Lệ Chi Hận sử
Chương 13 Trạng, Bảng, Thám năm Nhâm Tuất
Nay trở lại non ngàn bến đổ
Dùng văn chương thổ lộ nguồn cơn
Ngậm ngùi sóng nước Côn Sơn
(1160) Ức Trai nào tỏ nỗi buồn thiên thu
Một buổi sáng âm u gió lạnh
Được lệnh vua hồi chánh tham gia
Vào ban Hội khảo kỳ ba
Mà người Chánh khảo chính là Văn Linh (61)
Lòng phấn khởi trước tình tôi chúa
Nghĩ vua hiền đã rỏ đục trong
Thấu cho những kẻ một lòng
Đem tài, đem sức gánh gồng nước non
Vội viết biểu tạ ơn Thánh thượng
Đã đem lòng rộng lượng xét suy
Biết dùng tài trí ai bì
Đúng nơi đúng chổ, đáng ghi công đầu
Bẩm Thánh thượng, ơn sâu thầm nhớ (62)
Nghĩ cho mình trí nhỏ tài sơ
Tay run, đôi mắt đã lờ
Tóc râu đã bạc, được nhờ ơn trên
Lòng còn muốn đem niềm hoài bão
Trí vẫn mơ khoác áo tạ đời
Dầu cho vật đổi sao dời
(1180) Quyết không phai lạt nghĩa Trời ơn Vua...
Mù sương sớm vui đùa trong nắng
Tiễn người rời sớm vắng hồi kinh
Trong tâm còn một chữ tình
Rồi đây sẽ gặp người mình thương yêu
Đường tuy vắng cây nhiều cảnh đẹp
Cánh lan thơm khép nép chào xuân
Lòng vui rộn rã tưng bừng
Mong mau tay bắt mặt mừng người yêu
Nguyễn Thị Lộ mỹ miều đón rước
Sớm hàn huyên chuyện trước chuyện sau
Bao nhiêu tình nghĩa rạt rào
Thương yêu như sóng ba đào cuộn dâng
Đời cách trở bao lần muốn gặp
Dạ hoài nghi còn lấp niềm đau
Hôm nay hiểu phận má đào
Thương người tiết liệt, khóa rào chờ ai
Để khen thưởng cành mai khoe sắc
Vẫn giữ lòng, khóa chặt rào sâu
Cùng nhau đưa đến giang đầu
(1200) Đỉnh cao tình ái, qua cầu yêu đương
Đêm trăng sáng mây nhường lối mộng
Cạn chén quỳnh lắng đọng tâm tư
Hỏi chồng rành rẻ ngôn từ
Tại sao Đình Hội loại trừ nữ nhi ?
Thiếp vẫn biết phú, thi sắc sảo
Định rõ ràng tâm não thí sinh
Tứ thư, chiếu, biểu... trung bình
Chăm lo học tập tiến trình vượt qua
Muốn học hỏi tài ba Tiến sĩ
Những phú, thi tuyệt mỹ cao vời
Nhờ chàng sử dụng đôi lời
Mượn dùm cho thiếp suốt đời không quên
Nguyễn Trãi biết vợ hiền tài giỏi
Sẽ chờ thời thuận lợi phân qua
Đêm nay thưởng nguyệt ngắm hoa
Tận dùng thời khắc chan hòa thương yêu...
Ban Giám khảo đặt nhiều tin tưởng
Với đề tài ảnh hưởng quốc gia
Xuân Đài Hội phú kỳ ba
(1220) Mộng Tuân muốn chỉ nước nhà yên vui
Sĩ tử được chọn thời cận đại
Hay dựa vào sách dạy cổ xưa
Miển sao lý dẩn có thừa
Văn chương như sóng nước đùa thuyền xa
Theo Chu Lễ có ba đài tượng
Chốn Linh Đài, Hoàng Thượng vái van
Cầu Trời khẩn Phật chiêu an
Nước non trù phú, dân gian thanh bình
Thời Đài dựng để dành chư chúa (63)
Đến lễ đài cầu gió cầu mưa
Cầu cho dân chúng được mùa
Hăng say xây đắp, tranh đua học hành
Phố Đài để dân lành thưởng ngoạn
Xem mây trời tản mạn bay xa
Ngẩn ngơ theo mấy cành hoa
Hân hoan theo tiếng oanh ca ngọt ngào
Với Nguyễn Trực mưa rào vướng víu (64)
Núi non còn phải chịu chào thua
Vững bền, cao mấy cũng thừa
(1240) Nếu không xây dựng cho vừa lòng dân
Xuân Đài chắc, non Tần kém thế
Xuân Đài cao, ngạo nghể dương oai
Xuân Đài bền vững thới lai
Do dân xây đấp mỗi ngày một hơn
Dân sung sướng, đài sơn đài phết
Dân yên lành, đài kết đài giăng
Nếu dân đau khổ nhọc nhằn
Đài nghiêng theo gió, đài hoằng theo giông
Phú Nguyễn Trực chiếm lòng giám khảo
Chấm đổ đầu Hội cảo kỳ ba
Nhưng người được điểm thuận hòa
Nguyễn Như Đỗ mới chính là Hội nguyên
Vì Như Đỗ gom thuyền ba hội
Ưu với bình vang dội mấy phen
Bỏ công sắm sửa sách đèn
Trau dồi kinh sử, luyện rèn phú thi
Hội chấm dứt, đáng ghi đáng thưởng
Ban chấm thi, đọc quyển chung lòng
Cùng nhau cầm chén rượu nồng
(1260) Để đem sức sống khơi dòng hăng say
Tháng giêng hết, mùng hai tổ chức
Điện Hội Anh sáng rực đèn hoa
Trầm hương nghi ngút chan hòa
Điện tiền mở rộng, chính tòa vinh quang
Ban giám khảo, hân hoan tề tựu
Đã sẵn sàng sĩ tử đứng chờ
Các quan Lễ bộ đợi giờ
Hồi chuông thứ nhứt, xếp cờ vào dinh
Khác thi Hội, thi Đình trong điện
Ban chấm thi, cùng tiến vào chầu
Hai bên Lễ Bộ đứng hầu
Y quang, phẩm phục, sắc màu đẹp tươi
Chuông kế tiếp, đón mời vua tới
Mũ xung thiêng, ngọc đới bên hông
Hoàng bào nệm ngọc thêu rồng
Ngai vàng chểm chệ, hương đồng nghiêm trang
Cùng phủ phục, các quan bái vọng
Lớp sĩ phu, xúc động tiến vào
Hân hoan như được đón chào
(1280) Đường mây rộng mở, cẩm bào thêu hoa
Viên chấp sự xướng qua tên họ
Trao thí sinh mực lọ bút nghiên
Dâng vua Văn sách thánh hiền
Xét xong thủ tục vua truyền đề thi
Các sĩ tử cúi quỳ bái nhận
Lui trở về địa phận của mình
Mỗi người bàn ghế xinh xinh
Không còn lều chỏng, đất xình giữa sân
Lễ kết thúc, Vua, thần trở gót
Các thí sinh moi óc tìm văn
Êm đềm Tìên nữ cung Hằng
Oai phong tiếng sóng Bạch Đằng vang danh
Đến chiều tối mới thành được quyển
Ban giám thi chấm tuyển người tài
Ba mươi ba, trúng văn bài (65)
Chia làm ba hạng, đủ đầy sắc sâu
Nhóm thứ nhứt, đứng đầu Nguyễn Trực
Đậu Trạng Nguyên chính thức năm nầy
Hội nguyên Như Đỗ thứ hai
(1300) Trở thành Bảng Nhãn, trí tài hiền lương
Người thứ ba là Lương Nhữ Hộc
Đậu Thám Hoa, chính tộc con nhà
Quyết đem sức học tài ba
Dạy dân in sách đúng là cha ông (66)
Đem tài trí đẹp lòng tiên tổ
Quả rỏ ràng chẳng hổ danh người
Tiến sĩ cặp đệ nhứt đời (67)
Sắc trong tô đậm, hương ngoài lan xa
Tòa Văn Miếu, gấm hoa thêu đệt
Thần rùa linh, đã kết linh bài
Từ năm mười bốn bốn hai
Ai người tiến sĩ danh tài đề tên
Nơi lịch sữ, đấp nền văn hiến
Tạo niềm tin, đường tiến mai sau
Vì dân vì nước tự hào
Quyết không để giọt lệ trào can qua
Nguyễn Gia Linh
(61) Lê văn Linh, Đề điệu (Chánh chủ khảo), Triệu Thái làm Phó chủ khảo, Nguyễn Trãi, Trưởng ban Đọc quyển, gồm các bạn mới và cũ như Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Trần Thuấn Dư...
(62)Sau đây dài dòng trích dẫn tờ biểu của Nguyễn Trãi dâng vua Lê Thái Tông (theo Truyện Nguyễn Trãi của Bùi văn Nguyên) :
Thần trộm nghĩ niên tân sáu chục
Chốn triều đình chức tước ban thêm
Chín trùng lồng lộng ơn trên
Nghĩ mình thêm thẹn nỗi niềm vinh quang...
(63) vua chúa các nước chư hầu
(64) Nguyễn Trực, con cư sĩ Nguyễn Thì Trung, đã mở đầu tả đài bằng những câu : theo Bùi văn Nguyên
Vón đài nầy :
Không nền không móng
Không dựng không xây
Chẳng cần đến trăm nghìn công lao nện đắp
Chẳng phí đến muôn vàn của cải tiền tài
Chỉ cần lễ nghĩa tạo hướng đi cho mưu lược
Chỉ cần đạo đức làm cơ sở để tài bồi
Vì muôn dân cùng kéo đến
Ắt trăm họ được đón mời
Không đắp cao mà cao vút đến tận mây biếc
Không bồi lớn mà lớn, lan đến tận biển khơi
(65) Trong 33 người Tiến sĩ gồm 3 người Cặp đệ, 7 Tiến sĩ bảng chánh mà người đứng đầu là Trần Văn Huy và 23 người Tiến sĩ bảng phụ mà người đứng đầu là Ngô Sĩ Liên, chuyên về lịch sử
(66) Theo Việt Nam Danh nhân Từ điển của Nguyễn Huyền Anh, Lương Nhữ Hộc là ông tổ ở VN về in sách. Ông đã hai lần đi sứ ở Tàu và học lén được nghề in ở đấy
(67) Tiến Sĩ Cặp đệ gồm ba người : Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Cảnh công bố kết quả
Văn Miếu & Bia Tiến Sĩ R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.11.2008 03:58:36 bởi Viet duong nhan >
Chương 14 Luận về Tứ Hung thời đại
Ngoài áo mũ lời ca tiếng hát
Thật tưng bừng lễ phát cân đai
Thủ khoa, Cập đệ trí tài
(1320) Từ đây hôm sớm miệt mài giúp vua
*
Lễ chấm dứt, lòng chưa muốn dứt
Ban chấm thi tổ chức rượu trà
Cùng nhau nâng chén ngâm nga
Bảo người Thường Tín thua nhà Ứng Thiên (67)
*
Mộng Tuân hỏi đề chuyên Văn sách
Có phải người phụ trách, Ức Trai ?
Vừa hay vừa quá thâm cay
Phải người trí rộng ý dài mới thông
*
Nguyễn Trãi bảo do lòng Thánh thượng
Chỉ rõ ràng ảnh hưởng người xưa
Gợi thêm vài chữ giúp vua
Miễn sao cân nhắc cho vừa bề trên
*
Bài Nguyễn Trực nói lên khác biệt
Giữa Tứ Hung, hào kiệt đương thời
Ngoài ra phân tích tuyệt vời
Lòng gian Hãn, Xão tách rời Sát, Ngân
*
Hãn, Xão chỉ có phần gian ý
Sớm về hưu, đã nghĩ đến mình
Không lo đề cử hiền minh
(1340) Hết lòng giúp nước, tận tình giúp vua
*
Khi khởi nghĩa, tranh đua gắng sức
Trong hiểm nguy tận lực hy sinh
Đến khi đất nước thái bình
Không lo kiến thiết, riêng mình cầu an
*
Còn Sát, Ngân, lòng gian ý ác
Chức Tư Đồ lấn át quyền vua
Thích làm bạn với a dua
Ghét ghen tài đức, thương ưa nịnh thần
*
Lê Xuân Chủ, mệnh thân tan tác
Chiếc lá vàng rải rác đường đi
Để người xiểm nịnh gian phi
Giẫm lên thân xác, tiếc gì công lao
*
Chúng chỉ thích ngọt ngào đường mật
Chúng chỉ mê giọng hát lời ca
Những người liêm khiết tài ba
Không chung đường nghĩ, không hòa đường suy
*
Đều phải chọn bên đi bên ở
Không chung đường ngăn trở dèm pha
Hết đời một giấc Nam kha
(1360) Đầu thân hai ngả, danh tà còn lưu
*
Càng ngẫm nghĩ lời hư lẽ thực
Bài học xưa quyền lực còn đây
Xét người, ngẫm lại hôm nay
Ai người cậy thế, yểm tài tôi trung
*
Ai dám định Tứ Hung hiện đại ?
Ai xét người tranh cãi lợi danh ?
Biết ai đem hết tài mình
Giúp dân giúp nước, công danh chẳng màng ?
*
Càng tham luận thấy càng sôi nổi
Sợ đêm tàn, tiếng dội tiếng vang
Ức Trai đành phải bàn ngang
Ta cùng nâng chén đón vầng trăng lên
*
Ánh trăng sáng gi"a nền trời thẳm
Xuyên cây cành lấm tấm kim cương
Ngàn sao trong sáng lạ thường
Như cùng đánh dấu Đình trường năm nay
*
Nguyễn Trãi muốn cùng say với bạn
Giữa đêm khuya trăng sáng vui vầy
Ngày mai rồi sẽ chia tay
(1380) Biết còn thấy lại những ngày vui tươi ?
*
Quý những lúc lòng cười mắt thốt
Giữa những người cùng một tâm hồn
Cùng đi chung một khoảng đường
Cùng chia sẻ nỗi đoạn trường khổ đau
Nguyễn Gia Linh
(67) Thường Tín là quê hương của Nguyễn Như Đỗ cũng là quê hương của Nguyễn Trãi và Lý Tử Tấn. Ứng Thiên là quê hương của Nguyễn Trực R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.11.2008 04:02:48 bởi Viet duong nhan >
Chương 15 Trở lại Côn Sơn
Nay trở lại rượu bầu thơ túi
Vùng Côn Sơn nhiều núi nhiều non
Về đây rèn luyện sắt son
Đấp xây giấc mộng, vuông tròn nghĩa nhân
*
Cùng Thị Lộ bao lần mong đ®i
Lặng ngắm nhìn dòng suối trong xanh
Hương hoa đồng nội yên lành
Hồn thơ phảng phất, mái tranh nhịp nhàng
*
Cầu Thấu Ngọc, mơ màng huyền ảo
Tháp Huyền Quang, lối đạo soi đường
Thần tiên trong cảnh khói sương
Đất trời mở rộng, tình thương dạt dào
*
Thanh Hư động xanh xao hoa lá
Bàn cờ tiên bậc đá mấy trăm
Đường ven tiếng suối rì rầm (68)
(1400) Thạch bàn uốn khúc quanh năm mơ huyền
*
Khu đất rộng, ba hiên vách lá (69)
Nền Ức Trai sỏi đá chen hoa
Trong nhà đưa mắt nhìn xa
Bốn phương gió thổi, mấy tòa thanh tao
*
Suối róc rách, ngọt ngào âm hưởng
Thông vi vu, ngất ngưởng trời cao
Gò tre, bụi trúc lao xao
Nước non xanh biếc, tiêu dao tháng ngày
*
Khó phối hợp, hăng say hoạt động
Cùng yên vui trong mộng nhàn du
Ức Trai sang sửa bổ tu
Bạch Vân am động, sương mù vây quanh
*
Cùng xây cất nhà tranh mái lá
Để làm nơi dạy dỗ trẻ thơ
Hoặc say mê với cuộc cờ
Chung trà chén rượu, bài thơ ân tình
*
Vui đắm đuối ba sinh hương lửa
Bỏ những khi, trước cửa thẩn thờ
Nỗi buồn phảng phất vu vơ
(1420) Nỗi ghen nh"ng kẻ nghi ngờ người yêu
*
Sóng đã lặng, hương kiều bên cạnh
Cành hoa thơm trong ánh bình minh
Giọt sương lóng lánh lung linh
Sắc màu hòa nhịp, sóng tình chứa chan
*
Song song bước giữa ngàn hoa mộng
Lặng lặng nhìn trước cổng am vân
Thiên thai trong cõi hồng trần
Ai người hưởng được mấy lần phù sinh ?
*
Đêm huyền ảo, thơ bình kinh cứu
Cùng để lòng ấp ủ lời hay
Văn chương như áng sương bay
Nhẹ nhàng mờ ảo vượt ngoài dậm xa
*
Giọng thánh thót cung ngà lả lướt
Xuôi thời gian và vượt không gian
Thoát xa ra khỏi non ngàn
Đến vùng biển rộng ngập tràn thương yêu
*
Lòng hăng say bước đều theo nhịp
Trống hành quân đuổi kịp sóng cồn
Đoàn quân chân bước dập dồn
(1440) Hào hùng tiếng hịch, lướt đồn đạp chông
*
Rơi nước mắt khi lòng tan tác
Theo lời ca giọng hát nỉ non
Tiếng ngân xé nát tâm hồn
Tiễn người bất hạnh về nguồn trầm luân
*
Tiết tháng bảy mây vần mưa vũ
Trong hồ sen hoa rủ cánh tàn
Hoa buồn sắc thảm mênh mang
Đến mùa báo hiếu Vu Lan đợi chờ
*
Tình cha mẹ tôn thờ trọn kiếp
Nghĩa đức dày nối tiếp cha ông
Xử sao cho trọn tấm lòng
Cho thương yêu vẫn chờ mong tháng ngày
*
Cha dạy dỗ lời ngay lẽ phải
Chỉ rỏ đường ngang trái phong ba
Biết đâu là lẽ chánh tà
Học người trung nghĩa, tránh xa tôi loàn
*
Mẹ chăm sóc miếng cơm manh áo
Mẹ lắng lo giông bão gió sương
Ôm con ấp ủ tình thương
(1460) Nắng mưa cũng chịu, đoạn trường cũng cam
*
Rằm tháng bảy thành tâm khẩn nguyện
Cầu Phật Trời gió chuyển mây đưa
Hộ phò Tiên cảnh muối dưa
Mẹ Cha hồn lạc, sớm trưa vui vầy
*
Cùng phổ độ rày đây mai đó
Những cô hồn tránh gió đụt mưa
Giải trừ oan nghiệp xa xưa
Tụng kinh gỏ mỏ, muối dưa tu hành
*
Chùa rộng mở sẳn dành công đức
Cho những người tránh tục tìm siêu
Luyện hồn thanh thoát tiêu diêu
Xây tâm tĩnh lạc, tránh điều trầm luân
*
Sau cuộc lễ tin mừng đưa đến
Rằng Quân vương tham diển miền đông
Trước lo quân lính một lòng
Tận tình xây đấp non sông vững bền
*
Sau sẽ viếng thăm miền thôn dã
Cùng cựu thần chí cả Côn Sơn
Niềm vui cao tận núi non
(1480) Mấy ai hưởng được công ơn biển trời
*
Một nghĩa cử sáng đời chân chúa
Trước lo dân sau dựa lòng người
Kính tôn những kẻ đức tài
Phát uy đạo cả trong ngoài noi gương
*
Tin kế tiếp cung vương mở rộng
Tiếng hài nhi sống động Huy Vân (70)
Ngọc Dao giấc mộng linh thần
Hạ sanh Hoàng Tử theo vầng hào quang
*
Nguyễn Trãi trước lo toan tiếp rước
Sau cho người kịp bước đến chùa
Chu toàn săn sóc con vua
Dẩn đi lánh nạn để ngừa trầm luân
Nguyễn Gia Linh (68) Đường lên bàn cờ tiên gồm 600 bậc đá
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe như tiếng Đàn cầm bên tai (Nguyễn Trãi)
(69) Nguyễn Mộng Tuân, một người bạn đồng khoa đã mô tả nhà Nguyễn Trãi như sau :
Nhà trí Tam quan lạnh lẽo như dòng nước
Bốn vách trống trải xác xơ chỉ có sách là giàu
(70) Chùa Huy Vân, ngoại ô kinh thành R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.11.2008 04:06:56 bởi Viet duong nhan >
Chương 16 An Bang lánh nạn Chim ca hót mừng xuân sáng sủa
Cùng vui đùa nhảy múa trên cây
Tô màu ngủ sắc vần mây
Ánh dương đánh dấu một ngày vinh quang
Vốn là chuyện thế gian thường sự
Nỗi hân hoan Thái tử chào đời (71)
Niềm vui chưa thốt ra lời
(1500) Đã lo nghĩ đến chuyện dời đi xa
Không thể để tiếng la tiếng khóc
Của trẻ thơ qua nóc nhà chùa
Mặc dầu Thái tử con vua
Trên đường lánh nạn phải chừa đường sinh
Càng thấm thía thâm tình dân dã
Trong đói nghèo hết dạ trung lương
Đưa con cùng mẹ lên đường
Ngày đi đêm nghỉ gió sương chẳng sờn
Thế mới biết trong cơn hoạn nạn
Mới hiểu ai là bạn cố tri
Đường đời cùng bước chân đi
Mới tường được nẻo, mới ghi được lòng
Cùng gian khổ qua sông qua núi
Băng rừng sâu vượt suối trèo non
Mấy ngày ròng rà sắt son
Đến nơi thì đã mỏi mòn thịt da
Thương thân trẻ vừa xa lòng mẹ
Nếm đủ mùi nặng nhẹ khổ đau
Đêm đêm tùng ngắm trăng sao
(1520) Ngày ngày phải tắm mưa rào đổi thay
Nghe chim hót, gió lay cành lá
Cùng qua đèo ghềnh đá cheo leo
Tâm tình những kẻ đói nghèo
Mà lòng không giống cánh bèo trôi sông
Bông hồng nở giữa vùng hiểm trở
Đem vui tươi đức độ ôn hòa
Biến vùng rừng biển bao la
Thành nơi ấm cúng chan hòa tin yêu
An Bang cảnh nắng chiều rực rỡ
Hay hừng đông sóng vỗ bờ xa
Sương khuya núp ánh trăng tà
Hỏi người cõi tục đâu là thần tiên
Ngọc Dao sống trên thuyền đánh cá
Thả thuyền trôi cảnh lạ trời hoang
Ngư ông thân tín dịu dàng
Ức Trai gởi gấm giúp nàng nuôi con
Dầu cực khổ lòng son yên trí
Đường quanh co hùng vĩ núi rừng
Dễ tìm đất lánh tạm dung
(1540) Tránh xa loài thú khuyển ưng kinh kỳ
Nguyễn Gia Linh (71) Thái Tử Tự Thành ra đời ngày 20 tháng 7 d.l. năm Nhâm Tuất (1442) R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2008 05:36:58 bởi Viet duong nhan >
Chương 17 Thao diễn miền Đông
Vua chưa biết Dao phi sinh nở
Cũng chưa hay Thái tử ra đời
Con vua sống giữa biển trời
Còn vua chễm chệ trên ngôi sang cùng
*
Lòng đã đặt lợi chung trước cả
Lo cho dân mọi ngả yên thân
Đã quên phi ái cung tần
Bao lời nhắn nhủ của lần chia ly
*
Sớm thấy rõ đường đi nước bước
Biết lo cho dân trước nhà sau
Luôn luôn nghĩ đến công lao
Của người dựng nước xiết bao nhọc nhằn
*
Nên thỉnh thoảng cải trang sửa dạng
Đến hang cùng ngỏ cạn tham quan
Hiểu rành cuộc sống dân gian
Kiếm người tài đức giúp an cõi bờ
*
Thái Tông rõ cuộc cờ đã điểm
Thi Hội Đình thỏa nguyện lòng vua
Những người văn học có thừa
(1560) Hết lòng vì nước tranh đua tài bồi
*
Vua lại nghĩ đến hồi khốn khổ
Cả quân tình trốn ở Chí Linh
Nguyện đem tất cả nhiệt tình
Đền ơn người đã quên mình giúp vua
*
Muốn quân sĩ say sưa chiến đấu
Muốn toàn dân theo dấu anh hùng
Hết lòng trọn dạ hiếu trung
Thân vua phải lấy thủy chung làm đầu
*
Ngài trở lại bến đầu trận tuyến
Nơi lùng danh, tham diễn hành quân
Chí Linh hội họp công thần
Trống dồn nhịp bước, lòng hân hoan chào
*
Dân sung sướng tô màu xa giá
Sáng tin sương rộn rã lên đường
Cùng nhau biểu trổ cờ giương
Nhớ ngày khởi điểm biên cương vững bền
*
Đoàn quân bước vang rền tiếng nhạc
Trống liên hồi ào ạt tiến quân
Hân hoan dân chúng reo mừng
(1580) Niềm vui bay vút tận cùng trời cao
*
Trước khí thế văn thao võ luyện
Thấy đoàn quân chí nguyện một lòng
Vui tươi thể hiện mặt rồng
Nghĩ rằng cá nước non sông hài hòa
*
Vua hớn hở, tay khoa miệng múa
Quyết thưởng ban gấm lụa vàng thau
Đoàn quân hùng dũng tự hào
Trước an quốc thể, sau đào hố sâu
*
Để chống giữ hoa mầu đất nước
Để kiện toàn chiến lược hành quân
Những người vì nước vì dân
Xã thân nhưng chẳng một lần thở than
*
Thế mới rõ giang san gấm vóc
Do những người ngang dọc chu toàn
Đừng quên những lúc tai nàn
Đừng quên khúc nhạc muôn ngàn lời ca
Nguyễn Gia Linh R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2008 05:42:57 bởi Viet duong nhan >
Chương 18 Ngự giá Côn Sơn
Lòng rộng mở muôn hoa ngàn lá
Cùng phô bày nét lạ đường nghiêng
Tin vui loan đến lâm tuyền
(1600) Ức Trai, Thị Lộ xuống thuyền rước vua
*
Vinh dự ấy người ưa kẻ muốn
Một lão thần được chuộng được yêu
Tránh sao cho khỏi búa rìu
Những người ganh tỵ, kiếm điều dèm pha
*
Thị Anh phi, nghĩ xa lo sớm
Vì con thơ quyết tóm uy quyền
Sợ người tạo thế ngửa nghiêng
Dành ngôi Hoàng tử, cướp thuyền Quân vương
*
Sau Đình Hội, hiền lương sơn thủy
Ngọc Dao phi nở nhụy khai hoa
Khôi ngô đúng thiệt con nhà
Sợ rằng Nguyễn Trãi nói xa nói gần
*
Chúng tìm cách rẻ phân tôi chúa
Cử Tạ Thanh, xe ngựa theo hầu
Trống kèn đón trước tiễn sau
Canh chừng theo dỏi lời chào tiếng thưa
*
Thêm Lương Dật chanh chua sâu hiểm (72)
Tung truyền thêm rắn điểm oan cừu
Tạo ra sương khói mịt mù
(1620) Chung quanh hai kẻ ngàn thu một lòng
*
Lòng Nguyễn Trãi trắng trong như ngọc
Nghĩa vua tôi, kẻ tóc đường tơ
Luôn luôn trọn chữ phụng thờ
Đường ngay nét thẳng như tờ giấy nguyên
*
Vua vẫn kính tôi hiền tài giỏi
Đạo làm vua biết đợi biết chờ
Biết ai vun quén cõi bờ
Biết người cương quyết vươn cờ nước Nam
*
Vốn mến chuộng non lam núi biếc
Vùng địa linh hào kiệt muôn đời
Tham quan phong cảnh tuyệt vời
Bạch vân am động, núi đồi thênh thang
*
Ngắm về phía An Bang hùng vĩ
Nơi uy linh, lăng vị nhà Trần
Vọng sang Kiếp Bạc mây tầng
Có đền Hung Đạo muôn phần trang nghiêm
*
Chung trà nóng, thâu đêm bàn bạc
Nghĩa vua tôi, tỏa ngát niềm thông
Nhà vua cởi mở tất lòng
(1640) Yêu cầu Nguyễn Trãi ra công tài bồi
*
Trước cố gắng phục hồi no ấm
Cho dân gian đầm thấm yên vui
Vườn xuân nụ liếc hoa cười
Líu lo chim hót, sáng ngời vầng dương
*
Sau sửa đổi con đường thi cử
Khuyến khích người kinh sử trau dồi
Những ai tài trí vun bồi
Tận tình tiến cử, trọn đời giúp vua
*
Ngoài gắng sức tranh đua kiến thiết
Nét phong quang, nhạc tiết tô thêm
Lễ nghi đạo đức chung thềm
Vui tưoi cùng kết, êm đềm cùng xây
*
Niềm thông cảm gió mây non nước
Giữa vua tôi đâm tược nẩy mầm
Hân hoan vua khẻ liên ngâm
Một bài ca tụng, tình thâm tôi hiền
*
Sau buổi duyệt chiến thuyền đông chí (73)
Ghé Côn Sơn hậu hỉ tôi thần
Quân sư tài đức đương trần
(1660) Thua chi những kể oai thần xa xưa
*
Nhớ Lam Sơn gió mưa ngày trước
Phượng trổ tài giúp nước phò vua
Ngày nay tạo đất tạo mùa
Đan thanh nét vẽ, nô đùa liễu mai
*
Lòng Nguyễn Trãi, hoa khai cánh nở
Nguyện chép thơ vào vở bảo tàng
Giấy trong mực thắm ngay hàng
Tạ ơn thánh chúa, lưu ngàn năm sau
*
Nguồn xúc động tuôn trào lai láng
Họa khớp bài nguyên vận vua ban
Những mong đền đáp ơn vàng
Còn thương cỏ nội hoa ngàn đến thăm
*
Nguyên ước vọng trong tâm trong chí (74)
Được thánh hoàng xét nghĩ tôi thần
Dẫu thân đi hết đường trần
Cũng không dám nghĩ một lần nắng mưa
*
Chưa mong mỏi say sưa non nước
Chỉ ước mơ sau trước phò vua
Dám đâu trăng cợt non đùa
(1680) Ngẩn ngơ long phượng, thẹn thùa liễu mai
*
Mê bàn bạc sao mai lố dạng
Sáng hôm sau sửa soạn lên đường
Vua tôi hai ngã, hai phương
Bình Than bến đợi quân vương xuôi thuyền
*
Sau giây phút hàn huyên cùng vợ
Chức Lễ Nghi Thị Lộ hồi cung
Xa rời người bạn tình chung
Nước non dong ruổi chập chùng Bắc Đông
Nguyễn Gia Linh (72) Lương Dật là em của Lương Đăng từng tranh với Nguyễn Trãi lo về Lễ nhạc
(73) Theo Bùi Văn Nguyên, trong Truyện Nguyễn Trãi, bài thơ của vua Lê Thái Tông tặng Nguyễn Trãi, nhan đề Cuộc Tao ngộ, viết bằng chữ hán do Vân Trình dịch như sau : Thuyền trận duyệt xong buổi thoái hồi
Côn Sơn xe ngựa ruổi qua chơi
Thăm nền Lục Dã nhìn mây rỗi
Nhớ thuở Lam Sơn trổ phượng tài
Trong động riêng trời quên tuổi giáp
Bên non hiếm đất dựng lâu đài
Đan thanh nét vẽ nhờ ai tá
Tô điểm sông hồ cảnh liễu mai ? (74) Theo Bùi Văn Nguyên, trong Truyện Nguyễn Trãi, bài thơ của Nguyễn Trãi, viết bằng chữ hán do Vân Trình dịch như sau : Mộng tưởng trời cao những mấy hồi
Cả mừng xe ngọc kíp lên chơi
Đội ơn thánh đế thương tôi cũ
Muốn giúp triều cương thẹn bất tài
May được nhàn thân bên suối động
Dám đâu riêng đất dựng lâu đài
Nước non hội ngộ chào long giá
Mưa móc đầm đìa nhuận liễu mai
Nơi Nguyễn Trãi được phong Hành kiểm
Cùng chăm lo huấn luyện ba quân
Sá chi gian khổ nhọc nhằn
Miễn sao nung đúc tinh thần hy sinh R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2008 05:46:42 bởi Viet duong nhan >
Chương 19 Thảm án Lệ chi cung
Thuyền tách bến trong tình lưu luyến
Buổi tiễn đưa xao xuyến tâm can
Lá thu vừa trổ sắc vàng
Tả tơi rơi rắc, đường sang nẻo về
*
Sông uốn khúc bên lề liễu rủ
Nước lững lờ sương phủ đầu non
Quanh co mấy nẻo đường mòn
(1700) Phong quang mờ ảo như còn luyến thương
*
Buồn ly cách vấn vương tâm não
Đông cùng Tây mấy dạo chia xa
Người thương muôn dậm quan hà
Thân gầy tóc bạc, bóng tà đa đoan
*
Hàng liễu rủ nhịp nhàng sóng nước
Vỡ tan khi thuyền lướt trôi qua
Bóng người yêu dấu dần xa
Nhưng lời nhắn nhủ chan hòa nhịp tim
*
Thuyền vẫn lướt êm đềm trên sóng
Xuôi thời gian, khuấy động không gian
Dập dìu tiếng nhạc trong khoan
Hòa theo giọng hát điệu đàn nỉ non
*
Cung réo rắt ru hồn quân tử
Vũ điệu mừng tiên nữ khoan thai
Vạt tiên phe phẩy gót hài
Đưa hồn người đến non đài mê cung
*
Thuyền rẻ lối qua sông Thiên Đức (75)
Bóng hoàng hôn sáng rực trên sông
Muôn sao lấp lánh theo dòng
(1720) Như đưa người đến non bồng cảnh tiên
*
Chiều mùng bốn đến miền trại vải (76)
Lệ Chi cung tồn tại lâu đời
Dựng xây giữa khoảng núi đồi
Để cho vua chúa từ thời Trần hưng (77)
*
Đường kinh lý tạm dừng chân nghỉ
Yên thân vàng, tâm trí thảnh thơi
Cây xanh phong cảnh tuyệt vời
Gió đưa đẩy lá nghe lời thông reo
*
Thuyền cập bến thả neo buông chống
Vua hân hoan ngồi ngắm trời xanh
Nước non một dải yên lành
Nhân dân trù phú đậm tình thương yêu
*
Nâng chén ngọc, một chiều êm ả
Vua ngâm nga khúc lạ điều hay
Bỗng đâu trận gió cuồng quay
Hắt hơi mấy lượt, lăn ngay xuống sàn
*
Đám cung nữ kinh hoàng la hét
Đoàn vệ quân tức tốc ẵm vua
Đặt Ngài ngay ngắn giường thưa
(1740) Lương y đến trể vì chưa cập bờ
*
Nên Thị Lộ đứng chờ bên cạnh
Đấp chăn êm trong cảnh lo âu
Vành môi khóe mắt u sầu
Đắn đo không biết phải cầu nơi ai
*
Nhóm Tạ Thanh mặt mày chẳng thấy
Lương Dật vừa biệt phái về cung
Khải tâu Hoàng Hậu cửu trùng
Long xa bí mật đến vùng Chi cung
*
Ngự y đến tay chưn bủn rủn
Thánh hoàng đà mềm nhủn tứ chi
Nhắm nghiền như thể đang đi
Giữa vùng yên tỉnh không gì lắng lo
*
Cố tìm kiếm nguyên do chứng bịnh
Cùng thuốc thang định tỉnh Thánh hoàng
Thánh y cũng phải chịu hàng
Mệnh phần đã hết, Ngọc hoàng chờ tin
*
Trời hừng sáng sóng tình cố giữ
Trống với kèn vẫn đủ tiếng vang
Thánh hoàng xa giá hồi loan
(1760) Trở về cung nội chu toàn viễn kinh
*
Chiều mùng sáu ghập ghềnh xa giá
Qua cổng thành đèn đã nhóm lên
Một hồi chuông trống vang rền
Báo tin Thánh Thượng về miền Tây phương
*
Nhóm triều chánh thăng đường khẩn cấp
Do Hậu hoàng triệu tập trào trung
Nắm quyền Nhiếp chánh Cửu trùng
Bang Cơ Thái tử hai xuân đương nồng
*
Lên kế nghiệp Nhân Tông hoàng đế
Chuyện triều trung đành để Mẹ lo
Được thêm người cậu chung đò (78)
Tấn phong Cữu phụ theo phò một bên 79)
*
Việc trước nhứt ghi tên làm lễ
Phát tang xong điện tế vong linh
Khói hương quyện cả cung đình
Hồn vua phảng phất thấu tình tôi trung ?
*
Nguyễn Thị Lộ cùm gông tại chổ
Bị cáo gian thuốc đổ hại vua
Trời xanh chuyển nắng thành mưa
(1780) Ép người trung liệt còn thua tôi loàn
*
Chúng tra khảo hồng nhan chẳng tiếc
Trớ trêu thay, Đinh Liệt cầm đầu (80)
Hỏi rằng lòng dạ hiểm sâu
Hợp cùng Nguyễn Trãi mưu cầu lợi danh
*
Hỏi cặn kẻ : Bà canh bên cạnh
Khi Thánh hoàng bất tỉnh mê mang
Chính bà cầm chén thuốc thang
Chính tay đổ thuốc Thánh hoàng hồn thăng ?
*
Này Thị Lộ phải chăng Nguyễn Trãi
Đã xúi bà ám hại Quân vương ?
Thưa Ngài xét xử cho tường
Ức Trai đã được lòng thương Thánh hoàng
*
Chính Thánh thượng quá giang thăm viếng
Cùng luận bàn chọn tuyển nhân tài
Lòng nào đem đến nạn tai
Ý nào phản nghịch, voi dày ngựa phân (81)
*
Thần thiếp nghĩ nhân dân hạnh phúc
Cả thảy đều đem sức tài bồi
Nghĩa vua hiền, trọn phận tôi
(1800) Lòng nào lại dám lấy vôi tôi màu
Nguyễn Gia Linh (75) Sông Thiên Đức là sông Đuống
(76) Ngày mùng 4 tháng 9 d.l. năm Nhâm Tuất (1442)
(77) Lệ Chi cung được xây từ đời nhà Trần để cho vua chúa dừng chân khi đi kinh lý
(78) Người anh của Hoàng Hậu Nguyễn Thị Anh là Nguyễn Phù Lộ
(79) Cậu vua
(80) Đinh Liệt giữ chức Đại đô đốc, được Hoàng Thái Hậu đề cử cùng Nguyễn Thiên Tích làm hình quan để xét xử và tra tấn. Đinh Liệt và Nguyễn Thiên Tích những trung thần vừa là bạn của Nguyễn Trãi, muốn cứu Nguyễn Trãi, nhưng trước thế lực của Hoàng thái hậu, không làm gì hơn được.
(81) Tứ mã phân thây R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2008 05:48:31 bởi Viet duong nhan >
Chương 20 Chuyện rắn báo oán Hoàng Thái hậu gọi chầu khẩn cấp
Những tay chân cùng tập cùng đoàn
Anh em Lương Dật, Lương Đăng
Tạ Thanh, Thúc Huệ nói năng chung lời
*
Thêm nhiều kẻ xu thời theo thế
Quyết tận dùng quỷ kế hại người
Ức Trai, Thị Lộ suốt đời
Cái gai đâm mắt bọn người dèm pha
*
Chuyện thứ nhứt bắt tra bắt khảo
Bắt nhận nhìn tội cáo giết vua
Dầu cho biết rỏ lý do
Cũng là nguyên cớ hay ho nhứt đời
*
Để trừ khử những người ngăn trở
Để dọn đường nắm giữ uy quyền
Từ đây trên một con thuyền
Mủi rồng mui phượng xuôi miền vinh quang
*
Chuyện kế tiếp truyền loan tin huyển
Rắn trả thù tại huyện côn Sơn
''Ức Trai về giữa núi non
(1820) Khai quang phát rẩy, cất trường lập am
*
Đêm hoang vắng thảo lam đơn bạc
Bên đèn chong gió mát trăng thanh
Đọc xong mấy quyển Tứ kinh
Mỏi mòn ngủ thiếp giật mình chiêm bao
*
Thấy rắn mẹ xanh xao run rẩy
Cố van đừng cỏ vẩy cây cưa
Gia đình sum họp sớm trưa
Các con nhỏ dại 'nắng mưa' chưa tường
*
Nơi thôn vắng tình thương trọn vẹn
Cạnh bờ ao vun quén hang cùn
Gia đình một mảnh tình chung
'Mái nhà' nho nhỏ sống cùng với nhau
*
Giờ chưa biết nơi nào ẩn trú
Các con thơ rừng rú khó qua
Xin Ngài mở lượng hải hà
Để cho con trẻ sống qua tháng ngày
*
Chợt thức giấc sao mai vừa ló
Tiếng van xin còn rỏ đâu đây
Bàng hoàng giữa giấc mơ say
(1840) Ánh trăng mờ tỏ, áng mây ngập ngừng
*
Lòng chưa biết nên dừng hay tiến
Một bên là mộng huyễn đêm khuya
Biết đâu hư thực phân chia
Làm sao nở để đoạn lìa tình thâ
*
Trong thực tế, hàng trăm em nhỏ
Đang đợi chờ trường sở khai trương
Hẹn nhau cắp sách đến trường
Trước lo thân thế, sau vươn màu cờ
*
Nặng với nhẹ không chờ không đợi
Trước tiền đồ chói rọi mai sau
Ai đâu ngăn giọt mưa rào Để cho hoa cỏ úa xào sắc hương ?
*
Lòng đã chọn con đường tiến bước
Chỉ còn lo chuyện trước chuyện sau
Quên rồi cả giấc chiêm bao
Đến khi nhớ lại cỏ ao san bằng
*
Lòng chợt thấy băng khoăng tự nghĩ
Đi một vòng xem kỷ trước sau
Đến vùng bụi cỏ bờ ao
(1860) Giật mình chợt thấy máu đào thắm sâu
*
Thân rắn nhỏ đứt đầu lìa cổ
Đang còn nằm tại chổ phơi sương
Động lòng trước cảnh tang thương
Nhớ lời rắn mẹ sầu vương muôn ngàn
*
Trong tâm trí ngân vang tiếng nói
Tiếng khẩn cầu đau nhói tâm cang
'Xin Ngài mở lượng hà khoan
Xót thương con trẻ bên đàng đắng cay'
*
Tiếng thỉnh cầu càng ray càng rứt
Tiếng van xin làm đứt ruột gan
Gió khuya, trăng lạnh đêm tàn
Bên đèn đọc sách ngổn ngang trăm đường
*
Bổng tâm trí như sương như khói
Bay lững lờ trong cõi hư vô
Lặng nghe tiếng độp mơ hồ
Giật mình chợt tỉnh thấy tờ máu loang
*
Vội ngẩng mặt lên trần nhìn thử
Thấy tia nhìn giận dữ câm gan
Rắn dài quấn trọn xà ngang
(1880) Cái đuôi đã đứt máu loang thân mình
*
Vội cúi xuống lén nhìn lên sách
Máu đã lần thấm rách trang đầu
Dở từng trang kế xem sao
Thấy ba tờ chẳn máu đào còn vươn
*
Lòng thấp thỏm như vương như vấn
Không hiểu rồi số phận ra sao
Điềm trên hung cát thể nào
Có liên quan với chiêm bao đau buồn
*
Rồi ngẩng mặt tìm luôn mấy lượt
Rắn mẹ sầu đã vượt hiên sau
Mây khuya che mất ngàn sao
Tiếng mưa thánh thót rót vào tâm tư
*
Nghe trĩu nặng âm u mấy ngả
Xót cảnh đời tơi tả gió mưa
Làm sao mặt mát lòng ưa
Xử sao cho vẹn cho vừa lòng nhau''.....
*
Một câu chuyện xáo xào mấy lượt
Tung tin ra dồn trước nén sau
Bảo rằng số kiếp trời cao
(1900) Ác lai ác báo trốn nào được đâu
*
Càng đanh ác thâm sâu hiểm độc
Máu ba trang tam tộc tru di
Rắn thần báo oán mấy khi
Mình làm mình chịu lấy gì kêu oan
*
Thế mới biết giàu sang chung đỉnh
Làm hoen mờ trí tỉnh hồn ngay
Những người đưa đến nạn tai
Sẽ cùng đón nhận một ngày thê lương...
Nguyễn Gia Linh R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.11.2008 05:50:47 bởi Viet duong nhan >
Chương 21 Nỗi oan khó giải Đang kinh lý nơi vùng Đông Bắc
Được tin vua trọn giấc ngàn thu
Sãm gầm gió chuyển âm u
Mắt lòa tia chớp, tai ù tiếng vang
*
Hồn chới với giữa ngàn sao rụng
Nét đau thương lên đụng trời xanh
Tiếc thương người đã tạo thành
Nước non tươi tốt, dân lành yên vui
*
Còn nhớ kỷ tiếng cười tiếng pháo
Của mùa Xuân Hội khảo vừa qua
Nhân tài chen giữa lá hoa
(1920) Quyết đem sức mỏng tài ba giúp đời
*
Lòng muốn hỏi mệnh Trời sao nở
Không để Người chống đở phong ba ?
Đưa dân, đưa nước, đưa nhà
Đến nơi an lạc thái hòa phồn vinh
*
Đạt cao điểm tiến trình minh mẩn
Đã đến thời biết nhận nhìn xa
Tiếc thay dòng suối chan hòa
Ai đem đá lấp cho hoa chóng tàn
*
Rồi sửa soạn hành trang trở lại
Kinh thành xưa vọng bái quân vương
Trong đời dồn hết tình thương
Cùng ai bày tỏ khỏi vương vấn lòng
*
Người lảo bộc theo ông từ nhỏ
Vội khuyên can chờ rỏ ngọn ngành
Từ lâu nơi chốn kinh thành
Mưu sâu ké hiểm sẳn dành chờ ông
*
Sớm biết rỏ tấm lòng Thái hậu
Chỉ thích nghe hòa tấu điệu đàn
Do mình đặt nốt xê xang
(1940) Do tay mình khải khúc ngang, bổng, trầm
*
Ai làm tắt làm câm tiếng hát
Quên vần thơ lục bát gọi về
Thì nên sống ở sơn khê
Kinh thành là chổ khó bề dọc ngang
*
Nhưng Nguyễn Trãi sẳn sàng chấp nhận
Thà để người trái phận với ta
Ân vua ta vẫn chan hòa
Về kinh để tỏ lòng ta với Người
*
Hành lý sẳn thuyền xuôi bến cũ
Trở về kinh, lòng ủ rũ buồn
Nhưng đôi dòng lệ chưa tuôn
Thì ông đã được giải luôn vào tù
*
Trong khám lạnh tai ù chân mỏi
Nhìn vợ hiền sóng soải trên sân
Ruột đau như thể bị dần
Tâm can đoài đoạn muôn lần đớn đau
*
Rồi ngẫm nghĩ trước sau như một
Đến giờ đây không thốt nên lời
Bên ngoài các bạn không lơi
(1960) Cố tim mọi cách để dời núi non
*
Như Nguyễn Xí trung cang nghĩa dỏng
Quyết sẳn sàng bạo động dấy quân
Nhưng ngài Đinh Liệt cản ngăn
Sợ rằng sẽ hại đến thân tôi hiền
*
Nếu mãi sợ, đảo điên vẫn đến
Không quyết tâm đốt nến soi đường
Thì bao oan ức vấn vương
Phạm Văn, Nguyên Hãn, pháp trường kêu oan (82)
*
Buổi xét xử, hai hàng văn võ
Trong sân triều, lo sợ không an
Nhân Tông chễm chệ ngai vàng
Ngồi yên nhờ có hai nàng cung nhi (83)
*
Sau màn mỏng, uy nghi Thái hậu
Nhiếp chính quyền chờ tấu chờ thưa
Tia nhìn qua bức màn thưa
Tìm xem ai dám trốn vua không chầu
*
Còn ai nữa, công hầu chẳng quản
Chỉ khóc than tình bạn lâu đời
Nỗi lòng không thể nào vơi
(1980) Mắt cay miệng đắng, một lời không ra
*
Củng không thể 'ra tòa' chứng giám
Để xem người nhủng lạm quyền uy
Nên đành cáo bệnh hồi quy
Vì không muốn thấy những gì ứa gan
*
Lòng Nguyễn Xí, chứa chan tình cảm
Oán hận mình không dám ra tay
Cùu người trung hậu thẳng ngay
Để giờ than khóc đêm ngày không quên
*
Buổi xét xử, không kèn không trống
Đúng vở tuồng, nhân chứng, vật tang
Lương y, cung nữ rỏ ràng
Người manh tâm giết Thánh hoàng là ai ?
*
Là Thị Lộ chính tay đổ thuốc
Do Ức Trai, mưu chước đoạt quyền
Nhẩn tâm giết chết vua hiền
Tội danh khó tránh nhản tiền tru di
*
Tạ Thanh bảo chồng ti vợ tiện
Bà đã khai hết chuyện nguồn cơn
Tại sao chuốc oán gây hờn
(2000) Giết vua tàn nhẩn mà còn kêu ca
*
Nay ông phải khai ra sự thật
Nghe xong rồi bổn chức xét sau
Nếu ông muốn tránh đòn đau
Thì ông quyết định mau mau khai rành
*
Đời lắm chuyện, Tạ Thanh lắm lưởi
Vừa chứng nhân, vừa hỏi cung người
Bao nhiêu nhân chứng một lời
Chính tay Thị Lộ, thuốc mời đức vua
*
Chứng cớ rỏ, thuốc vừa mới đổ
Thì nhà vua vừa trở trăn liền
Chắc rằng không phải thuốc tiên
Cùng người đổ thuốc không hiền gì đâu
*
Tuồng vu cáo từ đầu chí cuối
Chính Tạ Thanh vừa xúi vừa hâm
Đúng là cơ hội ngàn năm
Công danh quyền quý trong tầm tay thôi
*
Nhóm cung nữ biết đời ngắn ngủi
Thân phận mình kiến muổi ra chi
Mặc ai xử dụng quyền uy
(2020) Dám đâu hó hé xầm xì nhỏ to
*
Trước uy hiếp chỉ lo thân thế
Nào đắn đo suy nghĩ vạ tai
Hại người trung liệt thẳng ngay
Vô tình giết chết nhân tài nước non
*
Đinh Liệt thấu nỗi oan Nguyễn Trãi
Nên đã về Trại vải điều tra
Cố công tìm mãi chẳng ra
Nguyên nhân chứng cớ để mà biện phân
*
Vốn sớm biết tiền thân Thái hậu
Cùng cội nguồn dòng máu Bang Cơ (84)
Muốn đưa Nguyễn Trãi sang bờ
Hỏi bao yếu tố mập mờ trình ra
*
Trãi chán nản câu tra lời khảo
Không cảm thông ý hảo lòng lo
Một người bạn giữa dằn co
Bên trung bên nghĩa biết so nẻo nào
*
Vì trước mắt ngăn rào lấp ngỏ
Không làm sao bày tỏ nguồn cơn
Đành cam ôm oán nuốt hờn
(2040) Biện minh gì nữa khi đờn đùt giây
*
Thương vợ yếu thân gầy tan tác
Vẫn bền lòng dầu thác không than
Nhìn ai lệ đỗ hai hàng
Cùng nhau ta chịu hàm oan suốt đời
*
Người củng cố long ngôi tuyệt đỉnh
Cùng nắm quyền nhiếp chính trong tay
Diệt người ý thẳng lời ngay
Để không còn thấy cái gai quanh tròng
*
Lệnh phán quyết cuối cùng xuất hiện
Từ sau màn lay chuyển không gian
Tạ Thanh trình bức 'cẩm nan'
Thẩm hình Mật viện, ngổn ngang nỗi lòng
*
Nguyễn Thiện Tích, khòm lưng đứng dậy (85)
Nhiệm vụ mình chỉ bấy nhiêu thôi
Không can không tỏ một lời
Không đem tiếng nói của người cầm cân
*
Lời nghèn nghẹn, mấy lần không thốt
Giọng run run như đốt ruột gan
Tội danh đã quá rỏ ràng
(2060) Tru di tam tộc, làm gương cho đời
*
Lời phán quyết Đất Trời nổi sóng
Trận phong ba chuyện động tâm hồn
Bao dòng nước mắt rơi tuôn
Bao nhiêu uất hận khơi nguồn trào dâng
*
Vẫn giữ vững tinh thần khẳng khái
Thị Lộ cùng Nguyễn Trãi nhìn nhau
Cố ngăn giọt lệ tuôn trào
Cố đem chánh đạo đi vào thiên thu
*
Bổng tiếng quát bay vù vô điện
Nguyễn Cạy vừa xuất hiện trước đền (86)
Đương kim Đại tổng vang rền
Quỳ tâu xin được ghi tên chung dòng
*
Nhưng Thái hậu vẫn không lay chuyển
Bảo đuổi ra khỏi điện tức thời
Cạy đành xử lý cuộc đời
Đập đầu vô cột tỏ lời nhớ ơn
*
Thi thể Cạy nằm yên trong điện
Tả Kim Quân vội tiến lên trình (87)
Thái hậu, Bệ hạ, anh minh
(2080) Xét suy bản án Thẩm hình đưa ra
*
Hạ thần nghĩ điều tra chưa rỏ
Những vật tang không tỏ được gì
Theo thần không phải Lễ Nghi
Vì chưng thuốc độc không di áo quần
*
Nhưng quần áo Tiên Vương không thấy
Không thể nào kết lấy tội người
Cầu mong Thái Hău sáng soi
Giảm khinh hình phạt, giữ lời công tâm
*
Nghe tâu rổi, hầm hầm nổi giận
Bản án kia đã phán quyết rồi
Nếu ông còn có nhiều lời
Chức quyền tước hết, xa rời thành đô
*
Đặng Hiếu Lộc không chờ không đợi
Nộp áo quan cùng với cân đai
Một lần sau cuối bái dài
Thụt lùi, quay gót ra ngoài triều trung
*
Quan văn võ run run hổ thẹn
Nhìn bóng người khuất dạng qua thềm
Củng cùng chân yếu tay mềm
(2100) Mà người đáng mặt bạn hiền tôi ngay
*
Bổng cung nữ từ ngoài đâm sổ
Chạy vô triều to nhỏ Tạ Thanh
Ngự Y treo cổ từ trần
Vì không chịu nổi nhục nhằn khai ngoa
*
Bao biến cố xảy ra cùng lúc
Nhưng Mẫu hoàng một mực không lui
Án kia dã xử xong rồi
Ta đây ra lệnh giải hồi lao cung
Nguyễn Gia Linh
(82) Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn đã chết oan dưới triều của Lê Thái Tổ
(83) Khi lên ngôi vua, Lê Nhân Tông mới vừa được 3 tuổi âm lịch
(84) Theo Hoàng Công Khanh trong Vằng vặc sao khuê, Đinh Liệt chỉ dám tiết ra những căm uất bằng những câu thơ nói lái như sau :
Nhung Tân sáu tháng đã ra hoa
Nòi giống ai đây quý lắm a ?
Dựa thế Tóng Thai làm thuốc thánh
Bình xưa rượu mới Thanh Y Khoa
Nhung Tân là Nhân Tông, Tóng Thai là Thái Tông và Thanh Y là Thị Anh
(85) Nguyễn Thiện Tích, Chánh sứ Thẩm hình nội Măt viện, là bạn thân của Nguyễn Trãi chỉ có bổn phận lo tuyên án mà thôi
(86) Nguyễn Cạy là Đại Tổng quàn bộ công, trước đây là học trò của Nguyễn Trãi, chớ không có họ với ông, xin được cùng chết với Người
(87) Đặng Hiếu Lộc, làm quan đến chức Tả Kim Ngô Đại tướng quân, đã trả áo mủ về quê làm thầy thuốc R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.12.2008 04:52:45 bởi Viet duong nhan >
Chương 22 Ngày tàn bạo chúa Cùng xuôi bến theo thuyền trở lại
Sau những năm sợ hãi kinh hoàng
Trốn chui giữa xóm cùng làng
Thành Đô giờ cũng huy hoàng như xưa
*
Nhờ Thái Hău sợ mưa sợ gió
Nên được về sống ở triều ca
Nghi Dân trong chốn phồn hoa
Nhớ năm tháng cũ, tưởng là chiêm bao
*
Lòng hận tủi không sao quên được
Đem niềm vui che mắt thế gian
Ngày rong ruổi ngựa đi săn
Đêm mê giọng hát, cung đàn nỉ non
*
Say đắm đuối, môi son mắt phượng
Bàn tay thon chiều chuộng đẩy đưa
Non cao, cao mấy cho vừa
Suối sâu, sâu thẩm như chưa tỉnh hồn
*
Hoàng Thái Hậu không còn theo dõi
Nên rảnh rang đi tối về khuya
Kiếm người mua nắng bán mưa
(2380) Tận tình giúp đở sớm trưa không màng
*
Đem danh lợi cao sang quyến dụ
Cùng vạch rành lối mở đường che
Biết đâu chốn ở nơi về
Bão giông chẳng ngại, chớp loè chẳng lo
*
Rồi một tối mưa to gió cuốn
Nghi Dân cùng đồng bọn leo thành
Theo vùng bóng tối vây quanh
Đến nơi tẩm điện riêng dành Nhân tôn
*
Đang mê mang thả hồn vào mộng
Bổng chợt nghe tiếng động đâu đây
Giật mình chưa tỉnh giấc say
Ánh gươm thoáng đã đưa ngoài trời mơ (97)
*
Một đời vua ! cuộc cờ đã chuyển
Sóng hoàng cung lại quyện liên hồi
Thị Anh chưa kịp tỉnh hồi
Cũng vừa đến lúc nếm mùi lao lung
*
Hồi trống lệnh trào trung triệu tập
Văn vò quan khẩn cấp vào chầu
Bàng hoàng, ngơ ngác nhìn nhau
(2400) Ngôi vua đã đổi, vàng thau khó lường
*
Nghi Dân quyết trấn an thiên hạ
Vội thưởng khen những gã hết lòng
Những người chung sức góp công
Những ai tôn thất chung dòng hoàng gia
*
Khắc Xương được phong là hội chủ
Của Cung vương nắm giữ bên ngoài
Tư Thành, biệt đãi hơn ai
Huy Gia vương được đêm ngày lân la
*
Vì thông cảm ngày qua đau khổ
Sống trốn chui ngách ngỏ hang cùn
Lang thang gió biển hương rừng
Kết đời phiêu bạt theo từng mây trôi
*
Nhưng tội lỗi muôn đời không giảm
Của Thị Anh khi nắm quân quyền
Gió giông bão tố triền miên
Hồn oan vất vưởng trọn miền Đông Quan
*
Gây sóng hận lảnh phần bão lộng
Gieo oan cừu gặt giống thảm thương
Cung son đâu mãi xuôi đường
(2420) Giết người rồi cũng pháp trường phơi thây
*
Nghi Dân quyết đổi thay quy chế
Đưa Đồn, Ban khống chế cựu thần (98)
Những người phản đối bất tuân
Quyết đem giết hại bất cần cản ngăn (99)
*
Các trung thần đến thăm Đinh Liệt
Sau những năm chôn chặt đáy lòng
Niềm đau cất dấu tận cùng
Bên trong khám lạnh, giữa vùng trời đen
*
Nay nhìn thấy bạn hiền xưa cũ
Sống giữa triều hội đủ thối tha
Quyết đem tâm huyết gọi là
Cùng nhau cất lại mái nhà ấm êm (100)
*
Vì không thể chong đèn mưu tính
Giữa thành đô vách thính tường xuyên
Mọi người đành phải ủy quyền
Dành cho Nguyễn Xí ''kéo thuyền ra khơi''
*
Kể từ lúc hận đời bạc bẻo
Khóc thương người lá héo cành khô (101)
Hơi sương che mí mắt mờ
(2440) Thoảng trông tìm đến sống nhờ Nhị Khê (102)
*
Cùng cương quyết ăn thề kết nghĩa
Không thẹn cùng tiên đế thánh nhân
Ai người tùng bọn thí quân
Làm sao đáng mặcông thần nhà Lê ?
*
Mưu kế sẵn, chọn giờ khởi điểm
Khi bước vào nội điện chầu vua
Mỗi người giữ thế tranh đua
Kiếm người khống chế, ngăn ngừa phản gian
*
Trong nháy mắt, Phan Ban đồng bọn
Tất cả đều bị tóm bị đâm
Tướng tài kèm chặt cấm quân
Cửa thành đóng kín, đi lùng gian nhân
*
Giữa biến động Nghi Dân chạy trốn
Cho người tìm khắp chốn hoàng cung
Còn đâu một chúa lẫy lừng
Bên hòn non bộ, tránh từng dấu chân!!
*
Khi tìm thấy Nghi Dân chống cự
Đinh Liệt đành khuyên nhủ tạm giam
Ông vua dầu có tàn tham
(2460) Giết vua mang tiếng tôi hàm phản vong
*
Ngày hôm sau giáng phong hầu tước
Giải lụa mềm tự giết đời vua (103)
Thương thay trong chốn mưa đùa
Quy quyền danh vọng đánh lừa thế nhân
Nguyễn Gia Linh
(97) Vua Lê Nhân Tông bị giết đêm mồng 3 tháng 10 năm Kỷ Mẽo (1459)
(98) Phạm Đồn, Phan Ban, Lê Đắc Ninh những tay chân đắc lực của Nghi Dân, nhứt là Lê Đắc Ninh nguyên là Đô chỉ huy đội cấm binh bảo vệ hoàng cung của vua Lê Nhân Tôn
(99) Những cựu thần chống sự độc đoán của Nghi Dân như Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thụ... đều bị giết
(100) Theo Hoàng Công Khanh trong Vằng Vặc Sao khuê, Đinh Liệt đã đọc bài thơ sau đây cho các trung thần nghe :
Ra ngục mây đen kín trời đất
Ánh chiều mờ nhạt khuất non bên
Đãm trung ai đó trăm vò võ
Dám kéo vừng dương dưới đáy lên ?
(101) Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc
(102) Đặng Hiếu Lộc sau khi trả áo mão về Nhị Khê làm thầy thuốc, thường chửa bệnh đau mắt cho Nguyễn Xí
(103) Nghi Dân chết vào tháng 6 năm 1460 sau 8 tháng trị vì. R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.12.2008 04:56:23 bởi Viet duong nhan >
Chương 23 Vằng vặc Sao khuê
Các công thần họp bàn chánh sự
Quyết chọn người nắm giữ triều ca
Nếu theo thứ bực trong nhà
Khắc Xương xứng đáng lên tòa long ngai
*
Nên được cử đến ngay Cung viện
Thỉnh Khắc Xương chấp chưởng quân quyền
Lê Lăng vừa thỉnh vừa khuyên
Cung Vương nhứt quyết xuôi thuyền trên sông
*
Vì tự biết tấm lòng phong nhã
Sống cuộc đời thư thả nho sinh
Không tài điều khiển cung đình
Thà làm dân sống thỏa tình ngao du
*
Quý quá thay ! Nhân từ hiếu tử
Không đổi dời quyết giữ lòng son
Mấy ai vẹn chữ sống còn ?
(2480) Coi thường danh lợi, xem lờn quyền uy ?
*
Trước con người biết suy biết luận
Các công thần cẩn thận đề cao
Trong cơn giông tố rạt rào
Ngược theo làn gió cũng đào mồ chôn
*
Người hội đủ tâm hồn đất nước
Cả văn tài dũng lược điều binh
Còn ai nhân đức chí tình?
Thuộc dòng quý tộc, Tư Thành Huy Gia!
*
Được đề cữ đến nhà vương tử
Đinh Liệt mời nắm giữ nước non
Trước đem chí cả lòng son
Sau đem tài đức đúc hồn Thăng Long
*
Kể từ đãy Thánh Tông tức vị (104)
Quyết chăm lo cương kỷ nhà Lê
Tận dùng tài đức đôi bề
Đấp xây gìn giữ những lề lối xưa
*
Một tấc đất không thua không nhượng (105)
Một cõi lòng nhiều thưởng ít chê
Lấy câu tận sức làm lề
(2500) Học hành, công việc mọi bề lo toan
*
Ngày với tháng trăng tròn lại khuyết
Gió đùa trăng biền biệt đưa xa
Bốn năm thầm lặng trôi qua
Mắt buồn theo bóng chiều tà lãng quên
*
Một màu xám trên nền xanh thẳm
Nhớ đến người lệ đẩm hoen mi
Ngày nay ngôi cả trị vì
Nhớ ai đã bị tu di thảm lòng
*
Hoàng Thái hậu mòn trông mỏi đợi
Đứa con yêu nghĩ tới người xưa
Quang Thục còn thấy thẹn thùa (106)
Tình oan chưa giải, lòng chưa hết buồn
*
Nhìn thấy Mẹ lệ tuôn lả chả
Thánh Tông quỳ xin tỏ nguồn cơn
-Tại sao giọt lệ tủi hờn
Phải chăng con trẻ không tròn đạo con ?
*
-Con có nhớ mẹ còn sống sót
Và con ngồi chót vót trên cao
Nhớ ngày hẩm hút cháo rau
(2520) Nhờ ai con, mẹ tại đào yên thân ?
*
-Con vẫn nhớ công thần Nguyễn Trãi
Bị hàm oan tội phải tru di !
-Thế con làm được nh"ng gì ?
Ngày qua tháng lại có chi vui lòng ?
*
-Bẩm thưa mẹ, con không quên lãng
Đã từ lâu, ngày tháng chí tâm
Người về quê nội viếng thăm
Trước tìm con cháu, sau tầm văn thư
*
Nhưng rất tiếc văn từ thiêu hủy
Vì sợ rằng liên lụy vào thân
Đến nay góp được mấy phần
Chỉ mong tìm lại hai Vầng Mây xanh
*
Luật Thư trước tạo thành nề nếp
Nay không còn dấu vết người xưa
Bình Ngô Đại Cáo mới vừa
Tìm thu mấy quyển vẫn chưa hài lòng
*
Trong các sách chổ không chổ có
Nhiều câu thơ nghĩa đỏ nghĩa đen
Tiếc thay bảng khắc đầu tiên
(2540) Do Lê Thái tổ đặt nền quốc gia
*
Theo thảm án nay đà thiêu hủy
Không thể tìm nguyên ủy nguồn cơn
Chỉ mong văn kiện vẫn còn
Trong tay bè bạn, cháu con ruột rà
*
Con còn muốn ngay Tòa Văn Miếu
Trước bàn thờ truy điệu Quốc dân
" Mãy ai đáng mặt công thần "
"Phò vua, dựng nước, dạy dân, cứu đời"
*
Đôi câu liểng, sáng ngời công đức
Lời hịch truyền thúc giục hăng say
Nước non nào quản chông gai
Quyết đem chiến thắng dệt ngày vinh quang
*
-Mẹ nào biết, con ngoan của mẹ
Đã âm thầm lặng lẽ nghĩ suy
Hạo ơi ! đáng bậc tu mi (107)
Từ đây mẹ chẳng còn gì để lo
*
-Con đã soạn xong tờ chiếu nhỏ
Dâng giấy vàng, triệu đỏ mẹ xem
Sao khuê sáng rực trước rèm
(2560) Hương danh Vũ Mục quyết đem sánh tài (108)
*
Trong buổi hội với hai công tước
Đinh , Nguyễn bàn việc nước việc non (109)
Đến hồi luật pháp vuông tròn
Tiếc thay Thư Luật không còn nghiệm suy
*
Vừa lúc, đô chỉ huy bẩm tấu (110)
Một ông già chống gậy xin tâu
Nói rằng mắt kém tay đau
Muốn cùng Thánh thượng cạn bầu tâm tư
*
Người còn bảo văn từ quan trọng
Chỉ tỏ cùng Thánh thượng mà thôi
-Nhà ngươi có hỏi khúc nôi
Tánh danh quê quán, hiện thời ở đâu ?
*
-Bẩm Thánh thượng, người tâu họ Nguyễn
Làng Nội Duệ thuộc huyện Tiên Du
Thần xem gương mặt hiền từ
Nho phong, khả kính hình như gặp rồi
*
Nghe nói thế, đang ngồi bật dậy
Quan Chánh sứ ! người đãy phải chăng ?
Thần xin ra tiếp người thân
(2580) Họ Đinh vừa tấu vừa lần khỏi cung
*
Nguyễn Thiện Tích khòm lưng làm lễ
Vua đở người xin hãy bình thân
- Việc chi người cứ phân trần
Tuổi già sức yếu còn lần lên kinh
*
Trẩm sung sướng thấu tình tôi chúa
Ông tuổi già xin tựa hiên tây
Sai người đến bẩm nơi đây
Việc chi mà phải tự đày tấm thân ?
*
Tâu bệ hạ, biết thần sức yếu
Mắt đã lờ, còn hiểu bao nhiêu
Nào đâu dám tỏ đôi điều
Cùng người không giữ được nhiều âu lo
*
Theo lệnh chỉ đã dò mấy quyển
Thần nghĩ rằng khó kiếm Luật Thư
-Chánh Sứ còn giữ văn từ ?
Thánh hoàng mừng rở, thật hư thế nào ?
*
Thưa Thánh thượng, làm sao có đư®c
Luật Thư đà bị đốt từ lâu
Nhưng khi làm Thẩm hình hầu
(2600) Những khi xử án, đêm thâu sưu tầm
*
Qua mấy lượt, trong tâm nhớ rõ
Có thể tâu bày tỏ thật hư
Cho người ghi chép để lưu
Sau đem sửa đổi thành thư Luật hình (111)
*
Vua sung sướng trần tình mọi lẽ
Tiên Vương đà san sẻ niềm tin
Khen người đúng bậc anh minh
Nước non sẽ được yên lành, nhờ ngươi
*
Nguyễn Trãi được mĩm cười chín suối
Thanh danh cùng tên tuổi đề cao
Rồi đây sáng tựa ngàn sao
Sử xanh công đức đưa vào thiên thu
*
Một buổi sáng mùa thu nắng ấm
Vua đón mừng họ Phạm nên danh
Lãy tên Anh Vũ học hành (112)
Ngày nay đỗ đạt, công thành vẻ vang
*
Vua cho đổi họ sang thành Nguyễn
Rồi bổ làm tri huyện Phú Xuyên (113)
Mong sao xứng đáng tôi hiền
(2620) Cố công học tập theo truyền thống xưa
*
Sao cho xứng kế thừa họ Nguyễn
Đem danh thơm lay chuyển đất trơi
Sao Khuê vằng vặc muôn đời
Dầu trong bão tố còn ngời tuổi tên
*
Thưa bệ hạ, thần quên chưa tỏ
Có một người tên họ Thị Xoan (114)
Trao thần một bức cẩm nang
Chính tay dì Lộ gọn gàng chép ghi
*
Bình Ngô Đại cáo ! khi thừa thiếu
Đã có nhiều không hiểu đúng sai
-Nếu là chính thực do tay
Lễ Nghi học sĩ, Lan Đài trổ hoa
*
Vua vội vã kính bà Quang Thục
Mời người xem nét bút khoan thai
Thướt tha phượng múa rồng bay
Dịu dàng như ánh ban mai lững lờ
*
- Dòng chữ đó còn ngờ chi nữa
Bức thư nây còn tựa song thưa (114)
Nhớ thương gợi mấy cho vừa
(2640) Ảnh hình năm tháng vẫn chưa phai mờ
*
Lệ thấm ướt theo tờ thư cũ
Tám ngàn ngày chưa đủ hy sinh (115)
Người còn gởi gấm chút tình
Để tìm cho được công trình ngươi xưa
*
Với Nguyễn Trãi, con thừa ân nghĩa
Với Lễ Nghi, thấm thía dường bao
Mẹ cùng chung phận má đào
Không đành lòng để rơi vào lãng quên
*
Đây dòng chữ nói lên cảm nghĩ
Về con người có thủy có chung
Sương khuya dù có lạnh lùng
(2652) Ánh hồng sẽ rực theo từng mây tan Nguyễn Gia Linh
HẾT
(103) Nghi Dân chết vào tháng 6 năm 1460 sau 8 tháng trị vì
(104) Vua Lê Thánh Tông lên ngôi năm 1460 và trị vì đư®c 37 năm (1497)
(105) Thời vua Lê Thánh Tông thời đại thịnh hành dưới triều Lê về văn cũng như về võ
(106) Hoàng Thái Hậu
(107) Hạo là tên ngoài của Tư Thành (Lê Thánh Tông)
(108) Khi giải oan cho Nguyễn Trãi vua Lê Thánh Tôn đã viết :
Ức Trai lòng sáng ánh sao khuê
Vũ Mục bụng bày muôn giáp sĩ
(109) Đinh Liệt và Nguyễn Xí điều có tước công
(110) Luật Thư được chép lại, sửa đổi, sau nầy Lê Thánh Tông ban ra luật Hòng Đức
(111) Phạm Anh Vũ, con bà Phạm Thị Mận, người vợ thứ ba của Nguyễn Trãi, bà có mang khi Nguyễn Trãi bị giết và khi sanh Anh Vũ ra đổi tên là Phạm Anh Vũ để dễ bề trốn tránh
(112) Phú Xuyên là quê của bà Phạm thị Mẫn
(113) Thị Xoan là con của Già Bát, người lão bộc trung tín của Nguyễn Trãi, cũng là vợ của Đặng Hiếu Lộc
(114) Bà Quang Thục còn giữ những bức thư trao đổi cùng Lễ Nghi học sĩ
(115) Từ khi chết năm 1442 đến khi được giải oan năm 1465 Khóc Lễ Nghi Học Sĩ
(Nguyễn Thị Lộ)
Bên vầng dương sáng, bóng giai nhân
Tranh đấu xông pha lướt bụi trần
Kháng chiến bao năm nêu tích sử
Lễ Nghi một thuở giúp minh quân
Đông Triều manh chiếu hương thơm nhẹ
Trại vải ly cung tiếng lạnh dần
Khí tiết sắc tài ai dám sánh ?
Sao làm hoen ố kiếp hồng nhan !
Nguyễn Gia Linh
Tài liệu tham khảo
1) Truyện Nguyễn Trãi của Bùi Văn Nguyên, Hà Nội (1980)
2) Nguyễn Trãi và bản hùng ca đại cáo của Bùi Văn Nguyên, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội (1999)
3) Vằng vặc sao khuê của Hoàng công Khanh, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội (1998)
4) Việt Nam danh nhân tự điển của Nguyễn Huyền Anh, nhà xuất bản Zieleks, Texas (1981)
5) Việt Nam Văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, nhà xuất bản Sống Mới, in lần thứ 10 (1968)
6) Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim, nhà xuất bản Đại Nam, in lần thứ 1 bởi Trung Tâm học liệu Sài gòn (1971)
7) Các Triều đại Việt Nam của Quỳng Cư Đỗ Đức Hưng, nhà xuất bản Ban Thanh Niên (1995)
8) Di tích lịch sử-Danh thắng Côn Sơn, Ban quản lý Di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc (1996) R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 09.12.2008 05:00:06 bởi Viet duong nhan >
Người bạn quê nhà Trà đình tửu điếm để mà chi
Vinh nhục hèn sang có khác gì
Thánh thiện tâm linh rèn luyện lấy
Địa đàng rộng mở thẳng mà đi. ***
Gởi bạn hiền năm nào cát bụi
Người đã từng theo đuỗi đường say
Bạn bè từ trước đến nay
Năm năm, tháng tháng, ngày ngày chẳng tin
Nào những buổi đăng trình xa cách
Đã mấy lần lấy vạch làm gương
Đi cho đúng một con đường
Vào sinh ra tử có lường trước đâu
Đường muôn nẻo ta hầu chẳng biết
Đuốc nhân sinh lấy Việt làm quê
Huệ thơm chỉ dẫn đường về
Ở trong hương sắc chẳng mê đắm long
Quê ai ở vẫn mong vẫn đợi
Nhà mẹ cha có cội có nguồn
Thân tình giữ l ấy chữ thương
Yêu nhau là biết quê hương giống nòi Nguyễn Gia Linh
Bordeaux, ngày 17-07-1995 R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 08.01.2009 17:28:14 bởi Viet duong nhan >
Mấy vần Song Thất Cánh chim Viết theo tâm tình của chị Trung (Trích trong Tập thơ Đàn Xưa) Mưa rỉ rả một chiều gió buốt
Tiếng nhạc buồn não nuột thê lương
Cánh chim đơn lẻ sầu vương
Tình trong một phút ngàn sương phủ mờ
*
Cành trúc ngã bên bờ gió rít
Chiếc lá vàng tíu tít bay xa
Tưởng theo năm tháng gọi là
Nào hay mấy nẻo đường xa một mình
*
Thân đã thế thì tình cũng thế
Suốt cuộc đời dâu bể vương mang
Thà đi giữa chốn non ngàn
Còn hơn lặng lẽ trên đàng đắng cay
*
Tôi đã quyết dầu may hay rủi
Vì con thơ lầm lũi ra đi
Đã qua mấy thuở xuân thì
Còn mơ chi nữa đường đi chung lòng
*
Giờ đã hết, không mong không đợi
Lo cho con học giỏi nên người
Sống sao cho xứng với đời
Thì thân nầy cũng mỉm cười ra đi. Nguyễn Gia Linh
Bordeaux, ngày 16-02-2000 R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 08.01.2009 17:29:59 bởi Viet duong nhan >
Tưởng niệm Viết theo tâm tình của chị Ph. L. Thân tặng chị Phương Lan (Trích trong Tập Thơ Đàn xưa) Một phương trời cánh chim mòn mỏi Tiễn anh đi về cõi thiên thu Từ đây trong đám sương mù Hai vai trĩu nặng, tâm tư chất chồng * Gió thấm lạnh khi lòng cô lẻ Đêm thê lương gối tẻ mền đơn Cố ngăn giọt lệ tủi hờn Cố quên khúc nhạc điệu đờn bi ai * Cố tiến bước không nài gian khổ Quyết tận lòng dạy dỗ con thơ Đưa con đến tận bến bờ Yêu thương xây đấp, ước mơ vun bồi * Ngày hôm nay em hồi tưởng lại Nhớ những ngày tê tái đã qua Thấy con yên phận yên nhà Chắc hồn anh đã... bay xa dậm dài Nguyễn Gia Linh Bordeaux, ngày 21-02-2000 R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 08.01.2009 17:31:35 bởi Viet duong nhan >
Mấy vần Song Thất Hình bóng cũ Cảm tác theo bài : Hình bóng cũ của Trúc Phương diễn đạt bởi Nữ Ca sĩ Thanh Thúy Nếu biết tình mình không trọn vẹn Tiễn người về sắp sẳn thương đau Ngày mai còn có gặp nhau Nhớ đừng ngoảnh mặt cúi đầu làm ngơ Em vẫn nhớ đường xưa lối cũ Cánh hoa đào trổ nụ đơm hương Mây chiều như áng tơ vương Trói lòng hai trẻ trên đường tin yêu * Em nào nghĩ mợt chiều giá buốt Khi Mẹ hiền trói buộc tình em Bảo rằng khuê nữ sau rèm Pháo hồng sẽ nổ bên thềm đưa dâu * ‘Chồng con, đã từ lâu Mẹ chọn Là con người trước đón sau thưa Gia đình nề nếp có thừa Môn đăng hộ đối sẽ vừa lòng nhau’ * Nghe Mẹ nói lệ trào quanh mắt Nghĩ về anh lòng thắt ruợt đau Ngoài trời oanh yến xôn xao Mà nghe mưa gió rơi vào tâm tư * Em cố lặng từ từ năn nỉ Nhưng Mẹ già chẳng nghĩ cho em Trăng khuya khuất bóng sau rèm Đường tơ không trọn nỡi niềm riêng mang * Anh uất hận, em càng đau khổ Thôi kiếp nầy đành lở nợ duyên Nhìn anh cất bước ngã nghiêng Em nghe sóng gió về miền trầm luân * Còn gì nữa than thân trách phận Hình ảnh anh giữ tận đáy lòng ‘Những ngày nắng ấm trời trong Cùng anh ngắm mấy nụ hồng khoe hương’ * Em cố giữ tình thương năm ấy Chỉ mong anh tìm thấy niềm tin Giọt sương trên lá rung rinh Theo làn gió nhẹ sóng tình vở tan * Em vẫn muốn dầu ngàn biến đổi Dầu cuộc đời thấm gội thương đau Miển mình còn thấy được nhau Hương yêu ngày ấy không sao phai mờ Nguyễn Gia Linh Bordeaux, ngày 13-01-2000 R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 08.01.2009 17:33:08 bởi Viet duong nhan >
Thống kê hiện tại
Hiện đang có 0 thành viên và 4 bạn đọc.
Kiểu: