(url) Phùng Quán với Nha Trang

Tác giả Bài
mickey

  • Số bài : 2081
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.08.2003
  • Nơi: Việt Nam
  • Trạng thái: offline
(url) Phùng Quán với Nha Trang 06.07.2005 03:10:31 (permalink)
Phùng Quán với Nha Trang

Đỗ Kim Cuông

Năm tôi 12 tuổi, tôi đang học lớp 6, không hiểu bằng cách nào lại có được cuốn tiểu thuyết Vượt Côn Đảo của nhà văn Phùng Quán. Ngày ấy tôi còn nhỏ. Chỉ hiểu lơ mơ rằng: đã là sách bị cấm tức là sách xấu. Trẻ con càng không nên đọc. Nhưng tính tò mò háo hức của trẻ con mạnh hơn cả những điều cấm kỵ. Suốt một buổi chiều, tôi đã trốn người lớn để leo lên nóc chuồng chim cu, ở đấy có một khoảng sân nhỏ ngồi đọc ngấu nghiến cuốn sách. Câu chuyện về những người tù vượt ngục, vượt qua sóng dữ bất chấp những đòn roi tra khảo của giặc cuốn hút tôi còn mạnh hơn cả sự sợ hãi và nóng bức ngày hè. Mấy lần chị tôi gọi tìm nhưng tôi im lặng. Tôi nằm bò trên nền gạch, giấu mình dưới vòm lá dâu da xanh, cố đọc cho xong cuốn sách. Tôi không thể lỡ hẹn với Thắng, tối nay phải trả cho nó cuốn sách.

Thêm hai ba năm sau nữa, một vài thầy giáo dạy văn còn nói với chúng tôi: Phùng Quán là nhà văn đã từng bị đưa đi cải tạo lao động. Tác phẩm của Phùng Quán bị cấm in trên sách báo... Tuổi thiếu niên, tôi chưa thật hiểu thế nào là nhân văn, giai phẩm... Càng không hiểu nổi vì sao tác phẩm của một số nhà văn đã từng tham gia quân đội như Phùng Quán, Trần Dần; và cả một số các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan như Đống rác cũ, Mở hầm của Nguyễn Dậu, Sắp cưới của Vũ Bão... lại thuộc loại sách trẻ con không đọc được. Nhưng hình ảnh về những người chiến sĩ cộng sản kiên cường vượt biển để trở về với đồng chí, đồng đội trong cuốn sách của Phùng Quán thì vẫn còn ám ảnh trong tôi mãi về sau này.

Quãng đầu năm 1986, Phùng Quán đến Nha Trang lần đầu. Trước đấy, cái tin nhà văn Phùng Quán trở về Huế và sẽ đi thăm một số tỉnh miền Trung đã loan truyền trong giới văn nghệ ở Nha Trang, Tuy Hòa.

Đất nước giải phóng đã hơn 15 năm, đang bước vào những ngày đầu của thời kỳ đổi mới. Mà trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm và xóa đi sự nghi ngại với một nhà văn đã từng "chịu chiến" trong nhiều năm không phải là dễ. Khi ấy tiểu thuyết Vượt Côn Đảo của Phùng Quán đã được một nhà xuất bản tái bản. Tôi còn biết thêm, trong những năm bị "treo" bút, Phùng Quán vẫn viết văn làm thơ. Một tập sách viết cho thiếu nhi của Phùng Quán đã được nhận giải thưởng. Bộ tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của ông đang được nhà xuất bản Thuận Hóa sắp ấn hành. Thì ra ông vẫn không ngừng sáng tạo.

Hội Văn học Nghệ thuật Phú Khánh ngày ấy do nhà thơ Giang Nam làm chủ tịch. Nha Trang còn tập hợp được nhiều nhà văn, nhà thơ có tên tuổi như Đào Xuân Quý, Nguyên Hồ, Y Điêng, Văn Công, Nguyễn Gia Nùng, Cao Duy Thảo, Liên Nam... Các nhà văn nhà thơ trẻ cũng có nhiều. Nhưng điều quan trọng hơn nữa, Ban tuyên giáo Phú Khánh nhiều người có học. Anh Bằng Tín chuyên viên phụ trách văn hóa văn nghệ, tốt nghiệp đại học văn, vào chiến trường từ những năm sáu mươi, từng bị địch bắt tra tấn dã man nhưng thoát được khỏi nhà tù, cũng là người làm thơ, viết ký. Lãnh đạo Ban tuyên giáo có người là bác sĩ, thầy giáo có trình độ đại học. Nên việc Hội Văn học Nghệ thuật Phú Khánh tổ chức tiếp đón nhà thơ Phùng Quán không có gì gặp khó khăn. Huống chi, các nhà văn ở Huế cũng đã từng đón tiếp nồng nhiệt nhà thơ Phùng Quán, một người con xứ Huế, trở lại quê nhà.

Nha Trang đón Phùng Quán bằng một đêm thơ đầy ý nghĩa và cảm động, tổ chức tại Khoa văn trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang. Mới đầu chỉ ước tính có vài trăm sinh viên trong khoa văn sử đến dự. Nhưng nghe tin có nhà thơ Phùng Quán, hơn 1500 sinh viên ùn ún kéo tới hội trường lớn. Đêm thơ được bắt đầu chừng nửa giờ, nhà thơ Phùng Quán mới tới. Mọi con mắt đổ dồn khi nhìn thấy một ông già đã ngoài tuổi 60, râu tóc rất dài và đẹp. Ông mặc bộ quần áo nâu, đầu đội chiếc mũ lá, tay ông cầm theo một chiếc bị cói, bước vào. Nhà thơ Phùng Quán cúi chào mọi người theo đúng phong cách của người Huế.

Buổi tối hôm ấy, nhà thơ Phùng Quán đọc ba bài thơ. Tôi đã từng nghe nhiều người đọc thơ, nhưng có lẽ ít người có được giọng đọc thơ trầm ấm, đầy âm sắc Huế truyền cảm mạnh tới người nghe như Phùng Quán. Mỗi câu chữ của thơ ông như vắt ra từ chính cuộc đời ông. Cả ngàn thầy trò trường Cao đẳng Sư phạm ngạc nhiên, có người ứa nước mắt khi Phùng Quán đọc bài Tạ làng...

Con tạ đất làng quê / Thấm đẫm bao máu anh hùng đã khuất / Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt / Không lá cây nào không mặn chát gian lao... Con tạ mảnh chiếu rách con nằm / Con tạ bát cơm nghèo mẹ con ăn / Con tạ câu dân ca mẹ con hát / Tất cả thành sữa ngọt / Nuôi con ngày trứng nước / Để hôm nay con được sống / Được lớn khôn / Được chiến đấu hết mình / Vì tự do của Tổ quốc / Được ca hát hết mình / Tổ quốc thành thơ.

Và Phùng Quán viết về cái chết ... Viếng mộ tôi xin đừng đốt hương / Hãy đốt cho tôi ngọn lửa đốt đồn / Khắp cả quê hương đều ngó thấy / Soi sáng hết những nơi nào máu nhân dân đang chảy.

Về khuya. Buổi đọc thơ đã tan nhưng nhiều anh chị em sinh viên vẫn còn bao quanh nhà thơ Phùng Quán hỏi chuyện, xin bút tích.

Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ V (1994), tôi và một số các nhà văn ở Khánh Hòa đã tới ngôi nhà của vợ chồng Phùng Quán bên Hồ Tây, thắp cho ông nén hương nhớ người đi xa.

Bây giờ khu đất phía sau trường Chu Văn An đã có nhiều đổi thay. Quán ăn mọc lên như nấm. Một con đường bê tông chạy ven hồ suốt ngày bị vây hãm giữa đám bàn ghế, lều bạt, tiếng xe máy, tiếng ô tô gầm rú xen lẫn tiếng chào mời khách tới nhậu. Thỉnh thoảng tôi cũng có dịp được bạn bè rủ lên quán cá Hồ Tây. Gió vẫn vần vũ lồng lộng thổi trên mặt hồ gợn sóng. Thêm nhiều nhà tầng cao, tầng thấp lô xô mọc lên bao quanh lấy Hồ Tây, trông xa chẳng khác nào những cây cọc nhọn của cha ông ta cắm ở Bạch Đằng Giang, chặn giặc. Khách tới uống bia, ăn nhậu phần đông là người trẻ, những người có tiền. Rất ít người trong số ấy biết rằng cách nơi họ đang ngồi không xa là chỗ ở của nhà thơ Phùng Quán. Nơi ấy, những vạt cây, bờ cỏ bị phát ngang. Một ngày chưa xa, đã có những buổi chiều Phùng Quán ẩn mình sau những bụi lau ven hồ thả cần câu, lắng tai nghe cá đớp bóng. Ông ngơ ngác nhìn hoàng hôn tím đỏ loang trên mặt nước giữa buổi chiều tàn. Vẳng lên tiếng chuông chùa Trấn Vũ xa vắng, tiếng chuông tàu điện chạy ngược đường lên Bưởi leng keng quen thuộc. Ông đã nhặt từng con chữ cho thơ và suy ngẫm sự đời./.

(Tạp chí Nhà văn)
<bài viết được chỉnh sửa lúc 23.12.2006 03:58:53 bởi TTL >
Love mickey,
 
#1
    Ngọc Lý

    • Số bài : 3255
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 27.08.2005
    • Trạng thái: offline
    RE: Phùng Quán với Nha Trang 20.06.2006 03:44:59 (permalink)
    .

    PHÙNG QUÁN
    1932-1997






    Tôi muốn làm nhà văn chân thật
    chân thật trọn đời
    Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
    Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
    Bút giấy tôi ai cướp giật đi
    Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá"



    Phùng Quán (1932- 1995) Sinh tại Thừa Thiên - Huế. 13 tuổi tham gia Vệ quốc quân - chiến sĩ Trinh sát Trung đoàn 101.(tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân)
    ***
    Cả cuộc đời ông Là một nỗi buồn to lớn, dằng dặc của một tâm hồn yêu nước, thương nòi, ngay thẳng, chân thật mà phải chứng kiến quá nhiều bất công dối trá

      "Tôi muốn đúc thơ thành đạn
      Bắn vào tim những kẻ làm càn
      Những người tiêu máu của dân
      Như tiêu giấy bạc giả!
      Tôi đã đến dự những phiên toà
      Họp suốt ngày luận bàn xử tội
      Những con chuột mặc quần áo bộ đội
      Đục cơm khoét áo chúng ta
      Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ
      Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói"

      "Yêu ai cứ bảo là yêu
      Ghét ai cứ bảo là ghét
      Dù ai ngon ngọt nuông chiều
      Cũng không nói yêu thành ghét
      Dù ai cầm dao doạ giết
      Cũng không nói ghét thành yêu
      Tôi muốn làm nhà văn chân thật
      chân thật trọn đời
      Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
      Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
      Bút giấy tôi ai cướp giật đi
      Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá"

      "Tôi có quyền gì được no hơn nhân dân tôi một miếng ăn?
      Tôi có quyền gì lên xe xuống ngựa
      Khi gót chân nhân dân tôi nứt nẻ bụi đường?"

      "Một niềm yêu tôi không đổi thay
      Một niềm tin tôi không thay đổi
      viết trên giấy có kẻ giòng
      Là nhà văn
      Tôi đã viết suốt 30 năm
      là chiến sĩ
      Tôi là xạ thủ cấp kiện tướng trung đoàn
      Tôi có thể viết như bắn
      ....
      Không có gì đẹp hơn
      Viết ngay và viết thẳng
      Là nhà văn
      Tôi yêu tha thiết
      Sự ngay thẳng tột cùng
      Ngay thẳng thuỷ chung
      Của mỗi chữ viết"
      "Có những phút ngã lòng
      Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy"



    "...Với một Gavroche, Vitor Hugo đã viết nên những trang bất hủ. Trẻ em của chúng ta đã anh dũng, hồn nhiên tham gia cuộc đấu tranh trường kỳ gian khổ cùng với cha, anh; không kém gì những Gavroche trên chiến luỹ cách mạng Pháp. Thế mà sách vở viết về mặt này còn quá ít. Nhà văn Việt Nam còn mắt nợ các em rất nhiều.
    Với TUỔI THƠ DỮ DỘI, Phùng Quán đã bắt đầu trả nợ một cách chính đáng. Sách dày 800 trang mà người đọc không bao giờ muốn ngừng lại, bị lôi cuốn vì những nhân vật ngây thơ có, khôn ranh có, anh hùng có, vì những sự việc khi thì ly kỳ, khi thì hài hước, khi thì gây xúc động đến ứa nước mắt... Tôi chỉ mong làm sao cho tất cả các em thiếu nhi Việt Nam được đọc sách này"


    Nguyễn Khắc Viện
    trích lời tựa Tuổi Thơ Dữ Dội


    Nguyễn Khăc Viện - Lời tựa Tuổi Thơ Dữ Dội

    Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

    Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2006 04:17:33 bởi Ngọc Lý >
     
    #2
      Ngọc Lý

      • Số bài : 3255
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 27.08.2005
      • Trạng thái: offline
      RE: Phùng Quán với Nha Trang 20.06.2006 04:12:45 (permalink)
      .

      NGUYỄN KHẮC PHÊ
      Những trang viết thấm đẫm
      nước mắt và nụ cười

      (Đọc Phùng Quán
      Ba phút sự thật,
      NXB Văn Nghệ)




      TT - Nhà thơ - nhà văn Phùng Quán với hàng chục tác phẩm mang tên ông và tên mượn (thời ông bị “án treo” vì vụ “Nhân văn”), trong đó có những tiểu thuyết nổi tiếng như Vượt Côn Đảo, Tuổi thơ dữ dội, với cuộc đời đầy bi kịch và nghịch lý, từ ngày đất nước đổi mới đã trở nên quen thuộc với bạn đọc.


      Sau cuốn Nhớ Phùng Quán (NXB Trẻ 2003), tuyển tập các bài viết của bạn hữu về ông, những tưởng là “đề tài Phùng Quán” không còn gì để khai thác nữa. Vậy nhưng với Phùng Quán - Ba phút sự thật, cuốn sách tập hợp những bài viết của ông - trong đó có bài công bố lần đầu, có dòng chữ cuối cùng ông viết trên giường bệnh (năm 1995)... - chúng ta lại được gặp những trang văn thấm đẫm nước mắt và nụ cười của ông, những trang viết khiến ta xúc động và day dứt khôn nguôi.

      15 bài viết, mười chân dung (đầy đủ hoặc chấm phá) từ những nhân vật nổi tiếng như Văn Cao, Tố Hữu, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang (người dựng lễ đài Tuyên ngôn độc lập), Đoàn Phú Tứ, Phùng Cung... đến những đồng đội thời chống Pháp của ông như nhà thơ Hồ Vi, như các liệt sĩ hi sinh ở Huế ngày đầu kháng chiến, ông đều viết với tất cả gan ruột của mình, đều tìm được tiếng nói tri âm để rồi tác giả cùng nhân vật đúc kết, chắt lọc gửi lại hậu thế điều tâm huyết nhất - bản chúc thư bằng “xương máu” của cả cuộc đời mình.

      Kết thúc câu chuyện chưa đầy ba trang sách viết về người sinh viên anh hùng Cuba Ăngtôniô Êchxêvania với kế hoạch đánh chiếm đài phát thanh quốc gia của chế độ độc tài Batista để có “ba phút sự thật” - xé toạc bức màn lừa mị của bọn độc tài, trước khi bị bắn chết, Phùng Quán viết: “Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt nó trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quí báu đó”.

      Với nhà thơ Tố Hữu mà ông gọi bằng “cậu”, sau 32 cái tết, Phùng Quán mới thăm lại vì ông phải chờ... đến lúc tác giả của Từ ấy, Việt Bắc không còn quyền lực gì trong tay nữa. Ông thuật lại phút chia tay giữa hai người: “... Nhà thơ nói vui với vợ tôi: "Thằng Quán nó dại”. Khi ra đến gần cổng sắt, nhà thơ dừng lại, nói tiếp, như vẫn không dứt dòng suy nghĩ của mình, “mà cậu cũng dại...”... Tôi bật cười to: “Thưa cậu, thì chính cậu đã viết điều đó thành thơ từ nửa thế kỷ trước: Ai nên khôn mà chẳng dại một đôi lần!”...”.

      Bài nào trong tập sách cũng có những đoạn, những dòng đầy ý tứ và thật “đắt” như thế. Cuốn sách còn có nhiều ảnh lưu niệm quí và tiểu sử Phùng Quán. Nhìn một chuỗi ảnh chân dung ông, từ chú bé mang quần trắng áo dài đen đến anh “lính Cụ Hồ” 1954 và nhà thơ trong tấm “áo liệm” do Thu Bồn tặng, trên đó có hàng trăm chữ ký của bạn bè cũng như danh mục dài dằng dặc những tác phẩm Phùng Quán phải “mượn tên” thuở còn phải “viết chui” cũng đủ để ta ngẫm nghĩ đến bao bài học đắt giá ở đời.

      Người làm sách gọi đây là tập “ký”; riêng Người bạn lính cùng tiểu đội dài trên 50 trang, tuy mang cái tựa khá là “khô khan”, nhưng theo tôi, đây là những trang vào loại hay nhất của đời văn Phùng Quán, đậm đà chất tiểu thuyết với nhân vật mang khát vọng lớn và nỗi đau của con người như nhân vật của Dostoievsky. Chỉ riêng câu chuyện về nhân vật tai tiếng mà như “vô danh” này đủ làm cho cuốn sách có “sức nặng” rất đáng tìm đọc.


      NGUYỄN KHẮC PHÊ
      http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=141609&ChannelID=10

      Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

      Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2006 04:51:47 bởi Ngọc Lý >
       
      #3
        Ngọc Lý

        • Số bài : 3255
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 27.08.2005
        • Trạng thái: offline
        RE: Phùng Quán với Nha Trang 20.06.2006 04:24:46 (permalink)
        .

        Vịn Câu Thơ Đứng Dậy
        Trần Trung Đạo




        0_Có những lúc ngã lòng ° Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy


        Nhà thơ Phùng Quán đã kết luận như thế khi nhìn lại quãng đời 30 năm ông đã sống trong bóng tối của bạc đãi, đe dọa, sống trong cảnh lưu đày ngay giữa lòng Hà Nội, nơi đó, từ thuở thiếu thời, ông đã từng đổ máu để giữ gìn. Những lúc ngã lòng là những lúc nhà thơ Phùng Quán phải chọn một trong hai con đường đầy bất trắc đang chờ: tiếp tục chịu đựng khó khăn, đói khát, tiếp tục đi câu cá trộm, viết văn trộm hay nên viết một bản tự kiểm nộp lên Hội Nhà Văn để được trả lại thẻ hội viên, được mỗi tháng mua vài cân gạo và được phép sắp hàng mua một vài nhu yếu phẩm.

        Những lúc ngã lòng là lúc nhà thơ phải chọn một trong hai thái độ làm người: chịu đựng sự nguyền rủa, sự rẻ khinh, sự hòai nghi, xa lánh của bạn bè, sự lãng quên của bà con thân thuộc, chịu làm kẻ mất quê hương ngay trên chính quê hương mình, hay cúi đầu khuất phục như Chế Lan Viên, Xuân Diệu... tô son điểm phấn cho một chế độ đã phản bội xương máu đồng bào, phản bội ước mơ của dân tộc.

        Trong lời tựa của thi phẩm Trăng Hoàng Cung, nhà thơ Phùng Quán đã viết "0_Tôi đã trả giá cho Thơ bằng 30 năm tốt đẹp của đời mình. Từ năm 24 tuổi đến năm 56 tuổi, cơ chế quan liêu đã đánh trả tôi đến chí mạng. Tước đoạt của tôi quyền lao động thiêng liêng: sáng tác, xuất bản, quyền được sinh sống cho ra một con người. Và dìm ngập tôi trong bùn nhơ, lăng nhục trước công luận.... ". Và ông đã viết tiếp "0_Nhưng thơ đã cứu tôi, giúp tôi đứng vững, dạy tôi dũng khí bền gan".

        Thật vậy,

        0_Có những lúc ngã lòng° Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy

        Nhà thơ Phùng Quán đã vịn thơ mà đứng dậy. Đứng dậy để làm một nhà thơ chân thật. Chân thật trọn đời. Vì chọn để làm một nhà thơ chân thật nên trong suốt 30 năm ông đã phải sống trong đói khát, trong cô đơn. Ngày 22 tháng 1 năm 1995, nhà thơ bất khuất Phùng Quán ra đi. Ông ra đi, để lại cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau Lời Mẹ Dặn:

        0_Yêu ai cứ bảo là yêu° Ghét ai cứ bảo là ghét° Dù ai ngon ngọt nuông chiều° Cũng không nói yêu thành ghét° Dù ai cầm dao dọa giết° Cũng không nói ghét thành yêu.° Tôi muốn làm nhà văn chân thật° Chân thật trọn đời° Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi° Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã° Bút giấy tôi ai cướp giật đi° Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

        Xa hơn, nửa thế kỷ trước ngày Phùng Quán qua đời, bên bờ sông Pắc-Nậm chia hai nước Việt Trung, đã có một thanh niên Việt Nam khác vịn câu thơ đứng dậy. "0_Nước non ta ai ngăn trở ta về !" Chàng thanh niên Việt Nam 22 tuổi thét lên giữa núi rừng Việt Bắc khi đứng nhìn về phía bên kia sông Pắc-Nậm. Thấp thóang trong đám sương mờ là những bức tường vôi, là những làn khói trắng thân yêu. Đó là tổ quốc của ông, là quê cha, quê mẹ của ông. Chỉ cách một dòng sông nhỏ mà xa như nghìn trùng diệu vợi:

        0_Ta đã về đứng bên bờ Pắc Nậm.° Mặc heo may quấn quít hồn cố hương,° Thấm hàng cây lấp ló những ven tường.° Hòa làn khói mơ màng bao nhớ ước.° Cách dòng nước ta là người mất nước,° Nước non ta, ai ngăn trở ta về?

        Người thanh niên 22 tuổi, tác giả của bài thơ không ai khác hơn là nhà cách mạng, triết gia, và nhà thơ Lý Đông A.

        0_Cách dòng nước ta là người mất nước,° Nước non ta ai ngăn trở ta về.

        Mỗi lời thơ của ông thống thiết như tiếng chim Quốc gọi nửa đêm, như từng mũi kim đâm sâu vào tim, như từng hạt cát rơi vào sâu trong mắt của những người có quê hương mà đã mất quê hương.

        Và xa hơn nữa, gần một ngàn năm trước (1077), bên dòng sông Như Nguyệt, danh tướng và cũng là nhà thơ Lý Thường Kiệt đối diện với hàng chục vạn hùng binh của đại tướng Quách Quì nhà Hán. Cuộc chiến đã diễn ra suốt tháng. Quân Nam đang yếu sức. Kinh đô Thăng Long đang bị đe dọa. Giữa lúc nguy nan đó, Lý Thường Kiệt đã vịn thơ mà đứng dậy qua bài thơ 0_Nam Quốc Sơn Hà:

        0_Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư° Tiệt nhiên định phận tại thiên thư ° Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?° Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

        Dịch:

        Sông núi nước Nam°° °° 0_Sông núi nước Nam vua Nam ở° Rành rành định phận tại sách trời ° Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?° Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời !

        Đọc lại dòng sử Việt rạng ngời, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng không phải chỉ những anh hùng dân tộc, những nhà cách mạng như Trần Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, Đặng Dung, Nguyễn Trãi, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Lý Đông A, Phùng Quán... đã vịn câu thơ đứng dậy mà ngay cả dân tộc Việt Nam cũng đã hơn một lần vịn thơ đứng dậy trong hai cuộc kháng Nguyên lừng lẫy. Thơ, trong lúc khó khăn đó, đã chuyên chở niềm tin về cho dân tộc như Thượng Tướng Trần Quang Khải đã dặn dò:

        0_Chương Dương đoạt giáo giặc° Hàm Tử bắt quân thù° Thái bình nên gắng sức° Non nước đó nghìn thu

        Dân tộc Việt Nam là dân tộc của thi ca và mỗi người Việt Nam là một nhà thơ. Nhận xét đó không phải quá khoe khoang hay cường điệu.

        Thơ Việt Nam thật tuyệt vời. Thơ Việt Nam chảy qua những giòng sông trăng thơ mộng. Thơ trải trên những cánh đồng lúa chín phì nhiêu qua những câu ca dao tình tứ dễ thương đầy ý nghĩa:

        0_Tạnh trời mưa kéo về non° Hẹn cùng cây cỏ chớ còn trông mưa° (Ca Dao)

        Thơ Việt Nam hôn lên vầng tráng thơ ngây của những em bé mục đồng đang ngất ngây trong tiếng sáo chiều dìu dặt. Thơ Việt Nam lau khô những giọt mồ hôi trên lưng bác nông phu qua những điệu hò khoan đối đáp nhịp nhàng. Thơ Việt Nam thổi làn gió mát trên vai chị hàng rong qua những tiếng rao dài cảm động. Thơ Việt ngủ trong giấc tương tư của những cô gái Việt vừa mới biết yêu:

        0_Ai đi đường ấy xa xa° Để em ôm bóng trăng tà năm canh° (Ca Dao)
        Trong suốt thế kỷ 20 trùng trùng khói lửa, từ những nhà cách mạng tiên phong, những nhà thơ nhà văn tên tuổi cho đến những người dân Việt bình thường, ít ra cũng một lần đã vịn thơ mà đứng dậy, đứng dậy sau những năm tháng dài trong lao lung tù tội, đứng dậy sau những ngày khó khăn đói khát, đứng dậy sau những lần bị hải tặc dày vò, đứng dậy sau những chuyến hải hành trên biển đông giông bão, đứng dậy trong những đêm đông tuyết trắng trên xứ người xa lạ buồn đứt ruột.

        Và hôm nay, đất nước Việt Nam thời đại năm 2000, với một thể chế chính trị độc tài hà khắc, một xã hội tham nhũng được xếp vào hàng thứ 3 tại Á Châu (theo 0_Political and Economic Risk Consultancy (PERC)), một nền văn hóa nô dịch vong bản, hơn bao giờ hết, đang cần một câu thơ để vịn đứng lên, và cũng hơn bao giờ hết, mong tìm ra một câu kết luận như Nguyễn Trãi một lần đã kết luận trong tuyệt tác văn chương Bình Ngô Đại Cáo của ông:

        0_Xã tắc từ đây vững bền° Giang sơn từ đây đổi mới° Càn khôn bĩ rồi lại thái° Nhật nguyệt hối rồi lại minh° Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu° Muôn thuở nền thái bình vững chắc

        Xin cầu nguyện cho đàn chim Việt trên vùng đất mà nhà văn đã tuẫn tiết Phạm Việt Châu gọi là Vùng Định Mệnh, qua bao nhiêu sóng gió, cuối cùng sẽ cùng nhau viết nên bài sử thi vinh quang cho một nước Việt Nam Mới tự do dân chủ thịnh vượng, một nước Việt Nam không còn xiềng xích, hận thù, không còn bị giới hạn bởi các lằn ranh, vĩ tuyến, hiệp định, địa phương, trong nước, ngoài nước, tôn giáo.

        Tác giả của bài hùng sử thi Việt Nam Mới đó chắc chắn không phải chỉ một ai, một cá nhân nào, một anh hùng nào, một tổ chức đảng phái nào, nhưng là của cả dân tộc Việt Nam đang đứng lên để nhận diện chính mình, nhận diện quê hương mình, nhận diện đồng bào cùng máu mủ với mình sau hơn một thế kỷ bị bịt mắt bằng những tấm vải đen tham vọng quốc tế, bị cách ly bằng những hàng rào ý thức hệ ngoại lai.

        Để được nghe bài thơ đó, ngay hôm nay và từ trong mỗi trái tim, người Việt, trong và ngoài nước, phải can đảm vượt thóat khỏi quỹ đạo mặc cảm, tị hiềm, ghen ghét đã vướng sâu vào tâm thức như kết quả của mấy mươi năm tương tàn đẫm máu, phải biết đoàn kết nhau trên một mẫu số chung duy nhất: Dân Tộc, và một mục tiêu duy nhất là cứu đất nước ra khỏi vũng lầy độc tài, nghèo nàn, lạc hậu hiện nay. Và từ đó, cùng nhau chắp cánh bay vào lòng Mẹ Việt Nam, bao giờ cũng bao dung và rộng lượng, đang dang tay chờ đón.


        Trần Trung Đạo
        http://www.lenduong.net/article.php3?id_article=1345


        Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

        Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2006 04:52:24 bởi Ngọc Lý >
         
        #4
          Ngọc Lý

          • Số bài : 3255
          • Điểm thưởng : 0
          • Từ: 27.08.2005
          • Trạng thái: offline
          RE: Phùng Quán với Nha Trang 20.06.2006 04:39:31 (permalink)
          .
          Mạc Định
          Nhân Văn Giai Phẩm


          Phùng Quán



          - Triệu-tử-Long trong nhóm đối lập. Những bài thơ của anh được dư-luận gọi là những "bom nguyên-tử".
          Chúng tôi trích đăng bài "Chống tham ô lãng phi" đăng trong Giai-Phẩm Mùa Thu, tháng 10, 1956 và bài "Lời Mẹ dặn" đăng trong tờ Văn, tháng 9, 1957.
          Anh không đòi hỏi gì khác hơn là quét sạch những rác rưởi trong xã hội và yêu cầu các nhà văn phải trung thành với tâm hồn của mình: "yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét". (*). Anh bị khủng-bố chỉ vì dám nói như vậỵ
          Phùng Quán bị lôi đi chỉnh-huấn và phải viết bài thú tộị Trong bản này nhà thơ trẻ tuổi thú nhận rằng sau khi nhóm Nhân-Văn Giai-Phẩm bị giải tán thì suốt ngày chỉ chơi với một con bú dù. Các bạn hỏi tại sao thích nuôi bú dù Phùng Quán trả lời: " Chơi với người chán lắm rồi, thành phải chơi với bú dù".
          Một chế độ đã đào luyện cho thanh niên một tâm trạng như vậy đủ làm cho chúng ta suy nghĩ về chân giá tri của chế độ đó vậỵ
          (*) Trong cuốn " Bác sĩ Zhivago" Boris Pasternak có viết: " Muốn chiều Cộng-sản thì dể lắm. Cứ nói là yêu cái mình ghét, và cứ nói là ghét cái mình yêu".

          CHÔ'NG THAM Ô LÃNG PHÍ
          Trích Giai-Phẩm Mùa Thu Tập II tháng 10-1956. [1]

            Thơ Cái Chổi

            Ta đã đi qua
            Những xóm làng chiến-tranh vừa chấm dứt:
            Tôi đã gặp
            Những bà mẹ già quấn dẻ rách
            Da đen như củi cháy giữa rừng
            Kéo giây thép gai tay máu chảy ròng
            Bới đồn giặc trồng ngô tỉa lúa
            Tôi đã gặp
            Những cô gái trồng bông
            Hai mươỉ ba mươỉ
            Tôi không nhìn ra nữa
            Mồ hôi sôi trên lưng
            Mặt trời như mỏ hàn xì lửa
            Đốt đôi vai cháy hồng.
            Tôi đã đi qua
            Những xóm làng vùng Kiến-an Hồng-quảng
            Nước biển dâng lên ướp muối các cánh đồng
            Hai mùa lúa không có một bông
            Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ.
            Tôi đã gặp
            Những đứa em còm cõi
            Lên năm, lên sáu tuổi đầụ
            Cơm thòm thèm độn cám và rau
            Mới tháng ba đã ngóng mong đến Tết
            Để được ăn cơm no có thịt
            Một bữa một ngày" ...
            Tôi đã đi giữa Hà-nội
            Giữa Hà-nội những đêm mưa lất phất
            Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm.
            Tôi đã gặp
            Chị em công-nhân đổ thùng
            Yếm rách chân trần,
            Quần xăn quá gối,
            Run lẩy bẩy chun vào hầm xí tối
            Vác những thùng phân
            Ta thuê một vạn một thùng
            Có người không dám vác.
            Các chị suốt đêm quần quật
            Sáng ngày vừa đủ nuôi con.
            Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
            Của quần chúng anh hùng lao-động
            Đang buộc bụng thắt lưng để sống.
            Để dựng xây kiến thiết nước nhà,
            Để yêu thương nuôi nấng chúng ta
            Vì lẽ đó
            Tôi quyết tâm từ bỏ
            Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa,
            Những vần thơ xanh đỏ sáng lòa,
            Như giấy trang kim
            Dán lên quân trang.
            Đẫm mồ hôi và máu tươi của cách-mạng.
            Như công nhân
            Tôi muốn đúc thơ thành đạn
            Bắn vào tim những kẻ làm càn
            Những con người tiêu máu của dân
            Như tiêu giấy bạc giả !
            Các đồng-chí ơi !
            Tôi không nói quá
            Về Nam-Định mà xem
            Đài xem lễ, họ cao hứng dựng lên (1)
            Nửa chừng thiếu tiền bỏ dở
            Mười lăm triệu đồng dầm mưa dãi gió
            Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
            Những con chó sói quan liêu
            Nhe răng cắn rứt thịt da cách-mạng !
            Nghe gió thâu đêm xuốt sáng
            Nhớ "đài xem lễ" tôi xót bao nhiêu
            Đất nước chúng ta không đếm hết người nghèo
            Đêm nay thiếu cơm thiếu áọ
            Những tên quan liêu Đảng đã phê-bình trên báo
            Và bao nhiêu tên chưa ai biết, ai hay
            Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy
            Khắp mặt đất như ruồi nhặng
            ở đâu cũng có !
            Đảng muốn phê bình tất cả
            Phải một nghìn số báo Nhân Dân !
            Tôi đã đến thăm nhiều hố xí cầu tiêu
            Giấy trắng nửa mặt, xé toang chùi đít.
            Những người này không bao giờ biết
            ở làng quê con cái nhân dân ta
            Rọc lá chuối non đóng vở học i-tờ !
            Tôi đã dự những phiên tòa
            Họp xuốt ngày luận bàn xử tội
            Những con chuột mặc quần áo bộ đội
            Đục cơm khoét áo chúng ta
            Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ
            Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đóị
            Những mẹ già em trai, chị gái
            Còng lưng, rỏ máu lấn vành đai !
            Trung ương Đảng ơi !
            Lũ chuột mặt người chưa hết
            Đảng lập đội trừ diệt
            ---- Có tôi
            đi trong hàng ngũ tiền phong.
            PHùNG QUáN
            Chú thích: (1) Đài xem lễ ủy-ban thành-phố Nam-Định dựng lên để các đại-biểu đứng xem lễ.
            Việc này được phê-bình ở báo Nhân-Dân.
            ____________________________
            Trích báo Văn số 21 ra ngày 17-9-1957



            Lời Mẹ Dặn


            Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
            Mẹ tôi thương con không lấy chồng
            Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
            Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
            Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
            Ngày ấy tôi mới lên năm
            Có lần tôi nói dối mẹ
            Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
            Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
            Ôm tôi hôn lên mái tóc
            ---- Con ơi ------
            trước khi nhắm mắt
            Cha con dặn con suốt đời
            Phải làm một người chân thật.
            ---- Mẹ ơi, chân thật là gì?
            Mẹ tôi hôn lên đôi mắt
            Con ơi một người chân thật
            Thấy vui muốn cười cứ cười
            Thấy buồn muốn khóc là khóc.
            Yêu ai cứ bảo là yêu
            Ghét ai cứ bảo là ghét
            Dù ai ngon ngọt nuông chiều
            Cũng không nói yêu thành ghét.
            Dù ai cầm dao dọa giết
            Cũng không nói ghét thành yêụ
            Từ đấy người lớn hỏi tôi:
            --- Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
            Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
            --- Bé yêu những người chân thật.
            Người lớn nhìn tôi không tin
            Cho tôi là con vẹt nhỏ
            Nhưng không ! những lời dặn đó
            In vào trí óc của tôi
            Như trang giấy trắng tuyệt vờị
            In lên vết son đỏ chóị
            Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
            Đứa bé mồ côi thành nhà văn
            Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
            Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
            Người làm xiếc đi giây rất khó
            Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
            Đi trọn đời trên con đường chân thật.
            Yêu ai cứ bảo là yêu
            Ghét ai cứ bảo là ghét
            Dù ai ngon ngọt nuông chiều
            Cũng không nói yêu thành ghét
            Dù ai cầm dao dọa giết
            Cũng không nói ghét thành yêụ
            Tôi muốn làm nhà văn chân thật
            chân thật trọn đời
            Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
            Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
            Bút giấy tôi ai cướp giật đi
            Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.
            1957

            PHùNG QUáN


          ________

          [1] Giai Phẩm Mùa Thu 1956 - Tập II

          Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

          Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 20.06.2006 04:52:48 bởi Ngọc Lý >
           
          #5
            Ngọc Lý

            • Số bài : 3255
            • Điểm thưởng : 0
            • Từ: 27.08.2005
            • Trạng thái: offline
            RE: Phùng Quán với Nha Trang 20.06.2006 05:05:26 (permalink)
            .

            Ngẫu hứng
            15:57 21/03/2006 (GMT+7)


            Nhớ buổi sinh thời, Phùng Quán thường trò chuyện với tôi về một cuốn sách Quán định viết, tạm gọi là Chuyện ghi quanh chiếu rượu. "Toàn là chuyện khẩu hứng lúc chén chú chén anh, nói sao ghi vậy. Chắc chắn sẽ là một cuốn sách hay có thể lưu truyền cho đời sau"- Quán nói thế và đọc bằng một giọng ngâm một câu thơ đã trở thành châm ngôn của chàng: "Rượu là bậc thiên tài tạo nên ảo tưởng".

            Tôi tin rằng đấy là một ý kiến nghiêm túc, tuyệt vời là khác, bởi vì Phùng Quán là một nghệ sĩ quái chiêu, đủ bản lĩnh làm chủ xị những cuộc trò chuyện bát ngát giữa những con người thuộc nòi giống giang hồ, coi lợi danh ở đời như bụi bặm làm cay mắt. Một gương mặt phiêu bồng thường xuất hiện với Phùng Quán trong những cuộc ngẫu hứng lặng lẽ trên Chòi Ngắm Sóng, chính là núi Ba Vì ở tận chân trời: "Tôi thì làm thơ, bác làm Núi- Nhớ nhau tưới rượu xuống Hồ Tây".


            Phùng Quán

            Với tôi, Phùng Quán là một đại biểu tài năng của văn hóa ngẫu hứng. Đó là khả năng phát hiện thế giới bằng sự trinh bạch của ý thức, giống như hoa perce-neige chọc thủng giá lạnh để nở trong màu trắng của tuyết. Ngẫu hứng không sinh ra từ hệ thống, sách vở hoặc những điều răn có sẵn, mà được khám phá tình cờ trên bước chân của nghệ sĩ rong chơi giữa đời. Nó không tự khẳng định nên không buộc người khác phải chấp nhận, không kết thúc nên chỉ khêu gợi ý tưởng, nó không bận tâm đến những cái người đời coi là quan trọng nên có vẻ như một người đãng trí. Nói tóm lại, ngẫu hứng là giao lưu trí tuệ của tình bạn.

            Những bậc thầy cổ xưa rất coi trọng ngẫu hứng, như một phương cách để khám phá chân lý. Giữa những người tiên khu, hình như không trừ một ai cả. Thích Ca, Khổng Tử, Socrate... tất cả đều chí cốt tâm pháp "vừa đi đường- vừa nói chuyện", và mọi điều khôn ngoan của họ để lại cho nhân loại đều nẩy sinh qua bước chân hành giả lang thang trên trái đất.

            Thời hai mươi tuổi nhập môn Triết học, tôi được thầy Nguyễn Đăng Thục giảng giải về Tâm học của Vương Dương Minh. Vương thường dẫn môn đồ ngao du trong núi, vừa giảng Tâm học, rằng vạn vật đều chỉ có (tồn tại) trong thức tâm của con người. Học trò là Từ Ai hỏi thầy:

            - Như bông hoa này, tự nở tự tàn trong núi, không ai biết tới. Vậy hoa có hay không?

            Vương đáp:

            - Hoa vẫn có, trong cái Tâm của trời đất.

            Trải gần suốt đời người dâu bể, thú thật cho tới nay, tôi vẫn chưa đi hết cuộc trò chuyện ngẫu hứng của thầy trò họ Vương trong buổi chiều xa xôi ấy nơi sườn núi. Có ai giúp tôi hiểu tường tận Cái Tâm là gì? Có lẽ cũng chỉ cách thô sơ ấy thôi, như lời thầy Nguyễn Đăng Thục, đêm khuya nằm thật yên, nghiêng tai trên gối và nghe tiếng đập trong lồng ngực.

            Ấy thế mà... Hồi đó, môn Triết của thầy lại được xếp vào lúc 5- 7 giờ chiều cuối tuần. Giờ thành phố lên đèn, Sài Gòn quyến rũ mê hồn. Tôi và Đỗ Ngọc Long (sau này là tiến sĩ Triết học) thường cúp cua ra ngoài lang thang, gọi môn Tâm lý học của cụ Vương là "Philosophie du samedi soir" (Triết học chiều thứ bảy)!

            Ôi, nhiều khi cho đến tuổi già, người ta vẫn chưa đạt nổi trò chơi "Ngẫu Hứng" của cổ nhân.

            Huế, 1995

            Hoàng Phủ Ngọc Tường
            http://www.hue.vnn.vn/service/printversion?article_id=160898

            Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

            Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
             
            #6
              Ngọc Lý

              • Số bài : 3255
              • Điểm thưởng : 0
              • Từ: 27.08.2005
              • Trạng thái: offline
              RE: Phùng Quán với Nha Trang 21.06.2006 04:42:03 (permalink)
              .

              Mai Kim Ngọc
              Vài cảm nghĩ về tập thơ

              Trăng hoàng cung
              Phùng Quán



              Thơ ai như thơ ông
              Lặng im mà gầm thét
              Trang trang đều xé lòng
              Câu câu đều đẫm huyết…
              P.Q.



              talawas vừa đưa tập thơ Trăng hoàng cung của Phùng Quán vào tủ sách của điện báo. Nhân dịp này, tôi chia sẻ với bạn đọc ít nhiều kỷ niệm và cảm nghĩ về tác phẩm và tác giả.

              Hơn mười năm trước, Hà Nội mới mở cửa he hé, mang bản thảo của Phùng Quán ra ngoài có thể có vấn đề, nên ông viết bằng mực đen đậm ra ngoài bìa câu “Thân tặng Mai Kim Ngọc’’. Nếu cảnh sát phi trường có khó dễ, cùng lắm là tịch thu món quà. Như thế, Trăng hoàng cung không trở thành một tài liệu quốc cấm mang lậu ra nước ngoài.

              Sau chút hồi hộp ở hải quan, sau cùng tôi cũng lên được phi cơ, và mọi khó khăn kể như đã xong. Rồi Trăng hoàng cung in xong ở Cali và NXB Thanh Văn gửi sách ra bán tại các tiệm sách hải ngoại. Một chị bạn mang về Hà Nội cho Phùng Quán mười bản đặc biệt, cùng với tiền nhuận bút. Có lẽ sách quốc nội hồi ấy in ấn còn sơ sài, nên ông Quán rất thú vị với cách trình bày tập thơ.

              Ít lâu sau ông Quán mất vì ung thư gan. Lúc đầu cả bác sĩ lẫn gia đình giấu ông, và chính ông cũng giấu mọi người, giả vờ như chưa biết rõ định bệnh. Trong cung cách sống tế nhị Việt Nam, những tuần hấp hối của ông là một cố gắng chung để bệnh nhân lẫn thân nhân trấn an lẫn nhau rằng tất cả chỉ là bệnh xơ gan cổ trướng do rượu gây ra, hiểm nghèo nhưng vẫn có cơ bình phục… Riêng với một bạn văn hải ngoại, ông viết lá thư cuối cùng, lời lẽ trăn trối. Ông nói đến cái nguyện vọng của ông là khi sắp chết, ông sẽ lết về Huế để nghe tiếng thông Ngự Bình hay tiếng sóng phá Tam Giang. Nhưng có lẽ vì quyết tâm đóng cho chót vở kịch lạc quan để trấn an người thân, ông đã không thi hành ý nguyện đó…

              *

              Theo người nhà và bằng hữu, Phùng Quán đợi cái chết một cách bình thản, thỉnh thoảng với chút ngang tàng, nhưng không hẳn là không nuối tiếc. Ông nuối tiếc gia đình bè bạn, nuối tiếc rượu nuối tiếc thơ, nuối tiếc cái thú cho bạn nghe thơ mình và mình đọc văn bạn, nuối tiếc chưa được thấy cái ngày mà tất cả những người bị khổ nạn, nhất là văn nạn, được hoàn toàn phục hồi… Và ông nuối tiếc đã không được tiếp tục bênh vực những người khổ nạn ấy…

              Đám ma ông được cử hành ngày 24 tháng giêng 1995. Người đọc điếu văn là Phùng Cung, cũng là đồng đội đồng nạn trong vụ Nhân văn-Giai phẩm. Phùng Cung nhấn mạnh đến việc nhà nước sau cùng đã trọn vẹn phục hồi tư thế của thi sĩ…

              Cảm động nhất là sự thương tiếc của các bạn văn và độc giả của ông. Họ nối nhau thành một đám dài đưa ông ra tận nghĩa trang ngoại thành Hà Nội. Theo gia đình và một vài người bạn kể lại, đám ma ông hoa phúng rất nhiều. Tôi liên tưởng đến lần thăm Petersburg nhân dịp thành phố này mở cửa cho du lịch sau mấy thập niên cách ly vì bức màn sắt, tôi đã được cô hướng dẫn viên Nga trắng xuống giọng nói thầm là tượng Pushkin nắng hay mưa vẫn nhiều hoa hơn tượng Lenin.

              *

              Tiểu sử của Phùng Quán đã được đăng lại tại nhiều tờ báo văn học của người Việt hải ngoại, khi ông qua đời và thỉnh thoảng về sau. Ông sinh năm 1932, nhà nghèo, mới lên hai đã mồ côi cha. Năm mười ba tuổi, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, ông xung phong vào Vệ Quốc quân làm liên lạc viên. Lớn lên trong quân ngũ, ông thành lính trinh sát. Chiến tranh chấm dứt, ông thành nhà văn, tác phẩm Vượt Côn Đảo được chính quyền tái bản tất cả năm lần trước khi ông chết, tổng số tiền nhuận bút tương đương với bảy cây vàng, một tài sản kể như quan trọng vào thời ấy.

              Đang là người lính trẻ đầy quân công kiêm nhà văn có tác phẩm bán chạy, ông làm một bước rẽ quan trọng. Ông tham gia vào phong trào phản kháng của văn nghệ sĩ miền Bắc. Chuyện riêng tư của ông trở thành chuyện thời sự nóng bỏng của Giai phẩm mùa Xuân rồi Giai phẩm mùa Thu 1956. Rồi ông bắt đầu một cuộc văn nạn ba mươi năm, và từ đấy cuộc đời ông trở thành câu chuyện của quần chúng, của chính trị, của văn chuơng phản kháng, và của văn học miền Bắc.

              *

              Tại sao người con cưng của chế độ lại bất mãn với chế độ? Ông đã khẳng định trả lời câu hỏi trực diện này. Ông không bất mãn cho bản thân mà cho những người nghèo hay nhân dân (mượn chữ của ông), thành thị cũng như nông thôn, vẫn còn sống trong tăm tối đói lạnh. Xúc động trở thành công phẫn, khi ông thấy tham ô và lãng phí vẫn nhan nhản trong hàng ngũ bộ đội cũng như cán bộ dân chính. Với tâm sự ấy, ông gặp Nguyễn Hữu Đang, và ông hăng hái tham gia phong trào phản kháng mà ông Đang đang cùng một số văn nghệ sĩ chủ trương.

              Ông khai hoả bằng bài “Chống tham ô lãng phí” đăng trên Giai phẩm mùa Xuân (tháng 3 năm 1956). Vì chữ Người phạm húy trong bài thơ của Trần Dần, Giai phẩm tức khắc bị tịch thu. Phải đợi đến Giai phẩm mùa Thu (tháng 10.1956) bài của Phùng Quán mới tái xuất hiện cùng với phần lớn nội dung của số báo đầu.

              Phong trào bị đàn áp, ông bị kết tội là tay sai tư bản có dụng tâm bôi xấu chế độ. Thay vì tự kiểm thảo hay nhận tội, ông trả lời lại bằng bài “Lời Mẹ dặn” đăng trong báo Văn (tháng 9.1957).

              Giới cầm quyền phản ứng riết ráo và mãnh liệt. Hai tháng sau báo Nhân dân cho đăng một bài thơ tựa đề “Lời Mẹ dặn không phải là bài thơ chân thật”. Bài dài hơn trăm câu, Phùng Quán đọc thuộc lòng cho khách nghe một đoạn tiêu biểu:

                Nó yêu ai? Yêu gái điếm cao bồi
                Nó ghét những nơi thầy hiền bạn tốt
                Nó yêu quân bán nước buôn nòi
                Quen học thói gà đồng mèo mả
                Hoá ra thân chó mái chim mồi

              Bài thơ ký tên Trúc Chi, và Phùng Quán đi tìm Trúc Chi để đòi rửa nhục. Ông tính xử lý bằng võ thay vì bằng văn, và ông sẽ bắt đối phưong chọn võ khí, từ dao găm lưỡi lê cho đến súng lục. Với tài bắn cỡ kiện tướng trung đoàn, với thành tích lính trinh sát trưởng thành sau chín năm chiến tranh chống Pháp, ông tự tin sẽ không như Pushkin hay Lermontov để cho đối phương hạ sát… Tất nhiên Trúc Chi chỉ là một bút hiệu, và Phùng Quán không tìm ra tung tích kẻ thù mà báo Nhân dân nhất định giữ bí mật. Mãi hai mươi năm sau, Phùng Quán mới biết được Trúc Chi của báo Nhân dân chính là Hoàng Văn Hoan, khi ấy đã chạy sang Trung Quốc.

              Nhưng sự lăng mạ bằng thơ trên báo Nhân dân chỉ là cái khẻ tay nhẹ, so với hình phạt tiếp theo của nhà nước Bắc Việt bấy giờ. Ông bị mười lăm năm khổ sai, và phải mười lăm năm nữa ông mới được phục hồi. Suốt ba mươi năm văn nạn, ông đã phải làm đủ mọi nghề để sống, trong đó có vụ câu cá trộm chuyên nghiệp, thu hoạch tất cả được bốn tấn rưỡi cá của nhà nước.

              Chuyện phải trộm cá để sống cũng như những gian khổ thể xác khác, ông kể lại nhẹ nhõm như một trò đùa. Với ông, nghiệt ngã nhất là sự cô lập. Cái cô lập giữa rừng người, theo lời con gái ông, còn nặng nề hơn cái cô độc của Robinson Crusoe trên hoang đảo. Ông mất hộ khẩu, không bè bạn, viết không ai in, ra đường người quen gặp không dám chào hỏi.

              *

              Ông nghĩ đến tự vận. Khoảng thời gian đó cái chết ám ảnh ông ngày đêm.

              Ông nói nguyên văn như sau:

                “Năm ba mươi tuổi tôi muốn tự sát… Chết cho rồi, sống làm gì… Hồi ấy tôi nghiên cứu về tự sát, các loại tự sát, xem loại nào là tốt nhất… cắt động mạch, tức là mở động mạch ấy… xong rồi là treo cổ, bắn súng… rồi các thứ khác, xem cách nào là ngon nhất… thế thì người ta treo cổ là chính, người ta để một cái ghế, người ta đứng như thế này, xong người ta đá cái ghế đi… ”

              Ông lại bảo có thể thay vì leo lên cái ghế, người ta có thể leo lên chồng sách… nhưng tựu chung vẫn còn là xoàng, vì như vậy là không tin ý chí muốn chết của mình, và còn lo sợ lúc chót có thể đổi ý…

              Ông chỉ phục cách thắt cổ của Esenin, nhà thơ Nga nổi tiếng của Liên bang Xô Viết hồi mới thành lập. Esenin ngồi trên ghế bành trước lò sưởi tự vẫn bằng cách lấy cà-vạt giằng cổ ra mà chết, ý chí tự hủy không lay chuyển trong suốt những phút giây rùng rợn của cơn hấp hối.

              Phùng Quán treo ảnh Esenin trên vách gỗ căn gác ngắm sóng của ông ở hồ Tây, với vần thơ tuyệt mệnh của nhà văn Nga viết bằng máu cắn từ đầu ngón tay, “Ở cuộc đời này chết chẳng có gì là mới, nhưng sống cũng chẳng có gì mới hơn…”

              Bài thơ tuyệt mệnh Esenin gửi mẹ trước khi tự vẫn, Phùng Quán thuộc lòng bản dịch Việt ngữ có lẽ do ông chính tay thực hiện, và ông sẵn sàng chia sẻ với văn hữu xa gần khi họ đến thăm:

                Mẹ ơi quán rượu đêm nào,
                Tim con ai đó cắm vào lưỡi gươm…
                Tám năm mong một điều này
                Mẹ đến sáng ngày đừng đánh thức con
                Cho con một giấc ngủ luôn
                Với niềm kiêu hãnh với hồn khát khao
                Mẹ đừng rầy phép nguyện cầu
                Con không già được nữa đâu mẹ à

              Hôm ấy Esenin mới ba mươi tuổi, và từ đấy về sau ông không già thêm dù một ngày một giờ hay một khắc…

              *

              Nhưng Phùng Quán không tự vận. Trong băng thơ cho bạn ở hải ngoại, ông nói là ông phải sống để gột rửa sự lăng nhục người ta đã trùm lên ông.

              Có lẽ tình yêu, có lẽ sự gặp gỡ với cô Trâm, cô giáo văn trường Chu Văn An và về sau là bà Quán, đã giúp ông tiếp tục sống. Ai đã tới thăm gia đình Phùng Quán đều có dịp ghi nhận vai trò quan trọng của bà Quán trong đời sống của chồng. Có lẽ bà cũng như thơ, đã giúp ông rất nhiều trong những giờ phút tuyệt vọng ấy:

                Có những lúc ngã lòng
                Tôi đã vịn câu thơ và đứng dậy…

              Ông chấp nhận sống, nhưng những suy nghiệm về cái chết vẫn tiếp tục ám ảnh ông. Hai mươi năm sau, ý niệm tự tử lại trở lại cám dỗ ông giữa tuổi năm mươi, khi bỗng dưng ông tưởng nguồn thơ ông như đã cạn. Ông viết trong Trăng hoàng cung vào khoảng thời gian ấy:

                “Nhưng rồi bẵng đi một dạo tôi không làm thơ được nữa. Cái giếng Thơ tưởng như bị tắt mạch, hoặc đã múc đến gầu cuối cùng.

                Giờ bất hạnh cho đời tôi đã điểm!”

              Ám ảnh tự vận khi mạch văn bỗng tắc nghe quen thuộc, những nhà văn lớn bỗng dưng viết hết hay thường nghĩ đến giải pháp cuối cùng và khốc liệt này. Hemingway ngậm lòng súng bắn voi rồi kéo cò năm nào, có lẽ cũng cùng một hội chứng.

              Riêng Phùng Quán, ông lên rừng tìm thơ giữa cây cỏ:

                “Nhưng xuất thân là anh lính chiến cứng đầu, chưa từng chịu bó tay trong hoàn cảnh gay cấn nhất, cạn thơ giữa cuộc đời, tôi quyết định rời bỏ thành phố, gia đình, bạn hữu, giữa cái tuổi năm mươi, lên rừng tìm thơ giữa thiên nhiên.

                Tôi đã sống suốt ba năm trong cái lán lợp tranh lá mía, giữa một bãi đất phù sa cổ hoang vu, vùng đồi núi Thái Nguyên, mọc lút đầu cỏ dại và cây trinh nữ xanh…”

              Nơi ông ở có khi mười ngày liền không có tiếng người. Trong ba năm, chỉ có hai lần ông có bạn đến thăm, là Trần Quốc Vượng và một nhà thơ trẻ tên Quốc Thuấn. Ông đào một cái huyệt ven bờ suối, nguyện nếu không tìm được thơ đúng hạn kỳ, ông sẽ lăn xuống huyệt mà chết:

                Đàn mối của đất phù sa
                Sẽ thay phu đào huyệt
                Bao nghiệt ngã trần gian
                Chỉ một tuần vùi hết

              Và trong ba năm tự đầy ải nơi rừng xanh núi đỏ, ông tìm được một bài thơ độc nhất:

                Ly-rượu-đời Thượng Đế ban cho tôi
                Quá bủn xỉn…
                Tôi chỉ mới nhấp môi mà đã cạn
                Khi chén rượu đời đã cạn,
                Mà túi rỗng không
                Phải đứng lên và bước ra khỏi quán
                Nghĩa là phải nhắm thái dương mình mà nổ súng
                Hay xiết dây thòng lọng quanh cổ mình
                Và trổ lên cuộc đời
                Những vần thơ tuyệt mệnh
                Như những vết chàm xanh…
                Các anh tôi đó
                Mai-a và Essénhin ….
                Nhưng tôi chưa sống cho tròn nợ sống
                Tôi chưa yêu cho hết nợ tình yêu
                Tôi phải lên rừng
                Hái lá khổ-sâm
                Tự mình cất lấy ly-rượu-sống
                Ôi rượu khổ sâm đắng lắm:
                Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian…
                Bạn hữu thân thiết ơi:
                Xin đừng trách cứ tôi
                Sao câu thơ tôi có lẫn nhiều vị đắng
                Chỉ vì
                Tôi vừa ngâm ngợi câu thơ
                Vừa cạn chén-rượu-đời
                Cất bằng lá khổ sâm…

              Viết được bài thơ, ông sống tiếp để về Huế, nơi nguồn thơ trở lại lai láng trong Trăng hoàng cung. Nhưng cay đắng vẫn đeo đuổi ông, như ông viết trong hậu từ của Trăng hoàng cung:

                Thượng Đế ơi!
                Tôi đã làm gì?
                Mà ly-rượu-đời Người ban cho tôi
                Đắng thế?

              *

              Cuộc sống của ông cứ thế cho đến mãi gần đây, khoảng bảy tám năm trước khi qua đời, ông mới được nếm chút ngọt bùi. Ông được chính thức viết lại, và tác phẩm của ông, kể cả những tác phẩm đã viết chui, được quý trọng, và thực tế hơn, được trả giá cao.

              Trường thiên tự truyện Tuổi thơ dữ dội ông viết sau khi phục hồi được xuất bản ít nhất là hai lần. Thơ ông xuất hiện đó đây trên các báo văn quốc nội. Những người miền Nam cũ ngưỡng mộ ông qua vụ Nhân văn-Giai phẩm khi từ nước ngoài về chơi thường ghé lại thăm ông, cộng thêm với khối độc giả quốc nội mỗi ngày một đông đảo, tạo cho ông một cảnh già êm ấm vui vẻ.

              *

              Về quá trình hình thành nhà văn của ông, chúng ta biết quá ít. Ta chỉ biết ông đi vào văn chương bằng ngả “tráng ca”, như ông đi vào cuộc đời bằng con đường gian khổ của một em bé liên lạc. Ta không biết ai đã khuyến khích ông viết câu thơ đầu tiên, truyện ngắn đầu tiên… Ta không biết ông trau dồi tài nghệ như thế nào, ông đọc những ai, ông học sách nào…

              Tuy nhiên, một cách gián tiếp, dựa trên những câu chuyện bên lề ông kể hay viết lại, ta có thể thấy thấp thoáng ít nét về những người đi trước đã ảnh hưởng ông.

              Ông gần như không biết gì về các nhà văn miền Nam sau hiệp định Genève. Chỉ có một lần ông nhắc lại một thơ tiền chiến của Vũ Hoàng Chương “Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh…” khi ông kể Huế không đăng bài thơ đầu tiên của ông sau khi được phục hồi, mà để cho Đà Nẵng làm chuyện ấy.

              Với các nhà văn miền Bắc, ông hay nhắc đến những người cùng thời, nhưng nhắc đến trong tinh thần giao tế hồi ký nhiều hơn là văn học. Một điểm lạ là tôi chưa được nghe ông phát biểu hay thấy ông viết về những nhà văn phản kháng lớp trẻ về sau như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp…

              *

              Nổi bật trong câu chuyện của ông là những nhà thơ nhà văn nổi tiếng của Nga, thời Nga Hoàng cũng như thời Liên bang Xô Viết. Những Chekhov, những Turgenev, những Maxim Gorky vân vân… Nhưng còn trội hơn nữa là những nhà thơ chết trẻ. Họ chết sớm một cách dữ dội, hoặc tại cọc xử bắn như Gabriel Péri, mà mấy câu thơ cuối cùng Phùng Quán đã thuộc đã dịch, đã tâm đắc, đã kể lại cho bạn bè, và viết lại trong phần khai từ Trăng hoàng cung:

                Nếu cần đi trở lại
                Tôi lại đi đường này
                Để cuối cùng dừng lại ở đây…

              Họ cũng chết trẻ vì đấu súng đấu gươm, như Lermontov và Pushkin, hay tự vận bằng súng lục hay bằng dây thòng lọng như Mayakovsky và Esenin…

              Trong các nhà văn chết trẻ này, có lẽ ông tâm đắc nhất với Mayakovsky và Esenin, như ta thấy qua hai câu thơ:

                Hai anh tôi đó
                Mai-a và Essénhin…

              Cả hai đều là nhà thơ lớn của Nga vào đầu thế kỷ này. Khi thế giới chia ra hai phe bạn thù rõ rệt như câu mở đầu thường thấy trong tài liệu học tập cán bộ các nước cộng sản thời chiến tranh lạnh, ảnh hưởng sâu đậm của họ đối với phần đông các văn thi sĩ Bắc Việt là chuyện tất nhiên. Phùng Quán không phải là một ngoại lệ.

              Cơ sở của sự tâm đắc Phùng Quán dành cho Mayakovsky có lẽ là cái cố gắng đem thi ca phụng sự đấu tranh, cái dụng tâm sử dụng những từ dân gian thuần túy làm ngôn ngữ của thơ, cái tự do về nhịp điệu kể cả nhịp điệu chủ tâm khổ độc… Nơi Esenin, ta thấy lòng ái quốc không phải bằng não thùy mà bằng cả tâm hồn và cả con tim đam mê, ta thấy nỗi niềm gắn bó với nông dân để thấy được chất thơ và khai thác được những vần thơ đẹp từ cảnh sống thôn dã trong lành… Có người bình luận về Esenin như sau: “Sở trường của ông là đem nhạc vào thơ, và ông có tài tạo được bằng ngôn ngữ dân gian những hình ảnh thật đẹp có khả năng đi thẳng vào tim người đọc. Ông rất được quần chúng yêu mến, nên mặc dầu thất sủng với chính quyền Xô-Viết, thơ ông vẫn truyền bá trong dân gian.” Lời bình nghe quen thuộc, tưởng như đang nghe ai tả Phùng Quán.

              *

              Văn nghiệp toàn bộ của Phùng Quán, chúng ta ở hải ngoại chỉ được biết rất ít khi ông qua đời. Chắc phải một thời gian sau nữa, bà Quán và các bạn ông mới sưu tập xong.

              Phần lớn chúng ta ở miền Nam biết ông qua bài “Chống tham ô lãng phí” và bài “Lời Mẹ dặn” được in lại trong cuốn Trăm hoa đua nở trên đất Bắc của Hoàng Văn Chí tại Sài Gòn năm 1959. Phùng Quán viết cả hai bài bằng lối văn tráng ca sở trường của ông, và cũng là một lối văn thích nghi cho cuộc tranh đấu của nhóm Nhân văn. Hai bài đều phản ảnh cái can đảm của ông đối với chính quyền miền Bắc bấy giờ, đã làm ông nổi tiếng và trở thành một tên tuổi đặc biệt trong văn học sử của một quãng thời gian quan trọng.

              Mặt khác, ông bị thiệt thòi quá nhiều cũng vì hai bài thơ này. Cái thiệt thòi của ba mươi năm đày ải, ai cũng đã biết. Nhưng về diện con người và văn học nói chung, sự thiệt thòi tế nhị hơn nhưng không hẳn là không quan trọng. Hai bài thơ đã gò bó chân dung văn học của ông, trong khi con người và văn nghiệp của ông lớn hơn hai bài thơ ấy nhiều lắm…

              Viết đến đây tôi nghĩ đến Lỗ Tấn và A. Q. chính truyện. Trung thiên tiểu thuyết đề tài chính trị và xã hội này không phải là truyện dở, nhưng không thể gọi là hay lắm lắm, lại càng không thể được coi như tất cả văn nghiệp của nhà văn Trung Hoa. Vậy mà Lỗ Tấn nổi danh vì A. Q…

              Nhưng sự nổi danh như vậy có cái giá của nó. Nhắc đến Lỗ Tấn, phản ứng đầu tiên và nhiều khi cũng là phản ứng độc nhất của nhiều người là nhắc đến A. Q. chính truyện với những ẩn dụ tác giả chủ tâm hay bị gán cho. Một bệnh nhân của tôi, nguyên giáo sư văn một trường cao trung của Hoa Kiều Chợ Lớn, đã không ngần ngại bỏ sang bên “Quê cũ” cùng với “Trong quán rượu” và “Con diều giấy” của Lỗ Tấn, để lấy chỗ dạy A. Q. chính truyện. Nói một cách khác, văn nghiệp của Lỗ Tấn đã bị thiệt thòi, chỉ vì cái trung thiên tiểu thuyết (tương đối tầm thường so với những tác phẩm khác của ông) đã xích chân ông vào anh chàng cùng đinh ngớ ngẩn A. Q. mà ông đã dựng lên với dụng tâm chở ý hơn là làm nghệ thuật. Nghe nói đám ma của Lỗ Tấn, A. Q. cũng tới ám, chia sẻ một phần vinh hoa quan trọng trong những bài điếu văn người ta dành cho ông.

              *

              Chính Phùng Quán đã ghi nhận những giới hạn của “tráng ca”, như ông tâm sự đó đây trong thơ từ trao đổi với bạn văn hải ngoại. Ông đã viết trong bài “Sóng”:

                Tôi với sóng thiếu thời
                Là anh em kết nghĩa
                Cứu nước người một nơi
                Đầu rừng cuối bể
                Tôi mải mê chiến trận
                Vùi mình giữa rừng xanh
                Ngủ gối đầu lên súng
                Nghe sóng vỗ quanh mình
                Tan giặc gặp lại nhau
                Cả hai thành thi sĩ
                Tủi mừng qua phút đầu
                Thôi hết thành tri kỷ
                Tôi làm thơ chính trị
                Sóng chỉ làm thơ chơi
                Tôi cạn lời khuyên giải
                Sóng lặng lẽ mỉm cười
                Thơ tôi được đời in
                Túi bạc tiền xủng xoảng
                Thơ sóng chẳng ai nhìn
                Trải mãi với trời xanh
                Thơ in tôi tặng sóng
                Đọc thơ sóng lặng thinh
                Sóng vỗ bờ nức nở
                Tôi thật lòng thương anh
                Từ đó đứa một nơi
                Không nhìn mặt nhau nữa
                Cứ nghĩ đến “thơ chơi”
                Lòng tôi càng giận dữ
                Thoắt đã ba mươi năm
                Sắp hết đời nhìn lại
                Sự nghiệp thơ trắng tay
                Lòng xiết bao kinh hãi
                Tưởng mình là thi nhân
                Hoá ra chỉ con hát
                Giọng bổng với giọng trầm
                Không hồn tựa lũ xác
                Phút đắng cay tuyệt vọng
                Tôi tìm về với sóng
                Bạc đầu làm “thơ chơi”
                Trải mãi dưới bầu trời
                Gỗ ván kiếm dăm thanh
                Tôi dựng chòi ngắm sóng
                Như trẻ con chập chững
                Tôi tập làm “thơ chơi”

              *

              Thật ra Phùng Quán không phải chỉ làm thơ “tráng ca” hay. Không phải nơi ông ta chỉ thấy những đơn điệu kiểu “Nguy nga thay cái buổi lên đường.”

              Tôi nghĩ bài “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe” là một bản tình ca tuyệt vời. Tôi đã được nghe ông đọc bài thơ ấy, và đã vô cùng xúc động:

                Ngoài trời trăng như tuyết
                Trắng lạnh đến thấu xương
                Trong nhà vách trống toang
                Gió ra vào thoả thích…
                Hồ khuya sương tịch mịch
                Trộn nước lẫn cùng trời
                Con dế chân bờ dậu
                Nỉ non hoài không thôi…
                Tựa lưng ghế cành ổi
                Vai khoác áo bông sờn
                Tôi ngồi đọc Đỗ Phủ
                Vợ vừa nghe vừa đan…
                Đỗ Phủ tự Từ Mỹ
                Thường xưng già Thiếu Lăng
                Sinh ở miền đất Củng
                Cách ta hơn ngàn năm
                Thơ viết chừng vạn trang
                Chín nghìn trang thất lạc
                Người đời sau thu nhặt
                Còn được hơn nghìn bài
                Chỉ hơn nghìn bài thôi
                Nỗi đau đã Thái Sơn
                Nếu còn đủ vạn trang
                Trái đất này e chật!
                Thơ ai như thơ ông
                Lặng im mà gầm thét
                Trang trang đều xé lòng
                Câu câu đều đẫm huyết.
                Thơ ai như thơ ông
                Kể chuyện mái nhà tốc
                Vác củi, làm chuồng gà…
                Đọc lên trào nước mắt!
                Thơ ai như thơ ông
                Mỗi chữ đều như róc
                Từ xương thịt cuộc đời
                Từ bi thương phẫn uất!
                Dựa tuyết trong đò con
                Đỗ Phủ nằm chết đói.
                Đắp mặt áo bông sờn
                Kéo hoài không kín gối
                Ngàn năm nay sông Tương
                Sóng còn nức nở mãi
                Khóc chuyện áo bông sờn
                Đắp mặt Thơ-Chết-Đói…
                Giật mình, trên tay vợ
                Bỗng nảy một hạt sương
                Hạt nữa… rồi hạt nữa…
                Tôi nghẹn dừng giữa trang
                Kéo áo bông che vai
                Ngồi lặng nghe sương rơi
                Con dế chân bờ dậu
                Nỉ non hoài không thôi…
                Vụng về tôi dỗ vợ:
                “Em ơi… đừng buồn nữa
                Qua rồi chyện ngàn năm
                Bao nhiêu nước sông Tương…
                Miệng nói nhưng lòng nghĩ
                Ôi thân phận nhà thơ
                Khác nào thép không rỉ
                Ngàn năm cũng thế thôi!
                Đã đi với nhân dân
                Thì thơ không thể khác
                Dân: máu lệ khốn cùng
                Thơ chết: áo đắp mặt
                Em ôi nếu Đỗ Phủ
                Vai khoác áo lông cừu
                Bụng no đến muốn mửa
                Viết sao nổi câu thơ
                Ngàn năm cháy như lửa!
                Cửa son chiều thịt ôi
                Ngoài đường sương chết buốt
                Em ơi nếu Tự Mỹ
                Nhà ở rộng mười gian
                Cổng sắt với lầu son
                Thềm cao đá hoa lát
                Chắc ông không thể làm
                Mưa thu mái nhà tốc!
                Em ơi nếu Thiếu Lăng
                Cặp kè vợ béo nứt
                Một bước là ngựa xe
                Đứng đi quân hầu chật
                Đời nào ông lắng nghe
                Tiếng gào và tiếng nấc
                Bà cụ xóm Thạch Hào
                Gái quê Tân hôn biệt
                Đã đi với nhân dân
                Thì thơ không thể khác
                Dân máu lệ khốn cùng
                Thơ chết áo đắp mặt
                Chính vì thế em ơi
                Nhân loại ngàn năm qua
                Máu chảy như sông xiết
                Cũng là để cho thơ
                Sẽ không còn phải viết:
                Những Hành qua Bành Nha
                Vô gia thùy lão biệt
                Cũng là để cho thơ
                Sẽ không còn ai chết
                Giữa tuyết, trong đò con
                Đắp mặt áo bông sờn…
                Đừng buồn nữa… Em ơi
                Chuyện ngàn năm ngàn năm…

              Và “Cây mận Vĩnh Linh”, một bài khác:

                Lấp hố bom giữa nhà
                Tôi ươm một hạt mận
                Hạt mận tôi cậy ra
                Từ bàn tay vợ nóng
                Vợ tôi sắp làm mẹ
                Thèm ăn dở của chua
                Túi áo nàng không khế
                Thì cũng mận cũng mơ
                Ôi! trái mận, trái mận
                Cắn dở còn dấu răng
                Nảy mầm trong xót thương
                Đâm chồi trong thù hận
                Vĩnh Linh im tiếng súng
                Tôi trở lại ngôi nhà
                Nơi vợ tôi chết xưa
                Xum xuê một cây mận
                Ôi! Cây mận, cây mận
                Trái chín trĩu cành cong
                Trái nào tôi cũng thấy
                Cắn dở một vết răng.

              Và còn nhiều nữa, nhiều lắm, và tôi hy vọng sẽ có dịp trình bầy tiếp với bạn đọc trong tương laỉ.

              *

              Con người Phùng Quán có lẽ là chuyện đáng viết hơn hết tất cả những điều đã viết đến đây. Tính ông hào phóng, thích chia sẻ và sẵn sàng chia những gì quý nhất của ông với khách. Cụ thể là thơ và rượu.

              Rượu của ông rất ngon, thường là rượu trắng ngâm ô mai chua, đựng trong hũ thủy tinh nội hoá, sủi tăm lăn tăn như rượu trong thơ dân gian. Còn nghe Phùng Quán đọc thơ Phùng Quán là một thú vui hiếm có cũng như một hiện tượng kỳ lạ. Ông đọc thơ rất truyền cảm, truyền cảm đến chỗ như có phép lạ biến căn gác nhỏ của ông thành những khoảng không gian ông vẽ ra trong thơ, biến thời gian thành thời gian khi ông sáng tác bài thơ đang đọc…

              Nghe ông đọc “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ”, mặc dầu trời Hà Nội nắng chang chang, tôi vẫn có cảm tưởng như cùng Đỗ Phủ trên chiếc đò nhỏ đắp mặt manh áo bông rách, trong khi ngoài sông tuyết rơi sướt mướt… Tôi biết có người chưa hề lưu tâm đến thơ đến văn học, đã ứa nước mắt khi nghe ông đọc thơ, không hẳn chỉ tại thơ ông buồn, mà tại vì xúc động trước một cái gì đẹp quá.

              Nghe ông đọc bài thơ “Sóng”, ta bắt được cái ngậm ngùi và cái hồ nghi của ông, và phải chăng một chút nuối tiếc đã vì đam mê hành hiệp nên không có dịp sáng tác nhiều hơn cho những cái đẹp phi đấu tranh phi chính trị mà vĩnh cửu. Một chút ngậm ngùi hay hồ nghi rất quý hoá, đem lại thêm một chiều sâu dù cho người hùng.

              *

              Một trong những chuyện lạ là khi nghe Phùng Quán đọc thơ “tráng ca” của Phùng Quán. Tôi biết có nhiều người rất dị ứng với tráng ca, nghĩ thể thơ chỉ là một phương tiện để viết khẩu hiệu cho những lập trường hay ý đồ xã hội chính trị. Và tôi cũng biết có nhiều người khác đã viết tráng ca vì nhu cầu thời thượng, hay vì những tưởng thưởng cụ thể của chế độ, về sau đọc lại tác phẩm của mình phải hổ thẹn đến đỏ mặt. Những bài tráng ca như vậy nghe lộ liễu và chán lắm.

              Nhưng tráng ca của Phùng Quán có khả năng xúc động người nghe một cách mãnh liệt, kể cả những người vốn dị ứng với thể thơ này. Và bốn mươi năm sau khi hoàn tất, ông đọc lại “Lời Mẹ dặn” và “Chống tham ô…” vẫn với đam mê và kiêu hãnh ban đầu, và người nghe vẫn xúc động và phẫn nộ với những điều bốn mươi năm trước đã làm ông xúc động và phẫn nộ.

              Có lẽ lý do là ông đã viết tráng ca với tất cả tấm lòng chân thành. Không có sự giả dối thường lệ của chính trị hay sự nhỏ nhen của thợ viết, tráng ca đã trở thành một hình thức nghệ thuật đích thực.

              *

              Để kết thúc về một con người đặc biệt, tôi muốn tặng Phùng Quán một chữ Tâm, món quà tặng quý nhất trong văn hoá của chúng ta. Lý do là cung cách Phùng Quán đối xử với tha nhân và cuộc sống.

              Những năm cuối đời, như được trời đền bù cho nỗi cô đơn của ba thập niên cách ly, ông rất nhiều khách. Người ta đến thăm ông khá thường xuyên, láng giềng hễ thấy bóng dáng du khách trong khu tập thể Chu Văn An, dù chưa hỏi đường, đã nhanh nhẩu chỉ lối tới ngõ nhà ông. Người ta tới tìm ông vì văn thơ, vì tò mò, hay vì háo danh muốn chụp chung tấm hình với một nhà thơ nổi tiếng, hay ít nhiều vì mỗi thứ một tý, hay xi-ních hơn nữa, biết đâu lại không vì công tác rình mò, đám khách của ông bấy giờ thật vô cùng phức tạp… Hà Nội thời mới mở cửa lại hiếm điện thoại, khách thường không hẹn trước, không xin phép, có việc đi đâu qua đấy qua tự tiện tạt vào thăm ông.

              Khách khứa như vậy là mặt trái tấm mề-đai của sự nổi danh. Lòng ái mộ của quần chúng cho những con người đặc biệt, dù văn nhân hay thể thao gia hay chính trị gia, khi quá liều còn khó chịu hơn lạnh nhạt thờ ơ. Và người ta thường lẩn trốn nó. Trường hợp Solzhenytsin chẳng hạn. Nhà văn Nga sau giải Nobel đã sang Mỹ sống, chỉ tiếp xúc với mọi người trong những hoàn cảnh chọn lọc cẩn thận. Cụ đã trốn rất kỹ. Tiền nhuận bút, tiền giải thưởng, tiền diễn thuyết, cụ bỏ ra mua một cơ ngơi ngót cả chục mẫu, rào kín lại, đặt hệ thống an ninh cá nhân để bảo vệ cho chút riêng tư còn sót lại sau giải Nobel.

              Nhưng Phùng Quán tiếp tất cả mọi người. Và ông tiếp tất cả một cách đồng đều, với tấm lòng quý người và hiếu khách hiếm có của ông. Ba mươi năm khổ cực đã không sứt mẻ niềm tin của ông với cái tốt của nhân tâm. Câu “Nhà thơ yêu con người không mệt mỏi” từ lâu biến thể thành sáo ngữ vì lạm dụng, đã trở lại tinh nguyên nơi Phùng Quán.

              Ta có cảm tưởng như ông thực tình sung sướng được trao đổi với tất cả mọi người, được ngắm nhìn, được cọ sát, được bắt lấy chất người ở mọi dạng thức, tới với ông từ mọi quá trình khác nhau… Tựa như ông tin cái tốt trong mọi người là chân lý vĩnh hằng, và ai cũng đến với ông với đầy thiện ý…

              Có lẽ cái tâm đã gọi cái tâm, và cái tâm thành của ông đã đem lại cho ông nhiều bạn mới. Người gặp ông một lần mà tưởng như tìm được tâm đắc, và kỷ niệm của thời gian ngắn ngủi chia sẻ với ông sẽ khó phai nhạt trong ký ức họ.

              Và đám khách phức tạp có khi đến hỗn tạp của ông, sau khi thăm ông, đã thay đổi. Họ ra về hình như bớt phức tạp hỗn tạp đi một chút. Vô tình, họ có một điểm chung với nhau, là khám phá được một điều quan trọng: Sự tốt hiện hữu trong thế gian, và một con người với cái tâm đẹp như Phùng Quán có thật, không những trong hư cấu của thơ của truyện, trong cường điệu của tráng ca, mà bằng xương bằng thịt bằng máu bằng nước mắt của một cuộc đời đầy oan trái nhưng bao giờ cũng cung cách và trong sáng.

              Tác giả cảm tạ anh chị Đức Quý và Công Khanh, anh Đang, anh Sơn, cô chú Nghi và Liêm đã cho thêm những tài liệu quí báu để viết bài này.


              Mai Kim Ngọc
              http://nghiathuc.com/QuangNgaiNghiaThuc/nfblog/?p=118#more-118

              Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

              Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
              <bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2006 04:49:03 bởi Ngọc Lý >
               
              #7
                Ngọc Lý

                • Số bài : 3255
                • Điểm thưởng : 0
                • Từ: 27.08.2005
                • Trạng thái: offline
                RE: Phùng Quán với Nha Trang 21.06.2006 05:05:54 (permalink)
                .

                Ngô Minh
                "Ba phút sự thật"
                của Phùng Quán





                Nhà xuất bản Văn nghệ (TP Hồ Chí Minh) vừa ấn hành tập ký Ba phút sự thật của nhà văn Phùng Quán, tập hợp mười lăm bài ký thấm đẫm nhân văn của cố nhà thơ nổi tiếng. “Ba phút sự thật” là bài viết ngắn về anh hùng dân tộc Cuba Ăng-tô-ni-ô Êch-xê-va-na đã vạch kế hoạch đánh chiếm Đài phát thanh Quốc gia để có 3 phút nói lên sự thật, vạch mặt chế độ độc tài Batista. Từng câu chuyện dù rất ngắn của Phùng Quán bao giờ cũng toát lên triết lý nhân văn sâu sắc, găm vào trí nhớ người đọc. Ví dụ, kết thúc bài viết ngắn “Ba phút sự thật”, anh viết: "Câu chuyện dạy tôi một bài học lớn về nghệ thuật ngôn từ. Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó” (tr. 15). Vâng, để nói lên sự thật, viết về sự thật, chính Phùng Quán đã đánh đổi cả tuổi thanh xuân của mình! Vâng, Ba phút sự thật là sự thật của nhiều mảng đời buồn đau chưa từng được nói ra của những con người nổi tiếng tài hoa bạc phận.

                Cuốn sách có xuất xứ từ tập bản thảo Chuyện Phùng Quán do tôi sưu tầm và tuyển chọn trong hai năm 2004-2005, gồm các bài viết của các nhà văn nhà thơ, bạn đọc cả nước về văn chương và cuộc đời Phùng Quán và những bài viết của nhà văn Phùng Quán mới được sưu tầm và biên soạn từ chồng lai cảo anh để lại. Đầu năm 2006, tôi gửi bản thảo cho anh Nguyễn Đức Bình, giám đốc NXB Văn Nghệ. Trước đó năm 2002, tôi cũng đã sưu tầm và tuyển chọn tập Nhớ Phùng Quán dày 532 trang do NXB Trẻ và Công ty Văn hóa Phương Nam ấn hành. Tập Nhớ Phùng Quán cũng tập hợp nhiều bài viết xúc động của các nhà văn bạn bè anh Quán sau khi anh qua đời và tập hợp một số thơ và những bài ký của Phùng Quán. Cuốn sách rất được bạn đọc trong nước tìm mua và ca ngợi. Đọc tập bản thảo, anh Nguyễn Đức Bình điện ra Huế bàn với tôi rằng: “Tập Chuyện Phùng Quán rất xúc động, nhưng có kết cấu hơi giống với cuốn Nhớ Phùng Quán, nên sợ bạn đọc không chú ý. Nên chăng anh tập hợp cho nhà xuất bản cuốn sách gồm những bài viết của Phùng Quán về những nhân vật nổi tiếng, như thế chắc bạn đọc sẽ đón nhận hơn, còn các bài viết của bạn bè về Phùng Quán tôi cứ giữ đây, sẽ sử dụng sau”. Tôi đồng ý với anh Bình. Tôi điện ra cho chị Vũ Thị Bội Trâm; chị Trâm mừng lắm, vì chị muốn in một cuốn sách về những bài viết của anh mà không biết in ở đâu. Chị lụi cụi chép gửi vào cho tôi bài “Một năm lao động ở công trường Cổ Đam” và một số bài khác. Tôi tập hợp bài, viết lời giới thiệu, bản lý lịch văn học Phùng Quán, chú thích những chỗ cần thiết rồi gửi cho Nguyễn Đức Bình. Thế là bản thảo cuốn sách Ba phút sự thật của Phùng Quán được hình thành. Được sự đồng ý của chị Vũ Thị Bội Trâm, vợ nhà thơ, NXB Văn Nghệ đã tiến hành in ấn trong thời gian rất nhanh. Làm bản thảo tháng 3, đến cuối tháng 5 /2006 sách đã in xong, Công ty Văn hóa Phương Nam nhận phát hành toàn bộ. Sau khi sách phát hành, Nguyễn Đức Bình điện ra bảo tôi nên nhờ một số nhà văn viết bài giới thiệu, vì anh sợ cuốn sách bị “đánh”. Quả thực đọc từng bài viết của anh Quán, những “vấn đề” có thể bị chìm đi trong câu chuyện, nhưng khi tập hợp thành sách thì những “vấn đề” ấy lại cộm lên, nên Bình ngại là phải. Tôi động viên Bình, không sao đâu, vì tất cả các bài viết của anh Quán đều tâm huyết và rất trách nhiệm với cuộc đời. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê ngay tức khắc viết bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ. Đến nay sau khi sách ra được gần hai tháng, chị Bội Trâm và tôi nhận được rất nhiều cú điện thoại khen sách nay, chưa thấy có ai phê phán gì.

                Ba phút sự thật là những trang kỷ niệm, hồi ức của nhà văn Phùng Quán về những người bà con thân thuộc, về đồng đội, đồng nghiệp văn nghệ sĩ nổi tiếng của mình như Tố Hữu, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Hồ Vi, Trần Đức Thảo, Phùng Cung, Tuân Nguyễn, Văn Cao...; viết về những chiến sĩ cách mạng Cuba; những hồi ức về những chiến sĩ cảm tử quân trong những ngày đánh Pháp ở Huế, hồi ức về những ngày đi lao động cải tạo của nhà văn ở công trường Cổ Đam, Hà Nam, v.v... Đọc Ba phút sự thật ta càng hiểu thêm tâm trạng của Phùng Quán trong những ngày sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, hiểu thêm về tình cảnh khốn khó của những người trí thức yêu nước một thời. Qua những trang ký cháy bỏng tâm can, ta càng hiểu thêm nhân cách cao thượng và lòng chung thủy như nhất của ngòi bút Phùng Quán. Đây là cuốn sách chân thực và xúc động từ trang đầu đến trang cuối.

                Phùng Quán (1932-1995) là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Anh là một nhà văn chiến sĩ trọn đời trung thành với lý tưởng mà mình đã chọn từ thuở thiếu thời: Đi theo Vệ quốc Đoàn chiến đấu vì Tổ Quốc, nhân dân; dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ suốt 30 năm trời từ sau vụ Nhân văn. Thế nhưng anh không hề thù oán ai, vẫn cặm cụi viết, và vẫn “viết ngay viết thẳng từ dòng đầu tới dòng cuối”, luôn xưng tụng đất nước, xưng tụng nhân dân, xưng tụng tình yêu bằng những tác phẩm văn chương cuốn hút, bốc lửa, thiết tha và nhân bản. Phùng Quán đã để lại trong lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu đồng đội sâu sắc, một tấm gương lao động hết mình... với gần trăm tác phẩm thơ, trường ca, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện tranh được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ.

                Nhắc đến Phùng Quán ai cũng nhớ tiểu thuyết Vượt Côn Đảo viết khi anh mới 22 tuổi, được tái bản gần chục lần, cho đến bộ tiểu thuyết ngàn trang Tuổi thơ dữ dội, được tái bản lần thứ năm (lần tái bản gần đây nhất là năm 2005, do NXB Kim Đồng thực hiện), được đạo diễn Vinh Sơn dựng thành phim cùng tên làm xúc động hàng triệu triệu khán giả Việt Nam trong và ngoài nước. Bộ phim Tuổi thơ dữ dội được giải bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam năm 1990. Tuổi thơ dữ dội xuất hiện 32 năm sau sự kiện Nhân văn đã nhận được giải thưởng Hội Nhà văn, chứng tỏ sự kiên trung trước sau như một của ngòi bút Phùng Quán đối với con đường mà anh đã chọn! Nhắc đến Phùng Quán ai cũng nhớ những bài thơ gan ruột như “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” viết về chị Võ Thị Sáu, bài thơ “Lời mẹ dặn” nổi tiếng một thời:

                  Yêu ai cứ bảo là yêu
                  Ghét ai cứ bảo là ghét
                  Dù ai ngon ngọt nuông chiều
                  Cũng không nói yêu thành ghét
                  Dù ai cầm dao dọa giết
                  Cũng không nói ghét thành yêu...

                Và những bài thơ “Hôn”, “Chống tham ô lãng phí”, Trăng Hoàng cung, “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe”... đọc lên như nghe lời kinh nguyện cầu cho thân phận nhà thơ, thân phận con người:
                  ... Đã đi với nhân dân
                  Thì thơ không thể khác
                  Dân máu lệ khốn cùng
                  Thơ chết áo đắp mặt...

                Ngoài tiểu thuyết, thơ, Phùng Quán là cây viết ký viết báo bậc thầy. Sinh thời những bài ký, bài báo của Phùng Quán bao giờ cũng thu hút người đọc; được các báo in đi in lại. Như bài “Đầu năm xông đất nhà thơ Tố Hữu”, tạp chí Cửa Việt của Hoàng Phủ Ngọc Tường in rồi, sau đó báo Tiền Phong in lại. Một số bài viết của anh đã được giới thiệu trên các báo, nhưng cũng có những bài viết chưa công bố bao giờ, nằm trong lai cảo, do vợ nhà văn cung cấp. Chuyện vô cùng cảm động về “Người bạn lính cùng tiểu đội”. Đó là thiên ký sự tài hoa, xúc động viết về một quãng đời đầy tai ương, khốn khổ của nhà thơ Tuân Nguyễn, một người bạn cùng quê, cùng đơn vị chiến đấu thân thiết nhất của Phùng Quán trong kháng chiến chống Pháp. Tuân Nguyễn là một nhà thơ rất mới mẻ. Từ những năm 60 của thế kỷ trước, anh đã có những câu rất lạ:

                  Sóng Sông Hồng bỗng xanh màu Danube
                  Nhạc bồng bềnh trôi tới các vì sao
                  Trời lung linh khẽ chao mình theo nhịp
                  Những người nước lạ phải lòng nhau.

                Tuân Nguyễn làm biên tập ở Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, anh say mê Dostoevsky, Chekhov... và đang căm cụi viết cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của đời mình. Đang viết dở thì năm 1963, anh bị bắt vì tội “xét lại”, và bị tù 9 năm. Có một chi tiết vừa khôi hài vừa đau đớn được Phùng Quán kể lại. Khoảng năm 1963, Tuân Nguyễn còn sống độc thân. Để có tư liệu viết tiểu thuyết, anh năn nỉ xin Phùng Quán một đồng tiền vàng. Đồng tiền vàng là tên của một loại bao cao su do Tiệp Khắc sản xuất hồi đó, chỉ được bán phân phối trong của hàng mậu dịch. Tuân Nguyễn xin “xem thực tế” để miêu tả tính cách nhân vật trong tiểu thuyết. Phùng Quán không có, bèn nhờ một người bạn tìm cho Tuân Nguyễn một đồng tiền vàng. Cái ngày mà Tuân Nguyễn cầm được đồng tiền vàng trong tay, hồ hởi về phòng làm việc, là cái ngày mà anh bị công an bắt. Đồng tiền vàng trong túi quần, anh chưa kịp bóc ra coi thì bị còng tay và đồng tiền vàng bị tịch thu. 9 năm sau, khi ra tù, Phùng Quán hỏi, Tuân Nguyễn vẫn chưa hề biết đồng tiền vàng ấy mặt ngang mũi dọc thế nào! Thiên ký sự còn kể nhiều chuyện Tuân Nguyễn ở trong tù không khác gì Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn (tr. 140-197).

                Bài “Đầu năm xông đất nhà thơ Tố Hữu”, Phùng Quán kể lại lần đầu tiên sau 32 năm cậu cháu quay lưng lại với nhau, kể cả khi cháu cưới vợ, cậu cũng không thèm tới. Bây giờ khi nhà thơ Tố Hữu đã không còn là phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nữa, vợ chồng Phùng Quán mới mạnh dạn đến thăm người cậu của mình. “Tết này trước cổng biệt thự của nhà thơ quang cảnh vắng teo. Không có chiếc ô tô con nào, không công an cũng chẳng lính cảnh vệ. Cái cổng sắt mọi ngày nom như hẹp lại, hai cánh cửa khép hờ, ai vào cứ việc đẩy cửa mà vào y như thể dân thường...”. Phùng Quán đề nghị cậu đọc thơ, Tố Hữu đọc cho cháu nghe một bài thơ mới viết với giọng thơ khác lạ, thể hiện tâm trạng của ông trước cơn lốc thị trường. “Đầu đề bài thơ là ‘Anh bộ đội mua đồng hồ’. Xin lưu ý là ‘anh bộ đội’ nghe - Có anh bộ đội mua đồng hồ / Thiệt giả không rành anh cứ lo / Đành hỏi cô nàng, cô tủm tỉm; - từ “tủm tỉm của tôi là đắt lắm đấy, - Giả mà như thật khó chi mô!” Cậu cháu trò chuyện vui vẻ. Khi tiễn vợ chồng Phùng Quán ra cổng, nhà thơ Tố Hữu nói với vợ Phùng Quán: “Thằng Quán nó dại...”. Khi ra gần đến cổng sắt, nhà thơ dừng lại, nói tiếp như vẫn không dứt dòng suy nghĩ của mình: “Mà cậu cũng dại...” (tr. 22). Chuyện “Bản hùng ca bị mối xông và 17 bộ hài cốt liệt sĩ” là những trang viết hào hùng và cảm động về Trung đội cảm tử Vệ quốc Đoàn của Trung đoàn Trần Cao Vân đã hy sinh tập thể rất cao cả trong những ngày toàn quốc kháng chiến khốc liệt ở thành phố Huế. Phùng Quán viết bài này khi nghe tin công nhân xây dựng đã đào được 17 bộ hài cốt Việt Minh khi xây dựng trụ sở Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Thừa Thiên Huế trên đường Hà Nội. Viết xong, Phùng Quán chép lại một bản chép tay nắn nót đề tặng: “Các bạn trẻ ở Uỷ ban Khoa học Kỹ thật Thừa Thiên Huế”. Không hiểu sao, nhà văn Nguyễn Khắc Phê lại giữ bản chép tay này. Biết tôi đang tập hợp bài cho cuốn sách của Phùng Quán, anh Phê đã bàn giao lại bài viết với nét chữ bút sắt chấm mực của Phùng Quán cho tôi quản lý.

                Bài “Cuộc hàng trình cuối cùng của một triết gia” viết về nhà triết học Trần Đức Thảo, một người nổi tiếng, đã từng xuất bản nhiều tác phẩm triết học ở Pháp, ở Anh, ở Mỹ, Tây Ban Nha, ở Nhật, ở Đức, ở Hungari... “Năm 1952, triết gia đã từ bỏ tất cả vinh quang, tiền bạc, tiện nghi và phương tiện nghiên cứu học thuật, trở về Tổ Quốc theo con đường Paris-Luân Đôn-Praha-Moskva-Việt Bắc để cùng được ăn rau tàu bay với chiến sĩ và cùng run những con sốt rét rừng... Và triết gia đã từng nhận công tác tại văn phòng Tổng Bí thư rồi ủy viên Ban Văn Sử Địa - nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, phó Tổng Giám đốc Trường Đại học Sư phạm Văn khoa, chủ nhiệm khoa sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên viên cao cấp của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ông mất ở Pháp, bình tro đưa về Hà Nội bằng máy bay.” “Về đến Hà Nội, vì không gia đình vợ con và không có cơ quan nào và trường đại học nào trước đây đã từng công tác và giảng dạy nhận về để nhờ hoặc để quản, nên triết gia phải tạm trú tới 50 ngày dưới một gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố” (tr. 45-46), cô đơn, lạnh lẽo, không có người phúng viếng nhang đèn… Nhiều lần đọc bài viết của Phùng Quán về nhà triết học Trần Đức Thảo, lần nào tôi cũng ứa nước mắt.

                Rồi chuyện ông Nguyễn Hữu Đang trong bài viết “Những ngày cuối năm tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập” rất xúc động. Nguyễn Hữu Đang là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập 2-9-1945, Trưởng Ban tổ chức Lễ ra mắt của Chính phủ Hồ Chí Minh, sau thời gian đi tù ở cao nguyên Hà Giang (sau vụ Nhân văn-Giai phẩm), ông được tha về quê ở Thái Bình suốt 15 năm không gia đình, vợ con, phải đi nhặt từng chiếc vỏ bao thuốc lá để “làm hàng đối lưu” đổi cho trẻ con lấy từng con cóc để giết thịt, băm nhỏ, bỏ vào chai để ăn dần bồi dưỡng tuổi già. Người “trai tân” 80 tuổi này đi nhặt cái xô tôn thủng đáy, tấm gỗ dán, hai cái vại muối dưa sứt miệng người ta vứt ngoài bờ tre về làm bàn ghế. Ông bảo: “Hai cái vại còn tốt như thế này mà đem quẳng bụi tre... Tôi nhặt về cọ rửa sạch sẽ, lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?” (tr.127). Rồi bao chuyện oái oăm, cảm động về nhà thơ Hồ Vi, về Phùng Cung, Đoàn Phú Thứ, Văn Cao…, những trí thức đi theo cách mạng bị loại ra ngoài lề cuộc sống!

                Hồi ức “Một năm lao động ở công trường Cổ Đam” (Hà Nam) giúp bạn đọc hiểu thêm những năm tháng Phùng Quán đã trải qua nỗi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần như thế nào. Câu chuyện được kể với giọng văn hài hước, làm cho người đọc cười ra nước mắt. Thời gian sau khi bị Nhân văn-Giai phẩm, Phùng Quán phải đi cải tạo lao động ở rất nhiều nơi. “Từ năm 1958, tôi đã phải đi nhiều đợt lao động ở hợp tác xã nông nghiệp Thái Lai (Thái Bình), công trường nhà máy đường Việt Trì (Phú Thọ), nông trường cao su-cà phê Thắng Lợi ở Thọ Xuân (Thanh Hóa)... Đợt nào tôi cũng gặp phải chuyện trục trặc, oan ức, đều bị cơ quan quản lý nhận xét là ‘chưa tiến bộ’, ‘chưa khắc phục được tư tưởng Nhân văn’, đôi khi còn có ‘ý định ngóc đầu dậy’”... “Năm 1964 cho đến đầu năm 1965, tôi tiếp tục được Hội Văn nghệ cử đi lao động cải tạo ở công trường trạm bơm điện Cốc Thành, Cổ Đam. Trạm bơm điện Cốc Thành vào loại lớn nhất miền Bắc ngày đó... Tôi phải lao động ở đội mộc rồi chuyển sang đội bê tông. Lao động nặng mà không có tiền ăn sáng, tôi đói mềm người. Tôi lại xấu máu đói. Hễ đói là tay chân bủn rủn, mồ hôi vã ra như tắm. Mặc dù lúc nào tôi cũng đinh ninh trong dạ là phải hết sức cố gắng, phải thật quyết tâm phấn đấu để mau chóng thoát khỏi cái cảnh trợ cấp 27 đồng một tháng. Nhưng rồi tôi lại gặp phải vài chuyện trục trặc không đâu, làm mất toi công sức lao động hơn một năm trời. (tr. 95-98).

                Xin trích một câu chuyện “trục trặc không đâu” ấy:

                  “Hường (đội trưởng đội mộc - cốp pha - NM) có cái thú là mê sáng tác ca khúc. Nghĩa là đặt lời mới theo một số làn điệu dân ca quan họ. Hường khoe với tôi... bài hát theo điệu ‘Trèo lên trái núi Thiên Thai’. Hường hát luôn: ‘Ra đường phải thắt xanh tuya này xanh i í i ì tuya...’.

                  Ngày Tết sắp đến. Công trường thông báo sẽ tổ chức một đêm văn nghệ quần chúng, tiết mục tự biên tự diễn. Hường say sưa sáng tác bài hát cho đêm văn nghệ. Nội dung bài hát là ca ngợi đội mộc đóng cốp pha đúng kỹ thuật, năng suất cao. Bài hát theo điệu ‘Tình bằng có cái trống cơm’.

                  Đã lâu quá rồi tôi không còn cả bài hát, chỉ nhớ câu đầu: ‘Tình bằng có cái búa đinh, khen ai khéo gõ ấy mới đinh nên đinh, ấy mới đinh nên đinh...’. Nhưng rồi hình như công việc đặt lời cho bài hát của anh không được suôn sẻ, gặp phải chỗ bí. Tôi để ý, nhiều lúc đang làm việc Hường bỗng ngẩn ra, buông đục, bỏ cưa, bỏ rìu, rút trong túi áo ra tờ giấy nhàu nát, trải lên mặt tấm ván, nhấm nhấm nước bọt cây bút chì thợ mộc vót nhọn hoắt mà lúc nào anh cũng cài trên vành tai, cúi xuống tờ giấy gạch gạch xóa xóa, miệng lẩm nhẩm hát cái gì đó tôi không nghe rõ lời, trán cau lại.

                  Cũng là người sáng tác nên tôi thông cảm ngay. Điệu này là anh ta đang bí đây. Tôi thấy thương anh, muốn giúp anh gỡ bí. Bước đến gần, tôi hỏi: ‘Sáng tác gặp khó khăn à? Thử nói xem anh bí chỗ nào, tôi có thể giúp anh được không? Tôi không rành sáng tác bài hát lắm, nhưng việc đặt lời cho bài hát nói cũng gần với văn thơ’. Anh chỉ đầu bút chì vào tờ giấy, nói: ‘Mình đang vấp cái chỗ: lội, lội, lội sông ấy mấy đi tìm..., không biết đặt cái tiếng gì vào đó cho đúng giọng. Mình muốn dùng chữ đóng, đóng, đóng hay cưa, cưa, cưa, nhưng đều không đúng điệu dấu nặng. Nghĩ nát cả óc mà không ra. Tôi góp ý: Hay anh dùng chữ đẽo, đẽo, đẽo. Nếu hát lên thì đẽo có thể hát thành đẹo, người nghe cũng hiểu.

                  Anh gật gù: ‘Đúng, đúng. Ý kiến của cậu hay’. Vượt qua được chỗ bí, anh hoàn thành được bài hát ngay chiều hôm đó...

                  Đêm văn nghệ, bài hát của đội mộc làm cho mọi người cười vỡ trời vì khi hát đến chỗ đẹo, đẹo đẹo, khán giả ngồi bên dưới sân khấu liền rộ lên hát theo đéo, đéo, đéo muốn vỡ hội trường. Ban tổ chức phải la hét đến khản cổ mới giữ lại được trật tự, nhưng không sao giữa yên được hoàn toàn. Thỉnh thoảng bên dưới khán giả vẫn rúc rích: đéo, đéo, đéo...

                  Hường bị giám đốc công trường gọi lên xạc cho một trận tơi bời, kết tội anh là cố ý phá rối đêm văn nghệ chào mừng thắng lợi của công trường. Hường hoảng quá phải thú thật: ba tiếng đẽo, đẽo, đẽo ấy là cậu Phùng Quán nó góp ý kiến cho tôi. Lúc đầu tôi định đặt là cưa, cưa, cưa, nhưng hẳn bảo hát là đẽo... nó đúng điệu hơn...

                  Giám đốc công trường gầm ghè: ‘Đấy đồng chí cứ khen hắn là hiền nữa đi. Nó xỏ mũi đồng chí mà đồng chí không biết. Tôi đã cảnh giác với đồng chí nhiều lần mà đồng chí đều bỏ ngoài tai, không nghe!’’’


                Tất cả những áng văn ấy được Phùng Quán viết với một giọng văn tự sự pha hài rất chuyên nghiệp, lão luyện, kết cấu đầy kịch tính, dẫn người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đọc Ba phút sự thật của Phùng Quán bạn đọc sẽ hiểu thêm số phận bi tráng mà cao thượng của những người trí thức; càng hiểu thêm sự nhân hậu của cây bút Phùng Quán “một đời lao lực, một đời cay cực, một đời thơ”.

                Để có được cuốn sách, chị Vũ Thị Bội Trâm, người vợ thủy chung, người mà khi yêu Phùng Quán, gia đình và cơ quan can ngăn, đã khẳng khái: “Tôi tin anh ấy là người tốt, thời gian sẽ trả lời”. Chị Bội Trâm năm nay 75 tuổi, cách đây hơn 20 năm chị bị ung thư vú, thế mà đêm đêm giương mục kỉnh, lục tìm, đọc và chép lại từng tờ di cảo của chồng giúp cho người làm sách. Riêng bản thân tôi, từ hơn 11 năm nay, có tư liệu nào về Phùng Quán, của Phùng Quán là sưu tầm cho bằng được, rồi cất giữ, chờ ngày công bố. Chúng tôi tin rằng cuốn Ba phút sự thật sẽ mang đến cho bạn đọc nhiều chi tiết mới mẻ, cảm động về đời thường của những nhân vật “nổi tiếng” mà lâu nay chúng ta ít có điều kiện tìm hiểu. Đọc sách chúng ta càng trân trọng tài viết ký và tấm lòng thủy chung như nhất với cuộc đời của nhà thơ Phùng Quán.

                Cuốn sách còn có 40 trang Phụ lục, gồm các bài viết về gia đình của Phùng Quán ở Huế, về chị Bội Trâm, người vợ nhà văn yêu chồng đến tận cùng, những giai thoại về Phùng Quán, những bức ảnh quý giá về cuộc đời nhà văn; đặc biệt có phần “Phùng Quán - tiểu sử văn học” tương đối đầy đủ để bạn đọc hiểu thêm nhà văn yêu mến của chúng ta đã sống và viết cật lực như thế nào.

                Cám ơn Nhà xuất bản Văn nghệ đã mang đến cho bạn đọc một cuốn sách quý.


                Phụ lục

                Phùng Quán - Tiểu sử văn học

                Họ tên khai sinh đồng thời là bút danh văn học: Phùng Quán. Tuổi nhỏ ở làng thường được gọi là Bê. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thế hệ đầu tiên 1956. Năm 1958, tham gia Nhân văn-Giai phẩm, bị kỷ luật. Đến ngày 3-2-1988, Phùng Quán được Hội Nhà văn Việt Nam ra văn bản “phục hồi Hội tịch”.

                Sinh: Tháng 1 năm 1932 (Tân Mùi), tại làng Thanh Thủy Thượng, tổng Dạ Lê, nay là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế.

                Tham gia Vệ quốc Đoàn tháng 1-1946 tại một đơn vị trinh sát thuộc Trung đoàn 101 Trần Cao Vân, tỉnh Thừa Thiên. Tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở địa phương. Sau đó gia nhập thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV, giữ chân hậu cần, bếp núc, kéo phông màn và đọc thơ diễn tấu cho bộ đội nghe. Thời gian này Phùng Quán được đi học thiếu sinh quân và Trường Quân chính, tham gia đoàn phóng viên quân đội về Sầm Sơn, Thanh Hóa để thông tin về sự kiện trao trả từ binh. Nhờ chuyến đi này, Phùng Quán có tư liệu quý để viết tiểu thuyết đầu tay Vượt Côn Đảo và Trường ca Võ Thị Sáu. Năm 1954, được điều về cơ quan sinh hoạt Văn nghệ Quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị, tiền thân của tạp chí Văn nghệ Quân đội, 4 Lý Nam Đế, Hà Nội.

                Sau vụ Nhân văn, Phùng Quán bị kỷ luật, ra ngoài biên chế nhà nước, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, rời tạp chí Văn nghệ Quân đội, được Hội Nhà văn trợ cấp 27 đồng/ tháng (lương tối thiểu công chức lúc đó là 36 đồng), đi lao động cải tạo tại các nông trường, công trường và địa phương ở Thái Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Việt Trì... Năm 1964, sau khi hoàn thành chương trình “lao động cải tạo”, Phùng Quán được chuyển về công tác tại Phòng Tuyên truyền (Bộ Thủy lợi), Vụ Văn hóa Quần chúng (Bộ Văn hóa), Nhà Văn hóa Trung ương. Ở Bộ Văn hóa, nhiều năm anh được phân công đi tăng gia sản xuất tại rừng núi Bắc Thái. Về hưu 1985.

                Năm 1962, Phùng Quán lấy vợ là Vũ Thị Bội Trâm. Sau khi lấy nhau cho đến năm 1981 (20 năm) hai vợ chồng vẫn ở hai nơi: anh ở tại nhà mẹ nuôi tên là Trưởng Dơi ở làng Nghi Tàm, xã Quảng An, Hà Nội. Mẹ Trưởng Dơi có một người con là liệt sĩ, mẹ đã được công nhận Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Hàng ngày Phùng Quán viết văn rồi mượn tên thân hữu bạn bè để in, lấy nhuận bút và câu trộm cá Hồ Tây bán lấy tiền nuôi con. Từ năm 1978-1980, Phùng Quán ở trong một căn phòng nhỏ 4 m2 do Bộ Văn hóa phân ở 80 Lê Văn Hưu, Hà Nội, còn vợ vẫn ở nhà bố mẹ là ông Vũ Huy Ngọ và bà Nguyễn Thị Minh ở 3 phố Hàng Cân, Hà Nội. Từ năm 1981 đến nay, thường trú tại Khu tập thể Trường Chu Văn An, 10 Thụy Khuê, Hà Nội. Căn nhà nguyên là cái xưởng trường, Sở Giáo dục Hà Nội, Ban giám hiệu và Công đoàn Trường Chu Văn An cấp cho chị Vũ Thị Bội Trâm. Ở đây Phùng Quán đã tự tay đục đẽo dựng một cái “Chòi ngắm sóng” bằng gỗ, lợp lá gồi. Đây là chỗ mà hằng ngày anh tiếp đón bạn bè, uống rượu đọc thơ. Trên chòi ngắm sóng có dán, treo rất nhiều thơ, tranh ký hoạ của các nhà thơ, họa sĩ trong cả nước tặng Phùng Quán. Từ năm 2003, khu “chòi ngắm sóng” bị giải tỏa. Gia đình chị Vũ Thị Bội Trâm được cấp một khu nhà tại chung cư Vĩnh Phúc, Phòng 204, Khu D3, Chung cư Vĩnh Phúc, Quận Ba Đình, Hà Nội. Đây là căn hộ đàng hoàng nhất mà chị Bội Trâm được ở trong cuộc đời của mình, nhưng anh Phùng Quán không còn nữa...

                Cha: Phùng Văn Nguyện, học Đệ Tam niên Trường Quốc học, tham gia truy điệu cụ Phan Châu Trinh, đòi thả cụ Phan Bội Châu, tham gia bãi khóa, biểu tình chống Pháp năm 1926. Sau đó bị bắt giam, bị kết án 2 năm tù treo, bị bồi thường 3 năm tiền học bổng. Ông trốn vào Sài Gòn, đổi tên là Phùng Quý Đông, thi đỗ vào ngành công chức Pháp, làm việc ở Kho bạc Sài Gòn mấy năm, sau đó tưởng yên, xin chuyển về quê công tác để lấy vợ, nhưng bị phát hiện và bị mật thám Pháp bắt và bị giam ở nhà lao Đà Nẵng, bị tra tấn chết trong tù vào năm 1932, khi con trai Phùng Quán mới biết bò.

                Mẹ: Công Tằng Tôn Nữ Thị Tứ, thường gọi là bà Phán (vì chồng làm thông phán), dòng Hoàng phái (theo đế hệ triều Nguyễn: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh... thì bà thuộc hệ Bửu). Bà là một phụ nữ có nhan sắc và chữ nghĩa. Mới lấy chồng sinh con chưa được 1 năm, thì chồng bị Pháp giết, bà ở vậy nuôi con cho đến khi con đi theo Vệ quốc Đoàn, rồi thờ chồng, đợi con cho đến lúc chết ở Cố Đô Huế năm 1970, ngày giỗ là ngày 2 tháng Giêng âm lịch.

                Vợ: Vũ Thị Bội Trâm, sinh năm 1932, giáo viên dạy văn trường Chu Văn An từ năm 1970. Về hưu năm 1985. Hiện sống thờ chồng với đồng lương hưu.

                Con gái đầu: Phùng Đỗ Quyên, sinh năm 1963, lấy chồng là cán bộ Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, hiện ở Viên Chăn, đã có 2 con. Con trai út: Phùng Quân, sinh năm 1968, hiện ở với mẹ.

                Nhà văn Phùng Quán mất lúc 16 giờ 50 ngày 22 tháng 1 năm 1995 (giờ Canh Thân), tức ngày 22 Tháng Chạp (ngày Quý Sửu) năm Giáp Tuất tại nhà riêng với căn bệnh hiểm nghèo xơ gan cổ trướng, thọ 64 tuổi. Mộ của anh nằm tại quê vợ, thôn Kiều Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đã được chị Vũ Thị Bội Trâm xây cất đàng hoàng bằng tiền nhuận bút Tuổi thơ dữ dội do Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản 1997.


                Tác phẩm chính đã xuất bản

                Vượt Côn Đảo. Tiểu thuyết, 1954: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân 1954, tái bản 4 lần; Nhà xuất bản văn học Thiếu nhi Liên Xô dịch 1956; Nhà xuất bản Thuận Hóa tái bản lần thứ 5, 1987, in 50.200 bản; Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam (1954- 1955).

                Võ Thị Sáu. Trường ca, 1955. Tái bản 3 lần. Giải nhất cuộc thi sáng tác hưởng ứng Đại hội Liên hoan Thanh niên Sinh viên Thế giới ở Warszawa (Ba Lan). Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam 1955.

                Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi. Thơ, 1955. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, 1955; Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, 1957.

                Cuộc đời một đôi dép cao su. Truyện thiếu nhi, NXB Thanh niên, 1956.

                Thạch Sanh cháu Bác Hồ. Truyện thiếu nhi, NXB Thanh niên, 1955; Nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) dịch và in năm 1956.

                Bên bờ Hiền Lương. Bút ký, Nhà xuất bản Văn nghệ, 1955; Nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) dịch và in năm 1956.

                Như con cò vàng trong cổ tích. Tập truyện thiếu nhi, (tác phẩm ký bút danh Vũ Quang Khải, em trai vợ, lúc đang làm cán bộ ở Diễn Châu, Nghệ An); Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lenin do hãng Thông tấn Nôvôxti (Liên Xô) tổ chức năm 1970; Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên xuất bản, 1987.

                Em gái nhỏ và chim bồ câu. Truyện thơ

                Vĩnh Linh, lịch sử văn hóa (ký tên tác giả là Nguyễn Huy). Nhà xuất bản Văn hóa, năm 1982. In 6.100 bản.

                Dũng sĩ chép còm. Truyện thiếu nhi; Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1987, đang in với bút danh Trần Vỹ Dạ (do nhà thơ Thanh Tịnh chuyển). Khi Phùng Quán được phục hồi hội tịch mới đổi lại tên Phùng Quán (in 40.000 cuốn), tái bản tại NXB Kim Đồng.

                Tuổi thơ dữ dội. Tiểu thuyết; Nhà xuất bản Thuận Hóa in lần đầu 1983, với tên sách Buổi đầu thử thách, tập 1 (ký tên Đào Phương), in 5.150 bản. In lần thứ 2 năm 1988 đổi lại tên Tuổi thơ dữ dội thành 3 tập, 800 trang, số lượng in mỗi tập 20.000 bản. Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản lần thứ nhất năm 1997, thành 6 tập khổ 10,2 x15,2 cm. Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần 2. Đến nay bộ tiểu thuyết này đã được tái bản 5 lần. Giải thưởng (giải A) Hội Nhà văn Việt Nam 1987; Xưởng phim Giải phóng dựng thành phim Tuổi thơ dữ dội do đạo diễn Vinh Sơn thực hiện. Phim được Huy chương Bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam tại Nha Trang, năm 1990 và được Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng tặng giải thưởng nhân kỷ niệm 50 năm ngày Thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 1994.

                Người du kích hói đầu. Truyện thiếu nhi, 1990.

                Tiếng đàn trong rừng thẳm. Truyện thiếu nhi, 1991.

                Đôi bạn tật nguyền kỳ lạ. Truyện thiếu nhi, NXB Thuận Hóa, 1991, in 4000 cuốn.

                Trăng Hoàng cung, tiểu thuyết thơ, Thanh Vân xuất bản, California, 1993.

                Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn. Tủ sách Tuổi hồng, NXB Trẻ, 1993.

                Thơ Phùng Quán. Tập thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995. Tái bản có bổ sung phần di cảo (300 trang), NXB Văn học, năm 2003 do vợ nhà thơ bỏ vốn ra in.

                Ngàn cánh hạc giấy. Truyện tranh, lời Phùng Quán, tranh màu Lê Anh Vân, NXB Văn hóa Dân tộc in 10.000 bản năm 1992, được sự tài trợ của tổ chức The Japan Foundation. Đây là truyện tranh duy nhất Phùng Quán ký tên mình.

                Chiếc cối giã trầu bằng thép. Truyện tranh, 1984, tranh Huy Toàn, truyện Phùng Quán, ký tên Thanh Tịnh, NXB Văn hóa Dân tộc 1988.

                Thần hổ Chăm Pa. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Trương Hiếu, NXB Văn hóa Dân tộc 1986.

                Tượng A Vooc Hồ bằng gỗ trầm hương. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Đỗ Xuân Doãn. NXB Văn hoá Dân tộc 1986.

                Tiếng đàn đá. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Huy Toàn, NXB Văn hoá Dân tộc 1986.

                Chuyện Tây Nguyên bên bờ Đanuyp xanh. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Huy Toàn, NXB Văn hóa 1986.

                Pắc Bó đón Bác về. Truyện tranh. Ký tên Thanh Tịnh, tranh Nguyễn Bích, NXB Văn hóa Dân tộc.

                Ba phút sự thật. Ký, NXB Văn nghệ, 5-2006, sách dày 280 trang, ịn 2000 cuốn.

                Ngoài các tác phẩm nêu trên, Phùng Quán còn có khoảng 60 truyện tranh ký tên khác (không mượn tên) trong đó có các tên sách như sau: Ông già giết voi dữ, NXB Văn hóa 1982; Chiếc thuyền buồm bay, NXB Văn hóa 1984; Siêu Ly trở về, NXB Văn hóa 1984; Dòng suối mang tên em, NXB Văn hóa 1982; Tiếng đàn trong đêm khuya, NXB Văn hóa 1984; Người phụ nữ Tày dũng cảm, NXB Văn hóa 1978; Vàng A Sìn kể chuyện đánh giặc, NXB Văn hóa 1978; Tòng Văn Kim và đồng đội, NXB Văn hóa 1978; Thiên tình sử Điện Biên, NXB Văn hóa 1984; Dòng sông mất tích, NXB Văn hóa 1986; Hạt muối đỏ, NXB Văn hóa 1985; Như những dũng sĩ trong truyền thuyết, NXB Văn hóa 1980; Tiếng chuông Thiên Mụ, NXB Văn hóa Dân tộc 1987; Tên thám báo và hai em bé, NXB Văn hóa 1981; Từ cõi chết trở về, NXB Văn hóa 1986; Người cầm cờ lệnh của Vua Quang Trung, NXB Văn hóa 1986; Bức chân dung Lenin, NXB Văn hóa Dân tộc 1987; Một mình vào hang cọp, NXB Văn hóa 1986; Ngày gặp gỡ, NXB Văn hóa 1985; Chàng Ná, NXB Văn hóa 1980; Bốn anh em tài giỏi, NXB Văn hóa 1988, v.v… Theo hồi ức của Phùng Quán thì nhà văn còn viết một thiên hùng ca Huyệt lửa chôn chung với 1000 câu thơ về Trung đội cảm tử Huế năm 1946, đã bị mối xông. Năm 30 tuổi anh viết tác phẩm Nước ta có một người mù, ký tên khác, NXB Thanh Niên định in, nhưng phát hiện ra là Phùng Quán viết nên không in. Sau khi được phục hồi Hội tịch Hội Nhà văn, Phùng Quán hỏi thì NXB cho biết đã làm thất lạc bản thảo (!?).

                Phùng Quán còn có nhiều tác phẩm khác viết về nghệ thuật sáng tác và diễn tấu, truyện ngắn, truyện thiếu nhi ký tên những người quen biết như Thanh Tịnh, Phương Văn, Vũ Quang Khải v.v… và nhiều bài báo cảm động, in trên các báo Văn nghệ, Người Hà Nội, NXB Văn hóa, NXB Văn hóa Dân tộc, Tiền phong… mà chúng tôi mới sưu tầm được một phần.

                Gác Phổ Minh, những ngày World Cup tháng 6-2006

                © 2006 talawas


                Truyện Phùng Quán trên Việt Nam Thư Quán

                Thơ Phùng Quán trên Việt Nam thư quán
                <bài viết được chỉnh sửa lúc 21.06.2006 05:08:53 bởi Ngọc Lý >
                 
                #8
                  Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

                  Chuyển nhanh đến:

                  Thống kê hiện tại

                  Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

                  Chú Giải và Quyền Lợi

                  • Bài Mới Đăng
                  • Không Có Bài Mới
                  • Bài Nổi Bật (có bài mới)
                  • Bài Nổi Bật (không bài mới)
                  • Khóa (có bài mới)
                  • Khóa (không có bài mới)
                  • Xem bài
                  • Đăng bài mới
                  • Trả lời bài
                  • Đăng bình chọn
                  • Bình Chọn
                  • Đánh giá các bài
                  • Có thể tự xóa bài
                  • Có thể tự xóa chủ đề
                  • Đánh giá bài viết

                  2000-2022 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9