Tìm hiểu cuộc đời

Tác giả Bài
tieuboingoan

  • Số bài : 1803
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 21.02.2005
  • Nơi: Hà Nội
  • Trạng thái: offline
Tìm hiểu cuộc đời 15.09.2007 22:58:11 (permalink)
0
Tìm hiểu cuộc đời
  
  
Zheng xiao Jiang
(Trịnh Hiểu Giang)
  
 
Tìm hiểu cuộc đời
Người dịch: Nguyễn An
 



Nhà xuất bản Hà Nội - 2001
 
================================
 

Lời mở đầu
 
Sách này mang tên Tìm hiểu cuộc đời là có ý muốn đem sinh mệnh sinh tồn, cuộc sống và cuộc đời trong giây lát không thể tách rời với con người xác lập thành những đối tượng có thể nghiên cứu tỉ mỉ, qua việc nhìn thấu rõ quá trình sinh mệnh, trạng thái sinh tồn và sự thay đổi cuộc sống của con người, để giúp người ta nhận thấy tính phức tạp của đời người, phân tích mọi mặt của cuộc sống, tiến tới tìm tòi các con đường và phương pháp làm tiêu tan mọi đau khổ của đời người, loại bỏ mọi vất vả mệt nhọc của đời người, vượt qua mọi bước gập ghềnh khúc khuỷu của đời người, giành được cuộc đời thuận lợi và hạnh phúc.
Sách này tập trung khai thác và trình bày trí tuệ đời người phong phú của các hiền triết trong và ngoài nước, giúp con người hiện đại từ nguồn tư liệu có tinh thần tích góp vững chắc này rút ra những điều bổ ích, từ đó nhìn thẳng vào đời người nghiệt ngã, thay đổi trạng thái sinh tồn của mình, làm tăng thú vui của đời người, giảm bớt nỗi buồn rầu, đau khổ, buồn giận và nhạt nhẽo của đời người.
Sinh mệnh mọi người đều có, nhưng đối với nó dễ có mấy người thường thấu hiểu? Cuộc sống là cái theo sát mọi người, nhưng liệu có mấy người thường xét lại mình đối với nó? Đời người là tiếng gọi chung của đời sống vật chất, đời sống tinh thần, hoạt động cơ thể sinh mệnh, nhưng trên đời lại có mấy người thường kiên trì nghiên cứu sâu về đời người?
Không nhìn thấu rõ đối với sinh mệnh thì không thể thật sự quý trọng sinh mệnh; không xét lại mình đối với cuộc sống thì không thể thật sự hiểu được phải sống như thế nào. Không tìm hiểu sâu đối với đời người thì không thể tránh được tai họa, gian nan và ngoắt ngoéo của cuộc đời.
Cả ba điều đó đều không có, đương nhiên sẽ khó mà giành được cuộc đời như ý, hạnh phúc và trọn vẹn.
Các nhà hiền triết thời xưa của Trung Quốc có cảm thụ nhạy bén khác thường và tôn sùng hết sức đối với sinh mệnh. Họ xem sinh mệnh là bản thể và bản chất của vũ trụ, đem tất cả mọi cái trên đời đều chỉ là quá trình sinh ra, phát dục, nuôi dưỡng lớn lên và tử vong, lại sinh ra và phát triển lại lần nữa. Cho nên, “trời đất” có hiếu sinh chi đức, con người cũng nên có tinh thần sinh sinh bất tức, quý trọng sinh mệnh, tu dưỡng tâm tính để xứng đáng với thiên đức.
Sinh mệnh của con người đã cao cả như thế, con người không có lý gì không trân trọng. Tính quan trọng của sinh mệnh không chỉ ở chỗ nó đối với con người là duy nhất, mà còn ở chỗ con người cũng cần phải trong thời hạn sinh mệnh ngắn ngủi nên sống cho ra sống, sáng tạo ra giá trị để làm cho sinh mệnh của mình phấn chấn và cố gắng ghi được những dấu ấn của mình trong lịch sử nhân loại, từ đó vượt qua được thời hạn của sinh mệnh, giành được sự sống mãi với thời gian.
Các nhà hiền triết của phương Tây thì có nhận thức sâu sắc và vạch ra tính bi kịch đối với sinh mệnh. Nỗi khổ của sinh mệnh sinh ra, nỗi đau buồn trong quá trình sinh mệnh, nhiều mặt đen tối của cuộc đời v.v... đều được hiện ra trước mắt người đời. Người ta trong khi bị rung cảm, cũng nên và cần phải thăng hoa ra một sứ mệnh và ý thức phấn chấn: tẩy rửa tội lỗi của thế gian, biến thế giới bi thảm thành cảnh sung sướng của thế gian.
Đây là trách nhiệm và định mệnh của mỗi người có sinh mệnh chúng ta. Mặc dù, đây hoàn toàn không phải là quá trình sinh mệnh của một người có thể hoàn thành, thậm chí cũng không phải mấy đời người có thể làm được, nhưng trong quá trình người trước ngã xuống người sau kế tiếp, không ngừng cố gắng này, toàn thể sinh mệnh của loài người phát ra ánh sáng sán lạn nhất, huy hoàng nhất, khiến cho thế giới bi thảm này có ánh sáng, có hy vọng, đồng thời có cải thiện, có phát triển không ngừng.
Nhìn thấu rõ sinh mệnh, nắm chắc sinh mệnh, xếp sắp sinh mệnh như thế, chắc chắn sẽ làm cho đời người đi tới huy hoàng.
Đặc điểm bản chất nhất của đời người là tính phức tạp. Cùng với sự phát triển của xã hội, sự khai thác lĩnh vực cuộc sống, sự đa dạng của văn hóa tinh thần của loài người, cuộc đời của mỗi người đều đang phát sinh thay đổi rất lớn. Trạng thái sinh tồn khó mà lựa chọn được, phẩm chất cuộc sống theo đuổi vô cùng tận, thái độ nhân sinh biến đổi khôn lường, đều làm cho nội dung của đời người phức tạp vô cùng.
Nhiều người chắc chắn là đều có sinh mệnh, cũng đang sống, nhưng trong mê hoặc của đời người luống cuống không biết đối xử với đời người như thế nào, không biết sắp xếp cuộc sống như thế nào, càng không thể làm thay đổi quỹ đạo đã định của đời người, khiến cho đời người phát triển theo phương hướng vừa ý vừa lòng, như thế là không có cách gì giành được đời người hạnh phúc.
Phương diện quan trọng nhất của đời người, các nhà triết học trong và ngoài nước xưa nay đều có cảm tưởng giống nhau, là sự xác lập của quan niệm nhân sinh. Nghĩa là người ta không thể sống một đời không có lý tưởng, không có theo đuổi, không có nguyện vọng, xây dựng mục tiêu nào đó của đời người, mới có thể làm cho cuộc sống của con người có phương hướng và nguồn động lực, mới có thể thay đổi đời người dại dột ngây ngô kiểu trôi theo dòng nước, trở thành ý chí chủ quan lo liệu cho con người, có thể điều chỉnh trí tuệ nhân sinh kiểu năng động tăng giảm.
Nói chung, lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của đời người không thể quá theo cảm tính, quá theo ham muốn vật chất, quá thế tục, quá vụ lợi, nó cần phải có tính vượt trước, tính cao cả và tính tinh thần. Bởi vì thế giới cảm tính biến ảo vô cùng khó mà cố định mãi mãi, không thể nào trở thành mục tiêu đời người con người vì nó phấn đấu suốt đời được. Còn mục tiêu có tính ham muốn vật chất, tính thế tục và tính vụ lợi, mặc dù cũng có thể tăng thú vui của đời người, nâng chất lượng cuộc sống lên, nhưng nó vĩnh viễn không có khả năng thỏa mãn, xét đến cùng chỉ là một bộ phận nào đó trong sinh mệnh của con người, lấy nó làm mục tiêu phấn đấu của đời người, thì nguồn động lực đời người cho con người chắc chắn là có hạn, mà còn có thể dẫn đến đời người tầm thường hóa, tiêu cực hóa, thậm chí bước vào con đường sai lầm.
Cho nên, quan niệm đời người phải có tính cao cả, lý tưởng của đời người phải có tính vượt trước, theo đuổi của đời người cuối cùng vẫn nên trở về với chốn tinh thần. Chỉ có như thế, sinh mệnh của con người mới có khả năng đạt được thành tựu xuất sắc, quá trình sống của con người mới có hứa hẹn có giá trị, đời người mới có thể đi tới huy hoàng.
Trong quá trình của đời người, nếu xác lập được quan niệm nhân sinh, thế thì cuộc sống sẽ có mục tiêu, nó có thể làm cho người ta có tiêu chuẩn đánh giá của giá trị, khi bạn làm một việc gì hoặc không làm một việc gì, khi bạn muốn một trạng thái nào đó hoặc từ chối một trạng thái nào đó, đều có thể dùng tiêu chuẩn của giá trị này để cân nhắc, phân biệt rõ tốt xấu, hơn thua, đẹp xấu, thật giả. Như thế, đời người của bạn mới có tính thiết thực, cuộc sống của bạn mới có thể đi vào con đường đúng đắn, việc theo đuổi của bạn mới có khả năng hiện thực.
Việc xác lập quan niệm đời người còn có thể làm cho người ta có nguồn động lực nhân sinh to lớn. Trong cuộc sống, con người trôi theo dòng nước không có chút thành tích gì, hay là niềm tin kiên định, tích cực, có triển vọng, đây là vấn đề thái độ nhân sinh, là vấn đề có động lực nhân sinh không và nguồn động lực nhân sinh mạnh yếu. Lịch sử từ xưa đến nay đều thuyết minh rõ đời người của người thành công đều có nguồn động lực nhân sinh lớn nhất, họ tràn trề sức sống của sinh mệnh, có tính xốc nổi đời người to lớn, cho nên có thể coi thường đau khổ của nhân gian, chiến thắng mọi gian nan hiểm trở trong đời người một cách dũng cảm. Dù cho có lúc thất bại, họ cũng không hề biết sợ hãi, vẫn vui vẻ, tích cực đi tới, thẳng tiến không lùi. Trên thực tế, nguồn động lực nhân sinh lớn nhỏ, thường quyết định đời người thành công hay không. Đây có thể nói là một trong những nguyên lý quan trọng của đời người, người ta quyết không thể phớt lờ được.
Có cách nhìn sâu sắc đối với sinh mệnh, có quan niệm nhân sinh sinh ra từ đó và động lực nhân sinh, người ta lại cố gắng nắm vững một số kỹ xảo của cuộc sống, liền có thể khiến cho đời người tiến lên một tầng nấc mới.
Kỹ xảo của cuộc sống là chỉ trong quá trình sống, trong sự chìm nổi của cuộc đời người, người ta vận dụng trí tuệ, khéo giải quyết các vấn đề khó, làm tiêu tan đúng mức cảnh khó khăn trong cuộc sống, mọi trở ngại trong đời người, từ đó làm cho cuộc sống tràn ngập niềm vui, đời người càng thêm hạnh phúc.
Kẻ trí trong và ngoài nước xưa nay có cuộc sống từng trải rất phong phú, lại có sự tu dưỡng lý luận rất cao sâu, hàng ngàn năm nay đã tổng kết vô số trí tuệ nhân sinh, nó là của cải tinh thần đáng quý nhất của người hiện đại, người ta có thể từ trong đó thu hút chất dinh dưỡng nhân sinh vô cùng tận, tiến tới nghiền ngẫm kỹ, tiêu hóa, chuyển hóa thành phương thức và phương pháp ứng phó với xã hội và cuộc sống ngày càng phức tạp, khiến cho sự sinh tồn của người ta càng thêm vững chắc, khiến cho cuộc sống của họ càng thêm tốt đẹp, khiến cho đời người của chúng ta có ý nghĩa và giá trị hơn.
Trên đây là những nội dung quan trọng của cuốn sách này muốn cung cấp cho bạn đọc. Chúng tôi cảm thấy rằng, sống trong xã hội biến ảo khôn lường, chìm nổi trong dòng đời nhấp nhô bất định, con người hiện đại nhất định phải đi tìm tòi bản chất của sinh mệnh, nội dung của đời người, trạng thái sinh tồn, kỹ xảo của cuộc sống, đồng thời tiến tới học tập kinh nghiệm cuộc đời của các nhà hiền triết xưa, xét lại trạng thái sinh tồn của mình, từ đó xây dựng cuộc đời của chúng ta trôi chảy hạnh phúc mỹ mãn.
 
[url="http://www.cafesangtao.com"][/url]



http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
 
#1
    tieuboingoan

    • Số bài : 1803
    • Điểm: 0
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 21.02.2005
    • Nơi: Hà Nội
    • Trạng thái: offline
    Tìm hiểu cuộc đời 15.09.2007 23:01:44 (permalink)
    0
    Chương Một
    Khám phá bí mật của bản chất sinh mệnh
     
     
    Sinh mệnh là toàn bộ quá trình thu hút, tiêu hóa, hấp thụ và bài tiết của sinh vật đối với vật chất bên ngoài, biểu hiện thành sức sống trong quá trình thời gian liên tục. Sinh mệnh của con người là hiện tượng phức tạp nhất, lạ lùng nhất trong mọi sinh mệnh trong vũ trụ. Nó không chỉ là một sự vận động của cơ thể mà còn là hoạt động của tinh thần, tâm lý và tư tưởng.
    Điều đó khiến cho sinh mệnh của con người có thể cao hơn sinh mệnh của các sinh vật khác, đạt được sự tồn tại và phát triển tốt hơn. Nhưng cũng định trước sinh mệnh của con người trong quá trình tự nhận thức và tự hối lỗi sẽ bị hỏi và đòi giải đáp những điều nghi ngờ gấp bội.
    Bởi vì các sinh vật khác không thể hỏi sinh mệnh từ đâu tới? Sinh mệnh phải sống như thế nào? Cũng không thể có ý thức thể nghiệm mọi đau khổ, buồn rầu chứa chất trong quá trình sinh mệnh và đành chịu vậy. Đương nhiên càng không thể cảm thấy sinh mệnh tất nhiên kết thúc, mà quá trình lại vô cùng ngắn ngủi đã để lại cho sinh mệnh dấu ấn của sắc thái bi kịch.
    Cho nên, con người có thể ý thức được mọi trạng thái và quá trình của sinh mệnh, điều đó hơn hẳn mọi sinh vật khác. Nhưng, cũng khiến cho vấn đề sinh mệnh của loài người nổi bật lên một cách khác thường, hơn nữa ngày càng phức tạp hơn.
    Mỗi một người sống trên thế giới này, đều nên và cần phải tìm hiểu bản chất của sinh mệnh, “nhận biết chính bản thân bạn”, nhận rõ bản chất khác nhau của người và động vật, từ đó nắm vững sinh mệnh của mình một cách hoàn chỉnh, khai thác nội dung phong phú chất chứa trong đó, cố gắng tạo dựng một sinh mệnh lành mạnh, đồng thời vượt lên trên mọi buồn rầu và đau khổ trong sinh mệnh, ôm chầm lấy mọi nỗi vui mừng và sung sướng.
     
    1.  “Hãy nhận biết bản thân mình”
    Con người sinh ra, lớn lên, sống, nếu như tự hỏi lương tâm mình: Bạn đã hiểu bản thân mình chưa? Bạn có biết “người” là gì không? Có lẽ bạn sẽ cứng lưỡi không thể trả lời được. Chẳng lẽ tôi vẫn không biết tôi là ai! Tôi còn không biết người là gì ư? Nhưng đích thực bạn có thể không hiểu biết hoặc hiểu không rõ ràng lắm. Mỗi người chúng ta đều không nên coi thường vấn đề có vẻ đơn giản này, nó thực tế rất quan trọng đối với đời người.
    Miền Bắc Hy Lạp có một thị trấn nhỏ phong cảnh đẹp gọi là Delphi, tựa lưng vào núi Parnassos đá tai mèo lởm chởm, nhìn ra vịnh Corinth nước xanh trong vắt. Gió biển đưa phe phẩy, vạn vật sức sống dạt dào, con người làm việc cần cù, vui vẻ hưởng thụ vẻ đẹp tự nhiên ban tặng. Thị trấn nhỏ bãi biển êm đềm này vì có một ngôi đền thờ thần Apollon nên trở thành nơi thu hút du khách bốn phương.
    Nghe nói, lời dự đoán của vị thần Apollon này rất linh nghiệm, người ta thắp hương lễ bái, khấu đầu trước thần để cầu xin “thần ý” một cách thành tâm. Trên tường đền thờ thần Apollon cao vút khắc một câu châm ngôn: “Hãy nhận biết bản thân mình” - Đây có thể nói là lời dự đoán tốt nhất, sâu sắc nhất của thần Apollon tặng cho toàn nhân loại.
    Con người cần phải suy nghĩ: “Mình là cái gì? Mình cần phải là gì? Mình sẽ có thể là gì?
    Thường nghe người ta than thở: Tôi đến bản thân mình cũng không tự hiểu, tôi không biết mình cần gì? Đây chẳng phải chính là kết quả không nhận biết “tôi” đó sao?
    Thần Apollon còn có một lời dự đoán quái lạ nói nhà triết học đương thời Socrates có trí tuệ hơn bất cứ ai. Bản thân Socrates hoảng hốt lo sợ muốn thăm dò xem thần vì sao lại khen ngợi ông ta như thế, bèn đi thăm các nhà triết học, nhà bi kịch, nhà kỹ nghệ khắp nơi. Kết quả sau khi trao đổi sâu với những học giả này, Socrates đã phát hiện họ mặc dù được coi là tri thức uyên bác, nhưng trên thực tế thực ra họ không hiểu những cái mà tự nhận là đã hiểu.
    Do đó Socrates đi đến kết luận: Thần Apollon sở dĩ khen ông là người có trí tuệ nhất, hoàn toàn là vì ông nhận thức được sự dốt nát của mình!
    Nhận thấy được và thừa nhận mình dốt nát, mới là người có tri thức nhất. Cách nói này hầu như tự mâu thuẫn nhau, song ngẫm nghĩ kỹ một chút: người ta thừa nhận mình dốt nát mới có thể đi tìm tri thức, còn người tự nhận không có cái gì không biết, hoặc căn bản không cần biết, thì làm sao có thể đi tìm hiểu biết? Đến lòng ham muốn cầu hiểu biết đều không có, thì đâu có hiểu biết được?
    Đáng tiếc là người hiểu điều này ở trên đời còn quá ít.
    Thế là, Socrates khoác chiếc áo choàng không tay cũ rách, đi chân không, giữa ban ngày tay xách chiếc đèn lồng đi dạo khắp nơi trong đám người đông đúc náo nhiệt.
    Có người hỏi: “Tìm cái gì?”
    Ông đáp: “Tìm người!”
    Mọi người đều hết sức ngạc nhiên.
    Tìm người trong đám người, không phải mắt mù mà không nhìn thấy người, cũng không phải là hồ đồ mà không nhận ra người, mà là đi tìm người có hiểu biết tự biết mình dốt nát, tức là người “nhận biết chính bản thân mình”.
    Người ta sinh ra ở đời, nếu không truy hỏi một chút vấn đề “mình là cái gì?” thì sẽ không thể xác định vị trí cho mình trên vũ đài của đời người. Nếu không tiếp tục hỏi vấn đề “mình phải là cái gì?” sẽ rất khó có được mục tiêu phấn đấu cho đời xác định, từ đó mất cơ chế nguồn động lực của đời người. Còn nếu không tiếp tục tìm tòi vấn đề, “tôi sẽ là cái gì?” thì sẽ rất khó quy hoạch đường đời của mình mang tính vượt trước.
    Một người nếu như chẳng tự hỏi điều gì, vấn đề gì đều không có, thì sẽ đành liệt vào phạm vi của “người” mà Socrates phải xách đèn lồng đi tìm giữa ban ngày.
     
    2.  Phân biệt giữa con người và cầm thú
    Con người là chúa tể của muôn loài, cầm thú là các loại động vật. Sự phân biệt người với cầm thú hầu như đã quá rõ ràng, không cần phải nói rườm rà nữa. Nhưng trong cổ ngữ có câu “cầm thú mặc áo mũ”, trong nhân gian có người hung tàn hơn dã thú, điều này đã dẫn tới việc thảo luận của các học giả thời xưa của Trung Quốc đối với sự khác biệt giữa người và cầm thú rốt cuộc là tại đâu.
    Đại triết gia Mạnh Tử đã kể một câu chuyện: Một đứa trẻ ngây thơ hồn nhiên, đang chơi ở bên cạnh một cái giếng cổ, nhảy nhót, vui mừng hớn hở. Nhưng nó không trông thấy mình cách cái giếng sâu khôn lường ngày càng gần, sắp rơi xuống đó chết mất mạng. Lúc này, mỗi người đi qua đây mắt nhìn thấy cảnh đó, chắc chắn sẽ không chút do dự bay về phía trước để cứu giúp. Cũng chính lúc này, cái mà trong đầu người ấy nổi lên, chắc chắn không phải là muốn vì thế mà nhận được lời cảm ơn của cha mẹ đứa trẻ, cũng không cầu mong được mọi người đồng thanh ca ngợi, càng không phải là ghét tiếng khóc của đứa trẻ mà làm. Đương nhiên, ý định cứu người phát ra ngay lúc đó, không phải nghĩ ngợi gì, không có bất cứ một suy tính vụ lợi thế thường nào làm nhơ bẩn, Mạnh Tử gọi nó là “lòng trắc ẩn”, tức là tình thương xót đồng tình mà người ta thường nói.
    Mạnh Tử nói: Kẻ không có lòng trắc ẩn sẽ không phải là người, bởi vì anh ta không có lòng nhân ái đồng tình giúp đỡ người khác, không khác gì cầm thú.
    Ngoài ra, người ta sinh ra còn có “lòng biết xấu hổ”, tự biết những việc nào nên làm, những việc nào không nên làm, những cái gì có thể giành lấy, những cái gì không thể đòi hỏi. Người ta lại có “lòng nhường nhau”, hiểu biết lời nói cử chỉ của mình phải thích đáng, khi đối xử với người tự giác cung kính khiêm nhường. Người ta còn có “lòng thị phi” có thể phân biệt rành mạch đúng sai thiện ác, tốt xấu, đẹp xấu, từ đó cầu cái đúng loại bỏ cái sai, giương cao điều thiện vứt bỏ điều ác, chọn cái tốt chê cái xấu, chọn đẹp bỏ xấu.
    Cuối cùng Mạnh Tử tổng kết nói, con người có bốn “tấm lòng” giống như thân thể có tứ chi, chúng làm cho người ta trở thành người, tạo nên cái thiện của “nhân tính”; còn cầm thú thì không có bốn “tấm lòng” đó, cho nên chỉ có thể là thú mà không phải là người. Nếu như một người không có bốn “tấm lòng” này, thì chỉ có thể liệt vào loài cầm thú có bộ mặt của người, có hành động của người nhưng lại không phải là người.
    Thuở ấy có một học giả khác là Cáo Tử rất không hài lòng với thuyết tính thiện của Mạnh Tử. Ông phản bác nói: Bản tính của con người sở dĩ là người không có cái gọi là thiện và ác, giống như dòng nước chảy xiết, ở phía đông mở một cửa khẩu, nước liền chảy về phía đông, ở phía tây đào một chỗ khuyết thì lại cuồn cuộn chảy về phía tây. Dòng nước không có định hướng, tính người cũng không có định tính thiện ác.
    Mạnh Tử không chút suy nghĩ, liền bật ra lời phản bác: Dòng nước quả thực không phân định hướng đông và tây, nhưng ông có thể phủ nhận nước có chảy xuôi và chảy ngược không? Cái thiện của tính người đúng như dòng nước tuôn chảy về xuôi, con người không ai không hướng thiện như dòng nước nhất định phải chảy xuôi.
    Cáo Tử rốt cuộc phản bác lại cách nói của Mạnh Tử lần nữa ra sao, chúng ta không thể nào biết được, chỉ biết về sau có một nhà tư tưởng lớn là Tuân Tử đã nêu lên một cách nhìn hoàn toàn trái ngược với thuyết tính thiện của Mạnh Tử: Tính người là ác.
    Tuân Tử nói, người ta sinh ra liền theo đuổi tư lợi, nếu buông lỏng không quản lý, giữa con người với nhau thường tràn ngập sự tranh giành mà không nhường nhịn; Người ta sinh ra đã hay ghen tỵ thù hằn nhau, nếu thả lỏng họ tự nhiên, sự tin cậy trung thành trong xã hội sẽ mất đi, việc tàn hại những người thực thà lương thiện nẩy sinh tới tấp. Người ta sinh ra mà có ham muốn của tai mắt về lời đẹp người xinh, nếu phát triển theo bản tính của loại người này, thì việc dâm loạn sẽ phát sinh, quy tắc xã hội cũng không còn gì nữa.
    Bản tính con người đã là ác, cho nên Tuân Tử nêu lên cần phải xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh cơ chế quyền lực chính trị mạnh và chế độ lễ nghi xã hội để đưa hành vi của con người vào khuôn khổ nề nếp, sửa chữa tính ác của con người làm cho nó hướng thiện.
    Cho nên, tính người có thiện không, có ác không, có không thiện không ác không phải là một vấn đề chứng minh thuộc lý tính và dẫn chứng trong thực tiễn, mà phải là vấn đề niềm tin của loài người.
    Cũng có nghĩa là xét từ khía cạnh làm cho đời người thêm trôi chảy, hạnh phúc hơn, từ phương diện xã hội càng hài hòa càng ổn định hơn, loài người vẫn cần phải vững tin tính người là thiện. Một người chỉ có tin tưởng “Nhân chi sơ tính bản thiện” (Người ta sinh ra vốn đã có bản tính lương thiện), mới có thể tự giác xuất phát từ tính lương thiện để phân biệt sự khác nhau giữa con người và cầm thú, từ đó biểu hiện rõ bản tính lương thiện của mình, quan tâm người khác, đồng tình với người khác một cách sâu sắc, giơ tay viện trợ vô tư đối với những người cô đơn, nghèo hèn, bệnh tật, để cho xã hội này chứa chan tình người ấm áp, để cho thế giới này tràn ngập lòng nhân ái, làm cho cuộc đời của mỗi người đều tràn đầy hạnh phúc.
     
    3.  Điều đáng buồn của việc sống vì vật chất
    Thường có thể nghe và thấy một số người như sau: họ dốc hết tâm trí, luồn lụy khổ sở, liều mạng kiếm tiền là để nhìn thấy số dư tiết kiệm gửi ngân hàng không ngừng tăng lên, hoặc muốn tiền và vàng chôn vùi dưới đất và xếp trong đáy tủ ngày càng nhiều; còn một số người đi sớm về khuya, không ngại vất vả, làm việc quên mình, nhưng chỉ vì công việc mà làm, trong chu kỳ lặp đi lặp lại của các động tác có tính máy móc đã quên hẳn đi các mục đích khác; lại có một số người theo đuổi kinh sử đến già, quanh năm suốt tháng bò trên đống sách vì đọc sách để mà đọc, không biết còn có những cái khác của đời người cần phải theo đuổi nữa.
    Có thể nói cuộc đời của những người thuộc loại thứ nhất là chịu sự nô dịch của đồng tiền, cuộc đời của những người thuộc loại thứ hai là vì công việc nên hoàn toàn che lấp và để mất mình, cuộc đời của những người thuộc loại thứ ba lại chìm ngập trong biển sách nhìn không thấy mình nữa, những người khác như các loại này đều đem cuộc đời của mình gửi cả vào sự nô dịch của vật chất bên ngoài, có thể nói là đã sống uổng phí cả đời người.
    Điều đáng buồn của sinh mệnh bị vật chất nô dịch, mấy ngàn năm trước đã có người phát hiện và đã nêu lên cách giải cứu.
    Khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, ở thành Abudla cổ Hy Lạp đã sinh ra một cậu bé, về sau đã trở thành học giả nổi tiếng Protagoras.
    Protagoras trí tuệ siêu quần, tài hoa nổi lộ, hiểu biết tỉ mỉ đối với sự vật, hơn thế có tài ăn nói và hùng biện xuất khẩu thành chương. Sau khi trưởng thành, ông được mời đến A-ten đảm nhận chức gia sư của danh môn vọng tộc Gania lúc đó.
    Hàng ngày, ông chậm bước trong hành lang rộng lớn theo sau là các con của Gania và Bolikeli cùng với học sinh của ông. Ông giảng thao thao bất tuyệt, các đệ tử thì lắng nghe một cách cung kính. Khi đến đầu kia hành lang, ông liền quay người đi trở lại, các đệ tử cũng vội vàng cùng quay tất cả về phía sau, rồi lại bắt đầu giảng theo kiểu vừa đi vừa nói. Tất cả đều hiện ra tĩnh mịch và hài hòa như thế.
    Protagoras ngoài việc truyền lại cho các đệ tử thuật biện luận ra, nổi tiếng nhất không gì bằng câu danh ngôn “Người là thước đo của vạn vật, là thước đo tồn tại của sự vật tồn tại, cũng là thước đo không tồn tại của sự vật không tồn tại”.
    Vì sao “người là thước đo của vạn vật” mà không phải “vạn vật là thước đo của con người”? Protagoras giải thích nói: Một làn gió mát phớt qua mặt, đối với người cảm thấy lạnh mà xét thì là lạnh, đối với người cảm thấy không lạnh là không lạnh. Một loại thức ăn nào đó, đối với người cảm thấy ăn ngon là thức ăn ngon, đối với người cảm thấy không ngon thì là thứ chán ngấy. Cho nên, vật cũng chỉ là vật, nó tốt xấu, khá kém đều là do con người định ra. Còn người dựa theo cảm giác của mình đưa ra phán đoán, cái đó sẽ gọi là “người là thước đo của vạn vật”.
    Cho nên, con người sống không phải vì vật, không nên bị vật nô dịch; Ngược lại, vạn vật chịu sự quan sát, cảm giác và suy nghĩ của con người một cách bị động. Sự vật khách quan là gì, không phải ở chỗ trạng thái và tính chất của bản thân nó, mà quyết định bởi nó đối với người để xét có ý nghĩa và giá trị gì.
    Từ đó ta thấy, con người cố nhiên phải kiếm tiền, nhưng không nên vì kiếm tiền mà kiếm tiền, mà là phải dùng tiền để đổi lại sự phục vụ và tư liệu sinh hoạt để hiện ra giá trị của tiền đối với nhu cầu của con người. Người ta cố gắng chăm chỉ làm việc, không nên vì công tác mà công tác, mà phải thông qua công việc đổi lại vật phẩm tiêu dùng, để hiện ra giá trị của công việc đối với sinh hoạt của con người. Người ta quên ăn quên ngủ đọc và nghiên cứu sách vở, không nên vì đọc sách mà đọc, mà cần phải từ trong sách vở học được các tri thức chuyển hóa thành trí tuệ, giành được tài năng để hiện ra giá trị của sách đối với nhu cầu phát triển của đời người v.v...      
    Chỉ có đối xử với vật chất như thế, mới có thể làm cho đời người thoát khỏi trạng thái đáng buồn bị vật chất nô dịch, khiến cho đời người của chúng ta càng thêm phong phú, xác định được mục tiêu sinh hoạt của chúng ta, để cho vạn vật phục vụ cho nhu cầu của loài người tốt hơn.
    Nhưng, mệnh đề “người là thước đo của vạn vật” có một nhược điểm lớn, bởi vì “người” không phải là con người trừu tượng chung chung mà là một con người cụ thể sống động; còn việc cảm nhận của người có chỗ giống nhau, lại có chỗ khác nhau. Dùng cảm nhận của con người cân đong vạn vật, tất nhiên là không có tiêu chuẩn thống nhất, khiến cho tất cả đều trở thành sự tồn tại có tính tương đối. Người ta vì thế mà không thể dùng bất cứ tên gọi xác định nào để cân đong bất cứ vật gì, bởi vì trong cảm giác của một số người thì vật này là nhẹ, nhưng một số người khác thì cảm thấy nặng; có một số người gọi vật kia là lớn, nhưng một số người khác thì nói là nhỏ và cứ như thế diễn ra mãi. Những ý kiến trái ngược nhau này trong cuộc sống khiến cho đời sống trong nhân gian trở nên phức tạp.
    Có một lần Protagoras thu nhận một học sinh thông minh tên là Uaxưletx, anh ta vừa vào học đã nạp một nửa học phí, và giao hẹn với thầy giáo, một nửa kia chờ sau khi anh ta học được bản lĩnh thắng kiện sẽ nạp thêm. Uaxưletx rất nhanh đã học xong, tốt nghiệp xong đã trở thành một người giỏi hùng biện, thường xuất đầu lộ diện trong các phiên tòa, nhưng lại không nhắc đến một nửa tiền học phí phải nạp nữa.
    Protagoras vô cùng bực bội, quyết định tố cáo Uaxưletx và nói với anh ta: “Nếu tôi thắng kiện, theo phán quyết của tòa án, anh phải trả tiền học phí; nếu anh thắng kiện, theo hứa hẹn ban đầu, anh cũng phải trả tiền học phí”.
    Protagoras tràn ngập niềm tin, không tránh khỏi bắt đầu nghênh ngang tự đắc. Uaxưletx khoan thai nói: “Nếu vụ kiện của tôi thắng, theo phán quyết của tòa án, tôi không phải trả tiền học phí cho Thầy; nếu tôi thua kiện, theo như đã hứa hẹn, tôi không phải nạp tiền học phí, bởi vì Thầy chưa dậy tôi thắng kiện!”
    Protagoras rốt cuộc đã nhận được một nửa tiền học phí kia hay chưa, cho đến giờ không ai biết được. Nhưng có phần nửa là khẳng định, mỗi người đều kiên trì xuất phát từ cảm giác của mình, lập trường của mình, giá trị của mình, lấy cá nhân làm thước đo của vạn vật, cuối cùng ắt sẽ gây nên hỗn loạn xã hội và đời người. Chỉ có hòa tan cái tôi của từng cá nhân vào cái tôi lớn của toàn thể loài người, không chỉ dùng cảm giác, nhận biết của mình làm thước đo sự vật, mà còn phải dùng cảm giác, nhận biết của toàn thể loài người làm thước đo sự vật mới có thể xây dựng nên một hệ thống đánh giá có giá trị chung, làm cho quan hệ giữa người với người hòa hợp, trật tự xã hội tốt đẹp, từ đó bảo đảm cuộc sống của mỗi người hạnh phúc mỹ mãn.
     
    4.  Không có “sống” thì không có “chết”
    “Chết” là việc người người đều lo lắng và sợ, nhưng người ta lại nhất định phải chết, độ tương phản lớn nhất giữa sự ngưỡng mộ và sự tồn tại thực tế đành chịu vậy của tinh thần này, khiến cho khi người ta đang sống sẽ rơi vào trạng thái lo sợ và vô vọng, điều này khiến cho sự tử vong của con người phủ lên trên sự “sống” của con người một sắc thái bi kịch, trở thành khắc họa chân thực của đời người đành chịu vậy.
    Từ xưa đến nay, các nhà triết học đều đua nhau nghiên cứu thảo luận vấn đề “chết”. Có người hy vọng thông qua việc tu luyện thân tâm, uống “ngoại đan”, luyện “nội đan” để kéo dài tuổi thọ, thậm chí “nhục thể” thành tiên, sống mãi không bao giờ chết. Cũng có người cho rằng sự sống ấy, thân thể ấy của con người muốn thoát khỏi tử vong chắc chắn là chuyện hoang đường của người ngốc, hoàn toàn không thể có. Cho nên sẽ phải ẩn dật vào chốn rừng sâu núi thẳm, trống chiều chuông sớm suốt cả một đời, tụng kinh niệm Phật, dốc lòng vào việc bồi dưỡng Phật tính, cuối cùng thông qua việc “chết” (Nát bàn) mà đạt đến “thế giới Tây phương cực lạc”, siêu thoát tử vong. Lại có những nhà tư tưởng theo chủ nghĩa hiện thực, họ vừa không cho rằng “nhục thể” có thể thông qua tu luyện thoát khỏi được tử vong, vừa chỉ ra rằng cái gọi là “thế giới cực lạc” không có sống chết là giả dối, con đường vượt qua tử vong thực tế nhất chỉ có thể là: hoặc dựng nên sự nghiệp trong lĩnh vực chính trị, hoặc trở thành mẫu mực đạo đức trong xã hội thế thường hoặc sáng tạo nên những trước tác lớn nổi tiếng trong thế giới tinh thần. Như vậy, họ sau khi chết sẽ có vô số người chịu ơn, vô số người lấy họ làm gương, vô số người mãi mãi truyền đọc những bài thơ, áng văn và trước tác, đây chẳng phải đã thông qua con đường “lập đức, lập công, lập ngôn” để đạt được sinh mệnh bất hủ phải không?
    Nhưng, các học giả phái Đạo gia của Trung Quốc cổ đại đối với cả ba thuyết này đều không cho là đúng, họ đòi thông qua nối thông giới hạn sinh và tử, lấp bằng hố ngăn cách lớn của chúng, từ phương diện “tử sinh như nhất” vượt qua tử vong.
    Một hôm, Tử Tự, Tử Dư, Tử Lê, Tử Lai, bốn người tụ tập lại với nhau tán gẫu, nghiên cứu cái lý của việc sinh tử. Họ cảm nhận thấy, bề ngoài “sinh” và “tử” xem ra hoàn toàn không giống nhau, nhưng trên thực tế thì là một thể. Thử nghĩ xem, con người ta trước khi “sinh” ra là trạng thái gì đây? Cứ truy xét cho đến cùng chẳng phải chính là “vô” (không) đó sao? Còn người ta sau khi chết là cái gì? Cứ tìm cho đến chót chẳng phải cũng là “vô” (không) phải không? Cho nên từ “sinh”  đến “tử” chẳng phải chính là từ không đến không, phải không? Từ đó ta thấy “sinh” gắn chặt với “tử” không thể phân tách được, bản chất của hai cái là một. Thảo luận đến đây, họ chỉ ra: người ta nên xem “vô” là “đầu”, xem “sinh” là xương sống, xem “tử” là xương mông, thể hiện một cách sâu sắc đạo lý sinh tử tồn vong (sống chết còn mất) là một thể.
    Bốn người đạt đến nhận thức chung đối với sinh và tử này, rất ý hợp tâm đầu, không có chỗ nào đối lập, trở nên tình bạn tâm đầu ý hợp.
    Người ta nếu hiểu rõ đạo lý “sinh tử tồn vong” là một thể lại có thể sao đây? Điều hết sức quan trọng là, liệu có thể từ đó thoát khỏi lo sợ đối với việc tử vong không?
    Lại một hôm khác, Tử Tang Hộ, Mạnh Tử Phản, Tử Cầm Trương, ba người tụ tập lại cùng nhau trò chuyện. Họ cảm thấy rằng người ta sinh ra ở đời phải thấm nhuần cái lý cuối cùng của “VÔ” đạt đến giới hạn của “vô vi, vô hình”. Ví như, người ta đi lại với nhau nên tự nhiên, không nên có một chút cơ mưu riêng tư lẫn lộn vào trong đó. Người ta giúp đỡ lẫn nhau cũng nên xuất phát từ “chân tình thực ý”, không có một dấu vết gì, không có một chút miễn cưỡng. Từ đó, người ta về tinh thần nên bay bổng nhẹ nhàng, chu du khắp vũ trụ bao la, đến sinh mệnh đều quên đi, đâu còn biết tử vong? “Vô tri, vô thức, vô cảm” lại vì sao có thể “tử vong”?
    Ba người nhìn nhau, vỗ tay reo cười, tâm ý thông nhau liền trở thành tình bạn hợp ý nhau.
    Từ đó ta thấy, người ta có ý nghĩ về “sinh”, cảm nhận về “sinh”, theo đuổi về “sinh” ắt sẽ sản sinh ý nghĩ về “tử”, cảm nhận về “tử”, buồn rầu về “tử”. Các học giả phái Đạo gia mong muốn người ta thể nghiệm cái diệu kỳ của “Vô”, trong vòng vây của vạn vật không ngừng lại với vật chất, trong xã hội phức tạp không phụ thuộc chỗ nào, đã “lòng không gắn bó với vật” lại thân thể tiêu dao, thông qua việc làm tiêu tan dục vọng của “sinh” và thu hoạch của “sinh” để thực hiện nối thông sinh tử, thoát khỏi “tử vong”, đạt tới tự do hoàn toàn về tinh thần.
    Không có sống mới không có chết; Vượt qua “sinh” mới có thể giải thoát “tử”, đây chính là con đường kết cục của các học giả phái Đạo gia bảo cho người đời tránh lo sợ của cái “chết” và thoát khỏi cái “chết”.
     
    5.  Nâng cốc chúc mừng niềm vui
    Người ta sinh ra ở đời, rốt cuộc là vì cái gì? Đây là một vấn đề mà mỗi người đang sống nên suy nghĩ, càng là vấn đề mà mỗi người muốn nhận được cuộc đời hạnh phúc phải làm rõ.
    Con người có thể xác, nhu cầu sinh lý khiến người ta phải theo đuổi hưởng thụ vật chất và thỏa thích tình cảm; nhưng con người lại có tinh thần, nhu cầu lý trí khiến người ta theo đuổi cái thiện của đạo đức và sự hài hòa giữa người với người, giữa người với xã hội. Nhu cầu sinh ra từ hai cơ sở khác nhau có lúc có thể thống nhất, nhưng nhiều lúc sẽ sinh ra mâu thuẫn.
    Thế là, có người vì một “thiên quốc” thần bí nào đó mà lên án cuộc sống thế tục, xem nhục dục là trận hồng thủy là mãnh thú, một lòng muốn trở lại đời sống tâm linh trong sạch, xem khoái lạc của tình cảm đời người ngang với tội ác. Cho nên, họ theo đuổi chủ nghĩa cấm dục, từ chối tất cả mọi hưởng lạc của cuộc sống.
    Lại có một số người khác thì xem khoái lạc nhục dục là mục đích cuối cùng cao nhất của đời người, lấy việc đem hết mình giành được sự hưởng thụ đời sống tình cảm làm nguyên tắc cao nhất, không hề do dự thoát khỏi mọi thứ ràng buộc của lý tính và lương tâm để thực hiện hành vi của mình, toàn thân toàn ý chìm đắm trong sự thỏa mãn nhục dục, theo đuổi chủ nghĩa buông thả dục vọng đến cùng.
    Nhà triết học cổ Hy Lạp Epicuros rất hứng thú với sự chia rẽ đối với quan niệm nhân sinh và thao tác nhân sinh nói trên, ông đã lập ra một trường học của mình trong một vườn hoa xinh đẹp tại A-ten, chuyên nghiên cứu và giảng dạy triết học.
    Epicuros ngồi bên cạnh những bông hoa tươi đang nở rộ, nói với học sinh của ông: “Tại sao phải học triết học? Bởi vì mỗi người chúng ta đều đang sống, đều phải sống qua một đời của mình, mà mục đích cơ bản của triết học là giải quyết vấn đề giá trị của đời người, nói rõ ràng đời người là vì cái gì, cuối cùng nên theo đuổi cái gì".
    Tất cả học sinh đều yên lặng kính cẩn lắng nghe. Bởi vì có ai lại không muốn làm rõ những vấn đề này?
    Epicuros nhấp một hớp nước, lại tiếp tục bài giảng của ông: “Đời người chính là vì đạt tới khoái lạc, con người sẽ nên theo đuổi khoái lạc. Bởi vì khoái lạc là cái thiện cao nhất, là hoàn toàn phù hợp với bản tính và đạo đức của con người”.
    Mọi người nghe nhốn nháo lên một hồi, một học sinh đứng dậy hỏi: “Thưa thầy, thầy nói theo đuổi khoái lạc là mục đích của đời người, thế thì phải chăng chính là cổ vũ người ta đi tìm hưởng lạc cảm tính, thậm chí đi tới hoang dâm xa xỉ?”
    “Không, không phải như thế.”, Epicuros ung dung thong thả nói, mấu chốt ở chỗ các bạn quan niệm từ “khoái lạc” này như thế nào. Cảm quan mạnh mẽ kích thích khoái lạc phải không? Có lẽ lúc ấy là khoái lạc, nhưng sau đấy sẽ tất nhiên mang lại sự trống trải, buồn bã của tinh thần và tổn thương thể xác, đó là đau khổ chứ không phải là khoái lạc. Hoang dâm xa xỉ có khoái lạc không? Có lẽ có thể dẫn đến khoái lạc trước mắt, nhưng cuối cùng ắt sẽ tổn hại thân thể, tinh thần sầu muộn, tuổi thọ rút ngắn, chẳng lẽ những thứ đó được gọi là khoái lạc ư? “Khoái lạc” mà tôi nói là chỉ “thể xác không đau khổ, tâm hồn không rối bời”.
    “Thưa thầy, thế thì làm thế nào mới có thể làm được điều này?”, một học sinh lại hỏi.
    Epicuros trả lời: Muốn làm cho thể xác của chúng ta không đau khổ, thì cần phải tiến hành chọn lựa và kiềm chế hợp lý đối với mọi ham muốn sinh ra đối với nhục dục, bằng không thì chỉ có thể dẫn đến đau khổ mà không phải là khoái lạc. Ví như uống rượu quá mức, sẽ có thể “rượu vào lời ra” không ngớt, đây chẳng phải là đau khổ vạn phần ư? Mà “tính giao xưa nay chưa từng có ích đối với người, nếu như nó chưa từng làm tổn hại người ta, thì đó chính là vận may”.
    Còn về việc khiến chúng ta “tâm hồn không rối bời”, mấu chốt là ở chỗ làm tiêu tan nỗi lo sợ đối với “thần” và tử vong, đạt tới sự yên bình của thế giới tinh thần.
    Cái gọi là “thần” thật ra không đáng sợ Epicuros thẳng thắn nói: “Thần” cũng giống người là do các hạt vật chất - “nguyên tử” tạo nên, nhưng tinh vi hơn một chút mà thôi. “Thần” ở tản khắp bốn phương tự lo liệu chỗ mình ở, sống một cuộc sống hạnh phúc như ý, căn bản không thể giáng tai họa làm hại nhân gian, người ta cần phải lo sợ. Còn về tử vong, cũng không đáng sợ, bởi vì khi người ta đang sống, tử vong không đến, còn khi người ta chết đi, thì người đã không tồn tại, sao có sợ gì đối với cái chết? Lại làm sao có thể sợ được?
    Khi con người ta đã chiến thắng nỗi lo sợ đối với “thần” và tử vong, lại có thể sống một cách đúng đắn một cuộc sống hiện thực có kiềm chế, người ta bèn đạt tới khoái lạc và hạnh phúc của đời người.
    Epicuros sau khi giảng hàng loạt triết lý đời người, đã rất mệt, nhưng đôi mắt của ông vẫn phóng ra những tia sáng của trí tuệ. Ông nói: khi người ta lựa chọn nguyên tắc đời người “khoái lạc” cũng sẽ tăng thêm cho mình trách nhiệm xã hội và đạo đức. Thỏa mãn lòng ham muốn mặc dù có thể đem lại cho người ta khoái lạc, nhưng phải tiến hành chọn lựa thận trọng và tỉ mỉ đối với nó.
    Nguyên tắc đúng đắn của đời người nên là: “Khi một số khoái lạc nào đó có thể mang đến cho chúng ta đau khổ lớn hơn, mỗi chúng ta nên bỏ qua những khoái lạc này. Nếu khi chúng ta nhất thời chịu đựng đau khổ mà có thể có những khoái lạc lớn hơn theo nó đến, chúng ta sẽ cho rằng có nhiều loại đau khổ còn có giá trị hơn khoái lạc”.
    Epicuros sống rất giản dị chất phác, thường ngày chỉ dùng bánh mì để ăn, ngày lễ tết mới ăn một mẩu bơ nhỏ, việc kiềm chế này đối với nhục dục khiến ông rất vui vẻ. ở trong trường ông viết trước tác sáng lập lý thuyết truyền lại cho các đệ tử, dùng sức quan sát sâu xa chọc thẳng vào quan niệm giả dối ngu muội, việc đó lại khiến ông thu được vui mừng rất lớn về tinh thần.
     
    [url="http://www.cafesangtao.com"][/url]



    http://www.cafesangtao.com
    http://www.my.opera.com/tieuboingoan
     
    #2
      tieuboingoan

      • Số bài : 1803
      • Điểm: 0
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 21.02.2005
      • Nơi: Hà Nội
      • Trạng thái: offline
      Tìm hiểu cuộc đời 15.09.2007 23:08:31 (permalink)
      0
      6.  Dễ mất đi và vĩnh viễn
      Người ta ở trên đời phần nhiều đều ham vui hiếu sắc, các bậc thánh hiền cổ xưa cũng phải thừa nhận “thực” và “sắc” là bản tính vốn có của người, không thể diệt trừ được. Nhưng sức khỏe và tinh thần lành mạnh, năng lực vũ dũng và quả cảm là vẻ đẹp của nam giới, còn hình dáng thướt tha yểu điệu, nhan sắc đẹp như tiên là vẻ đẹp của phụ nữ, không chỉ trên đời khó kiếm, dù cả người có được nó cũng rất nhanh chóng sẽ tàn phai theo thời gian trôi đi.
      Vì vậy, những người dốc lòng muốn tìm được sắc đẹp, ôm ấp người đẹp trong đời phần nhiều đều thất vọng, điều này cũng đã định trước cuộc sống hôn nhân của họ đa số đều đi đến kết cục thất bại. Vậy thì, trong đời người nên theo đuổi đời sống tình yêu nào đây? Mấu chốt là ở chỗ không thể lấy những thứ dễ mất đi như sắc đẹp, tiền của làm cơ sở của đời sống tình yêu, mà phải tìm được những thứ có tính vĩnh viễn như hai bên đều vừa lòng nhau, tính tình hòa hợp, chí hướng và sở thích của cuộc sống chung làm cơ sở vững chắc của đời sống vợ chồng.
      Thời Đông - Hán, vùng đồi phẳng Phù Phong có một người tên là Lương Hồng, nhà rất nghèo nhưng do cố gắng quyết chí phấn đấu đã trở thành một nhà bác học. Ông hàng ngày việc gì cũng làm, tối đến thì thắp đèn đọc sách chăm chỉ, dần dần danh tiếng truyền đi khắp thôn xóm. Lúc đó, Lương Hồng đã ba bốn mươi tuổi, vì nhà nghèo nên vẫn sống độc thân. Có nhiều người mến mộ tài của ông, cảm thấy ông ta sau này ắt có thể làm quan to, cho nên đã đến tận nhà tỏ ý muốn đem con gái gả cho ông, Lương Hồng đều không vì thế mà động lòng, vẫn kiên trì không lấy vợ.
      Cách nhà Lương Hồng không xa, có gia đình họ Mạnh có người con gái tên là Mạnh Quang, lớn lên tướng mạo trông bình thường, quanh năm lao động trên đồng ruộng, người vừa đen lại vừa to, thậm chí có thể dùng tay nâng cả chiếc cối đá rất nặng. Cô ta đã gần ba mươi tuổi, vẫn chưa lấy chồng. Mỗi khi có bà mối đến nhà dạm hỏi, Mạnh Quang đều không để cha mẹ nhận lời, cô ta chỉ nói: Không phải là người đàn ông như Lương Hồng, thì con quyết không lấy chồng! Ông trời sao khéo chắp mối, người có lòng cuối cùng trở thành người nhà, quả nhiên Lương Hồng đã lấy Mạnh Quang làm vợ. Đồ cưới của nhà vợ rất hậu, cô ta mặc lộng lẫy và sang trọng, Lương Hồng nhìn không quen mắt, lại không tiện tức giận, nên đã bảy ngày liền không nhìn ngó đến cô ta. Đến ngày thứ tám, Mạnh Quang đã trút bỏ bộ đồ trang sức đó, mặc lên bộ quần áo vải thô, dọn dẹp trong nhà ngoài sân bận tíu tít. Lúc này Lương Hồng mới vui mừng quá đỗi, nói: “Đây mới giống người vợ của ta!”
      Không lâu, hai vợ chồng đã dọn đến vùng núi sâu của Bá Lăng bắt đầu ở ẩn, chồng cày cấy vợ dệt vải lụa, dựa vào nhau để sống. Về sau lại dời đến Ngô địa, ở trong một ngôi nhà nhỏ dưới hành lang Cao Bá Thông dựa vào việc giã gạo thuê để sống.
      Cuộc sống vô cùng gian khổ, nhưng giữa vợ chồng với nhau vẫn quý trọng nhau như khách. Hàng ngày Lương Hồng đi làm về, Mạnh Quang đều dọn cơm nước đạm bạc còn nóng hổi đặt lên mâm, hai tay bưng giơ cao tận ngang mày, cung kính đưa đến trước Lương Hồng. Hai người ăn uống đơn giản, nhưng họ vẫn sung sướng biết bao!
      Cuộc kết duyên kỳ lạ của Lương Hồng và Mạnh Quang, tình sâu nghĩa nặng giữa vợ chồng, sự êm ấm, hài hòa và cùng vui vẻ trong nhà, rốt cuộc thực hiện như thế nào? Một là chẳng phải tiền tài, nhà Lương Hồng nghèo rớt mồng tơi trơ trọi chỉ bốn bức tường, gia cảnh của Mạnh Quang tuy giàu có, nhưng lấy chồng lại đây tự bằng lòng sống những ngày nghèo khốn. Hai là không phải vì sắc đẹp, tiểu thư Mạnh Quang vốn lớn lên trông người vừa đen vừa to, làm cô dâu mới được đến ngày thứ tám đã bắt đầu làm việc, không có nhan sắc riêng, đó là khẳng định. Như thế thì cơ sở chân chính là cái gì đây? Phải nói là sự say mê và tìm được cái giống nhau của hai người đối với nhân phẩm của đối phương.
      Mạnh Quang lấy Lương Hồng, mà không phải là anh ta thì không lấy là bởi vì cô ta đã coi trọng Lương Hồng đồng thời với lao động gian khổ vẫn có thể ham học không ngừng, không ngưỡng mộ vinh hoa phú quý, chỉ mong dùng tài học để bồi bổ thêm cho mình. Còn Lương Hồng lấy Mạnh Quang mà đã chọn lựa rất lâu mới không phải là cô thì không lấy, là coi trọng cô tuy sinh ra trong gia đình giàu có vẫn giữ được bản sắc lao động, có thể chịu khó chịu khổ. Sắc đẹp của con người dễ tàn phai, của cải của con người cũng dễ mất, duy chỉ có phẩm chất của con người thường giữ được vĩnh viễn. Mạnh Quang và Lương Hồng chỉ ngưỡng mộ phẩm chất của nhau, cho nên sẽ vứt bỏ những thứ dễ tàn phai và dễ mất, giành được cơ sở có tính vĩnh viễn của tình yêu và cuộc sống vợ chồng. Cho nên cuộc sống của họ mặc dù gian khổ vẫn có thể hòa thuận và vui vẻ đã trở thành giai thoại lưu truyền nghìn xưa. Đây chẳng phải là việc đáng để cho mọi người suy nghĩ kỹ và bắt chước sao?
       
      7.  Có phải người đối với người như “chó sói” không?
      Trong quá trình sống, người ta thường cảm thấy thấm thía nhiều việc tàn nhẫn và không chút kiêng nể gì của đồng loại. Không cần nhắc đến sự tàn sát một mất một còn của hai bên đối địch nhau trong chiến tranh, những tính toán và tranh đấu nhau, lừa gạt lẫn nhau trong thương trường, dù là thân nhau như anh chị em, tình như bạn bè thầy trò, trong nháy mắt cũng có thể vì mọi nguyên nhân trở nên như người đi đường, thậm chí rút kiếm giương cung, đấu nhau một trận thua liểng xiểng.
      Cho nên ngay từ thời xưa của Trung Quốc đã lưu truyền một số câu danh ngôn miêu tả tình người đạm bạc, lòng người nham hiểm, đường đời gian nguy như: “Gặp người chỉ nói đôi câu, chưa thể tung ra hết cõi lòng”, “Vẽ hổ vẽ da khó vẽ xương, biết người biết mặt mà không biết lòng”; “Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu viễn thân” (Nghèo ngồi giữa chợ không ai hỏi, giàu chốn sơn lâm có khách tìm); “Không nói xấu sau lưng người khác”, “Có tiền có rượu lắm anh em, gian nan nào thấy có ai một người”; “Tình người như trang giấy mỏng, việc đời như thế cờ mới”; “Như thân mà không thân, không thân mà lại thân”; “Mênh mang bốn bể đầy người, đâu chàng quân tử là chồng em đây”, “Tình người như nước chảy xuôi, thế sự như mây cuốn chạy hoài”; “Đời người như chim ngủ cùng rừng, gian nan kéo đến tức thời bay đi”; “Người tốt bị người lừa, ngựa tốt bị người cưỡi”; "ở lâu khiến người khinh, nghèo đến thân cũng xa",“Bọ ngựa bắt ve, chim sẻ chực sẵn” (chỉ tham lợi trước mắt mà quên họa sau này) v.v... Những câu cách ngôn và lời răn này phần nhiều đều tích lũy sự từng trải đời và kinh nghiệm vững vàng của người ta, tỏ rõ thói đời lạnh lùng, chân tướng thế gian mà tình người nhạt nhẽo, cũng vạch ra bộ mặt đen tối của tính người không sót.
      Không phải là “độc nhất vô nhị”, nhà triết học lớn thế kỷ 17 của phương Tây Thomas Hobbes cũng nhìn thấu chân tướng thói đời trong trần gian, vạch ra những cái xấu xa của tính người. Ông thậm chí đã nói toạc ra rằng: “Người đối với người đà như chó sói”.
      Thoạt nhìn câu nói này, người ta không khỏi kinh ngạc, chần chừ do dự, thậm chí lắc đầu không đồng ý. Thời xưa ở Trung Quốc chẳng phải đã có thuyết “Nhân chi sơ, tính bản thiện” đó sao? Khổng Tử, Mạnh Tử chẳng phải đã nói từ lâu con người có “lòng nhân ái” đó sao? Còn trong lịch sử phương Tây cũng không thiếu những người nói tính người tốt lành. Như vậy, Hobbes dựa vào cái gì để đưa ra kết luận kinh động thói đời này?
      Ông cho rằng, trạng thái sinh tồn của loài người trải qua hai giai đoạn: Một là trạng thái tự nhiên, hai là trạng thái xã hội. Con người trong trạng thái tự nhiên dựa vào bản năng để sống, không có quy phạm đạo đức, không có khung quyền lực chính trị, để mặc cho tính người triển khai tự nhiên. Mà bẩm tính của người sẽ ở chỗ “cầu lợi, cầu an và cầu danh”. Cho nên trong trạng thái tự nhiên, người ta theo đuổi chiếm hữu tất cả, mà còn luôn tìm cách tước đoạt mọi thứ của người khác để chiếm làm của mình. Do đó, “người đối với người giống như chó sói”, tiến hành lâu dài là “chiến tranh của những người này chống lại những người khác”. Trong xã hội cũng không tồn tại sự khen chê lương thiện và gian ác, trong nhân gian cũng không có sự khuyên răn điều phải điều trái, có khi chỉ là giữa người với nhau đọ sức lớn nhỏ, kết quả chỉ là sinh ra không có ai quan tâm, văn hóa khoa học không tài nào phát triển được. Các cuộc hỗn loạn và tranh đấu phổ biến, khiến cho mỗi người đều tổn hại, mọi thứ “danh”, “lợi” và “an toàn” mà mỗi người mong đợi như những bong bóng xà phòng xinh đẹp có thể nhìn thấy mà không với tới.
      Loài người nói cho cùng là có lý tính, để bảo tồn mình cũng để giành được những cái mà mỗi người đều mong chờ, người ta tìm mọi cách thoát khỏi “trạng thái tự nhiên” mà mỗi người đều tổn hại này. Hobbes nói: “Người ta bảo tồn yêu cầu của mình và đối với sự lo sợ của tử vong, khiến người ta tiến tới cố gắng tìm kiếm hòa bình, thoát khỏi chiến tranh kéo liên miên”.
      Mọi người dần dần hiểu ra, người ta không thể chỉ dựa vào tình dục để sống, cần phải theo quy tắc sống chung do lý tính quy định - tức “phép tự nhiên” để sắp xếp cuộc đời, đạt được mục đích an toàn. Cái gọi là phép tự nhiên” này chính là quy phạm đạo đức, tinh thần cơ bản là: những cái người ta không mong muốn đặt lên bản thân mình, cũng nên suy rộng nhận thức ra là người khác cũng không muốn tiếp nhận nó. Như thế sẽ có thể hạn chế cách nghĩ quá đáng của mình và hành vi làm tổn hại người khác, làm cho loài người được sống cuộc sống chung sống hòa bình hài hòa.
      Nhưng Hobbes chỉ rõ, tính người là tự tư tự lợi, nó khiến cho con người bất chấp tất cả, hòng chiếm hữu lợi ích của người khác, từ đó bất chấp cả “phép tự nhiên”. Do đó, xã hội loài người còn cần phải có một quyền lực công cộng đủ mạnh, tức quyền lực chính trị, nó có thể dùng để hạn chế bản tính ích kỷ của con người. Khi người ta thông qua hình thức giao kèo với nhau nhường một bộ phận quyền lực cho một người nào đó, như thời quân chủ, nhà nước đã ra đời, điều này có nghĩa là loài người đã thoát khỏi trạng thái tự nhiên bước vào trạng thái xã hội.
      Từ đó ta thấy, con người đương nhiên nên vui mừng vì từ trạng thái tự nhiên “người đối với người như chó sói” bước vào trạng thái xã hội có đạo đức và chính trị hạn chế. Nhưng lúc này bẩm tính tự nhiên của con người bị kiềm chế, một phần quyền lợi trời ban cho bị tước đoạt, cũng tạo nên những đau khổ lớn lao của đời người. Điều này hiện ra đặc biệt nổi bật ở thời kỳ “bạo quân bạo chính” thường xẩy ra luôn trong lịch sử nhân loại.
      Ôi! Con người quả thực là một nửa giống như dã thú, một nửa kia như “thiên sứ”. Có lẽ “một nửa của dã thú” là sự sót lại của cái gọi là “trạng thái tự nhiên” chăng? Có lẽ “một nửa của thiên sứ” là sử dụng việc hạn chế của đạo đức và chính trị chăng? Bấtt kể nói như thế nào, người ta sinh ra ở đời, đều phải xuất phát từ hai loại khả năng này. Ví dụ đi lại với người khác, vừa phải vững tin đối phương có tính lương thiện và thành ý hợp tác tốt, đồng thời cũng phải có sự chuẩn bị ứng phó với bụng dạ nham hiểm khó lường, giả dối của tính gian ác của đối phương.
      Có lẽ đây mới là cách xử thế tốt nhất.
       
      8.  Hỏi han “vận mệnh”
      “Vận mệnh”, nó làm cho mỗi người thế tục đôi lúc phấn chấn mãi không thôi, đôi lúc lại luôn luôn run sợ. Là một sức mạnh siêu tự nhiên siêu nhân gian thâm trầm, nhiều người phải đi lễ cúng bái trước nó, tin tưởng nó đang chi phối cả đời mình, có thể làm cho đời người thuận lợi, cũng có thể làm cho đời người gian nan vất vả muôn phần, có thể làm cho tài vận của người ta may mắn, cũng có thể làm cho người ta nghèo rớt mùng tơi. Hàng ngàn năm trở lại đây, người ta tin “mệnh”, từ “vận mệnh” giải thích cái thu hoạch của mình, cũng dùng “vận mệnh” an ủi cái bị mất của mình, gian nan mà ngoan cường sống qua một đời của mình.
      Đương nhiên, cũng có một số người không tin “mệnh”, phủ định đời người chịu “thần” trong sâu kín chi phối. Họ tin phục là tự mình phấn đấu, cái họ sùng bái là cố gắng cá nhân. Nhưng khi đột nhiên bị vấp váp lớn trong đời, và ngẫu nhiên gặp tai nạn trong đời không có cách nào giải thích được vẫn phải quay sang tin “mệnh”, nghe theo “mệnh”.
      “Vận mệnh”, người ta vừa yêu lại vừa hận, vừa muốn lại sợ, nó như bóng với hình theo sát cả quá trình của cuộc đời. Tin hay không tin đều có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình thực tế của đời người. Đương nhiên nó cũng thu hút vô số người thích học nghĩ sâu hỏi han đến.
      Vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, đế quốc cổ La Mã đã xẩy ra hàng loạt thiên tai, động đất, nạn dịch và loạn lạc kéo dài, dẫn đến ngàn dặm hoang vắng, dân không biết sống vào đâu, chính quyền nhà nước lung lay sắp đổ. Nhà triết học lớn hiện đại Rút-xô (Rousseau) gọi thời kỳ này là “thời kỳ mệt mỏi” của đế quốc cổ La Mã.
      Hoàng đế La Mã lúc đó là Marcus Aurelius, ban ngày xử lý mọi công việc chính sự phức tạp mà lại làm cho người ta chán nản, lúc rỗi thì lại suy nghĩ sâu vấn đề triết học, đã trở thành người duy nhất của thế giới phương Tây vừa là Hoàng đế lại vừa là nhà triết học.
      Xã hội rối ren, thiên tai nặng nề, khiến cho Aureluis mệt lử, đương nhiên ông không cho rằng tài năng quản lý đất nước của mình kém gây nên, cũng nhất quyết phủ định chế độ hoặc các đại thần phò tá có vấn đề, vậy thì tất cả mọi tai nạn này là do đâu gây nên? Aurelius cho rằng là “thiên mệnh” trong sâu kín mà không phải sức người có thể làm được điều khiển.
      Theo ông, thiên nhiên và cả vũ trụ là một hệ thống vô cùng rộng lớn liên hệ với nhau theo một trật tự tự nhiên, bất cứ một bộ phận nào đều liên kết với nhau theo một quy tắc nào đó chứng tỏ trật tự nghiêm chỉnh, biểu hiện tính hợp lý của toàn vũ trụ.
      Tính trật tự và tính hợp lý này xét cho cùng là đã sinh ra như thế nào? Lại do cái gì quyết định? Aurelius nói: Là “thiên mệnh” (mệnh trời) hoặc ý chí của thượng đế sắp đặt.
      Đông đảo dân chúng rõ ràng là một bộ phận của cả vũ trụ tự nhiên, cũng giống như bất kỳ sự vật nào khác, con người và các bộ phận tạo thành của vũ trụ liên hệ chặt chẽ lại với nhau, cũng chịu trật tự có tính tất yếu - tức “thiên mệnh” qui định.
      Đành là một đời người đều chịu “thiên mệnh” quyết định là được sắp đặt sẵn trước, vậy thì tất cả mọi việc xẩy ra vẫn là nhất định phải xẩy ra, con người lại vì sao phải ngạc nhiên? Tất cả mọi việc không thể xẩy ra thì nhất định không thể xẩy ra, con người sao lại phải ân cần mong đợi cầu xin? Cho nên, con người ta phải bằng lòng đối với mọi hiện trạng, mọi biến đổi xẩy ra, không nên oán trách - bởi vì chẳng có gì đáng trách móc cả. Người ta đối với những cái không được thực hiện cũng không nên miễn cưỡng đi tìm kiếm - bởi vì chẳng có tác dụng gì.
      Aurelius chân thành dạy thần dân của ông: “Phải nhớ rằng, do tôi là một bộ phận, đối với tất cả sự vật từ toàn thể phân phối cho tôi, tôi đều sẽ vừa lòng. Bởi vì nếu là vì lợi ích của toàn thể mà tồn tại, đối với bộ phận sẽ không thể có hại”.
      Theo học thuyết của Hoàng đế Aurelius, vì sao người ta phải chán ghét nghèo khó và sợ tử vong? Nó chẳng phải đều là “thiên mệnh” xui khiến đó sao? Con người không thể chống cự lại “vận mệnh”, chỉ có thể tự giác phục tùng sự sắp đặt của “mệnh”. Khi con người hoàn toàn thi hành nghĩa vụ và trách nhiệm của họ theo “thiên mệnh”, thì họ là thiện, sẽ có cuộc sống hạnh phúc. Nếu họ không tuân theo sự chi phối của “vậnh mệnh, luôn tìm mọi cách để làm thay đổi trật tự có tính tất nhiên, họ sẽ là ác, ắt sẽ rơi vào quá trình cuộc sống đau khổ.
      Vì trật tự tất nhiên của vũ trụ hài hòa, vì sự tương quan mật thiết của mỗi người, mỗi sự vật, mọi người phải thương yêu lẫn nhau! Kết luận của Hoàng đế Aureluis chỉ ra từ quan niệm “vận mệnh” của ông là: “Yêu thương nhân loại, nghe theo Thượng đế”. Cho nên người ta không nên đi theo đuổi công danh lợi lộc, làm tổn hại lợi ích của người khác, những cái này đều là dễ mất đi, nhỏ nhặt chẳng đáng kể, mà những hành vi này là bỉ ổi và không có ích lợi. Trách nhiệm của đời người là phục tùng “thiên mệnh”, hướng tới sự hài hòa, thiêng liêng và cao cả của “thiên mệnh”, đối với sự giàu nghèo, vinh nhục, sướng khổ, sinh tử của trần thế đều nên chọn thái độ siêu nhiên coi thường.
      “Chết” là việc lo sợ nhất của con người, nhưng Hoàng đế Aurelius khuyên răn mọi người hãy suy ngẫm kỹ một chút, “chết” chẳng phải cũng là mệnh điều khiển ư? Chết sớm và chết muộn, cái mất đi đều là “sinh mệnh”, người ta lại cần gì phải để ý đến việc thọ yểu? Cho nên, con người phải “dùng tâm tình vui vẻ chờ đợi cái chết”. Còn về cái trạng thái cuộc đời như giàu nghèo, vinh nhục, sướng khổ chẳng phải cũng đều là như thế chăng?Con người dùng tấm lòng nghe theo “thiên mệnh” đối xử với nó, sẽ tránh được tất cả mọi ưu phiền và đau khổ của đời người.
      Học thuyết của Aurelius này mặc dù không thể làm thay đổi được thiên tai nhân họa, nhưng lại có thể làm cho những người bị những khổ nạn này nóng vội không yên sẽ bình tĩnh trở lại, bắt đầu tin tưởng, bắt đầu thuận theo. Giá trị điều khiển của quan niệm “vận mệnh” trong chính trị ở đây chỉ đại để nhìn thấy một số tình huống nhưng chưa được toàn diện.
      Người ta sinh ra ở đời vẫn nên kiềm chế quan niệm “vận mệnh” chi phối đời người, tích cực đầy hứa hẹn sáng tạo cuộc đời rực rỡ của mình. Dù là thất bại, trong hiện thực gặp đầu bươu máu chảy, thế thì cũng có thể an ủi mình: Tôi đã cố gắng, đã phấn đấu, như thế đã đủ rồi!
      Nhưng khi người ta đột nhiên gặp khổ nạn to lớn, trong hiện thực lại không có cách gì chống lại và làm thay đổi, người ta có thể trong tâm lý dùng quan niệm “số mệnh phải như thế” an ủi mình, bằng không sẽ sinh ra đau khổ tinh thần như ngao ngán, buồn phiền, bực bội cực độ, thậm chí vì thế mà tự đoạn tuyệt với đời. Đây chính là chỗ quan niệm “vận mệnh” vẫn có giá trị điều khiển cuộc đời hiện thực của nó, Hoàng đế Aurelius cũng vì thế mà có thể mỉm cười để nhắm mắt ở nơi chín suối.
       
      9.  “Khí khái” là cái gì?
      Nhà tâm lý học Mỹ Abraham Maslow từ lâu đã nói: Sức thúc đẩy bên trong của sự tồn tại và trưởng thành của loài người là động cơ do các nhu cầu khác nhau của con người tạo nên. Giữa các nhu cầu này có phân biệt mức cao thấp được xếp sắp lần lượt là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu yêu và lệ thuộc, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu đẹp, nhu cầu tự thực hiện. Sau khi một mức nhu cầu thỏa mãn xong, người ta bèn sinh ra nhu cầu ở một nấc cao, dựa vào nó, việc theo đuổi bền bỉ của đời người cuối cùng dẫn đến việc tự thực hiện.
      Theo Maslow, người ta chỉ có thỏa mãn nhu cầu mức thấp với tỉ lệ phần trăm tương đối cao mới có thể nẩy ra việc tìm kiếm nhu cầu ở mức cao. Nhưng chứng tỏ nó bằng sự thực của lịch sử Trung Quốc xưa lại không hoàn toàn như vậy. Bởi vì có khi nhu cầu sinh lý của người trước khi chưa thể thỏa mãn, đã có nhu cầu tự trọng mãnh liệt, người xưa gọi nó là: người có khí phách.
      Có một năm, nước Tề xẩy ra nạn đói rất ghê gớm, một người tên là Kiềm Ngao rất có lòng từ thiện, đã chuẩn bị sẵn rất nhiều đồ ăn đặt ở bên đường bố thí cho những người đói.
       
      Ở nơi xa có một người bơ vơ đi một mình, nhưng thấy người ấy dùng tay áo che kín cả mặt, đang lê đôi dép chân thấp chân cao khó khăn lắm mới đi lại được, rõ ràng là đang trong trạng thái đói rét hoành hành. Kiềm Ngao tay trái bưng cơm, tay phải xách đồ uống với dáng vẻ rất tự hào, gào to: “Này! Đi lại đây ăn!”
      Người đang đói kia miễn cưỡng ngước đầu lên, mở mắt nhìn một lát, với giọng vững chắc khác thường nói: “Tôi chính vì không ăn của ăn xin, nên mới đói đến bộ dạng này” rồi quay đi không thèm ngó lại.
      Kiềm Ngao biết việc gào to vừa rồi của mình đã làm tổn thương lòng tự trọng của ông ta, bèn vội vàng xin lỗi. Nhưng người bị đói kia đến cùng vẫn không ăn của bố thí có tính sỉ nhục này, cuối cùng đã chết đói ở bên đường.
      Tăng Tử sau khi nghe nói việc này liền có lời nghị luận: “Không cần như thế mới phải. Ông ta gào to sỉ nhục bạn đương nhiên có thể bỏ đi không chấp, nhưng người ta đã xin lỗi, cũng có thể dừng lại để ăn chứ!”
      Người đang đói này, mặc dù nhu cầu sinh lý đang trong thiếu thốn cực độ, thậm chí không có cách gì chống đỡ nổi, nhưng nhu cầu tự trọng của ông ta vẫn rất hừng hực, cả đến kết cục vì thế mà bị chết cũng không thay đổi.
      Dùng giá phải trả là cái chết đổi lấy khí khái hào nhoáng, có lẽ sẽ bị nhiều người chê cười. Người ta có thể nghĩ: Cần gì phải thế? Khí khái là cái gì? “Mệnh” luôn quan trọng hơn! Sẽ càng có nhiều người nói như Tăng Tử, sau khi lòng tự trọng hơi thỏa mãn, nỗi sỉ nhục trước đó sẽ có thể tiêu tan bỏ qua không tính.
      Nhưng, bất kể người ta nghĩ như thế nào, bình luận như thế nào hành động của người đang đói khát này, đều phải hiểu một lẽ thô thiển: Chỉ cần là một con người sẽ khác với động vật vì một miếng ăn mà phải tranh cướp không chút kiêng nể, không chút kiềm chế gì, anh ta có nhân cách tạo nên bởi truyền thống văn hóa lịch sử, có chuẩn tắc bất di bất dịch xác định nào đó bám chắc trong lòng. Khi những sự việc xẩy ra trong hiện thực có tổn hại đến nhân cách của họ, khi việc chọn lựa buộc phải đưa ra trái với chuẩn tắc xác định bên trong của họ, anh ta sẽ phải đành từ chối, để giữ vẻ tôn nghiêm của mình và sự hoàn chỉnh của nhân cách, đó là người có khí phách.      
      Nhưng, có một số người có lẽ sẽ cười khẩy đối với tình huống này, họ xem nhân cách có thể có, có thể không, càng thiếu hẳn một số chuẩn tắc.
      Xác định nào đó ở bên trong, biểu hiện trong quá trình cuộc sống hiện thực, họ cũng sẽ có thể không từ một việc xấu xa nào. Việc khom lưng quỳ gối cầu xin, họ làm rất tự nhiên, không hề xấu hổ. Việc lừa dối cưỡng đoạt của cải và quyền lợi bạt mạng, họ làm không biết ngượng ngùng và sợ. Nhân cách, tự trọng đối với họ tất thảy đều là những thứ dư thừa. Khí phách, nguyên tắc cũng đều là những cái làm cản trở việc hưởng thụ của cuộc sống. Triết học nhân sinh của họ là: tất cả lấy việc giành lợi ích làm cái mốc, chẳng phải rỗi hơi bàn các thứ khác?
      Nhưng đây có phải là người không? Đây phải chăng là suy nghĩ của con người, là hành động của con người? Khẳng định không phải. Con người vẫn phải có tinh thần, phải có nhân cách, phải có lòng tự trọng, phải có khí phách. Mặc dù đôi khi có thể có thể biến báo đôi chút, nhưng đối với những cái người phải là người vẫn phải giữ một cách xác đáng.
       
      10.  Nam giới và nữ giới
      Người, không phải nam giới thì là nữ giới, người ái nam ái nữ chẳng qua chỉ là ngoại lệ. Trong quan hệ qua lại giữa người với người, không phải là giao thiệp với nam giới thì là cùng qua lại với nữ giới. Trong cuộc sống, nam giới không thể tách khỏi nữ giới, nữ giới cũng không tách khỏi nam giới. Đây là một trong những việc kỳ diệu nhất trong đời người kỳ diệu.
      Cho nên, trong “kinh thánh” của đạo Cơ đốc nói, nữ giới là do Thượng đế rút ra một chiếc xương sườn từ người nam giới tạo nên, cho nên hai giới vốn là cùng một thể, tách ra chẳng qua là để hợp lại. Thế là nam nữ trong đời người không có lúc nào không hấp dẫn nhau, không có lúc nào không khát khao hợp lại với nhau. Nếu suy nghĩ sâu hơn một chút: Giá như không có sự tách ra này trên đời lại đâu có thân thiết, gắn bó với nhau nhiệt liệt như thế? Nếu không có sự khác nhau về sinh lý và tính nết nam nữ, đâu có thể sinh ra những nụ hôn và thân thiết xiêu hồn lạc phách? Từ đó ta thấy, nam nữ “phân một thành hai”, cuối cùng là để “hợp hai thành một” mà thôi.
      Nam giới bị tập tục xã hội, truyền thống văn hóa đúc nặn thành có nghị lực, kiên nhẫn, có trách nhiệm và cường tráng. Nữ giới thì được xã hội và truyền thống dạy dỗ và khuyên bảo thành hiền dịu, xinh đẹp, tế nhị, lòng thương, thướt tha yểu điệu, v.v... Nội dung quan trọng một đời của con người là nam giới và nữ giới lần lượt thực hiện những mục tiêu này để làm cho mỗi người đều có thể từ giới hạn nam nữ về sinh lý đạt tới sự nổi bật đặc trưng nam nữ về văn hóa. Người ta nếu không cố gắng như vậy, các cậu con trai sẽ có thể bị chế nhạo là " Mùi con gái quá nặng", các cô gái thường bị quở trách là “Làm sao mà ngang ngược giống con trai như thế!” Thế là, loài người ra công ra sức làm nổi bật sự khác nhau về sinh lý nam nữ, khác nhau về thói quen, sự khác nhau về sở thích theo đuổi, cả đến sự khác nhau về trí năng và thể lực v.v... Trên thực tế, các loại khác nhau này đều làm tăng mức độ thắm thiết và tính bức xúc của việc thân thiết và yêu nhau của nam nữ, chúng đã tạo nên một bộ phận thần bí nhất trong đời người thần bí.
      Kant, nhà triết học lớn người Đức, mọi người đều biết rõ ông một đời không lấy vợ, sống cuộc sống độc thân cứng nhắc tại thành Konigsberg thuộc thành phố nhỏ Preussen. Nhưng bằng sức quan sát phi thường ông lại đã vạch ra nhiều điều huyền diệu của đặc trưng nam nữ thần bí này, đến nay đọc lại nó cũng có thể gây nên tiếng cười trong lòng mọi người.
      Một hôm, Kant vừa dạo bước trên “con đường nhỏ triết học” của ông, vừa đang suy nghĩ đặc tính kỳ diệu của nam giới và nữ giới. Ông cảm thấy trí tuệ mà nữ giới biểu hiện ra thường là tốt đẹp, đẹp như ban ngày, nó làm cho nam giới chứa chan lòng yêu mến đối với nữ giới. Trí tuệ của nam giới thì sâu lắng, thuộc loại hình thức cao cả, càng như cái cao cả của bầu không khí lúc sẩm tối, thường làm cho chúng ta kích động vô cùng.
      Trong cuộc sống, nữ giới sở dĩ luôn ghét bỏ những cái xấu và ác, thật ra không phải họ ý thức được chúng là phi nghĩa, mà là cảm thấy chúng là bẩn thỉu. Nữ giới không hiểu đâu là “cần phải”, “trách nhiệm” và buộc lòng làm vậy, họ đi làm một sự việc nào đó là hoàn toàn dựa theo sở thích của mình. Cho nên nữ giới nói chung không chịu ràng buộc bởi quy tắc. “Thượng đế” nhân từ khi sáng tạo ra nữ giới, đã đồng thời chú ý đưa vào tâm linh của họ sự đồng tình lương thiện, ban cho họ tình cảm tế nhị để biết lẽ phải. Nhưng cần nhớ rằng, bạn rất khó đòi hỏi nữ giới phải chấp nhận sự hy sinh và hạn chế.
      Kant quay sang suy nghĩ sự khác nhau của nam giới với nữ giới, ông cảm thấy rằng đối với một người nam giới để xét, nỗi sỉ nhục lớn nhất không có gì hơn là bị coi là người ngu. Còn đối với nữ giới thì nỗi sỉ nhục lớn nhất là ở chỗ bị chê là xấu xí. Nam giới và nữ giới là một thể hòa hợp cùng bổ sung lẫn nhau, thông qua hôn nhân họ kết thành một cá thể của đạo đức, bên trong tràn đầy trí tuệ của nam giới và tình thú của nữ giới. Nhưng sau khi kết hôn bằng mặt không bằng lòng, giữa họ với nhau không được đối đãi bình đẳng, thế thì sẽ hỏng bét hết. Khi người ta vừa mới kết hôn, cái có tác dụng nhất là tình cảm hiền dịu quan tâm chăm sóc, sau đó trong cuộc sống gia đình thường ngày, tình cảm này tất nhiên dần dần giảm, cuối cùng chuyển thành một thứ tình bạn.
      Mọi người cần biết rằng, bất kể bạn là nam giới hay nữ giới, đều phải ghi nhớ một điều: Kỹ xảo khôn khéo nhất là vĩnh viễn làm cho tình cảm hiền dịu quan tâm chăm sóc buổi ban đầu kết hôn đó duy trì được mãi, khiến cho niềm vui của hôn nhân không đến nỗi bị vẻ thờ ơ ghẻ lạnh và buồn tẻ vô vị bóp nghẹt hết.
      Kant nghĩ đến đây, cảm thấy rất hứng thú, điều huyền bí của nam giới và nữ giới, gia đình và hôn nhân đều bày ra trước mặt ông, lộ ra hết từng li từng tí. Ông phân cắt từng lớp từng lớp bằng con “dao phẫu thuật” tư duy đi đến những kết luận hứng thú này.
      Về đến nhà, ông vội vàng đi vào “thư phòng” lấy giấy bút viết ra các suy nghĩ vừa rồi. Đây chính là quyển sách Sự quan sát đối với tình cảm tốt đẹp và cao cả xuất bản năm 1764 đã từng chấn động một thời. Thanh niên nam nữ rất thích đọc sách này, bởi vì nó giống như một tấm gương phản chiếu mọi tập tính của nam giới và nữ giới, cũng rất bổ ích đối với việc người ta sắp xếp cuộc đời của mình ra sao.
      Kant mất tháng 2 năm 1804 tại nhà ở thành Kửnigsberg (năm 1945 đổi thành Kaliningrad thuộc Liên Xô cũ), trên mộ trang nghiêm và mộc mạc giản dị có đặt một tượng bán thân của ông, trên khắc hai dòng thơ (dịch ý) như sau:
      ở đây, người thầy vĩ đại sẽ lưu danh muôn thuở
      Các bạn trẻ! Hãy nghĩ làm sao để tên tuổi mình trường tồn!
      Kant không những dùng tinh thần cứng rắn, tư tưởng sâu xa của mình xây dựng nên một hệ thống triết học đồ sộ, mà còn dùng cái nhìn sắc bén, đầu óc minh mẫn yêu nhân loại thân thiết của mình cho người đời những lời khuyên quý báu.
      Ông thật xứng đáng là người thầy của nhân loại.
      [url="http://www.cafesangtao.com"][/url]



      http://www.cafesangtao.com
      http://www.my.opera.com/tieuboingoan
       
      #3
        Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

        Chuyển nhanh đến:

        Thống kê hiện tại

        Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

        Chú Giải và Quyền Lợi

        • Bài Mới Đăng
        • Không Có Bài Mới
        • Bài Nổi Bật (có bài mới)
        • Bài Nổi Bật (không bài mới)
        • Khóa (có bài mới)
        • Khóa (không có bài mới)
        • Xem bài
        • Đăng bài mới
        • Trả lời bài
        • Đăng bình chọn
        • Bình Chọn
        • Đánh giá các bài
        • Có thể tự xóa bài
        • Có thể tự xóa chủ đề
        • Đánh giá bài viết

        2000-2014 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9