Hoa Kỳ: Đệ I Siêu Cường, Đệ I Ngây Thơ Thành Chung
Tổng thống Bush: "Hoa Kỳ có góp phần gieo tai họa...." Hôm Thứ Bảy mùng bảy, tại Latvia, Tổng thống Bush công nhận trước lãnh tụ ba nước Cộng hoà vùng Baltic vừa thoát khỏi ách cộng sản, rằng Hoa Kỳ đã sai lầm trong thỏa ước Yalta chia đôi thế giới sau Thế chiến II, khiến nhiều quốc gia trở thành nạn nhân cộng sản. Một lời thú nhận muộn màng nhưng cần thiết. Nhân dịp này, Việt Báo xin đăng tải lại một bài đã trình bày trong Giai phẩm Xuân Ất Dậu, như một lời nhắc nhở. Bao giờ Hoa Kỳ sẽ có một lời thú nhận tương tự về Việt Nam?
Thế kỷ XX được ghi nhận là có nhiều vụ thảm sát nhất. Ngược với nhận định của các sử gia, Hoa Kỳ không phải là vô can: bất cẩn hay nhu nhược trước tội ác cũng là trọng tội. Nhớ lại chu kỳ sáu mươi năm, từ 1945 đến nay, người ta cần nhớ ra chuyện này....
Do Stéphane Courtois chủ biên, bộ sách đồ sộ mà vẫn sơ sài về tội ác của chủ nghĩa cộng sản - Le Live Noir du Communisme - có lược kê tổng số nạn nhân cộng sản là gần 95 triệu: 65 triệu tại Trung Quốc, 20 triệu tại Liên Xô, hai triệu tại Bắc Hàn và Căm Bốt, một triệu tại Việt Nam, v.v.... Thế kỷ XX quả là đã đạt một kỷ lục hắc ám.
Trong thế kỷ XX đó, Hoa Kỳ cũng được ghi nhận là đã nhiều lần tham chiến để ngăn ngừa tội ác, chống các chế độ độc tài và giải phóng nhiều dân tộc bị áp bức. Người Mỹ có thể hồn nhiên nghĩ vậy nên đôi khi không hiểu vì sao quốc gia lãnh đạo thế giới tự do lại không được nhiều xứ khác quý trọng và tin cậy. Có thể là vì họ không thấy bao lầm lẫn tai hại của lãnh đạo Hoa Kỳ, từ Thế chiến II cho đến sau này.
Người ta thường nói Hoa Kỳ trở thành siêu cường vô địch kể từ năm 1991, khi Đế quốc Xô viết tan rã. Thực ra, Hoa Kỳ đã là siêu cường vô địch trước đó nửa thế kỷ, từ 1941. Năm đó, Hoa Kỳ bắt đầu nhập cuộc tại Âu châu rồi Á châu và cả hai lực lượng chính của phe Trục là Đức quốc xã và Phát xít Nhật đều không là đối thủ. Lúc đó Đế quốc Anh đã suy thoái, Đế quốc Pháp kiệt quệ và Đế quốc Xô viết chưa thành hình và Trung Hoa còn chưa có tên là Trung Cộng.
Năm 1945, khi Hoa Kỳ có võ khí tuyệt đối là bom nguyên tử, các đại cường kia đều lụn bại. Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất có khả năng can thiệp toàn cầu. Là quốc gia đề cao việc giải thực, Hoa Kỳ đã trước tiên trao trả độc lập cho Phi Luật Tân và xứng đáng là lãnh đạo thế giới tự do, với chủ trương phát huy dân chủ tự do trên thế giới.
Thế rồi chuyện gì xảy ra?
Do lời khuyên của Winston Churchill, bậc anh hùng đại trí của dân Anh mà cũng là con cáo già của đế chế - và lời dụ của Joseph Stalin, bạo chúa của Liên bang Xô viết - Tổng thống Franklin Roosevelt đồng ý với giải pháp chia đôi thế giới, mở đầu cho thời Chiến tranh lạnh.
Cục diện đối đầu Đông-Tây đã khởi sự từ Yalta, với bộ ba Churchill, Stalin và Roosevelt. Ai cười ai trong hài kịch tay ba này? Sau Roosevelt, đến lượt Harry Truman làm nốt phần vụ còn lại: chấm dứt yểm trợ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, cho phép Mao Trạch Đông thắng thế và thiết lập Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc cuối năm 1949.
Kết quả là phân nửa Đông Âu bị nhuộm đỏ, hàng vạn dân Ba Lan và Đông Đức chết oan. Kết quả là Liên Xô tham chiến chống Nhật khi Nhật sắp đầu hàng, để chiếm luôn nhiều quần đảo của Nhật và khống chế một phần bán đảo Triều Tiên. Nhật đã gửi văn thư xin đầu hàng đến chính quyền Mỹ, nhờ Liên xô chuyển giao, Staline ém thư đợi cho Nhật lãnh bom nguyên tử rồi mới xua quân "tiếp thu" đất đai của Nhật. Kết quả là Đế quốc Anh tái lập trật tự và tạo điều kiện cho Đế quốc Pháp hồi sinh, thật chậm, chậm hơn mình. Từ đó mới có chiến tranh Triều Tiên rồi Điện Biên Phủ. Và chiến tranh Việt Nam sau này.
Vì sao Tổng thống Harry Truman đã đảo ngược chủ trương giải thực của Roosevelt? Vì sao Hoa Kỳ ngày nay đang giải quyết di dản chồng chất của Đế quốc Anh: từ tranh chấp Ấn-Hồi đến chuyện Palestine và sự hình thành của quốc gia Israel rồi nội chiến Lebanon, Iraq, Afghanistan, v.v...? Ngần ấy hồ sơ bất ổn đều xuất phát từ cái trật tự quái đản do Anh quốc để lại và Hoa Kỳ gật gù đồng ý cho các thuộc địa cũ.
Đối với Đông Dương trong đó có Việt Nam, chính quyền Roosevelt lúc ban đầu nhất quyết không cho chính quyền kháng chiến của Charles de Gaulle tái chiếm Đông Dương từ tay Phát xít Nhật. Sau khi Roosevelt bất ngờ tạ thế, chính quyền Truman đảo ngược lập trường và cho Pháp cơ hội trở lại. Chủ nghĩa thực dân được hà hơi tiếp sức, lần này dưới chiêu bài ngăn ngừa làn sóng đỏ. Sau này, Quốc gia Việt Nam hình thành trong điều kiện ấy, với một chính nghĩa mơ hồ nhưng được phe Cộng sản triệt để khai thác để đề cao chính danh của họ.
Có thể là De Gaulle đã dự tính một giải pháp tiệm tiến cho Đông Dương, với việc trao trả độc lập hình thức cho Việt Nam qua lá bài Duy Tân. Nhưng giải pháp tiệm tiến ấy vẫn là quá nhanh quá mạnh cho Đế quốc Anh. Cái chết bất ngờ và bí ẩn của Duy Tân là điều không may cho nước Pháp, như de Gaulle đã than. Ông từ chức ngay sau đó và những rối loạn của nền Đệ tứ Cộng hoà Pháp đã dẫn tới chánh sách nửa vời tại Đông Dương, đến giải pháp nửa vời là Bảo Đại, và đến biến cố Điện Biên Phủ năm 1954.
De Gaulle cho rằng người Anh có nhúng tay vào cái chết của vua Duy Tân, điều đó có thể là đúng, nếu người ta thấy ra những tính toán tinh vi - thậm chí thâm hiểm - của Anh. Bên cạnh đó là sự chủ quan và cực kỳ ngây thơ của Hoa Kỳ. Những gì được giải mật từ mười năm nay tại Hoa Kỳ - và cả Liên bang Nga - có thể cho thấy sự ngây thơ tai hại ấy.
Cả hai chính quyền Roosevelt và Truman đều mơ hồ về chủ nghĩa cộng sản, nhất là về chủ nghĩa cộng sản Á châu. Cả hai đều bị Stalin cài người vào thượng tầng chính trị và có khi chi phối cả đường lối đối ngoại. Vì bất cẩn về an ninh, Hoa Kỳ đã để Liên xô đánh cắp bí mật nguyên tử nên Staline tranh thủ được mấy năm và trở thành cường quốc nguyên tử trước khi tạ thế. Nếu không, cục diện thế giới có khi đã khác.
Ngoài vụ đánh cắp bí mật nguyên tử, Liên xô còn cài nội tuyến tới cấp cao nhất trong các chính quyền Roosevelt và Truman: nhẹ nhất là Tổng trưởng Nội vụ (thực ra là Tài nguyên Công sản) Harold Ickes - thân phụ của cố vấn Ickes của Tổng thống Clinton sau này. Ông ta là đảng viên Cộng sản, cầm đầu tổ chức ngoại vi của Quốc tế Cộng sản tại Mỹ là Liên đoàn Dân chủ Hoà bình.
Nặng ký hơn thì có Phụ tá Ngoại trưởng Alger Hiss, Phụ tá Tổng trưởng Ngân khố Harry White, Phụ tá Hành chánh cho Roosevelt là Lauchlin Currie, là Cố vấn Đặc biệt Harry Hopkins của Roosevelt, Đổng lý Văn phòng cho Giám đốc Tình báo (tiền thân của CIA) Duncan Lee, Cố vấn Quốc phòng đặc trách Á châu là Owen Lattimore, v.v....
Họ là cán bộ mẫn cán của Liên Xô và mặc nhiên ảnh hưởng đến nhận thức và quyết định của lãnh đạo Hoa Kỳ trong thời chiến tranh và có thể đã góp phần cho sự lớn mạnh của Liên Xô và khối Cộng sản sau này. Có ảnh hưởng nhất là Alger Hiss, người bị biện lý Richard Nixon truy tố đến cùng và vì vụ này mà Nixon gây ác cảm với truyền thông thiên tả của Mỹ. Hai mươi năm sau, họ không tha ông ta trong vụ Watergate.
Kiểm lại chuyện xưa, từ 1945 đến nay, chúng ta không thể không nhắc lại một số hồ sơ vẫn còn nóng hổi và mặn chát. Như máu và nước mắt.... Số: 3689
Ra Ngày: 9/5/2005
http://www.vietbao.com/