Kiểu:
Xin chào !

 Các nhà thơ đoạt giải Nobel

Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 34 bài trong đề mục
Tác giả Bài
cacbac

  • Số bài : 412
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.10.2007
  • Trạng thái: offline
RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 12:44:19 (permalink)

 
Juan Ramon Jimenez (1881–1958) - nhà thơ Tây Ban Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1956.
Sinh ngày 24-12—1881 ở Moguer, tỉnh Huelva, học xong cao đẳng Jimenez vào Đại học Sevelle nhưng bỏ dở chừng để đi làm báo. Năm 1900, xuất bản tập thơ đầu tiên Hồn hoa tím và tiếp theo đó gần như mỗi năm một tập thơ ra đời. Sáng tác thời kỳ đầu của ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Đức và chủ nghĩa tượng trưng Pháp, giàu cảm xúc trữ tình với những hình tượng thiên nhiên đầy màu sắc. Năm 1916, J. Jiménez sang New York cưới một cô gái Mỹ (mà ông làm quen trước đó 4 năm và đã cùng nhau dịch tác phẩm của R. Tagore sang tiếng Tây Ban Nha). Chuyến đi vượt đại dương này đã đánh dấu một cột mốc trong sáng tác của ông bằng tập thơ tự do Nhật ký nhà thơ mới cưới vợ ra đời năm 1917. Từ những năm 1920, J. Jimenez được tôn vinh như một bậc thầy của thế hệ các nhà thơ mới; trong sáng tác, ông từ bỏ cách viết cũ, hướng thơ ca đến sự cởi mở, trong sáng mang tính nghệ thuật thuần túy.
Thời kỳ nội chiến Tây Ban Nha, ông được cử làm Tùy viên văn hóa danh dự ở Mỹ, nhiều lần đến đọc bài giảng ở các trường đại học Mỹ, Puerto Rico và Cuba. Năm 1939 Franko lên nắm quyền ở Tây Ban Nha, ông và vợ quyết định không quay trở về tổ quốc. Năm 1956 ông được trao giải Nobel "vì những tác phẩm thơ trữ tình, mẫu mực của tinh thần cao cả và sự tinh khiết nghệ thuật trong thơ Tây Ban Nha". Juan Jimenez là một tấm gương suốt đời tận tụy, trung thành với nghệ thuật thơ ca. Đối với ông, nghệ thuật là tôn giáo, trong đó thơ là nghi lễ duy nhất, sáng tạo là hình thức tín ngưỡng độc tôn. Thơ của Jimenez được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. Juan Ramon Jimenez mất tại Puerto Rico năm 1958 hưởng thọ 76 tuổi.

Tác phẩm:
- Hồn hoa tím (Almas de violeta, 1900), thơ
- Những bông huệ nước (Ninfeas, 1900), thơ.
- Vần điệu (Rimas, 1902), thơ.
- Những khúc ca buồn (Arias tristes, 1903), thơ.
- Những khu vườn xa (Jardines lejianos, 1904), thơ.
- Những bài thơ đồng quê (Pastorales, 1905), thơ.
- Những khúc bi ca (Elejias puras, 1908), thơ
- Những khúc ca xuân (Baladas de primavera, 1910), thơ
- Sự cô đơn âm vang (La soledad sonora, 1911), thơ
- Những bài thơ huyền ảo đau buồn (Poemas májicos y dolietes, 1911), thơ
- Mê cung (Laberinto, 1913), thơ.
- Mùa hè (Estio, 1915), thơ
- Những bài sonet trí tuệ (Sonetos espirituales, 1917), thơ.
- Nhật kí nhà thơ mới cưới vợ (Diario de un poeta recién casado, 1917), thơ
- Vĩnh cửu (Eternidades, 1918), tập thơ
- Đá và bầu trời (Piedra y cielo, 1919), thơ
- Thơ ca (Piedra, 1923), thơ
- Vẻ đẹp (Belleza, 1923), thơ
- Con thú từ độ sâu tâm hồn (Animal de fondo, 1949), thơ.


TUỔI TRẺ

Chỉ còn lại ngươi và ta
Ta và ngươi trên ban công yên lặng
Ta gọi ngươi là vợ của ta
Trong buổi sáng này ít nắng.

…Cả thiên nhiên trong lười nhác ngọt ngào
Màu sắc mờ, bóng cây tái nhợt
Còn bầu trời xám xịt
ánh sáng mùa thu mờ đục biết bao.

Ta ép sát môi vào
Và đôi mắt không mở
Còn ngươi kề đôi má
Như ngọc, như châu.

…Lá vàng chất thành đống
Trên những lối đi
Nhưng mùi hương còn thoảng
Mùi hoa hướng nhật quì.

Ta gọi ngươi là vợ của ta
Còn ngươi cúi đầu im lặng
Nhưng từ đôi mắt nóng bỏng
Hai giọt nước mắt tuôn ra.


TÔI TỪNG NÓI VỚI EM

Tôi từng nói với em, có một lần
Và em chăm chú nghe tôi, im lặng
Rằng tôi rất thích vào mùa xuân
Tình yêu mặc áo quần màu trắng.

Đôi mắt xanh thắm ngước lên
Ngắm nhìn tôi với niềm hi vọng
Chỉ bờ môi còn bé bỏng
ánh lên một nỗi buồn.

Từ dạo ấy, khi đi qua quãng trường
Tôi đi trong hoàng hôn tháng Năm yên lặng
Còn em, đứng bên cửa ngoái nhìn
Rất nghiêm túc, trong áo quần màu trắng.


KHI NGƯỜI PHỤ NỮ Ở CÙNG ANH

Khi người phụ nữ ở cùng anh…
Thì âm nhạc, lửa, hoa lá cành
Tất cả trong dịu êm, tĩnh lặng.
Còn nếu người phụ nữ không cùng anh
Thì tất cả sẽ trở nên điên cuồng
Cả âm nhạc, lửa và ánh sáng.



CÂY CẦU TÌNH YÊU XƯA

Ta lại đứng bên cây cầu tình yêu xưa
Cây cầu nối hai bờ vách đá
Con tim hãy quên bóng cành bóng lá
Và hãy quên những cuộc hẹn hò.

Giờ với ta dòng nước là bạn gái
Dòng nước đi nhưng chẳng đổi thay
Dòng nước chảy như thời gian trôi vậy
Dẫu ra đi, không từ giã người này.


TÌNH YÊU

Con tim tôi
Tựa như đám mây trĩu nặng
Cháy lên bằng lửa hoàng hôn muộn
Co thắt vào bởi nỗi đau
Xuyên qua lửa, vàng, ánh sáng.


HÃY TRAO ANH BÀN TAY

Hãy trao anh bàn tay, niềm hy vọng
Hãy theo về sau bờ giậu cùng anh
Ta đến nơi những vì sao toả sáng
Giữa tâm hồn, như ở giữa trời xanh.

Khép giùm anh – bằng bàn tay khác hẳn –
Đôi mắt anh, và sau phía lối mòn
Dẫn đường cho anh như người mù quáng
Bằng bàn tay như tuyết lạnh của em.

Nhưng mà qua miền xa thẳm mênh mông
Ta sẽ nhìn qua sắc màu buồn bã
Dưới ánh trăng đầy đặn của trái tim
Một màu xanh của tình yêu chan chứa.

Hãy chôn vùi anh, ở trong lòng anh
Khỏi cái nóng của cuộc đời hoang vắng
Để con đường trải rộng đến mênh mông
Nơi đất sâu, như bầu trời, xanh thắm.


GIẤC MỘNG CỦA EM

Giấc mộng của em – như cây cầu trong đêm vắng
Em lang thang trong tĩnh lặng trên cầu
Còn phía dưới – tiếng rì rào như trong mộng
Nhưng có phải tâm hồn và dòng nước thực đâu.



HOA HỒNG

Em đã chết
Nhưng tại sao vẫn sống nỗi buồn
Từ đôi mắt nhìn màu đen như trước?

Chẳng lẽ niềm vui khi chết không thoát được?
Và một điều còn mãi – nỗi đau khổ của ta?


ĐẠI TÂY DƯƠNG KHÔNG BỜ BẾN

Một vực thẳm của sự cô đơn
Một người đến với đại dương từ xa lắm
Một mình, cô đơn như con sóng
Con sóng một mình trên biển cô đơn.


MỘT Ý NGHĨ MÀU ĐEN

Hiện lên một ý nghĩ màu đen
Như con chim bay từ trong đêm vắng
Giữa ban ngày, bên cửa sổ ngồi lên.

Tôi không biết làm sao xua đuổi được chim!

Chim ngồi đấy, lặng im, bất động
Xa lạ với hoa và suối và sông.


TÔI KHÔNG PHẢI LÀ TÔI

Tôi không phải là tôi
Mà là ai đấy khác
Tôi đi với ai, tôi nhìn thấy ai người
Hầu như không thể nào phân biệt được
Khi tôi huyên thiên, ai im lặng
Ai tha thứ, khi tôi căm thù
Ai đến, khi tôi bỏ đi
Và ai đứng vững khi tôi ngã xuống.




TÔI MUỐN TRỞ THÀNH NGƯỜI MUÔN THUỞ

Đã đến đây, như cuộc đời, ngắn quá
Rồi chia tay, lặng lẽ một buổi chiều.
Vĩnh biệt tất cả những gì đáng yêu…
Nhưng tôi muốn trở thành người muôn thuở!

Những chiếc lá trong vườn vàng úa
Còn tôi đang huỷ hoại tâm hồn
Cháy lên sắc đồng của buổi hoàng hôn
Nhưng tôi muốn trở thành người muôn thuở!

Chao ôi, cuộc đời này đẹp quá!
Xin đừng tắt những ngọn nến ai ơi…
Hãy để cho buổi chiều đến muôn đời
Và tôi sẽ là người muôn thuở!


GỬI NHÀ THƠ

Ta hãy tạo nên những cái tên

Trời cho ta một cuộc đời ngắn quá
Và cuộc sống các loài – thì cũng thế.
Còn đến muôn đời chỉ những cái tên
Không phải tình yêu – mà bài hát về tình
Không phải cỏ hoa – mà tên gọi loài hoa cỏ.

Cả tình yêu và cả loài hoa lá
Có cuộc đời bất tử khi ai gọi tên mình

Ta hãy tạo nên những cái tên.


NGỌN GIÓ TRONG BUỔI CHIỀU

Ngọn gió trong buổi chiều thu nhè nhẹ
Cuốn đi những chiếc lá vàng.
Những hàng cây buồn bã đứng trong đêm
Chao ôi, đêm sao mà dài thế!

ánh trăng vàng lờ đờ, không sức sống
Bơi lững lờ trên những cành đen
Không tiếng khóc, chẳng nụ hôn
Trong ánh sáng của trăng đều chết lặng.

Tôi dịu dàng cùng hàng cây thỏ thẻ:
Đừng khóc thương chi những chiếc lá vàng
Sẽ nẩy lộc đâm chồi khi đến mùa xuân
Trên những cành cây mùa thu này trụi lá.

Nhưng hàng cây đứng lặng im buồn bã
Và tiếc thương cho mất mát của mình…
Xin đừng khóc cho những chiếc lá vàng
Và cả lá xanh đang dần dần úa.


KHÔNG CÓ GÌ

Như một cái tháp cao – những ý nghĩ của anh
Trong sâu thẳm của em xếp lên chóp ngọn
Và con tim từ trên cao chiếu vào trên biển
Bọt màu hồng của sóng biển trào dâng.

Còn anh cháy lên như màu vàng của lửa
Trong bóng tối của mình anh đốt bình minh
Trụ đỡ duy nhất ngự trị ở trong mình
Thế giới này… có là vô tích sự?

Không có gì!… và con tim chối bỏ
Chìm vào sâu, và trong đáy bầu trời
Lạnh lẽo vô cùng, đờ đẫn lẻ loi…

Em - đấy là em, mùa xuân! tâm hồn hớn hở
Là lửa, nước, là không khí, đất đai
…còn anh chỉ là ý nghĩ và không có gì ngoài…



EM ĐỪNG VỘI

Em đừng vội, bởi vì rằng tất cả
mọi con đường dẫn em đến với mình.

Em đừng vội, nếu không sẽ muộn màng
nếu không, cái “tôi” của riêng em đó –
đứa bé con, không phút chốc – sinh ra
và em muôn thuở
không đuổi kịp bao giờ!



TRĂNG CÔ ĐƠN

Màu tím vang lên, và ánh trăng buồn bã
Trải từ phương đông bằng sương đến bình minh
Tiếng chó sủa chốn ngoại ô lặng ngừng
Thời gian biến mất, rồi chìm trong hoang dã.

ánh trăng rót lên hàng dương nghĩa địa
Trong nhà thờ xưa, rêu sáng dưới trăng
Nước mắt ánh lên trong mạch nước vội vàng
Mặt đất hoang vu. Và chỉ còn biển cả…


BAY ĐI NHỮNG MŨI TÊN VÀNG

Bay đi những mũi tên vàng
Từ mùa thu ngoài mặt trận.
Một nỗi đau ngự trị giữa không gian
như thuốc độc trong vết thương đau đớn.

Còn ánh sáng, và hoa, và đôi cánh
như những người chạy nạn đứng trên bờ.
Và con tim đang bơi ra ngoài biển
để trên bờ bao nhiêu nỗi buồn lo.

Tất cả than phiền, tất cả gọi
ai ai cũng ngóng đợi trả lời
câu hỏi: ngươi ở đâu?.. ngươi đi đâu đấy?..
nhưng câu trả lời không rõ một ai…


NỖI BUỒN TỘI NGHIỆP CỦA TÔI

Màn sương trải rộng
chứ không phải dòng sông.
Và làm tan sương – là sóng
như một nỗi buồn.

Làn khói vẫy vùng
chứ không phải là đôi cánh.
Rồi khói tản ra – trở thành
ánh sáng.

Không phải tâm hồn hành hạ
mà chỉ giấc mơ.
Và tan ra tất cả
như một giấc mơ.

CÓ PHẢI LỜI EM

Có phải lời em là tiếng vang của suối
đã mất rồi trong phản chiếu ánh hoàng hôn
hay ánh phản chiếu của hoàng hôn sau cuối
trên mặt nước trôi đi, và đã không còn?

 
#16
    cacbac

    • Số bài : 412
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 08.10.2007
    • Trạng thái: offline
    RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 12:49:11 (permalink)

     
    Par Lagerkvist (1891-1974) – nhà văn, nhà thơ Thụy Điển đoạt giải Nobel Văn học năm 1951.
    Sinh ngày 23-5-1891, từ nhỏ đó yêu thích văn chương và có ý định trở thành nhà văn. Tốt nghiệp Đại học năm 1912, ông bắt đầu in thơ và truyện. Thời kỳ Thế chiến I ông đi sang Đan Mạch, Pháp, Italia và sống ở đó nhiều năm. Sáng tác của ông đề cập đến những vấn đề muôn thuở: cái Thiện và cái Ác trong con người. Năm 1925, ông cho ra đời cuốn tự truyện Người khách của thực tế mang quan điểm nhân đạo, được viết bằng ngôn ngữ giản dị nhưng mang tính nghệ thuật cao. Năm 1940, ông được bầu vào Viện Hàn lâm Thụy Điển. Tiểu thuyết Barabbas (1950) là đỉnh cao sáng tác của P. Lagerkvist, kể lại cốt truyện của Kinh Phúc Âm một cách chân thực và đầy sức thuyết phục, ngay lập tức được dịch sang 9 thứ tiếng, được dựng thành phim. Năm sau, nhà văn nhận giải Nobel vì những tác phẩm mang sức mạnh nghệ thuật và những tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi muôn đời vẫn đứng trước loài người. Tiểu thuyết Barabbas về nỗ lực của con người tìm kiếm đức tin, đề cập đến những vấn đề cấp thiết nhất của tồn tại con người một cách hết sức xác thực và dũng cảm. Ngoài văn xuôi, thơ và kịch của ông cũng rất nổi tiếng ở Thụy Điển. Par Lagerkvist mất ngày 11-7-1974 ở Stockholm.

    Tác phẩm:
    -Những con người (Manniskor, 1912), truyện dài
    - Sắt và người (Jam och manniskor, 1915), tập truyện
    - Nỗi buồn (Angest, 1916), thơ
    - Thời khắc khú khăn I,II,III (Den svara stunden, 1918), kịch
    - Bớ mật thiên đường (Himlens hemlighet, 1919), kịch
    - Nụ cười vĩnh cửu (Det eviga bendet, 1920), truyện dài
    - Con đường của người hạnh phúc (Den lyckliges vag, 1921), thơ
    - Người vô hình (Den osynlige, 1923), kịch
    - Những truyền thuyết anh hùng đáng sợ (Onda sagor, 1924), tập truyện ngắn
    - Vị khách của thực tại (Gaest hos verkligheten, 1925), tự truyện
    - Bài ca trái tim (Hjartats sanger, 1926), thơ
    - Cuộc sống bị chinh phục (Det besegrade livet, 1927), tự truyện
    - Người đó sống hết cuộc đời (Han som fick leva om sitt liv, 1928), kịch
    - Bên đống lửa (Vid legeraldem, 1932), tập thơ
    - Người không có tâm hồn (Mannen utan sjal, 1936), kịch
    - Thơ và cuộc chiến (Song och strid, 1940), tập thơ
    - Thằng lùn (Dvọrgen, 1944), tiểu thuyết
    - Hãy để cho mọi người được sống (Lat manniskam leva, 1949), kịch
    - Barabbas (Barabbas, 1950), tiểu thuyết
    - Đất hoàng hôn (Aftonland, 1953), tập thơ.
    - Sibyllan (1956), tiểu thuyết
    - Cái chết của Ahasverus (Ahasverus dod, 1960), tiểu thuyết
    - Người hành hương trên biển (Pilgrim pa havet, 1962), tiểu thuyết

    EM MỈM CƯỜI

    Em mỉm cười – mọi tinh cầu vụt tắt
    Em là ước mơ, là hy vọng của anh
    Dành cho em những gì có trên mặt đất
    Đời không em như sa mạc hoang tàn.

    Em lấy đi – nghĩa là em ban tặng
    Tiếng xạc xào, điều bí ẩn cho anh
    Em mỉm cười – mọi tinh cầu tắt ngấm
    Em mỉm cười – chết lặng cả xung quanh.



    KHÔNG HOÀNG HÔN, NĂM THÁNG

    Không hoàng hôn, năm tháng bắt được ta
    Giữa bầu trời – màu xanh và tĩnh lặng
    Ta có nhau trong đời, có nghĩa là
    Cả vũ trụ dịu êm và đằm thắm.

    Em xinh đẹp, tắm mình trong sương sớm
    ánh sáng mặt đất trong sáng, rõ ràng
    Em thánh thiện, tuyệt vời trong kí ức của anh
    Anh chia sẻ cùng em phút giây âu yếm.


    CHÀNG KỊ SĨ PHÓNG NGỰA MỘT MÌNH

    Chàng kị sĩ phóng ngựa một mình
    Trong đêm dài sau tiếng guốc
    Còn những bônh hoa rạo rực
    Như lửa cháy lên.

    Tâm hồn chàng trai như lửa
    Và mặt đất mang thai
    Và những bông hoa đã nở
    Nở ra trong buổi sáng này
    Hoa hãy còn rất xa và rất lạ
    Để thành kỉ niệm về chàng trai
    Đã từ lâu lắm và rất xa xôi
    Ở ngoài chiến địa.

     
    #17
      cacbac

      • Số bài : 412
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 08.10.2007
      • Trạng thái: offline
      RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 17:51:48 (permalink)

       
      Nhà thơ, nhà viết kịch, nhà lý luận, phê bình văn học Thomas Stearns Eliot sinh ra trong một gia đình tư bản Anh di cư sang Mỹ từ thế kỷ 17. Bố – Henry Ware Eliot là một doanh nhân thành đạt, mẹ – Charlotte Champe Stearns là người viết văn và làm thơ sùng đạo. Ông học triết học và ngôn ngữ ở đại học Harvard, sau đó học tiếp văn học và ngôn ngữ ở Đại học Sorbonne (Paris, Pháp), Đại học Marburg (Đức), Đại học Oxford (Anh). Từ năm 1914 thường xuyên sống ở Anh. Năm 1917, T. S. Eliot làm trợ lý giám đốc một tạp chí thuộc “phái hình tượng” - tờ Người vị kỷ (The Egoist). Tập thơ đầu tiên của ông là Prufrock và những bài thơ khác (1917) chịu ảnh hưởng rõ rệt của chủ nghĩa tượng trưng. T. S. Eliot viết phê bình văn học từ quan điểm thuần mỹ học, gạt bỏ xuống hàng thứ yếu những khía cạnh thuộc về tiểu sử của tác giả.

      T. S. Eliot trở nên nổi tiếng như một nhà thơ ngay sau khi trường ca Đất hoang (1922) ra đời với sự giúp đỡ to lớn của E. Pound, trong đó ông đưa ra chuẩn đoán trạng thái tinh thần của Châu Âu sau Thế chiến I, cho thấy sự trống rỗng tâm hồn của cả một thế hệ. Hình thức ngắt đoạn của trường ca này, lần đầu xuất hiện trên tạp chí The Criterion do T. S. Eliot sáng lập, càng làm tăng thêm ấn tượng về sự mất định hướng của con người.
      Tại Anh, ông làm việc cho nhà băng Lloyd, rồi làm giám đốc Nhà xuất bản Faber & Gweger (sau đổi thành Faber & Faber). Năm 1927, T. S. Eliot nhập quốc tịch Anh và cải sang Anh giáo. Năm sau ông viết tiểu luận Lanczenot Endrus đánh dấu bước ngoặt mang tính tôn giáo. Cùng với tập thơ xuất bản năm 1930 là Ngày thứ Tư tro bụi (Ash Wednesday), tư tưởng tôn giáo bắt đầu hiện diện thường xuyên trong tất cả các tác phẩm của ông.
      Vở kịch Vụ giết người trong nhà thờ (1935) đánh dấu bước khởi đầu công việc thực sự của ông trong lĩnh vực sân khấu. Những năm 1949-1959 ông cho ra đời một loạt các vở kịch.

      Eliot là người cả đời luôn làm lại mình, bắt đầu lại, sáng tạo lại: từ người Mỹ làm thành người Anh, từ công dân nước cộng hòa thành công dân nước theo chế độ quân chủ lập hiến, từ người theo đạo Tin lành thành tín đồ Anh giáo, từ người theo đuổi cách sống tự do, phóng túng thành người theo đuổi chủ nghĩa khổ hạnh. Và ông không thả mình theo cảm hứng của thơ ca mà bắt thơ ca đi theo tư tưởng của mình. Đã từng có một thời vì Eliot mà thế giới thơ ca Anh-Mỹ có sự phân rẽ sâu sắc: 3/4 các nhà thơ chịu sự ảnh hưởng thơ hoặc lý thuyết thơ của Eliot, 1/4 còn lại nhất quyết phản đối thi pháp mà Eliot đưa ra. Tuy vậy, một cuộc cách mạng thi ca mới đã không xảy ra. Không xảy ra vì trong thơ ca Anh-Mỹ vai trò chủ đạo thuộc về thơ ca bác học, mà thơ ca bác học ủng hộ Eliot. Ông là nhà cách tân thi ca, mặc dù vẫn tự nhận là học trò của Ezra Pound (1885-1972) – người phát hiện và cổ vũ, khuyến khích nhiều nhà thơ, nhà văn, trong số họ có nhiều người rất nổi tiếng như James Joyce (1882-1941), Robert Frost (1874-1963), Ernet Hemingway (1899-1961). Vinh quang đến với Eliot kể từ sau chiến tranh thế giới I trong khuôn khổ của dòng văn học “thế hệ mất mát” (lost generation). Eliot viết về sự mất mát của văn minh phương Tây, của cả nhân loại nhưng ngay từ đầu vẫn quan niệm đấy là bi kịch của thế hệ mất mát…
      Sáng tác của Eliot T. S. có thể chia làm ba giai đoạn: từ 1909-1920, viết những tác phẩm có khuynh hướng bài tư bản và tôn giáo. Đây là thời kì tìm kiếm hình thức thể hiện và chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng. Năm 1917 ông làm biên tập tạp chí Egoist. Những năm 20 là một giai đoạn mới trong sáng tác của ông với những tác phẩm tiêu biểu như Đất hoang (1922); Những kẻ rỗng tuyếch (1925). Tính qui mô, triết lý sâu sắc và cách thể hiện hình tượng thơ ca độc đáo đã cho phép Eliot trở thành một nhà cách tân có ảnh hưởng lớn nhất đối với văn học Anh-Mỹ những năm 20-30. Năm 1922 Eliot sáng lập tạp chí Criterion (xuất bản đến năm 1939). Tạp chí này chủ yếu đang tải những tác phẩm của Eliot và những tác giả khác gần gũi về quan điểm với ông. Cuối những năm 20, đầu những năm 30 thế giới quan của Eliot có những thay đổi cơ bản. Cảm hứng phủ nhận và lo lắng được thay bằng cảm hứng tìm kiếm những giá trị đích thực. Tiêu biểu của thời kỳ này là những tác phẩm: Thứ Tư tro bụi (1930), Bốn khúc tứ tấu (1943). Trong các tác phẩm này Eliot sử dụng những phạm trù triết học (thời gian, nơi chốn, sự vô tận vv…) cùng với học thuyết của Anh giáo. Và cũng như hai giai đoạn trên, sáng tác thơ ca của ông gắn liền với hoạt động của một nhà lí luận, phê bình văn học, nhà triết học. Những năm 30 Eliot cố gắng thử nghiệm trong hoàn cảnh lịch sử mới một thể loại quen thuộc của thời đại Elizabeth là kịch thơ: Vụ giết người trong nhà thờ (1935), Bữa tiệc Cocktail (1950), tuy vậy, sự thành công không mấy đáng kể… Năm 1948 ông được trao tặng giải Nobel văn học với tư cách là một nhà thơ.

      Tác phẩm:
      - Bản tình ca của J. Alfed Prufrock (The love song of J. Alfed Prufrock, 1911), thơ.
      - Prufrock và những quan sát khác (Prufrock and other observation, 1917), thơ.
      - Suy ngẫm về thơ tự do (Reflexions on vers libre, 1917), tiểu luận.
      - Rừng thiêng (The sacred wood, 1920), phê bình.
      - Đất hoang (The waste land, 1922), trường ca.
      - Những kẻ rỗng tuếch (The hollow men, 1925), trường ca.
      - Lanczenot Endrus (1928), tiểu luận.
      - Ngày thứ tư tro bụi (Ash wednesday, 1930), thơ.
      - Chức năng của thơ ca và chức năng của phê bình (The use of poetry and the use of criticism, 1933), tiểu luận.
      - Đá tảng (The rock, 1934), thơ.
      - Vụ giết người trong nhà thờ (Murder in the cathedral, 1935), kịch.
      - Những tiểu luận cũ và mới (Essays ancient and modern, 1936), tiểu luận.
      - Những chú mèo (Old possum's book of practical cats, 1939), thơ.
      - Đoàn tụ gia đình (The family reunion, 1939), thơ.
      - Bốn khúc tứ tấu (Four quartets, 1943), trường ca.
      - Bữa tiệc cocktail (The cocktail party, 1949-1950), kịch.
      - Ghi chép hướng tới việc định nghĩa về văn hóa (Notestowards the denfinition of the culture, 1950), tiểu luận.
      - Thơ và kịch (Poems and plays, 1951), tiểu luận.
      - Thư kí riêng (The confidence clerk, 1954), kịch.
      - Về thơ và các nhà thơ (On poetry and poets, 1957), tiểu luận.
      - Chính nhân khả kính (The elder statesman, 1959), kịch.





      BẢN TÌNH CA CỦA J. ALFRED PRUFROCK(1)

      S’io credesse che mia risposta fosse
      A persona che mai tornasse al mondo,
      Questa fiamma staria senza piu scosse.

      Ma perciocche giammai di questo fondo
      Non torno vivo alcun, s’i’odo il vero,
      Senza tema d’infamia ti rispondo.

      Nào, ta hãy lên đường, anh và em
      Trong buổi chiều lặng lẽ, dịu êm
      Như người bệnh đang nằm trên bàn mổ
      Ta hãy đi theo từng con phố nhỏ
      Nơi vỏ sò chất đống ngổn ngang
      ở nơi đó những quán rượu rẻ tiền
      Những phòng trọ cho những đêm không ngủ
      Đường phố dẫn vào cuộc tranh chấp, cãi cọ
      Dẫn ta đến tận nơi
      Và cho em, một câu hỏi chết người
      Em đừng hỏi rằng “điều gì thế”
      Nào, ta hãy đi về nơi đó.

      Trong phòng khách những người phụ nữ chuyện trò
      Họ nói chuyện về Michelangelo(2).

      Sương màu vàng kì cọ trên mặt kính
      Khói màu vàng chạm vào trên mặt kính
      Liếm vào mọi góc của buổi hoàng hôn
      Bám vào những rãnh mương
      Trải lên ống khói
      Trên bậc thềm bay nhảy
      Nhìn thấy buổi chiều tháng Mười dịu êm
      Và ngôi nhà đang ngủ im lìm.

      Rồi đây, sẽ đến một thời gian
      Trên đường phố làn khói màu vàng
      Sẽ chùi lên mặt kính
      Rồi sẽ đến một thời gian
      Đối mặt phải sẵn sàng
      Thời giết chóc và tạo dựng
      Thời cho lao động
      Câu hỏi này bày trên đĩa của em
      Thời cho em và cho anh
      Thời của một trăm điều do dự
      Một trăm cái nhìn ra và sửa chữa
      Khi cầm lấy cốc trà.

      Trong phòng khách những người phụ nữ chuyện trò
      Họ nói chuyện về Michelangelo.

      Quả là sẽ đến một thời gian
      Khi ngạc nhiên rằng “Không lẽ ta đã dám?”
      Còn thời gian bước xuống bậc thang
      Thời gian rảo bước trên mái tóc anh
      (Thiên hạ sẽ nói rằng: “Đầu hắn ta đã bạc!”)
      Chiếc áo khoác của anh cổ cồn cứng nhắc
      Chiếc ca-ra-vát của anh có hình dáng giản đơn
      (Thiên hạ sẽ nói rằng: “Hắn đã yếu tay chân!”)
      Chẳng lẽ anh đã dám
      Làm cho vũ trụ này lo lắng?
      Mỗi phút – là thời gian
      Để quyết định, nghi ngờ hay lật ngược hoàn toàn.

      Điều này anh đã biết từ xưa
      Những buổi chiều, những buổi sớm, buổi trưa
      Cuộc đời mình anh dùng thìa cà phê đo đếm
      Anh nghe những giọng hát từ đâu xa lắm
      Nơi mà người ta theo nhạc hát lên
      Là bởi vì anh đã dám?

      Những điều này từ lâu anh đã biết
      Những đôi mắt gắn anh vào công thức
      Dán nhãn gim trên tường
      Anh nằm trong đó thở than
      Và anh bắt đầu
      Khạc nhổ từ đầu ghép hai mảnh ván
      Chẳng lẽ là anh lại dám?

      Và những bàn tay này anh đã biết từ xưa
      Những bàn tay đeo vòng, trắng và trọc lóc
      Dưới ánh sáng ngọn đèn, có màu nâu mái tóc
      Mà cũng có thể là
      Mùi nước hoa từ quần áo tỏa ra?
      Những bàn tay khăn quàng đem quấn
      Chẳng lẽ là anh lại dám?
      Và làm sao anh có thể bắt đầu?
      ………………………………….

      Buổi hoàng hôn anh thơ thẩn trên những đường phố nhỏ
      Và nhìn khói toả ra từ những ngôi nhà
      Của những người cô đơn cúi mình bên cửa sổ?..

      Ôi giá mà anh là hai càng cua bờm xờm
      Chạy trốn vào trong đáy biển lặng im!
      …………………………………….

      Và buổi chiều đi vào đêm rồi êm đềm ngủ
      Những bàn tay ấp ủ
      Mệt mỏi… ngủ say… hay chỉ giả vờ
      Ngủ say sưa ở dưới chân ta.
      Có thể, sau khi uống trà và ăn bánh ngọt
      Không cần đi vào những miền không thể biết?
      Nhưng anh đã khóc, ăn chay, đã khóc và nguyện cầu
      Và anh nhìn thấy trên mặt đĩa phẳng mái đầu.
      Anh không phải nhà tiên tri – và đây không phải là điều gì vĩ đại
      Anh nhìn thấy một lần và trước mặt anh lửa cháy
      Một Người hầu(3) mặc áo khoác của anh và khúc khích cười
      Nói tóm lại là anh đã thôi.

      Và liệu có cần gì cho anh, sau tất cả
      Sau bánh ngọt, cốc trà, trong lặng lẽ
      Nói một điều gì đó về em và anh
      Liệu có cần thiết chăng?
      Với nụ cười rũ bỏ điều cấm đoán
      Ôm cả hoàn cầu trong lòng im lặng
      Và xoay quả đất với câu hỏi chết người
      Rằng: “Ta là Lazarus từ cõi chết trở về đây
      Ta quay trở về để nói ra tất cả” –
      Nếu ai đó cái gối trên đầu đã sửa
      Và nói rằng: “Không phải thế đâu
      Tất cả đều không phải thế”.

      Thì anh có cần gì sau đó
      Thì anh còn cần thêm gì nữa
      Sau những buổi hoàng hôn, sân trước và những đường phố mưa giăng
      Sau ấm chén, sách vở, váy áo rải trên sàn
      Và điều này, và hơn thế nữa?
      Anh cứ ngỡ rằng lời chẳng có
      Nhưng giống như khuôn mẫu trên màn hình
      Thì liệu có còn cần thiết cho anh
      Nếu như ai đó sửa lại khăn và gối
      Và quay nhìn vào cửa sổ rồi nói:
      “Tất cả không phải thế đâu
      Tất cả đều không phải thế”.
      ……………………………..

      Không! Anh không phải là Hamlet và không thể trở thành
      Anh chỉ là người hầu, những kẻ ở xung quanh
      Là kẻ bị người ta đẩy ra sân khấu
      Rồi khuyên bảo phải thế này thế nọ
      Người được tôn kính và rất sẵn lòng
      Người cẩn trọng và khôn ngoan
      Người cao sang nhưng hơi đần một chút
      Theo thời gian có lẽ thành lố bịch
      Theo thời gian thành kẻ pha trò.

      Anh ngày một già thêm
      Có lẽ anh phải xắn quần lên.

      Liệu anh còn được ăn quả đào? Còn chải tóc trên trán?
      Còn đi ra biển mặc quần màu trắng.
      Và anh nghe những nàng tiên cá hát vang lên.

      Nhưng bài hát này không phải để cho anh.

      Anh thấy những nàng tiên cá bơi trên sóng biển
      Những con sóng vuốt ve làn tóc trắng
      Khi ngọn gió rì rào trên mặt nước trắng và đen.

      Ta lang thang trong xứ sở của tiên
      Nghe giọng nói của người trần và ta nức nở
      Giọng nói gọi ta trở về trần thế, và ta chìm.
      _____________

      (1)Eliot viết bài thơ này năm 1910, khi đang còn là sinh viên Đại học Harvard, viết xong năm 1911. Bốn năm sau đăng ở tạp chí Poetry (June 1915). Sau đó in trong tập thơ đầu tiên Prufrock and Other Observations (1917). Đề từ của bài thơ này trích từ Thần khúc của Dante:

      Giá tôi biết rằng câu chuyện của mình
      Nghe thấy được người còn quay trở lại
      Thì ngọn lửa của tôi đã không run.

      Nhưng bởi vì không còn đường trở lại
      Tôi chưa từng nghe chuyện ấy bao giờ
      Nên tôi trả lời, xấu hổ chi mà ngại.
      (Thần khúc_Địa ngục, khúc ca XXVII, dòng 61-66)

      Ý nghĩa của những dòng thơ này như sau: giá như nhân vật tin chắc rằng câu chuyện của anh ta có ai đó nghe được và sau này quay trở lại trần gian kể cho mọi người những điều đã nghe thì anh ta đã chẳng nói ra. Điều đó có nghĩa là Bản tình ca… của Eliot không ca lên cho tất cả cùng nghe. Đọc bài thơ đến hết ta sẽ hiểu ra rằng Prufrock không hề yêu ai cả - ít ra là trong trường hợp Bản tình ca… này, không yêu một người phụ nữ nào trong những lời độc thoại của mình. “Em và anh” ở đây là Prufrock tự nói với chính mình đấy thôi, còn những người phụ nữ thì chỉ chuyện trò về Michelangelo. Đây là bài ca tình yêu thời hiện đại của chàng sinh viên Đại học Harvard, nếu có thể gọi đấy là tình yêu.
      Prufrock, một mặt nào đó cũng giống như Hamlet với “to be, or not to be”(nên hay không nên), rất thận trọng và lưỡng lự, chàng cứ sợ rằng sau lời tỏ tình của mình thì cả thế giới này sẽ sụp đổ. Mặt khác, không biết liệu có nên làm cho thế gian phiền muộn hay không, nếu như đằng nào thì người đời cũng không nghe, không hiểu mình? Và, ngay cả nếu được như Lazarus (La-xa-rơ: Tân Ước_Giăng11: 43,44) từ cõi chết trở về muốn kể lại những điều về cuộc sống, cái chết thì cũng chẳng ai thèm nghe: những người phụ nữ trong phòng khách kia chỉ quan tâm những điều mà họ muốn nói. Thì khi ấy mong ước được trở thành “hai càng cua bờm xờm/ chạy trốn vào trong đáy biển lặng im…” Chủ đề của Bản tình ca… là không yêu được. Từ không yêu được đến không sống được cũng chẳng xa xôi gì, bởi thế ở đoạn cuối ta thấy xuất hiện các nàng tiên cá (các nàng tiên cá tượng trưng cho vẻ đẹp chết người, vẻ quyến rũ của phụ nữ) và bài thơ kết thúc bằng lời “ta chìm” (we drown).
      (2)Michelangelo Buonarroti (1475-1564) – nhà điêu khắc, họa sĩ, kiến trúc sư, nhà thơ Italia thời Phục hưng.
      (3)Người hầu (the eternal Footman) – ở đây có nghĩa là cái chết, luôn luôn chuẩn bị bộ quần áo cuối cùng cho con người - áo quan.






      ĐẤT HOANG

      "Nam Sibyllam quidem Cumis ego ipse
      oculis meis vidi in ampulla pendere, et cum
      illi pueri dicerent: Σίβυλλα τί θέλεις;
      respondebat ilia: άποθανείν θελω".
      (Tôi từng nhìn thấy Xibila ở Cumai ngồi trong chai.
      Khi bọn trẻ hỏi: “Bà muốn gì, Xibila?”
      Xibila trả lời: “Muốn chết” (tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp cổ).

      Tặng Ezra Pound
      il miglior fabbro.
      (bậc thầy cao hơn tôi (tiếng Italia)(1).

      I. Lễ mai táng người chết

      Tháng tư là tháng khắc nghiệt, gây ra
      Màu tím tử đinh hương của đất, rồi hòa
      Ký ức với ước mong, và gây xúc động
      Nguồn cội mơ màng bằng mưa xuân trút xuống.
      Mùa đông sưởi ấm lòng ta
      Chở che mặt đất bằng tuyết dày quên lãng
      Nuôi cuộc đời bằng những cọng cây khô.
      Mùa hè đến bất chợt trên hồ Starnbergersee(2)
      Với những cơn mưa, chúng em dừng chân bên dãy cột to
      Sau đó đi về Hofgarten trong ánh nắng
      Chúng em uống cà phê và suốt cả giờ trò chuyện.
      Bin gar keine Russin, stamm’ aus Litauen, echt deutsch.
      (Em không phải người Nga, sinh ở Lít-va, là người Đức chính cống)
      Ngày còn bé chúng em thường đến chơi với người anh
      Hoàng tử Áo – anh ấy rủ em đi xe trượt tuyết
      Thấy em sợ hãi thì anh ấy động viên:
      Marie, em giữ cho chắc vào. Ta bắt đầu đầu trượt.
      Giữa núi đồi sẽ thanh thoát nhẹ nhàng.
      Em đọc sách ban đêm và đi về phương Nam mùa đông.

      Rễ nào bám vào, cành nào mọc lên
      Từ đá vỡ này? Con người trần(3)
      Không thể nói ra, ước chừng, vì chỉ biết
      Một đống hình vỡ, nơi ánh mặt trời đập
      Cây chết không cho bóng, cào cào chẳng làm khuây(4)
      Đá khô không có nước, mà chỉ có ở đây
      Chiếc bóng của loài đá đỏ(5)
      (Hãy đứng dưới bóng của loài đá đó)
      Và em sẽ chỉ cho anh một cái gì đó
      Không như cái bóng người buổi sáng ở sau lưng
      Hay cái bóng buổi chiều ở trước mặt anh
      Em sẽ chỉ ra trong một nắm tro tàn sợ hãi.
      Frisch weht der Wind(6)
      Der Heimat zu.
      Mein Irsch Kind
      Wo weilest du?
      (Mát lành cơn gió thổi
      Gió thổi về quê hương.
      Em nơi mô chờ đợi
      Hở cô bé Ai-len?)
      “Năm ngoái người trao em hyacinths(7) lần đầu tiên
      Người ta gọi em là lan dạ hương thiếu nữ”.
      – Nhưng khi ta trở về từ vườn Hyacinth đó
      Tay em đầy hoa và mái tóc đầy sương
      Anh không nói nên lời, đôi mắt anh mơ màng
      Dở sống, dở chết, anh không biết gì hết cả
      Anh nhìn vào con tim ánh sáng – và lặng lẽ
      Od’ und leer das Meer(8).
      (Biển hoang vu, vời vợi, triền miên).

      Bà Sosostris(9) nhìn thấu được cả những cái vô hình
      Dù bà có bị cảm lạnh nhưng mà vẫn
      Nổi tiếng khắp châu Âu là người đoán đúng
      Với một cỗ bài. Bà nói: con bài của anh kia
      Người thủy thủ bị chìm của xứ Phê-ni-xi(10).
      (Hãy xem kìa: đôi mắt như ngọc châu lấp lóa)
      Còn đây là Belladonna(11), bà chúa tể của bao vách đá
      Bà chủ của những tình thế nọ kia.
      Người đàn ông với ba cây gậy, và đây bánh xe
      Còn đây là nhà thương gia một mắt
      Quân này trống, có vật gì trên lưng được đặt
      Thì ta chẳng nhìn ra. Không nhận ra
      Người treo cổ. Hãy coi chừng chết đuối.
      Ta thấy một đoàn người đi quanh vòng ấy.
      Cám ơn. Nếu anh nhìn thấy ngài Equitone(12)
      Thì nói rằng lá số ta mang đến cho ông
      Thời buổi này hãy nhớ dè chừng, cẩn thận.

      Thành phố có vẻ như trong tưởng tượng
      Dưới làn sương mù của buổi sáng mùa đông
      Người ta chen chúc nhau trên cầu Luân Đôn
      Tôi đã không nghĩ rằng thần chết bắt nhiều người ghê gớm(13).
      Những tiếng thở dài trong không trung hiếm hoi và ngắn(14)
      Và mỗi người đều đưa mắt nhìn xuống bàn chân.
      Đi lên đồi và đi xuống phố King William(15)
      Nơi đồng hồ chuông Saint Mary Woolnoth buông xuống
      Âm thanh chết của giờ thứ chín.
      Tôi nhìn thấy một người quen và tôi gọi: “Stetson!
      Có phải ta đã cùng chiến đấu trên tàu ở Mylae(16) không?
      Cái xác mà anh chôn ở trong vườn năm ngoái
      Có xanh tốt? Có nở hoa, kết trái?
      Có sống qua được băng giá của đời?
      Hãy tránh xa chó, chó không hẳn là bạn của người
      Kẻo nó dùng móng chân của mình đào bới lại!(17)
      Anh! Hypocrite lecteur! – mon semblable, – mon frere!”(18)
      (Anh! Bạn đọc đạo đức giả! – người giống tôi, – người anh em của tôi!)
      ___________

      Trường ca “Đất hoang” in lần đầu ở tạp chí Criterion (London) tháng 10 – 1922. “Đất hoang” là biểu tượng của châu Âu sau chiến tranh thế giới I, khủng hoảng tinh thần, thiếu lòng tin… Tuy vậy ẩn ý của trường ca là những cuộc truy tìm chiếc Chén Thần (Holy Grail), chiếc chén mà Chúa Giê-su đã uống trong bữa ăn cuối cùng. Eliot lên hệ với truyền thuyết trong tác phẩm “Cành vàng” của J. Fraser. Vua Cá (Fisher King – biểu tượng của cuộc sống) bị làm bùa phép và bị giết, mặt đất trở thành đất hoang. Chàng hoàng tử Perceval (Percyvelle) giải thoát được cho nhà vua bằng cách vượt qua nhiều thử thách tìm đến Nhà Nguyện để nhận biết những nghi lễ của Chén Thần… Eliot thường xuyên so sánh, đối chiếu hiện tại với quá khứ.
      Trường ca có 5 phần. Chúng tôi trích dịch phần I – là phần nổi tiếng nhất, thường được đưa vào các tuyển tập. Trong các tác phẩm của mình, Eliot dùng tiếng Anh xen lẫn với tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Italia, tiếng Hy Lạp cổ… Trung thành với nguyên tác chúng tôi dịch phần tiếng Anh còn các ngôn ngữ khác để nguyên như trong nguyên tác và thêm phần tiếng Việt trong dấu mở, đóng ngoặc.
      (1)Đề từ của trường ca lấy từ tác phẩm Satyricon (chương 48) của nhà văn La Mã Arbite (Gaius) Petronius (? – 66). Xibila ở Cumai (the Cumaean sibyl) xin thần Apollo cho một cuộc sống vĩnh cửu nhưng quên xin một tuổi trẻ vĩnh cửu. Cơ thể của Xibila nhăn nheo, teo tóp bỏ được vào trong chai. Trong “Đất hoang” Xibila trở thành bà Sosostris, là người giống như nhà tiên tri mù Tiresias trong thần thoại Hy Lạp. Theo thần thoại Hy Lạp, Tiresias biến thành phụ nữ trong bảy năm rồi lại trở về làm đàn ông, sau đó trở thành người trọng tài trong cuộc tranh luận giữa các vị thần (Zeus và Hera): Ai là người nhận được nhiều hơn khoái cảm của tình yêu – đàn ông hay phụ nữ? Khoái cảm của phụ nữ mạnh hơn khoái cảm của đàn ông gấp chín lần – kết luận của Tiresias. Vì điều kết luận này mà nữ thần Hera tức giận, đã làm cho Tiresias trở thành mù nhưng được thần Zeus ban cho một cuộc sống trường thọ.
      Bậc thầy cao hơn tôi (il migllior fabbro) – đây là câu trả lời của Guido Guinizelli nói về A. Daniel trong những lời trò chuyện với Dante. (Dante. Tĩnh ngục, XXVI, 112-118).
      (2)Starnbergersee – hồ nước ở gần Munchen (Munich). Hofgarten là tên một công viên.
      (3)Xem: Cựu ước_Ê-xê-chi-ên 2:1 (chú thích của Eliot): Hỡi con người, chân ngươi hãy đứng, ta sẽ phán cùng ngươi. ở chương 37:3 Chúa hỏi Ê-xê-chi-ên: Hỡi con người, những hài cốt này có thể sống chăng? Và Ê-xê-chi-ên trả lời: Lạy Chúa Giê-hô-va, chính Chúa biết điều đó!
      (4)Xem: Cựu ước_Truyền đạo 12:5 (chú thích của Eliot), nơi người truyền đạo nói về những ngày gian nan, khó nhọc:
      Lúc ấy người ta sợ hãi lên cao
      Đi trên đường sẽ vô cùng khiếp sợ
      Và sẽ trổ bông những khóm hạnh đào
      Cào cào nặng, ước ao không còn nữa.
      (5)Xem: Cựu ước_Ê-sai 32:2: Sẽ có một người như nơi núp gió và chỗ che bão táp, như suối nước trong nơi đất khô, như bóng vầng đá lớn trong xứ mòn mỏi.
      (6)Mát lành cơn gió thổi... lời thơ trích từ vở nhạc kịch câu chuyện tình “Tristan und Isolt” (Trixtăng và Iđơn, tiếng Đức) của Richard Wagne (1813-1883).
      (7)Hyacinth – theo thần thoại Hy Lạp là một chàng trai trẻ đẹp. Sau khi Hyacinth chết thần Apollo lấy xác của hyacinth gieo thành loài hoa lan dạ hương.
      (8)Biển hoang vu… tiếng kêu của người đầy tớ mà vua Mác sai đi nhìn ra biển xem có thấy con tàu chở Iđơn.
      (9)Thầy bói có tên một Pharaon Ai Cập, Eliot lấy từ một bi kịch của A. Huxley.
      (10)Xứ Phê-ni-xi (Phoenicia) – quốc gia cổ đại ở vùng biển Địa Trung Hải.
      (11) Belladonna – tên Italia của một quân bài.
      (12) Equitone – cũng là tên một trong các quân bài.
      (13)Xem: Dante. Địa ngục, III, 55-57 (chú thích của Eliot):
      Cuốn theo sau một đoàn người dằng dặc
      Đông đến mức tôi không thể nào tin được
      Rằng thần chết đã nhanh tay như thế!
      (Nguyễn Văn Hoàn dịch, nxb KHXH. H., 2005).
      (14)Xem: Dante. Địa ngục, IV, 25-27 (chú thích của Eliot):
      Ở đó những gì mà tôi nghe được
      Không phải tiếng kêu van mà là tiếng thở dài
      Làm xáo động cả bầu không khí.
      (Nguyễn Văn Hoàn dịch, nxb KHXH. H., 2005).
      (15)Đồng hồ chuông của nhà thờ Saint Mary Woolnoth trên phố King William là nơi Eliot thường qua lại khi sống ở Luân Đôn. Để đi đến khu trung tâm tài chính của Luân Đôn (City) cần đi qua cầu Luân Đôn sang bờ bên kia của sông Thames.
      (16)Trận đánh Mylae (Battle of Mylae) trong chiến tranh Punic giữa người Roma và người Carthaganian năm 260 – 146 tr. CN.
      (17)Eliot dẫn John Webster (1580-1625), tác giả của bi kịch “Con quỉ trắng” (The White Devil, 1612) “Hãy đuổi chó sói/ Kẻ thù của con người/ Để nó không dùng móng chân đào xác chết”. Đây là tiếng khóc của một phụ nữ có đứa con trai đã giết người anh em của mình rồi đào mồ chôn người anh em bị giết.
      (18)Đây là một câu trong “Những bông hoa ác” (Les fleurs du mal) của Charles Baudelaire (1821- 1867).

       
      #18
        cacbac

        • Số bài : 412
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 08.10.2007
        • Trạng thái: offline
        RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 17:56:06 (permalink)

         
        NHỮNG KẺ RỖNG TUYẾCH

        Mistah Kurtz – he dead
        Ngài Kurtz đã chết

        A Penny for the Old Guy
        Xin một hào cho Guy già


        I

        Ta là những người trống rỗng
        Ta là những hình nộm
        Ta cúi xuống cùng nhau
        Rơm xào xạc trên đầu
        Giọng ta khô, nức nở
        Khi cùng nhau to nhỏ
        Lặng lẽ và hững hờ
        Như gió trong cỏ khô
        Như chuột trên kính vỡ
        Trong hầm rượu cạn khô.

        Hình thiếu nét, bóng thiếu màu
        Sức lực đờ ra, cử chỉ không cử động

        Những đôi mắt của ai nhìn thẳng
        Từ Vương quốc cái chết khác đang nhìn
        Nhắc ta, không như những kẻ vô hồn
        Những tâm hồn sôi động, nhưng
        Chỉ như những người trống rỗng
        Như những hình nộm bằng rơm.

        II

        Những đôi mắt tôi sợ gặp trong mơ
        Nhưng trong vương quốc mơ màng cái chết
        Những đôi mắt không có bao giờ
        Những đôi mắt này
        Trên cột gãy là ánh mặt trời
        Là cành cây nhún nhảy
        Và giọng nói
        Trong ngọn gió hát lên
        Xa cách và trang nghiêm
        Hơn những ngôi sao dần tắt.

        Hãy cho tôi đến gần
        Vương quốc mơ màng cái chết
        Hãy cho tôi được mặc
        Quần áo cải trang
        áo khoác của chuột, lông của quạ khoang
        Đứng trên đồi như ngọn gió
        Gió đi đâu, tôi đi đó
        Nhưng đừng để đến gần –

        Lần cuối cùng gặp gỡ
        Trong vương quốc của hoàng hôn.

        III

        Đấy là quê hương cái chết
        Đấy là xứ sở của xương rồng
        Nơi này những pho tượng đá
        Và những cánh tay vật vã
        Của những người chết van xin
        Trong ánh sáng của ngôi sao tắt dần.

        Có phải vậy chăng
        Trong vương quốc cái chết khác
        Khi thức dậy một mình
        Và trong giờ khắc
        Ta run lên với sự dịu dàng
        Những bờ môi chờ hôn môi khác
        Và nguyện cầu cho đá vỡ tan.

        IV

        Những đôi mắt không ở đây
        Những đôi mắt không có ở nơi này
        Trong thung lũng những ngôi sao đã chết
        Trong thung lũng này rỗng tuyếch
        Đã gãy quai hàm những vương quốc đã mất của ta

        ở nơi của lần gặp gỡ cuối cùng
        Ta cùng nhau mò mẫm
        Và nói năng cùng nhau ta tránh
        Trên bờ sông có dòng nước sưng lên

        Không nhìn ra cho đến một khi mà
        Những đôi mắt chưa hiện
        Như ngôi sao muôn đời tỏa sáng
        Như muôn ngàn cánh hoa hồng
        Của vương quốc cái chết hoàng hôn
        Và chỉ đấy là niềm hy vọng
        Dành cho những người trống rỗng.

        V

        Ta đi vòng quanh những bụi cây gai
        Những bụi cây gai những bụi cây gai
        Ta đi vòng quanh những bụi cây gai
        Vào lúc năm giờ sáng.

        Giữa ý tưởng
        Và hiện thực cuộc đời
        Giữa ý muốn
        Và hành động con người
        Chiếc bóng kia đổ xuống
        Bởi Vương quốc là Ngài

        Giữa quan niệm
        Và sự dựng xây
        Giữa mối xúc động
        Và câu trả lời
        Chiếc bóng kia đổ xuống
        Cuộc đời ta rất dài

        Giữa niềm ước mong
        Và sự rung cảm
        Giữa khả năng
        Và sự sống
        Giữa hiện tượng
        Và bản chất của đời
        Chiếc bóng kia đổ xuống
        Bởi Vương quốc là Ngài

        Bởi Vương quốc là Ngài
        Là Cuộc sống
        Bởi Vương quốc là Ngài và

        Và như thế kết thúc cuộc đời
        Và như thế kết thúc cuộc đời
        Và như thế kết thúc cuộc đời
        Bằng tiếng nấc chứ không bằng đập mạnh.
        ____________

        (1)Trường ca Những kẻ rỗng tuyếch in đầy đủ lần đầu vào năm 1925 nhưng trước đó, 4 trong số 5 phần đã in riêng lẻ từng phần trong tạp chí Criterion. Bởi thế khi đi giải thích trường ca này có những khó khăn vì một điều rằng: Eliot đem tập hợp thành một trường ca từ những bài thơ lẻ trước đó được tư duy một cách độc lập.
        “Những kẻ rỗng tuyếch” là cách Eliot gọi những trí thức châu Âu thời đó. Vì đánh mất lòng tin nên trong tâm hồn họ có một khoảng trống được lấp bằng những chính kiến rất ngẫu nhiên. Bởi thế, những người này vừa rỗng tuyếch (hollow), vừa là hình nộm (stuffed) được kết bằng rơm rác…
        Đề từ thứ nhất của trường ca là câu trích từ tiểu thuyết Con tim bóng tối (The Heart of Darkness, 1902) của Joseph Conrad (1857-1924) nói về sự đánh mất lòng tin. “Mistah Kurtz – he dead” là lời cô người hầu da đen nói tiếng Anh còn chưa sõi, thông báo về cái chết của ngài Kurtz da trắng, người mà một bộ tộc da đen ở Công-gô coi như một vị thánh. Nhưng nếu như ngài đã chết thì có nghĩa là ngài không phải thánh thần.
        Đề từ thứ hai xuất phát từ một tục lệ truyền thống – hàng năm cứ vào mồng 5 tháng 11 người ta đốt hình nộm Guy Fox, kẻ cầm đầu vụ mưu dùng thuốc nổ phá toà nhà Quốc hội Anh năm 1605. Tối mồng 4 sang ngày mồng 5 trẻ con mang hình nộm Guy Fox đến từng nhà “xin một hào cho Guy già”, sau đó đem đốt hình nộm và tổ chức đốt pháo hoa.
        Điểm khó hiểu thứ nhất của trường ca này là khái niệm “vương quốc cái chết” (death’s kingdom). Khái niệm này Eliot sử dụng trong trường ca theo 5 dạng. Vì rằng sự đánh mất lòng tin nghĩa là không còn tin vào sự bất tử nên “những kẻ rỗng tuyếch” đang sống trong “vương quốc cái chết”. Nhưng trong vương quốc cái chết này người ta vẫn mơ ước, vẫn thấy những giấc mơ nên mới có “vương quốc mơ màng cái chết” (death’s dream kingdom). Những kẻ rỗng tuyếch này, đa số là sống trong vương quốc ảo nhưng trong số họ vẫn có những người sẵn sàng từ bỏ nó để đi về vương quốc khác (giống như tĩnh ngục) để tẩy rửa và chuộc lỗi lầm. Những người này đang ở trong “vương quốc cái chết hoàng hôn” (death’s twilight kingdom). Như vậy, đã có 3 dạng của vương quốc cái chết. Ngoài vương quốc cái chết ở trần gian còn có một vương quốc cái chết ở bên kia thế giới nữa, nên có thêm một khái niệm: “vương quốc cái chết khác” (death’s other kingdom). Và cuối cùng, để phân biệt “vương quốc cái chết khác” này với một vương quốc cũng ở bên kia thế giới dành cho những kẻ ngoan đạo (giống như thiên đường), Eliot viết hoa chữ “Kingdom” – “death’s other Kingdom”. Đấy là 5 cách gọi một khái niệm “vương quốc cái chết” của Eliot.
        Điểm khó hiểu thứ hai trong trường ca này là hình ảnh những đôi mắt. Những đôi mắt xuất hiện từ phần II của trường ca, và nhân vật vừa muốn được nhìn thấy những đôi mắt lại vừa sợ nhìn thấy chúng. Nhân vật muốn mặc quần áo cải trang để cho những đôi mắt kia không nhận ra. Hình tượng này Eliot mượn của Dante (Thần khúc_Tĩnh ngục, khúc ca XXXI). Không nhìn thấy đôi mắt của Beatrice thì không thể từ giã Tĩnh ngục để bước lên Thiên đường (Đôi mắt Beatrice tượng trưng cho Trí tuệ của Chúa).
        Điểm khó hiểu thứ ba là hình tượng chiếc bóng đổ xuống “giữa ý tưởng/ và hiện thực cuộc đời/ giữa ý muốn/ và hành động con người…” Chiếc bóng là biểu tượng của tính nhu nhược, thiếu quyết đoán của “những kẻ rỗng tuyếch”.
        - Câu: “Bởi Vương quốc là Ngài” (For Thine is the Kingdom) trích từ lời cầu nguyện “Cha của chúng con” (lời Đức Chúa Giê-su trong bài giảng trên núi): “Bởi Ngài là Vương quốc, là quyền lực, là vinh quang muôn thuở. Amen!”(Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. Amen! – lời dịch của Hội Thánh Kinh tại Việt Nam. Tân Ước_Ma-thi-ơ 6:13). Chỉ có đôi mắt của tình yêu, đôi mắt của Beatrice có thể trả về nhãn quan cho “những kẻ rỗng tuyếch”. Những đôi mắt này là ngôi sao dẫn đường, là hoa hồng thần bí “là ngôi sao muôn đời tỏa sáng/ là muôn ngàn cánh hoa hồng/ của vương quốc cái chết hoàng hôn…” (muôn ngàn cánh hoa hồng là những thánh thần, những người ngoan đạo mà Dante nhìn thấy ở Thiên đường (Thần khúc_Thiên đường, khúc ca XXX, XXXIII).
        - Câu: “Cuộc đời ta rất dài” (Life is very long) trích từ tiểu thuyết Kẻ lưu đày của những hòn đảo (An Outcast of the Islands) của J. Conrad.
        - Câu: “Ta đi vòng quanh những bụi cây gai”(Here we go round the prickly pear) – nhại theo bài hát thiếu nhi “Here we go round the mulberry bush on a cold frosty morning”. Cây xương rồng tượng trưng cho vùng đất khô cằn.
        - Điệp khúc: “Và như thế kết thúc cuộc đời” (This is a way the world ends) – nhại theo bài hát thiếu nhi “This is the Way we Clap our Hands”.






        CUỘC HÀNH TRÌNH CỦA CÁC ĐẠO SĨ(1)

        “Ta đi trong băng giá
        Mùa xấu nhất trong năm
        Đằng đẵng cuộc hành trình
        Con đường dài và gió
        Buốt giá của mùa đông”(2).

        Và những con lạc đà trầy da chân
        Lì lợm nằm trên tuyết.
        Còn ta, đôi khi cảm thấy buồn
        Nhớ những cung điện mùa hè, sân gác
        Những cô gái mượt mà mang ra đồ ngọt
        Những kẻ cai lạc đà lời tục tĩu tuôn ra
        Họ chạy đi đòi rượu và đàn bà
        Và tắt lửa nhưng lều riêng không đủ
        Và thù địch ở những thành phố to, không cảm tình ở những thành phố nhỏ
        Những ngôi làng bẩn thỉu và giá cả rất cao
        Trong thời buổi khó khăn như vậy ta đi vào.
        Cuối cùng ta đã đi thâu đêm suốt sáng
        Ngủ ngáy chỉ đôi khi, thỉnh thoảng
        Và ta nghe những giọng hát bên tai
        Tất cả chỉ là điên rồ, cuồng loạn.

        Rồi buổi bình minh ta đến miền thung lũng
        Nơi dưới tuyết mùi hoa cỏ bốc lên
        Dòng suối rì rào, cối xay nước gõ nhịp vào bóng đêm
        Và dưới bầu trời thấp có ba cây gỗ(3)
        Và con ngựa bạch phóng nhanh trên đồng cỏ(4).
        Ta đến bên quán rượu có treo những cành nho
        Sáu cánh tay mở cửa ném những miếng bạc ra
        Bàn chân giẫm lên túi da đựng rượu nhưng đã hết
        Nhưng không ai biết gì và ta đi tiếp
        Rồi ta đến nơi vào buổi chiều, không một chút sớm hơn
        Rất tốt đẹp, như dự định mà ta cần.

        Đã từ rất lâu, bây giờ tôi nhớ lại
        Nhưng có một điều, giá mà tôi được hỏi
        Giả sử là
        Một điều này: những con đường của ta
        Vì Sinh hay Tử? Đã từng là Sinh, hẳn thế
        Ta đã biết điều này. Tôi đã từng thấy cả Sinh và Tử
        Nhưng mà chúng khác nhau, đó chính là Sinh
        Thật đắng cay, ta sống như là chết với cái chết của mình
        Và ta đành quay trở về Vương quốc
        Nhưng chẳng tìm ra cho mình sự bình yên
        Con người vẫn bám chặt vào thần thánh của mình.
        Bởi thế, tôi vui mừng đón chào cái chết khác.
        _________________

        (1)Bài thơ này in lần đầu trên thiệp Giáng sinh của nhà xuất bản “Faber and Faber” năm 1927. Cũng trong năm này T. S. Eliot nhập quốc tịch Anh và cải đạo sang Anh giáo. Bài thơ này dựa theo câu chuyện kể về sự Giáng sinh của Chúa Giê-su (Tân Ước_Ma-thi-ơ 2:1-12). Tuy vậy, ngay từ dòng đầu Eliot đã viết theo cách của mình. Bài thơ không nhắc đến ngôi sao dẫn đường, không nói gì về lễ vật là vàng và nhũ hương hay sự vui mừng của các đạo sĩ. Eliot chỉ nói về sự khó nhọc của con đường đi đến lòng tin mới (việc cải đạo của mình). Nhân vật chính của bài thơ là một đạo sĩ hồi tưởng lại cuộc hành trình sau nhiều năm đã trôi qua. Và, hóa ra là con đường có rất nhiều ngờ vực, có thể, “tất cả chỉ là điên rồ, cuồng loạn”. Nhưng sau khi đã trở về Vương quốc (Anh) cuộc sống cũng chẳng yên bình hơn. Sự hồi sinh này đòi hỏi cái chết, và chỉ sau cái chết này, có thể, sẽ sinh lại lần hai.
        Cả bài thơ dựa trên hai phạm trù triết học: Sinh và Tử. Người kể chuyện chưa tiếp nhận hết lòng tin mới, mà muốn chết để giải thoát mối nghi ngờ của những người sống quanh mình, những người vẫn tôn thờ những đạo sĩ cổ xưa. Bài thơ cho thấy việc cải đạo sang Anh giáo của T. S. Eliot không một chút dễ dàng.
        (2)Khổ thơ đầu trong ngoặc là những lời thuyết giáo đêm Giáng sinh của giáo chủ người Anh, Lancelot Andrews (1555-1626).
        (3)Đây là ba cây gỗ treo ba cây thập ác để đóng đinh Chúa Giê-su cùng với hai tên trộm-cướp ở hai bên (Tân Ước_Luca 23: 32,33).
        (4)Con ngựa bạch trong Khải huyền: “Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, có một con ngựa bạch hiện ra; Đấng cưỡi trên ngựa ấy gọi là Đấng Trung tín và Chân thật; Ngài lấy lẽ công bằng mà xét đoán và chiến đấu…” (Tân Ước_Khải huyền 19:11).



        NGÀY THỨ TƯ TRO BỤI(1)
        (Trích)

        Bởi tôi không còn hi vọng quay về
        Bởi không còn hi vọng
        Bởi tôi không còn hi vọng quay về
        Quà tặng và đam mê của người ta không sưởi ấm
        Tôi giờ không còn ao ước bay xa
        (Chẳng lẽ chim ưng già còn giang đôi cánh?)
        Chẳng lẽ lại đi khóc than
        Khi hiểu ra là đã không còn sức mạnh?

        Bởi tôi không hi vọng còn nhìn thấy mặt
        Niềm vinh quang mong manh chỉ trong phút chốc
        Bởi vì tôi không suy nghĩ, đợi chờ
        Bởi tôi biết rằng tôi không biết được bao giờ
        Quyền lực đi qua đâu là đích thực
        Bởi không còn dòng nước
        Với cỏ và hoa đã không tìm lại bao giờ.

        Bởi tôi biết rằng thời gian mãi mãi là thời gian
        Và nơi chốn mãi mãi là nơi chốn
        Và những gì hiện hữu chỉ thuộc về một thời gian
        Và chỉ thuộc về một chốn
        Những gì tôi có được tôi cảm thấy bằng lòng
        Tôi không cần vẻ mặt hân hoan, sôi nổi
        Và không cần giọng nói
        Bởi tôi không còn hi vọng quay về
        Nên tôi vui rằng tôi phải tạo ra
        Một điều gì đem lại niềm vui vẻ.

        Và tôi lạy Chúa lòng lành
        Và cầu xin để cho tôi được quên
        Tất cả những gì tôi từng tranh cãi
        Để cho tôi nhận thấy
        Bởi tôi không còn hi vọng quay về
        Tôi nói những lời này là để cho
        Cái đã kết thúc không bắt đầu trở lại
        Để người phán xét sẽ tỏ lòng thương.

        Bởi những đôi cánh kia đã chẳng bay lên
        Vào bầu trời như những cánh chim
        Vào bầu trời bây giờ khô khan bé bỏng
        Bé bỏng và khô khan hơn nỗi ước mong
        Dạy cho chúng ta sự hờ hững và quan tâm
        Dạy cho chúng ta biết ngồi trong tĩnh lặng.

        Xin cầu nguyện cho những lỗi lầm trong giờ chết
        Lời cầu nguyện bây giờ và trong giờ chết của ta.
        ________________

        (1) Trường ca Ngày thứ tư tro bụi đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tạo của Eliot: chuyển từ sự thất vọng, hoài nghi – là đặc trưng của dòng văn học “thế hệ mất mát”(lost generation) những năm 20 đến sự tìm tòi những giá trị bền vững, chắc chắn hơn. Eliot tìm thấy những giá trị này ở Anh giáo, tuy vậy quan niệm triết học-đạo đức của ông có nhiều chỗ không trùng hợp với giáo luật chính thống. Nhà thơ hiểu những khái niệm như: con người, cuộc sống, văn hóa, đạo lý… một cách rộng hơn, phong phú hơn, mà đặc biệt là mang tính nhân văn nhiều hơn. Trong trường ca này bắt đầu hình thành một quan niệm triết học mới xuyên suốt những sáng tác của ông trong ba thập kỷ tiếp theo mà Bốn khúc tứ tấu là một tác phẩm tiêu biểu. Phần trích trên đây là phần đầu của trường ca.
        “Ngày thứ tư tro bụi”(Ash Wednesday) – một khái niệm đặc thù của Thiên chúa giáo. Đây là tên gọi của ngày đầu Tuần lễ chay, bắt đầu bằng sự nhớ về bốn mươi ngày, khi Đức Thánh Linh đưa Đức Chúa Giê-su đến nơi đồng vắng (TânƯớc_Ma-thi-ơ 4:1-11). Hình dung từ “tro bụi” gắn liền với lễ xưng tội của ngày này: kẻ xưng tội lấy tro vẽ hình thập ác lên trán và nhắc lại lời chép trong Kinh Thánh: “Ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Tân Ước_Sáng thế ký 3:19).



        BỐN KHÚC TỨ TẤU(1)
        (Trích)

        Burnt norton

        τού λόγου δ'εόντος ξυνού ζώουσιν οί
        πολλοί ώς Ιδίαν έξουτες φρόνησιν
        I. p. 77. Fr. 2. {1}

        όδός άνω κάτω μέα καί ώυτή
        I. p. 89. Fr. 60. {2}

        Diels: Die Fragmente der Vorsokratiker Herakleitos.

        (1)Từ ngữ với mọi người có nghĩa như nhau, nhưng đa số có vẻ như hiểu theo cách của riêng mình. Herakleitos I, 77, 2.
        (2)Con đường đi và con đường đến – chỉ là một con đường. Herakleitos I, tr. 89, dòng 60.


        I

        Cả hiện tại và quá khứ
        Có lẽ đều có mặt ở tương lai
        Và tương lai có mặt trong quá khứ.
        Nếu thời gian còn mãi bây giờ
        Thời gian không thể nào chuộc lại
        Cái chưa đến là trìu tượng
        Và chỉ mãi mãi giữ nguyên
        ở trong vùng suy luận.
        Cái chưa đến và đã đến
        Luôn luôn ở trong một điểm – bây giờ.
        Những bước chân vang vọng trong trí nhớ
        Đến miền ta chửa từng qua
        Về cánh cửa không bao giờ mở
        Vào vườn hồng. Những lời của ta
        Vang vọng ở trong em.
        Nhưng có cần thiết chăng
        Tro bụi trên bình hoa lo lắng
        Ta không biết rằng
        Tiếng vang khác hẳn
        Ngự trị khu vườn. Có nên bước vào không?
        Tiếng chim hót: nhanh lên, hãy tìm thấy chúng
        Quanh góc phòng. Qua cánh cổng đầu tiên
        Bước vào thế giới đầu tiên, hãy tin
        Tiếng chim hót? Bước vào cuộc đời thứ nhất
        Chúng ở đó trang nghiêm, không nhìn thấy được
        Lơ lửng trên những chiếc lá lìa cành
        Trong mùa thu ấm áp, qua không khí ngân vang
        Và lời chim nhắc lại
        Tiếng nhạc không nghe ra, giấu mình trong bụi
        Và giao nhau những ánh mắt vô hình
        Bởi hoa hồng thấy những ánh mắt nhìn
        ở đó họ là khách của ta, là khách mà chủ
        Theo luật lệ ta bước đi theo họ
        Đường phố hoang vu, nhìn hồ nước đã khô
        Và những bụi gai mọc ở quanh hồ.
        Hồ nước khô, bê tông khô và màu hung bên mép
        Ngày xưa trong hồ này nước mặt trời đầy ắp
        Và lặng lẽ, dịu dàng có một bông sen
        Nước lấp lánh và ánh sáng trong tim
        Và họ từng ở sau ta, phản chiếu trên hồ nước
        Nhưng đám mây bay qua và hồ khô kiệt.
        Chim hót: hãy đi đi, có những đứa trẻ con
        Giấu mình trong bụi và chúng đang cười ầm.
        Hãy đi đi, đi đi – và tiếng chim lại hót:
        Con người vẫn nhọc nhằn khi cuộc đời hiện thực.
        Cả quá khứ và cả tương lai
        Cái chưa đến và đã đến
        Luôn luôn ở trong một điểm – bây giờ.
        _______________

        (1)Bốn khúc tứ tấu được viết trong khoảng thời gian từ 1934-1942, lần đầu tiên in thành sách năm 1943. Đây là tác phẩm thể hiện quan niệm thơ ca và triết học của Eliot được hình thành trong những năm 20, 30, tiêu biểu là tác phẩm Ngày thứ tư tro bụi. Eliot kết hợp ở đây khái niệm về linh hồn bất tử của Cơ đốc giáo với cách giải thích khoa học những phạm trù như thời gian, nơi chốn, sự vô tận, sự chuyển hoá liên tục thành những hình thái khác nhau của đời sống… Giải quyết những vấn đề này, Eliot chủ yếu dựa vào triết học trực cảm của Henri Bergson (1859-1941). Năm 1911 Eliot thường xuyên dự những giờ giảng triết học của Henri Bergson, cũng là người đoạt giải Nobel Văn học năm 1927. Ngoài ra, chính Eliot nhiều lần tuyên bố rằng ông theo đuổi chủ nghĩa lý tưởng tuyệt đối trong triết học của Francis Bradley (1846-1924), đặc biệt là tác phẩm Thể diện và thực chất (Apperance and Reality, 1893).
        Bốn khúc tứ tấu là: 1) Burnt Norton; 2) East Coker; 3) The Dry Salvager; 4) Little Gidding. Đoạn trích trên đây là phần I (mỗi khúc tứ tấu có 5 phần) của khúc đầu tiên. Burnt Norton là một điền trang ở Gloucestershire, gần nơi ở của Eliot.
        - Năm dòng đầu: “Cả hiện tại… không thể nào chuộc lại” (Time present… unredeemable) là cách hiểu các hình thái thời gian của Henri Bergson dẫn lời Kinh Thánh: “whatsoever God doeth it shall be for ever… That which hath been is now; and that which is to be hath already been…” (Ta biết rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm nên còn có đời đời… Điều gì hiện có, đã có từ xưa… Cựu Ước_Truyền đạo 3: 14,15).
        - Vườn hồng (rose-garden) – hình tượng luôn xuất hiện trong Bốn khúc tứ tấu, có nghĩa là vườn địa đàng được Eliot dùng như là biểu tượng của tình yêu với tâm hồn thức tỉnh.

         
        #19
          cacbac

          • Số bài : 412
          • Điểm thưởng : 0
          • Từ: 08.10.2007
          • Trạng thái: offline
          RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:05:23 (permalink)


          Gabriela Mistral (1889-1957) tên thật là Lucila Godoy de Alcayaga - nữ nhà thơ Chilê, giải Nobel Văn học năm 1945. Sinh ngày 7-4-1889, làm giáo viên trường làng từ năm 16 tuổi và sau đó trở thành hiệu trưởng của nhiều trường trung học. Khi còn là một cô giáo phụ giảng ở trường làng, cô gái Lucia Godoy de Alcayaga yêu chàng công nhân đường sắt có tên là Romelio Ureta. Sau một thời gian hai người đính hôn nhưng chưa làm lễ cưới vì họ rất hay cãi nhau. Trong một lần xích mích, không hiểu gay gắt đến mức nào mà cuối cùng chàng trai đã chọn cho mình cái chết bằng cách treo cổ tự tử. Cô gái vô cùng đau đớn vì cái chết này và chính trong những ngày đau đớn tột cùng đã viết ra những bài thơ đầu tiên: Những bài sonnê cái chết (Sonnetos de la muerte). Ba bài sonnê mang một cái tên chung này được tặng giải nhất trong cuộc thi thơ ở thủ đô Santiago có tên gọi “Festival hoa”. Vì ngại rằng những bài thơ tình kia có thể ảnh hưởng không tốt đến nghề giáo nên cô đã lấy bút danh là Gabriela Mistral. Đây là tên của nhà văn Italia, Gabriele D’Annunzio (1863-1938) và họ của nhà thơ Provence, Frederich Mistral (giải Nobel Văn chương năm 1904) – những người mà cô giáo Lucia Godoy yêu mến nhất.

          Năm 1922 in tập thơ Tuyệt vọng (Desolasion) gây chấn động trên văn đàn Mỹ-Latinh. Cũng trong năm này bộ trưởng giáo dục Mexico mời bà làm cố vấn cho cải cách giáo dục ở Mexico. Sau đó bà là thành viên của Ủy ban Văn hóa Liên minh các quốc gia, là lãnh sự của Chilê ở nhiều nước và giảng viên của nhiều trường Đại học. Bà có ảnh hưởng rất quan trọng đối với hệ thống giáo dục của Chile và Mexico. Từ năm 1924, bà được giao trọng trách điều hành tòa lãnh sự Chile lần lượt tại các nước Nepal, Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Brazil và Mỹ. Bà cũng là thành viên của ủy ban Văn hóa Liên minh các quốc gia. Bà đã được nhận bằng danh dự của các trường đại học Frolence, Guatemala và là giảng viên của trường cao đẳng Middlebury, đại học Columbia, Warsaw và Puerto Rico. Tuy nhiên, điều làm bà nổi tiếng không phải là sự nghiệp giáo dục, chính trị, mà là thơ văn.

          Thơ của Gabriela Mistral có một khát vọng và nỗi đam mê hiếm thấy, mà đặc biệt, là những suy ngẫm về cái chết – điều chưa từng có trước đó trong thơ ca bằng tiếng Tây Ban Nha. Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, trong đó có tiếng Việt. Nhiều nhà thơ lớn Mỹ-Latinh chịu sự ảnh hưởng của phong cách thơ G. Mistral. Năm 1945 bà được trao giải Nobel Văn chương, trở thành người Mỹ Latinh đầu tiên đoạt giải thưởng này. Gabriela Mistral mất ngày 10-1-1957 tại New York.

          Tác phẩm:
          - Những bài Sonnet cái chết (Sonnetos de la muerte, 1914), thơ.
          - Nỗi tuyệt vọng (Desolación, 1922), thơ.
          - Dịu dàng (Ternura, 1924), thơ.
          - Hủy diệt (Tala, 1938), thơ.
          - Lời nguyền xa (La palabra maldita, 1950), tiểu luận.
          - Máy ép (Lagar, 1954), thơ.
          - Máy ép II (Lagar II, 1991), thơ.

          NHỮNG BÀI SONNÊ CÁI CHẾT

          I

          Trong bốn bức tường bê tông lạnh giá
          Không phải cho anh, em sửa lại điều này:
          Anh sẽ chờ gặp gỡ với em đây
          Giữa ánh sáng, tiếng xạc xào hoa lá.

          Em sẽ đặt anh vào chăn chiếu lạ
          Anh của em, trong buốt giá đêm đen
          Thành cát bụi, êm hơn cả nôi êm
          Trong đất mẹ ngọt ngào anh hãy ngủ.

          Em sẽ trộn vào đất phấn hoa hồng
          Cho đến khi trăng trên trời còn thở
          Anh sẽ không cần nỗi sợ, hờn ghen.

          Em hạnh phúc, vô tội về với anh
          Bởi từ nay địch tình không còn nữa
          Chỉ còn đây cát bụi của riêng em!

          II

          Nhưng đến ngày với nỗi đau thân thể
          Linh hồn anh thỏ thẻ bên tai em:
          Đã chán chê những lối nhỏ màu hồng
          Không còn đi theo những người vui vẻ.

          Và ngục tối sẽ rung lên thật mạnh
          Xẻng đào lên, đát sét vỡ tung ra
          Hai chúng mình sẽ trò chuyện thoả thuê
          Nói chán chê thâu đêm và suốt sáng.

          Em sẽ cùng anh ngồi trong hoang vắng
          Hiểu vì sao không đi hết đường mình
          Anh đi vào cõi chết giữa ngày xanh

          Và trở nên rõ ràng điều bí ẩn:
          Rằng trời sinh em là để cho anh
          Sao anh ra đi, chọn cái chết cho mình?

          III

          Giờ phút đau thương những bàn tay ác độc bắt anh
          Để những vì sao trên trời cũng buồn đau đứng lặng
          Anh ra đi, từ giã muôn đời bông huệ kia màu trắng
          Tại vì sao cho bàn tay kia anh trao trái tim mình?

          “Người yêu của con – em lạy Chúa lòng lành –
          Chết trên con đường lỗi lầm. Người tiễn đưa
          không biết
          Xin giành lấy cho con từ bàn tay oan nghiệt
          Hoặc cho ngủ thật say rồi tính sổ với trần gian.

          Không đáp lại một lời, con không giữ được anh
          Ngọn gió đen đã mang con thuyền đi ra biển
          Không trả thuyền về – giữ thuyền trong nước cóng”.

          Bất lực chạy ra xa, chìm xuống con thuyền hồng
          Chẳng lẽ thuyền không yêu, lòng thương thuyền nén nhịn
          Ngày phán xét cuối cùng xin Ngài tha tội cho con!


          EM QUÊN MỘT ĐIỀU

          Em quên một điều, đã không còn nữa
          Những bàn chân rất mau lẹ của anh
          Và em bước ra như những ngày xanh
          Trên con đường để cùng anh gặp gỡ.

          Với bài hát em đi qua thung lũng
          Nhưng tội nghiệp thay giọng hát của em
          Còn buổi chiều đem chiếc cốc của mình
          Lật úp ngược, còn anh thì không đến.

          Và những tia mặt trời rắc lên
          Rồi cháy đỏ bừng lên trong nắng
          Trên cánh đồng sương còn dăng đường viền
          Còn em đây chỉ một mình… đứng lặng.

          Những cành cây gầy guộc héo hon
          Vẫn rung động, bồn chồn trong ngọn gió
          Khi đó em kêu lên trong nỗi sợ:
          “Anh ở đâu, hãy đến với em!

          Em yêu anh với một nỗi kinh hoàng
          Anh ở đâu, với em hãy đến!”
          Nhưng màn đêm chìm trong im lặng
          Cơn mê sảng của em không thể ngăn kìm.

          Em quên rằng anh đã chẳng còn nghe
          Những lời em điên cuồng gào gọi
          Em đã quên cái vẻ lặng câm kia
          Và màu trắng nặng chìm như chì thỏi.

          Đôi mắt em mở to lặng nhìn
          Chỉ đôi mắt mà chẳng còn lời nói
          Đôi bàn tay bất động của anh
          Đến tay em không thể nào với nổi.

          Đêm rót ra dải nhựa đen của mình
          Như nước vũng. Trên đồng đang vỗ cánh
          Và với giọng rì rào nghe khiếp đảm
          Vang lên lời dự đoán của cú đêm.

          Em từ nay sẽ chẳng còn gọi anh
          Những năm tháng của mình, anh đã sống
          Chỉ mình em vẫn dạo bước chân trần
          Hãy yên nghỉ, quên những điều lo lắng.

          Và sau này, trên con đường hoang vắng
          Em lại vội vàng chạy đến gặp anh
          Nhưng ảo ảnh xương thịt không trở thành
          Trong vòng tay của em giang rộng.





          GẶP LẠI ANH

          Không còn nữa bao giờ – không đêm vắng
          Sao chập chờn, không giữa buổi bình minh
          Không buổi chiều trong mệt mỏi cháy lên.

          Không trên lối mòn, trên đồng, trong rừng nhỏ
          Chẳng bên sông dòng nước lặng thì thầm
          Và như mắt, ngời sáng giữa ánh trăng.

          Không còn dưới mái tóc rừng buông xõa
          Nơi em gọi anh, nơi em đợi, em chờ
          Không ở trong hang, nơi tiếng vọng em nghe.

          Không, dù không ở đâu nhưng còn gặp lại
          Giữa sao trời, trong bão tố cuồng điên
          Trong nước mắt đầy vơi, dưới mảnh trăng nguyền!

          Và sẽ cùng nhau bốn mùa xuân hạ thu đông
          Để những bàn tay sẽ dịu mềm hơn không khí
          Quanh vòng cổ tím bầm đầy vết máu của anh!


          KHÔNG NGỦ

          Em bắt gặp cái vòng hoa ngày ấy
          Và run lên với nỗi sợ của mình
          Em cứ ngỡ như khắp nơi giăng bẫy:
          Anh chưa đi? Anh vẫn ở gần em?

          Giá được vui, gặp lại niềm hạnh phúc
          Và trả lời bằng ánh mắt vô tình
          Nhưng trong mơ, em đã quen mất mát
          Nhắc lại: anh chưa đi? anh vẫn ở gần em?



          YÊU TÌNH(1)

          Tỏa sáng như mặt trời, làm bạn với rừng xanh
          Giẫm trên đất và vẫy vùng trong gió
          Em đừng xua tình đi như ý nghĩ
          Em hãy lắng nghe tình!

          Tiếng nói của đồng và tiếng nói của chim
          Lời thủ thỉ – nhưng là lời của biển
          Em đừng giơ tay dọa, em đừng giận
          Em không đuổi được tình!

          Tình đến như ông chủ, không cần phải thanh minh
          Khi đập vỡ bình hoa, làm tan nước đá
          Em đừng buồn, không dễ dàng chối bỏ
          Hãy mở cửa cho tình!

          Tình bước vào nhà, thỏ thẻ bên tai em
          Những lời khôn ngoan, những lời nhỏ nhẹ
          Chúa không cứu được em, không ai có thể
          Em hãy tin!

          Như sợi dây lanh, tình buộc vào tay em
          Nhưng mà em không thể nào thoát được
          Và em đi theo tình, dù em vẫn biết
          Em đi vào cõi tiên!(2)
          ___________

          (1)Amo Amor.
          (2)”Cõi tiên” ở đây là cõi chết.



          SỰ DỊU DÀNG

          Em đang hát cho anh
          Bài ca không ác độc
          Như nụ cười, dịu dàng
          Vách đá và gai góc.

          Em đang hát cho anh
          Xua đi điều giận dữ
          Như hơi thở, dịu dàng
          Rắn độc và sư tử.


          XƯA CÓ BÔNG HOA HỒNG

          Xưa có bông hoa hồng
          Ướt đầm sương buổi sớm
          Đứa con ở trong tim
          Mãi cùng ta năm tháng.

          Bông hoa hồng co vào
          Để giọt sương giấu mặt
          Tránh ngọn gió bay cao
          Để giọt sương không mất.

          Giọt sương đi đến đây
          Từ bao la vũ trụ
          Và tình yêu trong đời
          Cho giọt sương hơi thở.

          Vì hạnh phúc, hoa hồng
          Im lặng hơn hết thảy
          Giữa tất cả hoa hồng
          Không ai vui nhường ấy.

          Xưa có bông hoa hồng
          Ướt đầm sương buổi sớm
          Đứa con ở trong tim
          Mãi cùng ta năm tháng.



          TÌNH CÂM NÍN

          Giá mà em căm thù được anh như con thú
          Để căm thù trên gương mặt khi đến gặp anh
          Nhưng em yêu và tình yêu em thổ lộ
          Bằng lời của con người tăm tối, bấp bênh.

          Anh muốn lời tỏ tình trở thành thổn thức
          Muốn tiếng thì thầm của lửa, của vực sâu
          Nhưng với dòng chảy của mình bí mật
          Lời đốt lên – không phải của tim đâu.

          Em – sự im lặng của cửa sông nước mặn
          Và ngỡ như tia nước lặng của đài phun
          Sự im lặng của em đáng rủa nguyền, khiếp đảm
          Nhưng câm nín sẽ càng nhiều và mũi hếch lên!


          CHÚA TRỜI MUỐN THẾ

          I

          Mặt đất sẽ trở thành mẹ ghẻ, nếu như
          Nỗi lòng em bị lòng anh phản bội
          Vì đau khổ sẽ giật mình run rẩy
          Cả đất trời, cả biển, cả không gian.
          Còn khi mà anh âu yếm cùng em
          Cả vũ trụ sẽ vô cùng quyến rũ
          Ta sánh đôi bên bụi kim anh tử
          Chỉ nhìn nhau, không nói một câu gì
          Và tình yêu như bụi kim anh kia
          Tỏa mùi hương ngạt ngào cho hai đứa.

          Nhưng mặt đất sẽ bao trùm đểu giả
          Nếu như tình anh phụ bạc tình em
          Bài hát ru cho trẻ chẳng hát lên
          Sự im lặng em vẫn còn gìn giữ
          Trong tim em sẽ tắt hình bóng Chúa
          Cánh cửa, nơi em đang sống bây giờ
          Sẽ bẻ bàn tay của kẻ nghèo kia
          Và sẽ đuổi người mù ra khỏi cửa.

          II

          Khi anh hôn cô gái khác
          Thì em đây biết được, em nghe
          Từ trong hang sâu thẳm vọng về
          Những lời của anh vẫn nhắc.

          Dù trong rừng hay trên đường mờ mịt
          Em vẫn đi tìm những vết chân anh
          Em đi tìm anh, anh ở trong rừng
          Tìm gương mặt của người anh yêu nhất
          Trong những đám mây hiện trước mặt em.
          Anh như kẻ trộm hãy chui xuống đất
          Hãy đi tìm yên lặng với người tình
          Nhưng anh hãy giơ cao gương mặt
          Còn em trong nước mắt đứng trước anh.

          III

          Chúa sẽ không dành cho anh mặt đất
          Nếu như anh không đi dạo cùng em
          Chúa không muốn để cho anh uống nước
          Nếu như em trên nước chẳng đứng lên
          Và Chúa sẽ không cho anh ngủ yên
          Nếu mỗi ngày anh cùng cô gái khác.

          IV

          Anh ra đi – trên con đường của mình
          Ngay cả rêu vẫn làm em đau nhói
          Nhưng đói khát vẫn ở bên triền sông
          Và trong rừng, sẽ còn theo anh mãi.
          Nỗi đau của em ngự trên đầu anh
          Ở khắp nơi như hoàng hôn đỏ chói.

          Tên của em thoát ra từ giọng lưỡi
          Dù tên người ta anh vẫn gọi lên
          Em như muối mặn bám vào cổ anh
          Anh không biết làm sao quên người ấy
          Em buồn bã, căm thù, em ca ngợi
          Chỉ mong anh gọi em đến một mình.

          V

          Nếu anh chết một mình nơi xứ lạ
          Thì anh hãy giang rộng cánh tay mình
          Gom về chốn ấy nước mắt của em
          Và mười năm hãy nằm trong đất nhé
          Rồi thân thể của anh sẽ rung lên
          Trong nỗi buồn như lúa rung trong gió
          Đến một ngày tro bụi của xương em
          Vào gương mặt anh người đời chưa bỏ.


          BÀI HÁT RU

          Biển ru bằng nghìn con sóng
          Những lời êm ái, thần tiên
          Lắng nghe lời yêu của biển
          Tôi ru cho đứa con mình.

          Lang thang trên đồng ngọn gió
          Vỗ về lúa mạch từng đêm
          Lắng nghe lời yêu của gió
          Tôi ru cho đứa con mình.

          Đức Chúa trên nôi cúi mình
          Đôi mắt Ngài đang nhìn ngó
          Cảm nhận bàn tay của Chúa
          Tôi ru cho đứa con mình.



          NHỮNG KHÚC HÁT SOLVEIG(1)

          I

          Trong vòng tay ôm của những con đường
          Đất ngọt ngào như môi người trần thế
          Đất vẫn ngọt như ngày anh còn ở
          Tình yêu ơi, em chờ gặp cùng anh.

          Em ngó nhìn vào dòng sông thời gian
          Nhìn số kiếp ba đào trong lo lắng
          Em đợi anh trở về từ xa thẳm
          Bao bọc trên mặt đất những con đường.

          Sống bằng anh, như rượu, tâm hồn em
          Đau đớn vì anh nhưng chưa chết hẳn
          Em nín thở, mắt nhìn vào xa vắng
          Ôm ấp lên mặt đất những con đường.

          Chúa Trời thấy em trong vòng tay anh
          Khi em chết, em trả lời với Chúa
          Nếu Ngài hỏi, anh ở đâu lần lữa
          Và sao quên đường quay trở về em?

          Trong thung lũng tiếng cuốc xẻng vang lên
          Và em đang đi về gần ngôi mộ
          Em vẫn đợi chờ anh, anh yêu ạ
          Con đường ôm mặt đất chẳng vô tình!

          II

          Sườn dốc núi, trên con đường của mình
          Những cây thông phủ bóng màu xanh thắm
          Trên lồng ngực của ai còn âu yếm
          Anh ngả lên, có phải thế không anh?

          Trên dòng suối tiếng nước chảy rì rầm
          Hướng dòng nước một đàn cừu tấp nập
          Ai người lên bờ môi ai ép chặt
          Có phải người một thuở đã từng hôn?

          Đang cười vui với gió những cây phong
          Cành run rẩy, cúi mình vào mặt đất
          Nhưng nghe như tiếng trẻ con đang khóc
          Rồi ngả vào trong lồng ngực của em.

          Em chờ anh đằng đẵng ba mươi năm
          Em ngồi đây, đợi chờ bên cánh cửa
          Tuyết vẫn rơi mà anh không về nữa
          Tuyết nằm lên tất cả mọi con đường.

          III

          Mây đen đầy trời, thông khóc nỉ non
          Giống như người, gió gào trong lo lắng
          Mây bao trùm mặt đất như tuyết trắng
          Như Peer Gynt về đây tìm thấy con đường!

          Đêm dè dặt và dày đặc màn sương
          Xin một chút thương cho người phiêu lãng
          Đôi mắt em khổ vì đêm mù quáng
          Như Peer Gynt về đây tìm thấy con đường!

          Tuyết rơi to và ngày một dày hơn
          Kẻ lạc lối có ai người giúp đỡ
          Tuyết dập của người mục phu đống lửa
          Như Peer Gynt về đây tìm thấy con đường!
          _____________
          (1)Canciones de Solveig [Solveig Songs]. Solveig là tên một nhân vật nữ trong vở kịch thơ Peer Gynt, 1867 nổi tiếng thế giới của nhà soạn kịch Na Uy, Henrik Isben (1828-1906). Khúc hát Solveig nổi tiếng thế giới qua hai tổ khúc của nhạc sĩ Edward Grieg (1843-1907) viết cho vở kịch nói trên. Peer Gynt là một chàng trai nông dân thể hiện sự yếu đuối của tâm hồn con người. Vở kịch nổi tiếng này là biểu tượng cho sự phân định giới hạn của Isben với chủ nghĩa lãng mạn và việc lý tưởng hoá tính cách của chủ nghĩa lãng mạn.


          TRÍCH TỪ “TRƯỜNG CA NGƯỜI MẸ”

          Người đời nói rằng có vẻ như cuộc sống chập chờn trong cơ thể ta khó nhọc, và máu chảy trong tĩnh mạch, như chùm nho trong máy ép, nhưng ta chỉ cảm thấy sự nhẹ nhàng trong lồng ngực, như sau một hơi thở thật dài.
          Ta là ai? – ta tự nói với mình - để giữ đứa con trên đầu gối.
          Và với mình, ta nói:
          - Là người phụ nữ đã từng yêu, và tình yêu sau nụ hôn đầu, đòi hỏi sự dài lâu.
          Mặt đất nhìn ta và đứa con trai mà ta bế trên tay, cám ơn ta vì từ nay ta hữu sinh và thánh thiện, như những luống đất cày và những cây cau.
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 30.11.2007 18:07:40 bởi cacbac >
           
          #20
            cacbac

            • Số bài : 412
            • Điểm thưởng : 0
            • Từ: 08.10.2007
            • Trạng thái: offline
            RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:16:02 (permalink)

             
            Ivan Bunin (1870-1953) - nhà văn, nhà thơ Nga, giải Nobel Văn học năm 1953.
            Sinh ngày 22-10-1870 ở vùng trung Nga, tuổi thơ sống ở miền quê tĩnh lặng của tỉnh Orlov. Thời trẻ làm thợ sửa bản in, viết báo. Năm 1891 in tập thơ đầu tay Dưới bầu trời rộng mở, năm 1897 xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, được giới phê bình đánh giá cao. Năm 1889 I. Bunin rời quê, làm nhiều nghề kiếm sống như thợ sửa bản in thử, thủ thư, làm báo... Niềm đam mê hội họa và âm nhạc đã ảnh hưởng tới sáng tác văn học sau này của ông. I. Bunin làm thơ, viết văn khá sớm, sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu nổi tiếng về văn xuôi với các truyện ngắn và truyện vừa.
            Tác phẩm đầu tiên của ông là bài thơ Bên mộ Nadson - tên một nhà thơ Nga - (1863-1887). Năm 1891 ông xuất bản tập thơ trữ tình đầu tiên Những bài thơ (1891) ở Orlov. Thơ đã mở đầu văn nghiệp và còn đeo đẳng mãi ngòi bút của ông đến tận cuối đời. Năm 1894 ông in truyện ngắn đầu tay Tanka. Năm 1897, xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác, viết về sự suy tàn của tầng lớp quý tộc và cảnh sống cơ cực của người nông dân Nga, được giới phê bình khen ngợi.
            Tác phẩm của ông không đề cập đến các vấn đề chính trị. Ông không theo một trường phái nào như Suy đồi, Tượng trưng, Lãng mạn hay Tự nhiên chủ nghĩa. Ông sống chủ yếu ở nông thôn, đi du lịch nhiều nơi ở Nga và các nước trên thế giới như Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Hi Lạp, Palestin, Tunisia, Ai Cập và các vùng nhiệt đới... Ông quan tâm nhiều đến các vấn đề về tâm lý, tôn giáo, đạo đức và lịch sử.
            Năm 1909 I. Bunin được bầu làm Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Năm 1910 ông xuất bản thiên truyện Làng, một bức tranh chân thực về cuộc sống nông thôn nước Nga; tác phẩm trở thành chủ đề bàn luận sôi nổi của giới trí thức Nga về thực chất xã hội Nga và chỉ trong một thời gian rất ngắn đã khiến I. Bunin nổi tiếng; thành công này được tiếp tục phát huy ở các tác phẩm tiếp theo.
            Bunin đi du lịch nhiều nơi, làm quen với nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Năm 1909 được bầu làm Viện sĩ danh dự của Viện hàn lâm Khoa học Nga. Sau cách mạng tháng Mười ông di cư sang Pháp và tiếp tục sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị. Tập truyện Những con đường rợp bóng được tặng giải Nobel được viết trong thời kỳ này. Ngoài văn, thơ Bunin còn nổi tiếng là một dịch giả thơ bậc thầy. Bản dịch Bài ca về Hiawatha (The Song of Hiawatha) của Henry Wadsworth Longfellow được tặng Giải thưởng Puskin. Những năm cuối đời, I. Bunin viết một số truyện ký độc đáo và sâu sắc về các danh nhân Nga như L. Tolstoi, A. Sekhov... Năm 1951 ông được bầu là Hội viên danh dự số một của Hội Văn bút quốc tế.
            Ivan Bunin là nhà văn Nga đầu tiên được nhận giải Nobel Văn học. Ông mất ngày 8-11-1953 ở Pháp.
            * Tác phẩm:
            - Dưới bầu trời rộng mở (Под открытым небом, 1891), tập thơ.
            - Nơi cuối trời và các truyện ngắn khác (На край света и другие рассказы, 1897), tập truyện.
            - Những quả táo Antonov (Антоновские яблоки, 1900), truyện ngắn.
            - Lá rụng (Листопад, 1901), tập thơ.
            - Làng (Деревня, 1910), truyện vừa.
            - Sukhodol (Суходол, 1911), truyện vừa.
            - Quý ông từ San Francisco (Господин из Сан-Франциско, 1915), truyện vừa.
            - Hơi thở nhẹ (Легкое дыхание, 1916), truyện ngắn.
            - Hoa hồng Jericho (Роза Иерихона, 1924), tập truyện.
            - Tình yêu của Mitia (Митина любовь, 1926), truyện vừa.
            - Những ngày đáng nguyền rủa (Окаянные дни, 1926), nhật kí.
            - Cuộc đời Arseniev (Жизнь Арсеньева, 1930), tiểu thuyết.
            - Giải phóng Tolstoi (Освобождение Толстого, 1937), tiểu luận.
            - Những con đường rợp bóng (Темные аллеи, 1943), tập truyện.
            - Hồi tưởng (Воспоминания, 1950), tập kí.



            HOA HỒNG JERICHO

            Để thể hiện lòng tin vào cuộc sống bất tử, sự hồi sinh từ cõi chết, ở phương Đông từ xa xưa người ta đặt hoa hồng Jericho vào quan tài, vào mộ.
            Thật lạ lùng rằng người ta gọi là hoa hồng, lại còn hoa hồng Jericho – một bó cọng gai giống như cỏ lông chông ở ta đây. Loài cây sa mạc này chỉ mọc trên cát sỏi ở vùng biển Chết, ở miền đồi núi Sinai không có người ở. Nhưng có huyền thoại rằng chính Ngài Savva khả kính đã chọn cho dân mình thung lũng Lửa, một thung lũng chết trơ trụi trong sa mạc Do Thái. Biểu tượng của sự hồi sinh đối với Ngài là hình một chó sói dữ, nó tô điểm cho Ngài hơn tất cả mọi thứ trên đời này.
            Bởi vì con chó sói này quả là kì diệu. Bỏ xứ sở của mình chạy đi xa hàng nghìn dặm, rồi trong nhiều năm nó có thể nằm chết, có màu xám và khô. Nhưng khi đặt nó vào nước thì ngay lập tức nở ra, có nhiều lá nhỏ, có màu hồng. Và con tim người trần tội nghiệp sẽ hân hoan và được an ủi: trên đời này không có cái chết, không chết những gì một thời đã có! Không có sự chia lìa và mất mát cho đến một khi hãy còn sống tâm hồn ta, Tình yêu và Ký ức của ta!
            Ta tự an ủi mình như vậy, sống lại trong ta những miền đất cổ xưa, nơi một thuở đã từng in dấu chân ta, ta sống lại những ngày hạnh phúc, nơi buổi trưa có mặt trời của cuộc đời ta đứng bóng. Khi hãy còn tràn đầy hy vọng và sức lực tràn đầy, khi tay trong tay với người con gái mà Chúa Trời sai làm người bạn đời của ta cho đến ngày xuống mộ. Lần đầu tiên ta đi về nơi xa lạ, cuộc du lãm của hôn nhân và chuyến hành hương về miền đất Thánh của Chúa Giê-su. Trong vẻ im lặng vô bờ của sự lãng quên và lặng yên muôn thuở, trước mặt ta là xứ sở Palestin – thung lũng Galilaia, những ngọn đồi Do Thái, là muối và vạc dầu của Pentapolis*. Nhưng khi đó mùa xuân, và trên tất cả mọi con đường của ta âm thầm nở hoa những bụi cây anh túc, những bông hoa đã từng nở thuở Rachel**, từng khoe vẻ đẹp những cánh đồng và những con chim nơi thiên đàng từng hót, một niềm vô tư khoái lạc qua câu ngụ ngôn trong Kinh Thánh đã dạy ta…

            Hoa hồng Jericho. Vào trong nước sống của con tim, vào trong hơi mát thanh sạch của tình, ta đắm chìm trong ngọn nguồn của sự dịu dàng và buồn đau xưa cũ – và lại một lần nữa, lại một lần nữa ngọn lúa của ta kỳ lạ sống vất vưởng qua ngày. Hãy đi khỏi nơi đây, cái giờ khắc sẽ đến, khi nước sẽ khô khan, con tim sẽ héo hon – thì tro tàn của sự lãng quên sẽ bao trùm lêm hoa hồng Jericho của ta muôn thuở.
            ________________

            *Jericho – thành phố ở thung lũng Gioóc-đa-ni, phía bắc biển Chết.
            *Pentapolis – vùng đất của năm thành phố: Sodom, Gomorrah, Admah, Zeboiim, Zoar.
            **Rachel: vợ của Jacob.



            KHI ĐÔI MẮT MÀU XANH

            Anh hạnh phúc khi đôi mắt màu xanh
            Mắt màu xanh em ngước nhìn anh đó
            Niềm hy vọng trong mắt em rạng rỡ
            Bầu trời trong veo của một ngày xanh.

            Và đắng cay khi đôi mắt màu xanh
            Rủ hàng mi đen và em im bặt
            Yêu anh không, tự mình, em chẳng biết
            Còn tình yêu e ấp, cố giấu mình.

            Nhưng ở khắp nơi và chung thuỷ, thường xuyên
            Khi gần em tâm hồn anh toả sáng…
            Người yêu ơi hãy mãi là cao thượng
            Sắc đẹp tuyệt vời và tuổi trẻ của em!
            1896.


            CẦM TAY EM

            Cầm tay em, rất lâu anh ngắm nhìn
            Còn em thẫn thờ, đôi mắt em hờ khép
            Trong bàn tay này – sự tồn tại của em
            Anh cảm nhận ra – cả hồn lẫn xác.

            Cần gì thêm? Có thể hạnh phúc thêm?
            Nhưng thiên thần nổi loạn bằng bão lửa
            Bay trên cuộc đời, bằng đam mê giết bỏ
            Đang vút bay nhanh trước mặt chúng mình.
            1898.


            GIẤC MƠ NGỌT NGÀO, QUYẾN RŨ

            Lại một giấc mơ ngọt ngào, quyến rũ
            Tôi mơ về, mê đắm với niềm vui
            ánh mắt yêu thương thầm kín gọi mời
            Và một nụ cười dịu hiền vẫy gọi.

            Vẫn biết rằng lại là dối gian thôi
            Giấc mơ này trong bình minh tỏa sáng
            Nhưng bây giờ ngày buồn chưa kịp đến
            Thì hãy mỉm cười, hãy dối lừa tôi.
            1898.


            CHÉN RƯỢU TRAO CHO TÔI

            Chén rượu trao cho tôi nữ thần đau khổ
            Tôi uống rượu vang, thấy mệt mỏi, rã rời.
            Với nụ cười lạnh nhạt nữ thần nói với tôi:
            Chất độc này là rượu của tình yêu trong mộ.
            1902.



             
            NGƯỜI XA LẠ

            Em là người xa lạ
            Nhưng yêu chỉ mình anh
            Và em sẽ không quên
            Cho đến ngày cuối tận.

            Thế rồi em ngoan ngoãn
            Lặng lẽ theo người ta
            Nhưng mặt em cúi xuống
            Người ấy chẳng nhận ra.

            Em trở thành phụ nữ
            Nhưng thiếu nữ với anh
            Trong bước đi của mình
            Sắc đẹp đầy quyến rũ!

            Sẽ có điều phụ bạc…
            Nhưng chỉ có một lần
            Khi e ấp cháy lên
            Ngọn lửa tình trong mắt.

            Em không biết giấu đi
            Rằng với người – xa lạ
            Và sẽ không bao giờ
            Bao giờ quên anh cả!
            1908.


            VỀ HẠNH PHÚC

            Về hạnh phúc ta nhớ đến thường xuyên
            Hạnh phúc khắp nơi, có thể là chính nó
            Khu vườn mùa thu sau căn nhà nhỏ
            Rót vào đây luồng không khí dịu êm.

            Dải mây trắng nhẹ nhàng bay trên trời
            Toả hào quang, những đám mây thức dậy
            Tôi nhìn theo… nhận ra ta ít thấy
            Hạnh phúc chỉ dành cho người biết mà thôi.

            Cửa sổ mở. Con chim bay đến ngồi
            Lên bục cửa và tôi buông quyển sách
            ánh mắt nhìn mỏi mệt trong phút chốc.

            Ngày dần tối. Hoang vắng giữa bầu trời
            Tiếng máy đập lúa nghe ra văng vẳng
            Tôi nghe, nhìn. Hạnh phúc ở trong tôi.
            1909.


            TA ĐI BÊN NHAU

            Ta đi bên nhau, hai đứa gần kề
            Nhưng nhất định nhìn anh, em đã chẳng
            Lời của chúng mình bâng quơ, trống rỗng
            Mất hút vào trong ngọn gió tháng ba.

            Đám mây trắng lạnh lùng bay xuyên qua
            Khu vườn nhỏ, giọt nước rơi tí tách
            Gò má em tái nhợt trong giá buốt
            Và đôi mắt xanh thắm, tựa như hoa.

            Còn bờ môi khao khát chỉ khép hờ
            Anh đã tránh chạm lên bằng ánh mắt
            Vẻ trống trải tưởng chừng bao hạnh phúc
            Cõi diệu huyền, nơi hai đứa từng qua.
            1917.




            BÊN BỜ BIỂN

            Bên bờ biển
            Trên phiến đá xanh
            Trên phiến đá xanh người đẹp khỏa thân
            Chân trắng muốt thả đùa trên sóng
            Vẫy gọi những chàng thủy thủ đại dương
            “Các anh thủy thủ ơi
            Các anh đi cùng đất cuối trời
            Các anh thật là vô ích
            Đi kiếm tìm châu ngọc?
            Châu ngọc chốn biển khơi
            Là sắc đẹp của em đây
            Là bờ môi cháy bỏng
            Là ngực lạnh
            Là những bàn chân nhẹ nhàng
            Là bắp vế nặng.
            Một thú vui không bao giờ cạn
            Là ngủ yên trên cánh tay em
            Và nghe những khúc hát u buồn!”
            Những chàng thủy thủ bơi đến, không nghe
            Mà trong con tim buồn nản
            Và trên mắt những giọt nước mắt nóng bỏng
            Không thể nào xua được nỗi buồn kia
            Không trên đường đi, không nơi bến bờ
            Nhưng đến muôn đời nghĩ lại.


            NÀNG DÂU

            Em ngồi bên cửa sổ
            Buộc lại mái tóc xanh
            Những vì sao toả sáng trong đêm
            Và biển rì rào uể oải
            Còn thảo nguyên mơ màng tê tái
            Với tiếng reo bí ẩn của mình…

            Ai người đã từng đến trước anh?
            Ai người đến trước khi làm lễ cưới
            Ai làm hồn em rã rời đến vậy
            Bằng vẻ dịu dàng, đau khổ, tình yêu?
            Ai người em trao thân với nỗi u sầu
            Trước lần chia ly cuối.


            NGÔI SAO NHỎ

            Ngôi sao nhỏ từng bơi trên dòng nước
            Dưới rặng cây cong ở giữa vườn hoang
            Và ánh lửa từng lấp lánh trên đầm
            Tôi bây giờ không thể nào tìm được.

            Ngôi làng nhỏ, nơi tháng năm tuổi trẻ
            Và ngôi nhà, nơi tôi đã làm thơ
            Nơi hạnh phúc, thời trai trẻ đợi chờ
            Tôi đã không bao giờ quay về nữa.


            RỒI SẼ ĐẾN MỘT NGÀY

            Rồi sẽ đến một ngày – tôi biến mất
            Còn căn phòng này sẽ rộng thênh thang
            Nhưng sẽ vẫn còn những chiếc ghế, chiếc bàn
            Và hình bóng giản đơn, cổ như trái đất.

            Và cũng sẽ vẫn còn bay cao lắm
            Con bướm màu vẫn mềm mại nhung tơ
            Khẽ rung rinh hay sột soạt, lượn lờ
            Chao đôi cánh giữa bầu trời xanh thắm.

            Và đáy bầu trời cũng vẫn còn như vậy
            Vẫn ngắm nhìn vào khung cửa mở toang
            Và biển màu xanh vẫn đều đặn thẳng hàng
            Vào khoảng không của mình luôn vẫy gọi.
            1916.


            MẢNH TRĂNG MUỘN TRONG ĐÊM

            Mảnh trăng muộn trong đêm vắng ngắt
            Vì những cây gia, cây đoạn màu đen
            Từ ban công anh nghe tiếng cửa kêu cót két
            Tiếng cửa kêu cót két thật nhẹ nhàng.

            Ta không ngủ vì cãi nhau dại dột
            Và để cho ta hai đứa, dành riêng
            Hoa thở than trên đường vắng ngắt
            Trong cái giờ phút ấy thật dịu êm.

            Ngày đó em bước sang mười sáu tuổi
            Còn anh vừa tròn mười bảy xuân xanh
            Nhưng em còn nhớ không khi khép lại
            Cánh cửa mở vào có ánh trăng thanh?

            Em đưa chiếc khăn lên môi ép chặt
            Chiếc khăn ướt đầm nước mắt xót xa
            Em run rẩy, trong lòng em thổn thức
            Để trên đầu cái bím tóc rơi ra.

            Còn anh tưởng chừng vỡ tung lồng ngực
            Vì nỗi đau rất đằm thắm, dịu êm…
            Người yêu ơi, giá mà ta làm được
            Ta sẽ cùng quay về lại với cái đêm!..


            CÒN ANH LẠI SẼ MỘT MÌNH

            Thật lộng lẫy và sáng tỏ mùa xuân!
            Em hãy nhìn mắt anh như ngày trước
            Và hãy nói: tại vì sao em buồn
            Tại vì sao em trở nên e ấp?

            Còn em cứ như bông hoa, lặng im
            Thì cứ lặng im! Anh không cần biết
            Anh hiểu ra vẻ e ấp vĩnh biệt
            Còn anh, lại sẽ một mình!
            1899.


            GIÁ MÀ ANH CÓ THỂ

            Giá mà anh có thể
            Yêu chỉ một mình em
            Giá quên được quá khứ
            Những gì em đã quên.

            Không sợ, không ngạc nhiên
            Bóng tối đêm muôn thuở
            Mệt mỏi những mắt nhìn
            Anh sẽ chôn trong mộ.


             
            #21
              cacbac

              • Số bài : 412
              • Điểm thưởng : 0
              • Từ: 08.10.2007
              • Trạng thái: offline
              RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:29:54 (permalink)

               
              William Butler Yeats (1865-1939) - nhà thơ, nhà soạn kịch Ai-len, giải Nobel Văn học năm 1923. Sinh ra giữa thời đại mà quê hương Ai-len của ông bắt đầu thức dậy một phong trào yêu nước, đỉnh cao là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc 1919-1923. Thời đại này đã mang lại một xung lực cho sáng tác của ông.

              Sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ. Bố là họa sĩ chân dung nổi tiếng, em trai cũng trở thành một họa sĩ lớn của Ai-len. Bản thân Yeats cũng từng học trường nghệ thuật và có ý định sẽ sống bằng nghề hội họa nhưng thơ ca đã xâm chiếm tâm hồn ông ngay từ những thành công đầu tiên. Năm 1868 cả gia đình chuyển đến London, năm 1880 trở về Dublin và năm 1887 quay lại London. Tại đây ông bắt đầu in những bài thơ và kịch đầu tiên trên các báo và tạp chí. Năm 1889 xuất bản cuốn sách đầu tiên Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác, trường ca Những cuộc viễn du của Oisin – tác phẩm chính của tập sách này dựa theo những mô-típ dân gian của Ai-len. Cũng trong thời gian này Yeats gặp gỡ và làm quen với nữ nghệ sĩ Maud Gone – một trong những thủ lĩnh của phong trào giải phóng dân tộc Ai-len, tham gia tích cực vào phong trào “Phục hưng Ai-len”. Mục đích của phong trào này là phục hồi tiếng Gaelic, tìm hiểu văn hoá và lịch sử Ai-len, sáng tác những tác phẩm dựa trên những huyền thoại, truyền thuyết của Ai-len, thành lập nhà hát dân tộc. Năm 1904 Yeats cùng với một số bạn bè thành lập “Nhà hát Abbas” và làm giám đốc nhà hát này đến năm 1938.

              Sau năm 1910, các vở kịch nghệ thuật của W. Yeats chuyển hướng đột ngột sang viết bằng thơ, phong cách bí ẩn, có nhiều khoảng trống. Những vở kịch sau đó (ông viết cho số ít khán giả chọn lọc) là những thử nghiệm với vũ điệu, âm nhạc và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những vở kịch Noh của Nhật Bản. Từ năm 1922 đến năm 1928 W. Yeats là thượng nghị sĩ của Nhà nước Ireland tự do, tham gia nhiều hoạt động chính trị ở Ireland, sáng tác của ông thời kỳ này mất dần tính lãng mạn và trở nên thâm trầm sâu sắc. Hai tác phẩm đáng chú ý cuối cùng của ông là Rằm tháng Ba (1935) và Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng (1940).

              Thơ ca của Yaets mang đậm hơi thở, phong cách dân tộc Ai-len. Nhiều đề tài, hình tượng trong thơ ông được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian kết hợp với khuynh hướng biểu tượng và lãng mạn trữ tình. Tác phẩm của ông giàu hình tượng với những quan sát tinh tế, kết hợp vẻ đẹp bên ngoài với chiều sâu trí tuệ bên trong. Năm 1923 ông được trao giải Nobel Văn học vì sự nghiệp sáng tác phản ánh cao độ tinh thần dân tộc trong những tác phẩm điêu luyện. W. B. Yeats có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca Anh trong thế kỉ XX. Tên tuổi của ông đặt ngang hàng với những nhà thơ lớn nhất của thế kỉ XX. Ông mất ngày 28-1-1939 tại miền nam nước Pháp.

              Tác phẩm:
              *Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác (The wandering of Oisin and other poems, 1889), thơ.
              *John Sherman (1891), tiểu thuyết.
              *Nữ bá tước Cathleen (The countess Cathleen, 1892),kịch thơ.
              *Tặng bông hồng trên con đường thời gian (To the rose upon the road of time, 1893), thơ.
              *Xứ sở ham muốn của con tim (The land of heart’s desire, 1894), kịch thơ.
              *Những ngã tư đường (Crossways, 1889), tập thơ.
              *Hoa hồng (The rose, 1893), tập thơ.
              *Gió trong bãi sậy (The wind among the reeds, 1899), thơ.
              *Catheleen con gái Houlihan (Catheleen ni Houlihan, 1902), thơ.
              *Đồng hồ cát (The hour glass, 1903), kịch.
              *Trong bảy cánh rừng (In the seven woods, 1903), thơ.
              *Trước cửa Vua (The King’s thereshold, 1904), kịch thơ.
              *Nồi nước sốt (The pot of broth, 1904), hài kịch.
              *Bóng nước (The shadowy waters, 1906), kịch thơ.
              *Chiếc mũ màu xanh (The green helmet, 1910), thơ.
              *Trách nhiệm (Responsabilities, 1914), thơ.
              *Lễ Phục Sinh (Easter, 1916), thơ.
              *Bên giếng diều hâu (At the Hawk's well, 1916), kịch.
              *Những giấc mơ của xương (The dreaming of the bones, 1919), kịch.
              *Thiên nga ở Coole (The wild’s swans at Coole, 1919), thơ.
              *Bốn vở kịch cho vũ nữ (Four plays for the dancers, 1921), thơ.
              *Michael Robartes và vũ nữ (Michael Robartes and dancer, 1921), thơ.
              *Hoàng hậu - diễn viên (The player queen, 1922), kịch.
              *Bóng hình (A vision, 1925; tái bản 1937), tiểu luận.
              *Con mèo và mặt trăng (The cat and the moon, 1926), kịch.
              *Bảy bài thơ và một đoạn (Seven poems and one fragment, 1927), thơ.
              *Đám tang Parnell (Parnell's funeral, 1932, in 1935), thơ.
              *Cầu thang xoáy ốc và những bài thơ khác (The winding stair and other poems, 1933), thơ.
              *Vua những đồng hồ tháp lớn (The king of the great clock tower, 1935), kịch.
              *Rằm tháng Ba (A full moon in March, 1935), thơ.
              *Lời nguyền Cromwell (The curse of Cromwell, 1937), thơ.
              *Cái chết của Cuchulain (The death of Cuchulain, 1939), kịch.





              KHI EM ĐÃ GIÀ(1)

              Khi em đã già, mái tóc điểm bạc
              Một mình em bên bếp lửa, cúi đầu
              Em mở cuốn sách này, hãy đọc thật lâu
              Có bóng xưa toả ra từ ánh mắt.

              Biết bao kẻ yêu vẻ vui tươi phút chốc
              Yêu vẻ đẹp của em, giả dối hoặc chân thành
              Nhưng chỉ một người yêu tâm hồn hành hương của em
              Và yêu nét buồn đổi thay trên gương mặt.

              Em cúi xuống, giọng thì thào, khoan nhặt
              Đượm vẻ buồn sao tình vội qua mau
              Tình vút bay lên tận đỉnh núi cao
              Giữa đám đông các vì sao giấu mặt.
              _________
              (1)Bài thơ này viết về người yêu, ngưòi đẹp, nữ nghệ sĩ Maud Gonne – một trong những thủ lĩnh của phong trào giải phóng dân tộc Ailen. Nhờ sự ảnh hưởng của Maud Gonne mà Yeats đã xác định cho mình vị trí trong cuộc đấu tranh vì độc lập của Ailen…
              Bài thơ này mang sự ảnh hưởng rất chi tiết một bài sonnê nổi tiếng của Pierrè Ronsard (1524-1585) “Quand vous serez bien vieille, au soir à la chandelle…”



              NỖI BUỒN CỦA TÌNH YÊU

              Dưới mái hiên chim sẻ kêu ríu rít
              ánh trăng thanh và cả dải ngân hà
              Và tiếng lá đang hoà âm xào xạc
              át tiếng khóc than nhân thế mờ xa.

              Nàng thiếu nữ bờ môi hồng ảm đạm
              Tựa hồ như đau đớn cả trần gian
              Nàng giống như Odyssey bi thảm
              Như vua Priam trước cái chết hiên ngang.

              Và trỗi dậy, tiếng chim kêu ríu rít
              Và giữa bầu trời buồn bã ánh trăng
              Và tất cả tiếng lá cây xào xạc
              Hòa nhập vào tiếng khóc của trần gian.


              ĐI VÀO BUỔI HOÀNG HÔN

              Nào, con tim, hãy quên hết xiềng gông
              Hãy xua đi ý nghĩ về phải, trái
              Hãy cười lên trong hoàng hôn tê tái
              Hít thở vào giọt sương buổi bình minh.

              Mẹ của em Eire mãi mãi trẻ trung
              Sương vẫn trong và hoàng hôn tê tái
              Dù hy vọng đổ vào trong lửa cháy
              Của tình yêu bị vu khống chết dần.

              Nào con tim, hãy đến ngọn đồi con
              Nơi bí ẩn muôn đời tình huynh đệ
              Nơi mặt trời, mặt trăng và cây dẻ
              Ta nhận về ý chí của dòng sông.

              Và Chúa Trời sẽ đứng đấy một mình
              Và cuộc đời, thời gian còn bay mãi
              Và tình yêu không dịu êm bằng hoàng hôn tê tái
              Và hy vọng không quí bằng sương buổi bình minh.



               
              NGƯỜI YÊU KỂ VỀ BÔNG HỒNG NỞ TRONG TIM

              Tất cả những gì buồn bã trên đời: nghèo nàn, già cũ
              Tiếng kẽo kẹt bánh xe, tiếng trẻ khóc bên đường
              Vẻ mệt mỏi của thợ cày, tia nước lạnh mùa đông
              Làm sai hình ảnh của em, bông hồng trong tim anh đang nở.

              Thật đã lắm nỗi buồn, anh muốn xây lại nó
              Trên ngọn đồi cô đơn sẽ trải một màu xanh
              Để Đất và Trời sẽ biến thành một cái tráp vàng
              Đựng giấc mơ về em, bông hồng trong tim anh đang nở.


              TÂM TRẠNG

              Thời gian đang phân hủy
              Như ngọn nến lụi tàn
              Núi rừng và cây cối
              Vẫn sống ngày của mình
              Có điều chi nguồn cội
              Trong tâm trạng lửa sinh
              Hay là đang tàn lụi?


              GIỮA RỪNG CÂY DƯƠNG LIỄU

              Tôi và em gặp nhau giữa rừng cây dương liễu
              Bàn chân của em nhẹ nhàng rảo bước giữa rừng dương
              Hãy yêu em - nàng bảo tôi - như những chiếc lá trên cành
              Nhưng tôi dại dột, trẻ con, với nàng tôi không chịu.

              Trên bãi đất nhỏ bờ sông - nàng đứng bên tôi
              Bàn tay nàng nhẹ nhàng đặt trên vai tôi như là chiếc lá
              Hãy yêu em - nàng bảo tôi - như đập nước yêu cây cỏ
              Nhưng tôi trẻ con, dại dột... để bây giờ nước mắt đầy vơi.


              ANH MUỐN TẤM VẢI BẦU TRỜI

              Giá mà anh có tấm vải bầu trời
              Và trong đó ánh sáng vàng hay bạc
              Vải màu tối, màu xanh hay màu khác
              ánh sáng lung linh đêm cũng như ngày.

              Thì anh sẽ căng vải dưới chân em
              Nhưng khổ thân anh, chỉ là mơ ước
              Anh trải ước mơ dưới bàn chân em
              Em nhẹ nhàng lên giấc mơ hãy bước.


              RỪNG CÂY XÀO XẠC

              Em hãy về miền nước hồ lấp lánh
              Cùng chú hươu với tiếng thổn thức tình
              Và khi đó hãy ngắm nhìn hình ảnh
              Chẳng có ai yêu như em và anh!

              Em sẽ thấy nữ hoàng rất kiêu hãnh
              Với đôi hài trượt xuống tự trời xanh
              Khi mặt trời trong ánh vàng lấp lánh
              Chẳng có ai yêu như em và anh!

              Em hãy về miền rừng cây xào xạc
              Anh muốn kêu lên với những người tình:
              Ôi cuộc đời, ôi màu vàng mái tóc
              Chẳng có ai yêu như em và anh!


              NÀNG TIÊN CÁ

              Có một chàng trai bơi trong nước
              Chìm theo vẻ đẹp của nàng tiên
              Nàng tiên cá ép chàng vào thân mình
              Nàng mỉm cười kéo chàng xuống vực
              Mà quên rằng ngay cả trong hạnh phúc
              Thường vẫn hay chìm đắm những người tình.


              MẤT MÁT GÌ

              Tôi hát về mất mát, tôi sợ thành công
              Và lại như xưa tôi bước vào trận đánh
              Với mất mát của mình, dù vua hay người lính
              Bàn chân đứng hay đi, tôi xếp đặt cho mình
              Trên đá nhỏ bước chân đều vẫn giậm.



               
              THƯƠNG TÌNH

              Lòng thương hại đến vô cùng
              Trong trái tim yêu trú ẩn
              Những đám mây trên cuộc hành trình
              Của những người mua và bán
              Và một cơn gió lạnh
              Bóng cây phi tử chơi vơi
              Còn nước bây giờ màu xám
              Hãy coi chừng tình yêu của tôi.


              VĂN MỘ CHÍ SWIFT

              Swift ngàn thu yên giấc
              Tức giận một thuở đã từng
              Không còn xé tan lồng ngực.
              Cho người đời sẽ noi gương
              Anh từng là người lữ khách
              Vì tự do của quê hương.


              CHÉN NƯỚC CẠN KHÔ

              Chàng điên tìm ra chén nước
              Khi mà chết khát nhân dân
              Không dám làm cho môi ướt
              Sợ ánh trăng sẽ rủa nguyền.
              Chỉ vừa mới nhấp một hớp
              Thì con tim đã vỡ tung.
              Tôi cũng tìm ra chén nước
              Nhưng mà chén nước cạn khô
              Vì thế tôi cũng hoá rồ
              Và suốt đêm không ngủ được.


              SAU ĐÓ LÀ GÌ

              Bạn bè xưa trong lớp học cho rằng
              Nó sẽ trở thành người nổi tiếng
              Nó vẫn suy nghĩ và sống như thường
              Còn tất cả bạn bè lao động
              “Sau đó là gì?” lời nhà triết học còn vang.

              Mọi người đọc những gì nó viết
              Thế rồi theo tháng năm
              Nó làm ra nhiều tiền bạc
              Bè bạn, bạn bè quả thực
              “Sau đó là gì?” lời nhà triết học còn vang.

              Những thứ nó ước mơ trở thành hiện thực
              Có vợ, có nhà, có con gái, con trai
              Có vườn nho, có vườn rau cải bắp
              Trong số các nhà thơ nó là người thành đạt
              “Sau đó là gì?” còn vang vọng những lời.

              “Công việc đã xong – nó thầm nghĩ bụng –
              Ta muốn một điều như thuở bé con
              Chuyển về số không, cứ cho là ngớ ngẩn
              Bởi ta mang lại một điều lý tưởng”
              Nhưng “sau đó là gì?” lời chiếc bóng còn vang.



              BÀI CA PHỤ NỮ II

              Người đàn ông nào đến
              Nằm ở dưới chân ta
              Thì phận ta đàn bà
              Ta làm cho thỏa mãn.
              Những bông hoa ngát hương
              Ta rắc đầy trên giường
              Xin Chúa Trời độ lượng.

              Tình yêu người khao khát
              Làm mê hoặc tâm hồn
              Tình chỉ yêu thể xác
              Chứ tình không yêu hồn.
              Tình trong tình hai mặt
              Nhưng bản chất một phương
              Xin Chúa Trời độ lượng.

              Tâm hồn cần phải học
              Tình yêu ngự trong lòng
              Tình yêu theo thói thường
              Cao thượng và thú vật
              Nhìn ngắm hay ve vuốt
              Đâu hạnh phúc nhiều hơn?
              Xin Chúa Trời độ lượng.



               
               
              BÀI CA PHỤ NỮ III

              Khi em với người gặp gỡ chân tình
              Khi chàng hân hoan dưới bàn chân em
              Với hồn mình em nhớ đừng phụ bạc
              Đừng nghĩ rằng chàng chỉ cần thể xác
              Người phụ nữ khi yêu sẽ biết rằng
              Thân xác so cùng cái ác tồi hơn
              Tình phân chia đều đặn trong danh dự
              Không kém, không hơn cùng chung phận số
              Để cho nụ hôn êm ái của tình
              Không phải như lời con rắn nỉ non
              Hãy đưa bàn tay sờ lên thể xác
              Và thiên thần chốn thiên đàng thổn thức.


              CON TIM PHỤ NỮ

              Căn phòng nhỏ có để làm gì đâu
              Và nguyện cầu, nghỉ ngơi trong tĩnh lặng
              Chàng dẫn tôi đi về miền u ám
              Chúng tôi nằm ngực sát ngực bên nhau.

              Tôi đâu có cần gì mẹ lo âu
              Ngôi nhà đây, nơi này tôi sưởi ấm
              Bóng đen của mái tóc tôi dày rậm
              Giấu hai người khỏi những nỗi buồn đau.

              Giấu trong mái tóc và đôi mắt khát khao
              Tôi chẳng cần cuộc đời hay cái chết
              Con tim chàng và tim tôi hoà nhập
              Chúng tôi hít vào hơi thở của nhau.


              MÔ PHỎNG THƠ HAIKU CỦA NHẬT

              Một điều làm tôi kinh ngạc nhất
              Là tôi đã sống bảy mươi năm.

              (Hoan hô hoa của mùa xuân
              Vì mùa xuân nơi này lại đến).

              Bảy mươi năm tôi đã sống
              Không phải là người nghèo khổ, ăn xin
              Bảy mươi năm tôi đã sống
              Bảy mươi năm, cậu bé rồi đàn ông
              Chưa bao giờ tôi nhảy vì sung sướng.



               
              ẤN ĐỘ DÀNH CHO TÌNH YÊU

              Một hòn đảo mơ màng dưới bình minh
              Những cành cây êm đềm trong tĩnh lặng
              Chim công múa trên bãi cỏ mịn màng
              Chú vẹt đung đưa nhảy nhót trên cành
              Ngó chằm chặp bóng mình trong nước biển.

              ở nơi này con tàu ta cập bến
              Và ta lang thang tay nắm trong tay
              Môi kề môi trong êm ái thì thào
              Trên cỏ hoa và trên bờ cát trắng
              Rằng cõi muộn phiền ở chốn xa xôi.

              Ta bên nhau, xa cách với cuộc đời
              Ta giấu mình trong cỏ hoa êm ả
              Tình cháy lên bằng ngôi sao ấn Độ
              Ngôi sao băng như lửa của con tim
              Như sóng vỗ bờ, như cánh của chim.

              Bồ câu trắng vờn bay trong rừng rậm
              Một trăm ngày thở than và ai oán:
              Khi ta chết đi bóng ta vẫn nơi này
              Khi những con đường của chim đứt quãng
              Bóng vẫn mơ màng trên sóng nước, trên mây.


              CHỌN LỰA

              Trí tuệ con người dùng cho chọn lựa
              Để hoàn hảo hơn trong công việc, trong đời
              Nếu cho cái đầu tiên, cần chối bỏ
              Những nghĩ suy về cung điện trên trời.

              Có tin tức gì, khi kết thúc câu chuyện
              May mắn hay không ở điểm cuối cùng
              Bối rối nhìn vào hầu bao trống rỗng
              Phù phiếm của ngày, hối hận của đêm.


              CÁI CHẾT

              Không hy vọng, chẳng kinh hoàng
              Loài động vật trong ngày chết
              Còn con người đợi ngày kết thúc
              Với hy vọng và nỗi kinh hoàng.
              Con người chết không chỉ một lần
              Không chỉ một lần ngã xuống
              Rồi lại đứng lên kiêu hãnh
              Vững vàng trong cuộc đấu tranh
              Khó khăn, gian khổ coi thường
              Hơi thở căng đầy trong ngực
              Với cái chết đã từng quen
              Con người tạo nên cái chết.


              BÀI HÁT RU

              Thiên thần đang bay xuống
              Trên chiếc giường của con
              Thiên thần giờ đã chán
              Lời người chết thở than.

              Chúa nhìn con hạnh phúc
              Mỉm cười từ trên trời
              Bảy người bơi trong nước
              Đang cầu nguyện cho Ngài.

              Mẹ âu ếm hôn con
              Thở dài trong lặng lẽ
              Mai này mẹ sẽ buồn
              Khi mà con khôn lớn.


              KHÔN LÊN THEO THỜI GIAN

              Dù lá có nhiều nhưng cây chỉ một
              Ngày tháng dù nhiều – tuổi trẻ của tôi
              Như lá, như hoa ở dưới mặt trời
              Chỉ bây giờ mới hiểu ra sự thật.


              Wystan Hugh Auden viết về Yeats:



              Tưởng nhớ W. B. Yeats
              (Mất tháng giêng năm 1939)

              Anh ra đi giữa băng giá mùa đông
              Sông đóng băng, những phi trường hoang vắng
              Tuyết trắng rơi, phủ đầy lên bức tượng
              Rót xuống miệng của ngày một giọt thủy ngân
              Dường như mọi thiết bị đo đếm cũng đồng tình
              Ngày anh ra đi tối tăm và giá lạnh.

              Cách xa những ngày đau ốm của anh
              Chó sói hãy còn chạy giữa rừng xanh.
              Dòng sông quê không còn mê bờ đẹp
              Và ngôn ngữ của đám tang
              Ngăn cách thơ anh và cái chết.

              Nhưng với anh, ngày cuối, như chính anh
              Ngày của tin đồn và những cô y tá
              Đặt lên thi thể vẻ không yên
              Và hoang vu cả quãng trường lý trí.
              Vùng ngoại ô bao trùm lên lặng lẽ
              Những cảm giác dường như lặng ngừng
              Anh trở thành người cho đời ngưỡng mộ.

              Và bây giờ lan tỏa trong hàng trăm thành phố
              Anh mang cho những cảm giác không quen
              Để hạnh phúc trong cõi khác
              Và xử phạt theo bộ luật của lương tâm
              Lời của người đã chết
              Cùng với người đang sống ở trần gian.

              Nhưng sự quan trọng của ngày mai trong tiếng ồn
              Nơi những người môi giới om sòm trên sàn chứng khoán
              Nơi những kẻ nghèo khổ sở vì nghèo túng
              Và mỗi người đều có tự do của mình
              Nhưng cái ngày này không một ai hờ hững
              Như ý nghĩ về một ngày không bình thường
              Dường như mọi thiết bị đo đếm cũng đồng tình
              Ngày anh ra đi tối tăm và giá lạnh.
               
              #22
                cacbac

                • Số bài : 412
                • Điểm thưởng : 0
                • Từ: 08.10.2007
                • Trạng thái: offline
                RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:38:30 (permalink)

                 
                Rabindranath Tagore là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ và họa sĩ Ấn Độ. Là con thứ mười bốn của một điền chủ - nhà cải cách tôn giáo giàu có. Ông đi học ở trường một thời gian ngắn; về sau học ở nhà với cha. 8 tuổi, R. Tagore nổi tiếng giỏi văn nhất vùng Bengal; 13 tuổi có thể sáng tác nhạc, họa, đọc sách cổ bằng tiếng Phạn và dịch kịch Shakespeare; 17 tuổi sang Anh du học; năm 1880, trở về Ấn Độ, viết vở nhạc kịch đầu tiên. Từ giữa những năm 1880, R. Tagore sáng tác nhiều tập thơ, truyện ngắn, kịch; về sau, khi trở thành chủ bút các tờ báo khác nhau ông đã tự in tác phẩm của mình. Hầu hết sáng tác viết bằng tiếng Bengal, trong đó có một phần được R. Tagore dịch sang tiếng Anh.

                Là người yêu nước nhiệt thành, nhưng R. Tagore không thể hiện mối quan tâm lớn đến chính trị, và việc từ chối ủng hộ M. Gandhi của ông đã làm thất vọng nhiều người hâm mộ ông ở Ấn Độ. R. Tagore coi điều quan trọng hơn cả không phải là thay đổi chính thể, mà là phục hưng dân tộc, cho rằng có thể tổng hợp những tinh hoa từ các nền văn hóa Đông và Tây. Vì mục đích đó, năm 1901 ông thành lập trường tư thục Santiniketan dành cho học sinh nam tại thái ấp cùng tên của gia đình ở ngoại ô Calcutta; năm 1921 nơi đây trở thành trường Đại học Tổng hợp Quốc tế Visvabkharati dành cho các nhà khoa học có nguyện vọng tìm hiểu các nền văn minh Phương Đông. R. Tagore dành phần lớn thời gian trong những năm cuối đời của ông cho việc phát triển trường đại học này và cho nhiệm vụ đoàn kết thế giới trong nền văn hóa quốc tế. 50 năm sau Visvabkharati trở thành một trường Đại học Tổng hợp danh tiếng thế giới.

                Năm 1910 ra đời tiểu thuyết sáng giá nhất của R. Tagore - Gora - ủng hộ tính nhẫn nại tôn giáo và chính trị. Năm 49 tuổi R. Tagore xuất bản bằng tiếng Anh tập thơ Gitanjali ( tiếng Bengal có nghĩa là Lời dâng). Thi phẩm này là lý do cho việc đề cử trao giải Nobel Văn học năm 1913, được cả thế giới công nhận là kỳ công thứ hai của văn học Ấn Độ (sau Sakuntala của Kalidasa, nhà thơ lớn Ấn Độ thế kỷ thứ V). Đang ở Mỹ, R. Tagore không đến Thụy Điển nhận giải, chỉ gửi một bức điện cảm ơn ngắn. Nhà thơ hiến số tiền nhận từ giải thưởng cho ngôi trường của mình để miễn học phí cho học sinh. Thời kỳ sau Lời dâng R. Tagore bắt đầu được tôn vinh ở Tổ quốc của mình như một vị thánh.

                Từ năm 45 đến 59 tuổi, R. Tagore lần lượt đi thăm các nước Nhật, Anh, Mỹ, Pháp, Trung Quốc và Liên Xô; năm 1929 ông đã đến thăm Sài Gòn 3 ngày. Năm 1915, ông được vua Anh phong tước hiệu quý tộc, nhưng sau vụ thảm sát ở Amritsar năm 1919, ông đã từ chối danh hiệu đó. R. Tagore được trao học vị danh dự của bốn trường đại học tổng hợp Ấn Độ và trường Đại học Tổng hợp Oxford.

                Năm 68 tuổi R. Tagore bắt đầu vẽ tranh và triển lãm ở Munich, New York, Paris, Moskva và nhiều nơi khác. 80 tuổi R. Tagore qua đời tại quê hương Calcutta sau 2 năm bị mù, để lại 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút kí, tiểu luận, diễn văn, hồi ức, thư tín cùng hàng ngàn ca khúc và tranh vẽ vô giá.

                * Tác phẩm:
                - Câu chuyện nhà thơ (Kabikahine, 1878), trường ca.
                - Tiếng hát buổi chiều (Sandhya sangeet, 1882), thơ.
                - Tiếng hát buổi sáng (Prabhat sangeet, 1883), thơ.
                - Lễ hiến sinh (Visarjan, 1890), kịch.
                - Một lí tưởng (Manasi, 1890), thơ.
                - Con thuyền vàng (Sonar tari, 1894), thơ
                - Khoảnh khắc (Khanika, 1900), thơ.
                - Tặng vật (Naivedya, 1901), thơ.
                - Kí ức (Sharan, 1902), thơ.
                - Hạt cát nhỏ (Cokher bọli, 1903), tiểu thuyết.
                - Đắm thuyền (Naukọdubi, 1906), tiểu thuyết.
                - Trẻ thơ (Sisu, 1909; năm 1915 đổi tên thành Trăng non), thơ.
                - Gora (1910), tiểu thuyết.
                - Vượt biển (Kheya, 1906), thơ.
                - Hi sinh (Naibedya, 1910), thơ.
                - Lời dâng (Gitanjali, 1910), thơ
                - Thân chủ của gia đình (Raja, 1910), kịch
                - Vô cảm (Achalayatan, 1912), kịch
                - Sở bưu điện (Dakghar, 1912), kịch.
                - Hồi ức (Jibansmriti, 1912), thơ.
                - Đá khát và những câu chuyện khác (Hungry stones and other stories, 1913), tập truyện.
                - Bài hát tưởng niệm (Gitimalya, 1914), thơ
                - Người làm vườn (The gardener, 1914), thơ.
                - Vòng hoa thơ (Gitali, 1914), thơ.
                - Ngôi nhà và thế giới (Ghare - baire, 1916), tiểu thuyết
                - Thầy tu khổ hạnh (Xaniaxi, 1916), kịch.
                - Mùa xuân trở lại (Phalguni, 1916), kịch.
                - Đường bay của chiếc cần cẩu (Balaka, 1916), thơ
                - Mùa hái quả (Fruit - gathering, 1916), thơ.
                - Tặng vật (Lover's gift, 1918), thơ.
                - Kẻ lánh nạn (The fugitive, 1921), thơ.
                - Thác nước (Muktadhara, 1922), kịch
                - Cây trúc đào đỏ (Rakta - karabi, 1926), kịch
                - Dòng chảy (Yogayog, 1929), tiểu thuyết
                - Cuộc khủng hoảng của nền văn minh (Sabhyatar sankat, 1941), tiểu luận.




                TA HẠNH PHÚC

                Ta hạnh phúc sinh ra ở đất nước này!
                Mẹ hiền ơi, ta yêu người tha thiết!
                Mẹ giàu có chăng, nữ hoàng chăng – ta không biết.
                Trong hơi mát của người ta sung sướng lắm thay!

                ở đâu đẹp hơn rừng hoa, đồng cỏ mùa xuân?
                Và ở đâu vui hơn dưới trăng cười lấp lánh?
                Dễ thương hơn cuộc đời, ta nhìn trên quê hương ánh sáng
                Sẽ chiếu rọi cho ta trong giấc mộng cuối cùng.


                KHI CHIM HÓT TRONG YÊN LẶNG

                Khi chim hót trong yên lặng
                Không biết rằng hồn của chim
                Đem dâng mặt trời buổi sớm.
                Khi lớn lên một thân cây
                Sự nở hoa là lời cầu nguyện
                Nhưng mà cây không biết điều này.


                KHI TA KHÔNG LÀM VIỆC

                Khi ta không làm việc, mà nghỉ ngơi
                Không có sự thảnh thơi, chỉ là trống rỗng
                Và chỉ có công việc làm xứng đáng
                Mang lại cho ta khái niệm thảnh thơi.


                CẦU VỒNG DÙ ĐẸP LẮM

                Cầu vồng dù đẹp lắm
                Vẽ lên chốn xa xôi
                Tôi yêu đôi cánh bướm
                Nơi mặt đất tôi ngồi.


                ANH ĐANG NÓI GÌ

                Anh đang nói gì, anh hãy nói thêm và nhắc lại
                Anh đang yêu, cứ nhắc hoài đến tận buổi bình minh
                Nhắc lại lời anh không chỉ một, hai, ba lần
                Anh đang yêu, lời “anh yêu em” hãy luôn nhắc lại.



                 
                 
                KHI KHÔNG NHÌN THẤY EM

                Khi không nhìn thấy em trong giấc mộng của anh
                Thì anh cứ ngỡ rằng vang lên lời cầu khẩn
                Để cho mặt đất sẽ biến mất dưới chân
                Và để bám vào bầu trời đêm hoang vắng
                Anh giơ hai bàn tay lên trong nỗi kinh hoàng.
                Anh sợ hãi thức giấc và nhận thấy rằng
                Em đang ngồi đan len, mái đầu em cúi xuống
                Em ngồi gần bên anh bất động
                Cả thân hình như bức tượng lặng im.


                NHỮNG ĐÁM MÂY BAY GẦN

                Những đám mây bay gần che khuất những vì sao
                và lời trên môi anh cũng đã tắt, như sao.
                Có thể anh thốt ra điều gì nhưng ngọn gió rì rào đã che tai em lại
                và tiếng thì thầm dưới mưa tan chảy…
                Em bước đi, không ngoái lại, em xa rồi
                và giấu đi nỗi đau của anh dòng nước mưa rơi.
                Có thể một khi nào đó em còn quay trở lại?...
                nhưng ngọn gió lúc này – than ôi - đã biến mất mãi mãi.


                CHỈ MÌNH ANH VÀ EM

                Ngày hôm nay chỉ mình anh và em
                ngày hôm nay mưa rào như trút nước
                ngày hôm nay màn sương như bức tường.
                Dưới tiếng sấm, tiếng mưa anh liều chết
                nói những lời chỉ hiểu mỗi mình em.

                Tất cả hoang vu, chết lặng xung quanh
                chỉ còn lại tiếng mưa rơi và sấm.
                Hai tâm hồn cô đơn trong rì rầm yên lặng
                chốn không người, trong đau đớn cơn giông
                hai chúng mình sẽ hiểu nhau hơn.

                Xung quanh ta tất cả đều bóng tối
                và cuộc đời, có thể, chỉ là gian dối.
                Nhưng bốn mắt nhìn nhau không giấu điều gì
                cơn run rẩy bí huyền không dối trái tim kia.
                Mất hút trong mưa tất cả những gì còn lại.

                Sẽ không có một chút gì không phải
                rằng trong ngôi nhà hoang vu nương náu hai người
                trong ngôi nhà này không phiền muộn gì ai
                khi trong tháng Srabon(1) cơn mưa run rẩy
                mang đến niềm vui cho cả hai người.

                Ngọn gió hôm nay gào thét khôn nguôi
                và xuyên qua màn sương tia chớp.
                Và lời của anh – không làm sao hiểu được –
                thật dễ dàng đến với trái tim em
                ngày hôm nay mưa rào như trút nước.
                _______________
                (1)Srabon - một tháng trong mùa mưa.






                 
                NẾU GIÓ NỔI TRONG TIM

                Nếu gió nổi trong tim, hãy nhổ neo – hãy căng buồn lên.
                Bơi trong đại dương tình yêu không nhìn ngó – hãy giang rộng cánh buồm.
                Gió đập vào mắt, lệ tuôn trào - đó là trong tim giông tố.
                Người thủy thủ trong bóng đêm! Hãy quên ngọn hải đăng – hãy giang rộng cánh buồm.


                EM CÙNG VỚI BẦU TRỜI CHÁY LÊN

                Em cùng với bầu trời cháy lên từ hoàng hôn đến tận bình minh
                cùng với bầu trời bằng bài ca từ hoàng hôn đến tận bình minh.
                Như trong rừng mưa ngọn gió khóc than cùng chiếc lá
                em hãy khóc bằng tất cả trái tim mình và nỗi buồn hãy dâng tặng cho anh.

                 
                #23
                  cacbac

                  • Số bài : 412
                  • Điểm thưởng : 0
                  • Từ: 08.10.2007
                  • Trạng thái: offline
                  RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:42:38 (permalink)

                   
                  Mooris Maeterlinck (1862-1949) - nhà viết kịch, nhà thơ, nhà triết học người Bỉ viết bằng tiếng Pháp (tên đầy đủ là Count Maurice (Mooris) Polidore Marie Bernhard Maeterlinck).

                  Sinh ngày 29-8-1962 tại Ghent trong một gia đình khá giả, bố làm công chứng, mẹ là con gái một luật sư giàu có. Sau khi tốt nghiệp trung học và Đại học Luật Mooris Maeterlinck lên tu nghiệp về luật tại Paris. Năm 1886, ông gia nhập Đoàn Luật sư Ghent, viết thơ, kí, phê bình cho các báo và tạp chí như Nước Bỉ trẻ (La Jeune Belgique), La Wallonie. Năm 1886 ông in truyện ngắn đầu tiên Cuộc tàn sát những kẻ vô tội; năm 1889 xuất bản tập thơ đầu tiên và vở kịch đầu tiên, được một nhà phê bình Pháp rất có thế lực là O. Mirbau hết lời khen ngợi. Từ đó ông bỏ nghề luật sư. Trong những năm tiếp theo, ông viết hàng loạt vở kịch cổ tích, tượng trưng, kịch rối... Năm 1895 M. Maeterlinck cưới vợ là Leblan - diễn viên tham gia đóng các vở kịch của ông và năm 1896 sang Paris sinh sống. M. Maeterlinck ủng hộ nghệ thuật thuần túy, là một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái tượng trưng cả trong thơ ca lẫn sân khấu, trong các tác phẩm của mình mở ra một thế giới đầy màu sắc, mộng ảo chống lại số phận khắc nghiệt. Năm 1909 ông viết xong vở kịch Con chim xanh là một kiệt tác sân khấu của kể về những cuộc phiêu lưu kiếm tìm hạnh phúc qua hình tượng con chim xanh, trở thành một điển cố văn học biểu tượng cho hạnh phúc tình yêu.

                  Mooris Maeterlinck được trao giải Nobel Văn học nhờ những tác phẩm kịch mang nội dung phong phú, giàu tưởng tượng đầy thi vị. Ông thường sử dụng thể loại cổ tích bởi vì cổ tích là biểu hiện sâu nhất và giản dị nhất của nhận thức tập thể, khơi dậy những cảm xúc con người. Kịch của ông thể hiện những hệ thống triết lý hình thành một cách trực giác. Mô típ cái chết thường xuyên hiện diện trong tác phẩm của ông ở giai đoạn cuối mang thêm màu sắc của chủ nghĩa thần bí. M. Maeterlinck được coi là một trong những người khởi đầu của sân khấu kịch phi lí; các vở kịch của ông đến ngày nay vẫn được dàn dựng ở nhiều nước trên thế giới.

                  Trong Thế chiến I, ông xin vào dân quân nhưng không được chấp nhận vì quá tuổi và nhà văn đã thể hiện lòng yêu nước bằng hàng loạt cuộc nói chuyện tuyên truyền ở Châu Âu và Mỹ. Năm 1939 Đức quốc xã đe dọa chiếm cả châu Âu Mooris Maeterlinck chạy sang Bồ Đào Nha, khi cảm thấy rằng Bồ Đào Nha cũng sẽ bị Đức chiếm, ông cùng với vợ sang Mỹ. Năm 1947 ông trở về Nice, Pháp.

                  Ngoài giải Nobel Mooris Maeterlinck được tặng huân chương Đại thập tự của vua Leopold (1920), huân chương Thanh kiếm của Bồ Đào Nha (1939) và được vua Bỉ phong tước hiệu Bá tước (1932). Ông mất ngày 6-5-1949 tại Nice, Pháp.

                  Tác phẩm:
                  *Cuộc tàn sát những kẻ vô tội (Le massacre des innocénts, 1886), truyện.
                  * Vườn kính (Serres chaudes, 1889), tập thơ.
                  *Công chúa Maleine (La princesse Maleine, 1889), kịch.
                  *Người đàn bà đột nhập (L'intruse, 1890), kịch
                  *Những người mù (Les aveugles, 1890), kịch
                  *Bảy nàng công chúa (Les sept princesses, 1891), kịch
                  *Pelleas và Mélisande (Pelléas et Mélisande, 1892), kịch
                  *Alladine và Palomides (Alladine et Palomides, 1894), kịch
                  *Cái chết của Tintagiles (La mort de Tintagiles, 1894), kịch
                  *Kho báu của những kẻ nhẫn nhục (Le trésor des humbles, 1896), luận văn mĩ học.
                  *Mười hai bài hát (Douze chansons, 1896), thơ
                  *Aglavaine và Selysette (Aglavaine et Selysette, 1896), kịch cổ tích
                  *Khôn ngoan và định mệnh (Le sagesse et la destinée, 1898), khảo luận triết học
                  *Đời sống loài ong (La vie des abeilles, 1900), khảo luận.
                  *Ariane và gã Râu Xanh (Ariane et Barbe-Bleue, 1901), kịch
                  *Monna Vanna (1902), kịch
                  *Ngôi đền vùi lấp (Le temple enseveli, 1902)
                  *Joyselle (1903), kịch
                  *Điều kì diệu của thánh Antoine (Le miracle de Saint-Antoine, 1903), kịch
                  *Trí tuệ của hoa (L'intelligence des fleurs, 1907)
                  *Con chim xanh (L'oiseau bleu, 1909), kịch
                  *Thị trưởng Stilemonde (Bourgmestre de Stilemonde, 1919)
                  *Miền tiên cảnh lớn (La grande féerie, 1924), tiểu luận
                  *Tai họa đã qua (Le malheur passe, 1925), kịch
                  *Đời sống của mối (La vie des termites, 1926), tiểu luận
                  ­*Đời sống không gian vũ trụ (La vie de l'espase, 1928), tiểu luận
                  *Đời sống loài kiến (La vie des fourmis, 1930), tiểu luận
                  *Quy luật vĩ đại (La grande loi, 1933), tiểu luận
                  *Trước mặt Chúa (Devant Dieu, 1937), tiểu luận
                  *Thế giới khác, hay khớp vũ trụ (L'autre monde ou le cardan stellaire, 1942), tiểu luận.





                  NẾU MỘT NGÀY

                  Nếu một ngày người ấy quay trở lại
                  Thì em biết nói gì với người ta?
                  - Hãy nói rằng chị đã chờ mòn mỏi
                  Đến một hôm, đã kiệt sức trông chờ…

                  Thế nếu như người ấy không nhận ra
                  Nếu như em bị người ta gặng hỏi?
                  - Em cứ lựa lời nói với người ta
                  Có thể người ta cũng đau buồn đấy…

                  Nếu người hỏi biết tìm chị nơi đâu
                  Thì biết nói sao cho người yên dạ?
                  - Chiếc nhẫn vàng của chị em hãy trao
                  Cho người ta, đừng nói thêm gì cả…

                  Nhưng nếu như người ấy hỏi em rằng
                  Sao không có lửa, sao nhà vắng vậy?
                  - Em hãy chỉ vào cánh cửa mở toang
                  Và ngọn đèn đã tắt cho người ấy…

                  Thế nếu như người ấy hỏi em rằng
                  Chị có buồn, chị có từng than thở
                  - Em hãy nói rằng chị đã cười lên
                  Để người ta vì chị mà đau khổ…


                  CHÀNG TRAI ĐÃ RA ĐI

                  Chàng trai đã ra đi
                  (Cửa rung lên – tôi biết)
                  Chàng trai đã ra đi
                  Nàng mỉm cười vĩnh biệt…

                  Chàng trai quay trở lại
                  (Đèn nói – tôi biết mà)
                  Chàng trai quay trở lại
                  Nhưng nàng đã đi xa…

                  Tôi nhìn ra cái chết
                  (Tôi biết tâm hồn chàng)
                  Tôi nhìn ra cái chết
                  Tôi đã lấy hồn anh…

                   
                  #24
                    cacbac

                    • Số bài : 412
                    • Điểm thưởng : 0
                    • Từ: 08.10.2007
                    • Trạng thái: offline
                    RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:46:57 (permalink)

                     
                    Giosue Carducci (1835-1907) – nhà thơ, nhà văn Italia đoạt giải Nobel Văn học năm 1906. Giosue Carducci sinh ngày 27-7-1835 ở vùng tây - bắc tỉnh Toscana, Italia. Là con trai một bác sĩ, thành viên của một tổ chức bí mật đấu tranh thành lập chính thể lập hiến nên gia đình thường xuyên phải chuyển nơi ở. Từ năm 1848, gia đình chuyển đến Firenze, Carducci mới được đến trường. Cậu bé say mê văn học cổ điển, đọc nhiều, bắt đầu viết về đề tài lịch sử, làm thơ trào phúng, dịch khúc thứ 9 trong trường ca Iliad của Homer. Năm 1853 G. Carducci được học bổng vào trường Đại học Pisa, học triết và văn học, kết bạn với những người đồng chí hướng thuộc nhóm Văn Đàn.

                    Sau khi tốt nghiệp Đại học Pisa, ông làm giảng viên tại trường trung học thành phố Man-Miniato-al-Tedesco. Năm 1857 ông in tập thơ đầu tiên Thi vận, gồm những bài sonneto và ballata mang một tình cảm ái quốc sâu nặng, thiếu vắng hẳn những tình cảm ủy mị của chủ nghĩa lãng mạn. G. Carducci là một trong những người đứng đầu đã tập hợp quanh mình nhóm tác giả của tạp chí Phụ bản do Pietro Tuar ấn hành, coi nhiệm vụ của mình là bảo vệ nền thơ ca Italia thoát khỏi cái mà họ gọi là "ảnh hưởng nguy hại của chủ nghĩa lãng mạn". Những năm 1857-1858 G. Carducci gặp nhiều khó khăn: tài chính eo hẹp, anh trai tự tử, cha mất sau đó một năm. Sang năm 1859, ông lấy vợ, năm sau nhận được chức giảng viên khoa tiếng Hi Lạp tại trường Đại học Pistoja. Còn sau vài tháng, ông trở thành giáo sư Văn học Italia tại Đại học Bologna, giữ chức trưởng khoa đến khi về hưu vào năm 1904.

                    Di sản thơ của G. Carducci không nhiều, trong bộ tuyển 30 tập chỉ có 4 tập thơ, phần còn lại là khảo luận, chuyên luận khoa học và các bài tranh luận. Các tác phẩm thơ tiêu biểu của ông là Nhẹ nhàng và nghiêm trọng (1861-1868), Thơ mới (1861-1887), Những đoản thi man dại (ba tập, 1878-1889)... Những năm cuối đời G. Carducci, vốn nổi tiếng là một nhà hùng biện, được coi là nhà thơ dân tộc Italia, trở thành thượng nghị sĩ, ủng hộ chính sách bành trướng của Italia ở châu Phi.

                    Ngoài sáng tác thơ, G. Carducci còn nổi tiếng là một nhà phê bình và nhà ngôn ngữ học. Ông là tác giả của nhiều bài viết quan trọng và Dante, Petrarca, Boccaccio… Năm 1906 ông được trao giải Nobel Văn học vì “phong cách mới mẻ và sức mạnh trữ tình trong thơ”. Ông mất ngày 16-2-1907 tại Bologna, một năm sau khi nhận giải Nobel Văn học.

                    Tác phẩm:
                    *Thi vận (Rime, 1857), thơ
                    *Nhẹ nhàng và nghiêm trọng (Levia gravia, 1861-1868), thơ
                    *Thánh ca cho quỉ Satan (Inno a Satana, 1865), thơ
                    *Thơ Iambơ và epodes (Giambi ed epodi, 1882), thơ
                    *Thơ mới (Rime nuove, 1861-1887), thơ
                    *Những đoản thi man dại (Delle di barbare, 1878-1882, 1889), thơ
                    *Nghiên cứu về những thế kỉ đầu tiên của quá trình phát triển văn học Italia (Studii su la letteratura italianna dei primi secoli), khảo luận
                    *Về sự phát triển nền văn học dân tộc (Dello svolgimento della letteratura nazionale, 1868-1871), phê bình
                    *Nghiên cứu văn học (Studi letterati, 1874), khảo luận
                    *Phác thảo phê bình và tranh luận văn học (Bozetti critici e discorsi letterari, 1876), phê bình
                    *Thi vận và tiết điệu (Rime e ritmi, 1901), thơ





                    Ở VÙNG TERME DI CARACALLA

                    Những đám mây đen bay qua Aventino, Celio
                    ngọn gió buồn từ đồng bằng mang hơi ẩm
                    đằng xa – những ngọn đồi Anbani
                    đứng trong tuyết trắng.

                    Dưới màu tro của tấm khăn voan
                    dâng lên màu xanh, cô gái người Anh tìm trong sách
                    những cuộc tranh luận của thời xa lắc
                    và bầu trời với những viên đá thành Rôm.

                    Bầy quạ đen không ngừng tiếng kêu vang
                    quạ bay giữa trời như có vẻ
                    tiếng gọi của ai nghe rất dữ
                    và to lớn vô cùng.

                    Người khổng lồ cổ đại mơ tưởng, than phiền
                    bầy yêu tinh – với trời xanh tranh luận
                    từ Laterano nghiêm trang đổ xuống
                    một hồi chuông.

                    Kẻ lười biếng quấn vào chiếc áo choàng
                    miệng huýt gió, không nhìn ai hết
                    bây giờ ta gọi ngươi, bệnh sốt rét
                    ở đây, ngươi là thiên thần.

                    Nếu động đến ngươi giọt nước mắt tuyệt trần
                    và lời van xin của nhiều bà mẹ
                    chùi nước mắt cho bầy con trẻ
                    cúi mình xuống nhọc nhằn.

                    Động chạm đến Palazio vinh quang
                    cái bàn thờ xưa (ngọn đồi evandrio
                    Tebro trong buổi chiều vật vờ
                    khắp Campidoglio

                    hoặc Aventino, rồi trở về
                    ngắm mưa đá đang đổ xuống
                    và hát trong im lặng
                    bài ca Saturino).

                    Bệnh sốt rét, ngươi hãy xua đi
                    những kẻ xa lạ với điều bận rộn
                    điều khủng khiếp này, xin hãy kính trọng
                    thiên thần của thành Rôm

                    ở Palatino – kiêu hãnh ngẩng đầu lên
                    ở Aventino, Celio buông tay xuống
                    từ Capena đến Appia con đường lớn
                    giũ sạch bờ vai.


                    TIẾNG KHÓC

                    Cây lựu lại cúi mình
                    Trong im lặng của khu vườn hoang vắng
                    Và những chiếc lá lại vui mừng
                    Đón ánh nắng của mùa hè nóng bỏng.
                    Như bàn tay con trẻ, thường xuyên
                    Tiếng khóc đã từng giăng ra một thuở
                    Lên màu của những chiếc lá xanh
                    Và lên màu lá đỏ bừng như lửa.

                    Màu của cô đơn, màu cuối cùng
                    Màu của lá cành không đến nỗi
                    Màu của cuộc đời tôi không cần
                    Với ngươi, ta không còn gặp lại.
                    Ngươi ở trong đất đen lạnh lẽo
                    Mặt trời tháng sáu như ánh mắt nhìn
                    Niềm vui cho ngươi – không mang tới
                    Tình yêu cho ngươi – chẳng thức lên.

                     
                     

                     
                    #25
                      cacbac

                      • Số bài : 412
                      • Điểm thưởng : 0
                      • Từ: 08.10.2007
                      • Trạng thái: offline
                      RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 18:51:27 (permalink)

                      Fredéric Mistral (1830-1914) – nhà thơ Provence (Pháp) đoạt giải Nobel Văn học năm 1904. F. Mistral sinh ngày 8 tháng 9 năm 1830 tại làng Maillane, Pháp, giữa Avignon và Arles của thung lũng sông Rhône. Ông lớn lên giữa khung cảnh thiên nhiên kỳ diệu của quê hương, giữa những người dân quê và ông sớm quen với công việc của họ. Bố ông là một trại chủ giàu có, người toàn tâm toàn ý với những phong tục của đức tin và tổ tiên. Mẹ ông nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ của ông qua những bài hát và truyền thống quê hương. Trong suốt thời gian theo học ở Avignon, cậu bé đã đọc những tác phẩm của Homer và Virgil, những tác phẩm đã tạo ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn ông. Một trong các giáo sư, nhà thơ Joseph Roumanille, đã thổi vào ông tình yêu tha thiết đối với tiếng mẹ đẻ, tiếng Provence. Năm 1851 ông tốt nghiệp Đại học rồi dành toàn bộ thời gian của mình cho sự nghiệp văn học. Năm 1854 ông cùng với sáu nhà thơ khác đã sáng lập Félibrige - Hiệp hội Hỗ trợ Phát triển Ngôn ngữ và Văn học Provence, xuất bản tạp chí Almanach Provence cùng Joseph Roumanille. Suốt đời F. Mistral hoạt động không mệt mỏi cho Félibrige và mơ ước phục hồi nền văn học và ngôn ngữ Provence.
                      Năm 1859 ông xuất bản thiên trường ca Miréio, viết về một cô gái thôn quê ngoan ngoãn và xinh đẹp không thể lấy được người mình yêu vì bố cô không đồng ý. Tuyệt vọng, cô trốn nhà đến nương nhờ tại một nhà thờ nơi hành hương của những người theo đạo Three Saint Marys trên đảo Camargue, vùng châu thổ sông Rhône. Tác giả đã kể lại một cách quyến rũ tình yêu trẻ trung của cô gái và mô tả bằng nghệ thuật bậc thầy cuộc chạy trốn của cô qua cao nguyên Crau lởm chởm đá. Kiệt sức vì cái nắng như thiêu như đốt của vùng Camargue, cô gái trẻ bất hạnh cuối cùng cũng đến được nhà thờ để chết. Nơi đó, trong ảo ảnh, ba vị thánh Mary đã hiện lên trước mắt cô đúng lúc cô trút hơi thở cuối cùng. Bi kịch tình yêu này được nhiều nhà thơ lớn của nước Pháp đánh giá cao. A. Lamartine vốn là một người luôn cẩn trọng vẫn bị quyến rũ bởi những tác phẩm hay, đã viết: “Một nhà thơ vĩ đại đã ra đời". Ông so sánh thơ của F. Mistral với một hòn đảo trong quần đảo, một Delos trôi nổi đã phải tự tách mình ra khỏi quần thể để âm thầm đến với Provence ngát hương. Năm 1875 F. Mistral xuất bản tập thơ Những hòn đảo vàng, gồm những bài thơ trữ tình bất hủ. Cuốn từ điển Provence - Pháp Kho báu Félibrige là tác phẩm độc đáo của ông, mang tính bách khoa thư, chứa đựng những kiến thức phong phú về phương ngữ, văn học dân gian, phong tục tập quán, tín ngưỡng của một nền văn hóa. Năm 1890 ông hoàn thành vở kịch duy nhất của mình là Nữ hoàng Jano.

                      Năm 1904, năm thứ 50 của phong trào Félibrige, F. Mistral nhận giải Nobel (cùng với nhà viết kịch Tây Ban Nha J. Echegaray) vì lí tưởng cao cả và những cống hiến lớn lao cho sự phục hồi tinh thần dân tộc. Ông đã dùng tiền của giải thưởng Nobel lập Bảo tàng Văn hóa Dân gian Provence.
                      F. Mistral mất ngày 25-3-1914 do bị cảm lạnh khi đang nghiên cứu văn khắc trên quả chuông nhà thờ Mainllane, để lại những câu thơ khiến người ta nghĩ rằng: các nền văn minh có thể chết nhưng không bao giờ biến mất. Thơ của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.

                      Tác phẩm:
                      *Miréio (1859), trường ca
                      *Calendau (1867), trường ca
                      *Những hòn đảo vàng (Lis isclo d'or, 1876), tập thơ
                      *Nerto(1884), thơ.
                      *Kho báu Felibrige (Lou tresor dóu Félibrige, 1878-1886), từ điển
                      *Nữ hoàng Jano (La Rèino Jano, 1890), kịch
                      *Trường ca sông Rhone (Lou Pouèmo dóu Rhone, 1897), trường ca
                      *Hồi kí Mistral (Moun espelido: memori è raconte, 1906), hồi kí
                      *Mùa thu hoạch oliu (Les oulivado,1912), tập thơ





                      MAGALI

                      - Ôi Magali, ôi thiên thần của anh
                      Hãy thức dậy và nhìn ra cửa sổ
                      Tiếng lục lạc của anh đang kêu đó
                      Cùng với tiếng vĩ cầm.
                      Trời đầy sao và đợi ánh bình minh
                      Nhưng mà em hãy hiện
                      Những vì sao sẽ trở thành màu xám
                      Khi đứng trước em.

                      “Hãy để tôi yên cùng với cây đàn
                      Tôi không yêu những lời dại dột
                      Còn nếu không, tôi như con cá chạch
                      Sẽ lặn vào giữa sâu thẳm màu xanh”.
                      - Ôi Magali, Magali của anh
                      Nếu mà em trở thành con cá chạch
                      Thì anh sẽ làm người đi câu bắt
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Nhưng một khi vằng lưới anh chưa buông
                      Thì tôi đã thành con chim bay vào bụi
                      Và sẽ mỉm cười anh đau khổ với
                      Đống vằng lưới của anh”.
                      - Ôi Magali, nếu như em trở thành
                      Con chim bay vào bụi
                      Thì anh làm người săn chim cùng với lưới
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Thì khi đó tôi cất cánh bay cao
                      Và sẽ hoá thành đám mây, xa thẳm
                      Tôi sẽ bay về nơi cuối tận
                      Theo gió, đuổi những con tàu”.
                      - Ôi Magali, nếu em theo ngọn gió
                      Bay về chốn xa xăm
                      Thì anh sẽ hoá thành bão tố
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Trước bão tố tôi sẽ không đầu hàng
                      Đã có mặt trời che chở
                      Nơi đó tôi cháy như ngọn lửa
                      Và toả ánh hào quang!”
                      - Nếu em thành ánh sáng, Magali của anh
                      Thì anh sẽ hoá thành con rắn biển
                      Dưới ánh mặt trời anh sưởi ấm
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Không ánh sáng, chẳng lửa hồng
                      Sẽ không trao cho con rắn
                      Tôi sẽ hoá thành trăng lạnh
                      Sẽ bơi trên mặt đất ngủ mơ màng…”
                      - Ôi Magali, nếu em hoá thành trăng
                      ánh trăng trong đêm vắng
                      Thì anh sẽ hoá thành làn sương mỏng
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Lời gian dối không thể chiếm được tôi
                      Tôi sẽ tìm ra lối thoát
                      Sẽ hoá thành một rừng cây
                      Và sẽ đeo vỏ cây bì lên mặt…”
                      - Ôi Magali, Magali, em cứ việc
                      Cứ là một rừng xanh
                      Còn anh sẽ là dây trường xuân quấn chặt
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Tôi sẽ vào tu viện, theo con đường
                      Thoát cõi đời lăng xăng, bận rộn
                      Để sống trong nghiêm khắc, lặng yên, màu trắng
                      Giữa lời nguyện cầu và sự trắng trong…”
                      - Ôi Magali, nơi đó em trở thành
                      Một Nàng dâu của Chúa
                      Còn anh sẽ thành cái bàn hầu hạ
                      Và em sẽ là của anh.

                      “Không! Nếu bằng sức mạnh hoặc láu lỉnh, tinh ranh
                      Mà người ta cho anh vào tu viện
                      Thì sẽ thấy một nấm mồ khói hương bay quyện
                      Và cây thập ác, mô đất mới đắp lên!”
                      - Ôi Magali, nếu em cứ giấu mình
                      Trong ngôi mồ bí ẩn
                      Thì anh đây sẽ đi về đất lạnh
                      Để em sẽ là của anh.

                      “Khoan, đừng vội đi đâu… em sẽ ra ngoài hiên
                      Để cho, không một ai nghe thấy
                      Chiếc nhẫn pha lê này, anh cầm lấy
                      Và hãy đừng quên, đừng phụ tình em…”
                      - Ôi Magali của anh!...
                      Bây giờ em hãy nhìn
                      Con tim này này mở rộng
                      Những vì sao sẽ trở thành màu xám
                      Khi đứng trước em!
                      ________
                      Magali: cách phiên âm tên Miréio ra một số ngôn ngữ.


                      GỬI LOUIS

                      Tình đốt lên ngọn lửa
                      Ngọn lửa cháy bừng lên
                      ánh hào quang rạng rỡ
                      Trong ánh mắt người tình.

                      Giờ nỗi buồn vây quanh
                      Như bóng đêm dày đặc
                      Nhưng sẽ đến hào quang
                      Khoảnh khắc cần nắm bắt.

                      Hỡi chàng trai si tình
                      Tình yêu như đồng cỏ
                      Giao cho người cắt cỏ.

                      Bông hoa đỏ cháy lên
                      Xin nói cùng người bạn
                      Hãy trao cho dao chạm.




                       
                      GẶP GỠ

                      Tôi đi qua bãi tắm
                      Trên bãi cát vàng
                      Vẻ dịu dàng của cô gái da ngăm
                      Bừng lên như ảo ảnh
                      Và khung cửa mở toang
                      Bờ môi của em
                      Uống ngọn gió mặt trời
                      Cửa đóng.

                      Nàng tựa hồ như giấc mộng
                      “Anh hãy là của em” –
                      Tôi cầu nguyện. Nỗi đam mê dâng lên
                      Lòng tôi trĩu nặng. Nàng giơ cánh tay tuyệt trần
                      Và kêu lên:
                      “Hãy để cho đôi cánh
                      Của tình yêu đưa ta đến hào quang”.

                      Thung lũng tình yêu
                      Trong bóng rừng sồi. Con đường dẫn ta về đập nước
                      Của những điều khao khát
                      Ta đến gần hơn chốn xa xôi
                      Ta ở đây chỉ có hai người
                      Cuộc đời hãy chết
                      Nhưng hãy gìn giữ thơ tôi.

                      Hãy gìn giữ tiếng thì thầm dịu ngọt
                      Những giấc mơ giữa ban ngày
                      Những nụ hôn khao khát
                      Những tình cảm mê say
                      Hãy gìn giữ những giọt lệ, tiếng cười
                      Và bầu nhiệt huyết
                      Của tình yêu sơ suất
                      Và hãy giữ gìn khoảng rộng bao la.

                      Cây cỏ mọc trên núi An-pơ
                      Hút vào những tuyết
                      Rồi hương thơm lại rót
                      Trên cỏ và hoa
                      Mùa xuân đến tự bao giờ
                      Trên bờ môi người yêu dấu nhất
                      Và nụ cười trên môi
                      Hương thơm ngào ngạt.

                      Khi mũi tên vô hình
                      Vào tôi đâm thủng
                      Tiếng gọi của người tình
                      Trong cỏ hoa vang vọng
                      Không còn nghe tiếng sấm vang lên
                      Và nước trên đồi đổ xuống
                      Dòng thác lăn nhanh
                      Như tên bắn.

                      Trong thung lũng đam mê
                      Và trong tổ lá
                      Khi hạnh phúc ta nhớ về
                      Rơi xuống một ngôi sao lạ
                      Vội vàng ngạt thở
                      Rơi xuống thật xa
                      Than ôi, lối quay trở về
                      Dành cho ta đã không còn nữa.

                      Em mỉm cười rồi nói cho tôi biết
                      Trong ngày lễ ở Aliskampe
                      Ngọn gió biển mang em về
                      Ở đó em nhìn tận mắt
                      Lễ mi-xa của Chúa Giê-su.
                       
                       
                      #26
                        cacbac

                        • Số bài : 412
                        • Điểm thưởng : 0
                        • Từ: 08.10.2007
                        • Trạng thái: offline
                        RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 19:04:16 (permalink)

                         





                        Joseph Rudyard Kipling sinh ngày 30 tháng 12 năm 1865 tại Bombay (Ấn Độ); bố ông là giáo sư hiệu trưởng trường Nghệ thuật Bombay, một chuyên gia lớn về lịch sử nghệ thuật Ấn Độ; mẹ xuất thân từ gia đình danh giá nổi tiếng ở London, 6 tuổi được gửi sang Anh sống với một gia đình theo đạo Tin Lành. Trong thời gian ở Anh, R. Kipling đã học tại các trường United Service College, Westward Ho, Bideford. Năm 1882 ông trở về Ấn Độ, viết một số truyện ngắn và làm trợ lý Tổng biên tập cho tờ báo Dân thường và lính (Civil and Military Gazette) ở Lahor. Chàng thanh niên đã khiến xã hội sở tại kinh ngạc bởi những ý kiến sắc sảo trước các vấn đề xã hội và kiến thức về đất nước Ấn Độ. Những chuyến đi hàng năm tới thành phố Shimla trong vùng Hymalaya là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời nhiều tác phẩm của nhà văn. Năm 1886 R. Kipling in tập thơ đầu tiên Những bài ca ở bộ với số lượng hạn chế, nhưng sách bán hết ngay nên phải in lại. Năm 1887 ông chuyển sang làm việc cho báo Người tiên phong (Pioneer) ở Allahabad. Truyện ngắn của ông in ở Ấn Độ được tập hợp thành 6 tập sách trong Tủ sách Đường sắt Ấn Độ khá nổi tiếng.

                        Năm 1889 ông du lịch khắp thế giới, viết du ký cho báo. Tháng 10 năm này ông đến London và gần như lập tức trở nên nổi tiếng. Ông bắt đầu chuyển sang phong cách thơ mới của Anh. Năm 1892 ông sang Mỹ và kết hôn với em gái chủ xuất bản người Mỹ U. Balestier, người viết chung cùng R. Kipling cuốn tiểu thuyết Naulahka (1892) nhưng không thành công lắm. Trong 4 năm sống ở Mỹ, R. Kipling đã viết những tác phẩm hay nhất của mình, như Sách rừng (1894) và Sách rừng thứ hai (1895). Năm 1896 họ trở về Anh. Theo lời khuyên của bác sĩ, mùa đông nhà văn sang Nam Phi. Trong chiến tranh Anh - Nam Phi (thường gọi là Chiến tranh Boer, 1899-1902) ông làm phóng viên mặt trận.

                        Trên đỉnh cao vinh quang và tiền bạc, R. Kipling tránh công chúng, bỏ qua những phê bình thù nghịch, từ chối nhiều danh hiệu. Năm 1901 ông xuất bản tiểu thuyết Kim - như một lời chào giã từ gửi đến đất nước Ấn Độ. Năm 1902 ông lui về sống tại một làng quê hẻo lánh ở tỉnh Sussex (Anh) cho đến cuối đời.

                        Năm 1907 R. Kipling được trao giải Nobel khi đã có trong tay 20 tập sách (trong đó có 4 tiểu thuyết, hàng trăm bài thơ, nhiều tập kí, bài báo...). Ông đến Stockholm nhưng không đọc diễn văn nhận giải. R. Kipling còn được nhận bằng danh dự và phần thưởng của nhiều trường đại học danh tiếng như Oxford, Cambridge, Edinburg, Paris, Athens, Toronto... Đến nửa đời, phong cách của nhà văn có sự thay đổi. Ông bắt đầu viết từ tốn, chín chắn và cẩn thận kiểm tra lại những gì đã viết. Trong Thế chiến I, con trai ông hy sinh, ông cùng vợ làm việc ở tổ chức Hồng Thập tự. Sau chiến tranh ông đi du lịch nhiều, làm quen và kết bạn với nhà vua Anh George V.

                        Năm 1926, R. Kipling nhận Huy chương Vàng Văn học Hoàng gia Anh quốc. Cho đến cuối đời R. Kipling vẫn tiếp tục sáng tác thơ và truyện ngắn, tuy cường độ sáng tác đã giảm sút. R. Kipling mất vì chảy máu đại tràng vào ngày 18 tháng 1 năm 1936 tại London. Hai ngày sau, bạn của ông - vua George V - cũng băng hà. Tác phẩm tự truyện Vài điều về bản thân được xuất bản sau khi ông qua đời.



                         
                        BỤI
                        (Những cuộc hành quân bộ)

                        Một - hai - một - hai – ta đi khắp châu Phi
                        Ngày - đêm - ngày - đêm – khắp châu Phi đường dài
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Chiến trường không miễn thứ cho ai!(1)

                        Bảy - sáu - năm - mười một – hai chín dặm hôm nay
                        Bốn - mười một - mười bảy – ba hai dặm ngày mai
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Chiến trường không miễn thứ cho ai!

                        Không- không- không- không – phía trước nhìn thấy ai
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Người - người - người - người – vì bụi điên, mất trí
                        Chiến trường không miễn thứ cho ai!

                        Xem- xem- xem- xem – nghĩ điều khác cho rồi
                        Ô - lạy - Chúa - tôi – như cuồng điên mất trí
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Chiến trường không miễn thứ cho ai!

                        Đếm - đếm - đếm - đếm – đếm đạn trong dây cài
                        Nếu - mắt - buồn - ngủ – người trong hàng thức nhé
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Chiến trường không miễn thứ cho ai!

                        Ta - không - sợ - gì -- đói, khát, đường dài
                        Nhưng - không - không - không – chỉ một điều tồi tệ
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Và chiến trường không miễn thứ cho ai!

                        Không - đến - nỗi - nào – với đồng đội ban ngày
                        Nhưng - khổ - nỗi - đêm – trên bước đường thiên lý
                        Bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Chiến trường không miễn thứ cho ai!

                        Tôi - đi - qua - địa ngục – sáu tuần và xin thề
                        ở - đó - không - có – lò thiêu, bóng đêm và quỉ
                        Nhưng bụi - bụi - bụi - bụi – từ bước chân chiến sĩ
                        Và chiến trường không miễn thứ cho ai!
                        ___________________

                        (1) Chiến trường không miễn thứ cho ai! (There’s no discharge in the war!) – Câu kết ở mỗi khổ thơ trích từ quyển Ecclesiastes (Truyền đạo) của Kinh Cựu ước: “There is no man that hath power over the spirit to retain the spirit; neither hath he power in the day of death; and there is no discharge in the war…” (Chẳng có ai cai trị được sinh khí để cầm sinh khí lại; lại chẳng có ai có quyền về ngày chết; trong khi tranh chiến chẳng có sự miễn thứ… Ecclesiastes 8:8). Câu này trong Kinh Thánh đã đi vào những khúc quân hành và Kipling nhắc lại theo nghĩa đen trần trụi: “Chiến trường không miễn thứ cho ai”.



                         
                         
                        BÀI THƠ ĐÔNG – TÂY

                        Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
                        Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử
                        Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi
                        Khi hai người đàn ông lực lưỡng trên đường biên mặt đối mặt không thôi.



                        Kamal cùng với hai mươi người chạy ra vùng đường biên nổi loạn
                        Trộm con ngựa cái của ngài đại tá - con ngựa của ngài là niềm kiêu hãnh.
                        Kamal bắt con ngựa từ trong chuồng giữa buổi hoàng hôn
                        Quay những móng sắt dưới chân, nhảy lên ngựa phóng ra đường.
                        Khi đó con trai ngài đại tá kêu lên – chàng là đội trưởng(1):
                        “Chẳng lẽ mọi người không có ai biết ở đâu tên kẻ trộm?”
                        Thì Mohammed Khan, con trai của Ressaldar(2) nói rằng:
                        “Nếu có ai biết con đường trong sương thì biết nơi hắn dừng chân.
                        Hắn phóng về Abazai(3) buổi hoàng hôn rồi về Bonair đó
                        Phải đi qua Fort Bukloh, đường khác không hề có.
                        Và nếu ông đi qua Fort Bukloh thì ngựa phóng còn nhanh hơn cả chim bay
                        Chúa phù hộ cho ông thì đuổi kịp nó ở khe núi Jagai.
                        Nhưng nếu như nó đã đi qua khe núi Jagai thì hãy quay về ngay lập tức
                        Ở đó nguy hiểm vô cùng, người của Kamal đông nghịt.
                        Bên phải là vách đá, bên trái cũng là vách đá và những bụi gai
                        Nghe sột soạt tiếng vũ khí nhưng chẳng nhìn thấy người”.
                        Thế là vội vàng lấy con ngựa ô của mình – con trai ngài đại tá
                        Như cái miệng của chuông, địa ngục trong tim và cái đầu như giá treo cổ.
                        Con trai ngài đại tá phóng về Fort và người ta gọi chàng dừng chân
                        Nhưng ai đuổi theo kẻ trộm, người ấy nghỉ không cần.
                        Chàng phóng về Fort Bukloh, như chim bay, ngựa lướt
                        Một khi chưa thấy con ngựa của cha ở hẻm núi Jagai lòng chưa yên được
                        Một khi chưa thấy con ngựa của cha và Kamal cưỡi trên lưng
                        Và khi nhìn thấy tròng mắt của nó chàng rút súng, bật khoá nòng
                        Chàng bắn một phát, bắn hai phát, và đạn réo lên trong bụi
                        “Bắn như lính xem nào, ta xem mày đi ra sao” – Kamal nói.
                        Từ hẻm núi Jagai một bầy quỉ bụi bay ra
                        Con ngựa ô bay như hươu nhưng ngựa cái như con sa-moa
                        Con ngựa ô cắn vào cái hàm thiếc và ngựa ô thở dốc
                        Nhưng ngựa cái lướt nhẹ nhàng như cô gái khoe đôi tất
                        Bên phải là vách đá, bên trái cũng lại là vách đá và những bụi gai
                        Ba lần rút súng lên khoá nòng nhưng chẳng nhìn thấy ai người
                        Mảnh trăng non bị xua khỏi bầu trời và bình minh đánh vào móng guốc
                        Ngựa ô như con bò bị thương, còn ngựa cái như con đama nhẹ nhàng bay lướt
                        Ngựa ô vấp vào đống đá bên đường và rơi tõm xuống sông
                        Kamal dừng ngựa của mình, quay lại kéo người cưỡi ngựa lên
                        Và lấy khẩu súng từ tay chàng trai - đây không phải là lúc tranh đấu
                        “Tao quá tốt với mày – Kamal kêu lên – mày đuổi theo tao chậm quá.
                        Ở đây hai mươi dặm không tìm ra vách đá và chẳng có bụi cây nào
                        Nhưng nếu quì gối đầu hàng thì người của ta chẳng giết mày đâu.
                        Nếu tay ta nâng dây cương lên rồi đột nhiên ta hạ
                        Thì bầy chó rừng sẽ tiệc tùng đêm nay rất vui vẻ
                        Và nếu ta cúi đầu trên ngực rồi ta lại ngẩng cao đầu
                        Thì bầy diều hâu sẽ ăn no, không nhấc nổi cánh bay đi đâu”
                        Con trai ngài đại tá trả lời nhẹ nhàng: “Sẽ làm mồi cho chim và thú
                        Nhưng ngươi hãy tính xem, cái giá cho bữa tiệc kia ngươi phải trả
                        Nếu cả một nghìn tay kiếm sẽ đến đây để lấy xương ta về
                        Thì không chừng kẻ ăn trộm ngựa sẽ phải trả nhiều hơn kia.
                        Ngựa của họ sẽ giẫm nát mùa màng, họ sẽ thu hết thóc
                        Họ đốt hết những mái nhà tranh, sẽ giết cho không còn gia súc
                        Hãy nghĩ xem, với ngươi chẳng đáng gì, nhưng anh em sẽ không còn lại gì đâu
                        Chó và chim cũng một loài – cứ gọi chó với diều hâu
                        Nhưng nếu cái giá quá cao, anh em, mùa màng, gia súc
                        Thì trả lại con ngựa cái cho ta, đường quay lại ta tìm được”.
                        Kamal nắm bàn tay chàng trai và bốn mắt nhìn vào
                        “Đừng nói gì về chó, khi chó sói và chó sói gặp nhau
                        Dù đồ ăn thú vật cho ta, nếu ta làm cho mày điều ác
                        Ta không ngăn, nếu mày thích đùa cợt cùng cái chết”.
                        Con trai ngài đại tá trả lời: “Ta giữ danh dự của ta
                        Tặng con ngựa cái cho mày để đi cùng với ngựa ô”.
                        Con ngựa cái chạy đến bên người chủ, chúi mũi vào trong ngực
                        “Ta là hai thằng đàn ông lực lưỡng- Kamal nói – mà nó yêu người trẻ nhất
                        Thì cứ để nó mang đi món quà tên trộm – dây cương có ngọc lam
                        Đôi bàn xỏ chân bằng bạc và cả chắn ngựa, yên cương”.
                        Con trai ngài đại tá rút súng và trao cho Kamal khẩu súng:
                        “Ông lấy một của kẻ thù – còn cái này là trao cho ông người bạn”.
                        Kamal nói chân thành: “Máu trả bằng máu, quà sẽ trả bằng quà
                        Bố anh phái con trai đuổi theo ta, bây giờ ta gửi con trai của mình về với ông ta”.
                        Nói rồi Kamal huýt gió gọi con trai của mình từ vách núi đá
                        Và cậu con trai chạy như con nai rừng, có mặt ngay tại chỗ
                        “Bây giờ, đây là người chủ của con – anh ta là lính Hoàng gia
                        Con sẽ là tấm lá chắn chở che, là cánh tay trái của anh ta
                        Cho đến một ngày cha còn hoặc là cái chết kia chưa đến
                        Thì cuộc đời của con hãy gắn bó với người đội trưởng
                        Và con sẽ ăn cơm của Nữ Hoàng,(4) kẻ thù của Người là kẻ thù của con.
                        Và sẽ dẹp ổ loạn của cha để giữ gìn yên ổn đường biên
                        Và con sẽ là người lính trung thành, vinh quang con có được
                        Có thể người ta thăng chức tước cho con, còn cho cha roi vọt”.
                        Họ cùng nhìn vào mắt nhau và cảm thấy run run
                        Rồi họ mang muối với bánh mì để cùng hẹn ước, thề nguyền
                        Họ thề với nhau kết nghĩa anh em rồi cùng khắc lên trên vạt đất
                        Họ khắc trên cán gươm tên Chúa Trời của những điều kì diệu nhất.
                        Rồi con trai ngài đại tá cưỡi ngựa cái, con trai Kamal cưỡi ngựa ô
                        Cùng phóng về nơi trước đây đến chỉ một người – Fort Bukloh.
                        Và khi đến gần trại lính thì họ gặp một rừng lửa gươm sáng chói
                        Ai cũng muốn con dao của mình nhuốm đầy máu người dân miền núi.
                        “Dừng lại – con trai ngài đại tá kêu lên – dừng lại, bỏ vũ khí xuống ngay!
                        Đêm qua ta đuổi theo thằng kẻ trộm đường biên và ta dẫn về một chiến hữu đêm này!”

                        Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ
                        Cho đến một khi Đất và Trời chưa về ngày phán xử
                        Nhưng sẽ chẳng có Đông và Tây, không quê hương, bộ tộc, giống nòi
                        Khi hai người đàn ông lực lưỡng trên đường biên mặt đối mặt không thôi.

                        __________________
                        (1) Đây là bài thơ rất nổi tiếng của Kipling. In lần đầu ở tạp chí MacMillan’s Magazine, tháng 12-1889, sau đó in trong tập thơ Barrack – Room Ballads, 1892. Câu chuyện trong bài thơ dựa trên thực tế ở vùng biên giới tây-bắc Ấn Độ thuộc Anh (khi đó còn bao gồm cả Pakistan và Băng-la-đét). Ấn Độ là một trong những nền văn văn minh đầu tiên của loài người. Ở đây có một sự va chạm và tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Đông – Tây. Đây cũng là một vấn đề lớn của thế giới hiện đại. Cho đến bây giờ chưa có ai có thể nói chính xác rằng Đông – Tây đã hội nhập đến mức nào, đã gặp gỡ đến đâu nhưng hễ có vấn đề gì là người ta lại thích trích dẫn Kipling: “Ô, Đông là Đông, Tây là Tây, Đông và Tây không bao giờ gặp gỡ…” Cũng cần nói một điều rằng Kipling chưa bao giờ có ý hạ thấp hay phủ nhận những giá trị của văn hóa phương Đông. Ông cố gắng tìm hiểu những qui luật bên trong của văn hóa phương Đông và tìm cách giải mã nó. Tiểu thuyết hay nhất của Kipling: Kim, 1901 là một tác phẩm về điều này. Nhân vật chính do dự giữa những giá trị văn hóa Đông – Tây và cuối cùng đã chọn phương Tây nhưng vẫn canh cánh bên lòng một nỗi buồn nhớ phương Đông. Bài thơ Đông – Tây cũng là một minh chứng cho điều đó.
                        (2)Guides: đội kị binh tuần tiễu của người Anh ở biên giới Ấn Độ - Afghanistan xưa (ngày nay là Pakistan và Afghanistan).
                        (3)Ressaldar: sĩ quan chỉ huy trong những đơn vị tuần tiễu là người bản xứ.
                        (4)The Abazai… Bonair… Fort Bukloh… Tongue of Jagai – những địa danh ở vùng biên giới Ấn Độ – Afghanistan.
                        (5)White Queen: Nữ hoàng Anh Victoria.


                        NẾU(1)

                        Nếu con có thể bình tâm khi mà tất cả
                        Hết thảy kinh hoàng và đổ lỗi cho con
                        Nếu con vẫn vững tin khi mọi người nghi kỵ
                        Mặc ai đó không tin nhưng con vẫn vững lòng
                        Nếu con biết đợi chờ và kiên nhẫn chờ trông
                        Không lấy điều dối gian đáp lại điều gian dối
                        Hoặc bị căm ghét mà không căm ghét lại
                        Không nói những lời khôn, không ra vẻ thánh thần.

                        Nếu con mơ ước mà không để ước mơ làm chủ đời con
                        Nếu con có thể suy tư mà không lấy nó làm mục đích
                        Nếu cả Thành công, Thất bại trên đường đời con gặp
                        Mà vẫn như nhau - đối xử một tấm lòng
                        Nếu con biết nghe sự thật những lời của con
                        Bị kẻ bất lương làm bẫy lừa kẻ dại
                        Hoặc nhìn đời con đổ vỡ, đành làm lại
                        Và con cúi xuống dựng nên với công cụ đã mòn.

                        Nếu con dám đem những đồng vốn của mình
                        Đổ hết vào một trận ăn thua úp ngửa
                        Đành làm lại từ đầu vì đã mất tất cả
                        Mất mát của mình không một chút thở than
                        Nếu con ép được con tim, thớ thịt đường gân
                        Phục vụ cho mình để giành mục đích
                        Và cố níu giữ, dù chẳng còn sức lực
                        Nhưng ý chí vẫn đòi: “Hãy giữ vững lòng tin!”.

                        Nếu con giữ tư cách khi nói chuyện với mọi người
                        Hay khi ngồi với Vua – thường dân không gián đoạn
                        Nếu không để thiệt cho mình – dù với thù hay bạn
                        Không còn để ai nợ nần hay còn nợ gì ai
                        Nếu mỗi phút giây con có được trong đời
                        Không để phí hoài mà luôn luôn đặt trên đường chạy
                        Thì thế giới này sẽ là của con, cùng tất cả những gì trong đấy
                        Và – quan trọng hơn – con trai, con là một Con Người!
                        ____________
                        (1)Bài thơ này in lần đầu ở tạp chí The American Magazine, tháng 10- 1910, sau đó in trong truyện ngắn Brother Square – Toes của tập truyện Rewards and Fairies, 1910.
                        Cuối thế kỷ XX, nghĩa là chỉ mới đây, Đài BBC đã đề nghị thính giả chọn những bài thơ hay nhất của các nhà thơ Anh. Có hàng nghìn người tham gia và kết quả là bài thơ này được chọn nhiều nhất, mở đầu cho tập Những bài thơ hay nhất của nước Anh. Nội dung và ý nghĩa của bài thơ có vẻ đã rõ ràng, tưởng không có gì phải giải thích thêm nhưng sự đời cái gì đã hay, đã nổi tiếng thì người ta càng hay trích dẫn, mô phỏng mà trích dẫn cũng theo nhiều vẻ khác nhau. Nhà văn Anh, Richard Aldington (1892-1962) trong tiểu thuyết nổi tiếng Cái chết của một anh hùng (Death of a Hero, 1929) viết về “thế hệ mất mát” trong chiến tranh Thế giới I đã trích dẫn Kipling để ca ngợi tính cứng rắn của người lính ngoài mặt trận, ca ngợi những ai biết chém giết mà không hề run sợ, và chỉ khi đó “… con trai, con là một Con Người!” Nhà đạo diễn người Anh Lindsay Anderson (1932-1994) cũng đã dùng tên bài thơ để đặt tên cho một bộ phim nổi tiếng Nếu (If, 1968), giải thưởng Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes, chứng minh rằng sự giáo dục theo những chuẩn mực của Kipling đôi khi cho kết quả ngược lại… Đấy chỉ là hai ví dụ tiêu biểu nhất trong văn chương và điện ảnh thế giới cho thấy bài thơ mới đọc qua có vẻ tất cả đều rõ ràng, thực ra vẫn ẩn giấu bên trong những ý nghĩa sâu xa mà một vài bản dịch chưa thể nào lột tả hết được…
                        Dù sao, dù người đời có trích dẫn theo nhiều vẻ khác nhau càng cho thấy một điều là bài thơ này có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội phương Tây và đã trở thành bất tử. Cuối cùng xin dành một đôi dòng về đối tượng của bài thơ này – con trai của Kipling chết năm 1915 ở mặt trận nước Pháp. Cú sốc này Kipling đã không thể hồi phục cho đến hết đời.



                        MẸ CỦA CON

                        Nếu con bị chết treo trên vách núi
                        Mẹ của con, ôi mẹ của con!
                        Con biết rằng tình ai theo con mãi
                        Mẹ của con, ôi mẹ của con!

                        Nếu con bị đắm chìm trong biển cả
                        Mẹ của con, ôi mẹ của con!
                        Con biết rằng ai sẽ tuôn dòng lệ
                        Mẹ của con, ôi mẹ của con!

                        Nếu con bị đày đọa cả thể xác, tâm hồn
                        Con biết ai cầu cho con bình an vô sự
                        Mẹ của con, ôi mẹ của con!



                         
                         
                        BÀI CA GỬI NGÀI MITHRAS(1)
                        (Quân đoàn 30, năm 350)


                        Mithras, thần buổi sớm và chúng tôi thổi kèn
                        Rôma cao hơn mọi quốc gia còn Ngài trên tất cả!
                        Chúng tôi lại lên đường khi đã điểm danh xong
                        Mithras cũng là lính, hãy cho chúng tôi sức khỏe!

                        Mithras, thần buổi trưa, cây cỏ bơi trong cái nóng
                        Mũ sắt đội trên đầu, xăng-đan rát bàn chân
                        Trong giờ giải lao – những đôi mắt mơ màng
                        Mithras cũng là lính, hãy giữ chúng tôi theo lời thề nguyện!

                        Mithras – vị thần của buổi chiều tà xế bóng
                        Ngài bất tử đi xuống từ trời rồi lại đi lên
                        Giờ phiên gác đã xong, bên chén rượu u buồn
                        Mithras cũng là lính, hãy giữ chúng tôi trong lành đến sáng!

                        Mithras, thần nửa đêm, ở đây con bò đã chết
                        Những đứa con của ngài trong bóng đêm. Những vật hy sinh
                        Ngài tạo ra nhiều con đường. Tất cả dẫn về ánh sáng quang vinh
                        Mithras cũng là lính, hãy dạy cho chúng tôi biết chết!
                        ______________

                        (1)Mithras (Mithra) – thần mặt trời, thần của sự hoà thuận trong kinh Avesta. Mithra bảo vệ những quốc gia trung thành với hiệp ước và trừng phạt những ai vi phạm. Sự sùng bái Mithra rất phổ biến ở Đế chế La Mã những thế kỷ đầu sau CN, đặc biệt là trong quân đội.


                        BẢN TÌNH CA CỦA NÀNG HAR DYAL

                        Một mình em trên mái nhà nhìn về phương bắc
                        Trông những vì sao lấp lánh giữa trời xanh
                        Trời phương bắc phản chiếu bước chân anh
                        Người yêu hãy quay về hoặc là em sẽ chết.

                        Khu chợ nhỏ dưới chân em tĩnh mịch
                        Đang ngủ say sưa những chú lạc đà
                        Những chú lạc đà, những kẻ bị bắt tù
                        Người yêu hãy quay về hoặc là em sẽ chết.

                        Vợ của cha càng ngày càng cay nghiệt
                        Em còng lưng làm việc suốt ngày đêm
                        Nước mắt trào ra, em đau khổ, em buồn
                        Người yêu hãy quay về hoặc là em sẽ chết.


                        LỜI THỈNH CẦU

                        Nếu như bạn yêu mến
                        Những câu chuyện của tôi
                        Cho tôi yên đêm này
                        Nơi sau này bạn đến.

                        Ý nghĩ về người chết
                        Chỉ trong phút giây thôi
                        Bạn hãy tìm trong sách
                        Tôi gửi lại cho đời.






                         
                        #27
                          cacbac

                          • Số bài : 412
                          • Điểm thưởng : 0
                          • Từ: 08.10.2007
                          • Trạng thái: offline
                          RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 19:09:59 (permalink)

                           
                          Saint-John Perse tên thật là Marie René Alexis Saint-Leger, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1887 tại Saint-Léger-les-Feuilles, Guadeloupe (một hòn đảo nhỏ gần Guadelupa thuộc Pháp ở biển Caribe, Đông Ấn. Năm 1899, cả gia đình ông chuyển về Pháp. Ông học luật ở Bordeaux và tự học môn kinh tế chính trị. Ra trường (1914), ông phục vụ trong ngành ngoại giao, có một sự nghiệp đầy hứa hẹn: làm đại sứ Pháp ở Bắc Kinh và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ ngoại giao Pháp.

                          Năm 1940, do phê phán chính sách thân Hitler của giới cầm quyền Pháp, ông bị cách chức. Ngay trước khi nước Pháp bị Đức Quốc xã chiếm đóng, ông đã kịp thời chạy trốn sang Mỹ; ông bị chính quyền Vichy tước quyền công dân, chức tước, phần thưởng và tịch thu tài sản. Từ năm 1941 tới 1945, Saint - John Perse là cố vấn văn học cho Thư viện Quốc hội Mỹ. Sau Thế chiến II, ông được phục hồi tư cách công dân và chức tước nhưng không quay trở lại nghề ngoại giao. Năm 1950, ông chính thức về hưu với danh hiệu Đại sứ của nước Pháp, sinh sống thường xuyên ở Mỹ.

                          Các tác phẩm văn học của ông, trong đó có tập thơ đầu tiên Tụng ca (một thể loại thơ điền viên, viết năm 1910) được xuất bản một phần dưới tên thật của ông nhưng chủ yếu dưới tên Saint-John Perse. Sau nhiều bài thơ phản ánh ấn tượng về thời niên thiếu, ông viết trường ca Anabase (tiếng Hi Lạp có nghĩa là Đi vào nội tâm) vào năm 1924 khi ông ở Trung Quốc. Đó là một tác phẩm gây ngạc nhiên cho nhiều nhà phê bình và đã có người cho rằng người Châu Á hiểu tập thơ này hơn người Phương Tây; tập trường ca đã được T.S. Eliot chuyển ngữ sang tiếng Anh năm 1930. Nhiều tác phẩm của Saint-John Perse được viết sau khi ông định cư ở Mỹ như Lưu đày (1942), Bài thơ tặng người phụ nữ nước ngoài (1943), Mưa (1943)... Các tác phẩm Saint-John Perse viết trong thời kỳ làm công việc ngoại giao phần lớn chưa được in, nên toàn bộ sự nghiệp văn học của ông chỉ thu lại trong bảy tập sách.

                          Năm 1957, Saint-John Perse quay về Pháp; mặc dù chủ yếu vẫn ở Mỹ như trước, nay ông dành một phần thời gian cùng với người vợ Mỹ cưới năm 1958 về sống tại quê nhà. Năm 1960, ông được tặng giải thưởng Nobel. Trong bài Diễn từ, ông nói về chức năng của thơ ca: "Thơ không chỉ là nhận thức, mà còn là chính cuộc sống trong sự đủ đầy trọn vẹn của nó. Nhà thơ đã sống trong lòng người ăn lông ở lỗ và sẽ sống trong lòng người thời đại nguyên tử, bởi vì thơ ca là một đặc tính không thể tách rời của nhân loại".
                          Saint-John Perse mất năm 1975 tại Presquile-de-Giens (Pháp).

                          * * *

                          Sait-John Perse là bút danh của nhà ngoại giao Alexis Saint Leger. Phần đầu của bút danh này: Sait-John - là cách viết bằng tiếng Anh của Thánh Giăng (Thánh tông đồ) – người được coi là tác giả của Kinh Phúc âm IV, sách Khải Huyền và ba lá thư trong Tân Ước. Phần sau: “Perse” - đấy là họ của nhà thơ trào phúng La Mã Aulus Persius Flaccus (34-62), người cùng thời với Hoàng đế Neron. Cách chọn bút danh này cho thấy thái độ của nhà thơ đối với văn minh đương thời đi cùng với di sản văn hoá của qúa khứ trong mục đích và sáng tạo của mình.

                          Phần thơ Sait-John Perse in trong tập này trích dịch từ 3 trường ca “Anabase”, “Mưa rào” và “Những mốc ngoài khơi” – phản ánh những giai đoạn khác nhau trong sáng tác của Sait-John Perse, đồng thời cho thấy sự thống nhất trong nguyên tắc nghệ thuật của ông.

                          “Anabase”(1924) trích đoạn đầu, chương 7 và đoạn kết. “Anabase” là tên một tác phẩm của nhà văn, nhà sử học Hy Lạp cổ đại Xenophon (434-359 tr. CN) về cuộc hành trình của người Hy Lạp đi vào tổ quốc mình (Upcountry March)… “Anabase” của Sait-John Perse là hành trình đi sâu vào tâm hồn – một cuộc hành trình khó nhọc của nhận thức chân lý, con đường dài của sự tìm tòi từ những giá trị của văn minh phương Tây (theo cách hiểu của Sait-John Perse là giả dối và trống rỗng) đến những đỉnh cao của ý nghĩ và tâm hồn mà những nền văn minh trong quá khứ – trước hết là những nền văn minh phương Đông, để lại cho nhân loại.

                          Tiếp đến là một số trích đoạn của “Mưa rào”. Trường ca này Sait-John Perse cho vào tập “Lưu đày”, bao gồm các trường ca: “Lưu đày” (1941); “Mưa rào” (1944); “Tuyết” (1944); “Trường ca cho người đàn bà ngoại quốc” (1943) (trật tự sắp xếp này là của Sait-John Perse). Tất cả các trường ca trong tập này được viết trong thời kì chiến tranh thế giới thứ II, thời nước Pháp bị Đức chiếm đóng. Nhà ngoại giao Alexis Saint Léger nổi tiếng với những quan điểm chống phát xít bị chính phủ Pétain cách chức và tước quốc tịch Pháp. Bắt đầu một thời kì lưu đày của ông. Trường ca “Mưa rào” là nỗi niềm cay đắng về sự thất sủng, tuy vậy cốt lõi của nó là sự miệt thị đối với thói đểu giả, sự phản bội, là lòng tin vào thắng lợi của chính nghĩa. “Mưa rào” là bài ca về một hiện tượng tự nhiên với lời kêu gọi hãy rửa sạch mối đe dọa, rửa sạch gương mặt hành tinh và những tâm hồn người u ám.

                          Cuối cùng là trích “Những mốc trên biển” (1957) gồm 5 chương của phần đầu. “Những mốc trên biển” mở ra trước mắt người đọc một thế giới bao la của biển, ca ngợi sự hòa nhập của thiên nhiên, con người và sáng tạo. Sait-John Perse sinh ra ở Guadeloupe – một hòn đảo thuộc Pháp ở vùng biển Caribê, bốn bề mênh mông sóng nước, ông lớn lên giữa những vẻ đẹp tuyệt vời của miền nhiệt đới. Sau đó lại băng qua đại dương về Pháp học tập và làm việc. Nghề ngoại giao cho phép ông đi đến nhiều nơi, nhiều xứ lạ. Ông từng đi qua cao nguyên Gôbi của Mông Cổ và bơi suốt Ấn Độ dương…

                          Tác phẩm của Sait-John Perse mở ra trước mắt ta một thế giới kỳ lạ - thế giới của đại dương bao la, thế giới của những nền văn minh cổ đại, thế giới của những người du mục, những người đi chinh phục, những nhà thơ, những nhà tiên tri… với những lời kêu gọi hướng tới những hành động cao cả của con người. Những lời kêu gọi này luôn cao thượng và mang đầy chất nhân văn nhưng cũng rất bí ẩn.

                          Trong thơ của Sait-John Perse có một điều gì đó rất đặc biệt, có một sự bí ẩn huyền diệu nào đấy mà hình như chỉ ánh lên ở chốn xa xôi, đồng thời lại luôn gần gũi. Không chỉ đặc biệt ở vẻ mới lạ của hình tượng, lối ẩn dụ, không chỉ ở ý nghĩa triết học sâu xa mà còn ở cấu trúc thơ, nhạc trong thơ và nhịp điệu của nó… Tuy nhiên, qua bản dịch để hiểu hết những điều này thật khó.
                          Trong khi chưa có điều kiện dịch đầy đủ hơn hay nghiên cứu sâu hơn về Sait-John Perse chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài viết của nhà văn, nhà triết học Pháp Roger Garaudy (1913-?) – người trong một thời gian dài từng là cán bộ cao cấp của Đảng cộng sản Pháp. Bài này để sau phần tác phẩm của Sait-John Perse. Đây là một chương trong quyển “Về chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến” (D’un Realisme sans Rivages. P., Plon, 1963), viết về Picasso, Sait-John Perse và Kafka. Thiết nghĩ, dù phần dịch tiếng Việt tác phẩm của Sait-John Perse còn khiêm tốn nhưng đã có thể cho phép bạn đọc thưởng thức bài viết của Roger Garaudy với kiến thức uyên bác và những nhận xét sắc sảo của ông.




                           
                          ANABASE
                          (Trích)

                          Bài ca

                          Dưới chiếc lá sắc đồng sinh ra một chú ngựa non. Con người đặt vào bàn tay cho ta trái khổ. Người xa lạ. Người đi qua. Ta cứ ngỡ rằng đang nghe ra những lời về xứ khác… “Chào con gái của ta, dưới những hàng cây lớn nhất”.

                          Bởi Mặt Trời đi vào chòm sao Sư Tử và Người Xa Lạ đặt ngón tay vào miệng kẻ đã chết rồi. Người cười. Người nói chuyện cùng ta về hoa cỏ. Ái chà! Cho những xứ sở này biết bao nhiêu là hơi thở! Thật dễ dàng những con đường của ta! Thật sung sướng biết bao trong những chiếc tù và, còn trong bộ lông có biết bao điều khôn ngoan vì nhục nhã ê chề cho đôi cánh!... “Tâm hồn ta, cô gái trưởng thành, ngươi có tính tình xa lạ với phong cách sống của ta”.

                          Dưới chiếc lá sắc đồng sinh ra một chú ngựa non. Con người đặt vào bàn tay cho ta trái khổ. Người xa lạ. Người đi qua. Và đây là tiếng động vang xa trong sắc đồng cây gỗ. Hoa hồng và nhựa, quà tặng của bài ca! Và tiếng sấm, và tiếng sáo trong nhà! Ái chà. Thật dễ dàng những con đường của ta, trong một năm có biết bao nhiêu là mạo hiểm, và Người xa lạ không giống với một ai, trên những con đường của khắp trái đất này. “Chào con gái của ta, với bộ áo quần đẹp nhất”.

                          VII

                          Trên mặt đất màu vàng này ta sống chẳng dài lâu…

                          Mùa hè rộng hơn một vương quốc đang móc vào không gian có nhiều tầng khí quyển. Mặt đất rộng lớn đang trôi bồng bềnh, và những góc nhỏ của mình đang lụi tàn trong tro bụi. Màu của diêm sinh, màu của đồng, màu của những gì tàn lụi, cả mặt đất ngập tràn trong cỏ và hoa đang cháy lên bằng cọng rơm của mùa đông đã qua, từ bọt biển màu xanh cây bầu trời đang lựa màu tím hoa cà từ những dòng nước ép.
                          Và những mỏ mi ca có biết! Chẳng có một loại ngũ cốc sạch nào trong những chòm râu của gió. Còn ánh sáng như dầu, như mỡ. Xuyên qua khe hở của trăm năm gắn chặt ta vào những chiếc răng của tận cùng, và ta vẫn biết rằng đá làm vấy bẩn lên mang, im lặng cả một đoàn ngập chìm trong ánh sáng, và con tim của ta bắt đầu quan tâm lo lắng về việc ăn châu chấu và mật ong rừng(1).

                          Những con lạc đà cái lặng lẽ khi cắt lông, bao trùm lên những đường chỉ khâu màu tím, những ngọn đồi di chuyển trong im lặng trên đồng bằng bị đốt thành màu trắng toát như bông, hãy để cho chúng cúi mình, chúng cúi mình trong khói, nơi mà trong đất bụi đang chết những người dân.
                          Những đường tuyến to lớn lặng lẽ đi vào màu xanh của những cánh đồng nho rộng lớn. Trên những cánh đồng đang chín dần màu tím của tai ương, những đám mây cát đang bay mơ màng trên những dòng sông chết của những thế kỉ mờ xa…


                          Dịu êm hơn giọng nói trên xác tử thi, dịu êm hơn giọng nói của ngày. Có bao nhiêu dịu dàng trong trái tim người có lẽ nào ta đo được?… “Ta gọi hồn ta! – hồn ta tối tăm vì mùi của ngựa”. Một vài con chim trên mặt đất bay về phía tây đang học theo cách bay của những con chim biển…
                          Phương đông bầu trời màu xám, như miền đất thánh, như màu trắng của người mù, ở đó có những đám mây nhởn nhơ, ở đó có những con bọ cạp đang vần xoay móng guốc. Hơi thở vì khói mà tranh luận với ta, còn trên mặt đất tất cả đang đợi chờ, đợi chờ mặt đất sinh ra những điều kì lạ!…

                          Vào buổi giữa trưa, khi cây mã đề mở ra hòn đá trên ngôi mộ, một người mắt không mở đang làm tươi mát đôi vai của mình trong giấc ngủ nghìn năm. Những người kỵ sĩ của giấc mộng vĩnh hằng thay cho những hòn đá chết, bằng hơi thở của những con đường vô ích đang cất giọng hướng về ta! Biết tìm ở đâu ra, biết tìm ở đâu ra những người tài xế, những người sẽ ra tay bảo vệ những dòng sông, những dòng sông trong ngày cưới của mình?
                          Dòng nước vĩ đại sôi lên chuyển động trên mặt đất, và tất cả muối của đất đều run lên trong giấc mộng. Và bỗng nhiên, bỗng nhiên những giọng nói này của ta họ muốn. Các dân tộc hãy nêu gương trên những dòng sông chết, hãy cứ để cho họ gửi lời kêu gọi về những thế kỷ đang phía trước! Hãy giơ đá lên vì danh dự của ta, hãy giơ đá lên trong im lặng đợi chờ và trong sự canh chừng nơi chốn, trên những con đường rộng lớn có một đội kỵ mã bằng đồng!…

                          (Bóng của một con chim lớn bay vút qua trước mặt ta).

                          Bài ca

                          Dừng con ngựa của mình dưới gốc cây, một màu xanh dâng đầy, ta huýt lên một tiếng sáo vô cùng trong sạch, rằng sẽ không có bờ bến hứa hẹn nào ngăn cách, bờ bến nào có thể giữ được sông. (Những chiếc lá buổi sáng màu xanh, những chiếc lá sống theo hình bóng của vinh quang)…

                          Và không phải để cho một người không buồn bã, nhưng mà khi thức dậy trước bình minh, đứng dưới gốc cây già người ấy dè chừng, khi tựa cằm vào ngôi sao sau chót, người ấy nhìn thấy trong sâu thẳm của bầu trời đói khát những thứ sạch sẽ và to lớn vô cùng, những thứ mà sẽ biến thành vui sướng hân hoan…

                          Dừng con ngựa của mình dưới gốc cây thì thầm, ta huýt lên một tiếng sáo còn trong sạch hơn thế nữa… Và thế gian sẽ không nhìn thấy ngày này, nếu như họ không còn nữa. Nhưng về người anh em, nhà thi sĩ, sẽ nhận được tin. Người đó lại đã viết ra một thứ thứ thật dịu dàng. Và có một số người đã đọc.

                          ___________________

                          (1)Nói về sự chịu ăn uống cực khổ đói khát theo truyền thuyết, khi Giăng tới đồng vắng vừa làm vừa giảng phép báp-têm cho dân chúng (Tân Ước_Mác1: 4-6). Giăng ở đây là Jean Baptiste (thế kỉ I) – nhà tiên tri Do Thái. Sống khổ hạnh trong sa mạc, tập hợp môn đệ và giảng đạo về sự hoán cải nội tâm. Ông rửa tội bằng cách đắm mình xuống sông Giô-đanh (Gioóc-đa-ni). Chúa Giê-su được ông làm lễ rửa tội ở đây (Tân Ước_Mác1: 9).

                           
                          #28
                            cacbac

                            • Số bài : 412
                            • Điểm thưởng : 0
                            • Từ: 08.10.2007
                            • Trạng thái: offline
                            RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 19:16:43 (permalink)

                             
                            MƯA RÀO
                            (Trích)


                            I

                            Mưa rừng ngập mặn trải vòm lá của rễ cây trên Thành phố
                            San hô sữa nhân lên trong sương nòi giống của mình
                            Một ý nghĩ trần truồng, giống như đấu sĩ của thành Rôm(1), dưới nước mưa tuôn, mái tóc đuôi sam dập dờn, dương dương tự đắc.

                            Trường ca hãy hát lên dưới tiếng kêu quang quác và tiếng thanh la não bạt của đề tài
                            Trường ca hãy hát lên sau tiếng bước chân rầm rập, dưới dây cương co giật của đề tài
                            Quyền của ngươi – là quyền đêm tân hôn của những Người phụ nữ Tiên tri trinh bạch.

                            Kén vàng vỡ ra và chìm vào tổng trấn đen mờ mịt, trong màu xanh của vũng nước đêm
                            Còn trên chiếc gối êm, trong khoảnh khắc của mắt nhìn, trên ấm áp của bìa rừng, đôi mắt ai mơ màng, thiu thiu ngủ
                            Đã tung ra bốn phía, đã vần xoay quay trở, đã lột truồng không hề xấu hổ hoa hồng của trường ca.

                            Chúa Trời vĩ đại, tiếng cười chúa tể, mặt đất bốc khói trên ổ gian phi của gió, tựa hồ như thịt mỡ của heo rừng
                            Còn đất sét cô đơn dưới ve vuốt dịu dàng của những cơn mưa vô tội, và đồng nội dưới những đôi chân trần không ngủ suốt đêm
                            Bọt của sương, nước ngầm như rượu vang, những linh hồn đất cát và rượu thuốc trường sinh của sự lãng quên.

                            Thần thánh thiêng liêng, Chúa Trời vĩ đại, tiếng cười chúa tể, và đây là đất đai để cày cấy gieo trồng
                            Và ở đây tiếng vọng cả một đoàn đi vào buổi xấu trời trong năm, đi khỏi cơn giận của biển cả, đại dương
                            Ở đây bầy chết của đất đai trong đổ nát hoang tàn, giờ mới sinh nằm trong tã lót và trong con tim của niêm luật thơ ca mà chưa ai biết được.

                            II

                            Giống nòi Tabor(2) không tổ quốc! Cha ông du mục! Những mẹ Digan! Những cơn Mưa Rào Sibyl!
                            Ôi, những cơn Mưa Rào nghe theo đẳng cấp của con người, bây giờ ta còn biết chia sẻ cùng ai danh dự của những đêm thức trắng?
                            Trên gối giường của ta ai sẽ đốt lửa lên và ai sẽ làm cho ấm buổi chiều sau tiếng rì rào của nến?

                            Dãy Andes(3) đang im lặng trên mái nhà ta, cây chuông nhỏ vui mừng trong máu của ta, cây chuông đang gióng lên để ngợi ca vinh quang của Mưa Rào vĩ đại!
                            Ta cùng với Mưa Rào, hãy đứng lại: những mỏ kim cương của ta trên mũi giáo phiên bản của mưa!
                            Bọt nước sôi âm ỉ trên những bờ môi của trường ca, giống như dòng sữa của san hô!

                            Trong phần mở đầu đang nhảy múa những câu thơ, tựa hồ như một lời van xin con rắn
                            Một ý nghĩ trần truồng, giống như con dao đang rì rào nổi loạn
                            Và nhịp điệu xưa cũ, mô-típ cổ xưa đang làm lành với cô nàng thích cô độc – trường ca.

                            Chúa Trời vĩ đại, tiếng cười chúa tể, xin hãy giữ gìn ta khỏi sự ngợi ca, khỏi những bản tụng ca, và những tấm lòng đại lượng.
                            Chúa Trời vĩ đại, tiếng cười chúa tể, ôi có biết bao nhiêu hờn giận trên môi của Mưa Rào!
                            Và những khói sương nào, những cồn cát lưỡi liềm của dối gian thay đổi cho nhau, những vũng nước dối gian nào đang bơi dưới mưa sau tiếng kêu đàn sếu!

                            Trong đêm sáng của giờ chính ngọ ta lặng im, giữ lại một nửa lời chưa nói
                            Và ta đi tìm từng hạt nhỏ của sự nghĩ suy về tồn tại… Làn khói trên những viên đá của bếp lò giờ lại bay lên
                            Và Mưa Rào trên mái nhà thổn thức mơ màng, hầm đôi chân của mình trong những bàn tay ta bé bỏng.

                            III

                            Những chị Assur(4) dẫn những đứa em phóng đãng, những đội quân của Mưa Rào đổ bộ xuống đất đai
                            Những áo giáp pha lê, vàng và sắt tây, những cành cọ của những ông hoàng trên những vành mũ giáp
                            Giống như bà hoàng Dido(5), mà dấu vết còn tươi như ngọc trên những bức tường của Vương quốc Carthage.

                            Tựa như phu nhân của ngài Cortez(6) đang nhìn vào bức chân dung, khói sương như mơ màng trong những bài Kinh bị lãng quên trong bóng đêm rừng rậm…
                            Màu thanh thiên Amazon của kiếm đánh dấu cho ta bằng ánh trăng thanh, bằng màu của kim cương và màu của ngọc
                            Màu xanh của Tháng Tư đang gieo hạt và tụ tập vào gương của hợp kim sắt thép với thủy ngân!

                            Rầm rập tiếng bước chân của đội ngũ kiêu hùng sau cửa sổ khuê phòng, tiếng giậm chân của những dòng nước trong sương nhà tắm
                            Màu thanh thiên Amazon, ôi những dòng nước lao như tên bắn, những bộ dây thắng của sao, và tia sáng từ những chiếc cung bay vào trong gió!
                            Màu thanh thiên của người vũ nữ, ôi những dòng nước đang nhảy múa, dàn đồng ca của nước đổ xuống trần gian!

                            Ôi hằng hà vô số của màu xanh, mưa lấm tấm, mưa phùn, những nàng Vestal(7) với những bánh xe của đại bàng đang trải đều khắp mọi phía
                            Những ngọn giáo bao bọc quanh thành phố, những lưỡi dao sắt của những cọng cây khô, những gươm giáo của dương liễu, của nho – mưa làm cho xổ tung ra bím tóc
                            Ôi cả một luồng Toledo(8) của thép! Ôi trường kiếm của thân cây, ngũ cốc tuôn đầy eo biển của mùa cắt cỏ!

                            … Và thành phố pha lê đang nhân đôi trong cây hương đàn ấp ủ, những chuỗi hạt cườm bằng kính của đường phố thênh thang, sự khôn ngoan của những đài phun có những cửa miệng bằng đồng
                            Người ngoại quốc đang đọc, ngọn gió đang lật những tờ áp phích của ta
                            Ngọn gió đang bay lượn trên những mái nhà, người đàn bà Indian cho kẻ đi thuê nhà cùng ngủ lại.

                            V

                            Ta nhận thức ra sự vĩ đại của Mưa Rào trong cuộc sống ồn ào nơi đô hội, trong những lo toan vặt vãnh của đời thường.
                            Nhưng bỗng nghe thấy mùi của ozôn, mùi nhựa của cây xanh trong tiếng rì rào của gió.
                            Mưa trả về cho ta hình người, Mưa nhào nặn ta lần nữa, và đằng sau cái mặt nạ nghe ra mùi tươi mát của đất đai.

                            Nhưng trên tầm cao của đại bàng chẳng lẽ ký ức không còn trang điểm cho ai? Hay là ta hát lên bài Thánh ca đã từ lâu quên lãng, trên những con đường rợp bóng của khu vườn khi giẫm lên những chiếc lá vàng trong Kinh của mùa lá rụng?
                            Những lối mòn trên những cánh đồng hoa tuy líp trong giấc mộng, đang dần cạn nước hồ, xương của đá trong giếng chẳng lẽ không xứng với những vần thơ, những vần thơ được viết bằng ngòi bút của nhà thi sĩ?
                            Những bông hoa hồng xưa cũ trong bàn tay của kẻ tật nguyền, những đứa bé con trong bộng cây ô-liu trăm tuổi, trên chùm nho những con ong buồn rượi, những con ong trên cành thuỷ dương mai và chiếc cầu thang hẹp trong phòng kín của người goá phụ chẳng lẽ lại không xứng với một lời?

                            Vẻ dịu dàng của thủy dương mai, của cây lô hội, đam mê của mộc lan, sự vô sinh của những kẻ lỗi lầm, mặt đất làm khô vẻ oi nồng của điều nhận thức.
                            Những cơn giông có màu xanh mái tóc bện vào mái tóc của ngọc và ngó nhìn vào gương của những ông chủ nhà băng. Gương mặt của nữ thần chìm xuống rong rêu và chìm sâu vào bùn đất.
                            Những ý nghĩ trẻ trung xếp thành rường cột và ngồi xuống quanh bàn chính khách. Bầy im lặng đứng trên những cánh đồng màu trắng của trường ca.

                            Trên những vách đá Mưa Rào hãy rót ra, hãy rót ra trên những cây Thánh giá và hãy rót lên bia mộ của dòng họ Habsburger(9), lên những chiếc linh xa của biết bao nguyên soái, lên những lăng mộ như dầu ô-liu trong ngày rửa tội.
                            Mưa Rào hãy dỡ ra từ vách núi tro tàn của những cuộc chiến chưa xa, hãy dỡ ra trên biển tro tàn màu trắng của những ai từng bơi đến trên những chiếc thuyền Caravella(10).
                            Và hãy cứ để cho muôn thuở người ta ngồi trên ngai sắt, như trên kiềng ba chân vững chắc, trên vách đá trần truồng, trên bốn ngọn gió dưới bầu trời hồng với những cơn mê sảng của mình, những cơn mê sảng chất đầy phẫn nộ của nhân dân.

                            Và trên biển muôn đời còn bay lượn khói sương của Cái Thiện và Cái Ác, còn bay lượn tro tàn của những câu cổ tích, những truyền thuyết – những câu chuyện muôn đời còn âm ỉ, không phai…
                            “Ta mong muốn đoàn tụ, chung sống với con người nhưng mặt đất với tâm hồn lạ lẫm xa xôi lại khát khao ly biệt…”

                            VI

                            …………………………………………† ?…………………………..

                            Hãy để cho lời đi trước! Ta viết lên những bài ca thời đại cho những kẻ du hành và những khúc hát lên đường dành cho những kẻ lưu đày không ngủ.

                            VII

                            Hãy mang con số, cho những con đường của ta và chúng ta là những kẻ không nhà. Hơi nước thánh thần của những người đã chết ta áp vào bằng những đôi môi khô rát. Còn ngươi vây quanh xác chết trong dòng nước bình minh – mặt đất lúc này ở trong xiềng xích của chiến tranh – hãy rửa lên gương mặt của người đang sống, hãy rửa sạch, Mưa Rào! Hãy rửa lên những gương mặt giận dữ thương đau, hãy rửa lên những gương mặt dịu dàng đằm thắm… bởi vì con đường của họ chật hẹp và bé bỏng, và họ là những kẻ không nhà, không nơi trú ẩn.

                            Hãy rửa lên ngai vàng cho những kẻ đầy sức mạnh. Trong hào quang của sức mạnh họ ngồi vào bàn ăn uống, tất cả những ai không say bởi rượu của con người, những ai thích tận hưởng, thích uống say những giọt nước mắt rơi, con tim của ai không bao giờ xúc phạm, tên của ai không còn vang vọng trong những giọng oang oang(11)…

                            Hãy rửa lên sự chậm chạp và sự rình rang, những phép tắc của con đường nhận thức. Hãy rửa sạch, Mưa Rào! Hãy rửa như gai nước mắt lên những kẻ thanh cao, lên những người may mắn, hãy rửa lên mắt những kẻ khôn ngoan chín chắn, những kẻ trung quân, những người cao thượng, những tài năng, hãy rửa lên phông màn và lên đôi mắt của nhà thi sĩ, hãy rửa lên mắt những ông bầu, ông chủ, những người mộ đạo, những kẻ quyền hành… lên đôi mắt của những kẻ rình rang theo phép tắc của thánh thần giữ đúng.

                            Hãy rửa sạch, Mưa Rào, hãy tránh xa việc thiện, những ân nhân, những người hành động và rác rưởi của những nhà hùng biện với bờ môi đại chúng chớ động vào. Hãy rửa sạch, Mưa Rào, hãy rửa bàn tay những quan toà, những người đi xét xử, bàn tay những bà đỡ, bàn tay những kẻ may áo liệm cho người đã yên giấc nghìn thu, hãy rửa bàn tay cho kẻ sáng mắt như mù, hãy rửa bàn tay cho những người tàn phế mà vạm vỡ, những bàn tay bẩn xin hãy rửa, những bàn tay trên vầng trán của nhân loại đang cày, mà xưa nay chỉ dùng roi vọt, mặc cho việc làm tốt đẹp của những người hành động thanh cao.

                            Hãy rửa sạch, Mưa Rào, hãy rửa lịch sử của giống nòi, bộ tộc, những ký ức thành văn, những bộ sử nghìn năm, những truyền thuyết, những phát minh… Hãy rửa sạch những bản hiến chương, những sắc lệnh của vua chúa, giáo hoàng, những hiệp ước liên minh, những bài tranh luận.

                            Hãy rửa sạch, Mưa Rào! Những lời vĩ đại trong trái tim người, hãy rửa sạch những lời nói muôn đời, những lời tiên tri, những lời cầu nguyện, hãy rửa sạch trong tim những lời vui sướng, những điệu ngân nga, những khúc bi ca, những rông-đô, những nghịch lý, những lời trái ngược, hãy rửa sạch những đêm dài mơ ước, những đêm không ngủ vì nhận thức, hãy rửa sạch ngày khánh tiết của trí khôn, hãy rửa sạch những tài năng, những tâm hồn chứa đầy khát vọng… và những sự nghiệp lớn lao trong trái tim người.

                            VIII

                            Mưa rừng ngập mặn mang vòm lá của rễ cây từ Thành phố, ngọn gió trời mang ý nghĩ của người phiêu lãng đến cùng ta
                            Và ý nghĩ này sẽ không giã từ ta! Nhưng sẽ không chối từ sự thật đắng cay như một nắm tro tàn cát bụi
                            Và trên mái nhà của ta sẽ còn lại mãi, những ai biết nghe theo sự xuất hiện của Mưa, hành cước của đất đai trong những cây gia to nhỏ thầm thì, là biểu tượng và là dấu hiệu của sự diễu hành sột soạt.

                            Những hứa hẹn suông! Mùa gieo hạt đổ dồn ra uổng phí! Làn khói đang trải lên con đường của người trần thế!
                            Tia chớp bên ngưỡng cửa! Còn ta đứng ở ngoại ô thành phố với đôi mắt buồn bã nhìn về
                            Vĩ đại những cơn mưa – dưới cái roi quất của tháng Tư, những bộ lưng lấm đầy đất bụi – những cơn Mưa Rào vĩ đại, giống như những kẻ cuồng tín Flagellants(12), roi da vút lên, dằng dặc cả một đoàn trong cơn mê sảng.

                            Còn ta chỉ một mình trần truồng với đất đai trần như nhộng, với cơn u mê đã chín, với mùn đất đang thức dậy trong hơi nước bốc hơi
                            Những ốc đảo của đất đai xếp thành những cặp song đôi trong những mầm cây dương xỉ, trong mảnh vỡ của đá hoa cẩm thạch, trong hài cốt của ma-môn(13)
                            Và thân xác của hoa hồng bị cơn gió làm mòn, mùi đất đai bốc lên, giống như người phụ nữ đã trở thành phụ nữ.

                            Và thành phố như lóa mắt vì ánh chớp của một trăm nghìn lưỡi dao mờ tỏ, chuyến bay của đại bàng sáng lên trên biển Labrador(14), còn bầu trời trong chiếc chén của những đài phun có hình thù đập vỡ
                            Con heo vàng trong cây cột của mặt trời đang tan rã trên quãng trường ngái ngủ, chất khoáng hồng đơn đang hoan hỉ trên cửa chính môn, và trong bờ giậu của khu vườn một chiếc bóng màu đen đã đứng dậy trong những bàn chân màu bạc
                            Những góa phụ trẻ trung đang ấp ủ một niềm khao khát, trong băng tang màu đen, như trong mộ phần, những bình đựng di hài có màu tái nhợt.

                            Và ngọn gió đang lượn trên chiếc lược của ngôn từ, trên những bờ môi của trường ca bọt mép đang sôi lên âm ỉ
                            Đang lấp lóe những ý nghĩ vô cùng mới mẻ và lùi lại trước nhịp bước của nghĩ suy:
                            “Ôi bài hát diệu kỳ, ôi bài hát diệu kỳ, ôi diệu kỳ biết bao bài hát của những cơn Mưa Rào đã chết”, nhưng, Mưa Rào! Còn câm nín biết bao bản trường ca của ta hãy còn chưa viết hết!

                            IX

                            Đêm đã đến đây, và những cánh cổng bây giờ đóng chặt, ôi thật nặng nề biết bao những giọt nước trời trên những vòng nguyệt quế ẩm ướt của Latinh!
                            Trên mũi giáo phiên bản của ý nghĩ các người có chất khoáng kim cương! Hãy đập vỡ những gông xiềng, hãy đánh gục những linh hồn của những con rồng có cả trăm con mắt kinh hãi
                            Ôi Chúa Trời vĩ đại, tiếng cười của chúa tể, xin hãy phá cho tan tành những náo loạn hôm nay ở chốn trần gian.

                            *

                            Và nhất định sẽ có niềm vui sướng hân hoan, ôi Chúa Trời vĩ đại, trên ngưỡng cửa hao gầy của cuốn sách mòn mỏi, nơi tiếng cười của ta sẽ làm cho kinh hãi những con công màu xanh của sự vinh quang.
                            1943
                            ___________________
                            (1)
                            Đấu sĩ của thành Rôm (Gladiatores) – những người đấu kiếm với nhau hoặc với thú dữ trên khán đài. Thời Đế chế La Mã, những kẻ trước khi bước vào cuộc đấu hô to: “Ave Caesar, moritori te salutant” (Hoàng đế tối cao, những kẻ đi vào cái chết xin kính chào). Trò đấu này xuất hiện từ thế kỉ 3 tr. CN và đến đầu thế kỉ 5 thì bị cấm.
                            (2)Tabor – tên gọi một nhóm người Digan du mục. Sibyl (Sibylla) – xem chú thích ở bài Những mốc trên biển.
                            (3)Andes – dãy núi ở Nam Mỹ.
                            (4)Assur (Ashur) – người sáng lập ra vương quốc Assyria và Nineveh cổ đại. Đây cũng là một tích trong Kinh Thánh (Cựu Ước_E-xê-chi-ên, chương 23).
                            (5)Dido – theo thần thoại Hy Lạp, là con gái vua Tyre, nữ hoàng của vương quốc Carthage cổ đại.
                            (6)Cortez (Cortes), Hernando (1485 – 1547) – nhà thám hiểm người Tây Ban Nha, người chinh phục vương quốc Aztec ở Mêhicô.
                            (7)Vestal (Vestale) – xem chú thích ở bài Những mốc trên biển.
                            (8)Toledo – thành phố ở Tây Ban Nha, nổi tiếng với nghề luyện kim và đúc gươm giáo.
                            (9) Habsburger – dòng họ cai trị ở nước Áo từ năm 1282 – 1918; ở Tiệp và Hungari từ năm 1526 – 1918; ở Tây Ban Nha từ năm 1516 – 1700; ở Hà Lan từ năm 1477 – 1794.
                            (10)Caravella (tiếng Italia) – thuyền buồm đi biển có mạn tàu cao, phổ biến ở các nước vùng Địa trung hải từ thế kỉ 13 – 17. Colombo (1451-1506) vượt Đại Tây Dương bằng thuyền này và Vasco da Gama (1469-1524) - người đầu tiên đi từ Lisbon đến Ấn Độ cũng bằng thuyền này.
                            (11)Theo Kinh Thánh, những giọng oang oang của lính Israel đã làm cho đổ những bức tường kiên cố của thành phố Jericho.
                            (12)Flagellants – những người theo một giáo phái cuồng tín thời Trung cổ ở châu Âu, hành đạo bằng cách dùng roi da đánh vào mình để chuộc lỗi lầm.
                            (13)Ma-môn – theo Kinh Thánh là thần giàu có (Tân Ước_Ma-thi-ơ 6:24; Luca 16:13).
                            (14)Labrador – tên một bán đảo, tên một biển ở Canada.

                             
                            #29
                              cacbac

                              • Số bài : 412
                              • Điểm thưởng : 0
                              • Từ: 08.10.2007
                              • Trạng thái: offline
                              RE: Các nhà thơ đoạt giải Nobel 30.11.2007 19:19:12 (permalink)

                               
                              NHỮNG MỐC TRÊN BIỂN
                              (Trích)

                              Tiếng hoan ca

                              1

                              Ôi Biển, Biển xướng lên những giấc mơ đồ sộ, chẳng lẽ có một lần trong một buổi hoàng hôn nào đó ngươi bỏ lại ta nơi thành phố, trên tảng đá, quanh bờ dương liễu có hình hoạ tiết sắc đồng?
                              Rộng hơn đám đông, cái vòng này quyến rũ ta trên bờ dốc của thế kỉ hoàng hôn không tắt - ôi Biển lớn, Biển màu xanh, tựa như bình minh ở Phương Đông của người trần.
                              Biển khoan khoái, tưng bừng, Biển trong thang bậc của mình, cao hơn bài tụng ca khắc trên đá, Biển trong ngày lễ và ngày lễ này trong buổi giao thời, ngày lễ và tiếng rì rào với con người như nhau – Biển không hề ngủ mà như kẻ canh giấc ngủ cho người…

                              Hoa hồng trên mộ đã không còn toả mùi hương và linh hồn lạ lùng của mình giờ sống động đã không còn mở ra giữa những cành lá cọ… Và có phải ta đã từng đắng cay một lúc nào đó, hở những con người, những con người đang sống, trên môi?
                              Ta nhìn thấy trong vũng tàu như ngọn lửa xa xôi một hình thù đồ sộ đang mỉm cười, đang nghỉ – Biển giờ đang hoan hỉ tựa như ngày Thánh lễ, trong hoa cỏ màu xanh, tựa như ngày lễ mà ta kỉ niệm cho mình.
                              Biển khắp mọi nơi đang vui mừng dưới đôi cánh chim ưng của những đám mây màu bạc – như vị thái ấp quí tộc, thuế má không phải nộp hay như vị chúa đất với những cánh đồng rộng lớn mênh mông…

                              Ngày ta sinh ra ngọn gió hãy mang hơi nước! Sự hào phóng của ta chinh phục cả khán đài nhà hát!.. Những ngọn giáo phương Nam run rẩy, háo hức trước miền khoái lạc. Tiếng trống của cõi hư vô nhường chỗ cho tiếng sáo trần gian. Và từ bốn phía Đại dương đã tàn héo những bông hồng.
                              Trên gác sân màu trắng đặt hình nghiêng của Ngài Tetrarch!(1)

                              2

                              “Ta bắt các người phải khóc – vì chúng ta tỏ lòng biết ơn.

                              Khóc vì biết ơn, không phải vì đau khổ.
                              Vì sự bối rối trong tim, ngọn nguồn ta không rõ
                              Như phút giây trên Biển trước khi ngọn gió ra đời..”

                              Người của Biển đã thay mặt Biển nói những lời
                              Ca ngợi Biển, ca ngợi tình yêu và khát khao có Biển
                              Từ bốn phía chân trời ngọn nguồn khoái lạc về Biển kia hướng đến…

                              “Ta kể cho các người nghe câu chuyện cổ, các người hãy nghe ta
                              Bằng từ ngữ giản đơn như câu chuyện cổ ngày xưa
                              Những lời nghiêm khắc nhưng trang nhã, giản đơn, câu chuyện của ta sẽ làm cho các người mừng vui khôn xiết.

                              Dù câu chuyện này con người muốn được nghe mà không biết gì về cái chết
                              Câu chuyện với vẻ tươi mát của mình sẽ đi đến với những con tim
                              Dù câu chuyện là lòng thương, là ngọn gió dịu dàng từ Biển thổi lên bờ trong buổi chiều lấp loá.

                              Và trong số các người có kẻ ngồi trên cây lắng nghe câu chuyện của ta buồn bã
                              Liệu còn có ai mà không đứng dậy và không bước theo ta với một nụ cười
                              Rồi đi vào tổ rồng của tuổi ấu thơ và đi vào tiếng bánh xe đưa đám vang lên ở chốn xa xôi”.

                              3

                              Thơ ca, là để hòa theo tiếng thét gào của Biển.
                              Thơ ca, là để phụ họa cho bài hát diễu hành xung quanh Biển.
                              Như sự chuyển động của bàn thờ, như sức hút của dàn đồng ca, đổ xuống những dòng thơ.

                              Đó là bài ca vĩ đại mà trước đây chưa từng hát bao giờ, và Biển ở trong ta, Biển sẽ hát bài ca
                              Ta mang Biển trong mình, Biển sẽ hát lên cho đến chừng nào ta còn thở
                              Biển ở trong ta, Biển sẽ hát ca, mang vẻ tươi mát của mình và tiếng động dịu êm truyền đi khắp vũ trụ.

                              Thơ ca là để kìm nén cơn xúc động của đêm trên Biển. Thơ ca, là để ta tận hưởng cuộc đời ta với Biển.
                              Và đó là giấc mộng từ Biển sinh ra mà trước đây chưa mơ thấy bao giờ, và Biển sống trong ta, Biển sẽ bơi trong giấc mộng.
                              Biển giăng lưới trong ta, Biển sẽ bơi đến tận cùng vực thẳm, Biển giăng thời gian và những con đường vĩ đại của bóng đêm.

                              Biển liều lĩnh, vô tâm, Biển hân hoan chào đón, Biển rì rào hối hận, ôi Biển trong con nước triều dâng.
                              Biển réo ầm ầm trong màu nước thanh thiên, trong trí tuệ bẩm sinh, trong tiếng kêu thần thánh của mình - ôi những nàng trinh nữ!
                              Như thầy bói Sibylla(2) trong vòng hoa ngồi trên chiếc ghế sắt của mình, Biển sôi ầm ầm trắng xoá…

                              4

                              Ô Biển, ta ca tụng Biển, Biển còn đến muôn năm, Biển không biết giận hờn và luôn luôn xứng với lời ca tụng.
                              Ta mời Biển đến, Biển là khách quí của ta, còn nói về công lao thì ta im lặng
                              Và không nói một lời về Biển mà ta chỉ nói về sự trị vì của Biển ở trong tim
                              Như khi ta dâng cống vật bằng xương voi, bằng đá hoa cương
                              Và lời ca tụng của mình lên chúa đất Suzerain.

                              Ta chào Biển, trước Biển ta phủ phục, cúi mình mà không thấy thấp hèn
                              Ta trao cho Biển ân huệ của mình và trước Biển thân thể rung lên
                              Và khói của sự hài lòng bao phủ lên trí thông minh của người hâm mộ
                              Và niềm vui từ đó, rằng đã có những lời để với một nụ cười ta nói lời cảm tạ

                              Và ta kính cẩn trước Người, ôi Biển, ta chào đón Biển quang vinh, rằng sẽ còn lâu trong kí ức của Biển giữ gìn, tựa hồ như ngày lễ của con tim…

                              5

                              Mà bởi vì đã từ lâu ta mong ước kín thầm về một trường ca như thế, ta thêm vào những lời thường nhật của mình bức tranh có màu sặc sỡ, vẻ huy hoàng của bao la biển cả – nơi mép rừng giữa màu đen của lá hiện ra mạch máu của thanh thiên và trong những mắt lưới sống động rung rinh có chiếc vảy của con cá vô cùng to lớn!

                              Và liệu ai có thể chộp được ta bất thình lình cùng với những lời nói kín thầm đằng sau sự bảo vệ đáng tin của nụ cười nhã nhặn? Nhưng giữa những người thân và bè bạn từ lưỡi của ta bỗng tuôn ra những thứ quí hiếm kia – có thể là ở trong góc Vườn thành phố, hay ở trong những hàng rào chạm trổ của Cơ quan Hành chính Quốc gia, hoặc có thể là, có ai đó nhìn ra, giữa những câu nói hững hờ ta đột ngột quay lưng và nhìn về trên ngôi nhà Cơ quan quản lý tàu bè có một con chim đang nhẹ nhàng bay lướt.

                              Bởi vì trường ca này đã từ lâu ta mơ ước và ta mỉm cười hạnh phúc, bởi vì ta giữ gìn sự chung thủy với trường ca – ta nắm bắt, ta sửng sốt, ta say sưa giống hệt như chú san hô và lắng nghe theo nhịp của thủy triều lên xuống – giống như giờ nửa đêm lang thang trong giấc mộng, giống như sự dâng lên chầm chậm của dòng nước chiêm bao, khi từ chốn xa xôi dòng nước thủy triều vuốt ve lên những dây thừng rất cẩn trọng.

                              Và từ đâu mà trường ca như thế hiện ra trong đầu – thì đấy là điều đáng để cho ta suy ngẫm. Nhưng mà những trường ca mang lại cho ta niềm vui sướng hân hoan, chẳng lẽ điều này lại còn ít ỏi chăng? Nhưng mà thôi, lạy Chúa! Có lẽ ta phải giữ mình, phòng bị một khi cuộc chuyện trò chưa rẽ quá xa xôi… Hãy nhìn kìa các người, hãy nhìn ra đường phố, hãy nhìn vào chỗ rẽ, những cô con gái đẹp tuyệt vời của Sao chổi Halley, những vị khách của bầu trời trong trang phục của những nàng Vestale(3) bị bầu trời đêm quyến rũ, trong khoảnh khắc họ biết giữ mình giữa bàn tay, trên vòng xoay của hình elíp ấy.

                              Phu nhân của cuộc hôn nhân không hề môn đăng hộ đối vẫn giấu mình trước người đời ở một nơi xa xôi nào đấy. Ô Biển, bài hát đăng quang cho Biển sẽ là như vậy: “Bài hát cuối cùng của ta! Bài hát cuối cùng của ta!… và người của Biển bài ca này sẽ hát…” Và ta đề nghị những ai không phải bài ca thì sẽ là người chứng kiến cho sự tốt lành của Biển – Biển không có những bức tường, Biển không có hành lang, không khúc hát Aliscans(4), không cổng chính trang nghiêm, Biển không có những đại thần trên những sân gác hình tròn và không có trên những con đường những con thú dữ dằn có cánh.

                              Ta nhận về những trường ca và nhận về cho mình trách nhiệm. Giống như người hiểu ra sự bắt đầu của sự nghiệp lớn lao theo lời hứa hẹn đã viết ra và giải thích những lời, và điều này Hội những người trao tặng sẽ thỉnh cầu thôi, vì rằng công việc này chính là sứ mệnh. Và sẽ không một ai biết khi nào và ở đâu người này đã viết; thiên hạ sẽ nói với các người rằng đấy là ở khu phố có những kẻ nhẫn tâm và khắc nghiệt, mà có thể là ở khu phố của những người đúc thép – trong giờ nổi dậy của nhân dân – giữa những hồi chuông gọi người ta dập lửa, và tiếng trống báo thức giờ sớm sủa của đồn binh…

                              Và sáng ra Biển Mới trên vách đá cười lên. Và trên trang sách của người này, giống như một chiếc gương, đang ngắm nhìn một Người Đàn Bà Xa Lạ… Bởi vì đã từ lâu người này mơ ước kín thầm một trường ca như thế, người ấy nhìn ra sứ mệnh của mình trong bản trường ca… Thế rồi trong một buổi chiều vẻ dịu dàng không thể chịu nổi kia làm cho người này chìm nghỉm, thế là người này dám cả gan thú nhận và cảm thấy sốt ruột vô cùng. Người ấy bỗng cười lên và đưa ra lời đề nghị… “Bài hát cuối cùng của ta! Bài hát cuối cùng của ta!… và người của Biển bài ca này sẽ hát!…”
                              ____________
                              (1)
                              Lãnh chúa Hi Lạp cổ.
                              (2)Sibylla (Sibyllae) – những người phụ nữ có tài tiên tri. Nổi tiếng nhất là Sibylla ở Cumai (Cumis), người đã xem bói cho Aineas.
                              (3)Vestale (Vestal Virgins) – theo truyền thuyết La Mã, là những nàng tư tế của nữ thần Vesta, những người giữ gìn ngọn lửa thánh. Những trinh nữ xinh đẹp được chọn từ những gia đình quí tộc Roma và họ phải phụng sự cho nữ thần 30 năm, ai vi phạm lời nguyền sẽ bị chôn sống.
                              (4)Khúc hát Aliscans – bản anh hùng ca của Pháp do tác giả vô danh sáng tác vào khoảng năm 1165.

                               
                              #30
                                Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark
                                Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 34 bài trong đề mục

                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 4 bạn đọc.

                                Chú Giải và Quyền Lợi

                                • Bài Mới Đăng
                                • Không Có Bài Mới
                                • Bài Nổi Bật (có bài mới)
                                • Bài Nổi Bật (không bài mới)
                                • Khóa (có bài mới)
                                • Khóa (không có bài mới)
                                • Xem bài
                                • Đăng bài mới
                                • Trả lời bài
                                • Đăng bình chọn
                                • Bình Chọn
                                • Đánh giá các bài
                                • Có thể tự xóa bài
                                • Có thể tự xóa chủ đề
                                • Đánh giá bài viết

                                2000-2021 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9