mà mừng làm chi cho sớm. Coi chừng mai mốt giống cô Son thì khổ.
    Cô Son là đồng nghiệp của Lam. Cổ bị người yêu bỏ đi vượt biên rồi biệt vô âm tín. Một ngày nọ y ta bỗng gọi điện rồi đòi nối lại tình xưa, hẹn sẽ về cưới cổ đem qua Mỹ. Cô Son hết nhăn nhó, bắt đầu yêu đời phơi phới, trở nên trẻ đẹp hẳn ra. Cô chờ mãi, chờ mãi…
    Chừng hay tin y ta đã về, chẳng những không thèm gặp mặt mà còn âm thầm đi cưới một cô gái trẻ hơn cổ đến ba chục tuổi thì xỉu một cái rầm. Trái tim của cổ bật tung xém đứt cuống, cả gia đình lật đật đưa vô bệnh viện cấp cứu. Cổ phải nằm dưỡng thương gần một tháng.
    Lam kề sát tai Thắm mà căn dặn một cách thống thiết:
    -Cái chuyện nầy bà mà đem kể cho ai là tui không thèm dòm mặt đó nghe!
    Thắm phật ý:
    -Mầy khỏi cần dặn. Tao ăn cơm chớ đâu phải ăn… mà ngu đến cỡ đó!
    Rồi nói như phân bì:
    -Dạy lớp lớn như tụi bây sướng thiệt, được mấy đứa học trò suy tôn thành thần tượng. Mầy lại dạy văn nữa chớ. Mấy đứa học trò con trai hay mê cô giáo dạy văn lắm!
    Lam ghẹo:
    -Thôi đừng có chê người ta. Dì hồi đó cũng mê ông thầy dạy toán của mình vậy.
    Thắm giựt mình hỏi:
    -Sao mầy biết?
    Lam trề môi:
    -Thì khi thầy bị động viên, nghỉ dạy, dì khóc quá trời quá đất. Còn làm thơ, vẽ hình đầy nhóc cuốn tập nháp nữa. Ai mà hổng biết?
    Thắm cười, thú nhận:
    -Đó là mối tình đầu của tao đó mầy.
    Rồi mắt dì ướt nhẹp, lần nầy chắc chắn không phải vì khói :
    -Tội nghiệp thầy quá! Thầy đi học tập được có một năm là bỏ xương ngoài bắc luôn. Sao thiên hạ khoái trả thù quá vậy mậy? Người ta đã té rồi còn ví đập cho chết!
    Lam thở dài:
    -Đó là bản chất của con người và cũng do nền văn hóa của mình nữa. Mắc cái gì mà suy tôn mấy ông vua lên hàng đầu. Đâu có phải hể cứ "trung quân" là "ái quốc". Có nhiều ông học vấn uyên thâm, võ nghệ cao cường, vậy mà cứ mù quáng tôn thờ mấy thằng cha bạo chúa, nghe mà tức anh ách. Dì không xem mấy bộ phim kiếm hiệp sao? Cốt chuyện nào cũng xoay quanh ba cái chuyện đền ơn trả oán, coi đó như triết lý sâu xa nhứt. Cái câu “quân tử trả thù mười năm chưa muộn “ nghe mới thấy ghét làm sao!
    Mùi cá cháy bốc lên, Thắm kêu to:
    -Chết cha!
    Không kịp cầm đũa Thắm thò tay bóc cá lật qua liền rồi chụp vội lên vành tai cho bớt nóng. Lam nhìn đăm đăm vào gương mặt bà dì của mình. Thắm cười tỉnh queo!
    Lam nói bằng giọng khâm phục:
    -Dì giỏi ghê! Cá nóng như vậy mà dám bóc vô không sợ phỏng.
    Thắm trề môi:
    -Tao mà nhầm nhò gì. Bà ngoại của mầy, má tao đó ! Bả còn bóc than nóng đỏ rực nữa kìa.
    Lam trợn mắt, hỏi:
    -Thiệt hông dì?
    Thắm hỏi lại:
    -Tao nói dóc mầy để làm cái gì?
    Lam thở dài, nói lầm bầm:
    -Ai dám nói ba cái chuyện nội trợ, nấu nướng nầy nhẹ hều, không vào sanh ra tử? Ai dám gọi phụ nữ là phái yếu khi thấy bà dì của tui đang tung hoành trong bếp?


    Thắm hỏi:
    -Nói cái gì mà miệng lép nhép đó! Bộ chửi lén tao hả?
    Lam đáp:
    -Ai mà dám! Ca ngợi dì hổng đủ lời đây nè!
    Thắm trề môi, nghi ngờ:
    -Ca ngợi thì mắc gì phải nói nhỏ xíu. La to lên cho mọi người cùng nghe chớ!
    Lam ghẹo:
    -Tui cũng muốn la to cho thấu tai cái người ngồi ngoài kia, nhưng mà sợ cái mũi dọc dừa của dì nổ tung thì uổng lắm!
    Thắm cằn nhằn:
    -Tao mà biết mầy… thì đâu có mời thằng chả làm chi cho bị chọc.
    Lam hỏi gắt:
    -Bộ dì không ưa ổng thiệt hả? Con nói thiệt chớ hổng giỡn đâu nghe, coi bộ ổng khoái dì lắm đó. Ổng nói cái gì mà lỡ miệng buông một câu có lỗi với dì rồi ân hận tới bây giờ. Coi bộ giữa hai người có cả một thiên tình hận phải hông? Dì kể cho con nghe với!
    Thắm đáp tỉnh rụi:
    -Ai nói thì mầy hỏi người đó chớ tao có biết cái gì đâu!
    Lam ngúng nguẩy:
    -Bà không thèm nói hả? Vậy là từ đây về sau chuyện ai nấy biết nghen! Tui sẽ không thèm kể cho bà nghe chuyện của tui nữa đâu!
    Thắm chắt lưỡi:
    -Cái con nhỏ nầy… Mầy ngu lắm! Ham biết nhiều chi cho mệt vậy? Mấy cái chuyện không hay, không vui thì tao mới không nói cho mầy nghe. Tao đã coi nó như rác, đem chôn cho khuất mắt rồi! Khi không cái bắt tao bươi ra, lấy lên rồi đem cất vô bụng mầy nữa. Chi vậy?
    Lam nói:
    -Kệ… moi ra đi! Biết đâu còn tái chế được rồi làm ra cái món giá trị gấp mấy lần lúc trước.
    Thắm đánh trống lãng, đưa chiếc đũa còn ghim cục mỡ cho Lam rồi biểu:
    -Xắc ra cho tao thắng.
    Lam xắc mỡ xong, dì liền sai tiếp:
    -Ra giàn rau ngắt hết mấy cái lá hành bị gãy đem vô, đừng có rửa nghe!
    Lam bước ra giàn rau, nghĩ bụng bây giờ nước đâu còn ngập nữa mà làm giàn trồng rau chi cho mắc công. Cô chợt nhận ra bà dì của mình có tính nệ cổ hết sức sâu sắc.
    Cái giàn rau bị mấy cụm hành hương chiếm một phần tư diện tích. Ba phần tư còn lại được trồng đủ thứ: Vấp cá, húng cây, húng nhủi, ngò gai, lá quế, ớt, tần…
    Lam ngắt những cái lá gãy thật nhẹ tay. Mùi hành rất mạnh xông thẳng vô mũi. Những chiếc lá nhỏ, ngắn chừng gang tay nầy tích trữ một lượng hương liệu hết sức dồi dào!
    Lam lau mấy lá hành cho sạch bụi, xắc nhuyễn rồi để nguyên trên thớt.
    Mùi cá nướng thơm lừng. Ba con cá rô ú nù, mỡ tươm khắp mình như rịn mồ hôi, nhỏ từng giọt xuống đám than nóng đỏ làm bùng lên những tia lửa nhỏ.
    Lam hỏi:
    -Dì mua cá nuôi hay cá thiên nhiên vậy?
    Thắm thở dài:
    -Cá nuôi chớ bây giờ làm gì còn cá thiên nhiên mà bự tới cỡ nầy. Mấy con cá rô thì còn thấy lai rai chớ cá trê vàng biệt tích giang hồ luôn. Tao thèm cái món cá trê vàng nướng chan mỡ hành với nước mắm gừng biết bao lâu rồi mà ăn chưa được.
    Rồi than:
    -Còn nhớ hồi đó tao với mầy tắm sông, bị cá lòng tong bu theo rỉa cẳng. Tụi mình cứ nơm nớp sợ bị cá nóc cắn... Bây giờ thì hởi ơi! Tìm đỏ con mắt không ra con cá nóc. Con sông của mình bây giờ ngày một ít cá. Hồi đó dọc theo bờ sông bà con chất chà, đặt bò, thả vó lềnh khênh bây giờ chỉ lèo tèo...
    Lam cũng thở dài:
    -Nói tới mới nhớ! Lâu rồi không được thấy mấy cái cảnh vỡ chà, kéo bò, chài cá nữa. Cũng chằng thấy ai đi giăng câu, thả lưới, đặt lộp như ngày xưa!
    Thắm nói:
    -Họ chích điện riết mà mấy con cá chết tiệt nọc hết trơn, hết trọi. Cái xứ làm mắm, ngày xưa xài đèn dầu cá mà bây giờ phải nuôi mới có mà ăn, thiệt chán hết nói nổi!
    Thắm lấy cái dĩa lớn úp lên mấy con cá rồi lật ngược cái vĩ lại. Ba con cá nằm gọn hơ trong dĩa. Cô cào than ra bớt rồi đặt cái chảo lên, cho mỡ vào thắng.
    Lam hỏi:
    -Lửa ít quá thắng lâu lắm! Sao dì không chừa than lại mà dụi gần hết vậy?
    Thắm giải thích:
    -Muốn cái tép của nó ăn giòn thì phải để lửa riu riu.
    Rồi sai:
    -Mầy lau mâm, tô, chén, dĩa rồi múc cơm canh bưng ra trước giùm tao.
    Lam răm rắp nhe theo. Cô bưng cái mâm ra đưa cho Chương. Chương tiếp lấy, nhìn những món trong mâm rồi trợn mắt, ngạc nhiên hỏi:
    -Sao đám giỗ mà cúng đơn sơ quá vậy? Mấy món cà ri, chả giò, măng hầm truyền thống đâu rồi?
    Lam đáp:
    -Dì Út nói năm nay cúng kiểu mới, ông bà ưa cái gì cúng cái nấy!
    Chương và Sơn bỗng nhìn nhau nháy mắt cười.
    Lam hỏi:
    -Anh cười chuyện gì vậy?
    Chương đáp phắt:
    -Có chuyện gì đâu!
    Rồi hỏi:
    -Còn món nào nữa không?
    Lam nói:
    -Còn cá nướng với bánh của chị Hai thôi hà!
    Chương hỏi:
    -Bộ không có bánh tét sao?
    Lam lắc đầu:
    -Hổng thấy!
    Chương chép miệng :
    -Chắc dì Út quên mua rồi. Đám giỗ thiếu bánh tét cũng như đám cưới thiếu trầu cau, coi không được!
    Lam lật đật:
    -Để em chạy ra chợ. Giờ nầy chắc bà Năm còn bán.
    Sơn can:
    -Để tui lấy Hon đa đi cho lẹ.
    Lam hỏi:
    -Thầy có biết chợ hông?
    Sơn gật đầu rồi hỏi lại:
    -Phải cái chợ nhỏ nhỏ, đối diện bến đò không?
    Lam gật đầu:
    -Nó đó!
    Sơn đâm đầu chạy đi. Lam gọi giật ngược:
    -Thầy Sơn!
    Sơn quay lại nhìn, thấy Lam cho tay vào túi áo thì lắc đầu rồi nói:
    -Cái cô nầy!
    Rồi bỏ đi một mạch.
    Lam hỏi:
    -Cúng liền hay chờ đem bánh về?
    Chương đáp :
    -Cúng trước đi, còn khói ông bà mới hưởng. Bánh tét ăn tráng miệng, cúng sau cũng được.
    Chương đốt ba cây nhang, chia bớt cho Lam một cây.
    Lạy xong, Lam chạy vô bếp liền để rầy:
    -Dì quên mua bánh tét phải hông?
    Thắm vỗ tay lên trán một cái “chách” y như Lam lúc nãy.
    Rồi than:
    -Chết mồ!
    Lam bỗng tự hỏi không biết cái cữ chỉ vỗ trán khi quên nầy là mình bắt chước dì Út hay dì Út bắt chước mình.
    Thắm dợm cẳng chạy, Lam níu lại:
    -Thôi, bạn của dì đi mua rồi!
    Thắm cự:
    -Sao hai anh em mầy hổng đi mà nạnh người ta?
    Lam nói:
    -Tại ổng giành chớ bộ! Chắc muốn dì đoái công xóa tội đó mà!
    Dì Út nạt:
    -Thôi đừng nói cà rỡn nữa, tới tai thằng chả hổng nên.
    Rồi hỏi:
    -Đem bình trà ra chưa? Cắt bánh chưa?
    Lam đáp:
    -Làm đây nè!
    Thắm đẩy dĩa cá về phía Lam:
    -Bưng dĩa cá ra luôn giùm đặng tao đi rửa mặt, chải đầu rồi ra cúng.
    Lam không dừng được, lại buột miệng ghẹo:
    -Dì muốn làm đẹp cho người ta ngắm thì nói đại đi, ở đó mà…
    Bỗng dừng ngang rồi hét:
    -Ái!
    Thì ra bị Thắm nhéo thật mạnh vào eo. Đã vậy còn nghe nhiếc:
    -Cho bỏ cái tật giỡn cù nhây, cù nhằng nè!
     
    (Xem tiếp CHƯƠNG BA)


     
    #2
      Lâm Du Yên 28.09.2019 13:12:20 (permalink)
      GIÓ ĐÔNG
      Tryện dài Lâm Du-Yên
       
       
      CHƯƠNG BA

      Ba cây nhang cháy được hơn phân nửa thì Sơn đem bánh tét về. Anh hớn hở trao cho Thắm bốn đòn bánh to bằng cườm cẳng, cột thành từng cặp một.
      Ngược lại lòng mong đợi của Sơn, Thắm chù ụ cái mặt.
      Cô rầy:
      -Mua làm chi tới bốn đòn dữ vậy?
      Rồi không chờ Sơn giải thích mà xách chạy vào bếp, tét ra liền để kịp cúng.
      Sơn cười, nói như có lỗi:
      -Bà già bán bánh hỏi “mua bánh gì, trắng, ngọt, chuối, chay?”. Tui đâu biết ông bà thích ăn gì nên mua luôn bốn thứ, thà dư còn hơn thiếu.
      Lam vội đỡ lời:
      -Thầy mua như vầy là không thiên vị ai hết.
      Rồi cô bịa:
      -Bà cố, bà ngoại thích bánh chuối, ông cố hảo bánh chay, ông ngoại mê bánh trắng má tui ưa bánh tét nhưn ngọt, ba tui thì khoái đủ bốn thứ.
      Gương mặt Sơn tươi rói lại.
      Lam chọc:
      -Thầy Sơn khéo cư xử quá! Thầy bỏ lỗi cho dì Út tui nghe! Cái tánh dì Út tui hổng giống người ta. Đáng lẽ phải cám ơn thầy dỉ lại...
      Cô nói tiếp một cách lém lĩnh:
      -Tại cái gien gia đình tui nó ngược đời như vậy đó! Lời ngọt ngào thì giấu trong lòng, mở miệng ra là mặn chát. Má tui ngày xưa cũng y chang. Mỗi lần được ba tui sắm cho món gì, má tui cảm động lắm, thích lắm, nhưng tiếc tiền nên hay cự nự làm ba tui bực bội.
      Rồi cô kể thêm:
      -Nhà tui ai cũng thích ăn phao câu gà! Bữa nào có món gà xé phai là ba tui gắp cái phao câu bỏ vô chén má, má gắp bỏ qua chén ba trở lại rồi còn làm bộ nói “tui có ưa cái thứ nầy đâu mà ông bắt tui ăn”.
      Nói tới đây Lam nghe nhớ má, thương má đến đau lòng.
      Cô kể tiếp giọng nghẹn ngào :
      -Khi má tui mất, ba tui giành cúng cơm cho má mỗi bữa. Lần nào cúng ông cũng dặn dò: “Bà cứ ăn cho đã đi nghen! Đừng có nhường cho ai hết đó!"
      Thắm bưng dĩa bánh ra rồi đốt thêm ba cây nhang nữa cắm vào.
      Chương từ sáng tới giờ chưa có miếng gì bỏ bụng nên nhăn nhó hỏi:
      -Bộ chờ ba cây nhang nầy tàn nữa sao dì Út?
      Thắm lắc đầu:
      -Khỏi! Mấy cây nhang trước cháy hết là mình dọn ba cái món mặn xuống, bắt đầu ăn là được rồi. Mấy món ngọt giữ lại cho ông bà ăn tráng miệng.
      Chương lại hỏi:
      -Bộ dì sai vợ con làm bánh khoai mì nướng hả?
      Thắm đáp, giọng nghinh chiến:
      -Ừ! Có sao hông?
      Chương lắc đầu, phân trần với mọi người:
      -Thấy bả cặm cụi bào khoai mì tui mới hỏi: “Bà bào khoai mì chi vậy?”. Bả đáp “Dì Út nói bà cố ngày xưa thích ăn bánh khoai mì nướng”. Tui cự bả: “Bà ngoại ngày xưa bị ngộ độc khoai mì một lần, xém chết, nên ông cố cấm tiệt con cháu ăn cái món khoai mì nầy”.
      Thắm lật đật nói trớ:
      -Dì nhớ lộn rồi! Bà ngoại thích ăn bánh bò nướng. Má tụi bây đó, mới thích bánh khoai mì nướng.
      Rồi tỏ vẻ ăn năn:
      -Thôi lỡ rồi, để lần sau cúng chị Hai, tao nhắc nó làm bánh khoai mì nướng cúng chỉ. Dì có quên thì anh em bây nhớ nhắc đó nghe!
      Liền đứng lên cái rột, nói:
      -Phải rút cái dĩa bánh khoai mì ra liền, chắc chưa ai đụng đũa tới nó.
      Lam can:
      -Đó là khi còn sống ông bà phải ráng kiêng vì sợ chết. Bây giờ chết rồi còn sợ gì nữa?
      Thắm khăng khăng:
      -Không được, không được! Bỏ ra liền để hông thôi bà ngoại giận, tưởng mình cúng đặng chọc tức rồi không thèm rớ tới món nào.
      Miệng nói, tay làm. Thắm bưng cái dĩa đựng ổ bánh đã được cắt làm tám xuống liền.
      Ba cây nhang đầu tiên đã cháy hết, tàn nhang cong vòng nằm yên trên cây chớ không rụng chút xíu bụi tro nào xuống. Điều nầy ngày xưa rất hiếm hoi.
      Các nhà sản xuất bây giờ rất chịu khó tìm hiểu thị hiếu của khách hàng. Họ biết bà con mình cho rằng hể cúng mà tàn nhang cong lại không rớt, là lòng thành của mình đã được tổ tiên chứng giám. Họ cải thiện kỷ thuật nên đa số sản phẩm về nhang hiện nay khi đốt tàn đều không rụng cho dù để suốt.
      Lam biết thế nhưng vẫn reo:
      -Bà cố, ông cố, bà ngoại, ông ngoại với ba má con khen ngon đó dì Út.
      Thắm cười, khoái trong bụng nhưng làm bộ mắng:
      -Con nhỏ nầy xạo sự không hà!
      Giờ phút mong đợi đã đến! Bốn người họ đói bụng quá nên không thèm kẻ trước người sau má đứng dàn hàng ngang, xá bàn thờ một lượt.
      Thắm bưng từng món xuống đưa cho Lam và Chương đang chờ sẵn để đặt lên cái bàn dài giữa nhà. Thức ăn bày xong, mọi người vừa an tọa, Thắm bỗng đứng phắt lên, bưng tô canh chạy tọt vô bếp. Cô lấy cái tô khác, múc canh trong nồi còn đặt trên bếp, hơi nóng ẩn mình trong lò giúp nồi canh vẫn còn sôi âm ỉ, tô canh mới bốc khói, Thắm đặt nó vào mâm rồi bưng ra. Lam cũng bắt chước, thay bốn chén cơm đã nguội bằng cơm nóng hổi.
      Chương mời Sơn:
      -Mời anh cầm đũa, thưởng thức cái bữa giỗ hổng giống ai nầy!
      Thắm bắt lỗi:
      -Hổng giống ai là sao?
      Chương đáp :
      -Chớ còn cái gì nữa! Ăn đám giỗ tới mòn hai hàm răng, chưa khi nào tui thấy ai cúng mấy cái món nầy! Gia đình mình thì không sao. Đằng nầy dì mời anh Sơn mà nấu như vầy coi sao được! Đây rồi ảnh lại nghĩ là mình không tôn trọng, đãi mấy cái món quá tầm thường.
      Sơn lật đật lên tiếng:
      -Nói thiệt với anh, tui vừa đi cái đám giỗ sát bên nhà. Bữa nay mà ăn cà ri, chả giò, bún xào, giò heo hầm măng nữa chắc tui ngán ngược.
      Rồi nói tiếp như than:
      -Tui ở một mình nên làm biếng nấu ăn. Từ ngày má tui mất tới giờ toàn đi ra tiệm. Mấy món như vầy ít khi được nếm lắm!
      Lam cũng lên tiếng bênh vực:
      -Tại anh Hai hổng biết đó thôi! Dân sành điệu, họ đang rốt ráo săn tìm mấy cái món ngày xưa, thời ông bà mình mới vào nam khẩn đất.
      Cô chỉ vào tô ba khía rồi nói:
      -Anh mà đãi họ cái món thịt gà chấm nước ba khía nầy là họ khoái gần chết luôn! Còn cái món cá rô nướng giầm tương nữa. Từ trước tới giờ anh có được thử qua chưa?
      Lam thúc nhẹ vô hông của Thắm rồi nói:
      -Anh phải mang ơn dì Út, nhứt là thầy Sơn. Tại dì Út biết thầy Sơn ăn cơm quán đều đều, ngày nào cũng như ngày nấy, toàn mấy món thông dụng, nên cố ý nấu để thầy thấy lạ mắt rồi ngon miệng.
      Mặt Thắm đỏ rực như cái bông mồng gà, không biết vì giận hay là mắc cỡ.
      Chương cằn nhằn:
      -Tui dọn cái bụng cả tháng để ăn cái món cà ri, chả giò trứ danh của dì mà “ọt zơ” hết ráo!
      Sơn hỏi liền:
      -Bộ cô Thắm nấu hai món đó ngon lắm hả?
      Lam lật đật đáp:
      -Bộ thầy Sơn chưa nếm qua cái món “cà ri Út trề” hả? Vậy là thiếu sót trầm trọng rồi!
      Thúc vô hông Thắm một lần nữa. Cô nói tiếp:
      -Trăm nghe không bằng miệng nếm! Tui mạn phép thay mặt dì Út, ngày rằm tháng giêng nầy mời thầy đến dự bữa giỗ của ông cố…
      Thắm ngắt lời:
      -Giỗ ông ngoại là cúng chay nghe mậy!
      Lam còn hùng hồn hơn:
      -Bà dì Út của tui nấu chay ngon như mặn. Thầy sẽ được ăn món bì cuốn chay. Mắm kho chay không hề khác món mặn. Gà xé phai chay bảo đảm y chang thịt gà mái tơ cho dù làm từ bắp chuối.
      Chương thêm:
      -Tui thì mê cái nồi kiểm với mắm thái chay của dì Út nhứt!
      Lam bạo miệng hơn:
      -Ai mà hùn gạo nấu ăn chung với dì Út là cái miệng tha hồ mà sướng!
      Lần nầy Lam bị Thắm thúcmột cái thật mạnh vào hông nên kêu to:
      -Ui da! Mắc mớ gì mà dì cho tui ăn nguyên một cái cùi chỏ, đau thấu trời vậy ?
      Chương ngạc nhiên nhìn gương mặt nhăn nhó một cách rất kịch của em gái mình, người vốn rất kiệm lời và ít khi bộc lộ cảm xúc.
      Chàng càng ngạc nhiên hơn khi thấy bà dì ăn nói bốp chát, lúc nào cũng tỉnh rụi cho dù bị ghẹo hết cỡ của mình bỗng tỏ vẻ mắc cỡ, lúng túng khác thường.
      Chương thở dài, nói thầm:
      -“ Không biết tại làm sao mà phái nữ hể đứng trước mặt nam giới là thay đổi tính cách hoàn toàn, đúng bon một trăm tám chục độ lận!!!"


      Thắm vừa bưng chén cơm lên bỗng đặt ngay xuống rồi chạy cái vù vô bếp. Lam cũng lật đật buông đũa chạy theo. Sơn ngần ngại nhìn theo họ.
      Chàng hỏi Chương:
      -Có chuyện gì mà cô Thắm, cô Lam chạy đi mất vậy?
      Chương đáp tỉnh rụi:
      -Họ ngồi yên mới là chuyện lạ đó. Để rồi anh coi, từ đây cho tới hết bữa cơm, bà dì Út với cô em của tui sẽ chạy vô, chạy ra ít nhứt cũng đôi ba bận nữa.
      Rồi thản nhiên lấy đầu đũa giầm trái ớt đỏ tươi, để sẵn trong dĩa nước mắm. Giầm đến phân nửa trái ớt thì ngưng, gắp khúc lươn mập lù trong tô canh chua ra đặt vào. Chương lật khúc lươn lên, róc hết phần thịt đã thắm nước mắm, cho vào chén Sơn rồi nói:
      -Mời anh!
      Thắm thấy Lam chạy theo mình thì gắt:
      -Sao không ngồi ăn, vô đây chi vậy?
      Lam nói:
      -Khi không dì đứng lên cái rột, bỏ đi hổng nói tiếng nào. Con tưởng…
      Thắm cười:
      -Tao đi bới tô cơm.
      Lam can:
      -Đem nguyên cái nồi ra đi hơi đâu mà bới lắc nhắc.
      Thắm lắc đầu:
      -Cái đít nồi đen sì, có phải gọn sạch như nồi cơm điện đâu mà đem ra.
      Lam nằng nặc:
      -Cái mình nó sáng trưng như vầy là đẹp rồi. Ai mà không biết dì kỹ thấu trời! Con cháu không hà! Đâu có phải được đi coi mắt đâu mà làm màu, làm mè!
      Thắm nghe Lam nói vậy thì dẹp liền cái tô, bưng cả nồi lẫn rế ra luôn.
      Chương thấy mặt Thắm là khen liền:
      -Canh chua ngon hết sẩy dì Út ơi!
      Thắm vênh mặt:
      -Sao hổng chê tầm thường nữa đi!
      Sơn tấm tắc:
      -Thịt gà luộc chấm nước ba khía ngon nhức nhối! Ai mà nghĩ ra món nầy đúng người sành ăn số một. Bái phục sát đất luôn.
      Rồi nói bằng giọng bùi ngùi:
      -Ba năm rồi mới gặp lại con ba khía. Từ ngày má tui mất tới giờ không ai làm cho mà ăn nên quên phức, hổng nhớ tới nó nữa, uổng ghê!
      Lam hỏi:
      -Bà bác ngày xưa thích món nầy lắm hả thầy?
      Sơn gật đầu:
      -Má tui thích ăn khoai lang chấm nước ba khía lắm! Khoai đem từ đồng về là má bắt đầu mua ba khía rồi trộn sẵn. Ngay hôm sau là má luộc liền một nồi khoai lang. Khoai lang ăn với ba khía phải lựa khoai trắng hoặc khoai Dương Ngọc mới ngon. Ngủ trưa dậy, cả nhà xúm nhau bóc khoai, chấm nước ba khía. Ăn xong là tui cầm cái bình trà nguội lên, không thèm rót ra ly, ngậm luôn cái vòi bình tích tu một hơi cạn láng luôn.
      Thắm gắp cái phao câu gà bỏ vô chén của Sơn rồi nói:
      -Trả cái công anh đi mua giùm tui mấy đòn bánh tét nè!
      Sơn nhớ lời Lam ban nãy nói là cả nhà mình ai cũng thích phao câu, nên gắp bỏ lại chén Thắm.
      Thắm giãy nãy:
      -Tui đâu có ưa món nầy, bỏ cho tui làm chi!
      Câu nói của Thắm y chang câu của má Lam trong câu chuyện mà Lam kể cho Sơn khi nãy, nên cả Lam lẫn Sơn cùng nhìn nhau mà cười một lượt.
      Lam ghẹo:
      -Xạo thấy mồ! Hồi nãy dì còn nói “cái phao câu là của tao nghe mậy”.
      Rồi hướng mắt qua Sơn mà hỏi:
      -Thầy coi tui nói có sai hông? Phụ nữ nhà nầy ai cũng giống hệt nhau.
      Sơn hiểu hàm ý của Lam nên cười mỉm chi, lập lại câu của ba Lam:
      -Cô cứ ăn thoải mái đi đừng có nhường cho ai hết!
      Lam cười thích thú, nghĩ trong bụng:
      -Vậy là cái ông Sơn nầy khoái bà dì Út thiệt rồi. Đàn ông thích nhứt là vợ đẹp, thích nhì là vợ nấu ăn ngon. Mình phải ca tụng tài làm bếp của dỉ lên tận mây xanh để ổng hết thoát ra nổi mới được.
      Nghĩ đến cái viễn cảnh dì Út làm cô dâu ở cái tuổi U sáu mươi, Lam quá khoái chí nên cười một mình.
      Thắm hỏi nhỏ:
      -Bộ mầy mắc đàng dưới hay sao mà cười hoài vậy?
      Lam đáp lại còn nhỏ hơn:
      -Bà muốn biết tại sao mà tui cười thì hỏi ông thầy Sơn á!
      Chương lo cắm cúi ăn, không nói năng gì, giờ mới lên tiếng :
      -Hai người nầy mất lịch sự quá! Rù rì hoài bộ nói xấu tui hả?
      Lam nói:
      -Chớ còn gì nữa! Người nào mà hồi nãy chê thôi là chê, đòi phải có cà ri, chả giò, nói mấy cái món nầy không xứng lên mâm cúng mà bây giờ…
      Chương hơi quê quê.
      Sơn đỡ lời :
      -Phải công nhận là món nào cũng ngon, kể cả trái ớt trong chén nước mắm cũng thơm, cũng ngọt, cũng nồng nàn một cách hết sức đặc biệt!
      Lam ngắt lời:
      -Thì ớt nhà trồng mới hái liền tay mà, còn tươi rói hổng thơm sao được?
      Thắm bỗng bỏ đũa lần nữa. Cô không dừng lại ở bếp mà đi thẳng ra giàn rau, ngắt trái ớt xanh rồi chùi vô vạt áo, đưa cho Sơn mà nói:
      -Anh cắn thử trái ớt nầy coi!
      Sơn nghe theo, cắn cái chót đuôi rồi nói:
      -Ớt xanh còn thơm, giòn, ngon hơn ớt chín nhiều.
      Thắm cười, nói một cách khoái trá:
      -Hồi còn đi dạy, nhiều bữa làm biếng tui đâu thèm làm món gì. Vo gạo rồi rửa cho thiệt sạch cái hột vịt bỏ vô nấu chung luôn. Cơm sôi vài dạo là vớt hột vịt ra liền. Trứng còn lòng đào giầm nước mắm mặn thêm chút đường ngon lắm! Hái trái ớt xanh, rưới cái nước sền sệt đó vô cơm, và một đũa, cắn một miếng ớt, vậy mà ngon còn hơn cao lương mỹ vị.
      Chương đưa cái chén không cho Lam rồi nói:
      -Bới cơm cháy cho anh!
      Lam khựi cơm cháy lên một cách khéo léo. Ba dì cháu, ai cũng thích cơm cháy. Thắm đã có kinh nghiệm nên canh lửa sao cho miếng cơm cháy vàng, giòn mà không khét. Ban nãy vừa nhắt nồi cơm ra khỏi bếp là Thắm đặt lên cái rế lót mấy lớp lá chuối tươi liền. Cái nóng gặp lạnh đột ngột nên lớp cơm cháy bám đáy nồi ấy tróc lóc. Lam lấy đũa bếp xắn nghe cái rắc cho bể làm bốn. Cô gắp một phần tư bỏ vào chén đưa cho Chương .
      Sơn cũng đưa cái chén mình cho Lam rồi nói:
      -Cô Lam cho tui một miếng như vậy luôn.
      Cơm cháy được chia đều cho mỗi người một miếng.
      Thắm rưới tương lên khắp miếng cơm của mình rồi rỉa miếng cá chiên lên ăn kèm. Lam cũng bắt chước làm theo. Cô bỗng “ồ” lên một tiếng.
      Thắm hỏi:
      -Cái gì vậy? Bộ nhai trúng sạn hả?
      Lam lắc đầu, nói như rên:
      -Cá rô nướng giầm tương ngon quá dì Út ơi!
      Cái chiêu tiếp thị của Lam tạo hiệu ứng quá ư mạnh! Mấy con cá nhanh chóng bị phanh thây.
      Thắm lại chạy vô, chạy ra, khi thì đem mấy cái chén ra đựng xương, khi thì múc thêm canh, khi thì rót thêm nước mắm, khi thì hái thêm ớt…
      Nét thỏa mãn lồ lộ trên gương mặt họ thì mâm cơm cũng nhẳn nhụi.
      Chương nhắc:
      -Bưng bánh tét xuống ăn la sét đi Lam!
      Lam bưng dĩa bánh đặt xuống bàn. Thắm đứng lên gom chén tô vô mâm, đưa cho Lam bưng vào bếp rồi đẩy cái dĩa bánh trước mặt mình ra giữa.
      Chương lấy ba cây tăm xỉa răng nhập lại làm một, cắm vào chính giữa miếng bánh khoai mì nướng, hai tay đưa cho Sơn rồi mời:
      -Anh ăn thử coi! Bà xả tui làm đó!
      Sơn cũng nhận bằng cả hai tay, đưa miếng bánh lên miệng cắn, nhai từ từ, nuốt xong rồi mới nói:
      -Ngon quá! Làm bánh cao tay như thế nầy chắc chị nhà nấu ăn cũng ngon lắm phải không?
      Chương chưa kịp gật hay lắc đầu, chưa kịp đáp là bị Thắm chặn họng:
      Cô trề môi, nhiếc:
      -Vợ nấu ngon mà chồng ốm nhom như cây tre miễu!
      Lam phản đối:
      -Bộ dì chưa nghe tới mấy cái trường hợp thiếu ăn mập lù mà y học gọi là suy dinh dưỡng dạng phù sao? Anh Hai con là hiện tượng trái ngược, thừa dinh dưỡng dạng teo!
      Chương cười rồi minh oan cho vợ:
      -Bả coi vậy mà hay lắm nghe! Ăn uống cân đối lắm! Hể bữa nào mà có mấy cái món tẩm dầu, mỡ nhiều là kèm một dĩa rau luộc, bắt tui ăn cho bằng hết đặng hút bớt mỡ, bởi vậy mập làm sao nổi? Hồi đó tui ghét ăn rau thấy mồ. Vậy mà cưới bả về cái đâm ghiền món rau. Mấy hôm ăn chay, chỉ có món rau lang luộc cho mềm chấm tương kho xả thôi mà cũng vét nồi!
      Thắm trề môi:
      -Ai lớn tuổi mà không thèm rau chớ?
      Rồi chỉ tay ra mấy chậu kiểng ngoài sân mà nói:
      -Thấy ba cái rau càng cua đó hông? Vài ngày là dì hái một rỗ, đem trộn giấm rồi chấm nước mắm tỏi ớt mà ăn, chẳng kèm cá thịt gì hết!
      Lam hỏi Chương:
      -Anh Hai có nhớ hông? Hồi đó má mình hay trộn rau càng cua với giấm, tiêu và củ hành tây, ăn với cá mòi hay cá linh kho rục cũng ngon lắm!
      Chương bắt lỗi:
      -Ngon quá trời chớ “cũng” cái gì nữa!
      Thắm thở dài:
      -Nói tới món cá linh kho rục cái bắt thèm cháo đậu.
      Lam phụ họa:
      -Bà con xứ mình sướng thiệt! Ở đầu nguồn nên bắt được cá linh tươi rói! Làm ra được cái món cá linh kho mía với nước dừa tươi, ngon còn hơn cá mòi Sumaco.
      Sơn nói:
      -Tiếc rằng ngành đồ hộp của nước nhà kém phát triển quá, nếu không chắc cái món cá linh kho rục của xứ mình đã vang danh bốn bể rồi.

      Chương thêm:
      -Cũng như các cô thôn nữ mỹ miều của chúng ta, chẳng thể có cơ hội đội vương miện vậy!
      Thắm ngậm ngùi:
      -Những đóa hoa đồng nội, hương sắc nào kém ai vậy mà còn không có tới cái tên.
      Lam triết lý:
      -Bởi vậy chúng mới cho ta một niềm cảm thương sâu sắc.
      Những ly nước trà được châm đầy thêm lần nữa.
      Khách chưa muốn về, chủ nhà cũng không muốn tiễn khách. Cái câu “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” áp dụng vào lúc nầy thật chính xác.
      Bốn người họ cứ nói lan man từ chuyện nầy sang chuyện khác. Lam hướng đề tài về lảnh vực ăn uống để ca tụng Thắm một cách khéo léo nên các câu chuyện của họ ngày càng mặn mòi hơn.
      Tiếng điện thoại reng lên từ trong túi áo của Chương kéo họ về thực tại. Chương móc điện thoại ra xem, rồi nói liền mà không đợi hỏi:
      -Đang chuẩn bị về rồi nè!
      Thắm lật đật chạy vào bếp. Lam cũng đi theo, tiện tay rinh luôn dĩa vú sữa trên bàn thờ.
      Thắm khen:
      -Con nhỏ nầy thông minh. Chưa sai mà đã làm liền.
      Lam nói:
      -Giỗ quảy mà. Hể đi đám giỗ là phải quảy đi rồi quảy về.
      Thắm lựa hai cái bọc ni lông còn mới và đẹp nhất trong cái túi đựng bao sạch ra. Một túi cô cho vú sữa vào, túi kia cô cho bốn đòn bánh, mỗi đòn còn lại có phân nửa.
      Lam hỏi:
      -Cái nào của ai?
      Thắm nói:
      -Bốn khúc bánh tét nầy thì gửi về cho cái đám con với vợ thằng Chương. Mấy trái vú sữa của mầy thì cho ông Sơn, chắc ổng thích lắm!
      Lam biết Thắm ghẹo mình nhưng tỉnh bơ, hỏi:
      -Sao dì không cho bớt ổng nửa đòn bánh? Cho anh Hai ba khúc được rồi!
      Thắm lắc đầu:
      -Bộ mầy không biết hay sao mà xúi dại? Mấy cái món người ta đem cúng mình không có được trả lại. Đám giỗ chớ bộ đám cưới sao mà lại quả.
      Cô nói thêm:
      -Hồi còn má tao bả để ý cái vụ nầy kỹ lắm. Bả nói mình mà cho người ta lại cái món họ đem cúng là có khi bị họ giận tới nghỉ chơi luôn đó!
      Lam ngạc nhiên:
      -Sao vậy?
      Thắm trề môi :
      -Mầy dạy văn, sành tâm lý lắm mà! Đâu nói tao nghe thử coi?
      Lam cười :
      -Chắc tại họ cho là mình chê, xem thường món đồ họ đưa tới nên hổng thèm xài mà trả lại.
      Thắm nói thêm:
      -Bà ngoại của mầy nhớ dai lắm! Ai đem món gì tới là bả nhớ nằm lòng. Bà con mà khen thứ nào là bả kể ra xuất xứ, tên tác giả của nó liền. Hồi trước đám giỗ cực lắm! Mời khắp xóm, bà con hai bên không được thiếu một người nào. Bởi vậy phải chuẩn bị cả tháng trước.
      Lam hỏi:
      -Làm cái gì mà lâu dữ vậy?
      Thắm nói:
      -Có khi cả nửa năm luôn. Mấy đám trọng là phải làm heo, nên phải nuôi trước năm, sáu tháng. Phải đếm đầu người mà gói bánh cho đủ. Bởi vậy bà con mình mới đổ thừa là họ nghèo vì giỗ.
      Lam trách:
      -Dì mới cúng bà cố mà nói như vậy hổng sợ tội sao?
      Thắm cười:
      -Tao có bao giờ than đâu mà tội. Từ ngày ba, má mất rồi thì tao cúng giỗ theo sức của mình. Con cháu nhớ thì tới, không thì thôi. Thà là cúng giản dị, đơn sơ mà lòng thoải mái, còn hơn giựt le, làm cho to rồi kêu rên “mỗi lần tới đám giỗ là rầu gần chết” như thiên hạ.
      Chương đứng sau lưng họ từ lúc nào, giờ mới lên tiếng:
      -Bởi vậy cho nên mới có cái đám giỗ chỉ có bốn người nầy nè! Ba đứa cháu với một ông khách! Mà tui cũng thắc mắc về cái ông khách nầy lắm nghe! Nếu tui nhớ không lầm thì dì đã từng tuyên bố là không thèm ngó cái mặt ổng mà. Sao bây giờ lại thay đổi lập trường một cách đột ngột vậy?
      Thắm thở dài:
      -Ghét ai lâu quá rồi cũng mệt. Hết hồi nào tao cũng hổng hay! Hôm bữa tao đứng chờ xe, cái ổng ở đâu tấp lại năn nỉ cho tao quá giang. Chiều tối rồi, sợ hết xe nên tao không từ chối.
      Rồi xuống giọng như tâm sự:
      -Đi dọc đường nói chuyện mới thấy ngày trước sao mà mình khờ quá! Chỉ vì hiểu lầm có một câu nói thôi, mà mấy chục năm nay đeo cục đá bự bành ky vô cho nặng bụng. Tao bèn mời ổng tới ăn đám giỗ để xí xóa với đền cái ơn cho đi nhờ xe một lượt luôn.
      Chương nói:
      -Tui thấy ông Sơn được lắm đó! Có cái tâm với nghề lắm! Đâu có ông hiệu trưởng nào được cả giáo viên lẫn học trò thương như ổng!
      Thắm nói:
      -Bởi vậy tao mới có ý định làm mai con Lam cho ổng.
      Chương lắc đầu:
      -Tui thấy in là ổng thích bà mai hơn!
      Lam cười, nói một cách khoái chí:
      -Dì thấy con nói đúng hông?
      Chương bỗng quay sang Lam rồi nói:
      -Có người nhờ tao trao cho mầy cái nầy.
      Vừa nói vừa móc trong túi áo ra một phong thơ đưa cho Lam.
      Lam có linh tính nên không cầm mà hỏi:
      -Ai vậy?
      Chương đáp:
      -Ai trồng khoai đất nầy? Tác giả của hai bức thơ trước mà mầy không chịu nhận. Cái người bị mầy coi là kẻ thù truyền kiếp của mình đó!
      Lam tự động nắm chặt cứng hai bàn tay của mình một cách vô thức.
      Chương khuyên:
      -Cái đức lớn nhứt của con người là biết tha thứ. Chuyện đó tưởng khó nhưng chỉ cần nổ lực vượt qua bản thân là được. Tha thứ được cho ai sướng lắm! Nhẹ lòng lắm, lại có dịp để thêm hạnh, tạo phước.Tao đang muốn có cái cơ hội đó mà không được đây nè!
      Thắm trề môi:
      -Dóc tổ! Làm như mầy là ông thánh sống vậy đó! Đã là con người thì ai mà không có người để tha thứ và cầu mong người khác tha thứ cho mình?
      Rồi một tay đưa bịch bánh cho Chương, một tay chộp lá thư nhét vào lưng quần. Thắm thực hiện cái động tác ấy rất nhanh để Lam không thể nào phát hiện.
      Chương cầm túi bánh rồi đi ra chào Sơn:
      -Anh Sơn ở lại chơi nghe, tui có lịnh triệu hồi rồi!
      Sơn đứng lên vừa bắt tay Chương vừa nói:
      -Tui cũng phải về, chiều nay còn đi công chuyện nữa!
      Lam lật đật cầm bịch vú sữa chạy ra đưa cho Sơn:
      -Vú sữa của dì Út ngọt lắm! Thầy chịu khó quảy về ăn lấy thảo.


      Sơn cười cười, cầm lấy rồi máng vô cái móc gắn sau bửng xe.
      Chàng nghiêng đầu nhìn về phía sau lưng của Lam rồi hỏi:
      -Cô Thắm đâu rồi? Để tui chào và cám ơn cổ một tiếng.
      Lam gọi vọng vô :
      -Dì Út ơi! Thầy Sơn chào về nè!
      Thắm nói vọng ra:
      -Cám ơn anh Sơn nhiều lắm! Xin lỗi nghe tui mắc lỡ tay không ra chào anh được
      Con Phèn lon ton chạy ra, ngửi ngửi, hít hít ống quần, rồi ngóc đầu lên le cái lưỡi dài thòng cố liếm tay Sơn. Chắc nó cho rằng đó là cái cử chỉ tiễn khách lịch sự nhứt.
      Lam bào chửa cho Thắm:
      -Chắc dỉ đang rửa chén nên…
      Sơn gật đầu ra vẻ thông cảm rồi cho xe dọt từ từ.
      Lam nói vói theo:
      -Mời thầy tết ghé chơi.
      Rồi chêm thêm một câu như dụ khị con nít:
      -Dì Út tui làm món thịt kho tàu ngon lắm!
      Nói tới đó Lam bỗng giật mình cái đụi, chạy te te vô nhà. Con Phèn cũng chạy theo còn sủa inh ỏi nữa. Lam quay lại gài cổng cho chắc rồi quày quả đi vào bếp.
      Chưa thấy mặt Thắm là đã kêu bằng giọng hớt hơ, hớt hãi:
      -Chết rồi dì Út ơi!
      Thắm đang nhúng cái chén vô thau nước liền dừng tay, lật đật quay lại hỏi, mặt thất sắc:
      -Chết cái gì? Ai chết?
      Lam nói :
      -Mình quên múc thịt kho cúng!
      Thắm buông cái chén ra, tay còn ướt rượt định đưa lên trán vỗ mấy cái để tự trừng phạt, chợt nhớ ra nên kịp dừng lại nửa chừng.
      Cô chưa đã nư nên trách Lam:
      -Sao tới bây giờ mới nhắc?
      Lam cự lại:
      -Con cũng quên chớ bộ! Nhờ mời ông thầy Sơn tết ghé nhà, rồi khoe với ổng là dì kho thịt kho tàu ngon lắm cho nên mới nhớ ra đó!
      Thắm nạt:
      -Sao mầy dám lạm quyền vậy cái con kia? Tự nhiên mời khách khơi khơi không hỏi qua ý kiến của tao?
      Lam chống chế:
      -Tại dì không chịu ra tiễn ổng. Con thấy ổng quê quê nên mời cho ổng đỡ tủi.
      Thắm nhiếc:
      - Đừng có lẻo lự! Mầy chèo kéo lộ liễu như vậy là khắc lên cái bản mặt tao hai cái chữ “muốn chồng” bự chần dần đó biết chưa? Suốt buổi nghe mầy ca tụng cái tài nấu ăn của tao là tao ngứa lỗ tai, mắc cỡ dữ lắm rồi! Mầy làm cho tao không dám dòm mặt thằng chả nữa. Sao mầy dám hạ nhục tao dữ vậy?
      Lam thấy Thắm giận thật sự thì xuống nước nhỏ:
      -Tại con thương dì nên mới…
      Thắm nạt ngang :
      -Mầy lo thương cái thân của mình đi, đừng có xía vô chuyện tao. Tao mà thèm chồng là lấy từ mấy mươi năm về trước rồi, đâu có chờ tới bây giờ.
      Cô hăm he:
      -Tết năm nay tao đi chơi, đi mười cảnh chùa, ngày nào cũng đi. Mầy mời thằng chả thì qua đây mà ngồi chờ tiếp. Cho mà biết thân!
      Lam hoảng hốt:
      -Dì đi chùa rồi ai cúng cơm, ai coi sóc nhang đèn trên bàn thờ?
      Thắm nói một cách hả hê:
      -Mầy chớ ai? Ông bà đâu phải của một mình tao? Má mầy cũng được chia đất, cũng hưởng y như tao vậy! Bao nhiêu năm nay tụi bây khỏe re, bây giờ cực một lần bộ hổng được sao?
      Lam chống chế:
      -Mời lơi chắc ổng không tới đâu!
      Thắm nằng nặc:
      -Không tới tao cũng đi. Cho mầy bỏ cái tật xí xọn, làm tài lanh…
      Rồi trề môi:
      -Làm như giỏi lắm vậy! Nghĩ đến cái chuyện thằng Chương kể cho vợ nó nghe là mầy đem tao ra quảng cáo như bán hàng la, là tao muốn giộng cho mầy một đạp thẳng chưn, cho mầy bỏ cái tánh tào lao, bỏ cái tánh nhiều chuyện. Rảnh quá mà nên chuyện của ai cũng xen vô.
      Lam hỏi lại:
      -Bộ dì hổng xen vô chuyện của tui hả?
      Thắm gằn giọng:
      -Tao xen vô chuyện của mầy hồi nào?
      Lam đáp:
      -Tui có mượn dì kiếm chồng, làm mai cho tui hông? Còn nữa, thơ của người ta gửi cho tui, tui không nhận thì thôi, tại sao dì dám lấy?
      Thắm chối :
      -Tao lấy cái thơ đó hồi nào?
      Lam chỉ thẳng ngón tay trỏ vô eo của Thắm :
      -Chớ cái giống gì cồm cộm chỗ lưng quần của dì vậy?
      Thắm chống chế :
      -Chừng nào trong túi mầy mới là của mầy. Mầy không nhận thì nó là của rơi, ai bắt được thì người đó hưởng!
      Lam nghe cái giọng “nói ngang ba làng không lại” ấy thì mắc tức cười. Cô lắc đầu ra vẻ chịu thua, nói lầm bầm cốt thấu tai Thắm:
      -Già rồi mà cũng không bỏ cái tật tò mò. Hồi xưa thì chui xuống sàn rình nghe người lớn nói chuyện, còn bây giờ thì đọc lén thơ của con cháu.
      Thắm trề môi, nhiếc:
      -Bộ mầy tốt lắm hả? Đứa nào hồi đó xúi tao rồi bây giờ còn bày đặt lên mặt vậy?
      Trong đầu cả hai bỗng hiện lên cái cảnh họ cùng khom lưng, dỏng tai, ngồi nép bên nhau dưới đít sàn, muỗi cắn cũng không dám gãi. Lúc chui ra trên đầu đứa nào cũng dính váng nhện đầy nhóc, phải gỡ cho nhau cả buổi. Thế là hai dì cháu nhìn nhau cười hinh hích.
      Thắm chắc lưỡi:
      -Ngộ ghê! Tao ở giá hổng sao mà thấy mầy không lấy chồng thì chịu không nổi.
      Lam cười:
      -Thì con cũng vậy! Bởi thế nên mới có câu “không lấy chồng mích lòng cô bác”.
      Thắm lòn tay vô áo rút lá thơ ra đưa cho Lam rồi nói:
      -Trả cho mầy nè! Đọc cho tao nghe coi nó nói cái gì ở trỏng.
      Lam lắc đầu :
      -Dì thích thì cứ xem đi, con không muốn nhớ lại mấy cái chuyện không vui đó nữa.
      Thắm hỏi:
      -Bộ mầy còn thù nó lắm hả?
      Lam gật đầu.
      Thắm nói bằng giọng tức tối:
      -Đeo đẳng mấy chuyện đó làm chi cho hao tốn tinh thần, cho cuộc đời mình u ám? Sao mầy ngu dữ vậy con? Giống như cái thằng cha gì đó làm rớt tờ giấy năm đồng cái đốt tờ giấy năm chục đồng để rọi tìm.
      Cô dúi lá thơ vào tay Lam, xuống giọng năn nỉ:
      -Thôi! Đọc đi rồi tha thứ cho người ta
      Lam giựt tay lại rồi nói:
      -Con không phải là Phật, cũng không dám làm chúa giê su. Con không có quyền tha thứ cho cái người tạt nguyên cái thau mực lên đầu mình.
      Thấy mặt Thắm buồn hiu, Lam an ủi:
      -Thôi dì cứ giữ bức thơ đó đi! Con hứa sau nầy khi lòng con thanh thản, nhẹ nhàng, không còn chất chứa đắng cay mà tràn đầy hạnh phúc thì con sẽ đọc nó, để tha thứ rốt ráo hết cho mọi người.
      Rồi nói lảng qua việc khác:
      -Cái nồi thịt kho đó, mình tính sao đây?
      Thắm cười:
      -Thì cúng thêm một cữ chiều nữa chớ có sao đâu! Bây giờ tao với mầy rửa chén rồi nhổ tóc sâu vằn công. Chiều mát trời hai dì cháu mình ra vườn kiếm ổi chín ăn, lựa một cây chuối hột non xắc thiệt nhuyễn, trộn chung với dưa cải, rau sống làm ghém đặng chấm nước thịt kho. Ba tao ngày xưa thích ăn kiểu đó lắm!

      Rồi bảo Lam:
      -Mầy đứng đó ngó tao làm mà coi được hả? Vô lấy thêm cái thau lớn đem ra đây rửa phụ cho lẹ. Tao rửa bận dơ, mầy rửa bận sạch.
      Lam trở vô nhà lấy cái thau, tiện tay lấy cái nón lá đội lên luôn vì cái sàn nước nằm ngoài trời.
      Thắm thấy Lam đội nón thì quở:
      -Đội nón làm chi cho nó nực cái đầu.
      Chỉ tay lên trời cô nói tiếp :
      -Chỗ nầy có lá che kín mít, đâu có cho miếng nắng nào lọt qua.
      Lam nhận ra trên đầu mình, lớp lớp lá xanh rì nằm chen chúc. Cô thầm khen dì Út sáng ý, làm giàn trên sàn nước hết sức hợp lý: Vừa che nắng vừa tiện tay hắt nước ra tưới cây.
      Cô hỏi:
      -Ai làm cái giàn nầy cho dì mà chắc chắn quá vậy?
      Thắm đáp lấp lửng:
      -Hai Ngươn chớ ai!
      Lam hỏi:
      -Ảnh về hồi nào mà làm cho dì?
      Thắm trả lời:
      -Rầm trung thu! Y ta đem bánh tới cúng.
      Lam thắc mắc:
      -Sao không nghe dì kể gì hết vậy?
      Thắm bắt lỗi:
      -Mầy có qua thăm tao đều đều đâu? Lâu lâu mới gặp một lần thì làm sao nhớ đủ mà kể cho hết!
      Sợ Lam hỏi thêm và cũng muốn xua đi hình ảnh của đứa cháu họ trong đầu mình, Thắm ngưng ngang. Lam cũng không dám hỏi tiếp.
      Họ liếc nhau một cái như thăm dò phản ứng của đối phương. Để Lam không nhận ra nét bối rối gờn gợn trên mặt mình, Thắm bèn lái liền câu chuyện sang chủ đề khác.
      Cô lôi anh em Lam ra nhiếc:
      -Có giỗ, có tiệc mới vác cái mặt qua, ăn đã rồi về. Một mình tao làm thấy mụ nội. Mấy anh em bây đứa thì dặn: "Dì út ơi! Chừng nào tới đám giỗ nhớ cho hay! " Đứa thì sai:"Dì Út ơi! Bữa nào đổ bánh xèo đi!" Lâu lâu là đòi tao làm món nầy, nấu món kia. Ăn không được, ị không ra cũng kêu réo um sùm. Có đứa nào biết thương, biết nghĩ mà nói câu: “Dì Út có làm cái gì thì gọi con một tiếng” cho tao mát cái bụng đâu nè!
      Lam nói như xin lỗi:
      -Ai mà biết! Tưởng mấy cái chuyện nầy dì mướn mấy đứa nhỏ trong xóm làm hết cho mình.
      Thắm thở dài :
      -Thanh niên xóm mình đi Sài gòn làm công nhân hết rồi! Mấy cái thằng còn ở lại toàn là cái thứ cà nhỏng không hà! Tụi nó làm biếng nhớt thây, đã vậy còn đòi tiền công cho cố. Hôm bữa có mấy đứa học trò tới thăm, tao nhờ thằng Khôn bẻ có mấy trái dừa mà nó đòi tới năm chục ngàn, mắc còn hơn đi mua.
      Sàn nước nằm dưới giàn bầu và mướp nên được cả trăm chiếc lá to gấp đôi bàn tay lợp kín trên đầu, mát rượi. Những cái bông màu vàng, màu trắng rung nhè nhẹ như làm duyên với mấy con ong, con bướm. Những trái mướp, trái bầu còn non đung đưa trong gió. Có một trái mướp cách đầu Thắm chừng một gang.
      Lam chỉ vào nó rồi nói:
      -Trái nầy ăn được rồi nè dì Út, để con cắt nó xuống rồi luộc cúng. Mình khỏi phải đốn chuối, khỏi tốn công xắc rồi còn hái rau trộn vô nữa. Cái món bầu, mướp luộc chấm nước thịt ăn khỏi chê! Nhứt là mới hái từ trên dây xuống, còn chảy mủ ròng ròng là ngon và bổ nhứt hạng.
      Thắm rầy:
      -Mầy chỉ ngay mặt rồi đòi hái như vậy là làm cho nó rầu đó! Từ hôm nay trở đi chắc nó ăn ngủ hổng yên, thấy bóng người ta là hết hồn cái sượng ngắt luôn!
      Rồi nói tiếp:
      -Má tao ngày xưa cấm tiệt cái vụ ra giàn bầu, giàn mướp mà đưa tay chỉ trỏ với nhìn đăm đăm. Bả nói làm như vậy tụi nó sợ không lớn nổi nữa.
      Lam vẫn thản nhiên, ngửa đầu lên đếm:
      -Một, hai, ba…Chín trái lận dì Út ơi! Dư ăn rồi!
      Thắm can:
      -Còn non lắm! Ăn chưa được đâu!
      Lam cự lại:
      -Non như vầy mới ngon nè! Mình khỏi gọt vỏ, cạo sơ sơ thôi, cắt khúc hơi dày dày cỡ một lóng tay đem luộc. Kiểu đó vừa ngọt, vừa giòn ăn đã lắm!
      Vừa buộc miệng nói chữ "đã" là Lam nhớ tới Đông liền nên cười một mình.
      Vậy mà Thắm cũng thấy rồi hỏi:
      -Nghĩ chuyện gì mà cười vậy?
      Lam chối:
      -Nghĩ cái giống gì đâu!
      Thắm nhiếc :
      -Khi không mà cười thì chỉ có mấy cái đứa ba trợn với si tình thôi!
      Thấy Lam vẫn đội nón. Thắm nhắc:
      -Sao hổng bỏ nón ra cho mát tóc? Bộ sợ đen hả?
      Lam chống chế:
      -Con sợ sâu rớt trên đầu.
      Thắm trề môi:
      -Sâu ở đâu ra mà sợ? Mầy điệu thì nói đại cho rồi, mà hể còn điệu, còn khoái đẹp, còn sợ xấu là còn nghĩ tới đàn ông đó! Biết chưa?
      Lam trề môi lại, còn dài hơn Thắm:
      -Ai nghĩ sao tui không cần biết. Tui làm đẹp cho bản thân mình thôi! Lâu lâu bọn học trò tới thăm, nghe tụi nó khen: “Cô ơi cô xài kem gì mà da mặt còn tốt quá vậy? Cô ơi sao da cô không nhăn, không trổ đồi mồi, tóc cô không bạc như người ta?” là khoái ngất ngây. Có bao nhiêu món ngon vật lạ đem ra mời tụi nó hết ráo!
      Thắm lắc đầu:
      -Tụi học trò ma le lắm mầy ơi! Nó biết phụ nữ càng già càng khoái được khen là trẻ, là đẹp nên nịnh dồn, nịnh dập cho mình vui.
      Rồi bỗng phá lên cười sằng sặc, kể:
      -Có lần tao xuống phà. Thoáng thấy con nhỏ học trò đi sau lưng, chắc nó nhận ra tao nhưng làm bộ nói: “Chị ơi cho em qua một chút”. Tao nhích cái xe sang một bên cho nó đi, vừa qua mặt là nói liền: “Ủa cô Thắm hả? Trời ơi cái dáng của cô sao mà trẻ quá, dòm sau lưng như gái mười tám”. Rồi cho tao uống nước đường tới tấp thiếu điều muốn sặc. Tao còn đang la đà trên mây thì cái thằng nhỏ đứng trước mặt, cỡ bằng con Phương, con gái lớn của thằng Chương chớ đâu có nhỏ! Nó nhìn tao chăm bẳm rồi nói: “Bà ngoại ơi! Cái bánh xe của bà nãy giờ đè lên cái chưn tui”.
      Lam cười rung người, rồi an ủi:
      -Tại nó sùng vì bị bánh xe cán vô chưn nên mới nói vậy. Tin tui đi, dì ngó chừng bốn “mí” hà! Không có lên tới cái chức bà ngoại đâu, đừng có sợ!
      Thắm chụp cái chữ “mí” ấy mà nói liền:
      -Con Yến đi cắt mí mắt, treo chưn mày lên coi đẹp lắm! Mầy gặp nó chưa?
      Lam lắc đầu:
      -Chưa! Tui ở thoi loi một mình bên đó nên ít có khách tới! Mỗi năm tới ngày hai mươi tháng mười một mới có vài đứa học trò ghé thăm.
      Thắm nói bằng giọng xót xa:
      -Khi không cái chạy tọt qua đó, ở một mình kín kẻ y như trốn nợ. Đã vậy còn lựa cái xóm thưa rớt, thưa rỉnh nữa chớ! Ngó thôi cũng đủ buồn thúi ruột.
      Rồi lập lại câu nói mà mỗi lần gặp Lam đều nghe:
      -Bán phức cho rồi, về đây ở với tao. Nhà lớn, vườn rộng mênh mông có một mình, nhiều đêm sợ ma, sợ ăn trộm tao ngủ không được.
      Lam nghe Thắm than mà xót ruột, nhưng lại buột miệng ghẹo:
      -Dì mà ngán ai? Làm bộ dụ khị đặng tui về đây làm ô sin cho dì hả? Con nhỏ nầy đâu có ngu!

      Thắm “xí” một tiếng dài thòn rồi nói:
      -Đồ cái thứ suy bụng ta ra bụng người. Đi lại cái tủ kiếng mà soi đi! Cái bộ vó của mầy còn lâu mới đậu vô trường đào tạo ô sin.
      Úp cái chén cuối cùng lên thúng xong, Thắm không nhảy lên bộ ngựa ngồi cho Lam nhổ tóc mà một tay xách cây cù móc, một tay bưng cái rổ tre đi xăm xăm ra vườn.
      Lam tưởng Thắm giận nên nói:
      -Tui nói chơi bộ dì giận thiệt hả?
      Thắm không ngoái lại, đáp:
      -Ai mà thèm giận làm chi cho hao hơi, tổn tướng.
      Lam vừa chạy theo vừa hỏi:
      -Vậy tại sao không nhổ tóc?
      Thắm đáp:
      -Đi thọc me để làm mức cúng tết với ngâm cam thảo ăn chơi!
      Lam can:
      -Nắng thấy mồ! Nhìn lên chói mắt lắm! Đâu có thấy đường mà thọc?
      Thắm không nói không rằng cứ đi te te.
      Cây me già ở góc vườn, cái gốc của nó to một người ôm không xuể, vừa thấy cả hai tới là chào mừng bằng một màn mưa lá lả lướt, y như người ta tung hoa giấy trong đám cưới.
      Lam rủ:
      -Con với dì nối tay lại thử coi mình ôm giáp thân nó không.
      Thắm dựng cù móc vô cây xoài đối diện, bỏ cái rỗ xuống. Hai dì cháu đứng mỗi người một bên, áp sát người vào thân cây, cánh tay giang thẳng. Bốn bàn tay họ chạm vào nhau.
      Lam chắt lưỡi :
      -Nhìn không to lắm mà nào ngờ tới hai người ôm mới giáp. Cái cây nầy mà cưa xuống bán thớt cho mấy sạp thịt chắc được bạc triệu chớ không ít.
      Thắm đánh vô vai Lam một cái rồi rầy:
      -Mầy lớn rồi phải chỉnh đốn lời ăn tiếng nói lại một chút, mở miệng ra là nghe tổn đức liền! Gặp bông là đòi ngắt, gặp trái là đòi hái, gặp cây là đòi đốn.
      Rồi nói tiếp, không cười:
      -Vậy mà gặp trai là chạy trốn!
      Lam nhiếc:
      -Dì cũng vậy, đừng có nói tui!
      Thắm nói:
      -Tao rượt họ chạy có cờ chớ trốn hồi nào?
      Lam bỗng hỏi:
      -Mình với anh Ngươn bà con chung đầu ông gì vậy dì Út?
      Thắm đáp một cách gượng gạo:
      -Ông sơ! Bà cố mầy với bà cố y là hai chị em ruột.
      Lam xòe tay ra đếm rồi tính:
      -Vậy là năm đời, huốt xa rồi dì Út ơi!
      Thắm cự:
      -Mầy nói tầm xàm, bá láp cái gì vậy! Huốt cái giống gì?
      Lam nói:
      -Thì dì với anh Ngươn đó, dư sức cưới nhau, pháp luật cho phép mà!
      Thắm lắc đầu:
      -Phép vua thua lệ làng. Tao mà làm vậy có nước bỏ cái xứ nầy mà đi!
      Lam thở dài:
      -Mình bắt chước người Tàu mà còn sang hơn họ nữa. Xứ của họ bà con bạn dì lấy nhau là chuyện thường. Khác họ là cưới nhau thoải mái. Nhà mình in là tàu lai…
      Thắm gắt:
      -Tàu lao chớ tàu lai cái giống gì. Phải đúng như vậy thì…
      Rồi trớ liền:
      -Mà tao với nó đâu có gì đâu mà mầy dám nói…
      Lam cười:
      -Thôi đừng có chối nữa dì Út ơi! Má tui bả kể cho tui nghe hết rồi!
      Thắm hỏi:
      -Kể cái gì?
      Lam đáp:
      -Thì kể là khi ba má anh Ngươn bưng khai trầu qua chạm ngõ, xin bỏ hàng rào thưa dì cho ảnh đó! Hai bên nhận ra bà con thì dì té xỉu liền tại chỗ?
      Thắm hỏi:
      -Má mầy còn nói gì nữa hông?
      Lam đáp:
      -Anh Ngươn thì cạo đầu trọc lóc rồi bỏ nhà ra đi. Cả nhà xúm nhau đi kiếm, ba ảnh đánh ảnh tơi bời. Ổng đóng cây cọc trong buồng rồi trói ảnh vô đó!
      Thắm hỏi:
      -Chị Hai còn nói gì nữa hông?
      Lam không trả lời mà hỏi lại:
      -Bộ còn có chuyện khác nữa hả dì?
      Thắm đáp:
      -Còn chuyện gì nữa đâu?
      Lam lắc đầu:
      -Con không tin. Hết rồi sao dì còn hỏi?
      Thắm thở dài:
      -Mầy hổng biết chớ lúc đó cả xóm nầy ì xèo như đám ong vò vẻ.
      Rồi cười buồn:
      -Họ dệt không biết bao nhiêu là huyền thoại về tao. Tụi tao chưa có cầm tới cái tay mà họ đồn là tao có bầu rồi xuống Sài Gòn để nạo!
      Lam năn nỉ:
      -Chắc chắn còn cái gì nữa mà dì giấu con, hai người phải lâm ly thống thiết lắm!
      Lam nhìn đăm đăm vô mặt Thắm để thăm dò phản ứng, rồi khẳng định:
      -Nếu ít xịt như vậy thì dì đâu có khư khư không chịu lấy chồng.
      Thắm cười còn buồn hơn nữa:
      -Tại tao hết hứng!
      Cô kể cho Lam nghe về cái đêm cô và Ngươn hẹn cùng nhau đi trốn. Cô đã gói quần áo, định mở cửa sau đi ra thì nghe tiếng má mình ho và hỏi:
      -“Bộ con thức rồi hả Thắm! Đâm miếng gừng chế nước nóng đem vô cho má uống”.
      Thế là hết đi nổi!
      Lam nói bằng giọng giận dỗi:
      -Vậy mà dì giấu biệt con!
      Thắm vặc lại:
      -Lúc đó mầy cũng xấc bấc, xang bang, cũng tự tử rồi chết lên chết xuống thì nói làm chi nữa.
      Rồi nhiếc:
      -Mầy cũng đâu có tâm sự với tao một tiếng nào đâu? Cái lúc mầy với cái thằng quỉ sứ đó mới quen thì còn kể cho tao nghe được vài lần, sau đó là im thinh thít, cạy miệng cũng không lòi ra một tiếng. Nếu cái gì cũng nói cho tao nghe thì đâu có phải chở vô nhà thương súc ruột?
      Lam làm thinh như nhận lỗi.
      Cô nói bằng giọng ăn năn:
      -Nghĩ mà tội nghiệp cho bà ngoại với má quá. Tui với dì xem ra tội lỗi lút đầu, lút cổ. Chắc lúc đó tông chi của mình bị bà con chê cười lắm hả dì Út?
      Thắm gật đầu rồi nói:
      -Bà ngoại mầy, má tao đó! Bả truyền lại một câu xanh rờn.
      Nói tới đó cô dừng ngang.
      Lam hỏi:
      -Ngoại truyền câu dì vậy? Dì nói cho con nghe với!
      Thắm xuống giọng như sợ những người khuất mặt nghe:
      -Bả nói “cái đám con cháu nhà nầy mai mốt có dựng vợ gả chồng, hể đẻ con gái là bóp mũi hết cho tao! Đứa nào không nghe lời là tao vặn họng”.
      Lam làm bộ rùng mình so vai:
      -Ngoại hăm he nghe rởn óc quá trời!
      Bèn vặn lại:
      -Vậy tại sao ngoại cưng con Phương, con Nương con của anh Hai hổng nói nổi?
      Thắm chép miệng:
      -Một giọt máu đào hơn ao nước lả mà mậy. Giận thì nói cho dữ chớ đâu ai làm được mấy chuyện đó! Có khi miệng thì nói một đàng mà bụng thì nghĩ một nẻo.
      Rồi cười khổ:
      -Má tao lỡ buông một câu ác khẩu mà bị lãnh quả báo thẳng tay! Ông trời phạt tới cỡ đó mà chưa vừa bụng. Ổng còn chọc tức. Con Thơ, em út của mầy đó! Nó cũng rặn hoài không ra nổi một thằng con trai. Nguyên một giàn cháu toàn con gái không mới ác! Tao với mầy cũng úng luôn.
      Lam xúi Thắm:
      -Người lớn đi chầu diêm vương hết rồi, hết sợ bị rầy, bị chửi, cũng đâu còn ai làm kỳ đà cản mũi nữa...
      Kê miệng sát tai Thắm, Lam nói thật nhỏ:
      -Sao dì với ảnh hổng xáp lá cà đại đi. Rồi kiếm một thằng con trai để tạ lỗi với cữu huyền, thất tổ. Kệ cha thiên hạ, ai muốn nói cái gì thì nói.
      Thắm cười:
      -Tao còn cái trứng nào trong bụng đâu mà đẻ?
      Cô đổi giọng ngậm ngùi:
      -Đã là bà con thì cho tới chết cũng còn bà con, làm như vậy coi sao được?


      Câu nói như tiếng than van, trách móc ấy làm ông trời bỗng chạnh lòng, xụ mặt. Một cụm mây to, dày, từ từ trải rộng rồi trùm kín mặt trời, nắng chợt nhòe đi khiến cả hai bỗng cùng ủ dột.
      “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng, em chở mùa hè của tôi đi đâu?” Tiếng ca của Vũ Khanh phát ra từ túi quần của Thắm. Thắm liếc Lam một cái rồi vừa lật đật móc chiếc điện thoại cầm tay nhỏ xíu màu xanh dương ra áp vào tai, vừa đi trở ngược vô nhà.
      Thắm đi như chạy, điệu bộ quýnh quáng, rõ ràng cố ý che đậy cuộc điện đàm khiến Lam càng thêm tò mò. Cô cố lắng tai nhưng chẳng nghe được gì sau tiếng “a lô” của Thắm.
      Lam bước lại chiếc võng giăng giữa hai cây xoài và mận, ngồi xuống thật nhẹ rồi duỗi cả người ra một cách khoan khoái. Cô dang tay, cố phồng mũi hít một hơi thật dài để vét cho hết mấy làn hương mong manh lẩn quất quanh đây. Cô ngửa đầu, nheo mắt, đếm từng trái xoài tròn tròn bằng nắm tay đứng im ru dưới mấy cái cuống dài thòng.
      Lam bỏ chân phải xuống, đẩy thật mạnh khiến cả hai cây xoài và mận cùng giật mình một lượt. Những trái xoài xanh rờn cụng đầu vào nhau, mấy chùm bông mận trắng tinh cũng chớp mắt rồi rắc lông nheo bay lả tả. Mùi thơm tinh khiết của những đóa hoa mận trắng phát tán nhiều hơn, đậm hơn khiến tinh thần Lam thêm sảng khoái. Cô nhắm mắt lại ngâm nga nho nhỏ, ca tiếp bài Phượng Hồng: ”Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười tám, thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu…”
      Lần nào nghe lại bản nhạc nầy Lam cũng xúc động đến rơi nước mắt. Trái tim của Lam là một loại thép không rỉ cho dù có giầm trong a xít. Nó là một hợp chất phi thường nên bị nung trong lửa biết bao lần vẫn không chịu chảy tan, bị cắt xẻ túi bụi vẫn lành lặn rồi phục hồi nguyên trạng. Ở cái tuổi thở hết ra hơi nầy mà nó vẫn còn đập loạn xị mỗi khi bị kích thích.
      Lam ca đến câu cuối thì chiếc võng bỗng dừng lại đột ngột.
      Thì ra nó bị Thắm giữ bằng cả hai bàn tay.
      Thắm quở:
      -Con quỉ nầy! Mầy đưa vù vù như vầy thì cây cối nào chịu nổi? Võng treo ké trên cây là chỉ để ngồi, nằm im ru thôi chớ không được đưa mầy biết chưa?
      Lam không thèm mở mắt hỏi:
      -Ai gọi vậy dì?
      Thắm đáp, cố nói một cách tự nhiên:
      -Thằng Chương chớ ai?
      Lam hỏi thêm:
      -Nói cái gì mà lâu dữ vậy?
      Thắm không trả lời, buông võng ra, nắm tay Lam kéo dậy.
      Lam đứng lên, chỉ miếng ni lông bó trên đầu võng rồi hỏi:
      -Dì cột cái nầy vô đây để làm chi?
      Thắm đáp :
      -Tao đâu có cột, Hai Ngươn đó! Tao hỏi thì y cắt nghĩa là để mấy con kiến vàng trên cây không leo xuống võng rồi bò tới cắn mình được.
      Thắm chỉ tay vô hàng rào nói thêm :
      -Y cũng bít hết mấy cái lỗ chó. Tụi trai gái xóm nầy buổi tối cũng thôi chui vô đây hò hẹn.
      Lam hỏi :
      -Bộ ảnh tới thường lắm hả? Bộ hai người liên lạc với nhau đều đều hả?
      Thắm chối:
      -Đâu mà có! Lúc đám ma bà ngoại mầy y có tới đốt nhang. Từ đó mỗi năm ghé lai rai vài lần. Lần nào đến cũng tu bổ vườn tược nhà cửa lại giùm. Y lủi thủi làm thôi, tụi tao ít nói chuyện với nhau lắm! Không có như mầy với cái thằng học trò mất nết kia đâu!
      Lam trách:
      -Vậy mà hổng nghe dì kể tiếng nào!
      Thắm trách lại:
      -Một năm mầy ghé tao được mấy lần? Lần nào cũng vội vội vàng vàng như ma vật ông vãi, làm gì có thì giờ mà nghe tao kể đủ thứ.
      Không để Lam khai thác thêm, Thắm giục :
      -Thôi đi hái me để tối hù bây giờ. Bộ tối nay mầy tính ngủ lại đây hả?
      Lam nhớ đến lời hứa “ngày mai em sẽ gọi cho cô” của Đông nên lắc đầu lia lịa:
      -Ngủ lại sao được, bỏ nhà ai coi?
      Cây me già cao vòi vọi, tàng rộng xum xuê, mấy chùm trái treo lủng lẳng đều xa mút tí tè. Cây móc làm bằng hai nhánh tre nối lại cũng không thể vươn tới.
      Thắm chắt lưỡi:
      -Kiểu nầy chắc phải trèo lên hái mới được!
      Lam can:
      -Thôi đi dì ơi! Nguy hiểm lắm!
      Thắm lắc đầu:
      -Tao leo hoài có sao đâu.
      Rồi sai Lam:
      -Mầy chạy ra hàng ba, tháo tấm vải che bụi đem ra đây cho tao.
      Lam hỏi:
      -Chi vậy?
      Thắm đáp:
      -Để hứng mấy trái me tao liệng xuống chớ làm chi! Làm mứt phải xài me còn nguyên, không giập, không gãy, còn y thinh cái cuống mới đẹp.
      Lam tháo tấm vải được nối từ mười sáu cái bao cát nhà binh ngày xưa, đến giờ đã mòn xơ xác. Bụi bay mù mịt làm cô nhảy mũi lia lịa.
      Thắm từ cuối vườn hét thật to:
      -Lấy theo cuộn dây.
      Lam ghé bếp lấy cuộn dây ni lông treo gần cánh cửa đem ra luôn cho Thắm.
      Hai dì cháu mỗi người một bên, căng rộng tấm vải. Họ cột dây từ bốn góc của tấm bố đến các thân cây lân cận, cả tiếng đồng hồ mới xong.
      Lam cự nự:
      -Mua đại cho rồi. Ngoài chợ bán có mấy ngàn một ký chớ mấy! Phung phí sức lao động quá trời!
      Thắm cự lại:
      -Nhà có sẵn thì mắc gì phải mua. Làm việc nhà cũng giống tập thể dục vậy thôi! Tao thấy bây giờ, phụ nữ ai cũng ngán làm việc nhà. Họ mướn người quét dọn, lau nhà rửa chén, ủi đồ... Thiếu vận động nên phát phì. Thế là phải ráng tập cho xuống ký, có eo. Sáng chiều chạy bộ mà đi chợ là phải ngồi xe.
      Cô bới tóc lên cho gọn, khom lưng xoắn hai ống quần bó chặt cườm cẳng.
      Lam hỏi:
      -Túm ống chi vậy?
      Thắm đáp:
      -Kiến khỏi leo vô.
      Rồi hai tay nắm chặt hai mấu cây đối xứng đu người lên.
      Nhìn Thắm leo thoăn thoát mà Lam khâm phục. Cô nghĩ thầm: “Ở cái tuổi nầy mà dì Út vẫn còn dẻo dai quá xá! Thật là đáng nể phục”.
      Lam ngửa hẳn đầu ra sau để dõi theo từng động tác một của Thắm, hai cánh tay bất giác đưa ra như sẵn sàng chụp lấy trong trường hợp Thắm rơi.
      Thắm ngồi vững vàng trên chạc ba rồi gọi vọng xuống:
      -Đưa cây móc .
      Lam lấy cù móc đang dựng vào cây xoài đưa cho Thắm. Thắm chưa chịu cầm, cô đang vói thẳng tay để ngắt một chùm me gần đó. Động tác ấy làm cái vạt áo bung rộng ra, tia mắt Lam bất chợt chui tọt vào, đậu lại trên làn da bụng trắng phau, săn chắc của Thắm.
      Lam buột miệng khen:
      -Dì Út đẹp ghê! Không có chút mỡ thừa nào! Chắc dì tập bụng dữ lắm hả?
      Thắm trề môi:
      -Tập cái mốc xì. Suốt ngày quét lá với gom tàu dừa rụng thôi cũng đủ hết hơi, sức đâu mà tập nữa?
      Lam khuyên:
      -Dì tiếc làm chi mấy cái tàu dừa nầy. Bỏ cái bếp trấu rồi mua bếp ga về xài. Một mình dì đâu có tốn bao nhiêu! Cũng khỏi cần chùi nồi liền liền.
      Rồi cằn nhằn:
      -Dì giàu thấy bà cố mà hổng ăn, hổng diện, hổng đi chơi. Nhà thì kém tiện nghi, không dám sắm cái tủ lạnh, bếp ga, quạt máy để xài với người ta. Dì sống như vậy là bạc đãi bản thân, nên ế là phải.
      Thắm nghe chỏi tai quá bèn hỏi:
      -Mầy nói như vậy là có ý gì?
      Lam cắt nghĩa:
      -Chớ còn cái giống gì nữa? Mấy người thích dì ai mà dám nhào vô, bởi họ nghĩ dì không thương tới cái thân thì làm sao mà thương nổi họ.
      Thắm quạu đeo:
      -Thây kệ tao! Tao sống như vậy đó ai chịu thì chịu, hổng chịu thì thôi! Sắm ba cái đồ điện cho cả đống rồi đi đâu cũng lo ngay ngáy sợ ăn trộm cạy cửa mà sướng sao? Lại còn thấp thỏm lo cúp điện nữa. Hổng biết ai ngu hơn ai à!
      Rồi nói thêm:
      -Ở giá là sướng nhứt trên đời. Khỏi phải lo phục vụ ai hết. Nói cho mầy biết, mấy bà vợ bây giờ nhiều bà còn mong chồng chết sớm, nhứt là mấy cha nội nhậu như hủ chìm, hút thuốc như ống khói tàu.
      Thắm hái được chùm me còn cả cuống lẫn lá. Đưa ra trước mặt cho Lam thấy, cười một cách thích chí, lắc lắc chùm me rồi khoe:
      -Coi nè!
      Lam nhìn theo, cười đáp lại. Cô định nói lời khen, bỗng phát hiện một con rắn lục xanh lè đang trườn từ nhánh cây trên đầu Thắm xuống.
      Lam vừa chỉ vào nó, vừa hét to:
      -Con rắn!
      Thắm ngước lên nhìn, sợ điếng hồn, chới với, buông tay rồi té nhào xuống đất.
      Tấm vải rách toẹt kêu đánh “soạt”, đệm vào đó là tiếng “chết tui rồi!” của Thắm.
      Lam đứng như trời trồng nhìn Thắm nằm bất tỉnh.
      Chiếc điện thoại trong túi Thắm rơi ra. Lam lượm lên, nhấn núc rồi nói to trong máy:
      -Anh Hai ơi! Lại đây nhanh lên, dì Út té cây me đang nằm chết giấc đây nè!
       
      (Xem Tiếp CHƯƠNG BỖN)
       
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2019 13:18:05 bởi Lâm Du Yên >
      #3
        Lâm Du Yên 28.09.2019 13:46:36 (permalink)
        GIÓ ĐÔNG
        Tryện dài Lâm Du-Yên
         
         
        CHƯƠNG BỐN
         
        Nhìn Thắm nằm im ru với hai mắt khép kín, Lam lo đến bấn loạn, đến không khóc nổi. Hai tay cô nắm hai chòm tóc mai của Thắm giựt liên tục, miệng gào to:
        -Hú ba hồn chín vía của dì Út tên Nguyễn thị Thắm về ăn cơm với cá!
        Lam lập lại tới lần thứ ba, thứ tư gì đó thì Thắm nhăn mặt. Lam mừng quá hét và giật thêm tóc một lần nữa, thiệt mạnh cho chắc ăn.
        Thắm kêu:
        -Đau.
        Nước mắt Lam bắt đầu tuôn ra như mưa, rơi lả tả lên mặt Thắm.
        Thắm nạt nhẹ hều:
        -Tao có chết đâu mà khóc.
        Rồi chống tay định ngồi dậy, bỗng hét một tiếng “ái” thật to rồi nằm vật xuống.
        Lam hoảng hồn, hỏi tới tấp:
        -Đau ở đâu, ở đâu?
        Thắm nói:
        -Cái tay tao chắc bị trặc rồi. Đau thấy mấy ông trời luôn. Bây giờ phải làm sao đây?
        Lam trấn an:
        -Con có gọi cho anh Hai. Một lát ảnh tới, tụi con đưa dì đi nhà thương.
        Thắm cự:
        -Có bị thương nặng đâu mà đi nhà thương.
        Rồi bảo:
        -Đâu mầy đỡ tao lên thử coi.
        Lam lòn tay xuống hai bên nách của Thắm để kéo lên.
        Thắm lại la bài hãi:
        -Té, té, bỏ xuống, bỏ xuống!
        Lam hoảng hốt buông tay ra liền. Thắm rơi xuống đất trở lại.
        Cô rên:
        -Con quỉ! Mầy để xuống từ từ, rút tay cái rột như vậy rủi gãy lưng tao thì sao?
        Lam chống chế:
        -Tại dì la um sùm làm con điếng hồn, không kịp suy nghĩ gì hết!
        Thắm nói:
        -Không biết hồi nảy tao té kiểu gì? Cái đầu của tao có bị giập, bị long óc hay không mà ngồi dậy là thấy trời nghiêng, đất ngã. Chóng mặt chịu không thấu!
        Lam lắc đầu:
        -Không đâu, cái mình dì tới đất trước còn cái đầu xuống sau.
        Rồi lật đật minh họa:
        -Dì té kiểu nầy nè!
        Lam buông người nằm nghiêng xuống đất một cách vụng về, kỳ cục.
        Thắm nhếch nhẹ môi, chẳng biết cười hay mếu.
        Cô bảo Lam:
        -Đâu mầy rờ thử coi cái đầu tao có bị làm sao không?
        Lam xoa giáp vòng đầu Thắm mấy lần, nói:
        -Không bị móp, bị u chỗ nào hết trơn, còn y nguyên hà!
        Rồi bảo :
        -Dì thở mạnh thử coi có đau không?
        Thắm phình căng bụng hít vô, thở ra mấy lượt rồi lắc nhẹ đầu:
        -Không nghe đau, lói ở chỗ nào hết! Vậy là bộ đồ lòng còn nguyên không bị giập. Chắc chỉ bầm sơ sơ ngoài da thôi, không đến nổi nào đâu!
        Lam gợi ý:
        -Hay là dì cứ nằm yên như vậy nghe, để con đi làm một ly nước chanh cho dì uống đặng tan máu bầm. Nước chanh đánh tan máu bầm hay lắm đó!
        Thắm đồng ý:
        -Ừa! Mầy lấy nước trong bình thủy, pha hơi ấm ấm rồi làm!
        Lam vừa quay lưng đã bị Thắm gọi giật ngược:
        -Nhớ lấy cái khăn ra lau mặt cho tao. Nước mắt của mầy làm cái mặt tao ướt chèm nhẹp, khó chịu quá!
        Lam quê quê, gật đầu, không nhìn lại mà đi liền một mạch. Cô ghé qua chỗ cây chanh giấy, lựa một trái thật to có vỏ bóng nhứt rồi hái.
        Vừa đặt chân tới cửa bếp là tiếng ca Vũ Khanh lại vang lên. Lam lật đật móc cái điện thoại của Thắm mà ban nãy cô tiện tay cất vào túi áo ra nghe.
        Lam đáp:
        -A lô!
        Chưa kịp nói thêm là nghe giọng của một người đàn ông lạ hoắc hỏi dồn dập:
        -Thắm tỉnh chưa? Có bị chảy máu không? Té nặng lắm không?
        Lam đáp trước, hỏi sau :
        -Tỉnh rồi, không có chảy máu. Xin lỗi anh là ai, sao biết dì Út tui té?
        Y ta ngạc nhiên:
        -Tui là Ngươn, ban nãy chính cô gọi điện báo tin cho tui mà!
        Lam buột miệng:
        -Thì ra …
        Rồi ngưng lại liền, cô báo cáo tiếp:
        -Dỉ leo chưa cao mấy nên té cũng nhẹ. Tỉnh rồi thì chống tay ngồi dậy lập tức mà bị đau nên nằm trở lại. Bắt tui đỡ lên rồi bị chóng mặt cũng biểu bỏ xuống liền.
        Cô hỏi tiếp:
        -Tui định làm nước chanh cho dỉ uống có được không?
        Ngươn lật đật can:
        -Khoan, khoan, đừng xê dịch, đừng cho ăn uống gì hết! Cô sờ trán coi cổ có nóng hay không. Nếu có sốt thì phải nhúng khăn vô nước ấm lau liền, lau liên tục. Cứ để cổ nằm yên đó đi. Tui sắp tới rồi.
        Lam nghe vậy thì bỏ trái chanh đang cầm trên tay xuống, đi ra mở cổng sẵn. Con Phèn đang nằm ngoài hàng ba cũng đứng lên, vẩy đuôi lon ton chạy theo.
        Lam chỉ tay xuống đất, chỗ sát bên cổng rồi dặn nó:
        -Mầy ngồi yên ở đây canh nhà nghe không!
        Cô đưa tay vuốt đầu nó. Con Phèn có lẽ biết tiếng người hoặc giải mả được cái cử chỉ ấy nên đứng im ru, không chạy theo Lam nữa.
        Thắm thấy Lam chỉ đem khăn, bưng chậu ra thì hỏi:
        -Nước chanh đâu? Cái chậu gì vậy?
        Lam đáp:
        -Anh Ngươn biểu dì không được cử động, khoan ăn uống, lau mát thôi. Nằm yên đó chờ, đừng cục kịch, nhúc nhích gì hết, ảnh sắp tới rồi!
        Thắm ngạc nhiên, giọng pha chút mừng rỡ, hỏi:
        -Sao y biết mà tới?
        Lam nói như trách:
        -Hồi nãy thấy dì chết giấc con sợ quá. Bấm cái số vừa gọi cho dì đó, tính cho anh Hai hay. Ai dè…
        Thắm quê cùng mình, mắc cỡ đến chín rục cả người. Cô nghe máu chạy rần rần căng phồng cả hai gò má, da mặt còn đang xanh chợt đỏ ké!
        Lam chẳng thể nào ngăn được cái cơn tò mò đang quậy rầm rầm trong bụng.
        Cô vừa lau mặt cho Thắm vừa hỏi:
        -Bộ dì với ảnh còn gặp nhau đều đều hả?
        Thắm lắc đầu, nhăn mặt :
        -Đâu mà có! Gần cả chục năm đâu có qua lại lần nào. Lúc đám ma bà ngoại mầy y có tới đốt nhang. Kể từ đó mới ghé lai rai.
        Lam hỏi dồn:
        -Mỗi năm mấy lần, mỗi lần bao lâu Có ở lại ăn cơm hay ngủ nghê gì hông?
        Thắm ngoan ngoãn đáp ro ro như học trò trả bài cho cô giáo:
        -Vài ba tháng ghé một lần, nói ba đồng bảy đổi rồi lui. Ăn cơm thì có, ngủ lại thì không. Hể thấy cái gì ngứa con mắt thì làm, làm xong rồi mới đi. Nếu công việc bề bộn quá mà một ngày làm không xong thì tối về rồi mai qua làm tiếp. Chưa hề ngủ lại lần nào.
        Rồi sợ Lam không tin nên thề:
        -Nói có quỷ thần hai vai với cữu huyền chứng giám. Tụi tao hổng có làm cái gì bậy bạ. Không hề nắm tay nắm chưn hay cọ quẹt gì hết!
        Lam lại hỏi:
        -Bộ ảnh có học nghề thuốc hay sao mà chỉ dẩn nghe rành rẻ quá vậy?
        Thắm đáp:
        -Y được một ông hòa thượng là thầy thuốc đông y nhận làm đệ tử, rồi truyền nghề cho. Bời vậy cho nên biết coi mạch, hốt thuốc, châm cứu với nắn xương sơ sơ…
        Lam vặn lại:
        -Đi tu sao còn ghé thăm dì làm chi?
        Thắm lắc đầu:
        -Y chưa có tu, không có xuống tóc.
        Lam hỏi:
        -Ảnh ở chùa nào?
        Thắm lắc đầu:
        -Y đi lòng vòng từ chùa nầy tới chùa khác, không ở cố định một nơi nào hết!
        Rồi nói bằng giọng hết sức nghiêm túc:
        -Một lát y tới mầy làm ơn bỏ cái giọng cà rỡn, ăn nói đàng hoàng giùm tao nghe!
        Lam làm thinh, cau mặt, giả bộ không bằng lòng.
        Thắm năn nỉ tiếp:
        -Tao lạy mầy, đừng có chọc y mà! Y bây giờ nghèo lắm! Hiền lắm! Thấy tội nghiệp lắm!
        Lam phật ý:
        -Dì khỏi dặn, tui dù gì cũng dạy cả ngàn đứa học trò rồi! Năm mươi mấy tuổi chớ có phải còn con nít đâu! Món nào cúng, món nào ăn, tui biết!


        Tiếng sủa rân của con Phèn vừa trổi lên, Lam bỏ cái khăn trên tay vô thau nước rồi đâm đầu chạy ra đón Ngươn. Cửa cổng mở sẵn nên Ngươn cho xe chạy vào luôn.
        Thấy anh định xuống xe, Lam lật đật vừa kêu vừa ngoắt:
        -Dì Út nằm ngoài nầy nè!
        Ngươn cho xe chạy thẳng ra sau vườn. Lúc qua mặt Lam, anh hỏi mà không dừng lại:
        -Ở đâu?
        Lam đáp:
        -Dưới gốc cây me bự .
        Con Phèn cũng chạy theo, hả miệng to cố táp cái ống quần của khách.
        Lam chận nó lại, cô hét:
        -Phèn, phèn, quay lại đây! Quay lại đây!
        Con Phèn không chịu vâng lời, cứ cắm đầu đuổi theo. Ngươn vừa dừng xe là nó nhảy lên liếm mặt, liếm cổ ra vẻ mừng rở còn hơn đối với Lam. Ngươn nâng con Phèn lên, ôm sát vào lòng rồi để xuống. Ngươn vỗ vô mông con phèn một cái nhẹ. Anh vừa xô, vừa nói:
        -Đi chơi đi!
        Con Phèn thấy Thắm nằm thì không chịu bỏ đi mà chạy đến, hít hít như hỏi thăm. Thắm chỉ tay xuống đất, nó hiểu ý nên ngồi chò hỏ bên cạnh chủ.
        Ngươn dựng xe, lấy cái nón bảo hiểm ra khỏi đầu rồi máng lên ghi đông. Lam nhìn Ngươn chăm chú rồi hiểu vì sao Thắm cứ năn nỉ mình đừng ghẹo anh ta.
        Người đàn ông trước mặt đã xóa tan cái nhân dáng mù mờ của một chàng thanh niên rất cao, khá đẹp trai, vững vàng như đá tảng còn sót lại trong đầu cô.
        Lam bỗng tự hỏi:
        -"Tại làm sao anh ta có thể thấp xuống như vậy được? Tại làm sao anh ta thay đổi hẳn như lộn trái cái bao bồng bột như thế được?“.
        Lam chợt liên tưởng đến nhân vật Hoàng tử Bé trong quyển sách của Exupery. Cô so sánh rồi đưa ra kết luận: Một người già lạc lõng đáng thương hơn một đứa bé lạc lõng.
        Ngươn thấy Lam nhìn mình đăm đăm thì cười, anh hỏi:
        -Phải cô Lam đây không?
        Lam gật đầu, nụ cười hiền khô của Ngươn làm Lam bùi ngùi.
        Ngươn quỳ xuống bên Thắm, hai người bỗng buột miệng hỏi nhau một lượt.
        -Xe của ai vậy?
        -Sao rồi?
        Họ dừng lại hồi lâu, người nầy nhường người kia nói trước rồi đáp cùng lúc:
        -Khỏe!
        -Mượn!
        Lần nầy Lam cũng cười hùn với họ. Cả ba cùng cười ngặt ngoẽo rồi cũng cùng dừng lại.
        Ngươn đặt tay lên trán Thắm rồi nói:
        -Không sốt, chắc không bị nội thương.
        Rồi hỏi Thắm:
        -Út leo cây giỏi lắm mà! Sao lần nầy để cho té vậy?
        Thắm đáp:
        -Tại con rắn làm hết hồn.
        Ngươn giựt mình:
        -Bị cắn chưa?
        Thắm lắc đầu:
        -Thấy là té liền nên nó cắn hổng kịp.
        Ngươn hỏi tiếp:
        -Đau chỗ nào trong mình?
        Thắm chỉ lên cánh tay phải. Ngươn vén tay áo của Thắm lên tận vai, nhìn vào rồi nói:
        -Cánh tay bị trật khớp rồi!
        Lam hỏi:
        -Anh sửa được hông? Có cần đưa dỉ vô nhà thương hông?
        Ngươn đáp:
        -Tui sửa cái tay được nhưng phải đưa vô nhà thương để chụp hình coi còn bị cái gì nữa hông.
        Thắm nói:
        -Chắc không còn bị thêm cái gì đâu. Đưa vô nhà thương làm chi cho mắc công.
        Lam nằng nặc:
        -Cái đầu phải bị sao đó nên dì mới chóng mặt tưng bừng như vậy chớ!
        Thắm khăng khăng:
        -Không có sao đâu mà! Nhờ có cái tấm bố cản lại nên té nhẹ bớt với không có bị đập đầu!
        Ngươn vắt nước cho khăn thật khô, lau lên bả vai của Thắm rồi nói:
        -Ráng chịu đau nghe, tui chỉnh cái xương lại cho khớp.
        Hai bàn tay của Ngươn vừa đặt lên vai, Thắm bất giác gồng cứng người.
        Ngươn rầy:
        -Thả lỏng đi, gồng như vậy đâu có tốt.
        Thắm hỏi:
        -Thả lỏng là sao?
        Ngươn đáp:
        -Hít thật sâu rồi thở ra từ từ, nghe người lỏng le, hơi mỏi mỏi là đúng.
        Rồi căng ngực, phình bụng mà hít, làm mẫu cho Thắm bắt chước.
        Thắm đang tập trung vào việc hít thở, bỗng hét to:
        -Ui da!
        Thì ra Ngươn rình lúc Thắm không để ý, chỉnh một cái rụp liền.
        Lam thấy Thắm chảy nước mắt ròng ròng bèn hỏi:
        -Chắc dì đau dữ lắm hả?
        Thắm gật đầu, nói:
        -Thiếu điều xỉu thêm một lần nữa.
        Rồi biểu Lam:
        -Lau giùm tao cái mặt, rồi tẩm nước vô khăn, đắp lên cái vai cho nó bớt đau
        Ngươn cười, an ủi:
        -Xong rồi! Một lát là hết đau liền. Bây giờ chỉ cần treo tay lên để cái khớp cố định, không bị trợt ra nữa. Ráng chờ ít hôm là trở lại bình thường.
        Rồi dặn thêm:
        -Phải cử mang, đeo, xách nặng cả tháng nghe!
        Lam hỏi:
        -Lấy cái gì để treo bây giờ.
        Thắm bảo:
        -Mầy mở cái tủ đựng quần áo trong phòng tao, lấy cái áo gối ôm còn mới trong đó đem ra đây.
        Chờ Lam đi khỏi, Thắm hỏi Ngươn:
        -Xe của ai vậy?
        Ngươn đáp:
        -Của một em phật tử trong chùa.
        Thắm hỏi thêm:
        -Vậy là phải đem xe về để trả cho người ta hả?
        Ngươn gật đầu:
        -Cậu ta biểu tới sáng trả cũng được, đêm nay cậu ta ngủ lại trong chùa.
        Thấy Thắm làm thinh, Ngươn bèn nói:
        -Họ tử tế mà nói vậy, nhưng mình phải biết điều, xong việc là phải đem trả liền.
        Rồi giải thích:
        -Để qua đêm mắc công lo, hồi họp hoài, sợ mất chắc không ngủ được .
        Thắm khen:
        -Bây giờ ít còn ai tốt như vậy lắm!
        Lam mở tủ lấy cái áo gối ôm màu hồng trong chồng đồ còn mới tinh. Cô định quay ra vườn thì nghe tiếng người gọi vang dội ngoài cổng:
        -Có ai trong nhà không? Cho hỏi thăm một chút!
        Sực nhớ cổng chưa đóng Lam đi te te như chạy ra liền.
        Một người con trai rất trẻ, dắt chiếc xe đòn giông cũ sì, vừa thấy Lam là hỏi:
        -Phải đây là nhà của cô giáo Thắm hông vậy dì?
        Lam gật đầu, hỏi lại:
        -Em là học trò của cô Thắm hả?
        Người con trai lắc đầu:
        -Tui là học trò của thầy Ngươn, đem cái xe đạp nầy qua cho thẩy, đổi lấy chiếc xe kia về.
        Y nhìn quanh quất, thấy không có chiếc xe của mình đậu trong sân thì da mặt đang hồng hào bỗng tái mét.
        Y rung giọng hỏi:
        -Thẩy có ghé đây không dì?
        Lam đáp:
        -Có.
        Rồi ngoái đầu lại gọi thật to:
        -Anh Ngươn ơi! Có người kiếm nè!
        Ngươn lật đật đi ra. Người thanh niên thở phào nhẹ nhỏm.
        Y ta nói liền:
        -Má em kêu về bất tử, bả nói ở nhà có công chuyện, em đem xe của thầy qua nè!
        Ngươn lại lật đật quay vào đem chiếc xe gắn máy ra trả lại.
        Người con trai có vẻ mắc cỡ. Y phân bua với Lam:
        -Tính tụng kinh rồi sáng mới về nhưng mà…
        Ngươn vừa ra là Lam bỏ vào với Thắm để hai thầy trò đỡ ngại.
        Thắm hỏi:
        -Ai kiếm vậy Lam?
        Lam đáp:
        -Học trò của anh Ngươn, người cho ảnh mượn xe. Đem xe đạp của ảnh qua đổi lấy chiếc xe của y về.
        Thắm cười lạt:
        -Chắc cho mượn xe xong thì hết hồn, sợ bị gạt nên chạy theo đòi lại chớ gì!
        Lam hiểu ra ngay là tại sao y ta tỏ vẻ lo lắng rồi chuyển sang ngại ngùng. Cô bỗng thấy ngậm ngùi, thương cảm cho Ngươn thêm một chút.
        Trả xe xong, Ngươn đóng cổng quay vào. Lam nhìn lén Ngươn, thăm dò coi anh có bị tổn thương hay không. Ngược lại với Thắm và Lam, Ngươn tỏ vẻ cảm động, anh nói:
        -Tội nghiệp thằng nhỏ ghê! Nó tốt hết sức! Cho mượn xe rồi còn đem xe đạp qua giùm. Khỏi cần phải quay về sớm để trả xe cho nó!
        Thắm trề môi:
        -Chớ hổng phải nó sợ bị gạt nên chạy theo đòi lại liền hả?
        Ngươn cãi:
        -Đừng có nghĩ xấu cho người ta mà mang tội. Nếu sợ mất thì nó đâu có cho mình mượn.
        Câu nói của Ngươn làm Lam suy nghĩ. Mỗi sự việc thường được suy diễn, được nhìn nhận theo quan điểm của từng người. Hình như Ngươn quá hiền, quá lành để thấy những cái xấu, cái ác xung quanh.
        Nếu sự thành công trong cuộc sống chỉ gói gọn trong một chữ "giàu", thì nhìn Ngươn, người ta dễ dàng nhận ra, anh thuộc típ người chỉ làm "mẹ" của cái tên "thành công" đó mà thôi !
        Bộ quần áo Ngươn mặc tuy sạch nhưng quá cũ, với cái cổ áo sơ mi đã sờn. Chiếc xe đạp đòn giông với lớp sơn bị tróc nham nhở cùng những cây căm sét sẹt chứng tỏ điều đó một cách hùng hồn. Thế nhưng khó tìm thấy ai có nét mặt nhẹ nhỏm, thanh thản đến vậy!
        Cô chợt nhận ra, đức hạnh được hình thành từ những nỗi bất hạnh. Ngươn là một trong những người mà càng gặp khổ đau, ngang trái trên đường đời, lại càng tốt đẹp hơn, khoan dung hơn.

        Ngươn bảo Thắm:
        -Bây giờ để tui với cô Lam đây, mỗi người một bên đỡ Út ngồi dậy coi còn chóng mặt hay không nghe? Phải vô nhà liền, chớ ở ngoài vườn lâu quá không tốt.
        Thắm gật đầu. Ngươn ra hiệu cho Lam để cả hai nâng Thắm lên cùng lúc.
        Chẳng biết do bộ óc đã ổn định, hay do Thắm yên tâm vì biết mình được đến hai người cùng đỡ, cô chỉ nghe choáng váng một tí, không còn thấy trời đất quay mòng mòng nữa. Khi bắt đầu bước, Thắm mới phát hiện là cái chân bên phải của mình rất đau, không thể đi nổi.
        Cô rên to một tiếng rồi nói:
        -Cái chưn nặng như cái cối xay bột! Nhúc nhích là đau thấu tim gan.
        Ngươn thở dài rồi nói với Lam:
        -Vậy thì tui với cô phải nắm tay lại cho chặt để làm kiệu cho Út ngồi rồi từ từ đưa vô nhà mới xong.
        Lam nhìn cái bộ vó ốm tong, ốm teo của Ngươn rồi hỏi bằng giọng lo lắng:
        -Anh nhắm mình làm nổi hông?
        Ngươn gật đầu:
        -Không sao đâu! Út chừng năm mươi ký chớ mấy. Hôm trước tui còn cộ một người nặng gắp rưởi Út lận, mà có bị hề hấn gì đâu!
        Cả hai bèn vận hết nội công, nội lực đưa Thắm đến buồng ngủ một cách an toàn.
        Đặt Thắm nằm lên giường xong, Ngươn nói:
        -Chắc tui phải coi thử cái cẳng của Út có bị cái gì hay không quá!
        Thắm gật đầu rồi đưa mắt ngó Lam, Lam biết ý nên lật đật xăn ống quần của Thắm lên cao hết cỡ. Ngươn đưa tay ấn nhẹ từng chút, đến một chỗ ở giữa đùi thì Thắm nhăn mặt kêu đau.
        Ngươn lắc đầu, thở ra thêm lần nữa :
        -Xương chỗ nầy bị rạn rồi, phải bó thuốc cho nó liền lại.
        Nhìn Thắm như đo lường mức chịu đựng tới đâu.
        Ngươn nói tiếp:
        -Coi bộ nằm lâu lắm đó nghe!
        Thắm xịu mặt hỏi:
        -Lâu là bao lâu?
        Ngươn đáp :
        -Chắc phải cả tháng.
        Thắm than một cách áo não:
        -Sao mà xui dữ vậy hả trời? Một tháng nằm ngay đơ thì làm sao chịu nổi?
        Ngươn an ủi:
        -Không bị gãy lìa là may lắm đó!
        Rồi hỏi Thắm:
        -Đám thuốc cứu với ngọc anh ngoài vườn còn không?
        Thắm gật đầu:
        -Còn!
        Ngươn cười, nhẹ nhỏm:
        -May quá! Tui có đem theo mấy vị, chỉ còn thiếu hai thứ đó thôi!
        Rồi lại hỏi:
        -Út có nuôi giấm hông?
        Thắm đáp:
        -Có! Chi vậy?
        Ngươn giải thích:
        -Mấy vị thuốc nầy phải đem sao lên, tẩm thêm giấm với muối vào rồi mới bó lại.
        Lam đùa:
        -Có cho thêm đường, củ hành tây, bột ngọt hông?
        Ngươn lắc đầu lia lịa:
        -Khỏi, khỏi, đâu cần mấy thứ đó!
        Rồi nói:
        -Để tui đi hái thuốc vô rồi làm liền.
        Chờ Ngươn đi khỏi, Thắm nhiếc Lam:
        -Con quỷ nầy! Người ta đau gần chết mà còn giỡn được. Bộ mầy tính đem cái chưn tao ra trộn gỏi hay sao mà đòi thêm đường, củ hành, bột ngọt tùm lum?
        Lam đáp:
        -Ừa! Nhìn cái đùi trắng hếu của dì sao tui thấy giống tròng trắng trứng vịt luộc, muốn đem làm món xà lách với rau càng cua quá!
        Thắm thở dài:
        -Nói tới đồ ăn mới nhớ. Một chút mầy lo cúng giùm tao nghe! Hái trái mướp mầy chỉ đó với ba, bốn trái mướp non nữa, nấu một tô canh với tôm khô là đủ rồi.
        Lam hỏi:
        -Bỏ cái vụ đốn chuối xắt làm ghém hả?
        Thắm gật đầu:
        -Khỏi!
        Lam ghẹo:
        -Sao hồi nãy không cho đụng tới mấy trái mướp đó? Sợ tui ăn uổng, còn bây giờ thì biểu hái. Đối với người thương thì hổng tiếc thứ gì hết phải hông? Tình cho không, biếu không…
        Thắm nạt nhỏ:
        -Thôi đừng nói cái giọng cà chớn đó nữa. Y ta mà nghe được, mắc cỡ bỏ về là một mình mầy nuôi tao sặc máu đó! Ở đó mà lách chách cái miệng!
        Lam trề môi:
        -Già khằng khú đế rồi, da dày quá rồi còn mắc cỡ cái giống gì?
        Rồi hỏi tiếp:
        -Y có ăn chay hông? Hay là luộc mướp rồi làm tương kho xả cho y chấm?
        Thắm lắc đầu:
        -Hình như là không. Hể đụng bữa là gặp gì ăn nấy, hổng có đòi hỏi cái gì hết.
        Lam cằn nhằn:
        -Tu kiểu gì lạ vậy, vô chùa ở mà hổng ăn chay?
        Thắm cự:
        -Bộ ở chùa, ăn chay mới tu hả? Mầy không thấy cái bức tranh chăn trâu sao? Đạt đạo rồi thì xách cá vô chợ mua rượu cũng hổng sao! Tao ghét nhứt mấy người hể mở miệng là khoe ăn chay vậy mà tính toán ke re, cắc rắc thấy mà sợ. Mà mầy cũng đừng có đem chữ tu ra gán cho y nghe, y hổng có thích đâu.
        Lam bắt lỗi:
        -Hổng thích sao để người ta kêu mình bằng thầy?
        Thắm cắt nghĩa:
        -Thầy đây là thầy dạy chớ không phải thầy chùa.
        Rồi Thắm thở dài:
        -Khi không mà xui tận mạng. Gần tết rồi mà nằm một chỗ như vầy!
        Lam an ủi:
        -Trong cái rủi có cái may, rủi nhiều thì may cũng lắm!
        Rồi lấy ngón tay trỏ xỉ nhẹ lên trán Thắm mà ghẹo:
        -Biết đâu dì mất cái tết mà được một ông chồng ngon lành! Có người hú hí, nhờ gãi lưng với xối nước gội đầu. Hương lửa mặn nồng...
        Thắm nạt:
        -Tao đang rầu muốn chết đây nè! Ở đó mà giỡn hoài! Từng tuổi nầy rồi, còn lửa khói gì nữa?
        Lam cãi :
        -Sao không còn. Rơm ướt nhẹp mà lửa táp hoài cũng cháy đùng đùng. Tui nói thiệt chớ không có giỡn đâu đó! Lần nầy mà dì không tận dụng, để vuột mất thì ngu còn hơn con Phèn nữa đó!
        Thắm nạt:
        -Con quỷ nầy, càng ngày càng hổn. Tao là dì mầy, em của má mầy thì cũng như má mầy đó biết chưa? Nói cái giọng đó là bất hiếu, tổn thọ nghe con!
        Lam trề môi ngắt ngang:
        -Còn lâu! Bà bú sữa má tui, còn nhỏ hơn tui năm ngày, xem ra về mặt trí lực chưa phát triển bằng tui, bởi vậy phải nghe lời không được cãi.
        Rồi gằn giọng:
        -Tui hỏi thiệt, dì còn thương ổng không? Còn muốn lấy ổng hông?
        Thắm nạt:
        -Thương sao được mà thương! Lấy sao được mà lấy? Bà con mà lấy nhau để thiên hạ cười cho thúi đầu hả? Rồi làm sao mà sống?
        Lam lại nhớ tới Đông, cô đáp một cách cứng cỏi:
        -Dì hy sinh hai phần ba cuộc đời của mình cho dư luận rồi, biết còn sống được bao lâu nữa đâu! Thích cái gì thì cứ làm đại đi. Cái tuổi nầy thì cầu cho có người làm cho mình hư, chớ đâu còn cái gì mà sợ nữa? Tui thay mặt ông Trịnh Công Sơn mà khuyên dì: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ”.
        Thắm cười, có vẻ nao núng.
        Lam tấn công thêm:
        -Những người đẻ ra mấy luật lệ ấy đã quy tiên hết rồi! Cho dù còn sống biết đâu họ cũng đã thay đổi quan điểm, chẳng những không cản mà hổng chừng còn đốc xúi nữa. Dì không thấy là có vô số điều ngày xưa mình cho là đúng, là tốt… Giờ biết ra là xấu, là sai be, sai bét hay không?
        Thắm hỏi:
        -Cái gì đâu? Kể thử coi!
        Lam nói:
        -Thì cái chuyện sản phụ nằm lửa, cử ra gió, ra nắng, ăn muối tiêu đó! Cái chuyện kỵ tuổi. Cái chuyện đốt phong long. Cái chuyện cắt lể. Cái chuyện nhỏ nước ốc vô lỗ tai, vắt chanh vô mắt...
        Thắm cự:
        -Đó là tập quán chớ đâu phải tập tục?
        Lam cãi phăng:
        -Tập quán, tập tục gì cũng vậy, hiện nay đâu còn gò bó như ngày xưa nữa. Thậm chí đàn ông cưới đàn ông, đàn bà cưới đàn bà nhan nhản khắp nơi, họ sống ngang nhiên. Thiên hạ bây giờ đâu còn khắc khe, đàm tiếu, coi chuyện đó là kỳ khu, dị hụ nữa đâu!
        Thắm thở dài:
        -Cho dù tao hết ngán, hết sợ ông bà quở phạt, nhưng không lẽ biểu thằng chả… Mà biết đâu người ta sống tự do quen rồi, thích cơm chùa chớ hết thích cơm nhà…
        Lam xấn tới:
        -Thì dì cứ hỏi đại đi! Bữa nào ổng đang lui cui chẻ củi, dì vỗ mông ổng một cái chát rồi hỏi: “Ê! Ông còn thương tui hông? Còn muốn cưới tui hông?”
        Thắm cười hinh hích:
        -Mắc cỡ thấy bà cố! Ai mà làm vậy cho được?
        Lam hỏi tới:
        -Dì mắc cỡ thì để tui hỏi giùm nghe, chịu hông?
        Thắm làm thinh.
        Ngươn đã đi được nửa chừng, bỗng quay trở vào để lấy cái nón lá. Nghe lóm được mấy câu Lam khuyên Thắm thì khoái chí quá, cười tủm tỉm một mình.


        Sợ họ phát hiện anh đang nghe lén, mắc cỡ đâm ra quê rồi ghét. Ngươn đành để đầu trần, bước rón rén, đi một mạch... Ra đến vườn mà nụ cười vẫn chưa rớt xuống.
        Hái thuốc xong, Ngươn đem sao, tẩm rồi nói với Lam:
        -Cô kiếm giùm tui một miếng vải nữa đặng bó cái chưn cho Út.
        Lam mở tủ lấy cái áo gối trắng tinh đưa cho Ngươn.
        Ngươn lắc đầu:
        -Lấy miếng nào thiệt là cũ đi, xài cái nầy uổng lắm!
        Lam xua tay:
        -Xài đại đi mà!
        Ngươn cương quyết:
        -Dính mủ cây giặt không ra đâu!
        Lam lắc thật mạnh cái đầu:
        -Xài đại đi, tui kiếm rồi, không có cái nào khác nữa .
        Ngươn trả lại rồi nói một cách dứt khoát:
        -Cô đem cất đi, tui có rồi!
        Anh lập tức đi lại chỗ treo túi đồ của mình, lấy trong túi ra cái khăn tắm được xếp rất cẩn thận.
        Lam nhìn cái chàng tắm mỏng tanh, mắt cô bỗng xon xót như có một hột bụi nào đó vừa rơi vào. Cái khăn ấy chẳng những nói với cô là Ngươn rất nghèo, mà còn nhắc cô nhớ lại những nhân vật của một thời xa lắc!
        Ở nông thôn ngày xưa, chẳng có nhà nào thiếu cái khăn sọc rằn ấy! Đàn bà thường đội nó trên đầu suốt ngày để che nắng khi ra đồng, tránh tro, khói và mùi thức ăn khi vào bếp, lau tay, lau mặt khi rửa ráy… Họ còn lót nó lên vai khi gánh lúa, gánh khoai... cho đỡ đau, đỡ mòn vai áo.
        Đàn ông, người thì đội như phụ nữ, người thì xếp hoặc xoắn nó lại như sợi dây, rồi cột lên trán để ngăn mồ hôi rịn từ chưn tóc xuống mắt.
        Cái khăn đeo dính họ suốt từ sáng cho tới chiều. Cho đến khi họ đi tắm nó mới được tháo ra, máng lên cái cọc tre đóng cạnh cây cầu. Cái cọc ấy được giữ lại những cái nhánh nhỏ chừng một gang tay để bà con treo áo quần khi tắm. Tắm xong họ vói tay lấy cái khăn ấy xuống lau cho khô tóc rồi vấn ngang hông mà đi lên nhà.
        Cái chàng tắm đó cứ ngày một thưa rỉnh, cho đến độ mà mấy cái sọc đã mờ hẳn đi, gần như trong suốt vẫn chưa được hóa kiếp! Thời đó bà con mình nghèo lắm, quần áo rách còn vá lại mặc thì nói gì…
        Cho đến bây giờ Lam mới hiểu ra, tại sao ông ngoại và ba mình thuở đó, thường đi tắm lúc tối hù, còn cấm phụ nữ trong nhà xuống sông khi trời chạng vạng. Có lẽ ngoài lý do sợ âm binh quấy nhiễu, còn có ý không muốn họ thấy cái thân thể được che không mấy kín đáo của mình?
        Lam nhìn cái khăn tắm không thể nào cũ hơn nữa ấy mà bùi ngùi quá đổi. Cô nghĩ thầm chắc từ ngày bỏ nhà đi, Ngươn chưa sắm nổi cho mình một món đồ dùng nào!
        Bó chưn cho Thắm xong, Ngươn liền vào bếp lấy cây mác mũi nhọn cầm trên tay rồi đi ra vườn. Lam nhớ ngày xưa cô cũng té cây ổi một lần, ba cô sợ có huông nên đốn luôn cây ổi.
        Bèn lật đật chạy theo kêu to:
        -Đừng có đốn cây me!
        Ngươn quay lại nhìn Lam một cách ngạc nhiên:
        -Đốn cái gì? Cây me nào?
        Lam đáp:
        -Thì cây me làm dì Út té đó!
        Thấy nét chưng hửng trên mặt Ngươn, cô hỏi:
        -Anh xách cái mác ra vườn làm chi?
        Ngươn đáp:
        -Tui đi kiếm cây làm cái nạng cho Út chống đặng đi tới đi lui.
        Lam tiu ngỉu:
        -Vậy mà tui tưởng đâu anh giận cây me nên đốn phăng nó chớ!
        Ngươn cười:
        -Cây me lớn như vậy tui làm sao đốn xuể.
        Rồi nói thêm:
        -Cô đừng có xúi Út đốn nghe! Trên đó có nhiều tổ chim lắm!
        Lam gật đầu, quay trở vào để chuẩn bị nấu cơm cúng chiều. Cô vô bếp lấy cây dao nhỏ ra cắt bốn trái mướp, ngắt thêm vài cọng hành để bỏ canh.
        Bỗng cao hứng, cải biên hai câu ca dao:

        -Ví dầu câu cá nấu canh
        Bỏ tiêu cho ngọt, bỏ hành cho thơm.

        Thành ra:

        -Chiều chiều cắt mướp nấu canh
        Bỏ tôm cho ngọt, bỏ hành cho thơm.


        Ngay từ nhỏ Lam đã bức rức vì câu ca dao đó! Cô cho là bỏ "tiêu" thì chỉ cay và thơm thôi chớ làm sao mà "ngọt" cho được.

        Lam đang gật gù, hài lòng với sự sửa đổi hết sức hợp lý của mình thì nghe tiếng Thắm kêu:
        -Lam ơi, Lam!
        Cô lật đật bỏ cái rỗ mướp xuống sàn nước, rửa sơ cái tay, chùi lẹ lẹ ba bốn lần lên quần rồi chạy vô. Vừa thấy mặt Lam là Thắm nói như rên:
        -Tao mắc tiểu quá! Làm sao đây?
        Lam hết hồn, nói đại:
        -Không được đâu, nín đi!
        Thắm cau mặt rồi phì cười:
        -Làm sao mà nín?
        Lam nói:
        -Một mình tui vác dì không nổi đâu. Chờ anh Ngươn phụ mới được.
        Thắm nạt:
        -Đồ vô duyên! Ai mà nhờ y mấy chuyện như vầy?
        Rồi hỏi tiếp:
        -Thằng chả đi đâu vậy?
        Lam hù Thắm:
        -Tui thấy ổng đi vô bếp, rút cái mác ra cầm lăm lăm trong tay, mặt hầm hầm, đi xăm xăm ra vườn…
        Thắm hớt hải:
        -Đừng có nói là y leo lên cây kiếm con rắn mà chặt nghe mậy!
        Rồi năn nỉ:
        -Mầy chạy theo liền đi, biểu y trở vô liền để tao nói cái nầy.
        Lam cười ghẹo:
        -Chưa kịp nghe gì hết mà đã sợ đến xiêu hồn, bạt vía. Ổng xách mác ra vườn đi kiếm cây để đẽo cho dì cái nạng đó!
        Thắm nhiếc:
        -Con quỉ nầy, mầy mà ở đây lâu, chắc tao chưa lành bịnh là đã ngủm củ tỏi vì bị hù.
        Lam làm mặt giận:
        -Vậy là muốn tui về phải hông? Để hai người tù ti, tú tí thoải mái phải hông?
        Để có hiệu quả hơn Lam chì chiết:
        -Có tình, bỏ bạn. Được rồi tui về liền nè, khỏi đuổi!
        Lam đóng kịch hơi lố nên phản tác dụng.
        Thắm cười sằng sặc rồi thách:
        -Mầy có giỏi thì về đi! Tao ngồi dậy không nổi chớ cũng ráng làm vịt nấu cháo đãi liền tay.
        Lam hơi quê quê, bèn đem chuyện Ngươn hy sinh cái khăn tắm của y ra kể cho Thắm nghe.
        Thắm biểu Lam:
        -Trong tủ còn mấy cái khăn tao mua để sẵn, mầy lấy một cái nhét vào túi y giùm tao.
        Rồi hối:
        -Làm liền đi để không kịp!
        Lúc Ngươn đem cái nạng vào là Lam đã cúng cơm xong, nhang cũng sắp tàn.
        Lam bước lại châm trà vô ba cái tách một lần chót rồi vái bổ sung:
        -Cửu huyền thất tổ, ông cố, bà cố, ông ngoại, bà ngoại cùng ba má con. Xin chư vị phù hộ cho con và dì Út đều lấy được người mình thương và thương lại mình.

        Lam bỗng nhớ đến một câu lộng ngôn của Pháp: “Tuổi trẻ yêu như điên, tuổi già điên mới yêu”, mà buồn!
        Từ xa xưa người ta đã mặc định rằng cái chuyện yêu đương là đặc sản của tuổi trẻ. Những người đã rụng vài cái răng, bạc gần hết tóc mà còn thèm rồi ăn mót cái món đó là bị lên án dữ lắm! Họ bị xem là không có lý trí, bị liệt vào hàng ngũ của những kẻ thiếu tư cách và thiếu đạo đức.
        Lam có một cô bạn đồng nghiệp là góa phụ, cổ không dám tái hợp với người xưa vì sợ bị mất danh dự, sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm và hạnh phúc của con cái.
        Với những người còn độc thân như Thắm và Lam thì “dễ thở” hơn một chút. Họ được khoan hồng vì từ trước tới giờ chưa được nếm qua. Dư luận đành mắt nhắm, mắt mở để họ chấm mút chút đỉnh. Thế nhưng cái nghiệp giáo lại là sợi dây trói tay, trói chân khiến họ đành án binh bất động.
        Lam còn đang phân vân không biết có nên dọn mâm cúng xuống rồi ra vườn mời Ngươn vào không, thì đã nghe tiếng Thắm vang ra từ trong buồng.
        Thắm nói nhỏ thôi nhưng cũng lọt thỏm vô cái lỗ tai đói nghe lóm của cô:
        -Đi tắm đặng ăn cơm. Có cái khăn mới đó! Lấy lau mình đi đừng có trả lại.
        Lam nhận ra dì Út của mình hết sức nữ tính, cho dù chỉ có hai người vẫn cứ mắc cỡ, nói trống không chẳng thèm xài chủ từ, túc từ gì ráo.
        Hình như Ngươn cũng thế! Câu nói của họ cứ thả lững lơ, để đối phương tha hồ điền vào chỗ trống tùy theo ý thích. Và đối với Lam điều đó hết sức lãng mạn.
        Lam nghĩ thầm:
        -Tội nghiệp y ta quá! Chắc biết mình nhìn thấu ruột gan nên e dè, rón rén. Y vô buồng dì Út mà không gây ra một tiếng động, làm mình đâu hay.
        Rồi chắc lưỡi, lầm bầm:
        -Cũng may là mình không bô bô với dì Út về mấy cái ý vừa có đó!
        Cô liếc thấy Ngươn lấy cái khăn mới ra, úp lên mặt rồi vắt lên vai. Y rút từ cái túi bằng vải ra một bộ đồ màu "dà", màu lá cờ truyền thống của những người theo đạo “phật giáo Hòa Hảo” để mặc. Cái túi bấy giờ lép xẹp chắc chỉ còn nhiều nhất là một bộ đồ trong ấy.
        Chờ Ngươn đi vào nhà tắm xong, Lam mới bước vô buồng Thắm.
        Cô hỏi nho nhỏ:
        -Sao dì hổng tặng cho ổng vài bộ đồ? Tui thấy hình như ổng chỉ có “nhứt y, nhứt hưỡn”.
        Thắm lắc đầu:
        -Mầy hổng biết chớ tánh y sĩ diện lắm! Càng nghèo thì càng tự ái. Tao mà sắm chắc chẳng những không nhận mà còn không ghé nữa đó!
        Lam hỏi tiếp:
        -Ảnh kiếm tiền bằng cách nào?
        Thắm lắc đầu:
        -Tao đâu dám hỏi. Hình như cũng được ăn thừa tự. Cái phần đất của mình, y giao cho đứa em làm rồi nó đưa bây nhiêu xài bấy nhiêu thì phải.
        Lam thở dài, cảm thấy lo lo. Cho dù Thắm có sẵn cơ ngơi, huê lợi từ ruộng vườn và lương hưu cũng đủ cả hai sống thoải mái. Nhưng với cái tính sĩ diện quá cỡ thợ mộc của y, liệu Ngươn có chấp nhận sống dựa vào Thắm và ngược lại Thắm có đủ khôn khéo để không lỡ lời làm y tổn thương hay không? Liệu cuộc tình quá đẹp khi dang dở nầy, lúc vẹn câu thề lại mất vui hay không? Liệu cuối cùng cả hai phải kết thúc nó bằng những câu bắt đầu bằng hai chữ “phải chi!” không?
        Đồng tiền mang tính cách của một cô gái đẹp. Chàng trai nào không thèm để ý, tỏ vẻ say mê, theo đuổi, ca tụng mà phớt lờ là nó bị tổn thương liền.Thế là rắp tâm phục thù, hành hạ đủ kiểu. Có khi còn chưa vừa dạ, bèn rình đúng lúc để đập cho cái tên tội phạm đó nhừ xương mới ưng bụng.
        Tiếng gọi của Thắm nghe êm ái khác thường:
        -Lam ơi!
        Lam bước vô phòng.
        Thắm vừa thấy mặt cô là bảo:
        -Tao hết chịu nổi rồi!
        Lam cuống lên vì chẳng biết phải làm sao! Ngươn trong nhà tắm vừa bước ra, thấy bộ tịch lăng xăng, lít xít như gà mắc đẻ của Lam thì trố mắt ngạc nhiên.
        Anh hỏi:
        -Có chuyện gì đó cô Lam?
        Lam đáp nhỏ, ngập ngừng:
        -Dì Út mắc…
        Ngươn gật đầu lẹ lẹ như muốn bảo "biết rồi đừng nói nữa".
        Chàng nói thầm đủ để nghe ên:
        -Đáng lẽ phải làm cái chuyện nầy trước.
        Rồi hỏi:
        -Trong nhà có cái ghế đẩu nào không?
        Lam gật đầu:
        -Có chớ, năm sáu cái lận!
        Ngươn liền giục:
        -Lấy một cái đem liền lại đây! Lựa chiếc nào vững chưn nhứt nghe!
        Lam lật đật mang ghế tới. Ngươn ngồi thử rồi gật đầu.
        Y lấy mũi mác bẩy cho mặt ghế rớt ra, đưa cho Lam rồi nói :
        -Cô cho Út ngồi lên đây, lót thêm cái gì ở dưới.
        Rồi hỏi:
        -Cô đỡ một mình nổi không?
        Lam gật đầu.
        Ngươn vừa bỏ đi, vừa nói:
        -Vậy cô phải hết sức cẩn thận nghe! Tui đi giặt đồ rồi ra giàn rau hái mấy trái ớt.
        Ngươn đứng ngắm giàn rau cho thỏa mắt rồi mới hái hai trái ớt, một xanh, một đỏ. Vừa bước vào bếp, mũi y đã bị tấn công dồn dập bằng một mùi thịt kho thơm ngát.
        Cảm giác lâng lâng pha trộn giữa niềm phấn khích và lòng hoài cảm chợt dấy lên trong lòng chàng. Ngươn bỗng nhớ đến bữa cơm đầu năm, với những món ăn đầy mùi vị và màu sắc. Cho dù thức ăn ê hề nhưng cái món duy nhất bị chàng xà xẽo là tô thịt kho và dĩa dưa giá.
        Má Ngươn là thợ nấu nên cái dĩa dưa giá trong mâm cơm ở nhà chàng điệu đà hơn các nơi khác. Nó chẳng những ngon miệng mà còn ngon cả mắt.
        Nó gồm có dưa cải xắc trọng trọng cỡ cọng bánh tầm; Củ cải đỏ xắc nhỏ như cọng tăm xỉa răng; Gừng xắc chỉ; Giá sống chưa ngâm; Hẹ, củ hành tím, tỏi, ớt, giấm, đường, muối…
        Cái món rất cân đối giữa mỹ thuật và mỹ vị ấy! Với kích thước đa dạng, với các sợi trắng, đỏ, cam, xanh, vàng, tím… bối rối bên nhau đó, đã không phụ công phu của người chăm chút chúng. Chính những mùi vị khác nhau: Cay, chua, giòn, mặn, ngọt… được pha trộn một cách hài hòa ấy, đã đem đến cho chàng một cảm xúc gần như thiêng liêng. Nó cũng đang làm cho nước miếng ứa ngập mấy cái chân răng của Ngươn cùng nước mắt đang thập thò quanh khóe, cho dù chỉ hiện diện trong ký ức.
        Lam đã bày sẵn các món ăn lên bàn.
        Thấy Ngươn là cô nói liền :
        -Anh dùng cơm một mình đi nghe, tui đút dì Út rồi ăn luôn với dĩ cho vui.
        Nói xong liền bưng cái mâm vô buồng của Thắm.
        Ngươn ngồi xuống ghế, một tay bưng chén, một tay cầm đũa. Chàng đưa chén cơm lên trán để kỉnh ông bà trước, lim dim mắt rồi hạ xuống ngang mũi, hít sâu như cố gom hết hương vị bằng đường thở.
        Chàng rỉa một miếng thịt cho vào miệng rồi vít một đũa cơm lên nhai từ từ. Những ngày đói đã cho Ngươn biết giá trị của thức ăn, nên chàng đối với chúng một cách thập phần trân trọng.
        Lúc một mình một mâm như thế nầy, không sợ ai phê phán, chàng thường thưởng thức rất từ tốn, nghiêm trang và gần như kính cẩn.
        Cái bùi, cái béo của miếng thịt vàng nâu, cùng lớp mở trong vắt nhờ được kho cho tới rục trong nước mắm và nước dừa tươi, ngấm vào từng gai lưỡi. Chúng đánh thức mọi dây thần kinh, khiến làn da chàng gờn gợn. Chúng thâm nhập vào cơ thể rồi chia làm hai hướng: Một xông thẳng lên óc, một chảy vào tim.
        Có đôi khi chàng nghĩ. Tại sao người ta quá suy tôn cái cảm xúc phỉnh phờ của tôn giáo, điều mà chưa chắc thiết yếu bằng thực phẩm. Họ bỏ cả đời nghiên cứu những triết lý cao siêu trong đó, rồi mang ảo tưởng là mình cao, đẹp hơn thiên hạ. Sao họ không nhín bớt chút thời gian để chiêm nghiệm về tính chân, thiện, mỹ của thực phẩm.
        Nếu con người chỉ tiến dần theo từng mức ăn no, ăn ngon, ăn đúng, ăn đẹp... thì đâu cần phải chà đạp lên người khác! Trái hẳn với giáo điều, thực phẩm khiến người ta liên kết chớ không khích bác lẫn nhau. Cái cảm xúc mà nó mang đến cũng rất thánh thiện chớ chẳng dung tục như từng bị hiểu lầm. Thay vì dạy chúng ta đi tìm thức ăn cho tâm linh, mà kết quả là càng bội thực thì càng đói khát. Sao không có một tôn sư nào dạy cách cư xử đúng mực với thực phẩm? Dạy họ sống tốt bằng cách làm ra thực phẩm tốt và sử dụng một cách nghệ thuật, để biết đâu qua đó họ cảm nhận được niết bàn ngay trong cuộc sống?
        Ngươn nhớ có lần, trong một bữa ăn lúc chàng chưa lớn lắm. Hôm ấy má chàng đã nấu cái món giò heo giả cầy ngon nhức nhối mà ba chàng ưa nhứt.
        Thấy Ngươn gấp một khoanh giò, cắn ngập răng rồi nuốt chửng. Ba chàng liền rầy:
        -Cái đồ “thực bất tri kỳ vị “. Ăn ào ào như vậy làm sao mà biết hết cái ngon? Chưa no đã ngán rồi. Phải ăn từ từ nó mới kịp thấm chớ!
        Rồi ông tập cho chàng cách ăn, ông nói:
        -Thức ăn quý lắm! Nhai ba sồn ba sực rồi nuốt là không xài hết cái chất bổ, chất ngon của nó. Như vậy là phụ công của người nấu, uổng lắm! Tội lắm!
        Từ đó Ngươn bắt chước ông, chắc lọc hết tinh túy của thực phẩm không bỏ sót chút gì.
        Cách thưởng thức bữa ăn của Ngươn khiến một số người ngứa mắt.
        Có người đã nói thẳng vào mặt chàng:
        -Ăn uống lề mề như vậy thì biết chừng nào mới rồi bữa. Ăn rút rút để còn làm việc khác nữa. Ăn để mà sống chớ đâu phải sống để mà ăn!
        Câu nói ấy đã theo đuổi chàng đến nửa cuộc đời. Nó khiến chàng mang mặc cảm tội lỗi trước những bữa ăn ngon. Chàng phải tập trung nghị lực để tuân theo những điều giả dối, phản nhiên tính như thế. Chàng đã sai lầm, đã a dua với họ, gán cho những điều bình thường một tính cách hết sức lệch lạc.
        Bây giờ chàng đã tiến bộ lên một bậc, đã "ngộ" về cái "ăn". Còn cái "yêu" thì...


        Ngoài việc trị bịnh cho Thắm, Ngươn còn kiêm luôn việc dọn dẹp khu vườn cho sạch, gọn.
        Thú vui của chàng là hái rau, hái thuốc.
        Mỗi sáng, Ngươn ra sân tập vài động tác thể dục rồi đi thẳng ra vườn hỏi thăm cây cỏ. Khi vào nhà hai cái túi áo to đùng của chàng thường đầy căng: Một túi chứa rau dại còn một túi đựng thuốc nam.
        Vườn của Thắm rất rộng nên cô coi sóc không xuể. Khắp nơi, tàu dừa rụng đầy, chúng nằm dang tay thoải mái, đè trên mình mấy chiếc lá khô chưa được hóa kiếp.
        Mấy hôm đầu Ngươn tập trung vào việc chăm sóc Thắm. Khi Thắm được tháo cái áo gối ra khỏi cánh tay và Lam cũng thuần thục trong việc giúp đỡ dì Út của mình, Ngươn liền bắt tay dọn dẹp ngôi vườn.
        Chàng gom hết tàu dừa lại, róc lá rồi cột thành từng bó; Chặt, chẻ những cọng dài thòng thành những thanh củi ngắn, nhỏ, xếp ngay ngắn vào kho.
        Mấy bụi chuối um tùm, tóc tai rủ rượi đều được Ngươn hớt tỉa lại cho gọn gàng. Chàng cắt bỏ lá khô, đốn những cây chuối đã cắt buồng xuống, bầm tan nát tấm thân của nó ra để bón cho mát đất. Ở những cây chuối đã trổ đủ nải, chàng cắt đi cái bắp, tìm cây chống vào, giúp nó trụ vững khi trái lớn.
        Một buổi chiều, Lam đang ngồi vo gạo trên sàn nước. Cô bỗng thấy ở cuối vườn khói dâng lên cuồn cuộn. Một phần khói bay thẳng lên trời, phần còn lại trải ra thành tấm chăn dày phủ lên cây cối.
        Lam buông cái nồi trong tay, lật đật nhảy xuống đất, chạy vút đi mà không kịp xỏ dép. Ngay tức khắc, đầu Lam rối nùi với các phương án phải áp dụng trong cơn hỏa hoạn. Thế rồi cô đứng sửng lại khi thấy Ngươn đang nhìn đống lá khô cháy phừng phừng bằng tia mắt có thể gọi là đắm đuối.
        Ngươn không nhận ra sự hiện diện của Lam, chàng bị những ngọn lửa màu cam hớp mất hồn. Cái sở thích đốt lá khô và nhìn chúng cháy đã có trong chàng từ lâu lắm! Chẳng những thích nhìn lửa Ngươn còn mê ngắm khói.
        Quê chàng ngày xưa, sau mùa lúa bà con thường đốt trụi lủi mấy cái gốc rạ để biến chúng thành phân bón. Những đám lửa đốt đồng ấy thường bắt đầu từ buổi chiều rồi cháy suốt đêm, soi sáng cả một góc trời. Những đêm ấy Ngươn thường bỏ ngủ, lén ra sau hè để nhìn cho rõ.
        Có những đám cháy âm ỉ cả ngày. Ban trưa nó tan vào trong nắng, tận cho đến khi chiều xuống, ngọn khói lam mới hiện ra một cách lả lướt, bịn rịn chia tay mặt đất, bay lên trời cùng linh hồn của cỏ hoa đồng nội.
        Ba tiếng “khói đốt đồng” thường khiến Ngươn dạt dào cảm xúc. Có lẽ vì dành cho nó một tình cảm quá sâu xa nên chàng có thói quen đưa mắt về cánh đồng khi trời vừa chạng vạng.
        Ngươn yêu tất cả các loại khói, trừ khói trong các ống xả ngập ngụa mùi xăng dầu. Những ngày cuối năm như thế nầy, Ngươn hay bị dòng hoài niệm cuốn về nguồn. Ngày xưa, ba mươi tết chàng thường gom tất cả lá khô trong vườn lại để đốt. Khói của đống un ngày cuối năm ấy hình như chở theo tất cả nỗi niềm của đất gởi cho trời, nên thơm hơn, lả lướt hơn, quyến luyến hơn ngày thường.
        Một lần Ngươn theo đoàn hành hương của nhà chùa đi thăm các xứ thuộc miền trung của đất nước. Một ngọn lửa từ xa thu hút tầm mắt của chàng. Trời bỗng trút nước xuống một cách đột ngột khiến đám lửa trên đỉnh đồi đang cháy phừng phừng ấy bỗng leo lét, tắt ngắm rồi tỏa khói nghi ngút.
        Cái ý nghĩ rằng trời và đất đang giao hoan nhau khiến chàng cảm khái đến lịm người. Khu vườn cằn cổi trong chàng bỗng trổ liền một đóa hoa dại dột:

        Mưa là tình ý của trời
        Trao cho đất để ngõ lời yêu đương
        Khói là lòng đất vấn vương
        Dâng cao, đáp lại tình thương của trời…

        Lam nhìn cái dáng bất động của Ngươn, định trách anh đốt lửa làm cô hết hồn nhưng chẳng nỡ. Cô thích thú khi nhận ra ẩn trong vẻ mộc mạc, hiền lành ấy là một tâm hồn đa cảm. Cô thấy Ngươn sao mà giống cái ao nhỏ trong vườn nhà mình ngày xưa. Có một lần, cái mặt nước trong veo, tỉnh lặng ấy khiến cô nẩy ra ý định nhảy vào để quậy cho đục chơi. Lam cứ ngỡ là nó cạn xợt, liền xăn quần bước vào, thế rồi hết hồn vì nước dâng cao đến ngực.
        Không dám làm mất đi cái khoảnh khắc quý giá của Ngươn, Lam trở vào nhà.
        Chiều hôm ấy Lam nấu một bữa ăn ngon tuyệt, khiến Thắm, vốn rất tiết kiệm lời khen cũng buột miệng:
        -Con nhỏ nầy có nghề mà giấu nghen! Tao mà biết mầy nấu ăn giỏi như vầy thì đâu có nai lưng ra cõng hết cái bếp. Nồi canh rau ngon quá! Ăn với món khô cá lóc ngầu bà nầy hết sức hợp.
        Lam chỉ vào Ngươn, giải thích:
        -Không phải nhờ một mình tui đâu dì ơi! Nồi canh ngon là do rau non, mới hái còn tươi rói. Chín chục phần trăm là nhờ công lao của nhà cung cấp nầy nè!
        Ngươn cười:
        -Công lao gì? Rau dại mọc lềnh khênh ra đó, ai mà hái không được.
        Rồi chỉ vào cái món nằm trong dĩa, y hỏi chung chung:
        -Món nầy gọi là “ngầu bà” hả? Cái tên nghe ngộ quá!
        Thắm giải thích:
        -Mấy món nào mà tẩm đường, mỡ và nước mắm vô chung, ăn có vị mặn mặn, ngọt ngọt, béo béo thì được gọi bằng cái tên chung là "ngầu bà".
        Ngươn gắp một miếng nhỏ đưa lên miệng nhai từ từ.
        Nuốt xong chàng gật đầu một cái rồi khen:
        -Ngon quá! Món nầy làm như thế nào vậy cô Lam?
        Lam đáp:
        -Đầu tiên phải rửa khô cho sạch rồi luộc mềm. Vớt ra, xé nhỏ, lọc bỏ xương, để vô rỗ thưa xóc cho ráo nước. Bắt chảo lên bếp, cho mỡ vào, chờ mỡ nóng, bỏ tỏi, củ hành bầm nhuyễn vô phi cho thơm rồi cho khô vào xào với lửa riu riu. Tiếp đó rắc đường, đảo đều tay cho tới khi đường kéo chỉ mới rưới nước mắm vào. Rưới nước mắm ít thôi, chủ yếu tạo mùi vì khô đã mặn sẵn. Nghe thơm lừng là nhắc xuống rồi rắc tiêu vào.
        Thắm bổ sung:
        -Đó là món mặn để ăn cơm. Còn món ngọt như khoai cao ngầu bà thì làm cũng như vậy. Cũng luộc khoai cho chín rồi lột vỏ. Phải thắng đường với mỡ cho hơi kẹo kẹo rồi mới thả khoai vào mà xóc. Món nầy thì không cho nước mắm, chỉ bỏ chút xíu muối thôi, đường thiệt nhiều để tạo vị ngọt.
        Hôm nay cánh tay Thắm đã hoàn toàn bình phục. Đây là lần đầu tiên cả ba ngồi ăn cơm với nhau. Mâm cơm không dọn ra nhà trước mà được đặt trên cái giạt tre sau nhà gần giàn rau. Nhờ vậy mà thấm đượm cái không khí thân mật. Nồi cơm để cạnh Lam, cô cứ rình chờ Ngươn đặt cái chén trống không xuống là chụp lấy rồi bới đầy vun.
        Lam cứ liên tục gắp khô vào chén Ngươn khiến Thắm phải gắt:
        -Mầy bắt ăn cái món nầy nhiều quá không tốt đâu?
        Lam hỏi như cự:
        -Tại sao không tốt?
        Thắm đáp:
        -Mỡ nè, đường nè, muối nè! Toàn chất béo, chất ngọt, chất mặn. Mấy cái thứ bác sĩ chê không hà!
        Thấy Lam xịu mặt, Ngươn an ủi:
        -Không sao đâu! Nhờ ngon miệng nên cơ thể làm việc sung lắm! Ba cái chất đó cho dù kỵ nhứt, cũng được biến thành đồ bổ hết ráo!
        Rồi tiếp:
        -Mấy khi mới có một bữa ngon như vầy! Cô Lam không gắp chắc tui cũng xin thêm.
        Chàng nói như phân trần:
        -Bây giờ trăm tội đổ lên đầu cái ăn. Từ khi bà con lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu thì thực phẩm đang ở lãnh vực bạn bỗng nhảy sang vị trí thù địch. Chúng bị săm soi e dè chớ không được chào đón nồng nhiệt như trước. Hiện thời, cái câu nói ở cửa miệng của bà con là “không ăn thì chết liền, ăn thì chết từ từ”.
        Lam thở hắt ra:
        -Như vậy cũng còn đỡ. Đây rồi đến lúc họ đổi thành "ăn thì chết liền còn không ăn thì chết từ từ ". Lúc đó mới mệt à nghen! Coi bộ cũng sắp rồi đó!
        Ngươn phụ họa:
        -Tui có một bà bệnh nhân rất đặc biệt. Bả chỉ dùng thức ăn làm từ cà rốt và khoai lang, khoai ngọt. Tóm lại là những thứ nằm trong lòng đất mà thôi!
        Lam ngạc nhiên:
        -Tại sao vậy?
        Ngươn giải thích:
        -Bả cho rằng mấy cái loại đó không bị thuốc trừ sâu xịt lên trực tiếp. Nó ít độc hơn mấy loại rau trái khác!
        Lam gật gù:
        -Cũng có lý chớ bộ!
        Ngươn nhìn Thắm rồi nói:
        -Mấy cây dừa lão hết rồi! Trái bị rụng nhiều lắm! Ra vườn nhớ đội nón bảo hiểm cho chắc ăn. Nhứt là cẩn thận đừng có đứng hay ngồi dựa gốc dừa.
        Lam bỗng bật cười rồi nói thơ:

        -“Vân tiên ngồi dựa gốc dừa
        Dừa khô rớt xuống bể đầu Vân Tiên”

        Ba người cùng cười ra tiếng. Thắm ngưng trước để nói:
        -Tui tính kêu mấy đứa nhỏ trong xóm đốn hết mà tụi nó tính công mắc quá!
        Ngươn nói:
        -Nếu đã có ý định đó thì để tui nhờ mấy em bên chùa qua tiếp một tay…
        Chàng dừng lại rồi ngập ngừng nói tiếp:
        -Tui có cái ý nầy, đâu Út nghe coi được hông?
        Thắm giục:
        -Thì nói đi!
        Ngươn tằng hắng:
        -Mấy cây dừa đó đừng cưa sát góc. Chừa khoảng một thước rưởi lại để đó.
        Lam chậ hỏi:
        -Chi vậy?
        Ngươn đáp:
        -Bây giờ bông thiên lý đang được ưa chuộng, giữ mấy gốc dừa đó lại để làm giàn cho nó bò lên. Trồng chừng vài chục gốc là hái bán đủ tiền chợ.
        Lam phấn khởi xúi:
        -Được đó dì Út, làm liền đi! Mai mốt nó trổ bông, mình hái rồi đổ bánh xèo bằng bông thiên lý. Hổng chừng còn ngon hơn điên điển.
        Thắm trề môi:
        -Mầy sang quá hén! Biết thiên lý bao nhiêu tiền một ký hông?
        Lam hỏi dồn:
        -Bao nhiêu?
        Thắm tỉnh bơ:
        -Tao hổng biết! Nhưng nghe nói mắc lắm! Cái lương cô giáo về hưu của mầy không rớ tới nổi đâu! Đừng có mơ cho mệt con ơi!
        Ngươn hỏi:
        -Cô Lam có muốn trồng không? Tui có giâm mấy chục nhánh đang gửi nhờ trong chùa, để đem về cho Út rồi xớt bớt cho cô một cây.
        Lam trêu:
        -Tại sao dỉ tới mấy chục nhánh mà tui chỉ một?
        Ngươn đáp:
        -Một nhánh thôi cô ăn cũng đủ mệt rồi! Trồng nhiều ăn đâu xuể. Đem bỏ thì tiếc mà ngày nào cũng ăn, riết rồi ngán ngược. Hết thích nữa uổng lắm!
         
         
        (Xem tiếp CHƯƠNG NĂM)


        <bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2019 13:47:46 bởi Lâm Du Yên >
        #4
          Lâm Du Yên 28.09.2019 13:54:43 (permalink)
          GIÓ ĐÔNG
          Tryện dài Lâm Du-Yên
           
           
          CHƯƠNG NĂM

          Vừa dắt xe xuống đò là Lam nghe tiếng gọi giựt ngược:
          -Cô Ba, cô Ba!
          Lam hất vành của chiếc nón lá lên khỏi trán, đưa mắt nhìn về phía có giọng nói quen thuộc đó.
          Không chờ Lam chào, cô Sáu, láng giềng gần nhất, cả nghĩa đen lẫn bóng, hỏi liền:
          -Cô đi đâu cả tuần lễ nay vậy?
          Lam hỏi lại:
          -Sao chị biết tui hổng có ở nhà?
          Cô Sáu đáp:
          -Cái điện thoại nhà cô ngày nào cũng reo từ sáng tới khuya cho nên tui mới biết đó chớ ! Tụi tui lo quá chừng chừng! Ba con An ổng nói hổng chừng cô bị trúng gió hay té xỉu trong nhà. Con An nó lật đật chui lỗ chó qua coi thử. Nó thấy nhà đóng cửa kín bưng, kêu om sòm mà không nghe cô lên tiếng. Nó nói chắc là cô đi vắng. Vậy chớ tui cũng phập phồng không yên. Đã vậy có một con chuột xạ bị con Mực nhà tui vật chết rồi chê hôi. Nó hổng thèm ăn mà nhét vô bụi, thúi rùm làm cả nhà tui hết hồn!
          Giọng cô Sáu vừa mừng vừa trách móc:
          -Ông nhà tui ổng tưởng tui với cô mích lòng, ổng theo hỏi tui hoài. Ổng nói mọi lần đi công chuyện chừng hai ba ngày là cô đưa chìa khóa nhờ con An qua tưới cây giùm, lần nầy sao im ru. Ổng còn rầy tui, nói lối xóm tối lửa tắt đèn có nhau, ai gặp chuyện gì mình phải biết để giúp cho kịp. Hồi nào tới giờ hai nhà đối với nhau như bát nước đầy. Cô ở có một mình, cần người lân cận dữ lắm! Chắc tui phải làm chuyện gì tày đình cô mới giận đến vậy! Ổng biểu tui phải qua xin lỗi cô một tiếng. Tui nói hoài mà ổng không chịu tin. May mà tui nhớ ra ngay trước đó cô có bưng cho tui một tô bí hầm dừa, tui nhắc cái rồi ổng mới chịu im, hông thôi cứ cằn nhằn cử nhử nghe mà nhức xương.
          Lam cảm động quá, nói:
          -Xin lỗi chị Sáu nghe! Tui đi đám giỗ bà cố ngoại, tính chiều về nên đâu có gởi nhà làm chi! Nào ngờ bà dì bả té lọi tay, trặc chưn. Dĩ cũng ở một mình nên tui phải ở lại nuôi.
          Cô Sáu hớt hải:
          -Mèn ơi! Phải dì Út hôm bữa qua đây thăm cô đó hông? Bây giờ dĩ sao rồi?
          Lam đáp:
          -Cái tay mạnh rồi nhưng cái chưn chưa lành, đi còn phải chống nạng. Tui tính lát nữa ghé qua thăm chị để gởi nhà rồi qua bển với dĩ nữa.
          Rồi hỏi tiếp:
          -Chắc cái giàn mồng tơi của tui nó héo queo rồi hả chị?
          Cô Sáu phật ý:
          -Ngày nào con An cũng chui qua đó tưới, héo sao được?
          Lam bùi ngùi:
          -Cám ơn chị quá!
          Đò cặp bến, Lam dắt xe đi trước, cô Sáu lót tót theo sau. Thấy hai tay cổ xách hai cái túi ni lông bự bành ky, coi bộ nặng nề. Lam hỏi:
          -Chị đi chợ sớm quá hén! Sao hôm nay chịu khó đi qua tới bên đây? Mua cái gì mà đùm đùm, đề đề vậy?
          Cô Sáu đáp:
          -Tui mua vải thay cái màn cửa buồng. Cái màn đang treo cũ quá nên phải thay cái mới. Với mua mấy bộ tự sự, mấy chùm bông giả bằng vải ni lông. Tết tới rồi phải lo dọn bàn thờ cho đẹp. Tui cũng mua một chục chén, bốn cái tô. Ba cái tô chén cũ mẻ tui bỏ bớt, phải mua chêm vô cho đủ xài.
          Rồi cổ nói tiếp:
          -Chừng nào cô gặp dì Út, cho tui gởi lời hỏi thăm dĩ nghe! Hai dì cháu cô ngộ quá! Ai cũng lịch sự hết sức mà hổng chịu lấy chồng…
          Lam sợ cái chủ đề " lấy chồng" nầy lắm, nên lật đật ngắt lời:
          -Chị máng hai cái túi lên ghi đông xe đi rồi lên đây tui chở cho.
          Cô Sáu làm theo rồi giành:
          -Để tui chạy cho, cô ngồi đàng sau đi.
          Lam hỏi:
          -Chị chở tui nổi hông đó?
          Cô Sáu cười:
          -Tui ốm chớ hổng có yếu đâu nghe. Hôm bữa ba con An đau trĩ đó, tui chở ổng chớ ai? Cô nặng chừng hơn phân nửa ổng chớ mấy. Nhầm nhò gì!
          Lam ngồi bỏ chưn qua hai bên hai bên cho chỉ dễ chở, rồi hỏi:
          -Ảnh sao rồi chị? Cắt chưa?
          Cô Sáu nói:
          -Rồi! Để tới bữa nay chắc ổng hui nhị tỳ mất tiêu rồi! Giỏi lắm cũng chỉ còn da bọc xương. Cái thứ bịnh gì đâu mà nó hành trời ơi, đất hởi! Bởi vậy hồi nhỏ cái mặt tui mà nhăn nhăn, nhó nhó là bị má tui chửi phủ đầu liền. Bả hỏi: “Bộ mầy bị bịnh trỉ hả?”
          Lam hỏi tiếp:
          -Tốn tiền nhiều hông chị?
          Cô Sáu thở dài:
          -Mười mấy triệu đó cô. Tui bậm gan đưa ổng lên Sài gòn làm cho chắc ăn.
          Lam chắc lưỡi:
          -Tệ quá! Vậy mà tui hổng biết để qua hỏi thăm một tiếng!
          Cô Sáu cười:
          -Ổng mắc cỡ dữ lắm! Giấu quá trời đâu có nói cho ai biết!
          Tới nhà Lam chị Sáu thắng xe. Lam can:
          -Chạy qua nhà chị luôn cho tiện.
          Chị Sáu lại gò lưng lấy trớn. Lam bỏ hai cái chưn xuống đất đẩy phụ. Chỉ đạp chưa được mười cái là dừng. Nghe tiếng thắng xe An, cô con gái út của chị Sáu, đang quét sân bèn dừng chổi ngẩng mặt lên nhìn. An nhảy tưng lên một cái, nhưng không phải mừng má mình mà mừng Lam:
          -Cô Ba về rồi! Hổm rày con trông cô quá trời! Trong bụng cứ nghi cô bị bắt cóc mà không dám nói! Tối nào đốt nhang con cũng cầu xin trời phật phù hộ cho cô.
          Lam cười:
          -Cô xin lỗi nghe! Cám ơn con hổm rày tưới rau giùm.
          An cười:
          -Có gì đâu cô!
          Lam nhảy xuống đất. Cô cầm lại cái ghi đông từ tay chị Sáu rồi leo lên yên, nhấn bàn đạp đánh một đường cong để cho xe quay đầu lại.
          Con An gọi vói theo:
          -Có trái đu đủ hườm hườm rồi đó, cô nhớ hái đem dú nghe!
          Lam quay lại cười và gật đầu, rồi đạp một cái vù.
          Đúng như lời cô Sáu nói, tiếng điện thoại từ trong nhà đang réo sôi, réo sục. Lam không kịp đá cây chống xuống. Cô dựng thí mạng chiếc xe vô hàng rào, móc chìa khóa ra mở cửa cổng. Cũng không kịp đóng cổng lại, lật đật mở cửa nhà rồi chạy ào vô chụp liền cái điện thoại:
          -A lô!
          Tiếng reo thảng thốt của Đông từ đầu dây bên kia:
          -Cô!
          Lam vừa nói vừa thở gấp:
          -Cô xin lỗi!
          Đông hỏi, giọng hơi rung:
          -Cô có sao không?
          Lam đáp:
          -Cô không sao! Cô về thăm bà dì với ăn đám giỗ bà cố mà quên cho Đông hay! Chắc ngày nào Đông cũng gọi cho cô hết hả?
          Đông không muốn Lam ngại nên nói dối:
          -Đâu có! Em mới vừa gọi cho cô thôi!
          Lam hỏi lại:
          -Vậy sao Đông hỏi cô có sao không?
          Đông đáp:
          -Tại em nghe cô thở hổn hển như đang bị ai đuổi chạy vắt giò lên cổ vậy.
          Lam cười:
          -Cô nghe tiếng chuông reo từ ngoài cổng, cho nên…
          Đông hỏi tiếp:
          -Dì cô bị gì mà cô về thăm vậy?
          Lam nói:
          -Thật ra cô về ăn giỗ, định đi trong ngày rồi về liền. Nào ngờ dì cô leo cây me bị té lọi tay nên phải ở lại săn sóc, tại dĩ cũng làm lính phòng không như cô vậy!
          Đông ngạc nhiên:
          -Dì của cô chắc cũng phải tròm trèm bảy mươi, vậy mà còn trèo cây nổi sao?
          Lam cười:
          -Đâu mà có! Dì Út cô còn nhỏ hơn cô tới năm ngày tuổi lận! Dĩ còn khỏe lắm! Đừng có nói leo cây me, mấy năm trước dĩ còn leo cây dừa nữa đó!
          Đông hỏi:
          -Cô có biết leo cây hông cô?
          Lam đáp:
          -Ở xóm cô con nít đứa nào cũng biết leo cây hết ráo!
          Đông hỏi:
          -Vậy sao? Bộ người lớn không rầy, không coi chừng hả?
          Lam cười:
          -Coi chừng sao xuể. Với lại cũng không nỡ cấm.
          Đông ngạc nhiên:
          -Sao vậy?
          Lam giải thích:
          -Đông hổng biết chớ, không có gì thú vị hơn là trèo cây, hái trái rồi ngồi ăn tại chỗ.
          Đông cười ra tiếng, Lam hỏi:
          -Cười cái gì?
          Đông vẫn còn cười, đáp:
          -Tưởng tượng cái cảnh cô trèo cây em thấy vui vui. Bộ cô thích trèo cây lắm hả?
          Lam gật đầu, rồi nói:
          -Con nít nhà quê đứa nào mà không thích? Những ngày nghĩ hè cô ở ngoài vườn nhiều hơn trong nhà. Cô với mấy đứa bạn hay rủ nhau leo cây. Tụi cô còn thi đua với nhau. Đứa nào cũng ráng trèo lên cao nhứt, ngồi chễm chệ ăn rồi liệng vỏ, phun hột xuống đầu mấy đứa kia.
          Đông hỏi:
          -Cô có bị té chưa?
          -Té rồi!
          -Té cây gì?
          -Cây ổi!
          -Có sao không?
          -Lọi tay! Ba cô đốn cái cây đó luôn! Ông tuyên bố một câu xanh rờn, cô mà còn leo là ổng đốn hết vườn, không chừa lại một cái cây nào. Từ đó cô giải nghệ luôn!
          Đông hỏi:
          -Cô còn thích leo cây không?
          Lam lại gật đầu theo thói quen. Đông lập lại câu hỏi. Lam lại nhớ ra, lại cười, lại đáp:
          -Còn chớ sao không? Cô thích cái cảm giác ngồi trên cây ngó ông trời lắm! Hồi ba cô còn sống, lúc ổng vắng nhà cô có leo một vài lần. Từ khi ba cô mất cô hết dám leo nữa.
          Đông ngạc nhiên:
          -Sao vậy? Đáng lẽ ngược lại mới đúng!
          Lam giải thích:
          -Cô sợ ba thấy cô còn trèo cây nên cứ quanh quẩn coi chừng, không yên bụng đi đầu thai.
          Đông ngậm ngùi:
          -Có ba thích quá!
          Lam chợt nhớ ra nên hỏi:
          -Ba Đông mất lúc Đông mấy tuổi ?
          Đông đáp:
          -Mười một tuổi! Em còn nhớ lúc đó mình vừa đậu đệ thất. Em trông ba về để khoe, nào ngờ!
          Đông nói tiếp:
          -Ba chưa kịp đánh em một roi nào, chưa kịp rầy em một câu nào để em giận, em ghét. Cho nên…
          Lam nói đùa để ngăn giọt nước mắt sắp trào:
          -Mai mốt cô sẽ rầy Đông, sẽ đánh Đông để khi cô chết Đông không phải buồn nghe!
          Đông cười gượng gạo, đáp:
          -Ai cho cô chết đâu mà đòi!


          Lam hỏi :
          -Chắc mẹ Đông thương Đông nhiều nhứt hả?
          Đông đáp, giọng buồn hiu:
          -Không còn nhứt nữa rồi!
          Rồi nói thêm:
          -Bây giờ em với mẹ còn không liên lạc với nhau.
          Lam ngạc nhiên:
          -Sao vậy? Cô thấy thường thường khi xa nhau ta hay nghĩ tốt về nhau và thương nhau nhiều gấp đôi. Đông thương mẹ đến nổi không ưa ông cha dượng nữa mà!
          Đông thở dài:
          -Tại mẹ gom hết tình lẫn tiền của em gửi về cho ổng nên em mới...
          Rồi Đông thở dài:
          -Đồng tiền là loại thuốc tẩy cực mạnh làm phai mờ các thứ nhanh chóng, kể cả tình cảm cô ơi! Em thấy thương cho mấy người mang cái họ Việt kiều nhiều lắm! Một phần vì thương gia đình, một phần vì tính sĩ diện nên một số người, trong đó có em, tự biến mình thành bò sữa, bị vắt tơi bời…
          Lam chép miệng :
          -Nói thiệt với Đông, nhà cô không có ai là Việt kiều, nhưng cô vẫn mang ơn những người con xa xứ như Đông lắm! Nhờ có họ mà kinh tế nước nhà mới có điều kiện để phát triển, chớ hông thôi…
          Rồi hỏi tiếp:
          -Bây giờ mẹ Đông vẫn khỏe hả? Vẫn ở chỗ cũ hả Đông?
          Đông đáp:
          -Em đem mẹ, ông tía dượng và hai thằng em một mẹ khác cha qua đây rồi. Bởi vậy nên mới va chạm đến tóe lửa, nên mới ra nông nổi…
          Rồi Đông tâm sự:
          -Em đâu cần gì nhiều, chỉ mong mẹ vẫn là mẹ của em như ngày xưa. Thế nhưng mẹ đã hoàn toàn thay đổi. Mẹ làm cho em thất vọng quá!
          Lam an ủi:
          -Thôi! Đông đừng buồn nữa! Hãy tha thứ cho mẹ để sống một cách thoải mái! Đừng làm mất mẹ rồi mất luôn niềm vui trong cuộc sống.
          Đông thở dài:
          -Nói thì dễ nhưng làm thì khó lắm cô ơi!
          Lam cười buồn:
          -Hồi đó có nhiều lần cô giận má mình ghê lắm! Cô đã nói nhiều câu làm má đau lòng. Đến chừng má mất rồi chính những lời nói đó gậm nhấm trái tim cô mỗi ngày. Thậm chí cô nằm chiêm bao thấy má nói má đã tha thứ cho cô. Cô tin rằng má biết cô bị dằn vặt nên hiện về báo mộng.
          Lam dừng lại thở dài rồi tiếp:
          -Cho dù không mơ thấy, cô vẫn biết má đã tha thứ cho cô, bởi có cha mẹ nào mà không tha thứ cho con cái. Thế nhưng cô vẫn chẳng thể nào thôi ray rức. Cô rất muốn đánh đổi quảng thời gian còn lại nầy để được nói với má một câu: “Con thương má lắm! Xin má tha lỗi cho con!”
          Đông thở dài:
          -Em biết rằng khi mẹ qua đời em sẽ đau khổ vô cùng. Thế nhưng…
          Lam nói:
          -Ráng đi Đông! Hãy tha thứ cho mẹ khi còn kịp. Hãy khai thông dòng chảy tình cảm của Đông với mẹ, hãy nói với mẹ những lời thương yêu mà Đông còn giấu tận đáy lòng. Tất cả những gì Đông có hiện nay mẹ đều có đóng góp, kể cả lòng hờn giận mà Đông dành cho mẹ.
          Lam nói với Đông mà như nói với chính mình.
          Cô nuốt nỗi ngậm ngùi xuống rồi tiếp:
          -Dù vô tình nhưng cô cũng là một trong những người đã làm cho Đông đau khổ. Đông chẳng những tha thứ mà còn dành cho cô rất nhiều thiện ý nữa! Mẹ của Đông xứng đáng được hưởng điều đó gấp ngàn lần cô mà! Đông hãy nghĩ đến cô để xí xóa và thương mẹ nhiều hơn!
          Đông xúc động, nói:
          -Em cám ơn cô rất nhiều! Em hứa ráng làm theo lời khuyên của cô! Em vô cùng hãnh diện vì được làm học trò của cô. Cô tốt lắm, cô có biết không?
          Lời khen được thốt lên một cách hết sức chân thành của Đông làm Lam nghe chua xót. Mới mấy bữa trước dì Út cũng khuyên Lam những câu tương tự và Lam đã trả lời dì như thế nào?
          Lam nhớ lại cái câu danh ngôn mà ngày xưa cô rất bực bội khi nghe “Hãy làm những gì tôi nói, đừng làm những gì tôi làm”. Thuở ấy Lam cho rằng người thốt lên câu đó, chẳng những là kẻ đạo đức giả mà còn trơ trẽn nữa. Bây giờ Lam đã hiểu, con đường từ “muốn” đến “thực hiện” xa xôi lắm! Có khi đi hết đời người cũng chưa đến được.
          Lam tự hỏi tại sao tất cả các việc tốt cho dù hết sức đơn giản lại khiến người ta ngán ngược đến độ bó tay thúc thủ. Trong khi những điều xấu thì lại hấp dẫn cho tới nổi không thể cưỡng lại được.
          Ngày xưa khi thấy mấy đứa bé chừng ba bốn tuổi, quỳ bên chân giường cầu nguyện:
          -”Lạy chúa, xin giúp con tránh xa những cám dỗ”
          Lam đã cười thầm, vì nghĩ:
          -“Mới bây lớn thì có cái khỉ gì cám với dỗ mà tránh!”
          Thế nhưng bây giờ Lam tin rằng con người ta được sinh ra cùng một lượt với nỗi cám dỗ. Cái thiện và cái ác đều được gieo mầm. Tại sao có những người mà cái đau đớn, nỗi thống khổ của người khác lại cho họ một cảm xúc gần giống như khoái lạc? Tại sao bầu vú của mẹ bị sưng tấy vì những chiếc răng sữa? Tại sao tận thẫm sâu trong tâm hồn, ta vui khi thấy người yêu ta đau khổ vì ta?
          Một phút đã trôi qua, cả hai đều dùng khoảng thời gian ấy để tự vấn. Lam đang xót xa vì những điều bất thiện trong cuộc sống thì bị Đông kéo về thực tại:
          -Cô còn đi nuôi bà dì của cô không?
          Lam đáp vội:
          -Còn chớ!
          Đông nói:
          -Vậy cho em xin số "xeo phôn" của cô đi!
          Lam lắc đầu, cười:
          -Cô đâu có xài di động!
          Đông thất vọng:
          -Như vậy thì làm sao em liên lạc với cô được?
          Lam suy nghĩ mấy giây rồi nói:
          -Để cô cho Đông cái số của bà dì. Đông có sẵn giấy, bút không để cô đọc cho ghi.
          Đông lật đật:
          -Cô chờ một chút… Rồi, đọc đi!
          Lam căn dặn khi đọc xong một dãy chữ số cho Đông:
          -Đông phải gọi về đây trước, nếu không nghe cô trả lời thì mới gọi vào cái số nầy nghe. Còn nữa, nếu nghe tiếng của người phụ nữ lạ thì phải cúp liền lập tức nghe chưa!
          Rồi nhấn mạnh:
          -Cúp liền đừng nói tiếng nào hết!
          Đông do dự:
          -Như vậy là bất lịch sự lắm đó cô!
          Lam đáp, dứt khoát:
          -Thây kệ! Đó là bà dì Út của cô chớ không ai khác! Đông mà trả lời là bị bả ví tới cùng liền, bị truy hỏi sát rạt hổng chừng còn bị bức tử nữa đó!
          Đông cười phá lên:
          -Kinh khủng tới mức đó sao?
          Lam nhấn mạnh:
          -Cô nói thiệt đó, không có giỡn đâu! Bà dì của cô, bả đang nôn gần chết! Bả chỉ muốn thấy cô…
          Nói tới đó Lam bỗng nghẹn họng ngang xương, cô nín thinh luôn.
          Đông đáp vội:
          -Em biết rồi. Cô yên tâm đi!
          Rồi hỏi tiếp:
          -Chắc dì của cô thương cô nhiều lắm hả?
          Lam gật đầu:
          -Ừ!
          Rồi hỏi lại, dù đã biết câu trả lời:
          -Sao Đông biết?
          Đông cười :
          -Dễ quá mà! Cái cách dì ấy quan tâm tới cô; Cái cách dì ấy tra gạn bạn bè cô; Cái cách cô bực bội... Mấy thứ đó y hệt như em với mẹ ngày xưa.
          Lam lại hỏi:
          -Vậy sao?
          Đông thở dài:
          -Hồi đó mỗi lần thấy em đi học về mà cái mặt buồn hiu là mẹ lại hỏi: “Bộ hôm nay trả bài hổng thuộc hả? Bộ làm bài không được? Bộ bị ai ăn hiếp? Vân vân và vân vân. Mẹ đâu có biết là em ghét nghe mấy câu hỏi đó gần chết! Cho nên mấy lúc bị như vậy em phải đi lang thang không dám về nhà, để khỏi phải trả lời, khỏi phải nói dối.
          Lam cười:
          -Má cô cũng hỏi y chang! Thế nhưng cô lại cảm động, có khi khóc hu hu.
          Đông tâm sự tiếp:
          -Em ghét nhứt là mỗi lần có bạn đến nhà. Con trai con gái gì cũng vậy. Tụi nó đều bị mẹ vặn hỏi là trong lớp em học như thế nào? Được thầy, bạn nào thương? Bị ai ghét? Rồi đều gởi gắm: "Con ráng coi chừng nó giùm dì nghen! Coi lớn xác chớ nó còn khờ lắm! Làm em bị mất thớ với tụi nó quá trời!
          Đông lại hỏi:
          -Chắc dì cô hay làm cho cô bực mình lắm hả?
          Lam gật đầu theo thói quen dù biết Đông không thấy.
          Cô nói:
          -Dì cô giống như cái áo len dày mo vậy đó! Giúp cô ấm áp khi trời lạnh, nhưng vẫn cảm thấy gò bó, khó thở, nhứt là khi gài kín hết mấy cái núc. Đôi khi chịu không nổi phải cởi ra.
          Đông hỏi:
          -Còn em thì sao hả cô? Em là cái gì? Là ai đối với cô?
          Lam cười hì hì, làm thinh.
          Đông nhắc:
          -Em là gì của cô?
          Lam nói bằng giọng cà rỡn để giảm bớt tầm quan trọng của câu hỏi:
          -Em là Nguyễn Đông, là người cho cô mượn dép, là người cong lưng đạp xe chở cô trên con đường núi, là cậu học trò mà ngày xưa và cả bây giờ, làm cho cô đỏ mặt nhiều nhứt!

          Hình ảnh cái lưng ốm ốm, dài dài, cùng tấm áo trắng đẫm mồ hôi của cậu học sinh trẻ măng ngày nào chợt hiện ra khiến Lam xúc động.
          Lam khen Đông nhưng giọng lại bùi ngùi:
          -Hồi đó Đông khỏe ghê, con đường đó dốc ơi là dốc! Cô đạp xe một mình còn mệt hộc xì dầu, vậy mà Đông chở cô chạy phom phom, không nghe than một tiếng!
          Đông đáp:
          -Giành giựt dữ lắm mới được chở cô, khoái muốn chết mà than cái gì? Lúc đó em ước ao chạy thẳng lên đỉnh núi, vái có cái gì làm cho em và cô bị mắc kẹt rồi ở trên đó luôn!
          Rồi nói thêm :
          -Phong cảnh ở đó đẹp ghê cô hén! Nhứt là vào những buổi chiều, lúc mà những đám mây rủ nhau tập trung lại trên đỉnh núi để ngủ.
          Lam phụ họa:
          -Không biết ai đem phượng vỉ trồng đầy trên núi, chúng trổ bông đỏ rực, đứng mút ngoài chợ, cách cả chục cây số vẫn còn thấy. Đẹp nhứt là cái cây phượng tuốt trên cao. Nhìn như thể có một người nào đang sống thêu lêu một mình trên đó, đốt lửa để sưởi ấm, để nướng khoai, để nhìn cho đỡ buồn.
          Cô trầm giọng thật thấp như nói với chính mình:
          -Thời gian đó sao mà vui! Mấy thầy, cô trò được ở chung, nấu cơm ăn chung, làm cái gì cũng chung. Tụi em giành hết không cho tụi cô đụng tay vô thứ gì. Cơm thì ngày nào cũng khét, mà rồi xúm nhau vét sạch trơn. Món ăn thì cứ rau sam, rau dền cơm luộc chấm nước mắm giầm hột vịt …
          Đông phụ họa:
          -Cái nhà tắm thì vừng bằng lá, cách nhà rất xa, hết sức bất tiện. Mỗi lần mấy cô tắm là đám đàn ông con trai tụi em kéo nhau đi lên núi.
          Đông kể lể :
          -Cực nhất là lúc đi lấy nước, phải leo thật cao mới có, xách được một thùng nước còn đầy về tới nhà là cả một kỳ công. Tụi em múc nước đầy thùng xong là nhảy xuống tắm! Nước lạnh đến đánh bù cạp. Hai hàm răng hết đá rồi đạp vào nhau nghe lanh canh, lập cập.
          Lam rầy:
          -Vậy là tụi em tắm luôn trong chỗ lấy nước nấu ăn hả?
          Đông trấn an:
          -Cô đừng có lo, tụi em hứng nước tuốt trên nguồn, sạch sẽ, trong lành không nhiễm chút xíu gì là ô uế! Toàn hy rô với ốc xy, không có chút cạc bon nào hết!
          Lam chắc lưỡi:
          -Tội nghiệp mấy em quá, phải đi lấy nước cực như vậy mà tụi cô đâu có biết. Tại tụi em cứ cản không cho phụ nữ đi theo sợ bất trắc nên mới cực như vậy. Nếu không tụi cô đã có cái kỷ niệm tắm suối để nhớ cả đời mà tụi em cũng không phải vất vả.
          Đông tiếc rẻ:
          -Nhóm mình ở có nửa tháng là về uổng quá! Không biết mấy cái chữ mình trao, còn ở lại hết trong đầu họ, như phong cảnh nơi ấy còn ở trong lòng mình không hả cô?
          Lam nói:
          -Việc đó xem ra người được hưởng lợi nhiều nhất là nhóm của mình. Vừa mở rộng tầm mắt, vừa sung sướng với cái ý nghĩ là đã làm điều tốt, vừa có thêm những kỹ niệm đẹp.
          Đông tâm sự:
          -Những kỹ niệm đó hết sức quý giá đối với em cô biết không? Mỗi lần cảm thấy quá cô đơn, cảm thấy nhớ quê hương là em lại đem nó ra gậm từng chút một.
          Lam giải thích:
          -Đó là nhờ nó phát sinh vào thời kỳ đẹp nhất, trong độ tuổi đẹp nhất. Chúng ta lại còn được làm một công việc đẹp nhất nên nó mới để lại một ấn tượng sâu, rộng đến vậy!
          Đông nói:
          -Vậy chớ ngày đầu ai cũng nản, có lớp, có người dạy mà không ai thèm tới học.
          Lam nhắc:
          -Nhờ Đông xách theo cây đàn nên đêm nào cũng ca, cũng hát, kéo mấy đứa con nít, người lớn đến đông đủ để nghe rồi dạy cho họ. Nhờ vậy mà sau đó mình khỏi phải đi năn nỉ từng người, từng nhà.
          Đông nói như xót xa:
          -Em thương nhứt là mấy đứa con nít ở đó. Em thấy hình như đứa nào càng nghèo thì càng giàu tình cảm. Cô có nhớ thằng Cà Thum không, cái thằng đen thui, ốm nhom mà còn sún răng nữa đó! Hôm mình đi, em thấy nó đứng núp sau cây me, nhìn theo mà nước mắt chảy ròng ròng!
          Rồi rủ:
          -Mai mốt em về, cô có dám ngồi sau xe đạp đi với em về thăm chỗ đó không?
          Lam ghẹo:
          -Có chở nổi hông mà nói!
          Đông đáp một cách hài hước:
          -Dư sức! Ở bên nầy hể rảnh là em đem xe ra đạp lòng vòng. Cái gì em thua xa thiên hạ chớ sức lực thì "chưa thằng nào ngán thằng nầy đâu nghe!"
          Lam vừa cười khanh khách vừa nói:
          -Sức khỏe là vàng bốn số chín đó! Vậy là em giàu to rồi!
          Rồi ghẹo:
          - Đông có thi lực sĩ đẹp không?
          Đông cười hô hố:
          -Nổ với cô cho vui chớ cỡ em thì ai mà cho thi!
          Lam hỏi tới:
          -Cái năm tỉnh mình mở cuộc thi điền kinh, Đông có tham gia không?
          Đông lắc đầu:
          -Em không có dự thi môn nào hết, chỉ đi cổ vũ cho thằng Tiến, thằng bạn trong xóm, ở sát bên nhà mà thôi!
          -Bạn Đông thi môn gì?
          Đông cười một tràng rồi đáp :
          -Nó thi môn đi xe đạp chậm.
          Lam hỏi:
          -Có cái gì vui mà cô vừa hỏi là Đông cười một cách thích thú vậy?
          Đông giải thích:
          -Nhắc tới là mắc cười nôn ruột. Để em kể cho cô nghe. Lần đó mấy đứa trong xóm tụi em kéo rốc nhau đi xem để ủng hộ tinh thần cho nó. Nó thi vào đợt đầu tiên, khi người ta vừa thổi còi xuất phát, cả bọn hét vang: ”Tiến ơi! Tiến lên” Nó bèn đạp một cái ào về đích. Tới chừng đó mới nhớ ra là thi môn xe đạp chậm. Nó bị xếp hạng bét, rồi đổ thừa là tại tụi em hô “tiến lên” làm cho nó quên!
          Đông hỏi:
          -Lần đó cô có đi xem không?
          Lam đáp:
          -Cô không bao giờ đi xem những cuộc thi.
          Đông ngạc nhiên:
          -Sao vậy cô?
          Lam giải thích:
          -Cô ghét sự cạnh tranh, cô ghét mấy cuộc thi, cô ghét cái cảnh chỉ có một người vui còn cả đống người buồn.
          Đông phản đối:
          -Nhưng có cạnh tranh mới có tiến bộ chớ!
          Lam nói:
          -Đồng ý! Nhưng đó là cạnh tranh lành mạnh. Bây giờ ngày càng một tệ. Người ta dùng đủ thứ thủ đoạn để thắng cho bằng được. Mất đi tính thể thao. Có khi cổ động viên của hai đối thủ chửi lộn, đánh xáp lá cà với nhau luôn! Không ít những cuộc thi kéo theo một đống rắc rối sau đó!
          Đông ngạc nhiên:
          -Cô nói là cô không thích đi thi, vậy mà em nghe kể là năm nào cô cũng đại diện trường của cô đi thi văn hết!
          Lam đính chính:
          -Lâu lâu mới đi một lần, đâu phải năm nào cũng đi!
          Đông nhấn mạnh:
          -Nhưng cô có dự thi đúng không?
          Lam gật đầu:
          -Đúng! Nhưng lúc đó cô tuân theo sự sắp đặt của nhà trường mà thôi!
          Đông nói:
          -Em thì cho rằng tính cạnh tranh đã nằm trong bản năng của con người rồi. Bởi vậy mới có câu “sống là tranh đấu”, con người phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển mà cô!
          Lam hỏi lại:
          -Tranh đấu với cái gì? Mấu chốt là ở đó! Đa số đều ngộ nhận, đều cho rằng con người phải tranh đấu với nhau để tồn tại. Thực ra trái đất có đủ chỗ cho mọi người, nếu không quá tham vọng, con người ta sẽ chung sống với nhau vô cùng thoải mái. Để sống ta chỉ cần không khí và nước, cùng một vài thứ rau trái có sẵn hoặc được trồng. Theo cô chữ tranh đấu ở đây có nghĩa là ta phải tranh đấu với chính bản thân mình mà thôi.
          Rồi Lam nói như tâm sự:
          -Đông có biết điều ấy làm cô vô cùng nhức nhối? Bao nhiêu năm đi dạy cô chưa được nhận một danh hiệu nào, bởi cô phản đối cái lối dạy chạy theo thành tích. Cô ghét nhứt cái khẩu hiệu “lập thành tích để chào mừng…”, “Thi đua chào mừng...”. Cái căn bệnh đó, đã đục ruỗng nền giáo dục của nước mình Đông có biết không?
          Đông rất ngại phải phê phán những vấn đề tiêu cực, nên lật đật hỏi:
          -Cô còn đạp xe trên con đường dốc đó một lần nào nữa không? Cô có về thăm lại những người ở đấy không? Cô đi một mình hay được ai chở?
          Lam đáp một cách tiếc rẻ :
          -Sau đợt xóa mù chữ với giúp đỡ bà con ở đó, cô đâu có dịp trở lại cái xã ấy nữa. Cũng có nhiều lần đi ngang qua, nhưng toàn là ngồi trên xe lam không hà!
          Đông lại cười hì hì rồi hỏi:
          -Cô còn nhớ thằng Quyến không cô?
          Lam hỏi:
          -Quyến nào?
          Đông nhắc:
          -Cái thằng có cái mục ruồi to bằng hột đậu đen ngay giữa hai đầu chưn mày, có biệt danh “Ấn Độ “ đó ! Nó có con nhỏ em tên Luyến, con nhỏ được ca tụng là hoa khôi của trường mình đấy!
          Lam nói vội:
          -A! Nhớ rồi, nhớ rồi! Nó bị cái gì sao?
          Đông cười :
          -Lần đó tụi em rủ nhau đi chơi, cả bọn chở nhau ngang qua bến xe của tỉnh mình, nó bỗng nói: ”Cô Lam của tụi mình coi vậy mà giàu dữ lắm nghe tụi bây!”. Tụi em ngạc nhiên quá hỏi lại: ”Sao mầy biết?”. Nó chỉ vô một dãy xe lam đang đậu rồi nói: “Mấy chiếc xe nầy toàn là của cổ không đó!”. Thằng Nhơn nói: “Mốc xì, cổ giàu mà chỉ sắm nổi có ba cái áo dài hay sao? Lương của cổ còn không mua nổi mấy cái bánh xe nữa chớ ở đó mà...” Thằng Quyến liền nói: “Mầy hổng thấy chiếc nào cũng có tên của cổ, chữ “Lam” bên hông đó sao?”
          Lam phá ra cười. Cô hỏi:
          -Bộ hồi đó tụi em hay nói lén cô lắm hả?
          Đông đáp bằng giọng hãnh diện:
          -Tụi em ngày nào cũng nhắc về cô. Không phải nói lén, nói xấu mà ca tụng cô hết lời. Đứa nào cũng xem cô như bảo bối của cả lớp.
          Rồi hỏi:
          -Chắc cô đâu có biết nhờ ai mà tụi em được cô dạy đến trọn năm phải không?”
          Lam đáp:
          -Cô cũng ngạc nhiên lắm! Cô là giáo viên công nhật, đâu đủ tiêu chuẩn để dạy lớp lớn! Lúc đầu họ kẹt người thì xài đỡ đã đành. Cô thấy sau đó có giáo viên dạy văn được trên bộ phái về mà cô vẫn còn dạy lớp em thì lấy làm ngạc nhiên. Có điều cô cũng mến tụi em nên đâu dám hỏi.
          Đông giải thích:
          -Đó là nhờ thằng Tú con ông thầy tổng giám thị đó cô. Tụi em xúi nó xin thầy cho cô ở lại. Nó năn nỉ ổng muốn gãy lưỡi, phải nhờ má nó nói vô thêm mới được đấy.
          Lam cảm động quá nên giọng nói như bị nghẹt mũi:
          -Vậy sao!

          Rồi vừa mở miệng hỏi:
          -Đông có…
          Là dừng lại liền vì nghe tiếng con bé An gọi gióng giả:
          -Cô Ba ơi! Cô Ba…
          Lam nói nhỏ vào ống nghe:
          -Chờ cô một chút nghe!
          Rồi đáp lớn:
          -Ơi! Cái gì đó An?
          Bé An không vào nhà mà đứng ngoài đường hỏi vọng vô:
          -Cô chưa đem xe đạp với cái túi đồ vô nhà. Bó bông bí của cô bị nắng táp héo queo hết rồi! Cô cũng chưa đóng cửa cổng lại nữa. Cái ổ khóa còn máng tòn teng trên cửa nè!
          Thay vì chạy ra cổng, Lam lại đâm đầu vừa chạy vào toa lét vừa nói lớn:
          -Con dắt xe vô giùm cô đi!
          An “dạ” một tiếng thật to rồi dắt xe vào.
          Ngồi trong toa lét Lam nói vọng ra:
          -Khoan có về! Con vô đây cô nhờ một chút.
          Lam giật nước xả cái bồn cầu, rửa tay, rửa mặt lẹ lẹ rồi chạy ra.
          Bé An vừa bước vô bếp vừa hỏi:
          -Chuyện gì vậy cô?
          Lam cười trước rồi nhờ sau:
          -Con phụ một tay, khiêng cái giá võng trong buồng ra phòng ngoài với cô.
          Hai cô cháu khệ nệ, mỗi người một đầu, họ rinh cái giá võng khá nặng bằng inox ra đặt sát vách tường phía trước, nơi cái ống điện thoại đang treo tòn teng.
          Bé An chỉ vô ống điện thoại, nói:
          -Nó rớt kìa cô!
          Lam lắc đầu, giải thích:
          -Hổng phải, cô đang nói điện thoại.
          An lật đật:
          -Vậy con về nghen!
          Rồi vừa đi vừa nói:
          -Cô khỏi ra đóng cửa cổng, để con đóng rồi lòn tay vô gài cái móc, bóp ống khóa lại cho cô luôn.
          Lam cuống quýt :
          -Ờ! Làm giùm cô đi, cô cám ơn con.
          Rồi chụp liền cái ống nghe áp lên tai, chưa kịp nói tiếng nào thì đã thấy An quay lại. Bé An thấy Lam cầm ống nghe áp sát vào tai, thì kê sát miệng vào cái tai còn bỏ không, nói nhỏ:
          -Má em biểu cô đừng nấu cơm cho mắc công, một lát qua nhà em ăn, bữa nay ba em đi đồng rồi không có ở nhà đâu, cô đừng ngại .
          Lam gật đầu rồi nheo một bên mắt với nó.
          An vừa đi được năm bước là Lam nhớ ra nên gọi vói theo:
          -Trở vô lấy bó bông bí đem về cho má con giùm cô. Nói với chỉ cho cô hùn.
          An lại quày quả trở vô lấy bó bông bí rồi nhìn Lam. Lần nầy tới phiên nó cười và nheo mắt với cô.
          Chờ An đi khuất, Lam nằm xuống võng rồi nói:
          -A lô!
          Đông hỏi liền:
          -Cô đang nằm võng nghe điện thoại phải không?
          Lam ngạc nhiên:
          -Sao Đông biết? Cô chưa có đưa mà!
          Rồi đoán:
          -Nãy giờ Đông lắng tai nghe cô nói chuyện hả? Nghe lén là xấu lắm biết hông?
          Đông chống chế:
          -Tại em muốn biết xung quanh cô đang xảy ra chuyện gì. Cô không biết chớ mấy cái âm thanh bên lề đó luôn làm em thích thú, tưởng như đang có mặt ở Việt Nam mình, đang đứng đâu đó rất gần cô.
          Lam ghẹo:
          -Không ngờ Đông là đàn ông mà cũng khoái hóng chuyện như phụ nữ!
          Đông cười:
          -Đàn ông nhiều chuyện còn gấp mấy lần phụ nữ nữa đó! Cô thấy mấy cái quán nhậu luôn ồn ào không? Họ rủ nhau nhậu đâu phải vì ghiền rượu mà tại ghiền nói chuyện đó thôi!
          Rồi Đông tâm sự:
          -Cô biết không! Nhà em ở ngay mặt tiền, má em mở quán bán cà phê. Mỗi lần em và má điện đàm với nhau, tiếng rao, tiếng mấy người khách nói chuyện, tiếng muỗng khuấy lanh canh luôn xen vào và làm em vô cùng xúc động. Chúng cho em cái cảm giác như mình đang ở trong nhà. Mấy âm thanh rời rạc, mấy câu chuyện tầm phào ấy cho em hưởng cái mùi vị của quê hương còn nhiều hơn những câu chuyện của má nữa!
          Lam hỏi:
          -Chắc Đông tốn tiền điện thoại nhiều lắm hả?
          Đông không trả lời mà hỏi:
          -Hồi nãy cô định hỏi em cái gì đó? Em mới nghe được hai tiếng “Đông có...” thôi hà!
          Mất mấy giây Lam mới nhớ ra, cô đáp:
          -Cô định hỏi Đông có đi du lịch nhiều hông? Đi những nước nào rồi?
          Đông đáp:
          -Em làm sặc máu, thì giờ đâu mà đi chơi hả cô?
          Lam ngạc nhiên:
          -Vậy Đông xài mấy ngày phép thường niên vào việc gì?
          Đông đáp:
          -Em đi hái trái cây cho các nông trang, vừa kiếm tiền vừa có cơ hội nói tiếng Việt cho đỡ thèm.
          Lam hỏi:
          -Bộ mấy người chủ nông trại là người Việt mình hả?
          -Họ là người Úc!
          Rồi giải thích :
          -Họ thuê sinh viên đến hái trái cây. Các du học sinh, nhứt là dân châu Á đến Úc du học nhiều lắm! Sinh viên Việt Nam mình cũng có nữa. Tụi nó nghĩ hè là đến mấy cái “pham” làm thêm để kiếm tiền.
          Đông khoe:
          -Nhờ vậy mà em có được một người bạn vong niên cũng là dân An giang mình. Trời ơi! Nhớ lại em còn vui đây nè! Cái lần đó em đi hái kiwi, gặp một cậu sinh viên mặt mày hiền khô, nói giọng miền Tây còn xưng là người Châu đốc. Em mừng còn hơn trúng số độc đắc nữa! Thế là mời cậu ta về nhà. Cậu ấy ở chung với em cho đến hết mùa kiwi mới đi. Em có kể chuyện của mình cho Hưng, tên cậu ấy, nghe. Hưng hứa khi về nước sẽ tìm cách liên lạc với cô, hoặc ít nhứt cũng hỏi thăm tin tức của cô rồi cho em biết. Em tưởng y nói chơi, ai dè đâu tuần trước Hưng gọi điện rồi cho em số của cô đó!
          Lam khen:
          -Cậu ta tốt quá, hứa là giữ lời. Người như vậy bây giờ hiếm lắm!
          Rồi lại hỏi:
          -Bộ Đông không thư từ qua lại với bạn bè trong nước hay sao?
          Đông thở dài:
          -Em đâu có biết địa chỉ của đứa nào. Khi má còn ở Việt Nam em có nhờ chuyển thư giùm, mà rồi im ru hổng thấy hồi âm gì hết.
          Đông nín thinh độ ba mươi giây rồi hỏi:
          -Lúc vừa tới đảo em có gởi cho cô một lá thư. Không dám gởi về trường sợ cô gặp rắc rối, nên kèm với cái thơ của má. Má có trả lời mà cô thì không. Em có hỏi thì má nói có đến trường mà không gặp cô, nên đưa cho người khác nhờ chuyển giùm. Khi tới Úc em cũng gởi liên tục cho cô năm, sáu lá, lần nầy lấy địa chỉ của nhà trường. Cô có nhận được không?
          Lam đáp:
          -Chắc lúc đó cô mắc đi học bổ túc nghiệp vụ rồi, nên không nhận được!
          Đông chặc lưỡi:
          -Hèn gì mà bặt vô âm tính!
          Đông ca tụng Hưng thêm:
          -Cũng may trời phật thương tình, xui khiến cho em gặp cậu bạn nhỏ nầy. Cái anh chàng Hưng nầy vừa có tài lại vừa có cái tâm nữa. Cậu ta học giỏi lắm, được ở lại Úc mà nhứt định về nước.
          Lam hỏi:
          -Bộ học giỏi là được ở lại làm dân Úc luôn hả?
          Đông đáp:
          -Chớ sao! Bởi vậy học sinh châu Á, nhứt là người Việt mình, đến Úc du học nhiều lắm!
          Lam chắc lưỡi:
          -Họ khôn ghê, mình trồng cây, chăm bón cho đã tới chừng có trái cái họ hái, mà lựa trái ngon nhứt mới ác!
          Đông thở dài :
          -Ai biểu nước mình không biết cách thu hút rồi giữ nhân tài ở lại làm chi!
          Lam nói như tâm sự:
          -Nghĩ đến tương lai nước mình sao cô rầu quá! Nhân tài xuất khẩu hết rồi, mai mốt lấy ai để…
          Đông đùa:
          -Lo gì? Còn cô ở lại mà! Cô ráng giúp em giữ giùm cái chữ S đó còn nguyên nghe!
          Lam làm bộ giận:
          -Đông nói móc cô đó hả? Cô giữ cái nhà mình còn hổng xong nữa đây. Ba cái trái cây cứ bị bẻ trộm hoài.
          Đông hỏi :
          -Bộ xóm cô dân bê bối nhiều lắm sao?
          Lam giải thích:
          -Xóm cô ai cũng hiền khô hà! Tại cái vị trí nhà cô bất tiện.
          Đông hỏi tới :
          -Vị trí ra sao mà bất tiện?
          Lam đáp:
          -Nhà cô, cái phía giáp ranh với nhà con bé An khi nãy thì rất an toàn. Phía bên kia giáp ranh với một con đường nhỏ. Con đường nầy vắng lắm, cả ngày chỉ có đôi ba người qua lại. Mấy cây xoài, vú sữa cứ thò tay, chui đầu ra ngoài hàng rào hoài hà! Tụi nó ghẹo con mắt của người ta, họ không hái cũng uổng!
          Đông hỏi:
          -Vườn nhà cô có lớn không? Cô trồng được bao nhiêu thứ trái cây?
          Lam kể:
          -Vườn nhà cô nhỏ xíu như cái túi áo hà! Cô trồng … coi đâu…: Một cây xoài; một cây vú sữa; một cây ổi; một cây mận; một cây cóc… hết!
          Đông thích thú:
          -Nghe cô kể mà em chảy nước miếng, nôn về muốn chết! Em thèm xoài quá! Bên mình hình như đang là mùa xoài phải không cô?
          Lam đáp:
          -Ba cái trái cây bây giờ trổ lộn xộn lắm! Xoài nhà cô thì chưa có bông mà nhà của dì cô thì trái to bằng cườm tay rồi. Bây giờ người ta áp dụng mấy cái phương pháp gì đó! Nên bắt chúng trổ trái mùa để bán cho có giá! Cho nên đi chợ lúc nào cũng thấy xoài.
          Rồi hỏi:
          -Bộ bên đó không có nhập trái cây của xứ mình sao?
          Đông đáp:
          -Em cũng không biết! Từ ngày qua đây em chưa dám mua xoài ăn. Trái cây của đông nam á được ưa chuộng nhứt nên họ bán mắc lắm! Nhà cô trồng xoài gì vậy?
          Lam đáp:
          -Cát Hòa Lộc. Cô lựa giống ngon nhứt rồi trồng mỗi thứ một cây?
          Rồi khoe một cách rất vô tình:
          -Cô chịu khó đi tìm cho được mấy thứ giống thuộc loại "siêu sao" không đó nghe! Vú sữa của cô là “Vú sữa lò rèn” đó! Vỏ mỏng, căng bóng hà, ngọt thôi là ngọt, trái nào cũng to, cũng…
          Tiếng cười của Đông làm Lam giật mình nên tốp lại liền, rồi nạt:
          -Đông nghĩ bậy phải hông?
          Đông chối:
          -Em có nói gì đâu mà cô…
          Lam gắt:
          -Cần gì nói, nghe cười là cô biết liền.
          Đông cãi:
          -Em cười vì thích thú khi nghĩ đến lúc được ăn mấy thứ trái cây thân thuộc ấy! Bộ như vậy cũng có tội nữa sao? Cũng bậy bạ sao?
          Lam khăng khăng:
          -Cái tiếng cười nầy nghe ma giáo lắm! Không có chính nghĩa chút nào?
          Đông cười rộn rã hơn rồi nói:
          -Vậy thì cô dạy em đi! Cười cách nào cho đúng “luật” của cô đây?
          Lam nghẹn họng, không đáp được tới một tiếng.
          Đông nói bằng giọng an ủi:
          -Cô yên tâm đi! Em sẽ về sớm sớm để dựng cho cô một cái hàng rào, vừa cao vừa kín, để không ai có thể thò tay vào hái bất cứ cái thứ gì. Nhứt là mấy trái vú sữa quý báu của cô!


          Chờ một lát không nghe Lam nói câu gì, Đông đoán chắc tại mình nhắc đến trái vú sữa nên Lam lại mắc cỡ, bèn lập tức đổi liền đề tài:
          Chàng hỏi:
          -Bữa nay cô được mời ăn cơm, khỏi nấu phải không?
          Lam chặc lưỡi:
          -Lại nghe lén nữa. Đã vậy còn không biết xấu hổ mà nói bô bô.
          Đông cà rỡn:
          -Im ru hoài, đặng mai mốt ngậm hờn nơi chín suối sao?
          Lam hỏi:
          -Đông còn nghe được cái gì nữa không? Còn đoán được cái gì nữa không? Nói hết ra đây cho cô nghe thử coi có trúng hay không?
          Đông nói bằng giọng nghiêm túc:
          -Cô nghe kể nè! Ban nãy đang trên đường về. Cô đạp xe rất nhanh bởi nóng ruột vì biết có người đang chờ ở nhà. Cô chạy ngang qua cái thúng bông bí để trên cái sạp tre, hoặc cái ghế đẩu lật ngửa đưa bốn cẳng lên trời đặt sát bên đường. Cạnh đó có hai đứa con gái ngồi chồm hổm dưới đất, chúng vừa chơi chuyền chuyền vừa chờ người mua. Cô chạy qua rồi ngoái lại nhìn, phân vân giữa nồi canh bông bí và tiếng reng reng. Những cái bông vàng tươi, sương bám long lanh đầy má đó cũng đang nhìn lại. Cô bèn quay đầu xe, trở lại để mua một bó. Hai đứa bé ấy liền dừng cuộc chơi. Một đứa mời: "Cô mua giùm em đi cô! Bông bí mới hái ngọt lắm!". Cô cười và gật đầu với nó. Cô chọn một bó nằm trên cùng vì không một cái bông nào bị giập. Cô móc tiền ra đưa cho con bé mời mình mà không thèm hỏi giá. Cô bé ấy lại năn nỉ cô lấy thêm một bó nữa vì nó không có tiền thối. Cô gấp nên không kèo nài, lấy luôn một bó nữa mà không thèm lựa. Con bé đó bỏ tiền vô túi rồi cười với bạn nó. Cô lật đật leo lên xe, đạp vù vù, nhanh gấp đôi lúc nãy để bù lại thời gian đã mất. Vừa đến nhà, ngay từ ngoài đường cô đã nghe tiếng chông điện thoại réo tưng bừng. Thế là cô lật đặt vừa bóp thắng tay, vừa rà cả hai chưn cho cái xe đứng sửng lại. Cô nhảy xuống đất, không thèm dựng chống đàng hoàng mà xô sắp chiếc xe vô hàng rào, móc túi lấy chùm chìa khóa, mở cổng, treo cái ổ khóa còn dính cả chùm chìa khóa tòn teng đó vô thanh ngang của cái cổng rồi ba chân bốn cẳng chạy vô nhà. Cửa khóa! Cô lại chạy ra rút chùm chìa khóa, quýnh quíu mở cửa…rồi chạy vắt giò đến chỗ đặt điện thoại, vừa thở hổn hển, vừa cầm cái điện thoại lên “a lô”.
          Lam cười thiếu điều rớt xuống đất.
          Cô ráng dằn lại rồi nói:
          -Hai mươi trên hai mươi!
          Đông hỏi:
          -Là cái gì?
          Lam đáp:
          -Chấm điểm cái bài tường thuật của Đông đó! Quá hay! Quá xuất sắc, tiếc rằng không đúng. Không đúng một chút xíu nào hết!
          Đông nói:
          -Không tin.
          Lam cười:
          -Đó là cái bài văn nói về một cô gái chừng mười bảy, mười tám tuổi mà Đông biết chớ không phải nói về cô. Cái cô gái rất trẻ, rất bồng bột, rất sôi nổi đó, chắc đang ươm biết bao mơ mộng. Cho nên đối với cô ta tình yêu là cái hột vịt lộn nóng hổi, phải ăn liền vì cô ta đang đói. Còn đối với một cô giáo đã về hưu như cô…
          Đông chặn ngang:
          -Đối với loài người, tình yêu luôn hấp dẫn như cái hột vịt lộn nóng hổi. Cho dù họ là đàn ông hay đàn bà, ở độ tuổi nào, làm công việc gì!
          Lam chặc lưỡi:
          -Sự thật là sáng nay cô dậy rất sớm, bưng cái thúng đi hái bông bí. Ở góc vườn, bà dì cô có trồng một khoảnh bí rợ, diện tích độ bốn chiếc chiếu nối lại. Đang hái thì dì cô gọi vô ăn sáng. Cô ráng hái cho hết rồi mới vào. Dì Út vừa cằn nhằn vừa mở nắp vung nồi cơm nếp. Dì trao cho cô một dĩa và bạn của dì một dĩa. Mỗi người bưng một dĩa cơm nếp cháy có thoa nước mắm mỡ hành đều khắp, nhai rốp rốp. Phần cơm nạt còn lại trong nồi được dì Út rắc men vào để làm cơm rượu. Ăn xong cô giành rửa chén nhưng bạn của dì cô không chịu, biểu cô đi về liền kẽo nắng, để chén đó y rửa giùm cho. Cô gặp mẹ của bé An ở bến đò, cô cho chỉ quá giang, chở nặng nên mệt, thở hổn hển…vậy thôi!
          Đông lại hỏi :
          -Bạn của dì cô là ai? Trai hay gái?
          Lam đáp:
          -Bạn bà con, đàn ông!
          Đông bắt bẻ:
          -Bạn là bạn, bà con là bà con. Em chưa nghe ai nói cái từ “bạn bà con” bao giờ!
          Lam bèn kể sơ sơ cho Đông nghe tình trạng của Thắm và Ngươn.
          Đông hỏi:
          -Cho có chút xíu ý kiến, được không?
          Lam nói:
          -Ý kiến, ý cò gì, nói nghe thử coi!
          Đông đáp:
          -Coi bộ cô rất có cảm tình với người bạn nầy, rất muốn hai người xáp lại với nhau đúng không?
          Lam đáp:
          -Đúng!
          Đông lại hỏi tiếp :
          -Hiện giờ dì Út đã sinh hoạt bình thường chưa? Đã tự chăm sóc được chưa? Cô có cho là sự có mặt của mình còn thật sự cần thiết nữa không?
          Lam đáp:
          -Cũng tàm tạm.
          Đông nói thẳng thừng :
          -Vậy muốn tạo cơ hội cho họ chung sống với nhau, cách tốt nhứt là cô đừng qua bên đó nữa. Cô không thấy mình đang làm con kỳ đà hay sao?
          Lam đáp:
          -Cô biết! Nhưng cô không qua là dì Út giận lắm! Rủi ai đến nhà thấy chỉ có hai người thì dĩ bị mang tiếng chết. Tại Đông không biết chớ lòng tự ái của dĩ cao như núi vậy!
          Đông nói:
          -Phải hy sinh mọi thứ để đến với nhau, kể cả tự ái thì hạnh phúc mới có giá trị. Họ đã hy sinh tuổi xuân để chờ nhau. Qua dịp nầy chắc họ thấy không thể sống thiếu nhau. Bây giờ điều ngăn cản duy nhứt chính là dư luận. Cô đang đại diện cho dư luận đó, cô biết không?
          Rồi Đông trầm giọng:
          -Ước gì khi về Việt Nam chỉ gặp một mình cô!


          Lam nói bằng giọng nửa đùa nửa thật:
          -Có khi nào Đông về đây, gặp hết mọi người trừ cô không?
          Đông làm thinh rất lâu rồi mới nói, giọng nhẹ như hơi thở:
          -Như vậy là ác lắm! Cô biết không?
          Niềm vui, nỗi buồn cùng cái đau hết sức êm ái, xuất hiện cùng lúc khiến Lam nghẹn ngào. Lam chưa kịp nói câu gì đã nghe tiếng bé An gọi to ngoài cổng:
          -Cô Ba ơi! Cơm.
          Đông nói:
          -Cô đi ăn cơm đi! Nhớ ăn thật nhiều bông bí giùm em luôn thể.
          Lam đặt ống nghe lên giá treo, lòng ray rức, nặng nề vì vô tình làm Đông buồn.
          Lam lấy cái áo khoác có cả nón, tay rất dài mặc vào. Để chui lỗ chó cho tiện, cô không đội nón lá mà kéo cái nón dính liền vào áo lên che cả đầu lẫn mặt.
          Bé An vốn rất mến Lam, bởi thường được cô góp ý trong những bài văn nên không chịu về liền mà đứng ngoài cổng để đợi. Lòng nó vui vui khi liên kết những hồi chuông điện thoại, bó bông bí héo, bàn tay chụp ống nghe vội vả của Lam với một nhân dáng mờ nhạt mà nó nhất định phải là một người đàn ông.
          Mười lăm phút sau nó nghe tiếng má nó gọi từ sau lưng:
          -Cô Ba qua rồi! Mầy làm cái gì mà đứng như trời trồng vậy?
          Nó ba chưn bốn cẳng chạy về, thấy Lam đang ngồi đàng hoàng trên chiếc chõng tre trước mâm cơm thì ngạc nhiên quá đỗi, thô lố mắt hỏi:
          -Em chờ cô ngoài cổng để về một lượt cho vui. Bộ cô…
          Lam gật đầu :
          -Cô chun lỗ chó cho lẹ, đói bụng quá!
          Cô Sáu tính chửi cho nó một chập vì cái tánh hể đi tới đâu là chà lết quết xảm tới đó, nhưng nhớ ra hôm nay ăn chay nên ráng dằn xuống.
          Lam nhìn tô canh bông bí, chén tương xổi, mấy trái đậu rồng, dĩa tàu hủ muối xả chiên và hai trái ớt hiểm đỏ au nằm gọn trong mâm thì hỏi :
          -Hôm nay ngày mấy vậy chị Sáu?
          Cô Sáu chép miệng :
          -Mười bốn! Lụi hụi mà tết tới sát sau lưng rồi đó!
          Rồi hỏi Lam:
          -Cô Ba ăn chay một tháng mấy ngày?
          Lam trả lời với đôi chút ngượng ngập:
          -Em chưa ăn ngày nào ráo trọi!
          Cô Sáu ngạc nhiên:
          -Sao vậy?
          Lam cười, pha trò :
          -Em tội lỗi đầy mình, cho dù ăn chay trường cũng khó mà thành phật được.
          Cô Sáu quở:
          -Cô đừng có nghĩ như vậy mà dội ngược. Mình ăn chay dể dằn bớt cái sân, si trong bụng xuống thôi. Hôm nào ăn chay, rủi gặp mấy cái người cà chớn, bị họ chọc giận, đáng lẽ phải chửi cho đã nư, thì mình dằn lại, lầm bầm trong miệng mà thôi! Nhờ vậy mà khỏi gây gỗ, khỏi thành lớn chuyện.
          Lam chợt ngộ ra, thì ra bà con mình ăn chay vì mục tiêu thiết thực, đơn giản đến vậy sao?
          Lam hỏi:
          -Chị ăn chay một tháng mấy ngày?
          Chị Sáu đáp :
          -Tui thì ăn một tháng mười ngày. Ổng ăn bốn ngày.
          Chỉ tay vào bé An, chị nói:
          -Con nhỏ nầy thì hổng chừng, hổng đổi: Tháng nầy thì nó theo tui, tháng sau thì nó theo ổng, trồi sụt bất thường. Tui rầy hoài, nói ăn như vậy tội chết mà nó hổng chịu nghe!
          Bé An phụng phịu:
          -Ai biểu ngày chay mà má làm đồ ăn mặn quá sức ngon thì làm sao con nhịn cho được? Ăn chay mà cứ nhớ tới món mặn rồi tiếc hoài thì thà là ăn mặn cho rồi!
          Cô Sáu giải thích:
          -Ngày ăn chay người ta bán cá, thịt, nới hơn mọi bữa. Tui cũng không muốn ba con An ổng nghĩ là mình ăn chay nên hổng muốn cho ổng ăn ngon.
          Lam bẻ đôi trái đậu rồng, chấm vô chén tương xổi nhai khơi khơi rồi khen:
          -Ngon quá! Chị mua tương của ai vậy?
          Cô Sáu đáp một cách hãnh diện:
          -Tui mua tương của tiệm bà xẩm Xín không hà!
          Con An cằn nhằn:
          -Sao má hổng mua tiệm của chị Hiền? Con ghét người Tàu lắm! Họ ăn hiếp nước mình. Con hổng hề bước chưn vô tiệm đó, đối đế lắm bên chị Hiền hổng có con mới ghé mua đỡ.
          Cô Sáu nạt:
          -Ai quấy có người, mình không có làm như vậy được! Họ không sống nổi xứ họ mới qua đây ở đậu mình, mình phải đối đãi coi cho được. Tao đâu có phải con nít mà giận bắt quàng.
          Lam hỏi:
          -Bông bí héo queo, chị nấu cách nào mà ngọt vậy?
          Cô Sáu đáp:
          -Tại nắng chớ đâu phải để lâu mà hết chất ngọt. Tui bỏ có chút xíu bột ngọt với muối thôi. Phải nhầm ngày ăn mặn, nấu với cá lóc còn ngon dữ nữa!
          Lam thở dài:
          -Cá lóc thiên nhiên mới ngon, cá lóc nuôi ăn không bằng. Kẹt không có cá lóc đồng em mới mua. Đem về không dám nấu canh, chỉ làm món kho với muối xả chiên hoặc chiên tươi gầm nước mắm tỏi ớt không hà. Mấy con cá rô, cá sặc, cá trê... được nuôi cũng vậy.
          Cô Sáu gật đầu:
          -Tui cũng ghét mấy con cá nuôi như cô vậy! Cái thịt của nó bủn xì, tanh tanh, thà ăn tàu hủ còn ngon mà rẻ hơn! Khỏi mắc công làm.
          Rồi nói:
          -Ba con cá nuôi chỉ có con cá ba sa của mình là ngon nhứt, nhờ nuôi bằng bè ngâm dưới sông, lại là nước ở đầu nguồn cho nên sạch, thịt hổng tanh chút nào! Ngon như cá sông.
          Lam thở dài:
          -Mai mốt cá sông hết, chắc tụi mình phải xài toàn cá nuôi mà thôi! Có tanh cũng phải ráng mà ăn. Có khi ăn riết rồi hết nghe tanh, hay ghiền cái tanh của nó hổng chừng!
          Cô Sáu mách nước:
          -Tui có cách khử tanh hay lắm!
          Lam hỏi tới:
          -Cách gì chị chỉ cho em với!
          Cô Sáu đáp:
          -Nếu như cô xát chanh, chà muối rửa với nước gừng không xong, thì chịu khó lấy một nắm bột, xát cả bên trong, bên ngoài của nó, để một chút rồi đem rửa. Bảo đảm mùi tanh bị bột hút hết!
          Bé An hỏi:
          -Người ta nuôi, cho nó ăn đồ ngon, đồ bổ không hà. Con nào cũng mập ù mà tại sao tanh hơn, dở hơn mấy con cá thiên nhiên ốm đói vậy cô?
          Cô Sáu giành trả lời:
          -Cá ngon là nhờ nước chớ đâu phải đồ ăn. Mấy người nuôi cá, họ cho tụi nó ăn đầy đủ mà làm biếng thay nước, nên thịt nó tanh hơn mấy con cá lội tự do ngoài sông.
          Thấy Lam chan canh ngập chén, cô Sáu bèn gắp miếng tàu hủ cho Lam rồi nói:
          -Canh phải ăn kèm món mặn. Lua một đũa cơm, cắn một miếng tàu hủ, gắp một miếng bông bí lên nhai chung như vậy mới ngon.
          Rồi quở:
          -Sao cô ăn canh không vậy? Bộ mấy món kia không vừa miệng hay sao?
          Lam đáp:
          -Đâu có! Tàu hủ thơm xả, mặn vừa phải, còn đậu rồng chấm tương xổi ăn “bắt” lắm! Tại hổm rày nóng trong mình quá nên húp canh nhiều cho mát.
          Bé An bắt lỗi :
          -Mình ăn cơm chay chớ đâu có ăn mồi nhậu đâu mà cô xài chữ “bắt”.
          Lam ngạc nhiên:
          -Sao vậy?
          Bé An chưa kịp đáp đã bị má nó rầy:
          -Cô Ba lớn tuổi hơn lại học cao hơn mầy nhiều, còn làm cô giáo nữa. Cái mỏ ác còn đóng cức trâu mà bày đặt sửa lưng người lớn hả? Đồ cái con…
          Lam lật đật can:
          -Em không có mích lòng đâu, chị đừng lo. Em không giống như người ta! Có người sửa lưng em còn mừng muốn chết! Nhờ vậy mà mai mốt mình nói mới đúng, làm mới đúng!
          Bé An phân bua:
          -Tại hôm đầu tháng ăn chay, con cũng nói y như cô cái ba con ổng bắt lỗi. Ổng nói cái chữ đó là của mấy ông nhậu. Họ không khen “mồi ngon” mà nói chữ “bắt” thôi hà!
          Cô Sáu thở dài đánh thượt một cái rồi nói:
          -Tui bắt rầu với ba con An. Mắc cái giống gì mà ổng bắt chặt, bắt lỏng hai má con tui từng lời ăn, tiếng nói. Có cái tật tới bữa cơm là đem mấy cái chuyện không vừa mắt ra nói. Bởi vậy bữa nào trong nhà có chuyện, biết ổng bực mình là tui ráng nấu cho thiệt là ngon.
          Lam ngạc nhiên:
          -Chi vậy chị?
          Cô Sáu cười:
          -Thì tại bữa nào có món ruột, hạp khẩu là hai tía con họ, ổng với nó, cặm cụi ăn, đâu còn nhớ ba cái chuyện bao đồng để mà cằn nhằn, cử nhử nữa.
          Lam lấy làm thú vị, cô nói:
          -Em phải xin cái kinh nghiệm nầy của chị mới được!
          Cô Sáu buông đũa, nhìn Lam trân trối:
          -Bộ cô chịu lấy chồng rồi sao?

          Lam cười, nói giỡn:
          -Chị phải hỏi “bộ có người chịu lấy cô rồi sao?” mới đúng!
          Cô Sáu chau mày:
          -Cô đừng có bỏ giá thấp mình như vậy. Cô coi còn ngon cơm lắm! Chắc tại cô nghiêm quá cho nên người ta ngại, hổng ai dám mở lời. Đàn ông coi vậy mà hay lắm nghe! Họ để ý con mắt của mấy người phụ nữ, hể thấy ai có cặp mắt đẩy qua, đưa lại, liếc ngang, liếc dọc là xáp vô liền. Mấy người ngó thẳng băng với nhìn xuống đất như cô là họ ngán, biết đeo đuổi cũng hổng ăn thua nên theo làm chi cho mắc công.
          Liếc nhanh Lam như để lường trước phản ứng, cô Sáu nói tiếp :
          -Nói thiệt với cô, hổm rày nghe chuông điện thoại nhà cô reo tưng bừng là tui nghi lắm! Nó mà reo tới tấp như vậy thì một là cha mẹ lo cho con cái, hai là chủ nợ canh con nợ, ba là những người có tình ý với nhau . Cô thì hai bác đi theo ông bà hết rồi, cũng không mang công mắc nợ ai cho nên tui cũng hơi nghi nghi…
          Con bé An hớn hở vuốt đuôi:
          -Con cũng vậy đó má! Con cũng...
          Cô Sáu lườm nó một cái, nó cụt hứng, nín khe. Cô Sáu giựt cái chén trong tay Lam để bới.
          Lam dặn vói:
          -Nửa chén thôi chị!
          Bé An hỏi:
          -Sao cô nói đói bụng mà ăn ít vậy?
          Lam đáp:
          -Cô để dành bụng đặng ăn canh.
          Cô Sáu vừa đưa chén cơm đầy nhóc cho Lam, vừa hỏi:
          -Thẩy ở đâu vậy cô? Còn trai hay góa vợ?
          Lam xớt bớt cơm qua chén con An rồi đáp:
          -Góa vợ được ba năm rồi đó chị.
          Cô Sáu khen:
          -Đàn ông mà để tang vợ tới ba năm, tốt quá!
          Rồi hỏi tiếp:
          -Hai người tự quen hay có người mai mối?
          Lam đáp:
          -Tự quen .
          Cô Sáu chưa chịu thôi, hỏi tiếp:
          -Chắc thẩy cũng đi dạy như cô hả?
          Lam suy nghĩ hồi lâu, cô muốn gật đầu nhưng lại sợ sa vô cái vũng lầy nói dối. Lam thừa biết là đặt chân vào đó một lần thôi là khỏi có rút ra được nữa. Cô sẽ bị lún từ từ cho tới ngập đầu, thở hết nổi.
          Cô mạnh dạn thú thật:
          -Trước ba mươi y là học trò của em đó chị! Sau đó y vượt biên, sống ở Úc.
          Cô Sáu hỏi:
          -Chắc y tài lắm hả cô?
          Lam ngạc nhiên:
          -Sao chị hỏi vậy?
          Cô Sáu đáp:
          -Mấy người như cô mà ưng người nhỏ tuổi hơn mình thì người đó phải có cái gì thiệt là hay, thiệt là giỏi làm cho cô cảm phục. Chớ hông thôi dễ gì…
          Lam cười:
          -Em cũng không biết y có tài hay không nữa. Nhưng nghe y nói là y thương em từ ba chục năm về trước. Y lấy cô vợ trùng tên với em. Y nhớ từng cái áo em mặc, từng lời em nói cho nên…
          Cô Sáu chắc lưỡi:
          -Vậy là thương dữ lắm rồi đó cô! Y có nói chừng nào về cưới cô hông?
          Lam đáp:
          -Y có nói là về nhưng không nói chuyện cưới. Em cũng chưa biết mình có chịu lấy y không. Cũng chưa biết có làm đám cưới hay không nữa!
          Cô Sáu rầy:
          -Phải cưới chớ cô! Đừng có lo, tới chừng đó cô giao cái chuyện nấu nướng cho tui. Nhiều thì hổng dám hứa, chừng hai chục mâm trở xuống là tui dư sức qua cầu.
          Lam lắc đầu :
          -Em ghét phô trương, cũng ít có bạn bè. Chắc chỉ vài ba mâm thôi!
          Cô Sáu gật đầu:
          -Cũng được, mình đâu cần làm rình rang, chỉ cần có cái đám để lạy bàn thờ ra mắt ông bà với thông báo cho bà con biết là cô lấy chồng là được rồi.
          Bé An nói:
          -Cô mặc áo dài màu hồng nghe cô, đừng mặc mấy cái áo soa rê to đùng coi kỳ lắm!
          Cô Sáu lại trừng mắt với An.
          Cổ nhiếc nó:
          -Thứ đồ con nít con nôi ăn hôi bò xít. Bộ đây là chuyện chơi hay sao mà mầy dám xen vô. Cỡ tao đây còn phải xin phép cô Ba mới dám nói nữa là...
          Con bé An liền phụng phịu làm mặt giận.
          Lam vội đỡ lời, nói giỡn:
          -An làm dâu phụ cho cô nghe!
          Bé An rút vai, le lưỡi:
          -Em mới mười sáu tuổi, má còn chưa cho mặc áo dài màu mà làm dâu phụ cái gì?
          Cô Sáu cười:
          -Tui cũng có cái ý giống con An vậy đó! Người Việt mình có cái áo dài hết sức là đẹp, hết sức là văn minh, mặc trong ngày cưới với lạy bàn thờ coi phải thế hết sức. Mắc gì phải mặc cái bùng rền? Vừa tốn tiền mướn vừa xấu ơi là xấu! Dài quét đất mà ở nhà quê thì gà vịt chạy tùm lum, ị tùm lum…
          Lam thở dài:
          -Nói thiệt với chị, nghĩ tới mấy cái cảnh đó là em dội ngược. Em thích làm bạn thôi, lâu lâu y về thăm em rồi nhà ai nấy ở. Em sống một mình, làm theo ý mình quen rồi, bây giờ…Nghĩ đến chuyện phải thích nghi, điều chỉnh cho hợp ý người khác sao chưa gì em đã thấy mệt rồi.
          Cô Sáu nói:
          -Cô ở một mình thì khỏe rồi đó! Nhưng rủi bịnh bất tử thì khổ lắm! Một mình lập cập, ráng mò xuống bếp nấu cháo. Có khi làm hổng nổi, đâm ra tủi thân rồi bỏ lún hổng thèm ăn, hổng thèm uống thuốc, cái rồi bịnh nhẹ cũng thành nặng. Phải có người bên cạnh đặng để ý, ra vô hỏi han cho vui, cho còn khoái sống.
          Thấy Lam có vẻ nao núng, cổ tấn công tiếp:
          -Ông bà mình hay nói: “Chén để trong sống còn khua”. Sống chung là phải có đụng chạm. Cô đừng có lo, vợ chồng già như hai cây dao cùn vậy đó! Rủi mà cự nự thì cũng nhẹ nhàng như liếc qua liếc lại để bén đều, chớ đâu còn hơi sức mà chặt chém ào ào cho mẻ.
          Rồi cô tâm sự:
          -Nói thiệt với cô, ba con An đó, ổng khó vàng trời, tối ngày cứ rầy tui hoài. Nhiều khi bực bội muốn bỏ quách cho xong. Vậy mà ổng đi vắng chừng đôi ba hôm là tui thấy cái nhà nó lạnh lẽo làm sao! Được cái là ghét thì quên lẹ mà thương thì nhớ lâu, nhờ vậy mà sống với nhau cho tới bây giờ.
          Rồi cổ hỏi:
          -Hồi đó cô có thương y hông?
          Lam lắc đầu:
          -Lúc đó hồn vía em giao cho người khác giữ rồi, đâu có ngó ngàng gì đến y! Lần đầu tiên nói chuyện, y xưng tên em còn nhớ không ra. Tính gác điện thoại liền vì tưởng y quấy rối. May mà y gọi đúng cái tên “Tím” đi kèm mà mấy đứa học trò ruột gán cho. Y nhắc từng chút, từng chút…Còn nói em là một trong những lý do khiến y liều chết vượt biên.
          Chị Sáu chặn hỏi:
          -Chắc tại y nghĩ ở lại là suốt đời mang tiếng học trò của cô, cho nên phải ra đi đặng làm Việt kiều cho oai, cho hai người ngang cơ nhau chớ gì?
          Lam thấy cô Sáu gán cho mọi sự việc toàn những ý nghĩa tích cực thì cảm động. Biết cổ quá nhiệt tình vì thương mình, sẽ quyết ví mình như ví gà vô chuồng. Nhìn gương mặt của cô Sáu, biết cổ đang mơ mộng, đang bay lơ lửng trên không trung, sợ cổ sẽ như diều đứt dây té lộn đầu, gảy cổ nên Lam đáp:
          -Em không chắc là y nghĩ như vậy đâu! Thời điểm đó hể quyết định vượt biên là biết phải chấp nhận "một đi không trở lại", đâu ai dám hy vọng được về thăm lại gia đình, xứ sở. Chắc y chỉ muốn đi để quên, để gặp và thương một người khác, để tạo dựng một cuộc sống khác!
          Cô sáu nằng nặc:
          -Nếu như vậy thì kiếm cô làm chi?
          Lam cười, lắc đầu:
          -Em cũng không biết!
          Rồi nói tiếp:
          -Em có một cô bạn, cũng được người yêu cũ là Việt kiều hứa về cưới. Cổ mơ mộng đủ thứ vậy mà thằng cha đó về rồi âm thầm cưới vợ. Cổ bị một cú đá song phi, nằm chèm bẹp luôn. Phụ nữ cỡ tuổi em ai cũng bị loãng xương. Rủi bị đá một cái như vậy chắc em té như chuối đốn, chết không kịp ngáp.
          Cô Sáu nói:
          -Trăm ngàn người mới có một người tệ lậu như vậy! Thiếu gì người bụng dạ chắc cứng như cây căm xe, ngâm nước không mục. Tại cô hổng biết đó thôi!
          Lam thở dài, chợt nhớ một câu nhạc: “Ứơc mơ nhiều đời đâu bấy nhiêu, vì mơ ước trắng như sương chiều…” mà nghe buồn da diết. Cô không nói gì thêm, chầm chậm nhai cho hết phần cơm trong chén rồi kẹp đôi đũa vào hai bàn tay đang chấp lại, đưa lên ngang ngực.
          Bé An nãy giờ im ru, thấy Lam định xá, liền nhắc:
          -Cô chưa ăn canh!
          Lam lật đật để đũa xuống, múc đầy chén canh rồi tiếp tục ăn.
          Cô Sáu tiu nghỉu nhìn chén tương, dĩa tàu hũ, đậu rồng còn gần phân nửa, rồi nói với con gái:
          -Mầy ráng ăn tiếp má cho hết nghe An, cơm chay mà bỏ mứa là tội lắm con!
          Con An xụ mặt nói:
          -Ai biểu má nấu nhiều chi vậy? Cô Ba ốm nhom đâu chứa được bao nhiêu mà má múc ê hề. Ăn sạch bách chén tương với mấy miếng tàu hủ , mấy trái đậu rồng nầy, chắc con uống hết nước trong lu luôn! Chắc cái bụng con bự bành ky như cái trống rồi nổ một cái đùng luôn!
          Lam nói:
          -Con ăn bao nhiêu hay bấy nhiêu, đừng có ráng.
          Rồi hỏi cô Sáu:
          -Sao chị hổng để chiều ăn tiếp.
          Cô Sáu thở dài, chán nản:
          -Cái tật của tui là mời khách là làm cho nhiều sợ thiếu. Trong bếp còn hơn phân nửa lận!
          Lam giải quyết cái rụp liền:
          -Cái nào còn dư, chị cho em đem về. Chiều em khỏi mắc công làm đồ ăn.
          Hai mẹ con cô Sáu mừng rơn.
          Cô Sáu nói:
          -Để tui vét cơm trong nồi cho cô luôn. Một mình cô ăn chắc nấu chưa tới nửa lon gạo. Nấu ít xịt cơm dính nồi hết! Cơm nguội ăn với tàu hủ muối xả chiên, với đậu rồng chấm tương xổi ngon lắm cô! Chiều tui lột mấy trái chuối lá xiêm chín nấu canh chua chay, rồi sai con An bưng qua cho cô một miếng.
          Con An thoát nạn nên cười tủm tỉm, muốn đền ơn Lam nên nói:
          -Một lát cô về con đi theo đặng thọc trái đu đủ giùm cô!
          Cô Sáu nghe vậy thì hối:
          -Con đi làm liền đi, lấy cái thang rồi leo lên bẻ cho nó không bị giập.
          Chờ An đi xong, cô Sáu nhích lại sát bên Lam rồi nói:
          -Tui coi vậy mà có cái tánh linh nghê lắm cô Ba! Từ hồi nào tới giờ tui nghi cái gì là có cái đó. Cái chuyện của cô đây, cho dù chưa biết mặt mũi, chưa nói chuyện với người đang để ý cô câu nào. Vậy mà tui tin chắc lọi là y ta thương cô thiệt sự. Không có đá cô đâu.
          Lam thở dài:
          -Có cái chuyện nầy còn kẹt dữ nữa. Gia đình y bây giờ cũng chẳng còn ai ở đây. Y mà về chắc chỉ ở nhà em thôi! Chưa gì hết mà nhập gia rồi, thấy trái chướng làm sao! Ban ngày hổng nói gì, tối thì…
          Rồi phân bua:
          -Chị thấy đó, nhà em cái gì cũng có một: Một cái giường, một cái võng, một cái tủ, một cái bàn, ghế thì được bốn cái. Hổng lẽ em nhường cái giường cho y rồi ra võng ngủ. Hổng lẽ…
          Cô Sáu ngắt ngang:
          -Thì cô qua đây ngủ với con An. Một mình nó mà nằm cái giường bự bành ky, bề ngang tới một thước sáu thì xài đâu có hết.
          Rồi cổ xuống giọng nhỏ xíu:
          -Cô cứ tính như mình đang chơi bài cào têm vậy đó. Bây giờ bài trên tay mình đang bù trớt, hổng có một núc nào. Cô têm đại biết đâu được chín núc, hoặc bét lắm cũng có cái để đếm với người ta cho đỡ ghiền!
           
          (Xem tiếp CHƯƠNG SÁU)


          #5
            Lâm Du Yên 28.09.2019 13:58:30 (permalink)
            GIÓ ĐÔNG
            Tryện dài Lâm Du-Yên
             
            CHƯƠNG SÁU

            Khi Lam đã hoàn toàn xiêu lòng bởi những lời xúi giục của cô Sáu thì oái oăm thay, Đông không gọi về nữa. Lam thấp thỏm, cô Sáu thấp thỏm và cả bé An cũng thấp thỏm.
            Chiều hôm đó ăn cơm xong, Lam đang rửa chén thì điện thoại đổ chuông. Cô chạy ào ra phòng ngoài, chụp cái điện thoại bằng bàn tay ướt nhẹp rồi hỏi dồn:
            -A lô!
            Giọng nói của Thắm cất lên:
            -Con quỷ! Nói về thăm nhà rồi qua liền mà hơn một tuần nay hổng thấy mặt mày là sao?
            Lam đáp ỉu xìu:
            -Tui cảm rồi dì ơi!
            Rồi ráng rặn ra mấy tiếng ho khù khụ.
            Thắm hoảng hốt:
            -Tại sao cảm? Cảm làm sao? Nặng hông?
            Lam đáp:
            -Cũng không nặng lắm! Đủ xài. Có điều đạp xe qua dì hổng nổi.
            Thắm đáp:
            -Vậy thì nghĩ ngơi cho khỏe rồi hãy qua. Có cần tao nhờ ổng qua coi mạch hốt thuốc cho mầy hông?
            Lam hỏi cắc cớ:
            -Ổng nào?
            Thắm nạt:
            -Thì ông Ngươn đó, biết rồi mà còn làm bộ!
            Lam từ chối:
            -Thôi khỏi! Cái chưn của dì sao rồi?
            Thắm nói:
            -Bữa nay không nghe đau nữa. Hy vọng lành trước tết.
            Lam nói:
            -Vậy là đâu có làm mứt me, mứt mận, mứt gì gì ...phải hông?
            Thắm cười:
            -Làm chớ! Ổng hái cho tao một rỗ đầy. Tao đang ngâm nước muối đây nè, mai lột!
            Rồi thông báo:
            -Ngày mai mấy thằng đệ tử của ổng qua đây cưa dừa.
            Lam hỏi:
            -Dì có trồng thiên lý hông?
            Thắm đáp:
            -Trồng chớ!
            Rồi khoe:
            -Ổng ươm tới ba mươi mấy gốc thiên lý lận. Ngày mai mấy đứa nó rinh qua luôn. Cưa dừa xong là trồng liền. Để quởn quởn rồi tao biểu ổng đem qua cho mầy mấy cây,
            Lam đáp:
            -Một cây được rồi, mà đừng có đem qua, để tui tới lấy!
            Thắm khoe:
            -Nghe nói có một ông gì đó ở Đồng Tháp, bán bông thiên lý mà giàu đó mầy.
            Lam đáp:
            -Chớ sao! Dì ráng trồng đi, biết đâu mai mốt có một bài báo nói về ông bà tỷ phú “bông thiên lý”.
            Thắm mắc cỡ:
            -Cái con quỷ nầy! Hở hở là ghẹo. Ông bà gì ở đây?
            Lam nói móc:
            -Tui đang mạnh cùi cụi, khi không mà bịnh ngang xương. Chắc có hai người nào cầu khấn cho tui bịnh đặng khỏi quấy nhiễu, cản trở họ.
            Thắm nhiếc:
            -Đồ cái thứ suy bụng ta ra bụng người. Tao ghi mấy cái lời độc ác của mầy vô trong bụng hết rồi. Mai mốt người của mầy về là tao tính sổ với nó. Lúc đó đừng có khóc nghe con!
            Lam đáp, giọng buồn thiu:
            -Sợ dì chờ mỏi cổ cũng chưa có cơ hội đó!
            Thắm hỏi dồn:
            -Từ hôm về nhà tới nay y ta có gọi hông?
            Lam đáp:
            -Có!
            Thắm hỏi:
            -Nói bao lâu?
            Lam đắn đo:
            -Chừng một, hai tiếng.
            Thắm thở phào:
            -Như vậy mà mầy còn lo cái nỗi gì? Tao với ổng cả tháng mới nói chuyện một lần, mỗi lần năm phút là tắt, nhiều lắm là bảy tám phút thôi!
            Lam hỏi:
            -Sao lẹ vậy? Bộ không có chuyện gì để nói với nhau sao?
            Thắm đáp:
            -Thiếu gì chuyện để nói, tại tao sợ ổng tốn tiền.
            Thắm cười hì hì rồi nói:
            -Hồi ổng mua điện thoại đó, tao giận quá chừng! Cái rồi ổng nói thứ mình không cần thì một đồng cũng không mua, thứ mình cần thì mấy triệu cũng phải sắm! Tao hỏi ổng sắm làm chi? Ổng nói nghề nghiệp của ổng phải có điện thoại, để xài trong trường hợp cấp cứu, bây giờ người ta lên tăng xông hà rằm. Hôm bữa tao mở cái máy ổng ra ngó thử cái mục danh bạ coi ổng có được bao nhiêu thân chủ. Ai dè chỉ có ba số: Của tao, ông sư phụ với con nhỏ em của ổng thôi hà.
            Lam nói:
            -Tui thấy ảnh không dám mua cái khăn tắm mới mà dám sắm cái điện thoại là biết ảnh tận tụy với dì hết mình! Là biết thương dì dữ lắm luôn!
            Rồi Lam nói một cách rất nghiêm túc:
            -Cái nào nói chơi thì nói, cái nào nói thiệt thì nói. Tui khuyên dì đừng có nói lời gì bạc bẻo làm cho ảnh tổn thương nghe! Trước khi nói dì ráng uốn lưỡi bảy chục lần giùm tui, để không phải hối hận về sau.
            Thắm hỏi:
            -Có chuyện gì không mà cái giọng mầy nghe bi đát quá vậy?
            Lam cười:
            -Có gì đâu! Tại tui thấy dì hay nói cái kiểu “dùi đục chấm nước mắm” nên cảnh báo thế thôi!
            Thắm cười:
            -Cám ơn “bà già xưa”! Bà đẻ trước tui có năm ngày mà tui tưởng là năm chục năm. Thôi tui cúp đây, để nghe bà dạy khôn một hơi mắc công chột bụng.
            Lam vừa máng cái điện thoại lên là thấy bé An ló mặt vô. Nó khệ nệ bưng cái tô kiểu có đựng món gì bên trong, coi bộ đầy nên đi rón rén.
            Lam hỏi:
            -Má con cho cô món gì nữa vậy?
            Bé An nhắc:
            -Cô có nhớ bữa nay là hai mươi ba rồi không? Tối nay ông Táo, bà Táo về trời. Má con biểu bưng qua cho cô chè xôi nước với chè ỉ đặng cô cúng ổng bả.
            Để tô chè lên bàn, nó nói tiếp:
            -Má con dặn là cô có cúng thì cúng chè xôi nước thôi, đừng có cúng chè ỉ.
            Lam gật đầu:
            -Cô biết rồi! Ông táo nhát lắm, thấy viên chè ỉ giống mấy viên đạn nên sợ không dám ăn đâu!
            Bé An thắc mắc:
            -Mấy ông thần hổng lẽ cũng sợ như mình sao cô?
            Lam chép miệng:
            -Ai mà hổng sợ? Mấy người càng có nhiều quyền lực thì càng lo ngay ngáy.
            Lam bưng tô chè ra sau bếp, sớt ra tô của mình rồi rửa sạch trả cho bé An.
            Lam nói:
            -Về nói với má là cô cám ơn nghe!
            Bé An cầm tô rồi đứng tần ngần chưa chịu về.
            Lam hỏi:
            -Có chuyện gì vậy?
            Nó kề tai Lam nói nhỏ:
            -Hồi nãy má con nghe điện thoại nhà cô reo má con mừng lắm! Bả xúi: “Mầy qua đó cho chè rồi tìm cách hỏi khéo coi phải cô Ba nói chuyện với cái người bên Úc hông?” Con suy nghĩ hoài mà không biết hỏi làm sao cho khéo. Thôi, hỏi đại cho rồi!
            Lam phì cười:
            -Con về nói với má là không phải nghen.
            Bé An lại hỏi:
            -Vậy chớ hồi nãy ai gọi cho cô Ba vậy?
            Lam đáp:
            -Dì Út của cô.
            Bé An tiu nghỉu cầm tô ra về.
            Lam bỗng gọi:
            -An!
            Nó mừng húm, quay mặt lại hỏi liền:
            -Gì đó, Cô Ba?
            Lam nói:
            -Con hỏi má coi có thích trồng bông thiên lý hông cô xin cho vài cây.
            Nó lại tiu nghỉu:
            -Dạ!
            Mấy ngày sau khi Lam đang gội đầu, chuông điện thoại lại reo inh ỏi. Lam lật đật trùm cái khăn lông lên tóc, ba chưn bốn cẳng chạy vào, bụng nghĩ thầm lần nầy chắc chắn là Đông chớ không ai khác.
            Lam ráng kềm mà cái giọng vẫn rung:
            -A lô!
            Tiếng Hương, vợ của Chương, chị dâu của Lam vang lên:
            -Cô Ba đó hả? Tui nè!
            Lam quá đỗi ngạc nhiên, đây là lần đầu tiên Hương gọi cho cô:
            Lam hỏi gấp:
            -Có chuyện gì hệ trọng mà chị gọi cho em vậy?
            Hương không trả lời mà hỏi lại:
            -Hổm rày dì Út có gọi cho cô không?
            Lam vừa đáp, vừa hỏi:
            -Có! Mà chị hỏi chi vậy?
            Hương vẫn không giải thích, hỏi tiếp:
            -Cô thấy dỉ có gì lạ hông?
            Lam đáp:
            -Bình thường! Hổng có gì lạ hết! Bộ dỉ cự chị nữa hả?
            Hương đáp:
            -Dỉ cự thì nói gì! Đằng nầy nói chuyện ngọt xớt mới lạ! Tui thấy cái số của dỉ hiện lên là rầu rồi, đang chuẩn bị bịt bớt cái tai, ai dè dỉ hỏi ngọt lừ làm tui chới với: ”Vợ thằng Chương đó hả? Con có làm mứt chưa? Chưa thì đừng có làm, để dì làm mứt me, mứt dừa cho hai đứa nhỏ. Tết năm nay dì gói bánh tét, tụi con cần mấy đòn? Nhưn gì? Để dì gói giùm luôn”. Cha mẹ ơi! Tui ngạc nhiên tới á khẩu! Mọi năm dỉ còn bắt tui làm mứt, làm bánh cho dỉ. Bèn hỏi lại “phải dì đó hông dì Út”. Cái câu hỏi nầy hồi trước lớ quớ dám bị chửi chớ chẳng chơi! Nào ngờ bây giờ bả vừa đáp vừa cười: "Ừa, dì nè, Út trề nè!” Sao tự nhiên dỉ thay đổi dữ vậy cô Ba?
            Lam đáp:
            -Tại hôm bữa chị làm cái ổ bánh khoai mì nướng ngon quá! Bạn dỉ khen nức nở nên dỉ hãnh diện, rồi cảm động đó mà!
            Hương hỏi lại, giọng bán tín, bán nghi:
            -Hổng lẽ đơn giản như vậy sao? Có khi nào dỉ trúng số hông cô?
            Lam cười:
            -Dỉ ghét vé số hạng nhứt, thấy rớt còn hổng thèm lượm chớ ở đó mà mua!
            Rồi nói thầm “bả trúng cái nầy còn giá trị gấp mấy lần tiền bạc”.
            Thấy không khai thác được gì ở Lam. Hương liền nói:
            -Thấy dì Út đổi tánh tui mừng quá! Mà cũng hơi lo lo hổng biết cái hiện tượng nầy có phải do dỉ bị lão suy hay không?
            Lam liền chỉnh:
            -Phải gọi là “lão thịnh” mới đúng đó chị Hai!
            Chờ Hương cúp máy xong, Lam liền gọi cho dì Út. Cô kể cho Thắm nghe những lời của Hương rồi nói:
            -Đúng là tình yêu giúp con người ta chẳng những đẹp hơn mà còn tốt hơn. Con mừng cho dì lắm đó!
            Thắm cười:
            -Tự nhiên cái tao nghĩ "khi không mà mình ghét nó chi vậy?". Làm cái thằng cháu mình nó khó xử. Mấy đứa chắt cũng sợ luôn mình. Kể ra nó cũng đâu có tệ lắm!
            Rồi bỗng tâm sự với Lam bằng giọng ngập ngừng:
            -Tao tính tới đám giỗ ba tao, ông ngoại mầy, tao sẽ mời đông đủ bà con, đặng tuyên bố tụi tao sống chung với nhau. Mầy thấy có được hông?
            Lam mừng tới chảy nước mắt, cô xúi:
            -Sao không làm sớm sớm hơn một chút, ngay mùng một tết luôn đi!
            Thắm quở:
            -Con nhỏ nầy, mầy nôn còn hơn tụi tao nữa!
            Lam kêu lên:
            -Mèn ơi! Có người chịu nhận là nôn lấy nhau rồi kìa!
            Rồi hỏi:
            -Chắc anh Ngươn mừng lắm hả dì?
            Thắm mắc cỡ đáp giọng quạu đeo:
            -Hỏi y ta chớ hỏi tao làm chi! Chắc đang thèm được như tao phải hông?
            Lam đáp:
            -Còn lâu! để dì coi tui sẽ cưới trước dì đúng năm ngày, cho dì tức chơi!
            Thắm cự:
            -Cưới hay không thây kệ mầy, mắc gì tao phải tức.
            Lam nói:
            -Để bà con nói tại dì thấy tui lấy chồng nên bắt chước!
            Thắm cười:
            -Làm được hãy nói con ơi! Mầy mà làm được chuyện đó thì muốn cái gì tao cũng cho hết!
            Lam gằn giọng:
            -Thiệt hông? Thề đi!
            Thắm thề liền:
            -Bà bắn!
            Lam hăm he:
            -Cho bà chết! Thiếu gì người muốn lấy tui. Phen nầy tui sẽ chiếm hết gia sản, lột luôn đôi dép đang mang cho bà đi cẳng không chơi!
            Thắm cười hì hì:
            -Thách mầy đó!
            Cuộc điện đàm với dì Út vừa dứt, Lam lại nghe buồn nghiến. Cảm thấy tủi thân vô cùng. Cho dù chỉ liên lạc với Đông chưa tới một tháng mà Lam đã cảm thấy tràn trề tin tưởng. Cô còn dám nghĩ đến cái câu "chỉ có cái chết mới chia lìa..." vậy mà! Tất cả những thứ như trực giác, linh tính đều đánh lừa cô. Lam nghĩ đến cô Son rồi nghe cảm thông và thương cổ gấp đôi.
            Đã vậy vừa treo ống nghe lên chừng mười phút, bé An lại lót tót đi qua. Lần nầy nó xách cho Lam một cái túi ni lông trong đó có một trái dừa xiêm nhỏ xíu; Một trái mãng cầu xiêm cũng nhỏ nhưng đã già, gai nở to; Một trái xoài sống xanh lè có cái cuống lòng thòng; Một chùm sung và một trái đu đủ non, hai thứ nầy cuống còn tươm mủ...
            Nó nói:
            -Má con biểu đem qua cho cô bày mâm trái cây chưng tết.
            Rồi nó đọc:
            -Cầu, dừa, đủ, xoài, sung. Năm nay cô phải xài thẳng tay nghe! Cô sắm cái di động với chiếc “ếch hắc” đi!
            Lam cười:
            -Cô dắt mấy chiếc xe đó có nổi đâu mà sắm!
            Thấy gương mặt nó có vẻ đắn đo, muốn nói cái gì mà chưa dám. Lam đoán ra lý do, không đợi nó hỏi mà nói liền:
            -Hồi nãy chị Hai của cô gọi điện, hỏi cô có ăn mứt me hông để chỉ làm cho!
            Bé An chợt vui hẳn.
            Nó hỏi:
            -Cô Ba biết làm mứt me hông?
            Lam gật đầu:
            -Biết! Chi vậy?
            Nó cười toe:
            -Cô dạy con làm đi. Coi khoái ăn mứt me nhứt hạng.
            Lam hỏi:
            -Nhà con có me chưa?
            Bé An gật đầu:
            -Có, mà còn ở trên cây, để con về hái nghe!
            Nói xong là vọt liền như sợ Lam đổi ý!
            Lam nói to đuổi theo:
            -Lấy cây thọc thôi, đừng có leo, cây me hay có rắn lắm!
            An không quay đầu cũng không dừng lại, chỉ “dạ” một tiếng thật lớn để Lam biết là nó đã nghe và sẽ vâng lời.
            Lát sau An đem me qua, Lam đem ngâm vô nước có bỏ muối hột để thịt me săn lại cho dễ lột.
            Sáng hôm sau, nó xách cây dao Thái Lan mũi nhọn bề bản chừng bằng ngón tay cái, có cái cán nhựa màu vàng qua nhà Lam để gọt. Hai cô cháu vừa thoăn thoắt cái tay, vừa thơn thớt cái miệng.
            An nói:
            -Mai mốt lớn lên con thích ở giá như cô Ba vậy đó!
            Lam hỏi:
            -Sao vậy?
            Nó đáp:
            -Lấy chồng lỗ thấy mồ. Ba con một tháng ra đồng có mấy ngày, còn má con ngày nào cũng đi chợ, nấu cơm, xắc chuối cho heo ăn, quét sân... Tóm lại là làm đủ thứ không hở tay. Tiền thì má con giữ, nhưng muốn sắm cái gì thì phải hỏi ba trước, ổng chịu mới dám mua. Ba thì lâu lâu lại nhậu, lại biểu má đưa tiền. Hể má hỏi lấy tiền để làm gì là ba cự thôi là cự, nói ba xài cái gì kệ ba, má không có quyền hỏi. Mỗi lần hết tiền là ba đổ thừa má. Má con buồn lắm, nói biết vậy hổng thèm lấy chồng, đi chơi cho đã đời. Có chồng làm chi cho khổ, làm ra tiền mà hổng được xài.
            Lam vừa buồn vừa mắc cười. Thấy thương cho cô Sáu và tủi cho mình quá! Chắc cổ cho rằng Lam đã bị Đông đá, hết đường binh rồi nên sai con An qua an ủi.
            Để khỏi phải nghĩ ngợi lôi thôi, Lam tập trung cho cái tết. Ngoài mứt me Lam còn rủ An làm mứt dừa, mứt chùm ruột, củ cải trắng dầm nước mắm, dưa cải, dưa kiệu… Lam mua mấy cái hủ giống hệt nhau rồi để mấy thứ đó vào, sắp chúng thành một hàng coi rất đẹp mắt.
            Cô Sáu và bé An hể rãnh là chạy qua hỏi cái nầy, cho cái kia. Cô Sáu rủ mùng hai cổ, Lam và An, cả ba cùng đi viếng ngôi chùa bên kia sông để xin lộc, xin bùa, vì nghe nói cái chùa đó linh lắm!
            Lam sợ cô Sáu mang mặc cảm có lỗi nên hể thấy mặt cổ là Lam cười, nói chuyện huyên thuyên. Thế rồi có một lần đang nói tía lia bỗng Lam quên phức là mình đang nói chuyện gì. Cô Sáu nhìn Lam, nước mắt bỗng chui ra, lăn dài xuống hai gò má. Cổ chạy đến ôm hai vai Lam mà nói:
            -Thà tụi mình khóc đại với nhau mà tốt hơn đó cô Ba! Chớ đóng tuồng như vầy hoài tui mệt quá!
            Thế là cả hai ôm nhau khóc như mưa, như gió. Bé An từ ngoài đường đi xâm xâm vô, không biết ất giáp gì hết, thấy má nó với Lam khóc thì chạy tới dang tay ôm hết cả hai, khóc còn thảm thiết hơn.
            Đêm giao thừa Lam bày chiếc bàn nhỏ ra giữa trời. Bưng dĩa trái cây "cầu vừa đủ xài sung" đặt một góc bàn. Bình bông vạn thọ vàng ối đặt ở góc đối diện. Khoảng trống ở giữa là cặp đèn cầy và lon gạo làm lư hương. Ba chung nước trong với ba cái bông điệp màu vàng thả lềnh bềnh trong đó.
            Lam bày sẵn nhang đèn rồi vô nhà mở ti vi xem kịch táo quân để chờ cúng giao thừa. Coi mà buồn, mà chán như thể nhìn mấy con thú nhồi bông bày trên kệ từ năm nầy sang năm khác, mỗi ngày một cũ, một mòn đi.
            Tiếng ống lói nhà ai vọng đến nghe rất ấm. Lam thầm cám ơn cái người nào đó, đã chịu khó báo tin một cách long trọng cho đất trời biết đã đến giờ hợp cẩn giao bôi của họ. Cô bật hột quẹt đốt ba cây nhang rồi châm lửa vào hai cây đèn cầy.
            Lam đưa ba cây nhang lên trán lầm bầm khấn khứa:
            -Con xin mừng tuổi ông trời, bà đất. Chúc ông bà chung sống hòa bình vui vẻ. Chúc ông bà hạnh phúc tràn trề, xài không hết xả xuống cho thế nhân hưởng ké mỗi người một tí! Cầu cho con người hiểu nhau mà không cần phải dùng lời nói! Cầu cho con người thương nhau mà không cần nhờ tới tiền bạc. Cầu cho những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu không phải lang thang tìm nhau từ kiếp nầy sang kiếp khác.
            Ngày mùng một Lam mặc chiếc áo dài màu tím than, chiếc áo mà Lam thương nhứt. Nhớ tới gương mặt anh Hai và lời anh nói năm ngoái mà Lam chạnh lòng:
            -“Sao tết năm nào em cũng mặc cái áo dài màu tím nầy hết vậy? Sao không mặc màu tươi tươi một chút? Biết đâu nhờ vậy mà cuộc đời của em sẽ vui hơn!”
            Lam chống chế:
            -Em cũng muốn mặc cái áo khác mà không hiểu sao cũng lại chọn nó! Chắc tại em với nó đã có cái tình, cái nghĩa với nhau rồi!
            Anh Hai rầy:
            -Sao em phung phí tình cảm của mình quá đỗi vậy? Thương người thôi cũng đủ mệt cầm canh! Em còn đa mang thêm đủ thứ, nào là cỏ cây, hoa lá, chim chóc rồi tới màu sắc nữa. Thương là khổ. Có là mất. Hợp là tan…bộ em không biết hay sao? Phiên phiến mà sống thôi! Đừng gắn bó sâu sắc với thứ gì, khổ lắm!
            Lam đã hứa:
            -Để sang năm, sang năm em sẽ…
            Năm nay thấy Lam vẫn mặc chiếc áo dài nầy, chắc anh Hai lại phật ý. Sẽ nhìn Lam bằng ánh mắt còn buồn hơn năm ngoái. Lam sẽ giải thích thích với anh:
            -Màu tím là màu của cảm thông và an ủi. Màu của tâm linh và ký ức. Màu của những giấc mơ không bao giờ thành hiện thực và chẳng thể mất đi. Khi mặc chiếc áo nầy em thấy mình ấm áp như thể có một người bạn rất thân đang cầm tay mình, lòng lâng lâng một niềm vui. Cho nên không thể từ bỏ nó.
            Lam dắt chiếc xe đạp ra cổng rồi quay vào nhà để lấy chiếc nón lá, mới hay cái quai nón đã tháo ra giặt chưa được cột vào. Lam ra dây phơi, gở cây kẹp màu tím ra khỏi mảnh vải nhung tím ốm nhom, bất giác đưa mắt nhìn những thứ treo trên đó! Bộ đồ tay dài cổ bà lai bông tím; Nội y màu tím; Cái khăn mặt màu tím… Lam đoán hổng chừng trái tim của mình cũng màu tím tuốt.
            Ôi! Sao hôm nay tất cả các màu tím nầy lại đẹp, lại buồn đến vậy? Sao ngôn ngữ của màu sắc quá dịu dàng, quá hàm xúc đến vậy? Nó như đang đưa tay vuốt thật nhẹ vào những phím đàn trong trái tim và khiến Lam rung cảm tận đáy lòng
            Có tiếng kêu to ngoài cổng:
            -Cô Ba ơi! Cô Ba!
            Lam nhận ra tiếng gọi của Phương, đứa con gái lớn của anh Hai đang dạy học ở Long xuyên.
            Lam nghĩ thầm:
            -Con nhỏ nầy sao hôm nay không qua nhà dì Út để chúc tết như mọi năm mà đến nhà mình vậy ta?
            Lam chưa kịp lên tiếng. Phương đã gọi tiếp:
            -Cô Ba ơi! Con là Phương nè! Cô có ở nhà hông?
            Lam đáp:
            -Có! Chờ cô một chút!
            Rồi lật đật chạy ra mở cổng, một tay cầm cây kẹp, một tay còn cầm cái quai nón màu tím.
            Lam mở cổng, ngạc nhiên khi thấy Phương không đi một mình, sau chiếc xe gắn máy của Phương còn một chiếc xe khác có hai người đàn ông chở nhau nữa. Lam nghiêng đầu nhìn rồi bỗng đứng chết trân như bị điểm huyệt, bàn tay cầm chiếc quai nón đưa lên đè ngực như trấn áp trái tim đang đập loạn xà ngầu trong đó.
            Phương thấy Lam sửng sốt bèn giới thiệu:
            -Đây là anh Hưng, bạn con. Đây là chú Đông bạn của ảnh.
            Đâu cần Phương phải giới thiệu. Đông và Lam đã nhận ra nhau, bằng mắt và bằng cả trái tim. Thời gian đã làm dáng dấp của cả hai đổi thay, xô lệch đi đôi chút, nhưng chẳng thể đánh lừa được họ.
            Đông bước đến nắm bàn tay đang cầm cây kẹp phơi đồ của Lam, rồi nói, giọng nghẹn ngào:
            -Em về rồi nè!


            CHƯƠNG SÁU

            Không những cô Sáu mà cả chồng cổ, Bình, cũng hớn hở khi Lam dắt Đông qua giới thiệu.
            Lần đầu tiên Lam thấy người đàn ông có gương mặt khó đăm đăm, luôn cau có cho dù đã thôi đau trĩ ấy! Người mà mỗi lần gặp chỉ nói với Lam mỗi một câu "chào cô Ba" rồi tránh mặt, cười hở đúng mười tám cái răng. Khiến cái miệng mang vô số nếp nhăn, tựa như cái bao cột túm của y ta được tháo dây giãn ra đôi chút.
            Bình bắt tay Đông bằng cả hai bàn tay, nắm rất chặt và lắc thẳng tay, rồi hỏi một câu làm cả Đông lẫn Lam, có lẽ cả cô Sáu nữa đều ngượng chín cả người:
            -Hôm rồi thầy ngủ có thẳng giấc không?
            Đông nói:
            -Anh Sáu đừng gọi tui là thầy. Ở bên Úc tui làm cu ly, cu leo chớ không có dạy ai một chữ nào hết. Chắc anh lớn tuổi hơn, coi tui như em đi!
            Bình gãi đầu sồn sột rồi hỏi lại một câu y khuôn!
            -Hôm rồi dượng ngủ có thẳng giấc không?
            Đông đáp:
            -Cù lao mình cây xanh nhiều nên mát mẻ, yên tịnh quá! Tui ngủ nhiều đến độ đâm tiếc!
            Cô Sáu ngạc nhiên:
            -Sao lạ vậy?
            Đông cười :
            -Về thăm nhà mà ngủ hoài là uổng lắm!
            Mọi người cùng cười đáp lại cái câu nói hóm hỉnh ấy. Bé An núp sau tấm vách nghe lén, cũng quên phức, ngoác miệng hùn vô mấy tiếng hi hi.
            Bình kéo cái ghế gỗ có lưng dựa ra, lấy tay phủi sơ mặt ghế rồi mời:
            -Dượng ngồi đây, uống miếng trà với tui.
            Quay mặt vào trong, Bình gọi:
            -Con bé An đâu! Bưng hộp mứt với châm bình trà nóng cho ba.
            Rồi nói như để an ủi:
            -Dùng miếng đồ ngọt lấy thảo trước. Một chút rồi anh em mình lai rai, tui có mấy con khô cá sặc, để hái xoài xuống trộn gỏi rồi khui hủ rượu ngâm bìm bịp…
            Lam nháy mắt với cô Sáu.
            Cổ lật đật cản:
            -Cô dượng Ba còn đi cúng bên từ đường nữa. Đáng lẽ cổ phải dắt dưỡng qua ra mắt bàn thờ cữu huyền trước mới đúng lễ. Tại vị bụng nhà mình quá nên mới qua đây. Mình cầm chưn lâu quá coi không được. Để vài bữa nữa đi, tui nhứt định hổng để cái bao tử của dưỡng ở không đâu!
            Rồi cổ hỏi Đông:
            -Dượng có ăn lươn kho mắm chưa?
            Đông đáp một cách phấn khích:
            -Dạ chưa!
            Cô Sáu nói:
            -Ba bữa nầy chưa hợp chợ, chưa ai bán gì hết ráo! Để khoảng mùng bốn, mùng năm gì đó tui đi chợ kiếm thử coi. Nếu như có lươn thì tui sẽ kho một nồi mắm với hái đủ mười thứ rau đãi dượng. Bằng không, tui mua một con cá ba sa thiệt bự, thiệt mập về kho.
            Bình lần đầu khen vợ nên có chút ngượng nghịu:
            -Bả làm món đó ngon hơn mấy thứ khác. Ăn cũng được lắm!
            Bé An mặc bộ đồ màu hồng mới tinh, bưng cái hộp đựng mứt tết ra mời Đông.
            Nó bẽn lẽn cười, vừa cúi đầu chào, vừa nói lí nhí:
            -Con chào cô Ba, dượng Ba.
            Đông móc túi lấy cái bao màu đỏ đưa Lam, cô cầm lấy, trao cho bé An rồi nói:
            -Cô lì xì cho con mua bánh, chúc con học hành tấn tới, giỏi đều mọi môn. Siêng tập thể dục để bớt đi vài ký, cao thêm một tấc nữa.
            Bé An le lưỡi dài thòn rồi khoanh tay chúc:
            -Con chúc cho cô với dượng trăm năm hạnh phúc, sống chung với nhau cho tới răng long đầu bạc.
            Câu mừng tuổi mà y như câu chúc tụng trong đám cưới khiến mọi người phì cười. Bé An mắc cỡ quá, đâm đầu chạy tuốt vô nhà sau.
            Cái hộp mứt hình tròn chia làm tám ngăn bằng nhau, đựng đủ tám thứ mứt khác nhau. Ngoài mứt me, dừa, chùm ruột, cây nhà lá vườn. Cô Sáu còn mua thêm mứt bí, mứt gừng, mứt mãng cầu, mứt khóm, mứt đậu que nữa, cô chủ ý xếp các màu đậm, lợt xen kẻ nhau nên trông rất đẹp mắt.
            Cô bóc hai miếng mứt mãng cầu đã bỏ hột, được gói trong giấy kiếng trong suốt giống như cục kẹo sữa, đưa cho Đông và Lam mỗi người một cục rồi mời:
            -Mời cô và dượng ăn một miếng đặng uống trà cho ngon.
            Đông có nghe Lam khoe cô vừa dạy An làm mứt. Anh cũng nhận ra mứt me, mứt chùm ruột, mứt dừa y chang nhà mình, nên chiếu cố ba món đó hết sức nồng hậu rồi gật gù khen nức nở làm hai vợ chồng cô Sáu và cả Bé An ai cũng phổng mũi vì hãnh diện.
            Uống hết ly trà, Lam và Đông đứng lên xin kiếu để đi sang nhà dì Út, để đốt nhang cho cữu huyền, và ra mắt dỉ. Đáng lẽ Lam phải dắt Đông đến nhà vợ chồng Chương trước vì bàn thờ ba má cô ở đó, nhưng nhà dì Út gần hơn và dỉ là người bà con có vai vế cao nhứt hiện nay, nên Đông phải trình diện đầu tiên.
            Đông dắt chiếc xe đạp của Lam ra, trỏ vào nó rồi cười, hỏi:
            -Sao chiếc xe nầy không phải là màu tím?
            Lam giải thích:
            -Của anh Hai cho.
            Rồi hỏi lại:
            -Còn chở nổi không đó?
            Đông không đáp, xăn tay áo lên, co cánh tay lại, gồng hết cỡ rồi nói một cách tự hào:
            -Coi đi!
            Lam lấy ngón tay trỏ nhấn mạnh vào con chuột trên cánh tay Đông rồi nói:
            -Cứng ngắc!
            Không cố ý bắt chước dì Út, nhưng Lam không biết xưng hô với Đông như thế nào nên cứ nói trống không. Đông đã nhận ra cái dấu hiệu "xuống nước" ấy nên mừng thầm trong bụng.
            Lam mặc lại cái áo dài hôm qua. Cô ngồi một bên, vén tà áo phía sau ra trải lên đùi. Lam, tay trái cầm cây dù để che cho cả Đông, tay phải bám vào cái yên xe.
            Con đường đất nhỏ không phẳng lắm! Để cho vững Lam phải tựa vào lưng Đông một tí, đúng ngay chóc cái nơi mà ngày xưa Lam cũng đã tựa vào khiến Đông bất chợt rùng mình.
            Có lẽ nhờ Lam cầu nguyện lâm râm từ nhà và suốt lúc đi, nên chiếc đò tuy chật ních nhưng cô không đụng mặt một người quen, hay đứa học trò nào.
            Đến nhà Thắm, con Phèn đã nắm sẵn bên cổng để đợi. Nó vừa hực lên một tiếng thôi là Thắm đã đâm đầu chạy ra mà không chờ Lam gọi.
            Thắm cười và chào Đông một cách thân mật:
            -Chào ông học trò!
            Đông cúi đầu rất sâu, rất cung kính:
            -Con xin chào dì Út!
            Bộ điệu trịnh trọng của Đông làm Thắm không thể nín cười. Để không làm Đông ngượng cô cũng cúi đầu rất sâu để đáp lại cho tương xứng và cũng để giấu bớt nụ cười.
            Ngươn, hôm nay mặc bộ đồ tây mới tinh, áo màu khói nhạt, quần màu khói đậm đã đứng đợi sẵn trước hàng ba với nụ cười hiền rụi muôn thuở.
            Lam ngạc nhiên trước sự thay đổi của Ngươn, dì Út, ngôi nhà và cả khu vườn. Hết thảy đều mới tinh, đều tươm tất, đều vui tươi và ngồn ngộn sức sống.
            Đông buột miệng:
            -Nhà đẹp quá! Vườn rộng quá!
            Thắm cười rồi kê sát vào tai Lam nói nhỏ:
            -Tụi bây xứng lứa vừa đôi quá!
            Lam cũng làm y như Thắm, cô nói:
            -Dì cũng vậy!
            Họ nói nhỏ xíu nhưng hai người đàn ông cũng nghe được hoặc đoán ra. Cả Đông và Ngươn đều nghe máu chạy rần rần dưới làn da mặt!
            Thắm cũng mắc cỡ lây. Cô lật đật dắt họ đến bàn thờ rút ba cây nhang thơm màu đen, châm vào ngọn đèn cầy. Mùi trầm tỏa ra nghi ngút. Cô không đưa nhang cho Lam mà đưa hết cho Đông.
            Đông tiếp lấy bằng cả hai tay, cầm nhang đưa lên trán khấn khứa một cách vô cùng thành kính. Lam đứng bên cạnh, xá một lượt với Đông rồi ngồi xếp chè he, bỏ chân qua một bên, chờ Đông lạy rồi lạy theo. Cảm xúc thiêng liêng bỗng xuất hiện trong lòng họ. Cả hai không dám liếc nhìn nhau nhưng vẫn có cảm giác như một luồng điện đang chạy xuyên qua cùng lúc.
            Thắm nôn khoe mấy dây thiên lý của mình nên tạm gác chuyện trà bánh lại, đi xăm xăm để dắt cả hai ra vườn trước, bỏ mặc Ngươn thủng thẳng đàng sau.
            Khu vườn um tùm như mái tóc của người phụ nữ lười chải hôm nào, giờ đã được phát quang sáng sủa. Dưới mấy gốc dừa cao ngang tầm với là những dây thiên lý còn khá mong manh. Cái giàn mướp che sàn nước hôm nay cho trái lúc lỉu, Đông thích quá đưa tay sờ từng trái rồi khen:
            -Mướp của dì Út trái nhiều hơn dây mướp của em há!
            Thắm trợn mắt ngó Lam.
            Lam đọc trong đó câu hỏi ngấm ngầm:
            -“Trời đất ơi! Bộ tụi bây xáp lá cà rồi hay sao mà nó gọi mầy bằng em ngọt xớt vậy?”
            Nét mặt kinh hoàng của Thắm bỗng kích thích cái máu nghịch ngợm trong Lam. Cô nghĩ bụng "để mình chọc cho tới cùng coi dĩ phản ứng như thế nào"
            Cô liền đáp một cách âu yếm:
            -Dạ! Tại em không có người làm giùm cái giàn cho nên nó phải bò lên mái. Trái của nó nằm mẹp trên ấy, tưởng ít chớ nhiều lắm đó anh!
            Đông đánh bạo gọi Lam bằng em mà lòng nơm nớp, không ngờ cô hưởng ứng một cách nhiệt liệt nên mừng đến thót bụng, cũng may là hồi sáng xiết dây nịt hơi chật.
            Chàng nhủ thầm:
            -“Cám ơn trời phật! Cái ải cuối cùng đã được mình nhảy qua một cách ngon lành!”
            Chàng đã nghe Lam kể về cái tánh câu nệ của bà dì Út, cũng đoán ra trò nghịch ngầm, khoái trêu của Lam, nên nhìn Thắm bằng đôi mắt hàm ơn!
            Thắm thì khỏi phải nói! Hai con mắt thiếu điều lồi ra như mắt cua. Chỉ mỗi mình Ngươn là không phản ứng gì hết, vẫn giữ nguyên nụ cười trên môi.
            Cách xưng hô thân mật của họ khiến Thắm bỗng thấy mắc cỡ ngang xương. Cô lấy cớ chuẩn bị bữa ăn nên đi te te vô bếp, giao cho Ngươn, người đang còn mang chức danh khách, tiếp khách cho mình.
            Lam, dù lương tâm hết sức yên ổn vì chẳng làm điều chi khuất tất, cũng nhận thức ra mình đùa hơi quá trớn nên lật đật bỏ giò chạy theo.
            Đông ngạc nhiên nhìn Ngươn như hỏi mình có làm sai điều gì hay không.
            Nhận ra nét thắc mắc trong ánh mắt của Đông, Ngươn lắc đầu, cười, giải thích bằng giọng hiền khô:
            -Chắc hai dì cháu họ vào bếp để chuẩn bị cúng cơm trưa.
            Rồi dắt Đông đi xem mọi ngóc ngách trong vườn.
            Đông bỗng hỏi:
            -Cây me dì Út té nằm ở đâu?
            Ngươn dắt Đông lại cuối vườn, một cây me thật to đang đứng đợi họ.
            Chàng ngước mặt, chỉ tay lên cái nhánh thấp và xum xuê nhất nói:
            -Út rớt từ cái nhánh đó xuống đất.
            Dưới đất, ngay nơi Thắm "hạ thổ" có một đống tro nhỏ với vài tờ giấy vàng bạc chưa cháy hết.
            Chỉ vào chúng Ngươn giải thích:
            -Út đốt tiền âm phủ để hối lộ cho cô hồn các đảng. Xin bọn họ đi chỗ khác chơi, hoặc nếu ở lại thì làm ơn đừng thả rắn vô vườn để ghẹo người ta nữa.
            Đông hỏi:
            -Dì Út dạy học mà cũng tin dị đoan sao?
            Ngươn gật đầu:
            -Tin dữ lắm!
            Hai người nhìn nhau cười, ngầm coi nhau là đồng minh. Cả hai vừa đi vừa trò chuyện rất tâm đắc, tận cho tới khi nghe tiếng Thắm gọi to:
            -Vô ăn cơm!

            Trên cái bàn khách ở giữa nhà, các món ăn trong mấy cái tô, dĩa, lớn nhỏ khác nhau, mang màu sắc và mùi vị khác nhau, nằm chen chúc khiến Đông tối tăm mặt mũi.
            Ngay chính giữa cái bàn dài, hai “nhân vật” quan trọng nhứt, đóng vai đào chánh và kép chánh trong vở kịch "Đoàn viên ngày tết" ngồi chễm chệ bên nhau: Tô canh khổ qua dồn cá thác lát và dĩa thịt heo kho hột vịt. Cạnh đó là dĩa dưa giá với đủ màu sắc, tím, xanh, trắng, vàng, cam, đỏ.
            Một dĩa hột vịt bắc thảo màu rêu đỏ đậm đi kèm với cái dĩa những lát gừng non màu kem bào mỏng ủ chua. Cái dĩa kiểu cỡ trung nằm khít bên nó, đựng mấy con tôm khô đỏ đỏ, hồng hồng, lưng cong vòng cặp kè những cọng củ kiệu trắng nõn thẳng băng.
            Chiếc dĩa nhỏ hơn đựng củ cải ngâm nước mắm để ăn chung với bánh tét. Cái dĩa lớn thứ nhì đựng bánh tét, được cắt bằng chỉ tơ rất bén nên lát cắt ngọt xớt, chẳng miếng nào bị rỗ mặt, đổ lông. Từng khoanh bánh tròn trịa, với nếp pha nước cốt lá dứa mang màu xanh bao bên ngoài, ôm chặt cứng lớp đậu xanh màu vàng cùng cái cục nhưn mỡ trong veo cỡ một lóng tay nằm ngay bon chính giữa.
            Chiếc dĩa bàn to nhứt đựng chỉ một khoanh dưa hấu thôi mà đầy nhóc! Cái mặt tròn vo, đỏ au ấy mang cả trăm cái nốt ruồi đen, chẳng những không làm nó xấu đi, mà còn tôn gấp đôi nhan sắc! Dĩa xoài chín vàng ươm không biết vô tình hay cố ý, nằm ngay trước mặt Đông khiến chàng không thể không tự hỏi: "Hình như hai dì cháu họ kể ráo nạo với nhau mọi thứ!"
            Rồi so sánh bàn tiệc thịnh soạn, nồng ấm, đầy màu sắc trước mặt với những bữa cơm giản dị, lạnh lẽo, ăn cho lấy có của mình mà bất giác chạnh lòng.
            Thắm hối:
            -Cầm đũa đi, mọi người!
            Lam kề tai Đông nói nhỏ:
            -Ăn lưng lửng bụng thôi! Một lát ghé nhà anh Hai, mình cũng phải ăn cơm với ảnh chỉ nữa đó!
            Đông gật nhẹ đầu rồi gắp một khoanh bánh tét vô chén liền.
            Vừa nuốt qua khỏi bụng, Đông nói với Lam một cách đầy khâm phục:
            -Anh chưa bao giờ được ăn miếng bánh tét nào mà ngon đến rụng rời như vầy!
            Lời khen chân thành của Đông làm cái lỗ mũi của Thắm xém “banh ta lông”. Cô cảm thấy hết sức có cảm tình với thằng cháu rể mới tinh của mình.
            Lam bồi thêm:
            -Bánh tét của dì Út mà không ngon sao được? Dì chịu khó xào nếp với nước cốt dừa trước rồi mới gói, bởi vậy miếng bánh vừa thơm vừa béo.
            Đông ăn hết veo khoanh bánh mà không cần một cọng cải mặn nào giúp sức. Chàng định gắp thêm một khoanh nữa thì Lam cản.
            Cô nói:
            -Anh gắp mỗi thứ một miếng để biết qua cái tài nấu ăn của dì Út. Một lát thế nào dỉ cũng cho mình vài đòn đem về, tha hồ ăn, đừng lo!
            Chờ Đông thọc đũa vô dĩa thịt kho, Thắm liền đứng lên nói:
            -Khoan, đợi một chút!
            Rồi ba chân bốn cẳng chạy ra giàn rau, hái bốn trái ớt, hai xanh, hai đỏ đem vô.
            Lam thấy điệu bộ xăng xái của Thắm, liền đoán ra ngay lập tức rằng bà dì của mình cố ý quên để khoe với Đông “món” ớt của mình.
            Sợ chàng không nhận ra cái ẩn ý đó, cô vừa nháy mắt vừa nói khi Thắm đưa cho riêng Đông hai trái ớt thon thon, một xanh, một đỏ:
            -Đâu anh cắn thử một miếng ớt coi nó ra làm sao?
            Đông kết hợp cái nháy mắt của Lam và nét mặt rạng rỡ, háo hức của Thắm, hiểu ra đây là một lớp diễn cực kỳ quan trọng. Chàng “nhập vai” liền, quyết không phụ lòng cả hai! Cho nên, dù đang mang chứng đau bao tử, phải kiêng các gia vị cay nóng, chàng cũng gồng mình cắn phập một phát .
            Đông hít hà rồi nói:
            -Đúng là thiên hạ đệ nhứt ớt! Thơm quá, nồng nàn quá!
            Thế là con đường đưa Đông vào thế giới tình cảm của Thắm, đã được san bằng mấy cái ổ gà và trải chiếu hoa đón chân ngay lập tức!
            Cho dù có sự cảnh báo của Lam, Đông cũng không thể kềm lòng trước các món ăn mang mùi vị, màu sắc quá ư khêu gợi ấy! Món thịt kho tàu mà trước đây chàng cho rằng má mình là "độc cô cầu bại" không ai có thể qua mặt, nay được chàng công tâm nhìn nhận dì Út rất xứng tầm đối thủ. Tô canh khổ qua cũng đâu kém phần quyến rủ: Vị nhân nhẫn, mềm mềm của cái vỏ bên ngoài, kết hợp hết sức hài hòa với khối nhân được làm từ cái ngọt, béo của thịt nạt dăm, cái dẻo của cá thác lác, cái giòn của nấm mèo, cay cay của tiêu... Giúp cho nó cuốn trôi các thứ còn chần chờ trong cổ mà đẩy một cái ọt tới ruột non.
            Đông như chiếc xe đã xuống dốc còn bị đứt thắng nên chạy bon bon, chẳng thể kềm lại, đành "nhắm mắt đưa đẩy hàm răng, mặc cho con tạo xoay vần thẳng tay"!
            Thắm nhìn thằng cháu rể của mình bằng đôi mắt vô cùng thích thú. Lòng tự ái được bơm căng phồng khiến cô nghe nở từng khúc ruột. Nếu ban nãy cô còn cảm thấy chướng tai trước mấy tiếng “anh anh, em em” của họ, thì bây giờ lại thấy chúng hợp lý nếu không muốn nói là dễ thương!
            Lam chỉ vô dĩa dưa giá, hỏi:
            -Dì học ở đâu cái món nầy vậy! Vừa ngon mắt vừa phong phú mùi vị.
            Thắm chỉ vào Ngươn rồi nói:
            -Ảnh tự làm đó! Món nầy ngày trước do má của ảnh chế ra.
            Lần nầy đến lượt Ngươn thót bụng. Bởi cho dù chỉ có hai người, Thắm vẫn chưa bao giờ gọi chàng bằng tiếng ”anh” quý giá đó! Huống chi trước mặt cô cháu cưng và cái anh chàng mới nhập gia còn chưn ướt, chưn ráo. Ngươn không đeo dây nịt, cũng may đã nhét được kha khá vô bao tử.
            Bữa ăn thành công mỹ mãn, mấy ly rượu nếp than tự làm của gia chủ khiến Đông, người chưa từng là đệ tử lưu linh nghe máu chạy rần rần, toàn thân mỏi rượi một cách sảng khoái.
            Thắm nhìn gương mặt đỏ lựng của Đông rồi nói nhỏ vào tai Lam:
            -Mầy dắt nó ra cái võng sau vườn nằm cho mát đi! Giờ nầy mà qua bên nhà thằng Chương thì còn làm ăn gì được nữa. Ngủ một giấc rồi bốn đứa mình qua đó ăn cơm chiều luôn!
            Lam vâng lời, vừa dợm cẳng thì Thắm kêu lại:
            -Khoan đã, đi theo tao vô đây!
            Lam riu ríu bước theo. Thắm dắt cô vào buồng rồi mở tủ đưa cho Lam một cặp áo thun, quần xà lỏn vừa mua hôm trước tết còn mới tinh.
            Cô nói:
            -Biểu nó mặc cái nầy rồi hãy nằm võng. Mầy máng bộ đồ kia lên cho thẳng, lần đầu đến nhà người ta mà nhăn nheo coi không được. Con vợ thằng Chương nó xét nét dữ lắm!
            Lam hỏi:
            -Hôm qua dì có nói cho ảnh chỉ biết chuyện của dì chưa?
            Thắm gật đầu.
            Lam hỏi tiếp:
            -Ảnh chỉ nói sao?
            Thắm cười giọng ngường ngượng:
            -Anh Hai mầy thì chảy nước mắt, lấy tay chùi như con nít. Còn chị Hai mầy, con vợ nó…
            Nói tới đó Thắm chợt bật cười khanh khách, ráng ngưng lại rồi mới nói:
            -Nó nhìn như thể tao ở trong nhà tắm bước ra mà quên mặc đồ.
            Lam tưởng tượng nét mặt của Hương khi sửng sốt, cũng cười rộ theo.
            Lam đưa cho Đông bộ đồ, chỉ cho chàng cái chòi lá nhỏ tách riêng ở ngay sau nhà, hơi giống cái chuồng gà, dùng làm nơi tắm cho chàng vào đó thay.
            Cô đi lại sào phơi, lấy hai cái móc trống và bốn chiếc kẹp cầm sẵn.
            Thay đồ xong Đông bước ra, trên tay cầm bộ đồ đang loay hoay tìm chỗ máng thì Lam đã chạy đến. Cô đón lấy, giũ thẳng từng cái, máng ngay ngắn vào móc, không quên kẹp lại để đề phòng trường hợp chúng nổi hứng chạy đua với gió, rồi đem treo trên dây phơi cho ráo mồ hôi.
            Cử chỉ săn sóc đơn giản ấy khiến Đông cảm động đến nghẹn ngào! Nếu không sợ Thắm và Ngươn trông thấy, chắc chàng đã chạy đến xiết chặt Lam để bày tỏ lòng cảm kích.
            Phơi đồ xong, Lam trở lại bên Đông rồi dắt chàng lại chiếc võng treo giữa cái tàng mát rượi của cây mận và cây xoài mà cô đã nằm hôm trước.
            Cô nói:
            -Anh chợp mắt một lát cho đỡ mệt. Chiều mình với dì Út đi qua anh Hai.
            Đông rủ:
            -Em nằm chung với anh đi!
            Lam lắc đầu:
            -Ở nhà mình thì sao cũng được, ở đây thì không!
            Rồi lật đật bỏ vô nhà.


            Trong khi đó ở nhà, cô Sáu đang đợi Lam về để thông báo một điều hết sức quan trọng.
            Vốn quá nhiệt tình, quá nôn nóng nên cô đã không hỏi ý kiến Lam, tự động đi ênh qua chùa để coi tuổi cho Lam và Đông, quyết xin sư thầy lựa giùm cái ngày thật tốt để tổ chức lễ cưới cho họ
            Ngày tết, phật tử viếng chùa đông như kiến. Ai ai cũng ăn vận tươm tất, già trẻ lớn bé đều mang trong lòng một niềm hy vọng tinh khôi như mấy tờ tiền còn mới cứng trong bao lì xì.
            Các cụ bà nhân dịp nầy cũng chưng diện đôi chút. Cái quần lãnh Mỹ A láng mướt, đen bóng, để dành dưới đáy rương, một năm chỉ lấy ra đôi ba lần, được đem ra mặc. Chắc chúng cũng đang hồi họp chờ góp mặt với chị em, nôn nao cho đến nổi hai cái ống rộng rinh cứ đập phần phật vào nhau. Mái tóc bạc lưa thưa chẳng những được xức dầu dừa bóng nhẫy, mà còn nối thêm một lọn tóc mượn đen thùi, tạo thành cái búi trắng đen lẫn lộn, trông rất đỗi "mô đen"!
            Ở nông thôn hiện nay các cô gái đã xài đầm lai rai, thế nhưng khi tới chùa họ không dám mặc, vì sợ khi quỳ lạy coi không được nghiêm trang.
            Chẳng những cái dáng dấp bên ngoài của bà con đều tươi mới, khói hương, không khí thiêng liêng ở đây còn khoác cho tâm linh họ một tấm áo thơm tho, lành lặn.
            Người người chen nhau ở những chiếc bàn có ghi mấy chữ "cầu an", "cầu siêu", "cúng sao". Cho dù cái mục, coi tuổi, coi ngày tạm gát lại trong mấy ngày tết nhưng cô Sáu vẫn không nản chí.
            Cổ tìm cho bằng được thầy trụ trì, viện lý do là chú rể chỉ còn ở Việt Nam không lâu nên xin thầy chiếu cố. Tất cả Việt kiều đều được bà con ưu ái, kể cả nhà chùa. Sư thầy liền lật quyển sổ cũ sì viết bằng chữ nho, đeo kính lên lật từng trang một cách cẩn thận. Ông dừng lại ở một vài chỗ, đọc lẩm nhẩm trong miệng, rồi nói:
            -Hai cái tuổi nầy tốt lắm! Đáng lẽ để đến hai mươi mốt tháng tư mà cưới thì tốt nhứt, có thể hạ sanh quý tử. Nhưng vì quá gấp nên mùng mười tới đây cũng được.
            Biết kết quả rồi cô Sáu hết sức hài lòng. Cô cảm ơn sư thầy, bỏ vào thùng phước thiện đặt trong chánh điện một tờ giấy xăng rồi lật đật ra về.
            Cô Sáu ghé qua nhà Lam trước. Cửa cổng, cửa nhà vẫn còn đóng kín. Cổ bèn về nhà ngồi chờ từ trưa tới chiều, rồi từ chiều cho tới tối mịt.
            Sáng hôm sau, cô Sáu sai An qua mời Lam sang nhà nói chuyện.
            Bé An làm biếng nên chui lỗ chó qua cho lẹ, nhìn vô nhà không thấy Lam nó bèn đi ra phía hàng rào. Cảnh tượng trước mắt khiến nó lật đật quay lưng chạy ù về nhà.
            Cô Sáu thấy nó, mặt đỏ lòm, thở hổn hển thì hấp tấp hỏi:
            -Mầy làm cái gì mà quýnh quáng vậy? Bộ cô Ba bị chuyện gì hả?
            Nó kề tai cổ nói nhỏ xíu:
            -Con thấy cô Ba, dượng Ba ngồi chung một cái võng. Hai người ăn chung một trái vú sữa. Cái tay của dưỡng còn quàng qua cái vai của cổ nữa.
            Cô Sáu thở hắt ra:
            -Có vậy thôi mà mầy cũng … Thì vợ chồng ai mà hổng vậy!
            Cô Sáu lấy cái khăn đang đội trên đầu xuống, làm bộ lau miệng để giấu nụ cười của mình. Cổ cười vì thương cái tính ngây thơ của con gái và mừng vì thấy bạn mình hạnh phúc. Cho dù nóng ruột hết sức cổ cũng ráng dằn lại, ngồi nhà mà chờ chứ chẳng dám sai con An mạo hiểm thêm một lần nữa!
            Hôm sau, mới sáng sớm Lam đã sang thăm cô Sáu mang theo cái túi giấy xinh xinh, trong đó có một chai dầu xanh, một cục xà bông, một bịch sô cô la, làm quà tặng.
            Cổ liền kéo Lam đi tuốt vô buồng rồi kề tai nói nhỏ:
            -Cô Ba ơi! Hai người hạp tuổi hết chỗ nói. Nhứt gái lớn hai, ông bà mình nói không “xê”.
            Lam hỏi:
            - Bộ chị đi chùa rồi hả?
            Cô Sáu gật đầu:
            -Tui nói ra hai cái tuổi của cô với dượng, nhờ coi ngày nào tốt. Sư ông lật cuốn sách chữ nho ra xem rồi nói mùng mười nầy cưới là tốt nhứt.
            Cô Sáu mới nói tới đó thì Lam cười ngất, không dừng được.
            Cô Sáu nhìn Lam đăm đăm, tự hỏi: “Đâu mất tiêu rồi cái cô Ba đoan trang, kín kẻ, ăn nói nhẹ nhàng còn cười thì ít khi thấy răng ngày trước? Hổng lẽ mấy cái người đã năm mươi mấy tuổi, sắp lấy chồng đều vui còn hơn con nít được lì xì, đến độ không còn biết ngại ngùng chút nào sao trời?”
            Thấy cô Sáu nhìn mình trân trối, Lam bèn đem cái chuyện mình và dì Út thách đố nhau ra kể.
            Cổ mừng đến nhảy dựng lên:
            -Mèn đéc ơi! Cái chuyện nầy từ cha sanh mẹ đẻ đến giờ tui mới thấy đó! Có thiệt như vậy hông cô Ba. Có thiệt là hai dì cháu cô sanh một lượt, ở giá một lượt rồi bây giờ cũng lấy chồng một lượt hông?
            Lam gật đầu rồi móc túi lấy chiếc điện thoại màu tím, quà của Đông tặng, ra gọi cho Thắm liền để chứng minh cho cô Sáu thấy là mình không hề nói dóc.
            Giọng Thắm e dè:
            -A lô! Xin hỏi ai gọi cho tui đó?
            Lam đáp:
            -Con, Lam nè dì Út .
            Thắm thở ra nhẹ nhỏm rồi hỏi:
            -Mầy mua điện thoại hồi nào vậy?
            Lam đáp:
            -Của ảnh tặng?
            Thắm ghẹo:
            -Ảnh gì! Ảnh ương hả? Nghe chữ “ảnh” ngọt xớt mà tao mọc óc cùng mình đây nè!
            Lam, giọng đe dọa:
            -Dì sắp tiêu tán đường tới nơi mà chưa biết sợ hay sao? Ở đó mà nói hành, nói tỏi tui nữa!
            Thắm cười:
            -Mắc gì phải sợ? Mầy có đôi, tao cũng hai người. Ảnh của tao tuy ốm yếu nhưng võ nghệ đầy mình, lại có tài trị thương nên ba cái chuyện đánh đấm nầy nhỏ xíu như con cuốn chiếu! Hai thằng bây dám đánh xáp lá cà với hai thằng tao hông? Tao thách đó! Chấp...
            Lam chặn họng:
            -Quân tử động mỏ, không động thủ. Xin thông báo cho dì biết, tụi tui sẽ làm đám cưới đúng bon mùng mười, trước dì vừa vặn năm ngày.
            Thắm nạt:
            -Đừng có giỡn nghe mậy! Tụi bây làm cái gì mà gấp dữ vậy? Mới gặp cái a thần phù cưới liền, coi kỳ thấy mồ! Mà có phiêu lưu quá hông con?
            Lam cười:
            -Gấp cái gì? Kỳ cái gì? Phiêu lưu cái gì? Tụi tui gặp nhau đã ba mươi năm về trước, hổng chừng còn sớm hơn dì với “ảnh” của dì năm ngày. Bây giờ cưới trước năm ngày thì hợp lý quá rồi còn gì!
            Thắm hỏi lại cho chắc ăn:
            -Bộ thiệt hả?
            Lam vừa gật, vừa thề dù Thắm không yêu cầu:
            -Tui mà nói dóc cho bà bắn đui hai con mắt!
            Thắm kêu lên:
            -Trời đất ơi! Có phải vì cái vụ tụi mình cá nhau mà mầy cưới cái rụp không?
            Lam đáp chắc lọi:
            -Đúng bon!
            Thắm thở dài:
            -Tao không ngờ mầy còn háo thắng hơn tao! Bây giờ muốn chung thứ gì đây?
            Lam đáp:
            -Tui chưa nghĩ ra cái thứ gì đáng để hy sinh đời con gái của mình hết, nên dì cứ “không an tâm” mà chờ đó đi! Cứ tha hồ mà phập phồng lá gan đi!
            Thắm rên:
            -Con quỷ! Bộ mầy không biết tao là người không có tánh kiên nhẫn, ghét chờ đợi hay sao? Tao đã từng tuyên bố, nếu như tao mà làm cán bộ cao cấp, tham nhũng rồi được xử tù treo là tao sẽ chống án tới cùng. Năn nỉ nhà nước làm ơn bắn tao một cái đùng chớ đừng treo gì ráo!
            Lam đáp:
            -Tui biết! Tui biết! Dì là người không bao giờ mua đồ trả góp; Không thích chơi hụi vì không muốn chờ đợi lâu lắc; Đem đồ đi may mà thợ hẹn hơn ba ngày là đem tới chỗ khác. Ghét nhứt là ai mượn tiền mình và không bao giờ mượn cái gì của ai. Nếu kẹt quá phải xài đỡ của ai thứ gì, hứa với ai điều gì là phải trả liền, làm liền rồi mới ăn ngon ngủ yên. Bởi vậy cho nên tui đâu thèm đòi nợ gấp làm chi!
            Thắm thở dài:
            -Hèn gì người ta nói, kẻ hại ta khiến ta không kịp trở tay chính là người thân thuộc nhứt của ta. Bấy lâu nay tao đâu có làm chuyện gì có tội, có lỗi với mầy mà mầy nỡ hạ tao sát ván như vậy hả con kia? Phải thấy tao sống dỡ, chết dỡ mới vừa cái bụng của mày hả?
            Lam trề môi:
            -Xời ơi! Tui mà kể hết ra chắc hai chiếc xà lan chở cũng hổng hết. Hồi nhỏ đi học, dì làm biếng thấy bà cố! Hở hở là bắt tui ôm luôn cái cặp da nặng ì của dì. Tắm là bắt tui kỳ lưng. Ngoại mà chặt cây mía làm đôi để chia cho hai đứa là dì lựa khúc gốc. Chơi cái gì ngoại cũng bắt tui phải nhường dì. Còn nữa, dì toàn là ép tui trốn học theo dì, khiến tui bị đòn không biết bao nhiêu lần. Chuyên môn cọp pi tui, điểm nhỏ hơn còn xách lên bàn thầy khiếu nại, đã vậy còn nói hai đứa giống hệt nhau khiến thầy cho cả hai ăn trứng vịt. Nhớ chưa?
            Thắm nạt:
            -Thôi thôi, mầy cũng y chang như vậy chớ có khác gì tao. Mầy chuyên dụ tao mua bánh cho ăn, muốn cái gì toàn xúi tao xin chị Hai, anh Hai giùm. Cái lần tập bơi, mầy ôm cây chuối vuột tay, nhờ tao nắm tóc kéo lại mới còn cái mạng. Chưa đền ơn còn rắp tâm trả oán.
            Lam cười hì hì rồi đáp:
            -Như vậy mới đã!
            Cô Sáu nghe hai người nói chuyện mà ngạc nhiên quá xá cỡ.
            Cổ nhủ thầm:
            -Hai cái bà cô giáo về hưu nầy, già khằng khú đế rồi mà còn cà rỡn như con nít. Hổng biết hồi đó hai bả dạy học trò kiểu gì vậy trời!

            Đám cưới của Lam có thể được “ghi vào nách” với những thể loại: Đám cưới vui nhất, phù dâu trẻ nhất, phù rể già nhất, món ăn giản dị nhất, truyền thống nhất, ngon nhất!
            Để làm vui lòng cả bé An lẫn Đông, Lam đã cất công tìm cho được xấp vải có cái màu rất nhạt, nhẹ như khói, như sương để may áo cưới..
            Cái màu phơn phớt ấy cứ lưỡng lự, cứ phân vân ở cái ngưỡng của màu hồng và màu hoa cà mà chẳng thể nào quyết định nổi là nghiêng về phía nào. Cái màu đặc biệt ấy không ngờ quá thích hợp với Lam, giúp cô thể hiện nét đơn sơ, trinh nguyên, trong trắng của mình.
            Đông thì đúng là có phần không cần gì lo! Cái khăn đống, áo thụng Thắm may sẵn, được Ngươn nhường cho Đông khai mạc trước một cách hết sức nhiệt tình. Cũng may là khối lượng của hai người không chênh lệch nhau nhiều lắm, nên chẳng ai dám nghi ngờ là chàng rể mặc áo khính.
            Lời nói đùa của Lam ngày nào đã gieo lòng cô gái vừa mười bảy tuổi, bé An, một niềm ao ước. Từ khi biết ngày cưới của Lam, An cứ tưởng tượng trong đầu, hình ảnh của chính mình trong chiếc áo dài màu hồng bông dâu, đóng cái vai quan trọng thứ nhì chỉ sau mỗi Lam trong bữa tiệc đó!
            Cô Sáu ban đầu không đồng ý, thế rồi những giọt nước mắt của đứa con gái cưng đã làm mềm lòng người mẹ. Cổ đem chuyện ấy kể cho Lam nghe. Lam chẳng chút ngần ngại, còn cố thuyết phục vợ chồng cô Sáu cho bằng được, để tặng An cái áo dài màu đầu tiên.
            Chiếc áo ấy đã đóng vai bà tiên, "hô biến" An thành con thiên nga xinh xắn, khiến hai vợ chồng cô Sáu đều nhìn cô con gái út của mình bằng tia mắt hãnh diện. Thậm chí hai mắt của cô Sáu còn rơm rớm, và nụ cười hiếm hoi lại nở trên gương mặt cái ông chồng vốn ưa cau có của cô.
            Không biết làm cách nào mà những người bạn của Đông, cũng là học trò của Lam, biết tin. Thế là cái đám đưa rể, gồm những người lưng cong cong; Răng trắng hếu (răng giả); Tóc đen thùi (mới nhuộm), muối tiêu, bạc trắng...nối đuôi nhau thành một hàng dài đến mười mấy người.
            Chú rể phụ da xếp li, răng đã rụng bớt vài chiếc, tóc hoa răm, đứng cạnh cô dâu phụ vừa mười bảy tuổi, xinh như nụ hồng hàm tiếu, trông như bức tranh hí họa.
            Quá nhiều đề tài để đùa! Quá nhiều kỹ niệm vui trong thời đi học được nhắc! Cho nên trong cái đám cưới ấy người ta nghe cười, được cười hơn nhiều bao giờ hết!
            Chỉ có hai người không cười nổi, đó là cô dâu và chú rể!
            Đâu phải họ không vui, trái hẳn lại. Thế nhưng không hiểu tại làm sao, khi giấc mơ lớn nhất đời đã trở thành hiện thực, lòng họ cứ rưng rưng, chỉ chực ôm nhau mà khóc!
            Khi Đông đề xuất chỉ đãi một món mắm kho, cả Lam, dì Út, cô Sáu đều chới với, chỉ có Ngươn là tán thành với lý do, suy tôn món đặc sản của quê nhà.
            Hơn nữa mùng mười tháng giêng là ngày cúng đất, ngày thể hiện lòng biết ơn của bà con đối với bà mẹ đất. Vào ngày nầy các bà nội trợ thường nấu một mâm cơm, không bày trên bàn mà để trong mâm, đặt lên cái ghế nhỏ dọn ra chính giữa nhà trước, kê trên nền đất mà cúng.
            Vì tạ ơn đất nên thức ăn bắt buộc là cá lóc nướng trui, cùng các sản vật có từ đất: Rau lang, rau muống hoặc các loại rau thông dụng khác (miệt nào có thứ rau gì thì cúng rau đó). Đặc biệt: Cái chén mắm nêm bắt buộc phải có mặt, cho dù ở địa phương nào!
            Xem thế cũng đủ biết bà con miền Nam, nhứt là nông dân, mặc nhiên xem mắm là món ăn căn bản của bà mẹ đất, nước Việt ta.
            Mấy người khách đến dự đều phổng mũi để hít, không phải mùi son phấn, nước hoa của phái đẹp mà cái mùi quốc hồn, quốc túy thoát ra từ nhà bếp.
            Nỗi lo lắng của Lam, Thắm và cô Sáu nhanh chóng được đánh tan. Nồi mắm và cái rỗ rau bự bành ky được vét sạch bong, không chừa lại chút xíu nào!

            Sau ngày cưới, Lam và Đông sang nhà Thắm để lạy bàn thờ trình diện cữu huyền và giúp Thắm, Ngươn chuẩn bị ngày giỗ của ông ngoại kiêm ngày cưới của họ.
            Vừa gặp nhau là Lam cụp mắt lại để tránh tia nhìn soi mói của bà dì quá sức tò mò.
            Thắm cầm tay Lam, kéo ra nhà sau rồi hỏi:
            -Ê! Sao mậy? Nói tao nghe coi cái cảm giác của mầy lúc nầy như thế nào?
            Lam buồn xo rồi thở dài đánh thượt :
            -Tràn trề hối hận.
            Thắm điếng hồn:
            -Sao vậy?
            Lam sụt sùi:
            -Nếu biết có chồng là như vậy, chắc tui…
            Nói tới đó Lam nghẹn ngào dừng bặt .
            Thắm thở không ra hơi. Nỗi lo sợ làm cổ họng cô như thắt lại.
            Lam liếc nhìn, thấy nét mặt Thắm trầm trọng quá liền nói tiếp:
            -Chắc tui đã lấy từ ba chục năm về trước!
            Thăm xòe rộng bàn tay, tập trung mười tám thành công lực, phát vô mông Lam một cái chát!
            Lam nẩy ngược người rồi tay xoa, miệng hét:
            - Aí! Làm cái gì mà đánh mạnh dữ vậy? Đau thấy mụ nội!
            Thắm nghiến răng:
            -Vậy mà tao còn chưa vừa bụng đây nè! Chỉ muốn đập cho mầy sặc máu. Cho bỏ cái tật hở hở là hù, là nhát tao. Có chồng rồi mà...
            Đông và Ngươn đang ở nhà ngoài, nghe tiếng hét đau đớn của Lam thì điếng hồn. Họ tưởng hai dì cháu ấu đả thật sự bèn ráp nhau chạy vào can.
            Khi thấy Thắm và Lam đang kề vai, bá cổ nhau vừa thì thầm vừa cười khúc khích, cả hai bèn cùng lắc đầu rồi rút lui rất có trật tự.
            Thắm móc lá thư trong túi ra đưa cho Lam rồi nói:
            -Mầy tràn trề hạnh phúc rồi đó, đọc đi!
            Lam cầm lấy không chút do dự, xé cái bao rất cẩn thận theo lằn dán, lấy ra tờ giấy chắc được bóc từ cuốn sổ nên sát lề chi chít những cái lỗ tròn nho nhỏ xếp thẳng hàng.
            Cô đọc:
            -Lam thương!
            Xin cho anh được gọi tên em cho dù chẳng còn cái quyền đó nữa.
            Anh vừa nghe bác sĩ thông báo và được biết mình chỉ còn sống nhiều nhất là sáu tháng.
            Người đầu tiên, điều đầu tiên mà anh nghĩ đến là Lam và những nỗi đau mà anh đã gây ra cho em.
            Gần ba mươi năm qua chẳng lúc nào cái thằng tên lương tâm để cho anh yên ổn. Anh những tưởng ở một khoảng cách diệu vợi, hình bóng Lam sẽ phai nhạt trong anh, tâm hồn anh sẽ bình an để thảnh thơi hưởng hạnh phúc với gia đình. Thế nhưng…
            Đây là lá thư thứ ba anh gửi cho Lam, hai lá trước đã bị trả về kèm theo lời giải thích của Chương, anh Hai em, rằng em không nhận.
            Lam từ chối có nghĩa là vẫn còn căm hận anh, nghĩa là lòng Lam chưa thanh thản.
            Anh không sợ phải mang gông cùm đi xuống địa ngục, chỉ sợ Lam không còn cơ hội tha thứ cho anh để sống một cách vui vẻ, thong dong…
            Nước mắt Lam rơi đánh bộp trên lá thư. Quá nghẹn ngào nên cô không thể nào đọc tiếp. Thắm lấy tờ giấy trong tay Lam đọc một mình cho đến hết rồi nói:
            -Tội nghiệp quá!
            Cô hỏi Lam:
            -Mầy có định trả lời cho y không?
            Lam kéo vạt áo lau nước mắt, gật đầu:
            -Tối nay con sẽ viết. Nói cho ảnh biết là con đang hạnh phúc để ảnh yên tâm!


            ooo HẾT ooo
             
            #6
              Ct.Ly 22.10.2019 02:27:07 (permalink)
              #7
                Chuyển nhanh đến:

                Thống kê hiện tại

                Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
                Kiểu:
                2000-2024 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9