Đô đốc Trần Thượng Xuyên.

Tác giả Bài
rongxanhag

  • Số bài : 195
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.04.2007
  • Trạng thái: offline
Đô đốc Trần Thượng Xuyên. 16.06.2008 06:22:50 (permalink)


Đô đốc Trần Thượng Xuyên.  
 
Trần Thượng Xuyên  tự Trần Thắng Tài (? – 1720), người tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), nguyên là tổng binh ba châu Cao - Lôi - Liêm dưới triều Minh.

 
Ông được coi là người đầu tiên có công khai khẩn với quy mô lớn vùng đất Biên Hòa, là người được chúa Nguyễn ban danh hiệu cao quý ''Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt'' (nghĩa: Họ Nguyễn làm vua, họ Trần làm tướng, công khanh đời đời không dứt), được vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc phong "Thượng Đẵng Thần".
 
I. Sự nghiệp:
1.1Thần phục chúa Nguyễn:
 
Năm 1644, vương triều Minh bị nhà Thanh tiêu diệt. Bốn tướng thuộc vương triều này là Dương Ngạn Địch, tổng binh đất Long Môn cùng phó tướng Hoàng Tiến (có sách phiên âm là Huỳnh Tấn). và tổng binh ba châu Cao - Lôi - Liêm Trần Thượng Xuyên cùng phó tướng Trần An Bình chiếm cứ đảo Đài Loan rồi cùng nổi lên chống nhà Thanh.
 
Năm 1679, sau khi công cuộc “Bài Mãn phục Minh” thất bại, vào tháng giêng năm Kỷ Mùi (1679), “tướng cũ nhà Minh là Tổng binh Long Môn Dương Ngạn Địch và Phó tướng Hoàng Tiến cùng Tổng binh Cao Lôi Liêm Trần Thượng Xuyên và Phó tướng Trần An Bình đem hơn 3.000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (Thuận An) và Đà Nẵng, tự trần là bộ thần nhà Minh, nghĩa không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến xin làm tôi tớ.
 
Bấy giờ, chúa Hiền – Nguyễn Phúc Tần (1620-1687, ở ngôi 1648 - 1687) bàn bạc với định thần rồi cho họ vào đất Đông Phố (tức cù lao Phố. Ngoài ra, nó còn có tên Nông Nại Đại Phố, Giản Phố, Cù Châu, Bãi Rồng.) mà lập nghiệp. Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Soài Rạp đến đóng ở Mỹ Tho; binh thuyền của Thượng Xuyên và An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân (Biên Hoà). Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây dương, Nhật Bản, Chà Và
đi lại tấp nập” (trích Đại Nam thực lục Tiền biên. Biên soạn năm 1844. Viện Sử học phiên dịch. NXB Sử học. Hà nội, 1462. tr. 136-140)
1.2. Mở mang vùng cù lao Phố:

Đến Biên Hòa, Trần Thượng Xuyên cùng lực lượng của mình, tiến hành khai khẩn với quy mô lớn, chiêu tập thương nhân người Hoa kiến thiết phố xá, tạo lập các cơ sở thương mại. Với biệt tài tổ chức của ông, chẳng bao lâu vủng Nông Nại đại phố (còn gọi là vùng cù lao Phố, là ải địa đầu (trấn biên) của nước Việt lúc bấy giờ.) trở thành thương cảng phồn thịnh, là trung tâm thương mại và giao dịch quốc tế vào bậc nhất phương Nam lúc bấy giờ.(2)
 
Nhà văn Sơn Nam viết:
“Vùng cù lao Phố, nòng cốt của Biên Hòa. Đây là vị trí xứng danh ải địa đầu, với đường bộ lên Cao Miên và đường thủy ăn xuống Sài Gòn. Nhóm dân Trung Hoa theo chân Trần Thượng Xuyên gây cơ sở lớn ở cù lao Phố, chọn vị trí thuận lợi, sát mé sông. Năm măm sau khi định cư, chùa Quan đế dựng lên.'” (Lịch sử khẩn hoang miền Nam'', NXB Văn nghệ, TP. HCM, 1994, tr.30)
 
Đại Nam nhất thống chí mô tả:
“Trần Thượng Xuyên chiêu nạp được người buôn nước Tàu, xây dựng đường phố, lầu quá đôi từng rực rỡ trên bờ sông, liền lạc năm dặm và phân hoạch ra ba nhai lộ: nhai lớn giữa phố lót đá trắng, nhai ngang lót đá ong, nhai nhỏ lót đá xanh, đường rộng bằng phẳng, người buôn tụ tập đông đúc, tàu biển, ghe sông đến đậu chen lấn nhau, còn những nhà buôn to ở đây thì nhiều hơn hết, lập thành một đại đô hội…” (Nguyễn Tạo dịch, quyển thượng, Biên Hòa, Nha Văn Hóa Bộ Quốc gia Giáo Dục xuất bản, Sài Gòn, 1959, tờ 25)
 
Cảnh mua bán rộn rịp cũng được Trịnh Hoài Đức ghi chép lại:
 “Các thuyền ngoại quốc tới nơi này (Châu Đại Phố) bỏ neo, mướn nhà ở, rồi kê khai các số hàng trong chuyến ấy cho các hiệu buôn trên đất liền biết. Các hiệu buôn này định giá hàng, tốt lẫn xấu, rồi bao mua tất cả, không để một món hàng nào ứ động. Đến ngày trở buồm về, gọi là “hồi đường”, chủ thuyền cần mua món hàng gì, cũng phải làm sẵn hóa đơn đặt hàng trước nhờ mua dùm. Như thế, khách chủ đều được tiện lợi và sổ sách phân minh. Khách chỉ việc đàn hát vui chơi, đã có nước ngọt đầy đủ, lại khỏi lo ván thuyền bị hà ăn, khi về lại chở đầy thứ hàng khác rất là thuận lợi…” (Gia Định thành thông chí'', mục xuyên sơn.)
1.3 Giữ an bờ cõi:
 
Năm Mậu Thìn (1688), “Phó tướng Hoàng Tiến giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch ở cửa biển Mỹ Tho, tự xưng là ''Phấn dũng hổ oai tướng quân'', dời đồn sang Nan Khê (nay là sông Vàm Nao giữa hai huyện Phú Tân và Chợ Mới của tỉnh An Giang), thủ hiểm đắp lũy, đúc đại bác, đóng chiến thuyền, thả quân đi cướp bóc. Vua chính nước Chân Lạp (Campuchia) là Nặc Thu oán giận, bèn mưu với bề tôi là Óc nha Cống Sa bỏ việc triều cống và đắp ba luỹ Bích Đôi, Cầu Nam và Nam Vang, rồi chằng xích sắt ngăn cửa sông, làm kế cố thủ...(Đại Nam thực lục Tiền biên, sách đã dẫn)
 
Vua thứ nhì là Nặc Nộn (đang đóng ở Sài Gòn) biết mưu ấy, cho chạy báo với dinh Trấn Biên. Chúa Ngãi – Nguyễn Phước Trăn ( 1687 - 1691) nổi giận, bèn cử tướng Mai Vạn Long ở Dinh Thái Khương giả hiệp quân cùng Tiến đi đánh dẹp Nặc Thu, nhưng kỳ thực cũng để hạ Hoàng Tiến.
 
Đại Nam thực lục'' chép:
“Tháng giêng năm Kỷ Tỵ (1689), Mai Vạn Long kéo quân đến cửa biển Mỹ Tho, đóng ở Rạch Gầm (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang), sai người đến Nan Khê triệu Hoàng Tiến đem quân sở bộ đến.
 
Vạn Long phải dùng mẹo đánh lừa Tiến đến hội. Quả nhiên Tiến cưỡi thuyền ra sông đến hội. Phục binh vùng dậy, bốn mặt đánh vào, Tiến bỏ thuyền chạy, nhằm lẩn về phía cửa biển Soài Rạp. Vạn Long vào lũy, bắt được vợ con Tiến đều chém cả, chiêu tập dư chúng quân Long Môn, sai bộ tướng là Trần Thượng Xuyên quản lãnh để làm Tiền phong.
 
Thừa thắng, Vạn Long, Trần Thượng Xuyên tiến đánh, đốt xích sắt ngang sông, liên tiếp lấy được ba luỹ Bích Đôi, Cầu Nam, Nam Vang, bắt Nặc Thu phải hàng phục….''(Đại Nam thực lục, sách đã dẫn)
 
Vào năm 1699, Trần Thượng Xuyên lại phải cầm quân đến nơi biên giới:
 
Lương Văn Lựu cho biết:
 ''Tháng 7 năm 1699, Nặc Thu lại đắp lũy ở Bích Đôi, Nam Vang và Cầu Nam. Trần Thượng Xuyên lúc bấy giờ đang đóng quân ở Doanh Châu (Vĩnh Long), cấp báo lên triều đình. Chúa Nguyễn cử thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đi vào Nam hiệp quân, đánh dẹp.
 
Tháng 3 năm 1700, Trần Thượng Xuyên đích thân ra trận, giao chiến với quân Chân Lạp, rồi tiến đánh lũy Bích Đôi và Nam Vang. Quân Chân Lạp tan vở... Sau trận tiến công này, vùng đất Biên Trấn (Biên Hòa), Phiên Trấn (Gia Định), Định Tường, Long Hồ (Vĩnh Long), An Giang đã được sáp nhập vào Đại Việt.'' (''Biên Hòa sử lược toàn biên'', quyển II, Sài Gòn, 1973, tr. 118 – 120)
 
Và lần thứ ba...Việt Nam sử lược ghi:
 
''Năm Giáp Ngọ (1714), quân của Nặc Ông Thâm đến lấy thành La Bích và vây đánh Nặc Ông Yêm nguy cấp lắm. Ông Yêm sai người sang Gia Định cầu cứu. Quan đô đốc Phiên Trấn (Gia Định) là Trần Thượng Xuyên và quan phó tướng Trấn Biên (Biên Hòa) là Nguyễn Cửu Phú phát binh sang đánh, vây Nặc Ông Thu và Nặc Ông Thâm ở trong thành La Bích. Nặc Ông Thu và Nặc Ông Thâm sợ hãi, bỏ thành chạy sang Tiêm la (Xiêm).Bọn ông Trần Thượng Xuyên lập Nặc Ông Yêm lên làm vua chân Lạp...(Việt Nam sử lược'', NXB Tân Việt, Sài Gòn 1968, tr. 331)
 
1.4. Mất:
Trần Thượng Xuyên mất ngày 23 tháng 10 âm lịch năm 1720. Mộ ông ở làng Mỹ Lộc, xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Chung quanh mộ Trần Thượng Xuyên còn có các mộ khác, được người quản đình Tân Lân (nơi thờ ông Trần Thượng Xuyên) ở Biên Hòa, gần Cù Lao Phố cho biết là của các binh lính và cận thần của ông.
 
Các mộ rất hoang tàn, rêu phong vì đã trãi qua bao thế kỷ. Các dòng chữ trên đá đầy phong rêu nay đã mờ mất.
Cách đây nhiều năm, Ty văn hóa tỉnh Bình Dương và một số các nhà nghiên cứu đến lấy được chữ Hán, qua giấy in lên đá, nhờ cậy mới xác định được đây là mộ của Trần Thượng Xuyên .(theo web Văn nghệ Cửu Long, dẫn bên dưới.).
 
II.Tưởng nhớ:
Trần Thượng Xuyên được lịch sử xác định là người có công lớn trong công cuộc khai phá và xây dựng vùng đất Đồng Nai - Gia Định. Công đức to lớn của ông được nhân dân ghi tạc, tôn thờ và xem ông như vị thần đã khai sáng vùng đất này.
 
Mặt khác, Trần Thượng Xuyên còn là một dũng tướng thao lược của chúa Nguyễn. Ông đã nhiều lần cầm binh đánh dẹp Cao Miên, giữ an bờ cõi, mở rộng biên cương nước Việt.
 
Chính vì vậy, chúa Nguyễn đã ban danh hiệu cao quý ''Nguyễn vi vương, Trần vi tướng, đại đại công thần bất tuyệt''. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị đều phong ông làm “Thượng đẳng thần”.
Để tỏ lòng ngưỡng mộ và đền đáp công ơn người đã có công tổ chức khai phá, mở mang vùng đất Đồng Nai - Gia Định, nhân dân ở những nơi này gọi Trần Thượng Xuyên là “ Đức Ông” và đều có lập đền thờ ông, khói hương không dứt.
 
Trong số ấy có Đình Tân Lân (Xóm Mới) ở Biên Hòa, nơi thờ chính tướng Trần Thượng Xuyên, đã được Bộ Văn hoá - Thông tin - Thể thao và Du lịch xếp hạng ''di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia'' theo Quyết định số 457/QĐ, ngày 25 tháng 3 năm 1991. Ngoài ra, Đình Minh Hương Gia Thạnh ở quận 5, TP. HCM cũng có gian thờ ông rất trang trọng.
 
IV.Hậu Duệ:
Trần Thượng Xuyên có người con trai tên Trần Đại Định, cưới con gái của Mạc Cửu, tổng trấn Hà Tiên. Năm 1725, Đại Định nối nghiệp cha, phục vụ dưới triều chúa Nguyễn Phúc Chú tức ''Chúa Ninh'' (1697-1738), được tập phong tước Định Viễn Hầu, chức tổng binh, chỉ huy cả hai đạo binh Phiên Trấn và Long Môn.
 
Tháng Giêng năm Nhâm Tý (1732), sau khi dẹp tan phe nổi loạn ở Ai Lao (Lào) và Chân Lạp, Định bị Trương Phước Vĩnh, mang chức ''điều khiển'', hảm hại để đoạt công. Đại Định bị bắt giam rồi chết oan trong ngục thất ở Quảng Nam vào giữa tháng Chạp cùng năm ấy. Sau Định được minh oan và được truy tặng hàm ''đô đốc Đồng Tri''.
 
Con của Trần Đại Định là Trần Cơ, rất được cậu ruột là Mạc Thiên Tích thương yêu và tin dùng. (theo Lương Văn Lựu, sách đã dẫn)
 
Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn.
 
Chú thích:
(1)Chà và: âm của chữ Java, Chà và là người đến từ đảo Java, về sau từ này được người Việt dùng để gọi tất cả những người có màu da ngâm ngâm như Chà Bom bay (Bombay, Ấn Ðộ), Chà Ma ní (Manille, Phi Luật Tân).
 
(2) Cù lao Phố là trung tâm của lưu dân đến khẩn hoang quanh vùng, bao gồm cả Sài gòn sau này. Cho nên phải nói Trần Thượng Xuyên có công khai phá và là người tiên phong, chứ không phải Nguyễn Hữu Cảnh. Ông Cảnh chỉ là người đến xác lập chủ quyền cho người Việt tại vùng đất này vào năm 1698. Có thể vì người Việt (nhất là các người viết sử) có thiên kiến với người Hoa và Minh hương nên vai trò của họ không được coi trọng nhiều so với người Việt trong công cuộc khẩn hoang miền Nam. Theo [http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=5985&LOAIID=3&LOAIREF=1&TGID=869]</ref>.
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2008 10:29:57 bởi rongxanhag >
 
#1
    Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

    Chuyển nhanh đến:

    Thống kê hiện tại

    Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

    Chú Giải và Quyền Lợi

    • Bài Mới Đăng
    • Không Có Bài Mới
    • Bài Nổi Bật (có bài mới)
    • Bài Nổi Bật (không bài mới)
    • Khóa (có bài mới)
    • Khóa (không có bài mới)
    • Xem bài
    • Đăng bài mới
    • Trả lời bài
    • Đăng bình chọn
    • Bình Chọn
    • Đánh giá các bài
    • Có thể tự xóa bài
    • Có thể tự xóa chủ đề
    • Đánh giá bài viết

    2000-2022 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9