Rinh “bàn thiên” đêm 30 Tết
Written by Thiên Minh
Sunday, 18 February 2007
Thiên Minh (Nhân dịp năm mới, tác giả xin đóng góp một kỷ niệm về chuyện “bàn thiên”. Ðây là nơi dùng để… cúng kiếng trời đất ở trước nhà, mà có lẽ đa số chúng ta cho dù có xa quê hương nhưng chắc vẫn còn nhớ đến?!) Hồi nhỏ ở Việt Nam tôi thấy dưới quê, nhất là các tỉnh Nam phần, hầu như gia đình nào cũng có lập một “bàn thiên” ở trước nhà. Có lẽ đây là một tập tục từ ngàn xưa do tổ tiên truyền lại. Riêng ở trên Saigon thì tôi ít thấy hơn, có lẽ vì nhà cửa ở đây chật hẹp, nên chuyện thực hiện một bàn thiên là điều không phải dễ... Nếu nói… đây là tập tục của tổ tiên để lại, thì thật sự tôi cũng không dám quả quyết là chính xác hay không. Vì thật ra chuyện “bàn thiên” là rất… “thịnh hành” đối với người Trung Hoa mà chúng ta vẫn thường nhìn thấy. Như vậy có phải chăng tập tục này cũng là do ảnh hưởng của Trung Hoa từ cái thời Việt Nam bị người Tàu đô hộ? Lại nữa chuyện lập bàn thiên thì rất phổ biến, không những chỉ ở miền Nam (như mọi người thường nghĩ), mà thật ra “bàn thiên” cũng rất là “thông dụng” ở miền Bắc trước đây.
Bởi vì (mới đây) theo lời bác Kế (là người láng giềng của tôi hiện nay) thì trước lúc di cư vào Nam năm 1952 bác thấy ở quê hương ngoài miền Bắc (của bác) người ta cũng lập ra bàn thiên để “thờ” nhiều lắm. Tuy nhiên theo lời bác Kế thì bàn thiên ở ngoài đó “đơn giản” hơn trong Nam. Có nghĩa là bàn thiên ở ngoài Bắc chỉ vỏn vẹn có nhang và có… nước mà thôi. Chứ ngoài ra không có “lỉnh kỉnh” “rườm rà” như là bàn thiên ở trong Nam mà chúng ta thường thấy. Rồi ngay đến chuyện… “đánh vần” chữ “bàn thiên” thì ý kiến của các anh chị, và cả các cháu của tôi cũng không… “đồng nhất”. Có người viết là “bàn thiêng” (có G) vì ý muốn nói đến sự thiêng liêng. Có người lại quả quyết chữ “bàn thiên” là không có G thì mới đúng. Vì đó là để thờ… trời (tức là Thiên) ở ngoài sân như mọi người đều thấy.
Thông thường trên bàn thiên người ta trưng bày các loại trái cây và hoa tươi, kế bên còn có thêm gạo và muối, cùng ba “chung”… rượu đế (đôi khi nhìn giống như là… nước lã). Ngoài ra tôi nhớ trên bàn thiên còn có một “lư hương” (chỗ cắm nhang) được đặt kế bên, thường là ở ngay chính giữa. Kích thước bàn thiên thì không lớn như bàn thờ, mặt bàn thiên chỉ to độ bằng một “tấm-gạch-tàu” (hình vuông) mỗi cạnh dài độ hai gang tay, còn chiều cao thì khoảng chừng ngang tầm ngực. Có lẽ vì bàn thiên ở ngoài trời, nên không được chăm sóc kỹ lưỡng như bàn thờ ở trong nhà. Với lại do ở ngoài chịu cảnh mưa nắng thường xuyên, thành ra bàn thiên nhìn có vẻ “xác xơ” hơn bàn thờ. Cụ thể là ba chén rượu, cũng như dĩa muối (và gạo) thường bị hòa lẫn với nước mưa, nên trông rất là thảm hại. Ðã vậy bình hoa tươi thì rất ít khi… còn tươi mãi, vì bị héo úa mà chủ nhà chưa vứt đi, hoặc là chưa… thay bằng bó hoa tươi nào khác.
Ngày còn nhỏ ở quê nhà, những buổi tối trời đi chơi chúng tôi thường thấy chủ nhà ra đốt nhang ở bàn thiên khi trời vừa chạng vạng tối. Họ thường van vái trời đất cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, ruộng đồng tươi tốt… Có người cầm nhang “xá” tứ phía, nghe nói xá như vậy là… xá đất trời “bốn phương tám hướng”, “trên có trời dưới có đất” không sót một ai, kể cả những “vong hồn” vất vưởng nếu có đi ngang qua cũng đều… “nghe thấy”?! Riêng đêm giao thừa thì việc cúng bái trên bàn thiên có phần trang nghiêm hơn những ngày thường khác trong năm.
Trên đây là vài nét “đặc thù” về cái bàn thiên mà tôi còn nhớ được. Riêng ở hải ngoại này, thì tôi chưa thấy cái bàn thiên nào giống “exactly” (y hệt) như bàn thiên “chính hiệu” (original) ở Việt Nam ngày trước. Tôi nghĩ, chắc là cũng có đấy thôi, nhất là đối với những gia đình Việt Nam nào còn muốn duy trì tập tục xưa… từ ông bà truyền lại. Tôi nhớ hiện nay, mỗi ngày đi làm (tôi để ý) thấy trên đường đi có một nhà kia cũng có thờ “bàn thiên” ngay trước cửa. Nhưng kiểu bàn thiên này là màu đỏ làm bằng cao su (plastic), hình thù giống như nửa cái thùng thiếc được cắt xéo ra. “Nó” được “máng” ngay sát vách trước nhà, dưới mái hiên kế bên là cửa cái. Tôi thiết nghĩ, bàn thiên mà “modify” (sửa đổi) theo kiểu này thì… “hỏng” rồi, đâu có còn giống bàn thiên như là ở trong nước nữa. Tại vì bàn thiên ở quê nhà thì có chân đứng hẳn hoi và thường là nó nằm ở phía ngoài, cách xa cửa ra vào… ít ra cũng độ chừng vài ba thước.

Không biết sao, bây giờ mỗi lần nói chuyện về bàn thiên, nhất là vào dịp xuân về là tôi luôn nhớ đến một kỷ niệm thuở nào (ở quê nhà) lúc tôi còn bé. Ðó là chuyện… “rinh bàn thiên” vào đêm 30 tết. Ðây phải nói là một kỷ niệm thuộc loại… “quậy” của các thiếu niên ở làng quê tôi vào một đêm tối trời… lúc giao thừa trừ tịch. Ngày đó, trong đám trẻ này còn có mặt của anh tôi cùng với dám bạn bè đồng trang lứa khác. Riêng tôi lúc đó vì còn nhỏ nên không được tham gia. Hơn nữa vì là con út nên má tôi không cho phép đi ra ngoài, cho dù đó là đêm 30 tết. Nghe đâu, đêm đó bọn trẻ rủ nhau làm một chuyện “tày trời” là đi… “chôm chỉa” đồ cúng của người ta trên bàn thiên. Không ngờ, sau đó bị phát hiện, và chúng bị nhiều chủ nhà đến “la mắng” te tua, nhất là vào ngay cái ngày hôm sau là mùng một tết...
Như thông lệ hàng năm ở nhà tôi, chiều 30 là ngày “đón ông bà” (và cả rước ông táo lúc ban đêm) về… ăn tết. Nên chuyện cúng kiếng và ăn uống rất ồn ào, nhất là cái không khí đông vui ở gia đình chúng tôi thì cũng… rất là xôm tụ. Những người lớn thì tụ họp trong nhà, riêng đám trẻ “choai choai” thì khoái tụ tập bên ngoài nơi cái “lan-can” trước nhà mà gia đình chúng tôi ít khi dùng tới. Gia đình tôi vẫn có thói quen đi vào nhà bằng cửa sau, chứ còn riêng cái cửa sắt ra vào nơi ban-công (kể cả cái cổng sắt bị sét phía ngoài) thì ít khi nào chúng tôi dùng tới.

Phải nói rằng kỷ niệm “rinh bàn thiên” là một “sự kiện” có một không hai, nhất là đối với anh em chúng tôi thì quả tình là không thể nào mà quên cho được. Theo anh tôi cho biết là đêm đó sau khi ăn uống xong và… hết chuyện để làm, thì đám trẻ mới nghĩ đến chuyện đi chơi. Có lẽ chúng không chịu ngồi yên, mặc dù là đêm đã khuya mà vẫn muốn kiếm chuyện gì để vui chơi, chứ còn hơn là… đi ngủ sớm. Nghe nói đêm đó khi biết bọn trẻ không chịu vào trong nhà để ngủ, nên má tôi đã để sẵn mấy chiếc chiếu qua song cửa sổ cho chúng. Trong số này có anh em thằng Quít, thằng Ngọt. Vì nhà ở tuốt miệt trong, nên chúng đến nhà tôi chơi là chuyện thường tình như là… “ăn cơm bữa”. Bên cạnh đó còn có “mấy thằng” khác thuộc đám bà con, chúng nó bao gồm Thuyết, Nam, Ðực, Lớn, Rô, và vài ba “thằng” láng giềng khác nữa. “Vai vế” bọn nó thì thấp hơn chúng tôi, vì đa số đều thuộc hàng bà con xa gần… cả em lẫn cháu.
Nghe nói thời gian trước tết thằng Quít đã lên Thủ Ðức ở nhà anh Hai Be để phụ giúp buôn bán. Cho nên ba ngày xuân nó cũng được nghỉ phép về quê thăm gia đình. Chính vì vậy mà nó cũng có mặt tại nhà tôi vào đêm giao thừa (30 tết). Ðêm đó, nó kể lại… là lúc trưa do hấp tấp về quê, làm nó không kịp… ăn cơm. Bởi vậy trên đường vội vả ra trạm xe, và thấy trên bàn thiên người ta có chưng bày chuối chín. Thế là nó “dòm trước ngó sau” không thấy ai, nên lẹ làng “vớt” nhẹ nải chuối mang theo… để lên xe đò ngồi ăn cho đỡ… đói.
Không dè khi nghe thằng Quít kể chuyện “ăn cắp” nải chuối lúc trưa, thì cũng là lúc cái ý tưởng “rinh bàn thiên” được bọn trẻ tán thành và đem ra thực hành ngay mà không hề do dự. Ðầu tiên là Nam lên tiếng trước:
- Như vậy thì bây giờ mình bắt đầu từ đâu đây, hay là để tao xung phong đi ra nhà bà Cố trước?
Tưởng sao, vừa nghe thằng Nam nói xong là thằng Ðực và Lớn đồng thanh… la lên cùng một lúc:
- Hổng được đâu, nhà bà ngoại tao… nghèo lắm tụi bây ơi!
À thì ra nhà bà Cố mà thằng Nam vừa đề nghị chính là nhà của bà Út, là người bà con đầu ông Nội của chúng tôi. Bà Út là bà ngoại của Ðực và Lớn. Nhà bà Út không xa nhà của chúng tôi là mấy. Má của Lớn thứ Tư, còn vú (má) của Ðực thứ Sáu, cả hai đều là con gái của bà Út. Riêng Nam và Thuyết (là anh em cô cậu) thì vai vế nhỏ hơn nên mới kêu là bà Cố. Còn chuyện bọn chúng xưng hô với nhau thì toàn là… “mầy” với “tao” tuốt luốt.
Bây giờ ngồi viết lại những dòng chữ này mà trong đầu tôi hình như còn nghe văng vẳng câu nói ngày xưa:
“nhà ngoại tao… nghèo lắm… tụi bây ơi!” của Ðực và Lớn. Chính câu nói này đã được các anh tôi lập lại không biết bao nhiêu lần, làm tôi nhớ mãi... Riêng ba má tôi thì thường nhắc lại kỷ niệm này để khuyên dạy chúng tôi về “tình gia đình”. Cũng như chuyện “háo thắng” của tuổi trẻ với suy nghĩ nông cạn, đôi khi dẫn đến những hậu quả tai hại về sau… nhất là chuyện làm mất lòng bà con chòm xóm.
Trở lại chuyện rinh bàn thiên, thì sau khi nghe Ðực và Lớn “than vãn” nhà ngoại nó nghèo, nên Thuyết mới kêu hai thằng này đi rinh bàn thiên ở nhà người khác:
- Hay là tụi bây đi ra xóm ngoài, chỗ phía nhà của cậu Ba Lương và cô Năm Phe được chứ?
- Ừ, như vậy cũng được, riêng tao và Thuyết thì sẽ lên xóm trên, từ nhà cô Bảy Tao đổ lên đến nhà anh Tư Tý.
Câu này là của anh tôi, ảnh cũng “phân công” cho từng nhóm (hai đứa) đi “thu hoạch” ở những đâu, và ai sẽ mang “chiến lợi phẩm” về nhà, để mọi người được rảnh tay hầu đi “rinh bàn thiên” những nhà khác nữa. Riêng phần xóm trong, thì cả bọn đồng ý là sẽ đi cùng. Chúng đợi… “rinh” xóm ngoài, xóm trên xong rồi, thì mới đến xóm trong để “rinh” luôn những nhà còn lại.
Lúc khuya về nhà, nghe Ðực và Lớn kể lại rằng, khi ra đến xóm ngoài, thì thấy ông Chín Kiên (là ba của cậu Ba Lương) vừa mang quả dưa hấu ra đặt trên bàn thiên. Hai đứa bèn núp sau gốc cây me gần đó để đứng chờ. Tới chừng ông Chín vừa mới quay lưng vào nhà, thì tụi nó chạy lại “tha” ngay quả dưa. Bởi vậy khi ông Chín trở ra, định cấm nhang thì phát hiện quả dưa không còn nữa. Ông tưởng nó rơi xuống đất và lăn lóc đâu đây, nên vội lấy cái đèn dầu đi vòng quanh bàn thiên để tìm kiếm. Lúc này, Lớn Ðực vẫn còn đứng núp bên cạnh gốc me, do đó chúng nhìn thấy cảnh ông Chín Kiên đang lom khom đi tìm quả dưa. Tụi nó cố nín cười, rồi sau đó thì mới chịu rút lui cùng với “chiến công” là trái dưa nhà ông Chín.
Trong lúc đó thì ở “mặt trận” xóm trên, anh tôi và Thuyết cũng đang tiến vào nhà anh Tư Tý. Nhà anh Tư Tý bán quán, trước nhà có hàng rào bằng cây bông giấy gần chỗ bàn thiên. Trên bàn thiên anh tôi không thấy nải chuối, hay quả dưa, quả xoài nào hết như những nhà kia. Mà độc nhất là dĩa trái hồng khô, bên cạnh là khói nhang còn đang nghi ngút. Thế là anh tôi “quơ” trọn chúng cho vào túi áo, và lặng lẽ rút lui. Khi ra đến bên ngoài gặp Thuyết hỏi nhỏ có lấy được gì không? Thì anh tôi chìa ngay cho Thuyết một trái hồng khô rồi hai đứa vội bỏ vào mồm mà nhai ngấu nghiến.
Trên đường trở lại nhà cô Bảy Tao thì anh tôi và Thuyết gặp tụi thằng Ðực, Lớn, Nam, Rô, Quít, Ngọt cũng vừa đi lên… “tiếp viện”. Tụi nó nãy giờ “thu hoạch” cũng khấm khá và đã “vận chuyển” về nhà. Thấy anh tôi và Thuyết từ hướng nhà anh Tư Tý đi ra, mà lại… tay không, nên Ðực mới hỏi:
- Bộ nhà ổng không có gì sao, dân bán quán mà sao… trên “bàn thiên” không có chưng cái gì hết vậy?
Thuyết nhanh nhẹn trả lời:
- Chắc là họ chưa đem ra… thôi chờ một chút nữa đi, rồi tụi mình sẽ đi vòng trở lại.
À… rõ ràng là Thuyết và anh tôi đang “cố tình”… “ăn phỏng tay trên” đồng đội. Vì “hai tên” này còn “dím” (dấu) hồng khô trong túi áo kia mà. Thế mà lại không chịu chìa ra… theo đúng “luật giang hồ” là phải… “ăn cho đồng chia cho đủ” chứ!?
Sau đó chúng thì thầm to nhỏ thêm một hồi lâu nữa, giống như thảo luận chuyện “dàn binh bố trận” với nhau trong đêm tối. Rồi cả bọn mới tiếp tục lên đường vào xóm trong, phía nhà của ông Út Truyện…
Ðêm đó bọn chúng trở về tổ chức ăn nhậu “rình rang”, chắc là lo… “thanh toán” ba cái đồ “chôm chỉa” được từ bàn thiên đem về bày la liệt. Do đêm 30 tết tối trời nên chúng có thấy gì đâu, cứ lo tập trung “ăn tháo ăn đổ” cho hết, nhất là ba cái trái cây còn sống… xanh lè, đã vậy còn tập tành uống rượu vào thêm. Nên sau một hồi là tụi nó… “sỉn” (say) ói mửa tùm lum, rồi lăn đùn ra ngủ… nằm dài bất kể trời trăng gì hết….
Ðến sáng hôm sau là mùng một tết, tụi nó cũng còn biết… “khôn hồn” vì sợ bị la. Tụi nó thức dậy lo “thu dọn chiến trường”, nhất là lo… “thủ tiêu” những “tàn dư” của chuyện “rinh bàn thiên” vào đêm 30 tết. Ðể thực hiện suy nghĩ này, ngoài chuyện tụi nó kêu ông Tư Tế là người có thân hình ốm yếu, nhưng ăn uống rất khỏe (dóc dáng thuộc loại… “đầu gối chí tay”) đến, để ổng ăn giùm cho… mau hết. Tụi nó còn lo tìm chỗ để cất dấu mấy nãi chuối xanh, và những trái cây còn sống. Ðịa điểm lý tưởng nhất mà tụi nó tìm được là ở dưới mấy tấm đan, dọc theo… đường mương ở nhà trước. Cũng nhờ thời tiết tốt vào dịp tết hết mưa, nên hệ thống “đường mương” rộng rãi ở xung quanh nhà tôi rất là khô ráo, sạch sẽ. Tụi nó chỉ việc giở mấy tấm đan lên là có thể cất dấu ở dưới an toàn, không sợ ai thấy. Mà nếu không ai thấy thì chuyện bị… la rầy chắc là cũng không xảy ra như những gì tụi nó… tưởng.
Nhưng ở đời, có cái gì mà che được mắt… thế gian. Nhất là chuyện “tày trời” “rinh bàn thiên” vừa xảy ra vào tối 30 trong xóm. Nghe nói sáng mùng một tết năm đó bà con trong xóm tụ họp ở quán cô Bảy Tao và anh Tư Tý. Họ tỏ ra hoang mang rất nhiều, vì mọi nhà đều phát hiện chuyện trái cây cúng trên bàn thiên (qua một đêm) thì bỗng nhiên… biến mất. Họ thắc mắc và bàn tán xôn xao, không hiểu “ất giáp” do đâu. Nhất là tại sao lại có chuyện lạ kỳ, vì từ ngàn xưa đến giờ không hề có chuyện như thế này xảy ra trong xóm. Không những chỉ một nhà mà hầu như là nguyên cả xóm. Bao nghi vấn được đặt ra, có người dị đoan còn cho là “thần linh” đã về chiếu cố. Có người thì nghi ngờ nhà kế cận “ăn cắp” của nhau… Cho đến khi ông Tư Tế xuất hiện và “vô tình” tiết lộ với bà con:
- Tui thấy tụi nhỏ tối qua ăn cắp trái cây rồi sợ bị la, nên tụi nó lén dấu ở dưới mấy tấm đan trước nhà thầy Tám.
Thế là cái tin “động trời” này nhanh chóng được loan truyền từ người này qua người khác. Người ta bắt đầu “thở phào” ra nhẹ nhõm, họ hết còn thắc mắc và nghi kỵ lẫn nhau. Họ không tin nhưng đó là… sự thật. Cái tin được truyền miệng như thế này:
- Bà con nào mất đồ cúng tối qua, thì hãy xuống chỗ “lan-can” nhà thầy Tám đi… thì sẽ rõ…
Bởi vậy sáng hôm đó bà con trong xóm đùng đùng kéo đến nhà tôi. Họ đi thẳng từ nhà sau lên nhà trước, ngay phía ngoài chỗ cái “ban công” mà tối qua tụi “nít quỷ” (tụ họp ở nhà tôi) vừa dùng làm “tổng hành dinh” hoạt động. Trong số đó có bác Tư Trò là người “xung phong” đi đầu và tỏ ra… vô cùng bực tức.
Riêng ba má tôi, tới chừng biết ra cớ sự thì cũng “tá hỏa tam tinh”. Ðành phải năn nỉ bà con, và giải thích cho mọi người hiểu hết… “sự tình”, cùng nỗi lòng… “oan khiên” của người lớn. Nhất là đầu đuôi câu chuyện của đám trẻ nghịch ngợm này, mà trong đó anh tôi là kẻ “đứng đầu” vừa tròn 14 tuổi. Theo ba má tôi, thì “con dại cái mang”, làm gì làm… thì gia đình chúng tôi cũng là nơi để bọn trẻ bày ra một trò chơi vô cùng… “phạm thượng”. Do đó, ngoài chuyện ba má tôi nói chuyện “phải quấy” với mọi người. Ba má tôi còn bắt anh tôi cùng những “đồng bọn” quậy phá này đi đến từng nhà… năn nỉ và xin lỗi người ta. Rồi chúng còn phải hứa… là từ rày về sau sẽ không bao giờ …tái phạm nữa.
Thiên Minh http://www.viet.no/content/view/1012/96/