Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng
Thay đổi trang: 123 > | Trang 1 của 3 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 42 bài trong đề mục
lyenson 06.07.2008 11:13:00 (permalink)
Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng
Hay là
HƯƠNG TRÀM TRÀ TIÊN 
 
 
Một câu chuyện khá thú vị của tác giả Tuệ Chương (hoànglonghải), viết dưới dạng hồi ký của nhân vật chính là một cán bộ Phượng Hoàng, tại khu dinh điền Cái Sắn (Kiên Giang) trước 1975.
Với lời văn mộc mạc, đậm chất nam bộ, và chứa nhiều thông tin lịch sử. Xin đem vào thư quán giới thiệu cùng bạn đọc.
Bài viết được mang về từ Diễn đàn X-cafevn.org
LYênSơn
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2008 15:55:47 bởi lyenson >
#1
    lyenson 06.07.2008 11:16:32 (permalink)
    Phần 1 :

    Xã Mỹ Lâm


    Nói thiệt tình, về cá nhân, tôi không ghét mà cũng không thương gì ông Nguyễn Tấn Dũng (NTD) nhưng bởi vì ông ta mới lên làm thủ tướng, lại được một số nhà báo, chính trị gia ở Mỹ có tiếng khen ông ta nên nhân dịp nầy tôi lại muốn viết đôi điều về xứ sở của ông, nơi ông ta sinh ra, lớn lên rồi làm… Việt Cộng. Chuyện tôi viết, nói cho cùng, cũng là chuyện tầm phào Miền Tây Nam Bộ, chuyện “Hương Rừng Cà Mau” thời chiến tranh. Nhiều người biết “Hương Rừng Cà Mau” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” của Sơn Nam, là chuyện miền Tây Nam Bộ hồi xưa, khi người Việt mới tới vùng nầy lập xóm lập làng, cho tới “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” là chuyện thời Tây thuộc. Chuyện tôi viết hôm nay là chuyện thời chiến tranh, chuyện xảy ra từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, chuyện đánh Tây giành độc lập hồi 9 năm (1945-54), hay là chuyện “Chống Mỹ Cứu Nước” mà thực ra chỉ là chuyện “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, nồi da xáo thịt giữa người Việt hai miền Nam-Bắc mà thôi.

    Trong bài trước, nói tới nhân vật chính - Chị Sứ trong “truyện phong thần Hòn Đất” của “nhà văn cộng sản Anh Đức”, tôi có nói qua về lý lịch thuở nhỏ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nay xin nói lại đôi điều, sau khi “tham khảo” với vài người bạn thân từng sinh trưởng hay phục vụ cho chính quyền Quốc Gia ở Rạch Giá, Kiên Giang trước 1975.

    Ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi “tổng thống Lê Lai cứu chúa” Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Việt Cộng, ở Hà Tiên, lực lượng Cộng Sản cũng chưa dám xuất đầu lộ diện ra tiếp thu chính quyền Quốc Gia. Từ trong rừng tràm mật khu Trà Tiên, họ chỉ tiến ra mấy chỗ vắng vẻ, trên Liên Tỉnh Lộ 8A Rạch Giá - Hà Tiên. (Liên Tỉnh Lộ 8A (LTL 8A) bắt đầu từ “Ngã Ba Lộ Tẻ” trên LTL 9 và LTL 27, đường Cần Thơ - Châu Đốc, tới mãi tận Hà Tiên). Họ đóng quân chờ trên trục lộ, không chặn xe đò bắt lính đem bắn tại chỗ như trước kia, không nổ một tiếng súng. Mãi tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng năm, trung tá Thảo quận trưởng Hà Tiên thì rút vào rừng, thế chỗ Việt Cộng ẩn núp trước kia, còn thiếu tá Sầm Long, Quận trưởng Kiên Lương, nhờ “thân hào nhân sĩ” vào núi Hòn Chông “mời” Việt Cộng ra bàn giao chính quyền theo lệnh tổng thống Dương Văn Minh, họ mới ra tới quân lỵ Kiên Lương. Chỗ nầy, Việt Cộng gọi là “Thị Trấn Kiên Lương” là một thị trấn quan trọng vì là nơi tọa lạc của “Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương”, có hai lò đốt đá vôi thành clinker trước khi xà lan chở về Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên Thủ Đức, trên xa lộ Saigon Biên Hòa, xay thành bột và vô bao.

    Bấy giờ ông Nguyễn Tấn Dũng mới ở trong rừng mò ra với các đồng chí, đồng đội của ông ta. Chức vụ NTD lúc đó là “Truởng Ban Quân Y” Huyện Đội Hà Tiên, cấp bậc “Thiếu tướng một sao một gạch đít”. Đó là nói đùa theo cách của mấy ông bộ đội chớ “Một sao một gạch đít” thì chỉ mới thiếu úy mà thôi. Khi ở trong rừng mới ra, ông ta chỉ mặc một bộ đồ xanh bộ đội, mũ tai bèo (Mũ tai bèo là “Bộ đội địa phương” hoặc du kích, “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược” mới đội nón cối). Nói như thế là theo nhận xét của dân chúng địa phương. Hễ khi nào vô rừng đốn tràm mà thấy Việt Cộng đội mũ tai bèo thì biết đó là “Xã Đội”, “Huyện Đội”, cao hơn là “Tỉnh Đội”; còn thấy “Đội nón cối” thì về báo cáo với chính quyền Quốc Gia rằng Việt Cộng ngoài Bắc mới vô, từ Cămpuchia mới qua - Việc nầy sẽ kể sau, để quí độc giả biết thêm.

    Ngoài bộ đồ xanh và mũ tai bèo, NTD không mang “loon lá” gì cả. Ít lâu sau, “thống nhứt” lực lượng võ trang, Việt Cộng trong Nam mới đội nón cối và mang “loon lá” giống như bộ đội miền Bắc xâm nhập. Bấy giờ NTD mang “quân hàm” là “Một sao một gạch đít”, tức thiếu úy như nói ở trên.

    Mấy người bạn tôi nhận xét rằng ở “Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, ông NTD lúc đó cũng chưa hẵn là “nhân vật quan trọng”. Huyện Đội Hà Tiên từ trong rừng ra tiếp thu hai địa điểm: Thị xã Hà Tiên và thị trấn Kiên Lương. Huyện Ủy Hà Tiên từ trong rừng ra đóng ở Hà Tiên. Ở thị trấn Kiên Lương chỉ có Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, dân chúng thường gọi là Hai Tiếu, gốc gác ở ấp Ngã Ba, xã An Bình, quận Kiên Lương, vì trốn đi lính Quốc Gia nên thoát ly theo Việt Cộng hồi trước tết Mậu Thân, nay là bí thư xã An Bình, ra tiếp thu xã. Nguyễn Văn Ngộ, tự Hai Ngộ, xã đội trưởng Ba Hòn thì ra tiếp thu xã Dương Hòa (Ba Hòn). Hai Ngộ trước kia là trung đội trưởng nghĩa quân, thoát ly theo Việt Cộng vì chống lại ông quận trưởng Kiên Lương hồi đó, thiếu tá N. bắt trung đội trưởng “đóng hụi chết”. Hai Ngộ bị thương ở chân trái. Nhìn dấu chân y in trên ruộng có thể biết tối hôm qua y có về hoạt động nơi đó. Vì bên phía Chính Quyền Quốc Gia có thành lập quận Kiên Lương (Hà Tiên và Kiên Lương là hai quận riêng biệt, trong khi Việt Cộng chỉ có chung một huyện Hà Tiên mà thôi) nên lực lượng chính thì ra tiếp thu thị xã Hà Tiên còn lực lượng phụ thì ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương vì ở đây cũng có quận đường, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát, các chi, trong đó có Chi Y Tế và bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương. NTD ở trong lực lượng phụ, có nghĩa là anh trưởng ban Quân Y ra tiếp thu Hà Tiên to chức to quyền hơn anh ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương. Có lẽ vậy.

    Như vậy, gốc gác ông NTD là bên ngành Y, học Y ở Cục Rờ (R) hay có ra Hà Nội? Ai mà biết. Chưa được một năm, NTD thuyên chuyển về tỉnh ủy Cà Mau, chuyển qua ngành Công An và đời NTD lên hương từ đó.

    Nguyễn Tấn Dũng quê ở xã Mỹ Lâm. Xã Mỹ Lâm nằm kế cận phía tây thị xã Rạch Giá, trên LTL 8A Rạch Giá - Hà Tiên, thuộc quận Kiên Thành. Quận lỵ Kiên Thành đóng ở Rạch Sỏi, cũng trên LTL 8A nhưng ở phía bắc thị xã. Từ Rạch Sỏi muốn đi Mỹ Lâm, theo trục lộ thì phải đi qua thị xã. Có thể tuởng tượng như Rạch Sỏi ở góc vuông mà cạnh kia là thị xã Rạch Giá vậy. Cũng xin nói thêm một chút về ông Tư La và ca sĩ nổi danh La Thạch Tuyền ở Saigon một chút. Mấy năm nay ở Saigon thiên hạ bỗng bàn tán xôn xao về ca sĩ La Thạch Tuyền, không phải vì hát hay mà vì cái tên La Thạch Tuyền khá hay. Anh ca sĩ nầy chẳng có bà con gì với La Thoại Tân cả. Anh ta quê ở Rạch Sỏi. Nói theo danh từ Hán-Việt thì Rạch là con suối, là Tuyền (Như nữ danh ca Thanh Tuyền vậy); Sỏi là một loại Đá, tức là Thạch. Còn La là bởi anh ta con ông Tư La. Ông nầy có cái tật xấu, “rượu vào lời ra” nên khi uống ruộng xong, ông ta hay la lối om sòm. Vì cái tật say rượu hay la nên chòm xóm gọi là ông Tư La (Ông thứ Tư). Nói chung lại, ca sĩ La Thạch Tuyền là con ông Tư La ở Rạch Sỏi. Nếu giới thiệu anh ta là con ông Tư La ở Rạch Sỏi, chắc người ta cười bể bụng. Nhưng nếu giới thiệu đây là ca sĩ La Thạch Tuyền, thính giả sẽ vổ tay hoan hô. Ai nói tiếng Việt không hay?! Từ con ông Tư La ở Rạch Sỏi mà biến thành La Thạch Tuyền là hay lắm! Cũng ý đó nên ông tổng thống Ngô Đình Diệm bảo rằng một nước có bốn ngàn năm văn hiến như nước ta không thể có những cái tên nôm na như Rạch Giá mà phải đổi lại là Kiên Giang; không thể Giồng Riềng mà phải là Kiên Bình; không thể là Bù-Đốp mà phải là Bố Đức!!!

    Trở lại chuyên quê hương ông Nguyễn Tấn Dũng thì cái tên Mỹ Lâm cũng là văn vẻ lắm, giàu có và xã nầy cũng nổi tiếng vì có nhiều… Việt Cộng.

    Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh đẻ ở xã, năm 1952, cắp sách đi học ở trường Sơ Cấp xã thời ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Mặc dù dưới thời ông Ngô Đình Diệm, nền giáo dục đã phát triển, nhưng ở cấp xã cũng chỉ mở tới trường Sơ Cấp mà thôi. Trường Sơ Cấp chỉ có ba năm đầu của bậc tiểu học, tức chỉ có lớp Một, lớp Hai, lớp Ba. (Trước kia thì gọi là lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba). Kể ngược kể xuôi bằng cách nào thì cũng chỉ tới lớp Ba là hết. Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ mới học có lớp Ba?

    Không!

    Một trong mấy người bạn của tôi ở Kiên Lương, từng làm việc với ông NTD khi ông ra tiếp thu bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương nói với tôi rằng ông NTD đã học hết bậc tiểu học Việt Nam Cộng Hòa. Người bạn tôi nhấn mạnh chữ Việt Nam Cộng Hòa vì việc học của Việt Nam Cộng Hòa và của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) khác nhau xa lắm. Khác như thế nào thì không thể nói ở đây, không có thì giờ! Xin để có dịp tôi sẽ nói lại.

    Xã Mỹ Lâm ở sát cạnh thị xã Rạch Giá, nhà nào khá giả, muốn cho con cái học tiếp thì cứ ghi tên học lên lớp Nhì, lớp Nhứt ở trường tiểu học thị xã. Thị xã Rạch Giá có rất nhiều trường, nhất là ở bậc tiểu học, trường công, trường tư và có cả trường Tàu. Ông Nguyễn Tấn Dũng được gia đình cho ra học hết bậc tiểu học ở Rạch Giá. Nếu vậy thì nhà ông Nguyễn Tấn Dũng không có nghèo đâu, không phải bần nông, cố nông là “thành phần cơ bản” của chế độ quí độc giả ạ!

    Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.

    Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.

    hoànglonghải (Tuệ Chương)
    #2
      lyenson 06.07.2008 11:19:28 (permalink)
      Phần 2 :
      Từ Xã Mỹ Lâm đến Dinh Điền Cái Sắn

      Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.

      Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.

      Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), lần thứ hai (1960-75) và lần thứ ba (1979-89), bao giờ xứ chùa Tháp cũng đóng một vai trò quan trọng. Chiến trường thì xảy ra bên phía Việt Nam, còn hậu cần thì nằm ở Kampuchia. Không tấn công vào hậu cần, chiến tranh khó chấm dứt. Đó cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa âm mưu đảo chánh Sihanouk hay quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công qua Miên hồi tháng 3 năm 1970.

      Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, người và vũ khí từ Kampuchia chuyển qua tiếp tế cho quân Cộng Sản ở miền Tây Nam Bộ. Con đường tiếp vận của Việt Minh (danh xưng hồi đó) từ Miên xuyên qua mật khu Trà Tiên, vượt qua đoạn đường phía bắc thị xã Rạch Giá và thẳng về U-Minh.

      Vì vùng nầy đất thấp, tới mùa nước, nước tràn lên khắp mọi chỗ, ngoại trừ vùng Thất Sơn (Việt Cộng gọi là Bảy Núi). Ai đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam trong quyển “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” thì biết hiện tượng nầy. Người ta chỉ có thể dùng thuyền, ghe di chuyển. Tới khi nước rút, di chuyển theo kinh rạch là tiện lợi nhứt. Vì vậy, hồi đó, Việt Minh cho đào một con kinh nhỏ dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên-Rạch Giá. Kinh nầy được đặt tên là kinh Kháng Chiến vì nó được đào trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Sau nầy, trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, con đường di chuyển nầy của Việt Cộng được gọi là đường giây 1C. Đường giây 1C từ Miên, qua mật khu Trà Tiên, vượt qua LTL 8A ở cây số 15 bắc thị xã Rạch Giá, thuộc xã Mông Thọ, (Cách thị xã Rạch Giá 15Km) và đi thẳng về Chương Thiện-U Minh.

      Tại sao vượt qua ở Cây Số 15 mà không qua chỗ Dinh Điền Cái Sắn như trong cuộc chiến tranh trước. Dễ hiểu thôi. Dân Dinh Điền Cái Sắn là dân Bắc di cư 1954. Việt Cộng đút đầu vào đó là coi như đút đầu vào rọ.

      Hồi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, vì vùng Dinh Điền Cái Sắn chưa có nên việc vượt qua LTL 8A rất dễ dàng. Đại tướng Trần Thiện Khiêm khi đó còn mang “loon” trung úy, chỉ huy một đơn vị Quân Đội Quốc Gia đóng ở Mông Thọ, có thể đêm đêm nghe tiếng bộ đội Việt Minh vượt qua LTL 8A ở đoạn Cái Sắn mà không dám động tỉnh (1). Đoạn nầy, có cụ già Nam Bộ kể cho tôi nghe: “Tụi nó di chuyển qua lại như đi chợ.”

      Vùng Cái Sắn ngày xưa là vùng ruộng của mấy ông chủ điền, ruộng cò bay thẳng cánh hay còn gọi là “Đồng Chó Ngáp”, cũng là chỗ nầy. Kể từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn (Còn gọi là Thạnh Đông) dài 12Km. Từ kinh Thạnh Đông tới kinh Thạnh Tây cũng dài 12Km. Có con chó nào chạy một mạch từ kinh Núi Sập tới kinh Thạnh Tây dài 24Km mà không ngáp mới thật là chó hay?!

      Vùng nầy đất thấp, chỉ làm lúa sạ. Mỗi năm, mùa hè, sau khi gặt xong, đồng bỏ hoang. Khi chuẩn bị làm ruộng mùa tới thì người ta đốt đồng. Dân địa phương cũng gọi là “Mùa Đốt Đồng”. Cứ sau trưa một chút, chờ có gió mạnh, người ta giăng một cái lưới phía dưới gió, rồi đi ngược lên phía trên gió, cầm một cây đuốc mà đốt những gốc rạ, bụi cây khô. Buổi chiều, gió thổi mạnh, lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, rùa, rắn, chồn, cáo, cần đước, ba ba, tranh nhau chạy trốn. Chúng chạy về hướng cuối gió, chui vào lưới mà nằm, chờ người ta tới nắm cổ lôi đi bán hay làm thịt nhậu chơi. Vùng nầy dân ưa nhậu thịt rắn. Nếu độc giả tới thăm họ, gặp người quí khách, họ sẽ mời quí độc giả nhậu thịt rắn. Con rắn - thường là loại rắn độc mới bổ -, được làm thịt, móc ruột, luộc chín, chặt khúc, sắp từng khúc quanh cái dĩa bàn to, tưởng như con rắn đang nằm ngủ. Ai có gan thì cầm đũa gắp ra ăn. Tôi thì chịu vì tôi là chúa sợ rắn. Ngoài thịt rắn, còn có một nồi cháo rắn, “ăn dằn bụng” trước khi tan hàng. Phải được người dân quí lắm, họ mới mời mình nhậu thịt rắn. Khoảng thập niên cuối 60 đầu 70, một con gà giá chỉ vài trăm bạc, còn một con rắn giá 2 ngàn. Mời nhậu thịt gà, có phải rẻ hơn không!

      Đốt đồng xong, người ta bắt đầu cày. Lần đầu thì gọi là cày lật, nghĩa là cày sao cho đất lật úp, cỏ xuống dưới, đất lên trên. Cỏ sẽ bị thúi mà chết, thành ra phân hữu cơ. Lần sau thì cày cho đất nhỏ ra, chờ nước lên - khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch – đem lúa ra sạ. Lúa lên, nước lên. Gần tết, nước rút xuống, lúa cũng bắt đầu chín. Khi nước rút hết thì người ta lo gặt. Lúa gặt xong đem sắp vòng tròn cho xe máy cày chạy quanh cán lên cho hột rời ra. Lúa chất thành đống cao như ngọn đồi, dân địa phương gọi là “cà tang” lúa. Có lẽ “cà tang” là tiếng Miên. Hôm qua đi ngang, thấy đồng trống không, nay thấy có ngọn đồi hiện ra xa xa. Đó là “cà-tang” lúa. Bên phía Dinh Điền Cái Sắn thì Việt Cộng không dám, còn bên phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, bọn kinh tài đêm khuya thường mò ra thu thuế nông nghiệp. Bọn nó thâu thuế “ác lắm”, nghĩa là thuế cao lắm nên dân chúng ghét. Nhờ đó mà phe Quốc Gia biết chúng xuất hiện ở đâu để “phục kích lấy tiền nhậu chơi”. Hễ tới mùa lúa thì bọn nó thu thuế nông nghiệp, mùa cày thì chúng nó thu thuế máy cày, cũng “ác” như thu thuế nông nghiệp. Tới mùa chúng nó đi thu thuế, “phe ta” đi săn giặc nên tôi gọi giặc ở đây là “Giặc Mùa.” Chuyện nầy cũng sẽ nói thêm về sau. Hồi xưa, người ta cày bằng trâu, chủ điền nuôi hàng trăm con trâu mới đủ cày. Như ông chủ Ry, bố vợ ông Trần Thiện Khiêm nuôi những hai trăm con trâu. Đó cũng là đề tài truyện “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam nay đã được quay thành phim. Thời Ngô Đình Diệm phải nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân cày. Sau nầy thì cày bằng máy. Máy cày John Deer, Somecar, v.v… rất được dân chúng ưa chuộng.

      Tôi không rành cách tính diện tích ruộng ở đây. Người ta tính theo công: Công tầm cắt và công tầm điền khác nhau. Năm nào trúng, mỗi công được khoảng trên dưới 35 giạ là cao. Có năm trên 40 chục giạ là trúng lắm.

      Việt Minh nổi lên bắt giết, bỏ tù (Rồi cũng chết trong tù luôn) các ông chủ điền. Hầu hết chủ điền chạy trốn lên Rạch Giá, Cần Thơ hay Saigon. Việt Minh gọi là “theo Tây”. Không theo Tây cũng không được, bị Việt Minh giết sao?! Ruộng của họ sau nầy, thời Đệ Nhứt Cộng Hòa bị truất hữu để lập Dinh Điền Cái Sắn. Sau nầy, tôi cũng có gặp vài người là con cháu của mấy ông chủ điền ngày trước. Nói chung, họ đã sa cơ và nghèo túng, tuy vẫn còn mang cái tên Tây như Bôn, gốc là Paul; Răng, gốc là Jean. Bố vợ ông Trần Thiện Khiêm, dân chúng gọi là ông chủ Ri, vì tên Tây là Henry, con trai lớn ông nầy, tên là Hai Re vì tên Tây là Robert và chị Tư Nết, chính hiệu con nai vàng là Annette, đích thị là bà Trần Thiệm Khiêm. Chuyện gia đình nầy sẽ kể thêm ở phần sau, cũng là chuyện vui mà thôi! Cũng có người tên họ cũng hay, nửa Nôm nửa Hán như anh bạn Trần Thông Đến của tôi, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn trước 1945. Anh nầy thường hay trốn làm việc để “đi mây về gió” nên ai hỏi tới thì tôi nói đùa là Trần Không Đến.

      Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai nổ ra thì Dinh Điền Cái Sắn đã thành lập xong, kéo dài từ ngã Ba Lộ Tẻ Long Xuyên tới Kinh Tư gần xã Mông Thọ. Việt Cộng không thể vượt qua LTL 8A dễ dàng. Cây số 15 là điểm duy nhất, Việt Cộng cố sống cố chết để vượt qua LTL ở đây.

      Cách Cây Số 15 cỡ 10 Km, về phía tây là ấp Tà Keo. Gọi là ấp nhưng thật ra đó là một vùng rừng tràm nước mênh mông. Ấp Tà Keo là cứ điểm quan trọng để Việt Cộng xuất phát vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Khi quân Cộng Sản từ Miên vượt qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, đi về phía đông để về U-Minh, tới ấp Tà Keo thì chúng phải dừng quân, chờ trời tối, tình hình thuận tiện mới vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Hạ tầng cơ sở Việt Cộng ở Tà Keo giữ nhiệm vụ giao liên, an ninh để bộ đội vượt lộ. Bên cạnh LTL là kinh Cái Sắn. Họ phải vượt qua kinh rồi mới vượt qua lộ, cố tránh khỏi bị quốc gia phục kích. Thường phe Quốc Gia phục kích bên bờ kinh hay bên lộ, chờ Việt Cộng vượt qua là nổ súng. Tình hình chỗ nầy rất căng. Phía Quốc Gia hoạt động rất ráo riết để cố ngăn chận không cho Việt Cộng đi qua. Phía Việt Cộng thì cố sống cố chết vượt qua cho được.

      Cuối năm 1974, đầu 1975, khi tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, ông rất chú trọng nơi nầy, ra lệnh cho các lực lượng địa phương như Quận, Tỉnh và cả Khu phải hết sức ngăn chận Việt Cộng qua lộ. Trước khi có lệnh tướng Nam, tôi từng dẫn vài chục lính phục kích Việt Cộng ở đây nhưng lại đụng nhằm cỡ một trung đoàn quân Việt Cộng qua lộ, đành phải ôm súng nằm im mà run. Bọn chúng đông như thế, nổ súng, bọn chúng tới đạp lên đầu mình cũng đủ chết, nói chi tới chuyện đánh nhau. Chuyện nầy hồi sau xin kể tiếp.

      Trở lại chuyện ấp Tà Keo. Ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm. Việt Cộng cố sống cố chết giữ Tà Keo. Muốn giữ Tà Keo phải mở rộng hoạt động toàn xã Mỹ Lâm. Đó là lý do tại sao xã Mỹ Lâm có nhiều Việt Cộng và NTD thoát ly theo Việt Cộng sau khi học xong bậc tiểu học.

      hoànglonghải (Tuệ Chương)
      #3
        lyenson 06.07.2008 11:23:13 (permalink)
        Phần 3 :
        THEO VIỆT CỘNG

        Việc ông Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng, ngoài lý do chung của thanh niên ở vùng nầy, ông ta có nhiều lý do riêng. Nhìn chung thì trước hết là vì sợ bị bắt “quân dịt, quân gà”. “Quân dịt quân gà” là cách nói đùa của dân địa phương. Đúng ra là sợ đi lính Quốc gia.

        Người dân ở đây chẳng “Cọng sản Cộng siếc, Quốc da, quốc xương” gì cả. Họ là dân “tu hiền” (Theo đạo Hòa Hảo, cờ Đà) tuy không tích cực và nhuộm nhiều màu sắc chính trị như dân Long Xuyên chính hiệu nhưng bên nào cũng được, miễn được ở yên, lo làm ăn

        Đi lính Quốc gia khổ lắm, nhất là khi bị bắt đi quân dịch. Lính quân dịch gốc miền Nam, Vùng 4 thì đưa ra Trị Thiên, Nam, Ngãi Vùng 1 để khỏi trốn về. Lên đường ra miền Trung thì lâu lắm, vài ba năm sau, mới được về phép, nhiều khi có đi không về, có khi về trong… quan tài. Nhưng thật ra, thường thì khi tử trận, bị chôn luôn ở “ngoải”, gia đình chỉ nhân có cái giấy báo tử và “tiền tử”

        Dù vậy, nếu có được cái bằng tú tài (gia đình nào khá giả cho con ra học ở Rạch Giá hay Cần Thơ, Saigon) khi đi lính cũng đi sĩ quan Cộng Hòa. Sau 1975, không ít người được “cách mạng” cho đi “học tập” mút mùa Lệ Thủy.

        Có người tới tuổi cũng đăng vào nghĩa quân hay địa phương quân, phục vụ gần nhà, nhưng việc nầy hơi rắc rối, một là phải có “trà nước” hoặc có bà con làm việc ở quận, tỉnh, v.v… Vào Nghĩa quân thì chỉ quanh quẩn ở quận. Đêm tới đồn ngủ, canh gác. Ngày thì chia vài người ở lại giữ đồn, phần đông về nhà làm ruộng, tới chiều tối lại vô đồn.

        Làm lính cở nầy khoẻ lắm. Sáng về nhà, chiều vô, xách theo ít đồ nhậu, chai rượu, họp nhau nhậu cho tới khuya. Đồn Vàm Rầy (Xã Đức Phương, xã của “chị” Tư Nết - Xin xem lại bài trước để biết chị Tư Nết là ai!)), có nhiệm vụ giữ cầu Vàm Rầy. Chiều lại, nghĩa quân vô đồn, kéo concertina chận hai đầu cầu, không cho ai qua lại vì đã tới giờ giới nghiêm. Xong, kéo nhau ra giữa cầu cho được trăng thanh gió mát, nhậu đã đời sương gió. Riết rồi thành thói quen. Việt Cộng điều nghiên, chờ khi mấy chú nhậu đã, chúng lặn vô chân cầu, cột mìn, cho nổ. Vậy là nghĩa quân lớp chết, lớp bị thương, lớp mất tích. Có người mất tích bị nghi là theo Việt Cộng. Mấy ngày sau, có mùi hôi thúi từ trong đám lau gần chân cầu phát ra. Người ta tìm tới xem, té ra có một chú “mất tích” chết nằm trong ấy. Sức mạnh của mìn hất anh ta từ cầu văng vào bụi lau mà không ai hay! Việc nầy xảy ra hồi mùa hè 1974.

        Ai không đăng được Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mà không muốn đi quân dịch để bị đưa ra tới “ngoải” thì lủi vô bưng. Ban đầu chỉ mới lủi vô bưng, chưa theo Việt Cộng. Theo Việt Cộng cũng dễ chết không thua gì đi lính Quốc Gia.

        Năm ba anh trốn quân dịch dựng một cái chòi trong đám lõi rừng chồi, lõi rừng tràm trong rừng. Lõi là môt cái rừng nhỏ, chung quanh là lau sậy, đế, ô-rô, cóc-kèn, v.v… không quá gần ngoài kinh, ngoài lộ, vùng Quốc Gia, không quá sát rừng Tràm, gần Việt Cộng. Họ sinh sống bằng nghề giăng câu, đạt lợp, bắt cá. Gia đình tiếp tế gạo muối, thuốc rê, áo quần vào, lấy cá tươi hay cá khô đem về bán kiếm tiền. Hễ có Việt Cộng từ trong rừng ra tuyên truyền theo “Cách Mạng” thì cũng ừ hử cho qua chuyện hay hẹn lần hẹn lửa. Còn lính Quốc Gia có vô thì chúng lội tuốt vô rừng Tràm. Trong rừng nhiều Việt Cộng, lính làng lính lệ cũng ít dám vô. Có lần lính thám báo chi khu đi rình Việt Cộng, bắn lầm. Hai người chết, còn lại bị thương, cho ghe chở ra bệnh viện Rạch giá, còn người chết đem xác về chôn, chẳng thưa kiện ai được! Có ông hội đồng tỉnh tính làm lớn chuyện nầy để kiếm phiếu cho kỳ bầu cử tới nhưng gặp ông quận trưởng cao tay ấn, vừa đánh vừa thoa nên mọi việc êm xuôi.

        Ngoài lý do chung như tôi vừa nói ở trên, Nguyễn Tấn Dũng (NTD) có những lý do riêng. Trong bài “Chị Sứ - Hòn Đất”, tôi có nói là dân địa phương đồn đãi (Sau 1975 người ta đồn càng dữ, chẳng ai cải chính. NTD cũng không dại gì cải chính rằng ông ta là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc, tức gọi Hồ Chí Minh bằng cậu. Hồi đầu thế kỷ 20, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê, ông lưu lạc vào Nam làm thầy thuốc Bắc, hết Saigon rồi tới miền Tây, và qua đời ở Cao Lãnh. Ngôi mộ hiện còn ở Cao Lãnh, do một ông quận trưởng Quốc Gia thời Ngô Đình Diệm xây cho, cũng khang trang đẹp đẽ. (Không biết Việt Cộng có làm được như vậy hay phá mộ người ta rồi san bằng?!). Khi ở Cao Lãnh, ông Sắt có léng phéng với một người đàn bà, sinh ra một đứa con rơi, con gái. (Dòng họ Hồ nầy sao nhiều con rơi vậy, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo là ông nội “thiệt” của ông Hồ Chí Minh). Người con gái rơi đó là mẹ ông NTD. Cũng có người đồn NTD là con rơi của Nguyễn Chí Thanh.

        Thân phụ NTD là ai?

        Có thể là một ông cán bộ người Bắc vô Nam hoạt động hồi 9 năm (1945-54). Người ta cũng đồn sau khi hiệp định Gevève ký kết, ông nầy không tập kết ra Bắc mà nằm vùng trong Nam, cũng ở Rạch Giá, bí danh là Ba Kiếm.

        Hồi tôi về Cái Sắn, lật hồ sơ trận liệt ra xem thì thấy Ba Kiếm là bí thư huyện Châu Thành B. Huyện Châu Thành B. của Việt Cộng là từ kinh Cái Sắn về hướng tây, giáp với huyện Hà Tiên. Chỗ ranh giới hai huyện nầy của Việt Cộng thì tôi không biết, nhưng trên trục lộ LTL 8A từ Rạch Giá - Hà Tiên thì xã Tín Đạo thuộc huyện Hà Tiên, còn gần Rạch Giá hơn như xã Sóc Soài, xã Mỹ Lâm của ông Dũng thì thuộc huyện Châu Thành B của Việt Cộng.

        Hồ sơ trận liệt cho biết Ba Kiếm là người gốc Bắc. Ban đầu tôi hơi ngợ ngợ, không lý Ba Kiếm là “dân di cư”. Hỏi ra thì không phải, ông nầy vào Nam hồi 9 năm kia lận. Tuy nhiên, hồ sơ trận liệt cũng không nói con của Ba Kiếm là những ai.
        Mẹ là con gái rơi của Nguyễn Sinh Sắc, không rõ chồng là ai mà đẻ ra NTD, hay con rơi của Nguyễn Chí Thanh, hay con ông bí thư huyện Châu Thành B. Không ai biết đâu mà mò cho ra tung tích, trong khi Cộng Sản cái gì cũng bí mật nên lý lịch mấy tay Cộng Sản tối thui, không đâu ra đầu mối. Đúng là một đám hỗn độn, lộn xôn, toàn là con hoang, con nôm, con lạc dòng, con lạc vất lạc vơ. Nhìn chung, từ đám chóp bu cho tới đám hạ tầng xã ấp, như người ta thấy trong truyện “Ba Người Khác” của Tô Hoài thì rõ rồi.

        Ngay chóp bu thứ nhứt, cũng là con lạc dòng của ông Hồ Sĩ Tạo. Bố ông Nguyễn Sinh Sắc được người ta gọi tới mà gả con gái cho, một người đã có bầu - Có lẽ bụng cũng chưa lớn lắm khiến thiên hạ dễ hồ nghi. Tưởng vậy là che được mắt thiên hạ, nhưng rồi cả làng Kim Liên, làng ông Hồ Chí Minh, ai cũng biết ông bố ông Hồ Chí Minh là con lộn sòng. Cộng Sản chủ trương dấu kín, cái gì cũng dấu, dấu sự thực và công bố sự giả. Họ quên mất một điều, có cái sự thật nào ở đời nầy mà che dấu được thiên hạ. Một năm, hai năm, không biết; năm mười năm, người ta cũng biết, có dấu ai được đâu!

        Đám đệ tử của Hồ, không ít người cũng là thứ lạc vất lạc vơ đâu đó: Trần Quốc Hoàn là thằng Cảnh du thủ du thực. Điều nầy ông Vũ Thư Hiên rõ lắm. Phùng Thế Tài cũng là một hạng như thế, điều nầy ông Việt Thường cũng rất rành. Từ một thằng du thủ du thực, dựng nó thành ông nầy, ông kia, cho nó địa vị, cho nó quyền lợi, cho nó hưởng thụ, sung sướng… thì có điều gì sai nó mà nó không làm được để bảo vệ quyền lợi của nó, phe đảng của nó. Đó chính là cách dùng người của Hồ Chí Minh, nói riêng hay Cộng Sản, nói chung vậy. Cách dùng người như vậy đều có bài bản cả.

        Đám nầy, từ Hồ Chí Minh trở xuống, người ta gọi bằng nhiều tên: Con lộn sòng, con lạc dòng, con hoang, con nôm. Có lẽ tiếng con nôm hơi lạ, tôi xin giải thích: Nôm ở đây không phải là văn chương chữ Nôm, biến dạng của chữ Nam như tôi có giải thích trong hai bài nói về “Văn Chương Chữ Nôm” và “Những Bài Thơ Nôm Đầu tiên…” mà nôm, theo thông tục, là hành động của một người đàn ông trèo lên bụng của một người đàn bà. Việc nầy phải vụng lén, không hợp lệ, không hợp pháp… của hai người không phải là vợ chồng. Vợ chồng ăn nằm với nhau như thế không thể gọi là nôm. Ở xứ tôi, tại miền quê, chữ nôm còn một nghĩa khác nữa. Ví dụ: “Bác qua nôm cho mạ tui một mụi, mai cha tui qua nôm lại.” Tiếng nôm như thế có nghĩa là qua cày giúp, bừa giúp cho một bữa (một mụi). Theo nghĩa trước thì ông Hồ Sĩ Tạo nhân lúc khuya khoắt, ai cũng ngủ say cả, giả bộ đi tiểu tiện rồi vô lộn giường, hoặc lợi dụng chỗ vắng người, ngoài bụi tre, bờ ruộng mà nôm bậy một chị nông dân nào đó. Chị nầy có bầu, sợ mang tiếng, sợ làng bắt vạ (Hồi xưa không chồng mà chữa thì bị làng bắt vạ vì tội làm thương luân bại lý) đem gả cho bố ông Nguyễn Sinh Sắc. Do đó, cái gốc chính của ông Hồ Chí Minh, không dính dáng gì tới dòng họ Nguyễn Sinh cả, nên sau khi lên ngôi hoàng đế, anh học trò lớp ba trường Pháp Nam ngày xưa ở Huế nay trở lại với cái họ gốc của mình, là họ Hồ, bèn tự đặt tên cho mình là Hồ Chí Minh. Họ Hồ là họ gốc, còn tên Chí Minh là tên mượn ông Vương Chí Minh, một cán bộ Cộng Sản Tàu.

        Vậy Nguyễn Tấn Dũng con ai?

        Con ai thì không biết, nhưng rõ ràng là con nôm của Việt Cộng theo cái nghĩa ở trên. Hồi nhỏ, NTD không được ngó ngàng tới, nên phải ở với “ngụy”, học trường “ngụy”. Dưới con mắt Cộng Sản, cái “ngụy” nầy ảnh hưởng tới NTD nhiều lắm, nhưng mọi việc cho qua vì có lẽ hiện giờ ông ta có gốc lớn nào đó. Cứ “bảo lưu” cái chất “ngụy” đó trong con người NTD, mai mốt, cần thì đem ra xài chơi, kiểu như Lê Đức Thọ, nắm trong tay cái đơn “hồi chánh” với Thực Dân của Võ Nguyên Giáp, chờ khi Giáp rấp ranh ra làm tổng bí thư thì chìa cái đơn “hồi chánh” đó ra cho các “đại biểu” xem. Kết quả là Bùi Tín kẹt cứng bên Pháp, “ra đi không có ngày về”… vinh quang.

        Những khi tạm yên, huyện ủy Châu Thành B. đóng tại Tà Keo, thuộc xã Mỹ Lâm, xã của NTD. Hễ tình hình căng thẳng, đánh nhau dữ thì huyện ủy Châu Thành B chém vè, rút về kinh Kháng Chiến. Nhân đây cũng xin nói thêm, Tà Keo thuộc ranh giới ba quận của Việt Nam Cộng Hòa: Tận cùng phía nam quận Huệ Đức, thuộc Long Xuyên, chi khu nầy ít khi vói tới đây; phía cực tây quận Kiên Tân (tức phía cực nam xã Tân Hội - cũng thuộc quận Kiên Tân) và phía tây-bắc quận Kiên Thành. Chi khu Kiên Tân có cho đóng một cái đồn nghĩa quân cuối xã Tân Hội, chỉ ngồi ngáp ruồi, chờ khi có lính làng lính lệ hay cảnh sát đi bắt quân dịt, quân gà thì bắn ba phát báo động để đào binh hay quân dịt quân gà biết mà dông tuốt vô đồng chó ngáp, chẳng ai nắm trúng giò chúng. Chỉ có quận và chi khu Kiên Thành, đóng ở quê hương của ca sĩ La Thạch Tuyền mới cho thám báo hoạt động ở đây. Tôi có “hành quân vào phía nam xã Tân Hội một lần, đi lạc qua Kiên Thành, bị thám báo bên đó đánh cho một trận, may leo lên được xe cày mà chạy về kịp. Dịp đó, tôi tưởng là Việt Cộng, tụi nó dàn ra một trung đội, phía tôi chưa tới 5 ngoe, chạy trối chết. Hóa ra, về tới nơi, mở máy PRC 25 liên lạc mới biết là thám báo chi khu Kiên Thành. Đám nầy giả cách ăn mặc và mang súng AK nên tôi tưởng lầm Việt Cộng. Trước khi chạy, chúng tôi bắn lại cũng gắt, cản đường chúng đuổi theo. May mắn chẳng ai chết, chẳng ai bị thương chớ không thì tôi đã mang hia đội mão ra chầu tòa án Quân Sự vùng 4 rồi. “Ham” đi đánh nhau với Việt Cộng, nghĩ lại thiệt là dại. Cái ham làm cho mình chết dễ như không!
        Đó là kỷ niệm thứ nhứt về quê hương NTD. Còn một kỷ niệm nữa, xin kể cho vui.
        Khoảng đầu năm 1975, tình hình quân sự bấy giờ không yên như khi hiệp định Paris mới ký. Một hôm tôi đi Rạch Giá với tài xế và một anh tà lọt ngồi phía sau. Tôi thì lái xe, tài xế ngồi bên cạnh, lăm lăm khẩu AR 16, hễ thấy Việt Cộng là nổ súng ngay. Anh tà lọt thì mang một cây M-79. Mới tháng trước, tôi cũng đi Rạch Giá, về gần tới Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và Đức Phương) thì bị Việt Cộng từ bên kia kinh bắn B-40 qua. Bên tôi chỉ có 4 người: Tôi, tài xế và hai anh tà lọt ngồi phía sau. Biết B-40 bắn không tới, vã tụi nó cũng chỉ vài ba ngoe từ trong rừng ra khuấy rối chơi, nên tôi cho xe dừng lại, núp phía sau cabin xe, chỉa “Đại bác cầm tay 40 ly” gởi cho chúng nó ít quả làm quà. Trên ruộng nước, tụi nó chân thấp chân cao chạy trối chết. Bọn tôi thấy vậy càng vui, gởi tặng thêm ít quả nữa. Cũng may, chúng tôi chẳng ai có bằng thiện xạ nên tụi nó thoát chết lần đó.

        Trở lại hồi đầu, khi chạy xe ngang qua xã Mỹ Lâm tôi thấy một chiếc xe Jeep A-2 chạy ngược chiều. Xe qua rồi, tôi thoáng thấy trưởng xa mang hai sao! Tôi nói thầm: “Trời! Ông tướng nào mà gan dàn trời vậy cà? Dám đi một mình, một tài xế và một tà lọt như tôi vậy.” Vùng nầy tôi đi quen nên tôi không sợ Việt Cộng, còn ông tướng ở xa, biết xứ nầy như thế nào sao mà dám đi lang bang. Tôi hỏi tài xế: “Ông tướng nào vậy mầy?” Tài xế trả lời: “Chắc là ông Tướng Quân Khu”. Tôi giật mình. Tướng Quân Khu là ông Nguyễn Khoa Nam. Trời! Thấy ông tướng Quân Khu mà chẳng chào kính gì cả, lái xe tỉnh bơ, coi như hai bên “ngang nhau.” Ở vùng 4, trước kia là tướng Trưởng, bây giờ là tướng Nam, hai ông gan như nhau, chẳng ông nào sợ… Việt Cộng cả. Cũng hôm đó, trên đường về, ngang Mỹ Lâm, xe Jeep tôi lại hỏng máy: Dinamo không charge nên hết bình (điện). Mặt trời đã gần ngọn cây, trời tối dần, đường về còn xa, bụng tôi hơi lo! Hồi đó tôi chưa biết NTD, nhưng nếu biết, lỡ NTD có mò ra tới lộ, tôi cũng chỉa súng “nghinh đón” chớ không lý để Việt Cộng bắt sống sao! May có chiếc xe Dodge Thiết Giáp chạy ngang, thấy tôi là người quen, bạn đồng khóa, dòng dây kéo về, tới chỗ đóng quân còn sửa xe giùm cho. Cám ơn Trời Phật.
        #4
          lyenson 06.07.2008 11:27:05 (permalink)
          Phần 4 :
          Đường Giây 1-C
          :

          Để xâm lược miền Nam, Cộng Sản Hà Nội mở ra nhiều con đường bí mật để vận chuyển khí cụ chiến tranh và chuyển quân. Lớn nhứt là con đường được gọi là “Đường Mòn Hồ Chí Minh”. Gọi là đường mòn, nhưng đường nầy lớn lắm, xe cộ chạy nghênh ngang trong rừng Trường Sơn. Thứ hai là con đường biển, cũng gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển.”
          Xưa hơn, đường giây 1-C tôi nói ở đây cũng là đường mòn, nhưng có từ thời Việt Minh đánh nhau với Tây.
          Trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt, (1945-54), cũng như Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Hai (1959-75) (1), chiến trường Kampuchia và chiến trường miền Nam giống như môi với răng. “Hồi 9 năm”, (1945-54), bộ đội Việt Minh ở miền Tây thường qua đánh nhau với Tây bên Kampuchia. Quí độc giả nếu ai đã đọc “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên chắc biết điều nầy có nói tới trong đó. Họ qua lại rất thường xuyên

          Vài người dân Rạch Giá như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh, mấy ông nầy theo đạo Thiên Chúa từ mấy đời trước nhưng cũng theo Việt Minh đánh Tây, sau nầy bỏ Việt Minh, không tập kết ra Bắc, có kể cho tôi nghe hồi đó họ từng đi đánh Tây ở Kompong Trach bên Kampuchia, huống chi sau nầy, khi Sihanouk cho Cộng Sản Bắc Việt mượn đất Kampuchia làm hành lang xâm nhập thì những con đường giao liên từ Kampuchia qua Việt Nam và ngược lại là rất quan trọng.

          Do tình hình đó, từ hồi mới có chiến tranh lần trước, Việt Minh đã mở một con đường liên lạc, chuyển quân, chuyển vận vũ khí từ Kampuchia qua Việt Nam. Con đường đi từ Kampuchia qua khu rừng tràm Trà Tiên, vượt qua liên tỉnh lộ 8 A để đi về U-Minh là con đường huyết mạch của Cộng Sản.
          Trong hồ sơ trận liệt, con đường nầy được gọi là đường 1-C. Tôi không rõ ai đặt tên là 1-C, phía Quốc Gia hay Cộng Sản, và tên đó có từ lúc nào. Con đường nầy đi qua ấp Tà Keo, ấp phía bắc của xã Mỹ Lâm, bản quán của Nguyễn Tấn Dũng. Việt Cộng cố sống cố chết giữ Tà Keo, và cũng có thể đó cũng là lý do khiến Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng rất sớm, khi còn trẻ con, để giữ Tà-Keo, giữ con đường huyết mạch của Việt Cộng.
          Đường giây 1-C bắt đầu từ bên Kampuchia, địa phận tỉnh Kompong Trach của xứ Miên, băng qua khu rừng tràm Trà Tiên, đi theo một con kinh được đào hồi kháng chiến chống Pháp nên gọi là kinh Kháng Chiến, xuống tới vùng Kinh Hãng, tới Tà Keo, vượt qua cây số 15 trên LTL 8-A, đi ngang xã Giục Tượng mà về Miệt Thứ, Hiếu Lễ, U-minh. Tôi xin kể từng đoạn một.
          “R”, bí danh của Trung Ương Cục Miền Nam, không khi nào nằm một chỗ ở phía bên Việt Nam hay bên Kampuchia. “R”, nó đung đưa qua lại là do tình hình khi dịu khi căng. Khi dịu, hay khi Việt Cộng mạnh lên, Quốc Gia co lại thì “R” mò về đóng ở mật khu Trà Tiên. Khi tướng Trưởng làm tư lệnh vùng 4, ông dùng chiến thuật Diều Hâu, thường cho trực thăng đổ quân bất tử lên đầu Việt Cộng nên Việt Cộng sợ bị tấn công bất ngờ, trở tay không kịp, bị nắm đầu cả đám, nên “R” dọn nhà qua Kampuchia. Khi tướng Nam làm tư lệnh vùng 4, ông cũng cho hành quân bất tử nên “R” cũng chém vè qua bên kia biên giới. Mấy năm Saigon lo chuyện đảo chánh hơn lo đánh nhau với Việt Cộng thì chúng mò về bên nầy hoạt động.
          Bên cạnh cục “R” khi ở khi chạy, tỉnh ủy Long Châu Hà cũng đóng ở mật khu Trà Tiên. Gọi là Long Châu Hà vì nó là tên gọi tắt ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên. Ở các tỉnh nầy, hồi chiến tranh, Việt Cộng không có đất cũng không có dân, chỉ loanh quanh trong khu rừng tràm. Khu rừng tràm nầy tiếp giáp với cả ba tỉnh nói trên, nên chúng đặt ra một tỉnh ủy chung, chỉ đạo hoạt động cả ba phía: Phía đông bắc cho hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, phía nam cho (tỉnh) Hà Tiên. Tôi gọi là tỉnh Hà Tiên là gọi theo thời Tây cai trị. Hồi ấy Hà Tiên là một tỉnh, không thuộc tỉnh Rạch Giá (Rạch Giá cũng là tên thời Tây). Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, cố tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Rạch Giá thành Kiên Giang (tỉnh nầy có con sông tên là Kiên Giang), Hà Tiên trở thành một quận, thuộc Kiên Giang. Hồi đó, lúc ban đầu, Việt Cộng không gọi theo cách phân chia địa giới của ông Ngô Đình Diệm, mà gọi theo Tây nên mới có Long-Châu-Hà.
          Rừng tràm Trà Tiên là rừng cổ lắm, không biết các nhà địa lý có gọi nó là rừng nguyên thủy hay không. Quí độc giả nếu có thấy cây tràm người ta chở lên bán ở Saigon để đóng móng nhà, đừng tưởng rằng cây tràm chỉ to có như thế. Tràm Trà tiên lớn lắm, có thân cây hai người ôm không xuể. Rừng trải dài từ phía Kampuchia cho tới địa giới Châu Đốc, Long Xuyên, Kiên Giang. Tôi từng đi máy bay Cessna qua khu rừng tràm nầy, từ Long Xuyên về nhà máy ximăng Hà Tiên ở quận Kiên Lương. Máy bay bay hơn nửa tiếng đồng hồ, nhìn xuống dưới, chỉ thấy rừng xanh bát ngát.
          Thân tràm cao trên 10 thước, tàng cây xòe rộng, đi dưới rừng tràm lâu lâu mới thấy mặt trời nếu như hôm đó trời nắng, còn không thì âm u suốt ngày như ở U-Minh vậy. Trên thì tàng cây, dưới là nước, lâu lâu mới gặp chỗ cao, không có nước, di chuyển thì phải dùng xuồng, tiện nhứt là xuồng ba lá. Ấy là nói mùa khô, còn tới mùa nước nổi thì chỗ nào cũng toàn là nước. Đi hành quân vô tới rừng tràm Trà Tiên, người ta không khỏi than thầm: Rừng nước mênh mông vậy, làm sao mà tìm cho ra Việt Cộng. Bọn Việt Cộng ở trong rừng, tụi nó rành đường lắm. Mới thấy tụi nó lấp ló xa xa, chưa kịp đưa súng lên nhắm thì nó chống xuồng một cái “réch”, mất dạng sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn hoặc rừng bàng. Bàng là loại cây thảo, dùng để đan đệm hay làm bị bàng, v.v… Vướng vô đám rừng bàng, cây bàng níu mình lại, rứt không ra được.
          Hồi ấy, cũng có vài lần tui mò vô rừng tràm Trà Tiên, hỏi thăm sức khỏe tỉnh ủy Long Châu Hà. Chắc chắn khi đó Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên, lo trốn biệt, làm sao mà thấy mặt tui.
          Một khu rừng tràm cổ xưa như vậy, dĩ nhiên có nhiều chuyện “phong thần”, ai tin hay không tin thì tùy, nhưng tôi cũng xin kể ra đây.
          Ông Hồng Ràng kể cho tôi nghe, hồi 9 năm, ông ta theo bộ đội Việt Minh từ Kampuchia về lại Việt Nam. Đơn vị của ông cho 2 anh bộ đội đi đầu dò đường, rồi về báo cáo lại. Hai anh nầy đi biệt tích, cấp chỉ huy đoán rằng có lẽ hai anh nầy bỏ theo Tây rồi. Nửa tháng sau, đám bộ đội của ông Hồng Ràng được lệnh phải về gấp, không cần cho người đi mở đường. Về tới giữa rừng tràm thì gặp con thuồng luồng dài hơn hai chục thước. Cả đám xúm lại nổ súng, bắn chết con vật. Khi mổ bụng nó, thấy xác hai anh bộ đội còn y nằm trong bụng nó, mấy trái lựu đạn cũng chưa nổ.
          Tôi tin có thể có chuyện con thuồng luồng, nhưng tôi không tin chuyện xác hai anh bộ đội còn y. Thuồng luồng cũng là loài bò sát như con trăn. Khi con trăn, - phải là trăn rừng -, ăn con heo hay con bò, nó phải treo mình trên cây, hả họng xuống đất, chuyển thân mình cho xương heo hay xương bò rớt ra ngoài. Con vật chỉ tiêu hóa được thịt da mà không tiêu hóa được xương. Do đó, xác hai anh bộ đội không thể còn y được.
          Phía nam rừng Trà Tiên, gần biển, có mấy ngọn núi đá, có hang đá. Vùng này là vùng đá vôi, nên nhà máy ximăng Hà Tiên mới được xây dựng ở đây để lấy vôi. Vì vậy nên có con kỳ đà –Vùng nầy có khá nhiều kỳ đà - cứ ở suốt ngày đêm trong hang. Khi nước thủy triều lên (Vùng nầy thủy triều lên mỗi ngày hai lần), nước biển tràn vào ngập hang, mang theo cá vào để làm thức ăn cho con kỳ đà. Nay con kỳ đà đã già, thân mình đã to lắm, không thể ra khỏi hang được. Bộ đội Việt Minh bắn được con kỳ đà, khó khăn lắm mới bò vào được trong hang, xẻo thịt đem con kỳ đà ra.
          Còn ngoài biển?
          Hồi xưa ngoài biển có nhiều thuồng luồng và nhiều ghe cướp biển. Nhiều khi thuồng luồng ngóc đầu đuổi theo ghe biển để ăn thịt người.
          Chuyện thật hay bịa, xin hãy xét sau, nhưng ít ra những câu chuyện như thế, cho chúng ta thấy tính chất hoang sơ của vùng nầy vẫn chưa hết, bằng chứng là những cây tràm to, thường thường bằng cái cột nhà lớn, Việt Cộng đốn xuống, sắp lại cây ngang gác cây dọc, cây dọc gác cây ngang mà làm hầm. Bom nào, đạn cà-nông nào mà phá được những cái hầm như thế. Còn nữa, cái hoang sơ đó ở trong một vài cái tên như tên Giục Tượng (xã). Chữ tượng nầy được dùng theo tiếng Hán Việt. Tượng là voi. Vùng nầy, xuống cho tới U-minh, Cà Mau, xưa cũng có nhiều voi.
          Chuyện thuồng luồng đã qua rồi, có lẽ nay thuồng luồng đã tuyệt chủng, nhưng trăn thì còn nhiều. Đây là loại trăn đồng, lớn lắm cũng chỉ bằng bắp chuối, bắt chúng cũng khá dễ. Tới mùa “trăn hội” – Trăn hội là tiếng dùng của dân địa phương - tức là mùa con trăn cái động đực, cả chục con trăn đực tìm tới, nên người ta gọi là “hội”. Người đi bắt trăn chỉ mang cái khăn rằn và cái giỏ đựng trăn. Khi thấy con trăn, người ta dùng cái khăn phất ngang mặt nó. Nó mở miệng đớp cái khăn và kẹt cứng ở đó. Người bắt trăn đè cổ con trăn xuống, bỏ vào giỏ. Đơn giản chỉ có vậy, nhưng người bắt trăn phải có nghề. Họ tìm theo dấu con trăn bò trên đất, thường là đất bùn, nước rút nhưng đất chưa khô, để biết con trăn lớn nhỏ như thế nào, thậm chí người ta còn biết thương tật của con trăn. Nhiều con bị gãy ngang sống lưng nhưng vẫn sống. Con trăn bị lột da, phơi khô đem bán lên Saigon để người ta làm giày dép xách tay cho mấy bà, mấy cô, còn thịt trăn thì ăn nhậu. Có người cho tôi một khúc thịt trăn, con trăn đã chết mà khúc thịt còn động đậy, khiếp lắm, ăn gì được, phải đem cho người khác.
          Lâu lâu tôi cũng ăn thịt heo rừng của các ông phi công trực thang đem bán. Té ra mấy chả bay trong rừng, thấy heo, bắn rồi đem bán kiếm tiền.
          Chuyện ăn ở đây thì nhiều lắm, nói không hết, phần nhiều là cá, loài bò sát và không ít những chú rắn độc.
          Ra khỏi rừng Trà Tiên là tới kinh Kháng Chiến, cũng còn rừng tràm nhưng thưa hơn…
          #5
            lyenson 06.07.2008 11:31:57 (permalink)
            Phần 5 :
            Đường Giây 1-C (Rừng Tràm Trà Tiên)
            :



            Thượng sĩ Huỳnh Phước Hưng, trưởng ban thẩm vấn, cầm tập bìa đựng bản cung của Hoàng Thị Vân, đưa cho tôi, nói:
            - “Con nhỏ mới nứt mắt mà đã trốn nhà theo trai!”
            Ngạc nhiên, tôi hỏi:
            - “Nó hồi chánh mà?”
            - “Hồi chánh mẹ gì đâu. Ông đọc bản cung thì biết, mắc cười lắm! Ông nói phải, đúng là bọn Cộng phỉ?”
            Bọn Cộng Sản vùng nầy, kể cả Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên, đúng là bọn Cộng phỉ. Cộng phỉ là chữ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm gọi bọn Cộng Sản miền Nam, khi ông còn là tổng thống.

            Tò mò, tôi đọc một mạch hết bản cung dài khoảng bốn năm trang đánh máy. Tôi lại còn cho gọi con nhỏ đó lên văn phòng tôi hỏi chuyện tiếp cho rõ ràng hơn.

            Con nhỏ 17 tuổi, không đẹp lắm nhưng có duyên, nước da đen, má căng tròn thời con gái, tóc đen, cằm hơi nhọn, môi tươi. Tôi hỏi:[

            “Cháu và thằng Hùng yêu nhau như thế nào? Tại sao nó theo Việt Cộng?”
            Con nhỏ trả lời

            “Cháu và anh Hùng yêu nhau mấy năm nay. Cha Hiền cũng biết, không ngăn cản, biểu lo đám cưới. Không cưới được vì anh ấy sắp bị gọi đi lính, tới tuổi rồi. Vì chi khu bắn chết mấy người trốn lính trong rừng tràm, anh Hùng cháu sợ, không dám trốn vào rừng tràm nữa. Ăn tết xong, anh dông tuốt vô trỏng ở với họ. Vào đó còn có ngày về, đi lính quốc gia là đi mất tiêu luôn. Với lại, vào trỏng theo anh hai Tiếu, còn đánh bắt cá giúp gia đình, còn được cho đốn tràm đem về bán. Anh Hùng theo Việt Cộng cũng chỉ vì chừng đó, không phải ưa chống Quốc Gia."

            “Tụi bây có đạo tại sao theo Cộng Sản vô thần?” Tôi hỏi.
            “Tụi cháu không biết gì chuyện đó hết. Sống tới đâu, hay tới đó.”
            “Thằng Hùng vô trỏng, cháu vô làm chi?” Tôi hỏi, nhắc lại lời nó đã khai trong bản cung.
            “Trước khi Hùng đi, hai đứa cháu có gặp nhau. Hùng biểu ở lại nhà, lâu lâu Hùng sẽ hẹn gặp nhau trong rừng tràm. Nhưng nhớ Hùng quá, cháu liều đi theo!” Con nhỏ trả lời

            Tôi hỏi:
            “Vô trỏng, có thằng cán bộ yêu cháu. Nó là thằng nào?”
            "Mới vô, cháu không rõ tên, nghe gọi là anh Ba, trưởng ban quân y huyện đội. Anh nầy quyền lắm. Anh ta yêu cháu nhưng cháu không yêu. Cháu chỉ yêu Hùng?”
            - “Tại sao?” Tôi hỏi, “Hùng chỉ là du kích. Anh nầy quyền chức cao hơn, sao cháu không yêu?”
            - “Hùng đẹp trai hơn. Hùng cao ráo, dáng dấp như thiếu úy Sơn. Còn anh nầy lùn.” Cô ta cười. “Vã cháu chỉ yêu một người thôi chớ.”
            - “Vậy rồi thằng Hùng ra chiêu hồi?” Tôi hỏi.
            - “Dạ, Hùng buồn. Hùng nghĩ là cháu bỏ Hùng theo anh cán bộ trưởng ban kia, nên buồn tình bỏ ra, chiêu hồi. Cháu nghe Hùng chiêu hồi, cháu cũng ra luôn.” Vân giải thích.
            - “Không ở lại với anh chàng lùn?” Tôi cười, hỏi.
            - “Ai mà thèm!” Cô ta trả lời.
            - “Hùng làm gì trỏng? Được họ phát súng ống gì chưa?”
            - “Hùng chỉ là du kích, thường ngày gác phía ngoài mật khu. Khi cháu vô trỏng, anh ấy mới được phát súng M-16 của Mỹ.” Vân trả lời.
            Tôi hỏi tiếp, ý nầy cũng đã được thượng sĩ Hưng hỏi rồi:
            - “Vậy cháu có súng chưa?”
            - “Có, cháu có súng AK.” Vân trả lời.
            - “Tại sao hai đứa khác nhau?” Tôi hỏi. Ý nầy thượng sĩ Hưng chưa hỏi.
            - “Mới vô, sau khi xác minh xong, họ phát M-16. Thử thách một thời gian, mới có AK.”
            - “Cháu mới vô lại được phát AK ngay. Vì sao?” Tôi hỏi.
            Vân giải thích:
            - “Cháu vô được hai ngày thì chuyển qua ban quân y huyện đội, được phát súng AK ngay, lại có anh trưởng ban theo sát cháu. Chừng đó cũng đủ làm cho Hùng khó chịu. Hùng hỏi cháu về quan hệ giữa cháu và anh trưởng ban. Cháu nói có gì đâu nhưng Hùng hiểu mọi chuyện, Hùng buồn, rồi bỏ ra ngoài nầy.”
            Tôi chỉ cái mũ tai bèo màu xanh biển, còn rất mới, hỏi:
            - “Họ mới phát?”
            - “Dạ. Cháu cũng được phát quần áo nữa. Hùng thì chưa có gì hết.” Vân nói.
            Rát tiếc là tôi không nhớ hỏi con nhỏ trưởng ban quân y huyện đội tên là gì, chỉ nhớ nó gọi là anh Ba. Có phải là Ba Dũng, ngày nay là thủ tướng Việt Cộng. Quan trọng khi hỏi cung là hỏi về các cán bộ lớn như bí thư, phó bí thư, kinh tài, hoặc huyện đội trưởng, xã đội trưởng để theo dõi hoạt động của nó hầu tìm phương cách giải hóa.

            Giải hóa là danh từ “Phụng Hoàng”, bắt hoặc giết, chớ còn như trưởng ban quân y thì có gì quan trọng đâu. Thứ nầy chỉ ở sau, đâu có ở tuyến đầu, đâu có chức chưởng gì quan trọng, không khác mấy với “Bà Già Trầu” mà tôi đã có nói tới trong bài “Bác Sĩ Việt Cộng”. Cỡ như Ba Dũng thì học hành ở đâu, sức học đâu có bao lăm. Theo Việt Cộng, khi còn nhỏ, thì đủ để cho bọn lớn đầu sai vặt, nấu cơm, pha trà, càphê. Anh nào có thế lực thì được cho về U-Minh học trong rừng, trong những cái lán tranh, cũng đặt tên là trường nầy trường kia, học lấy có, thầy trò trình độ cũng như nhau. Về quân y thì có hai trường, một trường ở U-Minh và một trường ở Cục R. Ban đầu ra y tá, ít lâu sau lên y sĩ, học thêm vài tháng ra bác sĩ. Phục vụ trong ngành quân y nên chỉ ở mặt sau, một “ân sũng” dành cho con em cán bộ có chức quyền.

            Đấy. Tụi nó theo Việt Cộng là như vậy đấy, đâu phải là có lý tưởng gì đâu. Hai Tiếu, Lâm Hải, Bảy Mốc, Tư Ngọc, v.v… mỗi người một lý do khác nhau, nhưng tựu chung, toàn là lý do tầm bậy, hổ lốn, thổ phỉ, chẳng ai có lý tưởng cao siêu gì cả như Cộng Sản hô hào, tán dương. Tôi sẽ nói rõ từng trường hợp về sau.

            Trước khi trở lại chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân và tên Hùng, nguyên quán ấp kinh 1, xã An Hòa, tôi muốn nói qua về người dân xóm Núi Trầu là dân xã An Hòa nầy.
            Xã An Hòa nằm chung quanh núi Trầu, phần đông tập trung ở chân núi phía bắc vì gần kinh Rạch Giá - Hà Tiên để có nước ngọt. Ba phía kia, dân thưa hơn vì nước phèn. Hầu hết dân xã An Hòa theo đạo Thiên Chúa, linh mục chánh xứ tên là Nguyễn Thượng Hiền, chưa già lắm, còn nhanh nhẹn, chống Cộng một cách kín đáo vì xã ông gần mật khu Trà Tiên. Ổng sợ; nửa đêm tụi nó mò ra “thịt” ông dễ như không! Dân ở đây gốc Bắc, không phải di cư năm 1954 mà trước đó khá lâu. Khoảng năm 1939, 40, Tây đồn điền dụ dỗ họ vào Nam, không vào miền Đông Nam bộ làm phu cạo mũ cao su mà về vùng Rạch Giá làm ruộng. Vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn ở Rạch Giá như tôi đã trình bày trong bài Hòn Đất - Chị Sứ, và vùng núi Trầu nầy là dân Bắc di dân vào hồi ấy. Thế rồi Tây thất trận bên nước họ, nước Pháp bị Đức Hitler chiếm đóng, Tây thực dân bên nầy sa cơ lỡ vận, để cho các đám di dân nầy vất vưỡng. Vậy là các ông cha đạo tìm tới, truyền giảng, giúp đỡ. Dân vùng núi Trầu theo đạo gần hết. Dân Nam Thái Sơn và Cờ Đỏ thì không. Dù theo hay không, năm 1945, 46 hầu hết đều theo Việt Minh chống Pháp, ai ai cũng yêu nước, nhiệt tình, hăng hái. Hồi 9 năm (Tiếng dân địa phương gọi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt: 1945-54), núi Trầu là cơ xưởng công binh của Việt Minh, chế tạo mìn, tạc đạn, lựu đạn nội hóa... Năm 1953, vào dịp Tết, lính nhảy dù Tây nhảy xuống núi Trầu, gặp thanh niên, đàn ông, ông già đều bắn hết như tôi có kể trong bài nói về Tết Mậu Thân ở Huế 1968. Việt Cộng còn tàn ác hơn cả Tây Marốc hồi đó. Ở Huế, chúng nó giết cả đàn bà, con gái, trẻ em… Cho nên, người dân An Hòa, giống dân Huế một điểm, tới ngày Tết, nhà nào cũng có giỗ để cúng người bị giết, bị Tây giết như ở An Hòa hay bị Việt Cộng giết như ở Huế.

            Hồi tập kết năm 1954, dân Cờ Đỏ, Nam Thái Sơn nhiều người tập kết ra Bắc theo Cộng Sản, như Nguyễn Quang Quýnh, dân Nam-Thái-Sơn, làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang sau 30 tháng Tư- 1975, sau đó bị mất chức.

            Dân An Hòa, không ai tập kết. Hầu hết rời Việt Minh, theo Quốc Gia và chống Cộng. Ngoài trừ một mình Ba Nhân, theo Việt Cộng làm kinh tài để kiếm tiền bỏ túi. Tên nầy bị phe ta phục kích giết ở Tà Keo. Tôi có đọc hết giấy tờ hồ sơ riêng của tên nầy trôi trên kinh, do dân chúng vớt được đem cho. Không biết lực lượng nào phe ta bắn chết y, hình như họ để cho xác y trôi ra biển sau khi lấy số tiền trong người y vì y là cán bộ kinh tài nên có rất nhiều tiền.

            Dân An Hòa làm nhiều nghề để sinh sống, trước hết là nghề đốt lò vôi. Vôi trắng để sơn nhà. Độc giả thấy ở Bến Hàm Tử trên Chợ Lớn có mấy “dựa” (vựa) bán vôi, ấy là vôi của dân An Hòa như ông Ba Để, ông Ba Nhân, ông Chín Vĩnh,... chở lên cho chủ vựa, hay chính họ cũng lên mở vựa bán vôi trên ấy như ông Đức Thắng, tự Thắng Cụt.

            Hai là nghề làm ruộng, không nhiều, chỉ đủ gạo ăn.

            Ba là nghề trồng rau xanh - thường gọi là làm rẩy -, vì thị trường tiêu thụ không có nên trồng cũng không nhiều. Gốc Bắc Kỳ, không ít nhà trồng rau muống. Ở đây người ta trồng rau muống khác với Huế, (Rau muống nước) hay Dốc Mơ, Gia Kiệm (Rau muống khô). Đất quanh núi Trầu rất tốt, là đất than bùn, đen như bùn. Tới mùa khô, người dân cuốc đất lên, phơi đất cho khô, cào đất cho tơi, rồi rải hột xuống như người ta gieo mạ. Hột rau muống chen nhau mà mọc, kín quá, thiếu nắng nên cọng rau trắng như cọng giá. Khi ăn, người ta nhổ như nhổ mạ, cắt ngang gộc, đem nấu với vịt, chao, gọi là vịt nấu chao, là món thường dùng đãi khách quí.

            Thứ tư là nghề làm cá. Có hai loại: Cá biển và cá đồng. Xã An Hòa có vài chủ ghe đánh cá biển bằng loại ghe xịp, đánh cá bằng cách xúc. Chiếc ghe có hai cái càng dài. Khi ra tới biển, chỗ nào có cá thì gắn lưới vào hai cái càng, đẩy hai cái càng tới trước. Ghe vừa chạy vừa xúc cá. Thỉnh thoảng, kéo hai cái càng lên mà xúc cá, tôm mắc vào lưới. Cá biển không nhiều, số đông là cá phân (Cá để làm phân), bán cho hãng Somaco của ông Đặng Văn Lân ở Hòn Heo. Ông Lân là em bác sĩ Đặng Văn Sung, chủ báo Chính Luận ở Saigon, có dịp tôi sẽ nói sau. Một ít loại cá lớn hơn, ăn được thì đem bán ở chợ quận hay phơi khô. Họ cũng đánh bắt được nhiều tôm, chỉ đủ bán cho dân địa phương. Cứ khoảng chiều, họ cho ghe nổ máy chạy ra đánh cá ở vịnh Thái Lan, gần biển, không đi xa quá. Đánh bắt suốt đêm, đến sáng thì về. Dĩ nhiên, muốn có huê lợi chút ít, trong nhà cần có con trai. Người già không làm nỗi. Khổ nỗi con trai tới tuổi “quân dịt quân gà” thì phải tìm cách trốn tránh như hoãn dịch vì lý do tu sĩ (tôn giáo) mà có tu hành gì đâu, con trai độc nhứt vì có cha mẹ già trên 60 tuổi (phần nhiều là giấy giả), làm giấy căn cước quá tuổi đi lính, hoặc làm lính kiểng. Cách nào cũng phải tốn tiền trà nước mới xong. Nhờ có ghe đánh cá, có huê lợi nên cũng đỡ hơn các gia đình nhà nghèo khác. Được cái, làm nghề cá biển không dính dáng gì tới Việt Cộng như làm cá đồng.

            Làm cá đồng “quan hệ” với Việt Cộng như thế nào?

            Mùa nước nổi, đồng hoang hay đồng lúa, nước lên ngập cả. Cá từ trên nguồn sông Bassac, tức sông Hậu, theo nước tràn vô đồng, sinh sôi nẩy nở vô số kể. Khi nước rút, cá tụ lại trong những cái vũng sâu ở trong đồng, thường gọi là đìa. Nước càng ngày càng khô, cá càng ngày càng rặc. Người dân chỉ cần lội xuống, lấy thùng mà múc, chẳng cần lưới, câu gì cả. Bắt cá phải đúng lúc, nước còn nhiều khó hốt, nước rặc quá, cá sẽ hôi bùn, khó ăn. Một vũng nước như vậy, “thu hoạch” ba bốn chục thùng (loại 20 lít) là thường, kiếm cả trăm ngàn. Mối lợi thiên nhiên nầy có từ ngàn xưa.

            Hai Tiếu, tên là Nguyễn Văn Thôn, tự Tiếu, nguyên là dân ấp Ngã Ba, xã An Bình. Tới tuổi quân dịch, anh ta trốn vô rừng tràm rồi nghe lời Việt Cộng, bỏ vô mật khu, làm du kích. Vì thiếu cán bộ hạ tầng cơ sở, theo Việt Cộng chưa được ba năm, Tiếu đã lên tới chức bí thư xã. Tới chức nầy thì quyền hạn lắm, gia đình y, còn ở ngoài bờ kinh, vùng quốc gia, nhưng có nhiều quyền lợi ở trỏng. Ví dụ như chỉ gia đình y mới được đốn tràm đem ra bán cho chủ vựa, (Việc nầy tôi sẽ nói rõ hơn khi nói về mấy tay “trời thần đất lỡ” như Tư Trạng, và Năm Tu Hú) hoặc về mùa khô, chỉ gia đình y mới được bắt cá trong các đìa, hoặc giao cho người khác bắt đìa, chia chác cho gia đình y, v.v… Bọn Việt Cộng thì ở trong mật khu, giữ các nguồn lợi trong rừng, đặc biệt dành riêng cho gia đình hoặc ban phát cho ai có lợi hoặc làm giao liên cho chúng. Gia đình Hai Tiếu, gồm mẹ, vợ và hai con của y cũng như người dân, nhà thì ở ngoài bờ kinh Rạch Giá - Hà Tiên, vùng quốc gia. Khi đi làm đồng, đi bắt cá hoặc đốn tràm, họ mới vào rừng tràm; sáng đi chiều về. Chỉ có vợ Hai Tiếu nhiều khi mới ở lại trong mật khu với chồng, khi có bầu thì vào bệnh viện Hà Tiên hay Rạch Giá để chính quyền quốc gia lo giúp việc sinh nở.

            Quyền lợi ở trong rừng tràm, quốc gia không đủ sức giữ an ninh được, nên mặc sức chúng ban phát cho ai thì ban. Người dân có tranh tụng nhau quyền lợi trong đó thì Việt Cộng đứng ra phân xử. Dân thì ở với mình, có gì tranh chấp, Việt Cộng xử, thế mới tức, nhưng mình chẳng làm gì được. Nhưng có làm được gì chúng, sẽ nói ở phần sau: Phần nói về Giặc Mùa. Tuy nhiên, tiếp sau bài nầy tôi sẽ nói về mật khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ, theo lời khai của “Hồi chánh viên Hoàng Thị Vân.”

            #6
              lyenson 06.07.2008 11:39:37 (permalink)
              Phần 6 :
              Đường Giây 1-C (Mật Khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ)
              :

              Trước khi kể chuyện mật khu Trà tiên, xin nói qua một chút về đất Hà Tiên. Chỉ một chữ Tiên thôi, người ta cũng sẽ đoán rằng có gì liên hệ giữa Hà Tiên và Trà Tiên?

              Hà Tiên là nơi mấy bà tiên xuống tắm ở bến sông? Có lẽ ông Mạc Cửu hay đệ tử của ông bày chuyện ra để đặt một cái tên nghe cho hay, chớ đi khắp Hà Tiên, đố ai tìm được một con sông! Đó là vùng đất cao, không hẵn có nhiều núi như ở xã Thuận Yên, bên nầy Đông Hồ, trên đường Rạch Giá đi Hà Tiên. Mấy năm quân đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công Việt Cộng bên Miên, công binh có bắt một cây cầu nổi từ Thuận Yên sang thị trấn Hà Tiên để việc chuyển quân và tiếp tế được mau lẹ, dễ dàng.

              Nói sơ về lịch sử (độc giả thông cảm, tôi là người dạy môn lịch sử ở bậc trung học, không phải là nhà nghiên cứu gì cả, và tôi cũng không dạy gì có liên quan tới ông Mặc Cửu cả) thì xứ Hà Tiên, trước thế kỷ 18 là vùng đất thuộc Miên. Trước nữa, lâu lắm là đất của nước Lâm Ấp, nước nầy có một nền văn minh khá cao, sử thường gọi là văn minh Ốc-Eo, (Một khu vực thuộc Long Xuyên ngày nay). Người Khmer cướp đất của Lâm Ấp khi nước nầy rụi tàn. Cướp đất của người nhưng người Miên cũng chẳng làm gì để cho vùng nầy khá lên.

              Trước khi có tên Hà Tiên, có lẽ nó có vài ba cái tên gì đó, tên Lâm Ấp hay tên Miên, tôi không biết và cũng chưa đọc sách sử nào nói tới. Tên Miên, ở vùng nầy, nếu còn lại thì cũng chỉ một vài nơi, vài người mà thôi. Ví dụ sát biên giới Việt Miên, có một ngôi chùa Miên lớn lắm, tên là chùa Xà Xía (tên Miên). Chùa của ông đại đức Công-Xa-Phan (cũng tên Miên). Ông nầy quản lý về đạo Phật của người Miên kể từ bên phía Miên, phía Kampot tới Sóc Trăng. Ông đại đức Công-Xa-Phan tuy còn trẻ nhưng có nhiều cái hay, như sống đơn giản, có xe hơi nhưng đi đâu cũng nhờ người ta chở đi bằng xe Honda cho tiện, ai tới nhờ cậy gì ông cũng ừ, lại cất công đi xin giùm. Sau 1970, chiến tranh bên Miên càng ngày càng dữ, dân Miên chạy loạn tới dựng lều tạm trú quanh chùa ông, ông cấp phát quần áo, gạo mền rất đàng hoàng. Dân Miên qua Việt Nam, không giấy tờ đi lớ ngớ, bị bắt, ông đi xin cho họ được tha. Người có của (thường là vàng, đồ trang sức, và hồng ngọc, một sản phẩm của Miên), sợ bị mất, gởi cho ông cất giùm, ông cất giữ rất cẩn thận. Biết ông là người có uy tín với dân chúng, chính quyền miền Nam tôn trọng ông, giải quyết những gì ông xin xỏ hay can thiệp. Trong chiến tranh, Việt Cộng cũng không đụng gì tới ông vì đụng tới ông không có lợi. Tới 30 tháng Tư, Việt Cộng thấy sự có mặt của ông ta thêm “phiền”, bèn cho ông ta đi … “học tập cải tạo”. Ông cũng tưởng là “học tập” thiệt nên vui vẻ ra đi, “học” 5 năm mới được “tha ra khỏi trại cải tạo.” Ông cũng ngây thơ, nói với một người quen của tôi nhà ở gần cổng Tam Quan, cửa ngõ thị xã Rạch Giá: “Học tập mãn khóa thì về, sao lại có câu “tha ra khỏi trại cảo tạo?” Ông không hiểu được… Việt Cộng, có phải vì ông là người Miên. Không chỉ ông, cũng lắm người Việt không thể hiểu được Việt Cộng, nếu chưa từng “…ai có qua cầu”. Vậy nên ông vượt biên qua Thái Lan.

              Khi ông được cho đi “học tập”, tài sản tín đồ gởi ông cất giữ, Việt Cộng “giữ giùm” hết. Vậy cũng còn “khoan hồng nhân đạo” hơn so với bọn Pol Pot. Dân Miên ở chùa Xà Xía cũng hú hồn.

              Thấy ông là người hiền từ, hay đi đây đó, lại đệ tử đông nên tôi thường đến thăm ông để kiếm… tin tức. Đúng ông là người thật thà, thấy sao nói vậy, biết sao nói vậy, nhưng vì ông là người tu hành nên chẳng biết gì về… tình hình địch. Tôi có cái lợi khác, nguời Miên biết tôi với ông hay chuyện trò với nhau, nên không ngần ngại gì khi tôi nói chuyện với họ, qua đó tôi cũng biết vài điểu hữu ích cho công việc của tôi.
              Có hai lần tôi lên chùa Xà Xía ăn với ông trong dịp vía Phật hay lễ tết gì đó của Miên. Chùa Miên không ăn chay, họ ăn mặn và người nấu ăn cho đại đức là cô chủ một hiệu ăn ở Rạch Giá. Vậy thì món ăn nấu theo kiểu Việt Nam, không phải kiểu Miên, không có mắm Bò-hóc. May phước!

              Có lần ông ta đến thăm tôi, cho tôi một cái nanh heo gởi. Ông kể là hồi còn trẻ, ông qua tu ở bên Lào và được cái nanh heo gởi. Con heo rừng khi già, cái nanh heo mọc dài ra, đâm xuống hàm dưới, làm cho con heo đau lắm. Nó tìm một gốc cây, cắn mạnh vào thân cây, vặn đầu cho cái nanh heo gãy ra, không còn đâm vào hàm được nữa. Cái nanh heo mắc vào thân cây, gọi là nanh gởi, linh lắm. Ai đeo vào tránh được súng đạn. Được cái nanh, tôi khoái chí kể cho một người bạn thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh nghe. Anh bạn nói: “Năm ngoái, tôi yễm trợ cho một đại đội của Lol Non vào mục tiêu ở Kompong Trach. Trước khi tấn công, thằng đại đội trưởng cũng lấy cái nanh heo, đọc kinh, rồi ngậm cái nanh heo vào mồm mà chỉ huy. Chỉ một lúc, tôi thấy thằng đại đội trưởng bị bắn toác họng mà chết. Ông cứ tin là tôi nói thiệt đi!”
              Câu chuyện của người bạn làm tôi mất hứng về chuyện cái nanh heo của ông đại đức Công-Xa-Phan cho. Nhưng rồi vợ tôi cũng đem cho thợ tạc thành tượng một ông Phật, cùng làm sợi giây chuyền để tôi đeo vào cổ. Ngày “trình diện đi học tập cải tạo”, tôi để tượng Phật ở nhà. Bị đánh tư sản, vợ tôi hoảng hồn không biết để cái nanh heo thất lạc về đâu? Đến khi tôi đi “tù học tập” xong, cũng được “tha ra khỏi trại cải tạo” như ông Công Xa Phan, thì ông đại đức hiền hậu của tôi đi một đường, cái nanh heo ông cho lại đi một nẽo. Đó cũng là một chuyện buồn trong cuộc đời nhiều buồn hơn vui.

              Trở lại chuyện ông Mạc Cửu, ông là người Tàu Quảng Đông, theo phái “Diệt Thanh Phò Minh” nhưng thất bại nên chạy qua Việt Nam như người Tàu Minh Hương hoặc Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài vậy. Mạc Cửu không ghé đất Sài-Côn (Saigon năm xưa) như hai ông vừa nói mà xuống tuốt Hà Tiên. Có lẽ trước đó, ông cũng ghé lại chầu chúa Nguyễn ở miền Trung. Chúa bấy giờ cũng cần người khai phá vùng đất hoang ở Nam Bộ, vã cũng không muốn một ông Tàu có đủ binh tướng ở sát bên mình, tai họa đến dễ như không nên cho ông vào Nam. Mạc Cửu đến Hà Tiên và mở sòng bài, trở nên giàu có. Có tiền và có binh lính, ông bình định cả vùng Hà Tiên, tới gần Rạch Giá (Vùng Lình Quỳnh). Xong, ông đem vùng đất nơi ông cai trị và mở mang mà dâng cho chúa Nguyễn. Chúa mừng lắm và đãi ông vào hạng “Khai Quốc Công Thần.”

              Những năm Việt Nam và Xiêm La giành nhau cai trị nước Kampuchia, vua Campuchia qua lánh nạn ở Hà Tiên. Để tránh hậu họa, Xiêm La bèn đem quân đánh phá Hà Tiên. Bấy giờ Mạc Cửu đã qua đời, con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, đánh bại quân Xiêm, đuổi chúng ra khỏi nước. Thành ra cả hai cha con ông đều có công lớn với chúa Nguyễn nói riêng hay với nước ta nói chung. Khi tôi ở Hà Tiên, lăng mộ hai cha con vẫn còn, nằm bên sườn đồi, ngó xuống biển, rất đẹp và hùng vĩ. Ngày nay, dòng họ Mạc ở Hà tiên không còn ai, coi như tuyệt tự, lăng mộ không biết còn mất như thế nào?!



              Biết chuyện ông Mạc Cửu mở sòng bài làm giàu, tôi cứ suy nghĩ hoài. Vùng đất Hà Tiên trở nên giàu có là về sau nầy, kể từ khi Tây qua cai trị nước ta, chứ trước đó, xứ nầy có tài nguyên gì đặc biệt đâu, ngoài nghề đánh cá biển, nuôi đồi mồi. Ruộng rẩy thì ít, không có đồng chó ngáp hay ruộng cò bay thẳng cánh. Nhờ ở vào địa thế biên giới Việt Miên, nên việc buôn lậu phát triển, chẳng hạn như sau Hiệp Định Paris 1973, việc giao thông trên liên tỉnh lộ 80 Hà Tiên - Rạch Giá trở nên tiện lợi, nên hàng lậu từ Thái Lan tới Hà Tiên rồi chuyển lên Saigon ì xèo, việc buôn bán ở Hà Tiên rất phát đạt, nhiều người giàu có và cũng không ít người trở thành nạn nhân của bọn buôn lậu, kể cả mạng người. Mua hàng trả bằng vàng. Vàng và máu lộn vào nhau giống như trong tiểu thuyết trinh thám Vàng và Máu của Thế Lữ. Người đáng thương nhứt chính là đại úy Thành, cựu đại úy Nhảy dù, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Hà Tiên, vì cần mẫn với nhiệm vụ nên bị bọn buôn lậu + Việt Cộng + Khmer Đỏ + Khmer Lol Non phục kích bắn chết ở ấp Việt Nam 1, Hà Tiên. Chuyện nầy không nói không được nhưng xin để kể lại sau.

              Xứ sở không giàu, vậy tại sai ông Mạc Cửu, như người ta nói, mà sách sử cũng ghi vậy, ông ta mở sòng bạc mà giàu.

              Dễ hiểu thôi, cứ đi vào dân, đi với dân, nghe dân nói, dân kể chuyện, hiểu ngay.
              Vùng vịnh Thái Lan là vùng nổi tiếng cướp biển mấy trăm năm nay, trước cả thời gian người Bồ, người Hà sang buôn bán ở Châu Á, Đông Nam Á nầy. Bây giờ cũng là vùng cướp biển nổi tiếng nhứt thế giới, hung bạo nhứt thế giới.

              Người dân Hà Tiên cố cựu, - không riêng gì ở thị trấn Hà Tiên mà nguyên cả vùng chùa Hang, Hòn Chông, Vàm Rầy, Lình Quỳnh thuộc tỉnh Hà Tiên cũ, thời Pháp thuộc, cũng có người kể cho tôi nghe chuyện cướp biển ngày xưa. Bọn cướp biển khi giàu có, không đem của về xứ được - Phần đông là người Tàu gốc đảo Hải Nàm, nổi tiếng đi biển giỏi - bèn chôn dấu tài sản ở các hòn đảo hoang trong vịnh Thái Lan như Hòn Tre, hòn Đầm, hòn Nghệ, hòn Ngang, v.v… Khi giải nghệ, vì già hay vì chán cảnh đâm chém, dân hải tặc nầy không dám về xứ, tụ tập ở vùng Hà Tiên, lấy vợ, có con và cũng có sẵn của tiền để đi đánh… bạc. Chỉ có đám hải tặc giải nghệ nầy mới có nhiều tiền để cờ bạc, và cũng nhờ đó mà ông Mạc Cửu mau giàu. Chuyện gì chớ nói tới việc buôn bán thì tất cả nhân loại nầy đều thua người Tàu, như ông Lã Bất Vi, còn buôn cả vua, huống chi với đám hải tặc nầy, Mạc Cửu lấy tiền của chúng dễ như không! Nói chuyện nầy với mấy ông cụ già đất Hà Tiên, họ cho rằng tôi nói có lý đấy. Đây cũng là vấn đề lịch sử, xã hội; hy vọng ngày sau các nhà nghiên cứu lịch lịch sử sẽ không bỏ qua.

              Ở Hà Tiên còn có dòng họ Lâm (Họ Lâm và họ Mạc là hai họ lớn nhứt hồi xưa ở đây) nay cũng chẳng còn ai. Họ Mạc thuộc võ tướng, họ Lâm thuộc văn học, ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác là một nhà thơ nổi tiếng hồi đầu thế kỷ 20. Năm 1945, ông sợ Việt Minh, chạy lên Saigon, ở miết trên ấy, dòng tộc nay chẳng còn ai!
              Ông Đông Hồ có tập “Hà Tiên Thập Cảnh”, xuất bản khoảng đầu thập niên 60, tôi không nhớ chắc, có mười bài thơ tả 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên. Mười cảnh đẹp đó là hòn Phụ Tử (Nay Phụ chết rồi, chỉ còn có Tử mà thôi. Có người bạn, khi nghe tin hòn Phụ bị đổ, nói với tôi: Phụ của bọn chúng đổ rồi thì chúng chỉ có tử mà thôi - Tử đây không phải là con mà là chết), Chùa Hang (chùa thờ Phật), bãi Hòn Trẹm, (trước 1975, nhiều bà lớn ở Saigon như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, v.v… về đây giành đất để xây biệt thự, việc chưa thành thì miền Nam bị mất về tay Cộng Sản. Bây giờ muốn có đất ở bãi Hòn Trẹm thì mấy bà phải mua lại của Việt Cộng), Hang Tiền, Đông Hồ (là cái vũng biển lớn, ăn sâu vào trong đất liền), Giang Thành… Giang Thành là cái đuôi của Đông hồ, nằm trên đường Hà Tiên đi Châu Đốc, qua kinh Vĩnh Tế, có ngôi chùa, có cái trống lớn lắm. Đêm nằm ở Hà Tiên, thi sĩ Đông Hồ nghe tiếng trống chùa mà cảm tác bài thơ “Giang Thành Dạ Cổ” – Đêm nghe tiếng trống ở chùa Giang Thành - (Dạ là đêm, cổ là cái trống, tương tự như trong câu thơ của Đặng Trần Côn: “Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt” – Bà Đoàn Thị Điểm dịch là: “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt.”

              Sau khi chiếm được đất Miên, các chúa Nguyễn muốn ngăn chận người Miên nổi lên quấy rối, bèn định rõ ranh giới hai nước. Đất đai hai bên liền nhau, dân nổi loạn chạy qua chạy về dễ dàng nên khi ông Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu trấn thủ vùng nầy, bèn cho đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Châu Đốc với Hà Tiên, đi ngang Giang Thành. Kinh đó là con đường phân chia hai nước Việt Miên ở vùng nầy.

              Dĩ nhiên muốn đào kinh phải huy động dân chúng đi làm. Kinh khá rộng, 30 mét bề ngang, sâu chừng 5 mét, ghe thuyền đi lại dễ dàng. Có lẽ hồi đó, người Việt định cư vùng nầy chưa đông; cả hai bên bờ kinh, phần nhiều là người Miên nên họ bị bắt đi “dân công” đào kinh. Người Miên chống lại việc đào kinh, dĩ nhiên. Bên nầy kinh là người Miên, bên kia kinh cũng là người Miên, có khi là bà con họ hàng, nay bỗng phân ly thành dân hai nước, ai chịu được. Vã lại, việc đào kinh không phải là việc đi du lịch, gian khổ vô cùng, vậy nên nhiều người Miên chống đối, bằng nhiều cách khác nhau. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến người Miên ưa “Cáp Duôn” để trả thù. Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt. Từ lâu lắm, có lẽ sau khi bị mất vùng đất Khmer Krom, người Duôn trở thành cơn ác mộng của người Khmer (Miên). Trẻ em Miên khóc đêm, mẹ nó dọa “Nín đi! Coi chừng Duôn đứng rình ngoài vách.”
              Đó cũng là động lực của việc “Thổ dậy” năm 1945 mà nhà văn Lê Xuyên có thuật lại trong “Chú Tư Cầu”, “Kinh Cầu Muống”, v.v… (Tôi sẽ thuật lại việc nầy khi nói nói tới ấp Xà Ngách ở Ba Hòn và xóm Vàm Rầy của ông Chủ Ry (Henry), thân phụ “Chị” Tư Nết (tên Tây là Annette).

              Khi Khmer Đỏ nắm quyền cai trị xứ Chùa Tháp, để chống lại Cộng Sản Hà Nội, bọn chúng thường khơi dậy lòng hận thù dân tộc (Cộng Sản và Hận Thù là song sinh) giữa hai dân tộc Việt Miên. Trong cuốn sách “Brother Enemy”, ông Nayan Chanda có thuật lại việc Khmer Đỏ tuyên truyền về cái ác của “quan Việt Nam” trong việc đào kinh Vĩnh Tế. Quan Duôn bắt mấy người Miên chống việc đào kinh lại, đem chôn sống, chỉ chừa ba cái đầu làm ba ông táo, làm bếp nấu nước sôi. Lửa nóng là cho người bị chôn sống nhúc nhích cái đầu, quan Việt Nam la mắng: “Không được nhúc nhích làm đổ nước của quan.” Chuyện thật hay bịa? Cộng Sản, kể cả Khmer Đỏ, có cái gì mà không bịa (Cộng Sản và Dối Trá cũng là song sinh). Chuyện tàn ác, nếu có chăng thì cũng chỉ là “Ít xít cho nhiều” mà thôi.

              Hồi chánh Viên Hoàng Thị Vân” kể:
              - “Từ mật khu cháu phải chèo xuống ba ngày mới về tới núi Trầu.”
              Xem qua bản đồ, tôi biết mật khu nầy, tức cục R nằm bên Miên, không thể nằm bên phía Việt Nam.

              Kể từ ngày tướng Trưởng về làm Tư lệnh Quân Khu 4, ông đưa ra một chiến thuật mới để săn lùng Việt Cộng, gọi là “Chiến Thuật Diều Hâu.” Chiến Thuật Diều Hâu chỉ là việc vào tận hang hùm bắt cọp, kiểu như ngày xưa có nói trong Chinh Phụ Ngâm: “Quày ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Tàu thì gọi là “Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử”. Dịch nôm là không vào hang cọp sao bắt được cọp con.” Cách của tướng Trưởng là hễ biết chỗ nào có Việt Cộng thì cho lính từ trực thăng nhảy xuống đó. Ban đầu thả xuống một hai toán. Hễ đụng với địch thì tăng cường thêm lính. Đụng trận lớn nữa thì đổ thêm quân. Việc nầy sẽ nói thêm về sau. Kỷ sư Lê Hữu Phước, giám đốc nhà máy xi măng Hà Tiên, bê nguyên một két Hennessy cổ đen mà cho tôi cũng là nhờ chiến thuật nầy, do công của anh em chúng tôi mà suốt một năm Việt Cộng không dám tới đánh phá nhà máy xi măng Hà Tiên ở Kiên Lương.

              Sau nầy, khi tướng Nam làm Tư Lệnh vùng 4, ông áp dụng trở lại chiến thuật nầy. Việt Cộng sợ muốn chết, bưng nguyên mật khu qua Miên xin tạm trú, đâu dám ở bên phía Việt Nam. Vì vậy Hồi Chánh Viên Hoàng thị Vân phải chèo xuống ba ngày, bất kể ngày đêm, mới về tới quê của con nhỏ ở núi Trầu

              Tôi hỏi:
              - “Cháu có biết cháu qua kinh Vĩnh Tế lúc nào không?”
              - “Không! Cháu không biết. Nhưng cháu có chèo xuồng qua đoạn phía trên Giang Thành. Trong mật khu có phổ biến, lưu ý khi qua chỗ nầy phải cẩn thận, dễ bị mắc cạn. Bị mắc cạn lại nhằm lúc máy bay trực thăng quốc gia tới thì chỉ có chết. Trực thăng bắn róc-két dữ lắm.”
              - “Vậy cháu đi theo đường giây 1-C.” Tôi hỏi.
              - “Cái chi? Cái chi mà một Xê. Cháu không biết.” Nó trả lời.
              Biết là hớ, làm sao nó biết một Xê với hai Xê. Tôi điều chỉnh:
              - “Đuờng bộ đội di chuyển đó!”
              - “Không! Cháu không đi ngay đường đó, sợ gặp du kích gác đường. Cháu đi hơi xa xa một chút để tránh du kích.” Nó trả lời.
              - “Cháu không sợ lạc?
              - “Sau một ngày đi theo hướng đông, cháu theo hướng ống khói nhà may ximăng Hà Tiên. Tới chỗ trống, cháu tìm khói của nhà máy mà tới, chắc ăn.” Con nhỏ giải thích.
              Tôi lại hỏi:
              - “Cháu không sợ máy bay?”
              - “Trên máy bay, họ biết cháu chỉ có một mình, cho là dân làm đồng, họ không bắn. Vã lại cháu đi ban ngày. Họ chỉ đi ban đêm, vì đi ban ngày, qua chỗ trống, họ sợ máy bay lắm.”

              Ngày nay, nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn thường nghĩ rằng, Nguyễn Tấn Dũng chắc cũng sợ xanh máu mặt mỗi khi y đi từ mật khu về Tà Keo, xứ sở của y, vào ban ngày. Cũng may cho y chớ không thì trực thăng đã cho y về chầu “già râu” từ khuya rồi!
              <bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2008 11:43:30 bởi lyenson >
              #7
                lyenson 06.07.2008 11:46:58 (permalink)
                Phần 7 :
                Đường Giây 1-C (Núi Mo-So: Tora Bora Việt Nam, quân y viện của Nguyễn Tấn Dũng)
                :

                Trong thời kỳ ở Saigon lo đảo chánh hơn lo đánh giặc, toàn bộ vùng Hà Tiên - Rạch Giá, phía quốc gia chỉ còn giữ được những cái lõm: Hà Tiên, Kiên Lương, Vàm Rầy, Tri Tôn (thuộc xã Tín Đạo), Sóc Soài, Rạch Giá… Vùng nào ở chết vùng đó, đường qua lại với nhau rất khó khăn. Từ nhà máy Kiên Lương đi Saigon và ngược lại, có máy bay mỗi tuần ba lần của hãng ximăng. Hà Tiên đi Rạch Giá thì dùng tàu đánh cá hoặc tàu biển. Chỉ có trực thăng là phương tiện tiện lợi nhất, nhưng phải xin quá giang bên Biệt Khu 44.



                Toàn bộ vùng Kiên Lương, ngoại trừ khu vực nhà máy, chi khu và quận, đóng gần nhau thì chưa bị Việt Cộng chiếm đóng, còn toàn bộ khu vực chung quanh như Chùa Hang, hòn Phụ Tử, Hòn Chông, (nơi nầy ngày xưa là căn cứ của anh hùng Nguyễn Trung Trực), hoàn toàn bị Việt Cộng chiếm cứ. Linh mục Lương Công Đại, mới qua đời ở Mỹ, hồi ấy là linh mục họ đạo ấp Rạch Đùng, Hòn Chông, thuật lại những khó khăn của ông hồi ấy, khi xứ đạo của ông bị Việt Cộng chiếm. Việt Cộng tổ chức biểu tình đá đảo “Mỹ Ngụy Dương Văn Minh”, gọi ông lên phát biểu, ông cũng phải nói chung chung cho có nói, không thì Việt Cộng bắt tội. Sở dĩ Việt Cộng không bỏ tù ông vì Hòn Chông là một họ đạo lớn, trước 1945, ở đây có một nhà giòng tu lớn, giáo dân khá đông, nên cũng giống như họ đạo An Hòa (núi Trầu), Việt Cộng chưa bắt mấy ông linh mục đi tù.

                Trục lộ 80 A Rạch Giá – Hà Tiên là con đường song song với đường giây 1-C của Việt Cộng. Cộng Sản cần sự tiếp tế của dân chúng sống trên trục lộ nầy, nên chúng không dại gì chiếm cứ hoàn toàn các xã lỵ, quận lỵ nằm trên trục lộ. Nguồn lợi của đồng bào là đốn tràm, làm ruộng, bắt cá đồng. Những nguồn lợi nầy nằm trong vùng Việt Cộng kiểm soát. Đồng bào muốn khai thác những nguồn lợi ấy, phải làm giao liên hoặc tiếp tế cho Việt Cộng. Vào rừng đốn tràm, làm cá, làm ruộng, phải đóng thuế hay tiếp tế, gạo, bột ngọt, thuốc rê, thuốc tây, v.v… cho chúng. Tiêu diệt hết những cái lõm dân chúng theo trục lộ, các xã, các ấp thì Việt Cộng mất đi nguồn tiếp tế rất cần thiết. Về phía chính quyền quốc gia cũng theo dõi, bắt bớ những ai có hoạt động liên hệ tới Việt Cộng. Đúng là một cổ hai tròng. Trong cuộc sống nghèo khổ, kinh tế không phát triển, cuộc sống cơ cực, đời sống dân chúng khó khăn biết chừng nào!
                Do tình hình co cụm của phía quốc gia như thế, Việt Cộng dời quân y viện của chúng từ trong rừng tràm về núi Mo-So. Rừng tràm bốn mùa ngập nước, khí hậu ẩm thấp, tiếp tế khó khăn nên đặt quân y viện ở núi Mo-So tương đối tốt hơn nhiều.

                Núi Mo-So nằm kế cận quận lỵ Kiên Lương, khoảng giữa quận lỵ và Hòn Chông, cách quận lỵ khoảng gần 10Km. Đó là một ngọn núi đá vôi trong hàng trăm ngọn núi đá vôi ở vùng nầy như núi Nai, núi Còm (hiện nhà máy ximăng Kiên Lương đang khai thác đá ở núi nầy), núi Trầu, v.v… Cạnh núi Mo-So, có một con kinh nhỏ, không rõ tên, nối liền với kinh Kiên Lương ra biển tới Hòn Chông. Về mùa nước nổi, kinh nầy có nước ngọt, Việt Cộng xử dụng được. Dùng nước mưa, với một số lượng đông người, không thế nào đủ. Hơn nữa, tới cuối mùa mưa, Việt Cộng vẫn còn có thể hứng nước mưa ở những thạch nhũ để dùng.

                Những núi đá vôi ở trên thường có nhiều hang động. Thời chiến tranh 1945-54, Việt Cộng đặt công binh xưởng trong những cái hang ở núi Trầu. Trong cuộc chiến tranh 1960-75, lực lượng quốc gia mạnh hơn, hoạt động hữu hiệu hơn, Việt Cộng không dám bén mảng tới núi Trầu. Nghĩa quân rào kẽm gai và gài lựu đạn tất cả những cửa hang để đề phòng Việt Cộng kéo vào ẩn núp trong những cái hang của núi đó.

                Núi Mo-So cũng nhiều hang động như vậy, hang nầy thông với hang kia, như hang chuột, mở ra nhiều cửa. Việt Cộng lập quân y viện của huyện đội Hà Tiên ở đây. Dĩ nhiên lúc đó Nguyễn Tấn Dũng chưa tới 18 tuổi, theo Việt Cộng đã mấy năm, không còn làm du kích mà lên được chức y tá hay y sĩ gì đó. Gọi là quân y viện nhưng nó có ra hồn gì đâu! Giường là những cái sạp làm bằng cây, bằng tre. Gặp chỗ hang hơi rộng thì để hai giường, chỗ hẹp thì chỉ có một giường. Tất cả không tới ba chục giường bệnh. Cũng có phòng mổ, khi mổ thì giăng mùng lên ngăn ruồi muỗi. Chỉ có bị thương nặng mới được đưa về đây, còn như bị thương nhẹ, cảm sốt, thương hàn thì điều trị tại chỗ, tại đơn vị của họ. Bác sĩ, y sĩ, y tá chỉ có mấy ngoe, tốt nghiệp “Viện Đại Học Y Khoa Cục R”, một tháng thành y tá, ba tháng thành y sĩ, lâu ngày lên bác sĩ. Giả như hồi ấy không phân chia vùng Quốc Gia với Cộng Sản, sự liên lạc dễ dàng thì quân y viện nầy sẽ được giấy khen hay thư cám ơn của hãng Tobia hay Vạn Thọ, là các hãng lo việc ma chay ở Saigon.

                Lực lượng quốc gia tấn công vào bệnh viện nầy nhiều lần để đuổi chúng đi nhưng không có kết quả. Địch phòng thủ trên núi đá, sau những tảng đá lớn, lại ở cái thế từ trên cao bắn xuống, rất chính xác. Lực lượng phía ta thì từ dưới đánh lên, quan sát địch đã khó, súng nhắm ngược lên khó trúng đích, quăng lựu đạn cũng khó khăn, chưa kể miểng đá văng xuống cũng dễ trúng đầu người ở dưới

                Đánh mãi không được, cố vấn Mỹ của chi khu bàn thảo và đề nghị kế hoạch.
                Vì hồi ấy có lẽ cô Dương Nguyệt Ánh mới sinh, nên chưa có loại bom cô sản xuất để đánh bọn Taliban ở núi Tora Bora bên Afghanistan. Núi Mo-So không lớn như Tora Bora, nhưng địa thế cũng giống như thế nên không có cách chi đánh đuổi Việt Cộng ra khỏi núi. Bấy giờ cố vấn Mỹ thấy Việt Nam thiếu điều kiện nên đứng ra lo việc tấn công Cộng Sản ở Mo-So. Chiến thuật của Mỹ cũng chẳng có gì mới mẻ, chỉ là dùng hỏa công như trong thời Tam Quốc bên Tàu vậy. Khác một điều, hỏa công ngày xưa là dùng tre, lá, cây, củi, v.v… Bây giờ thì dùng xăng. Mỹ cho máy bay Chinook chở đến phi trường An Bình của nhà máy ximăng Kiên Lương, sát bên cạnh trụ sở quận hàng mấy trăm phuy xăng. Xong, Mỹ cho trực thăng dùng lưới mỗi lần câu khoảng 10 phuy xăng, bay tới trên đầu núi Mo-So thì thả cho tất cả các phuy xăng rơi xuống. Khi các phuy xăng vở bung ra, tràn xuống các cửa hang; một trực thăng khác phóng hỏa tiển tới, xăng cháy bùng lên. Mỹ cứ liên tiếp một ngày đánh hỏa công những mấy bận như vậy, riết rồi Việt Cộng không còn ở trong hang được nữa. Ban ngày thì lửa cháy rần rần ngoài cửa, có khi xăng chảy lan vào cháy ở phía trong, khói lên mù mịt. Đêm tối mới dám ra khỏi hang, không biết lính phe ta núp ở đâu để tránh, không ít lần bị phục kích, bị giết, bị thương. Cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng theo quân y viện trốn khỏi núi Mo-So.

                Sau nhiều lần quan sát, ban ngày dùng ống nhòm, ban đêm dùng hồng ngoại tuyến, chẳng thấy “anh Việt Cộng” nào nữa. Cả Nguyễn Tấn Dũng cũng “tam thập lục kế” rồi. Chúng đã trốn đi, chi khu bèn cho hai trung đội nghĩa quân tiến vào, chiếm lại núi Mo-So, bít hết các cửa hang, chỉ chừa một cửa phía ngó ra chi khu, cho một trung đội nghĩa quân đóng ở đấy. Từ đó cho đến ngày “đứt phim”, Việt Cộng không dám quay trở lại núi Mo-So nữa.

                Suốt thời gian Mỹ dùng xăng để tấn công núi Mo-So, hàng mấy trăm phuy xăng để trong phi trường An-Bình. Lính Mỹ canh gác cũng dễ tính nên phía ta có mấy anh cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát bèn lân la làm quen với mấy chú GI canh giữ kho xăng, biếu cho mấy chú GI ít quà ăn vặt, ít chai Coca ướp đá, v.v… Thế là mấy chú GI làm lơ cho mỗi người lăn một vài phuy xăng đem bán cho cây xăng ông Chín Vĩnh. Hễ khi trời tối, mấy thầy chú vào phi trường lăn phuy xăng ra bán. Nhờ vậy nên mấy chú có tiền may quần áo mới. Tiếng phuy xăng lăn trên đường nhựa rầm rầm ai cũng biết. Dân chúng biết vậy rồi thấy mấy thầy chú mặc quần áo mới, nên gọi đùa là quần áo “Li-Phăng”, nghe tương tự như vải Nilfrank bán ở chợ vậy. Tuy nhiên, “Li-Phăng” ở đây chẳng có nghĩa Tây Tàu gì cả. Li-Phăng nói lái là “lăng phuy”. Nhờ lăn mấy phuy xăng mà có tiền may quần áo mới mặc chơi.
                #8
                  lyenson 06.07.2008 11:51:12 (permalink)
                  Phần 8 :
                  Đường Giây 1-C (Ngưu Tầm Ngưu, Mã Tầm Mã) :



                  Mới sáng sớm, thiếu úy Sơn, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Hòa gọi máy truyền tin cho đại úy Phong, chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận:
                  - “Đại úy, tối hôm qua Việt Cộng lẻn về bắn chết ông Năm Trầu.”
                  - “Năm Trầu là ông nào?” Phong hỏi.
                  - “Đại úy không biết đâu! Ông già ở ấp kinh 1, bên kia kinh Hà Tiên.” Sơn trả lời.
                  - “Sao biết Việt Cộng giết ông ta?” Phong hỏi.
                  - “Dân họ nói vậy!” Sơn trả lời.
                  - “Dân nói thì ba hồi trúng, ba hồi trật. Phải xem lại. Việt Cộng có để lại dấu tích gì không? Có để lại bản án không?” Phong hỏi.
                  - “Không” Sơn trả lời.
                  - “Ông Năm bị giết bằng gì?” Phong lại hỏi.
                  - “Súng các-bin. Năm phát súng các-bin”. Sơn trả lời, chắc chắn.
                  - “Sao biết súng các-bin.” Phong hỏi.
                  - “Còn lại năm vỏ đạn các-bin, rớt ở phía ngoài cửa sổ.” Sơn trả lời, rõ ràng.
                  - “Vậy không xong rồi. Không phải Việt Cộng giết đâu! Theo lời khai của con Vân, con nhỏ mới chiêu hồi, trong mật khu Việt Cộng không dùng các-bin. Chúng chỉ có súng M-16 và AK. Ông lập biên bản, lấy lời khai thân nhân rồi vẽ hiện trường, xong về đây gặp tui.” Phong dặn.
                  Vậy rồi Sơn lại ra nhà ông Năm Trầu, làm đúng bài bản như đã học ở học viện, cho mời y tế khám nghiệm tử thi. Cố làm xong sớm để gia đình đem chôn.
                  Theo phong tục ở đây, nhà nào khá giả một chút thì đám để đôi ba ngày, bà con đến viếng, cúng quảy, ăn nhậu, có khi còn đàn hát. Nhà nghèo, sáng chết, chiều chôn, chẳng để lâu bao giờ.
                  Trưa hôm đó, Phong họp với thiếu úy Sơn, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp và thiếu úy Kiệt, trưởng ngành Cảnh Sát Đặc Biệt quận. Phong nói:
                  - “Tui không tin Việt Cộng giết. Lý do tại sao thì tui đã nói với mấy ông rồi. Việt Cộng giết thì khỏi mất công nhiều. Còn như trường hợp nầy, phải tìm cho ra thủ phạm. Việc phức tạp, phải nhờ bên Cảnh Sát Đặc Biệt. Bên tư pháp vừa thiếu người vừa thiếu chuyên môn. Thiếu úy Kiệt đồng ý không?”
                  - “Đại úy ra lệnh, tui thi hành.” Thiếu úy Kiệt nói.
                  Phong cười:
                  - “Kiệt nhớ phải nhờ mấy ông thổ công: Bảy Hùng, Sáu Tài, Năm Hưng và nhứt là Năm Hùng, họ phải góp tay. Năm Hùng là thổ công ở xứ nầy, tham gia chính quyền từ trưởng ấp lên hội viên cảnh sát xã, tới bây giờ là thượng sĩ. Ông ấy kinh nghiệm lắm.”
                  Bốn người Phong mới nhắc tên, được gọi từ phòng cảnh sát đặc biệt qua tham gia buổi họp. Phong hỏi:
                  - “Ai có súng các-bin? Ông Năm Trầu bị giết bằng súng các-bin.”
                  Kiệt hỏi:
                  - “Sơn báo cáo bị Việt Cộng giết mà?”
                  - “Tui nghe dân chúng người ta nói vậy. Có lẽ không phải.” Sơn trả lời, thật thà.
                  Phong giải thích:
                  - “Không phải đâu. Thường Việt Cộng giết có để lại bản án. Tụi nó cũng không có các-bin, chỉ có AK và M-16 mà thôi. Năm Hưng nhớ lời khai con nhỏ mới hồi chánh không?”
                  Năm Hưng, thượng sĩ, trưởng ban điều tra, cười nói:
                  - “Đại úy nói đúng. Con Vân khai Việt Cộng trong mật khu không có các-bin. Thời Việt Minh, ông già tôi bị chúng nó giết cũng có ghim một bản án nơi ngực áo.”
                  Phong nhắc:
                  - “Ông Ba Hên cũng có một bản án ghim nơi đầu.”
                  Mao Thạch Hên, tên thường gọi là Ba Hên, người Tàu lai, cha là chủ điền thời Pháp thuộc. Những năm Việt Minh đánh Tây, họ giết ông ta, còn lại Ba Hên và người chị, có quán chạp phô ở gần chợ Tròn. Bà chị có gia đình, có chồng con. Riêng Ba Hên vẫn độc thân từ trẻ tới giờ, ngày ngày đi làm đồng, đốn tràm, giăng câu, đặt lợp.... Vì thù cha, Ba Hên làm mật báo viên cho Quốc Gia. Việt Cộng biết, giết Ba Hên bằng dao đốn tràm, rồi bêu đầu ở ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến. Việt Cộng ghim vào tóc Ba Hên một bản án làm tay sai cho Mỹ Ngụy, chống phá Cách Mạng. Ba ngày sau, bà chị Ba Hên mới dám vào rừng tràm lấy xác và đầu em đem về chôn. Dân chúng ai ai cũng hoảng kinh việc nầy.
                  Phong lại hỏi:
                  - “Ở đây, ai có súng các-bin?”
                  Năm Hùng đáp:
                  - “Chỉ có Nhân Dân Tự Vệ và cán bộ Xây Dựng Nông Thôn có súng các-bin.”
                  - “Trong hai số đó, nghi ngờ bên phía Nhân Dân Tự Vệ nhiều hơn. Điều tra bên phía Nhân Dân Tự Vệ trước, xem ai có súng các-bin. Người có súng đêm qua phải ở nhà. Nếu nó đi gác, cũng khó lẻn về giết Năm Trầu rồi đi gác lại. Dễ bị nghi.”
                  Năm Hùng lại nêu ý kiến:
                  - “Nếu điều tra, phải điều tra Nhân Dân Tự Vệ cả hai xã An Hòa và An Bình. Nhà Năm Trầu ở Kinh 1, xã An Hòa, nhưng ấp nầy giáp ranh ấp Ngã Ba, xã An Bình. Dân chúng họ biết nhau, điểm tập trung, canh gác. Nhân Dân Tự Vệ An Bình cũng có thể qua giết Năm Trầu được vậy.”
                  - “Có lý.” Kiệt nói. “Về cả hai xã, đặc biệt ấp Ngã Ba và Kinh 1, điều tra xem ai có súng các-bin, từ đó phăng ra.”
                  - “Nhà Năm Trầu gồm những ai?” Năm Hưng hỏi.
                  Sơn đưa tâp hồ sơ mới đánh máy xong, nói:
                  - “Tui lấy lời khai ba người. Vợ Năm Trầu, Năm Mà là em vợ Năm Trầu với con Hạnh, con gái lớn Năm Trầu.”
                  - “Con Hạnh nầy hôm trước chú mầy rủ đi Rạch Giá phải không?” Phong quay qua hỏi Sơn, cười.
                  - “Đâu có đại úy.” Sơn cải chánh. “Bữa đó ra mắt đảng Dân Chủ Kiên Giang. Ai có vô đảng thì tham gia. Dân trong đó đi Rạch Giá đông lắm, con gái thì có cả chục đứa. Nó cũng đi. Còn tui đi là vì nhiệm vụ phó xã trưởng an ninh (1) của tui.”
                  - “Họ khai sao?” Phong hỏi.
                  - “Họ cũng nói là Việt Cộng giết, nhứt là Năm Mà, thằng cha nầy nói chắc vậy.”
                  - “Nó nói chắc? Thằng nầy đáng nghi.” Phong nói. “Tại sao nó ở đây, vợ con ở đâu? Nó làm nghề gì?”
                  Sơn giải thích:
                  - “Thằng nầy cũng như vợ Năm Trầu, quê ở Sadec. Nó qua đây ở với anh rể để trốn quân dịch.”
                  Phong nói, giọng gay gắt:
                  - “Vậy mà ông cho nó ở được? Không sợ tội “tán trợ bất phục tòng?”
                  - “Không” Sơn nói. “Nó làm căn cước ngoài tuổi quân dịch. Nghe nói chạy đâu bốn chục ngàn. Tui biết nhưng rút giây động rừng, sợ đụng mấy ông ở tỉnh, nhất là ông phó Thao, người ký căn cước.”
                  - “Vậy nó làm gì?” giọng Phong vẫn chưa hết gay gắt.
                  - “Nó làm rẩy cho ông Năm Trầu. Ông Năm khá giả lên cũng là nhờ em vợ. Thằng nầy chưa có vợ con chi cả.”
                  Kiệt hỏi:
                  - “Thằng nầy có vào Nhân Dân Tự Vệ không? Nó có súng không?’
                  Sơn trả lời, giọng có vẻ mệt mỏi vì phải trả lời nhiều câu hỏi:
                  - “Không. Nó chạy bên xã Long, khỏi vô Nhân Dân Tự Vệ, khỏi canh gác chi cả. Hình như nó khai là đau bệnh mắt, không thức đêm được. Tui cũng không để ý.”
                  - “Thôi, được rồi. Bây giờ thiếu úy Kiệt chỉ huy tổng quát nghe! Sơn làm phụ tá. Mọi việc biết cả rồi đó. Đó là những đầu mối. Cứ theo đó mà lần. Chắc rồi cũng ra.”
                  Rồi Phong kết thúc buổi họp bằng câu nói đùa, theo kiểu ở quân trường: “Tan hàng cố gắng!”
                  Hai ngày sau, thiếu úy Kiệt đề nghị Phong cho mở cuộc họp gồm những thành phần như hôm trước, có thêm thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An bình, sơ lược kết quả.
                  Thiếu úy Kiệt trưng ra khẩu các-bin tình nghi là đã được dùng để giết ông Năm Trầu. Theo xét nghiệm của thiếu úy Kiệt, nòng súng còn khói, nghĩa là súng mới dùng, chưa kịp chùi nòng. Súng của Nguyễn Trường, 17 tuổi, Nhân Dân Tự Vệ, toán 3 xã An Bình. Thiếu úy Kiệt cũng đã lấy lời khai của Trường. Đêm ông Năm Trầu bị giết, Trường tới phiên ở nhà, khỏi đi gác. Nhưng đêm đó, Trường đi nhậu suốt sáng, không đi đâu xa chiếu nhậu ngoài việc tiểu tiện. Lời khai của Trường được mấy người cùng nhậu xác nhận là đúng. Kiệt nói:
                  - “Tui nghi đúng là súng của thằng nầy, nhưng người khác dùng để bắn Năm Trầu.”
                  - “Người khác là ai?” Phong hỏi.
                  - “Người khác đó là Năm Mà, em vợ Năm Trầu.” Thiếu úy Kiệt giải thích
                  - “Vậy là em vợ giết anh rể? Có chắc không?” Phong hỏi, e ngại.
                  Năm Hưng nói:
                  - “Đúng đó đại úy. Tui nghi vậy.”
                  - “Nhưng vì sao em vợ giết anh rể, ghê gớm vậy. Làm sao Năm Mà lấy được súng thằng Trường. Phải có quen biết nhau nên thằng Trường cho Năm Mà mượn súng chớ.”
                  Năm Hùng nói:
                  - “Không có mượn chi cả. Năm Mà đang đêm lẻn vào nhà thằng Trường lấy súng.”
                  - “Trong nhà không ai biết?” Phong lại hỏi.
                  - “Nhà thằng Trường chỉ có hai chị em. Nó đi nhậu, chị nó ở nhà. Khi đi nhậu, thằng Trường mắc súng lên kèo. Sáng về, súng dựng vào vách nhà. Thằng Trường khai vậy.” Năm Hùng giải thích thêm.
                  Phong hỏi:
                  - “Mấy ông có thấy có liên hệ gì giữa chị thằng Trường với Năm Mà không?”
                  Năm Hùng nói, vẻ hào hứng:
                  - “Có chớ sao không? Con nhỏ nầy là bồ thằng Năm Mà. Vài đêm nó lẻn tới ngủ với con nhỏ nầy. Nên nó lấy súng thằng Trường đâu có gì khó mà thằng Trường chẳng biết mẹ gì cả.”
                  - “Điều tra con nầy chưa?” Phong hỏi.
                  - “Chưa!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Mới điều tra lòng vòng, sợ bị động, thằng Năm Mà dọt mất là mất công toi. Bây giờ mình bắt con nhỏ điều tra, đồng thời theo dõi thằng Năm Mà, canh nó trốn. Khai thác con nhỏ, đủ yếu tố là mình bắt ngay Năm Mà. Đại úy chịu không?”
                  - “Tuyệt diệu!” Phong cười.
                  Thiếu úy Bạch về ngay xã mình, “nhẹ nhàng” mời con chị thằng Trường ra quận, làm như đi chơi. Thiếu úy Bạch và hai nhân viên, đi phía sau, xa xa, canh chừng.
                  Con nhỏ tên là Nguyệt. Nguyệt khai:
                  - “Em với ông Năm yêu nhau nhưng chưa cưới. Ổng ấy hẹn chờ kiếm tiền rồi cưới.”
                  - “Ông Năm có thiệt tình không?” Phong hỏi.
                  - “Chắc ổng không thiệt tình đâu! Ổng chỉ lợi dụng em mà thôi. Nếu thiệt tình thì ổng tính chuyện vào trỏng làm chi?”
                  - “Vào trỏng? Theo Việt Cộng?” Thiếu úy Kiệt hỏi.
                  - “Ổng nói cái ông trưởng ban ở tỉnh làm căn cước lớn tuổi cho ổng bị bắt rồi. Việc đổ bể, thế nào ổng cũng bị Cảnh Sát bắt thôi. Ông Tư Dân, ngoài Hòn Ngang, làm căn cước lớn tuổi cùng một lần với ông, bị Cảnh Sát bắt rồi.”
                  Phong hỏi:
                  - “Sao ổng chưa đi? Cô có biết bao giờ ông ta sẽ trốn vào trỏng không?”
                  - “Ổng đang chẩn (chuẩn) bị. Mấy lâu nay ông đòi anh rể ông đưa tiền. Mấy chục công rẩy của Ông Năm Trầu là do ổng khai, trồng trọt. Nếu ổng có tiền, ông sẽ cưới tui, với việc làm căn cước lớn tuổi có đổ bể, ổng cũng có tiền chi cho Cảnh Sát. Ổng chẳng hề hấn gì đâu!”
                  - “Nếu không có tiền thì ông dọt vô trỏng.” Phong hỏi.
                  - “Có vô trỏng, cũng phải có tiền ông mới dọt. Ổng không dại bỏ công không! Ông đang tính bán rẻ mấy chục công rẩy cho mấy người cùng xóm.”
                  Phong hỏi:
                  - “Ông ta có thường hay tới với cô không?”
                  - “Cứ vài ba đêm ổng tới ngủ lại. Tui đuổi, ông cũng không về. Tới gần sáng mới về.”
                  Thượng sĩ Hưng hỏi:
                  - “Bữa Năm Trầu chết. Ông ta có tới không?”
                  - “Có!” Nguyệt trả lời.
                  - “Ổng có ngủ lại không?” Năm Hưng vừa cười ranh mảnh vừa hỏi.
                  - “Không!” Nguyệt nói, chắc chắn, tỉnh táo.
                  - “Tại sao không ngủ lại, ngủ một đêm cho đời thêm vui.” Năm Hưng vừa cười vừa hỏi.
                  - “Đâu biết?” Nguyệt trả lời, vẻ mắc cở.
                  - “Không ngủ lại, sao biết là ông ta?” Năm Hưng hỏi tiếp.
                  - “Cần chi hỏi. Nghe tiếng động biết ngay ổng.” Nguyệt trả lời.
                  - “Ổng tới một lần thôi?” Năm Hưng lại hỏi.
                  - “Không, hai lần.” Nguyệt trả lời.
                  - “Mỗi lần cách nhau bao lâu?” Năm Hưng lại hỏi.
                  - “Chừng một tiếng.” Nguyệt nói.
                  Phong cắt ngang:
                  - “Thôi, khỏi hỏi nữa, để sau. Vậy là rõ: một lần lấy súng, một lần trả súng. Cho bắt Năm Mà đi!”
                  Vậy là thiếu úy Kiệt, thiếu úy Sơn cùng nhân viên, liên lạc với nhóm đang canh chừng Năm Mà ở ngoài. Một lúc, thiếu úy Kiệt gọi máy về cho Phong:
                  - “Kẹt rồi đại úy. Không bắt được.”
                  Phong hốt hoảng:
                  - “Nó trốn mất rồi à? Chết cha chưa?”
                  Tiếng thiếu úy Kiệt trong máy, với giọng đùa:
                  - “Chưa chết! Chưa chết. Thằng chả còn đây nhưng đang nhậu với ông Phó Quận, làm sao bắt?”
                  - “Để đó tui. Mấy ông cứ sẵn sàng đi.” Phong nói xong lên xe Jeep, phóng ngay ra quán ông Phó Quận đang nhậu. Thấy xe Phong, Kiệt đi tới, miệng cười cười như cái tật anh ta thường vậy. Phong nói:
                  - “Ông sai đứa nào vô nói với ông Phó Quận, tui chờ ông ngoài nầy có chuyện khẩn cấp. Hễ ông Phó rời tiệm, ông thộp ngay thằng chả, đem về.
                  Khi ông Phó Quận lên xe ngồi với Phong thì Năm Mà bị dẫn ra xe của thiếu úy Kiệt. Phong nói với Phó quận:
                  - “Tụi nó bắt thằng Năm Mà nhưng kẹt ông đang nhậu với nó. Thằng đó vừa giết anh rể nó.”
                  - “Chắc không?” Ông Phó quận hỏi.
                  Phong cưòi:
                  - “Ông Phó không tin tui?”
                  - “Xin lỗi. Tôi không rõ chuyện. Thằng chả mời tôi nhậu để xin tôi ký giấy bán mấy công đất do ông anh rể đứng tên.”
                  - “Nó muốn kiếm tiền để dọt vô trỏng.” Phong nói, rồi hỏi tiếp:
                  - “Ông có biết tại sao nó giết anh rể không?”
                  - “Không.” Ông Phó Quận trả lời.
                  - “Cũng tiền mà thôi. Nếu kiếm được vố lớn, nó ở lại lấy vợ. Hận ông anh rể không cho tiền, không cưới được vợ, bèn cho ông mấy phát súng xong đời. Vét một ít tiền vô trong bưng mà sống.”
                  Ông Phó Quận hỏi:
                  - “Tại sao nó không trốn về Sadec?”
                  - “Về để chết à? Ở đây không ai biết nó, có cái giấy căn cước lớn tuổi, Cảnh Sát khỏi bắt đi quân dịch là xong. Về bên đó, người ta biết ngọn ngành nó, càng chết sớm.”
                  Ông Phó quận thở dài:
                  - “Đời ghê thật. Anh em giết nhau vì tiền.” Rồi nói tiếp: “Ông làm sao để nó đừng có khai dính dáng gì tới tôi nghe!?
                  - “Yên tâm! Yên tâm. Ông Phó đã ký giấy tờ gì cho nó đâu! Tui phát hiện sớm cũng khỏe cho ông Phó.”
                  Một lúc, Phong thở dài nói với ông Phó Quận:
                  - “Cách mạng tưởng gì hay hơn. Té ra cũng rứa. Mấy tháng nay, mùa khô, tụi nó thâu thuế, lấy tiền dân dữ lắm. Mình chẳng làm chi được.”
                  Ông Phó Quận nhận xét:
                  - “Tụi trong đó vì tiền, thằng nầy cũng vì tiền mà muốn dọt vào trong đó. Đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.”

                  (1) - Theo truyền thống, làng xã Việt Nam mang tính cách tự trị hoặc bán tự trị, lý trưởng là do ban hội tề hoặc hương chức trong làng bầu ra. Chính quyền trung ương, xưa là vua, chỉ cắt cử quan cai trị đền quận, huyện mà thôi, không xâm phạm đến việc cai trị trong làng.
                  Việc ông Thiệu chọn trưởng cuộc cảnh sát (viên chức nhà nước) làm phó xã trưởng an ninh là vi phạm tính cách tự trị của làng xã Việt Nam. Việc nầy gây nhiều bất lợi, nhất là mâu thuẫn giữa chính quyền trung ương và làng xã. Tuy nhiên, qua vai trò trưởng cuộc cảnh sát, việc thắng cử của ông Thiệu hay phe nhóm ông chắc chắn hơn, dù có vi phạm tới tính truyền thống làng xã Việt Nam.
                  Cộng Sản lập cơ sở đảng (Chi ủy) tới tận làng xã. Chi ủy nhận lệnh từ trung ương, thành ra việc Việt Cộng làm, còn tệ hơn ông Thiệu đã làm. Ông Thiệu chỉ có trưởng cuộc cảnh sát kiêm phó xã trưởng an ninh là người của ông. Cộng Sản thì có toàn bộ, chủ tịch xã, hội đồng nhân dân xã, v.v… bất cứ người nào chức chưởng lớn bé đều là người do chi ủy chọn, tức là người của trung ương. Tính cách tự trị của làng xã hoàn toàn bị triệt tiêu.
                  #9
                    lyenson 06.07.2008 11:56:56 (permalink)
                    Phần 9 :
                    Giặc Mùa :

                    [Năm 1787, Nguyễn Ánh (sử gọi là Nguyễn Vương) từ Xiêm La về chiếm đất Gia Định (tên gọi chung miền Nam hồi bấy giờ), củng cố việc cai trị rồi cho quân đánh phá đất Qui Nhơn là căn cứ địa nhà Tây Sơn. Đích thân Nguyễn Ánh ra đánh Qui Nhơn ba lần, kéo dài khoảng chục năm. Tuy nhiên, cứ mỗi năm, Nguyễn Ánh cho binh tướng giong thuyền ra đánh phá, quấy rối nhà Tây Sơn vài bận.]

                    Việc quân lính Nguyễn Ánh ra đánh miền Trung là phải dùng thuyền, nên phải chờ tới gió mùa. Về mùa đông, gió mùa đông bắc (gọi là gió Bấc) thổi mạnh, thường có gió lớn, có khi có bão, lại rét buốt thì binh lính được nghỉ ngơi. Chờ khi hè tới, có gió mùa tây nam thổi tới. Gió nầy gọi là gió Nồm, hay còn gọi là gió Nam (“May được nồm nam cơn gió thổi” - Con cuốc vào hè - Nguyễn Khuyến), thuận buồm xuôi gió, quân chúa Nguyễn ra đánh phá vùng Qui Nhơn. Vì chờ có gió mùa thổi mới đem quân đánh nhau, nên sử gọi là giặc mùa.

                    Người dân thấy cảnh anh em nhà Tây Sơn tranh giành nhau, cũng ngán. Vã lại xứ Đằng Trong là đất đai chúa Nguyễn, do các chúa xây dựng nên, nên lòng người còn nhớ ơn chúa Nguyễn lắm. Sau khi bị nhà Tây Sơn đánh đuổi năm 1775, chúa Nguyễn chạy vào Nam, người dân vẫn mong có ngày chúa Nguyễn lại trở về, nên hồi đó có câu ca dao:

                    Lạy trời cho nổi gió Nồm
                    Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra
                    .

                    Đó là nói chuyện giặc mùa ngày xưa.

                    Thời kỳ tôi ở Rạch Giá - Kiên Giang, cũng có giặc hai bên Quốc Gia - Cộng Sản đánh nhau theo mùa, tôi cũng gọi là Giặc Mùa.

                    Về Kiên Giang được ít năm, theo dõi tình hình Việt Cộng hoạt động ở đây, tôi nói với nhân viên:

                    Mình đi đánh giặc ở đây cũng là giặc mùa. Tới mùa cày, chúng nó (tức là Việt Cộng) thua thuế máy cày; tới mùa lúa (tức mùa gặt), chúng nó thu thuế nông nghiệp. Cứ mấy chỗ có máy cày đang cày, mấy cái cà tang (chỗ gom lúa) mà rình tụi kinh tài, thế nào cũng trúng mục tiêu. Chắc ăn.”

                    Kiên Giang đất rộng người thưa, tình hình hơi yên ổn một chút, mặc sức làm ruộng, dân chúng tương đối sung túc. Việc làm ruộng ở đây cũng theo mùa, mỗi năm có hai mùa: Mùa cày và mùa gặt, thường gọi là mùa lúa. Tụi Việt Cộng cũng theo đó mà thu thuế. Chúng nó thu “ác” lắm, dân tình nhiều khi không khỏi ức lòng, “chảy nước mắt”.
                    Ở vùng Cái Sắn, bên phía kinh Thạnh Tây (dinh điền Cái Sắn phần lớn nằm dọc theo kinh Thạnh Đông. Kinh nầy chạy theo trục lộ Rạch Giá – Hà Tiên. Phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, cũng có một con kinh song song với kinh Thạnh Động, tên là kinh Thạnh Tây. Tới mùa lúa, sau khi gặt xong, lúa gom lại thành vòng tròn rồi cho xe máy cày chạy cán lên lúa, hột lúa rời ra. Sau khi xóc rơm quăng đi, lúa gom hàng đống, có đống cao như ngọn đồi, người ta gọi là cà tang lúa. Cà tang, có lẽ là tiếng Miên.
                    Đêm khuya, Việt Cọng từ phía Thạnh Tây, Cờ Đỏ tìm ra mấy cà tang lúa bắt chủ ruộng đóng thuế nông nghiệp. Không ai muốn yên thân mà không đóng thuế cho Việt Cộng được. Không đóng thuế thì bị chúng bắt, bị tù, có tiền chuộc mới được tha. Khi tôi về vùng nầy khoảng từ cuối 1972 đến khi “đứt phim”, chưa thấy ai bị giết, có lẽ kinh nghiệm sống cho người dân biết phận mình là phải đóng thuế, chẳng ai tránh được.

                    Bên phía đồng Tân Hội (xã Tân Hội, quận Kiên Tân) thì dân làm ruộng bên phía đồng Huệ Đức (quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên). Đồng Huệ Đức sát xã Tân Hội, tình cảnh dân chúng cũng vậy. Chuyện bên nầy, tôi sẽ kể sau, khi tôi viết về xã Tân Hội. Độc giả muốn đọc xin chờ bài sau.

                    Nói chung, toàn bộ tỉnh Kiên Giang - tỉnh lúa gạo và cá, tình cảnh giống nhau. Tư Trạng, quê ở Vàm Rầy, xã Đức Phương, quận Kiên Lương, có kể nhiều chuyện cho tôi nghe. Trước hết là chuyện Tư Trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm.

                    Nhà Tư Trạng kế nhà chị Tư Nết. (tên Tây là Annette). Dân chúng không rành tiếng Tây, gọi tắt là chị Tư Nết, vì “chị” ấy thứ Tư, con ông chủ Ri (tên Tây là Henry – dân chúng cũng gọi tắt). Nhà ông chủ Ri ở Vàm Rầy đã bị phá mất, chỉ còn cái nền gạch và mấy ngôi mộ trắng nằm gần đó. Hằng năm có người chăm sóc, sơn quét đàng hoàng. Hồi nhỏ, Tư Trạng cắp sách đi học với chị Tư Nết trong ấp nên hai người có quen biết nhau. Tò mò về gia đình vợ ông đại tướng thủ tướng, tôi hỏi chuyện Tư Trạng nhiều lần, khi anh ta bị bắt giam vì tội làm giao liên cho Việt Cộng.

                    Làm giao liên cho Việt Cộng?!

                    Nói nghe dữ dằn, to chuyện chớ có gì đâu, chẳng qua là sự việc như vầy: Thời Ngô Đình Diệm, Tư Trạng làm lính Bảo An, bị Việt Cộng bắn bị thương, què một tay. Về quê ở Vàm Rầy, Tư trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm. Dân vào rừng đốn tràm, về bán lại cho chủ vựa. Chủ vựa gom lại, chờ người đến mua chở lên Saigon để người ta đóng cừ làm nhà. Trong Nam người ta đóng cừ bằng tràm. Ngoài Trung, ngoài Bắc đóng cừ bằng tre. Tre cũng như tràm đóng xuống đất, cả trăm năm không mục, nhà khỏi bị lún.

                    Công việc đốn tràm, nói nghe thì dễ, nhưng khó khăn lắm. Mùa đông không ai đi đốn tràm, mưa gió cực khổ. Tới mùa hè mới đi đốn tràm nhiều. Cây tràm ở trong rừng tràm, ai có sức thì cứ vô trỏng mà đốn, chẳng cần phép tắc gì của phía quốc gia cả, xã cũng như quận, tỉnh. Chỉ lâu lâu, mấy thầy chú viên chức xã ấp, cảnh sát đi nhậu thì xin ông chủ vựa ít tiền mua mồi hay mua chai rượu trắng hay két bia; có khi họ cùng nhậu chung, vui vẻ cả làng. Chẳng thấy ai thắc mắc.

                    Về phía Việt Cộng mới khổ.
                    Trước hết là không cho đốn tràm. Chúng nó phổ biến câu:

                    Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ
                    Đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà


                    Chiến sĩ nói ở đây là Việt Cộng, du kích, hạ tầng cơ sở, xã đội, huyện đội, v.v… Bị chụp cho cái mũ “Rước Mỹ về nhà” là tội “phản cách mạng”, “Việt Gian bán nước”, chỉ có nước chết mà thôi.

                    Thực ra, Việt Cộng không cho đốn tràm là vì hai lý do:

                    Trước hết là chỗ tụi nó ẩn núp, di chuyển. Dân chúng đốn tràm làm nhiều chỗ rừng tràm thưa ra, Việt Cộng khó được chỗ ẩn núp, che dấu tốt. Thứ hai, đốn tràm mà không đóng thuế, thì bọn chúng mất quyền lợi. Khi chúng bắt được, một là tịch thu dao rựa, có khi bị tịch thu xuồng, bị cưa xuồng ra làm hai. Đây chỉ là thứ xuồng ba lá, chèo tay. Có khi chúng nó bắt dân đem vô rừng giam, vô mật khu, đã có người bị bắt đi, ba bốn năm không nghe tin tức gì. Chắc là xong đời rồi.

                    Nói về quyền lợi, không hẵn là “quyền lợi cách mạng” đâu mà nhiều khi chính là quyền lợi riêng của đám cán bộ, cơ sở hạ tầng. Chỉ có bà con thân nhân của chúng, chúng mới cho đốn tràm. Đốn tràm phải “đóng thuế cho cách mạng”, “góp phần đánh thắng Mỹ Ngụy” như chúng tuyên truyền, hoặc phải tiếp tế cho chúng. Hàng đem vào cho chúng là thuốc rê (cho du kích), thuốc điếu Ruby (cho cán bộ), bột ngọt, càphê, đường, muối, vải vóc, xà bông, khăn lau mặt, … Riêng phần chủ dựa (vựa) lâu lâu nhận được cái tin nhắn, hay cái thư viết tay, nhắc nhở phải “đóng thuế cho cách mạng”.

                    Cũng đôi ba lần, Tư Trạng đóng thuế cho chúng mà không báo cáo với phía quốc gia. Vậy Tư Trạng có tội, bị quốc gia bắt là ở điểm dó.

                    Nói chung, ai làm giao liên, đóng thuế, tiếp tế cho Việt Cộng đều bị quốc gia bắt cả, nếu họ không khai báo với chính quyền xã ấp. Dân quê thì đã dốt mà lại nhát gan, nghĩ là mình có đóng thuế, tiếp tế, quốc gia không biết thì thôi, ai lại “Lạy ông tui ở bụi nầy” cho thêm phần rắc rối, lôi thôi, nhiều chuyện, có khi ngồi tù lãng xẹt.


                    (Giao liên)

                    Dân đốn tràm, nhiều khi cũng ức tình vì tụi Việt Cộng bất công, nên lén lút báo cho quốc gia hay mấy đứa “có thân nhân theo Việt Cộng đốn tràm thả giàn, muốn bao nhiêu đốn bấy nhiêu, chở khẳm ghe, còn tụi tui phải đóng thuế từng cây tràm, sót một cây cũng không được với chúng, lại còn mấy thằng dê…”. “Dê thì tụi nó làm chi mày?” Nghe hỏi, cô gái mắc cở, ngó đi chỗ khác, cười.

                    Thằng Tư Sang mới tệ. Vợ nó ở thị trấn Hà Tiên, nó làm du kích ở đường giây 1-C, trên kinh Kháng Chiến. Con Hoa, con gái mới lớn, con ông Nô ở ấp Lung Lớn, cựu can phạm, đi đốn tràm trong rừng, bị nó đè ra hiếp dâm. Không cho nó hiếp, nó không cho đốn tràm. Vậy mà khi vợ nó vô rừng thăm, nó còn kể cho vợ nghe. Con vợ nổi tam bành, tới nhà con Hoa đánh ghen, chưởi cho con nhỏ một trận, khiến con Hoa mắc cở với hàng xóm, mấy ngày đóng quán càphê, không dám mở cửa bán, sợ chòm xóm người ta cười. Vợ chồng ông Nô cũng xấu mặt với dân trong ấp. Và lại còn sợ chính quyền quốc gia, sợ xã, ấp nữa. Họ biết có liên hệ với Việt Cộng, sẽ bỏ tù. Đã bị Việt Cộng hiếp dâm, lại còn sợ quốc gia bỏ tù! Còn cái khổ nào hơn cái khổ đó?!
                    Biết tụi nó tiếp tế cho Việt Cộng, nghĩa quân, thám báo chi khu, cảnh sát, có khi phối hợp, có khi làm ăn riêng, chận bắt.

                    Chuyện đâu có dễ. Năm, sáu giờ sáng, dân đã chèo xuồng vô đồng. Muốn bắt, lính tráng phải dậy từ hai, ba giờ, lặn lội vô trong kinh, chờ dân đi ngang, xem đúng mục tiêu mới hô dừng lại xét. Chưa kịp xét thì bọn tiếp tế đã thả hàng xuống nước, trôi mất, lại mất công toi. Giả như có bắt được thì họ khai là mang theo để dùng. Ra tới Ủy Ban An Ninh cũng tha mà thôi. Mọi việc rồi cũng như cũ, chán vô cùng. Nhưng không lý cứ để cho tiếp tế, dân không thấy kết quả, chẳng thèm báo cáo với xã ấp nữa. Việt Cộng ăn cho no, ngủ cho ngon, đủ thứ xàphê thuốc lá đã đời rồi cầm súng đi phục kích bắn phe ta?

                    Tư Trạng bị bắt vì có người khai y ra. Số là vì Việt Cộng “lập chiến công mừng sinh nhật bác Hồ” nên đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 nam 1974, huyện đội Hà Tiên tấn công xã Vàm Rầy, không chiếm xã vì xã nầy không có trụ sở. Không phá trụ sở xã thì chúng bèn phá trường học. Trường sơ cấp xã có ba lớp, bị B-40 bắn sập cả ba. Cuộc Cảnh Sát và Phân Chi Khu đóng chung trụ sở, thiếu úy Trực cùng thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc, hai người lảnh chung một quả bêta, cùng chết với nhau. Đại úy Danh Lol, trưởng ban 2 Chi Khu Kiên Lương, kéo trung đội nghĩa quân về đầu cầu Vàm Rầy cố thủ ba ngày, Việt Cộng không tiêu diệt được, bèn rút chạy khi bị một tiểu đoàn của trung đoàn 16 tới giải tỏa.

                    Sau cuộc chiến, nhiều người bị phe quốc gia bắt. Bắt người nầy, người nầy khi người kia, tùm lum. Tư Trạng cũng “dính chấu”.

                    Tư Trạng kể:

                    -“Hồi xưa tui làm lính mà khỏe. Bây giờ bị thương về làm dân khổ lắm ông ơi! Một cổ hai tròng. Muốn làm ăn thì phải đóng thuế, tiếp tế cho mấy chả ở trỏng. Đóng thuế, tiếp tế thì bị quốc gia bắt bỏ tù. Tiếp tế còn nhẹ tội. Đóng thuế như tui, tiền lớn, đâu dám khai với quốc gia, sợ bị tội nặng nên phải dấu. Tụi nó ở trỏng thâu thuế ác lắm, đâu có vừa chi.”

                    Ông nhớ con Sáu Lánh không? Tui làm chưa tới mười công ruộng mà cha con nó bắt đóng thuế nông nghiệp năm chục ngàn. Năm chục ngàn, đâu phải nhỏ, coi như hết 3 phần tư huê lợi rồi. Tui không chịu đóng, cha con nó giữ ghe tui lại ba ngày, lúa không phơi được, bị ẩm, hư hết. Khóc chảy nước mắt ông ơi! Cha con nó cùng xóm với tui, lạ chi nhau. Vậy mà theo mấy chả ở trong rồi làm khó dân, đòi cho được tiền, nói là tiền của cách mạng. Cách mạng chi? Biết nhau quá mà. Mặt mũi nào! Cuối cùng, tui phải chạy tiền cho cha con nó để đem ghe đem lúa về. Chuyến đó coi như lổ trắng tay.”

                    Sáu Lánh, Phan Thị Lánh là con gái Bảy Lơi, - Phan Văn Lơi -, trước kia nhà cũng ở Vàm Rầy. Khi Sáu Lánh 16 tuổi, mê cải lương, một tối thứ bảy, tới nhà Tư Sậm ở cuối xóm coi cải lương trên TV. Khuya về, bị con trai Tư Sậm đè ra hiếp dâm trong trường học. Cha là Bảy Lơi thưa kiện tới tòa án Kiên Giang nhưng không có kết quả, không được bồi thường gì hết, trong khi con trai Tư Sậm vẫn nhởn nhơ vui chơi. Nhà Tư Sậm, chủ bốn cái ghe đánh cá, có tiền lo lót xong đâu đó cả rồi nên bình chân như vại.

                    Tức mình, Sáu Lánh bỏ vô bưng theo Việt Cộng. Được ít lâu, thấy theo Việt Cộng có cơ khấm khá, vừa có tiền, vừa có quyền nên Sáu Lánh rủ cha cùng theo.
                    Cuối năm 1974, dân Vàm Rầy báo tin Bảy Lơi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, đang điều trị ở bệnh viện tỉnh Châu Đốc.

                    Uở, tại sao Bảy Lơi không về nằm bệnh viện của Nguyễn Tấn Dũng. Bảy Lơi chê Ba Dũng kém tay nghề giải phẩu hay Bảy Lơi chỉ là du kích, cán bộ kinh tài xã, không đủ “tiêu chuẩn” để điều trị tại bệnh viện huyện đội.

                    Phe quốc gia biết tin, nhưng đường sá xa xôi, đò giang cách trở, chẳng muốn qua Châu Đốc nắm đầu Bảy Lơi về trị tội. Dù có công khó đi xa bắt về, ra tới Ủy Ban An Ninh tỉnh, biện lý cũng tha nên cho chìm xuồng câu chuyện Bảy Lơi.

                    Nghĩ lại phe quốc gia cũng buồn cười. Dân của mình, theo Việt Cộng cũng chẳng có biện pháp chi. Việt Cộng bị thương thì lo chăm sóc, điều trị vết thương cho mau lành. Lành rồi, nó lại vô trỏng cầm súng đánh lại mình!

                    Cộng Sản thì “cách mạng triệt để”, phe ta thì ba lơi khơi. Nghĩ cho cùng, thua cũng phải!!!
                    #10
                      lyenson 06.07.2008 12:03:45 (permalink)
                      Phần 10 :
                      Chuyện Anh Năm Tu-Hú

                      Sau hiệp định Paris tháng Giêng năm 1973, tới mùa hè năm đó, tình hình an ninh khá hơn, nên việc làm ruộng phát triển. Vùng kinh Xà-Tón, còn gọi là kinh 1 Tri Tôn, kinh nầy nối từ Châu Đốc xuống kinh Rạch Giá-Hà Tiên rồi đổ ra biển là vùng hoang hóa. Vùng nầy xưa ruộng tới hàng ngàn mẫu, phần nhiều là ruộng của ông chủ Ry và thầy Ban. Hai ông nầy có đào kinh để làm ruộng, một kinh bên trái kinh Xà Tón tên là kinh Chủ Ry, bên phải là kinh Thầy Ban. Trên bản đồ quân sự, còn tên hai con kinh nầy. Ruộng bỏ hoang mấy chục năm chiến tranh, nay dân chúng, ai có khả năng thì cứ vào phát hoang, đốt đồng, trồng lúa. Ngoài vùng hoang hóa, một số vùng đất mới cũng được dân chúng khai hoang. Vùng làm ruộng kéo dài từ kinh Rạch Giá-Hà Tiên vô tới gần kinh Kháng Chiến mà thôi, nghĩa là gần tới ranh giới hai tỉnh Kiên Giang - Long Xuyên. Vùng dọc theo kinh Kháng Chiến, như tôi đã có lần trình bày, là đường giây 1-C của Việt Cộng nên Việt Cộng không cho dân vào, sợ bị lộ. Bề dài thì từ vùng Nam Thái Sơn vô gần tới núi Trầu, gần nhà máy ximăng Kiên Lương.

                      Toàn bộ đất đai vùng nầy tốt lắm, người ta gọi là vùng than bùn, nghĩa là do cây lá rừng chết biến thành than hay đất phù sa của sông Hậu đọng lại đây. Về mùa hè, có khi vì sét đánh hay hỏa hoạn, lửa cháy ngầm dưới đất, người ta đi trên mặt đất mà không biết gì cả. Bỗng tới chỗ mặt đất mỏng, sức nặng bước chân làm người ta sụp chân xuống, trong khi lửa đang cháy bên dưới, bị bỏng như không! Chuyện đã từng xảy ra, dân chúng từng có kinh nghiệm, không phải là chuyện bày đặt nghe cho thêm lạ lùng, hấp dẫn.

                      Hồi xưa, vùng đất mênh mông nầy, người ta cày ruộng bằng trâu. Ai có đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam hay đã xem cuốn phim cùng tên thì rõ. Theo dân Vàm Rầy kể lại, ông chủ Ry nuôi tới những hai trăm con trâu, vừa để cày ruộng cho ông, vừa cày thuê cho người khác.

                      Ngày nay, (1973) nông thôn miền Nam đã văn minh, không còn cày bằng trâu như hồi Pháp thuộc, mà dùng máy cày để cày ruộng.

                      Máy cày nầy hầu hết là loại nhập cảng: John Deer, Ford, Someca, Renault, v.v… Máy cày Ford, John Deer là nhiều nhứt, nông dân thấy loại nầy thích hợp với đồng ruộng ở đây, nhiều nơi còn sình lầy, máy cày dễ bị lún. John Deer là loại máy cày mạnh, khi cần người ta móc giây xích sắt vào hai bánh sau, vượt qua được các chỗ sình lầy một cách dễ dàng.

                      Không như vùng Tân Hội, nông dân địa phương tự sắm máy cày lấy, cày cho nhau. Ở đây, dân làm ruộng là từ các nơi khác tới, rất nhiều người ở thị xã Rạch Giá, Rạch Sỏi hay Hà Tiên, chớ nông dân Vàm Rầy (xã Đức Phương) thì nghèo lắm, tiền bạc đâu mà làm ruộng nỗi. Ai khá giả một chút như Tư Trạng, nhân vật tôi đã trình bày trong bài trước, làm năm bảy chục công, một trăm công là nhiều lắm. Phần đông những nông dân khác thì đi làm thuê như sạ lúa, làm cỏ hay gặt, v.v…

                      Ai muốn làm ruộng, cứ tới ngay ông quận xin giấy phép, chấm một vùng đất có tọa độ ngang dọc như thế nào đó, rồi vào trỏng mà làm ruộng. Việc xin giấy phép không có gì khó khăn. Đất là đất hoang, ruộng bị hoang hóa, ai giữ làm gì mà không cho dân làm ruộng. Việc xin giấy phép có trà nước gì không thì tôi không rõ. Tuy nhiên, việc xin làm ruộng, chỉ mới bắt đầu, chưa có hoa lợi gì, những người có quyền biết vậy nên hình như không làm khó khăn gì. Khi nào có gì thì, như nười ta thường nói: “kẻ ăn cơm, người ăn cháo”, còn bây giờ là mới bắt đầu, tiền ra thì có mà tiền vô thì chưa, giỏi lắm người ta biếu chai rươu mạnh hay chầu càphê. Vậy là xong thôi!

                      Tới mùa cày, cả vùng Kiên Giang đâu có nơi nào máy cày rảnh mà đi cày thuê. Máy cày đến cày thuê ở đây gốc gác từ Tây Ninh. Xe máy cày từ Tây Ninh xuống đây vài khi thấy chạy từng đoàn năm mười chiếc. Khoảng đầu năm 1974, hay cuối năm 1973 gì đó, Cao Đài Tây Ninh có dựng một ngôi nhà, chiếm một vùng đất để làm ruộng và cho thuê máy cày ở gần ấp Lung Lớn, xã An Bình, ranh giới hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá cũ, (ranh giới thời Pháp thuộc). Sở dĩ tôi biết vì có lần đi ngang, thấy lạ ghé vào thăm thì mới hay có ông đạo (Ông ta mặc áo quần ta màu trắng, như mấy ông ông đạo ở Tây Ninh) (1) là người chỉ huy ở đây.

                      Sau vụ Tư Ngọc, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương bị bắn chết - Tôi sẽ kể trong một bài sau - Việt Cộng không dám ngang nhiên thu thuế máy cày nữa. Chúng nó biết các lực lượng như thám báo chi khu, cảnh sát đặc biệt, võ trang tuyên truyền, võ trang chiêu hồi, thám sát tỉnh, v.v… theo dõi, bám sát để “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, (danh từ Phượng Hoàng) nhất là cán bộ kinh tài đi thu thuế máy cày nên sợ, tránh mặt, nhờ nông dân địa phương thu thuế máy cày dùm.

                      Đó là trường hợp Năm Tu Hú.

                      Một hôm tôi xuống Vàm Rầy, đang ngồi trong một quán hủ tiếu uống càphê, thì có ông quận Phúc ghé lại cùng uống cà phê với tôi. Được một lúc, ông ta bỏ đi, chỉ ít phút sau, ông ta trở lại, đứa cho tôi xem mảnh giấy xé từ trong tập vở học trò, viết nghệch ngoạc mấy chữ: “Tới sau lưng nhà Năm Tu Hú, sẽ thấy vật lạ.”

                      Thấy tôi đọc xong, quận Phúc nói với tôi:
                      - “Anh thấy không?! Chỉ có tui làm quận dân mới thương như vậy thôi! Tui biết dân thương tui lắm mà!”
                      Ngồi bên cạnh tôi là thiếu úy Ra, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, cũng đọc tờ giấy đó, bèn nói với tôi:
                      - “Sáng nay có chiếc xe hàng từ Rạch Giá lên, chạy ngang có đưa cho tôi miếng giấy như vầy!”
                      Tôi hỏi:
                      - “Ông báo cáo chưa?”
                      - “Chưa.” Thiếu úy Ra trả lời.
                      Thấy mất mặt với quận Phúc, tôi chưởi thầm: “Làm ăn như con c. Mấy đứa nầy chỉ lo đi kiếm tiền!” Rồi tôi hằm hằm ra xe. Thiếu úy Ra đi theo tôi. Tôi hỏi:
                      - “Ông biết nhà Năm Tu-Hú không?”
                      - “Biết!” Ra trả lời.
                      - “Ông đi với tôi chỉ nhà.” Ra lên ngồi bên cạnh, tôi lái xe. Tài xế và “tà lọt” ngồi phía sau.

                      Tôi chạy xe xuống gần Đồn Giữa, ranh giới hai xã Đức Phương và Tín Đạo (thuộc Kiên Giang). Thiếu úy Ra chỉ nhà, bên phía bờ kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Nhà Năm Tu-Hú giống như nhiều nhà khác, hầu hết là nhà tranh, mặt quay ra kinh, lưng quay ra lộ. Tôi vừa tắt máy xe thì nghe tiếng xe quận Phúc ngừng ngay sau xe tôi. Tôi nghĩ bụng: “Ông nầy nghĩ chắc có gì ngon, sợ tôi lập công một mình.” Từ ngoài lộ, tôi đi thẳng vào nhà Năm Tu-Hú, trong nhà không có ai, ngoài một thương binh, mất một chân. Hỏi thăm anh thương binh xong, tôi đi ra vườn sau, một cái vườn nhỏ, mỗi bề chưa tới 10 mét. Cỏ hôi mọc um tùm, lên gần tới ngực. Tôi vạch cỏ đi sâu vào vườn, vừa đi vừa tìm. Thấy một gói giấy nằm trên đầu cây cỏ hôi, tôi nói to: “Đây rồi.” Quận Phúc nhắc chừng tôi: “Coi chừng chất nổ.” Tôi nhẹ tay cầm gói giấy ném xa ra đường. Gói giấy không nổ. Tôi đi ra chỗ gói giấy rơi xuống, lần nầy yên tâm hơn, mở sợi giây buộc. Trong gói có 3 chai péniciline, một gói bột ngọt, và một cái thư. Thư Việt Cộng khen ngợi Năm Tu-Hú đã có công “đóng góp” và “phục vụ cách mạng”. Quận Phúc nói: “Tôi biết mà. Tôi biết mà. Thằng Năm Tu-Hú nầy là thằng Việt Cộng.”

                      Tôi không nói gì, trở lại quán càphê cũ, thắc mắc: Thuốc Tây, bột ngọt, là thứ hàng đưa vào trỏng cho tụi nó. Thư là từ trỏng gởi ra, tại sao lại để chung?” Có “vấn đề” đây!

                      Cách đó một tuần, nửa đêm, Việt Cộng tới nhà Năm Tu-Hú, bắt y đem ra giữa lộ, gần đồn giữa, bắn. Súng vừa nổ thì Năm Tu-Hú đứng lên được, bỏ chạy về phía đồn giữa. Y vừa chạy vừa la cầu cứu. Đồn trưởng đồn giữa, không nhớ tên, từng ăn nhậu với Năm Tu-Hú nhiều lần, nổ súng báo động, mở cổng cho Năm Tu-Hú vào, chăm sóc vết thương cho y. Bọn Việt Cộng thấy phản ứng của nghĩa quân trong đồn, bèn rút lui. Đạn Việt Cộng bắn trúng bộ dái, bay mất. Thằng nhỏ còn lòng thòng, nhưng dái không còn, thì cái ấy chỉ còn xử dụng vào việc tiểu tiện mà thôi. Sáng sớm, đồn trưởng đón ghe tắc-ráng đưa Năm Tu-Hú về điều trị tại bệnh viện quân dân y Rạch Giá.

                      Tại sao Việt Cộng xử bắn Năm Tu-Hú?

                      Năm Tu-Hú thuộc hạng dân địa phương gọi là “trời thần đất lỡ”. Y đi lính rồi đào ngũ nhiều lần, ít ra có gần chục KBC (Khu bưu chính của đơn vị quân đội VNCH). Y giao thiệp rộng, nhậu lai rai với nghĩa quân, với cảnh sát, xây dựng nông thôn, ai có quyền thế thì y dúi cho ít tiền uống càphê chơi.

                      Do đâu mà y có tiền? Như tôi nói ở trên, Việt Cộng sợ quốc gia phục kích, nhờ y thâu thuế máy cày giúp. Bản chất y không ngay thẳng, thâu mười, y đóng lại cho Việt Cộng năm, sáu mà thôi, còn lại bao nhiêu tiêu xài thả xăng. Mỗi chiếc máy cày đóng thuế cho Việt Cộng ít nhứt là 30 ngàn. Y thâu cả chục cái máy cày như thế, vậy y có bao nhêu tiền? Đâu phải là số tiền nhỏ! Lần hồi Việt Cộng biết y chơi cha trên đầu chúng, bèn nửa đêm về bắt y đem ra xử tử.

                      Biết chuyện rồi, tôi nói với quận Phúc: “Việt Cộng muốn nhờ tay quốc gia diệt thằng Năm Tu-Hú đây! Mưu nầy còn thấp lắm, khó qua được bọn mình. Có cho vàng thằng Năm Tu-Hú cũng không về nhà ban đêm, Việt Cộng làm gì nó?” Xong, tôi giải thích sự việc cho ông ta nghe. Quận Phúc không vui, nói: “Thôi, ông muốn làm gì thì làm.”
                      Tôi bảo thiếu úy Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt: “Ông ra Rạch Giá tìm thăm thằng Năm Tu-Hú, giải thích sự việc cho Năm Tu-Hú nghe. Xong, ông dụ hắn khai hết những gì hắn biết. Nếu hắn không khai thì ông dọa nó, bảo nó thâu thuế cho Việt Cộng, có thể mình cho nó vào tù ngồi chơi. Phen nầy chắc dớt (vớt) thêm một đám giao liên nữa đấy.”

                      Năm Tu-Hú khai hết, ai đóng thuế cho Việt Cộng, ai làm giao liên, chỉ điểm, báo cáo, v.v… Kết quả chỉ thêm nhức đầu, nhiều chuyện… Ông Tư Vịnh, con chiên của linh mục Đại, ở thị trấn Kiên Lương, xuống Vàm Rầy làm ruộng, dính vô tội làm “giao liên” cho Việt Cộng, bị điều tra. Sợ ở tù, ông ta nhờ cha Đại nói giúp với chính quyền. Hôm cha Đại mời tôi tới ăn cơm tối, nói chuyện Năm Tu-Hú, cha nói:

                      “Năm Tu-Hú làm như cướp cạn. Làm như thế là không được.”
                      Tôi góp ý:

                      -“Anh ta hứa thu thuế giúp cho Việt Cộng, rồi lợi dụng tình thế mà ăn chận của chúng. Nếu không vì lăng kính chính trị, cha cho làm như thế là thiếu chữ tín, là cướp cạn. Thật ra, mấy thằng Việt Cộng ở trong bưng, lấy cái thế có súng đạn trong tay mà bắt dân đóng thuế thì bọn chúng cũng như tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên vậy. Tựu chung, cũng là bọn ăn cướp cả.”

                      Cha Đại nhìn tôi cười, không nói gì, nhưng tôi biết chắc cha đồng ý về nhận xét của tôi.

                      Điều ích lợi nhứt là sau vụ Năm Tu Hú, một số bị bắt nhưng hầu hết được tha, dân chúng yên tâm hơn và hợp tác với chính quyền nhiều hơn, nhờ vậy, chúng tôi biết rõ và nhiều hơn tin tức các cuộc di chuyển quân của Việt Cộng trên đường 1-C.

                      (1)- Biết ông ở Tây Ninh về, tôi hỏi thăm một người quen, ông đại úy Khanh (đại úy Cao Đài hồi 1950), một người cùng quê, tha phương cầu thực, lưu lạc vào Nam. Qua ông đạo, tôi được biết ông Khanh làm lớn trong Cao Đài Tây Ninh.
                       
                      #11
                        lyenson 06.07.2008 12:07:32 (permalink)
                        Phần 11 :
                        “Mừng Sinh Nhật “Bác”!


                        Mỗi năm, cứ đến những ngày lễ, tết, Việt Cộng thường tổ chức những cuộc tấn công, ám sát, đắp mô, đặt mìn phá hoại, hoặc ít ra là rải truyền đơn để kỷ niệm, mừng ngày thành lập hay “mừng sinh nhật “bác” nếu đó là dịp ngày sinh của Hồ Chí Minh. Tính chung, chỉ nói riêng về ngày sinh của một người như Hồ Chí Minh thì có hàng chục, hàng trăm, có khi hàng ngàn người bị giết chết, tùy theo Việt Cộng tổ chức tấn công lớn nhỏ. Nhân dịp sinh nhựt Hồ năm 1973, ở Vàm Rầy, một xã nhỏ, có 3 người bỏ thân: Thiếu úy Cảnh Sát Phan Trí Huệ, 20 tuổi, gia đình ở đường Nguyễn Cư Trinh, Saigon, còn độc thân; thiếu úy Trực, bỏ lại một vợ hai con và thượng sĩ Trần Văn Út, bỏ lại một vợ bốn con. Đó là chưa kể những hậu quả khác từ những cái chết ấy. Tính chung, cả miền Nam, không ít người xuống âm phủ gặp Diêm Vương để kêu oan, khiếu nại họ Hồ.

                        Cũng nhân dịp đó, một số người bị Quốc gia bắt:

                        Người bị tội nặng nhứt là cha con Sáu Chơn. Sáu Chơn cũng ở xóm Đồn Giữa, xã Đức Phương, nhà gần nhà Năm Tu-Hú.

                        Sáu Chơn giữa nhiệm vụ dẫn một toán Việt Cộng, đi xuống xóm Biển, vượt qua kinh Vàm Rầy, rồi đi ngược lên hướng cầu Vàm Rầy, tấn công vào mặt sau trụ sở Cảnh Sát và Phân Chi khu. Sáu Chơn cũng khai luôn em gái ông ta, (không nhớ tên), vợ của một binh sĩ Sư Đoàn 21, treo đèn sau nhà, để toán đặc công bên kia kinh Vàm Rầy, cho biết là không có lính quốc gia phục kích bên phía nầy, nhất la toán nghĩa quân hay phục kích ở gần chùa, bên kia con đường mòn xuống xóm Biển, để toán đặc công nầy qua sông, tấn công trước. Toán do Sáu Chơn dẫn đường sẽ tiếp ứng sau đó. Con trai Sáu Chơn tên là Quận, dẫn một toán khác, đi dọc theo kinh Xà-Tón, vượt qua kinh Hà Tiên Rạch Giá, tiến từ hướng Hà Tiên xuống tấn công vào phía trái mục tiêu nói trên.

                        Lực lượng Việt Cộng khoảng một trăm tên, trong khi lực lượng Cảnh Sát chỉ có 7 ngoe, kể cả thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc và thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng. Thiếu úy Trực không có lính, ngoài tiểu đội nghĩa quân gác cầu Vàm Rầy.
                        Thiếu úy Huệ, mới xuất thân ở học viện, không có kinh nghiệm gì về đánh chác cả, làm việc chăm chỉ, cần cù, nhưng về tình báo thì cũng mù tịt luôn. Thiếu úy Trực mới tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt, có lẽ cũng có kinh nghiệm chiến đấu ít nhiều. Ông ta tới đóng chung với Cảnh Sát vì tình bạn giữa Trực và Huệ, hơn là nhu cầu công tác.
                        Theo kinh nghiệm, vào những ngày lễ của Việt Cộng như sinh nhật Hồ Chí Minh, lễ độc lập 2 tháng 9, ngày thành lập đảng Cộng Sản 3 tháng 2 hay dịp Tết âm lịch, Việt Cộng thường hay tổ chức tấn công nơi nầy nơi kia để lập chiến công. Năm nay, 1973, nhân ngày sinh nhựt Hồ Chí Minh, 19 tháng 5, chúng cũng tổ chức lập chiến công dâng “Bác”.

                        Phe ta cũng có phòng bị. Trước ngày lễ hơn nửa tháng, trung ương đã gởi văn thư xuống tới xã ấp, chi khu, phân chi khu chỉ thị chỉnh đốn hệ thống phòng thủ, theo dõi hoạt động của địch, v.v… đề phòng địch tấn công. Theo dõi địch thì tương đối dễ, nhưng chỉnh đốn hệ thống phòng thủ thì hơi… trở ngại. Lựu đạn còn phải mua, nói chi tới cọc sắt kẽm gai, ngoại trừ mua để làm nhà như ở dinh điền Cái Sắn thì hàng không giờ bị hụt.

                        Đêm 18 tháng 5, hai ông thiếu úy Trực và Huệ cũng không đi ngủ sớm, đôn đốc canh gác, đâu đó xong xuôi, quá nửa khuya hai ông mới đi ngủ. Họ không có kinh nghiệm. Nếu Việt Cộng có tấn công, cũng phải quá nửa đêm, chờ chúng ta ngủ say. Nếu biết vậy, mới tối, nên lo đi ngủ sớm, cở 11 giờ đêm, thức dậy canh chừng. Địch có tấn công thì còn phản ứng kịp. Đàng nầy, đầu hôm, khi địch chưa có khả năng tấn công thì họ thức chờ. Đến thời điểm địch có thể tấn công được thì cả hai buồn ngủ, rủ nhau đi ngủ. Thành ra, khi mấy tên đặc công chui qua khỏi hàng rào mà không ai biết, thì cứ mỗi phòng, chúng ném một quả bêta. Hai ông thiếu úy chết ngay tại chỗ, ngay trong phòng ngủ của họ. Thượng sĩ Trần Văn Út, phó cuộc, chạy ra hầm truyền tin, để báo cáo về quận, chưa kịp gọi thì cũng bị Việt Cộng ném một quả bêta vào hầm truyền tin, thượng sĩ Út cũng chết tại chỗ. Các nhân viên Cảnh Sát khác, kịp chui qua hàng rào, lao xuống cái hào sâu bên cạnh, thoát nạn.

                        Việt Cộng tràn vào chợ xã. Xã trưởng Ngô Văn Àn nhà ở cuối chợ, sát kinh Rạch Giá-Hà Tiên, thấy động, lẻn ra bờ kinh, lặn xuống nước núp, chỉ chừa cái đầu để thở. Trưởng ấp Chín Đực, một cựu hồi chánh viên, chỉ huy toán nhân dân tự vệ khoảng chục người, trốn ra phía sau trường học.

                        Cô chủ quán hủ tiếu ngay chợ, nói với tôi:
                        - “Họ (Việt Cộng) đói lắm ông ơi! Vào quán, họ lấy hủ tiếu của tui ăn hết!”
                        - “Họ ăn với gì? Ăn nể à?” Biết là nói tiếng địa phương, người Nam không hiểu, tôi sửa lại: “Ăn không à?”.
                        - “Không, họ biểu tui lấy xì dầu với ớt! Hết cả rổ hủ tiếu của tui.” Cô ta trả lời.
                        - “Vậy là can tội nuôi Việt Cộng đó!” Tôi nói đùa.
                        - “Tui chưa khiếu nại là may. Quốc gia giữ an ninh không xong, để Việt Cộng vô cướp tai sản của tui.”

                        Nghe nói, tôi làm thinh, không ngờ dân quê mà họ cũng rành luật pháp vậy. Đúng là trách nhiệm phe quốc gia, không “Bảo Vệ Dân Chúng” được như trong bài học về Phượng Hoàng.

                        -“Cô có nghe họ nói tiếng gì không. Bắc hay Nam?” Tôi hỏi.
                        - “Không có người Bắc đâu, toàn giọng Nam. Có một ông hỏi tui, trạm y tế đâu.” Cô ta trả lời.
                        - “Hỏi trạm y tế để làm chi?” Tôi lại hỏi.
                        - “Xời! Có ai bị thương đâu mà hỏi trạm y tế. Người ta hỏi để lấy thuốc chớ chi!” Cô ta giải thích,

                        Câu chuyện làm tôi nhớ tết Mậu Thân ở Huế, hồi ấy tôi còn đi dạy, chưa đi lính. Chiếm thành phố Huế tới đâu là Việt Cộng vét hết thưốc trong các tiệm thuốc Tây tới đó. Đói ăn và đói thuốc, Việt Cộng cần cả hai.

                        Sáng hôm đó, sau khi bên phía Chi Khu cũng như Cảnh Sát không liên lạc được với đơn vị thống thuộc, tôi gặp ông thiếu tá quận trưởng Sầm Long lúc hơn 2 giờ sáng tại chi khu. Chúng tôi hẹn nhau sáng mai sẽ xuống Vàm Rầy sớm.

                        Chúng tôi lên xe đi khi trời mới rạng sáng. Cũng yên tâm một chút, ông quận có ra lệnh cho nghĩa quân, ra khỏi đồn giữ an ninh lộ trình.

                        Sau khi kiểm tra đâu đó xong, thì thiếu uý Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt, cũng xuống xã sau tôi chỉ ít phút, cho nhân viên bung ra điều tra. Hồi sau nửa đêm, sau khi gặp quận Long, tôi có nói với thiếu úy Kiệt, lúc đó cũng có mặt ở văn phòng của ông rằng: “Đánh giặc ở miệt ruộng, không có giao liên, chúng nó không thể tấn công vào xã được. Ông rán tìm cho được bọn giao liên.

                        Vì vậy, chỉ hơn nửa tiếng sau khi xuống tới xã, thiếu úy Kiệt và Năm Hùng (thượng sĩ) gặp tôi nói:

                        -“Tối qua, khi Việt Cộng tấn công, Chín Đực dẫn toán nhân dân tự vệ chém vè phía sau trường học. Vợ y, nghe súng nổ dữ quá, chui xuống gầm giường. Có hai tên vào nhà Chín Đực, dùng hộp quẹt để mở lấy cái đầu máy may của con vợ. Nhờ lửa hộp quẹt, vợ Chín Đực thấy rõ mặt là cha con Sáu Chơn.”

                        Thiếu úy Kiệt cũng cho biết đã cho nhân viên xuống nhà Sáu Chơn lục soát.

                        Chưa được nửa tiếng, nhân viên thiếu úy Kiệt gọi máy báo cáo tìm thấy một đầu máy may dấu sau nhà Sáu Chơn. Vậy là rõ, cả hai cha con Sáu Chơn bị bắt.

                        Sáu Chơn, một vợ 7 con, đi lính Bảo An thời Ngô Đình Diệm, không nhớ lý do giải ngũ, dân cố cựu ở Vàm Rầy. Con trai đầu của y, tên Quận cũng đã lớn, tới tuổi quân dịch nhưng còn trốn tránh ở nhà. Xóm đồn giữa xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm Cộng Sản. Quốc gia cũng ít lui tới chỗ nầy nên tên Quận còn trốn quân dịch được. Vã lại, suốt ngày hai cha con đi làm đồng, Quốc gia làm sao đụng tới y mà bắt đi lính. Chiều tối, khi cha con về tới nhà thì Quốc gia cũng rút về xã, về quận, chẳng có ai gan lì ở lại đó để đụng đầu với Việt Cộng.

                        Ruộng vườn không có, vốn liếng không có, chạy ăn từng ngày, làm đồng không đủ sống, theo Việt Cộng để dễ kiếm ăn như ưu tiên bắt cá đìa, ưu tiên đốn tràm, v.v… lần hồi không theo Việt Cộng cũng không được. Chúng nó hẹn đêm đó, 18 tháng 5, khi chúng nó tới thì dẫn đường cho chúng đi đánh quốc gia, ngoài ra, chẳng biết mô tê gì. Theo lời khai của Sáu Chơn, khi vào rừng đốn tràm, gần kinh Kháng Chiến, người y thường gặp là Bảy Mốc. Bảy mốc cũng từng đi lính Bảo An với Sáu Chơn thời Ngô Đình Diệm, giải ngũ về làm trưởng ban kinh tài cho xã Đức Phương của Quốc Gia. Máu mê cờ bạc, Bảy Mốc thua sạch tiền quĩ xã. Xã trưởng báo cáo lên quận, Cảnh Sát đang điều tra thì Bảy Mốc bỏ theo Việt Cộng vì y nghĩ trước sau cũng bị tù. Tiêu tiền quỹ của xã gần 5 chục ngàn, đâu phải số tiền nhỏ. Nếu không có tiền đền, ở tù là cái chắc. Cảnh Sát cho biết vậy rồi nên y dông vô trỏng. Theo Việt Cộng một thời gian, y được huyện cho làm bí thư xã. Xã chỉ có hai cán bộ: Bảy Mốc là bí thư, Tư Ngọc là kinh tài. Ngày hoạt động loanh quanh vùng tràm cùng với đám du kích của huyện, giữ rừng tràm và đường giây 1-C.

                        Lần Bảy Mốc gặp Sáu Chơn hỏi tình hình lính tráng, đang đứng nói chuyện thì bỗng có một người từ trong rừng tràm đi ra, có hai du kích đi hộ tống. Bảy Mốc có vẻ lo sợ, nói: “Ông huyện tới.” Sáu Chơn cũng không biết ông huyện là ai mà Bảy Mốc có vẻ sợ sệt như vậy.

                        Hai Quận bị bắt, nhưng ông quận Long thấy cả hai cha con đi tù tội nghiệp, bèn dụ Hai Quận làm đơn xin chuyển qua hồi chánh, chỉ đi học 3 tháng ở Trung Tâm Chiêu Hồi, sau đó đi lính, còn hơn ở tù. Thằng bé nhà quê, học hành chưa tới lớp Ba, nghe nói khỏi ở tù thì mừng, bèn ký đơn do Cảnh Sát làm giúp. Nó được đưa ra Trung Tâm Chiêu Hồi. Trước khi đi còn được về thăm nhà, mặc dù có Cảnh Sát Đặc Biệt theo canh chừng, sợ thằng bé dông tuốt vô trỏng, nhưng Hai Quận cũng vui mừng lắm. Cha y thì giải về tỉnh.

                        Hôm tôi từ xã Tín Đạo (Tri Tôn - Rạch Giá) về ngang đồn giữa, nhớ chuyện cha con Sáu Chơn, tôi hỏi nhà, ghé lại thăm hỏi. Đứa con nhỏ còn bú, năm đứa còn lại ở trần lòi rún, không có cơm ăn. Vợ Sáu Chơn chịu thua số phận, không biết làm gì để nuôi con. Vã lại, trước nay, vợ Sáu Chơn chỉ lo đẻ và giữ con. Cơm gạo Sáu Chơn lo hết. Nay Sáu Chơn ở tù, ai nuôi con? Thấy người chính quyền Quốc gia tới, vợ Sáu Chơn khóc: “Mấy ông bắt chồng tui ở tù, tui lấy gì nuôi con tui mấy ông ơi!” Vốn ít khi có sẵn tiền, tôi mượn tài xế tờ giấy 5 trăm, biểu đưa cho bà. Biết làm sao bây giờ!

                        Tôi cũng ghé ngôi chùa kế nhà Sáu Chơn, tìm ông thấy chùa nổi tiếng sư hổ mang, sư lại cái.

                        Ông sư còn trẻ. Có lẽ đi tu chỉ là trốn quân dịch. Đang tu ở chùa nào đó ngoài Rạch Giá thì ông bỏ vào đây, ở trong ngôi nhà lá bỏ hoang, mà ông gọi là chùa.

                        Nói sư hổ mang thì cũng tội nghiệp. Vào chùa chỉ là cái cớ để ông được “hoãn dịch vì lý do tu sĩ” còn cỡ như ông nầy, nếu không núp bòng Phật giáo vì sợ đi lính thì ông ta sẽ là ông đạo như các ông đạo Liếm, đạo Sờ nổi tiếng trên báo chí một thời, nhưng chắc chắn không phải ông đạo Dừa.


                        (Chùa : ảnh minh họa)

                        Chùa của ông như cái chòi lá ai bỏ hoang, ông đặt một cái bàn trên có hình phật tổ và một bát nhang chiếu lệ như là nơi tu hành. Bên cạnh có một cái giường tre. Vậy mà ông cũng có một đệ tử, nữ đệ tử mới éo le. Cô gái bỏ nhà ở Rạch Giá theo ông là em một anh cảnh sát dã chiến, thuộc trung đội của thiếu úy Ký. Biết chuyện, thiếu úy Ký gọi cho người lính của ông vào đem cô em gái về. Phải mấy lần như vậy, gia đình cô gái làm dữ với cô, cô mới chịu bỏ tu hành với ông “thầy chùa” trẻ.

                        Vậy là chùa chỉ còn môt mình ông. Ông ta bỏ chùa đi tối ngày, có đêm không về, bỏ nhang tàn bàn lạnh. Ông ta đi đâu?

                        Ông đi buôn lậu, mang đường cát từ Hà Tiên về bán ở Rạch Giá. Gai mắt, mấy bà buôn lậu hỏi ông: “Thầy chùa mà cũng đi buôn lậu?” Ông ta nói liều: “Bộ tui ăn chưn nhang mà sống được sao?” Thiếu úy Ký thấy ông đi buôn lậu, lại điệu bộ như PD, bèn báo cáo về tỉnh, tỉnh liên lạc với chùa ở Rạch Giá, gọi ông ta về. Không chịu về chùa, ông bỏ xóm đồn giữa đi mất tiêu.
                        #12
                          lyenson 06.07.2008 12:13:01 (permalink)
                          Phần 12 :
                          Đốt Pháo Bông Đón Bộ Đội Bắc Việt Xâm Nhập

                          Sau đợt bắt bớ, mặc dầu nhiều người được tha, chỉ có một mình Sáu Chơn bị giải giao cho Ủy Ban An Ninh Tỉnh, thái độ dân chúng đối với chính quyền quốc gia cũng đổi khác, hợp tác nhiều hơn vì không còn sợ Việt Cộng như trước. Bọn Cộng co cụm lại, không dám ngang nhiên hoạt động. Rút sâu vô rừng tràm, chúng không còn lập trạm sát gần ngoài kinh Rạch Giá -Hà Tiên mà tuốt ở trong xa để cấm hoặc thu thuế người vào đốn tràm.

                          Tình hình lắng dịu một thời gian.

                          Một hôm, thiếu tá Khánh, chi đoàn trưởng một chi đoàn thiết giáp thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh, gặp tôi ở Vàm Rầy, hỏi:
                          - “Tôi muốn đi tắt về Châu Đốc, ông liệu tôi có thể đi dọc theo kinh Xà Tón mà về trên ấy được không?”

                          Tôi giải thích:
                          - “Không nên! Trước hết, không chừng ông phải đụng tụi nó. Ít thì tụi nó chỉ có mấy tên du kích; có thể chúng nó chém vè! Lỡ khi có đơn vị từ Kampuchia qua, ban ngày dừng chân trên kinh Kháng Chiến, để tối lại di chuyển tiếp thì ông mệt với chúng nó. Bây giờ, ít khi chúng di chuyển ít người, phải cở tiểu đoàn trở lên. Bọn nầy phần đông là từ ngoài Bắc mới vô, trang bị đầy đủ.”
                          - “Được rồi, tôi sẽ liên lạc với biệt khu để biết tình hình chúng nó. Tôi muốn biết địa hình?” Thiếu tá Khánh nói.
                          - “Không cách chi đi được. Xe M113 của ông một là chạy trên đất cứng, hai là lội nước. Vùng nầy toàn sình lầy, không có nước để lội, cũng không có đất cứng để chạy, xe M113 bám vào đâu mà chuyển.”



                          Thiếu tá Khánh lại hỏi tôi:
                          - “Ông có bị rồi?”
                          Tôi cười:
                          - “Không. Tôi đoán chừng. Vã tôi học bài “lội nước” ở cầu Rạch Chiếc, khi lên bờ nhằm chỗ lầy, mắc kẹt luôn, phải gọi Wrecker đến kéo về. Lần ấy tụi tôi bị thiếu tá Thương chưởi một trận dữ nên lấy đó làm kinh nghiệm. Nếu muốn biết kinh nghiệm sình lầy vùng nầy, nên hỏi “Đường Sơn Đại Huynh”. Bây giờ mà gặp ông cũng khó lắm” (1)
                          Sau khi liên lạc với Biệt khu, thiếu tá Khánh nói với tôi:
                          - “Một đơn vị lớn của tụi nó đang di chuyển phía biên giới, chuẩn bị xâm nhập Hà Tiên. Thôi, tôi đi đường vòng cho xong.”
                          Đường vòng là ông phải cho chi đoàn đi qua ngã Rạch Giá, Long Xuyên rồi mới tới Châu Đốc, đường dài gấp 4 hoặc 5 lần.
                          Mấy ngày sau, thiếu úy Kiệt nói với tôi rằng có một đơn vị “Bắc Việt xâm nhập” đang dừng chân trong kinh Kháng Chiến, có lẽ chờ đêm tối di chuyển về Tà Keo, vượt cây Số 15 để về Chương Thiện.
                          Tôi hỏi:
                          - “Dân họ mới báo?”
                          - “Vâng!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Nón cối, không có nón tai bèo. (2) Nói toàn Bắc Kỳ. Dân họ báo vậy. Tui báo cáo cho chi khu và biệt khu rồi.”
                          Tôi đi gặp trung tá Hồ Đàn, (Khi còn ở BCH- Thiết Giáp, tôi từng làm việc với ông, khi ấy ông còn mang loon đại úy), thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 16, ông đang nhậu ở quán TL, Chợ Tròn. Nghe tôi nói chuyện Cộng Sản chuyển quân, ông nói:
                          - “Tôi biết rồi. Chút nữa anh đi với tui xuống Vàm Rầy. Tôi chụp cho bọn nầy một trận.”

                          Chưa có kinh nghiệm việc nầy, nhưng tôi không hỏi, để thử coi ông ta làm gì.
                          Nửa tiếng sau, khi tôi cùng ông Hồ Đàn tới Vàm Rầy thì pháo binh đã đặt hai cây súng 105 ly sẵn bên bờ kinh, kế một quán chạp phô của người Tàu. Trung tá Hồ Đàn và tôi vào quán càphê, trãi bản đồ ra, xem tọa độ chỗ đang đóng của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Tôi loay hoay, không nắm rõ chúng nó đóng ở đâu! Một lúc sau, tôi gọi Ngô Văn An, trung sĩ Cảnh Sát xã Đức Phương, con ông xã trưởng Ngô Văn Àn tới, hỏi:
                          - “Anh có bết rõ chỗ tụi nó đang đóng quân không?”
                          An nói:
                          - “Dạ không! Dân họ báo tụi nó đông lắm, treo võng nằm trong rừng tràm, balô với súng máng trên cây.”
                          Tôi biết bây giờ tới “mùa nước nổi” (nước đang lên), chẳng có chỗ nào đất liền nên chúng phải treo võng nằm. Tôi hỏi An:
                          - “Ai rành trỏng?”
                          - “Dạ! Chín Đực, để em đi tìm Chín Đực.”
                          Chín Đực vừa là truởng ấp Vàm Rầy, vừa là cựu hồi chánh viên, khi theo Việt Cộng, anh ta hoạt động trong ấy, nên rành đường.
                          Một lúc Chín Đức tới, tôi hỏi:
                          - “Anh có biết dân họ báo tụi nó ở đâu không?”

                          Chín Đực cho biết chỗ của chúng ở quá ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến cở một cây số, trong rừng tràm. Tôi tìm rừng tràm trên bản đồ, thường có màu xanh lá cây, gần ngã tư hai con kinh nói trên. Tôi gọi Chín Đức tới, ngó sát bản đồ, chỉ cho anh thấy đường vẽ kinh Kháng Chiến, đường vẽ kinh Xà Tón, quá kinh Chủ Ry và kinh Thầy Ban một khoảng, phía bên tay phải là khu rừng tràm. Chỉ vào khu rừng tràm, tôi nói:
                          - “Chỗ xanh xanh nầy là khu rừng tràm. Anh có nghĩ là chúng nó đóng ở đây không?”
                          - “Dạ đúng! Chắc chắn chỗ nầy.” Chín Đực trả lời.

                          Nãy giờ trung tá Hồ Đàn ngồi im, theo dõi tôi trao đổi với An và Chín Đực. Tới khi nghe Chín Đực trả lời chắc chắn, ông ta cúi xuống. Sát bên cái đầu của ông là cái đầu của tôi. Chúng tôi khoanh vùng rừng tràm, chấm tọa độ bốn phía. Xong, trung tá Đàn gọi anh lính mang máy truyền tin tới.

                          Mười phút sau, hai cây đại bác 105 ly bắt đầu nhả đạn. Tôi và trung tá Hồ Đàn bước ra sân, ngó về hướng rừng tràm. Chưa được nửa phút sau, đạn nổ phía trên các ngọn cây tràm. Ban ngày, không thấy lửa, chỉ thấy khói tỏa ra từng chùm như đám mây cuộn, khá đẹp. Tôi nói với trung tá Đàn:
                          - “Trông như pháo bông!”
                          Trung tá Đàn nói:
                          - “Tôi cho nổ chụp, như người ta chụp nơm, từ trên chụp xuống, chạy ngã nào cho thoát.”
                          - “Ban đêm có thấy pháo nổ trên trời như vậy không, trung tá?” Tôi hỏi.
                          - “Trông như đốt pháo bông. Đẹp lắm!” Trung tá Đàn giải thích.
                          Tôi nói đùa:
                          - “Không chừng người ta bảo rằng mình đốt pháo bông chào lính cụ Hồ.”
                          Trung tá Đàn lại cười:
                          - “Đốt pháo chào kiểu nầy chết cha tụi nó luôn!”
                          Chín Đực đứng phía sau tôi, nói:
                          - “Ngay chóc rồi ông thầy. Đúng là chỗ họ đang đóng quân.”
                          Trung tá Đàn nói:
                          - “Đánh giặc kiểu Mỹ nên “lấy của che thân”. Anh cứ tìm tin tức, chỗ nào có tụi nó, mình cứ đốt pháo bông mà chơi. Bị trận nầy, chúng khó chuẩn bị kịp lực lượng để đánh mình, tối ngủ yên.”

                          Khoảng nửa tiếng sau, thôi bắn. Hai cây súng đại bác được kéo về Kiên Lương, trung tá Đàn cũng về theo. Trời còn sáng, tôi nán lại một chút, về sau. Đang khi đứng gần chợ, ông già Tàu chủ tiệm chạp phô, mặt mày thảm não, có vẻ sợ sệt, nói với tôi:
                          - “Ông xầy ơi! Pể kiếng của tui hết zồi!”
                          Chưa hiểu chuyện gì, thì xã trưởng Àn đi tới, giải thích:
                          - Súng để trước tiệm ông, tiếng súng dội làm bể hết cả chục tấm kiếng cái tủ trong nhà, ông ta khiếu nại với tui, tui biểu đến gặp ông.”
                          Tôi nói:
                          - “Pháo binh bắn chớ tui có bắn đâu! Hồi nãy sao không nói ngay với ông trung tá?”
                          - “Ông ta sợ, không dám nói, chỉ nói với tui.” Xã trưởng Àn nói.
                          - “Nói vậy chớ có nói với ông trung tá, ông cũng chẳng có tiền mà đền. Thôi! để tôi nói với ông phó Nghiêm. Ông làm tờ trình với ty Xã Hội, may ra được chút đỉnh.”
                          Tôi an ủi.

                          Ông chủ tiệm nghe nói cũng an tâm. Vã ông có đi kiện cũng không biết kiện ai, ở đâu. Biết ông xã trưởng thì nắm áo ông xã trưởng. Ông xã trưởng đẩy qua cho quận, quận đẩy lên tỉnh, may ra được chút an ủi chớ biết bao giờ mới được đền, và đền bao nhiêu cho đủ.

                          Sau đó, ông phó Nghiêm nói với tôi theo nguyên tắc, ty Xã Hội không bồi thường cho những trường hợp lẻ tẻ như vậy. Chỗ nào có đánh nhau to mới có “bồi thường chiến tranh”. Thành ra ông già Tàu chủ tiệm chạp phô chẳng được chút tiền nào. Tuy nhiên, cũng nhân dịp Việt Cộng đánh vào xã Đức Phương, tuy không có nhà nào bị cháy, bị sập để được “bồi thường” bốn chục ngàn và hai chục tấm tôn lạnh (tôn của Úc Đại Lợi) như thường lệ, nhưng ai ai cũng được Ty Xã Hội cứu trợ, cho lãnh gạo và thức ăn đóng hộp. Nhân dịp đó, xã trưởng Àn có “chiếu cố” cho ông già Tàu chút ít. Gặp tôi, ông ta lại cám ơn rối rít. Tôi nghĩ thầm: Lãnh chưa tới hai giạ gạo, có gì mà ông ta mừng lắm vậy?!

                          Dân miền quê họ có một kinh nghiệm về bầu bán. Năm ngoái, bầu hội đồng tỉnh. Có ông giáo sư dạy ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá ra ứng cử, thầy trò đi vận động, thấy cảnh tượng rộn ràng, cũng vui, nên tôi nói chuyện với một gia đình người Miên ở ấp Xà Ngách, sao không bầu cho ông thầy giáo, ông có học, biết luật lệ, biết đấu tranh cho đồng bào. Bầu lại một kỳ nữa cho ông hội đồng Đáp, ông không có trình độ, biết lo gì cho dân!?

                          Bà vợ nói:
                          - “Tui bầu cho người ở đây thôi! Có chi tui tới ông cho gần. Ông thầy giáo ở xa, đi gặp ông mệt lắm!”
                          Đó cũng là cái tâm lý ông chủ tiệm chạp phô gặp ông xã trưởng khi ông muốn khiếu nại về việc pháo binh bắn súng làm bể kiếng nhà ông.

                          Sáng hôm sau, tôi lại xuống Vàm Rầy coi thử tình hình hôm qua như thế nào!
                          Vào quán càphê xong, tôi biểu nhân viên gọi Chín Đực tới uống cà phê với tôi, mục đích để nghe ngóng việc hôm qua như thế nào. Chưa kịp ngồi xuống, Chín Đực nói:
                          - “Bữa nay dân đốn tràm thả giàn!”
                          - “Sao vậy?” Tôi hỏi.
                          - “Trận hôm qua, tụi nó chạy trối chết, trốn đâu mất tiêu.” Chín Đực giải thích. “Bữa nay, du kích canh gác cũng không. Tụi nón cối di chuyển hết, nhưng có lẽ bị thương và chết cũng nhiều. Có bao nhiêu chúng chở xuồng ngược lên Trà Tiên (3). Nhiều cái võng còn mắc trên cây, đạn xuyên như tổ ong. Balô, nón cối vất lung tung.”
                          Uống xong nửa cái “xí nại” (4), Chín Đực nói nhỏ với tôi: “Tui có cái nầy cho ông thầy!?
                          - “Cái chi?” Tôi hỏi.
                          - “K-59. Ngon lắm. Cấp cao mới có súng nầy.” Chín Đực nói.
                          - “Đâu vậy?” Tôi hỏi.
                          - “Tư Gà lượm trong đó chớ đâu!” Chín Đực giải thích.

                          Tôi nhớ ông Tư Gà nầy. Ổng bị què một chân, hai con nhỏ, vợ chết. Ông ta chuyên đi giăng lưới bắt cua trong đồng sâu. Món hàng nầy được giá hơn. Và ông ta cũng bị bắt vì tội làm “giao liên.” Thấy ông ta thương tật, vợ chết, lại có con nhỏ nên bị giam hai hôm thì được chính quyền quốc gia tha, sau khi làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Cộng nữa. Về cái chân què, ông ta khai là bị trực thăng bắn lầm, nhưng tôi biết chắc là trong một lần đụng độ với quân đội VNCH, ông bị thương khi ông làm du kích trong kinh Kháng Chiến, vợ ông ta cũng chết trận đó. Dân Vàm Rầy thương tình nuôi giúp hai đứa con, còn Tư Gà, sau khi xuất viện ở Rạch Giá, bỏ không theo Việt Cộng nữa, lo đi làm nuôi con. Biết thì biết vậy nhưng cũng coi như ông ta “chiêu hồi”, để yên cho ông ta nuôi con. Khui quá khứ của ông ta ra, bỏ tù, ai nuôi hai đứa con của ổng, phiền lắm! Tránh đi một chuyện phiền cho nó khỏe bụng, tôi nghĩ vậy. Không ngờ nhờ vậy mà ông ta nhớ ơn, lượm được cây K-59 trong rừng tràm, lén giao Chín Đực đem biếu tôi. Nghĩ lại, ông ta cũng dại. Tại sao ông ta biết K-59 là loại quí, phải chỉ huy cao cấp mới có. Tại vì ông ta từng theo Việt Cộng nên ông ta biết vậy chớ gì! Vậy mà ông ta khai gian là bị trực thăng bắn lầm, không phải vì vì theo Việt Cộng mà bị thương. Cho tôi cây súng, khác chi “Lạy ông tui ở bụi nầy”. Ông ta khôn mà chẳng ngoan chút nào cả. Đúng là dân nhà quê thiệt thà!

                          Cây súng ông ta cho, tháng sau tôi đem đổi cho đại úy Vương của Trung Đoàn 16 lấy cây Titan nhỏ bằng bàn tay, lận vô túi quần ra Rạch Giá chơi, gặp Philip Đạt, anh ta tước mất. Đòi lại, anh ta bảo là đem biếu cho Tướng Nam rồi. Không biết việc Philip Đạt nói thiệt hay giả. Ông nầy cũng “ba trời” lắm!

                          Việc đốt pháo bông, sau nầy trung tá Đàn và tôi “bổn cũ soạn lại” một lần nữa, khi nhận tin Việt Cộng đóng quân ở cuối kinh Lình Quỳnh, gần cửa sông. Khi đại tá Biếc về làm tư lệnh khu chiến thuật, ông cũng lại biểu tôi “lấy của che thân”. Ghi nhận tin tức Việt Cộng đóng ở đâu, gởi cho chúng nó “ít chục quả làm quà”, như lời ông ta nói. Đến hồi trung tá Trần xuân Hải thì gặp tai nạn. Thay vì đạn vô tới mục tiêu mới nổ thì một quả nổ ngay trên nhà dân ở ấp Ngã Ba, trên bờ kinh đi Hà Tiên, cả nhà bốn người bị thương lúc còn đang ngủ. Đang đêm, trung tá Hải phải xin trực thăng tải thương thật gấp. Mọi việc lặng lẽ êm xuôi, cố dấu không cho ai biết, chớ không thì ông ta bị kiện tụng lôi thôi lắm, nhất là lỡ khi mấy chả dân biểu đối lập hay hội đồng tỉnh muốn kiếm phiếu trên cái đau khổ của của những người khác!
                          Hú hồn.

                          1) Tiếng lóng trong giới thiết giáp ở miền Tây thường dùng để gọi trung tá Lý Tòng Bá, khi ông làm Thiết Đoàn Trưởng thiết đoàn 9 ở miền Tây. Khi xe bị lầy, đứt xích phải thay, ông cùng làm với lính, mặc dù xe đang ở giữa đồng lầy, nên các ông sĩ quan trẻ chẳng ai dám “chắp tay sau đít”. Qua tinh thần đó, binh lính, sĩ quan mới gọi ông một cách thân mến như trên. Trước 30 tháng Tư - 75, ông lên loon chuẩn tướng, làm tư lệnh sư đoàn 25. Trong một buổi học chính trị tại L3-T3 Trảng Lớn, một cán bộ Cộng Sản “lên lớp”, gọi ông là tên “ác ôn”, hoàn toàn ngược lại với quan điểm binh sĩ từng biết hay phục vụ dưới quyền ông.
                          (2) Quân đội Bắc Việt xâm lược từ miền bắc vào thường đội nón cối. Bộ đội địa phương như tỉnh đội, huyện đội thì đội mũ tai bèo. Chúng tôi căn cứ vào đó để phân biệt.
                          (3) Trận nầy, có lẽ bệnh viện huyện đội Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng khẳm lắm, thương binh để đâu cho hết!
                          (4) Càphê sữa, tiếng Tàu của người miền Tây.
                          #13
                            lyenson 06.07.2008 12:18:51 (permalink)
                            Phần 13 :
                            "LẠY ÔNG TUI Ở BỤI NÀY"

                            Tan buổi họp Phượng Hoàng, trung sĩ Th., trung đội trưởng thám báo chi khu, nói với tôi:
                            - “Vợ thằng Tư Ngọc mấy bữa nay đeo vàng đỏ mình!”
                            Tôi hơi ngạc nhiên, tính hỏi nhưng giả bộ làm thinh để coi thử trung sĩ Th. muốn nói chuyện chi. Tôi là dân sinh ra và lớn lên rồi đi dạy ở thành phố, đi đánh giặc ở miệt ruộng, nhiều khi lớ ngớ có biết gì đâu!

                            Tư Ngọc thì tôi biết, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương của Việt Cộng. Vã lại, trong buổi họp vừa qua, thiếu úy Ra mới báo cáo hoạt động của Tư Ngọc trong mấy ngày qua. Hôm trước thì chỗ nầy, hôm sau thì chỗ kia. Vạch một phóng đồ theo sự xuất hiện của y để phỏng đoán ý đồ thì rõ ràng y đang theo những cái máy cày đang cày trong vùng sâu để thu thuế. Còn về gia đình y, tôi không rõ.

                            Trung sĩ Th. nói thêm:
                            - “Thằng Tư Ngọc mấy bữa nay thu thuế máy cày dữ lắm.”

                            Vậy là rõ. Vợ Tư Ngọc ở ngoài bờ kinh Rạch Giá - Hà Tiên, vùng quốc gia. Thằng chồng theo Việt Cộng ở trong rừng, thu thuế, lấy bớt đưa cho vợ. Con vợ giả bộ đi làm đồng, tiếp tế cho chồng, có tiền về mua vàng đeo chơi. Làm như thế khác chi “Lạy ông tôi ở bụi nầy.” Phe quốc gia, nhiều tay kinh nghiệm, muốn có tiền, cứ theo dấu bọn kinh tài mà phục kích, thế nào cũng có tiền tiêu.


                            Phục kích

                            Việc trung sĩ Th. nói làm tôi nhớ lại một lần tôi tới nhà Tư Ngọc mà tôi không hay. Hôm đó tôi đi họp ở Rạch Giá về, qua khỏi xóm Vàm Rầy chừng 100 thước thì gặp xe thiếu tá Phúc, quận trưởng Kiên Lương, trung tá T., quận trưởng Hà Tiên, cũng đi họp ở Rạch Giá về, đang dừng lại trước nhà vợ Tư Ngọc, lúc đó tôi không biết nhà ai. Nhà vợ Tư Ngọc là chủ vựa tôm, cá đồng (đánh bắt trong đồng, để phân biệt với tôm, cá biển). Tài xế trung tá T. là anh vợ Tư Ngọc, ghé lại kiếm ít con cá lóc về nhậu chơi. Sau khi Tư Ngọc bị bắn chết, tôi mới rõ chuyện nầy.

                            Tình hình vùng nầy thường như vậy, theo Việt Cộng, theo quốc gia, đan chéo nhau, không phân biệt rõ quốc cộng như ở dinh điền Cái Sắn.

                            Sau khi nói với tôi, trung sĩ Th. lặng lẽ vạch kế hoạch với chi khu, không cho cơ quan khác biết.

                            Trời vừa tối, trung sĩ Th. dẫn trung đội thám báo chi khu xuống Vàm Rầy, ém trong đồn nghĩa quân ở đầu cầu. Hai giờ sáng, Th. dẫn trung đội lội tuốt vô rừng tràm. Tới bìa rừng, Trung sĩ Th. ra lệnh trung đội nằm im, chờ trời rạng một chút để dễ thấy mục tiêu.

                            Ban ngày, Tư Ngọc cùng vài ba tên du kích lội trong ruộng, tìm tới từng máy cày, thu thuế. Chiếc nào chưa kịp đóng thì bị cảnh cáo, dọa bắt tài xế hay dọa đặt mìn phá máy cày, hoặc ít ra cũng gở con heo dầu, v.v… Đố ai không đóng tiền mà được yên!
                            Tối lại, bọn chúng rút về rừng tràm. Chúng ỉ i đến độ không thèm rút sâu vô rừng, tới bìa rừng là treo võng, mắc mùng ngủ qua đêm, ngày mai, “công tác” tiếp.

                            Trung sĩ Th. thấy mờ mờ bốn cái mùng vải, ba cái màu xanh lá cây, một cái màu trắng. Th. nghĩ bụng: “Thằng nầy ỉ i dữ, dám treo mùng trắng mà nằm.”

                            Trung đội thám báo dàn thành vòng cung, vây bốn cái mùng vào giữa. Trời rạng sáng, thấy rõ mục tiêu, trung sĩ Th. ra lệnh nổ súng. Ba cái mùng, kể cả cái mùng trắng không thấy nhúc nhích. Cái thứ tư có một tên nhảy xuống võng, chạy tuốt vô rừng, không kịp mang theo cây súng AK. Vậy là ba tên của ba cái mùng kia chết ngay tại chỗ, không kịp phản ứng.

                            Trung sĩ Th. báo cáo thu 3 súng Ak, một K-54, không thấy báo cáo thu được bao nhiêu tiền ở người Tư Ngọc. Anh ta không dại. Có cây K-54 đem về biếu thiếu tá Chi Khu Trưởng là ngon rồi. Hồi ấy, một cây K-54 có thể đổi cho Mỹ lấy cái tủ lạnh cở vừa xài chơi như không!

                            Sau đó, ai có thân nhân ở ngoài vùng quốc gia thì đem xác về chôn, mấy du kích không có gia đình vùng nầy thì dân làm đồng chôn ở những cái gò đất trong rừng, đắp một cái nấm nhỏ, chẳng có bia gì hết. Biết tên họ gì mà làm bia. Vã, dân lo chôn cho xong, để phơi giữa trời thì “tội nghiệp”. Không phải họ ưa chi Việt Cộng, nhưng ông bà ta nghĩ rằng “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Chôn cất người chết vô thừa nhận là làm việc phúc đức. Vậy là xong. Huyện hay xã của Việt Cộng thấy dân chôn rồi thì khỏi lo, và cũng chẳng cần dựng bia “Tổ Quốc ghi công” làm gì!

                            Nếu là bộ đội Cộng Sản, khi đánh nhau xong, ai chết, Việt Cộng kéo xác đi mất tiêu. Còn bọn du kích địa phương, không ai chôn, dân phải tự lo lấy.

                            Sau đó ít lâu, có hai tên du kích mò ra đặt mìn trên lộ, chỗ quá ngã ba kinh Xà Tón và kinh Rạch Giá - Hà Tiên một chút để lấy lại “uy thế”, đồng bào phải sợ. Mìn là một trái đạn 105 bị tịt ngòi. Chúng đặt ngòi mới. Lớ ngớ thế nào, quả đạn nổ khi hai đứa còn chụm đầu bên trái đạn. Xác chúng nát bấy, văng tùm lum, dân chúng phải lấy tấm nylon (thường dùng làm áo mưa) lượm từng miếng thịt xương bỏ vào, hai đứa chung một bọc đem chôn.

                            Sau cái chết của Tư Ngọc, Bảy Mốc, bí thư xã, không dám ló mặt ra xa rừng tràm để thâu thuế nữa. Do đó mới xảy ra vụ Nam Tu-Hú “thâu thuế giúp cho cách mạng”, bỏ túi tiêu luôn, mới bị “cách mạng bắt đền tội.” Ấy là nói theo kiểu Cộng Sản.
                            Chồng chết rồi, vợ Tư Ngọc không còn được ưu tiên đánh bắt cá trong rừng sâu nữa, nên bỏ nghề làm chủ dựa (vựa) cá đồng. Mất chồng, mất quyền lợi, cô ta cặp với một anh lính ở tiểu khu Rạch Giá, dọn nhà đi mất!

                            Tới mùa khô năm sau (1974), cũng lính thám báo chi khu phục kích bắn chết Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm trưởng ban kinh tài huyện Hà Tiên. So theo chức vụ thì ông nầy là cấp chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Tấn Dũng, truởng ban quân y huyện đội Hà tiên.
                            Cũng lực lượng thám báo chi khu theo mùa mà đánh giặc nên tôi có nói là “giặc mùa”. Mùa hè năm 1974, phó bí thư kiêm kinh tài huyện Hà Tiên là Trần Chí Tài đi thu thuế máy cày, thuế đánh cá đồng trong những cái đìa trong rừng Trà Tiên. Lực lượng thám báo chi khu lại giả trang Việt Cộng, cũng mũ tai bèo, súng AK, áo quần bà ba đen vô rừng phục kích tụi kinh tài.

                            Hơn 10 anh thám báo chi khu lang thang trong rừng, tìm không ra Việt Cộng, bỗng thấy một cái đìa lớn, cá đặc “lền khên”. Mùa nầy nước rút, cá gom lại trong đìa, thấy mà ham. Vậy là mấy “thầy” thám báo chi khu bỏ súng trên bờ đìa, lội xuống bắt ít cá đem về nhậu chơi.

                            Đang khi lính thám báo quần thảo với đám cá lóc, cá rô thì bất đồ Trần Chí Tài đi tới. Y ỷ y, chỉ đi có một mình, không có bảo vệ. Vã lại, anh ta cũng tính kỷ. Đi thu thuế một mình, đâu ai biết là anh ta thu được bao nhiêu. Mặc sức bỏ túi riêng.

                            Đìa thì ở dưới thấp, lại sậy đế đã mọc cao, nên Trần Chí Tài không thấy đám lính chi khu đang bắt cá dưới đìa. Đi trờ tới thì Trần Chí Tài thấy họ, bèn quay ngang theo hướng khác. Xui cho Trần Chí Tài là khi anh ta quay ngoắt thì gió thổi lật ngược cái áo bà ba của y lên, để lộ cây súng y mang dưới áo. Đang bắt cá, lính chi khu thấy người đi tới có mang súng, biết là Việt Cộng, bèn la lớn: “Việt Cộng! Việt Cộng”. Thấy lính đông mà Trần Chí Tài chỉ có một mình, lại chỉ có cây súng nhỏ, biết khó chống cự, Trần Chí Tài bỏ chạy. Cả đám lính khoảng mười người mang súng đuổi theo, vừa đuổi vừa bắn. Một băng AK có 30 viên đạn. Mười cây súng, mười băng đạn. Vị chi là có gần 300 viên đạn bắn theo Trần Chí Tài. Vậy là Trần Chí Tài gục ngay trên đám lau rừng. Lính chi khu tịch thu cây K-59 của Trần Chí Tài, còn tiền bạc thì không nghe nói.

                            Việt Cộng cho đó là nợ máu, nhưng sau 30 tháng Tư, điều tra không ra ai giết Trần Chí Tài. Những người dính líu trực tiếp trong vụ bắn Trần Chí Tài thì họ “tan hàng” hết rồi. Ai về nhà nấy. Nguyễn Tấn Dũng tuy ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương, nhưng anh là trưởng ban quân y huyện đội, không dính dáng nên chẳng hỏi han hay điều tra ai đã giết sư phụ của anh ta.
                            #14
                              lyenson 06.07.2008 12:24:37 (permalink)
                              Phần 14:
                              Ông Thầy Thuốc Bắc ở Phủ Cây Tùng

                              Kinh Rạch Giá - Hà Tiên được coi như một con đường thẳng chạy từ xã Mỹ Lâm tới xã Ba Hòn. Chỉ ở đoạn quá kinh Xà Tón (Còn gọi là Kinh 1) khoảng một cây số thì kinh nầy cong về bên trái một chút, cỡ 30 độ. Tỉnh lộ chạy theo con kinh nầy cũng uốn cong như vậy.
                              Đi theo hướng về Hà Tiên, bên trái khách bộ hành là khu “rừng cấm”, bên phải, bên kia kinh là xóm Đạo.




                              "Rừng cấm” là tên trong địa bộ. Hồi Tây còn cai trị, chúng nó khoanh vùng nầy để làm ruộng như ở Nam Thái Sơn, Tà Keo vậy. Tuy nhiên, sau khi đào được vài con kinh nhỏ, thì Tây mẫu quốc đầu hàng Đức nên chương trình làm ruộng nầy thất bại. Gọi là rừng nhưng chỉ toàn sậy, đế, ô-rô, cóc kèn… kinh đào chưa nhiều, chưa thông với kinh lớn nên còn nhiều phèn, chưa thể làm ruộng được.

                              Sau trận đánh năm 1972, dân Quảng Trị bỏ xứ chạy loạn, trốn Việt Cộng, ông Phan Quang Đán, phó thủ tướng đặc trách chương trình “Khẩn hoang lập ấp”, dự tính đưa đám dân chạy loạn nầy về đây. Đây là đồng bào “quê hương tui”. Nơi chôn nhau cắt rún. Tui cùng vợ lo chuẩn bị đón “bà con mình vô”. Công việc không còn bị nhóm “Nam Kỳ quốc” phản đối như hồi 1965. Mọi sự mới chuẩn bị, chưa kịp làm gì thì bỗng “đứt phim”.

                              Xin nhắc lại chuyện hồi trước, khoảng năm 1965, khi hàng rào điện tử McNamara được dựng dọc theo bờ Nam vĩ tuyến 17, vùng nam vĩ tuyến nầy bị bạch hóa, dân chúng bị đuổi đi. Hồi ấy, phủ Quốc Vụ Khanh Vũ Quốc Thúc, đặc trách phát triển kinh tế hậu chiến, dự trù đưa dân vùng bị bạch hóa gồm các quận Trung Lương và Gio Linh vào định cư ở Miền Tây Nam Phần nhưng bị một số người trong nhóm “Nam Kỳ quốc” phản đối dữ. Họ chủ trương “đất miền Nam của người miền Nam”, bây giờ còn bỏ hoang nhưng sau có đất cho con cháu cấy cày. Vì không đưa vào miền Tây Nam phần được, số dân nầy hồi đó phần đông định cư ở Cam Lộ, ở Bình Giả và một ít ở Suối Dầu (Nha Trang)

                              Sau hiệp định Paris 1973, dân chúng, nhiều nhứt là người ở Long Xuyên hoặc dân di cư Xóm Mới (Gò Vấp) cũng về đây làm ruộng, cũng chỉ mới chuẩn bị thì họ bỏ về, cũng như việc trồng chuối xuất cảng sang Nhựt, được Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp tài trợ. Việc nầy, trong bài tới sẽ kể cho độc giả nghe, còn bây giờ là chuyện “Ông Thầy Thuốc Bắc ở phủ Cây Tùng” tức là phủ Phó Tổng Thống của cụ Trần Văn Hương.

                              Ở đoạn đường cong, bên kia kinh, là “Xóm Đạo”. Đây không phải là nơi “Giặc về qua xóm đạo” của nhà thơ Hà Huy Hà, phổ thành bài hát “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Đây cũng không phải là các xóm đạo Thiên Chúa trong một làng nhiều người lương như ở ngoài Trung, ngoài Bắc. Ngoài đó, người theo đạo Thiên Chúa thường ở chung với nhau thành xóm, thành làng nên những nơi ấy thường được gọi là “Làng Đạo” hay “Xóm Đạo”.

                              Ở Gò Công, trước khi vào thị xã, cũng có một “Xóm Đạo” nhưng đó là xóm đạo Cao Đài. Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Cộng thường đem mã tấu, súng đạn tới “giải phóng” những người theo đạo Cao Đài, mà chúng nó gọi là Việt Gian, nên dân Cao Đài cũng chạy loạn, tập trung về đó ở với nhau, bảo vệ nhau, chống Việt Cộng, nên mới có tên là “Xóm Đạo”.

                              Còn như “Xóm Đạo” bên kia kinh Rạch Giá - Hà Tiên tôi nói ở đây thì lại khác xa, dân nầy không đỏ thì cũng hồng hồng, hoặc trốn quân dịch, không chịu đi lính quốc gia.

                              Xóm nầy nhà ở chi chít, sát vách nhau giống như xóm lao động ở Saigon, nhà tranh, vách lá, vài nhà lợp tôn. Hầu hết là nhà nhỏ như ở miền quê Nam bộ. Nhà nầy qua nhà kia thì cứ len theo vách mà đi, còn như xa hơn thì dùng xuồng. Mùa nước nổi, mỗi nhà là một ốc đảo. Họ có một cái chùa, thờ Phật và thánh thần gì đó, hơi lung tung, nhiều mê tín dị đoan. Theo tôi hỏi dân chúng thì gốc gác của họ là từ bên Châu Đốc, theo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Tứ ân là nói ân cha mẹ hai bên vợ chồng gì đó, tôi không rành. Nhưng vì là xóm đạo thiên Cộng nên có lần, trong một buổi họp, tôi nói đùa với nhiều người cùng họp rằng: Tứ ân là ân ông Mác, ông Lê, ông Staline và ông Mao, mà khi còn ở vùng Việt Minh, tôi thường thấy chưng hình mấy ông nầy trong các buổi họp, biểu tình của dân chúng do Việt Cộng tổ chức. Tứ ân hiếu nghĩa là một đạo mới ở miền Tây, nên người ta mới gọi là “Xóm Đạo”.

                              Xóm nầy mất an ninh trăm phần trăm. Người của chính quyền quốc gia, lính tráng không dám tới nơi nầy, nhứt là sau vụ một nghĩa quân bị đâm chết ngay trước sân chùa. Nói cho văn hoa một chút thì “Máu đổ trước cửa Thiền”.

                              Tôi nói với ông quận trưởng Sầm Long, khi ông mới về nhậm chức, tình hình như thế nầy là không được, không thể kéo dài, phải tìm cách chấm dứt. Dân chúng trong địa phương mình mà mình không kiểm soát được là thiếu trách nhiệm. Ở đây, nếu dân chúng muốn tiếp tế cho Việt Cộng trong bưng thì quá dễ. Ngày ngày, họ đi giăng câu, bắt cá, làm ruộng, tự do thoải mái mang đồ tiếp tế mà đi, đâu có ai ngăn chận, bắt giữ.

                              Sau vụ anh nghĩa quân bị giết, một hôm họp Phụng Hoàng xong, tôi nói với quận trưởng: “Mình phải dời xóm đạo nầy qua bên nầy lộ mới kiểm soát họ được.” Quận trưởng hỏi: “Làm sao mà dời?” Tôi nói: “Đốt nó nầy đi!” Quận trưởng trợn mắt hỏi tôi: “Làm sao đốt xóm người ta được?” Tôi cười: “Cứ giả dạng Việt Cộng, Quốc Gia đụng trận trong xóm, rồi cho đốt luôn. Xong, không cho họ làm nhà lại, buộc qua ở bên nầy lộ. Ai qua thì mới được bồi thường chiến tranh!” Quận trưởng nói: “Thôi! Ghê quá ông ơi! Ông với tôi vác chiếu ra hầu toà án quân sự mặt trận như không! Việc thì hay nhưng tới đó, chắc không ai bênh vực mình đâu. Ở tù lãng nhách. Ngán nhứt là mấy thằng cha đi kiếm phiếu.” Ý ông quận muốn nói mấy ông dân biểu đối lập, thân cộng, mấy ông nghị viên, nghị hòn, thấy những việc như thế nầy, sẽ quậy tùm lum lên để kiếm phiếu. Sau đó, quận trưởng nói với thiếu úy Kiệt: “Sư phụ ông là tay bá đạo! Mấy tay trọ trẹ nầy ghê lắm!”

                              Ông quận trưởng xuất thân khóa 12 Thủ Đức. Tôi, so với ông thì ông không những khóa đàn anh, mà là khóa ông nội, cố nội. Tôi nói đùa với thiếu úy Kiệt như thế. Nhưng ông cũng là người biết mình biết ta. Hôm ông ta với ông quận Phúc bàn giao xong, hai người qua thăm tôi. Ông quận Long nói một câu tiếng Tây với tôi, hình như để ngầm chứng tỏ ông là người có trình độ học vấn. Có lẽ ông ta nghe ông quận Phúc giới thiệu trước, gốc tôi là người miền trung, giáo sư trung học đệ nhị cấp, vì đời lính mà lưu lạc vô tới đây. Do đó, giữa ông và tôi bao giờ cũng có sự tương kính, hợp tác với nhau. Khổ một nỗi cho ông, ông thường bị cấp trên vòi tiền, đóng hụi chết, không ít lần ông than với tôi như vậy!

                              Một hôm, tôi cầm một bản tin Phụng Hoàng qua gặp ông quận Long. Số là tôi hay ngồi lật “Hồ sơ trận liệt” cũ để xem lại tình hình. Tôi chợt tìm ra một bản tin của Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc, gởi cho Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo cho Ủy Ban Phụng Hoàng quận của tôi, cho biết rằng… tôi nhớ đại khái:
                              “Bí thư huyện ủy Tri Tôn - tỉnh Châu Đốc - bí danh là ông “Đạo Sáu”, trước khi có chương trình Ấp Chiến Lược, là người đứng đầu “Xóm Đạo” - lúc ấy đã có tên Xóm Đạo - ở tại một cái “kinh cùng” - có nghĩa là một cái kinh “dead end” - như tiếng Mỹ vậy, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Rạch Giá. Khi chương trình Ấp Chiến Lược thi hành hồi Đệ Nhứt Cộng Hòa, “Xóm Đạo” nầy ở vào vùng khó kiểm soát nên buộc dân chúng phải dời về gần quận lỵ Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc. Thay vì làm theo lệnh chính quyền, ông Đạo Sáu kéo dân dời về tỉnh Kiên Giang, dựng lại “Xóm Đạo” ở bên kia kinh. Vậy mà mấy năm nay, nhận được bản tin nầy xong, Ủy Ban Phụng Hoàng quận tôi đem bỏ hộc tủ, chẳng khai thác, theo dõi gì cả. Tôi than phiền với ông quận Long như vậy. Quận Long nói: “Ông rán lên mà xem lại cho xong. Cần thì mình bàn lại.” Trước khi bắt tay ra về, tôi lại nói với quận Long: “Đốt mẹ nó đi là xong!” Quận Long chỉ cười, không nói gì. Trên đường về, tôi lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi nói: “Cha nội quận trưởng nầy đánh giặc thì gan lì, nổi tiếng một cây. Sư Đoàn 9 chẳng ai không biết ổng. Tới việc nầy (Việc đốt xóm Đạo như tôi chủ trương) thì chả nhát gan hơn mình.”

                              Bất đồ, mấy hôm sau, ông Chủ Chùa Phạm Bình An đến văn phòng tôi xin thành lập Hợp Tác Xã Nộng Nghiệp cho “Xóm Đạo” nầy.

                              Bấy giờ, ông Đạo Sáu không còn ở “Xóm Đạo” nữa. Ông ta đi đâu? Không ai biết. Ông giao “Xóm Đạo” lại cho ông Chủ Chùa - có nghĩa là người coi sóc ngôi chùa của “Xóm Đạo” tên là Phạm Bình An.

                              Đọc xong đơn xin thành lập hợp tác xã nông nghiệp của ông Chủ Chùa Phạm Bình An, tôi nói với anh Hai Râu, trưởng ban tư pháp, mời ông Phạm Bình An lên cho tôi gặp.

                              Hôm sau, mới tới văn phòng một chốc, thì anh Hai Râu gặp tôi nói cho biết ông Chủ Chùa đang chờ. Tôi mời ông ta vào văn phòng. Thay vì để ông ngồi vào cái ghế trước bàn làm việc, tôi mời ông ta ra salon ngồi nói chuyện. Tôi sai lính pha trà, rồi ra tiệm gọi vô hai ly “xí nại” - Ông ta là người tu hành, không uống rượu như dân miền Tây - Tôi nói chuyện với ông rất lâu, ngoài chuyện tôi khuyến khích ông nên mở rộng hợp tác xã để giúp ích cho dân chúng, hỏi thăm việc làm ruộng trước nay như thế nào, và cuối cùng… hỏi thăm ông “Đạo Sáu”.

                              Tất cả những chuyện tôi nói ở phần trước, chỉ là đưa đẩy, chuyện chính là điều tra xem ông Đạo Sáu hiện đang ở đâu?

                              Người nhà quê Việt Nam rất thiệt thà. Thấy tôi là người có chức quyền, tiếp đón ông rất nhiệt tình, hòa nhã, vui vẻ nên ông rất thành thật khi tôi hỏi thăm mọi chuyện. Theo lời ông thì mấy năm nay ông Đạo Sáu đã lên ở hẵn trên Saigon, không đi về như trước kia. Hiện giờ (lúc ấy – 1973), ông Đạo Sáu hiện đang ở tại dinh Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, phủ Cây Tùng, để chữa bệnh cho một người cháu gái của phó tổng thống, tên là Phan Lan Hương, gọi bằng cậu. Sợ ông ta từ chối, tôi vui vẻ khuyến khích ông ký tên vào tờ khai vì khi tôi nói chuyện thì anh Hai Râu ghi và đánh máy ngay tờ khai như tôi dặn trước. Ông Chủ Chùa thật thà, bị tôi gài mà không hay, ký ngay vào tờ khai rằng hiện ông Đạo Sáu đang ở Saigon. Cũng qua đó, tôi đoán rằng tay Đạo Sáu nầy cũng “bí mật” ghê lắm. Vì vậy, ông Chủ Chùa không biết ông Đạo Sáu là Việt Cộng nằm vùng.

                              Ngoài việc trả lời những gì tôi hỏi, ông Chủ Chùa Phạm Bình An còn tặng tôi một cái máy Kolher 2 piston, máy tuy cũ nhưng gắn vào ghe “tắc ráng” thì chạy nhanh không ai bằng.

                              Ngay hôm đó, tôi làm một bản tin điện, gởi cho Uy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc về tình trạng ông Đạo Sáu hiện giờ.

                              Mười ngày sau, tôi có công điện gọi về Rạch Giá trình diện, đem theo hồ sơ vụ ông Đạo Sáu.

                              Nhiệt tâm của tôi chỉ đem lại cho tôi những chuyện bực mình và… tốn tiền.

                              Sau khi được bản tin của tôi, Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang liền sao gởi lên Ủy Ban Phụng Hoàng Trung Ương. Trung ương liền sai một trung tá làm trưởng nhóm, đi Kiên Giang điều tra vụ nầy. Thay vì về tới địa phương để điều tra, tìm hiểu thì mấy chả về tới Rạch Giá rồi ở lại đó, đi về miệt ruộng mấy chả lạnh giò, đánh điện gọi tôi ra “trình diện”, có nghĩa là tôi đem cái mặt tôi ra mà trình cho mấy chả xem. Không những thế, thái độ của mấy chả là hạch sách, làm như mấy chả ở trung ương, loon to chức lớn mới tài giỏi, còn như bọn tôi là dân ở ruộng, dốt nát, quê mùa, không biết gì, sao dám làm một bản tin đụng tới phó tổng thống.

                              Sau khi tôi trình bày sự việc, từ đầu chí cuối, rõ ràng, có chứng minh bằng giấy tờ, mấy chả làm thinh. Thế rồi bèn yêu cầu tôi dẫn… đi ăn trưa. Không lý cho mấy chả vào quán ăn bình dân, nên phải dẫn ra nhà hàng, tốn hai chục ngàn, gần nửa tháng lương. Tháng nầy vợ con lấy gì ăn? Việc nầy, bên Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, chính yếu là bên phía Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát, sợ tốn kém, bèn đẩy “cục nợ” sang cho tôi gánh bớt.

                              Từ Rạch Giá về, đi uống càphê với quận Long và thiếu úy Kiệt, tôi chưởi thề không ngớt cái phái đoàn trung ương mắc dịch nầy về việc làm biếng, nhát gan, hách dịch, coi rẻ bọn làm việc miệt ruộng như chúng tôi. Thiếu úy Kiệt thì không nói gì, quận Long chỉ ngồi cười. Cuối cùng, ông ta nói: “Ở lính lâu, tôi biết cái trò nầy hơn ông. Bọn nó quen biết lớn, về trung ương ngồi để giữ chữ thọ chớ tài cán chi. Thấy ông nhỏ loon hơn chúng nó, chúng nó “lấy loon đè người” chớ học hành như tụi nó cũng chỉ đáng học trò ông.” Nghe quận Long xoa dịu tự ái, tôi cũng bớt bực mình.

                              Vậy mà tôi cũng không quên được cái mục tiêu “Xóm Đạo”. Tôi vạch kế hoạch hành quân, đích thân chỉ huy. Ba giờ sáng, tôi cho bốn chiếc ghe rải một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, Cảnh Sát Tư Pháp, Cảnh Sát Đặc Biệt và một trung đội nghĩa quân hỗ trợ bao vây “Xóm Đạo”, lục soát. Thấy động, bọn đào binh và trốn quân dịch trong xóm ra ghe, chống một cái rét là ghe đã khuất sau xóm, sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn um tùm. Chúng tôi không dám bắn theo! Thế là vừa công cốc, lại vừa hối hận vì sự tử tế của ông Chủ Chùa. Mới vui vẻ chuyện trò với ông ta, nay lại cho lính xuống quậy xóm ông. Sai thì tôi không sai, nhưng nghĩ cho cùng, mình cũng muối mặt thật. Chơi vậy mà chơi với ai!

                              Vì bực mình với đám trung ương, tôi chẳng thèm theo dõi vụ ông Đạo Sáu.

                              Khoảng năm 1981, khi ở trại tù cải tạo Xuân Lộc Z-30A, tôi và đại úy Bỉnh, nguyên là trưởng ban 2 Chi Khu Tri Tôn tỉnh Châu Đốc, chung một đội thợ mộc, tình cờ ngồi nói chuyện cũ, tôi nhắc lại chuyện ông Đạo Sáu, bí thư huyện Tri Tôn vô tới phủ Cây Tùng. Bỉnh hỏi tôi: “Anh cũng biết thằng cha nầy à?” Tôi mới nhắc lại vụ bản tin của ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc tôi lục trong Hồ Sơ Trận Liệt ra. Bỉnh làm trưởng ban 2 ở địa phương ấy, dĩ nhiên anh ấy biết rõ ông Đạo Sáu là ai.

                              Bỉnh nói: “Đang ở phủ Cây Tùng, không biết do đâu ông Đạo Sáu biết bị động, bỏ trốn. Khi “sập tiệm” (1), ông ta vào tiếp thu tỉnh Châu Đốc.”

                              Mấy người bạn tù ngồi chơi bên cạnh, nghe xong câu chuyện, có anh bực mình chưởi đổng: “Mất nước là phải. Đ. m. làm ăn chẳng ra con mẹ gì cả!” Tôi hy vọng rằng người bạn nóng tính chưởi câu đó là chưởi ai khác, không phải chưởi tôi.”

                              (1) Tiếng lóng, tù cải tạo thường dùng trong trại, để nói tới việc sụp đổ ngày 30 tháng Tư- 1975. Nó như một cuốn phim bị đứt vào ngày ấy, nên gọi là ngày “đứt phim”. Có khi gọi ngày ấy là “sập tiệm”. Nó như một tiệm chạp phô mà tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là ông chủ tiệm.
                              #15
                                Thay đổi trang: 123 > | Trang 1 của 3 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 42 bài trong đề mục
                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
                                Kiểu:
                                2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9