Quỷ xưng tội - Ma Văn Liêu
Thay đổi trang: < 123 | Trang 3 của 3 trang, bài viết từ 31 đến 34 trên tổng số 34 bài trong đề mục
Sun Ming 02.05.2026 20:40:34 (permalink)
Kỳ 30
 
Trở về giáo xứ An Biên trong một dịp cấm phòng cuối năm, cha sở Luca bảo tôi nghỉ lại một đêm. Cũng sẵn đã muốn như thế để có cơ hội xin cha dạy nhiều điều tôi đang thắc mắc, tôi vâng lời ngay.
Cơm tối xong tôi vào phòng cha. Như thường lệ, cha con bắc ghế ngồi bên nhau hàn huyên như một người cha và một người con chia nhau tâm sự.
Tôi kể cha nghe một câu chuyện mà tôi cho là khó hiểu để xin cha giải thích hoặc cho vài ý kiến để đối phó. Tôi kể:
- Ở Long Thạnh có một giáo phái rất lạ. Cái lạ trước nhất là mỗi tháng tín đồ tụ họp nhau lại vào đêm trăng rằm ở một đền thờ là ngôi nhà bát giác, che chắn bít bùng kín mít như một kho lương thực. Cái lạ tiếp theo là tại đó họ quây quần xung quanh một bàn thờ tròn lớn bằng xi măng ở giữa phủ nhung đỏ, trên bàn thờ đặt một tô sành rất lớn chứa đầy máu tươi của khi thì bò, khi thì trâu, dê hay heo hoặc gà, vịt. Điều lạ nữa là họ thờ một vị thần tướng mạo mặt mũi trông rất dữ tợn và hung ác, ăn mặc như các mãnh tướng trong các tuồng cổ, một tay cầm kích, một tay cầm hình nhân một con người đang oằn oại đau đớn. Vị mãnh tướng đứng nghênh ngang trông rất uy dũng tên là Đức Thượng Thiên Hoằng Vĩ, họ cho là còn cao hơn Đức Chúa Giêsu của ta. Một điểm lạ khác, theo con dò hỏi, giáo lý của họ là diệt kẻ ác và điều ác bằng sự thịnh nộ, độc dữ và quyết liệt nhất; tín đồ nào diệt được nhiều người ác và nhiều sự ác sẽ được thăng thiên sau khi chết.
Cha sở Luca hỏi:
- Giáo phái này tên gì và có đông tín đồ không?
- Thưa cha, giáo phái đó tên là Tam Không, chủ trương “không người ác, không điều ác và không ý nghĩ ác”. Giáo phái có khoảng vài ngàn tín đồ chỉ tính riêng tại Long Thạnh, ở nơi khác có không và có bao nhiêu tín đồ thì con không được biết, nhưng hầu hết tín đồ người nào cũng có vẻ gì đó đằng đằng xác tín, khích khí sùng đạo… cứ xem họ uống máu sống một cách tự nhiên, ngon lành, không biết sợ… thì hiểu ngay họ không đùa khi theo đạo.
Tôi xin phép kể thêm về một số điểm đặc biệt của giáo phái này cho cha Luca rõ trước khi đi hỏi ý kiến của cha:
- Về mặt tổ chức, họ có nhiều điểm giống Công giáo, ví dụ thứ nhất họ có một vị Cao Pháp sư đứng đầu gọi là Pháp chủ Tối cao với quyền bính tuyệt đối như đức giáo hoàng bên ta. Ví dụ thứ hai là bên dưới vị Cao Pháp sư là cả một hệ thống gồm cấp đạo sư, cấp đạo sĩ và cấp học sĩ so như giáo sĩ và tu sĩ của ta, giới này không khác gì giới quý tộc, hưởng rất nhiều quyền lợi, ngày này qua ngày khác cứ ở không chẳng hề lao động, sản xuất… mà vẫn cứ được hưởng thụ đầy tràn, đã vậy lại còn được “ăn trên ngồi trốc”, được các tín đồ cung phụng hết chỗ nói, “phán” ra điều gì mọi tín đồ đều phải răm rắp vâng nghe… chính bởi vì thế mà giới quý tộc này -để bảo vệ quyền lợi quá to lớn của mình- đâm ra bảo vệ đạo giáo một cách điên cuồng đến không ngại đổ máu. Bên dưới giới này là tín đồ. Ví dụ thứ ba là ngoài những Đại lễ Trăng Rằm mỗi tháng một lần, họ còn tụ họp riêng từng nhóm gọi là Hộ lề mỗi tuần một lần, Khẩu lề mỗi ngày một lần, để trông nom, củng cố và giám sát tín đồ thật chặt chẽ. Ví dụ thứ tư là việc dâng cúng tuy không bị luật lệ bắt buộc, nhưng phương pháp khuyến khích, hô hào, cổ võ, tuyên truyền, xách động, khuyên nhủ… rất khôn ngoan khéo léo đã khiến tín đồ ồ ạt dâng cúng hàng bao nhiêu đất ruộng, đất vườn, nhà cửa, tài sản, tiền bạc… không chút tiếc xót. Ví dụ thứ năm là họ truyền đạo bằng phương thức rất thông minh, tức chung nhất và có hệ thống, họ dùng sự kín ẩn để gợi tính tò mò. Nói chung, giáo phái này tổ chức rất chặt chẽ, khôn ngoan và quy củ, chứng tỏ người sáng lập hẳn phải là người từ ở trong đạo Công giáo bước ra.
Tôi bước vào chuyện chính, tức xin lời dạy của cha Luca:
- Lần họp mặt tất cả các tôn giáo vùng Long Thạnh tại một ngôi chùa lớn, trong giờ họp và ăn trưa, con được ngồi cạnh một vị đạo sư trẻ của Tam Không giáo, diện mạo nghiêm trang và quyết đoán. Ông ta kết bạn và sau đó lui tới thăm con nhiều lần. Ông ta thay mặt các đạo sư cao cấp mời con đến thăm viếng và tham dự các nghi lễ của Tam Không giáo. Con có đến dự đôi ba lần, con quan sát, tìm hiểu và đã vừa trình bày cha rõ như trên. Họ rất quý con, tuy vậy cho đến nay con vẫn chưa được diện kiến vị Pháp chủ Tối cao của Tam Không giáo, và hình như họ đang cố gắng chiêu mộ con vào đạo của họ. Con xin cha cho con lời khuyên nên tiếp tục mối bang giao với họ hay nên cắt đứt.
Cha Luca từ đầu đã rất chăm chú lắng nghe mọi điều tôi nói. Ngài hỏi:
- Con có cảm giác thế nào mỗi khi đến tham dự nghi lễ của họ?
Tôi suy nghĩ một lúc rồi thưa:
- Thưa cha, con cảm thấy rờn rợn và có điều gì làm con hơi sợ hãi.
Cha Luca nói:
- Nghi lễ thờ phượng và tế tự là nơi phản chiếu tình trạng đức tin, tinh thần, giáo lý, lẫn văn hóa của một tôn giáo. Nếu nghi lễ của họ gây cho con một cảm giác như vậy, thì việc đầu tiên con không nên tham dự các nghi lễ của họ nữa, dù chỉ dự khán bàng quan.
Không đợi tôi hỏi, ngài nói tiếp:
- Còn mối bang giao, nếu thấy không cần thiết, con nên nhạt dần rồi cắt đứt. Nhất thiết đừng cho họ nuôi hy vọng sẽ thuyết phục con theo đạo.
Tôi hứa sẽ vâng theo lời khuyên của cha. Cha Luca kể chuyện.

Lần kia Ông Lực Lượng vào xưng tội, Ông nói:
- Chúng ta có thể tự biến mình thành những thiên thần chói lọi ánh sáng để lừa dối nhân loại huống hồ gì thành lập một vài tôn giáo, núp trong giáo sĩ, nhà tu đức, chuyên gia thần học, hoặc đưa ra những giáo thuyết xuất chúng, vẽ ra những lý tưởng mới lạ và hấp dẫn.
Vừa nghe xong tôi bắt giật mình ngạc nhiên, vì trí tôi lâu nay vẫn đơn sơ nghĩ rằng ma quỷ chỉ làm những chuyện xấu xa, đưa ra những cám dỗ nhãn tiền, nấp trong những kẻ thủ ác và độc hiểm… chớ đâu ngờ rằng ma quỷ có thể hóa trang thành những thiên thần sáng chói. Nếu đã cải trang thành những thiên thần sáng chói còn được, thì thử hỏi ma quỷ làm gì không dám ở trong giám mục, linh mục, tu sĩ, người thánh thiện đạo đức, kẻ danh giá đạo mạo… nào đó! Tôi kêu lên:
- Chết cha! Như vậy Các Ông đã gây hỗn loạn trên trái đất này hết rồi! Còn có gì đáng tin nữa hay nói đúng ra phải tỉnh táo sao đây để dò cho ra những gì của Các Ông và những gì không do Các Ông!
Ông Lực Lượng vừa xoa xoa cằm khoái chí vừa cười cười một cách nham hiểm:
- Chớ ông muốn Chúng ta phải như thế nào? Khờ khạo như loài người các ông ư? Không! Gây hỗn loạn, tạo “giả lộng thành chân”, gây hoang mang, ảo tưởng, nghi ngờ… là việc của Chúng ta. Loài người các ông sẽ ngày càng cực kỳ hoang mang, ngờ vực, lẫn lộn và nhầm lẫn. Sao Chúng ta có thể ngồi yên để cho loài người các ông thế chỗ của Chúng ta ở trên thiên đàng chứ? Chúng ta cố hết sức để một ngày nào đó nhân loại các người sẽ không còn đức tin nữa, Hãy nhớ lại Ông Chúa Giêsu đã nói: “Khi Con Người đến, liệu có tìm được đức tin trên mặt đất này hay không?”(*)
Tôi nhớ trong Phúc âm có câu đó, cho nên tôi chỉ biết thở dài, không còn biết nói thêm gì nữa. Ông Lực Lượng thấy tôi sợ hãi nên nói thêm:
- Chúng ta long trọng báo trước cho các người… Nói tới đây Ông ta thở dài và lắc đầu làm ra vẻ chán nản vì thương xót dòng giống loài người: - … Và cho dù có báo trước thế nào đi nữa, nhưng vì loài người các ông là thứ động vật đần độn mà lại hay tự phụ, nên lời cảnh báo có nghiêm trọng mấy cũng sẽ chẳng ăn thua gì đâu!... Chúng ta báo trước rằng Chúng ta sẽ còn làm nhiều điều gây hỗn loạn, gây hoang mang, gây vọng tưởng, gây ngờ vực và gây lầm lẫn… đến nỗi trí óc non nớt của các người không thể tưởng tượng ra nổi. Chúng ta đùa giỡn các người như ông chủ đùa giỡn với chó con khờ dại.
Từ ngày nói chuyện với Ông Lực Lượng, dù vẫn xác tín loài người là loài duy nhất được Chúa yêu thương tạo dựng giống hình ảnh Chúa và được Chúa đích thân xuống thế cứu chuộc v.v… nhưng tôi không còn cái tính tự phụ rằng loài người thông minh, khôn ngoan, thông suốt nữa. Cho nên khi Ông Lực Lượng tỏ vẻ miệt thị loài người, tôi cũng không thấy nổi giận trong lòng như lúc đầu mới trò chuyện với Ông ta… Tuy nhiên tôi cũng trả đũa lại Ông ta:
- Triết gia Seneca nói: “Errare humanum est; perseverare diabolicum”: Loài người hay sai lầm, quỷ dữ hay cố chấp. Chúng tôi ngu xuẩn thì đã nói, nhưng chúng tôi là loài hiền lành, khiêm tốn. Vì sao? Vì chúng tôi biết sửa sai sau đó, nghĩa là nếu phát hiện mình đi sai đường, chúng tôi biết quay đầu lại, đó là điều khiến Chúa thương chúng tôi. Còn Các Ông, đã sai thì sai luôn, đã đi lầm đường thì cứ lầm cho đến lúc phải diệt vong. Thưa Ông! Đằng nào tốt?
Tôi trưng ngạn ngữ Latin, lạy Chúa! Ông Lực Lượng cũng không chịu thua, xổ liền một tràng:
- Kịch tác gia Titus Maccius Plautus cũng nói: “Homo homini lupus est”, con người là chó sói của con người. Hai con chó đang quấn quít với nhau vui vẻ, thử ai ném xuống một cục xương, lập tức chúng sẽ quay ra hung hãn đối đầu, cắn xé nhau không thương xót để giành giật cục xương. Con người các ông không hề khác chút xíu nào! Quyền lợi, danh vọng, địa vị, lợi lộc, tiền bạc thậm chí cả phụ nữ… như những cục xương, có thể khiến các người nổ ra chiến tranh, chém giết hàng loạt, trừ khử và tru diệt lẫn nhau tàn nhẫn đến không còn chút tình người bằng mọi cách. Các ông có hơn gì những con chó!
Tôi bắt đầu bí. Ông ta không để tôi thua trong bình an:
- “Homines quod volunt credunt”. Julius Caesar, lãnh tụ quân sự và chính trị của người Rôma còn bảo như thế, nghĩa là con người tin điều gì họ muốn. Để phá cho hư nát cả nhân loại, Chúng ta tận dụng khai thác hai điểm này, ông nghe cho rõ! Một là Đạo Công giáo do Ông Chúa Giêsu đem xuống, là đạo đúng, đạo thật. Nhưng được bao nhiêu người nhận biết và đi theo? Đó! Nhân loại các người còn lập ra hàng trăm thứ đạo khác cho lẫn lộn thật giả. Sự ngu muội đó đã đánh đồng đạo Chúa với các thứ đạo lôm côm khác, khiến nhân loại lùng nhùng biết đâu mà phân tỏ. Hai là ngay giữa lòng Công giáo, chính người của các ông còn dựng lên hàng trăm điều buộc giáo dân phải tin, phải giữ, trong khi Ông Chúa Giêsu bảo: “Ách của Ta êm ái, gánh của Ta nhẹ nhàng”(**). Chế ra đủ thứ lỉnh kỉnh phụ thuộc như thế vừa là vô tình chống lại Ông Chúa, vừa làm cho đạo thật vốn rất giản đơn nhẹ nhàng ngày càng trở nên tù mù, rối rắm như tà đạo khiến nhiều kẻ cho rằng đạo chỉ là một mớ mê tín dị đoan, là á phiện ru ngủ nhân tâm.
Tôi hỏi như tuyệt vọng:
- Chúa ơi! Các Ông đang dùng chính những người trong đạo để phá đạo, phải vậy không?
Ông Lực Lượng phá lên cười:
- Phải! Cứ đi nói cho giám mục của ông nghe, xem ông ấy có làm được gì không.
Không còn biết nói gì nữa, tôi âm ư trong miệng bài hát: “Này con là Đá, trên viên đá này Cha xây Giáo Hội muôn đời kiên trung. Này con là Đá: Sa-tan sức hùng, mưu ma vẫy vùng không hề chuyển rung”.
Ông Lực Lượng nhìn tôi với vẻ tức giận một lát rồi bỏ đi.

Bước ra khỏi câu chuyện, cha sở kết luận:
- Ngày xưa người ta thường nói: “Đạo nào cũng tốt, vì đạo nào cũng dạy con người làm lành, lánh dữ”. Ngày nay không thể nói như thế được! Lý do ngày càng có nhiều thứ đạo kỳ quái với giáo thuyết kinh dị như đạo Klu Klux Klan ở Mỹ chuyên đóng đinh người da đen trên thập giá; giáo phái Đa Thê ở Texas Mỹ, giáo phái Aum ở Nhật, giáo phái Scientology, giáo phái Satan ở Ý gồm các hệ phái “Kẻ dữ của quỷ Satan”, “Các trẻ em của Satan”, “Giáo Hội của Satan Torino”, “Huynh đoàn Lucifer”, “Hội Satan”, “Các con cái của Satan”, “Ierudole của thần Ishtar”, đạo thờ Thần Chết, Tam Ðiểm, Mormon… và còn nhiều nữa không thể kể hết.
Tôi lắng nghe không bỏ sót chi tiết nào, lòng thầm khâm phục cha sở. Cha không cho tôi suy nghĩ thêm, cảnh báo ngay rằng:
- Nhưng vậy đã nói! Ngay trong những tôn giáo lớn thuộc loại vạn niên đại thụ như Công giáo, Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo… vẫn chứa chấp tà giáo bên trong. Đó là những lý thuyết sai lạc được phủ lên bằng những từ ngữ rất kêu, những lối sống hưởng thụ, ích kỷ được khoác lên bằng những chiêu bài rất bóng bẩy, hãm hại nhau bằng vỏ bọc bác ái v.v… Đó chính là những tà đạo nằm trong chính đạo.
Ngài vỗ nhẹ vào vai tôi bảo:
- Ma quỷ thì luôn rình rập chực chờ, còn chúng ta thì vô tư sơ hở. Cái gì cảm thấy không có lợi con cứ tránh đi để khỏi mất giờ, tốn công, đã vậy còn hàm ẩn nhiều nguy cơ nữa.
Tôi về Long Thạnh, cắt đứt dần mối quan hệ với Tam Không giáo.
 
 
(*) Lc 18:8b
(**) Mt 11: 28-30
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.05.2026 02:39:51 bởi Sun Ming >
#31
    Sun Ming 06.05.2026 10:05:56 (permalink)
    Lâu lâu xin nhắc lại: truyện vẫn đang đăng dài kỳ trên Nguyệt san Thánh nhạc Ngày nay phát hành trong nước VN. Quý bạn đọc nào muốn theo dõi thường trực xin xem xét việc mua báo dài hạn để ủng hộ.
     
    Cá nhân tôi chỉ là 1 người đọc thường, nhưng nhận thấy nhóm làm Nguyệt san này có tâm huyết, nên mới có mong muốn tờ báo được lan tỏa rộng hơn trong cộng đồng.
     
    Kỳ 31
     
    Khoảng ba giờ trưa, đang đi thăm nhà một số giáo dân vừa bị trúng đạn pháo kích sáng nay, một số em Thiếu nhi Thánh thể ngành Thiếu chạy hộc tốc đến gặp tôi. Vừa thở hổn hển các em ấy vừa báo tin:
    - Thưa thầy, có cha đến!
    Tôi ngạc nhiên. Nhưng gạn hỏi mãi các em cũng chẳng cho biết thêm được điều gì khác ngoại trừ “ông cha đó già như cha sở Chân Phúc”.
    Tôi vội thu xếp mọi việc và trở về nhà xứ; vừa đi bộ, vừa thầm đoán xem ai mà lại là linh mục, đã vậy còn lớn tuổi… linh mục lớn tuổi nào mà dám đến đây, trừ duy nhất cha sở Chân Phúc. Nhớ lại một lần vào lễ Giáng sinh, cha sở Chân Phúc cử cha phó trẻ, tức linh mục hiệu trưởng trung học, đến đây để dâng thánh lễ. Cứ xem cái dáng vẻ cập rập, bồn chồn, âu lo… cứ để ý thấy ngài chỉ giảng vài ba câu qua quýt, dâng thánh lễ vội vàng, lễ xong chỉ uống một vài ngụm nước chứ không kịp ăn uống chút gì, lật đật ra xe bao (xe thuê trọn gói) trở về thị xã Chân Phúc ngay lập tức sau đó… thì ai cũng dư biết ngài sợ cái giáo họ bất hạnh này, nơi luôn phải hứng chịu pháo kích liên lỉ, đến mức nào! Bởi vậy từ khi tôi đến đây, không hề có ai viếng thăm tôi mà chi. Nay bỗng nhiên có một người lớn tuổi không ngại đường xa khó đi, người đó lại là một linh mục không ngại mất giờ mất việc, thậm chí không sợ cả hiểm nguy rình rập từng giờ từng phút… đến với chúng tôi.
    Vừa đi vừa suy nghĩ miên man, tôi đã về đến nơi lúc nào không biết.
    Vừa vào sân nhà thờ, tôi “hết hồn” khi thấy cha sở Luca, dáng vẫn cao gầy, đang được một số giáo dân của tôi vây quanh. Chắc những người giáo dân nghèo khó và chất phác ấy còn mừng hơn cả tôi nữa vì bỗng chốc có được một vị khách quý chiếu cố đến thăm họ giữa một hoàn cảnh bi đát như thế này.
    Tôi bắt tay cha mà nước mắt cứ trào ra không sao kiềm giữ lại được. Tôi vô cùng xúc động bởi nhiều lý do, không thể diễn tả hết nhiều lý do ấy được trong một lúc.
    Tôi và số giáo dân hiện diện, vì mừng rỡ tột bậc, cố tìm ra mọi cách tốt nhất để đón tiếp cha sở Luca; nhưng càng cố gắng, càng luýnh quýnh đến tức cười. Thật thế, ước chừng cha sở đặt chân đến đây có cả gần một tiếng đồng hồ qua, vậy mà bây giờ mấy ông Biện mới đánh trống ầm vang và liên hồi để chào đón cha, hoặc có ý báo tin cho toàn họ đạo kẻ xa người gần để cùng nhau mừng vui và hãnh diện cũng nên. Chẳng bao lâu sau, giáo dân kéo đến đông nghịt đầy nhà đầy sân, các ông các cậu thì đứng ngồi vây chung quanh cha, các bà các cô thì lăng xăng người đi chợ, kẻ về nhà bắt gà làm thịt, người khác lo chuẩn bị bếp núc để làm tiệc, người thì quét dọn nhà cửa, có người còn chu đáo lo đi gánh nước từ con sông biên giới gần đó về đổ cho đầy hết các lu hũ trong nhà dưới, trẻ em dự phần bằng cách quấn quýt, chạy nhảy, cười đùa nô nức khắp nơi.
    Ngay chiều hôm đó chúng tôi được cha Luca giải tội, dâng thánh lễ, đặc biệt hơn, còn cử hành bí tích xức dầu cho những người xấu số đang hấp hối vì trúng đạn pháo kích mới sáng nay.
    Khuya rồi mà giáo dân vẫn còn nấn ná ở khu nhà thờ, không ai muốn về.

    Những ngày cha Luca lưu lại ở đây coi như là những ngày hội của cả giáo họ, tôi cảm thấy vui và ấm cúng biết bao! Cha và tôi, cả hai không thể chuyện vãn vào lúc đêm về như những khi ở giáo xứ An Biên, vì chiều tối nào, giáo dân cũng tập họp chung quanh rồi ở lại mãi bên cha cho đến tận khuya, vì cha luôn vui vẻ hiền lành chứ không nghiêm nghị như các linh mục thời bấy giờ, vì cha cởi mở chứ không thận trọng giữ ý như các giáo sĩ tu sĩ thường thấy.
    Tôi kể cha nghe đủ mọi chuyện, đưa cha đi xem từng ngõ ngách của giáo họ Thạnh Lộc. Tôi nghĩ, riêng đối với cha Luca, chỉ cần một lần đến đây thôi, cha sẽ biết tất cả những gì tôi trải qua; quả thật, cha tỏ ra rất thông cảm cho hoàn cảnh của tôi ở đây; cha nói rằng dù tôi mới chỉ đi giúp xứ, tức đi thử (*) thôi mà đã gặp gấp nhiều lần gian khổ hơn một số đông linh mục.
    Thảm hại làm sao! Cha vừa mới nêu nhận xét vào ngày hôm trước, thì ngay ngày hôm sau đã xảy ra chuyện.
    Đó là chuyện một em huynh trưởng trong xứ đoàn Thiếu nhi Thánh thể Thạnh Lộc tên Mai Lan, tuổi 16. Cha Mai Lan mất sớm, em hiện ở với mẹ là người có đạo và với một ông dượng ghẻ người ngoại đạo; ông dượng ghẻ này lại đang là phó xã trưởng xã Thạnh Lộc. Dượng ghẻ có tà tâm nên luôn tìm mọi cách để chiếm đoạt em cho bằng được. Vì kháng cự kịch liệt mà em luôn bị dượng ghẻ trút giận bằng mọi cách hiểm độc và phi lý có thể.
    Chuyện không dừng ở đó. Mai Lan rất nhiệt tình trong sinh hoạt Thiếu nhi Thánh Thể, nên ông dượng ghẻ đâm ra thù ghét nhà thờ, thù ghét Thiếu nhi Thánh thể, nhưng người mà ông thù ghét nhất là tôi - Mai Lan nhiều lần tỏ cho tôi biết như thế. Rất nhiều lần mượn rượu, ông dượng ghẻ của Mai Lan đã đến đứng trước nhà thờ và chửi tôi bằng những lời lẽ rất tục tĩu, chứa biết bao là sự vu khống nhơ bẩn. Do ông ta đang giữ chức vụ phó xã trưởng, nên chẳng ai trong họ đạo – toàn là dân hồi hương từ Campuchia - dám lên tiếng phản đối hay khuyên can; thấy vậy tôi cũng cứ một mực nhịn thua không dám tỏ thái độ gì.
    Hôm đó là ngày thứ ba kể từ khi cha sở Luca đến thăm, đang giờ nghỉ trưa, bỗng ông Đức, dượng ghẻ của Mai Lan xuất hiện. Ông đến trước nhà thờ lớn tiếng chửi tôi như những lần trước; tuy nhiên, lần này, có lẽ ông ta uống nhiều rượu hơn lại còn mang theo một khẩu súng ngắn, cho nên sau một hồi chửi bới không thấy đã tức, ông ta rút súng xông vào nhà xứ tìm tôi.
    Thời buổi loạn lạc này mạng sống của người dân ở vùng biên giới rất bị coi rẻ; kẻ có súng là kẻ có quyền trên tất cả; vả lại giáo dân là những người dân địa phương mà còn sợ hãi huống chi tôi là kẻ từ xa đến tạm ngụ trong mảnh đất quá dữ dằn này; đồng thời ở vùng biên giới giặc giã, cướp bóc và hỗn loạn như thế này những người có quyền, nhiều khi chỉ vì một cơn nóng giận, có thể dễ dàng bắn chết một người dân, xong đâu đó chỉ cần chụp lên nạn nhân một cái mũ gì đó là êm chuyện… Có lẽ biết hết những điều đó nên cha Luca bảo tôi:
    - Thầy lánh mặt mau lên!
    Tôi nhanh chân chạy vào nấp dưới chân cây thánh giá to cạnh bàn thờ, tai vẫn tiếp tục lắng nghe, trí vẫn lượng định trù tính xem sẽ phải chạy đi đâu tiếp theo nếu ông ta xông vào tận nơi đây. Đã vậy tôi lại còn hơi lo lắng cho cha Luca. Nhưng rồi chợt nghĩ, hình như cha không tỏ vẻ gì là lo sợ. Và thế là tôi tạm yên tâm.
    Thông thường giọng nói ông dượng ghẻ của Mai Lan đã rất to và ồm oàm xứng với tướng mạo cao to vạm vỡ như đức hộ pháp của ông, giờ đây giọng nói khiếp khủng ấy lại đang luôn la hét thô tục, tru tréo ghê rợn và kèm theo cả nghiến răng, kêu tên tôi để rủa xả:
    - Đ.m. thằng thầy đâu rồi? Đ.m. mày trốn hả! Đ.m. hôm nay mày tận số rồi! Tao bắn nát đầu mày cho coi!...
    Miệng thì la hét vang dậy cả một vùng, tay thì lên đạn khẩu súng ngắn rôm rốp nghe phát rợn người. Chưa hết, ông ta lại còn bắn hai ba phát súng chỉ thiên cho tôi thêm hoảng sợ. Tôi biết lúc này giáo dân của tôi chỉ có nước trà trộn vào đám đông tụ tập trước cửa nhà thờ, hồi hộp đứng nhìn thôi, chứ chẳng có ai dám đứng ra lên tiếng bênh vực tôi đâu.
    Nhưng không gian bỗng im bặt.

    Khoảng năm ba phút sau tôi nghe tiếng cha sở Luca gọi:
    - Thầy ơi!... Thầy ơi!... Ra phòng khách uống nước!
    Nghe cha sở Luca gọi, tôi mừng rỡ, cảm thấy vững tâm nên liền rời cung thánh và ra ngoài phòng khách với cha. Cha Luca nói với tôi:
    - Ông ta về nãy giờ rồi!
    Thở ra một hơi dài tỏ vẻ thật buồn, cha Luca hỏi:
    - Chuyện này xảy ra nhiều lần rồi! Có phải vậy không con?
    Tôi vẫn còn run, thưa:
    - Dạ phải! Nhưng mấy lần trước ông ta chỉ đứng ngoài nhà thờ chửi con đã rồi ra về. Lần này không ngờ lại dữ dằn đến như thế!
    Đám đông tan dần. Giáo dân lục tục kéo đến xì xào ngoài sân. Các bà các cô đứng tụm vào nhau khóc vì chua xót cho tôi. Các ông Biện chưa hết sợ hãi, nhờ lẩn trong đám đông người ngoại đạo hiếu kỳ ngoài hàng rào dâm bụt của nhà thờ mà chứng kiến từ đầu đến cuối sự việc, bây giờ thì thào kể tôi nghe:
    - Lạ lắm thầy ơi! Khi thằng cha Đức xông vô nhà thờ, gặp ngay cha Luca. Lạ lùng làm sao! Cha Luca chỉ đứng im nhìn thẳng vào chả, tự nhiên chả đứng sựng lại, câm họng rồi từ từ rút êm.
    Giáo dân lẫn tôi, không ai hiểu nổi tại sao cha sở Luca chỉ nhìn thôi mà có thể khống chế ông Đức đang hung hăng như một con thú điên. Thử nghĩ, ông ta là phó xã trưởng lâu năm, rất có thế lực và luôn “coi trời bằng vung” ở vùng đất “chợ Đầu Hổ” lừng danh này, ông ta có bao giờ biết sợ ai. Người thì đoán thế này, kẻ thì suy thế khác. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng cha Luca, một con người dám đối thoại trực tiếp với ma, tranh cãi thẳng thắn với quỷ, hẳn đức độ và tâm khí của cha, khi cần, có thể làm cho người khác nao núng.
    Việc tiếp theo là làm cách gì đó để đừng xảy ra sự việc tương tự. Mọi người bàn tán rất hăng, giải pháp được nhiều người nói tới là khuyên Mai Lan nên ra khỏi Thiếu nhi Thánh thể, không được sinh hoạt trong đoàn thể này nữa.
    Vừa nghe kể giải pháp này, cha sở Luca nghiêm sắc mặt bác bỏ ngay lập tức. Cha cho rằng giải quyết như vậy là bất nhân, là loại trừ nhau, là thiếu bác ái một cách sơ đẳng.

    Lúc còn riêng mình cha với tôi, tôi hỏi cha:
    - Thưa cha, cha đã làm gì khiến ông Đức dừng lại?
    Cha sở Luca trả lời:
    - Cha không làm gì. Lúc đó cha suy nghĩ, nếu gặp một con trâu điên, cha cũng sẽ bỏ chạy như mọi người, nhưng với một con người thì khác. Ta có thể thuyết phục bằng cách nào đó.
    Tôi tò mò:
    - Xin cha dạy con đi! Cha đã dùng cách nào để thuyết phục ông ta?
    Cha sở Luca đáp:
    - Bằng cả tấm lòng hiền lành, cha nhìn ông ta.
    Nghe cha sở Luca nói, tôi cảm thấy thất vọng, vì tôi không tin lắm vào điều đó.
    Như đọc được từ ánh mắt tôi sự nghi nan, cha Luca nói thêm:
    - Khi làm điều sai, dù thế nào thì tận đáy lòng người ta vẫn còn đó nỗi rụt rè nhát sợ. Sự hiền dịu của ta lúc ấy điểm vào trúng phần nhân tính còn sót lại ấy.
    Cha Luca im lặng chốc lát rồi giải thích:
    - Cha đã học được cách này ở Chúa Giêsu khi Người hiền lành nhìn môn đồ Phêrô sau khi ông này chối Chúa lần thứ ba (**). - Ngập ngừng giây lát cha lại nói tiếp - Cũng chẳng phải cha tự mình có thể rút ra bài học ấy, nhưng Ông Lực Lượng đã vô tình hé mở cho cha trong một lần nói chuyện. Ông ta nói: “… chính cái nhìn hiền lành của ông Chúa mà Chúng ta không giữ được cái tay Phêrô về phía Chúng ta…"
    Đến đây thì tôi bị thuyết phục hoàn toàn, tôi sửng sốt vì cái bí quyết giản đơn mà linh nghiệm ấy.

    Tôi suy nghĩ về điều đó nhiều đến nỗi cứ chập chờn suốt đêm.
    Sáng ra, khi các ông Biện và một số giáo dân nhiệt thành tụ họp trước cửa nhà thờ sau thánh lễ để tiếp tục bàn bạc giải pháp sao cho ông phó xã trưởng không còn đến nhà thờ bức bách tôi nữa. Tôi khuyên họ:
    - Xin quý ông bà yên tâm! Cha sở Luca đã truyền cho tôi cách để giữ mình. Tôi sẽ làm theo cách đó.
    Họ xin tôi nói cho họ nghe. Tôi kể hết tất cả.
    Mọi người, giống như tôi lúc đầu, không tiếp thu nổi bài học, nhưng vì thấy tôi vui vẻ và tin tưởng, nên họ đành xuôi theo cho tôi vui lòng.
    Tuy nhiên, tôi không phải dùng đến bí quyết quý giá và linh diệu ấy dù chỉ một lần, vì ông Đức, phó xã trưởng, tức dượng ghẻ của Mai Lan, đã không bao giờ đến nhà thờ uy hiếp tôi nữa cho đến ngày tôi rời khỏi giáo họ Thạnh Lộc.
    Trên đường đời về sau này, những khi tôi bị oan khuất, bị hiếp đáp, bị trù dập, bị đối xử tàn độc bất công… tôi đều đối phó bằng sự hiền lành - dĩ nhiên tôi không đủ lực để dùng cái nhìn hiền lành mà tức thời thu phục nhân tâm được giống như cha Luca, mà chỉ nín nhịn trong âm thầm - nhưng mỗi lần hiền lành nhịn nhục là một lần tôi vừa gặt hái thành công mỹ mãn, vừa thấy mình lớn thêm lên, còn những người hãm hại bức bách tôi đều trở nên không còn có thể làm gì được nữa, chỉ còn biết trở nên tốt hơn mà thôi.

    Cha sở Luca ra về. Ngài đã để lại cho tôi một bài học vô giá.
     
    (*) probation.
    (**) Lc 22:61
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 06.05.2026 10:52:43 bởi Sun Ming >
    #32
      Sun Ming 08.05.2026 09:32:59 (permalink)
      Kỳ 32
       
      Buổi tĩnh tâm tháng như thường lệ vừa kết thúc, đức giám mục hỏi tôi có về An Biên thăm cha sở Luca không thì cho ngài gửi một phong thư khẩn cho cha sở. Tôi lập tức quyết định về An Biên, nên lãnh ngay phong thư để gọi là có cớ về thăm cha Luca.
      Khoảng 10 giờ sáng về đến nhà xứ, tôi thấy giáo dân đông nghịt từ trong ra ngoài. Tôi hốt hoảng với ý nghĩ không biết có chuyện gì chẳng lành xảy ra cho cha sở hay không. Nhưng những người giáo dân đứng bên ngoài tỏ vẻ mừng rỡ khi gặp lại tôi, họ làm cho tôi hết lo lắng bằng cách mau mắn thuật lại chuyện đã xảy ra hơn tuần qua và nay đang còn tiếp diễn bên trong phòng khách nhà xứ. Đó là chuyện giáo dân tổ chức mai phục gần một tháng trời ở đất thánh (*) để theo dõi và cuối cùng đã bắt giữ được một nhóm người lén lút đào huyệt mộ lấy cắp sọ người để luyện thiên linh cái (**). Hiện cha sở và chính quyền địa phương cấp xã đang hiệp nhau điều tra xét xử.
      Bị trí tò mò thôi thúc, từ ngoài cổng, tôi nhích dần từng bước vào gần phòng khách nhà xứ để chứng kiến cho rõ. Những người giáo dân khác lại tóm tắt đầu đuôi câu chuyện cho tôi nghe thêm: Nhóm người này gồm một đàn ông trọng tuổi và hai thanh niên từ trên núi Tà Lơn (***) xuống, mua chuộc được một ông Biện tên X, nuôi giấu trong nhà, để cứ đến đêm khuya thì kéo nhau ra đất thánh đào mộ những cô gái đồng trinh, lấy cắp sọ để luyện âm binh. Từ sáng đến giờ họ không chịu khai nhận điều gì.
      Trong phòng khách rộng của nhà xứ vọng ra giọng sang sảng của ông xã trưởng:
      - Tôi hỏi lần nữa, các người đã đào xới bao nhiêu mộ? Đã lấy đi bao nhiêu sọ cô gái?
      Im lặng.
      - Các người cứ im lặng hoài. Tôi báo cho biết, nếu không khai, tôi sẽ tròng quần đàn bà đẻ lên đầu các người, để âm binh hành hại các người cho tới chết, chịu không?
      “Đòn tâm lý” của ông xã trưởng lập tức hiệu nghiệm. Vừa nghe đến đó, một giọng đàn ông người Miên (Campuchia) nói tiếng Việt lơ lớ trả lời:
      - Tui tui… đa lây đươc… hai, hai… cai so (Tụi tui đã lấy được hai cái sọ).
      Giọng nói lơ lớ vừa dứt, giáo dân trong lẫn ngoài phòng họp gào thét lên:
      - Mẹ nó! Dữ hôn! Nghe quần dơ của đàn bà đẻ mới chịu khai!
      - Quân khốn kiếp! Mẹ chúng nó!
      - Rồi thì cũng phải có cách để bọn này mở miệng chớ!
      - Ai mách cho ông xã trưởng “nước cờ” đó vậy?
      - Vừa rồi ông ta được bà xã nhắc tuồng thì phải!

      Đợi cho mọi người nguôi bớt la ó, ông thiếu úy Trưởng cuộc Cảnh sát nói lớn:
      - Các ông đã luyện được bùa phép gì chưa? Tại sao có bùa phép các ông vẫn bị bắt đây?
      Im lặng tiếp. Không ai nghĩ nhóm người này sẽ trả lời câu hỏi khó chịu trên. Nhưng…
      - Tai tương lanh cua tui thua tương lanh cua ông nay (Tại tướng lãnh của tui thua tướng lãnh của ông này).
      Giáo dân phút chốc im bặt một giây, rồi đột ngột cười rộ lên cách khoái trá, người này liền nói cho người kia biết “ông này” mà ông thầy bùa người Miên muốn ám chỉ chính là cha sở Luca. Ông thầy bùa người Miên sau đó còn khai thêm:
      - Tuong lanh cua ông nay là Mi-ka-e! (Tướng lãnh của ông này là Micae).
      Nghe đến đó tôi thì bỗng rùng mình; còn tất cả những giáo dân An Biên có mặt ở đó thì phấn khích tột độ giống như họ vừa mới được chứng kiến một sự lạ. Đức tin bình dân và lòng đạo truyền thống bao đời của họ như sóng thần dâng cao.

      Còn nhiều câu hỏi khác được đặt ra, kèm theo là những câu trả lời rất thú vị; qua đó mọi người biết được những thông tin chính, đại loại nhóm người có ba, gồm một thầy bùa cao tuổi và hai đệ tử khoảng trên dưới ba mươi tuổi. Họ nghĩ chỉ có ở các nghĩa trang người Công giáo, họ mới có thể biết chắc mộ nào là của các cô gái đồng trinh; đồng thời họ tin hồn của các cô gái đồng trinh người Công giáo có sức mạnh rất đặc biệt; chính vì những lý do đó mà nhóm người này liều lĩnh đến ngu xuẩn bất chấp hậu quả ra sao. Họ còn khai thêm, ông Biện X. ăn hối lộ của họ một số lớn vàng vòng và tiền bạc, nên chính ông là người giúp việc cho họ để họ luyện thiên linh cái trở thành những thầy bùa quyền lực v.v…
      Ông Trùm họ đạo đã đặt một câu hỏi thú vị hơn:
      - Biết thiên thần Micae mạnh hơn âm binh, vậy tại sao các ông không theo mà lại chọn theo âm binh?
      Người đàn ông cao tuổi tức thầy bùa người Miên trả lời ngay không cần suy nghĩ:
      - Vi chi co âm binh mơi chiu nghe tui tui sai khiên (Vì chỉ có âm binh mới chịu nghe tụi tui sai khiến).

      Sau này theo tôi biết, vì vào thời buổi bấy giờ, pháp luật chưa quy định nghiêm minh việc xử phạt một số tội đặc biệt về mê tín dị đoan, cho nên chờ cho nhóm người luyện bùa khai nhận hết những hành vi bất chính bất nhân của họ xong, chính quyền giải họ về nhốt tại xã. Vài ba ngày sau, buộc họ nộp phạt một số tiền rất cao, rồi cho họ tự do.
      Riêng ông Biện X. bị Ban Quý chức quyết định bãi chức, khai trừ khỏi hàng ngũ chức việc họ đạo; nhưng rồi vì không thể sống nổi với sự chỉ trích, miệt thị và tẩy chay để trả thù của giáo dân, ông ta đã dời nhà đi ra miền ngoài biệt tích. Sau đó, mọi người trong họ đạo sửa sang, tu bổ và đặt ra những biện pháp để bảo vệ đất thánh, vì đối với các giáo xứ thuộc Đàng Trong, gọi nghĩa trang bằng danh từ đất thánh không phải là vô căn vô cớ, nhưng hàm ý tỏ lòng trọng kính nơi ông bà tổ tiên của giáo dân họ đạo đang yên nghỉ, nơi chôn cất những người đã chịu phép rửa tội được cứu rỗi, nơi có thể có các vị thánh đang an vị, nơi đã được làm phép long trọng một lần khi khánh thành và nhiều lần làm phép huyệt mộ khi an táng ai đó, và vân vân….

      Cha sở bảo tôi ngủ lại An Biên một đêm cho khỏe. Đêm đó cha dạy tôi.
      - Thấy mọi sự xảy ra rành rạnh như thế ai cũng lên án nhóm người tà pháp. Thực ra chưa phải! Họ cũng đáng lên án thật nhưng có người và có thứ tội còn đáng bị lên án hơn. Thấy sự việc xảy ra kinh khủng như thế ai cũng sợ hãi, đề phòng và tránh xa bùa ngải tà mỵ. Thực ra chưa đúng lắm! Bùa ngải ma thuật cũng đáng sợ, đáng đề phòng và đáng tránh xa thật nhưng có cái đáng sợ hãi, đề phòng và tránh xa hơn gấp ngàn lần. Nhìn sự việc rồi phán đoán sai như thế tức là người Công giáo vẫn thường xuyên lầm lẫn và bị mắc lừa. Mắc lừa như vậy là đã trúng kế của quỷ ma rồi! Giao tiếp nhiều với Ông Lực Lượng qua năm này tháng nọ đã làm cho cha có được nhận xét như thế. Và đó là nhận xét đúng con ạ!
      Tôi nôn nóng chờ đợi xem cha nói tiếp sự thể như thế nào thì cha bất ngờ lên cơn ho sặc sụa và liên hồi không dứt. Mặt cha từ đỏ như gấc chuyển dần qua xanh xám. Tôi dìu cha đến giường, đỡ cha nằm nghỉ, rót nước cho cha và cố làm mọi cái có thể để cha ngưng cơn ho đột ngột và lạ kỳ.
      Tự dưng thoáng như ánh chớp lóe vụt qua trong đầu tôi một ý nghĩ hơi tầm bậy: hay cơn ho này do chính Ông Lực Lượng gây ra để ngăn cha nói chuyện tiếp với tôi. Tôi nhìn cha. Bất thần bốn mắt gặp nhau sao cảm như có gì đó giống nhau giữa hai cha con.

      Tôi không phải chờ lâu. Cha Luca bớt ho dần, ngồi dậy, tiến về chiếc ghế phô-tơi để kể tiếp chuyện. Cha nói với giọng nho nhỏ nhưng không khó nghe:
      - Cái nguy hại xấu xa đáng lên án và đáng đề phòng mà cha định nói đến đó là nết xấu ham mê tiền của. Trong vụ vừa qua chính ông Biện X. và nết xấu ham mê tiền của nơi ông ta đáng lên án, đáng sợ và đáng đề phòng, vì ông ta ham mê tiền của đến bán đứng cả họ đạo An Biên.
      Ngừng lại giây lát, cha hỏi tôi:
      - Tại sao vậy con có biết không? – Vì nết xấu ham mê tiền của vô cùng nguy hiểm. Trong Phúc âm Chúa cảnh báo nhiều lần lắm con ạ! Ví dụ khi có người nhờ Chúa phân xử vụ chia gia tài thì Người phán:“phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”; Chúa dạy người giàu có khó vào Nước Trời hơn con lạc đà chui qua lỗ kim; không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của; hãy về bán hết gia tài phân phát cho kẻ nghèo; Chúa còn lấy những dụ ngôn về số phận của những người phú hộ để dạy chúng ta; nhưng bài học đáng giá nhất là môn đồ Giuđa vì ham tiền mà sa xuống tận cùng vực thẳm v.v…
      Chưa cần nói người đời, chỉ tạm lấy người tu chúng ta ra mà nói.
      Ai cũng đổ xô xét nét người tu xem có nết xấu ham mê sắc dục hay không, trong khi nết xấu ham mê tiền của là cái đáng bị lên án thì lại bỏ qua. Tại sao? - Tại vì nết xấu ham mê sắc dục dễ bị bắt quả tang, còn nết xấu ham mê tiền của thì dễ che giấu, dễ ngụy trang và dễ phủ nhận.
      Chính vì thế mà người tu chúng ta tha hồ ham mê tiền của, đôi khi lòng ham muốn bốc cháy với nhiệt độ cao hơn cả người đời. Con đừng tỏ ra “sốc”! Mà hãy sáng suốt nhìn nhận, để tự tránh về sau, rằng rất nhiều giáo sĩ ham mê tiền của đến chà đạp danh dự của Giáo hội và của cả Chúa Kitô mà chẳng bị ai lên án.
      Thấy cha dừng nói một lúc để lấy sức, tôi đợi vài phút rồi hỏi:
      - Thưa cha các dòng tu khấn ba lời khấn, trong đó có lời khấn sống khó nghèo cũng vì lý do đó phải không ạ?
      Cha Luca cười tươi đáp:
      - Phải rồi! Con đã hiểu ra! Tuy nhiên lời khấn đó dễ bị sai phạm nhất.
      Cha nói tiếp:
      - Không phải những nết xấu khác là vô hại, nhưng nết xấu ham mê tiền của nguy hại vô cùng! Lý do vì nó bị coi nhẹ, không bị chú ý, khó bị kiểm soát, ít ai đề phòng, giáo dân đã không nhắc giúp còn tạo thêm nhiều cơ hội để người tu sai phạm, nếu có sai phạm thì chẳng bị ai buộc tội và nguy hại nhất là sự sa ngã diễn biến là dần dần. Cả một hệ thống bẫy-thòng lọng của Satan.

      Đêm đó ngủ lại nhà xứ An Biên, tự nhiên trong lòng tôi cảm thấy bất an. Giấc ngủ chập chờn, mộng mị đan xen việc này lẫn việc kia.
      Nửa đêm khi tôi đang chập chờn nửa tỉnh nửa mê, tôi nghe tiếng quát:
      - May đưng xen vao viêc cua chung tao! Khong nghe đung co trach! (Mày đừng xen vào việc của chúng tao! Không nghe đừng có trách!) 
      Tôi nghe giọng nói của ông thầy bùa người Miên lơ lớ lặp đi lặp lại, dù rằng đến lần thứ ba hay thứ tư tôi đã khá tỉnh táo. Tiếng nói có vẻ ma quái ấy nằm sâu ở đâu đó trong đầu, tôi nghe bằng ý nghĩ chứ không phải bằng tai.
      Tôi không ngủ được từ đó cho đến sáng. Sáng ra tôi kể cho cha sở Luca. Cha bảo:
      - Chắc tại con bị ám ảnh bởi giọng nói của ông thầy bùa người Miên hôm qua đó thôi!
      Tuy tin vào mọi điều cha Luca nói, cha là người sống bằng tình cảm, nhưng lại luôn suy nghĩ và hành động bằng lý trí… nhưng trên đường về Long Thạnh, tôi cứ âu lo suy đoán xem mình đã làm gì để bị gọi là “xen vào việc của” ai đó.

      15g30 tôi về đến nơi. Xe dừng trước cổng nhà thờ Long Thạnh, tôi chưa kịp bước xuống xe đã có ba người đàn bà ra đón. Dường như họ đợi tôi đã lâu nên hồn nhiên reo lên khi vừa thấy bóng tôi.
      Ba người đàn bà đến học giáo lý tân tòng theo lời hẹn của tôi cách đây một tuần.
      Và câu trả lời cho câu tôi miên man tự hỏi trong đầu từ sáng đến giờ “mình đã làm gì để bị gọi là xen vào việc của ai đó?” nằm ở trong ba người đàn bà này. Tôi xin phép sẽ kể vào dịp tới.
       
       
      (*) đất thánh: cách gọi của giáo dân Đàng Trong khi nói đến nghĩa địa của một họ đạo.
      (**) là thuật điều khiển các oan hồn gọi chung là âm binh của những người necrophilie. Necrophilie do sự kết hợp của hai từ Hy lạp là Nekro và Philie (nekro: xác chết, philie: sự yêu thích, sự ham muốn giao cấu); necrophilie được dùng để mô tả một hành động giao cấu với xác chết, bí quyết luyện hồn phổ biến trong giới thầy tu trên núi. Theo đó, ai luyện thành công thuật thiên linh cái sẽ có khả năng biết trước được tương lai, kêu được gió, bất khả xâm phạm, sai khiến được âm binh, có thể tàng hình, hãm hại người bằng mọi cách... Người sửa morasse xin chú thích thêm: Tháng 6.2002, Tòa án Tối Cao tại Tp HCM đã xử tử hình Phạm văn Tuấn, (sinh 1957, gốc người An Biên, Kiên Giang, có vợ và 3 con) thường trú tại ấp Hạ, xã Tân Quới, huyện Thanh Bình, Đồng Tháp vì tội lần lượt giết chết 3 phụ nữ; với mỗi người sau khi giết chết xong, hắn giao cấu với xác chết rồi cắt đầu… để luyện thiên linh cái. Khi công an đến bắt, hắn tưởng mình có tà thuật thật, nên tỏ vẻ khinh khỉnh, xấc láo và thách thức công an.
      (***) núi Tà Lơn thuộc tỉnh Kampot, Campuchia, nơi cư trú của đông đảo các giới tu sĩ chuyên tà thuật . 
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 09.05.2026 00:24:33 bởi Sun Ming >
      #33
        Sun Ming 09.05.2026 00:49:07 (permalink)
        Kỳ 33
         
        Như tôi đã thưa, tôi sẽ kể chuyện ba phụ nữ đến với tôi để học giáo lý tân tòng.
        Bởi vì sau vụ xét xử đám người của ông thầy bùa người Miên, với sự tiếp tay của ông Biện X., đến giáo xứ An Biên quật mồ các thiếu nữ đồng trinh để moi sọ lên luyện thiên linh cái, tôi nghe tiếng văng vẳng trong đầu nhiều lần rằng: “Mày đừng xen vào việc của chúng tao! Không nghe đừng có trách!”, trùng hợp với việc bỗng dưng có ba phụ nữ mặc y phục toàn đen đến xin học đạo.
        Gây ấn tượng cho tôi: một là việc cùng lúc có đến ba phụ nữ tuổi trung bình ngoài ba mươi đến bốn mươi, hai là cả ba thân thiết nhau như ba chị em ruột, ba là tất cả đều có chồng có con, đều có cảnh khổ như nhau, bốn là cả ba đều có cùng một động cơ thúc đẩy học đạo để được “nấp bóng đạo Công giáo”, năm là họ ăn mặc lúc nào cũng toàn đen và ai cũng có gương mặt trầm uất lạ lùng. Ba người cùng đến gặp tôi, rụt rè nhưng hết sức chân thành bày tỏ ý định tha thiết xin học đạo và theo đạo. Tuy không nói ra, nhưng lúc đó tôi rất mừng rỡ đón tiếp và hăng hái xếp giờ để dạy.
        Càng dạy họ lâu tôi càng hiểu rõ ngọn nguồn về họ.
        Người lớn tuổi nhất tên Lẹ. Chị Lẹ 36 tuổi. Đã có chồng và hai con. Sống với chồng bao nhiêu năm thì cũng bấy nhiêu năm bị chồng hành hạ, đánh đập và ngược đãi rất thương tâm. Nhân chồng có vợ bé, chị Lẹ nhờ chính quyền can thiệp cho chị ly dị để thoát khỏi tay người chồng quá vũ phu và độc ác; nhưng không được. Chị cầu cứu đến thế lực của một thầy bùa danh tiếng trong vùng và đã được toại nguyện.
        Người thứ hai tên Mai. Chị Mai 33 tuổi. Đã có chồng và có con nhưng con chị đã mất từ lúc mới lên vài tháng tuổi; bị chồng đánh đập tàn nhẫn hầu như hằng ngày sau mỗi cơn nhậu say xỉn, nhất là sau những trận thua cờ bạc đến trắng tay… Sau một trận đòn chết đi sống lại lần cuối, chị Mai được chị Lẹ đưa đến với thầy bùa nói trên và cũng được cứu thoát.
        Người thứ ba tên Liên. Chị Liên 32 tuổi. Đã có chồng và có một đứa con. Chồng chị Liên vì nghi ngờ cha ruột của anh ta có tình ý và thông dâm với vợ mình nên ghen tuông không thể tưởng rồi sau đó lao vào một đơn vị biệt kích cảm tử, từ đó vắng nhà biền biệt, thỉnh thoảng có về thăm nhưng là để đánh đập chị không nương tay. Chị Liên cũng nhờ đến cùng một thầy bùa như chị Lẹ và chị Mai và đã trút bỏ được người chồng tàn nhẫn.
        Cả ba có hoàn cảnh đặc biệt đau khổ, đều rất căm hận đàn ông, nên dễ dàng đến với nhau kết thân rồi giúp đỡ nhau và nương tựa nhau đến độ trở nên thân thiết như ba chị em ruột.
        Nhưng điều làm tôi vô cùng sửng sốt là cả ba đều đã, thông qua ông thầy bùa, ký công-tra(*) bán mình cho ma quỷ. Thoạt đầu tôi không tin, lại còn tưởng rằng các chị nói đùa cho vui; đó chẳng qua là vì tôi suy nghĩ, nếu thật sự đã bán cuộc đời mình cho ma quỷ, ba chị không thể nào đến nhà thờ được chứ đừng nói học giáo lý hoặc manh nha có ý đồ xin tòng đạo; tôi còn nghĩ thêm rằng, nếu thật sự các chị đã bán linh hồn cho ma quỷ thì hình hài dung mạo của các chị không thể bình thường quá đỗi như tôi đang trông thấy, nghĩa là hiện tôi trông thấy dung mạo và phong cách của ba chị vẫn cứ như người bình thường, lại còn có vẻ tiều tụy, nghèo hèn và đầy vẻ cam phận; tôi còn nghĩ xa hơn như thế này, nếu thật là những người của ma quỷ hẳn không hề thuận thảo nhau, huống chi đoàn kết, giúp đỡ nhau và cùng nhau hướng đến một điều gì tốt đẹp.
        Nhưng dần dần qua câu chuyện, các chị đã giải đáp hết mọi thắc mắc đó của tôi, cho tôi biết thêm nhiều chuyện đặc biệt –thật là… trong giờ học giáo lý tôi là người dạy cho các chị, nhưng ngoài giờ học giáo lý các chị là những người dạy lại tôi-, các chị kể:
        Một hôm chị Lẹ, người lớn tuổi nhất, tình cờ lượm được một xâu chuỗi trên đường ra chợ trở về. Tưởng đá quý, chị đem về nhà cất giữ. Sau một thời gian, chị nghiệm ra rằng, từ khi đem xâu chuỗi về nhà cất giữ chị bị những cơn đau dữ dội khi thì chỗ này khi thì chỗ khác trong cơ thể, kèm theo là những cơn bức bối trong thâm tâm lẫn thể xác vô cùng ray rức và khó chịu không thể tả; cứ mỗi lần xảy ra như thế chị thử vứt xâu chuỗi ra đống rác sau nhà thì mọi sự bỗng dưng biến mất, khỏe mạnh lại bình thường. Lẽ thường, ai gặp cảnh ngộ như thế hẳn sẽ rất mừng rỡ và vứt bỏ xâu chuỗi đi cho xa; chị Lẹ thì không; chị linh cảm có điều gì đó bí ẩn… chị liền tìm cách hỏi han một người có đạo bởi chị thấy ở đầu xâu chuỗi có gắn một cây thánh giá. Khi biết ra đó là một chuỗi kinh quan trọng của người Công giáo, chị Lẹ càng tò mò hơn gấp nhiều lần, chị lý luận: tại sao người Công giáo giữ nó bên mình thì không sao, còn mình giữ trong nhà thì sinh ra đủ mọi chuyện xấu. Còn nhiều chuyện khác nữa xảy ra chung quanh vụ xâu chuỗi khiến chị Lẹ ngày càng tin rằng có một quyền lực còn mạnh hơn thầy bùa và ma quỷ, quyền lực ấy nằm trong đạo Công giáo. Chị chia sẻ với chị Mai và chị Liên. Dần dần họ tìm đến người Công giáo trong xóm đạo để trao đổi, hỏi han và xin ý kiến. Tôi chỉ kể sơ qua chuyện xâu chuỗi, và chỉ kể một cách tóm tắt, vì còn rất nhiều chuyện không thể kể ra ở đây. Nói tóm, một duyên may kỳ lạ đã cứu ba người phụ nữ bất hạnh đang ở tận đáy vực sâu của đời người. Duyên may ấy chính là lòng xót thương của Đức Mẹ đối với những ai gìn giữ chuỗi Môi khôi, dù mới chỉ là cất giữ xâu chuỗi thôi. Tôi dám quả quyết như vậy.
        Chuyện đi học giáo lý để xin tòng đạo cũng là kết quả của cả một hành trình gian lao khổ ải. Ai tinh ý một chút đều có thể có nhận xét rằng có những người đến với Chúa dễ dàng đến độ giản đơn, những cũng có những người để đến được với Chúa, họ phải nếm đủ mùi vị cay đắng tân toan; điều đó cho biết, Chúa chọn ai người đó được, Chúa không chọn thì ngay cả cái ước muốn cũng không có.
        Ba chị học đạo rất chăm chỉ và đặc biệt là cố gắng vượt bậc, vì trong thời gian học, đã xảy ra nhiều trở ngại tưởng chừng như họ bị thất bại khiến phải “giữa đường gãy gánh”. Nhiều chuyện xảy ra liên tiếp, ví dụ chị Mai bị trộm vét sạch hết của cải trong nhà chỉ trong một đêm ngủ mê. Nào hai đứa con của chị Lẹ bỗng dưng thay nhau bị bạo bệnh tưởng không còn có thể giữ nổi mạng sống nữa. Nào là giữa đêm thanh vắng, nhà chị Liên phát hỏa cháy rụi mà không sao tìm được nguyên nhân. Thôi thì biết bao tai ương xảy đến cho ba chị, vừa dồn dập vừa oan nghiệt, may là tôi có chút ít hiểu biết cộng với chút ít kinh nghiệm nhỏ nhoi, nên biết dùng lời lẽ lẫn cử chỉ để trấn an, chia sẻ và nâng đỡ các chị, giúp các chị vượt qua.
        Không chỉ các chị mà thôi, chính tôi đây, một hôm ông mặt dẹp đến đe dọa tôi đừng dạy ba người đàn bà ấy học đạo, vì họ là cán bộ CS nằm vùng, chính quyền đang theo dõi, và cả tôi cũng bị theo dõi lây v.v... Thời này dễ bị người khác chụp mũ và dễ mất mạng vì những lối chụp mũ như thế. Nhưng chuyện sau đây thì đúng là quá quắt! Một hôm vô cớ, có hai người đàn ông hung dữ đến gây sự với tôi và sau đó la ầm lên rằng tôi quyến rũ ba người phụ nữ để lấy cả ba làm vợ. Tôi bị mệnh danh là “thầy tu ba vợ” trong toàn vùng suốt từ đó cho đến ngày tôi ra đi khỏi Long Thạnh (**).
        Trong suốt thời gian ba phụ nữ bất hạnh đang trên con đường đến với bí tích Rửa tội, tôi là người vừa dạy vừa cận kề để ủi an, nâng đỡ, cổ vũ và nhất là giải thích “điều hơn lẽ thiệt” họ; trong lúc ấy không ai biết, cha sở Chân Phúc và cha sở Luca lại là những người nâng đỡ, ủi an, nâng đỡ và cổ vũ lại tôi, -tôi thường xuyên liên lạc để xin ý kiến các ngài- nhờ một lực lượng cứng cáp sau lưng, tôi hoàn thành nhiệm vụ cực kỳ khó khăn mà với sức tôi, một mình tôi không thể làm được.

        Đến ngày rửa tội, chuyện càng không đơn giản.
        Ba người phụ nữ bị hành hạ đến tơi tả.
        Khi cha sở Chân Phúc hỏi chị Lẹ:
        - Con có từ bỏ ma quỷ không?
        Chưa kịp trả lời, chị Lẹ ngã vật xuống đất mạnh đến nỗi nghe một tiếng “ạch”, đôi mắt trợn trừng, bọt mép sùi ra, giãy giụa như con cá bị đập đầu đánh vẩy.
        Rất bình tĩnh và đầy kinh nghiệm, cha sở Chân Phúc lập tức ngồi thụp xuống theo, đổ nước trên đầu và đọc công thức rửa tội ngay cho chị. Chị dần bớt co giật, từ từ tỉnh lại rồi sau đó trở lại bình an như cũ.
        Trong lúc đang rửa tội cho chị Lẹ, chị Liên thình lình vùng bỏ chạy như bị ai đuổi. Nhờ cha sở Chân Phúc đã tiên liệu, nên bố trí sẵn nhiều đàn ông và thanh niên để rượt đuổi theo chị. Bao nhiêu là đàn ông lẫn thanh niên mạnh khỏe nhanh nhẹn, nhưng không ai chạy kịp với chị Liên. Gần một giờ sau người ta mới đem được chị về trong tình trạng áo quần tả tơi, tóc tai bù xù và còn có cả một sợi dây luộc (***) đang quấn quanh cổ chứng tỏ có ai đó nhất định xiết cổ hay treo chị lên cây để giết chết chị.
        Chị Mai thì khác. Cứ đứng nhe răng cười với nụ cười… đáng sợ. Dù không té vật, dù không bỏ chạy, nhưng cái cách của chị Mai làm mọi người ớn cả xương sống. Quả đúng như vậy! Khi cha sở Chân Phúc toan rửa tội cho chị, chị gạt phắt tay cha; những giáo dân đàn ông lao động với chân tay lộ rõ những bắp thịt cuồn cuộn, gân guốc chắc nịch… chỉ cố làm một việc là giữ chị lại thôi, vậy mà xem ra chẳng ăn nhằm gì. Thế là một cuộc đấu vật xảy ra giữa một người phụ nữ ốm yếu duy nhất với năm bảy người đàn ông sức lực ngay tại lòng nhà thờ. Cuối cùng phải vất vả lắm đám đàn ông kia mới người giữ tay người nắm chân chị Mai cho chị ở yên trong tích tắc. Cha sở Chân Phúc rảy nước thánh trên đầu chị và đọc công thức rửa tội, sau đó chị mới dịu dần lại và ngoan ngoãn lãnh nhận những nghi thức tiếp theo.
        Sau khi đã rửa tội cho ba phụ nữ xong, mọi người thở phào nhẹ nhõm và tỏ ra rất vui mừng. Thánh lễ kết thúc, ba chị lại trở về trạng thái của những phụ nữ tay yếu chân mềm, mạnh khỏe và tươi tỉnh. Cha sở Chân Phúc cấm không cho ai tỏ vẻ hay bàn luận về bất cứ điều gì trong câu chuyện rửa tội vừa xảy ra. Mọi giáo dân có mặt trong thánh lễ hôm đó càng tin Chúa mạnh mẽ và quyết liệt hơn.
        Bài giảng thánh lễ của cha sở Chân Phúc hôm đó có một câu rất hay:
        - Chơi với ai, người đó sẽ chơi lại. Đi với ai, người đó sẽ ủng hộ. Tin vào ai, người đó sẽ giúp đỡ. Vậy nếu chúng ta chơi với ma quỷ, đi với ma quỷ và tin vào ma quỷ, tất ma quỷ sẽ xúm xít vây quanh lẩn quất ngày đêm bên chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta theo Chúa, tin Chúa và kết hiệp với Chúa… Chúa sẽ ở bên cạnh chúng ta.
        Những lời trên rất thích hợp trong hoàn cảnh và nơi chốn này, vì dân vùng này rất tin nghe các thầy bùa, họ chạy đến thầy bùa nhanh, dễ, và tự nhiên như ta ghé nhà thuốc mỗi khi trái gió trở trời.

        Tôi kể lại mọi việc với cha sở Luca sau đó, cha khuyên tôi:
        - Hãy cẩn thận! Vì chuyện chưa chấm dứt ở đó đâu con ạ!
        Đúng như thế.
        Ông thầy bùa, người đã từng can dự vào cuộc đời của ba phụ nữ, sai người nhắn gửi tôi:
        - Mày đã xen vào việc của chúng tao. Mày sẽ không yên với chúng tao đâu!
        Vài ngày sau một người lạ hoắc khác đến cũng nhắc lại cùng một lời đe dọa như trên.
        Khoảng năm bảy hôm gì đó, một người lạ mặt nữa cũng mang đến cho tôi “thông điệp” ấy lần nữa.
        Tôi rất lo sợ. Không thể bất cứ lúc nào cũng chạy về cầu cứu với cha Luca; còn về cầu cứu với cha sở Chân Phúc thì dễ quá, nhưng ngài không phải là người để tôi trao đổi những chuyện đại loại như vậy.
        Tôi ôn lại trong đầu tất cả những chuyện cha Luca kể cho tôi nghe, ôn lại những điều tôi đã thấy cha Luca làm để từ đó tôi rút ra cho mình một giải pháp tốt nhất.
        Sau đó khoảng một tuần, giữa khuya đang ngủ, tôi giật mình vì nhiều tiếng động lạ lùng. Những tiếng động đó gồm có tiếng đoàn quân đi, tiếng ngựa hí, tiếng binh khí va nhau loảng xoảng, tiếng la hét, tiếng khóc than rên rỉ, gầm rú, chửi rủa, lẫn tiếng quát tháo ra lệnh và gắt gỏng. Tất cả cộng lại thành một thứ tiếng ồn nghe ghê rợn lạ –tôi không thể tả nổi cảm giác sợ hãi, cảm giác mà đến hôm nay tôi còn có thể hình dung lại được-, tiếng ồn ấy nghe hình như đang diễn ra trên hai con đường ôm sát cạnh khu vực nhà thờ.
        Vì nhà xứ có một bức tường nằm sát đường, giường ngủ của tôi lại nằm sát bức tường ấy, nên tôi có thể nghe được tiếng chân người qua lại, chính vì vậy tôi nghe rõ tiếng ồn lạ như sát bên tai.
        Tôi ngồi dậy đôi ba lần để định hướng tiếng ồn, nhưng không hề nghe tiếng ồn vào được trong sân nhà thờ, mà chỉ diễn ra ở ngoài đường, ở hai con đường một trước cửa nhà thờ, một bên hông phải nhà thờ.
        Tiếng ồn kéo dài cho đến gần giờ xả lệnh giới nghiêm đêm của quân đội thì dứt. Rồi cứ diễn ra như vậy hằng đêm trong suốt hơn hai tuần.
        Lúc đầu tôi không hiểu, nhưng dần dần tôi hiểu ra đó là trò của các thầy bùa muốn ám hại tôi; có điều tôi không hiểu ám hại kiểu gì kỳ lạ, tôi sợ hãi chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng không, sau hai tuần lễ -chỉ đơn giản làm tôi mất ngủ- mọi chuyện chấm dứt êm thắm.

        Khi kể lại cho cha Luca nghe, cha hỏi tôi đã dùng giải pháp gì, tôi thưa bắt chước cha tôi luôn cứ chốc lát lại giục lòng tin Chúa tuyệt đối.
        Còn cha thì lý giải cho tôi biết, đó là tiếng ồn của đám âm binh hùng hậu của ông thầy bùa định đến hãm hại tôi, nhưng do vào đến sân nhà thờ còn chưa được thì lấy gì mà hãm hại.
        Câu chuyện dần dần cũng phai mờ theo thời gian và theo ký ức non trẻ của tôi. Tuy nhiên mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn sợ. Sợ thì sợ, nhưng tôi rất vững tâm, vì sự tin tưởng tuyệt đối vào Chúa chính là sức mạnh vạn năng không quyền lực nào có thể bức hiếp tôi được; nhớ lời cha sở Chân Phúc:
        - Chơi với ai, người đó sẽ chơi lại. Đi với ai, người đó sẽ ủng hộ. Tin vào ai, người đó sẽ giúp đỡ. Vậy nếu chúng ta chơi với ma quỷ, đi với ma quỷ và tin vào ma quỷ, tất ma quỷ sẽ xúm xít vây quanh lẩn quất ngày đêm bên chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta theo Chúa, tin Chúa và kết hiệp với Chúa… Chúa sẽ ở bên cạnh chúng ta.
         
         
        (*) Công-tra (contrat): hợp đồng.
        (**) Sau ngày 30.4.1975, tôi có về thăm lại họ đạo Long Thạnh. Vừa đến bến xe, mấy tay chạy xe ôm ở đó nhác trông thấy tôi đã chào hỏi, cười đùa, chọc giỡn với vẻ thân thiện: “A! Ông thầy tu ba vợ!”; “Lâu quá rồi không gặp nghe!”; “Khổ cho ông! Có tiếng mà không có miếng!” v.v… Điều đó cho hay, tuy tôi bị người lương cả một vùng gán cho biệt danh không mấy tốt đẹp ấy, nhưng họ đã chẳng tin, trái lại còn dành cho tôi nhiều thiện cảm.
        (***) Dây luộc: một loại dây bện bằng xơ dừa, rất chắc, thông dụng ở miền Tây Nam bộ.
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 09.05.2026 01:28:20 bởi Sun Ming >
        #34
          Thay đổi trang: < 123 | Trang 3 của 3 trang, bài viết từ 31 đến 34 trên tổng số 34 bài trong đề mục
          Chuyển nhanh đến:

          Thống kê hiện tại

          Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
          Kiểu:
          2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9