TĂNG SAN BỐC DỊCH (DÃ HẠC LÃO NHÂN)

Tác giả Bài
vanti67

  • Số bài : 1369
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 03.04.2007
  • Trạng thái: offline
TĂNG SAN BỐC DỊCH (DÃ HẠC LÃO NHÂN) 21.04.2008 09:28:13 (permalink)
TĂNG SAN BỐC DỊCH
 
LỜI TỰA
Dã Hạc nói: Đạo bốc dịch là tâm pháp của bốn đại Thánh nhân : Phục Hy,Văn Vương, Chu Công và Khổng tử. Tinh thông có thể xét trời lường đất, biết rõ lý có thể tìm cát tránh hung. Phàm học bói cũng có người thâm sâu, cũng có người nông cạn. Chỉ cần biết trạng quái, động hào, lục xung biến lục xung, cùng xem trong chương Dụng thần để biết xem người nào, xem chuyện gì dùng hào nào làm Dụng thần, lại xem thế nào là Tuần không, Nguyệt phá cùng suy vượng của bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, sinh khắc xung hình tức quyết đoán được họa phúc.
Giả như xem công danh được vượng quan trì thế, hoặc Nhật Nguyệt, động hào làm quan tinh sinh hợp thế hào, cầu danh như vậy là tốt. Nếu gặp tử tôn trì thế hoặc tử tôn động trong quẻ, không kể xem vào trường học hoặc lên chức, đều giống như mò trăng đáy nước.
Xem cầu tài được tài tinh trì thế, hoặc Nhật Nguyệt động hào làm tử tôn sinh hợp thế hào, quan quỷ trì thế, tài động sinh thế, hoặc phụ mẫu trì thế, tài động khắc thế thì cầu tài dễ mà nhiều. Nếu huynh đệ trì thế cùng hào huynh động trong quẻ, hoặc thế lâm Tuần không, Nguyệt phá thì chẳng khác gì trèo cây bắt cá.
Như xem chuyện đoán nhậm trong năm, tháng nên quan tinh trì thế, tài động sinh thế thì cát khánh. Nếu gặp quan quỷ xung khắc thế hào hoặc thế không, thế phá, thế động hóa hồi đầu khắc cùng tử tôn trì thế đều là điềm hung.
Sỹ dân xem chuyện trong năm mừng nhất là được tài hào cùng tử tôn trì thế, chắc được một năm hanh thông. Nếu gặp quan quỷ trì thế được Nhật Nguyệt động hào làm tài tinh sinh hợp thế hào, chủ cát lợi. Nếu không có tài động sinh hợp thế hào mà quan quỷ trì thế thì tất có tai phi. Nếu thế phá, thế không cùng quan quỷ động khắc thế thì hung tai. Huynh động khắc thế khẩu thiệt phi tài.
Ở trên là quan cùng sĩ dân xem chuyện trong năm, gặp tháng hợp thế thì cát, tháng xung thế là hung. Lại không nên tài động hóa phụ, phụ động hóa tài, quỷ hóa phụ mẫu thì sẽ có tai họa cho bậc tôn trưởng thượng. Huynh đệ biến quỷ, quỷ biến huynh phòng nguy cho anh em. Tài hóa quỷ, quỷ hóa tài, tài hóa huynh, huynh hóa tài thì thương khắc thê thiếp tài bộc. Tử hóa quỷ, quỷ hóa tử, tử hóa phụ, phụ hóa tử, thì con nít trong nhà có tai hoạ.Thanh long Thiên hỷ trì thế, sinh thế thì có tin mừng. Hổ quỷ phát động chủ hiếu phục. Đằng xà, Chu tước lâm huynh, quỷ động khắc thế nên phòng khẩu thiệt. Huyền vũ lâm huynh, quỷ động khắc thế phòng đạo tặc cùng người âm.
Như xem đi trốn, cùng kiện tụng phòng giặc cướp, người thù hại, cùng sang sông, vượt bể, vào nơi đất hiểm, một mình ở lữ điếm, ở vùng đất cô quạnh, vào trú ở chùa miếu, đi mua bán, mua vật trộm cắp hoặc thấy lửa cháy ở hàng xóm, hoặc nghe ôn dịch lan tràn, hoặc phòng hổ sói, phòng trộm cướp hoặc đi đêm sáng về, đi nơi quan ải, vào nơi thị phi tâm lo hoạn loạn, hoặc xía vào việc đâu đâu, lo tai phi, phòng bệnh xâm nhiễm, hoặc uống lầm thuốc độc, hoặc bị trọng tội chờ ân xá, hoặc bị hiểm bệnh mà phòng nguy, hoặc hỏi bệnh này uống thuốc kia được không, hoặc hỏi người nọ bọn kia có hại ta không. Phàm hỏi những chuyện lo âu, nếu được tử tôn trì thế hoặc tử động trong quẻ hoặc thế động biến tử hoặc thế động hóa hồi đầu sinh, hoặc quan quỷ động sinh thì thân mình có cưỡi hổ cũng chắc như núi Thái sơn.
Duy chỉ kỵ quan quỷ trì thế ưu nghi khó giải. Quỷ khắc thế tai hoạ tất xâm, thế động hóa quỷ cùng hóa hồi đầu khắc hoạ đến thân mình tránh không kịp. Duy chỉ thế không thì không lo, thế hào mà bị thì bất lợi. Xem bệnh, nếu tự xem được thế vượng hoặc động thế hào sinh hợp thế hào hoặc tử tôn trì thế, hoặc trong quẻ tử tôn động thì không biết cận bệnh hay cửu bệnh cầu Thần hoặc uống thuốc đều an khang. Cận bệnh mà thế gặp không hoặc thế động hóa không hoặc gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung, không cần uống thuốc cũng lành.
Cửu bệnh mà quan quỷ trì thế hưu tù, hoặc gặp Nhật Nguyệt, động hào khắc thế, tử gặp Tuần không Nguyệt phá, thế động hóa không hóa phá hoặc quẻ gặp lục xung, quẻ biến lục xung hoặc động hóa quỷ, hoặc hóa hồi đầu khắc nên cứu trợ gấp chậm sẽ biến thành nan y.
Xem bệnh cho cha mẹ dùng hào phụ mẫu làm Dụng thần, nếu được hào phụ mẫu vượng tướng hoặc Nhật Nguyệt, động hào sinh phụ mẫu, hoặc phụ động hóa vượng chẳng cần biết cận bệnh hoặc cửu bệnh chẳng cần uống thuốc cũng yên ổn. Cận bệnh mà phụ trì Tuần không, phụ động hóa không hoặc gặp quẻ lục xung, quẻ biến lục xung không uống mà lành. Cửu bệnh nếu phụ bị Tuần không Nguyệt phá hoặc phụ động hóa không khắc thì chết, gấp gấp cầu thầy chớ lìa nhà.
Xem bệnh cho anh em nếu được hào huynh vượng tướng hoặc lâm Nhật Nguyệt hoặc Nhật Nguyệt động hào tương sinh hoặc huynh động hóa vượng hóa sinh, không kể cửu bệnh hay cận bệnh đều lành. Cận bệnh mà hào huynh lâm Tuần không, phụ động hóa không cùng huynh động hóa không, quẻ gặp lục xung, quẻ hóa lục xung uống thuốc tất lành. Cửu bệnh mà hào huynh gặp Tuần không Nguyệt phá cùng động hóa không, hóa phá, quẻ gặp lục xung biến lục xung, huynh động hóa quỷ, quỷ hóa huynh hoặc huynh hào hưu tù, bị Nhật Nguyệt động hào xung khắc gấp gấp uống thuốc cầu Thần giúp, tất khó chữa.
Xem bệnh cho tử tôn, nếu hào tử tôn vượng tướng hoặc lâm Nhật Nguyệt hoặc Nhật Nguyệt động hào sinh hợp, hoặc tử động hóa hồi đầu sinh, hóa vượng không kể cận bệnh hay cửu bệnh uống thuốc, cầu Thần tất lành, cận bệnh mà tử tôn gặp tuần không động hóa không hoặc quẻ gặp lục xung biến lục xung không uống thuốc cũng lành. Cửu bệnh mà tử tôn gặp không, Nguyệt phá cùng động hóa xung khắc thì tối kỵ, uống thuốc chậm khó lành.
Xem bệnh cho thê thiếp lấy tài hào làm Dụng thần, tài hào vượng tướng hoặc lâm Nhật Nguyệt hoặc được động hào sinh phò hoặc tài hóa tử, tài hóa đế vượng không cần biết cửu hay cận bệnh trị tất lành. Cận bệnh mà tài gặp không, động hóa không, quẻ lục xung, quẻ biến lục xung cần gì uống thuốc bệnh cũng lành. Cửu bệnh mà tài gặp không, Nguyệt phá cùng động hóa không, hóa phá, gặp quẻ lục xung biến lục xung hoặc tài động hóa quỷ, quỷ hóa tài, huynh động hóa tài, tài động hóa huynh thì dù có thánh y cũng bó tay.
Phàm xem cho Lục thân cùng bậc quan trên, thầy dạy, cho tỳ bộc bệnh của chủ nhân thì xem trong Dụng thần để chọn Dụng thần. Xem cho bạn bè, người ngoài thì dùng ứng hào làm Dụng thần Dã Hạc nói : Khách có người hỏi ta : Cứ như ông nói thì việc chiêm bốc quá dễ, như xem được quan vượng trì thế thì thành danh, tử tôn trì thế thì thất vọng, xem cận bệnh mà gặp xung, gặp không chẳng uống thuốc cũng lành, cửu bệnh gặp không dù linh dược cũng chẳng cứu được, như thế thì quá hiển nhiên chẳng thấy khó. Nếu xem tật bệnh không gặp lục xung, Dụng thần gặp Tuần không, vượng chẳng vượng, suy chẳng suy, hung chẳng hung, cát chẳng cát. Lại xem như công danh, quan và tử chẳng trì thế, lục hào loạn động tài phụ đều động hưng thì làm sao mà quyết được.
Ta đáp : Ta từ lúc bói, mỗi ngày bốc vài quẻ, vị tất đã hiển nhiên dễ thấy, quái hung thì trong có chứa cát, cát thì chứa hung, có quẻ phải hiểu rõ lý áo bí, mong cầu tâm được ngộ, muốn biếát để tránh hung, tất nhiên không loạn chiêm, tâm chẳng tạp niệm, mỗi khi gặp một việc tức khắc bói, Thần chẳng khinh nên xem danh mà danh thành tức được quan tinh trì thế, không thành tức tử tôn động. Nếu quẻ tất chẳng thấy được đích xác nên thành tâm tái chiêm, nếu gặp không rõ ràng thì tái chiêm nữa. Nếu gấp coi hai ba việc tất chẳng linh.
 








 
 
 
 
 
 

Bát quái đồ : Càn là cha, Chấn là trưởng nam, Khảm là trung nam, Cấn là thiếu nam đều Thuộc dương Khôn là mẹ, Tốn là trưởng nữ, Ly là trung nữ, Đoài là thiếu nữ đều Thuộc âm.
* Bát quái gia đồ :
(Trình bày tám quẻ bằng vạch âm dương)
* Chiêm quái pháp : (phép xem bói)
(dùng ba đồng tiền, mặt sấp và ngữa định vạch âm dương)
Tên 64 quẻ chia tám quẻ mỗi cung ghi rõ thế ứng, phục Thần. Dã Hạc nói : Xưa ta có bạn lúc còn bé, ta đem bản 64 quẻ này giao cho, bạn bảo : Không biết Ngũ hành làm sao đoán quẻ. Ta đáp : Trước học quẻ sau dỡ đồ hình tìm ra quẻ, bài thế ứng Ngũ hành, Lục Thân, không dùng quái thư chẳng rõ Ngũ hành cũng có thể đoán được đại sự. Chẳng kể trong quẻ có động hay không, tức chỉ nhìn thế hào trong bản 64 quẻ này. Xem phòng lo âu nếu Tử tôn trì thế thì khỏi lo, quan quỷ trì thế thì lo khó giải nên phòng. Xem công danh được quan trì thế thì thành danh, tử tôn trì thế phải chờ thời. Xem cầu tài được thế tài trì thế tất được, phụ mẫu trì thế khó cầu. Xem tật bệnh gặp quẻ lục xung cận bệnh không cần uống thuốc cũng lành, cửu bệnh thuốc linh cũng khó trị. Lại hỏi : Sao gọi là tử tôn trì thế ? Ta đáp : Tử tôn trì thế là thế và tử tôn cùng ở một hào, nếu có quan quỷ và thế ở cùng một hào là quan quỷ trì thế, ngoài ra huynh đệ, phụ mẫu và thê tài cũng tương tự như vậy.
Muốn biết Lục xung quái là gì ? Thì đó là các quẻ : 1. Càn vi thiên, 2. Khảm vi Thuỷ, 3. Chấn vi lôi, 4. Tốn vi phong, 5. Khôn vi địa, 6. Đoài vi trạch, 7. Ly vi hỏa,  8. Cấn vi sơn. Đó là tám quẻ đầu của tám cung, lại thêm Thiên Lôi Vô Vọng, Lôi Thiên Đại Tráng tất cả 10 quẻ ngoài ra thì chẳng phải.
Lại hỏi : Cầu quan nếu được quan quỷ trì thế, cầu tất thành. Cầu tài  được thế tài trì thế tài tất thành được. Nếu quan hào và thế hào lâm Tuần không, Nguyệt phá, lại trong quẻ tử tôn phát động khắc quan, huynh đệ phát động khắc tài. Tuy quan tài trì thế cũng chẳng ích gì ?
Ta đáp : Đã biết lý Ngũ hành Thần đã biết trước, sẽ được quẻ chẳng hung trung tàng cát thì cát trung tàng hung đó là Thần thánh dẫn vào kỳ ảo tự nhiên. Cần xem Tuần không, Nguyệt phá, suy khắc xung hình. Nay bạn ta chẳng biết rõ lý Ngũ hành Thần đã biết rõ, khi cầu danh khấn với Thần rằng : Công danh nếu thành cho tôi Quan quỷ trì thế, nếu vô vọng cho Tử tôn trì thế. Nếu xem phòng sự lo lắng thì khấn trước mắt nếu có hoạn nạn xin cho quẻ quan quỷ trì thế, nếu tránh được hoạ cho tử tôn trì thế thì quẻ cầu được hiển nhiên dễ thấy. Nếu có điều dấu kín thì Thần khinh người, sao gọi là Thần. Huống gì ta viết một phần giản dị để riêng dạy người không biết rõ lý Ngũ hành có thể bày quẻ tức theo sách mà lập để quyết việc đại sự.
Nếu biết rõ lý Ngũ hành, không thể lấy đó làm phép, thì phải xem quyển sau của sách này. Thế nào là không, là bất không, phá mà bất phá, mộ mà không mộ, tuyệt mà không tuyệt, sao gọi là thật phản ngâm và giả phản ngâm ? Sao là tấn mà không tấn, thối mà bất thối. Sao gọi hồi đầu khắc, hồi đầu sinh. Lúc nào xem Dụng thần khi nào không, sao là xem chuyện này ứng chuyện khác. Sao mà xem việc xa ứng việc gần, sao mà đúng phép mà quẻ chẳng nghiệm. Sao là Nguyên thần  có lực mà không sinh Dụng thần , sao mà Kỵ thần  vô lực mà hại Dụng thần. Nơi nào là kỳ diệu của các sách, nơi nào là khéo nghiệm tức xem mọi phép mới quyết đoán như Thần.
Hỏi rằng : Như xem phòng tai nạn nếu được tử tôn trì thế thì chẳng lo, quan quỷ trì thế thì gặp kinh khủng, nếu trong quẻ chẳng hiện vậy thì làm sao mà quyết. Ta đáp : Một quẻ không thấy, lại xem thêm một quẻ, nếu lại xem như bệnh tật thì ra sao ? Một người bị bệnh thì người nào trong nhà cũng có thể thay thế mà xem. Nếu là cận bệnh chỉ một quẻ lục xung hoặc biến lục xung hoặc Dụng thần Tuần không, động hóa không tất lành. Cửu bệnh gặp như vậy thì khó trị. Lại như phòng tai nạn lo lắng nếu được quẻ có tử tôn trì thế thì có sấm sấm sét bên cạnh cũng yên ổn chẳng khó gì.
Khách nói : Xem chỉ một không dám hai ba lần, sao dám xem liên tiếp ngày này qua ngày khác. Ta đáp : Nhân một lời của ông mà hiểu phép bốc quẻ, há không nghe “Tam nhân chiêm thính, nhị nhân chi ngôn nhất sự ký khả” xem ba nơi có hại gì.
Với một việc lại xem liên tiếp, ngày mai lại coi. Lại có quẻ liền mấy ngày cũng không thể tái chiêm, tức như xem công danh có Tử tôn trì thế, trong lòng ta không vui, tất muốn được quan quỷ trì thế, vì thế mà bói hai ba lần nhưng ta cũng thấy coi hai ba lần Thần không ứng. Như nhân có thiếu niên riêng về công danh xem quá 7 lần mà 6 lần có Tử tôn trì thế đó là Thần cũng không nãn : Như hỏi nhiều hỏi mãi lại chán ta sao ! Nhiều tức như cầu tài quẻ đã hiện rõ có tài, tâm ta đã biết, ta lại hỏi Thần không cho biết, lại có việc ta chưa biết mà bảo cho rõ như ngày nọ xem cầu tài, vượng tài trì thế thì ta biết rõ ngày tháng được tài. Hôm nay tái chiêm một quẻ có hiện ra ngày đó được tài không ? Nếu trong quẻ lại có Thân Kim huynh động mà không được thì đoán thế nào, kíp đến ngày Thìn được tiền, mà ngày Thân vì việc khác phá tài. Như ngày Thìn được tiền Thần đã cho ta biết. Cho nên biết coi hai ba lần Thần cũng chẳng trách vì việc hỏi quá nhiều.
Ta viết sách truyền lại bí pháp cho kẻ hậu hiền chẳng có phép nào khác phép này là gặp quẻ không thấy đích xác, tâm không rõ xem nhiều lần chẳng ngại, nếu trong quẻ hiện rõ không nên xem lại. Đến chuyện xem bệnh, trong cả nhà có thể xem thay. Đã có quẻ hiện rõ, gặp việc xem lại thì tâm loạn, không thể chất chứa nhiều việc ở tâm, tâm loạn tất chẳng có ý thành, dạy người thâm học bói thì chia ra mà xem, cùng những kỳ ảo trong sách đấy là kinh nghiệm hơn 40 năm, hết sức trung thực, không lìa lý lẽ của bậc tiên hiền truyền cho lúc ban đầu, thông suốt đầu đuôi nên truyền lại về sau, mong đoạt thiên công, biến đổi trời đất đo lường quỷ Thần chẳng khó vậy. Giác tử bảo : Phàm gặp việc gấp mà quẻ không rõ ràng, ngày khác có thể bói năm ba quẻ liền.
Chẳng thấy minh bạch lại xem nữa. Xưa người ta câu nệ dám xem lại, ta thấy dịch kinh có nói : “Tam nhân chiêm thích, nhị nhân chi phán, cổ nhân nhất sự quyết khả ư tam xứ”. Nay coi lại có hại gì, ta xưa đạt chút ảo diệu toàn nhờ xem đi xem lại, việc chậm trì trệ lại xem nữa, việc nhanh gấp cũng xem nữa chẳng kể sáng tối hay nữa đêm, chỉ niệm một việc đó không xem chuyện khác. Nếu ta mang nhiều hoài niệm mà chỉ có một việc thành thì quẻ không linh nghiệm. Giả sử như xem công danh hoặc được quan trì thế, hoặc tử tôn trì thế thì đắc nhất đã rõ không cần phải xem lại nữa không thể vì ghét tử tôn trì thế mà cầu lại để xem thì quá phi lý. Nếu xem về tài hoặc vợ thì tài trì thế hoặc huynh trì thế, được như thế thì thôi khỏi phải tái chiêm lại. Nếu một việc cùng chung hoạ phúc với mọi người thì chỉ cần một người xem một quẻ để quyết, như đi tàu Thuyền gặp sóng gió, phòng lửa cháy nhà ai cũng có thể xem, nếu có được quẻ tử tôn trì thế thì tất cả chẳng lo. Lại như xem bệnh, bệnh nhân tự xem nếu được quẻ lục xung hoặc mọi người trong nhà ai cũng có thể thay coi, nếu được quẻ lục xung thì cận bệnh hoặc cửu bệnh hung cát đã quyết rõ.
Xưa bạn ta nói : Người đời phàm gặp nguy nan khó biết tất cầu Thần, xem bói để biết hung cát trong tương lai, trừ bói ra không có cách gì khác. Ta học Chu dịch nhiều năm việc, bói lý cảm ứng như được Thần bảo cho, từ đó đọc sách học bói phép coi rất thông thuộc có thể truyền được từ quan đến dân, người buôn bán ai cũng có thể dùng, nên biết toàn người không biết lý sinh khắc Ngũ hành mà có thể dùng. Nếu hơi biết Ngũ hành, Thần tất ẩn hiện trong quẻ. Thế thì nên trước hết đọc Hỗn thiên Giáp Tý, Lục Thân ca chiêm xuất quái, trong quẻ có Lục Thân cùng Ngũ hành, lại học biến động trong quẻ tất có động hào, động tất biến, biết biến động rồi sau mới xem Dụng thần, Nguyên thần, Kỵ thần, biết vậy tức giống như quẻ Chu dịch ... lại xem chương Tứ thời vượng tướng, chương Ngũ hành xung khắc, chương tương xung tương hợp, Tuần không Nguyệt phá, Sinh Vượng Mộ Tuyệt rồi đọc ở cuốn sau gồm các loại môn chiêm việc gì thì đoán ra sao, lần lần từ cạn đến thâm sâu ảo diệu. Ta mất mấy mươi năm để học, nay thử bày một quẻ để dạy xem Dụng thần cùng lý Ngũ hành sinh khắc vượng tướng. Phàm hỏi việc trước tiên viết năm tháng ngày giờ rồi dở chương Lục Thân an Lục Thân sau mới đến xem quẻ như được quẻ Càn Vi Thiên.
Tuất Thổ, Thân Kim, Ngọ Hỏa, Thìn Thổ, Dần Mộc, Tý Thủy. Phụ, huynh, quan, phụ, tài, tử. Tự xem hung cát lấy thế làm Dụng thần, quẻ này thế làm Tuất Thổ tức lấy Tuất Thổ làm mình nên vượng tướng rất sợ hưu tù, nên gặp Ngọ Hỏa mà kỵ Dần Mộc khắc, lại không nên thế hào lạc không vong, không nên thế lâm Nguyệt phá. Hào thế Tuất Thổ này có bốn nơi sinh khắc xung hợp.
a) Nguyệt kiến có thể xung khắc sinh hiệp :
Quẻ này nếu xem tại tháng Dần Mão sẽ bị Dần Mão Mộc thương khắc, thế hào thụ thương, tự xem hung cát thì hưu tù bất lợi. Nếu xem ở tháng Thìn, Thìn xung Tuất Thổ tức Tuất là bị Nguyệt phá, thế hào gặp Nguyệt phá giống như thân mình bị phá, trăm việc chẳng làm được gì. Nếu xem ở tháng Tỵ Ngọ Hỏa là Quan quỷ có thể sinh Tuất Thổ là Hỏa vượng Thổ tướng, thế hào gặp vượng tướng chủ việc có thể làm. Nếu xem tại tháng Sửu Mùi là hai tháng vượng tướng của Thổ có thể trợ Tuất Thổ cũng là tốt. Nếu xem tại tháng Tuất, thế hào Tuất Thổ là Nguyệt kiến là đang lúc vượng tướng, tự xem hung cát thì chủ là hanh thông, nếu xem tại tháng Thân Dậu Hợi Tý, Tuất Thổ tiết khí thì thế hưu cựu vô lực. Như vậy Nguyệt kiến có thể sinh khắc xung hợp Dụng thần là hào thế Tuất Thổ. Cần phải biết Dụng thần là gì ? Tự xem hung cát thế nào là chủ, không gọi là thế mà gọi là Dụng thần . xem phụ mẫu thì hào phụ mẫu là Dụng thần.
b) Nhật thần có thể xung hợp sinh khắc.
Quẻ này thế hào là Tuất Thổ, nếu ngày Dần Mão xem quẻ thì Dần Mão Mộc có thể khắc Tuất Thổ, thế hào bị khắc là tượng bất lợi. Nếu ngày Thìn xem quẻ, Thìn xung Tuất vị chi là thế ám động, nếu xem vào ngày Tỵ Ngọ, Hỏa của Tỵ Ngọ tức quan quỷ có thể sinh Tuất Thổ, thế hào vượng, chủ sự việc tốt. Nếu xem vào ngày Sửu Mùi, Thổ gặp Thổ được phò giúp, tức là Tuất Thổ được phò trợ, nếu xem ở ngày Tuất tức là thế hào lâm Nhật kiến được lệnh, nếu xem ở ngày Thân Hợi Dậu Tý, Tuất Thổ không khắc không sinh. Như vậy Nhật kiến có thể xung khắc sinh hợp Dụng thần
c) Động hào có thể sinh khắc xung hợp
d) Thế hào động, động tất biến tức có thể hồi đầu sinh khắc. Thế hào động tất biến xuất Tỵ Ngọ Hỏa tức là hồi đầu sinh thế, biến thành Mão Mộc tức hồi đầu khắc thế, biến thành Thìn Thổ tức hồi đầu xung thế, biến thành Mão Mộc tức hồi đầu hợp thế. Đấy là Dụng thần có thể biến thành hào có khả năng sinh khắc xung hợp Dụng thần. Nếu bốn điều trên toàn sinh hợp Dụng thần thì xem việc gì cũng toàn cát và nếu có ba nơi tương sinh một nơi khắc cũng đoán tốt, nếu hai khắc hai sinh nên xem Dụng thần vượng tướng thì đoán tốt, nếu Kỵ thần khắc Dụng thần mà vượng thì đoán hung. Nếu có ba nơi khắc một nơi sinh, nếu hào sinh thế vượng tướng cũng là khắc xứ phùng sinh, trong hung có cứu giải, nếu hưu tù và bốn nơi đều khắc thì đoán đại hung.
Hỏi rằng thế hào là Tuất Thổ không biến thành Dần Mão Tỵ Ngọ thì sao ? Ta nói : Hào khắc sẽ biến hồi đầu sinh khắc, dựa đó làm phép. Hỏi rằng Mão Mộc có thể khắc Tuất Thổ lại có thể hợp với Tuất thì xem khắc hay hợp. Ta đáp : Trong chương Ngũ hành tương hợp chú rất rõ Hỏi rằng quẻ Càn vi thiên trong đó Ngọ là quan tinh, nếu ngày tháng Ngọ xem quẻ sao cũng lấy Tỵ Ngọ Hỏa làm quan tinh ? Ta đáp : Chẳng biết xem quẻ nào, nếu dùng hào Tỵ Ngọ này làm quan tinh nếu gặp ngày tháng Tỵ Ngọ Hỏa xem quẻ thì Tỵ Ngọ Hỏa này làm quan tinh, ngoài ra phỏng thế.
Vượng tướng hưu tù : Tra chương Tứ thời vượng tướng, không phá thì xem chương Tuần không Nguyệt phá, xung hiệp thì xem chương Ngũ hành xung hiệp, sinh khắc thì tra chương Ngũ hành sinh khắc. Nguyên thần thì tra chương Nguyên thần, Dụng thần thì xem chương Dụng thần, Aám động thì xem chương Aám động, hồi đầu sinh khắc thì xem chương động biến sinh khắc. Nhật thần Nguyệt kiến thì xem chương Nguyệt kiến Nhật thần.
Xem cha mẹ thì dùng hào phụ mẫu trong quẻ làm Dụng thần, quẻ này hai hào Thìn Tuất đều là phụ mẫu, nếu hai hào đều động hoặc bất động thì chọn hào vượng tướng làm Dụng thần, phụ mẫu lâm Thìn Tuất tức Thổ là phụ mẫu nên Hỏa tương sinh, sợ Mộc tương khắc, kỵ lâm Nguyệt phá Tuần không, cũng chịu 4 nơi sinh khắc xung hợp nhưng nên sinh nhiều khắc ít là tốt.
Xem nhà cửa, xe Thuyền văn chương đều dùng hào phụ mẫu làm Dụng thần nên xem chương Dụng thần Xem người khác dùng hào ứng làm Dụng thần, quẻ này lấy Thìn Thổ làm Dụng thần được bốn nơi tương sinh là tốt, còn bốn nơi xung khắc là hung. Xem anh em thì dùng hào huynh đệ làm Dụng thần, quẻ này Thần kim là huynh thì dùng hào này cần Thổ tương sinh, sợ Hỏa tương khắc, kỵ lâm Nguyệt phá Tuần không, nếu xem về thê thiếp, tỳ bộc cùng tài vật thì hào huynh này cần khắc nhiều sinh ít là tốt, lại mừng nếu hào huynh gặp không phá khiến không phá tài của, khắc thê thiếp tài bộc của ta. Xem thê thiếp tài bộc, tài vật lấy thê tài làm Dụng thần. Quẻ này Dần Mộc thê tài là Dụng thần kỵ lâm Nguyệt phá Tuần không, nên được Thủy tương sinh, sợ Kim tương khắc, nên được bốn nơi tương sinh nhiều khắc ít là tốt, xem giống như phần trước. Phàm xem bán buôn vàng bạc đều lấy thê tài làm Dụng thần. Quẻ này hào sơ là Tý Thủy làm Dụng thần kỵ lâm Tuần không Nguyệt phá mừng được Kim tương sinh, sợ Thổ tương khắc, xem giống phần trên. Dùng hào tử tôn là Dụng thần để xem các việc khác nên xem chương Dụng thần.
Xem công danh lấy quan quỷ làm Dụng thần. Quẻ này Ngọ Hỏa quan tinh là Dụng thần tối kỵ gặp không phá, sợ Thủy tương khắc nên được Mộc tương sinh, cũng có bốn nơi tương sinh khắc giống như các phần trên. Xem quỷ ma yêu quái, loạn Thần tặc đạo đều dùng quan quỷ làm Dụng thần, nên xem kỹ chương Dụng thần.
Ở trên là luận việc chính, quyển sau xét kỹ hơn, sợ người sơ khó học khó vào cửa nên viết phần chính để dễ nhập môn, biết rõ phần chính sau xem kỹ cuốn sau từ nông cạn đến thâm sâu.
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 25.04.2008 06:28:04 bởi vanti67 >
 
#1
    Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

    Chuyển nhanh đến:

    Thống kê hiện tại

    Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.

    Chú Giải và Quyền Lợi

    • Bài Mới Đăng
    • Không Có Bài Mới
    • Bài Nổi Bật (có bài mới)
    • Bài Nổi Bật (không bài mới)
    • Khóa (có bài mới)
    • Khóa (không có bài mới)
    • Xem bài
    • Đăng bài mới
    • Trả lời bài
    • Đăng bình chọn
    • Bình Chọn
    • Đánh giá các bài
    • Có thể tự xóa bài
    • Có thể tự xóa chủ đề
    • Đánh giá bài viết

    2000-2022 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9