Một Huyền Thoại Thi Ca

Thay đổi trang: < 123456789 > | Trang 5 của 9 trang, bài viết từ 121 đến 150 trên tổng số 260 bài trong đề mục
Tác giả Bài
Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 20.09.2009 12:30:20
.


                SÁNG XUÂN NAY


 Sáng xuân nay không chít khăn tang, không mang áo cưới…
Gió đi đâu không thấy thổi trên đường,
Thơ nằm khóc trong nấm mồ êm ái
Anh chỉ ngồi thầm lặng bên em.

Hương phảng phất bay lên từ mái tóc
Tình trắng tinh như ngửa đôi bàn tay
Đôi mắt em hóa thành mây trôi đi mất
Hồn anh chao dưới những lá cây rơi!

Cứ yên lặng
Ông lão Giăng Van Giăng yên lặng…
Tôi cũng như ông chỉ thấy lá vàng thôi,
Người đàn bà ấy đẹp giống cô Cô Dét
Nàng yêu tôi, nhưng nàng đã đi rồi!

Em về nơi Bờ- bãi- con- người
Anh trở lại viết thơ tình rồi rót lệ,
Đời là thế! Thế thôi, đời là thế!
Mối tình mình chẳng thể cưới, cũng không tang…

 
                                           24/3/1994


     Trên đời này có bạc bẽo nào hơn cái bạc bẽo đối với lão Giăng Van Giăng cơ chứ? (tiểu thuyết " Những người cùng khổ" của V.Huygô). Suốt cuộc đời lão dành tình yêu thương cho nàng Cô Dét, lão sống hết cho nàng! Ấy vậy mà, tới khi lão chết vẫn chỉ một nấm mồ thui thủi cô đơn. Đành rằng, trước lúc lão mất nàng cũng đã cùng người yêu đảo qua thăm lão một lần. Chỉ có những chiếc lá vàng, hết tháng năm này sang tháng năm khác là đều đặn rơi trên mồ lão - Gặp lại em buổi sáng xuân ấy : Ngồi bên em giây lát… tôi lại nhớ tới cái lão Giăng Van Giăng kia! Lão có khác tôi không?
 
 
 
 
 
                       NÀNG



Nàng tái tạo cả thế giới này

                                     bằng tấm thân Kiều nhân bản
Nàng khoả ra một vũ trụ ôm trùm
Khi nàng nằm ngửa lên ta tan thành nước trên nàng...

 


                                                  Năm 2000
 
 
 
 

                   THỜI ÁO TRẮNG
 
 

Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...
Những bông hoa mùa xuân thôi không nở
Đi dưới bóng điện đêm lòng sẽ rất buồn.

 
Ôi, yêu dấu cái thời còn cắp sách
Mắt em cười mùa thu xanh lên!
Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học
Tà áo trắng động vào...khe khẽ nát tim anh!

 
Trả lại cho anh một thời áo trắng
Đã đi qua và...đã đi qua...
Với cả dòng sông trôi mơ mộng
Lá lá rụng vàng, tóc tóc hóa sương pha.

 
Nghe gió thổi hàng cây vi vút
Em biển xanh xa mãi vô cùng…
Anh đứng lặng một mình bên bờ biếc
Những âm thanh kêu bổi hổi trong lòng.

 
Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...
                                                     

                                             31/7/1996



      Tiếng vọng từ trong trái tim của người con trai về một khoảng xa xăm nào đó, mỗi khi động vào lòng anh lại quặn lên đau xót. Anh bàng hoàng nhớ lại một thời đã  dan díu bên em. Những kỷ niệm trong sáng, hồn nhiên mà êm đềm tha thiết:

                    Trả laị cho anh một thời áo trắng
                    Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...


      " Em đi rồi "!  Hình ảnh ra đi của người con gái - Nhưng cái sự đi ở đây nó không phải là cuộc chia tay bình thường như một cuộc tan vỡ tình yêu? Đứng bên bờ của sự hẫng hụt, mất mát…lòng anh vẫn say đắm nồng nàn, tha thiết yêu em. Câu thơ bật ra từ trong trái tim thảng thốt. Bóng người thiếu nữ cùng anh bao buồn vui hạnh phúc , giờ đã khuất xa. Nàng giận dỗi hay nàng đã chán bỏ anh đi theo một tình trai khác ? Có thể nàng ra đi không bao giờ còn trở lại? Và lòng anh tan nát, lặng đi…vì những mất mát quá lớn - Anh khẽ xót xa kêu lên: Em đi rồi!...

   Thực ra sự đi này là sự rời bỏ tình yêu tuổi thanh xuân của người con gái với cuộc đời anh khi đã về chiều… Người thiếu nữ đi để lại cả một  thành phố hiu hắt vì buồn:

                     Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...

    Cái thành phố có trái sấu rụng , lá me rơi với bao tháng năm tuổi trẻ, anh đã từng sống êm đềm trong  tình yêu với người con gái. Nhưng nó lại vừa là thành phố tượng trưng trong tưởng tượng, trong hoài niệm: Thành phố của cuộc đời anh! Giờ em đã bỏ đi chỉ còn lại mình anh trống vắng , lạnh lẽo. Câu thơ hiện lên vừa thực, vừa ảo...nghĩa là, cái thành phố ấy cũng cô đơn như trái tim chàng! Một thành phố của tình yêu mà không có bóng của người yêu? Hai câu thơ đầu là cả một khúc tình ly biệt - Đó là sự ly biệt  bởi thời gian, quy luật của sự tàn úa …dần dần đưa thơ đi vào những hình ảnh thời quá khứ.

   Những lá vàng theo tuổi tác thi nhau rụng xuống cuộc đời anh. Rêu phong nhoà nhoạt phủ lên trên cả một trái tim tình vẫn tha thiết, đam mê. Hai câu thơ đó cũng đã là cả một bài thơ, để đến cuối cùng còn được nhà thơ hạ xuống  làm câu thơ kết:

                   Trả lại cho anh một thời áo trắng
                 Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...


   Khi xưa còn em : Thành phố ấy trên  bầu trời thì đầy những ánh sao xa, dưới ánh sáng điện lung linh, những hàng cây bên đường nở hoa  thơ mộng biết bao. Thế mà hôm nay:

                   Những bông hoa mùa xuân thôi không nở
                    Đi dưới bóng điện đêm lòng sẽ rất buồn.


  Ta thấy như bóng của nhà thơ đang lang thang với những ngày tháng  hắt hiu và tê tái.

     Em đi rồi!... Cái thời áo trắng của người yêu sẽ không bao giờ còn quay trở lại với anh nữa. Năm tháng của đời anh sẽ tàn tạ, mỏi mòn.  Sang đoạn thơ hai, những kỉ niệm xưa lại vụt  về… từ ánh mắt , tiếng cười của người yêu:

                  Mắt em cười mùa thu xanh lên!

    Cái màu trong xanh thắm của mùa thu có em càng trong xanh hơn, đất trời cũng trở nên xao xuyến, thân thương:

                   Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học
                 Tà áo trắng động vào...khe khẽ nát tim anh!

   
     " khe khẽ nát"  -  Ta nghe như những mảnh trái tim đang tan vỡ, lạo xạo như thủy tinh tan. Trái tim ấy bồi hồi, xao động khi tà áo trắng của em động vào. Âm thanh phát ra khe khẽ… nhưng  lòng người thì thổn thức , quặn thắt lại. .Một cái gì như thể muốn bùng nổ… trong sự ham muốn đầu tiên của cuộc đời cả về tâm hồn và thân thể người yêu!

   Anh Phạm Công Trứ - nhà thơ, khi trở lại thăm trường cũ lòng cũng đã bồi hồi, xao xuyến nhớ về một thuở với người bạn gái năm xưa :

                   Cái bậc lan can kia nơi em vẫn thường ngồi
                 Chiều mùa hạ ôn thi bao nhiêu là câu hỏi?
                 Tóc em buông xòa gió bay bối rối
                 Ánh mắt em nhìn lửa đốt lòng tôi!

                                             ( những ngày này)

   Bao hình ảnh về người con gái ấy đã in đậm vào trong ký ức anh…

   Thời Áo Trắng (TAT) cũng là một bài thơ nói về tình yêu chớm nở thuở ban mai ấy -  Cái thời ngồi trong giảng đường đại học, hay vẫn còn là thưở cùng em cắp sách đến trường:

                   Ôi, yêu dấu cái thời còn cắp sách
                    Mắt em cười mùa thu xanh lên!
                    Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học
                    Tà áo trắng động vào...khe khẽ nát tim anh!


      "...khe khẽ nát tim anh " -  là hình ảnh của câu thơ hay! Hé ra những ham muốn, khao khát được tìm tòi… lần cởi những gì có bên trong người con gái. Đó là những cảm giác yêu đầu tiên trong cuộc đời. Bởi thế tâm trạng vừa xao xiết, bồi hồi, lại vừa như tan vỡ.

   Đoạn thơ ba:  Tiếng vọng thổn thức của người con trai với người con gái âm hưởng mà vang mãi:

                   Trả lại cho anh một thời áo trắng…

    Nỗi thơ đã được đẩy cao lên -  Cái thời trong sáng, mộng mơ đã trôi đi mất rồi… lòng anh choáng váng, bàng hoàng:

                     Đã đi qua và...đã đi qua...
                    Với cả dòng sông trôi mơ mộng

                    Lá lá rụng vàng, tóc tóc hoá sương pha.


    Trên con đường đời tóc chàng cũng bạc dần sương pha... chàng không thể nào níu kéo lại được cái thời áo trắng cho mình? Những người con gái cứ dần rời xa chàng mãi,cả sự tốt tươi mơn mởn thanh xuân của em... chàng lặng lẽ đứng nhìn mà nuối tiếc!...Đứng trên bờ vực của tình yêu trai gái , chàng quay nhìn về quá khứ đẹp đẽ, say mê. Người con gái đã chia ly, họ đâu còn quấn quít màng về tình yêu đối với chàng nữa? Chỉ còn những mùa thu tàn, những chiếc lá vàng ngày ngày rơi phủ dày mãi lên cuộc đời đang tàn tạ của anh - Đoạn thơ đã kết ở đó!
      
    Nhà thơ Chế lan Viên cũng đã từng thốt lên: “ Chiều rồi! Phải, chiều rồi!... . Bài thơ  TAT  đã được viết ra trong cái cảnh vào chiều của đời người như thế! Những câu thơ thảng thốt bay ra từ trong tâm trạng bàng hoàng và trái tim rỉ máu vẫn còn khao khát, tưởng như lệ cũng đầm đìa đẫm cả hồn thơ.

    Sang đoạn thơ thứ tư - Những âm thanh ấy rền xiết, vang động cả đất trời:

                   Nghe gió thổi hàng cây vi vút
                 Em biển xanh xa mãi vô cùng...
                 Anh đứng lặng một mình bên bờ biếc
                 Những âm thanh kêu bổi hổi trong lòng.


   Những âm thanh ấy ta không nghe thấy, nhưng nó lại rền xiết trong trí não ta, như bão biển và như sóng đánh - một cảnh biển đầy tượng trưng, để diễn đạt thời gian và không gian của tình yêu trong cuộc đời! Tình thơ đã được kết tụ lại thành hương, thành gió bay đi. Tình yêu ấy đã hóa mình vào trong biển, vào cây, vào vũ trụ. Một không gian xa thẳm như một huyền thoại… nói về tình yêu một thời áo trắng giữa người con trai và người con gái đã xa xưa.

   Cuối cùng - Tôi chỉ xin chép lại hai câu thơ… mà trong trái tim khắc khoải , thổn thức nhà thơ  đã bật ra vừa làm mở đầu lại vừa để kết lại khúc tình ca:

                   Trả lại cho anh một thời áo trắng
                 Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...


    Giờ đây -  trong cái thành phố trống vắng, buồn tẻ và đầy  thương nhớ này : Anh  chỉ còn biết hát mãi những bài hát về em !...


                    
<bài viết được chỉnh sửa lúc 23.09.2009 12:34:24 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 23.09.2009 12:33:19
.


              ĐÊM THĂNG LONG


Rụng xuống bờ hè nhỏ tôi yêu những câu thơ ngoài phố
Sợi tóc nào hoá lá để ru đêm

Đêm Thăng Long đây đó ánh đèn
Đôi trai gái bên hồ khe khẽ ngủ...
Cơn gió thức cùng người thi sĩ
Đi lang thang về đâu ?

Đêm Thăng Long trầm sâu, rất sâu
Lão hành khất trải mảnh chiếu nằm xuống đất
Cột thành xưa đứng nhìn ngước lên trời
Mấy ông quan to đi xe con về:
Bọn đánh bạc - Người ơi!...


                                       1990  
 
 
 
 
 
    
                       CỎ  HOANG

             Thuở ấy quê người đất khách
             Trong buổi tha phương mưu tính cuộc đời
             Tôi đã gặp những người con gái
             Dẫu yêu kiều! Nhưng cũng bèo thôi...

                     (viết trong đám người xk lao động
                                       ở nước ngoài )


                                   
Cô gái bay đi ngỡ làn mây dại
Trôi lang thang đầu bãi, cuối giời
Em tự do như thể là cát bụi
Có đôi lần giời cũng khóc, mưa rơi!

Loài lạc thú phồn vinh hơn gió
Cơn Hồng Hoang thả cỏ xuân xanh
Em phá bỏ những đức qui kiềm chế
Yêu phanh phui, yêu đến tan tành!...

Tôi nghĩ: Thôi thế đã thoả lòng ham hố
Khoả thân mây đùa rỡn cả linh thiêng…
Huống hồ buổi thường bán buôn đạo lý
Có dễ gì thân gái - Trách chi em !

Hỡi Thiên Đường - Địa Phủ: Trần gian!
Loài người mãi sao tràn lan tội ác ?
Ta từng ngợi ca chủ nghĩa nhân văn chân thiện nhất!
Em gái bay đi vẫn thích cởi truồng...

Ôi, cuộc bèo hoang trời đất trầm luân
Và bản chất muôn đời còn muông thú…
Nhà chính khách  cùng đứa du côn 
                             tranh thủ chơi Thánh Nữ
Em vũ ba lê trong thế giới hỗn mang…
                             gieo hoa cấy linh hồn!


                                   - cuối thập kỷ 80




        “ Cỏ hoang “ vừa để biểu thị cái chất hoang dã của người con gái,vừa muốn nói đến đám người xuất khẩu lao động ra nước ngoài - chẳng khác nào những đám cỏ hoang trên đất khách, quê người:

                        Cô gái bay đi ngỡ làn mây dại
                        Trôi lang thang đầu bãi, cuối giời
                        Em tự do như thể là cát bụi
                        Có đôi lần giời cũng khóc, mưa rơi!


    Giời cũng phải khóc! Nghĩa là, cái tự do của thân phận em cũng chỉ như cát bụi. Đây là những câu thơ siêu thực: Hình ảnh bay lang thang đầu bãi, cuối giời như một làn mây dại -  ý của nó để nói về sự nổi trôi của người con gái và những kẻ tha phương cầu thực kia! Ta hãy trở lại với bốn câu thơ mà tác giả lấy làm tựa đề cho bài:

                       Thuở ấy quê người đất khách
                       Trong buổi tha phương mưu tính cuộc đời
                       Tôi đã gặp những người con gái
                       Dẫu yêu kiều! Nhưng cũng bèo thôi...


   Bài thơ muốn khái quát lên cái hiện thực: cũng chẳng khác nào bi kịch trong cuộc sống! Hình ảnh trong sáng, ngây thơ của người con gái đã phải đắm chìm trong cái đám người hoang dã hỗn tạp ấy… để trở thành nạn nhân của sự sống, thả mình theo chiều gió cuốn:

                       Cơn Hồng Hoang thả cỏ xuân xanh
                       Em phá bỏ những đức qui kiềm chế
                       Yêu phanh phui, yêu đến tan tành!...


     Trong bối cảnh tha phương cầu thực: thì những hình ảnh tự do thái quá của thứ tình yêu ấy… làm cho ta phải sởn gai óc? Đó chính là đáy cùng của cuộc sống , mặc dù anh cũng đã từng biện hộ cho người con gái:

                       Huống hồ buổi thường bán buôn đạo lý
                       Có dễ gì thân gái - Trách chi em!


  Đó chính là tính nhân văn của bài thơ. Sự xuống cấp của xã hội đã xô đẩy người con
gái cùng những đám người xuất  khẩu lao động kia đến thế! Ta hãy đến với đoạn thơ thứ tư :

                       Hỡi Thiên Đường - Địa Phủ : Trần gian!
                       Loài người mãi sao tràn lan tội ác ?
                       Ta từng ngợi ca chủ nghĩa nhân văn chân thiện nhất!
                       Em gái bay đi vẫn thích cởi truồng...


      Khi nhà thơ nhìn thế giới (mà trong bài gọi là Cõi Trần Gian) : vừa là Thiên- đường vừa là Địa- ngục, chính  nhà thơ đã nhìn bằng con mắt của những người lao khổ. Mỗi câu thơ đã là cả một vấn đề, bao hàm đời sống xã hội với con người trong đó.

   Thế giới đó vẫn còn bao bất công tàn ác, đẩy họ - những chúng sinh ở vào cái lớp đáy xã hội đó vào sự khốn cùng. Tôi xin phân tích sâu sắc hơn về câu thơ cuối đoạn:

                         Em gái bay đi vẫn thích cởi truồng...

    Thực ra đây là hình ảnh một câu thơ tượng trưng để đưa tình thơ lên đến tột điểm! Nó vừa để nói về cái khát vọng khao khát được sống... và trong cái khát vọng ấy, vừa mang cả bản chất hoang dã “ cỏ hoang ” của con người theo tính chất của thuyết Đác Uyn – cho nên mới dùng câu “…vẫn thích cởi truồng “. Đến hai câu thơ cuối ta mới thấy thái độ  nhà thơ được bộc lộ khá quyết liệt:

                        Nhà chính khách cùng đứa du côn
                                                      tranh thủ chơi Thánh Nữ
                         Em vũ ba lê trong thế giới hỗn mang... gieo hoa cấy linh hồn!


  Vừa để phản ảnh một hiện thực - Nhưng trong thái độ nhân văn của nhà thơ, đã chĩa mũi dùi vào đả phá những chính khách chỉ khoác lác, giả tạo về đạo lý... thậm chí những kẻ mũ cao áo dài trong cảnh cỏ hoang này,  còn loạn hơn cả đứa du côn!

     Và bởi vậy suy cho cùng : cô gái cũng chỉ là thứ nạn nhân của cộng đồng những kẻ đang phải tha phương cầu thực mà thôi. Đó là câu thơ hay và  cao nhất bài:

              Em vũ ba lê trong thế giới hỗn mang…
                                                    gieo hoa, cấy linh hồn!


     Cái vũ điệu ba lê  mà người con gái "gieo hoa, cấy linh hồn" ấy -  Có nghĩa :  em là  hoa thơm, trái ngọt của cuộc sống cùng thế giới -  Mà thế giới đó vẫn đắm chìm trong đầy rẫy những hỗn mang… đang đầy đoạ lên những kiếp cảnh bụi bờ, bèo dạt mây trôi...
 
 
 
 
 
 
                    SÁNG THU VÀNG

                         Gặp lại em một sáng thu vàng
                         Nơi em đứng nắng tràn ngoài phố
                         Với trời xanh... hồ xanh gió...
                         Gió đưa làn tóc em bay

               ( Kỉ niệm BĐ - Gặp lại em sáng đó bên hồ gió, anh
                   đã viết để lại cho đời bài thơ mùa thu diễm lệ này )



Sáng thu này trĩu cả hàng cây
Đô thành dịu mát,
Ông lão ngồi bên gốc cây

                  bán những cây sáo trúc thổi vói lên trời
Bà xúc tép váy khều khào nước…
Một thời xa lắc
Em nghiêng chao về một thời xa.

Người con gái đã thành chính quả!
( phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha )
Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...
Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở...
Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!

Sáng thu vàng mông mênh mênh mông
Anh đứng trông em bên bờ sóng vỗ
Hồn đã mất trong rừng hoang thiếu nữ
Và trái tim cũng không còn.

Sáng thu vàng xang xênh xênh xang
Những con đường xưa tắm hơi em
Môi em cười...hoa lá nát đau thêm
Thời gian trôi cuộc sống buồn tênh.

Một mùa thu lá lá
Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ
Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang
Người đàn bà:  em nuốt mùa thu tan !...

 
                                          1995


       Sáng Thu Vàng (STV) được xây dựng như một thiên tình ca. Một khoảng không gian thiên nhiên được dựng bên câu chuyện tình như truyền thuyết. Đó là một buổi sáng trong đô thành dịu mát - có:

                   Ông lão ngồi bên gốc cây
                                         bán những cây sáo trúc thổi vói lên trời


    Chữ "vói" nghe như những tiếng sáo trúc réo rắt,vút lên trong mùa thu. Bà xúc tép thì "váy khều khào nước" ở bên hồ. Những hình ảnh mà ngày ngày tác giả đi qua đọng vào trong tiềm thức anh, tới một lúc nào đó đi vào bến bờ mơ mộng của thi ca! Với những nét hoạ phốp pháp kiểu dân dã ấy, tạo cho phong dáng của bài thơ mùa thu vốn đượm sắc ảo huyền,lại thêm chất dân gian. Đem nó trải rộng ra: STV là cả một tấm pan-nô hoành tráng, để kể về chuyện của một đôi trai gái đầy khúc triết sâu xa.

    Đô Thành hôm nay đang ngày càng trở thành một thành phố công nghiệp, thương mại hoá, hiện đại hoá và thị trường kinh tế hoá. STV gợi cho ta nhớ về một Hà Nội trong ký ức xa xưa - Sang đoạn thơ hai thì câu chuyện tình mùa thu thực sự được bắt đầu. Nhưng ngay ở cuối đoạn thơ thứ nhất tác giả đã hạ hai câu thơ:

                    Một thời xa lắc
                    Em nghiêng chao về một thời xa.


     Cả một mùa thu nghiêng chao theo người con gái, để nhắc lại một thuở đôi trai gái đã từng hạnh phúc yêu nhau. Hai câu thơ này là nhịp cầu bắc nối giữa hai đoạn thơ : giống như con suối rừng khi chảy qua triền đá có các khe ngách, những hoạ tiết ở đoạn thơ đầu đã bắn toá ra thêm mấy nhánh (đó là những hình ảnh của đô thành), đến đây con suối thơ lại được reo trở lại... để câu chuyện tình mùa thu vẫn chảy theo dòng.

    Trong toàn bộ đoạn thơ hai - chân dung của người con gái được hiện lên:

                    Người con gái đã thành chính quả!  

    Có nghĩa, giờ đây nàng đã thành một người đàn bà trẻ. Như qui luật sinh nở của tạo hoá, thiếu nữ năm xưa đã khai hoa, kết trái: ấy là khi nàng đã thành chính quả! Hai chữ "chính quả" nghe như có cả tiếng kinh nguyện của chùa chiền, báo về sự đắc đạo của nàng. Một sự chuyển hoá từ tiết trinh sang tiết hạnh. Có lẽ lúc này khi gặp lại người tình xưa ấy, lòng nhà thơ đã vấn an vào chốn cửa thiền, nên ngôn ngữ thi ca mới chứa chất tính Phật đài như thế. Cả đến câu sau khi anh miêu tả:

                   Phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha

    Tựa như cảnh vật trong tạo hoá, tất thảy năm tháng đều không tránh khỏi qui luật rêu phong. Nói đến khối tình phàm tục cõi đời mà thơ đượm màu sắc Phật. Linh hiệu của tình thơ... cứ như thể chảy từ chốn thiêng trong Đất Thánh mà ra. Cũng trong đoạn thơ hai      này, ta hãy nghe xem tác giả tả về nàng ra sao:

                    Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...

    Đây là đôi mắt đẹp của mùa thu thăm thẳm, mơ màng. Bóng trúc phủ trong đôi mắt: thơ trìu tượng, nồng nàn, ân ái, hiền hoà... Hai chữ "bay xoà" mang màu sắc ảo rợp lên! Câu thơ từ trong cảm rung đã thần xuất mà thành.Và:

                  Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở...
     

    Nói về hình tượng thơ đã dùng vầng trăng để ví, ta liên tưởng tới hình ảnh thơ của cụ Nguyễn Du đã tả nàng Thuý Vân:

                    Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

    Cái vầng trăng tròn trịa dịu dàng này, cụ lấy từ cách thường ví trong dân gian...để miêu tả nét đẹp mực thuớc , đoan trang của Thuý Vân -  khác vẻ đẹp kiêu sa sắc sảo của Kiều:

                   Làn thu thuỷ nét xuân sơn
                    Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh


     Số Kiều bạc mệnh!... bởi đến cả trời đất cũng ganh ghét với nàng. Phương pháp so sánh trong thơ cụ Nguyễn Du, tuy sử dụng thi pháp thơ miêu tả của dòng thơ cổ điển, nhưng thật thần bút, sinh động và hàm xúc.

    Trở lại với STV: khi tác giả mô tả về nàng như một "vầng trăng đầy nở" -  Đó là phương pháp miêu tả thơ tượng trưng của dòng thơ hiện đại. Hiểu được thơ phải lắng cảm từ trong tư duy, tâm thức...chứ không chỉ bằng vốn hiểu biết của kiến thức sách vở hoặc kinh nghiệm dân gian. "Đường phúc hậu như vầng trăng..." - Đường, mà lại... để nói lên cả tấm thân, làn da, vóc dáng con người nàng...(chứ không phải chỉ là "khuôn trăng" để chỉ riêng khuôn mặt của nàng Thuý Vân mà cụ Nguyễn Du mô tả). Mà lại là:...vầng trăng đầy nở/ - Nghĩa là, từ khuôn mặt, thân thể và tâm hồn nàng đã toát ra. Nàng đẹp một cách dịu dàng, mộng mơ và cám dỗ như trăng. Để rồi tác giả hạ một câu kết đoạn:

                    Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!

    Ta nghe như có cả tiếng mùa thu rơi, đổ sập từ trên trời cao xuống. Tức là trái tim và tâm hồn chàng đang tan vỡ! Có thể coi đoạn thơ thứ hai này là nhân trung, thần cốt, điểm hội tụ chói sáng nhất của tình thơ STV. Nó chứa đầy bích ngọc trong thơ, đưa STV đậu lên tầm cao của những bài thơ mùa thu!...Những đoạn ba-bốn-năm sau đó, phát triển cùng với những kỉ niệm xưa...trong nỗi lòng chàng tan nát. Cuộc sống thì trống vắng, mùa thu vàng vừa xa xót, vừa bay rợp bóng xuống ngổn ngang. Lòng thơ như nhát chém:

                   Hồn đã mất trong rừng hoang thiếu nữ
                    Và trái tim cũng không còn.


    Tình yêu thiếu nữ như một cánh rừng hoang ư? Hay là, thiếu nữ đi rồi để lại trong chàng cả một cánh rừng hoang? Trái tim chàng tan vỡ đã đành, đằng này... chàng lại không còn tim! Nghĩa là trái tim chàng cũng đã rời bỏ để đi theo người con gái mất rồi! Chắc rằng, đời sẽ còn nhiều bình luận khác nhau về những hình ảnh thơ này? Thơ là vậy, nhiều người thường có những cảm nhận và lý giải riêng. Nhà thơ chỉ biết lúc đó nó ra như thế, thì viết như thế! Hay là ở đoạn thơ thứ tư:

                Môi em cười...hoa lá nát đau thêm
                    Thời gian trôi cuộc sống buồn tênh.


    Hoa lá đến mức độ phải héo hắt, nát đau trước đôi môi người đàn bà trẻ -  Thì không biết đôi môi nàng chan chứa, mĩ miêù, hấp dẫn đến mức nào? v.v... Mỗi đoạn thơ đều được níu giữ bằng những câu thơ sâu sắc ấy. Bởi vậy tuy các tứ thơ được viết ra tự do, phóng túng, mà cảm xúc vẫn đằm đìa, cô đọng ở trong thơ. STV bọc chứa… tạo cho thiên tình ca một thi phong độc đáo!

     Chỗ này, chỗ khác trong suốt bài thơ : khung cảnh thiên nhiên được phục hiện, miêu tả bao quanh đôi tình nhân năm xưa. Ngay ở đoạn thơ làm tựa đề, tác giả đã giới thiệu quang cảnh họ gặp nhau:

                    Gặp lại em một sáng thu vàng
                    Nơi em đứng nắng tràn ngoài phố...


    Tiếp đến tác giả miêu tả về mùa thu đó:

                    Sáng thu này trĩu cả hàng cây

      "…trĩu cả hàng cây" nghĩa là, một mùa thu đang trĩu xuống và chín mọng - Lối cảm thơ này cũng như khi Hàn Mặc Tử đã viết Mùa Xuân Chín , thuộc loại thơ tượng trưng thi cảm. Đến đoạn ba thì tình thơ trào lên dào dạt:

                    Anh đứng trông em bên bờ sóng vỗ  

    Tựa như đôi trai gái đang đứng bên bờ biển xanh, đầy sóng vỗ vậy. Rồi cảnh thơ gợi lại những con đường mà họ đã dẫn nhau đi ngày xưa:

                   Những con đường xưa tắm hơi em  
      Và:
                Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ
                    Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang  


   Quang cảnh phục hiện ở hai câu thơ này thuộc cảnh thơ siêu thực: cảnh có mà không có. Nó chỉ được gợi lên trong tâm thức mà thôi, v.v...và v.v...

    Trước khi bàn về phương pháp nghệ thuật xây dựng thi dáng STV - Xin điểm qua mấy nét đôi bài thơ mùa thu hay trong thi đàn! Đó là bài Tiếng Thu của Lưu Trọng Lư (LTL) và Thu Điếu của Nguyễn Khuyến (NK).

    Tiếng Thu của LTL là một bức tranh mùa thu mĩ lệ, được viết trong mộng cảm phiêu diêu của cố thi nhân. Từ xúc cảm "dưới trăng mờ thổn thức"...đến cảnh chia ly mùa thu - chỉ mang tính ước lệ về nỗi lòng người cô phụ trông ngóng bóng chinh phu! Vì mùa thu là biểu tượng của chia ly. Nhưng sở dĩ bài thơ có thể đạt đến độ là một kỳ thơ, vì ông đã vẽ lên bức tranh có con nai vàng đạp trên lá mùa thu khô kêu xào xạc… Nhưng đọc Tiếng Thu để ta hưởng thụ, ngắm nghía vẻ kiều mĩ của bức tranh...nhiều hơn sự rung cảm bởi nỗi thơ! Để cho rõ, xin phân tích mấy lời về sự khác nhau so với bài Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (HMT):

   Nếu coi Tiếng Thu của LTL xuất hiện như một ngôi sao sa quẹt trên bàu trời thi ca...Ta hò reo , ngắm nhìn vẻ đẹp lung linh, kỳ ảo của nó. Ai cũng thấy đẹp, thấy ngay - Thế thôi! Nhìn cho thích mắt rồi vào nhà mà ngủ cho ngon...(sự so sánh cũng chỉ mức độ để tác giả đễ diễn đạt ý mà thôi) -  Chẳng cần bận tâm nhiều lắm về thế giới trong thơ. Nhưng Đây Thôn Vĩ Dạ của HMT thuộc trong số ít những bài thơ hay nhất thế kỉ: chứa đầy nỗi u tình, uẩn khúc. Nó giống như một vòm trời sao xanh thăm thẳm, nhìn sâu hút mãi vòm trời ấy, ta khám phá ra thế giới của nó bao chứa rung rinh rất nhiều các ánh ngọc, hào quang trong tiểu tiết các vì sao.Đó chính là thế giới trong thơ! Nhưng không phải ai nhìn vào cũng thích ngay?...Chẳng thế mà bài thơ được thi nhân viết ra tới 30 năm sau nó mới thực sự nổi tiếng. Nó đã thuộc vào hàng thơ tầm cao, không phải ai cũng đủ khả năng nhìn thấu vòm trời sao xanh ấy? Hiểu càng sâu ta càng rung động, bị cảm hoá trước cái hay huyền diệu của thi ca!

      Thu Điếu của NK là một bài thơ tả cảnh tình câu cá mùa thu trong ao khuya, với gam màu xanh vắt và hơi hiu hắt. Ngôn ngữ hoạ tiết thơ thanh và xao...Nét tả của ông thì thật kiêu sa, lắng đọng của một tầm bậc danh nhân ẩn sĩ. Đây thuộc lối chơi thơ phú vịnh, dạng thơ miêu tả tinh tế của các bậc tổ tiên ta.

     Giờ xin trở lại để bình tiếp STV - Thu vàng  được xây dựng theo nhịp điệu như một cánh võng mùa thu, làn điệu thơ chuyển dần... Như ở đoạn thơ làm tựa đề thì làn thơ còn đưa nhẹ:

                   Với trời xanh... hồ xanh gió...
                  Gió đưa làn tóc em bay


    Hình ảnh người con gái, tóc em xoà bay trong gió. Giọng thơ có vẻ uyển chuyển, sau đó cánh võng thơ trĩu xuống, chao nghiêng đi và chòng chành:

                   Sáng thu này trĩu cả hàng cây
                  Đô thành dịu mát...


    Sang đến đoạn ba và đoạn bốn thì cánh võng mùa thu đã được đẩy bay bổng lên cao vút:

                   …Sáng thu vàng mông mênh mênh mông  
                  …Sáng thu vàng xang xênh xênh xang  


    Một cánh võng mùa thu để chứa trong lòng nó mọi điều về mối tình đôi nam nữ. Đến đoạn cuối cánh võng xoà ra, thả xuống một mùa thu đầy lá rụng:

                   Một mùa thu lá lá
                  Nơi ấy giờ chỉ còn có cỏ
                  Bướm vàng hoa cũ vẫn bay ngang


    Nghĩa là nơi gặp nàng giờ đây đã thành xa vắng, cỏ dại mọc đầy lên. Như trên đã phân tích: ảnh bướm vàng và hoa cũ ấy… như thực mà phi thực. Đó là ảnh của ký ức nuối tiếc mối tình xưa. Để rồi tác giả kết bài:

                    Người đàn bà: em nuốt mùa thu tan!...

    Chẳng ai "nuốt" được mùa thu cả! Chữ “nuốt” đầy sắc thơ siêu thực. Nàng đi để cả mùa thu trống vắng còn ở lại, hay đã mang theo mùa thu đi mất rồi? Ai có thể trả lời? Không ai cả!...và chính tác giả cũng không thể trả lời.

    STV hoà quyện nhiều trường phái: lãng mạn, tượng trưng trìu tượng và siêu thực. Nhiều hình ảnh thơ cô đúc tính triết lý, phảng phất phong dáng của trường ca. Nó đã đứng vào hàng thơ có tầm bậc! Các hoạ tiết thơ phát triển xum xuê, tạo nên cả một khoảng trời mùa thu toả bóng xuống thi ca! Nhưng nó đã đứng đến tầm bậc của ngọn núi thi nào? Vẫn phải để thời gian và các thời đại trả lời ?


                      
<bài viết được chỉnh sửa lúc 27.09.2009 12:04:25 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 27.09.2009 12:00:30
.


               KHOẢNG TRÔI TRONG LÁ



Bỗng cồn nhớ một thời dĩ vãng
Gió cứ trôi không hữu hạn bến bờ,
Nhưng vẫn đó: Em, anh - Cuộc sống
Xa nhau rồi! Tình cũ đến bơ vơ...

Có bao lá cây rơi... em đã vào xa vắng,
Lá nuốt em. Giờ sống thế nào rồi?
Em sung sướng? Ưu phiền? Lãng quên hay bụi cát?
Mặt trăng trên trời. Tim anh rất mồ côi!

Hỡi những hàng cây xanh! Những con đường lá đổ!
Chỉ dùm ta đôi gót đỏ thời thiếu nữ em xưa…
Kỷ niệm về trái tim đau thổn thức
Chỉ dùm ta! Nào, chỉ giúp ta đi!

Bài hát năm xưa, bên anh em đã hát
Giờ đây trong lá nẻo trời nào?
Anh đi qua chỉ thấy toàn mây trắng
Mặt trăng tít trên trời. Em ở tận nơi đâu?

Con đường ta đi... có bao đôi trai gái
Ai cũng một thời yêu - Em nhỉ? Để xa nhau,
Để được nhớ, được buồn, được khóc,
Được nghe quanh đời những tiếng lá bay theo.

Hãy níu lại dùm ta! Một thời dĩ vãng…
Gió vẫn trôi, lá vẫn bay vèo
Nhưng vẫn đó: Em , anh - Cuộc sống
Và một mối tình ta đã tặng cho hết thẩy trăng sao.

 
                                                 4/1994


           Tác giả nhớ về kỷ niệm với một thiếu nữ xưa. Năm tháng qua đi, lá rụng mãi hết lớp này, lớp khác. Giữa cái đời thường: Anh, em và cuộc sống cứ phải tồn tại - Nhưng tình thiếu nữ một thời vẫn cồn lên trong trái tim anh:

                    Bỗng cồn nhớ một thời dĩ vãng
                  Gió cứ trôi không hữu hạn bến bờ
                  Nhưng vẫn đó: Em, anh - Cuộc sống
                  Xa nhau rồi! Tình cũ đến bơ vơ...


    Người con gái ấy giờ đây ra sao? Cuộc sống thế nào? Không ai biết! Chỉ còn lại mặt trăng trên trời và trái tim mồ côi!...với những làn mây trắng, những tiếng lá cứ bay đi xa mãi, xa mãi:

                   Bài hát năm xưa, bên anh em đã hát
                  Giờ đây trong lá nẻo trời nào?
                  Anh đi qua chỉ thấy toàn mây trắng
                  Mặt trăng tít trên trời. Em ở tận nơi đâu?  


    Tình yêu ấy hát trong hư vô và trăng sao...dưới những hàng cây xanh, bên những con đường lá đổ - Đoạn cuối tình thơ được điệp lại như muốn níu kéo… về mối tình đã qua đi:

                    Hãy níu lại dùm ta! Một thời dĩ vãng…
                    Gió vẫn trôi, lá vẫn bay vèo
                    Nhưng vẫn đó: Em, anh - Cuộc sống
                    Và một mối tình ta đã tặng cho hết thẩy trăng sao.


    Quấn trong tiếng lá rụng và bóng trăng hư ảo trên trời: “ Khoảng trôi trong lá “ là một bài thơ tình da diết, vẳng ra từ trong ký ức và trái tim thương nhớ của nhà thơ!...
 
 
 
 
 
 
                 NHỚ VỀ CÔ GIÁO CŨ
                       
                               -Kính tặng cô giáo chủ nhiệm
                                       Đinh Thị Kim Thanh




Xóm chiến tranh...thời thơ sơ tán học
Lớp cũng là một mái nhà gianh
Sân trăng sáng như lòng cô đằm thắm
Soi vào em bao nỗi ân tình.

Nhớ thuở ấy em còn trẻ quá
Tuổi hồn nhiên qua trang vở học trò
Như người mẹ hiền từ cô dìu dắt
Ở cái làng Cầu Ấu (*) đã xa xưa.

Sông bến đưa đò cô chèo giữa nắng mưa
Lớp lớp quá giang chúng em đi biền biệt
Có những phút quay lặng nhìn lòng thổn thức
Kỷ niệm về như bày sáo lang thang.

Gió vẫn đang reo trên đồi thông Mỏ Thổ (*)
Sông Máng trong xanh (*) nước chảy qua cầu,
Ba mươi năm trôi tóc cô đã bạc
Tóc em giờ bóng hạc cũng vờn nhau.


Biết tin cô thôi không còn lên lớp nữa
Đánh tan giặc về em làm một nhà thơ
Sương trên mái tóc cô rơi xuống đầu em hoá lệ
Và đời người - Cô ạ! Ngỡ cơn mơ...

 
                                               1997


(*)  Những địa danh ở Bắc Giang - Thời còn chiến tranh phá hoại bởi không quân Mỹ, chúng tôi đã đến sơ tán để học.
 
 
 
 
 
               
 
               CHIỀU HOÀNG HÔN
                       
                          
Hồn mây gió lang thang
                            Mà đầm đìa mưa bão
                            Đời - tư lợi không tham
                            Chán trò danh bốc hão.


                                          

Chưa đi đến tuổi già
Mà yêu hoàng hôn đỏ
Chợt nhìn chợt nhận chợt xôn xao...

Soi mặt nước xanh veo
Trầm tư và lặng lẽ
Đàn muỗi phố đã kêu
Quanh bàn nơi quán nhỏ
Chiều đang buông dần chiều.

Sợi tóc mình ngơ ngác
Có nên bạc hay không?
Tuổi trẻ sợ già nhanh
Giờ điềm nhiên đến lạ
Cái mầu hoàng hôn đỏ
Cháy như là khai sinh!

Ôi, hoàng hôn hoàng hôn
Trái tim là bất diệt!
Ngày mai anh có chết
Cũng nhẹ như lá vàng.

Mang suối tóc của em
Đi rồi yêu vĩnh viễn
Anh sẽ hoá rừng thông
Ngàn năm reo cát, sóng...

 
                       1/1/1994

 
       Vào một chiều trước khi trời tối, bóng hoàng hôn chiếu hắt trên nền trời qua làn mây xa đỏ rực. Nhà thơ đang ngồi trong một cái quán nhỏ bên phố, ngẫu cảnh  tình mà viết ra:

                   Chưa đi đến tuổi già
                  Mà yêu hoàng hôn đỏ
                  Chợt nhìn chợt nhận chợt xôn xao...


    Sự xốn xang này là của mặt trời đỏ hay trong trái tim nhà thơ? Con người sớm yêu bóng chiều hoàng… hơi cô liêu này, hẳn cõi lòng cũng đã đi vào độ sâu lắng của cuộc đời. Nhưng đây là cảm quan trước cái mầu đỏ cháy rung rinh như sắp muốn nổ tung ra trong trời đất hoà cùng tâm trạng bồi hồi, suy tư của anh mà cảm xúc ra:

                    Chợt nhìn chợt nhận chợt xôn xao...  

    Bắt đầu vào thơ nó đã tiên báo về sự bùng nổ của nội tâm tác giả - Sang đoạn thơ hai, có một cái gì đó hình như hơi đìu hiu, quạnh quẽ đã hắt lên trong hồn anh:

                    Soi mặt nước xanh veo
                  Trầm tư và lặng lẽ


    Bóng nhà thơ đang trầm soi mình xuống mặt hồ nước xanh ngắt ấy, đọc lên ta lại nhớ tới những câu thơ mang đầy tâm trạng u uẩn của nhà thơ Nguyễn Bính:

                    Mấy thằng bất nghĩa xin đừng tới
                    Để mặc thềm ta xanh sắc rêu...


    Rõ ràng sự " trầm tư và lặng lẽ" này đã không hề còn trầm lặng. Xung quanh thì:

                    Đàn muỗi phố đã kêu
                  Quanh bàn nơi quán nhỏ
                  Chiều đang buông dần chiều.


    Những con muỗi cứ kêu vo ve ở ngoài đời, nó đốt ta đến là khó chịu, nhưng khi được đưa vào trong thơ lại trở thành hình ảnh rất thi vị...tạo cho Chiều Hoàng Hôn (CHH) nằm trên một bức phông cảnh đời rất thực, đời sống ấy đang thường nhật. Những nét thơ phố này cũng làm cho tình thơ thêm sống động và cảnh quan phong vị hơn. Đến đoạn thơ ba  thì nỗi lòng sâu kín nhất trong tác giả như mạch suối ngầm đã được bắn oà ra:

                    Sợi tóc mình ngơ ngác
                    Có nên bạc hay không?  


    Nhà thơ Trúc Thông khi bình thơ hay về bài CHH, đến đoạn này ông đã viết (xem trong tuyển Thơ Hay Có Lời Bình của NXB Thanh niên năm 2001, tr.200-208):

“ Bài thơ được viết một mạch vì đã đi vào trúng mạch thơ dần dần đã hiện ra ở khổ thơ thứ ba:

               ... Tuổi trẻ sợ già nhanh
                  Giờ điềm nhiên đến lạ


    Chính mạch đây rồi! Thơ lập tức vọt ra:

               Cái mầu hoàng hôn đỏ
                  Cháy như là khai sinh!


   Khai sinh cái gì? Khai sinh một thức ngộ:

                Ngày mai anh có chết
                  Cũng nhẹ như lá vàng


    Thật sung sướng, thật hạnh phúc khi tự mình thức ngộ, sở hữu một triết lý sống an nhiên, tự chủ, tự tin đến vậy. Coi chết không là gì, để sống đắm đuối hơn, mở rộng tình yêu, tình người đến vô biên :

                  Mang suối tóc của em
                     Đi rồi yêu vĩnh viễn


    Chỉ là biểu hiện vừa cụ thể, vừa tượng trưng cho nhân tính phát triển cao chứ không phải khoanh vào một "em" nào. Người đã biết thức ngộ:

                   Trái tim là bất diệt!

Như trong bài thơ này, không thể cuồng say một cách ích kỷ đàn bà theo lối sở hữu và bạo hành “.

    Xin trở lại với hình ảnh câu thơ nói về "sợi tóc mình ngơ ngác" - Nhân cách hoá mái tóc nhà thơ là câu thơ hay! Nó ấp ủ tâm tư thầm kín của tác giả chạnh nuối về tuổi trẻ, với cái tình cảm yêu đương trai gái say đắm thường tình của cuộc đời. Khi nhà thơ tự hỏi:

                    Có nên bạc hay không?

    Có nghĩa là chính đầu anh đã chớm bạc mất rồi! Phải chăng cũng giống như Xuân Diệu đã từng viết:

                   Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
                  Em, em ơi... tình non sắp già rồi!


    Nhưng không, bên một chút buồn vừa thoáng qua lòng tác giả, cái tình cảm luyến ái một thời ấy... giờ theo mái tóc đã điểm gió sương cứ dần dần rời xa anh -  Ta lại thấy một mảng đời khác đang xô đến, vụt phá trong tâm hồn của anh! Đó chính là cái nửa cuộc đời chiều đang khai hoa, kết trái và đầy niềm tin yêu đẹp đẽ:

                    Cái mầu hoàng hôn đỏ
                    Cháy như là khai sinh!  


    Để lòng anh bình thản lại, ung dung mà đón nhận tuổi hoa niên của đời mình.

     Còn bàn về tiết tấu nghệ thuật - Cũng xin lấy lời của nhà thơ Trúc Thông đã bình :

  “  Đây là lối thơ cảm khoái theo thể năm chữ: Bắt đầu vào dần để gây không khí tịnh tiến như ông thầy bắt mạch. Sau khi mạch thơ đã vọt trào, tác giả viết tiếp thoải mái và vững vàng... ý, tình, hình ảnh, âm điệu đều hay, không quá bốc, vừa sung mãn đúng độ. Cổ thể nhưng ý tình hiện đại.

    Song cảm xúc hiện đại đã làm Phạm Ngọc Thái quên phắt mình đang tuân theo lối thơ năm chữ , buột phá:

                   Chợt nhìn chợt nhận chợt xôn xao...   

    ( Câu này 7 chữ - và nhà bình thơ nhấn mạnh ) -  Sự nổi dậy của cảm xúc thơ thời đại mới nhắc nhở rằng: Trong khi tận dụng hết cái cổ điển của thể loại truyền thống, chúng ta có quyền cơi nới, biến động. Nhưng phải là tự do trong qui luật của nghệ thuật. Nghĩa là mức độ có tiết chế, hài hoà...".

    Nhưng sở dĩ tác giả đã có một triết lý sống an nhiên, thanh thản như lời nhà bình thơ trên , còn xuất phát từ một nỗi lòng sâu xa khác, mà ngay trong đoạn thơ làm tựa đề của CHH đã được nói tới:

                Hồn mây gió lang thang
                    Mà đầm đìa mưa bão
                    Đời - tư lợi không tham
                    Chán trò danh bốc hão.


    Anh trở về với cuộc sống trong sự yên tĩnh thanh tao, để sống cho trọn hết nghĩa đời. Nếu có phải từ giã với cuộc sống ra đi... thì lòng anh cũng chỉ nhẹ thoảng như một làn gió bay, như bóng chiều hoàng dần tắt sau một ngày đã đốt hết mình để nắng và trái tim anh cũng đã đập trọn nhịp cho cái ngày đó:

                    Ôi, hoàng hôn hoàng hôn
                  Trái tim là bất diệt!
                  Ngày mai anh có chết
                  Cũng nhẹ như lá vàng


   Thực ra hình ảnh câu thơ như chiếc lá vàng rơi... đã mang ý nghĩa của sự vô vi, cát bụi. Song điều đáng nói ở đây , bao trùm lên cả chính trị, khoa học, triết học: là tình yêu và cuộc đời! Chỉ có tình yêu trường cửu mãi không già... Nó đã được vụt lên trong bốn câu thơ kết, tạo thành một bức phông cảnh lớn nhất, hoàn bích nhất của bài thơ:

                    Mang suối tóc của em
                    Đi rồi yêu vĩnh viễn
                    Anh sẽ hoá rừng thông
                    Ngàn năm reo cát, sóng...


    Đó cũng chính là bản tuyên ngôn của CHH , là bài ca cuộc sống! Cát và sóng - Phải, trên biển cả mênh mang trường tồn vô định kia, bãi cát trải dài… nó vô vi xoá đi bao hạnh phúc lẫn khổ đau của con người. Nhưng ngàn năm thì sóng vẫn xô vỗ mãi lên bờ cát, vẫn thét gào như sự sống mãi mãi còn tồn tại.

    Cát cứ xoá, sóng cứ gào vỗ trên biển cả:  Đấy là cuộc đời! Hiện hữu và hư ảo... sắc sắc và không không. Bản tuyên ngôn về tình yêu trai gái bất hủ ấy đã kết lại tình thơ, để mang CHH đi về phía mặt trời , mặt trăng của sự sống vĩnh hằng , bất diệt. Ngôi nhà kì vĩ nhất thế giới, mở ra và khép lại : là ngôi nhà có người con gái đi, về...và sống ở trong đó!

     Đến đây ta còn thấy CHH chính là bản tình xô-nát vượt lên trên tất cả mọi đế chế, thần tượng cũng như những niềm tin thần thánh  khác - Cuộc đời… cuộc đời chỉ có cát, sóng với tình em biển cả! Cứ xô vỗ, cứ thét gào cào xé, say đắm, dập vùi... cứ thế và cứ thế muôn đời!...


                            
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.10.2009 12:19:01 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 02.10.2009 11:51:30
.


                 HÀNG CÂY LÁ ĐỔ


Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió...
Ta lang thang qua lá đổ hàng cây,
Bản tình xưa em hát ở đây
Nơi ngày nay xác các con thiên nga đã chết.

Ôi, hàng cây! Cùng ta... bao đêm từng tha thiết
Những nụ hôn và tấm thân bất hủ của em
Giờ ta sống trong hoang tàn sụp lở
Bên những chiếc bóng của đàn thiên nga.

Thời gian phôi pha - Tóc ta hoá đá
Gió cũng làm lau ngàn năm ru rất khẽ!...
Xin rụng một bông buồn
                                    lắt lay

 
                                           1990


        Bóng nhà thơ lang thang qua hàng cây lá đổ, nơi đó cả bản tình người thiếu nữ năm xưa đã hát:

                    Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió...
                    Ta lang thang qua lá đổ hàng cây


    Chỉ hai câu thơ này đã là một khúc tình thơ sâu lắng:..”chôn chiều vào gió “ -  Nó nói về sự hoang vắng cô đơn của những chiều không em, trôi theo dòng gió cuốn. Vào mở đầu câu thơ: Thế là hết!/... Đó là sự chấm hết của mối tình, em đã bỏ ra đi! Nhưng những gì em để lại thì còn sống mãi trong tâm hồn và trái tim anh -  Là cả bản tình ca mà em đã hát!... Nhịp điệu câu thơ được ngắt nấc lên:

                   Thế là hết!/
                                em đi/
                                       chôn chiều/
                                                       vào gió...

     
       Nhưng sang đến câu thứ hai thì được trải trầm xuống, mạch dài ra:
 
                  Ta lang thang qua lá đổ hàng cây...

   Nó thấm tháp những kỷ niệm êm đềm của những ngày tháng bên em. Sự ngắt nhịp như thế, ta thấy tác giả còn sử dụng một lần nữa ở đoạn thơ thứ ba:

                    Thời gian phôi pha –
                                           Tóc ta hoá đá


    Dùng biểu tượng về "thời gian phôi pha" " tóc ta hoá đá" - Là những hình ảnh thơ đã được thăng hoa, để nói về qui luật rêu phong bởi thời gian và úa tàn của con người. Năm tháng mái tóc trên đầu anh đã hoá thành đá mà vọng mãi tình em… sau đó hạ xuống một câu thơ trải dài:

                    Gió cũng làm lau ngàn năm ru rất khẽ!...

   Một bờ lau hoang vắng cất lên trong những cơn gió reo xa, hơi thơ vô vi mà êm ái. Nhưng cả trời đất và vũ trụ thì ngàn năm vẫn thiết tha trong khúc nhạc tình.

   Hàng Cây Lá Đổ là một bài thơ mà nỗi tình được ẩn sâu trong những hình ảnh ngôn ngữ, tạo ra cái hay riêng  và vẻ đẹp của nó! Ở trong đoạn 1 và 2 - Hình ảnh con thiên nga được đưa vào trong thơ để làm biểu tượng về người con gái: Như tấm thân tiết trinh và trong trắng của nàng. Những dấu tích mà nàng để lại trong tình yêu anh:

                   Nơi ngày nay xác các con thiên nga đã chết  
      Hay là:
                  Bên những chiếc bóng của đàn thiên nga

    Giờ đây chỉ còn lại xác và những chiếc bóng của chúng lắt lay dưới hàng cây lá đổ. Sang đoạn thơ thứ hai, khi miêu tả kỉ niệm với người yêu xưa tác giả đã sử dụng những hình ảnh đời rất thực:

                    Ôi hàng cây! Cùng ta... bao đêm từng tha thiết
                    Những nụ hôn và tấm thân bất hủ của em


    Như thể nó tích tụ máu tim của cả tình thơ vào đó! Để từ đó các hoa thơ và những hình ảnh tượng trưng...được bắn toá  ra thành các hương sắc trong bài. Còn câu thơ:

                  Giờ ta sống trong hoang tàn sụp lở  

     Người con gái đã đi!... Nhà thơ cũng chỉ còn biết lang thang dưới bóng của hàng cây lá đổ mà lòng đầy những ngậm ngùi.

    Lá vẫn ngày ngày đổ xuống dưới hàng cây ấy… để suốt cuộc đời anh đi trong những chiều gió không em! Chỉ còn đây hồi ức về một thời dĩ vãng …với bao nhiêu niềm hạnh phúc đắm say!
 
 
 
 
 
                    TIẾNG RÚC CHIM ĐÊM
 
                             Những tối trăng ngời...dưới ánh sao khuya...
                               Anh vẫn đắm mình về phương ấy
                               Những câu thơ như ngôi sao bùng cháy
                               Và cuộc chia ly đã hoá cánh buồm...



Con chim đêm rúc mãi ngoài cây
Nó nói gì không biết ?
Chắc con mái ham nơi vui thú khác
Đã không về !...con trống gọi suốt đêm.

Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
Có lẽ nào em không về nữa
Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ.

Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi
Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!

Ngàn năm xưa cho tới bây giờ
Ta muốn hỏi đến muôn đời sau nữa:
Mọi giá trị vĩnh hằng , nếu có
Sẽ là gì? Khi thiếu vắng em ta!...

Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...
Và tất cả đã trở thành trống trải
Sao em lại phụ bạc tình,
                           con mái thương yêu?

                                           
                                       11/11/1993


        Trong đêm tiếng con chim nào đó kêu xé lên, rồi nó rúc từng hồi thảm thiết. Con chim đang có nỗi gì? Một tiếng kêu lẻ bóng, cô đơn giữa  khoảng không vắng lặng:

                   Con chim đêm rúc mãi ngoài cây
                    Nó nói gì không biết ?


    Mới chiều đó chúng còn có đàn, có đôi...và nhà thơ nào đó đã viết :" một tiếng chim ca sáng cả rừng" - Nhưng đó là tiếng chim ca chào bình minh buổi sớm, nó đã trở thành thông lệ theo bản năng véo von của loài chim sau giấc ngủ một đêm dài. Đằng này, Tiếng Rúc Chim Đêm (TRCĐ) là tiếng kêu phát ra từ trái tim đau đớn của con chim:

                    Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
                    Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố


    Tiếng chim gọi người yêu náo động vào trong tâm trạng của nhà thơ! Tiếng nó khắc khoải, rền rã vượt qua cả không gian, thời gian, năm tháng, nắng mưa, non cao, rừng rậm...trở thành tiếng vọng tình yêu của cả loài người:

                   Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
                   Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!


    Ý nói về sự sống muôn đời của con người: Tình yêu là ánh sáng, là ý nghĩa của sự tồn tại. Mọi giá trị thế giới sẽ không có gì cả, nếu không có tình yêu trai gái! Ở đoạn thơ đầu - cái tiếng rúc con chim trống như nỗi lòng cô quạnh của người con trai:

                    Chắc con mái ham nơi vui thú khác  
                    Đã không về!...con trống gọi suốt đêm.


    Cái đêm đó không hiểu vì sao con mái không về? Hay nó đã bỏ đi theo người tình khác ? và con chim đực cứ gọi, gọi mãi trong vô vọng. Cũng nỗi lòng đó, đứng trên thềm nhớ của không gian mênh mông, nhà thơ đã nhớ về em:

                   Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
                   Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi  


     " Dĩ vãng trăng mơ..."  là mơ trong bóng trăng xưa. Tuy nói  "mùa dĩ vãng" nhưng đó chỉ là những khoảnh khắc tươi đẹp đã vụt qua, còn lại trong hoài niệm. Hai câu thơ ấy trải ra trong đời cuốn đi theo chiều gió: Cuộc sống không chỉ có những năm tháng sung sướng, hạnh phúc bởi tình yêu? Mà còn là một vòng cát bụi cuộc đời. Như bóng mây bay qua -  Người con trai chỉ còn biết đứng trên bờ của nỗi khát vọng dày vò, khắc khoải, đã xa rồi, xa mãi không bao giờ trở lại:

                    Có lẽ nào em không về nữa
                    Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ


    Nói tiếp về đoạn thơ ba , nó đã được tạo nên từ hai mảng màu: Từ cõi trăng mơ...đến dòng cát bụi -  là một mảng "màu đời"! Chất liệu lấy ra từ trong sướng khổ, bèo dạt mây trôi, với bao vật vã tháng năm của cuộc đời. Còn mảng màu thứ hai, ý thơ nhảy vọt lên thăng hoa để bao quát cả bể thế thái nhân tình:

                    Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
                    Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!


    Mặt sau ý nghĩa nhân bản của tình yêu - mặc nhiên nó phủ định cả chiến tranh, tội ác...của những kẻ ham muốn làm bá chủ xây lên bằng quyền lực? Sự thánh thiện đã tạo lập nên trong đoạn thơ này là ở lý đó! Nó đâu có dừng lại chỉ ở lòng đam mê  trai gái thông thường? Thực ra nó đã phủ nhận , phủ nhận và phủ nhận sự tồn tại của thế giới con người như ngày nay: khi mà cái ác cứ ngày một tràn lan nhiều lên! Như nhà văn Nga Ai -Ma-Tốp đã từng cảnh báo về con người hiện đại, trong tác phẩm "đoạn đầu đài" nổi tiếng một thời của ông rằng: con người còn ác hơn con sói! Nó tôn sùng sự thiêng liêng của ái tình! Cho dù ái tình đó còn mang tính thế tục hay nhuốm màu sắc bản năng, để sang đoạn thơ thứ tư đã triết lý:

                    Ngàn năm xưa cho tới bây giờ
                    Ta muốn hỏi đến muôn đời sau nữa  


    Nội chiến nước Nga để làm gì? Thế giới I, Thế giới II và còn đe doạ cả Thế giới III nữa, để làm gì? Người trinh nữ (nói theo hình tượng) chẳng phải là vẻ đẹp thần thánh nhất, ngôi miếu thờ thiên đường nhất hay sao? Cuộc đời chỉ yêu! Con người chỉ yêu! Thế giới chỉ yêu!...có hơn không?

                    Mọi giá trị vĩnh hằng, nếu có
                    Sẽ là gì?...khi thiếu vắng em ta!


   Không là gì cả, tất cả là vô nghĩa! Triết lý thế đấy : và đó chính là  “đạo” của thi ca! Đến đây  trước khi bình vào đoạn cuối, tôi muốn bay qua vài áng thi xưa có bóng chim trong thơ:

    Bà Huyện Thanh Quan (BHTQ) đã viết một bài thơ vào hàng mẫu mực của niêm luật thơ đường  -  "Qua Đèo Ngang tức cảnh":

                   Bước tới Đèo Ngang nắng xế tà
                    Cỏ cây chen đá lá chen hoa
                    Lom khom dưới núi tiều vài chú
                    Lác đác bên sông chợ mấy nhà.


    Bốn câu thơ đầu này mới là sự vịnh cảnh thuần tuý, chưa tạo thành một áng thi đặc sắc. Nhưng đến hai câu 5-6:

                   Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
                    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia


    Thì sự tả cảnh vật giờ đây đã hình tượng hoá, thể hiện cả tâm tư, tình cảm của lòng Bà : Tiếng con chim quốc quốc nỉ non kêu, gọi rạc cổ họng suốt mùa hè rồi chết! Còn con gia gia lại chu lên giữa chốn đèo hoang vu...bên nỗi lòng quạnh vắng của kẻ xa nhà. Bà Huyện xao xiết chạnh nhớ về thôn hương mà hiu hắt buồn. Truyền kể lại rằng : BHTQ không chỉ là một phụ nữ đoan thục đảm việc nhà, còn rất giỏi giang giúp ông Huyện xử nhiều vụ kiện tụng chốn công đường lo toan việc nước - Thì đến đây, tiếng của con quốc quốc và gia gia ấy vào thơ Bà mang đầy âm hưởng nỗi lòng người. Chúng kêu mãi, kêu mãi... Tình người, cảnh vật hoà nhau giữa chốn đèo mây được reo hạ bằng câu thơ kết tuyệt bút:

                    Một mảnh tình riêng ta với ta

      Bởi vậy -  tuy chỉ tức cảnh nhưng bọc chứa bao nỗi đầy vơi… tình thi đã trở thành nổi tiếng !

    Nguyễn Khuyến đã viết ba bài thơ về mùa thu (Thu vịnh, Thu điếu, Thu ẩm) - Bài mà tôi muốn nói tới (có tiếng chim kêu trong thơ) là Thu vịnh:

                   Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
                    Ngõ trúc lơ phơ gió hắt hiu
                    Nước biếc trông như tầng khói phủ
                    Song thưa để mặc bóng trăng vào


    Một bậc danh nhân ẩn sĩ nhàn tản, ngẫm cảnh mà vịnh thơ. Bốn câu thơ đầu của bài Thu Vịnh này  thực cũng chưa có gì độc đáo, nhưng sang đến hai câu 5-6 mới là hai câu thơ hay:

                   Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
                    Một tiếng trên không ngỗng nước nào?


   Vốn dĩ bản sắc thanh tao, không thể hoà vào chốn quan trường nhiễu nhương gian thần tiểu nhân đắc chí, Nguyễn Khuyến đã từ quan về quê ở ẩn. Song phải sống những năm tháng hắt hiu, buồn tẻ, chôn thân phận mình nơi thôn dã... lòng ông không khỏi những ngậm ngùi cảm hoài và nuối tiếc: Có tài sức mà không được mang ra phụng sự quốc gia, không được cùng nước non tung hoành cho phỉ chí - Chính hai câu thơ đó trong Thu vịnh đã toát bật lên nỗi lòng dày vò xa xót ấy của ông.

    Nghe tiếng con chim ngỗng bay qua kia thì buông ra một câu hỏi: Con ngỗng đang kêu đó là ngỗng của nước nào? Hỏi thế chứ...chả quan tâm, chả để làm gì! Rồi nhìn những chùm hoa trước giậu nhà lại nở...thì nó cũng như hoa năm ngoái, năm xưa thôi -tàn rồi lại nở.  Người khác chi cánh bèo trôi theo thời gian cuộc đời, rồi năm tháng lụi tàn đi. Vậy là cả cảnh hoa nở cùng tiếng con chim ngỗng kêu : hai câu thơ liên kết với nhau để nói lên một khối đời trắc ẩn, nỗi lòng buồn chán vô vi.

    Cảnh hoạ mà ẩn đầy nội tâm, tình thơ da diết máu tim. Chỉ tiếc là đến cuối bài ông lại rời khỏi cảnh thu để kết bằng hai câu tự thán:

                    Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
                    Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào


    Ông Đào ở đây tức là ông Đào Tiềm đời nhà Tấn, đỗ đến bậc tiến sĩ song cũng chán cảnh cung đình, treo ấn từ quan lui về ở ẩn. Tuy hai câu kết ấy cũng biểu hiện một mối tâm sự của nhà thơ...nhưng đã lệch khỏi van tuyến đối với một bài thu vịnh, nên chưa hay được bằng bài Thu Điếu của Ông. Sở dĩ Thu điếu (tức là câu cá mùa thu) trở thành nổi tiếng bởi vì: Sau khi đã lang thang tả cảnh xóm trúc quanh co, lá vàng bay vèo trước gió, cùng với mây trời thì xanh lơ lửng v.v...Tác giả vẫn quay về với cảnh tình câu cá đêm thu, để hạ bằng hai câu kết thật hay:

                    Tựa gối buông cần lâu chẳng được
                    Cá đâu đớp động dưới chân bèo


    Sống động và rung rinh. Nó gợi mở không chỉ là cảnh cá đớp dưới ao, mà chính cả lòng người đang bồn chồn xôn xao trong đó.

    Giờ xin lại trở về với bài Tiếng Rúc Chim Đêm -  Ta hãy đọc đoạn thơ cuối cùng:

                  Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
                    Anh bổi hổi một thời qua vọng lại
                    Và tất cả đã trở thành trống trải
                    Sao em lại phụ bạc tình, con mái thương yêu ?


   Con chim trống vẫn run rẩy cất tiếng kêu rúc lên trong vòm xanh. Trên bờ bến nhân gian, tiếng gọi của con chim ấy còn vọng mãi vào những năm tháng xa xôi vô cùng, vô tận kia -  Như anh gọi em, như chàng gọi nàng...

    Có thể sau đó con chim mái đã quay về và nó thanh minh với con chim trống rằng: Con mái nó không phụ tình! Chỉ bởi cuộc sống ngày nay kiếm miếng ăn khó khăn quá nên đã phải đi xa rồi bị lạc, lỡ đêm không về kịp được. Rồi nó hờn giận với con chim trống: đã không thông cảm cho nỗi khổ nhục của nó thì thôi, lại còn buông ra những lời oán trách nghĩ xấu cho nó? Thật là không phải lối!

   Tiếng Rúc Chim Đêm là một bản tình ca, nó đã đưa tình yêu lên tận đỉnh tháp cao xa của loài người - khi mà các chủ nghĩa cùng chính trị thế giới đều rơi vào sự bế tắc, không giải thoát nổi... đã không thể đưa được cái phần bản chất cuồng dã của con người ra khỏi những vòng của dã tâm tội ác! (đức lương thiện ngày càng bị đàn áp, lấn át)...gieo lên những cảnh khổ hạnh điêu linh, bởi bất công bạo ngược vẫn hà hiếp bao kiếp sống của các chúng sinh - thì chính tình yêu trai gái: ĐẠO mà trời đất đã sinh ra lại cứu sống linh hồn cho cả trái đất này!

    Vì nếu như không có cả niềm đam mê tột cùng của hạnh phúc gái trai: thì thế giới - chắc con người sẽ chẳng khác nào những giống sinh linh nhung nhúc lâm vào cái cảnh bị tâm thần loạn trí...và khắp toàn cầu sẽ phủ toàn một màu băng tang trắng.

    Tình yêu -  Để con người quên vợi đi những tâm địa độc ác của mình. Người ta không cần đến chiến tranh, con người không còn ham vọng bóc lột nhau nữa...và thế giới chỉ còn vang lên trong tiếng gọi của hoà bình! Đó cũng chính là linh hồn, ý tưởng chân dung của bài thơ Tiếng Rúc Chim Đêm này, là ý nghĩa nhân bản thiêng liêng đối với tình yêu và sự sống của thế giới con người!...
 
 
 
 
 
 
                  EM BÁN XOÀI


- Anh trai mua xoài cho em đi?
Nha Trang! Ta nhớ Nha Trang!...

Em bán xoài đi đêm trên cát trắng
Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang
Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm
Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh.

Xoài em chín! Đêm tàn canh em đón khách…
Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi
Em bán xoài thơm! Em bán xoài thơm!
Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi
Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?

Thế giới em đi “ Vòng thiên la địa võng “
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
Xoài em thơm! Hương toả mát thân người...
Ai mua xoài?
                    Còn ai có mua em?

Các cô gái đi đêm như các cột đèn
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...
Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.
 
                                                  
                                   
1992



        Vào mùa hè năm 1975, những ngày sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng: Tôi cùng một nhóm sĩ quan quân giải phóng từ Sài Gòn đến thành phố Nha Trang. Buổi tối đó chúng tôi ra thăm biển và đã gặp những cô gái bán xoài . Một em gái trẻ rất dễ thương, thân hình bó lẳn trong chiếc áo cánh chẽn mềm mỏng tới mời tôi – Không hiểu sao lúc đó tôi lại từ chối? Rồi bao năm tháng qua đi, hình ảnh người con gái ấy cứ đọng mãi , in sâu vào kí ức tôi thành kỉ niệm. Ngót hai mươi năm sau, tới một ngày những xúc động xưa lại quay về...và bài thơ Em Bán Xoài (EBX) đã ra đời từ đó:

                    Em bán xoài đi đêm trên cát trắng
                    Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang


    Đó là những thân phận nổi trôi sau một cuộc chiến tranh, những kiếp đời cát bụi.
 Những kiếp đời ấy thật nhỏ bé, côi cút trong cả biển sống đầy sóng bão chỉ muốn nuốt chửng lấy nó:

                    Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
                    Linh hồn treo ngoài thế giới em đi
                    Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?

      Đó là những thân phận lạc loài , linh hồn gần như không có nơi bám víu. Cái thế giới mà các cô gái đang đi, đang sống trong đó thật hãi hùng giống như “ Vòng thiên la địa võng “...Sống hôm nay không biết đến ngày mai:
 
                Thế giới em đi “ Vòng thiên la địa võng “
                    Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi


    Mặc dù sự tồn tại của thế giới đó - chính phải nhờ vào vị thơm của những trái xoài và hương mát của những người con gái kia! Thế mà ngay sự tồn tại của em cũng vật vờ cát bụi:

                 Ai mua xoài?
                                           Còn ai có mua em?  


   Tôi cứ nhìn mãi vào bóng biển xanh đêm đó: thế giới biển vừa dạt dào sóng vỗ vừa sâu thăm thẳm... cái thăm thẳm đến hãi hùng. Biển càng to lớn mênh mang bao nhiêu, thì bóng hình những người con gái bé nhỏ ấy càng yếu ớt bấy nhiêu! Còn bóng của những chiếc cột đèn đứng trong đêm thành phố thì thật là côi lạnh, đã được khắc hoạ ở trong những câu thơ lại nhập hoà vào thân phận với những người con gái đang nổi trôi...để rồi cùng vô vi trong cát bụi cuộc đời:

                   Các cô gái đi đêm như các cột đèn
                    Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...


    Như thế là những thăng trầm của lịch sử và xã hội loài người, nó cũng chỉ giống như chiếc túi càn khôn bủa vây, vùi lấp đám dân lành tội nghiệp. Bài thơ được kết thúc trong những lời ru, sự cảm đồng của hàng dừa quê hương cùng với nỗi lòng của nhà thơ bên người con gái bán xoài:

              Biển ru ta và ta ru em
                    Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.


    Ba chữ "xứ sở gió..." nó vừa diễn tả sự da diết gắn bó của thiên nhiên,trời đất, quê hương với con người... nhưng đồng thời vừa như có cái gì đó thật hoang lạnh, vô tình?
 Làm cho tình thơ vừa thân yêu mà xa xót, đậm màu sắc triết học… như những nhân chứng của lịch sử. Thơ từ những hình ảnh hiện thực đã chuyển sang màu siêu thực, để cuối cùng chỉ thấy có bờ cát trắng là tồn tại!...với những giọt buồn của nhà thơ đã rỏ lên những thân phận và linh hồn bèo bọt của chốn con người:

                    Xoài em chín! Đêm tàn canh em đón khách,
                    Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi…


    Thân phận của dân gian nghìn năm đó chăng?

                                      
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.10.2009 13:02:15 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 03.10.2009 12:51:22
.


            CÂY HOA BẰNG LĂNG
                  TRONG MƯA

 
 
Cứ cô đơn tắm sũng dưới mưa trời
Bằng lăng đứng một đời tím tái
Em hay là anh đấy
Mà con tim
                     rơi giữa mưa bay…


                             18/5/1994
 
 
 
 
 
 
 
                       NỖI TRĂN TRỞ
            NGƯỜI ĐI TÌM VÀNG



Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp
Rời quê qua bên kia biển sóng
Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
Đứa mách qué lại vân vi dễ sống.
Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng?
Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!...

Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông? (1)
Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
                                    lọc sàng từng đống rác...(2)
Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.

Nhìn cánh dơi đen xao xác trời chiều
Cứ để cho tất cả lãng quên!

Cây lý chiều xưa gió còn đưa lại
Bông đại ở quảng trường hương vẫn giăng tơ…
Chút thơm thảo:  đoá phù du ngắn ngủi
Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ.

Rồi một ngày - Sẽ có một ngày qua
Những năm tháng không bẩn đấy,
                         cũng rộm vàng khói cột...
Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật!
Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ
Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ
Một chút nữa với bạn bè thân hữu...
Và khi đó tóc tôi có ngả mầu chút xíu
Dù cho tất cả đã quên tôi !?...


                            Nước Đức- Đêm 11/9/1989


(1) Mượn ý trong câu của một nhà thơ:" Còn ít vàng mười mang ra bán nốt!"
(2) Phỏng theo tích truyện Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki.




        Vào những năm cuối cùng của thập niên 80 thế kỉ XX, các đoàn người xuất khẩu (xk) lao động  ồ ạt đổ ra nước ngoài. Bối cảnh trong nước khá hỗn độn, nền kinh tế xã hội sa sút, đời sống dân tình, nhất là nhiều vùng quê rơi vào cảnh nghèo khổ đáng báo động. Thế giới thì đảo loạn, ngả nghiêng. Dẫn đến tình trạng ít năm sau (sang thập niên 90) : Nước Nga Xô Viết tan vỡ và xẩy ra nội chiến. Phe phái đánh lộn lẫn nhau, hàng loạt nước XHCN ở Đông Âu bị sụp đổ. Sương mù chủ nghĩa bao phủ bầu trời... Như ở trong bài  thơ Trở Về tác giả đã viết:

                        Đông Âu gió giật xiêu Thành Mác
                        Bốn bể chân trời lạc khói sương...


     Bấy giờ nhà thơ còn là một cán bộ ngoại thương  quốc tế - Được sự điều động, biệt phái từ trong nước ra nước ngoài làm công tác quản lý một số đơn vị xuất khẩu lao động kia. Thực cảnh đó là đám dân dã, hạ tầng của xã hội... đi tha phương kiếm sống,  cùng những kẻ tham vọng làm giầu … xô bồ ập vào trong anh. Những trăn trở tình cảm riêng chung trước một thực tế đầy phức tạp ấy, để một đêm nào đó - bài thơ Nỗi Trăn Trở Người Đi Tìm Vàng (NTTNĐTV) đã ra đời:

                        Tôi sống âm thầm trong một đoàn người hỗn hợp
                        Rời quê qua bên kia biển sóng
                        Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi


    Tác giả vẽ lên một bức tranh được khai thác cả bề diện lẫn bề sâu. Những lớp người này phần lớn đều thuộc con em những gia đình nghèo khổ, tình cảm quê hương gắn bó cũng rất tha thiết. Lòng họ nhiều khi thổn thức. Song những cảnh tượng diễn ra nơi đất khách quê người cũng rất kinh khủng, đến mức đạo lý sống tưởng chừng như không còn chỗ để dung thân. Như những đoàn quân ô hợp trong cảnh bèo dạt mây trôi... nhiều nơi, nhiều chỗ tranh giành xô xéo, thậm chí dối lừa nhau làm ăn không kém gì cảnh chợ giời. Đạo đức bị tha hoá. Ít nhất về mặt tinh thần, nó đã thuộc vào hàng là những lớp người tận cùng đáy xã hội rồi:

                        Đạo lý có hoá thừa đành giả dại làm ngơ
                        Đứa mách qué lại vân vi dễ sống!...


        Tạo thành một mảng xã hội của những người Việt Nam xa xứ. Ở đây anh đã phải lặng lẽ, trăn trở sống, lòng xa xót không yên:

                        Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng ?
                        Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên!


      Sử dụng những cụm từ như "giả dại", "làm ngơ" ,"mách qué","vân vi"... vẫn giữ được phong cách của dòng thơ trữ tình chính thống, bản sắc thêm đậm đà chất văn học dân gian. Đoạn thơ đầu ta thấy hiện lên toàn bộ hình ảnh nhà thơ tự truyện : Giữa cái cảnh chợ giời nơi đất khách quê người, Người đã phải hoá mình thành giả dại, ngây ngô, khi cười cợt, khi như một thứ trò người...để mà sống, nén mình nuốt cái "đạo lý có hoá thừa" kia đi, tâm hồn và lương tri Người vò xé.
 
       Tiếng thơ từ trong trái tim đau bật ra mặn đắng hơn cả dòng nước mắt. Người tự nhận chìm mình như là không tồn tại, để lãng quên. Đó là sự mở đầu đầy bi hài của cuộc sống trong NTTNĐTV này! Ta hãy nghe xem cái giá phải trả của những kẻ đi xk laođộng đó như thế nào:

                       Ai mang bán vàng mười giữa phiên chợ đông? (1)
                        Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương
                                                             lọc sàng từng đống rác...(2)
                        Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
                        Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.


        Câu (1) - Sử dụng ý thơ của một nhà thơ :" Còn ít vàng mười mang ra bán nốt" ! "vàng mười"ở đây chính là thứ vàng của lương tâm. Nghèo cực quá thì đến cả tâm hồn cũng phải mang mà bán cho quỉ sứ! Nền tảng xã hội quá thấp thì cá nhân làm sao có thể giữ cho mình trong sạch được? Huống hồ quan hệ cuộc đời còn có cả gia đình và những người thân . Sự mâu thuẫn trong thực tế giữa xã hội và con người ấy, đã đưa đẩy biết bao thân phận phải đánh đổi đi " một chút lương tâm"... Nếu nhà thơ kia có lúc còn phải mang cả "một ít vàng mười" còn sót lại trong mình... ra phiên chợ người mà bán  - Thì hẳn cái thứ vàng kiếm được của đám người lao động, tha phương ở nước ngoài giá đổi còn chua chát hơn nhiều! Còn câu:

                        Tôi tìm chắt những bụi vàng như anh lính lê-dương

                                                                      lọc sàng từng đống rác...


     Phỏng theo tích truyện Bông Hồng Vàng của nhà văn Nga Pau-Tốp-xki: Có người lính lê-dương làm cận vệ cho một viên tướng Pháp. Trong chuyến sang chiến trường Đông Dương viên tướng ấy mang theo một cô con gái nhỏ. Trước khi bị tử trận, viên tướng còn kịp dặn lại người lính cận vệ của mình: Hãy mang cô con gái của ông về trao lại cho mẹ nó ở Pa Ri! Trên đường về Pháp lênh đênh qua đại dương, bé gái ngây thơ cứ thầm ao ước có một Bông Hồng Vàng!... “ Bông hồng vàng “ chính là biểu tượng cho ước mơ hạnh phúc của cuộc đời bé gái! Những tháng năm sau đó, cuộc sống cực khổ đã xô đẩy anh lính trở thành một người quét rác nghèo hèn, sống trong một túp lều xiêu vẹo dưới gầm cầu của ngoại ô Pa Ri! Ngày ngày khi quét qua các cửa hiệu kim hoàn, người quét rác lại chắt vét lấy những nắm cấn rác có dính chút bụi vàng mang về nơi mình ở. Năm này qua năm khác, dần dà anh ta cũng tích được một ít vàng đủ để nhờ người thợ kim hoàn làm cho cô bé gái một bông hồng vàng nhỏ. Cô bé ấy giờ đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp ở Pa Ri! Trớ trêu, bông hồng vàng chưa kịp gửi đi cho cô gái, thì người quét rác đã chết trong đói nghèo và tủi nhục. Xác anh nằm trên một manh chiếu mục, đầu vẫn gối lên bông hồng vàng nhỏ, sau đó bị người thợ kim hoàn đến lấy đi mất… không đến được tay cô gái.
 
        Vậy là - Thứ vàng mười lương tâm mà nhà thơ kia đã phải mang ra chợ người để bán, cũng như vàng của kẻ quét rác lăn lộn kiếm từ trong rác bẩn cuộc đời, với loại vàng mà đám người lao động làm thuê ở nước ngoài kiếm được:

                        Dầu kẻ bán - Người tìm vàng có khác
                        Nhưng giá vàng tính cũng như nhau.


          Nó đã phải đổi bằng cả phẩm giá, tủi cực, nhục nhã trong cuộc đời. Nếu lấy giá cả thị trường mua bán ra để tính ( vàng nào cùng loại mà giá chả như nhau? ) - Đem cả ba thứ vàng đó đặt lên chiếc bàn giá của lương tri: thì chúng đều phải trả cái giá đổi như nhau mà thôi! Câu thơ vừa hay với cách đem so sánh với giá chợ giời, lại vừa sâu sắc xót xa. Nó phục lại để điển hình cho một hiện thực xã hội đầy mâu thuẫn, nền đạo lý bị sa hoá, dung lượng thơ có sức chứa tính thời đại rất lớn. Đây là 4 câu thơ hay nhất bài - Như lời một nhà bình thơ đã nhận xét: Nó có thể đạt đến những câu thơ trở thành kinh điển!

                        Nhìn cánh dơi đen xao xác trời chiều
                        Cứ để cho tất cả lãng quên!


      Nhưng nhà thơ không chỉ dừng ở đấy - Vì dù với lý do gì? Nếu trước mắt họ chỉ biết có vàng! Vàng!...Thì đám người lao động kia cũng chẳng khác bao so với những kẻ hám lợi đi đào mỏ vàng. Không đâu! Thông qua sự trăn trở bản thân, tác giả đã khai thác rất sâu vào nỗi lòng tâm linh của họ, đưa tính nhân bản cùng giá trị hiện thực thơ lên đến tột cùng:

                        Cây lý chiều xưa gió còn đưa lại
                        Bông đại ở quảng trường hương vẫn giăng tơ
                        Chút thơm thảo: đoá phù du ngắn ngủi
                        Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ...


        Sự khao khát những chiều hương lý trong kỉ niệm, nhớ đến những bông đại nơi quảng trường quê hương - Nỗi đau và tình thương yêu giằng xé trong lòng họ (những con người lao động), càng thấy sự phũ phàng thực tế mà những kẻ đi tìm vàng đã phải chịu đựng. Kịch tính biết bao khi chính những con người lao động ấy lại phải sống với nhau như hài kịch:
                        Giả dại ở đời thường mà khôn lại trong mơ...
        Câu thơ điệp trở lại hai lần để nhấn mạnh, thật là một màn bi hài của xã hội và cuộc đời. Bài thơ tuy là tự sự bản thân, nhưng đã trở thành đại diện cho một lớp dân sinh đông đảo nhất xã hội. Cuối cùng tác giả lý giải về mục đích mà những nỗi đời trớ trêu ấy đã phải chịu đựng:
       
                       Nhưng tôi đã có một thỏi vàng, thứ vàng rất thật!
                      Đánh một đoá hồng vàng tôi trao đứa con thơ
                      Người vợ quê hương mỏi mắt đợi chờ
                      Một chút nữa với bạn bè thân hữu...


        Vậy nếu khi nhà thơ của NTTNĐTV này có phải tự chất vấn về mình:

                      Những năm tháng không bẩn đấy, cũng rộm vàng khói cột…

      Thì cũng giống như cảnh nhà thơ kia đã viết:

                      Còn ít vàng mười mang ra bán nốt!

     Làm sao ta có thể lên án được họ (những kẻ đi tìm vàng)?... Vì chính họ đã phải đổi cả một phần nhân cách cần thiết chỉ vì lương tri. Bởi những việc làm của họ xuất phát từ lương tri của lương tri!

      Khi NTTNĐTV được in lần đầu trong tập thơ Có Một Khoảng Trời (NXB Hà Nội 1990) - Trong lời giới thiệu của nhà thơ HHL đã nhận xét:

      "...xa nước là một nỗi luôn ám ảnh người thơ nghĩ về số phận của những con người rời bỏ quê hương, gia đình và rời bỏ nhiều thứ khác trong những năm tháng của đời mình để đi kiếm sống. Bao nhiêu vật vã tưởng chừng như chính họ - Con người trong cuộc đi này khó có thể vượt qua nổi!...Nhiều bài thơ trong tập Có Một Khoảng Trời bộc lộ rõ cái khả năng không yên ấy. Tình thi NTTNĐTV để rồi chính họ đã đánh mất bao nhiêu điều thường tình nhất... Những hình ảnh , cảnh tượng diễn ra kinh khủng những nơi của người đi kiếm sống ấy. Đọc bài thơ nào tôi cũng thấy Thái hiện lên khá điển hình, những xúc động nhiều suy tưởng. Vấn đề thơ Thái đặt ra mang được cái tầm có ý khái quát cao, và nhiều câu thơ về số phận mỗi con người hiện nay? "
                                             - (trích trong lời giới thiệu tập thơ).

      Chỉ với hơn hai mươi câu thơ:  NTTNĐTV phục lại không khác gì một pho tiểu thuyết! Một Tấn Đời!...Như lời một nhà phê bình khác đã nói: Bài thơ còn có khả năng trở thành một di sản văn học. Không phải chỉ vì sự hoàn bích độc lập của nó, mà còn vì ý nghĩa sâu sắc, giá trị nhân văn và tính điển hình xã hội... ở trong một giai đoạn có nhiều biến động thời đại phức tạp xẩy ra trên thế giới!
 
 
 
 
 
                 NGƯỜI  ĐÀN BÀ CỦA MÙA THU


 
Thu đã chết theo tháng năm tàn úa
Qua mỗi mùa lá rụng, em ơi !
Anh đi giữa những mùa xa vắng ấy
Tình  em bay trong ảo giác tơi bời.

Cuộc sống trôi đi những ngày hoang lạnh
Như lá vàng rơi trên mồ lão Giăng Van Giăng      
Và anh sống trên đời côi cút
Lang thang bờ bãi của bóng đêm.

Lại nhớ đến bao nhiêu mùa trước
Người đàn bà từng thao thức bên anh,
Thu trong em - Ôi ! Mùa thu rạo rực
Tình em như biển thẳm trời xanh.

Người đàn bà ! Ôi, mùa thu mùa thu
Nàng có đôi mắt mơ hiền đẹp
Vòm ngực nàng như một bầu trái ngọt
Những đêm thâu nghe thổn thức bên hồ.

Anh viết về mùa thu
                   mà câu thơ lại không lối xô bồ
Dẫu trái tim còn tràn đầy cảm xúc,
Em có nghe tiếng của hàng cây đương nhắc
Trong hư vô hun hút quyện vào đêm...

 
                                        20/10/2005


                       
<bài viết được chỉnh sửa lúc 13.10.2009 11:53:04 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 13.10.2009 11:52:04
.


 
              ANH VẪN CHỜ EM DƯỚI CÂY


Hàng cây đêm lặng im không nói
Rì rào gió thổi lúa anh qua,
Anh đứng lặng nghe không gian vọng lại
Bóng hình em nay đã mờ xa.

Ôi,  năm tháng chỉ còn hoài vọng
Cuộc sống bao năm anh đã tôn thờ
Quá khứ một bản tình hoang dại
Hiện tại giờ hết thảy lại hư vô.

Cả không gian vẫn âm thầm gió thổi
Em xa rồi, tình cũng vỡ tan !
Trong tít tắp tận miền xa chới với
Nghe thấy không em, tiếng gọi của lòng anh?

Trời mưa gió hay lòng anh mưa gió?
Dưới hàng cây thổn thức canh khuya…
Cuộc sống thì mây trôi bèo dạt
Anh vẫn đứng chờ em
                               như thế mãi ngàn thu !

 
                                     27/9/2005


 
 
 
 
 
 
 
                    EM VỀ BIỂN

                         Bờ Bãi Đời Người - Cuộc Sống Tình Yêu
                         Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân Phật Tổ!
                         Ta cũng thể loài cua còng trong bể cả
                         Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu.

              
                       ( kỉ niệm K.A - Người nữ sinh trường SPNN năm xưa.
                                                                  Quê hương thành phố biển )


                                          

Em về biển để vùi vào trong cát
Nỗi buồn nước mắt
Những nát tan vòm ngực đã thương đau.

Biển cứ vỗ tan... nát tình biển cả
Xô mãi bờ với lá thông reo,
Người thiếu nữ ấy dần thành cát trắng
Mang nỗi niềm không biết đã đi đâu ?

Tháng năm trôi…tình cũ cháy như khêu
Dòng suối thần tiên nuôi đời ta mục ải
Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại
Đã thổi thành bão tố ở trong anh.

Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
Anh còn đây - Em hỡi! Anh còn đây,
Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ
Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...

Tóc nửa bạc rồi… Tình vẫn đó , em ơi!


             
                                           2/12/1993

 
         Có lẽ sau khi tốt nghiệp trường SPNN, người nữ sinh đã trở về sống và công tác trên quê hương thành phố biển của em , để lại phía sau cả một mối tình dang dở với:

                         Nỗi buồn nước mắt

     Bài thơ kể lại câu chuyện về mối tình của người con gái đó đối với nhà thơ, một mối tình đầy lệ!

                      Em về biển để vùi vào trong cát
                        Nỗi buồn nước mắt
                        Những nát tan vòm ngực đã thương đau.


      Hình ảnh "cát" ở đây mang màu sắc thơ siêu thực - Nghĩa là:  dạt vào trong chốn  cát bụi cuộc đời. Nó còn được tác giả  khắc hoạ lại một lần nữa:

                        Người thiếu nữ ấy dần thành cát trắng

     Một bãi cát chân trời trắng phau, vô vi. Tình yêu bị tan vỡ, người nữ sinh ấy ôm vết thương lòng ra đi! Biển - là thành phố quê hương em, nhưng biển ở đây cũng là” Bãi biển đời người “ Trở thành những biểu tượng "tình em biển cả", "biển cuộc đời" đầy sóng bão, người sống trong nó và... nó có thể nghiền nát con người:

                        Biển cứ vỗ tan... nát tình biển cả
                        Xô mãi bờ với lá thông reo,
                        Người thiếu nữ ấy dần thành cát trắng
                        Mang nỗi niềm không biết đã đi dâu ?


   Biển tự quặn đau dâng ngập bến ngày đêm, để rồi chính biển lại tự xé lòng mình thành tan nát. Nó khao khát về một thời dĩ vãng, khi hàng thông bên bờ vẫn vi vút gió reo:

                        Xô mãi bờ với lá thông reo

    Cái hàng thông năm tháng đứng trên bờ biển hát, khắc khoải về người trinh nữ. Vừa như sự vô tình, vừa hữu tình của thiên nhiên một cách thơ mộng mà xa xót, lạnh lùng. Sự nghịch lý ngỡ như vô tri giữa tạo hoá và bể tình đời đầy nước mắt - Như tình em năm tháng cào xé mãi không thôi! Người con gái đã đi không trở lại:

                           Mang nỗi niềm không biết đã đi đâu?

     Tôi xin bình bốn câu thơ làm tựa đề của bài:

                          Bờ Bãi Đời Người - Cuộc Sống Tình Yêu
                          Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân Phật Tổ!
                          Ta cũng thể loài cua còng trong bể cả
                          Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu.


      Như Puskin đã từng nói: Chỉ có tình yêu mới giết được thù oán! Tình yêu của em đưa ta về nơi thánh thiện, em chính là cả toà sen nát bàn Phật Tổ của đời anh! Thế mà trên Bờ Bãi Con Người ấy, thân phận em vẫn nổi chìm như kiếp rong rêu. Thì ra, tình yêu không chỉ là hạnh phúc, mà còn là bi kịch đớn đau trong cuộc đời.  Hình tượng của 4 câu thơ đã đạt đến điểm đỉnh, nó khái quát nội dung tư tưởng của toàn bài để đưa tấm phẩm bích Em Về Biển (EVB) vào trong miếu mạo của thi ca. Đây là 4 câu thơ hay nhất bài , đặt vương miện cho cả tình thơ! Tôi xin bình tiếp vào bài:
                        
                             Tháng năm trôi…tình cũ cháy như khêu
                              Dòng suối thần tiên nuôi đời ta mục ải
                              Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại
                              Đã thổi thành bão tố ở trong anh.


     Tình cũ như ngọn đèn càng khêu càng cháy. Người con trai cũng như cây thông mỏi mòn mãi, năm tháng dần thành mục ải... Thì -  mối tình trong trắng thơ ngây, thơm mát như ban mai của người con gái xưa lại hiện về, xoa bớt nỗi đau của lòng anh. Hình ảnh người sinh nữ âm thầm lặng lẽ mà cào xé, tưởng như những trận bão lòng không dứt.

    Thi sĩ Bích Khê là một thi nhân có danh tiếng thời tiền chiến, Ông đã viết một bài thơ có tiếng tăm: Tranh Loã Thể - Khi ông miêu tả:

                     Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm?
                       Nàng là hương hay nhan sắc lên hương?...

      Hay là:
                       Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây?
                       Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm


     Nghĩa là tất cả những khuất khúc, những nét đầy phong hoa ngọc thể của tấm thân người thiếu nữ chứa vô vàn châu báu:

                       Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc
                       Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc
                       Vài chút trăng say đọng ở làn môi


   V.v... Như Hàn Mặc Tử có nhận xét về ông:

    " Ở Tranh loã thể, sự trần truồng dâm đãng đã nhường lại cho ý vị nên thơ của hương, của nhạc, của trăng và của tuyết - Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất mơ, rất mộng, rất ảo, nhìn vào thực tế thì từ thực tế thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu" -   Nói như thế để ta thấy rằng: từ sự thực thành chiêm bao, hay từ chiêm bao sang huyền diệu...là thế giới mộng mơ của người thi sĩ. EVB tuy không đi sâu vào miêu tả tấm thân bên trong của em , hồi ức chỉ phục lại những ấn tượng có tính điển hình qua các hình ảnh:

                        Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại

     Hay vòm ngực tan vỡ của người yêu !... như ở trên đã phân tích. Sự trần truồng dù đó là sự trần truồng trinh trắng, cũng đều không thấy xuất hiện trong bài thơ này. Chỉ có những hương vị thơm tho nên thơ, thanh thoát được hiện lên. Đó là những hình ảnh mang đầy cảm xúc da diết , mộng mơ, năm tháng không phai nhoà trong anh. Đời hiện hữu mà tình yêu lại là ảo ảnh . Cuộc sống chỉ còn là một bãi cát vô vi, trắng phau để những trận bão gió lòng anh thổi mãi không thôi!

   Đến đây một mảng thơ hiện thực được tràn vào, tình thơ lại càng thêm tha thiết:

                         Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
                         Anh còn đây - Em hỡi! Anh còn đây,
                         Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ...


    Những buổi đón người yêu bên cổng trường - Nó gợi lại bao nhiêu kỷ niệm, để nói về một thời đôi trai gái đã say đắm yêu nhau. Bóng trăng huyền diệu thuở ấy, bước đi em nhè nhẹ, những chiếc lá rơi dưới chân khẽ khua lên xào xạc. Ôi! Tấm thân của người con gái như một tảng thiên thạch trinh trắng vô vàn, cuốn hút cả những linh hồn. Chạm vào thiên thạch ấy, mọi sức mạnh đều tiêu tan mềm nhũn, để tan hoà thành nước. Ánh mắt, đôi môi, cả cặp "tuyết lê" trắng ngần, trinh khôi của người thiếu nữ... tựa như đôi mỏm núi kỳ vĩ nhô lên làm nên luỹ thành sừng sững nghìn năm, và là thiên kiệt tác nhân sinh của loài người.  Khi ta áp môi hôn, khi đôi bàn tay man dại của tạo hoá đặt vào đó : nó nóng hổi và huyền thoại...

    Ta từng sống qua nửa thế kỉ, chứng nhận bao điều lớn lao cùng những điên đảo xẩy ra trong thế giới loài người - Để cuối cùng lại quay về, chỉ ngợi ca em bất tử hơn mọi thứ trên đời! Thế mà, đời người như bóng câu bay qua trong vòm trời vô định, tất cả đều tan vỡ lẫn vào trong cát bụi cuộc đời:

                       Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...
                         Tóc nửa bạc rồi…tình vẫn đó - Em ơi!


   Tình thơ EVB đã được kết thúc ở đó. Mái tóc sương của nhà thơ soi xuống dòng sông vô cùng, vô tận của thời gian, lẫn nhoà trong tiếng gió mưa phủ kín đất trời. Ta khóc cho bể tình chính là để ngợi ca muôn năm bể tình ấy! Anh đã hát và hát mãi - Để rồi năm tháng qua đi lặng lẽ mà héo úa, như những chiếc lá vàng rơi rụng xuống , phủ lên trên cuộc đời em một nấm mộ tình...
 
 
 
 
 
 
                       BIỂN HÁT
   


     Biển tít tắp sao sóng còn vỗ mãi
     Anh nhặt chút tình vương lại thời xa
     Treo hồn lên nửa vành trăng lấp
     Thả lòng bay lặng bến bơ vơ.

 
     Biển có thể không biết mình hóa sóng
     Để cho bờ chìm đắm giữa lênh đênh
     Em có thể không còn nhớ đến...
     Như làn mây trôi mãi vô tình.

 
     Biển ba phần cho trái đất tươi xanh
     Em trong anh một mùa thu huyền ảo
     Khi anh hóa hàng phi lao trong sóng bão
     Là đã hòa biển cả với cô đơn!

 
     Trời đêm nay không mưa nhưng mà gió
      Gió đêm nay không mạnh nhưng mà xô
     Trăng đêm nay hơi vàng , xao và động
     Anh lại nằm nghe biển hát ngày xưa…

                                                    

                                                    8/1995
                     
 
         Biển Hát là tiếng hát của người con trai ru vọng người yêu trong một đêm trăng ảo. Ngay những câu thơ đầu tiên hình ảnh thơ đã gợi ta về những gì của êm đềm, tha thiết và dan díu bên em:

                    Biển tít tắp sao sóng còn vỗ mãi
                    Anh nhặt chút tình vương lại thời xa...


      Và nhà thơ đã tả về hình ảnh người yêu ở trong anh:

                   Em trong anh một mùa thu huyền ảo

    Đó là một mùa thu thăm thẳm trong xanh. Tình yêu thật huyền diệu , hạnh phúc biết bao, đã mang cho ta cả bầu trời và trái đất này những vần thơ đẹp nhất! Ta hãy nghe Xuân Diệu tả đôi mắt của người yêu:

                 Mắt em thăm thẳm như màu gió
                    Thơ cũng vàng trong như nắng hanh


     Nhà thơ Trần Đăng Khoa trong bài " thơ tình người lính biển "  - thì biển đã trở thành hình tượng về cuộc đời. Đất nước chưa bao giờ bình yên, bão vẫn thổi, biển vẫn ồn ào cuộn sóng...nhưng tình em thì vẫn dịu êm. Nhà thơ đã diễn trải tình cảm mình trong một biển đời đầy sóng vỗ, bên cạnh tình em lại tha thiết vô cùng:

                    Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc
                    Thăm thẳm nước trôi nhưng anh không cô độc
                    Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng.
                    Biển một bên và em một bên


    Như cách nói của Ban Zắc: Khi yêu người - ta có lắm tài trí hơn, là kẻ thông minh sáng suốt nhất đời. Trở lại với bài Biển Hát - Ở đây biển lại là em:

                    Khi anh hóa hàng phi lao trong sóng bão
                    Là đã hòa biển cả với cô đơn!


   Nghĩa là, khi anh đã hòa cả biển cả tình em vào trong nỗi lòng hiu hắt , thì cõi lòng anh sẽ hóa thành trăm ngàn cơn bão tố. Với nỗi tình mơ mộng ấy, nhà thơ nhớ về những tiếng biển của ngày xưa! Đó chính là biển của sự sống, nó mang trong lòng cả ý nghĩa về sự tồn tại của cuộc đời anh. Cứ thế, nhà thơ để cho tình cảm trái tim mình mênh mang bay mãi trên bờ bến bơ vơ:

                   Trời đêm nay không mưa nhưng mà gió
                    Gió đêm nay không mạnh nhưng mà xô
                    Trăng đêm nay hơi vàng, xao và động
                    Anh lại nằm nghe biển hát ngày xưa...


   Và bài thơ đã được kết thúc ở đó. Tháng năm...những làn mây trôi đi mãi vô tình, nhưng con sóng tình anh thì vẫn cứ ngày đêm xô vỗ - và người thi sĩ ấy đã treo hồn mình lên tận nửa vành trăng xa...




                       

 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.10.2009 12:20:01 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 17.10.2009 12:11:33
.


                  TRONG MƯA


Mưa rơi nhẹ như là tóc ấy
Giống dải lụa mềm quấn nỗi buồn bay
Mưa rơi khẽ như hoa vậy
Vỗ vào đêm hoá các nốt đàn gày!

Em có thầm nghe mưa bay ngoài đó…
Em có buồn khi gió thổi đêm đêm…
Đứng trong mưa hồn anh tràn bão tố
Mưa rơi vào anh...tan ra nơi em xa không?

Em bước nhẹ!...những tháng năm hoang dại
Về bên anh mái tóc rối tơi bời,
Anh hôn mãi những giọt mưa em thuở ấy
Dẫu chỉ thấy còn bong bóng vỡ đầy môi...

 
                                               1992

 
 
 
 
 
 
                  TRĂNG LẶN

 
Trăng đã chán trời nên đi mất
Cứ hững hờ, tiêng tiếc, phân vân...
Em có chán anh giống vầng trăng không biết ?
Mất trăng rồi còn lại trời đêm.

Biển vỗ vào anh - Biển vỗ vào em
Em hoá đá! Để sóng ghềnh ôm mãi
Năm tháng, nắng mưa:  đá vẫn còn nguyên đấy,
Anh phong ba, anh nhẫn nại suốt đời.

Bài thơ tình còn viết em ơi!
Đá vẫn đá - Người vẫn người : không thể khác!
Biển hư vô cả những khi cầm bút
Xé rách lòng cho cánh thơ bay

Mất một vầng trăng lại mọc một vầng trăng
Sóng khốn khổ hôn mãi hòn đá trắng...

 
                                           9/11/1993


 
     Nói là "trăng" mà lại là “ không trăng “!  Trăng không mọc vì trăng chán trời...không biết em có chán anh giống vầng trăng kia không ?

                    Trăng đã chán trời nên đi mất
                    Cứ hững hờ, tiêng tiếc, phân vân...


    Và nàng đã hoá thành đá, để biển cả tình yêu và sóng ghềnh của lòng chàng cứ vỗ mãi, hôn mãi quanh cái hòn “ đá trắng “ ấy:

                    Năm tháng, nắng mưa: đá vẫn còn nguyên đấy,
                    Anh phong ba, anh nhẫn nại suốt đời.  


    Cuối cùng tác giả lại quay về với hình tượng vầng trăng: Nhưng đó không phải là vầng trăng của trời, mà chính là “ Vầng trăng em “  soi mãi trong hồn chàng! Nghĩa là, nàng không chỉ biến thành đá… mà còn hoá ra trăng!
 
 
 
 
 
 
 
                 TRƯỚC NÚI MỸ NHÂN  (1)
       
                         Núi Mỹ Nhân nằm giữa biển Nha Trang gần Hòn Chồng. Truyền kể: Nàng
                  Mỹ Nhân nằm ở đó nhiều năm tháng chung thuỷ chờ chồng - Chồng nàng là một
                  tướng cướp trẻ đã dẫn một đạo quân cướp bể, thuyền bè của họ bị bão biển đánh
                  đắm… đi đã không về.



Bờ Hòn Chồng, quán gió, một trưa chiều
Anh đứng dưới bóng dừa xứ sở
Nghe cả biển , tình yêu và đời vỗ...
Nhúm cỏ lòng xé rách bụi thơ bay.

Em nằm đây, em hỡi! Em nằm đây,
Làm núi đợi ngàn năm cùng với bể
Tình yêu vỗ muôn đời trong sóng vỗ
Không vấn vương bụi bặm cõi trần đời.

Cho anh hôn lên đôi vú đá tơi bời
Dầm dãi nắng mưa ru em trong giấc ngủ!
Xin lỗi những mảng đời ta đang có
Đôi lúc thèm được bám rêu xanh.

Gió hút Hòn Chồng bể sóng mênh mông
Ta! Con chim đã trúng bao vết đạn
Dừng chân nghỉ bên bờ xanh hữu hạn
Chốn vô cùng ta muốn hỏi Mỹ Nhân ?

Bóng nàng nằm trơ mãi cái nước non
Lòng nguyệt tỏ tháng năm mòn đá sỏi
Niềm vĩ đại lại vô cùng man dại
Cây Thánh Giá Cuộc Đời anh đặt dưới chân em!

Nếu có thể sống chung đầu bạc răng long
Anh nguyện với nàng cả đời vui thú
Hồ yêu tinh - và đàn bà nơi trần thế
Vừa là tiên vừa là quỉ: nàng ơi!

Cô gái bán hàng trong quán gió chơi vơi
Cứ nhìn khách đôi mắt tròn đen láy,
Đã kể tôi nghe chuyện về nàng Mỹ Nhân thuở ấy!
Nghe trong chiều gió cuốn bụi đường bay...

 
                                                   1994
 


      Đứng trên Hòn Chồng vào buổi sớm mai, khi mặt trời lan toả những ánh nắng vàng rực rỡ...Nhìn ra một dải núi nằm giữa biển Nha Trang, người ta thấy nổi lên đôi gò núi , trông giống như đôi gò vú của một nàng thiếu nữ. Nàng đang ngả mình phơi nắng. Triền núi xanh thoai thoải làm nên thân thể nàng. Khe núi xanh chạy dài xuống mặt sóng như mái tóc nàng xoã xuống biển - Người Sàigòn lên chiêm ngưỡng cảnh đẹp, gọi là núi Mỹ Nhân! Nàng Mỹ Nhân đã nằm ở đó chung thuỷ chờ chồng - Chồng nàng là một tướng cướp trẻ của đạo quân cướp bể. Trong một chuyến đi, thuyền bè của họ đã bị bão biển đánh đắm. Xác họ dạt vào bờ và hoá thành bãi sỏi đá, hiện vẫn còn dấu tích tại đó:

                    Bờ Hòn Chồng, quán gió, một trưa chiều
                    Anh đứng dưới bóng dừa xứ sở
                    Nghe cả biển, tình yêu và đời vỗ...
                    Nhúm cỏ lòng xé rách bụi thơ bay.


    Cái bóng nàng Mỹ Nhân vẫn nằm ở đó để làm một tượng thần trong trắng giữa chốn đời thường bụi bặm, xô bồ này mà tạc vào năm tháng:

                    Tình yêu vỗ muôn đời trong sóng vỗ
                    Không vấn vương bụi bặm cõi trần đời


    Sau những ngày giải phóng miền Nam, người chiến sĩ giải phóng đã qua đây - Anh còn là một nhà thơ!... ( Bài thơ được anh nhớ lại để viết vào gần 20 năm sau đó), vừa là sự minh chứng của lịch sử, vừa là sự trải nghiệm dâu bể trong chốn đời người: Những thương tích chiến tranh, dù bao bom đạn đã bắn vào thân thể anh cũng chỉ là nỗi đau thể xác, nhưng nỗi đau nơi nhân tình thế thái này đã bắn vào cả trái tim, tâm hồn anh… còn đau đớn nặng nề hơn! Đó mới chính là vết đạn ngàn thu bao giờ lành lại được? Cho nên dừng chân nghỉ lại trước bờ biển sóng gió mênh mông, ngước nhìn đỉnh núi Mỹ Nhân kia, anh mới thốt lên rằng:

                    Ta! Con chim đã trúng bao vết đạn
                    Dừng chân nghỉ bên bờ xanh hữu hạn
                    Chốn vô cùng ta muốn hỏi Mỹ Nhân?


    Anh muốn ngả vào lòng nàng, trong vòng tay êm ái của tình yêu nàng - Phải, chỉ có nàng… chỉ có tình yêu của người đàn bà mới xoa bớt được vết thương sâu nhói tận trái tim anh:

                    Cho anh hôn lên đôi vú đá tơi bời
                    Dầm dãi nắng mưa ru em trong giấc ngủ!


    Anh ru nàng và nàng ru anh! Nhưng trong cuộc đời thực này, tình yêu của nàng Mỹ Nhân âu lại cũng chỉ là mộng ảo? Dẫu vậy, anh vẫn muốn ngủ trong tình yêu ấy… để quên hết đi chốn nhân tình thế thái, quên hết đi cái cõi đời mệt mỏi, hỗn loạn và đầy rẫy những lo âu:

                    Xin lỗi những mảng đời ta đang có
                    Đôi lúc thèm được bám rêu xanh...

 
      Đến đây -  Tôi xin đi sâu phân tích vào đoạn thơ thứ 5 của bài:

                    Bóng nàng nằm trơ mãi cái nước non
                    Lòng nguyệt tỏ tháng năm mòn đá sỏi
                    Niềm vĩ đại lại vô cùng man dại...


    Hình ảnh của đỉnh núi Mỹ Nhân nằm giữa biển khơi xanh, chờ người chồng đi xa mãi mà không trở về...Tình của nàng chỉ có vầng nguyệt tháng năm soi tỏ. Dù sông cạn đá mòn nàng vẫn thuỷ chung - Ôi! Sự hoang dại tạo hoá chẳng phải là đỉnh cao hùng vĩ muôn đời trong thế giới hỗn mang mà chúng ta đang sống hay sao? Đó cũng là chính kiến của nhà thơ trứơc thần tượng vĩnh hằng của đỉnh núi Mỹ Nhân kia! Nghĩa là, sự thần tượng về tình yêu với người đàn bà sinh ra trong cõi thế gian này, nó đã được tác giả dồn nén vào trong câu thơ cuối đoạn:

                   Cây Thánh Giá Cuộc Đời anh đặt dưới chân em!

    Nhà thơ không phải là người theo tôn giáo, nhưng hình tượng Cây Thánh Giá Cuộc Đời cần hiểu theo nghĩa tượng trưng - Người Nhật thì đặt thanh gươm trên đầu người đàn bà, người Pháp lại đặt thanh gươm dưới chân người đàn bà!...Cho nên, nhà thơ mới phát biểu quan niệm , chính kiến của mình trong sự tồn tại thế giới : "Cây Thánh Giá Cuộc Đời anh đặt dưới chân em "! Nó còn biểu hiện một sự phản ứng mãnh liệt của tác giả trước thực tại của thế giới con người đầy rẫy những bạo lực phi lý, còn nhiều dã tâm mãnh thú nữa...Đến đây tình thơ đã được đẩy cao lên ý nghĩa thời đại, hình ảnh thơ bốc lửa và cháy sáng! Cùng với đoạn thơ thứ 6 làm thành hai đoạn thơ trung tâm cốt lõi nhất của bài. Tôi xin phân tích tiếp về đoạn thơ thứ 6 ấy:

                     Hồ yêu tinh - và đàn bà nơi trần thế
                    Vừa là tiên vừa là quỉ :nàng ơi!


    Đàn bà - Đúng là cuộc sống không thể thiếu được họ! Thiếu họ, cuộc đời ta sẽ trở nên hoang tàn, vô nghĩa. Nhưng chính đàn bà cũng đem đến cho ta bao mệt mỏi? Có nhiều khi ta chỉ muốn vào quách trong chùa để đi tu, cho cuộc đời được sống yên. Có họ và không có họ đều dở cả - Họ là thiên đường trong cuộc đời ta , nhưng đồng thời cũng là âm phủ!...Họ vừa là linh hồn, là tiên nữ, lại vừa là quỉ dạ xoa...Chả trách  - thi sĩ Tản Đà đã từng một thời tìm đường lên núi tu tiên, để dứt bỏ chốn hồng trần. Nhưng rồi ông vẫn lại phải quay về với cõi đời thường ấy, để sống tiếp cuộc đời chán chường với bao nỗi đoạ đầy. Vì lẽ đó - đứng trước đỉnh núi Mỹ Nhân thanh cao kia, nhà thơ mới thốt lên:

                    Nếu có thể sống chung đầu bạc răng long
                    Anh nguyện với nàng cả đời vui thú


    Hình ảnh đoạn thơ chan chứa tình yêu, làm cho bài thơ mang sâu sắc tính đời và gắn liền vào trong cuộc sống - Để tình thơ Trước Núi Mỹ Nhân thật sự trở thành một thi phẩm hoàn bích và viên mãn!...


                         
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 23.10.2009 12:31:29 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 23.10.2009 12:14:42
.

                 THIẾU NỮ
    ĐI TRONG CHIỀU MÂY


 
 
Hoàng hôn buông tím đổ mặt hồ
Gương nước xôn xao với nhà thơ
Lá bay xào xạc khua vọng gió
Một cõi lòng ai tận bến mơ...

Em đi bảng lảng bên hồ Tây
Đôi mắt huyền trong gió heo may
Dáng em mềm mại như nhành liễu
Cô gái chiều mây khuất đám cây.

Tiếng mõ chùa buông nơi ngả vắng
Thiếu nữ nghe mà vẫn lặng thinh
Để cả lòng ai thầm vương vấn
Nào phải mình anh bước cô đơn?

Ôi, hồ Tây - Chiều mây sương buông,
Thiếu nữ đi rồi trời khóc không?
Thơ anh từng giọt tan trong nước
Hồn trôi vào gió tới nơi em...

 
                              11/9/2005

   
 
         Có hai câu thơ mà tôi rất thích:

                   Ôi, hồ Tây - chiều mây sương buông,
                    Thiếu nữ đi rồi trời khóc không?  


     Nghĩa là: thiếu nữ đi xa... "khuất vào đám cây", đến trời cũng tiếc mà khóc! Hình tượng thơ mang âm hưởng của màu triết học. Một cái gì nuối cảm bâng khuâng… Nói là "khóc" nhưng thực ra khi đọc thơ không đến mức sụt sùi, bi luỵ quá!

       Bài thơ đã được viết bên hồ Tây -  Buổi chiều đó nhà thơ có gặp một thiếu nữ:

                    Đôi mắt huyền trong gió heo may  

     Và lòng anh xôn xao:

                   Lá bay xào xạc khua vọng gió
                    Một cõi lòng ai tận bến mơ...  


     Nhưng rồi trong thơ lại vẳng lên cả tiếng mõ chùa:

                    Tiếng mõ chùa buông nơi ngả vắng
                    Thiếu nữ nghe mà vẫn lặng thinh


     Tại sao nàng lại lặng thinh? Một sự lặng thinh vì thờ ơ chăng? Mặc dù lòng chàng đã thầm vương vấn... Mà sự cô đơn kia cũng đâu có phải chỉ của một mình nhà thơ cơ chứ? Chẳng phải anh đi một mình, nhưng em cũng đi một mình -  cả hai cùng cô lẻ đó sao?

                   Nào phải mình anh bước cô đơn?  

     Như thế là trong bản tình xô-nát buổi chiều này không chỉ có màu hoàng hôn tím phủ, gương nước xôn xao, lá bay xào xạc và khua vọng vào trong gió heo may... mà còn có cả tiếng mõ chùa buông vẳng nơi ngả vắng. Một bản tình mơ được viết bằng thơ giàu cảm xúc từ trong lòng tác giả trào ra, như những câu thơ cuối đã kết:

                    Thiếu nữ đi rồi trời khóc không?
                    Thơ anh từng giọt tan trong nước
                    Hồn trôi vào gió tới nơi em...


     Thiếu Nữ Đi Trong Chiều Mây là một tình thơ nghe nhuỵ nhàng, huyền thẳm, ý tình cũng không kém phần sâu lắng, mênh mang...
 
 
 
 
 
 
 
                  LÀM MA EM VỢ
                                  
                              - Kính viếng hương hồn cụ Nguyễn Du.

                                     
Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi " kiếp"
Chết thật hèn, nhưng sống thế càng ôi
Anh thắp cho em một nén nhang đời
Và lễ tạ: Nam-mô-di-Phật!

Người sống đưa chân người chết đây
Đầu bạc làm ma mái xanh này
Mẹ, cha... queo quắt còn ham thọ
Em nhởn thanh xuân lại vội quay.

Em ơi : chữ Kiếp trước chữ Người!
Sống cần cố gắng - Chết rồi thôi,
Hãy đi, yên nhé! Coi hết nợ... (*)
Anh ở vì chưng trả nợ đời.


                                       5/7/1998


 
(*) Nàng Kiều trẫm mình trên sông Tiền Đường nhưng lại được Giác Duyên vớt cứu - Theo thuyết bản mệnh của Phật giáo ở cụ Nguyễn Du: Nàng chưa thể chết... vì chưa trả hết nợ đời!



      Làm Ma Em Vợ (LMEV) là một bài thơ khóc! Trước hết xin nói qua đôi bài thơ khóc có tiếng trong thi đàn của các thi nhân xưa. Hồ Xuân Hương đã viết hai bài thơ khóc về hai ông chồng. Thực ra bài Khóc Tổng Cóc không phải vì ông Tổng Cóc chết, chỉ vì chuyện vợ chồng tan vỡ đứt đuôi con nòng nọc đấy thôi:

                        Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
                        Thiếp bén duyên chàng có thế thôi
                        Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé
                        Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.


      Qua đó bà than cho thân phận mình. Lời từ biệt một ông chồng chưa chết, hờn giận chê bai ông vô tích sự, đã là chàng Tổng Cóc còn hèn kém nhu nhược. Bà nguyền rủa sự rẽ duyên của người vợ cả cùng với những người nhà ông. Bà đã đem cả một xâu: nào nhái bén, nòng nọc, chẫu chàng, chẫu chuộc ra mà giễu cợt. Lời nghe có vẻ cũng thống thiết , nhưng ý lại cay chua...Bài thơ mang tính bi hài.

     Còn bài Khóc Ông Phủ Vĩnh Tường - Lời than có phần chân thành tha thiết, đủ thấy lòng bà cũng tỏ sự tiếc thương. Bà tiếc cái hạnh phúc ngắn ngủi sau 27 tháng chung sống được ông Phủ thương yêu, còn quí trọng như một người bàu bạn đồng cảm văn chương:

                        Cái nợ ba sinh đã trả rồi
                        Chôn chặt văn chương ba thuớc đất...


     Rồi bà trách tạo hoá không công bằng:

                        Cán cân tạo hoá rơi đâu mất
                        Miệng túi càn khôn khép lại rồi.


    Bà phẫn xót cái phận bạc bẽo của mình nên giọng thơ có vẻ nhạo báng cõi đời. Nói chung hai bài thơ khóc của HXH , theo một cách nói: đó là hai tiếng thở dài khác nhau, tuy bộc lộ tính cách không kém ngạo ngược, nhưng nó vẫn chứa chất nỗi oán thán và chua chát cảnh thế gian.

     Lại bàn đôi lời về bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến (NK) - Cả thảy dài 38 câu. Viết từ nỗi đau tận cõi lòng , khi nghe tin người bạn tri kỷ (đương thời cùng thi đỗ khoa cử nhân với ông) đã mất. Áng thi viết như kiểu văn tế (điếu văn) bằng thể song thất lục bát. Giọng kể như lời tự sự bày tỏ lòng thương tiếc:

                       Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước
                        Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau
                        Kính yêu từ trước đến sau
                        Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
                        Cũng có lúc chơi nơi dặm khách
                        Tiếng suối reo róc rách lưng đèo
                        Có khi tầng gác cheo leo
                        Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang...

 
      Từ bầu bạn văn chương đến sở thích đều tương đồng hợp ý nhau:

                        Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp
                        Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân...


    Rồi ông than thời thế đảo điên, cảnh đời hoạn nạn phải từ bỏ quan trường, bạn bè vẫn cùng tri kỷ, lui tới thăm nhau chốn thôn hương:

                        Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn
                        Phận đẩu thăng chẳng dám tham trời....


     Nỗi thơ thống thiết, khi dùng cả tích xưa để nói tình thân giữa hai người:

                        Giường kia treo cũng hững hờ
                        Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn


    Câu trên kể về tình bạn rất thân giữa Trần Phồn và Từ Trĩ: Trần Phồn dành riêng cho bạn một cái giường, khi bạn tới thì mời ngồi, lúc bạn về lại treo lên!...Câu sau mựơn ý nói đến nghĩa tri âm giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ: khi Chung Tử Kỳ mất, Bá Nha đập nát cây đàn không gẩy nữa. Cứ thế theo nỗi lòng xót xa thơ ông trào ra, rồi chạnh nghĩ về sự cô đơn không có bạn:

                       Rượu ngon không có bạn hiền
                        Không mua không phải không tiền không mua...


     Khóc Dương Khuê là một trong ít bài thơ nổi tiếng nhất của NK - Tôi trích một số câu như thế, để làm cơ sở phân tích cho bạn đọc dễ nhận thấy, sự khác nhau về cả cấu tứ cũng như thi pháp -  Khi bình sang đến bài thơ khóc LMEV  sau đây:

                        Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi "kiếp"
                        Chết thật hèn, nhưng sống thế càng ôi


    Hai câu mở đầu này giống như những lời khóc van khi đưa đám trong dân gian của các bà, các cô...đối với những người thân hoặc các đức ông chồng :

-  Anh ơi! Sao anh không sống để suốt ngày rượu chè, suốt ngày cờ bạc, suốt ngày đánh con chửi vợ, anh ơi!

      Ấy lúc sống thì rền rĩ, có khi mắng rủa nhau: Sao không chết quách đi cho rồi! Nhưng lúc chết thật thì lại khóc: “ Anh cứ sống tồi như thế cũng được, đừng chết mà bỏ vợ, bỏ con mà đi có hơn không? “ - Tôi ví như các bà, các cô khóc tang...là nói về giọng điệu, cũng như cách thức cảm xúc của tác giả để diễn đạt bài thơ khóc mang màu sắc dân gian. Chứ còn thơ có đạo của thơ, có nghĩa của thơ, không thể khóc tuốt tuồn tuột tạp-pí-lù theo kiểu các bà , các cô được.

    Ta xem trong câu thơ hai, nửa vế đầu viết: " Chết thật hèn", nửa vế sau lại nói :"... nhưng sống thế càng ôi" ! Như thế là ngay trong một câu thơ, đã đưa ra hai nhận định về cái sống và sự chết của nó (tức là người em vợ): Chết như nó thì dở , thì hèn, nhưng sống mà sống kém, sống tệ như vậy thì...Nhưng đây là một câu thơ khóc trước vong linh em - Có thể trách nó về cái chết thì còn được, nhưng nếu đem cả cách sống tệ ra trách trước mồ mả em...e cũng thật là bất nhẫn!

     Tôi xin trích những lời của Hoài Thanh khi nói về Hàn Mặc Tử trong Thi Nhân Việt Nam - Kết thúc bài giới thiệu về HMT ông đã viết: " Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ chết rồi ta xúm lại kẻ chê người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn".

     Trở lại với bài LMEV -  Thế là lòng nhà thơ mâu thuẫn. Nhưng một bài thơ khóc tang thì phải nói đến cả nghĩa sống và cái chết của bài thơ đó! Huống hồ tính nhân bản trong thi ca, nó đòi hỏi phải đặt ra một giác độ nhìn nhận trách nhiệm của một con người trước xã hội, trước cộng đồng:

                       Sống cần cố gắng -  Chết rồi thôi...

      Bởi vậy để đỡ cho câu thơ khóc rất thật ấy, ngay hai câu sau đó: với nghĩa tử là nghĩa tận, đã thể hiện cái tâm và cái đạo của anh đối với người em. Những giọt nước mắt của nhà thơ đã nhỏ xuống , tình cảm anh xót xa mà thắp nén hương lòng, khấn cầu cho vong hồn em sớm được siêu thoát:

                       Anh thắp cho em một nén nhang đời
                        Và lễ tạ: Nam-mô-di...Phật!


     Trách là trách những người thân đang sống quanh không cứu vớt được nó? Trách thực tế cộng đồng không đủ sự nhân ái cần thiết đưa nó ra khỏi bờ vực thẳm? Nhưng thôi, dù sao thì em cũng đã chết rồi! Hãy để cho vong hồn em được an ủi, yên nghỉ nơi suối vàng. Nhưng ý tưởng bao trùm tình thi LMEV này, đã được tác giả khai phá phát sáng lên ngay từ trong câu thơ đầu. Tôi quay lại để bình xét về câu thơ thứ nhất ấy:

                      Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi "kiếp"

     Ba chữ "tự giải thoát" là tiếng kêu trong trời đất và xã hội, từ dưới đáy hạ tầng của lớp chúng sinh: Cuộc đời đến mức phải tự kết liễu để giải thoát mình ra khỏi "kiếp sống", thật là bi thương! Nhìn theo quan điểm nhân đạo: suy cho cùng nó cũng chỉ là một nạn nhân đáng thương của xã hội mà thôi! Tiếng kêu chúng sinh đó đòi hỏi, thậm chí chất vấn...cả thượng tầng kiến trúc kia? Huống hồ cảnh đời còn bao thương tâm, bao oan nghiệt, phi lý bất công vẫn đè nặng lên lớp nhân quần lương thiện. Chữ "kiếp" đã được vọt trào ra chính vì nỗi đau đời đó!

     Đến câu thơ thứ chín, ta thấy nhà thơ còn nhắc lại chữ "kiếp" ấy một lần nữa:

                        Em ơi! Chữ Kiếp trước chữ Người...


    Đứng trước bao cảnh đời khốn khổ, với tâm khảm xót xa và ở trên bờ bến của nhân gian nhà thơ đã viết ra bài khóc tang này -  Tôi bình sang đoạn thơ hai:

                         Người sống đưa chân người chết đây
                         Đầu bạc làm ma mái xanh này


     Cái lời tiễn người đã chết khi đưa ra mồ ra mả, nhưng ở đây nó ngược cảnh : đầu bạc lại làm ma mái đầu xanh... nghe rền rĩ như tiếng kèn đám ma. Đó là sự bi ai của cuộc sống !
 
       Trong dân gian lắm khi cảnh gia đình lục đục , cha mẹ già hay ông bà tính khí trái nắng giở giời...thường rít lên rỉa rói con cháu: Đến con giun, con dế nó còn muốn sống nữa là con người? Tâm lý cảnh đời thường ấy đã được tác giả vận vào hai câu sau của đoạn thơ hai này, để nói lên nỗi xót xa bi thương đối với người em:

                        Mẹ,cha...queo quắt còn ham thọ
                        Em nhởn thanh xuân lại vội quay.


     Quay là quay lơ, lăn ra chết... đi liền với "nhởn thanh xuân" (nhởn nhơ tuổi thanh xuân) : nghĩa thơ có ý trào lộng, ngôn ngữ nhịp điệu hợp với sự cúng điếu của sự khóc tang. Lời than ấy giống như những người đi theo xe tang khóc viếng, đưa linh hồn kẻ chết về nơi chín suối. Nghĩa là, một cái chết tội tình đáng thương thay! Mẹ, cha đã phải chịu đựng bao nhiêu khốn khổ , tủi nhục đắng cay mà vẫn sống đó... Em còn trẻ, dù có cảnh đời thế nào đi nữa, cũng việc gì phải phẫn chí tìm cách quên sinh?

       Đôi nét về phong thi: từ lời cầu nguyện trong ý của đoạn thơ một phát triển sang đoạn thơ hai, nó khác với cái chết bởi tạo hoá mà bà HXH đã khóc ông Phủ Vĩnh Tường: như kiểu bài tụng (theo thể thất ngôn bát cú). Bà nuối xót vĩnh biệt ông, trách trời trách đất...Rồi cám cảnh đời đen đỏ long đong đối với thân phận mình, bà than:

                        Hăm bảy tháng trời đà mấy chốc
                        Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ôi!


     Còn cái chết già của người bạn Dương Khuê mà NK đã khóc tang (như đã phân tích trên), mạch thơ dài theo một dòng cảm xúc, để kể cho ta về mọi chuyện của hai người...
và nhà thơ thương tiếc:

                        Làm sao bác vội về ngay
                        Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời


    Hay là:

                        Sao vội vàng (bác) đã mải lên tiên  

      Còn LMEV  -  Tuy cũng dựa trên một nỗi đời cụ thể, nhưng nó có cấu trúc của một bài thơ tượng trưng,và còn nhuốm đầm sắc thái theo quan điểm của nỗi kiếp đoạn trường, bể khổ dân tình của cụ Nguyễn Du. Để cho rõ hơn , xin phân tích sang đoạn thơ ba là đoạn thơ kết bài:

                        Em ơi! Chữ Kiếp trước chữ Người...
                        Sống cần cố gắng -  Chết rồi thôi,
                        Hãy đi , yên nhé! Coi hết nợ...
                        Anh ở vì chưng trả nợ đời.


     Lại nói về thân phận Kiều trong tác phẩm của cụ Nguyễn Du: trải qua bao khổ ải, nhục nhã ê chề phải trẫm mình xuống dòng sông Tiền Đường để chết, nhưng lại được Giác Duyên vớt cứu - Nàng chưa thể chết vì chưa trả hết nợ đời! Như thế món nợ Kiếp của Kiều, dù đã phải trải qua hai lần thanh lâu, mấy lần muốn tự vẫn không thành:

                        Làm cho sống đoạ thác đầy
                        Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!

                                                       ( Kiều )
 
       Còn cái việc nàng đã được cụ Nguyễn Du cho tái hợp lại với chàng Kim Trọng để cuộc đời bi thảm của Kiều có phần kết hậu, âu đó cũng chỉ là món nợ đời cuối cùng mà nàng phải trả nốt đó thôi: món nợ tình ! Bởi 15 năm khổ ải định chết, chết không xong. Tới khi được Giác Duyên cứu sống lại rồi, Kiều chỉ muốn đem tấm thân đã "dơ" của mình:

                        Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru?

     Để mà yên thân nơi cửa chùa:

                        Đã đem mình bỏ am mây...
                        Mầu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng


    Thế mà phận cũng có được yên đâu? Khi Kiều từ chối duyên tái hợp với chàng Kim kia, từng thốt ra than:

                       Nói chi kết tóc xe tơ
                        Đã buồn cả ruột mà nhơ cả đời...


     Thế mà Vương Ông vẫn còn trì triết , mắng con gái rằng:

                       Tình kia, hiếu nọ ai đền cho đây?


     Vì "hiếu" đã phải bán cả tấm thân trong trắng , ngà ngọc của mình để chuộc cha. Với "tình" lòng vẫn thuỷ chung son sắt, cũng đành phải dứt duyên nhờ em là Thuý Vân thay mình!... Hiếu, tình sâu nặng đến thế? mà vẫn chưa đủ trả!... Cuối cùng Kiều vẫn cứ phải đem cái tấm thân mình, như nàng đã nói:

                        Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa...


     Để mà đền nốt cho chàng Kim! "món nợ kiếp người" tưởng cũng chỉ khổ đến thế là cùng? Trở lại với bài LMEV, câu thứ ba của đoạn thơ này là:

                        Hãy đi, yên nhé! Coi hết nợ...

    Cái nạn kiếp người nơi hạ tầng của chúng sinh thời nào mà chẳng khổ? Trải qua những thăng trầm bể ải trong nhân tình thế sự, chiêm nghiệm trong thẳm sâu tâm linh cuộc đời mình, thấm đẫm về chữ Kiếp luân hồi ấy... để nỗi thơ thương xót từ trong lòng tác giả đã trào ra: Em chết, là coi như đã trả hết nợ đời đó em! (Vì muốn nó cũng có sống lại được nữa đâu?), đồng thời đó cũng là lời an ủi, xoa bớt nỗi đau xót cho vong hồn người em nơi chín suối. Mặt sau của bản thơ là tiếng kêu cứu xã hội, tiếng khóc nấc bật ra từ trong khối cộng đồng của thời đại hiện đại này!

                        Em ơi! Chữ Kiếp trước chữ Người...

Ta trở lại với câu thơ đầu tiên:

                        Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi "kiếp"

     Thì đây cũng chính là tiếng khóc chung của nạn người! Lời khóc tang của bài LMEV này, là tiếng khóc bật ra từ trong nỗi kiếp nhân gian. Một mảng màu xám trên cái bình diện chung của hiện thực đời sống hôm nay:

                        Anh ở vì chưng trả nợ đời.


     Anh còn phải sống tiếp, cũng chả sung sướng gì đâu? Bao khổ nạn, mệt mỏi ê chề...chẳng qua chỉ vì đời chưa hết nợ, trả hết nợ rồi anh cũng đi thôi! Bài thơ chỉ như một lời khấn cầu từ bi nơi cửa Phật, để thắp cho đứa em tội nghiệp, cùng những kẻ đáng thương đã sinh ra ở trên cõi sống trần ai đây... một nén nhang đời!
 
 
 
 
 
 
 
                CÂY THẦM TIẾC BÓNG

 
 
Nàng đi mãi mà không trở lại
Gió bên đường kéo liễu hát trong mưa
Và mặt nước bi bô lời than thở
Chiều buông rèm tàn tạ nắng buồn mơ.

Anh ngắm liễu bên hồ càng nhớ bóng
Ai ru mình trong trăng sáng nép vào anh
Làn da trắng vòm ngực nàng hưng phấn
Tan tành rồi! Ôi mộng, thuở ái ân...

Người đàn bà ra đi không trở lại
Để cây thầm tiếc bóng hoá bơ vơ
Và gió nữa cũng giông cuồng rồ dại
Hồn thi nhân tan tác giữa hư vô.

Đôi mắt đẹp nàng dịu dàng đong trời biếc
Thân hoa thơm mà lại ủ bão dông
Anh tê dại cõi hồn hoang biền biệt
Bao sầu tư vương vấn các nẻo đường.

Người đàn bà ra đi không trở lại
Bãi cuộc đời cát bụi gió mưa
Hoa sẽ úa - Nhị sẽ tàn và lụi
Một đời trôi theo năm tháng xô bồ...

 
                                
                            9/7/2005

                  
                        
<bài viết được chỉnh sửa lúc 25.10.2009 10:17:09 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 25.10.2009 10:03:19
.


                      THÔNG VÀ BIỂN

 
 
Cuộc sống như đoàn tầu nghiền ta tan nát
Con sông thời gian có mùa thu xanh …bèo cỏ dềnh trôi…
Anh đứng làm cây thông trên đá , sỏi
Vi vu kêu...tình thiếu nữ qua rồi!

Cuộc Sống - Tình Yêu : Trái tim ta vĩnh cửu!
Kéo đoàn tàu chạy ngược phía hư không...
Tháng năm xa em hoá biển vô cùng
Cùng dấu trong lòng một loài hoa tan vỡ!

Biển thì xô - Thông suốt đời quạnh quẽ
Thân xù xì, nắng héo, mưa dông
Gió khát màu trắng tinh da nguyệt
Cái thời vú biển hãy còn non.

Thời con gái em lưu lại an-bom
Đừng buồn nhé! Thành đá chẳng bao giờ già cả,
Anh vẫn ngủ giữa hồn trinh nữ
Nhìn tóc mình biết tóc em phai.

Vỗ mãi anh thành cát mất thôi
Tình chỉ mộng, đời cũng là hư ảo
Biển xa xót, dịu dàng và sóng bão
Lời anh ru như gió thổi mây ngàn...

 
                                      2/1995

 
 
        Cây thông trên bờ biển - Hình ảnh người con trai! Biển ở đây, là chính người con gái ấy! Thông Và Biển (TVB)là tiếng hát tâm tình, thủ thỉ của người con trai với người con gái:

                      Cuộc sống như đoàn tầu nghiền ta tan nát
                      Con sông thời gian có mùa thu xanh… bèo cỏ dềnh trôi…


    Vào đầu bài thơ ta đã nghe như có tiếng của đoàn tầu chạy xình xịch - Đó là tác giả  mô tả về sự hung dữ của cuộc sống, giống như một đoàn tầu nghiền đời ta thành tan nát. Sang câu thơ thứ hai là hình ảnh về " Con sông thời gian..." : nhịp điệu thơ được trải dần ra như mặt sóng, nước chảy xuống nhẹ dần, đỡ lấy sự rền xiết của câu thơ thứ nhất. Còn hình ảnh "mùa thu xanh" (là biểu tượng cho niềm vui sướng, êm ả, hạnh phúc) và "...bèo cỏ dềnh trôi" (nó nói về những vật vã, tạp nhạp, bức bối đời thường) - Đó là hai hình ảnh tương phản lấy trong thiên nhiên và cảnh vật, để nói về trạng thái mâu thuẫn có phần nghịch lý trong đời sống. Đọc lên lời thơ vẫn êm và nhẹ. Cảnh vật có ánh đẹp chiếu sáng...đang cùng chảy trôi trên con sông thời gian, con sông cuộc đời. Nỗi thơ đều được bọc lại, độ sâu lắng thấm sâu bên trong những hình ảnh, lời thơ.

    Vậy là chỉ bằng hai câu thơ mở đầu, tác giả đã đưa ra một trạng thái khái quát về năm tháng và sự sống. Đây là một bài thơ tình, được viết ra từ trong cõi lòng và trái tim đang bị dầy vò bởi sự cô đơn:

                      Anh đứng làm cây thông trên đá, sỏi
                      Vi vu kêu... tình thiếu nữ qua rồi!


    Đó là tiếng của người con trai vọng hát về mối tình xưa. Ta bỏ cách đoạn thơ hai, tôi bình trước đoạn thơ ba:

                      Biển thì xô - Thông suốt đời quạnh quẽ
                      Thân xù xì, nắng héo, mưa dông


    Tình yêu không bao giờ yên lặng! Cũng như biển cả cứ gào thét, xô vỗ xung quanh cây thông đứng quạnh quẽ suốt đời. Năm tháng để lại sự mỏi mòn, trống vắng và nuối tiếc trong lòng người con trai. Chàng - chai sạn, xù xì như thân của cây thông, vật vã chịu đựng trong "...nắng héo mưa dông":

                      Gió khát màu trắng tinh da nguyệt
                      Cái thời vú biển hãy còn non


     Rõ ràng đây là thời nhớ về thuở em vẫn còn trinh nữ... qua hình ảnh của biển cả. Cái làn gió khát khao đang mơn man xung quanh" màu trắng tinh da nguyệt" kia, chẳng phải cũng như ngày nào, chàng vẫn từng mơn man xoa trên đôi tí...của người yêu? Bởi vì ngay câu sau đó, hình ảnh “ vú biển ” bỗng nhiên được nhảy vào trong thơ!... Nếu như cả bài thơ người con gái được hoá thân thành biển, thì đến đây hình tượng biển lại được hoàn thân...để trả lại thân thể cho người con gái ấy! Chất đời tràn vào trong thơ. Từ hình ảnh lấy trong vũ trụ: cái màu trắng tinh của nguyệt hiện ra , cũng giống như màu trắng trên làn da của người con gái - thuộc lối thơ " thi cảm tượng trưng"!
 
        Thi pháp của loai thơ tượng trưng cảm quan này được nhà thơ Pháp Charles Baudelaire (1821-1867), bậc thầy của trường phái thơ tượng trưng hiện đại Pháp vào cuối thế kỷ XIX chủ xướng.

     Lại nói về biển mà có...vú, thật siêu hình, lại còn là thời " vú biển hãy còn non"! Nghĩa là, thời ấy em vẫn còn trinh nữ. Đây lại thuộc thơ ấn tượng gợi hình: Từ biển người trinh nữ đi ra, vú nàng vẫn nguyên khôi, non tươi như hoa trái - Như thế hai câu thơ trong cặp hình ảnh đồng điệu này diễn tả chung về một biểu tượng ( đôi vú của người yêu ) , nhưng đã được sử dụng bằng hai thi pháp khác nhau để thể hiện cảm xúc - Câu trên về bóng nguyệt, da nguyệt... thơ gợi cảm nhưng rất nhuỵ nhàng. Nhưng khi hình ảnh vú biển vụt hiện lên (câu thơ dưới), lập tức nó trở thành có da, có thịt. Đó là những cảm xúc đã mang sự ham muốn về thân thể của người yêu... cựa quậy, tình thơ mãnh liệt hơn.

    Một bài thơ hay trước hết phải là sự hoàn tứ ở toàn bài, còn sự hoàn mỹ đến đâu nó quyết định tầm hay của bài thơ ở đó! Chính hai câu thơ này giúp cho khả năng tồn tại của bài thơ có sức lưu truyền vào cõi dân gian. Nếu ví như ánh sáng qua một chiếc gương kính hội tụ, thì hình ảnh của hai câu thơ ấy chính là điểm hội tụ, phản quang ánh sáng của cả bài. Tình thơ trở nên xao xuyến, có hồn và có xác. Làm cho mối tình trong TVB thêm sống động. TVB đã cho ta thấm tháp được cái hương vị của người trinh nữ đang yêu!
Giờ tôi xin quay trở lại để bình vào đoạn thơ hai:

                    Cuộc Sống - Tình Yêu : Trái tim ta vĩnh cửu!
                      Kéo đoàn tầu chạy ngược phía hư không...
                      Tháng năm xa em hoá biển vô cùng
                      Cùng dấu trong lòng một loài hoa tan vỡ!


     Loài hoa tan vỡ ấy chính là " hoa trái tim" ! Ngàn năm thông đứng reo với tiếng sóng biển gào, bằng trái tim của cả đôi trai gái, chẳng phải để tạc tình yêu ấy vào trong  đất trời đó sao? Cho nên:

                     Cuộc Sống - Tình Yêu: Trái tim ta vĩnh cửu!

     Và hình ảnh đoàn tầu trong câu thơ mở đầu, giờ quay trở lại trong đoạn thơ này:

                      Kéo đoàn tầu chạy ngược phía hư không...

     Cái đoàn tầu cuộc sống đó cứ nghiến rít mãi trên đường ray cuộc đời mà họ đang đi... về phía hư không! Không có em cuộc sống thành hoang vắng, vô nghĩa, không không. Anh vẫn phải vật vã chống chọi với cuộc sống đời thường đấy, nhưng hạnh phúc chỉ là hư ảo, tháng năm chỉ còn nghe tiếng sóng biển vỗ vô cùng... Cả tình yêu và trái tim của đôi trai gái thành tan nát!

     Đến đoạn thơ thứ tư -  người con gái ấy đã tạc vào năm tháng mà hoá đá:

                      Thời con gái em lưu lại an - bom
                      Đừng buồn nhé! Thành đá chẳng bao giờ già cả...


     Năm tháng trôi qua họ không còn trẻ, nhưng tình yêu vẫn đó như đôi trống mái giữa biển khơi, nàng mãi mãi trắng trong với mối tình trinh nữ giữa hồn anh:

                      Anh vẫn ngủ giữa hồn trinh nữ
                      Nhìn tóc mình biết tóc em phai  


     Xưa nay thường mỗi nhà thơ chí ít cũng một đôi lần viết thơ về biển, nhiều không kể hết. Nhưng những bài thơ thực sự hay của thi đàn chỉ đếm được trên đầu ngón tay thôi! Xin điểm qua đôi tình thơ hay về biển từ thời tiền chiến đến nay - Đó là bài thơ Thuyền Và Biển của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Trong Thuyền Và Biển , tình yêu lứa đôi đã được hình tượng hoá:

                      Chỉ có thuyền mới hiểu
                      Biển mênh mông nhường nào
                      ...Nếu từ giã thuyền rồi
                      ...Biển bạc đầu thương nhớ
                      Nếu phải cách xa anh
                      Em chỉ còn bão tố!


     Mối quan hệ gái trai ấy đã được nữ sĩ gắn nhịp mà thả suốt bài thơ. Nhưng "biển" của Xuân Diệu thì lại sóng xô ào ạt…bờ cát hoá thành người con gái và nhà thơ tự ví mình như bể biếc:

                      Để hát mãi bên gành
                      Một tình chung không hết!
                      ...Cũng có khi ào ạt
                      Như nghiền nát bờ em...
                      Hôn thật khẽ thật êm
                      Hôn êm đềm mãi mãi...


     TVB cũng là một bài thơ tình trai gái, nhưng nó nuối cảm về một mối tình đã qua. Thông - tháng năm trên bờ đầy sỏi đá cuộc đời, để nghe biển vỗ mãi cùng tiếng sóng gào thét quanh mình. Gió biển thổi, tiếng thông vi vút reo...cô đơn, khát vọng và xót xa! Bài thơ được mở ra nhiều chiều của cuộc đời, thông qua tiếng reo của cây thông ấy. Đến cuối bài nhà thơ đã trở về với làn điệu thơ ru lòng biển xanh:

                     Vỗ mãi anh thành cát mất thôi
                      Tình chỉ mộng đời cũng là hư ảo
                      Biển xa xót, dịu dàng và sóng bão
                      Lời anh ru như gió thổi mây ngàn...


     Không có tình yêu  cuộc đời thật mà ra ảo, tình là cõi mộng và năm tháng hoá hư vô… (câu 1-2 của đoạn). Bên bờ sóng vỗ khi thì xa xót như lòng biển, lúc dịu dàng như tình em, nhưng có lúc biển lại gào thét đầy sóng bão (câu thơ 3). Đây là đoạn thơ kết khá hay, có sức rung động đưa trái tim ta vào hoan lạc trong một bờ bến vô vi. Dẫu vậy, thông vẫn cứ đứng reo bên biển, gió núi, mưa ngàn...để hát mãi về tình em! Nó hát rằng: Trong sự tồn tại của đất trời, vũ trụ cùng thế giới - Tình yêu gái trai là vĩnh hằng bất tử !
 
 
 
 
 
              MÁI TÓC CON GÁI
 
 
 
Mái tóc phố màu mây
Xõa ngang đời con gái
Em đi lấy chồng rồi
Lòng anh buồn biết mấy.
 
Hàng phố người có thấy
Những vòm cây đứng thầm
Chiều hoàng hôn cũng vậy
Gió như là để tang.
 
Đây bông hoa yêu thương
Ta ủ vào nỗi nhớ
Em đã không còn nữa
Chỉ có sao trên trời.
 
Vầng trăng khuyết, em ơi!
Giống đời anh cô độc
Sáng ngày treo tưởng chết
Hắt hiu và nhỏ nhoi.
 
Em đi lấy chồng rồi!
Màu hoa xưa trinh trắng
Tháng năm cùng mưa nắng
Tóc hoá thành mây bay…

 
                                       1981
 
 
       Bắt đầu vào thơ đã là hai câu chí lý:

                      Mái tóc phố màu mây
                      Xõa ngang đời con gái


      Đó là mái tóc của một thiếu nữ phố như thể một làn mây...nó mềm mại ,thơm ngát và trinh khiết lắm. Nhưng tác giả không viết nó "xõa ngang vai" (ý thơ sẽ bị hạn hẹp), mà  "xõa ngang đời con gái": đó là biểu tượng của cả một thời trinh nữ. Cái hình ảnh xõa ngang đời vừa mang cảm giác mái tóc em xõa bay...vừa tôn tạo sự thiêng liêng quí giá về thời con gái!...Nay em đã qua thời đó, đã sang ngang, nghĩa là để trở thành "đàn bà"! Em
 ra đi mà :
 
                       Những vòm cây đứng thầm

     Nó tư lự, lưu luyến và nuối tiếc. Hay là hình ảnh:

                      Gió như là để tang

     Cái làn gió rũ xuống như cờ tang vậy. Nghĩa là, cả thiên nhiên cũng buồn. Nhưng không phải buồn cho em, mà là buồn cho chàng...ở lại, nhìn người yêu đi lấy chồng! Bài thơ dùng cảnh họa lòng.

     Trong bài Đây Mùa Thu Tới -  Xuân Diệu cũng có những câu thơ tả rất hay:

                     Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
                      Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng


     Nhưng đấy là ông tả về những cảnh chia ly, cô đơn của mùa thu. Tất cả đều thấm lệ và ngỡ như là đang đưa tang. Còn bài thơ Mái Tóc Con Gái (MTCG) lại nói về sự cô quạnh, buồn chán khi người yêu đi lấy chồng! Tất cả còn lại đối với chàng hôm nay:

                      Chỉ có sao trên trời

     Em đi chỉ để những vì sao ở lại, những vì sao cô đơn đêm đêm than thở cùng chàng. Rồi ta lại thấy tác giả nói tả về sự cô độc:

                     Vầng trăng khuyết, em ơi!
                      Giống đời anh cô độc


     Đó là một vầng trăng lẻ loi:

                    Sáng ngày treo tưởng chết

     Nói về cái lạnh lẽo hiu hắt của vầng trăng, lại nhớ đến bài thơ Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang. Bà đã viết những câu thơ kiệt xuất:

                      Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
                      Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
                      Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
                      Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi.


     Cái vầng trăng chếch lẻ bóng cô quắt soi đó: Nó chính là vầng trăng khuyết, không thể là vầng trăng tròn được. Trong đoạn thơ thứ tư của bài MTCG này , ta cũng thấy tác giả đã ví mình với vầng trăng khuyết ấy...treo giữa lưng chừng trời, sáng ra vẫn còn heo hắt bóng...như một cái xác không hồn:

                      Hắt hiu và nhỏ nhoi

     Mất em anh trở nên nhỏ bé, sống phất phơ cùng năm tháng...

      Bài thơ mà tác giả tâm tình, thủ thỉ nỗi buồn của mình khi người con gái rẽ ngang cuộc tình bỏ anh ở lại bơ vơ...Tuy thế nhưng nỗi thơ vẫn dịu dàng, không oán thán và giàu lòng nhân ái. Ta thấy sự cảm mến của nhà thơ với hạnh phúc mới của người yêu! Anh trân trọng những kỷ niệm của tình nàng đã có với anh! Đến cuối bài thơ hình ảnh mái tóc lại được tác giả nhắc lại...để nói về sự ra đi vô tận của em với nỗi vô vi, tan vỡ của lòng chàng:

                    Tóc hoá thành mây bay…

     Người con gái như làn mây bay qua, như con gió thổi...trong cuộc đời không bến bờ của người thi sĩ nhân gian!
 
 
 
 
 
           
                     KHÚC ĐÀN CHƠI VƠI

 
Em đã đi rồi không trở lại
Tình yêu vừa bén lửa đã mồ côi!
Để lại một bầu trời nhung nhớ mãi
Tiếng đàn buồn anh gảy khúc chơi vơi.

Ôi, đoá hoa lưu ly tình ly biệt
Với hàm răng, khoé mắt em cười
Giây phút ấy sao lại nhìn anh tha thiết
Để cánh chim qua cũng ngẩn ngơ hoài?

Em là động thiên thai thơm ngát
Là hoang xơ, điên dại, lẫn phồn hoa...
Ta sung sướng ghì lấy nhau mà tan nát
Em tan trong anh và anh hoá khổng lồ.

Thế giới này đầy hỗn mang bạo ngược
Chỉ em thôi: Đài chót vót cao xanh!
Ta tận hưởng cùng nhau bể đời khoái lạc
Em mang cho anh cuộc sống tốt lành...

 
                                        1/7/2003


        Đoạn thơ hay nhất chính là đoạn thứ ba:

                      Em là động thiên thai thơm ngát
                      Là hoang xơ, điên dại, lẫn phồn hoa...
                      Ta sung sướng ghì lấy nhau mà tan nát
                      Em tan trong anh và anh hoá khổng lồ.


     Thân thể nàng, tình yêu nàng, những say đắm với nàng mang đến cho ta niềm sung sướng và hạnh phúc -  Bao gồm cả ba tố chất tạo ra trong người con gái:

                     Là hoang xơ, điên dại, lẫn phồn hoa...

     Khi nàng đã yêu hết mình, thả hết mình - Hai tố chất trên tạo nên sự "phồn hoa" từ nàng, cũng như khi ta yêu nàng! Nghĩa phồn hoa ở đây tuy nó cũng chỉ về sự phồn thịnh... nhưng đó không phải là sự phồn thịnh về tiền bạc, mà là về cực lạc.Còn câu thơ:

                    Ta sung sướng ghì lấy nhau mà tan nát  

     Hai chữ "tan nát" trong nhau thể hiện sự thăng hoa đã đến tột điểm, ghì lấy nhau mà yêu đến hết mình..

  Nghĩa tan nát này cũng còn để thể hiện một sự phì nhiêu mang tình yêu bay lên, anh và em đều đã hoá thân:

                     Em tan trong anh và anh hoá khổng lồ.

     Có em - anh trở nên vĩ đại, thành người khổng lồ!... Còn em hoà trong anh mà làm thành vũ trụ. Bốn câu thơ ấy khúc triết  và nó khẳng định: Lâu đài tình ái là vĩnh cửu, vô biên! Ta trở lại với những câu thơ mở đầu của bài Khúc Đàn Chơi Vơi (KĐCV):

                     Em đã đi rồi không trở lại
                      Tình yêu vừa bén lửa đã mồ côi!


     Tình nàng trao cho chàng vừa bén mà nàng đã dứt áo ra đi! Nhưng rõ ràng như ở đoạn thơ ba mà ta vừa phân tích thì... tình ấy giữa anh và em đã tha thiết lắm, nồng nàn lắm! Làm gì mà chàng chẳng tiếc, chẳng than. Cho nên như hai câu sau đó diễn giải rằng:

                      Để lại một bầu trời nhung nhớ mãi
                       Tiếng đàn buồn anh gẩy khúc chơi vơi.


     Cái khúc đàn tình chơi vơi này anh đã gẩy trong nỗi lòng thương nhớ về em! KĐCV là một khúc ca ly biệt, giằng xé trong lòng nhà thơ. Tuy cũng có lúc vì yêu mà anh đã trách người yêu:

                      Giây phút ấy sao lại nhìn anh tha thiết
                      Để cánh chim qua cũng ngẩn ngơ hoài?  


    Nghĩa là, nếu không tại em nhìn anh đằm thắm như thế thì chắc gì đã có mối tình để lòng anh phải trĩu nặng, đau đớn? Bài thơ được kết lại bằng sự so sánh  tình yêu trong mối quan hệ đầy mâu thuẫn của bể nhân tình thế thái:

                     Thế giới đầy hỗn mang bạo ngược
                      Chỉ em thôi!  Đài chót vót cao xanh...  


    Trong cái thế giới của con người, những thế lực phi nghĩa ngày càng tràn lan. Nhà thơ đã trải nghiệm bằng cả cuộc đời mình, thế sự tác động vào anh. Qua nhận thức của tinh thần và ý thức:  Cái " Đài chót vót cao xanh" đó - là đài tình yêu! Ở đó, chỉ có con người yêu nhau, trai gái yêu nhau. Câu thơ không chỉ khẳng định về linh hồn cuộc sống, mà nó còn biểu hiện một thái độ phản ứng của tác giả... trước sự tồn tại còn nhiều dã thú của con người, của giống loài. Cái bản chất truyền nòi của con người ấy… vốn cũng sinh ra từ mãnh thú. Quan điểm, thế giới quan  về chủ nghĩa nhân đạo nằm trong ý tưởng đã được bộc lộ chính bằng lời tuyên cáo của câu thơ:

                      Chỉ em thôi! Đài chót vót cao xanh...

     Đến khi kết thúc bài -  nhà thơ đã đi đến khẳng định bằng một ý thức quyết liệt rằng: Lý do sống của con người sinh ra là để hưởng thụ, để yêu nhau!...chứ không phải là để chiến tranh, giành giật hay cắn xé nhau:

                     Ta tận hưởng cùng nhau bể đời khoái lạc
                      Em mang cho anh cuộc sống tốt lành...


     Nghĩa là, chỉ có em thôi, chỉ có tình yêu! Mới mang đến cho con người những niềm vui, hạnh phúc và sự tốt lành. Còn những hỗn mang trong thế giới vẫn đầy rối ren bạo loạn kia - Chỉ gây hiểm hoạ, là những điều phi lý nhất... trong sự tồn tại của thời đại mà chúng ta đã sống, đang sống hôm nay!...


                        
<bài viết được chỉnh sửa lúc 12.11.2009 11:34:04 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 12.11.2009 11:28:27
.


                      THIẾU NỮ ĐÊM TRĂNG
 
                       Nhìn trăng anh thấy thèm thơ
                 Bâng khuâng em đứng ngẩn ngơ bên đèo

                     ( Cảm tác trên đường hành quân ra trận )
 

Có thiếu nữ tựa cổng chờ ai đó ?
Dưới trăng soi cái lán nhỏ ven rừng
Bước lặng lẽ đoàn quân không kịp ngó
Nhưng trong đêm tim bỗng cũng ngập ngừng...

Ta muốn hỏi: Cô ơi, đây là nơi nào nhỉ?
Đã xa rồi... có kịp trả lời đâu!
Vẫn vội vã đường dài không nghỉ
Bên ven rừng im đứng... một giây lâu...

Chắc em có người thân nơi tiền tuyến
Mới đứng làm chiếc bóng tạc trong đêm!
Không giọt lệ chỉ lặng cười đưa tiễn
Đoàn quân đi! Em ở lại cùng trăng...

Giờ anh đã thôi đi -  nửa đời về với xóm,
Các cuộc chiến tranh thế kỉ vẫn chập chờn...
Vầng trăng sáng năm xưa vọng Trường Thành bóng nguyệt (*)
Và bao người con gái đã cô đơn!?

 
                                   Hoà Bình - 1968
                                   Hà Nội - Cuối thế kỉ XX

 
(*) Phỏng theo ý thơ trong Chinh Phụ Ngâm:
                      Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt
                    Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây



--------------------------


       Vào một tối trong những năm tháng còn chiến tranh - Trên đường ra trận, chúng tôi đã hành quân qua một triền đồi núi. Dưới trăng đêm vằng vặc...bóng một thiếu nữ đang đứng cô đơn tựa mình vào bên chiếc cổng tre của một nông trường nào đó, lặng lẽ nhìn đoàn quân chúng tôi đi qua. Giai đoạn ấy hầu hết những nam thanh niên, nhất là ở các vùng thôn quê đều ra tiền tuyến cả. Hậu phương chỉ còn lại các bà mẹ và những chị em gái -  Khi ấy  tôi mới chỉ là một anh chiến sĩ giải phóng ở tuổi đôi mươi. Cảnh tình  thơ mộng quá, quay lại nhìn bóng người con gái côi cút… hình như em đang bơ vơ:

                      Chắc em có người thân nơi tiền tuyến
                    Mới đứng làm chiếc bóng tạc trong đêm!
                    Không giọt lệ chỉ lặng cười đưa tiễn
                    Đoàn quân đi! Em ở lại cùng trăng...


     Lòng lại thấy thương thương đến nao người!...Chiến tranh - Những tổn thất hy sinh lớn nhất  không phải là những người chiến sĩ ngoài mặt trận, mà chính là thân phận của những người con gái nơi quê hương… sự mất mát còn lớn hơn! Bao cảm xúc dâng lên trong lòng và tôi đã lẩm nhẩm làm bài thơ ngay trên dọc đường hành quân ấy! Nhưng phải mấy mươi năm sau -  Khi trở về sống yên bình ở quê hương, dẫu là đất nước đã hoà bình : Nhưng những cuộc chiến tranh thế kỉ thì vẫn cứ chập chờn xẩy ra trên trái đất này... biết bao giờ cho hết? Để tôi viết tiếp đoạn thơ cuối và kết lại bài thơ như trên:

                      Giờ anh đã thôi đi - nửa đời về với xóm,
                    Các cuộc chiến tranh thế kỷ vẫn chập chờn...
                    Vầng trăng sáng năm xưa vọng Trường  Thành bóng nguyệt
                    Và bao người con gái đã cô đơn!?


     Phải chăng  tấm hình người chinh phụ khi xưa vẫn còn đang in lại trong bóng hình em – “ Người thiếu nữ đêm trăng “... của một thời những người chiến sĩ đã đi qua!...
 
 
 
 
 
 
                MẸ QUÊ HƯƠNG
                    ( Thơ viết trong chiến tranh )
               



Gió đưa cánh võng lưng đèo
Thoảng như tiếng mẹ buông vào canh sâu...
"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng"
Mẹ ru Kiều giữa đêm dông
Cho con say giấc mơ nồng tuổi xanh
Mẹ ru Kiều giữa năm canh
Nuôi con trong mái nhà gianh phố nghèo.
Con qua trăm núi trăm đèo
Còn nghe tiếng mẹ chiều chiều vẫn ru
Đường dài theo nhịp võng đưa
Trăng mơ bóng núi con mơ bóng chiều.
Con ăn một búp măng vầu
Đã quen như lá rau bầu quê hương.
Những ngày lạt muối, đói cơm
Con nùi thêm khúc sắn thơm lửa hồng.
Mẹ ơi! Trời rộng vô cùng
Thương con mẹ nhớ đừng buồn, mẹ nghe!
Sương rơi ướt vạt cỏ khuya
Chỉ lo mẹ ở miền quê thức hoài
Mẹ giờ tóc đã hoa mai
Sáu mươi đời mẹ hai vai nước, nhà...
Một thân mẹ sống trọn già
Tiễn chồng rồi lại tiễn con ra chiến trường.
Mẹ hiền muôn nỗi nhớ thương
Đêm nay con trẻ tìm đường thăm quê
Mẹ đừng khóc nhé, mẹ nghe!
Chín năm xa một lần về trọn vui.

Ngẩn ngơ nên gió bồi hồi
Nhìn trăng bóng đã ngả dài núi xa...


                                Sàigòn -  xuân 1975
 
 
 
 
 
 
 
             
                    KHÓC HÀN MẶC TỬ

 

 Tôi khóc Tử, khóc hào quang, khóc huyết
Khóc gió mưa, cây cỏ đến chân trời
Khóc tạo hoá: từ thiên và địa
Rồi khóc người! Đời - con tạo quay chơi...

Hàn Mặc Tử ơi! Ớí , Tử ơi !
Sống chơi vơi cũng giống người
Khác chi là con chim cánh lá
Giọt thơ này hoà lệ máu tôi rơi!

Nơi Tử nằm trong mồ hoa thơm nở
Đầu Tử gối lên sườn sóng gió
Với sao sương vằng vặc trăng ngàn năm
Nỗi đau đè nặng cõi dân gian.

Hỡi biển Đông, núi cao Gành Ráng!
Thơ của Tử mai sau còn sáng láng
Sóng nước non non nước vỗ ngày đêm
Quạnh hiu buồn rờn rợn bóng thi nhân!

Ngồi đọc Tử tim vỡ toang máu đỏ
Tôi khóc biển, khóc trời xanh, khóc gió
Chúa ở đâu? Thượng đế có trên đời?
Người Thơ Xưa hoá chốn nao rồi?

Thì tham vọng vinh quang ai chẳng muốn
Ngu cũng buồn! Tài lại lắm tai ương?
Giữa đời nhiều khi phải cười nhăn răng mà sống
Thương nhau để mặc lệ rơi tuôn!...

Tử dù đau nỗi đau ngang bể
Nhưng đã có bao người khóc Tử
Suy cho cùng: tuyệt đến thế thì thôi,
Trên này nhiều chuyện lắm - Tử ơi!
Rót mắt thành thơ khóc Tử lại khóc đời
Chúng tôi đang quần cuộc sống...
Có khi phải tập nén mình như bánh nén
Thỉnh thoảng cũng thương nhau,

                                   phần lớn chỉ đấu tranh.

Niềm sướng đau khôn dại dại khôn…
Em gái - Nhà thơ - Nhà chính khách
Tuốt tuồn tuột mấy ai không bất trắc
Buồn làm chi! Đời - sắc sắc không không.

Đời vậy mà -  Người thế, chuyện thế gian!
Suy cùng lý chẳng gì phải chán
Lại thương Tử không được dự phần bon chen xô lấn
Giây phút khóc cho nhau hoá hạnh phúc lớn trên đời.

Hàn Mặc Tử ơi! Ới, Tử ơi!
Bao đêm nghiền ngẫm chữ thơ Người
Châu rỏ đầm đìa trang giấy trắng
Bay về Gành Ráng đẫm hồn tôi.

Thắp nén nhang chùa tôi khấn anh
Tài hoa xuất sắc vóc giai nhân
Vung tay búng bút xô báu ngọc
Chữ thơ như tuyết máu lênh đênh.

Qui Nhơn biển sóng vỗ mây lừng
Tài này - phận ấy! Những bi thương,
Nay đã yên mình khe nước ngọc (*)
Hẹn nhau mai mốt bữa tương phùng.

Tôi khóc Tử, khóc hào quang, khóc huyết
Khóc gió mưa, hoa cỏ lẫn sao sương...
Tử có nghe! Thơ Người - Tôi viết tiếp
Cúi lậy không gian cả tám phương!...(*)

 
                                           1/5/1995

(*) Ý thơ của Hàn Mặc Tử.


              
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.12.2009 11:02:08 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 10.12.2009 11:01:20
.


                               ĐÔI LỜI TỰ BẠCH
 
 
              Thiết nghĩ : đời người sinh ra trong cõi trần ai, âu cũng chỉ là bể khổ trầm luân, là cái nợ đời mà ta phải trả... trả xong rồi thì ta chết, cuốn theo đi những cát bụi cuộc đời. Nhưng liệu "thơ" có phải cũng  ở trong cái nợ đời, nợ kiếp ấy không ? Bởi vì nếu không có thơ, cuộc đời tôi sẽ trở thành vô nghĩa.

     Bươn bả trong đống cát bụi cuộc đời ấy vì miếng cơm manh áo: thơ ca trở thành sứ mạng, là giá trị tồn tại, ý nghĩa về sự sống mà trong những năm tháng tôi đã chứng nhận ở cõi thế gian này.

     Như tôi đã từng viết: Sáng tác thơ là một ham muốn lớn, một niềm vui thú lớn của bản thân tôi sống ở dân gian. Việc bàn cãi về thơ hiện đại ngày nay còn nhiều mâu thuẫn giữa các luồng tư tưởng khác nhau. Song dù thế nào thì thi ca cũng là một thế giới thật kì vĩ ! Vẻ đẹp của thế giới ấy đầy bí ẩn, giầu sắc thái và huyền diệu, nhưng rất khắc nghiệt  so với các loại hình ngôn ngữ. Những năm tháng sống của đời người đi lướt qua cõi dương gian, dù là để chịu đầy ải, hoặc là để lãng du... thì cũng có chân giá trị của đời người ! Gọi là kỉ vật được sinh ra làm người dâng hiến lại cho đời : Thế Giới Của Thơ Tôi ! Đến một ngày nào đó, tôi không còn nhận biết gì nữa về cái thế giới mà mình đang sống, để có thể tiếp tục viết, tiếp tục làm thơ - Thế cũng đã là mãn nguyện lắm rồi . Coi như tôi đã hoàn thành bổn phận làm người, để từ giã cuộc sống với một tấm lòng thanh thản:
 
                 Cỏ lên xanh và gió sẽ reo
                  Trong nấm mồ hương khói, có gì đâu.

    Như nhà thơ Hoàng Hiền Lành trong lời giới thiệu tập thơ " Có một khoảng trời " của tôi được xuất bản ( NXB Hà Nội 1990 ), đã viết:

- ... Thái làm thơ lâu rồi. Những bài thơ từ những năm còn là một chiến sĩ binh nhì xông pha lửa đạn ở Trường Sơn thời chống mĩ. Thái làm thơ về chiến tranh, về đời sống thường nhật... nỗi đời. Đọc những bài thơ của Thái, tôi đã bắt gặp một tâm hồn đau đáu không yên về nỗi bất công mà anh không chịu được. Đọc bài thơ nào tôi cũng thấy Thái hiện lên khá điển hình, ở những xúc động nhiều suy tưởng. Vấn đề thơ Thái đặt ra mang được cái tầm có ý khái quát cao, và nhiều câu hỏi về mỗi số phận con người ? Bằng tinh thần trách nhiệm của người cầm bút...

    Hay như lời của một nghệ sĩ điện ảnh và sân khấu Hà Nội đã bình luận:

-   Thơ anh bao trùm nhiều đề tài, thể loại. Thể loại nào cũng đậm đà sâu sắc đến lạ kì !... Anh muốn đi đến tột cùng của thi ca. Đặc biệt mảng thơ tình anh viết khá hay và rất trội. Nó không giống Xuân Diệu hay Thế Lữ ; Có chăng phảng phất đâu đó của Hàn Mặc Tử ; Có chút cay chua của Hồ Xuân Hương ; Tính triết lý của Chế Lan Viên hoặc âm hưởng Uýt Man ( nhà thơ Mĩ ).

        Cám ơn tất cả các bạn dù là nhà thơ hay chỉ là người yêu thơ, đã giành cho tôi những lời ưu ái, chân tình.
 
     Hôm nay, tôi chỉ xin trích một số lượng thơ rất nhỏ...trong cả Tuyển Thơ Đại Bàng khá lớn của cuộc đời tôi để xuất bản vào tập thơ “Rung động trái tim "này !  Sau nhiều năm vắng bóng, để lại được có dịp ra mắt bạn đọc. Lời ít tình nhiều - Hi vọng rằng : Những gì cần nói, thơ sẽ nói giúp tấm lòng và trái tim tôi đến với mọi người.
 
               Rồi một ngày mai ta sẽ chết
                Lành như chiếc lá vậy thôi,
                Gió sẽ hót trên nấm mồ truyền thuyết :
                Rằng, ta thoát hoá đã lâu rồi !...
 
                                                                             Tác giả tri âm.
 
                           
GHI CHÚ:     Lời tự bạch này mới đầu tác giả cũng định cho xuất bản sau rồi lại thôi
- Nhưng xin vẫn đăng lưu ở đây để bạn đọc càng hiểu thêm những tâm tư của nhà thơ khi  xuất bản tập thơ này.  
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.12.2009 11:04:08 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 10.12.2009 11:09:58
.


                             MỤC LỤC 
              - Tập thơ Rung động trái tim -                                                      
 
 
                                                                                      Trang
  1.  Lời giới thiệu                                                              .
2.  Đêm bóng cô đơn                                                        .
3.  Phố thu và áo trắng                                                     .
 4.   Anh vọng nghe tiếng em hát bên hồ                            .
 5.   Người đàn bà trắng                                                   .
 6.   Một góc Hồ Tây                                                        .
 7.   Người con gái sông xưa                                            .
 8.   Em bé cầu bơ                                                           .
 9.   Khóc bên Hồ Núi Cốc                                                 .
 10.   Tiếng hát đời thường                                                  .
 11.   Thành phố mưa rơi                                                     .
12.   Đêm tóc đá                                                               .
13.   Em ơi ! Thành phố lại mưa                                         .
14.   Cô quét lá đêm hồ 
15.   Đêm thiếu nữ                                                    .
16.   Uống cạn muôn hồn                                                  .
17.   Sáng xuân nay                                                         .
18.   Nàng                                                                       .
19.   Thời áo trắng                                                           .
20.   Đêm Thăng Long 
21.   Cỏ hoang                                                     .
22.   Sáng thu vàng                                                          .
23.   Khoảng trôi trong lá                                                  .
 24.   Nhớ về cô giáo cũ                                                    .
25.   Chiều hoàng hôn                                                      .
26.   Hàng cây lá đổ                                                        .
27.   Tiếng rúc chim đêm                                                 .
28.   Em bán xoài                                                           .
29.   Cây hoa bằng lăng trong mưa 
30.   Nỗi trăn trở người đi tìm vàng                                 .
31.   Người đàn bà của mùa thu                                      .
32.   Anh vẫn chờ em dưới cây                                       .
33.   Em về biển                                                             .
34.   Biển hát                                                                 .
35.   Trong mưa                                                             .
36.   Trăng lặn                                                               .
37.   Trước núi Mỹ Nhân (I)                                             .
38.   Thiếu nữ đi trong chiều mây 
39.   Làm ma em vợ                                                        .                                  .
40.   Cây thầm tiếc bóng  
41.   Thông và biển                                             .
42.   Mái tóc con gái                                                     .
43.   Khúc đàn chơi vơi                                                 .
44.   Thiếu nữ đêm trăng                                               .
45.   Mẹ quê hương
46.   Khóc Hàn Mặc Tử                                                      .
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.12.2009 11:11:39 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 10.12.2009 11:15:38
 
.        


                    Bìa trang sau với mấy dòng lưu bút viết tay





 

                               
                
                                     
        Mai ta chết, các bạn bè thân hữu
                                        Bọc thiên nhiên mà đọc điếu văn
                                        Đại bàng vỗ cánh rợp trời mưa gió
                                        Trong không gian vào mãi xứ vô biên...


                                        
                                                         
<bài viết được chỉnh sửa lúc 19.09.2010 01:53:34 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 30.12.2009 11:28:23
.


   Tôi đang cầm trên tay tập thơ "Người đàn bà trắng", mà anh đã cho xuất bản tại NXB Thanh niên từ năm 1994 - Đọc mấy câu thơ anh trích làm tựa đề cho cả tập, đã 15 năm trôi qua... nhưng từ dạo đó đã thấy tâm trạng PNT  nhuốm đầy tính phật đền, tính thiền bao trùm lên không chỉ thơ đời, mà còn trong cả thơ tình của anh.  Bốn câu tựa đề cho tập thơ đó như thế này:

                Tiếng chuông chùa bốn phía âm vang
                   Mình lễ cả ba thiên tòa Phật,
                  Người có vận! Thôi đừng oán trách,
                  Chuyện thơ văn vừa thực, vừa chơi...


   Đúng là đời người như bóng câu bay qua - Anh viết thơ thì rất sớm: từ thưở thiếu thời đã ham chuyện thơ văn, nhưng vào đời thơ thì lại khá muộn. Tập thơ "Người đàn bà trắng " đó là tập thứ hai của anh. Giới thiệu tập thơ chỉ là mấy lời tâm tình của tác giả. Đọc lại những lời ấy tôi vẫn thấy một cái gì thân thiết, ấm áp... của một anh thi sĩ đau đáu đau thơ. Anh viết:

   "  Sáng tác thơ là một ham muốn lớn, một niềm vui thú lớn của bản thân tôi sống ở dân gian. Việc bàn cãi về thơ hiện đại ngày nay còn có nhiều mâu thuẫn giữa các luồng tư tưởng khác nhau - Song dù thế nào thì thi ca vẫn là một thế giới thật kì vĩ. Vẻ đẹp của thế giới ấy đầy bí ẩn, giàu sắc thái và huyền diệu... nhưng khắc nghiệt nhất so với các loại hình ngôn ngữ.

   Những năm tháng sống của một đời người đi lướt qua cõi dương gian, dù là để chịu đầy ải, hoặc là để lãng du... thì cũng có chân giá trị của đời người đó! Gọi là một chút kỉ vật được sinh ra làm người dâng hiến lại cho đời: Thế giới của thơ tôi!

   Đến một ngày nào đó, tôi không còn nhận biết được gì nữa về cái thế giới mà mình đang sống, để có thể tiếp tục viết, tiếp tục làm thơ, thế cũng đã là mãn nguyện lắm rồi! Coi như tôi đã hoàn thành bổn phận làm người, để từ giã cuộc sống với một tấm lòng thanh thản:


                 Cỏ lên xanh và gió sẽ reo
                   Trong nấm mồ hương khói, có gì đâu!


      Đôi lời tri kỷ xin ra mắt bạn đọc tập thơ.

                                  
Mùa hạ nẳm Giáp Tuất
                                     Tác giả  "

  15 năm
trong một đời người quả là quãng thời gian không nhỏ, nhưng nhìn lại thoắt một cái mà tác giả đã viết ra cả một Tuyển thơ Đại bàng khổng lồ với 500 bài, chạnh nghĩ sống thế là đáng sống lắm chứ! Dù có bao vật vã, vui buồn... Kỉ vật anh để lại cho đời thật là vô giá. Đọc lại tập thơ "Người đàn bà trắng" rồi lại đọc Tập thơ "Rung động trái tim " mà anh vừa xuất bản, tôi thấy quả tình là một PNT tầm vóc trên thơ ca vụt lên như cả một khoảng trời, vừa chói ngời lại vừa êm ả như dưới bàu ánh trăng êm dịu của cuộc đời... đó là một chút cảm nghĩ vụt qua tôi!
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.12.2009 11:35:53 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 22.01.2010 10:53:42
.


     Vừa qua nhà thơ PNT vừa gửi lên Ban chấp hành HNVVN một bức thông điệp gọi là: ĐƠN PHẢN BÁC... Thực ra đây là quá trình hành tiến chân dung thi nhân của nhà thơ với đương đại - Hôm nay tôi chỉ xin đăng ở đây toàn bộ bức thông điệp đó! Vào một buổi tới, tôi sẽ có sự trao đổi với nhà thơ về những lý do, cũng như mục đích và những lý giải của anh về việc làm đó. Toàn văn bức thông điệp đó như sau:


                                   Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
                                           Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                   
                             ------------------------------------

                 Kính gửi:    Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn
                                             Cùng Ban chấp hành HNVVN
                     Đồng k/gửi:    Ông Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN


               ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN

      Tôi - Nhà thơ Phạm Ngọc Thái, hiện trú ngụ tại ngõ 194 (số 34), phố Quán
       Thánh, Hà Nội.


A- PHẢN BÁC I
/.  


     Việc làm thiếu trong sáng, thuộc vào nhân cách, đạo đức (của ban bệ nào, hay do các ông chỉ đạo thì tôi không biết?) - Theo như cách xử sự mà tôi nhìn nhận trong những năm tháng qua, tôi cho rằng rất thiếu trách nhiệm và cả nhân tâm đối với một nhà thơ như tôi. Như đã cố tình dìm lấp trong đợt xét duyệt vừa qua, nhằm gạt bỏ người xin vào Hội. Tôi chỉ biết rằng trong hàng trăm nhà thơ xin vào HNVVN năm 2009 này đều có danh sách (xem công bố của HNV trên mạng internet), riêng tôi bị ỉm đi. Cá nhân tôi nhận định: Đó là một sự hèn kém, thậm chí là thiếu liêm sỉ của những người có cương vị  trong công tác văn học (riêng về thơ ca). Sự chưa được nhân đức đó không thể chấp nhận được.

B-  PHẢN BÁC II/. 
 

 
      Thực tình, do tâm dạ luôn muốn hướng tới lòng nhân hòa của con người, dẫu có tồi tệ hơn thế  tôi cũng sẽ chỉ chép miệng bỏ qua - Nhưng với tôi, các ông tư cách là những người có trách nhiệm quốc gia,  tâm linh, tình cảm cùng khát vọng là nhà thơ với nhau. Tất nhiên là số vận của các ông thì đã được hưởng bổng lộc quá nhiều, chứ không "chó ăn đá , gà ăn sỏi" như tôi - làm như thế... thì có lẽ là nhỏ mọn. Để tự cứu mình tôi buộc lòng phải lên án! Như nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có lần nói với tôi: "Phải tự cứu mình thôi, Thái ạ!".

    Đi vào ngay việc cụ thể, tôi xin nói về chân dung thơ tôi! Như trong lá đơn gửi Hội nhà văn (do nhà thơ Bằng việt và anh Phạm Đức giới thiệu), tôi đã viết - Đến nay tôi đã cho xuất bản 3 tập thơ:
-   Có một khoảng trời, NXB Hà Nội 1990.
-   Người đàn bà trắng, NXB Thanh niên 1994.
Rung động trái tim, NXB Thanh niên 2009.

  Tôi xin tập trung nói về "Rung động trái tim", là tập thơ tôi mới cho xuất bản trong năm 2009 vừa rồi. Vì trên giấy tờ, tôi nói thẳng ngay vào những ý chủ chốt - Còn tất cả những gì cần hỏi... khi các ông hay là Ban chấp hành HNV tổ chức: cần gì tôi sẽ giải thích, thích gì tôi sẽ chiều.           

  1/- "Rung động trái tim" (RĐTT) là một tập thơ hay hiếm có, độc đáo và thi phẩm có giá trị tầm vóc cao đối với thi ca hiện đại nói riêng, cũng như của nền thi ca trong nghìn năm văn hiến Thăng Long nói chung.


-  Về độ dày của tập thơ là 200 trang, số lượng bài thơ thì ngót 50 bài. Nghĩa là,  số lượng bài thơ đã xuất bản trong tập ấy cũng tương đương với số bài thơ (cũng gần 50 bài) của bà Hồ Xuân Hương (HXH) để lại cho đời. Sở dĩ tôi dẫn chứng cụ thể với HXH là để nói rằng: Về độ hay và tầm vóc trong chân dung tập thơ RĐTT của Phạm Ngọc Thái (PNT) - chưa dám nói là vượt lên trên chân dung thơ HXH, nhưng HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi chân dung tập thơ của tôi! Mà HXH là ai,  thì các ông đã biết: Bà là một trong ba thi hào dân tộc! ( xem trong tuyển văn luận "Ba thi hào dân tộc" của Xuân Diệu - NXB Văn học) - Tại sao tôi dám nói như thế?

a/-   Tập thơ RĐTT của tôi cơ bản là thuộc loại thơ trường cửu, thơ tồn tại qua mọi thời đại. Số bài thơ đạt khá hay trở lên cũng nhiều.
    

    Nhưng thế nào mới được gọi là thơ hay? Tôi đưa ra đây vài ví dụ cụ thể:  Trước hết đó phải là loại thơ của mọi thời đại như:  Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Điếu thu của Nguyễn Khuyến, Hai sắc hoa ti-gôn của TTKH , Mùa xuân chín - Đây thôn Vĩ Dạ - Bẽn lẽ của Hàn Mặc Tử v.v... và như thế mới được gọi là thơ hay! Những từ "thơ hay" tôi dùng trong văn bản này đều phải có ý nghĩa và tầm vóc tương đương nhất định với những bài thơ danh giá, trường cửu đó. Theo con mắt thơ của tôi: trong những nhà thơ lớn thời tiền chiến, Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn nhất - Ông có 3 bài thực sự được gọi là thơ hay như tôi đã điểm trên. Huy Cận được một bài Tràng Giang (chưa thật hay bằng 3 bài thơ của HMT), mới vào loại khá hay và cũng chỉ một bài đó mà thôi...

    Thế mà chỉ riêng trong tập thơ RĐTT : Số lượng bài thơ hay đã khoảng chục bài, nếu kể từ khá hay trở lên thì phải trên đôi chục bài - Nghĩa là, chỉ tính riêng những bài thơ hay trong tập  tôi đã vượt gấp 3 lần thơ hay của thi nhân HMT, là nhà thơ lớn nhất thời tiền chiến. Trong đó ít bài còn có giá trị của những kiệt tác, tôi đã đạt đỉnh thi sơn cao hơn ông! Tập thơ RĐTT tôi đã cho xuất bản rồi, còn đó ! Những bài thơ đó sẽ còn tồn tại mãi với đời. Không thể phủ lấp, dập vùi được! Cứ càng đọc, càng đào xới lên... càng sâu sắc, càng hay. Cho nên có thể nói rằng: Tập thơ RĐTT là một thi phẩm có chân dung loại cao, chí ít cũng sánh với tầm vóc của chân dung thơ HXH.

     b/ Tôi xin đặt giải và thách đố: Nếu có ai đưa ra được một dẫn chứng cụ thể trong hàng nghìn, hàng vạn các tập thơ của các nhà thơ đương đại đã được xuất bản từ năm 1975 đến nay, kể cả các tập thơ đã từng được giải nhất của HNV, hoặc do có điều kiện tốt đẹp nào đó mà đã được nhận giải quốc tế (nhưng không được lấy đó làm căn cứ xác định) - Nếu có một tập thơ nào đạt giá trị hay và tầm vóc cao hơn tập thơ RĐTT  của tôi - Thì PNT xin biếu người đó 5 triệu! Tuy nhiên người ấy  phải có bình luận, phân tích trên báo chí rằng: Tập thơ đó cụ thể bao nhiêu bài thơ hay - là những bài nào? Về độ viên mãn và hoàn bích cụ thể của từng bài thơ như thế nào? Đó có phải là những bài thơ có khả năng đạt giá trị bất hủ, thơ của mọi thời đại không?
 
         Dám nói là sẽ không thể có một tập thơ nào XB từ năm 1975 đến nay tầm vóc cao được như thế đâu! Bởi lẽ, nếu có một nhà thơ nào đó sáng tác được một tập thơ hay và cao hơn tập RĐTT, tôi cam đoan chắc chắn người đó sẽ trở thành đại thi hào!... Và dám nói, kể cả kẻ có con mắt nhìn ra giá trị của tập thơ đó  phải là một thiên tài... có khả năng thẩm định thi ca ít nhất cũng cỡ Hoài Thanh - Người đã từng làm nên một Tuyển "Thi nhân Việt Nam " bất hủ, truyền đời.
   

  2/-   Tại sao lại nói: Phạm Ngọc Thái sẽ là nhà thơ vĩ đại nhất VN !?

     Nói "sẽ là" có nghĩa: rồi trước sau thời đại, cũng như lịch sử sẽ xác nhận như thế!
   
    Với Tuyển Thơ Đại Bàng 500 bài mà tôi đã cho công bố toàn bộ (kể cả lời bình) trên mạng internet, qua Web. của Việt Nam Thư quán (vnthuquan.net - Trang Diễn đàn - Danh mục Tác giả người Việt). Tôi cũng đã rút ra một số lớn gần 400 bài, đóng tuyển cẩn thận, gọi là: Quyển I - Tuyển thơ đại bàng! Để gửi biếu một số nhà thơ như: Ông Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa... GS. Mã Giáng Lân, đồng thời gửi biếu lưu ở Viện Văn học VN, Hội nhà văn VN, Khoa văn trường Đại học Nhân văn Quốc gia v.v...  Tôi từng nói với Trần Đăng Khoa rằng, tôi thường lấy Nguyễn Du để so sánh với chân dung thơ của mình - Thực ra tôi tin, là tôi đã vượt qua Nguyễn Du rồi!...
 
   Nguyễn Du vĩ đại thật, Người là thánh thơ thật ( với Kiều, thể thơ lục bát... còn tôi cũng như Chế Lan Viên, thuộc loại thơ tự do hiện đại) - Nhưng lịch sử thi ca không phải cứ đến Nguyễn Du là dừng lại? Nếu cứ cho rằng: Tôi đã vượt qua Nguyễn Du đi, thì "Hậu sinh khả úy"... điều đó cũng có gì là trái với tự nhiên đâu! Sở dĩ tôi dám nhận định như vậy,,, cứ biết thế đã, để rồi lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có thể đưa ra vài nhận định được tóm tắt cơ bản như sau:
  
a/.  Ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở Kiều của Nguyễn Du chính nằm trong nỗi kiếp đoạn trường, theo thuyết bản mệnh của Kinh Phật - Đời sống, Thế giới có thiên mệnh! Con người có bản mệnh!
 
   Song, Vũ trụ và Cuộc sống có cả duy tâm lẫn duy vật. Nghĩa là, tuy duy vật chưa thắng và cũng không thắng được duy tâm!... Nhưng vẫn có  "nhân thắng thiên", như thế giới có cả vô thần cùng hữu thần. Tình yêu và cuộc sống, xã hội... luôn chứa chất tính triết học đa dạng và rất sinh động! Chính trong Tuyển thơ của tôi, nhất là trong các bài thơ hay đã chứa bọc được cả thế giới trong nó mà tạo thành vũ trụ thơ ca - Chứ nó không hạn hẹp ở một chủ thuyết cố định. Nghĩa là thi phẩm phản ảnh tất cả những gì của thế giới đã có với tình yêu và cuộc sống con người!
 
  b/.   Trong Tuyển thơ Đại Bàng 500 bài đó, số lượng các bài thơ hay và kiệt tác hàng chục, nhất là nếu tính từ các bài thơ sâu sắc, khá hay trở lên - Tôi đã đạt được đến mức độ khổng lồ hàng trăm. Cũng như tôi đã nói: Nó đã tạo nên tầm vóc của một vũ trụ thi ca! Lịch sử của nghìn năm văn hiến Thăng Long, chưa từng có một thi nhân nào đạt được nhiều thơ hay và kiệt tác như thế! Còn nghìn năm sau có hay không, thì tôi không biết?
  
      "Kiều" của Nguyễn Du bất hủ thật, hay thật, vĩ đại lắm!...nhưng tác phẩm của Người chưa mang tính của một vũ trụ thi ca.  

   c/.   Về nghệ thuật : Kiều của Nguyễn Du viết theo thể lục bát - Thơ Đường, dĩ nhiên đạt độ mẫu mực, hay tuyệt vời! Ông là một Đại thi hào.
  
      Còn thơ tôi, thuộc loại thơ tự do hiện đại:  Một số lượng thơ không nhỏ, tôi đã  hòa quyện giữa sự  sâu sắc của dòng thơ cổ phương Đông - Với các trường phái thơ lãng mạn, tượng trưng và cả siêu thực... của thơ hiện đại thế giới - Làm nên rất nhiều các bài thơ hay và kiệt tác!
 
   Hiện nay tập thơ Rung động trái tim do NXB Thanh niên 2009 ấn hành, tôi vẫn dành một số tập. Các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà lý luận, phê bình, cũng như các Hội văn học tỉnh, thành trong nước - Nếu muốn tham khảo có thể liên hệ, gặp gỡ -  tác giả xin biếu tặng.

                                                            Viết tại đất Thăng Long
                                                                              Ngày 15/1/2010
                                                                             NGƯỜI PHẢN BÁC








                                                               Phạm Ngọc Thái  
                                                                                    (đã ký)



*   Sao gửi đến ba Viện: Viện Văn học VN, Viện Ngôn ngữ học
     Quốc gia, và Viện Văn hóa dân gian- để biết.
*  Văn bản này sẽ được công bố rộng rãi trong Hội văn học
    và lưu lại cho lịch sử mai sau xem xét.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.02.2010 10:53:44 bởi Nhân văn >
nhanvan

Ghosttt_01
  • Số bài : 47
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 24.07.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 15.02.2010 11:25:03
.  

           CUỘC GẶP ĐẦU NĂM

         Giữa Ghosttt_01  cùng anh Nhân Văn và Nhà thơ  

Ghosttt_01:  Nhà thơ có thể cho biết nguyên nhân sâu sắc nhất để ông quyết định viết LÁ ĐƠN PHẢN BÁC này không ạ?

Nhà thơ: Như anh Nhân Văn cũng đã nói đôi điều khi đăng lá đơn của tôi rồi đấy: Đó là quá trình hành tiến chân dung thi nhân của tôi với đương đại này. Song, như những từ tôi đã dùng: "Đơn phản bác..." (ĐPB)- Tôi muốn bác rất nhiều điều, có thể những điều tôi muốn bác lại cả Ban chấp hành và các vị đó lại không nằm trong nội dung lá đơn mà tôi viết.

Ghosttt_01:  Ông có thể nói rõ hơn được không ạ? Gọi là ĐPB, thế mà những điều ông muốn phản bác lại không nằm trong nội dung lá đơn? Cũng hơi lạ thật đấy, thưa ông!.............

Nhà thơ:     Thì trong đơn có chỗ tôi đã chẳng nói là gì: "... Có thể tồi tệ hơn thế tôi cũng chỉ chép miệng bỏ qua - Nhưng...." - Mới lại phản bác cái nỗi gì, nếu bọn chúng là những kẻ đạo mạo thực như thế thì.... Giống lươn lẹo cả ấy mà... Cái bọn nhà thơ nhưng một khi đã chủ tâm tiến thân cầu lợi, cầu vinh  bằng con đường chính trị thì chúng không còn tâm hồn trong sáng, nhân cách sạch sẽ thực sự của một văn nghệ sĩ nữa đâu! Vào càng sâu lại càng thấy vị kỷ , có thể đến mức đê tiện nữa.

Ghosttt_01: Thực tình tôi vẫn chưa hiểu? Bởi vì: những ngày trước tôi cứ tưởng nhà thơ thân thiết, nếu chưa phải là tri kỷ thì cũng ăn cánh với các ông ấy lắm cơ mà? Bởi vì nhà thơ đã từng bình cho  Hữu Thỉnh cả bài thơ "Nghe tiếng cuốc kêu" dài đăng cả một trang báo lớn "Người Hà Nội" cơ mà? sao lại....

Nhà thơ:  Cũng định thế, nhưng chúng quá đểu và giả tạo quá! Khi nhận được lá đơn đó Trần Đăng Khoa nói (vì tôi gửi cho tất cả ban chấp hành HNV mà) : "Bác viết càng ngày càng hay..." - Tôi bảo : Đấy là tôi còn quí Hữu Thỉnh đấy, nếu để ĐƠN PHẢN BÁC II hay III... thì sẽ không đơn giản như thế nữa đâu!

Ghosttt_01:  Thế mới biết còn đường hành tiến chân dung thi nhân của nhà thơ thật là phức tạp...

Nhân Văn:  Mình đỡ lời một tí! Trong cái đương đại văn học hiện nay, không có các tầm bậc thi ca đáng mặt như trước kia nữa đâu. Khi các chân dung thơ đều sàn sàn thấp thấp như nhau, kẻ nào vận hên hơn, kẻ nào nhiều mánh hơn, thậm chí kẻ nào nhiều gian sảo hơn ngoi được lên chút thang danh vọng... vậy thì làm gì còn những bậc nghĩa khí thực sự cơ chứ?
Chúng chẳng những không ủng hộ ông, thực ra ngoài mặt thì chúng hồ hởi, thân thiện đó thôi... Bên trong chúng chẳng đứa nào muốn ông vượt lên trên chúng.

                          ( cuộc chuyện trò còn tiếp )
    
Hồn ma lạnh lẽo

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 04.03.2010 10:47:07
.


Vừa qua, nhà thơ PNT lại mới tung lên Ban chấp hành HNVVN một ĐƠN PHẢN BÁC tiếp theo...
Nhất là ngày rằm tháng giêng (ngày tết nguyên tiêu - cũng là ngày Hội thơ trong toàn quốc), tại Văn Miếu Quốc Tử Giám - Anh đã truyền bá văn bản đó đến các thi hữu trong Hội văn chương, ở đây trước tiên tôi xin trích toàn vẹn bản luận bàn ấy, rồi sẽ xin có lời bình luận sau:


__________________________________________________________________________________________



DƯỚI ĐÂY LÀ HAI "ĐƠN PHẢN BÁC" CỦA PNT
             LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN



                                                 
                                                        

                                           Nhà thơ PHẠM NGỌC THÁI                                                  
                                              Lên án những gian tà




  Sau khi tôi cho xuất bản tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM & biếu tặng –  Tôi  hỏi về sự nhận xét tác phẩm?
  - Trong  một sáng mùa xuân, dưới mái hiên của HNV ( tại 9 Nguyễn Đình Chiểu HN), chính ông Hữu Thỉnh - Chủ tịch HNVVN đã phát biểu:
      -    Anh vĩ đại rồi! 
 
       Nhà văn Cao Tiến Lê khen hết lời.   
      Còn nhà thơ Lê Đình Cánh thì đánh giá: Phạm Ngọc Thái đã đi trước các nhà thơ đương đại của HNVVN 4-50 năm!

 
      Người bạn thơ Nguyễn Quang Thiều của tôi cũng ca ngợi: Tập thơ rất tuyệt!
      Nhà thơ đồng thời là nhà bình luận "Chân dung & đối thoại" Trần Đăng Khoa từng phát biểu:

          "Phạm Ngọc Thái - Một thiên tài cô độc!".

     Vào một buổi cùng ngồi uống bia, nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Thủ đô) đã nói với tôi: "Đúng là anh có cả một thế giới thơ riêng! Nhưng... số anh không may!". 

       Không may có nghĩa là sao? Là sẽ có nhiều kẻ ghen ghét,đố kỵ... tìm cách dìm lấp chăng? - Thế thì phải mượn cụ Nguyễn Du một câu thơ mà chiêm nghiệm rằng:
                     Chữ tài đi với chữ tai một vần
 
      Hay là, phải ngửa mặt lên trời mà than như Tố Như:
 
                     Bất tri tam bách dư niên hậu
                     Thiên hạ hà nhân…”có khóc ta”?...
      Nhưng anh Bằng Việt là ai nhỉ? Cũng một tầm bậc có tên tuổi đương thời. Trong lĩnh vực báo chí, văn chương... quyền hạn có kém gì Hữu Thỉnh? Thế đấy!...
 
      Chẳng thế mà nhà thơ Chử Văn Long - Khi tôi chuẩn bị cho xuất bản tập thơ “Rung động trái tim” ấy, anh nói: “Ông cẩn thận, kẻo chúng hơi hóng biết được... chúng sẽ đâm chọc với NXB, sẽ phá - Ông khó mà xuất bản”!
     Tôi đã phải lẳng lặng mà làm... cho đến khi tập thơ xuất bản trót lọt xong rồi! Cầm tập thơ rất đẹp trên tay tôi biếu, anh phải thốt lên : Đúng là... thượng đế đã không cắt hết đường ai!
 
     Tôi bảo: Đúng thế - Trời hại thì mới sợ, chứ... người hại thì không sợ!
      Để rồi xem mây mù có thể che lấp được bầu trời mãi hay không?
                    

      Sau đây là nguyên văn hai bản thông cáo - Có tính chất phê phán đối với những người thừa hành nhiệm vụ:


___________________________________________________________________________________________



                                                                                                                                                                                   
 
                                         Gửi ông:         Hữu Thỉnh
                                                             Chủ tịch  HNVVN
                                       
 Cùng Ban chấp hành HNVVN

 


      
                                                                                 
                                      Hữu Thỉnh - Chủ tịch HNVVN     
 


      ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (II)



 
       Sau đơn phản bác (ĐPB) đầu tiên tôi đã gửi tới các ông, các Viện và trong Hội Văn học  từ ngày 15/1/2010 – Trong ĐPB.II này, tôi không nói lại cái việc mà các ông cùng ban bệ đã có dã tâm, cố tình dìm lấp tôi!...mà chỉ muốn nhắc với các ông một số điểm như sau:
 

1/-    Nếu các ông gạt bỏ được sự vị kỷ, nhỏ mọn của con người:

  Có tổ chức đánh giá tập thơ Rung động trái tim (RĐTT),  tôi đã cho xuất bản tại NXB Thanh niên 2009 vừa qua -  Tôi tin:  sự vô giá của tập thơ sẽ không còn chỉ của riêng tôi, mà nó sẽ là tài sản của cả nền văn học quốc gia.

   Tôi xin khẳng định lại: Tập thơ RĐTT không chỉ là một tập thơ sâu sắc và tầm vóc nhất so với hàng nghìn các tập thơ đã xuất bản từ 1975 đến nay, mà nó còn là một tập thơ hay, độc đáo của cả nghìn năm văn hiến Thăng Long.

Thì trong Lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, đó chẳng phải là thành quả quí báu của nền thi ca đối với nước non hay sao? Trong đó các ông là những người lãnh đạo, cầm cân nẩy mực… vừa tỏ ra cao thượng và có trách nhiệm, chí ít cũng của một giai đoạn thơ ca trong đương đại nước nhà. Đằng này các ông chỉ giỏi kiếm bổng lộc quốc gia - Chỉ sợ PNT này vượt lên trên mặt, tức là vượt lên trên chân dung các ông!

 
2/-     Các ông định cứ lơ đi ư? Các ông định tâm “để lâu cứt trâu sẽ hoá bùn” ư?
 
  Nếu các ông tìm mọi cách để phủ nhận, bới móc hay thoá mạ lên các tình thơ trong tập RĐTT – Thì đồng thời cũng chính là dịp cho mọi người sẽ xô vào để  đọc, nghiền ngẫm và thưởng thức… lập tức thế giới bên trong các tình thơ của tôi sẽ trở nên bất hủ, kỳ diệu ngay!.... Đó là nguyên lý của loại thơ tồn tại, thơ hay và sâu sắc điển hình của tập thơ RĐTT. Trong Tuyển thơ đại bàng (TTĐB) của tôi có đến cả trăm bài tôi đã đạt được sự viên mãn như thế!

    Như tôi đã nói trong ĐPB.I ( xin xem lại - có lưu kèm theo với văn bản này), rằng: Tập thơ RĐTT dám nói là có thể đem so sánh với tầm vóc thơ bà Hồ Xuân Hương, một trong ba thi hào dân tộc của nước nhà.  Đấy, tập thơ tôi đang cho công bố: ai cũng có thể đọc và phán xét nó, ai cũng có thể cào xé hoặc bôi xấu nó - xem có thể dập vùi nổi nó không?  
 
      Tập thơ “Rung động trái tim” chính gốc đẹp và dầy 200 trang đã được xuất bản ấy (chứ không phải là tập thơ mỏng nhỏ tôi trích ra, photo ít bài quảng bá) - Riêng các nhà lý luận phê bình hay các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học  thì PNT xin biếu tặng.

Với quảng đại văn nghệ sỹ và công chúng… tác giả có thể bán rộng rãi cho mọi người để còn có khả năng mà tái bản tiếp – Ai muốn mua liên hệ với nhà thơ qua ĐT  01683024194,  Email phamngocthai48@yahoo.com.vn, gửi thư  hoặc đáo qua thăm nhà.

 
3/-     Vào mùa thu năm Giáp Thân (2004) tôi đã gửi tới ông Hữu Thỉnh cùng ba Viện một bức thông điệp dưới dạng viết ngỏ -  

    Hồi đó còn gọi ông là Tổng thư ký Ban chấp hành HNVVN.  Trong bức thông điệp đó có đoạn tôi đã viết:
      “  … Nhìn chung TTĐB của tôi là loại thơ muôn tuổi, thứ thơ thuộc ngôn ngữ thi ca triết học. Rất nhiều các bài thơ hay hoặc khá hay vào hàng đẳng cấp, thơ của mọi thời đại. Từ thơ tình tới thơ đời tuy chắt ra từ trong đời riêng tác giả, nhưng đều mang nỗi nhân quần thế thái, tính xã hội sâu xa…”.

    Và tôi còn nhấn mạnh:

   “ Tôi xin sẵn sàng diễn trình: đọc thơ, bình luận và phân tích - về TTĐB nói chung (cụ thể là với tập thơ RĐTT này mà tôi tin là  đã đạt đến đỉnh thi sơn), trên cơ sở những bài thơ hay và kiệt tác - Trước tất cả các nhà văn, nhà thơ, các nhà lý luận phê bình, các tiến sỹ, giáo sư, thạc sỹ hay các viện sỹ văn học trong toàn quốc, trên đại sảnh của HNVVN… bằng phong cách tuỳ hứng của một thi nhân!”.

    Hôm nay tôi vẫn xin nhắc lại với các ông điều đó.

 
4/-     Cũng trong bức Thông điệp năm Giáp thân ấy có đoạn tôi đã viết:  

“ Khi xưa Hàn Mặc Tử vì lâm bệnh hiểm nghèo đã mất sớm ở Gành Ráng, lúc đó thi nhân cũng chỉ mới xuất bản được một tập Gái quê – Ông Trần Thanh Mại là một nhà nghiên cứu lý luận văn học ở Huế, đã lên tận nơi mà thi nhân tạ thế, thu lượm từng trang bản thảo viết tay, lúc sống thi nhân đã sáng tác bị vương vãi trong dân. Để sau này (vào năm 1988) – Nhà thơ Chế Lan Viên (CLV) đã biên tập trọn vẹn “Tuyển thơ Hàn Mặc Tử” và xuất bản cho Người, cũng lưu giữ lại cho nền văn học của nước non.

    Trong lời đề tựa cho tuyển thơ, chính CLV đã từng đánh giá: Hàn Mặc Tử (HMT), anh là ai? – Ông đã khẳng định: Mai sau, những cái tầm thường mực thước biến tan đi không còn nữa, và còn lại của cái thời kỳ này, một chút gì đáng kể đó là HMT!... Và lời tiên tri của ông đã đúng, HMT chính là một thi nhân lớn nhất thời tiền chiến”!

    Còn các ông diễn văn và miệng nói thì có vẻ nhân văn đấy, mặc dù làm việc quốc gia… nhưng tấm lòng và trái tim nhân đạo thì chưa bằng một nhà văn như Trần Thanh Mại của thời kỳ thực dân, phong kiến cũ.

 
5/-  Tôi đã định tìm cách gửi tập thơ Rung động trái tim đi thế giới để tham dự giải Nobel !

    Nhưng khó khăn lớn nhất chính là công việc dịch thuật ra tiếng nước ngoài. Hơn nữa, vấn đề dịch thơ nó đòi hỏi không chỉ ngoại ngữ giỏi mà trình độ chuyên nghiệp dịch tác phẩm văn học phải cao nữa.
 
      Nếu được HNV với tư cách quốc gia đứng ra đảm nhận việc đó, thì chắc không phải là việc quá khó. Nhất là vừa qua (vào ngày 5/1/2010) ông Hữu Thỉnh có tham gia một Hội nghị mang tính Quốc tế để mở rộng việc giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoài - gồm các nhà văn, nhà thơ và các dịch giả từ 32 nước trên thế giới đến nước ta – Tôi thiết nghĩ: Một tập thơ với giá trị như tập RĐTT, có lẽ cũng xứng đáng để được HNV quan tâm làm điều đó.

    Ở Ấn Độ - Đại thi hào Tagore,  chẳng phải Người đã được giải Nobel cũng chỉ bằng tập thơ Lời dâng đó thôi!

 
6/-     Tôi viết tiếp ĐPB (II) này còn mang theo mục đích:

Mai sau khi lịch sử nghiên cứu về tôi sẽ hiểu sâu sắc hơn – Nhà thơ đã phải sống trong một đương đại mà những chân dung thi ca của ta hạn chế thế nào? Nhất là thực chất khuôn mặt thật của những người cầm cân nẩy mực trong HNV đối với  nền thi ca đó như các ông… thì lòng dạ, tâm địa đã cư xử với Người ra sao?

    Nói đi rồi nói lại: Đại thi hào Uýt-Man nước Mỹ trong buổi đương thời, Người chẳng cũng đã từng phải chịu cảnh dập vùi, thoá mạ của bao phường văn sỹ nhỏ nhen đó hay sao?... Những tầm bậc siêu nhân thường phải gánh chịu “nợ đời”, chẳng phải chỉ riêng tôi!

   Hoài Thanh đã từng viết trong Thi nhân Việt Nam, khi Người bình bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên rằng: Một thiên kiệt tác, một bài thơ hay cũng đủ để lưu danh!... Huống chi cả tập thơ RĐTT dám nói là trang trọng và bất hủ, có cả chục bài thơ hay và kiệt tác – Tôi tin rằng: Rồi đây, cùng với bao nhiêu thiên tuyệt tác nữa trong Tuyển thơ đại bàng của tôi lần lượt được xuất bản, nó có khả năng để tạo nên cả một “vạn lý trường thành” của thi ca mà sừng sững đến muôn năm.

 
 
                                                         Viết tại đất Thăng Long
                                                                      Mùa xuân năm Canh Dần
                                                                         NGƯỜI PHẢN BÁC
                                                                                (Đã ký)

 
 
 
 
                                                                 Phạm Ngọc Thái

 


*     Sao gửi đến ba Viện và lưu vào lịch sử

  
 
 
__________________________________________________________________




                                    Gửi:   Ông Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn
                                             Cùng Ban chấp hành HNVVN

                       Đồng gửi:    Vũ Quần Phương
                                          Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (K.VII)



                                          
                                                  
                                      Chủ tịch Hội đồng thơ HNVVN (K.VII)   
                                                   Vũ Quần Phương



      ĐƠN PHẢN BÁC LÊN BAN CHẤP HÀNH HNVVN  (I)


 
                                                       

           Tôi - Nhà thơ Phạm Ngọc Thái, hiện trú ngụ tại ngõ 194 (số 34), phố Quán Thánh, Hà Nội.

A- PHẢN BÁC I
/.  

Việc làm thiếu trong sáng, thuộc vào nhân cách, đạo đức (của ban bệ nào, hay do các ông chỉ đạo thì tôi không biết?) - Theo như cách xử sự mà tôi nhìn nhận trong những năm tháng qua, tôi cho rằng rất thiếu trách nhiệm và cả nhân tâm đối với một nhà thơ như tôi. Như đã cố tình dìm lấp trong đợt xét duyệt vừa qua, nhằm gạt bỏ người xin vào Hội.

Tôi chỉ biết rằng trong hàng trăm nhà thơ xin vào HNVVN năm 2009 này đều có danh sách (xem công bố của HNV trên mạng internet), riêng tôi bị ỉm đi. Cá nhân tôi nhận định: Đó là một sự hèn kém, thậm chí là thiếu liêm sỉ của những người có cương vị  trong công tác văn học (riêng về thơ ca). Sự chưa được nhân đức đó không thể chấp nhận được.


B-  PHẢN BÁC II/. 
 

Thực tình, do tâm dạ luôn muốn hướng tới lòng nhân hòa của con người, dẫu có tồi tệ hơn thế  tôi cũng sẽ chỉ chép miệng bỏ qua - Nhưng với tôi, các ông tư cách là những người có trách nhiệm quốc gia,  tâm linh, tình cảm cùng khát vọng là nhà thơ với nhau. Tất nhiên là số vận của các ông thì đã được hưởng bổng lộc quá nhiều, chứ không "chó ăn đá , gà ăn sỏi" như tôi - làm như thế... thì có lẽ là nhỏ mọn.

Để tự cứu mình tôi buộc lòng phải lên án! Như nhạc sĩ Phạm Tuyên đã có lần nói với tôi: "Phải tự cứu mình thôi, Thái ạ!".

  Đi vào ngay việc cụ thể, tôi xin nói về chân dung thơ tôi! Như trong lá đơn gửi Hội nhà văn (do nhà thơ Bằng việt và anh Phạm Đức giới thiệu), tôi đã viết - Đến nay tôi đã cho xuất bản 3 tập thơ:

-   Có một khoảng trời, NXB Hà Nội 1990.
-   Người đàn bà trắng, NXB Thanh niên 1994.
Rung động trái tim, NXB Thanh niên 2009.

Tôi xin tập trung nói về "Rung động trái tim", là tập thơ tôi mới cho xuất bản trong năm 2009 vừa rồi. Vì trên giấy tờ, tôi nói thẳng ngay vào những ý chủ chốt - Còn tất cả những gì cần hỏi... khi các ông hay là Ban chấp hành HNV tổ chức: cần gì tôi sẽ giải thích, thích gì tôi sẽ chiều.

 
            1/- "Rung động trái tim" (RĐTT) là một tập thơ hay hiếm có:

Độc đáo và thi phẩm có giá trị tầm vóc cao đối với thi ca hiện đại nói riêng, cũng như của nền thi ca trong nghìn năm văn hiến Thăng Long nói chung.

-  Về độ dày của tập thơ là 200 trang, số lượng bài thơ thì ngót 50 bài. Nghĩa là,  số lượng bài thơ đã xuất bản trong tập ấy cũng tương đương với số bài thơ (cũng gần 50 bài) của bà Hồ Xuân Hương (HXH) để lại cho đời.

   Sở dĩ tôi dẫn chứng cụ thể với HXH là để nói rằng: Về độ hay và tầm vóc trong chân dung tập thơ RĐTT của Phạm Ngọc Thái (PNT) - chưa dám nói là vượt lên trên chân dung thơ HXH, nhưng HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi chân dung tập thơ của tôi! Mà HXH là ai,  thì các ông đã biết: Bà là một trong ba thi hào dân tộc! ( xem trong tuyển văn luận "Ba thi hào dân tộc" của Xuân Diệu - NXB Văn học) - Tại sao tôi dám nói như thế?


     a/-   Tập thơ RĐTT của tôi cơ bản là thuộc loại thơ trường cửu:

Thơ tồn tại qua mọi thời đại. Số bài thơ đạt khá hay trở lên cũng nhiều.

    Nhưng thế nào mới được gọi là thơ hay? Tôi đưa ra đây vài ví dụ cụ thể: 

Trước hết đó phải là loại thơ của mọi thời đại như:  Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Điếu thu của Nguyễn Khuyến, Hai sắc hoa ti-gôn của TTKH , Mùa xuân chín - Đây thôn Vĩ Dạ - Bẽn lẽ của Hàn Mặc Tử v.v... và như thế mới được gọi là thơ hay!

Những từ "thơ hay" tôi dùng trong văn bản này đều phải có ý nghĩa và tầm vóc tương đương nhất định với những bài thơ danh giá, trường cửu đó. Theo con mắt thơ của tôi: trong những nhà thơ lớn thời tiền chiến, Hàn Mặc Tử là nhà thơ lớn nhất - Ông có 3 bài thực sự được gọi là thơ hay như tôi đã điểm trên. Huy Cận được một bài Tràng Giang (chưa thật hay bằng 3 bài thơ của HMT), mới vào loại khá hay và cũng chỉ một bài đó mà thôi...

   Thế mà chỉ riêng trong tập thơ RĐTT : Số lượng bài thơ hay đã khoảng chục bài, nếu kể từ khá hay trở lên thì phải trên đôi chục bài - Nghĩa là, chỉ tính riêng những bài thơ hay trong tập  tôi đã vượt gấp 3 lần thơ hay của thi nhân HMT, là nhà thơ lớn nhất thời tiền chiến. Trong đó ít bài còn có giá trị của những kiệt tác, tôi đã đạt đỉnh thi sơn cao hơn ông!

Tập thơ RĐTT tôi đã cho xuất bản rồi, còn đó ! Những bài thơ đó sẽ còn tồn tại mãi với đời. Không thể phủ lấp, dập vùi được! Cứ càng đọc, càng đào xới lên... càng sâu sắc, càng hay. Cho nên có thể nói rằng: Tập thơ RĐTT là một thi phẩm có chân dung loại cao, chí ít cũng sánh với tầm vóc của chân dung thơ HXH.


     b/ Tôi xin đặt giải và thách đố:

Nếu có ai đưa ra được một dẫn chứng cụ thể trong hàng nghìn, hàng vạn các tập thơ của các nhà thơ đương đại đã được xuất bản từ năm 1975 đến nay, kể cả các tập thơ đã từng được giải nhất của HNV, hoặc do có điều kiện tốt đẹp nào đó mà đã được nhận giải quốc tế (nhưng không được lấy đó làm căn cứ xác định)

   - Nếu có một tập thơ nào đạt giá trị hay và tầm vóc cao hơn tập thơ RĐTT  của tôi - Thì PNT xin biếu người đó 5 triệu! Tuy nhiên người ấy  phải có bình luận, phân tích trên báo chí rằng: Tập thơ đó cụ thể bao nhiêu bài thơ hay - là những bài nào? Về độ viên mãn và hoàn bích cụ thể của từng bài thơ như thế nào? Đó có phải là những bài thơ có khả năng đạt giá trị bất hủ, thơ của mọi thời đại không?
 
     Dám nói là sẽ không thể có một tập thơ nào XB từ năm 1975 đến nay tầm vóc cao được như thế đâu! Bởi lẽ, nếu có một nhà thơ nào đó sáng tác được một tập thơ hay và cao hơn tập RĐTT, tôi cam đoan chắc chắn người đó sẽ trở thành đại thi hào!... Và dám nói, kể cả kẻ có con mắt nhìn ra giá trị của tập thơ đó  phải là một thiên tài... có khả năng thẩm định thi ca ít nhất cũng cỡ Hoài Thanh - Người đã từng làm nên một Tuyển "Thi nhân Việt Nam" bất hủ, truyền đời.

   
  2/-   Tại sao lại nói: Phạm Ngọc Thái sẽ là nhà thơ vĩ đại nhất VN !?
 
Nói "sẽ là" có nghĩa: rồi trước sau thời đại, cũng như lịch sử sẽ xác nhận như thế!

  Với Tuyển Thơ Đại Bàng 500 bài mà tôi đã cho công bố toàn bộ (kể cả lời bình) trên mạng internet, qua Web. của Việt Nam Thư quán (vnthuquan.net - Trang Diễn đàn - Danh mục Tác giả người Việt).

Tôi cũng đã rút ra một số lớn gần 400 bài, đóng tuyển cẩn thận, gọi là: Quyển I - Tuyển thơ đại bàng! Để gửi biếu một số nhà thơ như: Ông Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa... GS. Mã Giáng Lân, đồng thời gửi biếu lưu ở Viện Văn học VN, Hội nhà văn VN, Khoa văn trường Đại học Nhân văn Quốc gia v.v... 

Tôi từng nói với Trần Đăng Khoa rằng, tôi thường lấy Nguyễn Du để so sánh với chân dung thơ của mình - Thực ra tôi tin, là tôi đã vượt qua Nguyễn Du rồi!...

   Nguyễn Du vĩ đại thật, Người là thánh thơ thật ( với Kiều, thể thơ lục bát... còn tôi cũng như Chế Lan Viên, thuộc loại thơ tự do hiện đại) - Nhưng lịch sử thi ca không phải cứ đến Nguyễn Du là dừng lại?

Nếu cứ cho rằng: Tôi đã vượt qua Nguyễn Du đi, thì "Hậu sinh khả úy"... điều đó cũng có gì là trái với tự nhiên đâu! Sở dĩ tôi dám nhận định như vậy,,, cứ biết thế đã, để rồi lịch sử sẽ phán xét. Nhưng có thể đưa ra vài nhận định được tóm tắt cơ bản như sau:


  a/.  Ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở Kiều của Nguyễn Du

      chính nằm trong nỗi kiếp đoạn trường, theo thuyết bản mệnh của Kinh Phật - Đời sống, Thế giới có thiên mệnh! Con người có bản mệnh!

  Song, Vũ trụ và Cuộc sống có cả duy tâm lẫn duy vật. Nghĩa là, tuy duy vật chưa thắng và cũng không thắng được duy tâm!... Nhưng vẫn có  "nhân thắng thiên", như thế giới có cả vô thần cùng hữu thần. Tình yêu và cuộc sống, xã hội... luôn chứa chất tính triết học đa dạng và rất sinh động!

Chính trong Tuyển thơ của tôi, nhất là trong các bài thơ hay đã chứa bọc được cả thế giới trong nó mà tạo thành vũ trụ thơ ca - Chứ nó không hạn hẹp ở một chủ thuyết cố định. Nghĩa là thi phẩm phản ảnh tất cả những gì của thế giới đã có với tình yêu và cuộc sống con người!


   b/.   Trong Tuyển thơ Đại Bàng 500 bài đó,

số lượng các bài thơ hay và kiệt tác hàng chục, nhất là nếu tính từ các bài thơ sâu sắc, khá hay trở lên - Tôi đã đạt được đến mức độ khổng lồ hàng trăm. Cũng như tôi đã nói: Nó đã tạo nên tầm vóc của một vũ trụ thi ca!

Lịch sử của nghìn năm văn hiến Thăng Long, chưa từng có một thi nhân nào đạt được nhiều thơ hay và kiệt tác như thế! Còn nghìn năm sau có hay không, thì tôi không biết?

  "Kiều" của Nguyễn Du bất hủ thật, hay thật, vĩ đại lắm!...nhưng tác phẩm của Người chưa mang tính của một vũ trụ thi ca.


c/.   Về nghệ thuật :

   
Kiều của Nguyễn Du viết theo thể lục bát - Thơ Đường, dĩ nhiên đạt độ mẫu mực, hay tuyệt vời! Ông là một Đại thi hào.

   Còn thơ tôi, thuộc loại thơ tự do hiện đại:  Một số lượng thơ không nhỏ, tôi đã  hòa quyện giữa sự  sâu sắc của dòng thơ cổ phương Đông - Với các trường phái thơ lãng mạn, tượng trưng và cả siêu thực... của thơ hiện đại thế giới - Làm nên rất nhiều các bài thơ hay và kiệt tác!

  Hiện nay tập thơ Rung động trái tim do NXB Thanh niên 2009 ấn hành, tôi vẫn dành một số tập. Các nhà thơ sáng tác và nghiên cứu văn học, các nhà lý luận, phê bình, cũng như các Hội văn học tỉnh, thành trong nước - Nếu muốn tham khảo có thể liên hệ, gặp gỡ -  tác giả xin biếu tặng.


                                                          Viết tại đất Thăng Long
                                                                              Ngày 15/1/2010
                                                                               NGƯỜI PHẢN BÁC

                                                                       (đã ký)





                                                                 Phạm Ngọc Thái



*   Sao gửi đến ba Viện: Viện Văn học VN, Viện Ngôn ngữ học
     Quốc gia, và Viện Văn hóa dân gian- để biết.

*  Văn bản này sẽ được công bố rộng rãi trong Hội văn học
    và lưu lại cho lịch sử mai sau xem xét.

 
_____________________________________________________
 
 
      Hai bản tuyên cáo trên đã được gửi tới Ban chấp hành HNVVN cùng nhiều nhà văn, nhà thơ... có tên tuổi trong đương đại, đồng thời cũng đã được gửi đến các ông viện trưởng, viện phó & các phòng ban của Viện Văn học Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học Quốc gia - và rộng rãi trong Hội Văn chương, báo chí.

<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:41:20 bởi Nhân văn >
nhanvan

Ghosttt_01
  • Số bài : 47
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 24.07.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 03.04.2010 13:14:34
.


     Như thế là liền trong 2 tháng đầu năm dương lịch của năm Canh Dần này - Nhà thơ đã tung lên Ban chấp hành HNVVN hai lá đơn phản bác. Lời lẽ trong hai lá đơn đó cũng thật là quyết liệt, tỏ rõ thái độ không khoan nhượng, mà trước hết là với hai nhân vật đầu chòm của HNV: Một là ông Hữu Thỉnh, chủ tịch Ban chấp hành... sau đó đến Vũ Quần Phương, chủ tịch Hội đồng thơ. Có lần tôi chứng kiến thấy nhà thơ đã từng nói trước một số đông anh em trong giới báo chí rằng: Bọn họ (ông muốn nói về hai nhân vật kia), giả tạo và đầy vị kỷ, nếu mình cả nể mãi thì đường nghiệp chướng sẽ càng khốn khổ - Phải lên án thôi! Mà bọn người đó cũng chả tử tế gì với ta đâu mà phải phân vân?

     Đọc hai lá đơn của ông thì quả thật cũng hơi...ghê! Ta cứ chờ thời gian... thời thế sẽ phán quyết về những điều mà ông đã khẳng định trong hai lá đơn đó thế nào?
 
     Tôi nghĩ: Mọi phán quyết vội vàng về ông ngay bây giờ là còn vội và chưa thể đúng được. Khi ông phủ lên mặt cả những nhân vật có quyền thế mà thực tế họ cũng co vòi, lặng lẽ im hơi. Biết là ông đúng hay ông sai?

     Đời là thế và cũng phải cần có những người như thế. Khi người ta dám nói đến thế mà không sợ những kẻ có đầy đủ vị thế ở đời quật lại - Tức là người ta phải biết cái tài của mình đến đâu? Chơi với những kẻ "mũ cao áo dài" thời thế này cũng đầy "bọ cạp" mà.

     Có một buổi: Tôi cùng vài anh em nữa trong báo chí có ngồi uống bia cùng ông và nhà thơ Bằng Việt (Chủ tịch Hội liên hiệp văn học nghệ thuật thủ đô), tôi nghe nhà thơ Bằng Việt có nói với ông rằng:

     " Mình không bênh gì Hữu Thỉnh đâu, nhưng PNT cũng đuiừng cực đoan quá!" Và nhà thơ trả lời:


-   Tôi (tức là ông) đã từng nói với Vũ Quần Phương rằng" "Tôi chơi với các ông", nhưng Chính Vũ Quần Phương và Hữu Thỉnh cư sử như thế là đểu với tôi, nhỏ mọn. Tôi cũng có cái giá cuộc đời của tôi chứ!

     Thôi thì ta cứ chờ xem: Cuộc đời của một "quái nhân" như nhà thơ PNT rồi sẽ đi đến đâu? Cũng chả lên mang cái tâm lý suy diễn đời thường mà phán quyết về người. Chỉ biết là: Những tay nhà thơ có tên tuổi trong đương đại này chẳng ai dám giơ tay bút mà chạm vào PNT - Như ông đã từng tuyên bố: Trong giới thơ ca của HNV đương đại này ông không có đối thủ. Những ngưòi danh "be bé" như chúng ta có lẽ nên lẳng lặng mà xem cuộc trò đời!? chắc sẽ còn tiếp tục diễn ở nay mai!...
Hồn ma lạnh lẽo

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 01.05.2010 12:30:05
.


      Tôi dành khoảng thời gian này để đưa ra một số nhận định
luận bàn về hai lá ĐƠN PHẢN BÁC của tác giả lên Ban chấp hành HNVVN - Có thể nói: hai lá đơn kết hợp với nhau giống như một bài thơ được hoàn tứ vậy. Anh làm hai lá đơn này, thực ra cũng chẳng phải vì cay cú hay tức giận gì đâu? Chắc thế, mà có lẽ chủ yếu là để làm chân dung thơ của anh đó thôi!

    Tôi xin diễn giải một số vấn đề từ lá đơn phản bác đầu tiên (tức là lá đơn thứ nhất) trước:

    Về lý do phản bác của tác giả - Do một sự mờ ám nào đó mà danh sách anh xin vào Hội bị dìm lấp đi. Trong đơn phản bác ngay những dòng đầu tiên đã nói rõ rồi, tôi không nhắc lại nữa. Ở đây, tôi chỉ xin phân tích mấy điểm mà tác giả nêu ra trong văn bản đó.

A/-   KHI TÁC GIẢ NHẬN ĐỊNH VỀ TẬP THƠ "RUNG ĐỘNG TRÁI TIM" CỦA MÌNH.
    Ta cứ mổ xẻ thẳng thừng xem nhé! Muốn xem là mặt trái hay phải, có nhiều việc thường không theo những suy nghĩ, hay chất vấn thông thường. Nếu ta nói ở đây là: Tác giả tự phán rồi lại tự khen mình, mà qua đó để dè bỉu nhà thơ... thì e ý nghĩ ấy có phần nông cạn quá? hoặc hiểu biết về cuộc sống còn ngây thơ trong trẻo quá?... Thì cũng được thôi, tác giả đã tuyên bố là ai dù khích bác hay chê bai... thì cũng kệ, thậm chí là lẳng lặng mà cười...đời mà. Thì chúng ta có quyền móc máy của chúng ta, còn người ta làm thế là có quyền, thậm chí là có cái lý của người ta chứ! Dễ gì ai đã chê được ai đây?

    Có một điều xin thưa rằng: Tác giả nói đây là nói có địa chỉ! Tức là nói với Ban chấp hành HNVVN, nói với ông Chủ tịch của HNV, với ông Chủ tịch Hội đồng thơ!...Nói trắng ra là tác giả đang tuyên bố khi đứng trước nền văn học đương đại.

   Bởi vì lá đơn phản bác ấy: Tôi biết tác giả không chỉ gửi cho các vị nhà thơ trong BCH HNVVN, mà còn sao gửi cho cả Viện Văn học VN, Viện ngôn ngữ học quốc gia... cùng hàng trăm các tiến sĩ, giáo sư , các nhà thơ , nhà văn khác...như cuối lá đơn đã viết:
"Văn bản này sẽ được sao gửi đến 3 viện và công bố rộng rãi trong Hội văn học và... lưu lại cho lịch sử mai sau xem xét".... Tôi cho rằng: không vào bậc siêu  không dám ăn gan hùm như thế đâu!

   Bất cứ ai, bất cứ một nhà thơ nào, hay bất cứ một nhà phê bình văn học nào... thấy rằng tác giả "khoa trương" chẳng hạn, đều có thể viết báo "mắng mỏ"lại - Thí dụ: Thơ ông (tức là tác giả của tập thơ  Rung động trái tim ấy) kém lắm! dở lắm!... thế này này, thế kia này, v.v... Cũng nên biết răng: Dưới tay của Hữu Thỉnh cũng như Vũ Quần Phương có tất cả các báo chí văn học, vô tuyến truyền hình - Chứ còn một PNT là đơn thương độc mã. Tức là tác giả đang thân cô, thế cô... mà tuyên chiến với cả ban bệ quyền hành của HNV. Nhưng biết rồi ai sẽ mạnh hơn ai đây?

    Sự hộ tống cho PNT không ai hết , không gì hơn hết chính là... "thơ"! Cả tập thơ Rung động trái tim  bất hủ và cả Tuyển thơ đại bàng đồ sộ. Tôi cam đoan rằng: Đó chính là chân lý của sự tồn tại, nó tạo nên sức mạnh muôn đời không thể dập vùi được. Bởi thế Người đã thắng tất cả sự hư danh, phù phiếm, những kèn trống mõ inh ỏi của đương đại kia.

    Tôi cũng biết, không ít anh em trong giới báo chí, văn chương thơ phú khi gặp tác giả rất thiện cảm và họ đã nói với nhà thơ rằng: Cần phải có những người như thế! Nói vạch hẳn ra cho bọn họ biết!... Tất nhiên là cũng có những người không ủng hộ đâu, nhưng cũng chỉ im lặng mà thôi. Bởi vì: nói gì? Thơ người ta hay là hay rồi, càng xoi vào thì lại càng hay lên.

    Thật tình, đến bây giờ tôi biết: ít ra là trong giới văn chương ở trên đất Hà Nội này - Kể từ khi tập thơ ra đời - Những ai đã đọc thơ chả ai dám chê... thí dụ như: tập thơ của ông là kém? là thường? v.v...Mà chỉ có thể nói: tập thơ hay hiếm có, thế thôi!

   Thì tập thơ vẫn còn sờ sờ ra đấy, để làm minh chứng. Vậy thì cần phải hiểu: tại sao thơ PNT lại được như vậy? Tôi chỉ xin gói gọn một câu thôi: Đó là bản chất, là qui luật của loại thơ sâu sắc, thơ chí lý, loại thơ tồn tại, tồn tại và tồn tại của thế gian này! Thôi thì, ta không nói tới từ thơ hay nữa... cho khỏi mếch lòng kẻ đời, dù đó là sự thật.

B/-   TÔI XIN NÓI VÀO VẤN ĐỀ THƯ HAI:
    Trong đơn phản bác đầu tiên ấy có đoạn anh đã viết:
" Về độ hay và tầm vóc của tập thơ RĐTT - chưa dám nói là vươt lên chân dung thơ của bà Hồ Xuân Hương, nhưng thơ của bà HXH cũng chưa dễ gì đã vượt qua nổi chân dung tập thơ của tôi...(tức là tác giả)!" - Vậy thì, tôi cũng xin phân tích vấn đề này: mà tác giả lại dám nói như vậy?

                        

<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:42:38 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 28.05.2010 13:13:55
.


  B-   XIN TRỞ LẠI VỚI VẤN ĐỀ THỨ HAI -

   Trong lá ĐƠN PHẢN BÁC (ĐPB) ấy, tác giả có so sánh chân dung
tập thơ của anh với tầm vóc thơ Hồ Xuân Hương - Trước khi phân tích về sự lý giải trong bức thông điệp mà tác giả đã tuyên bố thẳng với Ban chấp hành HNVVN như thế! Tôi nghĩ để cho thoải mái, cần phải có thái độ thẳng thắn nhìn nhận sự việc... trên cơ sở "thơ  & thơ", dù đó là một cây đa, cây đề của cố nhân với một nhà thơ đương đại. còn ai có đủ lý phân tích và đánh giá, thì cứ việc lên tiếng phản biện? Nhưng phải có trình độ hẳn hoi. Bởi vì chính tác giả đã tuyên bố: :

    "Tập thơ  Rung động trái tim (RĐTT) dám nói là có thể đem so sánh với tầm vóc thơ bà Hồ Xuân Hương, một trong ba thi hào dân tộc của nước nhà.  Đấy, tập thơ đã cho công bố: ai cũng có thể đọc và phán xét nó, ai cũng có thể cào xé hoặc bôi xấu nó - xem có thể dập vùi nổi nó không? "

    Và nếu khi mọi người đổ xô vào cào xé, phân tích và bình luận nó mà những tình thơ lại cứ hay lên! Thì muốn hay không muốn, kẻ nào không chịu cũng không được. Vâng, đấy cũng chính là lý do: vì sao cả Hữu Thỉnh, Vũ Quần Phương cùng BCH HNVVN, với không ít các nhà thơ, các nhà phê bình lý luận thơ, cũng không ít các nhà thơ có muốn báng bổ tác giả - mà đành phải im miệng hến cả! Bởi vì cũng chính như tác giả đã khẳng định trong ĐPB rằng:
   
       
" Nếu các ông tìm mọi cách để phủ nhận, bới móc hay thoá mạ lên các tình thơ trong tập RĐTT, cũng chính là dịp cho mọi người sẽ xô vào nghiền ngẫm và thưởng thức… lập tức thế giới bên trong các tình thơ của tôi sẽ trở nên bất hủ, kỳ diệu ngay!.... Đó là nguyên lý của loại thơ tồn tại, thơ hay và sâu sắc điển hình của tập thơ RĐTT. Trong Tuyển thơ đại bàng (TTĐB) của tôi có đến cả trăm bài tôi đã đạt được sự viên mãn như thế!"


   Tác giả có đưa ra những chân dung thi nhân lớn thời tiền chiến để làm căn cứ xác định, trong đó tác giả khẳng định Hàn Mặc Tử là thi nhân lớn nhất thời tiền chiến. Trong tuyển thơ của ông nổi lên cao nhất với 3 bài thơ bất hủ, đó là: Đây thôn vỹ dạ, Mùa xuân chínBẽn lẽn -  Và tác giả tuyên bố, trong tập thơ RĐTT của anh, số lượng bài thơ đạt hay cỡ đó gấp 3 lần thi nhân HMT!? Tuyên bố như thế mà lại trước cả BCH HNVVN, tức là trước tất cả các nhà thơ đương đại... kể cũng ghê ghê...


    Nhưng trước hết đã nói rất rõ : Thế nào mới được gọi là thơ hay? Tôi xin ghi lại nguyên văn câu nói của nhà thơ trong lá ĐPB ấy về thơ hay như sau:


     
  "Nhưng thế nào mới được gọi là thơ hay? Tôi (tức là tác giả) đưa ra đây vài ví dụ cụ thể:  Trước hết đó phải là loại thơ của mọi thời đại như:  Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, Điếu thu của Nguyễn Khuyến, Hai sắc hoa ti-gôn của TTKH , Mùa xuân chín - Đây thôn Vĩ Dạ - Bẽn lẽ của Hàn Mặc Tử v.v... và như thế mới được gọi là thơ hay! Những từ "thơ hay" tôi dùng trong văn bản này đều phải có ý nghĩa và tầm vóc tương đương nhất định với những bài thơ danh giá, trường cửu đó."

   Như vậy nếu theo như tác giả: số bài thơ hay của thi nhân HMT là 3, mà HMT là thi nhân có số lượng bài thơ hay nhiều nhất so với các thi nhân thời tiền chiến! Nếu của anh gấp 3 lần... tức là 3X3=9: Vậy thì, tập thơ RĐTT phải có từ 8 đến 10 bài thơ được gọi là hay như thế? Hơn nữa tác giả còn khẳng định đỉnh thi sơn của anh cao hơn thi nhân HMT!?

   Đừng có nghĩ là anh cứ nói lên cho sướng miệng mà được đâu?... Các nhà thơ, các nhà bình luận thi ca đương đại họ không bác bỏ, vặn cho gẫy cổ ấy chứ!

   Tôi nhớ có một lần: nhà thơ Chử Văn Long để cho một anh giáo làng ca ngợi mình là thuộc trong 5 nhà thơ lớn thế kỷ: như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử và... Chử Văn Long... thì sau đó xuất hiện đến 20 bài báo mắng mỏ Chử Văn Long không tiếc lời - Trong số đó có một bài viết trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội... nói về việc đem Chử Văn Long mà dám so với Hàn Mặc Tử - Tức là gà vịt mà dám so với đại bàng!  Đến mức nhà thơ Chử Văn Long sượng quá, gặp ông Nguyễn Trí Huân (làm Tổng biên tập báo Văn nghệ quân đội khi đó), cự rằng: Anh em họ viết chứ có phải tôi đâu, mà anh để cho đăng cả bài chửi tôi như vậy? Nguyễn Trí Huân vờ tảng lờ rằng... tôi đi vắng, anh em ở nhà họ cho đăng báo!

   Nói thế để thấy rằng, không đủ tầm thì bố bảo cũng không dám chơi như thế đâu! Rồi tôi sẽ đi vào phân tích, vậy tập thơ RĐTT cụ thể hay và khá hay là những bài nào? Ở đây ta còn thấy khi nói đến Huy Cận, cũng là một thi nhân lớn thời tiền chiến, tác giả viết:

  
"Huy Cận được một bài Tràng Giang (chưa thật hay bằng 3 bài thơ của HMT), mới vào loại khá hay và cũng chỉ một bài đó mà thôi..."

  
Có nghĩa là: Bài thơ Tràng Giang là đỉnh thơ cao nhất của Huy Cận, nhưng chưa bằng 3 bài thơ vào loại hay của HMT, vậy Tràng Giang mới chỉ đật loại thơ khá hay! Tác giả chỉ nói đến thế mà không nói tiếp nữa, anh quay sang chỉ so sánh cụ thể với HMT.

    Thế chả lẽ: so với Huy Cận chỉ có một bài thơ vào loại khá hay... mà anh thì khoảng 10 bài thơ hay - So thế thì ai người ta nghe được? Ai mà chịu được? So sánh trong trường hợp này dù tác giả tập thơ RĐTT có mười mươi cao hơn Huy Cận chăng nữa, thì cũng  phải sử dụng một cách khác... nhưng mà thôi, tội gì anh bới vào cho sinh mâu thuẫn? nhưng trong thầm ý là tác giả muốn nói với mọi người rằng: Này, cỡ đến Huy Cận... không tơ mơ với ta được đâu? Mà anh nói: Đấy, thơ vẫn đấy, phỉ báng nó thử xem nào? Ai đủ tài thì cứ việc?... Dĩ nhiên tôi biết, anh chỉ tranh cãi với các cỡ có tiếng  như: Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa, Hữu Thỉnh, Bằng Việt... Chứ còn ngay với các nhà thơ tên tuổi nhoàng nhoàng, hay một số bạn viết chúng ta...tạm gọi là trình độ thơ câu lạc bộ, hay vô danh vô thưởng vô phạt - Anh không tranh cãi đâu!

   Đến đây tôi xin bắt đầu phân tích ít nét cơ bản... về các bài thơ hay mà anh so với thi nhân Hàn Mặc Tử! Nhưng trước hết tôi xin in ra đây cả ba bài thơ hay của HMT để ta dễ thẩm thấu hơn! Vì thơ PNT có nhiều bài mang phong cách, có âm hưởng của thơ HMT - Mà có lẽ là anh đã ảnh hưởng về thơ của HMT nhiều nhất.

     
  3 Bài của thi nhân HMT trích trong tập "cuồng điên và mật đắng" như sau:


  MÙA XUÂN CHÍN

Trong làn nắng ửng khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lý, bóng xuân sang.
 
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
 
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây...
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...
 
Khách xa gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
- Chị ấy năm nay còn gánh thóc
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
 
                           
 
   ĐÂY THÔN VỸ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay.

Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?


                        
 
             BẼN LẼN
 
 Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!

Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.

Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.
 
     Còn thơ hay của PNT chủ yếu là thơ tình, nhưng giờ tôi lần lượt nói về 3 bài thơ đời của anh trong tập RĐTT được gọi là hay - Đó là bài: Em bán xoài, Cô quét lá đêm hồ Làm ma em vợ!

   
Trước hết nói về bài "Em bán xoài":

                       

- Anh trai mua xoài cho em đi?
Nha Trang! Ta nhớ Nha Trang!...

Em bán xoài đi đêm trên cát trắng
Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang
Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm
Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh.

Xoài em chín! Đêm tàn canh em đón khách…
Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi
Em bán xoài thơm! Em bán xoài thơm!
Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi
Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?

Thế giới em đi “ Vòng thiên la địa võng “
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
Xoài em thơm! Hương toả mát thân người...
Ai mua xoài?

                        Còn ai có mua em?

Các cô gái đi đêm như các cột đèn
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...
Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.


   Bài thơ này  trên cũng đã bình, ở đây tôi chỉ xin nhấn mạnh để làm bật lên được cơ sở mà tạo thành bài thơ hay mà thôi!


                   

 


  
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:44:12 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 24.06.2010 12:36:08
.


         
Xin nói tiếp về bài "Em bán xoài"

     Về ý tưởng, vấn đề mà bài thơ đã đặt ra - Nó nói đến nỗi trong dân dã, thuộc tầng lớp thấp hèn nhất của cõi dân gian, cái chốn bể dâu của kiếp người:

Em bán xoài đi đêm trên cát trắng
Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang


  Bài thơ mang những hình ảnh tượng trưng rất rõ. Thí dụ:

Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi...


  Ta có cảm giác: Cuộc sống, thế giới, xã hội này nó như một con bạch tuộc nhiều vòi. Nhưng ở đây nó được ví như một biển lớn mênh mang đầy giông bão, còn con người - là những cô gái... như những kiếp sống phù du nhỏ bé, như những hạt bụi sẵn sàng bị nuốt chửng trong biển cả ấy!

    Tức là tác giả sử dụng tả hình ảnh thật... của biển cả trong đêm tối và những kiếp người nhỏ nhoi quanh nó. Nhưng chúng ta chú ý câu sau đó
: Linh hồn treo ngoài thế giới em đi / - Thì rõ ràng cái thế giới ấy, đâu phải để giành cho các em gái bán xoài? Chúng sống ở đó, nhưng linh hồn của chúng lại vất vưởng treo: Trên những cành dừa hay trong đám mây qua.../ - Vậy thì, thiên nhiên cùng cả quê hương nữa... có xa xót không? Đến đây, ta lại thấy tác giả phát triển,  đẩy nỗi thơ đi đến sự khốc liệt hơn:

Thế giới em đi “ Vòng thiên la địa võng “
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
Xoài em thơm! Hương toả mát thân người...
Ai mua xoài?

                        Còn ai có mua em?


  Tôi thiết tưởng: "làm lẽ" của bà Hồ Xuân Hương, chắc thân phận cũng không phải là chua chát hơn? Hay là "Người ngựa, ngựa người"... Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan chẳng hạn - Cảnh đời cũng chỉ bi đát đến thế mà thôi! Tuy nhiên, ta thấy chua chát thế mà giọng thơ thì lại rất thân thương, để xoáy vào những nỗi kiếp sống vất vưởng, bơ vơ:
Ai mua xoài? Còn ai có mua em? /- Hay là tác giả nói về sự quí giá của những kiếp sống ấy, tựa như những bông hoa thơm ngát: Xoài em thơm! Hương toả mát thân người.../ - Để qua đó, nó càng phản chiếu sự xa xót, sự đầy đoạ, vô tâm của nỗi trần ai? Nó càng tố cáo sự nhẫn tâm của cường quyền, bạo lực. Xã hội đó đâu phải của những con người lao khổ?

  Ở đây tác giả tả về quê hương cũng bằng những tình cảm rất thân thương, tha thiết, trìu mến... như những hàng dừa thì
"...se sẽ gió ru êm", còn các em bán xoài thì lang thang "trên cát trắng", hay là dãy cột đèn thì đứng "trong đêm côi lạnh"... Nó vừa như thể minh chứng cho những thân phận lạc loài đó, và chính nó vô hình chung: cả những hàng dừa quê hương kia, xứ sở kia... lại cũng nhẫn tâm trước kiếp sống của những người nghèo khổ thế sao? Nó cứ reo, cứ ru... mặc những kiếp đời trôi nổi, bọt bèo ở trong nó!

  Ta thấy trong 2 câu cuối mà tác giả kết:

Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.


   
Rõ ràng, ta thấy ở đây lòng tác giả quặn đau. Anh cảm đồng thương yêu các cô gái bán xoài bao nhiêu?   Anh chỉ biết cùng với biển xanh và những bóng dừa quê hương kia... để ru em! Thế mà, con gió ngàn năm vẫn vô tình, vô định trôi đi... nhấn chìm những kiếp đời cát bụi ấy ở trong nó! Ta thấy thật xót xa...

Những hình ảnh thơ xoắn xít, liên kết nhau, thơ truyền cảm sâu xa.  Có thể trở thành một bài thơ đầy hình tượng điển hình, một tuyệt tác thi ca về nỗi kiếp dân gian. Nó cứ vừa như một bài thơ tình, lại vừa là thơ đời, cũng lại là một bài thơ về quê hương!

  Những hình ảnh tác giả sử dụng làm hình tượng trong thơ rất đạt, rất hay. Thí dụ như ở đoạn giữa tác giả viết:

Các cô gái đi đêm như các cột đèn
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...


  Thì những thân phận ấy nó giống như những cột đèn lặng lẽ bên đường, để cứ mất dần vào cát bụi... Hay khi tác giả tâm sự:

Xoài em chín! Đêm tàn canh em đón khách…
Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi...

 
Những giọt thơ như ngọc tự nó rơi ra từ trong trái tim của nhà thơ, như sự mách bảo của thần linh ở một cõi xa xôi nào đó, mà câu thơ đầy ý nghĩa. Kết cấu tứ thì chặt chẽ, thơ liên tục đẩy nhau... đi đến viên mãn, sâu sắc vô cùng - Tôi cho rằng: Viết về nỗi kiếp dân gian, kể từ thời tiền chiến đến nay, ngay cả chân dung các nhà thơ lớn như Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Chế Lan Viên hay Hàn Mặc Tử... Ngay cả các bậc trước nữa như Nguyễn Khuyến, Tản Đà... cũng chưa dễ gì vượt qua?Thơ cực sâu, viết nhiên nhi nhiên tuồn tuột mà ra thế thôi, mà cấu tứ, ý nghĩa vẫn phăm phắp, đầy truyền cảm... để tạo thành một bài thơ hoàn bích, chắc chắn là nó có đủ khả năng để sống mãi với thời gian!

                    
Tới tôi sẽ đi sâu vào bài thơ hay khác:



            CÔ QUÉT LÁ ĐÊM HỒ
 

 
 
Một đêm hồ nước đầy sương gió
Người đi không rõ mặt người
Liễu ru nhè nhẹ quanh bờ vắng
Em thầm thì quét lá, bên tôi!

 
Em quét lá lẫn đời lẫn kiếp
Tiếng chổi mòn kêu xiết vào tim!
Em hóa thành thơ rơi lặng lẽ
Trong cõi lòng tôi buồn triền miên.

 
Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng
Con nai vàng chết bóng thu xưa…
Tôi đứng trông em mịt mờ ảnh vọng
Cô quét lá đêm hồ khe khẽ vào khuya.




<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:44:56 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 22.07.2010 12:12:29
.


     Bài thơ Cô Quét Lá Đêm Hồ (CQLĐH) này theo con mắt thơ của tôi, về độ hay thì chưa bằng bài thơ Đây Thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử & cũng chưa ảo bằng. Nhưng tứ thơ cũng hao hao như thế: Cả bài dài 12 câu, 3 khổ, mỗi khổ 4 câu. Ta có thể liên hệ đôi chút với bài Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan - Trong bài thơ Đèo Ngang viết theo thể thất ngôn bát cú, hai câu xương cốt hay nhất bài chính là 2 câu 5&6:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...


     Còn ở trong bài CQLĐH 2 câu xương cốt ấy, mang đầy hình ảnh tượng trưng, sống động là 2 câu 9&10:

 
Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng
Con nai vàng chết bóng thu xưa…

 
  Đây cũng là 2 câu thơ hay, hình tượng chứa đầy ý ở bên trong, rất trừu tượng, rất ảo... nhưng lại mang tính nhân sinh xã hội, khó mà lý giải theo một cách hiểu nào nhất định - Cái bóng trăng lạc lõng trôi trên trời, nó vừa nói về sự cô lẻ, bơ vơ của anh thi sỹ giữa cảnh đời, nó vừa gợi lên cảnh tình hiu hắt. Còn hình ảnh tượng trưng về con nai vàng bị chết giữa một rừng thu, nó đã báo cho một cái gì đó xẩy ra rất xót xa, ai oán... và hình tượng đó lại gắn liền với thân phận của cô quét lá, đang quét lê cái chổi mòn vẹt trên đường - Vậy rõ ràng là để hoạ cho nỗi kiếp của những người quét rác, tức là lớp dân dã trong cõi dân gian.

    Câu thơ dưới, tuy tác giả tả hình ảnh cô quét lá cứ xa dần, xa dần... nhân ảnh mịt mờ trong đêm - Nhưng sự mịt mờ này lại để nói về ý nghĩa nhân sinh trong phạm trù xã hội, sự mịt mờ của những kiếp người lao động, thấp hèn:

Tôi đứng trông em mịt mờ ảnh vọng

    Nghĩa là: cái nhân ảnh của cõi dân gian ấy vọng đến anh không thấy bóng của tương lai, muôn kiếp những con người lao khổ, thấp hèn vẫn đầy rẫy sự bất công... và cứ thế cô quét lá đi xa mãi:

Cô quét lá đêm hồ khe khẽ vào khuya...

     Những hình ảnh ấy vừa trìu mến, thân thương theo những giọt thơ rơi vào đáy lòng ta, thấm tháp và gắn bó. Ta yêu thương những con người lao khổ ấy, cảm đồng với thân phận lớp người hạ tầng trong cõi dân gian. Ý nghĩa nhân văn của bài thơ khá cao.

    Nhưng đối chiếu với bài Em Bán Xoài thì tôi nghĩ, bài thơ CQLĐH tuy mang tính khái quát hơn, nhưng bài thơ Em Bán Xoài lại rất sinh động, độ sâu sắc có thể nhiều hơn. Thí dụ như ở bài EBX tác giả miêu tả:

Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi...


    Tuy tác giả tả về cảnh biển: Biển cả thì mênh mang, nhưng đầy sóng bão, còn các cô gái thì chỉ như những chấm cát bụi nhỏ đen thẫm trong sự mịt mùng đó - Qua đó chính là để nói về sự nhỏ nhoi, yếu ớt của những kẻ đang vất vưởng trước một cuộc sống đầy điên đảo, dữ dằn... đến mức những linh hồn của chúng cũng không còn nơi bám víu... trong cái thế giới của nó đã và đang sống. Có lẽ làm ta phải nhớ về những âm hồn ở cõi âm ty trong Thần Khúc của Đan Tê. Đó là những kiếp sống mà xã hội kia đâu phải là để giành cho chúng. Thơ đẩy tới tột cùng!

    Chẳng hạn, tác giả tả về cái thế giới trong EBX:

Thế giới em đi "Vòng thiên la địa võng"
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi...


    Vậy rõ ràng: Nếu kể về những thi phẩm viết về những thân phận như những cô giá ở Em Bán Xoài, thì xưa nay chưa dễ có bài thơ nào đã đạt được độ cao như thế!! Chẳng hạn, như bài thơ "Trên dòng Hương Giang" của Tố Hữu - Thì ta thấy bài thơ ấy của Tố Hữu kém cả về độ sâu sắc trong ý nghĩa tượng trưng trong nỗi kiếp... Chưa nói rằng: Thơ Tố Hữu chỉ là khẩu hiệu mang tính cổ động, mà ngay cả sự xúc tích của ngôn ngữ cũng rất thường. Thí dụ như trong Hương Giang, Tố Hữu hô hào:

Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài
Thơm như hương nhuỵ hoa nhài
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng
Ngày mai gió mới ngàn phương
Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân...


  Đây là loại thơ để hát! Nhiều lời mà ít ý. Cổ nhân đã nói: Thơ - Ý & nghĩa phải ở trong từng chữ. Đấy là tôi chưa nói, ý nghĩa nhân sinh trong thơ Tố Hữu thực ra là sáo rỗng...Đứng về đẳng cấp thi ca, ta có thể nhất trí như sự phân chia của Trần Đăng Khoa đã phân loại: Thơ nói dài dòng như Tố Hữu chỉ thuộc loại thơ "thứ phẩm" mà thôi! Thơ hay và cao phải là thơ xúc tích, nhiều ý ít lời.

    Tôi nói thí dụ như ở trong bài Em Bán Xoài ngay khi nói về cái tình quê hương cũng rất thiết tha đầm đìa:

Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm...

Hay là ở CQLĐH:

Một đêm hồ nước đầy sương gió
Người đi không rõ mặt người
Liễu ru nhè nhẹ quanh bờ vắng
Em thầm thì quét lá, bên tôi!


     Nó thấm thía như máu của trái tim mà hoà quyện với thân phận con người ở trong đó để nhỏ ra.
Những loại thơ như những bài này của anh đạt hàng đẳng cấp bậc cao.

<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:45:38 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 21.08.2010 13:37:24
.


        Nói về một bài thơ đời khá đặc biệt trong tập thơ "Rung động trái tim" của anh - Đó là bài

                         LÀM MA EM VỢ


                       - Kính viếng hương hồn cụ Nguyễn Du.

Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi " kiếp"
Chết thật hèn, nhưng sống thế càng ôi
Anh thắp cho em một nén nhang đời
Và lễ tạ: Nam-mô-di-Phật!

Người sống đưa chân người chết đây
Đầu bạc làm ma mái xanh này
Mẹ, cha... queo quắt còn ham thọ
Em nhởn thanh xuân lại vội quay.

Em ơi : chữ Kiếp trước chữ Người!
Sống cần cố gắng - Chết rồi thôi,
Hãy đi, yên nhé! Coi hết nợ... (*)
Anh ở vì chưng trả nợ đời.


                                     

(*) Nàng Kiều trẫm mình trên sông Tiền Đường nhưng lại được Giác Duyên vớt cứu - Theo thuyết bản mệnh của Phật giáo ở cụ Nguyễn Du: Nàng chưa thể chết... vì chưa trả hết nợ đời!


     Một nỗi ai oán chốn dân gian. Lòng tin vào tính chất tốt đẹp của xã hội đã bị đổ vỡ hoàn toàn trong lòng tác giả! Bài LMEV bật ra từ trong nỗi đau đời. Nó sẽ được coi như một bản cáo trạng lên án thưqcj trạng của thể chế. Bài thơ rỉ máu:

Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi " kiếp"

Nghĩa là nạn nhân của xã hội đó đã đi đến bước đường cùng, một sự bế tắc trong cuộc sống... phải tự kết liễu mình đi, cho thoát khỏi "kiếp sống con người"!...

   Tôi định phân tích tiếp về bài thơ này - Nhưng thôi, bài LMEV này... tôi cũng đã phân tích nhiều ở các phần trên rồi, ai thích thú thì xem lại. Tôi chỉ nói thêm đôi dòng về sự độc đáo của bài thơ: Bài thơ cực kỳ xúc tích & giàu lòng trắc ẩn. Nó ảnh hưởng sâu sắc thuyết bản mệnh trong kinh Phật qua tác phẩm Kiều của cụ Nguyễn Du.

   Nhưng bài thơ lại có tứ gần với thơ của bà Hồ Xuân Hương - Tuy chỉ 12 câu nhưng đó là cả một thế giới tâm linh, một cõi đời dân giã. Nó mở ra hẳn một phạm trù, triết lý theo một quan niệm nhân sinh học. Mà ở đó nó đã lên án một thực trạng xã hội còn đầy u tối.

   Trong một buổi gặp nhà thơ Phạm Đức - Anh Phạm Đức có đem cho tôi mấy quyển "Tạp chí thơ" của HNVVN. Phạm Đức cũng là anh em đồng nghiệp khá thân thiết với nhà thơ PNT - Ấy, tuy thế nhưng họ vẫn nhiều bất đồng về quan điểm trong việc nhìn nhận giá trị, tầm vóc thơ ca. Nhất là về thơ PNT - Phạm Đức nói rằng:

    " Ông ấy - tức là nhà thơ PNT - chẳng coi các nhà thơ đương đại của HNVVN ra gì! Ông ấy nói Ông ấy vượt qua cả Nguyễn Du... thì Hữu Thỉnh ông ấy coi là cái quái gì? Tôi...(Phạm Đức nói về mình) cũng là cái quái gì?...


   Tôi dẫn ra như thế là để nói rằng: Đây cũng là vấn đề cần bàn khi nhìn nhận về thơ & cả con người thơ PNT!?

  Tôi đã nói với Phạm Đức thế này: Nếu các anh cứ quẩn quanh ngồi làm cái tạp chí của HNVVN kiểu như hiện nay - Thì thơ các anh làm chỉ có vứt đi! Các aanh vẫn đánh giá nhìn nhận giá trị của thơ ca theo kiểu cổ động phong trào của giai đoạn đánh ngopại xâm giữ nước. Thơ ấy đến lúc phải để cho nó được nằm mồ yên, mả đẹp... thì các anh cứ bới mãi nó lên!

 
Ừ, bới lên cũng được, nhắc lại cũng được - Nhưng chỉ ít tình thơ có giá trị đặc biệt thôi, chứ đằng này... Cái HNVVN thực chất chỉ là nô dịch cho chính trị, kể cả Hữu thỉnh và đa số ùa theo... Các nhà thơ thời hậu chiến chẳng khác nào giống tầm gửi bám tường chùa để cầu lợi, cầu vinh.

   Tất nhiên Phạm Đức phản đối lại nhận định ấy của tôi!... Thôi, ta bàn tiếp về thơ của PNT:

  Tôi vẫn nói trước hết để nhìn nhận về tầm vóc một chân dung thơ ca - Trong con mắt thơ phải xem loại thơ đó có tồn tại hay không? Tức là phải là loại thơ trường cửu mới đáng bàn về chân dung thi nhân! Và nó hay đến đâu... nhưng cái hay đó cũng phải đánh giá theo kiểu nào? Chứ theo kiểu người tốt như HNVVN, hay số đông các nhà thơ , cả bình luận thơ hiện nay vẫn làm... ấu trĩ quá!

   Nếu không được như các nhà thơ lớn, như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính thời tiền chiến... hay Tản Đà thời trước đó chẳng hạn... thì cũng phải có mảng để lại cho đời như: "Rau tần" của Huyền Trân, "Tinh huyết" của Bích Khê...

   Bây giờ các nhà thơ thời hậu chiến - Tỉ dụ như Hữu Thỉnh... một tí gì đó như "chuyện tình viết ở biển", chứ "5 anh em trên một chiếc xe tăng" vãn chỉ là bài thơ trong dòng thơ cổ động thời chống mỹ... làm gì có mảng thơ để lại cho đời. Hay là Vũ Quần Phương...quanh đi quẩn lại vẫn chỉ mang tí "Đợi"... cũng được đôi câu thôi, còn hầu hết thơ chết đi thì đem theo xuống mồ. Đấy là tôi chưa nói, người hiện đại họ không thích đọc thơ lắm đâu, anh không thể ép ai được? Nên thơ phải tồn tại... mới có lý để nhà thơ sống với nghiệp thơ, đời thơ!

   Chính Bằng Việt trong lời tự giới thiệu của Tuyển thơ của mình vừa qua cũng công nhận: Ông chỉ là nhà thơ của một thời!

   Vậy, không có một mảng thơ nào đủ tầm vóc truyền bá lại cho đời, thì làm sao đánh giá được chân dung thi nhân của ngàn năm văn hiến Thăng Long?...

   Nếu nhìn nhận theo kiểu các "ông kễnh" của HNVVN hiện nay thì sao "thơ điên" của Hàn Mặc Tử có thể trở thành thi nhân lớn? Hay thơ tình sướt mướt... của Xuân Diệu, thơ thảm khốc "Diêu tàn" của Chế Lan Viên, v.v... Phải nói rằng: nhìn nhận chung nhưng cơ bản hầu hết các nhà thơ thời hậu chiến là tầm vóc thấp! Như nhà thơ Phạm Ngọc Thái đã có lần nói với Trần Đăng Khoa - Một thế hệ, một thời đại các nhà thơ của HNVVN thất bại thảm hại!
 
    Ngay cả Nguyễn Trọng Tạo - Khua chiêng, gõ mõ thì giỏi đó thôi, chứ thơ thì cũng sổ toẹt - Có chăng vẫn chỉ là bài hát quan họ... còn để lại được cho đời. Thế cũng đã là may, là phúc tổ 70 đời rồi!

   Tôi cũng đã kể lại chuyện của nhà thơ Chử Văn Long cho Phạm Đức nghe: Khi Chử Văn Long để cho tay giáo viên làng Trần Xuân Lý ca ngợi mình.. rồi tìm cách xuất bản sách: Y đã ví Chử Văn Long là nhà thơ lớn thứ 5... cùng với Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận - Thì lập tức khoảng 20 báo đua nhau vào "đánh" Chử Văn Long... chứ nó nói làm gì cái thằng cha Xuân Lý, giáo viên làng vô danh tiểu tốt kia? Đặc biệt là trên báo Văn nghệ quân đội mắng Chử Văn Long khi dám so với Hàn Mặc Tử rằng; "Gà qué mà dám ví với đại bàng?...

    Đến nỗi Chử Văn Long sượng mặt quá, trách Nguyễn Trí Huân khi đó làm Tổng biên tập báo VNQĐ: Sao lại để cho họ đăng bài lăng mạ mình như thế? Nguyễn Trí Huân xuê xoa qua quít: Tại mình đi vắng, anh em ở nhà nó cho đăng! Thực ra là Nguyễn Trí Huân cho đăng chứ còn ai.


  Tôi bảo với Phạm Đức: Vậy mà bây giờ Phạm Ngọc Thái mắng cả Hữu Thỉnh cùng Vũ Quần Phương... rồi tuyên bố trước Ban chấp Hành HNVVN, trước cả Viên Văn Học Quốc gia... gửo đi cả nước, khắp cả cộng đồng người Việt trên thế giới - Có dám một tay nhà thơ có tên tuổi nào ho he dám công nhiên phản lại đâu? Phạm Ngọc Thái đã xuất bản và dám nói: Động vào anh ta là anh ta vĩ đại ngay!

   Hữu Thỉnh thì rụt đầu lại như rùa, đâu có dám chạm vào PNT, Vũ Quần Phương sợ xanh mắt mèo - Vậy thơ và chân dung Phạm Ngọc Thái là gì chứ? Tôi nói với Phạm Đức: Ngay bản thân anh tuy chơi thân với  PNT đấy, nhưng đâu có vượt qua sự nhỏ mọn, hẹp hòi của anh kẻ sĩ đâu?

    Thơ PNT là loại thơ hay trường cửu tồn tại muôn đời, không dẫm đạp được ông ấy đâu! Phạm Ngọc Thái mới là chân dung một thi nhân lớn có tầm vóc, mà hầu hết các nhà thời hậu chiến không thể đem mà so được. Ừ thôi, chuyện anh ấy so với Nguyễn Du cứ để cho lịch sử dài lâu phán xét... Nhưng dám so thế mà các anh.. từ giáo sư văn học, các nhà bình thơ, các nhà thơ không dám đăng báo "đánh lại" - Nghĩa là các anh không thể có đủ tầm vóc đấu lại PNT - Bởi vì ông ấy quá siêu phàm chứ sao?

   Đấy - Một ban bệ, một tổ chức văn học nào, hoặc cá nhân tầm bậc văn chương nào thấy mình đủ tầm vóc đè bẹp được cả thơ ca lẫn sự tuyên bố của Phạm Ngọc Thái... thì cứ thử ra tay "bóp" xem có nổi không?
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:47:25 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 20.09.2010 03:19:12
.


    Trong bài này tôi  sẽ nói về những câu thơ hay, những đoạn thơ đặc sắc của anh.

      Nói đến PNT là phải nói đến "Người đàn bà trắng" hay "Khóc bên Hồ Núi Cốc"... Nhà thơ có yêu một người đàn bà. Đọc thơ thì ta thấy đó là một người đàn bà trẻ, đẹp. Ở đây vì tập trung chủ yếu nói về những câu thơ hay, những đoạn thơ hay - Nên tôi không muốn dẫn dắt tràn lan, hoặc minh hoạ quá nhiều về người đàn bà ấy! Dù đó là những câu thơ đẹp, chẳng hạn:

Em đi - về chao những hàng cây
Hồ gió thổi lệch vành mũ đội
Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội
Xoã ngang vai mái hất tơi bời.

     Hoặc khi tả về dung nhan em:

Chiếc mũ trắng mềm em đội bầu trời
Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người Đàn Bà Trắng!

   Toàn lấy thiên nhiên, mây, nước... để vận vào nàng. Bởi một lý do nào đó mối tình đó không thành - Như Xuân Diệu nói:

Tình chỉ đẹp khi còn dang dở...

     Nên năm tháng nhà thơ càng yêu da diết, nàng trở thành thần tượng của thơ ca anh! Nhưng ta gặp trong bài này một đoạn anh nói về cái vật phẩm mà tạo hoá ban cho người đàn bà... đối với cả vũ trụ, thế giới, cũng như cuộc sống con người. Cái gọi là đàn bà ấy, anh tả rằng:

Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai!
Người đàn bà ai mà định nghĩa?

    Ở hai câu thơ tả về đàn bà này ta thấy nó mở ra một thế giới trong người đàn bà - Cái chùm trinh ấy cất tiếng hát đã tạo thành vũ trụ. Mà vũ trụ ấy lúc nào cũng mênh mông, cũng hoang sơ thanh khiết... nói đúng ra là rất tình dục, nhưng mà lại đi vào như lên cõi thiên thai!

     Nhưng còn câu thơ "Người đàn bà ai mà định nghĩa" - Thì nó lại chứa đựng cả một đời sống. Từ cuộc sống tinh thần, vật chất, thể xác cũng như tinh thần... Sự tồn tại của thế giới mà tạo ra trong sự dị phàm từ người đàn bà ấy - Đây chính là sự độc đáo, siêu nhiên tạo ra trong thế giới thi ca của anh.

     Ta xét tiếp về một đoạn thơ khác rất sâu sắc trong bài NĐBT này:

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo con-đường-lông-ngỗng-trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau.

    Trong tình yêu & cuộc sống đời thường đầy mâu thuẫn, nghịch lý. Tác giả vừa lấy cái thực của cuộc đời mình, gắn với các thần tượng tình yêu trong lịch sử như: Chuyện Mỵ Châu- Trọng Thuỷ?

     Nàng rắc lông ngỗng cho chồng tìm mình... nhưng lại chính là mở lối cho giặc đuổi theo cha. Nhưng câu chuyện tình yêu son sắt ấy lại kết thúc một cách bi thảm, dù rằng trái tim đôi lứa thì sáng trong như ngọc.

     Lại kể chuyện của chàng Trương Chi lái đò trên sông vắng, vì tương tư nàng Mỵ Nương mà chết.

    Hai câu chuyện ấy được nhà thơ gắn lại - Cũng không phải là phản biện, nhưng cuộc đời của nhà thơ và em nói riêng... cũng như nhiều mối tình trai gái khác -  không đi theo hướng bi thương đó. Dù tình yêu tan vỡ thì cuộc sống họ vẫn phải vượt qua mà tồn tại, thế là:

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu

    Và: Anh cũng không làm chàng Trương Chi... năm tháng héo mòn trên con sông vắng - Như thế có nghĩa là họ không đi theo con-đườnglông-ngỗng-trắng... Vậy thì trong thi ca bài thơ NĐBT đạo lý về tình yêu ở chỗ nào?

    Nếu không bài thơ sẽ gẫy, hình tượng thơ sẽ không đứng được dù cuộc sống đời thường như thế. Thi ca nó có luận lý của thi ca, nó không thể tuần tự bê tất cất nguyên si như đời thường vào! Không cẩn thận là hỏng thơ? Ta hãy nghe nhà thơ chốt câu thứ tư, câu thơ kết lại của đoạn:

Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau

    Nghĩa là dù tình tan vỡ nhưng hình ảnh em mãi mãi ở trong anh, ngược lại... em cũng mãi mãi yêu anh. Sự thuyết phục của thơ chính là câu thơ kết đó. Để sang đoạn thơ sau, tác giả đã đi sâu hơn để khắc hoạ tình chung thuỷ lứa đôi, vẫn thật thắm thiết & bền đẹp:

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu

    Đúng như vậy: Dù tình tan vỡ, dù không đến được với nhau, dù em vẫn phải lấy chồng, anh lấy vợ... nhưng trái tim ấy vẫn có thể tháng năm còn chảy máu!? Lòng anh vẫn xót xa, em vẫn bồi hồi , xao động mỗi khi nhớ lại.

    Nói như thế, ta không thể lấy cái luân lý ở cuộc sống để phê phán về đạo đức. Cho rằng như vậy tức là cô không chung thuỷ với chồng, còn anh dầu có vợ vẫn còn mơ màng về gái? Xin thưa, thơ ca là thơ ca... không thể lấy cái sự đời như thế mà phê phán đạo đức của nhà thơ được.

    Huống chi đời sống thực cũng thế, hầu như có mấy ai (dẫu đã có vợ chồng) mà đã quên được mối tình xưa sâu sắc. Đêm nằm bên vợ mà vẫn nhớ, tơ tưởng đến em là chuyện thường tình:

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, khững đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em
Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...

    Ngoài những đoạn thơ như thực, mà mang tính triết lý sâu sắc để tạo thành những câu thơ hay, tôi nói về câu thơ câu thơ kết tuyệt tác cuối cùng này:

Người đàn bà ngậm cả vầng trăng

    Chữ "ngậm" vầng trăng ở đây rất đắt. Hình tượng như thiên thai, trời đất... ví về người đàn bà. Vầng trăng thường mang hình tượng của người đàn bà. Nhưng vầng trăng ở đây có khi còn là cái đó của người đàn bà... mà nàng mang nó ở trong mình.

    Chữ ngợm vừa gợi cảm vừa mỹ học. "Người đàn bà trắng" thuộc trong ít bài thơ  đứng vào hàng tuyệt đỉnh của PNT. Lần sau tôi sẽ phân tích những câu thơ hay trong bài thơ tình "Em Về Biển" của anh.
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 19.10.2010 02:11:39
.


    
Nếu ở trong bài "Một góc Hồ Tây"có 2 câu thơ rất hay:

Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng
Lá vàng rơi... thay vào chỗ em ngồi

     Chỉ là một sự cô đơn của nhà thơ ở trong buổi hoa niên - Nhưng cái hình ảnh chiếc lá vàng rơi... lại thay thế vào chỗ ngồi của người yêu xưa nó hiu quạnh, cô lẻ, chơi vơi... một cách xa xót. Tuy nghe hình ảnh có vẻ trữ tình đó, nhưng thật là sự chua chát của đời người.

      Hình ảnh câu thơ đẹp như thiên nhiên nhưng đã thấm vào lòng người thật thân thiết. Có thể nói : nó thuộc vào trong những câu thơ hay một cách kinh điển. Câu thơ thần xuất mà có thể nghiêng ngửa một góc trời.

      Trong bài thơ "Em về biển" cũng có những câu thơ, đúng ra là cả một khổ thơ 4 câu - Độ hay cả về sự triết lý, tính tư tưởng trong thi ca, đã đạt đến tầm vóc mà hình tượng thơ trở thành miếu mạo:

Bờ bãi đời người - Cuộc sống tình yêu
Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân Phật Tổ!
Ta cũng thể loài cua còng trong bể cả
Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu.

      Trong khổ thơ - Hai câu thơ sau chỉ là cái nền để đỡ cho thần tượng của hai câu thơ trước, mà ý nghĩa về sự thánh thiện của tình yêu đã được đẩy lên chót đỉnh.

     Như  Puskin đã nói: Chỉ có tình yêu mới giết được thù oán! Hay như nhà thơ Nga Lec-môn-Tốp đã ví thần tượng về tình yêu với người đàn bà:

Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ.

      Ở đây trái tim yêu đương của người con gái là cả toà sen nơi Phật Tổ... trong tình cảm, tâm hồn, trí não của cuộc đời anh. Thì cũng như dân gian thường ví, tình yêu của người đàn bà có thể cải biến một tên bạo chúa trở thành người lương thiện.

      Mà tình yêu ấy toả sáng ở đâu? - Ở trong Bờ-bãi-đời-người... Sự triết lý ấy mang theo tính tư tưởng của cuộc sống, bình dị mà vô biên.

    Tôi cho rằng: những câu thơ như thế này đã đạt đến điểm đỉnh của thi ca! Thuộc trong hàng những câu thơ trí tuệ, tầm vóc có hạng của thi đàn xưa nay. Những câu thơ đạt tầm cao như thế... là vô giá, đã góp phần đưa tên tuổi của thi nhân sống mãi với thời gian.

     Trong bài thơ "Thời áo trắng" cũng có những câu thơ gợi cảm về tình yêu thuở còn trong trắng, ý nhị, mà chứa chất đầy tính mỹ học như:

Ôi! Yêu dấu cái thời còn cắp sách
Mắt em cười mùa thu xanh lên
Những buổi chúng mình tìm anh trăng để học
Tà áo trắng động vào...khe khẽ nát tim anh!

     Hình ảnh của một thuở: khi mà tà áo trắng của người bạn gái động vào... làm mê man, bồi hồi, thậm chí làm run rẩy trái tim anh - Ở đây tác giả dùng hình ảnh: "...khe khẽ nát tim anh!" - Tà áo trắng động vào đến mức độ làm... tan nát cả trái tim anh! Cái tuổi còn mộng mơ, trong trẻo vô vàn, như thể hương hoa vậy. Đến mức độ tan nát... nhưng tác giả tả chỉ là... khe khẽ nát - Cái từ "khe khẽ" nó thầm lặng, nhưng sự thầm lặng này lại đang cào cấu trong trái tim của người con trai, trong một đêm học bài bên người bạn gái.

     Về cách sử dụng hình ảnh, ngôn từ hay, tinh tuý... ta có thể liên tưởng một chút trong Kiều của cụ Nguyễn Du: Ở cái buổi thanh minh mà chị em Thuý Kiều, Thuý Vân gặp chàng Kim Trọng - Khi chàng Kim Trọng đi rồi, lòng Thuý Kiều không khỏi bâng khuâng, quyến luyến bồi hồi... bị cuốn hút theo hình bóng của chàng.

       Nhưng Kiều muốn trông theo chàng mà không dám nhìn thẳng - Thời ấy con gái có lễ tiết là phải giữ gìn, e lệ... chứ không đâm bổ như con gái thời hiện đại bây giờ - Thích thì có thể nhảy sex ngay! Nguyễn Du tả hình ảnh KIều len lén nhìn theo bóng chàng Kim thế này:

Bóng hồng đã khuất người còn nghé theo

     Nàng chỉ dám "nghé" theo chàng, tức là nhìn lén theo chàng... chứ không dám nhìn thẳng theo người dần dần đi khuất - Ngôn ngữ hình tượng siêu đẳng trong thi ca là vậy.

      Quay trở lại với bài thơ "Thời áo trắng" của PNT, ta thấy nhà thơ miêu tả:

Tà áo trắng động vào... khe khẽ nát tim anh!

     Cái từ "khe khẽ" như chỉ mới gợi đến một chút cảm xúc tình dục, luyến ái... nhưng cũng đầy gợi cảm, đó là hình ảnh tả về những cảm giác yêu đương thuở mà người con gái đang ở cái tuổi như hoa thơm, nhuỵ ngọt... trong sáng một cách hữu tình. Ngay cả những hình ảnh tả về em ở những câu thơ trên:

Mắt em cười... mùa thu xanh lên!

     Đôi mắt cười làm cho mùa thu xanh thêm ... thì sử dụng hình ảnh câu thơ rất thành công. Tất cả những cảm xúc có được của những buổi mà đôi trẻ ấy đã:

Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học
Tà áo trắng động vào... khe khẽ nát tim anh!

     Có phải thế nên chúng mới tìm ánh trăng để học với nhau chăng? Kỷ niệm về tình cảm với người bạn gái thời áo trắng của nhà thơ cũng là một bài thơ rất điển hình và hay!

    

 

 

 

    


nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 16.11.2010 12:26:06
.


               Có khá nhiều các website – blog & cả báo ở Hải ngoại đã đăng hai bản tuyên cáo của nhà thơ “Phản bác” lên HNVVN: Tôi có thể điểm vài tờ như  Hải Vân News   * TUỔI TRẺ VIỆT HẢI NGOẠI ở Hoa Kỳ, Tuần báo  NAM ÚC  hoặc web cá nhân của HOÀNG GIA ANH cũng ở Mỹ.
     Một số web – blog nữa  trong nước còn đăng cả bài: PHẠM NGỌC THÁI – NGƯỜI HAI LẦN THI SĨ của NS Sân khấu & Điện ảnh Hà Nội viết về anh – Như vanthoviet.com ở Bình Định, binhchonthohay.com ở Gò Vấp, trannhuong.com ở Hà Nội v.v…
      Nhân Văn xin trích đăng lại ra đây một blog khác đã đăng tải chân dung thơ PNT với cái biệt hiệu “Một quái nhân” & những cảm nhận tốt đẹp về nhà thơ. Đó là Blog  GIÓ ĐỒNG QUÊ của Thi hữu Dương Phượng Toại ở HVHNT Quảng Ninh – Như sau:





 

Nhà thơ Phạm Ngọc Thái.

Quê quán Hà Nội.
Điện thoại: 0168 302 4194

   ĐÃ XUẤT BẢN:
- Có một khoảng trời ( 1990)
- Người đàn bà trắng ( 1994)
- Rung động trái tim (2009)
& có nhiều thơ, lý luận văn học in trên các báo Trung ương, địa phương...


                          

                      PHẠM NGỌC THÁI
                     NGƯỜI HAI LẦN THI SĨ

                                                              Trần Việt Thịnh 
                                                       NS Sân khấu và Điện ảnh Hà Nội



          Có một triết gia từng nói: "Hạnh phúc của đời người là được sống và làm những gì mình yêu thích!" - Phạm Ngọc Thái là một trong những người như thế! Anh yêu thơ, say thơ và làm thơ khá nhiều
Tôi biết đến thơ anh từ những năm 70 của thế kỉ trước, và cảm thấy anh thực sự hạnh phúc với công việc mình làm.                                                                                                                                                             
      
Nếu thơ ca là ngôi đền kì vĩ và cao sang, thì có thể coi anh là một tín đồ của không nhiều tín đồ trong ngôi đền đó.
        
Thơ anh gồ ghề, hầu hết là thơ tự do, ít tuân theo niêm luật, song nó chứa đựng nhiều mặt của cuộc sống. Anh mượn thơ như một công cụ để lý giải sự đời:
Đời bình dị - Mái tường sạt đổ
Lẽ sống giản đơn... mâu thuẫn chất chồng...  
                       (Tập thơ CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI)
Hay là:
Đời chỉ thế có gì quan trọng
Đừng cao siêu, cũng đừng quá coi xoàng!
                      (Tập thơ NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG)
 
      Anh viết nhiều, sắc mầu đủ cả - Ngay từ thưở còn chiến tranh, anh cũng có những bài thơ tình giàu hình ảnh chứa chan:
Sao em không tắm nắng trên đồi
Không gội đầu dưới suối
Quấn làm duyên quanh cành cụt chơ vơ...
Ta gọi tên em: Hoa phong lan,
                                              em ơi - có nghe!
                                     (Bên nhành hoa phong lan)
        Về nỗi nhọc nhằn của những người con xa xứ, anh viết:
Kẻ tìm vàng - Người vì cảnh nghèo đi
... Hạt muối xót tháng năm và lòng ai đắng
Tôi nhận chìm tôi vào những lãng quên! 
                           (Nỗi trăn trở người đi tìm vàng)
     Anh đã đau nỗi đau của sự đời lắm éo le mà có thật. Những ngày tha hương, ở xa quê anh viết nhiều thơ về vợ con, tôi thích cái tứ:
Có một khoảng trời để thương để nhớ
Là khoảng trời ở đó có em!
Những bóng cây trên đường phố thân quen
Đêm đêm chiếc lá nhớ lại bay về, xào xạc... 
                            (Có một khoảng trời)
      Anh xin làm một chiếc lá, mà đây là lá nhớ, lá mong... của một thân cây trên con phố quen thuộc ở quê mình.
       Nhất là tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM (XNB Thanh niên 2009)-  Thi phẩm rất đặc biệt của anh. Viết về thiên nhiên hình tượng đẹp lại giàu chất đời sống phong phú, còn về tình yêu đôi lứa thì với cách nhìn mang màu sắc triết lý nhân sinh:
Bờ Bãi Đời Người - Cuộc Sống Tình Yêu
Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân Phật Tổ! 
                                   (Em Về Biển)
Anh thương một đứa trẻ ăn mày:
Trước đứa ăn mày tất cả chúng ta Hoá Thánh!
Nó đói lòng cúi lậy rất từ bi.... 
                           (Đêm trung thu và đứa ăn mày)
Rồi anh xót xa cho người em vợ vừa lìa bỏ cõi trần:
Người sống đưa chân người chết đây
Đầu bạc làm ma mái xanh này?
Mẹ, cha... queo quắt còn ham thọ
Em nhởn thanh xuân lại vội quay 
                                (Làm ma em vợ)
Để nói về nỗi tình trước cảnh người quét rác đêm, anh viết:
Trăng như đứa không nhà trôi lạc lõng
Con nai vàng chết bóng thu xưa
... Cô quét lá đêm hồ khe khẽ vào khuya... 
                                               (Cô quét lá đêm hồ)
     Thơ anh bao trùm nhiều đề tài, thể loại, mà loại nào cũng đậm đà sâu sắc đến lạ kỳ. Mảng thơ tình anh viết khá hay và rất trội:
Em đến để làm sông làm sóng
Để cuộc đời đang vắng bỗng phi lao... 
                                           (Tiếng ếch)
     Anh cũng thường sử dụng những hình ảnh rất đời thường để nói về nỗi quạnh vắng của tình yêu, câu thơ vẫn không kém phần dung dị và hay:
Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng
Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi...
(Một góc hồ Tây)
     Ngay trong bài NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG khá nổi tiếng, có những câu thơ mà hình tượng đạt đến sự hoàn bích:
Người đàn bà đi trong mưa rơi
Chứa một trời thầm như hoa vậy... 
    Hay là:
Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!
Để rồi trào theo dòng cảm súc tác giả kết thúc bài thơ:
Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát
Khúc thơ tình anh lại viết về em
Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...               
    Nó không giống Xuân Diệu hay Thế Lữ, có chăng phảng phất đâu đó của thơ Hàn Mặc Tử. Có chút cay chua của Hồ Xuân Hương, hoặc âm hưởng của Uýt-Man (nhà thơ Mĩ).
    Có những bài anh lại viết theo phong cách rất Tú Mỡ trong cách nhìn về hiện tại: 
               Bà chủ quán bước ra ngoài đón khách 
               Bóng nàng đi dẫm bẹp cả hoàng hôn...
                                                      (Bà Chủ Quán)

      Lâu lắm rồi, thi đàn của ta vẫn còn hiếm lắm những bài thơ hay để ca lên được, thăng hoa lên được thi vị tính chất của cuộc đời... qua sự chắt lọc của người nghệ sĩ - mà Phạm Ngọc Thái là một nghệ sĩ giầu chất men say.    
     Thơ anh không dễ đọc và cũng không dễ hiểu. Song, đọc đi đọc lại ta mới thấm cái sâu xa lí lẽ con người trong cuộc tồn sinh. Anh muốn đi đến tận cùng của sự việc - Mà thơ ca đạt đến độ này thực khó!...
      Miệt mài như con ong, anh chắt chiu cho từng trang viết. Có lúc tưởng chừng sự thái quá làm anh nhập thiền vào cõi thi ca! Thơ anh nay đã có nhiều tiếng vang & được nhiều người biết đến, cũng mong rằng trong thời gian tới tầm vóc chân dung anh sẽ được đánh giá đầy đủ hơn.
     Đã vào cái tuổi hoa niên có lẻ cùng với Tuyển thơ anh để lại cho đời cũng sung mãn rồi, nhưng thấy anh vẫn còn say sưa lắm - Tôi tin, thơ và cả những bài bình thơ của anh sẽ giúp cho bạn đọc cảm nhận đầy đủ hơn về lẽ Chân Thiện Mĩ ở đời!
     Nữ thi sĩ Nga On Ga Béc Gôn có viết:
" Trong số nghề nghiệp và nghệ thuật tác động vào tâm hồn con người, không có sức mạnh nào vừa khoan dung vừa tàn nhẫn hơn thơ. Không có công việc nào tự nguyện và đầy đủ hơn công việc phục vụ thơ. Không có tình yêu nào được đền đáp hơn tình yêu thơ - Và bởi vậy người nào yêu thơ là hai lần thi sĩ !"...
Phạm Ngọc Thái là một người như thế ! 
                                                                               TVT.
 

   
             Ai muốn đọc TUYỂN THƠ ĐẠI BÀNG của quái nhân này thì nháy
                                       vào link sau đây:

                         http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=185724    
 
 
                        TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU    
 


       
KHÓC BÊN HỒ NÚI CỐC

Anh đã đến bên Hồ Núi Cốc
Gửi hồn theo dòng nước trôi thây...
Gió gào thét trong lặng chìm tim óc
Em khoả thân nằm trên bóng bến xưa bay.

Nước mắt nàng Công khóc tan ra suối
Cốc chết bên sồi lại hoá thành non...(*)
Nhưng để làm gì khi tình vô vọng ?
Chút hương nàng vẫn ấm khoảng đời con.

Bóng ngàn than huyền thoại tang trắng phủ
Mà miệng còn muốn cắn vú người yêu !
Ôi, hồ núi cứ xanh rì muôn thuở
Máu ta đổ đầy cho tạo hoá tạc phù điêu.

Anh đến bên Hồ Núi Cốc giữa chiều
Thơ rỏ đôi hàng, lệ tràn một chén
Khóc chuyện tình xưa là khóc mình lắm lắm
Mai chết rồi làm nước tắm cho em...

                                
                                               Đêm 9/7/1997 
 
(*)  Huyền thoại kể: Nàng Công ( con gái quan lang dân tộc ) thương nhớ chàng Cốc khóc mà chết! Nước mắt nàng chảy thành suối nay biến ra hồ. Chàng Cốc (chỉ là một tiều phu đốn củi) thương nàng Công cũng chết dưới gốc cây sồi, hoá thành non bao bọc lấy hồ… nên mới có tên gọi: Hồ Núi Cốc! 
 


            EM BÁN XOÀI




- Anh trai mua xoài cho em đi?

Nha Trang! Ta nhớ Nha Trang!...

Em bán xoài đi đêm trên cát trắng
Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang
Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm
Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh.

Xoài em chín! Đêm tàn canh em đón khách…
Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi
Em bán xoài thơm! Em bán xoài thơm!
Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi
Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?

Thế giới em đi “ Vòng thiên la địa võng “
Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
Xoài em thơm! Hương toả mát thân người...
Ai mua xoài?
                        Còn ai có mua em?

Các cô gái đi đêm như các cột đèn
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...
Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm.

                                          
                                                        1992
 



      
LÀM MA EM VỢ                               
                           Kính viếng hương hồn cụ Nguyễn Du. 
                                    


Em kết liễu! Tự giải thoát mình khỏi " kiếp"

Chết thật hèn, nhưng sống thế càng ôi
Anh thắp cho em một nén nhang đời
Và lễ tạ: Nam-mô-di-Phật!

Người sống đưa chân người chết đây
Đầu bạc làm ma mái xanh này
Mẹ, cha... queo quắt còn ham thọ
Em nhởn thanh xuân lại vội quay.

Em ơi : chữ Kiếp trước chữ Người!
Sống cần cố gắng - Chết rồi thôi,
Hãy đi, yên nhé! Coi hết nợ... (*)
Anh ở vì chưng trả nợ đời.

                                
                                         5/7/1998

  (*) Nàng Kiều trẫm mình trên sông Tiền Đường nhưng lại được Giác Duyên vớt cứu - Theo thuyết bản mệnh của Phật giáo ở cụ Nguyễn Du: Nàng chưa thể chết... vì chưa trả hết nợ đời!



                 
EM VỀ BIỂN

                         Bờ Bãi Đời Người - Cuộc Sống Tình Yêu
                         Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân Phật Tổ!
                         Ta cũng thể loài cua còng trong bể cả
                         Yêu thương nhiều hưởng đã bao nhiêu.

              
                                    kỉ niệm K.A - Người nữ sinh trường SPNN năm xưa. 
                                            Quê hương thành phố biển                                      



Em về biển để vùi vào trong cát

Nỗi buồn nước mắt
Những nát tan vòm ngực đã thương đau.

Biển cứ vỗ tan... nát tình biển cả
Xô mãi bờ với lá thông reo,
Người thiếu nữ ấy dần thành cát trắng
Mang nỗi niềm không biết đã đi đâu ?

Tháng năm trôi…tình cũ cháy như khêu
Dòng suối thần tiên nuôi đời ta mục ải
Đôi gót đỏ ánh mắt nhìn thơ dại
Đã thổi thành bão tố ở trong anh.

Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
Anh còn đây - Em hỡi! Anh còn đây,
Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ
Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...

Tóc nửa bạc rồi… Tình vẫn đó , em ơi! 
         
                                        
                                                        2/12/1993 

 


         TIẾNG RÚC CHIM ĐÊM 

                               Những tối trăng ngời...dưới ánh sao khuya...
                               Anh vẫn đắm mình về phương ấy
                               Những câu thơ như ngôi sao bùng cháy
                               Và cuộc chia ly đã hoá cánh buồm...
 


Con chim đêm rúc mãi ngoài cây

Nó nói gì không biết ?
Chắc con mái ham nơi vui thú khác
Đã không về !...con trống gọi suốt đêm.

Chim gọi đàn - Anh gọi tên em
Năm tháng, nắng mưa, non ngàn, bão tố
Có lẽ nào em không về nữa
Để hồn anh hoang mạc, bơ vơ.

Đã xa rồi! Mùa dĩ vãng trăng mơ…
Đời vui vẻ cuốn theo dòng gió bụi
Bao ý nghĩa trong cuộc đời tồn tại
Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!

Ngàn năm xưa cho tới bây giờ
Ta muốn hỏi đến muôn đời sau nữa:
Mọi giá trị vĩnh hằng , nếu có
Sẽ là gì? Khi thiếu vắng em ta!...

Con chim đêm run rẩy bóng xanh già
Anh bổi hổi một thời qua vọng lại...
Và tất cả đã trở thành trống trải
Sao em lại phụ bạc tình,
                           con mái thương yêu?
                                           
                                     
                                                           11/11/1993
 
           THỜI ÁO TRẮNG 
 


Trả lại cho anh một thời áo trắng

Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...
Những bông hoa mùa xuân thôi không nở
Đi dưới bóng điện đêm lòng sẽ rất buồn.
 
Ôi, yêu dấu cái thời còn cắp sách
Mắt em cười mùa thu xanh lên!
Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học
Tà áo trắng động vào...khe khẽ nát tim anh!
 
Trả lại cho anh một thời áo trắng
Đã đi qua và...đã đi qua...
Với cả dòng sông trôi mơ mộng
Lá lá rụng vàng, tóc tóc hóa sương pha.
 
Nghe gió thổi hàng cây vi vút
Em biển xanh xa mãi vô cùng…
Anh đứng lặng một mình bên bờ biếc
Những âm thanh kêu bổi hổi trong lòng.
 
Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!...
                                                                        
                                                      31/7/1996 



 



           
NGƯỜI ĐÀN BÀ TRẮNG 

                                     Người đàn bà đi trong mưa rơi
                                     Chứa một trời thầm như hoa vậy...




Chiếc mũ trắng mềm em đội bàu trời

Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người đàn bà trắng!...

Em đi - về... chao những hàng cây
Hồ gió thổi lệch vành mũ đội
Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội
Xoã ngang vai mái hất tơi bời.

Nỗi niềm thao thức
Những đêm trăng nước...
Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai!
Người đàn bà ai mà định nghĩa?

Đường xưa đó về đây em ơi!
Những con đường đã đầy xác lá rơi
Xác ve, xác gió và xác của mưa.

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
                                       suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau!

Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát,
Khúc thơ tình anh lại viết về em!
Người đàn bà... ngậm cả vầng trăng...
                  
                                           ( những năm 90) 
 



        
  Tôi gọi em bằng cái tên Người Đàn Bà Trắng (NĐBT), thực ra khi ấy em vẫn còn là một thiếu nữ: 
                   Chiếc mũ trắng mềm em đội bàu trời 
                   Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc 
     Từ chiếc mũ vải trắng mềm em thường đội trên đầu lẫn vào trong khóm mây, và khóm mây kia nghiêng trôi trên mái tóc em. Nghĩa là: bóng em đi hiển hiện dưới một bàu trời cao vời vợi. Ấn tượng nhà thơ về em cứ vờn bay cùng trời mây, gió cuốn. Đến đôi mắt của người yêu: 
                   Đôi mắt em đong những áng mây 
                   Người đàn bà trắng!... 
      Đó là đôi mắt của mùa thu êm ái, ngọt ngào, trong xanh và xa thẳm. Bích Khê trong bài thơ Tranh Loã Thể cũng đã tả về đôi mắt người mỹ nữ: 
                   Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường 
     "châu" ở đây là châu ngọc - Đôi mắt đẹp của người đàn bà được thi nhân mô tả ấy mang tính mỹ học (châu ngọc, nghê thường). Thân thể nàng cũng trinh trắng bay ra như hương, như tuyết. Khoé mắt nàng lung linh ánh sáng kỳ ảo, dị thường. Còn NĐBT - đôi mắt em lại đẹp một cách hiền dịu , mộng mơ. Nhà thơ đã lấy những hình ảnh từ trong vũ trụ, trời đất qua cảm xúc mà tả về em. 
      "...đong những áng mây" : Đôi mắt người yêu vừa huy hoàng lại vừa nhân ái, anh đã phiêu du trong đôi mắt ấy. Nó chìm ngập một thế giới...chiếu rọi vào những ngõ ngách làm cho cuộc đời anh sáng bừng lên, nhưng nó cũng từng làm tan nát trái tim anh! Đôi mắt người yêu mang đầy sự huyền ảo như Xuân Diệu đã viết: 
                   Đến tan cả đất trời 
                   Anh mới thôi dào dạt 
     Em thật hiền! Ta đã yêu em từ đôi mắt ngời lên như một trời châu báu, là cánh cửa tâm hồn của người đàn bà, mà thăm thẳm bao la cả bể ái tình. Sang đoạn thơ hai hình ảnh người thiếu nữ hiện lên đi giữa cuộc đời, qua một khung cảnh thiên nhiên rực rỡ: 
                   Em đi - về... chao những hàng cây 
                   Hồ gió thổi lệch vành mũ đội 
                   Thấm đẫm mình em cả thềm nắng gội...        
     Cả thềm nắng hắt lên mình em như tơ lụa của đất trời có gió thổi, cây đưa...Vẫn chiếc mũ vải trắng mềm xưa mà em thường đội lệch, che lên khuôn mặt đẹp như một vầng trăng mọc. Cái bờ hồ gió thổi ấy chứng kiến bao nhiêu kỷ niệm của nhà thơ đã có. Những tháng năm anh đã sống trong êm đềm và hạnh phúc của tình yêu. Giờ đi lại những con đường đã qua, anh như nghe thấy cả một khúc tình ca đang sống lại. Ở đó, mái tóc người con gái xưa vẫn xoã tung bay trên đôi vai trần trắng của nàng : 
      Xoã ngang vai mái hất tơi bời 
     "tơi bời" ở đây có ý nghĩa của sự chói loà, chói ngợp...bởi sự chinh phục thời con gái.  Là tình yêu tơi bời, mãnh liệt và sấm sét của nàng. Tơi bời là tơi bời xuống sự sống, là bão tố phong ba, là sức mạnh phóng túng của con người Nàng có thể làm say đắm , ngả nghiêng cả tâm hồn, trí não và trái tim ta! 
     "Xoã ngang vai mái hất tơi bời" -  Nó tôn vinh thêm sự rực rỡ bởi quyền năng thời con gái của em. Em đi…vẫn bàu trời trong xanh, mĩ miều, mềm mại với chiếc mũ vải mềm xưa và khóm mây trắng nghiêng trôi trên mái tóc. Nhịp thơ trải dài ra như những làn mây, lớp lớp trên những dòng thơ. Bồi hồi trong kí ức xưa, hồn nhà thơ như con đò mộng lạc vào nơi bến vắng, cô đơn! Chỉ còn nghe thấy tiếng gió táp mưa sa, cùng những lá vàng tháng năm rơi phủ xuống trời đất. Trong cảm xúc, tiếng lòng nhà thơ đã cất lên gọi vọng tình em: 
                  Đường xưa đó về đây em ơi! 
                  Những con đường đã đầy xác lá rơi 
                  Xác ve, xác gió và xác của mưa 
   Những con đường ấy giờ đây thật là hoang dã trong qui luật bụi cát của thời gian. Con đường mà người con gái đã đi qua cuộc đời nhà thơ ấy, dù cuộc sống có bao nhiêu trăn trở, năm tháng cứ trôi đi nhưng.hình bóng em không phai nhoà. Thân thể của người yêu như một vườn đầy tiếng chim và hoa thơm.  Tình yêu em  đang làm xa xót trái tim anh!...Người con gái năm xưa  cũng đang phiêu dạt nơi nào trong gió mưa phủ táp cuộc đời? Dông bão sẽ dội xuống mà em như một đoá hoa thơm rực rỡ đang bị nhấn chìm , vò xé ở trong đó! Hình ảnh đoạn thơ nghe như trong giấc mộng : xác gió, xác mưa, đã đầy xác lá, xác ve...trôi . Nghĩa là: lớp lớp năm tháng chồng lên nhau phủ xuống nấm mồ tình! Những kỉ niệm êm đềm và những tối yêu em đã rất xa...nhưng vẫn lẩn khuất trong tâm tư của lòng chàng. Khi những ánh điện đêm thành phố, bàu trời sao giăng chiếu qua khoảng trống của những tán lá cây soi lên mình em...khuôn mặt em tha thiết biết bao. Đôi má em  mịn mà như một miếng trăng thơm, anh chỉ muốn cắn hôn lên đó. 
       Mắt em nhìn thân thương, trìu mến. Anh khẽ kéo em vào hôn đắm đuối trên đôi môi nàng ngọt ngào như thể trái cây. Bóng cây mờ tỏ che khuất đi những cử chỉ thèm muốn của nỗi đam mê (?) Anh lần qua làn áo mỏng xoa trên thân thể nồng cháy, đặt lên bộ ngực êm mát của nàng - Hai bàu trái cũng nóng hổi xúng xính trong tay anh. Mắt em nghiền nhắm lại đưa hồn vào cõi ru mê!...Ôi, cái của người thiếu nữ mãi mãi là báu vật mà nàng mang tặng nó cho ta! Bàn tay anh chỉ muốn đi tìm vào cõi thiên thai. Bà Hồ Xuân Hương đã tả về cái đó của em thế nào: 
                   Cỏ gà lún phún leo quanh mép 
                   Cá diếc le te lách giữa dòng... 
   Anh khẽ vén búi cỏ gà để vuốt ve thiên tạo. Đôi chân trần trắng như ngà em giương cao như đôi cánh hạc, để lộ ra cả một vòm điện ngọc : Đó là cổng trời!...Ở nơi ấy vào cung nguyệt, một động ngọc ngà tuyệt đẹp! Khe vào cổng sâu thẳm để đón tình yêu của anh vào với em. Nơi giáp gianh giữa trời đất, âm dương tận cùng gặp nhau. Như trong bài thơ NĐBT đã viết: 
                   Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai! 
                   Người đàn bà ai mà định nghĩa? 
        Cụ Nguyễn Du cũng đã tả về cái của nàng Kiều: 
                  Dầy dầy sẵn đúc một toà thiên nhiên 
     Nhưng đây là cả một động thiên thai tạo hoá đã dầy công để tạo ra, gắn lên tấm thân người đàn bà thần tiên và tuyệt mĩ biết bao! Vũ trụ ấy của em đã sinh ra tất cả các kiệt tác của nhân loại này, cao vời vợi và bất tử! 
     Giờ đây nhà thơ chỉ còn nghe thấy tiếng gió mưa phủ lên những con đường ấy, đã đầy xác lá, xác ve...trôi. Cái bờ hồ gió thổi  ngàn năm sau vẫn còn quyến luyến bóng hình em ở đó. Mãi mãi ở trong anh... 
    Tôi xin trở lại phân tích sâu thêm về đoạn thơ ba: 
                    Nỗi niềm thao thức 
                    Những đêm trăng nước... 
                    Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai ! 
                    Người đàn bà ai mà định nghĩa ? 
   "Chùm trinh em hát..." : Hình ảnh thơ đã được cách điệu hoá. Trong bài thơ Bẽn Lẽn của Hàn Mặc Tử : Vào một đêm trăng sao lòng những cô đơn - Thi nhân đã mơ đến những giây phút được vui vầy với người trinh nữ . Ông mường tượng ra cả cái của nàng cũng giống như vành nguyệt đang in soi trong khe nước. Lòng thi nhân bồi hồi thảng thốt kêu lên: 
                   Ô kìa! Bóng nguyệt trần truồng tắm 
                   Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe... 
     Đó là một áng thi tuyệt tác, có thể coi đó là những câu thơ vàng. Ông run rẩy mê man đắm nhìn cái vầng trăng của người trinh nữ ấy: 
                   Tiếng lòng ai nói? Sao im đi? 
     Chính bởi thế Bẽn Lẽn đã trở thành một trong số bài thơ hay nhất của ông. Còn cái ấy của NĐBT thì sao? 
                   Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai! 
     Hình ảnh thơ mô tả lại mang màu sắc trừu tượng và gợi cảm. 
    " Chùm trinh em hát...": Nó đã mang cái của nàng bay lên! Suy cho cùng vũ trụ và thế giới đều tồn tại và sinh ra ở đó! Nó vừa vĩ đại vừa man dại. Nếu không có cái chỗ thiên thai ấy của người đàn bà thì không có thế giới, không có cả linh hồn lẫn sự sống và cũng không có ý nghĩa gì về lịch sử của thế gian này. Với câu thơ: 
                   Người đàn bà ai mà định nghĩa ? 
     Tôi nhớ đã được đọc những trang sách viết về thân thế và sự nghiệp của Đại văn hào Nga vĩ đại Lép Tônxtôi - Ông là một thiên tài xây dựng hàng trăm tính cách về đàn bà có những mẫu mực khác nhau. Người từng nói những câu đại ý rằng: Không thể đưa ra những luân lý có tính khuôn mẫu nhất định đối với người đàn bà, mà chỉ có những sự tìm tòi, tìm tòi và tìm tòi mãi... 
     Nàng không thể nào định nghĩa được trong sự tồn tại của đời ta? Câu thơ treo trên đầu ta như một câu hỏi vĩnh cửu, lại như thể một định mệnh! 
   "Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai!" - Đoạn thơ tả khúc triết này đã đưa thi phẩm NĐBT bay vào cõi huyền bí khi viết về đàn bà. Thật đúng là: Người đàn bà ai mà định nghĩa ? 
     Tôi xin bình sang đoạn thơ 5 - Đây lại là một mảng thơ đời. Nó đã triết lý về tình yêu và cuộc sống giữa nhà thơ với nàng: 
             Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu 
             Anh cũng không làm chàng Trương Chi 
                               suốt đời chèo sông vắng 
             Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng 
             Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau (!) 
     Mâu thuẫn giữa cuộc sống và tình yêu là vậy - Đó cũng là hai mặt nghịch lý của cuộc đời: 
             Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu 
     Còn anh cũng không đầy mình để cứ làm mãi cái anh chàng Trương Chi suốt đời chèo thuyền trên con sông quạnh vắng cô đơn, rồi tương tư nàng Mỵ Nương mà chết! Thực ra… chảy trong tình thơ thì anh cũng đã thầm tương tư em suốt đời rồi. 
      Mối tình  của nhà thơ với NĐBT cũng chỉ là một bi kịch tình. Vết thương trái tim đôi trai gái ấy tháng năm vẫn không hàn gắn lại được, như câu thơ đã viết: 
     Vết thương lòng không dễ đã lành đâu   
     Nhưng cái Con Đường Lông Ngỗng Trắng mà nàng Mỵ Châu đã rắc cho chàng Trọng Thuỷ theo, thần tượng thì rất đẹp… nhưng để cuối cùng chàng cũng nhảy xuống biển mà chết, hoá thành ngọc trai giữ tình son sắt với nàng. Nó bi ai quá! Cái hay của khúc triết lý  trong bài thơ NĐBT là nó đã được viết như đời. Trong tấn bi kịch tình yêu ấy: dẫu mối tình bị tan vỡ phải chia lìa năm tháng, nhưng tình thơ đã không kết thúc bằng sự bi thảm như một định mệnh - Đôi trai gái vẫn phải sống và tồn tai! Dù là theo chiều gió cuốn của cuộc đời...Phải chăng đó cũng là một cuốn tiểu thuyết "cuốn theo chiều gió" như bao bi kịch Tình - Đời trên bờ bến nhân gian? Cả đoạn thơ thấm đẫm giọt lệ, nó như những tiếng than bật ra trong đời sống đầy mất mát và đau đớn của tình yêu! 
     Đây là một trong hai mảng thơ xương cốt lõi nhất - Mảng thứ nhất như trên đã nói, chính là đoạn thơ ba: "Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai!"... Làm thành nền tảng , như tim óc, như tuỷ sống, như cái cây đã được kết thành trái chín cho cả tình thơ NĐBT này. 
     Trên con đường vô định... nhà thơ vẫn thiết tha, khao khát gặp lại người thiếu nữ. Trong những đêm hoang vắng và sâu thẳm của không gian mênh mông, lòng anh lại âm thầm khắc khoải: 
                   Những đêm sao buồn, những đêm gió khát, 
                   Khúc thơ tình anh lại viết về em! 
     Những ngôi sao trên vòm trời xa xôi kia, nó cũng hiu hắt như nỗi vắng vẻ, trống lạnh của nhà thơ. Những ngọn gió đêm vô tình bay qua, như thể vẫn còn cất giữ ngọn lửa tình mà người thiếu nữ xưa từng sưởi ấm trái tim anh! Để rồi bài thơ đã được kết thúc bằng một câu thơ tuyệt bút đẹp nhất về nàng: 
               Người đàn bà... ngậm cả vầng trăng... 
      Cái vầng trăng ấy của nàng quen quen mà vẫn lạ! Nó cứ nguyên thuỷ như hang động thời tiền sử, lại huyền bí như thánh linh... Đây là một câu thơ siêu thực chứa đầy trầm tích đã được thăng hoa. Một thiên tạo vĩ đại đang nép trong tấm thân người đàn bà hay chính nàng là một vầng trăng? Nhưng chao ôi, dù gì thì nàng cũng đã "ngậm" cả cái vầng trăng của nàng để rời bỏ nhà thơ để đi rồi! Những tháng năm buồn nhớ về em: Anh đã viết thiên tình ca NĐBT bất diệt này để lại cho thế gian. 
     Cuối cùng xin mượn cụ Nguyễn Du đôi câu thơ mà Người đã kết trong Kiều để khép lại bài viết bình về thi phẩm NĐBT ở đây. Nhưng nếu chẳng may có ai đó không ưa cách bình tán thơ như tác giả ở trên, xin cũng được miễn thứ! Đó chẳng qua cũng chỉ là những tiếng nói tri âm thôi mà... Thiết nghĩ: trong cái bể khổ trầm luân này, nếu có thể mang lại được cho nhau những phút giây cảm khoái - Thì âu đó cũng là một điều có nghĩa: 
                    Lời quê chắp nhặt dông dài
                    Mua vui cũng được một vài trống canh./.

 
 
 
           DƯỚI ĐÂY LÀ NHỮNG DIỄN RA TRONG DIỄN ĐÀN
 


Cảm nhận từ: buithibinh  

   Lại biết thêm chân dung của một nhà thơ gạo cội ...
Bài viết của Anh đã nêu rất cụ thể tuy nhiên em vẫn muốn vào "TUYỂN THƠ ĐẠI BÀNG để xem kỹ hơn những tác phẩm của "quái nhân" đáng trân trọng này .

Em sẽ noi gương Anh để giới thiệu một số tập thơ của Bè bạn .

Anh sang nhà Em thưởng thức " Khúc ru đồng chiêm " của Anh Đinh Ngọc Lâm nhé.

Em Bình

 
Cảm nhận từ: camphuong  

   Cảm ơn Bình! Anh sẽ sang đọc bên em. Nối vòng tay giới thiệu bạn bè văn chương là tấm lòng chân thành của anh ngay từ khi blog GIÓ ĐỒNG QUÊ khai mạng anh đã đề cao tinh thần này. Qua đây vừa rộng đường dư luận bạn văn chương vừa học hỏi bạn bè nhiều điều hay lẽ phải và quan niệm sáng tác! Xin gửi chữ Tâm vào thiên hạ. Điều đó nên làm em ạ!
 
Cảm nhận từ: buihaidang    

      CHÀO DUONG PHUONG TOAI!
Trang thơ bè bạn của CP hay và sang trọng quá!
Bài" Người nhà quê",nghe rất xúc động,dán ra đọc đựoc bằng mắt cảm nhận được dễ hơn.
Chúc CP tâm hồn thăng hoa ,bút lực dồi dào...

---------------

Cảm ơn bác Bùi Hải Đăng. Trang nhà em cũng rất có duyên với các bạn văn chương họ Bùi đấy nhé! Sẽ có dịp gần đây tôi giới thiệu bác trên mạng của tôi.
 
Cảm nhận từ: phaodaico –  

     Cách đây 5 năm tôi đã được đọc PNT qua giới thiệu của nt Nguễn duy Nhiệm, mãi nay vào mạng tình cờ gặp lai .Chưa thể nói được gì vì đã đoc kỹ đâu ?
Nhưng làn này đọc lai hình như thơ ông êm nhẹ mà sâu lắng hơn xưa...
-------------
Cảm ơn Phaodaico! Tác phẩm thơ của Phạm ngọc thái hiện nay đang thu hút nhiều dư luận bạn văn chương đánh giá, cảm nhận nhiều chiều. Thơ anh khá độc đáo! Và cũng không giống ai. Đấy là những thành công của anh! Và cũng không tránh khỏi những thăng trầm. Và như thế mới là văn chương phải không anh?
 
Cảm nhận từ: Nguyễn Minh Tuấn:  
       cam on Anh da gioi thieu nhung bai tho hay de cho ban be co dc nhung duy nghi tran day yeu thuong
 
5-1. Phản hồi từ: GIÓ ĐỒNG QUÊ [Khách] · http://camphuong.vnwblogs.com

      Cảm ơn Nguyễn Minh Tuấn sang thăm và chia sẻ tác phẩm của nhà thơ họ Phạm!
 
6. Cảm nhận từ: tungquan

 
                "Bóng nàng đi dẫm bẹp cả hoàng hôn".
HAY QUÁ GIÓ ĐỒNG QUÊ ƠI ! MỘT CÂU THƠ ĐẶC TẢ ĐƯỢC CẢ DÁNG HÌNH TÍNH CÁCH, BẢN CHẤT CỦA CON NGƯỜI...HAY!
Chắc tác giả và nhà thơ PNT phải thân thiết nhau lắm nhỉ mới có trang viết đầy ấn tượng này.
 
8. Cảm nhận từ: GIÓ ĐỒNG QUÊ         http://camphuong.vnwblogs.com

   
       Ôi! Cảm ơn Tungquan! Không hẳn đã là thân nhau giữa mình với thi sĩ Phạm tộc của Thăng Long Hà Nội. Trước hết đó là lòng quý trọng văn chương, quý trọng bạn thơ, phục tài thơ, vì một nền thơ hướng về sáng tạo... mà ta dành cho nhau những khoảng không gian đẹp trên Sông Thơ. Vì rộng đường bạn bè nữa đấy. Khi lập blog GIÓ ĐỒNG QUÊ, mình đã mang cái Tâm như vậy. Mong sẽ có dịp giới thiệu bạn!
 
9. Cảm nhận từ:

   Tôi là Lê Tín! Vì không có mạng riêng nên tôi phải nhờ qua mạng của anh Dương Phượng Toại để gửi cảm nhận về thơ anh. Chào nhà thơ Phạm Ngọc Thái. Khi đọc xong thơ anh tôi rất phục tài thơ anh. Tôi thấy quả thật đây là một giọng thơ hay, nhiều đổi mới, sáng tạo, cái sáng tạo trên nền thơ truyền thống đã cho anh một hiệu quả lớn là thơ không giống ai, đọc lên cứ mang cảm giác rần rật trong tâm khảm ấy. Từng câu chữ toát lên khát vọng cháy lòng đế tận cùng của nhà thơ đối với cuộc sống, đối với vẻ đẹp thiếu nữ, vẻ đẹp nhân thiện của Con Người. có những câu thơ kinh hoàng:

Thành quách loài người em thiêu trụi thành tro!


Ngàn năm xưa cho tới bây giờ

Ta muốn hỏi đến muôn đời sau nữa:
Mọi giá trị vĩnh hằng , nếu có
Sẽ là gì? Khi thiếu vắng em ta!...
...
Bóng ngàn than huyền thoại tang trắng phủ
Mà miệng còn muốn cắn vú người yêu !
...
Khóc chuyện tình xưa là khóc mình lắm lắm
Mai chết rồi làm nước tắm cho em...
...
Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu
Anh cũng không làm chàng Trương Chi
suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng
Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau (!)

Chúc nhà thơ vui khỏe của sáng tạo!

Qua đây xin một lần nữa cảm ơn nhà thơ Dương Phượng Toại luôn ưu ái vì bạn bè văn chương khắp cõi!
 
9-1. Phản hồi từ: GIÓ ĐỒNG QUÊ        http://camphuong.vnwblogs.com

   
       Vâng! xin cảm ơn nhà thơ Lê Tín! tin rằng nhà thơ Phạm Ngọc thái khi nhận được tình cảm của anh, của bạn bè sẽ rất vui và tiếp tục cho ra lò nhiêyuj thi phẩm mới Rung động Trái tim như tập thơ anh đã mang tên!
 
10. Cảm nhận từ: Đào Phan Toàn

 
      Em rất vui khi gặp lại anh...Những trang viết của anh đã để lại trong em những cảm xúc khó quên và cả những lời thơ được đọc trên nền nữa.
Chân thành biết ơn anh! Kính chúc anh luôn mạnh khoẻ và hạnh phúc! Kính!
 
10-1. Phản hồi từ: GIÓ ĐỒNG QUÊ      http://camphuong.BLOGTIENGVIET.NET

 
     RẤT CẢM ƠN ĐÀO PHAN TOÀN. THƠ MÃI LÀ CẦU NỐI VÀ LỐI NGÕI SANG NHÀ NHAU UỐNG TRÀ, CƯỜI LỚN TRÔNG TRĂNG.!
 
11. Cảm nhận từ: Phạm Ngọc Thái [Khách]
 
     . Trước hết Phạm Ngọc Thái phải rất cám ơn sự yêu quí của thi hữu Dương Phượng Toại - Đã giành cho PNT trang giới thiệu đẹp đẽ này! Sau đó vô cùng cám ơn các bạn đọc gần xa dã giành chút thời gian bận bịu để đọc thơ của Thái & lại còn cho những lời tri âm để cái tuổi hoa niên có lẻ của tôi thêm phần yêu đời & nhờ thế cũng yêu thi ca hơn - Vì nhiều lúc từng nghĩ tới thân phận của kẻ làm thơ mà không khỏi ngán ngẩm cảnh bọt bèo! Những dòng viết của người bạn thơ Lê Tín làm PNT xúc động quá - Bạn còn thích cái câu thơ: Mà miệng còn muốn cắn vú người yêu! - Nghĩa là bạn không bao giờ già... Thái tâm sự một chút về chữ "cắn" nhé! Thái tìm mãi đấy - Dù đời thực thế! Bởi vì : Nếu viết "mà tay còn muốn xoa vú người yêu"- Thì lại thô, không được!... "Bóp vú" thì lại càng không ổn - "ngậm vú người yêu" cũng thô... vậy là dùng hẳn "cắn vú người yêu"... thì lại thành công bạn ạ!... Còn câu thơ cuối của bài "Khóc bên Hồ Núi Cốc" này:Mai chết rồi làm nước tắm cho em... Là tuyên ngôn của Phạm Ngọc Thái có tính chất thế sự đấy! PNT không có khát vọng dù cả đến kiếp sau làm Thủ tướng gì hết... mà chỉ muốn làm một con suối nhỏ, hoặc dù chỉ là một bồn nước trong gì đấy... kỳ cọ. tắm rửa cho thân thể của người yêu thôi!!! Bên trong tình thơ là ý tưởng nhân tình thế thái của nhà thơ đấy bạn ạ - Mà dễ gì ai đã cao giá hơn ai??? phải không các bạn. Thái tin: mai sau đời còn đàm luận về câu thơ này của Thái!!! Thái vui nên nói lai rai ít lời... một lần nữa cám ơn anh Toại và các anh chị em cùng vui vầy thơ ca với Thái nghe! Thân ái- chúc cả nhà hạnh phúc, an khang.
 
 
     Bạn đọc nào muốn xem trực tiếp thì hãy nhay vào link sau:
 
http://camphuong.blogtiengviet.net/2010/11/08/p5019727#more5019727
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.12.2010 00:29:20 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 15.12.2010 00:10:29
.

      Trong tháng qua, nhà thơ đã ra hàng loạt các bài thơ mới... mà xem ra phong cách thơ có vẻ hơi khác trước.  Anh định thể nghiệm một mảng thi ca khác trước chăng?... mà phải nói ít bài còn đạt đến độ thơ gọi là hay được. Nhất là có bài thơ tình tác giả viết trẻ hoá như thể đang còn độ xuân xanh, tuổi độ đôi , ba mươi vậy! Nói chung thơ anh vẫn là hết sức khúc triết, bao hàm nhiều ý bên trong tình thơ.

     Tôi xin trích ra đây số bài & tới sẽ bình một số nét chủ yếu về ý nghĩa & cả độ sâu sắc trong những tình thơ đó. Các bài thơ đó như sau:



                    ĐÊM NAY
        TRỜI LẠI KHÔNG MƯA

 
 
Trời không mưa áo em đâu có ướt

Chỉ ướt lòng em: Cô gái nhỏ của anh!

Em ngả vào anh mà hình như có khóc…

Tiếng con tim thật rõ bên mình.

 
Mùa thu đã qua ta nghe lá rụng

Buổi cuối cùng em đến để chia tay

Ngày mai em lấy chồng phải xa vĩnh viễn

Chẳng sao mà,  trời có mưa đâu, em ơi?

 
Kìa không mưa mà áo anh lại ướt,

Mùa thu đi… sao nắm mãi bàn tay?

Ai nói tình gió mây sẽ quên trong chốc lát

Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay…

 
Tại đêm đó không mưa hay bởi vì anh nhớ

Phố vắng em buốt giá cả canh dài

Em dại lắm lấy chồng làm chi vội

Đưa em sang sông rồi lòng mới biết đã yêu ai!

 
Ta lại bước lang thang trên phố ấy

Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi

Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi

Bóng với mình đi mãi tới ban mai…

 
Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến… đã chia tay?

 
                             PHẠM NGỌC THÁI             
                              Hà Nội - Đêm 19/11/2010
 
 
         


 
             MÙA THU EM ĐI
 
 
Em đi để mùa thu ở lại

Trời mênh mông xao xác lá vàng rơi

Với khóe mắt thăm thẳm màu thiếu nữ

Tuổi hai mươi dừng lại ở trong đời.

 
Ôi mùa thu xanh thắm bỗng tơi bời

Khi lạnh lẽo khi cồn cào gió xé,

Bao kỷ niệm trở thành thân thương quá!

Có phút nào em nhớ thế, không em?

 
Biền biệt xa năm tháng mỏi mòn tim

Anh cùng những vì sao khuya thao thức

Như càng trôi thì thu càng xa lắc

Cả tiếng chim kêu cũng hóa nên buồn.

 
Em đi để thu lại một mình

Hoa trước cửa không còn nở nữa

Đêm đêm gió lạnh về hiu hắt phố

Anh giở từng trang nhật ký cũ ra xem.

 
Thu đến, thu đi… lòng nhớ nhung thêm

Như Bằng Việt ném câu thơ vào gió thổi (*)

Em bỏ đi cả một trời vời vợi

Tình là gì mà sao lắm cô đơn!?...

 
                               PHẠM NGỌC THÁI                         
                                     Hà Nội – 21/11/2010
 
(*)   Ta lại ném câu thơ vào gió thổi /– Thơ Bằng Việt
 
 
 
          PHỐ TRONG ĐÊM
 
 
Đã trôi vào dĩ vãng rồi em

Còn đâu những tối yêu hẹn hò tình tứ

Những đêm không chiếu, không màn thời thiếu nữ

Phố vẫn đây mà anh mất em.

 
Sống giữa phố phường cứ ngỡ hư không

Đêm trăng trống trênh, ngày cây xao xác

Trái tim anh vết thương đời tan tác

Tháng năm trôi… cuộc sống hoang tàn.

 
Người đàn bà cho vũ trụ sinh tồn

Ta tìm thấy ở em thế giới này hoàn mỹ,

Thế thái đổi thay tuyên ngôn & chủ nghĩa

Em là bản tuyên ngôn cao nhất của nhân sinh!

 
Phố anh đi lấp lóa ánh đèn

Nhìn thế sự cả chính tà đang diễn…

Tình yêu em: Điểm tựa để linh hồn anh vịn!

Không em rồi – Anh biết níu đâu đây?

 
Marx hoang tưởng ư? Xô-viết Nga sụp lâu rồi!

Em có thấy Việt Nam ta đang điểm giờ phút cuối?

Chuông điện Kremlin nay nghe như mõ ấy

Tình bơ vơ nên anh cũng bơ vơ.

 
Hà Nội trong anh không một chút phai mờ

Em đừng hỏi thơ anh sao buồn thế,

Chả lẽ ta viết thơ phải giả dối như làm chính trị?

Đọc thơ buồn…để cho đời vui đó, em yêu!

 
Anh đi trong phố đêm mà suy nghĩ bao điều…

 

                            PHẠM NGỌC THÁI
                            Đêm 30/11/2010


 
 


 
               NGỬA MẶT
          NGẮM MÂY TRÔI
 
 
Ngửa mặt ngắm những vì sao xa lắc

Trời mênh mang, ta gọi: Thế gian ơi!

Mây trôi, mây trôi, mây trôi, mây trôi…

Xin mời cụ Tản Đà chén rượu – Uống cho vui.

 
Này cụ ạ: Kiếp sau đừng làm thi sĩ nữa!

Tôi sẽ ra bờ sông kiếm chiếc cần câu cá,

Hay cái vó bè, thả lưới dưới trăng sao…

Ừ nhỉ, nhưng không thơ hồn biết trú vào đâu?

 
Ngày xưa cụ nửa đời những muốn quên trần thế (1)

Nửa đời còn lên núi định tu tiên…

Chẳng thoát được đâu cụ ơi?

Cõi hồng trần để đày đọa kiếp sinh

Thân thi sĩ mảng bèo trôi dâu bể.

 
Tôi thay bác Huyền Trân mời cụ thêm ly nữa! (2)

Ừ thôi theo, làm thi sĩ cũng chẳng sao?

Hôm nay đời ca ngợi cụ bao nhiêu

Khi xưa sống thì lận đà, lận đận.

 
Tôi cũng thế -

Giờ sống đây bập bềnh như bọt biển

Mai người có ca, cũng đã chết còn đâu?

Ta uống đi, mời cụ! Hãy cạn cả ly sầu.

 
Cho quên hết chuyện nhân tình thế thái

Dẫu say rồi vẫn xin cụ uống thêm,

Uống chẳng vì ta cũng chẳng phải vì chung

Có lẽ vì cái chi chi của…kiếp!

Nào, uống đi cụ!

Bởi càng tỉnh thì càng đau, càng xót…

Sống trên đời muôn năm chẳng ai thoát được, cụ ơi!

 
                                    PHẠM NGỌC THÁI
                                    Đêm 6/12/2010
 
 
       (1)  “Trần thế em nay chán nửa rồi!” – Câu thơ của Tản Đà
-   Thi sĩ Tản Đà có thời chán đời đã bỏ lên núi định tu tiên… nhưng rồi
    ông vẫn  phải quay về cuộc sống ở cõi hồng trần để tiếp tục chịu cảnh đọa đầy.
(2)    Nhà thơ Trần Huyền Trân đã viết bài thơ nổi tiếng
                    “Mộng uống rượu với Tản Đà”:
               Cụ hâm rượu nữa đi thôi
               Be này đã cạn hết rồi còn đâu!
               Rồi lên ta uống với nhau
               Rót đau lòng ấy vào đau lòng này.
 
           


 
 
 
        NHỮNG CÂU THƠ
              VƯƠNG RƠI
 
 
Ta giết thời gian bằng thơ

Hồn bay vào mây gió

Tháng năm trôi nối tiếp tháng năm trôi…

 
Ừ cứ viết!

Ta nhặt ngọc ra từ trong đổ nát

Trải tình lên trang giấy trắng cuộc đời

Yêu rất nhiều mà kiếp sống vẫn đơn côi!

 
Ta gieo em khắp trời, khắp đất

Với trái tim người thi sĩ lang thang,

Rồi một ngày thân đã vùi xuống đất

Những tình thơ ta viết sẽ ca vang.

 
Bác xích lô trên đường phố kia ơi!

Và cô bán hoa tươi đang mời trong chợ…

Cánh cửa tâm hồn tôi hoang gió

Người sống ở hôm nay, tôi sống cõi hư vô.

 
Ta hạnh phúc hay là người hạnh phúc?

Chủ nghĩa kia cũng chỉ một bàn cờ…

Dẫu thơ ta gieo không đổi thành cơm áo

Nhưng linh hồn còn có chỗ để mà mơ.

 
Ta nhìn lá cây bay, giữa trời cao nghe gió

Ngắm cát bụi trôi trong cuộc sống xô bồ,

Trái tim lại lang thang như một người hành khất

Nhặt mấy câu vương rơi… thấm máu của hồn thơ.

 

                                   PHẠM NGỌC THÁI
                                            Đêm 8/12/2010
<bài viết được chỉnh sửa lúc 11.01.2011 19:14:33 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 11.01.2011 19:06:52
.

     Nhà thơ có gửi tặng tập thơ RUNG ĐỘNG TRÁI TIM cho một người bạn đồng nghiệp ở Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh, trong một lá thư gửi tới cho nhà thơ sau đó - Cũng có thể coi như là một bài bình luận tác phẩm thi ca. Tuy nhiên đây chỉ là sự suy cảm tức thì có nhiều chỗ chưa hẳn đã chính xác như thể một bài báo, song đó cũng là tấm lòng của một độc giả. Tôi xin ghi lại toàn bộ lời nhận định của anh như một sự lưu giữ & cũng để mọi người tham khảo. Bài viết trên thư đó anh đã lấy một cái tiêu đề:

                    LANG THANG VÀO "RUNG ĐỘNG TRÁI TIM"

                                      (Đọc thơ Phạm Ngọc Thái)

                                                       LÊ DUY THÁI

         Qua bạn Dương Phượng Toại, tôi được bạn Phạm Ngọc Thái gửi tặng tập thơ "Rung động trái tim". Cầm tập thơ tôi rất cảm động, liền đọc một mạch. Tôi đọc hào hứng, say sưa và kiên nhẫn. Lang thang hết công viên thơ, tôi dừng lại tĩnh tâm xem còn nhớ những gì?
    Ngày nay, thơ tràn mặt báo, đầy các mạng, dầy cộp trong các tuyển tập nhưng, tìm một câu thơ lạ, đẹp & hay không dễ. "Rung động trái tim" của Phạm Ngọc Thái có khác. Nhiều câu thơ găm lại trong lòng người yêu thơ. Kiểm lại, ít nhất có hơn hai mươi câu thơ thuộc loại tứ lạ, lời đẹp. Tôi xin trích dẫn mấy câu:
                   Tà áo trắng của người sinh nữ
                    Anh nhìn xác phượng khóc rưng rưng
                                        (Phố thu và tà áo trắng)
   Câu thơ nhớ và đau thấm tràn trong cảnh vật. "...nhìn xác phượng khóc rưng rưng" thật lạ và độc đáo.
                  Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng
                   Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi
                                        (Một góc Hồ Tây)
    Nhớ nhung trống vắng đến khôn cùng! "Chiếc lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi" không thay được, không lấp được mà càng khơi rộng bể sầu và nỗi nhớ.
                   Đêm giao thừa người chúc nhau nhiều may mắn
                   Dưới bóng cây già... một bóng nhỏ nhuộm màu đen
                                          (Em bé cầu bơ)
     Giả dối, đối nghịch, đau thương đến kinh người.
                   Mắt em cười mùa thu xanh lên
                                          (Thời áo trắng)
    Vừa lộng lẫy vừa thăm thẳm. Mắt em cười làm cho thiên nhiên, cuộc sống đẹp lên và mở ra vô tận. Lịch sử thơ ca trân trọng những câu thơ như thế!
                   Em tự do như thể là cát bụi
                   Có đôi lần trời cũng khóc, mưa rơi!
                                           (Cỏ hoang)
    Đau đớn đến nghịch lý, mỉa mai làm sao thân phận con người? Không phải chỉ có đôi lần, mà phải là: muôn lần, trời cũng khóc, mưa rơi!
                 Dẫu chỉ thấy còn bong bóng vỡ đầy môi
                                            (Trong mưa)
    Ảo vọng, tan vỡ của tình yêu, chưa có mấy ai viết được những câu thơ như thế. V.v...và v.v...
    Câu thơ hay ở trong bài thơ hay, tách riêng ra nó vẫn hay. Thế giới thơ của Phạm Ngọc Thái là thế giới của một tâm hồn từng trải, một kho ký ức phong phú và bay bổng, một sự mẫn cảm thực tại và một năng lực ngôn ngữ giàu có, duy cảm, duy mĩ.

                                                          *
                                                       *     *

   Tác giả tự bình thơ mình một cách say mê, kỹ lưỡng; tự tin, tự đánh giá cao thơ mình, đây là hiện tượng có lẽ xưa nay hiếm... Lời bình có khi sâu sắc hay hơn cả thơ. Ngày nay "văn hoá quảng cáo" tràn ngập mọi chỗ, mọi nơi, mọi lĩnh vực; "Hữu xạ tự nhiên hương" có còn nguyên giá trị? Có thể sự công tâm quý trọng, nâng niu cái hay cái đẹp ở đời cũng hiếm quá rồi. Quyền lực và quảng cáo áp đảo, cho nên "giữa bày sói phải tru lên như sói"?
   Hàn Mặc Tử:
                  Ô kìa! Bóng nguyệt trần truồng tắm
                  Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
                                           (Bẽn lẽn)
      Câu thơ lạ, đẹp và rất gợi. Phạm Ngọc Thái:
                  Chùm trinh em hát: Đấy chỗ thiên thai!
                                      (Người đàn bà trắng)
    Câu thơ lạ, gợi tò mò nhưng chưa đẹp.
                   Như hạnh phúc đời anh:cái thực là hư cả
                  Cái đã hư xưa mới chính thực là mình
                                    (Anh vọng nghe tiếng em hát bên hồ)
   Câu thơ triết lý hay. Hai từ "đã" và "xưa" có lẽ nên chỉ để một.
                    Mà miệng còn muốn cắn vú người yêu!
                                    (Khóc bên Hồ Núi Cốc)
    Câu thơ táo bạo, nhưng thô. Đời thực bây giờ có thể vậy, thơ không thể thế. Xuân Diệu bạo mà vẫn thanh:
                    Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!
      Trong bài "Đêm tóc đá" của Phạm Ngọc Thái:
                     Ngai vàng còn dưới cái em ta
     chát chúa một cách lộ liễu. "Cái quạt" của Hồ Xuân Hương tế nhị hơn:
                    Mát mặt anh hùng khi tắt gió
                    Che đầu quân tử lúc sa mưa.
     Tôi đồng cảm với ý kiến của Phạm Ngọc Thái: "Thơ là vậy, nhiều người thường có những cảm nhận và lý giải riêng". (trang 85)
    RUNG ĐỘNG TRÁI TIM có những tứ mới, tình sâu, hình ảnh lời thơ đẹp. Thơ đem lại cho người yêu thơ khoái cảm thẩm mĩ. Thật thoải mái sau khi lang thang qua công viên thơ bạn.

                                                               Ngày 15/9/2010
                                                                     Lê Duy Thái


    
<bài viết được chỉnh sửa lúc 11.01.2011 19:12:44 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 10.02.2011 12:02:53
.


         Trong chùm thơ mà tác giả mới viết, tôi xin tập trung phân tích về 2 bài thơ hay khá đặc biệt của anh - Một bài thơ đời "Những câu thơ vương rơi" & một bài thơ tình, đó là :"Đêm nay trời lại không mưa"!
    Cũng trong chùm thơ mưa 7 bài hiện nay đang được truyền bá khá nổi tiếng của anh - Gọi là thơ mưa nhưng bài thơ này nhà thơ lại viết vào một đêm... không mưa! Đêm đó lòng tác giả cồn cào muốn viết thơ mưa - Theo anh nói: Anh cũng đã viết khá nhiều thơ về mưa rồi, nhưng chưa có một tình thơ mưa nào mà anh thấy thật sướng, thật chí lý. Nghĩa là lòng nhà thơ không thỏa. Trong lúc cảm xúc đang bồng lên như thế... mà trời lại không mưa??? Thế thì ta viết bài thơ về trời không mưa vậy, viết bài thơ về trời không mưa cũng cứ là thơ mưa mà...và, bài thơ "Đêm nay trời lại không mưa" đã ra đời như thế!
    Rồi điều thú vị đã đến - Không ngờ rằng: Đã ngoài cái tuổi lục tuần rồi nhà thơ PNT vẫn còn viết được một bài thơ tình có dính dáng đến mưa... mà lại trẻ trung như thế? Đọc thơ cứ ngỡ của một thi sĩ chỉ chừng tuổi đôi ba mươi. Bài thơ như sau:


             
ĐÊM NAY
        TRỜI LẠI KHÔNG MƯA

 
 
Trời không mưa áo em đâu có ướt
Chỉ ướt lòng em: Cô gái nhỏ của anh!
Em ngả vào anh mà hình như có khóc…
Tiếng con tim thật rõ bên mình.
 
Mùa thu đã qua ta nghe lá rụng
Buổi cuối cùng em đến để chia tay
Ngày mai em lấy chồng phải xa vĩnh viễn
Chẳng sao mà,  trời có mưa đâu, em ơi?
 
Kìa không mưa mà áo anh lại ướt,
Mùa thu đi… sao nắm mãi bàn tay?
Ai nói tình gió mây sẽ quên trong chốc lát
Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay…
 
Tại đêm đó không mưa hay bởi vì anh nhớ
Phố vắng em buốt giá cả canh dài
Em dại lắm lấy chồng làm chi vội
Đưa em sang sông rồi lòng mới biết đã yêu ai!
 
Ta lại bước lang thang trên phố ấy
Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi
Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai…
 
Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến… đã chia tay?
 

                             PHẠM NGỌC THÁI             
                           Hà Nội - Đêm 19/11/2010

       Tôi xin phân tích một số hình ảnh của bài thơ trên. Câu chuyện dẫn dắt là: Tác giả nhớ về cái đêm, đêm cuối cùng khi người yêu xưa của nhà thơ đã đến để chia tay anh... đi lấy chồng:
Mùa thu đã qua ta nghe lá rụng
Buổi cuối cùng em đến để chia tay
Ngày mai em lấy chồng phải xa vĩnh viễn
Chẳng sao mà,  trời có mưa đâu, em ơi?

    
Ta thấy ngay ở đây điều đáng bàn trong câu cuối cùng của khúc thơ này:
               
Chẳng sao mà, trời có mưa đâu, em ơi!
   Đây là một cách nói, ta chỉ có thể nói rằng: Một cách nói của thi ca! Nói "Chẳng sao mà" - Tức là đã có vấn đề rồi đấy?Nhưng cái kiểu nhà thơ lại biện hộ cho cái lý do "chẳng sao ấy...", bởi vì "trời có mưa đâu, em ơi!" Đây là một lối nói hàm chứa ý ẩn... nghĩa là lòng của chàng đã choáng váng rồi đấy! Bên cạnh đó ta còn liên tưởng với chủ đề bài thơ "Đêm nay trời lại không mưa" - thì sử dụng hình ảnh trời không mưa đem ngụy biện cho sự việc... dấu sự tan nát của lòng mình, trở thành một cách nói hay, người ta vẫn hiểu mà lại còn mang đến một sự ý nhị của tình thơ. Anh gượng cười đưa tiễn người yêu khi mà mọi sự đã rồi không thể quay trở lại được nữa.
     Nhưng tại sao cuộc tình duyên kia lại có thể xẩy ra sự nuối tiếc ấy? Ta thấy nhà thơ rất khéo là ở câu thơ thứ 16 anh đã giải thích:
               
Đưa em sang sông rồi lòng mới biết đã yêu ai!
   Chính hình ảnh người con gái kia đã lắng đọng trong anh đến thế, nên những câu thơ trên anh đã viết:
                  
Ai nói tình gió mây sẽ quên trong chốc lát
                Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay… 

     Vậy đây đâu phải chỉ là một cuộc tình trăng hoa? Tác giả sử dụng hình ảnh "tình gió mây" - Hình ảnh này nó không làm xấu đi mối quan hệ luyến ái của nhà thơ và em: Nó không phải chỉ là cuộc tình trăng hoa xong rồi mỗi người một ngả... Ta thấy từng nấc một, từng câu, từng đoạn một nhà thơ đã giải trình theo một sự tiến triển lôgich: Lý do cho sự chia tay này cũng là lẽ tự nhiên, bởi vì: chỉ khi người yêu đi lấy chồng rồi anh mới biết rằng "Chính lòng mình đã rất yêu em!". Cho nên tất yếu thôi như khi tác giả nói:
                 
   Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay...
    Trong cách lý giải của nhà thơ một cách ý nhị mà ta thấy cảm mến mà luyến tiếc thay cho tình yêu bị đưt gánh giữa đường kia - Anh viết:
                
   Em dại lắm lấy chồng làm chi vội...
    Nghĩa là, nếu em đừng vội lấy chồng... thì anh và em sẽ nên vợ nên chồng! Cho nên tình thơ âm thầm mang một nỗi đau và thương tiếc vô vàn.Ta đến với đoạn thơ cuối cùng:
Ta lại bước lang thang trên phố ấy
Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi
Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai…

      Tất cả những kỷ niệm đêm xưa với em: Từ mỗi gốc cây mà những đêm tình tự anh & em ở đó, rồi những tối bên hồ gió thổi... và tiếng hát êm nhẹ của người yêu từng hát để anh nghe - Những kỷ niệm ấy giờ đây xa em rồi càng thân thiết với anh bao nhiêu. Đêm ngày trái tim anh vẫn thương nhớ về em.
         Còn câu thơ hạ cuối cùng:
                 
Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến… đã chia tay?
       Nghĩa là dù đã chia tay nhưng không lúc nào lòng anh không thương nhớ? Mặc dù đó chỉ là một cuộc tình gió mây thôi!... Và cũng có ai ngờ lòng anh lại yêu em đến thế!...Nhà thơ đã thành công, rất thành công khi xây dựng một tình thơ thật là trẻ trung của tuổi đôi mươi này, một tình thơ mà khi anh đã bước qua cả buổi hoa niên - Đúng là "Nhà thơ không có tuổi"!...
          Tới - tôi sẽ xin bàn tiếp về bài thơ đời "Những câu thơ vương rơi" khá đặc biệt như đã nói ở trên - Còn giờ xin post ra đây cả chùm thơ mưa hay & không kém phần độc đáo của nhà thơ để bạn tiện theo dõi, dù hiện nay chùm thơ mưa ấy đã đăng lan tràn trên khắp cả thế giới này!!!



Chùm thơ mưa của Phạm Ngọc Thái







THÀNH PHỐ MƯA RƠI


Em hãy gảy bản tình lên chút nữa
Và có nghe trong thành phố mưa rơi?
Hãy đắm làn hoa thơm trinh nữ
Dòng suối tinh mai khoả tắm chân trời.

Gió ru khẽ mơn man cây trước cửa
Chúng dập dìu tựa thể đang yêu!
Trong tình ấy… gió cây đều ướt cả
Đầm đìa muông dại biết bao nhiêu.

Em hãy thả mảnh hồn con bướm trắng
Mà phiêu diêu quên thực tại nhọc nhằn,
Ở giữa lưng trời, tận miền xa vắng
Lòng nhớ nhung em anh cũng thương thầm.

Gió nhè nhẹ! Em ơi, mưa nhè nhẹ!
Chỉ riêng lòng anh bão không thôi,
Cứ để hồn anh trong nước lạnh
Với màu mây hoang trôi đến xa vời...


PHẠM NGỌC THÁI
10/1996



CÂY HOA BẰNG LĂNG
TRONG MƯA



Cứ cô đơn tắm sũng dưới mưa trời
Bằng lăng đứng một đời tím tái,
Em hay là anh đấy:
Mà con tim rơi giữa mưa bay…



PHẠM NGỌC THÁI
18/5/1994



         ĐÊM NAY
TRỜI LẠI KHÔNG MƯA



Trời không mưa áo em đâu có ướt
Chỉ ướt lòng em: Cô gái nhỏ của anh!
Em ngả vào anh mà hình như có khóc…
Tiếng con tim thật rõ bên mình.

Mùa thu đã qua ta nghe lá rụng
Buổi cuối cùng em đến để chia tay
Ngày mai em lấy chồng phải xa vĩnh viễn
Chẳng sao mà, trời có mưa đâu, em ơi?

Kìa không mưa mà áo anh lại ướt,
Mùa thu đi… sao nắm mãi bàn tay?
Ai nói tình gió mây sẽ quên trong chốc lát
Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay…

Tại đêm đó không mưa hay bởi vì anh nhớ
Phố vắng em buốt giá cả canh dài
Em dại lắm lấy chồng làm chi vội
Đưa em sang sông rồi lòng mới biết đã yêu ai!

Ta lại bước lang thang trên phố ấy
Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi
Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai…

Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến… đã chia tay?

PHẠM NGỌC THÁI
Hà Nội - Đêm 19/11/2010


TRONG MƯA



Mưa rơi nhẹ như là tóc ấy
Giống dải lụa mềm quấn nỗi buồn bay
Mưa rơi khẽ như hoa vậy
Vỗ vào đêm hoá các nốt đàn gày!

Em có thầm nghe mưa bay ngoài đó…
Em có buồn khi gió thổi đêm đêm…
Đứng trong mưa hồn anh tràn bão tố
Mưa rơi vào anh...tan ra nơi em xa không?

Em bước nhẹ!...những tháng năm hoang dại
Về bên anh mái tóc rối tơi bời,
Anh hôn mãi những giọt mưa em thuở ấy
Dẫu chỉ thấy còn bong bóng vỡ đầy môi...


PHẠM NGỌC THÁI
1992







EM ƠI! THÀNH PHỐ LẠI MƯA


Nghe không em lại mưa lên phố!
Bao năm rồi chiều ấy cũng mưa rơi...
Gió se sắt đưa anh vào nỗi nhớ
Mối tình thời trinh nữ xa xôi.

Thưở xưa ấy , em ơi! Như hoa nở
Say như mơ và mộng như thơ,
Anh đã gặp em những tháng năm cát bụi…
Khi trái tim yêu trong cõi vắng vật vờ.

Thành phố lại mưa…
Có nghe không em? Con chim trời, cá nước
Khúc nhạc chiều dìu dặt bay qua.
Tình êm dịu bên em mơ màng quá
Thôi hết rồi! Tan vỡ bến bờ xa.

Tiếng mưa rơi não nề thao thức
Bóng hoàng hôn đỏ cũng xua tan
Bèo dạt sông trôi buồm anh không bến đỗ
Chân trời vương vấn dải mây lan.

Ôi, cuộc sống! Tình chỉ như màn kịch,
Nào phải lỗi do anh? Đâu phải lỗi do em?
Anh đứng giữa trời mưa làm những vần thơ xao xác
Người con gái năm nào về như một bóng chim hoang...


PHẠM NGỌC THÁI
31/7/2005



ĐÊM MƯA LÂM THÂM



Cái bóng nữ sinh dịu hiền yêu dấu
Đôi mắt em nhìn thu khoảng trời xanh
Như dòng suối, bông hoa, nhành liễu
Trên bờ bãi con người…lay động trái tim anh!

Hỡi hàng cây, có hơi thở em
Những vì sao đêm rào rạt gió,
Giây phút bên em bao lời thương nhớ
Cả khoảnh khắc lặng im chứa chất tình đời.

Nhưng em ơi, niềm vui nay tan biến,
Anh ngồi giữa trời lâm thâm mưa bụi bay
Nhìn hàng cây thay mùa lá đổ
Tình thì bèo dạt mây trôi...

Ôi! Cuộc sống đã bao ý nghĩa
Tháng năm em tạc tượng trong anh
Khi anh ôm thiếu nữ vào lòng
Tưởng như cả đất trời tụ vào bất tử!

Mưa lâm thâm, mưa lâm thâm...
Anh ngồi viết những vần thơ thổn thức
Tóc trên đầu cũng bạc hoa râm
Mối tình xưa hoá đá giữa trời non.

Giờ em ở nơi nao, em yêu nhớ?
Chút yếu lòng da diết bóng em mơ
Tiếng con cuốc đêm mưa khản cổ
Kỷ niệm qua âm vang khắp bến bờ...

PHẠM NGỌC THÁI
27/12/2008








ÐÊM MƯA TẦM TÃ



Trời giông tố, đời cô đơn bên bóng
Trôi dần dần những tháng năm buồn tênh
Em thế nào rồi: buồn hay vui sướng?
Có nghe giữa làn mưa mông mênh...

Anh nhớ đêm mưa xưa tầm tã
Ở bên hồ hai đứa ôm nhau,
Dù bão giông trái tim sợ gì đâu?
Em vẫn trong mơ mặc mưa rơi xuống đầu.

Áo em ướt, quần em cũng ướt
Máu chảy mạnh trong người rạo rực, xôn xao
Anh ủ cho em trên chiếc ghế đá bên cầu
Giây phút ấy: Trời dẫu sập ta cũng không cần biết tới !

Anh luồn xuống dưới em vén những sợi lông tơ đương rối
Em dang rộng đôi chân ra đón đợi...
Phút giây thiêng sung sướng nhất trên đời
Kỉ niệm này ta nhớ mãi khôn nguôi.

PHẠM NGỌC THÁI
2008
<bài viết được chỉnh sửa lúc 10.02.2011 12:04:19 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 507
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
RE: Một Huyền Thoại Thi Ca - 10.03.2011 01:28:05
.

  Tôi xin phân tích bài "Những câu thơ vương rơi" - Là một bài thơ mà lúc đầu tác giả viết ra không hề có ý tưởng về chủ đề trước ở trong đầu. Có lẽ cả cái tên của bài thơ sau này khi tác giả viết xong rồi mới đặt. Ta hãy nghe mấy câu thơ mở đầu:

Ta giết thời gian bằng thơ

Hồn bay vào mây gió
Tháng năm trôi nối tiếp tháng năm trôi…

Trong đoạn thơ này thì ta thấy lòng tác giả có vẻ như đang trong trạng thái u hoài gì đó, như đang cố kìm nén một điều gì, thơ chỉ là một liều thuốc an thần đối với anh mà thôi:

Tháng năm trôi nối tiếp tháng năm trôi...


Bởi vì như câu đầu anh nói: Viết thơ chỉ là để giết thời gian mà?... Để rồi sau đó vào đoạn thơ 2 anh tự nhủ mình:

Ừ cứ viết!
Ta nhặt ngọc ra từ trong đổ nát
Trải tình lên trang giấy trắng cuộc đời
Yêu rất nhiều mà kiếp sống vẫn đơn côi!

Đến đây ta thấy khả năng lão luyện trong hành pháp thơ ca của nhà thơ này: Từng câu thơ mang màu sắc triết lý, nhưng gắn vào cảm xúc của cuộc sống và nội tâm tác giả, kết hợp nhuần nhuyễn về phương diện nghệ thuật.

Ngay từ câu: "
Ta nhặt ngọc ra từ trong đổ nát" - Nghĩa là trong đống đổ vỡ cuộc đời, sự mất mát hay đớn đau của tình yêu... đã cho ra đời những viên ngọc của thi ca! Phải chăng đó cũng chính là qui luật của sinh tồn? Câu thơ như được kết tinh mà thấm thía bao nhiêu.

Rồi đến:
"Trải tình lên trang giấy trắng cuộc đời" - Có thể hiểu đây chính là cuộc sống & tình yêu bằng cả trái tim anh, đều chắt lọc, đều nhả ngọc lên đó. Nhưng đến câu:

Yêu rất nhiều mà kiếp sống vẫn đơn côi

Ta không nên hiểu chữ "yêu" ở đây bó hẹp trong tình yêu trai gái. Nghĩa chữ yêu ở đây nó rộng hơn, rằng: Đó là tình yêu của anh với cuộc sống & con người! Tình yêu của anh đã trải dài năm tháng, trải rộng... mà sao tâm hồn anh vẫn thấy cô đơn? Sự cô đơn ở đây cũng nên hiểu theo nghĩa thời đại, chứ không nên chỉ nghĩ về phương diện anh với gia đình... hoặc quan hệ bó hẹp với mấy người thân.

Phải chăng: Suốt một đời, một nghiệp thơ văn... tác giả đã một mình một ngựa trên con đường độc hành? Nhà thơ rong ruổi lẻ loi một mình trên con đường đó...

Đến đoạn thơ sau đó thì tác giả đi sâu hơn & cụ thể nói về thế giới thơ tình của mình:

Ta gieo em khắp trời, khắp đất
Với trái tim người thi sĩ lang thang

Nhưng những hình tượng đó cũng chỉ để anh khắc hoạ vào cái nghịch lý của cuộc sống, cái bi kịch cuộc đời một nhà thơ như anh. Cho nên anh viết:

Rồi một ngày thân đã vùi xuống đất
Những tình thơ ta viết sẽ ca vang

Sự thật đấy ư? Tác giả dự báo về số phận nhà thơ của anh chăng? Tức là khi anh đã nằm xuống... nghĩa là đi vào cõi vô biên rồi, những tình thơ anh viết hôm nay mới được đời ca ngợi? Ôi, niềm vui tồn tại của một nhà thơ lại cũng chính là sự bi ai của kiếp đời thi sĩ!

Hầu như là những đoạn thơ sau đó nhà thơ đi vào cõi nhân tình thế thái hoà trong nỗi niềm riêng tư của một nhà thơ, anh hỏi:

Bác xích lô trên đường phố kia ơi!
Và cô bán hoa tươi đang mời trong chợ…

Nhưng anh hỏi để làm gì? Thực ra họ chỉ là đại diện cho đời... để anh bày tỏ nỗi niềm sâu xa của mình:

Cánh cửa tâm hồn tôi hoang gió
Người sống ở hôm nay, tôi sống cõi hư vô

Ý trong hình ảnh thơ nó chứa cái nghiệt ngã của anh thi sĩ trên đường đời - Tất cả đang sống ở hôm nay, và dĩ nhiên anh thi sĩ cũng không vượt ra ngoài cái quĩ đạo ấy được? Bởi anh ta cũng phải tồn tại, cũng phải cơm áo gạo tiền như mọi người. Cũng có gia đình và những người thân, mà gắn với cuộc sống như Xuân Diệu từng nói:

Cơm áo không đùa với khách thơ

Thậm chí kể cả mặt tinh thần anh vẫn phải đối đầu với thực tại, sống với thời đại mình đang sống - Thế mà anh lại nói: Khi bác xích lô và cô bán hoa trong chợ kia... Họ đang sống cuộc đời thường hôm nay, thì một nhà thơ như anh lại sống trong một niềm tin vào một cõi hư vô, huyền thẳm xa xăm...cái cõi đó mà một ngày nào đó thân xác của anh không còn nữa ở trên đời. Đấy, anh tồn tại hôm nay lại bằng niềm sống ấy?  Và chính niềm tin ấy giúp cho anh sức sống trong cuộc sống thực tại này! Thật là một nghịch lý, một chua chát, xót xa với người thi sĩ.

Nhưng anh lại đặt câu hỏi:
Ta hạnh phúc hay là người hạnh phúc???

Liệu phải chăng như lời giải thích của anh về những câu sau đó:

Chủ nghĩa kia cũng chỉ một bàn cờ…
Dẫu thơ ta gieo không đổi thành cơm áo
Nhưng linh hồn còn có chỗ để mà mơ

Vậy là đến đây ta lại thấy trong bài thơ còn nhuốm màu thế sự?... một trong những nguyên nhân cũng rất cốt lõi sinh ra những mâu thuẫn trong lòng anh - dẫu chỉ là một câu thơ lửng lơ:

Chủ nghĩa kia cũng chỉ một bàn cờ...

Thế cũng đủ nguyên cớ khi ta phân tích tâm trạng có phần chán chường của tác giả. Đó có phải cũng chính là lý do mà nhà thơ đã chôn mình trong thi ca? Hay như câu thơ đầu tiên anh đã viết:

Ta giết thời gian bằng thơ
Hồn bay vào mây gió

Bài thơ ôm trùm trong nó một nhân sinh quan, thế giới quan của nhà thơ, dẫu là nỗi riêng tư song cũng đậm sắc nhân tình thế thái.

Đến đoạn thơ kết tác giả lại quay về với sự lạnh nhạt khi nhìn thời thế của mình:

Ta nhìn lá cây bay, giữa trời cao nghe gió
Ngắm cát bụi trôi trong cuộc sống xô bồ

"Ngắm cát bụi trôi trong cuộc sống xô bồ"
- Có lẽ là một câu thơ thuộc trong những câu thơ hay nhất của bài? Hình tượng thơ ca thật độc đáo, chỉ có PNT mới có! Tác giả ngắm cát bụi đường đời, hay là tác giả muốn nói: Tất cả cuộc sống xô bồ kia chỉ là cát bụi cả thôi, người ơi!... và tác giả thản nhiên nhìn thời thế ngắm nó trôi qua...Như kinh thánh đã nói: Ta sinh ra trong cát bụi lại trở về cát bụi...và anh kết bằng hai câu thơ rất hay, hình tượng thơ ca mà sức sống vô cùng:

Trái tim lại lang thang như một người hành khất
Nhặt mấy câu vương rơi… thấm máu của hồn thơ

Như tác giả đã đặt tên cho bài thơ "Những câu thơ vương rơi" - Nhưng cái bài thơ mà trái tim nhà thơ như một anh hành khất nhặt những câu thơ vương rơi ấy?... lại là: "thấm máu của hồn thơ"!

Vậy thì cái vương vãi trên đường đời tưởng như nhà thơ lạnh lùng kia, tưởng như vô vi kia... đều thấm máu tâm hồn & vẫn cứ trào ra từ trái tim anh!

"Những câu thơ vương rơi" lại trở thành một bài thơ thật là sâu sắc! Tác gải thích bài thơ này lắm!  Tôi nghe nhà thơ nói lại rằng: khi anh gửi bài thơ cho Trần Đăng Khoa, Trần đăng Khoa cũng rất ca ngợi bài thơ này... anh còn post cả mail mà TĐK gửi tới anh cho tôi - Trong mail, nhà phê bình "chân dung & đối thoại" nói:

Bài thơ khá đấy. Chỉ có mấy chỗ bác nên cân nhắc, là cô gái bán hoa,
bác viết không sai gì, nhưng bây giờ, nói gái bán hoa, người ta dễ
nghĩ đến gái điếm, khổ cho cô ấy. Cũng như Xuân Diệu viết : "Đem chim
bướm thả trong vườn tình ái". Câu thơ ấy, ở thời Xuân Diệu viết là rất
đẹp, nhưng cuộc sống xô bồ, nhếch nhác của chúng ta làm hỏng nó đi, và
đọc câu thơ rất tinh khiết của Xuân Diệu, người ta sẽ nghĩ đến những
điệu rất dung tục. Bác nghĩ xem nhé. Chúc bác càng viết càng hay

Trần Đăng Khoa
Kênh Truyền hình VOV - 58 Quán Sứ - Hà Nội
        
   Anh đã sửa câu thơ đó (thành chữ hoa tươi) :
"Và cô bán hoa tươi đang mời trong chợ…" - Sau đây tôi xin đăng lại cả bài thơ để bà con cùng thưởng thức lại:



        NHỮNG CÂU THƠ
              VƯƠNG RƠI
 
 
Ta giết thời gian bằng thơ
Hồn bay vào mây gió
Tháng năm trôi nối tiếp tháng năm trôi…
 
Ừ cứ viết!
Ta nhặt ngọc ra từ trong đổ nát
Trải tình lên trang giấy trắng cuộc đời
Yêu rất nhiều mà kiếp sống vẫn đơn côi!
 
Ta gieo em khắp trời, khắp đất
Với trái tim người thi sĩ lang thang,
Rồi một ngày thân đã vùi xuống đất
Những tình thơ ta viết sẽ ca vang.
 
Bác xích lô trên đường phố kia ơi!
Và cô bán hoa tươi đang mời trong chợ…
Cánh cửa tâm hồn tôi hoang gió
Người sống ở hôm nay, tôi sống cõi hư vô.
 
Ta hạnh phúc hay là người hạnh phúc?
Chủ nghĩa kia cũng chỉ một bàn cờ…
Dẫu thơ ta gieo không đổi thành cơm áo
Nhưng linh hồn còn có chỗ để mà mơ.
 
Ta nhìn lá cây bay, giữa trời cao nghe gió
Ngắm cát bụi trôi trong cuộc sống xô bồ,
Trái tim lại lang thang như một người hành khất
Nhặt mấy câu vương rơi… thấm máu của hồn thơ

Một bài thơ thấm thía & có thể nói cũng hay vô cùng!...
 
                               
M






 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 11.03.2011 12:14:16 bởi Nhân văn >
nhanvan

Thay đổi trang: < 123456789 > | Trang 5 của 9 trang, bài viết từ 121 đến 150 trên tổng số 260 bài trong đề mục