Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng
Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 42 bài trong đề mục
lyenson 06.07.2008 12:28:17 (permalink)
Phần 15:
Việc Làm Ruộng Sau Hiệp Định Paris 73


Một hôm, mới sáng sớm, thiếu úy Nguyễn Quang Đước, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Tín Đạo, gọi điện cho tôi, báo cáo: “Bên pháo binh gọi qua, biểu tui nhận bốn người mới trốn Việt Cộng ra trình diện”. Sau khi tìm hiểu mọi việc, tôi liên lạc với trung tá Nhan Trừng Lâm, tiểu đoàn trưởng pháo binh của Sư Đoàn 21, có một pháo đội đang đóng gần cầu Lỳnh Quỳnh, xin cho thiếu úy Đước qua đó nhận mấy người tù Việt Cộng về.

Sau hiệp định Paris 1973, một số dân Long Xuyên, dân Xóm Mới (Gò Vấp), tới vùng Kinh Hãng Tà Keo kiếm đất làm ruộng. Dân Long Xuyên thì tự động, rủ nhau mà đi, dân Xóm Mới thì theo lời kêu gọi của Linh Mục Nguyễn Thượng Uyển. Việc nầy xin nói ở bài sau. Vùng “Kinh Hãng”, “Tà Keo”, đất tốt, bỏ hoang nên họ kéo nhau vô đó kiếm ruộng. Họ mới kiếm đất, chưa khởi công làm gì!

Kinh Hãng là một vùng ruộng bị hoang hóa. Trước 1945, Tây thực dân lập hãng sản xuất lúa, mộ dân Bắc Kỳ đưa vô đây làm ruộng, cũng tương tự như vùng Nam - Thái - Sơn vậy. (Xin Xem lại bài Chị Sứ, Hòn Đất). Tây thành lập một “công ty” làm ruộng, dân chúng gọi nôm na là “Hãng”, kinh mới đào xong, cái ngang cái dọc, làm được ít mùa thì bỏ hoang vì chiến tranh. Do tình trạng như vậy, dân chúng gọi vùng hoang hóa nầy là “Kinh Hãng”. Còn Tà Keo? Tà Keo là tên Miên, là một ấp, chỗ căn cứ địa của Việt Cộng, nơi đầu tiên Nguyễn Tấn Dũng làm du kích, khi mới “thoát ly theo Việt Cộng” (Danh từ Phụng Hoàng hồi ấy).

Có bốn người đàn ông dân Long Xuyên, lực lưỡng, khỏe mạnh, vào Tà Keo kiếm đất, bị Việt Cộng bắt. Họ đang bị điều tra coi thử có phải là “Ngụy” đưa vô dò xét tình hình, làm tình báo hay không. Thấy không phải, Việt Cộng cũng chưa tha họ về, buộc phải đóng tiền chuộc. Chuộc tội gì? Tội đi vô vùng “Cách Mạng”. Buồn cười không?!

Nếu như ngày nay, bọn bin Layden, al Qaeda hay Taliban có bắt người đòi tiền chuộc. Việc ấy, so với việc Việt Cộng làm trước đây, bọn nầy mới chỉ là học trò của Việt Cộng. Biết đâu, chính quyền Hà Nội cũng đã từng đưa người qua làm thầy bên Afghanistan. Việt Cộng chính là “sư phụ” trong cái nghề “bắt cóc đòi tiền chuộc” như vầy.

Bốn ông nông dân không đóng tiền chuộc, nói với Việt Cộng là nhờ chúng liên lạc với gia đình, đem tiền qua. Thư họ viết, đưa cho giao liên, giao liên sợ bị tội, đưa cho quốc gia. Thế là xong, Việt Cộng cứ rán sức mà chờ…

Ngày ngày, có hai tên du kích coi giữ tù cho tù ăn. Tù bị xích tay, bốn người một giây, nằm trên sàn cái chòi nhỏ, dưới là nước. Hai tên du kích ở chòi đằng kia. Hai chòi nối nhau một đường đi cũng bằng sàn, làm bằng cây tràm. Dĩ nhiên, hai tên du kích nầy chỉ là “khóa đàn em” của Nguyễn Tấn Dũng vì hồi nầy, đời Dũng lên hương, làm trưởng ban quân y huyện đội Hà Tiên rồi, không còn là du kích ấp Tà Keo như khi mới thoát ly nữa.

Ở chòi bên kia, hai tên du kích nấu cơm, ngày hai bữa, một tên đem cơm qua cho tù ăn. Tù ngũ trên sàn, không có mùng màn, không được tắm giặt chi cả. Tới bữa, được tháo xích, bốn người ngồi quanh cái rá cơm, một tô cá do Việt Cộng tự đánh bắt lấy, có chén đũa cho mỗi người.

Thấy cảnh cứ diễn ra như vậy hoài, theo thói quen; vã du kích cũng ỷ y, nên bốn người bàn cách thoát thân. Một người, giỏi võ nhất, lãnh nhiệm vụ ngồi ngay chỗ tên du kích đi vào, ba người kia ngồi quanh. Chờ khi tên du kích từ phía sau cúi xuống đặt rá cơm, thì ông nầy chụp cổ, vật cho y lộn nhào, giựt cây súng y đang mang trên vai. Việc xảy ra như dự tính, nhanh như chớp, y như trong ciné. Tên du kích ở chòi bên kia, nghe tiếng động, phản ứng bằng cách chạy tới chỗ y treo cây AK thì lãnh ngay một băng đạn do anh nông dân bắn tới, sau khi ông ta giựt được súng do tên du kích mang trên vai. Lãnh đủ băng đạn, tên du kích ấy rơi ngay xuống nước cái bủm. Xong, người mang súng quay lại tên du kích bị vật cổ xuống. Tên nầy đã phóng xuống nước, nước ngang lưng, đang cố lội ra xa, chạy trốn. Anh nông dân chẳng cần nhắm, bắn một tràng vào y. Tên nầy gục xuống nước, tìm đường theo… “bác Hồ”.

Thế là bốn ông nông dân, hai cây súng, tìm đường về.

Họ cũng tính kỹ lắm. Phải thực hiện kế hoạch vào buổi chiều, thoát thân lúc ban đêm, Việt Cộng có báo động cũng không dám đuổi theo, một khi ở trong rừng tràm, trời tối, không thấy rõ được. Ra khỏi rừng tràm thì cũng gần tới vùng Quốc Gia, chưa chắc Việt Cộng dám ra theo.

Không bản đồ, không la bàn, hết rừng tràm thì tới lau sậy mịt mù, họ biết đường nào mà đi. Dễ lắm! Họ theo hướng “ô-bi” bắn mà đi. Súng canon, người dân thôn quê gọi là “ô-bi”. Đêm đêm, cứ khoảng chốc, đại bác bắn một phát cầm chừng, quấy rối mật khu Việt Cộng. Ở thôn quê, không yên ổn như thành phố mà “Đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.” Trịnh Công Sơn đừng đổ tội cho quốc gia, bộ ông ta không biết rằng ở thành phố có nghe đại bác thì đó là đạn Việt Cộng pháo kích bửa bãi vào thành phố. Ở thôn quê thì khổ hơn, khi nghe đại bác nổ là không chừng đánh nhau ngay chỗ mình đang sống.

Bốn người tù trốn Việt Cộng lội nước đi suốt đêm, cứ hướng có tiếng súng “đề-pa” (départ) mà đi tới. Phải rán đi cho thật nhanh vì sợ Việt Cộng đuổi theo. Sau khi phát hiện tù sổng rồi, lại có hai đồng chí của chúng “tổ quốc ghi công”, có thể chúng sẽ liều đuổi theo. Trên đường đi, họ cũng phải tránh những trạm gác ngoài bìa rừng của Việt Cộng. Mấy chục năm nay, tình hình Long Xuyên rất êm, Việt Cộng không dám léo hoánh tới, nên bốn ông nông dân, nhờ có vào Nhân Dân Tự Vệ, biết xử dụng súng ống chút ít. Họ không có kinh nghiệm về việc lội rừng đánh nhau với Việt Cộng. May mắn, gần tới sáng thì họ tới địa điểm đặt súng đại bác. Sợ lính quốc gia bắn lầm, họ chờ tới sáng bạch mới cho một người tới gần bót la lớn, xin giúp đỡ.

Sau khi đơn vị pháo binh hỏi sơ qua, họ báo lên cấp trên. Ông pháo đội trưởng cho người qua xã Tri Tôn, biểu cho người qua đón mấy người tù Việt Cộng về.

Quận cho chiếc xe Dodge đón bốn người tù từ xã Tri Tôn (Rạch Giá ) về. Bên Cảnh Sát thì lấy cung, bên chiêu hồi lo giấy tờ, bên Thông Tin lo tổ chức lễ tưởng thưởng. Mỗi người được một bằng tưởng lệ với một ngàn đồng, rồi được cấp giấy tờ, tiền xe để về Long Xuyên.

Đây không phải là bốn người đầu tiên bị Việt Cộng bắt. Trước đó cũng có hai người dân Xóm Mới (Gò Vấp) xuống Tà Keo kiếm ruộng làm ăn, đã bị Việt Cộng giết. Thêm hai người bị bắt rồi Việt Cộng dẫn đi mất tiêu, không có tin tức gì cả. Tuy nhiên, theo lời yêu cầu của LM Nguyễn Thượng Uyển, thân nhân không báo cáo gì với Quốc Gia cả. Sau nầy mới nghe người ta nói lại.

Một hôm, tôi lái xe về ngang kinh Xà Tón, xã Đức Phương thì thấy bên phía rừng cấm, dân chúng từ Long Xuyên về, dựng mấy chục căn nhà, cắm cọc giăng giây giành đất, giành ruộng. Tôi hoảng kinh! Họ tới đây hồi nào mà tôi không biết gì cả. Hỏi ra thì xã trưởng Ngô Văn Àn cho biết họ mới tới có hai bữa nay. Họ làm như du kích. Mấy chục người, đi xe đò, tới nơi hè nhau giành đất, cắm cọc, dựng chòi, treo cờ. Hầu hết là cờ đà, cờ Phật Giáo Hòa Hảo của dân Long Xuyên.

Tôi than với ông quận, vùng đất nầy là nơi ông phó thủ tướng Phan Quang Đán, đặc trách “Chương Trình Khần Hoang Lập Ấp”, đã khoanh vùng cho dân Quảng Trị, sau 1972, chạy loạn vào định cư. Dân Long xuyên vào giành đất như vậy thì hai phe dân chúng sẽ đụng đầu nhau, chí ít thì phó thủ tướng Phan Quang Đán cũng “cạo” cho môt trận tơi bời chớ không! Ông quận bèn lái xe xuống tận nơi gặp đồng bào năn nỉ.
Thấy gặp khó khăn, đồng bào Long Xuyên mới dở chòi, bỏ đi. Họ chờ ông quận cấp đất cho họ như ông ta hứa, nhưng phải chờ ông ta xin chỉ thị của tỉnh. Cũng may, sau đó, họ được cấp một vùng phía trên một chút, cách chỗ cũ khoảng vài cây số. Họ lại dựng chòi, chuẩn bị làm ruộng thì… đứt phim.


#16
    lyenson 06.07.2008 12:36:23 (permalink)
    Phần : 16
    Việc Làm Ruộng Sau Hiệp Định Paris 73 (tiếp theo)


    Trên đường Rạch Giá - Hà Tiên, đoạn giữa hai cây cầu Lỳnh Quỳnh và Vàm Rầy, là ranh giới hai xã Tín Đạo và Đức Phương. Ngay đây có một cái đồn, gọi là đồn giữa. Phía biển con đường nầy, theo địa bộ, ghi là rừng cấm.
    Thực ra, vùng nầy có rừng núi gì đâu! Đây là một vùng đất thấp, do phù sa sông Cửu Long bồi lên mà thành, thiếu nước ngọt, chỉ có mấy cái rạch cạn toàn là phèn nên không canh tác gì được. Có lẽ hồi xưa, có người Miên ở, nay họ cũng đã đi hết rồi, chỉ để lại những cái tên, như Lỳnh Quỳnh, tên nghe thì hay nhưng đó là tên Miên, không phải tiếng Hán Việt.

    Thời kỳ thực dân, sau khi khai thác vùng Cờ Đỏ ở Long Xuyên, vùng Nam Thái Sơn, vùng kinh Hãng ở Tà Keo ở Rạch Giá, Tây cũng có dự tính làm ruộng ở vùng nầy, nên chúng khoanh vùng lại, gọi là rừng cấm, thuộc công thổ, không cho ai khai thác. Nói cho ngay, nếu không có thế giới chiến tranh thứ hai, Tây không đầu hàng Đức thì vùng nầy cũng có thể là vùng ruộng nương trù phú rồi.

    Sau hiệp định Paris 73, dân Xóm Mới (Gò Vấp) theo lời khuyên và đóng tiền cho cha Uyển, vô làm ruộng ở Tà Keo, bị Việt Cộng giết hai người, bắt dẫn đi mất tích hai người. Nay họ cũng nghe lời cha Uyển, dựng chòi, cắm cọc giăng giây tính làm ruộng ở đây, nằm theo trục lộ Rạch Giá - Hà Tiên, an ninh hơn. Tất cả khoảng vài chục dân, phần nhiều là đàn ông.

    Tôi lái xe đi ngang qua, thấy quang cảnh, cũng đâm lo. Đây là đất “công thổ’, tự nhiên có người đến chiếm lập ruộng vườn. Ai chịu trách nhiệm. Hôm sau, tôi cùng ông “Phó Nghiêm”, phó quận trưởng, cùng xuống xem tình hình ra sao! Ông Phó Nghiêm nói rằng đồng bào chẳng xin phép tắc gì cả, tự dưng nghe lời cha Uyển, đến đây “giành đất”, là không được. Ít ra, họ phải xin phép quận, cho làm ruộng tạm thời một hai mùa, sau đó, sẽ trả lại đất cho chính phủ hay xin hợp thức hóa.

    Từ Vàm Rầy, ngó lên phía Bắc, phía núi Cô Tô bên Châu Đốc là vùng hoang hóa, hồi trước, phần nhiều là ruộng ông Chủ Ri, ông Thầy Ban, nay bỏ hoang. Ai muốn vô đó xin làm ruộng một hai mùa, thì xin phép quận. Quận chấm tọa độ, cho ông X, ông Y nào đó tạm làm một hai mùa. Công việc rất dễ dàng, có thể mời ông quận, ông phó quận ly càphê là xong. Nếu trúng mùa, biếu hai ông mỗi ông một chai Henessy cổ đen (loại nầy ngon hơn cổ vàng, đúng gout dân Rạch Giá, là được). Đằng nầy, chẳng cần giấy tờ phép tắc chi hết, tới giăng giây giành đất, cất chòi, coi như đất ruộng của mình, là xong.

    Đang khi tôi và ông phó Nghiêm ngồi nghỉ mệt bên đường thì có một người đàn bà, trạc 30 tuổi đến hỏi tôi và ông phó quận là ai, xong, bà chìa ra một cái “bằng khoán”, cho biết rằng đất nầy của em bà, một ông đại úy hải quân, đang bị đồng bào chiếm. Bà ta nhờ can thiệp.

    Ngạc nhiên về chuyện ấy, tôi hỏi ông phó Nghiêm:

    -“Rừng cấm là thuộc quyền trung ương, trên bộ hay phủ thủ tướng cấp. Ông tỉnh trưởng địa phương đâu có quyền cấp bằng khoán nầy? Ông Phó học Quốc Gia Hành Chánh ra, chắc biết rõ hơn tui!”
    Phó Nghiêm cười, trả lời tôi:
    - “Ông hơi đâu mà lo. Cờ tới tay ai nấy phất. Mấy ông nhà binh biết hay không, cứ làm đại. Cái dù che cái cán là xong. Bọn tôi xuất thân trường hành chánh, nhưng chỉ làm phó, quyền hành gì đâu. Trình lên mà ông tỉnh trưởng không nghe thì làm gì ổng?”
    Tôi nói:
    - “Biết vậy, nhưng không làm cũng không xong. Mấy ông xếp bên tôi cũng là quân đội biệt phái như tôi vậy. Nhiều ông ẩu lắm. Cơ quan thi hành luật pháp mà vi phạm luật pháp mới buồn cười.”
    Phó Nghiêm nói:
    - “Luật pháp là của giai cấp thống trị, của người có quyền. May ra, hết chiến tranh, quyền cai trị trả lại cho dân sự, cho hành chánh, có dân chủ thật sự, quyền hành là của dân thì tình hình mới ổn định được.”
    Nhớ chuyện ông Chủ Ri, tôi hỏi:
    - “Việc bồi thường truất hữu cho ông già bà thủ tướng xong chưa?”
    - “Xong rồi!” Phó Nghiêm nói. “Tôi chỉ xác nhận trước 1945, đất của ông ta theo địa bộ thì chừng đó. Còn bồi thường là do bộ Cải Cách Điền Địa.”
    - “Tiền chắc khẳm. Ruộng ông ta nhiều lắm!” Tôi nói.

    Cách mấy tháng trước, tôi đến quận thì gặp ông Chủ Ri từ Saigon về, đang ngồi với quận trưởng. Tôi hơi ngạc nhiên về cách phục sức của ông. Theo người ta nói thì ông là người gốc Tây Ban Nha lai Miên, trước làm ruộng ở kinh Xà Tón, còn gọi là kinh 1. Kinh nầy nối dài từ Châu Đốc về tới kinh Rạch Giá - Hà Tiên. Nhờ con kinh nầy đem nước ngọt về, nên vùng đất của ông Chủ Ri ở Vàm Rầy thuộc xã Đức Phương làm ruộng được, đất rất tốt. Ông cho đào thêm một con kinh nữa, nối từ kinh 1 vô ruộng của ông, trong bản đồ ghi là kinh Chủ Ri. Phía bên kia kinh Xà Tón là đất của ông Thầy Ban, cũng có kinh Thầy Ban, đối xứng với kinh Chủ Ri. Tôi không rõ gốc gác ông Thầy Ban nầy.

    Ông Chủ Ri phải nuôi tới 200 con trâu để cầy ruộng cho ổng và cày thuê cho người ta. Tới “mùa nước nổi”, là nước lên khắp cả ruộng đồng, không có cỏ cho trâu ăn. Người ta phải lùa trâu lên vùng Thất Sơn (Bảy Núi - nói theo Việt Cộng) để có cỏ cho trâu ăn. Tới khi nước rút, cỏ lại mọc, người ta lại lùa trâu về. Công việc nầy gọi là “len” trâu. Mùa nước nổi nầy gọi là “Mùa len trâu”. Len là tiếng Miên. Đây cũng là một truyện (Mùa len trâu) trong “Tìm hiểu đất Hậu giang” của Sơn Nam, truyện đã được quay thành phim.

    Hôm đó, ông Chủ Ri ăn mặc như một nông dân giàu có ở miền Tây, mặc dù ông đi xe Toyota Crown, có tài xế riêng. Nghe nói trước 1945, nhà ông cũng đã có xe hơi riêng và có tài xế rồi (1). Ông Chủ Ri mặc một bộ đồ bà ba trắng tinh, mang dép da, tóc hớt cao, chớ chẳng veston, cà-vạt, giày da gì cả như tôi nghĩ. Giữa chỗ ngồi ông Chủ Ri và ông quận trưởng là một cái bản đồ vùng Vàm Rầy, đặt trên một cái giá gỗ. Ông Chủ Ri đưa bàn tay khá to của ông chụp lên vùng kinh Chủ Ri mà nói với ông quận trưởng: “Ruộng của tôi là chỗ nầy. Ông quận xác nhận cho tôi.”

    Bàn tay hộ pháp của ông chụp lên vùng đó thì coi như ông có cả ngàn mẫu ruộng. Một ngàn mẫu ruộng bị truất hữu, lại có ông con rể là đại tướng thủ tướng, tôi nói ông ta lảnh khẳm tiền là lẽ đương nhiên. Mấy ông chủ điền, năm 1945, sợ Việt Minh, bỏ chạy lên thành phố, ruộng giao cho tá điền muốn làm gì thì làm, có đóng tô cho ông chủ điền hay không, ông chủ điền cũng đành chịu, đâu dám về mà đòi tô, hoặc ruộng bỏ hoang hết rồi. Nay bỗng có chương trình “Người Cày Có Ruộng”. Chủ điền thì được bồi thường bạc triệu. Nông dân thì được cái bằng khoán làm chủ mẫu ruộng mình đang canh tác, chẳng còn ngại ngùng gì tới ông chủ điền cả, thấy khỏe bụng nhiều.

    Nhưng đó là đòn độc của ông Thiệu, tổng thống. Nông Dân đang làm chủ miếng ruộng của mình, có bằng khoán hẵn hoi. Sau 1975, Việt Cộng bắt vô “Hợp Tác Xã” hết. Nông dân mất ruộng, bằng khoán trở thành miếng giấy lộn mà cày cấy được bao nhiêu, thằng chủ tịch xã, thằng bí thư xã, thằng chủ nhiệm hợp tác xã ăn hết; “quá cha” ông chủ điền ngày xưa. Nông dân chỉ còn cái cọng lúa. Thành ra, người dân không muốn chống Cộng cũng phải chống, muốn yên thân cũng không yên được. Tôi nói đòn độc của ông Thiệu là nghĩa như vậy.

    Về điều nầy, tôi phải tự hào một chút mới được bởi vì mấy thầy, mấy quan lớn ngồi ở tỉnh, ở Saigon, đâu có lặn lội từng ấp, từng xã, từng quận như tôi mà biết dân tình như thế nào.

    Lại nữa, điều nầy cũng là nguồn gốc của phong trào dân oan đòi đất bây giờ đấy.
    Đất là nguồn sống bức thiết của nông dân. Có đất thì sống, có nơi làm nhà che mưa che nắng. Hồi xưa, chủ điền có đất giao cho nông dân tá canh thì chủ điền có cơm mà ăn, nông dân có cháo mà húp, nôm na thì gọi là “Kẻ ăn cơm, người ăn cháo”. Nay đất thuộc về nhân dân, đất là của nhân dân, không ai có quyền có đất. Đó là nói theo luận điệu Việt Cộng. Khổ nỗi, đất của nhân dân nhưng “nhà nước quản lý” mà thực tế, nhà nước là cán bộ đang nắm quyền làm chủ đất, có nghĩa là cán bộ trở thành chủ đất, chủ điền. Cán bộ phần đông thuộc hàng “ba đời đi ở, bốn đời làm thuê”, hay còn gọi là “tam đại bần nông, tứ đại khố rách”. Nay cán bộ nắm quyền giữ đất trong tay thì xài cái quyền đó thả xăng cho thỏa mối hận ba đời không có miếng đất cắm dùi. Cán bộ muốn làm gì thì làm, làm cho dân oan điêu đứng cũng là cách “trả thù đời” của cán bộ vậy, đâu cần nhân đạo, từ bi, phúc đức gì như ông bà xưa cho rắc rối.

    Việc như thế, tâm lý cán bộ như thế, lòng tham như thế thì nếu như - tôi nói nếu như - Nguyễn Tấn Dũng có muốn có công lý cho nông dân cũng không thể có được. Nguyễn Tấn Dũng có mọc ba đầu sáu tay thì cũng thúc thủ trước những vụ dân oan khiếu kiện bây giờ.

    (Kỳ sau: Lại tiếp chuyện ông Chủ Ri và chuyện ông linh mục Nguyễn Thượng Uyển)

    hoànglonghải


    (1) Nhân đây cũng xin kể một chuyện tình 50 năm về trước để độc giả thấy phong cách sống của dân chủ điền Nam bộ ngày xưa

    Khi vào trại tù cải tạo, tình cờ tôi ở chung đội với ông Năm Nho, Nguyễn Văn Nho. Ông già Nho đáng bậc tuổi cha chú tôi. Cũng vì tò mò, tôi hay tìm ông hỏi chuyện chơi, những chuyện mà tôi có đọc trong các tiểu thuyết viết về Nam Bộ của ông Hồ Biểu Chánh như “Cha Con Nghĩa Nặng”, “Ngọn Cỏ Gió Đùa”, v.v… Ông già Nho, gốc là đại úy Cảnh Sát, biệt phái làm trưởng phòng công xa Hạ Nghị Viện, quê ở Sóc Trăng, cháu ngoại một ông chủ điền giàu có lắm. Ông bà ngoại ông, mỗi năm được mùa, biểu ông lên Saigon hay Cần Thơ thuê gánh hát về hát cho tá điền coi chơi, khỏi mua vé. Ông Năm Nho ở với ông bà ngoại từ nhỏ, mẹ đi lấy chồng. Hình như ông ta tránh, không nói về cha ông hay bên nội ông là ai.

    Khi ông đã lớn, ông bà ngoại ông tính chuyện cưới vợ cho ông, bèn đánh tiếng với ông chủ điền ở Vàm Rầy. Bên đó bằng lòng. Mỗi năm vài lần, nhân dịp lễ tết xuân thu nhị kỳ, ông Năm lái xe hơi nhà - xe ông bà ngoại - từ Sóc Trăng qua Rạch Giá biếu quà cho ông bà già vợ tương lai. Ông Năm kể, giọng bùi ngùi: “Sau khi tìm hiểu gốc gác tôi, bên ông chủ điền xứ Vàm Rầy muốn từ chối, tỏ vẻ lạnh nhạt mỗi khi tôi mang quà qua thăm. Ông bà ngoại tôi biết họ chê gốc gác tôi không rõ ràng nên bèn thôi. Buồn tình, tôi đăng lính thủy, làm thủy thủ ngang dọc trên biển xa cho quên tình đời. Lâu lâu, tôi mới xin phép về thăm ông bà ngoại tôi. Thấy tôi bỏ quê, bỏ sự sản ra đi, ông bà ngoại tôi buồn lắm. Vì chiến tranh xảy ra, ông bà ngoại tôi lên Saigon, bỏ ruộng cho tá điền, chớ không thì không biết giao cho ai. Rồi tôi bỏ lính thủy, đi cảnh sát. Thấy người ta lấy chồng sĩ quan, rồi lên làm tướng, tôi cũng vui, cho rằng người ta có số cao, còn mình thì long đong. May lúc đó, ông bà ngoại tôi đã qua đời chớ không thấy tôi như vầy thì ông bà ngoại tôi buồn biết bao nhiêu!”
    #17
      lyenson 06.07.2008 12:42:08 (permalink)
      Phần 17 :
      Việc Làm Ruộng Sau Hiệp Định Paris 73 (tt-2)


      Như tôi có nói, Chủ Ri là tên gọi tắt ông chủ điền Henry. Thân sinh ông là người gốc Tây Ban Nha, lai Miên, mẹ là người Việt Nam. Cách sinh hoạt của ông y như một người Việt Nam, nhưng dân chúng địa phương nhiều người biết gốc gác ông như tôi vừa nói ở trên.

      Ông về làm ruộng ở đây từ lâu lắm, có thể từ đời thân phụ ông. Không ai biết rõ ông làm chủ điền từ lúc nào vì khi tôi về làm việc vùng nầy thì gia đình ông đã chạy trốn Việt Minh, lên ở ngay thị xã Rạch Giá từ 1945 hay 46 gì đó.

      Ruộng ông Chủ Ri nhiều lắm. Từ ngã ba kinh Tám Ngàn, còn gọi là Kinh 1 hay kinh Xà Tón, ngó ngược lên phía Bắc, bên tay trái là ruộng của ông Chủ Ri, bên phải là ruộng của ông Thầy Ban. Hai ông nầy ruộng ngang ngữa bằng nhau. Bên phía ruộng Chủ Ri, thì có kinh Chủ Ri, lấy nước ngọt từ Kinh 1 vào để rửa phèn làm ruộng. Đối xứng bên kia Kinh 1 thì có kinh Thầy Ban. Giữa hai khu ruộng nầy là Kinh 1, kinh nầy lấy nước từ sông Bassac, tức là sông Hậu, ở ngang Châu Đốc dẫn về tới kinh Rạch Giá - Hà Tiên. Những năm chiến tranh, ruộng nầy bỏ hoang, kinh nầy cũng bị bỏ hoang, không nạo vét gì cả, nhiều chỗ đất bồi nên cạn xợt, Mùa nước cạn, ghe thuyền không qua được, chỉ chờ khi nước nổi, mực nước sông Hậu dâng cao, đổ về ghe mới qua được chỗ nông. Dĩ nhiên, mùa cạn, ghe tàu không còn theo đường nầy lên Châu Đốc, tình trạng cũng giống như kinh Vĩnh Tế, - kinh nối liền Hà Tiên, qua Giang Thành, tới Châu Đốc vậy.

      Kinh 1 cũng đụng với kinh Kháng Chiến, là đường giây di chuyển 1-C của Việt Cộng. Dân chúng sợ gặp Việt Cộng nên không dám đi. Việt Cộng cũng cấm dân chúng đi ngang, sợ bị lộ, nhất là những khi chúng chuyển quân đông hay vận chuyển quân dụng, vũ khí, v,v…

      Ruộng thì ở trong kinh, nhưng ông Chủ Ri làm nhà ở kế bên lộ 8-A, con lộ nối liền Rạch Giá - Hà Tiên, chỗ gần ngã ba Kinh 1 và kinh Rạch Giá - Hà Tiên gặp nhau. Khi gia đình ông Chủ Ri sợ Việt Minh chạy trốn lên thị xã Rạch Giá thì nhà cửa ông Chủ Ri hư hại, bị Việt Minh phá hay đốt cháy hết, chỉ còn lại những cái nền gạch, và những ngôi mộ chôn cất ông bà tổ tiên ở trong một cái nghĩa trang nhỏ nằm sát đường đi. Mộ nầy xây gạch, sơn trắng, có người chăm sóc. Đi ngang đoạn đường nầy, người ta dễ thấy nghĩa trang nầy nằm bên trái, cạnh đường đi.

      Trước 1945, gia đình ông Chủ Ri ở đây, các con ông cũng học hành lớp 1, lớp 2 ở tại đây. Tôi đoán chừng vậy vì không biết hồi ấy, ở đây có trường tiểu học nào ở đây không. Có tên Tư Trạng, bị tôi bắt sau vụ Việt Cộng tấn công vào trụ sở xã và cảnh sát, phân chi khu xã Đức Phương nầy vào dịp sinh nhựt Hồ Chí Minh (19-5) năm 1973, khai rằng hồi nhỏ, (trước 1945) anh ta là bạn học với chị Tư Nết ở Vàm Rầy. Chị Tư Nết là tên gọi tắt cô Annette, con thứ Tư ông Chủ Ri. Sau nầy cô Tư Nết là vợ ông đại tướng Trần Thiện Khiêm.

      Tôi không rõ khu nhà tá điền của ông Chủ Ri ở đâu. Dọc hai bên trục lộ nầy, nếu nhà tá điền ở gần nhà ông, thì sau 1945, chắc chẳng còn gì nếu như là nhà tranh. Thực ra, vùng nầy không có nhà ngói, chỉ có vài cái nhà gạch lợp tôn, nhưng có lẽ mới dựng sau nầy, những năm hòa bình (sau 1954). Bây giờ, khu vực gần cầu Vàm Rầy và dọc theo trục lộ, gần ngã ba các kinh nói trên, chỉ toàn là nhà tranh của dân mới tới định cư. Ngay cả Xóm Biển cũng vậy. Xóm Biển là xóm nhà dân, nằm dọc kinh Vàm Rầy, là kinh nối liền kinh Rạch Gia - Hà Tiên với biển. Nhờ làm nghề biển, xóm nầy tương đối khá giả, nhiều nhà có TV chạy bằng bình điện, có ăng-ten TV chỉa lên trời. Có lần, tôi đến nhà ông Tư Sậm, chủ ghe biển ở đây, xin con cá chẽm khô cho ông anh bà con ở Saigon, nói đùa với ông ấy: “Hồi Tết Mậu Thân, ngoài Huế, nhà nào có ăng-ten TV đều bị Việt Cộng bắt. Họ nói nhà đó có điện đài liên lạc với địch. Ông và dân xóm ông nhiều “điện đài” như vậy, có sợ Việt Cộng không?” Ông ta cười, trả lời: “Việt Cộng ở đây khác với Việt Cộng ngoài đó. Ở đây là con Sáu Lánh chớ ai đâu!”
      Xin nói qua chuyện “Con Sáu Lánh” một chút.

      Com Sáu Lánh nhà ở ngã ba kinh Xà Tón, tức là gần nhà ông Chủ Ri cũ. Con nhỏ ham coi cải lương, tối thứ bảy nào cũng vào xóm biển coi cải lương trên TV nhà Tư Sậm. Chương trình cải lương chấm dứt khuya lắm. Trên đường về, Sáu Lánh đi một mình. Khi ngang qua trường học, nó bị con trai Tư Sậm dụ vào trường học rồi hiếp dâm. Việc thưa ra tòa. Con trai Tư Sậm khai là con nhỏ đồng ý; con Sáu Lánh thì khai rằng có chống cự nhưng chống không lại vì con trai Tư Sậm mạnh quá! Cả hai đứa đều tuổi vị thành niên. Con Tư Sậm mà vị thành niên gì nữa. Nó đã trên 20, nhưng khai nhỏ tuổi, dùng giấy khai sinh giả để trốn quân dịch. Tư Sậm bỏ tiền lo cho con vì nó còn trẻ, mạnh khỏe, lái ghe và đánh cá cho cha mỗi ngày. Mất nó thì Tư Sậm như mất một cánh tay. Không biết tòa xử như thế nào mà con Sáu Lánh thua kiện. Ức tình, con nhỏ bỏ nhà thoát ly, theo Việt Cộng. Còn con trai Tư Sậm thì bỏ nhà trốn ra sinh sống ngoài Hòn Nghệ cho dễ trốn quân dịch.

      Hôm Việt Cộng đánh vào xã, con Tư Lánh có mặt trong đám du kích. Đại úy Danh Lon, trưởng ban 2 Chi Khu, hôm đó, chỉ huy trung đội nghĩa quân đóng ở đầu cầu Vàm Rầy, thấy rõ con Sáu Lánh đặt cây súng trung liên bar bên hông chợ bắn vào đồn của Danh Lon. Cây súng nầy nó lấy được của phân chi khu Đức Phương. Bắn xong, con nhỏ còn cười, nói lớn, nhiều người trong chợ cũng nghe: “Súng của ngụy bắn đã quá!” Kể lại chuyện đó cho tôi, đại úy Danh Lon còn nói đùa: “Súng của thằng con trai Tư Sậm bắn không đã nên con nhỏ mới theo Việt Cộng đó!” Nói xong, Danh Lon cười. Tôi hiểu ý đen trong câu nói của ông ấy, nên cũng cười theo.
      Cầu Vàm Rầy bắt ngang qua con kinh Vàm Rầy nầy.
      Những năm Việt Minh mới cướp chính quyền, gia dình ông Chủ Ri chưa chạy lên Rạch Giá, mỗi khi “Thổ dậy”; từ xóm Miên (người ta không gọi là Xóm Thổ, sợ lầm với nhà thổ chăng?), dân Miên cầm chà gạc xuống tấn công, giết chóc và đốt nhà người Việt Nam ở gần cầu Vàm Rầy, thì ông Chủ Ri đứng ra can thiệp. Nghe tin “Thổ dậy”, ông cầm cây súng dài - Ông là dân Tây, có quyền mua súng - ra đứng trước nhà ông, chờ người Miên tới gần, ông biểu họ lui. Xong, ông đưa súng lên trời bắn đùng một phát. Thế là dân Miên sợ, bỏ chạy lui hết. Xóm làng yên ổn trở lại.

      Người ta nói ông Chủ Ri, tuy gốc Miên lai Tây Ban Nha, nhưng ông cũng có máu lai Việt và bênh vực người Việt Nam. Cũng có thể ông thấy chuyện “Thổ dậy” là sai nên đứng ra can thiệp.

      Thổ dậy” là hiện tượng xáo trộn ở thôn quê miền Tây Nam Bộ thời Việt Minh, khi quân Pháp chưa tái chiếm vùng nầy. Bấy giờ Việt Minh yếu thế lắm, không giữ được an ninh trật tự cho xóm làng. “Thổ dậy” cũng là hiện tượng trả thù của người Miên vì người Miên cho rằng người Việt, từ các đời chúa Nguyễn, đã cướp đất đai của họ. Trong dân chúng Miên, người ta đồn đãi nhiều về những việc ác của quan An Nam đã làm khi họ chiếm đất của Miên, tạo thành những mối thù dân tộc truyền kiếp đã có từ lâu lắm. Khi bọn Khmer Đỏ cai trị Kampuchia, để chống Việt Nam, mối hận thù dân tộc nầy cũng được khơi dậy, thêm thắt cho ly kỳ gay cấn. Những chuyện tàn ác như chuyện đào kinh Vĩnh Tế hồi ông Thoại Ngọc Hầu làm quan ở đây, được thêm thắt tô vẽ nhiều lắm. Khi tôi làm việc ở vùng nầy, tôi cũng cảm nhận được điều đó khi tiếp xúc với người Miên, mặc dù người Miên ở đây không ròng, có nghĩa họ là người Miên lai Tàu, địa phương thường gọi họ là “đầu gà đít vịt”.

      Khi Việt Minh tổ chức vận động “Toàn dân kháng chiến” chống Pháp, thì người em út ông Chủ Ri, thường gọi là chú Út, tham gia Việt Minh và bị Tây giết. Giữa năm 1974, khi tôi đang trên đường từ Hà Tiên đi Rạch Giá, thì thiếu úy Nguyễn Minh Chiếu, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, báo cho tôi biết có “Anh Hai Re” về thăm. Hỏi thêm mới biết “Anh Hai Re” là con trai trưởng ông Chủ Ri, tức anh bà đại tướng, thủ tướng. “Re” có phải tên tắt của Robert? Tôi ghé lại Đức Phương, gặp anh ta đang ngồi uống càphê trong một tiệm hủ tiếu ở chợ xã. Anh nhờ tôi tìm giùm mộ chú Út. Anh ta cần đi gấp, ra Phú Quốc, bàn chuyện khai thác gỗ ngoài đó nên không có thì giờ. Tuy nhiên, thấy ông ta đã hơn 40 mà trên xe Jeep của ông có một cô gái đẹp lắm, mới khoảng 20 tuổi, thì tôi đoán chừng được tại sao ông ta không có… thì giờ. Cô ấy là “bạn gái” của ông, như ông giới thiệu.

      Sau đó, tôi hỏi mấy cụ già địa phương để tìm mộ chú Út giùm, theo lời “Anh Hai Re” nhờ. Ông Út bị Tây bắn năm ông khoảng ngoài 20 tuổi, hồi đầu kháng chiến chống Pháp. Lúc nầy gia đình ông Chủ Ri đã chạy trốn Việt Minh lên Rạch Giá rồi, nên khi “chú Út” chết thì dân địa phương lo việc chôn cất. Thay vì đem về chôn ở nghĩa địa chung của gia đình, dân chúng chôn ở bên kia kinh, ngay chỗ ông ấy bị Tây bắn, sát bờ đất, gần ngã ba Kinh 1 với kinh Rạch Giá - Hà Tiên. Ngôi mộ nầy bị mất dấu tích, không tìm lại được vì M-113 lên xuống ở bờ kinh nầy nhiều lần, bánh xích càn mất mộ. Mộ lại chẳng bia hay làm dấu tích gì cả. Các cụ già chỉ cho tôi chỗ ngôi mộ ấy, đoán chừng ở một khoảnh đất trống bên bờ kinh, không chắc ở chỗ nào. Khi mất, ông Út chưa có vợ con gì.

      Những người như chú Út rất đáng thương tâm. Việt Minh thì cho rằng ông là em ông chủ điền đã trốn Việt Minh, theo Tây lên Rạch Giá, nên không ngó ngàng gì tới. Vã lại, ông ta chết sớm, còn nếu như không thì không chắc ông ở với Việt Minh được. Ông đâu phải là gốc tam đại bần nông, tứ đại khố rách. Còn phía Quốc Gia thì cho rằng ông ấy theo Việt Minh, làm sao lập mộ, lập bia “Tổ Quốc Ghi Ơn” cho ông ta. Đó là cái oái oăm của lịch sử, cái trớ trêu của số phận, mà những người yêu nước, theo Việt Minh chống Pháp, hy sinh. Rồi dân tộc Việt Nam, hoặc vì bị bên nầy khống chế, bị bên kia cai trị, chẳng ai có chút công tâm để ghi ơn những người thực sự đã vì tổ quốc, dân tộc mà bỏ mình, không vì đảng phái hay phe nhóm nào cả, mồ mả không ai ngó ngàng, chăm sóc, đến nỗi không biết thân xác nằm ở chỗ nào, xiêu lạc nơi đâu. Đúng là “mồ xiêu mả lạc” như tục ngữ nói. Sao người ta vô ơn quá vậy!

      Trên đường Rạch Giá - Hà Tiên, ngoại trừ xã Mỹ Lâm, quê hương Nguyễn Tấn Dũng có rất ít người Miên, còn những xã còn lại, hoặc người Miên đông hơn người Việt hoặc ngược lại. Những xã ấp có tên từ gốc Miên như Sóc Sơn, Lỳnh Quỳnh người Miên hoặc Miên lai Tàu chiếm tám chín mươi phần trăm, một ít người Việt làm nghề buôn bán. Người Miên không rành buôn bán, mặc dù có người Miên lai Tàu. Có máu lai Tàu mà chẳng có khiếu buôn bán như người Tàu chút nào cả.

      Trên con đường nầy, những ấp như Sóc Sơn, Lỳnh Quỳnh, Xà Ngách, Bãi Chà Và, Ba Hòn, Hòn Chông, v.v… phần đông là người Miên, người Việt rất ít. Người Miên thật thà, chất phác, làm ruộng, làm rẩy, đánh cá, nuôi heo… Người Miên ở ấp Xà Ngách có thêm một nghề: Đập đá. Đá vôi, chủ lò vôi dùng thuốc nổ lấy từ trong núi, dùng ghe chở về lò vôi. Để đốt cho chín đều, vôi phải đập nhỏ, mỗi cục bằng nửa cái trứng gà. Một người đàn bà, còn đủ sức, mỗi ngày đập được hơn một khối đá, được chủ lò vôi trả cho mỗi khối 20 chục đồng tiền hồi đó, tính ra bằng giá hai tô hủ tiếu bán ở chợ. Vì nghèo nên rán mà làm thêm kiếm chút đỉnh tiền bạc, chớ chẳng giàu có gì được!

      Người Miên nuôi heo thả, không nuôi chuồng như người Việt. Con heo nái, khi sắp đẻ, nó vào rừng (rừng lau, sậy, cóc kèn, ô rô, v.v…) sinh con trong đó. Khi đàn heo con đã lớn, chạy quanh kiếm ăn được, heo mẹ đem heo con về.

      Trước chiến tranh (1945-75), vùng nầy rất nhiều cá, hầu hết là cá đồng, - người Miên ít ai làm cá biển - không ăn hết thì họ xây lò sấy cá cho khô. Lò sấy cá gọi là lò bôm. (Nay còn tên ấp Lò Bôm ở thị trấn Kiên Lương) để dành được lâu.

      Con trai lớn lên thì vào chùa tu. Những người tu lâu, lớn tuổi được gọi là “ông lục”. Lên tới ông lục thì có thể ở tu luôn thành đại đức. Phần đông, khi tới 17 hoặc 18 tuổi thì về, không còn tu ở chùa nữa, trở lại đời sống bình thường, lấy vợ, lập gia đình, có con cái. Thời chiến tranh, khi tới tuổi đi lính thì họ trình diện vào quân đội hoặc xin vô cảnh sát, xây dựng nông thôn, v.v… ít ai trốn quân dịch hay đào ngũ. Những vùng xôi đậu, cũng có một số ít người “thoát ly”. Theo Việt Cộng, ít ai được làm ông lớn vì bản tính thật thà, không được Việt Cộng tin tưởng. Dương Nganh, tự Xà Rum, theo Việt Minh, sau theo Việt Cộng, nghĩa là theo Cộng Sản từ lâu, cũng chỉ làm tới bí thư xã Dương Hòa, được ít lâu cũng bị ra rìa. Hai Ngộ, tên đầy đủ là Nguyễn Văn Ngộ, người Việt lên thay.

      Người Miên xứ nầy cũng “làm biếng” như người Miên bên xứ Kampuchia, có nghĩa là khi có việc gì nặng nhọc, người đàn ông mới làm, như làm ruộng, đào mương, đào kinh, đắp đê, đánh cá… Còn thường ngày, không có việc gì nặng nhọc thì họ cứ tà tà, buổi sáng ngồi hút cần sa, chiều ra quán hay mua rượu đế về nhà uống. Mọi việc trong nhà, nuôi heo, nuôi gà, làm đường thốt nốt, nấu ăn, chăm sóc con cái thì người vợ cáng đáng cả.

      Người Miên hút thuốc lá, thường do họ tự trồng lấy, hút được rẻ. Họ không đủ sức mua thuốc làm sẵn cho vào bao, dù đó là thuốc Bastos xanh hay đỏ.

      Hầu hết họ sùng tín đạo Phật, phái tiểu thừa. Họ không đi chùa thường ngày rằm và mồng một như người Việt. Nhưng mỗi năm vài ba lần đi chùa thì chăm lắm, bận việc mấy các cô các bà cũng đi. Họ gọi là đi làm phước. Không làm phước thì không được phước. Họ tin như vậy.

      Một năm, ông lục ở chùa Ba Hòn mời tôi tới ăn đồ cúng, nhân một dịp lễ nào đó, tôi không nhớ. Họ quí mình lắm mới mời ăn chứ thường ra, cuộc sống họ khép kín, ít quan hệ với người ngoài xứ sở của họ. Biết vậy nên tôi buộc lòng phải đi. Người Miên không ăn chay, cúng cũng cúng mặn, cũng heo gà là món ăn thường, do họ tự nuôi lấy. Đang ngồi ăn, thấy ông lục ngồi tiếp tôi ở trước mặt, tay ông đầy ghẻ, khiến tôi nghẹn lại, ăn không được. Họ cũng như người Việt ở thôn quê, cuộc sống còn lạc hậu, thường ở dơ.

      Vùng nầy ít nghe nói bùa phép, nhứt là bùa cà-tha mà người ta nói rất thiêng. Tuy nhiên, cũng có vài nhà - phần đông là người Miên lai Tàu - dùng “thuốc”, nghĩa là bùa có chất độc, đụng nhằm thì chỉ có chết, không cứu cấp gì được vì không biết bệnh gì. Lính tráng đi hành quân, thấy có ớt ngon, hái một ít bỏ túi về ăn cơm. Có người Miên ở ấp Hòn Chông chơi độc, thuốc vào cây ớt, ai ăn nhằm “trúng thuốc” mà chết. Tôi hỏi một người Miên, lính của tôi, “thuốc” như thế nào thì anh ta giải thích: “Chặt đầu một con rắn độc chôn vào gốc ớt. Ai ăn nhằm, bị độc mà chết.” Việc “bỏ thuốc” như thế nầy, thường xảy ra ở vùng người Miên. Những chữ tôi viết trong ngoặc kép nói trên là tiếng địa phương nói về việc “thuốc” ấy.

      Cũng tại vùng nầy, người Miên lai Tàu thường có khuynh hướng theo Việt Cộng hoặc ghét Quốc Gia hơn là người Miên chính gốc. Tên Lâm Hải, trưởng ấp Rạch Đùng, xã Bình Trị (tên cũ là Hòn Chông), dẫn hầu hết đám Nhân Dân Tụ Vệ ấp kéo vô rừng theo Việt Cộng. Hoặc ở ấp Ba Hòn, có tên Miên lai Tàu, làm địch vận, dẫn Việt Cộng vô tước hết súng của toán Nhân Dân Tự Vệ lúc người Miên đang ngủ.

      Ngược lại, ở xã Sóc Sơn, Nhân Dân Tự Vệ chống trả mãnh liệt khi Việt Cộng tấn công vào xã. Việt Cộng không những không chiếm được xã mà còn chạy trối chết, không kịp đem xác đồng bọn theo, bỏ lại không ít ngoài hàng rào trụ sở xã.
      #18
        lyenson 06.07.2008 12:48:45 (permalink)
        Phần 18 :
        Nông Trường Chuối Của Ông Tỉnh Trưởng

        Tôi không biết rõ tình hình ở trung ương nhưng ở các tỉnh, các quận, khoảng năm 1973, 74 việc thành lập các Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp được dựng lên ở nhiều tỉnh, quận; nhất là những quận lớn như quận Thốt Nốt thuộc tỉnh Long Xuyên, quận Kiên Tân (Cái Sắn) của Kiên Giang. Mỗi tỉnh đều có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp hoặc chương trình nông nghiệp của Ngân Hàng Việt Nam Thương Tín (?).

        Theo tôi biết, chương trình thiết lập ngân hàng phát triển nông nghiệp ở Việt Nam là cái đuôi của cuộc “Cách Mạng Xanh” ở bên Mỹ. Tôi nhớ không lầm thì trước việc các nước Cộng Sản phát động “Cách Mạng Đỏ” với đầy máu và nước mắt của lương dân thì để chống lại Cộng Sản, Hoa Kỳ phát động “Cách Mạng Xanh”, tức là việc phát triển nông nghiệp, đem lại no cơm ấm áo cho người dân.

        Chính phủ Hoa Kỳ ban hành đạo luật 480, đầu tư tiền bạc giúp nông dân khai hoang, phát triển canh tác, trồng lúa, trồng bông, v.v… Truớc sự thành công của Mỹ, và cũng do Mỹ tài trợ, hệ thống ngân hàng loại nầy được dựng lên nhiều nơi, các nước chậm tiến và dĩ nhiên, cũng ở Việt Nam.

        Hôm khánh thành Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn, có phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo về chủ tọa, tôi đuợc mời tham gia, qua đó, làm quen với một vài người chỉ huy, người bỏ vốn đầu tư ở ngân hàng.

        Nông dân, phần nhiều là người Nam thường thiếu tiền làm mùa. Người Bắc trong dinh điền Cái Sắn, phần đông làm ăn chín chắn hơn. Từ lâu, họ có thói quen chuẩn bị sẵn lúa giống và tiền bạc cho mùa sau, sau khi thu hoạch mùa trước. Vì vậy, họ có thừa tiền.

        Người Nam, phần nhiều ở các xã Tân Hội, Mông Thọ thì ngược lại, gọi là đánh bạc “vui chơi ba ngày xuân” nhưng ba ngày của họ dài tới 365 ngày, coi như suốt năm. (Tôi có nói về việc đánh bạc nầy ở một bài khác). Vậy nên đến khi làm mùa thì thiếu tiền: Tiền mua lúa giống, tiền thuê máy cày, tiền nhân công cấy, sạ, đắp bờ, be đất, v.v…

        Trước kia thì họ đi vay hoặc “bán lúa non”. Tiền lời cắt cổ, xanh xít đít đui. (1) Nay nhờ có Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp, nông dân khỏi bị các bà nhà giàu, các bà “mua lúa non” (2) bóc lột.

        Nhờ hệ thống ngân hàng nầy, nông dân có lợi, mà ngân hàng cũng có lời.
        Tuy nhiên, tình hình ở Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp Cái Sắn thì ngược lại. Ngân hàng Phát triển Nông Nghiệp Cái Sắn ở quận lỵ Kiên Tân, cho vay và nhận tiền đầu tư của nông dân của bốn xã: Thạnh Đông, Tân Hiệp, Mông Thọ, Tân Hội, tổng cộng khoảng trên 95 ngàn dân, đông gấp ba dân số tỉnh Kiến Phong. Xã Tân Hội và Mông Thọ phần đông là người miền Nam, dân số ít hơn. Xã Tân Hiệp và Thạnh Đông là đông dân nhất, mỗi xã trên dưới ba chục ngàn, phần nhiều là người Bắc di cư. Tình hình chung thì người Nam vay nhiều, việc bỏ vốn đầu tư coi như không có. Dân di cư vay thì rất ít mà bỏ tiền vô ngân hàng đầu tư thì nhiều. Kết quả, ngân hàng ôm một số tiền lớn mà không cho vay được. Tiền nầy nhận vào là phải trả tiền lời cho nông dân. Ấy là chưa kể vốn ngân hàng là 20 triệu, chính phủ ứng vốn thêm bằng số tiền đó là 20 triệu nữa. Tiền chính phủ ứng vốn khỏi trả tiền lời. Trước tình đó, ngân hàng phải cầu cứu với trung ương, trung ương phải cho chuyển tiền qua những ngân hàng khác. Phần nhiều các ngân hàng khác thường thiếu vốn, không đủ cho nông dân vay, không giống ngân hàng Cái Sắn. Đến 30 tháng Tư - 1975, nhiều nông dân bỏ vốn đầu tư rút về không kịp, coi như mất trắng mồ hôi nước mắt.

        Có tiền ngân hàng, một số người cấu kết với tỉnh trưởng, mở nông trường trồng chuối để xuất khẩu sang Nhựt Bản. Nghe thì hay lắm vậy!

        Một hôm, từ Rạch Giá về Hà Tiên, quá chỗ Vàm Rầy một chút, tôi thấy người ta đang đào một vùng kinh vuông, nghĩa là bốn cái kinh, chung quanh một khoảnh đất vuông. Mỗi kinh dài khoảng 300 thước tây. Bên trong các kinh đào ấy, người ta trồng chuối, loại cây cũng đã khá cao. Chỗ nầy có dựng bảng đề là nông trường chuối. Bảng đề là Nông Trường mà chu vi thì chỉ mới bằng cái vườn nhà quê. Dĩ nhiên, nhiều người biết nông trường nầy tới khi thu hoạch được, sẽ xuất khẩu sang Nhựt Bổn, giống như nhà máy Sumaco ở ngoài Hòn Ngang (Tên trong bản đồ là Hòn Đội Trương) vậy. (Tôi sẽ nói tới công ty nầy sau).

        Vậy rồi ít lâu sau, tin của Cảnh Sát Xã Đức Phương báo cáo lên cho biết, Việt Cộng về hoạt động ở nông trường chuối, quân ta pháo kích vào nông trường của ông tỉnh trưởng. Nông trường bị tanh banh ra cả, thiệt hại coi như 100%. Sau đó bị bỏ hoang.
        Tôi xuống quan sát tại chỗ vì nông trường nầy là của ông lớn cấp tỉnh. Lỡ thượng cấp hỏi tới thì báo cáo cho rành rọt.

        Ai ngờ!

        Ông xã trưởng Ngô văn Àn nói với tôi, khi tôi hỏi chuyện ông ấy: “Phen nầy ông tỉnh trưởng trúng to!”

        Hỏi tới thì ông xã trưởng giải thích như sau:
        - “Ông tỉnh hợp tác với một số người, cho mở nông trường. Làm chừng đó tốn chưa tới 100 ngàn, mà khai với chánh phủ bỏ vốn ra 20 triệu. Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp xin chính phủ đối vốn 20 triệu nữa là 40 triệu. Dùng một cái, nông trường tanh banh, bỏ dở công việc. 20 triệu vốn của ai về nấy, còn 20 triệu của chính phủ cũng coi như xong.
        - “Sao gọi là xong?” Tôi hỏi.
        - “Việt Cộng pháo kích vô, coi như xong. Chính phủ mất tiền.”
        Tò mò, tôi hỏi bên chi khu, chi khu cho biết:
        - “Tiểu khu có công điện thông báo Việt Cộng về ẩn núp ở nông trường chuối. Trung đội vũ khí nặng của ông thiếu tá Thành, tiểu đoàn 530 Thần Hổ (Địa phương quân – tg), được lệnh tiểu khu trưởng pháo tối đa vào nông trường.”
        Tôi nói với ông thiếu tá quận trưởng:
        - “Tôi có tin gì ghi nhận hay báo cáo về việc Việt Cộng kéo vô nông trường chuối đâu. Chỗ đó một bên là lộ, một bên là biển, mình tấn công, tụi nó rút đường nào?”
        Quận trưởng cười:
        - “Ông sao chẳng biết chi hết! Không pháo vô vườn chuối, làm sao có 20 triệu.”
        Đấy! “Cách Mạng Xanh” của nước ta đấy. Hai trăm năm nữa, chưa nắm kịp cái đuôi thằng Mỹ.”

        (1) Xanh xít đít đui là vay năm (cinq) trả thành sáu (six) vay 10 (dix) trả thành 12 (douze). Trước 1975, ở miền Nam, thường cho vay với phân lời như thế, bị lên án là cho vay “cắt cổ”. Việt Cộng gọi là “bóc lột”, nghề cho vay là nghề “Ngồi mát ăn bát vàng”. Hiện giờ, trưởng công an các quận ở Saigon, đặc biệt quận Bình Thạnh, quận Gò Vấp đều “làm thêm” nghề cho vay, và thường cho “vay nóng”. Nghĩa là vay “khẩn cấp” (để chạy án, hối lộ, v.v…) với phân lời rất cao, vay một trả một tiền lời. Vay một triệu thì tiền lời mỗi tháng (mỗi tháng chớ không phải mỗi năm, nhớ cho vậy) là một triệu. Có người thuật lại rằng một cô gái làm điếm bị bắt, phải “vay nóng” để có tiền mà ra khỏi nhà giam. Tiền vay phân lời cao đến nỗi vay một triệu, trả tiền lời mỗi tháng một triệu. Mỗi tháng cô ta chỉ đủ khả năng trả tiền lời cho trưởng công an quận Bình Thạnh. Như vậy, cô ta phải làm điếm suốt đời mà không bao giờ trả hết nợ, trong khi đó tên trưởng công an quận Bình Thạnh vẫn rêu rao rằng, nhờ y cho vay nên cô gái mới ra khỏi tù được. Vì vậy, việc cho vay của y là rất nhân đạo!

        (2) “Mua luá non” là hình thức cho vay có cầm thế lúa rất phổ biến ở Kiên Giang. Từ khi sạ đến trước khi thu hoạch, nông dân có thể bán lúa non cho nhà giàu để vay tiền. Càng gần ngày thu hoạch thì tiền vay được cao hơn. Nhiều tay ham cờ bạc, đến khi lúa chín thì các bà “mua lúa non” cho người gặt hết, nông dân coi như trắng tay. Làm một mùa chẳng thu được hột lúa nào!
        #19
          lyenson 06.07.2008 12:55:28 (permalink)
          Phần 19 :
          “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ…”




          Trong các bài trước, tôi có nói việc thu thuế của Việt Cộng. Thu thuế xài riêng mà bao giờ cũng nhân danh “cách mạng”, nhân danh “nhân dân”. Vợ Tư Ngọc “đeo vàng đầy mình” hay việc Năm Tu Hú thu thuế lấy tiền xài chơi như tôi có kể trước kia, có “chính nghĩa” gì đâu?!

          Bài vừa rồi, tôi có nhắc tới “Con Sáu Lánh” theo Việt Cộng. Cha nó, ông Phan Văn Lơi, tên thường gọi là Bảy Lơi, cũng bỏ nhà vô bưng với con gái. Không phải ông ta thương con mà đi theo! Vô trong ấy, có ăn, có tiền, mà khỏi phải làm gì cả; lại có súng AK, có quyền, ai ai cũng sợ! Chỉ một bước, từ nhà vô bưng, chưa tới 10 cây số, từ thằng dân ngu cu đen, trở thành “quan cách mạng”, ai chẳng muốn làm quan, chẳng ham! Tính người Việt vốn ưa làm quan. May mắn như Nguyễn Tấn Dũng, mới là du kích xã Mỹ Lâm đó, vô bưng làm “quan cách mạng”, nay làm thủ tướng, bắt tay Bush chơi! Vậy thì ai chẳng muốn “làm cách mạng” nhỉ?

          Tư Trạng, nhà ở gần cầu Vàm Rầy, nguyên là lính Bảo An thời cụ Ngô, bị thương què tay được giải ngũ. Trước 1945, Tư Trạng có nói là học cùng một lớp với chị Tư Nết, (tên Tây là Annette). Khi gia đình ông Chủ Ri sợ Việt Minh nên chạy trốn về Rạch Giá, làm chủ Câu Lạc Bộ ở Secteur de Rachgia, thỉnh thoảng Tư Trạng ra tỉnh, có ghé thăm. Tư Trạng nói với tôi: “Hồi đó có ông “quan hai” hay tới lui câu lạc bộ nầy, sau đó cưới chị Tư làm vợ.

          À! Chuyện nầy cũng dễ đoán ra. Người dân xã Mông Thọ nói rằng, khi ông Trần Thiện Khiêm còn mang lon trung úy - hai gạch ở trên vai, - thì chỉ huy đơn vị đóng ở Mông Thọ. Vậy thì ông quan hai nầy, vô ra secteur mà dính với chị Tư Nết chớ gì. Ai chẳng nghĩ vậy!

          Ở Vàm Rầy, Tư Trạng sống dưới nhiều chế độ: Thời “chín năm” (1945-54 - Việt Minh), thời Tây tái chiếm Rạch Giá - Hà Tiên, thời Cộng Hòa cụ Ngô, cũng như thời ông Thiệu… Bây giờ thì Tư Trạng ở với “chế độ thống nhất đất nước” thì không biết Tư Trạng sống làm sao, chớ hồi ấy, sống với Việt Cộng, Tư Trạng bất mãn nhất. Tư Trạng than:

          -“Què như tôi, làm chi để sống?! Có chút tiền, tôi làm chủ vựa tràm. Dân đốn tràm ở trong kinh đem về, bán cho tôi. Khi có tiền, tôi trả đủ cho họ; khi kẹt tiền, tôi mắc chịu lại ít nhiều. Vì quen biết, vã không bán cho tôi cũng không bán cho ai được, nên người ta cũng rán chịu. Tôi gom tràm, chờ người từ Rạch Giá hay trên Saigon về mua, bán lại ăn tiền đầu. Tiền đầu ăn ít ít. Ăn cao quá, người ta không chịu mua tràm của mình mà dân đốn tràm cũng than van vì trả rẻ thì sao?! Họ cũng khổ lắm!”

          -“Khổ vì Việt Cộng?” tôi hỏi.
          - “Chớ chi!” Tư Trạng trả lời.
          - “Tôi nhớ câu cảnh cáo của Việt Cộng “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà!” Có ai bị bắt tù chưa?” Tôi hỏi.
          - “Không chừng ông à! Thường dân chúng chỉ gặp du kích, tử tế thì nó tha, không ưa thì nó bày đủ thứ chuyện để làm khổ dân! Có khi bắt đi mất tiêu, không thấy về.” Tư Trạng nói.
          - “Thông thường thì dân bị gì?” Tôi hỏi.
          - “Thông thường thì đuổi về, không cho đốn tràm, ngoại trừ ai có bà con thân nhân với du kích thì được làm lơ. Ngoài ra thì bị tịch thu dao rựa, tịch thu cưa. Có khi họ cưa xuồng. Chiếc xuồng bị cưa làm đôi coi như bỏ. Trong khi người ta khóc lóc, than vãn thì tụi nó tỉnh khô. Chúng nó nói là vì lợi ích cách mạng, nên việc chi cũng làm, việc chi cũng làm được, không ngần ngại chi cả.” Tư Trạng nói.
          - “Khổ dữ!” Tôi nói. “Họ không lo chi cho dân hay sao! “cách mạng” mà?”
          - “Cách mạng” con khỉ khô.” Tư Trạng nói. “Họ chẳng lo gì cho dân đâu!”
          - “Thiệt không ông?” Tôi nói. “Không lý nói mà không làm.”
          - “Không có đâu. Họ nói vậy mà không phải vậy, có lo chi cho dân đâu! Mấy chục năm tôi ở đây, chỉ thấy có thu thuế. Thuế tràm, thuế cá đìa, thuế máy cày, thuế nông nghiệp. Thuế nông nghiệp thu ác lắm!” Tư Trạng nói.
          - “Ác là sao?” Tôi hỏi.
          - “Tôi có kể cho ông nghe chuyện Bảy Lơi, cha con Sáu Lánh, thu thuế nông nghiệp rồi đó. Thu như vậy thì tôi còn hột lúa nào đâu! Vậy mà nó bắt đóng đủ, xin xỏ mấy cũng không cho, thiếu đường tôi muốn khóc vì cha con Sáu Lánh đó! Nó giữ ghe tôi suốt đêm, phải đóng đủ nó mới cho về. Vậy mà quốc gia lo cho nó chu đáo mới tức cười.” Tư Tạng than thở.
          Tôi hỏi:
          - “Phải chuyện Bảy Lơi bị thương nằm ở bệnh viện Châu Đốc?”

          Theo hồ sơ trận liệt, Bảy Lơi là cán bộ thu thuế của Việt Cộng xã Đức Phương, huyện Hà Tiên. Vậy mà đến khi bị máy bay trực thăng bắn bị thương, thì thay vì điều trị ở bệnh viện huyện đội của Nguyễn Tấn Dũng thì lại vô nằm bệnh viện Quân Dân Y tỉnh Châu Đốc của chính quyền Quốc Gia. Cũng dễ hiểu thôi! Vùng hoạt động của chi ủy Cộng Sản Đức Phương là khu rừng tràm trên đường giây 1-C, trên ranh giới hai tỉnh Châu Đốc và Kiên Giang. Gốc tích Bảy Lơi thì ở Kiên Giang, còn khi bị thương đưa vô bệnh viện Châu Đốc. Bên đó đâu từ chối. Các cơ quan Phụng Hoàng thiếu cập nhật hồ sơ trận liệt, thiếu thông báo cho nhau nên Cộng Sản mới ngang nhiên như thế, giống như trường hợp ông Đạo Sáu lên cư trú tại phủ Cây Tùng tôi đã kể trước đây vậy thôi!

          Nghe tin đó, tôi chỉ thị cho thiếu úy Kiệt qua bệnh viện Châu Đốc tìm Bảy Lơi. May cho y, khi ông Kiệt qua tới bên đó thì Bảy Lơi đã được con gái là Sáu Lánh tới đón xuất viện rồi. Nghĩ cũng buồn cười: Bên phía tỉnh Kiên Giang thì hai cha con Bảy Lơi trốn biệt Quốc Gia, không dám xuất hiện; bên phía Châu Đốc, hai cha con nhà nó có dắt nhau ra chợ ăn hủ tiếu cũng chẳng ai đụng tới cái lông chân.

          Mai mốt, nếu có dịp may, tôi sẽ hỏi Nguyễn Tấn Dũng chuyện nầy chơi! Cán bộ của y, y không lo, lại giao cho chính quyền Quốc Gia lo. Vậy thì Việt Cộng chơi khôn, còn Quốc Gia thì dại hay sao?!

          Quả thật Quốc Gia dại, bởi chữa chạy cho cán bộ Bảy Lơi xong, nó lại đi “thu thuế cho cách mạng”, lại chơi cha thiên hạ. Quốc Gia thua rồi?

          Cũng không hẵn vậy đâu. Dại một chút mà được cái tiếng nhân ái. Kết thúc rồi, bây giờ dân chúng ngồi đó nghĩ lại mà thương Quốc Gia, lại càng oán Việt Cộng dữ!

          Tôi nói với Tư Trạng:
          - “Kỳ nầy tôi bắt gần bốn chục người ở xã nầy đó, toàn là giao liên!”
          - “Tội nghiệp họ ông ơi! Nói giao liên nghe cho dữ dằn chớ giao liên cái khỉ khô gì! Không làm thì lấy gạo đâu mà đổ vô nồi, như tôi vậy thôi!”

          Đọc hồ sơ, thấy Tư Trạng khai có tiếp tế cho Việt Cộng, tôi giận lắm. Tư Trạng từng đi lính Quốc Gia, từng quen biết với “Chị Tư Nết!” Bắt anh ta, tôi đã thấy phiền, nay thấy Tư Trạng khai như vậy, lại giận hơn.

          Thực ra thì sự việc có gì đâu. Dân thì ở ngoài bờ kinh, dọc theo trục lộ, vùng Quốc Gia mà “cái cần câu cơm” thì ở trong rừng. Việt Cộng biết vậy nên thắt hầu bao người dân, biểu chi mà họ không làm.

          Bảy Móc, bí thư chi ủy xã Đức Phương nhắn ra với Tư Trạng gởi vô cho y thuốc rê, thuốc lá, thậm chí cả thuốc lá ngoại, thuốc lá Thái Lan, thuốc lá Ara, thuốc lá Cheval con ngựa trắng của Miên, cà phê, đường miếng… để chiêu đãi ông huyện. Tư Trạng đâu dám không thi hành. Không thi hành là nó không cho dân đốn tràm, hoặc đốn về không được bán cho Tư Trạng, coi như Tư Trạng bể nồi cơm.

          Mỗi lần “ông huyện” xuống công tác, bí thư chi ủy xã phải chiêu đãi trọng hậu, không thì có vấn đề. Hôm Tư Trạng vô sát rừng làm ruộng thì Bảy Móc tới hỏi chuyện.

          Được một lúc, có người đi ra, Bảy Móc nói: “Ông huyện tới!” Rồi Bảy Móc khum na khúm núm, lăng xăng cho cơm trưa, lo đồ nhậu cho ông huyện, thấy mà tức cười. Tư Trạng nói “Hồi trước hắn với tôi cùng đi lính Bảo An, đâu có phải khúm núm với cấp chỉ huy như vậy đâu!”

          -“Quyền lợi! Vì quyền lợi hết, nên con người ta nó hèn đi. Tâm lý con người như vậy.” Tôi giải thích.
          - “Tui không biết cái tâm lý ông nói, nhưng quyền lợi thì có, nội việc thu thuế mà thôi cũng khẳm túi mấy ông.” Tư Trạng xác nhận.

          Xin nhắc lại một điều. “Ông huyện” tức là bí thư huyện Hà Tiên, cấp trên của Nguyễn Tấn Dũng. Hồi ấy, chức lớn nhất của Nguyễn Tấn Dũng cũng chỉ mới trưởng ban quân y huyện đội mà thôi!

          Cũng vì chuyện ưu tiên cho đốn tràm và đóng thuế mà cô Hoa ở ấp Lung Lớn, xã An Bình bị đánh ghen, khiến cô ta tự tử hụt. Nhưng việc cô Hoa, tôi sẽ kể ở bài sau.
          #20
            lyenson 06.07.2008 13:00:29 (permalink)
            Phần 20
            Tiểu Đoàn 66/ Biệt Động Quân/ Biên Phòng

            Trận Đánh khai tử Công Trừơng 1 mũi tên thép Cộng Sản Bắc Việt tại Nhà máy Ximăng Kiên Lương/ Hà Tiên
            Tác giả: Đinh Nam Triều.

            Giới thiệu:

            Tôi đang viết loạt bài nhan đề là “Hương Tràm Trà Tiên” (Tức Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng), thì anh Đinh Nam Triệu, hiện ở Arizona, qua VNExodus, gởi bài viết sau đây cho tôi.

            Theo lời tự giới thiệu của tác giả, anh quê quán ở ấp Xà Ngách, xã Dương Hòa (tục gọi là Ba Hòn), quận Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Gia đình anh sinh sống tại đó, cùng với khoảng năm sáu gia đình khác là cả ấp, năm 1956. Khi đó, nhà máy ximăng Kiên Lương chưa hình thành.

            Rồi vì binh biến, “thất phu hữu trách”, anh gia nhập Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, lăn lộn trên nhiều chiến trường Miền Tây Nam Bộ.

            Đọc các bài tôi viết về núi Mo-So, - kế cận ấp Xà Ngách - , về Kiên Lương, có thể anh xúc động vì có người nói tới quê hương cũ của anh, nên anh gởi bài viết của anh cho tôi.

            Việc anh kể, tôi có nghe người dân Kiên Luơng kể lại, khi tôi đến đó, sau biến cố 1972 một năm. Trong biến cố nầy, anh Phạm Hồng Châu, thiếu úy Cảnh Sát, đã được chọn làm Chiến Sĩ Xuất Sắc, về phủ Tổng Thống nhận quà tặng.

            Tôi cũng xúc động khi đọc bài viết của anh Đinh Nam Triệu. Tôi đã xin phép tác giả, sửa chữa đôi chút về văn phạm và bút pháp, gởi đến quí độc giả, để biết thêm một chút về những chiến đấu gian khổ, hy sinh và mất mát của người lính Việt Nam Cộng Hòa ở một chiến trường xa xôi mà chắc không ít người chỉ nghe qua đài phát thanh, qua báo chí nhưng chưa từng đặt chân đến đó bao giờ, một nơi, người dân quê địa phương gọi nôm na là “Nắng bụi mưa bùn.”

            hoànglonghải

            Trại Biệt Kích Tô Châu thành lập tháng 2/1963. Đến 1 Tháng 9/1970 cải tuyển thành Tiểu Đoàn 66/BĐQ/ BP do Đại Tá Trần Công Liễu đến nhận, bàn giao cho Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Thanh là vị Tiểu Đoàn Trưởng đầu tiên của TĐ/66/BĐQ/BP. Để được đeo bằng Rừng Núi Sình Lầy, tháng 6/1971 Tiểu Đoàn 66/BĐQ/BP được đưa ra Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục Mỹ để học khóa nầy. Sau khi mãn khóa về lại vùng IV Chiến Thuật.

            Tiểu đoàn hành quân vùng Thất Sơn, đồi 714 Núi Cấm, đồi 549 núi Giài. Tại chân núi Giài thu khá nhiều chiến lợi phẩm.

            Đến ngày 18 tháng 3/ 1972 tiểu đoàn hành quân sang Miên, khởi sự vựơt biên giới tại ngã ba Giang Thành. (Xin Xem Bản Đồ) cùng với Thiết Đoàn 12 Kỵ Binh. Tất cả bộ binh đều ngồi trên xe tiến về hướng tây, theo quốc Lộ 161 đúng đội hình hàng dọc, dài khoảng 2 cây số, khởi hành lúc 7 giờ sáng ngày 19 tháng 3/1972 Lúc 1 giờ 30 chiều, đơn vị hành quân đến ngã ba giao lộ 16 và đường 161, gần thủ phủ Kampong Trach. Tại đây đơn vị bị phục kích. Bộ chỉ huy tiểu đoàn bị tấn công nặng nề.

            Sau 15 phút nổ súng, Tiểu Đoàn 66/BĐQ/BP có hơn 70 tử thương, tám M-113 bị cháy. Tiểu Đoàn Trưởng và Tiểu Đoàn Phó tử trận. Tám nhân viên truyền tin Tiểu Đoàn bị tử trận. Trong đó có Tống Châu Danh là bạn thân của tôi, người cùng tôi học khóa Khai Thác Vô Tuyến Điện Báo ở trường truyền tin. Địch phục kích trên một tuyến dài 2 cây số, chứng tỏ quân số địch cấp trung đoàn hoặc sư đoàn.

            Kỵ Binh xin tăng viện gấp. BĐQ cũng xin tăng viện gấp. Lập tức 2 tiểu đoàn gồm Tiểu Đoàn 93/BĐQ/BP (Trại Biệt Kích Vĩnh Gia cũ) và TĐ 94/BĐQ/BP (Trại Biệt Kích Ba Xoài cũ) đựơc gởi đến. Để đề phòng đối phương, quân ta đổ quân trên một hàng dài khoảng 5 cây Số.

            Đúng như dự đoán: Toàn bộ năm cây số đều chạm súng. Thế là quân ta phải chấp nhận một trận đánh lớn cấp sư đoàn. Bộ Chỉ Huy Hành Quân Tiền Phương phối hợp kế hoạch, và cũng để các cựu biệt kích trổ tài vì từ xưa đến nay họ chưa có dịp thử thách những gì học từ trường biệt kích ra.

            Họ đã từng chiến đấu bằng cách chia thành những toán nhỏ 3 người để đánh du kích và hợp lại quân số lớn, 5 hoặc 10 ngàn để đánh cấp sư đoàn.

            Họ từng quen từng trận đánh nhỏ. Đánh cấp lớn thì chưa. Đây là dịp tốt cho họ.
            Thế là Bộ Chỉ Huy Hành Quân Tiền Phương liền cho gởi tiếp thêm 6 tiểu đoàn BĐQ/BP và Thiết Đoàn 16 Kỵ Binh tiếp ứng, tạo 1 vòng tròn, chấp nhận bị bao vây. Vòng tròn càng lớn thì sẽ nhẹ thương vong khi bị pháo kích. Thế là 9 Tiểu Đoàn BĐQ/BP và 2 Thiết Đoàn Kỵ Binh tạo thành vòng chữ O dài 3 ngàn mét.

            Theo kinh nghiệm thì bọn Việt Cộng thường dùng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung. Chúng pháo kích cả ngàn trái đạn mỗi ngày. Vòng tròn đó chiếm một diện tích 9 ngàn mét vuông. (Tương quan với trận An Lộc là 4 ngàn mét vuông, quân số 40 ngàn)

            Cứ theo so sánh đó, trận này VC phải dùng 90 ngàn quân. Nhưng chúng không đủ quân (Có lẽ VC dự trù dành quân cho trận An Lộc) vào tháng Tư sắp tới.
            Cộng quân bố trí phòng thủ đào hầm hoàn tất vào ngày 22 tháng Ba/ 1972. Cũng ngày 23 tháng Ba /1972 VC dùng 122 ly và 82 ly pháo khoảng 1.200 quả để uy hiếp chúng tôi. Nhưng bọn chúng đã lầm. Chúng tôi không bao giờ khiếp sợ vì quá quen giao chiến với Quân Chính Qui Bắc Việt.

            Đúng như dự đoán, sau khi pháo kích, VC dùng chiến thuật biển người tràn vào phía bắc và phía đông. Ở mỗi phía nầy, bên ta có 12 khẩu đại liên 50 đặt trên xe M-113. Cộng chung, bên ta có 24 khẩu đại liên 50, tác xạ suốt 3 giờ. Ta chận được 4 đợt xung phong của địch. Chúng để lại hơn 1.200 xác chết, tạo thành một “công sự xác người” khiến VC ngưng cuộc xung phong. Bảy giờ sáng hôm sau chúng pháo tiếp khoảng 1.000 đạn pháo nữa. Tiếp đó chúng phong biển người ở phía Bắc và chỉ xung phong một đợt mà thôi. Do đó, chúng “hy sinh” chỉ có 300 quân.

            Trong 2 ngày đó, phía ta bị thương 18, tử trận 9. Về phía VC bị diệt 3 tiểu đoàn, khoảng 1.500 tên.

            Ngày 25, 26, 27 Tháng Ba /1972. VC lại pháo trên 1.000 quả mỗi ngày nữa nhưng chúng không xung phong.

            Ngày 28/3/1972 Việt Cộng vẫn pháo bình thường 1.000 quả đạn và lại bất ngờ tấn công biển người vào phía Bắc. Chúng lại chỉ tấn công vào phía Bắc mà thôi. Tuy nhiên, cường độ tấn công quá mạnh. Quân phòng thủ phải điều thêm 8 khẩu súng đại liên 50 tăng cường cho phía Bắc. Như vậy ta có 20 khẩu đại liên 50 ở phía Bắc này. Sau 3 lần xung phong biển người Việt Cộng để lại hơn 900 xác, phơi trên rào kẽm concertina.

            Các ngày 29, 30, 31/ tháng Ba/ 1972 VC vẫn pháo đều đều hơn 1.000 quả đạn mỗi ngày. Ta dự đoán VC đang gom quân để đánh ván bài chót. Vì vậy, quân phòng thủ liền tăng cường hỏa lực để đối phó.

            Đúng vậy, đến ngày 1 tháng Tư/ 1972 bất ngờ, lúc 6 giờ sáng VC pháo tới tấp, cường độ pháo lên khoảng 1.500 quả và VC dùng hơn 3.000 quân theo chiến thuật biển người tràn vào ba mặt: Đông, Bắc, Tây. Quân phòng thủ chống trả mãnh liệt bằng tất cả sức mình với các vũ khí hiện có. Nhưng VC cố tình nuốt trọn trận này nên cho tăng cường thêm 4.000 quân nữa, tổng số là 7.000 quân. Lập tức Bộ Chỉ Huy Tiền Phương gởi đến 8 phi cơ, cho dội bom hướng Đông 4 chiếc, hướng tây 4 chiếc. Mỗi nơi, sau ba đợt dội bom, ta không nghe VC la hét xung phong nữa.

            Quân phòng thủ gom hỏa lực về hướng Bắc vì hướng nầy chưa dội bom. VC vẫn bất động.

            Sau này, khai thác tù binh thì biết rằng ngày 1 tháng Tư /1972. VC bị chết trên 5.000 quân. Khi chúng tập trung để tấn công biển người thì không ngờ máy bay đến. Chúng không có chỗ ẩn núp nên chỉ vì bom, chúng chết khoảng 3.000 quân.

            Các ngày 2, 3, 4, 5, 6, 7 tháng Tư/ 1972 chúng pháo khoảng 100 quả mỗi ngày. Ngày 8 tháng Tư/ 1972 chúng pháo 400 quả, lại xung phong biển người. Có lẽ chúng biết là không làm gì nổi quân ta nên chỉ hy sinh 600 Quân mà thôi. Từ ngày 9 đến ngày 26 tháng Tư/ 1972 có ngày pháo có ngày không.

            Biết là bọn chúng không còn khả năng tấn công nữa nên quân phòng thủ quyết định phá vòng vây. Ngày 27/ tháng Tư/ 1972 cánh quân phía tây và phía nam đánh thủng tuyến bao vây của địch. Quân ta di chuyển về hướng nam khoảng 12 cây số thì bị chúng đóng chốt và chận đánh tại đồi 109, kế quốc lộ 17. (Xin xem bản đồ). Quân địch khoảng 2 đại đội. Ta có 2 tiểu đoàn nhưng không vượt qua được. Máy bay dội bom cũng không có kết quả vì chúng đào hầm ẩn núp kiên cố.

            Ta đánh nguyên 1 ngày 28/ tháng Tư/ 1972 mà chỉ tiến có vài trăm thước. Quân ta chờ trời tối dùng chiến thuật đặc công. Mười một giờ đêm, ta cho 1 đại đội đặc công chia thành 26 toán, tất cả mặc sắc phục Quân Chính Qui Bắc Việt, đội nón cối nhưng khăn đeo cổ và 2 bên cầu vai có ký hiệu mà chỉ những người trong toán biết mà thôi. Mục đích chính là bắt tù binh để khai thác. Kết quả ta dễ dàng bắt được 20 tên vì chúng tuởng ta là đồng bọn nên không để ý.

            Sau khi di chuyển 20 tù binh và hạ sát khỏang 40 tên khác mà bọn chúng vẫn không hay. Bốn giờ sáng ta tấn công và diệt gọn 2 đại đội này, bắt thêm 26 tù binh nữa. Đến 12 giờ trưa ngày 29 tháng Tư/1972, coi như giải tỏa vòng vây.

            Sau 42 ngày bị bao vây và tấn công ta bị thiệt hại 4 trực thăng bị bắn rơi, 46 M-113 bị bắn cháy, 337 BĐQ tử trận, 107 bị thương. Tổng cộng ta tổn thất là 444 BĐQ. Về phía địch theo lời khai của 46 tù binh ta hạ sát 9.100 quân Bắc Việt Xâm Lựơc.
            Ngày 30/ tháng Tư/1972, các đơn vị tham chiến về hậu cứ dưỡng quân10 ngày.

            Ngày 10 tháng Năm/ 1972 tiểu đoàn 66/BĐQ/BP đựơc lệnh đến căn cứ Đồng Tâm ứng chiến chờ nhảy vào An Lộc.

            Nhưng lại bất ngờ, nhằm ngày sinh nhật của chồn cáo gì đó, 19 Tháng Năm/ 1972 đám tàn quân Bắc Việt, nay là Công Trừơng 1 Mũi Tên Thép Cộng Sản Bắc Việt, 5 giờ sáng ngày 19 tháng Năm/ 1972 chúng chiếm Chợ Tròn, thị trấn Kiên Lương. Chúng đóng bộ chỉ huy trung đoàn ngay tại chợ nầy, đặt 2 đại liên phòng không 12 ly 8, có bánh xe, cở bằng pháo 105 của ta. Liên Tỉnh Lộ 8-A bị chiếm đóng. Nhà máy Ximăng bị chiếm. Quận Kiên Lương và Chi Đội Cơ Giới bị vây.

            Quận Trưởng Kiên Lương lúc này là Thiếu Tá Nguyễn Đình Phúc xin tiểu khu Kiên Giang cứu viện. Tiểu Khu cho biết là hiện có 4 đại đội của tiểu đoàn Thần Hổ. Nhưng Địa Phương Quân không phải là đối thủ của Quân Chính Quy Bắc Việt. Vì vậy Tiểu Khu Kiên Giang trình Quân Khu 4. Quân Khu 4 cho biết hiện giờ là tháng Năm/ 1972 tình hình An Lộc đang rối ren, Quốc Lộ 13, đã hơn một tháng chưa giải tỏa được. Hiện chỉ có 2 tiểu đoàn có khả năng đánh bại Quân Chính Quy Bắc Việt là Tiểu Đoàn 66/BĐQ/BP và TĐ 93/BĐQ/BP đang ở căn cứ Đồng Tâm.

            Lập tức 5 giờ sáng ngày 21/tháng Năm/ 1972 chúng tôi thuộc TĐ/ 66/BĐQ/ BP nhận lảnh 5 ngày lương khô, 9 giờ sáng lên trực thăng nhảy vào trận địa.

            Lúc đầu chúng tôi tưởng ra An Lộc, nhưng khi trực thăng lấy cao độ, xem địa bàn tôi thấy bay về hướng Tây. Khi đoàn trực thăng đến vùng Thất Sơn, chúng tôi được lệnh giải cứu quận Kiên Lương đang bị bao vây.

            Chúng tôi liền liên lạc với chi khu Kiên Lương thì đựơc biết tình hình như sau: Quân địch là Công Trường 1 Mũi Tên Thép CS/ BV. Liên Tỉnh Lộ 8-A bị cắt đứt đã 4 ngày. Các đồn nghĩa quân, chi khu và Chi Đội Cơ Giới đều bị bao vây. Nhà Máy Ximăng bị Việt Cộng chiếm giữ. Tình hình 4 ngày qua như sau: Trực thăng bị 4 khẩu phòng không bắn lên dữ dội. Bộ chỉ huy trung đoàn VC đóng tại Chợ Tròn, có 2 khẩu phòng không bảo vệ. Về hướng tây Nhà Máy Ximăng, cách khoảng 350 mét, tức là ở Núi Mây Nhỏ có 1 súng phòng không, hướng tây nam 1 súng phòng không. Biết đụng phải Công Trường 1 Mũi Tên Thép Cộng Sản Bắc Việt, chúng tôi được hứa hẹn là thắng trận này, giải vây sớm, Thiếu Tá Phúc sẽ khao quân. Tiệc khao quân gồm 4 con bò xóc tréo, 1.000 chai bia do đồng bào tưởng thưởng.

            Công việc giải vây đựơc phân chia như sau:

            Tiểu Đoàn 66, quân số trên 500, chịu trách nhiệm giải tỏa LTL 8-A. và tấn công bộ chỉ huy trung đoàn địch, giải hóa 2 súng phòng không ở đó.
            - Tiểu Đoàn 93 quân số ít hơn đánh chiếm Nhà Máy Ximăng, giải vây quận lỵ, Chi Đội Cơ Giới giải hóa 2 súng phòng không của Việt Cộng tại đây.
            2 giờ chiều ngày 21/ tháng Năm/ 1972 tiểu đoàn 66 hoàn tất việc đổ quân. Các cấp chỉ huy liền cho vào đội hình hàng ngang. Trên đầu chúng tôi có khoảng 40 chiếc trực thăng.

            Đại Liên 6 nòng, rocket và trung đội Trinh Sát vẫn còn trên trực thăng để nhảy diều hâu, đánh phủ đầu.

            Chiến thuật diều hâu thần tốc này là từ trực thăng nhảy xuống, liệng vào 2 cửa hầm của VC mỗi cửa 2 quả lựu đạn M.67. Đồng thời bộ binh từ ngang hông tràn tới, tiếp tay với Trinh Sát, đánh cận chiến.

            Lối đánh thần tốc này khiến VC không trở tay kịp. Chỉ sau 47 phút ta hoàn toàn giải tỏa Liên Tỉnh Lộ 8-A. Việt Cộng để lại 108 xác tại trận. Ta tịch thu 82 AK-47, 4 súng B-40. Ta chỉ có 1 BĐQ bị thương. Cùng lúc này Tiểu Đoàn 93 cũng đã chiếm lại nhà máy Ximăng và Núi Mây Nhỏ, thu 1 súng phòng không, 42 AK-47, 6 súng B-40..

            Tiểu Đoàn 66, sau khi giải tỏa LTL 8-A. thì giàn đội hình để đánh vào bộ chỉ huy trung đoàn VC ở Chợ Tròn.

            Trận đánh này rất căng vì gặp sự kháng cự rất mạnh của VC. Ta tấn công từ 6 giờ chiều ngày 21/ tháng Năm/ 1972 đến 5 giờ sáng. Suốt 11 giờ giao tranh ta chiếm đựơc 31 hầm, hạ sát 124 V C. Tất cả đều lứa tuổi 20 và răng đen.

            Trận này ta hy sinh nguyên trung đội 1 của Đại Đội 1/66 do Thượng Sĩ Đinh Mạnh Hùng làm Trung Đội Trưởng.

            Thượng Sĩ Hùng và 33 BĐQ tử trận. Thựơng Sĩ Hùng chỉ huy trung đội này hơn 8 năm từ khi còn ở Biệt Kích.

            Để trả hận này, nguyên Tiểu Đoàn đều hăng máu, đánh như vũ bão. Đến 3 giờ chiều ngày 22/ tháng Năm/ 1972 hạ thêm 277 Quân Bắc Việt Xâm Lựơc. Ta hy sinh thêm 6 BĐQ. Suốt 25 giờ giao tranh, ta hạ hơn 400 Quân Bắc Việt Xâm Lựơc. Ta hy sinh 40 BĐQ. Giờ chỉ còn vỏn vẹn 2 ổ kháng cự là bộ chỉ huy trung đoàn và 1 ổ súng phòng không rất dễ tiêu diệt vì chung quanh bọn chúng không còn ai bảo vệ. Ta dùng 6 khẩu M-72 thổi vào và xung phong liền. VC không kịp trở tay, ta thanh toán xong mục tiêu lúc 3 giờ 39 phút chiều ngày 22/ tháng Năm/ 1972, không còn 1 bóng dáng tên Bắc Việt Xâm Lăng nào nữa. Ta không bắt tù binh.

            4 giờ chiều ngày 22/ tháng Năm/ 1972. Thiếu Tá Phúc Quận Trưởng quận Kiên Lương tuyên bố là quận Kiên Lương đã đựơc hoàn toàn giải tỏa.

            Giữ đúng lời hứa, Thiếu Tá Phúc cho mang bò và bia khao quân tại chợ Kiên Lương. Biệt Động Quân rất hãnh diện với dân chúng tại đây.

            Tổng kết suốt 26 giờ giao tranh, ta tịch thu 639 súng AK-47, 27 B-40, 6 đại liên thường, 4 đại liên phòng không 12 ly8. Các súng này đựơc trưng bày tại chợ Kiên Lương cho dân chúng xem.

            Trong khi BĐQ ăn tiệc khao quân, dân chúng cư ngụ ở đây, ai cũng rõ Công Trường 1 Mũi Tên Thép Cộng Sản Bắc Việt đã bị khai tử tại đây.

            Tác giả là người hân hạnh được tham chiến trận này.
            #21
              lyenson 06.07.2008 13:08:34 (permalink)
              Phần 21
              Bắt cóc đòi tiền chuộc

              Bây giờ, bọn al Qeda hay bọn cướp biển ở eo biển Malacca có bắt cóc đòi tiền chuộc thì việc làm của chúng chỉ là “đàn em” của Việt Cộng. Việt Cộng thuộc “bậc sư” trong công việc nầy.
              Điều buồn cười là việc làm thì “bá đạo” nhưng bao giờ cũng vẽ vời, tự cho là “vương đạo”.
              Trong bài 15, tôi có kể chuyện mấy người dân Long Xuyên qua Tà Keo (Rạch Giá, quê hương Nguyễn Tấn Dũng) làm ruộng, bị Việt Cộng bắt cóc đòi tiền chuộc. Chuyến ấy Việt Cộng lỗ to. Bốn người dân Long Xuyên được sổng tù còn phía Nguyễn Tấn Dũng có hai “đồng chí tổ quốc ghi công”. (Tổ quốc Việt Cộng chớ không phải tổ quốc Việt Nam).

              Lần nầy, như tôi sẽ kể sau đây, Trần Chí Tài, phó bí thư kiêm trưởng ban kinh tài huyện Hà Tiên, “xếp” của Dũng, làm ăn khá hơn và trúng “mánh”. Tuy nhiên, sau đó không bao lâu, Nguyễn Tấn Dũng lại khóc cho “xếp” của y, lại bị “tổ quốc ghi công”, sau khi ôm được một mớ tiền “cờ bạc”, bỏ túi xài riêng. Nói cho cùng, bắt cóc đòi tiền chuộc cũng giống như đánh bạc. Trót thì ăn gọn, không xong thì “của thiên trả địa” như tục ngữ nói. Ông bà chúng ta nói đâu có sai: “Của làm ra để trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, của phù vân để ngoài ngõ.” Nói chung, Việt Cộng khó chấp nhận quan điểm đạo đức ông bà để lại. Họ có “Đạo đức xã hội chủ nghĩa”. Đạo đức nầy bây giờ phát triển tùm lum ở Việt Nam, rõ ràng là đi tới đâu cũng có “thủ tục đầu tiên.”

              Ông chín Vĩnh là người có tiếng giàu có ở thị trấn Kiên Lương. Ở đây, ông ta làm chủ một cây xăng, có mấy lò vôi, thêm một lò vôi nữa ở Mỹ Tho. Lò vôi của ông ở Mỹ Tho sản xuất ximăng trắng, “hiện đại” hơn, vận chuyển đá vào lò bằng giây chuyền chứ không bằng tay như ở Kiên Lương.

              Có thể coi ông chín Vĩnh là nhân vật đặc biệt, tài năng. Năm 1962 ông tới Kiên Lương với hai bàn tay trắng. Mười năm sau, ông ta trở thành triệu phú vì biết cách làm ăn và không thiếu… thủ đoạn. Tôi sẽ nói thêm về ông chín Vĩnh phần sau. Bây giờ xin nói tới việc Việt Cộng bắt ông năm Thanh, Hồ Văn Thanh, anh ông chín Vĩnh, đòi tiền chuộc.

              Tuy là anh, nhưng ông năm Thanh không tài giỏi như ông chín Vĩnh. Ông nhờ vào em ông, nên được ông chín Vĩnh giao cho việc coi sóc ba cái lò nung vôi - vôi quét tường, được chở lên Saigon bán - Ba lò vôi nầy ở sâu trong vùng núi Trầu, có thể Việt Cộng lợi dụng đêm tối bất thần xuất hiện được.

              Sáng hôm ấy, tôi không nhớ rõ thời gian, thiếu úy Kiệt báo cho tôi hay: “Ông năm Thanh bị Việt Cộng bắt tối hôm qua.” Không biết ông năm Thanh là ai, tôi phải hỏi thêm thúy úy Kiệt.

              Thiếu úy Kiệt lại nói thêm: “Việt Cộng có để lại một bức thư cho ông chín Vĩnh, không rõ nội dung nói gì.”

              Tôi nói:
              - “Không rõ cũng phải tìm biết cho rõ. Nhiệm vụ của mình mà!”
              - “Chút nữa ông chín Vĩnh sẽ lên gặp ông. Tôi có dặn rồi.” thiếu úy Kiệt nói.

              Thiếu úy Kiệt là người lanh lợi, rành công việc. Có lẽ ông ta đã gặp ông chín Vĩnh từ sáng sớm, sau ki nghe tin ông năm Thanh bị bắt. Chờ tới giờ làm việc, thiếu úy Kiệt mới báo cho tôi hay.

              Sau đó khoảng một giờ đồng hồ, ông chín Vĩnh xin gặp tôi thật. Mờiông chín vô phòng khách ngồi, tôi nói trước:
              - “Chia buồn với ông chín về việc bác năm. Ông chín biết họ bắt bác năm về việc gì?”
              - “Có gì đâu, họ đòi tiền thuế những mấy năm, nặng lắm!” Ông chín trả lời.
              Tôi cười:
              - “Thuế má gì đâu! Bao giờ họ cầm quyền ở ngoài nầy (khu vực kinh Rạch Giá - Hà Tiên) mới thu thuế chớ. Trốn tuốt trong rừng sâu mà đòi thuế ngoài nầy, ngộ không?! Vậy là đòi tiền chuộc chớ thuế má gì. Thuế thì cứ gởi thư đòi thuế, sao lại bắt ông năm làm chi?”
              - “Ông chỉ huy trưởng thông cảm. Bắt ông năm là họ gài tôi, không đóng thuế cho họ là coi như anh tôi không được tha về, mất mạng luôn.” Ông chín than thở.
              Tôi giải thích:
              - “Dân ở trong vùng quốc gia mà bị Việt Cộng bắt cóc, là trách nhiệm của quốc gia, không bảo vệ được dân của mình. Ngay cả việc ông chín đóng thuế cũng vậy. Không đóng thuế thì ông năm mất mạng. Đó cũng là trách nhiệm quốc gia không bảo vệ được dân chúng. Trên nguyên tắc thì ông chín không có tội gì cả. Tuy nhiên, khi người nào đóng thuế hay bị Việt Cộng ép buộc làm gì thì sau đó phải báo cáo cho quận xã biết để ghi nhận hồ sơ. Lỡ khi cấp trên có bắt được tài liệu Việt Cộng ghi nhận ông chín đóng thuế mà không khai báo cho chính quyền thì ông chín bị tội đó. Nhớ đóng thuế xong thì báo ngay cho tôi biết. còn thư thì họ nói gì?”

              Ông chín đưa bức thư của Việt Cộng đòi tiền chuộc cho tôi coi.

              Thư viết trên giấy tập học trò, chưa đầy một trang, chữ viết nắn nót, bằng bút nguyên tử, nhưng nét chữ còn non lắm, chứng tỏ người viết thư nầy của huyện ủy Hà Tiên Việt Cộng học chưa quá lớp 5, bậc tiểu học. Thư để trong bì nhưng bị thư cũng như giấy đã bị nhầu. Có thể người đưa thư đã lận vào lưng khi di chuyển. Nội dung thư có mấy ý chính:

              Một là khen ngợi ông chín đã có công đóng góp cho “cách mạng” nhưng không nói rõ đóng góp cái gì. Đây chỉ là lời giáo đầu giả bộ khen ngợi để phần sau đòi đóng tiền mà thôi. Phía quốc gia cũng cũng có thể căn cứ vào lời khen để làm khó ông chín để kiếm chút tiền còm. Tuy nhiên, nói cho cùng thì kết tội gì ông chín được. Thư nói mơ hồ, không đủ chứng cớ để buộc tội ông chín ủng hộ Việt Cộng. Màn giáo đầu nầy, tôi cho là không quan trọng, nhưng tôi ngạc nhiên về hai chữ “cách mạng” dùng trong thư.
              Tôi nói với ông chín: “Bọn nầy tự xưng là “cách mạng” nhưng “cách mạng” gì tụi nầy. Chúng nó không khác chi tướng cướp Phong Lai trong Lục Vân Tiên. Chận đường bắt đóng tiềm mãi lộ hay bắt người đòi tiền chuộc thì cũng dzậy thôi.”

              Ông chín làm thinh không nói gì. Có lẽ ông ta sợ Việt Cộng trong khi ông ta đang làm việc với quốc gia. Quốc gia cũng có thể làm khó ông ta được vậy. Rõ ràng là người dân một cổ hai tròng. Tôi hỏi:
              - “Ông chín có biết cụ Ngô gọi Việt Cộng là cái gì không?”
              Ông ta trả lời, rụt rè: “Dạ không!”
              - “Cộng phỉ”. Tôi nói. “Cụ Ngô gọi chúng là Cộng phỉ, loài cộng phỉ. Phỉ là thổ phỉ đó. Tụi nó chỉ giỏi đi ăn cướp.”

              Thứ hai, huyện ủy Hà Tiên đòi ông phải đóng 3 năm thuế lợi tức lò vôi và cây xăng. Họ không nói rõ ba năm thuế là bao nhiêu tiền nhưng theo tôi hiểu, không dưới một trăm ngàn đồng. Sao chúng nó không đòi thuế mấy năm trrước đó nữa. Họ không đòi hay thời gian ấy ông ta đã đóng rồi. Trong hồ sơ trận liệt thiết lập từ cả chục năm trước, tôi không thấy tài liệu nào nói ai có đóng thuế cho Việt Cộng. Nhiều người cũng “dễ tính”. Ai đóng thuế cho Việt Cộng xong rồi, biếu họ chút ít “tiền cà phê” là mọi chuyện coi như xong.

              Thứ ba là hăm dọa. “Nếu ông chín không đóng thuế cho “cách mạng”, coi như họ sẽ xử lý ông năm. Xử lý, theo cách hiểu của dân chúng là đem bắn bỏ.
              Tôi giữ bức thư lại giao cho thiếu úy Kiệt lư hồ sơ, rồi hỏi ông chín:

              “Họ có nói đóng thuế lúc nào, chỗ nào không?”
              - “Không!” Ông chín trả lời. Theo tôi hiểu thì tôi cứ để tiền sẵn ở bên lò vôi anh năm.

              Một lúc nào đó, đêm hôm, chúng nó sẽ mò ra nhận tiền. Nếu chúng nó thỏa mãn, không đòi tiền thêm thì chúng sẽ cho ông năm về.

              Tại sao thư đòi thuế không nói bao nhiêu tiền? Điều nầy thuộc “mánh mung.” Họ chỉ nói bằng miệng bao nhiêu đó, ông chín đóng đủ thì họ bỏ túi một phần, chớ còn nói rõ trong thư bao nhiêu tiền thì chúng nó còn bỏ túi riêng làm sao được. “Cách mạng” khôn lắm!

              Sau khi ông chín về, tôi cùng thiếu úy Kiệt và mấy đệ tử ông ấy đi uống cà phê. Tôi thuật lại câu chuyện ông chín bị đòi thuế cho họ nghe. Thượng sĩ Hùng nói:
              - “Dễ giận thiệt. Mình cứ phục kích ở nhà ông năm, chờ chúng nó ra, ria một băng là xong.”
              Tôi cười:
              - “Chuyện thì dễ đó, nhưng khi mình ria tụi nó rồi thì ông năm sẽ bị tụi nó giết. Khi đó mình ăn nói với ông chín, với dân chúng ra làm sao? Đã không bảo vệ được dân lại còn vô tình xúi tụi nó giết dân, đâu có được.

              Khoảng một tuần sau ông năm được tha. Ông ta trình diện bên ngành “Cảnh Sát Đặc Biệt” để họ lấy lời khai. Cũn tương tự như lời khai con nhỏ Hoàng Thị Vân bỏ nhà theo thằng Hùng, như tôi đã kể trong bài 6 - “Giang Thành Dạ Cổ”, chúng nó đưa ông năm đi xa lắm, có vượt qua kinh Vĩnh Tế, có nghĩa là huyện ủy Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng đóng bên kia phần đất Kampuchia. Đóng bên nầy bờ kinh, vùng quốc gia, huyện ủy Hà Tiên lạnh giò.
              #22
                lyenson 06.07.2008 13:19:53 (permalink)
                Phần 22
                Tổ Hợp Lò Vôi
                Kể chuyện ông chín Vĩnh tôi phải nói luôn về Tổ Hợp Lò Vôi, hay văn vẽ hơn Tổ Hợp Sản Xuất Vôi của quận Kiên Lương. Công việc làm ăn chính của ông là sản xuất vôi nên nó có liên hệ đến tổ hợp nầy. Ngoài ra, ông chín còn là chủ cây xăng, thầu cung cấp đất cát cho nhà máy ximăng Hà Tiên với số lượng lớn. Trúng thầu các vụ nầy, ông kiếm tiền khá bộn. Không biết ông ta gốc gác ở đâu, về làm ăn ở Kiên Lương từ 1962. Mười năm sau, ông trở thành triệu phú Vùng Kiên Lương có nhiều núi đá vôi. Bên kia kinh (Ngã Ba – Ba Hòn) là núi Còm, bên nầy là thị trấn Kiên Lương. Thị trấn Kiên Lương tức quận lỵ Kiên Lương mới thành lập, sau khi quận Kiên Lương lập ra dưới thời Ngô Đình Diệm. Chính quyền Ngô Đình Diệm cho thành lập quận nầy là vì đây là nơi dựng nhà máy ximăng Hà Tiên. Cơ quan hành chánh trung ương thì ở Saigon, trên đường Võ Di Nguy, nhà máy ximăng Hà Tiên ở Thủ Đức thì xay và vô bao. Nhà máy Kiên Lương có nhiệm vụ lấy đá ở núi Còm, đưa vào lò vôi đốt, trộn với đất sét, xay thành Clinker, một dạng ximăng nhưng hột còn to - lớn nhứt là bằng hột bắp. Clinker được chở lên Thủ Đức bằng xà-lan, Nhà máy trên đó tiếp tục công trình sản xuất. Núi Còm là núi lớn nhứt, ở xã An Hòa có núi Trầu, lớn thứ hai, đang được nhà máy ximăng Hà Tiên nghiên cứu và sẽ khai thác trong thời gian tới. Ngoài ra, quanh vùng nầy, xa một chút hay gần thị trấn Kiên Lương hơn, có núi Nai, núi Mo-So, v.v… đều là núi đá vôi cả.

                Về nhà máy Kiên Lương, về núi Trầu, núi Nai, tôi sẽ kể thêm về sau.

                Từ trước 1945, người dân ở đây, nhứt là ở xã An-Hòa, xã nằm quanh khu vực núi Trầu, người dân đã biết khai thác đá vôi, lấy về đốt thành vôi. Vôi ở đây có loại màu hơi đỏ, dùng để ăn trầu được mấy bà khen là ngon. Phần nhiều dùng để làm vôi quét tường. Dĩ nhiên, thị trường tiêu thụ vôi là ở Saigon hay Cần Thơ, các thành phố lớn.
                Số người làm chủ lò vôi ngày càng đông, số lượng sản xuất ngày càng nhiều, nhất là sau khi giá dầu ma-zút (mazout) rẻ hơn, các chủ lò bây giờ đốt vôi bằng dầu, không đốt bằng củi như trước Nhờ đốt bằng dầu, sức nóng lớn hơn, hiệu quả hơn nên sản lượng mỗi lò đốt cũng nhiều hơn. Đốt một lò vôi, chủ lò kiếm lời một triệu bạc là thường. Do đó, xảy ra cạnh tranh giữa các chủ lò, thưa kiện, tranh giành, v.v…
                Để giải quyết tình trạng đó, thiếu tá Nguyễn Đình Phúc, quận trưởng, cùng với ông Nguyễn Đức Nghiêm, phó quận trưởng họp các chủ lòi vôi lại, thành lập “Tổ hợp lò vôi”, mục đích là để họ chia phiên nhau đốt lò, tránh sự tranh giành như trước kia. Khi tôi làm việc ở đây, chủ tịch tổ hợp là ông Ba Để, tên thật là Lý Văn Gia.

                Sau khi về làm việc ở đây chưa lâu, tôi mời ông Ba Để lên nói:

                “Các phòng giam tội ở đây tối tăm và thiếu phương tiện, mất vệ sinh. Tôi muốn xây hai phòng giam ra phía ngoài, một cho nam, một cho nữ, có chỗ nằm và phương tiện đi tiêu, đi tiểu. Tuy nhiên, tôi không có ngân khoản để thực hiện việc ấy. Bác là chủ tịch tổ hợp, nhiều người khá giả. Bác hãy vận động các tổ viên thực hiện việc xây các phòng giam nầy. Bác giúp tôi nhưng thực ra là giúp dân chúng ở đây vậy.”

                Thực ra, việc xây phòng giam có lý do quan trọng hơn. Mấy năm trước, có một nhân viên, đệ tử của ông xếp cũ, đã lợi dụng tình trạng phòng giam tối, hiếp dâm một nữ tù nhân. Dân nhà quê thiệt thà, không biết luật lệ, lại hay sợ hãi nên không dám thưa. Anh nhân viên nói trên cùng xếp của ông cố giàn xếp, nên việc thông qua. Tôi không muốn chuyện ấy xảy ra một lần nữa.

                Sau khi tôi nói chuyện với ông Ba Để cỡ một tuần lễ, ông cho người chở gạch, cát, ximăng tới xây phòng giam mới. Tôi làm văn thư cảm ơn.

                Cửa phòng giam mới mở ra sân sau, có song sắt để được thoáng. Trong sân sau lại có một ngôi mộ xây, sơn trắng. Một hôm, có một thanh niên bị giam vì tội giao liên, thấy tôi, nói như muốn khóc:

                - “Ông trưởng ới! Ông cho tui về đi, tui không dám làm gì cho Việt Cộng nữa đâu. Ở đây, tui sợ quá!”
                Giựt e vì chuyện xảy ra trước kia, nghi có chuyện gì vi phạm luật lệ, tôi hỏi:
                - “Có ai làm gì anh?”
                - “Dạ không! Không ai làm gì hết, nhưng đêm nào tui cũng thấy một cô gái mặc áo quần trắng hiện lên ngồi trên mộ. Tui sợ lắm!”

                Đó là ngôi mộ một cô gái mới 16 tuổi, em một anh Cảnh Sát Dã Chiến, bị pháo kích chết năm Mậu Thân. Cha mẹ chết hết, hai anh em đùm bọc nuôi nhau. Lúc ấy trận chiến hai bên đang hồi dữ dội, không đem chôn ở nghĩa địa kế bên chùa ông Bổn được, chôn tạm ở đó. Nay anh Cảnh Sát Dã Chiến đã đổi đi xa, chẳng ai nghĩ tới chuyện dời mộ làm gì!
                Hôm đó, tôi vội họp ủy ban an ninh, để tha cho anh giao liên về. Hú vía cho anh ta, khỏi còn thấy ma hiện ra mỗi đêm nữa.

                Ông chín Vĩnh, ngoài ba lò vôi bên kia kinh như tôi đã nói trong bài trước, kẹt phải nằm trong tổ hợp, không bung ra làm ăn được nên ông xây một lò vôi thật lớn ở Mỹ Tho. Đá vôi ở đây chở lên đó nung, một mình một cõi, chẳng sợ ai cạnh tranh.

                Giữa năm 1954, linh mục Lương Công Đại, cha xứ họ đạo Kiên Lương, (1) đang xây nhà thờ thì hết tiền. Cha bèn “ngoại giao” với tổ hợp để cha đốt một lò ngoại lệ - vì cha không phải là chủ lò vôi, không phải là thành viên tổ hợp - để lấy tiền xây tháp chuông nhà thờ. Xây xong tháp chuông là coi như phần chính đã hoàn thành. Phần đông các ông chủ lò vôi là con chiên họ đạo Kiên Lương của cha Đại hay họ đạo An Hòa của linh mục Nguyễn Thượng Hiền, nên để giúp đỡ cha mà cũng góp phần xây dựng họ đạo, tất cả thành viên tổ hợp đêu đồng ý.

                Linh mục Lương Công Đại mượn lò vôi kế chân núi Ba Hòn của một tổ viên để đốt lò. Mọi việc đều có con chiên của cha lo liệu hết. Chỉ có hai đêm lò cháy, cha phải có mặt ở đó để canh lửa cùng với nhân viên. Cả hai đêm đó, tôi đem trà, càphê, phin lọc đến uống với cha, chuyện trò cho vui.

                Năm đó, nhờ sau hiệp định Paris 73, tình hình yên ổn đôi chút, thương mại phát đạt, nên việc xây dựng cũng nhiều, nhờ đó, vôi bán chạy lắm. Đốt lò xong, vôi của cha Đại chở lên Saigon giao cho vựa bán mấy hôm là hết. Có tiền xây nhà thờ, cha rất vui. Để góp phần với cha, tôi yêu cầu mấy ông chủ xe đò cho tôi hai chục cái ghế sắt Thái Lan - (Hồi đó ghế Thái Lan nổi tiếng đẹp). Tôi biếu cha để trong phòng ăn nhà thờ.
                Vì cạnh tranh, các ông chủ lò vôi “chơi” nhau nhiều trận cũng căng lắm.

                Đầu kinh 1, kinh từ nhà máy Kiên Lương vô ấp Rạch Đùng, kế chân núi Hòn Chông, ông ba Nhân, chủ tịch hội đồng giáo xứ của cha Đại, bị ông chín Vĩnh chơi cho mấy đòn thất điên bát đảo.

                Đòn thứ nhất là ông chín Vĩnh cho ông mượn một cái giấy phép mua dầu ma-dzút. Có giấy đó, ông ba Nhân mua dầu chở về chuẩn bị đốt lò. Bỗng cảnh sát tỉnh Kiên Giang ở Rạch Giá gọi ông ba Nhân điều tra vì xử dụng giấy phép mua dầu bất hợp pháp. Té ra, ông chín Vĩnh, sau khi cho ông ba Nhân mượn giấy phép, bèn làm đơn trình với Cảnh Sát Kiên Giang rằng ông ấy đi xích-lô làm rớt mất giấy phép, nay ông ba Nhân bắt được, nhờ Cảnh Sát can thiệp. Kết quả, ông ba Nhân trả lại giấy phép cho ông chín Vĩnh, giao luôn cả số dầu ông ba Nhân chở về. Rốt lại, ông ba Nhân mua dầu cho ông chín Vĩnh đốt lò!

                Lần thứ hai, vì Việt Cộng tấn công vào Nhà Bè, kho dầu ở đó bị cháy, dầu chảy ra các đường mương. Công ty xăng nhà bè hốt dầu đó, cho không bộ chỉ huy Cảnh Sát Nhà Bè. Đây là một món hàng đặc biệt, phế thải vì chiến cuộc. Ông ba Nhân mua lại số dầu đó, chở xà-lan về Kiên Lương, có giấy chứng nhận của đại úy Trần Phú Trắc, chỉ huy trưởng. Về tới nơi thì thượng sĩ Trần Phạm Sĩ thuộc bộ Chỉ Huy Kiên Giang từ Rạch Giá vào lập biên bản dầu bất hợp pháp.

                Đúng ra, hôm xà-lan dầu của ông ba Nhân về, ông chín muốn “chơi” ông ba Nhân, bèn gặp thiếu úy Kiệt để nhờ lập biên bản điều tra về việc mua dầu bất hợp pháp. Thiếu úy Kiệt không thể tự ý làm việc đó vì phần hành của ông Kiệt không thuộc tư pháp nên đề nghị với tôi. Tôi cười, nói:

                -“Đừng có dại. Họ “chơi” nhau, mình đút đầu vô đó làm chi? Trước hết là mình tự ái. Không lý vì chút tiền mà mình biến thành phương tiện để họ chơi nhau! Mình còn “kẹt” với cha Đại. Ông Nhân là chủ tịch hội đồng giáo xứ. “Ăn” của ông chín bao nhiêu mà mình kẹt đủ thứ.”

                Nghe lời tôi, thiếu úy Kiệt biểu ông chín ra tỉnh. Ngoài đó mới sai Trần Phạm Sĩ vào.
                Quả thiệt vụ xà-lan dầu kẹt lung tung. Ông ba Nhân phải chạy, nhờ cây xăng Nhà Bè xác nhận một lần nữa là dầu phế thải, đại úy Trần Phú Trắc xác nhận có ký giấy cho ông ba Nhân số dầu ấy. Giấy tờ đi đi lại lại cả năm trời. Chủ xà-lan là bà bác sĩ Phạm Văn Hải ở Saigon cho người thuê xà lan chở dầu cả năm mà không thấy trả, rồi cho người đi tìm, thưa gởi lung tung. Tội nghiệp ông ba Nhân, xây một cái lò vôi mới, thiệt lớn, nhưng chỉ đốt được một lần rồi thôi. Tới khi Việt Cộng ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương thì xà-lan dầu của ông ba Nhân bị Việt Cộng tịch thu. “Trai cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi.” Hay tục tỉu hơn thì rõ ràng “Cầm c. chó đái” như tục ngữ nói vậy.
                Khi giá dầu rẻ, đốt lò vôi bằng dầu, các ông chủ lò vôi lén nới rộng lò vôi ra, để sản lượng được nhiều mà vẫn đóng thuế thấp cho quận. Khi giá dầu mắc, họ thu hẹp lò vôi lại, lại làm đơn xin quận giảm thuế. Thật là “mệt” với mấy ông chủ lò vôi nầy. Mệt nhứt là với ông chủ lò Đức Thắng.

                Ông chủ lò vôi Đức Thắng, thường gọi là “Thắng cụt” có đòn chơi rất độc. Gọi là Thắng cụt vì khoảng chục năm trước, ông mua chất nổ về bắn đá ở núi Trầu, bị tai nạn cụt mất một bàn tay.

                Mỗi khi đốt lò xong, ông trả tiền công cho công nhân. Rồi tối đó ông tổ chức nhậu và đánh bạc ngay tại nhà. Ai ăn thua ông không cần biết, nhưng chủ sòng thì thâu tiền xâu suốt đêm khá bộn. Nhiều người ngày đêm đập đá, chất đá, đốt lò, cuối cùng thua bạc hết chỉ còn hay tay trắng, lấy gì nuôi vợ con. Tiền Thắng cụt chi ra lại chui vào túi ông, chẳng mất gì hết. Tật xấu nầy của chủ lò Đức Thắng xảy ra đều đều, năm nầy qua năm nọ mà chẳng ai nói chi.

                Khi biết chuyện, tôi gặp linh mục Nguyễn Thượng Hiền, chánh xứ An-Hòa để nói với cha về việc làm bất lương của chủ lò vôi Đức Thắng. Tôi rút kinh nghiệm làm việc với mấy ông cha đạo từ hồi ở Cái Sắn. Mấy ông hay nghe lời con chiên thưa bậy, nếu không nói trước thì mấy ông lại cho rằng chính quyền làm khó dân để kiếm ăn. Tôi cũng có nói chuyện ấy với cha Đại. Cha bảo: - “Làm sao cha có thể để con chiên sát phạt nhau như thế được! Nhắc nhở hoài mà chăng ai thèm nghe!”

                -“Cha có chịu đưa mấy ông nầy ra tòa không?” Tôi hỏi.
                - “Ông cứ làm thẳng tay. Trước nay chính quyền không cứng rắn với họ nên tệ trạng xảy ra hoài.”
                Vậy rồi tôi họp riêng với thượng sĩ Hai Râu, giao cho anh theo dõi việc Đức Thắng đốt lò.
                Một hôm, thượng sĩ hai Râu nói với tôi:
                - “Ngày mai thằng cha Đức Thắng cho cân vôi.” (Có nghĩa là giao hàng và nhận tiền).
                - “Anh rình y. Hễ y tổ chức đánh bài, anh thộp cổ nó cho tôi.”

                Hôm sau, nhà Đức Thắng tổ chức cờ bạc thật sự. Nhà gạch, cửa gỗ, đóng thật chặt. Nếu hai Râu kêu cửa, chúng nó phi tang thì công cốc. Do đó, hai Râu cùng mấy đệ tử của anh, chờ phía bờ kinh gần suốt đêm. (Nhà Đức Thắng quay lưng ra phía kinh.) Gần sáng, khi sắp tan sòng, hai Râu cùng nhân viên chèo ghe đến vách nhà sau, bắc thanh leo lên cửa sổ, chỉ súng bắt mọi người ngồi im, rồi mới sai chủ nhà ra mở cửa trước. Trên một chục tay cờ bạc bị tôi nhốt vào khám hết. Hai linh mục, cha Hiền và cha Đại, ông nào cũng vui lòng, chẳng ông nào đến can thiệp, xin tha. Chỉ có ông đại úy Kiệm, chi khu phó, vì có một đệ tử là ông trung sĩ nào đó, em ông chủ tịch hội đồng xã An Hòa đến xin tôi tha cho ông chủ tịch nầy. Tôi gọi ông chủ tịch lên bảo: “Vì ông là chủ tịch, nễ tình dân xã An Hòa nên tôi cho ông về. Ông có hợp đồng gì với Thắng cụt mà bóc lột công nhân không?”

                Ông ta chối bai bải, thú thật chỉ vì tính ham cờ bạc nên tới đánh chơi, chớ ông ta không dính gì tới âm mưu xỏ lá của Thắng cụt hết.

                Tôi đưa cả đám ra tòa, trình với biện lý rằng Thắng cụt là tên đầu bầy. Ra tới nơi, vì đã có người ra gặp biện lý xin xỏ trước rồi, nên cả đám được tha ngay.

                Sau đó ít lâu, tôi lái xe chở đệ tử đi ăn sáng ở Chợ Tròn, khi ngang nhà Đức Thắng, thượng sĩ Năm Hùng đầu bạc nói với tôi: “Đức Thắng bỏ nhà đi đâu ông ơi!”

                Tôi cười, nói đùa:
                - “Đi luôn là phải. Ở đây, tui cho thằng chả “đứt thắng” luôn. Xe đổ đèo Hải Vân mà “đứt thắng” là coi như về âm phủ.”

                Từ đó cho tới 30 tháng Tư, tôi không gặp Thắng cụt. Có phải câu nói chơi của tôi tới tai y nên y sợ? Người ta sợ mình đến nỗi phải bỏ xứ mà đi? Đó không phải là “Hà chánh mãnh ư hổ” hay sao? Tôi đem chuyện ấy nói ra trong buổi họp với nhân viên, nói để cười mà chẳng thấy ai cười?!

                Điều đáng nói nữa là năm 1984, con gái tôi vượt biên tới Bidong. Khi nó đang còn ở đảo, tôi đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Dĩ nhiên là tôi không về Kiên Lương. Tôi đi dọc bến Chương Dương, qua bến Hàm Tử, tới các vựa bán vôi để hỏi thăm có ai dưới Kiên Lương lên bán vôi không.

                Tổ hợp Lò Vôi tan hàng rồi. Ế quá! Dân chúng nghèo quá, có ai làm nhà, sửa nhà gì đâu mà đốt lò bán vôi. Mấy ông chủ lò vôi giải nghệ, đi đốn tràm, bắt cá đồng sống qua ngày. Chỉ còn ông Ba Để, trước kia là chủ tịch tổ hợp, nay già lắm, không đi làm đồng được, lâu lâu ông đốt một lò nhỏ, lấy công làm lời. Ba tháng rồi, ông không chở vôi lên Saigon.

                Cuối cùng, tôi tới vựa vôi Đức Thắng ở bến Hàm Tử. Gặp tôi, ông mời uống nước trà và biểu tôi tìm ông ba Nhân. Ông ba Nhân mới có địa chỉ cha Đại ở Mỹ. Ông ba đang ở Kiên Lương, lâu lắm không thấy lên Saigon. Tôi chào ông Đức Thắng ra về, lấy làm lạ là tại sao không thấy Thắng cụt nhắc lại chuyện ân oán giang hồ ngày trước. Ông ta quên chuyện cũ rồi hay ông không nhớ mặt tôi, không biết tôi là ai.

                Tôi buồn phiền vì việc không tìm được địa chỉ cha Đại để nhờ cha lo giùm cho con gái tôi.
                Thế rồi một hôm tôi đi bộ trên đường Trương Minh Giảng, trước rạp ciné cũ, và thấy ông ba Nhân đang ngơ ngơ ngác ngác như đang đi tìm ai. Thấy ông, mừng lắm, tôi gọi: “Ông ba, đi đâu đây?”
                Ông ba nhìn tôi, nhận ra người cũ, cười, trả lời:
                - “Chẳng biết đi đâu nữa. Đang chạy xe ngang đây bỗng bị xẹp vỏ, đang vá ở đàng kia. Bỗng nhớ hình như tôi có nhà ai quen quen ở đây, bèn đi tìm thì gặp ông.”
                Tôi hỏi:
                - “Có địa chỉ cha Đại không? Tôi cần lắm.”
                Ông nói:
                - “Có đây, có đây.” Vừa nói ông ta vừa đưa tay đập mấy cái vào cái bị rết đeo bên hông. “Nhưng vô đây uống cà phê đã, gặp ông mừng ghê! Về hồi nào? Trông già lắm, không như hồi xưa. Tù chắc cực lắm?”
                Về là đi tù cải tạo về. Tôi nói:
                -“ Về hai năm. Có đứa con vượt biên, đang ở đảo, tính nhờ cha bảo lãnh cho nó qua Mỹ.” Tôi không nói chuyện đi ở tù cực. Chuyện đó ai chẳng biết, than vản làm gì!
                - “Dễ thôi! Cha viết thư về có dặn ai vượt biên, đi Mỹ, cần thì báo cha biết để cha lo.”
                - “Ông dưới đó mới lên?” Tôi hỏi.
                - “Lâu lắm tôi mới lên. Có công việc gì đâu! Lâu lâu lên Saigon chơi vậy thôi! Tình cờ gặp ông.”

                Tôi kể cho ông ba Nhân nghe chuyện đã hai tháng nay đi tìm dân Kiên Lương để hỏi địa chỉ cha Đại. Hỏi Đức Thắng thì Đức Thắng không có. Nay tình cờ gặp ông ta.
                Ba Nhân nói:
                - “Chuyện tình cờ mà cũng kỳ. Ở dưới đó, không có việc gì mà tôi lên đây làm chi. Rồi đi ngang chỗ nầy, tự nhiên xe bị xẹp vỏ mà gặp ông. Ông cũng chẳng có chuyện gì, đi lang thang qua đây mà gặp tôi. Không phải tình cờ đâu. Chúa sắp đặt cả đấy.”

                Tôi chỉ cười, không phủ nhận mà cũng không xác nhận. Quả thật, ở đời có những chuyện tình cờ hết sức lạ lùng, như có đấng thiêng liêng sắp đặt vậy. Ai không tin rồi cũng phải tin!

                (1) - Giữa linh mục Trương Công Đại và tôi, thiệt là ơn tri ngộ. Năm 1974, khi mấy ông giám mục, linh mục họp ở Long Xuyên để lên “bảng phong thần” trong phong trào chống tham nhũng của linh mục Trần Hữu Thanh, linh mục Đại cương quyết không chịu để tên tôi trong bảng phong thần đó, như mấy chục ông chỉ huy trưởng vùng IV. Trước cử tọa, cha Đại bênh vực, khen ngợi tôi hết lời. Vậy mà chẳng bao giờ cha kể công với tôi. Linh mục Đại rời Việt Nam trưa ngày 30 tháng Tư-1975, định cư ở Mỹ. Năm 1984, khi con gái tôi vượt biên, tới Bidong, tôi báo cho linh mục biết. Linh mục Đại đón con gái tôi về đây, - thành phố tôi đang cư ngụ - giới thiệu lên Đức Ông. Đức ông cho con tôi quà giáng sinh năm đó - người độc nhứt được quà giáng sinh của Đức Ông - Đức Ông giao cho gia đình ông Dr. Blute nhận làm con nuôi. Hai ông bà nầy có 11 người con (Gia đình Mỹ có 11 người con là một hiện tượng đặc biệt). Con gái tôi cùng tuổi con gái út hai ông bà. Họ lo cho con gái tôi đi học trở lại vì ở Việt Nam nó bị bỏ học vì lý lịch số 13. Con gái tôi tốt nghiệp kỹ sư hóa học, làm việc cho cơ quan khoa học của MIT, chuyên nghiên cứu về hỏa tiễn phóng từ tiềm thủy đĩnh.
                hoànglonghải
                #23
                  lyenson 06.07.2008 13:32:40 (permalink)
                  Phần 23
                  Chuyện tình con gái Tư Sang

                  Ông Tư Sang nhà ở ấp Lung Lớn, xã An Bình, quận Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
                  Ấp Lung Lớn, nghe cái tên, người ta có thể nghĩ tới tính cách hoang vu của nó. Lung là một vùng đất trũng, cây hoang, cỏ dại, lau, sậy, đế, ô-rô, cóc kèn mọc um tùm… Nhờ lung nầy ở bên cạnh con đường Rạch Giá-Hà Tiên (Liên tỉnh lộ 8-A), mặt sau là kinh cùng tên, vừa có nước ngọt, vừa tiện việc đi lại, nên dần dần, hết gia đình nầy tới gia đình khác dựng nhà ở đây, lập thành một xóm: Xóm Lung Lớn, rồi thành một ấp của xã An Bình. Tuy cùng một xã, nhưng so với các ấp khác như ấp Lò Bom, ấp Ngã Ba thì ấp nầy nằm cách xa ra về phía đông, cách trụ sở xã đóng ở ấp Lò Bom bằng một khu rừng hoang dài, trở thành một nơi khó kiểm soát. Do đó, dân tứ chiếng tụ về đây nhiều hơn: đào binh, trốn quân dịch, hồi chánh viên, cựu can phạm.

                  Ông Tư Sang là cựu can phạm. Con Hạnh, 17 tuổi là con gái đầu, thứ hai, con của Tư Sang.

                  Một hôm, chợ Kiên Lương bỗng náo động lên vì một vụ đánh ghen. Con Hạnh bị vợ Năm Tho, từ Hà Tiên xuống đánh ghen. Vợ Năm Tho thủ sẵn một cái kéo, cắt hơn phân nửa mái tóc của con Hạnh. Gây ra chuyện ồn ào, mất trật tự ở chợ, cả hai người đều bị bắt đem về cuộc Cảnh Sát xã An Bình phân xử, phạt vi cảnh rồi cho về.
                  Năm Hùng nói với tôi:

                  -“Việc nầy kỳ lắm! Ông biết không!? Thằng Năm Tho là du kích trong mật khu Trà Tiên. Ngoài nầy, con vợ Năm Tho đánh ghen con Hạnh. Việc nầy mình đừng xử, giao cho tụi nó kéo nhau vô trong bưng mà xử.”
                  Tôi nói:
                  - “Dân của mình, mình xử. Sao lại giao cho Việt Cộng xử? Giao cho nó xử là “mất mặt anh hùng” lắm, sao mình chịu được!”
                  Thấy việc kỳ cục, tôi gọi thiếu úy Kiệt xem lại đầu đuôi ra làm sao. Việc nầy có dính líu tới chính trị, đâu có phải chỉ là việc vi cảnh mà thôi.
                  Điều tra xong, Thiếu úy Kiệt nói với tôi:
                  - “Thằng Năm Tho ở trong rừng. Con Hạnh vô ra quan hệ với Năm Tho nên con vợ Năm Tho ghen.”
                  - “Vợ Năm Tho ở Hà Tiên, còn con Hạnh ở Kiên Lương, hai nơi khác nhau mà.” Tôi nói.
                  - “Với tụi Việt Cộng đều là huyện Hà Tiên hết. Vợ Năm Tho ở Hà Tiên, con Hạnh ở đây cũng vô ra quan hệ với Năm Tho cả. Tui ở đây phải thường liên lạc trao đổi tin tức với Hà Tiên thường xuyên là vì vậy.” Thiếu úy Kiệt nói. Một lúc, anh ấy nói tiếp: “Ông nhớ vụ thằng Ba Xỉn không?”
                  - “Nhớ”. Tôi trả lời.

                  Tôi không nhớ thằng Ba Xỉn tên thật là gì nhưng vì nó xỉn tối ngày nên dân người ta gọi nó là thằng Xỉn. Nó thứ ba, dân ấp Lò Bom. Một hôm, có người báo cáo với Năm Hùng thằng Ba Xỉn theo Việt Cộng bấy lâu nay, cầm AK đứng gác không cho đồng bào đốn tràm. Nay, bỗng dưng thấy nó ngồi nhậu ở Chợ Tròn. Một mặt, Năm Hùng báo cho thiếu úy Kiệt biết, mặt khác tự mình anh chạy xe vô Chợ Tròn, dí súng bắt thằng Ba Xỉn đem về văn phòng.

                  Trung sĩ Thể, ban 2 chi khu, nghe bắt được tên du kích, bèn qua cảnh sát cùng lấy cung.

                  Té ra, có gì đâu!

                  Thằng Ba Xỉn ra hồi chánh ở Hà Tiên. Hà Tiên cho đi học ở Trung Tâm Chiêu Hồi Rạch Giá mà chẳng thông báo gì cho Kiên Lương, nơi gốc gác của thằng Ba Xỉn biết, nên Cảnh Sát Kiên Lương cứ đinh ninh thằng nầy còn làm du kích trong bưng. Ba Xỉn học xong, mãn khóa, trước khi nhập ngũ vì trong hạn tuổi “quân dịt quân gà”, xin giấy phép về thăm nhà. Nó chìa cái giấy phép về thăm nhà ra, ai nấy chưng hững, coi như chụp được con ếch to.

                  Nghe thiếu úy Kiệt nói con Hạnh con Tư Sang quan hệ với Năm Tho nên bị đánh ghen, tôi hỏi thiếu úy Kiệt:
                  - “Cảnhh sát An Bình có hồ sơ gì con nhỏ nầy không?”
                  - “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.
                  - “Bên anh có hồ sơ con nhỏ nầy không?” Tôi lại hỏi.
                  - “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời.
                  - “Bù trớt!” Tôi nói. Bắt con nhỏ đó, điều tra, xem nó làm gì ở trỏng.
                  Thiếu úy Thịnh được lệnh xuống ấp Lung Lớn bắt con nhỏ, đem về giao cho thiếu úy Kiệt.

                  Khi con nhỏ được đưa vào văn phòng thiếu úy Kiệt, tôi thấy buồn cười. Vì bị bắt bất thình lình, mái tóc chưa kẹp, bên dài, bên ngắn, đúng là vì bị vợ Năm Tho cắt mất một nửa. Con nhỏ khóc ròng, mặt mày tái mét vì sợ.

                  Năm Hưng lấy lời khai con nhỏ trong vòng hai tiếng là xong, đưa cho tôi xem, nói:
                  - “Việc gì ở ngoài nghe cũng dữ. Đi sâu vào trong, chỉ thấy tội nghiệp!

                  Tôi không nói gì vì chưa biết đầu đuôi. Thấy tập ghi lời khai con nhỏ có kèm hồ sơ Tư Sang, tôi đọc hồ sơ Tư Sang trước.

                  Tư Sang nguyên sống ở xã Vàm Rầy (Đức Phương). “Trào” - tiếng y khai trong bản cung - Ngô Đình Diệm, y đi lính Bảo An, mấy năm, vì bệnh phổi, được giải ngũ.
                  Thấy vùng Lung Lớn dễ sinh sống, y dọn nhà về đó hồi nhà máy ximăng Hà Tiên mới khởi công xây dựng. Y kiếm miếng đất dựng cái nhà nhỏ ở cùng vợ con. Phía sau nhà, bờ kinh, y đặt một cái rớ nhỏ, lâu lâu, đạp rớ cất lên, kiếm ít cá, đủ loại: Cá chốt, cá linh, sặc rằng, cá lóc, v.v… Vừa để ăn, còn thừa làm mắm. Phía trước nhà, bên kia đường, y khẩn một đám đất hoang trồng rẫy, tùy theo mùa: cà, rau, bầu bí… Tuần vài lần, y đốn tràm, giao cho chủ vựa, lấy tiền mua gạo, sống qua ngày. Công việc của y có vợ và con gái lớn phụ trợ.

                  Năm nhà máy ximăng dự tính đào kinh lấy nước từ sông Hậu xuống, mới cắm cờ, cắm cọc thì ban đêm Việt Cộng ra phá bỏ, lại cấm dân vô đốn tràm. Tư Sang phải làm giao liên cho chúng: tiếp tế thuốc rê, bột ngọt, trà, gạo mới được chúng cho đốn tràm. Vì là đàn ông, lại từng đi lính Quốc gia, chúng bắt Tư Sang phải báo cáo tình hình lính tráng tới lui, hỗ trợ cho công trình xây dựng nhà máy ximăng. Vậy rồi Tư Sang bị quốc gia tình nghi, bắt. Có gì Tư Sang khai nấy, không hỏi cũng khai. Người ta nói: Y thiệt thà quá. “Thiệt thà là cha dại”, tục ngữ nói vậy. Sáu Lượng, trưởng chi Công an Quốc gia hồi ấy, muốn giúp cho Tư Sang bỏ bớt lời khai, nhất là phần y khai về việc báo cáo lính tráng tới lui di chuyển, cho được nhẹ tội, tha về. Nhưng Sáu Lượng chẳng thấy gia đình Tư Sang quà cáp chi. Nên, Sáu Lượng nói với Hai Ngộ, thẩm vấn viên: “Hơi đâu mà rước tội vào mình.” Tư Sang bị giải về tỉnh, lãnh án hai năm tù, đưa đi “trung tâm Cải Huấn Cần Thơ.”

                  Hai năm sau, Tư Sang về, trình diện Công an, lập hồ sơ là “cựu can phạm, cần theo dõi”. Có gì đâu mà “theo dõi”. Tư Sang chỉ muốn trở lại cuộc sống cũ nhưng không được. Hai năm ở tù, tuy không làm khổ sai, nhưng ăn uống thiếu thốn, cũng như không khí độc hại, bệnh cũ tái phát: Lại bệnh lao. Tưởng đã hết rồi, ai ngờ ngày càng nặng. Ở vùng quê xa xôi, mỗi lần muốn khám bệnh phải ra Rạch Giá, đi lại khó khăn: Ngày đi, ngày khám, ngày về. Lẹ nhứt cũng mất ba ngày, chưa kể đường đi có khi bị Việt Cộng cấm, bị đắp mô. Vã thuốc trụ sinh chữa bệnh lao giá mắc lắm. Nhà nghèo như Tư Sang làm sao mua nỗi. Bệnh cứ để vậy, dần dà, ngày càng nặng.

                  Ba năm nay, khi con Hạnh ngày càng lớn thì bệnh Tư Sang lại nặng hơn. Vợ Tư Sang không khéo xoay xở, con Hạnh phải xông xáo giúp cha mẹ, nuôi em.

                  Nó dựng một cái chái nhỏ bên hông nhà, buổi sáng dậy sớm, nấu cà phê bán cho chòm xóm. Các ông già, bà già người Nam có cái thú uống cà phê buổi sáng, khi mặt trời chưa lên, mùa đông cũng như mùa hè. Họ tới quán vừa ngồi uống càphê vừa chuyện trò trên trời dưới đất, chờ trời sáng hẵn thì cánh đàn ông lội vô ruộng, làm đồng, bắt cá. Đi sớm, họ sợ trực thăng bắn lầm. Còn mấy bà về nhà lo việc nhà.

                  Sau khi khách ra về, con Hạnh đem dao, rựa xuống xuồng chèo vô rừng đốn tràm. Tràm bán có tiền hơn hết nên ngày nào nó cũng đi đốn tràm. Gặp may, việc xong sớm, cỡ hai ba giờ chiều nó vế tới nhà.

                  Được một thời gian, con Hạnh hốt hụi mở một tiệm chạp phô nhỏ, giao mẹ nó trông coi, còn nó cứ công việc cũ mà làm. Nhờ nó giỏi giang, Tư Sang phá cái nhà lá cũ, dựng cái nhà mới, vách gạch, lợp “tôn”. Ai cũng khen con gái Tư Sang giỏi.

                  Thế rồi việc đánh ghen xảy ra. Bấy giờ người ta mới biết kể từ năm trước, nó có quan hệ với Năm Tho, du kích trong rừng.

                  Theo lời khai của nó, ban đầu, Năm Tho cho nó nhiều ưu tiên. Trong khi dân chúng bị đuổi về, không ai được đốn tràm thì nó được đốn tự do. Tới mùa nước ròng, cá đọng lại trong các đìa, không ai được bắt thì nó chỉ cần giao thùng thiếc cho Năm Tho. Năm Tho bắt cá, bỏ vào thùng, giao cho nó đem về bán. Năm Tho không bắt nó tiếp tế gì cho Năm Tho cả. Thuốc hút, thuốc thơm, càphê, xàbông, kem đánh răng, vợ Năm Tho ở Hà Tiên tiếp tế đủ. Vậy Năm Tho cần gì nơi con Hạnh? Nó cần con Hạnh ngủ với nó.

                  Hạnh khai:
                  - “Cháu không chịu.
                  Năm Tho có vợ rồi. Với lại, ai đi lấy du kích Việt Cộng làm chồng. Lính tráng Quốc gia thiếu gì, ông nào cũng đẹp, ông nào cũng oai. Tại sao lấy thằng du kích. Hễ quốc gia hành quân vô, nó lủi như trạch.”
                  Năm Hưng cười, cười:
                  - “Cháu nói Quốc gia oai hơn, như ai chẳng hạn?”
                  Con Hạnh ngập ngừng một lúc, bẽn lẽn nói:
                  - “Như thiếu úy Thịnh chẳng hạn.”
                  Năm Hưng cười ha hả:
                  - “Té ra cháu mê ông thiếu úy Thịnh. Liệu có địch nổi với cả chục con gái Kiên Lương không? Ở đây cả chục con mê ông Thịnh, ông ấy vừa trẻ, vừa đẹp trai. Con gái nào mà không mê?”

                  Chuyện Năm Hưng nói là chuyện thực. Thiếu úy Thịnh có số đào hoa.

                  Cuối cùng, Năm Tho dùng sức mạnh hiếp nó. Giữa chốn rừng tràm hoang vu, con Hạnh kêu cứu ai được?! Thế rồi ăn quen bén màu, Năm Tho cứ làm tới hoài, con Hạnh cũng thúc thủ hoài.

                  Khi tôi đọc xong hồ sơ thì thiếu úy Kiệt với Năm Hưng vừa vào phòng tôi. Tôi nói:
                  - “Anh Năm, anh có tin con Hạnh bị hiếp không?”
                  - “Tin chớ ông. Tui viết cung không hay nhưng khi kể tới đoạn đó, nó khóc dữ lắm.”
                  - “Bộ nước mắt cá sấu?” Tôi nói.
                  Năm Hưng vẫn khăng khăng:
                  - “Tui nghĩ không phải đâu. Con gái như nó sao chịu thằng Năm Tho được. Cỡ như nó phải kiếm một ông nào cho ngon lành hơn chớ. Tuổi đó, đứa nào cũng mơ uớc một thần tượng nào đó chớ!”
                  - “Theo đây thì thần tượng nó là thiếu úy Thịnh chớ gì!” Tôi nói. “Nó không nghĩ rằng nó trèo cao hay sao?”
                  - “Mấy con nhỏ cặp bồ với ông Thịnh thua nó nhiều. Nó đẹp đó chớ!”
                  - “Nó đẹp thiệt.” Thiếu úy Kiệt tán thành. “Nó có yêu ông Thịnh cũng không có chi lạ.”
                  - “Đẹp mà tàn đời với thằng Năm Tho. Uổng thiệt! Vậy là xong đời một đóa tràm Trà Tiên.” Thiếu úy Kiệt vừa cười vừa nói.
                  Tôi sực nhớ chuyện hồi còn học ở Quốc Học, vì câu chuyện cô Trà Mi, học cùng lớp lấy chồng nên có anh bạn lên bảng đen viết hai câu Kiều. Tôi đọc hai câu Kiều đó cho hai người kia nghe:

                  Tiếc thay một đóa trà mi
                  Con ong đã tỏ đường đi lối về!

                  Khi viết hai câu đó lên bảng đen, người bạn mở đóng ngoặc kép hai chữ “con ong”. Nghe kể chuyện đó, Năm Hưng nói đùa: “Không biết con ong Việt Cộng với con ông Quốc gia, con nào con Hạnh chịu hơn!

                  Sáng hôm sau, tôi thức dậy, đang ngồi uống trà thì thượng sĩ Năm Huê tới. Năm Huê làm phó cho thiếu úy Thịnh. Ông ta mời tôi đi ăn sáng. Tôi lái xe, Năm Huê ngồi bên cạnh, nói:

                  -“Thiếu úy Thịnh đang chờ tui với ông ở chợ Tròn.”
                  - “Sao nó không tới tui?” Tôi hỏi.
                  - “Ông ta sợ!” Năm Huê nói.
                  - “Sợ gì?” Tôi hỏi.
                  - “Bữa nay, ông ta muốn xin tha cho con Hạnh nhưng sợ, không dám nói với ông. Nhờ tôi mời ông đi ăn sáng, nói giùm.” Năm Huê giải thích.
                  Vừa ngồi xuống bên cạnh cái bàn tròn, tôi cự nự ngay thiếu úy Thịnh:
                  - “Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, chú mầy đã dắt một lô con gái ra ngoài đó. Bữa nay lại léng phéng với con Việt Cộng nầy. Bộ muốn đi Hiếu Lễ hả?” (1)
                  Thiếu úy Thịnh than vãn:
                  - “Tại vì ông Tư Sang năn nỉ quá, em không cầm lòng được, chớ có phải em có gì với con Hạnh đâu. Tư Sang bệnh phổi tới thời kỳ thứ ba. Vợ Tư Sang thì vụng lắm, không có con Hạnh, bả không giữ được cái quán chạp phô. Con Hạnh ở tù thì coi như nhà đó đói.”
                  - “Còn việc dắt mấy con nhỏ đi Rạch giá thì sao?” Tôi vừa hỏi vừa cười.
                  - “Một con cũng đã chết em, những mấy con thì làm gì nỗi! Hôm ra mắt đảng Dân Chủ ở Rạch Giá, xã Long kêu gọi đảng viên đi cho đông để lấy điểm, can chi tới em đâu!”
                  - “Sắc bất ba đào dị nịch nhân”. (2) Ông có biết câu thơ đó không? Châu U Vương cũng vì Bao Tự mà chết, Ngô Phù Sai cũng vì Tây Thi mà tiêu đời. Ông liệu cặp bồ cho lắm, không bị Việt Cộng giết thì có ngày bị Quốc gia cho vô tù lãng nhách.” Tôi cảnh cáo thiếu úy Thịnh. Kể cho anh ta nghe câu chuyện cũ:

                  Hồi ở Gò Công tôi nghe kể có anh Cảnh Sát Dã Chiến theo một con nhỏ rủ về ấp của nó. Anh ta đi ba ngày không về. Thiếu úy trung đội trưởng dẫn lính đi tìm. Tới nhà con nhỏ thì thấy anh Cảnh Sát Dã Chiến bị trói vào gốc so đũa, bắn chết đã ba ngày, kiến bò lên cắn hư cả mắt mũi. Tìm con nhỏ thì nó đã vượt sông cửa Tiểu qua Thượng Đức rồi.

                  Ăn sáng xong, tôi họp nội bộ: Trưởng ban Tư Pháp, trưởng ban U-1 (Kế hoạch), U-2 (sưu tầm tin tức Việt Cộng), U-3 điều tra, để giải quyết việc con Hạnh. Thiếu úy Kiệt nói:

                  -“Nó còn vị thành niên, giải về Rạch Giá, ngoài đó khó giải quyết, tui lại bị rầy!”
                  - “Gọi Tư Sang lên làm giấy bảo lãnh cho nó về. Thiếu úy Kiệt báo cho quận Long biết kẻo bên đó họ nghi ngờ mình tự ý giải quyết là có ý đồ bậy bạ.”

                  Buổi chiều, khi Tư Sang lên tới, tôi đang ngồi nói chuyện chơi với quận Long trong văn phòng. Thấy y vào, tôi mời ngồi, nói:
                  - “Tôi báo cáo với ông quận rồi, ổng đồng ý. Để Bảy Hùng làm giấy tờ xong, ông ký tên rồi đem con gái ông về.”
                  Một lúc, tôi nói:
                  - “Hết cha làm Việt Cộng tới con làm Việt Cộng. Bộ cha con ông không muốn ở yên hay sao vậy? Quốc gia muốn dân được yên ổn làm ăn mà.”
                  Tư Sang than:
                  - “Khổ lắm ông, họ bắt ép hay lắm, không làm cũng không được.”
                  - “Ông nói vậy chớ mấy người không làm giao liên cho Việt Cộng thì chết đói cả hay sao? Tự cha con ông muốn, tự mình tham mà ra chớ!” Tôi nói.
                  Tư Sang nói:
                  - “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”
                  - “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.
                  - “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.
                  - “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân (2) ở ngoài hòn Ngang, hòn Nghệ, Rừng vàng là rừng Trà tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.
                  - “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.” Tư Sang xác nhận.
                  Tôi cười to:
                  - “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng cần gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy gặt. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”
                  Bực mình, tôi “chưởi” Tư Sang một hơi như vậy cho đã!

                  hoànglonghải

                  (Chuyện về sau, nghe kể lại:
                  Ngày 1 tháng 5 năm 1975, khi Việt Cộng ra tiếp thu, Năm Tho nhân cơ hội nầy, bắn chết thiếu úy Thịnh ở đầu cầu Lung Lớn. Mấy năm sau, con Hạnh đưa người đi vượt biên rồi đi luôn qua Mỹ. Năm nó làm Việt kiều hồi hương, mặc dù đã có chồng, có con, nó vẫn còn ra đầu cầu Lung Lớn, chỗ thiếu úy Thịnh bị bắn, thắp nhang cho anh ta và khóc. Có lẽ ngoài việc nó yêu thầm anh ấy, nó còn mang ơn thiếu úy Thịnh đã xin cho nó ra khỏi tù hồi năm ấy. )

                  (1) Quận Hiếu Lễ, tỉnh Kiên Giang, giáp với tỉnh Chương Thiện. Hiếu Lễ là cửa ngõ ngăn chận Việt Cộng xuất nhập mật khu U-Minh, mất an ninh. Nhân viên chính quyền, ai có lỗi, thường bị “đày” đi Hiếu Lễ, cũng có khi đi không về.
                  (2) Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
                  Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
                  Mưa không kềm tỏa mà giữ khách ở lại được,
                  Sắc đẹp không có sóng mà làm cho người ta chết chìm được)
                  #24
                    lyenson 06.07.2008 13:38:06 (permalink)
                    Phần 24
                    Nhà Máy Ximăng Hà Tiên

                    Trước khi nói tới việc xây dựng nhà máy ximăng Hà Tiên, phải nói tới công lao cụ Diệm. Ông Ngô Đình Diệm “chấp chánh” ngày 7 tháng 7 năm 1954. (Hồi ấy gọi là ngày Song Thất) Hai tuần lễ sau (chính là ngày 21 tháng 7 năm 1954), các nước đầu sỏ hè nhau lấy con dao bén cát đôi nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17, mà nhà thơ Trần Dần gọi là:

                    Bỗng nhói ngang lưng
                    máu rỏ xuống bùn
                    Lưng tôi có tên nào chém trộm?

                    Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu

                    Bắc Nam ơi đứt ruột chia đôi

                    Cụ Diệm chỉ còn cai trị có một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến 17 trở vào. Với một nửa nước đó, cụ lo chỉnh đốn và xây dựng (1) các công trình giáo dục, hành chánh, quân sự, giáo dục, kỹ nghệ, …
                    Nhà máy ximăng Hà Tiên hình thành trong bối cảnh đó. Nhà máy bắt đầu hoạt động năm 1962.

                    Vùng Kiên Lương - Rạch Đùng – Chùa Hang – Ba Hòn - hòn Phụ Tử là vùng núi đá vôi tốt, tương đương với đá vôi Portland của tiểu bang Oregon, với hàng trăm ngọn núi lớn nhỏ khác nhau, trên đất liền hoặc sát bờ biển.
                    Những ngọn núi sát bờ biển có hình ngọn viết lá tre, có nghĩa là chỗ gần giáp với mặt nước, ngọn núi bị thắt lại vì nước xoi mòn. Đó là lý do tại sao hòn Phụ Tử năm kia bị đổ. Khi phần dưới bị thắt lại, phần trên nặng, và nếu như bị một tác động mạnh nào đó, thường là do địa chấn, phần trên sẽ đổ xuống. Người ta thường cho rằng đó là điềm bao trước chuyện chẳng lành. Núi đổ, đá đổ là báo hiệu sự sụp đổ. Năm 1953, núi Bãng Lãng ở thượng nguồn sông Hương bị đổ, năm sau “23 tháng mười Bảo Đại dân truất ngôi”. Năm 1974, núi đá Giao ở Tri Thủy, quê ông Thiệu, bị đổ, năm sau là tháng Tư đen. Bây giờ hòn Phụ Tử đổ, không biết chuyện gì sẽ xảy ra…

                    Cuối năm 1973, đại tá Huỳnh Thanh S. cùng trung tá Ngô Tấn Đ. đến thanh tra cơ quan của tôi. Đại tá Huỳnh Thanh S. hỏi tôi tại sao những núi đá bị khuyết đi như vây. Tôi giải thích rằng chỗ khuyết là do qua hàng triệu năm, sóng biển đánh vào bào mòn. Rồi bỗng có một trận địa chấn lớn làm nâng đáy biển lên hay làm nước biển giựt xuống, nên chỗ khuyết đó bỗng lộ cao lên, cao hơn mặt nước. Điều tôi nói là căn cứ vào sách địa lý tôi dùng dạy học trò lớp đệ Tam của sư huynh Jérôme Lê Văn Ba, có thời làm hiệu trưởng trường Pellerin Huế, sau vô làm hiệu trưởng trường Taberd Saigon và cours tôi học với linh mục Nguyễn Hòa Nhã, giáo sư địa lý đại học Huế, chớ tôi không nói tầm bậy. Vậy mà ông đại tá Huỳnh Thanh S. cười mỉa tôi, cho rằng tôi nói dốc. Cái cười của ông đại tá được kèm theo cái cười mỉa thứ hai của ông trung tá Đ., ông cũng là người có bằng cử nhân luật của đại học Saigon đấy!

                    Nhà máy ximăng Hà Tiên được xây dựng bên chân núi Còm, là ngọn núi lớn nhứt. Đồng thời quận hành chánh Kiên Lương cũng được thành lập để giúp đỡ về hành chánh cho nhà máy.

                    Thời Tây đô hộ, qua khỏi xã Đức Phương (Vàm Rầy), - quê hương của vợ thủ tướng Khiêm - một đổi là ranh giới hai tỉnh Rạch Giá - Hà Tiên. Từ Vàm Rầy trở ra Rạch Giá, xuống tới U-Minh là thuộc tỉnh Rạch Giá, diện tích rộng lớn. Còn từ quá Vàm Rầy trở lên Hà Tiên là thuộc tỉnh Hà Tiên. Tỉnh Hà Tiên nhỏ hẹp, chỉ có ba quân: Phú Quốc, Giang Thành và Hòn Chông (sau nầy là Kiên Lương). Thời nhà Nguyễn, tỉnh Hà Tiên rộng hơn bây giờ, xuống tới tận cầu Lình Quỳnh, gần tới Sóc Soài, Sóc Sơn của tỉnh Rạch Giá. Khi Tây chiếm xong ba tỉnh miền Tây Nam bộ, tuy ông Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự vẫn, giao thành cho địch để tránh tai họa cho sinh linh, thì trong giới sĩ phu, nhiều người vẫn tiếp tục chiến đấu. Kiệt hiệt nhứt trong số đó có ông Nguyễn Trung Trực. Ông khởi binh đánh Tây, thắng nhiều trận lớn, như trận đốt tàu Tây mà sử gọi là Hỏa Hồng Nhựt Tảo. Nhưng về sau, sức yếu thế cùng, ông lui về “Đám Lá Tối Trời” ở Gò Công, rồi rút về lập căn cứ ở núi Hòn Chông, kế chùa Hang, hòn Phụ Tử. Khi dẹp được cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực, Tây thu nhỏ tỉnh Hà Tiên lại cho dễ kiểm soát. Riêng vùng Kiên Lương và núi Hòn Chông được lập thành một quận, gọi là quận Hòn Chông, diện tích nhỏ hẹp, dễ kiểm soát, dân chúng ít, dân khó nổi lên chống Tây như trước. Khi tôi đi thăm chùa Hang năm 1973, ở đầu núi Hòn Chông còn thấy cảnh đổ nát của quận đường cũ. Cơ sở nầy bị tàn phá, một phần vì Việt Minh “tiêu thổ kháng chiến”, một phần vì nơi đây không ít lần là trận địa. Quận Kiên Lương là thoái thân của quận Hòn Chông, diện tích có mấy xã: Hai xã Tín Đạo (Tri tôn thuộc Rạch Giá), Đức Phương (Vàm Rầy) là đất cũ của tỉnh Rạch Giá, và các xã thuộc quận Hòn Chông cũ như An Bình (quận lỵ), Dương Hòa (Ba Hòn), An Hòa (Núi Trầu), Bình Trị (Hòn Chông). Lãnh thổ xã Bình Trị gồm những ấp quanh núi Hòn Chông, XXXXXX và các hòn cù lao trong vịnh Thái Lan, lớn nhứt là Hòn Nghệ, thứ đến là Hòn Ngang (Hòn Đội Trương), hòn Đầm và vài đảo khác, vì thiếu nước ngọt nên chỉ có vài ba nhà dân.

                    Nhà máy ximăng ở kế quận lỵ, thuộc xã An Bình.

                    Nhà máy ximăng được xây dựng thành hai khu: Khu cư xá thuộc xã An Bình, ngay quận lỵ gồm có một dãy biệt thự dành cho các kỹ sư và viên chức chỉ huy, khu nhà dài là nhà ở của công nhân, khu trường học (tiểu học và trung học), khu thể thao, và khu thị tứ gồm Chợ Tròn (nhà lồng chợ hình tròn), các dãy phố quanh chợ, với đường xá rộng rải và khu nhà máy, ở bên kia kinh An Bình – Ba Hòn, sát chân núi Còm. Đường từ bên nầy (quận lỵ) qua bên kia (nhà máy) nối bằng nột cây cầu đúc ximăng khá đẹp. Nhìn qua, các công trình xây dựng nầy hiện đại, tiện nghi, quang cảnh giống như bên Tây. Công trình nầy là của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

                    Cũng không thể không nói thêm về hồ nước Kiên Lương. Theo kế hoạch ban đầu, chính phủ dự tính cho đào một con kinh lớn, nối liền từ sông Bassac, - sông Hậu -, chỗ gần tỉnh lỵ Châu Đốc kéo thẳng một đường về tới kinh Rạch Giá – Hà Tiên, gần An Bình – , để lấy nước cho nhà máy. Tuy nhiên, khi chương trình đào kinh mới bắt đầu, cho cắm cọc, làm dấu thì Việt Cộng rình bắt hết công nhân làm công việc đào kinh nầy. Những người bị bắt, có người được tha sau khi bị Việt Cộng giam giữ ít lâu, có người không về. Con kinh sắp đào nầy cắt ngang đường giây 1-C là con đường huyết mạch của Việt Cộng từ Kampuchia qua, làm sao chúng có thể để yên được. Vì vậy, việc đào kinh phải bỏ. Chính phủ bèn cho đào một cái hồ rộng, phía sau cơ sở quận Kiên Lương. Hồ nầy mỗi bề dài 1 cây số, tha hồ cho nhà máy xử dụng. Mỗi năm, khi nước nguồn đổ về, - thường gọi là “mùa nước nổi” - độ phèn giảm bớt thì nhà máy cho bơm nước từ kinh An Bình – Ba Hòn vào hồ cho tới khi đầy hồ mới thôi. Nhà máy lại cho bơm nước vào một cái château d’eau ở gần cư xá cho công nhân dùng, và một château d’eau khác phía bên kia cho nhà máy. Vì việc canh gác, tuần phòng có khi lơi lỏng, Việt Cộng mấy lần về đặt chất nổ cố phá cái château d’eau ở cư xá nhưng không thành công. Hồ nước có nhiều cá và vịt le, dân chúng tha hồ đánh bắt, không ai cấm cản gì cả.

                    Nhà máy ximăng Kiên Lương chỉ mới khai thác đá ở núi Còm.
                    Tại sao có tên núi Còm?

                    Trong hồi ký “40 năm, nhớ lại tết Mậu Thân – bài thứ 9 “Chiều Đi Qua Bãi Dâu…” ở phần chú thích, tôi có viết:

                    “Về mặt tôn giáo, khi triều đình nhà Nguyễn đang còn, người ta thấy xã hội miền Bắc thiên về đạo Nho, nhất là Tống Nho, hơn về Phật; miền Nam thiên về đạo Phật, khuynh hướng dân giả, pha tạp tà ma bùa chú hơn đạo Nho. Huế ở giữa, là điểm tiếp nối của hai miền, vừa “thâm” Nho trong triều chính, và “đậm” Phật trong đời sống xã hội.

                    Trước khi “lưu lạc” về miền Tây Nam Bộ, xuống tới chỗ tận cùng đất nước: Hà Tiên, tôi có đọc một số truyện của Hồ Biểu Chánh, Lê Xuyên hay tin tức báo chí, tôi thấy đạo Phật Đại Thừa, là hành trang tinh thần của người Việt trong cuộc Nam tiến, từ miền Trung, miền Bắc vào miền Tây Nam Bộ. Những lưu dân nầy, khi định cư nơi vùng đất mới, tính Đại Thừa pha hợp với tính Tiểu Thừa trong đạo Phật của người Miên vùng Khmer Krom. Rõ nhất là trong tính cách tu cho riêng mình được giải thoát. Do đó, bên cạnh chùa, như ở miền Bắc thì lại xuất hiện những cái cốc của các ông đạo. Đạo của các ông đạo lại pha hợp với tu tiên của đạo Lão và bùa phép của người Miên. Bên cạnh những ông đạo Liếm, đạo Sờ bậy bạ, không ít người tu hành một cách chân chính nhưng có vài nét khác lạ. Ông “bác vật” Lang quê ở Sadec đi xuống cái hang sâu (dân chúng gọi là đường xuống âm phủ) ở Thạch Động thuộc Hà Tiên (Thạch Động là nơi Thạch Sanh cứu công chúa trong truyện Thạch Sanh – Lý Thông), có thạch nhũ hình dáng như Phật Bà Quan Âm, ông ta thấy cái gì đó mà khi về, ông tịnh khẩu cho đến khi qua đời vì Phật thánh cấm ông nói lại. Ông “bác vật” Lang là đệ tử của Phật Bà Quan Âm, người ta nghĩ vậy, nhưng cách tu tịnh khẩu cho đến chết như ông không phải là việc tu hành thông thường. Tôi không rành lịch sử Phật Giáo Việt Nam, nên không biết hai ngàn năm Phât giáo truyền vào Việt Nam, ở miền Bắc có ai tu tịnh khẩu trọn đời như ông “bác vật” Lang hay không?

                    Ông đạo Dừa ở Kiến Hòa cũng là một “dạng” của mấy ông đạo miền Nam. Thường thường các ông đạo nầy là người Việt Nam, không phải người Miên hay người Tàu lai Miên (Thường gọi là đầu gà đít vịt), lại là người có học hành. Ông “bác vật” Lang đậu cử nhân sinh học ở Pháp về, biết hết các loài động vật thực vật nên người ta gọi ông bác vật là vì vậy. Ông đạo Dừa nguyên là kỹ sư canh nông. Người Miên tu ở chùa, dùng bùa Cà Tha và không lập cốc. Bùa Cà Tha, là bùa “truyền thống” của người Miên. Nhiều ông đạo tu luyện bày thêm bùa phép lung tung.

                    Đặc biệt nhứt là trường hợp ông Đoàn Minh Huyên, tín đồ gọi là Đức Phật Thầy Tây An (2).

                    Núi non vùng Kiên Lương, Hà Tiên, và Thất Sơn bên Châu Đốc không thiếu hang động. Do đó, nhiều ông đạo không dựng cốc. Mấy ông tu trong những hang động đó, mỗi người một hang. Ông Còm, hay ông đạo Còm cũng là người tu trong hang theo cách đó.

                    Trong bản đồ quân sự, tôi nhớ không lầm, ngọn núi nhà máy ximăng Hà Tiên khai thác đá, được gọi là núi Còm, là nơi ông đạo Còm tu hành. Người ta không biết tên thật ông ta là gì nhưng ông thọ lắm, lưng ông còm, - cong như cái cung -, nên người ta gọi là ông đạo Còm, tu trên ngọn núi đó là ngọn núi người ta đặt tên theo cái tên người ta đã đặt cho ông. Không ai biết quê quán ông ở đâu, tu luyện ở đây từ bao giờ, thời gian nào, lâu lâu ông ta mới xuống núi khất thực. Xong, ông ta lại về núi. Khi công nhân đến khai thác đá ở núi Còm, người ta tìm thấy trong một cái hang có một bộ xương người, - bộ xương ông đạo Còm -, da thịt đã rữa mục hết, thành đất bụi, không rõ ông đạo chết tự bao giờ.

                    Tôi lấy làm tiếc đã không tìm hiểu thêm về ông đạo Còm. Không biết bộ xương ông đạo chôn cất ở đâu. Vã lại, dân chúng quanh vùng nầy, không ai là cố cựu, chỉ là người mới tới định cư sau khi quận được thành lập. Xóm Xà Ngách của ông Đinh Nam Triều - người viết bài 20: Tiểu Đoàn 66 Biệt Động Quân Biên Phòng – cư ngụ ở xóm nầy cũng chỉ từ sau hiệp định Genève 1954. Có lẽ dân núi Trầu (xã An Hòa), vài người biết đôi chút về ông dạo Còm nhưng tôi đã không tìm gặp để hỏi chuyện.
                    Núi Còm, bắt đầu lấy đá từ 1962. Khi tôi về đó, hơn 10 năm sau, nhà máy ximăng chỉ mới khai thác được một phần mười ngọn núi đá. Một mặt thì nhà máy khai thác chậm, mặt khác thì núi lớn quá. Theo ông giám đốc Lê Hữu Phước, nói cho tôi nghe, thì đó chỉ là phần nổi trên mặt đất, phần nầy chỉ có một phần ba. Phần chìm dưới mặt đất là hai phần ba. Nếu khai thác hết đá ở núi nầy, với tiến độ như thế, phải mất một trăm năm nữa mới lấy hết đá.

                    Giữa năm 1974, kỹ sư Nguyễn Văn Thành, đứng ra chỉ huy việc tính toán, đặt chất nổ, để bắn chỏm núi, cao khoảng một phần ba ngọn núi (Phần nổi trên mặt đất). Một hôm, ngồi uống càphê buổi sáng với tôi, trước khi đi làm, kỹ sư Thành báo cho tôi biết việc chuẩn bị ấy và hẹn hôm nào cho bắn đá thì sẽ báo cho tôi biết để xem chơi. (Kỹ sư Thành, tốt nghiệp kỹ sư công chánh, nguyên là học sinh trường Phan Bội Châu, Phan Thiết, học sinh môn Anh Văn với Phan Văn Hộ, một người bạn học cũ của tôi đang dạy ở đấy.)



                    Quả thật anh ta tính toán rất hay. Hôm đó, trời tốt, khoảng mười giờ sáng, tôi qua nhà máy chờ xem bắn đá. Tới 10 giờ, sau khi lệnh lạc đâu đó, giữ khoảng cách an toàn cách chân núi 2 Km, thì kỹ sư Thành cho lệnh bắn. Trong tích tắc, tiếng nổ dữ dội vang lên, bụi đá mù mịt, tiếng đá rơi xuống ào ào như mưa, kéo dài hơn một giờ đồng hồ. Khi bụi tan thì phần chỏm núi không còn. Bắn một lần mà thành công như thế là kỹ sư giỏi.

                    Thời gian tôi làm việc ở đây, gần 2 năm có ba tai nạn chết người. Trước hết là tai nạn bà Huỳnh thị Chè. Trước kia bà làm cho hãng RMK-BRJ của Mỹ, từng lái xe xúc. Hôm ấy, bà cũng lái xe xúc đưa đá lên cối thì xe tuột thắng, rơi khỏi cầu, xe lật úp, bà bị xe đè chết tại chỗ. Tai nạn thứ hai là một thanh sắt lớn rơi trúng đầu ông Thanh, cán sự cao cấp, tương đương kỹ sư, du học ở Pháp về. Tai nạn thứ ba là sau khi bắn chỏm núi đá, thì một ông tài xế nhà máy, lái xe ủi để ủi một đường quanh núi thì bị đá rơi trúng đầu, chết tại chỗ.

                    Cũng trong thời gian đó, Việt Cộng tấn công vào nhà máy ximăng hai lần, không kể lần trước đó, 1972 mà anh Đinh Nam Triều đã kể trong bài 20.

                    Lần đầu, Việt Cộng chưa vào tới nhà máy, chỉ có đặc công chui hàng rào kẽm gai vào đốt kho dầu. Nửa đêm, tôi bị nhân viên đánh thức, báo cho biết nhà máy ximăng đang cháy. Tôi lo lắng chạy qua hầm truyền tin, biểu nhân viên báo cáo về Rạch Giá, rồi đi bộ sang chi khu theo dõi tình hình. Thiếu tá Sầm Long, chi khu trưởng, đang ngồi sẵn ở đó, nét mặt hơi có vẽ lo lắng. Tôi nói:

                    - “Nếu nhà máy bị nội tuyến là tui lãnh đủ. Còn như tụi nó ở ngoài chui vào là phần ông đấy.”
                    Thiếu tá Long cười mà không vui:
                    - “Địa Phương Quân (ĐPQ) báo cáo rồi, tụi nó cắt hàng rào chui vô.”

                    Tôi cười, thấy khỏe. Nhà máy có hơn bốn trăm nhân viên, lý lịch khá phức tạp, Việt Cộng dễ trà rộn vào để phá hoại.

                    Nhà máy cũng có một kho chất nổ lớn, dùng để bắn đá. Chất nổ để trong một cái hang núi, cửa sắt chắc chắn. Mỗi khi mở cửa lấy chất nổ ra, phải có một ủy ban với nhiều thành viên thuộc các cơ quan, bộ phận an ninh ở địa phương để ngăn ngừa việc mất cắp có thể xẩy ra: Việt Cộng hay bán cho các chủ lò vôi để họ bắn đá. Việc nầy tôi rất e ngại, theo dõi khá kỹ, giao cho thượng sĩ Lâm Tấn Tài, cảnh sát đặc biệt, đảm nhận công việc nầy. Anh ta là người cẩn thận, chăm chỉ và, như tôi gọi đùa “Thổ công nhà máy.” Anh biết hầu hết, tên tuổi, gia cảnh, gốc gác… từng công nhân làm việc cho nhà máy.

                    Sau đó, tôi cùng thiếu tá Long qua nhà máy. Nhà máy có bốn bồn dầu lớn dùng để đốt lò, một đang bị cháy. Các bồn kia an toàn. Tôi nói với thiếu úy Kiệt:
                    - “Ông lấy máy hình chụp “lỗ chó chui” nầy. Mai mốt thượng cấp có khiển trách thì mình có cớ để chạy tội.”
                    “Lỗ chó chui” là chỗ đặc công cắt kẽm gai chui vào.

                    Lần thứ hai, Việt Cộng tấn công, tình hình căng hơn.

                    Thời gian cuối năm 1974, tình hình toàn quốc khá căng nên tôi ít khi ngủ ở nhà, thường ngủ chung với binh lính của tôi trên các sân thượng của vài cao ốc trong quận lỵ. Quá nửa đêm súng nổ dữ dội ở phía nhà máy, tiếng súng nhỏ và cả mìn hay lựu đạn nữa. Tôi dùng máy truyền tin liên lạc với chi khu thì được biết đại tá Nguyễn Hữu Kiểm, tư lệnh phó sư đoàn 21 và thiếu tá Sầm Long đang ở trong hầm chỉ huy. Việt Cộng đột nhập vào trong nhà máy nhưng chưa làm chủ tình hình được. Hai bên đang đánh nhau. Một bên là đặc công và một số binh lính Việt Cộng đã lọt vào sân sau nhà máy rồi; sân nầy ở hướng núi Còm. Bên kia, - phe phòng ngự, không phải là binh sĩ tiểu đoàn 530 Địa Phương Quân (ĐPQ), đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ nhà máy mà lại Nhân Dân Tự Vệ (NDTV) nhà máy, chỉ khoảng 4 hay 5 người gì đó, đang núp trên cối xay đá, phản công bằng súng Carbine.

                    Tôi vào hầm hành quân gặp đại tá Kiểm và thiếu tá Long. Đại tá Kiểm đang liên lạc với tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Địa Phương Quân nói trên. Liên lạc xong, ông ta bỏ ống nói xuống, mặt không vui, nói với thiếu tá Long và tôi:

                    - “Không biết tụi nó chém vè hay ngủ quên. Mấy “thằng cùi” (ám danh truyền tin thường chỉ Việt Cộng) lọt vô nhà máy rồi, súng nổ ầm ầm, tụi nó mới hay.”

                    Đơn vị ĐPQ canh gác, tuần tiểu, phục kích phía ngoài hàng rào phòng thủ. Vậy mà khi Việt Cộng tiến vào, họ chẳng biết gì cả. Khi mấy tên đặc công lọt vào được sân sau, NDTV gác trên cối xay đá phát hiện ra, bắn xuống. Bọn chúng quăng lựu đạn beta lên cối đá nhưng không tới. NDTV có lợi thế hơn, từ trên cao bắn xuống nên chẳng tên đặc công nào sống sót. Vừa khi đó, khoảng một tiểu đội Việt Cộng từ ngoài lọt qua được hàng rào, nhưng các toán NDTV quanh đấy đã cảnh giác vì súng nổ rồi. Vì vậy, toàn bộ toán Việt Cộng bị mắc kẹt ở hàng rào. Vào thì không được, lệnh rút lui chưa có.

                    Tiểu đoàn trưởng cùng với ban chỉ huy tiểu đoàn phối hợp với NDTV bảo vệ nhà máy, không cho chúng tiến sâu vào nữa. Tuy nhiên, toán đặc công thứ hai, có nhiệm vụ đốt bồn dầu thì đã đốt cháy 2 trong 4 bồn dầu, nhưng toàn thể toán của chúng gồm bốn tên đều bị hạ sát. Hai bồn dầu đang cháy, rực sáng, lửa cao ngất, khói um tùm.
                    Bấy giờ đại tá Kiểm đã liên lạc được với Sư Đoàn 21. Sư đoàn liền cho trực thăng vận đổ xuống một đại đội. Trực thăng đổ quân dọc theo trục lộ, ngang ấp Xà Ngách, bên kia nhà máy. Tôi núp trong hầm hành quân, nhìn ra ngoài, quan sát đơn vị tiếp viện vượt cầu sang bên kia kinh. Trong ánh lửa chập chùng của các bồn dầu đang cháy, hình ảnh những người lính vượt cầu hiện lên khá rõ, vừa đẹp vừa hùng tráng. Tôi nói với thiếu tá Long:

                    - “Đẹp ghê! Y như trong ciné.”

                    Sau đó, chưa được nửa giờ, súng êm. Việt Cộng rút ra xa, nhưng cuộc tấn công chưa chấm dứt.

                    Trời đã sáng, tôi còn ngồi trong hầm hành quân. Đại tá Kiểm nói:
                    - “Việt Cộng tấn công mà tình báo chẳng biết trước gì cả. May nhờ NDTV phát hiện chớ với mấy trăm kí lô chất nổ như vậy, nhà máy chẳng còn viên gạch nào nguyên.”
                    Hồi gần sáng, trung úy đại đội trưởng tiếp viện, sau khi vào lục soát trong nhà máy, báo cáo tịch thu được khoảng bốn trăm kg chất nổ TNT. Việt Cộng muốn triệt hạ hoàn toàn nhà máy ximăng Hà Tiên.

                    Câu nói của đại tá Kiểm làm tôi chột dạ, mặc dù ông không khiển trách hay trách cứ gì tôi.

                    Sau 7 giờ sáng, tôi về cơ quan. Lúc đó Việt Cộng chưa rút đi hẵn, còn bám các vị trí chung quanh nhà máy. Có thể chúng nó chờ trời tối lại tấn công nữa. Đại tá Kiểm tiên đoán như vậy. Tôi về họp đám Cảnh Sát Đặc Biệt của thiếu úy Kiệt, nhắc lại nhận xét của đại tá Kiểm. Năm Hùng nói:

                    - “Bên quân đội có tình báo chiến thuật, chiến lược, phạm vị hoạt động rộng khắp, còn chưa biết gì. Mình chỉ nhờ có mấy người dân đốn tràm, giăng câu, làm sao biết tới việc đó.”
                    Tôi nói:
                    - “Chỗ dựa của chiến tranh du kích là nhân dân. Mình cũng phải dựa vào nhân dân mà chống Việt Cộng. Tình báo nhân đân chỉ góp được phần trong việc giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản mà thôi. Thôi! Kệ họ, họ có trách cứ gì mình đâu mà suy nghĩ cho mệt. Bữa nay thiếu úy Kiệt nên cho rải nhân viên rộng ra, xem tình hình như thế nào.” (3)
                    Tôi gọi riêng Năm Hùng, “thổ công Kiên Lương” (4) với thiếu úy Kiệt lại, gọi càphê và dặn dò công việc. Tôi nói:

                    - “Hồi “Hùng móm”, em tôi đánh trận Dambe, đọc tờ Diều Hâu, tôi thấy họ bình luận sở dĩ Việt Cộng thua là vì tướng Dư Quốc Đống tìm ra được vị trí bộ tư lệnh chiến trường của Việt Cộng. Thay vì tấn công vào phòng tuyến chúng đang giàn sẵn, ông cho rút tiểu đoàn 11 Dù để tấn công ngay vào cái đầu rắn. Bọn nầy bị bất ngờ, chạy trối chết. Bên phía mặt trận kia, không đánh Việt Cộng cũng rút lui.”
                    Thiếu úy Kiệt góp ý:
                    - “Tui cũng nghe nhiều người nói vậy.”
                    Tôi nói:
                    - “Thật ra, Thủ Đức ra như tôi, chỉ làm trung đội trưởng, chỉ học tuần tiểu, di hành, hành quân đêm, lội sông. Biết mẹ gì chuyện nầy. Chuyện nầy cao cấp hơn. Biết cũng vì tò mò mà thôi.”
                    Thượng sĩ Hùng nói:
                    - “Ông quận Long đánh giặc cũng hay lắm.”
                    Tôi cười:
                    - “Ông không biết à? Việt Cộng nghe tới đại úy Long Sư Đoàn 9 là ngán lắm. Ổng nổi tiếng từ cấp úy kia.”
                    Thiếu úy Kiệt hỏi:
                    - “Ông vô mục tiêu kinh lắm. Mười lần cả chục, Việt Cộng chạy dài.”
                    Tôi giải thích:
                    - “Ông ta có sự phỏng đoán tài tình lắm. Khi trực thăng đổ lính xuống rồi, dàn hàng ngang, vô mục tiêu. Việt Cộng nổ súng. Ông ta gan lắm, đứng quan sát. Nhìn hỏa lực, ổng biết cấp chỉ huy bên kia ở đâu, rồi tập trung mấy tay gan cùng mình, đánh ngay vào chỗ ấy. Thằng nào dám trụ lại. Rút chạy là chắc.”
                    Một lúc, tôi hỏi Năm Hùng:
                    - Ông là “thổ công” ở đây. Theo ông dự đoán, bọn chỉ huy mặt trận nằm ở đâu?”
                    - “Thiếu gì chỗ. Núi Nai, phía sau núi Còm, khu đó còn nhiều ngọn núi nhỏ nữa, có hang. Tụi nó núp trong đó an toàn lắm.” Năm Hùng giải thích.
                    - “Mấy núi đó, ông vào chưa?” Tôi hỏi.
                    - “Tui lội khắp. Mấy năm tình hình yên yên, chẳng nơi nào tui chẳng tới.” Năm Hùng trả lời.
                    - “Còn vùng Mo-So?” Tôi hỏi.
                    Thiếu úy Kiệt nói ngay:
                    - “Phía đó là phía biển, mình tấn công, tụi nó rút đi đâu? Phía núi Nai tụi nó dễ rút về Trà Tiên.”
                    Tôi thấy thiếu úy Kiêt nói có lý. Một lúc, tôi nói:
                    - Nếu chắc ở núi Nai, tui nghĩ bên Biệt Khu họ dám chơi kiểu “diều hâu” (5), cho nhảy trực thăng.”

                    Đến trưa, tôi đang ăn cơm, Năm Hùng vào gặp tôi, nói:
                    - “Có chỗ nầy tôi hơi nghi nghi!”
                    - “Chỗ nào?” Tôi ngừng ăn, hỏi.
                    - “Chỗ cái lung, phía đông núi Trầu. Tui đứng ở cầu Tre, nhìn vô thấy cái lung đó.”
                    Tôi bỏ ngang bữa ăn, nói với Năm Hùng: “Anh đi xuống đó với tui. Biểu tụi nó gọi thiếu úy Kiệt xuống đó luôn.”

                    Ngang đầu núi Trầu, xã An hòa, có một con kinh đào nhỏ, thẳng, chạy từ đó về hướng đông, có thể nối với kinh Kháng Chiến (Tôi không rõ vì bản đồ không vẽ gì cả mà tôi cũng chưa từng lội vào đó bao giờ). Cách xã An Hòa khoảng hai cây số, ngay trên kinh nầy, có một vùng đất hơi cao, khô, cây tràm rậm rạp. Vì vậy, người ta gọi là lung, tiếng địa phương. Nếu Việt Cộng núp trong đám rừng tràm nầy, máy bay cũng khó phát hiện.

                    Tôi hỏi:
                    - “Năm Hùng đoán tụi nó làm gì chỗ nầy?”
                    - “Mấy lần trước, bộ chỉ huy đóng ở núi Nai. Nay tụi nó phải đổi vùng, đánh lạc hướng. Đóng một chỗ hoài, dễ bị lộ, nguy hiểm.” Năm Hùng giải thích.
                    - “Nhưng có cái gì nữa, anh mới nghi chớ?
                    - “Kinh nầy là đường dân An Hòa đi đốn tràm. Bữa nay, gần tới chỗ lung, họ bị chận lại, đuổi lui. Dân chúng cũng thấy mấy cái cần câu chỉa lên trời. Tui đoán có lẽ là ăngten truyền tin.” Năm Hùng nói rõ hơn.
                    Khi đó, thiếu úy Kiệt vừa tới. Tôi nói với Năm Hùng:
                    - “Anh ở đây canh chừng coi có thêm tin gì không. Cần thì gọi thêm người phụ với anh. Tui qua Biệt Khu với thiếu úy Kiệt.

                    Gặp đại tá Kiểm, tôi trình bày những gì Năm Hùng đã nói với tôi. Đại tá Kiểm và tôi, thiếu úy Kiệt, khoanh chỗ cái lung trên bản đồ, chấm tọa độ. Xong xuôi, đại tá Kiểm nói:

                    - “Tôi có hai phi tuần, nay chỉ lại mục tiêu nầy cho phi công oanh tạc.”
                    Thế rồi đại tá Kiểm đổi tần số truyền tin, liên lạc với bộ tư lệnh Sư Đoàn 21.
                    Nửa giờ sau, trên đường tôi trở lại cầu Tre thì gặp Năm Hùng đang hớt hãi chạy về. Gặp tôi, Năm Hùng nói:
                    “Chết rồi, máy bay bỏ bom lầm, ngay xã An Hòa, cháy mấy cái nhà. Dân vừa chạy ra báo cáo. Tui cũng thấy máy bay chúc xuống oanh tạc ngay đó.”
                    Vậy là tôi quay trở lại Biệt Khu báo cáo với đại tá Kiểm. Chúng tôi xác minh lại tọa độ mục tiêu, đại tá Kiểm lại gọi về bộ tư lệnh. Mười lăm phút sau, hai chiếc A-37 đổi hướng, oanh tạc ngay mục tiêu chúng tôi báo cáo.

                    Khoảng một giờ đồng hồ sau, Năm Hùng vào An Hòa, tìm gặp các mật báo viên của anh ta. Đến chiều, tôi còn ngồi trong văn phòng, tính chuyện đêm nay canh gác như thế nào đề phòng Việt Cọng tấn công lần nữa thì Năm Hùng vào, nói:
                    - “Rút rồi.”
                    Tôi hỏi:
                    - “Ai? Việt Cộng hả?”
                    Năm Hùng cười:
                    - “Tui cho người vô chỗ hồi sáng. Không còn Việt Cộng canh gác gì cả, dân không bị đuổi lui. Họ chèo vô tuốt một khúc nữa, qua gần hết cái lung, không thấy gì hết.”
                    Lúc đó, thiếu úy Kiệt cũng đã vào, đứng nghe Năm Hùng nói chuyện với tôi, bèn nói:
                    - “Đêm nay yên. Bộ chỉ huy mà rút rồi thì đánh mẹ gì nữa. Bị máy bay oanh tạc, chúng nó biết là lộ rồi. Lo chém vè cho xong.”
                    Tôi lại qua Biệt Khu, báo cáo tình hình với đại tá Kiểm. Ông ấy nói:
                    - “Đêm nay ngủ ngon. Tuy vậy, anh cũng cho lính canh gác, không nên ỷ y.”
                    Tôi ra về, lòng vui lắm, biểu tài xế của tôi: “Mai mầy ra hòn Ngang đón cô và mấy đứa về.” Hồi sáng, đề phòng Việt Cộng tấn công tối nay, nên tôi đã mượn chiếc ghe đánh cá cho vợ và các con tôi ra ngoài đảo. Vợ con mấy người lính của tôi, như tài xế Thành, tài xế Trang, tài xế Nuôi cùng mấy đứa tà lọt tôi, cho vợ con chúng đi theo vợ con tôi ra ngoài ấy cả.

                    Đêm đó ngủ yên thật. Việt Cộng chờ trời tối rút đi chớ đánh chác gì nữa nên suốt đêm không nghe một tiếng súng. Sáng ra, mới sáng sớm, khi tôi đang ngồi trong văn phòng thì Năm Hùng đưa cho tôi xem một cây súng M-79 do một người đánh cá dọc theo con kinh vào núi Nai bắt được đem cho. Tôi lấy ít tiền đem cho người ấy để thưởng công, đồng thời gọi thiếu úy Ký, trung đội trưởng Cảnh Sát Dã Chiến, đi “bắt hôi”, đem trung đội lục soát dọc theo con đường vào núi Nai là con đường Việt Cộng rút, sau khi tấn công nhà máy ximăng mà không vào được. Trên đường rút lui, bọn chúng bỏ lại vương vải mấy cây súng AK, balô, nhiều nhứt là những bánh thuốc nổ TNT. Có lẽ chúng muốn dùng số chất nổ nầy để phá sập nhà máy. Tôi báo cáo việc ấy với thiếu tá Long. Ông ta cười, nói:
                    - “Ông già – ý nói đại tá Kiểm – đánh giặc hay lắm. Sau khi đơn vị tiếp viện tăng cường phòng thủ nhà máy, ông già đoán chứng chúng sẽ rút lui; đoán ngay con đường rút là đường vào núi Nai. Ổng cho nổ chụp từ đầu tới cuối, chụp đi chụp lại mấy lần.

                    Chúng nó hốt hoảng bỏ chạy, bỏ lại súng đạn như vậy là chết, bị thương không ít đâu. Một lần cho tởn. Đừng tưởng bở, đâu có ngon ăn!”

                    (1) Công việc chỉnh đốn gồm có: Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt thành Trường Võ bị Quốc Gia, ngang tầm với các trường võ bị nổi tiếng trên thế giới, đào tạo sĩ quan hiện dịch; trường Hải Quân, Không Quân, trường Bộ Binh Thủ Đức để đào tạo sĩ quan trừ bị. Trường hành chánh thành Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, thành lập viện Đại Học Huế, Đà Lạt với phân khoa đại học sư phạm tương đương cấp cử nhân, các trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp tiểu học,… Về kinh tế, thành lập khu kỹ nghệ Biên Hòa, đặc biệt có các hãng dệt Sicovina (Biên Hòa và Đà Nẵng), nâng cấp nhà máy vôi Long Thọ, khu mõ than Nông Sơn, nhà máy Ximăng Kiên Lương (Hà Tiên)… Khi xây dựng xa lộ Saigon – Biên Hòa, chính quyền Cộng Sản Hà Nội tổ chức biểu tình phản đối dữ dội, vu cáo là xây dựng phi trường quân sự trá hình.
                    (2) Ông sinh trưởng vào đầu thế kỷ thứ 19, và qua đời sau khi Tây đã đô hộ đất Nam Kỳ. Theo truyền thuyết, ông là người có nhiều phép tắc thần thông, nhưng chính ông lại là người bài trừ mê tín dị đoan. Sau khi Tây chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Bộ, một trận dịch tả xảy ra ở vùng Cái Tàu Thượng, (ngang với Long Xuyên, nhưng ở phía hữu ngạn), khiến hàng ngàn người chết. Ông Đoàn Minh Huyên đến phát thuốc cứu dân ở đây, đẩy lùi trận dịch. Do đó, người dân tôn sùng ông như một vị Phật Sống (sau đó, họ gọi ông là Phật Thầy Tây An). Ông ổn định được cuộc sống dân chúng, phát triển nông nghiệp. Thấy ông được dân chúng tôn sùng, Tây lo ngại, bắt ông đem giam ở thị xã Long Xuyên. Trên đường đi làm về, tên cò Tây thấy ông đang đi bộ bên đường. Tên nầy lấy làm lạ, vừa giam ông vào ngục sao bây giờ thấy ông ở đây. Nó cố đi nhanh để xem mặt nhưng không theo kịp. Tên cò Tây nghi ngờ bèn quay trở lại bót, xem lại phòng giam, lại thấy ông còn trong đó.
                    Ông là người sáng lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, lo tu học và đền đáp Tứ Ân nên có khi người ta còn gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Bửu Sơn Kỳ Hương là nguồn gốc trực tiếp của đạo Phật Hòa Hảo. Tuy nhiên, trong lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, người ta thường tính từ khi Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ sáng lập đạo nầy mà thôi, ít thấy bàn tới vai trò của ông Đoàn Minh Huyên. Độc giả có thể tìm hiểu thêm ở bài viết của sử gia Trần Gia Phụng, trên Việt Báo Online.
                    (3) Tôi quan niệm cuộc chiến vừa 1960-75 là chiến tranh nhân dân. Do đó, vai trò nhân dân là rất quan trọng. “Tình báo nhân dân” là yếu tố căn bản để triệt tiêu hạ tầng cơ sở Cộng Sản. Không có hạ tầng cơ sở, Việt Cộng không xây dựng lực lượng địa phương được. Tôi tới trại tỵ nạn Bidong sau ngày “đóng cửa đảo” nên phải qua “thanh lọc” mới được đi định cư. Người phỏng vấn thanh lọc tôi là một luật sư Cao Ủy Tỵ Nạn, người Hòa Lan và một viên thiếu tá tình báo Mã Lai. Khi tôi trình bày về “Chiến Tranh Nhân Dân, Tình Báo Nhân Dân”, - Cuốn sách tôi đang viết khi ở trại tỵ nạn -, viên thiếu tá tình báo Mã Lai ngồi nghe ba tiếng đồng hồ. Sau đó, khi chấm dứt, ông ta bắt tay tôi, nói: “Chúc mừng ông và hy vọng cuốn sách của ông sẽ được phổ biến, giúp ích cho các cơ quan tình báo.”
                    (4) Năm Hùng làm việc ở đây khá lâu, ban đầu làm trưởng ấp Ngã Ba, sau lên “Hội viên Cảnh Sát xã”. Khi làm việc với tôi, ông mang loon thượng sĩ. Ông biết hầu hết người, địa hình, địa vật ở đây, nên tôi gọi đùa là “thổ công”. Ông giúp tôi rất nhiều, việc gì không rõ thì hỏi ngay ông.
                    (5) Xin xem bài sau, cũng nói về nhà máy ximăng Kiên Lương.
                    <bài viết được chỉnh sửa lúc 06.07.2008 13:45:42 bởi lyenson >
                    #25
                      lyenson 06.07.2008 13:50:56 (permalink)
                      Phần 25
                      Nhà máy ximăng Hà Tiên hoạt động kém hữu hiệu!
                      Tại sao tôi nói thế?

                      Nhân dịp tết đầu năm 1974, ông Mai, phó giám đốc nhà máy, (xin lỗi, tôi quên mất họ), sang gặp tôi, tại văn phòng, nói:
                      - “Không như các năm trước, năm nay có lệnh chính phủ cấm biếu tiền, nên chúng tôi không có tiền để tặng Bộ Chỉ Huy ăn tết. Tuy nhiên, chúng tôi dự trù biếu các anh năm chục bao ximăng, có thể bán lấy tiền vui xuân được. Mỗi năm, nhà máy nhờ Bộ Chỉ Huy giúp đỡ nhiều việc, nhất là về an ninh. Nay tới tết mà không biết ơn, kỳ quá!

                      Xuân, thu nhị kỳ” là cái tục hối lộ của người Tàu, người Việt noi theo khá kỹ. Tuy nhiên, ở đây khác chút ít vì là của một cơ quan tặng một cơ quan, chứ không phải của một ông “kinh doanh” tặng ông quan… cách mạng như hiện nay ở “quê hương… ta”.
                      Cũng như thường năm, tết và rằm tháng Bảy, tôi thường mua quay heo cúng tổ, - mặc dù không tôi không rõ ông tổ Cảnh Sát là ông nào, mặt mũi ra làm sao, tròn hay méo, đen hay trắng, chắc là không gầy mà mập ú? Tuy nhiên, tôi cũng phải cúng tổ “xuân thu nhị kỳ” cho đúng ý của tổ, không phải để mua may bán đắt, mà trước hết, là để tránh tai họa, khỏi bị Việt Cộng đặt chất nổ ngay ghế mình ngồi, sau là để nhậu một bữa cho đúng với phong tục dân Nam bộ. Tết nhứt mà không có nhậu thì… buồn lắm!

                      Tôi nhận cái bông 50 chục bao ximăng, giao cho năm Hùng lo, bán lại cho ông Hồng Ràng, chủ tiệm vật liệu xây dựng, lấy tiền, đặt cho ông Tư Để quay một con heo và năm Hùng giao cho ai đó, tôi không nhớ, lo mấy mâm xôi, đồ nhắm và bia. Cũng không thiếu mấy chai Hennessy cổ đen. Cổ đen rẻ hơn cổ vàng. Nhậu tập thể, đâu đủ tiền mua cổ vàng. Kinh nghiệm nhậu cho tôi thấy dân Biên Hòa thì khoái Martel, dân Rạch Gia thì khoái Hennessy, cổ đen cổ vàng tùy túi tiền. Dân nhậu hai nơi khác nhau một chỗ nhưng giống nhau một chỗ khác. Ấy là nói theo tục ngữ “Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá.” Phá sơn lâm là nghề làm rừng, hàng đầu là ông Đỗ Cao Lụa ở Biên Hòa. Ông nầy là bố của tướng Trí. Đứng đầu đâm Hà Bá là công ty Tuhuco, chủ công ty cũng là một ông tướng họ Đỗ, từng làm đô trưởng Saigon. Ông nầy dân quận Bình Phước tỉnh Long An nhưng vợ lại cùng quê với “chị Tư Nết” - tiếng gọi của dân Vàm Rầy.. Bố “chị Tư Nết” là ông chủ Ri. Ông nầy quen nghề làm ruộng, không quen nghề “hạ bạc”. Hạ bạc là làm nghề đánh cá. Không rõ đây là tiếng Hải Nàm, tiếng Tiều hay Phúc Kiến. Người Việt gọi nghề đánh cá là đánh cá, - hay danh ca, chữ không bỏ dấu, - là ca sĩ nổi tiếng - chớ không gọi là nghề hạ bạc. Tiếng nầy cũng chỉ ở địa phương nầy mới dùng mà thôi.

                      Hôm nhận cái “bông” ximăng “xuân thu nhị kỳ”, tôi nói chuyện với ông phó giám đốc Mai: “Đúng ra ximăng nội phải rẻ hơn ximăng ngoại nhiều lắm. Sao nhà máy bán mắt quá vậy? Ximăng ngoại khoảng 110 đồng một bao, ximăng Hà tiên giá 92 đồng, có rẻ gì đâu. Dân chúng không có lợi mà ximăng Hà Tiên cũng khó bán. Hay vì phẩm chất kém xa?”
                      Ông phó giám đốc Mai giải thích:
                      - “Không kém thua bao nhiêu đâu! Cứ đem đúc móng cầu, xây building, cũng không thua gì ximăng ngoại. Tuy nhiên, muốn bán rẻ cũng không được vì các phụ gia của ximăng phải nhập, giá cao quá!

                      Rồi ông ấy lấy ví dụ dầu đốt lò. Dầu đốt lò phải nhập, qua ngân sách viện trợ Mỹ, giá cao quá, nên giá thành phải cao. Đó là một.

                      Thật tình là vậy. Một hôm, tôi gặp anh Đoàn Phục, nguyên là một học sinh của tôi cả chục năm trước. Nay anh làm ở phòng thí nghiệm (nghiên cứu và kiểm soát phẩm chất - tên phòng nầy tôi nhớ không chính xác) của nhà máy ximăng. Hỏi thăm công việc của anh ta xong, tôi hẹn tới chơi. Vì tò mò, tôi tới thiệt.

                      Dụng cụ trong phòng tuy không đơn giản nhưng dễ hiểu. Ximăng anh ta nhận từ lò về, - hay anh ta lấy đá đốt trong môt cái lò nhỏ của phòng thí nghiệm -, trộn với nước (theo đúng công thức) để đúng 21 ngày đưa lên máy thử sức chịu đựng, độ bền, v.v… và làm báo cáo. Theo anh ta giải thích, phẩm chất không thua ximăng nhập cảng.

                      Thành ra, nhà máy ximăng Hà Tiên trở thành một “vật trang trí” cho chế độ miền Nam. Miền Nam xây dựng đủ thứ: Vải (Sicovina), giấy (Cogido), ximăng Hà Tiên. Bộ mặt đẹp thế mà kém hữu ích. Đó là điều đáng buồn.

                      Thời ông Thiệu, không hiểu ông ta mần cách chi mà nước Mỹ chịu cho nước Đức bỏ vốn xây thêm lò. Từ khởi thủy đến giờ, nhà máy ximăng chỉ có 2 lò nung. Nay chính phủ Đức viện trợ xây thêm 2 lò nữa. Hôm chuyên viên Đức làm việc ở Saigon xong, đi máy bay của hãng xuống Hà tiên, ông Lê Hữu Phước, giám đốc, tốt nghiệp ở Ý về, rủ tôi cùng đi đón… cho vui. Tôi đi theo. Chuyên viên Đức đi thăm thú các nơi và chê hai cái lò nung cũ quá. Thăm núi Còm, chỗ đang lấy đá, và núi Trầu bên cạnh, chỗ dự tính phát triển sang đó, chuyên viên Đức chỉ vào cái ống khói nhà máy đang thờ thẩn nhả khói ra, nói: “Ở Âu Mỹ, với khối lượng núi đá như ở đây, phải có cả trăm ông khói như thế nầy mới đúng với khả năng của nó.”

                      Cũng may, ông chuyên viên nầy nói tiếng Pháp nên tôi cũng hiểu ít nhiều, khỏi phải nhờ thông dịch viên.

                      Ít lâu sau đó, nhà máy ximăng cho di chuyển một cái xà lan lớn qua núi Trầu với máy phát điện, xe xích khoan đá, lấy đá về giao cho phòng thí nghiệm của Đoàn Phục nung thử, kiểm soát phẩm chất như thế nào!

                      Nếu phát triển ra, nhà máy ximăng sẽ dựng thêm một nhà máy xay và vô bao (như ở Thủ Đức lúc đó vậy) tại Cần Thơ. Việc chuyển vận clinker gần hơn và phân phối thành phẩm cho miền Tây cũng gần hơn, giá rẻ hơn ít nhiều, v.v…

                      Tuy nhiên, đối với việc phát triển đó, những người vui mừng nhất không phải là công nhân nhà máy, hay dân chúng mà chính là xã An Hòa. Dân núi Trầu chẳng vui gì vì họ sẽ bị đuổi đi xa chân núi hơn để được an toàn, mất nhà, mất ruộng, mất vườn. Nhất là vườn. Đất ở chân núi Trầu là đất đen, - gọi là than bùn - trồng rau, nhất là rau muống thì “hết sẩy”. Dân ở đây hơn 90 phần trăm là Bắc kỳ (rau muống! như cô Thái Thanh có lần xác nhận với thính giả ở Queenbee năm 1973 vậy). Họ theo Tây mộ phu đi làm ruộng dinh điền ở miền Nam khoảng các năm 1939, 40. Khi chiến tranh Việt Pháp xảy ra, (1945-54), Tây bỏ chạy về Tây, bỏ luôn cả dân mộ phu. Dân đi phu bây giờ tự lo kiếm sống lấy. Họ cũng theo kháng chiến. Núi Trầu có nhiều hang động, trở thành công binh xưởng của Việt Cộng hồi đó. May mắn, phần đông khi đã vào Nam, họ theo đạo Thiên Chúa nên theo kháng chiến mà không theo Việt Minh. Họ theo kháng chiến một thời gian, theo bộ đội đi đánh Tây, qua tận Kampuchia đánh Tây như ông Hồng Ràng, ông Năm Vịnh có lần kể cho tôi nghe, nhưng không ai theo Cộng Sản và cũng không ai tập kết năm 1954.

                      Tuy nhiên, xã An Hòa sẽ giàu lên.

                      Núi Còm là thổ địa của xã An Bình. Khi thác đá ở núi Còm, nhà máy ximăng phải trả tiền “thổ địa” cho xã An Bình. Cả chục năm nay nhà máy chẳng trả xu nào, bỗng năm 1974, xã An Bình ôm được vài triệu, do nhà máy trả cho, mặc sức xã tiêu xài, xây dựng xã, v.v.... Vì vậy nên xã An Hòa hí hững chờ tiền. Xã Dương Hòa có núi Xà Ngách kế cận nhà máy, cũng hy vọng nhà máy mó tới đá núi Xà Ngách, kiếm mớ tiền tiêu chơi, v.v…

                      Hồi họp nhứt là ông linh mục Nguyễn Thượng Hiền ở núi Trầu. Mới nghe phong thanh nhà máy ximăng sẽ khai thác núi Trầu, ông cho đệ tử dựng ngay một cái thánh giá trắng bóc, cao ngất, ở xa ai ai cũng thấy rõ. Muốn lấy đá, nhà máy sẽ phải dời bỏ cái thánh giá đi, phải bồi thường cho ông hai triệu, như lời ông yêu cầu.

                      Tự nhiên chi ra hai triệu cho một cái thánh giá dựng lên với giấy phép của ông xã Long, xã trưởng An Hòa, con chiên của cha Hiền, nhà máy ximăng không có ý kiến. Đâu có phải là tiền túi của ông giám đốc hay ông phó giám đốc mà lo, nhưng họ phải trình về trung ương, ở đường Võ Di Nguy, Saigon.

                      Công việc thăm dò phải ngưng lại cho tới khi… Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu, bí thư xã An Bình ra tiếp thu thị trấn Kiên Lương.
                      Không rõ Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu giải quyết yêu cầu của cha Hiền như thế nào vì lúc ấy, tôi đã “đóng tiền xin đi ở tù” rồi.
                      #26
                        lyenson 06.07.2008 14:02:12 (permalink)
                        Phần 26.
                        Làm Ruộng với “Người Cày Có Ruộng”

                        Về miền Tây, người ta dễ thấy sự trù phú của đất đai Nam Bộ.

                        Nếu không có chiến tranh, nếu cải cách hoặc làm cách mạng nông nghiệp, làm “Cách Mạng Xanh” như ở Mỹ, người Việt làm sao đói được. Trước năm 1945, diện tích làm ruộng chưa lớn lắm mà đã có gạo xuất cảng.

                        Trước 1975, chỉ có những vùng tạm yên mới làm ruộng được. Đó là khu vực dinh điền Cái Sắn, kể cả ruộng hai bên Liên Tỉnh lộ 8-A, từ Ngã Ba Lộ Tẻ tới Rạch Giá.

                        Đi theo Liên Tỉnh lộ nầy, bên tay trái, là khu Thạnh Đông. Khu nầy chỉ có thể làm ruộng kể từ lộ đi vào chưa tới 10Km mà thôi. Vô sâu hơn nữa, vùng Việt Cộng, chúng nó cấm dân lui tới, không làm gì được cả. Cũng phía nầy, hết Thạnh Đông là Thạnh Tây, giáp ranh với vùng Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, ruộng bị hoang hóa, chẳng canh tác gì.

                        Tôi nói hoang hóa là vì Cờ Đỏ, trước 1945 là “dinh điền” của chủ Tây. Tây mộ nông dân, phần đông là người Bắc vào làm ruộng. Vì chiến tranh, Tây bỏ đi, nông dân cũng tứ tán vì thiếu an ninh, ruộng bị bỏ hoang. Cảnh cũ còn lại là mấy ngôi nhà dài, lợp ngói, trước là kho lúa.

                        Khi ông Ngô Đình Diệm cầm quyền, chăm lo cho dinh điền Cái Sắn, chưa kịp với tay qua phía đó thì ông đã bị giết mất rồi.

                        Phía bên phải con lộ nầy là dinh điền Cái Sắn. Dinh điền nằm dọc theo Liên tỉnh Lộ 8-A, kể từ xã Vĩnh Trinh thuộc quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên là dân địa phương, còn dinh điền, phần đông là người Bắc di cư, thì tính từ kinh H nguợc lại kinh A, rồi tiếp là kinh 1 tới kinh 5, khoảng mấy chục cây số là ruộng và kinh ngang. Kinh ngang là kinh nối từ kinh Long Xuyên - Rạch Giá với kinh Núi Sập, hai kinh chạy song song với nhau ra hướng biển. Kinh ngang dài 12Km, có nghĩa là dinh điền Cái Sắn bề ngang12Km, toàn là ruộng. Dân chúng ở đây giàu có, tôi sẽ kề về sau.

                        Bên kia kinh Núi Sập là đồng Huệ Đức, thuộc quận Huệ Đức, tỉnh Long Xuyên. Đồng Huệ Đức là đồng chó ngáp, nhưng toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long nầy, so ra cũng chưa ăn thua gì với những cánh đồng thuộc lưu vực sông Mississippi của Mỹ. (1)

                        Nói tới việc so sánh chuyện nầy, tôi thấy buồn cười khi nhớ lại câu chuyện giữa tôi với Tư Sang, tôi đã kể trong một bài trước: “Chuyện tình con gái Tư Sang.” (2)

                        Tuy vậy, đồng Huệ Đức tuy rộng như thế nhưng cũng chưa canh tác hết vì tình hình an ninh không có. Ở xã Tân Hội, thuộc quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang, nhiều người nhờ làm ruộng ở đồng Huệ Đức mà giàu có như Bảy Quẹo, xã trưởng, tôi đã kể trong bài trước, Huỳnh Văn Vè (tự Mười Vè, nhà ở Rạch Giá), làm ruộng có tỉnh trưởng Kiên Giang hồi đó góp vốn (góp miệng mà thôi), đều có máy cày. Còn Võ Văn Minh, tự Út Giàu thì phải sắm GMC (loại của quân đội) để chở lúa từ trong đồng ra. Nếu hòa bình, yên ổn cho dân chúng làm ăn, việc làm ruộngở đây sẽ phát triển lắm!

                        Dọc theo Liên Tỉnh Lộ 8-A, đoạn từ Rạch Giá đi Hà Tiên, kể từ xã Mỹ Lâm là xã của Nguyễn Tấn Dũng, vô tới khu vực núi Trầu, Đông Hồ, thì một là vùng bị hoang hóa, nghĩa là trước 1945 đã làm ruộng nhưng vì chiến tranh, bị bỏ hoang, hoặc hai, là vùng chưa khai thác tới. Vùng ruộng của ông chủ Ri, thầy Ban cả ngàn mẫu, bị bỏ hoang đã mấy chục năm. Kể từ bờ biển tính ngược lên phía Bắc, tới sông Hậu, tôi ngồi trên máy bay Cessna của nhà máy ximăng Hà Tiên, bay ngang qua vùng nầy, nửa tiếng đồng hồ chưa hết vùng đất hoang. Nếu tính tốc độ Cessna, cũng tương tự như L-19, là 12Km/ giờ thì bề ngang vùng nầy không dưới 60Km. So ra cũng đúng với thực địa: Đoạn đường từ Ngã Ba Lộ Tẻ vô tới Rạch Giá, thẳng đuột, cũng dài 70km.
                        Như tôi có kể trong một bài trước, ông chủ Ri đưa bàn tay tuy gầy nhưng lớn của ông, chụp lên bản đồ, chỗ kinh Chủ Ri của ông ngày trước, nói: “Ruộng của tui là chỗ nầy nè!” Mấy tiếng “Chỗ nầy nè” tính ra là cả ngàn mẫu. Tiền truất hữu của ông như thế là “khẳm lắm”.

                        Chủ ruộng thì được tiền bồi thường truất hữu, còn nông dân thì được cấp cho cái bằng khoán, được chính quyền quốc gia xác nhận là ruộng “của mình.” Có ông chủ ruộng nào nhận tiên mà không vui. Có ông nông dân nào lãnh bằng khoán mà không sướng?!

                        Tuy nhiên, tôi phải kể lại đầu đuôi việc điền địa ở phía Nam.

                        Thời Ngô Đình Diệm tuy có chương trình “Cải Cách Điền Địa” nhưng không chú trọng lắm vào việc truất hữu. Một phần, ông Diệm chú tâm và bỏ tiền đầu tư cho các dinh điền và khu trù mật được thành lập nhiều nơi. Công việc nầy có ba tác dụng lớn: Một là ổn định việc định cư cho gần một triệu dân di cư từ ngoài vĩ tuyến 17 vào Nam. Thứ hai là phát triển nông nghiệp. Thứ ba, những địa điểm dinh điền hay khu trù mật đều có tính cach chiến lược, ngăn chận hoạt động, di chuyển và thành lập mật khu của Việt Cộng.

                        Vã lại, việc truất hữu, phải bồi thường cho điền chủ. Số tiền bồi thường đó lớn lắm. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa chưa vững mạnh, làm sao có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền. Phải có Mỹ viện trợ mới được. Tuy nhiên hồi đó, tôi không nghe có chương trình viện trợ Mỹ nầy, ngoại trừ Mỹ hỗ trợ cho việc thành lập các khu trù mât, dinh đièn và Nông Tín Cuộc (Cho nông dân vay tiền làm ruộng). Ở Long Xuyên, tôi nghe nói thời ông Ngô Đình Diệm, ông Thơ bị truất hữu nhiều ruộng lắm mà không được bồi thường. Ông “hy sinh” cho dân, chẳng khiếu nại chi cả,

                        Tôi không hiểu sao ông Nguyễn Văn Thiệu có đủ tiền bồi hoàn cho chủ điền để thực thi chương trình “Nguời Cày Có Ruộng” của ông.

                        Năm 1945, khi chiến tranh xảy ra, không ít chủ điền bị Việt minh giết, thủ tiêu, nên họ hè nhau chạy lên Saigon hay thành phố lớn lánh nạn. Ngay như chuyện ông Chủ Ri ở Vàm Rầy (xã Đức Phương chẳng hạn). Ông là người được dân địa phương kính trọng và mang ơn. Mấy năm “Thổ dậy”, tức là phong trào người Miên cầm chà gạc, gươm, dao tấn công vô các xóm người Việt “Cáp Duôn”. (Cáp là chặt đầu, Duôn là người Việt - tiếng Miên). Ông Chủ Ri, người vừa có máu Miên, máu Việt lại lai Tây Ban Nha, nhà ở Vàm Rầy, có cây súng săn. Hễ thấy người Miên ùn ùn kéo tới xóm người Việt, ông cầm cây súng săn, ra đứng giữa đường, chặn người Miên lại. Ai không nghe, ông chỉ cây súng lên trời, bắn một phát, người Miên sợ bỏ chạy cả. Nhờ vậy, tình hình đia phương yên ổn, ai nấy làm ăn bình thường. Năm “Nam Bộ Kháng Chiến”, người em út của ông, cũng có máu lai như ông, cầm súng đi theo Việt Minh chống Pháp. Vậy mà Việt Minh không để cho ông Chủ Ri ở yên. Ông phải đem vợ con chạy về Rạch Giá, theo Tây để khỏi bị Việt Minh giết. Cả ngàn mẫu ruộng của ông bỏ hoang từ hồi đó.

                        Khi mấy ông chủ điền bỏ chạy về thành phố, ruộng để lại, ai đem theo được! Nông dân cứ tiếp tục trồng lúa, ai có sức làm được bao nhiêu thì làm. Những vùng hơi yên, hoặc những năm tình hình hơi yên ổn, các ông chủ điền về thâu tô. Ai nghĩ tới tình nghĩa chủ cũ thì đóng, ai không đóng cũng thôi, làm gì được nông dân. Có người, như ông Chủ Ri, thầy Ban ở Vàm Rầy, coi như mất trắng. Ruộng bỏ hoang, chẳng ai làm.
                        Vậy rồi bây giờ bộ Canh Nông của ông Thiệu gọi chủ điền tới, hỏi có bao nhiêu ruộng khai ra, tính bao nhiêu mẫu để “bồi thường”. Mấy ông chủ điền coi như trúng số: một ít trả bằng chi phiếu, một ít trả bằng công khố phiếu. Trả bằng gì cũng được, có còn hơn không. Mỗi ông chủ điền, có ông lảnh vài triệu, có ông lảnh vài chục triệu, hí ha hí hững, không quên “trà nước chút đỉnh” cho mấy thầy làm giúp giấy tờ truất hữu cho. Trong số đó, dĩ nhiên có người tôi quen, nên “thành thật khai báo” cho tôi nghe chuyện “trà nước” nầy. Được nhiều ông chủ điền trà nước, gom lại, cũng đủ mua cái nhà lầu vài tầng như tôi được kể. Còn công khố phiếu, đâu có thành tiền được, dù tới 30 tháng Tư - 75 cũng vậy, coi như mất luôn.

                        Còn nông dân, ngày 10 tháng 3 năm 1970, ông Thiệu về tận Cần Thơ làm lễ cấp phát bằng khoán cho nông dân. Một số nông dân, trình diện trước tổng thống, vừa mừng vừa hồi hộp, vừa run, nhận cái bằng khoán từ tay ông tổng thống đưa cho, lại còn được tổng thống chúc mừng, sướng lên tới trời xanh. Sau đó, ông tổng thống còn đi một vòng xe đạp trong sân, biểu diễn một ông tổng thống bình dân cho nông dân xem, có tướng Nguyễn V. N. chạy theo vịn yên xe, sợ tổng thống bị té. Hoạt cảnh trông thật buồn cười!

                        Có bằng khoán, nông dân chẳng được cấp thêm ruộng đất gì cả. Nó chỉ là một tấm giấy in khá đẹp, vẽ rồng rắn, có tên ông nông dân trên đó, xác nhận miếng ruộng ông ta đang canh tác trên ấy là ruộng của ông ta, không ai được tranh giành gì cả, không phải đóng tô cho ai, dù trước đó, ông ta có đóng tô hay không đóng tô, chủ điền cũng đành chịu thua mà thôi.

                        Thế rồi sau 30 tháng Tư, “chính quyền Cách Mạng” bắt đem ruộng vô hợp tác xã hết. Ai không vô thì coi như “phản động”. Sợ đi “học tập cải tạo”, nông dân “hăng hái tham gia”, coi như mất tiêu đám ruộng đã từng được “Quốc gia” trao cho.

                        Từ ông nông dân không có ruộng cày, khố rách áo ôm, nhờ ông chủ điền cho tá canh, có được cơm ăn áo mặc; lại nhờ “Quốc Gia” trao cho cái bằng khoán, trở thành tiểu nông, có ít ruộng làm của. Bây giờ “Cách Mạng” vô rồi, cốt khỉ lại hoàn cốt khỉ. Vậy cũng chưa ức lòng. Lại đến khi khoán sản phẩm, đổi mới, v.v… ruộng trả lại cho nông dân thì chính quyền đem ruộng tốt của ông A trả cho ông B vì ông B là người bà con, là người chịu trà nước. Ông A không có bà con gì với ông chủ tịch, ông bí thư, lại không trà nước chi cả thì được trả cho một đám ruộng xấu, ruộng phèn, cấy xuống cây lúa nào, cây lúa đó chết queo. Ức lòng thì ức lắm nhưng biết kêu ai bây giờ. Kêu Phật thì phật đã vô quốc doanh, kêu Chúa thì Việt Cộng bảo rằng chúa đã đi Guam hồi tháng tư – 1975; kêu Trời thì Việt Cộng nói xã hội chủ nghĩa vô thần, không có trời, chỉ có đảng mà thôi. Kêu tới đảng thì cũng… bằng không. Nông dân mất ruộng, biết kêu ai bây giờ.

                        hoànglonghải

                        (1) Mississippi với các phụ lưu là sông Missouri, sông Arkansas, sông Ohio, v.v… tạo thành bình nguyên Mississippi, rộng 3.225.000 Km2, trải qua 31 tiểu bang (trong số 48 tiểu bang của lục địa Mỹ). So ra, diện tích toàn cõi Việt Nam chỉ mới 312.000 Km2 với 25% đất đai trồng trọt được.
                        (2) Tư Sang nói:
                        - “Dạ thưa, ông nói vậy thì tui hay vậy, chớ ai mà không đốn được tràm, không bắt được cá thì đói lắm. Với lại họ tuyên truyền nghe hay lắm, làm như mình tưởng là thiệt vậy.”
                        - “Họ tuyên truyền cái gì mà hay, ông Tư nói thử coi.” Tôi hỏi.
                        - “Dạ, họ nói giúp “cách mạng chống Mỹ cứu nước”. Nước mình rừng vàng biển bạc nên Mỹ đem quân qua cướp lấy.” Tư Sang giải thích.
                        - “Rừng vàng biển bạc” là cái gì? Là mấy con cá phân (3) ở ngoài hòn Ngang, hòn Nghệ. Rừng vàng là rừng Trà Tiên nầy chắc? Phải không?” Tôi hỏi.
                        - “Dạ, họ nói vậy đó. Trà Tiên gỗ to nhiều lắm, lại vô số tổ ong, lấy mật.” Tư Sang xác nhận.
                        Tôi cười to:
                        - “Tui nói thiệt với ông Tư, tụi Mỹ nó chẳng cần gì cái rừng tràm nầy đâu. Ngay cả vùng châu thổ sông Cửu Long nầy nó cũng chẳng thèm. Ông có biết lưu vực sông Mississippi của nó rộng lớn như thế nào không? Tụi Mỹ gieo hạt bằng máy, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay, gặt có máy gặt. Tụi nó thèm gì cái rẫy của ông Tư ở Lung Lớn mà tụi nó đem quân qua đây, để ông gọi nó là “đế quốc Mỹ xâm lược”. “Ếch ngồi đáy giếng”. Cả cái đám chóp bu Việt Cộng cũng chỉ là đám ếch ngồi đáy giếng. Nói Mỹ xâm lược nước ta vì mấy đám ruộng phèn ở Kiên Giang nầy thì buồn cười quá! Ông Tư nói ra, người ta cười cho thúi đầu!”
                        #27
                          lyenson 06.07.2008 14:10:42 (permalink)
                          Phần 27
                          Lại Nói Chuyện Làm Ruộng



                          Một hôm, tôi và thiếu úy Kiệt cùng đi thanh tra xã Tín Đạo, tên thường gọi là Tri Tôn (Rạch Giá). Trên đường về, ngang khúc Đồn Giữa (Ranh giới xã Tín Đạo và xã Đức Phương), chúng tôi thấy hơi ngại vì hai bên đường lau sậy mọc cao, rậm rạp. Việt Cộng dễ núp trong đó phục kích, bắn sẻ. Bây giờ đã cuối hè. Khu vực nầy chỉ trống vào mùa đông, cây cối hầu hết là loại cây thảo, chết cả. Tới mùa xuân, lau sậy lại lên xanh. Quá hè thì chúng mọc um tùm. Hơn thế nữa, kể từ năm 1974, Việt Cộng gia tăng hoạt động, giành dân lấn đất. Ở cửa kinh Lình Quỳnh, bỗng mọc lên một xóm mới, dân tứ chiếng tụ tập về đây, chẳng cần xin xỏ phép tắc ai cả. Ở cái xóm mới đó không thiếu đào binh, trốn quân dịch, bất hợp pháp. Vì ham lời cao, dân có ghe đi Rạch Giá mua hàng, đem về xóm rồi tiếp tế cho Việt Cộng ở đường giây 1-C, trên ranh giới hai tỉnh Long Xuyên - Kiên Giang. Thành ra, một đoạn gần Đồn Giữa, ngang chỗ cây ô-môi bên kia kinh Rạch Giá - Hà Tiên là con đường giao liên từ xóm cửa kinh Lình Quỳnh lên đường giây 1-C. Dân xóm vừa nói, chính quyền quốc gia không kiểm soát được, con đường giao liên nầy cũng không có đơn vị nào hành quân, phục kích ngăn chận. Sau hiệp định Paris 1973, tinh thần chiến đấu ở địa phương bỗng khựng lại, hoạt động quân sự cũng cầm chừng. Cái gì, điều gì không đừng được thì mới làm, còn như làm ngơ được thì cứ làm ngơ, cho qua. Nghĩ vậy mà tội nghiệp cho tướng Nam. Ông mới lên làm tư lệnh Quân Khu 4, đơn thương độc mã xông xáo chỗ nầy, chỗ kia, kiểm tra, chỉnh đốn. Ông đi nhiều, trên chiếc xe Jeep một tài xế, một tà-lọt với ông mà thôi, khiến tôi tình cờ gặp ông trên đường mà không ngờ ông tướng Vùng dám lang thang một mình như thế, như tôi có lần kể trước đây vậy.
                          Vừa lái xe, thiếu úy Kiệt ngồi bên cạnh, tôi dặn chừng hai anh chàng tà-lọt ngồi phía sau, rán căng mắt canh chừng Việt Cộng, hễ thấy bóng chúng là nổ súng ngay, như trong phim cao bồi, “bắn chậm thì chết”. Thiếu úy Kiệt cũng thủ sẵn cây M-16, nòng chỉa ra ngoài, chực nhả đạn. Hai anh tà lọt phía sau, một anh thì xài carbin báng cụt tự chế, một anh thì “đại bác 40 ly cầm tay”, mắt lăm lăm nhìn hai bên đường.
                          Qua khỏi Đồn Giữa một đổi, tới xóm nhà dân, thấy trẻ con chạy chơi, có bóng người đi lại bình thường, tôi mới ra lệnh “xả trại”. Với thiếu úy Kiệt, tôi nói:

                          - “Nhiều khi nghĩ lại, mình thiệt dại. Chấp hành mệnh lệnh thượng cấp một cách nghiêm chỉnh là dại.”
                          Thiếu úy Kiệt nói:

                          - “Vậy tui với chỉ huy trưởng thì sao? Bộ ông ra lệnh mà tui thi hành không nghiêm chỉnh thì ông bằng lòng sao?”

                          - “Ậy! Ông với tui thì khác.” Tôi nói. “Ông với tui cùng một đơn vị, cùng một nơi, một chỗ. Thắng cùng thắng, bại cùng bại, chịu chung với nhau. Ý tôi là muốn nói tới mấy ông cấp trên ở tỉnh, ở khu, ở trung ương. Ngồi trong cao ốc, trong dinh thự, tường cao, cổng kín, cứ nhắm mắt ký tên ra lệnh mà họ chẳng biết mẹ gì tình hình thực tế ở địa phương cả. Hồi còn đi dạy, khi giảng về Chinh Phụ Ngâm, tôi nói với học trò rằng, vua chúa ở trong cung điện chẳng biết gì trơn, hễ cứ nghe có giặc thì ra lệnh bắt lính, đâu có biết cái khổ của dân ra làm sao: Vợ chồng chia ly, cha mẹ xa con, khốn khổ biết bao nhiêu! Ai đọc Thạch Hào Lại của Đỗ Phủ không thấy hay, nhưng quyền lợi thì mờ mắt, không thấy cái khổ của dân. Ông Đặng Trần Côn làm tri huyện, là người trực tiếp thi hành lệnh vua, trực tiếp thấy cảnh khốn khổ của người dân. Việc ấy làm ông cảm kích mà viết thành Chinh Phụ Ngâm. Đời bao giờ cũng vậy. Hai giai cấp, bị trị và cai trị, thằng cai trị ngồi trên đầu trên cổ dân, thằng bị trị bỏ luôn cả mạng sống mới yên. Mình bây giờ đi bắt lính cũng vậy thôi.

                          Thiếu úy Kiệt nói:

                          - “Bộ mình muốn đi lính à? Không đi thì sống sao yên?! Vậy thì mình là người bị trị hay cai trị?”

                          - “Mình là tay sai của bọn cai trị.” Tôi trả lời. “Vã lại, nếu Cộng Sản Bắc Việt không xâm lược miền Nam thì miền Nam đâu có tăng quân làm chi! “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Thất phu còn hữu trách. Mình lỡ ôm sách đi học, nhắm mắt làm ngơ được hay sao! Anh em tui, chẳng ai không đi lính. Có người tử trận”

                          Một lúc, tôi lại nói:

                          - “Nói chi xa, mới mấy hôm trước, nói chuyện với tôi, Phó Nghiêm bảo: “Luật pháp là do bọn thống trị đặt ra để bảo vệ quyền lợi của chúng”. Tui ngạc nhiên đó. Ông ta học Quốc Gia Hành Chánh ra, công chức ngạch hạng A của chính quyền mà nói vậy thì thôi, hết ý kiến.”

                          Lại một lúc nữa, tôi nói:

                          - “Chẳng hạn như chuyện mình đuổi dân làm ruộng của cha Uyển hồi năm ngoái ở vùng nầy vậy. Vâng lệnh trên, mình đuổi dân thật dữ, dùng cả thủ đoạn, khiến người ta đi hết. Bây giờ, đi ngang qua đây, lại sợ Việt Cộng. Nếu dân còn ở đây làm nhà, làm ruộng, có phải mình yên tâm hơn không?” Tôi nói.

                          - “Cái đó thì đúng. Tui cũng kinh nghiệm vậy. Để dân chúng làm nhà hai bên đường, Việt Cộng về núp lén, mình biết ngay. Còn như lau sậy um sùm như vầy, biết Việt Cộng núp ở bụi nào mà đề phòng.” Thiếu úy Kiệt góp ý.

                          Vùng đất nầy, trong bản đồ ghi là “rừng cấm”. Có thấy rừng rú gì đâu?! Toàn là đất hoang, mầu mỡ. Nếu khai kinh, lấy nước ngọt vào thì đất nầy thành ruộng “nhất đẵng điền”. Thời Pháp thuộc, Tây thực dân dự trù lấy đất vùng nầy làm ruộng như ở Nam Thái Sơn hay bên Cờ Đỏ của quận Thốt Nốt, Long Xuyên. Vì vậy, Tây mới khoanh khu vực nầy lại, gọi là “rừng cấm”. Từ xửa giờ, chẳng ai dám đụng tới “Rừng cấm”. Mùa hè năm 1973, linh mục Nguyễn Thượng Uyển ở kinh Sáu Rọc Bà Ke thuộc Cái Sắn, đưa dân Xóm Mới Saigon về đây làm ruộng. Tôi được lệnh ra ngăn cản đồng bào “chiếm đất” làm ruộng.

                          Đồng bào Xóm Mới về dựng mấy chục căn nhà - chòi thì đúng hơn - phát hoang, dự tính trồng cây, lập vườn, làm ruộng. Bấy giờ mới lòi ra việc ông tỉnh trưởng tự ý ký giấy cấp đất “rừng cấm” cho bà con. Đã là “rừng cấm” thì quyền hạn thuộc về trung ương, về bộ. Tỉnh trưởng ký là ký ẩu. Từ hồi ngưng bắn theo hiệp đinh Paris 73 tới giờ, mấy ông bà lớn ở Saigon về vùng chùa Hang, bãi Hòn Trẹm, hang Tiền giành đất riêng cho mình. Cuộc đất đẹp nhất là ở bãi Hòn Trẹm, bên sườn đồi, ngó xuống bãi biển hình vòng cung được bà thủ tướng chiếu cố. Phó Nghiêm - phó quận trưởng - làm giấy tờ, vẽ họa đồ đất đai cho bà thủ tướng xong, bảo tôi: “Ông lấy một chỗ đi. Tôi làm giấy tờ cho.” Tôi lắc đầu: “Tui ở xứ ngoài kia, lấy đất ở đây làm chi. Mai mốt yên lành, tôi hát “đường về quê” là xong.”

                          Vậy là tôi mất chỗ đất. Mất trước khỏi mất sau. Tới 75, ông to bà lớn nào dám ở lại Việt Nam mà giành đất với Việt Cộng!

                          Để dọa dân cho họ bỏ đi, tôi nói với mấy người dân Xóm Mới đang đứng quanh tôi:

                          - “Mấy bác thấy không. Xóm biển ngoài nầy (Tôi chỉ phía cuối kinh Lình Quỳnh) với cây ô môi bên kia, (Tôi quay lại chỉ cái cây cao bên kia kinh Rạch Giá - Hà Tiên) là đường giao liên của Việt Cộng. Mấy bác dựng xóm ở đây, cản ngay con đường giao liên của chúng nó. Bộ chúng nó để mấy bác yên sao? Đêm khuya tụi nó mò ra hốt hết. Mấy ông bị bắt ở Tà Keo đi không thấy về. Dân Bắc kỳ Di cư, bộ Việt Cộng nó thương lắm sao! Quốc gia bảo vệ cái gì được!”

                          Nghe vậy, dân Xóm Mới sợ Việt Cộng thiệt, mấy ngày sau bỏ đi hết. Đọc báo cáo của xã gởi lên, cho biết dân giành đất đã đi, lại còn kéo nhau về kinh Sáu Rọc Bà Ke đòi cha Uyển trả tiền lại, tôi gọi thiếu úy Kiệt báo cho biết và cười khoái chí. Bây giờ mới biết mình ngu.

                          Mỗi người dân Xóm Mới về kiếm đất làm ruộng ở Tà Keo hay Đồn Giữa, đều phải đóng cho cha Uyển mỗi người ba chục ngàn. Tôi không rõ là tiền gì. Tôi cũng không rõ cha đã nhận được bao nhiêu tiền như thế, nhưng khi biết cha bị dân đòi tiền lại, tôi cũng khoái, không phải vì cha thu tiền bất hợp pháp, nhưng bởi giữa cha với tôi có ân oán giang hồ, khi tôi còn làm việc ở Kiên Tân.

                          Hôm nhận sự vụ lệnh về làm việc ở Kiên Tân, đại tá LCV, “sư phụ” của tôi - (Nói cho thật thì ông cùng quê Quảng Trị với tôi, vã khi nghị sĩ HXT gọi điện thoại cho ông, gởi gắm tôi, ông lưu tâm tới trường hợp tôi rất tận tâm). - dặn tôi:

                          - “Kiên Tân hơi khó khăn! 27 ông cha, không có ông nào chịu ông nào. Ba giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, chống nhau cũng dữ. Chú đừng ham tiền, rán liệu mà làm việc cho khéo

                          Bàn giao xong, tôi đi thăm những ông cha nổi tiếng ở đó. Nói chung, ông nào cũng tốt bụng, niềm nở khi tôi tới thăm. Người ta đồn thổi thì nhiều, nhưng thật ra, không đến nỗi như thế. Điều đáng nói là mấy ông cha, tuy không nói ra, nhưng vài ông không chịu nhau. Những người tới ăn tiệc ở nhà thờ cha Lộc, sẽ không được niềm nở đón tiếp ở nhà thờ cha Uyển. Ngược lại, cũng vậy thôi.

                          Sau khi tôi đến thăm cha Lộc ở kinh 1, hôm sau cha ra thăm. Thấy tôi mới về, nhà chưa có bàn ghế gì, cha bảo đệ tử đem ra cho tôi một cái bàn tròn, tám cái ghế (Hai vợ chồng và 6 đứa con) lại cho mấy chai rượu lễ. Hôm tôi đến thăm cha Uyển, cha cũng cho hai chai rượu lễ cầm về. Tôi thấy cha Lộc chân thật hơn, dễ mến hơn nên thường vào ra thăm, thậm chí, chủ nhật, tôi đem cả vợ con vào thăm cha và cho các con chơi đùa trong khu vườn của nhà thờ, khá rộng và đẹp. Mục đích của tôi là để cho các con gần gủi với không khí tôn giáo. Phật Chúa gì cũng được, miễn là phải có tôn giáo, đừng lông bông, không có tôn giáo làm sao có đạo đức? Còn tôn giáo thì “dao nào cũng là dao cả”.

                          Dĩ nhiên, cha Uyển không bằng lòng với cách giao thiệp của tôi với cha Lộc như thế. Đến thăm ông, ông bắt ngồi chờ lâu mới tiếp, có khi tránh không tiếp, có tiếp thì cũng chuyện trò một cách lạt lẽo, lơ là, khiến tôi bị chạm tự ái!

                          Thế rồi tôi lại được lệnh điều tra vụ cha Uyển bị giáo dân của cha thưa ra tỉnh vì cha chiếm ruộng của họ.

                          Sự việc đầu đuôi như thế nầy: Ở kinh 6, cha cho xây dựng một “Đền Đức Mẹ” bên bờ kinh, ngay thuở ruộng của một giáo dân. Người nầy đồng ý với một điều kiện. Cha cấp cho ông ta một chỗ ruộng khác, bù vào chỗ đất ông bị cắt bớt để xây đền.

                          Ruộng ở đây được dinh điền chia theo kinh, mỗi thửa bề ngang 30 mét, ngó ra kinh, bề dài tính sâu vào 1Km, tính chung là 3 mẫu. Lấy cớ xây đền Đức Mẹ, cha bắt mỗi thửa cắt sâu vào 30 mét. Ba chục mét kéo dài tới 6 Km, sau khi chia mấy chục mét vuông trả cho người nhượng đất xây đền, còn lại bao nhiêu cha ôm cả, tính ra là mấy chục mẫu. Chủ ruộng, phần đông là con chiên của cha, không ai chịu. Vậy là họ hè nhau vác đơn đi thưa cha. Tôi được lệnh điều tra việc nầy, lấy lời khai tất cả những ai liên hệ, rồi trình ra tỉnh. Ai khai sao tôi ghi vậy. Căn cứ vào phúc trình của tôi, tỉnh trưởng, dù có muốn bênh vực cha, cũng không bênh được vì nếu bênh, nông dân sẽ tiếp tục thưa lên trên nữa. Kết quả, cha thua kiện, và tôi trở thành kẻ không được cha ưa, chưa rõ có ghét hay không!

                          Thật ra, tôi thấy cha Uyển là người có công lớn với dân dinh điền. Cha là người mở trường trung học đầu tiên ở đây, trước khi có trường công lập, trước cả trường trung học Thái Hòa là trường lớn nhứt, của giáo xứ dinh điền. Cha đã đào tạo nhiều thế hệ thanh niên, sau nầy cũng có người đổ đạt cao trong các ngành y tế, giáo dục, hành chánh… Trong quân đội, học trò cũ của cha đã lên tới sĩ quan cấp tá. Mặc dù cha mở trường tư, thâu học phí, nhưng tôi thấy điều đó là bình thường. Không lý vì đóng học phí mà không thấy công lao trong sự nghiệp giáo dục của cha ở địa phương. Có phải vì cha thấy mình có công lớn, nên trong nhiều trường hợp, cha đã đi quá xa. Cha lại nổi tiếng là người buôn cọc sắt - cọc sắt để giăng giây kẽm gai ở các đồn bót hay ấp chiến lược.

                          Sau nhiều năm làm ruộng cần cù, chăm chỉ, dân dinh điền lần hồi khá giả, bèn phá căn nhà tôn chính phủ cấp cho hồi dinh điền mới thành hình, xây nhà ngói, vách gạch. Nhà nào cũng đúc cột cho chắc chắn. Cột đúc bằng ximăng cọc sắt ấp chiến lược. Cha buôn cọc sắt đó bán lại cho dân chúng. Cọc sắt nầy từ bộ Chỉ huy 4 Tiếp vận tuồng ra, chở bằng xà lan, với “giấy đi đường” của cha Uyển như giấy đi đường chở xăng của cha Lộc vậy. Ai uống thuốc thuốc liều thì cứ nhào vô!

                          Tôi còn đụng với cha Uyển một vụ nữa, vụ nầy căng hơn.

                          Chợ kinh 8 chỉ là một cái chợ ấp (Ấp kinh 8) nhưng khá đông. Riêng về thịt heo, chợ có những ba sạp. Dân ở đây, phần đông ưa ăn thịt heo hơn thịt bò. Họ cũng khoái thịt trâu, nhưng bây giờ không có trâu để làm thịt. Năm 1957, 58, khi dinh điền mới thành lập, tổng thống Ngô Đình Diệm nhập trâu Murat bên Ấn Độ về cho dân làm sức kéo: kéo cày, kéo bừa, v.v... Khoái ăn thịt trâu, dân dinh điền có người lén đập cho trâu què chân để xin xẻ thịt.

                          Cha Uyển bảo xã Sa, xã trưởng Thạnh Đông, với trưởng ấp Kinh 8, - tôi không nhớ tên -, khi đấu thầu sạp thịt heo, dành cho một “con chiên đệ tử” của cha một sạp. Không hiểu mấy chả làm ăn lớ ngớ thế nào, “đệ tử ruột” của cha không trúng thầu. Người khác trúng, cũng là con chiên của cha, nhưng không phải là “đệ tử ruột”. Cha giận lắm, nhưng không làm gì được. Xã trưởng Sa là người địa phương, kính trọng cha nhưng khi cha hỏi việc thầu sạp thịt heo, y đổ tội cho trưởng ấp Kinh 8. Trưởng ấp kinh 8 cũng là người địa phương, không có đạo, không phải tín đồ của cha, lại bướng. Cha gọi anh ta vào nhà thờ hỏi chuyện, y bảo: “Bận dziệc, không có thì giờ.”

                          Bà “đệ tử ruột mất thầu” của cha mất ăn, nóng mặt, sáng chiều đi lễ nhà thờ ngang qua nhà anh Tống, - người trúng thầu -, cứ chưởi đổng: “Quân phản Chúa, chống cha”. Dần dà, anh Tống tức khí, chưởi lại. Bà “mất thầu” vào tỉ tê với cha, tam sao thất bổn, lại thêm thắt, khiến cha tức giận, gọi anh ta vào rầy. Anh nầy cũng thuộc loại bướng, “gần chùa gọi bụt bằng anh”, cải lại cha rồi bỏ về. Thế rồi “bà mất phần” càng chưởi tợn. Mỗi khi đi lễ ngang qua nhà, sáng chiều chưởi hai bận, chẳng lần nào quên “Chương trình phát thanh qua sông Bến Hải của Việt Cộng”. Một hôm, vợ anh Tống chưởi lại, bà “mất phần” lại vào tâu với cha, cha bèn cấm hai vợ chồng nầy đi lễ nhà thờ cha. Cấm thì hai vợ chồng anh chàng Tống nầy đi nhà thờ khác. Mỗi kinh một nhà thờ, thiếu gì nhà thờ để đi. Hai vợ chồng nầy cũng thuộc loại chơi thâm, thay vì đi nhà thờ cha Uyển, “anh chị” lại đi nhà thờ cha Lộc, “đối thủ” cha Uyển, khiến cha Uyển càng thêm “lộn ruột”.

                          Môt hôm, vợ anh Tống và bà “mất phần” chưởi tay đôi. Dân Bắc Kỳ chưởi lộn hay không kém bất cứ người Việt Nam nào ở xứ nào khác, có khi lại còn xuất sắc hơn. Ban đầu lời chưởi còn thanh tao, sau thanh thành tục. Bao nhiêu cái dơ dáy trong cơ thể con người đều được đem ra đổ lên đầu đối thủ. Sơ bộ thì chỉ hai đối thủ trao qua đổi lại, sau đó đem “biếu” cho cha. Chị vợ anh Tống chưởi thẳng vào mặt “bà mất phần”: “Mày vào bảo cha Uyển ra đây mà ăn cái n. tao.” - Chị Tống còn nói ngọng giữa vần L và N.

                          Ban đầu cha Uyển đúng ngoài cuộc “khẩu chiến”. Tới đây, dù muốn dù không, cha phải nhập cuộc. Cuộc “khẩu chiến ăn cái n. tao” xảy ra sáng chủ nhật, cha Uyển được báo cáo cấp kỳ nội dung trận địa. Thế là, chiều hôm đó cha ra lệnh cho đám trẻ “Hùng Tâm Dũng Chí” của cha, mỗi đứa hãy hùng dũng lấy năm bảy cục gạch, cục đá kéo nhau phố chợ ném vào nhà anh chàng Tống. Trước sức tấn công dữ dội của đám trẻ ham vui, nghịch ngợm, ưa chuyện đánh đấm, vợ chồng anh chàng Tống trốn lui sau bếp.

                          Tôi cùng vợ và các con đang ăn cháo lòng ở Kinh B thì được truyền tin gọi, báo cáo sự việc, cùng với lệnh ông quận trưởng Huỳnh Đầm S. bảo tôi xuống giữ gìn an ninh trật tự. Tôi vội vàng về nhà thay áo quần, kêu tài xế, đệ tử, cùng thượng sĩ Phạm Văn Thanh, trưởng ban tư pháp, xuống kinh 8.

                          Tôi bảo thượng sĩ Thanh ra ngay nhà anh chàng Tống, tìm cách bảo vệ cho vợ chồng anh ta. Tôi vào nhà thờ gặp cha Uyển. Bình thường cha Uyển đã lạt lẽo với tôi, huống chi bây giờ cha đang trên đà chiến thắng. Hỏi chuyện cha, cha nói cha không biết gì về việc mấy đứa trẻ Hùng Tâm Dũng Chí của cha ném đá nhà anh Tống. Cha bảo: “Vợ chồng chúng nó là đứa “Phản Chúa chống cha” nên chúng nó trừng trị vợ chồng thằng Tống là đúng lắm. Cha đâu sai khiến gì chúng nó.”

                          Tôi nói:

                          - “Nếu cha bảo cha không liên hệ gì việc ném đá, tui sẽ bắt thằng nào cầm đầu để đưa ra tòa. Chúng nó không được phép làm như vậy.”

                          Nói xong, tôi chào cha đi ra chỗ nhà anh Tống. Tôi nói với thượng sĩ Thanh, nửa thật nửa đùa:

                          - Bây giờ phải đưa vợ chồng “Người ruồi gây máu lửa” nầy ra khỏi kinh 8 đã. Gọi thiếu úy Vây, - Thiếu úy Phạm Văn Vây, trưởng cuộc Cảnh Sát Thạnh Đông - cho người xuống canh chừng xóm nầy, giữ nhà cho vợ chồng thằng cha nầy.”

                          Thượng sĩ Thanh hỏi:

                          - “Mình bắt hai vợ chồng nầy?”

                          - “Ậy! Để chúng nó thưa cho hay sao? Vợ chồng nó tội gì? Đã không có tội, lại nạn nhân của cha Uyển, Mình giam chúng, không chừng biện lý lại bắt giam mình vì làm bậy.”

                          Thượng sĩ Thanh lại hỏi:

                          - “Đem về bộ chỉ huy, để họ ở đâu?”

                          - “Chỉ cần đem ra khỏi đây! Mai biểu họ ra ban tư pháp của anh. Nếu họ muốn thưa cha Uyển thì họ cứ thưa.” Xong, tôi dặn riêng thượng sĩ Thanh: “Anh biểu hai vợ chồng nó làm đơn thưa. Dựa vào đó, mình đánh tỉa dần dần, trước là lập biên bản đưa ra tòa bọn đứng đầu ném đá; sau căn cứ lời chúng nó khai, đưa cha ra tòa luôn.”

                          Thượng sĩ Thanh cười:

                          - “Làm vậy, coi chừng nổ lớn. Trước giờ ở đây, bất mãn mấy ông cha thì nhiều lắm, nhưng chưa ai đưa ông cha nào ra tòa cả.”

                          - “Tùy cơ ứng biến. Nguyên tắc là mình phải bảo vệ luật pháp. Không ai được làm điều gì ngoài luật pháp.”

                          Không ngờ cha Uyển “cao tay” hơn tôi. Vì câu tôi nói “bắt thằng nào cầm đầu đưa ra tòa” nên khi thượng sĩ Thanh chưa kịp đưa “vợ chồng anh chàng nhiễu sự” ra khỏi nhà thì đám Hùng Tâm Dũng Chí kéo nhau ra bao vây xe tôi lại. Lúc đó xe tôi đang đậu ngay trước nhà vợ chồng anh Tống.

                          Trẻ con thì bao vây xe, cười nói. Người lớn thì xúm lại xem, la lối, bàn tán, còn hơn cái chợ. Lúc đó, tôi thì chỉ có mình, tài xế, một anh chàng tà lọt, và thượng sĩ Thanh. Tôi còn nhớ một bà già nói:

                          “Cảnh sát ăn tiền thằng Tống nên bây giờ tới bênh nó.”

                          Tôi giận lắm nhưng dặn bụng: “Nhu thắng cương. Đ.m. Để đó rồi biết.”

                          Tôi bỏ xe đi ra phía lộ, chỗ đó vắng. Trưởng ấp kinh 8 lúc đó chuẩn bị đưa Nhân Dân Tự Vệ đi gác đêm, tới nói với tôi.

                          - “Ông thầy để tui dộng cho tụi nó một quả lựu đạn cho thấy mẹ chúng nó luôn!”

                          Tôi vội cản:

                          - “Đừng, đừng. Ông làm vậy không nên. Có người chết, có máu chảy là to chuyện lắm. Để đó, từ từ tôi giải quyết.”

                          Nửa giờ đồng hồ trôi qua, đám đông trẻ con vẫn bao vây xe tôi. Người càng lúc càng đông, nhất là khi giờ đi lễ tan. Không rõ trong khi giảng ở nhà thờ, cha Uyển có xúi giáo dân ra hợp lực với đám Hùng Tâm Dũng Chí bao vây xe tôi hay không!

                          Thượng sĩ Thanh tìm tôi, hỏi:

                          - “Bây giờ làm sao ông?”

                          Tôi nói:

                          - “Kệ họ, riết rồi họ cũng phải về ngủ chớ. Ai lì thì hơn!”

                          - “Không được đâu! Có đứa thừa thắng, xông vào nhà tìm anh Tống. Sợ chúng nó xuống bếp, gặp vợ chồng anh ta, chúng nó hành hung.”

                          - “Được rồi.” Tôi nói. “Anh dặn chứng thằng Khoái – (tài xế), coi đứa nào phá xe, mai tôi bắt về đòi bồi thường. (Tôi mới được cấp một chiếc Inter. Mark 2, mới toanh). Anh vô gặp cha Uyển, nhờ cha ra gọi bọn Hùng Tam Dũng Chí về.”

                          Một chốc, cha Uyển ra chỗ xe tôi đang bị vây. Tôi biểu tài xế lấy một cái két bia bằng gỗ, để cha Uyển đứng lên đó, biểu con chiên của cha giải tán. Mọi người giản ra. Lợi dụng tình hình đó, tôi biểu thượng Thanh đưa vợ chòng anh chàng Tống lên xe, chạy ra quốc lộ, trong khi đó, tôi vẫn còn đứng nói chuyện với cha Uyển để cầm chân ông. Trước mắt tôi, cha Uyển không thể ra lệnh đám Hùng Tâm Dũng Chí bao vây xe tôi lại được, nên xe mới thoát đi.

                          Khi xe ra tới lộ rồi, tôi gọi máy truyền tin ra lệnh cho tài xế Khoái lái xe về thẳng bộ chỉ huy. Tôi lội bộ về sau. Tôi vội vàng chào cha Uyển, ra về. Đây là điều bất ngờ đối với ông. Cha cứ tưởng xe phải chờ tôi để đưa tôi về, không ngờ tôi cho xe thoát đi trước, cha mất “con mồi”. Không lý cha dám biểu giáo dân và Hùng Tâm Dũng Chí bao vây tôi lại? Ra tới lộ, tôi với trung sĩ Tâm, tà-lọt, cuốc bộ về nhà. Được một lúc thì tài xế Khoái lái xe đến đón, sau khi đã đưa thượng sĩ Thanh và hai vợ chồng anh chàng Tống về tới nơi.

                          Sáng hôm sau, tôi phản công.

                          Sau khi đọc đơn thưa của anh chàng Tống và lời khai của anh ta. (Theo nguyên tắc phải chấp cung nguyên đơn trước), tôi căn cứ vào đó để làm “giấy mời”. Trước hết là hai tay “đầu sỏ” Hùng Tâm Dũng Chí, chỉ huy đám ném đá nhà anh chàng Tống. Khoảng trưa, thiếu úy Vây đến gặp tôi báo cáo:

                          - “Hai thằng chỉ huy trưởng biểu mời là hai thằng trốn quân dịch, làm sao chúng nó dám đến?”

                          - “Hai thằng nầy làm nghề gì?” Tôi hỏi.

                          - “Dạy ở trường cha Uyển.” Thiếu úy Vây trả lời.

                          Tôi cười nói:

                          - “Sao anh biết rõ tình trạng chúng nó mà anh không bắt?”

                          “Đụng mấy ông cha, phiền lắm!” Thiếu úy Vây trả lời. Một lúc thiếu úy Vây nói tiếp: “Nhiều cha mở trường dạy học trong kinh, giáo viên, giáo sư phần đông trốn quân dịch. mỗi trường mỗi ổ.”

                          Tôi nói với thiếu úy Vây, nghiêm trang:

                          - “Bây giờ tôi ra lệnh cho anh hành quân cảnh sát, tìm bắt hai thằng nầy, ở nhà nó, ở nhà bà con nó hay ngay cả tại trường cha Uyển. Phải lấy rõ lời khai là chúng nó đang dạy học tại trường cha Uyển đê tôi truy tố cha về tội “Tán trợ bất phục tòng”. Nếu cần, anh biểu thượng sĩ Vũ - (Trưởng ban hành quân) làm lệnh, tôi ký. Tôi chịu trách nhiệm, anh chỉ là người thi hành.”

                          Sau đó, tôi nói với thượng sĩ Khiết, phó ban tư pháp:

                          - “Thiếu úy Vây mới ra trường, chưa có kinh nghiệm, anh phụ với thiếu úy Vây, làm sao lấy lời khai hai thằng dạy học bất hợp pháp ở trường cha Uyển.” Một lúc, tôi giải thích thêm:

                          - “Không có lời khai của nó, không truy tố cha Uyển được.”

                          Thượng sĩ Khiết - Hoàng Văn Khiết có bà con với vợ anh chàng Tống, nên tích cực đứng về phe tôi khi tôi phản công.

                          Hai anh huyh trưởng Hùng Tâm Dũng Chí bị thiếu úy Vây tóm cổ, dẫn về. Xem lời khai xong, chắc bụng, tôi vội cho giải ra tiểu khu ngay. Rút kinh nghiệm, đề phòng. Những người bị bắt, bất cứ tội gì, kể cả đào binh, trốn quân dịch hay tội hình sự, đều được một số các cha xin giúp đỡ. Có khi các cha ở trong kinh chỉ viết giấy cho người cầm ra, có khi các cha đích thân ra gặp tôi. Giải tội nhân đi rồi, vuột khỏi tầm tay, các cha có can thiệp, xin xỏ, thì tôi có cớ tránh né được.

                          Về việc hai anh chàng Hùng Tâm Dũng Chí nầy, tôi không thấy cha Uyển can thiệp! Cha biết tôi phản công, trả thù vụ tôi bị bao vây tối qua hay cha chột dạ vì cha cho hai tên trốn quân dịch dạy học, cha biết như thế là phạm luật.

                          Sau đó là phiên các bà bị mời. Các ông không ai dính líu vô vụ nầy cả. Trước hết là “bà mất phần” rồi tới các bà đệ tử ruột cha Uyển. Mấy bà già Bắc kỳ nầy không ngán chuyện ra cò bót, nhưng vốn “thông minh nhiều chuyện” nên bà nọ khai ra bà kia, cả chục bà bị gọi lấy lời khai. Vốn nhà quê và thật thà, các bà khai hết những gì các bà nghe, biết, dám Hùng Tâm Dũng Chí nhận lệnh từ cha Uyển như thế nào. Có bà có con ném đá nhà anh chàng Tống, sợ con bị tội, mấy bà khai ra “Cha Uyển bảo chúng nó đấy, chúng nó phải vâng nời”.

                          Ban tư pháp tập trung lấy lời khai mấy bà cho xong, để đúc kết đưa nội vụ ra tòa. Trong cung cách của mấy ông cảnh sát nhà ta, thường tỏ ra nghiêm khắc, khó dễ với những đối tượng mà họ không ưa. Tôi nghe thượng sĩ Khiết nạt to một bà:

                          - “Bà không được phép ngồi như thế. Bỏ chân xuống!”

                          Bà ta ngồi kiểu mấy bà già nhà quê: Ngồi ghế đẩu một chân thòng xuống đất, một chân lên ghế. Bà ta bỏ chân xuống nhưng nguýt dài thượng sĩ Khiết một cái, thiếu đường đứt con mắt. Thật ra, theo thượng sĩ Khiết, bà nầy là “đối tượng xấu”. Từ khi lấy cung tới giờ, anh ta “nghiêm khắc” với bà ta nhiều lần. Có lẽ bà ta cũng không chịu thua.

                          Hôm sau, tôi nhân một tấm card của cha Uyển. Tấm card to bằng nửa trang giấy tập, như sau:

                          Bên góc trái (chữ in):
                          Linh mục Nguyễn Thượng Uyển,
                          Chánh xứ kinh Tám.
                          Hiệu trưởng trường Trung Học kinh Sáu.

                          Ở giữa, cha viết tay:

                          Gởi ông chỉ huy trưởng,
                          Yêu cầu ông đổi cảnh sát Khiết đi nơi khác.

                          Ký tên: Nguyễn Thượng Uyển

                          Cầm tấm card, đưa cho thiếu úy Rớt, chỉ huy phó, tôi nói:

                          - "Thiệt mấy ông cha nầy tưởng họ là ông gì đây. Tự nhiên ra lệnh cho cơ quan chính quyền thuyên chuyển nhân viên. Kỳ không?

                          Đọc xong tấm card, thiếu úy Rớt nói:

                          - “Tui dân Rạch Giá, kinh nghiệm việc nầy hơn ông. Họ yêu cầu mà mình không làm là mệt đó!”

                          Tôi cải:

                          - “Làm sao được! Thuyên chuyển nhân viên phải có lý do chớ! Đưa người ta đi bậy, người ta thưa ngược lại được đấy. Trước hết là mình phải bênh vực nhân viên mình đã.”

                          Thiếu úy Rớt góp ý:

                          - “Ông không thuyên chuyển đi, mấy ông cha nầy thưa lên trên nữa, thưa tới cả bộ tư lệnh. Ở trên đó, nghe thưa là thuyên chuyển mình đi trước để trấn an dư luận cái đã. Điều tra sau. Tới đó thì “Chờ má, má đã sưng.” Không ai dám bênh vực mình, mình thua trăm phần trăm.”]

                          - “Tôi làm như vầy.” Tôi nói với thiếu úy Rớt: “Tôi giao tấm card nầy cho ban An Ninh Cảnh Lực, ra lệnh cho thượng sĩ Chi (trưởng ban) điều tra xem thử thượng sĩ Khiết có lỗi gì. Nếu có lỗi, tôi thuyên chuyển, nếu ông Chi trình là không có lỗi chi hết, tôi cất hồ sơ. Mai mốt trung ương hay giám sát viện có điều tra, tôi lôi hồ sơ đó ra cho họ xem. Thế là xong.”

                          Thiếu úy Rớt đồng ý.

                          Tuy nhiên, tôi dặn thượng sĩ Chi:

                          - “Điều tra vụ nầy, ông đừng mời cha Uyển tới đây làm gì! Tôi đang chặt tay chặt chân của ổng. Anh xuống gặp ông, hỏi ông khiếu nại thượng sĩ Khiết việc gì, ghi cho rõ, để làm bằng chứng về sau.

                          Hôm đó, thượng sĩ Chi đi gặp cha Uyển về, cười cười nói với tôi:

                          - “Ông hơi ngán rồi. Hỏi thưa chuyện gì, ông nói không thưa gì nữa cả. Bảo tôi cho qua đi.”

                          - "Ba hồi thưa, ba hồi không. Này, ông có lấy lời khai của cha không? Không có lờì bãi nại, mai mốt lại thưa tại sao không giải quyết việc ông ta thưa. Mệt lắm.”

                          - “Xong rồi, tôi thủ hồ sơ xong rồi. Ông đọc xong, tôi cất để đề phòng như ông dặn.”

                          Người cuối cùng được mời là cha Uyển. Tôi đích thân ra tận cổng đón ông vào khi nghe báo cáo ông đến. Tôi mời vào văn phòng tôi. Tôi hỏi chuyện, cha Uyển trả lời. Thượng sĩ Thanh ngồi ghi bên cạnh, được trang nào cho đánh máy trang đó. Kết thúc buổi nói chuyện, thượng sĩ Thanh chìa bàn đánh máy xin cha ký tên. Ông hơi ngần ngại nhưng rồi cũng ký. Cha ra về là tôi đúc kết hồ sơ nội vụ trình tòa.

                          Tuần sau, nhận lệnh tòa, cha Uyển đến tôi yêu cầu hủy bỏ vụ nầy đi. Tôi nói: “Thật ra, tôi muốn giàn xếp ngay từ đầu. Cha gọi vợ chồng ông Tống tới, phân giải hơn thiệt, phải trái là xong. Nhưng tôi không thấy cha nói gì. Có lẽ cha đang giận họ. Tôi không để nội vụ lâu được, đành phải trình tòa. Việc bây giờ là của tòa án, tôi không làm gì được.”

                          Cha Uyển nói gần như trách: “Tôi không có gì sai, nhưng một linh mục bị đưa ra tòa là có hại cho uy tín của một ông cha. Cha bề trên cũng không muốn. Anh có biết vậy không?”

                          Tôi nghĩ thầm trong lòng: Biết chớ. Biết quá, nhưng tôi cũng có tự ái khi bị cha cho Hùng Tâm Dũng Chí ra bao vây xe, làm nhục tôi vậy.

                          Chuyện tưởng vậy là đã qua, không ngờ lại gặp cha Uyển một lần nữa, tại chỗ giành đất gần Đồn Giữa. Cha lại thua tôi một keo nữa.

                          Nhưng thật ra, nghĩ cho kỹ, tôi là kẻ dại, mới là người thua. Nếu tôi giúp cha cho dân Xóm Mới lập ấp, lập vườn, làm ruộng ở đây, có phải là tôi sẽ bớt sợ khi lái xe qua đoạn đường nầy với thiếu úy Kiệt và tà lọt như tôi kể ở đầu bài hay không?! Trần Tế Xương bảo: “Khôn nơi cờ bạc là khôn dại”. Đời nầy, nói cho đúng là một cuộc cờ. Tôi là kẻ khôn mà chính thật là kẻ dại.

                          Nói như thế là tôi nói thật. Câu chuyện về mối sợ Việt Cộng phục kích từ đó đến giờ vẫn ám ảnh tôi, nhất là mấy năm trong trại tù cải tạo. Ở đời, đúng hay sai, phải hay trái chỉ có ý nghĩa tương đối. Pascal nói: “Bên nầy Pyrénée là chân lý, bên kia thì ngược lại.” Tôi thường nói câu nầy với bạn tù để phản bác luận điệu Việt Cộng. Việt Cộng rất cực đoan, cái gì họ tin thưởng, theo đuổi như chủ nghĩa Cộng Sản chẳng hạn, thì họ cho rằng đó là chân lý, là đúng.

                          Tôi không nghĩ rằng những việc cha Uyển làm là đúng, việc tôi làm là sai. Nhưng suy cho cùng, trong thâm tâm, ngoài cái chân lý, lẽ phải mà mình bênh vực, không có một chút nào đố kỵ, ghét bỏ và định kiến hay sao? Nếu thế thì cái đúng, cái sai trở thành tương đối mất rồi, là hai bên dãy núi Pyréneé như Pascal nói mất rồi.

                          Ít lâu sau vụ cha Uyển xảy ra, tôi đi họp ở tỉnh và được cho biết vùng “rừng cấm” ở xã Tín Đạo, xã Đức Phương sẽ làm nơi cho đồng bào Quảng Trị - quê hương tôi - chạy nạn từ 1972 vào định cư, lập nghiệp. Chính quyền đang qui hoạch những khu vực làm trường học, chợ búa, nhà thờ, chùa, v.v… Được tin đó, tôi vui lắm! Tôi bàn với vợ tôi hãy chuẩn bị tham gia những công việc xã hội để giúp đỡ đồng hương mới vào.

                          Việc đưa đồng bào Quảng Trị vào định cư ở Miền Tây Nam Bộ từng là đề nghị của Quốc Vụ Khanh Phát Triển Kinh Tế Hậu Chiến sau khi vùng quận Trung Lương (dọc theo bờ nam vĩ tuyến 17) bị bạch hóa để thiết lập hàng rào điện tử Mc Namara hồi năm 1965.

                          Đề nghị hồi ấy của phủ quốc Vụ Khanh bị mấy ông Nam Kỳ Quốc chống đối kịch liệt. Họ không đồng ý cho đồng bào Quảng Trị vào lập nghiệp ở đây với lý do “Đất miền Nam của người miền Nam.” Khi phủ QVK phản bác, đất ấy còn trống thì được mấy ông Nam Kỳ Quốc trả lời rằng bây giờ còn trống nhưng sau nầy con cháu người miền Nam lớn lên mới có đất cày. Do đó, đồng bào quận Trung Lương, thay vì được định cư ở miền Tây thì lại được định cư ở Cam Lộ, Cam Ranh và Bình Giã.

                          Tôi không về Saigon nên không được biết rõ tại sao mấy ông Nam Kỳ Quốc bây giờ không chống đối như trước kia nữa. Có phải vì chính sách “Người Cày Có Ruông” của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hay chương trình định cư mới nầy được thiết lập do phó thủ tướng Phan quang Đán, đặc trách chương trình “Khẩn hoang Lập Ấp.” Người ta ngán ai mà không chống đối nữa? Không chắc họ ngán tổng thống hay phó thủ tướng mà ngán vì các chương trình nầy được Mỹ hỗ trợ tích cực chăng?

                          Dù gì, nếu đồng bào quê hương tôi vào đây, tôi vui hơn, yên tâm hơn, không còn sợ Việt Cọng khi đi ngang những vùng lau sậy um tùm như thế nầy.

                          Công việc định cư mới ấy, chưa hình thành thì miền Nam “sâp tiệm” – “Sập tiệm” là tiếng lóng, anh em tù cải tạo chúng tôi thường gọi đùa mỗi khi nói tới việc miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng Tư 1975.

                          2008-06-10 17:23:01
                          #28
                            lyenson 06.07.2008 14:21:13 (permalink)
                            Phần 28
                            Dinh Điền, Khu Trù Mật của tổng thống Ngô Đình Diệm, Trại Ruộng của ông Đoàn Minh Huyên



                            Từ Côn Đảo về, được tha sau vụ đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, ông Hồ Hữu Tường viết một loạt bài đăng trên báo Bách Khoa của ông Huỳnh Văn Lang, nhan đề là “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử hình”. Loạt bài nầy sau được in thành sách, lại nhan đề là “Minh Đạo”. May mắn tôi đã đọc loạt bài ấy khi đang đăng nhiều kỳ trên Bách Khoa. Khi nó được in thành sách, tôi lại mua và đọc một lần nữa. Tôi nghĩ rằng điều ông Hồ Hữu Tường gọi là “trầm tư” quả thật là những tư tưởng mới mẻ, sáng suốt, và là con đường phát triển Nông-Công nghiệp của nước ta, làm cho đất nước phát triển và giàu mạnh. Những nước nông nghiệp ở Đông Nam Á, trong đó có cả Việt Nam, muốn cho đất phát triển thì con đường “Minh Đạo” còn con đường hữu hiệu và đạt kết quả nhanh chóng.

                            Hồi bấy giờ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa mới sụp đổ, trong cái nhìn chung và hời hợt của nhiều người không thiếu định kiến xấu về chế độ đó, nên những chương trình như “Ấp Chiến Lược”, “Dinh Điền”, “Khu Trù Mật”, khu Kỹ Nghệ Biên Hòa…, bất cứ cái gì ông Ngô Đình Diệm xây dựng được đều không… tốt; trong khi những chính phủ mới, không có chính phủ nào tồn tại được lâu vì những cuộc đảo chính, “biểu dương lực lượng” liên tiếp xảy ra. Chính phủ tồn tại không lâu thì không có chương trình, kế hoạch nào lớn, lâu dài được đem ra áp dụng. Hơn thế nữa, các nhà lãnh đạo đất nước hồi ấy cũng chẳng có chương trình gì cả. Ngay cả ông Nguyễn Ngọc Thơ, khi được Dương Văn Minh mời làm thủ tướng Chính Phủ Cách Mạng. Trong một cuộc họp báo, báo chí hỏi chương trình cách mạng của chính phủ ông là gì, ông Nguyễn Ngọc Thơ chỉ vào bụng ông, nói: “Chương trình cách mạng ở đây.” Có lẽ ông muốn nói tới câu của người xưa: “Binh giáp tàng hung trung”.

                            Thế rồi tôi cũng lăn lóc theo dòng đời, mãi đến năm 1972, khi tôi về Cái Sắn, nhìn quang cảnh dinh điền nầy, thấy đời sống dân chúng sung túc, giàu có, ngoài mặt thì tôi hỏi đùa bà con nông dân “Sao? Còn muốn lấp sông Bến Hải, trở về đất Bắc nữa không?” Dĩ nhiên ai cũng cười và lắc đầu. Nhưng điều tôi lấy làm ngạc nhiên là tại sao Dinh Điền Cái Sắn nầy được thực hiện y như trong “Trầm Tư Của Một Người Tội Tử Hình” của Hồ Hữu Tường. Cái ý niệm về việc thiết lập những khu dinh điền, khu trù mật như thế nầy, ông Ngô Đình Diệm (và kể cả ông Nhu) được gợi ý từ đâu, trong sách vở nào. Có phải khi nằm ở Côn Đảo ông Hồ Hữu Tường mới có cái “trầm tư” nầy hay ông đã có từ trước khi ông bị tù. Có thể nào anh em ông Diệm đã biết được cái tư tưởng của Hồ Hữu Tường từ trước, hay hai anh em ông tìm tòi trong những sách vở khác và “Những tư tưởng lớn gặp nhau”? Tại sao việc hình thành dinh điền, khu trù mật lại giống như việc thực hiện tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường. Cho đến giờ, tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời cho sự trùng hợp nầy.

                            Tuy nhiên, trong tư tưởng của ông Hồ Hữu Tường, việc hình thành các khu kinh tế chỉ nhắm vào mục đích phát triển kinh tế Công-Nông nghiệp là chính, trong chương trình dinh điền của anh em ông Diệm, nó còn có vai trò chiến lược quân sự. Do đó, khi Cộng Sản miền Nam càng lúc càng mạnh thì dinh điền, khu trù mật là những mục tiêu đánh phá của chúng. Việc đánh phá đó có mục tiêu chiến lược hơn là chiến thuật.

                            Cứ nhìn những vị trí Dinh Điền, khu Trù Mật, hay khu định cư của người Miền Bắc di cư, người ta có thể thấy vị trí chiến lược của những khu ấy. Ví dụ: Khu định cư Xóm Mới là nút chặn quân Cộng Sản từ An Phú Đông vào Saigon. Hồi chiến tranh chống Pháp (1945-54), từ An Phú Đông, qua ngã Xóm Mới, du kích Việt Minh xâm nhập tới Phú Nhuận. Anh rể tôi, dân Saigon chính cống, trước 1954 còn đi học và… đá banh, kể lại có lần Việt Minh ám sát người quốc gia ngay tại một sân đá bóng nhỏ ở Phú Nhuận. Giết người xong, bọn chúng rút lui theo ngã Xóm Mới về An Phú Đông. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, La Ngà, Định Quán là nơi Việt Minh thường phục kích binh lính Pháp và Quân Đội Quốc Gia. Nhờ khu định cư Giốc Mơ, Gia Kiệm, Định Quán, La Ngà,… trong cuộc chiến tranh chống Cộng Sản Bắc Việt xâm luợc, quân Cộng Sản không thực hiện những việc chúng đã làm như trong cuộc chiến tranh trước.

                            Trên chỉ là một vài ví dụ. Quí độc giả có thể tìm hiểu thêm qua vị trí những khu Trù Mật, khu định cư khác như khu Bắc Đậu ở Gia Nghĩa, (Đắc-Nông), Bảo Lộc, Bình Giả ở Phước Tuy, ở Hậu Nghĩa, ở Tây Ninh, v.v…

                            Trở lại việc tìm hiểu vị trí của Dinh Điền Cái Sắn, như tôi đã trình bày trước, trong chiến tranh chống Pháp, quân đội Việt Minh di chuyển một cách dễ dàng từ Kampuchia qua mật khu Trà Tiên, theo kinh Kháng Chiến về Cái Sắn, rồi vượt LTL 8A mà đi về U-Minh hoặc di chuyển ngược lại.

                            Việc thành lập khu Dinh Điền Cái Sắn như một cái rào cản vững chắc, kín, một “con muỗi Cộng Sản” cũng không lọt qua, nói chi tới những toán quân đông đảo, vũ khí kềnh càng. Toàn bộ điểm vượt tuyến dài hơn 50 Km trên LTL 8A chỉ còn một nút thắt họng tại ấp hòa Bình, xã Mông Thọ, thường gọi là Cây Số 15. Quân Cộng Sản cố sống cố chết vượt qua cái nút thắt họng nầy như tôi đã trình bày ở các bài trước.

                            Trước 1958, năm khu Đinh Điền được thành lập, vùng nầy được người dân địa phương gọi là “Vùng Nước Nổi”, có nghĩa là khi tới mùa nước sông Hậu lên cao thì toàn bộ đất đai bị ngập nước, mênh mông những nước là nước. Chỉ những nhà cửa dân cư dọc theo hai bên LTL 8A mới không bị ngập vì người dân đắp nền cao. Ngay cả LTL 8A nhiều năm nước lên cao hơn bình thường, vẫn bị ngập, xe cộ không lưu thông được.

                            Trước khi thành lập khu dinh điền, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa hồi ấy đã cho đào những “kinh ngang” (như bậc ngang của một cái thang, nối liền hai kinh lớn, nằm dọc là kinh Cái Sắn (Từ Hậu Giang vào tới thị xã Rạch Giá) và Kinh Núi Sập, nối từ Hậu Giang với kinh Rạch Giá Hà Tiên rồi đổ ra vịnh Thái Lan. Những kinh ngang nầy cách nhau 2Km, được đặt tên theo vần chữ cái A, B, C…. và theo số 1, 2, 3, 4… Từ kinh B, - ranh giới hai tỉnh Long Xuyên và Kiên Giang, trở về hướng Rạch Giá (thuộc địa phận tỉnh Kiên Giang) có kinh A, kinh 1, 2, 3, 4… Từ kinh B trở ra hướng Long Xuyên thì có kinh C, D, E, F, G, H. Nói chung, khu dinh Điền Cái Sắn kéo dài từ xã Vĩnh Trinh, quận Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên, gần “Ngã Ba Lộ Tẻ”, tức là chỗ bắt đầu LTL 8A, LTL 9 (đi Châu Đốc), LTL 27 (đi Cần Thơ), kéo dài tới xã Mông Thọ ở phía bắc thị xã Rạch Giá. Chiều dài dinh điền Cái Sắn, kể dọc theo LTL 8A là khoảng 70Km. Bề ngang từ kinh Núi Sập tới kinh Cái Sắn là 12Km. Kinh Núi Sập và kinh Cái Sắn được đào từ thời kỳ Pháp đô hộ. Khoảng cách giữa hai kinh nầy là 12Km. Khi thành lập khu dinh điền nầy, chính quyền Ngô Đình Diệm cho đào thêm một kinh ở giữa hai kinh ấy, cách mỗi bên là 6Km, thường gọi là kinh Đòn Dông để việc tháo nước xã phèn cho vùng Cái Sắn được nhanh hơn. Trên hướng Long Xuyên - Rạch Giá, vùng tôi vừa nói là ở phía tay mặt. Phía trái, cũng la khu dinh điền, nhưng dân chúng ở thưa thớt hơn, không phồn vinh như phía phải, lẫn lộn những kinh do chủ điền đào trước 1945 như kinh Rọc Bà Ke, kinh Thạnh Tây, kinh Đông Bình và những kinh mới đào khi thành lập dinh điền như kinh Tân Hiệp, kinh 10, kinh 8, v.v… Việc đặt tên lộn xộn, không thứ tự như phía tay phải. Vùng nầy cũng có kinh Giữa (Thay vì gọi là kinh Đòn Dông). Những kinh nầy dẫn nước ra kinh Cái Bé, có khi còn gọi là kinh Thốt Nốt, thuộc địa phận Long Xuyên, ngang qua địa phận dinh điền Thới Lai, Cờ Đỏ của Tây hồi thuộc địa. Trước 1945, vùng nầy rất phát triển, vừa trồng lúa vừa giao thông bằng ghe thuyền vì hồi đó xe cộ không nhiều, thường người dân di chuyển, vận tải hàng hóa bằng ghe. Điểm hội tụ của 6 con kinh là ở Thuận Trung, thuộc tỉnh Phong Dinh cũ là nơi buôn bán, trên quán, dưới thuyền ghe, rất tấp nập.

                            Dân di cư từ các tỉnh Thái Bình, Nam Định, v.v… được đưa về dịnh cư ở khu dinh điền nầy. Thật ra, từ Bắc vô Nam, thấy đời sống miền Nam dễ dàng, no đủ, không ai muốn về vùng “đồng chua nước nổi”, “nắng bụi mưa bùn” nầy làm gì. Tuy nhiên, hầu hết họ là người theo đạo Thiên Chúa, các linh mục khuyến khích họ về nên họ nghe theo. Phần đông, khi ở miền Bắc, họ là nông dân nên cũng muốn về đây làm ruộng. Nhiều gia đình sống “hai chân”. Phần đông gia đình trụ lại Saigon, vợ buôn bán sống qua ngày, tiện cho con cái đi học. Chồng và con trai lớn về dinh điền, nhận đất, nhận ruộng và … lảnh đồ cứu trợ.

                            Tình hình lúc ban đầu rất chán nãn. Tới mùa nước nổi, nước tràn lan khắp cả, ngoại trừ cái giường, cái bếp trong gian nhà tôn nhỏ bé mà vật liệu làm nhà là do chính phủ cấp phát. Mùa nầy kéo dài bốn, năm tháng, người nông dân không làm ăn gì được. Tới mùa khô, nông dân ra đồng đốt rẩy, bắt rùa rắn, cá tôm ê hề, làm thịt phơi khô đem về cho vợ con ở Saigon. Tuy nhiên, mùa khô cũng là mùa nóng dữ dội. Không ít người làm biếng, khi ra đồng tìm bóng cây ẩn núp và … đánh bài. Hồi ấy chưa có máy cày, chính quyền Ngô Đình Diệm nhập trâu Murat ở Ấn Độ đem về phát không cho nông dân. Lại cũng có người đập cho trâu què chân để xin mổ thịt. Nông dân miền Bắc khoái ăn hịt trâu hơn thịt bò.

                            Chính quyền Ngô Đình Diệm đặc biệt chú trọng các chương trình dinh điền, khu trù mật để ổn định một triệu người miền Bắc di cư, coi đó như là một quốc sách nên sau khi giải tán Phủ Tổng Ủy Di Cư thì thành lập Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, đặc trách về chương trình khu dinh điền, khu trù mật. Khi người nông dân đến vùng đất mới, chính quyền không “đem con bỏ chợ”. Họ được giúp đỡ nhiều mặt: “Tôn”, Ximăng, sắt để làm nhà, làm đường, làm cầu, xây trường học, trạm y tế… gạo, tiền. Khu dinh điền Cái Sắn hồi mới thành lập đã có nhà máy điện, có dựng cột đèn dọc theo trục lộ.

                            Mỗi nông dân được cấp 3 mẫu ruộng: Bề ngang (dọc theo bờ kinh rộng 30mét, kéo dài tới khoảng giữa của hai kinh là 1Km. Hồi 1972, giá mỗi mẫu ruộng ở đây là khoảng trên 500 ngàn đồng Việt Nam Cộng Hòa. Nhìn chung, mỗi gia đình có một tài sản ít nhất là 1 triệụ 500 ngàn, chưa kể trị giá căn nhà, vườn cây quanh nhà và gia súc, v.v…

                            Vai trò của các linh mục ở mỗi kinh (tương đương với 1 ấp) là rất quan trọng. Khi người dân dinh điền thiếu thốn cái gì chính đáng, nhất là xi măng, tôn, gạo… thì các linh mục đi xin (nói theo địa phương). Có khi họ lên ngay phủ Tổng Ủy Dinh Điền hay phủ Tổng Thống xin giúp đỡ. Có người nói với tôi: “Không có các cha thì người dân đã bỏ đi hết rồi”. Suy nghiệm với vai trò các tu sĩ mà ông Hồ Hữu Tường nói trong Minh Đạo, tôi lại càng khâm phục viễn kiến của tác giả.

                            Trại Ruộng là gì?

                            Tôi cứ nghĩ tôi viết như trên là xong, ai ngờ có điều ly thú hơn, nên xin trình bày lại như sau:

                            Mấy lâu nay, đọc mấy tờ báo của Phận Giáo Hòa Hảo hải ngoại, kể cả trên các web site, tôi thắc mắc không hiểu tại sao một số bài viết về lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, họ chỉ kể từ khi đức thầy Huỳnh Phú Sổ khai sáng đạo mà thôi. Vậy thì thời gian trước nữa để chi, và vai trò ông Đoàn Minh Huyên trong công việc củng cố và truyền bá đạo Phật ở miền Tây Nam Bộ hồi giữa thế kỷ 18, cũng như việc ông thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Huơng, tiền thân của đạo Phật Hòa Hảo, bỏ qua sao được?!

                            Khoảng năm 1969, sau khi thuyên chuyển về phục vụ cho bộ chỉ huy binh chủng Thiết Giáp ở Saigon, một lần tôi tới liên lạc công việc với Cục Quân Huấn ở trong khu doanh trại Lê Văn Duyệt, tình cờ tôi thấy có một cuốn sách nhan đề hình như là “Lịch Sử các tôn giáo ở Việt Nam” để trong kệ sách, dành cho những người phục vụ trong đơn vị đọc hay nghiên cứu gì đó. Cuốn sách có lẽ được in sau thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa, nhưng trước năm 1968, năm tôi nhập ngũ, ít ra cũng vài năm. Sách của Cục Quân Huấn in và phát hành. Nếu sách mới in thì thế nào tôi cũng kiếm được một cuốn vì sách cơ quan nầy in ra, thường được phát không cho các đơn vị, nhất là các đơn vị trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu. Thấy cuốn sách lịch sử, tôi thích lắm. Nhưng trên kệ chỉ còn một cuốn độc nhứt, xin thì chắc không được, mà mượn có lẽ cũng không xong. Nhìn tới nhìn lui, tôi thấy cô nhân viên phụ trách ở đây đang nói cười vui vẻ khi anh bạn đi cùng tôi đang tán cô ta, tôi liền nhân cơ hội “chôm” cuốn sách bỏ vào túi quần treillis, đem về. Nếu bị bắt tại trận đang ăn cắp sách, có lẽ ông đại tá Cao Đăng Tường, cục trưởng cũng không nỡ nặng tay với một người mê sách như tôi. Tôi hy vọng như thế.

                            Đem cuốn sách về đọc, tới phần lịch sử đạo Phật Hòa Hảo, tôi biết thêm về sự tích ông Đoàn Minh Huyên, mà trước đó, tôi chỉ thấy xuất hiện đâu đó tên ông nầy, vài ba dòng, không rõ ràng gì cả.

                            Thật ra, công trạng của ông Đoàn Minh Huyên đối với dân chúng miền Tây Nam Bộ lớn lắm, công ơn của ông ta cũng lớn lắm, nên dân chúng nhắc tới ông không ít, và cũng từ đó mà nảy sinh nhiều huyền thoại về ông.

                            Ông Đoàn Minh Huyên là một nhà truyền giáo, một nhà đạo đức, một nhà khai sáng một tôn giáo, một ông thầy thuốc cứu dân độ thế, cứu giúp hàng ngàn người khỏi chết chóc, và một nhà kinh tế chiến lược về nông nghiệp, mà “Trầm Tư của một người tội tử hình” của ông hồ Hữu Tường hay chương trình dinh điền khu trù mật của tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ là kẻ đi sau. Chương trình của ông Ngô Đình Diệm có thành công, thì vai trò “Viện Trợ Mỹ” không phải là nhỏ. Chương trình “Trại Ruộng” của ông Đoàn Minh Huyên chỉ là tự lực cánh sinh. Trong khi đó, sáng kiến của ông Đoàn Minh Huyên đi trước thời đại ông Hồ Hữu Tường, ông Ngô Đình diệm khoảng một trăm năm.

                            Để rõ ràng hơn, tôi xin trình bày về lai lịch ông Đoàn Minh Huyên.

                            Đoàn Minh Huyên sinh ngày 14 tháng 11 năm 1807 - mất ngày 10 tháng 9 năm 1856 ..là người sáng lập ra giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, thường được các tín đồ và dân chúng miền Tây Nam Bộ, gọi tôn ông là “Đức Phật thầy Tây An”.

                            Ông tên thật là Đoàn Văn Huyên (Minh Huyên là pháp danh), đạo hiệu: Giác Linh, quê ở Tòng Sơn, Cái Tàu thượng, tỉnh Sa Đéc

                            Những năm đầu đời Tự Đức, vùng Cái Tàu Thượng (Một nhánh kinh bên tả ngạn sông Hậu, thuộc Sadec sau nầy, bị mất mùa, và bị bệnh dịch tả lớn, hàng ngàn người chết, không kịp chôn. Đêm tối dân chúng không dám ra khỏi nhà, gà không gáy, chó không sủa. Đúng là một vùng lặng thinh, đất chết.

                            Ông Đoàn Minh Huyên đi thăm bệnh, cho thuốc. Theo dư luận thì ông có bùa phép vì thuốc của ông cho chỉ là than tro và nước lã. Vậy mà ông đẩy lui được bệnh dịch, trong khi quan quân chỉ ngồi khoanh tay mà coi dịch tả hoành hành.

                            Từ chỗ có công chữa bệnh cứu người, được uy tín, dân chúng ngưỡng mộ, ông bèn bắt đầu đi thuyết giảng đạo Phật, chính yếu là nhắm vào thực tế, điều nhân nghĩa, hiếu thảo với cha mẹ anh em, kính thờ Trời Phật.

                            Người theo ông càng ngày càng đông, ông bèn thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông dựng chùa thờ Phật, tập trung dân chúng thành nhiều vùng, giúp nhau khai phá đất đai, làm ruộng, gọi nôm na là Trại Ruộng.

                            Các Trại Ruộng nổi tiếng gồm có:

                            Trại ruộng vùng Cần Lố (Đồng Tháp Mười) vùng Láng Linh, vùng núi Két (thuộc Thất Sơn), sau thành ra hai làng Hưng Thới, Xuân Sơn; vùng Cái Dầu

                            Vì có công chữa bệnh cho dân và hướng dẫn dân chúng trong việc hợp tác giúp nhau khai khẩn đất hoang làm ruộng, lại truyền bá đạo Phật nên uy tín của ông ngày càng lớn, khiến quan quân triều đình lo ngại. Ông bị bắt giam nhưng không xử tội ông được vì việc làm của ông không trái với luật pháp triều đình nên ông lại được thả ra. Tuy nhiên, chính quyền cũng buộc ông vào tu ở chùa, không được lang thang qua nhiều vùng như trước. Ông về sống ở chùa Tây An, sau nầy gọi là Tây An Cổ Tự ở An Giang.

                            Sau khi Pháp chiếm Nam Bộ, trại ruộng Láng Linh trở thành nơi kháng chiến chống Pháp rất quyết liệt.

                            Đạo Phật Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ khai đạo, là đời thứ tư do ông Đoàn Minh Huyên chuyển kiếp cho Phật Trùm, Ngô Lợi, Sư Vãi Bán Khoai và Đức Thầy (HPS) để giáo hóa chúng sanh nên chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của tông phái Bửu Hương Kỳ Sơn, lấy đạo Phật làm căn bản, tu hiền, và gìn giữ bảo trọng Tứ Ân, thường gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

                            Tứ ân gồm có:
                            1. Ân tổ tiên cha mẹ;
                            2. Ân đất nước;
                            3. Ân Tam Bảo;
                            4. Ân đồng bào và nhân loại (với kẻ xuất gia thì ân đàn na thí chủ).

                            Phụ lục:
                            Một vài nhân vật đặc biệt, tiền thân của Phật Giáo Hòa Hảo (Trích từ Wikipedia):

                            Phật Trùm (? - 1875) tên thật: Tà - pênh, người Việt gốc Khmer" .ở ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông được tín đồ các giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Hòa Hảo gọi tôn là Phật Trùm.

                            Từ nhỏ đến lớn, Phật Trùm có cuộc sống như một người bình thường, có vợ và 4 người con gái. Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An tức Đoàn Minh Huyên là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm),

                            Từ đấy, Phật Trùm bắt đầu giảng giáo lý toàn bằng tiếng Việt. Bà Néang-Suông xưng là cháu chắt Phật Trùm cho biết ông có để lại một cuốn Kinh bằng tiếng Việt, nhưng Tà-Sao là cháu của Phật Trùm đã đem nạp cho Pháp.

                            Và cũng tương tự lối hành đạo của Đoàn Minh Huyên, Phật Trùm cho phân phát “lòng phái”, trổ tài trị bệnh thật lạ thường.

                            Nhà Phật Trùm sinh sống khi xưa tại ấp Sàlon, nay trở thành nơi thờ cúng ông.

                            Khoảng năm 1870, lúc này tín đồ người Việt theo ông đã khá đông. Thấy vậy, một số người Việt gốc Khmer trong xóm vu cáo là ông mượn chuyện đạo, chuyện trị bệnh để quy tụ, để cổ xúy nhân dân nổi loạn, nên nhà cầm quyền Pháp cho bắt giam ông rồi kết án tù đày. Trong tù, ông chăn heo. Sau vài năm, Pháp thấy ông hiền lành, không có biểu hiện gì chống đối, nên ông được trả tự do. Về lại quê nhà, Phật Trùm tiếp tục hành đạo, có khi rao giảng đạo sang tận Campuchia

                            Ngày 13 tháng 3 âm lịch năm Ất Hợi (1875), Phật Trùm viên tịch.

                            Hiện mộ Phật Trùm nằm lưng chừng núi Salon, một núi nhỏ, thấp thuộc ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Mộ không đấp nấm, theo chủ trương của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

                            Ngô Lợi người Mỏ Cày Bến Tre, Cha tên Ngô Nhàn (? - 1937), làm nghề thợ mộc, mẹ tên Phạm Thị Xuyến, người Bình An, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang).Tương truyền từ nhỏ cho đến lúc trưởng thành, Ngô Lợi cũng không có biểu hiện gì khác lạ. Cho đến năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni Kinh dài 223 chữ Hán, mà sau này trở thành quyển kinh quan trọng của đạo Hiếu Nghĩa.

                            Năm 37 tuổi, vào ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh Mão (1867), bỗng nhiên ông bất tỉnh. Sau 7 ngày 7 đêm, ông hồi tỉnh lại, trở thành người giải thoát, rũ sạch lòng trần, dạy người theo đạo.

                            Bởi đi “thiếp” vào ngày trên và thỉnh thoảng ông lại có những cuộc đi thiếp như thế, nên người đời còn gọi ông là Năm Thiếp. Mỗi lần đi thiếp xong, ông thường nói những việc quá khứ và đoán định việc tương lai, nên được nhiều người tin nghe.

                            Sau khi liễu đạo, Ngô Lợi đi nhiều nơi vừa trị bệnh (nhất là trận dịch hoành hành dữ dội vào năm 1876), vừa thu nhận và dạy tín đồ thuyết học Phật tu nhân, báo đáp tứ ân, hành xử theo thập nhị giáo điều. Năm 1876, ông cho một tín đồ tên Trần Tịnh đi khảo sát vùng Núi Tượng. Năm 1870, ông đưa một số đệ tử vào theo để khai hoang, lập chùa miếu và mở thôn ấp mới.

                            Những năm 1877 - 1879, ông tổ chức hai cuộc làm chay để che mắt Pháp, lần đầu vào ngày 16 tháng 2 năm 1878 qui tựu hơn 200 người, rao giảng thuyết Hội Long Hoa và tuyên bố “đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt”

                            Lần thứ nhì vào ngày 30 tháng 4 năm 1878, ông phong cùng Võ Văn Khả làm chánh tướng, Lê Văn Ong làm phó tướng để nổi dậy kháng Pháp ở Cai Lậy Mỹ Tho, vào ngày 2 tháng 5 năm 1878 nhưng đã bị dẹp tan nhanh chóng. Hai ông Ong và Khả bị xử chém tại Thuộc Nhiêu năm 1879. Còn Ngô Lợi cùng nhiều nghĩa quân trốn thoát về làng An Ðịnh. Căn cứ của đạo Hiếu Nghĩa, do ông cùng tín đồ khai hoang, lập ấp thuở trước.

                            Bọn mật thám của Pháp liền được lệnh truy lùng Ngô Lợi ráo riết, nhưng rốt cuộc không thu được kết quả nào, bởi ông được tin đồ và đồng bào mến mộ che giấu. Ngay cả thuộc hạ đắc lực của đốc phủ Trần Bá Lộc là Hai Phép lãnh trách nhiệm theo dõi ông, cũng bị ông cảm hóa rồi theo phe kháng Pháp luôn. Đốc phủ Đỗ Hữu Phương cho tên Bửu, người Minh hương, mua ba ngàn xâu chuỗi bồ đề từ Chợ Lớn xuống Núi Tượng, cúng cho bổn đạo vẫn không dò hỏi được tin tức gì.

                            Pháp nhiều lần tổ chức ruồng bố. Chỉ tính trong 12 năm (1876 - 1888), Pháp đã đến đốt phá, bắt bớ, tra tấn, tù dày những tín đồ ở làng An Ðịnh cả thảy bảy lần, tín đồ Hiếu Nghĩa gọi là “đạo nạn”, đơn cử như vào năm 1885, Ngô Lợi cùng với tín đồ đạo Hiếu Nghĩa kết hợp với nghĩa quân của Hoàng Thân Sivôtha (Campuchia) nổi dậy, đánh chiếm hai bờ kênh Vĩnh Tế và làm chủ Tịnh Biên. Nhưng ngay đó, quân Pháp do đại úy Ferussac đem quân chiếm lại và còn tấn công vào An Định, khiến Ngô Lợi phải cùng với nhiều tín đồ phải chạy sang Vườn Dầu, thuộc Campuchia để lánh nạn. Ngày 2 tháng 6 năm 1886, quân Pháp mở cuộc hành quân sang Campuchia, đánh vào căn cứ Vườn Dầu nhưng thất bại. Mặc dù cản ngăn được đối phương, nhưng khi Ngô Lợi trở về núi Tượng, nhà cửa, chùa chiền ở An Định chỉ còn là những đống tro tàn.

                            Bi thảm nhất là vào năm 1887, quân Pháp do thiếu tá Peiqnaux ở Châu Đốc chỉ huy, cùng hai cộng sự là Trần Bá Lộc và cai tổng Trương Văn Keo kéo quân vào An Định. Bị kháng cự ở núi Trà Sư. Khi Pháp tràn được vào làng, họ đã đốt sạch nhà cửa, chùa chiền, bắt nhiều người tra tấn để tìm Ngô Lợi.

                            Kết cuộc, Pháp xử bắn 8 người, đày ra Côn Đảo 13 người, cưỡng bức 407 gia đình gồm gần hai ngàn người già trẻ xuống tàu về quê quán và giải tán làng An Định (sáp nhập vào làng Vĩnh Lạc),

                            Ngày 13 tháng 10 âm lịch năm Canh Dần 1890, Ngô lợi mất vì bệnh tại thôn An Hòa, gần Núi Tượng, lúc 59 tuổi.

                            Sau khi ông mất, phong trào kháng Pháp tan rã, chỉ còn lại đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

                            Ngoài bản kinh Bà La Ni Kinh, từ năm 1879 đến năm 1884, Ngô Lợi còn truyền dạy cho tín đồ nhiều bài cung văn sớ điệp, nhiều nghi tiết cúng lễ. Các vị đại đệ tử của ông đã ghi chép lại thành tập sách Ngọc Lịch Đồ Thơ Tập Chú.


                            2008-06-23 03:25:43
                            #29
                              lyenson 06.07.2008 14:25:43 (permalink)
                              Phần 29
                              Văn Hóa, Tôn Giáo, Giáo Dục, Chính Trị…



                              So với các vùng quê khác ở Miền Tây Nam Bộ, đời sống dân vùng Cái Sắn cao hơn thấy rõ, từ cách sinh hoạt, ngôn ngữ, tôn giáo, v.v… tuy bên cạnh đó, có những sự việc, những nhân vật có những hành vi khá đặc biệt, làm cho người dân bất mãn không ít.

                              Sở dĩ họ có đời sống cao là nhờ ba yếu tố: Xã hội, tôn giáo, giáo dục.

                              Về miền Tây, ở những làng mới hình thành trong vài ba trăm năm trở lại đây, vì dân làng là dân lưu tán mới tụ lại, phong tục tập quán chưa định hình, hoàn chỉnh, đó là chưa nói tới cách sinh hoạt và tư tưởng còn hủ lậu, mê tín dị đoan nên có nhiều điều xấu xảy ra.

                              Cái Sắn thì khác. Dân Nam địa phương, ngoài tính ưa cờ bạc là điều đáng chê trách. Tuy nhiên, vùng Cái Sắn trước kia cũng không phải là vùng hoang dã, dân cư thưa thớt, mà lại là vùng làng xã từng hình thành, từng tiếp xúc với hoàn cảnh sống văn hóa cao hơn, nhất là đạo Phật của dân chúng vùng Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá, dân chúng biết thờ phượng ông bà, tổ tiên, phật thánh và biết “tu hiền” (Tiếng thường dùng ở địa phương) nên không có gì gọi là hủ lậu. Bên cạnh đó, người di cư từ Bắc vào Nam, trong cuộc hành trình trốn chạy Cộng Sản, họ mang theo cả phong tục, tập quán, lề thói, do tổ tiên xây dựng lâu đời, nên trong đời sống tinh thần, họ có nhiều điểm đáng khen ngợi.

                              Điều đáng lưu ý ở đây là người Bắc biết trọng sự học hơn nên về mặt học vấn, nhìn chung con cái họ có nhiều người thành đạt.

                              Khi thành lập khu dinh điền chính quyền đã không quên mở trường để cho trẻ em được cắp sách đi học. Ban đầu, trường tiểu học được mở ra ở quận, ở xã. Trong mỗi kinh, tương đương với mỗi ấp chỉ có trường sơ cấp.

                              Nhờ dân chúng trong khu dinh điền biết trọng sự học, số lượng học sinh càng ngày càng đông, trường ốc không đủ, các linh mục ở mỗi kinh mở thêm trường tư dạy học. Công việc tiện lợi cả hai mặt. Học sinh không phải đi xa, thường bằng ghe xuồng nguy hiểm, nhà chung thâu học phí. Trẻ em học tiểu học ngay tại kinh, lên trung học mới học ở trường quận hay trường tư ở ngoài trục lộ.

                              Đến đầu thập niên 1970, trường trung học quận đã mở đến cấp ba (Đệ nhị cấp), nhưng chưa có lớp 12, và trong mỗi kinh, như đã nói, mỗi kinh tương đương với mỗi ấp, đã có trường trung học.

                              Trường trung học lâu đời nhất có lẽ là trường của cha Uyển, - Nguyễn Thượng Uyển ở kinh 6 Rọc Bà Ke, bên cạnh trục lộ Long Xuyên - Rạch Giá. Những học sinh cũ của trường nầy, trước 1975, đã có người tốt nghiệp đại học, hoặc vào quân đội, lon lá lên tới cấp tá, một số ít là phi công. Sân bay ở quận, nhiều khi bỗng nhiên có máy bay trực thăng đáp xuống: Phi công về thăm nhà. Trước khi đáp xuống, họ cho máy bay lượn quanh nhà. Có nghĩa là họ sắp về thăm. Người nhà đem xuồng ra quận lỵ đón họ về nhà ở trong kinh.

                              Về giáo dục, việc tranh chấp tôi gặp phải là giữa một người bạn học cũ của tôi, anh Khôi. Tôi biết anh ấy khi anh vào Đại Học Sư Phạm Huế, ban Cấp Tốc (1 năm học) năm 1958. Không rõ do đâu, anh ta được bổ nhiệm về làm hiệu trưởng trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Kiên Tân. Một số giáo sư ở đây, nguyên là học sinh cũ của trường, nay tốt nghiệp đại học sư phạm, về dạy trường cũ, không chịu để cho một giáo sư trung học đệ nhất cấp (Sư phạm một năm) làm hiệu trưởng một trường cấp ba. Đó chỉ là lý do họ đưa ra, mục đích là tranh giành chức hiệu trưởng. Mặc dù ngạch trật là điều thiết yếu, nhưng trong ngành giáo dục, nhiều khi người ta trọng những vị lớn tuổi, tuy ngạch trật nhỏ hơn nhưng tuổi tác ngang hàng với thầy dạy của những người trẻ. Đó là lý do người bạn tôi được cử giữ chức vụ hiệu trưởng trường nầy. Tuy nhiên, người bạn tôi tốt nghiệp ở Huế, mấy năm trước dạy học ở miền Trung, không phải là thầy dạy trực tiếp của họ nên họ muốn “đảo chánh” ông.

                              Người Nam, đất rộng dân thưa, đời sống dễ dàng, ít chăm lo tới việc học của con cái. Đến khi họ ở chung, chịu ảnh hưởng lẫn nhau, xã hội càng ngày càng phát triển, học vấn trở thành nhu cầu cần thiết, lần lần ai ai cũng thấy không thể lơ là việc học, lo chăm sóc việc học của chúng. Do đó, nhìn chung, việc học ở vùng nầy phát triển nhanh, học sinh các cấp ngày càng đông, trường học ngày càng nhiều, nhất là trường tư, vì chính phủ không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu giáo dục của dân địa phương.

                              Một điều không hay là các trường học của các cha ở trong kinh là các “ổ trốn quân dịch”. Nhiều thanh niên, không thấy cái trách nhiệm của mình đối với đồng bào, tổ quốc, lại nhát gan nên thường không thi hành lệnh động viên. Không có công ăn việc làm, họ xin dạy ở các trường của các nha với giá lương rẻ mạt. Các cha thì ham rẻ, vã lại họ là con chiên trong họ đạo của các cha, các cha khó từ chối khi họ xin việc. Thứ nữa, trả lương cho thầy giáo rẻ thì thu học phí rẻ, học trò dễ theo học, chưa kể nhờ rẻ thì sĩ số càng thêm đông.

                              Một hôm, cuộc cảnh sát xã Tân Hiệp bắt một thanh niên tội trốn quân dịch. Anh chàng nầy gặp xui. Thông thường, khi trốn quân dịch, họ chỉ quanh quẩn ở trong kinh. Các cơ quan chính quyền, kể cả Cảnh Sát, sợ đụng chạm với các cha nên không có gì phải hành quân trong đó. Từ đầu tới cuối kinh, hầu hết là người Bắc di cư cư ngụ, làm gì có Việt Cộng mà hành quân bắt giữ. Lợi dụng tình trạng đó, mấy ông trốn quân dịch cứ ở riết trong kinh, không ló mạt ra khỏi xã, khỏi ấp là an toàn. Anh chàng bị bắt nói trên vì ham chơi, đi theo một con nhỏ nào đó ra chợ Tân Hiệp uống cà phê.

                              Cha Toàn, chánh xứ họ đạo kinh 3, kiêm hiệu trưởng trường trung học kinh 3 của cha, ra gặp tôi xin trả tự do cho người bị bắt. Anh ta cũng là giáo sư dạy ở trường của cha Toàn. Để tránh phiền phức, tôi đã cho giải giao anh ta về tiểu khu Kiên Giang. Cha Toàn giận tôi, ông ta bảo: “Thầy giáo của tôi đấy, ông làm sao thì làm.” Tôi thấy bực mình. Tôi chưa truy tố cha về tội “tán trợ bất phục tòng”. Anh ta trốn quân dịch, sao cha dám cho anh ta dạy học ở trường của cha. Vậy mà ông ta còn dọa tôi!?

                              Có điều đáng buồn, ra khỏi khu vực Dinh Điền Cái Sắn, tới xã Mông Thọ sát bên cạnh, việc giáo dục không được phát triển và chăm sóc như vậy.

                              Về tôn giáo, tình hình ở đây khá phức tạp. Đối với đạo Hòa Hảo, việc tu tập của quần chúng tín hữu không có gì đáng nói nhưng với hàng “chức sắc” là cả một vấn đề. Tại quận lỵ, tín đồ Hòa Hảo có một ngôi chùa, dân chúng sinh hoạt bình thường, lui tới đông đảo. Những ngày vía lễ, chùa khói hương nghi ngút. Nhưng chức sắc thì chia làm ba phe, phe nào cũng muốn giành ngôi chùa cho mình. Ba phe đó là: Phe ông Lương Trọng Tường, phe ông Lê Quang Liêm, phe ông Lê Trường Sanh. Mấy ông này lập phe ở trung ương của họ, - ở Long Xuyên - Ở Kiên Tân là những người theo phe của ba ông ấy, nổi tiếng nhất là ông Lê Minh Châu, người theo phe ông Lương Trọng Tường.

                              Lê Minh Châu có lần tụ tập phe nhóm của ông đông đảo, rồi “chiếm chùa.” Sợ các phe kia tới chiếm lại, ông cho đem lựu đạn vào chùa “phòng thủ”. Cũng may, việc quăng lựu đạn, giết nhau chưa xảy ra. Các phe kia bị lấy mất chùa, bèn thưa kiện lung tung. Nhờ thiếu tá quận trưởng Huỳnh Đầm S. cũng là người theo đạo Hòa Hảo nên ông mời mọi người vào quận đường để dàn xếp. Ba phe thỏa thuận thành lập một ban tế tự, coi việc thờ phượng trong chùa. Quyền lợi ba phe ngang nhau, không phe nào được chiếm chùa. Tuy vậy, phe Lê Minh Châu thỉnh thoảng lại chiếm chùa để cho bọn trốn quân dịch vào trốn trong đó. Dĩ nhiên, tấn công hay lục soát chùa là một vấn đề hết sức phức tạp và dễ bị thưa gởi, cấp trên khiển trách, nên không ai tính tới việc đem lực lượng an ninh kiểm soát chùa.

                              Trong chùa không có giếng nước nên các thanh niên trốn trong chùa phải ra khỏi chùa, băng qua đường cái để xuống kinh lấy nước hoặc tắm rửa. Các Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi mặc đồ dân sự, núp ngoài chùa. Tên trốn quân dịch nào ra khỏi chùa đều bị tóm cổ. Bọn trẻ sợ hãi bèn bỏ đi. Việc chiếm chùa của Lê Minh Châu giải quyết xong.

                              Khoảng đầu năm 1974, Hai Ngoán, cánh tay mặt của Lương Trọng Tường thành lập cái gọi là Tổng Đoàn Bảo An, là một lực lượng quân sự và chính trị để chống Cộng Sản nhưng không dưới sự chỉ huy, lãnh đạo của chính phủ trung ương. Người ta đồn phía sau việc thành lập lực lượng nầy có bàn tay lông lá - cũng chỉ là lời đồn đãi. Vài đơn vị Địa Phương Quân gốc giáo phái Hòa Hảo thuộc tiểu khu Long Xuyên, tăng cường hoạt động ở các tỉnh bên cạnh, có lần “đụng trận” đã báo cáo tổn thất 100%. Thực ra, vũ khí và máy móc truyền tin của các đại đội nầy lén đưa về Long Xuyên để trang bị cho các lực lượng thuộc Tổng Đoàn Bảo An.

                              Tại Kiên Tân, Lê Minh Châu tự ý dựng ngay một tấm bảng trước cổng chùa viết là Quận Đoàn Bảo An Kiên Tân. Chính quyền phải khuyến khích các phe phái khác, căn cứ vào bản cam kết việc thành lập ban tế tự để dẹp tấm bảng nầy.

                              Mặc dù có sự chia phe phái như vậy, tín đồ Hòa Hảo họ không theo phe phái nào hết.

                              Những người trước kia từng tham gia lực lượng quân đội Hòa Hảo của Ba Cụt, Năm Lửa… mỗi năm họ gặp nhau nhiều lần tại trụ sở Dân Xã Đảng, một ngôi nhà nhỏ đơn sơ, nằm sâu trong một con hẽm kế quận lỵ, để làm lễ giỗ kỵ các vị tướng tá cũ của họ, nay đã qua đời như tướng Ba Cụt, Năm Lửa, Trương Lương Thiện, v.v.... Họ dựng tại trụ sở một tấm bảng lớn bằng cở tấm bảng đen ở lớp học, trên đó họ chưng đủ hình các vị chỉ huy cũ của họ trước kia. Bây giờ, hàng năm, họ họp mặt tưởng niệm cấp chỉ huy chứ chẳng có hoạt động quân sự, chính trị nào, không gây phiền nhiễu cho chính quyền. Nhìn họ, những người một thời cầm súng chiến đấu trong lực lượng giáo phái, người ta thấy họ chẳng khác gì những người dân chất phác bình thường của đất Nam Bộ, không một chút gì gọi là “dữ dằn” như báo chí thời Ngô Đình Diệm tuyên truyền về họ. Nói về lý tưởng và công trạng chiến đấu chống thực dân Pháp, chống Việt Minh, họ là những người đáng kính, đáng yêu.

                              Tôi không rõ việc bầu bán dân biểu thời Đệ Nhứt Cộng Hòa ra sao, nhưng thời Đệ Nhị Cộng Hòa, trước cũng như sau khi trung tướng Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống thì có vẽ tự do đến … lung tung.

                              Trước hết xin nói tới sự ngưỡng mộ của dân chúng trong khu dinh điền đối với cố tổng thống Ngô Đình Diệm. Trong số họ, không ai tin Ngô Tổng Thống còn sống, cho rằng nhứt định “ngài không chết” như dân chúng ở Tam Tòa (Đà Nẵng) đã tin chắc như thế hồi mới đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tuy nhiên, lòng tôn kính cua họ đối với tông thống Ngô Đình Diệm thì còn sâu sắc lắm. Điều đó rất dễ hiểu. Dân chúng trong khu dinh điền bây giờ sung túc, khá giả, con cái được học hành đàng hoàng, .v.v… Công lao đó là của ai, nếu không phải là tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông đề ra chương trình Dinh Điền, Khu Trù Mật, đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng nó, giúp đỡ và giải quyết những khó khăn cho Dinh Điền, lại thường đích thân tới thăm viếng, khuyến khích dân chúng trong Dinh Điền.

                              Người ta có thể thấy việc biết ơn Ngô Tổng Thống trong việc trồng hoa vạn thọ. Không hiểu do đâu, bỗng người ta đồn với nhau rằng Ngô Tổng Thống rất thích hoa vạn thọ. Có phải tổng thống thích câu biểu ngữ “Ngô Tổng Thống Muôn Năm”. Vạn thọ cũng có nghĩa là muôn năm. Thời ông Bảo Đại còn làm vua, - làm vua chớ không phải làm quốc trưởng - nhân một dịp “tứ tuần đại khánh” vua hay thái hậu gì đó, bọn học trò lớp đồng ấu chúng tôi được phát quà và tập nói câu “Vạn thọ Vô Cương”. Nghe câu đó, cậu (cha) tôi nói đùa là “Vạn Thọ Vô Cương: Trong xương ngoài nạc”. Vì câu chuyện cũ đó nên tôi bỗng chú ý thấy dân chúng trong kinh, trong sân nhà thờ, nhứt là nhà thờ linh mục Nguyễn Bá Lộc, kinh 1 Cái Sắn, trồng nhiều hoa vạn thọ. Có phải người ta trồng loài hoa nầy để tưởng nhớ Ngô tổng thống? Tổng thống đã qua đời, nhưng hoa vạn thọ thì vẫn còn đó!

                              Không những hoa vạn thọ còn ngoài sân mà ngay trong phòng khách của cha Lộc. Ở đó, còn có một bức hình rất lớn, lồng kính, treo ngay chính giữa phòng. Hình màu, vẽ lại từ một bức hình chụp, chân dung tổng thống Ngô Đình Diệm. Tấm hình vẽ đẹp mà tổng thống, khi chụp bức hình nầy cũng còn trẻ và đẹp trai. Lần đầu tiên thấy bức hình nầy, tôi nhớ lại một vài ngày sau khi đảo chánh lật đổ và giết anh em tổng thống Diệm, Hội đồng Quân nhân Cách Mạng của tướng Dương Văn Minh ra lệnh hạ hết hình ảnh, tượng đài tổng thống Ngô Đình Diệm ở công viên, trong công sở và ngay cả tại tư gia.

                              Hình như lệnh cấm đó không “phê” (effet) gì tới cứ địa của cha Lộc. Không những thế, tôi còn thấy cha chưng mấy bức hình ông chụp chung với hai ông Thiệu, Kỳ khi mấy ông nầy “bay” xuống Cái Sắn vận động tranh cử. Hình chụp cha Lộc đứng giữa. Hai ông tướng, một ông là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, một ông thì Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, ông nào cũng mặc đồ lính, lon lá đầy mình đeo sao tùm lum, (ông Kỳ mặc đồ bay), cười toe toét khi đứng bên cạnh cha Lộc. Tôi gọi đó là “Những nụ cười kiếm phiếu.”

                              Xin nhớ rằng đối với đồng bào trong kinh, và cả những đồng bào gốc miền Nam, không phải dân di cư, sống ở đầu kinh (1) hay dọc theo trục lộ, không phải tín đồ đạo Thiên Chúa, họ cũng kính trọng các cha, nói chung, và bỏ phiếu cho ai nếu cha yêu cầu, vận động cho người ấy, giống như con chiên các cha trong kinh vậy, nhứt là cha Lộc, người có uy tín lớn nhứt ở Kiên Tân, và thường hay giảng ở nhà thờ, có kèm thêm phần “phụ diễn” nên bỏ phiếu cho ai khi có bầu bán.

                              Thông thường, người đắc cử thường là con chiên của cha.

                              Khi chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa mới hình thành, bầu cử tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, v.v… Thành thật xin nói rằng, hồi đó tôi chưa về Cái Sắn nên không biết trong các buổi lễ vào thứ bảy, chủ nhựt, mấy ông cha, sau khi giảng kinh, có phụ diễn phần bỏ phiếu cho ai hay không: Liên danh 9 (Thiệu Kỳ), hay Phan Khắc Sửu, Nguyễn Đình Quát… Về thượng viện thì bầu cho liên danh Sư Tử Cầm Bút, Bông Sen hay Bông Huệ… Nhưng ngay từ đó thì người đắc cử dân biểu ở đây là ông Mại, con chiên của cha Lộc nhà ở đầu kinh 2.

                              Thế rồi tới cuộc bầu cử năm 1971, ông Nguyễn Tấn Đời, ông chủ Thần Tài Tín Nghĩa Ngân Hàng thay chỗ ông Mại.

                              Sao kỳ vậy?

                              Ông Nguyễn Tấn Đời đâu phải là tín đồ đạo Thiên Chúa như thông thường những người đắc cử ở đây. Ông Đời cũng không phải là dân địa phương. Hỏi thêm nữa, cha Lộc vận động cho ông Đời ghê lắm, bỏ hết công sức cho ông Đời đắc cử. Nếu không có cha Lộc, dân chúng, nhất là đồng bào trong kinh biết ông Đời là ai! Họ làm ăn khá giả, có tiền thì… mua vàng đem cất, chẳng thèm biết ngân hàng là cái gì thì làm sao biết Tín Nghĩa Ngân Hàng hay ông Thần Tài Tín Nghĩa. Trong chiều hướng đó, chắc chắn đồng bào không biết ông Đời là cha căng chú kiết nào để mà bầu ông ta làm đại biểu cho họ ở quốc hội.

                              Tình cờ, một hôm đi ngang nhà ông Mại, tôi vào thăm ông ta. Lúc ấy tôi vẫn còn ngu không biết tại sao ông Mại, cựu dân biểu, tranh cử thua ông Đời, người không phải là dân địa phương. Ông Mại không có một lời than phiền cha Lộc. Ông ta chỉ nói với tôi một câu: “Thôi đừng nói tới cha Lộc nữa.” Tôi nghĩ ông ta oán cha Lộc lắm. Có gì đâu: “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” như tuc ngữ dạy vậy thôi! Nhưng tôi biết một việc khá quan trọng: Lúc ấy cha Lộc đang xây lại nhà thờ kinh 1 của cha. Nhà thờ rất lớn. Dĩ nhiên, cha cần phải có tiền!

                              hoànglonghải

                              (1) Cách phân chia đất ở dinh điền như sau: Phía đầu mỗi kinh, chỗ “dàm” (ngã ba) nối liền với kinh Long Xuyên – Rạch Giá, đi sâu vào khoảng nửa Km thì ưu tiên dành cho người địa phương, người Miền Nam. Sau phần đất ưu tiên dành cho người miền Nam, đi sâu vào giữa tới cuối kinh là khu dành cho người di cư. Dọc theo trục lộ xe hơi, đất của ai nấy xử dụng, việc mua bán đất ở khu vực nầy được tự do.

                              2008-06-25 01:26:43
                              #30
                                Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 42 bài trong đề mục
                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.
                                Kiểu:
                                2000-2026 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9