Cách học và dạy

Thay đổi trang: < 123 > >> | Trang 3 của 5 trang, bài viết từ 61 đến 90 trên tổng số 137 bài trong đề mục
Tác giả Bài
HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Tôi học về sex - 30.05.2005 09:41:57
Tôi học về sex


Tồi là ai? Là người post bài nầy? Tên gì? Xin thưa tên Chi.

Số là vầy, có noí qua rồi mà chưa kiếm ra caí link cuả nó.

Cách dây không lâu, muốn trờ thành một public speaker dù tiếng Anh bằng lá mít. Nhưng cũng cố gắng.

Vậy là phải học ăn, học nóí, học gói và học mở. Đấy ông bà ta daỵ thế. Mà đúng vậy. Bây giờ không bàn về chuyện run bây bẩy hay nói lấp vì từ tiếng Anh rất hạn chế và phát âm ngọng ngịu. Vô để học sex.

Học sex là sao? Là phải học PowerPoint đề minh hoạ hình ảnh mình đang nói, cũng có dùng slide project hay overhead, nhưng hơi chậm chạp. PowerPoint dùng computer rất là tiện dụng....

Đầu tiên ham lắm khi cho hình ảnh hay chữ bay bay. Sau nầy bị cho là chóng mặt và làm cho ít chú ý trọng tâm. Ý kiến cá nhân.

Thế lúc đầu thầy giaó baỏ vaò phòng kín, đóng cửa lại, tắt đén thì hình ảnh mới rõ. Thiếu computer nên có khi hai đưá một ghế. Chết chưả, tuị nó giành hết chí còn một chàng da đen thì có ghế trống. Chẳng đặng đừng phaỉ ngồi kế bên và cặp partner....

Bắt đầu thầy hỏi bây giờ muốn minh họa hình ảnh về đầ taì naò....

Mờ mờ thấy những bàn tay đưa lên, nhưng nghe rõ: SEX> SEX> SEX.

Thầy OK SEX.

Nhưng sex về cái gì vì có 3 loaị sex?

Đến đây tôi đỏ mặt và nóng hừng hực.

Vong các bạn thêm vào 3 loaị sex là loaị gì? (Có thưởng đó nha)

Chúc vui với sex
.



HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Tôi học về sex - 02.06.2005 11:20:51

Nhưng sex về cái gì vì có 3 loaị sex?


Chờ bạn góp ý mãi, nóng ruột quá. Sex mà lỵ.

Ông thầy cũng chờ câu trả lời rồi tiếp....

Sex trên không, trên đất, và dưới nước.

Nghe vậy cả lớp im re. Nín luôn. Hết sex.

Chúc vui với sex trên không.

Có lẻ là chỉ chim chóc và hoa lá cành...
Còn dưới nước thì có tôm, cá....

Thôi lặn đi tám.

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Sức Mạnh Vô Tận - 02.06.2005 11:24:18
*
........

Phát huy được dân chủ thì đó là nguồn lực vô tận, sức mạnh vô tận. Nếu không phát huy được đầy đủ sức mạnh của dân chủ chúng ta sẽ mất đi một nguồn lực vô cùng quan trọng.

Nguồn lực này không giống như nguồn lực thiên nhiên, nguồn lực thiên nhiên có thể cạn kiệt dần nhưng nguồn lực dân chủ, tức là trí tuệ con người là vô tận.

Nguyên nhân của sự chưa phát huy dân chủ thực sự là do đâu?

Do chúng ta đã quen một nếp nghĩ, cấp trên nói coi đó như là chân lý. Nếu cứ theo nếp mãi như thế thì rõ ràng là không được vì dù bất kỳ ai, nắm cương vị gì cũng phải có những lúc có sai sót. Trong khi đó, càng được trao đổi, bàn bạc thật dân chủ thì trí tuệ càng được phát huy và chắc chắn sẽ tìm được chân lý.

......

http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=10040&ChannelID=2

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Nền Giáo Dục - 02.06.2005 17:46:35
16 Tháng 5 2005 - Cập nhật 14h57 GMT

Ý kiến của Trần Minh Thảo về giáo dục Việt Nam


Trần Minh Thảo cho rằng thế hệ trẻ Việt Nam đang phải học một nền giáo dục 'Nho-Mác'
Thính giả Trần Minh Thảo gửi thư đến BBC như sau để nói về cái thính giả gọi là 'Nền giáo dục Nho-Mác' ở Việt Nam hiện nay:
Cảm nhận về nền Giáo dục ở Việt nam hiện nay. Qua báo đài, sách vở và tìm xem trong sách giáo khoa Việt nam tôi thấy một cách tổng quát, nền giáo dục Việt nam có hai yếu tính.

1/Tính Nho: Nho giáo coi mọi thứ của thánh hiền (Đông Tây) nói ra là hoàn hảo, người sau chỉ học theo không được tranh luận. Trẻ con 9-10 tuổi đã biết “Nhân chi sơ tính bổn thiện” (Tam tự kinh - sách vở lòng của trẻ con trong nền Hán học). Trẻ con 10 tuổi đã thành triết gia nói về những vấn đề rất lớn của triết học: tính thiện, tính ác, tính không thiện không ác…

Không hiểu cũng phải học thuộc nằm lòng để lớn lên làm vua nếu có được thiên mệnh hoặc làm kẻ sĩ quân tử trở thành bầy tôi hoặc thần dân trung thành tuyệt đối của vua. Học trò Việt nam phải biết đạo”vừa phải”, biết an phận, vui với cái nghèo nếu còn nghèo. Đó là cái học uyên bác, làu thông kinh sử. Giáo dục Việt nam hiện nay cũng vậy. Có lẽ những nhà lãnh đạo giáo dục Việt nam
là những Nho sĩ tinh thông Hán học và có ít nhiều Tây học, muốn phục hồi đạo Nho ở Việt nam.


Bài của Trần Minh Thảo về ý thức dân tộc làng xã

tiếp.....

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/05/050516_educationminhthao.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Nền Giáo Dục - 02.06.2005 17:49:49
tiếp....

2/Tính Mác: Học sinh 13-14 tuổi đã phải nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người và biết rành qui luật đấu tranh giai cấp chính là động lực phát triển của nhân loại. Một số nhà nghiên cứu chương trình giáo dục Việt nam hiện nay thấy nhà trường Việt nam dạy cho trẻ con Việt biết căm thù nhau trước và yêu thương nhau sau.

Học sinh Việt nam học biết cách “tước đoạt” trước khi biết cách yêu thương nhau, phải có quan điểm lập trường giai cấp vững vàng. Ở Việt nam những nhà lãnh đạo giáo dục giác ngộ chủ nghĩa Mác là lẽ thường tình. Những vị ấy phải giỏi Nga ngữ-vì nước Nga là thành trì của chủ nghĩa Mác.

Tôi không hiểu làm thế nào một nền giáo dục thiên trọng “Nho-Mác” lại đào tạo ra được cái gọi là người chiến sĩ làm giàu cho đất nước trong thế kỷ 21: Doanh nhân (thương nhân).

Theo tôi,nền giáo dục Việt nam hiện nay nên gọi là “Nền giáo dục Nho-Mác”.Việt nam trong tương lai sẽ thành một quốc gia Nghiêu Thuấn, xã hội có cơ cấu là: sĩ nông công thương (sĩ-là đảng viên, nông (dân-tá điền) được coi trọng, thương là thành phần rất đáng khinh, không tin tưởng được, rất vụ lợi, không biết yêu nước…).

Nông nghiệp thành ra hoạt động kinh tế mũi nhọn-chiếm tỷ trọng lớn (80%?) trong nền kinh tế đất nước. Lãnh đạo đất nước là một ông vua (hoặc 2,3 gì đấy). Các ông vua truyền ngôi cho nhau theo kiểu truyền hiền (giống Trung quốc) khác với kiểu truyền tử như Bắc Triều Tiên đang làm (tuy cả ba đều theo văn minh Nho giáo).

Các nhà lãnh đạo Việt nam là những bậc đạt đến cảnh giới “nội thánh ngoại vương”. Đất nước Việt nam thành một thứ “vương quốc của trời”.

Sở dĩ tôi thấy ra như vậy vì các hoạt động phục hồi truyền thống dân tộc hiện nay cho thấy Nho học được phục hồi rất mạnh mẽ: sửa sang Văn miếu (thờ Khổng tử, tứ phối, thất thập nhị hiền) và có thể cho xây thêm văn miếu khắp nước

Văn miếu Trấn biên ở tỉnh Đồng nai rất hoành tráng, có lẽ ở tỉnh đó còn nhiều đảng viên là nho sĩ, giỗ tổ Hùng Vương đã thành ngày quốc lễ và có thể sẽ xây thêm các đền thờ tổ khác-thờ các vị tổ khác cho 56(?) dân tộc anh em chung sống trên lãnh thổ Việt nam (người Chăm, Khơ Me, Êđê, Hoa… chẳng hạn, đâu có quyền giỗ Hùng vương,cũng không thể ép các sắc dân đó coi Hùng vương là tổ của họ.

Nếu có sự bắt buộc thì không biết thế giới có coi đó là hành vi phân biệt hay không?), khuyến khích nhân dân cả nước xây nhà thờ họ (tất nhiên là phải coi trọng việc sinh con trai để nối dõi tông đường,coi sóc nhà thờ họ-đến một lúc sinh nhiều con gái chắc là phải giết đi như nông dân Trung quốc đang làm để dân số không tăng quá đáng).

Các nhà nghiên cứu sắp sửa cho ra các công trình khẳng định Nho giáo là của dân Việt bị Trung quốc ăn cắp, Nghiêu Thuấn cũng là các thánh vương của Việt nam mà Trung quốc dành lấy v.v…Tôi chưa hiểu cái sâu xa trong việc thành lập các hội đồng hương của mỗi tỉnh,có lẽ sắp thành lập liên bang Việt Nam gồm 64 (tỉnh thành) tiểu bang chăng? Hay là dân tỉnh này không được cứu trợ dân tỉnh khác?

3/Cải cách cái gì? Tôi suy nghĩ mãi vẫn không nghĩ ra được cái gì hay để đóng góp cho công cuộc cải cách giáo dục ở Việt nam. Điều nghĩ ra được thì báo chí ở Việt nam đã nói hết rồi.

Tôi có đọc báo thấy tất cả các ý kiến đóng góp của các tập thể,cá nhân của những nhà trí thức khoa bảng trong nước là rất tâm huyết, có trách nhiệm, dũng cảm, trung thực với bản thân và với tương lai của lớp trẻ và của dân tộc và nghĩ rằng đảng, quốc hội, chính phủ Việt nam sẽ lắng nghe, không thông qua dự thảo luật cải cách giáo dục trong kỳ họp này.

Nhưng nghĩ lại thì thấy mình ấu trỉ . Do vậy tôi lại tin chắc dự luật ấy sẽ phải được thông qua áp đảo với một số sửa đổi không cơ bản. Vì tôi thấy giáo dục quốc gia là một bộ phận trong một tổng thể, giáo dục là một bộ phận phải khớp với tổng thể. Vì thế cho nên một nền chính trị như chính trị Việt nam tất yếu phải có một nền giáo dục Nho Mác.

Không thể phê phán gì các nhà làm chính sách giáo dục vì những vị ấy nằm trong hệ thống, chẳng có trách nhiệm gì về cái đúng cũng như cái sai. Tôi không thể đóng góp gì được vì tự thấy không có đủ hiểu biết để góp ý sửa đổi luật cho một nền giáo dục nhằm mục đích đào tạo ra những nhân tài vừa Nho vừa Mác như vậy.

Rất xấu hổ. Mà tại sao Việt nam lại không có một nền giáo dục tổng hợp: Nga,Tàu,Nhật, Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Việt.v.v..) mà chỉ có Nga Tàu không thôi?

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/05/050516_educationminhthao.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Nền Giáo Dục - 02.06.2005 17:57:29
Trần Minh, Việt Nam

Trước hết xin cám ơn Minh Thảo về bài viết ngắn gọn đầy gợi ý. Theo tôi xây đền thờ miếu mạo chỉ là hình thức bên ngoài. Cái cốt yếu là nhận biết những tinh hoa và thâm thuý của đạo Nho đưa được cái học nơi trường ốc đến với đời sống đó mới là vấn đề. Lấy thí dụ phương đông có câu: Tận kỳ tính" tức là tìm cách phát triển và hoàn thiện để đạt đến cái tính thuận nhiên, tinh tuyền. Thế nhưng đó chỉ là trên sách vở chứ trong thực tế chúng ta chưa có luật lệ rõ ràng để bảo đảm quyền tự do cá nhân để con người có thể đạt đến tuyệt điểm tinh hoa, đến chí thiện hay hoàng cực. Nói một cách khác phát triển một cách trọn vẹn nhân phẩm nhân cách của mình (personality).

Đây là trọng trách của giáo dục, mà giáo dục đôi khi tuỳ thuộc vào thể chế. Làm sao tự do dân chủ có thể phát triển yên bình và bền vững tại VN? Đây cũng là vấn đề mà nếu có dịp sẽ bàn tới.

Bây giờ ta nên bàn đến chuyện học thì phải hành. Không phải cái gì Liên Xô cũng xấu. Trong thời gian nước này còn nằm sau bức màn sắt ta thấy người dân nơi đây đôi khi rất xuất sắc trong một vài lãnh vực ví dụ như phát triển vũ khí hay về thể thao. Mục đích của chính quyền độc tài lúc đó muốn tạo ra hình ảnh tích cực đối với quốc tế. Người ta dồn mọi nỗ lực vào đó. Phải công nhận trình độ của các khoa học gia Liên Xô trong vấn đề thi đua phát triển vũ khí không thua kém gì Mỹ cả! Do đó cả Mỹ và Liên Xô đã ra sức kiềm chế lẫn nhau, kiểm soát lẫn nhau bằng những cuộc thương thuyết cắt giảm vũ khí chiến lược. Nếu không đồng sức thì làm sao phải thương thuyết ký kết mặc cả với nhau? Chỉ tiếc là những chế độ độc tài không bao giờ cho cá nhân được tự do phát triển trọn vẹn ở những lãnh vực mà họ cho là nguy hiểm đe doạ đến quyền lực của họ. "Tinh thần toán học" không thể phát triển ở những lãnh vực khác như hành chính, quản trị kinh tế.

Ở VN chúng ta thấy các em thường rất xuất sắc trong môn toán. Đi thi thường đoạt giải quốc tế. Thế nhưng khi ra đời tường không áp dụng được vào thực tế. Ít có sáng tạo làm ơn ích cho đời. Những mẹo vặt trong những bài toán mà hàng ngày học sinh phải vắt óc ra mà giải thật sự giúp họ được gì?

Tuần trước khi nghe một quan chức của VN nói rằng "Bây giờ mà bỏ không quản lý hộ khẩu nữa thì loạn". Trời đất! hoá ra là chưa có một chuẩn bị nào cả nếu như chế độ hộ khẩu bị xoá bỏ hay sao? Tinh thần toán học đâu rồi? Óc tập trung, phân tích, gạn lọc, phối hợp, hệ thống hoá đâu rồi? Ta cứ thử nhìn ra phương tây xem mạng lưới kiểm tra người dân của họ như thế nào? Chỉ cần bấm số an sinh xã hội (social security number) là có thể kiểm soát được tình hình tài chính và an sinh của một cá nhân nhờ đó người dân có thể đóng thuế đầy đủ cho nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân không trốn thuế cũng như được hưởng chế độ an sinh như tai nạn, thất nghiệp, hưu trí.
Với một hệ thống dữ liệu chằng chịt qua lại, những mã số không bao giờ trùng lắp chỉ cần bấm số an sinh thì những chi tiết đầy đủ của một cá nhân sẽ hiện ra cho dù cá nhân đó có di chuyển khắp nơi trên đất! nước thay đổi công ăn việc làm liên miên. Lẽ dĩ nhiên cũng có kẻ trốn thuế, cư trú lậu... thế nhưng đó cũng chỉ là những thiệt hại không đáng kể ví như đồng tiền lọt qua kẽ vậy mà! (falling into the grate". Cái lợi vẫn là đáng kể. Vấn đề trong giáo dục ở VN không phải nằm ở việc tiếp thu kiến thức mà là ở kỹ năng xử lý kiến thức mình đã học.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/05/050516_educationminhthao.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Nền Giáo Dục - 02.06.2005 18:07:52

Post #64:
Bài của Trần Minh Thảo về ý thức dân tộc làng xã


04 Tháng 5 2005 - Cập nhật 17h28 GMT

Ý thức dân tộc còn mang tính làng xã ở Việt Nam

Trần Minh Thảo
Ý kiến tham gia diễn đàn Ban Việt Ngữ đài BBC

Tôi trình bày một số suy nghĩ cá nhân nông cạn với mong muốn cùng các bạn trên diễn đàn BBC làm sáng tỏ vấn đề, tự thấy có trách nhiệm góp phần đổi mới đất nước một cách bền vững. Bài viết phân tích các biến chuyển về ý thức dân tộc quá trình phát triển lịch sử của Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 cho tới nay.

1/ Cuộc vận động đổi mới nửa đầu thế kỷ 20:
Non 100 năm trước, đầu thế kỷ 20,Việt nam có một cuộc vận động đổi mới theo hướng kinh tế thị trường. Đó là phong trào Duy tân và Đông kinh nghĩa thục (1907) của các nho sĩ có Tây học yêu nước (với nghĩa tương tự như có Hán học) Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh…Đó là lần đổi mới thứ nhất mà lạ lùng thay cũng là đổi mới theo sau phong trào duy tân của các trí thức nho sĩ Trung hoa nhưng không làm theo Trung hoa. Phong trào tồn tại một thời gian thì bị người Pháp đàn áp, tan rã. Tuy thế, nhìn tổng quát phong trào Duy tân ở Việt nam có tác dụng rất sâu rộng mà những cuộc vận động về sau, kể cả cuộc cách mạng do đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo theo tôi cũng là con đẻ của phong trào ấy.

Phong trào Duy tân - Đông kinh nghĩa thục chủ trương 3 việc:

- Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường của người dân (làm chủ xã hội, đất nước, ý thức tự làm chủ, không chịu nô lệ ai, tức là không sợ ai), chống chế độ chuyên chế, áp bức (quân chủ,thực dân). Phong trào dịch các sách gọi là tân thư (do các trí thức duy tân Trung hoa Khang hữu Vi, Lương khải Siêu…dịch từ chữ Pháp sang Hán văn) từ chữ Hán sang quốc ngữ của các nhà tư tưởng phương Tây như Montesquieu, J.J.Rousseau, Kant,Darwin…Đề cao dân quyền thực chất là xoá bỏ quân quyền (cuối cùng là đuổi người Pháp ra khỏi nước), thiết lập chế độ dân chủ kiểu phương Tây. Phong trào này coi Người Việt trên ba miền là công dân một nước Việt nam thống nhất. Đấy là lần đầu tiên tư tưởng dân tộc Việt nam là một, đất nước Việt nam là một được trình bày công khai.

- Khai dân trí: bỏ cái học cũ (hán học), coi đó là cái học lạc hậu, chậm tiến, nô dịch, học chữ quốc ngữ và văn hóa khoa học phương Tây (lối tư duy lô gic). Phù hợp với điều mà người Pháp nói: Khai hóa thuộc địa.

- Hậu dân sinh: làm giàu theo kiểu phương Tây - kinh tế thị trường. Phong trào mở hiệu buôn để học buôn bán và làm tài chính. Một tầng lớp tư sản bản xứ hình thành trở thành các ông chủ (sở hữu tư nhân của cải nói chung). Sự phát sinh ra tầng lớp ông chủ (còn nhỏ) này đã kích thích lòng tự hào: ta không thua kém gì Tây nếu thông hiểu cách buôn bán, làm ăn kiểu Tây phương.

Phong trào ấy không thành công do người Pháp lo sợ mất quyền cai trị. Người Pháp nhìn không xa,hoặc lúc đó kinh tế tư bản chủ nghĩa chưa xuất hiện nhân tố toàn cầu hóa hoặc vì chủ nghĩa tư bản lúc đó chỉ ở tầm khu vực nên cuối cùng thua trắng tay.

tiếp......


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/05/050504_tranminhthao.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Khai dân trí - 02.06.2005 18:16:02
tiếp...

Người Pháp đàn áp tàn bạo phong trào Duy Tân - Đông kinh nghĩa thục và các phong trào yêu nước khác. Nhưng người Pháp buộc phải thực hiện nhiều chủ trương do các phong trào yêu nước đổi mới đó đề ra. Hoặc người Pháp thấy một số chủ trương của phong trao đó cũng có lợi cho chính quyền thực dân.

-Khai dân trí: Khoa thi Hội năm Mậu ngọ (1919, 12 năm sau khi Phong trào Duy tân mở Đông kinh nghĩa thục) là khoa thi cuối cùng theo cái học cũ (chữ Hán) là khoa cuối cùng đặt dấu chấm hết cho một kỷ nguyên Hán Học (Nho học) kéo dài 844 năm trên đất nước ta (kể từ khi vua Lý nhân Tôn mở khoa thi Tam trường lần thứ nhất năm 1075). Đông kinh nghĩa thục là nhà trường mở ra để dạy quốc ngữ, dùng quốc ngữ để dạy kiến thức phương Tây cho người Việt. Sau khi phong trào bị đàn áp người Pháp buộc phải mở các trường tuần tự từ tiểu học đến đại học (dạy học bằng chữ quốc ngữ, chữ Pháp, có cả chữ Hán) tiếp tục công việc của Đông Kinh Nghĩa Thục. Chương trình học trong các nhà trường hoàn toàn theo chương trình của Pháp. Có lẽ chưa có đội ngũ các nhà sư phạm người Việt soạn sách giáo khoa Việt nam nên trẻ em Việt nam thời đó phải học thuộc lòng câu: tổ tiên ta là người Gô loa (Pháp) bằng Pháp ngữ. Về sau có sách giáo khoa quốc văn thì mới bỏ được bài học chối tai đó. (Sách đọc thêm:” Đông kinh nghĩa thục”, Nguyễn hiến Lê, ” Đại cương lịch sử Việt nam, NXB Giáo dục, Hà nội.)

Nhưng tôi không tiếp cận phong trào đổi mới đầu thế kỷ 20 tại Việt nam theo hướng đó.

Bài viết có mục đích góp phần làm sáng tỏ khía cạnh dân khí tức dân quyền,quyền làm chủ của nhân dân mà cốt lõi của nó là ý thức dân tộc thống nhất do cuộc vận động ấy sinh ra và tìm hiểu bằng cách nào, bước đi nào để Người Việt nam nâng cao dân khí nghĩa là có ý thức dân tộc, ý thức làm chủ đất nước với tư cách mỗi công dân là một chủ thể bình đẳng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với dân tộc và đất nước, tức là quyền mỗi dân tộc tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình (quyền dân tộc tự quyết). Phong trào Duy tân chủ trương, muốn cho người dân biết được quyền của minh thì phải khai dân trí (giáo dục,tuyên truyền). Chủ trương đó đúng nhưng chưa đủ. Và lần đầu tiên xã hội Việt nam biết thêm một sức mạnh văn hóa mới: Báo chí. Báo chí trở thành một thứ nhà trường truyền bá tư tưởng dân chủ phương Tây (dân chủ Mác xít cũng là một kiểu dân chủ sinh ra trong lòng văn minh phương Tây, là thứ phản diện của nền văn minh ấy).

Từ cuộc vận động duy tân đòi quyền dân tộc tự quyết đó sinh ra bốn dòng vận động chính:

- Dòng trí thức thành thị (được đào tạo trong nước hoặc tại chính quốc) tiếp tục con đường hợp tác với Pháp, cải cách có điều kiện, khi đủ mạnh thì đòi người Pháp trả lại quyền tự chủ cho Việt Nam: ví dụ nhóm Tự lực văn đoàn do nhà văn Nhất Linh chủ xướng.

- Dòng dựa hẳn vào người Pháp để canh tân đất nước: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.

- Dòng sử dụng bạo lực giành quyền lực chính trị trước (có xu hướng bảo hoàng hoặc gần với chủ nghĩa tam dân của Quốc dân đảng Trung Hoa): điển hình là cuộc khởi nghĩa Quốc dân đảng của lãnh tụ Nguyễn thái Học.

- Dòng do Nguyễn tất Thành (chủ tịch Hồ chí Minh về sau) khởi xướng (ông có tân học tuy là con của một nhà nho đỗ đạt, ông từng dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết là loại học hiệu do phong trào Duy tân mở ra). Có lẽ do người thanh niên ấy cho rằng đi theo con đường duy tân cải cách thì chậm nên sau khi ra nước ngoài tìm con đường khác dã tìm ra chủ nghĩa Mác Lênin. Ông nói đọc xong Luận cương các vấn đề dân tộc của Lênin thì mừng chảy nuớc mắt. Ông chọn con đường đi nhanh (không phải là đi tắt). Con đường cách mạng vô sản.

tiếp.....

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Tự Lực Văn Đoàn - 02.06.2005 18:19:48
tiếp....

Tự Lực Văn Đoàn

Trong giòng trí thức thành thị, tôi sẽ tiếp cận Tự lực văn đoàn(1933-1940) vì tôi thấy tổ chức ấy có một cách nhìn rất mới trước các vấn đề xã hội Việt nam thời bấy giờ:vạch ra bộ mặt thật “bùn lầy nước đọng” của nông thôn Việt nam. (Học giả Nguyễn hiến Lê nhận xét:”Bùn lầy nước đọng” chữ dùng của Tự lực văn đoàn là chính xác cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng về nông thôn Việt nam). Tự lực văn đoàn chủ trương giải phóng người nông dân trong cảnh bùn lầy nước đọng trở thành một người công dân (người nông dân bước ra ngoài lũy tre làng, có ý thức làm chủ, bình đẳng trước pháp luật với các thành phần khác trong xã hội). Thấy được nông dân vừa là đối tượng của công cuộc đổi mới vừa là lực lượng của cuộc vận động đổi mới là cái nhìn sắc bén, đúng đắn -các phóng sự Bùn lầy nước đọng, Trước vành móng ngựa đã phơi trần bộ mặt nông thôn Việt nam rất sinh động.

Chỉ trong 3 năm các ông đã vui mừng khoe công: ”Sự thay đổi của linh hồn dân ta đã ngấm ngầm từ tốn mà tiến hành, không có sức mạnh nào ngăn cản lại được nữa. Những lý tưởng những quan niệm cũ dần dần mất đi vẽ uy nghi lẫm liệt, tất rồi cũng theo thời gian mà bị phá tan,nhường chỗ cho những quan niệm những lý tưởng mới”. Việc của ngàn năm không thề nào phá đổ nhanh thế được. Đảng cộng sản sau này khi nắm quyền cả nước cũng phải trầy trật với nó đến 30 năm mà vẫn chưa xong thì một tờ tuần báo phát hành 10.000 số mỗi kỳ (khá lớn ở thời đó) chủ yếu cho người biết chữ ở thành thị thì làm sao chuyển biến nổi tình hình nông thôn đã trở thành nếp kéo dài cả nghìn năm. (Người cộng sản nói đó là lạc quan kiểu trí thức tiểu tư sản xa lông?)

Mục tiêu của Tự lực văn đoàn là đã phá những thối nát nằm ở mặt trái của cái gọi là văn minh làng xã. Cái triều đình con con cực kỳ dốt nát, bất nhân, thối nát, tàn bạo cai trị làng xã được Tự lực văn đoàn hí họa thành những lý toét, xã xệ làm trò cười cho thị dân (nông dân tuyệt đại bộ phận không biết chữ). Từ hướng nhìn của Tự Lực Văn đoàn thử tìm hiểu kết cấu của làng (xã) Việt nam như là địa bàn hoạt động kinh tế chính trị văn hoá xã hội của người Việt, là địa bàn chiến lược kinh tế quốc phòng của quốc gia Việt kéo dài cả nghìn năm. Sau này, có lúc làng xã thành ra quận huyện, tuy vậy bản chất vẫn là làng xã.

tiếp....

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Văn minh làng (xã). - 02.06.2005 18:26:22
tiếp....

Văn minh làng (xã). Làng thời Trần có tên là hương. Đại Việt sử ký toàn thư ghi hai hương Bàng Hà, Ba Điểm đầu hàng giặc Nguyên nên vua Trần xóa sổ hai hương đó, bắt dân vào làm nô tì nhà quan. Tuy khó nghe nhưng chính xác phải gọi là văn minh làng. Cũng không thể nói văn minh nông thôn vì tuy nhìn chung tập hợp làng là nông thôn nhưng mỗi làng là một đơn vị độc lập, mỗi làng có sự độc lập nhất định với các làng chung quanh. Không có một cộng đồng làng, chỉ có một tập hợp làng cấu thành quốc gia Việt. Các làng không có nghĩa vụ với nhau, mỗi làng chỉ có nghĩa vụ với nước (làng nước) thực chất là nghĩa vụ với vua chúa, triều đình.

Làng là một cộng đồng người Việt (Kinh), có thể có một thiểu số sắc dân khác. Cộng đồng này quần tụ trên một diện tích hẹp gồm những cái vườn (đất thổ cư) vài trăm mét vuông (khoảng 1 sào bắc bộ) liền nhau, trên đó có nhà ở của mỗi gia đình (khoảng 50-100 gia đình). Nhà tranh vách đất là chính, chỉ một vài nhà giàu hoặc nhà thờ họ, đình, chùa mới có tường xây, lợp ngói và tường bao có gắn vật nhọn sắc đầu tường để chống trộm cướp. Gia đình là một tổ chức cùng huyết thống có từ một đến nhiều thế hệ chung sống. Gia đình càng có nhiều thế hệ chung sống thì được dân làng coi là gia đình phúc đức sâu dày, nối được mạch tổ tông. Làng có thể gần một giòng sông nhưng nét đặc trưng của làng là lũy tre bao quanh với cổng làng thường đóng lại về đêm. Quanh làng bên ngoài lũy tre là cánh đồng lúa (hoa màu tùy vụ). Làng ở miền Nam (vùng đất mới) “thoáng hơn” vì yếu tố lũy tre không còn nữa. Giữa làng có ao làng là nơi chứa nước sinh hoạt cho cả làng (ăn uống tắm giặt).

Làng miền Nam không có ao làng vì đã có nhiều kênh rạch)cũng là một thứ tụ điểm sinh hoạt văn hóa. Làng có đình làng, nơi diễn ra các lễ hội của dân làng(tụ điểm văn hóa chính), có thể có thêm vài ngôi miếu thờ các vị thần. Làng có người đỗ đạt (tú tài trở lên) thì được dựng văn miếu thờ Khổng tử và các học trò (thất thập nhị hiền) ở cánh đồng làng (có thể là để tỏ cho người làng khác biết trình độ văn học của làng mình?). Làng còn có chùa Phật (Phật giáo đại thừa, thường thì hai ba làng có một ngôi chùa cũng ở ngoài cánh đồng). Người chết có thể an táng trong vườn nhà hoặc trên ruộng nhà. Mộ tổ (mã tổ) là ngôi mộ to nhất làng, mộ của vị lập ra làng. Mộ của người đến sau hoặc con cháu phải nhỏ hơn. Chết được mai táng gần nhà là cái chết có phúc, chết xứ người là vô phúc. Một số Việt kiều lớn tuổi muốn trở về quê hương cho gần tổ tiên ông bà có lẽ cùng một suy nghĩ như vậy. Những họ tộc lớn có thêm nhà thờ họ do người con trai cả trông nom. Nhà không có con trai nối dõi là nhà vô phúc (bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại) không có người trông nom mồ mã tổ tiên, giỗ cúng người đã khuất là đại vô phúc, làng xóm đàm tiếu, chê trách rất nhục nhã.

Tổ chức hành chính cai trị có vị đứng đầu là lý trưởng và một số chức sắc không có thực quyền nhưng được hướng một số đặc quyền. Những chức sắc làng có thể dùng tiền để mua kể cả chức lý trưởng. Sinh hoạt văn hóa của làng diễn ra vào các dịp lễ tết ở sân đình làng. Hội hè đình đám là những dịp vui chơi, có thể có tiệc tùng mà chỗ ngồi được qui định chặt chẽ, nhìn vào chỗ ngồi trong một tiệc làng ta biết được địa vị xã hội của mỗi người. Miếng giữa làng chỉ ra lớp bậc xã hội của mỗi người nên được quan tâm đặc biệt(một miếng giữa làng bằng sàng xó bếp). Cưới hỏi tang ma khao vọng phải theo một qui định chặt chẽ. Mỗi làng có hương ước là một thứ luật làng (lệ làng, nay gọi là qui ước), mọi người phải tuân theo. Do hương ước, làng là đơn vị hành chánh cơ bản có quyền tự trị nhất định. Kinh tế làng chủ yếu là nông nghiệp,t hủ công nghiệp nhỏ bé tự sản tự tiêu, gần như không có thương nghiệp. Mua bán đã dùng tiền nhưng thông thường là hàng đổi hàng. Có nơi theo cơ chế xin cho, có đi có lại “bánh ít …bánh giầy”.

Sự chung sống sinh hoạt liền kề giữa người sống và người sống, người sống và người chết hình thành nên cái gọi là tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn dựa vào nhau, ý thức làng xóm, họ hàng, dòng tộc, ý thức về một nối kết từ quá khứ đến vị lai là ý thức phổ biến. Người ta sống vì mồ mả tổ tiên. Do chính sách đất đai thời phong kiến đã gắn chặt nông dân với ruộng đất. Đi khỏi làng là mất gốc (vong bản) mất kế sinh nhai. Nông dân không muốn rời làng đi nơi khác. Nơi an toàn nhất là sau lũy tre làng, ý thức cố thủ sau lũy tre để được bình an là nét đặc trưng của văn hóa, tinh thần Việt, nhìn cái mới lạ với con mắt hoài nghi, thù địch. Ý thức an phận thủ thường đó chỉ bị phá vỡ khi xã hội loạn lạc do đói kém, chiến tranh…”Tha phương cầu thực” vừa là tiếng thở dài của người phải ly hương vừa là lời nhiếc móc dè bỉu (loại tha phương cầu thực là loại người không lý lịch, không rõ lai lịch, loại khả nghi). Nông dân rất sợ bỏ làng trở thành dân ngụ cư ở làng khác.

Cố học giả Nguyễn Hiến Lê nhận xét: ”Tâm trạng tủi nhục đó do tổ chức hương thôn của mình. Mỗi làng là một địa phương tự trị, có tục lệ riêng, tài sản riêng (công điền), gần như một triều đình riêng. Người nơi khác tới có cảm tưởng như vô một xứ lạ,bị dân làng nghi kị, không muốn cho nhập tịch-vì không muốn chia công điền cho họ-và chỉ cho ngụ cư (như tạm trú ngày nay) thôi. Dân ngụ cư không có chút quyền lợi gì cả (không được dự vào việc làng, không được chia ruộng)nên bị khinh. Đã bị nghi kị, lại bị khinh, tất khó làm ăn, nên không ai muốn bỏ quê hương mà đi ngụ cư nơi khác cả, cho việc phải li hương, phải ngụ cư là tủi nhục. Ngày nay chế độ xã hội chủ nghĩa lại áp dụng chính sách thời phong kiến, chính sách địa phương tự trị đó cũng phân biệt tạm trú và thường trú (có hộ khẩu) gây rất nhiều rắc rối và tham nhũng. Bao giờ nước mình mới văn minh được?” (Hồi ký).

Làng xã miền Nam có thể không còn khép kín như ở miền Trung và Bắc. Những làng xã miền nam chưa hoặc không cần có lũy tre, dân làng phần nhiều là lưu dân gồm binh lính, dân nghèo đi tìm đất sống, tội nhân lưu đày biệt xứ, người vô gia cư, vừa quyến luyến cố hương nhưng cũng thù địch với tầng lớp trên ở cố hương. Do hoàn cảnh tự nhiên ít khắc nghiệt, dễ kiếm ăn, không sợ đói nên phóng khoáng hơn người Việt ở Trung và Bắc, dễ tiếp thu cái mới, ít kỳ thị cái mới nhưng ít nhiều không mấy thiện cảm với người đàng ngoài (dân trọ trẹ-từ Huế trở ra) là nơi mà họ không dung thân được phải đào vong đến nơi xa lạ. (Sau này một số trí thức miền Nam theo Pháp muốn có một nước cộng hòa Nam kỳ có lẽ xuất phát từ tâm tư tình cảm đó?).

Khi Người Việt đến xứ Gia định thì ở đấy đã có Phật giáo tiểu thừa có gốc gác từ Campuchia chưa lần nào tham chính như Phật giáo đại thừa ở đằng ngoài, có cả Hồi giáo của người Chăm. Đó là một xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc. Có lẽ vì vậy mà ngày nay người dân Nam bộ ít quan tâm đến những cái gọi là “quan điểm”, ”lập trường”, xuê xoa, dễ thân cận, làm kinh tế thị trường giỏi nhất nước, có nền kinh tế thị trường nề nếp nhất nước. (đọc thêm: “Đất Gia định xưa”, ”Người Sài Gòn”, Sơn Nam, NXB TP Hồ chí Minh,NXB Trẻ).

Tín ngưỡng làng xã là một thứ đa thần giáo (có nhiều loai thần linh ngự trị trong tín ngưỡng dân Việt:Cây đa, cây gạo, bình vôi, cục đá…) hòa hợp với tam giáo (Phật, Nho, Lão) đến từ Trung Hoa. Phần mê tín dị đoan có lẽ xuất phát từ phần dung tục của Lão giáo kết với tín ngưỡng đa thần. Phật giáo (ngôi chùa trở thành trung tâm của tín ngưỡng làng xã) có tính dung nạp (sống chung) cao nên có thể thâm nhập và phát triển cả ở phương Tây mà nền tảng văn minh của nó là Thiên chúa giáo. Hoặc là cả hai tôn giáo ấy, trong bản chất có tính dân chủ cao. Khái niệm tà ma ngoại đạo có trong kinh kệ Phật giáo ngày nay chỉ có thể được thêm vào sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc hoặc Việt nam, hoặc khi tôn giáo ấy tham chính. Vì khái niệm Phật tính, vô chấp, vô ngã là loai hình nhất nguyên luận không phân thị phi, phải trái (có lẽ do Phật giáo Trung hoa thêm vào sau các đợt đàn áp Phật giáo trong các thời phong kiến (từ Tấn trở đi) hoặc từ khi Phật giáo đến Việt nam đi vào làng xã tiếp thu thêm tín ngưỡng đa thần cho phù hợp với thứ tư duy nhị nguyên luận giản đơn, bình dân, dung tục, dễ hiễu: thiện ác, tốt xấu….). Sự đề kháng mãnh liệt của văn minh làng xã một phần có thể là do tính chất tín ngưỡng nông dân của nó.

Đầu thế kỷ 20 nhà nghiên cứu Phan Kế Bính, tinh thông cả Nho học đã coi Thiên chúa giáo là một bộ phận của tín ngưỡng làng xã (tác giả dùng tên cũ Gia tô giáo) khi viết sách “Việt nam phong tục” là tập nghiên cứu bài bản, chi tiết đầu tiên về phong tục Việt nam. Sự đề kháng, ý thức không dung nạp cái mới chẳng phải chỉ đối với đạo Thiên chúa (300 sau khi các nhà truyền giáo phương Tây đến Việt nam, đạo Thiên chúa mới được giới nghiên cứu Việt nam đưa vào sử sách cũng còn sớm). Đạo Phật, theo một nghiên cứu gần đây cho rằng không phải từ Trung quốc truyền sang mà do đường biển Nam Á tới sau mới đến Trung quốc cũng phải mất từ 300 đến 700 năm mới thành ra quốc giáo dưới thời nhà Lý. Sau đó suy vi cho đến khi kết được với văn minh làng (xã) mà tồn tại và phát triển đến nay.

Nho giáo mất hơn 400 năm mới được coi là học thuyết trị nước hay nhất (từ khoa tam trường cho đến Lê thánh Tôn mới định hình và tồn tại cho đến 1919). Lão giáo được tiếp thu nhanh hơn và biến thành thứ tín ngưỡng mê tín dị đoan có lẽ vì nó phù hợp với tín ngưỡng đa thần của người Việt .

Trong kết cấu văn minh tín ngưỡng làng (xã) thì Phật giáo là yếu tố dung nạp các yếu tố ngoại lai nhanh nhất (có lẽ do triết lý vô chấp vô ngã). Từ hệ thống tổ chức dựa trên nền tảng môn phái, tổ đình là loại hình tổ chức không chặt chẽ nhưng làm cho triết lý Phật giáo phát triển đa dạng phong phú, ngày nay Phật giáo tiếp thu cách tổ chức của tôn giáo khác để có một hệ thống ban đầu là hội Phật học nay là Giáo hội Phật giáo. Một số nhà nghiên cứu phong trào Cộng sản quốc tế còn thấy hệ thống tổ chức của các đảng Cộng sản là bản sao hệ thống tổ chức của một tôn giáo. Hệ thống tổ chức đó gắn với hệ thống hành chính nhà nước. Sự cải tiến đó cho thấy Phật giáo không phải là yếu tố bảo thủ trong hệ thống văn minh làng xã.

tiếp...

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Văn minh làng (xã). - 02.06.2005 18:31:36
tiếp...

Về sự tham gia rất đặc thù của Phật giáo vào sinh hoạt chính trị Đại Việt ngay sau thời Tự chủ(thời Lý) được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất là do các nhà sư là thành phần trí thức duy nhất của nước đại Việt thời bấy giờ. Các nhà cai trị thời ấy thường là vô học, không biết chữ. Công việc trị nước cần có văn tự để ghi chép và truyền đạt mệnh lệnh (chưa rõ trước thời Lý - Ngô,tiền Lê báo cáo, mệnh lệnh…lưu trữ, lên xuống theo cách nào). Các nhà sư là người tinh thông Hán tự do phải nghiên cứ kinh sách từ Trung hoa truyền sang và phải viết kinh sách hoặc phải sao chép kinh sách để truyền bá giáo lý và do đó các nhà sư Phật giáo còn tinh thông cả Nho học và Lão học (Các nho sĩ tham gia việc nước về sau có lẽ cũng do các nhà sư đào tạo ra). Nhiều công việc ngoại giao, nội trị thời đầu của một Đại Việt tự chủ do các nhà sư phụ trách. Thi ca thành văn thời đó cũng cho thấy vị trí thống lĩnh của các nhà sư tinh thông Hán học. Các thành phần khác có lẽ cũng có sáng tác thơ ca vì đó là hoạt động tự nhiên của con người nhưng không ghi lại được đã trở thành văn chương truyền khẩu.

Thuở ban đầu ở Trung quốc có lẽ các nhà sư do chưa có trình độ Hán học cao, ít chữ nên công việc truyền giáo chủ yếu là khẩu truyền vì vậy Phật giáo Trung hoa, do cách tiếp thu, trình độ giác ngộ lời Phật dạy đã sinh ra nhiều tông phái. Có lẽ các tông phái Việt nam hình thành cũng cùng một cách. Khi Nho học định hình, giới nho sĩ khẳng định vị trí trong bộ máy cai trị thì các nhà sư mới không tham dự triều chính. Khi chế độ quân chủ chuyên chính bước vào qúa trình suy vong thì cũng diễn ra tệ mua bán bằng cấp. Thời Lê Trịnh cho nộp tiền đi thi, Phan huy Chú, học giả thời Nguyễn than: hạng sinh đồ 3 quan đầy cả thiên hạ (không học hành nhưng nếu có tiền nôp quan là được đi thi dù đó là người mổ lợn hoặc anh bán cá ở chợ(không biết chữ). Người đi thi đông đến nổi chen lấn giẩm đạp nhau chết ở cổng trường thi). Ông cho biết:”thi hương (cử nhân) thì đem(tài liệu)vào trường mà chép, thi hội(tiến sĩ) thì học thuộc lòng (bài giải biết trước) viết ra”. (Lược khảo khoa cử Việt nam (Khoa mục chí-Lịch triều hiến chương loại chí-Phan huy Chú), Long Điền dịch, NXB Thanh Tân, Sài gòn - 1969).

Những nho sĩ khí tiết, hoặc không muốn chen chân vào quan trường, hoặc chán cảnh chợ thi, trở về quê nhà dạy học, làm ruộng. Ông đồ, trường làng, tiếng học bài ê a là nét văn hóa độc đáo của làng (xã) Việt nam, cùng với Phật, Lão thành ra nền văn hóa tam giáo đồng lưu sau lũy tre làng. Có thể nhờ vậy mà giảm được một phần nào cảnh “bùn lầy nước đọng” trong đời sống tinh thần của nông dân Việt. Trong thời loạn lạc đói kém các nhà sư và ông đồ (lực lượng duy trì đạo đức,phong hóa ở làng xã) đứng ở đâu? Khi đói quá thì diễn ra cảnh “nhất sĩ nhì nông,hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ”, hoặc như các nhà sử học Mác xít nói,họ đầu hàng giai cấp, tham gia cuộc nổi dậy “tước đoạt” như thi hào Cao bá Quát.

Từ dẫn chứng đó ta có thể rút ra mấy kết luận. Nhóm quyền lực nào có tri thức sẽ trở thành lực lượng thống trị xã hội. Tuy nhiên vì quyền thường gắn với lợi nhuận (nhiều quyền thì tất yếu có nhiều của cải) nên việc đổi mới được quyết định bởi nhóm quyền lực nào chiếm ưu thế không nhất thiết đó là nhóm tiến bộ nhất. Theo cách đó có thể suy ra nhóm tinh thông Nga ngữ sẽ kèn cựa với nhóm tinh thông Hán ngữ hoăc Anh ngữ hay ngược lại vì đổi mới theo hướng nào thì phải vận dụng khối tri thức của hướng đó (cải cách giáo dục ở Việt nam cứ nằm mãi ở bước dự thảo có lẽ cũng do có sự kèn cựa của các khối áp lực có nguồn tri thức khác nhau trong đảng Cộng sản). Gần đây trong một phiên họp Quốc hội khi bàn về việc dùng ngoại ngữ nào làm ngôn ngữ thứ hai, đã có đại biểu đề xuất dùng Trung văn. Điều ấy cho thấy quyền lực dựa vào tri thức Trung văn không muốn mất quyền. Đó là sự đấu tranh giữa các nhóm quyền lực có tri thức khác nhau được trang bị từ nhiều nguồn khác nhau dựa vào các áp lực chính trị cũng khác nhau nốt.

Tập hợp tất cả yếu tố ấy lại ta có cái gọi là văn minh làng (xã).

Mặt hẹp hòi cố chấp, nghi kỵ cái mới, giữ chặt truyền thống có trong văn minh làng (xã) là do đâu?Có thể là do tầng lớp trên (theo cách nói Mác xít thì tầng lớp trên ở làng gồm có bọn hào lý, ông đồ, nhà sư, thầy cúng (Lão giáo?), tầng lớp dưới là bần cố nông và các người nghèo khổ khác) ngại đổi mới vì có thể mất cả quyền lẫn lợi, chỉ đổi mới, tiếp thu cái mới từ từ để duy trì đặc quyền đặc lợi, hoặc là do đầu óc an phận thủ thường: ”không có cái đó cũng chẳng chết ai”. Sự trì trệ trong nhận thức, ý thức bảo thủ là do phương thức sản xuất ngàn năm không có gì mới (con trâu đi trước cái cày theo sau) là do nền văn minh nông nghiệp manh mún, phụ thuộc trời đất mà có hoặc phát sinh từ bối cảnh sinh loạt làng xã nói chung, không muốn,ngại ra khỏi lũy tre làng?

Những yếu tố khác nhau trong văn minh làng(xã) tạo ra ý thức đề kháng cao không chỉ với những cái mới mẽ mà cả với ngoại xâm. Lũy tre làng có thể hình thành ngẫu nhiên nhưng có thể suy ra là nó được củng cố trở thành hào lũy từ thời thập nhị sứ quân. Các làng xã với thủ lãnh của mình tranh nhau quyết liệt quyền cai trị lãnh thổ đã hình thành nên lũy tre làng. Lũy tre còn là phương tiện phòng vệ chống trộm cướp do đói nghèo, loạn lạc liên miên giữa các làng xã, vùng miền từ trước thời Lý, qua Trần đến tận trước 1945. (Nạn trộm cắp trâu bò hiện nay ở một số nơi trong nông thôn có vài nét giống với nạn trộm cướp trong các làng xã Việt nam ngày xưa).

Hệ thống làng (xã) liên hoàn trở thành thành lũy,pháo đài chống ngoại xâm rõ nhất từ thời Trần. Ba lần quân Nguyên xâm lược đều sa vào thế trận làng (xã) (chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích). Xa giá vua Trần di chuyển loanh quanh trong vùng đồng bằng sông Hồng và Thanh hóa kéo theo sau đại quân Mông Nguyên sa vào trận địa của dân binh các làng, bị tiêu hao, hoảng loạn, sút giảm ý chí xâm lược, khí hậu thời tiết khắc nghiệt của Việt nam cũng góp phần đánh giặc Nguyên. Vua quan nhà Trần chỉ cần vài trận đánh lớn nữa là đuổi được quân xâm lược khỏi nước(theo “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” - NXB khoa học xã hội - Hà nội - 1972).

Nhà Trần động viên quân dân thời đó thế nào? Một số đoạn trích sau đây trong hịch tướng sĩ văn(đầu đề đầy đủ đọc theo âm hán Việt là :”Dụ chư tì tướng hịch văn”-bài hịch hiệu triệu, răn dạy các tướng sĩ) của Hưng đạo vương Trần quốc Tuấn nói rõ điều đó:

- (Không ra sức kháng chiến để mất nước thì) “Bấy giờ chủ tớ nhà ta sẽ cùng bị trói, thật dau đớn thay! Chẳng những thái ấp (đất phong tặng của vua cho các vương hầu-thân quyến của vua) của ta bị tước đoạt mà bổng lộc của các ngươi cũng bị người khác chiếm mất. Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị người khác bắt đi. Chẳng những xã tắc của ta (theo từ nguyên, Xã là nơi tế thần đất, Tắc là nơi tế thần nông - vị thần trông coi nghề nông, về sau xã tắc được hiểu là đất nước(Tầm nguyên từ điển, Bữu kế, NXB Khai trí, Sài gòn, 1968), (Xã tắc của ta nghĩa là đất nước của ta-của giòng họ nhà vua ) bị người khác xâm lăng dày xéo mà tới mồ mã cha mẹ các ngươi cũng bị người khác đào bới. Chẳng những ta kiếp này bị nhục mà trăm đời về sau danh nhơ khó rửa, tiếng xấu mãi còn mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là bại tướng vậy…

- (Nếu đánh thắng giặc Nguyên thì) ”Chẳng những thái ấp của ta mãi mãi là của nhà mà bổng lộc các ngươi được hưởng thụ suốt đời. Chẳng những gia quyến của ta được yên ổn giường chiếu mà vợ con các ngươi cũng được sum họp trăm năm cho đến già. Chẳng những tông miếu của ta được tế tự muôn đời mà cha ông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm (cúng bằng trâu bò dê lợn…huyết thực,người chết được ăn thịt). Chẳng những thân ta kiếp này được đắc chí mà các ngươi còn để tiếng thơm lưu truyền trăm năm. Chẳng những tên tuổi của ta không bị mai một mà tên họ các ngươi cũng được tiếng thơm trong sử xanh vậy…”(trích: “Binh thư yếu lược” - Hưng đạo vương Trần quốc Tuấn - Lê xuân Mai và cộng sự dịch - nhà sách Khai Trí xuất bản - Sài gòn - 1969).

Trong lời hiệu triệu đó ta thấy Hưng đạo vương đề cao 4 yếu tố:1/lợi ích vật chất,2 /gia đình, 3/tín ngưỡng,y ếu tố cội nguồn,gốc gác(chim có tổ,người có tông), 4/danh tiếng giòng họ (lưu danh thiên cổ). Người ta chỉ thành người có giá trị khi có một cội nguồn rõ ràng. Mồ mả cha ông là một nét văn hóa, bàn thờ tổ tiên là sự nối kết người đã khuất với người còn sống. Trên bàn thờ tổ tiên thì bát nhang (lư hương) là vật thờ cúng đóng vai trò kết nối con cháu với người đã khuất, với trời với đất, là vật gia bảo tâm linh, tinh thần, tình cảm truyền lại cho đời sau nguồn sống của dòng tộc. Giỗ cúng có thể thiếu đèn nhưng không thể thiếu nén nhang. Đi làm ăn nơi khác, người ta chỉ cần mang theo bát nhang là đã mang theo được dòng tộc cội nguồn, không đứt mạch quá khứ với tương lai. Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua yếu tố này làm cho phe quốc gia không gắn được với nông thôn chiếm 80 % dân số. Trong khi thực hiện chính sách bình định nông thôn người Mỹ đụng phải mấy vấn đề :lực lượng du kích “ngụ binh ư nông”(như dân binh thời Trần),không phân biệt được ai là ai, tình hình đó dễ đi đến hành động “giết lầm hơn bỏ sót”(Vụ Sơn Mỹ…), không thu phục được lòng dân, đụng chạm đến sức mạnh vừa hữu hình vừa vô hình:tình cảm làng xóm, sợi dây liên kết người và người ở làng (xã) được cũng cố hàng nghìn năm: “tình làng nghĩa xóm”, đụng đến tín ngưỡng làng xã: Người sống + bàn thờ (bát nhang) + người đã khuất (mồ mả cha ông). Đào mồ quật mả (do bom đạn, do cày ủi tìm hầm bí mật) làm cho đứt gốc nối kết với quá khứ là hình phạt nặng nề. Vua Minh Mệnh dùng xích sắt xiềng mã Lê văn Duyệt là có ý cắt ông ta ra khỏi cội nguồn mà giòng dõi cũng tuyệt diệt không tiếp truyền được về sau (vô hậu hoặc ngầm mắng ông ta là thứ tuyệt hậu). Dồn dân lập ấp là tách người sống ra khỏi người chết (tổ tiên gốc gác, mồ mả cha ông), chạy bom đạn không đem theo được bát nhang là sự cắt đứt mối quan hệ vô hình hữu hình. Không quan tâm đến yếu tố này nên người Mỹ không thắng trong cuộc chiến ấy(bình định nông thôn thực chất là đánh vào truyền thống văn minh làng (xã). Người Mỹ không chinh phục được nông dân, không chinh phục được văn minh làng (xã) Việt nam.

tiếp...

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Văn minh làng (xã). - 02.06.2005 18:36:51
tiếp...

Sau 1975, khi Việt nam mở cửa một số Việt kiều về nước, việc đầu tiên thường là xây mồ mã tổ tiên (thành phố nghĩa địa), có thể một số vị còn thỉnh bát nhang sang xứ người để không mất gốc. Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến, lâu đời, ăn rất sâu vào đời sống tâm linh, tình cảm người nông dân không phân biệt đó là địa chủ hay bần cố nông. Trừng phạt người dân bằng cách đuổi người ta chạy ra khỏi nước là hình phạt khốc liệt về mặt tâm linh, chặt đứt người ấy với cội nguồn, biến người ta thành kẻ vong bản. Vài chục năm lại đây, thấy trên bàn thờ các gia đình tín đồ Thiên chúa giáo có thêm bát nhang(lư hương). Đó phải chăng là sự tiếp thu có chọn lọc( chọn rất đúng) văn minh làng (xã) Việt nam? Trước 1975, từ năm 1968 đến 1976 ở Sài gòn một nhóm linh mục Thiên chúa giáo (Chân Tín, Nguyễn ngọc Lan…) theo Công đồng Vatican II vận động Công cuộc gắn Tôn giáo với dân tộc. Nếu cuộc vận động ấy thành công thì Việt Nam sẽ có vị Chúa hài đồng có vá tóc, bụ bẫm như tranh Đông hồ, Đức mẹ Đồng trinh bận áo tứ thân, búi tóc, Chúa Giê-Su với áo dài, khăn đóng. Cuộc vận động ấy táo bạo nên bị hoài nghi (để biết thêm việc làm của nhóm linh mục này, tìm đọc tạp chí Đối diện( Đứng dậy, đồng dao) từ 1968-1976-Sài gòn) từ nhiều phía trong kết cấu văn minh làng (xã) và từ quyền lực cai trị (Quốc Cộng đều nghi ngại).

Sự tồn tại phát triển hay điêu tàn của làng (xã) Việt nam gắn chặt với 3 vấn đề,trở thành nỗi ám ảnh ngàn đời trong tâm tư tình cảm của mỗi người Việt: 1/Đói nghèo, 2/giặc giả trộm cướp, tranh đoạt quyền lực, 3/ngoại xâm. Đói nghèo, chiến tranh, ngoại xâm là ba mối bận tâm hàng đầu của mọi loại nhà nước và nhân dân Việt Nam kế tục nhau cai trị Việt nam từ khi dành được độc lập (Ngô Quyền) cho đến đầu thế kỷ 21. Thực sự thái bình thịnh trị mỗi triều đại kéo dài từ 3-10 năm. Trong một nghìn năm chưa đến trăm năm thực sự bình an no đủ. Theo sử cũ, sau loạn 12 sứ quân là hai cuộc ngoại xâm, các cuộc đảo chính cung đình, cuối thời Lý đánh nhau liên miên để giành ngôi vua. Nhà Trần chịu 3 cuộc chiến chống xâm lược, lại loạn cung đình, ngoại xâm (nhà Minh xâm lược), lại nội chiến, rồi ngoại xâm (Nhà Thanh, Pháp, Mỹ). Chia cắt đất nước và nội chiến liên miên cho đến 1979 (1994?). Cứ vài năm từ cuối Trần cho đến đầu hậu Lê, Đại nam nhất thống chí ghi ngắn gọn: đói, đói to,sâu cắn lúa,người chết ngoài đường (không có người chôn)…, giống nạn đói chết 2.000.000 người năm 1945. Nạn đói 1976-1983 cũng kinh khủng tuy không có người chết đầy đường.

Theo cố học giả Nguyễn Hiến Lê trong những thời kỳ không đói thì thực chất cũng chỉ no một nửa. Ông quan sát bữa ăn của người nghèo ở làng quê ông (Sơn Tây, năm 1928) chỉ được 1500 calori. No chưa tới một nửa theo tính toán khoa học. Đói và thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng sinh ra cái tệ dành ăn, cái tệ một miếng giữa làng, vì miếng ăn mà kiện tụng nhau đến tán gia bại sản, thù ghét nhau truyền đời. tiểu thuyết Việc làng của Ngô tất Tố miêu tả sinh động cái thói giành ăn này.)

Nguyễn hiến Lê nhận xét: ”Tự lực văn đoàn và Ngô tất Tố chế diễu tàn nhẫn, truy nguyên tới cùng thì tại dân quê thiếu thịt, thiếu protéin. Trong Nam dân quê không quá nghèo, vài chục năm trước có rất nhiều tôm cá, rùa, chim…nên không thèm thịt như dân quê Bắc, Trung,k hông có những tục, những thói xấu kể trên. Nay đã khác rồi. Từ ngày giải phóng, cán bộ Bắc đem vô đây thói mỗi chút mỗi “liên hoan”, họp nhau ăn uống, chắc cũng vì thiếu protéin. Nghe nói ở Bắc có nơi chỉ đặt một trạm bơm nước vô ruộng mà từ khi dự định đến khi hoàn thành, mổ hết 100 con heo” (Nguyễn hiến Lê-Hồi ký-NXB Văn học -1993). Cái nhìn đó vừa khoa học vừa nhân hậu, thông cảm với cái đói nghèo triền miên của dân Việt chủ yếu là nông dân đã hàng nghìn năm. Cố học giả Nguyễn hiến Lê còn thấy ở quê ông, nông dân do nghèo nên đói, do đói nên bịnh tật liên miên. Bịnh nhưng không có thuốc, người bệnh trùm chiếu chịu đựng vài ba ngày, nhờ trời mà hết bịnh thì tiếp tục sống, rủi thì chết. Nghèo đói, bịnh tật không thuốc men, cuộc sống hàng ngàn năm cứ một kiểu như vậy mà vẫn còn nông dân ở nông thôn,thật là kỳ. Câu hỏi đặt ra là:Thứ xiềng xích nào cầm chân người nông dân ngủ yên sau lũy tre làng?Thứ xiềng xích nào trói chân,trói tay dân tộc Việt nam không tiến lên được?

Trong lịch sử ngàn năm có lẽ thái bình thịnh vượng chỉ thật sự có trong mấy năm thời Lê Thánh Tôn. Đói thì cướp bóc, nổi loạn(Các nhà sử học Mác xít gọi là khởi nghĩa nông dân). Cướp hay khởi nghĩa có cùng một phương thức: Cướp của nhà giàu (chia cho người nghèo), nhà nghèo cướp của nhà giàu, vùng nghèo hơn đi cướp của vùng giàu hơn. Trong một ngàn năm chỉ có 3 cuộc nổi dậy (khởi nghĩa nông dân) Lê Lợi, Tây sơn và cuộc đấu tranh do đảng Cộng sản lãnh đạo là thành công, còn lại là “được là vua thua là giặc”. Sử nhà Nguyễn ghi từ đầu Gia Long đến cuối Tự Đức, hơn 50 năm có gần 800 cuộc nổi dậy, 16 cuộc khởi nghĩa trong 1 năm, giống châu Phi hiện nay.( khởi nghĩa do đói kết hợp với tham vọng quyền lực của các hào trưởng địa phương. Điển hình là giặc châu chấu (1854) vì năm đó châu chấu phá hoại mùa màng ở đồng bằng sông Hồng, cuộc khởi nghĩa có thi hào Cao bá Quát tham gia). Đói nghèo, giặc giả là cơ hội cho quan lại và nhà giàu càng giàu lên vì bọn họ chiếm lấy ruộng đất của dân nghèo bỏ xứ, người chết hoặc đơn giản là bọn có quyền làm văn khế giả để chiếm ruộng của dân nghèo (cướp đêm là giặc cướp ngày là quan).

Chúa Trịnh Cương nhận xét:”Ruộng đất rơi hết vào nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có một miếng đất cắm dùi”. Theo cố học giả Vương hồng Sển, ở Nam kỳ trước 1945, quyền thế và tiền bạc cấu kết với nhau cướp không ruộng đất của nông dân đổ công khai phá rồi biến nông dân thành tá điền trên chính ruộng đất của mình, xảy ra phổ biến. Con em bọn nhà giàu ấy sẵn tiền rừng bạc biển truỵ lạc trác táng làm phong hóa suy đồi, làm tan nát bao nhiêu gia đình lương thiện... Sau 1975, ông Vương hồng Sển rút kinh nghiệm theo thuyết nhân quả, đại ý: Các người ăn chơi đú đởn để đến nay bọn tôi trả nợ khổ nhục quá chừng (có lẽ ông muốn nói đến chủ trương cải tạo nói chung của đảng sau 1975, cường bạo này trả thù cường bạo nọ, ruồi muỗi chết oan). Tình trạng ruộng đất trong nông thôn ở cả ba miền ngày nay có gì khác với thời vua Lê chúa Trịnh và thời Pháp thuộc?

Tình trạng làng xã tự trị (dân chủ cơ sở) do cơ chế quyền lực và nhiều nguyên nhân khác về thực chất là trung ương không kiểm soát được địa phương. Học giả Nguyễn Hiến Lê thấy rằng bọn hào lý ở làng (năm 1928) thực chất là một thứ triều đình thu nhỏ hành hạ dân nghèo không nương tay. Nông dân nghèo khổ tụ tập nhau làm “giặc” đi cướp của nhà giàu để sống cũng là lẽ thường. Đói nghèo, áp bức (vật chất,tinh thần), phiêu dạt phương xa kiếm ăn, trộm cướp, bạo loạn là mặt trái của văn minh làng (xã). Lịch sử Việt nam cũng chứng tỏ khi quyền lực cai trị mất lòng dân thì phải dựa vào bạo lực vũ trang để tồn tại. Công cụ bạo lực biến thành kiêu binh tàn hại lương dân, chủ yếu vẫn là nông dân, không sao kể xiết. Sử cũ ghi Kiêu binh thời cuối Lê-Trịnh từ Thăng Long ra các vùng quê lấy của cải, bắt phụ nữ, con gái nhà lương dân giữa ban ngày, có khi chúng làm như vậy ngay trong kinh thành Thăng long. Vua Lê,chúa Trịnh có kết cục bi thảm là hậu quả của chính sách cai trị độc tài mất lòng dân (Hoàng Lê nhất thống chí-Ngô gia văn Phái).

Phong trào Duy tân đầu thế kỷ trước, tiếp theo là nhóm Tự lực văn đoàn thấy ra mấu chốt của vấn đề xã hội Việt nam chính là dân quyền, là trang bị cho người dân (chủ yếu là nông dân) ý thức dân chủ nhưng chủ trương đó tuy đúng mà không hợp thời vì nói một cách văn vẽ, nhu cầu cấp bách của thời đại không phải là dân chủ(ý thức dân tộc, ý thức làm chủ đất nước). Nhu cầu bức bách chính là giải quyết tình trạng đói nghèo, nông dân không ruộng cày triền miên trong làng xã Việt nam (cơm ăn, áo mặc, ruộng cày (để làm ra cơm ăn áo mặc) là 3 mồi lửa gây ra bạo loạn(cách mạng?)). Vấn đề làm ra của cải và phương thức phân chia của cải xã hội là mối bận tâm của các loại nhà nước Việt nam. Cho đến nay Việt nam vẫn chưa có chủ trương đúng đắn về các vấn đề đó. Đi theo con đường duy tân của Phan Chu Trinh, Tự lực văn đoàn… thì chưa biết ngày nào tới chỗ no ấm. Các bên đối đầu với đảng Cộng sản vì sao mà thất bại? Theo tôi, cái mà “bên ấy” trưng ra với dân (chủ yếu là nông dân) thì đúng, tốt nhưng khó hiểu (với nông dân) mà cũng lâu tới chỗ ấm no,t ức là vẫn không hợp thời, không hợp lòng dân(nông dân).

Đi theo đường nào thì tới nhanh no ấm? Lịch sử Việt nam cho thấy, muốn tới nhanh thì chỉ có một cách:”cướp của nhà giàu chia cho người nghèo”. Khẩu hiệu đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin chính là cách hay nhất để thanh toán nhanh đói nghèo (đó cũng là bài học ngàn năm để lại). Đảng Cộng sản tập hợp lực lượng nhanh, có đủ sức mạnh và chiến thắng trong cuộc cách mạng chống đói nghèo vì có chủ trương hợp lòng dân (nghèo). Ngày nay đảng tổng kết: chiến thắng 1975 là chiến thắng của sức mạnh dân tộc chính vì lẽ đó (vì đơn giản cuộc cách mạng chấm dứt năm 1975 là cuộc khởi nghĩa của nông dân đói nghèo). Vì muốn hết đói nghèo nhanh nên cái giá phải trả là quá đắt. Nghĩ lại thì đi theo cách “ý thức dân tộc” của Phan chu Trinh và Tự lực văn Đoàn tuy chậm mà chắc. Nhưng đó là lịch sử chỉ có đi tới không quay lại được. Nhưng làm lại thì được.

tiếp....

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Văn minh làng (xã). - 02.06.2005 18:44:02
tiếp....

4/Kết cấu xã hội trong đảng Cộng sản, cuộc vận động cách mạng của đảng cộng sản (Lịch sử đảng cộng sản Việt nam):

Khi chủ tịch Hồ chí Minh (Nguyễn tất Thành, Nguyễn ái Quốc…) truyền bá chủ nghĩa Mác Lênnin vào Việt nam thì phong trào Duy tân không còn mà biến tướng của nó là lớp trí thức thành thị thấm nhuần nền giáo dục Pháp học. Đội ngũ tuyên truyền của chủ nghĩa Marx, một số được đào tạo ở Liên xô, Trung quốc, một số do chính chủ tịch Hồ chí Minh dạy bảo, một số học được trong nhà trường của Pháp hoặc qua sách vở dịch từ Pháp ngữ, Hoa ngữ (Karl Marx được phiên âm theo cách người Hoa là Mã khắc Tư). Những đảng viên ban đầu chủ trương vô sản hóa để thâm nhập vào nhà máy hầm mỏ giác ngộ cách mạng cho công nhân. Một số khác về vùng nông thôn thâm nhập vào thành phần bần cố nông. Một số tìm đường phát triển trong lực lượng học sinh,sinh viên, trí thức. Dù đào tạo từ nguồn nào thì những đảng viên ban đầu là trí thức. Sau một thời gian vận động,giác ngộ thì có thêm các thành phần khác. Khi thống nhất ba đảng thì bộ phận miền Trung có nhiều đảng viên là trí thức (Tân Việt cách mạng đảng phát triển chủ yếu trong trí thức). Nhưng nhìn chung, yếu tố nông dân vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối.

Nhìn chung trong kết cấu lực lượng về ý thức xã hội, đảng có 3 thành phần chính

1/Thành phần có hoài bão, mơ ước về một dân tộc Việt nam là một khối thống nhất không phân biệt sắc dân, địa phương giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, một Việt Nam độc lập, dân chủ, phú cường mà các giá trị nhân văn được bảo vệ và được loài người công nhận. Có thể phân thành 2 loai: ý thức công dân rõ ràng: Trí thức từ nước ngoài về tham gia kháng chiến: giáo sư Trần đại Nghĩa, tiến sĩ Trần đức Thảo…), trí thức thành thị có ý thức dân tộc như nhà giáo, cử nhân sử địa Võ nguyên Giáp các trí thức là nhà văn, nhà thơ nhà nghiên cứu Xuân Diệu, Huy Cận…mà điển hình là Phan Khôi và nhóm Nhân văn giai phẩm về sau. Thành phần này tin rằng khi cách mạng thành công thì không chỉ giải phóng được nhân dân khỏi áp bức bóc lột, đói nghèo mà nuớcViệt nam độc lập có một nền chính trị dân chủ, nhân dân Việt nam ở bất cứ đâu trên đất nước là một dân tộc thống nhất. (Một số thanh niên học sinh sinh viên thành thị miền Nam trong chỗ riêng tư đã chân tình nói: Hóa ra mình đi theo cách mạng là do các sách vở thời trước 1945, chủ yếu là Tự lục văn đoàn. Đó là lòng yêu nước (khởi đầu của ý thức dân tộc) tiểu tư sản như các nhà lý luận Mác xít nhận xét. Sau 1975 một số đảng viên lắc đầu :phong trào đô thị quả là phức tạp. Những người ấy giác ngộ chủ nghĩa Mác thì ít mà mang tâm tình, ý thức yêu nước tiểu tư sản tham gia cách mạng thì nhiều. Chính thành phần này khi có điều kiện sẽ mạnh lên đưa đảng Cộng sản đến gần với lợi ích dân tộc. (tìm đọc Các hồi ký của các nhân vật liên quan: Hồ chí Minh, Võ nguyên Giáp, Trần Độ, Tô Hoài, Hoàng Cầm…)

2/Thành phần thứ hai được rèn luyện chủ nghĩa rất bài bản, có ý thức đảng rất cao (tính đảng): tổng bí thư Trần Phú(học ở Liên xô) với khẩu hiệu nổi tiếng “trí, phú, địa, hào đào tận gốc trốc tận rễ”. Khẩu hiệu khét tiếng đó một thời được cho là mang đậm màu sắc Mác xít. Xem xét kỹ thì bên trong cái vỏ Mác xít có cái ruột nông dân đói nghèo triền miên.

3/ Thành phần thứ ba đại bộ phận là nông dân nghèo ở nông thôn, thợ thuyền trong các nhà máy,công nhân hầm mỏ (công nhân nhà máy, hầm mỏ thuộc loại này vì tuy họ là công nhân nhưng tuyệt đại bộ phận gia đình họ lại sống ở nông thôn hoặc trong các khu ổ chuột ở các thành thị làm nhiều nghề mưu sinh khác nhau). Tuy đủ thành phần như thế nhưng nhìn chung bản chất vẫn là bần cố nông. Tạm xếp loại đảng viên này là thành phần mang đậm Ý thức làng (xã) - Trong đó lẫn lộn ý thức họ tộc, ý thức vùng miền…Cái vỏ bọc cho các loại ý thức đó là ý thức đảng (quan điểm, lập trường Mác xít, tính đảng). Trong cơ cấu tổ chức nhóm quyền lực chóp bu hiện nay cũng cho thấy đặc điểm vùng miền khá rõ. Có người nói: có lẽ trời sinh ra người Việt ba miền có ba khả năng khác nhau. (tìm đọc chương: Tầm văn hóa thấp của trào lưu Cộng sản trong tiểu luận Chia Tay Ý Thức Hệ - Hà sĩ Phu - Đà lạt Việt nam (tên thật, Nguyễn xuân Tụ, tiến sĩ ) trên một số web site.

Tôi không dùng từ giai cấp vì nhận định sau đây của học giả Nguyễn hiến Lê về giai cấp tôi cho là phù hợp với Việt nam. Ông viết:”… định nghĩa dưới đây trong Le 18 brumaire de Louis Napoléon-tức Napoléon III)(của Karl Marx), rõ ràng đầy đủ nhất (lược bỏ phần tiếng Pháp)…”Khi nào có nhiều triệu gia đình sống trong những điều kiện khiến cho từ lối sống đến quyền lợi, văn hoá của họ đều cách biệt với lối sống, quyền lợi, văn hóa của các giai cấp khác, và họ sinh ra tương phản, thù nghịch với những giai cấp khác đó, khi nào như vậy thì những gia đình đó họp thành một giai cấp. Khi nào chỉ có một sự đoàn kết tổng quát giữa các tiểu nông với nhau mà sự đồng quyền lợi của họ không tạo nên sự thống nhất, đoàn kết dân tộc, cũng không tạo nên một tổ chức chính trị,khi nào chỉ như vậy thì họ không thành một giai cấp”(tr.41-42)”. …Theo định nghĩa đó thì nông dân Việt nam từ xưa tới năm 1945 chưa bao giờ thành một giai cấp cả…Công nhân cũng vậy…chưa bao giờ thợ thuyền Việt chống tư bản Việt;các nhà tư bản Việt như Bạch thái Bưởi ở Bắc,Trương văn Bền ở Nam,nhỏ quá, đâu đã làm mưa làm gió gì được?”

Tôi cũng không thấy có thành phần nào tham gia cách mạng với ý thức dân tộc mạnh mẽ, rõ ràng(theo cách hiểu ý thức dân tộc là ý thức của người dân về cộng đồng người chung sống trên một lãnh thổ, bình đẳng và chia sẽ quyền làm chủ đất nước, mỗi chủ thể là công dân có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm như nhau được pháp luật công nhận, bảo vệ, ý thức về một cộng đồng người trong một quốc gia có nhiều chủng tộc, nhiều tầng lớp, tín ngưỡng, tôn giáo là cùng một dân tộc). Người ta tham gia cuộc kháng chiến, có thể có hoài bảo, ước mơ về một dân tộc Việt nam thống nhất dân chủ độc lập phú cường (nhân tố biến thành ý thức dân tộc nếu có thêm các điều kiện cần có) và chỉ là hoài bảo, ước mơ thôi.

Theo định nghĩa sau đây: “Ý thức là: Hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan,hình thức mà chỉ riêng con người mới có. Ý thức con người là cơ năng của cái “khối vật chất đặc biệt phức tạp, mà người ta gọi là bộ óc con người”…Người ta quan niệm ý thức xã hội là toàn bộ những tư tưởng, lý luận và quan niệm xã hội phản ánh những điều kiện của sinh hoạt vật chất của xã hội và phương thức sản xuất của cải vật chất…Ý thức con người hình thành trong quá trình hoạt động xã hội trong sản xuất, nó là sản phẩm của sự phát triển xã hội…Sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự xuất hiện của ngôn ngữ; ý thức và ngôn ngữ đều ra đời cùng một lúc. Sự hình thành của ngôn ngữ đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành và phát triển của ý thức. Ngôn ngữ có âm thanh là một trong những lực lượng đã giúp cho con người phát triển ý thức và tư duy của mình…Vật chất, tồn tại là cái có trước so với ý thức; hiện tượng đó đã được chứng minh bằng sự việc là đến một giai đoạn phát triển nào đó của vật chất, của tự nhiên thì ý thức mới xuất hiện; bằng sự việc là những tư tưởng và lý luận cấu thành ý thức con người chỉ là sự phản ánh hoàn cảnh chung quanh vào bộ óc của con người; bằng sự việc là toàn bộ ý thức xã hội - tức là sinh hoạt tinh thần của xã hội – là do những điều kiện sinh hoạt vật chất, do phương thức sản xuất của cải vật chất quyết định. Sinh hoạt xã hội của con người quyết định ý thức xã hội của con người…Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội của con người bao giờ cũng có tính giai cấp”. (Trích,từ Ý thức trang 344,Từ điển triết học,NXB Sự thật-Hà nội- 1957)

Định nghĩa trên còn có chỗ tranh luận (duy vật, duy tâm…) nhưng căn cứ vào đó để xem xét thì xã hội Việt nam cho đến nay chưa xuất hiện cái gọi là ý thức dân tộc vì “trong xã hội có giai cấp (có đấu tranh giai cấp như đảng khẳng định) ý thức xã hội của con người bao giờ cũng có tính giai cấp (ý thức giai cấp,trong khi ý thức dân tộc là ý thức về dân tộc thống nhất không quan tâm đến ai thì thuộc giai cấp nào). Nhưng vì xã hội Việt nam không có giai cấp như Marx nói vì vậy người Việt không có ý thức giai cấp (Mác xít). Các điều kiện khách quan cũng chưa có để người Việt có ý thức dân tộc. Hiện thực khách quan là gia đình, dòng họ,l àng xóm, vùng miền (sau này càng rõ, nói là do người pháp nhưng đã hình thành từ thời Lê Trịnh Nguyễn và đảng Cộng sản tiếp tục công nhận(củng cố, phát huy): Cơ cấu 3 kỳ (Bắc, Trung, Nam) trong liên bang Đông dương thuộc Pháp: Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, Lào, Cao Miên (Campuchia) và (tôi nhớ không rõ và cũng không còn tài liệu): Hoàng triều cương thổ (Tây nguyên ngày nay). Hiện thực đó tất yếu hình thành ý thức vùng miền (tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng). Người đảng viên Cộng sản tất yếu phải có ý thức vùng miền. Cựu thủ tướng Võ văn Kiệt yêu cầu bỏ yếu tố vùng miền (thư gửi BCH TW đảng, diễn đàn BBC), một số trí thức có thâm niên đảng cũng nói yếu tố làng xã vùng miền thực chất là độc tài, phân tán quyền lực (đưa đến rối loạn xã hội - tìm đọc bài nói chuyện của cố vấn kinh tế Lê đăng Doanh với BCT đảng CS Việt nam trên một số WEB site). Nếu điều ấy có thực thì nhu cầu thống nhất của dân tộc đã tác động đến cái vỏ ý thức đảng của một số đảng viên cộng sản.

Nếu xem xét cơ chế quyền lực triều đình phong kiến Trung quốc, Việt nam và quyền lực cai trị ở làng xã Việt nam thì thấy rõ đó là thứ quyền lực không đầu(không có nguyên thủ). Ở Trung Quốc từ Tần Hán qua Minh Thanh đến Cộng hòa nhân dân đều có điểm chung: Không rõ quyền lực tối cao nằm ở đâu. Lịch sử Trung hoa cho thấy thế lực hoạn quan, ngoại thích, vũ trang thường khuynh loát triều đình. Sử gọi đó là loạn ngoại thích, loạn hoạn quan, loạn biên trấn (tướng ngoài biên có nhiều quân, thường buộc vua làm theo ý mình). Việt nam cũng vậy. Từ Ngô, Lý, Trần cho đến Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam cũng chẳng thấy rõ ai là nguyên thủ quốc gia. Xét quyền lực ở làng xã Việt nam thì Lý trưởng đứng đầu nhưng lại có hội đồng kỳ mục bên cạnh. Đó là một thứ lãnh đạo tập thể mà thực quyền nằm trong tay các thế gia vọng tộc (truyện Chí Phèo của Nam Cao cho thấy rõ tình trạng quyền lực không đầu đó). Vua Trần thái Tông sợ Trần thủ Độ hơn con sợ cha, nghe nói sau này có vị chủ tịch cũng biết nể sợ các ủy viên. Người nông dân (người dân nói chung) phải làm gì trong tình thế đó? Để không bị chèn ép thì người dân làng (xã) phải tìm cách xếp hàng sau các thế lực. Một cái làng con con vài mươi nóc nhà cũng có đến mấy phe phái. ”Phép vua thua lệ làng” còn nói lên quan điểm của quyền lực: chỉ có làng, không có nước, “chờ mạ thì má đã sưng”, “kêu trời không thấu”, (Vụ chia nhau ruộng đất hiện nay ở đồng bằng sông Cửu long (do báo chi phát hiện) chứng minh quan điểm đó). Tình trạng quyền lực ở làng xã như vậy thì người dân yêu làng hay yêu nước, hay yêu cái thế lực mà mình đứng trong đó? có thể sinh ra ý thức quốc gia, dân tộc được không? (Phần này nói về nhận thức, ý thức không liên quan gì đến tình cảm yêu mến, nhớ nhung,quyến luyến nơi chôn nhau cắt rốn, quê nhà, mồ mả tổ tiên, bờ ao, khóm chuối, bến nước, chiều về, đêm trăng làng quê, cô thôn nữ, tình bạn ấu thơ V.V…mà ai cũng có. Đôi khi tình quê hương - nhớ làng quê được nâng lên thành lòng yêu nước). Khi nói:”Trên nói dưới không nghe” thì không nhất thiết là tất cả “dưới” đều không nghe “trên”. Vì lẽ “dưới”của ai thì chỉ nghe “trên” của mình thôi .Cũng như vậy, “không thể cách chức thuộc cấp” không phải là không thể, chỉ không thể với thuộc cấp của ai đó. Cuối cùng sẽ có một giải pháp “phải phép” cho các bên quyền lực để tạo lối ra êm đẹp đôi ba đường. Tham nhũng,làm bậy không trị được là vì vậy.

Thực chất là chính trị Á đông (có cả Nga ở trong đó) không có một học thuyết về quyền lực nhà nước hoàn chỉnh và luôn cải tiến (do tranh luận) cho phù hợp với sự tiến hóa của xã hội. Từ khi Khổng tử đưa ra học thuyết “thánh nhân trị nước do mệnh trời” từ trước Công nguyên thì mọi ông vua, mọi vị tổng bí thư đảng, các ông tổng thống đều là thánh nhân, thiên tử. Nguyên nhân là vì các xã hội ấy chưa bao giờ có tự do tư tưởng, tự do ngôn luận cả. Các vụ án chính trị (oan sai) về ngôn luận, học thuật từ trước đến nay ở Trung quốc cũng như Việt nam đều xuất phát từ quan điểm “dị chí”. Dị chí là không nghĩ như vua (thực chất là thế lực có thực quyền, thực lợi đằng sau ông vua), không nói như đảng (có lẽ cũng vậy). Không nói không nghĩ như vua như đảng tất là phản động, chống vua chống đảng. Đó là truyền thống văn hóa Á đông, cái mà quyền lực hiện nay ở Trung quốc và Việt nam (Nga cũng vậy, Bắc Triều tiên còn tệ hơn nữa) viện ra để thực hiện đổi mới cà nhắc.N gày trước vua phán “dị chí” thì tru di tam tộc. Ngày nay đảng phán “diễn biến hòa bình” thì vô tù. Một xã hội không có hoạt động học thuật tự do thì văn minh tiến bộ thế nào được.

Học thuyết về quyền lực cai trị ở phương Tây nếu không có tự do tư tưởng thì cũng “đóng băng” như học thuyết quyền lực chính trị của Á đông. Có thứ học thuyết nào tồn tại đến hơn 2000 năm không đổi mà vẫn còn đúng? Học thuyết Mác Lênin thực chất là học thuyết về “tước đoạt”, phần nói về quyền lực cai trị thì rất hàm hồ. Quyền lực do giai cấp nắm giữ, đội tiên phong của giai cấp là đảng. Vậy quyền lực do đảng nắm giữ (tồng bí thư). Nhưng lại nói quyền lực cao nhất thuộc ban chấp hàng trung ương, tập thể lãnh đạo, đó là một thứ quốc hội của đảng. Bên cạnh lại có chính quyền có thêm một quốc hội của dân nữa (nhưng tuy hai mà là một). Hai quyền lực cai trị trong một quốc gia tất yếu sinh ra cục bộ, địa phương, bè phái, dòng họ, làng xã. Mô hình đó có gì khác với mô hình quyền lực làng xã? Có lý trưởng lại thêm hào mục (còn gọi là Kỳ mục, kỳ hào: những người giàu có, lớn tuổi ở làng) và các thế lực ngầm đằng sau. Xã hội sinh ra nhiều Chí Phèo là lẽ đương nhiên, rất tệ nếu Chí Phèo lại nắm quyền lực.

Nếu xét từ mối quan hệ ý thức – ngôn ngữ: “sự xuất hiện của ý thức gắn liền với sự xuất hiện của ngôn ngữ” (nói, viết) thì có thể nói ý thức dân tộc chỉ có thể sinh ra từ sau khi phong trào Duy tân-Đông kinh nghĩa thục ra đời (chưa đầy trăm năm tính từ 2005) sử dụng chữ quốc ngữ để dịch các sách về dân quyền, xã ước(Montesquieu,J.J.Rousseau…) từ tân thư của phong trào duy tân Trung quốc hoặc từ sách chữ Pháp (Ý thức dân tộc là từ Hán Việt). Vì xét thấy trong các sách sử, biện khảo quan trọng của Việt nam trong thời quân chủ chưa thấy từ đó xuất hiện( Đại nam nhất thống chí, Đại nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí, Vân đài loại ngữ…không có từ đó hoặc từ tương đương, vì không có ngôn ngữ viết ghi trong sách sử nên suy ra Người Việt trong chế độ quân chủ chuyên chính chưa có ý thức dân tộc). Ý thức dân tộc không phải là tình cảm dân tộc, tình đồng bào, lòng tự hào dân tộc,tự tôn dân tộc…Nhưng những thứ đó thêm một số định chế kháclại là tiền đề hình thành ý thức dân tộc thống nhất. Trong tiểu thuyết lịch sử Hoàng lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái - Nguyễn đức Vân, Kiều thu Hoạch dịch - NXB Văn học - 1987), sáng tác trong khoảng từ cuối Lê đầu Nguyễn mô tả tình hình đất nước cuối thế kỷ 18. Truyện có những đoạn đối đáp giữa vua tôi chúa Trịnh với vua Lê, Vua Lê với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ cho thấy giới thống trị ngày đó không coi dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt nam là một, mà là nước An Nam, nước Tây sơn, nước Bắc hà, nước Nam hà.V.V. Cho đến nay cũng khó chứng minh được mọi công dân Việt nam đều có ý thức dân tộc mạnh mẽ .

Nếu định nghĩa ý thức là sản phẩm của tư duy trừu tượng, độc lập với hiện thực khách quan(duy tâm,duy lý) như tư duy trong môn toán cao cấp mà trong chế độ quân chủ chuyên chính người dân đã có ý thức dân tộc thì xảy ra hai tình huống: 1.có trong ý thức nhưng chưa bao giờ nói ra công khai với người khác hoặc ghi lại bằng chữ nghĩa trong một tài liệu. Như vậy ý thức đó là của một vài cá nhân chưa trở thành ý thức phổ quát, thành ý thức xã hội, 2. Đã nói ra và có ghi lại thì nhất định bị buộc tội khi quân phạm thượng, nhẹ thì lưu đày viễn xứ, nặng thì có hàng trăm, có thể là hàng ngàn người ra pháp trường. Đó là tội tru di tam tộc vì có dị chí, muốn tranh giành quyền làm chủ đất nước với ông vua, dòng họ chịu thiên mệnh (tất yếu lịch sử?) cai trị đất nước.

Khi chủ tịch Hồ chí Minh nói: ”Nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một” thì chứng tỏ Ông có ý thức dân tộc nhưng không nhất thiết người Việt nam nào trong thời điểm đó cũng có ý thức dân tộc vì hiện thực xã hội chưa đủ yếu tố để hình thành ý thức dân tộc trong mỗi người dân. Ý thức làng (xã) và các loại ý thức dẫn xuất của nó vẫn là ý thức thống trị, phổ biến trong xã hội Việt nam ngày nay, đặc biệt rất rõ ràng, sâu sắc trong đảng Cộng sản Việt nam. Xét toàn bộ vấn đề, có một loại ý thức khác đang lớn mạnh trong xã hội đó là ý thức vô chính phủ do quyền lực không có nguyên thủ sinh ra, ngự trị trong đảng và ngoài xã hội. Càng chuyên chính thì càng vô chính phủ. Tôi nghĩ đảng cũng đã thấy ra như vậy. Nếu ngày nay có một cuộc nổi dậy nào đó tranh giành quyền lực với đảng Cộng sản bằng bạo lực và lật đổ thì đó vẫn là cuộc nổi dậy của nông dân mà tính chất của cuộc nổi dậy ấy là giống với tính chất của các cuộc nổi dậy (phong trào nông dân) trong lịch sử dân tộc Việt nam.

Món nợ nông dân. Ở giai đoạn đầu của cuộc vận động cách mạng,người Cộng sản nói gì với nông dân? Tổng bí thư đảng đầu tiên Trần Phú đưa ra khẩu hiệu hành động khét tiếng:”Trí phú địa hào đào tận gốc trốc tận rễ” làm nhiều người kinh hoảng nhưng khẩu hiệu đó có thể hiểu nôm na là: ”cướp của nhà giàu chia cho người nghèo”. Đó là khẩu hiệu mà các phong trào khởi nghĩa nông dân trước đó thường dùng và thực hiện. Từ loạn 12 sứ quân cho đến các cuộc nổi dậy về sau đều làm vậy cả. Sau nạn đói kinh khủng làm chết 2 triệu người ở miền Bắc năm 1945 thì phá kho thóc của Nhật,của nhà giàu, địa chủ chia cho người đói đã tập hợp được đông đảo người tham gia cách mạng. Lời hứa của đảng với nông dân là:”Cơm ăn, áo mặc,ruộng cày”.

Về cái gọi là bi kịch trí thức đi theo cách mạng. Sau 1954, nhiều trí thức đi theo cách mạng hoang mang vì chưa thấy đảng thực hiện dân chủ, tự do nên đã lên tiếng đòi tự do dân chủ. Phan Khôi viết trên Nhân văn giai phẩm:”Nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình,thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết” (theo: “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, NXB Mặt trận bảo vệ tự do văn hóa - Sài gòn - 1959). Nhóm Nhân văn giai phẩm(Phan Khôi, Trần Dần, Phùng quán, Hoàng Cầm…) bị trừng trị thẳng tay do tin lời của đảng về tự do dân chủ. Sau 1975 nhiều trí thức Sài gòn ra khu kháng chiến hoặc tham gia phong trào đô thị, kẻ phải ra nước ngoài, người bị khai trừ khỏi đảng cũng vì phát biểu cùng giọng với Phan Khôi. Những dẫn chứng đó đưa đến kết luận tất yếu là trí thức đi theo cách mạng Mác xít thường phải gánh chịu bi kịch (Liên xô, Đông Âu,Trung quốc đều như vậy cả). Có người mỉa mai những trí thức tham gia 2 cuộc kháng chiến: Các anh(chị) lựa chọn hay quá. Bi kịch của trí thức hay bi kịch của ai? Ghi chú: Đảng nói chỉ có trí thức tiểu tư sản, hữu khuynh, bị lung lạc, hông vững vàng thì mới bị “kỷ luật”, trí thức xã hội chủ nghĩa kiên định lập trường, quan điểm vẫn được trọng dụng. Như vậy những trí thức còn giữ các chức vụ trong đảng đều là trí thức có giác ngộ giai cấp, kiên định quan điểm lập trường cách mạng.

Cho đến tận thời điểm này,cuộc cách mạng của đảng đã giải quyết xong mục tiêu nào? Công bằng mà nói có một mục tiêu về cơ bản đã giải quyết được: Đói, áo mặc. Cái đói nghèo ngàn năm của người nông dân đã được thanh toán cơ bản về lượng (thiếu ăn nhưng hết đói?). Chỉ có mục tiêu đó thôi. Ba mươi năm đất nước thống nhất người nông dân mới hết đói về lượng cho thấy các mục tiêu cách mạng đặt ra là chưa giải quyết được. Có lẽ đảng còn muốn nhân dân hy sinh một thời gian nữa. Hy sinh bao lâu và với cách làm hiện nay thì có đến được độc lập - tự do - hạnh phúc không? Có thể giải thích là nhu cầu thời đại còn là miếng ăn manh áo, người nông dân đòi tự do dân chủ để làm gì khi ăn chưa no (lượng và chất), bệnh không có thuốc (một điều tra quốc tế mới đây cho thấy công bằng trong chăm sóc sức khỏe, Việt nam nằm nhóm dưới cùng). Bi kịch không phải là của trí thức, bi kịch lớn hơn là thuộc về nông dân, lực lượng đông đảo nhất đã hy sinh cho cuộc kháng chiến. Bi kịch ở chỗ nông dân còn nghèo mà nhiều đảng viên lại giàu lên kinh khủng (đỉnh và đáy cách nhau đến 13 bậc, tính bình quân, phấn đấu không còn hộ nghèo tức thu nhập bình quân đầu người đạt 3.000.000VND/năm, chưa bằng một tiệc nhậu nho nhỏ của các quan chức). Bi kịch ở chỗ nông dân bịnh còn thiếu thuốc, con cái bỏ học nửa chừng, vợ con phải bán thân nuôi miệng, còn phải làm tá điền cho những ông chủ đất kiểu mới mà đảng cứ một mực khẳng định cơ sở chính trị của đảng là liên minh công nông.Bi kịch của trí thức chỉ là hạt cát. Bi kịch của trí thức,của nông dân thực chất là bi kịch của cả dân tộc. Trong hoàn cảnh đó người nông dân Việt nam có ý thức gì?

Trước tình hình xã hội có sóng ngầm như vậy tất yếu quyền lực cai trị thi hành chính sách dân tuý (chủ nghĩa dân tuý: “Thể hệ tư tưởng tiểu tư sản duy tâm…Lênin đã định nghĩa chủ nghĩa dân túy như sau:”Nó đại biểu quyền lợi của những người sản xuất về phương diện họ là những người tiểu sản xuất,người tiểu tư sản”…Về cơ bản họ là nông dân cách mạng,kịch liệt phản đối bọn tự do;họ đi vào “dân chúng”(vì thế gọi là “dân tuý”)”.(Từ “dân túy (chủ nghĩa) trang 183,Từ điển triết học, NXB Sự thật-Hà nội-1957), mị dân. Chính trị dân túy thoạt nhìn thì hình như là dân chủ mà thực chất là độc tài chuyên chính. Chính sách công hữu về ruộng đất, công khai là để nhà nước điều tiết ruộng đất không để cho cường hào ác bá và người có tiền cướp không ruộng đất của nông dân là phương tiện chống đói nghèo của nông dân, rất hay, nhưng thực chất là xác nhận quyền không được làm chủ ruộng đất của nông dân. Quyền tư hữu tài sản (cốt lõi là tư liệu sản xuất) là cơ sở hình thành ý thức làm chủ xã hội.Có làm ông chủ (tài sản, tư liệu sản xuất) thì mới có ý thức làm chủ. Không có ý thức làm chủ thì người nông dân vẫn cứ là tá điền cho các ông chủ. Những ông chủ thực đang bốc lột sức lao nông dân tá điền hiện nay là ai?

Khẩu hiệu tập hợp nông dân cho cuộc cách mạng là”người cày có ruộng cày” vẫn chưa thành hiện thực. Đó là món nợ người cày có ruộng. Một chính sách ruộng đất dân chủ thì phải khẳng định rõ: Người nông dân (người dân nói chung) có quyền tư hữu ruộng dất. Đó cũng là chính sách gắn nông dân với ruộng đất, là chính sách nông nghiệp phát triển bền vững cũng là chính sách bảo vệ môi trường tốt nhất. Khi người ta làm chủ có cơ sở bảo đảm thì người ta mới làm chủ các vấn đề liên quan đến cơ sở đó. Chính sách ruộng đất công hữu, không xác định rõ ông chủ cụ thể sẽ hình thành ý thức làm ăn chụp giựt, kiểu ăn xổi ở thì. Cứ như vậy Việt nam không có được nền sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững. Suy rộng ra là Việt Nam không thể phát triển bền vững nếu không xác định quyền tư hữu tài sản rõ ràng, trước hết ruộng đất phải là tài sản tư của nông dân. Công thức làm chủ: “đảng lãnh đạo,nhân dân làm chủ,nhà nước quản lý” nói quyền làm chủ đất nước là thuộc về nhân dân nhưng thực chất là trên đầu ông chủ này còn có ông chủ khác (đảng lãnh đạo), ông chủ này trong thực tế là “đầy tớ” của ông chủ lớn hơn. Không thể có hai ông chủ cùng lúc cho mọi đối tượng. Ông chủ có thực quyền loại ông chủ danh nghĩa ra khỏi ghế ông chủ. Đảng viên,cán bộ loại nông dân ra khỏi ruộng đất là lẽ tất yếu. Đấy chỉ là một dẫn chứng “dân tuý” nằm ở chỗ nào từ vị trí người nông dân. Ở những vị trí khác mà nhìn thì màu sắc “dân tuý” cũng cùng một kiểu.

Khái quát là đảng Cộng sản Việt nam còn mắc nợ nhân dân (cả người sống lẫn người chết) món nợ dân chủ. Khi người dân thấy trên đầu còn có ông chủ khác thì nhất định không thể sinh ra ý thức dân chủ, ý thức dân tộc, độc lập, thống nhất.
Các mô hình, khái niệm: kinh tế thị trường tự do, quyền tư hữu tài sản, dân quyền,nhân quyền, ý thức dân tộc, dân chủ đại nghị, quyền dân sự,phổ thông đầu phiếu, quyền tự do v.v…gộp chung lại ta có cái gọi là văn minh phương Tây. Văn minh phương Tây có tên gọi khác là văn minh Thiên chúa giáo. Nền văn minh ấy làm cho phương Tây giàu lên, xã hội công bằng, văn minh. Công cuộc đổi mới lần thứ hai (duy tân, Âu hóa) như vậy không chỉ là trách nhiệm của đảng Cộng sản Việt nam mà chính là trách nhiệm của tất cả các bên cấu thành nền văn minh làng xã (Có những tên gọi khác: truyền thống dân tộc, bản sắc dân tộc) và nhất định phải loại bỏ những yếu tố bảo thủ, cố chấp, xích xiềng trong cái gọi là bản sắc dân tộc (ý thức làng xã và các dẫn xuất của thứ ý thức ấy). Có người lo ngại cải tiến văn minh làng (xã) thì lấy gì chống ngoại xâm. Đó là lo âu có cơ sở,vậy ngày nay ngoại xâm từ đâu đến, làm gì để chống ngoại xâm? Chỉ có một nền chính trị dân chủ thực sự mới huy động được sức mạng toàn xã hội tham gia công cuộc Âu hóa. Vì chỉ trong một nền chính trị dân chủ thực sự thì ý thức dân tộc mới phát sinh. Mỗi người dânViệt nam có ý thức dân tộc mạnh mẽ thì đất nước mới thật sự thống nhất ,mới có sức mạnh tổng hợp. Đoàn kết dân tộc trong một đất nước còn nặng ý thức làng xã, vùng miền, họ tộc thì chỉ là khẩu hiệu mị dân (dân túy). Đổi mới với ý thức dân tộc mạnh mẽ chính là cuộc cách mạng mà nhân dân, đất nước Việt nam cần có.
-------
Tài liệu đọc thêm: bộ 3 cuốn: 1. Cú sốc tương lai, 2.Thăng trầm quyền lực 3. Làn sóng thứ 3 của nhà tương lai học người Mỹ Alvin Toffler. Hai cuốn trên do nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà nội dịch ấn hành, cuốn sau là tài liệu lưu hành nội bộ.

-----------------------------------------------------------------------

Nam, TP. HCM
Bài của bạn Trần Minh Thảo và bạn Minh đều hay và thú vị, thể hiện sự quá trình dày công nghiên cứu. Hy vọng BBC tiếp tục cho ra mắt những bài như vậy. Theo tôi hiểu, quan điểm của hai bạn khác nhau: bạn Thảo cho rằng tính làng xã là vấn nạn, cần dẹp bỏ. Bạn Minh cho rằng tính làng xã là cái hay (vì nó duy trì đạo đức), cần duy trì, thậm chí khuyến khích. Các hoạt động rầm rộ hiện nay như lập hội đồng hương, nhà thờ họ, xây lăng Âu Cơ cạnh đền Hùng, v.v. cho thấy các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đi con đường bạn Minh chọn.

Cái mà bạn Thảo cho là tốt, thì đáng tiếc lại là những kinh nghiệm thất bại của Duy tân, Tự lực văn đoàn, và xa hơn nữa là của Hồ Quý Ly. Vậy có thể nói rằng, văn hoá làng xã, dù tốt hay xấu, là một thực tế, ! cần công nhận. Cái mình cần là "dụng nhân như dụng mộc" - làm sao sử dụng tính làng xã để xây dựng đất nước. Ở Trung quốc có phong trào xây dựng xí nghiệp hương trấn, ở Đài Loan có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Đấy cũng là cách để ta học tập.

Có những điểm xấu của tính cục bộ, làng xã cần loại bỏ, thì theo tôi tốt nhất nên bỏ mục "quê quán" ở bất kỳ bản sơ yếu lý lịch, Chứng minh nhân dân hay hộ khẩu đi. Đó là mầm mống của sự kỳ thị, phân biệt đối xử. Khi đó, tất cả chúng ta đều là người Việt Nam.

Minh, Việt Nam

Bây giờ trời đã về khuya. Bài viết quá dài và mang tính tham khảo nặng về tư liệu do đó không biết đóng góp hay trao đổi gì vì không thể nắm bắt trọn nội dung không hiểu tất cả những gì Minh Thảo trình bày. Bây giờ tôi chỉ xin cô đọng những ý kiến của tôi mà thôi. Theo tôi không phải chỉ khi người phương tây vào người Việt mới biết kinh doanh. Cứ lấy Hà Nội làm thí dụ: Vào thế kỷ thứ 13 mảnh đất mà bây giờ gọi là Hà-Nội đã là nơi buôn bán sầm uất sau đó trở thành 36 phố phường với một lối kinh doanh rất văn minh trật tự gồm các hàng như Hàng bạc, hàng đào, hàng thiếc, hàng mã... Vào thế kỷ thứ 17 trên đà mở cửa bang giao với nước ngòai tính thương mại của khu phố này càng định hình hơn. Kiến trúc nhà ống hẹp bề ngang nhưng lại rất dài là kết quả một phần của đặc tính thương mại vì lúc đó người ta cứ theo bề rộng mà đánh thuế. Đình làng tượng trưng cho nền văn minh làng xã phát triển ở mức độ dân chủ và tự trị tương đối. Thời Lý trần không thể gọi là làng xã. Lúc đó chỉ là trang-thái ấp với quan hệ quý tộc nông nô (giống bên Châu âu). Quần cư làng xã rõ nét vào thời nhà Lê với quan hệ địa chủ nông nô (giống bên Mỹ thời lập quốc). Đình làng là nơi diễn ra những hoạt động của dân làng, văn minh cũng như hủ lậu. Từ họp việc làng, xử kiện, phạt kẻ trộm, kẻ ngoại tình... Ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời gian nào cũng có những trì trệ và hủ lậu và thường những điều này là những cái bia cho người ta nhắm vào mà đả phá. Phá thì dễ nhưng xây cái mới thì khó.

Theo tôi "đình làng" ở VN giống một dạng gọi là Meeting house của nông dân Mỹ thế kỷ 19. Đó là trụ sở hành chánh ở cấp thấp nhất. Có chăng là nước Mỹ có những nhà lãnh đạo có tài năng và nhiệt huyết. Meeting house là nơi mà những nông dân sau một ngày làm việc mệt nhọc đã hội họp để nghe và cổ vũ cho người lãnh đạo địa phương nơi họ ở. Những người này sau đó là đảng viên của đảng Bình dân (populists). Cuộc bầu cử năm 1890 đã đưa đảng này lên nắm quyền ở 12 bang phía nam và tây Hoa Kỳ dẫn đến những cuộc cải cách về tiền tệ, lập ra cả một hệ thống Quốc trái phục vụ cho nông dân, đưa đến sự kiểm soát công cộng sở xe lửa cũng như chia từng bực thuế lợi tức... Số phận của một quốc gia tuỳ thuộc vào nền học vấn của người dân nước đó. Cái lỗi không phải vì hủ tục, vì lệ làng vì người nông dân không có học. Lỗi ấy ở những người có học mà không có hành. Văn hoá là những giá trị chắt lọc qua nhiều đời. Thấm nhuần giá trị đó con người sẽ phù thực được cương thường,chấn chỉnh được phong hoá, bảo tồn được quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm. Nếu không biết giá trị văn hoá nước mình không hiểu mình thì làm sao hiểu người? Từ trước tới giờ có biết bao người trí thức muốn canh tân thế sao VN vẫn chìm trong đói nghèo lạc hậu? Họ đem cái mới từ ngoài vào nhưng lại không hiểu và trân trọng những giá trị văn hoá cơ bản của ông cha nếu không nói là làm sụp đổ mọi giá trị cũ.

Những thứ chủ nghĩa như cộng sản, quốc gia, tự do, dân chủ đã trở nên nháo nhào ở VN và làm cho dân tộc chúng ta điêu đứng bao phen. Trong cuốn "Pour le comprehension de l'Indochine" Henry Bernard Maitre nhận xét về văn miếu như sau: Đó là loại đền thờ duy nhất trên thế giới vì không phải để cầu kinh, làm bùa phép "temple unique au monde ni prière ni magic" nhưng để ghi ân tổ tiên để khắc cốt minh tâm học đạo làm người. Văn hoá VN nằm trong vùng ảnh hưởng Tam Giáo mở rộng từ Tibet đến Tích lan từ sông Gange đến Nhật Bản. Vậy mà các nhà lãnh đạo VN hình như đã không hấp thụ được tính tương dung của Tam giáo thì phải? Nếu Các mác sống lại và tôi có dịp nói với ông thì tôi sẽ nói như sau:N ếu ông lấy phương pháp khoa học mà thuyết minh tình hình kinh tế cho rằng chế độ của XH cùng tất cả những cái thuộc về tinh thần là theo sự phát đạt của vật chất thì tôi lại nói ngược lại là bản thể của tự nhiên là tinh thần mà hiện tượng của vật chất cũng chỉ là tác dụng của tinh thần. Nếu ông không tin thì cứ nhìn vào nước VN của tôi nơi các đệ tử của ông đã ra sức biến cái thuyết mà ông đã lao lực để tìm ra (phát sinh từ tình thương bao la của ông với giới lao động bị áp bức) thành một con quái vật làm điêu đứng dân tộc tôi hàng bao nhiêu năm qua. Ông biết tại sao không? Vì họ chưa học làm người mà đã đòi làm lãnh đạo. Chính họ đã chứng minh cho ông thấy sự sa đoạ về tinh thần của con người sẽ nguy hiểm cho nhân loại và xã hội đến mức nào, Tinh thần đạo đức là trên hết bởi nếu không thế thì: Đạo lớn, người làm nó ra nhỏ, Đạo công người biến nó ra tư, Đạo rộng người làm ra nó hẹp (Lục Cưu Uyên).

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2005/05/050504_tranminhthao.shtml


HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Sinh Viên Nước Bạn: Phi - 03.06.2005 02:34:19
01 Tháng 6 2005 - Cập nhật 17h30 GMT

Sinh viên Manila biểu tình ''nhộng''


Một nhóm sinh viên ở thủ đô Manila của Philippines đã trần như nhộng xuống đường phản đối sự thiếu đầu tư trong ngành giáo dục.

''Sự thật trần trụi là chính phủ không báo giờ coi giáo dục là một quyền căn bản,'' các sinh viên biểu tình phát biểu.

Mười lăm người đã dạo qua một ngã tư đông đúc trước khi cảnh sát giải tán họ.

Những người biểu tình nói chính phủ đã chi nhiều tiền để trả nợ hơn là đầu tư vào giáo dục.

Các sinh viên nói họ bị ảnh hưởng do Philippines hiện thiếu gần 50.000 lớp học và 3,5 triệu bàn và sách vở trong năm 2005.



Các sinh viên diễu phố ở University Belt tại Manila 15 phút trước khi cảnh sát can thiệp


http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/06/050601_manila_students.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Giáo dục Việt Nam - 05.06.2005 04:47:21
29 Tháng 5 2005 - Cập nhật 09h04 GMT




Giáo dục Việt Nam


(Cập nhật hàng tuần vào sáng Chủ Nhật)

Giáo dục là chủ đề lớn được mang ra bàn cãi lâu nay không chỉ trong nhân dân, mà còn tại Quốc hội và trong giới chức ở Việt Nam.

Tuy đạt được một số thành công, nền giáo dục của Việt Nam còn đối mặt với vô vàn vấn đề và thách thức.

Hồng Nga thảo luận với giáo sư Phạm Minh Hạc từ Hà Nội, giáo sư Ngô Vĩnh Long từ Hoa Kỳ và giáo sư Trương Nguyễn Trân từ Pháp về các vấn đề cấp bách trong nền giáo dục Việt Nam.

Chương trình Tư duy Thế kỷ về giáo dục sẽ được phát sóng làm hai phần.

Phần một phát sáng Chủ nhật 29/5/2005 và lặp lại sáng thứ Hai 30/5/2005 sẽ bàn về chủ đề: "Nhút nhát hay vô chính kiến: Vị trí nào trong nền giáo dục Việt Nam cho tính sáng tạo và độc lập của học sinh?"

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/programmes/story/2005/05/agenda_education.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Bé Diễm Quỳnh - 05.06.2005 17:26:09
Thứ Năm, 02/06/2005, 10:43



“Cô bé đèn lồng” và tấm bằng xuất sắc của Đại học Cambridge

“Tý hon” nhất trong số những học sinh được trao bằng Anh văn Quốc tế của Trung tâm Anh - Việt - Mỹ, nhưng Trần Nguyễn Diễm Quỳnh đã vượt các anh chị để là người duy nhất chiếm số điểm tuyệt đối.


Đây là trường hợp đặc biệt nhất từ khi Trung tâm Anh - Việt - Mỹ (AVIEC - Đà Nẵng) thành lập cho đến nay. Thông tin mà ông Đặng Xuân Nghĩa – Giám đốc điều hành AVIEC cung cấp gợi cho tôi niềm háo hức khi tìm về với phố Hội.

Ngôi nhà đơn sơ 115 Trần Phú (thị xã Hội An)

Nam Cường
http://www.tienphongonline.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=11196&ChannelID=4


>>>>>>>>>>>>>>

Xin Mời:
http://diendan.vnthuquan.net/tm.aspx?m=65697&mpage=1&key=𐂢
<bài viết được chỉnh sửa lúc 14.08.2005 06:35:46 bởi HongYen >
Attached Image(s)

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Bộ trưởng Giáo dục - 10.06.2005 03:16:42
Bộ trưởng Giáo dục & Đào tạo tiếp tục nhận lỗi và hứa hẹn


Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển trả lời chất vấn. Ảnh: Anh Tuấn


Chiều 9/6, Bộ trưởng GD&ĐT Nguyễn Minh Hiển lần thứ 3 liên tiếp đăng đàn Quốc hội. Trong 60 phút trả lời chất vấn, đối diện với những câu hỏi hóc búa về những yếu kém chậm được giải quyết, ông Hiển liên tiếp "xin nhận trách nhiệm". Tuy nhiên, phương thuốc giải quyết dứt điểm căn bệnh giáo dục lại không được đưa ra.

http://www.vnexpress.net/Vietnam/Home/

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Bộ trưởng Giáo dục - 10.06.2005 03:19:34
Thứ năm, 9/6/2005, 16:22 GMT+7

Bộ trưởng Giáo dục & Đào tạo tiếp tục nhận lỗi và hứa hẹn

Trong phần chất vấn bằng văn bản, các kiến nghị của đại biểu tập trung vào các vấn đề: tình trạng giáo viên chưa đạt chuẩn, chương trình kiên cố hoá trường học triển khai chậm, nạn dạy thêm học thêm, tình trạng gian lận để trúng tuyển đại học...

Theo ông Hiển, giáo viên chưa đạt chuẩn phân làm 4 loại: giáo viên trẻ, giáo viên cao tuổi, giáo viên không đủ sức khỏe và giáo viên vi phạm kỷ luật. Với mỗi loại giáo viên chưa đạt chuẩn, Bộ GD&ĐT sẽ có những giải pháp phù hợp. Ví dụ, giáo viên trẻ chưa đạt chuẩn sẽ cho đi bồi dưỡng. Với giáo viên già không còn khả năng đi học nâng cao kiến thức sẽ cho về hưu sớm. Về chương trình kiên cố hoá trường học, ông Hiển thừa nhận có tình trạng chất lượng phòng học chưa đạt yêu cầu, tiến độ triển khai ở một số nơi còn chậm.

Về tình trạng thày cô thu tiền học thêm của chính học sinh mình giảng dạy chính khoá. Ông Hiển cho biết đây là vấn đề bức xúc của cử tri tại nhiều kỳ họp gần đây. Bộ GD&ĐT đã lên kế hoạch những biện pháp mạnh để xử lý.

Trong đợt rà soát vừa qua, có 90 trường hợp trúng tuyển giả, trong đó dùng giấy báo điểm giả có 68 trường hợp. "Xảy ra vụ việc này, trách nhiệm thuộc các địa phương không rà soát kỹ thí sinh trúng tuyển. Bộ GD&ĐT có lỗi do không thường xuyên đôn đốc. Mùa tuyển sinh này, Bộ yêu cầu tiến hành hậu kiểm kỹ, áp dụng công nghệ thông tin để rà soát thí sinh trúng tuyển. Với các trường hợp đã lọt lưới, kể cả đã ra trường cũng kiên quyết thu hồi bằng tốt nghiệp", Bộ trưởng GD&ĐT nói.

Ngay sau khi Bộ trưởng Nguyễn Minh Hiển kết thúc phần giải trình bằng văn bản, đại biểu Nguyễn Thị Ánh Tuyết chất vấn: "Thời gian quá dài, nhưng tại sao chúng ta không khắc phục tình trạng chất lượng giáo viên thấp. Theo Bộ trưởng, việc chậm trễ này ảnh hưởng thế nào đến chất lượng giảng dạy? "Bộ GD&ĐT đang tiến hành rà soát và sẽ giải quyết dứt điểm", ông Hiển hứa.


Đại biểu Nguyễn Lân Dũng.
Đại biểu Nguyễn Lân Dũng nêu thực trạng, chương trình sách giáo khoa hiện nay quá nhồi nhét, khiến các em không có thời gian vui chơi. Vừa qua, Liên hiệp KHKT Việt Nam có công trình nghiên cứu về chất lượng SGK, nhưng không thấy Bộ GD&ĐT tham gia. Ông Dũng chất vấn: "Nếu chương trình SGK hiện nay không đạt thì Bộ GD&ĐT có xây dựng lại chương trình SGK không?".

Bộ trưởng Hiển cho rằng, thời gian qua, SGK chưa hẳn đã hoàn thiện nhưng có tiến bộ, học sinh đã thấy hứng thú hơn. không đồng tình với quan điểm cho rằng, tình trạng quá tải của học sinh là do chương trình SGK Bộ trưởng Hiển cho rằng, ở đây có vấn đề về chất lượng giáo viên, điều kiện trang thiết bị phục vụ SGK. "Tiếp thu ý kiến của đại biểu chúng tôi sẽ mời một số nhà khoa học để thẩm định lại chương trình SGK hiện nay. Còn ý kiến của đại biểu về sự tham gia của Liên hiệp KHKT Việt Nam chúng tôi rất hoan nghênh. Chúng tôi cảm thất rất may mắn và diễm phúc khi được Liên hiệp KHKT Việt Nam hợp tác", ông Hiển nhẹ nhàng.

Xung quanh tình trạng đề thi THPT phân ban đã xảy ra nhiều sai sót và liên tiếp tái diễn mà đại biểu Nguyễn Thị Hồng Khanh chất vấn, người đứng đầu ngành giáo dục thừa nhận, một số đề thi có câu hỏi quá nâng cao là không nên. "Bộ GD&ĐT xin nhận thiếu sót, chúng tôi đã phê bình, không xét thi đua, không mời ra đề những người tham gia ra đề những kỳ thì này".

Tiếp tục đề cập tới chương trình phân ban, đại biểu Hoàng Văn Xim yêu cầu Bộ trưởng đánh giá hiệu quả của chương trình này. Ông Hiển cho biết, xu hướng phân ban tốt, nhiều nước đã làm và chúng ta cũng phải làm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng có nhiều bất cập. Bộ đã báo cáo Chính phủ và xin ý kiến điều chỉnh.

Vẫn với giọng khúc triết mạnh lạc, Đại biểu Nguyễn Ngọc Trân, dẫn ra việc một số địa phương ra quyết định khen thưởng giáo viên có thành tích chống lưu ban, bỏ học, và cho rằng, chính điều này gây bức xúc giáo viên vì tạo sức ép bắt họ phải chạy theo thành tích. Bộ trưởng Hiển thừa nhận, thời gian qua đúng là có một số tỉnh tỷ lệ bỏ học cao nên UBND tỉnh đã ..."sốt ruột" ra văn bản này.

Nghị trường Quốc hội nóng hơn khi đại biểu Dương Trung Quốc nêu lên một vấn đề thời sự tại ở kỳ thi THPT vừa qua. Phao thi bán công khai, giao tận nhà, kết thúc giờ thi phao vứt ngập trường học. Trong thời gian thi, nhiều Hội đồng thi người nhà thí sinh bắc thang ném phao cho con em, các giám thị thả lỏng cho thí sinh quay cóp.

"Chất lượng giáo dục đang thể hiện bằng điểm số bài thi. Nhưng có những thí sinh vì trung thực không cạnh tranh được với thí sinh quay cóp. Hiện tượng này đã kéo dài nhưng tại sao vẫn chưa giải quyết? Bộ trưởng hứa giải quyết dứt điểm vấn đề này thế nào trong các kỳ thi tới", ông Quốc gay gắt.

"Chúng tôi xin nhận thiếu sót là chưa có giải pháp chặn đứng nạn dùng phao. Nhưng năm nay, kỳ thi đã có nhiêù tiến bộ. Theo đánh giá của nhiều thày, cô cách ra đề thi đã vô hiệu hoá việc dùng phao, giám thị cũng nghiêm khắc hơn. Nhiều học sinh đem phao nhưng không sử dụng được nên vứt ở cổng trường", ông Hiển nói.

Kể câu chuyện về việc đi tiếp xúc cử tri ở Bắc Ninh, đại biểu Vũ Thanh Lịch chất vấn: "Cử tri hỏi Luật Giáo dục có cấm giáo viên phát đơn đưa cho phụ huynh, bắt họ phải ký đơn xin cho con học thêm không. Đây có phải là chủ trương của Bộ không?"Bộ trưởng Hiển đáp: "Chúng tôi không chấp nhận vấn đề này. Đại biểu gửi địa chỉ cụ thể chúng tôi sẽ yêu cầu Sở GD&ĐT Bắc Ninh kỷ luật hiệu trưởng của trường học mà cử tri nêu".

Kết thúc phiên chất vấn Bộ trưởng GD&ĐT còn 4 đại biểu đăng ký chất vấn. Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh yêu cầu Bộ trưởng GD&ĐT trả lời bằng văn bản.

Việt Anh

Ý kiến của bạn:

http://www.vnexpress.net/Vietnam/Xa-hoi/2005/06/3B9DF085/


HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Bộ trưởng Giáo dục - 10.06.2005 03:20:54
.
Ý kiến của bạn:

Mong Bạn cùng nêu ý kiến.

Chúc vui với giáo dục

CuuLong
  • Số bài : 1487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.06.2005
RE: Bộ trưởng Giáo dục - 10.06.2005 17:54:59
Nói hòai , nói mãi cũng vậy thôi
Quan lại ngày nay lũ hợm đời
Tham ô, móc ngoặc hơn ăn trộm
Kết bè, kéo đảng quá lưu manh
Uổng công bao lớp cha anh
Để cho lớp trẻ hổ danh muôn đời.[sm=kaioken.gif]

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ - 24.06.2005 12:42:53
Phỏng vấn Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, một chuyên gia về giáo dục trẻ em và cố vấn gia đình về phương cách giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ

21-June-2005


Sau nhiều năm sinh sống tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt đã gặt hái được nhiều thành công trong các lãnh vực kinh tế và giáo dục, tuy nhiên đối với một số phụ huynh, nhất là những người mới đến Hoa Kỳ trong những năm gần đây thì họ vẫn cảm thấy rằng việc dạy dỗ con cái vẫn còn là một vấn đề khó khăn vì chúng hội nhập quá nhanh vào xã hội Mỹ.

Tuy nhiên theo các chuyên gia về giáo dục trẻ em thì nếu các bậc làm cha mẹ sớm biết thích nghi với hoàn cảnh mới và hiểu được đường lối giáo dục của Tây phương thì những trở ngại vì sự khác biệt giữa 2 nền văn hóa Đông Tây có thể vượt qua được. Mời quí vị nghe một số nhận định về vấn đề này của Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, một chuyên gia về giáo dục trẻ em và cố vấn gia đình về phương cách giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ, qua cuộc phỏng vấn do Trần Nam trong Ban Việt Ngữ của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ thực hiện:

Kính chào Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, xin cô cho biết hoàn cảnh nào đã khiến cho cô quyết định chọn ngành giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ?

Thưa anh khi qua đây em không bao giờ nghĩ rằng em có thể học bên Mỹ được. Sau một thời gian làm việc và thấy không có việc làm nào hợp với khả năng thì em mới quyết định đi học thêm mấy lớp tiếng Anh được gọi là ESL. Sau đó em có ý định đi học để lấy một cái bằng để làm một cô giáo phụ tức là Teacher Assistant, chứ không bao giờ em dám mơ ước có thể trở thành một cô giáo ở bên nước Mỹ vì tiếng Mỹ không phải là ngôn ngữ của chúng ta và bản thân của em nửa. Tuy nhiên sau khi học mấy lớp Anh Văn rồi em cảm thấy không có gì khó lắm, và em lại may mắn có được một công việc làm, đó là dạy các em nhỏ . Khi dạy các em nhỏ em có đi học một số lớp về tâm lý trẻ em, và lúc đó em nhận thấy đó là thiên đường của em vì đường lối giáo dục trẻ em bên Âu châu quá hay, quá nhân bản, bởi vì họ dạy các em từ bé để biết đâu là phải đâu là trái và họ dạy tất cả mọi người phải có lòng tôn trọng lẫn nhau. Do đó sau 2 năm dạy học em quyết định rời chỗ làm để đi học trở lại. Em thử sức và thấy học được cho nên em tiếp tục học cho đến khi xong chương trình Master . Và sau chương trình Master, đang có hứng, em học tiếp lên chương trình Doctor, và bây giờ em là Doctor Theresa Vương Anh Ý Như, em chuyên môn về giáo dục trẻ em và Family Counselling, em dịch là Cố Vấn Cho Các Gia Đình.

Thưa Tiến Sĩ Ý Như, lúc nãy cô có nói rằng khi đi học các lớp về tâm lý của trẻ em và lúc đó cô nhận thấy đó là thiên đường của cô nên cô quyết định rời bỏ nơi làm việc để theo học ngành giáo dục trẻ em. Còn có lý do nào khác để cô nhất quyết theo đuổi ngành giáo dục, một ngành mà có nhiều người cho rằng khó khăn nhưng lại không kiếm được nhiều tiền như những ngành chuyên môn khác?

Thưa anh, cái thứ nhứt em nghĩ rằng mình có cái đam mê, mình có thích thì mình mới có thể làm được cái công việc đó. Cái thứ hai là khó hay không thì em cũng không biết trả lời ra sao nửa, nhưng em có thể đồng ý là khó bởi vì cái ngành này nói nhiều lắm, tuy nhiên nếu mình mê thì có thể vượt qua cái khó đó.

Đối với một người Mỹ thì họ học không khó nhưng đối với cá nhân em thì khó hơn cho nên em phải cố gắng nhiều hơn thôi.

Trở về vấn đề tiền bạc thì em đồng ý rằng ngành giáo dục này không có làm được nhiều tiền đâu nhưng bởi vì em mê cho nên em không đặt nặng vấn đề tiền bạc cho lắm, thưa anh.

Xin cô vui lòng mô tả các công việc mà cô đang làm hiện nay?

Thưa anh hiện giờ em đang dạy về giáo dục trẻ em tại trường Đại Học Community College của thành phố Philadelphia. Em cũng làm thêm một công việc bán thời gian cho một trung tâm gọi Inter-cultural Family Sevices. Bổn phận của em trong công việc
part-time này là đi giúp đỡ tất cả các gia đình gặp khó khăn trong vấn đề giáo dục con cái về thể lý cũng như tâm lý và đời sống trong gia đình, hoặc có những trẻ em vị thành niên mà gặp trắc trở ở trường học hoặc cha mẹ không dạy dỗ các con được thì em đến để chia xẻ với cha mẹ để cha mẹ dùng các phương cách mà em đã chia xẻ để giáo dục các con.

Thưa cô, những khó khăn mà cha mẹ thường hay gặp phải trong vấn đề giáo dục con cái là những khó khăn nào?

Thưa anh, theo em nghĩ thì những khó khăn đã đến từ cha mẹ nhiều hơn là đến từ các em bé. Em nói như vậy có thể quí thính giả khi nghe không đồng ý. Cha mẹ Việt Nam chúng ta đã đến từ một nền văn hóa Á Châu và khi chúng ta ở bên này chúng ta hội nhập vào nền văn hóa Tây Phương thì chúng ta có cảm tưởng như là con cái chúng ta khó dậy, mất dậy, nếu chúng ta dùng chữ mất dậy, tùy theo tình trạng mà chúng ta cảm thấy thất vọng.

Tuy nhiên em nghĩ rằng nếu cha mẹ biết update cái kiến thức của họ, biết cập nhật hóa cái đường lối giáo dục bây giờ, open mind, tức là cởi mở hơn, cho con cái được phép thưa nói, cho con cái được chia xẻ những thắc mắc, những ưu tư, và khi hiểu nhau rồi thì đôi bên có thể cộng tác với nhau và xây dựng một mái ấm gia đình được. Còn bao lâu mà cha mẹ cứ khăng khăng rằng tao đúng mày sai, không bao giờ cho các con có cơ hội được chia xẻ cái tâm tư và ước nguyện của mình thì làm sao chúng ta có thể giáo dục con cái của chúng ta được. Ý Như cũng xin thưa với anh rằng cha mẹ Việt Nam qua bên nay khổ tâm rất nhiều vì cha mẹ Việt Nam nghĩ rằng các em ở bên này rất khó dậy. Tuy nhiên không phải như vậy đâu mà tại vì chúng ta chưa hiểu các cháu và có thể rằng chúng ta chưa dùng đúng cách giáo dục con cái của chúng ta đó thôi.

Ngoài những vấn đề vừa kể, có những điều gì khác mà các bậc làm cha mẹ thường hay than phiền nhiều nhất trong vấn đề giáo dục con cái?

Thì như em đã thưa với anh vừa rồi, nhiều khi con cái không có như mình nghĩ nhưng vì mình muốn con cái làm theo ý mình, và khi con cái không theo ý mình thì mình cho là con cái hư. Có một câu nói như thế này, không có học trò nào ngu mà chỉ có nhà trường không biết dạy dỗ học trò, và em tin câu này vô cùng.
Em trở lại vấn đề cha mẹ, không có con cái nào hư nhưng chỉ có cha mẹ có thể chưa biết dạy dỗ con cái cho đúng cách mà thôi.

Cô có nghĩ rằng cha mẹ là những người đóng một vai trò quan trọng trong việc giáo dục con cái để chúng trở thành những học trò giỏi ở nhà trường và những công dân tốt trong bất cứ xã hội nào?

Thưa anh đúng như vậy, một danh nhân bên Âu Châu đã nói như thế này: cha mẹ là bậc thầy giáo đầu tiên của con cái, và trong cái nhìn của em thì cha mẹ không khác gì những người trồng cây. Nếu cha mẹ trồng cây mà cái gốc của cái cây được tốt thì cái cây đó sẽ lớn lên và sinh sôi nẩy nở, cành lá sum xuê, và nếu cái cây đó ra ngoài gặp sóng gió bão táp thì cùng lắm cũng chỉ rụng vài ba chiếc lá mà thôi chứ cái cây đó không thể gẫy đổ được. Tuy nhiên nếu cha mẹ, người trồng cây, mà không trồng cho cây đó được tốt thì khi ra ngoài gặp sóng gió bão táp, cái cây đó sẽ bị gẫy liền, và rồi khi đó mình chửi các con của mình là chúng mày hư lắm, chúng mày thế này thế kia, thì điều này em không đồng ý.

Thưa cô, tại Hoa Kỳ thường thường trẻ em khi đến trường học thì nói tiếng Anh với thầy giáo, với bạn bè, còn khi về nhà thì cha mẹ ông bà thường là nói tiếng Việt, như vậy sự khác biệt về ngôn ngữ có phải là yếu tố quan trọng khiến cho việc dậy dỗ con cái trong gia đình trở nên khó khăn hơn không?

Câu hỏi của anh, em có thể chia làm 2 phần. Ngôn ngữ là quan trọng bởi vì ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta có thể communicate, tức là có thể liên lạc với nhau. Tuy nhiên nếu nói rằng sự khác biệt về ngôn ngữ là yếu tố quan trọng khiến cho việc giáo dục các em trở nên khó khăn thì em không đồng ý hoàn toàn 100% bởi vì dù rằng cha mẹ nói tiếng Việt các con nói tiếng Anh nhưng mà họ vẫn hiểu nhau. Có nhiều gia đình em biết, con cái của họ nói tiếng Mỹ mà vẫn hiểu cha mẹ nói tiếng Việt, họ vẫn có thể dạy con được nếu mình biết cách dạy con đúng cách như em đã thưa với anh trong câu hỏi trước đây.

Cám ơn Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như đã dành cho Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ cuộc phỏng vấn hôm nay.

Phỏng vấn Tiến Sĩ Teresa Vương Anh Ý Như, một chuyên gia về giáo dục trẻ em và cố vấn gia đình về phương cách giáo dục trẻ em tại Hoa Kỳ

21-June-2005

http://www.voanews.com/vietnamese/2005-06-21-voa13.cfm

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Cách học và dạy - 27.06.2005 10:52:33
Chủ Nhật, 26/06/2005, 05:12 (GMT+7)

2006 - Bắt đầu lộ trình đổi mới giáo dục đại học...


Click: Bà Trần Thị Hà


TTCN - “Đây chính là một cơ hội lớn cho giáo dục - đại học (GDĐH) Việt Nam. Tất nhiên nó sẽ đi kèm những thách thức cũng rất lớn”. Bà Trần Thị Hà - vụ trưởng Vụ Đại học & sau đại học - mở đầu cuộc trao đổi với TTCN.

Đánh giá về những yêu cầu bức thiết đòi hỏi hệ thống GDĐH phải có sự đổi mới, bà Trần Thị Hà nhìn nhận:

- Tuy có những cố gắng nhưng nhìn chung, sự chuyển biến của GDĐH nước ta còn chậm và vẫn trong tình trạng yếu kém, bất cập. Trong đó, yếu kém lớn nhất, gây nhiều lo lắng cho xã hội và làm trở ngại tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước và hội nhập quốc tế là sự bất cập về khả năng đáp ứng của hệ thống GDĐH đối với nhu cầu đào tạo nhân lực cho đất nước và nhu cầu học tập của nhân dân. Hiện qui mô đào tạo ĐH của chúng ta chỉ đáp ứng được khoảng 10% tỉ lệ trong độ tuổi học ĐH, chỉ là một nền GDĐH dành cho số ít.

Những biểu hiện cụ thể về sự yếu kém của hệ thống GDĐH hiện nay bao gồm: chất lượng đào tạo thấp, học không gắn với hành, nhân lực được đào tạo yếu về năng lực, phẩm chất. Mục tiêu, nội dung, phương pháp và tổ chức quá trình đào tạo chậm đổi mới hoặc không đồng bộ, còn khép kín, chưa mềm dẻo, liên thông.

Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý hẫng hụt, không đáp ứng với nhu cầu đổi mới về cả số lượng và trình độ, thiếu nghiêm trọng đội ngũ chuyên gia nghiên cứu và thiết kế chính sách GD ĐH. Hệ thống được thiết kế thiếu liên thông, chưa thích ứng với cơ chế thị trường, mạng lưới trường ĐH và viện nghiên cứu bị tách biệt và bố trí không hợp lý trên lãnh thổ, làm giảm hiệu quả đầu tư và chất lượng đào tạo nghiên cứu. Trong khi đó, công tác tổ chức quản lý, cơ chế chính sách và năng lực thực hiện bất cập.

* Theo bà, đâu là nguyên nhân tạo nên những yếu kém kể trên?

- Trong quá trình nghiên cứu xúc tiến xây dựng đề án, chúng tôi đã thống nhất đánh giá một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế là tư duy chậm đổi mới, thậm chí còn có những biểu hiện lệch lạc. Mặt khác, tư tưởng và thói quen bao cấp đối với giáo dục vẫn còn khá nặng nề trong các ngành, các cấp và trong xã hội, nguồn lực đầu tư cho GDĐH còn hạn hẹp do thói quen bao cấp, cơ chế huy động thành phần ngoài công lập chưa thích hợp, nguồn lực từ nghiên cứu triển khai quá bé nhỏ...

* Trong đề cương mà Bộ GD-ĐT chuẩn bị trình Chính phủ, đề án “Đổi mới GDĐH” hướng tới những mục tiêu nào, thưa bà?

- Đề án được xây dựng cho cả giai đoạn 2006-2020 nên trước hết chúng tôi tập trung xác định những mục tiêu tổng quát. Bao gồm: Xây dựng một nền GDĐH tiên tiến, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH-HĐH và nâng cao dân trí, tạo nên một sự thay đổi căn bản để khắc phục những yếu kém bất cập, đổi mới tư duy, xóa bỏ thói quen bao cấp đối với GDĐH, chuyển hướng GDĐH từ sự nghiệp công ích sang cơ chế dịch vụ phù hợp kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tác động phát triển khoa học công nghệ, làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời phải bảo tồn và phát huy những tinh hoa của dân tộc, góp phần tạo nên sự phát triển nhanh chóng và bền vững của đất nước trong một thế giới hội nhập.

* Đề án có tới bảy nhóm nội dung và giải pháp lớn. Vậy trong đó đâu là những giải pháp mang tính đột phá, có thể tạo ra “bước chuyển” của GDĐH VN?

Bản đề cương đề án “Đổi mới giáo dục đại học” sẽ được Bộ GD-ĐT trình Chính phủ vào đầu tháng 7- 2005. Lần đầu tiên vấn đề đổi mới GDĐH được đặt ra trong một kế hoạch tổng thể và dài hơi, thực hiện từ năm 2006 - 2020. Đề án này đang được kỳ vọng là một kế hoạch đồng bộ với những giải pháp đột phá mạnh mẽ có thể tạo ra bước chuyển biến cơ bản cho GDĐH Việt Nam.

- Đề án được thiết kế mang tính tổng thể, để đạt hiệu quả như mong muốn cũng cần thực hiện tổng thể, các giải pháp mang tính đồng bộ. Tuy nhiên, việc thực hiện được chia thành từng giai đoạn.

Trong từng giai đoạn sẽ có những giải pháp mang tính đột phá. Giai đoạn 2006-2007, trọng tâm là xây dựng sự thống nhất về ý chí và hành động của xã hội tham gia đổi mới GDĐH, đẩy mạnh xã hội hóa GD, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, xây dựng các tiểu dự án.

Giai đoạn 2008-2010, trọng tâm là tạo được chuyển biến bước đầu về chất lượng GDĐH, về cơ chế quản lý và tài chính hiệu quả, về xây dựng, nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý GDĐH. Giai đoạn 2011-2020, trọng tâm là hình thành hệ thống GDĐH hiện đại, mạng lưới các trường ĐH hợp lý, hội nhập quốc tế và đạt trình độ chất lượng khu vực.

* Trong đề cương chi tiết của đề án có xác định định hướng GDĐH sẽ thực hiện một phần hoặc toàn bộ các chương trình GD sau trung học, đa dạng về cơ cấu và phương thức đào tạo, liên thông và có nhiều đầu ra, đầu vào đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội. Với định hướng này, cơ cấu trình độ và phương thức đào tạo ĐH sẽ có gì thay đổi thưa bà?

- Chương trình GDĐH sẽ được phân chia rõ theo hai hướng chính: hướng nghiên cứu - phát triển và hướng nghề nghiệp - thực hành. Hướng nghiên cứu - phát triển về cơ bản vẫn giữ cơ cấu trình độ theo mô hình 4:2:3 tương ứng với các bằng cấp cử nhân - thạc sĩ - tiến sĩ như hiện nay.

Còn hướng nghề nghiệp - thực hành sẽ thiết kế cơ cấu trình độ theo mô hình 2:2:1:1:3, tức là thực hiện đào tạo đa giai đoạn cả chương trình ĐH (2:2), thạc sĩ (1:1) để tăng thêm cơ hội học tập và phân tầng trình độ nhân lực được đào tạo. Bộ GD-ĐT sẽ qui định thêm các văn bằng trung gian đánh dấu từng giai đoạn học tập.

Đặc biệt, hướng nghề nghiêp - thực hành sẽ được ưu tiên phát triển về số lượng, mở rộng qui mô giai đoạn đầu, các chương trình cao đẳng (CĐ) và thu hẹp qui mô giai đoạn sau nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo cơ cấu hình tháp về trình độ nhân lực đáp ứng nhu cầu sử dụng. Nhưng giữa hai hướng đào tạo kể trên có qui định về sự tương đương trình độ.


Click: Ảnh minh họa



Hệ thống GDĐH cũng sẽ được phân chia lại. Trong đó hệ thống trường THCN từng bước chuyển sang CĐ kỹ thuật với bằng CĐ kỹ thuật hai năm. Các trường CĐ cộng đồng được củng cố và phát triển phục vụ nhu cầu nhân lực cho các địa phương. Các trường ĐH mở hiện có sẽ được củng cố cùng với việc phát triển hệ thống đào tạo từ xa ở qui mô toàn quốc trên nguyên tắc mở đầu vào theo phương thức ghi danh, chuẩn về chương trình và kiểm tra đánh giá, bằng cấp được công nhận tương đương với hệ chính qui.

Trong đề cương đề án cũng chính thức đặt mục tiêu xây dựng một số trường ĐH kiểu mới, hiện đại đạt trình độ tiên tiến trong khu vực làm hình mẫu cho hệ thống GDĐH và thành lập hai trường đào tạo sau ĐH trong hai Viện Khoa học và công nghệ VN và Viện Khoa học xã hội VN. Đồng thời xây dựng một số trường ĐH trong các doanh nghiệp lớn để gắn kết đào tạo với sử dụng, ưu tiên phát triển các ĐH, CĐ tư thục, khuyến khích thành lập cơ sở đào tạo của các trường ĐH nước ngoài có uy tín tại VN...

* Vậy theo bà, để tương ứng với những thay đổi trong hệ thống GDĐH, công tác quản lý sẽ phải đổi mới như thế nào để theo kịp bước phát triển của GDĐH, không để tình trạng quản lý nhà nước “chạy” theo thực tế?

Đề cương đề án đưa ra bảy nhóm nội dung cùng các giải pháp chủ yếu. Bao gồm: cơ cấu trình độ GDĐH và hệ thống nhà trường; quản lý GDĐH; chương trình và qui trình đào tạo ĐH; xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu và cán bộ quản lý GDĐH; nghiên cứu khoa học và triển khai; tài chính và cơ sở hạ tầng cho GDĐH, và GDĐH và hội nhập quốc tế?


- Quản lý GDĐH sẽ phải đổi mới đồng bộ ở cả hai cấp: quản lý nhà nước mà trực tiếp là Bộ GD-ĐT và quản lý cấp trường. Quản lý ở cấp nhà nước sẽ theo hướng chuyển mạnh sang quản lý vĩ mô, thống nhất quản lý bằng luật và chính sách, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển. Bộ GD-ĐT sẽ chủ yếu thực hiện việc quản lý nhà nước, tức là xây dựng các văn bản pháp qui, chỉ đạo và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện đúng các văn bản đó.

Còn các trường ĐH được tăng cường quyền tự chủ và đồng thời phải nâng cao trách nhiệm xã hội của mình. Để tăng quyền tự chủ một trong các cơ chế quan trọng là thành lập các hội đồng trường và đưa chúng vào hoạt động đúng chức năng. Hội đồng trường là hội đồng có tính lập pháp và quyết định phương hướng lớn của trường đại học, còn hiệu trưởng là người điều hành thực thi.

Để nâng cao trách nhiệm xã hội của các trường, hoạt động kiểm định công nhận chất lượng sẽ được Bộ GD-ĐT triển khai thường xuyên trong toàn bộ hệ thống GDĐH. Kiểm định chất lượng là hoạt động tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài theo các tiêu chí tỉ mỉ, dẫn đến việc công nhận một trường ĐH hoặc một ngành đào tạo của trường có đạt chất lượng hay không, định kỳ công bố kết quả kiểm định cho xã hội.

* Trong lộ trình đổi mới, sự tham gia của các trường ĐH đến đâu, thưa bà?

- Các trường ĐH, CĐ là bộ phận quan trọng của đề án này và đóng vai trò rất lớn. Ngay từ bây giờ các trường cần bắt đầu khởi động, tham gia vào quá trình đổi mới GDĐH ngay từ giai đoạn xây dựng đề án.

Trong quá trình lập đề cương chi tiết cho đề án, chúng tôi cũng đã trực tiếp trao đổi với nhiều trường, tổ chức các cuộc hội thảo lấy ý kiến rộng rãi từ đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên... Bởi chúng tôi xác định ngay từ đầu: để có tính khả thi và hiệu quả cao, đề án được xây dựng phải đồng trục với chiến lược phát triển của các trường.

* Thưa bà, khi nào Bộ GD-ĐT sẽ bắt tay vào thực hiện lộ trình đổi mới GDĐH?

- Đề cương của đề án sẽ được trình Chính phủ vào đầu tháng bảy tới. Nếu được phê duyệt, Chính phủ sẽ có nghị quyết về việc xây dựng đề án “Đổi mới GDĐH” VN giai đoạn 2006-2010 và xác định nguồn kinh phí cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện đề án. Chính phủ cũng dự kiến sẽ lập một “Ban chuyên trách đổi mới GDĐH” để trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng đề án và thực hiện đề án.

Còn Bộ GD-ĐT sẽ chủ trì thành lập tổ công tác xây dựng đề án gồm các chuyên gia về GDĐH và liên ngành, trong đó có một số chuyên gia nước ngoài. Dự kiến đến cuối tháng 6-2006 đề án sẽ hoàn thiện và bắt đầu triển khai thực hiện giai đoạn đầu với đích ngắm là năm 2010 với một số mục tiêu cụ thể như các trường ĐH cơ bản chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, thực hiện đại trà kiểm định chất lượng...

THANH HÀ thực hiện

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=85361&ChannelID=13

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Cải thiện các tiêu chuẩn - 30.06.2005 04:19:07
Ngân Hàng Thế Giới và 5 nước trao tặng viện trợ khác cho Việt Nam vay 128 triệu đôla để cải thiện các tiêu chuẩn giáo dục

29-June-2005

AP


Ngân Hàng Thế Giới và 5 nước trao tặng viện trợ khác đã cho Việt Nam vay 128 triệu đôla để cải thiện các tiêu chuẩn giáo dục.

Theo tin AFP, Ngân Hàng Thế Giới cho Việt Nam vay 50 triệu đôla để cải thiện hạ tầng cơ sở, công tác giảng huấn, học liệu và sự tham gia của cộng đồng. Bỉ, Canada, Ủy Hội Âu Châu, New Zealand và Anh quốc cung cấp thêm ngân khoản để nâng số tiền này lên 128 triệu.

Chương trình này nhằm vào những khu vực gánh chịu những tiêu chuẩn giáo dục thấp kém, và chủ yếu để giúp học sinh nghèo, các sắc tộc thiểu số và trẻ em bị khuyết tật hoặc tàn phế. Đại diện Ngân Hàng Thế Giới tại Việt Nam, ông Klaus Roland, nói rằng cải thiện giáo dục là mục tiêu chính yếu trong chiến lược của Việt Nam nhằm cắt giảm tình trạng nghèo khó và phát triển kinh tế.

http://www.voanews.com/vietnamese/2005-06-29-voa8.cfm

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Tầm nhìn thế kỷ XIX - 01.07.2005 15:28:32
29 Tháng 6 2005 - Cập nhật 21h29 GMT

Biến đổi trong xã hội miền Nam thế kỷ 19


'Miền Nam Việt Nam dưới thời vua Minh Mạng' là tên một nghiên cứu mới xuất bản năm 2004 - đây là lần đầu tiên sau 30 năm mới lại có một cuốn sách tiếng Anh viết về miền Nam trong 40 năm đầu thế kỷ 19.

Cuốn "Southern Vietnam under the reign of Minh Mạng (1820-1841): Central policies and local response" của Choi Byung Wook, một nhà nghiên cứu Nam Hàn, và do ĐH Cornell xuất bản.

Dưới đây là bài điểm sách của Liam C. Kelley, giáo sư ĐH Hawaii, Manoa, in trong Journal of the Economic and Social History of the Orient, VOL. XLVII, 2004:

Trong vài năm qua, một nhánh của nghiên cứu về lịch sử Việt Nam đã xuất hiện, với trọng tâm về cuộc mở rộng về Nam của các dân tộc Việt vào đồng bằng sông Mêkông trong thế kỷ 17 và 18, và nỗ lực của họ trong việc cai trị ở các vùng đất mà ban đầu có dân cư là những nhóm sắc tộc khác.

Được củng cố chủ yếu bởi các sử gia ở Úc Li Tana và Nola Cooke (cả hai đang công tác ở Đại học Quốc gia Úc), nhưng cũng được khuyến khích ở Mỹ bởi Keith Taylor ở ĐH Cornell, xu hướng mới này nhấn mạnh các yếu tố “phi truyền thống” (so với miền Bắc Việt Nam”) của các xã hội hình thành ở khu ngoại biên này, các xã hội mà những nhà nghiên cứu này cho rằng có sự cởi mở hướng đến tính đa dạng.

Cuốn Miền Nam dưới triều Minh Mạng của giáo sư Choi Byung Wook, ĐH Quốc gia Seoul, là một sự bổ sung, và cũng là sản phẩm, của nhánh nghiên cứu này.

Dựa trên một luận án tiến sĩ ông viết tại ĐH Quốc gia Úc, bản thảo của Choi mở đầu trong thế giới tự chủ về chính trị, hỗn tạp về văn hóa và sắc tộc tại đồng bằng sông Mêkông vào cuối thế kỷ 18. Tác phẩm sau đó quan sát nỗ lực của vua Minh Mạng muốn áp đặt một mức độ thuần nhất về sắc tộc và văn hóa lên khu vực này vào những năm 1830 và đăṭ nó dưới sự kiểm soát chính trị trực tiếp. Tác giả khảo sát nhiều nguồn tư liệu gốc bằng tiếng Hoa (văn bản triều Nguyễn, địa bạ), và tác phẩm bằng tiếng Việt, Triều Tiên, Nhật, Pháp và Anh. Choi ghi lại chi tiết những biến chuyển hấp dẫn về xã hội và chính trị mà miền Nam trải qua trong nửa đầu thế kỷ 19.

Cuốn sách chia làm hai phần. Phần đầu, đặt tựa “Uy quyền địa phương và sự biến mất của nó”, nhìn miền Nam trong những thập niên trước khi nó sát nhập vào vương quốc nhà Nguyễn. Giáo sư Choi mở đầu trong chương thứ nhất, “Di sản của chính quyền Gia Định (1788 – 1802)”, với việc xem xét sự xuất hiện của một cơ cấu chính trị ở đồng bằng sông Mêkông mà ông gọi là “chính quyền Gia Định”. Vào cuối thế kỷ 18, chiến tranh phủ kín Việt Nam khi phong trào Tây Sơn kết liễu nhà Lê và hai phe Trịnh, Nguyễn. Khi bắt đầu đẩy lui Tây Sơn và thống nhất vùng đất, Nguyễn Phúc Ánh đã thành lập căn cứ tại Gia Định năm 1788.

Choi cho rằng ‘chính quyền Gia Định’ này quan trọng bởi vì nó không đơn giản chỉ là hòn đá tảng trên con đường chinh phục của Nguyễn Ánh, mà nó đánh dấu sự xuất hiện của một thực thể chính trị “dựa vào sự chủ động của dân Gia Định”. Theo Choi, nó cũng đánh dấu sự trỗi dậy, hay có lẽ là sự hợp nhất, của một bản sắc cụ thể – bản sắc này dung thứ các nhóm sắc tộc và tôn giáo, và cho phép một mối quan hệ ‘mang tính cá nhân hơn là quan cách’ giữa tầng lớp thống trị.

Chính cái khía cạnh ‘tương đối bình đẳng’ này tại miền Nam cuối thế kỷ 18 đã được Choi gọi là ‘di sản của chính quyền Gia Định’. Di sản này tiếp tục định hình cuộc sống ở vùng này ngay cả sau khi chính quyền Gia Định đã bị thay bằng Gia Định Thành Tổng Trấn, một chính quyền quân sự tự trị mà triều Nguyễn lập ra để quản lý miền Nam từ năm 1808.

Đây là tác phẩm mang tính tiên phong, đi vào lãnh địa chưa được khai thác và mở đường cho những người khác đi theo.

Chương hai của cuốn sách, “Chính quyền Gia Định (1808-1832) và Lê Văn Duyệt”, khảo sát cuộc sống dưới chế độ quân sự này. Mặc dù Choi tìm thấy bằng chứng về di sản của chính thể Gia Định cũ trong những năm này, đặc biệt là có sự dung thứ của Lê Văn Duyệt với tín đồ Công giáo và người Hoa, nhưng ông cũng để ý sự xuất hiện của các cách nhìn đối lập quanh câu hỏi đối xử với các sắc dân này như thế nào. Các cách nhìn này xuất phát từ triều đình đặt ở Huế, đặc biệt được vua thứ hai, Minh Mạng, thể hiện mạnh mẽ.

Sự chán ghét của vua Minh Mạng đối với phong cách cai trị của Lê Văn Duyệt và đồng bạn miền Nam là chủ đề của chương ba, “Tước bỏ quyền lực miền Nam”.

tiếp.....


HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Tầm nhìn thế kỷ XIX - 01.07.2005 15:32:48
tiếp.....

Đầu thập niên 1830, vua Minh Mạng bắt đầu có nỗ lực phá vỡ quyền lực và uy tín của giới cai trị miền Nam. Khi Lê Văn Duyệt qua đời năm 1832, vua Minh Mạng xóa bỏ bộ máy quân sự tự trị tại miền Nam và đặt vùng này dưới sự kiểm soát trực tiếp của trung ương, bổ nhiệm quan chức từ các vùng khác đến đây trấn giữ. Sau đó là sự cấm đoán đạo Công giáo và theo dõi các hoạt động thương mại của người Hoa. Choi đề cập các diễn biến này và sau đó ngắn gọn xem xét cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi, đã nổ ra để phản ứng trước các đổi thay.

Trong phần hai cuốn sách, giáo sư Choi khảo sát các nỗ lực của Minh Mạng biến đổi vùng này sau khi đã sát nhập nó vào vương quốc. Phần này nhan đề “Những đặc điểm mới dưới thời Minh Mạng”, và nó mở đầu bằng chương thứ tư nói về “Sự giáo hóa của Minh Mạng với người miền Nam”.

Trong chương này, Choi kể lại làm thế nào mà bắt đầu từ thập niên 1820, nhưng đặc biệt tăng lên từ 1830 sau cái chết của Lê Văn Duyệt, vua Minh Mạng đã tìm cách phát triển ở miền Nam một cảm thức trung thành với trung ương thông qua việc thành lập trường học, ra huấn dụ đạo đức, và quảng bá các điện thờ đại diện cho uy quyền triều đình.

Những nỗ lực này nhằm đưa người Việt ở miền Nam vào quỹ đạo của triều đình trung ương. Cùng lúc đó, các nỗ lực khác cũng được nhắm tới các nhóm sắc tộc khác ở đây. Đây là chủ đề của chương thứ năm, “Giá của chính sách đồng hóa của Minh Mạng.” Tại đây, tác giả khảo sát nỗ lực của nhà Nguyễn khi ‘Việt hóa’ người Khmer, Hoa và các nhóm sắc tộc khác ở miền Nam, cũng như các cuộc nổi loạn để phản ứng những chính sách này.

Chính sách về đất đai của vua Minh Mạng ít tạo ra phản ứng đối nghịch hơn so với hai dạng chính sách ở trên. Năm 1836, nhà vua ra lệnh là hệ thống đo đạc đất ở miền nam phải giống như hệ thống trên toàn quốc.

Như Choi giải thích, các chính sách này đã không tạo ra phản ứng tiêu cực vì Minh Mạng khôn ngoan khi ông bảo vệ quyền sở hữu của người miền Nam. Choi cho rằng việc tiêu chuẩn hóa việc đo đạc đất đai đã giúp một số người giàu có ở miền Nam thu vén thêm đất. Kết quả là đến giữa thế kỷ 19, có một bộ phận trong xã hội miền Nam giàu có, an tâm và sống trong một xã hội thuần nhất hơn khi so với nhiều thập niên trước. Giờ đây họ cũng trung thành hơn với chính quyền trung ương.

Quyển sách là sự bổ sung mới ở chỗ nó khai phá lĩnh vực mới, tức là nửa đầu thế kỷ 19, và đây là ưu điểm lớn của sách.

Như đã nói ở trên, tác phẩm của Choi Byung Wook vừa là sự bổ sung, vừa là sản phẩm, của một nhánh mới trong nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, tập trung vào việc mở rộng biên giới phía Nam và, trong sách của Choi, sự biến mất của nó. Quyển sách là sự bổ sung mới ở chỗ nó khai phá lĩnh vực mới, tức là nửa đầu thế kỷ 19, và đây là ưu điểm lớn của sách. Thật tuyệt khi giờ đây có một bản thảo ghi chi tiết một số vấn đề và sự kiện chính từ nơi và thời kì này. Choi đặc biệt cừ khôi khi thảo luận các chính sách của vua Minh Mạng, xem xét các tư tưởng mà chúng dựa vào và lần ra ảnh hưởng của chúng.

Tuy nhiên, tác phẩm của Choi cũng là sản phẩm của xu hướng mới ở chỗ nó giữ nguyên giọng điệu của các tác phẩm đi trước. Giống như cách Frederick Jackson Turner mô tả biên giới Hoa Kỳ, Taylor, Li và Cooke, ở mức độ khác nhau, đều mô tả vùng miền Nam theo nghĩa tích cực. Họ nhấn mạnh sự cởi mở trước tính đa dạng và sự tự do tương đối thoát khỏi ý thức hệ Khổng giáo. Choi rõ ràng đi theo mô hình này, đặc biệt trong nửa đầu tập sách, và đây cũng là phần yếu hơn trong tập sách. Trong sách này, người đọc được khuyến khích hãy hình dung miền Nam theo nghĩa tích cực, như là vùng đất của hòa bình và dung thứ, một vùng đất mà sau đó đã bị chính sách của Minh Mạng hủy diệt. Mặc dù Minh Mạng rõ ràng đem lại các thay đổi lớn ở đồng bằng sông Mêkông, nhưng sự mô tả tích cực mà Choi dành cho miền Nam trong cuối thế kỷ 18 và đầu 19 tỏ ra hơi ngây thơ.

Lấy ví dụ về vấn đề quan hệ sắc tộc. Ngược với nỗ lực đồng hóa của Minh Mạng, tác giả Choi ghi nhận rằng vào cuối thế kỷ 18, Nguyễn Phúc Ánh đã cố gắng “phân rẽ mỗi nhóm sắc tộc, cho phép họ duy trì tự chủ và đã bảo vệ môṭ số quyền của họ”. Để lấy bằng chứng, Choi trích lời Nguyễn Ánh nói rằng “hán di hữu hạn”, mà Choi dịch là “người Việt và man di phải có biên giới rõ rệt”, rồi ông giải thích là “đây không phải là sự bày tỏ phân biệt ở Gia Đình, mà là sự bày tỏ ý tưởng của Nguyễn Ánh rằng các nhóm Việt và sắc tộc khác phải sống riêng rẽ.” Ở đoạn sau đó, Choi gọi điều này là “quan hệ hợp tác”. Cái cách nói “hán di hữu hạn” về nghĩa đen có nghĩa “có sự phân chia rõ rệt giữa người Hán và giống man di.” Dù nó có thể hiện sự “phân biệt” hay không, nó rõ ràng thể hiện một cảm giác đứng trên về văn hóa và sắc tộc, và không hề bày tỏ cảm giác “hợp tác.”

Choi đã đọc các nguồn tư liệu để tìm kiếm thông tin hỗ trợ luận cứ của ông thay vì thật sự cố gắng xem xét chúng thể hiện gì về xã hội này.

Tuy nhiên những vấn đề về cấp bậc và thế đứng trên lại đối nghịch với bức tranh mà Choi muốn vẽ cho miền Nam thời trước Minh Mạng. Để chứng minh về một xã hội “tương đối bình đẳng” và “dung thứ”, rõ ràng Choi đã đọc các nguồn tư liệu để tìm kiếm thông tin hỗ trợ luận cứ của ông thay vì thật sự cố gắng xem xét chúng thể hiện gì về xã hội này.

Đây là điều đáng tiếc bởi vì về nhiều mặt, tác phẩm này rất hay. Thật là vui khi thấy một học giả sử dụng các nguồn tư liệu gốc, chứ không phải bản dịch tiếng Việt, để làm nghiên cứu về Việt Nam thời hiện đại. Cũng thật khâm phục khi thấy các vấn đề quan trọng trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 19 đã đươc trình bày chi tiết như vậy.

Đây là tác phẩm mang tính tiên phong, đi vào lãnh địa chưa được khai thác và mở đường cho những người khác đi theo.

Tuy nhiên, những sử gia tương lai cũng sẽ phải sẵn lòng vượt qua cách tiếp cận kiểu Turner khi nghĩ về các vùng biên, và sẵn lòng nhìn thấy những bụi bặm, máu, mồ hôi và sự áp bức mà bức tranh thiện cảm này đã che dấu.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/entertainment/story/2005/06/050629_southervietnambook.shtml

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Văn hóa khạp và lu... - 01.07.2005 15:51:47
Văn hóa khạp và lu...








Í, văn hoá gì mà lu vàkhạp hay khạp và lu. Bạn có nói lộn xin noí laị đi.

Không phải nói lộn; mà là cái bình nylon maù vàng kia để lộn. Nơi đó phải là cái gáo dừa xiêm già tra caí cán daì bằng cây xim và mốc vào cây dưng bên cái lu nhỏ kê trên caí ghế hay caí chảng ba....

Đó mới đúng là văn hóa khạp hay lu. Nói nôm na là văn minh Miệt Vườn. Tân tiến là Cộng Đồng....

Và mời Bạn xem bài kế...

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
RE: Văn hóa khạp và lu... - 01.07.2005 15:54:53
Văn hóa khạp và lu...

Wednesday, June 29, 2005


Khạp nước giải khát bên đường ở huyện Cần Ðước, Long An.

Vựa bán lu ở huyện Cần Ðước, tỉnh Long An.

Lu nước rửa chân ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.


Trần Tiến Dũng/Người Việt


Bà con sống ở hai bên con kinh Ðạo Hổ chảy qua xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, mấy ngày nay đang râm ran tán chuyện một bà Việt kiều Mỹ, em ông S. - sắp tới đây sẽ bỏ ra hơn một trăm triệu đồng Việt Nam làm cầu bê-tông cốt thép cho dân ấp Tân Hưng.

Vì cái cầu của bà Việt kiều còn đang trong vòng bàn tính nên chúng tôi chọn đò ngang để qua kinh. Khi chúng tôi đứng chờ đò ngang, con kinh đang lúc nước ròng. Trên đầu bến, chỗ có bậc thang bằng gỗ tạp dẫn xuống đò, tôi thấy có một cái lu đầy nước, trong lu có cái thau nhựa nhỏ màu vàng. Không biết cái lu sành còn tốt này của ai, không dưng để ngay bến đò này làm gì? Không sợ trộm khiêng hay con nít phá bể sao? Chúng tôi đem những điều thắc mắc hỏi anh X, ông chủ nhà của cái đám giỗ mà chúng tôi sẽ tới ăn. Anh X nói:

- Ðể gặp lúc nước ròng khách lên xuống có nước mà rửa chưn.

Chúng tôi buộc miệng kêu lên:

- Dân ở đây có sáng kiến hay quá hả!

Anh X khoát tay:

- Bậy, cái nếp ông bà để lại chứ sáng kiến gì. Xưa nay khắp miền Tây sông nước này ở đâu cũng vậy.

Chúng tôi hỏi:

- Rồi hàng ngày ai múc nước đổ vô cho thiên hạ rửa chưn? Chắc là phải thu phí để có tiền mướn người làm việc đó chớ hả?

Một người đàn bà trên đường đi chợ, đang múc nước từ trong cái lu đứng rửa hai cái bắp chưn trắng nõn nói:

- Ai rảnh, thấy hết nước thì xách. Chớ hở một chút nói chuyện tiền bạc như dân ở thành phố, sao còn dám nhìn mặt ai.

Hồi đầu năm, anh một người bạn tôi từ Canada về lấy cốt một ông anh chôn ở một nghĩa trang sẽ giải tỏa trên Ðà Lạt. Lúc đi trên đường từ Sài Gòn ra cứ mỗi bận xe dừng lại ở các trạm thu phí giao thông, bà con đi cùng xe ai cũng bực mình, có người gay gắt nói:

- Tôi thấy đâu có khác gì nạn cướp đường mãi lộ đời xưa!

Ông Việt kiều trả lời:

- Chú không nói vậy được! Hãy tập thói quen vui lòng trả phí. Về nước đi chỗ nào có thu phí là tôi thấy chỗ đó đàng hoàng hơn mấy chỗ xài chùa. Ở xứ văn minh người ta nhờ làm vậy mà khá.

Chị vợ tôi, một Việt kiều Mỹ, năm nào cũng về Việt Nam. Về thường như vậy nên chị tin rằng cái đường ruột của chị đã “nội địa hóa” cứ tha hồ ăn hột vịt lộn, gỏi cuốn vỉa hè. Trong một lần “chơi” hai dĩa gỏi khô bò và một ly chè đậu đỏ nước cốt dừa, trên đường từ chợ Bến Thành về nhà chị tôi bị đau bụng. Chị biểu tôi tìm cho chị một nhà vệ sinh công cộng gần nhất để xả “bầu tâm sự.”

Tôi nói:

- Không vô đó được đâu chị ơi!

Chị tôi hốt hoảng:

- Sao vậy em? Chị chịu hết nỗi rồi!

Tôi hiểu tình cảnh không thể “chờ đợi” của chị. Nhưng đa số nhà vệ sinh công cộng mới lập ở một số vỉa hè khu trung tâm nội thành Sài Gòn đã biến chất trở thành một thứ phòng riêng của dân xì ke và các cô điếm già và kinh khủng nhất là chuyện mất vệ sinh. Tôi đành liều mạng chạy đại vào một căn nhà mặt tiền đường Xô Viết Nghệ Tỉnh để hỏi cho chị đi nhờ. Tất nhiên là tôi bị chủ gia từ chối. Tôi tin mình sẽ bị cả khu phố này từ chối dài dài nếu tiếp tục chai mặt hỏi chuyện đi toa-lét nhờ. Cuối cùng chị tôi cũng giải quyết được “tâm sự” trong một quán cà phê sang trọng.

Tất nhiên vì cái bụng đang “xấu” của chị tôi mà chúng tôi phải trả tiền hai ly cà-phê có giá cắt cổ, trong trường họp ngặt nghèo này chúng tôi phải “mang ơn” cái quán cà-phê đó không hết chớ nào có sá gì chuyện tốn “phí đi cầu” hết mấy chục ngàn đồng.

Chúng tôi chỉ tự hỏi, vì sao tinh thần cộng đồng của cư dân Sài Gòn ngày nay lại xuống cấp đến thế! Trong một đô thị gần 10 triệu dân, ở mọi đầu đường đầu hẻm đi đâu cũng thấy chính quyền hô hào bắt dân góp tiền lập cổng chào tự giới thiệu là khu phố, phường xã văn hóa nhưng thật không thể tìm được sự tự nguyện giữ gìn một nếp văn hóa đẹp như chuyện cái lu rửa chân của người dân quê ở miền Tây. Anh LNP, một ông thầy giáo tiểu học, bực tức nói: “Dân tình ngày xưa sống có nếp lắm đâu tệ vậy!”

Trong một quán cà phê trước chợ mới Phú Nhuận. Ông U - một người làm nghề giữ xe, kể:

- Ông nhớ chuyện cái khạp nước với cái gáo hoặc cái ca múc nước để ngoài cổng rào dành riêng cho người đi đường lỡ bước giải khát không? Trước đây khắp Nam Kỳ lục tỉnh đi đâu cũng gặp. Ðời bây giờ dù có đi gãy chưn, tôi đố ông kiếm được?

Tất cả những người có tuổi đang uống cà phê trong quán đều thấy thú vị khi nhớ lại hình ảnh cái khạp nước ngọt mà chủ gia luôn dành riêng cho người dưng nước lã đó. Chuyện cái lu chứa nước rửa chưn và cái khạp nước mưa giải khát không chỉ đơn giản là những phương tiện giúp đỡ người qua đường. Hình ảnh đầy ấp ý nghĩa và tình cảm cộng đồng này luôn là thứ động lực tạo nên tính cách hào phóng của người miền Nam. Bởi mọi người dù đến trước hay đến sau cũng từ tứ xứ tìm đến vùng đất này và cái hạnh phúc cuối cùng ai cũng muốn có là cùng nhau sáng tạo bản sắc văn hóa cộng đồng. Một dẫn chứng rõ nét về tinh thần văn hóa đó không gì hơn là chuyện cái khạp giải khát và cái lu rửa chưn, những vật thể tuy mộc mạc bình dị nhưng một thời là tài sản văn hóa nhân văn chung của đất và người miền Nam.

Một tay chơi còn trẻ, mặt rất “cô hồn” nói:

- Thời của mấy ông mắc chứng gì mà có dân tốt dữ vậy! Có ai bây giờ chơi khùng thử giống vậy, vui à nghen.

Trong quán tuy không ai chấp nhất lời lẽ thiếu văn hóa của người thanh niên này nhưng mọi người không thể không ngậm ngùi.


Tháng 6/2005

Trần Tiến Dũng

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=28036&z=1


HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
SV: 3 ý kiến - 04.07.2005 16:26:44
Thứ Bảy, 02/07/2005, 14:09 (GMT+7)

3 ý kiến của một sinh viên

(Nhân đọc bài viết “Đổi mới giáo dục đại học theo hướng nào”
của GS Hoàng Tụy đăng trên TTCN số 25-2005)



TTCN - Những điều GS Hoàng Tụy viết về việc cải cách giáo dục ĐH vẫn còn ở tầm cao so với nhận thức của một sinh viên năm hai như tôi. Nhưng nhân một “cuộc cách mạng” của ngành giáo dục, tôi - với tư cách là một sinh viên - xin có vài ý kiến.

Thứ nhất, chương trình ĐH và chương trình ở bậc phổ thông hiện nay chưa có một sự chuyển tiếp hợp lý. Tôi thấy những điều GS Hoàng Tụy viết ở tầm vĩ mô đến mức không hề đề cập đến việc phải thay đổi chương trình cho phù hợp! Khi học cấp III, tôi đã từng là một học sinh xuất sắc, nhưng khi vào năm nhất ĐH, tôi và rất nhiều bạn sinh viên cùng lớp (dù tất cả đều đỗ cao trong kỳ tuyển sinh ĐH) đều cảm thấy hụt hẫng, dẫn đến rất hoang mang.

Chúng tôi giống như đang tham gia thi nhảy sào nhưng chỉ được chạy đà vài bước mà thôi. Ai có sức bật lớn sẽ qua dễ dàng, ai không có thì đành phải... chui qua. Còn những ai thường thường bậc trung, cố gắng thì sẽ qua được nhưng thể nào cũng u đầu sứt trán. Lẽ nào thi ĐH rồi chúng tôi lại phải qua một kỳ sát hạch nữa sao? Vậy đâu là lý do?

Có thể giải thích rằng chương trình phổ thông đã tạo cho học sinh cái lối tư duy quá thụ động, không hợp với ĐH. Trong khi thầy cô ở ĐH lại không nắm rõ ở phổ thông học sinh được học những gì nên cứ “vô tình” bắt chúng tôi thích nghi trong một thời gian ngắn, dẫn đến tình trạng “sốc nhiệt”. Quan trọng hơn, một số môn năm thứ nhất lại chẳng ăn nhập gì với những điều chúng tôi được học trước đó.

Học mà cứ có cảm giác mình đọc một bài làm văn không có mở bài, sượng ngắt và khó hiểu vô cùng. Nhất là môn triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị... không hề có chút liên quan đến môn giáo dục công dân hay sử học của cấp III, ngoài hai khái niệm “duy vật và duy tâm”. Nói vậy, không có nghĩa là tôi đề nghị dạy triết từ cấp III, chết, tội tụi nhỏ! Theo tôi, nếu có cải cách, chỉ mong các thầy cô cải cách giáo trình đi từ “rất cơ bản” (cùng với cách thể hiện sinh động hơn) rồi hãy đến những kiến thức cần thiết khác.

Trong khi đó, lại có những môn gần 1/3 giáo trình là học lại kiến thức cấp III (như lý...). Đặc biệt là môn ngoại ngữ. Đành rằng trình độ ngoại ngữ học sinh các vùng miền là khác nhau (vì điều kiện khách quan), nhưng cứ chơi trò “cào bằng” bằng cách dạy lại “thì hiện tại đơn” thì chúng ta sẽ đào tạo được gì? Vì thế, theo tôi, cách làm của Trường ĐH Bách khoa ở năm học vừa rồi là rất tích cực và cần được nhân rộng: tổ chức một cuộc thi kiểm tra trình độ ngoại ngữ đầu vào cho các sinh viên vừa trúng tuyển, những sinh viên đạt yêu cầu sẽ được miễn học môn Anh văn 1 với số điểm qui đổi tương ứng.

Thứ hai, theo như bài viết của GS Hoàng Tụy, GS rất quan tâm đến vai trò của người thầy trong giáo dục ĐH, đặc biệt là việc đánh giá và sử dụng các GS, TS. Điều này hiển nhiên rất đúng, tôi chỉ có ý kiến: người thầy ở ĐH nên và chỉ cần đứng ở vị trí của một người hướng dẫn. Nhưng đã là người hướng dẫn thì phải nắm rõ thực tế tình hình của sinh viên. GS có viết “trả lại cho các ĐH quyền tuyển chọn GS, PGS theo nhu cầu”.

Có thể tôi chưa hiểu hết ý GS nhưng tôi xin đưa ra một nhận xét: các GS, PGS, TS ở các ĐH hiện nay đều có giờ giảng dạy trên lớp bình thường như các giảng viên khác, nhưng không phải bất cứ thầy nào có học vị TS hay học hàm GS đều phù hợp với vị trí của mình, nghĩa là không phải ai cũng có nhiều sinh viên theo học, nếu không muốn nói là ngược lại! Với học chế tín chỉ như của Trường ĐH Bách khoa, tình trạng SV bỏ giờ thầy này để theo học thầy khác là rất phổ biến. Và có thể nhận thấy rằng các thầy có nhiều SV theo học đa phần đều không có học hàm nào cả. Nói theo kiểu SV chúng tôi: các GS nói chuyện cao quá, SV không theo nổi.

Đó là nhận xét, còn ý kiến của riêng tôi: đa phần các GS giảng dạy ĐH kiến thức rất uyên thâm nhưng cách đề cập vấn đề của các GS còn quá cao so với mặt bằng chung của SV. Đúng ra, các GS rất thích hợp với việc nghiên cứu công trình mới. Trong khi giáo dục ĐH ở Việt Nam lại chưa tạo điều kiện cho SV nghiên cứu nhiều như các nước bạn. Điều này đã hết sức tiêu phí tài năng của các GS cũng như cơ hội cho SV theo học hỏi các bậc trưởng thượng. Nên chăng chúng ta phải đổi mới (hoàn toàn) từ cách thức đặt vấn đề (cách học, cách dạy) chứ không phải cách thức giải quyết vấn đề (cách xử lý, đánh giá danh hiệu...).

Thứ ba, lại nói về chuyện người thầy. Hiện nay, các trường đều có chủ trương trẻ hóa đội ngũ giảng dạy. Nhưng sau khi được giữ lại trường, các giảng viên trẻ đều chưa được trọng dụng và tận dụng đúng mức. Như tôi nhận thấy, các anh chị ấy rất xuất sắc nhưng phần lớn thời gian đều phải làm việc văn phòng, gác thi, chấm bài... quá là lãng phí cho những con tim đang cháy bỏng khát khao được làm đúng phần việc của mình. Tuy nhiên, có những anh chị được lên làm trợ giảng thì lại không được đào tạo một chút gì về chuyên môn sư phạm, dù kiến thức rất vững. Có những trợ giảng lên đứng run lập cập rồi cắm cúi giải bài, vừa giải vừa nói như “tự nhủ với chính mình”.

Một khi đã nhận các sinh viên ra trường theo phụ giảng cho mình, mong các thầy cô giảng viên chính hãy đầu tư nhiều hơn, truyền kinh nghiệm nhiều hơn cho các anh chị ấy. Tôi tự hỏi liệu các thầy cô có thể nhín chút thời gian duyệt giáo án (?) cho các trợ giảng, hay lâu lâu ghé vào lớp dự giờ để xem các trợ giảng “làm ăn” thế nào! Đừng để chính các trợ giảng có cảm giác mình bị “đem con bỏ chợ”. Các hình thức giải quyết tôi vừa nêu ra nghe thật trẻ con, nhưng càng trẻ con thì càng dễ làm, và tất cả cũng chỉ để chúng ta có những con người chất lượng hơn mà thôi.

Ba ý kiến từ góc nhìn của một sinh viên, không hi vọng to tát rằng nó sẽ gióng lên một hồi chuông gì cả, chỉ mong các thầy cô, những người có tâm huyết với giáo dục ĐH hãy nhín chút thời gian để nhìn nhận lại vấn đề với tư cách người - trong - cuộc!

TRẦN PHẠM LÊ PHAN
(Sinh viên năm 2 chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao Việt - Pháp,
ĐH Bách khoa TP.HCM)

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=86475&ChannelID=13

HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Thi với Cử - 08.07.2005 08:15:02
Thứ tư, 6/7/2005, 08:08 GMT+7

Giả gái để thi hộ vào đại học


Ảnh minh hoạ.


Một thanh niên Nga "đóng bộ" và trang điểm như một quý cô để thi hộ em gái vào khoa tâm lý trường Đại học Matxcơva. Tuy nhiên, mưu kế trên bất thành bởi bộ ngực giả vĩ đại đã phản bội lại anh chàng.

Trưởng khoa Du lịch của Đại học Matxcơva Yasen Zasursky cho hay những đặc điểm "quá nữ tính" của "cô gái" cộng với khuôn mặt trang điểm quá đậm đã khiến bảo vệ nghi ngờ. "Bảo vệ trong trường ngờ rằng 'cô gái' có mang tài liệu vào phòng thi nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Sau khi cởi áo khoác, thân phận của anh này đã bị lật tẩy", ông nói.

Người thanh niên này bị cấm không được làm bài thi môn toán và cô gái anh định thi hộ bị loại khỏi danh sách thí sinh.

Giới quan sát cho hay tình trạng gian lận trong thi cử ở các trường đại học, cao đẳng ở Nga là một vấn đề lớn bên cạnh một vấn nạn khác là tệ đút lót.

http://www.vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Cuoc-song-do-day/2005/07/3B9DFD52/


HongYen
  • Số bài : 7536
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.07.2003
  • Nơi: Sài Gòn
Mê Tín * Chánh Tín - 12.07.2005 03:28:02
Mê Tín * Chánh Tín


Bây giờ các trò học về mê tín nha.

Bây giờ con muốn hỏi đối với mê tín là gì?

Con đây là con với cha mẹ hay trong lớp học trước kia. Sau nầy thầy cô giáo không được quyền goị hoc trò là con. Vậy câu "sư như phụ' để đó hạ hồi phân giải. Bây giờ trờ lại mê tín.

Đối với mê tín là gì? Là gì?
Có thầy hay có trò noí là không mê tín; chưa chỉnh. Vậy tạm gọi chánh tín, mong góp ý cuả Bạn.

>>>>>>>>>>>

Ngày naò làm đám cưới vậy bạn. Í phải coi ngày tốt thì không bị "bắt sang tuyệt mạng", khắc khẩu......Vậy là phải đi cầu thầy xem ngày tốt, giờ tốt để làm lễ thành hôn. Vậy ngày ly dị thì sao? Thì cũng chờ ông toà phán ngaỳ chớ sao.

Rồi đến ngày ra đi, không sống với Bạn nưã thì sao. Thì cũng phaỉ coi ngaỳ coi giờ động thổ chớ sao. Trong khi để thân xác vaò aó quan còn có thể bắt hồn vaì tên d8i theo nếu hợp tuổi.....Vậy nên "thầy" phán mấy caí tuổi nầy...phaỉ lánh mặt nha, nếu nắp hòm (hàng) chưa đóng là còn có thể bị rắc rối đó...Ngay cả khi đưa linh cửu đi cũng phaỉ tránh đó; đừng nên đi theo....

>>>>>>>>>>>>

Trước đây ông bà ta năm thê baỷ thiếp là chuyện bình thường. Một vợ, một chồng có lẻ là bất thường....

Số là ông chồng chết sớm (chằng may * có rủi hay ruỉ thay..). Vợ cả thương yêu chồng quá, nên mua nàng hầu theo phụng sự ông cho trọn tình nghĩa. Mấy hình nhân ngưỏi nữ đẹp đẻ được vợ cả đốt kèm theo giấy vàng mã. Nếu bây giờ có lẻ vợ nầy sẽ cắt dán hình maù hoa hậu aó tắm không chừng!!!!

Chưa phải hết đâu Bạn ạ. Trong lúc tang gia dđau buồn thế mà vợ cả cũng tỉnh táo để chọc thủng mắt mấy hình nhân nữ trước khi vaí, cúng, rồi đốt.

Cũng chưa xong Bạn ơi. Vợ hai còn độc đáo hơn. Đố các Bạn biết vợ hai làm gì???

>>>>>>>>>>>>

1. Câu hỏi thứ nhất đem về nhà làm hay homework: "Ông chồng trong hòm nghĩ gì?"

2. Câu hỏi thứ nhì tại sao baì nầy được post trong học và daỵ?

3. Câu hỏi thứ ba ý riêng cuả Bạn.

>>>>>>>>>>>>>>>

Chúc vui với nếp sống xã hội hay văn hóa cuả mỗi thời kỳ và mỗi địa phương.







Thay đổi trang: < 123 > >> | Trang 3 của 5 trang, bài viết từ 61 đến 90 trên tổng số 137 bài trong đề mục