Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 42 bài trong đề mục
Tác giả Bài
lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:13:00
Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng
Hay là
HƯƠNG TRÀM TRÀ TIÊN 
 
 
Một câu chuyện khá thú vị của tác giả Tuệ Chương (hoànglonghải), viết dưới dạng hồi ký của nhân vật chính là một cán bộ Phượng Hoàng, tại khu dinh điền Cái Sắn (Kiên Giang) trước 1975.
Với lời văn mộc mạc, đậm chất nam bộ, và chứa nhiều thông tin lịch sử. Xin đem vào thư quán giới thiệu cùng bạn đọc.
Bài viết được mang về từ Diễn đàn X-cafevn.org
LYênSơn
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2008 15:55:47 bởi lyenson >

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:16:32
Phần 1 :

Xã Mỹ Lâm


Nói thiệt tình, về cá nhân, tôi không ghét mà cũng không thương gì ông Nguyễn Tấn Dũng (NTD) nhưng bởi vì ông ta mới lên làm thủ tướng, lại được một số nhà báo, chính trị gia ở Mỹ có tiếng khen ông ta nên nhân dịp nầy tôi lại muốn viết đôi điều về xứ sở của ông, nơi ông ta sinh ra, lớn lên rồi làm… Việt Cộng. Chuyện tôi viết, nói cho cùng, cũng là chuyện tầm phào Miền Tây Nam Bộ, chuyện “Hương Rừng Cà Mau” thời chiến tranh. Nhiều người biết “Hương Rừng Cà Mau” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” của Sơn Nam, là chuyện miền Tây Nam Bộ hồi xưa, khi người Việt mới tới vùng nầy lập xóm lập làng, cho tới “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” là chuyện thời Tây thuộc. Chuyện tôi viết hôm nay là chuyện thời chiến tranh, chuyện xảy ra từ thời Nam Bộ Kháng Chiến, chuyện đánh Tây giành độc lập hồi 9 năm (1945-54), hay là chuyện “Chống Mỹ Cứu Nước” mà thực ra chỉ là chuyện “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược”, nồi da xáo thịt giữa người Việt hai miền Nam-Bắc mà thôi.

Trong bài trước, nói tới nhân vật chính - Chị Sứ trong “truyện phong thần Hòn Đất” của “nhà văn cộng sản Anh Đức”, tôi có nói qua về lý lịch thuở nhỏ của ông Nguyễn Tấn Dũng. Nay xin nói lại đôi điều, sau khi “tham khảo” với vài người bạn thân từng sinh trưởng hay phục vụ cho chính quyền Quốc Gia ở Rạch Giá, Kiên Giang trước 1975.

Ngày 30 tháng Tư năm 1975, sau khi “tổng thống Lê Lai cứu chúa” Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng Việt Cộng, ở Hà Tiên, lực lượng Cộng Sản cũng chưa dám xuất đầu lộ diện ra tiếp thu chính quyền Quốc Gia. Từ trong rừng tràm mật khu Trà Tiên, họ chỉ tiến ra mấy chỗ vắng vẻ, trên Liên Tỉnh Lộ 8A Rạch Giá - Hà Tiên. (Liên Tỉnh Lộ 8A (LTL 8A) bắt đầu từ “Ngã Ba Lộ Tẻ” trên LTL 9 và LTL 27, đường Cần Thơ - Châu Đốc, tới mãi tận Hà Tiên). Họ đóng quân chờ trên trục lộ, không chặn xe đò bắt lính đem bắn tại chỗ như trước kia, không nổ một tiếng súng. Mãi tới sáng hôm sau, ngày 1 tháng năm, trung tá Thảo quận trưởng Hà Tiên thì rút vào rừng, thế chỗ Việt Cộng ẩn núp trước kia, còn thiếu tá Sầm Long, Quận trưởng Kiên Lương, nhờ “thân hào nhân sĩ” vào núi Hòn Chông “mời” Việt Cộng ra bàn giao chính quyền theo lệnh tổng thống Dương Văn Minh, họ mới ra tới quân lỵ Kiên Lương. Chỗ nầy, Việt Cộng gọi là “Thị Trấn Kiên Lương” là một thị trấn quan trọng vì là nơi tọa lạc của “Nhà Máy Xi Măng Kiên Lương”, có hai lò đốt đá vôi thành clinker trước khi xà lan chở về Nhà Máy Xi Măng Hà Tiên Thủ Đức, trên xa lộ Saigon Biên Hòa, xay thành bột và vô bao.

Bấy giờ ông Nguyễn Tấn Dũng mới ở trong rừng mò ra với các đồng chí, đồng đội của ông ta. Chức vụ NTD lúc đó là “Truởng Ban Quân Y” Huyện Đội Hà Tiên, cấp bậc “Thiếu tướng một sao một gạch đít”. Đó là nói đùa theo cách của mấy ông bộ đội chớ “Một sao một gạch đít” thì chỉ mới thiếu úy mà thôi. Khi ở trong rừng mới ra, ông ta chỉ mặc một bộ đồ xanh bộ đội, mũ tai bèo (Mũ tai bèo là “Bộ đội địa phương” hoặc du kích, “Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược” mới đội nón cối). Nói như thế là theo nhận xét của dân chúng địa phương. Hễ khi nào vô rừng đốn tràm mà thấy Việt Cộng đội mũ tai bèo thì biết đó là “Xã Đội”, “Huyện Đội”, cao hơn là “Tỉnh Đội”; còn thấy “Đội nón cối” thì về báo cáo với chính quyền Quốc Gia rằng Việt Cộng ngoài Bắc mới vô, từ Cămpuchia mới qua - Việc nầy sẽ kể sau, để quí độc giả biết thêm.

Ngoài bộ đồ xanh và mũ tai bèo, NTD không mang “loon lá” gì cả. Ít lâu sau, “thống nhứt” lực lượng võ trang, Việt Cộng trong Nam mới đội nón cối và mang “loon lá” giống như bộ đội miền Bắc xâm nhập. Bấy giờ NTD mang “quân hàm” là “Một sao một gạch đít”, tức thiếu úy như nói ở trên.

Mấy người bạn tôi nhận xét rằng ở “Ban Quân Y Huyện Đội Hà Tiên”, ông NTD lúc đó cũng chưa hẵn là “nhân vật quan trọng”. Huyện Đội Hà Tiên từ trong rừng ra tiếp thu hai địa điểm: Thị xã Hà Tiên và thị trấn Kiên Lương. Huyện Ủy Hà Tiên từ trong rừng ra đóng ở Hà Tiên. Ở thị trấn Kiên Lương chỉ có Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, dân chúng thường gọi là Hai Tiếu, gốc gác ở ấp Ngã Ba, xã An Bình, quận Kiên Lương, vì trốn đi lính Quốc Gia nên thoát ly theo Việt Cộng hồi trước tết Mậu Thân, nay là bí thư xã An Bình, ra tiếp thu xã. Nguyễn Văn Ngộ, tự Hai Ngộ, xã đội trưởng Ba Hòn thì ra tiếp thu xã Dương Hòa (Ba Hòn). Hai Ngộ trước kia là trung đội trưởng nghĩa quân, thoát ly theo Việt Cộng vì chống lại ông quận trưởng Kiên Lương hồi đó, thiếu tá N. bắt trung đội trưởng “đóng hụi chết”. Hai Ngộ bị thương ở chân trái. Nhìn dấu chân y in trên ruộng có thể biết tối hôm qua y có về hoạt động nơi đó. Vì bên phía Chính Quyền Quốc Gia có thành lập quận Kiên Lương (Hà Tiên và Kiên Lương là hai quận riêng biệt, trong khi Việt Cộng chỉ có chung một huyện Hà Tiên mà thôi) nên lực lượng chính thì ra tiếp thu thị xã Hà Tiên còn lực lượng phụ thì ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương vì ở đây cũng có quận đường, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát, các chi, trong đó có Chi Y Tế và bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương. NTD ở trong lực lượng phụ, có nghĩa là anh trưởng ban Quân Y ra tiếp thu Hà Tiên to chức to quyền hơn anh ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương. Có lẽ vậy.

Như vậy, gốc gác ông NTD là bên ngành Y, học Y ở Cục Rờ (R) hay có ra Hà Nội? Ai mà biết. Chưa được một năm, NTD thuyên chuyển về tỉnh ủy Cà Mau, chuyển qua ngành Công An và đời NTD lên hương từ đó.

Nguyễn Tấn Dũng quê ở xã Mỹ Lâm. Xã Mỹ Lâm nằm kế cận phía tây thị xã Rạch Giá, trên LTL 8A Rạch Giá - Hà Tiên, thuộc quận Kiên Thành. Quận lỵ Kiên Thành đóng ở Rạch Sỏi, cũng trên LTL 8A nhưng ở phía bắc thị xã. Từ Rạch Sỏi muốn đi Mỹ Lâm, theo trục lộ thì phải đi qua thị xã. Có thể tuởng tượng như Rạch Sỏi ở góc vuông mà cạnh kia là thị xã Rạch Giá vậy. Cũng xin nói thêm một chút về ông Tư La và ca sĩ nổi danh La Thạch Tuyền ở Saigon một chút. Mấy năm nay ở Saigon thiên hạ bỗng bàn tán xôn xao về ca sĩ La Thạch Tuyền, không phải vì hát hay mà vì cái tên La Thạch Tuyền khá hay. Anh ca sĩ nầy chẳng có bà con gì với La Thoại Tân cả. Anh ta quê ở Rạch Sỏi. Nói theo danh từ Hán-Việt thì Rạch là con suối, là Tuyền (Như nữ danh ca Thanh Tuyền vậy); Sỏi là một loại Đá, tức là Thạch. Còn La là bởi anh ta con ông Tư La. Ông nầy có cái tật xấu, “rượu vào lời ra” nên khi uống ruộng xong, ông ta hay la lối om sòm. Vì cái tật say rượu hay la nên chòm xóm gọi là ông Tư La (Ông thứ Tư). Nói chung lại, ca sĩ La Thạch Tuyền là con ông Tư La ở Rạch Sỏi. Nếu giới thiệu anh ta là con ông Tư La ở Rạch Sỏi, chắc người ta cười bể bụng. Nhưng nếu giới thiệu đây là ca sĩ La Thạch Tuyền, thính giả sẽ vổ tay hoan hô. Ai nói tiếng Việt không hay?! Từ con ông Tư La ở Rạch Sỏi mà biến thành La Thạch Tuyền là hay lắm! Cũng ý đó nên ông tổng thống Ngô Đình Diệm bảo rằng một nước có bốn ngàn năm văn hiến như nước ta không thể có những cái tên nôm na như Rạch Giá mà phải đổi lại là Kiên Giang; không thể Giồng Riềng mà phải là Kiên Bình; không thể là Bù-Đốp mà phải là Bố Đức!!!

Trở lại chuyên quê hương ông Nguyễn Tấn Dũng thì cái tên Mỹ Lâm cũng là văn vẻ lắm, giàu có và xã nầy cũng nổi tiếng vì có nhiều… Việt Cộng.

Ông Nguyễn Tấn Dũng sinh đẻ ở xã, năm 1952, cắp sách đi học ở trường Sơ Cấp xã thời ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Mặc dù dưới thời ông Ngô Đình Diệm, nền giáo dục đã phát triển, nhưng ở cấp xã cũng chỉ mở tới trường Sơ Cấp mà thôi. Trường Sơ Cấp chỉ có ba năm đầu của bậc tiểu học, tức chỉ có lớp Một, lớp Hai, lớp Ba. (Trước kia thì gọi là lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba). Kể ngược kể xuôi bằng cách nào thì cũng chỉ tới lớp Ba là hết. Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ mới học có lớp Ba?

Không!

Một trong mấy người bạn của tôi ở Kiên Lương, từng làm việc với ông NTD khi ông ra tiếp thu bệnh xá Dân Quân Y Kiên Lương nói với tôi rằng ông NTD đã học hết bậc tiểu học Việt Nam Cộng Hòa. Người bạn tôi nhấn mạnh chữ Việt Nam Cộng Hòa vì việc học của Việt Nam Cộng Hòa và của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) khác nhau xa lắm. Khác như thế nào thì không thể nói ở đây, không có thì giờ! Xin để có dịp tôi sẽ nói lại.

Xã Mỹ Lâm ở sát cạnh thị xã Rạch Giá, nhà nào khá giả, muốn cho con cái học tiếp thì cứ ghi tên học lên lớp Nhì, lớp Nhứt ở trường tiểu học thị xã. Thị xã Rạch Giá có rất nhiều trường, nhất là ở bậc tiểu học, trường công, trường tư và có cả trường Tàu. Ông Nguyễn Tấn Dũng được gia đình cho ra học hết bậc tiểu học ở Rạch Giá. Nếu vậy thì nhà ông Nguyễn Tấn Dũng không có nghèo đâu, không phải bần nông, cố nông là “thành phần cơ bản” của chế độ quí độc giả ạ!

Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.

Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.

hoànglonghải (Tuệ Chương)

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:19:28
Phần 2 :
Từ Xã Mỹ Lâm đến Dinh Điền Cái Sắn

Sau khi có bằng tiểu học, cũng hơn 10 tuổi vì ở nhà quê trẻ con thường đi học chậm, NTD thoát ly vào mật khu theo Việt Cộng.

Tại sao ông ta theo Việt Cộng. Điều nầy rắc rối lắm, xin phân giải từ từ.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945-54), lần thứ hai (1960-75) và lần thứ ba (1979-89), bao giờ xứ chùa Tháp cũng đóng một vai trò quan trọng. Chiến trường thì xảy ra bên phía Việt Nam, còn hậu cần thì nằm ở Kampuchia. Không tấn công vào hậu cần, chiến tranh khó chấm dứt. Đó cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam Đệ Nhất Cộng Hòa âm mưu đảo chánh Sihanouk hay quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công qua Miên hồi tháng 3 năm 1970.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, người và vũ khí từ Kampuchia chuyển qua tiếp tế cho quân Cộng Sản ở miền Tây Nam Bộ. Con đường tiếp vận của Việt Minh (danh xưng hồi đó) từ Miên xuyên qua mật khu Trà Tiên, vượt qua đoạn đường phía bắc thị xã Rạch Giá và thẳng về U-Minh.

Vì vùng nầy đất thấp, tới mùa nước, nước tràn lên khắp mọi chỗ, ngoại trừ vùng Thất Sơn (Việt Cộng gọi là Bảy Núi). Ai đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam trong quyển “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” thì biết hiện tượng nầy. Người ta chỉ có thể dùng thuyền, ghe di chuyển. Tới khi nước rút, di chuyển theo kinh rạch là tiện lợi nhứt. Vì vậy, hồi đó, Việt Minh cho đào một con kinh nhỏ dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên-Rạch Giá. Kinh nầy được đặt tên là kinh Kháng Chiến vì nó được đào trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Sau nầy, trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, con đường di chuyển nầy của Việt Cộng được gọi là đường giây 1C. Đường giây 1C từ Miên, qua mật khu Trà Tiên, vượt qua LTL 8A ở cây số 15 bắc thị xã Rạch Giá, thuộc xã Mông Thọ, (Cách thị xã Rạch Giá 15Km) và đi thẳng về Chương Thiện-U Minh.

Tại sao vượt qua ở Cây Số 15 mà không qua chỗ Dinh Điền Cái Sắn như trong cuộc chiến tranh trước. Dễ hiểu thôi. Dân Dinh Điền Cái Sắn là dân Bắc di cư 1954. Việt Cộng đút đầu vào đó là coi như đút đầu vào rọ.

Hồi chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, vì vùng Dinh Điền Cái Sắn chưa có nên việc vượt qua LTL 8A rất dễ dàng. Đại tướng Trần Thiện Khiêm khi đó còn mang “loon” trung úy, chỉ huy một đơn vị Quân Đội Quốc Gia đóng ở Mông Thọ, có thể đêm đêm nghe tiếng bộ đội Việt Minh vượt qua LTL 8A ở đoạn Cái Sắn mà không dám động tỉnh (1). Đoạn nầy, có cụ già Nam Bộ kể cho tôi nghe: “Tụi nó di chuyển qua lại như đi chợ.”

Vùng Cái Sắn ngày xưa là vùng ruộng của mấy ông chủ điền, ruộng cò bay thẳng cánh hay còn gọi là “Đồng Chó Ngáp”, cũng là chỗ nầy. Kể từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn (Còn gọi là Thạnh Đông) dài 12Km. Từ kinh Thạnh Đông tới kinh Thạnh Tây cũng dài 12Km. Có con chó nào chạy một mạch từ kinh Núi Sập tới kinh Thạnh Tây dài 24Km mà không ngáp mới thật là chó hay?!

Vùng nầy đất thấp, chỉ làm lúa sạ. Mỗi năm, mùa hè, sau khi gặt xong, đồng bỏ hoang. Khi chuẩn bị làm ruộng mùa tới thì người ta đốt đồng. Dân địa phương cũng gọi là “Mùa Đốt Đồng”. Cứ sau trưa một chút, chờ có gió mạnh, người ta giăng một cái lưới phía dưới gió, rồi đi ngược lên phía trên gió, cầm một cây đuốc mà đốt những gốc rạ, bụi cây khô. Buổi chiều, gió thổi mạnh, lửa cháy rần rần. Vậy là thỏ, rùa, rắn, chồn, cáo, cần đước, ba ba, tranh nhau chạy trốn. Chúng chạy về hướng cuối gió, chui vào lưới mà nằm, chờ người ta tới nắm cổ lôi đi bán hay làm thịt nhậu chơi. Vùng nầy dân ưa nhậu thịt rắn. Nếu độc giả tới thăm họ, gặp người quí khách, họ sẽ mời quí độc giả nhậu thịt rắn. Con rắn - thường là loại rắn độc mới bổ -, được làm thịt, móc ruột, luộc chín, chặt khúc, sắp từng khúc quanh cái dĩa bàn to, tưởng như con rắn đang nằm ngủ. Ai có gan thì cầm đũa gắp ra ăn. Tôi thì chịu vì tôi là chúa sợ rắn. Ngoài thịt rắn, còn có một nồi cháo rắn, “ăn dằn bụng” trước khi tan hàng. Phải được người dân quí lắm, họ mới mời mình nhậu thịt rắn. Khoảng thập niên cuối 60 đầu 70, một con gà giá chỉ vài trăm bạc, còn một con rắn giá 2 ngàn. Mời nhậu thịt gà, có phải rẻ hơn không!

Đốt đồng xong, người ta bắt đầu cày. Lần đầu thì gọi là cày lật, nghĩa là cày sao cho đất lật úp, cỏ xuống dưới, đất lên trên. Cỏ sẽ bị thúi mà chết, thành ra phân hữu cơ. Lần sau thì cày cho đất nhỏ ra, chờ nước lên - khoảng tháng 8 tháng 9 âm lịch – đem lúa ra sạ. Lúa lên, nước lên. Gần tết, nước rút xuống, lúa cũng bắt đầu chín. Khi nước rút hết thì người ta lo gặt. Lúa gặt xong đem sắp vòng tròn cho xe máy cày chạy quanh cán lên cho hột rời ra. Lúa chất thành đống cao như ngọn đồi, dân địa phương gọi là “cà tang” lúa. Có lẽ “cà tang” là tiếng Miên. Hôm qua đi ngang, thấy đồng trống không, nay thấy có ngọn đồi hiện ra xa xa. Đó là “cà-tang” lúa. Bên phía Dinh Điền Cái Sắn thì Việt Cộng không dám, còn bên phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, bọn kinh tài đêm khuya thường mò ra thu thuế nông nghiệp. Bọn nó thâu thuế “ác lắm”, nghĩa là thuế cao lắm nên dân chúng ghét. Nhờ đó mà phe Quốc Gia biết chúng xuất hiện ở đâu để “phục kích lấy tiền nhậu chơi”. Hễ tới mùa lúa thì bọn nó thu thuế nông nghiệp, mùa cày thì chúng nó thu thuế máy cày, cũng “ác” như thu thuế nông nghiệp. Tới mùa chúng nó đi thu thuế, “phe ta” đi săn giặc nên tôi gọi giặc ở đây là “Giặc Mùa.” Chuyện nầy cũng sẽ nói thêm về sau. Hồi xưa, người ta cày bằng trâu, chủ điền nuôi hàng trăm con trâu mới đủ cày. Như ông chủ Ry, bố vợ ông Trần Thiện Khiêm nuôi những hai trăm con trâu. Đó cũng là đề tài truyện “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam nay đã được quay thành phim. Thời Ngô Đình Diệm phải nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân cày. Sau nầy thì cày bằng máy. Máy cày John Deer, Somecar, v.v… rất được dân chúng ưa chuộng.

Tôi không rành cách tính diện tích ruộng ở đây. Người ta tính theo công: Công tầm cắt và công tầm điền khác nhau. Năm nào trúng, mỗi công được khoảng trên dưới 35 giạ là cao. Có năm trên 40 chục giạ là trúng lắm.

Việt Minh nổi lên bắt giết, bỏ tù (Rồi cũng chết trong tù luôn) các ông chủ điền. Hầu hết chủ điền chạy trốn lên Rạch Giá, Cần Thơ hay Saigon. Việt Minh gọi là “theo Tây”. Không theo Tây cũng không được, bị Việt Minh giết sao?! Ruộng của họ sau nầy, thời Đệ Nhứt Cộng Hòa bị truất hữu để lập Dinh Điền Cái Sắn. Sau nầy, tôi cũng có gặp vài người là con cháu của mấy ông chủ điền ngày trước. Nói chung, họ đã sa cơ và nghèo túng, tuy vẫn còn mang cái tên Tây như Bôn, gốc là Paul; Răng, gốc là Jean. Bố vợ ông Trần Thiện Khiêm, dân chúng gọi là ông chủ Ri, vì tên Tây là Henry, con trai lớn ông nầy, tên là Hai Re vì tên Tây là Robert và chị Tư Nết, chính hiệu con nai vàng là Annette, đích thị là bà Trần Thiệm Khiêm. Chuyện gia đình nầy sẽ kể thêm ở phần sau, cũng là chuyện vui mà thôi! Cũng có người tên họ cũng hay, nửa Nôm nửa Hán như anh bạn Trần Thông Đến của tôi, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn trước 1945. Anh nầy thường hay trốn làm việc để “đi mây về gió” nên ai hỏi tới thì tôi nói đùa là Trần Không Đến.

Khi chiến tranh Đông Dương lần thứ hai nổ ra thì Dinh Điền Cái Sắn đã thành lập xong, kéo dài từ ngã Ba Lộ Tẻ Long Xuyên tới Kinh Tư gần xã Mông Thọ. Việt Cộng không thể vượt qua LTL 8A dễ dàng. Cây số 15 là điểm duy nhất, Việt Cộng cố sống cố chết để vượt qua LTL ở đây.

Cách Cây Số 15 cỡ 10 Km, về phía tây là ấp Tà Keo. Gọi là ấp nhưng thật ra đó là một vùng rừng tràm nước mênh mông. Ấp Tà Keo là cứ điểm quan trọng để Việt Cộng xuất phát vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Khi quân Cộng Sản từ Miên vượt qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, đi về phía đông để về U-Minh, tới ấp Tà Keo thì chúng phải dừng quân, chờ trời tối, tình hình thuận tiện mới vượt qua LTL 8A ở cây số 15. Hạ tầng cơ sở Việt Cộng ở Tà Keo giữ nhiệm vụ giao liên, an ninh để bộ đội vượt lộ. Bên cạnh LTL là kinh Cái Sắn. Họ phải vượt qua kinh rồi mới vượt qua lộ, cố tránh khỏi bị quốc gia phục kích. Thường phe Quốc Gia phục kích bên bờ kinh hay bên lộ, chờ Việt Cộng vượt qua là nổ súng. Tình hình chỗ nầy rất căng. Phía Quốc Gia hoạt động rất ráo riết để cố ngăn chận không cho Việt Cộng đi qua. Phía Việt Cộng thì cố sống cố chết vượt qua cho được.

Cuối năm 1974, đầu 1975, khi tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, ông rất chú trọng nơi nầy, ra lệnh cho các lực lượng địa phương như Quận, Tỉnh và cả Khu phải hết sức ngăn chận Việt Cộng qua lộ. Trước khi có lệnh tướng Nam, tôi từng dẫn vài chục lính phục kích Việt Cộng ở đây nhưng lại đụng nhằm cỡ một trung đoàn quân Việt Cộng qua lộ, đành phải ôm súng nằm im mà run. Bọn chúng đông như thế, nổ súng, bọn chúng tới đạp lên đầu mình cũng đủ chết, nói chi tới chuyện đánh nhau. Chuyện nầy hồi sau xin kể tiếp.

Trở lại chuyện ấp Tà Keo. Ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm. Việt Cộng cố sống cố chết giữ Tà Keo. Muốn giữ Tà Keo phải mở rộng hoạt động toàn xã Mỹ Lâm. Đó là lý do tại sao xã Mỹ Lâm có nhiều Việt Cộng và NTD thoát ly theo Việt Cộng sau khi học xong bậc tiểu học.

hoànglonghải (Tuệ Chương)

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:23:13
Phần 3 :
THEO VIỆT CỘNG

Việc ông Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng, ngoài lý do chung của thanh niên ở vùng nầy, ông ta có nhiều lý do riêng. Nhìn chung thì trước hết là vì sợ bị bắt “quân dịt, quân gà”. “Quân dịt quân gà” là cách nói đùa của dân địa phương. Đúng ra là sợ đi lính Quốc gia.

Người dân ở đây chẳng “Cọng sản Cộng siếc, Quốc da, quốc xương” gì cả. Họ là dân “tu hiền” (Theo đạo Hòa Hảo, cờ Đà) tuy không tích cực và nhuộm nhiều màu sắc chính trị như dân Long Xuyên chính hiệu nhưng bên nào cũng được, miễn được ở yên, lo làm ăn

Đi lính Quốc gia khổ lắm, nhất là khi bị bắt đi quân dịch. Lính quân dịch gốc miền Nam, Vùng 4 thì đưa ra Trị Thiên, Nam, Ngãi Vùng 1 để khỏi trốn về. Lên đường ra miền Trung thì lâu lắm, vài ba năm sau, mới được về phép, nhiều khi có đi không về, có khi về trong… quan tài. Nhưng thật ra, thường thì khi tử trận, bị chôn luôn ở “ngoải”, gia đình chỉ nhân có cái giấy báo tử và “tiền tử”

Dù vậy, nếu có được cái bằng tú tài (gia đình nào khá giả cho con ra học ở Rạch Giá hay Cần Thơ, Saigon) khi đi lính cũng đi sĩ quan Cộng Hòa. Sau 1975, không ít người được “cách mạng” cho đi “học tập” mút mùa Lệ Thủy.

Có người tới tuổi cũng đăng vào nghĩa quân hay địa phương quân, phục vụ gần nhà, nhưng việc nầy hơi rắc rối, một là phải có “trà nước” hoặc có bà con làm việc ở quận, tỉnh, v.v… Vào Nghĩa quân thì chỉ quanh quẩn ở quận. Đêm tới đồn ngủ, canh gác. Ngày thì chia vài người ở lại giữ đồn, phần đông về nhà làm ruộng, tới chiều tối lại vô đồn.

Làm lính cở nầy khoẻ lắm. Sáng về nhà, chiều vô, xách theo ít đồ nhậu, chai rượu, họp nhau nhậu cho tới khuya. Đồn Vàm Rầy (Xã Đức Phương, xã của “chị” Tư Nết - Xin xem lại bài trước để biết chị Tư Nết là ai!)), có nhiệm vụ giữ cầu Vàm Rầy. Chiều lại, nghĩa quân vô đồn, kéo concertina chận hai đầu cầu, không cho ai qua lại vì đã tới giờ giới nghiêm. Xong, kéo nhau ra giữa cầu cho được trăng thanh gió mát, nhậu đã đời sương gió. Riết rồi thành thói quen. Việt Cộng điều nghiên, chờ khi mấy chú nhậu đã, chúng lặn vô chân cầu, cột mìn, cho nổ. Vậy là nghĩa quân lớp chết, lớp bị thương, lớp mất tích. Có người mất tích bị nghi là theo Việt Cộng. Mấy ngày sau, có mùi hôi thúi từ trong đám lau gần chân cầu phát ra. Người ta tìm tới xem, té ra có một chú “mất tích” chết nằm trong ấy. Sức mạnh của mìn hất anh ta từ cầu văng vào bụi lau mà không ai hay! Việc nầy xảy ra hồi mùa hè 1974.

Ai không đăng được Nghĩa Quân hay Địa Phương Quân mà không muốn đi quân dịch để bị đưa ra tới “ngoải” thì lủi vô bưng. Ban đầu chỉ mới lủi vô bưng, chưa theo Việt Cộng. Theo Việt Cộng cũng dễ chết không thua gì đi lính Quốc Gia.

Năm ba anh trốn quân dịch dựng một cái chòi trong đám lõi rừng chồi, lõi rừng tràm trong rừng. Lõi là môt cái rừng nhỏ, chung quanh là lau sậy, đế, ô-rô, cóc-kèn, v.v… không quá gần ngoài kinh, ngoài lộ, vùng Quốc Gia, không quá sát rừng Tràm, gần Việt Cộng. Họ sinh sống bằng nghề giăng câu, đạt lợp, bắt cá. Gia đình tiếp tế gạo muối, thuốc rê, áo quần vào, lấy cá tươi hay cá khô đem về bán kiếm tiền. Hễ có Việt Cộng từ trong rừng ra tuyên truyền theo “Cách Mạng” thì cũng ừ hử cho qua chuyện hay hẹn lần hẹn lửa. Còn lính Quốc Gia có vô thì chúng lội tuốt vô rừng Tràm. Trong rừng nhiều Việt Cộng, lính làng lính lệ cũng ít dám vô. Có lần lính thám báo chi khu đi rình Việt Cộng, bắn lầm. Hai người chết, còn lại bị thương, cho ghe chở ra bệnh viện Rạch giá, còn người chết đem xác về chôn, chẳng thưa kiện ai được! Có ông hội đồng tỉnh tính làm lớn chuyện nầy để kiếm phiếu cho kỳ bầu cử tới nhưng gặp ông quận trưởng cao tay ấn, vừa đánh vừa thoa nên mọi việc êm xuôi.

Ngoài lý do chung như tôi vừa nói ở trên, Nguyễn Tấn Dũng (NTD) có những lý do riêng. Trong bài “Chị Sứ - Hòn Đất”, tôi có nói là dân địa phương đồn đãi (Sau 1975 người ta đồn càng dữ, chẳng ai cải chính. NTD cũng không dại gì cải chính rằng ông ta là cháu ngoại ông Nguyễn Sinh Sắc, tức gọi Hồ Chí Minh bằng cậu. Hồi đầu thế kỷ 20, ông Nguyễn Sinh Sắc, sau khi bị cách chức tri huyện Bình Khê, ông lưu lạc vào Nam làm thầy thuốc Bắc, hết Saigon rồi tới miền Tây, và qua đời ở Cao Lãnh. Ngôi mộ hiện còn ở Cao Lãnh, do một ông quận trưởng Quốc Gia thời Ngô Đình Diệm xây cho, cũng khang trang đẹp đẽ. (Không biết Việt Cộng có làm được như vậy hay phá mộ người ta rồi san bằng?!). Khi ở Cao Lãnh, ông Sắt có léng phéng với một người đàn bà, sinh ra một đứa con rơi, con gái. (Dòng họ Hồ nầy sao nhiều con rơi vậy, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo là ông nội “thiệt” của ông Hồ Chí Minh). Người con gái rơi đó là mẹ ông NTD. Cũng có người đồn NTD là con rơi của Nguyễn Chí Thanh.

Thân phụ NTD là ai?

Có thể là một ông cán bộ người Bắc vô Nam hoạt động hồi 9 năm (1945-54). Người ta cũng đồn sau khi hiệp định Gevève ký kết, ông nầy không tập kết ra Bắc mà nằm vùng trong Nam, cũng ở Rạch Giá, bí danh là Ba Kiếm.

Hồi tôi về Cái Sắn, lật hồ sơ trận liệt ra xem thì thấy Ba Kiếm là bí thư huyện Châu Thành B. Huyện Châu Thành B. của Việt Cộng là từ kinh Cái Sắn về hướng tây, giáp với huyện Hà Tiên. Chỗ ranh giới hai huyện nầy của Việt Cộng thì tôi không biết, nhưng trên trục lộ LTL 8A từ Rạch Giá - Hà Tiên thì xã Tín Đạo thuộc huyện Hà Tiên, còn gần Rạch Giá hơn như xã Sóc Soài, xã Mỹ Lâm của ông Dũng thì thuộc huyện Châu Thành B của Việt Cộng.

Hồ sơ trận liệt cho biết Ba Kiếm là người gốc Bắc. Ban đầu tôi hơi ngợ ngợ, không lý Ba Kiếm là “dân di cư”. Hỏi ra thì không phải, ông nầy vào Nam hồi 9 năm kia lận. Tuy nhiên, hồ sơ trận liệt cũng không nói con của Ba Kiếm là những ai.
Mẹ là con gái rơi của Nguyễn Sinh Sắc, không rõ chồng là ai mà đẻ ra NTD, hay con rơi của Nguyễn Chí Thanh, hay con ông bí thư huyện Châu Thành B. Không ai biết đâu mà mò cho ra tung tích, trong khi Cộng Sản cái gì cũng bí mật nên lý lịch mấy tay Cộng Sản tối thui, không đâu ra đầu mối. Đúng là một đám hỗn độn, lộn xôn, toàn là con hoang, con nôm, con lạc dòng, con lạc vất lạc vơ. Nhìn chung, từ đám chóp bu cho tới đám hạ tầng xã ấp, như người ta thấy trong truyện “Ba Người Khác” của Tô Hoài thì rõ rồi.

Ngay chóp bu thứ nhứt, cũng là con lạc dòng của ông Hồ Sĩ Tạo. Bố ông Nguyễn Sinh Sắc được người ta gọi tới mà gả con gái cho, một người đã có bầu - Có lẽ bụng cũng chưa lớn lắm khiến thiên hạ dễ hồ nghi. Tưởng vậy là che được mắt thiên hạ, nhưng rồi cả làng Kim Liên, làng ông Hồ Chí Minh, ai cũng biết ông bố ông Hồ Chí Minh là con lộn sòng. Cộng Sản chủ trương dấu kín, cái gì cũng dấu, dấu sự thực và công bố sự giả. Họ quên mất một điều, có cái sự thật nào ở đời nầy mà che dấu được thiên hạ. Một năm, hai năm, không biết; năm mười năm, người ta cũng biết, có dấu ai được đâu!

Đám đệ tử của Hồ, không ít người cũng là thứ lạc vất lạc vơ đâu đó: Trần Quốc Hoàn là thằng Cảnh du thủ du thực. Điều nầy ông Vũ Thư Hiên rõ lắm. Phùng Thế Tài cũng là một hạng như thế, điều nầy ông Việt Thường cũng rất rành. Từ một thằng du thủ du thực, dựng nó thành ông nầy, ông kia, cho nó địa vị, cho nó quyền lợi, cho nó hưởng thụ, sung sướng… thì có điều gì sai nó mà nó không làm được để bảo vệ quyền lợi của nó, phe đảng của nó. Đó chính là cách dùng người của Hồ Chí Minh, nói riêng hay Cộng Sản, nói chung vậy. Cách dùng người như vậy đều có bài bản cả.

Đám nầy, từ Hồ Chí Minh trở xuống, người ta gọi bằng nhiều tên: Con lộn sòng, con lạc dòng, con hoang, con nôm. Có lẽ tiếng con nôm hơi lạ, tôi xin giải thích: Nôm ở đây không phải là văn chương chữ Nôm, biến dạng của chữ Nam như tôi có giải thích trong hai bài nói về “Văn Chương Chữ Nôm” và “Những Bài Thơ Nôm Đầu tiên…” mà nôm, theo thông tục, là hành động của một người đàn ông trèo lên bụng của một người đàn bà. Việc nầy phải vụng lén, không hợp lệ, không hợp pháp… của hai người không phải là vợ chồng. Vợ chồng ăn nằm với nhau như thế không thể gọi là nôm. Ở xứ tôi, tại miền quê, chữ nôm còn một nghĩa khác nữa. Ví dụ: “Bác qua nôm cho mạ tui một mụi, mai cha tui qua nôm lại.” Tiếng nôm như thế có nghĩa là qua cày giúp, bừa giúp cho một bữa (một mụi). Theo nghĩa trước thì ông Hồ Sĩ Tạo nhân lúc khuya khoắt, ai cũng ngủ say cả, giả bộ đi tiểu tiện rồi vô lộn giường, hoặc lợi dụng chỗ vắng người, ngoài bụi tre, bờ ruộng mà nôm bậy một chị nông dân nào đó. Chị nầy có bầu, sợ mang tiếng, sợ làng bắt vạ (Hồi xưa không chồng mà chữa thì bị làng bắt vạ vì tội làm thương luân bại lý) đem gả cho bố ông Nguyễn Sinh Sắc. Do đó, cái gốc chính của ông Hồ Chí Minh, không dính dáng gì tới dòng họ Nguyễn Sinh cả, nên sau khi lên ngôi hoàng đế, anh học trò lớp ba trường Pháp Nam ngày xưa ở Huế nay trở lại với cái họ gốc của mình, là họ Hồ, bèn tự đặt tên cho mình là Hồ Chí Minh. Họ Hồ là họ gốc, còn tên Chí Minh là tên mượn ông Vương Chí Minh, một cán bộ Cộng Sản Tàu.

Vậy Nguyễn Tấn Dũng con ai?

Con ai thì không biết, nhưng rõ ràng là con nôm của Việt Cộng theo cái nghĩa ở trên. Hồi nhỏ, NTD không được ngó ngàng tới, nên phải ở với “ngụy”, học trường “ngụy”. Dưới con mắt Cộng Sản, cái “ngụy” nầy ảnh hưởng tới NTD nhiều lắm, nhưng mọi việc cho qua vì có lẽ hiện giờ ông ta có gốc lớn nào đó. Cứ “bảo lưu” cái chất “ngụy” đó trong con người NTD, mai mốt, cần thì đem ra xài chơi, kiểu như Lê Đức Thọ, nắm trong tay cái đơn “hồi chánh” với Thực Dân của Võ Nguyên Giáp, chờ khi Giáp rấp ranh ra làm tổng bí thư thì chìa cái đơn “hồi chánh” đó ra cho các “đại biểu” xem. Kết quả là Bùi Tín kẹt cứng bên Pháp, “ra đi không có ngày về”… vinh quang.

Những khi tạm yên, huyện ủy Châu Thành B. đóng tại Tà Keo, thuộc xã Mỹ Lâm, xã của NTD. Hễ tình hình căng thẳng, đánh nhau dữ thì huyện ủy Châu Thành B chém vè, rút về kinh Kháng Chiến. Nhân đây cũng xin nói thêm, Tà Keo thuộc ranh giới ba quận của Việt Nam Cộng Hòa: Tận cùng phía nam quận Huệ Đức, thuộc Long Xuyên, chi khu nầy ít khi vói tới đây; phía cực tây quận Kiên Tân (tức phía cực nam xã Tân Hội - cũng thuộc quận Kiên Tân) và phía tây-bắc quận Kiên Thành. Chi khu Kiên Tân có cho đóng một cái đồn nghĩa quân cuối xã Tân Hội, chỉ ngồi ngáp ruồi, chờ khi có lính làng lính lệ hay cảnh sát đi bắt quân dịt, quân gà thì bắn ba phát báo động để đào binh hay quân dịt quân gà biết mà dông tuốt vô đồng chó ngáp, chẳng ai nắm trúng giò chúng. Chỉ có quận và chi khu Kiên Thành, đóng ở quê hương của ca sĩ La Thạch Tuyền mới cho thám báo hoạt động ở đây. Tôi có “hành quân vào phía nam xã Tân Hội một lần, đi lạc qua Kiên Thành, bị thám báo bên đó đánh cho một trận, may leo lên được xe cày mà chạy về kịp. Dịp đó, tôi tưởng là Việt Cộng, tụi nó dàn ra một trung đội, phía tôi chưa tới 5 ngoe, chạy trối chết. Hóa ra, về tới nơi, mở máy PRC 25 liên lạc mới biết là thám báo chi khu Kiên Thành. Đám nầy giả cách ăn mặc và mang súng AK nên tôi tưởng lầm Việt Cộng. Trước khi chạy, chúng tôi bắn lại cũng gắt, cản đường chúng đuổi theo. May mắn chẳng ai chết, chẳng ai bị thương chớ không thì tôi đã mang hia đội mão ra chầu tòa án Quân Sự vùng 4 rồi. “Ham” đi đánh nhau với Việt Cộng, nghĩ lại thiệt là dại. Cái ham làm cho mình chết dễ như không!
Đó là kỷ niệm thứ nhứt về quê hương NTD. Còn một kỷ niệm nữa, xin kể cho vui.
Khoảng đầu năm 1975, tình hình quân sự bấy giờ không yên như khi hiệp định Paris mới ký. Một hôm tôi đi Rạch Giá với tài xế và một anh tà lọt ngồi phía sau. Tôi thì lái xe, tài xế ngồi bên cạnh, lăm lăm khẩu AR 16, hễ thấy Việt Cộng là nổ súng ngay. Anh tà lọt thì mang một cây M-79. Mới tháng trước, tôi cũng đi Rạch Giá, về gần tới Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và Đức Phương) thì bị Việt Cộng từ bên kia kinh bắn B-40 qua. Bên tôi chỉ có 4 người: Tôi, tài xế và hai anh tà lọt ngồi phía sau. Biết B-40 bắn không tới, vã tụi nó cũng chỉ vài ba ngoe từ trong rừng ra khuấy rối chơi, nên tôi cho xe dừng lại, núp phía sau cabin xe, chỉa “Đại bác cầm tay 40 ly” gởi cho chúng nó ít quả làm quà. Trên ruộng nước, tụi nó chân thấp chân cao chạy trối chết. Bọn tôi thấy vậy càng vui, gởi tặng thêm ít quả nữa. Cũng may, chúng tôi chẳng ai có bằng thiện xạ nên tụi nó thoát chết lần đó.

Trở lại hồi đầu, khi chạy xe ngang qua xã Mỹ Lâm tôi thấy một chiếc xe Jeep A-2 chạy ngược chiều. Xe qua rồi, tôi thoáng thấy trưởng xa mang hai sao! Tôi nói thầm: “Trời! Ông tướng nào mà gan dàn trời vậy cà? Dám đi một mình, một tài xế và một tà lọt như tôi vậy.” Vùng nầy tôi đi quen nên tôi không sợ Việt Cộng, còn ông tướng ở xa, biết xứ nầy như thế nào sao mà dám đi lang bang. Tôi hỏi tài xế: “Ông tướng nào vậy mầy?” Tài xế trả lời: “Chắc là ông Tướng Quân Khu”. Tôi giật mình. Tướng Quân Khu là ông Nguyễn Khoa Nam. Trời! Thấy ông tướng Quân Khu mà chẳng chào kính gì cả, lái xe tỉnh bơ, coi như hai bên “ngang nhau.” Ở vùng 4, trước kia là tướng Trưởng, bây giờ là tướng Nam, hai ông gan như nhau, chẳng ông nào sợ… Việt Cộng cả. Cũng hôm đó, trên đường về, ngang Mỹ Lâm, xe Jeep tôi lại hỏng máy: Dinamo không charge nên hết bình (điện). Mặt trời đã gần ngọn cây, trời tối dần, đường về còn xa, bụng tôi hơi lo! Hồi đó tôi chưa biết NTD, nhưng nếu biết, lỡ NTD có mò ra tới lộ, tôi cũng chỉa súng “nghinh đón” chớ không lý để Việt Cộng bắt sống sao! May có chiếc xe Dodge Thiết Giáp chạy ngang, thấy tôi là người quen, bạn đồng khóa, dòng dây kéo về, tới chỗ đóng quân còn sửa xe giùm cho. Cám ơn Trời Phật.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:27:05
Phần 4 :
Đường Giây 1-C
:

Để xâm lược miền Nam, Cộng Sản Hà Nội mở ra nhiều con đường bí mật để vận chuyển khí cụ chiến tranh và chuyển quân. Lớn nhứt là con đường được gọi là “Đường Mòn Hồ Chí Minh”. Gọi là đường mòn, nhưng đường nầy lớn lắm, xe cộ chạy nghênh ngang trong rừng Trường Sơn. Thứ hai là con đường biển, cũng gọi là “Đường Hồ Chí Minh trên biển.”
Xưa hơn, đường giây 1-C tôi nói ở đây cũng là đường mòn, nhưng có từ thời Việt Minh đánh nhau với Tây.
Trong Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Nhứt, (1945-54), cũng như Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Hai (1959-75) (1), chiến trường Kampuchia và chiến trường miền Nam giống như môi với răng. “Hồi 9 năm”, (1945-54), bộ đội Việt Minh ở miền Tây thường qua đánh nhau với Tây bên Kampuchia. Quí độc giả nếu ai đã đọc “Chú Tư Cầu” của Lê Xuyên chắc biết điều nầy có nói tới trong đó. Họ qua lại rất thường xuyên

Vài người dân Rạch Giá như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh, mấy ông nầy theo đạo Thiên Chúa từ mấy đời trước nhưng cũng theo Việt Minh đánh Tây, sau nầy bỏ Việt Minh, không tập kết ra Bắc, có kể cho tôi nghe hồi đó họ từng đi đánh Tây ở Kompong Trach bên Kampuchia, huống chi sau nầy, khi Sihanouk cho Cộng Sản Bắc Việt mượn đất Kampuchia làm hành lang xâm nhập thì những con đường giao liên từ Kampuchia qua Việt Nam và ngược lại là rất quan trọng.

Do tình hình đó, từ hồi mới có chiến tranh lần trước, Việt Minh đã mở một con đường liên lạc, chuyển quân, chuyển vận vũ khí từ Kampuchia qua Việt Nam. Con đường đi từ Kampuchia qua khu rừng tràm Trà Tiên, vượt qua liên tỉnh lộ 8 A để đi về U-Minh là con đường huyết mạch của Cộng Sản.
Trong hồ sơ trận liệt, con đường nầy được gọi là đường 1-C. Tôi không rõ ai đặt tên là 1-C, phía Quốc Gia hay Cộng Sản, và tên đó có từ lúc nào. Con đường nầy đi qua ấp Tà Keo, ấp phía bắc của xã Mỹ Lâm, bản quán của Nguyễn Tấn Dũng. Việt Cộng cố sống cố chết giữ Tà Keo, và cũng có thể đó cũng là lý do khiến Nguyễn Tấn Dũng theo Việt Cộng rất sớm, khi còn trẻ con, để giữ Tà-Keo, giữ con đường huyết mạch của Việt Cộng.
Đường giây 1-C bắt đầu từ bên Kampuchia, địa phận tỉnh Kompong Trach của xứ Miên, băng qua khu rừng tràm Trà Tiên, đi theo một con kinh được đào hồi kháng chiến chống Pháp nên gọi là kinh Kháng Chiến, xuống tới vùng Kinh Hãng, tới Tà Keo, vượt qua cây số 15 trên LTL 8-A, đi ngang xã Giục Tượng mà về Miệt Thứ, Hiếu Lễ, U-minh. Tôi xin kể từng đoạn một.
“R”, bí danh của Trung Ương Cục Miền Nam, không khi nào nằm một chỗ ở phía bên Việt Nam hay bên Kampuchia. “R”, nó đung đưa qua lại là do tình hình khi dịu khi căng. Khi dịu, hay khi Việt Cộng mạnh lên, Quốc Gia co lại thì “R” mò về đóng ở mật khu Trà Tiên. Khi tướng Trưởng làm tư lệnh vùng 4, ông dùng chiến thuật Diều Hâu, thường cho trực thăng đổ quân bất tử lên đầu Việt Cộng nên Việt Cộng sợ bị tấn công bất ngờ, trở tay không kịp, bị nắm đầu cả đám, nên “R” dọn nhà qua Kampuchia. Khi tướng Nam làm tư lệnh vùng 4, ông cũng cho hành quân bất tử nên “R” cũng chém vè qua bên kia biên giới. Mấy năm Saigon lo chuyện đảo chánh hơn lo đánh nhau với Việt Cộng thì chúng mò về bên nầy hoạt động.
Bên cạnh cục “R” khi ở khi chạy, tỉnh ủy Long Châu Hà cũng đóng ở mật khu Trà Tiên. Gọi là Long Châu Hà vì nó là tên gọi tắt ba tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên. Ở các tỉnh nầy, hồi chiến tranh, Việt Cộng không có đất cũng không có dân, chỉ loanh quanh trong khu rừng tràm. Khu rừng tràm nầy tiếp giáp với cả ba tỉnh nói trên, nên chúng đặt ra một tỉnh ủy chung, chỉ đạo hoạt động cả ba phía: Phía đông bắc cho hai tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, phía nam cho (tỉnh) Hà Tiên. Tôi gọi là tỉnh Hà Tiên là gọi theo thời Tây cai trị. Hồi ấy Hà Tiên là một tỉnh, không thuộc tỉnh Rạch Giá (Rạch Giá cũng là tên thời Tây). Thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, cố tổng thống Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Rạch Giá thành Kiên Giang (tỉnh nầy có con sông tên là Kiên Giang), Hà Tiên trở thành một quận, thuộc Kiên Giang. Hồi đó, lúc ban đầu, Việt Cộng không gọi theo cách phân chia địa giới của ông Ngô Đình Diệm, mà gọi theo Tây nên mới có Long-Châu-Hà.
Rừng tràm Trà Tiên là rừng cổ lắm, không biết các nhà địa lý có gọi nó là rừng nguyên thủy hay không. Quí độc giả nếu có thấy cây tràm người ta chở lên bán ở Saigon để đóng móng nhà, đừng tưởng rằng cây tràm chỉ to có như thế. Tràm Trà tiên lớn lắm, có thân cây hai người ôm không xuể. Rừng trải dài từ phía Kampuchia cho tới địa giới Châu Đốc, Long Xuyên, Kiên Giang. Tôi từng đi máy bay Cessna qua khu rừng tràm nầy, từ Long Xuyên về nhà máy ximăng Hà Tiên ở quận Kiên Lương. Máy bay bay hơn nửa tiếng đồng hồ, nhìn xuống dưới, chỉ thấy rừng xanh bát ngát.
Thân tràm cao trên 10 thước, tàng cây xòe rộng, đi dưới rừng tràm lâu lâu mới thấy mặt trời nếu như hôm đó trời nắng, còn không thì âm u suốt ngày như ở U-Minh vậy. Trên thì tàng cây, dưới là nước, lâu lâu mới gặp chỗ cao, không có nước, di chuyển thì phải dùng xuồng, tiện nhứt là xuồng ba lá. Ấy là nói mùa khô, còn tới mùa nước nổi thì chỗ nào cũng toàn là nước. Đi hành quân vô tới rừng tràm Trà Tiên, người ta không khỏi than thầm: Rừng nước mênh mông vậy, làm sao mà tìm cho ra Việt Cộng. Bọn Việt Cộng ở trong rừng, tụi nó rành đường lắm. Mới thấy tụi nó lấp ló xa xa, chưa kịp đưa súng lên nhắm thì nó chống xuồng một cái “réch”, mất dạng sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn hoặc rừng bàng. Bàng là loại cây thảo, dùng để đan đệm hay làm bị bàng, v.v… Vướng vô đám rừng bàng, cây bàng níu mình lại, rứt không ra được.
Hồi ấy, cũng có vài lần tui mò vô rừng tràm Trà Tiên, hỏi thăm sức khỏe tỉnh ủy Long Châu Hà. Chắc chắn khi đó Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên, lo trốn biệt, làm sao mà thấy mặt tui.
Một khu rừng tràm cổ xưa như vậy, dĩ nhiên có nhiều chuyện “phong thần”, ai tin hay không tin thì tùy, nhưng tôi cũng xin kể ra đây.
Ông Hồng Ràng kể cho tôi nghe, hồi 9 năm, ông ta theo bộ đội Việt Minh từ Kampuchia về lại Việt Nam. Đơn vị của ông cho 2 anh bộ đội đi đầu dò đường, rồi về báo cáo lại. Hai anh nầy đi biệt tích, cấp chỉ huy đoán rằng có lẽ hai anh nầy bỏ theo Tây rồi. Nửa tháng sau, đám bộ đội của ông Hồng Ràng được lệnh phải về gấp, không cần cho người đi mở đường. Về tới giữa rừng tràm thì gặp con thuồng luồng dài hơn hai chục thước. Cả đám xúm lại nổ súng, bắn chết con vật. Khi mổ bụng nó, thấy xác hai anh bộ đội còn y nằm trong bụng nó, mấy trái lựu đạn cũng chưa nổ.
Tôi tin có thể có chuyện con thuồng luồng, nhưng tôi không tin chuyện xác hai anh bộ đội còn y. Thuồng luồng cũng là loài bò sát như con trăn. Khi con trăn, - phải là trăn rừng -, ăn con heo hay con bò, nó phải treo mình trên cây, hả họng xuống đất, chuyển thân mình cho xương heo hay xương bò rớt ra ngoài. Con vật chỉ tiêu hóa được thịt da mà không tiêu hóa được xương. Do đó, xác hai anh bộ đội không thể còn y được.
Phía nam rừng Trà Tiên, gần biển, có mấy ngọn núi đá, có hang đá. Vùng này là vùng đá vôi, nên nhà máy ximăng Hà Tiên mới được xây dựng ở đây để lấy vôi. Vì vậy nên có con kỳ đà –Vùng nầy có khá nhiều kỳ đà - cứ ở suốt ngày đêm trong hang. Khi nước thủy triều lên (Vùng nầy thủy triều lên mỗi ngày hai lần), nước biển tràn vào ngập hang, mang theo cá vào để làm thức ăn cho con kỳ đà. Nay con kỳ đà đã già, thân mình đã to lắm, không thể ra khỏi hang được. Bộ đội Việt Minh bắn được con kỳ đà, khó khăn lắm mới bò vào được trong hang, xẻo thịt đem con kỳ đà ra.
Còn ngoài biển?
Hồi xưa ngoài biển có nhiều thuồng luồng và nhiều ghe cướp biển. Nhiều khi thuồng luồng ngóc đầu đuổi theo ghe biển để ăn thịt người.
Chuyện thật hay bịa, xin hãy xét sau, nhưng ít ra những câu chuyện như thế, cho chúng ta thấy tính chất hoang sơ của vùng nầy vẫn chưa hết, bằng chứng là những cây tràm to, thường thường bằng cái cột nhà lớn, Việt Cộng đốn xuống, sắp lại cây ngang gác cây dọc, cây dọc gác cây ngang mà làm hầm. Bom nào, đạn cà-nông nào mà phá được những cái hầm như thế. Còn nữa, cái hoang sơ đó ở trong một vài cái tên như tên Giục Tượng (xã). Chữ tượng nầy được dùng theo tiếng Hán Việt. Tượng là voi. Vùng nầy, xuống cho tới U-minh, Cà Mau, xưa cũng có nhiều voi.
Chuyện thuồng luồng đã qua rồi, có lẽ nay thuồng luồng đã tuyệt chủng, nhưng trăn thì còn nhiều. Đây là loại trăn đồng, lớn lắm cũng chỉ bằng bắp chuối, bắt chúng cũng khá dễ. Tới mùa “trăn hội” – Trăn hội là tiếng dùng của dân địa phương - tức là mùa con trăn cái động đực, cả chục con trăn đực tìm tới, nên người ta gọi là “hội”. Người đi bắt trăn chỉ mang cái khăn rằn và cái giỏ đựng trăn. Khi thấy con trăn, người ta dùng cái khăn phất ngang mặt nó. Nó mở miệng đớp cái khăn và kẹt cứng ở đó. Người bắt trăn đè cổ con trăn xuống, bỏ vào giỏ. Đơn giản chỉ có vậy, nhưng người bắt trăn phải có nghề. Họ tìm theo dấu con trăn bò trên đất, thường là đất bùn, nước rút nhưng đất chưa khô, để biết con trăn lớn nhỏ như thế nào, thậm chí người ta còn biết thương tật của con trăn. Nhiều con bị gãy ngang sống lưng nhưng vẫn sống. Con trăn bị lột da, phơi khô đem bán lên Saigon để người ta làm giày dép xách tay cho mấy bà, mấy cô, còn thịt trăn thì ăn nhậu. Có người cho tôi một khúc thịt trăn, con trăn đã chết mà khúc thịt còn động đậy, khiếp lắm, ăn gì được, phải đem cho người khác.
Lâu lâu tôi cũng ăn thịt heo rừng của các ông phi công trực thang đem bán. Té ra mấy chả bay trong rừng, thấy heo, bắn rồi đem bán kiếm tiền.
Chuyện ăn ở đây thì nhiều lắm, nói không hết, phần nhiều là cá, loài bò sát và không ít những chú rắn độc.
Ra khỏi rừng Trà Tiên là tới kinh Kháng Chiến, cũng còn rừng tràm nhưng thưa hơn…

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:31:57
Phần 5 :
Đường Giây 1-C (Rừng Tràm Trà Tiên)
:



Thượng sĩ Huỳnh Phước Hưng, trưởng ban thẩm vấn, cầm tập bìa đựng bản cung của Hoàng Thị Vân, đưa cho tôi, nói:
- “Con nhỏ mới nứt mắt mà đã trốn nhà theo trai!”
Ngạc nhiên, tôi hỏi:
- “Nó hồi chánh mà?”
- “Hồi chánh mẹ gì đâu. Ông đọc bản cung thì biết, mắc cười lắm! Ông nói phải, đúng là bọn Cộng phỉ?”
Bọn Cộng Sản vùng nầy, kể cả Nguyễn Tấn Dũng, trưởng ban Quân y huyện đội Hà Tiên, đúng là bọn Cộng phỉ. Cộng phỉ là chữ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm gọi bọn Cộng Sản miền Nam, khi ông còn là tổng thống.

Tò mò, tôi đọc một mạch hết bản cung dài khoảng bốn năm trang đánh máy. Tôi lại còn cho gọi con nhỏ đó lên văn phòng tôi hỏi chuyện tiếp cho rõ ràng hơn.

Con nhỏ 17 tuổi, không đẹp lắm nhưng có duyên, nước da đen, má căng tròn thời con gái, tóc đen, cằm hơi nhọn, môi tươi. Tôi hỏi:[

“Cháu và thằng Hùng yêu nhau như thế nào? Tại sao nó theo Việt Cộng?”
Con nhỏ trả lời

“Cháu và anh Hùng yêu nhau mấy năm nay. Cha Hiền cũng biết, không ngăn cản, biểu lo đám cưới. Không cưới được vì anh ấy sắp bị gọi đi lính, tới tuổi rồi. Vì chi khu bắn chết mấy người trốn lính trong rừng tràm, anh Hùng cháu sợ, không dám trốn vào rừng tràm nữa. Ăn tết xong, anh dông tuốt vô trỏng ở với họ. Vào đó còn có ngày về, đi lính quốc gia là đi mất tiêu luôn. Với lại, vào trỏng theo anh hai Tiếu, còn đánh bắt cá giúp gia đình, còn được cho đốn tràm đem về bán. Anh Hùng theo Việt Cộng cũng chỉ vì chừng đó, không phải ưa chống Quốc Gia."

“Tụi bây có đạo tại sao theo Cộng Sản vô thần?” Tôi hỏi.
“Tụi cháu không biết gì chuyện đó hết. Sống tới đâu, hay tới đó.”
“Thằng Hùng vô trỏng, cháu vô làm chi?” Tôi hỏi, nhắc lại lời nó đã khai trong bản cung.
“Trước khi Hùng đi, hai đứa cháu có gặp nhau. Hùng biểu ở lại nhà, lâu lâu Hùng sẽ hẹn gặp nhau trong rừng tràm. Nhưng nhớ Hùng quá, cháu liều đi theo!” Con nhỏ trả lời

Tôi hỏi:
“Vô trỏng, có thằng cán bộ yêu cháu. Nó là thằng nào?”
"Mới vô, cháu không rõ tên, nghe gọi là anh Ba, trưởng ban quân y huyện đội. Anh nầy quyền lắm. Anh ta yêu cháu nhưng cháu không yêu. Cháu chỉ yêu Hùng?”
- “Tại sao?” Tôi hỏi, “Hùng chỉ là du kích. Anh nầy quyền chức cao hơn, sao cháu không yêu?”
- “Hùng đẹp trai hơn. Hùng cao ráo, dáng dấp như thiếu úy Sơn. Còn anh nầy lùn.” Cô ta cười. “Vã cháu chỉ yêu một người thôi chớ.”
- “Vậy rồi thằng Hùng ra chiêu hồi?” Tôi hỏi.
- “Dạ, Hùng buồn. Hùng nghĩ là cháu bỏ Hùng theo anh cán bộ trưởng ban kia, nên buồn tình bỏ ra, chiêu hồi. Cháu nghe Hùng chiêu hồi, cháu cũng ra luôn.” Vân giải thích.
- “Không ở lại với anh chàng lùn?” Tôi cười, hỏi.
- “Ai mà thèm!” Cô ta trả lời.
- “Hùng làm gì trỏng? Được họ phát súng ống gì chưa?”
- “Hùng chỉ là du kích, thường ngày gác phía ngoài mật khu. Khi cháu vô trỏng, anh ấy mới được phát súng M-16 của Mỹ.” Vân trả lời.
Tôi hỏi tiếp, ý nầy cũng đã được thượng sĩ Hưng hỏi rồi:
- “Vậy cháu có súng chưa?”
- “Có, cháu có súng AK.” Vân trả lời.
- “Tại sao hai đứa khác nhau?” Tôi hỏi. Ý nầy thượng sĩ Hưng chưa hỏi.
- “Mới vô, sau khi xác minh xong, họ phát M-16. Thử thách một thời gian, mới có AK.”
- “Cháu mới vô lại được phát AK ngay. Vì sao?” Tôi hỏi.
Vân giải thích:
- “Cháu vô được hai ngày thì chuyển qua ban quân y huyện đội, được phát súng AK ngay, lại có anh trưởng ban theo sát cháu. Chừng đó cũng đủ làm cho Hùng khó chịu. Hùng hỏi cháu về quan hệ giữa cháu và anh trưởng ban. Cháu nói có gì đâu nhưng Hùng hiểu mọi chuyện, Hùng buồn, rồi bỏ ra ngoài nầy.”
Tôi chỉ cái mũ tai bèo màu xanh biển, còn rất mới, hỏi:
- “Họ mới phát?”
- “Dạ. Cháu cũng được phát quần áo nữa. Hùng thì chưa có gì hết.” Vân nói.
Rát tiếc là tôi không nhớ hỏi con nhỏ trưởng ban quân y huyện đội tên là gì, chỉ nhớ nó gọi là anh Ba. Có phải là Ba Dũng, ngày nay là thủ tướng Việt Cộng. Quan trọng khi hỏi cung là hỏi về các cán bộ lớn như bí thư, phó bí thư, kinh tài, hoặc huyện đội trưởng, xã đội trưởng để theo dõi hoạt động của nó hầu tìm phương cách giải hóa.

Giải hóa là danh từ “Phụng Hoàng”, bắt hoặc giết, chớ còn như trưởng ban quân y thì có gì quan trọng đâu. Thứ nầy chỉ ở sau, đâu có ở tuyến đầu, đâu có chức chưởng gì quan trọng, không khác mấy với “Bà Già Trầu” mà tôi đã có nói tới trong bài “Bác Sĩ Việt Cộng”. Cỡ như Ba Dũng thì học hành ở đâu, sức học đâu có bao lăm. Theo Việt Cộng, khi còn nhỏ, thì đủ để cho bọn lớn đầu sai vặt, nấu cơm, pha trà, càphê. Anh nào có thế lực thì được cho về U-Minh học trong rừng, trong những cái lán tranh, cũng đặt tên là trường nầy trường kia, học lấy có, thầy trò trình độ cũng như nhau. Về quân y thì có hai trường, một trường ở U-Minh và một trường ở Cục R. Ban đầu ra y tá, ít lâu sau lên y sĩ, học thêm vài tháng ra bác sĩ. Phục vụ trong ngành quân y nên chỉ ở mặt sau, một “ân sũng” dành cho con em cán bộ có chức quyền.

Đấy. Tụi nó theo Việt Cộng là như vậy đấy, đâu phải là có lý tưởng gì đâu. Hai Tiếu, Lâm Hải, Bảy Mốc, Tư Ngọc, v.v… mỗi người một lý do khác nhau, nhưng tựu chung, toàn là lý do tầm bậy, hổ lốn, thổ phỉ, chẳng ai có lý tưởng cao siêu gì cả như Cộng Sản hô hào, tán dương. Tôi sẽ nói rõ từng trường hợp về sau.

Trước khi trở lại chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân và tên Hùng, nguyên quán ấp kinh 1, xã An Hòa, tôi muốn nói qua về người dân xóm Núi Trầu là dân xã An Hòa nầy.
Xã An Hòa nằm chung quanh núi Trầu, phần đông tập trung ở chân núi phía bắc vì gần kinh Rạch Giá - Hà Tiên để có nước ngọt. Ba phía kia, dân thưa hơn vì nước phèn. Hầu hết dân xã An Hòa theo đạo Thiên Chúa, linh mục chánh xứ tên là Nguyễn Thượng Hiền, chưa già lắm, còn nhanh nhẹn, chống Cộng một cách kín đáo vì xã ông gần mật khu Trà Tiên. Ổng sợ; nửa đêm tụi nó mò ra “thịt” ông dễ như không! Dân ở đây gốc Bắc, không phải di cư năm 1954 mà trước đó khá lâu. Khoảng năm 1939, 40, Tây đồn điền dụ dỗ họ vào Nam, không vào miền Đông Nam bộ làm phu cạo mũ cao su mà về vùng Rạch Giá làm ruộng. Vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn ở Rạch Giá như tôi đã trình bày trong bài Hòn Đất - Chị Sứ, và vùng núi Trầu nầy là dân Bắc di dân vào hồi ấy. Thế rồi Tây thất trận bên nước họ, nước Pháp bị Đức Hitler chiếm đóng, Tây thực dân bên nầy sa cơ lỡ vận, để cho các đám di dân nầy vất vưỡng. Vậy là các ông cha đạo tìm tới, truyền giảng, giúp đỡ. Dân vùng núi Trầu theo đạo gần hết. Dân Nam Thái Sơn và Cờ Đỏ thì không. Dù theo hay không, năm 1945, 46 hầu hết đều theo Việt Minh chống Pháp, ai ai cũng yêu nước, nhiệt tình, hăng hái. Hồi 9 năm (Tiếng dân địa phương gọi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt: 1945-54), núi Trầu là cơ xưởng công binh của Việt Minh, chế tạo mìn, tạc đạn, lựu đạn nội hóa... Năm 1953, vào dịp Tết, lính nhảy dù Tây nhảy xuống núi Trầu, gặp thanh niên, đàn ông, ông già đều bắn hết như tôi có kể trong bài nói về Tết Mậu Thân ở Huế 1968. Việt Cộng còn tàn ác hơn cả Tây Marốc hồi đó. Ở Huế, chúng nó giết cả đàn bà, con gái, trẻ em… Cho nên, người dân An Hòa, giống dân Huế một điểm, tới ngày Tết, nhà nào cũng có giỗ để cúng người bị giết, bị Tây giết như ở An Hòa hay bị Việt Cộng giết như ở Huế.

Hồi tập kết năm 1954, dân Cờ Đỏ, Nam Thái Sơn nhiều người tập kết ra Bắc theo Cộng Sản, như Nguyễn Quang Quýnh, dân Nam-Thái-Sơn, làm bí thư tỉnh ủy Kiên Giang sau 30 tháng Tư- 1975, sau đó bị mất chức.

Dân An Hòa, không ai tập kết. Hầu hết rời Việt Minh, theo Quốc Gia và chống Cộng. Ngoài trừ một mình Ba Nhân, theo Việt Cộng làm kinh tài để kiếm tiền bỏ túi. Tên nầy bị phe ta phục kích giết ở Tà Keo. Tôi có đọc hết giấy tờ hồ sơ riêng của tên nầy trôi trên kinh, do dân chúng vớt được đem cho. Không biết lực lượng nào phe ta bắn chết y, hình như họ để cho xác y trôi ra biển sau khi lấy số tiền trong người y vì y là cán bộ kinh tài nên có rất nhiều tiền.

Dân An Hòa làm nhiều nghề để sinh sống, trước hết là nghề đốt lò vôi. Vôi trắng để sơn nhà. Độc giả thấy ở Bến Hàm Tử trên Chợ Lớn có mấy “dựa” (vựa) bán vôi, ấy là vôi của dân An Hòa như ông Ba Để, ông Ba Nhân, ông Chín Vĩnh,... chở lên cho chủ vựa, hay chính họ cũng lên mở vựa bán vôi trên ấy như ông Đức Thắng, tự Thắng Cụt.

Hai là nghề làm ruộng, không nhiều, chỉ đủ gạo ăn.

Ba là nghề trồng rau xanh - thường gọi là làm rẩy -, vì thị trường tiêu thụ không có nên trồng cũng không nhiều. Gốc Bắc Kỳ, không ít nhà trồng rau muống. Ở đây người ta trồng rau muống khác với Huế, (Rau muống nước) hay Dốc Mơ, Gia Kiệm (Rau muống khô). Đất quanh núi Trầu rất tốt, là đất than bùn, đen như bùn. Tới mùa khô, người dân cuốc đất lên, phơi đất cho khô, cào đất cho tơi, rồi rải hột xuống như người ta gieo mạ. Hột rau muống chen nhau mà mọc, kín quá, thiếu nắng nên cọng rau trắng như cọng giá. Khi ăn, người ta nhổ như nhổ mạ, cắt ngang gộc, đem nấu với vịt, chao, gọi là vịt nấu chao, là món thường dùng đãi khách quí.

Thứ tư là nghề làm cá. Có hai loại: Cá biển và cá đồng. Xã An Hòa có vài chủ ghe đánh cá biển bằng loại ghe xịp, đánh cá bằng cách xúc. Chiếc ghe có hai cái càng dài. Khi ra tới biển, chỗ nào có cá thì gắn lưới vào hai cái càng, đẩy hai cái càng tới trước. Ghe vừa chạy vừa xúc cá. Thỉnh thoảng, kéo hai cái càng lên mà xúc cá, tôm mắc vào lưới. Cá biển không nhiều, số đông là cá phân (Cá để làm phân), bán cho hãng Somaco của ông Đặng Văn Lân ở Hòn Heo. Ông Lân là em bác sĩ Đặng Văn Sung, chủ báo Chính Luận ở Saigon, có dịp tôi sẽ nói sau. Một ít loại cá lớn hơn, ăn được thì đem bán ở chợ quận hay phơi khô. Họ cũng đánh bắt được nhiều tôm, chỉ đủ bán cho dân địa phương. Cứ khoảng chiều, họ cho ghe nổ máy chạy ra đánh cá ở vịnh Thái Lan, gần biển, không đi xa quá. Đánh bắt suốt đêm, đến sáng thì về. Dĩ nhiên, muốn có huê lợi chút ít, trong nhà cần có con trai. Người già không làm nỗi. Khổ nỗi con trai tới tuổi “quân dịt quân gà” thì phải tìm cách trốn tránh như hoãn dịch vì lý do tu sĩ (tôn giáo) mà có tu hành gì đâu, con trai độc nhứt vì có cha mẹ già trên 60 tuổi (phần nhiều là giấy giả), làm giấy căn cước quá tuổi đi lính, hoặc làm lính kiểng. Cách nào cũng phải tốn tiền trà nước mới xong. Nhờ có ghe đánh cá, có huê lợi nên cũng đỡ hơn các gia đình nhà nghèo khác. Được cái, làm nghề cá biển không dính dáng gì tới Việt Cộng như làm cá đồng.

Làm cá đồng “quan hệ” với Việt Cộng như thế nào?

Mùa nước nổi, đồng hoang hay đồng lúa, nước lên ngập cả. Cá từ trên nguồn sông Bassac, tức sông Hậu, theo nước tràn vô đồng, sinh sôi nẩy nở vô số kể. Khi nước rút, cá tụ lại trong những cái vũng sâu ở trong đồng, thường gọi là đìa. Nước càng ngày càng khô, cá càng ngày càng rặc. Người dân chỉ cần lội xuống, lấy thùng mà múc, chẳng cần lưới, câu gì cả. Bắt cá phải đúng lúc, nước còn nhiều khó hốt, nước rặc quá, cá sẽ hôi bùn, khó ăn. Một vũng nước như vậy, “thu hoạch” ba bốn chục thùng (loại 20 lít) là thường, kiếm cả trăm ngàn. Mối lợi thiên nhiên nầy có từ ngàn xưa.

Hai Tiếu, tên là Nguyễn Văn Thôn, tự Tiếu, nguyên là dân ấp Ngã Ba, xã An Bình. Tới tuổi quân dịch, anh ta trốn vô rừng tràm rồi nghe lời Việt Cộng, bỏ vô mật khu, làm du kích. Vì thiếu cán bộ hạ tầng cơ sở, theo Việt Cộng chưa được ba năm, Tiếu đã lên tới chức bí thư xã. Tới chức nầy thì quyền hạn lắm, gia đình y, còn ở ngoài bờ kinh, vùng quốc gia, nhưng có nhiều quyền lợi ở trỏng. Ví dụ như chỉ gia đình y mới được đốn tràm đem ra bán cho chủ vựa, (Việc nầy tôi sẽ nói rõ hơn khi nói về mấy tay “trời thần đất lỡ” như Tư Trạng, và Năm Tu Hú) hoặc về mùa khô, chỉ gia đình y mới được bắt cá trong các đìa, hoặc giao cho người khác bắt đìa, chia chác cho gia đình y, v.v… Bọn Việt Cộng thì ở trong mật khu, giữ các nguồn lợi trong rừng, đặc biệt dành riêng cho gia đình hoặc ban phát cho ai có lợi hoặc làm giao liên cho chúng. Gia đình Hai Tiếu, gồm mẹ, vợ và hai con của y cũng như người dân, nhà thì ở ngoài bờ kinh Rạch Giá - Hà Tiên, vùng quốc gia. Khi đi làm đồng, đi bắt cá hoặc đốn tràm, họ mới vào rừng tràm; sáng đi chiều về. Chỉ có vợ Hai Tiếu nhiều khi mới ở lại trong mật khu với chồng, khi có bầu thì vào bệnh viện Hà Tiên hay Rạch Giá để chính quyền quốc gia lo giúp việc sinh nở.

Quyền lợi ở trong rừng tràm, quốc gia không đủ sức giữ an ninh được, nên mặc sức chúng ban phát cho ai thì ban. Người dân có tranh tụng nhau quyền lợi trong đó thì Việt Cộng đứng ra phân xử. Dân thì ở với mình, có gì tranh chấp, Việt Cộng xử, thế mới tức, nhưng mình chẳng làm gì được. Nhưng có làm được gì chúng, sẽ nói ở phần sau: Phần nói về Giặc Mùa. Tuy nhiên, tiếp sau bài nầy tôi sẽ nói về mật khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ, theo lời khai của “Hồi chánh viên Hoàng Thị Vân.”


lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:39:37
Phần 6 :
Đường Giây 1-C (Mật Khu Trà Tiên với Giang Thành Dạ Cổ)
:

Trước khi kể chuyện mật khu Trà tiên, xin nói qua một chút về đất Hà Tiên. Chỉ một chữ Tiên thôi, người ta cũng sẽ đoán rằng có gì liên hệ giữa Hà Tiên và Trà Tiên?

Hà Tiên là nơi mấy bà tiên xuống tắm ở bến sông? Có lẽ ông Mạc Cửu hay đệ tử của ông bày chuyện ra để đặt một cái tên nghe cho hay, chớ đi khắp Hà Tiên, đố ai tìm được một con sông! Đó là vùng đất cao, không hẵn có nhiều núi như ở xã Thuận Yên, bên nầy Đông Hồ, trên đường Rạch Giá đi Hà Tiên. Mấy năm quân đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công Việt Cộng bên Miên, công binh có bắt một cây cầu nổi từ Thuận Yên sang thị trấn Hà Tiên để việc chuyển quân và tiếp tế được mau lẹ, dễ dàng.

Nói sơ về lịch sử (độc giả thông cảm, tôi là người dạy môn lịch sử ở bậc trung học, không phải là nhà nghiên cứu gì cả, và tôi cũng không dạy gì có liên quan tới ông Mặc Cửu cả) thì xứ Hà Tiên, trước thế kỷ 18 là vùng đất thuộc Miên. Trước nữa, lâu lắm là đất của nước Lâm Ấp, nước nầy có một nền văn minh khá cao, sử thường gọi là văn minh Ốc-Eo, (Một khu vực thuộc Long Xuyên ngày nay). Người Khmer cướp đất của Lâm Ấp khi nước nầy rụi tàn. Cướp đất của người nhưng người Miên cũng chẳng làm gì để cho vùng nầy khá lên.

Trước khi có tên Hà Tiên, có lẽ nó có vài ba cái tên gì đó, tên Lâm Ấp hay tên Miên, tôi không biết và cũng chưa đọc sách sử nào nói tới. Tên Miên, ở vùng nầy, nếu còn lại thì cũng chỉ một vài nơi, vài người mà thôi. Ví dụ sát biên giới Việt Miên, có một ngôi chùa Miên lớn lắm, tên là chùa Xà Xía (tên Miên). Chùa của ông đại đức Công-Xa-Phan (cũng tên Miên). Ông nầy quản lý về đạo Phật của người Miên kể từ bên phía Miên, phía Kampot tới Sóc Trăng. Ông đại đức Công-Xa-Phan tuy còn trẻ nhưng có nhiều cái hay, như sống đơn giản, có xe hơi nhưng đi đâu cũng nhờ người ta chở đi bằng xe Honda cho tiện, ai tới nhờ cậy gì ông cũng ừ, lại cất công đi xin giùm. Sau 1970, chiến tranh bên Miên càng ngày càng dữ, dân Miên chạy loạn tới dựng lều tạm trú quanh chùa ông, ông cấp phát quần áo, gạo mền rất đàng hoàng. Dân Miên qua Việt Nam, không giấy tờ đi lớ ngớ, bị bắt, ông đi xin cho họ được tha. Người có của (thường là vàng, đồ trang sức, và hồng ngọc, một sản phẩm của Miên), sợ bị mất, gởi cho ông cất giùm, ông cất giữ rất cẩn thận. Biết ông là người có uy tín với dân chúng, chính quyền miền Nam tôn trọng ông, giải quyết những gì ông xin xỏ hay can thiệp. Trong chiến tranh, Việt Cộng cũng không đụng gì tới ông vì đụng tới ông không có lợi. Tới 30 tháng Tư, Việt Cộng thấy sự có mặt của ông ta thêm “phiền”, bèn cho ông ta đi … “học tập cải tạo”. Ông cũng tưởng là “học tập” thiệt nên vui vẻ ra đi, “học” 5 năm mới được “tha ra khỏi trại cải tạo.” Ông cũng ngây thơ, nói với một người quen của tôi nhà ở gần cổng Tam Quan, cửa ngõ thị xã Rạch Giá: “Học tập mãn khóa thì về, sao lại có câu “tha ra khỏi trại cảo tạo?” Ông không hiểu được… Việt Cộng, có phải vì ông là người Miên. Không chỉ ông, cũng lắm người Việt không thể hiểu được Việt Cộng, nếu chưa từng “…ai có qua cầu”. Vậy nên ông vượt biên qua Thái Lan.

Khi ông được cho đi “học tập”, tài sản tín đồ gởi ông cất giữ, Việt Cộng “giữ giùm” hết. Vậy cũng còn “khoan hồng nhân đạo” hơn so với bọn Pol Pot. Dân Miên ở chùa Xà Xía cũng hú hồn.

Thấy ông là người hiền từ, hay đi đây đó, lại đệ tử đông nên tôi thường đến thăm ông để kiếm… tin tức. Đúng ông là người thật thà, thấy sao nói vậy, biết sao nói vậy, nhưng vì ông là người tu hành nên chẳng biết gì về… tình hình địch. Tôi có cái lợi khác, nguời Miên biết tôi với ông hay chuyện trò với nhau, nên không ngần ngại gì khi tôi nói chuyện với họ, qua đó tôi cũng biết vài điểu hữu ích cho công việc của tôi.
Có hai lần tôi lên chùa Xà Xía ăn với ông trong dịp vía Phật hay lễ tết gì đó của Miên. Chùa Miên không ăn chay, họ ăn mặn và người nấu ăn cho đại đức là cô chủ một hiệu ăn ở Rạch Giá. Vậy thì món ăn nấu theo kiểu Việt Nam, không phải kiểu Miên, không có mắm Bò-hóc. May phước!

Có lần ông ta đến thăm tôi, cho tôi một cái nanh heo gởi. Ông kể là hồi còn trẻ, ông qua tu ở bên Lào và được cái nanh heo gởi. Con heo rừng khi già, cái nanh heo mọc dài ra, đâm xuống hàm dưới, làm cho con heo đau lắm. Nó tìm một gốc cây, cắn mạnh vào thân cây, vặn đầu cho cái nanh heo gãy ra, không còn đâm vào hàm được nữa. Cái nanh heo mắc vào thân cây, gọi là nanh gởi, linh lắm. Ai đeo vào tránh được súng đạn. Được cái nanh, tôi khoái chí kể cho một người bạn thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh nghe. Anh bạn nói: “Năm ngoái, tôi yễm trợ cho một đại đội của Lol Non vào mục tiêu ở Kompong Trach. Trước khi tấn công, thằng đại đội trưởng cũng lấy cái nanh heo, đọc kinh, rồi ngậm cái nanh heo vào mồm mà chỉ huy. Chỉ một lúc, tôi thấy thằng đại đội trưởng bị bắn toác họng mà chết. Ông cứ tin là tôi nói thiệt đi!”
Câu chuyện của người bạn làm tôi mất hứng về chuyện cái nanh heo của ông đại đức Công-Xa-Phan cho. Nhưng rồi vợ tôi cũng đem cho thợ tạc thành tượng một ông Phật, cùng làm sợi giây chuyền để tôi đeo vào cổ. Ngày “trình diện đi học tập cải tạo”, tôi để tượng Phật ở nhà. Bị đánh tư sản, vợ tôi hoảng hồn không biết để cái nanh heo thất lạc về đâu? Đến khi tôi đi “tù học tập” xong, cũng được “tha ra khỏi trại cải tạo” như ông Công Xa Phan, thì ông đại đức hiền hậu của tôi đi một đường, cái nanh heo ông cho lại đi một nẽo. Đó cũng là một chuyện buồn trong cuộc đời nhiều buồn hơn vui.

Trở lại chuyện ông Mạc Cửu, ông là người Tàu Quảng Đông, theo phái “Diệt Thanh Phò Minh” nhưng thất bại nên chạy qua Việt Nam như người Tàu Minh Hương hoặc Dương Ngạn Địch, Trần Thắng Tài vậy. Mạc Cửu không ghé đất Sài-Côn (Saigon năm xưa) như hai ông vừa nói mà xuống tuốt Hà Tiên. Có lẽ trước đó, ông cũng ghé lại chầu chúa Nguyễn ở miền Trung. Chúa bấy giờ cũng cần người khai phá vùng đất hoang ở Nam Bộ, vã cũng không muốn một ông Tàu có đủ binh tướng ở sát bên mình, tai họa đến dễ như không nên cho ông vào Nam. Mạc Cửu đến Hà Tiên và mở sòng bài, trở nên giàu có. Có tiền và có binh lính, ông bình định cả vùng Hà Tiên, tới gần Rạch Giá (Vùng Lình Quỳnh). Xong, ông đem vùng đất nơi ông cai trị và mở mang mà dâng cho chúa Nguyễn. Chúa mừng lắm và đãi ông vào hạng “Khai Quốc Công Thần.”

Những năm Việt Nam và Xiêm La giành nhau cai trị nước Kampuchia, vua Campuchia qua lánh nạn ở Hà Tiên. Để tránh hậu họa, Xiêm La bèn đem quân đánh phá Hà Tiên. Bấy giờ Mạc Cửu đã qua đời, con là Mạc Thiên Tích nối nghiệp cha, đánh bại quân Xiêm, đuổi chúng ra khỏi nước. Thành ra cả hai cha con ông đều có công lớn với chúa Nguyễn nói riêng hay với nước ta nói chung. Khi tôi ở Hà Tiên, lăng mộ hai cha con vẫn còn, nằm bên sườn đồi, ngó xuống biển, rất đẹp và hùng vĩ. Ngày nay, dòng họ Mạc ở Hà tiên không còn ai, coi như tuyệt tự, lăng mộ không biết còn mất như thế nào?!



Biết chuyện ông Mạc Cửu mở sòng bài làm giàu, tôi cứ suy nghĩ hoài. Vùng đất Hà Tiên trở nên giàu có là về sau nầy, kể từ khi Tây qua cai trị nước ta, chứ trước đó, xứ nầy có tài nguyên gì đặc biệt đâu, ngoài nghề đánh cá biển, nuôi đồi mồi. Ruộng rẩy thì ít, không có đồng chó ngáp hay ruộng cò bay thẳng cánh. Nhờ ở vào địa thế biên giới Việt Miên, nên việc buôn lậu phát triển, chẳng hạn như sau Hiệp Định Paris 1973, việc giao thông trên liên tỉnh lộ 80 Hà Tiên - Rạch Giá trở nên tiện lợi, nên hàng lậu từ Thái Lan tới Hà Tiên rồi chuyển lên Saigon ì xèo, việc buôn bán ở Hà Tiên rất phát đạt, nhiều người giàu có và cũng không ít người trở thành nạn nhân của bọn buôn lậu, kể cả mạng người. Mua hàng trả bằng vàng. Vàng và máu lộn vào nhau giống như trong tiểu thuyết trinh thám Vàng và Máu của Thế Lữ. Người đáng thương nhứt chính là đại úy Thành, cựu đại úy Nhảy dù, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Hà Tiên, vì cần mẫn với nhiệm vụ nên bị bọn buôn lậu + Việt Cộng + Khmer Đỏ + Khmer Lol Non phục kích bắn chết ở ấp Việt Nam 1, Hà Tiên. Chuyện nầy không nói không được nhưng xin để kể lại sau.

Xứ sở không giàu, vậy tại sai ông Mạc Cửu, như người ta nói, mà sách sử cũng ghi vậy, ông ta mở sòng bạc mà giàu.

Dễ hiểu thôi, cứ đi vào dân, đi với dân, nghe dân nói, dân kể chuyện, hiểu ngay.
Vùng vịnh Thái Lan là vùng nổi tiếng cướp biển mấy trăm năm nay, trước cả thời gian người Bồ, người Hà sang buôn bán ở Châu Á, Đông Nam Á nầy. Bây giờ cũng là vùng cướp biển nổi tiếng nhứt thế giới, hung bạo nhứt thế giới.

Người dân Hà Tiên cố cựu, - không riêng gì ở thị trấn Hà Tiên mà nguyên cả vùng chùa Hang, Hòn Chông, Vàm Rầy, Lình Quỳnh thuộc tỉnh Hà Tiên cũ, thời Pháp thuộc, cũng có người kể cho tôi nghe chuyện cướp biển ngày xưa. Bọn cướp biển khi giàu có, không đem của về xứ được - Phần đông là người Tàu gốc đảo Hải Nàm, nổi tiếng đi biển giỏi - bèn chôn dấu tài sản ở các hòn đảo hoang trong vịnh Thái Lan như Hòn Tre, hòn Đầm, hòn Nghệ, hòn Ngang, v.v… Khi giải nghệ, vì già hay vì chán cảnh đâm chém, dân hải tặc nầy không dám về xứ, tụ tập ở vùng Hà Tiên, lấy vợ, có con và cũng có sẵn của tiền để đi đánh… bạc. Chỉ có đám hải tặc giải nghệ nầy mới có nhiều tiền để cờ bạc, và cũng nhờ đó mà ông Mạc Cửu mau giàu. Chuyện gì chớ nói tới việc buôn bán thì tất cả nhân loại nầy đều thua người Tàu, như ông Lã Bất Vi, còn buôn cả vua, huống chi với đám hải tặc nầy, Mạc Cửu lấy tiền của chúng dễ như không! Nói chuyện nầy với mấy ông cụ già đất Hà Tiên, họ cho rằng tôi nói có lý đấy. Đây cũng là vấn đề lịch sử, xã hội; hy vọng ngày sau các nhà nghiên cứu lịch lịch sử sẽ không bỏ qua.

Ở Hà Tiên còn có dòng họ Lâm (Họ Lâm và họ Mạc là hai họ lớn nhứt hồi xưa ở đây) nay cũng chẳng còn ai. Họ Mạc thuộc võ tướng, họ Lâm thuộc văn học, ông Đông Hồ Lâm Tấn Phác là một nhà thơ nổi tiếng hồi đầu thế kỷ 20. Năm 1945, ông sợ Việt Minh, chạy lên Saigon, ở miết trên ấy, dòng tộc nay chẳng còn ai!
Ông Đông Hồ có tập “Hà Tiên Thập Cảnh”, xuất bản khoảng đầu thập niên 60, tôi không nhớ chắc, có mười bài thơ tả 10 cảnh đẹp ở Hà Tiên. Mười cảnh đẹp đó là hòn Phụ Tử (Nay Phụ chết rồi, chỉ còn có Tử mà thôi. Có người bạn, khi nghe tin hòn Phụ bị đổ, nói với tôi: Phụ của bọn chúng đổ rồi thì chúng chỉ có tử mà thôi - Tử đây không phải là con mà là chết), Chùa Hang (chùa thờ Phật), bãi Hòn Trẹm, (trước 1975, nhiều bà lớn ở Saigon như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng, v.v… về đây giành đất để xây biệt thự, việc chưa thành thì miền Nam bị mất về tay Cộng Sản. Bây giờ muốn có đất ở bãi Hòn Trẹm thì mấy bà phải mua lại của Việt Cộng), Hang Tiền, Đông Hồ (là cái vũng biển lớn, ăn sâu vào trong đất liền), Giang Thành… Giang Thành là cái đuôi của Đông hồ, nằm trên đường Hà Tiên đi Châu Đốc, qua kinh Vĩnh Tế, có ngôi chùa, có cái trống lớn lắm. Đêm nằm ở Hà Tiên, thi sĩ Đông Hồ nghe tiếng trống chùa mà cảm tác bài thơ “Giang Thành Dạ Cổ” – Đêm nghe tiếng trống ở chùa Giang Thành - (Dạ là đêm, cổ là cái trống, tương tự như trong câu thơ của Đặng Trần Côn: “Cổ bề thanh động Tràng An nguyệt” – Bà Đoàn Thị Điểm dịch là: “Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt.”

Sau khi chiếm được đất Miên, các chúa Nguyễn muốn ngăn chận người Miên nổi lên quấy rối, bèn định rõ ranh giới hai nước. Đất đai hai bên liền nhau, dân nổi loạn chạy qua chạy về dễ dàng nên khi ông Nguyễn Văn Thoại, tức Thoại Ngọc Hầu trấn thủ vùng nầy, bèn cho đào kinh Vĩnh Tế, nối liền Châu Đốc với Hà Tiên, đi ngang Giang Thành. Kinh đó là con đường phân chia hai nước Việt Miên ở vùng nầy.

Dĩ nhiên muốn đào kinh phải huy động dân chúng đi làm. Kinh khá rộng, 30 mét bề ngang, sâu chừng 5 mét, ghe thuyền đi lại dễ dàng. Có lẽ hồi đó, người Việt định cư vùng nầy chưa đông; cả hai bên bờ kinh, phần nhiều là người Miên nên họ bị bắt đi “dân công” đào kinh. Người Miên chống lại việc đào kinh, dĩ nhiên. Bên nầy kinh là người Miên, bên kia kinh cũng là người Miên, có khi là bà con họ hàng, nay bỗng phân ly thành dân hai nước, ai chịu được. Vã lại, việc đào kinh không phải là việc đi du lịch, gian khổ vô cùng, vậy nên nhiều người Miên chống đối, bằng nhiều cách khác nhau. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến người Miên ưa “Cáp Duôn” để trả thù. Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt. Từ lâu lắm, có lẽ sau khi bị mất vùng đất Khmer Krom, người Duôn trở thành cơn ác mộng của người Khmer (Miên). Trẻ em Miên khóc đêm, mẹ nó dọa “Nín đi! Coi chừng Duôn đứng rình ngoài vách.”
Đó cũng là động lực của việc “Thổ dậy” năm 1945 mà nhà văn Lê Xuyên có thuật lại trong “Chú Tư Cầu”, “Kinh Cầu Muống”, v.v… (Tôi sẽ thuật lại việc nầy khi nói nói tới ấp Xà Ngách ở Ba Hòn và xóm Vàm Rầy của ông Chủ Ry (Henry), thân phụ “Chị” Tư Nết (tên Tây là Annette).

Khi Khmer Đỏ nắm quyền cai trị xứ Chùa Tháp, để chống lại Cộng Sản Hà Nội, bọn chúng thường khơi dậy lòng hận thù dân tộc (Cộng Sản và Hận Thù là song sinh) giữa hai dân tộc Việt Miên. Trong cuốn sách “Brother Enemy”, ông Nayan Chanda có thuật lại việc Khmer Đỏ tuyên truyền về cái ác của “quan Việt Nam” trong việc đào kinh Vĩnh Tế. Quan Duôn bắt mấy người Miên chống việc đào kinh lại, đem chôn sống, chỉ chừa ba cái đầu làm ba ông táo, làm bếp nấu nước sôi. Lửa nóng là cho người bị chôn sống nhúc nhích cái đầu, quan Việt Nam la mắng: “Không được nhúc nhích làm đổ nước của quan.” Chuyện thật hay bịa? Cộng Sản, kể cả Khmer Đỏ, có cái gì mà không bịa (Cộng Sản và Dối Trá cũng là song sinh). Chuyện tàn ác, nếu có chăng thì cũng chỉ là “Ít xít cho nhiều” mà thôi.

Hồi chánh Viên Hoàng Thị Vân” kể:
- “Từ mật khu cháu phải chèo xuống ba ngày mới về tới núi Trầu.”
Xem qua bản đồ, tôi biết mật khu nầy, tức cục R nằm bên Miên, không thể nằm bên phía Việt Nam.

Kể từ ngày tướng Trưởng về làm Tư lệnh Quân Khu 4, ông đưa ra một chiến thuật mới để săn lùng Việt Cộng, gọi là “Chiến Thuật Diều Hâu.” Chiến Thuật Diều Hâu chỉ là việc vào tận hang hùm bắt cọp, kiểu như ngày xưa có nói trong Chinh Phụ Ngâm: “Quày ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Tàu thì gọi là “Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử”. Dịch nôm là không vào hang cọp sao bắt được cọp con.” Cách của tướng Trưởng là hễ biết chỗ nào có Việt Cộng thì cho lính từ trực thăng nhảy xuống đó. Ban đầu thả xuống một hai toán. Hễ đụng với địch thì tăng cường thêm lính. Đụng trận lớn nữa thì đổ thêm quân. Việc nầy sẽ nói thêm về sau. Kỷ sư Lê Hữu Phước, giám đốc nhà máy xi măng Hà Tiên, bê nguyên một két Hennessy cổ đen mà cho tôi cũng là nhờ chiến thuật nầy, do công của anh em chúng tôi mà suốt một năm Việt Cộng không dám tới đánh phá nhà máy xi măng Hà Tiên ở Kiên Lương.

Sau nầy, khi tướng Nam làm Tư Lệnh vùng 4, ông áp dụng trở lại chiến thuật nầy. Việt Cộng sợ muốn chết, bưng nguyên mật khu qua Miên xin tạm trú, đâu dám ở bên phía Việt Nam. Vì vậy Hồi Chánh Viên Hoàng thị Vân phải chèo xuống ba ngày, bất kể ngày đêm, mới về tới quê của con nhỏ ở núi Trầu

Tôi hỏi:
- “Cháu có biết cháu qua kinh Vĩnh Tế lúc nào không?”
- “Không! Cháu không biết. Nhưng cháu có chèo xuồng qua đoạn phía trên Giang Thành. Trong mật khu có phổ biến, lưu ý khi qua chỗ nầy phải cẩn thận, dễ bị mắc cạn. Bị mắc cạn lại nhằm lúc máy bay trực thăng quốc gia tới thì chỉ có chết. Trực thăng bắn róc-két dữ lắm.”
- “Vậy cháu đi theo đường giây 1-C.” Tôi hỏi.
- “Cái chi? Cái chi mà một Xê. Cháu không biết.” Nó trả lời.
Biết là hớ, làm sao nó biết một Xê với hai Xê. Tôi điều chỉnh:
- “Đuờng bộ đội di chuyển đó!”
- “Không! Cháu không đi ngay đường đó, sợ gặp du kích gác đường. Cháu đi hơi xa xa một chút để tránh du kích.” Nó trả lời.
- “Cháu không sợ lạc?
- “Sau một ngày đi theo hướng đông, cháu theo hướng ống khói nhà may ximăng Hà Tiên. Tới chỗ trống, cháu tìm khói của nhà máy mà tới, chắc ăn.” Con nhỏ giải thích.
Tôi lại hỏi:
- “Cháu không sợ máy bay?”
- “Trên máy bay, họ biết cháu chỉ có một mình, cho là dân làm đồng, họ không bắn. Vã lại cháu đi ban ngày. Họ chỉ đi ban đêm, vì đi ban ngày, qua chỗ trống, họ sợ máy bay lắm.”

Ngày nay, nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn thường nghĩ rằng, Nguyễn Tấn Dũng chắc cũng sợ xanh máu mặt mỗi khi y đi từ mật khu về Tà Keo, xứ sở của y, vào ban ngày. Cũng may cho y chớ không thì trực thăng đã cho y về chầu “già râu” từ khuya rồi!
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2008 11:43:30 bởi lyenson >

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:46:58
Phần 7 :
Đường Giây 1-C (Núi Mo-So: Tora Bora Việt Nam, quân y viện của Nguyễn Tấn Dũng)
:

Trong thời kỳ ở Saigon lo đảo chánh hơn lo đánh giặc, toàn bộ vùng Hà Tiên - Rạch Giá, phía quốc gia chỉ còn giữ được những cái lõm: Hà Tiên, Kiên Lương, Vàm Rầy, Tri Tôn (thuộc xã Tín Đạo), Sóc Soài, Rạch Giá… Vùng nào ở chết vùng đó, đường qua lại với nhau rất khó khăn. Từ nhà máy Kiên Lương đi Saigon và ngược lại, có máy bay mỗi tuần ba lần của hãng ximăng. Hà Tiên đi Rạch Giá thì dùng tàu đánh cá hoặc tàu biển. Chỉ có trực thăng là phương tiện tiện lợi nhất, nhưng phải xin quá giang bên Biệt Khu 44.



Toàn bộ vùng Kiên Lương, ngoại trừ khu vực nhà máy, chi khu và quận, đóng gần nhau thì chưa bị Việt Cộng chiếm đóng, còn toàn bộ khu vực chung quanh như Chùa Hang, hòn Phụ Tử, Hòn Chông, (nơi nầy ngày xưa là căn cứ của anh hùng Nguyễn Trung Trực), hoàn toàn bị Việt Cộng chiếm cứ. Linh mục Lương Công Đại, mới qua đời ở Mỹ, hồi ấy là linh mục họ đạo ấp Rạch Đùng, Hòn Chông, thuật lại những khó khăn của ông hồi ấy, khi xứ đạo của ông bị Việt Cộng chiếm. Việt Cộng tổ chức biểu tình đá đảo “Mỹ Ngụy Dương Văn Minh”, gọi ông lên phát biểu, ông cũng phải nói chung chung cho có nói, không thì Việt Cộng bắt tội. Sở dĩ Việt Cộng không bỏ tù ông vì Hòn Chông là một họ đạo lớn, trước 1945, ở đây có một nhà giòng tu lớn, giáo dân khá đông, nên cũng giống như họ đạo An Hòa (núi Trầu), Việt Cộng chưa bắt mấy ông linh mục đi tù.

Trục lộ 80 A Rạch Giá – Hà Tiên là con đường song song với đường giây 1-C của Việt Cộng. Cộng Sản cần sự tiếp tế của dân chúng sống trên trục lộ nầy, nên chúng không dại gì chiếm cứ hoàn toàn các xã lỵ, quận lỵ nằm trên trục lộ. Nguồn lợi của đồng bào là đốn tràm, làm ruộng, bắt cá đồng. Những nguồn lợi nầy nằm trong vùng Việt Cộng kiểm soát. Đồng bào muốn khai thác những nguồn lợi ấy, phải làm giao liên hoặc tiếp tế cho Việt Cộng. Vào rừng đốn tràm, làm cá, làm ruộng, phải đóng thuế hay tiếp tế, gạo, bột ngọt, thuốc rê, thuốc tây, v.v… cho chúng. Tiêu diệt hết những cái lõm dân chúng theo trục lộ, các xã, các ấp thì Việt Cộng mất đi nguồn tiếp tế rất cần thiết. Về phía chính quyền quốc gia cũng theo dõi, bắt bớ những ai có hoạt động liên hệ tới Việt Cộng. Đúng là một cổ hai tròng. Trong cuộc sống nghèo khổ, kinh tế không phát triển, cuộc sống cơ cực, đời sống dân chúng khó khăn biết chừng nào!
Do tình hình co cụm của phía quốc gia như thế, Việt Cộng dời quân y viện của chúng từ trong rừng tràm về núi Mo-So. Rừng tràm bốn mùa ngập nước, khí hậu ẩm thấp, tiếp tế khó khăn nên đặt quân y viện ở núi Mo-So tương đối tốt hơn nhiều.

Núi Mo-So nằm kế cận quận lỵ Kiên Lương, khoảng giữa quận lỵ và Hòn Chông, cách quận lỵ khoảng gần 10Km. Đó là một ngọn núi đá vôi trong hàng trăm ngọn núi đá vôi ở vùng nầy như núi Nai, núi Còm (hiện nhà máy ximăng Kiên Lương đang khai thác đá ở núi nầy), núi Trầu, v.v… Cạnh núi Mo-So, có một con kinh nhỏ, không rõ tên, nối liền với kinh Kiên Lương ra biển tới Hòn Chông. Về mùa nước nổi, kinh nầy có nước ngọt, Việt Cộng xử dụng được. Dùng nước mưa, với một số lượng đông người, không thế nào đủ. Hơn nữa, tới cuối mùa mưa, Việt Cộng vẫn còn có thể hứng nước mưa ở những thạch nhũ để dùng.

Những núi đá vôi ở trên thường có nhiều hang động. Thời chiến tranh 1945-54, Việt Cộng đặt công binh xưởng trong những cái hang ở núi Trầu. Trong cuộc chiến tranh 1960-75, lực lượng quốc gia mạnh hơn, hoạt động hữu hiệu hơn, Việt Cộng không dám bén mảng tới núi Trầu. Nghĩa quân rào kẽm gai và gài lựu đạn tất cả những cửa hang để đề phòng Việt Cộng kéo vào ẩn núp trong những cái hang của núi đó.

Núi Mo-So cũng nhiều hang động như vậy, hang nầy thông với hang kia, như hang chuột, mở ra nhiều cửa. Việt Cộng lập quân y viện của huyện đội Hà Tiên ở đây. Dĩ nhiên lúc đó Nguyễn Tấn Dũng chưa tới 18 tuổi, theo Việt Cộng đã mấy năm, không còn làm du kích mà lên được chức y tá hay y sĩ gì đó. Gọi là quân y viện nhưng nó có ra hồn gì đâu! Giường là những cái sạp làm bằng cây, bằng tre. Gặp chỗ hang hơi rộng thì để hai giường, chỗ hẹp thì chỉ có một giường. Tất cả không tới ba chục giường bệnh. Cũng có phòng mổ, khi mổ thì giăng mùng lên ngăn ruồi muỗi. Chỉ có bị thương nặng mới được đưa về đây, còn như bị thương nhẹ, cảm sốt, thương hàn thì điều trị tại chỗ, tại đơn vị của họ. Bác sĩ, y sĩ, y tá chỉ có mấy ngoe, tốt nghiệp “Viện Đại Học Y Khoa Cục R”, một tháng thành y tá, ba tháng thành y sĩ, lâu ngày lên bác sĩ. Giả như hồi ấy không phân chia vùng Quốc Gia với Cộng Sản, sự liên lạc dễ dàng thì quân y viện nầy sẽ được giấy khen hay thư cám ơn của hãng Tobia hay Vạn Thọ, là các hãng lo việc ma chay ở Saigon.

Lực lượng quốc gia tấn công vào bệnh viện nầy nhiều lần để đuổi chúng đi nhưng không có kết quả. Địch phòng thủ trên núi đá, sau những tảng đá lớn, lại ở cái thế từ trên cao bắn xuống, rất chính xác. Lực lượng phía ta thì từ dưới đánh lên, quan sát địch đã khó, súng nhắm ngược lên khó trúng đích, quăng lựu đạn cũng khó khăn, chưa kể miểng đá văng xuống cũng dễ trúng đầu người ở dưới

Đánh mãi không được, cố vấn Mỹ của chi khu bàn thảo và đề nghị kế hoạch.
Vì hồi ấy có lẽ cô Dương Nguyệt Ánh mới sinh, nên chưa có loại bom cô sản xuất để đánh bọn Taliban ở núi Tora Bora bên Afghanistan. Núi Mo-So không lớn như Tora Bora, nhưng địa thế cũng giống như thế nên không có cách chi đánh đuổi Việt Cộng ra khỏi núi. Bấy giờ cố vấn Mỹ thấy Việt Nam thiếu điều kiện nên đứng ra lo việc tấn công Cộng Sản ở Mo-So. Chiến thuật của Mỹ cũng chẳng có gì mới mẻ, chỉ là dùng hỏa công như trong thời Tam Quốc bên Tàu vậy. Khác một điều, hỏa công ngày xưa là dùng tre, lá, cây, củi, v.v… Bây giờ thì dùng xăng. Mỹ cho máy bay Chinook chở đến phi trường An Bình của nhà máy ximăng Kiên Lương, sát bên cạnh trụ sở quận hàng mấy trăm phuy xăng. Xong, Mỹ cho trực thăng dùng lưới mỗi lần câu khoảng 10 phuy xăng, bay tới trên đầu núi Mo-So thì thả cho tất cả các phuy xăng rơi xuống. Khi các phuy xăng vở bung ra, tràn xuống các cửa hang; một trực thăng khác phóng hỏa tiển tới, xăng cháy bùng lên. Mỹ cứ liên tiếp một ngày đánh hỏa công những mấy bận như vậy, riết rồi Việt Cộng không còn ở trong hang được nữa. Ban ngày thì lửa cháy rần rần ngoài cửa, có khi xăng chảy lan vào cháy ở phía trong, khói lên mù mịt. Đêm tối mới dám ra khỏi hang, không biết lính phe ta núp ở đâu để tránh, không ít lần bị phục kích, bị giết, bị thương. Cuối cùng, Nguyễn Tấn Dũng theo quân y viện trốn khỏi núi Mo-So.

Sau nhiều lần quan sát, ban ngày dùng ống nhòm, ban đêm dùng hồng ngoại tuyến, chẳng thấy “anh Việt Cộng” nào nữa. Cả Nguyễn Tấn Dũng cũng “tam thập lục kế” rồi. Chúng đã trốn đi, chi khu bèn cho hai trung đội nghĩa quân tiến vào, chiếm lại núi Mo-So, bít hết các cửa hang, chỉ chừa một cửa phía ngó ra chi khu, cho một trung đội nghĩa quân đóng ở đấy. Từ đó cho đến ngày “đứt phim”, Việt Cộng không dám quay trở lại núi Mo-So nữa.

Suốt thời gian Mỹ dùng xăng để tấn công núi Mo-So, hàng mấy trăm phuy xăng để trong phi trường An-Bình. Lính Mỹ canh gác cũng dễ tính nên phía ta có mấy anh cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, Cảnh Sát bèn lân la làm quen với mấy chú GI canh giữ kho xăng, biếu cho mấy chú GI ít quà ăn vặt, ít chai Coca ướp đá, v.v… Thế là mấy chú GI làm lơ cho mỗi người lăn một vài phuy xăng đem bán cho cây xăng ông Chín Vĩnh. Hễ khi trời tối, mấy thầy chú vào phi trường lăn phuy xăng ra bán. Nhờ vậy nên mấy chú có tiền may quần áo mới. Tiếng phuy xăng lăn trên đường nhựa rầm rầm ai cũng biết. Dân chúng biết vậy rồi thấy mấy thầy chú mặc quần áo mới, nên gọi đùa là quần áo “Li-Phăng”, nghe tương tự như vải Nilfrank bán ở chợ vậy. Tuy nhiên, “Li-Phăng” ở đây chẳng có nghĩa Tây Tàu gì cả. Li-Phăng nói lái là “lăng phuy”. Nhờ lăn mấy phuy xăng mà có tiền may quần áo mới mặc chơi.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:51:12
Phần 8 :
Đường Giây 1-C (Ngưu Tầm Ngưu, Mã Tầm Mã) :



Mới sáng sớm, thiếu úy Sơn, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An Hòa gọi máy truyền tin cho đại úy Phong, chỉ huy trưởng Cảnh Sát quận:
- “Đại úy, tối hôm qua Việt Cộng lẻn về bắn chết ông Năm Trầu.”
- “Năm Trầu là ông nào?” Phong hỏi.
- “Đại úy không biết đâu! Ông già ở ấp kinh 1, bên kia kinh Hà Tiên.” Sơn trả lời.
- “Sao biết Việt Cộng giết ông ta?” Phong hỏi.
- “Dân họ nói vậy!” Sơn trả lời.
- “Dân nói thì ba hồi trúng, ba hồi trật. Phải xem lại. Việt Cộng có để lại dấu tích gì không? Có để lại bản án không?” Phong hỏi.
- “Không” Sơn trả lời.
- “Ông Năm bị giết bằng gì?” Phong lại hỏi.
- “Súng các-bin. Năm phát súng các-bin”. Sơn trả lời, chắc chắn.
- “Sao biết súng các-bin.” Phong hỏi.
- “Còn lại năm vỏ đạn các-bin, rớt ở phía ngoài cửa sổ.” Sơn trả lời, rõ ràng.
- “Vậy không xong rồi. Không phải Việt Cộng giết đâu! Theo lời khai của con Vân, con nhỏ mới chiêu hồi, trong mật khu Việt Cộng không dùng các-bin. Chúng chỉ có súng M-16 và AK. Ông lập biên bản, lấy lời khai thân nhân rồi vẽ hiện trường, xong về đây gặp tui.” Phong dặn.
Vậy rồi Sơn lại ra nhà ông Năm Trầu, làm đúng bài bản như đã học ở học viện, cho mời y tế khám nghiệm tử thi. Cố làm xong sớm để gia đình đem chôn.
Theo phong tục ở đây, nhà nào khá giả một chút thì đám để đôi ba ngày, bà con đến viếng, cúng quảy, ăn nhậu, có khi còn đàn hát. Nhà nghèo, sáng chết, chiều chôn, chẳng để lâu bao giờ.
Trưa hôm đó, Phong họp với thiếu úy Sơn, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp và thiếu úy Kiệt, trưởng ngành Cảnh Sát Đặc Biệt quận. Phong nói:
- “Tui không tin Việt Cộng giết. Lý do tại sao thì tui đã nói với mấy ông rồi. Việt Cộng giết thì khỏi mất công nhiều. Còn như trường hợp nầy, phải tìm cho ra thủ phạm. Việc phức tạp, phải nhờ bên Cảnh Sát Đặc Biệt. Bên tư pháp vừa thiếu người vừa thiếu chuyên môn. Thiếu úy Kiệt đồng ý không?”
- “Đại úy ra lệnh, tui thi hành.” Thiếu úy Kiệt nói.
Phong cười:
- “Kiệt nhớ phải nhờ mấy ông thổ công: Bảy Hùng, Sáu Tài, Năm Hưng và nhứt là Năm Hùng, họ phải góp tay. Năm Hùng là thổ công ở xứ nầy, tham gia chính quyền từ trưởng ấp lên hội viên cảnh sát xã, tới bây giờ là thượng sĩ. Ông ấy kinh nghiệm lắm.”
Bốn người Phong mới nhắc tên, được gọi từ phòng cảnh sát đặc biệt qua tham gia buổi họp. Phong hỏi:
- “Ai có súng các-bin? Ông Năm Trầu bị giết bằng súng các-bin.”
Kiệt hỏi:
- “Sơn báo cáo bị Việt Cộng giết mà?”
- “Tui nghe dân chúng người ta nói vậy. Có lẽ không phải.” Sơn trả lời, thật thà.
Phong giải thích:
- “Không phải đâu. Thường Việt Cộng giết có để lại bản án. Tụi nó cũng không có các-bin, chỉ có AK và M-16 mà thôi. Năm Hưng nhớ lời khai con nhỏ mới hồi chánh không?”
Năm Hưng, thượng sĩ, trưởng ban điều tra, cười nói:
- “Đại úy nói đúng. Con Vân khai Việt Cộng trong mật khu không có các-bin. Thời Việt Minh, ông già tôi bị chúng nó giết cũng có ghim một bản án nơi ngực áo.”
Phong nhắc:
- “Ông Ba Hên cũng có một bản án ghim nơi đầu.”
Mao Thạch Hên, tên thường gọi là Ba Hên, người Tàu lai, cha là chủ điền thời Pháp thuộc. Những năm Việt Minh đánh Tây, họ giết ông ta, còn lại Ba Hên và người chị, có quán chạp phô ở gần chợ Tròn. Bà chị có gia đình, có chồng con. Riêng Ba Hên vẫn độc thân từ trẻ tới giờ, ngày ngày đi làm đồng, đốn tràm, giăng câu, đặt lợp.... Vì thù cha, Ba Hên làm mật báo viên cho Quốc Gia. Việt Cộng biết, giết Ba Hên bằng dao đốn tràm, rồi bêu đầu ở ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến. Việt Cộng ghim vào tóc Ba Hên một bản án làm tay sai cho Mỹ Ngụy, chống phá Cách Mạng. Ba ngày sau, bà chị Ba Hên mới dám vào rừng tràm lấy xác và đầu em đem về chôn. Dân chúng ai ai cũng hoảng kinh việc nầy.
Phong lại hỏi:
- “Ở đây, ai có súng các-bin?”
Năm Hùng đáp:
- “Chỉ có Nhân Dân Tự Vệ và cán bộ Xây Dựng Nông Thôn có súng các-bin.”
- “Trong hai số đó, nghi ngờ bên phía Nhân Dân Tự Vệ nhiều hơn. Điều tra bên phía Nhân Dân Tự Vệ trước, xem ai có súng các-bin. Người có súng đêm qua phải ở nhà. Nếu nó đi gác, cũng khó lẻn về giết Năm Trầu rồi đi gác lại. Dễ bị nghi.”
Năm Hùng lại nêu ý kiến:
- “Nếu điều tra, phải điều tra Nhân Dân Tự Vệ cả hai xã An Hòa và An Bình. Nhà Năm Trầu ở Kinh 1, xã An Hòa, nhưng ấp nầy giáp ranh ấp Ngã Ba, xã An Bình. Dân chúng họ biết nhau, điểm tập trung, canh gác. Nhân Dân Tự Vệ An Bình cũng có thể qua giết Năm Trầu được vậy.”
- “Có lý.” Kiệt nói. “Về cả hai xã, đặc biệt ấp Ngã Ba và Kinh 1, điều tra xem ai có súng các-bin, từ đó phăng ra.”
- “Nhà Năm Trầu gồm những ai?” Năm Hưng hỏi.
Sơn đưa tâp hồ sơ mới đánh máy xong, nói:
- “Tui lấy lời khai ba người. Vợ Năm Trầu, Năm Mà là em vợ Năm Trầu với con Hạnh, con gái lớn Năm Trầu.”
- “Con Hạnh nầy hôm trước chú mầy rủ đi Rạch Giá phải không?” Phong quay qua hỏi Sơn, cười.
- “Đâu có đại úy.” Sơn cải chánh. “Bữa đó ra mắt đảng Dân Chủ Kiên Giang. Ai có vô đảng thì tham gia. Dân trong đó đi Rạch Giá đông lắm, con gái thì có cả chục đứa. Nó cũng đi. Còn tui đi là vì nhiệm vụ phó xã trưởng an ninh (1) của tui.”
- “Họ khai sao?” Phong hỏi.
- “Họ cũng nói là Việt Cộng giết, nhứt là Năm Mà, thằng cha nầy nói chắc vậy.”
- “Nó nói chắc? Thằng nầy đáng nghi.” Phong nói. “Tại sao nó ở đây, vợ con ở đâu? Nó làm nghề gì?”
Sơn giải thích:
- “Thằng nầy cũng như vợ Năm Trầu, quê ở Sadec. Nó qua đây ở với anh rể để trốn quân dịch.”
Phong nói, giọng gay gắt:
- “Vậy mà ông cho nó ở được? Không sợ tội “tán trợ bất phục tòng?”
- “Không” Sơn nói. “Nó làm căn cước ngoài tuổi quân dịch. Nghe nói chạy đâu bốn chục ngàn. Tui biết nhưng rút giây động rừng, sợ đụng mấy ông ở tỉnh, nhất là ông phó Thao, người ký căn cước.”
- “Vậy nó làm gì?” giọng Phong vẫn chưa hết gay gắt.
- “Nó làm rẩy cho ông Năm Trầu. Ông Năm khá giả lên cũng là nhờ em vợ. Thằng nầy chưa có vợ con chi cả.”
Kiệt hỏi:
- “Thằng nầy có vào Nhân Dân Tự Vệ không? Nó có súng không?’
Sơn trả lời, giọng có vẻ mệt mỏi vì phải trả lời nhiều câu hỏi:
- “Không. Nó chạy bên xã Long, khỏi vô Nhân Dân Tự Vệ, khỏi canh gác chi cả. Hình như nó khai là đau bệnh mắt, không thức đêm được. Tui cũng không để ý.”
- “Thôi, được rồi. Bây giờ thiếu úy Kiệt chỉ huy tổng quát nghe! Sơn làm phụ tá. Mọi việc biết cả rồi đó. Đó là những đầu mối. Cứ theo đó mà lần. Chắc rồi cũng ra.”
Rồi Phong kết thúc buổi họp bằng câu nói đùa, theo kiểu ở quân trường: “Tan hàng cố gắng!”
Hai ngày sau, thiếu úy Kiệt đề nghị Phong cho mở cuộc họp gồm những thành phần như hôm trước, có thêm thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát xã An bình, sơ lược kết quả.
Thiếu úy Kiệt trưng ra khẩu các-bin tình nghi là đã được dùng để giết ông Năm Trầu. Theo xét nghiệm của thiếu úy Kiệt, nòng súng còn khói, nghĩa là súng mới dùng, chưa kịp chùi nòng. Súng của Nguyễn Trường, 17 tuổi, Nhân Dân Tự Vệ, toán 3 xã An Bình. Thiếu úy Kiệt cũng đã lấy lời khai của Trường. Đêm ông Năm Trầu bị giết, Trường tới phiên ở nhà, khỏi đi gác. Nhưng đêm đó, Trường đi nhậu suốt sáng, không đi đâu xa chiếu nhậu ngoài việc tiểu tiện. Lời khai của Trường được mấy người cùng nhậu xác nhận là đúng. Kiệt nói:
- “Tui nghi đúng là súng của thằng nầy, nhưng người khác dùng để bắn Năm Trầu.”
- “Người khác là ai?” Phong hỏi.
- “Người khác đó là Năm Mà, em vợ Năm Trầu.” Thiếu úy Kiệt giải thích
- “Vậy là em vợ giết anh rể? Có chắc không?” Phong hỏi, e ngại.
Năm Hưng nói:
- “Đúng đó đại úy. Tui nghi vậy.”
- “Nhưng vì sao em vợ giết anh rể, ghê gớm vậy. Làm sao Năm Mà lấy được súng thằng Trường. Phải có quen biết nhau nên thằng Trường cho Năm Mà mượn súng chớ.”
Năm Hùng nói:
- “Không có mượn chi cả. Năm Mà đang đêm lẻn vào nhà thằng Trường lấy súng.”
- “Trong nhà không ai biết?” Phong lại hỏi.
- “Nhà thằng Trường chỉ có hai chị em. Nó đi nhậu, chị nó ở nhà. Khi đi nhậu, thằng Trường mắc súng lên kèo. Sáng về, súng dựng vào vách nhà. Thằng Trường khai vậy.” Năm Hùng giải thích thêm.
Phong hỏi:
- “Mấy ông có thấy có liên hệ gì giữa chị thằng Trường với Năm Mà không?”
Năm Hùng nói, vẻ hào hứng:
- “Có chớ sao không? Con nhỏ nầy là bồ thằng Năm Mà. Vài đêm nó lẻn tới ngủ với con nhỏ nầy. Nên nó lấy súng thằng Trường đâu có gì khó mà thằng Trường chẳng biết mẹ gì cả.”
- “Điều tra con nầy chưa?” Phong hỏi.
- “Chưa!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Mới điều tra lòng vòng, sợ bị động, thằng Năm Mà dọt mất là mất công toi. Bây giờ mình bắt con nhỏ điều tra, đồng thời theo dõi thằng Năm Mà, canh nó trốn. Khai thác con nhỏ, đủ yếu tố là mình bắt ngay Năm Mà. Đại úy chịu không?”
- “Tuyệt diệu!” Phong cười.
Thiếu úy Bạch về ngay xã mình, “nhẹ nhàng” mời con chị thằng Trường ra quận, làm như đi chơi. Thiếu úy Bạch và hai nhân viên, đi phía sau, xa xa, canh chừng.
Con nhỏ tên là Nguyệt. Nguyệt khai:
- “Em với ông Năm yêu nhau nhưng chưa cưới. Ổng ấy hẹn chờ kiếm tiền rồi cưới.”
- “Ông Năm có thiệt tình không?” Phong hỏi.
- “Chắc ổng không thiệt tình đâu! Ổng chỉ lợi dụng em mà thôi. Nếu thiệt tình thì ổng tính chuyện vào trỏng làm chi?”
- “Vào trỏng? Theo Việt Cộng?” Thiếu úy Kiệt hỏi.
- “Ổng nói cái ông trưởng ban ở tỉnh làm căn cước lớn tuổi cho ổng bị bắt rồi. Việc đổ bể, thế nào ổng cũng bị Cảnh Sát bắt thôi. Ông Tư Dân, ngoài Hòn Ngang, làm căn cước lớn tuổi cùng một lần với ông, bị Cảnh Sát bắt rồi.”
Phong hỏi:
- “Sao ổng chưa đi? Cô có biết bao giờ ông ta sẽ trốn vào trỏng không?”
- “Ổng đang chẩn (chuẩn) bị. Mấy lâu nay ông đòi anh rể ông đưa tiền. Mấy chục công rẩy của Ông Năm Trầu là do ổng khai, trồng trọt. Nếu ổng có tiền, ông sẽ cưới tui, với việc làm căn cước lớn tuổi có đổ bể, ổng cũng có tiền chi cho Cảnh Sát. Ổng chẳng hề hấn gì đâu!”
- “Nếu không có tiền thì ông dọt vô trỏng.” Phong hỏi.
- “Có vô trỏng, cũng phải có tiền ông mới dọt. Ổng không dại bỏ công không! Ông đang tính bán rẻ mấy chục công rẩy cho mấy người cùng xóm.”
Phong hỏi:
- “Ông ta có thường hay tới với cô không?”
- “Cứ vài ba đêm ổng tới ngủ lại. Tui đuổi, ông cũng không về. Tới gần sáng mới về.”
Thượng sĩ Hưng hỏi:
- “Bữa Năm Trầu chết. Ông ta có tới không?”
- “Có!” Nguyệt trả lời.
- “Ổng có ngủ lại không?” Năm Hưng vừa cười ranh mảnh vừa hỏi.
- “Không!” Nguyệt nói, chắc chắn, tỉnh táo.
- “Tại sao không ngủ lại, ngủ một đêm cho đời thêm vui.” Năm Hưng vừa cười vừa hỏi.
- “Đâu biết?” Nguyệt trả lời, vẻ mắc cở.
- “Không ngủ lại, sao biết là ông ta?” Năm Hưng hỏi tiếp.
- “Cần chi hỏi. Nghe tiếng động biết ngay ổng.” Nguyệt trả lời.
- “Ổng tới một lần thôi?” Năm Hưng lại hỏi.
- “Không, hai lần.” Nguyệt trả lời.
- “Mỗi lần cách nhau bao lâu?” Năm Hưng lại hỏi.
- “Chừng một tiếng.” Nguyệt nói.
Phong cắt ngang:
- “Thôi, khỏi hỏi nữa, để sau. Vậy là rõ: một lần lấy súng, một lần trả súng. Cho bắt Năm Mà đi!”
Vậy là thiếu úy Kiệt, thiếu úy Sơn cùng nhân viên, liên lạc với nhóm đang canh chừng Năm Mà ở ngoài. Một lúc, thiếu úy Kiệt gọi máy về cho Phong:
- “Kẹt rồi đại úy. Không bắt được.”
Phong hốt hoảng:
- “Nó trốn mất rồi à? Chết cha chưa?”
Tiếng thiếu úy Kiệt trong máy, với giọng đùa:
- “Chưa chết! Chưa chết. Thằng chả còn đây nhưng đang nhậu với ông Phó Quận, làm sao bắt?”
- “Để đó tui. Mấy ông cứ sẵn sàng đi.” Phong nói xong lên xe Jeep, phóng ngay ra quán ông Phó Quận đang nhậu. Thấy xe Phong, Kiệt đi tới, miệng cười cười như cái tật anh ta thường vậy. Phong nói:
- “Ông sai đứa nào vô nói với ông Phó Quận, tui chờ ông ngoài nầy có chuyện khẩn cấp. Hễ ông Phó rời tiệm, ông thộp ngay thằng chả, đem về.
Khi ông Phó Quận lên xe ngồi với Phong thì Năm Mà bị dẫn ra xe của thiếu úy Kiệt. Phong nói với Phó quận:
- “Tụi nó bắt thằng Năm Mà nhưng kẹt ông đang nhậu với nó. Thằng đó vừa giết anh rể nó.”
- “Chắc không?” Ông Phó quận hỏi.
Phong cưòi:
- “Ông Phó không tin tui?”
- “Xin lỗi. Tôi không rõ chuyện. Thằng chả mời tôi nhậu để xin tôi ký giấy bán mấy công đất do ông anh rể đứng tên.”
- “Nó muốn kiếm tiền để dọt vô trỏng.” Phong nói, rồi hỏi tiếp:
- “Ông có biết tại sao nó giết anh rể không?”
- “Không.” Ông Phó Quận trả lời.
- “Cũng tiền mà thôi. Nếu kiếm được vố lớn, nó ở lại lấy vợ. Hận ông anh rể không cho tiền, không cưới được vợ, bèn cho ông mấy phát súng xong đời. Vét một ít tiền vô trong bưng mà sống.”
Ông Phó Quận hỏi:
- “Tại sao nó không trốn về Sadec?”
- “Về để chết à? Ở đây không ai biết nó, có cái giấy căn cước lớn tuổi, Cảnh Sát khỏi bắt đi quân dịch là xong. Về bên đó, người ta biết ngọn ngành nó, càng chết sớm.”
Ông Phó quận thở dài:
- “Đời ghê thật. Anh em giết nhau vì tiền.” Rồi nói tiếp: “Ông làm sao để nó đừng có khai dính dáng gì tới tôi nghe!?
- “Yên tâm! Yên tâm. Ông Phó đã ký giấy tờ gì cho nó đâu! Tui phát hiện sớm cũng khỏe cho ông Phó.”
Một lúc, Phong thở dài nói với ông Phó Quận:
- “Cách mạng tưởng gì hay hơn. Té ra cũng rứa. Mấy tháng nay, mùa khô, tụi nó thâu thuế, lấy tiền dân dữ lắm. Mình chẳng làm chi được.”
Ông Phó Quận nhận xét:
- “Tụi trong đó vì tiền, thằng nầy cũng vì tiền mà muốn dọt vào trong đó. Đúng là “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã.”

(1) - Theo truyền thống, làng xã Việt Nam mang tính cách tự trị hoặc bán tự trị, lý trưởng là do ban hội tề hoặc hương chức trong làng bầu ra. Chính quyền trung ương, xưa là vua, chỉ cắt cử quan cai trị đền quận, huyện mà thôi, không xâm phạm đến việc cai trị trong làng.
Việc ông Thiệu chọn trưởng cuộc cảnh sát (viên chức nhà nước) làm phó xã trưởng an ninh là vi phạm tính cách tự trị của làng xã Việt Nam. Việc nầy gây nhiều bất lợi, nhất là mâu thuẫn giữa chính quyền trung ương và làng xã. Tuy nhiên, qua vai trò trưởng cuộc cảnh sát, việc thắng cử của ông Thiệu hay phe nhóm ông chắc chắn hơn, dù có vi phạm tới tính truyền thống làng xã Việt Nam.
Cộng Sản lập cơ sở đảng (Chi ủy) tới tận làng xã. Chi ủy nhận lệnh từ trung ương, thành ra việc Việt Cộng làm, còn tệ hơn ông Thiệu đã làm. Ông Thiệu chỉ có trưởng cuộc cảnh sát kiêm phó xã trưởng an ninh là người của ông. Cộng Sản thì có toàn bộ, chủ tịch xã, hội đồng nhân dân xã, v.v… bất cứ người nào chức chưởng lớn bé đều là người do chi ủy chọn, tức là người của trung ương. Tính cách tự trị của làng xã hoàn toàn bị triệt tiêu.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 11:56:56
Phần 9 :
Giặc Mùa :

[Năm 1787, Nguyễn Ánh (sử gọi là Nguyễn Vương) từ Xiêm La về chiếm đất Gia Định (tên gọi chung miền Nam hồi bấy giờ), củng cố việc cai trị rồi cho quân đánh phá đất Qui Nhơn là căn cứ địa nhà Tây Sơn. Đích thân Nguyễn Ánh ra đánh Qui Nhơn ba lần, kéo dài khoảng chục năm. Tuy nhiên, cứ mỗi năm, Nguyễn Ánh cho binh tướng giong thuyền ra đánh phá, quấy rối nhà Tây Sơn vài bận.]

Việc quân lính Nguyễn Ánh ra đánh miền Trung là phải dùng thuyền, nên phải chờ tới gió mùa. Về mùa đông, gió mùa đông bắc (gọi là gió Bấc) thổi mạnh, thường có gió lớn, có khi có bão, lại rét buốt thì binh lính được nghỉ ngơi. Chờ khi hè tới, có gió mùa tây nam thổi tới. Gió nầy gọi là gió Nồm, hay còn gọi là gió Nam (“May được nồm nam cơn gió thổi” - Con cuốc vào hè - Nguyễn Khuyến), thuận buồm xuôi gió, quân chúa Nguyễn ra đánh phá vùng Qui Nhơn. Vì chờ có gió mùa thổi mới đem quân đánh nhau, nên sử gọi là giặc mùa.

Người dân thấy cảnh anh em nhà Tây Sơn tranh giành nhau, cũng ngán. Vã lại xứ Đằng Trong là đất đai chúa Nguyễn, do các chúa xây dựng nên, nên lòng người còn nhớ ơn chúa Nguyễn lắm. Sau khi bị nhà Tây Sơn đánh đuổi năm 1775, chúa Nguyễn chạy vào Nam, người dân vẫn mong có ngày chúa Nguyễn lại trở về, nên hồi đó có câu ca dao:

Lạy trời cho nổi gió Nồm
Để cho chúa Nguyễn kéo buồm thẳng ra
.

Đó là nói chuyện giặc mùa ngày xưa.

Thời kỳ tôi ở Rạch Giá - Kiên Giang, cũng có giặc hai bên Quốc Gia - Cộng Sản đánh nhau theo mùa, tôi cũng gọi là Giặc Mùa.

Về Kiên Giang được ít năm, theo dõi tình hình Việt Cộng hoạt động ở đây, tôi nói với nhân viên:

Mình đi đánh giặc ở đây cũng là giặc mùa. Tới mùa cày, chúng nó (tức là Việt Cộng) thua thuế máy cày; tới mùa lúa (tức mùa gặt), chúng nó thu thuế nông nghiệp. Cứ mấy chỗ có máy cày đang cày, mấy cái cà tang (chỗ gom lúa) mà rình tụi kinh tài, thế nào cũng trúng mục tiêu. Chắc ăn.”

Kiên Giang đất rộng người thưa, tình hình hơi yên ổn một chút, mặc sức làm ruộng, dân chúng tương đối sung túc. Việc làm ruộng ở đây cũng theo mùa, mỗi năm có hai mùa: Mùa cày và mùa gặt, thường gọi là mùa lúa. Tụi Việt Cộng cũng theo đó mà thu thuế. Chúng nó thu “ác” lắm, dân tình nhiều khi không khỏi ức lòng, “chảy nước mắt”.
Ở vùng Cái Sắn, bên phía kinh Thạnh Tây (dinh điền Cái Sắn phần lớn nằm dọc theo kinh Thạnh Đông. Kinh nầy chạy theo trục lộ Rạch Giá – Hà Tiên. Phía Cờ Đỏ, thuộc Long Xuyên, cũng có một con kinh song song với kinh Thạnh Động, tên là kinh Thạnh Tây. Tới mùa lúa, sau khi gặt xong, lúa gom lại thành vòng tròn rồi cho xe máy cày chạy cán lên lúa, hột lúa rời ra. Sau khi xóc rơm quăng đi, lúa gom hàng đống, có đống cao như ngọn đồi, người ta gọi là cà tang lúa. Cà tang, có lẽ là tiếng Miên.
Đêm khuya, Việt Cọng từ phía Thạnh Tây, Cờ Đỏ tìm ra mấy cà tang lúa bắt chủ ruộng đóng thuế nông nghiệp. Không ai muốn yên thân mà không đóng thuế cho Việt Cộng được. Không đóng thuế thì bị chúng bắt, bị tù, có tiền chuộc mới được tha. Khi tôi về vùng nầy khoảng từ cuối 1972 đến khi “đứt phim”, chưa thấy ai bị giết, có lẽ kinh nghiệm sống cho người dân biết phận mình là phải đóng thuế, chẳng ai tránh được.

Bên phía đồng Tân Hội (xã Tân Hội, quận Kiên Tân) thì dân làm ruộng bên phía đồng Huệ Đức (quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên). Đồng Huệ Đức sát xã Tân Hội, tình cảnh dân chúng cũng vậy. Chuyện bên nầy, tôi sẽ kể sau, khi tôi viết về xã Tân Hội. Độc giả muốn đọc xin chờ bài sau.

Nói chung, toàn bộ tỉnh Kiên Giang - tỉnh lúa gạo và cá, tình cảnh giống nhau. Tư Trạng, quê ở Vàm Rầy, xã Đức Phương, quận Kiên Lương, có kể nhiều chuyện cho tôi nghe. Trước hết là chuyện Tư Trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm.

Nhà Tư Trạng kế nhà chị Tư Nết. (tên Tây là Annette). Dân chúng không rành tiếng Tây, gọi tắt là chị Tư Nết, vì “chị” ấy thứ Tư, con ông chủ Ri (tên Tây là Henry – dân chúng cũng gọi tắt). Nhà ông chủ Ri ở Vàm Rầy đã bị phá mất, chỉ còn cái nền gạch và mấy ngôi mộ trắng nằm gần đó. Hằng năm có người chăm sóc, sơn quét đàng hoàng. Hồi nhỏ, Tư Trạng cắp sách đi học với chị Tư Nết trong ấp nên hai người có quen biết nhau. Tò mò về gia đình vợ ông đại tướng thủ tướng, tôi hỏi chuyện Tư Trạng nhiều lần, khi anh ta bị bắt giam vì tội làm giao liên cho Việt Cộng.

Làm giao liên cho Việt Cộng?!

Nói nghe dữ dằn, to chuyện chớ có gì đâu, chẳng qua là sự việc như vầy: Thời Ngô Đình Diệm, Tư Trạng làm lính Bảo An, bị Việt Cộng bắn bị thương, què một tay. Về quê ở Vàm Rầy, Tư trạng làm nghề chủ dựa (vựa) tràm. Dân vào rừng đốn tràm, về bán lại cho chủ vựa. Chủ vựa gom lại, chờ người đến mua chở lên Saigon để người ta đóng cừ làm nhà. Trong Nam người ta đóng cừ bằng tràm. Ngoài Trung, ngoài Bắc đóng cừ bằng tre. Tre cũng như tràm đóng xuống đất, cả trăm năm không mục, nhà khỏi bị lún.

Công việc đốn tràm, nói nghe thì dễ, nhưng khó khăn lắm. Mùa đông không ai đi đốn tràm, mưa gió cực khổ. Tới mùa hè mới đi đốn tràm nhiều. Cây tràm ở trong rừng tràm, ai có sức thì cứ vô trỏng mà đốn, chẳng cần phép tắc gì của phía quốc gia cả, xã cũng như quận, tỉnh. Chỉ lâu lâu, mấy thầy chú viên chức xã ấp, cảnh sát đi nhậu thì xin ông chủ vựa ít tiền mua mồi hay mua chai rượu trắng hay két bia; có khi họ cùng nhậu chung, vui vẻ cả làng. Chẳng thấy ai thắc mắc.

Về phía Việt Cộng mới khổ.
Trước hết là không cho đốn tràm. Chúng nó phổ biến câu:

Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ
Đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà


Chiến sĩ nói ở đây là Việt Cộng, du kích, hạ tầng cơ sở, xã đội, huyện đội, v.v… Bị chụp cho cái mũ “Rước Mỹ về nhà” là tội “phản cách mạng”, “Việt Gian bán nước”, chỉ có nước chết mà thôi.

Thực ra, Việt Cộng không cho đốn tràm là vì hai lý do:

Trước hết là chỗ tụi nó ẩn núp, di chuyển. Dân chúng đốn tràm làm nhiều chỗ rừng tràm thưa ra, Việt Cộng khó được chỗ ẩn núp, che dấu tốt. Thứ hai, đốn tràm mà không đóng thuế, thì bọn chúng mất quyền lợi. Khi chúng bắt được, một là tịch thu dao rựa, có khi bị tịch thu xuồng, bị cưa xuồng ra làm hai. Đây chỉ là thứ xuồng ba lá, chèo tay. Có khi chúng nó bắt dân đem vô rừng giam, vô mật khu, đã có người bị bắt đi, ba bốn năm không nghe tin tức gì. Chắc là xong đời rồi.

Nói về quyền lợi, không hẵn là “quyền lợi cách mạng” đâu mà nhiều khi chính là quyền lợi riêng của đám cán bộ, cơ sở hạ tầng. Chỉ có bà con thân nhân của chúng, chúng mới cho đốn tràm. Đốn tràm phải “đóng thuế cho cách mạng”, “góp phần đánh thắng Mỹ Ngụy” như chúng tuyên truyền, hoặc phải tiếp tế cho chúng. Hàng đem vào cho chúng là thuốc rê (cho du kích), thuốc điếu Ruby (cho cán bộ), bột ngọt, càphê, đường, muối, vải vóc, xà bông, khăn lau mặt, … Riêng phần chủ dựa (vựa) lâu lâu nhận được cái tin nhắn, hay cái thư viết tay, nhắc nhở phải “đóng thuế cho cách mạng”.

Cũng đôi ba lần, Tư Trạng đóng thuế cho chúng mà không báo cáo với phía quốc gia. Vậy Tư Trạng có tội, bị quốc gia bắt là ở điểm dó.

Nói chung, ai làm giao liên, đóng thuế, tiếp tế cho Việt Cộng đều bị quốc gia bắt cả, nếu họ không khai báo với chính quyền xã ấp. Dân quê thì đã dốt mà lại nhát gan, nghĩ là mình có đóng thuế, tiếp tế, quốc gia không biết thì thôi, ai lại “Lạy ông tui ở bụi nầy” cho thêm phần rắc rối, lôi thôi, nhiều chuyện, có khi ngồi tù lãng xẹt.


(Giao liên)

Dân đốn tràm, nhiều khi cũng ức tình vì tụi Việt Cộng bất công, nên lén lút báo cho quốc gia hay mấy đứa “có thân nhân theo Việt Cộng đốn tràm thả giàn, muốn bao nhiêu đốn bấy nhiêu, chở khẳm ghe, còn tụi tui phải đóng thuế từng cây tràm, sót một cây cũng không được với chúng, lại còn mấy thằng dê…”. “Dê thì tụi nó làm chi mày?” Nghe hỏi, cô gái mắc cở, ngó đi chỗ khác, cười.

Thằng Tư Sang mới tệ. Vợ nó ở thị trấn Hà Tiên, nó làm du kích ở đường giây 1-C, trên kinh Kháng Chiến. Con Hoa, con gái mới lớn, con ông Nô ở ấp Lung Lớn, cựu can phạm, đi đốn tràm trong rừng, bị nó đè ra hiếp dâm. Không cho nó hiếp, nó không cho đốn tràm. Vậy mà khi vợ nó vô rừng thăm, nó còn kể cho vợ nghe. Con vợ nổi tam bành, tới nhà con Hoa đánh ghen, chưởi cho con nhỏ một trận, khiến con Hoa mắc cở với hàng xóm, mấy ngày đóng quán càphê, không dám mở cửa bán, sợ chòm xóm người ta cười. Vợ chồng ông Nô cũng xấu mặt với dân trong ấp. Và lại còn sợ chính quyền quốc gia, sợ xã, ấp nữa. Họ biết có liên hệ với Việt Cộng, sẽ bỏ tù. Đã bị Việt Cộng hiếp dâm, lại còn sợ quốc gia bỏ tù! Còn cái khổ nào hơn cái khổ đó?!
Biết tụi nó tiếp tế cho Việt Cộng, nghĩa quân, thám báo chi khu, cảnh sát, có khi phối hợp, có khi làm ăn riêng, chận bắt.

Chuyện đâu có dễ. Năm, sáu giờ sáng, dân đã chèo xuồng vô đồng. Muốn bắt, lính tráng phải dậy từ hai, ba giờ, lặn lội vô trong kinh, chờ dân đi ngang, xem đúng mục tiêu mới hô dừng lại xét. Chưa kịp xét thì bọn tiếp tế đã thả hàng xuống nước, trôi mất, lại mất công toi. Giả như có bắt được thì họ khai là mang theo để dùng. Ra tới Ủy Ban An Ninh cũng tha mà thôi. Mọi việc rồi cũng như cũ, chán vô cùng. Nhưng không lý cứ để cho tiếp tế, dân không thấy kết quả, chẳng thèm báo cáo với xã ấp nữa. Việt Cộng ăn cho no, ngủ cho ngon, đủ thứ xàphê thuốc lá đã đời rồi cầm súng đi phục kích bắn phe ta?

Tư Trạng bị bắt vì có người khai y ra. Số là vì Việt Cộng “lập chiến công mừng sinh nhật bác Hồ” nên đêm 18 rạng ngày 19 tháng 5 nam 1974, huyện đội Hà Tiên tấn công xã Vàm Rầy, không chiếm xã vì xã nầy không có trụ sở. Không phá trụ sở xã thì chúng bèn phá trường học. Trường sơ cấp xã có ba lớp, bị B-40 bắn sập cả ba. Cuộc Cảnh Sát và Phân Chi Khu đóng chung trụ sở, thiếu úy Trực cùng thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc, hai người lảnh chung một quả bêta, cùng chết với nhau. Đại úy Danh Lol, trưởng ban 2 Chi Khu Kiên Lương, kéo trung đội nghĩa quân về đầu cầu Vàm Rầy cố thủ ba ngày, Việt Cộng không tiêu diệt được, bèn rút chạy khi bị một tiểu đoàn của trung đoàn 16 tới giải tỏa.

Sau cuộc chiến, nhiều người bị phe quốc gia bắt. Bắt người nầy, người nầy khi người kia, tùm lum. Tư Trạng cũng “dính chấu”.

Tư Trạng kể:

-“Hồi xưa tui làm lính mà khỏe. Bây giờ bị thương về làm dân khổ lắm ông ơi! Một cổ hai tròng. Muốn làm ăn thì phải đóng thuế, tiếp tế cho mấy chả ở trỏng. Đóng thuế, tiếp tế thì bị quốc gia bắt bỏ tù. Tiếp tế còn nhẹ tội. Đóng thuế như tui, tiền lớn, đâu dám khai với quốc gia, sợ bị tội nặng nên phải dấu. Tụi nó ở trỏng thâu thuế ác lắm, đâu có vừa chi.”

Ông nhớ con Sáu Lánh không? Tui làm chưa tới mười công ruộng mà cha con nó bắt đóng thuế nông nghiệp năm chục ngàn. Năm chục ngàn, đâu phải nhỏ, coi như hết 3 phần tư huê lợi rồi. Tui không chịu đóng, cha con nó giữ ghe tui lại ba ngày, lúa không phơi được, bị ẩm, hư hết. Khóc chảy nước mắt ông ơi! Cha con nó cùng xóm với tui, lạ chi nhau. Vậy mà theo mấy chả ở trong rồi làm khó dân, đòi cho được tiền, nói là tiền của cách mạng. Cách mạng chi? Biết nhau quá mà. Mặt mũi nào! Cuối cùng, tui phải chạy tiền cho cha con nó để đem ghe đem lúa về. Chuyến đó coi như lổ trắng tay.”

Sáu Lánh, Phan Thị Lánh là con gái Bảy Lơi, - Phan Văn Lơi -, trước kia nhà cũng ở Vàm Rầy. Khi Sáu Lánh 16 tuổi, mê cải lương, một tối thứ bảy, tới nhà Tư Sậm ở cuối xóm coi cải lương trên TV. Khuya về, bị con trai Tư Sậm đè ra hiếp dâm trong trường học. Cha là Bảy Lơi thưa kiện tới tòa án Kiên Giang nhưng không có kết quả, không được bồi thường gì hết, trong khi con trai Tư Sậm vẫn nhởn nhơ vui chơi. Nhà Tư Sậm, chủ bốn cái ghe đánh cá, có tiền lo lót xong đâu đó cả rồi nên bình chân như vại.

Tức mình, Sáu Lánh bỏ vô bưng theo Việt Cộng. Được ít lâu, thấy theo Việt Cộng có cơ khấm khá, vừa có tiền, vừa có quyền nên Sáu Lánh rủ cha cùng theo.
Cuối năm 1974, dân Vàm Rầy báo tin Bảy Lơi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, đang điều trị ở bệnh viện tỉnh Châu Đốc.

Uở, tại sao Bảy Lơi không về nằm bệnh viện của Nguyễn Tấn Dũng. Bảy Lơi chê Ba Dũng kém tay nghề giải phẩu hay Bảy Lơi chỉ là du kích, cán bộ kinh tài xã, không đủ “tiêu chuẩn” để điều trị tại bệnh viện huyện đội.

Phe quốc gia biết tin, nhưng đường sá xa xôi, đò giang cách trở, chẳng muốn qua Châu Đốc nắm đầu Bảy Lơi về trị tội. Dù có công khó đi xa bắt về, ra tới Ủy Ban An Ninh tỉnh, biện lý cũng tha nên cho chìm xuồng câu chuyện Bảy Lơi.

Nghĩ lại phe quốc gia cũng buồn cười. Dân của mình, theo Việt Cộng cũng chẳng có biện pháp chi. Việt Cộng bị thương thì lo chăm sóc, điều trị vết thương cho mau lành. Lành rồi, nó lại vô trỏng cầm súng đánh lại mình!

Cộng Sản thì “cách mạng triệt để”, phe ta thì ba lơi khơi. Nghĩ cho cùng, thua cũng phải!!!

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:03:45
Phần 10 :
Chuyện Anh Năm Tu-Hú

Sau hiệp định Paris tháng Giêng năm 1973, tới mùa hè năm đó, tình hình an ninh khá hơn, nên việc làm ruộng phát triển. Vùng kinh Xà-Tón, còn gọi là kinh 1 Tri Tôn, kinh nầy nối từ Châu Đốc xuống kinh Rạch Giá-Hà Tiên rồi đổ ra biển là vùng hoang hóa. Vùng nầy xưa ruộng tới hàng ngàn mẫu, phần nhiều là ruộng của ông chủ Ry và thầy Ban. Hai ông nầy có đào kinh để làm ruộng, một kinh bên trái kinh Xà Tón tên là kinh Chủ Ry, bên phải là kinh Thầy Ban. Trên bản đồ quân sự, còn tên hai con kinh nầy. Ruộng bỏ hoang mấy chục năm chiến tranh, nay dân chúng, ai có khả năng thì cứ vào phát hoang, đốt đồng, trồng lúa. Ngoài vùng hoang hóa, một số vùng đất mới cũng được dân chúng khai hoang. Vùng làm ruộng kéo dài từ kinh Rạch Giá-Hà Tiên vô tới gần kinh Kháng Chiến mà thôi, nghĩa là gần tới ranh giới hai tỉnh Kiên Giang - Long Xuyên. Vùng dọc theo kinh Kháng Chiến, như tôi đã có lần trình bày, là đường giây 1-C của Việt Cộng nên Việt Cộng không cho dân vào, sợ bị lộ. Bề dài thì từ vùng Nam Thái Sơn vô gần tới núi Trầu, gần nhà máy ximăng Kiên Lương.

Toàn bộ đất đai vùng nầy tốt lắm, người ta gọi là vùng than bùn, nghĩa là do cây lá rừng chết biến thành than hay đất phù sa của sông Hậu đọng lại đây. Về mùa hè, có khi vì sét đánh hay hỏa hoạn, lửa cháy ngầm dưới đất, người ta đi trên mặt đất mà không biết gì cả. Bỗng tới chỗ mặt đất mỏng, sức nặng bước chân làm người ta sụp chân xuống, trong khi lửa đang cháy bên dưới, bị bỏng như không! Chuyện đã từng xảy ra, dân chúng từng có kinh nghiệm, không phải là chuyện bày đặt nghe cho thêm lạ lùng, hấp dẫn.

Hồi xưa, vùng đất mênh mông nầy, người ta cày ruộng bằng trâu. Ai có đọc “Mùa Len Trâu” của Sơn Nam hay đã xem cuốn phim cùng tên thì rõ. Theo dân Vàm Rầy kể lại, ông chủ Ry nuôi tới những hai trăm con trâu, vừa để cày ruộng cho ông, vừa cày thuê cho người khác.

Ngày nay, (1973) nông thôn miền Nam đã văn minh, không còn cày bằng trâu như hồi Pháp thuộc, mà dùng máy cày để cày ruộng.

Máy cày nầy hầu hết là loại nhập cảng: John Deer, Ford, Someca, Renault, v.v… Máy cày Ford, John Deer là nhiều nhứt, nông dân thấy loại nầy thích hợp với đồng ruộng ở đây, nhiều nơi còn sình lầy, máy cày dễ bị lún. John Deer là loại máy cày mạnh, khi cần người ta móc giây xích sắt vào hai bánh sau, vượt qua được các chỗ sình lầy một cách dễ dàng.

Không như vùng Tân Hội, nông dân địa phương tự sắm máy cày lấy, cày cho nhau. Ở đây, dân làm ruộng là từ các nơi khác tới, rất nhiều người ở thị xã Rạch Giá, Rạch Sỏi hay Hà Tiên, chớ nông dân Vàm Rầy (xã Đức Phương) thì nghèo lắm, tiền bạc đâu mà làm ruộng nỗi. Ai khá giả một chút như Tư Trạng, nhân vật tôi đã trình bày trong bài trước, làm năm bảy chục công, một trăm công là nhiều lắm. Phần đông những nông dân khác thì đi làm thuê như sạ lúa, làm cỏ hay gặt, v.v…

Ai muốn làm ruộng, cứ tới ngay ông quận xin giấy phép, chấm một vùng đất có tọa độ ngang dọc như thế nào đó, rồi vào trỏng mà làm ruộng. Việc xin giấy phép không có gì khó khăn. Đất là đất hoang, ruộng bị hoang hóa, ai giữ làm gì mà không cho dân làm ruộng. Việc xin giấy phép có trà nước gì không thì tôi không rõ. Tuy nhiên, việc xin làm ruộng, chỉ mới bắt đầu, chưa có hoa lợi gì, những người có quyền biết vậy nên hình như không làm khó khăn gì. Khi nào có gì thì, như nười ta thường nói: “kẻ ăn cơm, người ăn cháo”, còn bây giờ là mới bắt đầu, tiền ra thì có mà tiền vô thì chưa, giỏi lắm người ta biếu chai rươu mạnh hay chầu càphê. Vậy là xong thôi!

Tới mùa cày, cả vùng Kiên Giang đâu có nơi nào máy cày rảnh mà đi cày thuê. Máy cày đến cày thuê ở đây gốc gác từ Tây Ninh. Xe máy cày từ Tây Ninh xuống đây vài khi thấy chạy từng đoàn năm mười chiếc. Khoảng đầu năm 1974, hay cuối năm 1973 gì đó, Cao Đài Tây Ninh có dựng một ngôi nhà, chiếm một vùng đất để làm ruộng và cho thuê máy cày ở gần ấp Lung Lớn, xã An Bình, ranh giới hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá cũ, (ranh giới thời Pháp thuộc). Sở dĩ tôi biết vì có lần đi ngang, thấy lạ ghé vào thăm thì mới hay có ông đạo (Ông ta mặc áo quần ta màu trắng, như mấy ông ông đạo ở Tây Ninh) (1) là người chỉ huy ở đây.

Sau vụ Tư Ngọc, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương bị bắn chết - Tôi sẽ kể trong một bài sau - Việt Cộng không dám ngang nhiên thu thuế máy cày nữa. Chúng nó biết các lực lượng như thám báo chi khu, cảnh sát đặc biệt, võ trang tuyên truyền, võ trang chiêu hồi, thám sát tỉnh, v.v… theo dõi, bám sát để “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, (danh từ Phượng Hoàng) nhất là cán bộ kinh tài đi thu thuế máy cày nên sợ, tránh mặt, nhờ nông dân địa phương thu thuế máy cày dùm.

Đó là trường hợp Năm Tu Hú.

Một hôm tôi xuống Vàm Rầy, đang ngồi trong một quán hủ tiếu uống càphê, thì có ông quận Phúc ghé lại cùng uống cà phê với tôi. Được một lúc, ông ta bỏ đi, chỉ ít phút sau, ông ta trở lại, đứa cho tôi xem mảnh giấy xé từ trong tập vở học trò, viết nghệch ngoạc mấy chữ: “Tới sau lưng nhà Năm Tu Hú, sẽ thấy vật lạ.”

Thấy tôi đọc xong, quận Phúc nói với tôi:
- “Anh thấy không?! Chỉ có tui làm quận dân mới thương như vậy thôi! Tui biết dân thương tui lắm mà!”
Ngồi bên cạnh tôi là thiếu úy Ra, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, cũng đọc tờ giấy đó, bèn nói với tôi:
- “Sáng nay có chiếc xe hàng từ Rạch Giá lên, chạy ngang có đưa cho tôi miếng giấy như vầy!”
Tôi hỏi:
- “Ông báo cáo chưa?”
- “Chưa.” Thiếu úy Ra trả lời.
Thấy mất mặt với quận Phúc, tôi chưởi thầm: “Làm ăn như con c. Mấy đứa nầy chỉ lo đi kiếm tiền!” Rồi tôi hằm hằm ra xe. Thiếu úy Ra đi theo tôi. Tôi hỏi:
- “Ông biết nhà Năm Tu-Hú không?”
- “Biết!” Ra trả lời.
- “Ông đi với tôi chỉ nhà.” Ra lên ngồi bên cạnh, tôi lái xe. Tài xế và “tà lọt” ngồi phía sau.

Tôi chạy xe xuống gần Đồn Giữa, ranh giới hai xã Đức Phương và Tín Đạo (thuộc Kiên Giang). Thiếu úy Ra chỉ nhà, bên phía bờ kinh Rạch Giá-Hà Tiên. Nhà Năm Tu-Hú giống như nhiều nhà khác, hầu hết là nhà tranh, mặt quay ra kinh, lưng quay ra lộ. Tôi vừa tắt máy xe thì nghe tiếng xe quận Phúc ngừng ngay sau xe tôi. Tôi nghĩ bụng: “Ông nầy nghĩ chắc có gì ngon, sợ tôi lập công một mình.” Từ ngoài lộ, tôi đi thẳng vào nhà Năm Tu-Hú, trong nhà không có ai, ngoài một thương binh, mất một chân. Hỏi thăm anh thương binh xong, tôi đi ra vườn sau, một cái vườn nhỏ, mỗi bề chưa tới 10 mét. Cỏ hôi mọc um tùm, lên gần tới ngực. Tôi vạch cỏ đi sâu vào vườn, vừa đi vừa tìm. Thấy một gói giấy nằm trên đầu cây cỏ hôi, tôi nói to: “Đây rồi.” Quận Phúc nhắc chừng tôi: “Coi chừng chất nổ.” Tôi nhẹ tay cầm gói giấy ném xa ra đường. Gói giấy không nổ. Tôi đi ra chỗ gói giấy rơi xuống, lần nầy yên tâm hơn, mở sợi giây buộc. Trong gói có 3 chai péniciline, một gói bột ngọt, và một cái thư. Thư Việt Cộng khen ngợi Năm Tu-Hú đã có công “đóng góp” và “phục vụ cách mạng”. Quận Phúc nói: “Tôi biết mà. Tôi biết mà. Thằng Năm Tu-Hú nầy là thằng Việt Cộng.”

Tôi không nói gì, trở lại quán càphê cũ, thắc mắc: Thuốc Tây, bột ngọt, là thứ hàng đưa vào trỏng cho tụi nó. Thư là từ trỏng gởi ra, tại sao lại để chung?” Có “vấn đề” đây!

Cách đó một tuần, nửa đêm, Việt Cộng tới nhà Năm Tu-Hú, bắt y đem ra giữa lộ, gần đồn giữa, bắn. Súng vừa nổ thì Năm Tu-Hú đứng lên được, bỏ chạy về phía đồn giữa. Y vừa chạy vừa la cầu cứu. Đồn trưởng đồn giữa, không nhớ tên, từng ăn nhậu với Năm Tu-Hú nhiều lần, nổ súng báo động, mở cổng cho Năm Tu-Hú vào, chăm sóc vết thương cho y. Bọn Việt Cộng thấy phản ứng của nghĩa quân trong đồn, bèn rút lui. Đạn Việt Cộng bắn trúng bộ dái, bay mất. Thằng nhỏ còn lòng thòng, nhưng dái không còn, thì cái ấy chỉ còn xử dụng vào việc tiểu tiện mà thôi. Sáng sớm, đồn trưởng đón ghe tắc-ráng đưa Năm Tu-Hú về điều trị tại bệnh viện quân dân y Rạch Giá.

Tại sao Việt Cộng xử bắn Năm Tu-Hú?

Năm Tu-Hú thuộc hạng dân địa phương gọi là “trời thần đất lỡ”. Y đi lính rồi đào ngũ nhiều lần, ít ra có gần chục KBC (Khu bưu chính của đơn vị quân đội VNCH). Y giao thiệp rộng, nhậu lai rai với nghĩa quân, với cảnh sát, xây dựng nông thôn, ai có quyền thế thì y dúi cho ít tiền uống càphê chơi.

Do đâu mà y có tiền? Như tôi nói ở trên, Việt Cộng sợ quốc gia phục kích, nhờ y thâu thuế máy cày giúp. Bản chất y không ngay thẳng, thâu mười, y đóng lại cho Việt Cộng năm, sáu mà thôi, còn lại bao nhiêu tiêu xài thả xăng. Mỗi chiếc máy cày đóng thuế cho Việt Cộng ít nhứt là 30 ngàn. Y thâu cả chục cái máy cày như thế, vậy y có bao nhêu tiền? Đâu phải là số tiền nhỏ! Lần hồi Việt Cộng biết y chơi cha trên đầu chúng, bèn nửa đêm về bắt y đem ra xử tử.

Biết chuyện rồi, tôi nói với quận Phúc: “Việt Cộng muốn nhờ tay quốc gia diệt thằng Năm Tu-Hú đây! Mưu nầy còn thấp lắm, khó qua được bọn mình. Có cho vàng thằng Năm Tu-Hú cũng không về nhà ban đêm, Việt Cộng làm gì nó?” Xong, tôi giải thích sự việc cho ông ta nghe. Quận Phúc không vui, nói: “Thôi, ông muốn làm gì thì làm.”
Tôi bảo thiếu úy Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt: “Ông ra Rạch Giá tìm thăm thằng Năm Tu-Hú, giải thích sự việc cho Năm Tu-Hú nghe. Xong, ông dụ hắn khai hết những gì hắn biết. Nếu hắn không khai thì ông dọa nó, bảo nó thâu thuế cho Việt Cộng, có thể mình cho nó vào tù ngồi chơi. Phen nầy chắc dớt (vớt) thêm một đám giao liên nữa đấy.”

Năm Tu-Hú khai hết, ai đóng thuế cho Việt Cộng, ai làm giao liên, chỉ điểm, báo cáo, v.v… Kết quả chỉ thêm nhức đầu, nhiều chuyện… Ông Tư Vịnh, con chiên của linh mục Đại, ở thị trấn Kiên Lương, xuống Vàm Rầy làm ruộng, dính vô tội làm “giao liên” cho Việt Cộng, bị điều tra. Sợ ở tù, ông ta nhờ cha Đại nói giúp với chính quyền. Hôm cha Đại mời tôi tới ăn cơm tối, nói chuyện Năm Tu-Hú, cha nói:

“Năm Tu-Hú làm như cướp cạn. Làm như thế là không được.”
Tôi góp ý:

-“Anh ta hứa thu thuế giúp cho Việt Cộng, rồi lợi dụng tình thế mà ăn chận của chúng. Nếu không vì lăng kính chính trị, cha cho làm như thế là thiếu chữ tín, là cướp cạn. Thật ra, mấy thằng Việt Cộng ở trong bưng, lấy cái thế có súng đạn trong tay mà bắt dân đóng thuế thì bọn chúng cũng như tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên vậy. Tựu chung, cũng là bọn ăn cướp cả.”

Cha Đại nhìn tôi cười, không nói gì, nhưng tôi biết chắc cha đồng ý về nhận xét của tôi.

Điều ích lợi nhứt là sau vụ Năm Tu Hú, một số bị bắt nhưng hầu hết được tha, dân chúng yên tâm hơn và hợp tác với chính quyền nhiều hơn, nhờ vậy, chúng tôi biết rõ và nhiều hơn tin tức các cuộc di chuyển quân của Việt Cộng trên đường 1-C.

(1)- Biết ông ở Tây Ninh về, tôi hỏi thăm một người quen, ông đại úy Khanh (đại úy Cao Đài hồi 1950), một người cùng quê, tha phương cầu thực, lưu lạc vào Nam. Qua ông đạo, tôi được biết ông Khanh làm lớn trong Cao Đài Tây Ninh.
 

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:07:32
Phần 11 :
“Mừng Sinh Nhật “Bác”!


Mỗi năm, cứ đến những ngày lễ, tết, Việt Cộng thường tổ chức những cuộc tấn công, ám sát, đắp mô, đặt mìn phá hoại, hoặc ít ra là rải truyền đơn để kỷ niệm, mừng ngày thành lập hay “mừng sinh nhật “bác” nếu đó là dịp ngày sinh của Hồ Chí Minh. Tính chung, chỉ nói riêng về ngày sinh của một người như Hồ Chí Minh thì có hàng chục, hàng trăm, có khi hàng ngàn người bị giết chết, tùy theo Việt Cộng tổ chức tấn công lớn nhỏ. Nhân dịp sinh nhựt Hồ năm 1973, ở Vàm Rầy, một xã nhỏ, có 3 người bỏ thân: Thiếu úy Cảnh Sát Phan Trí Huệ, 20 tuổi, gia đình ở đường Nguyễn Cư Trinh, Saigon, còn độc thân; thiếu úy Trực, bỏ lại một vợ hai con và thượng sĩ Trần Văn Út, bỏ lại một vợ bốn con. Đó là chưa kể những hậu quả khác từ những cái chết ấy. Tính chung, cả miền Nam, không ít người xuống âm phủ gặp Diêm Vương để kêu oan, khiếu nại họ Hồ.

Cũng nhân dịp đó, một số người bị Quốc gia bắt:

Người bị tội nặng nhứt là cha con Sáu Chơn. Sáu Chơn cũng ở xóm Đồn Giữa, xã Đức Phương, nhà gần nhà Năm Tu-Hú.

Sáu Chơn giữa nhiệm vụ dẫn một toán Việt Cộng, đi xuống xóm Biển, vượt qua kinh Vàm Rầy, rồi đi ngược lên hướng cầu Vàm Rầy, tấn công vào mặt sau trụ sở Cảnh Sát và Phân Chi khu. Sáu Chơn cũng khai luôn em gái ông ta, (không nhớ tên), vợ của một binh sĩ Sư Đoàn 21, treo đèn sau nhà, để toán đặc công bên kia kinh Vàm Rầy, cho biết là không có lính quốc gia phục kích bên phía nầy, nhất la toán nghĩa quân hay phục kích ở gần chùa, bên kia con đường mòn xuống xóm Biển, để toán đặc công nầy qua sông, tấn công trước. Toán do Sáu Chơn dẫn đường sẽ tiếp ứng sau đó. Con trai Sáu Chơn tên là Quận, dẫn một toán khác, đi dọc theo kinh Xà-Tón, vượt qua kinh Hà Tiên Rạch Giá, tiến từ hướng Hà Tiên xuống tấn công vào phía trái mục tiêu nói trên.

Lực lượng Việt Cộng khoảng một trăm tên, trong khi lực lượng Cảnh Sát chỉ có 7 ngoe, kể cả thiếu úy Phan Trí Huệ, trưởng cuộc và thiếu úy Trực, phân chi khu trưởng. Thiếu úy Trực không có lính, ngoài tiểu đội nghĩa quân gác cầu Vàm Rầy.
Thiếu úy Huệ, mới xuất thân ở học viện, không có kinh nghiệm gì về đánh chác cả, làm việc chăm chỉ, cần cù, nhưng về tình báo thì cũng mù tịt luôn. Thiếu úy Trực mới tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt, có lẽ cũng có kinh nghiệm chiến đấu ít nhiều. Ông ta tới đóng chung với Cảnh Sát vì tình bạn giữa Trực và Huệ, hơn là nhu cầu công tác.
Theo kinh nghiệm, vào những ngày lễ của Việt Cộng như sinh nhật Hồ Chí Minh, lễ độc lập 2 tháng 9, ngày thành lập đảng Cộng Sản 3 tháng 2 hay dịp Tết âm lịch, Việt Cộng thường hay tổ chức tấn công nơi nầy nơi kia để lập chiến công. Năm nay, 1973, nhân ngày sinh nhựt Hồ Chí Minh, 19 tháng 5, chúng cũng tổ chức lập chiến công dâng “Bác”.

Phe ta cũng có phòng bị. Trước ngày lễ hơn nửa tháng, trung ương đã gởi văn thư xuống tới xã ấp, chi khu, phân chi khu chỉ thị chỉnh đốn hệ thống phòng thủ, theo dõi hoạt động của địch, v.v… đề phòng địch tấn công. Theo dõi địch thì tương đối dễ, nhưng chỉnh đốn hệ thống phòng thủ thì hơi… trở ngại. Lựu đạn còn phải mua, nói chi tới cọc sắt kẽm gai, ngoại trừ mua để làm nhà như ở dinh điền Cái Sắn thì hàng không giờ bị hụt.

Đêm 18 tháng 5, hai ông thiếu úy Trực và Huệ cũng không đi ngủ sớm, đôn đốc canh gác, đâu đó xong xuôi, quá nửa khuya hai ông mới đi ngủ. Họ không có kinh nghiệm. Nếu Việt Cộng có tấn công, cũng phải quá nửa đêm, chờ chúng ta ngủ say. Nếu biết vậy, mới tối, nên lo đi ngủ sớm, cở 11 giờ đêm, thức dậy canh chừng. Địch có tấn công thì còn phản ứng kịp. Đàng nầy, đầu hôm, khi địch chưa có khả năng tấn công thì họ thức chờ. Đến thời điểm địch có thể tấn công được thì cả hai buồn ngủ, rủ nhau đi ngủ. Thành ra, khi mấy tên đặc công chui qua khỏi hàng rào mà không ai biết, thì cứ mỗi phòng, chúng ném một quả bêta. Hai ông thiếu úy chết ngay tại chỗ, ngay trong phòng ngủ của họ. Thượng sĩ Trần Văn Út, phó cuộc, chạy ra hầm truyền tin, để báo cáo về quận, chưa kịp gọi thì cũng bị Việt Cộng ném một quả bêta vào hầm truyền tin, thượng sĩ Út cũng chết tại chỗ. Các nhân viên Cảnh Sát khác, kịp chui qua hàng rào, lao xuống cái hào sâu bên cạnh, thoát nạn.

Việt Cộng tràn vào chợ xã. Xã trưởng Ngô Văn Àn nhà ở cuối chợ, sát kinh Rạch Giá-Hà Tiên, thấy động, lẻn ra bờ kinh, lặn xuống nước núp, chỉ chừa cái đầu để thở. Trưởng ấp Chín Đực, một cựu hồi chánh viên, chỉ huy toán nhân dân tự vệ khoảng chục người, trốn ra phía sau trường học.

Cô chủ quán hủ tiếu ngay chợ, nói với tôi:
- “Họ (Việt Cộng) đói lắm ông ơi! Vào quán, họ lấy hủ tiếu của tui ăn hết!”
- “Họ ăn với gì? Ăn nể à?” Biết là nói tiếng địa phương, người Nam không hiểu, tôi sửa lại: “Ăn không à?”.
- “Không, họ biểu tui lấy xì dầu với ớt! Hết cả rổ hủ tiếu của tui.” Cô ta trả lời.
- “Vậy là can tội nuôi Việt Cộng đó!” Tôi nói đùa.
- “Tui chưa khiếu nại là may. Quốc gia giữ an ninh không xong, để Việt Cộng vô cướp tai sản của tui.”

Nghe nói, tôi làm thinh, không ngờ dân quê mà họ cũng rành luật pháp vậy. Đúng là trách nhiệm phe quốc gia, không “Bảo Vệ Dân Chúng” được như trong bài học về Phượng Hoàng.

-“Cô có nghe họ nói tiếng gì không. Bắc hay Nam?” Tôi hỏi.
- “Không có người Bắc đâu, toàn giọng Nam. Có một ông hỏi tui, trạm y tế đâu.” Cô ta trả lời.
- “Hỏi trạm y tế để làm chi?” Tôi lại hỏi.
- “Xời! Có ai bị thương đâu mà hỏi trạm y tế. Người ta hỏi để lấy thuốc chớ chi!” Cô ta giải thích,

Câu chuyện làm tôi nhớ tết Mậu Thân ở Huế, hồi ấy tôi còn đi dạy, chưa đi lính. Chiếm thành phố Huế tới đâu là Việt Cộng vét hết thưốc trong các tiệm thuốc Tây tới đó. Đói ăn và đói thuốc, Việt Cộng cần cả hai.

Sáng hôm đó, sau khi bên phía Chi Khu cũng như Cảnh Sát không liên lạc được với đơn vị thống thuộc, tôi gặp ông thiếu tá quận trưởng Sầm Long lúc hơn 2 giờ sáng tại chi khu. Chúng tôi hẹn nhau sáng mai sẽ xuống Vàm Rầy sớm.

Chúng tôi lên xe đi khi trời mới rạng sáng. Cũng yên tâm một chút, ông quận có ra lệnh cho nghĩa quân, ra khỏi đồn giữ an ninh lộ trình.

Sau khi kiểm tra đâu đó xong, thì thiếu uý Kiệt, phụ trách Cảnh Sát Đặc Biệt, cũng xuống xã sau tôi chỉ ít phút, cho nhân viên bung ra điều tra. Hồi sau nửa đêm, sau khi gặp quận Long, tôi có nói với thiếu úy Kiệt, lúc đó cũng có mặt ở văn phòng của ông rằng: “Đánh giặc ở miệt ruộng, không có giao liên, chúng nó không thể tấn công vào xã được. Ông rán tìm cho được bọn giao liên.

Vì vậy, chỉ hơn nửa tiếng sau khi xuống tới xã, thiếu úy Kiệt và Năm Hùng (thượng sĩ) gặp tôi nói:

-“Tối qua, khi Việt Cộng tấn công, Chín Đực dẫn toán nhân dân tự vệ chém vè phía sau trường học. Vợ y, nghe súng nổ dữ quá, chui xuống gầm giường. Có hai tên vào nhà Chín Đực, dùng hộp quẹt để mở lấy cái đầu máy may của con vợ. Nhờ lửa hộp quẹt, vợ Chín Đực thấy rõ mặt là cha con Sáu Chơn.”

Thiếu úy Kiệt cũng cho biết đã cho nhân viên xuống nhà Sáu Chơn lục soát.

Chưa được nửa tiếng, nhân viên thiếu úy Kiệt gọi máy báo cáo tìm thấy một đầu máy may dấu sau nhà Sáu Chơn. Vậy là rõ, cả hai cha con Sáu Chơn bị bắt.

Sáu Chơn, một vợ 7 con, đi lính Bảo An thời Ngô Đình Diệm, không nhớ lý do giải ngũ, dân cố cựu ở Vàm Rầy. Con trai đầu của y, tên Quận cũng đã lớn, tới tuổi quân dịch nhưng còn trốn tránh ở nhà. Xóm đồn giữa xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm Cộng Sản. Quốc gia cũng ít lui tới chỗ nầy nên tên Quận còn trốn quân dịch được. Vã lại, suốt ngày hai cha con đi làm đồng, Quốc gia làm sao đụng tới y mà bắt đi lính. Chiều tối, khi cha con về tới nhà thì Quốc gia cũng rút về xã, về quận, chẳng có ai gan lì ở lại đó để đụng đầu với Việt Cộng.

Ruộng vườn không có, vốn liếng không có, chạy ăn từng ngày, làm đồng không đủ sống, theo Việt Cộng để dễ kiếm ăn như ưu tiên bắt cá đìa, ưu tiên đốn tràm, v.v… lần hồi không theo Việt Cộng cũng không được. Chúng nó hẹn đêm đó, 18 tháng 5, khi chúng nó tới thì dẫn đường cho chúng đi đánh quốc gia, ngoài ra, chẳng biết mô tê gì. Theo lời khai của Sáu Chơn, khi vào rừng đốn tràm, gần kinh Kháng Chiến, người y thường gặp là Bảy Mốc. Bảy mốc cũng từng đi lính Bảo An với Sáu Chơn thời Ngô Đình Diệm, giải ngũ về làm trưởng ban kinh tài cho xã Đức Phương của Quốc Gia. Máu mê cờ bạc, Bảy Mốc thua sạch tiền quĩ xã. Xã trưởng báo cáo lên quận, Cảnh Sát đang điều tra thì Bảy Mốc bỏ theo Việt Cộng vì y nghĩ trước sau cũng bị tù. Tiêu tiền quỹ của xã gần 5 chục ngàn, đâu phải số tiền nhỏ. Nếu không có tiền đền, ở tù là cái chắc. Cảnh Sát cho biết vậy rồi nên y dông vô trỏng. Theo Việt Cộng một thời gian, y được huyện cho làm bí thư xã. Xã chỉ có hai cán bộ: Bảy Mốc là bí thư, Tư Ngọc là kinh tài. Ngày hoạt động loanh quanh vùng tràm cùng với đám du kích của huyện, giữ rừng tràm và đường giây 1-C.

Lần Bảy Mốc gặp Sáu Chơn hỏi tình hình lính tráng, đang đứng nói chuyện thì bỗng có một người từ trong rừng tràm đi ra, có hai du kích đi hộ tống. Bảy Mốc có vẻ lo sợ, nói: “Ông huyện tới.” Sáu Chơn cũng không biết ông huyện là ai mà Bảy Mốc có vẻ sợ sệt như vậy.

Hai Quận bị bắt, nhưng ông quận Long thấy cả hai cha con đi tù tội nghiệp, bèn dụ Hai Quận làm đơn xin chuyển qua hồi chánh, chỉ đi học 3 tháng ở Trung Tâm Chiêu Hồi, sau đó đi lính, còn hơn ở tù. Thằng bé nhà quê, học hành chưa tới lớp Ba, nghe nói khỏi ở tù thì mừng, bèn ký đơn do Cảnh Sát làm giúp. Nó được đưa ra Trung Tâm Chiêu Hồi. Trước khi đi còn được về thăm nhà, mặc dù có Cảnh Sát Đặc Biệt theo canh chừng, sợ thằng bé dông tuốt vô trỏng, nhưng Hai Quận cũng vui mừng lắm. Cha y thì giải về tỉnh.

Hôm tôi từ xã Tín Đạo (Tri Tôn - Rạch Giá) về ngang đồn giữa, nhớ chuyện cha con Sáu Chơn, tôi hỏi nhà, ghé lại thăm hỏi. Đứa con nhỏ còn bú, năm đứa còn lại ở trần lòi rún, không có cơm ăn. Vợ Sáu Chơn chịu thua số phận, không biết làm gì để nuôi con. Vã lại, trước nay, vợ Sáu Chơn chỉ lo đẻ và giữ con. Cơm gạo Sáu Chơn lo hết. Nay Sáu Chơn ở tù, ai nuôi con? Thấy người chính quyền Quốc gia tới, vợ Sáu Chơn khóc: “Mấy ông bắt chồng tui ở tù, tui lấy gì nuôi con tui mấy ông ơi!” Vốn ít khi có sẵn tiền, tôi mượn tài xế tờ giấy 5 trăm, biểu đưa cho bà. Biết làm sao bây giờ!

Tôi cũng ghé ngôi chùa kế nhà Sáu Chơn, tìm ông thấy chùa nổi tiếng sư hổ mang, sư lại cái.

Ông sư còn trẻ. Có lẽ đi tu chỉ là trốn quân dịch. Đang tu ở chùa nào đó ngoài Rạch Giá thì ông bỏ vào đây, ở trong ngôi nhà lá bỏ hoang, mà ông gọi là chùa.

Nói sư hổ mang thì cũng tội nghiệp. Vào chùa chỉ là cái cớ để ông được “hoãn dịch vì lý do tu sĩ” còn cỡ như ông nầy, nếu không núp bòng Phật giáo vì sợ đi lính thì ông ta sẽ là ông đạo như các ông đạo Liếm, đạo Sờ nổi tiếng trên báo chí một thời, nhưng chắc chắn không phải ông đạo Dừa.


(Chùa : ảnh minh họa)

Chùa của ông như cái chòi lá ai bỏ hoang, ông đặt một cái bàn trên có hình phật tổ và một bát nhang chiếu lệ như là nơi tu hành. Bên cạnh có một cái giường tre. Vậy mà ông cũng có một đệ tử, nữ đệ tử mới éo le. Cô gái bỏ nhà ở Rạch Giá theo ông là em một anh cảnh sát dã chiến, thuộc trung đội của thiếu úy Ký. Biết chuyện, thiếu úy Ký gọi cho người lính của ông vào đem cô em gái về. Phải mấy lần như vậy, gia đình cô gái làm dữ với cô, cô mới chịu bỏ tu hành với ông “thầy chùa” trẻ.

Vậy là chùa chỉ còn môt mình ông. Ông ta bỏ chùa đi tối ngày, có đêm không về, bỏ nhang tàn bàn lạnh. Ông ta đi đâu?

Ông đi buôn lậu, mang đường cát từ Hà Tiên về bán ở Rạch Giá. Gai mắt, mấy bà buôn lậu hỏi ông: “Thầy chùa mà cũng đi buôn lậu?” Ông ta nói liều: “Bộ tui ăn chưn nhang mà sống được sao?” Thiếu úy Ký thấy ông đi buôn lậu, lại điệu bộ như PD, bèn báo cáo về tỉnh, tỉnh liên lạc với chùa ở Rạch Giá, gọi ông ta về. Không chịu về chùa, ông bỏ xóm đồn giữa đi mất tiêu.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:13:01
Phần 12 :
Đốt Pháo Bông Đón Bộ Đội Bắc Việt Xâm Nhập

Sau đợt bắt bớ, mặc dầu nhiều người được tha, chỉ có một mình Sáu Chơn bị giải giao cho Ủy Ban An Ninh Tỉnh, thái độ dân chúng đối với chính quyền quốc gia cũng đổi khác, hợp tác nhiều hơn vì không còn sợ Việt Cộng như trước. Bọn Cộng co cụm lại, không dám ngang nhiên hoạt động. Rút sâu vô rừng tràm, chúng không còn lập trạm sát gần ngoài kinh Rạch Giá -Hà Tiên mà tuốt ở trong xa để cấm hoặc thu thuế người vào đốn tràm.

Tình hình lắng dịu một thời gian.

Một hôm, thiếu tá Khánh, chi đoàn trưởng một chi đoàn thiết giáp thuộc Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh, gặp tôi ở Vàm Rầy, hỏi:
- “Tôi muốn đi tắt về Châu Đốc, ông liệu tôi có thể đi dọc theo kinh Xà Tón mà về trên ấy được không?”

Tôi giải thích:
- “Không nên! Trước hết, không chừng ông phải đụng tụi nó. Ít thì tụi nó chỉ có mấy tên du kích; có thể chúng nó chém vè! Lỡ khi có đơn vị từ Kampuchia qua, ban ngày dừng chân trên kinh Kháng Chiến, để tối lại di chuyển tiếp thì ông mệt với chúng nó. Bây giờ, ít khi chúng di chuyển ít người, phải cở tiểu đoàn trở lên. Bọn nầy phần đông là từ ngoài Bắc mới vô, trang bị đầy đủ.”
- “Được rồi, tôi sẽ liên lạc với biệt khu để biết tình hình chúng nó. Tôi muốn biết địa hình?” Thiếu tá Khánh nói.
- “Không cách chi đi được. Xe M113 của ông một là chạy trên đất cứng, hai là lội nước. Vùng nầy toàn sình lầy, không có nước để lội, cũng không có đất cứng để chạy, xe M113 bám vào đâu mà chuyển.”



Thiếu tá Khánh lại hỏi tôi:
- “Ông có bị rồi?”
Tôi cười:
- “Không. Tôi đoán chừng. Vã tôi học bài “lội nước” ở cầu Rạch Chiếc, khi lên bờ nhằm chỗ lầy, mắc kẹt luôn, phải gọi Wrecker đến kéo về. Lần ấy tụi tôi bị thiếu tá Thương chưởi một trận dữ nên lấy đó làm kinh nghiệm. Nếu muốn biết kinh nghiệm sình lầy vùng nầy, nên hỏi “Đường Sơn Đại Huynh”. Bây giờ mà gặp ông cũng khó lắm” (1)
Sau khi liên lạc với Biệt khu, thiếu tá Khánh nói với tôi:
- “Một đơn vị lớn của tụi nó đang di chuyển phía biên giới, chuẩn bị xâm nhập Hà Tiên. Thôi, tôi đi đường vòng cho xong.”
Đường vòng là ông phải cho chi đoàn đi qua ngã Rạch Giá, Long Xuyên rồi mới tới Châu Đốc, đường dài gấp 4 hoặc 5 lần.
Mấy ngày sau, thiếu úy Kiệt nói với tôi rằng có một đơn vị “Bắc Việt xâm nhập” đang dừng chân trong kinh Kháng Chiến, có lẽ chờ đêm tối di chuyển về Tà Keo, vượt cây Số 15 để về Chương Thiện.
Tôi hỏi:
- “Dân họ mới báo?”
- “Vâng!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Nón cối, không có nón tai bèo. (2) Nói toàn Bắc Kỳ. Dân họ báo vậy. Tui báo cáo cho chi khu và biệt khu rồi.”
Tôi đi gặp trung tá Hồ Đàn, (Khi còn ở BCH- Thiết Giáp, tôi từng làm việc với ông, khi ấy ông còn mang loon đại úy), thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 16, ông đang nhậu ở quán TL, Chợ Tròn. Nghe tôi nói chuyện Cộng Sản chuyển quân, ông nói:
- “Tôi biết rồi. Chút nữa anh đi với tui xuống Vàm Rầy. Tôi chụp cho bọn nầy một trận.”

Chưa có kinh nghiệm việc nầy, nhưng tôi không hỏi, để thử coi ông ta làm gì.
Nửa tiếng sau, khi tôi cùng ông Hồ Đàn tới Vàm Rầy thì pháo binh đã đặt hai cây súng 105 ly sẵn bên bờ kinh, kế một quán chạp phô của người Tàu. Trung tá Hồ Đàn và tôi vào quán càphê, trãi bản đồ ra, xem tọa độ chỗ đang đóng của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Tôi loay hoay, không nắm rõ chúng nó đóng ở đâu! Một lúc sau, tôi gọi Ngô Văn An, trung sĩ Cảnh Sát xã Đức Phương, con ông xã trưởng Ngô Văn Àn tới, hỏi:
- “Anh có bết rõ chỗ tụi nó đang đóng quân không?”
An nói:
- “Dạ không! Dân họ báo tụi nó đông lắm, treo võng nằm trong rừng tràm, balô với súng máng trên cây.”
Tôi biết bây giờ tới “mùa nước nổi” (nước đang lên), chẳng có chỗ nào đất liền nên chúng phải treo võng nằm. Tôi hỏi An:
- “Ai rành trỏng?”
- “Dạ! Chín Đực, để em đi tìm Chín Đực.”
Chín Đực vừa là truởng ấp Vàm Rầy, vừa là cựu hồi chánh viên, khi theo Việt Cộng, anh ta hoạt động trong ấy, nên rành đường.
Một lúc Chín Đức tới, tôi hỏi:
- “Anh có biết dân họ báo tụi nó ở đâu không?”

Chín Đực cho biết chỗ của chúng ở quá ngã tư kinh Xà Tón và kinh Kháng Chiến cở một cây số, trong rừng tràm. Tôi tìm rừng tràm trên bản đồ, thường có màu xanh lá cây, gần ngã tư hai con kinh nói trên. Tôi gọi Chín Đức tới, ngó sát bản đồ, chỉ cho anh thấy đường vẽ kinh Kháng Chiến, đường vẽ kinh Xà Tón, quá kinh Chủ Ry và kinh Thầy Ban một khoảng, phía bên tay phải là khu rừng tràm. Chỉ vào khu rừng tràm, tôi nói:
- “Chỗ xanh xanh nầy là khu rừng tràm. Anh có nghĩ là chúng nó đóng ở đây không?”
- “Dạ đúng! Chắc chắn chỗ nầy.” Chín Đực trả lời.

Nãy giờ trung tá Hồ Đàn ngồi im, theo dõi tôi trao đổi với An và Chín Đực. Tới khi nghe Chín Đực trả lời chắc chắn, ông ta cúi xuống. Sát bên cái đầu của ông là cái đầu của tôi. Chúng tôi khoanh vùng rừng tràm, chấm tọa độ bốn phía. Xong, trung tá Đàn gọi anh lính mang máy truyền tin tới.

Mười phút sau, hai cây đại bác 105 ly bắt đầu nhả đạn. Tôi và trung tá Hồ Đàn bước ra sân, ngó về hướng rừng tràm. Chưa được nửa phút sau, đạn nổ phía trên các ngọn cây tràm. Ban ngày, không thấy lửa, chỉ thấy khói tỏa ra từng chùm như đám mây cuộn, khá đẹp. Tôi nói với trung tá Đàn:
- “Trông như pháo bông!”
Trung tá Đàn nói:
- “Tôi cho nổ chụp, như người ta chụp nơm, từ trên chụp xuống, chạy ngã nào cho thoát.”
- “Ban đêm có thấy pháo nổ trên trời như vậy không, trung tá?” Tôi hỏi.
- “Trông như đốt pháo bông. Đẹp lắm!” Trung tá Đàn giải thích.
Tôi nói đùa:
- “Không chừng người ta bảo rằng mình đốt pháo bông chào lính cụ Hồ.”
Trung tá Đàn lại cười:
- “Đốt pháo chào kiểu nầy chết cha tụi nó luôn!”
Chín Đực đứng phía sau tôi, nói:
- “Ngay chóc rồi ông thầy. Đúng là chỗ họ đang đóng quân.”
Trung tá Đàn nói:
- “Đánh giặc kiểu Mỹ nên “lấy của che thân”. Anh cứ tìm tin tức, chỗ nào có tụi nó, mình cứ đốt pháo bông mà chơi. Bị trận nầy, chúng khó chuẩn bị kịp lực lượng để đánh mình, tối ngủ yên.”

Khoảng nửa tiếng sau, thôi bắn. Hai cây súng đại bác được kéo về Kiên Lương, trung tá Đàn cũng về theo. Trời còn sáng, tôi nán lại một chút, về sau. Đang khi đứng gần chợ, ông già Tàu chủ tiệm chạp phô, mặt mày thảm não, có vẻ sợ sệt, nói với tôi:
- “Ông xầy ơi! Pể kiếng của tui hết zồi!”
Chưa hiểu chuyện gì, thì xã trưởng Àn đi tới, giải thích:
- Súng để trước tiệm ông, tiếng súng dội làm bể hết cả chục tấm kiếng cái tủ trong nhà, ông ta khiếu nại với tui, tui biểu đến gặp ông.”
Tôi nói:
- “Pháo binh bắn chớ tui có bắn đâu! Hồi nãy sao không nói ngay với ông trung tá?”
- “Ông ta sợ, không dám nói, chỉ nói với tui.” Xã trưởng Àn nói.
- “Nói vậy chớ có nói với ông trung tá, ông cũng chẳng có tiền mà đền. Thôi! để tôi nói với ông phó Nghiêm. Ông làm tờ trình với ty Xã Hội, may ra được chút đỉnh.”
Tôi an ủi.

Ông chủ tiệm nghe nói cũng an tâm. Vã ông có đi kiện cũng không biết kiện ai, ở đâu. Biết ông xã trưởng thì nắm áo ông xã trưởng. Ông xã trưởng đẩy qua cho quận, quận đẩy lên tỉnh, may ra được chút an ủi chớ biết bao giờ mới được đền, và đền bao nhiêu cho đủ.

Sau đó, ông phó Nghiêm nói với tôi theo nguyên tắc, ty Xã Hội không bồi thường cho những trường hợp lẻ tẻ như vậy. Chỗ nào có đánh nhau to mới có “bồi thường chiến tranh”. Thành ra ông già Tàu chủ tiệm chạp phô chẳng được chút tiền nào. Tuy nhiên, cũng nhân dịp Việt Cộng đánh vào xã Đức Phương, tuy không có nhà nào bị cháy, bị sập để được “bồi thường” bốn chục ngàn và hai chục tấm tôn lạnh (tôn của Úc Đại Lợi) như thường lệ, nhưng ai ai cũng được Ty Xã Hội cứu trợ, cho lãnh gạo và thức ăn đóng hộp. Nhân dịp đó, xã trưởng Àn có “chiếu cố” cho ông già Tàu chút ít. Gặp tôi, ông ta lại cám ơn rối rít. Tôi nghĩ thầm: Lãnh chưa tới hai giạ gạo, có gì mà ông ta mừng lắm vậy?!

Dân miền quê họ có một kinh nghiệm về bầu bán. Năm ngoái, bầu hội đồng tỉnh. Có ông giáo sư dạy ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá ra ứng cử, thầy trò đi vận động, thấy cảnh tượng rộn ràng, cũng vui, nên tôi nói chuyện với một gia đình người Miên ở ấp Xà Ngách, sao không bầu cho ông thầy giáo, ông có học, biết luật lệ, biết đấu tranh cho đồng bào. Bầu lại một kỳ nữa cho ông hội đồng Đáp, ông không có trình độ, biết lo gì cho dân!?

Bà vợ nói:
- “Tui bầu cho người ở đây thôi! Có chi tui tới ông cho gần. Ông thầy giáo ở xa, đi gặp ông mệt lắm!”
Đó cũng là cái tâm lý ông chủ tiệm chạp phô gặp ông xã trưởng khi ông muốn khiếu nại về việc pháo binh bắn súng làm bể kiếng nhà ông.

Sáng hôm sau, tôi lại xuống Vàm Rầy coi thử tình hình hôm qua như thế nào!
Vào quán càphê xong, tôi biểu nhân viên gọi Chín Đực tới uống cà phê với tôi, mục đích để nghe ngóng việc hôm qua như thế nào. Chưa kịp ngồi xuống, Chín Đực nói:
- “Bữa nay dân đốn tràm thả giàn!”
- “Sao vậy?” Tôi hỏi.
- “Trận hôm qua, tụi nó chạy trối chết, trốn đâu mất tiêu.” Chín Đực giải thích. “Bữa nay, du kích canh gác cũng không. Tụi nón cối di chuyển hết, nhưng có lẽ bị thương và chết cũng nhiều. Có bao nhiêu chúng chở xuồng ngược lên Trà Tiên (3). Nhiều cái võng còn mắc trên cây, đạn xuyên như tổ ong. Balô, nón cối vất lung tung.”
Uống xong nửa cái “xí nại” (4), Chín Đực nói nhỏ với tôi: “Tui có cái nầy cho ông thầy!?
- “Cái chi?” Tôi hỏi.
- “K-59. Ngon lắm. Cấp cao mới có súng nầy.” Chín Đực nói.
- “Đâu vậy?” Tôi hỏi.
- “Tư Gà lượm trong đó chớ đâu!” Chín Đực giải thích.

Tôi nhớ ông Tư Gà nầy. Ổng bị què một chân, hai con nhỏ, vợ chết. Ông ta chuyên đi giăng lưới bắt cua trong đồng sâu. Món hàng nầy được giá hơn. Và ông ta cũng bị bắt vì tội làm “giao liên.” Thấy ông ta thương tật, vợ chết, lại có con nhỏ nên bị giam hai hôm thì được chính quyền quốc gia tha, sau khi làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Cộng nữa. Về cái chân què, ông ta khai là bị trực thăng bắn lầm, nhưng tôi biết chắc là trong một lần đụng độ với quân đội VNCH, ông bị thương khi ông làm du kích trong kinh Kháng Chiến, vợ ông ta cũng chết trận đó. Dân Vàm Rầy thương tình nuôi giúp hai đứa con, còn Tư Gà, sau khi xuất viện ở Rạch Giá, bỏ không theo Việt Cộng nữa, lo đi làm nuôi con. Biết thì biết vậy nhưng cũng coi như ông ta “chiêu hồi”, để yên cho ông ta nuôi con. Khui quá khứ của ông ta ra, bỏ tù, ai nuôi hai đứa con của ổng, phiền lắm! Tránh đi một chuyện phiền cho nó khỏe bụng, tôi nghĩ vậy. Không ngờ nhờ vậy mà ông ta nhớ ơn, lượm được cây K-59 trong rừng tràm, lén giao Chín Đực đem biếu tôi. Nghĩ lại, ông ta cũng dại. Tại sao ông ta biết K-59 là loại quí, phải chỉ huy cao cấp mới có. Tại vì ông ta từng theo Việt Cộng nên ông ta biết vậy chớ gì! Vậy mà ông ta khai gian là bị trực thăng bắn lầm, không phải vì vì theo Việt Cộng mà bị thương. Cho tôi cây súng, khác chi “Lạy ông tui ở bụi nầy”. Ông ta khôn mà chẳng ngoan chút nào cả. Đúng là dân nhà quê thiệt thà!

Cây súng ông ta cho, tháng sau tôi đem đổi cho đại úy Vương của Trung Đoàn 16 lấy cây Titan nhỏ bằng bàn tay, lận vô túi quần ra Rạch Giá chơi, gặp Philip Đạt, anh ta tước mất. Đòi lại, anh ta bảo là đem biếu cho Tướng Nam rồi. Không biết việc Philip Đạt nói thiệt hay giả. Ông nầy cũng “ba trời” lắm!

Việc đốt pháo bông, sau nầy trung tá Đàn và tôi “bổn cũ soạn lại” một lần nữa, khi nhận tin Việt Cộng đóng quân ở cuối kinh Lình Quỳnh, gần cửa sông. Khi đại tá Biếc về làm tư lệnh khu chiến thuật, ông cũng lại biểu tôi “lấy của che thân”. Ghi nhận tin tức Việt Cộng đóng ở đâu, gởi cho chúng nó “ít chục quả làm quà”, như lời ông ta nói. Đến hồi trung tá Trần xuân Hải thì gặp tai nạn. Thay vì đạn vô tới mục tiêu mới nổ thì một quả nổ ngay trên nhà dân ở ấp Ngã Ba, trên bờ kinh đi Hà Tiên, cả nhà bốn người bị thương lúc còn đang ngủ. Đang đêm, trung tá Hải phải xin trực thăng tải thương thật gấp. Mọi việc lặng lẽ êm xuôi, cố dấu không cho ai biết, chớ không thì ông ta bị kiện tụng lôi thôi lắm, nhất là lỡ khi mấy chả dân biểu đối lập hay hội đồng tỉnh muốn kiếm phiếu trên cái đau khổ của của những người khác!
Hú hồn.

1) Tiếng lóng trong giới thiết giáp ở miền Tây thường dùng để gọi trung tá Lý Tòng Bá, khi ông làm Thiết Đoàn Trưởng thiết đoàn 9 ở miền Tây. Khi xe bị lầy, đứt xích phải thay, ông cùng làm với lính, mặc dù xe đang ở giữa đồng lầy, nên các ông sĩ quan trẻ chẳng ai dám “chắp tay sau đít”. Qua tinh thần đó, binh lính, sĩ quan mới gọi ông một cách thân mến như trên. Trước 30 tháng Tư - 75, ông lên loon chuẩn tướng, làm tư lệnh sư đoàn 25. Trong một buổi học chính trị tại L3-T3 Trảng Lớn, một cán bộ Cộng Sản “lên lớp”, gọi ông là tên “ác ôn”, hoàn toàn ngược lại với quan điểm binh sĩ từng biết hay phục vụ dưới quyền ông.
(2) Quân đội Bắc Việt xâm lược từ miền bắc vào thường đội nón cối. Bộ đội địa phương như tỉnh đội, huyện đội thì đội mũ tai bèo. Chúng tôi căn cứ vào đó để phân biệt.
(3) Trận nầy, có lẽ bệnh viện huyện đội Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng khẳm lắm, thương binh để đâu cho hết!
(4) Càphê sữa, tiếng Tàu của người miền Tây.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:18:51
Phần 13 :
"LẠY ÔNG TUI Ở BỤI NÀY"

Tan buổi họp Phượng Hoàng, trung sĩ Th., trung đội trưởng thám báo chi khu, nói với tôi:
- “Vợ thằng Tư Ngọc mấy bữa nay đeo vàng đỏ mình!”
Tôi hơi ngạc nhiên, tính hỏi nhưng giả bộ làm thinh để coi thử trung sĩ Th. muốn nói chuyện chi. Tôi là dân sinh ra và lớn lên rồi đi dạy ở thành phố, đi đánh giặc ở miệt ruộng, nhiều khi lớ ngớ có biết gì đâu!

Tư Ngọc thì tôi biết, trưởng ban kinh tài xã Đức Phương của Việt Cộng. Vã lại, trong buổi họp vừa qua, thiếu úy Ra mới báo cáo hoạt động của Tư Ngọc trong mấy ngày qua. Hôm trước thì chỗ nầy, hôm sau thì chỗ kia. Vạch một phóng đồ theo sự xuất hiện của y để phỏng đoán ý đồ thì rõ ràng y đang theo những cái máy cày đang cày trong vùng sâu để thu thuế. Còn về gia đình y, tôi không rõ.

Trung sĩ Th. nói thêm:
- “Thằng Tư Ngọc mấy bữa nay thu thuế máy cày dữ lắm.”

Vậy là rõ. Vợ Tư Ngọc ở ngoài bờ kinh Rạch Giá - Hà Tiên, vùng quốc gia. Thằng chồng theo Việt Cộng ở trong rừng, thu thuế, lấy bớt đưa cho vợ. Con vợ giả bộ đi làm đồng, tiếp tế cho chồng, có tiền về mua vàng đeo chơi. Làm như thế khác chi “Lạy ông tôi ở bụi nầy.” Phe quốc gia, nhiều tay kinh nghiệm, muốn có tiền, cứ theo dấu bọn kinh tài mà phục kích, thế nào cũng có tiền tiêu.


Phục kích

Việc trung sĩ Th. nói làm tôi nhớ lại một lần tôi tới nhà Tư Ngọc mà tôi không hay. Hôm đó tôi đi họp ở Rạch Giá về, qua khỏi xóm Vàm Rầy chừng 100 thước thì gặp xe thiếu tá Phúc, quận trưởng Kiên Lương, trung tá T., quận trưởng Hà Tiên, cũng đi họp ở Rạch Giá về, đang dừng lại trước nhà vợ Tư Ngọc, lúc đó tôi không biết nhà ai. Nhà vợ Tư Ngọc là chủ vựa tôm, cá đồng (đánh bắt trong đồng, để phân biệt với tôm, cá biển). Tài xế trung tá T. là anh vợ Tư Ngọc, ghé lại kiếm ít con cá lóc về nhậu chơi. Sau khi Tư Ngọc bị bắn chết, tôi mới rõ chuyện nầy.

Tình hình vùng nầy thường như vậy, theo Việt Cộng, theo quốc gia, đan chéo nhau, không phân biệt rõ quốc cộng như ở dinh điền Cái Sắn.

Sau khi nói với tôi, trung sĩ Th. lặng lẽ vạch kế hoạch với chi khu, không cho cơ quan khác biết.

Trời vừa tối, trung sĩ Th. dẫn trung đội thám báo chi khu xuống Vàm Rầy, ém trong đồn nghĩa quân ở đầu cầu. Hai giờ sáng, Th. dẫn trung đội lội tuốt vô rừng tràm. Tới bìa rừng, Trung sĩ Th. ra lệnh trung đội nằm im, chờ trời rạng một chút để dễ thấy mục tiêu.

Ban ngày, Tư Ngọc cùng vài ba tên du kích lội trong ruộng, tìm tới từng máy cày, thu thuế. Chiếc nào chưa kịp đóng thì bị cảnh cáo, dọa bắt tài xế hay dọa đặt mìn phá máy cày, hoặc ít ra cũng gở con heo dầu, v.v… Đố ai không đóng tiền mà được yên!
Tối lại, bọn chúng rút về rừng tràm. Chúng ỉ i đến độ không thèm rút sâu vô rừng, tới bìa rừng là treo võng, mắc mùng ngủ qua đêm, ngày mai, “công tác” tiếp.

Trung sĩ Th. thấy mờ mờ bốn cái mùng vải, ba cái màu xanh lá cây, một cái màu trắng. Th. nghĩ bụng: “Thằng nầy ỉ i dữ, dám treo mùng trắng mà nằm.”

Trung đội thám báo dàn thành vòng cung, vây bốn cái mùng vào giữa. Trời rạng sáng, thấy rõ mục tiêu, trung sĩ Th. ra lệnh nổ súng. Ba cái mùng, kể cả cái mùng trắng không thấy nhúc nhích. Cái thứ tư có một tên nhảy xuống võng, chạy tuốt vô rừng, không kịp mang theo cây súng AK. Vậy là ba tên của ba cái mùng kia chết ngay tại chỗ, không kịp phản ứng.

Trung sĩ Th. báo cáo thu 3 súng Ak, một K-54, không thấy báo cáo thu được bao nhiêu tiền ở người Tư Ngọc. Anh ta không dại. Có cây K-54 đem về biếu thiếu tá Chi Khu Trưởng là ngon rồi. Hồi ấy, một cây K-54 có thể đổi cho Mỹ lấy cái tủ lạnh cở vừa xài chơi như không!

Sau đó, ai có thân nhân ở ngoài vùng quốc gia thì đem xác về chôn, mấy du kích không có gia đình vùng nầy thì dân làm đồng chôn ở những cái gò đất trong rừng, đắp một cái nấm nhỏ, chẳng có bia gì hết. Biết tên họ gì mà làm bia. Vã, dân lo chôn cho xong, để phơi giữa trời thì “tội nghiệp”. Không phải họ ưa chi Việt Cộng, nhưng ông bà ta nghĩ rằng “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Chôn cất người chết vô thừa nhận là làm việc phúc đức. Vậy là xong. Huyện hay xã của Việt Cộng thấy dân chôn rồi thì khỏi lo, và cũng chẳng cần dựng bia “Tổ Quốc ghi công” làm gì!

Nếu là bộ đội Cộng Sản, khi đánh nhau xong, ai chết, Việt Cộng kéo xác đi mất tiêu. Còn bọn du kích địa phương, không ai chôn, dân phải tự lo lấy.

Sau đó ít lâu, có hai tên du kích mò ra đặt mìn trên lộ, chỗ quá ngã ba kinh Xà Tón và kinh Rạch Giá - Hà Tiên một chút để lấy lại “uy thế”, đồng bào phải sợ. Mìn là một trái đạn 105 bị tịt ngòi. Chúng đặt ngòi mới. Lớ ngớ thế nào, quả đạn nổ khi hai đứa còn chụm đầu bên trái đạn. Xác chúng nát bấy, văng tùm lum, dân chúng phải lấy tấm nylon (thường dùng làm áo mưa) lượm từng miếng thịt xương bỏ vào, hai đứa chung một bọc đem chôn.

Sau cái chết của Tư Ngọc, Bảy Mốc, bí thư xã, không dám ló mặt ra xa rừng tràm để thâu thuế nữa. Do đó mới xảy ra vụ Nam Tu-Hú “thâu thuế giúp cho cách mạng”, bỏ túi tiêu luôn, mới bị “cách mạng bắt đền tội.” Ấy là nói theo kiểu Cộng Sản.
Chồng chết rồi, vợ Tư Ngọc không còn được ưu tiên đánh bắt cá trong rừng sâu nữa, nên bỏ nghề làm chủ dựa (vựa) cá đồng. Mất chồng, mất quyền lợi, cô ta cặp với một anh lính ở tiểu khu Rạch Giá, dọn nhà đi mất!

Tới mùa khô năm sau (1974), cũng lính thám báo chi khu phục kích bắn chết Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm trưởng ban kinh tài huyện Hà Tiên. So theo chức vụ thì ông nầy là cấp chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Tấn Dũng, truởng ban quân y huyện đội Hà tiên.
Cũng lực lượng thám báo chi khu theo mùa mà đánh giặc nên tôi có nói là “giặc mùa”. Mùa hè năm 1974, phó bí thư kiêm kinh tài huyện Hà Tiên là Trần Chí Tài đi thu thuế máy cày, thuế đánh cá đồng trong những cái đìa trong rừng Trà Tiên. Lực lượng thám báo chi khu lại giả trang Việt Cộng, cũng mũ tai bèo, súng AK, áo quần bà ba đen vô rừng phục kích tụi kinh tài.

Hơn 10 anh thám báo chi khu lang thang trong rừng, tìm không ra Việt Cộng, bỗng thấy một cái đìa lớn, cá đặc “lền khên”. Mùa nầy nước rút, cá gom lại trong đìa, thấy mà ham. Vậy là mấy “thầy” thám báo chi khu bỏ súng trên bờ đìa, lội xuống bắt ít cá đem về nhậu chơi.

Đang khi lính thám báo quần thảo với đám cá lóc, cá rô thì bất đồ Trần Chí Tài đi tới. Y ỷ y, chỉ đi có một mình, không có bảo vệ. Vã lại, anh ta cũng tính kỷ. Đi thu thuế một mình, đâu ai biết là anh ta thu được bao nhiêu. Mặc sức bỏ túi riêng.

Đìa thì ở dưới thấp, lại sậy đế đã mọc cao, nên Trần Chí Tài không thấy đám lính chi khu đang bắt cá dưới đìa. Đi trờ tới thì Trần Chí Tài thấy họ, bèn quay ngang theo hướng khác. Xui cho Trần Chí Tài là khi anh ta quay ngoắt thì gió thổi lật ngược cái áo bà ba của y lên, để lộ cây súng y mang dưới áo. Đang bắt cá, lính chi khu thấy người đi tới có mang súng, biết là Việt Cộng, bèn la lớn: “Việt Cộng! Việt Cộng”. Thấy lính đông mà Trần Chí Tài chỉ có một mình, lại chỉ có cây súng nhỏ, biết khó chống cự, Trần Chí Tài bỏ chạy. Cả đám lính khoảng mười người mang súng đuổi theo, vừa đuổi vừa bắn. Một băng AK có 30 viên đạn. Mười cây súng, mười băng đạn. Vị chi là có gần 300 viên đạn bắn theo Trần Chí Tài. Vậy là Trần Chí Tài gục ngay trên đám lau rừng. Lính chi khu tịch thu cây K-59 của Trần Chí Tài, còn tiền bạc thì không nghe nói.

Việt Cộng cho đó là nợ máu, nhưng sau 30 tháng Tư, điều tra không ra ai giết Trần Chí Tài. Những người dính líu trực tiếp trong vụ bắn Trần Chí Tài thì họ “tan hàng” hết rồi. Ai về nhà nấy. Nguyễn Tấn Dũng tuy ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương, nhưng anh là trưởng ban quân y huyện đội, không dính dáng nên chẳng hỏi han hay điều tra ai đã giết sư phụ của anh ta.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:24:37
Phần 14:
Ông Thầy Thuốc Bắc ở Phủ Cây Tùng

Kinh Rạch Giá - Hà Tiên được coi như một con đường thẳng chạy từ xã Mỹ Lâm tới xã Ba Hòn. Chỉ ở đoạn quá kinh Xà Tón (Còn gọi là Kinh 1) khoảng một cây số thì kinh nầy cong về bên trái một chút, cỡ 30 độ. Tỉnh lộ chạy theo con kinh nầy cũng uốn cong như vậy.
Đi theo hướng về Hà Tiên, bên trái khách bộ hành là khu “rừng cấm”, bên phải, bên kia kinh là xóm Đạo.




"Rừng cấm” là tên trong địa bộ. Hồi Tây còn cai trị, chúng nó khoanh vùng nầy để làm ruộng như ở Nam Thái Sơn, Tà Keo vậy. Tuy nhiên, sau khi đào được vài con kinh nhỏ, thì Tây mẫu quốc đầu hàng Đức nên chương trình làm ruộng nầy thất bại. Gọi là rừng nhưng chỉ toàn sậy, đế, ô-rô, cóc kèn… kinh đào chưa nhiều, chưa thông với kinh lớn nên còn nhiều phèn, chưa thể làm ruộng được.

Sau trận đánh năm 1972, dân Quảng Trị bỏ xứ chạy loạn, trốn Việt Cộng, ông Phan Quang Đán, phó thủ tướng đặc trách chương trình “Khẩn hoang lập ấp”, dự tính đưa đám dân chạy loạn nầy về đây. Đây là đồng bào “quê hương tui”. Nơi chôn nhau cắt rún. Tui cùng vợ lo chuẩn bị đón “bà con mình vô”. Công việc không còn bị nhóm “Nam Kỳ quốc” phản đối như hồi 1965. Mọi sự mới chuẩn bị, chưa kịp làm gì thì bỗng “đứt phim”.

Xin nhắc lại chuyện hồi trước, khoảng năm 1965, khi hàng rào điện tử McNamara được dựng dọc theo bờ Nam vĩ tuyến 17, vùng nam vĩ tuyến nầy bị bạch hóa, dân chúng bị đuổi đi. Hồi ấy, phủ Quốc Vụ Khanh Vũ Quốc Thúc, đặc trách phát triển kinh tế hậu chiến, dự trù đưa dân vùng bị bạch hóa gồm các quận Trung Lương và Gio Linh vào định cư ở Miền Tây Nam Phần nhưng bị một số người trong nhóm “Nam Kỳ quốc” phản đối dữ. Họ chủ trương “đất miền Nam của người miền Nam”, bây giờ còn bỏ hoang nhưng sau có đất cho con cháu cấy cày. Vì không đưa vào miền Tây Nam phần được, số dân nầy hồi đó phần đông định cư ở Cam Lộ, ở Bình Giả và một ít ở Suối Dầu (Nha Trang)

Sau hiệp định Paris 1973, dân chúng, nhiều nhứt là người ở Long Xuyên hoặc dân di cư Xóm Mới (Gò Vấp) cũng về đây làm ruộng, cũng chỉ mới chuẩn bị thì họ bỏ về, cũng như việc trồng chuối xuất cảng sang Nhựt, được Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp tài trợ. Việc nầy, trong bài tới sẽ kể cho độc giả nghe, còn bây giờ là chuyện “Ông Thầy Thuốc Bắc ở phủ Cây Tùng” tức là phủ Phó Tổng Thống của cụ Trần Văn Hương.

Ở đoạn đường cong, bên kia kinh, là “Xóm Đạo”. Đây không phải là nơi “Giặc về qua xóm đạo” của nhà thơ Hà Huy Hà, phổ thành bài hát “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Đây cũng không phải là các xóm đạo Thiên Chúa trong một làng nhiều người lương như ở ngoài Trung, ngoài Bắc. Ngoài đó, người theo đạo Thiên Chúa thường ở chung với nhau thành xóm, thành làng nên những nơi ấy thường được gọi là “Làng Đạo” hay “Xóm Đạo”.

Ở Gò Công, trước khi vào thị xã, cũng có một “Xóm Đạo” nhưng đó là xóm đạo Cao Đài. Thời chiến tranh Việt Pháp, Việt Cộng thường đem mã tấu, súng đạn tới “giải phóng” những người theo đạo Cao Đài, mà chúng nó gọi là Việt Gian, nên dân Cao Đài cũng chạy loạn, tập trung về đó ở với nhau, bảo vệ nhau, chống Việt Cộng, nên mới có tên là “Xóm Đạo”.

Còn như “Xóm Đạo” bên kia kinh Rạch Giá - Hà Tiên tôi nói ở đây thì lại khác xa, dân nầy không đỏ thì cũng hồng hồng, hoặc trốn quân dịch, không chịu đi lính quốc gia.

Xóm nầy nhà ở chi chít, sát vách nhau giống như xóm lao động ở Saigon, nhà tranh, vách lá, vài nhà lợp tôn. Hầu hết là nhà nhỏ như ở miền quê Nam bộ. Nhà nầy qua nhà kia thì cứ len theo vách mà đi, còn như xa hơn thì dùng xuồng. Mùa nước nổi, mỗi nhà là một ốc đảo. Họ có một cái chùa, thờ Phật và thánh thần gì đó, hơi lung tung, nhiều mê tín dị đoan. Theo tôi hỏi dân chúng thì gốc gác của họ là từ bên Châu Đốc, theo phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Tứ ân là nói ân cha mẹ hai bên vợ chồng gì đó, tôi không rành. Nhưng vì là xóm đạo thiên Cộng nên có lần, trong một buổi họp, tôi nói đùa với nhiều người cùng họp rằng: Tứ ân là ân ông Mác, ông Lê, ông Staline và ông Mao, mà khi còn ở vùng Việt Minh, tôi thường thấy chưng hình mấy ông nầy trong các buổi họp, biểu tình của dân chúng do Việt Cộng tổ chức. Tứ ân hiếu nghĩa là một đạo mới ở miền Tây, nên người ta mới gọi là “Xóm Đạo”.

Xóm nầy mất an ninh trăm phần trăm. Người của chính quyền quốc gia, lính tráng không dám tới nơi nầy, nhứt là sau vụ một nghĩa quân bị đâm chết ngay trước sân chùa. Nói cho văn hoa một chút thì “Máu đổ trước cửa Thiền”.

Tôi nói với ông quận trưởng Sầm Long, khi ông mới về nhậm chức, tình hình như thế nầy là không được, không thể kéo dài, phải tìm cách chấm dứt. Dân chúng trong địa phương mình mà mình không kiểm soát được là thiếu trách nhiệm. Ở đây, nếu dân chúng muốn tiếp tế cho Việt Cộng trong bưng thì quá dễ. Ngày ngày, họ đi giăng câu, bắt cá, làm ruộng, tự do thoải mái mang đồ tiếp tế mà đi, đâu có ai ngăn chận, bắt giữ.

Sau vụ anh nghĩa quân bị giết, một hôm họp Phụng Hoàng xong, tôi nói với quận trưởng: “Mình phải dời xóm đạo nầy qua bên nầy lộ mới kiểm soát họ được.” Quận trưởng hỏi: “Làm sao mà dời?” Tôi nói: “Đốt nó nầy đi!” Quận trưởng trợn mắt hỏi tôi: “Làm sao đốt xóm người ta được?” Tôi cười: “Cứ giả dạng Việt Cộng, Quốc Gia đụng trận trong xóm, rồi cho đốt luôn. Xong, không cho họ làm nhà lại, buộc qua ở bên nầy lộ. Ai qua thì mới được bồi thường chiến tranh!” Quận trưởng nói: “Thôi! Ghê quá ông ơi! Ông với tôi vác chiếu ra hầu toà án quân sự mặt trận như không! Việc thì hay nhưng tới đó, chắc không ai bênh vực mình đâu. Ở tù lãng nhách. Ngán nhứt là mấy thằng cha đi kiếm phiếu.” Ý ông quận muốn nói mấy ông dân biểu đối lập, thân cộng, mấy ông nghị viên, nghị hòn, thấy những việc như thế nầy, sẽ quậy tùm lum lên để kiếm phiếu. Sau đó, quận trưởng nói với thiếu úy Kiệt: “Sư phụ ông là tay bá đạo! Mấy tay trọ trẹ nầy ghê lắm!”

Ông quận trưởng xuất thân khóa 12 Thủ Đức. Tôi, so với ông thì ông không những khóa đàn anh, mà là khóa ông nội, cố nội. Tôi nói đùa với thiếu úy Kiệt như thế. Nhưng ông cũng là người biết mình biết ta. Hôm ông ta với ông quận Phúc bàn giao xong, hai người qua thăm tôi. Ông quận Long nói một câu tiếng Tây với tôi, hình như để ngầm chứng tỏ ông là người có trình độ học vấn. Có lẽ ông ta nghe ông quận Phúc giới thiệu trước, gốc tôi là người miền trung, giáo sư trung học đệ nhị cấp, vì đời lính mà lưu lạc vô tới đây. Do đó, giữa ông và tôi bao giờ cũng có sự tương kính, hợp tác với nhau. Khổ một nỗi cho ông, ông thường bị cấp trên vòi tiền, đóng hụi chết, không ít lần ông than với tôi như vậy!

Một hôm, tôi cầm một bản tin Phụng Hoàng qua gặp ông quận Long. Số là tôi hay ngồi lật “Hồ sơ trận liệt” cũ để xem lại tình hình. Tôi chợt tìm ra một bản tin của Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc, gởi cho Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo cho Ủy Ban Phụng Hoàng quận của tôi, cho biết rằng… tôi nhớ đại khái:
“Bí thư huyện ủy Tri Tôn - tỉnh Châu Đốc - bí danh là ông “Đạo Sáu”, trước khi có chương trình Ấp Chiến Lược, là người đứng đầu “Xóm Đạo” - lúc ấy đã có tên Xóm Đạo - ở tại một cái “kinh cùng” - có nghĩa là một cái kinh “dead end” - như tiếng Mỹ vậy, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Rạch Giá. Khi chương trình Ấp Chiến Lược thi hành hồi Đệ Nhứt Cộng Hòa, “Xóm Đạo” nầy ở vào vùng khó kiểm soát nên buộc dân chúng phải dời về gần quận lỵ Tri Tôn, tỉnh Châu Đốc. Thay vì làm theo lệnh chính quyền, ông Đạo Sáu kéo dân dời về tỉnh Kiên Giang, dựng lại “Xóm Đạo” ở bên kia kinh. Vậy mà mấy năm nay, nhận được bản tin nầy xong, Ủy Ban Phụng Hoàng quận tôi đem bỏ hộc tủ, chẳng khai thác, theo dõi gì cả. Tôi than phiền với ông quận Long như vậy. Quận Long nói: “Ông rán lên mà xem lại cho xong. Cần thì mình bàn lại.” Trước khi bắt tay ra về, tôi lại nói với quận Long: “Đốt mẹ nó đi là xong!” Quận Long chỉ cười, không nói gì. Trên đường về, tôi lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi nói: “Cha nội quận trưởng nầy đánh giặc thì gan lì, nổi tiếng một cây. Sư Đoàn 9 chẳng ai không biết ổng. Tới việc nầy (Việc đốt xóm Đạo như tôi chủ trương) thì chả nhát gan hơn mình.”

Bất đồ, mấy hôm sau, ông Chủ Chùa Phạm Bình An đến văn phòng tôi xin thành lập Hợp Tác Xã Nộng Nghiệp cho “Xóm Đạo” nầy.

Bấy giờ, ông Đạo Sáu không còn ở “Xóm Đạo” nữa. Ông ta đi đâu? Không ai biết. Ông giao “Xóm Đạo” lại cho ông Chủ Chùa - có nghĩa là người coi sóc ngôi chùa của “Xóm Đạo” tên là Phạm Bình An.

Đọc xong đơn xin thành lập hợp tác xã nông nghiệp của ông Chủ Chùa Phạm Bình An, tôi nói với anh Hai Râu, trưởng ban tư pháp, mời ông Phạm Bình An lên cho tôi gặp.

Hôm sau, mới tới văn phòng một chốc, thì anh Hai Râu gặp tôi nói cho biết ông Chủ Chùa đang chờ. Tôi mời ông ta vào văn phòng. Thay vì để ông ngồi vào cái ghế trước bàn làm việc, tôi mời ông ta ra salon ngồi nói chuyện. Tôi sai lính pha trà, rồi ra tiệm gọi vô hai ly “xí nại” - Ông ta là người tu hành, không uống rượu như dân miền Tây - Tôi nói chuyện với ông rất lâu, ngoài chuyện tôi khuyến khích ông nên mở rộng hợp tác xã để giúp ích cho dân chúng, hỏi thăm việc làm ruộng trước nay như thế nào, và cuối cùng… hỏi thăm ông “Đạo Sáu”.

Tất cả những chuyện tôi nói ở phần trước, chỉ là đưa đẩy, chuyện chính là điều tra xem ông Đạo Sáu hiện đang ở đâu?

Người nhà quê Việt Nam rất thiệt thà. Thấy tôi là người có chức quyền, tiếp đón ông rất nhiệt tình, hòa nhã, vui vẻ nên ông rất thành thật khi tôi hỏi thăm mọi chuyện. Theo lời ông thì mấy năm nay ông Đạo Sáu đã lên ở hẵn trên Saigon, không đi về như trước kia. Hiện giờ (lúc ấy – 1973), ông Đạo Sáu hiện đang ở tại dinh Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, phủ Cây Tùng, để chữa bệnh cho một người cháu gái của phó tổng thống, tên là Phan Lan Hương, gọi bằng cậu. Sợ ông ta từ chối, tôi vui vẻ khuyến khích ông ký tên vào tờ khai vì khi tôi nói chuyện thì anh Hai Râu ghi và đánh máy ngay tờ khai như tôi dặn trước. Ông Chủ Chùa thật thà, bị tôi gài mà không hay, ký ngay vào tờ khai rằng hiện ông Đạo Sáu đang ở Saigon. Cũng qua đó, tôi đoán rằng tay Đạo Sáu nầy cũng “bí mật” ghê lắm. Vì vậy, ông Chủ Chùa không biết ông Đạo Sáu là Việt Cộng nằm vùng.

Ngoài việc trả lời những gì tôi hỏi, ông Chủ Chùa Phạm Bình An còn tặng tôi một cái máy Kolher 2 piston, máy tuy cũ nhưng gắn vào ghe “tắc ráng” thì chạy nhanh không ai bằng.

Ngay hôm đó, tôi làm một bản tin điện, gởi cho Uy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, thông báo Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc về tình trạng ông Đạo Sáu hiện giờ.

Mười ngày sau, tôi có công điện gọi về Rạch Giá trình diện, đem theo hồ sơ vụ ông Đạo Sáu.

Nhiệt tâm của tôi chỉ đem lại cho tôi những chuyện bực mình và… tốn tiền.

Sau khi được bản tin của tôi, Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang liền sao gởi lên Ủy Ban Phụng Hoàng Trung Ương. Trung ương liền sai một trung tá làm trưởng nhóm, đi Kiên Giang điều tra vụ nầy. Thay vì về tới địa phương để điều tra, tìm hiểu thì mấy chả về tới Rạch Giá rồi ở lại đó, đi về miệt ruộng mấy chả lạnh giò, đánh điện gọi tôi ra “trình diện”, có nghĩa là tôi đem cái mặt tôi ra mà trình cho mấy chả xem. Không những thế, thái độ của mấy chả là hạch sách, làm như mấy chả ở trung ương, loon to chức lớn mới tài giỏi, còn như bọn tôi là dân ở ruộng, dốt nát, quê mùa, không biết gì, sao dám làm một bản tin đụng tới phó tổng thống.

Sau khi tôi trình bày sự việc, từ đầu chí cuối, rõ ràng, có chứng minh bằng giấy tờ, mấy chả làm thinh. Thế rồi bèn yêu cầu tôi dẫn… đi ăn trưa. Không lý cho mấy chả vào quán ăn bình dân, nên phải dẫn ra nhà hàng, tốn hai chục ngàn, gần nửa tháng lương. Tháng nầy vợ con lấy gì ăn? Việc nầy, bên Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Kiên Giang, chính yếu là bên phía Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát, sợ tốn kém, bèn đẩy “cục nợ” sang cho tôi gánh bớt.

Từ Rạch Giá về, đi uống càphê với quận Long và thiếu úy Kiệt, tôi chưởi thề không ngớt cái phái đoàn trung ương mắc dịch nầy về việc làm biếng, nhát gan, hách dịch, coi rẻ bọn làm việc miệt ruộng như chúng tôi. Thiếu úy Kiệt thì không nói gì, quận Long chỉ ngồi cười. Cuối cùng, ông ta nói: “Ở lính lâu, tôi biết cái trò nầy hơn ông. Bọn nó quen biết lớn, về trung ương ngồi để giữ chữ thọ chớ tài cán chi. Thấy ông nhỏ loon hơn chúng nó, chúng nó “lấy loon đè người” chớ học hành như tụi nó cũng chỉ đáng học trò ông.” Nghe quận Long xoa dịu tự ái, tôi cũng bớt bực mình.

Vậy mà tôi cũng không quên được cái mục tiêu “Xóm Đạo”. Tôi vạch kế hoạch hành quân, đích thân chỉ huy. Ba giờ sáng, tôi cho bốn chiếc ghe rải một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến, Cảnh Sát Tư Pháp, Cảnh Sát Đặc Biệt và một trung đội nghĩa quân hỗ trợ bao vây “Xóm Đạo”, lục soát. Thấy động, bọn đào binh và trốn quân dịch trong xóm ra ghe, chống một cái rét là ghe đã khuất sau xóm, sau đám sậy đế, ô rô, cóc kèn um tùm. Chúng tôi không dám bắn theo! Thế là vừa công cốc, lại vừa hối hận vì sự tử tế của ông Chủ Chùa. Mới vui vẻ chuyện trò với ông ta, nay lại cho lính xuống quậy xóm ông. Sai thì tôi không sai, nhưng nghĩ cho cùng, mình cũng muối mặt thật. Chơi vậy mà chơi với ai!

Vì bực mình với đám trung ương, tôi chẳng thèm theo dõi vụ ông Đạo Sáu.

Khoảng năm 1981, khi ở trại tù cải tạo Xuân Lộc Z-30A, tôi và đại úy Bỉnh, nguyên là trưởng ban 2 Chi Khu Tri Tôn tỉnh Châu Đốc, chung một đội thợ mộc, tình cờ ngồi nói chuyện cũ, tôi nhắc lại chuyện ông Đạo Sáu, bí thư huyện Tri Tôn vô tới phủ Cây Tùng. Bỉnh hỏi tôi: “Anh cũng biết thằng cha nầy à?” Tôi mới nhắc lại vụ bản tin của ban Phụng Hoàng tỉnh Châu Đốc tôi lục trong Hồ Sơ Trận Liệt ra. Bỉnh làm trưởng ban 2 ở địa phương ấy, dĩ nhiên anh ấy biết rõ ông Đạo Sáu là ai.

Bỉnh nói: “Đang ở phủ Cây Tùng, không biết do đâu ông Đạo Sáu biết bị động, bỏ trốn. Khi “sập tiệm” (1), ông ta vào tiếp thu tỉnh Châu Đốc.”

Mấy người bạn tù ngồi chơi bên cạnh, nghe xong câu chuyện, có anh bực mình chưởi đổng: “Mất nước là phải. Đ. m. làm ăn chẳng ra con mẹ gì cả!” Tôi hy vọng rằng người bạn nóng tính chưởi câu đó là chưởi ai khác, không phải chưởi tôi.”

(1) Tiếng lóng, tù cải tạo thường dùng trong trại, để nói tới việc sụp đổ ngày 30 tháng Tư- 1975. Nó như một cuốn phim bị đứt vào ngày ấy, nên gọi là ngày “đứt phim”. Có khi gọi ngày ấy là “sập tiệm”. Nó như một tiệm chạp phô mà tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là ông chủ tiệm.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:28:17
Phần 15:
Việc Làm Ruộng Sau Hiệp Định Paris 73


Một hôm, mới sáng sớm, thiếu úy Nguyễn Quang Đước, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Tín Đạo, gọi điện cho tôi, báo cáo: “Bên pháo binh gọi qua, biểu tui nhận bốn người mới trốn Việt Cộng ra trình diện”. Sau khi tìm hiểu mọi việc, tôi liên lạc với trung tá Nhan Trừng Lâm, tiểu đoàn trưởng pháo binh của Sư Đoàn 21, có một pháo đội đang đóng gần cầu Lỳnh Quỳnh, xin cho thiếu úy Đước qua đó nhận mấy người tù Việt Cộng về.

Sau hiệp định Paris 1973, một số dân Long Xuyên, dân Xóm Mới (Gò Vấp), tới vùng Kinh Hãng Tà Keo kiếm đất làm ruộng. Dân Long Xuyên thì tự động, rủ nhau mà đi, dân Xóm Mới thì theo lời kêu gọi của Linh Mục Nguyễn Thượng Uyển. Việc nầy xin nói ở bài sau. Vùng “Kinh Hãng”, “Tà Keo”, đất tốt, bỏ hoang nên họ kéo nhau vô đó kiếm ruộng. Họ mới kiếm đất, chưa khởi công làm gì!

Kinh Hãng là một vùng ruộng bị hoang hóa. Trước 1945, Tây thực dân lập hãng sản xuất lúa, mộ dân Bắc Kỳ đưa vô đây làm ruộng, cũng tương tự như vùng Nam - Thái - Sơn vậy. (Xin Xem lại bài Chị Sứ, Hòn Đất). Tây thành lập một “công ty” làm ruộng, dân chúng gọi nôm na là “Hãng”, kinh mới đào xong, cái ngang cái dọc, làm được ít mùa thì bỏ hoang vì chiến tranh. Do tình trạng như vậy, dân chúng gọi vùng hoang hóa nầy là “Kinh Hãng”. Còn Tà Keo? Tà Keo là tên Miên, là một ấp, chỗ căn cứ địa của Việt Cộng, nơi đầu tiên Nguyễn Tấn Dũng làm du kích, khi mới “thoát ly theo Việt Cộng” (Danh từ Phụng Hoàng hồi ấy).

Có bốn người đàn ông dân Long Xuyên, lực lưỡng, khỏe mạnh, vào Tà Keo kiếm đất, bị Việt Cộng bắt. Họ đang bị điều tra coi thử có phải là “Ngụy” đưa vô dò xét tình hình, làm tình báo hay không. Thấy không phải, Việt Cộng cũng chưa tha họ về, buộc phải đóng tiền chuộc. Chuộc tội gì? Tội đi vô vùng “Cách Mạng”. Buồn cười không?!

Nếu như ngày nay, bọn bin Layden, al Qaeda hay Taliban có bắt người đòi tiền chuộc. Việc ấy, so với việc Việt Cộng làm trước đây, bọn nầy mới chỉ là học trò của Việt Cộng. Biết đâu, chính quyền Hà Nội cũng đã từng đưa người qua làm thầy bên Afghanistan. Việt Cộng chính là “sư phụ” trong cái nghề “bắt cóc đòi tiền chuộc” như vầy.

Bốn ông nông dân không đóng tiền chuộc, nói với Việt Cộng là nhờ chúng liên lạc với gia đình, đem tiền qua. Thư họ viết, đưa cho giao liên, giao liên sợ bị tội, đưa cho quốc gia. Thế là xong, Việt Cộng cứ rán sức mà chờ…

Ngày ngày, có hai tên du kích coi giữ tù cho tù ăn. Tù bị xích tay, bốn người một giây, nằm trên sàn cái chòi nhỏ, dưới là nước. Hai tên du kích ở chòi đằng kia. Hai chòi nối nhau một đường đi cũng bằng sàn, làm bằng cây tràm. Dĩ nhiên, hai tên du kích nầy chỉ là “khóa đàn em” của Nguyễn Tấn Dũng vì hồi nầy, đời Dũng lên hương, làm trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên rồi, không còn là du kích ấp Tà Keo như khi mới thoát ly nữa.

Ở chòi bên kia, hai tên du kích nấu cơm, ngày hai bữa, một tên đem cơm qua cho tù ăn. Tù ngũ trên sàn, không có mùng màn, không được tắm giặt chi cả. Tới bữa, được tháo xích, bốn người ngồi quanh cái rá cơm, một tô cá do Việt Cộng tự đánh bắt lấy, có chén đũa cho mỗi người.

Thấy cảnh cứ diễn ra như vậy hoài, theo thói quen; vã du kích cũng ỷ y, nên bốn người bàn cách thoát thân. Một người, giỏi võ nhất, lãnh nhiệm vụ ngồi ngay chỗ tên du kích đi vào, ba người kia ngồi quanh. Chờ khi tên du kích từ phía sau cúi xuống đặt rá cơm, thì ông nầy chụp cổ, vật cho y lộn nhào, giựt cây súng y đang mang trên vai. Việc xảy ra như dự tính, nhanh như chớp, y như trong ciné. Tên du kích ở chòi bên kia, nghe tiếng động, phản ứng bằng cách chạy tới chỗ y treo cây AK thì lãnh ngay một băng đạn do anh nông dân bắn tới, sau khi ông ta giựt được súng do tên du kích mang trên vai. Lãnh đủ băng đạn, tên du kích ấy rơi ngay xuống nước cái bủm. Xong, người mang súng quay lại tên du kích bị vật cổ xuống. Tên nầy đã phóng xuống nước, nước ngang lưng, đang cố lội ra xa, chạy trốn. Anh nông dân chẳng cần nhắm, bắn một tràng vào y. Tên nầy gục xuống nước, tìm đường theo… “bác Hồ”.

Thế là bốn ông nông dân, hai cây súng, tìm đường về.

Họ cũng tính kỹ lắm. Phải thực hiện kế hoạch vào buổi chiều, thoát thân lúc ban đêm, Việt Cộng có báo động cũng không dám đuổi theo, một khi ở trong rừng tràm, trời tối, không thấy rõ được. Ra khỏi rừng tràm thì cũng gần tới vùng Quốc Gia, chưa chắc Việt Cộng dám ra theo.

Không bản đồ, không la bàn, hết rừng tràm thì tới lau sậy mịt mù, họ biết đường nào mà đi. Dễ lắm! Họ theo hướng “ô-bi” bắn mà đi. Súng canon, người dân thôn quê gọi là “ô-bi”. Đêm đêm, cứ khoảng chốc, đại bác bắn một phát cầm chừng, quấy rối mật khu Việt Cộng. Ở thôn quê, không yên ổn như thành phố mà “Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.” Trịnh Công Sơn đừng đổ tội cho quốc gia, bộ ông ta không biết rằng ở thành phố có nghe đại bác thì đó là đạn Việt Cộng pháo kích bửa bãi vào thành phố. Ở thôn quê thì khổ hơn, khi nghe đại bác nổ là không chừng đánh nhau ngay chỗ mình đang sống.

Bốn người tù trốn Việt Cộng lội nước đi suốt đêm, cứ hướng có tiếng súng “đề-pa” (départ) mà đi tới. Phải rán đi cho thật nhanh vì sợ Việt Cộng đuổi theo. Sau khi phát hiện tù sổng rồi, lại có hai đồng chí của chúng “tổ quốc ghi công”, có thể chúng sẽ liều đuổi theo. Trên đường đi, họ cũng phải tránh những trạm gác ngoài bìa rừng của Việt Cộng. Mấy chục năm nay, tình hình Long Xuyên rất êm, Việt Cộng không dám léo hoánh tới, nên bốn ông nông dân, nhờ có vào Nhân Dân Tự Vệ, biết xử dụng súng ống chút ít. Họ không có kinh nghiệm về việc lội rừng đánh nhau với Việt Cộng. May mắn, gần tới sáng thì họ tới địa điểm đặt súng đại bác. Sợ lính quốc gia bắn lầm, họ chờ tới sáng bạch mới cho một người tới gần bót la lớn, xin giúp đỡ.

Sau khi đơn vị pháo binh hỏi sơ qua, họ báo lên cấp trên. Ông pháo đội trưởng cho người qua xã Tri Tôn, biểu cho người qua đón mấy người tù Việt Cộng về.

Quận cho chiếc xe Dodge đón bốn người tù từ xã Tri Tôn (Rạch Giá ) về. Bên Cảnh Sát thì lấy cung, bên chiêu hồi lo giấy tờ, bên Thông Tin lo tổ chức lễ tưởng thưởng. Mỗi người được một bằng tưởng lệ với một ngàn đồng, rồi được cấp giấy tờ, tiền xe để về Long Xuyên.

Đây không phải là bốn người đầu tiên bị Việt Cộng bắt. Trước đó cũng có hai người dân Xóm Mới (Gò Vấp) xuống Tà Keo kiếm ruộng làm ăn, đã bị Việt Cộng giết. Thêm hai người bị bắt rồi Việt Cộng dẫn đi mất tiêu, không có tin tức gì cả. Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của LM Nguyễn Thượng Uyển, thân nhân không báo cáo gì với Quốc Gia cả. Sau nầy mới nghe người ta nói lại.

Một hôm, tôi lái xe về ngang kinh Xà Tón, xã Đức Phương thì thấy bên phía rừng cấm, dân chúng từ Long Xuyên về, dựng mấy chục căn nhà, cắm cọc giăng giây giành đất, giành ruộng. Tôi hoảng kinh! Họ tới đây hồi nào mà tôi không biết gì cả. Hỏi ra thì xã trưởng Ngô Văn Àn cho biết họ mới tới có hai bữa nay. Họ làm như du kích. Mấy chục người, đi xe đò, tới nơi hè nhau giành đất, cắm cọc, dựng chòi, treo cờ. Hầu hết là cờ đà, cờ Phật Giáo Hòa Hảo của dân Long Xuyên.

Tôi than với ông quận, vùng đất nầy là nơi ông phó thủ tướng Phan Quang Đán, đặc trách “Chương Trình Khần Hoang Lập Ấp”, đã khoanh vùng cho dân Quảng Trị, sau 1972, chạy loạn vào định cư. Dân Long xuyên vào giành đất như vậy thì hai phe dân chúng sẽ đụng đầu nhau, chí ít thì phó thủ tướng Phan Quang Đán cũng “cạo” cho môt trận tơi bời chớ không! Ông quận bèn lái xe xuống tận nơi gặp đồng bào năn nỉ.
Thấy gặp khó khăn, đồng bào Long Xuyên mới dở chòi, bỏ đi. Họ chờ ông quận cấp đất cho họ như ông ta hứa, nhưng phải chờ ông ta xin chỉ thị của tỉnh. Cũng may, sau đó, họ được cấp một vùng phía trên một chút, cách chỗ cũ khoảng vài cây số. Họ lại dựng chòi, chuẩn bị làm ruộng thì… đứt phim.



lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:36:23
Phần : 16
Việc Làm Ruộng Sau Hiệp Định Paris 73 (tiếp theo)


Trên đường Rạch Giá - Hà Tiên, đoạn giữa hai cây cầu Lỳnh Quỳnh và Vàm Rầy, là ranh giới hai xã Tín Đạo và Đức Phương. Ngay đây có một cái đồn, gọi là đồn giữa. Phía biển con đường nầy, theo địa bộ, ghi là rừng cấm.
Thực ra, vùng nầy có rừng núi gì đâu! Đây là một vùng đất thấp, do phù sa sông Cửu Long bồi lên mà thành, thiếu nước ngọt, chỉ có mấy cái rạch cạn toàn là phèn nên không canh tác gì được. Có lẽ hồi xưa, có người Miên ở, nay họ cũng đã đi hết rồi, chỉ để lại những cái tên, như Lỳnh Quỳnh, tên nghe thì hay nhưng đó là tên Miên, không phải tiếng Hán Việt.

Thời kỳ thực dân, sau khi khai thác vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn, vùng kinh Hãng ở Tà Keo ở Rạch Giá, Tây cũng có dự tính làm ruộng ở vùng nầy, nên chúng khoanh vùng lại, gọi là rừng cấm, thuộc công thổ, không cho ai khai thác. Nói cho ngay, nếu không có thế giới chiến tranh thứ hai, Tây không đầu hàng Đức thì vùng nầy cũng có thể là vùng ruộng nương trù phú rồi.

Sau hiệp định Paris 73, dân Xóm Mới (Gò Vấp) theo lời khuyên và đóng tiền cho cha Uyển, vô làm ruộng ở Tà Keo, bị Việt Cộng giết hai người, bắt dẫn đi mất tích hai người. Nay họ cũng nghe lời cha Uyển, dựng chòi, cắm cọc giăng giây tính làm ruộng ở đây, nằm theo trục lộ Rạch Giá - Hà Tiên, an ninh hơn. Tất cả khoảng vài chục dân, phần nhiều là đàn ông.

Tôi lái xe đi ngang qua, thấy quang cảnh, cũng đâm lo. Đây là đất “công thổ’, tự nhiên có người đến chiếm lập ruộng vườn. Ai chịu trách nhiệm. Hôm sau, tôi cùng ông “Phó Nghiêm”, phó quận trưởng, cùng xuống xem tình hình ra sao! Ông Phó Nghiêm nói rằng đồng bào chẳng xin phép tắc gì cả, tự dưng nghe lời cha Uyển, đến đây “giành đất”, là không được. Ít ra, họ phải xin phép quận, cho làm ruộng tạm thời một hai mùa, sau đó, sẽ trả lại đất cho chính phủ hay xin hợp thức hóa.

Từ Vàm Rầy, ngó lên phía Bắc, phía núi Cô Tô bên Châu Đốc là vùng hoang hóa, hồi trước, phần nhiều là ruộng ông Chủ Ri, ông Thầy Ban, nay bỏ hoang. Ai muốn vô đó xin làm ruộng một hai mùa, thì xin phép quận. Quận chấm tọa độ, cho ông X, ông Y nào đó tạm làm một hai mùa. Công việc rất dễ dàng, có thể mời ông quận, ông phó quận ly càphê là xong. Nếu trúng mùa, biếu hai ông mỗi ông một chai Henessy cổ đen (loại nầy ngon hơn cổ vàng, đúng gout dân Rạch Giá, là được). Đằng nầy, chẳng cần giấy tờ phép tắc chi hết, tới giăng giây giành đất, cất chòi, coi như đất ruộng của mình, là xong.

Đang khi tôi và ông phó Nghiêm ngồi nghỉ mệt bên đường thì có một người đàn bà, trạc 30 tuổi đến hỏi tôi và ông phó quận là ai, xong, bà chìa ra một cái “bằng khoán”, cho biết rằng đất nầy của em bà, một ông đại úy hải quân, đang bị đồng bào chiếm. Bà ta nhờ can thiệp.

Ngạc nhiên về chuyện ấy, tôi hỏi ông phó Nghiêm:

-“Rừng cấm là thuộc quyền trung ương, trên bộ hay phủ thủ tướng cấp. Ông tỉnh trưởng địa phương đâu có quyền cấp bằng khoán nầy? Ông Phó học Quốc Gia Hành Chánh ra, chắc biết rõ hơn tui!”
Phó Nghiêm cười, trả lời tôi:
- “Ông hơi đâu mà lo. Cờ tới tay ai nấy phất. Mấy ông nhà binh biết hay không, cứ làm đại. Cái dù che cái cán là xong. Bọn tôi xuất thân trường hành chánh, nhưng chỉ làm phó, quyền hành gì đâu. Trình lên mà ông tỉnh trưởng không nghe thì làm gì ổng?”
Tôi nói:
- “Biết vậy, nhưng không làm cũng không xong. Mấy ông xếp bên tôi cũng là quân đội biệt phái như tôi vậy. Nhiều ông ẩu lắm. Cơ quan thi hành luật pháp mà vi phạm luật pháp mới buồn cười.”
Phó Nghiêm nói:
- “Luật pháp là của giai cấp thống trị, của người có quyền. May ra, hết chiến tranh, quyền cai trị trả lại cho dân sự, cho hành chánh, có dân chủ thật sự, quyền hành là của dân thì tình hình mới ổn định được.”
Nhớ chuyện ông Chủ Ri, tôi hỏi:
- “Việc bồi thường truất hữu cho ông già bà thủ tướng xong chưa?”
- “Xong rồi!” Phó Nghiêm nói. “Tôi chỉ xác nhận trước 1945, đất của ông ta theo địa bộ thì chừng đó. Còn bồi thường là do bộ Cải Cách Điền Địa.”
- “Tiền chắc khẳm. Ruộng ông ta nhiều lắm!” Tôi nói.

Cách mấy tháng trước, tôi đến quận thì gặp ông Chủ Ri từ Saigon về, đang ngồi với quận trưởng. Tôi hơi ngạc nhiên về cách phục sức của ông. Theo người ta nói thì ông là người gốc Tây Ban Nha lai Miên, trước làm ruộng ở kinh Xà Tón, còn gọi là kinh 1. Kinh nầy nối dài từ Châu Đốc về tới kinh Rạch Giá - Hà Tiên. Nhờ con kinh nầy đem nước ngọt về, nên vùng đất của ông Chủ Ri ở Vàm Rầy thuộc xã Đức Phương làm ruộng được, đất rất tốt. Ông cho đào thêm một con kinh nữa, nối từ kinh 1 vô ruộng của ông, trong bản đồ ghi là kinh Chủ Ri. Phía bên kia kinh Xà Tón là đất của ông Thầy Ban, cũng có kinh Thầy Ban, đối xứng với kinh Chủ Ri. Tôi không rõ gốc gác ông Thầy Ban nầy.

Ông Chủ Ri phải nuôi tới 200 con trâu để cầy ruộng cho ổng và cày thuê cho người ta. Tới “mùa nước nổi”, là nước lên khắp cả ruộng đồng, không có cỏ cho trâu ăn. Người ta phải lùa trâu lên vùng Thất Sơn (Bảy Núi - nói theo Việt Cộng) để có cỏ cho trâu ăn. Tới khi nước rút, cỏ lại mọc, người ta lại lùa trâu về. Công việc nầy gọi là “len” trâu. Mùa nước nổi nầy gọi là “Mùa len trâu”. Len là tiếng Miên. Đây cũng là một truyện (Mùa len trâu) trong “Tìm hiểu đất Hậu giang” của Sơn Nam, truyện đã được quay thành phim.

Hôm đó, ông Chủ Ri ăn mặc như một nông dân giàu có ở miền Tây, mặc dù ông đi xe Toyota Crown, có tài xế riêng. Nghe nói trước 1945, nhà ông cũng đã có xe hơi riêng và có tài xế rồi (1). Ông Chủ Ri mặc một bộ đồ bà ba trắng tinh, mang dép da, tóc hớt cao, chớ chẳng veston, cà-vạt, giày da gì cả như tôi nghĩ. Giữa chỗ ngồi ông Chủ Ri và ông quận trưởng là một cái bản đồ vùng Vàm Rầy, đặt trên một cái giá gỗ. Ông Chủ Ri đưa bàn tay khá to của ông chụp lên vùng kinh Chủ Ri mà nói với ông quận trưởng: “Ruộng của tôi là chỗ nầy. Ông quận xác nhận cho tôi.”

Bàn tay hộ pháp của ông chụp lên vùng đó thì coi như ông có cả ngàn mẫu ruộng. Một ngàn mẫu ruộng bị truất hữu, lại có ông con rể là đại tướng thủ tướng, tôi nói ông ta lảnh khẳm tiền là lẽ đương nhiên. Mấy ông chủ điền, năm 1945, sợ Việt Minh, bỏ chạy lên thành phố, ruộng giao cho tá điền muốn làm gì thì làm, có đóng tô cho ông chủ điền hay không, ông chủ điền cũng đành chịu, đâu dám về mà đòi tô, hoặc ruộng bỏ hoang hết rồi. Nay bỗng có chương trình “Người Cày Có Ruộng”. Chủ điền thì được bồi thường bạc triệu. Nông dân thì được cái bằng khoán làm chủ mẫu ruộng mình đang canh tác, chẳng còn ngại ngùng gì tới ông chủ điền cả, thấy khỏe bụng nhiều.

Nhưng đó là đòn độc của ông Thiệu, tổng thống. Nông Dân đang làm chủ miếng ruộng của mình, có bằng khoán hẵn hoi. Sau 1975, Việt Cộng bắt vô “Hợp Tác Xã” hết. Nông dân mất ruộng, bằng khoán trở thành miếng giấy lộn mà cày cấy được bao nhiêu, thằng chủ tịch xã, thằng bí thư xã, thằng chủ nhiệm hợp tác xã ăn hết; “quá cha” ông chủ điền ngày xưa. Nông dân chỉ còn cái cọng lúa. Thành ra, người dân không muốn chống Cộng cũng phải chống, muốn yên thân cũng không yên được. Tôi nói đòn độc của ông Thiệu là nghĩa như vậy.

Về điều nầy, tôi phải tự hào một chút mới được bởi vì mấy thầy, mấy quan lớn ngồi ở tỉnh, ở Saigon, đâu có lặn lội từng ấp, từng xã, từng quận như tôi mà biết dân tình như thế nào.

Lại nữa, điều nầy cũng là nguồn gốc của phong trào dân oan đòi đất bây giờ đấy.
Đất là nguồn sống bức thiết của nông dân. Có đất thì sống, có nơi làm nhà che mưa che nắng. Hồi xưa, chủ điền có đất giao cho nông dân tá canh thì chủ điền có cơm mà ăn, nông dân có cháo mà húp, nôm na thì gọi là “Kẻ ăn cơm, người ăn cháo”. Nay đất thuộc về nhân dân, đất là của nhân dân, không ai có quyền có đất. Đó là nói theo luận điệu Việt Cộng. Khổ nỗi, đất của nhân dân nhưng “nhà nước quản lý” mà thực tế, nhà nước là cán bộ đang nắm quyền làm chủ đất, có nghĩa là cán bộ trở thành chủ đất, chủ điền. Cán bộ phần đông thuộc hàng “ba đời đi ở, bốn đời làm thuê”, hay còn gọi là “tam đại bần nông, tứ đại khố rách”. Nay cán bộ nắm quyền giữ đất trong tay thì xài cái quyền đó thả xăng cho thỏa mối hận ba đời không có miếng đất cắm dùi. Cán bộ muốn làm gì thì làm, làm cho dân oan điêu đứng cũng là cách “trả thù đời” của cán bộ vậy, đâu cần nhân đạo, từ bi, phúc đức gì như ông bà xưa cho rắc rối.

Việc như thế, tâm lý cán bộ như thế, lòng tham như thế thì nếu như - tôi nói nếu như - Nguyễn Tấn Dũng có muốn có công lý cho nông dân cũng không thể có được. Nguyễn Tấn Dũng có mọc ba đầu sáu tay thì cũng thúc thủ trước những vụ dân oan khiếu kiện bây giờ.

(Kỳ sau: Lại tiếp chuyện ông Chủ Ri và chuyện ông linh mục Nguyễn Thượng Uyển)

hoànglonghải


(1) Nhân đây cũng xin kể một chuyện tình 50 năm về trước để độc giả thấy phong cách sống của dân chủ điền Nam bộ ngày xưa

Khi vào trại tù cải tạo, tình cờ tôi ở chung đội với ông Năm Nho, Nguyễn Văn Nho. Ông già Nho đáng bậc tuổi cha chú tôi. Cũng vì tò mò, tôi hay tìm ông hỏi chuyện chơi, những chuyện mà tôi có đọc trong các tiểu thuyết viết về Nam Bộ của ông Hồ Biểu Chánh như “Cha Con Nghĩa Nặng”, “Ngọn Cỏ Gió Đùa”, v.v… Ông già Nho, gốc là đại úy Cảnh Sát, biệt phái làm trưởng phòng công xa Hạ Nghị Viện, quê ở Sóc Trăng, cháu ngoại một ông chủ điền giàu có lắm. Ông bà ngoại ông, mỗi năm được mùa, biểu ông lên Saigon hay Cần Thơ thuê gánh hát về hát cho tá điền coi chơi, khỏi mua vé. Ông Năm Nho ở với ông bà ngoại từ nhỏ, mẹ đi lấy chồng. Hình như ông ta tránh, không nói về cha ông hay bên nội ông là ai.

Khi ông đã lớn, ông bà ngoại ông tính chuyện cưới vợ cho ông, bèn đánh tiếng với ông chủ điền ở Vàm Rầy. Bên đó bằng lòng. Mỗi năm vài lần, nhân dịp lễ tết xuân thu nhị kỳ, ông Năm lái xe hơi nhà - xe ông bà ngoại - từ Sóc Trăng qua Rạch Giá biếu quà cho ông bà già vợ tương lai. Ông Năm kể, giọng bùi ngùi: “Sau khi tìm hiểu gốc gác tôi, bên ông chủ điền xứ Vàm Rầy muốn từ chối, tỏ vẻ lạnh nhạt mỗi khi tôi mang quà qua thăm. Ông bà ngoại tôi biết họ chê gốc gác tôi không rõ ràng nên bèn thôi. Buồn tình, tôi đăng lính thủy, làm thủy thủ ngang dọc trên biển xa cho quên tình đời. Lâu lâu, tôi mới xin phép về thăm ông bà ngoại tôi. Thấy tôi bỏ quê, bỏ sự sản ra đi, ông bà ngoại tôi buồn lắm. Vì chiến tranh xảy ra, ông bà ngoại tôi lên Saigon, bỏ ruộng cho tá điền, chớ không thì không biết giao cho ai. Rồi tôi bỏ lính thủy, đi cảnh sát. Thấy người ta lấy chồng sĩ quan, rồi lên làm tướng, tôi cũng vui, cho rằng người ta có số cao, còn mình thì long đong. May lúc đó, ông bà ngoại tôi đã qua đời chớ không thấy tôi như vầy thì ông bà ngoại tôi buồn biết bao nhiêu!”

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:42:08
Phần 17 :
Việc Làm Ruộng Sau Hiệp Định Paris 73 (tt-2)


Như tôi có nói, Chủ Ri là tên gọi tắt ông chủ điền Henry. Thân sinh ông là người gốc Tây Ban Nha, lai Miên, mẹ là người Việt Nam. Cách sinh hoạt của ông y như một người Việt Nam, nhưng dân chúng địa phương nhiều người biết gốc gác ông như tôi vừa nói ở trên.

Ông về làm ruộng ở đây từ lâu lắm, có thể từ đời thân phụ ông. Không ai biết rõ ông làm chủ điền từ lúc nào vì khi tôi về làm việc vùng nầy thì gia đình ông đã chạy trốn Việt Minh, lên ở ngay thị xã Rạch Giá từ 1945 hay 46 gì đó.

Ruộng ông Chủ Ri nhiều lắm. Từ ngã ba kinh Tám Ngàn, còn gọi là Kinh 1 hay kinh Xà Tón, ngó ngược lên phía Bắc, bên tay trái là ruộng của ông Chủ Ri, bên phải là ruộng của ông Thầy Ban. Hai ông nầy ruộng ngang ngữa bằng nhau. Bên phía ruộng Chủ Ri, thì có kinh Chủ Ri, lấy nước ngọt từ Kinh 1 vào để rửa phèn làm ruộng. Đối xứng bên kia Kinh 1 thì có kinh Thầy Ban. Giữa hai khu ruộng nầy là Kinh 1, kinh nầy lấy nước từ sông Bassac, tức là sông Hậu, ở ngang Châu Đốc dẫn về tới kinh Rạch Giá - Hà Tiên. Những năm chiến tranh, ruộng nầy bỏ hoang, kinh nầy cũng bị bỏ hoang, không nạo vét gì cả, nhiều chỗ đất bồi nên cạn xợt, Mùa nước cạn, ghe thuyền không qua được, chỉ chờ khi nước nổi, mực nước sông Hậu dâng cao, đổ về ghe mới qua được chỗ nông. Dĩ nhiên, mùa cạn, ghe tàu không còn theo đường nầy lên Châu Đốc, tình trạng cũng giống như kinh Vĩnh Tế, - kinh nối liền Hà Tiên, qua Giang Thành, tới Châu Đốc vậy.

Kinh 1 cũng đụng với kinh Kháng Chiến, là đường giây di chuyển 1-C của Việt Cộng. Dân chúng sợ gặp Việt Cộng nên không dám đi. Việt Cộng cũng cấm dân chúng đi ngang, sợ bị lộ, nhất là những khi chúng chuyển quân đông hay vận chuyển quân dụng, vũ khí, v,v…

Ruộng thì ở trong kinh, nhưng ông Chủ Ri làm nhà ở kế bên lộ 8-A, con lộ nối liền Rạch Giá - Hà Tiên, chỗ gần ngã ba Kinh 1 và kinh Rạch Giá - Hà Tiên gặp nhau. Khi gia đình ông Chủ Ri sợ Việt Minh chạy trốn lên thị xã Rạch Giá thì nhà cửa ông Chủ Ri hư hại, bị Việt Minh phá hay đốt cháy hết, chỉ còn lại những cái nền gạch, và những ngôi mộ chôn cất ông bà tổ tiên ở trong một cái nghĩa trang nhỏ nằm sát đường đi. Mộ nầy xây gạch, sơn trắng, có người chăm sóc. Đi ngang đoạn đường nầy, người ta dễ thấy nghĩa trang nầy nằm bên trái, cạnh đường đi.

Trước 1945, gia đình ông Chủ Ri ở đây, các con ông cũng học hành lớp 1, lớp 2 ở tại đây. Tôi đoán chừng vậy vì không biết hồi ấy, ở đây có trường tiểu học nào ở đây không. Có tên Tư Trạng, bị tôi bắt sau vụ Việt Cộng tấn công vào trụ sở xã và cảnh sát, phân chi khu xã Đức Phương nầy vào dịp sinh nhựt Hồ Chí Minh (19-5) năm 1973, khai rằng hồi nhỏ, (trước 1945) anh ta là bạn học với chị Tư Nết ở Vàm Rầy. Chị Tư Nết là tên gọi tắt cô Annette, con thứ Tư ông Chủ Ri. Sau nầy cô Tư Nết là vợ ông đại tướng Trần Thiện Khiêm.

Tôi không rõ khu nhà tá điền của ông Chủ Ri ở đâu. Dọc hai bên trục lộ nầy, nếu nhà tá điền ở gần nhà ông, thì sau 1945, chắc chẳng còn gì nếu như là nhà tranh. Thực ra, vùng nầy không có nhà ngói, chỉ có vài cái nhà gạch lợp tôn, nhưng có lẽ mới dựng sau nầy, những năm hòa bình (sau 1954). Bây giờ, khu vực gần cầu Vàm Rầy và dọc theo trục lộ, gần ngã ba các kinh nói trên, chỉ toàn là nhà tranh của dân mới tới định cư. Ngay cả Xóm Biển cũng vậy. Xóm Biển là xóm nhà dân, nằm dọc kinh Vàm Rầy, là kinh nối liền kinh Rạch Gia - Hà Tiên với biển. Nhờ làm nghề biển, xóm nầy tương đối khá giả, nhiều nhà có TV chạy bằng bình điện, có ăng-ten TV chỉa lên trời. Có lần, tôi đến nhà ông Tư Sậm, chủ ghe biển ở đây, xin con cá chẽm khô cho ông anh bà con ở Saigon, nói đùa với ông ấy: “Hồi Tết Mậu Thân, ngoài Huế, nhà nào có ăng-ten TV đều bị Việt Cộng bắt. Họ nói nhà đó có điện đài liên lạc với địch. Ông và dân xóm ông nhiều “điện đài” như vậy, có sợ Việt Cộng không?” Ông ta cười, trả lời: “Việt Cộng ở đây khác với Việt Cộng ngoài đó. Ở đây là con Sáu Lánh chớ ai đâu!”
Xin nói qua chuyện “Con Sáu Lánh” một chút.

Com Sáu Lánh nhà ở ngã ba kinh Xà Tón, tức là gần nhà ông Chủ Ri cũ. Con nhỏ ham coi cải lương, tối thứ bảy nào cũng vào xóm biển coi cải lương trên TV nhà Tư Sậm. Chương trình cải lương chấm dứt khuya lắm. Trên đường về, Sáu Lánh đi một mình. Khi ngang qua trường học, nó bị con trai Tư Sậm dụ vào trường học rồi hiếp dâm. Việc thưa ra tòa. Con trai Tư Sậm khai là con nhỏ đồng ý; con Sáu Lánh thì khai rằng có chống cự nhưng chống không lại vì con trai Tư Sậm mạnh quá! Cả hai đứa đều tuổi vị thành niên. Con Tư Sậm mà vị thành niên gì nữa. Nó đã trên 20, nhưng khai nhỏ tuổi, dùng giấy khai sinh giả để trốn quân dịch. Tư Sậm bỏ tiền lo cho con vì nó còn trẻ, mạnh khỏe, lái ghe và đánh cá cho cha mỗi ngày. Mất nó thì Tư Sậm như mất một cánh tay. Không biết tòa xử như thế nào mà con Sáu Lánh thua kiện. Ức tình, con nhỏ bỏ nhà thoát ly, theo Việt Cộng. Còn con trai Tư Sậm thì bỏ nhà trốn ra sinh sống ngoài Hòn Nghệ cho dễ trốn quân dịch.

Hôm Việt Cộng đánh vào xã, con Tư Lánh có mặt trong đám du kích. Đại úy Danh Lon, trưởng ban 2 Chi Khu, hôm đó, chỉ huy trung đội nghĩa quân đóng ở đầu cầu Vàm Rầy, thấy rõ con Sáu Lánh đặt cây súng trung liên bar bên hông chợ bắn vào đồn của Danh Lon. Cây súng nầy nó lấy được của phân chi khu Đức Phương. Bắn xong, con nhỏ còn cười, nói lớn, nhiều người trong chợ cũng nghe: “Súng của ngụy bắn đã quá!” Kể lại chuyện đó cho tôi, đại úy Danh Lon còn nói đùa: “Súng của thằng con trai Tư Sậm bắn không đã nên con nhỏ mới theo Việt Cộng đó!” Nói xong, Danh Lon cười. Tôi hiểu ý đen trong câu nói của ông ấy, nên cũng cười theo.
Cầu Vàm Rầy bắt ngang qua con kinh Vàm Rầy nầy.
Những năm Việt Minh mới cướp chính quyền, gia dình ông Chủ Ri chưa chạy lên Rạch Giá, mỗi khi “Thổ dậy”; từ xóm Miên (người ta không gọi là Xóm Thổ, sợ lầm với nhà thổ chăng?), dân Miên cầm chà gạc xuống tấn công, giết chóc và đốt nhà người Việt Nam ở gần cầu Vàm Rầy, thì ông Chủ Ri đứng ra can thiệp. Nghe tin “Thổ dậy”, ông cầm cây súng dài - Ông là dân Tây, có quyền mua súng - ra đứng trước nhà ông, chờ người Miên tới gần, ông biểu họ lui. Xong, ông đưa súng lên trời bắn đùng một phát. Thế là dân Miên sợ, bỏ chạy lui hết. Xóm làng yên ổn trở lại.

Người ta nói ông Chủ Ri, tuy gốc Miên lai Tây Ban Nha, nhưng ông cũng có máu lai Việt và bênh vực người Việt Nam. Cũng có thể ông thấy chuyện “Thổ dậy” là sai nên đứng ra can thiệp.

Thổ dậy” là hiện tượng xáo trộn ở thôn quê miền Tây Nam Bộ thời Việt Minh, khi quân Pháp chưa tái chiếm vùng nầy. Bấy giờ Việt Minh yếu thế lắm, không giữ được an ninh trật tự cho xóm làng. “Thổ dậy” cũng là hiện tượng trả thù của người Miên vì người Miên cho rằng người Việt, từ các đời chúa Nguyễn, đã cướp đất đai của họ. Trong dân chúng Miên, người ta đồn đãi nhiều về những việc ác của quan An Nam đã làm khi họ chiếm đất của Miên, tạo thành những mối thù dân tộc truyền kiếp đã có từ lâu lắm. Khi bọn Khmer Đỏ cai trị Kampuchia, để chống Việt Nam, mối hận thù dân tộc nầy cũng được khơi dậy, thêm thắt cho ly kỳ gay cấn. Những chuyện tàn ác như chuyện đào kinh Vĩnh Tế hồi ông Thoại Ngọc Hầu làm quan ở đây, được thêm thắt tô vẽ nhiều lắm. Khi tôi làm việc ở vùng nầy, tôi cũng cảm nhận được điều đó khi tiếp xúc với người Miên, mặc dù người Miên ở đây không ròng, có nghĩa họ là người Miên lai Tàu, địa phương thường gọi họ là “đầu gà đít vịt”.

Khi Việt Minh tổ chức vận động “Toàn dân kháng chiến” chống Pháp, thì người em út ông Chủ Ri, thường gọi là chú Út, tham gia Việt Minh và bị Tây giết. Giữa năm 1974, khi tôi đang trên đường từ Hà Tiên đi Rạch Giá, thì thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, báo cho tôi biết có “Anh Hai Re” về thăm. Hỏi thêm mới biết “Anh Hai Re” là con trai trưởng ông Chủ Ri, tức anh bà đại tướng, thủ tướng. “Re” có phải tên tắt của Robert? Tôi ghé lại Đức Phương, gặp anh ta đang ngồi uống càphê trong một tiệm hủ tiếu ở chợ xã. Anh nhờ tôi tìm giùm mộ chú Út. Anh ta cần đi gấp, ra Phú Quốc, bàn chuyện khai thác gỗ ngoài đó nên không có thì giờ. Tuy nhiên, thấy ông ta đã hơn 40 mà trên xe Jeep của ông có một cô gái đẹp lắm, mới khoảng 20 tuổi, thì tôi đoán chừng được tại sao ông ta không có… thì giờ. Cô ấy là “bạn gái” của ông, như ông giới thiệu.

Sau đó, tôi hỏi mấy cụ già địa phương để tìm mộ chú Út giùm, theo lời “Anh Hai Re” nhờ. Ông Út bị Tây bắn năm ông khoảng ngoài 20 tuổi, hồi đầu kháng chiến chống Pháp. Lúc nầy gia đình ông Chủ Ri đã chạy trốn Việt Minh lên Rạch Giá rồi, nên khi “chú Út” chết thì dân địa phương lo việc chôn cất. Thay vì đem về chôn ở nghĩa địa chung của gia đình, dân chúng chôn ở bên kia kinh, ngay chỗ ông ấy bị Tây bắn, sát bờ đất, gần ngã ba Kinh 1 với kinh Rạch Giá - Hà Tiên. Ngôi mộ nầy bị mất dấu tích, không tìm lại được vì M-113 lên xuống ở bờ kinh nầy nhiều lần, bánh xích càn mất mộ. Mộ lại chẳng bia hay làm dấu tích gì cả. Các cụ già chỉ cho tôi chỗ ngôi mộ ấy, đoán chừng ở một khoảnh đất trống bên bờ kinh, không chắc ở chỗ nào. Khi mất, ông Út chưa có vợ con gì.

Những người như chú Út rất đáng thương tâm. Việt Minh thì cho rằng ông là em ông chủ điền đã trốn Việt Minh, theo Tây lên Rạch Giá, nên không ngó ngàng gì tới. Vã lại, ông ta chết sớm, còn nếu như không thì không chắc ông ở với Việt Minh được. Ông đâu phải là gốc tam đại bần nông, tứ đại khố rách. Còn phía Quốc Gia thì cho rằng ông ấy theo Việt Minh, làm sao lập mộ, lập bia “Tổ Quốc Ghi Ơn” cho ông ta. Đó là cái oái oăm của lịch sử, cái trớ trêu của số phận, mà những người yêu nước, theo Việt Minh chống Pháp, hy sinh. Rồi dân tộc Việt Nam, hoặc vì bị bên nầy khống chế, bị bên kia cai trị, chẳng ai có chút công tâm để ghi ơn những người thực sự đã vì tổ quốc, dân tộc mà bỏ mình, không vì đảng phái hay phe nhóm nào cả, mồ mả không ai ngó ngàng, chăm sóc, đến nỗi không biết thân xác nằm ở chỗ nào, xiêu lạc nơi đâu. Đúng là “mồ xiêu mả lạc” như tục ngữ nói. Sao người ta vô ơn quá vậy!

Trên đường Rạch Giá - Hà Tiên, ngoại trừ xã Mỹ Lâm, quê hương Nguyễn Tấn Dũng có rất ít người Miên, còn những xã còn lại, hoặc người Miên đông hơn người Việt hoặc ngược lại. Những xã ấp có tên từ gốc Miên như Sóc Sơn, Lỳnh Quỳnh người Miên hoặc Miên lai Tàu chiếm tám chín mươi phần trăm, một ít người Việt làm nghề buôn bán. Người Miên không rành buôn bán, mặc dù có người Miên lai Tàu. Có máu lai Tàu mà chẳng có khiếu buôn bán như người Tàu chút nào cả.

Trên con đường nầy, những ấp như Sóc Sơn, Lỳnh Quỳnh, Xà Ngách, Bãi Chà Và, Ba Hòn, Hòn Chông, v.v… phần đông là người Miên, người Việt rất ít. Người Miên thật thà, chất phác, làm ruộng, làm rẩy, đánh cá, nuôi heo… Người Miên ở ấp Xà Ngách có thêm một nghề: Đập đá. Đá vôi, chủ lò vôi dùng thuốc nổ lấy từ trong núi, dùng ghe chở về lò vôi. Để đốt cho chín đều, vôi phải đập nhỏ, mỗi cục bằng nửa cái trứng gà. Một người đàn bà, còn đủ sức, mỗi ngày đập được hơn một khối đá, được chủ lò vôi trả cho mỗi khối 20 chục đồng tiền hồi đó, tính ra bằng giá hai tô hủ tiếu bán ở chợ. Vì nghèo nên rán mà làm thêm kiếm chút đỉnh tiền bạc, chớ chẳng giàu có gì được!

Người Miên nuôi heo thả, không nuôi chuồng như người Việt. Con heo nái, khi sắp đẻ, nó vào rừng (rừng lau, sậy, cóc kèn, ô rô, v.v…) sinh con trong đó. Khi đàn heo con đã lớn, chạy quanh kiếm ăn được, heo mẹ đem heo con về.

Trước chiến tranh (1945-75), vùng nầy rất nhiều cá, hầu hết là cá đồng, - người Miên ít ai làm cá biển - không ăn hết thì họ xây lò sấy cá cho khô. Lò sấy cá gọi là lò bôm. (Nay còn tên ấp Lò Bôm ở thị trấn Kiên Lương) để dành được lâu.

Con trai lớn lên thì vào chùa tu. Những người tu lâu, lớn tuổi được gọi là “ông lục”. Lên tới ông lục thì có thể ở tu luôn thành đại đức. Phần đông, khi tới 17 hoặc 18 tuổi thì về, không còn tu ở chùa nữa, trở lại đời sống bình thường, lấy vợ, lập gia đình, có con cái. Thời chiến tranh, khi tới tuổi đi lính thì họ trình diện vào quân đội hoặc xin vô cảnh sát, xây dựng nông thôn, v.v… ít ai trốn quân dịch hay đào ngũ. Những vùng xôi đậu, cũng có một số ít người “thoát ly”. Theo Việt Cộng, ít ai được làm ông lớn vì bản tính thật thà, không được Việt Cộng tin tưởng. Dương Nganh, tự Xà Rum, theo Việt Minh, sau theo Việt Cộng, nghĩa là theo Cộng Sản từ lâu, cũng chỉ làm tới bí thư xã Dương Hòa, được ít lâu cũng bị ra rìa. Hai Ngộ, tên đầy đủ là Nguyễn Văn Ngộ, người Việt lên thay.

Người Miên xứ nầy cũng “làm biếng” như người Miên bên xứ Kampuchia, có nghĩa là khi có việc gì nặng nhọc, người đàn ông mới làm, như làm ruộng, đào mương, đào kinh, đắp đê, đánh cá… Còn thường ngày, không có việc gì nặng nhọc thì họ cứ tà tà, buổi sáng ngồi hút cần sa, chiều ra quán hay mua rượu đế về nhà uống. Mọi việc trong nhà, nuôi heo, nuôi gà, làm đường thốt nốt, nấu ăn, chăm sóc con cái thì người vợ cáng đáng cả.

Người Miên hút thuốc lá, thường do họ tự trồng lấy, hút được rẻ. Họ không đủ sức mua thuốc làm sẵn cho vào bao, dù đó là thuốc Bastos xanh hay đỏ.

Hầu hết họ sùng tín đạo Phật, phái tiểu thừa. Họ không đi chùa thường ngày rằm và mồng một như người Việt. Nhưng mỗi năm vài ba lần đi chùa thì chăm lắm, bận việc mấy các cô các bà cũng đi. Họ gọi là đi làm phước. Không làm phước thì không được phước. Họ tin như vậy.

Một năm, ông lục ở chùa Ba Hòn mời tôi tới ăn đồ cúng, nhân một dịp lễ nào đó, tôi không nhớ. Họ quí mình lắm mới mời ăn chứ thường ra, cuộc sống họ khép kín, ít quan hệ với người ngoài xứ sở của họ. Biết vậy nên tôi buộc lòng phải đi. Người Miên không ăn chay, cúng cũng cúng mặn, cũng heo gà là món ăn thường, do họ tự nuôi lấy. Đang ngồi ăn, thấy ông lục ngồi tiếp tôi ở trước mặt, tay ông đầy ghẻ, khiến tôi nghẹn lại, ăn không được. Họ cũng như người Việt ở thôn quê, cuộc sống còn lạc hậu, thường ở dơ.

Vùng nầy ít nghe nói bùa phép, nhứt là bùa cà-tha mà người ta nói rất thiêng. Tuy nhiên, cũng có vài nhà - phần đông là người Miên lai Tàu - dùng “thuốc”, nghĩa là bùa có chất độc, đụng nhằm thì chỉ có chết, không cứu cấp gì được vì không biết bệnh gì. Lính tráng đi hành quân, thấy có ớt ngon, hái một ít bỏ túi về ăn cơm. Có người Miên ở ấp Hòn Chông chơi độc, thuốc vào cây ớt, ai ăn nhằm “trúng thuốc” mà chết. Tôi hỏi một người Miên, lính của tôi, “thuốc” như thế nào thì anh ta giải thích: “Chặt đầu một con rắn độc chôn vào gốc ớt. Ai ăn nhằm, bị độc mà chết.” Việc “bỏ thuốc” như thế nầy, thường xảy ra ở vùng người Miên. Những chữ tôi viết trong ngoặc kép nói trên là tiếng địa phương nói về việc “thuốc” ấy.

Cũng tại vùng nầy, người Miên lai Tàu thường có khuynh hướng theo Việt Cộng hoặc ghét Quốc Gia hơn là người Miên chính gốc. Tên Lâm Hải, trưởng ấp Rạch Đùng, xã Bình Trị (tên cũ là Hòn Chông), dẫn hầu hết đám Nhân Dân Tụ Vệ ấp kéo vô rừng theo Việt Cộng. Hoặc ở ấp Ba Hòn, có tên Miên lai Tàu, làm địch vận, dẫn Việt Cộng vô tước hết súng của toán Nhân Dân Tự Vệ lúc người Miên đang ngủ.

Ngược lại, ở xã Sóc Sơn, Nhân Dân Tự Vệ chống trả mãnh liệt khi Việt Cộng tấn công vào xã. Việt Cộng không những không chiếm được xã mà còn chạy trối chết, không kịp đem xác đồng bọn theo, bỏ lại không ít ngoài hàng rào trụ sở xã.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:48:45
Phần 18 :
Nông Trường Chuối Của Ông Tỉnh Trưởng

Tôi không biết rõ tình hình ở trung ương nhưng ở các tỉnh, các quận, khoảng năm 1973, 74 việc thành lập các Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp được dựng lên ở nhiều tỉnh, quận; nhất là những quận lớn như quận Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Xuyên, quận Kiên Tân (Cái Sắn) của Kiên Giang. Mỗi tỉnh đều có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp hoặc chương trình nông nghiệp của Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín (?).

Theo tôi biết, chương trình thiết lập ngân hàng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam là cái đuôi của cuộc “Cách Mạng Xanh” ở bên Mỹ. Tôi nhớ không lầm thì trước việc các nước Cộng Sản phát động “Cách Mạng Đỏ” với đầy máu và nước mắt của lương dân thì để chống lại Cộng Sản, Hoa Kỳ phát động “Cách Mạng Xanh”, tức là việc phát triển nông nghiệp, đem lại no cơm ấm áo cho người dân.

Chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật 480, đầu tư tiền bạc giúp nông dân khai hoang, phát triển canh tác, trồng lúa, trồng bông, v.v… Truớc sự thành công của Mỹ, và cũng do Mỹ tài trợ, hệ thống ngân hàng loại nầy được dựng lên nhiều nơi, các nước chậm tiến và dĩ nhiên, cũng ở Việt Nam.

Hôm khánh thành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn, có phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo về chủ tọa, tôi đuợc mời tham gia, qua đó, làm quen với một vài người chỉ huy, người bỏ vốn đầu tư ở ngân hàng.

Nông dân, phần nhiều là người Nam thường thiếu tiền làm mùa. Người Bắc trong dinh điền Cái Sắn, phần đông làm ăn chín chắn hơn. Từ lâu, họ có thói quen chuẩn bị sẵn lúa giống và tiền bạc cho mùa sau, sau khi thu hoạch mùa trước. Vì vậy, họ có thừa tiền.

Người Nam, phần nhiều ở các xã Tân Hội, Mông Thọ thì ngược lại, gọi là đánh bạc “vui chơi ba ngày xuân” nhưng ba ngày của họ dài tới 365 ngày, coi như suốt năm. (Tôi có nói về việc đánh bạc nầy ở một bài khác). Vậy nên đến khi làm mùa thì thiếu tiền: Tiền mua lúa giống, tiền thuê máy cày, tiền nhân công cấy, sạ, đắp bờ, be đất, v.v…

Trước kia thì họ đi vay hoặc “bán lúa non”. Tiền lời cắt cổ, xanh xít đít đui. (1) Nay nhờ có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp, nông dân khỏi bị các bà nhà giàu, các bà “mua lúa non” (2) bóc lột.

Nhờ hệ thống ngân hàng nầy, nông dân có lợi, mà ngân hàng cũng có lời.
Tuy nhiên, tình hình ở Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn thì ngược lại. Ngân hàng Phát triển Nông Nghiệp Cái Sắn ở quận lỵ Kiên Tân, cho vay và nhận tiền đầu tư của nông dân của bốn xã: Thạnh Đông, Tân Hiệp, Mông Thọ, Tân Hội, tổng cộng khoảng trên 95 ngàn dân, đông gấp ba dân số tỉnh Kiến Phong. Xã Tân Hội và Mông Thọ phần đông là người miền Nam, dân số ít hơn. Xã Tân Hiệp và Thạnh Đông là đông dân nhất, mỗi xã trên dưới ba chục ngàn, phần nhiều là người Bắc di cư. Tình hình chung thì người Nam vay nhiều, việc bỏ vốn đầu tư coi như không có. Dân di cư vay thì rất ít mà bỏ tiền vô ngân hàng đầu tư thì nhiều. Kết quả, ngân hàng ôm một số tiền lớn mà không cho vay được. Tiền nầy nhận vào là phải trả tiền lời cho nông dân. Ấy là chưa kể vốn ngân hàng là 20 triệu, chính phủ ứng vốn thêm bằng số tiền đó là 20 triệu nữa. Tiền chính phủ ứng vốn khỏi trả tiền lời. Trước tình đó, ngân hàng phải cầu cứu với trung ương, trung ương phải cho chuyển tiền qua những ngân hàng khác. Phần nhiều các ngân hàng khác thường thiếu vốn, không đủ cho nông dân vay, không giống ngân hàng Cái Sắn. Đến 30 tháng Tư - 1975, nhiều nông dân bỏ vốn đầu tư rút về không kịp, coi như mất trắng mồ hôi nước mắt.

Có tiền ngân hàng, một số người cấu kết với tỉnh trưởng, mở nông trường trồng chuối để xuất khẩu sang Nhựt Bản. Nghe thì hay lắm vậy!

Một hôm, từ Rạch Giá về Hà Tiên, quá chỗ Vàm Rầy một chút, tôi thấy người ta đang đào một vùng kinh vuông, nghĩa là bốn cái kinh, chung quanh một khoảnh đất vuông. Mỗi kinh dài khoảng 300 thước tây. Bên trong các kinh đào ấy, người ta trồng chuối, loại cây cũng đã khá cao. Chỗ nầy có dựng bảng đề là nông trường chuối. Bảng đề là Nông Trường mà chu vi thì chỉ mới bằng cái vườn nhà quê. Dĩ nhiên, nhiều người biết nông trường nầy tới khi thu hoạch được, sẽ xuất khẩu sang Nhựt Bổn, giống như nhà máy Sumaco ở ngoài Hòn Ngang (Tên trong bản đồ là Hòn Đội Trương) vậy. (Tôi sẽ nói tới công ty nầy sau).

Vậy rồi ít lâu sau, tin của Cảnh Sát Xã Đức Phương báo cáo lên cho biết, Việt Cộng về hoạt động ở nông trường chuối, quân ta pháo kích vào nông trường của ông tỉnh trưởng. Nông trường bị tanh banh ra cả, thiệt hại coi như 100%. Sau đó bị bỏ hoang.
Tôi xuống quan sát tại chỗ vì nông trường nầy là của ông lớn cấp tỉnh. Lỡ thượng cấp hỏi tới thì báo cáo cho rành rọt.

Ai ngờ!

Ông xã trưởng Ngô văn Àn nói với tôi, khi tôi hỏi chuyện ông ấy: “Phen nầy ông tỉnh trưởng trúng to!”

Hỏi tới thì ông xã trưởng giải thích như sau:
- “Ông tỉnh hợp tác với một số người, cho mở nông trường. Làm chừng đó tốn chưa tới 100 ngàn, mà khai với chánh phủ bỏ vốn ra 20 triệu. Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp xin chính phủ đối vốn 20 triệu nữa là 40 triệu. Dùng một cái, nông trường tanh banh, bỏ dở công việc. 20 triệu vốn của ai về nấy, còn 20 triệu của chính phủ cũng coi như xong.
- “Sao gọi là xong?” Tôi hỏi.
- “Việt Cộng pháo kích vô, coi như xong. Chính phủ mất tiền.”
Tò mò, tôi hỏi bên chi khu, chi khu cho biết:
- “Tiểu khu có công điện thông báo Việt Cộng về ẩn núp ở nông trường chuối. Trung đội vũ khí nặng của ông thiếu tá Thành, tiểu đoàn 530 Thần Hổ (Địa phương quân – tg), được lệnh tiểu khu trưởng pháo tối đa vào nông trường.”
Tôi nói với ông thiếu tá quận trưởng:
- “Tôi có tin gì ghi nhận hay báo cáo về việc Việt Cộng kéo vô nông trường chuối đâu. Chỗ đó một bên là lộ, một bên là biển, mình tấn công, tụi nó rút đường nào?”
Quận trưởng cười:
- “Ông sao chẳng biết chi hết! Không pháo vô vườn chuối, làm sao có 20 triệu.”
Đấy! “Cách Mạng Xanh” của nước ta đấy. Hai trăm năm nữa, chưa nắm kịp cái đuôi thằng Mỹ.”

(1) Xanh xít đít đui là vay năm (cinq) trả thành sáu (six) vay 10 (dix) trả thành 12 (douze). Trước 1975, ở miền Nam, thường cho vay với phân lời như thế, bị lên án là cho vay “cắt cổ”. Việt Cộng gọi là “bóc lột”, nghề cho vay là nghề “Ngồi mát ăn bát vàng”. Hiện giờ, trưởng công an các quận ở Saigon, đặc biệt quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp đều “làm thêm” nghề cho vay, và thường cho “vay nóng”. Nghĩa là vay “khẩn cấp” (để chạy án, hối lộ, v.v…) với phân lời rất cao, vay một trả một tiền lời. Vay một triệu thì tiền lời mỗi tháng (mỗi tháng chớ không phải mỗi năm, nhớ cho vậy) là một triệu. Có người thuật lại rằng một cô gái làm điếm bị bắt, phải “vay nóng” để có tiền mà ra khỏi nhà giam. Tiền vay phân lời cao đến nỗi vay một triệu, trả tiền lời mỗi tháng một triệu. Mỗi tháng cô ta chỉ đủ khả năng trả tiền lời cho trưởng công an quận Bình Thạnh. Như vậy, cô ta phải làm điếm suốt đời mà không bao giờ trả hết nợ, trong khi đó tên trưởng công an quận Bình Thạnh vẫn rêu rao rằng, nhờ y cho vay nên cô gái mới ra khỏi tù được. Vì vậy, việc cho vay của y là rất nhân đạo!

(2) “Mua luá non” là hình thức cho vay có cầm thế lúa rất phổ biến ở Kiên Giang. Từ khi sạ đến trước khi thu hoạch, nông dân có thể bán lúa non cho nhà giàu để vay tiền. Càng gần ngày thu hoạch thì tiền vay được cao hơn. Nhiều tay ham cờ bạc, đến khi lúa chín thì các bà “mua lúa non” cho người gặt hết, nông dân coi như trắng tay. Làm một mùa chẳng thu được hột lúa nào!

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 12:55:28
Phần 19 :
“Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ…”




Trong các bài trước, tôi có nói việc thu thuế của Việt Cộng. Thu thuế xài riêng mà bao giờ cũng nhân danh “cách mạng”, nhân danh “nhân dân”. Vợ Tư Ngọc “đeo vàng đầy mình” hay việc Năm Tu Hú thu thuế lấy tiền xài chơi như tôi có kể trước kia, có “chính nghĩa” gì đâu?!

Bài vừa rồi, tôi có nhắc tới “Con Sáu Lánh” theo Việt Cộng. Cha nó, ông Phan Văn Lơi, tên thường gọi là Bảy Lơi, cũng bỏ nhà vô bưng với con gái. Không phải ông ta thương con mà đi theo! Vô trong ấy, có ăn, có tiền, mà khỏi phải làm gì cả; lại có súng AK, có quyền, ai ai cũng sợ! Chỉ một bước, từ nhà vô bưng, chưa tới 10 cây số, từ thằng dân ngu cu đen, trở thành “quan cách mạng”, ai chẳng muốn làm quan, chẳng ham! Tính người Việt vốn ưa làm quan. May mắn như Nguyễn Tấn Dũng, mới là du kích xã Mỹ Lâm đó, vô bưng làm “quan cách mạng”, nay làm thủ tướng, bắt tay Bush chơi! Vậy thì ai chẳng muốn “làm cách mạng” nhỉ?

Tư Trạng, nhà ở gần cầu Vàm Rầy, nguyên là lính Bảo An thời cụ Ngô, bị thương què tay được giải ngũ. Trước 1945, Tư Trạng có nói là học cùng một lớp với chị Tư Nết, (tên Tây là Annette). Khi gia đình ông Chủ Ri sợ Việt Minh nên chạy trốn về Rạch Giá, làm chủ Câu Lạc Bộ ở Secteur de Rachgia, thỉnh thoảng Tư Trạng ra tỉnh, có ghé thăm. Tư Trạng nói với tôi: “Hồi đó có ông “quan hai” hay tới lui câu lạc bộ nầy, sau đó cưới chị Tư làm vợ.

À! Chuyện nầy cũng dễ đoán ra. Người dân xã Mông Thọ nói rằng, khi ông Trần Thiện Khiêm còn mang lon trung úy - hai gạch ở trên vai, - thì chỉ huy đơn vị đóng ở Mông Thọ. Vậy thì ông quan hai nầy, vô ra secteur mà dính với chị Tư Nết chớ gì. Ai chẳng nghĩ vậy!

Ở Vàm Rầy, Tư Trạng sống dưới nhiều chế độ: Thời “chín năm” (1945-54 - Việt Minh), thời Tây tái chiếm Rạch Giá - Hà Tiên, thời Cộng Hòa cụ Ngô, cũng như thời ông Thiệu… Bây giờ thì Tư Trạng ở với “chế độ thống nhất đất nước” thì không biết Tư Trạng sống làm sao, chớ hồi ấy, sống với Việt Cộng, Tư Trạng bất mãn nhất. Tư Trạng than:

-“Què như tôi, làm chi để sống?! Có chút tiền, tôi làm chủ vựa tràm. Dân đốn tràm ở trong kinh đem về, bán cho tôi. Khi có tiền, tôi trả đủ cho họ; khi kẹt tiền, tôi mắc chịu lại ít nhiều. Vì quen biết, vã không bán cho tôi cũng không bán cho ai được, nên người ta cũng rán chịu. Tôi gom tràm, chờ người từ Rạch Giá hay trên Saigon về mua, bán lại ăn tiền đầu. Tiền đầu ăn ít ít. Ăn cao quá, người ta không chịu mua tràm của mình mà dân đốn tràm cũng than van vì trả rẻ thì sao?! Họ cũng khổ lắm!”

-“Khổ vì Việt Cộng?” tôi hỏi.
- “Chớ chi!” Tư Trạng trả lời.
- “Tôi nhớ câu cảnh cáo của Việt Cộng “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà!” Có ai bị bắt tù chưa?” Tôi hỏi.
- “Không chừng ông à! Thường dân chúng chỉ gặp du kích, tử tế thì nó tha, không ưa thì nó bày đủ thứ chuyện để làm khổ dân! Có khi bắt đi mất tiêu, không thấy về.” Tư Trạng nói.
- “Thông thường thì dân bị gì?” Tôi hỏi.
- “Thông thường thì đuổi về, không cho đốn tràm, ngoại trừ ai có bà con thân nhân với du kích thì được làm lơ. Ngoài ra thì bị tịch thu dao rựa, tịch thu cưa. Có khi họ cưa xuồng. Chiếc xuồng bị cưa làm đôi coi như bỏ. Trong khi người ta khóc lóc, than vãn thì tụi nó tỉnh khô. Chúng nó nói là vì lợi ích cách mạng, nên việc chi cũng làm, việc chi cũng làm được, không ngần ngại chi cả.” Tư Trạng nói.
- “Khổ dữ!” Tôi nói. “Họ không lo chi cho dân hay sao! “cách mạng” mà?”
- “Cách mạng” con khỉ khô.” Tư Trạng nói. “Họ chẳng lo gì cho dân đâu!”
- “Thiệt không ông?” Tôi nói. “Không lý nói mà không làm.”
- “Không có đâu. Họ nói vậy mà không phải vậy, có lo chi cho dân đâu! Mấy chục năm tôi ở đây, chỉ thấy có thu thuế. Thuế tràm, thuế cá đìa, thuế máy cày, thuế nông nghiệp. Thuế nông nghiệp thu ác lắm!” Tư Trạng nói.
- “Ác là sao?” Tôi hỏi.
- “Tôi có kể cho ông nghe chuyện Bảy Lơi, cha con Sáu Lánh, thu thuế nông nghiệp rồi đó. Thu như vậy thì tôi còn hột lúa nào đâu! Vậy mà nó bắt đóng đủ, xin xỏ mấy cũng không cho, thiếu đường tôi muốn khóc vì cha con Sáu Lánh đó! Nó giữ ghe tôi suốt đêm, phải đóng đủ nó mới cho về. Vậy mà quốc gia lo cho nó chu đáo mới tức cười.” Tư Tạng than thở.
Tôi hỏi:
- “Phải chuyện Bảy Lơi bị thương nằm ở bệnh viện Châu Đốc?”

Theo hồ sơ trận liệt, Bảy Lơi là cán bộ thu thuế của Việt Cộng xã Đức Phương, huyện Hà Tiên. Vậy mà đến khi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, thì thay vì điều trị ở bệnh viện huyện đội của Nguyễn Tấn Dũng thì lại vô nằm bệnh viện Quân Dân Y tỉnh Châu Đốc của chính quyền Quốc Gia. Cũng dễ hiểu thôi! Vùng hoạt động của chi ủy Cộng Sản Đức Phương là khu rừng tràm trên đường giây 1-C, trên ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang. Gốc tích Bảy Lơi thì ở Kiên Giang, còn khi bị thương đưa vô bệnh viện Châu Đốc. Bên đó đâu từ chối. Các cơ quan Phụng Hoàng thiếu cập nhật hồ sơ trận liệt, thiếu thông báo cho nhau nên Cộng Sản mới ngang nhiên như thế, giống như trường hợp ông Đạo Sáu lên cư trú tại phủ Cây Tùng tôi đã kể trước đây vậy thôi!

Nghe tin đó, tôi chỉ thị cho thiếu úy Kiệt qua bệnh viện Châu Đốc tìm Bảy Lơi. May cho y, khi ông Kiệt qua tới bên đó thì Bảy Lơi đã được con gái là Sáu Lánh tới đón xuất viện rồi. Nghĩ cũng buồn cười: Bên phía tỉnh Kiên Giang thì hai cha con Bảy Lơi trốn biệt Quốc Gia, không dám xuất hiện; bên phía Châu Đốc, hai cha con nhà nó có dắt nhau ra chợ ăn hủ tiếu cũng chẳng ai đụng tới cái lông chân.

Mai mốt, nếu có dịp may, tôi sẽ hỏi Nguyễn Tấn Dũng chuyện nầy chơi! Cán bộ của y, y không lo, lại giao cho chính quyền Quốc Gia lo. Vậy thì Việt Cộng chơi khôn, còn Quốc Gia thì dại hay sao?!

Quả thật Quốc Gia dại, bởi chữa chạy cho cán bộ Bảy Lơi xong, nó lại đi “thu thuế cho cách mạng”, lại chơi cha thiên hạ. Quốc Gia thua rồi?

Cũng không hẵn vậy đâu. Dại một chút mà được cái tiếng nhân ái. Kết thúc rồi, bây giờ dân chúng ngồi đó nghĩ lại mà thương Quốc Gia, lại càng oán Việt Cộng dữ!

Tôi nói với Tư Trạng:
- “Kỳ nầy tôi bắt gần bốn chục người ở xã nầy đó, toàn là giao liên!”
- “Tội nghiệp họ ông ơi! Nói giao liên nghe cho dữ dằn chớ giao liên cái khỉ khô gì! Không làm thì lấy gạo đâu mà đổ vô nồi, như tôi vậy thôi!”

Đọc hồ sơ, thấy Tư Trạng khai có tiếp tế cho Việt Cộng, tôi giận lắm. Tư Trạng từng đi lính Quốc Gia, từng quen biết với “Chị Tư Nết!” Bắt anh ta, tôi đã thấy phiền, nay thấy Tư Trạng khai như vậy, lại giận hơn.

Thực ra thì sự việc có gì đâu. Dân thì ở ngoài bờ kinh, dọc theo trục lộ, vùng Quốc Gia mà “cái cần câu cơm” thì ở trong rừng. Việt Cộng biết vậy nên thắt hầu bao người dân, biểu chi mà họ không làm.

Bảy Móc, bí thư chi ủy xã Đức Phương nhắn ra với Tư Trạng gởi vô cho y thuốc rê, thuốc lá, thậm chí cả thuốc lá ngoại, thuốc lá Thái Lan, thuốc lá Ara, thuốc lá Cheval con ngựa trắng của Miên, cà phê, đường miếng… để chiêu đãi ông huyện. Tư Trạng đâu dám không thi hành. Không thi hành là nó không cho dân đốn tràm, hoặc đốn về không được bán cho Tư Trạng, coi như Tư Trạng bể nồi cơm.

Mỗi lần “ông huyện” xuống công tác, bí thư chi ủy xã phải chiêu đãi trọng hậu, không thì có vấn đề. Hôm Tư Trạng vô sát rừng làm ruộng thì Bảy Móc tới hỏi chuyện.

Được một lúc, có người đi ra, Bảy Móc nói: “Ông huyện tới!” Rồi Bảy Móc khum na khúm núm, lăng xăng cho cơm trưa, lo đồ nhậu cho ông huyện, thấy mà tức cười. Tư Trạng nói “Hồi trước hắn với tôi cùng đi lính Bảo An, đâu có phải khúm núm với cấp chỉ huy như vậy đâu!”

-“Quyền lợi! Vì quyền lợi hết, nên con người ta nó hèn đi. Tâm lý con người như vậy.” Tôi giải thích.
- “Tui không biết cái tâm lý ông nói, nhưng quyền lợi thì có, nội việc thu thuế mà thôi cũng khẳm túi mấy ông.” Tư Trạng xác nhận.

Xin nhắc lại một điều. “Ông huyện” tức là bí thư huyện Hà Tiên, cấp trên của Nguyễn Tấn Dũng. Hồi ấy, chức lớn nhất của Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ mới trưởng ban quân y huyện đội mà thôi!

Cũng vì chuyện ưu tiên cho đốn tràm và đóng thuế mà cô Hoa ở ấp Lung Lớn, xã An Bình bị đánh ghen, khiến cô ta tự tử hụt. Nhưng việc cô Hoa, tôi sẽ kể ở bài sau.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 13:00:29
Phần 20
Tiểu Đoàn 66/ Biệt Động Quân/ Biên Phòng

Trận Đánh khai tử Công Trừơng 1 mũi tên thép Cộng Sản Bắc Việt tại Nhà máy Ximăng Kiên Lương/ Hà Tiên
Tác giả: Đinh Nam Triều.

Giới thiệu:

Tôi đang viết loạt bài nhan đề là “Hương Tràm Trà Tiên” (Tức Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng), thì anh Đinh Nam Triệu, hiện ở Arizona, qua VNExodus, gởi bài viết sau đây cho tôi.

Theo lời tự giới thiệu của tác giả, anh quê quán ở ấp Xà Ngách, xã Dương Hòa (tục gọi là Ba Hòn), quận Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Gia đình anh sinh sống tại đó, cùng với khoảng năm sáu gia đình khác là cả ấp, năm 1956. Khi đó, nhà máy ximăng Kiên Lương chưa hình thành.

Rồi vì binh biến, “thất phu hữu trách”, anh gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, lăn lộn trên nhiều chiến trường Miền Tây Nam Bộ.

Đọc các bài tôi viết về núi Mo-So, - kế cận ấp Xà Ngách - , về Kiên Lương, có thể anh xúc động vì có người nói tới quê hương cũ của anh, nên anh gởi bài viết của anh cho tôi.

Việc anh kể, tôi có nghe người dân Kiên Luơng kể lại, khi tôi đến đó, sau biến cố 1972 một năm. Trong biến cố nầy, anh Phạm Hồng Châu, thiếu úy Cảnh Sát, đã được chọn làm Chiến Sĩ Xuất Sắc, về phủ Tổng Thống nhận quà tặng.

Tôi cũng xúc động khi đọc bài viết của anh Đinh Nam Triệu. Tôi đã xin phép tác giả, sửa chữa đôi chút về văn phạm và bút pháp, gởi đến quí độc giả, để biết thêm một chút về những chiến đấu gian khổ, hy sinh và mất mát của người lính Việt Nam Cộng Hòa ở một chiến trường xa xôi mà chắc không ít người chỉ nghe qua đài phát thanh, qua báo chí nhưng chưa từng đặt chân đến đó bao giờ, một nơi, người dân quê địa phương gọi nôm na là “Nắng bụi mưa bùn.”

hoànglonghải

Trại Biệt Kích Tô Châu thành lập tháng 2/1963. Đến 1 Tháng 9/1970 cải tuyển thành Tiểu Đoàn 66/BĐQ/ BP do Đại Tá Trần Công Liễu đến nhận, bàn giao cho Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Thanh là vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên của TĐ/66/BĐQ/BP. Để được đeo bằng Rừng Núi Sình Lầy, tháng 6/1971 Tiểu Đoàn 66/BĐQ/BP được đưa ra Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ để học khóa nầy. Sau khi mãn khóa về lại vùng IV Chiến Thuật.

Tiểu đoàn hành quân vùng Thất Sơn, đồi 714 Núi Cấm, đồi 549 núi Giài. Tại chân núi Giài thu khá nhiều chiến lợi phẩm.

Đến ngày 18 tháng 3/ 1972 tiểu đoàn hành quân sang Miên, khởi sự vựơt biên giới tại ngã ba Giang Thành. (Xin Xem Bản Đồ) cùng với Thiết Đoàn 12 Kỵ Binh. Tất cả bộ binh đều ngồi trên xe tiến về hướng tây, theo quốc Lộ 161 đúng đội hình hàng dọc, dài khoảng 2 cây số, khởi hành lúc 7 giờ sáng ngày 19 tháng 3/1972 Lúc 1 giờ 30 chiều, đơn vị hành quân đến ngã ba giao lộ 16 và đường 161, gần thủ phủ Kampong Trach. Tại đây đơn vị bị phục kích. Bộ chỉ huy tiểu đoàn bị tấn công nặng nề.

Sau 15 phút nổ súng, Tiểu Đoàn 66/BĐQ/BP có hơn 70 tử thương, tám M-113 bị cháy. Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó tử trận. Tám nhân viên truyền tin Tiểu Đoàn bị tử trận. Trong đó có Tống Châu Danh là bạn thân của tôi, người cùng tôi học khóa Khai Thác Vô Tuyến Điện Báo ở trường truyền tin. Địch phục kích trên một tuyến dài 2 cây số, chứng tỏ quân số địch cấp trung đoàn hoặc sư đoàn.

Kỵ Binh xin tăng viện gấp. BĐQ cũng xin tăng viện gấp. Lập tức 2 tiểu đoàn gồm Tiểu Đoàn 93/BĐQ/BP (Trại Biệt Kích Vĩnh Gia cũ) và TĐ 94/BĐQ/BP (Trại Biệt Kích Ba Xoài cũ) đựơc gởi đến. Để đề phòng đối phương, quân ta đổ quân trên một hàng dài khoảng 5 cây Số.

Đúng như dự đoán: Toàn bộ năm cây số đều chạm súng. Thế là quân ta phải chấp nhận một trận đánh lớn cấp sư đoàn. Bộ Chỉ Huy Hành Quân Tiền Phương phối hợp kế hoạch, và cũng để các cựu biệt kích trổ tài vì từ xưa đến nay họ chưa có dịp thử thách những gì học từ trường biệt kích ra.

Họ đã từng chiến đấu bằng cách chia thành những toán nhỏ 3 người để đánh du kích và hợp lại quân số lớn, 5 hoặc 10 ngàn để đánh cấp sư đoàn.

Họ từng quen từng trận đánh nhỏ. Đánh cấp lớn thì chưa. Đây là dịp tốt cho họ.
Thế là Bộ Chỉ Huy Hành Quân Tiền Phương liền cho gởi tiếp thêm 6 tiểu đoàn BĐQ/BP và Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh tiếp ứng, tạo 1 vòng tròn, chấp nhận bị bao vây. Vòng tròn càng lớn thì sẽ nhẹ thương vong khi bị pháo kích. Thế là 9 Tiểu Đoàn BĐQ/BP và 2 Thiết Đoàn Kỵ Binh tạo thành vòng chữ O dài 3 ngàn mét.

Theo kinh nghiệm thì bọn Việt Cộng thường dùng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung. Chúng pháo kích cả ngàn trái đạn mỗi ngày. Vòng tròn đó chiếm một diện tích 9 ngàn mét vuông. (Tương quan với trận An Lộc là 4 ngàn mét vuông, quân số 40 ngàn)

Cứ theo so sánh đó, trận này VC phải dùng 90 ngàn quân. Nhưng chúng không đủ quân (Có lẽ VC dự trù dành quân cho trận An Lộc) vào tháng Tư sắp tới.
Cộng quân bố trí phòng thủ đào hầm hoàn tất vào ngày 22 tháng Ba/ 1972. Cũng ngày 23 tháng Ba /1972 VC dùng 122 ly và 82 ly pháo khoảng 1.200 quả để uy hiếp chúng tôi. Nhưng bọn chúng đã lầm. Chúng tôi không bao giờ khiếp sợ vì quá quen giao chiến với Quân Chính Qui Bắc Việt.

Đúng như dự đoán, sau khi pháo kích, VC dùng chiến thuật biển người tràn vào phía bắc và phía đông. Ở mỗi phía nầy, bên ta có 12 khẩu đại liên 50 đặt trên xe M-113. Cộng chung, bên ta có 24 khẩu đại liên 50, tác xạ suốt 3 giờ. Ta chận được 4 đợt xung phong của địch. Chúng để lại hơn 1.200 xác chết, tạo thành một “công sự xác người” khiến VC ngưng cuộc xung phong. Bảy giờ sáng hôm sau chúng pháo tiếp khoảng 1.000 đạn pháo nữa. Tiếp đó chúng phong biển người ở phía Bắc và chỉ xung phong một đợt mà thôi. Do đó, chúng “hy sinh” chỉ có 300 quân.

Trong 2 ngày đó, phía ta bị thương 18, tử trận 9. Về phía VC bị diệt 3 tiểu đoàn, khoảng 1.500 tên.

Ngày 25, 26, 27 Tháng Ba /1972. VC lại pháo trên 1.000 quả mỗi ngày nữa nhưng chúng không xung phong.

Ngày 28/3/1972 Việt Cộng vẫn pháo bình thường 1.000 quả đạn và lại bất ngờ tấn công biển người vào phía Bắc. Chúng lại chỉ tấn công vào phía Bắc mà thôi. Tuy nhiên, cường độ tấn công quá mạnh. Quân phòng thủ phải điều thêm 8 khẩu súng đại liên 50 tăng cường cho phía Bắc. Như vậy ta có 20 khẩu đại liên 50 ở phía Bắc này. Sau 3 lần xung phong biển người Việt Cộng để lại hơn 900 xác, phơi trên rào kẽm concertina.

Các ngày 29, 30, 31/ tháng Ba/ 1972 VC vẫn pháo đều đều hơn 1.000 quả đạn mỗi ngày. Ta dự đoán VC đang gom quân để đánh ván bài chót. Vì vậy, quân phòng thủ liền tăng cường hỏa lực để đối phó.

Đúng vậy, đến ngày 1 tháng Tư/ 1972 bất ngờ, lúc 6 giờ sáng VC pháo tới tấp, cường độ pháo lên khoảng 1.500 quả và VC dùng hơn 3.000 quân theo chiến thuật biển người tràn vào ba mặt: Đông, Bắc, Tây. Quân phòng thủ chống trả mãnh liệt bằng tất cả sức mình với các vũ khí hiện có. Nhưng VC cố tình nuốt trọn trận này nên cho tăng cường thêm 4.000 quân nữa, tổng số là 7.000 quân. Lập tức Bộ Chỉ Huy Tiền Phương gởi đến 8 phi cơ, cho dội bom hướng Đông 4 chiếc, hướng tây 4 chiếc. Mỗi nơi, sau ba đợt dội bom, ta không nghe VC la hét xung phong nữa.

Quân phòng thủ gom hỏa lực về hướng Bắc vì hướng nầy chưa dội bom. VC vẫn bất động.

Sau này, khai thác tù binh thì biết rằng ngày 1 tháng Tư /1972. VC bị chết trên 5.000 quân. Khi chúng tập trung để tấn công biển người thì không ngờ máy bay đến. Chúng không có chỗ ẩn núp nên chỉ vì bom, chúng chết khoảng 3.000 quân.

Các ngày 2, 3, 4, 5, 6, 7 tháng Tư/ 1972 chúng pháo khoảng 100 quả mỗi ngày. Ngày 8 tháng Tư/ 1972 chúng pháo 400 quả, lại xung phong biển người. Có lẽ chúng biết là không làm gì nổi quân ta nên chỉ hy sinh 600 Quân mà thôi. Từ ngày 9 đến ngày 26 tháng Tư/ 1972 có ngày pháo có ngày không.

Biết là bọn chúng không còn khả năng tấn công nữa nên quân phòng thủ quyết định phá vòng vây. Ngày 27/ tháng Tư/ 1972 cánh quân phía tây và phía nam đánh thủng tuyến bao vây của địch. Quân ta di chuyển về hướng nam khoảng 12 cây số thì bị chúng đóng chốt và chận đánh tại đồi 109, kế quốc lộ 17. (Xin xem bản đồ). Quân địch khoảng 2 đại đội. Ta có 2 tiểu đoàn nhưng không vượt qua được. Máy bay dội bom cũng không có kết quả vì chúng đào hầm ẩn núp kiên cố.

Ta đánh nguyên 1 ngày 28/ tháng Tư/ 1972 mà chỉ tiến có vài trăm thước. Quân ta chờ trời tối dùng chiến thuật đặc công. Mười một giờ đêm, ta cho 1 đại đội đặc công chia thành 26 toán, tất cả mặc sắc phục Quân Chính Qui Bắc Việt, đội nón cối nhưng khăn đeo cổ và 2 bên cầu vai có ký hiệu mà chỉ những người trong toán biết mà thôi. Mục đích chính là bắt tù binh để khai thác. Kết quả ta dễ dàng bắt được 20 tên vì chúng tuởng ta là đồng bọn nên không để ý.

Sau khi di chuyển 20 tù binh và hạ sát khỏang 40 tên khác mà bọn chúng vẫn không hay. Bốn giờ sáng ta tấn công và diệt gọn 2 đại đội này, bắt thêm 26 tù binh nữa. Đến 12 giờ trưa ngày 29 tháng Tư/1972, coi như giải tỏa vòng vây.

Sau 42 ngày bị bao vây và tấn công ta bị thiệt hại 4 trực thăng bị bắn rơi, 46 M-113 bị bắn cháy, 337 BĐQ tử trận, 107 bị thương. Tổng cộng ta tổn thất là 444 BĐQ. Về phía địch theo lời khai của 46 tù binh ta hạ sát 9.100 quân Bắc Việt Xâm Lựơc.
Ngày 30/ tháng Tư/1972, các đơn vị tham chiến về hậu cứ dưỡng quân10 ngày.

Ngày 10 tháng Năm/ 1972 tiểu đoàn 66/BĐQ/BP đựơc lệnh đến căn cứ Đồng Tâm ứng chiến chờ nhảy vào An Lộc.

Nhưng lại bất ngờ, nhằm ngày sinh nhật của chồn cáo gì đó, 19 Tháng Năm/ 1972 đám tàn quân Bắc Việt, nay là Công Trừơng 1 Mũi Tên Thép Cộng Sản Bắc Việt, 5 giờ sáng ngày 19 tháng Năm/ 1972 chúng chiếm Chợ Tròn, thị trấn Kiên Lương. Chúng đóng bộ chỉ huy trung đoàn ngay tại chợ nầy, đặt 2 đại liên phòng không 12 ly 8, có bánh xe, cở bằng pháo 105 của ta. Liên Tỉnh Lộ 8-A bị chiếm đóng. Nhà máy Ximăng bị chiếm. Quận Kiên Lương và Chi Đội Cơ Giới bị vây.

Quận Trưởng Kiên Lương lúc này là Thiếu Tá Nguyễn Đình Phúc xin tiểu khu Kiên Giang cứu viện. Tiểu Khu cho biết là hiện có 4 đại đội của tiểu đoàn Thần Hổ. Nhưng Địa Phương Quân không phải là đối thủ của Quân Chính Quy Bắc Việt. Vì vậy Tiểu Khu Kiên Giang trình Quân Khu 4. Quân Khu 4 cho biết hiện giờ là tháng Năm/ 1972 tình hình An Lộc đang rối ren, Quốc Lộ 13, đã hơn một tháng chưa giải tỏa được. Hiện chỉ có 2 tiểu đoàn có khả năng đánh bại Quân Chính Quy Bắc Việt là Tiểu Đoàn 66/BĐQ/BP và TĐ 93/BĐQ/BP đang ở căn cứ Đồng Tâm.

Lập tức 5 giờ sáng ngày 21/tháng Năm/ 1972 chúng tôi thuộc TĐ/ 66/BĐQ/ BP nhận lảnh 5 ngày lương khô, 9 giờ sáng lên trực thăng nhảy vào trận địa.

Lúc đầu chúng tôi tưởng ra An Lộc, nhưng khi trực thăng lấy cao độ, xem địa bàn tôi thấy bay về hướng Tây. Khi đoàn trực thăng đến vùng Thất Sơn, chúng tôi được lệnh giải cứu quận Kiên Lương đang bị bao vây.

Chúng tôi liền liên lạc với chi khu Kiên Lương thì đựơc biết tình hình như sau: Quân địch là Công Trường 1 Mũi Tên Thép CS/ BV. Liên Tỉnh Lộ 8-A bị cắt đứt đã 4 ngày. Các đồn nghĩa quân, chi khu và Chi Đội Cơ Giới đều bị bao vây. Nhà Máy Ximăng bị Việt Cộng chiếm giữ. Tình hình 4 ngày qua như sau: Trực thăng bị 4 khẩu phòng không bắn lên dữ dội. Bộ chỉ huy trung đoàn VC đóng tại Chợ Tròn, có 2 khẩu phòng không bảo vệ. Về hướng tây Nhà Máy Ximăng, cách khoảng 350 mét, tức là ở Núi Mây Nhỏ có 1 súng phòng không, hướng tây nam 1 súng phòng không. Biết đụng phải Công Trường 1 Mũi Tên Thép Cộng Sản Bắc Việt, chúng tôi được hứa hẹn là thắng trận này, giải vây sớm, Thiếu Tá Phúc sẽ khao quân. Tiệc khao quân gồm 4 con bò xóc tréo, 1.000 chai bia do đồng bào tưởng thưởng.

Công việc giải vây đựơc phân chia như sau:

Tiểu Đoàn 66, quân số trên 500, chịu trách nhiệm giải tỏa LTL 8-A. và tấn công bộ chỉ huy trung đoàn địch, giải hóa 2 súng phòng không ở đó.
- Tiểu Đoàn 93 quân số ít hơn đánh chiếm Nhà Máy Ximăng, giải vây quận lỵ, Chi Đội Cơ Giới giải hóa 2 súng phòng không của Việt Cộng tại đây.
2 giờ chiều ngày 21/ tháng Năm/ 1972 tiểu đoàn 66 hoàn tất việc đổ quân. Các cấp chỉ huy liền cho vào đội hình hàng ngang. Trên đầu chúng tôi có khoảng 40 chiếc trực thăng.

Đại Liên 6 nòng, rocket và trung đội Trinh Sát vẫn còn trên trực thăng để nhảy diều hâu, đánh phủ đầu.

Chiến thuật diều hâu thần tốc này là từ trực thăng nhảy xuống, liệng vào 2 cửa hầm của VC mỗi cửa 2 quả lựu đạn M.67. Đồng thời bộ binh từ ngang hông tràn tới, tiếp tay với Trinh Sát, đánh cận chiến.

Lối đánh thần tốc này khiến VC không trở tay kịp. Chỉ sau 47 phút ta hoàn toàn giải tỏa Liên Tỉnh Lộ 8-A. Việt Cộng để lại 108 xác tại trận. Ta tịch thu 82 AK-47, 4 súng B-40. Ta chỉ có 1 BĐQ bị thương. Cùng lúc này Tiểu Đoàn 93 cũng đã chiếm lại nhà máy Ximăng và Núi Mây Nhỏ, thu 1 súng phòng không, 42 AK-47, 6 súng B-40..

Tiểu Đoàn 66, sau khi giải tỏa LTL 8-A. thì giàn đội hình để đánh vào bộ chỉ huy trung đoàn VC ở Chợ Tròn.

Trận đánh này rất căng vì gặp sự kháng cự rất mạnh của VC. Ta tấn công từ 6 giờ chiều ngày 21/ tháng Năm/ 1972 đến 5 giờ sáng. Suốt 11 giờ giao tranh ta chiếm đựơc 31 hầm, hạ sát 124 V C. Tất cả đều lứa tuổi 20 và răng đen.

Trận này ta hy sinh nguyên trung đội 1 của Đại Đội 1/66 do Thượng Sĩ Đinh Mạnh Hùng làm Trung Đội Trưởng.

Thượng Sĩ Hùng và 33 BĐQ tử trận. Thựơng Sĩ Hùng chỉ huy trung đội này hơn 8 năm từ khi còn ở Biệt Kích.

Để trả hận này, nguyên Tiểu Đoàn đều hăng máu, đánh như vũ bão. Đến 3 giờ chiều ngày 22/ tháng Năm/ 1972 hạ thêm 277 Quân Bắc Việt Xâm Lựơc. Ta hy sinh thêm 6 BĐQ. Suốt 25 giờ giao tranh, ta hạ hơn 400 Quân Bắc Việt Xâm Lựơc. Ta hy sinh 40 BĐQ. Giờ chỉ còn vỏn vẹn 2 ổ kháng cự là bộ chỉ huy trung đoàn và 1 ổ súng phòng không rất dễ tiêu diệt vì chung quanh bọn chúng không còn ai bảo vệ. Ta dùng 6 khẩu M-72 thổi vào và xung phong liền. VC không kịp trở tay, ta thanh toán xong mục tiêu lúc 3 giờ 39 phút chiều ngày 22/ tháng Năm/ 1972, không còn 1 bóng dáng tên Bắc Việt Xâm Lăng nào nữa. Ta không bắt tù binh.

4 giờ chiều ngày 22/ tháng Năm/ 1972. Thiếu Tá Phúc Quận Trưởng quận Kiên Lương tuyên bố là quận Kiên Lương đã đựơc hoàn toàn giải tỏa.

Giữ đúng lời hứa, Thiếu Tá Phúc cho mang bò và bia khao quân tại chợ Kiên Lương. Biệt Động Quân rất hãnh diện với dân chúng tại đây.

Tổng kết suốt 26 giờ giao tranh, ta tịch thu 639 súng AK-47, 27 B-40, 6 đại liên thường, 4 đại liên phòng không 12 ly8. Các súng này đựơc trưng bày tại chợ Kiên Lương cho dân chúng xem.

Trong khi BĐQ ăn tiệc khao quân, dân chúng cư ngụ ở đây, ai cũng rõ Công Trường 1 Mũi Tên Thép Cộng Sản Bắc Việt đã bị khai tử tại đây.

Tác giả là người hân hạnh được tham chiến trận này.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 13:08:34
Phần 21
Bắt cóc đòi tiền chuộc

Bây giờ, bọn al Qeda hay bọn cướp biển ở eo biển Malacca có bắt cóc đòi tiền chuộc thì việc làm của chúng chỉ là “đàn em” của Việt Cộng. Việt Cộng thuộc “bậc sư” trong công việc nầy.
Điều buồn cười là việc làm thì “bá đạo” nhưng bao giờ cũng vẽ vời, tự cho là “vương đạo”.
Trong bài 15, tôi có kể chuyện mấy người dân Long Xuyên qua Tà Keo (Rạch Giá, quê hương Nguyễn Tấn Dũng) làm ruộng, bị Việt Cộng bắt cóc đòi tiền chuộc. Chuyến ấy Việt Cộng lỗ to. Bốn người dân Long Xuyên được sổng tù còn phía Nguyễn Tấn Dũng có hai “đồng chí tổ quốc ghi công”. (Tổ quốc Việt Cộng chớ không phải tổ quốc Việt Nam).

Lần nầy, như tôi sẽ kể sau đây, Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm trưởng ban kinh tài huyện Hà Tiên, “xếp” của Dũng, làm ăn khá hơn và trúng “mánh”. Tuy nhiên, sau đó không bao lâu, Nguyễn Tấn Dũng lại khóc cho “xếp” của y, lại bị “tổ quốc ghi công”, sau khi ôm được một mớ tiền “cờ bạc”, bỏ túi xài riêng. Nói cho cùng, bắt cóc đòi tiền chuộc cũng giống như đánh bạc. Trót thì ăn gọn, không xong thì “của thiên trả địa” như tục ngữ nói. Ông bà chúng ta nói đâu có sai: “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ.” Nói chung, Việt Cộng khó chấp nhận quan điểm đạo đức ông bà để lại. Họ có “Đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Đạo đức nầy bây giờ phát triển tùm lum ở Việt Nam, rõ ràng là đi tới đâu cũng có “thủ tục đầu tiên.”

Ông chín Vĩnh là người có tiếng giàu có ở thị trấn Kiên Lương. Ở đây, ông ta làm chủ một cây xăng, có mấy lò vôi, thêm một lò vôi nữa ở Mỹ Tho. Lò vôi của ông ở Mỹ Tho sản xuất ximăng trắng, “hiện đại” hơn, vận chuyển đá vào lò bằng giây chuyền chứ không bằng tay như ở Kiên Lương.

Có thể coi ông chín Vĩnh là nhân vật đặc biệt, tài năng. Năm 1962 ông tới Kiên Lương với hai bàn tay trắng. Mười năm sau, ông ta trở thành triệu phú vì biết cách làm ăn và không thiếu… thủ đoạn. Tôi sẽ nói thêm về ông chín Vĩnh phần sau. Bây giờ xin nói tới việc Việt Cộng bắt ông năm Thanh, Hồ Văn Thanh, anh ông chín Vĩnh, đòi tiền chuộc.

Tuy là anh, nhưng ông năm Thanh không tài giỏi như ông chín Vĩnh. Ông nhờ vào em ông, nên được ông chín Vĩnh giao cho việc coi sóc ba cái lò nung vôi - vôi quét tường, được chở lên Saigon bán - Ba lò vôi nầy ở sâu trong vùng núi Trầu, có thể Việt Cộng lợi dụng đêm tối bất thần xuất hiện được.

Sáng hôm ấy, tôi không nhớ rõ thời gian, thiếu úy Kiệt báo cho tôi hay: “Ông năm Thanh bị Việt Cộng bắt tối hôm qua.” Không biết ông năm Thanh là ai, tôi phải hỏi thêm thúy úy Kiệt.

Thiếu úy Kiệt lại nói thêm: “Việt Cộng có để lại một bức thư cho ông chín Vĩnh, không rõ nội dung nói gì.”

Tôi nói:
- “Không rõ cũng phải tìm biết cho rõ. Nhiệm vụ của mình mà!”
- “Chút nữa ông chín Vĩnh sẽ lên gặp ông. Tôi có dặn rồi.” thiếu úy Kiệt nói.

Thiếu úy Kiệt là người lanh lợi, rành công việc. Có lẽ ông ta đã gặp ông chín Vĩnh từ sáng sớm, sau ki nghe tin ông năm Thanh bị bắt. Chờ tới giờ làm việc, thiếu úy Kiệt mới báo cho tôi hay.

Sau đó khoảng một giờ đồng hồ, ông chín Vĩnh xin gặp tôi thật. Mờiông chín vô phòng khách ngồi, tôi nói trước:
- “Chia buồn với ông chín về việc bác năm. Ông chín biết họ bắt bác năm về việc gì?”
- “Có gì đâu, họ đòi tiền thuế những mấy năm, nặng lắm!” Ông chín trả lời.
Tôi cười:
- “Thuế má gì đâu! Bao giờ họ cầm quyền ở ngoài nầy (khu vực kinh Rạch Giá - Hà Tiên) mới thu thuế chớ. Trốn tuốt trong rừng sâu mà đòi thuế ngoài nầy, ngộ không?! Vậy là đòi tiền chuộc chớ thuế má gì. Thuế thì cứ gởi thư đòi thuế, sao lại bắt ông năm làm chi?”
- “Ông chỉ huy trưởng thông cảm. Bắt ông năm là họ gài tôi, không đóng thuế cho họ là coi như anh tôi không được tha về, mất mạng luôn.” Ông chín than thở.
Tôi giải thích:
- “Dân ở trong vùng quốc gia mà bị Việt Cộng bắt cóc, là trách nhiệm của quốc gia, không bảo vệ được dân của mình. Ngay cả việc ông chín đóng thuế cũng vậy. Không đóng thuế thì ông năm mất mạng. Đó cũng là trách nhiệm quốc gia không bảo vệ được dân chúng. Trên nguyên tắc thì ông chín không có tội gì cả. Tuy nhiên, khi người nào đóng thuế hay bị Việt Cộng ép buộc làm gì thì sau đó phải báo cáo cho quận xã biết để ghi nhận hồ sơ. Lỡ khi cấp trên có bắt được tài liệu Việt Cộng ghi nhận ông chín đóng thuế mà không khai báo cho chính quyền thì ông chín bị tội đó. Nhớ đóng thuế xong thì báo ngay cho tôi biết. còn thư thì họ nói gì?”

Ông chín đưa bức thư của Việt Cộng đòi tiền chuộc cho tôi coi.

Thư viết trên giấy tập học trò, chưa đầy một trang, chữ viết nắn nót, bằng bút nguyên tử, nhưng nét chữ còn non lắm, chứng tỏ người viết thư nầy của huyện ủy Hà Tiên Việt Cộng học chưa quá lớp 5, bậc tiểu học. Thư để trong bì nhưng bị thư cũng như giấy đã bị nhầu. Có thể người đưa thư đã lận vào lưng khi di chuyển. Nội dung thư có mấy ý chính:

Một là khen ngợi ông chín đã có công đóng góp cho “cách mạng” nhưng không nói rõ đóng góp cái gì. Đây chỉ là lời giáo đầu giả bộ khen ngợi để phần sau đòi đóng tiền mà thôi. Phía quốc gia cũng cũng có thể căn cứ vào lời khen để làm khó ông chín để kiếm chút tiền còm. Tuy nhiên, nói cho cùng thì kết tội gì ông chín được. Thư nói mơ hồ, không đủ chứng cớ để buộc tội ông chín ủng hộ Việt Cộng. Màn giáo đầu nầy, tôi cho là không quan trọng, nhưng tôi ngạc nhiên về hai chữ “cách mạng” dùng trong thư.
Tôi nói với ông chín: “Bọn nầy tự xưng là “cách mạng” nhưng “cách mạng” gì tụi nầy. Chúng nó không khác chi tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên. Chận đường bắt đóng tiềm mãi lộ hay bắt người đòi tiền chuộc thì cũng dzậy thôi.”

Ông chín làm thinh không nói gì. Có lẽ ông ta sợ Việt Cộng trong khi ông ta đang làm việc với quốc gia. Quốc gia cũng có thể làm khó ông ta được vậy. Rõ ràng là người dân một cổ hai tròng. Tôi hỏi:
- “Ông chín có biết cụ Ngô gọi Việt Cộng là cái gì không?”
Ông ta trả lời, rụt rè: “Dạ không!”
- “Cộng phỉ”. Tôi nói. “Cụ Ngô gọi chúng là Cộng phỉ, loài cộng phỉ. Phỉ là thổ phỉ đó. Tụi nó chỉ giỏi đi ăn cướp.”

Thứ hai, huyện ủy Hà Tiên đòi ông phải đóng 3 năm thuế lợi tức lò vôi và cây xăng. Họ không nói rõ ba năm thuế là bao nhiêu tiền nhưng theo tôi hiểu, không dưới một trăm ngàn đồng. Sao chúng nó không đòi thuế mấy năm trrước đó nữa. Họ không đòi hay thời gian ấy ông ta đã đóng rồi. Trong hồ sơ trận liệt thiết lập từ cả chục năm trước, tôi không thấy tài liệu nào nói ai có đóng thuế cho Việt Cộng. Nhiều người cũng “dễ tính”. Ai đóng thuế cho Việt Cộng xong rồi, biếu họ chút ít “tiền cà phê” là mọi chuyện coi như xong.

Thứ ba là hăm dọa. “Nếu ông chín không đóng thuế cho “cách mạng”, coi như họ sẽ xử lý ông năm. Xử lý, theo cách hiểu của dân chúng là đem bắn bỏ.
Tôi giữ bức thư lại giao cho thiếu úy Kiệt lư hồ sơ, rồi hỏi ông chín:

“Họ có nói đóng thuế lúc nào, chỗ nào không?”
- “Không!” Ông chín trả lời. Theo tôi hiểu thì tôi cứ để tiền sẵn ở bên lò vôi anh năm.

Một lúc nào đó, đêm hôm, chúng nó sẽ mò ra nhận tiền. Nếu chúng nó thỏa mãn, không đòi tiền thêm thì chúng sẽ cho ông năm về.

Tại sao thư đòi thuế không nói bao nhiêu tiền? Điều nầy thuộc “mánh mung.” Họ chỉ nói bằng miệng bao nhiêu đó, ông chín đóng đủ thì họ bỏ túi một phần, chớ còn nói rõ trong thư bao nhiêu tiền thì chúng nó còn bỏ túi riêng làm sao được. “Cách mạng” khôn lắm!

Sau khi ông chín về, tôi cùng thiếu úy Kiệt và mấy đệ tử ông ấy đi uống cà phê. Tôi thuật lại câu chuyện ông chín bị đòi thuế cho họ nghe. Thượng sĩ Hùng nói:
- “Dễ giận thiệt. Mình cứ phục kích ở nhà ông năm, chờ chúng nó ra, ria một băng là xong.”
Tôi cười:
- “Chuyện thì dễ đó, nhưng khi mình ria tụi nó rồi thì ông năm sẽ bị tụi nó giết. Khi đó mình ăn nói với ông chín, với dân chúng ra làm sao? Đã không bảo vệ được dân lại còn vô tình xúi tụi nó giết dân, đâu có được.

Khoảng một tuần sau ông năm được tha. Ông ta trình diện bên ngành “Cảnh Sát Đặc Biệt” để họ lấy lời khai. Cũn tương tự như lời khai con nhỏ Hoàng Thị Vân bỏ nhà theo thằng Hùng, như tôi đã kể trong bài 6 - “Giang Thành Dạ Cổ”, chúng nó đưa ông năm đi xa lắm, có vượt qua kinh Vĩnh Tế, có nghĩa là huyện ủy Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng đóng bên kia phần đất Kampuchia. Đóng bên nầy bờ kinh, vùng quốc gia, huyện ủy Hà Tiên lạnh giò.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 13:19:53
Phần 22
Tổ Hợp Lò Vôi
Kể chuyện ông chín Vĩnh tôi phải nói luôn về Tổ Hợp Lò Vôi, hay văn vẽ hơn Tổ Hợp Sản Xuất Vôi của quận Kiên Lương. Công việc làm ăn chính của ông là sản xuất vôi nên nó có liên hệ đến tổ hợp nầy. Ngoài ra, ông chín còn là chủ cây xăng, thầu cung cấp đất cát cho nhà máy ximăng Hà Tiên với số lượng lớn. Trúng thầu các vụ nầy, ông kiếm tiền khá bộn. Không biết ông ta gốc gác ở đâu, về làm ăn ở Kiên Lương từ 1962. Mười năm sau, ông trở thành triệu phú Vùng Kiên Lương có nhiều núi đá vôi. Bên kia kinh (Ngã Ba – Ba Hòn) là núi Còm, bên nầy là thị trấn Kiên Lương. Thị trấn Kiên Lương tức quận lỵ Kiên Lương mới thành lập, sau khi quận Kiên Lương lập ra dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính quyền Ngô Đình Diệm cho thành lập quận nầy là vì đây là nơi dựng nhà máy ximăng Hà Tiên. Cơ quan hành chánh trung ương thì ở Saigon, trên đường Võ Di Nguy, nhà máy ximăng Hà Tiên ở Thủ Đức thì xay và vô bao. Nhà máy Kiên Lương có nhiệm vụ lấy đá ở núi Còm, đưa vào lò vôi đốt, trộn với đất sét, xay thành Clinker, một dạng ximăng nhưng hột còn to - lớn nhứt là bằng hột bắp. Clinker được chở lên Thủ Đức bằng xà-lan, Nhà máy trên đó tiếp tục công trình sản xuất. Núi Còm là núi lớn nhứt, ở xã An Hòa có núi Trầu, lớn thứ hai, đang được nhà máy ximăng Hà Tiên nghiên cứu và sẽ khai thác trong thời gian tới. Ngoài ra, quanh vùng nầy, xa một chút hay gần thị trấn Kiên Lương hơn, có núi Nai, núi Mo-So, v.v… đều là núi đá vôi cả.

Về nhà máy Kiên Lương, về núi Trầu, núi Nai, tôi sẽ kể thêm về sau.

Từ trước 1945, người dân ở đây, nhứt là ở xã An-Hòa, xã nằm quanh khu vực núi Trầu, người dân đã biết khai thác đá vôi, lấy về đốt thành vôi. Vôi ở đây có loại màu hơi đỏ, dùng để ăn trầu được mấy bà khen là ngon. Phần nhiều dùng để làm vôi quét tường. Dĩ nhiên, thị trường tiêu thụ vôi là ở Saigon hay Cần Thơ, các thành phố lớn.
Số người làm chủ lò vôi ngày càng đông, số lượng sản xuất ngày càng nhiều, nhất là sau khi giá dầu ma-zút (mazout) rẻ hơn, các chủ lò bây giờ đốt vôi bằng dầu, không đốt bằng củi như trước Nhờ đốt bằng dầu, sức nóng lớn hơn, hiệu quả hơn nên sản lượng mỗi lò đốt cũng nhiều hơn. Đốt một lò vôi, chủ lò kiếm lời một triệu bạc là thường. Do đó, xảy ra cạnh tranh giữa các chủ lò, thưa kiện, tranh giành, v.v…
Để giải quyết tình trạng đó, thiếu tá Nguyễn Đình Phúc, quận trưởng, cùng với ông Nguyễn Đức Nghiêm, phó quận trưởng họp các chủ lòi vôi lại, thành lập “Tổ hợp lò vôi”, mục đích là để họ chia phiên nhau đốt lò, tránh sự tranh giành như trước kia. Khi tôi làm việc ở đây, chủ tịch tổ hợp là ông Ba Để, tên thật là Lý Văn Gia.

Sau khi về làm việc ở đây chưa lâu, tôi mời ông Ba Để lên nói:

“Các phòng giam tội ở đây tối tăm và thiếu phương tiện, mất vệ sinh. Tôi muốn xây hai phòng giam ra phía ngoài, một cho nam, một cho nữ, có chỗ nằm và phương tiện đi tiêu, đi tiểu. Tuy nhiên, tôi không có ngân khoản để thực hiện việc ấy. Bác là chủ tịch tổ hợp, nhiều người khá giả. Bác hãy vận động các tổ viên thực hiện việc xây các phòng giam nầy. Bác giúp tôi nhưng thực ra là giúp dân chúng ở đây vậy.”

Thực ra, việc xây phòng giam có lý do quan trọng hơn. Mấy năm trước, có một nhân viên, đệ tử của ông xếp cũ, đã lợi dụng tình trạng phòng giam tối, hiếp dâm một nữ tù nhân. Dân nhà quê thiệt thà, không biết luật lệ, lại hay sợ hãi nên không dám thưa. Anh nhân viên nói trên cùng xếp của ông cố giàn xếp, nên việc thông qua. Tôi không muốn chuyện ấy xảy ra một lần nữa.

Sau khi tôi nói chuyện với ông Ba Để cỡ một tuần lễ, ông cho người chở gạch, cát, ximăng tới xây phòng giam mới. Tôi làm văn thư cảm ơn.

Cửa phòng giam mới mở ra sân sau, có song sắt để được thoáng. Trong sân sau lại có một ngôi mộ xây, sơn trắng. Một hôm, có một thanh niên bị giam vì tội giao liên, thấy tôi, nói như muốn khóc:

- “Ông trưởng ới! Ông cho tui về đi, tui không dám làm gì cho Việt Cộng nữa đâu. Ở đây, tui sợ quá!”
Giựt e vì chuyện xảy ra trước kia, nghi có chuyện gì vi phạm luật lệ, tôi hỏi:
- “Có ai làm gì anh?”
- “Dạ không! Không ai làm gì hết, nhưng đêm nào tui cũng thấy một cô gái mặc áo quần trắng hiện lên ngồi trên mộ. Tui sợ lắm!”

Đó là ngôi mộ một cô gái mới 16 tuổi, em một anh Cảnh Sát Dã Chiến, bị pháo kích chết năm Mậu Thân. Cha mẹ chết hết, hai anh em đùm bọc nuôi nhau. Lúc ấy trận chiến hai bên đang hồi dữ dội, không đem chôn ở nghĩa địa kế bên chùa ông Bổn được, chôn tạm ở đó. Nay anh Cảnh Sát Dã Chiến đã đổi đi xa, chẳng ai nghĩ tới chuyện dời mộ làm gì!
Hôm đó, tôi vội họp ủy ban an ninh, để tha cho anh giao liên về. Hú vía cho anh ta, khỏi còn thấy ma hiện ra mỗi đêm nữa.

Ông chín Vĩnh, ngoài ba lò vôi bên kia kinh như tôi đã nói trong bài trước, kẹt phải nằm trong tổ hợp, không bung ra làm ăn được nên ông xây một lò vôi thật lớn ở Mỹ Tho. Đá vôi ở đây chở lên đó nung, một mình một cõi, chẳng sợ ai cạnh tranh.

Giữa năm 1954, linh mục Lương Công Đại, cha xứ họ đạo Kiên Lương, (1) đang xây nhà thờ thì hết tiền. Cha bèn “ngoại giao” với tổ hợp để cha đốt một lò ngoại lệ - vì cha không phải là chủ lò vôi, không phải là thành viên tổ hợp - để lấy tiền xây tháp chuông nhà thờ. Xây xong tháp chuông là coi như phần chính đã hoàn thành. Phần đông các ông chủ lò vôi là con chiên họ đạo Kiên Lương của cha Đại hay họ đạo An Hòa của linh mục Nguyễn Thượng Hiền, nên để giúp đỡ cha mà cũng góp phần xây dựng họ đạo, tất cả thành viên tổ hợp đêu đồng ý.

Linh mục Lương Công Đại mượn lò vôi kế chân núi Ba Hòn của một tổ viên để đốt lò. Mọi việc đều có con chiên của cha lo liệu hết. Chỉ có hai đêm lò cháy, cha phải có mặt ở đó để canh lửa cùng với nhân viên. Cả hai đêm đó, tôi đem trà, càphê, phin lọc đến uống với cha, chuyện trò cho vui.

Năm đó, nhờ sau hiệp định Paris 73, tình hình yên ổn đôi chút, thương mại phát đạt, nên việc xây dựng cũng nhiều, nhờ đó, vôi bán chạy lắm. Đốt lò xong, vôi của cha Đại chở lên Saigon giao cho vựa bán mấy hôm là hết. Có tiền xây nhà thờ, cha rất vui. Để góp phần với cha, tôi yêu cầu mấy ông chủ xe đò cho tôi hai chục cái ghế sắt Thái Lan - (Hồi đó ghế Thái Lan nổi tiếng đẹp). Tôi biếu cha để trong phòng ăn nhà thờ.
Vì cạnh tranh, các ông chủ lò vôi “chơi” nhau nhiều trận cũng căng lắm.

Đầu kinh 1, kinh từ nhà máy Kiên Lương vô ấp Rạch Đùng, kế chân núi Hòn Chông, ông ba Nhân, chủ tịch hội đồng giáo xứ của cha Đại, bị ông chín Vĩnh chơi cho mấy đòn thất điên bát đảo.

Đòn thứ nhất là ông chín Vĩnh cho ông mượn một cái giấy phép mua dầu ma-dzút. Có giấy đó, ông ba Nhân mua dầu chở về chuẩn bị đốt lò. Bỗng cảnh sát tỉnh Kiên Giang ở Rạch Giá gọi ông ba Nhân điều tra vì xử dụng giấy phép mua dầu bất hợp pháp. Té ra, ông chín Vĩnh, sau khi cho ông ba Nhân mượn giấy phép, bèn làm đơn trình với Cảnh Sát Kiên Giang rằng ông ấy đi xích-lô làm rớt mất giấy phép, nay ông ba Nhân bắt được, nhờ Cảnh Sát can thiệp. Kết quả, ông ba Nhân trả lại giấy phép cho ông chín Vĩnh, giao luôn cả số dầu ông ba Nhân chở về. Rốt lại, ông ba Nhân mua dầu cho ông chín Vĩnh đốt lò!

Lần thứ hai, vì Việt Cộng tấn công vào Nhà Bè, kho dầu ở đó bị cháy, dầu chảy ra các đường mương. Công ty xăng nhà bè hốt dầu đó, cho không bộ chỉ huy Cảnh Sát Nhà Bè. Đây là một món hàng đặc biệt, phế thải vì chiến cuộc. Ông ba Nhân mua lại số dầu đó, chở xà-lan về Kiên Lương, có giấy chứng nhận của đại úy Trần Phú Trắc, chỉ huy trưởng. Về tới nơi thì thượng sĩ Trần Phạm Sĩ thuộc bộ Chỉ Huy Kiên Giang từ Rạch Giá vào lập biên bản dầu bất hợp pháp.

Đúng ra, hôm xà-lan dầu của ông ba Nhân về, ông chín muốn “chơi” ông ba Nhân, bèn gặp thiếu úy Kiệt để nhờ lập biên bản điều tra về việc mua dầu bất hợp pháp. Thiếu úy Kiệt không thể tự ý làm việc đó vì phần hành của ông Kiệt không thuộc tư pháp nên đề nghị với tôi. Tôi cười, nói:

-“Đừng có dại. Họ “chơi” nhau, mình đút đầu vô đó làm chi? Trước hết là mình tự ái. Không lý vì chút tiền mà mình biến thành phương tiện để họ chơi nhau! Mình còn “kẹt” với cha Đại. Ông Nhân là chủ tịch hội đồng giáo xứ. “Ăn” của ông chín bao nhiêu mà mình kẹt đủ thứ.”

Nghe lời tôi, thiếu úy Kiệt biểu ông chín ra tỉnh. Ngoài đó mới sai Trần Phạm Sĩ vào.
Quả thiệt vụ xà-lan dầu kẹt lung tung. Ông ba Nhân phải chạy, nhờ cây xăng Nhà Bè xác nhận một lần nữa là dầu phế thải, đại úy Trần Phú Trắc xác nhận có ký giấy cho ông ba Nhân số dầu ấy. Giấy tờ đi đi lại lại cả năm trời. Chủ xà-lan là bà bác sĩ Phạm Văn Hải ở Saigon cho người thuê xà lan chở dầu cả năm mà không thấy trả, rồi cho người đi tìm, thưa gởi lung tung. Tội nghiệp ông ba Nhân, xây một cái lò vôi mới, thiệt lớn, nhưng chỉ đốt được một lần rồi thôi. Tới khi Việt Cộng ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương thì xà-lan dầu của ông ba Nhân bị Việt Cộng tịch thu. “Trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi.” Hay tục tỉu hơn thì rõ ràng “Cầm c. chó đái” như tục ngữ nói vậy.
Khi giá dầu rẻ, đốt lò vôi bằng dầu, các ông chủ lò vôi lén nới rộng lò vôi ra, để sản lượng được nhiều mà vẫn đóng thuế thấp cho quận. Khi giá dầu mắc, họ thu hẹp lò vôi lại, lại làm đơn xin quận giảm thuế. Thật là “mệt” với mấy ông chủ lò vôi nầy. Mệt nhứt là với ông chủ lò Đức Thắng.

Ông chủ lò vôi Đức Thắng, thường gọi là “Thắng cụt” có đòn chơi rất độc. Gọi là Thắng cụt vì khoảng chục năm trước, ông mua chất nổ về bắn đá ở núi Trầu, bị tai nạn cụt mất một bàn tay.

Mỗi khi đốt lò xong, ông trả tiền công cho công nhân. Rồi tối đó ông tổ chức nhậu và đánh bạc ngay tại nhà. Ai ăn thua ông không cần biết, nhưng chủ sòng thì thâu tiền xâu suốt đêm khá bộn. Nhiều người ngày đêm đập đá, chất đá, đốt lò, cuối cùng thua bạc hết chỉ còn hay tay trắng, lấy gì nuôi vợ con. Tiền Thắng cụt chi ra lại chui vào túi ông, chẳng mất gì hết. Tật xấu nầy của chủ lò Đức Thắng xảy ra đều đều, năm nầy qua năm nọ mà chẳng ai nói chi.

Khi biết chuyện, tôi gặp linh mục Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ An-Hòa để nói với cha về việc làm bất lương của chủ lò vôi Đức Thắng. Tôi rút kinh nghiệm làm việc với mấy ông cha đạo từ hồi ở Cái Sắn. Mấy ông hay nghe lời con chiên thưa bậy, nếu không nói trước thì mấy ông lại cho rằng chính quyền làm khó dân để kiếm ăn. Tôi cũng có nói chuyện ấy với cha Đại. Cha bảo: - “Làm sao cha có thể để con chiên sát phạt nhau như thế được! Nhắc nhở hoài mà chăng ai thèm nghe!”

-“Cha có chịu đưa mấy ông nầy ra tòa không?” Tôi hỏi.
- “Ông cứ làm thẳng tay. Trước nay chính quyền không cứng rắn với họ nên tệ trạng xảy ra hoài.”
Vậy rồi tôi họp riêng với thượng sĩ Hai Râu, giao cho anh theo dõi việc Đức Thắng đốt lò.
Một hôm, thượng sĩ hai Râu nói với tôi:
- “Ngày mai thằng cha Đức Thắng cho cân vôi.” (Có nghĩa là giao hàng và nhận tiền).
- “Anh rình y. Hễ y tổ chức đánh bài, anh thộp cổ nó cho tôi.”

Hôm sau, nhà Đức Thắng tổ chức cờ bạc thật sự. Nhà gạch, cửa gỗ, đóng thật chặt. Nếu hai Râu kêu cửa, chúng nó phi tang thì công cốc. Do đó, hai Râu cùng mấy đệ tử của anh, chờ phía bờ kinh gần suốt đêm. (Nhà Đức Thắng quay lưng ra phía kinh.) Gần sáng, khi sắp tan sòng, hai Râu cùng nhân viên chèo ghe đến vách nhà sau, bắc thanh leo lên cửa sổ, chỉ súng bắt mọi người ngồi im, rồi mới sai chủ nhà ra mở cửa trước. Trên một chục tay cờ bạc bị tôi nhốt vào khám hết. Hai linh mục, cha Hiền và cha Đại, ông nào cũng vui lòng, chẳng ông nào đến can thiệp, xin tha. Chỉ có ông đại úy Kiệm, chi khu phó, vì có một đệ tử là ông trung sĩ nào đó, em ông chủ tịch hội đồng xã An Hòa đến xin tôi tha cho ông chủ tịch nầy. Tôi gọi ông chủ tịch lên bảo: “Vì ông là chủ tịch, nễ tình dân xã An Hòa nên tôi cho ông về. Ông có hợp đồng gì với Thắng cụt mà bóc lột công nhân không?”

Ông ta chối bai bải, thú thật chỉ vì tính ham cờ bạc nên tới đánh chơi, chớ ông ta không dính gì tới âm mưu xỏ lá của Thắng cụt hết.

Tôi đưa cả đám ra tòa, trình với biện lý rằng Thắng cụt là tên đầu bầy. Ra tới nơi, vì đã có người ra gặp biện lý xin xỏ trước rồi, nên cả đám được tha ngay.

Sau đó ít lâu, tôi lái xe chở đệ tử đi ăn sáng ở Chợ Tròn, khi ngang nhà Đức Thắng, thượng sĩ Năm Hùng đầu bạc nói với tôi: “Đức Thắng bỏ nhà đi đâu ông ơi!”

Tôi cười, nói đùa:
- “Đi luôn là phải. Ở đây, tui cho thằng chả “đứt thắng” luôn. Xe đổ đèo Hải Vân mà “đứt thắng” là coi như về âm phủ.”

Từ đó cho tới 30 tháng Tư, tôi không gặp Thắng cụt. Có phải câu nói chơi của tôi tới tai y nên y sợ? Người ta sợ mình đến nỗi phải bỏ xứ mà đi? Đó không phải là “Hà chánh mãnh ư hổ” hay sao? Tôi đem chuyện ấy nói ra trong buổi họp với nhân viên, nói để cười mà chẳng thấy ai cười?!

Điều đáng nói nữa là năm 1984, con gái tôi vượt biên tới Bidong. Khi nó đang còn ở đảo, tôi đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Dĩ nhiên là tôi không về Kiên Lương. Tôi đi dọc bến Chương Dương, qua bến Hàm Tử, tới các vựa bán vôi để hỏi thăm có ai dưới Kiên Lương lên bán vôi không.

Tổ hợp Lò Vôi tan hàng rồi. Ế quá! Dân chúng nghèo quá, có ai làm nhà, sửa nhà gì đâu mà đốt lò bán vôi. Mấy ông chủ lò vôi giải nghệ, đi đốn tràm, bắt cá đồng sống qua ngày. Chỉ còn ông Ba Để, trước kia là chủ tịch tổ hợp, nay già lắm, không đi làm đồng được, lâu lâu ông đốt một lò nhỏ, lấy công làm lời. Ba tháng rồi, ông không chở vôi lên Saigon.

Cuối cùng, tôi tới vựa vôi Đức Thắng ở bến Hàm Tử. Gặp tôi, ông mời uống nước trà và biểu tôi tìm ông ba Nhân. Ông ba Nhân mới có địa chỉ cha Đại ở Mỹ. Ông ba đang ở Kiên Lương, lâu lắm không thấy lên Saigon. Tôi chào ông Đức Thắng ra về, lấy làm lạ là tại sao không thấy Thắng cụt nhắc lại chuyện ân oán giang hồ ngày trước. Ông ta quên chuyện cũ rồi hay ông không nhớ mặt tôi, không biết tôi là ai.

Tôi buồn phiền vì việc không tìm được địa chỉ cha Đại để nhờ cha lo giùm cho con gái tôi.
Thế rồi một hôm tôi đi bộ trên đường Trương Minh Giảng, trước rạp ciné cũ, và thấy ông ba Nhân đang ngơ ngơ ngác ngác như đang đi tìm ai. Thấy ông, mừng lắm, tôi gọi: “Ông ba, đi đâu đây?”
Ông ba nhìn tôi, nhận ra người cũ, cười, trả lời:
- “Chẳng biết đi đâu nữa. Đang chạy xe ngang đây bỗng bị xẹp vỏ, đang vá ở đàng kia. Bỗng nhớ hình như tôi có nhà ai quen quen ở đây, bèn đi tìm thì gặp ông.”
Tôi hỏi:
- “Có địa chỉ cha Đại không? Tôi cần lắm.”
Ông nói:
- “Có đây, có đây.” Vừa nói ông ta vừa đưa tay đập mấy cái vào cái bị rết đeo bên hông. “Nhưng vô đây uống cà phê đã, gặp ông mừng ghê! Về hồi nào? Trông già lắm, không như hồi xưa. Tù chắc cực lắm?”
Về là đi tù cải tạo về. Tôi nói:
-“ Về hai năm. Có đứa con vượt biên, đang ở đảo, tính nhờ cha bảo lãnh cho nó qua Mỹ.” Tôi không nói chuyện đi ở tù cực. Chuyện đó ai chẳng biết, than vản làm gì!
- “Dễ thôi! Cha viết thư về có dặn ai vượt biên, đi Mỹ, cần thì báo cha biết để cha lo.”
- “Ông dưới đó mới lên?” Tôi hỏi.
- “Lâu lắm tôi mới lên. Có công việc gì đâu! Lâu lâu lên Saigon chơi vậy thôi! Tình cờ gặp ông.”

Tôi kể cho ông ba Nhân nghe chuyện đã hai tháng nay đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Hỏi Đức Thắng thì Đức Thắng không có. Nay tình cờ gặp ông ta.
Ba Nhân nói:
- “Chuyện tình cờ mà cũng kỳ. Ở dưới đó, không có việc gì mà tôi lên đây làm chi. Rồi đi ngang chỗ nầy, tự nhiên xe bị xẹp vỏ mà gặp ông. Ông cũng chẳng có chuyện gì, đi lang thang qua đây mà gặp tôi. Không phải tình cờ đâu. Chúa sắp đặt cả đấy.”

Tôi chỉ cười, không phủ nhận mà cũng không xác nhận. Quả thật, ở đời có những chuyện tình cờ hết sức lạ lùng, như có đấng thiêng liêng sắp đặt vậy. Ai không tin rồi cũng phải tin!

(1) - Giữa linh mục Trương Công Đại và tôi, thiệt là ơn tri ngộ. Năm 1974, khi mấy ông giám mục, linh mục họp ở Long Xuyên để lên “bảng phong thần” trong phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đại cương quyết không chịu để tên tôi trong bảng phong thần đó, như mấy chục ông chỉ huy trưởng vùng IV. Trước cử tọa, cha Đại bênh vực, khen ngợi tôi hết lời. Vậy mà chẳng bao giờ cha kể công với tôi. Linh mục Đại rời Việt Nam trưa ngày 30 tháng Tư-1975, định cư ở Mỹ. Năm 1984, khi con gái tôi vượt biên, tới Bidong, tôi báo cho linh mục biết. Linh mục Đại đón con gái tôi về đây, - thành phố tôi đang cư ngụ - giới thiệu lên Đức Ông. Đức ông cho con tôi quà giáng sinh năm đó - người độc nhứt được quà giáng sinh của Đức Ông - Đức Ông giao cho gia đình ông Dr. Blute nhận làm con nuôi. Hai ông bà nầy có 11 người con (Gia đình Mỹ có 11 người con là một hiện tượng đặc biệt). Con gái tôi cùng tuổi con gái út hai ông bà. Họ lo cho con gái tôi đi học trở lại vì ở Việt Nam nó bị bỏ học vì lý lịch số 13. Con gái tôi tốt nghiệp kỹ sư hóa học, làm việc cho cơ quan khoa học của MIT, chuyên nghiên cứu về hỏa tiễn phóng từ tiềm thủy đĩnh.
hoànglonghải

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 13:32:40
Phần 23
Chuyện tình con gái Tư Sang

Ông Tư Sang nhà ở ấp Lung Lớn, xã An Bình, quận Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Ấp Lung Lớn, nghe cái tên, người ta có thể nghĩ tới tính cách hoang vu của nó. Lung là một vùng đất trũng, cây hoang, cỏ dại, lau, sậy, đế, ô-rô, cóc kèn mọc um tùm… Nhờ lung nầy ở bên cạnh con đường Rạch Giá-Hà Tiên (Liên tỉnh lộ 8-A), mặt sau là kinh cùng tên, vừa có nước ngọt, vừa tiện việc đi lại, nên dần dần, hết gia đình nầy tới gia đình khác dựng nhà ở đây, lập thành một xóm: Xóm Lung Lớn, rồi thành một ấp của xã An Bình. Tuy cùng một xã, nhưng so với các ấp khác như ấp Lò Bom, ấp Ngã Ba thì ấp nầy nằm cách xa ra về phía đông, cách trụ sở xã đóng ở ấp Lò Bom bằng một khu rừng hoang dài, trở thành một nơi khó kiểm soát. Do đó, dân tứ chiếng tụ về đây nhiều hơn: đào binh, trốn quân dịch, hồi chánh viên, cựu can phạm.

Ông Tư Sang là cựu can phạm. Con Hạnh, 17 tuổi là con gái đầu, thứ hai, con của Tư Sang.

Một hôm, chợ Kiên Lương bỗng náo động lên vì một vụ đánh ghen. Con Hạnh bị vợ Năm Tho, từ Hà Tiên xuống đánh ghen. Vợ Năm Tho thủ sẵn một cái kéo, cắt hơn phân nửa mái tóc của con Hạnh. Gây ra chuyện ồn ào, mất trật tự ở chợ, cả hai người đều bị bắt đem về cuộc Cảnh Sát xã An Bình phân xử, phạt vi cảnh rồi cho về.
Năm Hùng nói với tôi:

-“Việc nầy kỳ lắm! Ông biết không!? Thằng Năm Tho là du kích trong mật khu Trà Tiên. Ngoài nầy, con vợ Năm Tho đánh ghen con Hạnh. Việc nầy mình đừng xử, giao cho tụi nó kéo nhau vô trong bưng mà xử.”
Tôi nói:
- “Dân của mình, mình xử. Sao lại giao cho Việt Cộng xử? Giao cho nó xử là “mất mặt anh hùng” lắm, sao mình chịu được!”
Thấy việc kỳ cục, tôi gọi thiếu úy Kiệt xem lại đầu đuôi ra làm sao. Việc nầy có dính líu tới chính trị, đâu có phải chỉ là việc vi cảnh mà thôi.
Điều tra xong, Thiếu úy Kiệt nói với tôi:
- “Thằng Năm Tho ở trong rừng. Con Hạnh vô ra quan hệ với Năm Tho nên con vợ Năm Tho ghen.”
- “Vợ Năm Tho ở Hà Tiên, còn con Hạnh ở Kiên Lương, hai nơi khác nhau mà.” Tôi nói.
- “Với tụi Việt Cộng đều là huyện Hà Tiên hết. Vợ Năm Tho ở Hà Tiên, con Hạnh ở đây cũng vô ra quan hệ với Năm Tho cả. Tui ở đây phải thường liên lạc trao đổi tin tức với Hà Tiên thường xuyên là vì vậy.” Thiếu úy Kiệt nói. Một lúc, anh ấy nói tiếp: “Ông nhớ vụ thằng Ba Xỉn không?”
- “Nhớ”. Tôi trả lời.

Tôi không nhớ thằng Ba Xỉn tên thật là gì nhưng vì nó xỉn tối ngày nên dân người ta gọi nó là thằng Xỉn. Nó thứ ba, dân ấp Lò Bom. Một hôm, có người báo cáo với Năm Hùng thằng Ba Xỉn theo Việt Cộng bấy lâu nay, cầm AK đứng gác không cho đồng bào đốn tràm. Nay, bỗng dưng thấy nó ngồi nhậu ở Chợ Tròn. Một mặt, Năm Hùng báo cho thiếu úy Kiệt biết, mặt khác tự mình anh chạy xe vô Chợ Tròn, dí súng bắt thằng Ba Xỉn đem về văn phòng.

Trung sĩ Thể, ban 2 chi khu, nghe bắt được tên du kích, bèn qua cảnh sát cùng lấy cung.

Té ra, có gì đâu!

Thằng Ba Xỉn ra hồi chánh ở Hà Tiên. Hà Tiên cho đi học ở Trung Tâm Chiêu Hồi Rạch Giá mà chẳng thông báo gì cho Kiên Lương, nơi gốc gác của thằng Ba Xỉn biết, nên Cảnh Sát Kiên Lương cứ đinh ninh thằng nầy còn làm du kích trong bưng. Ba Xỉn học xong, mãn khóa, trước khi nhập ngũ vì trong hạn tuổi “quân dịt quân gà”, xin giấy phép về thăm nhà. Nó chìa cái giấy phép về thăm nhà ra, ai nấy chưng hững, coi như chụp được con ếch to.

Nghe thiếu úy Kiệt nói con Hạnh con Tư Sang quan hệ với Năm Tho nên bị đánh ghen, tôi hỏi thiếu úy Kiệt:
- “Cảnhh sát An Bình có hồ sơ gì con nhỏ nầy không?”
- “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.
- “Bên anh có hồ sơ con nhỏ nầy không?” Tôi lại hỏi.
- “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.
- “Bù trớt!” Tôi nói. Bắt con nhỏ đó, điều tra, xem nó làm gì ở trỏng.
Thiếu úy Thịnh được lệnh xuống ấp Lung Lớn bắt con nhỏ, đem về giao cho thiếu úy Kiệt.

Khi con nhỏ được đưa vào văn phòng thiếu úy Kiệt, tôi thấy buồn cười. Vì bị bắt bất thình lình, mái tóc chưa kẹp, bên dài, bên ngắn, đúng là vì bị vợ Năm Tho cắt mất một nửa. Con nhỏ khóc ròng, mặt mày tái mét vì sợ.

Năm Hưng lấy lời khai con nhỏ trong vòng hai tiếng là xong, đưa cho tôi xem, nói:
- “Việc gì ở ngoài nghe cũng dữ. Đi sâu vào trong, chỉ thấy tội nghiệp!

Tôi không nói gì vì chưa biết đầu đuôi. Thấy tập ghi lời khai con nhỏ có kèm hồ sơ Tư Sang, tôi đọc hồ sơ Tư Sang trước.

Tư Sang nguyên sống ở xã Vàm Rầy (Đức Phương). “Trào” - tiếng y khai trong bản cung - Ngô Đình Diệm, y đi lính Bảo An, mấy năm, vì bệnh phổi, được giải ngũ.
Thấy vùng Lung Lớn dễ sinh sống, y dọn nhà về đó hồi nhà máy ximăng Hà Tiên mới khởi công xây dựng. Y kiếm miếng đất dựng cái nhà nhỏ ở cùng vợ con. Phía sau nhà, bờ kinh, y đặt một cái rớ nhỏ, lâu lâu, đạp rớ cất lên, kiếm ít cá, đủ loại: Cá chốt, cá linh, sặc rằng, cá lóc, v.v… Vừa để ăn, còn thừa làm mắm. Phía trước nhà, bên kia đường, y khẩn một đám đất hoang trồng rẫy, tùy theo mùa: cà, rau, bầu bí… Tuần vài lần, y đốn tràm, giao cho chủ vựa, lấy tiền mua gạo, sống qua ngày. Công việc của y có vợ và con gái lớn phụ trợ.

Năm nhà máy ximăng dự tính đào kinh lấy nước từ sông Hậu xuống, mới cắm cờ, cắm cọc thì ban đêm Việt Cộng ra phá bỏ, lại cấm dân vô đốn tràm. Tư Sang phải làm giao liên cho chúng: tiếp tế thuốc rê, bột ngọt, trà, gạo mới được chúng cho đốn tràm. Vì là đàn ông, lại từng đi lính Quốc gia, chúng bắt Tư Sang phải báo cáo tình hình lính tráng tới lui, hỗ trợ cho công trình xây dựng nhà máy ximăng. Vậy rồi Tư Sang bị quốc gia tình nghi, bắt. Có gì Tư Sang khai nấy, không hỏi cũng khai. Người ta nói: Y thiệt thà quá. “Thiệt thà là cha dại”, tục ngữ nói vậy. Sáu Lượng, trưởng chi Công an Quốc gia hồi ấy, muốn giúp cho Tư Sang bỏ bớt lời khai, nhất là phần y khai về việc báo cáo lính tráng tới lui di chuyển, cho được nhẹ tội, tha về. Nhưng Sáu Lượng chẳng thấy gia đình Tư Sang quà cáp chi. Nên, Sáu Lượng nói với Hai Ngộ, thẩm vấn viên: “Hơi đâu mà rước tội vào mình.” Tư Sang bị giải về tỉnh, lãnh án hai năm tù, đưa đi “trung tâm Cải Huấn Cần Thơ.”

Hai năm sau, Tư Sang về, trình diện Công an, lập hồ sơ là “cựu can phạm, cần theo dõi”. Có gì đâu mà “theo dõi”. Tư Sang chỉ muốn trở lại cuộc sống cũ nhưng không được. Hai năm ở tù, tuy không làm khổ sai, nhưng ăn uống thiếu thốn, cũng như không khí độc hại, bệnh cũ tái phát: Lại bệnh lao. Tưởng đã hết rồi, ai ngờ ngày càng nặng. Ở vùng quê xa xôi, mỗi lần muốn khám bệnh phải ra Rạch Giá, đi lại khó khăn: Ngày đi, ngày khám, ngày về. Lẹ nhứt cũng mất ba ngày, chưa kể đường đi có khi bị Việt Cộng cấm, bị đắp mô. Vã thuốc trụ sinh chữa bệnh lao giá mắc lắm. Nhà nghèo như Tư Sang làm sao mua nỗi. Bệnh cứ để vậy, dần dà, ngày càng nặng.

Ba năm nay, khi con Hạnh ngày càng lớn thì bệnh Tư Sang lại nặng hơn. Vợ Tư Sang không khéo xoay xở, con Hạnh phải xông xáo giúp cha mẹ, nuôi em.

Nó dựng một cái chái nhỏ bên hông nhà, buổi sáng dậy sớm, nấu cà phê bán cho chòm xóm. Các ông già, bà già người Nam có cái thú uống cà phê buổi sáng, khi mặt trời chưa lên, mùa đông cũng như mùa hè. Họ tới quán vừa ngồi uống càphê vừa chuyện trò trên trời dưới đất, chờ trời sáng hẵn thì cánh đàn ông lội vô ruộng, làm đồng, bắt cá. Đi sớm, họ sợ trực thăng bắn lầm. Còn mấy bà về nhà lo việc nhà.

Sau khi khách ra về, con Hạnh đem dao, rựa xuống xuồng chèo vô rừng đốn tràm. Tràm bán có tiền hơn hết nên ngày nào nó cũng đi đốn tràm. Gặp may, việc xong sớm, cỡ hai ba giờ chiều nó vế tới nhà.

Được một thời gian, con Hạnh hốt hụi mở một tiệm chạp phô nhỏ, giao mẹ nó trông coi, còn nó cứ công việc cũ mà làm. Nhờ nó giỏi giang, Tư Sang phá cái nhà lá cũ, dựng cái nhà mới, vách gạch, lợp “tôn”. Ai cũng khen con gái Tư Sang giỏi.

Thế rồi việc đánh ghen xảy ra. Bấy giờ người ta mới biết kể từ năm trước, nó có quan hệ với Năm Tho, du kích trong rừng.

Theo lời khai của nó, ban đầu, Năm Tho cho nó nhiều ưu tiên. Trong khi dân chúng bị đuổi về, không ai được đốn tràm thì nó được đốn tự do. Tới mùa nước ròng, cá đọng lại trong các đìa, không ai được bắt thì nó chỉ cần giao thùng thiếc cho Năm Tho. Năm Tho bắt cá, bỏ vào thùng, giao cho nó đem về bán. Năm Tho không bắt nó tiếp tế gì cho Năm Tho cả. Thuốc hút, thuốc thơm, càphê, xàbông, kem đánh răng, vợ Năm Tho ở Hà Tiên tiếp tế đủ. Vậy Năm Tho cần gì nơi con Hạnh? Nó cần con Hạnh ngủ với nó.

Hạnh khai:
- “Cháu không chịu.
Năm Tho có vợ rồi. Với lại, ai đi lấy du kích Việt Cộng làm chồng. Lính tráng Quốc gia thiếu gì, ông nào cũng đẹp, ông nào cũng oai. Tại sao lấy thằng du kích. Hễ quốc gia hành quân vô, nó lủi như trạch.”
Năm Hưng cười, cười:
- “Cháu nói Quốc gia oai hơn, như ai chẳng hạn?”
Con Hạnh ngập ngừng một lúc, bẽn lẽn nói:
- “Như thiếu úy Thịnh chẳng hạn.”
Năm Hưng cười ha hả:
- “Té ra cháu mê ông thiếu úy Thịnh. Liệu có địch nổi với cả chục con gái Kiên Lương không? Ở đây cả chục con mê ông Thịnh, ông ấy vừa trẻ, vừa đẹp trai. Con gái nào mà không mê?”

Chuyện Năm Hưng nói là chuyện thực. Thiếu úy Thịnh có số đào hoa.

Cuối cùng, Năm Tho dùng sức mạnh hiếp nó. Giữa chốn rừng tràm hoang vu, con Hạnh kêu cứu ai được?! Thế rồi ăn quen bén màu, Năm Tho cứ làm tới hoài, con Hạnh cũng thúc thủ hoài.

Khi tôi đọc xong hồ sơ thì thiếu úy Kiệt với Năm Hưng vừa vào phòng tôi. Tôi nói:
- “Anh Năm, anh có tin con Hạnh bị hiếp không?”
- “Tin chớ ông. Tui viết cung không hay nhưng khi kể tới đoạn đó, nó khóc dữ lắm.”
- “Bộ nước mắt cá sấu?” Tôi nói.
Năm Hưng vẫn khăng khăng:
- “Tui nghĩ không phải đâu. Con gái như nó sao chịu thằng Năm Tho được. Cỡ như nó phải kiếm một ông nào cho ngon lành hơn chớ. Tuổi đó, đứa nào cũng mơ uớc một thần tượng nào đó chớ!”
- “Theo đây thì thần tượng nó là thiếu úy Thịnh chớ gì!” Tôi nói. “Nó không nghĩ rằng nó trèo cao hay sao?”
- “Mấy con nhỏ cặp bồ với ông Thịnh thua nó nhiều. Nó đẹp đó chớ!”
- “Nó đẹp thiệt.” Thiếu úy Kiệt tán thành. “Nó có yêu ông Thịnh cũng không có chi lạ.”
- “Đẹp mà tàn đời với thằng Năm Tho. Uổng thiệt! Vậy là xong đời một đóa tràm Trà Tiên.” Thiếu úy Kiệt vừa cười vừa nói.
Tôi sực nhớ chuyện hồi còn học ở Quốc Học, vì câu chuyện cô Trà Mi, học cùng lớp lấy chồng nên có anh bạn lên bảng đen viết hai câu Kiều. Tôi đọc hai câu Kiều đó cho hai người kia nghe:

Tiếc thay một đóa trà mi
Con ong đã tỏ đường đi lối về!

Khi viết hai câu đó lên bảng đen, người bạn mở đóng ngoặc kép hai chữ “con ong”. Nghe kể chuyện đó, Năm Hưng nói đùa: “Không biết con ong Việt Cộng với con ông Quốc gia, con nào con Hạnh chịu hơn!

Sáng hôm sau, tôi thức dậy, đang ngồi uống trà thì thượng sĩ Năm Huê tới. Năm Huê làm phó cho thiếu úy Thịnh. Ông ta mời tôi đi ăn sáng. Tôi lái xe, Năm Huê ngồi bên cạnh, nói:

-“Thiếu úy Thịnh đang chờ tui với ông ở chợ Tròn.”
- “Sao nó không tới tui?” Tôi hỏi.
- “Ông ta sợ!” Năm Huê nói.
- “Sợ gì?” Tôi hỏi.
- “Bữa nay, ông ta muốn xin tha cho con Hạnh nhưng sợ, không dám nói với ông. Nhờ tôi mời ông đi ăn sáng, nói giùm.” Năm Huê giải thích.
Vừa ngồi xuống bên cạnh cái bàn tròn, tôi cự nự ngay thiếu úy Thịnh:
- “Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, chú mầy đã dắt một lô con gái ra ngoài đó. Bữa nay lại léng phéng với con Việt Cộng nầy. Bộ muốn đi Hiếu Lễ hả?” (1)
Thiếu úy Thịnh than vãn:
- “Tại vì ông Tư Sang năn nỉ quá, em không cầm lòng được, chớ có phải em có gì với con Hạnh đâu. Tư Sang bệnh phổi tới thời kỳ thứ ba. Vợ Tư Sang thì vụng lắm, không có con Hạnh, bả không giữ được cái quán chạp phô. Con Hạnh ở tù thì coi như nhà đó đói.”
- “Còn việc dắt mấy con nhỏ đi Rạch giá thì sao?” Tôi vừa hỏi vừa cười.
- “Một con cũng đã chết em, những mấy con thì làm gì nỗi! Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, xã Long kêu gọi đảng viên đi cho đông để lấy điểm, can chi tới em đâu!”
- “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. (2) Ông có biết câu thơ đó không? Châu U Vương cũng vì Bao Tự mà chết, Ngô Phù Sai cũng vì Tây Thi mà tiêu đời. Ông liệu cặp bồ cho lắm, không bị Việt Cộng giết thì có ngày bị Quốc gia cho vô tù lãng nhách.” Tôi cảnh cáo thiếu úy Thịnh. Kể cho anh ta nghe câu chuyện cũ:

Hồi ở Gò Công tôi nghe kể có anh Cảnh Sát Dã Chiến theo một con nhỏ rủ về ấp của nó. Anh ta đi ba ngày không về. Thiếu úy trung đội trưởng dẫn lính đi tìm. Tới nhà con nhỏ thì thấy anh Cảnh Sát Dã Chiến bị trói vào gốc so đũa, bắn chết đã ba ngày, kiến bò lên cắn hư cả mắt mũi. Tìm con nhỏ thì nó đã vượt sông cửa Tiểu qua Thượng Đức rồi.

Ăn sáng xong, tôi họp nội bộ: Trưởng ban Tư Pháp, trưởng ban U-1 (Kế hoạch), U-2 (sưu tầm tin tức Việt Cộng), U-3 điều tra, để giải quyết việc con Hạnh. Thiếu úy Kiệt nói:

-“Nó còn vị thành niên, giải về Rạch Giá, ngoài đó khó giải quyết, tui lại bị rầy!”
- “Gọi Tư Sang lên làm giấy bảo lãnh cho nó về. Thiếu úy Kiệt báo cho quận Long biết kẻo bên đó họ nghi ngờ mình tự ý giải quyết là có ý đồ bậy bạ.”

Buổi chiều, khi Tư Sang lên tới, tôi đang ngồi nói chuyện chơi với quận Long trong văn phòng. Thấy y vào, tôi mời ngồi, nói:
- “Tôi báo cáo với ông quận rồi, ổng đồng ý. Để Bảy Hùng làm giấy tờ xong, ông ký tên rồi đem con gái ông về.”
Một lúc, tôi nói:
- “Hết cha làm Việt Cộng tới con làm Việt Cộng. Bộ cha con ông không muốn ở yên hay sao vậy? Quốc gia muốn dân được yên ổn làm ăn mà.”
Tư Sang than:
- “Khổ lắm ông, họ bắt ép hay lắm, không làm cũng không được.”
- “Ông nói vậy chớ mấy người không làm giao liên cho Việt Cộng thì chết đói cả hay sao? Tự cha con ông muốn, tự mình tham mà ra chớ!” Tôi nói.
Tư Sang nói:
- “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”
- “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.
- “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.
- “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân (2) ở ngoài hòn Ngang, hòn Nghệ, Rừng vàng là rừng Trà tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.
- “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.” Tư Sang xác nhận.
Tôi cười to:
- “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng cần gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy gặt. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”
Bực mình, tôi “chưởi” Tư Sang một hơi như vậy cho đã!

hoànglonghải

(Chuyện về sau, nghe kể lại:
Ngày 1 tháng 5 năm 1975, khi Việt Cộng ra tiếp thu, Năm Tho nhân cơ hội nầy, bắn chết thiếu úy Thịnh ở đầu cầu Lung Lớn. Mấy năm sau, con Hạnh đưa người đi vượt biên rồi đi luôn qua Mỹ. Năm nó làm Việt kiều hồi hương, mặc dù đã có chồng, có con, nó vẫn còn ra đầu cầu Lung Lớn, chỗ thiếu úy Thịnh bị bắn, thắp nhang cho anh ta và khóc. Có lẽ ngoài việc nó yêu thầm anh ấy, nó còn mang ơn thiếu úy Thịnh đã xin cho nó ra khỏi tù hồi năm ấy. )

(1) Quận Hiếu Lễ, tỉnh Kiên Giang, giáp với tỉnh Chương Thiện. Hiếu Lễ là cửa ngõ ngăn chận Việt Cộng xuất nhập mật khu U-Minh, mất an ninh. Nhân viên chính quyền, ai có lỗi, thường bị “đày” đi Hiếu Lễ, cũng có khi đi không về.
(2) Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Mưa không kềm tỏa mà giữ khách ở lại được,
Sắc đẹp không có sóng mà làm cho người ta chết chìm được)

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 13:38:06
Phần 24
Nhà Máy Ximăng Hà Tiên

Trước khi nói tới việc xây dựng nhà máy ximăng Hà Tiên, phải nói tới công lao cụ Diệm. Ông Ngô Đình Diệm “chấp chánh” ngày 7 tháng 7 năm 1954. (Hồi ấy gọi là ngày Song Thất) Hai tuần lễ sau (chính là ngày 21 tháng 7 năm 1954), các nước đầu sỏ hè nhau lấy con dao bén cát đôi nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17, mà nhà thơ Trần Dần gọi là:

Bỗng nhói ngang lưng
máu rỏ xuống bùn
Lưng tôi có tên nào chém trộm?

Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu

Bắc Nam ơi đứt ruột chia đôi

Cụ Diệm chỉ còn cai trị có một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Với một nửa nước đó, cụ lo chỉnh đốn và xây dựng (1) các công trình giáo dục, hành chánh, quân sự, giáo dục, kỹ nghệ, …
Nhà máy ximăng Hà Tiên hình thành trong bối cảnh đó. Nhà máy bắt đầu hoạt động năm 1962.

Vùng Kiên Lương - Rạch Đùng – Chùa Hang – Ba Hòn - hòn Phụ Tử là vùng núi đá vôi tốt, tương đương với đá vôi Portland của tiểu bang Oregon, với hàng trăm ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, trên đất liền hoặc sát bờ biển.
Những ngọn núi sát bờ biển có hình ngọn viết lá tre, có nghĩa là chỗ gần giáp với mặt nước, ngọn núi bị thắt lại vì nước xoi mòn. Đó là lý do tại sao hòn Phụ Tử năm kia bị đổ. Khi phần dưới bị thắt lại, phần trên nặng, và nếu như bị một tác động mạnh nào đó, thường là do địa chấn, phần trên sẽ đổ xuống. Người ta thường cho rằng đó là điềm bao trước chuyện chẳng lành. Núi đổ, đá đổ là báo hiệu sự sụp đổ. Năm 1953, núi Bãng Lãng ở thượng nguồn sông Hương bị đổ, năm sau “23 tháng mười Bảo Đại dân truất ngôi”. Năm 1974, núi đá Giao ở Tri Thủy, quê ông Thiệu, bị đổ, năm sau là tháng Tư đen. Bây giờ hòn Phụ Tử đổ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra…

Cuối năm 1973, đại tá Huỳnh Thanh S. cùng trung tá Ngô Tấn Đ. đến thanh tra cơ quan của tôi. Đại tá Huỳnh Thanh S. hỏi tôi tại sao những núi đá bị khuyết đi như vây. Tôi giải thích rằng chỗ khuyết là do qua hàng triệu năm, sóng biển đánh vào bào mòn. Rồi bỗng có một trận địa chấn lớn làm nâng đáy biển lên hay làm nước biển giựt xuống, nên chỗ khuyết đó bỗng lộ cao lên, cao hơn mặt nước. Điều tôi nói là căn cứ vào sách địa lý tôi dùng dạy học trò lớp đệ Tam của sư huynh Jérôme Lê Văn Ba, có thời làm hiệu trưởng trường Pellerin Huế, sau vô làm hiệu trưởng trường Taberd Saigon và cours tôi học với linh mục Nguyễn Hòa Nhã, giáo sư địa lý đại học Huế, chớ tôi không nói tầm bậy. Vậy mà ông đại tá Huỳnh Thanh S. cười mỉa tôi, cho rằng tôi nói dốc. Cái cười của ông đại tá được kèm theo cái cười mỉa thứ hai của ông trung tá Đ., ông cũng là người có bằng cử nhân luật của đại học Saigon đấy!

Nhà máy ximăng Hà Tiên được xây dựng bên chân núi Còm, là ngọn núi lớn nhứt. Đồng thời quận hành chánh Kiên Lương cũng được thành lập để giúp đỡ về hành chánh cho nhà máy.

Thời Tây đô hộ, qua khỏi xã Đức Phương (Vàm Rầy), - quê hương của vợ thủ tướng Khiêm - một đổi là ranh giới hai tỉnh Rạch Giá - Hà Tiên. Từ Vàm Rầy trở ra Rạch Giá, xuống tới U-Minh là thuộc tỉnh Rạch Giá, diện tích rộng lớn. Còn từ quá Vàm Rầy trở lên Hà Tiên là thuộc tỉnh Hà Tiên. Tỉnh Hà Tiên nhỏ hẹp, chỉ có ba quân: Phú Quốc, Giang Thành và Hòn Chông (sau nầy là Kiên Lương). Thời nhà Nguyễn, tỉnh Hà Tiên rộng hơn bây giờ, xuống tới tận cầu Lình Quỳnh, gần tới Sóc Soài, Sóc Sơn của tỉnh Rạch Giá. Khi Tây chiếm xong ba tỉnh miền Tây Nam bộ, tuy ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự vẫn, giao thành cho địch để tránh tai họa cho sinh linh, thì trong giới sĩ phu, nhiều người vẫn tiếp tục chiến đấu. Kiệt hiệt nhứt trong số đó có ông Nguyễn Trung Trực. Ông khởi binh đánh Tây, thắng nhiều trận lớn, như trận đốt tàu Tây mà sử gọi là Hỏa Hồng Nhựt Tảo. Nhưng về sau, sức yếu thế cùng, ông lui về “Đám Lá Tối Trời” ở Gò Công, rồi rút về lập căn cứ ở núi Hòn Chông, kế chùa Hang, hòn Phụ Tử. Khi dẹp được cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực, Tây thu nhỏ tỉnh Hà Tiên lại cho dễ kiểm soát. Riêng vùng Kiên Lương và núi Hòn Chông được lập thành một quận, gọi là quận Hòn Chông, diện tích nhỏ hẹp, dễ kiểm soát, dân chúng ít, dân khó nổi lên chống Tây như trước. Khi tôi đi thăm chùa Hang năm 1973, ở đầu núi Hòn Chông còn thấy cảnh đổ nát của quận đường cũ. Cơ sở nầy bị tàn phá, một phần vì Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến”, một phần vì nơi đây không ít lần là trận địa. Quận Kiên Lương là thoái thân của quận Hòn Chông, diện tích có mấy xã: Hai xã Tín Đạo (Tri tôn thuộc Rạch Giá), Đức Phương (Vàm Rầy) là đất cũ của tỉnh Rạch Giá, và các xã thuộc quận Hòn Chông cũ như An Bình (quận lỵ), Dương Hòa (Ba Hòn), An Hòa (Núi Trầu), Bình Trị (Hòn Chông). Lãnh thổ xã Bình Trị gồm những ấp quanh núi Hòn Chông, XXXXXX và các hòn cù lao trong vịnh Thái Lan, lớn nhứt là Hòn Nghệ, thứ đến là Hòn Ngang (Hòn Đội Trương), hòn Đầm và vài đảo khác, vì thiếu nước ngọt nên chỉ có vài ba nhà dân.

Nhà máy ximăng ở kế quận lỵ, thuộc xã An Bình.

Nhà máy ximăng được xây dựng thành hai khu: Khu cư xá thuộc xã An Bình, ngay quận lỵ gồm có một dãy biệt thự dành cho các kỹ sư và viên chức chỉ huy, khu nhà dài là nhà ở của công nhân, khu trường học (tiểu học và trung học), khu thể thao, và khu thị tứ gồm Chợ Tròn (nhà lồng chợ hình tròn), các dãy phố quanh chợ, với đường xá rộng rải và khu nhà máy, ở bên kia kinh An Bình – Ba Hòn, sát chân núi Còm. Đường từ bên nầy (quận lỵ) qua bên kia (nhà máy) nối bằng nột cây cầu đúc ximăng khá đẹp. Nhìn qua, các công trình xây dựng nầy hiện đại, tiện nghi, quang cảnh giống như bên Tây. Công trình nầy là của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Cũng không thể không nói thêm về hồ nước Kiên Lương. Theo kế hoạch ban đầu, chính phủ dự tính cho đào một con kinh lớn, nối liền từ sông Bassac, - sông Hậu -, chỗ gần tỉnh lỵ Châu Đốc kéo thẳng một đường về tới kinh Rạch Giá – Hà Tiên, gần An Bình – , để lấy nước cho nhà máy. Tuy nhiên, khi chương trình đào kinh mới bắt đầu, cho cắm cọc, làm dấu thì Việt Cộng rình bắt hết công nhân làm công việc đào kinh nầy. Những người bị bắt, có người được tha sau khi bị Việt Cộng giam giữ ít lâu, có người không về. Con kinh sắp đào nầy cắt ngang đường giây 1-C là con đường huyết mạch của Việt Cộng từ Kampuchia qua, làm sao chúng có thể để yên được. Vì vậy, việc đào kinh phải bỏ. Chính phủ bèn cho đào một cái hồ rộng, phía sau cơ sở quận Kiên Lương. Hồ nầy mỗi bề dài 1 cây số, tha hồ cho nhà máy xử dụng. Mỗi năm, khi nước nguồn đổ về, - thường gọi là “mùa nước nổi” - độ phèn giảm bớt thì nhà máy cho bơm nước từ kinh An Bình – Ba Hòn vào hồ cho tới khi đầy hồ mới thôi. Nhà máy lại cho bơm nước vào một cái château d’eau ở gần cư xá cho công nhân dùng, và một château d’eau khác phía bên kia cho nhà máy. Vì việc canh gác, tuần phòng có khi lơi lỏng, Việt Cộng mấy lần về đặt chất nổ cố phá cái château d’eau ở cư xá nhưng không thành công. Hồ nước có nhiều cá và vịt le, dân chúng tha hồ đánh bắt, không ai cấm cản gì cả.

Nhà máy ximăng Kiên Lương chỉ mới khai thác đá ở núi Còm.
Tại sao có tên núi Còm?

Trong hồi ký “40 năm, nhớ lại tết Mậu Thân – bài thứ 9 “Chiều Đi Qua Bãi Dâu…” ở phần chú thích, tôi có viết:

“Về mặt tôn giáo, khi triều đình nhà Nguyễn đang còn, người ta thấy xã hội miền Bắc thiên về đạo Nho, nhất là Tống Nho, hơn về Phật; miền Nam thiên về đạo Phật, khuynh hướng dân giả, pha tạp tà ma bùa chú hơn đạo Nho. Huế ở giữa, là điểm tiếp nối của hai miền, vừa “thâm” Nho trong triều chính, và “đậm” Phật trong đời sống xã hội.

Trước khi “lưu lạc” về miền Tây Nam Bộ, xuống tới chỗ tận cùng đất nước: Hà Tiên, tôi có đọc một số truyện của Hồ Biểu Chánh, Lê Xuyên hay tin tức báo chí, tôi thấy đạo Phật Đại Thừa, là hành trang tinh thần của người Việt trong cuộc Nam tiến, từ miền Trung, miền Bắc vào miền Tây Nam Bộ. Những lưu dân nầy, khi định cư nơi vùng đất mới, tính Đại Thừa pha hợp với tính Tiểu Thừa trong đạo Phật của người Miên vùng Khmer Krom. Rõ nhất là trong tính cách tu cho riêng mình được giải thoát. Do đó, bên cạnh chùa, như ở miền Bắc thì lại xuất hiện những cái cốc của các ông đạo. Đạo của các ông đạo lại pha hợp với tu tiên của đạo Lão và bùa phép của người Miên. Bên cạnh những ông đạo Liếm, đạo Sờ bậy bạ, không ít người tu hành một cách chân chính nhưng có vài nét khác lạ. Ông “bác vật” Lang quê ở Sadec đi xuống cái hang sâu (dân chúng gọi là đường xuống âm phủ) ở Thạch Động thuộc Hà Tiên (Thạch Động là nơi Thạch Sanh cứu công chúa trong truyện Thạch Sanh – Lý Thông), có thạch nhũ hình dáng như Phật Bà Quan Âm, ông ta thấy cái gì đó mà khi về, ông tịnh khẩu cho đến khi qua đời vì Phật thánh cấm ông nói lại. Ông “bác vật” Lang là đệ tử của Phật Bà Quan Âm, người ta nghĩ vậy, nhưng cách tu tịnh khẩu cho đến chết như ông không phải là việc tu hành thông thường. Tôi không rành lịch sử Phật Giáo Việt Nam, nên không biết hai ngàn năm Phât giáo truyền vào Việt Nam, ở miền Bắc có ai tu tịnh khẩu trọn đời như ông “bác vật” Lang hay không?

Ông đạo Dừa ở Kiến Hòa cũng là một “dạng” của mấy ông đạo miền Nam. Thường thường các ông đạo nầy là người Việt Nam, không phải người Miên hay người Tàu lai Miên (Thường gọi là đầu gà đít vịt), lại là người có học hành. Ông “bác vật” Lang đậu cử nhân sinh học ở Pháp về, biết hết các loài động vật thực vật nên người ta gọi ông bác vật là vì vậy. Ông đạo Dừa nguyên là kỹ sư canh nông. Người Miên tu ở chùa, dùng bùa Cà Tha và không lập cốc. Bùa Cà Tha, là bùa “truyền thống” của người Miên. Nhiều ông đạo tu luyện bày thêm bùa phép lung tung.

Đặc biệt nhứt là trường hợp ông Đoàn Minh Huyên, tín đồ gọi là Đức Phật Thầy Tây An (2).

Núi non vùng Kiên Lương, Hà Tiên, và Thất Sơn bên Châu Đốc không thiếu hang động. Do đó, nhiều ông đạo không dựng cốc. Mấy ông tu trong những hang động đó, mỗi người một hang. Ông Còm, hay ông đạo Còm cũng là người tu trong hang theo cách đó.

Trong bản đồ quân sự, tôi nhớ không lầm, ngọn núi nhà máy ximăng Hà Tiên khai thác đá, được gọi là núi Còm, là nơi ông đạo Còm tu hành. Người ta không biết tên thật ông ta là gì nhưng ông thọ lắm, lưng ông còm, - cong như cái cung -, nên người ta gọi là ông đạo Còm, tu trên ngọn núi đó là ngọn núi người ta đặt tên theo cái tên người ta đã đặt cho ông. Không ai biết quê quán ông ở đâu, tu luyện ở đây từ bao giờ, thời gian nào, lâu lâu ông ta mới xuống núi khất thực. Xong, ông ta lại về núi. Khi công nhân đến khai thác đá ở núi Còm, người ta tìm thấy trong một cái hang có một bộ xương người, - bộ xương ông đạo Còm -, da thịt đã rữa mục hết, thành đất bụi, không rõ ông đạo chết tự bao giờ.

Tôi lấy làm tiếc đã không tìm hiểu thêm về ông đạo Còm. Không biết bộ xương ông đạo chôn cất ở đâu. Vã lại, dân chúng quanh vùng nầy, không ai là cố cựu, chỉ là người mới tới định cư sau khi quận được thành lập. Xóm Xà Ngách của ông Đinh Nam Triều - người viết bài 20: Tiểu Đoàn 66 Biệt Động Quân Biên Phòng – cư ngụ ở xóm nầy cũng chỉ từ sau hiệp định Genève 1954. Có lẽ dân núi Trầu (xã An Hòa), vài người biết đôi chút về ông dạo Còm nhưng tôi đã không tìm gặp để hỏi chuyện.
Núi Còm, bắt đầu lấy đá từ 1962. Khi tôi về đó, hơn 10 năm sau, nhà máy ximăng chỉ mới khai thác được một phần mười ngọn núi đá. Một mặt thì nhà máy khai thác chậm, mặt khác thì núi lớn quá. Theo ông giám đốc Lê Hữu Phước, nói cho tôi nghe, thì đó chỉ là phần nổi trên mặt đất, phần nầy chỉ có một phần ba. Phần chìm dưới mặt đất là hai phần ba. Nếu khai thác hết đá ở núi nầy, với tiến độ như thế, phải mất một trăm năm nữa mới lấy hết đá.

Giữa năm 1974, kỹ sư Nguyễn Văn Thành, đứng ra chỉ huy việc tính toán, đặt chất nổ, để bắn chỏm núi, cao khoảng một phần ba ngọn núi (Phần nổi trên mặt đất). Một hôm, ngồi uống càphê buổi sáng với tôi, trước khi đi làm, kỹ sư Thành báo cho tôi biết việc chuẩn bị ấy và hẹn hôm nào cho bắn đá thì sẽ báo cho tôi biết để xem chơi. (Kỹ sư Thành, tốt nghiệp kỹ sư công chánh, nguyên là học sinh trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, học sinh môn Anh Văn với Phan Văn Hộ, một người bạn học cũ của tôi đang dạy ở đấy.)



Quả thật anh ta tính toán rất hay. Hôm đó, trời tốt, khoảng mười giờ sáng, tôi qua nhà máy chờ xem bắn đá. Tới 10 giờ, sau khi lệnh lạc đâu đó, giữ khoảng cách an toàn cách chân núi 2 Km, thì kỹ sư Thành cho lệnh bắn. Trong tích tắc, tiếng nổ dữ dội vang lên, bụi đá mù mịt, tiếng đá rơi xuống ào ào như mưa, kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Khi bụi tan thì phần chỏm núi không còn. Bắn một lần mà thành công như thế là kỹ sư giỏi.

Thời gian tôi làm việc ở đây, gần 2 năm có ba tai nạn chết người. Trước hết là tai nạn bà Huỳnh thị Chè. Trước kia bà làm cho hãng RMK-BRJ của Mỹ, từng lái xe xúc. Hôm ấy, bà cũng lái xe xúc đưa đá lên cối thì xe tuột thắng, rơi khỏi cầu, xe lật úp, bà bị xe đè chết tại chỗ. Tai nạn thứ hai là một thanh sắt lớn rơi trúng đầu ông Thanh, cán sự cao cấp, tương đương kỹ sư, du học ở Pháp về. Tai nạn thứ ba là sau khi bắn chỏm núi đá, thì một ông tài xế nhà máy, lái xe ủi để ủi một đường quanh núi thì bị đá rơi trúng đầu, chết tại chỗ.

Cũng trong thời gian đó, Việt Cộng tấn công vào nhà máy ximăng hai lần, không kể lần trước đó, 1972 mà anh Đinh Nam Triều đã kể trong bài 20.

Lần đầu, Việt Cộng chưa vào tới nhà máy, chỉ có đặc công chui hàng rào kẽm gai vào đốt kho dầu. Nửa đêm, tôi bị nhân viên đánh thức, báo cho biết nhà máy ximăng đang cháy. Tôi lo lắng chạy qua hầm truyền tin, biểu nhân viên báo cáo về Rạch Giá, rồi đi bộ sang chi khu theo dõi tình hình. Thiếu tá Sầm Long, chi khu trưởng, đang ngồi sẵn ở đó, nét mặt hơi có vẽ lo lắng. Tôi nói:

- “Nếu nhà máy bị nội tuyến là tui lãnh đủ. Còn như tụi nó ở ngoài chui vào là phần ông đấy.”
Thiếu tá Long cười mà không vui:
- “Địa Phương Quân (ĐPQ) báo cáo rồi, tụi nó cắt hàng rào chui vô.”

Tôi cười, thấy khỏe. Nhà máy có hơn bốn trăm nhân viên, lý lịch khá phức tạp, Việt Cộng dễ trà rộn vào để phá hoại.

Nhà máy cũng có một kho chất nổ lớn, dùng để bắn đá. Chất nổ để trong một cái hang núi, cửa sắt chắc chắn. Mỗi khi mở cửa lấy chất nổ ra, phải có một ủy ban với nhiều thành viên thuộc các cơ quan, bộ phận an ninh ở địa phương để ngăn ngừa việc mất cắp có thể xẩy ra: Việt Cộng hay bán cho các chủ lò vôi để họ bắn đá. Việc nầy tôi rất e ngại, theo dõi khá kỹ, giao cho thượng sĩ Lâm Tấn Tài, cảnh sát đặc biệt, đảm nhận công việc nầy. Anh ta là người cẩn thận, chăm chỉ và, như tôi gọi đùa “Thổ công nhà máy.” Anh biết hầu hết, tên tuổi, gia cảnh, gốc gác… từng công nhân làm việc cho nhà máy.

Sau đó, tôi cùng thiếu tá Long qua nhà máy. Nhà máy có bốn bồn dầu lớn dùng để đốt lò, một đang bị cháy. Các bồn kia an toàn. Tôi nói với thiếu úy Kiệt:
- “Ông lấy máy hình chụp “lỗ chó chui” nầy. Mai mốt thượng cấp có khiển trách thì mình có cớ để chạy tội.”
“Lỗ chó chui” là chỗ đặc công cắt kẽm gai chui vào.

Lần thứ hai, Việt Cộng tấn công, tình hình căng hơn.

Thời gian cuối năm 1974, tình hình toàn quốc khá căng nên tôi ít khi ngủ ở nhà, thường ngủ chung với binh lính của tôi trên các sân thượng của vài cao ốc trong quận lỵ. Quá nửa đêm súng nổ dữ dội ở phía nhà máy, tiếng súng nhỏ và cả mìn hay lựu đạn nữa. Tôi dùng máy truyền tin liên lạc với chi khu thì được biết đại tá Nguyễn Hữu Kiểm, tư lệnh phó sư đoàn 21 và thiếu tá Sầm Long đang ở trong hầm chỉ huy. Việt Cộng đột nhập vào trong nhà máy nhưng chưa làm chủ tình hình được. Hai bên đang đánh nhau. Một bên là đặc công và một số binh lính Việt Cộng đã lọt vào sân sau nhà máy rồi; sân nầy ở hướng núi Còm. Bên kia, - phe phòng ngự, không phải là binh sĩ tiểu đoàn 530 Địa Phương Quân (ĐPQ), đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ nhà máy mà lại Nhân Dân Tự Vệ (NDTV) nhà máy, chỉ khoảng 4 hay 5 người gì đó, đang núp trên cối xay đá, phản công bằng súng Carbine.

Tôi vào hầm hành quân gặp đại tá Kiểm và thiếu tá Long. Đại tá Kiểm đang liên lạc với tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Địa Phương Quân nói trên. Liên lạc xong, ông ta bỏ ống nói xuống, mặt không vui, nói với thiếu tá Long và tôi:

- “Không biết tụi nó chém vè hay ngủ quên. Mấy “thằng cùi” (ám danh truyền tin thường chỉ Việt Cộng) lọt vô nhà máy rồi, súng nổ ầm ầm, tụi nó mới hay.”

Đơn vị ĐPQ canh gác, tuần tiểu, phục kích phía ngoài hàng rào phòng thủ. Vậy mà khi Việt Cộng tiến vào, họ chẳng biết gì cả. Khi mấy tên đặc công lọt vào được sân sau, NDTV gác trên cối xay đá phát hiện ra, bắn xuống. Bọn chúng quăng lựu đạn beta lên cối đá nhưng không tới. NDTV có lợi thế hơn, từ trên cao bắn xuống nên chẳng tên đặc công nào sống sót. Vừa khi đó, khoảng một tiểu đội Việt Cộng từ ngoài lọt qua được hàng rào, nhưng các toán NDTV quanh đấy đã cảnh giác vì súng nổ rồi. Vì vậy, toàn bộ toán Việt Cộng bị mắc kẹt ở hàng rào. Vào thì không được, lệnh rút lui chưa có.

Tiểu đoàn trưởng cùng với ban chỉ huy tiểu đoàn phối hợp với NDTV bảo vệ nhà máy, không cho chúng tiến sâu vào nữa. Tuy nhiên, toán đặc công thứ hai, có nhiệm vụ đốt bồn dầu thì đã đốt cháy 2 trong 4 bồn dầu, nhưng toàn thể toán của chúng gồm bốn tên đều bị hạ sát. Hai bồn dầu đang cháy, rực sáng, lửa cao ngất, khói um tùm.
Bấy giờ đại tá Kiểm đã liên lạc được với Sư Đoàn 21. Sư đoàn liền cho trực thăng vận đổ xuống một đại đội. Trực thăng đổ quân dọc theo trục lộ, ngang ấp Xà Ngách, bên kia nhà máy. Tôi núp trong hầm hành quân, nhìn ra ngoài, quan sát đơn vị tiếp viện vượt cầu sang bên kia kinh. Trong ánh lửa chập chùng của các bồn dầu đang cháy, hình ảnh những người lính vượt cầu hiện lên khá rõ, vừa đẹp vừa hùng tráng. Tôi nói với thiếu tá Long:

- “Đẹp ghê! Y như trong ciné.”

Sau đó, chưa được nửa giờ, súng êm. Việt Cộng rút ra xa, nhưng cuộc tấn công chưa chấm dứt.

Trời đã sáng, tôi còn ngồi trong hầm hành quân. Đại tá Kiểm nói:
- “Việt Cộng tấn công mà tình báo chẳng biết trước gì cả. May nhờ NDTV phát hiện chớ với mấy trăm kí lô chất nổ như vậy, nhà máy chẳng còn viên gạch nào nguyên.”
Hồi gần sáng, trung úy đại đội trưởng tiếp viện, sau khi vào lục soát trong nhà máy, báo cáo tịch thu được khoảng bốn trăm kg chất nổ TNT. Việt Cộng muốn triệt hạ hoàn toàn nhà máy ximăng Hà Tiên.

Câu nói của đại tá Kiểm làm tôi chột dạ, mặc dù ông không khiển trách hay trách cứ gì tôi.

Sau 7 giờ sáng, tôi về cơ quan. Lúc đó Việt Cộng chưa rút đi hẵn, còn bám các vị trí chung quanh nhà máy. Có thể chúng nó chờ trời tối lại tấn công nữa. Đại tá Kiểm tiên đoán như vậy. Tôi về họp đám Cảnh Sát Đặc Biệt của thiếu úy Kiệt, nhắc lại nhận xét của đại tá Kiểm. Năm Hùng nói:

- “Bên quân đội có tình báo chiến thuật, chiến lược, phạm vị hoạt động rộng khắp, còn chưa biết gì. Mình chỉ nhờ có mấy người dân đốn tràm, giăng câu, làm sao biết tới việc đó.”
Tôi nói:
- “Chỗ dựa của chiến tranh du kích là nhân dân. Mình cũng phải dựa vào nhân dân mà chống Việt Cộng. Tình báo nhân đân chỉ góp được phần trong việc giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản mà thôi. Thôi! Kệ họ, họ có trách cứ gì mình đâu mà suy nghĩ cho mệt. Bữa nay thiếu úy Kiệt nên cho rải nhân viên rộng ra, xem tình hình như thế nào.” (3)
Tôi gọi riêng Năm Hùng, “thổ công Kiên Lương” (4) với thiếu úy Kiệt lại, gọi càphê và dặn dò công việc. Tôi nói:

- “Hồi “Hùng móm”, em tôi đánh trận Dambe, đọc tờ Diều Hâu, tôi thấy họ bình luận sở dĩ Việt Cộng thua là vì tướng Dư Quốc Đống tìm ra được vị trí bộ tư lệnh chiến trường của Việt Cộng. Thay vì tấn công vào phòng tuyến chúng đang giàn sẵn, ông cho rút tiểu đoàn 11 Dù để tấn công ngay vào cái đầu rắn. Bọn nầy bị bất ngờ, chạy trối chết. Bên phía mặt trận kia, không đánh Việt Cộng cũng rút lui.”
Thiếu úy Kiệt góp ý:
- “Tui cũng nghe nhiều người nói vậy.”
Tôi nói:
- “Thật ra, Thủ Đức ra như tôi, chỉ làm trung đội trưởng, chỉ học tuần tiểu, di hành, hành quân đêm, lội sông. Biết mẹ gì chuyện nầy. Chuyện nầy cao cấp hơn. Biết cũng vì tò mò mà thôi.”
Thượng sĩ Hùng nói:
- “Ông quận Long đánh giặc cũng hay lắm.”
Tôi cười:
- “Ông không biết à? Việt Cộng nghe tới đại úy Long Sư Đoàn 9 là ngán lắm. Ổng nổi tiếng từ cấp úy kia.”
Thiếu úy Kiệt hỏi:
- “Ông vô mục tiêu kinh lắm. Mười lần cả chục, Việt Cộng chạy dài.”
Tôi giải thích:
- “Ông ta có sự phỏng đoán tài tình lắm. Khi trực thăng đổ lính xuống rồi, dàn hàng ngang, vô mục tiêu. Việt Cộng nổ súng. Ông ta gan lắm, đứng quan sát. Nhìn hỏa lực, ổng biết cấp chỉ huy bên kia ở đâu, rồi tập trung mấy tay gan cùng mình, đánh ngay vào chỗ ấy. Thằng nào dám trụ lại. Rút chạy là chắc.”
Một lúc, tôi hỏi Năm Hùng:
- Ông là “thổ công” ở đây. Theo ông dự đoán, bọn chỉ huy mặt trận nằm ở đâu?”
- “Thiếu gì chỗ. Núi Nai, phía sau núi Còm, khu đó còn nhiều ngọn núi nhỏ nữa, có hang. Tụi nó núp trong đó an toàn lắm.” Năm Hùng giải thích.
- “Mấy núi đó, ông vào chưa?” Tôi hỏi.
- “Tui lội khắp. Mấy năm tình hình yên yên, chẳng nơi nào tui chẳng tới.” Năm Hùng trả lời.
- “Còn vùng Mo-So?” Tôi hỏi.
Thiếu úy Kiệt nói ngay:
- “Phía đó là phía biển, mình tấn công, tụi nó rút đi đâu? Phía núi Nai tụi nó dễ rút về Trà Tiên.”
Tôi thấy thiếu úy Kiêt nói có lý. Một lúc, tôi nói:
- Nếu chắc ở núi Nai, tui nghĩ bên Biệt Khu họ dám chơi kiểu “diều hâu” (5), cho nhảy trực thăng.”

Đến trưa, tôi đang ăn cơm, Năm Hùng vào gặp tôi, nói:
- “Có chỗ nầy tôi hơi nghi nghi!”
- “Chỗ nào?” Tôi ngừng ăn, hỏi.
- “Chỗ cái lung, phía đông núi Trầu. Tui đứng ở cầu Tre, nhìn vô thấy cái lung đó.”
Tôi bỏ ngang bữa ăn, nói với Năm Hùng: “Anh đi xuống đó với tui. Biểu tụi nó gọi thiếu úy Kiệt xuống đó luôn.”

Ngang đầu núi Trầu, xã An hòa, có một con kinh đào nhỏ, thẳng, chạy từ đó về hướng đông, có thể nối với kinh Kháng Chiến (Tôi không rõ vì bản đồ không vẽ gì cả mà tôi cũng chưa từng lội vào đó bao giờ). Cách xã An Hòa khoảng hai cây số, ngay trên kinh nầy, có một vùng đất hơi cao, khô, cây tràm rậm rạp. Vì vậy, người ta gọi là lung, tiếng địa phương. Nếu Việt Cộng núp trong đám rừng tràm nầy, máy bay cũng khó phát hiện.

Tôi hỏi:
- “Năm Hùng đoán tụi nó làm gì chỗ nầy?”
- “Mấy lần trước, bộ chỉ huy đóng ở núi Nai. Nay tụi nó phải đổi vùng, đánh lạc hướng. Đóng một chỗ hoài, dễ bị lộ, nguy hiểm.” Năm Hùng giải thích.
- “Nhưng có cái gì nữa, anh mới nghi chớ?
- “Kinh nầy là đường dân An Hòa đi đốn tràm. Bữa nay, gần tới chỗ lung, họ bị chận lại, đuổi lui. Dân chúng cũng thấy mấy cái cần câu chỉa lên trời. Tui đoán có lẽ là ăngten truyền tin.” Năm Hùng nói rõ hơn.
Khi đó, thiếu úy Kiệt vừa tới. Tôi nói với Năm Hùng:
- “Anh ở đây canh chừng coi có thêm tin gì không. Cần thì gọi thêm người phụ với anh. Tui qua Biệt Khu với thiếu úy Kiệt.

Gặp đại tá Kiểm, tôi trình bày những gì Năm Hùng đã nói với tôi. Đại tá Kiểm và tôi, thiếu úy Kiệt, khoanh chỗ cái lung trên bản đồ, chấm tọa độ. Xong xuôi, đại tá Kiểm nói:

- “Tôi có hai phi tuần, nay chỉ lại mục tiêu nầy cho phi công oanh tạc.”
Thế rồi đại tá Kiểm đổi tần số truyền tin, liên lạc với bộ tư lệnh Sư Đoàn 21.
Nửa giờ sau, trên đường tôi trở lại cầu Tre thì gặp Năm Hùng đang hớt hãi chạy về. Gặp tôi, Năm Hùng nói:
“Chết rồi, máy bay bỏ bom lầm, ngay xã An Hòa, cháy mấy cái nhà. Dân vừa chạy ra báo cáo. Tui cũng thấy máy bay chúc xuống oanh tạc ngay đó.”
Vậy là tôi quay trở lại Biệt Khu báo cáo với đại tá Kiểm. Chúng tôi xác minh lại tọa độ mục tiêu, đại tá Kiểm lại gọi về bộ tư lệnh. Mười lăm phút sau, hai chiếc A-37 đổi hướng, oanh tạc ngay mục tiêu chúng tôi báo cáo.

Khoảng một giờ đồng hồ sau, Năm Hùng vào An Hòa, tìm gặp các mật báo viên của anh ta. Đến chiều, tôi còn ngồi trong văn phòng, tính chuyện đêm nay canh gác như thế nào đề phòng Việt Cọng tấn công lần nữa thì Năm Hùng vào, nói:
- “Rút rồi.”
Tôi hỏi:
- “Ai? Việt Cộng hả?”
Năm Hùng cười:
- “Tui cho người vô chỗ hồi sáng. Không còn Việt Cộng canh gác gì cả, dân không bị đuổi lui. Họ chèo vô tuốt một khúc nữa, qua gần hết cái lung, không thấy gì hết.”
Lúc đó, thiếu úy Kiệt cũng đã vào, đứng nghe Năm Hùng nói chuyện với tôi, bèn nói:
- “Đêm nay yên. Bộ chỉ huy mà rút rồi thì đánh mẹ gì nữa. Bị máy bay oanh tạc, chúng nó biết là lộ rồi. Lo chém vè cho xong.”
Tôi lại qua Biệt Khu, báo cáo tình hình với đại tá Kiểm. Ông ấy nói:
- “Đêm nay ngủ ngon. Tuy vậy, anh cũng cho lính canh gác, không nên ỷ y.”
Tôi ra về, lòng vui lắm, biểu tài xế của tôi: “Mai mầy ra hòn Ngang đón cô và mấy đứa về.” Hồi sáng, đề phòng Việt Cộng tấn công tối nay, nên tôi đã mượn chiếc ghe đánh cá cho vợ và các con tôi ra ngoài đảo. Vợ con mấy người lính của tôi, như tài xế Thành, tài xế Trang, tài xế Nuôi cùng mấy đứa tà lọt tôi, cho vợ con chúng đi theo vợ con tôi ra ngoài ấy cả.

Đêm đó ngủ yên thật. Việt Cộng chờ trời tối rút đi chớ đánh chác gì nữa nên suốt đêm không nghe một tiếng súng. Sáng ra, mới sáng sớm, khi tôi đang ngồi trong văn phòng thì Năm Hùng đưa cho tôi xem một cây súng M-79 do một người đánh cá dọc theo con kinh vào núi Nai bắt được đem cho. Tôi lấy ít tiền đem cho người ấy để thưởng công, đồng thời gọi thiếu úy Ký, trung đội trưởng Cảnh Sát Dã Chiến, đi “bắt hôi”, đem trung đội lục soát dọc theo con đường vào núi Nai là con đường Việt Cộng rút, sau khi tấn công nhà máy ximăng mà không vào được. Trên đường rút lui, bọn chúng bỏ lại vương vải mấy cây súng AK, balô, nhiều nhứt là những bánh thuốc nổ TNT. Có lẽ chúng muốn dùng số chất nổ nầy để phá sập nhà máy. Tôi báo cáo việc ấy với thiếu tá Long. Ông ta cười, nói:
- “Ông già – ý nói đại tá Kiểm – đánh giặc hay lắm. Sau khi đơn vị tiếp viện tăng cường phòng thủ nhà máy, ông già đoán chứng chúng sẽ rút lui; đoán ngay con đường rút là đường vào núi Nai. Ổng cho nổ chụp từ đầu tới cuối, chụp đi chụp lại mấy lần.

Chúng nó hốt hoảng bỏ chạy, bỏ lại súng đạn như vậy là chết, bị thương không ít đâu. Một lần cho tởn. Đừng tưởng bở, đâu có ngon ăn!”

(1) Công việc chỉnh đốn gồm có: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thành Trường Võ bị Quốc Gia, ngang tầm với các trường võ bị nổi tiếng trên thế giới, đào tạo sĩ quan hiện dịch; trường Hải Quân, Không Quân, trường Bộ Binh Thủ Đức để đào tạo sĩ quan trừ bị. Trường hành chánh thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, thành lập viện Đại Học Huế, Đà Lạt với phân khoa đại học sư phạm tương đương cấp cử nhân, các trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp tiểu học,… Về kinh tế, thành lập khu kỹ nghệ Biên Hòa, đặc biệt có các hãng dệt Sicovina (Biên Hòa và Đà Nẵng), nâng cấp nhà máy vôi Long Thọ, khu mõ than Nông Sơn, nhà máy Ximăng Kiên Lương (Hà Tiên)… Khi xây dựng xa lộ Saigon – Biên Hòa, chính quyền Cộng Sản Hà Nội tổ chức biểu tình phản đối dữ dội, vu cáo là xây dựng phi trường quân sự trá hình.
(2) Ông sinh trưởng vào đầu thế kỷ thứ 19, và qua đời sau khi Tây đã đô hộ đất Nam Kỳ. Theo truyền thuyết, ông là người có nhiều phép tắc thần thông, nhưng chính ông lại là người bài trừ mê tín dị đoan. Sau khi Tây chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Bộ, một trận dịch tả xảy ra ở vùng Cái Tàu Thượng, (ngang với Long Xuyên, nhưng ở phía hữu ngạn), khiến hàng ngàn người chết. Ông Đoàn Minh Huyên đến phát thuốc cứu dân ở đây, đẩy lùi trận dịch. Do đó, người dân tôn sùng ông như một vị Phật Sống (sau đó, họ gọi ông là Phật Thầy Tây An). Ông ổn định được cuộc sống dân chúng, phát triển nông nghiệp. Thấy ông được dân chúng tôn sùng, Tây lo ngại, bắt ông đem giam ở thị xã Long Xuyên. Trên đường đi làm về, tên cò Tây thấy ông đang đi bộ bên đường. Tên nầy lấy làm lạ, vừa giam ông vào ngục sao bây giờ thấy ông ở đây. Nó cố đi nhanh để xem mặt nhưng không theo kịp. Tên cò Tây nghi ngờ bèn quay trở lại bót, xem lại phòng giam, lại thấy ông còn trong đó.
Ông là người sáng lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, lo tu học và đền đáp Tứ Ân nên có khi người ta còn gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Bửu Sơn Kỳ Hương là nguồn gốc trực tiếp của đạo Phật Hòa Hảo. Tuy nhiên, trong lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, người ta thường tính từ khi Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ sáng lập đạo nầy mà thôi, ít thấy bàn tới vai trò của ông Đoàn Minh Huyên. Độc giả có thể tìm hiểu thêm ở bài viết của sử gia Trần Gia Phụng, trên Việt Báo Online.
(3) Tôi quan niệm cuộc chiến vừa 1960-75 là chiến tranh nhân dân. Do đó, vai trò nhân dân là rất quan trọng. “Tình báo nhân dân” là yếu tố căn bản để triệt tiêu hạ tầng cơ sở Cộng Sản. Không có hạ tầng cơ sở, Việt Cộng không xây dựng lực lượng địa phương được. Tôi tới trại tỵ nạn Bidong sau ngày “đóng cửa đảo” nên phải qua “thanh lọc” mới được đi định cư. Người phỏng vấn thanh lọc tôi là một luật sư Cao Ủy Tỵ Nạn, người Hòa Lan và một viên thiếu tá tình báo Mã Lai. Khi tôi trình bày về “Chiến Tranh Nhân Dân, Tình Báo Nhân Dân”, - Cuốn sách tôi đang viết khi ở trại tỵ nạn -, viên thiếu tá tình báo Mã Lai ngồi nghe ba tiếng đồng hồ. Sau đó, khi chấm dứt, ông ta bắt tay tôi, nói: “Chúc mừng ông và hy vọng cuốn sách của ông sẽ được phổ biến, giúp ích cho các cơ quan tình báo.”
(4) Năm Hùng làm việc ở đây khá lâu, ban đầu làm trưởng ấp Ngã Ba, sau lên “Hội viên Cảnh Sát xã”. Khi làm việc với tôi, ông mang loon thượng sĩ. Ông biết hầu hết người, địa hình, địa vật ở đây, nên tôi gọi đùa là “thổ công”. Ông giúp tôi rất nhiều, việc gì không rõ thì hỏi ngay ông.
(5) Xin xem bài sau, cũng nói về nhà máy ximăng Kiên Lương.
<bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2008 13:45:42 bởi lyenson >

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 13:50:56
Phần 25
Nhà máy ximăng Hà Tiên hoạt động kém hữu hiệu!
Tại sao tôi nói thế?

Nhân dịp tết đầu năm 1974, ông Mai, phó giám đốc nhà máy, (xin lỗi, tôi quên mất họ), sang gặp tôi, tại văn phòng, nói:
- “Không như các năm trước, năm nay có lệnh chính phủ cấm biếu tiền, nên chúng tôi không có tiền để tặng Bộ Chỉ Huy ăn tết. Tuy nhiên, chúng tôi dự trù biếu các anh năm chục bao ximăng, có thể bán lấy tiền vui xuân được. Mỗi năm, nhà máy nhờ Bộ Chỉ Huy giúp đỡ nhiều việc, nhất là về an ninh. Nay tới tết mà không biết ơn, kỳ quá!

Xuân, thu nhị kỳ” là cái tục hối lộ của người Tàu, người Việt noi theo khá kỹ. Tuy nhiên, ở đây khác chút ít vì là của một cơ quan tặng một cơ quan, chứ không phải của một ông “kinh doanh” tặng ông quan… cách mạng như hiện nay ở “quê hương… ta”.
Cũng như thường năm, tết và rằm tháng Bảy, tôi thường mua quay heo cúng tổ, - mặc dù không tôi không rõ ông tổ Cảnh Sát là ông nào, mặt mũi ra làm sao, tròn hay méo, đen hay trắng, chắc là không gầy mà mập ú? Tuy nhiên, tôi cũng phải cúng tổ “xuân thu nhị kỳ” cho đúng ý của tổ, không phải để mua may bán đắt, mà trước hết, là để tránh tai họa, khỏi bị Việt Cộng đặt chất nổ ngay ghế mình ngồi, sau là để nhậu một bữa cho đúng với phong tục dân Nam bộ. Tết nhứt mà không có nhậu thì… buồn lắm!

Tôi nhận cái bông 50 chục bao ximăng, giao cho năm Hùng lo, bán lại cho ông Hồng Ràng, chủ tiệm vật liệu xây dựng, lấy tiền, đặt cho ông Tư Để quay một con heo và năm Hùng giao cho ai đó, tôi không nhớ, lo mấy mâm xôi, đồ nhắm và bia. Cũng không thiếu mấy chai Hennessy cổ đen. Cổ đen rẻ hơn cổ vàng. Nhậu tập thể, đâu đủ tiền mua cổ vàng. Kinh nghiệm nhậu cho tôi thấy dân Biên Hòa thì khoái Martel, dân Rạch Gia thì khoái Hennessy, cổ đen cổ vàng tùy túi tiền. Dân nhậu hai nơi khác nhau một chỗ nhưng giống nhau một chỗ khác. Ấy là nói theo tục ngữ “Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá.” Phá sơn lâm là nghề làm rừng, hàng đầu là ông Đỗ Cao Lụa ở Biên Hòa. Ông nầy là bố của tướng Trí. Đứng đầu đâm Hà Bá là công ty Tuhuco, chủ công ty cũng là một ông tướng họ Đỗ, từng làm đô trưởng Saigon. Ông nầy dân quận Bình Phước tỉnh Long An nhưng vợ lại cùng quê với “chị Tư Nết” - tiếng gọi của dân Vàm Rầy.. Bố “chị Tư Nết” là ông chủ Ri. Ông nầy quen nghề làm ruộng, không quen nghề “hạ bạc”. Hạ bạc là làm nghề đánh cá. Không rõ đây là tiếng Hải Nàm, tiếng Tiều hay Phúc Kiến. Người Việt gọi nghề đánh cá là đánh cá, - hay danh ca, chữ không bỏ dấu, - là ca sĩ nổi tiếng - chớ không gọi là nghề hạ bạc. Tiếng nầy cũng chỉ ở địa phương nầy mới dùng mà thôi.

Hôm nhận cái “bông” ximăng “xuân thu nhị kỳ”, tôi nói chuyện với ông phó giám đốc Mai: “Đúng ra ximăng nội phải rẻ hơn ximăng ngoại nhiều lắm. Sao nhà máy bán mắt quá vậy? Ximăng ngoại khoảng 110 đồng một bao, ximăng Hà tiên giá 92 đồng, có rẻ gì đâu. Dân chúng không có lợi mà ximăng Hà Tiên cũng khó bán. Hay vì phẩm chất kém xa?”
Ông phó giám đốc Mai giải thích:
- “Không kém thua bao nhiêu đâu! Cứ đem đúc móng cầu, xây building, cũng không thua gì ximăng ngoại. Tuy nhiên, muốn bán rẻ cũng không được vì các phụ gia của ximăng phải nhập, giá cao quá!

Rồi ông ấy lấy ví dụ dầu đốt lò. Dầu đốt lò phải nhập, qua ngân sách viện trợ Mỹ, giá cao quá, nên giá thành phải cao. Đó là một.

Thật tình là vậy. Một hôm, tôi gặp anh Đoàn Phục, nguyên là một học sinh của tôi cả chục năm trước. Nay anh làm ở phòng thí nghiệm (nghiên cứu và kiểm soát phẩm chất - tên phòng nầy tôi nhớ không chính xác) của nhà máy ximăng. Hỏi thăm công việc của anh ta xong, tôi hẹn tới chơi. Vì tò mò, tôi tới thiệt.

Dụng cụ trong phòng tuy không đơn giản nhưng dễ hiểu. Ximăng anh ta nhận từ lò về, - hay anh ta lấy đá đốt trong môt cái lò nhỏ của phòng thí nghiệm -, trộn với nước (theo đúng công thức) để đúng 21 ngày đưa lên máy thử sức chịu đựng, độ bền, v.v… và làm báo cáo. Theo anh ta giải thích, phẩm chất không thua ximăng nhập cảng.

Thành ra, nhà máy ximăng Hà Tiên trở thành một “vật trang trí” cho chế độ miền Nam. Miền Nam xây dựng đủ thứ: Vải (Sicovina), giấy (Cogido), ximăng Hà Tiên. Bộ mặt đẹp thế mà kém hữu ích. Đó là điều đáng buồn.

Thời ông Thiệu, không hiểu ông ta mần cách chi mà nước Mỹ chịu cho nước Đức bỏ vốn xây thêm lò. Từ khởi thủy đến giờ, nhà máy ximăng chỉ có 2 lò nung. Nay chính phủ Đức viện trợ xây thêm 2 lò nữa. Hôm chuyên viên Đức làm việc ở Saigon xong, đi máy bay của hãng xuống Hà tiên, ông Lê Hữu Phước, giám đốc, tốt nghiệp ở Ý về, rủ tôi cùng đi đón… cho vui. Tôi đi theo. Chuyên viên Đức đi thăm thú các nơi và chê hai cái lò nung cũ quá. Thăm núi Còm, chỗ đang lấy đá, và núi Trầu bên cạnh, chỗ dự tính phát triển sang đó, chuyên viên Đức chỉ vào cái ống khói nhà máy đang thờ thẩn nhả khói ra, nói: “Ở Âu Mỹ, với khối lượng núi đá như ở đây, phải có cả trăm ông khói như thế nầy mới đúng với khả năng của nó.”

Cũng may, ông chuyên viên nầy nói tiếng Pháp nên tôi cũng hiểu ít nhiều, khỏi phải nhờ thông dịch viên.

Ít lâu sau đó, nhà máy ximăng cho di chuyển một cái xà lan lớn qua núi Trầu với máy phát điện, xe xích khoan đá, lấy đá về giao cho phòng thí nghiệm của Đoàn Phục nung thử, kiểm soát phẩm chất như thế nào!

Nếu phát triển ra, nhà máy ximăng sẽ dựng thêm một nhà máy xay và vô bao (như ở Thủ Đức lúc đó vậy) tại Cần Thơ. Việc chuyển vận clinker gần hơn và phân phối thành phẩm cho miền Tây cũng gần hơn, giá rẻ hơn ít nhiều, v.v…

Tuy nhiên, đối với việc phát triển đó, những người vui mừng nhất không phải là công nhân nhà máy, hay dân chúng mà chính là xã An Hòa. Dân núi Trầu chẳng vui gì vì họ sẽ bị đuổi đi xa chân núi hơn để được an toàn, mất nhà, mất ruộng, mất vườn. Nhất là vườn. Đất ở chân núi Trầu là đất đen, - gọi là than bùn - trồng rau, nhất là rau muống thì “hết sẩy”. Dân ở đây hơn 90 phần trăm là Bắc kỳ (rau muống! như cô Thái Thanh có lần xác nhận với thính giả ở Queenbee năm 1973 vậy). Họ theo Tây mộ phu đi làm ruộng dinh điền ở miền Nam khoảng các năm 1939, 40. Khi chiến tranh Việt Pháp xảy ra, (1945-54), Tây bỏ chạy về Tây, bỏ luôn cả dân mộ phu. Dân đi phu bây giờ tự lo kiếm sống lấy. Họ cũng theo kháng chiến. Núi Trầu có nhiều hang động, trở thành công binh xưởng của Việt Cộng hồi đó. May mắn, phần đông khi đã vào Nam, họ theo đạo Thiên Chúa nên theo kháng chiến mà không theo Việt Minh. Họ theo kháng chiến một thời gian, theo bộ đội đi đánh Tây, qua tận Kampuchia đánh Tây như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh có lần kể cho tôi nghe, nhưng không ai theo Cộng Sản và cũng không ai tập kết năm 1954.

Tuy nhiên, xã An Hòa sẽ giàu lên.

Núi Còm là thổ địa của xã An Bình. Khi thác đá ở núi Còm, nhà máy ximăng phải trả tiền “thổ địa” cho xã An Bình. Cả chục năm nay nhà máy chẳng trả xu nào, bỗng năm 1974, xã An Bình ôm được vài triệu, do nhà máy trả cho, mặc sức xã tiêu xài, xây dựng xã, v.v.... Vì vậy nên xã An Hòa hí hững chờ tiền. Xã Dương Hòa có núi Xà Ngách kế cận nhà máy, cũng hy vọng nhà máy mó tới đá núi Xà Ngách, kiếm mớ tiền tiêu chơi, v.v…

Hồi họp nhứt là ông linh mục Nguyễn Thượng Hiền ở núi Trầu. Mới nghe phong thanh nhà máy ximăng sẽ khai thác núi Trầu, ông cho đệ tử dựng ngay một cái thánh giá trắng bóc, cao ngất, ở xa ai ai cũng thấy rõ. Muốn lấy đá, nhà máy sẽ phải dời bỏ cái thánh giá đi, phải bồi thường cho ông hai triệu, như lời ông yêu cầu.

Tự nhiên chi ra hai triệu cho một cái thánh giá dựng lên với giấy phép của ông xã Long, xã trưởng An Hòa, con chiên của cha Hiền, nhà máy ximăng không có ý kiến. Đâu có phải là tiền túi của ông giám đốc hay ông phó giám đốc mà lo, nhưng họ phải trình về trung ương, ở đường Võ Di Nguy, Saigon.

Công việc thăm dò phải ngưng lại cho tới khi… Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, bí thư xã An Bình ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương.
Không rõ Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu giải quyết yêu cầu của cha Hiền như thế nào vì lúc ấy, tôi đã “đóng tiền xin đi ở tù” rồi.

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 14:02:12
Phần 26.
Làm Ruộng với “Người Cày Có Ruộng”

Về miền Tây, người ta dễ thấy sự trù phú của đất đai Nam Bộ.

Nếu không có chiến tranh, nếu cải cách hoặc làm cách mạng nông nghiệp, làm “Cách Mạng Xanh” như ở Mỹ, người Việt làm sao đói được. Trước năm 1945, diện tích làm ruộng chưa lớn lắm mà đã có gạo xuất cảng.

Trước 1975, chỉ có những vùng tạm yên mới làm ruộng được. Đó là khu vực dinh điền Cái Sắn, kể cả ruộng hai bên Liên Tỉnh lộ 8-A, từ Ngã Ba Lộ Tẻ tới Rạch Giá.

Đi theo Liên Tỉnh lộ nầy, bên tay trái, là khu Thạnh Đông. Khu nầy chỉ có thể làm ruộng kể từ lộ đi vào chưa tới 10Km mà thôi. Vô sâu hơn nữa, vùng Việt Cộng, chúng nó cấm dân lui tới, không làm gì được cả. Cũng phía nầy, hết Thạnh Đông là Thạnh Tây, giáp ranh với vùng Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, ruộng bị hoang hóa, chẳng canh tác gì.

Tôi nói hoang hóa là vì Cờ Đỏ, trước 1945 là “dinh điền” của chủ Tây. Tây mộ nông dân, phần đông là người Bắc vào làm ruộng. Vì chiến tranh, Tây bỏ đi, nông dân cũng tứ tán vì thiếu an ninh, ruộng bị bỏ hoang. Cảnh cũ còn lại là mấy ngôi nhà dài, lợp ngói, trước là kho lúa.

Khi ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, chăm lo cho dinh điền Cái Sắn, chưa kịp với tay qua phía đó thì ông đã bị giết mất rồi.

Phía bên phải con lộ nầy là dinh điền Cái Sắn. Dinh điền nằm dọc theo Liên tỉnh Lộ 8-A, kể từ xã Vĩnh Trinh thuộc quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên là dân địa phương, còn dinh điền, phần đông là người Bắc di cư, thì tính từ kinh H nguợc lại kinh A, rồi tiếp là kinh 1 tới kinh 5, khoảng mấy chục cây số là ruộng và kinh ngang. Kinh ngang là kinh nối từ kinh Long Xuyên - Rạch Giá với kinh Núi Sập, hai kinh chạy song song với nhau ra hướng biển. Kinh ngang dài 12Km, có nghĩa là dinh điền Cái Sắn bề ngang12Km, toàn là ruộng. Dân chúng ở đây giàu có, tôi sẽ kề về sau.

Bên kia kinh Núi Sập là đồng Huệ Đức, thuộc quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên. Đồng Huệ Đức là đồng chó ngáp, nhưng toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long nầy, so ra cũng chưa ăn thua gì với những cánh đồng thuộc lưu vực sông Mississippi của Mỹ. (1)

Nói tới việc so sánh chuyện nầy, tôi thấy buồn cười khi nhớ lại câu chuyện giữa tôi với Tư Sang, tôi đã kể trong một bài trước: “Chuyện tình con gái Tư Sang.” (2)

Tuy vậy, đồng Huệ Đức tuy rộng như thế nhưng cũng chưa canh tác hết vì tình hình an ninh không có. Ở xã Tân Hội, thuộc quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang, nhiều người nhờ làm ruộng ở đồng Huệ Đức mà giàu có như Bảy Quẹo, xã trưởng, tôi đã kể trong bài trước, Huỳnh Văn Vè (tự Mười Vè, nhà ở Rạch Giá), làm ruộng có tỉnh trưởng Kiên Giang hồi đó góp vốn (góp miệng mà thôi), đều có máy cày. Còn Võ Văn Minh, tự Út Giàu thì phải sắm GMC (loại của quân đội) để chở lúa từ trong đồng ra. Nếu hòa bình, yên ổn cho dân chúng làm ăn, việc làm ruộngở đây sẽ phát triển lắm!

Dọc theo Liên Tỉnh Lộ 8-A, đoạn từ Rạch Giá đi Hà Tiên, kể từ xã Mỹ Lâm là xã của Nguyễn Tấn Dũng, vô tới khu vực núi Trầu, Đông Hồ, thì một là vùng bị hoang hóa, nghĩa là trước 1945 đã làm ruộng nhưng vì chiến tranh, bị bỏ hoang, hoặc hai, là vùng chưa khai thác tới. Vùng ruộng của ông chủ Ri, thầy Ban cả ngàn mẫu, bị bỏ hoang đã mấy chục năm. Kể từ bờ biển tính ngược lên phía Bắc, tới sông Hậu, tôi ngồi trên máy bay Cessna của nhà máy ximăng Hà Tiên, bay ngang qua vùng nầy, nửa tiếng đồng hồ chưa hết vùng đất hoang. Nếu tính tốc độ Cessna, cũng tương tự như L-19, là 12Km/ giờ thì bề ngang vùng nầy không dưới 60Km. So ra cũng đúng với thực địa: Đoạn đường từ Ngã Ba Lộ Tẻ vô tới Rạch Giá, thẳng đuột, cũng dài 70km.
Như tôi có kể trong một bài trước, ông chủ Ri đưa bàn tay tuy gầy nhưng lớn của ông, chụp lên bản đồ, chỗ kinh Chủ Ri của ông ngày trước, nói: “Ruộng của tui là chỗ nầy nè!” Mấy tiếng “Chỗ nầy nè” tính ra là cả ngàn mẫu. Tiền truất hữu của ông như thế là “khẳm lắm”.

Chủ ruộng thì được tiền bồi thường truất hữu, còn nông dân thì được cấp cho cái bằng khoán, được chính quyền quốc gia xác nhận là ruộng “của mình.” Có ông chủ ruộng nào nhận tiên mà không vui. Có ông nông dân nào lãnh bằng khoán mà không sướng?!

Tuy nhiên, tôi phải kể lại đầu đuôi việc điền địa ở phía Nam.

Thời Ngô Đình Diệm tuy có chương trình “Cải Cách Điền Địa” nhưng không chú trọng lắm vào việc truất hữu. Một phần, ông Diệm chú tâm và bỏ tiền đầu tư cho các dinh điền và khu trù mật được thành lập nhiều nơi. Công việc nầy có ba tác dụng lớn: Một là ổn định việc định cư cho gần một triệu dân di cư từ ngoài vĩ tuyến 17 vào Nam. Thứ hai là phát triển nông nghiệp. Thứ ba, những địa điểm dinh điền hay khu trù mật đều có tính cach chiến lược, ngăn chận hoạt động, di chuyển và thành lập mật khu của Việt Cộng.

Vã lại, việc truất hữu, phải bồi thường cho điền chủ. Số tiền bồi thường đó lớn lắm. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa chưa vững mạnh, làm sao có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền. Phải có Mỹ viện trợ mới được. Tuy nhiên hồi đó, tôi không nghe có chương trình viện trợ Mỹ nầy, ngoại trừ Mỹ hỗ trợ cho việc thành lập các khu trù mât, dinh đièn và Nông Tín Cuộc (Cho nông dân vay tiền làm ruộng). Ở Long Xuyên, tôi nghe nói thời ông Ngô Đình Diệm, ông Thơ bị truất hữu nhiều ruộng lắm mà không được bồi thường. Ông “hy sinh” cho dân, chẳng khiếu nại chi cả,

Tôi không hiểu sao ông Nguyễn Văn Thiệu có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền để thực thi chương trình “Nguời Cày Có Ruộng” của ông.

Năm 1945, khi chiến tranh xảy ra, không ít chủ điền bị Việt minh giết, thủ tiêu, nên họ hè nhau chạy lên Saigon hay thành phố lớn lánh nạn. Ngay như chuyện ông Chủ Ri ở Vàm Rầy (xã Đức Phương chẳng hạn). Ông là người được dân địa phương kính trọng và mang ơn. Mấy năm “Thổ dậy”, tức là phong trào người Miên cầm chà gạc, gươm, dao tấn công vô các xóm người Việt “Cáp Duôn”. (Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt - tiếng Miên). Ông Chủ Ri, người vừa có máu Miên, máu Việt lại lai Tây Ban Nha, nhà ở Vàm Rầy, có cây súng săn. Hễ thấy người Miên ùn ùn kéo tới xóm người Việt, ông cầm cây súng săn, ra đứng giữa đường, chặn người Miên lại. Ai không nghe, ông chỉ cây súng lên trời, bắn một phát, người Miên sợ bỏ chạy cả. Nhờ vậy, tình hình đia phương yên ổn, ai nấy làm ăn bình thường. Năm “Nam Bộ Kháng Chiến”, người em út của ông, cũng có máu lai như ông, cầm súng đi theo Việt Minh chống Pháp. Vậy mà Việt Minh không để cho ông Chủ Ri ở yên. Ông phải đem vợ con chạy về Rạch Giá, theo Tây để khỏi bị Việt Minh giết. Cả ngàn mẫu ruộng của ông bỏ hoang từ hồi đó.

Khi mấy ông chủ điền bỏ chạy về thành phố, ruộng để lại, ai đem theo được! Nông dân cứ tiếp tục trồng lúa, ai có sức làm được bao nhiêu thì làm. Những vùng hơi yên, hoặc những năm tình hình hơi yên ổn, các ông chủ điền về thâu tô. Ai nghĩ tới tình nghĩa chủ cũ thì đóng, ai không đóng cũng thôi, làm gì được nông dân. Có người, như ông Chủ Ri, thầy Ban ở Vàm Rầy, coi như mất trắng. Ruộng bỏ hoang, chẳng ai làm.
Vậy rồi bây giờ bộ Canh Nông của ông Thiệu gọi chủ điền tới, hỏi có bao nhiêu ruộng khai ra, tính bao nhiêu mẫu để “bồi thường”. Mấy ông chủ điền coi như trúng số: một ít trả bằng chi phiếu, một ít trả bằng công khố phiếu. Trả bằng gì cũng được, có còn hơn không. Mỗi ông chủ điền, có ông lảnh vài triệu, có ông lảnh vài chục triệu, hí ha hí hững, không quên “trà nước chút đỉnh” cho mấy thầy làm giúp giấy tờ truất hữu cho. Trong số đó, dĩ nhiên có người tôi quen, nên “thành thật khai báo” cho tôi nghe chuyện “trà nước” nầy. Được nhiều ông chủ điền trà nước, gom lại, cũng đủ mua cái nhà lầu vài tầng như tôi được kể. Còn công khố phiếu, đâu có thành tiền được, dù tới 30 tháng Tư - 75 cũng vậy, coi như mất luôn.

Còn nông dân, ngày 10 tháng 3 năm 1970, ông Thiệu về tận Cần Thơ làm lễ cấp phát bằng khoán cho nông dân. Một số nông dân, trình diện trước tổng thống, vừa mừng vừa hồi hộp, vừa run, nhận cái bằng khoán từ tay ông tổng thống đưa cho, lại còn được tổng thống chúc mừng, sướng lên tới trời xanh. Sau đó, ông tổng thống còn đi một vòng xe đạp trong sân, biểu diễn một ông tổng thống bình dân cho nông dân xem, có tướng Nguyễn V. N. chạy theo vịn yên xe, sợ tổng thống bị té. Hoạt cảnh trông thật buồn cười!

Có bằng khoán, nông dân chẳng được cấp thêm ruộng đất gì cả. Nó chỉ là một tấm giấy in khá đẹp, vẽ rồng rắn, có tên ông nông dân trên đó, xác nhận miếng ruộng ông ta đang canh tác trên ấy là ruộng của ông ta, không ai được tranh giành gì cả, không phải đóng tô cho ai, dù trước đó, ông ta có đóng tô hay không đóng tô, chủ điền cũng đành chịu thua mà thôi.

Thế rồi sau 30 tháng Tư, “chính quyền Cách Mạng” bắt đem ruộng vô hợp tác xã hết. Ai không vô thì coi như “phản động”. Sợ đi “học tập cải tạo”, nông dân “hăng hái tham gia”, coi như mất tiêu đám ruộng đã từng được “Quốc gia” trao cho.

Từ ông nông dân không có ruộng cày, khố rách áo ôm, nhờ ông chủ điền cho tá canh, có được cơm ăn áo mặc; lại nhờ “Quốc Gia” trao cho cái bằng khoán, trở thành tiểu nông, có ít ruộng làm của. Bây giờ “Cách Mạng” vô rồi, cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ. Vậy cũng chưa ức lòng. Lại đến khi khoán sản phẩm, đổi mới, v.v… ruộng trả lại cho nông dân thì chính quyền đem ruộng tốt của ông A trả cho ông B vì ông B là người bà con, là người chịu trà nước. Ông A không có bà con gì với ông chủ tịch, ông bí thư, lại không trà nước chi cả thì được trả cho một đám ruộng xấu, ruộng phèn, cấy xuống cây lúa nào, cây lúa đó chết queo. Ức lòng thì ức lắm nhưng biết kêu ai bây giờ. Kêu Phật thì phật đã vô quốc doanh, kêu Chúa thì Việt Cộng bảo rằng chúa đã đi Guam hồi tháng tư – 1975; kêu Trời thì Việt Cộng nói xã hội chủ nghĩa vô thần, không có trời, chỉ có đảng mà thôi. Kêu tới đảng thì cũng… bằng không. Nông dân mất ruộng, biết kêu ai bây giờ.

hoànglonghải

(1) Mississippi với các phụ lưu là sông Missouri, sông Arkansas, sông Ohio, v.v… tạo thành bình nguyên Mississippi, rộng 3.225.000 Km2, trải qua 31 tiểu bang (trong số 48 tiểu bang của lục địa Mỹ). So ra, diện tích toàn cõi Việt Nam chỉ mới 312.000 Km2 với 25% đất đai trồng trọt được.
(2) Tư Sang nói:
- “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”
- “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.
- “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.
- “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân (3) ở ngoài hòn Ngang, hòn Nghệ. Rừng vàng là rừng Trà Tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.
- “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.” Tư Sang xác nhận.
Tôi cười to:
- “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng cần gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy gặt. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 14:10:42
Phần 27
Lại Nói Chuyện Làm Ruộng



Một hôm, tôi và thiếu úy Kiệt cùng đi thanh tra xã Tín Đạo, tên thường gọi là Tri Tôn (Rạch Giá). Trên đường về, ngang khúc Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và xã Đức Phương), chúng tôi thấy hơi ngại vì hai bên đường lau sậy mọc cao, rậm rạp. Việt Cộng dễ núp trong đó phục kích, bắn sẻ. Bây giờ đã cuối hè. Khu vực nầy chỉ trống vào mùa đông, cây cối hầu hết là loại cây thảo, chết cả. Tới mùa xuân, lau sậy lại lên xanh. Quá hè thì chúng mọc um tùm. Hơn thế nữa, kể từ năm 1974, Việt Cộng gia tăng hoạt động, giành dân lấn đất. Ở cửa kinh Lình Quỳnh, bỗng mọc lên một xóm mới, dân tứ chiếng tụ tập về đây, chẳng cần xin xỏ phép tắc ai cả. Ở cái xóm mới đó không thiếu đào binh, trốn quân dịch, bất hợp pháp. Vì ham lời cao, dân có ghe đi Rạch Giá mua hàng, đem về xóm rồi tiếp tế cho Việt Cộng ở đường giây 1-C, trên ranh giới hai tỉnh Long Xuyên - Kiên Giang. Thành ra, một đoạn gần Đồn Giữa, ngang chỗ cây ô-môi bên kia kinh Rạch Giá - Hà Tiên là con đường giao liên từ xóm cửa kinh Lình Quỳnh lên đường giây 1-C. Dân xóm vừa nói, chính quyền quốc gia không kiểm soát được, con đường giao liên nầy cũng không có đơn vị nào hành quân, phục kích ngăn chận. Sau hiệp định Paris 1973, tinh thần chiến đấu ở địa phương bỗng khựng lại, hoạt động quân sự cũng cầm chừng. Cái gì, điều gì không đừng được thì mới làm, còn như làm ngơ được thì cứ làm ngơ, cho qua. Nghĩ vậy mà tội nghiệp cho tướng Nam. Ông mới lên làm tư lệnh Quân Khu 4, đơn thương độc mã xông xáo chỗ nầy, chỗ kia, kiểm tra, chỉnh đốn. Ông đi nhiều, trên chiếc xe Jeep một tài xế, một tà-lọt với ông mà thôi, khiến tôi tình cờ gặp ông trên đường mà không ngờ ông tướng Vùng dám lang thang một mình như thế, như tôi có lần kể trước đây vậy.
Vừa lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi dặn chừng hai anh chàng tà-lọt ngồi phía sau, rán căng mắt canh chừng Việt Cộng, hễ thấy bóng chúng là nổ súng ngay, như trong phim cao bồi, “bắn chậm thì chết”. Thiếu úy Kiệt cũng thủ sẵn cây M-16, nòng chỉa ra ngoài, chực nhả đạn. Hai anh tà lọt phía sau, một anh thì xài carbin báng cụt tự chế, một anh thì “đại bác 40 ly cầm tay”, mắt lăm lăm nhìn hai bên đường.
Qua khỏi Đồn Giữa một đổi, tới xóm nhà dân, thấy trẻ con chạy chơi, có bóng người đi lại bình thường, tôi mới ra lệnh “xả trại”. Với thiếu úy Kiệt, tôi nói:

- “Nhiều khi nghĩ lại, mình thiệt dại. Chấp hành mệnh lệnh thượng cấp một cách nghiêm chỉnh là dại.”
Thiếu úy Kiệt nói:

- “Vậy tui với chỉ huy trưởng thì sao? Bộ ông ra lệnh mà tui thi hành không nghiêm chỉnh thì ông bằng lòng sao?”

- “Ậy! Ông với tui thì khác.” Tôi nói. “Ông với tui cùng một đơn vị, cùng một nơi, một chỗ. Thắng cùng thắng, bại cùng bại, chịu chung với nhau. Ý tôi là muốn nói tới mấy ông cấp trên ở tỉnh, ở khu, ở trung ương. Ngồi trong cao ốc, trong dinh thự, tường cao, cổng kín, cứ nhắm mắt ký tên ra lệnh mà họ chẳng biết mẹ gì tình hình thực tế ở địa phương cả. Hồi còn đi dạy, khi giảng về Chinh Phụ Ngâm, tôi nói với học trò rằng, vua chúa ở trong cung điện chẳng biết gì trơn, hễ cứ nghe có giặc thì ra lệnh bắt lính, đâu có biết cái khổ của dân ra làm sao: Vợ chồng chia ly, cha mẹ xa con, khốn khổ biết bao nhiêu! Ai đọc Thạch Hào Lại của Đỗ Phủ không thấy hay, nhưng quyền lợi thì mờ mắt, không thấy cái khổ của dân. Ông Đặng Trần Côn làm tri huyện, là người trực tiếp thi hành lệnh vua, trực tiếp thấy cảnh khốn khổ của người dân. Việc ấy làm ông cảm kích mà viết thành Chinh Phụ Ngâm. Đời bao giờ cũng vậy. Hai giai cấp, bị trị và cai trị, thằng cai trị ngồi trên đầu trên cổ dân, thằng bị trị bỏ luôn cả mạng sống mới yên. Mình bây giờ đi bắt lính cũng vậy thôi.

Thiếu úy Kiệt nói:

- “Bộ mình muốn đi lính à? Không đi thì sống sao yên?! Vậy thì mình là người bị trị hay cai trị?”

- “Mình là tay sai của bọn cai trị.” Tôi trả lời. “Vã lại, nếu Cộng Sản Bắc Việt không xâm lược miền Nam thì miền Nam đâu có tăng quân làm chi! “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Thất phu còn hữu trách. Mình lỡ ôm sách đi học, nhắm mắt làm ngơ được hay sao! Anh em tui, chẳng ai không đi lính. Có người tử trận”

Một lúc, tôi lại nói:

- “Nói chi xa, mới mấy hôm trước, nói chuyện với tôi, Phó Nghiêm bảo: “Luật pháp là do bọn thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi của chúng”. Tui ngạc nhiên đó. Ông ta học Quốc Gia Hành Chánh ra, công chức ngạch hạng A của chính quyền mà nói vậy thì thôi, hết ý kiến.”

Lại một lúc nữa, tôi nói:

- “Chẳng hạn như chuyện mình đuổi dân làm ruộng của cha Uyển hồi năm ngoái ở vùng nầy vậy. Vâng lệnh trên, mình đuổi dân thật dữ, dùng cả thủ đoạn, khiến người ta đi hết. Bây giờ, đi ngang qua đây, lại sợ Việt Cộng. Nếu dân còn ở đây làm nhà, làm ruộng, có phải mình yên tâm hơn không?” Tôi nói.

- “Cái đó thì đúng. Tui cũng kinh nghiệm vậy. Để dân chúng làm nhà hai bên đường, Việt Cộng về núp lén, mình biết ngay. Còn như lau sậy um sùm như vầy, biết Việt Cộng núp ở bụi nào mà đề phòng.” Thiếu úy Kiệt góp ý.

Vùng đất nầy, trong bản đồ ghi là “rừng cấm”. Có thấy rừng rú gì đâu?! Toàn là đất hoang, mầu mỡ. Nếu khai kinh, lấy nước ngọt vào thì đất nầy thành ruộng “nhất đẵng điền”. Thời Pháp thuộc, Tây thực dân dự trù lấy đất vùng nầy làm ruộng như ở Nam Thái Sơn hay bên Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt, Long Xuyên. Vì vậy, Tây mới khoanh khu vực nầy lại, gọi là “rừng cấm”. Từ xửa giờ, chẳng ai dám đụng tới “Rừng cấm”. Mùa hè năm 1973, linh mục Nguyễn Thượng Uyển ở kinh Sáu Rọc Bà Ke thuộc Cái Sắn, đưa dân Xóm Mới Saigon về đây làm ruộng. Tôi được lệnh ra ngăn cản đồng bào “chiếm đất” làm ruộng.

Đồng bào Xóm Mới về dựng mấy chục căn nhà - chòi thì đúng hơn - phát hoang, dự tính trồng cây, lập vườn, làm ruộng. Bấy giờ mới lòi ra việc ông tỉnh trưởng tự ý ký giấy cấp đất “rừng cấm” cho bà con. Đã là “rừng cấm” thì quyền hạn thuộc về trung ương, về bộ. Tỉnh trưởng ký là ký ẩu. Từ hồi ngưng bắn theo hiệp đinh Paris 73 tới giờ, mấy ông bà lớn ở Saigon về vùng chùa Hang, bãi Hòn Trẹm, hang Tiền giành đất riêng cho mình. Cuộc đất đẹp nhất là ở bãi Hòn Trẹm, bên sườn đồi, ngó xuống bãi biển hình vòng cung được bà thủ tướng chiếu cố. Phó Nghiêm - phó quận trưởng - làm giấy tờ, vẽ họa đồ đất đai cho bà thủ tướng xong, bảo tôi: “Ông lấy một chỗ đi. Tôi làm giấy tờ cho.” Tôi lắc đầu: “Tui ở xứ ngoài kia, lấy đất ở đây làm chi. Mai mốt yên lành, tôi hát “đường về quê” là xong.”

Vậy là tôi mất chỗ đất. Mất trước khỏi mất sau. Tới 75, ông to bà lớn nào dám ở lại Việt Nam mà giành đất với Việt Cộng!

Để dọa dân cho họ bỏ đi, tôi nói với mấy người dân Xóm Mới đang đứng quanh tôi:

- “Mấy bác thấy không. Xóm biển ngoài nầy (Tôi chỉ phía cuối kinh Lình Quỳnh) với cây ô môi bên kia, (Tôi quay lại chỉ cái cây cao bên kia kinh Rạch Giá - Hà Tiên) là đường giao liên của Việt Cộng. Mấy bác dựng xóm ở đây, cản ngay con đường giao liên của chúng nó. Bộ chúng nó để mấy bác yên sao? Đêm khuya tụi nó mò ra hốt hết. Mấy ông bị bắt ở Tà Keo đi không thấy về. Dân Bắc kỳ Di cư, bộ Việt Cộng nó thương lắm sao! Quốc gia bảo vệ cái gì được!”

Nghe vậy, dân Xóm Mới sợ Việt Cộng thiệt, mấy ngày sau bỏ đi hết. Đọc báo cáo của xã gởi lên, cho biết dân giành đất đã đi, lại còn kéo nhau về kinh Sáu Rọc Bà Ke đòi cha Uyển trả tiền lại, tôi gọi thiếu úy Kiệt báo cho biết và cười khoái chí. Bây giờ mới biết mình ngu.

Mỗi người dân Xóm Mới về kiếm đất làm ruộng ở Tà Keo hay Đồn Giữa, đều phải đóng cho cha Uyển mỗi người ba chục ngàn. Tôi không rõ là tiền gì. Tôi cũng không rõ cha đã nhận được bao nhiêu tiền như thế, nhưng khi biết cha bị dân đòi tiền lại, tôi cũng khoái, không phải vì cha thu tiền bất hợp pháp, nhưng bởi giữa cha với tôi có ân oán giang hồ, khi tôi còn làm việc ở Kiên Tân.

Hôm nhận sự vụ lệnh về làm việc ở Kiên Tân, đại tá LCV, “sư phụ” của tôi - (Nói cho thật thì ông cùng quê Quảng Trị với tôi, vã khi nghị sĩ HXT gọi điện thoại cho ông, gởi gắm tôi, ông lưu tâm tới trường hợp tôi rất tận tâm). - dặn tôi:

- “Kiên Tân hơi khó khăn! 27 ông cha, không có ông nào chịu ông nào. Ba giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, chống nhau cũng dữ. Chú đừng ham tiền, rán liệu mà làm việc cho khéo

Bàn giao xong, tôi đi thăm những ông cha nổi tiếng ở đó. Nói chung, ông nào cũng tốt bụng, niềm nở khi tôi tới thăm. Người ta đồn thổi thì nhiều, nhưng thật ra, không đến nỗi như thế. Điều đáng nói là mấy ông cha, tuy không nói ra, nhưng vài ông không chịu nhau. Những người tới ăn tiệc ở nhà thờ cha Lộc, sẽ không được niềm nở đón tiếp ở nhà thờ cha Uyển. Ngược lại, cũng vậy thôi.

Sau khi tôi đến thăm cha Lộc ở kinh 1, hôm sau cha ra thăm. Thấy tôi mới về, nhà chưa có bàn ghế gì, cha bảo đệ tử đem ra cho tôi một cái bàn tròn, tám cái ghế (Hai vợ chồng và 6 đứa con) lại cho mấy chai rượu lễ. Hôm tôi đến thăm cha Uyển, cha cũng cho hai chai rượu lễ cầm về. Tôi thấy cha Lộc chân thật hơn, dễ mến hơn nên thường vào ra thăm, thậm chí, chủ nhật, tôi đem cả vợ con vào thăm cha và cho các con chơi đùa trong khu vườn của nhà thờ, khá rộng và đẹp. Mục đích của tôi là để cho các con gần gủi với không khí tôn giáo. Phật Chúa gì cũng được, miễn là phải có tôn giáo, đừng lông bông, không có tôn giáo làm sao có đạo đức? Còn tôn giáo thì “dao nào cũng là dao cả”.

Dĩ nhiên, cha Uyển không bằng lòng với cách giao thiệp của tôi với cha Lộc như thế. Đến thăm ông, ông bắt ngồi chờ lâu mới tiếp, có khi tránh không tiếp, có tiếp thì cũng chuyện trò một cách lạt lẽo, lơ là, khiến tôi bị chạm tự ái!

Thế rồi tôi lại được lệnh điều tra vụ cha Uyển bị giáo dân của cha thưa ra tỉnh vì cha chiếm ruộng của họ.

Sự việc đầu đuôi như thế nầy: Ở kinh 6, cha cho xây dựng một “Đền Đức Mẹ” bên bờ kinh, ngay thuở ruộng của một giáo dân. Người nầy đồng ý với một điều kiện. Cha cấp cho ông ta một chỗ ruộng khác, bù vào chỗ đất ông bị cắt bớt để xây đền.

Ruộng ở đây được dinh điền chia theo kinh, mỗi thửa bề ngang 30 mét, ngó ra kinh, bề dài tính sâu vào 1Km, tính chung là 3 mẫu. Lấy cớ xây đền Đức Mẹ, cha bắt mỗi thửa cắt sâu vào 30 mét. Ba chục mét kéo dài tới 6 Km, sau khi chia mấy chục mét vuông trả cho người nhượng đất xây đền, còn lại bao nhiêu cha ôm cả, tính ra là mấy chục mẫu. Chủ ruộng, phần đông là con chiên của cha, không ai chịu. Vậy là họ hè nhau vác đơn đi thưa cha. Tôi được lệnh điều tra việc nầy, lấy lời khai tất cả những ai liên hệ, rồi trình ra tỉnh. Ai khai sao tôi ghi vậy. Căn cứ vào phúc trình của tôi, tỉnh trưởng, dù có muốn bênh vực cha, cũng không bênh được vì nếu bênh, nông dân sẽ tiếp tục thưa lên trên nữa. Kết quả, cha thua kiện, và tôi trở thành kẻ không được cha ưa, chưa rõ có ghét hay không!

Thật ra, tôi thấy cha Uyển là người có công lớn với dân dinh điền. Cha là người mở trường trung học đầu tiên ở đây, trước khi có trường công lập, trước cả trường trung học Thái Hòa là trường lớn nhứt, của giáo xứ dinh điền. Cha đã đào tạo nhiều thế hệ thanh niên, sau nầy cũng có người đổ đạt cao trong các ngành y tế, giáo dục, hành chánh… Trong quân đội, học trò cũ của cha đã lên tới sĩ quan cấp tá. Mặc dù cha mở trường tư, thâu học phí, nhưng tôi thấy điều đó là bình thường. Không lý vì đóng học phí mà không thấy công lao trong sự nghiệp giáo dục của cha ở địa phương. Có phải vì cha thấy mình có công lớn, nên trong nhiều trường hợp, cha đã đi quá xa. Cha lại nổi tiếng là người buôn cọc sắt - cọc sắt để giăng giây kẽm gai ở các đồn bót hay ấp chiến lược.

Sau nhiều năm làm ruộng cần cù, chăm chỉ, dân dinh điền lần hồi khá giả, bèn phá căn nhà tôn chính phủ cấp cho hồi dinh điền mới thành hình, xây nhà ngói, vách gạch. Nhà nào cũng đúc cột cho chắc chắn. Cột đúc bằng ximăng cọc sắt ấp chiến lược. Cha buôn cọc sắt đó bán lại cho dân chúng. Cọc sắt nầy từ bộ Chỉ huy 4 Tiếp vận tuồng ra, chở bằng xà lan, với “giấy đi đường” của cha Uyển như giấy đi đường chở xăng của cha Lộc vậy. Ai uống thuốc thuốc liều thì cứ nhào vô!

Tôi còn đụng với cha Uyển một vụ nữa, vụ nầy căng hơn.

Chợ kinh 8 chỉ là một cái chợ ấp (Ấp kinh 8) nhưng khá đông. Riêng về thịt heo, chợ có những ba sạp. Dân ở đây, phần đông ưa ăn thịt heo hơn thịt bò. Họ cũng khoái thịt trâu, nhưng bây giờ không có trâu để làm thịt. Năm 1957, 58, khi dinh điền mới thành lập, tổng thống Ngô Đình Diệm nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân làm sức kéo: kéo cày, kéo bừa, v.v... Khoái ăn thịt trâu, dân dinh điền có người lén đập cho trâu què chân để xin xẻ thịt.

Cha Uyển bảo xã Sa, xã trưởng Thạnh Đông, với trưởng ấp Kinh 8, - tôi không nhớ tên -, khi đấu thầu sạp thịt heo, dành cho một “con chiên đệ tử” của cha một sạp. Không hiểu mấy chả làm ăn lớ ngớ thế nào, “đệ tử ruột” của cha không trúng thầu. Người khác trúng, cũng là con chiên của cha, nhưng không phải là “đệ tử ruột”. Cha giận lắm, nhưng không làm gì được. Xã trưởng Sa là người địa phương, kính trọng cha nhưng khi cha hỏi việc thầu sạp thịt heo, y đổ tội cho trưởng ấp Kinh 8. Trưởng ấp kinh 8 cũng là người địa phương, không có đạo, không phải tín đồ của cha, lại bướng. Cha gọi anh ta vào nhà thờ hỏi chuyện, y bảo: “Bận dziệc, không có thì giờ.”

Bà “đệ tử ruột mất thầu” của cha mất ăn, nóng mặt, sáng chiều đi lễ nhà thờ ngang qua nhà anh Tống, - người trúng thầu -, cứ chưởi đổng: “Quân phản Chúa, chống cha”. Dần dà, anh Tống tức khí, chưởi lại. Bà “mất thầu” vào tỉ tê với cha, tam sao thất bổn, lại thêm thắt, khiến cha tức giận, gọi anh ta vào rầy. Anh nầy cũng thuộc loại bướng, “gần chùa gọi bụt bằng anh”, cải lại cha rồi bỏ về. Thế rồi “bà mất phần” càng chưởi tợn. Mỗi khi đi lễ ngang qua nhà, sáng chiều chưởi hai bận, chẳng lần nào quên “Chương trình phát thanh qua sông Bến Hải của Việt Cộng”. Một hôm, vợ anh Tống chưởi lại, bà “mất phần” lại vào tâu với cha, cha bèn cấm hai vợ chồng nầy đi lễ nhà thờ cha. Cấm thì hai vợ chồng anh chàng Tống nầy đi nhà thờ khác. Mỗi kinh một nhà thờ, thiếu gì nhà thờ để đi. Hai vợ chồng nầy cũng thuộc loại chơi thâm, thay vì đi nhà thờ cha Uyển, “anh chị” lại đi nhà thờ cha Lộc, “đối thủ” cha Uyển, khiến cha Uyển càng thêm “lộn ruột”.

Môt hôm, vợ anh Tống và bà “mất phần” chưởi tay đôi. Dân Bắc Kỳ chưởi lộn hay không kém bất cứ người Việt Nam nào ở xứ nào khác, có khi lại còn xuất sắc hơn. Ban đầu lời chưởi còn thanh tao, sau thanh thành tục. Bao nhiêu cái dơ dáy trong cơ thể con người đều được đem ra đổ lên đầu đối thủ. Sơ bộ thì chỉ hai đối thủ trao qua đổi lại, sau đó đem “biếu” cho cha. Chị vợ anh Tống chưởi thẳng vào mặt “bà mất phần”: “Mày vào bảo cha Uyển ra đây mà ăn cái n. tao.” - Chị Tống còn nói ngọng giữa vần L và N.

Ban đầu cha Uyển đúng ngoài cuộc “khẩu chiến”. Tới đây, dù muốn dù không, cha phải nhập cuộc. Cuộc “khẩu chiến ăn cái n. tao” xảy ra sáng chủ nhật, cha Uyển được báo cáo cấp kỳ nội dung trận địa. Thế là, chiều hôm đó cha ra lệnh cho đám trẻ “Hùng Tâm Dũng Chí” của cha, mỗi đứa hãy hùng dũng lấy năm bảy cục gạch, cục đá kéo nhau phố chợ ném vào nhà anh chàng Tống. Trước sức tấn công dữ dội của đám trẻ ham vui, nghịch ngợm, ưa chuyện đánh đấm, vợ chồng anh chàng Tống trốn lui sau bếp.

Tôi cùng vợ và các con đang ăn cháo lòng ở Kinh B thì được truyền tin gọi, báo cáo sự việc, cùng với lệnh ông quận trưởng Huỳnh Đầm S. bảo tôi xuống giữ gìn an ninh trật tự. Tôi vội vàng về nhà thay áo quần, kêu tài xế, đệ tử, cùng thượng sĩ Phạm Văn Thanh, trưởng ban tư pháp, xuống kinh 8.

Tôi bảo thượng sĩ Thanh ra ngay nhà anh chàng Tống, tìm cách bảo vệ cho vợ chồng anh ta. Tôi vào nhà thờ gặp cha Uyển. Bình thường cha Uyển đã lạt lẽo với tôi, huống chi bây giờ cha đang trên đà chiến thắng. Hỏi chuyện cha, cha nói cha không biết gì về việc mấy đứa trẻ Hùng Tâm Dũng Chí của cha ném đá nhà anh Tống. Cha bảo: “Vợ chồng chúng nó là đứa “Phản Chúa chống cha” nên chúng nó trừng trị vợ chồng thằng Tống là đúng lắm. Cha đâu sai khiến gì chúng nó.”

Tôi nói:

- “Nếu cha bảo cha không liên hệ gì việc ném đá, tui sẽ bắt thằng nào cầm đầu để đưa ra tòa. Chúng nó không được phép làm như vậy.”

Nói xong, tôi chào cha đi ra chỗ nhà anh Tống. Tôi nói với thượng sĩ Thanh, nửa thật nửa đùa:

- Bây giờ phải đưa vợ chồng “Người ruồi gây máu lửa” nầy ra khỏi kinh 8 đã. Gọi thiếu úy Vây, - Thiếu úy Phạm Văn Vây, trưởng cuộc Cảnh Sát Thạnh Đông - cho người xuống canh chừng xóm nầy, giữ nhà cho vợ chồng thằng cha nầy.”

Thượng sĩ Thanh hỏi:

- “Mình bắt hai vợ chồng nầy?”

- “Ậy! Để chúng nó thưa cho hay sao? Vợ chồng nó tội gì? Đã không có tội, lại nạn nhân của cha Uyển, Mình giam chúng, không chừng biện lý lại bắt giam mình vì làm bậy.”

Thượng sĩ Thanh lại hỏi:

- “Đem về bộ chỉ huy, để họ ở đâu?”

- “Chỉ cần đem ra khỏi đây! Mai biểu họ ra ban tư pháp của anh. Nếu họ muốn thưa cha Uyển thì họ cứ thưa.” Xong, tôi dặn riêng thượng sĩ Thanh: “Anh biểu hai vợ chồng nó làm đơn thưa. Dựa vào đó, mình đánh tỉa dần dần, trước là lập biên bản đưa ra tòa bọn đứng đầu ném đá; sau căn cứ lời chúng nó khai, đưa cha ra tòa luôn.”

Thượng sĩ Thanh cười:

- “Làm vậy, coi chừng nổ lớn. Trước giờ ở đây, bất mãn mấy ông cha thì nhiều lắm, nhưng chưa ai đưa ông cha nào ra tòa cả.”

- “Tùy cơ ứng biến. Nguyên tắc là mình phải bảo vệ luật pháp. Không ai được làm điều gì ngoài luật pháp.”

Không ngờ cha Uyển “cao tay” hơn tôi. Vì câu tôi nói “bắt thằng nào cầm đầu đưa ra tòa” nên khi thượng sĩ Thanh chưa kịp đưa “vợ chồng anh chàng nhiễu sự” ra khỏi nhà thì đám Hùng Tâm Dũng Chí kéo nhau ra bao vây xe tôi lại. Lúc đó xe tôi đang đậu ngay trước nhà vợ chồng anh Tống.

Trẻ con thì bao vây xe, cười nói. Người lớn thì xúm lại xem, la lối, bàn tán, còn hơn cái chợ. Lúc đó, tôi thì chỉ có mình, tài xế, một anh chàng tà lọt, và thượng sĩ Thanh. Tôi còn nhớ một bà già nói:

“Cảnh sát ăn tiền thằng Tống nên bây giờ tới bênh nó.”

Tôi giận lắm nhưng dặn bụng: “Nhu thắng cương. Đ.m. Để đó rồi biết.”

Tôi bỏ xe đi ra phía lộ, chỗ đó vắng. Trưởng ấp kinh 8 lúc đó chuẩn bị đưa Nhân Dân Tự Vệ đi gác đêm, tới nói với tôi.

- “Ông thầy để tui dộng cho tụi nó một quả lựu đạn cho thấy mẹ chúng nó luôn!”

Tôi vội cản:

- “Đừng, đừng. Ông làm vậy không nên. Có người chết, có máu chảy là to chuyện lắm. Để đó, từ từ tôi giải quyết.”

Nửa giờ đồng hồ trôi qua, đám đông trẻ con vẫn bao vây xe tôi. Người càng lúc càng đông, nhất là khi giờ đi lễ tan. Không rõ trong khi giảng ở nhà thờ, cha Uyển có xúi giáo dân ra hợp lực với đám Hùng Tâm Dũng Chí bao vây xe tôi hay không!

Thượng sĩ Thanh tìm tôi, hỏi:

- “Bây giờ làm sao ông?”

Tôi nói:

- “Kệ họ, riết rồi họ cũng phải về ngủ chớ. Ai lì thì hơn!”

- “Không được đâu! Có đứa thừa thắng, xông vào nhà tìm anh Tống. Sợ chúng nó xuống bếp, gặp vợ chồng anh ta, chúng nó hành hung.”

- “Được rồi.” Tôi nói. “Anh dặn chứng thằng Khoái – (tài xế), coi đứa nào phá xe, mai tôi bắt về đòi bồi thường. (Tôi mới được cấp một chiếc Inter. Mark 2, mới toanh). Anh vô gặp cha Uyển, nhờ cha ra gọi bọn Hùng Tam Dũng Chí về.”

Một chốc, cha Uyển ra chỗ xe tôi đang bị vây. Tôi biểu tài xế lấy một cái két bia bằng gỗ, để cha Uyển đứng lên đó, biểu con chiên của cha giải tán. Mọi người giản ra. Lợi dụng tình hình đó, tôi biểu thượng Thanh đưa vợ chòng anh chàng Tống lên xe, chạy ra quốc lộ, trong khi đó, tôi vẫn còn đứng nói chuyện với cha Uyển để cầm chân ông. Trước mắt tôi, cha Uyển không thể ra lệnh đám Hùng Tâm Dũng Chí bao vây xe tôi lại được, nên xe mới thoát đi.

Khi xe ra tới lộ rồi, tôi gọi máy truyền tin ra lệnh cho tài xế Khoái lái xe về thẳng bộ chỉ huy. Tôi lội bộ về sau. Tôi vội vàng chào cha Uyển, ra về. Đây là điều bất ngờ đối với ông. Cha cứ tưởng xe phải chờ tôi để đưa tôi về, không ngờ tôi cho xe thoát đi trước, cha mất “con mồi”. Không lý cha dám biểu giáo dân và Hùng Tâm Dũng Chí bao vây tôi lại? Ra tới lộ, tôi với trung sĩ Tâm, tà-lọt, cuốc bộ về nhà. Được một lúc thì tài xế Khoái lái xe đến đón, sau khi đã đưa thượng sĩ Thanh và hai vợ chồng anh chàng Tống về tới nơi.

Sáng hôm sau, tôi phản công.

Sau khi đọc đơn thưa của anh chàng Tống và lời khai của anh ta. (Theo nguyên tắc phải chấp cung nguyên đơn trước), tôi căn cứ vào đó để làm “giấy mời”. Trước hết là hai tay “đầu sỏ” Hùng Tâm Dũng Chí, chỉ huy đám ném đá nhà anh chàng Tống. Khoảng trưa, thiếu úy Vây đến gặp tôi báo cáo:

- “Hai thằng chỉ huy trưởng biểu mời là hai thằng trốn quân dịch, làm sao chúng nó dám đến?”

- “Hai thằng nầy làm nghề gì?” Tôi hỏi.

- “Dạy ở trường cha Uyển.” Thiếu úy Vây trả lời.

Tôi cười nói:

- “Sao anh biết rõ tình trạng chúng nó mà anh không bắt?”

“Đụng mấy ông cha, phiền lắm!” Thiếu úy Vây trả lời. Một lúc thiếu úy Vây nói tiếp: “Nhiều cha mở trường dạy học trong kinh, giáo viên, giáo sư phần đông trốn quân dịch. mỗi trường mỗi ổ.”

Tôi nói với thiếu úy Vây, nghiêm trang:

- “Bây giờ tôi ra lệnh cho anh hành quân cảnh sát, tìm bắt hai thằng nầy, ở nhà nó, ở nhà bà con nó hay ngay cả tại trường cha Uyển. Phải lấy rõ lời khai là chúng nó đang dạy học tại trường cha Uyển đê tôi truy tố cha về tội “Tán trợ bất phục tòng”. Nếu cần, anh biểu thượng sĩ Vũ - (Trưởng ban hành quân) làm lệnh, tôi ký. Tôi chịu trách nhiệm, anh chỉ là người thi hành.”

Sau đó, tôi nói với thượng sĩ Khiết, phó ban tư pháp:

- “Thiếu úy Vây mới ra trường, chưa có kinh nghiệm, anh phụ với thiếu úy Vây, làm sao lấy lời khai hai thằng dạy học bất hợp pháp ở trường cha Uyển.” Một lúc, tôi giải thích thêm:

- “Không có lời khai của nó, không truy tố cha Uyển được.”

Thượng sĩ Khiết - Hoàng Văn Khiết có bà con với vợ anh chàng Tống, nên tích cực đứng về phe tôi khi tôi phản công.

Hai anh huyh trưởng Hùng Tâm Dũng Chí bị thiếu úy Vây tóm cổ, dẫn về. Xem lời khai xong, chắc bụng, tôi vội cho giải ra tiểu khu ngay. Rút kinh nghiệm, đề phòng. Những người bị bắt, bất cứ tội gì, kể cả đào binh, trốn quân dịch hay tội hình sự, đều được một số các cha xin giúp đỡ. Có khi các cha ở trong kinh chỉ viết giấy cho người cầm ra, có khi các cha đích thân ra gặp tôi. Giải tội nhân đi rồi, vuột khỏi tầm tay, các cha có can thiệp, xin xỏ, thì tôi có cớ tránh né được.

Về việc hai anh chàng Hùng Tâm Dũng Chí nầy, tôi không thấy cha Uyển can thiệp! Cha biết tôi phản công, trả thù vụ tôi bị bao vây tối qua hay cha chột dạ vì cha cho hai tên trốn quân dịch dạy học, cha biết như thế là phạm luật.

Sau đó là phiên các bà bị mời. Các ông không ai dính líu vô vụ nầy cả. Trước hết là “bà mất phần” rồi tới các bà đệ tử ruột cha Uyển. Mấy bà già Bắc kỳ nầy không ngán chuyện ra cò bót, nhưng vốn “thông minh nhiều chuyện” nên bà nọ khai ra bà kia, cả chục bà bị gọi lấy lời khai. Vốn nhà quê và thật thà, các bà khai hết những gì các bà nghe, biết, dám Hùng Tâm Dũng Chí nhận lệnh từ cha Uyển như thế nào. Có bà có con ném đá nhà anh chàng Tống, sợ con bị tội, mấy bà khai ra “Cha Uyển bảo chúng nó đấy, chúng nó phải vâng nời”.

Ban tư pháp tập trung lấy lời khai mấy bà cho xong, để đúc kết đưa nội vụ ra tòa. Trong cung cách của mấy ông cảnh sát nhà ta, thường tỏ ra nghiêm khắc, khó dễ với những đối tượng mà họ không ưa. Tôi nghe thượng sĩ Khiết nạt to một bà:

- “Bà không được phép ngồi như thế. Bỏ chân xuống!”

Bà ta ngồi kiểu mấy bà già nhà quê: Ngồi ghế đẩu một chân thòng xuống đất, một chân lên ghế. Bà ta bỏ chân xuống nhưng nguýt dài thượng sĩ Khiết một cái, thiếu đường đứt con mắt. Thật ra, theo thượng sĩ Khiết, bà nầy là “đối tượng xấu”. Từ khi lấy cung tới giờ, anh ta “nghiêm khắc” với bà ta nhiều lần. Có lẽ bà ta cũng không chịu thua.

Hôm sau, tôi nhân một tấm card của cha Uyển. Tấm card to bằng nửa trang giấy tập, như sau:

Bên góc trái (chữ in):
Linh mục Nguyễn Thượng Uyển,
Chánh xứ kinh Tám.
Hiệu trưởng trường Trung Học kinh Sáu.

Ở giữa, cha viết tay:

Gởi ông chỉ huy trưởng,
Yêu cầu ông đổi cảnh sát Khiết đi nơi khác.

Ký tên: Nguyễn Thượng Uyển

Cầm tấm card, đưa cho thiếu úy Rớt, chỉ huy phó, tôi nói:

- "Thiệt mấy ông cha nầy tưởng họ là ông gì đây. Tự nhiên ra lệnh cho cơ quan chính quyền thuyên chuyển nhân viên. Kỳ không?

Đọc xong tấm card, thiếu úy Rớt nói:

- “Tui dân Rạch Giá, kinh nghiệm việc nầy hơn ông. Họ yêu cầu mà mình không làm là mệt đó!”

Tôi cải:

- “Làm sao được! Thuyên chuyển nhân viên phải có lý do chớ! Đưa người ta đi bậy, người ta thưa ngược lại được đấy. Trước hết là mình phải bênh vực nhân viên mình đã.”

Thiếu úy Rớt góp ý:

- “Ông không thuyên chuyển đi, mấy ông cha nầy thưa lên trên nữa, thưa tới cả bộ tư lệnh. Ở trên đó, nghe thưa là thuyên chuyển mình đi trước để trấn an dư luận cái đã. Điều tra sau. Tới đó thì “Chờ má, má đã sưng.” Không ai dám bênh vực mình, mình thua trăm phần trăm.”]

- “Tôi làm như vầy.” Tôi nói với thiếu úy Rớt: “Tôi giao tấm card nầy cho ban An Ninh Cảnh Lực, ra lệnh cho thượng sĩ Chi (trưởng ban) điều tra xem thử thượng sĩ Khiết có lỗi gì. Nếu có lỗi, tôi thuyên chuyển, nếu ông Chi trình là không có lỗi chi hết, tôi cất hồ sơ. Mai mốt trung ương hay giám sát viện có điều tra, tôi lôi hồ sơ đó ra cho họ xem. Thế là xong.”

Thiếu úy Rớt đồng ý.

Tuy nhiên, tôi dặn thượng sĩ Chi:

- “Điều tra vụ nầy, ông đừng mời cha Uyển tới đây làm gì! Tôi đang chặt tay chặt chân của ổng. Anh xuống gặp ông, hỏi ông khiếu nại thượng sĩ Khiết việc gì, ghi cho rõ, để làm bằng chứng về sau.

Hôm đó, thượng sĩ Chi đi gặp cha Uyển về, cười cười nói với tôi:

- “Ông hơi ngán rồi. Hỏi thưa chuyện gì, ông nói không thưa gì nữa cả. Bảo tôi cho qua đi.”

- "Ba hồi thưa, ba hồi không. Này, ông có lấy lời khai của cha không? Không có lờì bãi nại, mai mốt lại thưa tại sao không giải quyết việc ông ta thưa. Mệt lắm.”

- “Xong rồi, tôi thủ hồ sơ xong rồi. Ông đọc xong, tôi cất để đề phòng như ông dặn.”

Người cuối cùng được mời là cha Uyển. Tôi đích thân ra tận cổng đón ông vào khi nghe báo cáo ông đến. Tôi mời vào văn phòng tôi. Tôi hỏi chuyện, cha Uyển trả lời. Thượng sĩ Thanh ngồi ghi bên cạnh, được trang nào cho đánh máy trang đó. Kết thúc buổi nói chuyện, thượng sĩ Thanh chìa bàn đánh máy xin cha ký tên. Ông hơi ngần ngại nhưng rồi cũng ký. Cha ra về là tôi đúc kết hồ sơ nội vụ trình tòa.

Tuần sau, nhận lệnh tòa, cha Uyển đến tôi yêu cầu hủy bỏ vụ nầy đi. Tôi nói: “Thật ra, tôi muốn giàn xếp ngay từ đầu. Cha gọi vợ chồng ông Tống tới, phân giải hơn thiệt, phải trái là xong. Nhưng tôi không thấy cha nói gì. Có lẽ cha đang giận họ. Tôi không để nội vụ lâu được, đành phải trình tòa. Việc bây giờ là của tòa án, tôi không làm gì được.”

Cha Uyển nói gần như trách: “Tôi không có gì sai, nhưng một linh mục bị đưa ra tòa là có hại cho uy tín của một ông cha. Cha bề trên cũng không muốn. Anh có biết vậy không?”

Tôi nghĩ thầm trong lòng: Biết chớ. Biết quá, nhưng tôi cũng có tự ái khi bị cha cho Hùng Tâm Dũng Chí ra bao vây xe, làm nhục tôi vậy.

Chuyện tưởng vậy là đã qua, không ngờ lại gặp cha Uyển một lần nữa, tại chỗ giành đất gần Đồn Giữa. Cha lại thua tôi một keo nữa.

Nhưng thật ra, nghĩ cho kỹ, tôi là kẻ dại, mới là người thua. Nếu tôi giúp cha cho dân Xóm Mới lập ấp, lập vườn, làm ruộng ở đây, có phải là tôi sẽ bớt sợ khi lái xe qua đoạn đường nầy với thiếu úy Kiệt và tà lọt như tôi kể ở đầu bài hay không?! Trần Tế Xương bảo: “Khôn nơi cờ bạc là khôn dại”. Đời nầy, nói cho đúng là một cuộc cờ. Tôi là kẻ khôn mà chính thật là kẻ dại.

Nói như thế là tôi nói thật. Câu chuyện về mối sợ Việt Cộng phục kích từ đó đến giờ vẫn ám ảnh tôi, nhất là mấy năm trong trại tù cải tạo. Ở đời, đúng hay sai, phải hay trái chỉ có ý nghĩa tương đối. Pascal nói: “Bên nầy Pyrénée là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Tôi thường nói câu nầy với bạn tù để phản bác luận điệu Việt Cộng. Việt Cộng rất cực đoan, cái gì họ tin thưởng, theo đuổi như chủ nghĩa Cộng Sản chẳng hạn, thì họ cho rằng đó là chân lý, là đúng.

Tôi không nghĩ rằng những việc cha Uyển làm là đúng, việc tôi làm là sai. Nhưng suy cho cùng, trong thâm tâm, ngoài cái chân lý, lẽ phải mà mình bênh vực, không có một chút nào đố kỵ, ghét bỏ và định kiến hay sao? Nếu thế thì cái đúng, cái sai trở thành tương đối mất rồi, là hai bên dãy núi Pyréneé như Pascal nói mất rồi.

Ít lâu sau vụ cha Uyển xảy ra, tôi đi họp ở tỉnh và được cho biết vùng “rừng cấm” ở xã Tín Đạo, xã Đức Phương sẽ làm nơi cho đồng bào Quảng Trị - quê hương tôi - chạy nạn từ 1972 vào định cư, lập nghiệp. Chính quyền đang qui hoạch những khu vực làm trường học, chợ búa, nhà thờ, chùa, v.v… Được tin đó, tôi vui lắm! Tôi bàn với vợ tôi hãy chuẩn bị tham gia những công việc xã hội để giúp đỡ đồng hương mới vào.

Việc đưa đồng bào Quảng Trị vào định cư ở Miền Tây Nam Bộ từng là đề nghị của Quốc Vụ Khanh Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến sau khi vùng quận Trung Lương (dọc theo bờ nam vĩ tuyến 17) bị bạch hóa để thiết lập hàng rào điện tử Mc Namara hồi năm 1965.

Đề nghị hồi ấy của phủ quốc Vụ Khanh bị mấy ông Nam Kỳ Quốc chống đối kịch liệt. Họ không đồng ý cho đồng bào Quảng Trị vào lập nghiệp ở đây với lý do “Đất miền Nam của người miền Nam.” Khi phủ QVK phản bác, đất ấy còn trống thì được mấy ông Nam Kỳ Quốc trả lời rằng bây giờ còn trống nhưng sau nầy con cháu người miền Nam lớn lên mới có đất cày. Do đó, đồng bào quận Trung Lương, thay vì được định cư ở miền Tây thì lại được định cư ở Cam Lộ, Cam Ranh và Bình Giã.

Tôi không về Saigon nên không được biết rõ tại sao mấy ông Nam Kỳ Quốc bây giờ không chống đối như trước kia nữa. Có phải vì chính sách “Người Cày Có Ruông” của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay chương trình định cư mới nầy được thiết lập do phó thủ tướng Phan quang Đán, đặc trách chương trình “Khẩn hoang Lập Ấp.” Người ta ngán ai mà không chống đối nữa? Không chắc họ ngán tổng thống hay phó thủ tướng mà ngán vì các chương trình nầy được Mỹ hỗ trợ tích cực chăng?

Dù gì, nếu đồng bào quê hương tôi vào đây, tôi vui hơn, yên tâm hơn, không còn sợ Việt Cọng khi đi ngang những vùng lau sậy um tùm như thế nầy.

Công việc định cư mới ấy, chưa hình thành thì miền Nam “sâp tiệm” – “Sập tiệm” là tiếng lóng, anh em tù cải tạo chúng tôi thường gọi đùa mỗi khi nói tới việc miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng Tư 1975.

2008-06-10 17:23:01

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 14:21:13
Phần 28
Dinh Điền, Khu Trù Mật của tổng thống Ngô Đình Diệm, Trại Ruộng của ông Đoàn Minh Huyên



Từ Côn Đảo về, được tha sau vụ đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, ông Hồ Hữu Tường viết một loạt bài đăng trên báo Bách Khoa của ông Huỳnh Văn Lang, nhan đề là “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử hình”. Loạt bài nầy sau được in thành sách, lại nhan đề là “Minh Đạo”. May mắn tôi đã đọc loạt bài ấy khi đang đăng nhiều kỳ trên Bách Khoa. Khi nó được in thành sách, tôi lại mua và đọc một lần nữa. Tôi nghĩ rằng điều ông Hồ Hữu Tường gọi là “trầm tư” quả thật là những tư tưởng mới mẻ, sáng suốt, và là con đường phát triển Nông-Công nghiệp của nước ta, làm cho đất nước phát triển và giàu mạnh. Những nước nông nghiệp ở Đông Nam Á, trong đó có cả Việt Nam, muốn cho đất phát triển thì con đường “Minh Đạo” còn con đường hữu hiệu và đạt kết quả nhanh chóng.

Hồi bấy giờ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa mới sụp đổ, trong cái nhìn chung và hời hợt của nhiều người không thiếu định kiến xấu về chế độ đó, nên những chương trình như “Ấp Chiến Lược”, “Dinh Điền”, “Khu Trù Mật”, khu Kỹ Nghệ Biên Hòa…, bất cứ cái gì ông Ngô Đình Diệm xây dựng được đều không… tốt; trong khi những chính phủ mới, không có chính phủ nào tồn tại được lâu vì những cuộc đảo chính, “biểu dương lực lượng” liên tiếp xảy ra. Chính phủ tồn tại không lâu thì không có chương trình, kế hoạch nào lớn, lâu dài được đem ra áp dụng. Hơn thế nữa, các nhà lãnh đạo đất nước hồi ấy cũng chẳng có chương trình gì cả. Ngay cả ông Nguyễn Ngọc Thơ, khi được Dương Văn Minh mời làm thủ tướng Chính Phủ Cách Mạng. Trong một cuộc họp báo, báo chí hỏi chương trình cách mạng của chính phủ ông là gì, ông Nguyễn Ngọc Thơ chỉ vào bụng ông, nói: “Chương trình cách mạng ở đây.” Có lẽ ông muốn nói tới câu của người xưa: “Binh giáp tàng hung trung”.

Thế rồi tôi cũng lăn lóc theo dòng đời, mãi đến năm 1972, khi tôi về Cái Sắn, nhìn quang cảnh dinh điền nầy, thấy đời sống dân chúng sung túc, giàu có, ngoài mặt thì tôi hỏi đùa bà con nông dân “Sao? Còn muốn lấp sông Bến Hải, trở về đất Bắc nữa không?” Dĩ nhiên ai cũng cười và lắc đầu. Nhưng điều tôi lấy làm ngạc nhiên là tại sao Dinh Điền Cái Sắn nầy được thực hiện y như trong “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử Hình” của Hồ Hữu Tường. Cái ý niệm về việc thiết lập những khu dinh điền, khu trù mật như thế nầy, ông Ngô Đình Diệm (và kể cả ông Nhu) được gợi ý từ đâu, trong sách vở nào. Có phải khi nằm ở Côn Đảo ông Hồ Hữu Tường mới có cái “trầm tư” nầy hay ông đã có từ trước khi ông bị tù. Có thể nào anh em ông Diệm đã biết được cái tư tưởng của Hồ Hữu Tường từ trước, hay hai anh em ông tìm tòi trong những sách vở khác và “Những tư tưởng lớn gặp nhau”? Tại sao việc hình thành dinh điền, khu trù mật lại giống như việc thực hiện tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường. Cho đến giờ, tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời cho sự trùng hợp nầy.

Tuy nhiên, trong tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường, việc hình thành các khu kinh tế chỉ nhắm vào mục đích phát triển kinh tế Công-Nông nghiệp là chính, trong chương trình dinh điền của anh em ông Diệm, nó còn có vai trò chiến lược quân sự. Do đó, khi Cộng Sản miền Nam càng lúc càng mạnh thì dinh điền, khu trù mật là những mục tiêu đánh phá của chúng. Việc đánh phá đó có mục tiêu chiến lược hơn là chiến thuật.

Cứ nhìn những vị trí Dinh Điền, khu Trù Mật, hay khu định cư của người Miền Bắc di cư, người ta có thể thấy vị trí chiến lược của những khu ấy. Ví dụ: Khu định cư Xóm Mới là nút chặn quân Cộng Sản từ An Phú Đông vào Saigon. Hồi chiến tranh chống Pháp (1945-54), từ An Phú Đông, qua ngã Xóm Mới, du kích Việt Minh xâm nhập tới Phú Nhuận. Anh rể tôi, dân Saigon chính cống, trước 1954 còn đi học và… đá banh, kể lại có lần Việt Minh ám sát người quốc gia ngay tại một sân đá bóng nhỏ ở Phú Nhuận. Giết người xong, bọn chúng rút lui theo ngã Xóm Mới về An Phú Đông. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, La Ngà, Định Quán là nơi Việt Minh thường phục kích binh lính Pháp và Quân Đội Quốc Gia. Nhờ khu định cư Giốc Mơ, Gia Kiệm, Định Quán, La Ngà,… trong cuộc chiến tranh chống Cộng Sản Bắc Việt xâm luợc, quân Cộng Sản không thực hiện những việc chúng đã làm như trong cuộc chiến tranh trước.

Trên chỉ là một vài ví dụ. Quí độc giả có thể tìm hiểu thêm qua vị trí những khu Trù Mật, khu định cư khác như khu Bắc Đậu ở Gia Nghĩa, (Đắc-Nông), Bảo Lộc, Bình Giả ở Phước Tuy, ở Hậu Nghĩa, ở Tây Ninh, v.v…

Trở lại việc tìm hiểu vị trí của Dinh Điền Cái Sắn, như tôi đã trình bày trước, trong chiến tranh chống Pháp, quân đội Việt Minh di chuyển một cách dễ dàng từ Kampuchia qua mật khu Trà Tiên, theo kinh Kháng Chiến về Cái Sắn, rồi vượt LTL 8A mà đi về U-Minh hoặc di chuyển ngược lại.

Việc thành lập khu Dinh Điền Cái Sắn như một cái rào cản vững chắc, kín, một “con muỗi Cộng Sản” cũng không lọt qua, nói chi tới những toán quân đông đảo, vũ khí kềnh càng. Toàn bộ điểm vượt tuyến dài hơn 50 Km trên LTL 8A chỉ còn một nút thắt họng tại ấp hòa Bình, xã Mông Thọ, thường gọi là Cây Số 15. Quân Cộng Sản cố sống cố chết vượt qua cái nút thắt họng nầy như tôi đã trình bày ở các bài trước.

Trước 1958, năm khu Đinh Điền được thành lập, vùng nầy được người dân địa phương gọi là “Vùng Nước Nổi”, có nghĩa là khi tới mùa nước sông Hậu lên cao thì toàn bộ đất đai bị ngập nước, mênh mông những nước là nước. Chỉ những nhà cửa dân cư dọc theo hai bên LTL 8A mới không bị ngập vì người dân đắp nền cao. Ngay cả LTL 8A nhiều năm nước lên cao hơn bình thường, vẫn bị ngập, xe cộ không lưu thông được.

Trước khi thành lập khu dinh điền, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hồi ấy đã cho đào những “kinh ngang” (như bậc ngang của một cái thang, nối liền hai kinh lớn, nằm dọc là kinh Cái Sắn (Từ Hậu Giang vào tới thị xã Rạch Giá) và Kinh Núi Sập, nối từ Hậu Giang với kinh Rạch Giá Hà Tiên rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Những kinh ngang nầy cách nhau 2Km, được đặt tên theo vần chữ cái A, B, C…. và theo số 1, 2, 3, 4… Từ kinh B, - ranh giới hai tỉnh Long Xuyên và Kiên Giang, trở về hướng Rạch Giá (thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang) có kinh A, kinh 1, 2, 3, 4… Từ kinh B trở ra hướng Long Xuyên thì có kinh C, D, E, F, G, H. Nói chung, khu dinh Điền Cái Sắn kéo dài từ xã Vĩnh Trinh, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, gần “Ngã Ba Lộ Tẻ”, tức là chỗ bắt đầu LTL 8A, LTL 9 (đi Châu Đốc), LTL 27 (đi Cần Thơ), kéo dài tới xã Mông Thọ ở phía bắc thị xã Rạch Giá. Chiều dài dinh điền Cái Sắn, kể dọc theo LTL 8A là khoảng 70Km. Bề ngang từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn là 12Km. Kinh Núi Sập và kinh Cái Sắn được đào từ thời kỳ Pháp đô hộ. Khoảng cách giữa hai kinh nầy là 12Km. Khi thành lập khu dinh điền nầy, chính quyền Ngô Đình Diệm cho đào thêm một kinh ở giữa hai kinh ấy, cách mỗi bên là 6Km, thường gọi là kinh Đòn Dông để việc tháo nước xã phèn cho vùng Cái Sắn được nhanh hơn. Trên hướng Long Xuyên - Rạch Giá, vùng tôi vừa nói là ở phía tay mặt. Phía trái, cũng la khu dinh điền, nhưng dân chúng ở thưa thớt hơn, không phồn vinh như phía phải, lẫn lộn những kinh do chủ điền đào trước 1945 như kinh Rọc Bà Ke, kinh Thạnh Tây, kinh Đông Bình và những kinh mới đào khi thành lập dinh điền như kinh Tân Hiệp, kinh 10, kinh 8, v.v… Việc đặt tên lộn xộn, không thứ tự như phía tay phải. Vùng nầy cũng có kinh Giữa (Thay vì gọi là kinh Đòn Dông). Những kinh nầy dẫn nước ra kinh Cái Bé, có khi còn gọi là kinh Thốt Nốt, thuộc địa phận Long Xuyên, ngang qua địa phận dinh điền Thới Lai, Cờ Đỏ của Tây hồi thuộc địa. Trước 1945, vùng nầy rất phát triển, vừa trồng lúa vừa giao thông bằng ghe thuyền vì hồi đó xe cộ không nhiều, thường người dân di chuyển, vận tải hàng hóa bằng ghe. Điểm hội tụ của 6 con kinh là ở Thuận Trung, thuộc tỉnh Phong Dinh cũ là nơi buôn bán, trên quán, dưới thuyền ghe, rất tấp nập.

Dân di cư từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, v.v… được đưa về dịnh cư ở khu dinh điền nầy. Thật ra, từ Bắc vô Nam, thấy đời sống miền Nam dễ dàng, no đủ, không ai muốn về vùng “đồng chua nước nổi”, “nắng bụi mưa bùn” nầy làm gì. Tuy nhiên, hầu hết họ là người theo đạo Thiên Chúa, các linh mục khuyến khích họ về nên họ nghe theo. Phần đông, khi ở miền Bắc, họ là nông dân nên cũng muốn về đây làm ruộng. Nhiều gia đình sống “hai chân”. Phần đông gia đình trụ lại Saigon, vợ buôn bán sống qua ngày, tiện cho con cái đi học. Chồng và con trai lớn về dinh điền, nhận đất, nhận ruộng và … lảnh đồ cứu trợ.

Tình hình lúc ban đầu rất chán nãn. Tới mùa nước nổi, nước tràn lan khắp cả, ngoại trừ cái giường, cái bếp trong gian nhà tôn nhỏ bé mà vật liệu làm nhà là do chính phủ cấp phát. Mùa nầy kéo dài bốn, năm tháng, người nông dân không làm ăn gì được. Tới mùa khô, nông dân ra đồng đốt rẩy, bắt rùa rắn, cá tôm ê hề, làm thịt phơi khô đem về cho vợ con ở Saigon. Tuy nhiên, mùa khô cũng là mùa nóng dữ dội. Không ít người làm biếng, khi ra đồng tìm bóng cây ẩn núp và … đánh bài. Hồi ấy chưa có máy cày, chính quyền Ngô Đình Diệm nhập trâu Murat ở Ấn Độ đem về phát không cho nông dân. Lại cũng có người đập cho trâu què chân để xin mổ thịt. Nông dân miền Bắc khoái ăn hịt trâu hơn thịt bò.

Chính quyền Ngô Đình Diệm đặc biệt chú trọng các chương trình dinh điền, khu trù mật để ổn định một triệu người miền Bắc di cư, coi đó như là một quốc sách nên sau khi giải tán Phủ Tổng Ủy Di Cư thì thành lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, đặc trách về chương trình khu dinh điền, khu trù mật. Khi người nông dân đến vùng đất mới, chính quyền không “đem con bỏ chợ”. Họ được giúp đỡ nhiều mặt: “Tôn”, Ximăng, sắt để làm nhà, làm đường, làm cầu, xây trường học, trạm y tế… gạo, tiền. Khu dinh điền Cái Sắn hồi mới thành lập đã có nhà máy điện, có dựng cột đèn dọc theo trục lộ.

Mỗi nông dân được cấp 3 mẫu ruộng: Bề ngang (dọc theo bờ kinh rộng 30mét, kéo dài tới khoảng giữa của hai kinh là 1Km. Hồi 1972, giá mỗi mẫu ruộng ở đây là khoảng trên 500 ngàn đồng Việt Nam Cộng Hòa. Nhìn chung, mỗi gia đình có một tài sản ít nhất là 1 triệụ 500 ngàn, chưa kể trị giá căn nhà, vườn cây quanh nhà và gia súc, v.v…

Vai trò của các linh mục ở mỗi kinh (tương đương với 1 ấp) là rất quan trọng. Khi người dân dinh điền thiếu thốn cái gì chính đáng, nhất là xi măng, tôn, gạo… thì các linh mục đi xin (nói theo địa phương). Có khi họ lên ngay phủ Tổng Ủy Dinh Điền hay phủ Tổng Thống xin giúp đỡ. Có người nói với tôi: “Không có các cha thì người dân đã bỏ đi hết rồi”. Suy nghiệm với vai trò các tu sĩ mà ông Hồ Hữu Tường nói trong Minh Đạo, tôi lại càng khâm phục viễn kiến của tác giả.

Trại Ruộng là gì?

Tôi cứ nghĩ tôi viết như trên là xong, ai ngờ có điều ly thú hơn, nên xin trình bày lại như sau:

Mấy lâu nay, đọc mấy tờ báo của Phận Giáo Hòa Hảo hải ngoại, kể cả trên các web site, tôi thắc mắc không hiểu tại sao một số bài viết về lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, họ chỉ kể từ khi đức thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo mà thôi. Vậy thì thời gian trước nữa để chi, và vai trò ông Đoàn Minh Huyên trong công việc củng cố và truyền bá đạo Phật ở miền Tây Nam Bộ hồi giữa thế kỷ 18, cũng như việc ông thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Huơng, tiền thân của đạo Phật Hòa Hảo, bỏ qua sao được?!

Khoảng năm 1969, sau khi thuyên chuyển về phục vụ cho bộ chỉ huy binh chủng Thiết Giáp ở Saigon, một lần tôi tới liên lạc công việc với Cục Quân Huấn ở trong khu doanh trại Lê Văn Duyệt, tình cờ tôi thấy có một cuốn sách nhan đề hình như là “Lịch Sử các tôn giáo ở Việt Nam” để trong kệ sách, dành cho những người phục vụ trong đơn vị đọc hay nghiên cứu gì đó. Cuốn sách có lẽ được in sau thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng trước năm 1968, năm tôi nhập ngũ, ít ra cũng vài năm. Sách của Cục Quân Huấn in và phát hành. Nếu sách mới in thì thế nào tôi cũng kiếm được một cuốn vì sách cơ quan nầy in ra, thường được phát không cho các đơn vị, nhất là các đơn vị trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu. Thấy cuốn sách lịch sử, tôi thích lắm. Nhưng trên kệ chỉ còn một cuốn độc nhứt, xin thì chắc không được, mà mượn có lẽ cũng không xong. Nhìn tới nhìn lui, tôi thấy cô nhân viên phụ trách ở đây đang nói cười vui vẻ khi anh bạn đi cùng tôi đang tán cô ta, tôi liền nhân cơ hội “chôm” cuốn sách bỏ vào túi quần treillis, đem về. Nếu bị bắt tại trận đang ăn cắp sách, có lẽ ông đại tá Cao Đăng Tường, cục trưởng cũng không nỡ nặng tay với một người mê sách như tôi. Tôi hy vọng như thế.

Đem cuốn sách về đọc, tới phần lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, tôi biết thêm về sự tích ông Đoàn Minh Huyên, mà trước đó, tôi chỉ thấy xuất hiện đâu đó tên ông nầy, vài ba dòng, không rõ ràng gì cả.

Thật ra, công trạng của ông Đoàn Minh Huyên đối với dân chúng miền Tây Nam Bộ lớn lắm, công ơn của ông ta cũng lớn lắm, nên dân chúng nhắc tới ông không ít, và cũng từ đó mà nảy sinh nhiều huyền thoại về ông.

Ông Đoàn Minh Huyên là một nhà truyền giáo, một nhà đạo đức, một nhà khai sáng một tôn giáo, một ông thầy thuốc cứu dân độ thế, cứu giúp hàng ngàn người khỏi chết chóc, và một nhà kinh tế chiến lược về nông nghiệp, mà “Trầm Tư của một người tội tử hình” của ông hồ Hữu Tường hay chương trình dinh điền khu trù mật của tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ là kẻ đi sau. Chương trình của ông Ngô Đình Diệm có thành công, thì vai trò “Viện Trợ Mỹ” không phải là nhỏ. Chương trình “Trại Ruộng” của ông Đoàn Minh Huyên chỉ là tự lực cánh sinh. Trong khi đó, sáng kiến của ông Đoàn Minh Huyên đi trước thời đại ông Hồ Hữu Tường, ông Ngô Đình diệm khoảng một trăm năm.

Để rõ ràng hơn, tôi xin trình bày về lai lịch ông Đoàn Minh Huyên.

Đoàn Minh Huyên sinh ngày 14 tháng 11 năm 1807 - mất ngày 10 tháng 9 năm 1856 ..là người sáng lập ra giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, thường được các tín đồ và dân chúng miền Tây Nam Bộ, gọi tôn ông là “Đức Phật thầy Tây An”.

Ông tên thật là Đoàn Văn Huyên (Minh Huyên là pháp danh), đạo hiệu: Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu thượng, tỉnh Sa Đéc

Những năm đầu đời Tự Đức, vùng Cái Tàu Thượng (Một nhánh kinh bên tả ngạn sông Hậu, thuộc Sadec sau nầy, bị mất mùa, và bị bệnh dịch tả lớn, hàng ngàn người chết, không kịp chôn. Đêm tối dân chúng không dám ra khỏi nhà, gà không gáy, chó không sủa. Đúng là một vùng lặng thinh, đất chết.

Ông Đoàn Minh Huyên đi thăm bệnh, cho thuốc. Theo dư luận thì ông có bùa phép vì thuốc của ông cho chỉ là than tro và nước lã. Vậy mà ông đẩy lui được bệnh dịch, trong khi quan quân chỉ ngồi khoanh tay mà coi dịch tả hoành hành.

Từ chỗ có công chữa bệnh cứu người, được uy tín, dân chúng ngưỡng mộ, ông bèn bắt đầu đi thuyết giảng đạo Phật, chính yếu là nhắm vào thực tế, điều nhân nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ anh em, kính thờ Trời Phật.

Người theo ông càng ngày càng đông, ông bèn thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông dựng chùa thờ Phật, tập trung dân chúng thành nhiều vùng, giúp nhau khai phá đất đai, làm ruộng, gọi nôm na là Trại Ruộng.

Các Trại Ruộng nổi tiếng gồm có:

Trại ruộng vùng Cần Lố (Đồng Tháp Mười) vùng Láng Linh, vùng núi Két (thuộc Thất Sơn), sau thành ra hai làng Hưng Thới, Xuân Sơn; vùng Cái Dầu

Vì có công chữa bệnh cho dân và hướng dẫn dân chúng trong việc hợp tác giúp nhau khai khẩn đất hoang làm ruộng, lại truyền bá đạo Phật nên uy tín của ông ngày càng lớn, khiến quan quân triều đình lo ngại. Ông bị bắt giam nhưng không xử tội ông được vì việc làm của ông không trái với luật pháp triều đình nên ông lại được thả ra. Tuy nhiên, chính quyền cũng buộc ông vào tu ở chùa, không được lang thang qua nhiều vùng như trước. Ông về sống ở chùa Tây An, sau nầy gọi là Tây An Cổ Tự ở An Giang.

Sau khi Pháp chiếm Nam Bộ, trại ruộng Láng Linh trở thành nơi kháng chiến chống Pháp rất quyết liệt.

Đạo Phật Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ khai đạo, là đời thứ tư do ông Đoàn Minh Huyên chuyển kiếp cho Phật Trùm, Ngô Lợi, Sư Vãi Bán Khoai và Đức Thầy (HPS) để giáo hóa chúng sanh nên chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của tông phái Bửu Hương Kỳ Sơn, lấy đạo Phật làm căn bản, tu hiền, và gìn giữ bảo trọng Tứ Ân, thường gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Tứ ân gồm có:
1. Ân tổ tiên cha mẹ;
2. Ân đất nước;
3. Ân Tam Bảo;
4. Ân đồng bào và nhân loại (với kẻ xuất gia thì ân đàn na thí chủ).

Phụ lục:
Một vài nhân vật đặc biệt, tiền thân của Phật Giáo Hòa Hảo (Trích từ Wikipedia):

Phật Trùm (? - 1875) tên thật: Tà - pênh, người Việt gốc Khmer" .ở ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông được tín đồ các giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Hòa Hảo gọi tôn là Phật Trùm.

Từ nhỏ đến lớn, Phật Trùm có cuộc sống như một người bình thường, có vợ và 4 người con gái. Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An tức Đoàn Minh Huyên là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm),

Từ đấy, Phật Trùm bắt đầu giảng giáo lý toàn bằng tiếng Việt. Bà Néang-Suông xưng là cháu chắt Phật Trùm cho biết ông có để lại một cuốn Kinh bằng tiếng Việt, nhưng Tà-Sao là cháu của Phật Trùm đã đem nạp cho Pháp.

Và cũng tương tự lối hành đạo của Đoàn Minh Huyên, Phật Trùm cho phân phát “lòng phái”, trổ tài trị bệnh thật lạ thường.

Nhà Phật Trùm sinh sống khi xưa tại ấp Sàlon, nay trở thành nơi thờ cúng ông.

Khoảng năm 1870, lúc này tín đồ người Việt theo ông đã khá đông. Thấy vậy, một số người Việt gốc Khmer trong xóm vu cáo là ông mượn chuyện đạo, chuyện trị bệnh để quy tụ, để cổ xúy nhân dân nổi loạn, nên nhà cầm quyền Pháp cho bắt giam ông rồi kết án tù đày. Trong tù, ông chăn heo. Sau vài năm, Pháp thấy ông hiền lành, không có biểu hiện gì chống đối, nên ông được trả tự do. Về lại quê nhà, Phật Trùm tiếp tục hành đạo, có khi rao giảng đạo sang tận Campuchia

Ngày 13 tháng 3 âm lịch năm Ất Hợi (1875), Phật Trùm viên tịch.

Hiện mộ Phật Trùm nằm lưng chừng núi Salon, một núi nhỏ, thấp thuộc ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Mộ không đấp nấm, theo chủ trương của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Ngô Lợi người Mỏ Cày Bến Tre, Cha tên Ngô Nhàn (? - 1937), làm nghề thợ mộc, mẹ tên Phạm Thị Xuyến, người Bình An, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang).Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Hiếu Nghĩa.

Năm 37 tuổi, vào ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh. Sau 7 ngày 7 đêm, ông hồi tỉnh lại, trở thành người giải thoát, rũ sạch lòng trần, dạy người theo đạo.

Bởi đi “thiếp” vào ngày trên và thỉnh thoảng ông lại có những cuộc đi thiếp như thế, nên người đời còn gọi ông là Năm Thiếp. Mỗi lần đi thiếp xong, ông thường nói những việc quá khứ và đoán định việc tương lai, nên được nhiều người tin nghe.

Sau khi liễu đạo, Ngô Lợi đi nhiều nơi vừa trị bệnh (nhất là trận dịch hoành hành dữ dội vào năm 1876), vừa thu nhận và dạy tín đồ thuyết học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân, hành xử theo thập nhị giáo điều. Năm 1876, ông cho một tín đồ tên Trần Tịnh đi khảo sát vùng Núi Tượng. Năm 1870, ông đưa một số đệ tử vào theo để khai hoang, lập chùa miếu và mở thôn ấp mới.

Những năm 1877 - 1879, ông tổ chức hai cuộc làm chay để che mắt Pháp, lần đầu vào ngày 16 tháng 2 năm 1878 qui tựu hơn 200 người, rao giảng thuyết Hội Long Hoa và tuyên bố “đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt”

Lần thứ nhì vào ngày 30 tháng 4 năm 1878, ông phong cùng Võ Văn Khả làm chánh tướng, Lê Văn Ong làm phó tướng để nổi dậy kháng Pháp ở Cai Lậy Mỹ Tho, vào ngày 2 tháng 5 năm 1878 nhưng đã bị dẹp tan nhanh chóng. Hai ông Ong và Khả bị xử chém tại Thuộc Nhiêu năm 1879. Còn Ngô Lợi cùng nhiều nghĩa quân trốn thoát về làng An Ðịnh. Căn cứ của đạo Hiếu Nghĩa, do ông cùng tín đồ khai hoang, lập ấp thuở trước.

Bọn mật thám của Pháp liền được lệnh truy lùng Ngô Lợi ráo riết, nhưng rốt cuộc không thu được kết quả nào, bởi ông được tin đồ và đồng bào mến mộ che giấu. Ngay cả thuộc hạ đắc lực của đốc phủ Trần Bá Lộc là Hai Phép lãnh trách nhiệm theo dõi ông, cũng bị ông cảm hóa rồi theo phe kháng Pháp luôn. Đốc phủ Đỗ Hữu Phương cho tên Bửu, người Minh hương, mua ba ngàn xâu chuỗi bồ đề từ Chợ Lớn xuống Núi Tượng, cúng cho bổn đạo vẫn không dò hỏi được tin tức gì.

Pháp nhiều lần tổ chức ruồng bố. Chỉ tính trong 12 năm (1876 - 1888), Pháp đã đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, tù dày những tín đồ ở làng An Ðịnh cả thảy bảy lần, tín đồ Hiếu Nghĩa gọi là “đạo nạn”, đơn cử như vào năm 1885, Ngô Lợi cùng với tín đồ đạo Hiếu Nghĩa kết hợp với nghĩa quân của Hoàng Thân Sivôtha (Campuchia) nổi dậy, đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế và làm chủ Tịnh Biên. Nhưng ngay đó, quân Pháp do đại úy Ferussac đem quân chiếm lại và còn tấn công vào An Định, khiến Ngô Lợi phải cùng với nhiều tín đồ phải chạy sang Vườn Dầu, thuộc Campuchia để lánh nạn. Ngày 2 tháng 6 năm 1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào căn cứ Vườn Dầu nhưng thất bại. Mặc dù cản ngăn được đối phương, nhưng khi Ngô Lợi trở về núi Tượng, nhà cửa, chùa chiền ở An Định chỉ còn là những đống tro tàn.

Bi thảm nhất là vào năm 1887, quân Pháp do thiếu tá Peiqnaux ở Châu Đốc chỉ huy, cùng hai cộng sự là Trần Bá Lộc và cai tổng Trương Văn Keo kéo quân vào An Định. Bị kháng cự ở núi Trà Sư. Khi Pháp tràn được vào làng, họ đã đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi.

Kết cuộc, Pháp xử bắn 8 người, đày ra Côn Đảo 13 người, cưỡng bức 407 gia đình gồm gần hai ngàn người già trẻ xuống tàu về quê quán và giải tán làng An Định (sáp nhập vào làng Vĩnh Lạc),

Ngày 13 tháng 10 âm lịch năm Canh Dần 1890, Ngô lợi mất vì bệnh tại thôn An Hòa, gần Núi Tượng, lúc 59 tuổi.

Sau khi ông mất, phong trào kháng Pháp tan rã, chỉ còn lại đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

Ngoài bản kinh Bà La Ni Kinh, từ năm 1879 đến năm 1884, Ngô Lợi còn truyền dạy cho tín đồ nhiều bài cung văn sớ điệp, nhiều nghi tiết cúng lễ. Các vị đại đệ tử của ông đã ghi chép lại thành tập sách Ngọc Lịch Đồ Thơ Tập Chú.


2008-06-23 03:25:43

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 14:25:43
Phần 29
Văn Hóa, Tôn Giáo, Giáo Dục, Chính Trị…



So với các vùng quê khác ở Miền Tây Nam Bộ, đời sống dân vùng Cái Sắn cao hơn thấy rõ, từ cách sinh hoạt, ngôn ngữ, tôn giáo, v.v… tuy bên cạnh đó, có những sự việc, những nhân vật có những hành vi khá đặc biệt, làm cho người dân bất mãn không ít.

Sở dĩ họ có đời sống cao là nhờ ba yếu tố: Xã hội, tôn giáo, giáo dục.

Về miền Tây, ở những làng mới hình thành trong vài ba trăm năm trở lại đây, vì dân làng là dân lưu tán mới tụ lại, phong tục tập quán chưa định hình, hoàn chỉnh, đó là chưa nói tới cách sinh hoạt và tư tưởng còn hủ lậu, mê tín dị đoan nên có nhiều điều xấu xảy ra.

Cái Sắn thì khác. Dân Nam địa phương, ngoài tính ưa cờ bạc là điều đáng chê trách. Tuy nhiên, vùng Cái Sắn trước kia cũng không phải là vùng hoang dã, dân cư thưa thớt, mà lại là vùng làng xã từng hình thành, từng tiếp xúc với hoàn cảnh sống văn hóa cao hơn, nhất là đạo Phật của dân chúng vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, dân chúng biết thờ phượng ông bà, tổ tiên, phật thánh và biết “tu hiền” (Tiếng thường dùng ở địa phương) nên không có gì gọi là hủ lậu. Bên cạnh đó, người di cư từ Bắc vào Nam, trong cuộc hành trình trốn chạy Cộng Sản, họ mang theo cả phong tục, tập quán, lề thói, do tổ tiên xây dựng lâu đời, nên trong đời sống tinh thần, họ có nhiều điểm đáng khen ngợi.

Điều đáng lưu ý ở đây là người Bắc biết trọng sự học hơn nên về mặt học vấn, nhìn chung con cái họ có nhiều người thành đạt.

Khi thành lập khu dinh điền chính quyền đã không quên mở trường để cho trẻ em được cắp sách đi học. Ban đầu, trường tiểu học được mở ra ở quận, ở xã. Trong mỗi kinh, tương đương với mỗi ấp chỉ có trường sơ cấp.

Nhờ dân chúng trong khu dinh điền biết trọng sự học, số lượng học sinh càng ngày càng đông, trường ốc không đủ, các linh mục ở mỗi kinh mở thêm trường tư dạy học. Công việc tiện lợi cả hai mặt. Học sinh không phải đi xa, thường bằng ghe xuồng nguy hiểm, nhà chung thâu học phí. Trẻ em học tiểu học ngay tại kinh, lên trung học mới học ở trường quận hay trường tư ở ngoài trục lộ.

Đến đầu thập niên 1970, trường trung học quận đã mở đến cấp ba (Đệ nhị cấp), nhưng chưa có lớp 12, và trong mỗi kinh, như đã nói, mỗi kinh tương đương với mỗi ấp, đã có trường trung học.

Trường trung học lâu đời nhất có lẽ là trường của cha Uyển, - Nguyễn Thượng Uyển ở kinh 6 Rọc Bà Ke, bên cạnh trục lộ Long Xuyên - Rạch Giá. Những học sinh cũ của trường nầy, trước 1975, đã có người tốt nghiệp đại học, hoặc vào quân đội, lon lá lên tới cấp tá, một số ít là phi công. Sân bay ở quận, nhiều khi bỗng nhiên có máy bay trực thăng đáp xuống: Phi công về thăm nhà. Trước khi đáp xuống, họ cho máy bay lượn quanh nhà. Có nghĩa là họ sắp về thăm. Người nhà đem xuồng ra quận lỵ đón họ về nhà ở trong kinh.

Về giáo dục, việc tranh chấp tôi gặp phải là giữa một người bạn học cũ của tôi, anh Khôi. Tôi biết anh ấy khi anh vào Đại Học Sư Phạm Huế, ban Cấp Tốc (1 năm học) năm 1958. Không rõ do đâu, anh ta được bổ nhiệm về làm hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Kiên Tân. Một số giáo sư ở đây, nguyên là học sinh cũ của trường, nay tốt nghiệp đại học sư phạm, về dạy trường cũ, không chịu để cho một giáo sư trung học đệ nhất cấp (Sư phạm một năm) làm hiệu trưởng một trường cấp ba. Đó chỉ là lý do họ đưa ra, mục đích là tranh giành chức hiệu trưởng. Mặc dù ngạch trật là điều thiết yếu, nhưng trong ngành giáo dục, nhiều khi người ta trọng những vị lớn tuổi, tuy ngạch trật nhỏ hơn nhưng tuổi tác ngang hàng với thầy dạy của những người trẻ. Đó là lý do người bạn tôi được cử giữ chức vụ hiệu trưởng trường nầy. Tuy nhiên, người bạn tôi tốt nghiệp ở Huế, mấy năm trước dạy học ở miền Trung, không phải là thầy dạy trực tiếp của họ nên họ muốn “đảo chánh” ông.

Người Nam, đất rộng dân thưa, đời sống dễ dàng, ít chăm lo tới việc học của con cái. Đến khi họ ở chung, chịu ảnh hưởng lẫn nhau, xã hội càng ngày càng phát triển, học vấn trở thành nhu cầu cần thiết, lần lần ai ai cũng thấy không thể lơ là việc học, lo chăm sóc việc học của chúng. Do đó, nhìn chung, việc học ở vùng nầy phát triển nhanh, học sinh các cấp ngày càng đông, trường học ngày càng nhiều, nhất là trường tư, vì chính phủ không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu giáo dục của dân địa phương.

Một điều không hay là các trường học của các cha ở trong kinh là các “ổ trốn quân dịch”. Nhiều thanh niên, không thấy cái trách nhiệm của mình đối với đồng bào, tổ quốc, lại nhát gan nên thường không thi hành lệnh động viên. Không có công ăn việc làm, họ xin dạy ở các trường của các nha với giá lương rẻ mạt. Các cha thì ham rẻ, vã lại họ là con chiên trong họ đạo của các cha, các cha khó từ chối khi họ xin việc. Thứ nữa, trả lương cho thầy giáo rẻ thì thu học phí rẻ, học trò dễ theo học, chưa kể nhờ rẻ thì sĩ số càng thêm đông.

Một hôm, cuộc cảnh sát xã Tân Hiệp bắt một thanh niên tội trốn quân dịch. Anh chàng nầy gặp xui. Thông thường, khi trốn quân dịch, họ chỉ quanh quẩn ở trong kinh. Các cơ quan chính quyền, kể cả Cảnh Sát, sợ đụng chạm với các cha nên không có gì phải hành quân trong đó. Từ đầu tới cuối kinh, hầu hết là người Bắc di cư cư ngụ, làm gì có Việt Cộng mà hành quân bắt giữ. Lợi dụng tình trạng đó, mấy ông trốn quân dịch cứ ở riết trong kinh, không ló mạt ra khỏi xã, khỏi ấp là an toàn. Anh chàng bị bắt nói trên vì ham chơi, đi theo một con nhỏ nào đó ra chợ Tân Hiệp uống cà phê.

Cha Toàn, chánh xứ họ đạo kinh 3, kiêm hiệu trưởng trường trung học kinh 3 của cha, ra gặp tôi xin trả tự do cho người bị bắt. Anh ta cũng là giáo sư dạy ở trường của cha Toàn. Để tránh phiền phức, tôi đã cho giải giao anh ta về tiểu khu Kiên Giang. Cha Toàn giận tôi, ông ta bảo: “Thầy giáo của tôi đấy, ông làm sao thì làm.” Tôi thấy bực mình. Tôi chưa truy tố cha về tội “tán trợ bất phục tòng”. Anh ta trốn quân dịch, sao cha dám cho anh ta dạy học ở trường của cha. Vậy mà ông ta còn dọa tôi!?

Có điều đáng buồn, ra khỏi khu vực Dinh Điền Cái Sắn, tới xã Mông Thọ sát bên cạnh, việc giáo dục không được phát triển và chăm sóc như vậy.

Về tôn giáo, tình hình ở đây khá phức tạp. Đối với đạo Hòa Hảo, việc tu tập của quần chúng tín hữu không có gì đáng nói nhưng với hàng “chức sắc” là cả một vấn đề. Tại quận lỵ, tín đồ Hòa Hảo có một ngôi chùa, dân chúng sinh hoạt bình thường, lui tới đông đảo. Những ngày vía lễ, chùa khói hương nghi ngút. Nhưng chức sắc thì chia làm ba phe, phe nào cũng muốn giành ngôi chùa cho mình. Ba phe đó là: Phe ông Lương Trọng Tường, phe ông Lê Quang Liêm, phe ông Lê Trường Sanh. Mấy ông này lập phe ở trung ương của họ, - ở Long Xuyên - Ở Kiên Tân là những người theo phe của ba ông ấy, nổi tiếng nhất là ông Lê Minh Châu, người theo phe ông Lương Trọng Tường.

Lê Minh Châu có lần tụ tập phe nhóm của ông đông đảo, rồi “chiếm chùa.” Sợ các phe kia tới chiếm lại, ông cho đem lựu đạn vào chùa “phòng thủ”. Cũng may, việc quăng lựu đạn, giết nhau chưa xảy ra. Các phe kia bị lấy mất chùa, bèn thưa kiện lung tung. Nhờ thiếu tá quận trưởng Huỳnh Đầm S. cũng là người theo đạo Hòa Hảo nên ông mời mọi người vào quận đường để dàn xếp. Ba phe thỏa thuận thành lập một ban tế tự, coi việc thờ phượng trong chùa. Quyền lợi ba phe ngang nhau, không phe nào được chiếm chùa. Tuy vậy, phe Lê Minh Châu thỉnh thoảng lại chiếm chùa để cho bọn trốn quân dịch vào trốn trong đó. Dĩ nhiên, tấn công hay lục soát chùa là một vấn đề hết sức phức tạp và dễ bị thưa gởi, cấp trên khiển trách, nên không ai tính tới việc đem lực lượng an ninh kiểm soát chùa.

Trong chùa không có giếng nước nên các thanh niên trốn trong chùa phải ra khỏi chùa, băng qua đường cái để xuống kinh lấy nước hoặc tắm rửa. Các Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi mặc đồ dân sự, núp ngoài chùa. Tên trốn quân dịch nào ra khỏi chùa đều bị tóm cổ. Bọn trẻ sợ hãi bèn bỏ đi. Việc chiếm chùa của Lê Minh Châu giải quyết xong.

Khoảng đầu năm 1974, Hai Ngoán, cánh tay mặt của Lương Trọng Tường thành lập cái gọi là Tổng Đoàn Bảo An, là một lực lượng quân sự và chính trị để chống Cộng Sản nhưng không dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của chính phủ trung ương. Người ta đồn phía sau việc thành lập lực lượng nầy có bàn tay lông lá - cũng chỉ là lời đồn đãi. Vài đơn vị Địa Phương Quân gốc giáo phái Hòa Hảo thuộc tiểu khu Long Xuyên, tăng cường hoạt động ở các tỉnh bên cạnh, có lần “đụng trận” đã báo cáo tổn thất 100%. Thực ra, vũ khí và máy móc truyền tin của các đại đội nầy lén đưa về Long Xuyên để trang bị cho các lực lượng thuộc Tổng Đoàn Bảo An.

Tại Kiên Tân, Lê Minh Châu tự ý dựng ngay một tấm bảng trước cổng chùa viết là Quận Đoàn Bảo An Kiên Tân. Chính quyền phải khuyến khích các phe phái khác, căn cứ vào bản cam kết việc thành lập ban tế tự để dẹp tấm bảng nầy.

Mặc dù có sự chia phe phái như vậy, tín đồ Hòa Hảo họ không theo phe phái nào hết.

Những người trước kia từng tham gia lực lượng quân đội Hòa Hảo của Ba Cụt, Năm Lửa… mỗi năm họ gặp nhau nhiều lần tại trụ sở Dân Xã Đảng, một ngôi nhà nhỏ đơn sơ, nằm sâu trong một con hẽm kế quận lỵ, để làm lễ giỗ kỵ các vị tướng tá cũ của họ, nay đã qua đời như tướng Ba Cụt, Năm Lửa, Trương Lương Thiện, v.v.... Họ dựng tại trụ sở một tấm bảng lớn bằng cở tấm bảng đen ở lớp học, trên đó họ chưng đủ hình các vị chỉ huy cũ của họ trước kia. Bây giờ, hàng năm, họ họp mặt tưởng niệm cấp chỉ huy chứ chẳng có hoạt động quân sự, chính trị nào, không gây phiền nhiễu cho chính quyền. Nhìn họ, những người một thời cầm súng chiến đấu trong lực lượng giáo phái, người ta thấy họ chẳng khác gì những người dân chất phác bình thường của đất Nam Bộ, không một chút gì gọi là “dữ dằn” như báo chí thời Ngô Đình Diệm tuyên truyền về họ. Nói về lý tưởng và công trạng chiến đấu chống thực dân Pháp, chống Việt Minh, họ là những người đáng kính, đáng yêu.

Tôi không rõ việc bầu bán dân biểu thời Đệ Nhứt Cộng Hòa ra sao, nhưng thời Đệ Nhị Cộng Hòa, trước cũng như sau khi trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống thì có vẽ tự do đến … lung tung.

Trước hết xin nói tới sự ngưỡng mộ của dân chúng trong khu dinh điền đối với cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong số họ, không ai tin Ngô Tổng Thống còn sống, cho rằng nhứt định “ngài không chết” như dân chúng ở Tam Tòa (Đà Nẵng) đã tin chắc như thế hồi mới đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tuy nhiên, lòng tôn kính cua họ đối với tông thống Ngô Đình Diệm thì còn sâu sắc lắm. Điều đó rất dễ hiểu. Dân chúng trong khu dinh điền bây giờ sung túc, khá giả, con cái được học hành đàng hoàng, .v.v… Công lao đó là của ai, nếu không phải là tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông đề ra chương trình Dinh Điền, Khu Trù Mật, đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng nó, giúp đỡ và giải quyết những khó khăn cho Dinh Điền, lại thường đích thân tới thăm viếng, khuyến khích dân chúng trong Dinh Điền.

Người ta có thể thấy việc biết ơn Ngô Tổng Thống trong việc trồng hoa vạn thọ. Không hiểu do đâu, bỗng người ta đồn với nhau rằng Ngô Tổng Thống rất thích hoa vạn thọ. Có phải tổng thống thích câu biểu ngữ “Ngô Tổng Thống Muôn Năm”. Vạn thọ cũng có nghĩa là muôn năm. Thời ông Bảo Đại còn làm vua, - làm vua chớ không phải làm quốc trưởng - nhân một dịp “tứ tuần đại khánh” vua hay thái hậu gì đó, bọn học trò lớp đồng ấu chúng tôi được phát quà và tập nói câu “Vạn thọ Vô Cương”. Nghe câu đó, cậu (cha) tôi nói đùa là “Vạn Thọ Vô Cương: Trong xương ngoài nạc”. Vì câu chuyện cũ đó nên tôi bỗng chú ý thấy dân chúng trong kinh, trong sân nhà thờ, nhứt là nhà thờ linh mục Nguyễn Bá Lộc, kinh 1 Cái Sắn, trồng nhiều hoa vạn thọ. Có phải người ta trồng loài hoa nầy để tưởng nhớ Ngô tổng thống? Tổng thống đã qua đời, nhưng hoa vạn thọ thì vẫn còn đó!

Không những hoa vạn thọ còn ngoài sân mà ngay trong phòng khách của cha Lộc. Ở đó, còn có một bức hình rất lớn, lồng kính, treo ngay chính giữa phòng. Hình màu, vẽ lại từ một bức hình chụp, chân dung tổng thống Ngô Đình Diệm. Tấm hình vẽ đẹp mà tổng thống, khi chụp bức hình nầy cũng còn trẻ và đẹp trai. Lần đầu tiên thấy bức hình nầy, tôi nhớ lại một vài ngày sau khi đảo chánh lật đổ và giết anh em tổng thống Diệm, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng của tướng Dương Văn Minh ra lệnh hạ hết hình ảnh, tượng đài tổng thống Ngô Đình Diệm ở công viên, trong công sở và ngay cả tại tư gia.

Hình như lệnh cấm đó không “phê” (effet) gì tới cứ địa của cha Lộc. Không những thế, tôi còn thấy cha chưng mấy bức hình ông chụp chung với hai ông Thiệu, Kỳ khi mấy ông nầy “bay” xuống Cái Sắn vận động tranh cử. Hình chụp cha Lộc đứng giữa. Hai ông tướng, một ông là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, một ông thì Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, ông nào cũng mặc đồ lính, lon lá đầy mình đeo sao tùm lum, (ông Kỳ mặc đồ bay), cười toe toét khi đứng bên cạnh cha Lộc. Tôi gọi đó là “Những nụ cười kiếm phiếu.”

Xin nhớ rằng đối với đồng bào trong kinh, và cả những đồng bào gốc miền Nam, không phải dân di cư, sống ở đầu kinh (1) hay dọc theo trục lộ, không phải tín đồ đạo Thiên Chúa, họ cũng kính trọng các cha, nói chung, và bỏ phiếu cho ai nếu cha yêu cầu, vận động cho người ấy, giống như con chiên các cha trong kinh vậy, nhứt là cha Lộc, người có uy tín lớn nhứt ở Kiên Tân, và thường hay giảng ở nhà thờ, có kèm thêm phần “phụ diễn” nên bỏ phiếu cho ai khi có bầu bán.

Thông thường, người đắc cử thường là con chiên của cha.

Khi chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa mới hình thành, bầu cử tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, v.v… Thành thật xin nói rằng, hồi đó tôi chưa về Cái Sắn nên không biết trong các buổi lễ vào thứ bảy, chủ nhựt, mấy ông cha, sau khi giảng kinh, có phụ diễn phần bỏ phiếu cho ai hay không: Liên danh 9 (Thiệu Kỳ), hay Phan Khắc Sửu, Nguyễn Đình Quát… Về thượng viện thì bầu cho liên danh Sư Tử Cầm Bút, Bông Sen hay Bông Huệ… Nhưng ngay từ đó thì người đắc cử dân biểu ở đây là ông Mại, con chiên của cha Lộc nhà ở đầu kinh 2.

Thế rồi tới cuộc bầu cử năm 1971, ông Nguyễn Tấn Đời, ông chủ Thần Tài Tín Nghĩa Ngân Hàng thay chỗ ông Mại.

Sao kỳ vậy?

Ông Nguyễn Tấn Đời đâu phải là tín đồ đạo Thiên Chúa như thông thường những người đắc cử ở đây. Ông Đời cũng không phải là dân địa phương. Hỏi thêm nữa, cha Lộc vận động cho ông Đời ghê lắm, bỏ hết công sức cho ông Đời đắc cử. Nếu không có cha Lộc, dân chúng, nhất là đồng bào trong kinh biết ông Đời là ai! Họ làm ăn khá giả, có tiền thì… mua vàng đem cất, chẳng thèm biết ngân hàng là cái gì thì làm sao biết Tín Nghĩa Ngân Hàng hay ông Thần Tài Tín Nghĩa. Trong chiều hướng đó, chắc chắn đồng bào không biết ông Đời là cha căng chú kiết nào để mà bầu ông ta làm đại biểu cho họ ở quốc hội.

Tình cờ, một hôm đi ngang nhà ông Mại, tôi vào thăm ông ta. Lúc ấy tôi vẫn còn ngu không biết tại sao ông Mại, cựu dân biểu, tranh cử thua ông Đời, người không phải là dân địa phương. Ông Mại không có một lời than phiền cha Lộc. Ông ta chỉ nói với tôi một câu: “Thôi đừng nói tới cha Lộc nữa.” Tôi nghĩ ông ta oán cha Lộc lắm. Có gì đâu: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” như tuc ngữ dạy vậy thôi! Nhưng tôi biết một việc khá quan trọng: Lúc ấy cha Lộc đang xây lại nhà thờ kinh 1 của cha. Nhà thờ rất lớn. Dĩ nhiên, cha cần phải có tiền!

hoànglonghải

(1) Cách phân chia đất ở dinh điền như sau: Phía đầu mỗi kinh, chỗ “dàm” (ngã ba) nối liền với kinh Long Xuyên – Rạch Giá, đi sâu vào khoảng nửa Km thì ưu tiên dành cho người địa phương, người Miền Nam. Sau phần đất ưu tiên dành cho người miền Nam, đi sâu vào giữa tới cuối kinh là khu dành cho người di cư. Dọc theo trục lộ xe hơi, đất của ai nấy xử dụng, việc mua bán đất ở khu vực nầy được tự do.

2008-06-25 01:26:43

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 42 bài trong đề mục