Phỏng Dịch Đường Thi - SongNguyễn HànTú
Biệt Lư Tần Khanh *** Tri hữu tiền kỳ tại Nan phân thử dạ trung Vô tương cố nhân tửu Bất cập Thạch Vưu phong Tư Không Thự * Ghi chú: Thạch Vưu Phong, ý chỉ thứ gió có thể ngăn trở người ra đi. ******* Tiễn Biệt Lư Tần Khanh *** Bài 1 Biết rằng người phải ra đi Tình sâu nghĩa nặng phân ly được nào Tiễn người chẳng chuốc rượu đào Thạch Vưu gió cũng chẳng sao giữ người. * Bài 2 Đành rằng cũng phải chia tay Biệt ly ray rứt sầu này khó nguôi Tạ từ không chén ly bôi Người đi chẳng quản gió trời Thạch Vưu. *** Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
Biệt Phòng Thái Úy Mộ
*** Tha hương phục hành dịch Trú mã biệt cô phần Cận lệ vô can thổ Đê không hữu đoạn vân Đối kỳ bồi Tạ Truyện Bả kiếm mịch Từ Quân Duy kiến lâm hoa lạc Oanh đề tống khách văn Đỗ Phủ *** Dich nghia: (giã từ mộ quan Thái úy họ Phòng) (lại đi công tác xứ người) (dừng ngựa chào từ biệt ngôi mộ chơ vơ) (lệ rơi ướt đất) (cuối chân trời có đám mây lẻ tẻ) (người từng đánh cờ với Tạ Truyện) (từng luận kiếm với Từ Quân) (nay ta chỉ thấy hoa rừng rơi) (và nghe chim oanh hót tiễn khách) Ghi chú: Tất cả các nhân vật họ Phòng, Tạ Truyện, Từ Quân đều là người đương thời với Đỗ Phủ. ******* Giã Từ Mộ Quan Thái Úy Họ Phòng
***
Bước công du chốn xa mờ
Lỏng cương từ tạ nấm mồ lẻ loi
Đầm đìa nườc mắt tuôn rơi
Mây vương lác đác cuối trời xa xa
Đã cùng Tạ Truyện đánh cờ
Từ Quân luận kiếm lúc xưa tưng bừng
Giờ đây hoa rụng ngập rừng
Nghe oanh tiễn bước cõi lòng ngổn ngang.
***
Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2007 04:11:29 bởi hannguyen >
Bồi Tộc Thúc Hình Bộ Thị
Lang Hoa Cập Trung Thư Giả
Xá Nhân Chí Du Động Đình
* Động Đình hồ tây thu nguyệt huy Tiêu Tương giang bắc tảo hồng phi Túy khách mãn thuyền ca “Bạch Trữ” Bất tri sương lộ nhập thu y Lý Bạch * Dich Nghia: (theo chú ruột là Hoa làm quan Hình Bộ Thị Lang cùng quan trực thuộc là Giả Chí đi chơi hồ Động Đình) (trăng thu vằng vặc phía tây hồ Động Đình) (chim hồng bay sớm về phía bắc sông Tiêu Tương) (khách trên thuyền say mèm, ca bài “Bạch Trữ”) (khách trên thuyền say mèm, ca bài “Bạch Trữ”) Ghi chú: Bạch trữ, có nghĩa là vải thô màu trắng. Bài ca “Bạch Trữ” có ý cảm thưong dân nghèo. ******* Đi Chơi Hồ Động Đình
*
Tây Động Đình lung linh bóng nguyệt
Bắc Tiêu Tương ríu rít chim về
Khách say “Bạch Trữ” hoan mê
Chẳng màng sương móc vương nhòe áo thu
*
Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.06.2007 04:17:05 bởi hannguyen >
Bồi Trịnh Quảng Văn Du Hà Tướng Quân Sơn Lâm Bất thức Nam Đường lộ Kim tri Đệ ngũ kiều Danh viên y lục thủy Dã trúc thướng thanh tiêu Cốc Khẩu cựu tương đắc Hào Lương đồng kiến chiêu Bình sinh vị u hứng Vị tích mã đề diêu. Đỗ Phủ Dịch nghĩa: (theo Trịnh Quảng Văn dạo chơi vùng rừng núi của Tướng quân họ Hà) (không rành đường xá ở Nam Đường) (nay mới biết đây là cây cầu số 5) (khu vườn nổi tiếng bên dòng nước biếc) (trúc đồng nội vươn lên tận trời xanh) (kia Cốc Khẩu là nơi ưa thích cũ) (đây Hào Lương là nơi ta cùng gặp gỡ) (thườngngày chỉ thích nhàn nhã) (nay chả tiếc vó ngựa in khá xa) Vãn Cảnh Nơi Hà Tướng Quân Bài 1 Nam Đường chưa dịp ghé qua chơi Giờ lối cầu Năm đã biết rồi Đẹp quá cảnh vườn bên nước biếc Trúc đồng nghiêng ngả giữa mây trôi ....... Cốc Khẩu chốn xưa lúc tuổi xuân Hào Lương nơi gặp gỡ bao lần Tháng năm tìm thú vui thanh thản Chẳng ngại đường xa, ngựa đỡ chân Bài 2 Lúc xưa chưa biết lối Nam Đường Giờ cầu Đệ Ngũ đã đi ngang Cảnh vườn đẹp quá bên dòng nước Cao ngất trời mây đám trúc đồng ............. Cốc khẩu là nơi xưa mến thương Gặp nhau chốn ấy đất Hào Lương Quanh năm trong thú vui nhàn tản Chẳng quản xa xôi, ngựa đỡ đường * Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
Bồi Giang Phiếm Chu Tống Vi Ban Quy Kinh
Truy tiễn đồng chu nhật
Thương xuân nhất thủy giang
Phiêu linh vi khách cửu
Suy lão tiện quân hoàn
Hoa tạp trùng trùng thụ
Vân khinh xứ xứ san
Thiên nhai cố nhân thiểu
Cánh ích mấn mao ban
*
Đỗ Phủ * Dich nghĩa (theo thuyền trên sông Bồi
đưa tiễn Vi Ban trở về kinh đô)
(ngày tiễn chân ông về kinh trên cùng thuyền)
(trên con sông u buồn này)
(tôi là kẻ phiêu dạt đã lâu)
(đến lúc già yếu vui mừng được gặp lại ông)
(bên bờ cây cối rậm rạp trổ đầy bông)
(mây bay nhè nhẹ nơi núi non trùng điệp)
(nơi phương trời này bạn bè thiếu vắng)
(càng làm cho râu tóc bạc phơ thêm)
***** Trên Sông Bồi Đưa Vi Ban Về Kinh
***
Bài 1
Ngày trên thuyền tiễn bác
Sông xuân cảnh u sầu
Bao năm trời lưu lạc
Lúc già mừng gặp nhau
…
Hoa trên cây lớp lớp
Đỉnh núi mây giăng giăng
Xa nhà thiếu tri kỷ
Tóc bạc càng mau tăng
Bài 2
Ngồi thuyền đưa tiễn bác trên sông
Mặt nước trời xuân thật não nùng
Luân lạc lâu rồi thân viễn khách
Về già gặp lại thú không cùng
………..
Sặc sỡ mầu hoa, lớp lớp cây
Mây sầu trên đỉnh núi giăng đầy
Nơi xa nào dễ tìm tri kỷ
Mái tóc ngày càng trắng như mây
***
Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.06.2007 23:51:10 bởi hannguyen >
Bùi Tấn Công Tứ triều ưu quốc mấn như ti Long mã tinh thần hải hạc tư Thiên thượng ngọc thư truyền chiếu dạ Trận tiền kim giáp thu hàng thì Tằng kinh Dữu Lượng tam thu nguyệt Hạ tận Dương Đàm nhị lộ kỳ Trù trướng cựu đường quynh Lục Dã Tịch dương vô hạn điểu quy trì Lý Sính *** Dich Nghĩa: (quanTấn quốc công họ Bùi) (lo việc nước trải bốn triều vua tóc bạc như tơ) (tinh thần như ngựa rồng, cốt cách như hạc biển) (nhớ đêm vua ban chiếu phong chức) (nhớ lúc mặc giáp vàng nhận giặc đầu hàng) (giúp nước lâu hơn Dữu Lượng ba năm) (mưu lược cao hơn Dương Đàm hai nước) (lòng buồn trước Lục Dã xưa, nay đóng kín) (nắng chiều bao la, chim chậm chạp bay về) *** Ghi chú: Bùi Tấn Công: đời Đường Hiến Tông, Bùi Độ nhờ công dẹp giặc Hoài tây, được phong quan Trung thư lệnh, tướcTấn Quốc Công. Khi về hưu, ông cất một biệt thự ở Đông Đô (Lạc Dương) đặt tên là Lục Dã Đường. Dữu Lượng: người đời Tấn, cũng được phong quan Trung thư lệnh, nổi tiếng về phong cách và lễ tiết. Dương Đàm: người đời Tấn, giỏi cơ mưu quân sự. ***** Quan Quốc Công Họ Bùi
***
Lo quốc sự bốn triều đầu bạc trắng
Tinh thần cao tựa hạc biển, rồng trời
Còn đâu khi vua chiếu ngọc thưởng người
Hay giữa trận áo giáp vàng trị giặc
Hơn Dữu Lượng trên ba năm giúp nước
Mưu họ Dương cao hơn hẳn hai chiêu
Lục Dã Đường giờ cửa đóng quạnh hiu
Chiều ngả bóng, chim la đà về tổ
Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.06.2007 00:00:31 bởi hannguyen >
Các Dạ
*
Tuế mộ âm dương thôi đoản cảnh
Thiên nhai sương tuyết tế hàn tiêu
Ngũ canh cổ giác thanh bi tráng
Tam giáp tinh hà ảnh động dao
Dã khốc thiên gia văn chiến phạt
Di ca sổ xứ khởi ngư tiều
Ngọa long dược mã chung hoàng thổ
Nhân sự âm thư mãn tịch liêu.
Đỗ Phủ
Dịch nghĩa
(đêm Tây Các)
(ngày cuối năm qua mau)
(những ngày lạnh ở góc trời này đã ngưng tuyết)
(suốt đêm tiếng trống, tiếng tù và bi ai, hùng tráng)
(làm rung động cả dải ngân hà ở vùng Tam Giáp)
(tin giao tranh làm ngàn nhà than khóc)
(dân chài và tiều phu đâu đó vẫn ca hát nghêu ngao)
(Khổng Minh, Công Tôn Thuật cũng ra đất vàng)
(việc đời, thư tín tất cả đều vắng lặng)
***
Ghi chú: Tây Các là một xã thuộc huyện Phụng Tiết, tỉnh Tứ Xuyên, nơi có nhiều di tích
nổi tiếng như Bát Trận Đồ của Khổng Minh. Bạch Đế thành của Công Tôn Thuật....
Ngọa long: con rồng nằm, chỉ Không Minh, quân sư của Lưu Bị, thời Tam Quốc.
Dược mã: con ngựa nhảy, chỉ Công Tôn Thuật, người nổi lên chiếm đất Thục rồi xưng đế,
lúc Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán.
***
Đêm Nơi Tây Các
*
Năm tàn vầng thái ngủ mê
Chốn đây tuyết lạnh tan đi hết rồi
Suốt đêm kèn trống liên hồi
Bóng ngân hà vỡ tả tơi mặt hồ
Chiến chinh lời oán vô bờ
Đó đây tiếng hát ngu ngơ ngư tiều
Khổng, Công thì cũng xanh rêu
Tin thư mờ mịt, tịch liêu vô cùng.
*
Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
**********************
Cầm Đài
Mậu Lăng đa bệnh hậu
Thượng ái Trác Văn Quân
Tửu tứ nhân gian thế
Cầm đài nhật mộ vân
Dả hoa lưu bảo yếm
Mạn thảo kiến la quần
Quy phụng cầu hoàng ý
Liêu liêu bất phục văn
Đỗ Phủ
(sân khấu tấu đàn)
(sau khi mê say gái ở Mậu Lăng)
(yêu thương Trác Văn Quân trở lại)
( quán rượu trong cõi đời)
(sẩm tối tấu đàn dưới mây
(hoa đồng nội rơi trên đồ ăn thừa)
(cỏ dại vương trên quần lụa )
Ghi chú: Mậu Lăng là địa danh nay ở huyện Hưng Bình, tỉnh Thiểm Tây.
Tư Mã Tương Như, người đời nhà Hán (thế kỷ thứ 2 trước công nguyên) là
một nghệ sĩ giỏi chơi đàn và làm phú, nhưng nghèo khó. Trác Văn Quân
là một góa phụ, ở với cha là một danh gia cự phú. Trác mê tiếng đàn khi
Tư Mã tấu khúc “Phụng Cầu Kỳ Hoàng”, bỏ nhà trốn đi theo làm vợ Tư Mã.
Hai người mở một quán rượu sinh nhai vất vả ở Mậu Lăng. Được ít lâu,
Tư Mã mê say một cô gái ở đây và muốn cưới cổ làm thiếp.
Trác phản đối. Tư Mã bỏ ý định.
Đài Đàn
Mậu Lăng sau khi tỉnh
Lại thương Trác Văn Quân
Cố vui đời bán rượu
Dưới mây chiều tấu đàn
Hoa đồng rơi trên chén
Gấu quần lấm cỏ vàng
Ý nhạc “Phụng Hoàng” cũ
Chẳng còn tiếng tơ vang.
SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2007 02:45:44 bởi hannguyen >
Cai Hạ *** Bách chiến vị ngôn phi Cô quân kinh dạ vi Sơn hà ý khí tận Lệ tiễn mỹ nhân y. * Trừ Tự Tông *** Dịch Nghĩa: (trận Cai Hạ) (đánh trăm trận chưa thua) (đêm nay bị vây, quân ít, kinh hãi) (hết ý khí tranh đoạt sơn hà) (nước mắt ứa trên áo người đẹp) *** Ghi chú: Cai Hạ là tên đất, ở đông nam huyện Linh Bích, tỉnh An Huy ngày nay. Cuối đời Tần, Lưu Bang và Hạng Võ tranh hùng. Trận cuối, Hạng bị vây ở Cai Hạ, quân sĩ nghe tiếng tiêu ai oán bên quân Lưu thổi sang, nhớ nhà, bỏ trốn gần hết. Vợ Hạng là Ngu Cơ rút gươm tự tử. Hạng khóc vợ. Khi chạy tới Ô Giang, Hạng cũng tự sát. ******* Trận Cai Hạ *** Bài 1 Đã từng trăm trận tung hoành Quân tàn, cường địch vây quanh đêm này Bá vương mộng đã xuôi tay Lệ anh hùng đẫm vai gầy mỹ nhân *** Bài 2 Đã từng trăm trận Khắp cõi tung hoành Đêm dài cô thế địch vây quanh Than ôi ! Mộng gom sông núi không thành Gục vai mỹ nữ lệ tình rơi tuôn *** Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
Cảm Kính *** Mỹ nhân dữ ngã biệt Lưu kính tại hạp trung Tự tòng hoa nhan khứ Thu thủy vô phù dung Kinh niên bất khai hạp Hồng ai phú thanh đồng Kim triêu nhất phất thức Tự cố tiều tụy dung Chiếu bãi trùng trù trướng Bối hữu song bàn long. Bạch Cư Dị * Dịch nghĩa (cảm xúc trước gương) (người đẹp rời xa tôi) (để lại chiếc gương soi trong hộp) (kể từ khi mặt hoa [nàng] đi rồi) (làn nước thu [mặt gương] không còn sen) (cả năm không mở hộp) (bụi hồng đã phũ lên đồng xanh) (sáng nay nhân phủi bụi) (tôi thấy mặt mình bơ phờ) (soi gương xong tôi còn buồn bã) (khi thấy sau gương có hình hai con rồng quấn quít) ***** Đối Gương *** Từ khi đôi ngả chia ly Nét xưa còn lại dấu gì trong gương Xa nhau rồi Khối sầu vương Hồ thu chẳng thấy phù dung khoe mầu Hộp gương xưa Chẳng thèm lau Tháng ngày bụi bám phủ mầu đồng xanh Sáng nay phủi bụi vô tình Đối gương chợt nhận vẻ mình xác xơ Ngó sau lưng bỗng thẫn thờ Thấy rồng quấn quít …buồn ngơ ngẩn lòng *** Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 11.06.2007 01:03:37 bởi hannguyen >
感遇
蘭若自春夏
芊蔚何青青
幽獨空林色
丹蕤冒紫莖
遲遲白日晚
嫋嫋秋風生
薉花盡搖落
芳意更何成
陳子昂
Cảm Ngộ
Lan nhược tự xuân hạ
Thiên uất hà thanh thanh
U độc không lâm sắc
Chu nhuy mạo tử hành
Trì trì bạch nhật vãn
Niệu niệ thu phong sinh
Tuế hoa tận dao lạc
Phưong ý cánh hà thành.
Trần Tử Ngang
Dich Nghĩa:
(cảm xúc trước cảnh ngộ)
(cây hoa lan từ múa xuân qua mùa hạ)
(thật là tươi tốt, xanh ngát)
(một mình phô sắc thắm trong rừng vắng)
(hoa đỏ vươn lên từ nhánh tía)
(những ngày hè qua chầm chậm)
(gió thu đã thổi phất phơ)
(các hoa nở theo mùa thảy đều rơi rụng)
(rốt cục hương thơm thành cái gì?)
********
Cảm Xúc Trước Cảnh Ngộ
Qua hai mùa xuân hạ
Sắc lan tươi thắm xinh
Cô đơn khoe sắc riêng mình
Bên rừng hoa đỏ phủ cành tím tươi
Hè trôi đi chầm chậm
Gió Thu lảng vảng rồi
Cánh hoa tàn tạ rụng rơi
Mùi thơm hương cũ mai rồi ra sao?
SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.08.2007 01:48:25 bởi hannguyen >
感 故 張 僕 射 諸 妓
黃金不惜買蛾眉
揀得如花三四枝
歌舞教成心力盡
一朝身去不相隨
白居易
Cảm Cố Trương Bộc Xạ Kỹ nữ
***
Hoàng kim bất tích mãi nga mi
Giản đắc như hoa tam tứ chi
Ca vũ giáo thành tâm lực tận
Nhất triêu thân khứ bất tương tùy.
Bạch Cư Dị
*
Dich nghĩa
(cảm nghĩ về các kỹ nữ ông Trương Bộc Xạ chết đi để lại)
(không tiếc vàng bỏ ra mua gái mày ngài)
(lựa ra được ba bồn cô đẹp như hoa
(dạy được các cô ca múa giỏi thì ông kiệt sức)
(một sáng kia ông chết, chẳng cô nào theo ông
***
Cảm Nghĩ Về Các Đào Hát Của Trương Bộc Xạ
***
Gái xuân sắc đem bạc vàng mua đổi
Được mấy cô đẹp lộng lẫy như hoa
Đem tâm can luyện cho giỏi hát ca
Lúc nằm xuống chẳng ai màng thương xót.
***
Phỏng dịch: SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.08.2007 01:50:59 bởi hannguyen >
Cảm Ngộ 1
kỳ nhất
Cô hồng hải thượng lai
Trì hoàng bất cảm cố
Trắc kiến song thúy điểu
Sào tại tam châu thụ
Kiểu điểu trân mộc điên
Đắc vô kim hoàn cụ
Mỹ phục hoạn nhân chỉ
Cao minh bức thần
Kim ngã du minh minh
Dặc giả hà sở mộ
Trương Cửu Linh
Cảm Xúc Trước Cảnh Ngộ
Bài 1
Cánh hồng một bóng lẻ loi
Quen vùng biển rộng, lạ nơi ao hồ
Kìa nhìn cặp thúy nhởn nhơ
Tam châu kết tổ khuất mờ tít cao
Loài chim quí
Biết chốn nào
Ẩn thân lẩn tránh hiểm nghèo đạn tên
Phục trang hiếm quí chả yên
Khôn ngoan thần cũng tị hiềm ghét ghen
Ngao du giữa cảnh thiên nhiên
Để xem thiên hạ rủa nguyền ra sao
Bài 2
Đời ngang dọc tựa chim hồng tung cánh
Giữa bao la đâu quen lối sông hồ
Nhìn lên kìa cặp phỉ thúy nhởn nhơ
Cành cao tít nơi Tam Châu làm tổ
Chim khôn lựa chốn an toàn tìm ở
Nơi kín, cao tránh tên đạn hiểm nguy
Chốn nhân gian, trang phục đẹp ích gì
Có tài chút thánh thần còn ghét bỏ
Giữa sông núi bước phiêu du đây đó
Mặc người đời lời to nhỏ khen chê
SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2007 02:52:55 bởi hannguyen >
Cảm Ngộ 2
kỳ nhị
Lan diệp xuân uy nhụy
Quế hoa thu hạo khiết
Hân hân thử sinh ý
Tự nhĩ vi giai tiết
Thùy tri lâm thê giả
Văn phong tọa tương duyệt
Thảo mộc hữu bản tâm
Hà cầu mỹ nhân chiết.
Trương Cửu Linh
Cảm Ngộ 2
Xuân sang lan đẹp mặn mà
Thu về hoa quế nuột nà dễ thương
Xinh tươi ngàn sắc, muôn hương
Mầu hoa tô thắm khắp phương đất trời
Nơi đây ngày tháng thảnh thơi
Khóm cây, bụi cỏ một đời nhàn du
Ngả nghiêng theo gió đong đưa
Chả cầu tay ngọc bẻ tưa lá cành
SongNguyễn HànTú
Cảm Ngộ 2
***
Mùa xuân lan đẹp mượt mà
Tiết thu trong sáng, nõn nà quế hoa
Nét thắm tươi
Tỏa chan hòa
Ngập đầy sinh khí
Bao la đất trời
Núi rừng ngày tháng quên đời
Lá thu xào xạc, lả lơi gió đùa
Tình riêng cây cỏ đong đưa
Nào cần tay ngọc bẻ tua lá cành
***
SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2007 02:56:24 bởi hannguyen >
Cảm Ngộ 3
( kỳ tam)
U nhân quy độc ngoạ
Trệ lự tẩy cô thanh
Trì thử tạ cao điểu
Nhân chi truyền viễn tình
Nhật tịch hoài không ý
Nhân thùy cảm chí tình
Phi trầm lý tự cách
Hà sở úy ngô thành ?
Trương Cửu Linh
***
Cảm Xúc Trước Cảnh Ngộ 3
Nằm đơn bóng trong nỗi niềm u ẩn
Tâm thanh cao tạm quên bớt lo âu
Tạ ơn chim cho ý đẹp quên sầu
Hãy trải rộng tình ta theo cánh soải
Ý huyền hoặc mà ngày đêm mong mãi
Ai nào người thấu hiểu khối tình chân
Đường chim bay,
lối cá lặn chẳng gần
Niềm trung ấy đâu dễ gì san vợi
SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2007 02:59:07 bởi hannguyen >
Cảm Ngộ 4
(kỳ tứ)
Giang Nam hữu đan quất
Kinh đông do lục lâm
Khởi y địa khí noãn
Tự hữu tuế hàn tâm
Khả dĩ tiến gia khách
Nại hà trở trọng thâm
Vận mệnh duy sở ngộ
Tuần hoàn bất khả tầm
Đồ ngôn thụ đào lý
Thgử mộc khởi vô âm?
Trương Cửu Linh
Cảm Xúc Trước Cảnh Ngộ 4
Bài 1
Đất Giang Nam có loài quít đỏ
Giữa giá đông lá vẫn xanh tươi
Nào phải đâu ấm áp khí trời
Nhờ nguồn cội chịu miền tiết lạnh
Đợi hiến dâng qua đời lận đận
Dành sống sao cho hợp mệnh trời
Lẽ tuần hoàn, tạo hóa xa vời
Người đời kháo . . .
mận đào nương bóng !
Bài 2
Có loài quít quí đất Giang Nam
Mùa đông lạnh giá vẫn xanh rờn
Nào phải nhờ đây trời ấm áp
Chắc từ nguồn cội được danh thơm
…
Mong ngày tiến cử bớt lao đao
Đạo giáo lẽ đâu bỏ được nào
Vận số đời người nơi con tạo
Mận đào nương bóng đã làm sao
SongNguyễn HànTú
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2007 03:04:52 bởi hannguyen >
Thống kê hiện tại
Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
Kiểu: