Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng

Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 31 đến 42 trên tổng số 42 bài trong đề mục
Tác giả Bài
lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 14:29:49
Phần 30:
Dinh Điền Cái Sắn: Bắc Nam Một Nhà




Khi thành lập dinh điền Cái Sắn, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chứng tỏ ông là người khôn ngoan và tế nhị, giữ gìn được hòa khí, giúp đỡ lẫn nhau giữa người miền Nam địa phương và người Bắc di cư.

Dọc theo trục LTL 8-A, chính quyền VNCH bấy giờ cho xây nhiều chợ ở các đầu kinh A, B, kinh Tân Hiệp, kinh 8, kinh 9, v.v… Chung quanh chợ và hai bên trục lộ là phố xá và nhà ở dân chúng. Những khu vực nầy, người Nam, người Bắc sống chung, kề nhau, buôn bán với nhau, không mấy khi có việc gì mâu thuẫn xảy ra. Nhìn chung, ngoại trừ khu vực chợ có nhiều người Bắc, còn các khu phố và khu nhà ở thì người Nam đông hơn. Người Bắc có nhiều người giỏi và ưa buôn bán nên họ từ trong kinh ra hoặc là người Bắc di cư từ Saigon hay các tỉnh về mở tiệm ăn, buôn bán.

Về khu dinh điền, việc chia đất cho dân di cư thì như tôi đã trình bày trên, mỗi gia đình được cấp một khu đất bề ngang 30mét, bề sâu 1km, tính ra là ba mẫu Tây. Tuy nhiên, kể từ kinh Cái Sắn, kinh chạy dọc theo trục LTL 8-A vào sâu khoảng vài trăm mét thì đặc biệt dành cho người miền Nam, những ai muốn làm ruộng. Thành thử, cứ mỗi kinh ngang, (kinh 1 kinh 2, kinh A, kinh B, v.v…), phía ngoài là khu đất của dân Nam, phía trong mới là dân di cư. Do đó mới có thành ngữ “Người từ trong kinh ra…” tức là người Bắc di cư.

Dần dần, một số người Nam bỏ làm ruộng. Họ bán lại cho những người Bắc giàu có lên, muốn mua thêm đất ruộng. Người Nam bán ruộng dời qua sống bên cạnh trục lộ hay tìm những vùng bị hoang hóa mở đất. Kể ra, tại những vùng nầy họ làm ruộng thoải mái hơn, có bao nhiêu sức làm bấy nhiêu, có thể hàng trăm mẫu, không bị hạn chế ba mẫu như ở dinh điền.

Trong sinh hoạt hằng ngày, gặp người dân ở vùng Nam Bắc lẫn lộn, cũng khó phân biệt ai là người Bắc, người Nam, nếu không nghe giọng nói, ngoại trừ mấy ông chủ điền, thường mặc pijama, áo hai túi, túi trong và túi ngoài như tôi mô tả ông Bảy Quẹo, xã trưởng xã Tân Hội. Thậm chí, nhiều khi, tôi còn thấy một số người Bắc giả giọng Nam cho tiện việc giao tiếp hằng ngày. Họ nói tiếng Nam chưa rành, còn ngọng. Người Nam thì chẳng giả giọng Bắc bao giờ.

Không phải người Nam không khôn khéo đâu! Biết các linh mục là những người có thế lực, nhiều người Nam quan hệ chặt chẽ với các linh mục, mặc dù họ không phải là người theo đạo Thiên Chúa, để khỏi bị chính quyền làm khó dễ, hoặc để dễ làm ăn, buôn bán. Chẳng hạn, tại Tân Hiệp, ông Vạn Lợi. Ông ta nguyên là gốc ở quận Lấp Vò, tỉnh Sadec, qua làm ăn ở đây từ khi dinh điền mới thành lập, mở tiệm bán đồ sắt cũ, từ cái đinh, cái ốc, cái búa, cái kềm cũ, cuộn kẽm gai phế liệu. Người dân di cư tiết kiệm, mua đồ cũ về sửa lại dùng, rẻ hơn mua đồ mới. Nhờ vậy mà ông ta giàu lên. Con cái, sau khi đậu tú tài, đều cho lên học đại học ở Saigon.

Biết linh mục Nguyễn Bá Lộc (lm NBL) là người có thế lực bậc nhất ở dinh điền cái Sắn, ông ta bắt giò linh mục nầy. Cứ mỗi lần linh mục NBL từ trong kinh 1 ra, bao giờ cũng ghé lại nhà ông, nghỉ chân, uống nước trà, chuyện vãn với vợ chồng ông rất vui vẻ. Vì vậy, mặc dù Ủy Ban Phụng Hoàng tỉnh Sadec có chuyển công văn đến Ủy Ban Phụng Hoàng quận Kiên Tân, cho biết ông Vạn Lợi, nguyên hồi kháng chiến chống Pháp, là cán bộ Việt Minh. Tuy nhiên, ngại động chạm đến Lm NBL, thiếu tá Huỳnh Đầm S. quận trưởng quận Kiên Tân, Chủ Tịch UB Phụng Hoàng Quận Kiên Tân, yêu cầu bỏ qua bản tin nầy. Về Lm NBL, tôi sẽ nói thêm vài việc nữa ở phần sau.

Tại các cơ quan chính quyền địa phương, người Bắc người Nam làm việc chung với nhau. Họ cũng không phân biệt người có đạo Thiên Chúa hay không. Xã trưởng, trưởng Cuộc Cảnh Sát, trưởng ấp, người Nam hay người Bắc không phân biệt. Tuy nhiên, dù là người miền nào việc được lòng các linh mục địa phương là cần thiết. Viên chức xã ấp, Cảnh Sát, cán bộ Xây Dựng Nông Thôn, phần đông là người Bắc. Ngại đi lính, người ta xin vào làm ở các cơ quan nầy cho gần nhà và đỡ nguy hiểm. Người Bắc vốn lo xa và tính toán kỹ hơn.

Do những quan hệ trong công việc cũng như làm ăn, buôn bán, v.v… những bữa nhậu chung là cần thiết và thường xảy ra. Gout rượu của dân nhậu ở đây cũng như ở Rạch Giá là Hennessy. Giàu thì uống Hennesssy cổ đen, ít tiền chút đỉnh thì uống Hennessy cổ vàng, bia 33. Ít khi họ uống rượu trắng của ta (rượu đế). Rất nhiều khi họ uống rượu lễ (Rượu vang của các nhà thờ), rượu nếp than và rượu chuối (Chuối lên men). Món nhậu thì người dân trong kinh (Dân Bắc chính cống) thường dùng thịt chó. Vùng xôi đậu Nam Bắc thì nhậu thịt rắn, thịt gà và nhiều nhất là vịt ta hay vịt Xiêm, vịt Xiêm lai, chuột đồng. Họ không ăn thịt cóc như người Miên hay một số dân Gò Công.

Theo phong tục chung thì người Bắc ít ưa thịt rắn, người Nam ít dùng tiết canh. Về Cái Sắn, người ta thấy một sự pha trộn khôi hài. Bây giờ, người Bắc nấu cháo rắn thì “hết sẩy”, và người Nam làm tiết canh, thường là tiết canh vịt không ai bằng. Có nghĩa là vì những bữa nhậu chung, họ họp nhau lại nấu nướng, học hỏi nghề của nhau, và “cướp” nghề của nhau một cách tài tình.

Tôi từng thấy vài bà già người Nam bán rắn còn sống ở chợ. Dĩ nhiên đó là loài rắn độc. Trong cái lồng sắt, mấy con rắn nằm khoanh tròn, lim dim ngủ. Có người đến mua rắn, đưa tay chỉ chỏ, chọn con nầy, con kia. Xong, bà già mở nắp lồng sắt. Mấy con rắn ngóc đầu lên. Bà già đưa tay nắm lấy cổ con rắn khách chọn, lôi cổ nó ra. Tay kia, bà cầm một cây kim may loại lớn, có sẵn sợi chỉ dài. Bà già xỏ xim ngang qua mỏ con rắn, may lại, làm cho con rắn không mở miệng ra được, không thể cắn ai. Con rắn bị may quăn mình lại, quấn quanh tay bà già. Xong, bà ta bỏ con rắn vào một cái giỏ tre nhỏ, đậy nắp lại, đưa cho người mua và tính tiền. Nếu là người không quen, sẽ thấy khiếp! Cả một bầy rắn ngóc đầu lên khi bà già thọc tay vào. Vậy mà không con nào cắn bà ta? Tôi cũng chưa từng nghe ai đi bán rắn mà bị rắn cắn chết. Người ta nói họ có bùa?!

Việc người bắt rắn hay bán rắn có bùa chỉ là điều nghe nói. Họ là người Nam hay người Việt lai Miên, người Tàu lai Miên, (Đầu gà đít vịt). Những người tôi quen biết, chưa ai thấy cái bùa đó bao giờ nhưng người ta cũng tin có bùa. Miền Tây là vùng thuộc Kompong Krom, đất của người Miên ngày xưa, được trao cho các chúa Nguyễn. Người Miên, xứ Miên là xứ sở của bùa phép, nổi tiếng nhứt là bùa cà-tha.

Thật ra, miền Tây là vùng đồng lầy nên có rất nhiều loại bò sát: Rắn, rùa, cần đước, trăn, lươn, v.v… Tới “mùa nước nổi”, rắn không ở hang được. Chúng bò lên cây, nhất là loại rắn ri-ta, bò lên những cây cao. Người ta đi bắt rắn không bằng bùa mà bằng khoèo. Cây khoèo là cây sào dài, đầu có móc sắt. Móc sắt kẹp vào cổ rắn, khiến con rắn không thoát được. Khoèo được con rắn, người ta bỏ vào giỏ sắt hay giỏ tre. Định cư lâu ở miền Nam, người Bắc di cư bắt rắn bằng khoèo cũng rất tài tình.

Ở dinh điền Cái Sắn tìm không ra Việt Cộng. Như tôi đã trình bày, bí thư huyện Châu Thành B là Ba Kiếm. Y chỉ có tên trong hồ sơ trận liệt, còn y thì chết mất đất từ hồi nào, không tin tức, không ai hay biết gì về y; hồ sơ không cập nhật được. Người Nam cũng không theo Việt Cộng, cũng không ưa Việt Cộng. Người ta chỉ muốn yên ổn làm ăn nên ngán Việt Cộng vì Việt Cộng chỉ là bọn… quấy rối!

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 06.07.2008 14:34:22
Phần 31
Trở lại chuyện Dinh Điền Cái Sắn
 Chuyện Dinh Điền Cái Sắn cũng là chuyện dài “Nhân Dân Tự Vệ”, dài dòng văn tự lắm. Tuy vậy, trước khi vào Cái Sắn, xin mời độc giả đi lòng vòng, trước hết là qua xã Tân Hội, rồi sau về xã Mông Thọ, nói chuyện cờ bạc trong Nam.
Dân Nam Bộ mê cờ bạc hết ý. Cách chi cũng đánh, chẳng ngán cò bót, quận tỉnh, lính làng, lính lệ…

Ở xã Tân Hội, cờ bạc là “truyền thống” của xã, đánh bài từ ông xã trưởng cho tới cô con gái nhỏ mười một, mười hai tuổi con nhà nghèo tay làm hàm nhai.

Buổi sáng, ông Bảy Quẹo Nguyễn Văn Quẹo), xã trưởng thức dậy không sớm cũng không muộn. Sau khi đánh răng, súc miệng xong, ông bỏ cái mộc (Gọi là mộc nhưng con dấu xã trưởng làm bằng đồng. Gọi mộc là theo thói quen vì hồi xưa nó được làm bằng mộc) vào túi áo pijama, ra quán caphê làm một cốc “xây chừng” (Càphê đen nhỏ - tiếng Tàu) hay “xây nại” (càphê sữa nhỏ). (“Tài chừng”, “tài nại” (tài là vừa, không lớn không nhỏ. Vùng nầy người Tàu đông, thường nói pha tiếng Việt với tiếng Tàu, hia là anh (thay vì huynh, chế là chị, thay vì tỉ). Đàn ông vùng nầy, thường mặc áo bà ba, quần xà-lỏn. Khá giả thì mặc Pijama, có hai túi trên. Túi ngoài thì để một ít tiền. Túi trong (phải mở hột nút ở ngực mới lấy ra được) là một túi bạc lớn, hàng chục ngàn. Uống caphê xong, ông Bảy Quẹo đi dọc theo con đường xã (Con đường nầy chạy cặp kinh Núi Sập). Xã Tân Hội có bốn ấp nằm dọc con lộ nhỏ nầy. Cứ cách khoảng vài trăm thước thì có một sòng “bầu cua cá cọp” nằm bên đường. Chủ sòng là người trong ấp, đàn ông, đàn bà, con gaí, v.v… có ít đất ruộng. Khách chơi bài gồm đủ hạng, phần đông là đàn bà con nít. Người có máu mê thì ngồi mãi không về, người ít máu mê hơn thì ngồi một lúc rồi về làm việc nhà. Thậm chí có cả những chị, tay bồng con, tay đánh bài. Con nhỏ có khóc thì phát vào đít nó một cái bẹp mắng: “Mẹ mày lên! Tao đang thua.” (Có thể là tao đang “hên” - hên tức là Hưng - phát âm theo Nam Bộ). Bất cứ sòng nào, Bảy Quẹo cũng xệ vào một chút, đánh vài chục, năm chục, vài trăm, tùy theo sòng ăn thua lớn nhỏ. Xong một vòng các ấp, Bảy Quẹo về tới trụ sở xã nằm khoảng giữa bốn ấp cũng đã trưa. Trụ sở xã cũng chẳng có ai. Phó xã, thư ký, hội đồng xã, đều ở nhà, chỉ có một mình Bảy Quẹo tới xã mà thôi. Nếu ai có việc gì tới xã mà không gặp xã trưởng, ra đường hỏi thăm coi ông ở hướng nào, hướng trên (Phía Long Xuyên) hay hướng dưới (Phía Tà Keo) thì tìm tới. Chìa cái giấy ra nói năm điều ba chuyện với xã trưởng chơi trong khi Bảy Quẹo đặt tờ giấy lên bắp đùi ký tên rồi đóng dấu, chẳng đọc tới tờ giấy nội dung nói gì. Người đưa giấy đã nói nội dung cho ông ta nghe rồi, cứ thế ông ta ký tên, không thắc mắc! Nếu cứ để cho xã đánh giặc thả dàn, không cấm, không bắt thì dân xã sẽ bầu ông Bảy Quẹo làm “Xã Trưởng Muôn Năm”, còn hơn cả “Hồ chủ tịch muôn năm” hay “Ngô tổng thống muôn năm”. Thật đấy, người dân địa phương chưa từng thấy “Hồ chủ tịch” hay “Ngô tổng thống”. Họ thấy xã trưởng Bảy Quẹo mỗi ngày. Ông ta vui vẻ, ai cần gì ông giúp nấy thì “muôn năm” ai chi cho xa. Bầu ông ta làm xã trưởng muôn năm là điều người ta thấy rất khỏe. Có lẽ chưa có một chính quyền nào trên thế giới “khỏe” như cái chính quyền nầy!

Bảy Quẹo không ăn tiền dân, thậm chí cả tiền “Phát Triển Cộng Đồng” là tiền chính phủ cho để thực hiện những công tác nhỏ như đắp đường, đắp đập, đào kinh, v.v… Bảy Quẹo không bị mang tiếng. Giữa nhà thầu và ông Phó Quận Lê-Văn G. muốn làm sao thì làm, Bảy Quẹo không quan tâm bởi vì Bảy Quẹo có một nguồn lợi lớn hơn nhiều lắm. Năm ba chục ngàn ăn cắp từ các công trình trên để chia nhau, Bảy Quẹo không liên quan tới. Suốt mấy năm làm xã trưởng, Bảy Quẹo không bị điều tra hay mang tiếng về tham nhũng.

Nguồn lợi lớn của Bảy Quẹo tôi nói ở trên là gì?
Làm ruộng.

Phía tây xã Tân Hội của Bảy Quẹo là đồng Huệ Đức (Quận Huệ Đức - Long Xuyên). Đồng Chó Ngáp so ra cũng chẳng nhằm nhò gì với đồng Huệ Đức. Đồng nầy bị hoang hóa trong chiến tranh. Cũng có nhiều khu vực chưa khai thác. Ai đủ sức thì cứ cày lên mà trồng lúa. Nông dân có máu mặt ở thị xã Rạch Giá cùng dân xã Tân Hội hè nhau làm ruộng ở đây. Ít thì cũng vài trăm mẫu, nhiều thì cả ngàn mẫu. Người nghèo chẳng thèm làm ruộng bởi vì đi làm công cho chủ ruộng cũng đủ ăn chơi bốn mùa.

Tôi nhớ trong “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang”, Sơn Nam có kể chuyện một anh chàng trồng một mùa dưa hấu đủ ăn chơi cờ bạc suốt một năm. Ở đây cũng vậy. Làm vài trăm mẫu, dư sức chơi đùa cờ bạc cả năm. Thấy món lợi lớn, tỉnh trưởng Kiên Giang hồi cuối thập niên 60 đầu thập niên 70, chỉ “hùn miệng” với chủ ruộng, cũng có tiền tiêu. Tới mùa cày, xe máy cày từ Tây Ninh, Long Xuyên về đây cày ì-xèo suốt mùa. Ông thượng sĩ Ng. v. S., trưởng cuộc cảnh sát xã Tân Hội hồi ấy, nói với tôi: “Tôi chỉ cần cung cấp dầu cặn cho máy cày, cũng dư tiền tiêu, khỏi ăn tiền tụi quân dịt quân gà.” (1) “Máy cày chạy suốt ngày đêm, 24 trên 24. Tụi lái máy cày thay nhau cầm lái mới chịu nỗi. “Xe máy cày chạy một ngày một đêm hết một “phuy” dầu di-e-zel. Tui chỉ cần cung cấp dầu cho vài chục xe máy cày là có tiền tiêu.”

Tôi hỏi: “Bên đó cở mấy chục xe máy cày?” Ông ta cười: “Vài trăm.”

Dầu cặn nầy mua đâu ra?

Bà chủ cây xăng ngay tại chợ Kiên Tân đưa cho tôi xem tấm “cạc” to bằng nửa trang giấy tập học trò. Trên góc trái ghi như sau:

Linh Mục Antôn Nguyễn B. L.
Chánh xứ Kinh 1 Hà Nội.
Hiệu Trưởng trường Trung Học Kinh 1 Hà Nội.

Phần còn lại, Linh mục L. viết tay:
"Thưa quý vị. Tôi có chở một số xăng cho nhà chung. Xin quí vị giúp đỡ.”

Ký tên và không đề ngày.

Tấm “cạc” xếp đôi. Chỗ đường xếp gần muốn rách. Điều đó chứng tỏ bà chủ cây xăng xử dụng nó rất nhiều lần để đi đường. Đường bà ta đi là từ đâu đến đâu? Xin thưa: Chở bằng xà-lan, từ kho xăng dầu của Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận quân Khu 4 về tới cây xăng của bà ấy ở chợ Kiên Tân. Từ đó, qua Tân Hội xăng dầu phải chở bằng ghe. Đó là việc của nhiều người, trong đó có thượng sĩ S. như tôi nói ở trên. Không ai dám bắt những xà lan chở hàng trăm “phuy” xăng dầu như thế nầy. Phần nhiều xăng thì cho máy đuôi tôm và dầu cho máy cày. Bắt là đụng đến “Le Roi et trois seigneurs” ở Cần Thơ, là đụng đến bà cô của “Chị Tư Nết” nhà bên kia kinh Cái Sắn, ngang chợ Kiên Tân, là đụng đến “Cha L.”, người mà Nguyễn Tấn Đời, ông Thiệu ông Kỳ khi ra ứng cử đều đáp trực thăng đến thăm ông và chụp hình kỷ niệm. Ai ba đầu sáu tay, ai đội nón sắt, mặc áo giáp, muốn vô thì cứ vô cho biết mùi đời. Trong số những người liên hệ đến vụ xăng dầu nầy, tôi nghĩ thượng sĩ S. là người lương thiện nhất. Ông ta chỉ có cái tội. Chủ ruộng mua dầu của ông vì nể tình ông ta là trưởng cuộc cảnh sát ở xã đó.

Ngoài nguồn lợi làm ruộng, dân Tân Hội cũng như Bảy Quẹo có một nguồn lợi khác cũng khá lớn: Làm cá. Có hai đánh bắt cá: Đặt lợp, giăng câu, cất vó… và đặt chà. Dọc theo kinh Núi Sập (Từ Núi Sập Long Xuyên ra biển, chảy dọc xã Tân Hội), người tặt hàng trăm đống chà. Chà là những cành cây chất thành đống bên bờ kinh để cá làm chỗ ngủ, nghỉ, núp nắng… Muốn đặt chà, người ta phải làm nền, tức là chỗ đáy kinh nền chà phải san phẳng, rồi để chà lên. Tới mùa cá, nhất là khi nước bắt đầu rút, cá từ trên Miên đổ về, chủ nhà vây lưới vớt chà, bắt cá. Vùng Tân Hội là vùng nước lợ (chỗ nước ngọt đụng với nước mặn từ vịnh Rạch Giá lấn vào), cá từ trên Miên theo sông Hậu về, từ nước ngọt đụng nước mặn nên dội ngược lại, tập trung ở đây nhiều, nguồn lợi rất lớn. Đây là loại cá đồng: lóc, rô… còn lươn thì thường bắt ở trong ruộng. Lươn ở đây có con to bằng cổ tay người lớn. Có lần tôi hỏi Bảy Quẹo: Giá mỗi đống chà là bao nhiêu? Bảy Quẹo trả lời: “Hai chục ngàn.” Theo thời giá, hai chục ngàn là bằng lương một sĩ quan đông con.

Mấy ông chủ ruộng nầy “chịu chơi” lắm. Nghe tôi về Cái Sắn, được hơn tuần, Bảy Quẹo tới thăm, trước mặt mọi người, rút đưa cho tôi hai chục ngàn, nói là “Để ông uống càphê chơi”. Tôi đùa: “Uống caphê gì nhiều dzậy ông? Uống sao hết!” Ông ta cười, tính bỏ đi. Tôi hỏi: “Có cần tui giúp đỡ chi không?” Ông ta trả lời ngay: “Không!”.

Ông ta có nhờ đấy. Tới mùa gặt, trưởng ban hành quân nói với tôi: “Đang mùa gặt, mấy ông chủ ruộng xin mình đừng hành quân bên Tân Hội!”.

"Sao vậy?” Tôi hỏi.

Trưởng ban hành quân trả lời: “Tụi nó sợ, bỏ trốn hết, ai gặt lúa cho mấy ổng. Gặt không kịp, lúa rụng hết, mấy chã lỗ to.” Té ra bọn thợ gặt phần đông là bọn trốn “quân dịt quân gà”.

Tám Dè (Vè - Huỳnh Văn Vè), chủ ruộng ở Tân Hội, nhà ở thị xã Rạch Giá, thường hay kéo rê về Kiên Tân và Tân Hội chơi. Nhà ông ta ở Tân Hội là cái nhà tôn nhỏ, còn nhà ông ta ở Rạch Giá là nhà lầu ba tầng. Bên cạnh cái nhà tôn ở Tân Hội, có cái nhà tôn lớn. Đó là nhà chứa máy cày của ông. Ở Tân Hội, khoảng vài chục chủ ruộng có máy cày như ông Tám Vè, chưa kể nhiều người như Võ Văn M. tự Út Giàu có cả xe GMC để chở lúa. Xe nầy chỉ chạy trong ruộng, không cần bảng số công chánh.

Một hôm tôi gặp nạn! Một phái đoàn gần chục người đến thanh tra tôi, lại gợi ý ăn nem chả Kiên Tân nổi tiếng ngon, nhất là tiệm nem chả Kinh B. Thanh tra xong, - cũng chỉ thanh tra chiếu lệ -, tôi mời ra tiệm Tầm Hương Quán là tiệm nổi tiếng ngon ở chợ Kiên Tân. Đãi phái đoàn ăn mà bụng tôi đánh lô tô. Bữa tiệc cũng phải từ 15 đến 20 ngàn, gần nửa lương tháng của tôi. Kiếm đâu ra? Tôi là dân đánh giặc dưới ruộng, ở nhà quê, có gì mà phải sợ ai? Nhưng lâu lâu người ta đường xa về, xin ăn bữa cơm, không lý từ chối, không lý cho ăn cơm muối, bèn bấm bụng chịu trận. Sau khi tôi tiễn phái đoàn đi rồi, trở lại quán hỏi bà chủ bao nhiêu để kiếm tiền trả thì bà chủ nói: “Ông khỏi no (lo – Bà ta người Bắc, còn nói ngọng), có người chả dzồi đấy!” Tôi chưa kịp hỏi ai thì thấy bà ta nhìn ra sân cười. Tôi nhìn theo hướng đó thì thấy ông Tư Dè (Vè) nhìn tôi cười. Lúc nãy, khi tôi vừa đi ra thì ông ta vào trả tiền ngay cho tôi. Ông ta chờ phía ngoài tiệm đã lâu.

Người Bắc và người Nam ở Cái Sắn khác nhau. Hôm tôi nhận sự vụ lệnh về Cái Sắn, anh bạn cùng khóa, gốc Kinh 5, đang cư trú gần Nhà Thờ Hầm ở Saigon, nói với tôi, nói thiệt tình, không phải để hù: “Mày về Cái Sắn phải cẩn thận, dân trong kinh ra bán 10 đồng cá, cất 9 đồng mua vàng, năm chục xu ăn bún riêu, năm chục xu mua tờ giấy trắng chờ viết đơn thưa!” Tôi chỉ cười, tôi không tính tới việc “Cơm cha, áo mẹ, công thầy” để đi kiếm ăn bẩn nên tôi không ngại gì. Việc thưa kiện ở Cái Sắn, cũng có nhiều điều khá vui, tôi sẽ kể sau.

Trong việc cờ bạc, dân xã Tân Hội khá thông minh. Vì chiến dịch, cơ quan công quyền ở đây ra sức dẹp cờ bạc. Các sòng bầu cua cá cọp, lớn cũng như nhỏ, bị dẹp hết. Đó là trò đánh chơi, không quan trọng. Những sòng me của dân “cờ bạc gạo”, cờ bạc chuyên nghiệp, mới là vấn đề. Những sòng bài nầy bị theo dõi rất gắt và không ít người bị đưa ra tòa. Không đánh được trên đất, dân cờ bạc đánh trên ghe. Chiếc ghe thả trôi trên kinh, ai biết đó là ghe đánh bạc mà bắt. Nhưng rồi cũng nhờ dân chúng - Có cái gì mà dấu được dân chúng - lực lượng an ninh giả dân đánh cá, kề sát ghe đánh bạc, tóm gọn. Bấy giờ họ nghĩ ra cách khác: Đám ma, đám cưới, đám giỗ, nhà trước thì trang hoàng, bắt loa, ca nhạc ầm ỉ, v.v…. như mọi người, phía sau là sòng bài. Không lý người ta đang có đám cưới, đám ma và xông vào bắt cờ bạc! Dân không theo thì chính quyền cũng thua.

Ông Út Giàu tôi nói ở trên, có cô con gái đẹp, lại đi học may trên Saigon về, ăn mặc đúng mốt, nhiều người dòm ngó. Cô ta đang mở lớp dạy may tại nhà.

Anh trung đội trưởng nghĩa quân ở xã, có vợ rồi, ngấp nghé nhưng không được người đẹp để mắt tới, bèn quậy chơi. Ngày nào anh ta cũng tới bắt Út Giàu tổ chức nhậu. Phiền quá! bỏ việc làm ăn, Út Giàu cự nự. Anh ta bèn báo cáo về quận Út Giàu tiếp tế cho Việt Cộng. Thực ra, người nào có ruộng trong đồng xa mà không có quan hệ với Việt Cộng. Không đóng thuế - thuế máy cày, thuế nông nghiệp - làm sao tụi nó cho làm ăn. Ở miền Đông Nam Bộ cũng vậy. Vô rừng lấy gỗ, ai cũng phải có quan hệ với Việt Cộng trong rừng. Đó là nói dân chúng bình thường, còn những người làm gỗ cho Đức Cha, bà Cố Vấn thời Đệ Nhứt Cộng Hòa thì sao, tôi không rõ, nói ra mà không có sở cứ dễ bị chụp mũ là bôi bác. Trở lại chuyện Út Giàu, ông ta có quan hệ gì với Việt Cộng cũng là đương nhiên, miễn là ông ta có báo cáo với chính quyền Quốc Gia những gì Việt Cộng bắt ông ta làm. Chính quyền Quốc Gia không bảo vệ được dân, khiến Việt Cộng có bắt họ làm gì thì đó chính là lỗi của chính quyền, không phải là cái “tội” của người dân. Tuy nhiên, ở hạ tầng cơ sở, mấy ai biết điều đó. Thế rồi Út Giàu bị bắt. Tới cơ quan, ông ta chìa ra một cái giấy chứng nhận rằng ông ta là đảng viên Việt Nam Hưng Quốc Đảng của ông Hoàng Cơ Bình. Cô con gái lanh trí, biết cha mình ở vùng xôi đậu nên khi còn ở Saigon đã chạy cho cha cái bùa hộ mạng, lỡ khi chính quyền Quốc Gia có với tay tới cha mình thì cũng đỡ kẹt.

Ở Tân Hội, ngoài việc đánh bài, còn có việc “đánh giặc giả” cũng khá buồn cười. Xã Tân Hội có 4 ấp, ấp cuối cùng phía nam là ấp Phú Hội, giáp ranh với ấp Tà Keo thuộc xã Mỹ Lâm quận Kiên Thành. Tà Keo là nơi Việt Cộng tập kết như tôi nói trong bài trước. Từ xứ Miên qua, quân Cộng Sản, thường là quân Cộng Sản Bắc Việt tập kết ở Tà Keo chờ vượt LTL 8A ở Cây Số 15. Có khi đánh nhau các nơi xong, Việt Cộng cũng rút về đây như tôi có kể trong bài “Chị Sứ - Hòn Đất”. Người chết, bị thương cũng kéo (Cột giây mà kéo trên sình) về đây. Ai chết thì chôn, ai bị thương thì đưa về bệnh viện ở mật khu Trà Tiên. Trước kia thì đưa về núi Mo-So gần nhà máy Ximăng Hà Tiên. Súng ống của người chết, bị thương vất bỏ lung tung, có khi không chuyển kịp, cất dấu bừa bãi, không kỹ. Dân làm ruộng, làm đồng tìm thấy đem về bán cho Quốc Gia, giá rẻ lắm, chỉ có vài trăm, có khi cho không. Để làm gì? Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Cán bộ Xã Ấp, Nhân Dân Tự Vệ, v,v… thỉnh thoảng, để lập công, xin lệnh trên đi phục kích, tấn công vào mật khu, v.v… Gần tới Tà Keo, họ nổ súng, làm như đụng trận thiệt, rồi báo cáo đụng địch, giết được mấy tên, bị thương mấy tên, địch kéo đi mất tích, tịch thu được một, hai vũ khí địch, - tức là mấy cây súng mua của dân nói trên. Thượng cấp đánh điện khen, cấp bằng khen. Đó chính là “Đánh trận giả”. Mấy ông lớn ở xa, kín cổng cao tường, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, biết mẹ gì! Hồi tôi mới về, qua công tác ở xã Tân Hội, bị mấy chả xỏ mũi một lần, một lần thôi, đủ rồi! Sau đó, tôi giang ra, ai làm gì thì làm.

Bây giờ xin kể qua chuyện “Đánh giặc thuê”. Khoảng gần cuối năm 1974, xã Tân Hội bị Cộng Sản chiếm mất sau khi chúng đã chiếm Đặc Khu Hòn Sóc. Lính Sư Đoàn được điều tới, chuẩn bị chiếm lại xã. Ông trung đoàn trưởng hỏi Bảy Quẹo: “Chiếm lại xã xong, ông chi cho tôi bao nhiêu!” Bảy Quẹo lắc đầu! Ông ta không đủ tiền chi. Bảy Quẹo khóc! Vã lại cũng chưa thấy bao giờ có cái chuyện chi tiền lạ lùng như vậy, đành chịu mất nhà, mất ruộng, mất xã cho tới 30 tháng Tư không biết ông lưu lạc về đâu.

Tôi đem chuyện nầy kể với một người là bậc đành anh, cùng quê, đang làm việc ở Cần Thơ, ông ĐT Lê C.V. Ông ta kêu trời: “Thua Việt Cộng là chắc! Thua Việt Cộng là chắc.” Biết là chắc nên 30 tháng Tư, ông ta cùng gia đình lên tàu “dọt” khỏi Cần Thơ trước khi ông Dương Văn Minh đầu hàng. Còn tôi, người trong cuộc, lại chẳng biết mô tê gì để đến nỗi phải đóng tiền đi tù cải tạo. Có phải như vậy là tôi ngu?!

Nghĩ lại, miền Tây có nhiều cái thật lạ! Đi xa rồi cũng khó quên!
hoànglonghải

(1) Sở dĩ thượng sĩ Sâm nói câu đó vì khi tôi đề cử ông qua Tân Hội để thay trung sĩ Nguyễn Văn Hoàng, tôi có dặn: “Tránh làm những việc như ông Hoàng, dù tôi có muốn bao che cũng không được, nhất là những gì liên hệ tới Việt Cộng.” Khi làm trưởng cuộc ở Tân Hội, ông Hoàng bắt tên Quang, trốn quân dịch. Ông ta lột của tên nầy cái đồng hồ đeo tay hiệu Movado - hồi ấy rất có giá - rồi thả y ra. Ức tình, tên Quang trốn vô bưng theo Việt Cộng, sau khi làm đơn tố cáo với chính quyền. Vì lý do đó mà ông Hoàng bị mất chức.

2008-07-03 04:22:36

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 21.01.2009 12:26:30
Chuyện Cờ Bạc xã Mông Thọ


 
Chuyện cờ bạc xã Mông Thọ còn “quái kiệt” hơn xã Tân Hội khá xa. Từ năm 1956, tại Mông Thọ đã có một sòng me khá lớn, mặc dù thời Đệ Nhất Cộng Hòa, “tứ đổ tường” bị cấm ngặt. Sòng me nầy không chỉ có dân Mông Thọ, Kiên Tân tham gia mà còn có dân Rạch Giá, Long Xuyên và cả Cần Thơ, Sadec đi xe hơi về “chung vui”.

Có điều buồn cười, năm 1972, khi tôi về đây thì có dư luận nói rằng tôi là người của Saigon đưa về, không thể để cho sòng me nầy tồn tại nên ông trung tá Nguyễn Kim A., chỉ huy trưởng Cảnh Sát tỉnh Kiên Giang ra lệnh cho đại úy N., đại đội trưởng Cảnh Sát Dã Chiến 415 đem nguyên đại đội vây bắt sòng me nầy, không chừa một mống. Nhiều người bị đưa ra tòa, kể cả xã trưởng, chủ tịch Hội Đồng xã, vài ông thành viên hội đồng, hai ba ông gì đó từ Long Xuyên vào chơi, còn dân Mông Thọ, đàn ông, đàn bà, lóc nhóc một đống bồng con dại ra hầu tòa. Tòa phạt tiền rồi tha, chẳng có ai ở tù.

Có lần tôi bất thình lình ghé lại một cái chòi lá bên đường, kế trường sơ học. Cái chòi trống không, còn sót lại một chiếc đệm bàng, mấy hột nút nhựa để làm “me”. Có một chị đàn bà đang bồng con đứng xớ rớ gần đó. Có lẽ chị nầy cũng là một con bạc vừa mới tan hàng khi thấy tôi xuống xe. Chị giả bồng con đứng hóng mát, chắc để theo dõi tôi có động tĩnh gì không. Sau đó, tôi qua gặp mấy cô giáo đang đứng lớp, than phiền về việc sòng bài mở ngay bên trường học, ảnh hưởng xấu tới học sinh. Gặp ông xã trưởng, tôi lại than phiền việc đó, cũng nói rằng sòng bài gần trường học. Có lẽ chẳng ai quan tâm đến lời than phiền của tôi. Biết đâu họ còn cho tôi nói như thế là lạ. Thượng sĩ Lê Đức V., trưởng ban Hành Quân có lần nói với tôi: “Trẻ con ở đây biết đánh bài khi còn trong bụng mẹ.” Ối trời! Xứ đâu có cái xứ lạ lùng như thế nầy!

Thế rồi ông xã trưởng Tám Đáo, ông hộ, ông biện là chức sắc trong ủy ban xã, cùng ông chủ tịch hội đồng xã đi vận động mở sòng me trở lại. Họ gợi ý với ông biện lý, ông biện lý bảo qua Cảnh Sát tỉnh. Biện lý cho mà Cảnh Sát bắt thì biện lý không thể không truy tố được. Qua xin ông cảnh sát tỉnh, ông tỉnh chỉ về ông cảnh sát quận. Xin ông quận, ông quận chỉ ra lại ông biện lý bởi vì ông biện lý có thể bỏ tù ông quận nếu ông quận bao che sòng bài. Họ đi lòng vòng mấy lần mà không kết quả. Bực mình, thất vọng, họ tìm ra một cách, cứ mở sòng bài bằng cách “khóa miệng” ông cảnh sát xã. Trưởng cuộc cảnh sát xã là thiếu úy Chế Văn Ng. mới học khóa sĩ quan đặc biệt ở học viện ra, còn trẻ, ham chơi, ham vui, ham nhậu. Tất cả những cái ham ấy đưa anh ta vào tròng của mấy ông trùm cờ bạc tại xã một cách dễ dàng. Trước hết, mấy ông đưa tiền cho thiếu úy Ng. tiêu xài. Muốn bao nhiêu có bấy nhiêu! Chi cho em út, cho gái chơi, bao trả hầu hết các buổi nhậu thâu đêm của sĩ quan tiểu khu, chi khu về xã nầy hoạt động trong chiến dịch “hướng về nông thôn”. Thiếu úy Ng. trở thành môt nhân vật nổi tiếng chịu chơi. Ông quận trưởng Huỳnh Đầm S. báo cho trung tá chỉ huy trưởng cảnh sát tỉnh rằng thiếu úy Chế Văn Ng. là người “phi xì-ke”. Ông trung tá chỉ huy trưởng tỉnh hốt hoảng lên, la rầy om sòm: “Trưởng cuộc cảnh sát mà phi xì ke thì còn nói chuyện luật pháp gì nữa!” An Ninh Cảnh Lực gọi thiếu úy Chế Văn Ng. về điều tra. Bấy giờ thiên hạ mới tá hỏa ra rằng mấy tay trùm cờ bạc ở Mông Thọ chơi một đòn độc. Dẫn thiếu úy Ng. vào con đường trụy lạc, khống chế ông ta để mở sòng me trở lại. Nguồn lợi sòng me nầy lớn quá, họ không thể dứt bỏ được. Thiếu úy Chế Văn Ng. khăn gói quả mướp về trình diện quận Hiếu Lễ, nhận chức trưởng cuộc một xã “hữu danh vô thực” vì ngay chính quận lỵ đang bị Việt Cộng bao vây, mười đêm như chục, đêm nào quận cũng bị Việt Cộng pháo kích, đâu còn tính chuyện đi về xã nào làm sao được!

Thế rồi tới kỳ bầu cử lại hội đồng xã.

Vì xã trưởng Tám Đáo cũng như phó xã trưởng đều bị cách chức về tội tổ chức cờ bạc nên ông đại úy D. được tỉnh trưởng chỉ định về làm quyền xã trưởng trong khi chờ bầu cử.

Đại úy D. đang là quyền xã trưởng, tưởng ngon ăn bèn ra ứng cử vào dịp bầu hội đồng xã kỳ nầy. Để kéo thêm phe cánh, ông không tìm được người địa phương - ở địa phương ai là người có thể ra ứng cử được thì một là vì biết mình không phải là dân cờ bạc, làm sao đắc cử được; còn ai là dân cờ bạc, sao có thể theo phe cánh ông Đại Úy D.. Vì vậy, Đại úy D. lôi kéo thêm mấy người ở thị xã Rạch Giá, gốc gác ở Mông Thọ cùng ra ứng cử với ông ta. Trong số những người ở Rạch Giá ra ứng cử chung phe với đại úy D. một người tình cờ tôi gặp là bà nghiệp chủ hãng nước mắm, có lẽ nhà cũng giàu có và bà ta cũng “văn minh”. Gặp tôi bà ta đưa tay ra bắt như người Tây Phương vậy. Hỏi ra, bà ấy trước kia là dân Tây, học trường “đầm”, con một ông chủ điền lớn ở Cái Sắn. Thời Việt Minh nổi lên, gia đình bà phải chạy ra trốn về Rạch Giá.

Vậy rồi đại úy D. cũng như phe của ông đều thất cử, thất cử với số phiếu rất thấp. Ai đắc cử? Dĩ nhiên là phe cờ bạc! Tám Đáo, ba Khánh là hai tay đầu bầy, đắc cử với số phiếu khá cao, lại ra làm chủ tịch xã, chủ tịch hội đồng xã, lại mở sòng bài. Lúc ấy thì tôi đã rời Cái Sắn rồi.

Ở đây tôi thấy một việc mà tôi chưa từng gặp hay nghe nói trước kia. Có lẽ vì tôi là dân thành phố, không rành việc nầy. Đó là “Bán lúa non.” Người làm ruộng bán lúa theo từng giai đoạn: Lúa mới lên, lúa thì con gái, lúa chín, sắp gặt. Bán càng sớm thì giá càng rẻ. Gần tới khi lúa chín mà bán thì giá cao hơn vì ít có cơ gặp xui xẻo. Mua khi lúa mới mọc, người mua dễ thua, trắng tay vì mất mùa, hạn hán, v.v... Người làm ruộng bán lúa non vì nhiều lý do: Cần tiền để lo ma chay, đám hỏi, đám cưới, v.v… và nhất là bán lúa non đẻ đánh bạc. Làm ruộng năm ba chục mẫu, một vài trăm mẫu, túng tiền đánh bạc, bán bớt vài ba hoặc năm bảy chục công. Càng thua, nóng gỡ gạc, bán càng nhiều, có khi tới mùa, chỉ còn đưa mắt nhìn người ta gặt lúa của mình. Bán hết rồi, còn đâu! Mùa tới lại đi vay, “làm lại cuộc đời”, như câu tôi thường nói đùa về họ.

Người có tiền, có thể vừa để cho vay, vừa mua lúa non. Ai có lúa đem bán non, họ mua; tới mùa họ kêu người gặt, đúng là “nhất bản vạn lợi”.



lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 21.01.2009 12:31:17
Cây Số 15


 
Cây Số 15 thuộc ấp Hòa Bình, xã Mông Thọ, là một đoạn đường trên LTL 8A, cách Rạch Giá 15Km, thuộc xã Mông Thọ, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang. Từ hướng Long Xuyên đi về Rạch Giá, bên phải Cây Số 15 là ấp Tà Keo, xã Mỹ Lâm, quận Kiên Thành, bên trái là Kinh Nước Mặn, kế xã Giục Tượng, cũng thuộc quận Kiên Tân. Việt Cộng sau khi vượt qua Cây Số 15, theo Kinh Nước Mặn, đi về hướng Kiên Bình, xuống Miệt Thứ (Xin xem lại trong bài Chị Sứ - Hòn Đất), về hướng quận Hiếu Lễ, về U-Minh, mật khu Việt Cộng.

Như tôi đã nói trong bài trước, quân Cộng Sản Bắc Việt từ Kampuchia qua mật khu Trà Tiên, di chuyển dọc theo kinh Kháng Chiến, tới Tà Keo thì dừng lại, chờ tình hình thuận tiện sẽ vượt qua Cây Số 15. Tiến trình chuyển quân nầy chỉ có đi mà không về, có nghĩa là quân từ Kampuchia qua, bắt buộc phải vượt Cây Số 15 để tiến về U-Minh. Chúng không thể dừng lại ở Tà Keo lâu vì rất nguy hiểm, có thể bị quân đội Cộng Hòa tấn công, bị pháo kích và nhất là thiếu tiếp tế, không đủ cơm gạo để trú ẩn lâu dài. Khi quân Việt Cộng về đông, những gia đình có liên hệ với Việt Cộng ở xã Mỹ Lâm, ở Nam Thái Sơn được vận động nấu bánh tét để tiếp tế cho bộ đội. Nhà nào nấu bánh tét nhiều mà không có kỵ giỗ gì cả, có nghĩa là nấu bánh tét tiếp tế cho Việt Cộng. Việc nầy, chỉ có thể nhờ đồng bào (Tình báo nhân dân) báo cho biết. Những gia đình nấu bánh tét, họ không cất dấu trong nhà. Họ buộc bánh tét lại với nhau rồi dòng xuống kinh, vừa che mắt Quốc Gia, vừa giữ bánh tét cho được lâu vì dưới đáy kinh, nhiệt độ thấp, lạnh, bánh khỏi bị hư. Tập kết ở Tà Keo ít hôm, rồi Việt Cộng cố sống cố chết vượt qua Cây Số 15, hướng về U-Minh.

Trước khi quân Mỹ tham chiến (Cũng như sau nầy khi Mỹ đã rút quân), Hải quân VNCH chưa phát triển (Sau hiệp định Genève 1973, có phát triển cũng bằng không vì bị hạn chế dầu, tàu bè nằm ụ một chỗ), Cộng Sản Bắc Việt tiếp tế vũ khí, đạn dược cho U-Minh bằng đường biển. Ghe Bắc Việt giả dạng như ghe đánh cá miền Trung (Cũng thường vào đánh cá ở vịnh Thái Lan), từ ngoài bắc vào quanh quẩn ở hải phận quốc tế. Khi tình hình ở U-Minh yên ổn, không có quân đội Cộng Hòa hành quân, không có tàu Hải quân tuần tiểu, Việt Cộng ở đây, bằng phương tiện của họ, “báo cáo lên trên”. Vậy là đài phát thanh Hà Nội cho phát ra một bản nhạc đã qui định trước. Ghe Bắc Việt khi nghe bản nhạc đó liền từ từ tiến vào bờ. Trên bờ biển U-Minh có cả chục cửa sông. Theo dấu hiệu, ghe vào bờ và cho chuyển hàng hóa xuống. Đây chỉ là con đường vận chuyển hàng hóa quân sự, còn vận chuyển người, phải theo đường giây 1-C.

Đường giây 1-C có từ cuộc chiến tranh trước (1945-54). Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1960-75) con đường nầy thay vì đi xuyên qua Dinh Điền Cái Sắn thì phải bẻ ngoặt xuống hướng xã Mông Thọ, vượt qua LTL 8A ở Cây Số 15. Chỗ nầy, Cây Số 15 là chỗ thắt họng quân Việt Cộng.

Khi tôi về phục vụ ở Cái Sắn, cứ vài đêm lại nghe báo cáo Việt Cộng vượt qua Cây Số 15, từ hướng Tà Keo, về xã Giục Tượng. Trách nhiệm là trách nhiệm chung: Tiểu khu, Chi khu, Cảnh Sát Đặc Biệt, Võ Trang Tuyên Truyền, Thám Sát Tỉnh… hơi đâu mà lo!

Thế rồi có lệnh khiển trách, nhất là sau khi tướng Nam thay tướng Nghi.

Việt Cộng muốn vượt qua lộ, phải có giao liên. Vậy trước hết, phải quét cho sạch giao liên, Việt Cộng sẽ gặp khó khăn. Vậy là các cơ quan an ninh có trách nhiệm họp bàn, lật hồ sơ nghiên cứu: Hồi chánh viên, Cựu can phạm, gia đình có thân nhân thoát ly ở trên đoạn Cây Số 15, ai bị hồ nghi là “vớt” về, điều tra, khai thác. Nhất là trong chiến dịch F-6, sau khi ký hiệp định Ba-Lê 1973, “vớt” không ít người vì chỉ cần có một bản tin là đủ, không cần phải có đủ ba bản tin như thường lệ. Vậy mà Việt Cộng cứ qua sông. Bên nầy sông, phía lộ, không nhà nào treo đèn, ra dấu hiệu có hay không có Quốc Gia phục kích thì bên kia kinh, Việt Cộng đâu dám qua. Vậy mà nó vẫn qua. Lạ nhỉ?! Thế rồi một đêm Việt Cộng vượt qua ngay nhà anh tài xế của tôi. Vậy là tài xế nầy Việt Cộng nằm vùng, hoặc gia đình nó làm giao liên cho Việt Cộng. Xem đi xét lại, không thể, không thể có chuyện đó. Không phải vì nó là tài xế của tôi mà tôi bênh nhưng các bên có trách nhiệm cũng suy nghĩ như tôi. Chỉ có thể có một kết luận: Tụi nó liều mình vượt qua Cây Số 15.

Một bữa lính tôi đi phục kích. Thay vì phục ngay Cây số 15 thì trung đội trưởng cho dịch lên phía trên một chút. Ấy là đã đi phục kích mà còn sợ đụng địch. Tránh xa một chút để “Quân ta rút lui hoàn toàn vô sự”. Nhằm bữa đó, Việt Cộng cũng vượt lộ dịch lên phía trên một chút, tránh ngay Cây Số 15 để khỏi đụng với Quốc Gia. Ấy là “Thiên bất dung gian”, hai bên “Tao Ngộ Chiến”. Nửa khuya, một anh lính tôi đang nằm trên võng, mơ mơ màng màng, bỗng có một bóng đen đầu đội nón cối tới sát bên, cúi xuống hỏi: “Sao đồng chí…” Chưa dứt câu thì lính tôi nổ súng vì anh ta đã mở khóa an toàn sẵn và đang kẹp súng bên hông. Tên Việt Cộng ngã xuống và rồi súng hai bên nổ như bắp rang. Việt Cộng vừa bắn hoảng vừa chạy qua lộ. Lính tôi thì rải đạn như mưa, bất phân trúng trật, miễn sao thời gian qua cho lẹ rồi rút quân về. Tên Việt Cộng bị giết, ngã xuống tại chỗ, để lại cây AK báng xếp. Súng bị quân ta tịch thu. Trung đội trưởng yêu cầu tôi đề nghị thượng cấp ban khen cho anh lính lấy được súng. Tôi thấy câu chuyện có vẻ khôi hài bèn nói: “Chuyện nầy như chó ngáp phải ruồi, phải chi gan lì mới hay! Không lý tôi ghi trong phiếu trình rằng anh ta “chiến đấu anh dũng, kiên cường dũng mãnh” nên lập được chiến công.” Tuy nói vậy, tôi cũng nói với ban nhân viên lập phiếu đề nghị khen thưởng cho anh ta.

Trước khi tướng Nam làm tư lệnh quân khu, việc ngăn chận quân Việt Cộng qua lộ 15 chỉ thực hiện tà tà. Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, Cảnh Sát, Võ Trang Tuyên Truyền thỉnh thoảng phục kích kiếm công tác. Hễ lực lượng Việt Cộng ít hơn, ngang bằng, “ăn” được thì nổ súng. Hễ tụi nó đông quá, cấp tiểu đoàn hay hơn thì nằm im, chém vè, v.v… Tôi cũng có lần “nằm im” chịu trận như vậy.

Trong các lực lượng phục kích ở đây, trung đội Võ Trang Tuyên Truyền của Ty Chiêu Hồi hoạt động tương đối có kết quả vì phần đông họ là “dân chiêu hồi” nên rất rành rẽ phương hướng, cách thức di chuyển, hoạt động của Việt Cộng. Do kinh nghiệm đó, họ có những chiến thuật, cách phục kích rất hữu hiệu. Tuy nhiên, so với lực lượng Thám Sát Tỉnh (Prou), họ còn thua. Một hôm tôi gặp Ba Hà ở Mông Thọ, ông ta đang ngồi uống caphê, chờ ai đó… Ba Hà là đại úy đồng hóa, chỉ huy Thám Sát Tỉnh. Thám Sát Tỉnh là một lực lượng ăn lương Mỹ, được Mỹ trang bị vũ khí và khí cụ quân sự khá hiện đại, nhưng thuộc hệ thống Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát tỉnh. Kể về kinh nghiệm chống Cộng thì Ba Hà khó đứng sau thiên hạ. Thời tổng thống Ngô Đình Diệm, ông ta là xã trưởng xã Đức Phương (Vàm Rầy), quê hương cha con ông chủ Ry và chị Tư Nết. Từ đó, ông ta đi dần lên, chỉ huy đơn vị Thám Sát Tỉnh, đồng hóa “loon” đại úy nhưng không bao giờ ông ta đeo “loon” hay mặc quân phục. Thám Sát Tỉnh là lực lượng hầu hết là Việt Cộng hồi chánh, còn trẻ, gan dạ, kinh nghiệm như số lính bên Trung Đội Võ Trang Tuyên Truyền nhưng đánh giặc chì hơn, ngon hơn.

Biết nhau từ những lần họp hành, gặp Ba Hà, tôi hỏi:
-“Anh tính lang thang vô đây mần tụi nó hay sao?”

Ba Hà cười:

-“Chỗ nầy không ngon. Tui cho lính tui vô tuốt trỏng.”

Vừa nói, Ba Hà vừa đưa tay chỉ về hướng tây, hướng Tà Keo.

Thế rồi Ba Hà cho lính vào Tà Keo thật. Không cần đông, chỉ năm bảy lính. Họ giả trang Việt Cộng, mặc bà ba, mũ tai bèo, mang hồng ngoại tuyến, mìn claymore, v.v… Nhờ hồng ngoại tuyến, họ thấy và tránh xa những điểm gác của Việt Cộng, rồi lẻn vào tận bên trong. Cả đám nón cối, nón tai bèo đang mắc võng nằm ngủ (Dưới đất toàn là nước và sình). Thám Sát Tỉnh gài mìn claymore, gài giờ nổ, rồi rút ra xa ngồi chờ. Thế rồi bên trong mìn nổ ì xèo, bọn Việt Cộng canh gác phía ngoài thấy bên trong bị tấn công cũng chém vè, chạy luôn. Ngày hôm sau, Thám Sát tỉnh ngồi chờ dân đi làm đồng về báo cáo cho hay: Áo quần, mũ nón, balô bay tung lên ngọn tràm, võng không kịp tháo, máu me tùm lùm. Việt Cộng phải rút ngược về kinh Kháng Chiến, chờ ở đó vì Tà Keo, điểm tập trung đã bị động ổ. Có lẽ trận nầy, Ba Dũng (Nguyễn Tấn Dũng) cũng hoảng hồn, chạy trối chết.

Sau nầy tôi còn gặp Ba Hà một lần nữa, tại Đức Phương. Ba Hà và tôi đọc bản đồ, chấm toạ độ chỗ Việt Cộng đang dừng quân trong rừng tràm để cho đơn vị Thám Sát vào quấy rối hoặc báo cho Biệt Khu 42 Chiến Thuật cho pháo chụp.

Ba mươi tháng Tư /75 Ba Hà kéo vô rừng, thế chỗ Việt Cộng, không chịu đầu hàng theo lệnh Dương Văn Minh. Ông ta cùng lính tráng, hợp với lực lượng của trung tá Thảo Hà Tiên, quần nhau với Việt Cộng mấy trận nữa. Có người nói với tôi khi bọn Khmer Đỏ tấn công nhà máy Ximăng Hà Tiên, có mặt Ba Hà trong lực lượng chúng. Điều nầy không chắc lắm, nhưng kể từ khi Cộng Sản Việt Nam tấn công qua Phnom Pênh năm 1979 thì ở Kiên Giang không ai còn nghe tin tức gì về Ba Hà và cả trung tá Thảo nữa.

Trở lại chuyện Cây Số 15, khi không còn hạ tầng cơ sở, không còn giao liên, Việt Cộng liều mạng vượt qua lộ. Bấy giờ bọn chúng không di chuyển ít người, dễ bị Quốc Gia phục kích. Hễ mỗi lần vượt lộ là chúng vượt hàng trăm, ít thì vài ba trăm, nhiều thì năm bảy trăm. Nhìn dấu ghe in trên mặt lộ khi chúng kéo ghe qua lộ có thể đoán lực lượng địch hôm qua di chuyển qua đây là bao nhiêu bởi vì vùng nầy là vùng nước và sình, Việt Cộng phải di chuyển bằng ghe. Tụi nó cũng khôn, trước khi vượt lộ , chúng trải một tấm nylon lớn từ bên nầy qua bên kia mặt lộ. Qua xong, cuốn tấm nylon đem cất, không để dấu vết làm sao biết chúng đông ít. Dễ thôi, không nhìn trên mặt lộ thì nhìn hai bên bờ lộ, chúng cũng để lại dấu tích vậy. Không phải Việt Cộng để dấu ghe lại một chỗ mà nhiều chỗ, trên một đoạn đường dài. Cứ nhìn dấu một chỗ mà đoán bao nhiêu ghe, mỗi ghe khoảng năm bảy tên. Cứ thế mà nhân lên.

Khi đơn vị Cộng Sản Bắc Việt tới Tà Keo và chuẩn bị vượt lộ, chúng phải theo sự hướng dẫn của du kích, hạ tầng cơ sở xã Mỹ Lâm, dĩ nhiên trong số có Ba Dũng. Khi tới bờ kinh Cái Sắn, phía bên kia, du kích chia làm hai toán, mỗi toán khoảng ba bốn tên. Chúng cởi quần bà ba, nhúng ướt làm phao để bơi qua kinh, rộng khoảng 30 mét. Một toán bơi lên phía trên làm nút chặn phía trên, toán thứ hai ở phía dưới. Nếu thấy êm, chúng ra dấu hiệu cho “đại quân” vượt qua lộ ào ào, phải nhanh chớ không thì nguy hiểm.

"Quân ta” phục kích, thấy Việt Cộng đông quá thì nằm im. Nhưng chờ khi chúng qua xong thì gọi máy báo về chi khu Kiên Tân. Chi Khu đoán chừng Việt Cộng đang di chuyển ngang qua đâu thì cho pháo chụp. Không ít lần chụp trúng ngay đầu chúng. Một lần hoảng quá, Việt Cộng chạy tán loạn, một toán chạy vào trốn ở nhà thờ Kinh 7, thuộc xã Thạnh Đông, gần xã Giục Tượng. Buổi sáng sớm, trời chưa rạng, giáo dân đi nhà thờ, đang cầu kinh thì Việt Cộng vô chiếm nhà thờ. Bọn chúng không bắt ai hết, chỉ kiếm… cơm ăn. Thế rồi quân ta kéo tới, bao vây phía ngoài lộ LTL 8A, để hở phía Thạnh Tây cho Việt Cộng rút lui. Vây kín quá, “ngựa tới đường cùng, đá ngược”, hao quân. Đồng thời cho pháo binh bắn cầm chừng, khủng bố tinh thần chúng. Linh mục kinh 7, ông nầy còn trẻ lắm, từ nhà thờ kinh 7 lội ra, than phiền rằng nhà thờ bị pháo, “hư hết!” Hư hết là nói thêm vào để nhà thờ đừng bị pháo chứ hai cây súng 105 ly đặt ở kinh 8 đã được lệnh chỉ pháo vòng ngoài nhà thờ, phía ruộng mà thôi. Tôi nói với ông linh mục trẻ: “Ông tỉnh trưởng đang ở ngoài lộ. Cha ra khiếu nại với ông đi! Ty Xã Hội sẽ “bồi thường chiến tranh” cho.”

Hồi đó, Mỹ có cho Ty Xã Hội quỹ “bồi thường chiến tranh”, ngon lành lắm. Hễ nhà nào bị pháo kích hư hại, không cần biết bên ta hay bên địch bắn, Ty Xã Hội sẽ bồi thường 40 ngàn và 20 tấm “tôn” lạnh, loại của Úc. Nhà dân còn thế, huống chi nhà thờ, chắc sẽ bù cao hơn. Ông linh mục chỉ có lời, không có lỗ.

Cũng vì việc “bồi thường chiến tranh” kiểu nầy mà ghế trưởng ty Xã hội bị người ta tranh nhau dữ và vài ba ông trưởng ty bị mất chức. Ở Hòn Chông (Chùa Hang) thuộc xã Bình Trị, chẳng hạn. Ty Xã Hội và xã trưởng Bình Trị (Hòn Chông) Nguyễn Vĩnh X. phát tiền bồi thường chiến tranh cho dân. Thay vì 40 ngàn thì người dân chỉ nhận có 35 ngàn, trừ 5 ngàn để phái đoàn “ăn trưa và giải khát.” Dĩ nhiên người dân ký nhận 40 ngàn và cũng OK vì tiền nầy coi như tiền trên trời rớt xuống. Thay vì 20 tấm “tôn” lạnh thì dân chỉ nhận 16, hoặc 17 tấm vì “tôn chưa về kịp”, để “dịp sau” phát tiếp. “Dịp sau” cũng tương tự chuyện “Mai Ăn Khỏi Trả Tiền” trong sách 100 bài tập đọc lớp Nhì lớp Nhất hồi học ở Tiểu Học.

Dĩ nhiên, hôm đó, nửa khuya, Việt Cộng rút đi. Thế mà cũng chưa xong. Vài tháng sau, họp “lượng giá ấp” ở tỉnh. Ấp Kinh 7 thuộc xã Thạnh Đông, quận Kiên Tân đang từ loại A (không có Việt Cộng, không có chiến trận), bỗng tụt xuống loại D, hạng bét, xã Thạnh Đông bị mất điểm.

 
 

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 21.01.2009 12:36:42
34. Trở lại chuyện Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng
 

 
Không rõ có ai ở tỉnh Kiên Giang và xã Mỹ Lâm vui mừng khi nghe tin ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng, nhưng có lẽ không ít người thất vọng. Người ta không có định kiến gì về một ông thủ tướng nguồn gốc là một du kích xã. Gốc gác bình thường mà làm tới vua chúa là chuyện đã từng xảy ra trong lịch sử. Hồi nhỏ, tôi đã từng học: “Ông Mạc Đăng Dung làm nghề đánh cá ở đất Hải Dương” (bài thầy giáo tôi trích trong “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim). Lãnh tụ Cộng Sản, chóp bu như Hồ Chí Minh, gốc gác cũng là dòng dõi “lạc vất, lạc vơ” (Tiếng Huế) bởi vì ông nội ông Hồ là con “lộn sòng” của ông Hồ Sĩ Tạo. Thân phụ ông ta, Cộng Sản tô vẽ là người “từ quan chống Pháp”. Thực chất là quan tri huyện Bình Khê bị cách chức vì tội “Say rượu đánh chết dân”. Ngay bản thân Nguyễn Sinh Cung cũng chỉ là anh học trò lớp ba trường tiểu học Đông Ba (Mấy “ông” ngoài Bắc vẽ vời thành học sinh trường Quốc Học). Nói chung, tổ tiên ta nhận xét bằng một câu khá đau: “Sâu bọ thành người”.

Dù gì thì Nguyễn Tấn Dũng, dù chỉ tốt nghiệp bậc tiểu học ở thị xã Rạch Giá (Thời kỳ ông ta học ở đó, đã có lệnh bỏ thi bằng tiểu học. Học trò, người nào đủ điểm thì được cấp bằng), dù là du kích xã Mỹ Lâm, ông ta đã tiến rất nhanh trên hoạn lộ, cũng chứng tỏ ông ta, dù ít dù nhiều, cũng là người “tài ba”. Tuy nhiên, tổ tiên chúng ta lại nói: “Đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy” hoặc là “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Dù có mặc áo cà-sa cũng chưa có thể thành ông bụt. Tục ngữ Tây nói “Cái áo không làm nên ông thầy tu” cũng cái ý như vừa nói. Mặc áo giấy cũng chưa hẵn là ma vì áo cà-sa hay áo giấy cũng chỉ là cái bề ngoài, có thể nội dung chưa thay đổi. Câu tục ngữ sau đây sâu sắc hơn: “Gần mực thì đen…” ấy là nói thay đổi cả nội dung lẫn hình thức

Vậy thì ông Nguyễn Tấn Dũng, mấy chục năm nay, kể từ khi ông ta vào làm du kích xã Mỹ Lâm thì ông ta đi với ai?

Tổng thống Ngô Đình Diệm có một chữ gọi Cộng Sản rất hay là “Cộng phỉ”, tức là “Cộng Sản thổ phỉ”. Tự Điển Hán Việt Đào Duy Anh giải thích thổ phỉ là giặc cỏ, tức là bọn giặc nhỏ, cướp giựt ở đầu xóm, cuối làng, hoặc đón người, chặn xe đòi tiền mãi lộ, tương tự như tướng cướp Phong Lai trong truyện Lục Vân Tiên, bị Lục Vân Tiên đánh cho một gậy chết tươi. Cái bản chất thổ phỉ của Cộng Sản hiện rõ lắm. Ngày trước, chúng nó thổ phỉ như thế nào, xin độc giả chờ, tôi sẽ giải thích. Tôi là người đánh giặc ở miền quê, miệt vườn, miệt ruộng, nên tôi “rành sáu câu” về bọn thổ phỉ nầy. Lần đầu tiên, đọc một cái thư của huyện ủy Hà Tiên, gởi cho ông Chín Vĩnh (Hồ Văn Vĩnh), chủ lò vôi ở Hà Tiên, sau khi Việt Cộng bắt ông Năm Thanh, anh ruột ông Chín Vĩnh để đòi tiền thuế, - thực chất là bắt cóc đòi tiền chuộc -, thấy trong thư bọn chúng tự xưng là “Cách mạng” tôi bật cười to! Bọn nầy là cách mạng thực sao? Những bài sau, trong loạt bài “Kể Chuyện Đánh Giặc ở Quê Hương Nguyễn Tấn Dũng”, tôi sẽ kể lại quí độc giả xem cho biết việc chúng thu thuế, đòi tiền - bắt cóc đòi tiền chuộc - ở nhà quê như thế nào, có phải là thổ phỉ hay không!

Ông Ngô Đình Diệm khi gọi chúng là Cộng phỉ là không đánh giá cao chúng, chúng chỉ là giặc cỏ, còn thua xa Hoàng Sào, người có nhắc lại trong truyện Kiều qua câu: “Ngàn năm ai có khen đâu Hoàng Sào” hay quận He (Nguyễn Hữu Cầu) một tướng cướp nổi danh thời Lê Trịnh.

Tôi có nói cái bản chất thổ phỉ của Cộng Sản Việt Nam nó hiện rõ lắm. Ngay như thời bao cấp của “chúa đảng Lê Duẫn”, việc “ngăn sông cấm chợ”, “thủ tục đầu tiên” khi tới cơ quan xin việc gì, tất cả mọi việc người dân phải lòi tiền ra, hoặc thất thân (Nói trắng ra là đàn bà con gái phải ngủ với với cán bộ) đều là việc y chang như bọn giặc cỏ trong truyện Tàu.

Đó là nói bọn hạ tầng cơ sở, bọn ở xã, huyện. Còn bọn ở tỉnh, ở trung ương thì sao? Hồ Chí Minh là một tên Sở Khanh, mà còn độc ác hơn Sở Khanh. Sở Khanh chỉ gạt Kiều để Tú Bà đánh đập Kiều khiến Kiều chịu tiếp khách, làm đĩ. Hồ Chí Minh ngủ với Nông Thị Xuân đến có con (Thằng nầy tên là Vũ Trung - Con nuôi Vũ Kỳ. Tên thiệt của Vũ Trung là Hồ Chí Trung hay Nguyễn Tất Trung cũng là chính y) rồi để cho Trần Quốc Hoàn hiếp Xuân, xong đem thủ tiêu. Tội nầy do Hồ Chí Minh là chính, là thủ phạm. Nếu Hồ Chí Minh yêu Nông Thị Xuân thực sự, đầu gối tay ấp, coi như vợ, dù không chính thức, thì Hoàn đâu dám làm bậy với Xuân, lại còn đem thủ tiêu cho vừa ý Hồ. Nếu Hồ lắc đầu, Hoàn có dám giết thị Xuân hay không? Chẳng qua, Hồ Chí Minh và cả Trần Đăng Ninh là người dắt gái cho Hồ theo lệnh của bộ chính trị, thì chung lại, Hồ là tên Sở Khanh, Trần Đăng Ninh là tên ma cô, và cả cái bộ chính trị lo việc dắt gái cho Hồ cũng là những tên ma cô, “bộ chính trị ma cô” hết. Chúng nó biến Nông Thị Xuân thành một con đĩ vì đĩ thì nay ngủ với thằng nầy, mai ngủ với thằng kia. Cứ nghe ông Việt Thường nói chuyên với Tường Thắng trên V.N.Exodus mới thấy khủng khiếp cho cái đám người mà ông Nguyễn Tấn Dũng chui đầu vào đó:

Cù Thị Hậu phải ngủ với cả chục thằng để nắm cho được chức chủ tịch Tổng Công Đoàn.

Nguyễn Thi Hằng ngủ với Xuân Thủy mới mò lên tới chức phó thủ tướng.

Vậy thì Nguyển Thị Bình ngủ với ai, Lê Duẩn hay Đỗ Mười để làm bộ trưởng “bộ (Vô) Giáo dục”, sau lên phó chủ tịch nước.

Thằng Bảo Định Giang làm gì với hai mẹ con cô ca sĩ ở Hà Nội, nay đang ở Cali, mà ông Việt Thường không tiện nói thật tên ai.

Hoàng Tùng ngủ với vợ Thép Mới, phó của Hoàng Tùng khiến Thép Mới bỏ vợ, v.v… Những chuyện bỉ ổi đó, người Miền Nam xa cách không biết rõ nhưng dân Hà Nội biết như biết chuyện nhà.

Nguyễn Tấn Dũng trưởng thành, chín mùi sự nghiệp trong cái đám bỉ ổi xấu xa đó. Vậy ông ta là người như thế nào? Thủ tướng trước Dũng là Phan Văn Khải. Khải là người tốt hay xấu. Chắc chắn là xấu, chỉ là xấu tới bực nào mà thôi. Phan Thanh Hoàng là con Phan Văn Khải, hiện là 1 trong 8 người giàu nhất Việt Nam. Do đâu mà Phan Thanh Hoàng giàu như vậy, có núp bóng Khải hay không? Khải cho bao che cho không? Hoàng (con) giàu có lên chừng nào thì cái tư cách, phẩm giá của Khải (cha) xuống thấp chừng đó. Hai cái đó tỷ lệ nghịch và là một điều khẳng định. Một người làm quan cả họ được nhờ. Tinh thần, lề thói của người Việt là vậy, huống gì đây là cha con!

Khi Phan Văn Khải làm thủ tướng, Dũng là phó. Trưởng và phó có đi chung một bè hay không? Người ta lại nói, cuộc đời Dũng lên nhanh cũng là nhờ Lê Đức Anh. Anh là người làng Bàn Môn, huyện Hương Thủy, tỉnh Thưa Thiên, gốc là cai đồn điền cao-su Phú Giềng, là người bị thiên hạ chê dữ lắm và hiện y đang nắm ngành an ninh của chế độ Cộng Sản Hà Nội. Người ta cũng nói Dũng là người thân Tàu!

Thôi! Hãy cứ cho Dũng là người tốt đi. Tốt theo cái nghĩa hạn chế: Không tham nhũng. Đó là chưa nói tới những khía cạnh khác của vấn đề mà người dân cần ở ông Dũng như tiến bộ, có tư tưởng dân chủ, khuynh hướng tự do, chấp nhận “đa nguyên đa đảng”. Chỉ nói một việc không tham nhũng (như người ta khen) và chống tham nhũng (như người ta hy vọng) thì Dũng sẽ làm được gì?

Muốn chống tham nhũng, ngoài ý chí, quyết tâm, trên phương diện thực tế, người lãnh đạo chống tham nhũng cần có luật pháp mà phải là luật pháp nghiêm minh, người phạm tội phải bị nghiêm trị. Nghiêm minh, nghiêm trị, v.v…. tất cả đều phải dựa trên luật pháp.

Luật pháp mà ông Dũng muốn dựa vào đó để nghiêm trị những kẻ tham nhũng thì hiện nay ở Việt Nam… không có. Nói trắng ra, như người ta thường nói là ở Việt Nam bây giờ không có luật pháp. Không có luật pháp đã đành mà dân chúng không có tinh thần tôn trọng luật pháp. Điều đó, so với những xã hội văn minh ngày nay, nó rất khác xa.

Nói tới việc tôn trọng luật pháp thì nhà nước, viên chức, cán bộ phải làm gương. Nói như vậy, có người sẽ cười tôi. Chính bọn viên chức, cán bộ, từ trung ương đến địa phương, chẳng ai, chẳng nơi nào tôn trọng luật pháp. Nói vậy cũng là nói chung chung, mơ hồ. Có lẽ tôi nên đưa ra một vài trường hợp điển hình, không phải của một cá nhân mà của cả chế độ.

Chẳng hạn như vụ ông bà Hoàng Minh Chính về Việt Nam sau khi trị bịnh ở Mỹ. Nếu ông Hoàng Minh Chính làm điều sai, cứ lôi cổ ra tòa, tòa xử, mắc mớ chi phải chơi trò xã hội đen, cho người xông vào hành hung, đập phá, bôi phân vào nhà người ta. Ở Mỹ, thấy việc đó xảy ra, người ta “cười thối mũi vì mấy thằng Việt Cộng” (Lời của một người bạn tôi).

Nhớ hôm Kenett Star hạch tội Bill Clinton vì anh nầy léng phéng với Lewinsky, mặt mày Bill cố giữ bình tĩnh thấy rõ, nhưng nhìn kỹ, người ta thấy bàn tay Bill … run. Tổng thống nhất thiên hạ đấy, nhất là vì nước Mỹ giàu nhất, mạnh nhất thiên hạ. Vậy mà Bill còn phải run. Cố sống cố chết mà nói “Tôi không có quan hệ gì với woman ấy” mấy bữa sau lại xin lỗi vì đã nói dối. Việc là việc tào lao, vì gái, chỉ là mấy anh đảng phái chơi nhau, không có chi quan trọng cả nhưng tổng thống cũng… run. Tổng thống cũng không ngồi trên luật pháp được. Ấy là nói xứ có luật pháp (Dân chủ pháp trị).

Ở Việt Nam, đâu có phải một việc ông Hoàng Minh Chính. Mới đây, đọc báo, tôi thấy có chuyện một bà thiếu tá công an nói với dân: “Tao cho xã hội đen trừng trị mày”.

Buồn cười chưa? Nhiệm vụ của công an, an ninh là “Thi hành luật pháp”. Vậy mà không dựa vào luật pháp để truy tố người phạm tội, lại đem xã hội đen ra đe dọa thì còn trời đất gì nữa?

Theo cách nhìn của những nhà nghiên cứu xã hội, những người làm báo thì xã hội thường có hai thứ luật pháp: Một là luật pháp nhà nước (của vua, của chính quyền tùy theo chế độ xã hội…) và luật giang hồ. Luật giang hồ, nhiều khi nó cũng là một thứ luật pháp bất thành văn. Ví dụ: “Xuân thu nhị kỳ.” Xuân thu nhị kỳ là luật giang hồ bắt nguồn từ bên Tàu. Người buôn bán, làm ăn mỗi năm hai kỳ xuân thu (Xuân là dịp lễ Tết âm lịch, thu là dịp tết trung thu) phải có quà cáp biếu xén quan trên. Cứ cái luật bất thành văn đó, mỗi năm hai kỳ mà làm vui lòng quan. Cái đó là văn hóa Tàu, người Việt noi theo. Nó không phải là văn hóa Mỹ. Thật đấy. Trong trại cải tạo, hồi năm 1976, anh Trương Phương T. (Giặc lái, như tôi thường nói đùa) kể lại hồi anh học khóa lái trực thăng ở Mỹ (Những khóa trực thăng đầu học ở Mỹ, những khóa sau học ở Việt Nam). Học xong, mãn khóa, trước khi về nước, mấy anh em hùn nhau mua biếu “ông thầy” hai chai Martell. Ông thầy trố mắt nhìn, ngạc nhiên. Ông ta chưa từng biết cái việc “trả ơn thầy” như vậy bao giờ, nói chi tới “xuân thu nhị kỳ”. Việt Nam bây giờ thì khác đấy. Ở Việt Nam có “Ngày Nhà Giáo”, học trò phải biết ơn thầy cô. Trò nào không có quà cáp biếu cô thầy vào ngày nhà giáo thì hốc hác đấy!

Trong một xã hội mà luật rừng, luật giang hồ, luật xã hội đen hơn hẵn luật pháp quốc gia thì ông Nguyễn Tấn Dũng dựa vào đâu mà nghiêm trị bọn tham nhũng. Đứa nào tham nhũng, ông Dũng đưa ra tòa. Tòa nào xử? Tòa căn cứ vào luật nào mà xử? Liệu bị cáo có sợ thứ luật pháp đó không? Hay ông Nguyễn Tấn Dũng đưa tội phạm cho xã hội đen xử? Thiên nan vạn nan đấy!

Điều căn bản thứ nhất là luật pháp. Thứ hai là cán bộ. Ông Dũng có được cán bộ gì?

Một chế độ muốn tồn tại, vững mạnh và phát triển, điều cần thiết là phải có cán bộ. Rõ ràng lắm: Phong trào Đông Du của cụ Phan chính là chương trình đào tạo cán bộ ở trường Đồng Văn (Hành Chánh) và Chấn Võ (Quân sự) ở Nhựt. Ông Ngô Đình Diệm mới về nước lo chấn chỉnh trường Quốc Gia Hành Chánh để đào tạo cán bộ cho ngành hành chánh và Trường Võ Bị Quốc Gia để đào tạo cán bộ cho quân đội. Ngoài Bắc, ngoài các trường hành chánh, ngành quân sự, trường công an, họ còn mở Trường Đảng để đào tạo cán bộ chính trị, quan trọng nhứt cho đảng Cộng Sản Việt Nam.

Tất cả những cố gắng đào tạo cán bộ của chính quyền Cộng Sản Hà Nội đều thất bại. “Thượng bất chính, hạ tắc loạn”, lãnh đạo như thế thì cứ nhìn những vụ tham nhũng, từ trung ương đến địa phương, chúng ta thấy rõ sự thất bại của chúng. Thay vì đào tạo ra những cán bộ, viên chức phục vụ nhân dân, đầy tớ nhân dân thì viên chức cán bộ Cộng Sản bây giờ chỉ toàn là một lũ ăn cắp, ăn trộm, ăn giựt, ăn chặn… Vậy thì muốn diệt trừ tham nhũng, ông Dũng xử dụng loại cán bộ nào để thực hiện chương trình, kế hoạch của ông ta? Với những loại cán bộ đó thì ông Dũng chỉ là người có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe, có mũi mà không ngửi được, có tay mà không cầm nắm được, có chân mà không đi chạy được. Chưa kể một điều khác, rất quan trọng, rất độc hiểm, không chắc ông Dũng có thể vượt qua. Ấy là thái độ của cán bộ.

Người bạn tôi nói: “Ông Dũng không cho tụi nó ăn, tụi nó phá cho mà biết. Nhất là bọn ở ngoài Bắc, chúng có những thủ đoạn thần sầu.”

Lệnh ban xuống, bọn chúng không thi hành. Không thi hành, lại còn phá, bằng những thủ đoạn tinh vi, hiểm độc. Anh Nam Kỳ bộc trực phổi bò, nóng tánh liệu có làm gì chúng xong?

Lại còn những tập đoàn tham nhũng. Có biết bao nhiêu tập đoàn tham những ngồi ngay tại Hà Nội. Đó là những Tập Đoàn Lê Đức Anh, Tập Đoàn Đỗ Mười. Còn tập đoàn nào nữa không?

Trong khi đó Tập Đoàn Chống Tham Nhũng (Cho là có chống tham nhũng đi) thì chỉ đơn độc, đơn thương độc mã. Tập Đoàn Tham Nhũng thì dông, tập đoàn chống tham nhũng thì ít. Bọn nó xông lại, chém đầu Nguyễn Tấn Dũng rơi xuống ngựa mấy hồi!

Thêm nữa, nếu Nguyễn Tấn Dũng là người thân Tàu. Ông không thể làm việc gì trước khi người Tàu làm. Ngay việc đổi mới kinh tế, Hà Nội cũng phải đổi mới kinh tế sau… Trung Cộng. Bên Tàu chưa chống tham nhũng, chưa quyết liệt chống tham nhũng thì ông Dũng cũng không thể đi trước quan thầy!

Những người dân bình thường, muốn làm được việc lớn thì khó lắm vì người dân không có quyền. Những người chức cao, quyền lớn, muốn làm việc lớn, không khó vì có quyền lực trong tay.

Sau mấy chục năm chiến tranh lạnh, Liên Xô không những đi sau Mỹ mà còn đi sau các nước Châu Âu hàng chục năm. Trên đà sụp đổ, trên bờ vực, Gorbachov thấy rõ Liên Xô, nếu không khéo, hoàn toàn tan rã vì sự phát triển kinh tế của Liên Xô quá chập. Người ta đi bằng tốc độ hỏa tiển, máy bay, còn Liên Xô phát triển kinh tế bằng tốc độ xe đạp. Vậy muốn phát triển, bắt kịp người ta, phải hội nhập với người. Thấy được con đường đó, Gorbachov đã có câu nói lịch sử: “Liên xô thuộc về Châu Âu” (Để hội nhập với châu Âu) và giải tán chế độ Xô Viết. Ông ta đã làm một hành động lịch sử và đã để lại một dấu son trong lịch sử.

Ông Nguyễn Tấn Dũng nên nhìn vào tấm gương Yeltsin và Gorbachov. Nếu ông Dũng có một hành động lịch sử, sẽ cứu được nước Việt Nam, ông ta sẽ trở thành một nhân vật lịch sử, một người cứu nước (Cứu nước, không phải cứu đảng), còn nếu ông ta chỉ làm những việc như các thủ tướng trước đã làm như Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải thì ông Dũng cũng chỉ là một tên việt gian hại dân hại nước.

Khoảng cách giữa một vị cứu tinh đất nước và một tên Việt gian bán nước chỉ có một khoảng ngắn, chỉ bước một bước là xong. Điều quan trọng chính là ở lương tâm và lòng yêu nước! Gorbachov, Yeltsin đã bước đi, Nguyễn Tấn Dũng còn chần chờ gì?!

Thưa quí độc giả
Đến đây, coi như tôi đã kể xong chuyện đánh giặc. Còn chuyện buôn lậu theo ngã Hà Tiên sau hiệp định Paris 73 nữa chi?
Vâng, chuyện đó cũng hay lắm. Không hay sao tôi được thưởng 1 triệu một trăm ngàn đồng vụ bắt 2kg 300 bạch phiến và nửa triệu bạc giả giấy 500 vào ngày 10 tháng 3 năm 1975. Tôi chưa nhận đưuợc tiền thưởng vụ bắt bạc giả nói trên. Ngân hàng Quốc gia Việt nam còn nợ tôi đấy.

Tôi sẽ kể tiếp ở phần sau.
Kính
hoànglonghải

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 21.01.2009 12:43:56
35. Tôn giáo
 

 
Mác từng viết "Tôn giáo là thuốc phiện của dân" .Sau hiệp định Paris 1973 một thời gian ngắn, tôi nhận được một văn thư từ trung ương gởi về, lưu ý rằng Việt Cộng đang âm mưu giết các cha, các thầy rồi đổ vấy cho nhau, cố gây mâu thuẫn giữa các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Thiên Chúa giáo, để tạo ra những xáo trộn xã hội, tạo điều kiện cho chúng len lỏi hoạt động, phá rối trị an.

Đọc xong văn thư đó chưa được mấy ngày thì tôi nhận được một tấm card, lớn bằng nửa trang giấy học trò. Tấm card ghi như sau, phía trên, bên góc trái:

Linh mục An-tôn Nguyễn Bá Lộc
Chánh xứ Kinh 1 Hà Nội.
Hiệu trưởng trường Trung Học Kinh 1 Hà Nội

Bên phải, Linh mục viết tay:

Kính gởi ông chỉ huy trưởng
Trong kinh, hiện có một người có ý muốn giết cha. Nhờ ông chỉ huy trưởng giúp đỡ.
(Bên dưới là chữ ký của cha Lộc)

Tôi biểu nhân viên lấy tắc ráng đưa tôi vào gặp cha Lộc ở kinh 1 ngay.

Cha Lộc niềm nở tiếp tôi. Chưa được năm phút, cha gọi anh trung đội trưởng nghĩa quân lên. (Chi khu Kiên Tân biệt phái một trung đội đóng thường xuyên trong nhà thờ kinh 1 của cha Lộc, đặt dưới quyền chỉ huy của ông. Thực chất, phần đông các nghĩa quân nầy là lính kiểng).

Cha Lộc nói với tôi; “Ông đi theo anh nầy - chỉ anh trung đội trưởng - Nó chỉ nhà thằng đó cho ông.”

Thằng đó”, có lẽ là thằng có ý đồ giết cha Lộc.

Anh trung đội trưởng dẫn tôi đi, lặng lẽ, không nói gì.

Tới nhà “thằng đó”, tôi đi thẳng vào nhà. Một ông già khoảng 5 hay 60 tuổi tiếp tôi, mời vào nhà, rót nước, nói chuyện.

Trong khi tôi đi thẳng vào nhà thì mấy anh em nhân viên đi theo tôi, tỏa ra chung quanh nhà. Một lúc, anh Nguyễn Xuân Dương, chỉ huy toán nhân viên đó, vào nhà, kề tai tôi nói nhỏ: “Múm được thằng bé rồi, nó trốn trên chuồng bò.”

Tôi tưởng “thằng đó” là một người lớn. Người lớn mới có gan tính chuyện giết linh mục. Sao ông Dương gọi “thằng bé”. Tuy nhiên, tôi vẫn giữ nét mặt tự nhiên, ngồi nghe ông già thuật chuyện:

-“Thưa ông! Cha Lộc muốn làm cho to chuyện chớ có gì đâu. Thằng con tôi dại dột. Nó cầm cây súng pháo đi chơi, rồi xuống tắm ở bến kinh. Thấy cây súng, bạn nói hỏi. Nó nói: “Có cái súng nầy, tao bắn cha Lộc.” Chuyện chỉ chừng đó mà cha báo cáo với Cảnh Sát.”

Tôi không nghĩ là chuyện chỉ chừng đó. Nó phải có một nguyên nhân sâu xa nào đó, cần phải tìm hiểu. Vã lại, cha Lộc đã thưa thì không thể làm qua loa được. Mấy ông cha, như người ta thường nói, “phiền lắm.”

Tôi nói với chủ nhà:

-“Tôi đem cháu ra ngoài Bộ Chỉ Huy, xem thử câu chuyện đầu đuôi ra sao. Xong, tôi sẽ trình bày với cha Lộc. Nếu không có gì lôi thôi, tôi sẽ cho cháu về.”

Ông già “dạ”, tỏ vẻ tin tưởng nơi tôi.

Ra về, trên ghe tắc ráng, tôi gọi thằng bé, nó khoảng 15 tuổi, đến bên tôi, hỏi sơ qua chuyện gì. Hình như cha Lộc muốn mượn tay cảnh sát, kiếm chuyện với gia đình nầy, bằng cách thưa họ. Mệt thiệt!

Tới văn phòng, thượng sĩ Phạm Văn Thanh, trưởng ban tư pháp, hỏi tôi:

-“Nhốt nó vào khám hay sao ông?”

Tôi nói, vẻ không vui:

-“Nhốt sao được. Nó có tội gì đâu, chỉ là chuyện trẻ con. Ngày mai là mồng một tết, tôi không muốn có ai ở trong khám hết. Trong khám không có tù mình ăn tết mới vui. Người có tội rõ ràng, tôi còn chưa muốn nhốt, huống gì thằng con nít nầy.”

-“Vậy cho nó về trong kinh?” Thượng sĩ Thanh hỏi.

Tôi cười:

-“Ông muốn giỡn mặt cha Lộc à? Ổng thấy mình chưa giải quyết gì mà cho nó về trỏng, ông la toáng lên thì sao? Ổng thưa tới ông Thiệu đó.”

-“Vậy thì sao?” Thượng sĩ Thanh lại hỏi.

-“Anh có bà con với ông già thằng bé nầy phải không?” Tôi hỏi.

-“Mẹ tôi là bà con con dì với vợ ông ta. Cùng ở một xóm trong kinh, nên thường hay qua lại.”

-“Ông làm giấy bảo lãnh tạm thời đem thằng bé về ăn tết ở nhà ông đi.” Tôi cười, nói thêm: “Biểu bố mẹ nó “tăng cường” bánh chưng, bánh tét cho ông. Chờ ăn tết xong rồi tính. Nhớ đừng cho nó về trong kinh.”

Thượng sĩ Thanh gọi thằng bé theo ông về nhà. Qua tết, bắt đầu điều tra. Tôi ngán ngẩm khi đọc hồ sơ, sự việc như sau:

Thằng bé có một người anh là sĩ quan, thuộc sư đoàn 9 Bộ Binh. Anh nầy có một người bạn học cũ, hiện là phi công trực thăng. Anh xin người bạn phi công cho anh ta một cái “flare gun” (súng bắn pháo hiệu của phi công). Hôm anh sĩ quan phi công về thăm nhà, đem flare gun cho bạn, nhưng bạn anh ta hôm đó không về được. Anh gởi cây súng cho bố của bạn. Ông nầy để cây súng trên tủ thờ, chờ con về đưa lại cho con.

Không ngờ thằng bé, em anh sĩ quan bộ binh, thấy cây súng hay hay, bèn lận lưng đi chơi. Trong lúc đang tức giận cha Lộc, anh ta “phát thanh” bậy một câu nên mang họa.

Hỏi tại sao ghét cha Lộc, thằng bé giải thích: Hồi năm ngoái, bố nó mua một cái máy cày John Deer để cày ruộng nhà và cày thuê cho xóm làng. Việc nầy đụng chạm tới quyền lợi của trưởng ấp Đông là trưởng ấp kinh 1, cũng là quyền lợi cha Lộc. Ông Đông được cha Lộc giao cho một cái máy cày của cha để cày thuê cho dân trong ấp. Trước nay, ông Đông độc quyền việc cày ruộng nầy, nay có thêm một chiếc khác nữa nên xảy ra việc cạnh tranh. Trưởng ấp Đông báo cáo sự việc với cha Lộc. Tình hình đang căng thẳng thì bỗng xảy ra chuyện thằng bé nói bậy. Thế là cha yêu cầu cảnh sát can thiệp việc có người âm mưu sát hại cha.

Giải quyết làm sao bây giờ?

"Flare gun” chỉ là súng bắn pháo hiệu, nhưng theo tôi biết, nếu bắn gần cũng có thể làm bị thương, chết người.

Tôi gọi bố thằng bé ra, nói cho ông biết hết mọi chuyện rồi khuyên ông ta xin gặp cha Lộc, xin lỗi cha về việc con mình còn dại, lỡ nói bậy. “Con dại cái mang.” Ông ta nghe lời, nhưng khi vô nhà thờ xin gặp cha, cha từ chối.

Hai ngày sau, hai ông bà cha mẹ thằng bé ra gặp tôi khóc lóc, nhờ tôi giải quyết cho thằng bé về nhà. Tôi phải đích thân gặp cha Lộc, trình bày hơn thiệt với cha, xin cha cho bố mẹ thằng bé gặp để cha bãi nại việc cha thưa thằng bé.

Nghe lời tôi, cha Lộc cho hai ông bà ấy gặp, chịu cho xin lỗi nhưng buộc họ phải đóng tiền phạt cho nhà chung. Ban đầu cha đòi đóng phạt một trăm ngàn. Hai ông ba năn nỉ, tới lui nhà thờ xin xỏ mấy lần, “hồi lâu ngã giá ra ngoài… sáu mươi (ngàn).”

Việc cha Lộc phạt con chiên của cha như thế có đúng với luật nhà thờ, luật giáo hội Thiên Chúa La Mã hay không? Chịu, tôi không biết luật lệ đó. Và nếu như tôi có biết, tôi cũng không rõ nó đúng hay sai. Còn như đối với luật pháp quốc gia, tôi cho rằng đó là một vụ tống tiền.

Biết vậy nhưng đành chịu. Làm gì mấy ông cha?!

Làm việc ở Cái Sắn, không dễ dàng như các nơi khác! Rất nhiều người đụng chạm với các ông cha, quảy gói ra đi. Những người không phải là dân địa phương, không phải là tín đồ đạo Thiên Chúa, biết phận mình, nên có đụng với mấy cha, cũng chỉ đụng nhẹ nhàng. Căng nhứt là những người chính là con chiên của cha, khi đụng thì đụng dữ dội. Có phải họ biết tẩy mấy ông cha hay có tâm lý “Gần chùa gọi bụt bằng anh.” Những người giữ nhiệm vụ trước tôi như ông Thi, ông Tấn, mỗi khi gặp họ, bao giờ họ cũng hỏi mấy ông cha có làm gì phiền tôi không. Sau đó, thì họ lôi chuyện cũ đụng với mấy ông cha ra, nói liên hồi, nghe thấy mệt. Chuyện đụng chạm nhiều nhứt là với hai ông cha “đặc biệt”, gọi là đặc biệt vì hay gây đụng chạm với người làm việc cho chính quyền là cha Lộc và cha Uyển.

Khi tôi nhận sự vụ lệnh về Kiên Tân rồi, ghé thăm ông ĐT. LCV, là người, qua nghị sĩ HXT, đỡ đầu cho tôi, dặn:

-“Chú về dưới đó nhớ cẩn thận. Công vụ là trên hết. Thứ hai, dưới đó có 27 ông cha, liệu giao tế cho khéo. Mấy ông cha nầy hay thưa gởi lắm.”

Về tới nơi, tìm hiểu, tôi thấy ra 27 ông cha nầy tự hình chung, chia thành ba phe: Phe cha Lộc (kinh 1), phe cha Uyển (Kinh 6 Rọc Bà Ke), như tôi đã trình bày, hai ông nầy là “mặt trăng mặt trời”, trăng mọc sao mờ, trăng lặn sao tỏ. Phe thứ ba là cha Triết, cha bề trên ở kinh 5. Tuy cha Triết là cha bề trên nhưng hình như cả hai người, cha Lộc và cha Uyển đều “không biết có cha bề trên.” Còn một phe nữa, cha Đức, hiệu trưởng trường trung học Thái Hòa, phụ tá là cha Vũ Văn Hà Nội, cùng một số các cha khác làm giáo sư trường nầy. Mấy ông cha nầy phụ trách về giáo dục, không dính dáng gì tới cõi ta bà nên cũng đỡ cho tôi. Vì công vụ, tôi cùng từng tiếp xúc với cha Đức, cha Hà Nội nhiều lần, chẳng hạn như tổ chức nói chuyện và giải thích cho bọn học trò biết về cái hại của ma túy, băng đảng, v.v… Vã lại, con gái đầu của tôi, 10 tuổi, học lớp đệ thất ở đây, thuộc loại mà cha Hà Nội nói với tôi: “Nó đặc biệt thông minh, xuất sắc tất cả mọi môn, nhưng cũng thuộc loại quậy, thường hay “móc đuôi” các cha.” – (lấy giấy làm đuôi lén gắn sau áo các cha để cả lớp cười chơi). Nói chung, các cha ở trường Thái Hòa đều đứng đắn, tốt bụng. Còn cha Triết thì tôi chỉ đến thăm một lần rồi thôi, không có gì để nhờ cha, cũng như cha cũng chẳng có yêu cầu gì.

Về cha Uyển, tôi có kể trong một bài trước, nay khỏi kể lại. Riêng về cha Lộc, tôi thấy cha có nhiều nét đặc biệt, và quả thật, tôi thấy thương cha Lộc, trước hết là vì công lao của cha đối với đồng bào dinh điền.

Như tôi đã trình bày, tình hình dinh điền những ngày đầu vô cùng khó khăn. Khoảng tháng 10 tây, là tới mùa nước nổi, nước lên mênh mông khắp mọi nơi. Ban đầu, đường chưa đắp, nền nhà chưa cao, mỗi nhà chỉ còn cái giường là nước chưa ngập vì nước lên chừng nào kê giường lên cao chừng đó. Nấu ăn cũng trên giường, ngủ nghê cũng trên giường, và như người dân thường nói đùa “Ăn ở đâu, ỉa ở đó.”

Tới khi nước rút là mùa xuân tới, có nắng, có mưa, cây cối xanh tươi. Ruộng chưa kịp phát hoang thì lau lách đã lên um sùm, xanh mướt, chẳng còn miếng đất trống để gieo hột giống.

Cũng có người muốn làm ruộng, nhưng tình hình như thế, ai ai cũng ngán ngẩm. Có người thì chỉ có tên ở dinh điền, gia đình còn ở lại Xóm Mới, Bảy Hiền. Người có mặt ở dinh điền chỉ để… lãnh đồ cứu trợ.

Nhiều người đã bỏ dinh điền mà đi. Nhiều người chuẩn bị rời đi nếu… hết đồ cứu trợ.

Cha Lộc là người kêu gọi đồng bào ở lại, trụ lại cùng cha, cùng bỏ công khai thác đất hoang thành ruộng rẫy; sửa sang, dựng lại nhà cửa. Hễ đồng bào thiếu thức gì thiết yếu như gạo ăn, lúa giống, xi măng, v.v… thì cha Lộc can thiệp, xin xỏ với chính quyền. Có khi cha lên tận Saigon, vào phủ Tổng Ủy Dinh Điền, thậm chí cả phủ tổng thống, xin gặp ông Ngô Đình Diệm để xin giúp đỡ, v.v… Do đó, tình trạng dinh điền tốt đẹp như ngày nay là do công lao của các cha, nhất là cha Lộc đóng góp không ít. Cha có uy tín, được mọi người kính trọng cũng vì những công lao đó.

Khi các ông Thiệu Kỳ ra ứng cử, biết uy tín của cha nên cả hai ông bay về kinh 1, nhờ cha vận động giúp. Nhìn bức hình cha chụp với hai ông nầy, cha Lộc đứng giữa, hai ông hai bên thì đủ biết họ trọng vọng cha Lộc như thế nào. Vì vậy, nhiều người đến nhờ cha Lộc giúp đỡ, xin giúp việc nầy việc khác. Có người đem xe Huê Kỳ từ Saigon xuống đưa cha đi Saigon hay Cần Thơ để cha Lộc xin giúp việc gì đó.

Về việc cha Lộc che chở cho bà chủ cây xăng ở quận lỵ Kiên Tân buôn xăng lậu, mua từ bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận, như tôi nói trong bài trước, nó cũng tương tự như các việc kinh tài khác của cha. Cha cho người khác mượn cái tên của cha, còn như lời lỗ bao nhiêu, người chủ lo trà nước cho cha sao đó, tôi không rõ khoản chia chác nầy. Việc nầy làm cha Lộc mang tai tiếng nhiều lắm, giống như việc cha Uyển cho người khác mượn danh để buôn cọc sắt, kẽm gai vậy.

Hai ông cha, với tiếng tăm hai món hàng đặc biệt.

Tiếc rằng, về sau, khi ghế ngồi mấy ông lớn tương đối vững, không cần các cha, nhứt là cha Lộc vận động kiếm phiếu giúp nữa thì từ Saigon có văn thư phổ biến lưu ý đồng bào rằng cha Lộc không có uy tín gì, không nên nhờ cha can thiệp những việc liên quan tới chính quyền, phê phán việc cha mượn danh chính quyền để thủ lợi.

Vợ chồng tôi là người được cha Lộc thương mến. Những khi ở nhà thờ cha có lễ lược, tết nhứt, cha đích thân ghé nhà chúng tôi mời vô tham gia. Những buổi tiệc cha mời khách xa tới, dù mời bất cứ ông lớn, ông nhỏ nào, tướng tá gì đó, cha cũng mời hai vợ chồng tôi dự tiệc chung. Trong bàn ăn, trước mặt là khách quí của cha, dù ông ta cấp bậc hay chức vụ gì thì chỗ ngồi hai vợ chồng tôi là hai bên cha. Tôi ngồi bên phải, vợ tôi ngồi bên trái. Cha không cần lưu ý tới việc tôi chỉ là sĩ quan cấp úy, ngồi bên cạnh cha, còn trước mặt là một ông tướng, ông bộ trưởng hay tỉnh trưởng.
Khi tôi làm việc ở Cái Sắn là lúc cha đang xây lại nhà thờ. Nhà thờ mới xây xong, rất lớn, rất Âu Tây, gác chuông cao, nhưng phía trong chưa hoàn tất. Chỗ cung thánh đang được xây dựng trang trí. Họa sĩ Trọng Nội được cha Lộc mời trang trí bàn thờ Chúa và vẽ tranh ở cung thánh. Mỗi tháng cha Lộc phải trả 40 ngàn đồng, đã ba tháng rồi mà công việc mới được một nửa.

Cha Lộc thường nói với tôi rằng việc xây nhà thờ mới tốn kém lắm. Chỉ một việc trả tiền công cho họa sĩ Trọng Nội, tôi thấy cha cần nhiều tiền là phải. Có lẽ, phần lớn số tiền cha Lộc có, được chi vào việc xây dựng nhà thờ, một ngôi nhà thờ, như cha Lộc nói với tôi: “Lớn nhất, đẹp nhất ở dinh điền Cái Sắn nầy.”

Nhìn kỹ sự việc, tôi thấy một điều rõ là các ông cha nầy bị người ta lợi dụng, nhất là cha Lộc. Từ chủng viện, ngoài kinh sách, cha Lộc có kiến thức, kinh nghiệm gì về cuộc sống ngoài đời. Học ở chủng viện xong là coi như chấm dứt việc học hành. Sau đó thì sách không đọc. (tôi thấy tủ sách cha Lộc chưa tới vài chục cuốn, toàn là sách đạo - Thiên Chúa -), không bao giờ cha nói với tôi về việc đọc sách, đài phát thanh trong nước cũng như ngoại quốc không nghe, dài dài ngày tháng quanh quẩn trong kinh, nhiều lắm là ra tới quận, lâu lâu đi Saigon, khách tới thăm thì vâng, dạ nhiều hơn là trình bày việc nước, việc đời với cha. Các cha phần đông lại ưa nịnh, khác xa với các linh mục dạy tôi ở đại học, tốt nghiệp từ Pháp về. Do đó, các cha ở thôn quê, phần đông thật thà, bị người khác lợi dụng là điều không khó hiểu.

Giữa năm 1973, khi Việt Cộng tấn công và chiếm một ấp thuộc xã Tân Hội, ấp nầy sát với Tà Keo, là nơi đầu tiên Nguyễn Tấn Dũng làm du kích cho Việt Cộng, bỗng nhiên cha đem trung đội nghĩa quân đi đánh Việt Cộng.

Trước khi di cư, khi còn làm linh mục của một họ đạo nào đó ở Thái Bình, cha Lộc kể: “Cha thường đem Dân Vệ đi đánh nhau với Việt Minh.” Tôi nhớ khoảng năm 1950, ở xứ tôi, nhiều làng có Dân Vệ là lực lượng bán quân sự ở thôn quê, thường là những làng có đạo, tự họ chống lại Việt Minh, bảo vệ làng. Họ có những cây súng cổ lổ sĩ, loại 24-29, “pọc hoọc” hay Mousqueton, có loại dài như cây sào giữ vịt. Lực lượng Dân Vệ của cha Lộc có lẽ cũng như thế. Quân đội Quốc gia lúc đó chỉ mới có Mas 36, chưa có Garant M-1 thì làm gì họ có súng hiện đại hơn, nhưng cũng đủ chống lại mã tấu của Việt Minh.

Tôi hỏi cha Lộc: “Cha đem lính qua bên kinh?” (Núi Sập). “Không, cha ở bên nầy, nã cho bọn nó mấy quả mọoc 60 ly”. Tinh thần chống Cộng của cha cao như vậy đó. Vậy mà ít lâu sau, cha Lộc lại nói với tôi: “Việt Cộng gởi thư cho cha, gọi cha là “Kính thưa cha cố” đấy! Họ gọi cha là cha cố”. Cha nhấn mạnh hai chữ cha cố. Cha thích thú khi thấy Việt Cộng gọi cha là cha cố. Thật tội nghiệp cho sự ngây ngô của cha. Cha từng mấy chục năm chống Việt Cộng mà cha còn ngây ngô vậy hay sao! Nghĩ vậy, tôi nói nửa đùa nửa thật: “Nếu cần thì bọn chúng gọi cha là ông nội, ông cố, là ông thánh của chúng nó cũng được. Nhưng hễ chúng nắm được cha rồi thì cha chỉ có nước chết với chúng mà thôi! Cha đừng tin tụi nó!” Cha Lộc làm thinh, không nói, không cười. Sau 1975, từ Cái Sắn cha chạy lên Saigon, trốn trong khu hưu dưỡng của các cha già ở nhà thờ ngã sáu. Mấy người quen ở Cái Sắn nói với vợ tôi - khi đó tôi đang ở trong trại “tù Cải Tạo” - rằng Việt Cộng nói rằng cha Lộc là “Chuẩn tướng CIA” - Bọn chúng ghét cha lắm, thù cha lắm. Vậy mà khi nghge chúng gọi cha bằng cha cố, cha lại khoái. Cha không biết tụi nó nịnh cha, muốn lợi dụng cha hay sao? Gì chớ về khoản nịnh và lợi dụng, Việt Cộng không thiếu tài. Vậy mà cha Lộc còn nghe chúng được. Cha chống Cộng bao nhiêu năm mà chẳng có kinh nghiệm chống Cộng hay sao?

Trước khi “đóng tiền đi ở tù”, vợ chồng tôi tới thăm cha. Cha chỉ xuất hiện ở cái ô nhỏ nơi cánh cổng, nói: “Cám ơn các con. Về đi, nguy hiểm lắm.” Tới bây giờ cha mới biết rằng Việt Cộng nguy hiểm lắm hay sao?! Đọc hồi ký Võ Long Triều, tôi thấy tác giả có nhắc tới cha Lộc ở trong khám Chí Hòa. Có người quen nói với tôi cha cũng qua đời trong cái nhà tù đó.

Quả thật, tôi không có ác cảm gì với các ông cha. Họ cũng là người, có tốt, có xấu và dĩ nhiên, họ tin chúa. Tin tới mức độ nào, tôi không rõ. Nhưng các cha thường có cách nói: “Chúa cho.” Hay “Chúa gọi về” khi nói tới cái chết. Tôi không tin như thế. Tôi nhớ có một hôm, khi còn ở Saigon, đi công tác ở Long Khánh về, tôi biểu tài xế ghé Hố Nai 1 - Hà Nội, thăm môt anh trung sĩ nhân viên của tôi. Cảnh nhà anh trung sĩ cũng không nghèo, nhờ vợ làm bồi cho căn cứ Mỹ Long Bình. Anh có một bầy con. Nếu chỉ sống bằng lương trung sĩ, chắc anh ta không đủ gạo nuôi con. Tuy nhiên, trong số các con của anh có một đứa khoảng 3 hoặc 4 tuổi là Mỹ lai. Rõ lắm: Tóc nâu, mắt xanh. Cũng giống như các đứa khác, con bé gọi anh trung sĩ bằng bố, gọi vợ anh bằng mẹ. Đứa bé chính do vợ anh đẻ ra, không phải con nuôi. Trên đường về, trung sĩ Thiều, người lái xe cho tôi đi hôm đó, cũng là một tín hữu Thiên Chúa, nói với tôi: “Anh Nh. may mắn, nhờ chúa cho nên cũng khá giả.” Tôi nghĩ thầm, không nói ra, sợ mất lòng Thiều: Chắc chắn đứa bé lai, dù chúa có cho thì cho vợ anh ấy, chớ không phải cho chính anh. Anh ta không vui gì khi chúa cho gia đình anh môt đứa con lai như thế.

Tôi là người hữu thần. Tôi tin Tạo Hóa. Không có Tạo Hóa làm sao có cuộc sống kỳ diệu ở cõi đời nầy. Chỉ có mấy chất hữu cơ, do đâu mà khi kết hợp nhau thì nó thành nước, thành rượu, thành metan, thành acetylen, v.v… Tôi nhớ năm học đệ nhất, có anh bạn hay thắc mắc, mỗi khi giảng về các công thức khai triển, thầy nói cái nầy là chất nầy, cái nầy là chất kia, v.v… Anh bạn tôi cứ thắc mắc hỏi thầy “Tại sao?” sau khi thầy giải thích xong về một chất. Nó thắc mắc đúng đấy: Cũng C (carbon), cũng H (hydro), cũng O (Oxy) tại sao khi thì thành chất nầy, khi thành chất kia… nó hỏi hoài, có lần, ông thầy tôi, đậu cử nhân khoa học, bực mình nói: “Tự nó kết hợp mà sinh ra như vậy. Cứ hỏi tại sao?” Một lúc, hình như không nén được giận, ông ta nói: “Tại sao? tại sao? Vậy tại sao cha mày lấy mẹ mày mà sinh ra mày?” Cả lớp muốn cười nhưng biết thầy đang giận nên không dám cười. Khoa học chỉ biết như thế, còn như tại sao nó thành chất nầy mà không thành chất kia thì đó chính là do Tạo Hóa. Tạo Hóa mầu nhiệm, làm sao nhân loại biết được.

Quả thật tôi tin tạo hóa, tôi tin có tạo hóa, có sự mầu nhiệm ở cõi đời nầy. Do đó, tôi không thể tin Cộng Sản được. Cộng Sản vô thần. Nhưng bảo tôi tin Chúa, tin Phật là thượng đế hay con cái của thượng đế thì tôi không tin. Chúa, hay Phật hay ông Khổng, ông Lão chỉ là những “siêu nhân” theo một ý nghĩa nào đó. Nói cho đúng, họ chính là sản phẩm, là kết tinh, là tinh hoa của các nền văn minh nhân loại: Văn minh Trung Hoa sản sinh ra ông Khổng, ông Lão, văn minh Ấn Độ sản sinh ra ông Phật và ông Chúa là sản phẩm của nền văn minh Địa Trung Hải. Từ họ mà có các tôn giáo trên thế giới nầy.

Kinh nghiệm cho thấy, trong cuộc sống của loài người, không có tôn giáo thì không được. Không có tôn giáo làm sao có đạo đức. Rõ ràng không có tôn giáo, không thể có đạo đức. Tôn giáo đẻ ra đạo đức. Tiêu diệt tôn giáo là tiêu diệt đạo đức. Sống dưới chế độ Cộng Sản, người ta thấy rõ điều đó hơn đâu hết.

Sau đó ít lâu, tôi đem câu chuyện cũ kể với ông Nguyễn Đức Nghiêm, phó quận trưởng - Sở dĩ tôi hay nói chuyện thường với ông ta, không phải ông ta có trách nhiệm gì, nhưng ông là người có trình độ kiến thức, thông hiểu nhiều vấn đề phức tạp, tư tưởng cấp tiến. Ít ra, ông cũng đã tốt nghiệp đại học, xuất thân Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, khác với các kỹ sư ở nhà máy Ximăng Hà Tiên. Các ông nầy tuy tốt nghiệp đại học, nhưng chỉ giỏi ở lãnh vực chuyên môn. Tôi nói:

-“Tiên liệu được như vầy cũng là hay. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ, vấn đề tôn giáo ở đây không dữ dội như ở Huế. Chuyện nầy ở Huế mệt lắm, phần đông bên nào cũng cuồng tín nên rất dễ xung đột.”

Phó Nghiêm nói:

-“Cộng Sản gọi tôn giáo là thuốc phiện. Ông biết không?”

-“Biết chớ sao không! Vì thuốc phiện nên người ta dễ mê, dễ cuồng tín. Hễ mê với cuồng tín thì không rứt ra được.” Tôi nhận xét.

Phó Nghiêm nói:

-“Lòng người ta có ác có thiện. Hễ cuồng tín rồi thì cái thiện ít đi mà cái ác nhân lên.”

Tôi nói:

-“Dân ở đây hơi lạ. Ngay cả dân có đạo trong núi Trầu cũng không cuồng tín, nói chi tới dân An Bình. Không cuồng tín thì bớt mâu thuẫn, bớt xung đột. Việt Cộng khó lợi dụng, mình cũng khỏe.

Sau khi nói chuyện với ông phó quận xong, tôi họp nhân viên, nêu vấn đề, giao công tác. Ngoài việc theo dõi các cựu can phạm, các hồi chánh viên sát và kỹ hơn, đặc biệt theo dõi các người gần gủi với các ông cha, các ông thầy. Tôi nói với nhân viên:

-“Các ông cha, các ông thầy, tôi không ngại. Mình biết rõ họ, nhưng với những người thân cận với các cha các thầy thường dễ bị Việt Cộng lợi dụng, xúi bẩy. Có khi chính họ là Việt Cộng nằm vùng, núp kín lắm, mình không hay, không ngờ. Các ông thầy trẻ trên chùa ông Bổn, nơi đó vắng vẻ, ban đêm Việt Cộng dễ mò ra tuyên truyền, xúi bậy. Họ ngây thơ, dễ nghe theo. Vậy nên theo kỹ các ông thầy chùa nầy. Các ông thầy chùa Miên, sợ quốc gia, cũng không ưa Việt Cộng nên không đáng ngại, nhưng cũng không nên bỏ qua, ỷ y. Thiếu úy Kiệt cắt người theo dõi những nơi tôi vừa nói, giao mấy ông thầy trẻ trên chùa ông Bổn cho Năm Hùng thì hay lắm.”

Thiếu úy Kiệt gật đầu với tôi, tỏ ý vâng lời. Sau buổi họp, tôi kể cho thiếu úy Kiệt nghe cuốn phim “Ông Đại Sứ” do Marlon Brando đóng (1). Phim hay lắm và chính là một kinh nghiệm. một bài học cho ai hoạt động trong lãnh vực tôn giáo.

Thật ra, ở Kiên Lương, tình hình các tôn giáo không có gì phức tạp. Về tôn giáo có 4 thành phần khác nhau: Đạo Phật của người Việt, đạo Phật của người Miên, Thiên Chúa Giáo và Hòa Hảo. Không có đạo Cao Đài. Có một số người, cũng là Phật tử nhưng hay đi cúng miễu như miễu Bà Chúa Xứ ở Ba Hòn, ngọn núi sát biển, thuộc xã Dương Hòa.

Đạo Phật của người Việt có hai chùa. Chùa ông Bổn là một ngôi chùa cũ, dựng lên từ hồi xưa, trước 1945. Chùa nằm trên một ngọn đồi nhỏ, phía đông nam quận lỵ Kiên Lương. Có lẽ chùa có ông sư già, đã viên tịch hồi nào, tôi không biết. Khi tôi vào thăm chùa thì chỉ thấy mấy ông thầy chùa trẻ, khoảng trên dưới ba chục tuổi. Vì chùa thống thuộc Giáo Hội Việt Nam Thống Nhứt nên các ông thầy chùa nầy được hoãn dịch vì lý do tu sĩ. Rất ít tín đồ lui tới cúng bái, nên chùa nghèo. Các thầy sinh hoạt theo truyền thống đạo Phật Việt Nam từ xưa, tự làm ruộng, trồng tỉa rau ráng, làm tương chao. Khi tới mùa khô họ cũng vào mùa “Kiết hạ an cư” như truyền thống tu học của đạo Phật nước ta vậy. Thỉnh thoảng, tôi có mời ông thầy chùa lớn tuổi nhứt tới văn phòng tôi, hỏi thầy về phong thổ, tử vi. Ông cũng là người rành rẽ về các việc nầy.

Chùa thứ hai, cũng thuộc hệ thống Giáo Hội Việt Nam Thống Nhứt, ở ngay quận lỵ. Chùa nầy đông phật tử, nhứt là các gia đình gốc Tàu.

Năm 1972, Việt Cộng đánh phá nhiều nơi, quận Kiên Lương cũng bị tấn công. (Xin xem lại bài 20 của anh Đinh Nam Triều), chùa bị sụp đổ hoàn toàn. Đại đức trụ trì chùa nầy, cũng còn trẻ, xuất thân Phật Học Viện, dựng tạm lại trên nền chùa cũ một mái chùa bằng “tôn”, tạm che mưa nắng, để làm nơi thờ phật và để phật tử có nơi lui tới cúng bái, lễ tết hằng năm. Chùa có được ty Xã Hội “bồi thường chiến tranh”, nhưng tiêu chuẩn cũng như dân chúng, không có gì gọi là ưu đãi, có nghĩa chùa là nhận 40 ngàn tiền mặt, và 20 tấm tôn lạnh (của Úc Đại Lợi viện trợ), chứ không nhiều hơn ai. Phật tử phần đông thì nghèo, ngoài tiền bồi thường ít ỏi, chùa không có phương tiện nào khác, ông đại đức phải ngồi chờ gom tiền phước sương để xây lại chùa. Việc gom tiền kéo dài lâu quá, tới 30 tháng Tư -1975, tiền vẫn chưa đủ. Việt Cộng chiếm miền Nam rồi, cho rằng tôn giáo mê tín dị đoan, cản trở con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội là con đường “thiên đường hạ giới”, nhanh hơn đường lên niết bàn, nên ông thầy chùa bị đuổi đi.

Ông đại đức bị đuổi đi. Ông bỏ chùa, bỏ đệ tử, rồi trôi nổi về đâu cũng chẳng ai hay biết!

So ra, nhà thờ cha Đại gần đó, cũng bị hư hại vì chiến cuộc; giáo dân, so với phật tử cũn ít hơn, vậy mà cha đã dựng lại nhà thờ, và cha đốt một lò vôi kiếm tiền xây tháp chuông như tôi kể trong một bài trước. Ca Đại biết xoay xở, có kế hoạch và cũng được giáo hội hỗ trợ ít nhiều.

Mấy thầy trẻ trên chùa ông Bổn cũng bị VIệt Cộng bắt hoàn tục, mặc dầu mấy ông thầy nầy đi tu thì cũng tự canh tác lấy mà sống chớ có bám vào lưng ai đâu, chớ đừng nói là mấy thầy “Ngồi mát ăn bát vàng” như Việt Cộng thường chê trách những ai giàu có. Chùa bỏ hoang. Cõi đời nầy đúng là cảnh trầm luân! Đạo Phật càng ngày càng suy vi là phải!

Thật ra, vấn đề suy vi của đạo Phật phải nói lại từ đầu, từ khi người Việt vào định cư, khai khẩn đất Nam phần, đặc biệt là kể từ khi Pháp xâm lăng nước ta.

Như tôi đã có lần trình bày, đạo Phât du nhập vào nước ta từ hơn hai ngàn năm trước, theo con đường trực tiếp từ Ấn Độ sang nước ta, hay theo con đường gián tiếp, từ Ấn Độ qua Trung Hoa rồi đi dần về phương nam mà tới vùng lưu vực sông Nhị, là thổ địa nước ta hồi đó.

Trong quá trình Nam tiến, trong hành trang của những lưu dân hồi đó, họ mang theo trong tâm tư họ đạo Phật theo phái đại thừa. Đến khi nhà Nguyễn thống nhứt sơn hà, củng cố nền cai trị, thì nhà Nguyễn áp dụng triệt để Tống Nho để bảo vệ và củng cố ngai vàng. Tuy nhiên, từ Huế là điểm giữa, miền Bắc trọng Nho thì miền Nam phần đông dân chúng theo đạo Phật. Cuộc sống nơi xứ lạ, người ta cần tình thương, tương trợ, giúp đỡ, che chở cho nhau. Trong ý nghĩa đó thì vai trò của đạo Phật hữu hiệu hơn đạo Nho.

Trong tiến trình định cư, xây dựng cuộc sống ở vùng đất mới, đạo Phật đại thừa của lưu dân, hòa trộn với tiểu thừa của người Miên, pha trộn với bùa chú của dân tộc nầy. Nói theo sách vở thì môn phái Tịnh Độ Tông, Thiền Tông của lưu dân pha trộn với Mật Tông của người Miên. Từ đó, trong đạo Phật của người miền Nam, vừa có chùa đại thừa, vừa có am của tiểu thừa, pha trộn với cốc của các ông đạo. Ông đạo là một sản phẩm tôn giáo đặc thù của người dân miền Tây Nam Bộ, nó vừa là Mật Tông của Phật, vừa vô vi siêu thoát của Lão, vừa bùa chú của người Miên,

Từ cung cách sinh hoạt như thế, bề ngoài, người ta tưởng như đó là tính cách hiện đại hóa Phât giáo cho phù hợp với tình hình dân chúng địa phương, nhưng thật ra, đó chính là sự xa rời kinh sách tôn chỉ của đạo Phật, nhất là Thiền Tông và Tịnh Độ Tông làm cho đạo Phật suy vi.

Chính vì sự suy vi đó mà vai trò của ông Đoàn Minh Huyên nổi bật lên. Việc ông thành lập tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Tứ Ân chính là sự khôi phục đạo Phật theo một đường lối mới, thích hợp với dân chúng. Vì tính cách thực tiển và hữu ích của Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa nên đồng bào tôn sùng, ngưỡng mộ, theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương càng ngày càng đông, trở thành một tôn giáo mới, đặt căn bản trên đạo Phật.

Dù ông Đoàn Minh Huyên đã có công phục hưng đạo Phật qua tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, đạo Phật càng ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ, dữ dội, kể từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam.

Trước hết là việc xâm lăng Nam bộ, sau đó lan dần ra phía Bắc, theo chân bọn thực dân Pháp chiếm đóng nước ta là bóng đen của các tu sĩ đạo Thiên Chúa, là những người Việt “tân tòng”, làm quan chức cho Pháp để mưu cầu danh lợi. Họ dựa vào thế lực của thực dân Pháp để bành trướng tôn giáo; thực dân Pháp cũng dựa vào các tu sĩ Thiên Chúa giáo để củng cố ách cai trị. Hai bên song hành, dùng đủ mọi biện pháp của chính họ và của nhau để đàn áp, tiêu diệt đạo Phật. Trong nhiều trường hợp, ở một nơi nào đó, nếu cần thiết, cả hai bên hợp tác chặt chẽ để thực hiện ý đồ của mình. Thực dân thì củng cố nền cai trị bằng cách đàn áp khốc liệt dân chúng, giết chóc, tù đầy những người yêu nước. Các linh mục thì dụ dỗ “rửa tội” để dân chúng được che chở, tránh sự đàn áp của Pháp. Nhiều xóm, làng từng là cơ sở, căn cứ của nghĩa quân nổi lên chống Pháp bị bọn thực dân Pháp đốt sạch, giết sạch. Tiếp theo tiếng súng của bọn Pháp là sự “giúp đỡ” của các tu sĩ Thiên Chúa giáo. Đó là một trận chiến hiệp đồng tuyệt hảo đều có lợi cho cả hai phe phi-dân-tộc.

Vì chính sách đó, nên sau khi có những làng nổi lên chống Pháp, đi theo các phong trào của Nguyễn Trung Trực, Trương Định, v.v...(- ở Nam bộ -) những làng nổi lên theo Phong Trào Cần Vương, Phong Trào Văn Thân ở Trung và Bắc Bộ bị tiêu diệt hoàn toàn hay “trở lại đạo toàn bộ.” Chỉ có cách đó, người dân trong làng mới được ở yên, sống yên, không còn bị Pháp tới lùng bắt hay đốt phá làng để tiểu trừ nghĩa quân nữa.

Đó là lý do chính yếu nhứt làm cho Phât giáo càng ngày càng thêm suy vi.

Đến đầu thế kỷ 20, nhiều người thấy rõ sự suy vi đó của đạo Phật, bèn tìm cách phục hưng. Nhìn chung, sự suy vi của đạo Phật cũng có nghĩa là sự suy vi của dân tộc.

Bắt nguồn từ Bửu Sơn Kỳ Hương, ông Huỳnh Phú Sổ xây dựng nên đạo Phật Hòa Hảo. Đó là một tôn giáo mới, một đạo Phật mới với những lời cầu nguyện bình dị, dễ hiểu, pha lẫn với “sấm truyền” chịu ảnh hưởng Mật Tông, hòa hợp giữa Tiểu Thừa và Đại Thừa.

Nét đặc thù chính yếu đạo Phât Hòa Hảo là phổ biến, truyền bá trong giới bình dân, trong số đồng bào làm nghề ruộng rẩy, săn bắt, lao động chân tay, v.v… Nhờ tính chất thực tế, và đơn giản, nhắm vào việc“tu hiền”, hiếu thảo cha mẹ, anh em, ăn ở phúc đức, hiền lành, cứu người giúp đời, đúng với tình cảm và tâm lý của người Việt nên Đạo Phật Hòa Hảo đã phát triển rất nhanh. Trong chiến tranh Thế giới Thứ hai, chính sách Đại Đông Á của Nhật Bản là chống lại các đế quốc, thực dân cai trị các nước nhược tiểu. Chính sách đó gần gủi với tinh thần người Việt, chống lại ách cai trị bóc lột và tàn ác của thực dân Pháp. Từ căn bản đó đạo Phật Hòa Hảo với tinh thần Tứ Ân, sau ân cha mẹ là “Ân đất nước” đã có những tiếp xúc với quân đội Nhựt, hầu mong tìm một ngày độc lập cho dân tộc. Cũng từ ý nghĩa đó, đạo Phật thành lập Dân Xã Đảng (Dân Chủ Xã Hội) cũng như lực lượng quân sự để chống Pháp khi Pháp quay trở lại Nam Bộ hồi tháng 9 năm 1945. Đây cũng là lực lượng chống Cộng rất tích cực và hữu hiệu sau khi Việt Cộng sát hại Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ.

Tuy nhiên, tình hình đạo Phật Hòa Hảo ở hai quận Kiên Tân và Kiên Lương có phần khác nhau: Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo ở Kiên Tân đông hơn và sinh hoạt mạnh hơn.

Như tôi trình bày trước đây, tín đồ Phât giáo Hòa Hảo ở Kiên Tân có một ngôi chùa chung, có ba phe Phật giáo Hòa Hảo tranh chấp nhau ngôi chùa nầy.

Ngoài ông Lê Minh Châu là người như tôi đã kể trước đây, đem lựu đạn vào chùa để phòng thủ chống lại hai phe Phât Giáo Hòa Hảo kia, còn có một ông Châu khác nữa. Ông nầy trước kia là một hạ sĩ quan trong một đơn vị Địa Phương quân thuộc tỉnh Kiên Giang. Sau đó, ông Châu nầy đào ngũ, bỏ lên Saigon. Khoảng cuối năm 1973, ông ta tham gia một lực lượng ma, cùng mấy người khác nữa, họp nhau ở Khánh Hội, tự trao cấp bậc cho nhau. Ông Châu tự phong làm “thiếu tướng không quân” (làm tướng nhưng không có quân đội). Khi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh truy tố thì ông Châu trốn về Kiên Tân. Hôm ông quận trưởng Huỳnh Đầm S. được lệnh đi bắt ông ta, ông quận trưởng kéo tôi cùng đi, chỉ để làm chứng, sợ “mấy ổng” vu cáo, bày chuyện thưa gởi lung tung. Khi ông quận trưởng đến nhà Châu, ông ta đứng ngoài (tránh không vào nhà),gọi lớn” “Châu, mày ra đây. Mày lên Saigon làm gì trên đó nên tao được lệnh đi bắt mày!” Tôi thấy “ông tướng Châu” nầy líu ríu mặc áo đi ra xe theo ông quận trưởng. Hỏi ra, tôi biết thêm, ông quận trưởng trước kia là cấp chỉ huy trực tiếp của “ông tướng Châu”.

Tôi chưa từng đọc một tác phẩm nào nghiên cứu về tình cảm, tư tưởng và tâm lý của những lưu dân khi họ đến định cư ở vùng đất mới. Dù là lưu dân của vùng viễn Tây Hoa Kỳ hay lưu dân Việt Nam ở miền Tây Nam bộ, họ có những tâm lý, tính khí giống nhau: Những chàng cao bồi xứ Mỹ cởi ngựa quăng giây giỏi cũng chính là những anh hùng cứu khổn phò nguy cứu giúp dân lành. Họ chính là Lục Vân Tiên của miền viễn Tây: “Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha.” Bên cạnh đó, họ cũng mang đậm nét tướng cướp Phong Lai và cũng mang giòng máu anh hùng Từ Hải: “Một lời đã biết đến ta, trăm chung nghìn tứ cũng là có nhau.” Tính khí đó pha hợp với nhau rất phức tạp trong tâm hồn Ba Cụt, Năm Lửa (2) và những người theo họ. Họ có thể là người giàu lòng nhân ái, tính khí trung trực, nhưng lại ưa sống ngoài vòng luật pháp, ưa chuyện phiêu lưu và cả việc làm những điều tham lam, độc ác.

Gốc gác những lưu dân Nam Bộ, không hẵn vì đói nghèo mà tha phương cầu thực. Họ giống như những đợt lưu dân đầu tiên từ Châu Âu đến vùng Bắc Mỹ, có một nét chung là bị đàn áp ở quê nhà.

Một số người là binh lính Chúa Nguyễn. Khi Tây Sơn khởi nghĩa, chúa Nguyễn chạy trốn vào miền Nam. Họ cũng theo chúa vào Nam. Đến khi “Gia Long tẩu quốc”, họ không theo chúa Nguyễn qua Xiêm la được, đành mai danh ẩn tích, tìm nơi trốn tránh ở chốn kinh cùng rạch chẹt.

Đến khi Gia Long lên ngôi, họ không về theo chúa nữa. Cuộc sống trốn tránh bao nhiêu năm đã tạo nên cho họ một đời sống ổn định, bình yên. Họ không còn muốn tham gia vào những cuộc chém giết giữa những đồng bào cùng một giòng máu, một dân tộc. Đến lúc đó thì miền Tây Nam Bộ đón nhận một đợt lưu dân mới. Họ chính là những người trước kia từng theo phò Tây Sơn, nay đang bị Gia Long lùng bắt, nên từ Quảng Nam, Bình Định họ chạy trốn vào đây.

Hai hạng người, trước kia từng ở hai chiến tuyến đối nghịch nhau, nay đồng cảnh ngộ: Trốn chạy chính sách hà khắc, lưu lạc quê người. Sự đồng cảm đã kéo họ lại gần với nhau, trong từ bi hỉ xã của đạo Phật, họ sống nương nhờ nhau ở một nơi ca dao có câu:

Tới đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh!”

Trong bối cảnh lịch sử xã hội giống như tình hình lúc hình thành đạo Phật Hòa Hảo, đạo Cao Đài ra đời.

Đạo Cao Đài tên thường gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một hình thức phục hưng đạo Phât trong giới trí thức miền Nam.

Vùng tôi phục vụ trước 1975 rất ít tín đồ đạo Cao Đài sinh sống tại đây nên tôi không bàn tới.

Nhìn chung, đạo Phật chưa bao giờ được chính quyền ngó ngàng xem tới chứ đừng nói là được hưởng những gì ưu đãi, trong khi tư tưởng Phật giáo đã thấm sâu vào lòng dân tộc.

Do tình trạng suy suy, đạo Phật đã bị nhiều người lợi dụng làm cho nó biến thái, trở thành một thứ mê tín dị đoan, bùa mê thuốc lú, sản sinh ra nhiều ông đạo như đạo Sờ, đạo Liếm, phật không ra phật, thánh không ra thánh, nặng tính chất bùa chú, bán cho những người dân chất phát, thật thà, ngu dốt để họ xin xỏ Phật tổ những thứ mà Phật không thể có được, không đúng với bản chất của đạo Phât là một tôn giáo cứu khổ và giải thoát chúng sanh.

Trong hoàn cảnh suy vi của đạo Phật như thế, hàng trăm năm qua, bên cạnh những nhà thờ lớn, nhà chung lớn xây dựng liên tiếp, mở rộng, thì nhiều chùa, miễu bị phá bỏ đi để xây dựng nhà thờ. Sinh hoạt Phật giáo càng ngày càng co cụm lại, sống âm thầm đâu đó trong cảnh nghiêng chùa đổ chái, hay trong truyền thống dân tộc, lưu tồn một cách kín đáo trong tâm hồn của những nông dân nghèo khó, ít học, sống lam lũ ở nơi bùn lầy nước đọng, hạn chế tiếp xúc với cuộc sống văn minh vật chất, với sự cấu kết quyền lợi giữa các giai cấp thống trị mới.

Tài sản của chùa và nhà thờ khác nhau một trời một vực. Bằng nhiều phương cách, kể cả việc xử dụng thế lực hay mua bán, cho vay nặng lãi, trong khi mỗi nhà thờ là một địa chủ, có nhiều đất ruộng cho tá canh, thì mỗi chua chỉ có năm ba sào ruộng, đủ để trồng lúa nuôi tăng chúng. Nhà chùa tự trồng tỉa rau ráng, tự làm tương chao. Việc tu bổ, sửa sang chùa chiền, hoàn toàn trông cậy vào tín đồ đóng góp đa thiểu, tùy đạo tâm, chớ nhà chùa không có một thứ giúp đỡ nào khác, từ chính quyền hay từ viện trợ bên ngoài, ngay cả thứ hàng thường thấy nhan nhản ở miền Nam trước 1975, với tấm nhản hiệu hai bàn tay bắt nhau, có hang chữ “Mỹ Quốc Viện Trợ.”

Sau 1975, tài sản của tất cả mọi tôn giáo, dù ít dù nhiều, đều bị Việt Cộng tịch thu. Trong tình hình hiện nay, chính quyền Hà Nội bắt buộc phải trả tài sản lại cho các tôn giáo. Trong tình hình đó, tài sản của đạo Phật, của Phật giáo Hòa Hảo, chỉ là một thì tài sản của giáo hội Thiên Chúa bằng mười, bằng hai mươi. Một ông giáo sư cũ của tôi, người từng là một nhân vật thân cận với ông Ngô Đình Cẩn, khi ông Cẩn còn là “Lãnh chúa miền Trung” nói với tôi cách đây mấy năm:

Khi về làm tổng giám mục địa phận Huế, lấy thế là anh tổng thống Ngô Đình Diệm, ông ta buộc chính quyền chuyển nhượng tất cả số “Ruộng Ngự” - Ruộng trồng lúa cho vua và hoàng triều dùng, tên người Huế thường gọi là “Đồng An Cựu – và toàn bộ các ngọn đồi quanh dòng tu Thiên An cho giáo hội.”

Đó chỉ mới là một thí dụ điển hình.

Thật ra, tôi không phải là một phật tử, theo nghĩa thông thường. Tôi đến làm việc ở đây, không mang môt mặc cảm, một đặc tính nào về một tôn giáo nào. Tôi khôngtin tưởng mù quáng vào ông phật hay ông chúa. Nhưng tôi tôn trọng đạc biệt vào ý nghĩa đạo đức của tôn giáo. Quan điểm của tôi, trong ý nghĩa đó, r1ât bình dân, và không cuồng tín. Đó cũng chính là đời sống tôn giáo của những người dân nghèo khổ ngu dốt nơi tôi đến, để được gọi một cách văn vẻ là “phục vụ đồng bào”.

hoànglonghải

(1) “Ông Đại Sứ” là một cuốn phim Mỹ, tài tử chính là Marlon Brando. Chuyện phim là một ông thấy chùa thiên tả, lãnh đạo tín đồ chống lại chính quyền nước đó. Khi tình hình thuận tiện đã tới, quân du kích do Tàu Cộng viện trợ, nổi lên cướp chính quyền. Tên cán bộ Cộng Sản nằm vùng, - dưới danh nghĩa là bí thư của nhà tu hành -, bèn giết vị sư để giành quyền lãnh đạo dân chúng. Trước tình hình dầu sôi lửa bỏng đó, Mỹ đổ quân cứu nguy. Ông đại sứ Mỹ tại quốc gia nhỏ bé nầy họp báo, giải thích lý do can thiệp của Mỹ. Chương trình đang được chiếu lại trên TV Mỹ thì bỗng một công dân Mỹ từ phòng tắm đi ra, thấy ông đại sứ đang giải thích, bèn tắt TV. Có phải sự thờ ơ của người dân Mỹ đối với những vấn đề trên thế giới có hậu quả là tòa tháp đôi ở Nữu Ước bị tấn công?!

(2) Tôi được vài người trong Dân Xã Đảng kể lại vài mẫu chuyện về ông Năm Lửa như sau:

Ông thứ năm, tính nóng như lửa nên tục danh là Năm Lửa. Tên thật là Trần Văn Soái, xuất thân là đại ca dân anh chị bến xe Cần Thơ, tính khí hào hiệp, độ lượng, thường giúp đỡ những ai nghèo khó, sa cơ lỡ vận và có lòng yêu nước. Ông nghe theo lời kêu gọi của đức Hỳnh Giáo Chủ, tập họp anh em đệ tử thành một đạo quân, tham gia Nam Bộ Kháng Chiến, hoạt động vùng Cần Thơ – Sadec, chống quân Pháp trở lại Việt Nam. Ông và binh lính của ông lập nhiều chiến công.

Có lần, ông tập họp binh sĩ lại, dạy rằng:

-Đ.m. Đức thầy nói rằng lính của mình là lính giáo phái, cần phải có đạo đức, tư cách, không được ăn nói tục tằn. Từ nay trở đi, Đ. M. đứa nào chưởi thề là không được, sẽ bị phạt.

(ghi chú: chưởi thề là thói quen thường của dân Nam bộ).

Khi Việt Minh phản bội, giết đức thầy, ông Năm Lửa chống Việt Minh kịch liệt. Tình thế đó buộc ông hợp tác với Pháp khi Pháp đề nghị. Pháp đồng ý trang bị và chu cấp tài chánh cho quân đội của ông, và đồng hóa ông với cấp bậc đại tá. Ông bảo:

-Số tao làm tướng. Tụi Tây trả tao loon đại tá đâu có được. Nó không chịu tao làm tướng, tao vẫn cứ đeo loon tướng.

-Vậy rồi ông gắn lên mũ ông một ngôi sao. Trong quân đội Pháp, thiếu tướng đeo hai sao. Ông đeo một sao. giống như loon chuẩn tướng của Mỹ hay quân đội VNCH sau nầy.

Ông tham gia phái đoàn qua Hồngkông đón vua Bảo Đại về lãnh đạo đất nước. Đi dạo phố, ông mang loon một sao. Có người bạn thân nói với ông:

-Nè! Anh Năm. Anh đeo loon hơi kỳ, thiếu tướng là hai sao, anh đeo một sao, tụi Ănglê thấy vậy nó bắt anh lại mất công. Xứ của nó chớ đâu phải xứ mình mà anh muốn sao thì làm vậy.

Nghe lời nhắc nhở của người bạn, ông vội vàng gở sao trên mũ, bỏ vào túi áo.

Tôi có hỏi thăm việc Việt Minh và Dân Xã đảng giết nhau sau khi Đức Thầy bị thủ tiêu. Chẳng hạn, như Hòa Hào, cũng như Việt Minh, bắt được người đối phương thì giết, thả trôi sông. Bỗng nhiên, người đi trên sông thấy một giây bốn năm xác người cột vào một cây tre, trôi trên sông. Việt Minh giết Hòa Hảo hay Hòa Hảo giết Việt Minh, không ai biết chắc. Hoặc người dân đang chèo ghe trên sông, bỗng bị gọi vô bờ, biểu mua một cái đùi hay một cánh tay (người). Người ta sợ quá, không muốn mua cũng phải mua, xong ra đem ra giữa sông, thả xuống nước.

Các vị trong Dân Xã Đảng chỉ cười, không trả lời việc đồn đãi ấy có thật hay không!

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 22.01.2009 08:37:34
36. Con Đường Ngọt Ngào
 
 
 
Sao gọi là Con Đường Ngọt Ngào?
Việc ấy sẽ nói sau!
Hà Tiên là một thị trấn biên giới do ông Mạc Cửu thành lập ra. Muốn tìm lịch sử Hà Tiên cũng không khó. Sách sử nói thiếu gì! Việc ấy tôi không bàn tới. Tôi xin trình bày qua về tính cách chung của những thành phố biên giới như Tây Ninh, Châu Đốc, Hà Tiên. Nói chung, vì là những thành phố biên giới nên đó là những nơi buôn lậu hàng hóa giữa hai nước. Rõ hơn là hàng hóa giữa Campuchia và Việt Nam.
Hà Tiên khác hơn.
Suốt mấy năm chiến tranh, con đường Rạch Giá - Hà Tiên bị Việt Cộng phá dữ lắm, nào chôn mìn, đắp mô, phục kích, nào tấn công, bắt cóc… Xe cộ không đi lại được. Sau hiệp định Paris 1973, tình hình yên ổn, một phần là vì hiệu lực của hiệp định nầy, thứ nữa là vì chiến dịch Diều Hâu của tướng Trưởng, tướng Nam. Việt Cộng sợ, nằm im trong bưng, cục R (Rờ) trở thành cục Rút, rút tuốt qua Miên, ở lại bên Việt Nam lạnh giò nên đường sá yên ổn, không còn bị Việt Cộng phá phách nữa, xe hàng chạy lui chạy tới, ban đầu xe Rạch Giá - Hà Tiên, rồi xe Hà Tiên - Saigon. Hàng lậu càng nhiều, khách buôn càng đông, hàng hóa càng lắm. Con đường buôn lậu hình thành, càng đông càng vui…
Hàng từ Việt Nam bán sang qua Miên có gì, tôi không rõ. Hàng từ Miên qua Việt Nam thì gồm có thuốc lá Cheval (thuốc đầu lọc), Apsara (Không có đầu lọc, như Bastos xanh). Hãng Bastos của Tây có nhà máy sản xuất thuốc lá ở Saigon. Có lẽ Bastos hay một hãng nào đó của Tây, cũng có hãng thuốc lá ở Phnom Pênh (Nam Vang), bán rẻ hơn bên Việt Nam nên thuốc nầy được buôn lậu sang Việt Nam. Ngoài thuốc lá, Miên có gì “xuất khẩu” sang Việt Nam? Đường thốt nốt. Xứ Miên là quê hương của cây thốt nốt. Tới biên giới, Trảng Bàng chẳng hạn, du khách sẽ thấy bên thổ địa Miên mấy hàng thốt nốt chạy dài.
Cây thốt nốt cho một chất nước ngọt như đường, gọi là đường thốt nốt. Người ta lấy một cây tre dài, đục thông các mắt tre, đầu vót nhọn đâm vào ngọn cây thốt nốt. Từ đó, một chất nước rỉ ra, chảy từ theo ruột cây tre. Phía dưới người ta hứng chất nước đó vào một cái thùng sắt tây. Nước đường đó dần dần quánh lại, trở màu, hơi đen, trông không được sạch và đẹp mắt lắm. Nhưng đường thốt nốt nhẹ hơn, thanh hơn đường mía. Số đường nầy ở bên Miên bán lậu qua Việt Nam, chở bằng xe đò nhỏ, đi cùng với khách. Số lượng ít lắm, không đáng gì.
Món hàng thứ ba từ Miên qua ở Hà Tiên là trâu (ở Tây Ninh là bò). Tôi không rõ trâu nầy tiêu thụ ở đâu, nhưng trâu chở qua Việt Nam, theo đường thủy thì phương tiện là trẹt, (một loại xà lan nhỏ) hoặc bằng xe tải. Mỗi con trâu đều có thẻ, nhận dạng bằng xoáy trâu. Dĩ nhiên, một cái thẻ trâu được xử dụng nhiều lần. Cứ cầm cái thẻ so sánh với xoáy trâu thì biết ngay rằng nó trật lất. Có nghĩa rằng đó là trâu lậu. Tuy nhiên, người chủ chốt các vụ buôn trâu là đại úy Ngô Th. Tr., đại đội trưởng QCTP Hà Tiên. Rút giây động rừng, rừng tư pháp của lính rất khó đụng. Ông nầy cũng thuộc hàng “nhanh chân, đầu trơn”. Gần tới 30 tháng Tư, ông cùng với xã trưởng, chủ tịch hội đồng xã Mỹ Đức, thị trấn Hà Tiên, trốn vô bưng với Nguyễn Tấn Dũng. Không biết bây giờ Nguyễn Tấn Dũng cất nhắc ông ta làm tới chức gì!
Nói cho đúng, hàng lậu vào Hà Tiên để chở về Rạch Giá, Saigon không phải là hàng Miên, mà chính là hàng Thái Lan.
Hàng Thái Lan buôn lậu là nhằm vào thị trường Việt Nam, đem về Saigon, Cần Thơ, Rạch Giá tiêu thụ. Dân Việt ở bên nầy biên giới, dân Miên ở bên kia biên giới, nghèo lắm, làm sao có tiền để có thể tiêu thụ những thứ hàng đó được, mà với số lượng nhập vào rất lớn.
Hàng Thái Lan nhập vào Hà Tiên gồm có: Nhiều nhất là đường cát (Loại thường dùng để uống càphê), vải để may quần, nhiều hơn loại để may áo, đồng hồ Movado, ghế xếp (khá đẹp, bọc simili và xi mạ sáng loáng), xách Samsonite do Thái Lan sản xuất, gà mèn nhôm, và bạch phiến.
Hàng (phần nhiều là đường cát) từ Thái Lan chở qua bằng ghe. Ghe đậu ngoài xa, cách bờ biền Hà Tiên khoảng năm, ba ki lô mét, khi xa khi gần, do tình hình tàu Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tuần tiểu ở khu vực nầy. Khi có tàu tuần, ghe buôn lậu Thái Lan dạt xa một chút, không phải để khỏi bị bắt, mà để tránh người ta dị nghị. Ngang nhiên quá, đâu có được! Hoặc khi căng lắm, ghe Thái Lan dạt qua phía bên kia biên giới: Lãnh hải Miên. VNCH không có trách nhiệm, không vượt biên vì chưa có lệnh, không trách cứ Hải Quân được. Khi tàu tuần lui xa về phía Rạch Giá thì ghe Thái Lan lại áp sát vào. Người mua hàng, phần đông là người Việt, dân Hà Tiên, chạy ghe ra (ghe nhỏ hơn ghe Thái Lan), cặp vào ghe Thái Lan, tay cầm một số vàng lượng đưa lên cho người Thái Lan (chủ hay nhân viên) thâu vàng đứng trên ghe. Sau khi đếm vàng và kiểm soát xong (vàng thật hay giả). Nếu xong rồi thì người Thái ấy ra lệnh cho “thủy thủ” của anh ta bỏ hàng xuống ghe nhỏ cho người mua. Cứ một lượng (sau nầy khi Việt Cộng chiếm miền Nam xong rồi thì gọi là cây) là bao nhiêu tạ, tôi không rành. Tạ nặng 100Kg. Người mua chở vào bờ, phía đất Miên, chớ không phải bên phía VNCH. Tạ đường được chia thành nhiều bao nhỏ, mỗi bao 10Kg, đựng trong bao giấy, loại giấy giống như giấy bao ximăng. Xong, hàng từ bên kia biên giới, được thồ bằng xe đạp, mỗi xe trên dưới 10 bao, mỗi bao 10Kg, chuyển về Việt Nam, vượt biên giới, đi ngang qua ngã chùa Xà Xía của ông đại đức Công Xa Phanh (xin xem lại bài 6), rồi vào Hà Tiên, bày bán la liệt ở chợ, bến xe Hà Tiên.
Người nắm chủ chốt công việc buôn lậu nầy là một người đàn bà nổi tiếng ở Hà Tiên, người Miên lai Tàu, thường gọi là đầu gà đít vịt, tên thường gọi là “Bà Gái Đen” (1). Lai Miên, nên, dĩ nhiên, bà ta không thể trắng được. Gái là tên. Gọi bằng bà vì bà cũng hơi lớn tuổi, thuộc hàng cự phách trong giới buôn lậu. Được ít lâu, khi việc buôn lậu phát triển ngày càng lớn, bà được sự “tiếp ứng” của các xì thẩu Chợ Lớn. Các chú ba nầy hùn hạp vốn liếng hay đem vàng từ Saigon về cho bà Gái Đen như thế nào tôi không rõ, nhưng trên thực tế, tôi nghe (và đã thấy) mỗi lần mấy chú ba nầy từ Saigon về có mang theo mấy cô gái Tầu đẹp lắm, trẻ lắm. Mấy cô nầy, có cô ở lại trong nhà ông trưởng ty QT Hà Tiên, tên Ng. K. K. Việc chi xảy ra, đố ai biết?!
Dĩ nhiên, đây là hiện tượng được gọi là “Chảy máu vàng”. Vàng từ Việt Nam đi ra, đường từ Thái Lan đi vào. Dân Việt Nam thuộc loại “ngon”: Đem vàng đổi đường ăn chơi. Vậy mà tới 30 tháng Tư cũng còn 16 tấn vàng, chưa kịp đem đổi hàng, nên Việt Cộng đem đổi “giùm”!!!
Khi được biệt phái qua Cảnh Sát Quốc Gia, tôi trình diện tại Bộ Tư Lệnh ở Saigon. Tất cả có 600 cái đơn xin biệt phái, vậy mà số người được cho chuyển ngành chỉ có 3 ngoe, mang “loon” thiếu úy: Trương Tâm Như (con trai đại tá bác sĩ Trương Khuê Quang, Giám đốc nha Xã hội, bộ Quốc Phòng, thời tổng thống Ngô Đình Diệm. (2) Người thứ hai là Dương Trường Hội, em ông Dương Văn Hiếu, trưởng đoàn công tác đặc biệt miền Trung của “cậu” Cẩn. Hai anh nầy còn trẻ, đi lính khi vừa tới tuổi, còn người thứ ba, già nhất, là “tui”. Tui đi dạy 10 năm mới đi lính. Gặp nhau, hỏi thăm, ba đứa nhìn nhau và… ngao ngán: Cả ba đều bị đuổi cổ về miền Tây bằng sự vụ lệnh hẵn hoi.
Đám sĩ quan cấp trung úy, đại úy biệt phái thì đông hơn, phần đông là thương binh, ít nhiều sứt que gãy gọng. Đám nầy theo học một khóa gì đó ở Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia ở Thủ Đức, còn ba ngoe chúng tôi, trước khi ca khúc “Có ai về miền Tây”, được gởi theo học một khóa “tào lao” gì đó, vui chơi, nhậu, phá hơn là học với các sĩ quan biệt phái thuộc quân khu 3 ở Biên Hòa. Trong số nầy có em út của cố đại tướng Đỗ Cao Trí là Đỗ Cao Thông. Xem ra, anh chàng nầy có “tư cách” hơn chúng tôi, ít ra là anh ta ít nói bậy, chưởi thề. Nhưng nhậu thì anh ta xếp sòng. Hết tiền mua rượu, anh chàng về nhà “chôm” rượu của “ông già”. Thứ rượu ông ta tự nấu lấy, uống vào cở một ly là… không còn biết trời trăng gì nữa, sau khi la to: “OK! đưa tao cái thau” (để ói vào đó).
Trong số sĩ quan biệt phái cấp trung úy, đại úy tôi nói ở trên, có đại úy thương binh Nhảy Dù Nguyễn Văn Thành. Khi tôi về Kiên Lương thì ông Thành về Hà Tiên, hai quận gần nhau. Được ít lâu thì ông Thành bị “Việt Cộng giết” ở ấp Việt Nam 1- thị trấn Hà Tiên.
Tôi viết ở câu trên rằng “bị Việt Cộng giết”. Có người cải chính: “Bọn buôn lậu giết”. Có người nghi ngờ xa hơn: “Anh em mình chớ ai! Ông Thành chỏi với họ.”
Kết luận, tôi nói: “Cho rằng ai giết cũng có lý cả.”
Tôi xin giải thích:
Nhìn lên bản đổ biên giới Việt Miên ở Hà Tiên, người ta thấy loạn xa ngầu những “dấu hiệu kinh tài” và cơ quan dân sự, quân sự:
Trên bản đồ, bên kia biên giới có gắn những dấu hiệu kinh tài (Nói nôm na là thâu thuế hàng lậu): Ban ngày thì có Khmer Lonol, ban đêm thì Khmer Đỏ, và dấu to nhất, có nghĩa là thu thuế mạnh nhất, nhiều nhất là Việt Cộng. Ba dấu hiệu nầy sát cạnh nhau. Bên phía Việt Nam thì có dấu hiệu các cơ quan: Quan thuế, ban 2 Chi Khu Hà Tiên, Quân Cảnh Tư Pháp Hà Tiên, bộ chỉ huy Cảnh Sát QG Hà Tiên, pháo binh, các đơn vị quân đội VNCH có khi là thiết giáp, có khi là một trung đoàn của Sư Đoàn 9 hay sư đoàn 21. Bên phía Việt Nam dấu hiệu tuy không có dấu đồng ($), có nghĩa là không thu thuế hàng lậu, nhưng ai cũng có thể thu thuế dân buôn lậu được hết vì họ có súng, có quyền. Lẻ tẻ thì trên con lộ 80A, từ Kampot, - một thành phố nhỏ của Kampuchia cách Hà Tiên không xa - qua, người Miên, không có tiền mua hàng lậu, không thuộc đường giây, họ đi thồ mướn cho chủ. Một anh lính, sợ thiếu rượu nhậu hơn sợ cấp chỉ huy, bèn gọi anh chàng Miên chở thồ lại, biểu đưa vài chục xài chơi. Anh chàng chở thồ không từ chối được. Đó là nói “việc ngoài đường”. Còn bên trong các văn phòng, đố ai ở ngoài biết được!
Đại úy Thành là một ông nhà binh chân chính. Có nghĩa rằng ông thi hành mệnh lệnh cấp trên một cách nghiêm chỉnh. Khổ nỗi, trung tá Thiều, cấp chỉ huy trực tiếp của tôi và đại úy Thành, gốc Biệt Động Quân, dân Long Xuyên, thuộc loại “anh hùng Lương Sơn Bạc”. Ông chẳng ngán cấp trên của ông. Chính vì ông không ngán cấp trên của ông nên cấp dưới của ông thì lại rất sợ ông. Thành ra, có việc phải lo làm. Ông ra lệnh thì phải chấp hành nghiêm chỉnh. Đừng tin tưởng gì vào cái dù mình đang được che.
Tôi không rõ đại úy Thành có cái dù nào không nhưng khi trung tá Thiều ra lệnh: “Không được cho hàng lậu về Rạch Giá”, thì ông Thành, ở chỗ đầu đường giây buôn lậu, thi hành ráo riết hơn ai hết nên ông bị chúng nó giết. Chúng nó là ai?
Những ai “bị mất quyền lợi” thì làm sao có thể tha tội cho đại úy Thành được. Người mất quyền lợi thì nhiều lắm, gồm có những người buôn lậu, như “Bà Gái Đen” (3), các chú Ba Tàu Chợ Lớn, và những ai nhận chia chác với bọn buôn lậu. Ai thu lợi càng lớn thì ghét đại úy Thành càng nhiều, càng dữ. Vậy thì ai giết đại úy Thành? Rõ quá rồi còn hỏi chi nữa?! Cả bọn hè nhau lại thịt ông Thành. Ông chạy đường nào cho thoát? Trong truyện Kiều, Nguyễn Du viết “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.” Câu nầy áp dụng ở đây cũng đúng vậy!!! Khổ là ông Thành chết đi để lại một vợ 3 con. Thế Lữ viết cuốn truyện “Vàng và máu.” Đây là truyện buôn lậu, nên thêm vào chữ đường, cho đủ nghĩa: “Vàng+ Đường và Máu”.
Sau khi về Kiên Lương, tôi đề nghị cấp trên cho dẹp trạm kiểm soát ở đầu thị trấn, ngay cầu Quán Tre. Muốn ngăn chận Việt Cộng đột nhập vào thị trấn, trạm kiểm soát đó làm được cái gì, chỉ giúp cho mấy “thầy chú” thu tiền mãi lộ mà thôi. Việc ngăn chận Việt Cộng, cần nhất là phải diệt cho hết đám giao liên, tụi nằm vùng. Việt Cộng nằm vùng ở ngay trong thị trấn thì cái trạm đó ở đầu thị trấn có ích lợi gì đâu! Dẹp trạm, là có thêm nhân viên tuần tiểu và theo dõi hạ tầng cơ sở Cộng Sản, ích lợi hơn nhiều. Tôi đích thân trình bày với “xếp” để được cho dẹp trạm.
Tuy nhiên, trước khi dẹp trạm, thấy hai chiếc xe đò chở đầy Phật tử của một ngôi chùa nào đó ở Saigon đi hành hương ở Hà Tiên về, tôi ra lệnh chận xét, tịch thu tất cả số hàng lậu Phật tử mua. Khi tôi vừa xuống xe ở chỗ hai chiếc xe bị bắt giữ, một ông thầy chùa, có lẽ là người lãnh đạo đám đi hành hương, tuổi cũng chưa cao lắm, cỡ một ông đại đức chớ chưa phải là thường tọa, xăm xăm đi lại phía tôi. Có lẽ ông ta muốn can thiệp việc bị bắt hàng lậu. Biết vậy, tôi quay lưng đi sang hướng khác, để khỏi phải nói chuyện với ông ta. Một bà ngồi trên xe nói to lên: “Coi kìa, thầy tới mà ông ta bỏ đi, không nói chuyện với thầy.” Tôi nói nhỏ với thượng sĩ Năm Hùng đang đi bên cạnh tôi: “Ông thầy chùa nầy mở miệng can thiệp việc chở lậu, tui ghi băng rồi nhốt ông ta luôn cho biết mặt. Đi hành hương, hành tỏi thì lo hành hương. Còn chở hàng lậu!”
Năm Hùng cười: “Tôi làm việc ở đây hơn hai mươi năm, chưa thấy ai ngang như ông.” Tôi cười, nói đùa với Năm Hùng: “Mười hai con giáp không có tuổi tui. Tui tuổi con cua.”
Khi tôi về văn phòng, một ông trong số hành hương, xin gặp tôi, tự xưng: “Tôi là thiếu tá giải ngũ, muốn nói chuyện với ông.” Tôi nói ngay: “Giải ngũ hay không giải ngũ không quan trọng. Ông nghĩ rằng ông thiếu tá, loon to hơn tui, nên ông tính chuyện “lấy loon đè người” chớ gì? Xin lỗi, thiếu tá Bằng, tiểu đoàn trưởng 530 ở ngay nhà máy ximăng là học trò cũ của tui. Tui không phải là người đi lính kiếm cơm nên không sợ chuyện loon lá đâu!” Ông ta quay lưng đi ra, không thèm chào tôi một lời.
Việc buôn lậu nầy, sau được giao cho tỏa Hành Chánh tỉnh Kiên Giang giải quyết. Ông Phạm V. Th, khóa 8 Quốc gia Hành Chánh (Khóa nầy, vì tình hình khó khăn tiền bạc, không ai chăm sóc cho hai đứa em của tôi, tôi trình diện học được một tuần thì bỏ ngang, trở về Huế đi dạy học trở lại), phó tỉnh trưởng, than phiền với xếp của tôi: “Ở Hà Tiên hàng lậu bày bán ngang nhiên, ở Kiên Lương lại bắt.” Đó là lời khiếu nại của ông thầy chùa với ông phó tỉnh trưởng. Kể lại chuyện ấy với tôi, “xếp” cười, khuyến khích: “Cứ làm dzậy đi, đừng ngán. Thầy hay cha, ông nào làm bậy cứ làm tới cho tôi.” Tôi hỏi: “Tại sao đại úy Lương không bắt?” Đại úy Huỳnh Ngọc Lương, nổi tiếng cầu thủ bóng đá hồi còn trẻ, có lẽ gia nhập ngành Cảnh Sát trước khi “Quốc trưởng hồi loan”. Xếp của tôi nói: “Ông ta kinh nghiệm hơn. Việc đại úy Thành chưa nguội.”
Đây là dịp béo bở cho những người có trách nhiệm trên con đường Hà Tiên - Rạch Giá, nhưng quả tình nhiều khi các sĩ quan do tôi chỉ huy, khổ sở về việc buôn lậu.
Một hôm, cầu Vàm Rầy sập, mấy ngày xe cộ không qua lại được. Xe đò chở hàng tư Hà Tiên về tới Vàm Rầy thì dừng lại đó, hàng lậu phải chuyển qua sông bằng đò. Do đó, chỗ đầu cầu Vàm Rầy biến thành một cái chợ trời. Hàng lậu bày bán đầy hai bên đường, khách tới lui xôn xao, nhộn nhịp. Về tới nơi, đứng tại chỗ, tôi gọi thiếu úy Nguyễn Minh Ch., trưởng cuộc, hỏi: “Ông mở cái chợ trời nầy hồi nào vậy?”
Thiếu úy Ch. sợ hãi, nói: “Em có mở đâu. Họ ưng thì họ bày ra. Đông quá, dẹp không được. Vã lại, bên quan thuế có người từ Rạch Giá vô tới đây thâu tiền. Dân đóng tiền rồi, nên họ bày bán ngang nhiên.”
- “Ông không thâu thuế thì ông dẹp đi.” Tôi nói.
Thiếu úy Ch. chỉ một người khoảng 50 tuổi, mập, đen, đang đứng xa chỗ tôi một chút, nói với tôi:
- “Ông ấy là quan thuế từ Rạch Giá vô đây thu thuế,”
Tôi nói với thiếu úy Ch.:
- “Anh tới gọi ông đó tới đây gặp tôi.” Rồi tôi quay qua nói với Thiếu úy Kiệt, hôm ấy cùng đi với tôi: “Mấy thằng nầy phải còng nó lại dẫn ra cho biện lý, chúng nó mới chừa.” Bất ngờ lúc đó, xã trưởng Àn đi cùng ông phó quận trưởng Nguyễn Đức Ngh., tới gặp tôi. Ông xã trưởng than phiền mấy bữa nay cầu cầu sập nên tình hình ở đây rất phức tạp, lộn xộn, ông ta không kiểm soát được mà cảnh sát thì bất lực. Tôi bàn với ông phó quận trưởng và ông xã trưởng tìm cách dẹp cái chợ trời nầy đi. Đang mãi mê nói chuyện, khi tôi quay lại hỏi thiếu úy Ch. về tên nhân viên quan thuế đâu rồi thì tên ấy đã lủi mất, xuống đò qua sông trốn về Rạch Giá mất rồi. Bắt hụt tên thu thuế lậu, tôi bực mình cằn nhằn thiếu úy Ch. hoài.
hoànglonghải
(1) Sau 1975, bà Gái Đen tổ chức vượt biên nhiều chuyến lớn, đi trót lọt. Trong số có một người bà con của tôi vượt biên theo đường giây nầy, một chuyến là xong. Sau khi Nguyễn Quang Quýnh mất chức bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, đường giây vượt biên nầy không còn. “Đàn bà dễ có mấy tay”
(2) Ông nầy vừa là bác sĩ riêng của tổng thống, (hình như bác sĩ riêng của gia đình ông Nhu là bác sĩ Hoàng Văn Đức). Bác sĩ Quang còn là đệ tử của ông Trí Quang, ông nhận lệnh tổng thống ra Huế gặp ông Trí Quang để dàn xếp, sau khi vụ đàn áp ở đài phát thanh Huế xảy ra đêm 8 tháng 5 năm 1963, việc bất thành.
(3) Khi có chiến dịch chận bắt buôn lậu do lệnh của phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, tôi nhận chỉ thị từ “xếp” của tôi, “một giọt đường cũng không qua lọt”. Bỗng nhiên có một người đàn ông từ Hà Tiên xuống, đến nhà tôi đưa 300 ngàn đồng. Vợ tôi - theo lời tôi dặn trước -, hễ ai tới nhà cho cái gì, phải gọi tôi về. Thấy vợ tôi cầm máy gọi, người ấy sợ, chạy ra xe Honda dọt mất…
 
 

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 24.01.2009 14:49:48
37. Nghèo không chỉ là khổ mà… Cay Đắng
 

 
Việt Cộng gọi quân đội miền Nam là “lính đánh thuê” (cho Mỹ, dĩ nhiên). Nói cho đúng thì đó là chụp mũ. Nói rộng ra thì chưa hẵn ai là lính đánh thuê, ai không! Nhưng quả thật, Đế Quốc Mỹ là con buôn, con buôn thì ít khi rộng rãi, mà lại rất keo kiệt!
Miền Nam Việt Nam, được cái gọi là Thế Giới Tự Do gọi là “Tiền đồn chống Cộng”. Do đó, lúc ban đầu, miền Nam được giúp đỡ, được viện trợ khá giồi dào. Đến khi “ông nhà giàu” tìm ra con đường đi buôn khác tốt hơn, lời hơn, thu nhập nhiều hơn, bèn thắt hầu bao lại.
 
Vậy là sau khi Nixon đến thăm Hoa Lục ngày 21 tháng 2 năm 1972, gặp Mao, “xóa bài làm lại” bằng cách ký hiệp định Paris 1973 thì Mỹ giảm viện trợ cho miền Nam Việt Nam.
 
Mỹ cắt bớt viện trợ, trong khi binh sĩ vẫn ngày đêm chiến đấu, không ngại gian khổ, hy sinh, thì vật giá leo thang, lương tiền không tăng theo nên bao nhiêu gian khổ, cay đắng xảy ra cho hầu hết mọi gia đình. Thế rồi, “Ký giả đi ăn mày”, thế rồi ở các trường tiểu học, các cô giáo vừa dạy học vừa làm công việc của “mụ cai trường”: Bán kẹo cho học sinh. Và không ít người, từ trước tới giờ chỉ lo việc nội trợ nay phải rời nhà xông ra chợ buôn bán, kiếm thêm ít tiền chi dụng trong nhà.
Sao mà số phận người Việt miền Nam cay đắng vậy!?
 
Trong viễn tượng đó, “Con đường ngọt ngào” trở thành hấp dẫn cho các bà, các mẹ, các chị, các cô gái đi buôn để kiếm thêm tiền cho gia đình.
 
Thành phần đi buôn trên “Con đường ngọt ngào” nầy có nhiều hạng. Đông nhất là gia đình binh sĩ, công chức hạng thấp. Hầu hết, vì lương lậu thấp, không đủ sống nên các mẹ, các bà, các chị, các cô phải xông pha mua bán kiếm thêm chút đỉnh để giúp đỡ gia đình.
Tôi nói kiếm thêm chút đỉnh là nói thật, lời lãi đâu bao nhiêu. Thông thường, mọi người, vốn ít, vã lại chủ xe cũng không cho chở nhiều, mỗi người buôn vài ba bịch, mỗi bịch 10Kg, đem từ Hà Tiên về Rạch Giá hay Cần Thơ thì kiếm bao nhiêu lời. Rồi tiền xe tàu, tiền ăn uống. Dĩ nhiên, họ ăn đường, ngủ chợ. Mỗi chuyến đi, mau thì cũng một ngày, gặp khi trắc trở cũng vài ba ngày, tốn kém lắm. Tôi từng gặp vài người quen cũ, từ Saigon xuống, từ Rạch Giá qua, ghé nhà thăm, hỏi tôi về việc đi buôn hàng lậu. Tôi bảo: “Đừng! Đừng nghe người ta nói, người ta đồn. Cực khổ, tốn kém lắm, lời không bao nhiêu!”
 
Tôi từng chứng kiến bao nhiêu thảm cảnh của những người đi buôn, nhất là khi họ bị bắt giữ, mất cả vốn lẫn lời.
 
Hoàn cảnh những người có trách nhiệm như chúng tôi thì kẹt lắm: Bắt thì kẹt; không bắt, lại kẹt hơn. Hoàn cảnh gia đình binh sĩ, công chức, lương thấp, vốn liếng không bao nhiêu. Bắt người ta khổ, mất vốn; cho đi tự do, cấp trên khiển trách.
 
Tôi dặn các sĩ quan do tôi chỉ huy:
- “Khi không có lệnh, mấy ông làm sao thì làm. (Có nghĩa là làm ngơ, cho đi tự do, nhưng không nói rõ ra như thế). Khi có lệnh thì “một giọt đường cũng không cho về Rạch Giá” như lệnh trên. Đã bắt thì đừng thả. Thả là mang tiếng ăn tiền.”
 
Vậy rồi khi có lệnh bắt, người bị bắt lê thê lết thết, lắm người khóc, chận đường tôi, xin xỏ. Tôi làm gì được!?
 
Có lần, trong buổi họp, nghe báo cáo về việc bắt giữ và những lời than van, trách oán từ các nhân viên nói lại, bực mình, tôi nói: “Vì cái loon quèn nầy mà mình làm nhiều điều thất nhân tâm. Bỏ quách mà về là xong. Đúng là “Quyền lực là liều thuốc độc.” như người Tây phương nói vậy.”
 
Các nhân viên của tôi, nhìn tôi và thông cảm. Họ biết tôi là người đi lạc đường, như tôi thường nửa… đùa, nửa...thật với họ vậy. Mười năm đi dạy là tôi lạc đường vào… giáo dục. Người như tôi mà “giáo dục” gì, ăn nói ẩu tả, cũng không ít khi chưởi thề, chưởi tục. Đúng là “Giáo bất nghiêm, sư chi đọa.” Tôi tình nguyện đi lính là vì cảnh năm ngàn người bị Việt Cộng chôn sống ở Huế hồi tết Mậu Thân, tôi thấy nên chống Cộng bằng cách “bóp cò súng” hơn cách “viết phấn bảng”. Biệt phái qua ngành Cảnh Sát, bạn bè tôi không ít kẻ ngạc nhiên. Vậy là tôi đi… lạc xa hơn. Rồi bây giờ tới việc đi bắt hàng lậu. Nhìn tới tận cùng sự việc, không phải cho hàng lậu đi qua, hay bắt giải quan thuế là xong công việc. Ai đi buôn? Tại sao họ phải đi buôn, vốn liếng họ nhiều ít? Và tôi thấy họ y như… mẹ của mình, chị của mình, em của mình, hoặc vợ, con đồng đội mình! khác gì đâu! Cô Khôôn, con gái ông đại úy Miên, Thiết đoàn 10 Kỵ Binh, mẹ người Việt, nhà ở sát nhà tôi khi tôi còn ở trại Phù Đổng, Gò Vấp, bọn sĩ quan chúng tôi hồi đó thường gọi đùa là cô “Mai Liên” (Miên lai) đi buôn lậu, bị thiếu úy Ch. của tôi bắt, xin gặp tôi. “Trời ơi!” Tôi than “Lặn lội chi cho xa dữ ri? Lời bao nhiêu!” Cô ta không nói được. Chỉ khóc.
 
Ông đại úy, cũng người Miên, chỉ huy một pháo đội ở kinh 8, Kiên Tân, vợ đi buôn, bị bắt. Ông ta gặp tôi, nhờ giúp đỡ. Ông ta than: “Nhà tôi đông con, lương không đủ sống”
 
Một bữa tôi xuống Vàm Rầy, một bà cụ cũng đã lớn tuổi, chận tôi lại. Tôi tránh mặt, đi thẳng vào văn phòng trưởng cuộc, hỏi:
 
- “Bà cụ nào dzậy?”
Thiếu úy Huệ trả lời:

- “Bà ta chỉ có ba bịch đường. Bả xin. Bà có bốn người con trai, đều đi lính. Một nguời được hoãn vì là giáo viên và con độc nhứt còn lại. Con cái đi lính cả, không những không lo cho mẹ được mà mẹ còn giúp đỡ cho con nên bà đi buôn. Tôi chờ hỏi ý kiến chỉ huy trưởng.”
- “Ông nhắm mắt lại đi, rồi biểu phó cuộc Út trả hàng cho bà ta lại. Biểu bà đi cho lẹ, ra khỏi đây càng sớm càng tốt. Kẻ bắt người tha, người ta chưởi cho mà nghe!” Tôi nói.
 
Phải chi nắm được đầu Bà Gái Đen hay mấy ba Tầu chủ chốt buôn lậu ở Hà Tiên mà dẫn ra tòa thì “đã” biết bao nhiêu. Bọn đó sống đế vương, mỗi lần ở Saigon về, dẫn theo không ít gái đẹp. Không ai đụng tới cái lông chân chúng nó được. Đó là gốc. Mấy cái ngọn èo uột nầy đâu có đáng chi!
 
Có một số ít người đi buôn “chuyên nghiệp” hơn, có nghĩa là họ quan hệ chặt chẽ với tài xế, lơ xe, hàng hóa dấu kỹ hơn. Có không ít cô đi buôn như thế, và buộc lòng, mấy cô phải “ngủ” với tài xế hay chủ xe đò.
 
Tất cả các chủ xe đò, đều có buôn hàng lậu cho chính họ. Những người nầy thu lợi khá nhất. Vừa thu tiền vé khách hàng, vừa thu tiền cước, lại chính họ chở hàng lậu cho họ. Họ có chỗ dấu hàng trên xe, dĩ nhiên cho hàng của chính họ hay cho tài xế, “khách ruột” của họ mà thôi.
 
Có những người đi buôn tự túc, tự lái xe chở hàng, tự mua hàng lấy, đem về Saigon.
Một hôm, thiếu úy Ch. trưởng cuộc Cảnh Sát xã Đức Phương, - người thay thiếu úy Huệ, người tôi mới nói ở trên, tử trận -, gọi điện thoại, báo cáo:
 
- “Em mới bắt giữ một cái xe đò lở (loại hơi nhỏ hơn loại thông thường). Trên xe có hai người đàn bà và một người đàn ông. Người đàn ông là trung sĩ, làm việc ở Nha ANCL, bộ Tư Lệnh, có sứ vụ lệnh đi công tác ở Long Khánh, không phải về đây. Hai người dàn bà thì một người đã lén trốn đi mất, có lẽ về Saigon. Một bà ở lại giữ hàng. Xét xe thì ông trung sĩ năn nỉ quá trời, xin đừng xét. Bây giờ em không biết làm sao?”
 
- “Xe chở hàng gì?” Tôi hỏi.
- “Em chưa xét.” Thằng cha trung sĩ và bà chủ năn nỉ quá!” Thiếu úy Ch. trả lời.
- “Nhiều hay ít?” Tôi lại hỏi.
 
- “Cở một góc tư xe, không nhiều. Xe còn trống lắm.” Thiếu úy Ch. báo cáo.
- “Ông nghi người ta chở gì?” Tôi hỏi.
- “Chắc là đường hóa học.” Thiếu úy Ch. nói.
 
- “Cho nhân viên canh giữ chiếc xe, giải giao anh trung sĩ đó về cho tui.” Tôi nói.
Nửa giờ đồng hồ sau, nhân viên của thiếu úy Ch. dẫn anh trung sĩ về tới. Để hù, tôi gọi thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban Tư pháp, nói:
- “Ông nhốt anh nầy đi!”
 
Anh trung sĩ hốt hoảng năn nỉ tôi; hai con mắt đỏ hoe, gần như muốn khóc:
 
- “Tội nghiệp tôi! Tôi nghiệp tôi. Tôi không chở gì quan trọng đâu!”
 
Tôi giữ mặt tĩnh:
 
- “Cái gì trên xe, nói đi. Bao nhiêu ký lô bạch phiến?”
 
- “Dạ không! Dạ không! Em thề không có bạch phiến. Em chỉ chở đường hóa học về bán cho cac tiệm làm kem. Em thề không có gì khác hơn. Đại úy tha cho em!”. Anh ta lại năn nỉ.
 
- “Hai người đàn bà kia là ai? Một bà chạy trốn rồi. Bà ta ở đâu?” Tôi hỏi.
 
- “Dạ thưa! Hai bà nầy là chị em, còn em được nhờ đi, thiệt ra là sai đi. Một bà là chị ông Tư Lệnh, có cửa hàng ở chợ Cầu Muối. Bả về Saigon rồi” Anh ta khai.
 
- “Vậy là tui không thể tha được. Tha ra, mấy bà về mách với ông Tư Lệnh, chúng tôi bắt rồi tha. Lãnh “củ” sao?” Tôi nói, mặt bớt khó chịu.
 
- “Thiệt ra, buôn chừng nầy có thấm gì đâu! Bà thủ tướng cho chở gạo vô Long Khánh, bán cho Việt Cộng thì sao!” Anh trung sĩ trình bày.
 
- “Có thiệt hay anh nói bậy. Coi chừng đụng nhằm ổ kiến lửa ở tù như không!” Tôi nói.
 
- “Em làm ở Nha ANCL, báo cáo về đó, người ta nói um trong phòng, ai cũng biết, riêng gì em đâu! Em nói là nhẹ. Người ta còn chưởi nữa kia. Chưởi thì chưởi, không ai làm gì được.” Anh ta kể.
 
Tôi biết là tôi gặp chuyện rắc rối đây, chị ông Tư Lệnh mà, nên nói với anh ta:
 
- “Tôi không nhốt, nhưng anh không được ra khỏi đây, giấy tờ tui giữ. Anh muốn đi ăn uống gì, phải xin ông Hai Râu, trưởng ban tư pháp của tui. Ổng cho mới được đi. Thôi, anh đi ra đi.”
 
Anh trung sĩ mừng húm, đi ra khỏi phòng tôi, theo chân Thuợng Sĩ Hai Râu. Tôi viết báo cáo tay, - không chính thức, - báo cho xếp toàn bộ chi tiết sự việc. Một giờ đồng hồ sau, nhân viên truyền tin báo cáo với tôi: “Trung tá Chỉ huy trưởng nói cứ giữ lại đó, coi ngày mai có tin tức gì không.”
 
Té ra, ông cũng như tôi, biết mình đang kẹt.
 
Vậy rồi, như ông ta đoán đúng, hay thật. Sáng hôm sau, nhân viên truyền tin báo cáo: “Tỉnh gọi về, theo lệnh bộ Tư Lệnh, bảo thả chiếc xe hàng cho đi ngay.”
 
Nhân viên truyền tin thông báo cho nhân viên truyền tin, không rõ ai là người ra lệnh, chỉ nói là bộ Tư Lệnh, còn tôi là người nhận lệnh thi hành.
 
Tránh mặt anh trung sĩ hôm qua, tôi lại đẩy cho trung úy Đinh Văn Qui: “Ông gọi cho thiếu úy Ch., biểu cho họ đi.”
Về mấy ông chủ xe đò.
 
Có những ông chủ xe đò tôi chưa từng trực diện, chỉ thấy ông ta xuất nhiện ở chỗ xe ông ta bị hỏng như ông chủ xe hàng hãng Tô Châu chẳng hạn, làm chủ bốn năm chiếc xe hàng gì đó, chạy đường nầy. Ông ta ăn mặc theo kiểu ca-bồi tếch-xa: Mũ nỉ rộng vành, quần jean, áo polo, kiếng Reyban, nghênh ngang chẳng thèm nhìn tới ai! Cái dù trên đầu ông ta to lắm. Chớ đụng vào mà mắc nạn. Những chủ xe khác thì thái độ bình thường. Dĩ nhiên, có những ông chủ xe đò “đặc biệt”, như ông Văn Công V. chẳng hạn:
 
Ông ta còn trẻ, chưa tới 40 tuổi, quê xã Tân Hội (xã của Bảy Quẹo), nguyên là trung sĩ Cảnh Sát, trưởng ban căn cước của bộ Chỉ Huy tỉnh.
 
Một hôm, ông ta đi bệnh viện về, ghé thăm tôi. Ông ta nói:
 
- “Tui ở bệnh viện mới ra, bị xe đè nhằm.”
 
- “Ông bị căn cước đè chớ xe nào mà đè được ông!” Tôi nói đùa.
 
Khi ông ta còn làm trưởng ban căn cước, ông ta không khỏi bất mãn tôi.
 
Khi tôi còn ở Kiên Tân, toán của ông về đó làm căn cước cho đồng bào của quận tôi. Quận nầy có 96 ngàn dân. Khi hồ sơ làm căn cước được hoàn tất, chỉ huy trưởng địa phương ký tên trên biên nhận tạm thời. Chỉ huy phó tỉnh sẽ ký sau, trên tờ căn cước chính.
 
Buổi chiều, khi công việc của toán căn cước hoàn tất, tôi ghé lại ký biên nhận tạm. Tôi xem từng hồ sơ và ký tên trên biên nhận tạm cho những ai cư ngụ trong phạm vi quận của tôi. Tôi thấy có những hồ sơ ngụ ở các quận khác như Kiên Bình, Kiên An và cả quận Hiếu Lễ (Sát mật khu U-Minh của Việt Cộng). Tôi không ký những hồ sơ có địa chỉ ngoài quận. Trưởng ban căn cước liền gọi máy cho Đại úy Trịnh Ứng H., trưởng phòng Kỹ Thuật, từ Rạch Giá lái xe ra ký những hồ sơ nầy.
 
Sợ người ta nghĩ rằng mình làm khó, tôi nói chuyện với thiếu úy R. phó của tôi:
- “Anh có nghĩ trong các hồ sơ căn cước, có hồ sơ giả không? Làm sao phát hiện được? Không phát hiện được, sao ký ẩu. Phải không?”
 
Thiếu úy R. giải thích:
- “Tui ở Cảnh Sát hơn chục năm nay, rành chuyện nầy hơn ông. Ai tên 40 tuổi thì quá tuổi quân dịch, khỏi đi lính. Vậy nên những người chưa tới 40 tuổi thì làm căn cước lớn tuổi.”

- “Giá bao nhiêu?” Tôi hỏi.
- “Bốn chục ngàn.” Thiếu úy R. nói.
 
- “Nhiều người làm không?” Tôi lại hỏi.
- “Thằng ấy mua đứt ông như không. Gây khó khăn cho nó, nó cho ông đi chỗ khác chơi, khỏi ngồi ở đây? Ông thấy không! Ông không ký biên nhận (tạm), nó cầm máy truyền tin gọi một tiếng, Trịnh Ứng H. ra ngay. Anh trung sĩ ra lệnh cho ông đại úy thi hành. Buồn cười không?!” Thiếu úy R. lại giải thích.

- “Còn ai làm căn cước giả nữa không?” Tôi lại hỏi.

- “Không phải căn cước giả, căn cước thiệt, nhưng mắc tiền hơn.”

Tôi hỏi liền:

- “Anh nói sao tôi chưa hiểu. Ai?”

- “Việt Cộng!” Thiếu úy R. trả lời, mặt xịu xuống, giải thích thêm:

- “Những thằng tỉnh ủy, huyện ủy, ở trong bưng, muốn có căn cước để đi Saigon, Huế chơi thì có ngay. Bản lăn tay thật, địa chỉ giả, tên giả, quá tuổi quân dịch. Đi đường ai bắt?!”

- “Không sợ bị dân chúng nhìn mặt?” Tôi lại hỏi.

- “Cũng khó nhìn mặt. Tụi nó chừa râu, cạo râu, để tóc làm cho khác đi. Với lại, tôi nói đi Saigon hay Huế là để tránh mặt đồng bào địa phương. Giả tỉ như Trần Bạch Đằng, quê Rạch Giá nầy nè, muốn có căn cước, dễ quá. Bà con nó lo tiền, bản lăn tay đưa vô rừng cho nó lăn, xong đem về, kèm theo hình để râu, để tóc. Ít bữa là có căn cước cho thằng chả đi Saigon chơi!” Thiếu úy R. vừa nói vừa cười.

- “Tôi nhớ khi tôi còn học lớp nhứt, đọc “Nửa Bồ Xuơng Khô” của Vũ Anh Khanh, hình như trong tập 2 thì phải, có kể chuyện Trần Bạch Đằng vào Saigon, bị phát hiện chạy trối chết. Hồi đó chắc dễ hơn, chưa có giấy căn cước.” Tôi kể.

- “Trên đó tụi nó ghê lắm, nhưng phe ta cũng nắm được đầu nhiều thằng. Ở đây dễ hơn. Có căn cước rồi, tụi nó ra Cần Thơ ăn cao lâu, coi cải lương, rồi … chơi bời, ai biết đâu là đâu. Có khi nó ngồi ngay trước mặt mình, mình cũng không biết.” Thiếu úy R. góp ý.
Tôi cười, nói:
- “Giả tỉ như thằng Ba Kiếm ra đây, ai biết nó là ai không? Hồ sơ trận liệt đâu có hình.”
 
Sau nầy, khi trung tá Th. làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát ở Kiên giang, Văn Công V. bị đuổi khỏi chức trưởng ban, bị lập hồ sơ đưa ra tòa hay về bộ Tư Lệnh gì đó, tôi không nhớ chắc. Y được giải ngành, về dân sự, mua xe đò chạy đường Hà Tiên - Rạch Giá, chở hàng lậu. Cở nửa tháng trước khi y đến thăm tôi, tôi nghe báo cáo y bị xe của y đè. Xe chở hàng lậu trọng tải lớn quá, làm cho đường sá mau hư hỏng. Trời mưa, đất mềm, xe bị lún. Y cho con đội đẩy xe lên. Bất đồ, con đội bị lún, xe hạ thấp xuống, đè lên người y. Y bảo là y bị xe đè. Tôi nói là y bị căn cước đè là do những sự việc như trên.
Cũng một hôm, khoảng 2 giờ chiều, thiếu úy Kiệt vào văn phòng nói với tôi: “Đại úy ơi! Trung sĩ Â. Quân cảnh Tư pháp Hà Tiên muốn nhờ đại úy giúp đỡ.”
- “Chuyện gì dzậy?” Tôi hỏi.
 
- “Nó bị thằng cha trưởng ty quan thuế làm khó! Nó có chiếc ghe chở đường, nhân viên quan thuế cho qua nhưng trưởng ty không cho. Tiền bạc sao đó! Thằng Ấ. than “chịu không nổi”. Nó muốn nhờ chỉ huy trưởng.” Thiếu úy Kiệt giải thích.
- “Chi mà làm khó dữ vậy. Nhờ tui bằng cách nào, tui làm gì thằng cha trưởng ty quan thuế được?” Tôi hỏi.

- “Làm sao cho thằng trưỏng ty vắng mặt ở đó. Nhân viên của chả cho ghe qua là xong.” Thiếu úy Kiệt giải thích.

- “Cái đó tui làm được. Nhưng ông có ăn chịu gì với nó không? “Phần nào thôi nghe em!” Đòi cao quá, sinh chuyện, mất công “Ăn khế trả vàng”. (2) Tôi cười nói.

- “Không có đâu đại úy. Tui dân Nam bộ, “điệu đời chút chơi”. Nhậu là chính, một bữa nhậu là coi như ta mình biết nhau là được rồi.”

- “Vậy thì ông nói tài xế Nuôi xuống mời ông trưởng ty lên văn phòng tôi, nói là tôi có chút chuyện muốn hỏi ý kiến ông ta. “Điệu hổ ly sơn.” Được chưa?” Tôi cười hỏi.

Thiếu úy Kiệt cười hớn hở, nói:

- “Ông người Huế mà không giống ai, hèn chi quận trưởng khoái ông lắm!”

Tôi tin ông Kiệt nói thiệt tình, bản tính ông ta biết sợ cấp trên, nhưng không biết nịnh bao giờ.

Thế rồi tôi nói chuyện với ông trưởng ty vui quá, gần ba giờ đồng hồ mới xong. Khi tôi tiển ông ta ra về, trời bắt đầu tối. Tôi vừa trở lại văn phòng thì thiếu úy Kiêt xuất hiện, nói:

- “Trung sĩ Â. chờ đại úy quá trời, chờ không được, nó theo ghe đi Rạch Giá rồi. Nó gởi hai chục ngàn biếu ông.”

- “Tui giúp nó chớ có đòi tiền đâu! Thấy ghét thằng chả trưởng ty làm khó người ta thì tôi chỏi lại chơi.”

Thiếu úy Kiệt cười:

- “Được rồi! Tui biết mà! Nhưng kỳ nầy chỉ huy trưởng khỏi lo chạy tiền. Có công văn thông báo tuần sau phái đoàn thanh tra tới. Đại úy có tiền đãi phái đoàn ăn nhà hàng.”

Kỳ sau: bắt bạch phiến
hoànglonghải
 
(1) Ba Kiếm, bí thư huyện Châu Thành B, Rạch Giá, gốc Bắc vào Nam thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54). Có người nói y là bố đẻ Nguyễn Tấn Dũng. Hồ sơ tình báo không ghi nhận hoạt động gì của y tại địa phương.
(2) “Ăn khế trả vàng. May túi ba gang mà đựng.” là chuyện cổ tích. Ngày xưa, có hai anh em nhà kia, cha mẹ chết cả. Gia tài cha mẹ để lại, người anh giành hết, chỉ cho người em cây khế. Một năm, tới mùa khế chín, có con chim đại bàng đến ăn khế. Thấy vậy, người em than:
- “Đại bàng ơi! Tui chỉ có cây khế. Đại bàng ăn hết, tui lấy chi bán mua gạo.”
Nghe than như vậy, chim đại bàng nói:
- “Ăn khế trả vàng, may túi ba gang mà đựng.”
Hôm sau, chim đại bàng tới, bảo người em cầm cái túi ba gang, leo lên ngồi trên lưng chim đại bàng.
 
Chim đại bàng bay tới một ngọn núi, toàn là vàng. Chim đại bàng bảo người em lượm vàng bỏ vài túi cho đầy, rồi leo lên lưng chim đại bàng chở về.
Nhờ vậy, người em trở nên giàu có. Người anh tò mò, hỏi em. Tình thực, người em có sao kể lại vậy.
Lòng tham nổi lên, người anh bèn giao hết nhà cửa cho em, chỉ lấy cây khế mà thôi.
 
Thế rồi, chim đại bàng lại đến, người anh leo lên lưng chim bay tới núi vàng. Thay vì may túi ba gang, vì tham, người anh may túi sáu gang. Khi về, bay ngang biển, nặng quá, chim đại bàng bay không nổi, bèn nghiêng cánh. Người anh bị rớt xuống biển, chết mất. Tham thì thâm là vậy.
 
“Ăn khế trả vàng” là câu tôi thường nhắc chừng thuộc cấp của tôi. Ăn hối lộ của người dân một, cơ quan an ninh hoặc thanh tra tới điều tra, lại phải chạy chọt, nhân viên an ninh lại ăn gấp đôi, có khi gấp ba mới thoát khỏi tội. Đúng là “Ăn khế trả vàng.” Tôi thường nói: “An ninh, thanh tra là cơ quan tham nhũng bậc hai. Chúng ta ăn bậc một, họ ăn bậc hai, chạy tiền chết luôn. “Ăn khế trả vàng.”

 

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 24.01.2009 15:03:50
38. Lãnh một triệu xài chơi!
 


Buổi chiều ngày 14 tháng 12 năm 1973, tôi đứng giữa sân, xem trung sĩ Cẩn xây lại bệ cột cờ.
  
Cột cờ nầy dựng từ lâu, bằng sắt. Mấy thầy chú của tôi, lái xe ẩu, mấy lần đụng nghiêng cột cờ, bị tôi cự nự. Dị đoan hay không, làm đổ cột cờ là điều không nên!
  
Để ngăn ngừa mấy thầy chú lái ẩu, tôi không dời cột cờ đi nơi khác. Người ta kiêng việc ấy. Hồi tôi còn đi dậy, trung tá TĐT Thiết Đoàn 7, đóng ở Trường Bia, cạnh chân núi Ngự Bình, nói với tôi chuyện ông ta dời cột cờ. Tháng sau, chi đoàn của ông đóng ở La Vang, bị đặc công chui hàng rào vào tấn công, đốt cháy mấy xe, đại úy S. Chi Đoàn Trưởng bay chức. Đó là một kinh nghiệm, nên tôi chỉ củng cố chân cột cờ cho vững, xe không đụng được. Tôi vẽ kiểu, biểu thượng sĩ Hai điếc liên lạc với thầy Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học Kiên Lương, chủ lò vôi, xin một ít đá vôi trắng , và xin nhà máy xi măng Hà Tiên ít bao xi măng về thực hiện công việc. Trung úy Qui đi học bổ túc ở Học Viện về, đem theo môt ít hột giống bông cúc tây vàng, rải trồng quanh cột cờ. Bông đẹp lắm.
  
Bỗng nhìn ra đường, tôi thấy một chiếc xe Taxi, sơn màu xanh trắng, hiệu Renault, “quatre cheveaux” chạy qua. Trên xe có một người lái và một người ngồi bên cạnh. Cả hai đều là đàn ông. Tôi tự hỏi, xe Taxi Saigon về đây làm chi? Xe về quận tôi hay đi Hà Tiên?
  
Nghĩ vậy xong, tôi gọi thiếu úy Kiệt. Ông nầy làm việc chăm chỉ, nhưng thường thiếu kế hoạch. Vạch kế hoạch rồi, giao cho anh, anh làm hay lắm!
  
Môt chốc, thiếu uý Kiệt tới, tôi hỏi:
  
- “Ông có thấy chiếc xe Taxi mới chạy qua không?”
 
- “Có, tui có thấy chạy qua?” Thiếu úy Kiệt trả lời.
  
- “Ông có nghi gì không?” Tôi lại hỏi.
  
- “Nghi gì?” Thiếu úy Kiệt hỏi lại tôi.
  
- “Thì xe Taxi Saigon về đây làm chi? Coi thử có chi khác thường không?” Tôi nói. Thiếu úy Kiệt không trả lời.
  
Một lúc, tôi lại nói:
  
- “Gọi “thổ công” Năm Hùng đi. Hỏi cha nầy coi.”
  
Thượng sĩ Năm Hùng tới, không biết chuyện chiếc xe Taxi nên đứng ngó tôi. Tôi nói:
  
- “Mới có chiếc xe Taxi chạy qua đây, chắc đi Hà Tiên. Anh có suy nghĩ gì không?”
  
- “Chắc người ta đi vía Bà.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.
  
- “Vía Bà ở núi Sam. Phải không?” Tôi lại hỏi.
  
- “Núi Sam bên Châu Đốc.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.
  
- “Bên Châu Đốc qua đây làm chi?” Tôi lại thắc mắc.
  
- “Có khi người ta đi vía Bà bên đó rồi qua đây chơi!” Thiếu úy Kiệt trả lời.
  
- “Vía Bà tháng mấy?” Tôi lại hỏi.
  
- “Vía bà tháng sáu hay tháng bảy gì đó.” Thượng sĩ Năm Hùng trả lời.
  
- “Bây giờ là tháng 12. Cái nầy nhắm bộ không xong!” Tôi nói.
  
Tôi đi vào văn phòng. Hai người ấy đi theo. Tôi ngồi xuống ghế ở phòng khách. Hai người kia ngồi đối diện. Tôi nói với họ:
  
- “Tui vẫn chưa hết thắc mắc xe Taxi nầy. Mình cố tìm câu trả lời cho ra.”
  
Thượng sĩ Năm Hùng, vốn nhiều kinh nghiệm, nói với tôi:
  
- “Dân Hà Tiên nhiều người lên Saigon làm ăn, có thể họ chạy Taxi. Ở nhà có đám cưới hay đám ma gì đó, họ về dự.”
  
- “Thôi cho người theo đi, cho chắc ăn.” Tôi nói.
  
Nghe tôi nói vậy, thiếu úy Kiệt hỏi:
  
- “Cho ai theo bây giờ?”
  
- “Bên anh có anh chàng nào người Hà Tiên, cấp cho nó giấy phép đi Hà Tiên thăm nhà, đừng làm sự vụ lệnh, giao việc theo dõi cho nó.”
  
Thượng sĩ Năm Hùng nói:
  
- “Phan Thành Long nhà ở Hà Tiên, sai anh ta đi. Tay nầy trẻ, lanh lợi, chắc được việc.”
  
Vậy là PTL được gọi tới, trong khi thượng sĩ Bảy Hùng làm giấy phép cho Long, tôi cùng thiếu úy Kiệt, Năm Hùng ngồi nói chuyện với Long. Sau khi thiếu úy Kiệt thuật chuyện chiếc xe Taxi xong, tôi nói với Long, anh ta đang đứng bên cạnh thiếu úy Kiệt.
  
- “Không biết chắc chiếc xe Taxi về Hà Tiên làm chi! Dã dụ vài dự kiến như về đám ma hay đám cưới. Vậy khi em lên Hà Tiên kiếm nó, thấy nó đang đậu trước nhà ai, trong nhà đang treo đèn kết hoa làm đám cưới, hoặc nhà ai đang chuẩn bị giỗ kỵ, thì em chỉ cần hỏi qua cho chắc. Vậy là được. Mình chỉ cần đề phòng Taxi lợi dụng đám lễ để buôn lậu mà thôi. Còn như em thấy gì khác, có gì nghi ngờ thì sáng mai về đây cho sớm, đi chuyến xe đầu Hà Tiên - Saigon, về đây báo cáo cho tôi hay để tôi liệu cách. Còn trường hợp gấp lắm, không có cách nào nhanh hơn thì em vô bộ Chỉ Huy Hà Tiên, gọi máy về đây cho tôi. Nhớ kín đáo ghi số xe. Đừng cho Hà Tiên biết là em lên công tác trên đó. Tới lãnh thổ người ta làm việc mà không báo cáo, không phối hợp, nó chưởi cho mà nghe! Tôi cấp giấy phép đi nghỉ cho em là vì vậy. Nghe rõ không?”
  
- “Em nghe rõ, đại úy.” Long trả lời tôi.
  
Vừa xong thì thượng sĩ Bảy Hùng đem giấy nghỉ phép qua cho Long. Anh ta ra đón xe đò đi ngay Hà Tiên.
  
Sáng hôm sau, ngày 15 tháng 12 năm 1973, - ngày sinh nhật đứa con gái thứ nhì của tôi được 10 tuổi -, khoảng hơn 6 giờ sáng, mùa đông trời còn tối lắm, tôi vừa thức thì nghe tiếng xe đò ngừng lại cách trước nhà tôi không xa. Nghĩ rằng Phan Thành Long xuống xe, tôi thức dậy, đứng sát cửa, mở khóa nhưng chưa mở cửa. Tôi nghe tiếng chân đi vội vào sân nhà tôi, rồi qua khe cửa, tôi thấy vạt áo Long hiện ra phía ngoài. Tôi mở cửa cho anh ta vào, tay kia bật “công-tắc” điện.
  
Long vào nhà, tôi chưa kịp đóng cửa, thiếu úy Kiệt vào tiếp sau. Té ra ông Kiệt cũng lo việc. Khi nghe tiếng xe đò ngừng, đoán là Long về, thiếu úy Kiệt tức tốc qua nhà tôi. Chỉ ghế cho Long ngồi, tôi hỏi: “Sao?”
  
- “Xe Taxi không ghé nhà ai hết. Hôm qua, xe đậu ở ngoài bến tầu. Trên xe chỉ có môt mình ông lái xe. Còn ông kia đi đâu không biết! Tới 12 giờ đêm, lang thang ngoài bến xe không tiện, em về nhà ngủ. Sáng nay, khi em ra bến xe về đây thì chiếc Taxi vẫn đậu ở chỗ cũ. Ông tài xế còn ngủ, ông kia cũng chưa về.”
  
Tôi cười:
  
- “Ô-kê! Vậy là tốt, xem như em xong việc, về ngủ đi. Để đó tui với thiếu úy Kiệt lo.”
  
Trời còn sớm. Tôi nói với thiếu úy Kiệt: “Tui chuẩn bị kế hoạch xong rồi, mình đi uống càphê!”
  
Bảy giờ sáng, tôi về văn phòng, bảo tuyền tin gọi thiếu úy Chiếu, trưởng cuôc Cảnh Sát Dương Hòa, theo trục lộ thì ở phía đầu trên bộ chỉ huy của tôi, và thiếu úy Bạch, trưởng cuộc An Bình, ở phía đầu dưới, lên cho tôi gặp ngay.
  
Khi thiếu úy Chiếu tới, tôi dặn:
  
- “Ông cùng hai nhân viên, mặc đồ dân sự, mang theo máy truyền tin, dấu máy, không cho ai thấy, ra ngồi ở miếu Bà Chúa Xứ, giả làm như khách đi cúng Bà. Hễ ông thấy chiếc xe Taxi sơn màu xanh trắng, từ Hà Tiên chạy về thì báo ngay cho tôi. Nhớ xem trên xe có bao nhiêu người. Tôi ngồi trong hầm truyền tin chờ tin ông. Nghe rõ không?”
  
- “Nghe rõ, đại úy.” Thiếu úy Chiếu trả lời.
  
- “Thôi, ông về ngay cho kịp, lỡ chiếc xe ấy xuống sớm.” Xong, khi thiếu úy Chiếu ra sân, tới chỗ chiếc xe Honda của ông, tôi dặn với: “Đừng để vuột xe là không được đâu nghe!” Thiếu úy Chiếu “Dạ” rồi lên xe phóng đi.
  
Khi thiếu úy Bạch lên tới, tôi dặn:
  
- “Ông về mang hia đội mão, loon lá đàng hoàng, cùng thêm với một vài nhân viên nữa, chọn ai lanh lợi. Nhớ mang máy truyền tin theo. Trực trong văn phòng, đừng đi đâu. Hễ tôi gọi máy xuống, bảo gì, ông làm ngay. Nghe rõ không?’
  
- “Dạ! Nghe rõ, đại úy.” Thiếu úy Bạch trả lời.
  
Khi ông ta ra sân, sắp lên xe Honda, tôi cũng dặn với:
  
- “Thường trực ở văn phòng nghe không, không đi đâu, tôi gọi có liền. Nghe không?”
  
Thiếu úy Bạch “Dạ” rồi cũng lên xe phóng đi.
  
Tôi gọi trung sĩ Phan Chánh Tiêm, truyền tin, nói:
  
- “Tui ngồi đây. Anh trực trong đó, không được bỏ máy. Thiếu úy Chiếu hay thượng sĩ Chuẩn ở Dương Hòa gọi về thì báo cho tôi ngay.”
  
Trung sĩ Tiêm “Dạ” rồi đi vào hầm truyền tin.
  
Khoảng gần 10giờ rưởi, thiếu úy Chiếu gọi tôi lên đầu máy:
  
- “Báo cáo đại úy. Xe Taxi mới đi ngang em.”
  
- “Trên xe mấy người?” Tôi hỏi.
  
- “Hai người, hai người đàn ông.” Thiếu úy Chiếu trả lời.
  
- “Coi chừng xe chạy vô Chùa Hang mà không về đây. Nếu vậy thì ông theo ngay. Gọi cho tui.” Tôi dặn.
  
Vì thiếu úy Chiếu dùng máy FM-1, di động, nên tôi nghe không được rõ lắm, nhưng cũng không có chi trở ngại. Tôi gọi ngay cho thiếu úy Bạch:
  
- “Có chiếc Taxi từ Hà Tiên về, vừa qua khỏi chỗ ông Chiếu. Nó sẽ đi về phía ông. Ông mang hia mão, ra đứng ngay trước cuộc của ông, chờ xe đi tới thì chặn xét, vừa xét vừa báo cáo cho tôi hay. Ông đề phòng. Có thể chiếc xe không đi ngang trụ sở của ông. Nó đi vòng phía sau, theo ngã cư xá. Nhớ canh chừng từ xa. Hễ thấy nó vòng vô cứ xá là ông lên xe Honda phóng theo ngay. Gọi cho tôi ngay.”
  
Tôi nghe tiếng thiếu úy Bạch “Dạ” trong máy. Xong, tôi ra ngồi ở cửa sổ, tránh phía Hà Tiên về cho tài xế Taxi khỏi thấy, chờ chiếc xe đi qua. Tôi nghĩ thầm trong lòng: “Nếu mày chở hàng quốc cấm thì có chạy đằng trời!”
  
Một chốc, khi xe Taxi đi qua xong, tôi vào ngồi hẵn trong hầm truyền tin chờ thiếu úy Bạch gọi máy.
  
Mười phút sau, thiếu úy Bạch gọi cho tôi:
  
- “Em đang xét xe.”
  
- “Xét thật kỹ.” Tôi dặn.
  
Một lúc, thiếu úy Bạch gọi:
  
- “Em không thấy gì hết.”
  
- “Lật nệm xe lên.” Tôi nói.
  
- “Rồi! Không có gì hết.” Thiếu úy Bạch lại gọi.
  
- “Xét kỹ mui xe. Gõ mạnh vào.” Tôi nói.
  
Một lúc, lại nghe thiếu úy Bạch nói:
  
- “Cũng không có gì hết.”
  
Tôi nghĩ thầm, không lý xách một chiếc xe từ Saigon về, ngủ một đêm ở bến tầu, rồi lại về không. Tôi lại gọi thiếu úy Bạch:
  
- “Ông xét cốp xe chưa?”
  
- “Chỉ có máy xe đại úy ơi!” Thiếu úy Bạch trả lời tôi.
  
Tôi nói:
  
- “Xe Taxi máy nằm ở phía sau. Cốp xe ở phía trước. Ông xét kỹ cho tui.”
  
- “Không có gì hết!” Một chốc, thiếu úy Bạch lại trả lời.
  
- “Có bánh “xơ-cua” không?” Tôi lại hỏi.
  
- “Dạ có!” Thiếu úy Bạch trả lời.
  
- “Xem có dấu gì trong đó không? Lấy cây gõ mạnh xem. Gõ đều quanh bánh.” Tôi dặn.
  
- “Chắc không có gì trong đó.” Lại có tiếng thiếu úy Bạch.
  
- “Không có gì? Không có gì hết trơn hay sao?” Tôi hỏi, hơi gay gắt.
  
- “Dạ, có hai khung hình.” Thiếu úy Bạch nói, giọng hơi run vì nghe tôi hỏi rất gắt.
  
- “Khung hình mỗi bề bao lớn?” Tôi hỏi.
  
- “Mỗi bè cỡ bốn năm tấc!” Thiếu úy Bạch đáp lại.
  
- “Dày mỏng?” Tôi lại hỏi.
  
- “Dảy cỡ hơn lóng tay.” Thiếu úy Bạch nói.
  
- “Có thể dấu cái gì trong đó được không?” Tôi lại hỏi.
  
Thay vì tiếng thiếu úy Bạch trả lời, tôi lại nghe giọng nói xã trưởng Tạ Phước Thiện. Ông nầy là cháu nhà văn Sơn Nam, gọi bằng cậu. Thấy chuyện lạ, ông ta tò mò chạy ra xem, luôn dịp cầm máy truyền tin trả lời tôi:
 
- “Dám lắm, đại úy!”
  
Tôi nói:
  
- “Mở ra xem!”
  
Có tiếng thúy úy Bạch:
  
- “Khung hình làm bên Thái Lan, dán đẹp lắm, mở ra lỡ không có gì, người ta đền.”
  
Tôi bực mình vì cái nhát của thiếu úy Bạch, nói to, gần như nạt:
  
- “Ông cứ mở ra đi, không có gì tôi đền cho!”
  
Một lúc, thiếu úy Bạch gọi tôi:
  
- “Đại úy ơi! Em thấy có chất bột gì trắng, như bột giặt.”
  
Biết là bạch phiến, tôi vụt ngay ống nghe xuống, tức tốc phóng ra sân trước. Xe tôi đi công tác chưa về. Quay lui, thấy thượng sĩ Năm Hùng đang theo tôi, tôi hỏi to:
  
- “Xe ông đâu?”
  
Thượng sĩ Năm Hùng vội dắt xe Honda của ông từ garage ra. Tôi ngồi lên, luống cuống, đạp tới lần thứ ba xe mới nổ. Nhìn lui thấy thượng sĩ Năm Hùng ngồi phía sau. Tôi phóng hết ga xuống chỗ thiếu úy Bạch. Sau nầy, thượng sĩ Hùng kể lại: “Ổng phóng như bay, y như đua xe trong ciné. Tui ngồi sau cũng hết hồn!”
  
Xuống tới nơi, tôi biểu đưa người và tang vật vào văn phòng, lập biên bản. Hai người đàn ông trên xe, chỉ còn một người. Tôi hốt hoảng hỏi thiếu úy Bạch, giọng thật to:
  
- “Còn đâu một người nữa?”
  
Thiếu úy Bạch lúng túng chưa biềt trả lời sao thì thấy thượng sĩ Tô Minh Tăng, mặt mày đỏ gay, sừng sộ với người thứ hai do ông ta đang dẫn vô. Thượng sĩ Tăng nói:
  
- “Thằng nầy bỏ trốn sang ngã cư xá. Tui chạy theo rút súng dí vô đầu nó, dẫn về. Nó tưởng qua được tui!”
  
Tôi cười vui mừng vì bắt lại được tên chạy trốn và cũng thấy buồn cười cho mấy ông nhân viên Nam bộ của tôi. Nóng nảy, dữ dằn vậy nhưng tốt bụng lắm.
 
Khoảng hai mươi phút sau, thiếu úy Kiệt đứng sát bên tôi, nói nhỏ, có vẻ ngại ngùng:
  
- “Tụi nó chịu chạy để tha. Đại úy nghĩ sao?”
  
Tôi nói ngay:
  
- “Không được. Không được đâu. Này, ông xem.” Tôi giải thích với thiếu úy Kiệt: “Vỡ lỡ ra, một là tù. Tù nầy nhục nhã lắm. Hai, tứ đổ tường (1), tui không chơi được; gốc tui là thầy giáo dạy Công Dân Giáo Dục mà. Ba, “Ăn khế trả vàng.” Bốn, cháu chắt tôi cả đống ở Saigon. “Gieo nhân gặt quả.” Tui tha cho đi, bạch phiến lên tới Saigon, cháu chắt tôi hút. Hại còn quá cha cái lợi. Bên quân đội người ta đánh giặc ngày đêm. Mình đỡ lạnh giò hơn, còn ăn hối lộ bạch phiến. “Đâm sau lưng chiến sĩ”. Mà dao nầy đâm mạnh lắm! Thôi ông ơi! Người ta chưởi cho mà nghe. Không xong, việc đó không xong.”
  
Thiếu úy Kiệt làm thinh. Đứng yên. Được một lúc, cũng có suy nghĩ về việc chạy chọt, chắc là món tiền to, tôi hỏi:
  
- “Tụi nó chịu bao nhiêu?”
  
- “Ba triệu!” Thiếu úy Kiệt nói.
  
- “Úi trời! Bao giờ mình mới kiếm được ba triệu!” Tôi vừa nói vừa cười. Một lúc tôi lại nói với thiếu úy Kiệt:
  
- “Ba ký lô bạch phiến, ít ra mình cũng được Ủy Ban Bài Trừ Ma Túy Trung Ương thưởng khoảng hơn hai triệu. Hai triệu nầy “an toàn xa lộ” hơn. Khỏe re! Ăn ít một chút mà khỏe re!”
  
Một lúc, thiếu úy Kiệt nói với tôi:
  
- “Tính xa tính gần như đại úy, tôi cũng thấy an tâm, khỏe.”
  
Tôi cười, nói với vẻ vui sướng:
  
- “Nhiều cái khỏe lắm ông ơi! Dã như mình đớp ba triệu, bể ra, mai mốt tụi nó về thanh tra, hạch xách đủ điều. Có khi ba triệu mình nhận không đủ đút vô mõm chó tụi nó. Còn như bây giờ, sợ gì chúng? Tụi nó đàng hoàng, không hoạnh họe, mình đãi chúng nó ra nhà hàng ăn chơi. Đứa nào cà chớn, để cho tụi nó đói rã họng, ra giữa chợ Tròn mà ăn cơm lao động. Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi thường nói: “Có tội bú dái không tha, không tội chưởi cha không sợ.” Mắc mớ chi mình đi bú dái ai. Mình không tội thì “Làm gì được nhau?”
  
Rút kinh nghiệm vụ bắt thuốc phiện ở Kiên Tân hồi trước, tôi gọi thượng sĩ Hai Râu làm báo cáo gởi về ngay cho Rạch Giá, yêu cầu cho người vào ngay.
  
Năm tôi về Kiên Tân, bàn giao chức vụ xong mấy ngày, tôi dọn dẹp đồ đạc giấy tờ trong các hộc bàn làm việc. Tôi lôi từ trong ngăn tủ bàn giấy, bên phải, một cái giỏ lớn, cỡ năm sáu kýlô, một thứ thuốc đen như thuốc tể người ta hay dùng. Tôi gọi thượng sĩ Lê Đức Vũ, trưởng ban hành quân, hỏi. Ông ta nói:
  
- “Bắt được hồi năm kia, ban đầu tưởng là thuốc phiện, sau xem lại thì không phải. Hàng bị tịch thu, người được tha.”
  
Tôi cười, nghi ngờ:
  
- “Nếu không phải thuốc phiện thì trả hàng cho người ta. Sao lại giữ hàng. Cái nầy có phải là hàng cấm đâu!”
  
Thượng sĩ Lê Đức Vũ không trả lời, chỉ nhìn tôi cười. Thấy vậy, tôi nói:
  
- “Thuốc tể mà thành cứt dê! Hay thiệt. Người ta có phù phép biến hóa.”
  
Xong, tôi bảo thưuợng sĩ Vũ đem bỏ thùng rác. Việc xong rồi, còn giữ “tang vật” làm chi. Mấy ngày sau, thượng sĩ Vũ nói chuyện ấy với thiếu úy Rớt: “Ông người Huế nầy tinh lắm.” Nghe thiếu úy Rớt kể lại chuyện ấy, tôi nói đùa:
  
- “Tui dân Quảng Trị, “Miền hỏa tuyến” nên tới đâu cháy đó!”
  
Bạch phiến, sau khi bắt phải thử mới biết chắc. Tôi sợ lỡ khi thử không phải thì người ta sẽ nghi tôi tráo hàng để ăn tiền. Do đó, tôi bảo thiếu úy Kiệt xuống cửa hàng chú ba Tầu Mao Thạch Thành mượn cái cân Roberval, để hai bao bạch phiến lên cân, rồi chưng ngay tại văn phòng Hội Đồng Xã, sát cửa sổ cho mọi người xem. Lỡ khi phòng tư pháp ở Rạch Giá cử người vào, xét không phải là bạch phiến thì thiên hạ làm chứng cho tôi. Giữa thanh thiên bạch nhật, giữa văn phòng Hội Đồng Xã, đồng bào hai ba lớp chen nhau đứng xem, tôi tráo hàng thế nào được?
  
Tôi muốn mọi việc rõ ràng để tránh tiếng, nhưng đó là một thất bại.
  
Khoảng hai giờ chiều, Rạch Giá gởi vào mấy người, gồm có ông thiếu tá Lê Văn Thao, chỉ huy phó tỉnh, trưởng toán cùng mấy ông thượng sĩ, trung sĩ phòng tư pháp, trong số có trung sĩ Lê Văn Lời. Anh nầy lấy thuốc ra thử, xác nhận đây chính là bạch phiến, rồi lập biên bản xác nghiệm. Sau đó, tôi giao hết tất cả tang vật và tội nhân cho họ. Riêng xe Taxi, họ chưa nhận, tôi cho tài xế Trang lái về cơ quan tôi, để trong garage.
  
Mới vào, quan sát chung sự việc đâu đó rồi, thiếu tá Thao nói với tôi:
  
- “Được việc nầy, ông trung tá rất mừng. Năm nay bốn vùng thi đua bài trừ ma túy. Vùng 1, vùng 2, vùng 3 đã có kết quả. Có vùng đã bắt được bạch phiến số lượng lớn. Riêng vùng 4 chưa có gì hết nên nghe tin nầy, ở Cần Thơ cũng mừng để có kết quả với các nơi. Nghe tin, đại tá Lê Cảnh Vệ (2) cũng mừng. Ông sẽ xuống thăm, chúc mừng anh.”
  
Tôi hỏi:
  
- “Nghe nói tháng trước ở Phú Quốc có bắt được thuốc phiện mà?”
  
- “Nhiều lắm!” Thiếu tá Thao nói. “Vậy mà cuối cùng chẳng ai báo cáo gì hết. Chỉ là tin đồn.”
  
- “Tìn đồn?” Tôi hỏi. “Tôi nghe nói có mấy bao thuốc phiện bị sóng biển trôi tấp vô Dương Đông.”
  
- “Cũng tin đồn thôi! Không ai bao cáo bắt được gì hết. Ai nghĩ sao thì nghĩ.”
  
Một lúc, thiếu tá Thao nói với tôi:
  
- “Đại úy chưng công khai ra như vậy là không nên. Gốc của nó là ở Hà Tiên. Đây làm ầm ầm như thế nầy, bọn Hà Tiên biết bị động, dời ổ. Lên đó, chắc tôi không đạt kết quả lớn.”
  
Thế rồi đám ở Rạch Giá đi, sau khi nhận bàn giao của tôi, kéo nhau lên Hà Tiên. Lên đó, họ bắt được một anh chàng Thái Lan. Trong ví anh nầy, có tấm hình một người đàn bà Việt Nam đang ở trên đó. Bà nầy lại là bồ hay gì đó với trung sĩ Sáu Lương, trưởng ban nhân viên bộ chỉ huy Cảnh Sát Hà Tiên. Thế là cả đám bị đưa ra tòa án ở Saigon. Hai người bị 10 năm tù là Vũ Văn Đặng, tài xế. Người đi với ông ta cũng y án, tôi không nhớ tên. Mấy người kia cũng vài ba năm gì đó.
  
Mấy tháng sau, tôi nhận tiền thưởng. Chia phần cho những người có công tham gia xong, tôi lấy máy bay hãng ximăng Hà Tiên cho nhà tôi đi Saigon, mang theo một triệu đồng xà chơi!
  
Trong khi đó thì các người vi phạm tội buôn bạch phiến còn ngồi trong tù? Vui hay buồn đây. Đời biết sao nói được?!
  
hoànglonghải
  
(Kỳ tới: Bắt nửa triệu bạc giả nhưng không được xài chơi)
  
(1) Tứ đổ tường là danh từ rất phổ biến thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông muốn triệt tiêu hoàn toàn bốn thứ “hại dân hại nước” nầy: một là bạch phiến, thuốc phiện; hai là rượu chè; ba là cờ bạc; bốn là đĩ điếm.
  
(2) Đại tá Lê Cảnh Vệ, cùng quê Quảng Trị với tôi. Khi ông làm trưởng ty Công An ở đó, năm 1948-49, tôi còn là “học trò thò lò mũi xanh.” Năm 1971, khi được biệt phái qua ngành Cảnh Sát, cùng với Trương Tâm Như, Dương Trường Hội như tôi có kể phần trước, tôi đến gặp Thượng Nghị Sĩ Hoàng Xuân Tửu, - cũng quê Quảng Trị và anh một người bạn rất thân, vã lại nhà tôi là học trò cũ của ông; trước kia, vợ chồng tôi thường đến thăm ông -, về việc phải đổi đi xa. TNS HXT trấn an tôi, bảo cứ về Cần Thơ, ông sẽ nhắn với ĐT LCV, có khó khăn gì, ông ấy sẽ giúp cho. Tôi nghe lời. Trước khi nhận nhiệm vụ ở Kiên Tân, tôi có đến cám ơn. Qua quan hệ đồng hương, tôi được giúp đỡ. Vì vậy, khi nghe tin tôi làm việc có kết quả, ĐT LCV rất mừng. Quả thật, vài tháng sau, ông xuống thăm, mừng tôi.
 
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 24.01.2009 15:06:54 bởi lyenson >

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 24.01.2009 15:17:12
39. Bắt nửa triệu bạc giả, nhưng không được… xài chơi!


 
Đầu tháng 3 -1975, tôi đi Rạch Giá, để nhận chỉ thị về việc triệt tiêu nguồn hàng lậu từ Thái Lan nhập vào Việt Nam qua ngã Hà Tiên.
Đây là hiện tượng chảy máu vàng, như tôi trình bày ở trước. Tuy nhiên, tôi không ở đầu nguồn đường giây buôn lậu, tôi chỉ ở khúc giữa, trách nhiệm “khỏe” hơn. Vã lại, tôi không đặt nặng việc chính phủ thất thu thuế vì hàng lậu. Việc ấy, nắm đầu mấy tay đầu sỏ ở Hà Tiên là xong. Tại sao không làm việc đó, tôi không biết. Bắt hàng lậu, bao nhiêu cảnh đau lòng xảy ra, nên tôi không muốn. Còn việc thất thu thuế: buồn cười chưa. “Trời mưa đất chịu.” Việt Nam là “tiền đồn chống Cộng, bảo về thế giới Tự Do, đứng đầu là Mỹ” thì Mỹ phải viện trợ cho VN. Thành ra, Mỹ đã nắm tiền bạc, đã lo tiền bạc thì thiếu bao nhiêu tiền, Mỹ lo, Mỹ chịu!
 
Tuy nhiên, từ sau hiệp định Paris 1973 tới giờ, càng ngày Mỹ càng cắt bớt viện trợ, thắt hầu bao nên tình hình tài chánh miền Nam càng ngày càng khó khăn. Vì vậy, chính phủ cần soát xét lại những nơi, những sự việc làm chính phủ thất thu, nhất là đường giây buôn lậu Hà Tiên, làm thất thoát vàng một cách bất hợp pháp.
 
Về tới địa phương của tôi hôm trước, hôm sau, tôi gọi ông Tư Ngọc, người bán vé xe đò tại Kiên Lương, vào văn phòng tôi, có mặt trung úy Quy, thiếu úy Kiệt tôi nói:
- “Tình hình bây giờ căng thẳng, nghiêm trọng, không như trước. Ông Nguyễn Văn Hảo, phó thủ tướng đặc trách kinh tế, chỉ thị là phải chấm dứt con đường buôn lậu Hà Tiên. Vì vậy, tôi nói trước với chú Tư, bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ cho xét bắt tất cả hàng lậu từ Hà Tiên về, không chừa một ai, không chừa một món hàng lậu nào. Chú Tư biết chúng tôi rồi. Nói là làm, chớ không dọa suông! Tui không muốn bắt bạn hàng đi buôn, gây ra nhiều cảnh đáng thương. Tôi không muốn. Tôi mời chú Tư vào văn phòng, có mặt mấy ông sĩ quan nầy là để chú Tư thấy tính cách nghiêm trọng của tình hình, làm ơn nhắc nhở với bạn hàng, tài xề, chủ xe đò phải chấm dứt việc buôn lậu. Nếu không vì tính cách quan trọng đó, lái xe đi ngang bến xe, tôi dặn chú Tư vài điều cũng được, bày vẽ gọi chú Tư vô đây làm chi. Chú Tư hiểu và giúp chúng tôi tránh cảnh bắt bớ đồng bào!
Ông Tư Ngọc hứa với tôi, rồi ra về. Sau đó, các sĩ quan trưởng cuộc về họp đông đủ, ngoại trừ thiếu úy Đước, xã Tín Đạo, ở xa, đường đi lại khó khăn nên tôi nhờ trung úy Quy chuyển đạt lại những gì phổ biến trong buổi họp hôm nay. Vã lại, xã của ông ở cuối đường giây buôn lậu ngang qua quận nầy, nên trên nầy làm ráo riết, ở dưới đó, còn gì nữa để ông ta lo. Thêm một chuyện nữa, rất đau lòng. Tháng trước, Việt Cộng tấn công vào xã ông. Ông ta cùng xã trưởng Nguyễn Viết Toán phòng thủ trên cao ốc, vụt lựu đạn và bắn xuống làm Việt Cộng chết và bị thương cũng khá bộn. Trong khi đó thì Việt Cộng tấn công vào nhà ông. Mặc dù ông ta không có nhà, không ai chống cự, chúng cũng quăng lựu đạn vào nhà ông, khiến vợ ông cùng ba đứa con đều chết cả. Trước cảnh đau đớn, ông ta dỡ điên, dỡ khùng, khi tĩnh khi không. Tôn trọng sự đau khổ của ông, tôi không còn thúc đẩy ông làm việc như trước kia nữa, để cho ông ta được thoải mái với công việc được chừng nào hay chừng đó. Khổ nỗi, tôi không tìm được một ông hạ sĩ quan nào giỏi để giúp ông ta.
 
Đại ý là tôi thông báo những gì tôi nhận trong buổi họp ở Rạch Giá, yêu cầu các ông trưởng cuộc thi hành nghiêm chỉnh, sau đó, tôi họp riêng trong nội bộ Bộ Chỉ huy, có trung úy Quy, thiếu úy Kiệt, trưởng ban Tư Pháp, trưởng ban Hành Quân và toàn bộ cảnh sát Đặc Biệt.
 
Tôi thông báo việc bắt hàng lậu triệt để. Việc ấy dễ, nhưng với nhiều tay buôn lậu ngoan cố, không chở hàng cồng kềnh được như đường, vải, v.v… thì chúng sẽ “đi” món hàng gì? Việc theo dõi nầy bên cảnh sát sắc phục vừa thiếu người, vừa không đủ khả năng đảm trách. Vậy bên ngành Cảnh Sát Đặc Biệt của thiếu úy Kiệt phải tiếp tay, tham gia, tìm ra những tên buôn lậu hàng quốc cấm như bạch phiến, thuốc phiện, v.v… hoặc ít ra cũng đồng hồ đeo tay hoặc những thứ hàng nhỏ, dễ dấu.
 
Khi có lệnh cấm hàng lậu một cách triệt để, số đông bạn hàng sẽ không đi buôn nữa. Xe đò trống vì không có khách hàng, hoặc sẽ thưa người đi. Người vẫn còn đi trên xe là ai? Đi thăm bà con, hay vẫn cứ buôn lậu thứ hàng khác? Điều nầy, nhân viên cảnh sát đặc biệt phải hết sức theo dõi, theo dõi những khách hàng còn đi trên xe là ai? Họ đi đâu, lý do gì. Theo dõi từng người, và dĩ nhiên, không cho khách hàng biết rằng họ đang bị theo.
 
Hai ngày sau, ngày 8 tháng 3 năm 1975, cảnh sát đặc biệt bắt được 1Kg rưởi thuốc phiện.
 
Họ làm như tôi chỉ thị. Khi chiếc xe hàng từ Hà Tiên (về Rạch Giá) dừng lại, có 2 người đàn ông bước xuống, tay xách tòn ten một cái giỏ lưới. Dùng giỏ lưới là để đánh lừa nhân viên công lực. Cái giỏ lưới có kín đâu. Rõ ràng bên trong có gói giấy nhỏ, có gì đâu mà phải xét!
 
Nhưng nhân viên của tôi tinh tế lắm. Họ lắng nghe hai người đàn ông đó bảo một người chạy xe lôi: “Chở tôi xuống cầu Quán Tre.”
 
Cẩn, trung sĩ cảnh sát đặc biệt của tôi tự hỏi: Xe đò nầy chạy xuống Quán Tre. Tại sao không ngồi trên xe đò đi luôn mà lại xuống đi xe lôi. Vậy là anh ta ra ám hiệu cho Hoài, đồng sự. Hai người đạp xe chạy theo chiếc xe lôi (Nhân viên tôi nghèo, một ít người có xe Honda, số đông hơn đi xe đạp, còn lại hầu hết cuốc bộ). Khi thấy chiếc xe lôi rẽ vào ngã trường trung học, Cẩn biết ngay hai tên buôn lậu nầy đi xe lôi là vì muốn tránh đi ngang qua cuộc Cảnh Sát An Bình của thiếu úy Bạch. Nắm chắc hai tên nầy làm điều phi pháp, Cẩn và Hoài liên lạc với bộ chỉ huy. Thiếu úy Kiệt phóng xe ra tới nơi, xét và tìm thấy thuốc phiện, bắt về. Thiếu úy Kiệt vui mừng nói với tôi: “Cứ vạch kế hoạch ra, thế nào cũng có kết quả.”
 
Sở dĩ thiếu úy Kiệt nói câu đó là vì tôi thường khiển trách thiếu úy Kiệt làm việc không có kế hoạch, hoặc kế hoạch vạch ra không chu đáo, nên ít thành công.
Trưa hôm đó, tôi gọi máy truyền tin liên lạc với các trưởng cuộc, thông báo kết quả việc làm của thiếu úy Kiệt và lưu ý các nơi phải cố gắng làm sao cho có kết quả. Bọn buôn lậu vẫn chưa chịu lùi bước đâu! Chúng chưa “tởn” đâu.
Riêng về cuộc cảnh sát Dương Hòa, phía đầu trên của đường giây buôn lậu, thiếu úy Lộc, sĩ quan mới ra trường, mới về nhậm chức được mấy tháng, chưa có kinh nghiệm, nên tôi điều thượng sĩ Nguyễn Văn Chuẩn về làm phó cuộc, phụ tá cho thiếu úy Lộc.
 
Lộc còn trẻ, dĩ nhiên thiếu kinh nghiệm và bản tính, theo tôi thấy: Thật thà, nên trước hôm thiếu úy Lộc về nhận nhiệm vụ, tôi gọi cả thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn vào văn phòng tôi, giải thích rõ việc tôi làm. Tôi nói:
 
- “Thiếu úy Lộc mới ra trường, cần có người phụ tá có kinh nghiệm. Thượng sĩ Chuẩn người xã An Hòa, sinh đẻ, lớn lên ở đây, vô Cảnh Sát cũng đã lâu, cũng lớn tuổi, có kinh nghiệm và rành rẻ mọi chuyện ở đây nên tôi đưa ông làm phụ tá cho anh (Thiếu úy Lộc) (1). Ngoài lý đo đó ra, tôi không có bất cứ hậu ý nào khác. Trong ngành nầy, người ta hay gài nhau. Tôi không quen việc đó. Thiếu úy Lộc hiểu chưa? Việc gì thông thường thì thôi, còn những việc quan trọng như theo dõi hạ tầng cơ sở Cộng Sản, vạch kế hoạch giải hóa bọn chúng, thì hai ông nên bàn thảo với nhau cho kỹ. Cái nầy học viện chẳng dạy - Họ biết đếch gì mà dạy - là: Chúng ta đang chiến đấu ở đây là một cuộc “chiến tranh nhân dân”, thì “tình báo nhân dân” là quan trọng (2). Tình báo chiến thuật, tình báo chiến lược chẳng giúp ích gì được ở đây cả. Ở đây chúng ta cần tình báo nhân dân, nhờ dân nên chúng ta biết ai tiếp tế, làm giao liên cho Việt Cộng, chúng nó đang chuẩn bị gì, ý đồ gì. Ví dụ: Một người đang giăng câu trên kinh. Chúng ta không biết gì về tên giăng câu đó cả. Người dân họ biết đấy. Họ biết người đó là ai, quen hay lạ, ở xa tới hay dân địa phương, làm nghề câu thật sự hay giả dạng đi câu để điều nghiên cái gì: đánh đồn, đánh phá nhà máy ximăng Hà Tiên, phá cầu, phá lộ, gài mìn, đặt bom (3)… Nếu anh về xã đó, anh tìm biết ai quen ai lạ, biết chào hỏi người nầy, người kia, biết “Tiếng chào cao hơn mâm cổ” thì họ sẽ có cảm tình với anh. Họ sẽ cho anh biết cái gì họ nghĩ anh cần biết. Còn như anh hoạnh họe, làm khó, đòi tiền thì dân họ chẳng cho anh biết gì cả. Đến khi biết thì súng AK đã dí vô đầu anh rồi. Đại khái như vậy, tôi sẽ nói thêm về sau. Bây giờ, tôi cho thượng sĩ Chuẩn phụ tá cho anh là vì vậy. Biết chưa?” (4)
 
Cũng trong ý nghĩa đó, hôm đó, tôi gọi cả thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn lên đầu máy truyền tin nghe tôi dặn:
 
- “Hai ông ở đầu trên mà chưa có kết quả gì cả. Thiếu úy Kiệt ở đầu dưới đã bắt được thuốc phiện rồi. Đừng nghĩ là thiếu úy Kiệt gặp may. Có kế hoạch thì xui cũng thành may. Không có kế hoạch gì cả thì chỉ ngồi chờ sung rụng. Nói với mấy thằng Miên trên đó (Xã nầy phần đông dân chúng người Việt gốc Miên nên nhân viên cũng nhiều người Miên), tui đã cho tụi nó phục vụ gần nhà, có thì giờ giúp đỡ gia đình. Nghe nói tụi nó còn ham nhậu. Tui hẹn cho tụi nó ba ngày, không có kết quả gì, tui cho đi Hiếu Lễ cả đám.” (5)
 
Nói câu đó vì tôi nhớ hai trung sĩ cảnh sát của tôi ở đây, lành hai em ruột, tên Dương Bộ Hương và Dương Bộ Hành. Hai người nầy là Tầu lai Miên, nguyên là giáo viên Ấp Tân Sinh, gia nhập cảnh sát để khỏi bị động viên. (Sau tết Mậu Thân, do thỏa thuận liên bộ Giáo Dục - Quốc Phòng, giáo viên Ấp Tân Sinh mới được hoãn dịch). Tôi rất có cảm tình với họ vì họ thật thà, chân chất, nhưng lại thường “đốt đít” cho họ làm việc có kết quả. Vã lại, tôi cũng “cục bộ”, cũng là thầy giáo đi lính nên cũng thông cảm hai ông thầy giáo nầy phần nào!
 
Quả vậy, nghe tôi dọa như thế, anh em hai ông nầy tưởng thật, rất sợ bị đổi đi Hiếu Lễ.
 
Ngày hôm sau, tôi đích thân lên xã Dương Hòa, gọi thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn ra. Tôi đi bộ qua cầu Ba Hòn, tới ngay chỗ miến bà Chúa Xứ, nói với hai người nên đặt một toán canh gác ngay nơi miếu nầy. Cho nhân viên ngồi trong nhà võ cua (mái hiên trước miếu), ít ai để ý, mặc sắc phục, mang máy truyền tin, canh chừng. Với xe đò, khi toán tuần tiểu ở miếu bà Chúa Xứ bên kia cầu gọi về, yêu cầu thì chận xét, còn không thì thôi. Thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn xét xe ngay trước trụ sở xã (Cuộc Cảnh Sát đóng chung), bên nầy cầu Ba Hòn, công khai trước mắt mọi người. Làm như vậy là để bớt gây phiền nhiễu cho hành khách và khỏi ai dị nghị.
 
Toán tuần tiểu (Gọi là tuần tiểu nhưng chỉ ở môt chỗ), ở bên kia cầu, quan sát từng xe chạy qua. Khi thấy cần gì hoặc cần xét xe thì gọi về cuộc yêu cầu. Thấy xe nào không cần thì thôi. Toán nầy có nhiệm vụ quan trọng hơn: Quan sát và chận xét những người lạ di chuyển trên trục lộ. Bọn buôn hàng lậu, thay vì đi xe đò, chúng sẽ đi xe gắn máy. Khi thấy ai đi xe gắn máy, có thể cả xe đạp, là đồng bào quen mặt ở địa phương, không có gì khả nghi thì thôi. Còn người lạ đi ngang thì phải chận xét hết. Vì vậy, toán nầy, tôi đề nghị phải có mặt hai anh em Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành hay một trong hai người.
 
Khi tôi nói việc ấy với thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn, tôi có gọi hai anh em ông nầy tới, để họ biết đây là chỉ thị của tôi, khỏi trách cứ rằng thiếu úy Lộc hay thượng sĩ Chuần “đì”. Công việc của toán nầy, tuy không nặng nhọc nhưng kéo dài, từ khi mới sáng sớm, cho tới chiều tối, khi không còn ai di chuyển trên trục lộ nữa, mới được ra về. Thời gian kéo dài quá như vậy, thế nào cũng có người than phiền, nếu họ làm việc quá sức.
 
Hai anh em nhà ông họ Dương nầy hiểu lầm tôi. Họ nghĩ rằng tôi muốn giao công việc khó khăn cho họ, nên buổi sáng ngày 10 tháng 3 - 1975 (ngày mất Ban Mê Thuột) họ làm thịt một con gà trống, luộc xong, đặt trên một cái dĩa bàn rồi mua thêm nhang đèn, bưng qua cúng ở miếu bà Chúa Xứ, khấn xin phù hộ cho họ bắt được hàng lậu, để khỏi bị đổi đi Hiếu Lễ như lời tôi dọa. Họ thật thà! Tôi thì dọa mà họ tưởng tôi sẽ làm thiệt.
 
Cúng xong, mấy thầy chú đem gà ra trước nhà võ cua, kéo thêm một két bia nữa, vừa canh gác vừa… nhậu.
 
Bỗng nhiên, có một người đàn ông khoảng 50 tuổi, chở theo một cô gái khoảng 20 tuổi, từ hướng Hà Tiên về, chạy xe Honda ngang qua. Thấy người lạ mặt, đám Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành cùng mấy “thầy” trung sĩ khác nữa, bèn bỏ bia, bỏ gà, từ trong nhà võ cua, mang máy, xách súng chạy ra đường, cách khoảng chừng hơn 20 mét. Vừa chạy vừa thổi còi rét rét, hô to “Dừng lại, dừng lại!”
 
Khi Dương Bộ Hương, Dương Bộ Hành ra tới nơi, cô gái đã xuống xe đi qua phía bên kia đường để tiểu tiện. Người đàn ông vẫn ngồi trên xe. Ông ta rút một xấp giấy bạc 500 đồng từ trong ngực áo của ông, nhét vào cái xách lớn của cô gái, gài một bên, phía dưới yên xe sau.
 
Thấy vậy, Dương Bộ Hương hỏi:
- “Tiền đâu mà nhiều dzậy? Của ai đây?”
Tiếng Dương Bộ Hương vốn đã to, lại hỏi gắt, trong khi mặt mày đỏ gay vì có lẽ anh ta cũng đã làm ít chai.
 
Thấy cảnh đó, và hình như cũng có bà Chúa Xứ “độ”, cô gái sợ hãi, nói:
- “Không! Tiền của ông ta. Không phải tiền của tôi.”
Dương Bộ Hương lại nói gần như nạt:

- “Sao người nầy đổ thừa người kia? Đưa đây coi!”

Cô gái cầm xấp bạc đưa cho trung sĩ Hương. Không hiểu sao, anh ta bảo trung sĩ Chao Sôl, đang đứng bên cạnh:

- “Mày có tờ năm trăm nào không, đưa tao xem.”

Trung sĩ Chao Sôl mở bóp lấy tờ giấy năm trăm đồng màu xanh biển, đưa cho Hương. Họ so sánh hai tờ giấy bạc, và nghi là bạc giả, bèn dẫn hai người về trụ sở. Thượng sĩ Chuẩn liền gọi máy báo cáo cho tôi.

Lúc ấy, tôi đang ở nhà máy ximăng Hà Tiên, cùng với thượng sĩ Lâm Tấn Tài, đi theo toán kiểm soát chất nổ để bắn đá ở nhà máy, thì trung sĩ Thành tới báo cáo thượng sĩ Chuẩn muốn gặp tôi ở đầu máy truyền tin.

Tôi gọi máy, nghe thượng sĩ Chuẩn nói:

- “Báo cáo đại úy, chúng tôi vừa mới bắt được bạc giả.”

- “Nhiều ít?” Tôi hỏi.

- “Nhiều lắm, tôi chưa đếm! Đại úy lên ngay với chúng tôi.” Giọng nói ông ta không được bình tĩnh lắm.

Tôi hẹn lên với thượng sĩ Chuẩn, xong tôi khoát tay chào đám kiểm soát chất nổ rồi tự tôi lái xe đi. Tài xế Thành ngồi bên cạnh.

Tới nơi, tôi thấy người đàn ông đang đứng ở phòng ngoài, sát trong góc, tay chưa bị còng. Cô gái đứng bên góc kia. Nhìn vào đống bạc để trên bàn, tôi biết là nhiều lắm, đoán chừng cỡ vài trăm ngàn, chưa biết rõ như sau nầy là nửa triệu. Tôi bảo còng tay người đàn ông lại. Xong, tôi đi vào văn phòng trưởng cuộc, gọi ông ta vào, hỏi cung sơ khởi. Tôi bảo nhân viên dẫn ông ta ra ngoài và gọi cô gái vào, cũng hỏi cung sơ khởi. Xong, tôi biểu gọi máy về cơ quan của tôi, biểu ban tư pháp lấy xe Dodge lên đưa hai người nầy về, hỏi cung kỹ hơn.

Tôi ngồi xuống cái ghế bên cạnh cái bàn lớn để bạc giả. Thiếu úy Lộc và thượng sĩ Chuẩn cùng vài nhân viên đang đếm bạc, sắp xếp lại từng gói 10 ngàn.

Tôi cầm từng tờ quan sát thật kỹ để phân biệt những chỗ giả. Tổng cộng gần nửa triệu bạc. Người đàn ông và cô gái đã xài cỡ vài chục ngàn ở Hà Tiên. Lúc đó, thiếu tá Long, quận trưởng cùng ông phó quận Nguyễn Đức Nghiêm. đi công tác bên văn phòng xã, nghe nói bạc giả, bèn ghé sang. Tôi biếu mỗi người một tờ bạc giả năm trăm đồng để làm “kỷ nghệ”. Tôi nói đùa như vậy.

Hoàn tất thủ tục, tôi biểu thượng sĩ Chuẩn lấy cái bao bố tời, để bạc giả vào đó, mang lên xe, theo tôi về quận.

Tới nơi, tôi vào hầm truyền tin, gọi về Rạch Giá, xin gặp xếp, trung tá Thiều ở đầu máy. Tôi nói:

- “Thưa trung tá, chúng tôi vừa bắt được nửa triệu bạc giả!”

Tiếng trung tá Thiều hỏi, giọng nói nhẹ nhàng:

- “Thiệt hả?” Ngưng một lúc, tôi lại nghe tiếng của ông: “Thiệt không chú? Bạc thiệt mà chú nói bạc giả, về đây chú với tui dẫn nhau đi ở tù như không?”

Tôi trấn an:

- “Trung tá chưa nghe ai nói bạc giả nên lo chớ gì? Đây là bạc giả thiệt sự. Trăm phần trăm. Để em nói rõ cho trung tá nghe. Thứ nhứt: - Số trùng nhau. Bạc thiệt làm gì có số trùng! Thứ hai, - Đường chỉ kim tuyến không có, chỉ là đường gạch bằng bút chì. Thứ ba: - Hình nổi đức Trần Hưng Đạo bị nhòe, không rõ như trong giấy thiệt. Thứ tư: Trên tờ giấy thiệt, màu xanh của sáu chữ “Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam” đậm hơn màu xanh trên “phông” của tờ giấy bạc. Trung tá yên tâm chưa?”

- “Tin rồi, tin rồi! Chú lấy lời khai cho thật kỹ, rồi làm công điện gởi về cho tôi. Mai mốt giải hai người đó về sau cũng được.”

Nghe lời dặn ấy, tôi làm thật kỹ. Vì vậy, tôi thiệt mất một công trạng to!

Sau khi báo cáo về Rạch Giá rồi, tôi biểu nhân viên mời trung úy Qui, thiếu úy Kiệt, thượng sĩ Hai Râu, trưởng ban tư pháp, thượng sĩ Năm Hưng, trưởng ban điều tra của ngành đặc biệt của thiếu úy Kiệt vào văn phòng tôi và cho dẫn người đàn ông từ phòng giam vào, đích thân tôi điều tra, các vị kia ngồi nghe, thỉnh thoảng tôi yêu cầu họ đưa thêm câu hỏi. Tóm tắt bản cung như sau:

Một cựu thiếu tá, giải ngũ vì đáo hạn tuổi, nguyên phục vụ ở Trung Tâm Ấn Loát bộ Tổng Tham Mưu, nay nghỉ hưu tại số nhà…. đường…. thị xã Long Xuyên. Ông nầy có một cái máy in loại pédale (đạp chưn – không dùng điện để vận hành) và sản xuất bạc giả. Bạc giả in ra được chia ra nhiều ngã tiêu thụ: Saigon, Cần Thơ, Tây Ninh, Châu Đốc, và Hà Tiên.

Hà Tiên cũng như Châu Đốc và Tây Ninh, là cửa ngõ biên giới, có chợ trời, buôn bán phức tạp, lộn xộn, dễ tiêu thụ nhất. Cứ mỗi người nhận một số tiền giả đi tiêu thụ. Người tiêu thụ được chia phần một nửa. Nói rõ ra, người đàn ông nầy nhận tiêu thụ nửa triệu, ông chỉ đem về nộp lại cho tên thiếu tá nói trên 250 ngàn tiền thật mà thôi.

Nhận tiền rồi, ông ta dụ cô gái nầy đi Hà Tiên chơi, mọi việc chi tiêu ông ta lo hết. Lên tới nơi, ông ta đã xài được ở chợ trời biên giới một số, rồi về ngay chợ Hà Tiên tiêu thụ một số nữa. Tại đây, có vài chủ hàng, khi nhận bạc, họ nhìn hơi kỹ nên ông ta chột dạ, bèn thuê phòng ngủ, ngủ với cô gái. Đêm đó, ông ta cưỡng bức cô ấy (Theo lời khai của cô ta, còn ông ta thì khai cô ấy thỏa thuận). Sáng hôm sau, hai người đi ăn sáng, lại trả bằng bạc giả. Chủ tiệm ăn cũng cầm tờ giấy bạc soi đi soi lại, trước khi nhận.

Thấy thái độ khách hàng khi nhận tiền như trên, ông ta sợ họ sẽ đi báo với Cảnh Sát nên rời Hà Tiên về lại Long Xuyên. Trên đường về, tới Ba Hòn thì bị bắt.

Cô gái khai rằng, ban đầu cô ta chẳng biết gì việc nầy. Tiền bạc ông ta giữ, cô ta không giữ một đồng nào. Chỉ khi cô ta đi tiểu trở lại thấy người đàn ông cầm xấp tiền bỏ vào giỏ cô ta thì cô ta mới la to lên làm cho cảnh sát lưu ý.
Cô ta đi theo người đàn ông là vì tò mò muốn đi Hà Tiên cho biết, nhất là dư luận nói về việc buôn lậu trên con đường nầy. Đêm hôm ngủ ở khách sạn, hai người nằm chung một giường, cô ta bị người đàn ông cưỡng bức, mặc dầu cô ta có chống cự nhưng chống không lại. Cô ta còn con gái.
Vừa nói xong, cô ta trật lưng quần xuống, cho chúng tôi thấy cái quần lót cô ta đỏ lòm. Không rõ cô ta có kinh nguyệt hay bị mất trinh.

Thấy thái độ của cô, tôi hoảng kinh nói:

- “Thôi! Thôi! Chuyện cô bị hiếp, ra Rạch Giá cô khai cho rõ. Ngoài ấy họ có nữ nhân viên, còn đây toàn đàn ông.”

Cứ như thế tôi báo cáo về Rạch giá, chẳng dùng mật mã gì cả. Ở Bộ Chỉ Huy tỉnh lại cũng chẳng dùng mật mã, sao y báo cáo của tôi mà gởi cho Cần Thơ và Saigon.

Trong hệ thống truyền tin của Cảnh Sát, khác với quân đội, ít khi đổi tầng số, nhiều cơ quan có một tầng số chung. Có nghĩa là khi Rạch Giá báo cáo cho Cần Thơ và Saigon, các tỉnh khác, nếu ở trong cùng một khu vực làn sóng điện đến được, họ cũng có thể nghe được. Vì vậy, những gì Rạch Giá báo cáo lên cấp trên, Long Xuyên nghe rõ cả. Họ ghi nhận được tên họ, địa chỉ của người làm bạc giả.

Do đó, hai ngày sau, khi tôi chưa kịp xin lệnh biện lý đi Long Xuyên để tiếp tục công việc bắt bạc giả của tôi thì truyền tin của tỉnh gọi về, báo cho tôi biết rằng tôi đã bị “Cướp công cách mạng” rồi. Nghĩa là Long Xuyên đã bắt người làm bạc giả, tịch thu một máy in và một triệu rưởi bạc giả mới in xong, chưa kịp tiêu thụ.

Nghe xong, tôi tiếc hùi hụi về việc nầy. Tôi ở xa Long Xuyên quá, đường đi trắc trở, trở ngại cho công việc tôi không ít. Không thì tôi đã chụp được một vố lớn rồi.

Khoảng sau ngày 20 tháng 3 ít lâu, phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo xuống Hà Tiên để chủ tọa buổi tổng kết sơ khởi chiến dịch ngăn chận hàng lậu. Tôi được lệnh lên Hà Tiên để trình diện ông ta.

Tôi nói với thiếu úy Kiệt:

- “Ông thay mặt tôi mà đi đi!”

Thiếu úy Kiệt ngạc nhiên:

- “Tui nghĩ vì vụ bắt bạc giả nên ông ta xuống Hà Tiên. Công trạng đó của đại úy, tại sao ông không đi?”

Tôi cười nói:

- “Đi để được cái gì? Để ông ta thoa dầu cù là chớ được quái gì (6). Gặp ông ta phải vòng tay cúi đầu phiền lắm? Ông có nhớ vụ tướng Đôn xuống đây khen tui hay không? (7). Thêm mệt. Ông đi giùm tui đi.”

- “Đại úy không ưa gặp ông lớn. Vậy chớ ra tỉnh gặp trung tá thì sao?” Thiếu úy Kiệt hỏi.

- “Khác chớ ông. Ông trung tá với bọn mình là “Huynh đệ chi binh”. Cả ông đại tá Vệ, hôm về đây, ông thấy không? Ông rất bình dân, nói chuyện rất thân mật với bọn mình, có quan cách gì đâu? Cả đại tá Kiểm, đại tá Biếc cũng vậy. Ông từng qua gặp họ rồi đấy, họ coi mình như em. Còn như mấy chả nầy, gặp làm chi?”

- “Đại úy không muốn đi lại bắt tui đi!” Thiếu úy Kiệt than phiền.

- “Tui đâu có bắt, tui nhờ ông đi giúp mà. Ai hỏi, nói tui bị bệnh là xong. Làm đếch gì tui? Cũng chưa chắc thằng chả hỏi tại sao tôi bệnh, tôi không đi. Chả đâu thèm biết ai đi, ai không, miễn có mặt người nào đó thay mặt là được rồi.”

Lần đó, thiếu úy Kiệt lên gặp phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo, được ông ta thưởng một trăm ngàn về việc bắt thuốc phiện. Về vụ bắt bạc giả, phó thủ tướng Nguyễn Văn Hảo nói:

- “Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam” sẽ thưởng cho chỉ huy trưởng của anh một số tiền bằng số tiền giả đã bắt được. Họ sẽ gọi đến nhận.”

Sau khi kể lại chuyện ấy, thiếu úy Kiệt đưa một trăm ngàn cho tôi. Tôi nói:

- “Thôi! ông giữ lấy mà chia cho mấy người có công.”

Tôi nói thêm, nửa đùa nửa thật:

- “Mai mốt tôi nhận nửa triệu, ông không được tôi chia đâu nữa nghe!”

Tới 30 tháng Tư, tôi cũng chưa nhận được tiền thưởng của ngân hàng. Vậy là “Ngân Hàng quốc Gia Việt Nam” của thống đốc Lê Quang Uyển còn nợ tôi nửa triệu đồng đấy, quí độc giả ạ!

Tuy nhiên, có điều buồn hơn. Vụ bắt bạc giả ấy, dù tôi là người đầu tiên phát hiện, bắt giữ, nhưng bấy giờ, sau khi mất Ban Mê Thuột, tình hình chiến sự miền Nam như dầu sôi lửa bóng, càng ngày càng nguy ngập, ai nấy đều lo lắng, nên việc bắt bạc giả chìm đi, không còn nhớ tôi công trạng của tôi cả…

hoànglonghải
(1) “Nhân vật thổ công.” Sau khi tôi nhập ngũ, một hôm về thăm quê ở Quảng Trị. Anh tôi nói: “Mày biết thằng cha đại tá tỉnh trưởng mới nầy, sau khi nhậm chức, chả đi thăm ai trước tiên không?
- “Không.” Tôi trả lời.
- “Chả lái xe xuống tận nhà thăm tao trước tiên!” Anh tôi nói, vẻ tự hào.
Tôi nói:
- “Tự anh làm chủ sự phòng tài thâu. Thuế má anh nắm hết chớ gì!”
- “Đâu phải! Tiền chính phủ, làm gì được. Tự tao là thổ công ở đây. Tất cả những gì trong tỉnh nầy, tao biết cả. Muốn biết có món lợi nào phải hỏi tao.”
Khi quân đội Mỹ làm phi trường Đông Hà, anh tôi nắm hết 9 hầm đá thuộc quận Đông Hà. Hai hầm thuộc quận Cam Lộ thiếu an ninh, anh tôi không “quản lý”. Những nhà thầu cung cấp đá cho quân đội Hoa Kỳ phải mua lại đá của ông.

Đó là kinh nghiệm khiến tôi thấy, khi làm việc cần phải xử dụng thượng sĩ Năm Hùng hay chọn phụ tá cho các thiếu úy mới ra trường là người địa phương. Chính họ là người biết rõ tình hình địa phương, không hẵn về kinh tế mà về chính trị. Nhờ họ, các sĩ quan không phải là người địa phương biết rõ và theo dõi được các cựu can phạm chính trị, hồi chánh viên và những gia đình có liên hệ với Việt Cộng.
(2) Tình báo Nhân Dân. Làm việc một thời gian ngắn, qua viên chức xã ấp và dân chúng địa phương, tôi thấy rõ rằng cuộc chiến tranh nầy là “chiến tranh nhân dân.” Cộng sản tuyên truyền và thúc đẩy dân chúng tham gia cuộc chiến đấu của họ, bằng mọi hình thức và phương tiện. Chúng ta cũng phải tuyên truyền và thúc đẩy dân chúng tham gia chống Cộng bằng mọi hình thức và phương tiện. Giao cho người dân một cây súng như trong tổ chức Nhân Dân Tự Về là buộc họ phải nổ súng chống lại Việt Cộng khi Việt Cộng về hoạt động hay tấn công. Nếu không có cây súng, họ sẽ bỏ chạy hoặc “trung lập”. Nhiều địa phương Nhân Dân Tự Vệ hoạt đông rất có hiệu quả như ở Gò Công, Long Xuyên chẳng hạn. Giữa năm 1974, Việt Cộng tấn công vào trụ sở xã Xóc Xoài, chính Nhân Dân Tự Vệ xã chống cự mãnh liệt. Trận đó Việt Cộng không chiếm được xã và thua đậm. Đâu phải có quân đội mới làm nên chiến thắng!
 
Cộng Sản chỉ hoạt động được khi chúng nhờ dân chúng, để xây dựn hạ tầng cơ sở. Muốn ngăn chận Việt Cọng xây dựng hạ tầng cơ sở, hoạt động và phát triển, phía chính quyền và quân đội quốc gia, nhứt là ỏ địa phương, phải nhờ vào nhân dân, tình báo nhân dân. Tình báo nhân dân sẽ giúp chúng ta “giải hóa hạ tầng cơ sở Cộng Sản”, triệt tiêu bọn nằm vùng. Sau hơn 7 năm “tù cải tạo”, tôi vẫn không hết suy nghĩ về vấn đề nầy. Vì vậy, khi ở trại tỵ nạn Poulo Bidong, Mã Lai, tôi dã viết lại những kinh nghiệm về việc nầy, qua một cuốn sách, tôi đặt tên là “Chiến Tranh Nhân Dân, Tình Báo Nhân Dân.” Khi thanh lọc để được đi định cư, phái đoàn phỏng vấn thanh lọc gồm một luật sư cao ủy, một thiếu tá tình báo Mã Lai. Viên thiếu tá hỏi tôi về chiến tranh du kích, tôi nói về một số kinh nghiệm của tôi hồi đó. Y hỏi tôi về nguồn gốc những kinh nghiệm đó, tôi trả lời tôi lấy từ bản thân và từ những sách báo của Sir Robert Thompson khi ông là “ông tổ” diệt trừ du kích Mã Lai khiến bây giờ Trần Bình và Rashid phải ra hàng và tướng Lansdale, người đã giúp tổng thống Magsaysay (Ramon) của Phi Luật Tân diệt trừ du kích Huks bên ấy. Theo lời yêu cầu của viên thiếu tá nầy, tôi đưa cho ông ta xem cuốn sách tôi đang viết. Xem qua vài trang, viên thiếu tá nói: “Tôi hy vọng cuốn sách của ông sẽ giúp ích không ít cho nhiều người chống du kích Cộng Sản”. Cũng vì đề tài nầy, cuộc phỏng vấn tôi kéo dài hơn 3 giờ đồng hồ.
(3) Giục Tượng:
(4) Tự trị
(5) Hiếu Lễ: Quận ở phía cuối cùng tỉnh Kiên Giang, sát tỉnh Chương Thiện, và mật khu U-Minh của Việt Cộng. Tình hình quân sự ở đây rất nặng nề. Không ai muốn bị đổi đi Hiếu Lễ bao giờ.
(6) “Thoa dầu cù là” là môt danh từ thường dùng để mai mỉa các bà lớn đi thăm thương bệnh binh ở các quân y viện nhân dịp các ngày lễ tết.
 
(7) Một dịp tướng Đôn, khi làm phó thủ tướng về thăm nhà máy ximăng Hà Tiên, tôi ở trong hàng các sĩ quan đứng chào ông. Ngang qua tôi, ông ta khen “Chào đẹp đấy.” Khi ấy tôi thấy lưng ông ta đã hơi còng. Sau đó, kể lại chuyện ấy với thiếu úy Kiệt và ông phó quân trưởng Nguyễn Đức Ngh., Tôi nói: Hồi ở Huế ông ta trẻ và đẹp trai lắm. Tôi đã từng thấy ông đi theo tổng thống Ngô Đình Diệm khi tổng thống về dự lễ 60 năm trường Quốc Học. Tôi nói: “Lưng ông ta còng vì ông thuộc loại “dữ”. Có bà “mệnh phụ”, vợ một ông dược sĩ khoái ông ta, từng khoe với bạn bè: “Tối qua mình ngủ với André.” Vì vậy, khi giám đốc Lê Hữu Phước đãi tiệc ông tướng và phái đoàn, thấy tôi, tướng Đôn hỏi: “Muốn về Saigon không?” Tôi cười: “Xin cám ơn phó thủ tướng.” Có nghĩa rằng tôi không muốn theo ông. Tôi không muốn làm tay sai! Ở đây “Biên thùy một cõi”, có phải khỏe hơn không?!

lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 25.01.2009 07:37:02
40. TRẬN ĐÁNH BÊN KIA KÊNH VĨNH TẾ



Kính anh,
Tôi là Thiếu tá Khánh, Chi-đoàn-trưởng 1/16 Thiết kỵ ngày nào mà anh kể trong cuộc đối thoại với anh ở bài 12 trong quyển “Đánh giặc ở quê hương NTD”.


11 năm trong cái lò giết người dấu tay mang tên “Cải Tạo” trên đất Bắc. Trong lần vượt ngục thứ 3 cuối năm 1980 tại trại 6, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ Tĩnh, bị CS Lào bắt lại giải về VN. Trong xà-lim được người trưởng trạm xá trong nhà tù lúc đó là anh Khuê (trước là trung tá CTCT) xác nghiệm với tên thượng sĩ Lý (cai tù CS) rằng tôi đã chết nên được khiêng ra. Sáng hôm sau, hòm mang vào để đem chôn thì tôi sống lại từ chiều tối qua. Nhờ bạn bè đến nhìn mặt giã từ lần cuối sau khi điểm danh buổi sáng các buồng mà tôi không bị chôn sống. Tôi sẽ ghi lại toàn bộ chuyến đi không thân xác trong một thế giới khác biệt của tâm linh cho mai hậu, trong đó tôi muốn xác quyết là cái mục tiêu trong cuộc sống mà Thượng Đế ban cho loài người không nằm trong cái vật chất hiện hữu mà chính là tình thương và lòng nhân hậu của tha nhân với nhau.
Số phone của tôi xxxxxx, nếu gọi ban ngày, sẽ không gặp xin để lai message. Ban đêm nhiều khi lên computeur thì có khi không hay. Anh vui lòng cho số phone của anh và cho biết thêm chút ít về anh. Thời gian trôi qua đã lâu và quá nhiều biến động làm mình khó nhớ lại chính xác mọi sự. Trong bài viết của tôi có một đoạn trong bài số 12 của anh, tôi xin phép anh để được phổ biến y như dưới đây. Nếu không đồng ý xin cho biết.

Khánh


Thưa Chiến hữu
Tôi thật xúc động khi đọc thư anh. Tôi xin phép được đăng vào phần phụ lục cuốn sách nói trên của tôi. Sách nầy, tôi đang chuẩn bị giao cho nhà xuất bản.
Xin cho biết rõ thêm một ít tác giả bài nầy để ghi vào phần giới thiệu.
Cũng xin nói thêm, trung tá Hồ Đàn đã qua đời rồi
Kính
hoanglonghai


Kính anh,

Bài viết 12 của anh dưới đây giúp tôi hồi tưởng lại những gì xảy ra sau đó, nên tôi ghi lại với một vài chi tiết riêng biệt tôi có. Nghĩ cũng nên viết lại những điểm nhỏ trong một chuỗi lịch sử mang nhiều ẩn khuất và đau buồn của đất nước và dân tộc. Xin anh đọc và cho tôi phổ biến như bài viết dưới đây.
Khánh

TRẬN ĐÁNH BÊN KIA KÊNH VĨNH TẾ



Anh năm,
Trí đang đọc một truyện dài/ hồi ký có tên “Kể Chuyện Đánh Giặc ở Quê Hương Nguyễn Tấn Dũng” của Tuệ Chương (Hoàng Long Hải). Ông nầy dường như có làm quận trưởng quận nào đó ở miệt dưới). Vì bắt đầu đọc giữa chừng và vì câu chuyện khá hấp dẫn nên Trí phải truy lại trên internet để coi lại từ đầu.


Nhờ vậy mà lúc đọc lướt qua bài 12 Trí thấy có đoạn kể lại về mẫu đối thoại giữa anh và ông ta. Sau đó tác giả kể đến chuyện Trung tá Hồ Đàn cho đại bác 105 ly nổ chụp trên đầu quân CS Bắc Việt đang trú ẩn trong rừng tràm và gây thiệt hại lớn cho họ. Trí gởi anh bài nầy (attached file) cho anh đọc chơi và để nhớ lại một thời oanh liệt dọc ngang...


Đoạn trên đây là nguyên văn e-mail em trai tôi bên Úc, lúc còn ở VN là kỹ sư nông lâm súc, định cư tại Úc thời gian đầu học lại nghề cũ nhưng không hứng thú nên bỏ mà đi lại ngành sinh-hoc và đang làm việc trong một phòng thí nghiệm miền Tây Úc.
Dưới đây là phần 12 trong quyển sách trên và kế tiếp là “Trận đánh bên kia kênh Vỉnh Tế” là những gì xảy ra sau khi tôi chia tay với tác giả


Kể Chuyện Đánh Giặc ở Quê Hương Nguyễn Tấn Dũng


Bài 12


Đốt Pháo Bông Đón Bộ Đội Bắc Việt Xâm Nhập


Sau đợt bắt bớ, mặc dầu nhiều người được tha, chỉ có một mình Sáu Chơn bị giải giao cho Ủy Ban An Ninh Tỉnh, thái độ dân chúng đối với chính quyền quốc gia cũng đổi khác, hợp tác nhiều hơn vì không còn sợ Việt Cộng như trước. Bọn Cộng co cụm lại, không dám ngang nhiên hoạt động. Rút sâu vô rừng tràm, chúng không còn lập trạm sát gần ngoài kinh Rạch Giá - Hà Tiên mà tuốt ở trong xa để cấm hoặc thu thuế người vào đốn tràm.
Tình hình lắng dịu một thời gian.


Một hôm, thiếu tá Khánh, chi đoàn trưởng một chi đoàn thiết giáp thuộc Thiết Đoàn16 Kỵ Binh, gặp tôi ở Vàm Rầy, hỏi:
- “Tôi muốn đi tắt về Châu Đốc, ông liệu tôi có thể đi dọc theo kinh Xà Tón mà về trên ấy được không?”
Tôi giải thích:
- “Không nên! Trước hết, không chừng ông phải đụng tụi nó. Ít thì tụi nó chỉ có mấy tên du kích; có thể chúng nó chém vè! Lỡ khi có đơn vị từ Kampuchia qua, ban ngày dừng chân trên kinh Kháng Chiến, để tối lại di chuyển tiếp thì ông mệt với chúng nó. Bây giờ, ít khi chúng di chuyển ít người, phải cở tiểu đoàn trở lên. Bọn nầy phần đông là từ ngoài Bắc mới vô,trang bị đầy đủ.”
- “Được rồi, tôi sẽ liên lạc với biệt khu để biết tình hình chúng nó. Tôi muốn biết địa hình?” Thiếu tá Khánh nói.
- “Không cách chi đi được. Xe M113 của ông một là chạy trên đất cứng, hai là lội nước. Vùng nầy toàn sình lầy, không có nước để lội, cũng không có đất cứng để chạy, xe M113 bám vào đâu mà chuyển.”
Thiếu tá Khánh lại hỏi tôi:
- “Ông có bị rồi?”
Tôi cười:
- “Không. Tôi đoán chừng. Vã tôi học bài “lội nước” ở cầu Rạch Chiếc, khi lên bờ nhằm chỗ lầy, mắc kẹt luôn, phải gọi Wrecker đến kéo về. Lần ấy tụi tôi bị thiếu tá Thương chưởi một trận dữ nên lấy đó làm kinh nghiệm. Nếu muốn biết kinh nghiệm sình lầy vùng nầy, nên hỏi “Đường Sơn Đại Huynh”. Bây giờ mà gặp ông cũng khó lắm”(1)
Sau khi liên lạc với Biệt khu, thiếu tá Khánh nói với tôi:
- “Một đơn vị lớn của tụi nó đang di chuyển phía biên giới, chuẩn bị xâm nhập Hà Tiên. Thôi, tôi đi đường vòng cho xong.”
Đường vòng là ông phải cho chi đoàn đi qua ngã Rạch Giá,
Long Xuyên rồi mới tới Châu Đốc, đường dài gấp 4 hoặc 5 lần.

Mấy ngày sau, thiếu úy Kiệt nói với tôi rằng có một đơn vị “Bắc Việt xâm nhập” đang dừng chân trong kinh Kháng Chiến, có lẽ chờ đêm tối di chuyển về Tà Keo, vượt cây Số 15 để về Chương Thiện.
Tôi hỏi:
- “Dân họ mới báo?”
- “Vâng!” Thiếu úy Kiệt trả lời. “Nón cối, không có nón tai bèo. (2) Nói toàn giọng Bắc Kỳ. Dân họ báo vậy. Tui báo cáo cho chi khu và biệt khu rồi.”
Tôi đi gặp trung tá Hồ Đàn, (Khi còn ở BCH- Thiết Giáp, tôi từng làm việc với ông, khi ấy ông còn mang loon đại úy), thiết đoàn trưởng Thiết Đoàn 16, ông đang nhậu ở quán TL, Chợ Tròn.
Nghe tôi nói chuyện Cộng Sản chuyển quân, ông nói:
- “Tui biết rồi. Chút nữa anh đi với tui xuống Vàm Rầy. Tôi chụp cho bọn nầy một trận.”
Chưa có kinh nghiệm việc nầy, nhưng tôi không hỏi, để thử coi ông ta làm gì.
Nửa tiếng sau, khi tôi cùng ông Hồ Đàn tới Vàm Rầy thì pháo binh đã đặt hai cây súng 105 ly sẵn bên bờ kinh, kế một quán chạp phô của người Tàu. Trung tá Hồ Đàn và tôi vào quán càphê, trãi bản đồ ra, xem tọa độ chỗ đang đóng của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Tôi loay hoay, không nắm rõ chúng nó đóng ở đâu!
Một lúc sau, tôi gọi Ngô Văn An, trung sĩ Cảnh Sát xã Đức Phương, con ông xã trưởng Ngô Văn Àn tới, hỏi:
- “Anh có bết rõ chỗ tụi nó đang đóng quân không?”
An nói:
- “Dạ không! Dân họ báo tụi nó đông lắm, treo võng nằm
trong rừng tràm, balô với súng máng trên cây.”

Tôi biết bây giờ tới “mùa nước nổi” (nước đang lên), chẳng có chỗ nào đất liền nên chúng phải treo võng nằm.
Tôi hỏi An:
- “Ai rành trỏng?”
- “Dạ! Chín Đực, để em đi tìm Chín Đực.”
Chín Đực vừa là truởng ấp Vàm Rầy, vừa là cựu hồi chánh viên, khi theo Việt Cộng, anh ta hoạt động trong ấy, nên rành đường.
Một lúc Chín Đức tới, tôi hỏi:
- “Anh có biết dân họ báo tụi nó ở đâu không?”
Chín Đực cho biết chỗ của chúng ở quá ngã tư kinh Xà Tón
và kinh Kháng Chiến cở một cây số, trong rừng tràm. Tôi tìm rừng tràm trên bản đồ, thường có màu xanh lá cây, gần ngã tư hai con kinh nói trên. Tôi gọi Chín Đức tới, ngó sát bản đồ, chỉ cho anh thấy đường vẽ kinh Kháng Chiến, đường vẽ kinh Xà Tón, quá kinh Chủ Ry và kinh Thầy Ban một khoảng, phía bên tay phải là khu rừng tràm. Chỉ vào khu rừng tràm, tôi nói:

- “Chỗ xanh xanh nầy là khu rừng tràm. Anh có nghĩ là chúng nó đóng ở đây không?”
- “Dạ đúng! Chắc chắn chỗ nầy.” Chín Đực trả lời.
Nãy giờ trung tá Hồ Đàn ngồi im, theo dõi tôi trao đổi với An và Chín Đực. Tới khi nghe Chín Đực trả lời chắc chắn, ông ta cúi xuống. Sát bên cái đầu của ông là cái đầu của tôi. Chúng tôi khoanh vùng rừng tràm, chấm tọa độ bốn phía. Xong, trung tá Đàn gọi anh lính mang máy truyền tin tới.
Mười phút sau, hai cây đại bác 105 ly bắt đầu nhả đạn. Tôi và trung tá Hồ Đàn bước ra sân, ngó về hướng rừng tràm. Chưa được nửa phút sau, đạn nổ phía trên các ngọn cây tràm.
Ban ngày, không thấy lửa, chỉ thấy khói tỏa ra từng chùm như đám mây cuộn, khá đẹp. Tôi nói với trung tá Đàn:
- “Trông như pháo bông!”
Trung tá Đàn nói:
- “Tôi cho nổ chụp, như người ta chụp nơm, từ trên chụp xuống, chạy ngã nào cho thoát.”
- “Ban đêm có thấy pháo nổ trên trời như vậy không, trung
tá?” Tôi hỏi.

- “Trông như đốt pháo bông. Đẹp lắm!” Trung tá Đàn giải thích.
Tôi nói đùa:
- “Không chừng người ta bảo rằng mình đốt pháo bông chào lính cụ Hồ.”
Trung tá Đàn lại cười:
- “Đốt pháo chào kiểu nầy chết cha tụi nó luôn!”
Chín Đực đứng phía sau tôi, nói:
- “Ngay chóc rồi ông thầy. Đúng là chỗ họ đang đóng quân.”
Trung tá Đàn nói:
- “Đánh giặc kiểu Mỹ nên “lấy của che thân”. Anh cứ tìm tin tức, chỗ nào có tụi nó, mình cứ đốt pháo bông mà chơi. Bị trận nầy, chúng khó chuẩn bị kịp lực lượng để đánh mình, tối ngủ yên.”
Khoảng nửa tiếng sau, thôi bắn. Hai cây súng đại bác được kéo về Kiên Lương, trung tá Đàn cũng về theo.

Trời còn sáng, tôi nán lại một chút, về sau. Đang khi đứng gần chợ, ông già Tàu chủ tiệm chạp phô, mặt mày thảm não, có vẻ sợ sệt, nói với tôi:
- “Ông xầy ơi! Pể kiếng của tui hết zồi!”
Chưa hiểu chuyện gì, thì xã trưởng Àn đi tới, giải thích:
- Súng để trước tiệm ông, tiếng súng dội làm bể hết cả chục tấm kiếng cái tủ trong nhà, ông ta khiếu nại với tui, tui biểu đến gặp ông.”
Tôi nói:
- “Pháo binh bắn chớ tui có bắn đâu! Hồi nãy sao không nói ngay với ông trung tá?”
- “Ông ta sợ, không dám nói, chỉ nói với tui.” Xã trưởng Àn nói.

- “Nói vậy chớ có nói với ông trung tá, ông cũng chẳng có tiền mà đền. Thôi! để tôi nói với ông phó Nghiêm. Ông làm tờ trình với ty Xã Hội, may ra được chút đỉnh.” Tôi an ủi.
Ông chủ tiệm nghe nói cũng an tâm. Vã ông có đi kiện cũng không biết kiện ai, ở đâu. Biết ông xã trưởng thì nắm áo ông xã trưởng. Ông xã trưởng đẩy qua cho quận, quận đẩy lên tỉnh, may ra được chút an ủi chớ biết bao giờ mới được đền, và đền bao nhiêu cho đủ.
Sau đó, ông phó Nghiêm nói với tôi theo nguyên tắc, ty Xã Hội không bồi thường cho những trường hợp lẻ tẻ như vậy. Chỗ nào có đánh nhau to mới có “bồi thường chiến tranh”. Thành ra ông già Tàu chủ tiệm chạp phô chẳng được chút tiền nào. Tuy nhiên, cũng nhân dịp Việt Cộng đánh vào xã Đức Phương, tuy không có nhà nào bị cháy, bị sập để được “bồi thường” bốn chục ngàn và hai chục tấm tôn lạnh (tôn của Úc Đại Lợi) như thường lệ, nhưng ai ai cũng được Ty Xã Hội cứu trợ, cho lãnh gạo và thức ăn đóng hộp. Nhân dịp đó, xã trưởng Àn có “chiếu cố” cho ông già Tàu chút ít.
Gặp tôi, ông ta lại cám ơn rối rít. Tôi nghĩ thầm: Lãnh chưa tới hai giạ gạo, có gì mà ông ta mừng lắm vậy?!
Dân miền quê họ có một kinh nghiệm về bầu bán. Năm ngoái, bầu hội đồng tỉnh. Có ông giáo sư dạy ở trường trung học Nguyễn Trung Trực, Rạch Giá ra ứng cử, thầy trò đi vận động, thấy cảnh tượng rộn ràng, cũng vui, nên tôi nói chuyện với một gia đình người Miên ở ấp Xà Ngách, sao không bầu cho ông thầy giáo, ông có học, biết luật lệ, biết đấu tranh cho đồng bào. Bầu lại một kỳ nữa cho ông hội đồng Đáp, ông không có trình độ, biết lo gì cho dân!?
Bà vợ nói:
- “Tui bầu cho người ở đây thôi! Có chi tui tới ông cho gần. Ông thầy giáo ở xa, đi gặp ông mệt lắm!”
Đó cũng là cái tâm lý ông chủ tiệm chạp phô gặp ông xã
trưởng khi ông muốn khiếu nại về việc pháo binh bắn súng làm
bể kiếng nhà ông.

Sáng hôm sau, tôi lại xuống Vàm Rầy coi thử tình hình hôm qua như thế nào! Vào quán càphê xong, tôi biểu nhân viên gọi Chín Đực tới uống càphê với tôi, mục đích để nghe ngóng việc hôm qua như thế nào. Chưa kịp ngồi xuống, Chín Đực nói:
- “Bữa nay dân đốn tràm thả giàn!”
- “Sao vậy?” Tôi hỏi.
- “Trận hôm qua, tụi nó chạy trối chết, trốn đâu mất tiêu.” Chín Đực giải thích. “Bữa nay, du kích canh gác cũng không. Tụi nón cối di chuyển hết, nhưng có lẽ bị thương và chết cũng nhiều. Có bao nhiêu chúng chở xuồng ngược lên Trà Tiên (3). Nhiều cái võng còn mắc trên cây, đạn xuyên như tổ ong. Balô, nón cối vất lung tung.”
Uống xong nửa cái “xí nại” (4), Chín Đực nói nhỏ với tôi: - - “Tui có cái nầy cho ông thầy!?
- “Cái chi?” Tôi hỏi.
- “K-59. Ngon lắm. Cấp cao mới có súng nầy.” Chín Đực
nói.
- “Đâu vậy?” Tôi hỏi.
- “Tư Gà lượm trong đó chớ đâu!” Chín Đực giải thích.
Tôi nhớ ông Tư Gà nầy. Ổng bị què một chân, hai con nhỏ, vợ chết. Ông ta chuyên đi giăng lưới bắt cua trong đồng sâu. Món hàng nầy được giá hơn. Và ông ta cũng bị bắt vì tội làm “giao liên.” Thấy ông ta thương tật, vợ chết, lại có con nhỏ nên bị giam hai hôm thì được chính quyền quốc gia tha, sau khi làm tờ cam kết không hoạt động cho Việt Cộng nữa. Về cái chân què, ông ta khai là bị trực thăng bắn lầm, nhưng tôi biết chắc là trong một lần đụng độ với quân đội VNCH, ông bị thương khi ông làm du kích trong kinh Kháng Chiến, vợ ông ta cũng chết trận đó.
Dân Vàm Rầy thương tình nuôi giúp hai đứa con, còn Tư Gà, sau khi xuất viện ở Rạch Giá, bỏ không theo Việt Cộng nữa, lo đi làm nuôi con. Biết thì biết vậy nhưng cũng coi như ông ta “chiêu hồi”, để yên cho ông ta nuôi con. Khui quá khứ của ông ta ra, bỏ tù, ai nuôi hai đứa con của ổng, phiền lắm! Tránh đi một chuyện phiền cho nó khỏe bụng, tôi nghĩ vậy. Không ngờ nhờ vậy mà ông ta nhớ ơn, lượm được cây K-59 trong rừng tràm, lén giao Chín Đực đem biếu tôi. Nghĩ lại, ông ta cũng dại. Tại sao ông ta biết K-59 là loại quí, phải chỉ huy cao cấp mới có. Tại vì ông ta từng theo Việt Cộng nên ông ta biết vậy chớ gì! Vậy mà ông ta khai gian là bị trực thăng bắn lầm, không phải vì vì theo Việt Cộng mà bị
thương. Cho tôi cây súng, khác chi “Lạy ông tui ở bụi nầy”. Ông ta khôn mà chẳng ngoan chút nào cả. Đúng là dân nhà quê thiệt thà!
Cây súng ông ta cho, tháng sau tôi đem đổi cho đại úy Vương của Trung Đoàn 16 lấy cây Titan nhỏ bằng bàn tay, lận vô túi quần ra Rạch Giá chơi, gặp Philip Đạt, anh ta tước mất. Đòi lại, anh ta bảo là đem biếu cho Tướng Nam rồi. Không biết việc Philip Đạt nói thiệt hay giả. Ông nầy cũng “ba trời” lắm!

Việc đốt pháo bông, sau nầy trung tá Đàn và tôi “bổn cũ soạn lại” một lần nữa, khi nhận tin Việt Cộng đóng quân ở cuối kinh Lình Quỳnh, gần cửa sông. Khi đại tá Biếc về làm tư lệnh khu chiến thuật, ông cũng lại biểu tôi “lấy của che thân”. Ghi nhận tin tức Việt Cộng đóng ở đâu, gởi cho chúng nó “ít chục quả làm quà”, như lời ông ta nói. Đến hồi trung tá Trần xuân Hải thì gặp tai nạn. Thay vì đạn vô tới mục tiêu mới nổ thì một quả nổ ngay trên nhà dân ở ấp Ngã Ba, trên bờ kinh đi Hà Tiên, cả nhà bốn người bị thương lúc còn đang ngủ. Đang đêm, trung tá Hải phải xin trực thăng tải thương thật gấp.
Mọi việc lặng lẽ êm xuôi, cố dấu không cho ai biết, chớ không thì ông ta bị kiện tụng lôi thôi lắm, nhất là lỡ khi mấy chả dân biểu đối lập hay hội đồng tỉnh muốn kiếm phiếu trên cái đau khổ của của những người khác!
Hú hồn.
***

Đoạn viết trên giúp tôi hồi tưởng khá chính xác những việc xảy ra trong những ngày đó. Thời gian nầy là những ngày khởi đầu thực hiện hiệp đinh Paris khoảng đầu năm 1973, miền Nam lúc bấy giờ thực sự nằm trong cảnh giặc trong giặc ngoài, tại Sàigòn đám chính trị nửa mùa hoặc xôi thịt ra sức đánh phá một cách vô ý thức vào cái chế độ đã thực sự nuôi dưỡng và ưu đãi họ moị thứ và khi CS chiếm được miền Nam, hiểu ra được thì mọi sự đã rồi…
Sau ngày cái gọi là Hiệp Định Paris được thực thi, đi trên vài liên tỉnh lộ, thỉnh thoảng thấy xuất hiện không lâu lá cờ xanh -trắng - đỏ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một con bài của CS Bắc Việt và CS quốc tế trong âm mưu xâm chiếm miền Nam VN. Tôi đang hành quân bên kia biên giới quận Hà Tiên thì nhật lịnh thu quân, chuyển tới một vùng khác thuộc quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc càng sớm càng tốt để tới một nơi mà áp lực địch đang bao vây một lữ đoàn Kampuchia đang đóng gần trục lộ nối liền 2 nước và không xa biên giới Miên-Việt.
Tịnh Biên nơi thị xã quận ly của người Việt với nhà cửa khang trang trông thật khác hẵn quang cảnh đìu hiu trống vắng của phía bờ bên kia biên giới đối diện. Từ Hà Tiên tới Châu Đốc theo đường chim bay thì không xa so với lộ trình liên tỉnh lộ dài gấp 4 hạy 5 lần hơn vì phải đi ngang qua các tỉnh Rạch Giá, Long Xuyên, Châu Đốc. Đó là lý do để có cuộc đối thoại trên với viên sĩ quan trực thuộc lãnh địa chi khu mà thế đất trong vùng lầy lội rất khác thường, có nhiều nơi mà khi xe xích chạy bình thường thì không sao nhưng nếu gặp một trở ngại nào trên đường di chuyển làm vận tốc thay đổi thì xe sẽ bị mắc lầy, khi đó máy càng gắng chạy xe càng bị lún sâu hơn, nếu đất không chân như vậy thì các xe khác đến kéo cũng sẻ bị lún lầy theo và tình hình như vậy sẻ rất nguy hiểm nếu trong tầm pháo và áp lực của địch, nhất là trong đêm.
Đối với tôi, con kênh đào nầy còn mang một dấu ấn định mệnh của một lần bị thương trí mạng trước đó vài tháng mà cái chết kề chỉ trong đường tơ kẻ tóc, đó là ngày mồng ba tết AL, khi đơn vị tôi cùng tiểu doàn 41 Biệt Dộng Quân do thiếu tá Thi tiểu-đoàn-trưởng có nhiệm vụ hành quân tiểu trừ và ngăn chận sự xâm nhập của địch từ bên Miên vượt qua con kênh để đi vào vùng núi non trải dài từ Chi Lăng đến đây mà dân gian gọi là núi Thất Sơn hay Bảy Núi, trong núi cò nhiều hang động lớn, là nơi ẩn trú và tích chứa lương thực. Đơn vị phối hợp của chúng tôi di dộng theo chiều dọc con kênh về hướng Hà Tiên và trong khoảng trống từ đó chạy gần đến chân núi. Thời gian nầy nhờ vào “cái ống dòm đêm” và “cây tiểu pháo ” được trang bị riêng cho đơn vị mà việc ngăn chận và tiểu trừ rất hiệu quả, giữa dòng nước 2 bên là đồng trống, nhờ ống nhìn từ xa trong đêm địch bị phát hiện mà không hay biết, hãy thử hình dung một toán địch đang di chuyển hay sang sông ban đêm mà bất thần đạn pháo binh nổ chụp từ trên đầu hoặc cây “tiểu pháo”của đơn vị khạc non 500 viên đạn/ một giây và nồ lại khi chạm đất thì quả thật mức độ kinh hoàng còn hơn bị thiên lôi đánh…
Lần đó, chúng tôi đóng quân đêm giữa con kênh và cái eo núi có tên là “Ma Thiên Lãnh” hay “Bụng Ông Địa”, theo tên đặt của người địa phương, sáng sớm mồng 3 AL, ngày Tết cổ truyền của dân tộc và vẫn còn trong thời han hưu chiến dù rằng binh sĩ vẫn cảnh giác chứ không như trước tết Mậu Thân 1968, nhưng không khí ngày tết liêng liêng như vẫn còn bàng bạc trong tâm hồn mọi người thì bất chợt những trái trái đạn cối 82mm của địch từ trên triền núi rót xuống ngay đơn vị, nhìn hướng theo tiếng nổ chúng tôi còn thấy được nơi địch đặt súng qua làn khói xẹt lên khi đạn đi. Theo phản xạ, chúng tôi ngồi vào vị trí thì một trong những trái đạn rơi dưới đất bên hông trái xe, một miểng đạn nhỏ cắm vào xương hông trái sọ, cảm thấy khác thường tôi sờ vào hông đầu thì thấy máu nơi tay, tôi vẫn tiếp tục điều khiển “tiểu pháo”và cối 81mm cơ hữu rót ngay vào vị trí địch, thật hiệu quả không ngờ là sau chừng trăm quả tạc đạn phản pháo chính xác vào vị trí cối 82mm của đối phương thì địch im ngay tiếng súng. Tôi cho bắn tiếp tục thêm vào các vị trí lân cận cho chắc ăn, mặc dù vẫn nghỉ toán cối địch đã bị lảnh đạn… Thiếu tá Thi ngồi sau tôi thấy tay tôi vấy máu khi vịn bên hông đầu, anh nói với các binh sĩ trong xe: “Alpha các anh bị thương rồi!” Tay trái vừa vịn ngang vết thương tôi quay nhìn lại nói: “Chắc không sao” và nhìn quay nhìn lại thấy trước ngực ông cũng có vết máu, tôi chỉ tay vào, ông nhìn xuống và nói:
- “Ô hay tôi cũng bị, thế mà có hay đâu!”
Có lẻ vì đầu óc khá căng thẳng với tiếng đạn đến và đi cùng lúc nên một mảnh nhỏ ghim vào người mà ông không hay. Hai anh em tôi được trực thăng bốc về Quân y viện Cao Lảnh. Trước khi rời khỏi vùng tôi ngỏ ý yêu cầu viên phi công lượn mấy vòng tìm vị trí nơi đặt pháo để mong nhìn thấy tận mắt kết qủa của những đợt xạ kích phản pháo vừa rồi mà tôi tin có hiệu qủa. Người Trung-úy phi-công chưa nói và đưa mắt nhìn viên co-pilot tỏ ý ngần ngại vì đúng ra chiếc trực thăng HU-IB nầy chỉ có nhiệm vụ tải thương. Thấy vậy tôi nảy ra sáng kiến rút mấy tờ Trần Hưng Đạo ở túi dưới ống quần phải chìa ra và hơi khẩn khoản nói:
- “Hai anh giúp tôi, có thể với vết thương nơi đầu nầy tôi sẽ phải gỉa từ vủ khí từ hôm nay…” Tôi chưa dứt câu, hai viên hoa-tiêu chính và phụ nhìn nhau một thoáng đồng cảm rồi viên phi-công nói:
- “Thiếu tá cất đi, chúng tôi sẻ thực hiện theo yêu cầu của Thiếu tá.”
Tôi mừng trong bụng vì thấy ván bài phé mình tố có kết qủa như tôi dự đoán, tôi củng nghĩ trong đầu là các anh sẻ không nhận vì điều đó gắn liền với danh dự, tự ái và lòng tự trọng của chúng tôi, những sĩ quan Quân Lực VNCH.

Sau nầy tôi nghĩ mình cũng bậy nhưng trong lúc cấp bách phải giải quyết một việc mà tôi muốn phải đạt cho bằng được nên vô kế khả thi. Tôi đành phải thực hiện điều hơi hạ sách đó, tôi phải làm vậy vì tôi muốn các anh giúp tôi thế thôi.
Sau đó phi cơ hạ vòng xuống thấp nơi mục tiêu phía dưới tôi chỉ, lượn qua lại các nghi điểm. Tôi không tìm thấy gì vì cây cối hoặc giả địch đã hạ cối và dúi vào một bụi rậm nào đó…Tôi ra dấu bốc lên cao và liên lạc thẳng với đơn vị của mình phía dưới chỉ điểm trưc xa vào các nơi nghi ngờ. Chúng tôi bắt đầu rời vùng trong lúc anh Thi liên lạc với đơn vị anh ra lịnh cho lục soát chớp nhoáng.
Ngay chiều đó trong bệnh viện chúng tôi được báo biết là bộ binh hành quân luc soát đã tìm thấy được nơi đặt cối với nhiều vết máu loang vây. Tôi vui mừng nóí với thiếu tá Thi là “Ông Bà” linh thiêng đã giúp mình hạ được tụi nó ngay vì nó dám khuấy động đến không khí thiêng liêng của những ngày đầu năm khi tinh thần con cháu đang hướng đến tổ tiên, cũng như “Ông Bà” đã nướng trọn mấy trăm ngàn ngàn quân của Mặt Trận Giải Phong Miền Nam và của CS Bắc Việt vào những ngày đầu Tết Mậu Thân 1968. Tại bệnh viện tôi được chụp hinh trước khi đưa vào phòng giải phẩu, tôi vẫn tỉnh táo. Ba bác sĩ cùng có mặt họ xịt thuốc tê, cạo một mảng tóc rồi lấy cái kềm y tế mò mẩn như định kéo mảnh đạn ra. Trong khi làm việc thì họ hỏi tôi xem đau không. Tôi nói khi nhúc nhích mảnh đạn thì đau nhiều. Họ hội ý và nói để vậy tốt hơn.
Tai bệnh viện tôi gặp thiếu tá Sang cùng binh chủng, là chi đoàn trưởng thuộc một Thiết Đoàn khác. Ông bi thương trong một trận đánh nào đó, cả người ông bi cháy phỏng nhiều nơi, rõ nhất là trên mặt và hai tai. Các vết thương phảng phất đả có mùi… Tôi nghĩ sau nầy vết thương có lành đi thì gương mặt vẫn không bình thường được. Anh hiện ở Canada và vừa mới sang Mỹ thăm bạn bè. Anh Kiệu người bạn cùng chiến đấu cùng binhchủng năm xưa củng từ Đức qua cùng lúc. Trong câu chuyện chúng tôi nhắc tới Sang, có cho tôi xem tấm hình vừa chụp chung. Trong bệnh viện cạnh anh có người vợ trẻ đang săn sóc. Tôi chợt có ý nghĩ ước ao cho đời anh luôn có được bình an và hạnh phúc. Tôi với anh biết
nhau nhưng không có dịp nào sống gần nên không thân thiết, một lần gặp nhau khi biết đơn vị tôi đang đóng tại Cao Lãnh, đơn vị anh củng từng tăng phái cho tiểu khu đó nên anh biết tình hình và đề nghị với tôi là chị Mai, chị của anh có tiệm thuốc tây tại thị xã, có căn nhà bên hông sân vận động, trước cho Mỹ mướn, nay để trống. Anh đề nghị là khi đơn-vị bị xé lẻ tăng phái các nơi thì tôi lại nhà đó ở cho tiện. Tôi đã làm điều đó theo nhả ý của anh. Tình chiến hửu giữa chúng tôi thật lắm khoáng đạt và chân tình. Bà chị ruột của anh cũng vậy, vui vẻ và đầy nhiệt thành. Với bài viết ngắn ngủi nầy, hồi tưởng về quá khứ xa xưa tôi xin mượn đây nói lên sự khuấy động trong mối cảm xúc chân thành chợt đến. Xin cảm ơn chị Mai. Tình người trong xã hội miền Nam khi đó như vậy! Sau hơn 30 năm sống với Công Sản chủ nghĩa thì mọi sự đã thay đổi ngược lại, tình người thật sự đã biến mất, mọi giá trị đạo đức cũng ra đi chỉ còn lại cái thể loại duy nhất là “Đạo Đức Cách Mạng” hay nói một cách khác hơn là “Đao Đức Từ nòng súng” mà hậu quả là 15 triệu người đã bị giết tại thiên đường Sô Viết, hơn 50 triệu người tai Trung Quốc cùng số phận và vô số tại Kampuchia và Việt Nam đã bị hành hình để thực hiện duy nhất cho ách thống tri bạo tàn và bần cùng hoá mọi tầng lớp dân chúng. Nằm tại bệnh viện Cao Lãnh vài ngày không thấy gì khác thường. Thiếu tá Thi và tôi muốn chuyển về Bệnh Viện Long Xuyên cho gần nhà và tại đây chúng tôi xuất viện khoảng tuần lễ sau đó. Những ngày nghỉ dưỡng thương này là nhửng ngày nghỉ phép lâu và thoải mái nhất trong đời lính của tôi. Lính trận chết sống là lẽ thường mà đã không chết thì cũng không thể bình thản mà nằm nhà đoc sách. Hay tin tôi về mấy ông bạn thương nghiệp trong thi xã, lớn tuổi hơn tôi nhưng chí tình, rủ tôi về các vùng đồng quê giải trí và ăn những món đặc sản miền quê. Vào thời gian đó từ Long Xuyên đi Rạch Giá trên đường xe cộ chạy ngày đêm, sinh hoạt vẫn yên lành nơi nơi. Tôi còn nhớ ông Bảy Kiều lúc đó đả ngoài 70, chủ rạp hát Minh Hiển khi tôi cùng ông vào nhà, ngang qua cửa hông rạp hát mà cô con gái của ông đang kiểm soát hay thâu tiền gì đó, ông giới thiệu:

- “Đây thiếu tá Khánh bạn ba nè con.”
Chị hơi khoanh tay và cuối đầu chào. Tôi cảm thấy hơi ngượng vì chị khá đứng người và có vẻ lớn tuổi hơn tôi Khi vào nhà tôi gặp con của chị đã là một thiếu nữ. Hơn 30 năm đã qua với quá nhiều thay đổi chắc ông không còn. Xin một phút tưởng niệm cho người bạn già thật dể mến. Tôi cũng không quên anh Trần Thanh Liêm mà lần naò anh cần bốc mộ cho ngươi thân mà trở ngại giờ giấc theo niềm tin riêng, anh ái ngại cậy đến tôi. Quá dễ với tôi một lần giúp anh việc đó dùng xe cần cẩu của đơn vị, sau đó chúng tôi trở thành bạn hữu.
Trở lại với vết thương trên đầu, hình chụp mảnh đạn chi nhỏ nằm gọn kẹp trong phía trái xương sọ mà phần đầu trong vừa chạm mặt bên kia thì ngừng lại không đi tiếp, kể cũng lạ thật! Tưởng vậy là mọi sự yên rồi nhưng không phải vậy. Nó làm tôi khổ sở nhiều năm sau nầy. Mỗi khi nằm xuống không biết là tóc đã vừa chạm đến gối nằm chưa thì cái cảm giác khó chịu lan rộng nửa phần đầu phía đó. Những cơn nhức đầu khủng khiếp kéo dài từng cơn và nhiều lần trong ngày. Khi bực bội hoặc phai suy nghĩ sâu một việc gì thì cảm giác muốn buồn nôn chợt đến. Khi đó kinh
nghiệm bản thân là phải cho “hạ hỏa”và tập quên đi ưu phiền... Không biết có phải vì những cơn đau đầu nầy đả biến thành thói quen mà tôi uống nhiều rượu hơn sau nầy. Vào năm 1978 khi bị giam tại Sơn La, một lúc nào đó tôi sờ tay lên ngay vết thương cũ thấy như có một cái đầu đinh đang nhú ra. Rồi như thói quen thôi thúc, tôi cứ dùng móng tay lay động nhẹ nó, dần dà mảnh đạn như bị lỏng lẻo và nhô ra khá hơn, lần nọ tôi thuận dùng hai móng tay giựt mạnh ra. Trước mắt tôi, lần dầu tôi thấy nó chỉ lớn hơn hạt đậu xanh một chút nhưng không tròn trịa.

Cơ thể con người, thượng đế tạo ra thật hoàn hảo biết ứng biến với mọi hoàn cảnh để thích nghi và biết loại trừ vật lạ bị xâm nhập. Những mành đạn vào cơ thể sẽ được bao bọc lại để đẩy ra ngoài da từ từ. Trường hợp tôi thì không thấy có gì bao ngoài, có lẻ vì nằm giữa xương.
Trên đường di chuyển ngang thành phố Long Xuyên, tôi đi xe Jepp riêng nên tiện ghé thăm gia đình được vài giờ trong khi đoàn xe vẫn tiếp tục dưới sự hướng dẫn của đơn vị phó. Tình cảm gia đình, con cái là một cái gì thiêng liêng và thân thương vô cùng.
Nỗi vui mừng bất ngờ và hiếm có của người đàn bà Việt Nam có chồng là lính trận chắc hẵn vượt trội hơn mọi niềm vui trong hoàn
cảnh thường tình khác. Sự quấn quít của các con cũng chút gì như vướng bận kẻ chinh phu. Người vợ đầu của tôi, người đan bà thật đơn sơ, luôn sống với niềm vui và cái buồn cua chồng, chỉ cái hơi ghen. Nghĩ tới binh sĩ và những anh em khác trong đơn vị lòng tôi chợt dấy lên một ước muốn cho họ có được một khoảnh khắc yên vui trong không khí gia đình, một điều thật bình thường với moị người nhưng chúng tôi không có được, nghĩ tới những thiếu thốn của gia đình con cái họ đã và đang hứng chịu mọi lúc trong cuộc sống với đồng lương quá thiếu thốn mà lòng như dấy lên một nỗi buồn miên man vời vợi.

Đoàn thiết giáp cuả tôi đến Tịnh Biên vào sáng hôm sau, nhận lịnh hành quân cùng ghi nhận những tin tức tình báo về địch tình nơi BCH dã chiến của biệt khu. Tăng cường thêm 02 đại đội tùng thiết, tôi dẫn đơn vị hỗn hợp ra trận mạc.
Vượt qua biên giới, nơi con kinh cũng là điểm xuất phát tiến quân. Bộ chỉ Huy một Lữ Đoàn Kampuchia nằm bên trái khoảng 200mét, cách lộ và chỉ non 3 cây số và biên giới Miên-Việt. Tin tức ghi nhận khoảng một đại đội Khơme-Rouge (đỏ) đang đóng chốt bên đường đối diện BCH/ LĐ Miên nói trên. Chúng được yễm trợ súng cối của quân CS Bắc Việt trên các cao điểm phía Tây-Bắc cách đó không xa. Chúng đang bao vây quân trú phòng từ tuần lề nay. Địa thế tương đối trống trải ngoại trừ mục tiêu chính, một con suối cạn khá rộng chạy một đoạn song song bên phải trục lộ và rải rác đây đó có những hàng cây thốt nốt. Cánh quân hỗn hợp, tôi chia làm 2 lực-lượng: 1/ Bộ Binh tiến và bám theo trục lộ và con suối, mở rộng khả dĩ theo địa thế 2 bên đường. 2/ Thiết Giáp tiến song song bên phải, phối trí bám hông trái và dùng hỏa lực cơ hữu trực tiếp phá hủy các chốt địch trên đường tiến của Bộ Binh.
Cuộc tiến quân đang tiến triển tốt đẹp nhưng không quá nhanh vì phải mất thời giờ tìm chốt và triệt hạ từng cái lần hồi, dưới hỏa lực trực xạ của súng đại bác 75mm không giật và cối 81mm nổ chậm được điều chỉnh tiêu hủy từng chốt địch. Một số Khơme Đỏ bám chốt khiếp đảm bỏ chạy bị hạ ngay khi vừa trồi lên, một số bị vùi thây dưới hầm khi bị nổ tung bởi đạn trái phá. Khi còn cách mục tiêu chính tại ngã ba giao điểm của BCH/LĐ Kampuchia và trục lộ khoảng 300 mét thì hỏa lực pháo của CS Bắc Việt rót ngay vào đội hình của đoàn Thiết Giáp. Một đơn vị nhỏ trong đoàn mở rộng tránh đạn đạo pháo thì bị B41 từ một cái chốt giữa cánh đồng bắn cháy, những xe còn lai vừa chiến đấu vừa tiếp cứu nhửng người còn sống đang nhảy thoát ra khỏi xe.
- “Alfa đây thẫm quyền Một.”
- “Nghe Thẩm quyền Một.”
- “Cái chốt nướng thằng 12 nằm ngay hàng thốt nốt hướng 2 giờ của Alfa và cách tôi khoảng 150 thước, có thể thêm một hai cái nữa quanh đó. Alfa cho mượn “không giựt” (*đại bác 75mm) hạ hầm và “tiểu pháo” (*súng tự động bắn đạn M.79), tôi sẽ cho cày nát để BB vào lục soát.”
- “OK. Good! thẩm quyền Một. Thẩm quyền Bốn, đây Alfa.”
- “Thẩm quyền Bốn nghe Alfa.”
- “Anh nghe yêu cầu của Quyền Một chứ?”
- “Nghe rỏ Alfa.”
- “Tăng phái 41 (đại bác 75 không giựt) cho Thẩm quyền Một xử dung. Anh phối hợp với Quyền Một nhận định rõ mục tiêu và rót “delay” vào từng chốt (delayed có nghĩa là viên đạn trái phá sẽ phát nổ khi chui vào mặt đất). Cẩn thận di chuyển tránh trường hợp em thằng Một vừa rồi. Một cánh nhỏ Bắc Bình đang chuyển bên phải gia đình, tên Dũng Lực sẽ đến phối hợp với Một và Bốn trong số nhà nầy. “Hải-âu” đang trên vùng, khi nào gà của Bốn gáy báo tôi biết trước để Hải Âu chuyển xa lên hướng Bắc cho 43 và 44 làm việc. Thẩm quyền Một và Bốn nhận hiểu, nói.”
- “Một nhận rõ Alfa.”
- “Bốn nhận rõ Alfa.”
Sau đó thì vài chốt địch bị cày tung lên, chờ bộ binh lên soát lại thành quả, diễn tiến thật nhanh và gọn. Đây là cụm chốt nhỏ của địch đặt ngay chòm thốt nốt giữa đồng trống nhằm để bắn ra lộ, có lẽ vì trong khi tản xa tránh pháo lại dừng ngay cạnh cái chốt làm nó hoảng mà bắn thôi chứ cái chốt nằm khơi khơi giữa đồng thì việc nổ sung chỉ là “lạy ông tôi đang ở bụi nầy”. Hơn nữa chúng tôi biết ít khi Khơme-Đỏ dám chạm mặt thẳng với lực lượng của VNCH, kinh nghiệm đổ quân dạo nào chỉ vài tuần lễ quân đội VNCH đả tiến như chẻ tre từ biên giới phía Đông sang Tây giáp giới Thái Lan của nước Kampuchia để hỗ trợ cho Thống tướng Lon Nol lên thay Shihanook đang là Quốc Trưởng vì ông nầy
mãi cho Bắc Việt dùng lãnh thổ để chuyển quân phá rối miền Nam. Ngay cả quân CS Bắc Việt cũng phải né tránh trước hỏa lực phi pháo khi bị phát hiện. Nhưng thời gian gần đây, từ khi người Mỹ có chuyển động rút chân ra khỏi chiến tranh VN thì hỏa lực xử dụng trên chiến trường cũng bị hạn chế, đồng thời do đó hiệu năng tác chiến bị mất hiệu lực là điều không tránh khỏi. Trước ngày Tổng thống Ngô Đình Diệm bị đám tướng lãnh được chính quyền Mỹ mua chuộc để đảo chính lật đổ và giết để đổ quân vào thì quân đội miền Nam dù chưa có yễm trợ dồi dào và chưa được huấn luyện cải tiến theo lối đánh giặc nhà giàu của người Mỹ, đả từng áp dụng trong các cuộc chiến qui ước trước đó thì quân dội miền Nam, phối hợp cùng những phương thức tình báo chiến lược riêng vẫn chiến đấu hiệu quả. Phải công tâm mà nhận rằng nhà lãnh đạo của thời “Đệ nhất Cộng Hòa” rất sáng suốt, quyền biến, tận dụng vượt trội trong khả năng, hoàn cảnh và cách thức đối dầu với đối phương trong một cuộc chiến mà người CS mị dân, mô phỏng là “chiến tranh của nhân dân”. Chính sách “Ấp Chiến Lược” như những cái nôm, cô lập không cho CS tiếp xúc với người dân và hầu như toàn bộ hạ tầng cơ sở của địch đều bị bắt hoặc bị phá hủy.bởi nhửng cơ sở tình báo của miền Nam thời đó.
- “16 đây 171

(*171 là danh hiệu của trung tá Hồ Đàn, vừa được trực thăng bốc từ Hà Tiên qua Tịnh Biên)
Vô tuyến viên điều hợp đưa máy tôi trả lời:
- “16 tôi nghe 171.”

- “Máy bay của Ủy Ban Liên Hợp Quân sự sẽ trên vùng trời của anh chốc lát nữa, lịnh từ Bắc bình-Kinh kỳ của 414 (414 là danh xưng của đại tá Ninh, tư lệnh Biệt khu 44), anh phải đem toàn bộ em út anh đang xử dung về bên nầy, hoặc dấu mặt càng nhanh càng tốt để tránh nó đến thấy, kể cả thằng em vừa gãy càng của gia đình anh cũng vậy. Anh phải làm trước khi nó trên đầu của anh. 16 nghe rỏ trả lời!”
- “Nghe rỏ rồi 17, nhưng tôi muốn xác định để tiện điều động là mình vẫn giử ý định phải triệt tiêu áp lực địch tại đây chứ?
- “Đúng, nhưng tạm thời toàn bộ phải lánh mặt.”
- “Tôi hiểu rồi. Để thật nhanh tôi sẽ cho kéo em thằng Một gãy càng vào đường nước cạn cạnh con đường Bi Bi (bộ binh) đang bám trong đó, phần lớn gia đình tôi sẽ cho bám và ẩn luôn
trong đó. Một số rải rác bên ngoài, tôi sẽ mang theo với tôi về bằng đường lộ chánh về gặp 171. Dẹp giặc kiểu nầy lạ quá!”
- “Tôi hiểu 16. Lịnh trên đó. Gặp nói chuyện sau.”
Sau đó tôi cho đơn vị kéo xe bất động vào sâu trong con suối có nhiều tàn cây, cùng với Bộ Binh ngụy trang và phối trí theo con suối, số rải rác bên ngoài được bốc chở và chuyển động như thu quân lên lộ về bên kia biên giới. Khi phần đoàn thiết giáp về đến Tịnh Biên một lúc thì tôi được báo biết chiếc máy bay của UBLH/ QS trên vùng. Họ bay khá cao vì đây là vùng lửa đạn nên không quá dại dột mà uổng mạng. Vã lại, dù có muốn xuống thấp nhìn thật rõ thì cũng không dám khi nhìn thấy những viên đạn lửa thỉnh thoảng từ dưới đất bay thẳng lên. Về đến biên giới, xe Jeep chờ sẵn, chở tôi đến BCH tiền phương của BK, 171 tức trung tá Hồ Đàn, được trực thăng bốc từ Hà Tiên đến đây gặp tôi bên ngoài. Chúng tôi vào phòng hành quân gặp Biệt Khu trưởng là đại tá Hoàng Đức Ninh và một ít sĩ quan phòng 3. Họ muốn biết nhận định của tôi về tình hình, địa thế và nhu cầu vận dụng. Biệt Khu Trưởng nói ý định là bằng mọi giá phải triệt tiêu áp lực địch để Lữ Đoàn Miên tái phối trí phóng thủ và an ninh bên kia biên giới, nhất là truc lộ. Nhiệm vụ thi hành khá đặc biệt trong hoàn cảnh mới đòi hỏi mục tiêu phải được triệt phá nhanh và dứt khoát để tránh phái bộ của UBLH/QS thấy. Tôi nói rằng với địa thế trống trải nầy thì địch sẽ không kháng cự để bị tiêu diệt. Hơn nữa, đây là Khơme-Đỏ thì họ càng tránh mặt mình sớm, bình thường tôi nghĩ thì họ sẽ tìm cách rút lui đêm nay. Nhưng nếu họ nghĩ rằng lực lượng mình sẽ không làm gì được bởi sự cản trở của phái bộ LHQS như hôm nay thì địch sẽ không rút. Họ thử dùng Khơme Rouge trắc nghiệm để tạo áp lực vùng bên kia biên giới bất khả xâm của họ.
414 hỏi tôi:
- “Thiếu tá Kh. nghĩ sao? Thực hiện được chứ?
- “Được. Thưa đại tá. 171 nhìn tôi như tìm hiểu sao tôi trả lời dứt khoát nhanh vậy mà không có nhu cầu gì hơn, tôi hiễu ý nhìn lại và nói:
- “Tôi đã quan sát rõ trận địa này và có bửu bối riêng để trị. Nhưng hôm nay đả trễ, hơn nữa không nắm được vị trí các chốt. Tối nay tôi sẻ trực tiếp quan sát mục tiêu bằng “ống dòm hồng ngoại tuyến nhìn đêm”. Nếu tụi nó rút thì tôi cho pháo binh dập; còn nếu vẫn bám trụ thì tôi triệt hạ vào sáng sớm mai. 171 có nhớ 1/16 của tôi được trang bị “ống dòm hồng ngoại tuyến nhìn đêm” và “ súng tự động bắn tạc đạn M.79” chớ? Tối nay tôi sẽ dùng nhiều tới ống dòm nầy.
- “Anh nói rõ ý định điều quân và nhu cầu.” 414 hỏi tiếp.
- “Hiện tại phần chính đơn vi cả Bộ Binh và Thiết Giáp đã ém sẵn bên đó, dọc theo con suối và một tiền đồn Bộ Binh vẫn còn bám phía Bắc muc tiêu. Khi trời bắt đầu tối, tôi sẽ nhờ Pháo Binh dập thật rộ trên muc tiêu và xa hơn phía tây nơi địch đặt pháo để địch không ngóc đầu được. Đồng thời tôi sẻ dẫn lực lượng chánh vào nơi BB vẫn còn đang bám phía bắc muc tiêu. Tại đó, tối đến tôi sẽ dùng ống dòm hồng-ngoại-tuyến để quan sát hoạt động của các chốt địch trên mục tiêu. Nếu địch rút lui thì tôi cho pháo dập, nếu vẫn bám thì tôi sẽ cho từng các thẩm quyền 2 bên quan sát tận mắt các chốt mà họ có trách nhiệm triệt hạ. Sáng sớm mai, khi trời có thể thấy được tôi sẽ “đánh bom” vào mục tiêu. Pháo binh bắn “delay” và 75mm trực xạ vào từng chốt. Sau đó, tôi hướng dẫn chở Bộ binh đánh thẵng vào mục tiêu cho họ tiếp tục diệt và luc soát. Xin L.19 (máy bay trinh sát) lên vùng chận pháo địch khi tôi tiến quân. Tôi yêu cầu thỏa mãn cho tôi những nhu cầu yễm trợ tôi xin để thu đạt kết quả như ý.

- “Nếu anh không triệt hạ chúng được, mấy thằng “Đỏ Đen” nầy thì chúng sẽ hừng chí mà tiếp tục trò nầy nữa đó.(414 nói tiếp)
Tối đó, lực lượng hành quân tiến hành phối trí như dự trù. Từ xa chúng tôi các thẩm quyền trách nhiệm lần lượt quan sát chuyển động của địch trên mục tiêu: tải thương, tiếp tế, tu bổ phòng tuyến mà không hề biết rằng “nhất cử nhất động”của chúng đều đang được chúng tôi cẩn thận dò xét, xác định và cân nhắc… Chúng tôi còn quan sát thấy rõ tại vài chốt mà gia đình Một và Bốn của tôi triệt hạ khi chiều nhưng không có thì giờ khai thác thêm thì một toán nhỏ địch đến xem xét, dường như chỉ một còn sống nhưng thương tích nặng được cõng và đở từ phía sau chuyển về hướng bắc, tôi để họ đi êm vì thấy tại mục tiêu chánh địch vẫn phối trí. Tôi báo về BCH/ HQ và 171 chi tiết mọi diễn tiến và 414 muốn tôi triệt hạ mục tiêu chính vào sớm mai như tôi đã định để triệt hạ ý đồ của địch trong tương lai.
Tôi phân chia giới hạn trách nhiêm cho từng thẩm quyền kể cả các trưởng xa (chỉ huy 01 thiết giáp) để họ nắm vững mà tiến thẳng đến với hỏa lực cơ hữu khi xung phong. Sự thật như tôi dự đoán, địch không nhiều trên mục tiêu quá trống trải chung quanh mà chỉ muốn ướm thử tình hình liên hệ tới cái hiệp đinh quái quỉ vừa được mới thực hiện. Trận dánh được kết thúc thật nhanh trong không đầy 2 tiếng và kết thúc khi mặt trời thật tỏ. Các chốt một số bật tung ra, số bị sập thành mồ chôn, một số hoảng kinh bật chạy khỏi hầm và bị hạ ngay sau đó.14 xác địch đếm được trên mục tiêu hoàn toàn là ‘Khơme Rouge”. Viên Đại tá CHT/ lữ đoàn Miên ngồi trên xe Jeep từ bên kia đường phóng nhanh ra, thấy Thiết-Giáp ông bảo tài xế ngừng lại hỏi. Ông ta mừng rở và cảm động ôm lấy tôi kèm một phong thơ mà sau nầy tôi dùng ủy lạo cho gia-dình các binh sĩ đã hy sinh trong đơn vị. Tiếng nổ bom, đạn lẩn tiếng súng khi trời hừng sáng đã đánh thức người dân thị xả Tịnh Biên. Họ lên lầu các nhà cao và đổ xô ra đường để hướng nhìn về bên kia trận mạc đang xảy ra. Một binh sỉ trong đơn vị tôi quê quán tai đó thuật lại rằng dân Tịnh Biên họ nói xem và được kích động bởi sự xảy ra trước mắt còn hay hơn xi-nê nhiều, mà quả thật tôi nghĩ họ đang được kích động tối đa là vì trong đoàn quân đang quần thảo với lửa đạn không xa lắm trước mắt họ có cả chính những người thân yêu là chồng, cha, con hay anh em của họ …những người đả đang xả thân chiền đấu cho sự yên ổn mà họ từng có được nơi mà họ đang sống… Không biết có phải vì trận đánh nầy mà tôi được chỉ định dẫn đơn vị về thủ-đô Sàigòn cho cuộc duyệt binh ngày Quốc Khánh năm đó. Tôi chắc chắn rằng không một người dân nào trong thị xã ngày đó có được hay chỉ lóe lên được một ý nghĩ về quân đội mà họ từng chứng kiến đã bảo vệ cho đất nước, cho chính bản thân gia đình ho trong suốt cuộc sống…sẽ bị sụp đổ hoàn toàn vỏn vẹn chỉ 2 năm sau đó.
Cần nói thêm là vào khoảng thời gian 1972-1973, trong Thiết đoàn, riêng đơn vị tôi có được trang bị 2 chiến cụ mới: 1/ loại súng bắn đạn M.79 tự động khoảng non 500 tạc đạn/ một giây và nỗ lại khi chạm.
Được trang bị xử dụng thời gian đầu thường bị trở ngại vì kẹt đạn nên không bắn được liên tục, thời gian xử dụng độ gần ½ năm thì một bộ phận thuộc “Trung Tâm nghiên Cứu hành Quân Phối Hợp” do trung tá Nguyễn Văn Trọng đến đơn vị hỏi cặn kẻ chi tiết về hiệu năng xử dụng và trở ngại, sau đó cây súng được mang đi để hoàn chỉnh.. Thời gian sau cây súng cùng loai đã tu chỉnh những khuyết điểm, được mang trả lại, xử dung được khoảng thêm gần ½ năm, hiệu quả ngoài sự mong đợi. Binh sĩ trong đơn vị và ngay cả chúng tôi thường gọi là “tiểu pháo” cái tên nghe vừa thân thương vừa nói lên được cái hiệu năng cao của nó trên chiến trường khi cần để buộc địch không ngóc đầu dậy, cho bộ binh tiến sát hông hoặc cùng với bộ binh càng thẳng vào như trường hợp trên. Rất vững vàng trong những lúc phòng thủ đêm trên chiến tuyến nhằm chận đứng sức tiến và tiêu diệt đối phương bên ngoài vòng đai phòng thủ. Vì hiệu năng tức thời và sức công phá tập trung khá lớn mà không cần phải có thời gian liên lạc và điều chỉnh cho tầm đạn rơi đúng vào mục tiêu như pháo yễm.
2/ “Ống dòm hồng-ngoại-tuyến nhìn đêm” có đường kính khoảng hơn 6 inches và dài khoảng 3 feet, chân 3 càng, khuếch đại ánh sáng làm rõ hơn từ những nguồn sáng đêm tự nhiên hoặc từ những điểm sáng nhỏ như lân tinh phát ra từ lá cây mục… Hình ảnh hiện lên thật rõ từ xa mà hàng đêm chiếc máy nầy được đăt trên xe chi huy của tôi để quan sát các vọng gác đêm và động tỉnh bên ngoài. Trận đánh trên là lần đầu tiên tôi nhanh trí xử dung hiệu quả nhờ phần nào vào tính hình thái của địa thế và muc tiêu.
Cả 2 chiến cụ hiệu quả trên vào gần cuối năm thì được lệnh thu hồi vỉnh viễn. Khi tôi sống trên đất Mỹ, vào khoảng năm 2006 tôi nhớ có đọc trên tờ báo ngày “Sacramento Bee” mô tả 2 chiến cụ nầy đang được xử dụng trên chiến trường xứ “Iraq”. Về hai chiến cụ trên, tôi chỉ kể ra cái thực trạng trong đơn vị của mình ngày nào mà tôi có biết chứ hư thực như thế nào thì ai biết được, cũng như trường hợp 2 quả bom CBU được ném ra tiêu diệt tức thời 2 trung đoàn địch tai Xuân Lộc vào những ngày cuối cuộc chiến, sau đó người Mỹ có đem vào thêm một ít nhưng không có đầu nỗ thành ra như vô hiệu. Những quả bom nầy về sau người CS trưng bày như là sản phẩm “tội ác của Mỹ Ngụy”. Tôi nghĩ ví thử có thêm được khoảng vài chục quả nữa thì với sự xuất hiện lộ diện rõ ràng vào những ngày đó của địch thì việc chuyền bại thành thắng là điều quá rõ. Vài chục qủa bom với kết thúc thắng lợi cho một cuộc chiến dai dẵng gần thế kỷ để mang lại tự do và thanh bình như toàn dân mong đợi là một gía quá rẻ so với chiến phí mà ngươi Mỷ đã bỏ ra trước đó…Đã hơn 30 năm chiến tranh chấm dứt việc người Mỹ muốn thử vũ khí mới hay muốn dùng bom CBU để làm chậm sức tiến của đich vào những ngày cuối cùng để cho người Mỹ rút hết người ra khỏi VN lúc đó thì đó là một câu hỏi mà tôi nghỉ sẽ chẳng bao giờ chúng ta nghe được câu trả lời.



lyenson
  • Số bài : 2686
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.06.2006
RE: Kể Chuyện Đánh Giặc Ở Quê Hương Ông Nguyễn Tấn Dũng - 25.01.2009 08:02:01
41. Bài Cuối








Đã kể thì kể cho hết những chuyện xảy ra ở vùng cuối của miền đất Hậu Giang nầy, để khi gấp sách lại, tôi hy vọng độc giả hiểu cho rằng, té ra, ở một nơi gọi là quê hương Việt Nam nầy, có những chuyện như thế, những con người như thế, và có những tình cảnh như thế, khốn khổ cho dân tộc nầy biết bao nhiêu!
Bao nhiêu người đau khổ và bao nhiêu người sống trên sự đau khổ của người khác, vậy thì từ bi ở đâu, bác ái ở đâu, công lý ở đâu, lương tâm ở đâu?
Khoảng giữa các năm 1950, tôi có đọc một truyện ngắn trong tập san “Chỉ Đạo” - “Cơ Quan Trung Ương Chỉ Đạo Chiến Dịch Tố Cộng” - một truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc, truyện “Rung Cây Dừa”. Truyện kể có anh chàng, trong khi toàn dân tham gia Nam Bộ Kháng Chiến, chống Pháp, thì anh ta, lúc đó cũng chưa vợ chưa con chi cả, - để khỏi nại cớ nặng gánh gia đình mà trốn tránh nhiệm vụ của người dân - anh chàng bỏ đất liền ra sống ở ngoài một hòn cù lao nhỏ, tránh xa cảnh bom đạn đang xảy ra ngày đêm trên đất liền. Ở hòn cù lao nầy, chỉ có mấy gia đình. Mỗi khi tầu thủy Tây từ xa, từ hướng Rạch Giá hay Phú Quốc chạy tới, thì anh ta leo lên cây dừa rung các ngọn lá, báo động cho đồng bào biết, chạy trốn lên núi.
Ở trong vịnh Thái Lan nầy, có rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ. Lớn nhứt thì có Phú Quốc, hồi ấy được chia thành một quận: Quận Phú Quốc, với hai xã là Dương Đông và xã An Thới, có trại tù binh Cộng Sản lớn. Đảo nầy không thuộc phạm vi của tôi, nên tôi không bàn tới.
Thứ hai là Hòn Tre. Hòn Tre cũng từng đi vào văn chương, truyện “Kho Vàng Hòn Tre” của Sơn Nam. Ở đây cũng có căn cứ khá lớn của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Xa hơn nữa là hòn Lại Sơn, cũng là xã Lại Sơn. Hai hòn đảo nầy, thuộc phạm vi quận Kiên Thành. Quận nầy đóng ở Rạch Sỏi.
Khu vực tôi có Hòn Nghệ là lớn nhứt. Kế đó có Hòn Đầm, Hòn Ngang (trong bản đồ ghi là hòn Đội Trương), Hòn Heo. Ngoài ra còn một số đảo nhỏ nữa, có hòn có người ở, có hòn thì không. Lý do: Nhiều hòn không có nước ngọt, không ở được. Những hòn lớn có nước ngọt là nhờ khi mưa, nước thấm vào hòn núi, chảy xuống thành những khe suối, khe mội (khe nước ngầm, từ trong núi chảy ra). Những hòn nhỏ quá, giữ không đủ nước, khi mùa khô tới, nước đã cạn, không còn nước.
Tuy nhiên, trước khi nói về các hòn đảo ngoài biển, tôi nói qua về vài đặc điểm vùng nằm dọc theo bờ biển.
Gần ranh giới giữa hai quận Hà Tiên và Kiên Lương là một dãy đồi không cao lắm. Từ hướng nhà máy ximăng Hà Tiên đi lên thị trấn Hà Tiên, qua khỏi ấp Xà Ngách của xã Dương Hòa thì tới các ấp Cần Thăng, ấp Bãi Ớt, ấp bãi Hòn Heo, ấp bãi Chà Và.
Qua khỏi ấp Bãi Ớt là lên một cái giốc không cao lắm của mấy ngọn đồi thấp nằm liền nhau, kéo tới bờ biển, kết thúc bằng một ngọn đồi nhỏ. Đây chính là ấp Hòn Heo. Tại đây là một ngã tư, giao lộ của quốc lộ 8A Rạch Giá – Hà Tiên và phía kia là một con đường đất, một đi về hướng Cản - Cản là những cọc cây cắm trên kinh để cản tầu chiến của Pháp hồi chiến tranh 1945-54, - trên kinh Kiên Lương-Hà Tiên. Qua khỏi kinh nầy là vùng kinh thiên nhiên đi vào mật khu Trà Tiên; ngược lại là hướng ra biển, thường gọi là đường Hòn Heo. Con đường nầy chạy theo bờ biển rồi vòng lại bọc quanh một ngọn núi nhỏ nói ở trên. Gần ngoài bờ biển có một ngôi chùa cổ, có thầy trú trì còn trẻ. Chúng tôi rất ngại ông thầy chùa nầy. Mấy ông thầy chùa ở nhà quê, thật thà, dại dột, phần đông không ông nào tránh khỏi bị Việt Cộng lợi dụng, bắt làm tay sai. Gần chùa là một xóm nhà trù phú, phần nhiều là chủ ghe, như Hai Hồ, sáu Đụt. Hầu hết con trai của họ đều trốn quân dịch. Mỗi lần bị lục soát, bọn chúng nhảy xuống ghe, phóng ra biển. Phía quân đội và cảnh sát, không có ghe tàu đuổi theo, chỉ lõ mắt… ngó theo. Ngoài lý do đi lính sợ chết, còn lý do chính trị nữa. Phần đông họ thiên Cộng, hay theo Việt Cộng như Quách Thị Hoa, cựu can phạm. Thị Hoa ở tù Côn Đảo về khoảng cuối năm 1973. Một năm sau, thị Hoa liên lạc với thị Vinh, - bố thị Vinh và chính thị cũng là cựu can phạm, tù Côn Đảo, về cũng khoảng thời gian với thị Hoa. Một năm sau, cả hai thị liên lạc với nhau, “tái hoạt động”. Ngành đặc biệt chưa kịp bắt thì cả hai thị chạy trốn lên Rạch Giá hay Cần Thơ, không rõ. Chỉ ít tháng sau, thì “đứt phim”. Coi như hai thị thoát nạn, nhưng sau 30 tháng Tư, cũng chẳng được Việt Cộng ban phát gì, lại về quê làm ruộng.
Gia đình thị Vinh rất lộn xộn. Bố thị là cựu can phạm, bị tù thời Ngô Đình Diệm, được tha về. Ông ta không hoạt động gì nữa. Thằng con trai lớn, thoát ly vô mật khu. Vợ tên nầy đi theo, rồi có bầu. Khi gần đẻ, thị lại rời mật khu về lại ở ấp Lung Lớn, nhà cha chồng, ở chung với em chồng là thị Vinh. Khi thị sinh đẻ, có bệnh viện phe quốc gia đỡ đẻ, chăm sóc. Có lẽ bệnh viện của Nguyễn Tấn Dũng trong mật khu không có khu “sản khoa”. Y sĩ Nguyễn Tấn Dũng không biết đỡ đẻ, nên cho thị về để quốc gia lo giùm. Hôm thượng sĩ Năm Hưng, trưởng ban điều tra, trình bản cung của “bà bầu” nầy cho tôi xem, vừa cười vừa nói thêm: “Tụi nó đè nhau ra chơi cho sướng, khi có bầu bắt quốc gia nuôi đẻ. Xứ nầy thật buồn cười.”
Tôi nói:
- “Buồn cười nhưng không đau lòng! Sai lính đi đánh Việt Cộng rồi chở gạo, chở thuốc vô mật khu nuôi Việt Cộng mới đau lòng!”
Nói câu đó là vì tôi nhớ tới câu nói của anh trung sĩ thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát bị tôi bắt, như tôi có nói ở phần trước.
Gia đình nầy còn một thằng con trai nữa, sợ không dám theo Việt Cộng, cũng không dám đi lính sư đoàn hay Nhảy Dù, Biệt Động Quân, v.v… bèn xin vào nghĩa quân. Như tôi có nói ở trước, vào nghĩa quân đâu có dễ…
Khoảng cuối năm 1974, Danh Chịa, trung đội trưởng nghĩa quân giỏi nhất của chi khu Kiên Lương bị mìn chết ở đây. Cái chết của Danh Chịa làm cho không ít người trong chúng tôi lo lắng và tiếc thương.
Quận Long cho một trung đội hành quân cuối ấp Hòn Heo, nơi Danh Chịa bị mìn để đem xác anh ta ra, đưa về xã Dương Hòa, liệm tại đó, rồi chở về bản quán anh ta ở Giục Tượng. Hôm đó, tôi cũng có mặt tại xã, đứng bên ông Quận Long. Mắt ông ta đỏ hoe. Tôi biết Quận Long thương Danh Chịa lắm, một trung đội trưởng nghĩa quân giỏi và tư cách đàng hoàng.
Ông Quận Long nói tới tôi:
- “Thấy cái xác nó, tôi khóc liền.”
Tôi ngại, không nói thêm lời an ủi nào mà lại nhớ hôm ông rủ tôi xuống xem kết quả trận đánh Việt Cộng tấn công và đồn Lung Lớn và thảm bại.
Ông ta kể: “Quá nửa đêm, ban hành quân thức tôi dậy, báo cáo tụi nó tấn công đồn Lung Lớn. Tình hình nguy ngập vì cả đồn chỉ có một tiểu đội với 4 ngoe. Tôi liên lạc với bọn nó, biểu rút lui ra ngõ sau. Chờ khi Việt Cộng chiếm đồn xong, tôi cho pháo dập. Tui nó thiệt hại nặng lắm.”
Sáng hôm sau, khi tôi và Quận Long xuống tới đồn, cảnh vật khá kinh hoảng. Chỉ còn chơ vơ 4 cái cột của lô-cốt ở giữa, mái tôn bay mất. Ngoài hàng rào, trong cổng đồn, Việt Cộng chết nằm co quắp cả chục xác, nhiều xác cháy đen, nhiều xác máu đã đọng lại đen thành vũng, ruồi nhặng bay ù ù, tung lung.
Vào sân đồn chưa được 5 năm phút, Quận Long kéo tôi ra lộ, nói:
- “Tui là người vào sinh ra tử hàng trăm lần, bây giờ thấy máu me cũng ngán.”
Câu nói của một viên thiếu tá nổi danh đánh giặc giỏi của Sư Đoàn 9 Bộ Binh không khỏi làm tôi suy nghĩ. Nhiều người biết cái danh của ông “đánh giặc hay lắm”. Cũng phải nói thêm, theo nhận xét của tôi “kinh nghiệm đầy mình.” Vậy mà bây giờ ông ta thấy nãn vì cảnh máu đổ xương rơi!?
Tại sao ông ta thấy nãn? Vì bây giờ ông giàu có nên sợ chết, sợ mất hưởng thụ cái tài sản ông thu kiếm được. Không hẵn thế, bởi vì, - hơi tò mò đời riêng một chút - là ông ta, theo tôi biết, không giàu. Giàu mới lo hưởng thụ. Không giàu thì hưởng thụ cái gì? Có thể là chiến tranh kéo dài quá, ai ai cũng nãn. Gần mười năm xông pha trận mạc, cận kề cái sống, cái chết, chứng kiến bao cảnh đau đớn, rên xiết vì bị thương, khi hấp hối của đồng đội, của em út, của kẻ thù. Dù với kẻ thù, người miền Nam vẫn thấy đau lòng trước những nỗi thống khổ, đau đớn, chết chóc của những người “Sinh bắc tử nam”. Nói cho cùng, họ cũng là nạn nhân cả đấy.
Người miền Nam còn mang nặng bản chất dân tộc, trong đó, dù Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tiểu Thừa, Đại Thừa, v.v… bản chất đó là hiền hòa, là từ bi, là lòng nhân ái thương yêu của đạo Phật, của văn hóa dân tộc… Người ta khó bỏ đi, không thể bỏ đi cái bản sắc của dân tộc mình.
Ngay ấp Hòn Heo, trên đỉnh các ngọn đồi nầy, khoảng năm 1974, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa dự trù dựng một thành phố mới, làm tỉnh lỵ cho tỉnh Kiên Hà (Lấy tên từ Kiên Giang và Hà Tiên), là tỉnh dự trù sẽ thành lập, gồm các quận Kiên Lương, Hà Tiên, Phú Quốc và Giang Thành (quận mới). Thiếu tá Philip Bùi Văn Đạt, chỉ huy trưởng Cảnh Sát Phú Quốc được dự trù làm chỉ huy trưởng Cảnh Sát tỉnh mới nầy. “Sư phụ” tôi hỏi tôi có muốn làm chỉ huy phó không. Tôi lắc đầu!
Trước hết, khi lập một tỉnh mới, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có chủ đích. Chủ đích gì thì cũng không ngoài chia nhỏ để dễ kiểm soát dân chúng, triệt hạ Cộng Sản.
Dĩ nhiên Việt Cộng sẽ phản công. Chúng sẽ tập trung quân tấn công vào đây. Tỉnh mới thành lập, hệ thống phòng thủ chưa vững, kế hoạch phòng thủ chưa hoàn hảo, phối hợp các ban ngành dân quân chưa chặt chẽ. Tình hình tỉnh mới nầy, như tỉnh Phước Thành là tỉnh mới thành lập thời cụ Ngô. Việt Cộng, hồi ấy còn yếu, tập trung đánh cho một trận, tỉnh trưởng bị bắt sống. Chính phủ dẹp bỏ tỉnh nầy luôn. Vậy, nếu tôi chui vài đây là chui vào rọ, chui vào chỗ chết!
Nghe tôi trình bày như vậy, trung tá Thiều cười nói, không rõ thiệt hay dỡn:
- “Nếu chú có kinh nghiệm và nhận xét như vậy, tui bắt buộc đưa chú về đây!”
Tôi cũng cương:
- “Nếu trung tá ra lệnh, tôi thi hành. Trung tá nhớ nếu tôi có “Tổ Quốc Ghi Ơn” thì trung tá nhắc nhở chính phủ đừng bỏ quên vợ con tui.”
Công việc thành lập tỉnh mới đang tiến hành, chậm chạp chưa ra cơm cháo gì cả thì “tan hàng.”
Tuy không có ý đảm nhận chức vụ gì ở đây, tôi lên ấp Bãi Ớt để quan sát địa hình, coi lại địa hình để phỏng đoán hoạt động của Việt Cộng vùng nầy sẽ như thế nào!
Vùng nầy Việt Cộng không mạnh, lâu lâu, chúng về tuyên truyền, thu thuế ruộng muối, vài chủ ghe đánh cá, đặt mìn, v.v…
Một hôm, đám xã đội của Hai Ngộ lén về giật sập cầu Dương Hòa. Cầu ngay cạnh trụ sở xã, có canh gác đàng hoàng, kỹ lưỡng mà cũng bị Việt Cộng phá được? Không rõ bên An Ninh Quân Đội có phát hiện tên nghĩa quân làm nội tuyến hay không. Bên chi khu, có đại úy Danh Lol làm việc giỏi nhứt. Ông nầy gốc là nghĩa quân viên, có nghĩa là lính trơn. Trung sĩ Tư Khấu của tôi hồi ấy là trung đội trưởng của Danh Lol. Vậy mà bây giờ, Danh Lol mang loon đại úy, còn Tư Khấu, trung sĩ vẫn cứ trung sĩ, cái loon đeo lâu ngày đã mốc. Tôi cứ chê Tư Khấu việc nầy hoài. Ham chơi, ham nhậu, làm sao cuộc đời thăng tiến được. Bị mắng, Tư Khấu chỉ nhăn răng cười. Sau đó, Danh Lol chuyển qua Địa Phương Quân rồi theo học khóa đặc biệt. Tôi không rõ trình độ văn hóa của ông ta như thế nào, có thể không cao, nhưng đánh giặc thì kinh nghiệm lắm, giỏi lắm và cũng chì lắm. Như tôi kể trong bài trước, nhờ “chì” nên sau ba ngày tấn công, Việt Cộng với hai đại đội, không chiếm được cầu Vàm Rầy với một trung đội trừ phòng thủ, là nhờ công của ông ta.
Hôm cầu sập, tôi lên xem, bực mình hỏi xã trưởng Hồ Văn Chánh:
- “Trong ta ông có mấy trung đội Nghĩa Quân, vậy mà để cầu sập!”
Xã Chánh giải thích:
- “Điều động Nghĩa Quân là do Chi Khu, em có quyền gì! Bọn thằng Hai Ngộ cũng ghê lắm. Tụi nó lặn xuống từ xa kia. – Y đưa tay chỉ về hướng đường vào núi Nai, đường xâm nhập của Việt Cộng - Nó mang đá vào người cho nặng, đi bộ dưới đáy kinh, ngậm ống nylon mà thở, tới núp dưới chân cầu gài mìn. Trời tối lắm, linh không thấy được.
Lúc ấy, chúng tôi đang ngồi trong cái quán cóc gần cầu. Bàn bên kia có một thằng mắt xanh mũi lõ còn trẻ, sau mới biết nó người Ăng-Lê. Một anh sinh viên trẻ đi theo làm thông dịch viên. Cả hai người nầy đi xe đò từ Saigon về Hà Tiên, tới đây cầu sập, chưa đi được ghé lại uống nước.
Anh sinh viên trẻ nghe xã Chánh kể, thuật lại câu chuyện du kích Việt Cộng đi chìm dưới nước phá cầu cho tên Ăng Lê nghe. Tới chữ du kích, anh ta không biết chữ du kích dịch như thế nào, bèn quay qua bàn tôi hỏi:
- “Đại úy! Du kích tiếng Anh là gì, đại úy biết không?”
- “Guerrilla.” Tôi nói.
Không rõ tại anh ta nghe không rõ, hay tôi nói không rõ, anh ta dịch ra tiếng Anh là Gorilla. Thằng Ăng Lê láu cá, nghe anh ta dịch thế, nó bèn đứng dậy, bước ra khỏi bàn, vừa đi vừa làm bộ như con khỉ đột, miệng nói “Gorilla, gorilla”. Thấy vậy, tôi nói với anh sinh viên Việt Nam:
- “Thằng chó nầy nó nhạo anh đấy. Nó nghe lầm guerrilla thành gorilla. Gorilla là con dã nhân bên châu Phi. Nó phải hiểu rằng tiếng Anh đâu phải là tiếng mẹ đẻ của mình. Nó phải rán hiểu chớ!”
Anh sinh viên dịch lại cho nó nghe, lại nói thêm với nó là tôi chê nó không thông cảm người ngoại quốc nói tiếng Anh rõ. Nóng mặt, y hỏi tôi “Tại sao Việt Cộng đi dưới nước được mà những người phe Quốc Gia không làm được.”
Biết thằng nầy là tay quá khích, tôi nói:
- “Dù du kích, chúng nó cũng là người Việt Nam. Chúng tao cũng là người Việt Nam. Người Việt chịu khó, việc gì khó khăn mấy cũng cố gắng làm được. Sung sướng như bên Âu Mỹ, quen hưởng thụ nên mới không làm được mà thôi.”
Chưa hết giận, nghĩ tới đám thám sát tỉnh của đại úy Hà cũng lội tuốt vô mật khu đặt mình claymore tấn công Việt Cộng, một lúc tôi nói thêm:
- “Tại sao mầy nghĩ rằng bọn tao không làm được như chúng. Tại sao mầy nghĩ rằng chúng ta không vô tới mật khu Việt Cộng như chúng tao đã từng làm!”
Thấy tôi nói có vẻ căng thẳng, tên Ăng-Lê làm thinh.
Bí thư xã Dương Hòa, hồ sơ trận liệt ghi tên là Dương Nganh, tự Xà-Rum, bà con với Dương Yếp, là nhân viên cảnh sát của tôi đang phục vụ tại xã địa phương, - xã Dương Hòa. Đã lâu, tin tức tình báo không ghi nhận gì vè tên bí thư già nầy.
Một hôm, tôi hỏi trung sĩ Dương Yếp:
- “Mày về bảo Sarum ra chiêu hồi đi. Có gì tao lo cho! (Thật ra, đúng danh từ là Hồi Chánh, nhưng dân chúng thường gọi là Chiêu Hồi, tên của ty hay chi Chiêu Hồi).
Dương Yếp trả lời:
- “Ổng đi mất tiêu rồi. Người Miên, Việt Cộng đâu có xài.”
Tôi hỏi:
- “Việt Cộng cũng kỳ thị?”
- “Kỳ thị quá cha Quốc Gia?” Dương Yếp trả lời.
Tôi cười, hỏi:
- “Tao thì sao?”
- “Đại úy thì… Tui nói chuyện với đại úy tự nhiên, tui có thấy chi khớp đâu.”
Hôm đi lên Bãi Ớt, tôi có gọi xã trưởng Hồ Văn Chánh, Dương Yếp và vài người ở cuộc Cảnh Sát nầy đi theo.
Về dân địa phương, toàn là người Miên, họ không theo Việt Cộng, trừ khi bị bắt buộc, đe dọa, v.v…
Ấp Bãi Ớt và Bãi Chà Và nằm dọc theo bờ biển, dân chúng làm vườn nhiều hơn làm lúa vì vùng nầy đất cao, ít ruộng. Vã người Miên cũng không quen làm ruộng như người Việt. Có nhiều hàng dừa rất tốt, dù là dừa lão, tức là tuổi cây dừa cao, trên 50 năm. Ở ấp Bãi Ớt, sát bờ biển, còn lại một cái nền gạch lớn lắm. Hỏi ra, hồi xưa có ông thực dân mắt xanh mũi lõ nào đó dựng một căn nhà gạch lớn nghỉ mát ở đây với vợ con. Ông Tây cùng gia đình đi mất từ thời Nhựt đảo chánh Pháp. Căn nhà thì Việt Minh tiêu thổ kháng chiến đã lâu, chỉ còn cái nền nhà!
Biển ở đây có rất nhiều cá trích. Dân đánh cá trích, được mùa, bán không kịp, đem phơi khô, làm mồi nhậu rất bắt. Phải chi không có chiến tranh, số lượng cá trích ở đây đủ dựng một nhà máy cá hộp, ngon không kém gì cá Sumaco bên Ma-Rốc. Hôm tôi đến ấp Hòn Heo, tình cờ gặp ông Trần Văn Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học Kiên Lương. Ông thầu quét vôi cho ba lớp học của ấp nầy. Thấy tôi, ông kéo vào nhà dân nhậu chơi, bia với loại cá trích ngon tuyệt nầy.
Ranh giới giữa hai quận Hà Tiên và Kiên Lương là một cái đèo nhỏ vì các hòn núi nầy ra tới biển. Đèo đó, tên là mũi Hòn Cọp.
Xưa lắm, khi còn yên bình, vùng nầy còn nhiều thú rừng. Có một con cọp chiều chiều thường ra ngồi trên đèo, ngó mông ra khơi cho đến khi trời tối hẵn cọp mới về rừng.
Cung cách mỗi chiều leo lên đèo ngồi ngó ra biển cho ta thấy có thể chú cọp nầy có tâm hồn một nhà văn, nhà thơ lãng mạn, hay vợ chết, con chết gì đó nên hay ngồi ở đây để vơi buồn đi chăng?, v.v…
Việc cọp cứ mỗi chiều ra ngồi trên đèo làm cho người ta sợ. Đi qua, hoặc bên này đèo qua thăm bà con bên kia đèo, thì nhớ về sớm, trước khi nhà thơ rằn ri ra ngồi trên đỉnh đèo.
Vậy rồi một hôm có ông già nhà bên kia đèo đi ăn giỗ nhà bên nầy đèo. Mãi vui chén rượu, chiều đến lúc nào không hay. Khi sực nhớ thì ông ta phải về. Bà con can ông: “Thôi, giờ nầy cọp ra ngồi trên đèo, về là gặp, nguy lắm!”
Đang say rượu, ông già làm gan:
- “Tao mà sợ cọp? Cọp sợ người chớ sao người sợ cọp?”
Thế rồi ông già khăng khăng cắp dù ra về, ai cản cũng không được.
Tuy nhiên, khi lên đèo, gió biển mát, làm ông già tỉnh rượu. Ông nghĩ thầm: “Chết rồi, lỡ gặp ổng thì biết làm sao?”
Sợ thì sợ, nhưng không lý trở lui vì trót nói gan.
Lên tới đỉnh đèo, ông già thấy ông ba mươi đang ngồi đó, ngó ra biển. Cọp không biết ông già đang đi lên.
Bỗng con cọp ngó về hướng ông già. Thấy cọp ngó mình, hoảng quá, ông già bèn lấy cây dù đang cặp bên nách chống dù lên, la to một tiếng, thủ thế.
Trời cũng đã nhá nhem. Cọp vừa thấy có người đi lên, bỗng nhiên, con người biến thành một khối to đen sì, lại có tiếng la. Khối đen đang lù lù tiến tới.
Cọp chưa định thần được, cũng hoảng quá, phóng mất vô rừng. Từ đó, ông già nổi tiếng là người đuổi cọp chạy. Tên mũi Hòn Cọp có lẽ cũng có từ đấy!
Ngay tại Ba Hòn, phía sau miếu Bà Chúa Xứ, - người ta nói miếu nầy linh lắm, - Không linh thì làm sao đám nhân viên của tôi bắt được nửa triệu bạc giả? – là một ngọn núi đá không cao lắm, đường đi lên rất giốc. Quá lưng chừng núi, có một cái hang, trong hang thờ Phật, Không rõ chùa nầy có từ hồi nào. Có ba ni nô, tuổi không già, cũng không trẻ, thỉnh thoảng cả ba cô kéo nhau về tụng kinh gỏ mõ trên chùa nầy. Được vài ba hôm, ba cô không còn “đội gạo lên chùa” nữa, vì chùa không có sư thúc hay vì thiếu nước ngọt, không ở lâu được. Thỉnh thoảng mấy ông có loon lá bên quân đội, kiếm đâu đó vài ba “em gái hậu phương”, tổ chức vui chơi nhậu nhẹt ở cái sân nhỏ trước cửa hang. Không rõ từ hồi nào, người ta đã trồng ở sân nầy mấy cái cây để lấy bóng mát. Tôi cũng đã từng leo lên chùa nầy, một lần, cho biết rồi thôi. Những năm tình hình không được yên ổn lắm, tôi biểu trưởng cuộc cảnh sát xã Dương Hòa, thiết lập một trạm quan sát trên lưng chừng núi, ngó vô hướng rừng Trà Tiên canh chừng. Chỗ nầy quan sát rất tốt, hễ thấy Việt Cộng ra thu thuế, thì báo cho ngành đặc biệt vào “hỏi thăm sức khỏe.”
Mấy ông linh mục ở đây thường hay dựng thánh giá ở nơi nào… có lợi hoặc thắng cảnh. Chẳng hạn như cha Hiền dựng thánh giá ở núi Trầu, phòng khi nhà máy ximăng Hà Tiên có phá núi Trầu lấy đá làm ximăng thì phải bồi thường cho cha như tôi có kể ở trước. Cha Lương Công Đại, ngay xứ Kiên Lương, biết điều hơn. Chỗ nào, dù thắng cảnh, nhưng đã có chùa Phật như ở Ba Hòn nầy thì cha không đụng tới. Chỗ nào chưa có chùa Phật mà cảnh đẹp, cha dựng thánh giá ở đó. Việc nầy chẳng cần xin phép, chính quyền và dân chúng cũng chẳng ai thắc mắc. Tuy nhiên, trong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, non nước mênh mông, ở xứ Á Đông da vàng mũi tẹt bỗng hiện lên hình ông chúa Giê Su hay mẹ Maria mắt xanh mũi lõ, thấy có vẽ kỳ kỳ làm sao ấy. Tôi hay nhớ chuyện nầy nầy là bởi ông chú họ tôi, là người từng theo cụ Ngô (Ngô Dình Diệm) từ khi cụ mới từ chức thượng thư. Vậy mà sau nầy, khi cụ Ngô lên làm tổng thống, nhiều người bỗng bỏ bàn thờ ông bà, treo thánh giá trong nhà để được thăng quan tiến chức. Một hôm đang ăn cơm, ông nói với vợ ông và tôi, (Có lẽ không nói với các con vì mấy đứa ấy, lúc đó còn nhỏ lắm):
- “Tui theo cụ Ngô vì cụ Ngô chống Tây. Bây giờ theo đạo sao được. Nếu ông chúa Giê Xu đừng mắt xanh mũi lõ như thằng Tây thì có thờ chúa cũng chẳng sao.”
Tôi biết ông cực đoan, nhưng quả thật tôi cảm thấy khó chịu khi bỗng nhiên giữa chốn hùng vĩ nầy, mọc lên một cây thánh giá lẽ loi.
Hôm ấy, tôi đi với cha Đại vô hang Tiền chơi. Hang Tiền cách trụ sở xã Dương Hòa không xa. Tôi nhờ xã trưởng mượn giúp chiếc ghe để tôi với cha Đại vô Hang Tiền theo đường biển. Mấy thầy chú của tôi, để giữ an ninh, họ lôi qua mấy ngọn núi đá nhỏ, theo phía đất liền, đến cửa hang.
Khi “Gia Long tẩu quốc” - Cách nói của dân Nam bộ như thế - Nói theo sử là Nguyễn Ánh bị Nguyễn Huệ đánh bại, bỏ chạy sang trốn bên Tiêm La (Thái Lan ngày nay), bỏ lại một số binh lính, của cải. Hang tiền là nơi Nguyễn Ánh chôn dấu tiền ở đó trước khi bỏ chạy. Dân gian cũng nói đó là cái hang ngày xưa Nguyễn Ánh đúc tiền, nay còn lại những khuôn đúc bằng đá.
Đứng từ ngoài biển ngó vô, người ta đã thấy một cái thập tự giá lớn, dựng ngay cửa hang. Nhằm khi nước thủy triều lên, ghe nhỏ có thể vào sâu trong hang được. Hôm tôi đi, cũng vào sâu trong hang và không thấy khuôn đúc tiền đâu cả. Nó bị chìm dưới nước hay người ta bàn ẩu. Tôi chỉ thấy vài con kỳ đà khá lớn. Thấy người, chúng bỏ chạy, chui vào mấy cái kẹt đá. Tôi nói đùa với cha Đại:
- “Ngoài cửa hang thì Chúa đứng canh, trong nầy thì “Kỳ đà cản mũi”. Chuyến nầy chắc không thành công. Thôi về đi cha!”
Cha Đại là người hiền lành, nghe tôi nói, chỉ cười, rồi quay về. Đây cũng chỉ là một chuyến đi cho biết. Có điều ngạc nhiên. Đây là một di tích lich sử thời Nguyễn Ánh chống Tây Sơn. Tại sao thời nhà Nguyễn không chỉnh đốn làm một thắng tích cho đàng hoàng. Không lý mấy ông vua nhà Nguyễn không thuộc lịch sử. Họ cũng bỏ quên nơi nầy như quên mấy bà chúa bị Nguyễn Ánh bỏ lại ở xứ Cạnh Đền (1), khi “Gia Long tẩu quốc”.
Từ Hang Tiền vào núi Hòn Chông không xa.
Như tôi có lần kể, Hòn Chông, ngay xưa là căn cứ của Ông Nguyễn Trung Trực, người lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp. Sau khi bị thua ở Gò Công, ông rút quân về đây, trú ần trong ngọn núi nầy. Sau khi đánh tan nghĩa quân, chỉ riêng vùng núi Hòn Chông nầy, Pháp thành lập một quận, đặt tên là quận Hòn Chông, để dễ kiểm soát dân chúng, không cho nghĩa quân tái lập căn cứ.
Từ Ba Hòn đi vào, theo con đường đá xe cộ chạy được, tới đầu núi Hòn Chông, con đường chia làm hai. Theo tay mặt thì đi tới chùa Hang, tay trái thì đi tới cuối ngọn núi, chỗ có một cái ấp dân khá đông, gọi là ấp Rạch Đùng. Con nầy tiếp tục đi vòng quanh núi, dọc bờ biển rồi lại nối với con đường đi ra chùa Hang. Tại Rạch Đùng, trước 1945 có một tu viện Thiên Chúa giáo, bỏ hoang từ lâu, và một họ đạo, cùng tên Rạch Đùng, có nhà thờ đã bị Việt Minh phá hỏng hồi mới đầu Nam Bộ Kháng Chiến.
Linh mục Lương Công Đại, người Bắc, đi tu ở Ma Cao, sau khi thụ phong, về làm linh mục ở xứ nầy, thời ông Ngô Đình Diệm làm tổng thống. Sau khi mấy ông tướng hè nhau giết anh em ông Diệm rồi, “mấy chả” ở Saigon lo việc đảo chánh giành nhau ghế ngồi hơn là lo đánh giặc nên vùng Rạch Đùng bị Việt Cộng chiếm. Dân chúng cũng như cha Đại, phải ở với Việt Cộng. Lâu lâu, chúng tổ chức biểu tình, “Hoan hô cách mạng”, “Đá đảo Mỹ Ngụy”,Việt Cộng “yêu cầu” cha Đại lên phát biểu. Cha kể với tôi: “Tôi cũng phải nói hàng hai cho xong chuyện. nói sao cho khỏi thẹn với quốc gia mà Việt Cộng cũng không có lý do bắt tôi bỏ tù được.” Đấy, một cổ hai tròng là như vậy đấy.
Sau nầy, quốc gia chiếm lại vùng nầy, đặt đồn nghĩa quân canh gác, cha Đại đổi về xứ Kiên Lương, an toàn hơn, nhưng thỉnh thoảng cha cũng về “trong ấy” - tức là ấp Rạch Đùng để thăm bổn đạo cũ, như tôi đã kể trong chuyện con nhỏ Hoàng Thị Vân trốn theo Việt Cộng vì nhớ thằng bồ.
Khi hiệp định Paris mới ký kết, vùng Hòn Chông khá an ninh. Việt Cộng rút về mật khu Trà Tiên hết, nên có một thời gian ngắn, mấy ông sĩ quan bên quân đội xách xe chạy quanh núi Hòn Chông bắn khỉ. Bắn khỉ thật sự, chứ không phải nói theo nghĩa bóng của giới nằm bẹp là hút thuốc phiện. Vùng Hòn Chông rất nhiều khỉ.
Vùng chân núi đất khá tốt. Năm hiệp định Paris mới ký, ông Tân Nam Dương ở Rạch Giá, một ông Tầu lai, bỏ tiền phá đất đã bị hoang hóa trồng cà phê. Tôi chưa từng gặp mặt ông Tân Nam Dương nầy nhưng từng thấy cây trong đồn điền cà phê của ông lên khá tốt. Mấy năm sau, khi tình hình an ninh bết bát, ông Tân Nam Dương không dám lui tới thăm đồn diền vì sợ Việt cộng bắt đóng thuế, đồn điền cà-phê của ông bị bỏ hoang, cỏ mọc nhanh hơn cà phê. Ông Tân Nam Dương mất trắng tay. Nghĩ tới những chuyện làm ăn tương tự như thế, bao giờ tôi cũng lấy làm tiếc, nhứt là khi so sánh cuộc Cách Mạng Xanh ở Mỹ, chính phủ giúp dân mở đất trồng trọt, còn xứ mình thì tư nhân tự xây dựng lên rồi, bao nhiêu công sức tiền bạc, lại đem bỏ hoang.
Suốt mấy chục năm chiến tranh, núi Hòn Chông bỏ hoang, chẳng ai khai thác gì cả. Sau hiệp định Paris 73, nhiều người đốn cây, đốt lò than chở về Rạch Giá bán kiếm tiền. Một hôm, trung sĩ Chơn, phó cuộc Bình Trị ra gặp tôi nói:
- “Chỉ huy trưởng hùn với em năm ngàn, đốt lò than, bán có lời, em trả lại cho chỉ huy trưởng cả vốn lẫn lời.”
- “Lời bao lăm mà phải “xông pha” vậy? Không sợ người ta dị nghị sao?”
- “Dị nghị chi? Người ta đốt lò than tùm lum trong đó. Ông quận cũng có, ông xã cũng có, nghĩa quân cũng có. Mình đốt một lò thôi, kiếm tiền nhậu chơi.” Trung sĩ Chơn giải thích.
- “Tui không quen nhậu chơi, nhưng ông cần, tui đưa ông tiền. Nhớ đừng làm tui mang tiếng.” Tôi nói.
- “Tiếng gì đâu. Rừng nầy coi như rừng hoang, chẳng ai cấm đoán gì cả. Chỉ huy trưởng lo gì.”
Nghe trung sĩ Chơn xúi dại, tôi đưa năm ngàn cho anh ta. Mấy bữa sau, nghe anh ta than lò than bị cháy. Khi người ta hầm than, mồi cho củi cháy rồi, người ta bít cửa hầm lại, thiếu không khí, củi chỉ cháy ngầm thành than mà thôi. Anh ta cho chất củi như thế nào đó, lò sập, không khí vô tự nhiên, củi thành tro cả. Năm ngàn tôi đưa cho anh ta, cũng thành tro luôn. Số tôi không có mạng buôn bán hay làm thương gia!
Có lần tôi vào chùa Hang, đi chơi hơn là công tác gì. Con đường đá dẫn vào chùa phía bên nầy, ngược với hướng biển nên cửa hang tối. Cuối hang có bàn thờ và tượng Phật, đèn dầu đang thắp, nhang đang cháy. Bàn thờ không lớn nhưng cảnh hang sâu và rộng trông khá uy nghiêm, hùng vĩ. Hang còn có một cửa phía bên kia, phía biển, gió biển lồng lộng thổi vào mát lắm. Tôi đi ra phía đó, ra khỏi cửa hang là một quang cảnh đẹp lạ lùng. Gần cửa hang là những tảng đá lớn, có gác chuông và trên vách đá, không ít “tao nhân mặc khách” viết tên của mình cũng như tên các bạn đi cùng – có thể là bồ bịch - lên vách đá. Xem ngày tháng họ ghi lại: Họ đến đây đã lâu, những năm giữa và cuối thập niên 50, nghĩa là cùng một thời với những lần tôi còn đi chơi lăng và chùa ở Huế. Thế rồi bẵng đi bao nhiêu năm, không thấy ai đến đây nữa. Có nghĩa là từ cuối 1950, sau khi “Việt Cộng Đồng Khởi”, hơn mười năm giặc giã, chiến tranh, người ta không còn đến viếng Chùa Hang nữa. Bao nhiêu năm ấy, Chùa Hang cũng như lăng tẩm, chùa chiền ở Huế, trở thành nơi vắng lặng, buồn bã.
Các nhà sư, các chú tiểu, ở những chùa xa phía tây nam Huế, trong bao nhiêu năm khách hành hương không đến viếng chùa, khung cảnh trở nên vắng vẽ, buồn tênh. Và rồi những đêm mưa dầm, các thầy và các chú tiểu, nằm nghe mưa rả rích trên mái chùa cũ kỹ, lòng họ buồn như thế nào nhỉ? Và các thầy ở Chùa Hang nầy, cũng trong hơn 10 năm giặc giã, chùa Hang trở thành một cõi cô liêu thì mỗi đêm, các sư nằm nghe tiếng sóng vỗ rì rầm từ ngoài cửa hang vọng lại, họ nghĩ gì về một cõi ta bà buồn bã như thế nầy!?
Tôi cố gạt ra khỏi trí tôi những ý nghĩ vẩn vơ đó, ra đứng sát bờ nước, nhìn ra xa. Ngoài kia, phía hai đầu là hai tảng đá lớn vươn lên, một hòn cao, một hòn thấp. Giữa hai hòn đá cao đó là một hàng đá thấp hơn, chỉ cao hơn mặt nước chút ít.
Nước ta có rất nhiều núi Mẹ Bồng Con: Nàng Tô Thị ở Đồng Đăng, Hòn Vọng Phu ở Nha Trang và đèo Mẹ Bồng Con ở Long Khánh. Ở đâu cũng là hình ảnh và câu chuyện của những người đàn bà bồng con chờ chồng. Tại sao ở đây, không phải là câu chuyện của các bà, không là Hòn Vọng Phu? Hòn đá lớn có thể là mẹ, hòn đá nhỏ gọi là con? Ở đây khác đi, người đàn ông và cậu con trai, người ta gọi là Hòn Phụ Tử. Một bên là cha, một bên là con. Có câu chuyện truyền kỳ nào về Cha Con như chuyện nàng Tô thị?
Ngưởi Việt - Nói cho đúng là người Tầu - đến dây từ thời Mạc Cửu, chỉ vừa mới mấy trăm năm. Mạc Cửu là người nhà Minh, chạy qua nước ta, trấn giữ và khai khẩn vùng Hà Tiên, rồi đem đất nầy mà dâng cho chúa Nguyễn, năm 1708, tính ra chưa tới ba trăm năm, chưa đủ lâu để có thể có những huyền thoại về cuộc Nam Tiến của dân tộc ta hay sao?
Người ta thường nói đất phía nam là đất chúa Nguyễn. Kể từ sau Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, chúa Tiên, tức Nguyễn Hoàng và các đời chúa tiếp sau, lo mở mang đất đai về phương nam, mãi đến tận Cà Mâu, Hà Tiên thì chấm dứt. Chúa chọn các quan giỏi đưa ra cai trị vùng đất mới, chiêu dụ dân chúng đến đào kinh, vỡ đất làm ruộng. Người ta từng coi chúa như cha, chúa coi dân như con. Có thể đó là nguồn gốc của danh xưng Hòn Phụ Tử.
Thực tế hơn, khi vào vùng đất mới, trong nhiều gia đình, người vợ ở nhà lo chăm sóc việc nhà, cha con ngày ngày vác phảng ra đồng, phá rừng làm ruộng. Cha con cùng nhau chia xẻ gian khổ, chan hòa mồ hôi, nước mắt. Khung cảnh sinh hoạt đó cũng có thể là nguồn gốc của danh xưng Hòn Phụ Tử.
Dù nhìn vấn đề qua lăng kính lịch sử hay thực tế xã hội, những điều tôi nói ở trên cũng chỉ là những giả thuyết chủ quan. Hòn Phụ Tử không có một huyền thoại như Hòn Vọng Phu. Ngay khi tôi làm việc ở đó, cách Hòn Phụ Tử không bao xa, vậy mà tôi chưa từng nghe ai, kể cả các ông già bà lão kể về sự tích Hòn Phụ Tử nầy.
Năm ngoái có tin Hòn Phụ đã bị sóng đánh đổ xuống nước, nay chỉ còn Hòn Tử. Một người bạn, quê ở Long Xuyên, từng làm việc ở Kiên Lương, đi Việt Nam, có ghé thăm Chùa Hang, về lại Mỹ kể cho tôi nghe rằng dân địa phương, sau vụ Hòn Phụ đổ ùm xuống nước, có câu hò ru em:
Than ôi! Hòn Phụ đổ rồi,
Tử còn chi nữa mà ngồi khóc than.
Câu ca dao nói cái gì? Phụ là ai mà tử là ai; ứng vào sự kiện nào đang diễn ra trên đất nước đau thương nầy vậy?
Ai là ai chưa biết nhưng câu chuyện của ông cựu xã trưởng Châu Ai, của xã Bình Trị thật đáng tội nghiệp vì ai đó ở tòa án quân sự vùng 4 “Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.”
Khi chợ trời biên giới Hà Tiên trở nên tấp nập vì hàng Thái Lan tuôn vào ồ ạt thì những cái đuôi của nó, như đĩ điếm, cướp bóc đi theo…
Đĩ điếm, dĩ nhiên chỉ có ở Hà Tiên, nhưng cướp bóc xảy ra không ít ở xứ tôi.
Đầu tiên là hai tên cướp “Cọp bay”. Hôm ấy, tôi từ mũi Hòn Cọp lái xe về quận, ngang ấp Bãi Ớt thì thấy dân chúng ở đó la ơi ới: “Cướp! Cướp!” Mấy người đàn bà Miên đang đứng bên đường, vẻ hớt hãi. Thấy tôi dừng xe, họ chỉ tay về phía trước mặt tôi, nói” “Cướp đó! Cướp ngã đó.” Theo hướng họ chỉ, tôi rượt xe theo, vừa lo lắng, vừa thấy buồn cười. Tôi nói với tài xế Thành của tôi, đang ngồi bên cạnh: “Mày coi! Người Miên không biết nói tiếng Việt, vậy mà khi có cướp, sao họ la cướp cướp rõ vậy?” Biết tôi vui tính, Thành chỉ cười, tay lăm lăm cây súng M-18. (Tôi mua được cây M-18, vừa là súng M-16 ngắn nòng, lại có gắn súng M-79 - đại bác 40 ly cầm tay).
Được một lúc, tôi thấy phía trước có hai người đàn ông đang chở nhau trên chiếc xe Honda 67. Đường xấu mà chúng nó chạy xe như bay. Tôi bóp còi xe liên hồi cho chúng sợ. Thành vói cổ ra khỏi xe la to: “Đứng lại, đứng lại!” Hai người vẫn cố chạy. Thành nói: “Hai thằng ăn cướp!” Khi xe tôi gần tới, tên ngồi sau, quăng một cái gì đó, bóng loáng, vào bụi cây bên đường. Thấy vậy, tôi nói: “Nó vụt cái gì?”
Khi xe ngang chúng, tôi cho xe chậm lại, ép hai tên cướp vào bên đường. Thành vội vàng nhảy xuống, chỉa súng vào tên lái xe, bảo: “Tốp”. Hai tên dừng lại. Thành biểu chúng: “Xuống xe.”
Tôi bắt hai tên ngồi bệt xuống đất, cầm súng chỉa vào chúng. Thành tới còng hai đứa lại. Vì không chuẩn bị nên tôi chỉ có một cái còng. Tôi biểu Thành: “Cho hai đứa đeo chung cái đồng hồ Inox” (Tức là cái còng). Xong, tôi nói với Thành: “Ông tới xe gọi máy bảo cuộc Dương Hòa lên tăng cường đi.” Năm phút sau, bốn thầy chú của tôi ở xã lên tới nơi. Tôi biểu họ lấy còng còng riêng từng đứa, choàng tay chúng vào cái khung sắt mui xe Jeep để tôi chở về.
Để hai đứa đã ở trên xe, còng lại xong, tôi giao cho một người đứng canh, rồi tôi dẫn hai nhân viên quay lại chỗ tên ngồi sau ném một vật gì ra, tìm xem là cái gì. Một lúc thì chúng tôi tìm được một cây súng Colt, loại quân đội thường dùng, nhãn hiệu con ngựa bay. Cây súng nầy được xi mạ, sáng bóng.
Rút băng đạn ra, tôi giơ khẩu súng lên trước mặt hai tên cướp, nói:
- “Rõ ràng chưa? Súng nầy dùng để đi ăn cướp, vậy mà nảy giờ cứ bai bải kêu oan! Oan mẹ gì nữa!”
Vậy mà hai tên cướp vẫn cứ kêu oan.
Tôi cười nói với nhân viên:
- “Trên đời nầy, không ai chịu tội mình ăn cướp cả. Đi ăn cướp, tang vật rành rành cũng kêu oan. Tiếp tế cho Việt Cộng, tang vật rành rành cũng kêu oan. Ai cũng kêu oan, vậy là mình làm bậy. Mai mốt chết xuống âm phủ, Diêm Vương cho đầu thai làm người lần nữa. Khổ cái thân nầy.”
Tôi đem hai tên cướp về, giao cho tư pháp điều tra, lập hồ sơ giải tòa. Hai tên cướp khai rất buồn cười: “Hồi nầy chợ trời biên giới kiểm soát gắt gao quá, không làm ăn gì được, bèn tìm vào những xóm vắng vẻ, bắt dân khảo lấy tiền xài chơi, xui gặp mấy người đàn bà Miên dữ quá, lại gặp “ông trưởng” (ý nói là tôi), chạy xe ngang qua mới nên mới ra cớ sự như vầy.
Xưa là quận Hòn Chông, sau nầy là xã Bình Trị, có nghĩa là bình định và trị an. Tôi không rõ người đặt tên cho xã nầy như vầy là bị ám ảnh bởi cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Trung Trực hay núi Hòn Chông cũng là vùng hoạt động của Việt Minh hồi 9 năm (1945-54). Xã gồm có mấy ấp quanh Hòn Chông và mấy hòn đảo ngoài vịnh Thái Lan. Ông Châu Ai, người Việt lai Miên làm xã trưởng ở đây, trước Huỳnh Luân. Lúc nầy, tức là khi tôi làm việc ở đó, xã trưởng là Nguyễn Vĩnh Xương. Ông Châu Ai nghỉ làm xã trưởng. Con trai ông là nghĩa quân đóng ở cái đồn đầu Hòn Chông.
Thế rồi nhà ông Trần Ghét Xe bị cướp. Ông ta vừa bán cặp heo chín chục ngàn. Chiều hôm đó, khi trời mới nhá nhem, có hai tên cướp, bịt mặt xông vào nhà ông ta biểu đưa tiền. Trần Ghét Xe nói không có tiền. Một tên nói: “Vừa bán hai con heo, sao nói không. Tiền dấu ở đâu? Đưa đây!” Y vừa nói xong, đưa cây súng Colt lên. Trần Ghét Xe sợ quýnh, lật chiếc chiếu lấy chín chục ngàn đưa cho chúng. Hai tên cướp lấy tiền xong, dọt mất.
Trần Ghét Xe nghi con trai của cựu xã trưởng Châu Ai, là một trong hai tên cướp. Chỉ có con trai Châu Ai, đóng đồn ở gần đó mới biết y vừa bán cặp heo xong. Vã lại, cũng có “ân oán giang hồ”. Khi ông Châu Ai làm xã trưởng, Trần Ghét Xe bị Cảnh Sát bắt vì tội làm kinh tài cho Việt Cộng, bị tù 9 tháng. Y nghi ngờ chính xã trưởng Châu Ai báo cáo y. Nay gặp dịp, vu tội cho thằng con, trả thù người cha.
Việc thưa bên An Ninh Quân Đội. Không biết mấy thầy chú bên đó làm ăn như thế nào, bắt con trai Châu Ai giải về tòa án quân sự Vùng 4 đóng ở Cần Thơ.
Chiều 29 Tết, toán tuần tiểu cảnh sát xã An Bình bắt được hai tên cướp đang làm ăn ở gần cầu Cống Tre. Nghi vụ nầy có liên quan đến ba vụ cướp khác xảy ra một ở xã Bình Trị, hai ở xã Dương Hòa, tôi nói với thiếu úy Bạch, trưởng cuộc Cảnh Sát An Bình: “Ông điều tra xong, khoan giải ra tòa, đưa lên cho tôi, coi thử bọn nầy có liên hệ đến các vụ cướp trước đó hay không!”
Té ra chúng có những ba tên, hai tên đi cướp, một tên chỉ điểm mục tiêu. Tên chỉ điểm mục tiêu là một tên lái heo. Ngày ngày, tên lái heo lang thang qua các ấp, các xã mua heo về giao cho lò heo của ông Tư Đến và lò heo Chín Thịt tại quận lỵ.
Mua heo trả tiền xong, y chở heo về. Trên đường, y báo cho hai tên cướp, tới ngay nhà y mới mua heo, nhận bao nhiêu tiền, v.v.... Khổ chủ nói không có tiền cũng không được.
Hai tên cướp là dân bên Long Xuyên qua, còn tên lái heo, nhà ngay quận. Nghe báo cáo xong, tôi cho bắt tên lái heo. Tên nầy nhanh chân. Khi nghe hai tên cướp bị bắt, y dọt về xã Giục Tượng, xã người Miên. Y cũng gốc Miên. Liên lạc với Giục Tượng, không bắt được y vì y vô ở tuốt trong vùng xôi đậu.
Tôi cho dẫn hai tên cướp diễn lại cảnh trạng các nơi bọn y đã cướp, ngay cả nhà của Trần Ghét Xe.
Biết vụ đó, xã trưởng Châu Ai làm đơn thưa Trần Ghét Xe vu cáo cho con ông tội cướp. Tòa Sơ thẩm Kiên Giang, tòa quân sự vùng 4 yêu cầu tôi gởi hồ sơ vụ cướp nầy lên cho họ. Muốn giải oan cho con của cựu xã trưởng Châu Ai, vã tôi cũng có cảm tình với ông già nầy, chân thật, thiệt thà, nên tôi làm liền những gì họ yêu cầu. Vậy mà con của ông Châu Ai cũng không được ra khỏi tù. Ông ta lên xuống Cần Thơ hỏi thăm tòa án quân sự vùng 4 những mấy bận, họ biểu chờ. Trần Ghét Xe cũng lên xuống tòa án nầy những mấy bận. Một bên thì cố khiếu nại cho con được tha, một bên thì chạy tiền cố giữ cho con Châu Ai không được tha. Tha thì Trần Ghét Xe bị kẹt tội vu khống.
Trần Ghét Xe là “cựu can phạm”, đang bị ngành đặc biệt của thiếu úy Kiệt theo dõi “tái hoạt động”. Tiền đâu mà y kinh tài mạnh như thế? Năm Hùng tổng kết: Y bỏ vốn đốt gần hai chục lò than ở vùng bất an ninh, tức là vùng núi Hòn Chông, phía bờ biển. Đốt xong, y cho than xuống ghe, chở thẳng ra Rạch Giá bán. Y cũng bỏ vốn làm muối: San đất làm ruộng muối gần chùa Hang, cạnh tranh với ông Sáu, bố của phó xã trưởng Dương Hòa, người từng làm muối xưa nay ở đám ruộng muối ở ấp Ba Hòn. Gom chưa đủ chứng cớ, nên thiếu úy Kiệt chưa đề nghị bắt y.
Cuối cùng, “Nén bạc đâm toạc tờ giấy.” Mãi đến ngày 30 tháng Tư, con Châu Ai mới được “Cách mạng giải phóng”. Bấy giờ Trần Ghét Xe, từng làm kinh tài cho Việt Cộng, hướng dẫn “cách mạng” ra tiếp thu các xã Bình Trị, Ba Hòn và quận lỵ Kiên Lương. Nhờ có công, y yêu cầu cho Châu Ai đi học tập cải tạo vì từng làm xã trưởng “ngụy”.
Con ra tù, cha lại vô tù. Có xứ nào công lý “sáng ngời” như xứ Việt Nam nầy không, dù chế độ “Việt Nam Cộng Hòa” hay “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”?
Xã Bình Trị chưa hẵn là xã xôi đậu, nhưng vì mật khu Việt Cộng ẩn trú ở Hòn Chông, khi trốn trên đỉnh núi, khi quanh núi, nhất là những cái hang đá trên con đường chạy dọc theo bờ biển, khoảng cuối 1974, về sau, vùng nầy hoàn toàn không kiểm soát được, quân đội phe ta không tới được nên Việt Cộng đi lại tự do.
Tuy nhiên, chúng cũng sợ, thường ẩn núp trong hang, tối ngủ trong hang. Một hôm, nhân được bản tin của cảnh sát đặc biệt của thiếu úy Kiệt, chỉ rõ cái hang Việt Cộng đang ẩn núp, quân số, cán bộ chúng nó chỉ khoảng vài chục, tôi bèn báo cáo với đại tá Nguyễn Hữu Kiểm, tư lệnh phó sư đoàn 21. Ông ta không có cách nào tiểu trừ chúng được. Binh lính không đủ để hành quân. Mấy năm trước, khi vừa ký hiệp định Paris xong, Việt Cộng hoạt động yếu, thiếu tá Sầm Long còn cho nghĩa quân hành quân dọc theo đỉnh núi hòn Chông. Bây giờ thì bó tay.
Trong bản tin của Cảnh Sát Đặc Biệt có nói thòng một câu, những đêm mùa hè, trời nóng, thay vì bọn chúng ngủ trong hang thì chúng treo võng nằm ngủ ngoài cửa hang, chỗ có nhiều cây rừng. Tôi gặp trung tá Nhan Trừng Lâm, tiểu đoàn trưởng pháo binh của sư đoàn 21, ban chỉ huy đóng bên cạnh tiểu khu, đề nghị ông nửa đêm chụp cho chúng ít quả. Nổ chụp như người đánh cá chụp nơm, kẻ nào trong tầm sát hại cũng lảnh miểng như chơi. Chọn một đêm tối trời nóng nực, chúng tôi chơi trò chơi đó, cầu âu, như “cò ỉa miệng ve”. Ai ngờ tối hôm đó “trúng mánh”. Tin tình báo dân chúng cho biết chúng nó khiêng võng mấy mạng đi ngược từ Hòn Chông lên mật khu Trà Tiên để vô “thăm” bệnh viện huyện đội Hà Tiên của Nguyễn Tấn Dũng.
Trụ sở xã Bình Trị, trụ sở cuộc Cảnh Sát xã Bình Trị bị Việt Cộng phá sập hồi trận đánh năm 1972 tới lúc bấy giờ vẫn chưa dựng lại được. Không có ngân sách. Vã lại, xã trưởng Nguyễn Vĩnh Xương, cũng như bên cảnh sát thấy có trụ sở thì phải canh gác, gìn giữ thêm phiền. Xã trưởng thì cứ quanh quẩn trong mấy cái quán gần trụ sở xã cũ, cảnh sát cũng theo đuôi. Chiều tối lại cả đám rủ nhau vô tá túc ngủ đêm trong đồn nghĩa quân gần đó, khỏi canh gác gì hết. Hễ Việt Cộng tấn công thì mỗi người một tay súng, lực lượng thêm đông, càng thấy yên lòng.
Hôm tôi dẫn hai tên cướp tới nhà Trần Ghét Xe để diễn lại cảnh trạng đêm chúng vô cướp nhà nầy, tôi ghé lại quán hủ tiếu bên cạnh xã. Chủ quán là người Tầu, chỉ nói tiếng Việt với người Việt, trong nhà thì nói với nhau bằng tiếng Tầu. Chủ quán có người con trai đăng lính nhảy dù và có hai cô con gái tuổi 17, 18 gì đó, khá đẹp. Khi một cô bưng càphê ra cho tôi, tôi thấy bàn tay cô ta to quá khổ bình thường. Tôi bỗng thấy rùng mình. Sách tướng nói bàn tay to là tướng giết người. Tôi không nghĩ cô ta có thể giết người, nhưng dân Tầu lai Miên ở đây không ít là con cháu những tên hải tặc gốc Hải Nàm ngày xưa, nổi tiếng trong vịnh Thái Lan mà tôi đã có lần nói tới trong một bài trước. Có phải đó là cái gène, cái tướng tổ tiên truyền giống để lại. Có tên cướp biển nào mà không giết người!?
Hình ảnh hai bàn tay to của cô gái làm cho tôi nhớ tới lời Quận Long khi ông mới đến nhậm chức, đến thăm tôi: “Đối với người Miên ở đây, mỗi tháng chơi với họ 29 ngày thôi.” Có nghĩa là phải để riêng một ngày đề phòng họ phản mình. Tôi không nghĩ đó là nhận xét riêng của Quận Long. Ông ta sinh đẻ ở Hà Tiên. Do đó, câu nói của ông là kinh nghiệm của người dân Hà Tiên đấy. Đâu có phải của riêng ông ta!
Thật ra, dân ở đây không ít người ác. Trước khi tôi về nhận việc ở đây, một anh Cảnh Sát Dã Chiến nửa đêm bỗng kêu la đau bụng. Bụng mỗi lúc mỗi to, cho đưa về bệnh viện Rạch Giá. Bác sĩ tìm không ra bệnh gì. Hai ngày sau thì chết. Một anh lính Biệt Động Quân cũng bị chết trong hoàn cảnh tương tự. Cả hai đều có hành quân ở Hòn Chông, không làm gì sai quấy, chỉ có một việc là tới bữa, hái ớt của một ông già Miên lai Tầu để ăn cơm. Người ta đồn họ bị ông già “thuốc” chết.
Trên cao nguyên, người ta gọi là “thư”, tức là người mọi “thư” cho bệnh mà chết. Thư cái búa hay con dao vô trong bụng. Ở đây, không có thư, thỉ “thuốc”. Lần đầu tiên vào Hòn Chông, thượng sĩ Lâm Ngọc Sương, từng phục vụ ở đây từ vài ba năm trước, nói với tôi: “Ông thầy nhớ chỉ ăn uống ở mấy tiệm hủ tiếu nầy thôi. Ai mời chi cũng từ chối. Đừng ăn đừng uống chi cả.”
Tôi nói đùa: “Bắt tay được không? Họ có truyền máu qua bắt tay cho mình được không?”
Hỏi thượng sĩ Lâm Ngọc Sương về vụ “thuốc”, ông ta nói:
- “Không đoán được! Người ta nói ông già chôn một cái đầu rắn hổ dưới gốc ớt. Ai ăn ớt thì trúng.”
- “Ông ta có ăn ớt đó không?” Tôi hỏi.
- “Ai ăn cũng trúng hết, không kể chủ hay khách.” Thượng sĩ Sương trả lời.
Nghe nói, tôi cũng sợ. Xét về khoa học thì có vẻ vô lý nhưng lý hay không lý, chết như thế thì thật… vô duyên.
Việc nầy không đổ tội cho Việt Cộng được. Đây chỉ là cá tính của một số người địa phương mà thôi.
Tôi không rõ căn cứ vào luật lệ nào mà ông quận trưởng Kiên Lương cấp ông Tư Hạt một cây súng Carbine M-1. Ông Tư Hạt, một người, như tôi thường nghĩ chính ông là nhân vật trong truyện “Rung Cây Dừa” của Bình Nguyên Lộc.
Ông Tư Hạt là người già nhất ở Hòn Heo. Hòn Heo tôi nói ở đây là một hòn đảo nhỏ ngoài biển, cách bờ khoảng hơn 5Km, không phải ấp Hòn Heo ở trong đất liền như tôi có nói ở phần trên. Ông Tư Hạt là người già nhất đảo Hòn Heo, mà cũng có thể là già nhất trong các hòn đảo thuộc quận Kiên Lương nầy. Không ai rõ ông tới ở trên đảo nầy từ lúc nào, bởi khi người ta tới ở đây thì thấy ông đã sống ở đó rồi. Những người thuộc thế hệ ông ở đảo Hòn Heo nầy, nay chẳng còn ai. Vợ con ông cũng chẳng có. Ông sống một mình, nay đã gần tám chục tuổi! Vì vậy, tôi thường gọi đùa ông là “Chúa đảo.”
“Chúa đảo” Tư Hạt ốm nhom, da đen, không hẵn gốc da ông đen mà có lẽ vì sóng gió biển, - mấy ai được trắng, nhất là những người sống ở biển đã nhiều năm.- lưng hơi còng, - đó là hậu quả nhiều năm ông khom lưng kéo lưới, chưa kể, nếu ông có đi khám bệnh, bác sĩ sẽ tìm ra nhiều đốt xương sống phát triển lệch lạc vì công việc kéo lưới nấy, - nhưng ông đi đứng vẫn còn nhặm lẹ.
Hôm ra Hòn Heo chơi, ông đem cây Carbine cho tôi xem. Cây súng được gìn giữ kỹ lưởng, báng súng sáng bóng, nòng súng cũng sáng bóng, màu thép đen ánh lên trông đẹp mắt.
Tôi hỏi đùa:
- “Ông Tư “chúa đảo”! Ông bắn chết tên Việt Cộng nào chưa?”
Một cách thành thật, ông ta trả lời:
- “Chẳng có Việt Cộng ở đây. Tụi nó không dám tới. Ai chứa chấp mà tụi nó tới.”
- “Vậy “Chúa đảo” giữ súng làm chi?” Tôi hỏi. Ông cũng cười khi nghe tôi gọi ông là “Chúa đảo”.
Ông Tư Hạt trả lời:
- “Không có cây súng, tụi nó không sợ. Quậy lắm.”
Chưa hiểu, tôi hỏi tới:
- “Đám nào vậy?”
- “Bọn làm công cho Somaco.”
Vậy là tôi gọi thiếu úy Nguyễn Văn Nhâm, trưởng cuộc Cảnh Sát xã Bình Trị, hôm đó cùng đi với tôi.
Thiếu úy Nhâm, “một ông tu xuất”, thầy ba hay thầy tư gì đó, không được “ơn kêu gọi” bèn hoàn tục, học đại học được hai năm rồi thi vào ngành sĩ quan Cảnh Sát, còn thật thà và… “ham chơi”, thường cùng xã trưởng Nguyễn Vĩnh Xương, “nhảy dù” lên Hà Tiên chơi bời qua đêm, từng bị tôi cự nự:
- “Bộ ông muốn chơi bù mấy năm đi tu hay sao mà bỏ cơ quan lên Hà Tiên hoài vậy?”
Nhâm chỉ cười.
Tôi cũng cự nự xã Xương:
- “Ông là thằng cha quỉ quái. Người ta mới tu hành ra, ông dẫn đi chơi bời hoài; phải thúc đẩy cho nó làm việc chứ?” Xã Xương cũng chỉ cười.
Sau khi nghe tôi bảo điều tra vụ Somaco, thiếu úy Nhâm báo cáo, nội dung như sau:
Ông Đặng Văn Lân, là chủ 2 hãng Somaco, một cái ở Hòn Heo, một cái ở Phú Quốc, là em bác sĩ ĐặngVăn Sung. Ông Lân tốt nghiệp hàng hải ở Pháp về, có công việc gì đó ở Saigon. Lâu lâu, ông ta mới về coi sóc hãng Somaco của ông. Ở Hòn Heo, ông giao cho ông Hoàng coi sóc, cho thu mua loại cá phân, sấy, xay thành bột rồi xuất khẩu qua Nhựt Bản, lời lãi như thế nào không rõ nhưng qua một thời gian, công việc làm ăn của hãng nầy cũng bình thường. Cá phân là loại cá nhỏ, người ta không dùng để ăn. Trước khi có hãng Somaco, dân làm biển dùng để nuôi vịt, hoặc phơi khô bán vô đất liền để làm thực phẩm gia súc, v.v…
Từ khi có hãng Somaco, một số thanh niên các hòn đảo chung quanh tới làm công cho hãng. Phần đông bọn chúng là thanh niên trốn lính, hoặc lính đào ngũ. Vài quán nhậu mở ra cho bọn thanh niên nầy, kể cả gái chơi, v.v…
Tôi không có cảm tình với những người làm ăn kiểu như vầy, tạo thành một nơi dung dưỡng cho thành phần bất hảo, như các thanh niên nói trên, kể cả các quán nhậu và chủ chứa trá hình. Hơn nữa, trước đó không lâu, trong một buổi họp ở Rạch Giá, tôi có nghe câu chuyện lộn xộn suýt xảy ra xung đột giữa ông chủ và thiếu úy Dương Tấn vì anh chàng nầy chọc ghẹo một cô gái khá đẹp, do ông chủ mang từ Saigon về theo, khi ông đi thăm hãng của ông ta.
Tuần lễ sau, tôi gọi thiếu úy Nhâm về gặp tôi, biểu anh ta ra Hòn Heo dẹp hết những quán nhậu và ổ điếm đó đi. Nếu cần tăng cường, tôi sẽ cho một trung đội Cảnh Sát Dã Chiến ra đảo vây bắt sạch đám đào binh và trốn quân dịch nầy.
Thiếu úy Nhâm sợ đụng chạm với ông chủ, cù cưa công việc nầy hoài. Cuối cùng, tôi phải nhờ tới thiếu úy Kiệt, cho cảnh sát đặc biệt của anh ra phục sẵn ở các con đường lên núi, chờ khi Cảnh Sát Dã Chiến của thiếu úy Ký hành quân, bọn đào binh trốn quân dịch, tên nào chạy lên núi đều bị tóm gọn cả. Xong, lấy lời khai bọn bị bắt, rồi đưa chủ nhân Somaco ra tòa về tội “tán trợ đào binh và bất phục tòng.” Ông chủ là người có thế lực, không ra hầu tòa. Người thay thế là ông Hoàng, quản lý. Vụ nầy dây dưa khá lâu, ông quản lý có gặp tôi xin giúp đỡ, nhưng tôi không làm được. Sau vụ đó, nhà máy Somaco không còn xuất cảng hàng sang Nhựt Bản được vì hàng không đúng tiêu chuẩn, bột xay không được nhuyễn, nên nhà máy đóng cửa luôn, “chờ” Việt Cộng vô tiếp thu.
Mới nhận chức vụ được ít lâu, tôi cùng thiếu úy Kiệt cùng thượng sĩ “thổ công” Năm Hùng thêm vài nhân viên nữa, ra các đảo coi cho biết sự tình. Quả thật, từ nhỏ, ra tới bờ biển thì tôi đã đi nhiều lần nhưng ra đảo thì chưa, nên lần nầy tôi muốn đi cho biết.
Cách sinh hoạt cư ngụ của dân chúng ở tất cả các hòn dảo đều giống nhau, dù đảo lớn hay nhỏ. Giữa đảo là ngọn núi, có vài con đường mòn dẫn lên núi. Ở những hòn núi lớn, có nhiều khe suối nước từ trên núi chảy xuống nên dân chúng có nước ngọt để dùng. Những con suối nầy về mùa nắng thường bị cạn, tạo ra nhiều khó khăn cho dân chúng trong đời sống thường ngày. Tuy nhiên, ở biển nhờ lượng mưa nhiều, người ta hứng nước mưa để uống, có khi suốt năm.
Núi cũng là nơi để cho bọn trốn quân dịch và đào binh ẩn núp. Khi bị săn đuổi, chúng chạy trốn lên núi, khó có thể đuổi bắt chúng được.
Đôi khi thăm hỏi hoàn cảnh vài gia đình, người ta cũng thấy nhiều khó khăn cho những gia đình nầy: Phần đông họ làm nghề biển, cần có trai tráng sức lực để chạy ghe, keo lưới. Một hôm tôi gặp một ông già, - cũng chưa quá 60 tuổi, hạng tuổi có thể xin cho con miễn dịch (khỏi đi lính) – Ông ta bảo ông sắp bán ghe. Lý do: Thằng con trai đi lính rồi, không ai coi ghe! Bán ghe thì lấy gì sinh nhai? Đành chịu. Đó là chưa kể khi có con đi lính, cha mẹ phải gởi thêm tiền bạc. Lương lính đâu đủ tiêu xài. Một gia đình khác: Chồng đi đánh cá gặp tai nạn, rớt xuống biển. Ba ngày sau, xác nổi lên, dân đảo vớt đem về chôn. Rồi đứa con trai đi lính. Cô con gái lớn về làm dâu nhà ông trưởng ấp Nô, trưởng ấp Bà Lụa, - ấp Bà Lụa gồm Hòn Heo và vài hòn đảo nhỏ chung quanh -. Nhà còn bà mẹ với hai đứa con trai nhỏ, lấy gì ăn?
Những chuyện gọi lính, bắt lính như thế thường làm cho tôi nhớ tới bài thơ Thạch Hào Lại của Đổ Phủ:
Van rằng: “Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn !
Trong nhà không còn ai,

Những câu thơ nầy tôi thuộc lòng khi còn đi dạy, thường đọc và giải thích học trò nghe khi tôi giảng về “Mặt trái” trong “Chinh Phụ Ngâm”…
Hầu như trên 90 phần trăm thanh niên ở các hòn đảo nầy đều trốn quân dịch.
Trên núi không có nhà. Nhà dân chúng tập trung quanh chân núi, chỗ gần biển. Đó là một khoảng đất trống đầy cát. Nếu khoảng đất nầy rộng thì nhiều nhà tập trung, chen chúc như nhà ổ chuột. Gặp chỗ đất hẹp thì chỉ có một hai nhà. Xem ra, nhà nằm dài theo chân núi. Đi một vòng chân núi, là đi từ nhà nầy qua nhà khác, ngoại trừ có chỗ núi ra tận biển, không có một mảnh đất nào để có thể làm nhà được.
Dân chúng ở đây làm nghề biển hoặc phụ với nghề biển, chẳng hạn như mấy bà và con gái thì luộc tôm, phơi tôm, đập cho vỏ tôm nát ra, chỉ còn con tôm khô không vỏ, có người thu mua chở vào Rạch Giá hay lên Saigon bán. Con tôm bằng ngón tay (người ta gọi là tép) khi phơi khô, teo lại bằng mút đũa, đỏ thắm là nhờ khi luộc tôm, người ta thêm phẩm đỏ vào, nhìn đẹp mắt. Các bà nội trợ cũng như dân nhậu rất thích loại tôm nầy. Vỏ tôm thường dùng làm phân hay trộn với thực phẩm gia súc tăng cường lượng vôi (calcium).
Phía ngoài Hòn Heo, xa hơn chút là Hòn Đầm.
Một hôm tôi gọi thiếu úy Nhâm ra Hòn Heo gặp tôi, khi tới nơi, thiếu úy Nhâm rủ tôi đi Hòm Đầm chơi. Vui chân, tôi cùng đi với Nhâm.
Như tôi nói ở trước, thiếu úy Nhâm là tu xuất, mới từ học viện Cảnh Sát xuất thân, tuy ham vui nhưng tính tình chân thật, vui vẻ. Tôi có nghe nhân viên báo cáo cho biết, ông Huỳnh Luân muốn chọn thiếu úy Nhâm làm nghĩa tế. Hỏi Nhâm, anh ta chỉ cười. Tôi nói đùa:
- “Ông có đạo, con nhỏ người lương, lỡ lấy nhau không được, con nhỏ nhảy xuống biển, đố ai cứu được. Tội của ông nặng lắm, biết không?”
Nhâm cười, giải thích:
- “Bây giờ đời mới rồi đại ca, đạo ai nấy giữ.”
- “Mấy cha có chịu không?” Tôi hỏi.
- “Chịu hay không là việc của mấy ông cha. Khi đám cưới có làm lễ ở nhà thờ cho phải phép, xong rồi thì thôi. Đi lễ là việc của em, cô ấy đi hay không thì tùy cô ấy.”
Tôi cười:
- “Anh nầy ghê thiệt, vậy là bàn kỹ với nhau rồi mà tôi không biết gì hết.”
- “Ba má em cũng không biết, huống gì đại ca. Cứ như việc xong rồi, ông bà không chịu cũng phải chịu.” Thiếu úy Nhâm giải thích.
Tôi nói:
- “Ông tu tới thầy mấy rồi mà nói thế. Đúng là “Gần chùa gọi bụt bằng anh.”
Huỳnh Luân là người ở đảo đã lâu, tuy học hành không bao nhiêu nhưng làm ăn giỏi, khá giả. Hòn Đầm có nhiều bãi chứa toàn thùng “phuy” là phương tiện chứa dầu cặn của Huỳnh Luân.
Thời Ngô Đình Diệm, khi tới tuổi quân dịch, ông ta trình diện đi lính 18 tháng cho đủ thời hạn luật định rồi xin giải ngủ. Khi chiến tranh trở nên dữ dội, chính phủ ra lệnh động viên, ông ta ứng cử hội đồng xã, vận động để làm xã trưởng. Khôn lanh như ông ta, đạt được mục tiêu nầy không khó. Làm xã trưởng để khỏi bị động viên chớ chẳng có ý đồ gì khác. Sau mấy nhiệm kỳ, quá tuổi động viên, ông ta về tiếp tục làm nghề biển. Ông ta có bốn chiếc ghe lớn, hai chiếc mới đóng, khá hiện đại, có hầm lạnh giữ tôm để con tôm được nguyên đầu đuôi, bán cho nhà máy tôm ở Rạch Sỏi hay chở lên Saigon được giá cao. Mỗi ghe loại mới nầy đi biển mỗi chuyến 15 ngày mới về. Nhờ đó, ông ta thu nhiều lợi. Ngoài ra, ông ta còn buôn dầu. Tất cả các ghe ở Hòn Đầm và ghe các hòn lân cận đều được ông bán chịu dầu, có tôm cá đem về bán lại cho ông, trừ tiền dầu. Đây cũng là mối lợi lớn thứ hai của ông.
Theo tôi biết, các ghe ở biển vùng nầy đều mua dầu của Huỳnh Luân là dầu từ tàu hải quân bán ra. Tôi tránh không đụng chạm đến công việc nầy. Hôm ra Hòn Đầm chơi, Huỳnh Luân hỏi tôi có biết trung ta Trần Văn H. cùng quê Quảng Trị với tôi hay không. Trần Văn H., - chúng tôi thường gọi là H. đen -, bạn học với tôi năm đệ nhị 1956-57 ở Quốc Học. Huỳnh Luân kể trung tá H. thường đến nhậu chơi với ông ta nhiều lần ở Hòn Đầm. H. có nói với Huỳnh Luân sẽ ghé Kiên Lương thăm tôi, nhưng chưa kịp thì tới 30 tháng Tư. Hôm đó, người ta kể, H. ở dưới tàu, bắc loa gọi ai là dân Quảng Trị hãy xuống tàu của ông ta để rời Việt Nam.
Dĩ nhiên, cũng vì biến cố 30 tháng Tư, chuyện thiếu úy Nhâm làm rể ông Huỳnh Luân không thành. Sẵn ghe, Huỳnh Luân đi Úc, còn thiếu úy Nhâm về Saigon trốn “học tập”. Sau khi đi tù cải tạo về, tôi gặp lại “ông thầy tu phá giới” nầy. Nhâm tuy có già và gầy, nhưng tính tình vẫn vui vẻ và chân chất như khi ông còn trẻ vậy. Và vẫn chưa vợ con gì cả.
Hòn đảo lớn nhứt và đông dân nhứt ở khu vực nầy là Hòn Nghệ, tên chữ là hòn Minh Hoa.
Hòn Nghệ có một trưởng ấp, đại diện cho chính quyền quốc gia, nhưng coi bộ ông trưởng ấp chẳng làm gì cả, ngoại trừ mỗi năm ký vài chục tờ lý lịch cho mấy cô gái tới 18 tuổi đi làm giấy căn cước. Con trai khỏi làm căn cước, chúng sợ đi lính, coi như bọn chúng là “công dân bất hợp pháp”. Tôi cũng chưa từng gặp ông trưởng ấp nầy bao giờ.
Tuy nhiên, “đại diện” cho dân chúng là một người đàn ông ngoài 40 tuổi. Ông ta chẳng có một chức phận gì ở xã ấp cả, nhưng khi ai cần gì, chẳng hạn như xin giấy phép đóng ghe, hay giấy tờ gì đó, tôi không rõ, thì có ông ta từ Hòn Nghệ vào gặp ông quận trưởng, phó quận trưởng... Ngay cả những công việc của ngôi chùa ở Hòn Nghệ, ông ta cũng thay mặt cho ông thầy chùa ở đây đi liên lạc với chính quyền. Dĩ nhiên, mỗi lần đi “công tác” như vậy, ông ta đều được đồng bào “trả tiền tàu xe”. Tiền tàu xe nầy không rẻ nên ông ta mang tiếng ăn chận khi làm những công việc nầy, thay vì ông được người ta cám ơn. Tuy nhiên, những công việc nầy, đối với dân ở đảo, bao giờ cũng khó khăn, rắc rối, họ không thể tự làm lấy được, dù chính quyền quận hồi ấy không có “thủ tục đầu tiên” và việc xin giấy tờ không có gì khó khăn cả.
Ông thầy chùa Hòn Nghệ thuộc vào loại “Lỗ Trí Thâm đời nay” dù chùa nầy thống thuộc giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt. Thượng Sĩ Năm Hùng nói với tôi rằng ông thầy chùa nầy chẳng bao giờ ăn chay, - không biết có ăn thịt chó hay không! Mỗi ngày, ông tham gia các buổi nhậu với dân chài rất tận tình, rượu “ít ly” (y lít), sạch dĩa mồi trên “chiến trường” và ông thầy chùa rút lui về chùa thường có hai dân nhậu đi kèm hai bên cho ông khỏi… ngã. Về cờ bạc, ông cũng ít khi chịu thua mấy bà đánh bài “cao tay” trên đảo, thậm chí cả việc nói… tục. Có lần thượng sĩ Năm Hùng thuật lại câu ông ta nói: “Tôi tố một phát cho bà tè ra tại chỗ bây giờ!”
Tuy nhiên, hôm mấy bà lớn ở Saigon đi trực thăng về đảo để chuẩn bị việc khai thác gỗ trên núi Hòn Nghệ, ông ta ra đón mấy bà rất lễ phép và mời mấy bà về chùa để ông làm lễ cầu an cho mấy bà và “quý bửu quyến”. Bữa đó, thùng phước sương của ông thầy chùa “no dữ”. Mấy bà cũng khen thầy rối rít và khuyên thầy nên “chịu khó tu hành nơi xa xôi” nầy để “hoằng dương chánh pháp.”
Đời có nhiều chuyện tiếu lâm. Đây cũng là một chuyện tiếu lâm vậy. Sau 30 tháng tư, ông thầy chùa tự xưng là “đại úy tuyên úy” nầy bỏ chùa đi mất. Ông sợ Việt Cộng bắt ông đi tù cải tạo vì “can tội đại úy” (tuyên úy) như trong lệnh tha thường ghi. Bấy giờ chính quyền quốc gia không còn để bắt ông ta đi “quân dịch quân gà” nữa.
Trưởng cuộc cảnh sát trước thiếu úy Nhâm là thiếu úy Ngô Thiện B. Mỗi khi nhắc tới ông nầy, tôi vẫn khen ông “tuổi trẻ tài cao” nhưng trái ngược hoàn toàn với thiếu úy Phan Trí Huệ, người đã hy sinh tại xã Đức Phương vào tối 18 tháng năm 1974, khi Việt Cộng tấn công vào xã nầy, để “mừng ngày sinh nhựt bác” như tôi thuật lại trong một bài trước.
Hai người cùng ra trường một lần và cùng về trình diện nhận việc, một người ở Đức Phương, một người ở Bình Trị. Thiếu úy B. lạnh giò khi về xã nầy nên ông ta vận động về Saigon. Việc ấy ông chẳng cho ai hay. Tới khi biết chắc sắp có sự vụ lệnh về Saigon, ông thiếu úy Ngô Thiện B. đi một vòng quanh đảo để “thăm dân” nhưng không phải cho biết sự tình.
Ông nắm vững tất cả những gia đình nào có người trốn quân dịch quân gà hay đào binh. Vòng quanh chân núi Hòn Nghệ khoảng môt ngàn ngôi nhà, ít ra một nửa những gia đình đó có người trốn lính. Ông ta tới những ngôi nhà đó, than rằng cấp trên bắt ông đi học bổ sung vài tháng thì về (Ông không nói sắp thuyên chuyển, bất lợi!). Nay kẹt tiền đi học, ông xin giúp đỡ. Từ ngày về xã nầy tới giờ, ông ta chưa từng bắt quân dịch quân gà, để đồng bào yên ổn làm ăn. Dĩ nhiên, đồng bào thương ông, mỗi nhà gom cho ông ta vài ba ngàn làm “sở phí để đi học”. Tổng cộng, đi một vòng quanh đảo Hòn Nghệ, nhà nào có người trốn lính ông cũng vào thăm hỏi và than sắp phải đi học, tổng cộng ông ta có bao nhiêu tiền? Số tiền ông kiếm được, có lẽ cao hơn số tiền ông đã chạy cho cấp trên để được về Saigon. Nghe thiếu úy Kiệt kể chuyện nầy, tôi nói: “Tuổi trẻ tài cao. Những tay ăn hối lộ phải tôn thiếu uý B. làm sư phụ.” Hốt một mớ biết bao nhiêu tiền mà chẳng ai thưa gởi gì cả. Dân miền Nam, làm khó, đòi tiền sẽ bị thưa “tới tấp” như thiếu úy R., còn mềm mỏng “xin bà con giúp đỡ” như thiếu úy B. thì khỏe re, tối ngủ vẫn yên giấc, không ai quấy rầy!?
“Ông thầy tu phá giới” thế chỗ ông thiếu úy B. mà chẳng biết phát huy sáng kiến người tiền nhiệm gì cả. Lâu lâu, kẹt tiền, ông về Kinh 1, Cái Sắn xin cha mẹ hay nhờ ông bố vợ tương lai cho tiền đi nhậu.
Người phát huy sáng kiến của thiếu úy B. là ông chi khu trưởng. Ông ta cho một anh trung sĩ ra Hòn Nghệ đóng đô ở đó, với danh nghĩa là “phụ tá trưởng ấp đặc trách an ninh”. Mỗi người trốn lính phải đóng hụi chết cho nhân vật “đặc trách” nầy. Đóng cho ông “đặc trách”, không đóng cho ông lớn hơn, ông chi khu trưởng có mang tiếng gì đâu! Trong một buổi họp tại văn phòng tôi, tôi nói với mấy ông sĩ quan, khi nghe báo cáo chuyện nầy: “Mấy ông đừng hậm hực. Họ làm gì kệ họ. Tranh ăn là sinh chuyện, mà hễ sinh chuyện thì “Trai cò tranh nhau, ngư ông được lợi”. Chúng ta tố qua, bên kia tố lại, bọn thanh tra no nê. Đừng dại như thế. Vã lại, như mấy ông biết đấy, sở dĩ tôi nói câu nầy không phải vì ông chi khu trưởng đã từng đe dọa cho thám báo chi khu giả dạng Việt Cộng để bắn tôi vì tôi chống lại ý ông về việc đặt trạm thâu tiền mãi lộ xe đò.”
Quả thật Hòn Nghệ là thiên đường của đào binh, trốn quân dịch. Ông Tư Sậm, chủ ghe, nhà ở cuối kinh Vàm Rầy (xã Đức Phương), sau vụ con trai ông bị thưa tội hiếp dâm như tôi đã kể, bấy giờ con ông cũng đã lớn tuổi, lớn xác, không dùng giấy khai sinh nhỏ tuổi được nữa; ông thiếu úy R., người “bảo trợ” cho con trai ông cũng đã bị thuyển chuyển; ông bèn dọn nhà ra Hòn Nghệ, con ông khỏi đi lính.
Sau vụ Việt Cộng tấn công xã Tín Đạo, vợ con thiếu úy Đước chết cả, Danh Điểm, cảnh sát của thiếu úy Đước, sợ chết, cũng đào ngủ ra ở Hòn Nghệ cho được an toàn tính mạng.
Tàu hải quân thường tuần tiểu vùng nầy, lính tuần cũng thường lên đảo nhậu chơi với bọn nầy. Để “giúp đỡ” nhau, mỗi khi tàu hải quân thấy ghe cảnh sát ra đảo, thường rú còi, báo động cho bọn trốn quân dịch, đào binh biết để chạy trốn.
Việc giáo dục ở vùng nầy và đảo là điều đáng buồn cho tương lai trẻ con ở đây.
Khi mới về nhận việc ở đây, một hôm, xã Tín Đạo giải giao một thằng bé tên là Danh Sơn, mười ba tuổi, can tội “làm giao liên cho Việt Cộng”. Xem qua lời khai, tôi thấy ghi ở mục trình độ học vấn: Dốt. Tôi hơi ngỡ ngàng. Hồi còn đi dạy ở ngoài Huế, mấy “con ở” nhà tôi, đứa nào cũng dốt. Nhưng chúng nó là con gái. Đây là môt đứa con trai. Tổ chức giáo dục ở nước ta như thế nào mà thằng bé nầy dốt? Tại sao bọn trẻ không được đi học? Thiếu trường, thiếu thầy hay thiếu ăn?
Thật ra, chúng nó thiếu cả ba thứ. Thiếu trường, thiếu thầy. Ở ấp thường chỉ có lớp 1, lớp 2. Nhưng thầy cô nào dám về dạy ở những nơi bất an ninh nầy? Hầu hết chúng thiếu ăn. Thằng bé nầy có mẹ và hai đứa em. Bố nó sợ đi lính quốc gia, bèn theo Việt Cọng làm du kích cho gần nhà, bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa tấn công, bắn chết. Các “đồng chí” của cha nó cho nó được đốn tràm, giang câu, đặt lợp kiếm tiền giúp mẹ nuôi em nhưng phải tiếp tế cho chúng, phải mua bột ngọt, thuốc rê, càphê đem vào cho chúng. Vì vậy, thằng bé 13 tuổi bị bắt vì can tội “làm giao liên cho Việt Cộng.” Trên thế giới ngày nay - ngày nay là khoảng thời gian đó – có nơi nào bọn trẻ bất hạnh như vậy không?
Ở đảo Hòn Heo có một lớp học, nhưng không có thầy giáo. Người ở đất liền không chịu ra dạy ở đảo, không ai muốn sống trong cảnh xa nhà, buồn tẻ. Người ở đảo không ai có đủ trình độ để dạy trẻ con lớp 1, lớp 2. Chỉ lớp 1, lớp 2 đó thôi cũng không có thầy. Vì vậy, tiền viện trợ Mỹ bỏ ra để xây một lớp học, vách gạch, lợp tôn ở Hòn Heo trở thành nơi chứa tôm, cá phơi khô, làm chỗ “tạm trú” khi trời mưa bất chợt.
Ở Hòn Nghệ cũng có hai lớp học, cũng xây dựng bằng ngân sách viện trợ Mỹ, cho học trò lớp một lớp hai. Hai giáo viên ở đây, ban đầu lãnh lương từ cố vấn Mỹ, về sau, khi người Mỹ rút bớt về nước thì họ nhận lương ở ty tiểu học Kiên Giang. Tuy nhiên, tiền đó cũng là tiền viện trợ Mỹ, nhờ ty tiểu học trả giúp chứ không thuộc ngân sách quốc gia. Có điều buồn cười. Mới đây, một trong hai thầy giáo cùng gia đình được định cư ở Mỹ với danh nghĩa “Nhân viên sở Mỹ trên 3 năm.” Có phải đó là một sự đền bù cho một ông thầy giáo hơn ba năm sống cuộc đời cô quạnh ở đảo vì “tương lai con em chúng ta”?
Một hôm, tôi tổ chức một cuộc “du lịch Hòn Heo” có ông bà phó giám đốc, mấy cặp vợ chồng các ông chánh sở nhà máy ximăng Hà Tiên cùng vợ chồng tôi. Biết chúng tôi đi chơi, đám thanh niên trốn quân dịch ở đây coi như “không có việc gì xảy ra”. Tôi đến xem hai người đang ngồi lắp ráp một cái máy tàu cũ. Họ tháo banh cái máy ra, thay thế bộ phận cũ, rồi ráp lại. Hỏi học sửa máy ở đâu, tôi mới biết chẳng học ở đâu cả. Bọn họ dạy lẫn nhau. Chỉ cần một người vào học thợ máy ở Rạch Giá, là “nghề nghiệp” lan tràn cho nhau khá nhanh. Tôi cùng vài ông kỹ sư đứng xem, kể cả vài ông kỹ sư cơ khí. Họ cũng nhìn nhận rằng thanh niên Việt Nam thông minh thật. Nếu học hành tới nơi tới chốn, họ sẽ giỏi hơn nhiều.
Tôi nói hoc hành tới nơi tới chốn vì phần đông họ chỉ biết đọc biết viết. Họ không thể học cao hơn lớp 1, lớp 2. Có trường ốc nào đâu! Vã lại, dân chúng thấy sự học không cần thiết. Biết vài ba chữ, đọc viết tàm tạm, cần nhứt là thanh niên có sức khỏe, chạy ghe, kéo lưới. Có đứa bé nào kéo lưới từ lúc năm, mười tuổi mà sống lưng không bị vẹo. Đó là lý do để ăn welfare ở Mỹ.
Nhờ sinh sống ở vùng bờ biển như Vàm Rầy, Rạch Đùng, Ba Hòn, hoặc ở ngay ngoài đảo như Hòn Heo, Hòn Ngang, Hòn Đầm… trong vịnh Thái Lan, họ được móc nối tổ chức vượt biên, đưa người vượt biên và rồi họ cũng… vượt biên. Phần đông, họ tụ tập về đây, thành phố tôi đang ở, là vì có linh mục Lương Công Đại, trước từng làm cha xứ họ đạo Rạch Đùng, họ đạo Kiên Lương. Cha Đại rời Việt Nam trưa ngày 30 tháng Tư. Sau đó, cha gởi thư về Việt Nam, nhắn khéo với đồng bào họ đạo cũ, nếu vượt biên, hãy về thành phố nầy, có cha giúp đỡ. Vậy rồi họ về đây, kẻ đi trước kéo người đi sau, tạo thành một cộng đồng người cũ trên vùng đất mới và… “Họ bỏ cha rồi!” như có lần cha than với tôi, như tôi có kẻ trong một bài trước.
Tôi sinh ra và lớn lên ở thành phố. Thôn quê, đối với tuổi thơ của tôi, là đẹp đẽ và hấp dẫn qua những trang sách trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư mà anh chị tôi đã học hồi tiền chiến: Đó là tiếng chim sơn ca, đó là “Ai bảo chăn trâu là khổ, Chăn trâu sướng lắm chứ. Tay cầm cành tre như ngọn roi…” hoặc lũy tre làng xanh ngắt ở cuối cánh đồng, là “Ngoài kia, qua một lớp vườn hoang là cánh đồng bao la. Buổi chiều, trẻ con thả diều, người lớn thong thả dạo mát. Cuộc đời êm đềm và không một chút đổi thay như trong tranh vẽ” của Tô Hoài trong “Xóm Giếng Ngày Xưa”.
Lúc mười tuổi, tôi theo gia đình chạy giặc hai năm, ở miền núi Trường Sơn hơn một năm, ở nhà quê chưa tới một năm. Thành ra, cái thú nhà quê như đi bắt dế, ăn trộm mía, lội sông kéo dài chưa hết một mùa hè. Với lại, với trí óc trẻ thơ của một đứa bé mười tuổi, tôi chưa có nhận xét gì nhiều về một khung cảnh thanh bình nơi cỏ nội hoa đồng.
Khi đi học, ở thị xã Quảng Trị hay ở Huế, tôi chỉ biết cảnh thôn quê qua “Nhà Nghèo”, “Quê Người”, “Xóm Giếng Ngày Xưa” của Tô Hoài, “Nhà Quê” của Ngọc Giao; “Sợ Sống” của Lê Văn Trương, hoặc phải học và làm bài nghị luận về “Con Đường Sáng” của Hoàng Đạo, “Lạnh Lùng” của Nhất Linh; “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khái Hưng, “Hai Buổi Chiều Vàng” của Khái Hưng và Nhất Linh, “Nhà Mẹ Lê” của Thạch Lam…Đối với thôn quê miền Nam, dĩ nhiên tôi đã đọc “Ngọn Cỏ Gió Đùa”, “Cha Con Nghĩa Nặng”, … của Hồ Biểu Chánh, và “Đồng Quê” của Phi Vân và những tác phẩm làm cho nhiều người say mê của Sơn Nam như “Hương Rừng Cà Mâu”, “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang”.
Cảnh thôn quê Việt Nam trong văn chương nhiều khi rất tuyệt vời, làm cho người đọc thích thú và xúc cảm không ít, và cũng làm cho đứa bé quá tuổi dậy thì như tôi hết sức mơ mộng, và cũng đã có lần chảy nước mắt vì cái chết của cô Thơm trong “Sợ Sống” hay đứa con gái nhỏ đi bắt ếch bị rắn cắn chết như trong “Nhà Nghèo”.
Biết bao nhiêu tác phẩm viết về đồng quê với bao cảnh tươi vui hạnh phúc, và cũng không ít cảnh đói nghèo chết chóc rất đáng thương tâm của đồng quê Việt Nam.
Như đọc giả thấy, tôi say mê tác phẩm của Sơn Nam đến nỗi tôi đặt tên cho tác phẩm nầy của tôi là “Hương Tràm Trà Tiên”. Ai bảo “Huơng Rừng Cà Mau” không có “bà con” với “Hương Tràm Trà Tiên”. Một tác phẩm nói về cuộc “mở đất Nam Tiến” của ông cha ta ở mấy trăm năm trước và một tác phẩm nói về “giữ đất Nam Tiến” của dân tộc ta thời hiện đại.
Có những điều trong thời “Hương Rừng Cà Mâu” hay “Tìm Hiểu Đất Hậu Giang” ngày nay không còn nữa, như câu chuyện về săn cá sấu, “Mùa Len Trâu”, “Hát Bội Giữa Rừng”, “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư”. Dân nhậu gần như đã triệt tiêu loài cá sấu, và như tôi kể trong truyện nầy, dân nhậu bây giờ khoái thịt rắn, cháo rắn. Hết rắn tới rùa, tới kỳ đà, tới cần đước…đang trên đà “diệt vong” vì các tay “sáng xị, trưa xị, chiều xị”. Xị là chai xá xị của hãng BGI ở Saigon. Người nhà quê dùng chai xa xị để đựng rượu trắng. Nhiều thì mua một lít rượu, mua một “ít ly” là “y lít’. Ít thì sai đứa nhỏ ra quán mua một “xị rượu” đủ để lai rai một buổi chiều, sau khi “đi làm đồng” (Ra đồng làm ruộng) về.
Nhân nói chuyện rượu, tôi “bàn” một chút về việc uống rượu của dân Nam Bộ.
Đọc thơ cổ, người ta thấy cụ trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) viết: “Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp.” Ai viết lộn chữ nhắp thành chữ “nốc’ là sai ghê gớm lắm! Nốc rượu chỉ dành cho những bợm rượu như Phạm Thái, người tình của Trương Quỳnh Như, hay Nguyễn Sinh Huy, bố đẻ Hồ Chí Minh, can tội “Say rượu đánh chét dân”.
Dân Nam Bộ không nhắp rượu, không nốc rượu mà “dô”, “dô”…Lần thứ hai vô Saigon, ăn đám cưới Hùng Móm, ở nhà hàng Động Phát, bên phía nhà gái là dân Nam Bộ chính cống, và dĩ nhiên cũng dọn một bàn riêng cho đám lóc nhóc. Thấy bọn nhóc cười nói vui vẻ, cầm ly la to “dô”, “dô” tôi không hiểu bọn chúng nói cái gì. Hỏi ra, mới hay chúng la to “vô”, “vô” là uống vô. Tiếng miền Nam “V” thanh “D”, giống như lão ký giả thể thao Huyền Vũ la to trên đài phát thanh hai tiếng “Diệt Dị”. Người miền Trung mà nghe “Diêt Dị” đố ai hiểu là cái gì! Suy ra thì hai tiếng đó là “Vượt (Việt) khỏi Vị (Dị) trí qui định trong luật đá bóng, tiếng Pháp là “hors-jeux” hay “off-side” trong tiếng Anh. Sau 1975, tù cải tạo về đi xem đá banh, ngồi ở khán đài B sân Cộng Hòa, gần mấy ông cán bộ răng hô mã tấu, nghe họ la “Liệt vị”, tôi lại càng thấy họ “dốt vô cùng tận” chớ không phải “giỏi vô cùng tận” như họ khoe khoang.
Khi cha ông chúng ta vô khai khẩn Miền Tây Nam Bộ, là vùng đồng lầy hoang vu, trên trời dưới nước, vùng đất khô không nhiều để dựng nhà lập vườn, cuộc sống nắng mưa dễ sinh cảm sốt, bệnh tật nên rượu là một phương thuốc trị bệnh thần kỳ. Rượu làm tăng cường sinh lực, lưu thông máu huyết, xua đuổi bệnh tật và cả đánh đuổi… tà ma. Vậy thì: nên làm một ly trước khi ra đồng, và một ly trước khi phủi cẳng lên giường nằm ngủ. Phương thức trị bệnh của cha ông dần dà trở thành cái thói nhậu dô dô của con cháu đời nay. Đó là một diễn biến rất “lô gíc” theo duy vật biện chứng vậy.
Việc nhậu “lai rai ba sợi” không riêng gì trong dân chúng, trong binh lính, cảnh sát, cán bộ. Nó là một phương cách thể hiện sự bình đẵng, hòa hợp, vui vẻ giữa mọi người với nhau, không phân biệt dân quân cán chính hay dân ngu cu đen. Và không ít người trở nên hào phóng sau khi rót vào mồm vài ba chai 33. Ông trung tá Trần Lý, H. khi nhậu với lính thì “để tao cởi áo, nhậu là không có lon lá gì cả.” Ông chủ ruộng mở túi áo trên rút vài ngàn đưa cho gia chủ đi mua thêm “mồi”, hay vui vẻ hứa với “ông chính quyền” rằng “Khi nào thanh tra về, ông không có tiền đãi khách, cho lính ra gặp tui.” Vì ham “vui vẻ” nên không ít lính tráng đòi chủ rượu mỗi chiều phải mở tiệc rượu khiến đưa tới vụ Võ Văn Minh tự Út Giàu ở xã Tân Hội phải đi tù như tôi đã kể.
Việt Cộng nhậu cũng không kém gì… Quốc Gia. Có đứa cũng vì nhậu mà tiêu hết tiền quĩ của xã phe Quốc Gia, sợ bị tù bèn trốn vô rừng theo Việt Cộng như Bảy Móc, sau làm bí thư xã Đức Phương, như cựu trưởng ấp Ngã Ba Nguyễn Văn Thôn tự Tiếu (Hai Tiếu) sau là bí thư xã Bình An, ra tiếp thu quận Kiên Lương hồi 30 tháng Tư, 1975.
Không ít người làm giao liên Việt Cộng khi bị bắt có mang theo vài lít rượu vô rừng, hay ông chủ lò rượu ở Vàm Rầy, chở rượu lên Châu Đốc qua ngã Giang Thành “cúng cho thầy chú” vài can rượu khi qua đồn Trà Phô cũ, nay Việt Cộng đóng chốt ở đó.
Bên cạnh những câu chuyện mới của “Hương Rừng Cà Mâu” thời giặc giã, như thu thuế, phục kích, đắp mô, gài mìn, ám sát, cấm “Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ, đốn tràm xanh rước mỹ về nhà”… thì cảnh cũ vẫn còn đấy như “Mùa Trăn Hội”, “Mùa Cá Đồng”, làm muối hay “trồng dưa hấu một mùa, đủ tiền vui chơi cờ bạc một năm.”
Một hôm, tôi về Vàm Rầy, thấy “phông” màn giăng một đầu nhà lồng chợ, hỏi ra mới biết có gánh cải lương Hồ Quảng mới đậu ghe lại đây. Gánh cải lương di chuyển bằng một vài ghe nhỏ, không bằng xe hơi như các gánh cải lương Saigon.
Thấy gánh hát lèo tèo, có vẻ nghèo nàn, tôi hỏi thiếu úy Ra: “Nầy, khách xem hát có đông không? Hát ở xã có khá không?” Thay vì trả lời tôi câu đó, thiếu úy Ra nói khác: “Cô đào trẻ đẹp lắm.” Hỏi ra thì cô là vợ không biết thứ mấy của ông bầu. Ông bầu đã trên năm mươi mà cô ta chưa tới hai mươi. Một chốc, ông bầu dẫn cô gái bồng đứa bé từ dưới ghe lên ăn hủ tiếu ở bàn bên cạnh tôi và thiếu úy Ra đang ngồi. Thấy cô ta vạch vú cho con bú, tôi thấy nãn vô cùng cho cô đào hạng nhứt của gánh hát. Tôi hỏi thiếu úy Ra: “Vậy mà chú mầy cho là đẹp, đen không thua con Miên.” Ra cười trả lời: “Hôm qua khi hát, cổ đánh phấn, có thấy đen đâu!”
Hết rồi, thời kỳ “Hát Bội Giữa Rừng” của Sơn Nam. Bây giờ chỉ có “lựu đạn nổ nửa chừng” như mới xảy ra, cách bữa đó không lâu, khi Thành Được, Út Bạch Lan về hát ở đình Tân Hiệp, Cái Sắn.
Trong thời gian nầy, tôi lại về Vàm Rầy, vì đây là nơi Việt Cộng hoạt động mạnh nhứt vì nhiều lý do: Trên kinh Kháng Chiến, đường giây di chuyển 1-C của Việt Cộng. Bên kia kinh Kháng Chiến là quận Tri Tôn của tỉnh Châu Đốc, Việt Cộng cũng hoạt động mạnh. Và là vùng ruộng cũ rất lớn của ông Chủ Ry, ông Thầy Ban, nay đang được nông dân các tỉnh khác về, dân Long Xuyên, Cái Sắn, Xóm Mới Saigon về vỡ đất làm ruộng trở lại, là món lợi lớn cho Việt Cộng thu thuế.
Rồi một hôm, tôi gặp một ông nhà thầu đến đào giếng ở đây, lấy nước ngọt cho nông dân theo một hợp đồng với ty Thủy Nông tỉnh Kiên Giang. Tò mò, tôi hỏi chuyện ông nhà thầu.
Té ra, nhiều cái hay lắm!
Ông ta từ Saigon về đào giếng ở đây, loại giếng đóng. Dĩ nhiên, loại giếng đóng ít mất công hơn loại giếng xây, có thể lấy nước tưới ruộng rất tốt. Xài một thời gian, khi cạn nguồn nước ngầm, đóng giếng khác. Loại giếng đóng không phụ thuộc vào mùa nước nổi. Nước nổi là nước sông Hậu đổ về mỗi khi tuyết tan đầu nguồn ở Hy Mã Lạp Sơn, thường có nhiều phèn, không uống được vì nước nầy thường làm hư răng. Thợ trồng răng miền Tây thu lợi nhiều tiền là vì dân chúng uống nhiều nước phèn.
Hỏi ông nhà thầu về việc đào kinh lấy nước như ở dinh điền Cái Sắn, ông ta cho rằng làm như thế là thất bại.
Vùng Cái Sắn, cần đất cho dân định cư, nên cần đào kinh để lấy đất đắp vườn, làm nền nhà. Phần đất còn lại, chia cho nông dân làm ruộng, mỗi gia đình ba mẫu. Việc làm nhà và làm ruộng, nhu cầu ngang nhau. Tuy nhiên, việc đào nhiều kinh ngang dọc, làm cho việc di chuyển máy cày từ vùng kinh nầy qua vùng kinh khác rất trở ngại. Người ta phải đóng những cái “trẹt” - một loại phà nhỏ, vừa chỗ cho một chiếc máy cầy - để đưa máy cày qua kinh.
Ở những khu vực nông nghiệp lớn, như một nông trường như ở Mỹ chẳng hạn, việc đào kinh ngang dọc như vậy làm trở ngại cho các xe cơ giới máy cày, cấy, gặt đập. Người ta chia nông trường ra làm nhiều lô, mỗi đội nông nghiệp, phụ trách một hay nhiều lô, lo việc cày cấy gặt đập vô bao và chuyên chở về kho. Nhờ đó, lực lượng nông nghiệp ở Mỹ chỉ chiếm 5 phần trăm dân số, vậy mà số lương thực sản xuất vẫn đủ nuôi dân và xuất khẩu. Nếu chia ruộng thành nhiều kinh, công việc của các đội nông nghiệp trở ngại rất nhiều.
Không đào kinh, việc lấy nước tưới ruộng nhờ vào những giếng đóng. Giếng không chiếm nhiều diện tích trồng trọt, lại không gây cản trở cho xe cơ giới hoạt động, nước giếng không có phèn mà lại rửa phèn cho ruộng khá nhanh..
Tôi từng đọc tờ báo Thế Giới Tự Do của phòng Thông Tin Hoa Kỳ, từng học lịch sử và địa lý nước Mỹ, từng xem nhiều phim và tranh ảnh về sinh hoạt nông nghiệp Mỹ, từng học đạo luật 480, đạo luật căn bản cho cuộc Cách Mạng Xanh của Mỹ, vậy mà tôi vẫn thích thú ngồi nghe chuyện ông nhà thầu giếng đóng, mà các giáo sư dạy địa lý nước Mỹ cho tôi, chưa ai giải thích rõ bằng ông ta, trong khi tôi không rõ sức học của ông ta tới đâu..
Độc giả thấy không! Trăm hay không bằng tay quen, và hôm đó, tôi học được điều ông cha gọi là “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”
Về sau, khi đi “tù cải tạo” về, thấy việc đào kinh các công ty, xí nghiệp thủy lợi của Việt Cộng, thấy khung cảnh các khu kinh tế mới Lê Minh Xuân, Phạm Văn Cội kinh đào chia ngang xẻ dọc, tôi thường nhớ tới ông nhà thầu đóng giếng ngày trước. Dĩ nhiên, tôi thấy Việt Cộng làm nông nghiệp sai rồi, làm sao tôi không khỏi buồn khi thấy ruộng đồng bị chia xẻ thành nhiều mảnh bằng những kinh thủy lợi.
Khi nhận sứ vụ lệnh về miền quê, tôi không khỏi lo. Dĩ nhiên, ở thành phố an ninh hơn, tối có đèn điện khỏi dùng đèn dầu, mưa nắng có xe, khỏi lội bùn, khỏi phải sống những nơi dân địa phương gọi xứ họ là “nắng bụi mưa bùn”.
Ở thành phố, khó có khi bất thần gặp một tên Việt Cộng, khỏi bị phục kích, đặt mìn, khỏi tao ngộ chiến, hoặc nói như Trịnh Công Sơn, “đêm đêm đại bác vọng về…” Ở đây, không có đại bác “vọng về”. Các khẩu đội đại bác đặt cách nhà tôi ở không bao xa, đạn pháo kích của địch có khi nổ ở sân trước, sân sau và biết đâu, một hôm, nổ ngay trên ngôi nhà tôi đang ở. Cái sống, cái chết đan chéo nhau, không phải từng ngày mà từng giờ từng phút…
Hết rồi, tiếng chim sơn ca. Tôi không thấy nó, không nghe nó hát ở đâu cả.
Bây giờ chỉ là tiếng chim mỏ nhác, mỗi đêm nếu nghe nó bay và kêu quàng quạc ở trên không, có nghĩa rằng có thể Việt Cộng đang di chuyển đâu đó. Loài chim nầy, mình giống như loại cò, lông đỏ, chân dài, không ngủ trên cây mà ngủ duới đất, chổng cẳng lên trời. Một đám năm bảy con sống với nhau. Hễ thấy động mạnh, tiếng người đi hay trâu heo chạy qua, chủng hoảng hốt phóng ngay lên trời, vừa bay vừa kêu. Ở các đồn bót, người ta tìm cách làm sao cho loài chim nầy làm tổ ngoài vòng rào. Việt Cộng mò tới, chim thấy động bay lên kêu to, cũng là báo động cho lính tráng đề phòng.
Cũng không còn “Ai bảo chăn trâu là khổ…”, “Mùa Len Trâu” với đàn trâu ông Chủ Ry hai trăm con cũng không còn nữa. Bây giờ là máy cày. Sinh sống ở Vàm Rầy, đêm đêm nguời ta có thể thấy ánh đèn xe, nghe tiếng xe máy cày, cày ì xèo trong ruộng cũ của ông Chủ Ri, ông Thầy ban. Không ai thấy con trâu nào cả. Trâu nào đủ sức cày trên cánh đồng rộng cả trăm, cả ngàn mẫu ruộng ở đây!
Nông thôn nước ta thay đổi rất nhiều, nhưng cảnh “Nhà Mẹ Lê” thì ngày xưa đã thế mà giờ đây cũng thế. Không chừng bây giờ nhiều gia đình “Nhà Mẹ Lê” hơn ngày xưa. Đàn ông đi lính hết, con trai đi lính hết, không Quốc Gia thì cũng theo Việt Cộng, còn thanh niên nào ở nhà để cày ruộng, gánh lúa, đập lúa vui như ngày hội. Làm gì còn “Gạo Trắng Trăng Thanh”. Thay vì giả gạo thì người ta bỏ lúa lên ghe chở tới nhà máy chà để lấy gạo về. Làm gì còn cái cảnh Lam Phương ca hát: “Hò là hò lơ hó lơ hò lơ
Nầy anh em ơi! Giã cho thật đều, giã cho thật nhanh. Giã cho khéo kẻo trăng phai rồi, khoan hò khoan tiếng chày khua vang mãi trong đêm dài.”

Hết rồi, “Quê hương là chùm khế ngọt”, làm gì có cảnh thanh bình để “Mẹ về nón lá nghiêng che”, không còn con đường nào “có bướm vàng bay”, cũng không còn “hoa cau nở trắng đầu hè”.
Đi suốt con đường dài gần một trăm ki-lô-mét từ Rạch Giá tới Hà Tiên, khó ai tìm được những ngọn cau còn chút nắng chiều vướng trên ngọn cao như trong bài “Hoàng Hôn” của Xuân Diệu. Hai bên đường, không mấy khi tìm thấy ngôi nhà ngói, nhà tôn với khói lam chiều lẩn quất không chịu bay xa, mà chỉ liên tiếp nhau những mái tranh nhỏ bé, rách nát, thủng dột, những đứa bé rách rưới, bụng ỏng, sườn lưng lòi cả xương sống vì thiếu ăn, thiếu mặc. Đâu đâu cũng chỉ là cảnh tình trong bài tập đọc của tôi khi tôi còn bé “Đoàn Thôn là một phố chợ tồi tàn…”. Những điều Duy mong muốn trong “Con Đường Sáng” kéo dài đã hàng chục năm nay, đâu có thấy gì đâu!? Những điều ông Ngô Đình Nhu vẽ vời trong “Quốc Sách Ấp Chiến Lược” như phát triển và kết hợp giữa các ngành y tế, giáo dục, văn hóa, v.v… nay lại là Xóm Đạo của ông chủ chùa Phạm Bình An, đệ tử ông thầy thuốc Bắc ở phủ Cây Tùng.
Chiến tranh thật độc ác! Nó có thể làm cho mạng sống của tôi, chốc nữa sẽ không con nữa, nếu chiếc xe Jeep của tôi cán phải mìn, hay một tên Việt Cộng nào đó bên kia kinh bắn sẻ sang… Cái chết đó, đâu chỉ có mình tôi là nạn nhân, mà tất cả những người dân sống ở đây, không chừa một ai, dù đó là một người lính đang cầm súng chiến đấu hay một người đàn bà vô tội, chỉ lo kiếm gạo nuôi con, không tham gia bên phía nầy hay bên khác.
Cảnh nhà quê nghèo khổ, đói khát, lam lũ, vất vả mà chẳng có một thú vui, một thú giải trí nào cả. Có chăng, thì chỉ là một gánh hát cũng nghèo nàn, màn phông rách nát như gánh hát ghé lại Vàm Rầy, khán giả chỉ vừa thấy đào kép đã ngán ngẩm rồi, hoặc ở Xóm Chài Vàm Rầy có năm bảy nhà có TV chạy bằng bình điện, để mấy đứa con gái ham coi cải lương tối thứ bảy đi coi về khuya, như con Sáu Lánh, trên đường khuya khoắt bị con quỉ râu xanh già đời chưa trót thế, hay con trai Tư Sậm đè ra hiếp dâm một cách tàn bạo.
Có môt dịp về Saigon, vào rạp Mini Rex xem phim “La fille de Ryan”, tôi bỗng thấy thương con tôi một cách xót xa. Chuyện phim kể một cô nữ sinh thôn quê khá xinh đẹp. Cô nữ sinh ao ước muốn được lên Dublin, thủ đô Ái Nhĩ Nhan, để được đi xem Opéra, để được nghe hòa tấu nhạc Beethoven, Mozart, … Nỗi khao khát đó đã thúc đẩy cô kết hôn với thầy giáo của mình, một người thường giảng cho cô về văn minh thành thị. Nhưng cô ta thất vọng, vì dù ông ta có biết thêm gì về thành thị hơn cô ta thì chồng cô vẫn chỉ là một ông giáo làng. Niềm thất vọng đó đưa đầy cô đi xa hơn trên con đường lầm lạc: ngoại tình với một viên thiếu tá của quân đội Anh Hoàng đang cai trị Ái Nhĩ Lan. Kết quả, cô ta bị dân làng trừng trị bằng cách cạo trọc đầu vì tội phản bội tổ quốc và xâm phạm thuần phong mỹ tục. Không còn ở với dân lang được nữa, vợ chồng cô đành bỏ làng ra đi. Trong làng, chỉ có một người thông cảm cho tình cảnh cô gái, tới giờ phút cuối cùng. Y tiển chân cô lên tận xe để ra đi. Người đó, lại là một kẻ bị bệnh câm bẩm sinh.
Xem phim rồi, tôi không dứt khỏi suy nghĩ và thương các con tôi. Chúng nó sinh ra và lớn lên ở thành phố, theo cha mẹ về sống nơi nắng bụi mưa bùn nầy, nơi thị trấn nhỏ bé nhiều súng đạn mà không có một phương tiện giải trí nào.
Thế rồi, tôi nghĩ tới câu chuyện vài ba con nhỏ ở đây. Một cô nào đó, đẹp gái, cặp với một ông nhà thầu, nhà thầu Bảo, vì ông ta nhiều tiền. Ông nhà thầu Bảo đi rồi thì con bé trở thành một thứ đồ chơi “uống nước trả tiền” cho viên quận trưởng. Hoặc vài ba con nhỏ bỗng nhiên trốn nhà đi theo gánh hát. Thế là xong: “Mẹ già cuốc đất trồng tiêu, Con theo hát bội mẹ liều con hư.” Có đứa bỏ nhà đi một thời gian rồi trở về, dáng vẻ “văn minh” hơn nhưng phẩm giá thấp hơn. Có những đứa không về. Chúng đang làm gì ở Saigon, Cần Thơ, Cam Ranh, Phú Bài? Có lẽ, điều chắc chắn hơn, chúng đã trở thành những cô bán Bar Mỹ ở bên ngoài một căn cứ nào đó của một thứ quân đội được gọi môt cách văn vẻ là “Đồng Minh.”
Nhân một dịp lễ Noel, tôi đem các con về Saigon, đi xem lễ ở nhà thờ Đức Bà, xem ciné ở rạp Rex, tới xem sách ở Thư Viện Quốc Gia. Chúng nó lớ ngớ sợ sệt đến tội nghiệp.
Không, tôi không thể tiếp tục ở nơi nầy khi các con tôi đang lớn dần lên. Chúng cần có môi trường sống khác, qua đó, việc học hành, tài năng có điều kiện phát triển nhiều hơn.
Điều đáng buồn, tôi chưa kịp về Saigon thì đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng.
Chiều ngày 30 tháng Tư, tôi lên ghe cùng vợ và các con chạy ra biển. Trên chiếc ghe nhỏ, còn có 4 kỹ sư nhà máy ximăng Hà-Tiên, gồm cả anh Lê Hữu Phước, giám đốc, một ông cựu giám đốc về công tác, và hai ông chánh sở.
Đường ra biển, cách hạm đội 7 không xa? Chưa tới hai giờ ghe chạy, chúng tôi có thể lên tàu Mỹ. Nhưng! Ở hay đi? Bốn ông kỹ sư nhà máy không ai muốn đi! Quê hương mình, mình ở. Ai nỡ bỏ mà đi! Tôi nghĩ tới mẹ tôi, anh, chị và các em, các cháu, đang tập trung ở Saigon, không có con đường nào để họ có thể rời Việt Nam. Hay là, tôi ở lại vớ mẹ, anh chị em? Tôi mồ côi cha khi còn nhỏ, lớn lên trong cảnh nghèo khó, quây quần bên mẹ, bên anh chị. Qua bao nhiêu năm gian khổ, mẹ tôi đã làm tròn trách nhiệm và tình thương của bà hiền mẫu nuôi con ăn học, nên người. Công ơn trời cao biển rộng ấy nói sao cho hết? Bây giờ, tôi làm sao bỏ mẹ, bỏ anh chị em và các cháu ở lại Việt Nam mà ra đi một mình.
Đêm đó, neo ghe bên cạnh Hòn Tre, tôi và mấy người bạn làm ở nhà máy ximăng chạy theo tôi trong cơn nguy biến, không ai ngủ được. Sáng hôm sau, tất cả chúng tôi quyết định trở lại với quê hương mình để đóng tiền… đi ở tù.
Có lẽ không có một ai trong chúng tôi hối hận việc mình không thể bỏ lại gia đình và quê hương để ra đi. Đó là tình cảm thiêng liêng và cao quí. Tại sao chúng tôi lại phải hối hận, dù phải gánh chịu sự đày đọa nghiệt ngã của kẻ thù!?


Đầu mùa thu 2008
(1) Ca dao có câu:
“Xứ đâu như xứ Cạnh Đền,
Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội lền như bánh canh.”


Tôi nghe nói ở Cạnh Đền con gái đẹp lắm, họ là hậu duệ của các bà phi, bà chúa đời chúa Nguyễn, chạy vào Nam khi Tây Sơn khởi nghĩa. Lúc “Gia Long tẩu quốc” họ bị bỏ lại và sau nầy cũng bị bỏ quên luôn. Đẹp thì có đẹp nhưng nhìn kỹ chân tay, phần nhiều mắc bệnh phung. Người viết nhiều về Miền Tây Nam Bộ là nhà văn Sơn Nam, tại sao ông không viết về đề tải nầy, hay đây chỉ là lời đồn, không có trong thực tế. Tôi chưa từng về Cà Mâu để có thể biết rõ hơn về câu chuyện xứ Cạnh Đền.


(2) Thạch Hào Lại
(Đỗ Phủ - Khương Hữu Dụng dịch)
Chiều ghé xóm Thạch Hào,
Quan bắt người nửa đêm.
Ông già vượt tường trốn,
Bà già ra cửa nhìn.
Viên lại quát đà dữ!
Bà già van đà khổ!
Van rằng: "Có ba trai
Thành Nghiệp đều đi thú.
Một đứa gửi thư nhắn,
Hai đứa vừa chết trận.
Đứa chết đành thôi rồi,
Đứa còn đâu chắc chắn !
Trong nhà không còn ai,
Có cháu đang bú thôi.
Mẹ cháu chưa rời cháu,
Ra vào quần tả tơi.
Tuy sức yếu già đây,
Xin theo ngài đêm nay,
Đến Hà Dương còn kịp,
Thổi cơm hầu buổi mai."
Đêm khuya lời đã tắt,
Dường nghe khóc ấm ức.
Sáng ra chào lên đường,
Chỉ cùng ông lão biệt.

 
HẾT

Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 31 đến 42 trên tổng số 42 bài trong đề mục