VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I )

Thay đổi trang: << < 45 > | Trang 4 của 5 trang, bài viết từ 91 đến 120 trên tổng số 136 bài trong đề mục
Tác giả Bài
tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 14.06.2021 16:18:40
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 14.06.2021 16:20:33 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 20.06.2021 11:54:01
Khói đồng cay mắt.... ( bản mới )
Truyện ngắn
 
          Ngày ấy, chị mới ngoài ba mươi tuổi thôi và còn trẻ đẹp, hấp dẫn lắm ... Vậy nên,...
          Chị đã là mẹ của ba đứa con, lít nhít trứng gà trứng vịt. Ngoài đôi mươi, chị đã lấy chồng và đẻ liền hai đứa. Chồng chị là một người Nam tập kết ra Bắc, hơn chị đến chục tuổi, làm nghề kỹ thuật cơ giới. Ngay sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, anh Sáu, chồng chị thuộc diện lớp cán bộ đầu tiên được chọn về Nam gây dựng cơ giới ở tỉnh quê nhà. Chị khăn gói đưa hai con nhỏ theo chống về sinh sống ở tỉnh lỵ quê anh thuộc miền biên giới Tây Nam bộ. Vào trong đó, chị chưa có việc làm, chỉ chợ búa, cơm nước, trông con nhỏ. Phấn khởi, chị sòn sòn thêm đứa nữa, thành ra chưa đến ba mươi tuổi đầu đã là mẹ nái sề với những ba đứa con,... Vậy là, cắm mặt chăm sóc con cái, chị có biết trời đất bên ngoài thế nào đâu. Rồi gia đình chị chuyển về huyện lỵ quê nhà, lại vướng bận thêm các mối quan hệ bên nhà chồng, hỏi han thưa gửi là cạn ngày hết tháng. Mấy mà già?... Thực ra, chị cũng từng có quãng ngắn ngày son trẻ, phơi phới thanh xuân, yêu đời,...
          Hồi đó, chị độ tuổi đôi mươi.
          Mẹ chị mất sớm, sau khi sinh đứa em trai được vài tuổi, nhưng cha chị không tục huyền, gà trống nuôi hai chị em, nên dù nghèo nhưng chị được sống trong cảnh thương yêu đùm bọc, ấm cúng. Cái Tấm, ngoài việc đi học cũng giúp giập được cha nhiều việc nhà và cả việc đống áng nặng nhọc. Chẳng hiểu sao, cha mẹ lại đặt cho chị cái tên Tấm. Chắc là muốn chị có hậu vận sung sướng như cô Tấm trong cổ tích?
          Tấm sớm phổng phao, nên khi học hết cấp hai, chừng mười lăm tuổi, đã là cô gái xinh xắn. May thay, thu hết các nét đẹp của cha mẹ, Tấm  có vóc người dong dỏng, da trắng môi đỏ, tóc dài óng, và khuôn mặt có nét Tây, mắt to, xống mũi cao, miệng hơi rộng và hàm răng trắng đều đặn, khác hẳn với đám con gái quê. Thế nên, người làng bảo Tấm như con lai Tây. Đang độ tuổi phơi phới thì mẹ mất sau một thời gian lâm bệnh chữa trị không qua khỏi. Tấm không học lên nữa, ở nhà giúp cha nuôi em. Những năm đất nước chiến tranh, con gái quê, học thế cũng là đủ. Trời phú cho Tấm giọng hát hay, thuộc và hát theo được hầu hết các làn điệu chèo nghe được từ đài phát thanh trong các chương trình dân ca nhạc cổ. hay học lỏm khi xem chèo. Có năng khiếu vậy nên ở xã gọi tham gia vào đội văn nghệ, cũng biểu diễn thi thố này nọ. Xinh xắn và có năng khiếu văn nghệ như vậy, nhưng ở làng chẳng đám trai nào đánh tiếng, ngoài sự trêu chọc tán tỉnh của mấy tay cán bộ xã và đám đàn ông đã có vợ, trong khi đám con gái mới lớn bình thường khác lại đắt như tôm tươi. Hình như người ta ngại cái vẻ đẹp khác người của Tấm. Tấm cũng chẳng cần, bởi thâm tâm cô vẫn chờ đợi cơ hội để theo nghề văn công chuyên nghiệp. Và cô hội ấy đã đến, khi đoàn chèo tỉnh nhà về địa phương tìm tuyển người. Vẻ đẹp hình thể và khả năng ca hát trời phú nên Tấm trúng tuyển ngay. Những tưởng may mắn thì cha cô đột ngột qua đời vì một cơn bạo bệnh ngay sau khi cô nhận được giấy gọi nhập đoàn chèo tỉnh. Thật tình, Tấm không đang tâm tìm cơ hội phát triển tài năng nghệ thuật cho mình mà để lại đứa em trai chưa đến mười tuổi ở nhà một mình. Tấm đã mấy đêm mất ngủ, nước mắt vắn dài, đắn đo để đi đến quyết định không vào đoàn chèo tỉnh mà ở nhà làm ruộng nuôi em.  
          Cho đến giờ, chị cũng chẳng rõ quyết định ngày ấy của mình là đúng sai thế nào. Chỉ biết, chị không cảm thấy hối tiếc hay ân hận gì, thi thoảng lúc lòng dạ yếu mềm càm thấy chạnh lòng. Theo chồng về quê, một vùng đất viễn biên Tây Nam bộ, người ta thuần cải lương, vọng cổ, vui cũng ca mà buồn cũng ca, chị ngỡ quên hết những làn điệu chèo mà trước đây chị thuộc nằm lòng. Vậy chứ, thi thoảng, những lúc ở nhà một mình, chạnh buồn nhớ quê ngoài Bắc, chị cất lời hát đôi làn điệu Đường trường thu không, Đường trường trong rừng man mác, đủ buồn. Trong đầu chị vẫn âm u làn điệu Sử rầu, Lần thảm, nhưng nó bi ai quá, chị không dám hát vì sợ vận vào thân. Có lần, lâu lắm rồi, ấy là sau lễ Thất tuần bố chị, cám cảnh thân phận mình, phải ở nhà nuôi em, từ bỏ ước vào văn công để trở thành nghệ sĩ hát chèo, chị đã hát Sử rầu. Là hát cho sự chua xót nỗi lòng, thân phận. Và kể từ đấy, thôi hẳn. Cũng có khi, nhà có nhậu, anh Sáu, chồng chị ngà ngà say, khoe với bạn nhậu bảo chị hát chèo, chị giữ thể diện cho chồng, cất lời điệu Lới lơ vui tươi gây không khí. Lời hát thì vui, nhưng ngừng lời, lòng người hát lại buồn, nhớ quê da diết. Cả tuổi thanh xuân, lớn lên ở một làng quê Bắc bộ, cách sông Cái không xa, chị thân thuộc với mái nhà tường đất mái rạ, với con đường làng quanh co lát gạch nghiêng long lở, với những hàng rào râm bụt hoa đỏ, mây gai, hoặc ô rô, hay cúc tần có dây tơ hồng quấn quýt. Vùng quê chị, ngoài lúa còn có đay và đất bãi trồng ngô, Vào đây, cảnh sắc đồng ruộng khác hẳn, chỉ có lúa, tràm và cỏ dại. Một năm chỉ có hai mùa, mùa mưa thì hầu như ngày nào cũng mưa, nước sông Hậu tràn về mênh mông, chỉ có những ngọn núi vùng biên ải này là nhô lên và các chòm ấp cùng những hàng thốt nốt phất phơ trên biển nước trắng xóa một màu... Còn mùa khô thì cơ khổ, nóng và bụi, ba bốn tháng trời không một giọt mưa. Nắng chang chang từ mờ sáng đến mờ tối. Khói đốt đồng lên mờ mịt cả bầu trời. Lại thêm những làn bụi đường cuộn lên mỗi khi có xe chạy, khiến người đi đường và nhà cửa cặp mé lộ ngập chìm trong làn bụi đất. Cái kiểu thời tiết đặc trưng vùng miền này chị mãi không quen...
          Vùng đất Thất Sơn, đồng bằng lầy thụt xen lẫn núi này thật chẳng đâu có trong cả xứ miền Tây này. Anh Sáu, chồng chị bảo, cả vùng có tới hơn ba chục ngọn núi có tên gọi, nhưng người ta chỉ chọn bảy ngọn núi làm biểu tượng chính ấy là các núi Cấm, Tượng, Dài, Tô, Sam, Két, Tà Biệt. Cũng nhiều người kể tên khác, nhưng với chị thì như nhau cả thôi. Nhà chị ở cách chân núi Nam Vi không xa, nên chị hay lên núi này kiếm củi, tìm cây thuốc và dọn chút rẫy trồng khoai mì. Quê anh Sáu gần chân núi Dài, mỗi khi rảnh rỗi anh hay cùng đám bạn và người bà con lên núi đốt than và đi săn thú rừng.
          Yên ổn gia đình sau chiến tranh biên giới Tây Nam, anh Sáu cậy nhờ xin cho chị vào làm người nấu ăn bếp tập thể liên cơ quan huyện gồm nông, lâm, thủy lợi, cơ giới. Khu liên cơ đóng trong một khu vườn rộng hàng chục công đất, dày xanhg cây cối, những xoài, dừa, mãng cầu, vú sữa. Đây là một khu tịnh xá cũ vô chủ được trưng dụng do người chủ cũ bỏ lại chay ra nước ngoài dịp giải phóng niềm Nam năm 1975. Cả thấy vài chục người ăn tập thể, mình chị xoay xở cũng vất, phụ cấp thấp nhưng có việc làm và thu nhập là vui rồi. Có điều tiền ăn ít nên việc đổi món thật khó bề. Cứ ngày ngày, mớ cá rô, chia ra, nửa đem kho tiêu, nửa nấu canh chua me rau súng. Ăn mãi cũng chán. Mùa nước nổi về thì đỡ hơn. Chị lọ mọ lội nước cánh đồng trũng ngay sau cơ quan nhặt được ít cua đồng và vài bó rau muống đồng, về nấu riêu cua và rau muống xào tỏi, ăn lạ miệng, ngon đáo để.
          Chị vui hơn khi bếp ăn cơ quan đông thêm khi có người bổ sung. Ấy là mấy cán bộ kỹ thuật, trong đó có một chàng kỹ sư nông học mới tốt nghiệp ra trường được điều từ ngoài Bắc vào. Bảo, chàng ký sư trẻ này lại là đồng hương hàng tỉnh với chị. Vậy là hai chị em nhanh chóng thân nhau. Chị coi Bảo như cậu em trong nhà, quý như cậu Vinh, em ruột chị vậy. Bảo dáng dấp thư sinh, kiểu người ít lao động chân tay, là con trai duy nhất và út trong nhà, bên trên có mấy chị đỡ hết việc nặng nhọc cho, nên cậu ta chỉ biết đôi việc lặt vặt như chăn trâu, tát nước. Tiếp xúc gần, chị thấy cậu chàng hiểu biết, thông minh và ăn nói cũng khá. Ngày chủ nhật, hễ nhà có món nhậu là anh Sáu chồng chị lại sai con đi mời cậu Bảo đến nhậu cho vui. Bảo khéo tay, hằng tháng, cậu chàng đến nhà chị hớt tóc cho mấy cha con anh Sáu. Những ngày đầu, Bảo háo hức, còn đòi theo chị lên núi hái cây thuốc và kiếm củi về đun.
          Mùa đốt đồng, nhằm chủ nhật, chỉ rủ Bảo đi đốt rơm rạ trên mấy công đất trồng lúa của gia đình. Hai chị em kẽo kẹt đèo nhau bằng xe đạp xa gần chục cây số. Rồi lại băng ruộng mệt nhoài mới tới nơi. Hai chị em ôm rơm rạ chất thành đống, Chị quen việc không sao, chứ Bảo sức vóc thư sinh, làm một lúc đã mồ hôi nhễ nhại. Châm lửa đốt, khói lên nghi ngút về trời. Hai chị em ngồi nghỉ uống nước, ăn bắp luộc. Nhắc chuyện quê ngoài Bắc, Bảo nói nhớ nhà, nhớ mẹ. Chị cũng thấy nhớ, cất lời hát điệu Đường trường thu không. Lâu không hát, giọng không nhuần nhưng vẫn đúng giai điệu. Man mác buồn. Làn điệu chèo giữa đồng quê Tây Nam Bộ nghe có gì đó là lạ. Chị dứt lời, hỏi Bảo bớt nhớ nhà chưa, thì cậu chàng chỉ cười nhẹ, rồi đọc nho nhỏ mấy câu thơ. Chị nghe câu được câu mất, cũng là nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người yêu chi đó... Để ý, thấy cậu chàng rụi tay đầy nước mắt. Chị đùa là khóc nhè nhớ người yêu, thì cậu chàng chối, bảo khói đồng vào cay mắt thôi. Mùa đốt đồng, khói gọi khói, các đồng rấm rải trác khắp đồng nghi ngút như mây, cuộn lơ lửng trong nắng quái hoàng hôn đỏ bầm, ma mị, ám ảnh. Lúc về, thấy cậu chàng mệt, chị nhận phần đạp xe. Bảo ngồi sau có vè ngượng vì để đàn bà đèo, nhưng do mệt quá, tựa đầu vào lưng chị, thiu thiu ngủ thì phải. Bàn tay cậu chàng bám nhẹ vào eo bụng chị, vô tình tạo cảm giác lâng lâng, chị đạp mải miết mà không thấy mệt...
          Thấm thoắt vài năm qua qua nhanh. Bếp tập thể liên cơ quan giải tán. Chị mất việc làm, ở nhà trông giữ con, nuôi thêm bày gà và mấy con heo thịt làm vui. Không còn bếp ăn tập thể, Chi lo cho Bảo ăn uống thất thường, nhưng cũng may, cậu ta quen thung quen thổ, có chỗ thân quen đi lại và cũng thêm bạn bè nhậu nhẹt. Chị vẫn giữ lệ, hễ nhà có mồi nhậu ngon ngon chút là sai con đi mời cậu Bảo đến nâng ly làm vui. Cậu Vinh, em trai chị về quê ngoài Bắc khi trở vào đưa theo một người con gái họ bên mẹ chị. Những tưởng vào chơi thăm thú tính kế làm ăn, nào ngờ cô nàng ở tịt nhà chị, rồi hai anh ả lằng ngoằng với nhau có thai. Chị cản không được, hai đứa lấy nhau và xin ở riêng. Chị giận em trai mà cũng thương cho cái thân mình, nuôi em lớn nhưng bảo em không được, để ra nông nỗi này. Nghĩ mà buồn, thấy uổng phí cái công mình đã hy sinh cả thanh xuân, tài năng bỏ đoàn chèo ở nhà làm lụng muôi em trai mà giờ nó đổ đón ra thế. Hai nhà cách nhau có một quãng thôi, nhưng ít qua lại, vì cô em dâu bất đắc dĩ kia e ngại, tránh mặt chị. Tình thương em trai, chị chuyển sang cho Bảo. Chị chịu khó nấu nướng các món ăn kiểu Bắc mời Bảo đến ăn...
          Mùa nước nổi về, thật thích. Cả  cánh đồng mênh mông dưới chân núi Dài trắng băng một màu nước, ngút ngàn đến tận mạn kinh Vĩnh Tế. Người ta chị còn nhận biết đâu là lộ bởi những làn khói bụi đường, khói xăng xe bay lên, và đó đây hàng cây thốt nốt và dừa để phân định bờ đất.  Con đường dài mấy chục cây số từ thị xã Châu Đốc đi Tịnh Biên, Tri Tôn mảnh như một sợi chỉ, những hòn núi to như Cấm Sơn, Nam Vi và những quả núi nhỏ khác nổi lổn nhổn trên đồng nước chẳng khác gì đám dừa điếc khô rụng rơi nổi lềnh bềnh. Xa xa, bờ kinh Tám Ngàn ngày đêm rộn ràng tiếng ghe xuồng, tắc-ráng phành phạch. Nước lên to, cùng với tôm cá theo về là cua và chuột đồng. Chị và hai thằng cu con đầu, má con rủ nhau đi nhặt cua và bẫy lưới bắt chuột đồng. Cua thì con nào con nấy to cộ bò lổm ngổm cắt ngọn lúa, còn chuột đồng thì từng đàn bám đuôi nhau bơi thành dây, đớp đọt cỏ non trên mặt nước rồi leo lên thân dừa, thân cây thốt nốt, thân tràm trú ngụ khi no bụng. Thế nên, người miền Tây mới gọi chuột đồng tránh đi là sóc tràm cho bớt ghê... Chị tha hồ trổ tài bếp núc làm các món ngon như chuột đồng quay, chuột bỏ lu, cua đồng rang xả ớt, cua đồng muối nặm, hay nấu riêu chua me, hay nấu rau đay rau dền cơm... Anh Sáu, cậu Bảo có mồi ngon nhậu, còn đám trẻ con thì thức ăn đãy bụng.  Cả nhà tuần nào cùng vài ba bữa tưng bừng.
          Một lần, Bảo nghỉ phép ra Bắc cả tháng, trở vào, dáng vẻ buồn buồn ít nói. Chị làm đồ nhậu, để anh Sáu và Bảo cụng ly mừng gặp lại sau chuyến đi phép của Bảo. Bữa nhậu, chị hỏi han luôn miệng, nhưng Bảo chỉ trả lời cầm chừng, mặt mũi vẫn không vui lên chút nào. Đoán có chuyện, nhưng chị không nài hỏi thêm. Thời gian sau, Bảo lăn ra sốt. Sốt rét. Vùng này nổi tiếng là vùng sốt rét. Những ai từ vùng khác đến đây sinh sống, dù có giữ gìn mấy thì không trước thì sau cũng nhiễm sốt rét. Chị và mấy người quen lo thuốc thang, cơm cháo cho Bảo. May mà cũng nhẹ nên nhanh qua khỏi. Nhưng sau trận sốt, Bảo gày và xanh xao, cử chỉ chậm chạp, tính tình mềm yếu hẳn đi. Chị thương Bảo nhiều, nhưng cũng chẳng thể giúp gì hơn. Chị luấn quấn với đám con đã mệt nhoài ra rồi, nay lại mới mang bầu đứa nữa, chẳng biết sẽ xoay xở ra sao đây. Mỗi chủ nhật, không phải đi làm, Bảo hay ra nhà chị, có việc vặt gì thì làm giúp. Chị cũng lấy đó làm vui.
          Mùa hè năm ấy, hai thằng cu lớn được nghỉ hè. Anh Sáu hứa cho chúng theo lên rãy làm khoan mì và dạy cách làm than củi. Bữa cơm trước khi lên rẫy, có mấy ký thịt nhím rừng do một người quen bẫy được gửi cho, chị trổ tài làm món xào lăn xả ớt và món cà ri ăn với bún. Anh Sáu và Bảo cụng lý liên tục. Chị ăn qua loa rồi ra xếp đồ đạc cho mấy cha con ở rãy cả tuần. Buổi chiều, anh Sáu đánh xe bò chở đầy nhóc đồ đạc lên rãy. Hai thằng cu con mừng vui gõ vung nồi hát váng lên. Chị dọn dẹp nhà cửa. Bảo quá chén, nằm bệt ở bộ ngựa gian ngoài ngủ ly bì. Chốc chốc cậu chàng lại ngóc đầu dậy thổ ra chiếc chậu chị đặt sẵn bến dưới. Rõ khổ, bữa nay quá chén, lại cảm gió chi đây nên mới như vậy. Chị lấy nước cho Bảo uống, rồi bắt cậu chàng nằm sấp để chị giác gió khắp lưng. Nghe chừng cũng đỡ nhiều, nên Bảo ngủ thiếp đi.
          Trời sẩm tối. Chị bắc nồi cháo lên bếp để lát cho Bảo ăn giã rượu. Tắm táp cho đứa bé và lấy cơm cho ăn, rồi chị đi tắm. Cái buồng tắm đơn sơ phía sau buồng trong và bếp, được quây bằng lá dừa khô, cũng chỉ để cho đàn bà con gái dùng thôi, chứ đàn ông thì khỏi cần. Là cách nhớ thế thôi, chứ lúc tối trời, chị ngồi cạnh lu, cởi bỏ áo múc nước dội lên người loáng chút là xong, lâu thành quen thế rồi. Dân miệt này các nhà đều vậy cả. Vừa dội nước, nhìn mảnh trăng non nhô đầu núi, tự nhiên vui miệng, chị nhớ đến một điệu chèo và cất tiếng khe khẽ hát. Bỗng cảm giác có gì là lạ, bèn ngoái nhìn, chị giật mình vì thấy Bảo đang đứng ở cửa bếp gần sau lưng chị lặng nhìn. Chị khẽ kêu ối. Bảo ấp úng: “Đang mơ ngủ, nghe như ai hát... Thì ra là... Chị hát chèo hay quá...”. Chị lúng túng, quờ tay lấy cái áo vắt nhanh lên bờ vai che ngực: “Ồ, cậu Bảo...  đã tỉnh rượu rồi ha? ... Chị xong rồi đây. Cậu vừa xỉn dậy, chớ có tắm mà cảm đó nghen...Lau người qua cho mát thôi,... để chị lấy cháo cho cậu ăn. Cháo ngon lắm...”.  Chị cũng cảm nhận giọng nói không bình thường của mình. Bảo vẫn đứng nguyên đấy, nhưng ý tứ nhìn nghiêng ra mé lộ: “Em vẫn mệt lắm... Bụng còn  nôn nao. Chỉ thấy khát nước thôi...”. Nói rồi Bảo trở lui, đi ra buồng ngoài. Chị vội vàng thay quần áo, luýnh quýnh thế nào, xỏ nhầm cả ống quần...
          Chị dọn mâm. Mâm cơm chỉ có hai người. Chị ăn những thức ăn cũ còn lại từ bữa trưa. Bảo ăn cháo, món cháo thơm ngon mùi gạo mới, có thịt nhím băm nhỏ, bỏ hành răm cho giải cảm. Bảo ăn uể oải, cố ăn hết tô cháo để chiều lòng chị. Bữa ăn kéo dài, vừa ăn vừa chuyện. Lúc này, chị mới lựa lời hỏi chuyện Bảo chuyến ra Bắc vừa qua. Bảo nói mẹ câu năm nay yếu nhiều, nên đang tính gắng ở lại đây một thời gian rồi ra Bắc xin việc. Chị chỉ biết nói lời động viên, nhưng thực lòng, nếu Bảo ra hắn ngoài Bắc, chị sẽ rất buồn, cảm như mình mất đi chỗ dựa tinh thần. Bảo định xin phép về khu liên cơ thì chị gàn, bảo ở lại đây ngủ, bởi sợ người còn yếu, sợ đêm hôm ngoài trời gió máy, ngộ nhỡ làm sao thì khổ. Không hiểu sao, chị muốn Bảo ngủ lại. Rồi chị xếp mềm gối bộ ngựa gian ngoài dọn chỗ ngủ cho Bảo. Cậu chàng chỉ còn biết nghe theo. Còn chị và đứa nhỏ ngủ buồng trong...
          Chị và Bảo lội bì bõm bắt cua trên đồng ngập nước mênh mông. Thảm lúa hè thu bị lướt đi bởi nước ngập tận ngọn. Cỏ năn nác mọc chen lẫn. Những con cua càng to kềnh càng chẳng sợ người, lổm ngổm trên ngọn co giơ càng nghiến cắt ngang ngọn lúa, thấy động thì lấc láo cặp mắt lồi thô lố ra nhìn và giương càng lên phong thù chứ không them bò chạy. Chị lựa chiều tay tránh càng. chộp ném vào chiếc thùng tôn. Bảo vụng về hơn nên thỉnh thoảng bị cua cắp tay đau kêu oai oái. Đang mùa mưa lũ, mây đen kéo lên rất nhanh rồi mưa xuống như trút. Chị em hò nhau chạy mưa lên bờ kinh, tìm chỗ trú mưa. Chạy vội, chị vấp chân trong bùn ngã rúi rụi xuống ruộng nước. Bảo vội chồm tới đỡ chị lên. Mưa ngập ướt, quần áo bết vào người, Bảo giúp chị gột bùn đất, chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tay Bảo quờ quạng đụng vào bầu ngực căng mẩy của chị...  ”Ấy đừng... đừng...”, chị buột miệng và bừng tỉnh. Thì ra chị vưa thiếp đi, mê ngủ vậy thôi. Đang ngẩn ngơ hư thực, trong ánh sáng mù mờ của ngọn đèn hãm nhỏ treo trên bếp, chị nhột người nhận ra Bảo đang ngồi ghé mép giường ngủ, Chị nhắm mắt vờ ngủ thì Bảo khẽ cúi người xuống, chạm nhẹ môi vào trán chị, rồi lướt khẽ chạm vào đầu mũi và dừng ở môi chị. Chị mơ màng êm ái tận hưởng sự đụng chạm. Rồi nữa, đôi bàn tay Bảo đặt vào hai bầu ngục chị đang căng mẩy lên. Và một bàn tay rời bầu vú trướt nhẹ xuống dưới thân, lập tức chị hiểu cái đích đến của bàn tay ấy nhưng khi nó lướt đến cái bụng bầu thai mấy tháng lùm lùm thì dựng lại... Bảo rút tay lên e dè... “Đừng...đừng...”. Chị khẽ đảy tay bảo, ngồi dậy. Phía trong giường, đứa bé vẫn ngủ say... Bảo lắp bắp: “Nước...khát nước”... Chị chỉ chỗ, Bảo chui ra khỏi mùng, rót nước ra cốc, uống ừng ực, thở hổn hển, tần ngần rồi trở ra buồng ngoài. Chị không tài nào ngủ lại được nữa, nghe tiếng Bảo lát lát trở mình, thở dài... Vắt tay ngang mày, suy nghĩ đắn đo một hồi, chị nhỏm dậy, nhìn đứa bé con vẫn say ngủ, nén thở, ra khỏi màn. Chị thổi tắt ngọn đèn dầu hãm nhỏ ở bếp, rồi nhẹ chân ra buồng ngoài. Ánh sáng sao đêm hắt qua cửa sổ sáng mờ. Chị rón rén đến ghé ngồi bên mép bộ ngựa nơi Bảo ngủ. Chị nghe rõ tiếng thở và nhịp tim mình đập mạnh. Như hồi chị con gái mới lớn lén ghé bên hàng rào nhìn trộm chàng trai trẻ hàng xóm sắp vào quân ngũ. Chị lưỡng lự, rồi đặt bàn tay khẽ vuốt mái tóc Bảo. Cậu chàng nằm co như con tôm, quay mặt vào trong, im thít như ngủ. Vuốt tóc Bảo một lát, chị mạnh bạo co chân vào trong mùng, xoay mình nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh, choàng tay ôm Bảo vào lòng. Nghe tiếng thở, chị biết Bảo thức nhưng nằm im không phải ứng. Tay chị vòng ôm bụng Bảo vừa khẽ kéo vào lòng vừa nhích mình để hai thân thể vừa khít cánh cung. Chị cảm nhận bầu ngực mình khẽ tì vào lưng Bảo. Im lặng . Chị đưa tay chạm khuôn mặt Bảo thì thấy ươn rướt. Vai Bảo khẽ rung và chị biết Bảo khóc. Chị lặng lẽ cởi cúc áo để bộ ngực trần chà nhẹ. Bảo nấc nhẹ, nhệu nhạo “Cô ấy không chờ đợi được nữa... bỏ... nhận lời với người khác rồi...”.  Chị không kìm mình được nữa, đột ngột xoay người Bảo và cậu nương theo ấp cả khuôn mặt mình vào bầu ngực chị. Bảo rụi rụi mặt, nức nở thành tiếng. Chị ghì đầu bảo vào bộ ngực trần của mình, cảm nhận nước mắt Bảo ướt dẫm hai bầu vú, vỗ về: “Thôi nào... Khổ thân... Tội nghiệp quá... Không sao đâu....”. Bảo cứ lắp bắp, chẳng rõ nói gì. Rồi đôi môi Bảo ngập ngừng chạm vào đầu vú chị đang mẩy căng của người đàn bà mang bầu, bên này rồi bên kia, như một kẻ tham lam, háu đói, lâu ngày... Tay Bảo lần sờ xuống thân dưới chị, bắp đùi, bẹn, lướt nhẹ qua vùng kín và dừng lại ở vòm bụng lùm lùm. Chị ý thức, đưa tay mình ấp lên bàn tay Bảo ở vòm bụng, giữ không cho bàn tay ấy di chuyển nữa. Bảo không dám nhúc nhích, nhưng người như căng lên như cánh cung đang kéo chờ buông dây... Chị nén mình thở trút ra thật nhẹ kiểu đánh úp, một tay chị vẫn giữ bàn tay cậu trên bụng mình, tay kia chị rờ nhẹ lướt từ bụng xuống dưới chạm chỗ phồng căng, dừng lại... Chị nhắm nghiền mắt, sợ mở mắt ra thì tỉnh cơn mê mà ý thức... Trong mê loạn, vô thức, bày tay chị làm trò ảo thuật, Bảo ngậm cả bầu vú chị đầy miệng, bên này, nhả, bên kia, lập bập, mê mẩn... Cả hai mê sảng, tê dại, lịm đi...
          Chị bừng tỉnh, ý thức. Bảo vẫn ngậm bầu vú ngủ lịm. Hai bàn tay trên vòm bụng vẫn ấp vào nhau, chị khẽ rút bàn tay kia dính dấp và cảm nhận mình ướt át. Lặng im, chị khẽ thở dài, nhích người rút bầu vú ra, ngồi dậy, cài khuy áo, nhẹ ra khỏi mùng. Hình như trời đã dần về sáng. Trở vào buồng trong, không dám thắp lại đèn, vì không muốn cơn mộng mị tan mất, lần mò bóng tối rút then, mở cửa sau, ra lu nước, rửa qua mình mẩy. Trở về giường, ghé nằm xuống cạnh con, chị vẫn lâng lâng. Tự hỏi lòng mình, tình cảm với Bảo như thế nào, rồi nhủ lòng, đương nhiên như cậu em quý mến rồi. Gì nữa? Chắc có chút tình cảm ngoài tình chị em, bởi không sẽ chẳng thể có chuyện này?... Thực ra, cả thời thanh xuân, xinh đẹp, chị đã từng yêu ai đâu, ngoài bóng dáng anh chàng hàng xóm có họ xa, điển trai, vừa kịp lớn đã vào lính rồi hy sinh. Với chồng chị, anh Sáu, ấy là sự cảm thông, tình thương dành cho một người đàn ông lớn tuổi, xa quê phải sống độc thân nơi đất Bắc, là sự đền bù cá nhân nhưng lại mang cái danh chung dành cho miền Nam còn trong cảnh chia cắt, là nghĩa vợ chống chung con chung của. Mang tiếng là ngấn ấy mặt con, ăn ở với nhau hơn chục năm trời, đêm đêm đầu gối tay ấp, nhưng chị luôn là người thụ động, nhiều khi là cam chịu. Đã bao giờ chị chủ động và quyết liệt trong bày tỏ tình cảm của minh đâu. Chị có băn khoăn, dẫu sao chị là gái có chồng, gần sắp bốn đứa con, nhưng chị mới ngoài ba mươi tuổi thôi mà, vẫn còn trẻ đẹp, hấp dẫn lắm .. Chẳng hiểu Bảo có ý thức tình cảm của chị không, hay là cậu ta chỉ nghĩ về cô người yêu cũ và coi chị như một kẻ thay thế chốc lát lúc cô đơn? Thôi kệ, nghĩ nhiều mà làm gì, chị tin vào sự thành thật của mình và sự đón nhận nồng nhiệt của Bảo, xem như một sự an ủi với cả hai. Chị thiếp đi...
          Cả nửa tháng sau đó, Bảo không qua nhà chị. Còn chị chút lăn tăn nhưng bận rộn quên đi. Anh Sáu và hai đứa lớn từ rãy trở về nhà. Nhịp sống thường ngày hối hả. Rồi không nén được, chị đi chợ thị trấn và tiện thể ghé qua căn phòng tập thể của Bảo ở khu liên cơ. Bảo có nhà, đang ôm ghi ta tập một bài gì đó. Chị chủ động: “Lâu lâu không thấy cậu ghé nhà, chị đi chợ, vào thăm sợ cậu đau yếu chi ?...” . Bảo cười gượng: “À không... em bận vừa đi xã mấy hôm mới về, chị...”. Chị em đôi câu chuyện không đầu cuối, chị để lại bịch vài chục trứng: “Cậu nhớ ăn, kẻo một mình ngại nấu, ăn qua loa là không đủ sức khỏe đâu... Cậu nhớ vừa  qua sốt rét đấy nha...”. Chị ra về, Bảo tiễn chị một đoạn đến cổng cơ quan, lúng búng: “Chị Tấm... em thật có lỗi...”. Chị nhìn Bảo, cười buồn: “Bữa nào rảnh qua nhà... lỗi chi đâu... là ở chị... Để chị bảo anh Sáu kiếm chút mồi, cậu qua nhậu cho vui... Anh Sáu lâu không thấy cậu, nhắc hoài đó... Đâu như anh có cái dạ dày nhím rừng mang ngâm rượu, nói là xớt cho cậu một phần dành để chữa bệnh đâu bao tử... Quý lắm đó... Nhớ qua chi nghe...”. Bảo gật đầu...
          Ít ngày sau, Bảo nói nhận thư nhà, rồi cậu chàng làm đơn xin nghỉ không lương ra Bắc chăm mẹ bệnh nặng. Chừng mấy tháng sau, Bảo trở vào, làm thủ tục chuyển công tác ra Bắc hẳn. Cậu chàng bận rộn thủ tục giấy tờ, chào hỏi, chia tay người quen bạn bè, nhậu liên miên cả tuần. Trước hôm đi, Bảo mới dành ăn bữa cơm chia tay với gia đình chị. Bữa cơm bùi ngùi, người đi kẻ ở. Chuyện đêm ấy, chị không nghĩ là mình dâng hiến, đơn thuần, có thể, đấy là lần cuối cùng ngọn lửa tình dục trong chị bùng cháy, để rồi dần tàn lụi. Bảo ít nói, trong khi anh Sáu liên thuyên đủ chuyện, say líu cả lưỡi. Chị phải gàn anh chớ ép rượu Bảo để cậu tỉnh táo sớm mai đi xe về Sài Gòn. Ánh mắt chị và Bảo thỉnh thoảng gặp nhau, soi rọi nỗi niềm riêng. Đêm ấy, anh Sáu tỉnh rượu, cứ vần vò này nọ, thây kệ cái bùng chềnh ềnh sắp sinh của chị...
          Bảo ra Bắc ít ngày thì chị sinh bé Út Hường. Vậy mà, cho đến khi, Út Hường học xong, đang lo xin việc làm thì Bảo trở lại mảnh đất này. Bảo đã là người đứng tuổi, chững chạc, và là người thành đạt, có con lớn đang học đại học rồi. Hơn hai mươi năm qua, chị không gặp lại, dù thi thoảng vẫn nghe được tin tức này nọ. Bảo già đi nhưng vóc dáng vẫn kiểu thư sinh xưa. Còn chị đã thành bà lão rồi. Gánh nặng gia đình đông con, chồng quanh năm say xỉn khiến khuôn mặt xinh đẹp nét Tây xưa đầy nếp nhăn, và đầu tóc rụng thưa vãn, thân hình dỏng cao thành gù xuống. Hai chị em khi thì tranh nói, lúc lại lặng thinh. Ngần ấy năm xa cách, chị rất sợ vầy mà đã vài lần phải hát điệu Sử rầu. Chị phải tiễn biệt anh Sáu và hai kẻ đầu xanh, đứa do tai nạn, đứa thì bệnh tật. Chị đứng vững trên cõi đời này đã là khó nhọc lắm rồi. Nhưng nay chị có chút niềm vui, vì sau lần trở về thăm chốn cũ, Bảo nhận lo việc làm cho Út Hường, và nhờ đấy, bé lập gia đình, làm chỗ dựa cho chị. Chị theo vợ chồng Út Hường lên thành phố giữ cháu. Ở thành phố, đông vui là thế, nhưng chiều chiều, chị lại bồng cháu ra ngõ, nhẩn nha hát ru, ngóng về miền Tây mà nhớ quay nhớ quắt ruộng đồng mênh mông, kinh rạch và bóng núi Dài, núi Cấm...
          Thấm thoắt, giờ thì cô Tấm xinh đẹp hát chèo hay nhất làng ngày xưa đã là một bà lão gần bảy mươi lưng còng xuống, sống ở căn nhà nhỏ trên nền đất cũ gần ngã ba lộ. Mùa đốt đồng, mỗi chiều bà lão hay kê ghế ngồi trước sân nhà hóng mặt về phía đồng xa, nơi những cuộn khói đốt đồng đùn lên quấn quện thành những dải mây. Mắt bà rớm nước, chắc không phải do khói đốt đồng cay mắt... ./.
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 17.07.2021 17:06:38
Bố bản Đặng Quang Tình ( phần I )
( Chân dung nhà văn Đặng Quang Tình )
 
          Dân báo chí ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), thế hệ sinh vào những năm tám mươi trở về trước, hễ nhắc đến nhà báo Đặng Quang Tình đều gọi ông bằng một cái tên dân dã trìu mến là Bố bản.
          Sở dĩ vậy, là bởi, nhà báo Đặng Quang Tình có rất nhiều năm làm công việc Phát thanh Dân tộc và từng là Trưởng ban Phát thanh Dân tộc đầu tiên kể từ khi ban biên tập này được thành lập. Hơn nữa, còn bởi, dáng vẻ bên ngoài giản tiện, phong cách sống của người đã có  nhiều năm sống và làm việc với người dân tộc thiểu số. Có thể nói, nhà báo Đặng Quang Tình là một trong số ít người ở xứ ta am hiểu và viết xuất sắc về cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam cả báo chí và văn chương. Bằng chứng, trong quá khứ. Khi còn sung sức, Đặng Quang Tình đã từng bốn lần đoạt giải cao trong các cuộc thi văn chương danh giá ở xứ ta với ba lần ở thể loại truyện ngắn và một lần ở thể loại bút ký và nội dung các sáng tác này của ông đều về đề tài miền núi dân tộc...
 
  1. 1.     Tư cách một nhà văn và những giải thưởng văn học,
 
          Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại, Đặng Quang Tình ở độ tuổi gần chín mươi, ông vẫn chưa là hội viên của bất kỳ một hội nhà văn nào. Ông sống ở Hà Nội cùng các con, sau khi nghỉ hưu từ Đài Tiếng nói Việt Nám (VOV) đã hơn hai chục năm nay. Thường người cầm bút như ông, đều là hội viên của vài ba hội danh giá, ví như hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam chẳng hạn. Nghe nói, lâu lắm rồi, Đặng Quang Tình từng có đơn gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam và hiện hồ sơ công tác hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam vẫn còn lưu giữ lý lịch trích ngang của ông. Song hằng năm, mỗi đợt kết nạp, người ta dường như đã quên tên ông thì phải?...
          Đặng Quang Tình không hài lòng về việc này thì có, song ông không vì thế mà sốt ruột, hay tiếng bấc tiếng chì trách cứ. Với ông, đơn giản, khi còn cảm hứng và sức lực, viết được gì thì viết thôi. Chẳng vậy mà, trước lúc nghỉ hưu, ông mới chỉ có duy nhất một tập truyện ngắn là Hoa rừng (Nxb Tác phẩm mới, 1986) và một số truyện ngắn, bút ký in trong các tuyển tập của một số nhà xuất bản Hội Nhà văn, Giáo dục, Văn hóa, Dân tộc, Lao động và Hà Nội... cùng những sáng tác đăng tải rái rác ở các báo Văn Nghệ, Người Hà Nội, Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh v.v...
          Sau khi nghỉ hưu, Đặng Quang Tình cho xuất bản tập sách thứ hai, đó là tập truyện Trăn trở (Nxb Lao động, 2001), và rồi bất ngờ ông tăng tốc. Chỉ trong vòng mười lăm năm sau, ông cho ra đời các tiểu thuyết Hướng về Đông (Nxb Lao Đông 2009). Những cánh chim bạt gió (Nxb Hội Nhà văn 2011), Âm thầm (Nxb Lao Động 2015) và Tập truyên ngắn Một thời giông bão (Nxb Hội Nhà văn 2010). Như vậy, ông viết còn sung sức hơn thời kỳ còn công tác. Với ông, dường như khi nghỉ hưu, hàng ngày không phải bận rộn với công việc quản lý báo chí, những phẩm chất sẵn có trong mình, ấy là vốn tư liệu sống của một người nhiều năm lăn lộn làm báo và bút pháp văn phong cỉa một nhà văn đã được khẳng đình, chỉ cần ngồi vào bàn là nên tác phẩm. Quả là, một người từng trải, đi nhiều, hiểu nhiều, vốn sống ngồn ngộn mà thời gian lại thiếu, thì khi có, những đứa con tinh thần cứ theo nhau mà ra đời.... Nếu chỉ tính số đầu tác phẩm, thì quả là Đặng Quang Tính chưa phải là nhiều, nhưng dấu ấn văn chương của ông lại khá đậm nét...
          Cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ (1974-1975), là cuộc thi viết kéo dài cả trước và sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, vậy mà Đặng Quang Tình đã đoạt giải Nhất với truyện ngắn “Trên vành chảo Điện Biên”. Kế tiếp, cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ (1978-1979), thời gian đó xảy ra cuộc chiến trang biên giới phái Bắc chống quân bành trướng Trung Quốc, Đặng Quang Tình lại giành giải Nhất với truyện ngắn “Ông Thào”. Như vậy, ông liên tục đoạt giải cao nhất của hai cuộc thi văn học danh giá liền nhau, mà hiếm có, đúng ra, chưa có cây bút nào ở nước ta đạt được. Mảng đề tài cùng là miền núi và dân tộc thiểu số, nhân vật chính cùng là người Mông ở Việt Nam. Dù trong thời kỳ nào, làm cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng bản làng phát triển kinh tế, chống giặc là những người đã từng là bạn bè anh em, thì người Mông nói riêng và người các dân tộc thiểu số nói chung đều nhận thức phân định rõ ràng, bản lĩnh vững vàng, hiểu rõ đúng sai và cương quyết đấu tranh bảo vệ làng bản, đất nước. Ở mảng đề tài này, thêm một lần nữa, Đặng Quang Tình khẳng định tài năng và sở trường của mình, ông lại thành công với truyện ngắn “Lính cối”  giành giải Ba cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1983).
          Có thể nói, ở thể loại truyện ngắn trong văn học hiện đại nước nhà, đặc biệt ở mảng đề tài về dân tộc và miền núi, Đặng Quang Tình đã khẳng định vị trí hàng đầu của mình và là một tên tuổi không thể không nhắc đến. Sở dĩ, Đặng Quang Tình gặt hái được nhiều thành công ở mảng văn học miền núi dân tộc như vậy, trước hết là nhở vốn sống, sự hiểu biết về mảng đề tài này nhở nhiều năm ông lăn lộn ở miền núi phía Bắc dù ở quân ngũ hay làm báo. Ông thạo địa lý, lịch sử vùng đất, hiểu tâm lý và phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số nơi đây. Cái chính, ông phải rất yêu con người và cuộc sống của họ ở vùng đất này thì mới thể hiện một cách chân thực và lãng mạn trong những tác phẩm văn học của mình.
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.07.2021 17:07:49 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 29.07.2021 19:06:36
Bố bản Đặng Quang Tình ( toàn phần )
Chân dung nhà văn Đặng Quang Tình )
 
          Dân báo chí ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), thế hệ sinh vào những năm tám mươi trở về trước, hễ nhắc đến nhà báo Đặng Quang Tình đều gọi ông bằng một cái tên dân dã trìu mến là Bố bản.
          Sở dĩ vậy, là bởi, nhà báo Đặng Quang Tình có rất nhiều năm làm công việc Phát thanh Dân tộc và từng là Trưởng ban Phát thanh Dân tộc đầu tiên từ khi ban biên tập này được thành lập. Hơn nữa, còn bởi, dáng vẻ bên ngoài giản tiện, phong cách của người đã có  nhiều năm sống và làm việc với người dân tộc thiểu số. Có thể nói, nhà báo Đặng Quang Tình là một trong số ít người ở xứ ta am hiểu và viết xuất sắc về cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam cả lĩnh vực báo chí và văn chương. Bằng chứng, trong quá khứ, khi còn sung sức, Đặng Quang Tình đã từng bốn lần đoạt giải cao trong các cuộc thi văn chương danh giá ở xứ ta với ba lần ở thể loại truyện ngắn và một lần ở thể loại bút ký mà nội dung các sáng tác này của ông đều về đề tài miền núi dân tộc thiểu số...
 
1.    Tư cách một nhà văn và những giải thưởng văn học,
 
          Mặc dù cho đến thời điểm hiện tại, Đặng Quang Tình ở độ tuổi gần chín mươi, ông vẫn chưa là hội viên của bất kỳ một hội nhà văn nào. Ông sống ở Hà Nội cùng các con, sau khi nghỉ hưu tại Đài Tiếng nói Việt Nám (VOV) đã hơn hai chục năm nay. Thường người cầm bút như ông, đều là hội viên của vài ba hội danh giá, ví như hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam chẳng hạn. Nghe nói, lâu lắm rồi, Đặng Quang Tình từng có đơn gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam và hiện hồ sơ công tác hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam vẫn còn lưu giữ lý lịch trích ngang của ông. Song hằng năm, mỗi đợt kết nạp, người ta dường như đã quên tên ông thì phải?...
          Đặng Quang Tình không hài lòng về việc này thì có, song ông không vì thế mà sốt ruột, hay tiếng bấc tiếng chì trách cứ. Với ông, đơn giản, khi còn cảm hứng và sức lực, viết được gì thì viết thôi. Chẳng vậy mà, trước lúc nghỉ hưu, ông mới chỉ có duy nhất một tập truyện ngắn là Hoa rừng (Nxb Tác phẩm mới, 1986) và một số truyện ngắn, bút ký in trong các tuyển tập của một số nhà xuất bản Hội Nhà văn, Giáo dục, Văn hóa, Dân tộc, Lao động và Hà Nội... cùng những sáng tác đăng tải rái rác ở các báo Văn Nghệ, Người Hà Nội, Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh v.v...
          Sau khi nghỉ hưu, Đặng Quang Tình cho xuất bản tập sách thứ hai, đó là tập truyện Trăn trở (Nxb Lao động, 2001), và rồi bất ngờ ông tăng tốc. Chỉ trong vòng mười lăm năm sau, ông cho ra đời các tiểu thuyết Hướng về Đông (Nxb Lao Đông 2009). Những cánh chim bạt gió (Nxb Hội Nhà văn 2011), Âm thầm (Nxb Lao Động 2015) và Tập truyên ngắn Một thời giông bão (Nxb Hội Nhà văn 2010). Như vậy, ông viết còn sung sức hơn thời kỳ còn công tác. Với ông, dường như khi nghỉ hưu, hàng ngày không phải bận rộn với công việc quản lý báo chí, những phẩm chất sẵn có trong mình, ấy là vốn tư liệu sống của một người nhiều năm lăn lộn làm báo và bút pháp văn phong  một nhà văn đã được khẳng đình, chỉ cần ngồi vào bàn là nên tác phẩm. Quả là, một người từng trải, đi nhiều, hiểu nhiều, vốn sống ngồn ngộn mà thời gian lại thiếu, thì khi có, những đứa con tinh thần cứ theo nhau mà ra đời.... Nếu chỉ tính số đầu tác phẩm, thì quả là Đặng Quang Tính chưa phải nhiều, nhưng dấu ấn văn chương của ông lại khá đậm nét...
          Cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ (1974-1975), là cuộc thi viết kéo dài cả trước và sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, vậy mà Đặng Quang Tình đã đoạt giải Nhất với truyện ngắn “Trên vành chảo Điện Biên”. Kế tiếp, cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ (1978-1979), thời gian đó xảy ra cuộc chiến trang biên giới phía Bắc chống quân bành trướng Trung Quốc, Đặng Quang Tình lại giành giải Nhất với truyện ngắn “Ông Thào”. Như vậy, ông liên tục đoạt giải cao nhất của hai cuộc thi văn học danh giá liền nhau, mà hiếm có, đúng ra, chưa có cây bút nào ở nước ta đạt được. Mảng đề tài cùng là miền núi và dân tộc thiểu số, nhân vật là người Mông, người sống ở vùng rùng núi nước ta. Dù trong thời kỳ nào, làm cách mạng, kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng bản làng phát triển kinh tế, chống giặc là những người đã từng là bạn bè anh em, thì người Mông nói riêng và người các dân tộc thiểu số nói chung đều nhận thức phân định rõ ràng, bản lĩnh vững vàng, hiểu rõ đúng sai và cương quyết đấu tranh bảo vệ làng bản, đất nước. Ở mảng đề tài này, thêm một lần nữa, Đặng Quang Tình khẳng định tài năng và sở trường của mình, ông lại thành công với truyện ngắn “Lính cối”  giành giải Ba cuộc thi truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1983).
          Có thể nói, ở thể loại truyện ngắn trong văn học hiện đại nước nhà, đặc biệt ở mảng đề tài về dân tộc và miền núi, Đặng Quang Tình đã khẳng định vị trí hàng đầu của mình và là một tên tuổi không thể không nhắc đến. Sở dĩ, Đặng Quang Tình gặt hái được nhiều thành công ở mảng văn học miền núi dân tộc như vậy, trước hết là có vốn sống, sự hiểu biết sâu rộng về mảng đề tài này nhở nhiều năm ông lăn lộn ở miền núi phía Bắc dù ở quân ngũ hay làm báo. Ông thạo địa lý, lịch sử vùng đất, hiểu tâm lý và phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số nơi đây. Cái chính, ông phải rất yêu con người và cuộc sống của họ ở vùng đất này thì mới thể hiện một cách chân thực và lãng mạn trong những tác phẩm văn học của mình. Ở đây, phải nhắc đến một thuận lợi riêng có của nhà văn Đặng Quang Tình.
Ông quê Vụ Bản, Nam Định, nhưng gia đình ông sống ở Lào, ông được sinh năm 1934 tại Viên-chăn. Khi về nước, ông tham gia quân đội, nhiều năm sống ở vùng miền núi phía Bắc. Chuyển nghề làm báo, ông có nhiều năm là phóng viên của Đài phát thanh Tây Bắc (khi đó thuộc khu tự trị Thái Mèo) đóng tại Sơn La. Khi đài phát thanh này được sáp nhập vào Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) thì Đặng Quang Tình tiếp tục theo dõi và quản lý màng nội dung về miền núi, dân tộc thiểu. Việc am tường về một mảng nội dung, cộng thêm sự sâu sát địa bàn, chất nhanh nhậy của một người làm báo, không những giúp cho ông làm tốt công tác quản lý, biên tập mà thêm lần nữa, làm nên thành công trong sáng tác văn học. Nhà văn Đặng Quang Tình đã đoạt giải Nhì cuộc thi viết ký do Hội Nhà báo và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức năm 1995 với bút ký Ba lần lên Sa Dung, thêm phần khẳng định sự sát giải (cứ dự thi là đoạt giải) của ông.
          Thời còn công tác, Đặng Quang Tình viết ít, khá chắt lọc, ông chỉ xuất bản tập truyện ngắn Hoa rừng (NXB Tác phẩm mới, 1986), và mãi nhiều năm sau, khi đã về nghỉ hưu, ông mới xuất bản tập truyện thứ hai của mình, Trăn trờ (NXB Lao Động, 2001). Rồi từ đó, có thời gian suy ngẫm, ông làm một mạch, lần lượt cho xuất bản 4 đàu sách, đó là các tiểu thuyết Hướng ve Đông (NXB Lao Động, 2000). Những cánh chim bạt gió (NXB Hội Nhà văn, 2011) và Âm thầm (NXB Lao Động, 2015), và tập truyện Một thời giông bão (NXB Hội Nhà văn, 2010).
          Ào ạt với một sê-ri tiểu thuyết như vậy, tuy nhiên, chúng không để lại dấu vết gì đáng kể, nếu không muốn nói là lụt đi giữa biển sách xuất bản hàng năm. Tôi nghĩ, lý giải điều này, có vài ba lý do...
          Trước hết, tự thân, sáng tác các tiểu thuyết này, nhà văn Đặng Quang Tình ý thức viết như một nhu cầu giải tỏa bản thân, khi có điều kiện về thời gian và sự từng trải vốn có. Sự thôi thúc viết ra không là phải là nuốn tìm tòi, đổi mới bút pháp, mà như thể, nếu ngần ngại hay đắn đo thì rất có thể, chúng sẽ chẳng bao giờ có mặt trên đời... Càm giác ông viết như sự trải lòng, kể lại những chuyện mình từng sống, đã trải qua, từng biết... Viết như sự tiết kiệm, tận dụng cho hết vốn sống, tư liệu mình có... Đơn giản vậy, nên khi ra sách, ông tặng bạn bè, người thân, không giới thiệu, quảng bá này nọ. Xem như mình đã làm xong công việc tự đặt ra cho mình,...
          Góc độ khách quan, thời kỳ này, đã có sự chuyển biến cơ bản trong lĩnh vực xuất bản và sáng tác văn học nước nhà. Trước hết, việc tư nhân tham gia vào lĩnh vực xuất bản đã tác động mạnh đến thị trường và qua đó ít nhiều làm thay đổi nhu cầu và thị hiếu đọc sách của công chúng. Hàng năm, các đầu sách về lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật, tâm linh ra ào ạt, chiếm lĩnh thị trường, lấn át sách văn học. Và riêng mảng sách văn học, các tác phẩm thuộc diện kinh điển được tái bản tràn lan, khiến các tác giả trong nước, muốn được bạn đọc chú ý thật không dễ, vì ngoài nội dung đề cập phải thuộc vấn đề nóng, còn cần thêm các chiêu trò PR này nọ. Trong bối cảnh như vậy, các tiểu thuyết của nhà văn Đặng Quang Tình bị lút chìm là đương nhiên.
          Còn một lý do nữa, theo tôi, sở trường của nhà văn Đặng Quang Tình là truyện ngắn. Ở đấy, ông chặt chẽ, dồn nén trong việc tạo không gian truyện, cài dặt chi tiết tài tình và ngôn ngữ hội thoại sắc sảo. Tiếc là, nhưng ưu điểm này ông chưa mang được sang tiểu thuyết,...
 
2. Đặng Quang Tình, nhà báo – bố bản,
         Tháng 10 năm 1987, tôi cầm quyết định về làm biên tập  viên của Ban Thính giả Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), thì khi đó Đặng Quang Tình làm Trưởng ban. Trước đó không lâu, ban biên tập Thính giả được thành lập vào ngày 13.8.1987, Đặng Quang Tình được điều từ Ban biên tập Đối nội sang làm trưởng ban mới. Như vậy, ở vào thời điểm ấy, ông là hạng sừng sỏ ở Đài rồi. Nhớ lại, khi đó, đất nước đang bước vào thời kỳ đổi mới. Tổng bí thư Đảng là đồng chí Nguyễn Văn Linh dẫn dắt công cuộc đổi mới với hàng loạt chủ trương và công việc cụ thể, trong đó có một việc nóng, ấy là Nói và Làm ( N & L ), được cập nhật trên báo chí (chủ yếu trên Báo Nhân dân và Đài Tiếng nói Việt Nam). Ban Thính giả Đài TNVN được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu này. Phòng tiếp dân của Đài luôn chật khách, họ là các thính giả từ khắp nước, qua gửi đơn thư, hoặc trực tiếp đến phòng tiếp dân, đưa đơn thư, yêu cầu, khiếu nại này nọ. Khi ấy, tiếp dân là công việc cực nhọc nhất, bởi lượng công dân hàng ngày đến rất đông. Người tiếp dân phải có tính kiên nhẫn, ôn hòa, sự hiểu biết cần thiết và quan trọng phải biết ứng xử nhanh trong các tình huống bức thiết nếu có, để giải thích và hạ hỏa, sao cho thình giả-công dân cảm thấy thỏa mái và được tôn trọng. Chỉ cần sơ suất trong nói năng rất có thể làm họ nổi nóng, to tiếng, thậm chí gây sự ngay tại chỗ. Đã từng xảy ra trường hợp thính giả mang đơn đến khiếu kiện, khi được nhà Đài giải thích sê là chuyển nội dung đơn thư đến cơ quan có thẩm quyền, thị vị thính giả nọ bức xúc, dọa nếu không được giải quyết ngay sẽ tự sát tại phóng tiếp dân. Là người từng có nhiều năm làm công tác đảng, nên trưởng ban Đặng Quang Tình trong các buổi giao ban luôn nhắc nhở các nhân viên thuốc cấp của mình hết sức lưu tâm, cẩn trọng lời ăn tiếng nói khi tiếp công dân. Ngày đó, tôi cũng phải trực tiếp dân, tháng một tuần nên thấu hiểu điều này... Thực tế, thời lượng phát sóng dành cho chuyện mục Tiếp chuyện bạn nghe đài chỉ hạn định trong khung chương trình hằng ngày, mà số lương đơn thư lại quá nhiều, nên Trưởng ban Đặng Quang Tình đã tìm ra một giải pháp khả quan và hữu hiệu khác. Ấy là trên cơ sở nội dung đơn thư của thính giả, lựa chon vấn đề, nội dung cụ thể đưa vào công văn gửi đến cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết và trả lời công văn của nhà Đài, để Đài trả lời thính giả. Như thê, hiệu quá công việc khá cao. Tôi không thể nhớ nổi hàng trăm, hàng ngàn những đơn thư được giải quyết bằng cách này trong những tháng năm ấy, song có một trường hợp thì tôi nhớ. Đó là trường hợp của nhà báo nọ. Anh ta bị xem xét trong một vụ việc cụ thể, bị quy tội và đã phải ngồi tù mấy năm, rồi được xem xét lại. và được  thả tù. Tuy nhiên, khi quay lại cơ quan cũ thì không được cơ quan này bố trí công việc. Anh ta mang đơn đến Đài, công văn gửi cơ quan cũ của anh ta do trưởng ban Đặng Quang Tình ký. Một thời gian sau, khi được cơ quan cũ xem xét, bố trí công việc, anh ta đã quay trở lại Đào báo tin vui và nói lời cảm ơn. Được biết, sau đó nhà báo này trở thành người làm báo giỏi. hanh thông trên con đường sự nghiệp tiếp theo của mình. Khi đã nghỉ hưu, có lần tôi kể lại chuyện này với nhà văn Đặng Quang Tình, ông cười bảo “Ngày ấy, thấy cậu ta ít nhiều bị oan, mình bênh vực được thì làm thôi...”. Lý lẽ đơn giản vậy.
          Sau một thời gian ở Ban Thính giả, một ban biên tập mới được thành lập, Ban Phát thanh Dân tộc. Đặng Quang Tình được điều làm trưởng ban nay, bởi ở cơ quan thời điểm ấy, không ai cớ sự hiểu biết và kinh nghiệm về lĩnh vực dân tộc miền núi hơn ông. Đặng Quang Tình làm trưởng ban Phát thanh Dân tộc, càng củng cố thêm biệt danh Bố Bản, cho đến lúc nghỉ hưu. Tù ấy, mỗi khi nhắc đến Bố Bản, thì người nhà Đài hẩu như ai cũng hiểu đó là nhà báo, nhà văn Đặng Quang Tình.
 
3. Chuyện vào Hội Nhà văn.
          Nhà văn Đặng Quang Tình có đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam từ thời ông còn làm việc và nổi danh làng văn ta với mấy giải thưởng liên tiếp về truyện ngắn. Nhưng không hiểu sao, danh sách hội viên được kết nạp vào Hội hàng năm không có tên ông. Mỗi khi có ai đó nói với ông về chuyện này, ông đều cười bảo “Nếu không là hội viên mà không viết được văn thì tớ mới buồn... chứ không là hội viên mà tớ vẫn viết đều thì có gì mà buồn...”.  Nói vậy thôi, chứ tôi hiểu, trong lòng, ít nhiều vẫn gợn lên những suy nghĩ .... Là tôi cứ nghĩ thế, bời cái tâm trạng “cuời như thầy khóa hỏng thi” vốn thâm căn trong con người ta, nhất là các quốc gia châu Á có bề dày khoa bảng như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và xứ Việt mình,... Miếng giữa làng kia mà!...
          Khi nhà văn Đặng Quang Tình nghỉ hưu, chuyện ông vào Hội Nhà văn xem như bị lãng quên. Thi thoảng, mùa kết nạp hội viên, có người nhắc đến tên ông, không phải là sự quan tâm xem ông có vào Hội hay không, mà chỉ để mang ra so sánh với nhà văn này nhà văn kia, rằng cái tay ấy kém thế, có mà xách dép cho ông, thế mà cũng vào Hội đợt này.... Vậy đấy!...
          Lâu rồi không ai nhắc đến ông nữa, xem như ông không tồn tại trong làng văn này. Thế mà, khi chẳng mấy ai nhớ đến ông thì Đặng Quang Tình lại được công nhận là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam!...
          Số là, cách đây dăm năm, khi nhà thơ Trần Đăng Khoa còn tại vị chức danh Phó Bí thư Đẳng ủy Đài Tiếng nói Việt Nam, kiêm nhiệm Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà văn Nam, đôi ba lần trong câu chuyện văn chương, tôi nhắc ông rằng còn có một nhà văn tên Đặng Quang Tình với nhiều giải thưởng sáng tác văn học danh giá, từng công tác lâu năm ở Đài này, xứng đáng được kếp nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Trần Đăng Khoa gật gù công nhận điều đó, và quả thật. trong mấy kỳ kết nạp hội viên (2017, 2018), ông có nhắc đến trường hợp nhà văn Đậng Quang Tình bị bỏ quên, trong cuộc họp của Ban thường vụ Hội Nhà văn. Để nhấn mạnh, nhà thơ Trần Đăng Khoa còn nhắc đến các trường hợp đáng tiếc khác như nhà thơ Th, nhà thơ D, đã mất, mà đáng ra họ xứng đáng được kết nạp vào Hội khi còn sống...
          Có lẽ vậy, mùa kết nạp năm 2019, nhà văn Đặng Quang Tình được Ban thường vụ Hội nhất trí công nhận là hội viên của Hội bằng quyết định số...  nhưng nhầm tưởng ông đã mất.
          Cuối năm 2020, Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 10 diễn ra, tài liệu xuất bản phục vụ đại hội, có tập NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI cấp cho các hội viên. Xem kỹ. phần về nhà văn Đăng Quang Tình, khi ra quyết định công nhận hội viên cho ông, người ta lầm tưởng ông đã mất. Rẩm riu nghĩ. không sao cả, có khi lại là may, thói đời biết đâu đấy, nếu biết chắc là ông còn sống, thì chưa chắc đã...
 Một hôm ông gọi điện cho tôi với tâm trạng vui vẻ. Dường như ông muốn chia vui cùng tôi, bảo “Rốt cuộc, thế cũng là được. .. Dẫu chẳng để làm gì, nhưng thế cũng là sự ghi nhận công sức lao động văn chương cả cuộc đời mình, cậu ạ”. Rồi ông nói về sự nhầm lẫn khi người ta tưởng rằng ông đã mất khi công nhần ông là hội viên Tôi cười cầu tài, còn ông lại cười rất chi là sảng khoái: “Tớ gần chín mươi rồi... rủa tớ chết à... còn lâu nhớ... Tớ sẽ sống đến trăm tuổi!...”  ./.
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.07.2021 12:44:11 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 07.08.2021 12:51:00
Nguyễn Hiếu, nhà văn người làng Chèm
1, Dấu ấn làng Chèm.  
       Nhà văn Nguyễn Hiếu luôn tự hào là người làng Chèm.
       Vậy cài làng Chèm ấy là làng nào?
       Làng Chèm có tên chữ là Thụy Phương, thuộc Từ Liêm, Hà Nội, kề bên đê hữu ngạn sông Hồng đoạn đầu cầu Thăng Long. Làng Chèm nổi tiếng bởi được liệt vào diện làng cổ Việt, với ngôi đình có lịch sử hơn ngàn năm, được công nhận là di sản văn hóa. Tương truyền, đình Chèm được xây dựng từ năm 715 sau CN và cho đến năm 866, Cao Biền, quan đô hộ xứ cũng là thầy địa lý giỏi đã cho tu sửa lại và tạc tượng Lý Ông Trọng (tên thật là Lý Thân), một vị võ tưởng tài giỏi thời An Dương Vương Thục Phán. có nhiều chiến công hiển hách, và còn được cử sang giup Nhà Tần chống giặc Hung Nô. Sau này, Lý Ông Trọng được người đời tôn  như vị Thánh, thờ phụng ở nhiều nơi cả Việt Nam và Trung Hoa. Đương nhiên, vì quê gốc Lý Ông Trọng ở làng Chèm, nên  được thờ phụng ở đình Chèm (nay gọi Đền Chèm) với tư cách Thần Hoàng làng, và có ý nghĩa hơn bất kỳ nơi thờ phụng ông nào khác. Vùng đất với bề dày trầm tích lịch sử văn hóa như vậy, Nguyễn Hiếu tự hào là người con của làng Chèm cũng phải thôi.
       Tuy nhiên, Nguyễn Hiếu không phải gốc làng Chèm, quê nội ông là Phùng Khoang, cũng thuộc đất Từ Liêm, và sinh ra ở Vũ Ẻn, Phú Thọ, nhưng ngay từ thuở lọt lòng, đã về sống ở quê mẹ, làng Chèm và lớn lên từ đấy, rồi lấy làm quê vậy. Tuổi thơ, trẻ trâu, Nguyễn Hiếu hít thở bầu dưỡng khí, ăn cơm, uống nước làng Chèm, nên máu thịt ông cũng mang mùi vị làng Chèm vậy. Nhà văn Nguyễn Quang Huy, một đồng nghiệp cùng đơn vị công tác với Nguyễn Hiếu ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), khi còn sống, mỗi lúc cao hứng trà dư tửu hậu, cười đùa Nguyễn Hiếu mà rằng "Tay này, văn chương của hắn ngai ngái mùi cỏ và hoai hoai vị phân trâu làng Chèm. Viết lách, hắn vơ víu, nhặt nhạnh, cấm bỏ sót cái gì, từ bãi phân gà phân chó làng Chèm trở đi...". Nghe vậy, Nguyễn Hiếu chỉ cười khì, không giận, bởi ông hiểu, ngoài sự tếu táo, đùa cợt cửa miệng cho vui ấy, là một sự thật, ấy sự thấu hiểu ngọn ngành, chân tơ kẽ tóc, từ lịch sử văn hóa đến phong tục tập quán và đời sống dân sinh của làng Chèm, một làng mang tính điển hình cho làng quê Bắc bộ xưa nay. Và như thế, khác nào việc thấu hiểu văn hóa làng quê Việt cổ truyền vậy ?...
       Trong văn chương của Nguyễn Hiếu, dường như để tránh những phiền toái không cần thiết, mà cũng dễ bề bịa chuyện trong sáng tạo, ông gán cho làng Chèm của mình cái tên làng Chiện. Vậy là, cái gì trong thực tế đời sống, làng Chèm có thì hầu như làng Chiện có cả, song bao nhiêu chuyện làng Chiện có, làng Chèm chưa hẳn đã có. Vây nên, làng Chèm chỉ là mảnh đất, là không gian cho sáng tạo của Nguyễn Hiếu mà thôi. 
       Thế là cái làng Chiện ấy, khi thì hiện hữu bằng cái tên của mình, để Nguyễn Hiếu dàn trận, bày biện các sự kiện, con người thành các tuyến nhân vật này nọ, khi lại chỉ xuất hiện lẻ tẻ đâu đó, hoặc chỉ phảng phất bóng dáng trong các sáng tác của ông.   

2. Nguyễn Hiếu, phu chữ,
        Gọi Nguyễn Hiếu là phu chữ, hắn phải có bằng chứng để chứng minh cho cách ví này. Hiện tại, Nguyễn Hiếu là số ít trong các nhà văn Việt Nam thời hiện đại, lại là hội viên của ba cái hội danh giá, ấy là Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân khấu và Hội Điện ảnh Việt Nam. Để trở thành hội viên của ba hội này, chắc chắn Nguyễn Hiếu phải có những đóng góp công sức, sáng tạo thể hiện bằng những tác phẩm cụ thể, đủ để đứng trong hàng ngũ của mỗi hội.
          Trước khi điểm những tác phẩm Nguyễn Hiếu đóng góp cho hoạt động của mỗi hội mà ông là thành viên, tôi xin kể đôi chút về sức lao động sáng tạo văn chương của ông. Tôi nhớ, cách đây hơn hai chục năm trước, thời ông còn đang là phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), cũng là thời gian ông sáng tác sung sức nhất, hơn một lần, Nguyễn Hiếu khoe với tôi và các đồng nghiệp cơ quan, rằng mỗi ngày, ồng “cày” ít nhất là 6 trang đánh máy. Thường là hằng ngày, ông thức dậy sớm, ngồi vào bàn, gõ máy chữ (sau là máy tính), cho đủ 6 trang rồi mới ăn sáng và đi làm. Nếu sáng nào không đủ thì tối về ông gắng gõ cho đủ, còn được nhiều hơn thì càng tốt. Nghe mà lè lưỡi. Sức viết vậy, nên Nguyễn Hiếu mới có một khối lượng khá lớn tác phẩm đã xuất bản. 
          Năm 1984, Nguyễn Hiếu khởi đầu sự nghiệp văn chương của mình bằng tập truyện hài “Chuyện cái vòi nước”. Cho đến giờ, mỗi khi nhắc đến tập truyện đầu tay này, Nguyễn Hiếu vẫn nhó một cách đầy tự hào, rằng cuốn sách đó được nhà văn Hà Ân biên tập, danh họa Bùi Xuân Phái vẽ bìa và nhà văn Vũ Cao, giám đốc NXB Hà Nội khen là “đọc Nguyễn Hiếu thấy thích hơn vì cái cười của dân mình” ( ý so sánh với Những người thích đùa, của  nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, Azit Nexin, xuất bản cùng thời điểm ấy) và năm đó, Hội nghị các cây bút trẻ tổ chức ở Nhà hát lớn Hà Nội, dựng pa-nô quáng bá vẽ bìa cuốn sách này...
          Sau tập sách đầu tay, đến năm 1988, Nguyễn Hiếu xuất bản tập sách thứ hai của mình, ấy là tiểu thuyết “Người đàn bà quỷ ám”.  Kể từ đó, trong vòng 5 năm, đến 1992, Nguyễn Hiếu ào ạt xuất bản như mưa rào, những 13 tiểu thuyết, mà đến giờ tôi còn nhớ tên một số cuốn, như: Bụi đường, Vết xoáy trước ngực làng, Tôi bán mình, Chuyện tình người điên, Vầng trăng hững hờ, Biển toàn là nước, Con ngố, Quá cảnh, Bốn bước đến chân trời, Trưởng thôn xử án...  Tôi nhớ được vậy cũng là nhiều, bởi quyển đọc quyển không. Cũng trong khoảng thời gian này, cùng ngần ấy tiểu thuyết, Nguyễn Hiếu còn viết truyện ngắn, kịch bản sân khấu, kịch bản phim truyền hình, mỗi thứ đều hai. Đây là thời kỳ sung sức nhất của Nguyễn Hiếu, bời không những viết và xuất bản nhiều, ông còn thành công gặt hái được nhiều giải thưởng. Giải thưởng của các bộ ngành cho tiểu thuyết Bụi đườngTôi bán mình. Giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ Quân đội cho truyện ngắn Nhãn lồng nhà Cả Đoạt, và Giải truyên ngắn của Báo Văn nghệ cho truyện ngắn Chuyện quan trọng của bà Cả Đào. Cho đến nay, nhà văn Nguyễn  Hiễu đã cho ra đời ngót nghét 30 tiểu thuyết. Kể ra, làm được như vậy, không dễ chút nào !...
          Sàu quãng thời gian sung sức ấy, Nguyễn Hiếu vẫn viết đều tay, hầu như năm nào cũng ra sách. Các lĩnh vực, thể loại, hầu như ông không bỏ loại nào. Tiểu thuyết, truyện, tản văn, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh, tiểu luận, phê bình văn học, thồ luận.... Chẳng thế, Nguyễn Hiếu là hội viên của nhiều hội về văn học nghệ thuật (Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội nghệ sĩ sân khấu, Hội Điện ảnh VIệt Nam).
Có điều này, Nguyễn Hiếu rất ham thích dự các Trạo sáng tác do các chuyên ngành văn học nghệ thuật mở. Có năm, ông dự trại quanh năm, đầu năm với hội này, giữa năm với hội nọ, cuối năm với hội kia. Mà đã dự trại là rất nghiêm túc, chứ không như ai đó, mượn cớ dự Trại sáng tác để tụ bạ, nhậu nhẹt hoặc du hí mua sắm. Năm 2020, xen kẽ giữa các đợt dịch covid19 bùng phát, Hội Nhà văn Việt Nam tranh thủ mở được 2 trại sáng tác ở Đại Lải và Đa Lạt. Tôi và Nguyễn Hiếu đều tham dự Trại Đà Lat, ở cùng phòng với nhau. Gần nửa tháng trời, để ý, dù có cà phê hay tranh thủ thăm thú, nhưng ngày nào, Nguyễn Hiếu cũng đủ sáng chiều gõ máy tính sáng tác. Cùng lúc, ông viết song hành hai kịch bản sân khấu, đều về đề tải lịch sử dân tộc.  
Sức viết của nhà văn Nguyễn Hiếu thật đáng nể. Có lẽ, ở xứ ta, về sức viết, khỏe và bền bỉ theo năm tháng, và ngay cả cái sự “vơ bèo vạt tép” (nghĩa là không bỏ sót, hễ viết được gì là viết), thì Nguyễn Hiếu chỉ đứng sau cụ Tô Hoài ?!...
Người ta bảo “quý hồ tinh bất quý hồ đa”, song tôi nghĩ, sức viết như  Nguyễn Hiếu, thật đáng nể!
 
3. Chất hài, người và văn.
Ở xứ Việt mình, văn chương có tính hài không nhiều, nếu không muốn nói là hiếm. Nhẩm tinh, văn học hiện đại Việt Nam, nhà văn Nguyễn Công Hoan thuộc hàng tiên chỉ, là đỉnh, không có ai so sánh được. Sau ngài tiên chỉ Nguyễn Công Hoan, thì nhà văn Vũ Trọng Phụng thuôc hàng thứ hai, trong hầu hết các tác phẩm của nhà văn này, sự hóm hình rất rõ nét Nghĩ tiếp, có nhà thơ Tú Mỡ, nhà văn Ngô Tất Tố (trong Việc làng), và nhà văn Nam Cao. Riêng với Nam Cao, chất bi hài xem lẫn nhuần nhuyễn, rõ nhất trong các tác phẫm Chí Phèo, Sống mòn, Tư cách mõ...
Lóp trước là vậy, và có lẽ các nhà văn này ít nhiều chịu ảnh hưởng từ các tác giả phương Tây văn chương giàu yếu tố uy-mua như Moliere, Balxac. Cervantes .. Sau này, thời thế khác đi, các nhà văn xứ ta viết nghiêm túc quá, cứ nhăm nhăm lý tưởng này nọ, mà quên đi chất hài sẵn có trong cuộc sống hàng ngày, quên rằng sự hài hước là điều cần thiết giúp con người ta lấy lại cân bằng. Họ ngại viết hài, phần vì lo bị suy diễn là đùa cợt, chế giễu này nọ, phần vì viết hài không dễ chít nào..., Để ý, chỉ thấy vài ba cái tên như Tô Hoài, Lưu Nghiệp Quỳnh, Trần Đức Tiến và Nguyễn Hiếu ?...
Thường thì, văn chương và con người thật của nhà văn không hắn giống nhau. Nhiều người, trong cuộc sống, điệu bộ, nói năng vẻ hài hước đấy, nhưng viết ra thì rất chi là nghiêm cẩn, hoặc không thì nhạt toẹt, chắng có gì đáng cười cả. Lại có người, bề ngoài nghiêm chỉnh lắm, song khi viết văn chương  hóm hình, giàu chất uy-\mua... Ít người, nói năng hài hước và văn chương cũng giàu chất hài. Nguyễn Hiếu là trường hợp con người nhà văn và văn chương khá tương đồng, giàu tính hài. Làm việc cùng cơ quan mấy chục năm trời, tiếp xúc với Nguyễn Hiếu, từ lúc ông chưa nhiều tuổi đến tận già, hầu như lúc nào cũng thấy ông vui đùa, bông lơn, từ ánh mắt, hàng ria, tiếng cười đến ngôn từ hội thoại đều hài hước. Dân nhà Đài (VOV) còn nhớ khá nhiều câu vè bông đùa mà Nguyễn Hiếu ứng khẩu trêu chọc người này người nọ ở cơ quan... ( Ví như: Ban ta có một em Đ,/ cái người thì ngắn cái lông thì dài/ HT bèn giả trăm hai/ Đ rằng không bán để dài quét Ban” “ hay như “C ơi anh mượn chiếc thìa/ ăn xong chốc nữa anh chìa sang cho”” hay như “Bút danh thì gọi VT/ nhưng trong lý lịch lại là thằng N.” v,v... ). Cảm giác như, chẳng bao giờ Nguyễn Hiếu nghiêm túc cả. Ngay cả khi ông lên chức danh trưởng phòng của một đơn vị biên tập, thì Nguyễn Hiếu cũng cười đùa rằng: “Làm trưởng phòng, sướng nhất là từ nay mỗ không phải đi chuyển trích băng nữa” ( chằng là, đây là một khâu kỹ thuật tỉ mỉ và đáng ngại trong quy trình sản xuất chương trình của nhà Đài)...
Đấy là con người hài hước Nguyễn Hiếu, còn văn chương thì sao? Tập truyện đầu tay của Nguyễn Hiếu ‘Chuyện cái vòi nước” là truyện hài. Bẵng đi nhiều năm, ông mới cho ra  tập hài nữa là “Cười dành cho tất cả”. Như vậy, không có nghĩa là Nguyễn Hiếu bỏ hài. Tuy không chuyên tâm viết hài, song chất hài Nguyễn Hiếu ám vào hầu hết các tác phẩm của ông ở mọi thể loại, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch sân khấu, kịch phim, tiểu luận, phê bình văn học, thậm chí cả thơ. Theo tôi, chất hài là một thế mạnh của Nguyễn Hiếu và chính sự hài hước ấy là chất kết dình vô cũng quan trọng giúp các tác phẩm của ông đứng được, thậm chí đúng vững, khi mà một số tác phẩm về  ý tưởng, hoặc kết cầu, còn non. Hài là yếu tố đắc địa trong nghệ thuật sân khấu, nên Nguyễn Hiếu vì thế mạnh vốn có này, đã chuyền dần sang địa hạt sâu khẫu và ông khá thành công. Kịch bản của ông không những được nhiều Đoàn chọn dựng vở mà còn đoạt được giải thưởng cao trong các hội diễn sân khấu. Trong các tiểu thuyết và truyện ngắn của ông, nhan nhản chi tiết, nhân vật, hội thoại đậm chất hài. Ở tiểu luận, phê bình văn học, cũng thấy Nguyễn Hiếu tinh quái, tung hừng hài hước. Đợt dự trại sáng tác văn học của Hội Nhà văn Việt Nam vào tháng 10.2020 tại Đà Lạt, trong những lúc trá dư tửu hậu tay đôi tay ba với nhau, Nguyễn Hiếu bàn luận sắc sảo, đưa ra nhiều nhận định về thơ ca, văn chương của nhà thơ này nhà văn nọ, khá chuẩn xác, ngắn gọn và rất chi ấn tượng, hài hước,...
 
4. Lãng đãng thơ  
          Làng đãng thơ, không có nghĩa là thơ Nguyễn Hiếu ít và mỏng, dăm ba chục bài cho vui, hay kiểu “kém miềng khó chịu” làm thơ cho có. Mặc dù là tác giả văn xuôi và kịch tác gia, song Nguyễn Hiếu vẫn bị Nàng thơ quyến rũ. Có thể nói, Nguyễn Hiếu đầy ý thức và khá dụng công trong thi ca. Trong tổng tập tác phẩm Nguyễn Hiếu được tài trợ xuất bản nhân dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long-Hà Nội, năm 2010, gồm 19 tập thì  riêng một tập về thơ, dày gần 500 trang in với khoảng 300 bài thơ và cả kịch thơ, trường ca.  
          Về thơ Nguyễn Hiếu, nhà thơ Hữu Thỉnh đã có hẳn một bài viết dài bàn luận “Tính công dân trong thoe Nguyễn Hiếu”. Riêng tôi nghĩ, phải chăng, con người làm báo và ngôn ngữ kịch đã làm nên tính công dân trong thơ ông?
          Tôi đã nhiều lần nghe chính Nguyễn Hiếu nói về thơ của ông. Quả thực, nghe ông hùng biện về thơ mình, ra chiều hấp dẫn lắm. Những lúc như vậy, thưởng tôi chỉ lắng nghe, chốc chốc điểm một câu ngang, chọc ngoáy, để ông hăng tiết vịt mà thôi. Thực lòng, tôi ngại đọc thơ Nguyễn Hiếu, ngại vì dài dòng, loằng ngoằng, từ cái tít đến câu chữ bên trong. Thì đây, những cái tít: Nếu trái dất này không có các loại bom, Có những con người là con số không, Giữa Matsxcova này anh lại bỗng yêu em, Gửi cho một đoàn viên Công đoàn Đoàn kết, Tay đã tự do không thể đặt vào xiềng, Bài thơ có thể dùng làm tư liệu để viết văn xuôi, Gửi những mảnh đồng, cồn cát Quảng Bình-Vĩnh Linh... Đại khái vậy, nhiều lắm. Đọc thơ ông, một lần, ù tai, toát mồ hôi và chẳng nhớ gì. Nhưng đọc lại, thấy ông lập tứ rõ ràng đấy chứ. Nguyễn Hiếu khá nhất quán, từ tiểu thuyết đến thơ, ông đều lập tứ, ý đồ gửi gắm thông điệp này nọ, có điều, diễn đạt lại dài dòng, đôi khi rối rắm, và khá đại ngôn, khiến người đọc cảm nhận, bài thơ ấy, chỉ cần đọc mỗi cái tít là xong, là đủ hiếu ý rồi, nó toạc móng heo ra đấy, cần chi phài đọc hết cả bài cho mất công !?...
          Cả bài thơ, cứ ngổn ngang rặm rạp như bày trận, nhưng rồi bất ngờ, đổ trữ tình, suy tư, ví von so sánh... Đọc kỹ,  mới à, thấy rất nhiều thứ để chê song cũng có cái đọng lại để khen.
          Vài năm gần đây, để ý, thấy thơ Nguyễn Hiếu đã ít nhiều thay đổi, kiệm lời hơn, bớt đại ngôn, ý tứ và suy ngẫm hơn. Dường như, Nguyễn Hiếu dụng ý, gia tăng vị dân gian trong thơ mình, bằng cách sử dụng ca dao, tục ngữ, cách ngôn, thậm chí câu nói cửa miệng, làm cho bài thơ mang phong vị mới, đôi khi bất ngờ, khá thú vị. Và cũng bằng cách này, Nguyễn Hiếu tận dụng được cái hóm hỉnh, chất hài sở trường của mình, thơ têu tếu, vui vui, chấp nhận được. Những điều này thể hiện khá rõ nét trong chùm thơ 5 bài gần đây ông lựa chọn, giới thiệu ở trang Web của Hội nhà văn Việt Nam. Xin viện dẫn:
Đầy suy tư: “...Trở lại căn nhà xưa của mẹ/ Nơi giếng đất trong veo nỗi nhớ đầu/ Khuya, nước điểm buồn rơi lặng/ Cành dương xỉ xanh trời khuôn tròn đáy mắt/ Gầu đu đưa bên má đỏ em/ Giếng xưa nay đã lấp/ Tình một thủa ai quên?... (Trở lại căn nhà xưa của mẹ); Hàng trăm năm/ Và đến cả bây giờ/ Ai đi qua đây cũng buông tiếng thở dài/ Mảnh đất này nghèo quá/ Loi thoi đụn nhà mái rạ/ Mái nhà hình lưỡi rìu/ Trọn đời xẻ đất kiếm ăn/ Con gái lùn đi vì gánh vì gồng/ Con trai lêu đêu vì đi kheo lội biển ... Con vịt cũng gày/ Con thuyền cũng mảnh/ Câu ru em núi chặn, biển ngăn/ Đất cằn không đủ tiếng ngân/ Ruộng cằn nụ cười cũng héo/ Câu ru ngắn không đủ trẻ ngủ ngon...”  (Gửi những mảnh đồng, cồn cát Quảng Bình-Vĩnh Linh)...
          Hay têu tếu nhưng ý vị: “Đàn bà đi xa, về ngắn/ Một sương hai nắng/ Ruộng muống, vại cà/ Ngực tròn quả bưởi/ Tháng năm trôi…/ Mặt xạm, tóc xơ/ Vú mướp tồng tềnh quăng sau áo mỏng/ Lửa tắt, cơm sôi/ Con nguệch mặt đòi ti,. Chồng ngầy ngà tòm tem!/ Bố ho sù sụ khêu đèn,/ Lợn kêu eng éc.
Lũ em gõ nồi!/ Quái chiều nắng nhạt đã rơi/ Hai mươi, trái hồng in gò má/ Ba mươi, bồ hóng xạm da/ Băm bèo, quên lưỡi liềm trăng/ Sàng gạo, lông mày cám đọng...”và “Làng tôi lũ lĩ đàn bà/ Hay làm, nhường ăn, khoẻ nói/ Một thời mớ bẩy mớ ba/ Tóc lả đuôi gà/ Dép cong cau sáu/ Cười duyên nhưng nhức hạt na/ Làm dâu nhịn bánh, nhịn quà/ Đói no không người tỏ/ Lời ru nửa câu hát cũ/ Ối à rồi lại ới a...” (Đàn bà làng tôi); Một thùa làng tôi/ Đàn ông nhiều vô kể/ Đầy đình, chật điếm, ngập đê./ Gà gáy canh tư đã rời hơi vợ/ Toòng teng điếu cày, nùn rơm/ Con trâu đi trước/ Thằng người chập choạng bước sau/ Áo tơi, nón lá./ Mẹ hĩm trên đồng cạn,/ Bố cu dưới đồng sâu...” “Một thời làng tôi/ Đàn ông vợi đi vô kể/ Tùng tùng trống gọi ra đi/ Áo màu đất đổi áo xanh rừng/ Mẹ cu cứng mồm hô câu “vắt, diệt”/ Yếu trâu hơn chán khoẻ bò/ Vắng bóng bố em. Mộng giường cọt kẹt/ Rô ron rán ròn không kẻ nhắm./ Ai bắc cầu ao, chiều bu nó tắm/ Thóc giống cắn chuột trong bồ...” (Đàn ông làng tôi); “Đứa nào trèo lên cây dừa ấy thế/ Nước dừa ngầu bọt cô ca/ Hoa mơ ngoẹo cổ cúm gà/ Tam quan chùa không chua vị khế/ Cung văn bận đi mát xa/ Đàn cò nằm dài ư ử/ Em hát đấy à? Em cứ hát/ Dây quai thao vương dải xu chiêng/ Sắp qua cầu hơi nhiều giọng bass/ Riêng ông chuếnh choáng nghiêng nghiêng...” (Nghe em hát);
          Trong chuyến đi thực tế lên Lào Cai của đoàn Hội nhà văn dịp xuân Bính Thân, Nguyễn Hiếu viết bài thơ Rét ở Mường Khương, nỡm mọi người mà cũng nỡm nhà thơ Pừ Sào Mìn:Hai chăn dầy phủ lên/ Mắt vẫn hấp háy mở. Vì thiếu chăn 37 độ/ Tỏa ra từ người đàn bà của riêng mình/ Giấc ngủ ép nghiêng nghiêng/ Cơ chừng chực đổ” và đây nữaCó thứ cũng được gọi là chân/ Không có gì bọc bao/ Không chui vào lỗ nào/ Cả đêm chênh vênh thức/ Rạng sáng nhờ chút xuân tàn/ Ngóc nghểnh ngảng đôi chút/ Như đọt măng cằn...”, “Sướng nhất Phờ Sào Mìn?/ Đêm giá lạnh này/ Bụng rượu lão ấp vào
Mông mẩy vợ/ Tôi mong giữa hai người/ Phọt ra ngọn lử/ Đốt thành tro cái buốt,/ Cái giá Mường khương”..
          Mừng là Nguyễn Hiếu đã đổi mới thơ mình, chắt lọc hơn, đằm hơn, vẫn giữ mà còn phát huy được sự hóm hình vốn có. Giờ đọc thơ Nguyễn Hiếu, tôi bớt ngại, nhiều bài đọc thấy khoai khoái, bật cười một mình... /.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 15.08.2021 13:06:32
Nhà văn Trần Nguyên Vấn, cần mẫn và ân tính
 ( Chân dung nhà văn Trần Nguyên Vấn )
 
Trong số các nhà văn, nhà thơ Việt Nam hiện đại, trừ nhà thơ Trần Đăng Khoa, tôi sớm biết vì chúng tôi cùng lứa học phổ thông và cùng nhau đứng trong đội tuyển giỏi Văn của tỉnh Hải Hưng tham gia kỳ thi học sinh giỏi văn lớp 10 (hệ 10/10) toàn miền Băc vào tháng 4.1075, thì Trần Nguyên Vấn là người tôi biết mặt đầu tiên. Tính từ lần đầu gặp Trần Nguyên Vấn, quãng năm 1982, 1983 gì đó, đến nay đã ngót bốn mươi năm quen biết. ấy vậy mà, mỗi khi viết gì về ông, tôi vẫn phân vân về danh xưng, Trần Nguyên Vấn hay Trần Phương Trà, nhà văn hay nhà thơ? Đắn đo vậy thôi, song không hiểu sao, tự nhiên tôi mặc định cách gọi, nhà văn thì Trần Nguyên Vấn, nhà thơ thì Trần Phương Trà. Đương nhiên, ông viết dều cả hai thì gọi thế nào chẳng được...
Trở lại buổi ban đầu quen biết ông. Thời điểm ấy, tôi làm đúng công việc của một anh kỹ sư canh nông, ở tít mãi vùng biên giới Tây Nam, Bảy Núi, An Giang. Chẳng là, tốt nghiệp đại học khi thống nhất đất nước mới dăm năm, nên phần đông lứa kỹ sư nông nghiệp trẻ chúng tôi được lùa vào vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi mệnh danh là vựa lúa khổng lồ. Khi ấy, bà con ở đấy vẫn quen với lối canh tác quảng canh nên khó áp dụng các biện pháp kỹ thuật. Thời gian rảnh nhiểu, tôi tập tọng viết báo, viết văn, làm thơ. Cứ viết đại, gửi đại đến các tòa soạn báo qua đường bưu điện thế thôi. May thay, người bạn thân phổ thông và cả đại học của tôi, nhà báo Trịnh Bá Ninh khi ấy là phóng viên Báo Nông nghiệp, chỉ dẫn thêm. Nhở vậy, những bài báo của tôi được dăng rải rác trên báo Nông nghiệpNhân dân, rồi nữa, được phát sóng trong các chương trình phát thanh Đại gia đình các dân tộc Việt NamPhụ nữ của Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN-VOV). Thế nhưng, văn chương thì lại khác, các bút ký và truyện ngắn tôi gửi cho Báo Văn nghệ thì chẳng tăm hơi. Trịnh Bá Ninh mách tôi, anh quen biết nhà văn Trần Nguyên Vấn làm biên tập ở Ban Văn nghệ Đài TNVN, và khuyên tôi hãy gửi bài viết nhờ ông thẩm định, góp ý. Tôi làm theo và sau đó, Trịnh Bá Ninh thông báo lại cho tôi ý kiến nhận xét của nhà văn Trần Nguyên Vấn. Tôi viết lại và may mắn sao, bút ký Mênh mông đồng tràm được phát sóng trong chương trình Văn nghệ của nhà đài. Tôi mứng vui khôn xiết!...
Hàng năm, mỗi lần đi phép ra Bắc, Trịnh Bá Ninh hay dẫn tôi cùng đây đó, nhớ thế mà tôi gặp và quen biết nhà văn Trần Nguyên Vấn. Rồi từ ông, tôi biết thêm các bạn vân của ông, nhà văn Vũ Đình Minh, nhà thơ Nguyễn Thái Vận, nhà thơ Võ Văn Trực, nhà thơ Ngô Quân Miện,... Cũng qua ông, lần đầu tôi bước chân ngó nghiêng ngôi nhà văn học của Đài TNVN ở 58 Quán Sứ, để biết mặt những tên tuổi mà bấy lâu tôi từng đọc và nghe những tác phẩm của họ như: Nguyễn Bùi Vợi, Trần Nhật Lam, Trần Mạnh Thường, Trúc Thông, Lê Đình Cánh,...
Cho đến khi, cầm quyết định về nhận công tác tại Đài TNVN vào tháng 10/1987, thì ngoài những người cùng đơn vị với mình ở Ban Thính giả, người tôi hay lui tới chính là nhà văn Trần Nguyên Vấn. Dù hơn tôi hai chục tuổi (ông sinh năm 1937). Trần Nguyên Vấn coi tôi như đứa em út của mình. Tôi cũng hay đến chơi thăm ông tại nhà riêng, một căn hộ nằm trong khu tập thể số 1 Lê Phụng Hiểu, Hà Nội, và đó rời sang khu tập thể ở phố Tông Đản... Thành đàn em của ông, rỉ rả tháng năm, từng trang cuộc đời ông dần mở, ngỡ thuận buồm xuôi gió, nhưng không phải vậy,...
 
1, Hành trình trờ thành nhà văn,
Trần Nguyên Vấn sinh ở quê, làng Trúc Lâm thuộc thành phố Huế. Đi học hết lớp Đệ Tứ trường Trung học Khải Đinh (Quốc học Huê), đậu bằng trung học đệ nhất, tháng 7 năm 1954 hiệp định Genève có hiệu lưc, ông xin ra Bắc tiếp tục đi học, trường Phổ thông cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng ở Nghệ An. Đây là ngôi trường nổi tiếng mà nhiều bậc trí thức hàng đầu của nước ta từng là học sinh và trưởng thành từ đây. Thời gian này, gặp nhiều khó khăn, trận lụt to tháng 9 năm 1954 do vỡ đê sông Lam, rất khổ vì Trần Nguyên Vấn là học sinh vượt tuyến không có học bổng phải lo dạy kèm trong hè để dồn tiền ăn đi học, giữa năm 1956 mới có học bổng. Nhung rồi, may mắn, năm 1958, thi đỗ vào khóa 3 (1958-1961) khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ở vào thời điểm ấy, sau vụ Nhân văn Giai phẩm nên việc vào khoa văn rất ngặt nghèo, mấy trăm thí sinh chỉ lấy 24 người. thì 17 cán bộ đi học, chỉ có 7 học sinh toàn miền Bắc có Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực, Nguyễn Gia Nùng, Trần Nguyên Vấn, Nông Thị Nhuận, Phạm Thị Hồng Thọ, Vũ Nguyên Ngữ. Ngay khi là sinh viên Tổng hợp Văn, đã có một nhóm gồm Lê Khâm, Hoàng Tiến, Ngô Văn Phú ,Võ Văn Trực, Nguyễn Gia Nùng và Trần Nguyên Vấn, tổ chức, động viên nhau sáng tác. Các thành viên trong nhóm tham gia viết truyện ký nhân dịp kỷ niêm kháng chiến chống Pháp của Thành Đội Hà Nội. Trần Nguyên Vấn viết ký Đánh sân bay Gia Lâm theo lời kể của một số chiến sĩ. Bài ký này cùng các truyện ký của Lê Khâm, Nguyễn Gia Nùng... được Thành đội Hà Nội tập hợp vào cuốn sách Trở về Hà Nội, do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 1960. Như vậy, có thể nói, con đường sáng tác văn học của Trần Nguyên Vấn khời đầu thuận lợi, báo hiệu sự hanh thông trong sự nghiệp văn chương...
Nhưng rồi, một sự hanh thông khác lại mở ra, năm 1961, tốt nghiệp Tổng hợp Văn, hai cử nhân văn trẻ là Trần Nguyên Vấn và Võ Văn Trực nhận quyết định phân công về Bộ Ngoại giao công tác, Tương lai trở thành một nhà ngoại giao mở ra, song dường như đinh mệnh an bài Trần Nguyên Vấn phải theo nghiệp cầm bút văn chương thơ phú, nên chàng cử nhân văn khoa này lại không hài lòng với nghề ngoại giao mà nhiều người mong chẳng được. Người bạn cùng lớp là Nông Thị Nhuân được phân công về làm biên tập ở mục Đọc truyện dêm khuya thuộc Phòng Văn nghệ Đài TNVN, mách Trần Nguyên Vấn là mục Tiếng thơ của Đài đang cần tuyển biên tập viên. Thế là Trần Nguyên Vấn báo cáo Bộ Ngoại giao rồi tự đi liên hệ, và kết quả. nhà ngoại giao tương lai trở thành biên tập thơ...
Trần Nguyên Vấn bước chân vao môi trường làm báo chuyên nghiệp, vào mái nhà chung 58 Quán Sứ, trụ sở Đài TNVN từ tháng 11.1961 và kể từ đấy, ông gắn bó với địa chỉ này cho đến lúc nghỉ hưu, tuy quãng giữa chặng đường dài này nhiều biến cố, trắc trờ....
Thời gian làm ở chuyên mục Tiếng thơ, ngoài công việc biên tập, Trần Nguyên Vấn viết bút ký và làm thơ. Đáp ứng nhu cầu của công việc, đặc biệt là phóng viên chiến trường, đến năm 1965, ông xin chuyển sang Phòng miền Nam làm ở Tổ thời sự để học thêm cách làm tin,,sử dụng tin tham khảo và viết các câu chuyện thời sự, sẵn sàng nhận nhiệm vụ đi chiến trường. Trần Nguyên Vấn còn hăng hái đến mức, đã tìm gặp một số cán bộ của tình Thừa Thiên mới từ chiến trường ra để bày tỏ nguyện vọng muốn được vào chiến trường. Tuy nhiên, ông vẫn phải chờ đợi đến tháng 4.1967 mới được đáp ứng, sau khi trờ lại làm việc ở mục Tiếng thơ. Trần Nguyên Vấn đi B cùng đợt với nhà báo Nguyễn Thành (sau này, nhà báo Nguyễn Thành làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Phát thanh truyền hình Việt Nam) và nhà thơ Bùi Minh Quốc. Sau khi huấn luyện, Trần Nguyên Vấn lên đường đi chiến trường Thừa Thiên vào tháng 5.1967. Lúc ấy, vợ ông đang mang thai đứa con đầu được 5 tháng. Trần Nguyên Vấn làm báo Cờ Giải phóng của Thành ủy Huế, và từ đây, theo yêu cầu của Tiểu ban Văn nghệ miền Nam, ông lấy bút danh là Trần Phương Trà, Thời gian làm phóng viên ở địa bàn Trị Thiên Huế, Trần Nguyên Vấn cùng làm việc với nhà tho Thanh Hải, nhạc sĩ Trần Hoàn, thiếu tường Lê Chưởng... Chiến dịch Mậu Thân 1968, Trần Nguyên Vấn về Huế được mấy ngày. Theo dự tính, nếu chiến dịch thắng lợi, ta chiếm được Đài dịch ở Huế thi ông sẽ là một trong những người tiếp quản, sử dụng, nhung việc không thành, ông trở lại rừng tiếp tục công tác. Lần trở về Huế ấy, Trần Nguyên Vấn được gặp lại má của mình, còn vui mừng báo cho má biết việc vợ ông ở Bắc đã sinh con trai, đặt tên là... mà bằng mật ước nào đó, qua việc nghe chương trình Tiếng thơCa nhạc của Đài TNVN, các bạn bè ở Ban Văn nghệ Đài đã báo tin để ông nhận biết. Việc này, hơn một lần tôi nghe ông vui kể. xem như chuyện “làm ở Đài ăn lộc nhờ đài”...
Năm 1969 chi hội Văn nghệ giải phóng Trị Thiên Huế được thành lập. Trần Nguyên Vấn được bầu vào Ban Chấp hành Chi hội do nhạc sĩ Trần Hoàn làm Chi hội trưởng,, nhà thơ Thanh Hải là Chi hội phó kiêm Tổng Thư ký, còn ông làm Tạp chí Sinh hoạt văn nghệ của Chi hội/ Thôi thi mặc sức mà viết, truyên ngắn, bút ký, thơ, vè, đủ loại, miễn sao phục vụ phong trào kháng chiến. Truyện ngắn Của tin ông viết năm 1970 gửi ra dự thi truyên ngắn báo Văn nghê (1970-1971) được tặng thưởng. Nói chung, ông hăng hái xuống đồng bằng, ghi chép, viết truyện ngắn, ký sự, thơ gửi ra cho Đài phát thanh Giải phóng. Đài TNVN và Tiểu ban văn nghệ miền Nam do nhà thơ Bảo Định Giang phụ trách. Đến 8.1973, Trần Nguyên Vấn được đưa ra Bắc chữa bệnh viêm gan do nhiều năm bị các trận sốt rét tàn phá.., Thời gian này, ông thuộc quyền quản lý của Ban Thống nhất miền Nam.
Nhân đây, tôi thấy cần nói thêm về Đài Phát thanh Gải phóng, nơi nhà văn Trần Nguyên Vấn nhiều năm công tác, gắn bó máu thịt. Khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời vào cuối năm 1960, theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam, lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam đã chuẩn bị mọi việc để thành lập Đài Phát thanh Giải phóng. Và ngày 01/02/1962, tại cánh rừng Căn cứ Mã Đà, thuộc Chiến khu Đ, Đài Phát thanh Giải phóng, cơ quan của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức phát sóng buổi đầu tiên, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của báo chí cách mạng trên chiến trường miền Nam. Đài Phát thanh Giải phóng đã phát bản tin đầu tiên bằng năm thứ tiếng Việt, Pháp, Anh, Hoa và Khmer, với lời xướng kiêu hãnh: “Đây là Đài Phát thanh Giải phóng, tiếng nói bất khuất, tiếng nói kiên cường, tiếng nói chính nghĩa của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.Đài Phát thanh Giải phóng phải thay đổi địa điểm phát sóng nhiều lần ở một số tỉnh và có điểm phát là cơ quan tuyệt mật ở Hà Nội, với các bí danh: Viz 1080 Bộ Tổng Tham mưu, C55 và CP90... Đài Phát thanh Giải phóng chấm dứt hoạt động vào ngày 31.8.1976, hoàn thành nhiệm vụ của mình sau khi đất nước thống nhất Bắc Nam một nhà.
Sau giải phóng miền Nam, Trần Nguyên Vấn trờ về Đài Phát thanh Giải phóng, làm Phó trưởng phòng Văn nghệ ở Sài Gòn. Khi Đài Phát thanh giải phóng chấm dứt hoạt động, ông trở lại mái nhà xưa, Đài TNVN nhưng ở cơ quan Đài tại phía Nam, và mãi năm 1980 ông mới ra Hà Nội, tiếp tục công việc ở Phòng Văn nghệ. Ông nghỉ hưu với cương vị Chủ nhiệm chương trình phát thanh Văn học của Đài. Trần Nguyên Vấn trờ thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1983. Ông cũng là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội.
Hành trình để trở thành nhà văn của Trần Nguyên Vấn là hành trình dấn thân đầy gian khổ nơi chiến trường bom đạn ác liệt; là hành trình viết tạp mọi thể loại để phục vụ thông tin tuyên truyền thời chiến, để có sự lắng động, chắt lọc mà thành văn chương. Tôi nghĩ và thầm so sánh, nếu như Trần Nguyên Vấn không đổi nghề, vẫn làmviệc ở Bộ Ngoại giao thì sao nhỉ? Tất nhiên, là nhà ngoại giao mà có lòng say mê văn chương, hoàn toàn có thể trở thành nhà văn, song ông đã không lựa chọn vậy. Trần Nguyên Vấn đã chọn cho mình con đường cầm bút chuyên nghiệp, và ở thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến, ông đã tình nguyện dấn thân vào chiến trường thì hẳn, lý tưởng sống và lý tưởng văn chương hun đúc, cùng hòa quện trong ông. Khi ấy, ông biết rằng, vào mặt trận, rất có thể một ngày nào đó mình sẽ nằm lại chiến trường, như đồng nghiệp Tô Chức, hay như các bạn văn Dương Thị Xuân Quý, Chu Cẩm Phong. Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân,... và bao chiến sĩ khâc,
May thay, ông đã bình an đi qua chiến tranh để trờ thành nhà văn. Hơn thế, ông là một nhà báo, một chiến sĩ !
 
2. Thơ văn Trần Nguyên Vấn,
Đến nay, nhà văn Trần Nguyên Vấn đã xuất bản các tập sách:Trở về Hà Nội (truyện ký, in chung,1960):; Của tin (truyện ngắn,1981). Niềm vui thầm lặng (truyện ký, in chung 1987); Bốn mùa hoa trái (thơ, 2000); Trinh Đường trọn đời vì thơ (sưu tầm biên soạn, 2002); Nhớ Tuân Nguyễn (sưu tầm, biên soạn, 2008), Nặng lòng với Huế (chân dung văn nghê, 2017), Từ trường Quốc học Huế (thơ văn, 2017), Về giữa lòng quê (Ký, 2017)... Được biết, ông còn mấy tập sách đã xong bản thảo, dự định xuất bản nay mai.
Biết ông nhiều năm nay, đọc và hầu chuyện ông, tôi hiểu, Trần Nguyên Vấn không hẳn là một người tài hoa, tinh thần và câu chữ toát ra ngoài, Trong nhóm văn chương ba người với nhau, Vũ Đình Minh tài hoa, hoa, hóm hỉnh; còn Nguyễn Thái Vận. lãng mạn mơ mộng, thì Trần Nguyên Vấn cần mẫn, cẩn trọng, chu toàn. Có lẽ, những đức tính ấy bổ sung cho nhau, khiến họ gắn kết, thân thiết, quý mến nhau. Giờ thì Nguyễn Thái Vận và Vũ Đình Minh đã theo cánh hạc về trời, còn lại mình Trần Nguyên Vấn. Vốn người hiền hoa, chu đáo và quảng giao, Trần Nguyên Vấn luôn biết cách tìm niềm vui trong gia đình và bầu bạn, Ông đặc biệt say mê việc làm sách, từ khâu tổ chức, tập hợp, biên soạn, đến in ấn phát hành... và đương nhiên, vẫn rỉ tả viết. Ông là người ghi chép cẩn thận, tỉ mỉ mọi sự việc thấy cần thiết và lưu trữ rất tốt, nên có cả kho tư liệu lớn. Tôi đã tứng ngó xem những cuốn sổ ghi chép tư liệu của ông, chữ nhỏ, khá đẹp, chú thích và thư mục đầy đủ. Ông cũng là người lưu trữ tư liệu ảnh đáng nể, Tôi biết, ông có những bức ảnh quý hiếm về các nhà văn, nhà thơ và văn nghệ sĩ Việt Nam nói chung, xứng đấng được lưu giữ trong bảo tàng.
Trần Nguyên Vấn từng giao du, gặp gỡ nhiều thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam. Ông vốn ghi chép cẩn thận, lại thêm trí nhớ tốt. Chỉ vậy thôi, đã là một lợi thế không hè nhỏ để ông viết chân dung văn hay chuyện văn nghệ sĩ. Khi có cảm hứng, ông đã thành thơ, như bài Trong đêm vui cuối cùng với nhà văn Nguyễn Tuân,  và  bài Câu thơ cuối cùng về nhà thơ Thanh Tịnh... Thực lòng, tôi mong nhiều hơn thế ở ông !...
Tôi nhớ, cũng khá lâu rồi, đã có lần, khi liếc qia kho tư liệu phong phú của ông, tôi đùa mà hỏi ông: “Bác có nhiều tư liệu quý thế... sao bác chưa chuyển hóa chúng thành tác phẩm văn học? ... Em thấy, bác đã sử dụng được bao nhiêu đâu?...”. Trần Nguyên Vấn cười hiền, bảo: “Ừ....mình cũng đang dùng dần đấy....”. Rồi ông say sưa nói về dự định viết cuốn này tập nọ, chủ đề tư tưởng và bố cục hẳn hôi. Tôi chờ mà chưa thấy, cũng ngại không dám hỏi lại. Dường như, có gì đó chưa thông suốt trong ông thì phải? Những năm gần đây, thỉnh thoảng anh em gặp nhau, chỉ thấy ông nói về việc làm sách, nhất là sách về trưởng Quốc học HuếTrường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng Nghệ An. Miễn sao, ông hào hứng và vui khỏe là được, khi đã ở độ tuổi ngoại tám mươi.
Tôi vẫn có ý chở, Thâm tâm, tôi thèm và tiếc kho tư ;liệu, đặc biệt là tư liệu ghi chép về chiến tranh của ông.
 
3. Cần mẫn và ân tình Trần Nguyên Vấn,
Bút danh Trần Phương Trà thay cho tên thật Trần Nguyên Vấn chỉ có khi ông vào chiến trường Thừa Thiên Huế năm 1967, theo yêu cầu của Tiểu ban Văn nghệ miền Nam, nhằm đáp ứng bí mật thời chiến. Như vậy, bút danh này chủ yếu được dùng thời kỳ ông làm việc ở báo Cờ Giải phòngĐài Phát thanh Giải phóng nên chỉ bạn bè, đồng nghiệp biết rõ, tuy hai mà một. Sau này, ông ký tên thật là chính, song một số bạn bè đồng nghiệp vẫn trìu mến gọi ông bằng bút danh, như một cách để nhắc nhở và cùng nhớ về một thời chiến tranh gian khổ đã qua.
Bản tính Trần Nguyên Vấn hiền hòa, cời mở và đầy nhiệt tình với mọi người. Gặp nhau, ông hay ân cần thăm hỏi và trí nhớ rất tốt, có thể nhắc lại những chuyện cũ đến từng chi tiết. Tự thân cần mẫn và cách sống ân tình, là bản chất của ông. Những năm bao cấp, kinh tế xã hội khó khăn, thiếu thốn, căn nhà của ông (ở khu tập thể số 1 Lê Phụng Hiểu và sau ở phố Tông Đản, Hà Nội), là nơi lui tới thường xuyên của các cây bút trẻ chúng tôi, các đồng nghiệp cùng cơ quan Đài TNVN và các bạn văn chương. Đặc biệt, các văn nghệ sĩ xứ Huế mỗi khi ra Hà Nội, đều ghé chơi nhà ông, có người ở lại vài ba ngày, thaamh chí cả tuần thay vì ở nhà khách. Tôi đã gặp ở đây những văn nghệ sĩ nổi danh của xứ Huế như Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Khoa Điểm, Hải Bằng, ... Thế nên, Trần Nguyên Vấn được bạn bè yêu quý tin cậy bầu vào các loại Ban liên lạc, giữ vai trò chủ chốt bởi ông đầy nhiệt huyết và có kinh nghiệm tổ chức các hoạt động chung.
Tôi có anh bạn giỏi tử vi, tứ trụ, cũng là đàn em báo chí thân thiết với nhà văn Trần Nguyên Vấn. Nhớ lần anh bảo tôi, Trần Nguyên Vấn sinh năm 1937, tuổi Đinh Sửu, bên ngoài hiền hòa dễ chịu thế thôi, nhưng là người nghịch ngầm, khá bướng bỉnh, trọng danh dự, và khá quyết liệt, định làm việc gì là gắng bằng được. Phải chăng. mọi việc đến với ông ngỡ hanh thông nhẹ nhàng song  thực lại hay trắc trở. Có lẽ vậy, đường đời và sự nghiệp của ông chưa tương xứng với sự cống hiến của ông. Song ông không vì thế mà nản chí.
Trần Nguyên Vấn cần mẫn, đặc biệt trong việc làm sách. Trong số ấy, phần lớn là tập hơp thơ văn, bài viết, hình ảnh, tư liệu của các tập thể, riêng có 2 cuốn về cá nhân, ấy là Trinh Đường trọn đời vì thơ (sưu tầm biên soạn, 2002); Nhớ Tuân Nguyễn (sưu tầm, biên soạn, 2008).
Nhà thơ Trinh Đường là bậc huynh trưởng đáng kính trọng của nhóm “Văn nghệ sĩ Ong” thân nhau, gồm Trinh Đường, Ngô Quân Miện, Trần Nguyên Vấn, Nguyễn Thái Vận, Vũ Đính Minh, Trịnh Bá Ninh. vv,,, (Đây nhà nhóm văn nghệ sĩ, thời bao cấp, thường được Tổng công ty Ong mời đi thực tế để viết bài, sáng tác thơ văn về nghề nuôi ong).
Còn Tuân Nguyễn, thì không nhiều người biết. Ông là nhà báo, nhà thơ đàn anh, biên tập viên hàng đầu ở chuyên mục Tiếng thơ của Đài TNVN, nơi Trần Nguyên Vấn về nhận việc thời chập chững bước chân vào nghề biên tập thơ. Đây xem như cái duyên cua hai người với nhau, bởi không chỉ đồng hương xứ Huế, đồng nghiệp cùng bộ phận làm việc, mà nãi sau này còn gắn tên với nhau. Nhân đây, nói thêm vê nhà thơ Tuân Nguyễn và mối lương duyên với Trần Nguyên Vấn,
Tuân Nguyễn (tên thật là Nguyễn Tuân). sinh năm 1933, quê ở Phú Vang, Thừa Thiên Huế, là nhà báo, nhà thơ, nghệ sĩ ngâm thơ, dịch giả, từng làm việc ở chuyên mục Tiếng thơ của Đài TNVN từ năm 1960. Tuân Nguyễn tốt nghiệp Tú tài 2 ở Huế, giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh và Hàn văn. Thời kháng chiến chống Pháp từng tham gia Vệ quốc đoàn, sau hóa bình xuất ngũ, theo học khóa 1 Văn khoa  Đại học Sư phạm Hà Nội. Tốt nghiệp, làm giáo viên dạy ở Trường học sinh miền Nam tại Hà Đông, một thời gian, trước khi về Đài TNVN làm biên tập thơ.  Tuân Nguyễn không may bị quy là “có ý tưởng đi ngược với đường lối chính sách” và bị bắt giam vào tháng 10. 1964, do một số cán bộ cức đoan suy diến, nghi ngờ, Gần 10 năm chịu giam giữ cải tạo, năm 1973, Tuân Nguyễn được trả về cuộc sống bình thường, nhưng không thể trở lại cơ qian cũ, mà lao động tự do. Ông lập gia đình với nhà thơ Phương Thúy, một giáo viên dạy đàn dân tộc ở Nhạc viện Hà Nội, và là con gái của nhà phê bình văn học Hoài Chân (người đòng tác giả với Hoài Thanh viết cuốn Thi nhân Việt Nam). Năm 1976, vợ chồng ông chuyển vào Tp. Hồ Chí Minh sinh sống. Tuân Nguyễn sống bằng việc dạy học và dịch sách. Còn vợ ông bán sách báo qua ngày. Tác phẩm Bim trắng tai đen nổi tiếng của nhà văn người Nga là G.Troyepolsky, Tuân Nguyễn là dịch giả. Năm 1983, ông mất vì một tai nạn giao thông.
Những tưởng câu chuyện về một con người có tài có tâm những không may, chịu nhiều oan khuất, cay đắng sẽ chìm vào dĩ vãng, thì giở đây, những người yêu văn chương và bạn đọc biết đến tên tuổi Tuân Nguyễn. Trước hết, phải nói đến công đầu của nhà văn Phùng Quán, người đã viết một chân dung Tuân Nguyễn tuyệt hay in trong tập Ba phút sự thật của ông. Đặc biệt, khi tập Nhớ Tuân Nguyễn được NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2008 do Trần Nguyên Vấn tổ chức xuất bản, từ sưu tầm bản thảo, biên soạn, đến việc in ấn,... thì cuộc đời Tuân Nguyễn đầy dủ, rõ nét thêm. Ở đó tập hợp bài viết của các tác giả mà nhiều người là bạn hữu, đồng nghiệp, người quen của Tuân Nguyễn như: Ngọc Trai, Hoàng Phủ Ngọc Tường,, Băng Sơn, Thái Vũ, Dương Tường, Nguyễn Bùi Vợi, Lê Huy Quang. Đoàn Minh Tuấn, Xuân Đài, Vũ Từ Trang v.v... Đáng quý, trong tập sách này, tập hợp được 86 bài thơ của Tuân Nguyễn được sưu tầm từ sách báo cũ, qua trí nhớ của người thân, đồng nghiệp, thậm chí cả bạn tù,... Quan trọng hơn cả, qua tập sách này, bạn đọc hiểu đúng về con người Tuân Nguyễn và bao nỗi đắng cay gian truân mà ông đã trải qua, cũng xem như một sự minh bạch về cuộc đời ông, đặng minh oan cho nỗi oan khuất ma ông mắc phải!?...
Để làm được việc này, nhà văn Trần Nguyên Vấn, người em xứ Huế, người đồng nghiệp của Tuân Nguyễn phải có tâm lâm lắm và bỏ nhiều công sức, cần mẫn, tận tụy mới làm nổi,
Thay lời kết cho bài biết này, tôi kể một câu chuyện, thêm phần minh chứng cho mối lương duyên giữa hai người con của Thừa Thiên Huế, Tuân Nguyễn và Trần Nguyên Vấn. Áy là vào năm 2011, nhà thơ Phương Thúy, vợ của Tuân Nguyễn lâm vào tình trạng già yếu, không nơi nương tựa ở Tp. Hồ Chí Minh. vì ông bà lấy nhau nhưng không có con. Giải pháp tốt nhất là làm sao đưa bà Phương Thúy vào sống ở Nhà Dưỡng lào. Để làm được việc này không đơn giản, phải lập hồ sơ giấy tờ phiền hà. Nhà văn Trần Nguyên Vấn lại đứng ra lo một phần giấy tờ thủ tục. Khi ấy, tôi đang là Chánh văn phòng Đàu TNVN, nên có điều kiện giúp nhà văn Trần Nguyên Vấn phần giấy tờ liên quan đến Đài với tư cách Đài là cơ quan chủ quản cũ của nhà thơ Tuân Nguyễn khi ông bị nạn giam giữ cải tạo. Việc suôn sẻ, bà Phương Thúy được an cư ở Nhà Dưỡng lão từ đấy,... và nghe đâu bà mới mất vài năm gần đây. Với vợ chồng nhà thơ Tuân Nguyễn, lo toan như thế, tôi nghĩ, nhà văn Trần Nguyên Vấn thật trọn tình vẹn nghĩa. ./.
 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 27.08.2021 16:36:29
Trịnh Tuyên, lão chăn dê xứ Thanh.
(Chân dung nhà văn Trịnh Tuyên)
 
          Sở dĩ tôi đùa vui gọi nhà văn Trịnh Tuyên như thế, bởi truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê là truyện ngắn hay, một trong ba truyện mà tôi chọn để giới thiệu cùng chân dung nhà văn trên Website của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net). Sau đó, truyện ngắn này còn được nhà văn Nguyễn Văn Thọ chọn và nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng biên tâp, phê duyệt đăng ở số 2 (bộ mới) Tạp chí Nhà văn & cuộc sống, Hội Nhà văn Việt Nam.
          Nếu không nhầm, đây là một trong mấy truyện ngắn khới đầu nghiệp văn của Trịnh Tuyên. Tuy xuất hiện trên văn đàn muộn nhưng Trịnh Tuyên đã nhanh chóng khẳng định mình ở thể loại truyện ngắn và chỉ trong vòng gần chục năm, ông đều đặn xuất bản 4 tập truyên ngắn, đó là Những mảnh vỡ của số phận (2012), Hang cóc thần (2014), Giấc mơ lạnh (2016),  Nhớ đêm thời xa ấy (2018), và hiện đang xuất bản tập truyện  thứ 5 của mình- Trái tim bé bỏng. Trịnh Tuyên là hội viên  Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa.
          Mặc dù. Trịnh Tuyên viết đều cả văn và thơ, nhưng bạn văn chương và bạn bè nói chung chẳng ai gọi ông là nhà thơ cả, Phải chăng, truyện ngắn của Trịnh Tuyên nổi trội hơn thơ ông nên người ta ấn tượng một Trinh Tuyên văn? Song có lẽ, con người góc cạnh, tính cách quyết liệt, phản biện sẵc sảo, đã làm nên một Trịnh Tuyên-nhà văn?
 
1. Trịnh Tuyên văn,
          Trịnh Tuyên chào làng văn, chào bạn đọc bằng truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê, và gần như lập túc, ông ghi dấu ấn, khiến bạn đọc ngoài xứ Thanh biết đến tên ông. Tôi cùng vậy. Biết Trịnh Tuyên từ những ngày đầu tham gia mạng xã hội, trang của ông trên Blog Tiếng VIệt đăng đủ thứ, nhưng phài đến khi ông đưa truyện ngắn này lên (20.3.2012), sau khi mấy tờ báo, tạp chí địa phương cùng đăng, tôi mới nhìn nhận phẩm chất nhà văn ờ Trịnh Tuyên, khiến ông khác với nhiều người cùng tham gia viết ngày ấy. Quả nhiên, truyện ngắn này nâng vị thế của Trịnh Tuyên trong con mắt của các blogger ở Blog Tiếng Việt. Giờ đây, khi duyệt bài lên trang, nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng biên tạp Tạp chí Nhà văn % cuộc sống , gật gù bảo: “Truyện này chằng khác gì chuyện Chí Phèo, Thị Nở thời nay”. Lẽ dĩ nhiên, với gần trăm truyện ngắn đã viết. Trịnh Tuyên còn có một số truyện ngắn khác khá chắc tay,
          Hãy xem Trịnh Tuyên viết gì. Có thể thấy, các truyện của Trịnh Tuyên tập trung vào mấy mảng đề tài chính: chuyện chiến tranh và hậu chiến, chuyện về các loài vật, chuyện mang tính trinh thám, vụ án, chuyện màu sắc tâm linh, và chuyện đời sống xã hội, tình ái...
          Nhìn chung, như phần đông các cây bút viết theo bản năng vốn có, khởi thủy thường chọn thủ pháp kể chuyện truyền thống, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời gian, dù đan xen hồi tưởng, ký ức, với nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (tôi), hoặc ngôi thứ ba (nó, hắn...), Trịnh Tuyrn cũng vậy. Hầu hết, các nhân vật của ông kể chuyện ở ngôi thứ nhất, số ít truyện ở ngôi thứ ba. Với thủ pháp vậy, tâc giả dễ bề điều hành nhân vật theo chủ quan của mình nên dễ nặng cảm tính hơn là theo logic của sự việc, vấn đề. Tuy nhiên, Trịnh Tuyên “bài binh bố trận” khá linh hoạt, đã biết cách thoát ra khỏi sự nhàm chán của lối kể chuyện bắng cách thay đổi kết cầu, khai mở gây sự chú ý, cài đặt chi tiết bất ngờ...
Có lẽ, chuyện chiến tranh và hậu chiến là mảng đề tài Trịnh Tuyên để tâm khai thác. Mặc dù, bản thân không nhập ngũ, không trực tiếp tham gia chuến tranh, mà là chiến sĩ công an, song cũng là lực lượng vũ trang, vả lại, ban bè, người thân của ông tham gia quân ngũ rất nhiều nên ông hiểu chuyện binh nghiệp và những vấn đề xã hội thời hậu chiến... Ở mảng đề tài này, có các truyện Nhớ thời xa ấy, Tên lính ngụy, Hồi ức một cung đường,  Kẻ ném đá,...Nhưng có thể tháy, tác giả chỉ hoàn thành việc kể chuyện, các nhân vật như thiếu hồn vía nên chưa để lại dấu ấn đáng kể,
Trái ngược, màng đề tài về đời sống xã hội và tình ái là thế mạnh thực sự của Trịnh Tuyên. Ông viết như không, như kê chuyện chơi vậy thôi nhưng hầu như truyện nào cũng sống động và khá ấn tượng, mà qia đó, ông gửi gắm ý tưởng, triết lý nhân sinh, hoặc tự thân truyện toát lên giá trị nhân văn và thông diệp về cuộc sống,... Cùng với Chuyện tình lão chăn dê, ở màng đề tài này, có thể nhặt ra một số truyện chắc tay, như: Những mảnh vỡ của số phận, Giọt máu rơi,  Đồng không mông quạnh, Ông kão câu cá, Cây bút máy mạ vàng, Liên, Thiếu nữ bên bãi biển chiều thu, Bà Thanh- kiu, Chuyện tình xóm núi, Nhừng mùa dưa đi qua...
Cùng màng đề tài về đời sống xã hội, Trịnh Tuyên cũng khá thành công với những truyện về tâm linh như: Cây gậy của Lý Tước, Hang cóc thần, Giấc mơ lạnh, Thần cây, Bí mạt hang cá thần, Con rắn hổ lửa trên bàn thờ tổ, Con chuột trong nhà thờ họ, Cối đá quý, Ma học trờ, Anh ơi em chết mất,...Tử những giai thoại, chuyện kể mang màu sắc dân gian tâm linh, Trịnh Tuyên sưu tầm xây dựng nên cốt truyện rồi đắp thêm da thịt phù phép thành truyện, và ở đây, quan hệ nhân-quả được ông sử dụng thành triết lý nhân sinh, Vậy nên, yếu tố tâm linh không phải là chuyện mang ra để hù ma, dọa quả báo, mà như một sự nhắc nhở về đạo lý thiện lương, về nhân nghĩa ờ đới....
Những chuyện vụ án, chuyện mang màu sắc trinh thám cũng là một điềm nhấn trong sáng tác của Trịnh Tuyên. Xuất thân ngành công an, nhiều năm là cảnh sát điều tra, Trịnh Tuyên có vốn kiến thức phong phú, óc suy đoán logic, sự nhanh nhậy của một chuyên viên phá án, nên ông khá chắc tay trong mảng đề tài này. Ở các truyện: Kể tự thú, Đánh ghen, Bóng đè, Ăn miếng trả miếng, Tiếng chó sủa đêm,  ông thỏa sức tung tẩy với kinh nghiệm cảnh sát điều tra của mình. Không chỉ thế, Trịnh Tuyên viết truyện như làm án, nên để dấu ấn nghiệp vụ điều tra trong hầu hết các truyện ngắn của ông về việc cài đặt tình tiết và tiết tấu câu chuyện,...
Còn một mảng đề tài, khiến Trịnh Tuyên khác nhiều cây bút văn xuôi, ấy là về các loài vật. Để ý, các truyện của ông đều thấp thoáng bóng dáng các con vật, (hoăc cây cối, đồ vật), mà ở đó, chúng là các nhân vật phụ, có liên quan, và có tác dụng làm nổi nhân vật chính. Nhiều truyện, con vật trờ thành nhân vật chính, như: Đôi chim cu già, Sữa chó, Chó đẻ, Con mọt, Con khỉ, Con mèo tam thể, Con ngựa già, Con lợn nghĩa tình, Con gà tài nguyên, Con trâu bạc, Đốm ơi,... Ở đây, Trịnh Tuyên tỏ rõ sự hiểu biết tường tận về đặc tính sinh thái của từng loài vật, mối quan hệ đồng loại và mối quan hệ với con người. Dĩ nhiên, nói đây chết cây chỗ khác, ông mượn chuyện con vật là để nói con người, nhắn nhủ con người,..
Vậy nên, đương nhiên, có một Trịnh Tuyên-truyện ngắn,
 
2. Trịnh Tuyên thơ,   
Cho đến thời điểm này, nhà văn Trịnh Tuyên vẫn chưa xuất bản tập thơ nào, song ông là tác giả của hàng trăm bài thơ rải rác nhiều năm qua. Dấn thâm vào nghiệp văn. Trịnh Tuyến có thế mạnh và chủ tâm theo văn xuôi, nhưng cũng như nhiều cây bút văn xuôi khác, thậm chí các lão làng (như Hà Minh Đức, Võ Huy Tâm, Đỗ Chi...), ông bị nang thơ quyên rũ và không thể làm ngơ. Thơ ông chủ yếu đăng trên mạng xã hội để bạn hữu đọc bàn chơi, hay lúc trà dư tửu hậu bình phẩm, thi thoảng gửi đăng báo này nọ,
Là cây truyện ngắn vững, khi viết, chủ đề, ý từ, bố cục, chi tiết rõ, nên sang thơ, Trịnh Tuyên cũng theo đúng cách viết truyện ngắn mà làm. Nghĩa là, lập tứ, có cốt rồi lắp câu chữ cho bài thơ nên da thịt, sao cho diên đạt được ý từ là ổn, nên đôi khi khó tránh khỏi tình trạng ngượng ép, khiên cường, Ví như:“Đừng tìm người đi cấy anh ơi/ Phía trước, phía sau, đều không rõ mặt/ Cuộc mưu sinh gần đất nhất.../ Họ sẽ nhìn anh qua khung hình tam giác/ Mặt ruộng là gương, không cần tráng ni tơ rát bạc// Âm bản đen, ống kính chổng lên trời!!!” (Người đi cấy); hay như: “Người cả tin/ Biên giới hay xê dịch/ Người tâm thần/ Biên giới bỏ ngỏ/ Người tham lam/ Tự thu hẹp biên giới/ Người cuồng tín/ Biên giới thuộc địa hạt tư duy kẻ khác/ Người thông minh/ Biên giới chôn chìm...” (Biên giới). Đây nữa:  “Chúng rút ra rồi, em mới thấm đau/ Sóng cứ dào lên như là nức nở/ Có phải sông đâu mà trút vào bồi lở// Em - Biển kia mà... bạn của đại dương.../ Giấy kết hôn kia vò vứt cuối giường/ Em thuộc về anh sao để người ta cắm?/ Phút chúng khoan vào, em đau, đau lắm/ Anh - kẻ bạc tình biết đứng nhìn thôi!...” )Lời than của Biển Đông); Và đây “Bến lạnh lùng, con tim buốt sang ngang/ nước đã lạnh, lòng người còn lạnh nữa/thôi đừng khoắng thêm dòng sông tình tan vỡ/ Cho mái chèo mươn mướt những niềm đau! (Chằng còn mùa thu nữa đâu em); Rồi đây nữa: “Có anh đây rồi, em cứ vững niềm tin/ Biển là em, em thẳm xanh như biển/ Nếu chúng vắt vòi rồng, anh còn cố nhịn/ Nhưng khoan vào là anh băm xác chúng ra/ Nên chúng cứ thụt vào rồi kéo ra!” (Thơ tình cảnh sát biển)_
Đại loại, những khổ thơ, câu thơ gượng ép, cố gò theo ý tưởng như thế không hiếm trong thơ Trịnh Tuyên, Như đã nói, thơ Trinh Tuyên, hầu như bài nào cũng ý tứ rõ ràng, nhiều khi lộ ý,  vấn đề là diễn đạt ra sao. Trịnh Tuyên luôn ý thức tạo sức nặng chi thơ mình, nên ông ưa triết lý, Một khi triết lý. thì năm ăn năm thua, rất có thể gượng và khô cứng, nhưng thành công thì lại được những câu thơ hay. Có thể tìm nhặt ra trong thơ Trịnh Tuyên những triết lý hay. Chẳng hạn, như: “Quên tên cây/ làm thuyền/ Tận cùng nỗi cô đơn-/ độc mộc!/ Khoét hết ruột/ Chỉ để một lần ngược thác/ bất chấp đời/ ênh đênh...” (Độc mộc); Hay như: “Chưa nở đã mang bầu thai quả/ Phận đau như gái chửa không chồng/ Buồng the nứt toác tình chưa thoả/ Cuối mùa trơ cuống với hư không.(Hoa chuối): Đây nữa: “Đêm tất niên một mình ra ngõ/ Say mèm húc phải đống rơm/ Hai kẻ cô đơn chợt tỉnh:/ Nhận ra xác những linh hồn!/ Ngươi: xác của mùa màng/ Ta: xác của thời gian/ Ngươi: Cháy lên còn chút lửa/ Ta: Một nhúm tro than..../ Ngươi đứng lù lù trước ngõ/ Ta thì lọm khọm trong nhà/ Ta buồn đắng tình thế thái/ Ngươi vui ngọt miệng trâu bò!” (Đêm tất niên): Và đây: “Nơi đây là mộ địa/ Chôn/ những mối tình đã chết từ lâu/ Đã vô duyên kiếp trước/ Mong gì gặp kiếp sau?  (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Nếu chịu khó tòm kiếm, còn không ít những câu thơ triết lý thú vị như thế trong hàng trăm bài thơ của Trịnh Tuyên  Thực lòng, tôi thích thơ Trịnh Tuyên hơn truyện của ông, bời nhìn chung, thơ ông có ý tưởng lạ, khá hàm súc, câu chữ bất ngờ. Ví như bài thơ này: “Ta lại đến điểm đầu từ điểm cuối// đường tình ngắn chẳng tày gang/ Cưới lại đi em/ Ừ! Cưới lại!/ Cơm đã nguội rồi thì đổ ra rang.../ Đêm cưới lại/ tình nồng không trở lại/ chỉ có đôi môi/ lặng ngắt/ ưu sầu!/ Đêm cưới lại/ ái ân/ không trở lại/ chỉ tiếng thì thầm thoảng trong đêm mau/ Đêm cưới lại/ chẳng còn gì trở lại/ chỉ một lần khờ dại mãi trong nhau..” .(Cưới lại); Hay như: “Nghẹn ngào khói thoảng về mây/ Run run một nén tâm đầy con dâng...” (Thăm mộ cha);  “Khi anh yêu em/ Biên giới của người điên” (Biên giới); “Rằng nay đang tiết thanh minh/ Tôi đi viếng cái mộ mình mai sau...” (Tôi đi viếng mộ của tôi):  “Nơi đây là mộ địa/ Dưới đáy mồ không một khúc xương/ Chôn những mối tình đã chết! “ (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Theo tôi, Trịnh Tuyên có một bài thơ hay, thuộc hàng hay nhất của ông, kiểu như Chuyện tình lão chăn dê trong truyện ngắn, ấy là bài Thành nhà Hồ.
“Thành xưa đổ nát, hoang tàn
Hồ vương rời bỏ ngai vàng ngự đâu(?)
Thạch long, tuế nguyệt dãi dầu
Bước chân khanh tướng công hầu vắng tanh
Sông xưa đổ mé đông thành
Mà nay đồng bãi , tươi xanh bốn mùa
Đế vương mà ngỡ trò đùa
Trẻ trâu kể mấy đời vua suy tàn .
Cho hay thành quách, ngai vàng
May ra còn lại mấy trang sách nhầu!
Có gì vĩnh cửu mãi đâu
Bao nhiêu lăng tẩm nhuốm mầu liêu hoang
Bao đời áo mão xênh xang
Mấy ai xây được ngai vàng- Lòng dân”
Hơi thơ cổ, tứ hay, câu chữ chắt lọc, phong vị trầm bi, ý nghĩa sâu sắc và giàu sức gợi, Nghe đâu, bài thơ này có câu được các nhà bình chọn lấy để treo vào bóng thơ thả lên giời một Nguyên tiêu nào đó ở Văn Miếu-Quốc tử goám. Trịnh Tuyên cũng lấy đó mà tự hào.
Đấy là sự ghi nhận về tính triết lý trong thơ Trịnh Tuyên.  Song cùng vì ham triết lý mà nhiều bài thơ của ông giảm sức gợi. Thơ hay, trước tiên cần sức gợi, rồi đến ý tứ, câu chữ, nhạc điệu... Có cả thì dĩ nhiên toàn bích rồi. Thế nên, làm thơ, dụng công quá thường hỏng. Nhiều khi buâng quơ, viết chơi chơi lại được. Trịnh Tuyên có những bài thơ như vậy, Ví như ờ Chiều trên bài ngô, ông tả cảnh đồng bãi, vô tình thấy môt em nào đó đang cắt cỏ trên bãi ngô ven sông Mã, để rồi buông một câu kết lửng lơ: “Xin em đừng gánh cỏ về lối cũ/ Kẻo vương vào phiền muộn của riêng anh...” thì bài thơ sống động hẳn lên, bồng có hồn và rất gợi... Hay đâu, những câu thơ đầy ngẫu hứng thú vị như “Biển oan, sóng mãi gầm gào/ Bao nhiêu trong đục đổ vào một tôi! “ (Em); “Lời thương/ em gửi cuối nguồn/ Lời yêu/ em gửi cánh chuồn chuồn bay” (Nhà em): “Đường chiều mây nhẹ đường mây/ Đường tình tôi nặng những đày đọa tôi” (Chiều quê);  “Thanh minh tôi viếng mộ tôi’Mai sau biết có ai người ghé thăm?”(Tôi viếng mộ tôi); “Một năm lửa đỏ để dành/ Đủ cho anh đốt cơm canh một ngày!” (Thơ ngày 8.3); “Tháng sáu thương phận cá trôi/ Đồng xa, nước ngập, bồng bơi ngả nào?. Con rô lách ngược mưa rào/ Con ếch nồng nỗng cầu ao đợi mồi/ Tháng sáu, em hẹn thăm tôi/ Ao sâu, nước cả, tôi ngồi câu suông!” (Tháng sáu); “Mặt trời thì ngã đằng tây/ Em thì ngã trọn vòng tay gã khờ/ Khi em ngã ngửa vào mơ/ Là tôi ngã sấp bơ phờ tóc sương” (Ngã) ...
Những câu thơ này, dẫu không đến mức “tuyệt diệu hảo từ”, thì cũng không phải là những câu thơ dễ viết dễ có !... Và như thế, tôi nghĩ,, đủ có một Trịnh Tuyên-nhà thơ!...
 
3.  & lão chăn dê xứ Thanh,
          Năm nào cũng vậy, cứ sau tết nguyên đán, độ cuối tháng hai ta, Trịnh Tuyên lại rủ tôi vô Thanh, còn nhắn là nhớ rủ thêm nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, họa sĩ Lã Minh Kính và nhạc sĩ Phạm Qiamg Hiển. Chẳng là, từ nhiều năm nay, cứ vào độ này khi tiết xuân còn chưa vãn, cánh chúng tôi thường vô xứ Thanh, dổ bộ vào nhà Trịnh Tuyên ở Cẩm Tân, Cẩm Thủy. Nhóm văn bút xứ Thanh tụ hội ở nhà Trịnh Tuyên thường có Phạm Duy Đức, Ngô Xuân Tiếu, Lê Văn Sự, Trọng Nghĩa, Đào Phan Toàn, Cao Nguyên Quyền, và Trương Thị Mầu, Ma Bích từ Bá Thước xuống, cùng vài ba người khác... Đông vui, thân mật, ấm áp tình bạn bầu văn chương.
          Tôi quen và thành thân với Trịnh Tuyên từ mươi năm nay, qua mang xã hội Blog Tiếng Việt mà cư dân ở đây nôm na gọi là Xóm Lá, Lúc ấy, mạng xã hội chưa phổ biến như giờ, nên những ai tham gia Blog Tiếng Việt chí ít cũng phải biết viết lách đôi chút, nếu không phải là cây bút chuyên nghiệp. Nhóm vài chục blogger ở Hà Nội gặp gỡ, giao lưu với nhau vui ;ắm, còn Trịnh Tuyên mãi vùng xa Cẩm Thủy xứ Thanh. Song Trịnh Tuyên nhanh chóng gây ấn tượng với nhóm chúng tôi, bời nhẽ, thứ nhất, các cảm nhận (comment) gây xốc, tưng tửng hoặc chọc ngoáy khó chịu,  thớ nữa, các bài viết của ông, truyện ngắn hay thơ đều khá chững chạc. Phàm dân viết, ngửi văn nhau thấy được là chơi với nhau ngay. Và rồi, những chuyến Trịnh Tuyên ta Hà Nội mỗi dịp Nguyên tiêu, hay những chuyên đổ bộ của chúng tôi vào xứ Thanh kết nối và gắn bó chúng tôi.
          Gặp rồi nên thân mới thấy chơi được với Trịnh Tuyên không dễ chút nào. Ông tuổi Nhâm Thìn (sinh 1952), cầm tình còn rồng, mệnh Thủy-Trường lưu thủy (nươc chảy dài), lại sống bên bờ sông Mã, nên tính cách mạnh, linh hoạt, lấn lướt,... Thiên can Nhâm cỉa tuổi Nhân Thìn, tương hợp với Đinh, mà tôi tuổi Đinh Dậu (1957) nên Trịnh Tuyên với tôi, anh em hiểu nhau, dễ chia sẻ, bổ trợ thành hòa hợp,...Có mầy yếu tố làm nên tính cách con người Trịnh Tuyên, chất nam nhi xứ Thanh điển hình, cộng cái ngất ngưởng của kẻ có chữ, pha trộn thêm sự nhanh nhậy linh hoạt của nghề cảnh sát điều tra, Thường ra, thấu hiểu và dễ cảm thông, song khi cần, sắc lẻm phân minh, nhất bét tời cùng, không ngại va chạm mất lòng, Tôi nhớ, trong một lần vào xứ Thanh, tôi cảm hứng thành thơ, bài thơ Thăm bạn xứ Thanh, mang đọc lúc tiêc vui, có câu thơ “Xứ Thanh bề bộn nước non/ người một khoảnh, đất vuông tròn một khoanh”, mọi người đều không để ý, riêng Trịnh Tuyên nhận ra ngay ý tứ. Ông khoái, khen câu thơ ấy đã khái quát được cả vùng đất và tính cách con người xứ Thanh,
          Cũng có thể kể thêm vài câu chuyện nữa, đặng khắc họa đậm nét tính cách con người Trịnh Tuyên, Trong quan hệ xã hội, Trịnh Tuyên không ưa những gì ông cho là mập mờ. Thế nên, đã tùng xảy ta chuyện, tờ báo này tạp chí nọ sử dụng bài viết của ông tùy tiện, thiếu minh bạch, khiến ông bực mình, lên tiếng phản ứng. Rồi nữa, chuyện ông mời khach đến chơi nhà cùng tiếp bạn văn chương thủ đô, chuyện phiếm lấn sang lĩnh vực điều tra, ông và cậu đàn em từng là thủ trưởng cơ qian điều tra cấp huyện, nổi hứng nghê nghiệp bàn về chuyện phá án, hăng lên tranh luận, mỗi người một lý, chủ khách thành to tiếng khiến tôi và nhà thơ Trần Đăng Khoa phải can ngăn, hạ hỏa đôi bên...
          Trịnh Tuyên là vậy đấy, trực tính, yêu ghét rõ ràng, Ai chơi được với ông dễ thành chí cốt. Hễ cứ nghe Trịnh Tuyên phán về một au đó “Hắn chơi được lắm”  thì tôi không phải ngại, cứ yên tâm mà giao du. Chẳng thế mà, lão chăn dê xứ Thanh quy tụ được nhiều cây bút,  bạn bè yêu văn chương trong vùng, thưởng xuyên gặp gỡ, đông viên, chia sẻ cùng nhau không chỉ văn chương mà cả những vui buồn  cuộc sống...
Mấy năm nay, bạn văn miền tây xứ Thanh của ông cứ vơi dần. mấy người vân du về cõi hạc (Trọng Nghĩa, Phạm Duy Đức, Ma Bích), riêng ông vẫn thủng thẳng sớm trà, chiều tửu, cần mẫn kể chuyện đời,..,
Lão vẫn còn bầy dê thả chăn trên núi kia mà 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 18.09.2021 11:47:54
Nguyễn Huấn, kịch sĩ và nghề báo,...( 1 _
 
Vậy là. Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Huấn đã diễn nốt vai diễn cuối cùng của mình trên sân khấu cuộc đời, ấy là sự ra đi vĩnh viễn của anh.
O tuổi 66, không phải là trẻ nhưng cũng chưa là cao, nếu biết chăm sóc sức khỏe, hoàn toàn có thể thêm mươi, mười lăm nắm nữa, Nghe nói, Nguyễn Huấn đang ;ang thang đâu đó ở Huếm rồi đột ngột ngột bị đột quỵ, đưa về quê Vụ Bản, Nam Định rồi mất vào chiều ngày mồng một tháng chín. Với bạn bè và anh em cơ quan thì là đột ngột, song thực ra, Nguyễn Huấn đã sắp đặt cho sũ ra đi vình viễn của mình từ mấy năm trước, kh anh bỏ nhà lang bạt kỳ hồ,... Sống như thế, nghĩa là anh đã chọn cho mình cách sống những năm còn lại của mình, kể cả cái chết, có điều, ngày giờ sớm muộn thế nào là chuyện thiên cơ huyền bí mà thôi,...
Cách đây khoảng 25 năm, đọ năm 1996, khi mấy chúng tôi làm việc chung phòng với nhau, tôi và Nguyễn Huấn, cùng Phamj Duy Hưng, Trần Nhật Minh. Nguyễn Thị Thu Liên là  phings viên chương trình Tạp chí  truyền thanh & Du ;ịch do nhà báo Thanh  Lịch phụ trách. Gần gũi. hay nghe Nguyễn Huấn kể chuyện đời mình, nhất là các cuộc phiêu lưu tình ái của anh,  tôi đã lấy chuyện tình của anh với một cố gái xứ dùa Bến Tre làm nguyên mẫu cho truyện ngắn “Bức tranh để lại”. Truyện in báo rồi vái sách, mọi người biết lấy ra trêu Nguyễn Huấn, anh vờ trách và còn khoái trí bịa thêm chi tiết cho ly kỳ. Cái kết của truyện ngắn ấy, nhân vật chính nôi máu giang hồ, bỏ việc đi biệt  tăm và nghe đâu bỏ mạng vì tai nạn ở một tỉnh miền Trumg.  Nguyễn Huần cười khì bảo :”Mày rủa tao nhá... cứ đợi đấy, tao sống nhăn răng cho chúng mày hay,...”. Quả là Nguyễn Huấn đã sống thêm một tứ thế kỷ, mặc dù qua mấy cơn bạo bệnh, để nối dài vai diễn cuộc đời mình. Lần này, thì anh diễn cố cho xong!...
Nguyễn Huấn quê Kim Thái, Vụ bản, Nam Định, sinh naw,1956 tuổi Bính Thân. Anh hay vui miệng khie, tuổi Con Khỉ nên theo nghiệp diễn là đúng vai đúng  số. Nghe đâu, sơ sinh, Nguyễn Huấn nặng tới 4,3 kg, là chuyện hiếm hồi ấy. Bố là công an, mẹ là cán bộ phụ nữ, thuộc thành pjaan cơ bản, nhưng anh không theo nghiệp hpcj hành mà sớm trở thành công nhaa, vì bố mất sớm. Nguyễn Huấn làm công nhân ở Khu gang thép Thái Nguyên với nghề chính là láo xe goòng chở than và quảng. Sau này, những cuộc rượy vui, anh hay đùa về thời kỳ ấy, rằng hàng ngày cứ phải cầm lái điều khiển cái đầu tàu  kép dăm toa  xe chờ đầy than, quặng chạy đi chạy lại trên một đoạn đường cố dịnh faii vài ytwm mét, không khác gì phải diên một vai kịch phụ khô cứng và nhạtphèo. Có lẽ vì chán nghề, không cam chịu, Nguyễn Huấn tìm niềm vui trong hoạt động văn nghệ quần chúng. Anh có khiếu kẻ vẽ, cắt giấy, hát hò, diễn kịch nên trờ thành hạt nhân văn nghệ quần chúng ở Khu gang thép Thép Tháo Nguyên.  Và tôi cớ hội đến, Nguyễn Huấn được đơn vị mình cử đi dự tuyển đào tạo ở Trường Sân khấu Điện ảnh trung ương. Được đào tạp chính quy ở ngôi trường danh giá tạo thủ đii, Nguyễn Huấn bắt đầu làm quen và giao di với nhiều nhân vật có tiếng trong giối nghệ thuật biểu diễn ở trung ương, nên khi  tốt nghiệp, anh không muốn quay về chốn cũ, vì như thế, nghĩa là anh chấp nhận vau diễn nhỏ, chẩng biết đến bao giờ mặt mũi mới suit tăm lên được. Nhưng không quay về cơ quan cũ, cũng đòng nghĩa với bỏ vieecjm chấp nhận cuộc sống tự do, tự lo công ăn việc làm, cơm áo gạo tiền, mà thời bao cấp, những việc ấy còn quan trọng hơn cả sự nghiệp. Thế nhung, Nguyễn Huấn vẫn dẵn sàngchấp nhận, để đi tìm vai diễn lớn cho cuộc đời mình.  Ạm bước chân vào ngưởng cửa Nhà hát Tuổi trẻ khi đó có các tên tuổi lớn là Thùy Chi, Phạm Thị Thành, Đức Trung và cùng với lứa diễn viên trẻ đầy tài năng như Lan Hương, Chí Trung, Ngọc Huyền, Minh Hằng, Anh Tú, Lê Khanhv...
Dương như, vận may chưa mìm cười với Nguyễn Huấn khi anh chỉ được giao thỉ các vai phụ, vao quần chúng, thậm chí không  có vai mà chỉ làm casv việc khiêng vác, bưng bê, kê dọn phông cảnh, kéo phông màn,..  Vài năm như thế. Nguyễn Huấn bỏ việc tời Nhà hát Tuổi trẻ, sống dặt dẹo, tá túc nhà bạn bè, người quen, ở Hà Nội,. Quãng thời gian này, Nguyễn Huấn may mắn bám được vào Đài TNBN (VOV) để theo nghiệp diễn bằng cách viết kịch bản, diễn xuất, đạo diễn kịch truyền thanh. Những năm ấy, ngoài các chương trình như Sân khấu truyền thanh, Văn nghệ quân đội sáng chủ nhật, kể chuyện cảnh giác tối thứ bày, thì nhiều chương trình khác của Đài TNVN có chủ trương sân khấu hóa bằng các tiết mục câu chuyện truyền thanh, như Công nghiệp, Nông nghiệp, Thanh niên, Phụ nữ, Đại gia đình các dân tộc  Việt Nam,.. Cứ loanh quanh, đeo đuổi  với ngần ấy, nhuận bút còm nhưng đó là nguồn sống và động lực để Nguyễn Huấn theo nghiệp diễn, vingf bới đó. Nguyễn Huấn còn tham nhập vào nhóm kịch sĩ nghiệp dư công tác ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao gồm Phạm Huỳnh Công, Nguyễn Tùng Lâm, Phạm Xuân Chiến,...lấy chỗ tá túc và niềm vui làm nghề,
Tôi lần đầu biết Nguyễn Huấn vào năm 1988 lại là một kỷ niệm và ấn tượng xấu Tôi lần đầu biết Nguyễn Huấn vào năm 1988 lại là một kỷ niệm và ấn tượng xấu Khi ấy ttooi làm việc ở Phòng Tiếp dân và sử lú đơn thu của Ban Thình giả Đài TNVN do nhà báo Hoàng Đồng phụ trách và nhà văn Đặng Quang Tình làm trưởng ban,Nột  Phòng làm biệc của thuộc dãy nhà cấp 4 trong khu trụ sở 58 Quán Sứ, ngay phóa dưới tòa biệt thự  kiến trúc Pháp, mơi làm việc của Ban Băn nghệ với các phòng Văn học, Sân khấuVăn học thiếu nhi. Một chiều, nghe tiếng ồn ào bên ngoài, rồi tiếng chân người chạy, Tôi và nhà báo Hoàng Đồng ngó ra thì thấy một người to béo,mặt đỏ bự, tay cầm chiếc kéo đuổi theo một người già hơn có mái tóc bạc. Miệng anh chàng to béo lảm nha,r đe ddaanhs người kia. Nhà báo Hoàng Đồng nhận ra người đầu bạc là đạo diễn sân khấu truyền thanh Vũ Hà, bèn xồ ra chặn ngay trước mặt anh chàng béo. Người này khuengj kại, bằn mắt quát nhà báo Hoàng Đông bằng tiếng Nga: Kto? *Mày là ai?. MIệng hỏi tay lăm lăm chiếc kéo nhọn. May sao, vừa lúc ấy, biên taapj viên Hồ Nhật Quang chạy đến ki[j vòng tay ôm ngang ngươi chàng béo, vừa quát  vừa dỗ dành, ngăn được vụ ấu đả có thể đổ máu. Sàu đó, tôi biết được chàng béo say rượu quạy phá gây rồi hôm ấy là Nguyễn Huấn.Bữa đó, Nguyễn Huấn đến Đài lấy nhuận bít, rồi vui miệng rut Bũ hà và Hồ Nhật Quang đi nhậu. Quá chén rủ nhau về cơ quan, chuyện nọ dọ chuyên kia thành cãi nhau và thế là xảy ra xô xát. Cái tật say rượu hoặc mượn rượu để quậy ăn vào máu thịt Nguyễn Huần thành tính, mà sau này tôi hay phải chứng kiếm, thậm chí là nạn nhân của Nguyễn Huấn khi về chung phòng lam việc với nhau. Được cái, Nguyễn Huấn là người phũ thiện, khi tỉnh rượu, tĩnh tró, biết xin lỗi bạn bè nên mọi chuyện cũng qua.
Lân la rồi chầng hiểu sao, Nguyễn Huấn xin được vào hpjc việc ở một phòng phát thanh mới thành lập là Nhà nước và Pháp luật di nhà báo Lê Thông phụ trách, cùng với mấy phóng viên mới là Đàm Hoa và Nguyễn Sĩ Lý. Nhà báo Lê Thông bản tính thân thiện, ôn hòa và bao dung nên ông dung nạp được con ngựa bất kham Nguyễn Huấn mà không để xảy ra chuyện gì đáng tiếng cả. Khi ấy, Đài dã bắt đầu tổ chức tuyển dụng theo hình thức thi tuyển và Nguyễn Huấn đã vượt qua được kỳ thi để trở thành phóng viên chính thức của nhà đài. Dau này, Nguyễn Huấn vui miệng kể, thực ra anh còn nợ miin ngoại ngữ (đăng ký thi tiếng Nga) nhưng không đạt điểm tuyển. Nhà báo Trần Quang Khải khi đó là Trưởng ban Ban Tổ chức cán bộ của Đài bảo, vì tiếc chất giọng vàng của Nguyễn Huấn mà chọ nợ ngoại ngữ. Quả là, vào Đài, Nguyễn Huấn đã phát huy được chất giong tốt trời phú và khả năng diễn xuất của mình cho làn sóng của Đàim không những thế đây còn là chiếc cần câu cơm khi anh làm thêm, diễn thuê, đọc quảng cáo thuê. Nguyễn Huấn vào Đài nọe môn tiếng Nga là thế, nhưng đã có kần, tôi chưng kiến, trong một chuyến công tấc, khi cần giao lưu với cơ sở, anh ngà ngà say, đã ông ghi ta hát bài Đôi Bờ vằng riếng Nga khá chuẩn xác, hay và đầt cảm xúc. Anh có khả năng bắt chước của một kịch sĩ và nhở khả năng này Nguyễn Huấn hóa giải nhiều chuyện không hat do anh gây nên để thoát hiểm. Tiiu và nhiều bạn bè đều biết vậy, bực đấy nhưng khó giận lâu được. THực ra, ẩn trong khả năng sự diễn của một kịch sĩ, là sự phục thiện của Nguyễn Huấn. Thời còn ở chung phong với Nguyễn Huấn, cuingf Phạm Duy Hưng và Trần Nhật Minh, mỗi khi tháy Nguyễn Huấn giả là nói cười cầu tài sau khi anh gây chuyện, mấy chúng tôi lại nháy mắt nhau hàm ý “lại diễn đấy”, tồi thì bỏ qua chi nhau cả.
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 04.10.2021 09:47:08
Tổ ấm bồ câu
Truyện ngắn
 
           Chín giờ sáng, Chiêm nhìn lên mặt chiếc đồng hồ quả lắc làm theo lối cổ sang trọng. lẩm bẩm trong miệng. Hôm nay là ngày chủ nhật. Đối với Chiêm thì ngày nào cũng vậy, cô chẳng phải làm gì cả. Sở dĩ cô vẫn nhận ra ngày chủ nhật chỉ bởi vẻ tĩnh lặng khác thường của các gia đình hàng xóm. Họ không phải dậy sớm tất bật như mọi ngày. Ngôi biệt thự của gia đình Chiêm lọt vào giữa một xóm thơ nằm rìa cảng. Trái với khung cảnh của xóm lao động luôn ồn ào, sôi động, ngôi biệt thự nhà Chiêm luôn tĩnh lặng, trừ những ngày Trịnh, chồng của Chiêm, ở nhà không phải theo tàu, còn đâu, ngôi biệt thự chỉ thấp thoáng bóng Chiêm và bà người ở già đi lại. Chiêm ăn xong bát phở tái do bà người ở ra phố mua về cho, cô ngả lưng trên xa lông uống nước, xỉa răng. Chán rồi cô uể oải đứng lên, đến bên tấm lịch lốc cẩn thận bóc từng tờ một và nhẩm tính. Thế là Trịnh theo tàu viễn dương đã được đúng một tháng bảy ngày. Chiêm bần thần, thở dài đi ra hiên. Cô nhìn lên chuồng chim bồ câu đặt trên cao ở góc vườn, con chim mái đậu một mình trên nóc chuồng, ủ rũ.Thương nó quá, Chiêm thầm nghĩ. Trịnh ra khơi được chừng nửa tháng thì con chim trống bị bệnh làm sao đó, nó không ăn mà chỉ uống nước mấy ngày liền rồi chết. Từ khi con chim trống chết đi, con chim mái luôn ủ rũ như thế. Nó như người mất hồn, thirng thoảng mới mổ đôi ba hạt đậu xanh như thể cầm hơi thôi. Chiêm từng nghe bố Chiêm giảng giải là bồ câu sống với nhau tình nghĩa lắm, nhiều khi còn hơn con người sống với nhau. Chiêm cất tiếng gọi: “U ơi, cho bồ câu ăn chưa? U ơi… Quái, lại đi đâu rồi? Chắc là đi chợ!”. Chiêm quay vào nhà, bật ti vi, rồi ngả người xuống xa lông. Màn hình hiện lên lố nhố đám ca sĩ ngoại quốc ăn vận hở hang, nhảy nhót và tiếng nhạc, tiếng gào thét om xòm. Chiêm chẳng thích gì những thứ đó nhưng cô cần có nó, sự hiện diện của những cái mà cô mờ tịt chẳng hiểu gì và còn cho là nhố nhăng nữa, để phá vỡ sự tĩnh lặng đến ngạt thở của ngôi nhà. Cô nhìn vào mặt ti vi song chẳng thấy gì ở đó bởi đầu óc cô để ở tận đẩu tận đâu… Thế là Chiêm trở thành bà chủ của căn biệt thự sang trọng này được hơn một năm rồi đấy, kể tự khi Trịnh cưới cô làm vợ. Hai người ở cùng một xã nhưng khác thôn. Trịnh hơn Chiêm đến chục tuổi và là bạn học cấp hai với người anh cả của cô. Hai người gặp nhau tình cờ tại một đám cưới của em họ Trịnh với đứa bạn cùng làng Chiêm. Trong đám cưới thì thường người ta chỉ chú ý đến cô dâu, chú rể bởi họ là nhân vật chính của buổi lễ. Nhưng ở đám cưới đó, cô dâu chú rể bị lép đi, bởi đám con trai chỉ chú ý đến sắc đẹp ẩn chứa nỗi buồn trên khuôn mặt Chiêm, còn cánh con gái lại bị vẻ sang trọng, lịch thiệp kiểu trí thức thành phố của Trịnh thu hút. Hôm ấy, Trịnh luôn để mắt đến cô, còn bản thân Chiêm, cô có loáng thoáng thấy Trịnh song cô không hẳn để ý đến anh ta lắm, bởi trong lòng cô còn chưa vơi nỗi đau mất người yêu. Trước đó hơn nửa năm, Khôi – người yêu của cô ở cùng làng bị cảm nhập tâm đột ngột mất. Nhà Khôi nghèo khó ở trong làng, bởi mẹ Khôi ốm đau bệnh tật liên miên còm chị gái Khôi tâm thần nên cũng chẳng làm lụng gì. Học hết cấp hai cùng với Chiêm, Khôi ở nhà làm ruộng cùng với mẹ và chị, còn Chiêm học hết cấp ba. Hai người để ý nhau đã lâu, những tưởng không thể bên nhau được nếu Chiêm thi được vào đại học hay trung học chuyên nghiệp. Song Chiêm học cũng chẳng giỏi gì cho lắm nên cô trượt, ở nhà làm ruộng. Hai đứa chính thức yêu nhau, nhưng gia đình Chiêm tỏ vẻ không đồng ý. Chiêm còn chưa ra ngô ra khoai làm sao thì Khôi chết đột ngột. Chết do ham làm. Hôm ấy là trưa tháng sáu, Khôi vừa cày về dọc đường, người còn mồ hôi mồ kê nhễ nhại thì bắt gặp úi cá ở trong ống xi phông, Khôi liền lao ngay xuống, lặn ngụp bắt cá, bị cảm bò lên bờ mương thì gục hẳn, người làm đồng đưa về đến nhà chưa kịp cấp cứu đã chết. Sau trận đấy, Chiêm ngỡ mình quỵ luôn nhưng sức khỏe làm cô chóng hồi phục và dần nguôi ngoai. Và Chiêm trở thành vợ Trịnh như một tất yếu của duyên phận.Trịnh học đại học hàng hải và trở thành thợ máy tàu, rồi lên chức máy trưởng. Con tàu của Trịnh mang tên Cánh chim xanh một năm đi vài ba chuyến, chuyến ngắn nhất cũng phải hơn tháng, còn bình thường từ ba đến bốn tháng. Trịnh theo tàu, làm ăn có tiền, mua đất ở mấy gia đình ở xóm lao động này rồi xây biệt thự. Xong xuôi hết mọi việc mới tính chuyện cưới vợ. Khi đồng ý lấy Trịnh, người làng bảo Chiêm là “chuột sa chĩnh gạo”. Thực tình, Chiêm cũng chẳng hám đống của nhà Trịnh, song cô nghĩ, người mình yêu thì không còn nữa, chờ yêu lại thì chẳng biết đến bao giờ, còn lấy người không yêu thì Trịnh còn gấp mấy đám trai làng lam lũ, tẻ nhạt. Sau ngày cưới một tuần ở quê, Trịnh đưa Chiêm về ngôi biệt thự này và khi đó Trịnh cho tổ chức lễ thành hôn lần nữa, mời toàn anh em bạn bè ở cảng và những người cùng tàu. Lễ cưới lại cực kì xa hoa. Ở nhà được một tháng, Trịnh lại phải theo tàu đi xa và trước khi đi, Trịnh về quê bên ngoại đón một bà già cỡ năm chục tuổi lên, nói là em họ mẹ mình, đến ở cùng với Chiêm cho vui và giúp việc nhà được nhận lương hàng tháng. Bà Lúa cũng gọi Trịnh là cháu, xưng dì. Còn Chiêm thì gọi bà Lúa là u, xưng con cho thân mật. Bà Lúa người xương xương, xởi lởi và cũng có vẻ hiền lành, và theo lời bà thì bà chưa một lần lấy chồng. Chiêm tuy có cảm tình với bà Lúa nhưng cô vẫn hỏi kháy Trịnh: “Anh hay đi vắng nên đưa dì mình về đây để giữ gian em đấy à?”. Trịnh vội phân bua: “Không, không… Em hiểu lầm anh rồi. Có dì Lúa, em có người đỡ đần, lại có người để chuyện trò đỡ buồn. Mới lại, nhà mình có của, em ở nhà một mình, kẻ gian lọt vào thì sao. Có thêm dì Lúa, dẫu gì cũng còn có người này người kia, bớt sợ hơn”. Cô thấy chồng nói mãi thì bảo: “Là em nói đùa vậy thôi, chứ em cảm thấy hợp và quý dì Lúa lắm”… Chiêm đang mơ màng thì có tiếng bước chân người và giọng bà Lúa vang lên: “Con ạ, con chim mái nó chẳng chịu ăn gì cả. Kiểu này thì cũng đến chết mất thôi… Thật nó cũng như con người ta, cứ vò võ một mình mãi thì làm gì mà chẳng héo hon”. Chiêm chạm tự ái gắt: “U thì chỉ được cái…”. Bà Lúa biết mình nhỡ lời: “Là tao nói cái thân tao ấy… Thôi để hôm nào tao đi chợ, xem có con chim trống nào mua về ghép đôi cho nó… Nhưng mà ghép người thì dễ chứ ghép bồ câu là khó lắm đấy”. Chiêm bâng quơ: “Con cũng thấy người ta bảo thế”…
*       *      *
Rồi bà Lúa cũng mua được một con chim trống. Con chim này màu nâu chứ không trắng như con chim mái, và trông nó có vẻ ngờ nghệch chậm chạp làm sao. Nhìn con chim, Chiêm không mấy cảm tình, bảo: “Sao u không mua con trắng mà lại mua con này?”. Bà Luá chửi yêu: “Cha bố cô, lấy đâu ra mà mua, bán chim bồ câu người ta bán cả đôi. May mà có một ông cụ bán con chim trống này, ông cụ bảo là con chim mái của nhà ông cụ chết, đành phải mang con trống đi bán cho người ta thịt. May mà nhà mình lại mất con trống chứ không thì cậu chàng này có mà chui vào nồi cháo”. Nghe bà Lúa phân giải, Chiêm cười. Bà Lúa nhốt hai con vào chuồng rồi chốt cửa chặt lại và giải thích cho Chiêm: “Phải nhốt thế này mấy ngày liền để anh chị chàng làm quen với nhau đã, rồi mới thả để anh chị đưa nhau đi kiếm mồi và trình diện làng xóm”. Chiêm thấy vui vui, ôm cổ bà Lúa: “U thạo ghê”. Rồi Chiêm cảm thấy trong lòng trào dâng niềm hứng khởi và cô lôi bà Lúa vào nhà, ăn ngồi xuống bên cô và líu ríu: “U biết không, anh Trịnh con hay đi xa, nên trước khi u đến ở với chúng con, anh ấy mua về đôi bồ câu trắng này và bảo là đôi bồ câu con thêu trên gối cưới được phù phép biến thành thật. Rồi nhà con lại nói là, bồ câu yêu nhau thắm thiết lắm, nên khi nhà con đi xa, ở nhà con cứ nhìn vào đôi bồ câu mà tưởng tượng là hai đứa chúng con vẫn đang ở bên nhau; rằng con ở nhà chung thủy chờ nhà con, và anh ấy ở nơi xa cũng chung tình và giữ gìn vì con”. Chiêm ngả đầu vào vai bà Lúa mơ màng. Bà Lúa vuốt tóc Chiêm và bảo: “Chiêm ơi, con nói hay cứ như hát ý. Dì mừng cho chúng mày”. Chiêm đỏ mặt chối: “Con có biết gì đâu, con là con bé nhà quê chưa được đi xa nhà, là con chỉ nói theo lời anh Trịnh con đấy thôi”. Bà Lúa vỗ về: “Ừ mà thằng Trịnh cũng giỏi”…Đêm ấy Chiêm mơ thầy chồng về và Trịnh âu yếm, tình tự với cô. Sáng hôm sau Chiêm dậy sớm và thấy sảng khoái lắm. Bà Lúa trêu: “Đêm qua con mơ thấy gì mà cười rúc rich mãi thế?”. Chiêm đỏ bừng mặt. Bà Lúa cười: “Tao biết rồi!...”.Thời gian sau, hai con chim quen nhau, nhưng để ý, Chiêm thấy con chim mái có vẻ gì gượng ép và nó không hề quấn quýt với con trống nâu. Còn con trống thì vẫn ngơ ngơ thế nào ấy. Một hôm, cho chim ăn, Chiêm phát hiện là hình như một bên mắt của con trống bị kém hay bị hỏng gì đó, còn một ngón chân nó lại bị cụt mất phần móng. Cô nghĩ: “Thảo nào, nàng mái chê ỏng eo nên không muốn gần gũi”. Chiêm tiếp tục quan sát đôi chim ngày ngày và cô phát hiện ra thêm là tuy chúng đi kiếm ăn cùng nhau nhưng bao giờ con mái cũng bay đi trước một lát  rồi con trống mới bay theo và khi về cũng vậy. Con mái cứ hễ về chuồng là chui tọt vào trong, còn con trống thì đậu ở cửa như ngần ngại một lát rồi mới chui vào.Rồi một lần, Chiêm thấy con trống bay đi một mình, cô bèn bắc ghế lên xem thì thấy con mái đang nằm ổ, cô nghĩ, thì ra là cô nàng sắp đẻ trứng. Cô vào nhà, lén nhìn qua cửa sổ chờ khi nào con mái bay ra thì sẽ leo lên xem quả trứng bồ câu nó thế nào. Nhưng cô chờ một lát thì cô chợt thấy một con chim lạ màu trắng từ phía nhà bên bay xoẹt sang đậu ngoài cửa rồi chui nhanh vào trong chuồng. Cô ngạc nhiên lắm nhưng không đuổi mà nhón chân ra ngoài, lắng nghe. Đúng là có tiếng chim gù nhau, rồi một lát con trắng lại chui ra, sau ít phút dùng dằng ở cửa nó bay sang nhà bên và biết mất, nhanh như lúc nó đến. Trông cái dáng to to của nó, Chiêm hiểu đây là bồ câu trống. Con chim mái nhà cô chui ra khỏi chuồng, đứng bên ngoài chờ đón gì đó, và chút sau con chim trống nâu bay về, miệng nó ngậm một cọng cỏ khô. Con mái có vẻ líu ríu khác ngày thường, và hai con chui vào bên trong. Chứng kiến toàn bộ cảnh ấy, tự nhiên Chiêm thấy nao người như phải cảm và cô bỏ vào nhà nằm. Khi bà Lúa đi chợ về, thấy cô nằm im tưởng cô ngủ, rồi không thấy cô động tĩnh lại ngỡ cô ốm bèn đến bên lay gọi, sờ trán. Nhưng không người Chiêm vẫn mát và mắt cô thì mở to nhìn đăm đăm lên trần nhà. Bà Lúa bảo: “Gớm, con nghĩ gì mà im lặng thế làm dì sợ hết hồn tưởng con làm sao. Mày nhớ thằng Trịnh phải không? Ừ nó đi cũng dễ đến ba tháng rồi nhỉ? Chắc là cũng sắp về thôi…Cứ biền biệt như vợ chồng ngâu thế này. Nó khổ mà mày cũng chẳng sung sướng gì con ạ!”.Chiều hôm ấy, Chiêm tắm sớm hơn mọi ngày. Khi còn con gái sống ở quê, cô quen tắm nước giếng khơi, hoặc tắm sông những đêm hè có trăng, nhưng từ ngày lấy chồng, cô toàn tắm nước ấm trong bồn có pha thêm hương liệu đặc biệt do Trịnh mua về từ nước ngoài. Chiêm nhanh chóng thích nghi với lối sống mới và tỏ ra thích thú, rồi có coi việc tắm như một lạc thú. Nằm khỏa thân trong bồn, đèn sáng choang và bốn mặt toàn là gương, Chiêm có thể ngắm thân mình từ mọi phía. Cô kỳ cọ và mân mê từng bộ phận trên cơ thể mình. Bàn chân cô hơi to, và đôi tay cũng thô vì lao động từ nhỏ, nhưng bù lại gương mặt cô xinh, dáng người cô đẹp, các đường cong uốn lượn rất gợi cảm. Nước da cô không trắng bóc mà hơi ngà. Hôm hai người mới đưa nhau về ngôi biệt thự này, đêm ấy Trịnh để đèn trong phòng sáng, cô thì sợ rúm và bắt Trịnh phải tắt đèn nhưng chồng cô kiên quyết không, bảo là một tuần tân hôn ở quê tối tăm rấm rúi, mọi rợ lắm, để sáng thế này mới thấy được thân thể nhau. Cô nằng nặc: “Nhưng mà da em đen lắm”. Chồng cô bảo: “Anh thích da em thế này, cứ như ngà voi tạc ấy. Con gái vùng Nam Thái Bình Dương cũng có nước da như vậy”. Đúng là chồng cô đã nói thế, ngày ấy cô còn non dại chưa biết gì chứ như bây giờ thì Trịnh chết với cô. Chiêm mơ màng, thiêm thiếp trong bồn tắm. Cô nghĩ về đôi bồ câu của nhà cô. Ồ.. ai cũng bảo là bồ câu là giống chung tình nhưng nay xem ra không hẳn thế. Phải, cô đã phát hiện ra mặt trái của điều đó. Mình phải theo dõi tiếp xem sao! Mà không biết khi nào Trịnh về, cô có nên kể chuyện này cho Trịnh không nhỉ?...  Chiêm bừng tỉnh nhỏm người khỏi bồn tắm vì tiếng đập cửa rầm rầm của bà Lúa. Cô đằng hắng mà miễn cưỡng rời bồn tắm, lau người, trước khi mặc quần áo, cô còn nấn ná ngắm thêm thân thể mình trong gương một lần nữa. Cô bước ra khỏi bồn tắm, rồi sang phòng ăn. Mâm cơm tươm tất đã bày sẵn, bà Lúa lại chửi yêu: “Cha cô, hôm nay cô làm sao mà từ sáng đến giờ mấy lần làm cho u hết cả hồn?”. Chiêm cười: “Hay lắm u ạ. Hôm nay con phát hiện ra một điều lạ lắm. Để rồi hôm nào con sẽ kể u nghe… Có thể u không tin, nhưng sự việc sờ sờ ra đấy, u có thể tự mắt mình chứng kiến”. Bà Lúa lên giọng: “Này… con làm sao đấy hả Chiêm? Mày học ai cái lối nói ỡm ờ thế… Mà này, con gái xinh đẹp như mày là phải cẩn thận, chớ có lớ xớ gì mà chết đấy nghe con”. Chiêm thấy vui vui trong lòng và cô đùa: “Này, u giữ gian cho cháu u đấy à?”. Hai dì cháu cùng cười rồi ăn cơm. Những ngày sau, Chiêm tiếp tục theo dõi động tĩnh của lũ bồ câu. Cô cảm thấy mình bớt chán, không những thế mà còn thích thú nữa là đằng khác. Hệt như các nhân vật trong mấy cuốn tiểu thuyết chữ to nửa tình ái nửa trinh thám mà chồng cô lôi về cho cô xem giải buồn, cô thấy như mình đang dấn thân vào một cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm. Việc này khác hẳn với công việc đồng áng cô vẫn làm ở quê trước đây nên cô càng thích thú hơn, trước hết bởi nó lạ lẫm, sau nữa, cô cảm nhận rằng mình đang khám phá chính bản thân mình. Chiêm chuyển từ ngạc nhiên sang say mê sự đột phá trong suy nghĩ của mình… Bà Lúa cũng nhận ra điều ấy ít nhiều song bà không sao diễn tả được, chỉ bảo Chiêm: “Dì thấy con dạo này vui vẻ, hoạt bát lên nhiều chứ không sầu não như hồi thằng Trịnh mới đi, dì mừng cho con, nhưng mà dì cũng lại lo lo thế nào ấy… Lo vì cái gì thì chịu”. Chiêm ôm ghì lấy người bà Lúa, cười bảo: “U ơi, lo con bò trắng răng”.Hằng ngày, con chim trống nâu vẫn đi kiếm ăn một mình, thi thoảng con mái mới đi cùng. Và mỗi khi con trống nâu bay đi thì một lát sau con chim trống trắng lạ đến ngay. Chiêm nghĩ, hẳn là chàng trống trắng phải rình ở đâu đó, để khi con trống nâu bay đi là tranh thủ đến ngay. Sau nhiều lần như vậy, Chiêm lén xem trong ổ song không thấy quả trứng nào. Thì ra là nàng ta chỉ vờ rạo rực tìm ổ đẻ nhõng nhẽo và lừa cho chàng trống nâu đi kiếm ăn một mình, ở lại chuồng chờ chàng trống trắng. Rồi một lần, sau một lúc lâu gù nhau ở trong chuồng, con trống trắng vừa mới thò ra cửa thì Chiêm thấy con mái cũng chui ngay ra theo, nó xu lông cổ, mổ lia lia vào đầu vào cánh con trống trắng khiến con này loạng choạng và không hiểu sao. Vừa ngay lúc đó, con trống nâu từ đâu bay về, miệng đang ngậm một cọng rác, nó liền nhả ra, xông vào trợ giúp con mái. Con chim trống trắng hình như đã hiểu ra, nó cũng xù lông gân cổ giữ thế rồi lùi dần và bay đi. Nàng mái rụi rụi đầu mỏ vào cổ vào âu cánh chàng trống nâu tỏ vẻ oan ức, giận hờn lắm. Và từ ngày ghép đôi với nhau, đây là lần đầu tiên, Chiêm thấy con trống nâu âu yếm con mái ngay trước cửa chuồng… Bẵng đi hàng tuần, tuy con trống nâu vẫn đi kiếm ăn một mình song không thấy con trống trắng đến nữa!...Rồi một hôm, trời có dông, sáng hôm sau, Chiêm dậy sớm ra ngoài sảnh, cô nhận thấy chuồng chim bồ câu bị gió xô đứt dây cột lệch hẳn sang một bên trên giá đỡ. Cô gọi bà Lúa ra xem. Bà Lúa bảo: “Dì cháu mình không làm gì được đâu, để dì nhờ cậu Chiến bên hàng xóm sang giúp cho”. Chiều hôm đó, khi Chiêm vừa ngủ dậy thì bà Lúa đưa vào nhà một thanh niên. Trông dáng vẻ bên ngoài thì có vẻ già dặn, nhưng nhìn kĩ thì Chiêm nhận thấy anh ta cũng chỉ chạc tuổi cô, cùng lắm là hơn cô vài tuổi. Chiêm mời Chiến vào nhà uống nước, nhưng Chiến bảo: “Để tôi làm trước đã. Xong xuôi rồi uống cũng chưa muộn”. Chiến nói rồi thọc tay vào túi lôi ra chiếc kìm, mở cuộn dây thép mang theo, bắc thang leo lên giá đỡ sửa chuồng chim. Thấy động, đôi bồ câu rủ nhau bay lên nóc biệt thự. Chiêm và bà Lúa lúi húi với nhau trong nhà chuẩn bị ít bánh ngọt và đồ uống. Bà Lúa vừa làm vừa nói chuyện: “Cậu Chiến này khá lắm đấy. Con trai có chí thì nên. Nhà cậu ấy nghèo. Học hết cấp ba rồi ở nhà đi làm. Mà có xin được vào đâu đâu. Cậu ấy đạp xích lô và nghe nói vẫn theo học đại học gì đấy. Gía mà… dì có được một đứa con trai như cậu ta nhỉ?”. Chiêm vô tư: “U khôn thế, không chịu lấy chồng, không phải làm dâu, mang nặng đẻ đau cũng không nốt, thế thì u lấy đâu ra con cơ chứ”. Bà Lúa hơi sững người: “Con rủa dì đấy hả Chiêm?... Nào đâu dì có muốn thế! Số phận nó vậy đành phải chịu…” – bà Lúa thở dài, Chiêm nhận thấy mình hơi ác, bèn nịnh: “U ơi, là con nhỡ lời chứ con đâu rủa u… Vợ chồng chúng con là con của u chứ đâu!... A này… hay u nhận cái anh Chiến này làm con nuôi. Đúng đấy u ạ”. Bà Lúa vui lại: “Cái con bé này hay nhỉ… Người ta có cha mẹ hẳn hoi, việc gì phải làm con nuôi ai, mới lại mình có nuôi nó ngày nào đâu…”. Chiêm hồn nhiên: “Thì con thấy u cứ ước ao mới nghĩ ra thế”… Chiến xong việc vào nhà cắt ngang câu chuyện của hai dì cháu. Chiêm mời: “Anh Chiến uống gì? Cam, chanh, Cooca hay bia?”. Chiến cười mạnh bạo: “Nếu có thể, cho tôi xin li bia”. Chiêm rót bia và lấy thuốc lá Malboro của chồng ra mời khách. Ngồi đối diện nhau, nhìn kỹ, Chiêm thấy Chiến rất ưa nhìn, dáng khỏe mạnh, da bánh mật, tóc xoăn tự nhiên, mắt hơi nâu, cằm chẻ… Còn Chiến, hình như chàng ta cũng bị hút mắt vào bờ vai để trần trong chiếc váy mặc ở nhà màu vành nhạt điểm những bông hoa lựu đỏ. Chiêm lấy thế chủ nhà hỏi han: “Nghe dì Lúa tôi khen anh Chiến giỏi lắm!”. Chiến cười: “Bà cụ quý mà khen đấy thôi, chứ tôi con nhà công nhân, bản thân đạp xích lô…”. “Hình như anh đang theo học đại học thì phải” – Chiêm ướm lời. Chiến cười to: “Chị suốt ngày ru rú ở nhà mà chẳng có chuyện gì không biết. Chắc là nhờ tai mắt bà cụ Lúa. Vẩng, tôi có theo học hệ đóng tiền nhưng mà vất vả lắm, chẳng hiểu rồi có nên cơm cháo gì không!”. Chiêm cười buồn: “Thì tôi cũng mới hết phổ thông”. Chiến bảo: “Chị cần gì phải học. Nhà có anh Trịnh giỏi giang là khá đủ rồi!... Chị Chiêm này, hình như chị không muốn ra ngoài thì phải, hàng xóm với nhau hơn năm nay rồi mà…”. Chiêm hiểu Chiến trách khéo mình không quan tâm đến hàng xóm, cô cười: “Thì anh cũng mới đến nhà tôi lần này là lần đầu đấy thôi”. Chiến chống chế: “Tôi lại khác… anh ấy thường xuyên vắng nhà, tôi sang không tiện… Nhưng sau lần này, nếu được anh chị và bà cụ đây cho phép thì tôi sẽ năng hơn. Hàng xóm láng giềng, tắt lửa tối đèn có nhau, nhà ta đây có việc gì cần đến cánh đàn ông đàng ang chúng tôi mà cho gọi, giúp được là tôi giúp ngay. Xin bà và chị đừng ngại!”. Chiêm chuyển hướng: “Nhà anh có nuôi chim bồ câu không?”. Chiến bảo: “Có. Tôi thích lắm. Đôi chim trước nhà tôi già cỗi, tôi thay bằng đôi con của chúng, nhưng gần đây không may, con chim mái bị bọn trẻ con nghịch bắn sung cao su làm gãy một bên chân, nay đã khỏi nhưng sinh tật, con chim trống dạo này cứ bỏ đi đâu ấy… Thôi tôi về”…Bà Lúa và Chiêm tiễn Chiến về, lúc đi ngang qua chuồng bồ câu, Chiêm lén để ý thì không thấy con trống nâu đâu, chỉ mình con mái cứ thập thò ở cửa, và hình như bên trong có tiếng chim gù. Chiêm nghĩ bụng, thì ra con chim trống màu trắng  này là của nhà anh ta. Lúc ở cổng, nhân lúc bà Lúa đứng ở xa, Chiến nói nhỏ: “Khi nào anh ấy về, chị cho tôi gửi lời thăm anh ấy”. Chiêm bảo: “Vâng, tôi sẽ chuyển… nhưng không biết khi nào anh ấy mới về, sợ để lâu quá lại quên mất”. Chiến cười: “Tôi nghĩ là chị sẽ không quên”.Chiều hôm ấy, Chiêm vào buồng tắm sớm hơn mọi ngày… Buổi tối, Trịnh gọi điện về từ nước ngoài báo rằng máy tàu của anh bị hỏng hóc gì đó, đang phải nhờ phía cảng bạn chữa giúp, Trịnh sẽ về muộn hơn lịch trình ít nhất là nửa tháng. Bà Lúa buồn bảo: “Khổ cho người chờ đợi!”. Chiêm khuấy động: “U ơi, con quen rồi. Nhà con cứ quanh năm suốt tháng như vậy, nếu cứ đợi chờ sầu não thì có mà chết non!”. Bà Lúa bảo: “Ừ, mà cũng phải thế… Mà này, dì thấy hai đứa chúng mày đều khỏe mạnh, cưới nhau hơn năm rồi mà chẳng thấy gì. Hay là chúng mày kế hoạch? Trời ơi, kế hoạch làm gì, đẻ ra một đứa, trai hay gái cũng vui bao nhiêu. Lúc ấy con sẽ bận bịu, không còn thời gian đâu mà đi ra đi vào đâu”. Chiêm khẽ cười: “Con cũng nghĩ thế!... U ơi, tối nay u ngủ chung với con nhé”. Khi hai dì cháu đã yên vị, Chiêm thủ thỉ: “Con muốn có con lắm nhưng mà anh Trịnh bảo con hãy khoan, để vài năm nữa. Anh ấy hay phải theo tàu, đẻ rồi con ở nhà xoay xở làm sao. Có bao nhiêu tiền anh ấy đổ vào xây nhà và mua tiện nghi gia đình hết rồi. Anh ấy bảo đi biển thêm vài năm nữa kiếm thêm chút tiền để dành, lúc đó xin thôi, lên bờ làm và ở nhà phục vụ vợ sinh con… con đành phải nghe theo”. Bà Lúa bảo: “Này con, thằng Trịnh là cháu tao thật, nhưng chỗ đàn bà con gái với nhau, dì dặn cháu là cứ phải cẩn thận, đàn ông nó như cái nơm ấy, bạ chỗ nào có cá nó cũng úp, vợ chồng ăn nằm với nhau là phải giữ gìn, kẻo thằng Trịnh nó rước cái bệnh gì chết người về nhà là khốn. Dân tàu bè là không thể tin được, con ạ”. Chiêm cười: “Con cũng dặn nhà con kỹ thế… Còn chuyện ấy… u đừng lo, nhà con toàn dùng OK”. Bà Lúa ngạc nhiên: “Cái gì?”. Chiêm cười to: “Thôi u ngủ đi, con có nói chắc u cũng không hiểu được… Con buồn ngủ lắm rồi”.XXXNgày chủ nhật sau đó, bà Lúa bảo với Chiêm là bà đi thăm một người làng sống ở thành phố này đến tối mới về. Buổi sáng, bà dậy sớm, đi chợ mua sẵn thức ăn về cho Chiêm. Buổi trưa, Chiêm ăn qua loa và ngả lưng ngủ. Chợt Chiêm nghe tiếng chuông, cô vội ra mở cổng tưởng Trịnh về, thì ra là Chiến. Chiến rào đón: “Bấm chuông lúc này có phiền chị và bà cụ không nhỉ?”. Chiêm cười, mở rộng cửa: “Mời anh vào! Không có gì phiền đâu. Hôm nay bà Lúa đi thăm người nhà trong phố đến tối mới về, tôi ở nhà một mình đang buồn, may có anh sang nói chuyện”. Khi đã yên vị ở phòng khách. Chiến lôi trong người ra mấy chiếc băng cát sét bảo: “Hôm nay tôi qua để xem cái chuồng chim có bị xộc xệch gì không thì sửa lại, nhân tiện mang cho chị mượn mấy cái băng học tiếng Anh theo giáo trình mới, hôm nọ để ý tôi thấy cái băng tiếng Anh bên chị đã cũ rồi”. Chiêm vui: “Anh Chiến chu đáo quá. Tôi có học tiếng Anh đâu, ở nhà nội trợ cần gì tiếng Anh tiếng em… Là nhà tôi ôn lại đó”. Chiến bảo: “Thế ạ, thật vô duyên cho tôi…Để tôi mang về vậy”. Chiêm gàn: “Ấy đừng, anh để đây cho nhà tôi mượn, chắc anh ấy mừng lắm”. Và rồi câu chuyện hai người bắt đầu, không biết bao giờ dứt. Hết chuyện nọ xọ chuyện kia. Chiêm mang cả chuyện làng nước ở nhà ra kể. Chiến bảo: “Ở quê vui nhỉ! Nhà tôi mấy đời ở thành phố này, không có quê. Bao giờ được theo chị Chiêm về quê chơi đây?”. Cô sung sướng: “Ừ nhé… Thế mà anh Trịnh nhà tôi chẳng thích về quê. Mấy lần tôi bảo về thăm cụ, anh ấy cứ kêu bận, tôi toàn phải đi một mình”. Chiến reo: “Vậy thì tôi sẽ làm hộ vệ cho chị về quê”…Mải vui, Chiến uống luôn miệng, hết bay ba hộp bia. Hình như chàng ta ngà ngà! Chiêm bảo: “Tôi thấy bức quá. Anh Chiến cứ ngồi đây uống bia, tôi đi lau người một lát”. Cô nói và đứng ngay dậy, nhưng không hiểu sao cô dẫm trượt guốc, ngã chúi người xuống, Chiến vội vùng ngay dậy đỡ lấy. Và thế rôi, Chiến ôm ghì lấy người cô, lắp bắp vừa nói gì đó, vừa hôn vào miệng, vào đôi bờ vai trần của cô. Chiêm lịm đi trong cánh tay Chiến, nhưng khi bàn tay Chiếng lần tìm trên chiếc váy của cô thì ý thức tự vệ của người đàn bà có chồng trỗi dậy trong cô và cô dùng sức đẩy Chiến, vùng người khỏi vòng ôm của anh ta. Chiến ngã ngồi xuống sa lông, mặt đỏ rự, miệng há ra không thành lời. Chiêm hổn hển: “Anh về đi, kẻo tôi kêu lên bây giờ… Mang theo cả mấy cái băng của anh nữa”. Chiến tái mặt: “Tôi, tôi… xin lỗi…”. Chiêm đanh mặt: “Anh không có lỗi gì cả… Tất cả là do tôi. Thôi anh về nhanh đi, và đừng bao giờ quay trở lại!”. Chiến nhìn cô chằm chằm một lát rồi bảo: “Xin vĩnh biệt! Tôi nhầm… Cô mở cổng cho tôi chứ”. Chiêm cầm chum chìa khóa đi nhanh ra cổng, cô vấp chân mấy lần. Khi Chiến ra khỏi, Chiêm đóng cổng lại rất nhanh, khóa vào và khi đó không gượng được nữa, cô tì lưng vào cánh cổng sắt, từ từ quỵ xuống. Người cô rung lên và những giọt nước mắt ứa ra. Cô thấy trước mặt mình một bóng người, không phải Trịnh mà là Khôi…Tối sẩm hôm ấy bà Lúa mới về đến nhà. Không thấy đèn sáng ở sảnh, bà mở cửa vào nhà, trong nhà cũng tối om. Bà Lúa bật điện và gọi. Thấy tiếng Chiêm hậm hự trong phòng ngủ, bà bổ vào sờ trán: “Thôi chết rồi, con sốt cao rồi… Khổ thế, dì đi vắng có một ngày… Biết làm thế nào bây giờ? Hay là con để dì đi gọi thằng Chiến mang xích lô chở con vào bệnh viện”. Chiêm gào lên: “Không! Con không cần! Con đã uống thuốc rồi, lát nữa sẽ hạ sốt… U nấu cho con nồi cháo”…Chiêm ốm đến hàng tuần mới khỏi hẳn. Suốt những ngày ấy cô không ra khỏi nhà. Bà Lúa cứ loanh quanh bên cô. Bà rền rĩ luôn miệng: “Lần này thằng Trịnh về, dì sẽ bảo nó, vứt cha nó tiền của đi. Thế là đủ rồi. Biết bao giờ cho vừa. Ở nhà mà sinh con đẻ cái”.  Chiêm phải gàn: “Thôi u ơi, u cứ ca cẩm thế con nhức đầu lắm. Bây giờ u chạy ra chợ mua cho con ít cam tươi. Con tự nhiên thèm nước cam lắm”. Bà Lúa mừng quá, vội xách làn ra chợ. Còn lại một mình, Chiêm ra sảnh ngồi. Cô nhìn lên chuồng chim bồ câu thấy vắng tanh, cô tự hỏi: “Không biết chúng nó đâu cả rồi”. Cô đang rẩm riu như vậy thì nghe thấy tiếng cánh vỗ, đôi chim bồ câu vút qua trước mặt cô đậu xuống bậu chuồng. Xem kìa, con mái trắng bay cùng con trống nâu. Thằng quỷ trống trắng đâu? Chắc nàng mái đoạn tuyệt hẳn với nó rồi. Bây giờ, đôi anh chị này bén hơi nhau rồi chắc?!Đôi chim lại rủ nhau bay đi. Chiêm nhìn theo cười lơ đãng. Cô nhớ về quê nhà. Không biết lúc này thầy u và các em ở nhà đang làm gì nhỉ? Rồi Chiêm tìm hướng đông, rõi mắt nhìn về chân trời phía xa, nơi ấy, ngoài những nóc nhà lô xô, xa xa nữa là biển…!
5/1996
 
Đã đem vào thư viện
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.10.2021 20:00:55 bởi Ct.Ly >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 07.10.2021 11:01:42
Nhân gian vạn sự phi.
truyện ngắn của Nguyễn Chu Nhạc, 
1. 
Nhà báo Minh Trung đến tòa soạn. Một ngày làm việc bình thường như bao ngày. Ông khởi động máy tính để soạn bài giới thiệu chương trình câu lạc bộ cuối tuần. Chuông điện thoại máy bàn vang. Cô phóng viên trẻ nghe máy.
- Chú Trung ơi, máy của chú này... Có ai đó muốn gặp chú đấy ạ.
Ông cầm máy, trả lời theo thói quen lâu nay mỗi khi thính giả gọi đến,
- Tôi, Minh Trung đây,... Tôi có thể giúp được gì?...
Một giọng nam trẻ ở đầu máy bên kia rụt rè hỏi lại tên và nơi làm việc của ông. Lặng đi một chút, người đó thay đổi cách xưng hô từ xã giao thành thân mật, xung tên mình là Hiếu, con trai của mẹ Duyên... Ông nghe mà ắng giọng, thụ động trả lời thei mỗi câu hỏi của cậu ta. Rồi chỉ còn mỗi giọng cậu thanh niên, bời ông ù cả tai, loáng thoáng nghe câu được câu mất, nhưng mỗi lời của cậu ta làm ông thêm choáng váng. Ông linh cảm về một sự thật bấy lâu ẩn chứa trong lòng mình sẽ được hé lộ... và từ đây, cuốc sống của ông sẽ thay đổi...
Buông điện thoại, ông thẫn người, đầu ong ong, cám thấy huyết áp tăng lên... Cô phóng viên trẻ nhận ra điều ấy:
- Chú Trung... chú sao thế ạ” ... Người quen cũ hả chú?... – cô cười tinh quái đùa – Hay con rơi con vãi ngày xưa nhận bố?
- Ờ ờ... không... – Ông giật mình, chối.
Giờ thì đầu óc ông chỉ nghĩ về cuộc hẹn gặp với chàng trai kia vào chủ nhận tới. Bao ký ức xa cũ ùa về...
2.      
Một sáng một ngày cuối tuần,
          Trung cắm cúi đạp xe. Trời sớm, hơi sương phảng phất không gian. Đường xá vắng teo. Trung mừng vì đường vắng người, bởi thâm tâm không muốn gặp bất cứ ai. Trên ghi đông xe đạp trei chiếc túi cũ, bên trong đựng cân đường và hai hộp sữa. Trung đi thăm gái đẻ, có cảm giác e sợ của người làm một việc vụng trộm và có gì đó khuất tất. Để đến được nơi Duyên làm việc phải vượt qua gần bốn chục cây số. Dọc đường, hình ảnh những lúc hai người gần gũi thân mật với nhau cứ chập chờn trước mặt, vô hình chung khiến anh quên mệt nhọc, gò lưng nhấn bàn đạp mải miết... Khi trạm truyền thanh huyện hiện ra trước mắt Trung thì trời đúng tầm trưa. 
          Trung dừng xe gần đó, lặng lẽ quan sát, khi mấy nhân viên của Trạm người địa phương, tan tầm ca sáng, về nhà ăn trưa, anh mới dám vào. Duyên thuộc diện nhà xa, được Trạm bố trí cho ở tại Trạm, nhất là sau kỳ nghỉ sinh con đi làm trở lại, có con nhỏ theo mẹ. Vụng trộm, lại không hẹn trước, nên Duyên ngạc nhiên khi Trung xuất hiện. Duyên cứ nhớn nhác ngó quanh quất như sợ ai đó bắt gặp sự có mặt của Trung. Lưỡi anh như xoắn lại, lúng búng giải thích việc đến thăm mẹ con Duyên và món quà đường sữa của mình. Còn Duyên vừa mừng vừa lo. Cơm được dọn ra. Cơm gái đẻ, đơn sơ tôm rang, trứng luộc và canh rau ngót. Duyên ăn cầm chứng, còn Trung ăn cho phải phép, đỡ đói để còn lấy sức đạp xe về. Đứa bé ọ ẹ khóc ở gian trong. Duyên vỗ nựng cho nín, rồi cô cất tiếng gọi Trung vào. Duyên nâng đứa trẻ gần ngang mặt Trung nựng yêu "Con trai của bố Trung đây... Bố Trung nhìn... cái trán bướng này, cái môi mỏng này... rõ giống hệt bố Trung...". Duyên cười, mắt rưng rưng nước "À quên, cu tý phải gọi là cậu Trung thôi,... con nhỉ". Trung cười gượng gạo, lấy ngón tay day nhẹ lên trán, rồi khẽ đụng vào đầu mũi đứa bé: "Con giai mẹ Duyên kháu quá... hay ăn chóng nhớn nhé". Duyên nhìn Trung đăm đăm, cái nhìn như biết ơn, lại như có lỗi. Duyên bảo: "Thôi... thăm thế đủ rồi, mẹ con cu Hiếu cảm ơn bố Trung nhiều lắm ... Bố Trung về luôn đi.... sắp đến giờ làm việc ca chiều rồi, mọi người đến bây giờ... ngộ nhỡ ai nhìn thấy bố Trung ở đây... thì phiền... ". Trung nhận thấy vẻ ái ngại của Duyên trong ánh nhìn và câu đuổi khéo. Trung cúi người thơm nhẹ lên trán bé con: "Chào nhé... hai mẹ con giữ gìn cẩn thận... Bố Trung về đây". Duyên tiện đà: "Từ giờ... bố Trung không cần phải bận tâm về mẹ con nhà cháu nhé... Nhớ, chỉ là cậu Trung thôi đấy... Cu Hiếu đã có mẹ cháu và bố Kiên rồi...".
          Trung đạp xe rời khỏi Trạm truyền thanh huyện, chốc chốc ngoái đầu nhìn lại. Duyên vẫn bế con đứng nhìn theo. Đến khúc quanh, trước khi khuất néo, Trung ngoái lại lần nữa, nhung đã không thấy bóng dáng mẹ con Duyên. Đường về thị xã với anh bỗng vời vợi làm sao !...
          3. 
          Trung là phóng viên báo tỉnh. Bố anh là một nhà báo, nhà văn, nên ông hướng anh theo con đường cầm bút. Thời ấy, cái thị xã vùng than Đông Bắc này được xem là công trường lớn của miền Bắc khi đất nước còn chiến tranh chia cắt. Là thanh niên, dù là công nhân cầm búa cầm choòng hay cầm bút thì ai cũng ước ao được sống và làm việc trên cái công trường khổng lồ này, một biểu tượng của nền công nghiệp miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Các văn nghệ sĩ cũng coi vùng đất đông bắc này là môi trường thực tế sinh động để họ thâm nhập, tìm đề tài và cảm hứng dáng tác. Bố anh xin cho anh ra làm báo ở đây, là muốn cho anh nhanh chóng trưởng thành trong môi trường làm báo thực tế. Còn có lý do riêng, ấy là bố mẹ anh trục trặc và ly hôn, rồi sau đó bố anh tục huyền với một người đàn bà khác vốn là con nhà quan lại nho giáo thất thế và nhanh chóng đẻ liền mấy đứa con. Mẹ anh theo quân ngũ, không thể chăm sóc anh chu đáo. Để yên tâm với gia đình mới của mình và không mang tiếng bỏ bê con vợ cả, anh được bố gửi ra vùng than khi mới học hết phổ thông. Vậy là anh sớm bước vào đời với cuộc sống công nhân tự lập. Mang gen di truyền của bố, anh tập viết báo và trờ thành phóng viên báo tỉnh. Lẽ di nhiên, có sự trợ lực của bố, từ việc bảo ban thêm về nghiệp vụ mẹo mực viết báo, đến sư nhờ cậy ban lãnh đạo báo tỉnh giúp đớ này nọ. Là phóng viên báo tỉnh khi mới ngoài hai mươi tuổi, oách lắm chứ. Mặt non choẹt, măng tơ, anh có thể đi đến bất cứ nơi nào trong vùng mỏ đông bắc này. Nhiều khi, người ta nhầm tưởng anh là cậu sinh viên thực tập, nhưng khi biết anh là phóng viên thì lập tức anh được đối xử trọng thị...
          Trong một chuyến công tác, Trung đã gặp Duyên. Và đúng với cái tên của cô, hai người có duyên với nhau. Chuyến ấy, Trung đi cũng với Quang Chiến, một phóng viên đàn anh đến một huyện miền núi cách thị xã mấy chục cây số. Xong công việc, anh phóng viên đi cùng rủ Trung vào thăm người chị gái làm việc ở đài truyền thanh huyện. Hôm ấy, sắp đến buổi truyền thanh chiều thì máy trục trặc, hai chị em trực ca loay hoay một hồi không xử lý được. Hai người lo lắng, gọi điên tứ tung nhờ vả người sửa máy nhưng không được. Có gái trẻ cố mầy mò sửa. Tình thế vậy, Trung đề nghị được thử sửa. Anh vốn say mê lĩnh vực điện tử âm thanh nên có chút hiểu biết. Thật may, Trung chỉnh sửa một lúc thì được, máy lên sóng buổi phát thanh chiều vừa kịp. Cô gái trẻ tên Duyên cảm ơn Trung rối rít và nhìn anh đầy vẻ thán phục. Lúc trước mọi người đều cuống, chỉ chào hỏi xã giao. Xong việc rồi. mới để ý đến nhau kỹ hơn. Trung thấy cô gái trẻ tên Duyên khá xinh. Gương mắt bầu bĩnh thật hợp với mái tóc xoăn tự nhiên, mắt to đen, má lúm đồng tiền, mỗi khi cười khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên. Trung bị Duyên hút hồn.
Sau lần ấy, hai người quen nhau, và tình yêu nảy nở. Yêu nhau rồi. nên hầu như chủ nhật nào Trung cũng đạp xe đến nơi Duyên làm việc thăm cô. Còn Duyên, mỗi khi về thị xã đều tranh thủ ghé tòa soạn thăm Trung. Tâm niệm yêu nhau rồi nên vợ chồng, Trung đã đưa Duyên lên Hà Nội giới thiệu với gia đình nhà mình, và cô cũng đưa Trung về quê cô ra mắt bố mẹ. Tuy nhiên, gia đình bên cô có ý không chấp nhận Trung, chê anh quá thư sinh, và còn một lý do khác, ấy là trước đó đã có một vị cán bộ theo đuổi Duyên, đánh tiếng với gia đình muốn lấy cô. Tình yêu vừa nảy nở đã gặp trắc trở. Linh cảm về mối tình không thành ám ảnh Trung. Một lần, Trung đến thăm Duyên đúng lúc áp thấp ập vào vùng than đông bắc. Chỉ có hai người với nhau ở trạm truyền thanh, không kìm nén được cảm xúc, hai người đã quấn chặt lấy nhau làm cuộc mây mưa khi ngoài trời mưa gió tơi bời mịt mùng tứ phía...
          Sau lần ấy, những tưởng cuộc tình được cứu vãn, nhưng không, Duyên là người già giặn hơn anh nghĩ, cô vẫn nghiêng về sự tính toán thiệt hơn để đến với Kiên, vị cán bộ có thể đem lại cho cô một cuộc sống được đảm bảo trong thời buổi kinh tế khó khăn thiếu thốn. Sau này, suy ngẫm, Trung mới ngộ ra rắng, người đàn bà khi yêu, họ có thể dâng hiến tất cả cho người mình yêu, nhưng lập gia đình, họ lại chi li thiệt hơn khi lựa chọn người lấy làm chồng. Không giống đàn ông, khi yêu có thể bốc đồng thề hái sao trời cho người yêu và sẵn sáng chấp nhận cuộc sống kiểu “một túp lền tranh hai trái tim vàng”....Mối tình với Duyên, anh xem như bài học nhập môn về tình yêu và hôn nhân.
          Rời bỏ thị xã vùng than đông bắc, Trung tự an ủi mình, rằng anh và Duyên có duyên mà không có phận. Và như những gì cô ấy cho anh biết, cùng cảm nhận của bản thân, thì anh vẫn còn một giọt máu rơi ở vùng đất này,...
        4.
        Trung rời cái thị xã vùng mỏ Đông bắc này về làm việc ở thủ đô. Thực ra, sau lần đến thăm Duyên và con, Trung vẫn dò tin xem mẹ con cô sống ra sao. Duyên có gia đình của mình, và trên danh nghĩa, chồng cô là Kiên, có nhà đàng hoàng ở thị xã, và mặc nhiên, anh ta là bố đứa bé. Câu chuyện tình giữa anh và Duyên  vừa mới đó, vết thương tình còn rớm máu, nỗi đau trong anh còn nguyên, đã là quá khứ rồi. Bố đứa trẻ đích thị ai cũng không có ý nghĩa gì, khi họ là một gia đình hạnh phúc,...
    Về thủ đô, công việc mới đầy năng động và hấp dẫn, cuốn hút, choán hết thời gian của Trung, nên anh nhanh chóng hòa vào nhịp sống mới mà lãng quên nỗi đau tình  Bài học nhập môn về tình yêu và hôn nhân thật có ích, khi anh qua giới thiệu làm quen với cưới một cô thợ may nhan sắc bình thường nhưng chịu thương chịu khó, biết quán xuyến gia đình. Cô thợ may đảm đang sản xuất liền cho anh mấy đứa con đủ nếp tẻ. Anh sống chung trong căn hộ tập thể mẹ anh được cấp trong khu nhà binh. Hơi chật một chút nhưng ở vào thời buổi gạo châu củi quế như thế đã là hạnh phúc lắm rồi. Anh là phóng viên làm việc ở một cơ quan báo lớn, vợ công nhân may, chế độ tem phiếu cũng đủ sống. Khi kinh tế bắt đầu thời lỳ mở của, vợ anh tính toán nhận chế độ nghỉ việc, về thuê cửa hàng mở tiệm may đo, rồi phát triển lên vừa nhận may đo vửa mở lớp đào tạo nghề may. Có chút tiền. gom góp mua được căn nhà cấp 4, lấn đất lưu không làm vườn. Anh thì mua được chiếc xe máy, ngày ngày áo quần đóng hộp cưỡi xe đi làm, rất chi là oách. Khi mẹ anh mất. căn hộ của bà ở khu nhà binh thuộc diện giải tỏa, anh nhân được một khoản tiền đền bù kha khá, vợ chông bàn nhau mua một miếng đất ở làng hoa ngoại ô làm của để dành. Vậy là của ăn của để. Anh hài lòng với cuộc sống như thế, thoảng nghĩ đến người yêu cũ, thầm so sánh, chắc gì được như cuộc sống của anh hiện nay.
          Cuộc đời cứ thế hanh thông, con cái lớn dần, đứa vào đại học, đứa đi xuất khẩu lao động nước ngoài, nhà cửa được xây dựng lại khang trang hơn, xe máy cũng được nâng cấp. Những tưởng cứ thế cho đến lúc nghỉ hưu, thanh nhàn tuổi già thì một biến cố xảy ra,...
5.
Sau cuộc gọi điện thoại đến tòa soạn, chuyện giập giạp. chàng trai xưng tên Hiếu là con mẹ Duyên ấy xin được gặp nhà báo Minh Trung. Ông cho thời gian địa điểm và rất nóng lòng được giáp mặt anh chàng mà giờ đây đã chín phần ông tin là đứa con rơi của mình.
Hai người gặp nhau tại một quán cà phê gần nhà ông. Câu chuyện cứ mở ra với nhiều tình tiết mà anh chàng nghe kể từ mẹ nói lại với ông và được ông xác nhận là đúng. Ông cũng nhận là đã biết mặt con từ khi vài ba tháng tuổi ở trạm truyền thanh huyện. Ông thanh minh với Hiếu rằng sở dĩ ngần ấy năm ông không trờ lại thị xã than đông bắc và ngó ngàng gì cuộc sống của họ là vì cậu ta đã có một người cha hơp pháp là ông Kiên, mà cho đến giờ về danh nghĩa vẫn được coi là bố đẻ của Hiếu. Qua câu chuyện, ông biết, ngoài Hiếu ra, Duyên còn sinh hai đứa con nữa với ông Kiên. Ông cũng được giải tỏa thắc mắc bấy lâu nay, liệu ông Kiên có biết Hiếu không phải là con đẻ của ông ta hay không? Hiếu bảo, khi mẹ cậu còn sống, những lúc vợ chống cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, ông Kiên cũng cạnh khóe này nọ. song khi Duyên bị ung thư rồi mất, ông Kiên đã có lần nói thẳng vào mặt Hiếu, rằng nó không phải là máu mủ của ông ta mà là con rơi của một tay nhà báo nào đó, rằng ông ta nuôi nó như nuôi một con cửu ghẻ trong nhà, và khuyên nó hãy đi tìm cha thật của nó... Thực lòng, ngần ấy năm trời, Hiếu cũng lờ mờ cảm thấy tình yêu thương đặc biệt của mẹ dành cho mình, khác với mấy đứa em, và cả thái độ lạnh nhạt của bố Kiên. Hiếu còn kể, khi mẹ cậu đau yếu sắp mết, có lần hai mẹ con nghe giọng ai đó nói trên đài, bà lầm bầm bảo, “vẫn cái giọng mềm mỏng, ngon ngọt như ngày xưa, đến cua trong lỗ cũng phải bò ra.... mày cũng có cái giọng giống hệt cha mày đấy con ạ...”. Lúc ấy thì Hiếu chì ngờ ngợ, sau này mới hiểu mẹ mình nói vậy là ám chỉ mình giống bố đẻ, nhà báo Minh Trung cái tài ăn nói, chứ không phải ông Kiên, bố hờ... Hiếu còn cho ông biết, trước lúc mất, mẹ nó đã cho mời nhà báo Quang Chiến, người đồng nghiệp đàn anh của cả hai người đến nhà, nói chuyện, dặn dò và đưa cho ông ấy giữ một lá thư mật trong phong bì dán kín. Chuyện ấy khiến Hiếu suy luận, rằng mình không phải là con đẻ của ông Kiên, mà là con rơi của một ai đó tróng số bạn bè hay người yêu cũ của mẹ mình... Sau khi mẹ mất, Hiếu dò la manh mối, lặng lẽ theo dõi, tìm đọc các bài viết của nhà báo Minh Trung, hay đón nghe các chương trinh câu lạc bộ do ông đảm dẫn. Tự thâm tâm, cậu tin nhà báo Minh Trung chính là cha đẻ của mình.
Bố con nhận nhau, ông có lãi, được nhận cả cháu. Hiếu đã sớm lấy vợ và có con rồi. Gia đình riêng của nó yên ấm lắm.
Biết không thể giấu mãi chuyện này, ông kể với vợ và xin được nhận Hiếu làm con. Vợ ông đón nhận điềm tĩnh, bảo “Tôi không thể trách ông được, bởi chuyện xảy ta trước khi ông quen và lấy tôi... Có chăng, đáng trách ở việc ông giấu tôi đến giờ”. Ông biện bạch, thì chính ông cũng mới biết Hiếu là giọt máu rơi của mình với người yêu cũ. Vợ ông họp gia đình, chính thức thông báo sự tình cho các con và đám em của ông. Khóc cười có cả. Rồi vợ chồng ông kéo cả gia đình làm chuyến đi thị xã vùng than đông bắc để nhận Hiếu. Tuy có chút bỡ ngỡ, nhưng Hiếu tỏ ra hoạt bát, khéo léo làm hướng đạo, đưa gia đình bố đẻ đến gặp bố hờ, có lời thưa gửi, xin lỗi ông Kiên. Rồi nữa, gặp gỡ gia đinh thông gia, tức bố mẹ vợ của Hiếu. Đôi bên tỏ vẻ cảm thông với nhau, và sau cùng tất cả đi viếng mộ thắp hương cho Duyên, khấn xin người đã khuất phù hộ độ trì cho cuộc đoàn viên. Ông vui đến nỗi, đã dẫn Hiếu, mang hoa quả bánh trái đến cơ quan, giới thiệu, mời mọi người, mừng cho cha con ông.
Ông Trung hài lòng lắm. Mừng nhất là việc giải tỏa nỗi ẩn ức của ông và ông Kiên chừng ấy năm trời. Vui nữa là Hiếu biết cách ứng xử khiến mọi nhà đều không ai mất lòng. Kể từ đây, tháng đôi lần Hiếu lên thủ đô thăm bố đẻ. Hai bố con hàn huyên bao nhiêu là chuyện, nhờ thế, ông biết được, những năm tháng qua, cuộc sống vợ chống của Duyên Kiên cũng không dễ dàng gì, và Hiếu ít nhiều thiệt thòi vì phải chịu sự phân biệt đối xử từ phía người cha hơ.... Âm thầm suy nghĩ, ông muốn bù đắp sự thiệt thòi cho Hiếu mà chưa biết cách nào....
6.
Từ ngày nghỉ hưu, ông Trung hay sống ở ngôi nhà nhỏ dựng trong khu vườn xanh tươi ờ làng hoa ngoại ô. Ngoài thú chơi hoa lan và đồ gốm sứ, khi rảnh rỗi ông trồng thêm các loại hoa có thể dúng ướp trà như hồng, nhài, ngâu, mộc... Mỗi dịp cuối tuần, ông ở hẳn trên đó, đi chợ làng, tự nấu ăn, hẹn hò đám bạn già đến thưởng trà, ngâm vịnh thơ phú, đánh cờ. Hứng lên thì cụng đôi ba chén rượu... Ở đây, tiện và thích là mỗi khi Hiếu lên chơi, nó đến thẳng đấy với ông, cha con tha hồ tâm sự, không ngại vợ con biết chuyện này nọ. Đến ngôi nhà chung, dẫu sao còn có vợ ông và mấy đứa em, hành xử nói năng gì cũng ngại, phải ý từ xã giao. Mỗi năm, vào dịp hè, Hiếu đón ông về thị xã vùng than mươi hôm, để ông chơi với các cháu, gặp lại bạn bè cũ và tắm biển. Cứ thế, ông có vài ba năm sống trong niềm vui sum họp ấm cúng.
Thế rồi, cậu con lớn của ông lấy vợ. Vợ ông ấn định, cưới xong thì vợ chồng trẻ lên sống ở ngôi nhà nơi làng hoa ngoại ô. Thâm tâm, ông hiểu vợ mình biết chuyện ông và Hiếu hay gặp nhau ở ngôi nhà vườn ấy, nên thu xếp vậy để tránh việc này và có ý rằng sau này, vợ chồng nó sẽ nghiễm nhiên là chủ nhân của nhà vườn đó. Song thu xếp thế, ông cũng thấy hơp lý, tuy không hài lòng nhưng cũng phải bằng lòng vậy. Thấy thế, Hiếu bàn với ông, xây thêm một ngôi nhà nhỏ nữa trên mảnh vườn ấy. Rồi Hiếu nghỉ phép, lên chỉ huy việc xây dựng, tay bay tay dao xây chỉ đạo đám thợ phụ độ nửa tháng là xong. Việc này khiến vợ ông bực mình, cạnh khóe này nọ. Ông cảm nhận, mối quan hệ của Hiếu với vợ con ông bắt đầu rạm nứt.
Chưa hết, Hiếu tự tin, khẳng định vai trò con trai trưởng ngày càng rõ. Thân sinh của ông mất đã mươi năm, đưa về quê chôn cất còn chưa cải táng, nay mua được sinh phần nên mới cải táng. Hôm bốc mộ, cả gia đình ông không ai thạo việc, định thuê người làm thì Hiếu xin đảm nhận công việc. Nó rửa ráy, xếp xương cốt ông nội bài bản, gọn gàng, khiến mọi người ngạc nhiên thán phục. Còn ông thì mát lòng mát dạ, hãnh diện lắm. Thái độ hài lòng của ông như muốn nói với vợ con, các em và cả họ hàng ở quê rằng, đấy thằng con rơi của tôi xứng đáng là cháu trưởng trong nhà. Vợ ông, ngoài miệng cũng không ngớt lời khen Hiếu, nhưng ngấm ngầm để bụng, ủ mưu,...
Việc gì đến trước sau cũng phải đến. Một lần, Hiếu thưa chuyện với vợ chồng ông, muốn làm thủ tục pháp lý, chính thức là con trai của ông và đổi từ họ Lê của ông Kiên sang họ Hoàng của ông. Việc ấy là đương nhiên, nhưng trước hết phải qua giám định gen di truyền. chứng minh quan hệ huyết thống, đấy là thủ tục pháp lý và cũng là yêu cầu của vợ ông. Thâm tâm, ông tin chắc Hiếu là con ruột của mình, không cần phải chứng minh rườm ra, song yêu cầu là vậy nên đồng ý. Sớm muộng gì cha con cũng thuộc về nhau, ông khuyên Hiếu chấp thuận việc này. Hiếu hiểu lòng ông, động viên “Bố yên tâm... trăm phần trăm con là ruột thịt của bố mà”.
Dịp ấy, ông về quê, trông nom dọn dẹp ngôi nhà vườn bị đóng của bỏ hoang lâu ngày sau khi người mẹ kế của ông qua đời. Ông nhận cú điện thoại vợ ông gọi, báo tin kết quả giám định ADN của ông và Hiếu cho biết hai người không có quan hệ huyết thống với nhau. Ông đang vui với ý tưởng sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý nhận con và đổi họ cho Hiếu, ông sẽ đưa nó về quê nội, sửa sang lại ngôi nhà này làm ngôi thờ tự của đại gia đình. Vậy mà... Ông choáng váng ngã quỵ, ngất xỉu, hồi lâu tỉnh lại, gọi điện báo người nhà ở quê đưa đi bệnh viện.
Có nhầm lẫn chăng, ông hy vọng thế. Song khi trờ về nhà, tự tay cầm tờ phiếu kết quả giám định gen, đọc dòng chữ kết luận ghi không có quan hệ huyết thống, thì ông không thể không tin. Đầu óc ông rối loạn, bời bời với bao ý nghĩ xung đột. Hiếu không phải con của Kiên, rõ rồi, cũng không phải con của ông, kết quả rành rành ra đấy... Vậy thì nó là con của ai? Khi đã tỉnh táo, tĩnh trí, ông nhớ lại, điểm qua hết các gương mặt đàn ông thời ấy từng theo đuổi, tán tình, hay là bạn, là người quen của Duyên, phỏng đoán này nọ... Hay là, anh trưởng phòng X, tay nhà báo Z, chàng nhà thơ N?... Ngày ấy, Duyên tự tin, rạng rỡ, xinh nổi tiếng trong vùng, khiến cánh đàn ông khát khao, thèm muốn chiếm hữu cô... Trong đám đàn ông cả tá ấy, có những người đã có vợ. say mê cô, sở dĩ ông chiếm được tình cảm của Duyên là bởi vẻ đẹp trai, hào hoa kiểu người thủ đô, lại con của nhà văn nổi tiếng nọ... Ý nghĩ ghen tuông ngợp lòng ông, chẳng lẽ, một thời điểm ấy, cô ấy cùng quan hệ với mấy người?... Nhưng sao, cô ta lại tin tưởng Hiếu là giọt máu của ông, mà trăng trối lại, khiến nó tìm ông? Sau khi cha con ông nhận nhau, ông cũng đã gặp lại nhà báo đàn anh là Quang Chiến, đọc lá thư Duyên gửi lại, khẳng định Hiếu là con ruột của ông? Hay là chính cố ấy cũng nhầm? Ông chẳng biết tin vào đâu nữa...
7.
Hiếu có đến thăm ông đôi lần sau khi ông đổ bệnh. Hai người an ủi lẫn nhau, bảo vẫn sẽ coi nhau như người thân. Là nói vậy thôi, chứ mặt nhìn nhau tẽn tò làm sao. Chiếu lệ đôi câu rồi ngẩn ra chẳng biết tiếp câu chuyện thế nào. Vợ con ông thì tỏ rõ thái độ lạnh nhạt, xã giao dăm câu ba điều cho phải phép. Hiếu biệt đi không đến nữa... Ông thì vẫn quanh quẩn với ký ức tình yêu xa xưa, ký ức vui vẻ của những ngày đầu cha con nhận nhau. Ông thêm lần tai biến và sức khỏe yếu dần, đi lại khó khăn, mắt kém nên muốn đọc sách cho khuây khỏa cũng khó...
Một lần, cô biên tập viên cùng phòng làm việc cũ với ông, đến chơi nhà, đem mấy bài thơ Đường luật nhờ ông cắt nghĩa, giàng giải ý tứ. Trong số đó có một bài thơ của Chu thần Cao Bá Quát “Khứ tuế nghinh xuân xuân dĩ quyKim niên xuân chí hựu như  phiXuân hoa khai tạ vô câu quảnKhẳng tín nhân gian vạn sự phi”. Ngẫm nghĩ thấy ý tứ bài thơ thật mênh mông vô tận, như một triết lý sắc không, rằng “năm ngoái vừa mới đón xuân, nay xuân đã quay trờ lại/ xuân đến thấy thời gian nhanh như bay/ hoa xuân nờ đấy rồi tàn ngay đấy. chẳng thể quản chế/ ai  tin thế gian này mọi sự đều là không”... Thấy ông cứ ngâm nga, ngẫm ngợi ý từ bài thơ, cô biên tập viên gợi chuyện, hỏi thăm, bấy lâu, ông có tin gì về Hiếu. Ông bảo không, rồi đồ đoán, nó chắc hận ông, hận mẹ nó lắm. Cô biên tập viên thương ông, bảo là mạng xã hội gtờ phát triển lắm, ông hoàn toàn có thể gặp lại và trò chuyện với Hiếu mà không cần phải đi đâu. Rồi cô thú nhận, rằng có có kết nối qua mạng xã hội và thỉnh thoảng biết tin về Hiếu. Rằng đã có lần, cô thấy Hiếu buâng quơ than thở trên trang cá nhân của mình là “Tôi có cha, rồi người đó bảo không phải cha của tôi. Rồi một ngày nọ tôi tìm được người cha đích thực của mình. Tôi vui lắm, nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Bỗng một hôm, người ta bảo người cha tôi tìm được lại không phải là cha mình... Vậy cha tôi là ai đây? Tôi biết tim cha ở đâu và bao giờ thì tìm thấy? Cha ơi, ông là ai?”. Đại khái vậy. Ông nghe bùi ngùi, chảy nước mắt... "Này cháu... Nghe đâu... người ta bảo... cái việc giám định di truyền ấy... người ta cũng có thể can thiệp... làm sai lệch kết quả... phải không?...".
Cô biên tập viên cảm động, không biết phải trả lời làm sao, lờ đi, và cô thấy không cần phải giấu ông, bảo bài thơ của Cao Bá Quát kia chính là cô đọc trên trang cá nhân của Hiếu. Cô  nói, Hiếu đã bình luận, câu thơ cuối “khẳng tín nhân gian vạn sự phi” ấy, rằng “ai tin nhân gian này mọi sự đều là không, thì hệ họ, tôi không tin,... ”.
          Nghe vậy, ông mừng rỡ bảo cô biên tập viên:“Thơ phú, chữ nghĩa kiểu này, chắc chắn, nó giống y tôi... Tôi hiểu rồi, tôi tin nó... và chắc là... nó cũng tin tôi.. .phải thế không cháu? ” ./.
 
 
r
<bài viết được chỉnh sửa lúc 12.10.2021 21:30:43 bởi Ct.Ly >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 14.10.2021 17:03:18
Miền xanh thẳm chân mây
Truyện ngắn
1.
Hoài lang biền biệt đêm trường
người đi bao nỗi dặm đường, sá chi
xông pha gươm giáo kể gì
sao đành, người ở chia ly cõi lòng,...
        Những câu thơ váng vất trong ý nghĩ...
        Chiều nay. Minh trĩu nặng tâm tư,
        Thấm thoắt, anh vào vùng Bảy Núi này đã ngót năm,...
       Cứ chiều chiều, lúc nhập nhoạng tối, khi đàn dơi loạng choạng chao trên vòm cao mấy cây xoài cổ thụ, thì dàn cát-xet của một gia đình trong khu tập thể cơ quan lại vang lên, hết ỉ eo những bài hát nhạc vàng rồi sang nỉ non vọng cổ. Nghe mãi, chẳng buồn để ý, vô thức mà thành thuộc. Minh sở thích chèo cổ, ghét cải lương vọng cổ, nhưng riêng bài Dạ cổ hoài lang thì anh không thể làm ngơ. Từng chữ từng lời, thấm dần vào anh từ lúc nào không hay "Từ là từ phu tướng/ Bảo kiếm sắc phong lên đàng/ Vào ra luống trông tin chàng/ Năm canh mơ màng/ Em luống trông tin chàng/ Ôi gan vàng quặn đau í a/ Như chim trời lẻ bạn... chim bay về... nơi vô định/ Trời xa đất lạ trong mây khói mịt mùng/ Kiếp giang hồ mỏi gót phong sương/ Một chiều qua bến lạnh bỗng nhớ tới một người...". 
        Minh nhớ mẹ và nhớ Nguyệt. Sâm sẩm nhớ mẹ, khuya là nhớ em. Anh mang máng nhớ một câu thơ của ai đó vì nó đúng với tỉnh cảnh của mình . Nhập nhoạng, khói lam chiều khiến anh nao lòng nhớ mẹ. Nhớ bóng mẹ ra vào, dáng mẹ ngồi bên bếp lửa với chiếc que cời bếp rơm luôn tay. Nhớ hình bóng mẹ tựa của, rồi chậm rãi ra đóng cổng lúc sẩm tối, mẹ biết lại thêm một ngày nữa con trai mẹ mãi chân trời phương Nam chưa thể về với mẹ... Đêm khuya khó ngủ, anh cồn cào nhớ Nguyệt, nhớ những lời thầm thì và những cái hôn cháy bỏng của Nguyệt trước lúc chia tay, tiễn anh hành phương Nam. Anh thầm phỏng đoán, Nguyệt ngủ chưa hay vẫn đang cặm cụi soạn giáo án, hay mải chấm bài của học sinh. Anh lại thầm hỏi, Nguyệt có đang nhớ tới anh không khi cô cũng một mình ở ngôi trường giữa đồng chiêm trũng xa thủ đô hơn trăm cây số ấy.. Anh trằn trọc không ngủ được, vì nhớ, vì trời phương Nam mùa khô oi nóng. Cố nhắm mắt cưỡng ngủ thì đầu anh lại mường tượng cái nghĩa địa với mấy ngôi mả mới gần ngay cửa sổ phòng ở của anh, chỉ cách một hàng rào cây lá rậm rạp kia thôi. Anh vùng dậy, đóng chặt cửa sổ, nằm im, ý nghĩ miên man và chìm đi... 
2.
Một trông mong vạn chờ mong, 
chẳng thà cứ gái chưa chồng cho cam
sông kia dằng dặc trời Nam.
nước mây vời vợi ai làm cho đau,...
Minh nghe vẳng vằng một giọng nữ đọc thơ., không xa mà cũng chẳng gần, như đâu đó trong khu vườn thôi. Anh ngơ ngác "Ai dấy? Ai vừa đọc thơ đấy?". Giọng nữ cất lên rất gần khiến anh giật mình "Ta đây... ở gần ngươi thôi... nhưng ngươi không thấy đâu,... Ta cho ngươi mấy câu thơ ta vừa ngâm để chắp nối với câu thơ mà ngươi ngâm nga chiều nay...". Minh cố trấn tĩnh để không lộ vẻ sợ hãi "Nhưng bà... bà là ai? ... Sao lại biết tôi làm thơ?... Sao lại tặng thơ bà cho tôi?,...". Giọng nữ khẽ cười "Ngươi không biết ta đâu... Ta sống trước người những hơn hai trăm năm ... Thơ ta vừa đọc ngươi cứ nhận lấy. nối tiếp vào thơ ngươi cũng hợp cảnh hợp tình đó...". Nói rồi, giọng nữ cất lên đọc liền hai khổ thơ với nhau, câu cuối như nghẹn lại trong nước mắt. Minh nghe rưng rưng, quên cả sợ, tự cảm thân quen, muốn trò chuyện: "Thì bà ... cũng nên hiện hình tỏ dung nhan .. hay cho biết quý danh để mà thưa gửi chứ ạ ?...". Giọng nữ nhẹ nhàng, có chút ân cần "Ngươi thật biết phép tắc,... và cũng hết sợ rồi đấy nhỉ,". Cười ôn hòa "Cứ từ tốn, trước sau thì ngươi cùng biết thôi... Ta đến gặp ngươi thế này chẳng phải để chơi đâu ... ắt phải có chuyện để nói chứ...".
        Minh cố căng mắt, ngó nhìn quanh quất hòng nhận diện ngươi đang nói chuyện với mình, nhưng chẳng thấy gì ngoài thứ ảnh sáng nhờ nhờ như sương đục, loáng thoáng hình bóng những cây xoài, cây dừa, vú sữa, mãng cầu vẻ quen quen. Không khí tĩnh lặng, Minh bỗng sợ, lên tiếng: "Bà... ba ở đâu rồi?". Giọng nữ cười nhẹ: "Ta vẫn ở đây... Ngươi nhìn kỹ chưa? Có thầy ta không? Thấy gì quen không?". Minh e sợ "Không thầy bà... chỉ thấy cây cối quen quen thôi...". Cười to "Đã bảo mà... thì cây cối trong vườn hàng ngày... người đi dạo, quét lá khô nấu bếp, rồi leo trèo hái quả cả năm nay. không nhận ra sao được... Ta cho người biết, cả khu vườn này có mười tám cây vú sữa, hai mươi bảy cây dừa và bảy mươi hai cây xoài các loại, thêm ít cây lặt vặt khác ta không tính...Ngươi không tin, mai đếm thử xem...". Minh vẫn nghi hoặc "Vậy là...ta vẫn đang ở trong khu vườn của cơ quan tôi hay sao?".  Hạ giọng "Thì đúng thế ... Thực ra, ta chính là chủ nhà. Ta ở đây từ hai thế kỷ rưỡi nay... còn ngươi mới là khách. Ta nhớ, ngươi đến sống ở đây còn chưa đầy năm kia mà...". Minh ú ớ vâng dạ. Giọng nữ khẽ cười: "À, ta nhớ... người có mấy lần giẫm lên nóc nhà ta để bám cành đu mình leo lên cây xoài cát cổ thụ ở vườn sau ấy...". Minh ớ người cãi "Nhà nào nhỉ ?... Có nhà nào ở vườn sau đâu? ... Tôi giẫm lên nóc nhà bà hồi nào? ". Cười trêu "Người cũng giỏi cãi nhỉ... Chẳng lẽ ta đổ oan cho ngươi sao.... Ngươi thử nhớ lại đi... Không tin, sáng mai, người ra gốc cây xoài cổ thụ vườn sau, tìm xem thấy ở đấy có gì không? Chớ vội cãi ngay thế... ". Minh nghi hoặc, chợt nhớ ra điều gì, vôi kêu lên "Bà này, tôi nhớ hình như là..." Giọng nữ cắt lời, nghe xa vọng lại "Ta có việc đi đây... Hẹn gặp ngươi sau... Cứ suy xét cho kỹ đã... Rồi ngươi cũng sẽ biết về ta thôi.". Minh níu lấy "Nhưng tôi đã mạo phạm... thì sao ạ"...". Cười xa xôi "Chớ lo... Ta tạm tha cho ngươi cái tội mạo phạm giẫm đạp lên nóc nhà ta... Yên tâm và đợi khi ta quay lại...". Minh vẫn chưa chịu "Nhưng bà cũng phải gợi chút... thì tôi mới biết lối mà tìm... chứ mù mịt thế này tôi chẳng biết manh mối ra sao,... tìm đến bao giờ? ", Lại cười "Ngươi thật nhiều chuyện... Dạ cổ hoài lang, ngươi rõ rồi đấy... nhà ông Cao Văn Lầu ấy nói hộ nỗi lòng của người vợ đợi chồng phu phen lính tráng thời tao loạn binh đao ở vùng đất này ,... Sống chết gan tấc biết khi nào về mà chờ đợi cơ chứ... Ta xưa cũng là người cùng cảnh ngộ... Chợt thấy ngươi thương cảm thành thơ mà hiện về nói với ngươi đôi ba câu... Ngươi là người đọc sách, hẳn biết về trận Rạch Gầm Xoài Mút năm xưa, quân Tây Sơn đại phá liên quân Xiêm Nguyễn... Thôi, ngươi chịu khó đọc lại sử sách tỉ tường... Đợi lúc ta quay lại còn có cái để mà nói chuyện. Ta đi đây....".
        Minh choàng tỉnh, ngồi phắt dậy. Bàng hoàng, định thần. Người vã mồ hôi ướt đẫm. Nhìn ra cửa số phía trước nhà, lờ mờ. Trời sáng giăng suông,...
3.
        Đêm ấy, Minh thấp thỏm không ngủ lại được nữa....
        Nghĩ miên man, điểm lại từ ngày anh chào mẹ khoác ba lô hành phương Nam. Chuyến đi bị bão hoành hành, đường qua miền Trung ngập nước, rồi núi lở, làm đoàn tàu lúc chạy, lúc dừng, lúc tăng-bo, nhếch nhác cả tuần mới tới Sài Gòn. Nhóm mấy người cùng đoàn chia tay nhau ở Xa cảng Miền Tây, kẻ Bạc Liêu, Rạch Giá, Đồng Tháp, còn Minh và một người bạn nữa thì An Giang. Vất vưởng mấy ngày ở Long Xuyên rồi hai người bọn Minh được điều đi Bảy Núi, vùng xa xôi khó khăn nhất của tỉnh. Những tưởng có hai người với nhau đỡ buồn chán và đỡ đần nhau lúc khó khăn thì người bạn kia nhớ vợ con ngoài Bắc, thở ngắn than dài. được vài tháng bỏ cơ quan ra Bắc và không quay trở lại nữa. Còn lại một mình, Minh gắng cầm cự. Nửa năm qua đi, anh dần quen với nhịp sống vùng đất mới.
        Cơ quan đóng tại một khu nhà vườn rộng chừng gần hec-ta, rợp xanh bóng dừa, xoài, vú sữa, mãng cầu xiêm... Nghe nói, chủ cũ của khu nhà vườn này chạy sang Mỹ định cư thời điểm kết thúc chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Khi chiến tranh biên giới Tây Năm xáy ra, quân Khmer Đỏ lấn sang gây ra vụ thảm sát Ba Chúc, quân ta dổn về đây, từng lấy khu nhà vườn này làm nơi đóng quân. Kết thúc chiến tranh biên giới, khu nhà vườn đổ nát hơn, Nhà nước trưng dụng làm cơ quan của huyện, xây thêm vài căn kiếu nhà tạm để có chỗ làm việc. Phía ngoài có vài hộ gia đình nhân viên ở. Phía trong, duy nhất Minh ở lại cơ quan và một cậu thủ kho vật tư người địa phương, tuần ngủ lại vài ba buổi lấy lệ. Ở đây, được cái, mùa nào cây trái ấy, Minh tha hồ ăn, thích gì lấy ăn. Lâu lâu, đám công nhân trạm máy kéo cơ khí hết mùa cày ruộng, về bảo dưỡng máy thì đông vui hơn chút. Thế nên, buổi tối cơ quan hoang vắng, khiến Minh thấy sờ sợ. Dân sống quanh đây đồn là khu nhà vườn có ma, khiến Minh ngại đi chơi tối.
        Sáng trở dậy, Minh dạo quanh khu cơ quan, rồi lượn về vườn sau, nơi có mấy cây xoài cát cổ thụ. Nhìn quanh, vạch cỏ dại, anh tìm thấy đám đất mấp mô lẫn gạch xây chẳng ra hình thù gì. Minh gai người, nhẩm bụng, đoán mò nơi đây từng có một ngôi mộ hoặc miếu thờ cổ nào đó. 
        Nhớ lời người đàn bà gặp trong mơ, Minh bắt đầu tìm hiểu về lịch sử vùng đất. Chuyện tiên chúa Nguyễn Hoàng xưa nghe lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân", xin chúa Trịnh Kiểm bỏ xứ Bắc vượt Đèo Ngang vào trấn thủ Thuận Hóa từ năm 1558 thì Minh biết, nhưng trải mấy trăm năm qua chín đời chúa Nguyễn đến Nguyễn Phúc Ánh, mở mang bờ coi phía Nam vào trấn Gia Định và châu thổ Cửu Long giang, Chân Lạp xưa thì anh không mấy tường. Việc tìm tòi sách vở và tra cứu tài  liệu cũng không dễ chút nào. Lần mò rồi Minh cũng tìm được nguồn tài liệu từ những cuốn sách sử in trước năm 1975 của một người quen ở Sài Gòn. Lịch sử triều Nguyễn mở ra trước mắt anh, nhất là thời kỳ cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra, công cuộc chinh phạt phương Nam của ba anh em nhà Tây Sơn và cả hành trình gian truân nguy hiểm để phục quốc của chúa Nguyễn Ánh. Minh chú tâm đọc kỹ phần viết về trận Rạch Gầm Xoài Mút, quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy tài ba của Nguyễn Huệ đại phá liên quân Xiêm-Nguyễn, xem có gì đặc biệt mà người đàn bà xuất hiện trong mộng mị. nhắc đến... 
        Ngày xưa, tháng Chạp năm Giáp Thìn sang Ất Tỵ, giao năm 1784-1785, trên khúc sông Tiền, Mỹ Tho từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, dài chừng 7 cây số, nơi lòng sông rộng, lại có cù lao. thích hợp cho việc ém quân để quân Tây Sơn bố trí trận địa. Liên quân Xiêm-Nguyễn mắc mưu quân Tây Sơn nhử đến trận địa này, bị phục binh Tây Sơn chặn cứng hai đầu, dồn ứ lại, làm mồi cho hỏa pháo Tây Sơn tiêu diệt. Chỉ trong  vòng một ngày, Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn phá tan và tiêu diệt gần 5 vạn liên quân Xiêm-Nguyễn. đông gấp đôi quân mình. Hai tướng Xiêm là Chiêu Tăng và Chiêu Sương cùng đám tàn quân thoát chết chạy ngược lên đất Quang Hóa (nay là Tây Ninh) sang đất Chân Lạp để về Xiêm La. Còn Nguyễn Ánh thì cùng đoàn tùy túng phò tá tháo chạy khổ sở đói khát, đến nỗi tướng Nguyễn Văn Thành phải đi cướp của dân lấy miếng ăn cầm hơi, đến nỗi bị dân đánh trả mà trọng thương. Gần năm ngàn quân còn lại chưa đây một ngàn, tan tác cả, phần chạy theo quân Xiêm, nhúm quân theo Nguyễn Ánh chạy dạt về cuối đất, trốn ra đảo Thổ Chu. May mà quân Tây Sơn đuổi theo bị bão biển đánh tan thuyền nên Nguyễn Ánh thoát nạn, bôn ba nhiều năm, chờ thời cơ nhà Tây Sớn có biến, lấy lại cơ đồ...
        Minh cứ ngẫm nghĩ, mảnh đất khu nhà vườn này chắc liên quan gì đến quan quân chúa Nguyễn thời nhà Tây Sơn chinh phạt vùng châu thổ này. Nhưng lịch sử đâu có chi tiết đến mức có thể tra cứu rõ được. Đành chơ cơ duyên thôi. 
4.
        Đầy năm, Minh nghỉ phép, ra Bắc. Lần đầu tiên, anh cảm nhận được niềm vui. niềm hạnh phúc của kẻ xa nhà về cả khoảng cách và thời gian  khi gặp lại mẹ và người yêu. Già nửa tháng. Minh tính toàn, phân bổ sao cho hợp lý để ở bên mẹ, giúp mẹ làm việc nhà với thời gian dành cho người yêu đang dạy học ở một trường xa dăm chục cây số. Trong niềm vui thường nhật những ngày bên mẹ và gần người yêu, nhưng ẩn chứa trong sâu xa, Minh lại thấy nhớ miền Tây sông nước, nhớ khu vườn xanh um cây trái, vắng vẻ và chập chờn ma mị ấy. Chẳng gì, anh cũng đã có bao chiều cô đơn, bao đêm hoang hoải, mất ngủ vì nhớ Bắc và sợ bóng tối. Con người ta lạ thế đấy, vui quá và sợ quá đều đem đến sự ám ảnh khôn cùng. Kỳ nghỉ gần hết, Minh bỗng thấy ngại khi nghĩ đến việc phải trở lại khu vườn ma mị sống tiếp những ngày khắc khoải, những đêm say để ngủ cho quên nỗi sự, những phút giờ hoang vắng đếm tiếng tắc kè tặc lưỡi bóng tối. Minh phân vân khi mẹ bảo ở lại thêm, còn người yêu thì nhắc nhở rằng chậm phép có thể bị cơ quan kỷ luật vì tội vô tổ chức... Nhưng rồi, Minh cũng dứt ra được, trả phép tuy có chậm ít ngày. Thấy anh ba lô trở vào, ông trưởng phòng người địa phương cười đùa "Tưởng cậu ở luôn ngoải... Vô lại thế này là được rồi... Có vợ chưa? Sao không đưa vô đây... tớ nói với Ủy ban huyện cấp cho miếng đất cập lộ, cất cái nhà tạm, chồng làm cơ quan, vợ mần buôn bán vặt. ... Sống khỏe à...".  Minh cười cầu tài cảm ơn. Không nhắc nhở, kỷ luật gì là ổn rồi. 
          Mấy nhà người quen, diện chồng Nam tập kết lấy vợ Bắc, thấy Minh vào lại, hè nhau nhậu, bảo là để mừng anh không đào tẩu. Buồn vui lẫn lộn, Minh quá chén say đứ đừ, thập thõm gắng gượng  khuya về đến phòng, đổ ập xuống giường, say ngủ mê man... 
       Dưới gốc dứa, hóng gió mát, Minh ôm cây ghi ta bập bùng. Anh lựa gạm thử mấy nốt theo một điệu vọng cổ, chợt nghe giọng đàn bà "Đàn này không hợp đâu, phải dùng đàn phím lõm kia.". Minh giật mình, ngừng bặt "Ôi, đúng là bà rồi... Tôi vẫn nhớ giọng bà mà...". Cười nhẹ "Vậy là người vẫn nhớ, khen cho ngươi... Về quê vui chứ?" Minh ngạc nhiên "Quê nào... Tôi vừa nghỉ phép ra Bắc ít ngày... ". Cười thành tiếng "Quê đấy chứ đâu... thăm mẹ thăm vợ thì hẳn vui lắm nhỉ". Minh cãi "Mẹ thì đúng rồi, nhưng ... bạn gái thôi, tôi đã cưới đâu mà vợ ?".  Giễu cợt "Ngươi chưa cưới vợ, ta biết.... nhưng ăn nằm với người ta thì cũng nên coi người ta là vợ... thế lấy của người ta cái ngàn vàng rồi định bỏ người ta à ?...". Minh cứng họng ú ớ "Sao... bà cũng biết à ?". Cười nhạt "Thì ta là ma... dương gian các người hay bảo, biết ma ăn cỗ lúc nào... nhưng ma lại biết rõ các ngươi ăn cỗ thế nào kia đấy". Cười ma mãnh, Minh ớn lạnh cả người "Tôi yêu cô ấy, muốn cưới làm vợ...". Vẻ chân thành "Ta tin ngươi thật bụng... nhưng đời còn dài mà... lòng người dễ thay đổi". Im lặng một lúc. Người đàn bà "Ta đến đây không phải để chuyện yêu đương của ngươi... Thế ngươi đã biết sử sách bao nhiêu rồi ?" . Minh hào hứng "Không nhiều, nhưng cũng đủ biết về trận Rạch Gầm Xoài Mút, nhà Tây Sơn đại phá 5 vạn quân Xiêm-Nguyễn,... biết chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy dài trốn chui trốn lủi ra đảo Thổ Chu thế nào...". Mỉa mai "Người có vẻ đắc ý nhỉ...  Ai dạy dỗ ngươi mà cao giọng vậy... làm được vài câu thơ mà giọng đầy thiên kiến vậy... Lịch sử vốn không thiên vị ai...", Minh hăng lên "Tôi không thiên kiến, rõ ràng nhà Tây Sơn, nhất là Quang Trung Nguyễn Huệ, đệ nhất anh hùng, ra Bắc dẹp Trịnh, vào Nam đuổi Nguyễn, trước quét sạch quân Xiêm, sau đại phá  quân Thanh... Thử hỏi, trời Nam xưa nay có ai bằng? ...".  Cười mỉa "Ta phận đàn bà, không bàn việc nước... ôm nỗi lo riêng, ở nhà phụng dưỡng cha mẹ, chăm con trẻ, đêm đêm nghe mưa nhẩm thời khắc chợ đợi chồng mòn mỏi nơi chiến trận, nén lòng ham muốn giữ đạo phu phụ, khi chồng chết trận lại thủ tiết thờ chồng nuôi con khôn lớn... ngần ấy thôi đã khô héo thân xác, úa nẫu tâm hồn rồi... ngươi bảo dễ lắm à... vòm trời này sao lại đổ hết bao nỗi cơ cực lên đầu người đàn bà làm vậy ?...". Minh nghe lòng bùi ngùi "Bà nói cũng phải... hỏi ông giời  hà cớ  gì bắt tội người đàn bà... ? ". Cười to "Ta than thở với ngươi nhiều cũng phí  công. Người thích lý sự thì nghe ta bàn đây... Này nhé, ba anh em nhà Tây Sơn, khởi thủy là giặc cỏ, có thấy nhà Nguyễn ta từ tiên chúa Nguyễn Hoàng vâng lệnh vua Lê, vượt đèo Ngang trấn thủ xứ Thuận Hóa, rồi trải tám đời chúa. mở mang bờ cõi trời Nam, thu phục Chăm-pa, Chân Lạp, mở nửa giang sơn Đại Việt này, ấy là công lao to lớn.... Nhà Tây Sơn kia nổi lên, chẳng qua cũng là tham vọng tranh đoạt thiên hạ, người Việt tàn sát lẫn nhau.... Nhờ việc phá Xiêm, đuổi Thanh mà trời đất dung thứ, lòng người biết ơn nên sử sách ghi công đó... Ta nói vậy, chẳng hay ngươi có ý gì khác? ". Minh ầm ư "Bà nói thế cũng đúng... Chẳng hay, bà xưa kia cũng thuộc người nhà chúa nên mói gọi nhà Nguyễn ta...?".  Người đàn bà ôn tồn "Ngươi tinh ý đấy... Ta không phải người nhà chúa, chỉ là, chồng ta cùng họ với nhà chúa... vả lại nhà ta đôi bên đều gốc dân Thanh Nghệ cả. Ngày trước, Trịnh Nguyễn phân tranh, nhưng lần quân chúa Nguyễn vượt sông Gianh lấn đất Bắc, chiếm làng bắt dân vùng Thanh Nghệ cũng đâu có giết chóc ai, chỉ vì hiếm người mà đất lại rộng, bắt dân cả làng, cả tổng đưa vô trỏng an dân khai mở đất hoang dần về phương Nam. Dân lúc đầu không hiểu, có phần oán thán vì phải rời bỏ quê hương bản quán, nhưng ngẫm kỹ ra lại hóa hay, được yên ổn làm ăn nơi đất mới mà sinh ơn... Cái gì cũng có hai mặt, chắc ngươi hiểu rõ ?" Minh thỏa mãn "Bà cũng thấy được đạo lý của nhà Tây Sơn... thế còn bao việc khác nữa chứ ?...". Cười nhạo "Ta chỉ thấy có vậy thôi.... nhà Tây Sơn chưa thành, anh em đã nghi kỵ lẫn nhau... Nguyễn Nhạc là anh cả mà nhỏ nhen, hẹp hòi, nghi kỵ; Nguyễn Lữ hoài nghi và thiếu quyết đoán. Còn Nguyễn Huệ thì tài năng hơn cả, nhưng cũng mắc chứng ngông nghênh coi trời bằng vung, mục hạ vô nhân, chưa biết lắng nghe.... Đạo làm vua như thế cũng là non kém, sao thấu nổi lòng dân ?... Vậy nên, nhà Tây Sơn nổi lên như sấm rền chớp giật là thế, nhưng nhanh chóng lụi tàn, trước hết là do nghi kỵ, tàn sát lẫn nhau... cũng  là đúng đạo lý trời đất cả đấy ...". Minh buồn buồn "Điều này thì bà cũng có lý... Tôi thắc mắc, không họ hàng thân thích với chúa Nguyễn, gia đình của bà chắc cũng mắc mớ chi đó ?". Chậm rãi "Có chứ... Thư thả nghe ta đây... Tổ tiên hai nhà ta vô xứ Thuận Hóa, rồi theo thời gian mở đất của các đời chúa Nguyễn, dạt dần vào Gia Định trấn, cũng thuộc hàng khá giả, có máu mặt ở xứ này... Phu quân là thuộc hàng võ tướng, trước trận Rạch Gầm Xoài Mút, phu quân ta là tướng lĩnh dưới sự chỉ suy của đại đô đốc Châu Văn Tiếp, vâng lệnh nhà chúa mở màn đánh vào đất Mân Thít (Vĩnh Long). không may bại trận, đại đô đóc Châu Văn Tiếp bị Chưởng cơ Bảo quân Tây Sơn giết chết. Chúa Nguyễn Ánh lại cử tướng quân Lê Văn Quân thống lĩnh tiền quân tiến đánh trận Ba Lai (Bến Tre) và Trà Tân )Định Tường), nhưng rồi tướng Lê Văn Quân cũng bị trọng thương... Phu quân ta cũng tàn quân nhập vào đội quân chính phò tá nhà chúa...". Minh à lên "Vậy ra, gia thế của bà cũng ghê gớm đó... thuộc hàng công thấn của nhà Nguyễn rồi.". Cười đau khổ "Công thần, công trạng mà làm gì... khi hồn lìa khỏi xác ? ... Trong trận Rạch Gầm Xoài Mút, mấy vạn nhân mạng tiêu vong... Phu quân ta cùng đám tàn quân phò chúa Nguyễn tháo chạy rồi lên thuyên trốn ra đảo Thổ Chu... Dọc đường rút chạy, phu quân ta liều chết để bảo vệ nhà chúa... không may tử nạn... Người bảo sao ta không đau xót?..." Minh giọng chia sẻ "Thỉ ra vậy... rất tiếc... tôi hiểu lòng bà !...". Giọng buồn rượi "Khốn cho thân ta... ở nhà vò võ chờ chống... đợi ngày đoàn viên phu quân làm nên công trạng, mang vẻ vang cho gia tộc.... Có biết đâu, ổng bỏ ta mà đi mãi mãi như thế...". Minh cảm thông "Bà có nỗi đau riêng của bà... nhưng đấy cũng là nỗi đau chung của biết bao người mẹ, người vợ.... có người thân tử trận trong những cuộc chiến lên miên suốt mấy thế kỷ qua trên dải đất này". Cười mỉa  "Ngươi nói hay quá nhỉ,... may cho số phận ngươi không phải xông pha trận mạc, không biết hòn tên mũi đạn thế nào, nên người hót hay lắm... Ta còn biết cả chuyện mẹ đẻ của ngươi mừng chảy nước mắt khi ngươi vì thấp bé nhẹ cân không đủ sức khỏe vào lính... Thực lòng, ta mừng cho bà ấy không phải sống những tháng ngày thấp thỏm chờ mong con mình trở về lành lặn... Phúc đức là đấy, ngươi có hiểu không ? Vinh quang thì hay hớm gì khi không còn nữa ?". Minh cãi "Thế bao xương máu đổ xuống là vô ích à ? Tôi không được trực tiếp tham gia cuộc chiến, không bàn may rủi... Ấy là số phận. Có điều này, giờ đây, mỗi khi người ta bàn về cuộc chiến vừa qua. tôi mặc cảm của người ngoài cuộc... thấy mình chưa đóng góp gì cả... xấu hổ lắm chứ". Cười nhạt "Ngươi cũng sĩ diện nhỉ, nhưng nam nhi không có chút sĩ diện mới đáng buồn... Ta không học hành nhiều như ngươi...phận đàn bà, ta thấm nỗi đau ta, mọi lý tưởng cao siêu, mọi lý sự này nọ, với ta đều là suông hết. Chỉ nỗi đau ta từng chịu đựng là có thật !...Đừng lý sự nữa...Ta không muốn nghe đâu.". Minh cười cảm thông, lần đầu tiên anh cười trong cuộc đối thoại "Chiều ý bà, ta nói chuyện khác,.. Công lao cứu giá của phu quân bà như vậy, hẳn sai này chúa Nguyễn không quên chứ ?". Ôn tồn "Ngươi là người chu toàn khi hỏi ta chuyện này.... Quả là sau khi thành nghiệp lớn, nhà chúa thu phục cả giang san, lên ngôi vua đầu triều Nguyễn, ngài ngự đã không quên công lao của những người từng phò tá mình dựng nghiệp, cả kẻ sống và ngưởi chết... Phu quân ta được truy phong tước vị, nhà ta được ban thưởng hậu hĩnh, được cấp trang ấp nơi đây... Cầm lòng vậy, bằng lòng vậy... ta thay chồng cai quản cơ ngơi này, giàu có sản nghiệp ta đâu có màng khi phu quân ta không còn trên cõi đời để cùng ta và con cháu hưởng thụ... Chút an ủi cho  ta ấy là người dân trong vùng nhờ thế mà có công ăn việc làm, được miếng ăn no bụng, được áo quần lành lặn... Họ ơn nhà ta là vậy..." Minh cướp lời "Thế nên họ mới xây miếu thờ cúng bà chứ gì ?" Cười to "Ngươi đúng là kẻ láu cá'... Xây miếu thờ ta trên đất trang ấp nhà ta, ấy là từ con cháu ta... Có điều, dân trong vùng cũng nể trọng ta phần nào mà hương khói cho ta... Vậy thôi.". Minh đắc ý "Bà thấy không, đạo lý ở đời cũng công bắng lắm chứ... Ai làm phúc cho dân thì dân quý trọng...". Trầm ngâm "Điều này thì ta tin ngươi hiểu... rốt cuộc, chúa Nguyễn thắng làm chủ thiên hạ, nên nhà ta mới được hưởng lộc chúa.... Ngươi nghĩ xem, nếu nhà Tây Sơn giữ được cơ đồ, nhà ta đây không chừng thành tội đồ vì tội đi phó tá chúa Nguyễn, bị triệt hạ, tàn sát cũng nên...". Minh băn khoăn "Điều này thì tôi không dám chắc... Có thể là vậy". Cười nhạo "Ngươi cũng là kẻ công bằng đấy chứ....Úng xứ với kẻ thua cuộc ra sao, hoàn toàn phụ thuộc vào bản tính và tâm trạng của người thắng, hoan hỉ bao dung hay cay cú rửa hận... thôi thì, nói sai cho hết được tâm địa con người ta...". Minh chậc chậc "Có lẽ vậy chăng ?...". Cười nhẹ "Ta lại nói đúng tim người rồi... Ngươi bối rối là phải... Ta bàn thế là để so sánh ta với người đàn bà mới đến trú ngụ trên đất của ta,". Minh ngạc nhiên "Ai thế?... người đàn bà nào?". Buồn buồn "À, ngươi đi vắng về quê ít bữa, nên không biết đấy thôi... Có một đàn bà góa mới lìa trần xuống dưới này, đến gặp ta xin trú ngụ... Vậy người không để ý, cái nghĩa địa phía bên kia hàng rào cây nơi cửa sổ sau nơi người ở rồi?... Cái mả mới với những vòng hoa héo...". Minh khẽ rùng mình "Vậy sao?... Tôi chưa kịp để ý.",  Giải tỏa "Ngươi yên tâm... Có ta ở đây làm chủ, ngươi không phải sợ... Với lại, người đàn bà mới đến này vốn hiền lành. Ngươi không sợ bị quấy nhiễu đâu...". Minh vẻ yên tâm. cầu tài "Vậy người này đâu dám sơ với bà được ?" . Cười nhạo "Ngươi cũng khéo nịnh nhỉ... Ý ta là, người này từng chịu cảnh góa bụa như ta xưa... Có điều, khố kiếp đàn bà góa một phần, khốn thêm nỗi người chồng tử trận lại thuộc bên thua cuộc chiến... Nghe đâu, người chồng là sĩ quan cấp tá, tử trận ngay đầu chiến dịch quân Bắc tấn công Tây Nguyên chi đó.... Xác bị vùi lấp đâu đó chẳng rõ nữa..." Minh thở phào "Thì ra là vậy... nhưng biết làm sao được ! Chiến tranh mà, nó có chứa ai đâu". Cảm thông "Góa bụa đã khổ. lại bao năm sống trong nỗi sợ bị bên thắng trần trả thù, hành tội, o ép này nọ... May mà, bên thắng cuộc cũng không tệ..." Minh hào hứng "Đấy, bà thấy chưa.... Đạo lý công bằng mà. Ai làm người nấy chịu... Bà ta không liên quan gì đến việc chống bà ta làm, nên chẳng có gì phải sợ... Nhưng chồng bà ta, nếu còn sống thì tôi không dám chắc được đối xử như bà ta đâu... Chắc chắn ông ta sẽ phải học tập, lao động cải tạo này nọ... ". Mỉa mai "Nghe ngươi nói, thấy rõ cái lý của kẻ mạnh, thấy sự áp chế của bên thắng cuộc.". Minh lên giọng "Đương nhiên... Thời ấy, bà cũng thấy đấy, nhà Nguyễn đã thi hành một chính sách trả thù nhà Tây Sơn tàn khốc... truy lùng, giết chóc, quật mồ mả, phá từ đường, thôi thì không thiếu gì hành vi rửa hận...". Cay đắng "Ngươi thôi đi... ta không muốn nghe nữa....".  Minh tự ái "Vậy thì thôi,... xin phép bà dừng lời...". Vẻ buồn bã "Chuyện thế là nhiều rồi... ta thấy cũng là có íc ... À, ta nói trước điều này... có lẽ làm ngươi buồn.... người con gái của ngươi tên Nguyệt nhỉ.... Tên hai ngươi ghép vào hay lắm... Minh Nguyệt là giăng sáng, nhưng chỉ để mai sau mỗi đứa tháng tháng nhìn giăng sáng mà nhớ đến nhau thôi... Hai người có duyên mà không có phận... Ta đi đây..." Minh bàng hoàng khi nghe lời phán vậy "Kìa bà...cho tôi hỏi vài câu được không ?... Tôi còn chưa tường diện mạo bà kia mà...".  Giọng xa xăm "Thế đủ rồi... ngươi không thể tường diện mạo ta đâu... Ta đã siêu thoát từ lâu... Cho ngươi hay, người đã khuất mà còn để lại diện mạo trong tâm thức người sống, là người còn chưa siêu thoát... ".
 
5. 
        Minh tỉnh cơn mơ. Cảm nhận đầu đau nhức, nặng trịch. Hơi thở vẫn nồng mùi men. Chắc rượu uống lúc chiều là loại rượu kém chất lượng được lên men từ nguyên liệu ri đường. Ngọn đèn dầu hỏa đỏ cạch gió lùa cửa sổ sáng lay lắt. Người váng vất khó chịu. Anh lôi vội chiếc xô nhựa dưới gầm giường nôn thốc nôn tháo cả mật xanh mật vàng. Minh mệt lả người, nằm im, lần hồi nhớ lại giấc mơ ...
        Minh những tưởng, giấc mơ ngày nào gặp người đàn bà tự xưng là chủ khu vườn từng có miếu thờ ngay trong vườn này sẽ không bao giờ lặp lại. Vậy mà anh lại mơ thấy bà ta, tiếp nối câu chuyện bỏ dở từ lần trước. Anh vẫn bị ám ảnh bởi bầu không khí bí ẩn của khu vườn và câu chuyện đằng sau nó.  Minh ngẫm nghĩ, có lẽ sự hoang vắng của khu vườn cộng hưởng với âm khí từ cái nghĩa địa ngay phía sau nhà anh ở đã ám thị anh thành mộng mị. Song những hiểu biết về lịch sử anh đọc ít nhiều được tái hiện vào câu chuyện với người đan bà trong mộng khiến anh nghi hoặc về nguồn gốc khu vườn này và những chủ nhân của nó qua máy thế kỷ. Những người quanh đây, cũng chỉ biết lơ mơ về người chủ bỏ xứ sang Mỹ định cử khi kết thúc chiến tranh phân miền, chứ không ai biết sâu xa hơn về nguồn gốc, liệu rằng các người chủ trước nữa có phải huyết thống trực hệ là nối nhau sống nhiều đời ở đây hay là đã sang nhượng thay tên đổi chủ. 
        Riêng có chi tiết trong mộng mị của anh thì nhanh chóng xác định được ngay. Ngay hôm sau, anh theo lối mòn vạch rào ngó sang nghĩa địa phía sau thì quả nhiên thấy ngôi mả mới thật. Cũng không khó để xác định người nằm dưới mộ ấy là ai. Chị người quen cũng cơ quan sống kế bên chợ An Lạc xác nhận, thời điểm Minh đi phép Bắc, có một chị chuyên bán đồ khô ở chợ An Lạc bị cảm đột ngột rồi mất, và nghe nói chồng chị ta trước đây là sĩ quan Ngụy chết trận. Đối chiếu với giấc mơ của mình, Minh thấy không sai. Chi tiết này là có thật, thì câu chuyện dài trong mộng mị kia có cơ cở để tin... 
        Sau lần ấy, Minh không hề mơ thêm gì nữa, mặc dù anh có ý trông chờ. Công việc, cuộc sống biến động, anh dần lãng đi, mặc dù đâu đó trong những đêm khó ngủ vì nhớ nhà, vì lo tính công việc, nó vẫn thảng về trong ý nghĩ của anh. Mối tình của anh và Nguyệt cũng không thành sau vài ba năm chờ đợi. Nguyệt chủ động chia tay anh vì lý do từ gia đình. Minh níu kéo không nổi đành buông tay... Nguyệt về Hà Nội theo khóa cao học, rồi xin việc mới, không trở lại trường cũ. Chuyện tình đổ vỡ, Minh không đổ lỗi cho việc anh đã vô tình tặng kéo cho Nguyệt, bởi một lần vì không biết, anh đã mua tặng cô chiếc kéo thợ may cùng bộ sách hường dẫn cắt may, thước vải, và dụng cụ may, gửi qua bưu điện để cô tập lúc rảnh rỗi. Sau anh mới biết, người ta bảo, người yêu nhau kỵ nhất việc tặng dao kéo và khăn tay, bởi dao kéo sẽ cắt đứt tơ duyên, còn khăn tay là để lau nước mắt chia tay, ly biệt... Minh có nghĩ đến lời tiên đoan của người đàn bà trong mộng về sự tan vỡ mối tình của anh với Nguyêt, chỉ cảm thấy buồn nhớ những năm tháng ở đấy... 
        Nhưng cũng vì gắng níu kéo mối tình với Nguyệt mà anh quyết tâm ra Bắc. Anh bỏ lại quá khứ với khu vườn, bỏ châu thổ mênh mông sông nước cùng những điệu vọng cổ da diết buồn, bỏ Dạ cổ hoài lang sầu bi não nùng....
        Hơn hai mươi năm sau, Minh mói có dịp trở lại vùng đất Bảy Núi, nhân chuyến công tác miền Tân Nam bộ. Anh tranh thủ thăm gặp những người quen cũ. Vài người trong số thân quen của anh ngày ấy đã khuất bóng. Biết tin cơ quan cũ của anh đã chuyển đi nơi khác, còn khu vườn ấy được huyện quy hoạch xây dựng thành trường dân tộc nội trú. Minh muốn thăm lại nơi cũ. Anh nói qua lý do và xin phép người bảo vệ được vào hẳn sân trường. Anh đứng tần ngần, quan sát khắp lượt, hình dung lại cảnh xưa, người cũ, đâu là hàng dừa, vườn xoài, đâu là căn nhà có phòng anh ở, và đâu từng là chỗ cây xoài  cát cổ thụ dưới gốc có đám gạch xây long lở, vết tích của một ngôi miếu cổ. Bao nhiêu chuyện cũ, hình ảnh xa mờ bỗng hiện về rõ nét trong đầu anh... Người bảo vệ đến bên anh, bảo "Chẳng còn dấu vết cũ, anh hỉ". Minh cười buồn, cảm ơn người bảo vệ... 
        Minh còn trở lại vùng đất này nhiều lần. Anh cũng có thơ ghi lại cảm xúc của mình.  Giờ đây, mỗi khi nhớ về vùng đất ấy, anh thầm gọi tên miền xanh thăm chân mây... ./.
 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 17.10.2021 16:55:02

CHUYỆN NGÀY MƯA
Tản văn

Sáng nay trời mưa.
Mưa rả ríc như thế đã mấy ngày nay.
Đã tháng chín ta mà mưa như thể mưa ngâu,,,,

Mở máy tính làm việc mà người ngây ra chẳng biết viết gì. Chợt nhớ đến người bạn thân đang sống một mình ở quê Kinh Môn, Hải Dương, bèn gọi điện. Anh bạn từ Sài Gòn về quê chăm mẹ già ốm liệt giường từ trước tết Nguyên đán rồi kẹt lại do giãn cách xã hội vì dịch covid đến tận giờ,,,,

Chúng tôi nói với nhau nhiều lắm, đủ thứ chuyện. Chuyện nọ dọ chuyện kia, nhưng chung quy vẫn quanh quẩn chuyện nhà, chuyện quê huiwng bản quán và văn chương, Tiết mưa dầm dễ gợi, lại thêm chút gió mùa đem cái lạnh cuối thu đầu đông về càng khiến lò+ng người ta xao động.

Chuyện rằng, iwr xứ ta, phần đông người ra có nguồn gốc nông thôn, vi nước nông nghiệp mà, cên xái nông dâm ăn sâu bám rễ vào con người ta bền chặ tlắm, Lúc nhỏ ở quê thi cố thoát khỏi cái phận theo đít trâu, nhoi đi đây đó. Về sau thành bại ra sao cũng hướng về quê quan tìm đất cũ lấy nơi chốn hương khói tổ tông, hoặc giả tim đấy để mai sau gửi thân già để khỏi mang tiếng bỏ thân xác thiên hạ.Người khá giả vinh hoa thì muốn mũ áo xe pháo mỹ áo xênh xang về làngm,,,

Nhớ lời cha tôi baorm đất làng tôi mang dáng con cò đứng bờ sông ngoảnh cổ lại nên người làng đi đâu rồi sau cũng tìm về quê. Nghĩ chi cùng thì cũng tâm klý ấy mà ra cả thôi.,,,

Chuyện văn chương, thì cũng rõ cả đấy, phần lớn văn nghệ sĩ xứ mình đều nguồn gốc nông thôn, Trời cho năng khiếu cầm bút thoạt kỳ thủy cũng lấy ký ức tuổi thơ và mang chuyện quê hương ra mà kể cho thiên hạ nghe, rồi đó mới thoát ra để chuyện thiên hạ,...

Ngẫm kỹ, mà phục nhà thơ Hạ Tri Chương đời Đường thật tài khi khái quát tất cả điều ấy trong bài tứ tuyệt bất hủ của mình:

"Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi



Hương âm vô cải mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai ?"

Hiểu nôm na bài thơ là:

Khi trẻ rời quê, gìa quay trở về

Chất giọng quê chưa đổi thì tóc đã điểm bạc

Đám trẻ kàng nhìn mình chẳng biết là ai,

Cười hỏi mình là khách từ đâu đến ?

Chuyện vãn, cả hai đều bùi ngùi

Bạn bảo nơi quê bạn vẫn đang mưa lạnh... Phải nấu cơm ăn dù có một mình. Mảnh vườn và ngôi nhà cũ tuổi thơ dù nay cha mẹ đã vắng bóng. Nghe bạn lại nhớ ngôi thờ tự ở mình cũng đóng cửa im ỉm, gần nửa năm nay cũng có về hương khói được đâu !

Vậy mà có ai bỏ được đâu !...
@@@
Nguyễn Việt An Khi không còn trẻ, cảm giác về quê khác nhiều lắm, so với khi còn trẻ. Mỗi lần về quê lại thấy người quen cũ vơi đi. Những người cùng thế hệ lần lượt xa quê, còn rất ít người ở làng. Có nhiều người từ khi rời ghế nhà trường đến nay, tôi chưa một lần gặp lại. Thế hệ bố, mẹ tôi vắng dần, vắng dần, đi xa về cõi vĩnh hằng. Cảm giác về quê buồn vui lẫn lộn, sum họp, mất mát đan xen. Cảm giác đó đã có trong tôi từ nhiều năm trước. "Thoáng quê xưa", là bài tôi viết trong lần về quê vào cuối mùa thu, cách nay đã nhiều năm:

Mỗi lần về lại quê xưa
Thấy người quen cũ cứ thưa vắng dần
Bông hoa cúc nở tần ngần
Sắc vàng ngơ ngác tắt dần cuối thu

Đồng xa vẳng tiếng chim gù
Chuồn kim đá nước ao tù rêu xanh
Hoe vàng một chút nắng hanh
Tiếng gà xao xác bên mành dậu thưa

Quê nghèo cháy năng bạc mưa
Mới về lại thấy như chưa được về
Cải ngồng nhuộm nắng chân đê
Thoảng hương cốm mới bay về trong mơ

Sống ở phương nam, tôi nhớ quê với những kỷ niệm ấu thơ, những nét đặc trưng của vùng quê Bắc bộ mà miền nam không có được. Bây giờ lại sắp mùa đông. Hôm qua, tôi và NCN có nói với nhau về cái rét của mùa đông xưa. Hồi xưa mùa đông rét lắm, dường như còn rét đến bây giờ. Khi ở vùng nắng ấm, tôi lại nhớ mùa đông:

Ôi cái rét muốn run từng ngọn lửa
Tôi đốt lòng nhung nhớ gọi mùa đông



@@@


Nguyen Vinh Tuyen Đệ à… CHUYỆN NGÀY MƯA khiến Huynh ứa nước mắt về một nỗi nhớ vu vơ miền xa quê quán !
… Hà Nội sau mấy đợt dịch, sau đôi lần cách ly, giãn cách… rồi tháo khoán… ngẫm phận mình mòn sức khó vịn sự đời đặng khuyết lực xông pha tung tẩy thì chán nản cả chuyện thuốc thang dưỡng bệnh!…
Ngẫm rằng trò chơi trên Thiên Đình chắc chắn khác hẳn trò đời Hạ-Giới (?). Sắp Bốn Mươi Chín Ngày cho Mẹ Bạn (Việt An)… Rồi Ngẫm thêm nữa MẸ GiÀ của mỗi chúng ta đã lần lượt rủ nhau đi xa… xa-xôi quá Đệ ơi! Ngày Mẹ đi; tất cả chúng ta Hạ-huyệt một Thi-Thể: ĐÓ LÀ THI THỂ THỜI GIAN - còn Mẹ của Mỗi- Chúng-ta thi phía Xa-Kia… vẫn cứ đang lầm lũi, lẽo đẽo đang còn vượt sông suối leo dốc lên phía Thiên Đàng… Ngày tống chung cũng là ngày ta không được ở bên Mẹ. Người thì Sống Mãi để Ra-đi; còn ta thì ngồi lại hoặc loanh quanh bên nấm mộ thời gian…
…Có gì đó se thắt nỗi đời !




tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 29.10.2021 16:43:50

CHUYỆN NGÀY CŨ ( V )
THỜI GIAN KHÔNG TRỞ LẠI
Tản văn, Tạp bút)

@@@
Trong một đoản văn của mình, nhà thơ CTH đã trích dẫn một câu hát từ bài hát nền bộ phim truyền hình nhiều tập Phía trước là bầu trời : “ Nếu có ước muốn trong cuộc đời này, hãy nhớ ước muốn cho thời gian trở lại…”.

Bộ phim ấy làm về đề tài sinh viên, được ra mắt công chúng cách đây khoảng chục năm. Tôi đã xem một cách chăm chú và thích thú với các nhân vật và nhiều tình tiết của bộ phim… Tôi yêu thích , không hẳn vì sự thành công của bộ phim đó, hay sự xuất sắc của một vài vai diễn, nhân vật … mà vì ở đó, tác giả đã gửi gắm khát khao được sống-làm việc- yêu đương, được khẳng định mình, được cống hiến tuổi trẻ, sức sáng tạo… và cả được hưởng thụ với ý nghĩa đích thực của cuộc đời.

Tôi thích bài hát nền với ca từ và giai điệu giản dị, trong sáng, khát khao, da diết và có gì đó tiếc nuối …

Tôi thích nó, CTH ạ, còn đơn giản bởi, tôi đã thực sự cảm nhận được cái mất mát không tài nào lấy lại được của quãng thời gian đã qua trong cuộc đời mình và những người thân mà tôi yêu quý…

Ước muốn cho thời gian trở lại … Không đâu, CTH ơi, thời gian không trở lại…

Tôi nhớ đến sự mê dụ trong văn chương của Marcel Proust, thiên tùy bút "Xứ sở" - khúc ngẫu hứng của tiểu thuyết "Tìm lại thời gian đã mất"( Retrouvé le temp ), mà ở đó, tác giả bộc lộ khát vọng sống và sự tiếc nuối về thời gian gian đã mất …

Tôi lại nhớ đến một câu thơ của Ngô Tự Lập – “ Gió đã mang đi ngày hôm qua “ – bài thơ ấy lấy cảm hứng từ bài hát nổi tiếng Yesterday…

Tôi chia sẻ và đồng cảm với Việt An khi anh ghi cảm nhận : “ Với tôi, tôi vẫn muốn thời gian trở lại. Trở lại không phải cho tôi, mà cho cha mẹ tôi.Tôi ước gì cha mẹ tôi trở lại tuổi 60, để tôi có thể phá bỏ căn nhà cũ, xây căn nhà mới nhỏ xinh và đầy đủ tiện nghi dành cho cha mẹ”.

Tôi với Việt An chơi với nhau từ tuổi học trò. Khi là sinh viên, tôi cùng với người bạn đã đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng lên tận Phủ Lỗ-Núi Đôi thăm Việt An vào một ngày chủ nhật. Việt An và bạn bè cùng lớp anh, khi đó, đã báo thêm mấy suất cơm nhà ăn, và còn dành tất cả những thứ gì ăn được để tiếp đãi chúng tôi một bữa cơm đạm bạc thời nghèo khó. Tôi còn nhớ như in bữa cơm quây quần ấy, trong căn phòng chật chội của ký túc xá tranh tre nứa lá trên vùng đất sỏi khô cằn miền trung du, đám sinh viên vừa ăn, vừa trò chuyện thân mật, trêu đùa nhau, bốc phét, kể chuyện yêu đương và đọc thơ ( thơ người, thơ mình , nói tóm lại là tất cả những gì mình thuộc )… Rồi đó, là những năm lập thân, lập nghiệp khổ ải và khao khát. Mấy đứa chúng tôi, Trần Đăng Khoa vào bộ đồi, đi chiến trường Campuchia và Trường Sa, Việt An cũng vào bộ đội và anh công tác ngay trong sân bay Tân Sơn Nhất. Tôi cầm tấm bằng kỹ sư canh nông và có đến 7 năm trời lang bạt khắp nẻo đồng bằng Tây Nam Bộ; một người bạn nữa thì làm báo, cũng lang thang đây đó… Những lần từ miền Tây Nam Bộ đi phép ra Bắc, tôi hay ghé thăm Việt An. Lại báo cơm nhà bếp đơn vị, nhưng lúc ấy, dù nghèo nhưng Việt An đã có đồng ra đồng vào, đã có thể chạy ù ra quán, mua thêm chút thức ăn tươi và xị đế , nhâm nhi với nhau để có cớ mà ngẫu hứng đọc thơ… Càng nghèo khó, gian khổ truân chuyên thì càng yêu thơ… Cũng là bởi, chỉ có thơ, ngoài thơ ra, không có gì khác, và mình biết lấy gì ra, để xoa dịu, an ủi lòng mình đây, để bộc lộ khao khát, để đau đáu văn chương và để tiếc nuối cơ chứ ? !... Cũng vì thiếu thốn, nên ngày ấy, Việt An đâu có thực hiện được mong muốn xây nhà mới cho cha mẹ anh, phải vậy không Việt An ?

Tôi lại nhớ, những ngày sống lầm lụi giữa đồng bằng bạt ngàn và cô quạnh nơi vùng đất biên giới Bảy Núi, An Giang, đêm đêm nghe tiếng muỗi bay và đâu đó tiếng vọng cổ não nề của khách thương hồ chạy tàu đò trên dòng kinh Tám Ngàn về miệt Hà Tiên … Lại cũng làm thơ. Thơ cho mình và thơ cho người yêu trong tâm tưởng, vô vọng mãi xứ Bắc, Hà thành …

Tôi lại nhớ, những ngày chạy đôn đáo xin việc, chuyển công tác, đêm về ăn đậu ngủ nhờ nơi gia đình người bạn, trong căn phòng có 9 mét vuông, như chuồng chim trên nóc chung cư P16 Thuỵ Khuê …

Tôi nhớ lắm và thấm thía ánh mắt buồn phiền của mẹ tôi, khi tôi vẫn cứ lang bạt đây đó, mãi chưa ổn định công việc và lập gia đình để mẹ yên lòng với tuổi già !...

Vâng. Và lẽ dĩ nhiên, tôi nhớ… những bóng hồng, những người phụ nữ đi ngang qua, lướt nhanh qua tuổi trẻ của mình…

Và nữa … Nữa …Tất cả còn trong tôi, chỉ có thời gian là mất đi vĩnh viễn mà thôi…

Ơi CTH và Việt An, “ nếu có ước muốn trong cuộc đời này, hãy nhớ ước muốn cho thời gian trở lại, bên nhau cháy bỏng …”. Các bạn của tôi ơi , thời gian không bao giờ trở lại .

Chỉ có ký ức là ở lại và mãi tươi nguyên. Vậy thì, sự tiếc nuối hẳn không vô ích, khi mà, "Gió đã mang đi ngày hôm qua "?!...
###
Bình luận từ: Việt An [Bạn đọc] Email 30.05.10@20:20
@Nguyễn Chu Nhạc !

“Các bạn của tôi ơi , thời gian không bao giờ trở lại . Chỉ có ký ức là ở lại và mãi tươi nguyên. Vậy thì, sự tiếc nuối hẳn không vô ích, khi mà, Gió đã mang đi ngày hôm qua ?!...”(Nguyễn Chu Nhạc)
---
Vâng ! đúng vậy ! Thời gian không bao giờ trở lại, chỉ có ký ức là mãi tươi nguyên. Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên vào thời gian khó. Bây giờ kể lại, lớp trẻ sẽ cảm thấy như nghe như chuyện cổ tích. Hình như một thời gian khó, làm người ta yêu quí nhau, và nhớ nhau nhiều hơn thì phải ?

Văn chương là cơ duyên, giúp cho chúng tôi trở thành bạn học của nhau, dù mỗi người ở mỗi huyện, rải rác khắp tỉnh Hải Hưng cũ (Nay tách làm 2 tỉnh là Hải Dương và Hưng Yên). Vào đời, tôi chọn cho mình con đường đi không còn bóng dáng văn chương. Đã mấy chục năm, tôi gần như không còn đọc các tác phẩm văn học. Cuối năm 2008, tình cờ khi lướt web, tôi đặt chân đến làng Blogtiengviệt. Nơi tôi ghé thăm đầu tiên là blog của Phạm Tâm An. Văn chương với tôi bây giờ, thực sự chỉ là những thoáng dạo chơi. Tôi viết cm tếu táo, với vài bài mang tính giao lưu. Việc đó mang lại cho tôi những người bạn mới, và cả những niềm vui nho nhỏ.

Tình cờ khi giao lưu blog, tôi gặp lại bạn tôi – nhà báo Nguyễn Chu Nhạc. Nhưng, người làm tôi hiện diện trước cộng đồng, lại là nhà báo Nguyễn Trọng Huân (người mà tôi cảm mến qua những bài viết của anh), khi anh đã hơn một lần công khai nhắn tìm tôi trên blog, như “tìm trẻ lạc”. Thế giới ảo xa mà gần. Đó là duyên cớ để tôi xuất hiện ở bài viết này của Nguyễn Chu Nhạc.

Những năm tuổi trẻ, có lẽ tôi và Chu Nhạc là khá long đong. Một chút sai lầm, đã làm việc học hành của tôi bị chia làm 2 khúc, trước khi có được mảnh bằng đại học. Chu Nhạc có thuận hơn, nhưng ra trường lại đi xa biệt, mãi vùng biên giới của tỉnh An giang. Lúc đó tôi đang trong quân ngũ. Muốn vào khu vực đóng quân phải đi qua ít nhất 2 trạm gác được kiểm soát khắt khe. Thật sự chúng tôi ít có dịp gặp nhau...nhưng, kỷ niệm về những năm tháng đã qua, vẫn còn nguyên vẹn.

Năm 2004, tôi ra Hà Nội, đến nhà Trịnh Bá Ninh (hiện là Phó tổng BT báo NNVN). Ninh nhấc máy điện thoại thông báo cho các bạn, rồi quay sang nói với tôi: “Bây giờ ko còn thiếu thốn gì, nhưng tóm được thằng bạn đến nhà nhậu cũng khó, vì ai cũng bận việc”. Ngoài trời rét đậm. Mưa nặng hạt. Nhìn các bạn khoác áo mưa, đi cả chục km đến, tôi xúc động chẳng biết nói gì.

Hôm sau, chúng tôi tụ họp tại nhà hàng Rambo, đường Nguyễn Chí Thanh Hà Nội. Đang vui, bỗng nhà thơ Trần Đăng Khoa trầm ngâm: “Kinh thật ! Ba mươi năm rồi đấy”! Vâng, chính xác lúc đó là 29 năm, kể từ khi chúng tôi rời ghế nhà trường phổ thông. Bây giờ (năm 2010) là 35 năm rồi ! 35 năm, mà như mới hôm qua !

Nhớ lúc Nguyễn Chu Nhạc xin được việc ở đài TNVN, Trịnh Bá Ninh hấp háy bảo tôi : “Thấy anh Nhạc về đài, các bà chưa chồng ngoài 40 mừng lắm ! Bà nào cũng nhủ thầm, khéo lần này đến lượt mình !??” Dù rằng lúc đó Nhạc mới chỉ 30 tuổi. Dân văn chương vốn hóm hỉnh. Có vô vàn câu chuyện chọc ghẹo nhau tương tự.

Lại nhớ, Trịnh Bá Ninh là người lấy vợ sớm hơn cả. Hai vợ chồng Ninh ở một phòng chỉ rộng 9m2, trên tầng 2, do báo NN cho mượn, hay cấp chẳng rõ. Khi tôi đến, Ninh ngồi giữa nhà, với tay lôi ra 1 bao lạc củ, miệng nói: “Quà “hối lộ” của nông trường , của hợp tác xã nông nghiệp đấy, ông ạ”! Chúng tôi ngồi bóc lạc để rang. Lại với tay, Ninh lôi từ gầm giường ra 1 cái bếp dầu, 1 can rượu trắng cùng mấy cái chén nhỏ, rồi nói: “Ở nhà chật, sướng thế đấy. Mình ngồi giữa nhà, mà “điều hành” được mọi việc” !?

Căn phòng nhỏ của vợ chồng nhà Báo Trịnh Bá Ninh, là kỷ niệm đáng nhớ một thời của không ít bạn bè, trong đó có Nguyễn Chu Nhạc. Nhạc và vài người bạn nữa, từng lưu trú tại căn phòng đó nhiều ngày, trước khi xin được việc làm. Tôi cứ thắc mắc, không biết tay Ninh “sáng tác” vào lúc “quái” nào, trong khi mấy thằng bạn chưa vợ “nằm phục” ngay cạnh giường ? Vậy mà “hắn” vẫn “sáng tác” được mới lạ !? Tác phẩm đầu tay là cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, hiện đang làm luận án Tiến sĩ tại Mỹ. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy, tôi thật sự cảm phục tấm lòng của chị Mai (vợ anh Ninh), đối với mấy ông bạn “nửa văn thơ, nửa báo chí” của chồng.

Lại nhớ thời đi học “miếng cháy to hơn điểm 10”. Nhớ thời đạp xe đạp tìm đến thăm nhau, khi Nguyễn Chu Nhạc và Trịnh Bá Ninh còn học ở trường Đại học Nông Nghiệp I. Mỗi sáng dậy, chen nhau hứng nước đánh răng. Bao nhiêu con người xúm vào cái vòi nước chảy như thằn lắn đái. Câu “Nhất bát, nhì ca, thứ ba cà mèn” xuất phát từ đây.

Lại nhớ bài thơ đầu tay “Núi Đôi buổi sớm” của Nguyễn Chu Nhạc, đăng trên báo Văn nghệ, khi anh còn là sinh viên, được lấy cảm hứng từ chuyến đi cùng Ninh, đến vùng Núi Đôi thăm tôi…Lại nhớ, những lá thư viết bằng giấy học trò của bạn bè, với những bao thư tự chế…

Có vô vàn điều để nhớ…đã giúp chúng tôi luôn nhớ và biết sống một cách cố gắng. Tôi vui và tự hào về các bạn của mình. Thay cho lời cảm ơn, một lần nữa, tôi xin mượn lời của Nguyễn Chu Nhạc để kết lại cảm nhận này: “Các bạn của tôi ơi , thời gian không bao giờ trở lại . Chỉ có ký ức là ở lại và mãi tươi nguyên. Vậy thì, sự tiếc nuối hẳn không vô ích, khi mà, Gió đã mang đi ngày hôm qua ?!...”(Nguyễn Chu Nhạc)

###
Bình luận từ: Chử Thu Hằng [Blogger] Email 31.05.10@10:35

@ Anh Chu Nhạc
@ Anh Việt An
Bài viết của hai anh đã làm sống lại trong tôi hồi ức của một thời. Hi vọng có lúc đưa ra chia sẻ.
Chợt nhớ câu "Cái gì mới cũng thích, nhưng tình bạn cũ thích hơn". Chúc tình bạn lâu năm của các anh bền mãi cùng năm tháng.

Bình luận từ: MÙA THU VÀNG [Blogger] l 31.05.10@15:11
Đọc bài viết của anh Nhạc + thêm những dòng chia sẻ của anh VA, em càng thêm cảm phục tấm lòng nhân hậu của người phụ nữ chủ nhân ngôi nhà 9m2 ở chung cư Thụy Khê. Cùng là phụ nữ nên em rất thấu hiểu, càng thấu hiểu lại càng thêm nể phục. Những người như vậy thật đáng trân trọng bởi vì đó thực sự là của hiếm. Các anh đã thật sự là những người giầu có và HP bởi vì đã có được những tình bạn tốt đẹp và trong sáng như vậy trong cuộc đời...

@@@
Bình luận từ: Lâm An [Blogger] Email 01.06.10@09:17

Là người sống hay hoài niệm về thời gian, quá khứ . Đọc Entry của tiên sinh, lại thấy trong người mình sao lại "nhớ' nhiều đến vậy. Có đôi khi ngồi tự vẫn lại mình về những sai lầm và mất mát đã qua lại nghĩ " giá như hồi đó là bây giờ ...chắc lẽ mình sẽ không hành động như vậy ". Đọc xong em cũng có ước muốn vậy đó " ước muốn để thời gian quay trở lại ..." .

@@@

Bình luận từ: buithibinh [Blogger] Email 02.06.10@08:09
@ Quan Văn !
Đọc xong bài này của Bạn ...mình khóc luôn !
Thời gian trôi đi và thời gian ko bao giờ trở lại ...
mà bao ký ức cứ dội về .
Việt An ơi
...“ Với tôi, tôi vẫn muốn thời gian trở lại. Trở lại không phải cho tôi, mà cho cha mẹ tôi.Tôi ước gì cha mẹ tôi trở lại tuổi 60, để tôi có thể phá bỏ căn nhà cũ, xây căn nhà mới nhỏ xinh và đầy đủ tiện nghi dành cho cha mẹ”.
Riêng mình : 20 năm trước do không muốn Mẹ ở nhà một mình , do muốn Mẹ đi cùng con cái mấy chị em đã dại dột bán đi Ngôi nhà xưa ...
Hai mươi năm qua đi ...
và thời gian cũng nặng nề trôi theo ....
Mỗi lần về quê ko dám bước về thăm ngôi nhà xưa cũ . Nuớc mắt tràn mi với bao ký ức về Cha Mẹ ....
Hai mươi năm qua đi ...
May mắn : Cách đây 3 ngày mấy chị em đã chuộc lại được Ngôi nhà cũ ... thời gian dù ko trở lại nhưng hình bóng Mẹ cha vẫn còn nguyên đó với những kỷ niệm xưa ....

Cảm ơn Chu Nhạc - Việt An và Người bình thường đã chia sẻ để mình nhẹ lòng hơn với Thời gian !

@@@
Bình luận từ: tranhonggiang [Blogger] 29.05.10@19:04

Anh Chu Nhạc!
Em cho rằng tất cả mọi người đang sống trên thế gian này đều có chung một nỗi tiếc nuối, hoài niệm về quãng thời gian đã qua của mình. Tiếc nuối những kỷ niệm đẹp, những ước mơ dang dở, những cơ hội bị bỏ lỡ,... thì đã hẳn rồi; nhưng không chỉ thế, người ta còn nuối tiếc cả những ký ức đau buồn, những chia ly, mất mát... Cũng chả hiểu vì sao mà trời lại cứ bắt tội con người ta mãi như thế nữa!!!!



tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 02.12.2021 17:27:28


ĐỔT LÊN ĐỐNG RẤM,...
tản văn
       
       Ngày đầu năm mới, về quê dự đám cưới đứa cháu, rồi ghé về thắp hương ngôi thờ tự của gia đình. Trời nắng hanh vàng óng. Đường làng đang đổ bê tông. Rồi đây rộng rãi, sạch sẽ và dễ đi đấy, nhưng sao lại thèm và nhớ con đường làng lát gạch nghiêng cổ rợp bóng tre xưa đến thế... Ngày ấy, nhà nào cũng có sân vườn rộng lắm, lũy tre um tùm, sân vườn rợp cau, xoan và cây ăn quá như nhãn, mít, ổi, na, hống xiêm, bưởi... Giờ thì toàn nhà hình ống kiểu phố, bao nhiêu ao chuôm, vườn đều bị lấp hết chia thành thổ cư. Buồn vui chộn rộn, bởi làng quê bay mất hồn vía cảrồi,... Nao lóng, nhớ mấy câu thơ cũ:

"... Chiều đông bàng bạc ngõ thôn,
đốt lên đống rấm gọi hồn ngày xưa,
cha về lại bến đò đưa,
mẹ thời nhóm lửa gió lùa vách quê,..."
Bồi hồi nhớ chuyện xưa và tức cảnh thành thi:


Ước gì trở lại ngày xưa
Em ngồi hong tóc gió lùa giậu thưa
Thương em chín đợi mười chờ
Giờ thanh công cốc tôi hờ giận tôi

Tôi về nhìn bến sông trôi
Ngược miền ký ức rằng tôi vẫn buồn...
Thương người phận mỏng cánh chuồn
nghe đâu phiêu dạt ngọn nguồn ai hay,

Chiều đông nắng nhạt ngọn cây,
ngõ quê bóng dáng những ngày em qua,
mấy chục năm vẫn riêng ta,
thế nhưng... đã một gã già, nhớ em,...


tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 08.01.2022 15:23:59
THAY LỜI TIỄN BIỆT NHÀ THƠ TRÚC THÔNG
Chủ bút:
Nhà thơ Trúc Thông, tên thật là Đào Mạnh Thông, sinh năm 1940. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, từng công tác nhiều năm ở Ban Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV). Ông qua đời ngày 26.12.2021 sau nhiều năm bị tai biến mạch máu não. Sinh thời, nhà thơ Trúc Thông đã có nhiều tìm tòi, thử nghiệm nhằm đổi mới thơ Việt,...
 
LÁT SÔNG QUÊ & Lời bình

Bến từng quãng,
những đứa trẻ nghịch bơi tung toé nước.

Như mình vậy chiều hè bao năm trước.
tôi đang dọc sông quê tha thẩn.
Bóng từ ngõ sâu hiện dần ra mái tóc bạc.

Một bà cụ lưng còng gần rạp đất.
có phải bà từng hai tay hai lọ nước,
bến sông lên từng bậc...

Vẫn bà ư ngày xưa ấy về đây?
bên kia sông đã vợi nắng chiều.
In thẫm hai gác chuông nhà thờ làng Móng.
Nhịp chuông vọng qua sông theo bóng chiều đổ gấp.
cậu-bé-tuổi-thơ-xưa tim hơi loạn nhịp.

Mẹ ơi đi lâu thế, sắp tối rồi sao mẹ vẫn chưa về...
muốn sang đò ngang, ra giữa dòng,

ngắm và nghe những gì thật lắng.
của mẹ của cha của tuổi thơ xa lắc
sông Châu êm lặng thế thôi mà...

( Trúc Thông )
###
LỜI BÌNH CỦA NGUYỄN CHU NHẠC:
Đọc bài thơ Lát sông quê của Trúc Thông, tự nhiên tôi nhớ đến một câu triết lý cổ "Chẳng ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông". Minh triết về dòng sông này khái quát qui luật vận động của vật chất được ẩn giấu bởi mối quan hệ vật thể (con người và dòng sông) trong không gian bốn chiều.
Tôi mường tượng, trong con người tác giả, luôn chập chờn hai cái bóng, một nhà thơ già lão luyện và một cậu bé thơ ngây ngơ ngác với đời... Nhà thơ già - cậu bé năm xưa từng vùng vẫy trên dòng sông và sợ sệt khi trời tối mà mẹ vẫn chưa về, nay lại có bao cậu bé cũng vậy. Bà già hiện ra từ ngõ sâu bây giờ đâu như là đã từng xuống sông lấy nước với đôi lọ trên tay chầm chậm lên từng bậc cầu sông mỗi ngày từ hơn nửa thế kỷ trước, ấy vậy mà, so với tiếng chuông nhà thờ bên kia sông vọng về, với nắng chiều vợi ngày ngày thì có thấm tháp là bao!... Con người sinh ra, lớn lên, già đi với bao vui buồn, sướng khổ, với bao khúc quanh, bước ngoặt trọng đại trong mỗi kiếp người, nhưng suy cho cùng thì cũng chỉ là dòng chuyển của vật chất theo quy luật qua những cung bậc giữa cõi vũ trụ mênh mang, vô thuỷ vô chung mà thôi!...
Đi tìm tuổi thơ trong dĩ vãng xa lắc xa lơ. Tác giả - nhà thơ của chúng ta muốn thế chăng? Dù có đò ngang ra giữa dòng, hay thậm chí có trần mình vẫy vùng trên sông như cậu bé thuở nào đi chăng nữa thì chẳng qua cũng chỉ là động thái cho nguôi nỗi nhớ, cho thoả lòng yêu quê hương, bản quán sau nhiều năm tha hương, lăn lộn với đời... Và dường như để ngộ ra một điều: "Vẫn sông Châu êm lặng thế thôi mà...". Dù dáng vẻ dòng sông nay vẫn thế, song nhà thơ hiểu rằng, mình chẳng thể về lại với dòng sông hệt xưa nữa rồi. Có chăng chỉ còn trong tâm tưởng...!?




tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 13.01.2022 15:33:06
Ơi cái thời chị đẹp
Truyện ngắn
Bẵng đi hàng mấy năm trời, tôi mới lại có dịp về thăm quê. Tôi tranh thủ đi hỏi thăm hàng xóm láng giềng và bà con họ hàng. Một buổi tối đến chơi nhà chú họ, tôi ngồi uống nước chè với cậu con trưởng của người chú. Cậu ta đang chăm chú nghe tôi nói chuyện thủ đô, chuyện thời sự quốc tế, chợt quát hỏi thằng em khi ấy vừa đi từ trong buồng ra:   - Này, tay mày cầm cái gì thế kia? Thằng em lúng túng, một tay giấu đằng sau lưng. - Có gì đâu, em… - Gạo phải không? Mày lấy trộm gạo để đi đến ổ Luyến à? Nói rồi anh xông ngay đến tước lấy cái bọc mà cậu em đang giấu đằng sau. Cái gói bung ra làm gạo bắn tung tóe. Khi cậu em đi rồi, thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, cậu anh giải thích:  - Anh có hiểu là nó mang gạo đi đâu không? - Chắc là… bán lấy tiền tiêu hoặc cùng lắm tích tiền mua sắm quần áo, tệ hơn nữa là cờ bạc, rượu chè. - Không, anh nhầm rồi - Cậu ấy cười khẩy - để chơi gái đấy.  - Chơi gái? Tôi hỏi lại bởi ngạc nhiên thật sự. Lúc trước nghe cậu anh nói đến “ổ Luyến” thì tôi nghĩ ngay đến một ổ rượu chè, cờ bạc nào đó, chứ không thể nghĩ đến là “ổ điếm”. Ở nông thôn, đi với gái điếm lại trả công bằng gạo, thật là một chuyện lạ. Điều đó kích thích lòng tò mò nghề nghiệp của tôi. Một suy nghĩ chợt xuất hiện, có thể viết một bài báo, hoặc một phóng sự chẳng hạn. Tôi bèn xoay vào cậu anh: - Này, thế chủ ổ điếm đó tên Luyến à? - Chủ gì đâu. Có độc mình mụ Luyến, con riêng của bà cả Ái.  - Chị Luyến à? Thế là chẳng còn đợi tôi hỏi, cậu anh thông thốc kể cho tôi nghe hàng loạt chuyện xung quanh ổ điếm làng này…
*
     *         *
Tình họ hàng, chị Luyến có họ xa với tôi, kiểu họ bắc cầu “bắn đại bác không tới”. Tuy nhiên, ngày nhỏ chị khá gần gũi với gia đình nhà tôi và tôi luôn kính trọng chị. Ngày ấy, những năm sáu mươi, tôi còn đang học cấp một, chị ấy đã hết cấp hai. Chị học cùng lớp với chị Thúy của tôi. Lúc ấy, tuy còn bé nhưng tôi cũng biết được rằng chị Luyến rất đẹp. Có thể nói, ngày đó, không những chị đẹp nhất làng mà còn nhất xã, thậm chí nhất huyện không chừng. Chị Thúy tôi cũng đẹp nhưng là vẻ đẹp thùy mị, nết na, còn chị Luyến thì ngược lại, đẹp một cách quyến rũ, lẳng lơ. Tôi nhớ, lúc bấy giờ là những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ rất dữ dội. Làng tôi cách Hà Nội chỉ vài chục cây số lại làng quê cổ nên có rất nhiều trường đại học sơ tán về. Các chàng sinh viên phát hiện ngay ra những cô gái quê có nhan sắc để bâu quanh tán tỉnh. Chị Luyến được các chàng chú ý nhất và xoay quanh như chong chóng. Chàng tặng thơ, chàng tặng sách, chàng rủ đi xem… Chị nhận lời với tất cả. Có lần, tôi được nghe một chàng trong số đó, từng bị chị Luyến cho ra rìa, đến tán tỉnh chị Thúy tôi và kể lại rằng chị Luyến đã chơi trội bằng cách xin theo học ngoại ngữ cùng với lớp sinh viên và đã từng diện chiếc áo len đỏ chói đi từ cửa lớp phía gần bục giảng với dáng vẻ kiêu hãnh xuống hàng ghế cuối lớp trước hàng trăm con mắt nửa thèm muốn thán phục, nửa chê trách khích bác của đám sinh viên. Chị Luyến không những đẹp mà học cũng rất giỏi. Cánh thanh niên trong thôn và cả đám sinh viên đều cho là chị hâm hâm. Chị có hâm hay không thì chẳng biết song rõ ràng chị là đối tượng khao khát của đám con trai và đàm tiếu của nữ giới, kể cả các nàng sinh viên vốn được tiếng là cao giá… Bây giờ tôi mới hiểu rõ là người ta muốn, người ta giành giật không được, hoặc người ta kém hơn thì sinh dèm pha, chứ thực ra chị cũng không đến nỗi nào. Có chăng bởi chị đẹp quá, đẹp một cách khêu gợi làm ngứa ngáy và gai mắt mọi người.   Thế rồi, đùng một cái, chị Luyến lấy chồng. Chồng chị không phải là một trong số những người mê chị mà là một anh chàng hiền lành người làng nhưng đi thoát ly. Những năm bấy giờ, thoát ly là niềm mơ ước của biết bao trai gái nông thôn. Anh ta tên Ngọc. Chẳng hiểu vì tật bẩm sinh hay bệnh ngoài da mà cứ đến độ hanh hao thì da anh lại mốc lên, cho nên ở làng, anh ta có biệt hiệu là Ngọc “mốc”. Ngọc là con độc nhất của một bần nông. Bố Ngọc là cốt cán trong năm giảm tô cải cách. Gia đình được chia quả thực. Bố mẹ Ngọc lại căn cơ nên lúc đó nhà Ngọc được tiếng là khá giả nhất làng. Cũng không hiểu vì sao chị Luyến lấy Ngọc “mốc”. Lấy Ngọc, chị Luyến được tiếng là có chồng làm cán bộ thoát ly, bố mẹ chồng lại thuộc diện nhà ngói, sân gạch, cây mít. Đối với đám con gái làng, có lẽ được như vậy là toại nguyện lắm rồi, song với chị Luyến thì tôi nghĩ là không. Về chuyện chị Luyến lấy Ngọc “mốc” thì người làng có đồn rằng, bà cả Ái, mẹ chị - một người đàn bà có nhan sắc sớm lận đận chuyện tình duyên, góa chồng, đi bước nữa với ông làng Triển, vì cuộc đời quá long đong nên ngẫm mình tủi thân mà bắt con gái sớm lấy chồng cho yên phận. Cũng nghe đâu là chị Luyến định cự tuyệt thì bà Ái đe tự tử, thế là chị đành cam lòng. Ngọc “mốc” công tác xa, tháng đảo qua nhà một vài lần, song chị Luyến nào được sống tự do, mà luôn phải ghép mình trong vòng kiềm tỏa chặt chẽ khắt khe của bố mẹ chồng. Thế rồi chị Luyến xin đi học lớp sơ cấp sư phạm của tỉnh. Mãn khóa học, chị Luyến nhận nhiệm sở trường cấp một của xã và cũng là ngày chị ở cữ đứa con trai đầu lòng. Thằng bé chẳng có nét gì của bố. Cánh giáo viên ở trường xì xào rằng đứa bé không phải là con của Ngọc “mốc” mà của một ông thầy dạy ở trường sư phạm tỉnh. Tuy vậy, mọi chuyện vẫn bình thường bởi Ngọc “mốc” rất quí đứa bé. Cuộc đời chị có lẽ như thế trôi đi, nếu như không có chuyện một buổi người ta ấn vào tay chị bức điện tín báo tin chồng chị bị cảm và mất đột ngột ở cơ quan. Chồng chị được đưa về chôn cất ở quê. Nhìn cảnh chị khóc lóc thảm thiết trước linh cữu chồng, ai dám bảo là chị không yêu chồng. Chẳng biết người làng nghĩ gì, song riêng tôi thì nghĩ có lẽ chị cám cảnh thân phận mình thì nhiều hơn. Mãn tang chồng, chị Luyến trở về với vẻ cởi mở vốn có của mình. Chị cười đùa nhiều hơn, mắt nhìn đong đưa hơn. Gái một con đầy đặn, mặn mà. Lại khối kẻ nhòm ngó, tán tỉnh… Một thời gian, người làng đồn đại về mối quan hệ kỳ quái giữa chị với ông bố chồng. Người ta bảo là ông bố chồng chị “giữ gian cho con trai ở dưới suối vàng”. Còn ở trường học, mọi người lại thì thầm về việc ông hiệu trưởng “chỉ quí có mỗi mình cô Luyến”. Thật chẳng biết tin vào đâu. Mà thực ra, người ta cần gì phải tin hay không. Miệng thế gian ngoan miễn có chuyện để nói là được.  Chị Luyến lại gây ra một chuyện bất ngờ nữa. Chị xin thôi việc ở cơ quan, mang con bỏ lên mạn ngược với người chị gái. Thế là làng hết chuyện để mà đàm tiếu. Hơn một năm sau, chị Luyến về thăm quê, đi kèm là một chàng trai cao to mang sắp phục công an. Theo lời giới thiệu của chị, người ta biết được ở trên đó, chị xin vào dạy một trường cấp một và chàng trai đi cùng là chồng mới cưới của chị. Anh ta người dân tộc thiểu số, là trai tơ, gặp chị là si mê ngay và đòi cưới bằng được mặc dù biết chị đã qua một đời chồng và có con riêng. Đợt về thăm quê ấy chính là tuần trăng mật của đôi uyên ương. Trời lạnh, chị Luyến diện quần âu, mặc chiếc áo len cổ lọ màu hoàng yến, tay dắt con, đi cùng chồng từ đầu làng đến cuối làng thăm thú hết nhà nọ đến nhà kia. Vẻ hãnh diện và vẻ đẹp rực rỡ kết hợp hài hòa trên con người chị. Người làng chứng kiến cảnh ấy, kẻ khen thực lòng “cô Luyến thế mà may. Dạo này cô ấy trẻ đẹp quá”; kẻ lại dè bỉu “Đồ đĩ thõa. Rồi xem được mấy nả”… Riêng mình, khi ấy đang học cấp hai nói theo kiểu ngươi lớn là “hỉ mũi còn chưa sạch”, tôi thấy chị đẹp quá chừng và tôi vừa mừng, vừa thương cho chị, xen chút ghen tỵ, ước ao sau này mình cũng lấy được một người vợ xinh đẹp và quyến rũ như vậy.  Cuộc đời thật lắm điều chẳng ngờ. Tưởng vợ chồng chị sẽ yên ấm. Ai dè, mấy năm sau lần về quê thăm ấy, chị Luyến lại dắt con về làng. Lần này không có anh chồng đi cùng. Dù cố tình che đi nhưng chị Luyến không sao dấu nổi những vết thâm tím trên khuôn mặt mình, chắc là dấu vết của những trận đòn. Theo bà Ái rêu rao trong làng thì anh chồng chị vốn tính hay ghen, lại cục, hễ bắt gặp vợ mình đi cùng hoặc nói chuyện với người đàn ông nào là xông đến gây sự, rồi về nhà đè vợ ra mà thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Không chịu nổi những trận đòn ghen, chị Luyến đã mang con bỏ về làng và cũng chằng buồn ra tòa ly dị. Bà Ái ví thân phận con gái mình như nàng Kiều.  Chị Luyến ở hẳn quê. Chị xin đi dạy cấp một nhưng người ta không nhận lại nữa. Làng cũng đã chia xong ruộng khoáng nên chị không xin được ruộng để làm. Bà cả Ái thương con bèn xẻ bớt vài sào ruộng trong định suất của mình cho con sinh sống.  Một thời gian dài sau khi tốt nghiệp đại học, tôi nhận công tác xa, lâu lâu mới có dịp về quê. Hỏi thăm, tôi được biết chị Luyến không lấy ai nữa. Mà có lẽ cũng không ai dám lấy mặc dù vẫn không ít kẻ thèm muốn thân xác chị. Chị xin xã được mấy chục thước đất dựng một căn nhà nhỏ ở góc sân kho hợp tác xã lâu ngày bỏ không để rêu mọc và làm ruộng nuôi con. Chị có mua thêm ít nước mắm, dầu thắp bán lẻ cho mọi người những lúc nhỡ nhàng. Thôi thế cũng được, tôi thầm nghĩ. Nào ngờ, nay lại đến bước đường này…!
*
     *         *
Một buổi trước kỳ nghỉ kết thúc, tôi gọi thằng con thứ của ông chú để hỏi thêm về chuyện chị Luyến. Nghe xong, nó cười và bảo tôi: - Anh cứ đùa dai. Ở ngoài đó thiếu gì gái đẹp mà phải tìm đến mụ gái già nhà quê này làm gì? - Dào ơi, ông anh lại khéo che đậy. Thôi được, để viết báo hay để làm gì thì cũng mặc, thằng em xin chiều. Nó kể và bày cách cho tôi tiếp cận. Rồi nó bông đùa một cách đểu giả:  - Bọn trai làng từ trung tuần đến choai choai bất cứ ai mụ ta cũng đều tiếp cả. Mụ ta dễ dãi lắm mà. Có tiền thì trả tiền không có tiền thì trả bằng gạo thóc. Hiện vật là được. Không có thì chịu đến lần sau trả một thể. Anh có tin rằng đã có đứa sau khi hành sự, trả mụ bằng bọc mắm tôm không? Ha, ha… - Nó cười - Mụ Luyến mà vớ được anh, dân thủ đô, phóng Cub vèo vèo, bẫm phải biết. Chúc anh một buổi tối sung sướng. Ôkê! Theo chỉ dẫn, tôi tìm đến ổ Luyến. Căn nhà gạch bé nhỏ xây vữa không trát, nép dưới bụi tre bên góc sân kho lở lói. Tôi gõ cửa rụt rè. Tiếng chị Luyến uể oải nhưng tôi vẫn nhận rõ: - Cứ đẩy cửa mà vào.  Tôi lách mình vào nhà và vội vã khép ngay cửa lại. Chị Luyến mặc bộ đò hoa mỏng, nằm chân co chân duỗi trên giường xem tiểu thuyết. Thấy tôi, chị buông sách hỏi: - Anh cần gì? Hình như anh không phải là người ở đây? - Vâng. Tôi… tôi gặp chị. - Gặp tôi à? Vậy thì anh uống nước đi. Có chè pha sẵn rồi đấy. Nếu không muốn uống thì nằm ngay xuống đây với tôi.  Chao ơi, trơ tráo và chai lỳ đến thế là cùng, tôi cay đắng nghĩ. Thấy tôi cúi đầu, chị khiêu khích: - Hay anh không mang tiền? Nếu không sĩ thì chịu cũng được. Anh nằm xuống đây đi, tôi đang mệt, không muốn ngồi dậy đâu.  - Chị Luyến, chị không nhận ra tôi sao? Tôi cố kìm mình để không quát lên. Chị Luyến nhỏm dậy, nhìn tôi trân trân rồi nhếch mép, cái nhếch mép nửa cười khẩy, nửa như mếu: - Đã đến thế này, thì quen biết làm gì… Nhưng thôi, cậu là Nguyên. Cậu tưởng cậu đi xa mà tôi không còn nhận ra nữa sao? Chắc nghe nói về tôi rồi chứ gì? Thảo nào cậu cũng biết đường đến đây! Tôi hiểu ra rồi… Mọi thằng đàn ông đến đây đều xông ngay vào tôi mà cấu xé, còn cậu… Tôi biết cậu đến không vì lý do đực cái mà để lý thuyết, dạy đạo đức, chứ gì? Tôi thêm phần lúng túng bởi sự đáo để đến quyết liệt và tàn nhẫn của chị, song dù sao cũng còn dễ chịu hơn.  - Tôi là nhà báo, chị hiểu cho… - A, thế thì còn tệ hơn! Cậu viết bài đăng báo lấy nhuận bút. Cậu kiếm tiền bằng cách phỉ báng tôi. Cậu cút đi! Tôi không tiếp những người đạo đức giả như cậu. Bọn đàn ông trong làng đến đây, tuy toàn một lũ cục mịch, ngu ngốc, háo sắc và đểu giả ra mặt, nhưng như thế còn hơn bởi dù sao họ cũng thành thực, chứ không như loại lắm chữ như cậu! Chị Luyến rít lên. Tự nhiên, tôi không còn cảm thấy lúng túng nữa mà trong người tôi bừng lên một sự giận dữ. Rồi tôi chùng người xuống. Tự ngồi xuống bàn, tôi rót nước cho mình và đưa cho chị một chén. Châm thuốc hút. Chị Luyến cầm chén nước trên tay, không uống mà cũng không đặt xuống. Im lặng hồi lâu, tôi nhìn sang thì thấy đầu chị cúi gục xuống, vai khẽ rung từng đợt. Chị khóc. Tôi định chào chị và ra về thì chị Luyến lên tiếng: - Cậu đến đây mà không sợ xấu hổ với người làng à? Ngộ nhỡ bây giờ có ai đến, người ta sẽ biết mặt cậu… - Không. Nhưng chị đối xử với tôi còn tệ hơn với đám khách làng chơi của chị, vậy tôi đành về thôi.  - Cậu Nguyên - tôi tự giận mình đấy thôi. Tôi đâu có ngờ mình lại đến nông nỗi này. Lúc tôi mới về làng, còn khó khăn, mấy tay cán bộ xã bốc giàu lên, học đòi thiên hạ, thèm của chua tìm đến tán tỉnh tôi. Tôi cự tuyệt thì họ dọa sẽ gây khó khăn mà đuổi tôi ra khỏi làng. Còn như, tôi chấp nhận thì họ sẽ tạo điều kiện cấp đất làm nhà cho tôi và mấy sào ruộng khoán. Cực chẳng đã, cậu ơi. Lâu thành quen, tôi nghĩ thế cũng nhàn. Bây giờ thì cả làng khinh bỉ tôi, cả mẹ tôi, con tôi… Cái đám đàn ông cũng vậy, họ vừa thèm khát, lại vừa khinh bỉ tôi. Đến nước này, cuộc đời quăng vật, còn gì để mà danh giá, gìn giữ nữa cậu! Đã điều tiếng thì dù mình có thế nào cũng vẫn điều tiếng. Nhiều lúc mệt mỏi, chán nản, tôi muốn chết quách cho xong. Nhưng rồi lại nghĩ đến con… Muốn bỏ nghề, từ chối thì họ lại chửi “Đĩ còn giữ giá”. Thôi thì mặc thây cái cuộc đời này, cũng đáng bỏ đi lâu rồi… - Thế con trai chị đâu? - Cứ tối đến thì nó bỏ đi. Đến nửa đêm mới về, thậm chí cũng không về, bởi nó biết tôi thường có khách. Hồi nhỏ, nó còn chịu được, sau lớn lên một chút, nó hầm hè với khách. Lớn lên nữa nó hiểu, và nhất là sau mấy lần bị tôi mắng, nó bèn nghĩ ra cách ấy. Có khi đến mấy ngày nó chẳng nói với tôi một câu nào.  Ngắm kỹ chị Luyến, tôi thấy chị phai tàn đi nhiều. Chị đã ngoài bốn mươi rồi, qua hai lần đò, bây giờ lại thế này thì còn gì là người nữa. Tôi nén tiếng thở dài. Chợt chị hỏi: - Nghe đâu, Thúy cũng sống ở ngoài đó? - Vâng, gia đình chị ấy cũng tạm ổn.  - Tôi có một đề nghị thế này. Ra ngoài ấy, cậu muốn viết gì thì tùy cậu nhưng không được để đúng tên tôi. Và nhất là, không được nói bất cứ điều gì cậu biết về tôi với Thúy. Chị Luyến lại tức tưởi. Tôi lặng nhìn. Rồi móc túi tiền đặt khẽ lên bàn, lách cửa ra ngoài. Trời đêm đầy vẻ rầu rĩ. Tôi đi giữa những tiếng chó sủa rấm rẳng. Mà tôi để tiền lại làm gì nhỉ. Tiền bạc nghĩa lý gì? Lại một sự ngu ngốc. Nào có ai cần tôi thương vay khóc mướn đâu!... Tháng 9/1992

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 20.02.2022 11:24:55

MƯA XUÂN
( Tản văn )

Tiết xuân,
Đêm trước, ngủ mơ vàng tiếng mưa nhè nhẹ, rơi rơi, ru rín, rả rich… Sáng dậy, mở cửa nhìn ra thấy mái hiên nhỏ giọt, lối vào ngõ nhà ướt át…
Đi đường, cân nhắc rồi thây kệ, chẳng áo mưa gì. Trời mờ hơi mưa, xuyên màn mưa bụi, lúc đầu không sao nhưng chỉ một chút là bụi nước mờ mắt kính, vạt trước áo khoác ngoài cũng nhếnh nháng… Ấy là chút lộc sớm của mùa xuân...
Lâu rồi, mới thấy đây. Tự nhiên, nhớ mấy câu thơ rất chi tinh tế của Lưu Trường Khanh, một thi nhân đời Đường (Trung Quốc), trong bài thơ Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên, đã viết “Tế vũ thấp y khan bất kiến/Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh”, dịch nghĩa tiếng Việt là “Mùa phùn làm ướt áo, nhìn mà chẳng thấy/ Hoa nhẹ nhàng rơi xuống đất, nghe không thành tiếng”. Quả là hay và tinh tế làm sao. Được biết, hai câu thơ này từng được sử dụng làm đề thi cho học sinh toàn Trung Quốc trong một kỳ thi tốt nghiệp bậc Trung học phổ thông. Một người bạn thơ của tôi, blogger Hoa Mai đã dịch là “Mưa phùn áo ướt nhìn chẳng rõ/ Hoa rơi từng cánh bẫng như không”. Thế cũng là hay.
Tiết mưa phùn, mưa xuân, hơn ngàn năm nay vẫn vậy. Thời ấy, thi nhân Lưu Trường Khanh, đi thuyền dọc sông, gặp tiết mưa xuân đã cảm thán mà viết vậy… Đến thời nay, nhà thơ xứ Việt mình, Trần Đăng Khoa, cũng tài tình lắm thay khi tả cảnh mưa phùn, mưa xuân, trong bài thơ Mưa xuân, đã hạ bút: “Mưa bay như khói qua chiều/ Vòm cây như nhỏ giọt đều qua đêm/ Tiếng mưa vang nhẹ khắp miền/ Lòng rung như chiếc lá mềm, khẽ sa/ Sáng ra, mở cửa nhìn ra/ Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô”…
Nhưng tiết mưa phùn, với người thành phố, có thể làm người ta khó chịu, bởi sự ướt át, nhớp nháp, ẩm thấp, nhưng với nhà quê, mưa phùn có cái duyên và sự thú vị của nó. Sống ở quê lâu, nhìn đâu cũng thấy sự chuyển biến của vạn vật theo tiết trời… Ngoài cánh đồng, sau nhưng ngày rét khan khô hạn, mưa phùn đất ẩm, những chân ruộng chưa vỡ, rau khúc miên man màu xanh non, còn chân ruộng mạ, mỗi ngày nhìn cũng đổi khác. Cây vụ đông như su hào, bắp cải, cải cúc mỡ màng hơn. Trong làng ngoài ngõ, ướt át lầy bẩn bùn đất có đấy, nhưng ta sẽ thấy thú vị khi thấy vạt bèo trên ao cạn đã xanh hơn, hàng rào cúc tần, xương rồng thì tươi roi rói… Trong vườn, những vạt cải sót, cải giống lên ngồng rung rinh hoa vàng ngậm nước mưa như nạm ngọc. Và, những cây bười, cây chanh hoa đâm nụ sớm hương lan dìu dịu… Bày gà mẹ, gà con túc túc dắt nhau tìm bới, bắt sâu bọ, côn trùng trong đất ẩm… Mọi vạn vật đều cựa quậy, sống động hẳn lên, chờ tiết xuân sang,… Mưa phùn là tín hiệu đầu tiên của mùa xuân đấy…
Ấn tượng làm sao, trong màn mưa bụi giăng mờ ngõ xóm, là những loài hoa màu đỏ. Và nữa, màu áo đỏ, khăn choàng đỏ của các chị, các cô gái quê cũng ấn tượng và có sức khơi dậy trong ta niềm hứng khởi xuân !...



tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 12.03.2022 10:03:49

LÊN MIỀN HOA BAN TRẮNG
(Tản văn)

@@@
Đi Tây Bắc, lần nào cũng vậy, dù nhàn tản thăm thú hay vội vàng công việc, đều có cái thú riêng của nó. Thường là chuyến đi vào dịp cuối năm, hay bị vội vàng hơn những chuyến đầu xuân.
Nhớ là, có lần, đã giáp tết, công việc bề bộn, cứ bị cuốn theo cái sự gấp gáp, náo nức của không khí tết, nên ngoài việc ngó nghiêng tìm mua lấy một cành đào rừng, thì chẳng còn thời gian đâu mà thăm thú... Lần vào dầu xuân, đã chủ định, rảnh rang hơn. Chẳng gì thì cũng vừa mới hết tháng ăn chơi, vả lại mùa xuân hãy đang còn kia mà. Nhớ dạo thu năm ngoái, anh bạn đồng nghiệp, là chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Điện Biên nhắn nhe bằng lời mời hấp dẫn : “ Mong được đón anh ở Điện Biên, nhưng hẹn anh vào mùa ban xuân tới “. Vậy mà mùa ban đến, định theo lời mới mà lên, thì anh chàng lại bay vào Nam, chờ theo tàu Hải quân ra thăm Trường Sa. Thôi kệ, mùa ban đâu có đợi người . Thích thì cứ đi thôi.
Đúng hôm lên đường thì một đợt gió mùa mạnh tràn về. Suốt dọc đường, từ Hòa Bình, Mai Châu, Mộc Châu, Yên Châu, Hát Lót lên Sơn La, mưa rét tầm tã, rả rích một điệu ru rín buồn buồn của trời đất, trong khi ấy, thì cập nhật thông tin toàn là tuyết rơi dày gây khó khăn cho công tác cứu hộ động đất, sóng thần ; chuyện phun nước làm mát lò phản ứng hạt nhân ở Nhật Bản ; tin chuẩn bị đánh nhau to ở Libya... Lởn vởn trong đầu, ý nghĩ về một đợt lũ tiểu mãn có thể giảm nguy cơ cháy rừng, và cung cấp một lượng nước đáng kể cho cây cối và tích thêm nước cho thủy điện, khiến cho lòng người có cái để mà vui ...Những cung đường Tây Bắc, mấy năm qua đi lại, đã thành quen thuộc, khúc nào quanh co nguy hiểm, mùa nào hay sương mù dày đặc, chỗ nào có bản Mông, bản Thái, mùa nào có hoa gì nở ... Ấy vậy, trời mưa rét, cũng mất hết cả phương hướng. Lúc nghỉ chân tìm chén trà nóng ở gần thị trấn nông trường Mộc Châu, lạnh run người, thì ra nhiệt độ xuống tới 4 độ C. Xe cứ lầm lụi trong mưa, chốc chốc một cây gạo hoa trổ đỏ ối cả cây trơ vơ bên sườn dốc hiện ra trong màn mưa. Xe đông người, vậy mà một cảm giác cô đơn len lén dâng lên.. Mấy ngày, ngoài sự hứng khởi trong thực thi công việc, chút thăng hoa xen lẫn cảm giác trống rỗng khi nghiêng ngả trong các cuộc rượu tại bản Thái, vẫn còn sự chờ đợi về màu hoa ban trắng rừng núi Tây Bắc. Lại Thuận Châu, rồi vượt đèo Pha Đin sang Tuần Giáo. Đã thấy lác đác những cây ban hoa trắng, nhưng ủ rũ trong mưa rét và sương giá. Cả thành phố Điện Biên chìm trong mưa rét. Đêm, nằm bẹp trong phòng kín Nhà khách tỉnh, nghe mưa rơi đều đều ngoài trời, loáng nhoáng màn hình ti vi là những cảnh tuyết dày ở Sa pa cùng các gương mặt hớn hở của người lần đầu thấy tuyết, cảnh người dân Nhật Bản đang vật lộn với giá rét tuyết phủ kín trong đống đổ nát khổng lồ của động đất và sóng thần. Có gì đó hơi bất nhẫn...
Ngủ vùi trong hơi men và những xúc cảm đan xen, chộn rộn. Lại mơ màng về một màu hoa ban trắng ...
Vâng, đấy là cảm xúc về một miền hoa ban trắng của những năm trước, nó đã thuộc về ký ức, dù chưa xa. Đến mùa ban này, tôi cầm trong tay cái giấy mời của Ban tổ chúc Lễ hội hoa ban Điện Biên. Có gì đó háo hức. Ngay như Sơn La, mặc dù không phải là xứ sở của hoa ban, thì ở thành phố đó đây, cũng đã bắt gặp những băng-rôn quảng bá về Lễ hội hoa ban, và ngẫu hứng thay, tôi đã chộp được mấy bức ảnh hoa ban khá ưng ý từ vài ba cây ban cô lẻ mình đầy hoa trắng tinh trong nắng chiều xuân óng ả. Lại vượt đòe Pha Đin, giờ đã hạ cốt thấp hơn nhiều so với tuyến đường trên cao xưa kia “ ngàn thước lên cao ngàn thước xuống” của những chiến binh Tây Tiến. Khi băng ngang quê hương của người anh hùng thiếu niên Vừ A Dính thời chống Pháp, hoa ban ven đường, và trên những vạt đồi đã nhiều hơn. Càng gần thành phố Điện Biên, thủ phủ của miền hoa ban trắng, dọc đường vào, bắt gặp những cây ban mới trồng theo hàng lối quy củ. Hẳn là địa phương chủ động phát triển loài cây hoa này nhằm củng cố thương hiệu miền hoa ban cho mình nhằm phục vụ cho mục đích du lịch sau này.
Thành phố Điện Biên, đang xuân mà nóng như mùa hè. Cảm thấy hơi vị khó chịu đặc trưng của gió lào trong không khí. Tuy không ngập trong màu trắng hoa ban thì đó đây, trên đường phố, các điểm tham quan như Đồi A1, Nghĩa trang Điện Biên, khu di tích Hầm Đơ-cát, và bờ sông, khe suối, màu ban trắng đã dày hơn. Ai đó, lý giải cho việc đúng vào dịp lễ hội hoa ban mà ban nở lại không nhiều, rằng trước đó mấy ngày, một trận giông lốc mưa lớn khi gió mùa đông bắc tràn về đã làm phàn lớn số cây ban nở hoa bị rụng hết, rằng sau trận giông lốc, đường phố ngõ xóm đầy xác hoa và canh cây gãy. Nghĩ mà xót mà thương cho lễ hội thưa vắng sắc trắng tinh khôi của hoa ban. Song rồi, bù lại, đêm lễ hội, các tiết mục dân ca, dân vũ được trình diến khá kỳ công và đặc sắc văn hóa phong tục vùng miền, với kết thúc là vòng xòe lớn kết nối niềm vui của con người từ mọi vùng miền...
Chẳng hề hấn gì, trong tôi, những câu thơ lấp ló:
... Ban đang mùa mở hội
Ta lại tìm xa xôi,
ước một bàu tĩnh lặng
chỉ còn màu hoa thôi...

###
Lại nhớ miền hoa ban trắng
chừng này người có chờ ta
Tây bắc xuân đang độ chín
tưng bừng đua sắc chen hoa,

Thương một màu ban tinh khiết
tích xưa kể chuyện nàng Ban
đất trời xiêu lòng cảm động
cáy trổ lên giữa ngút ngàn,

Từ ấy mỗi mùa xuân chín
riêng mình ban trắng tinh khôi
biết bao nhiêu nàng thiếu nữ
lời yêu ngập ngừng trên môi,

Ta riêng nặng lòng Tây bắc
người còn ngóng đợi hay thôi?...

Mùa hoa ban 2018.



tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 03.04.2022 12:16:43
Giêng hai trời giăng mưa phùn,
Tản văn
 
Giêng hai trời giăng mưa phùn
Muốn du xuân, ngại, lại chùn bước chân...

Năm rồi, mùa đông không mấy rét. Những ngày tết nguyên đán tuy không thật rét như mong muốn của nhiều người, song cũng đủ lạnh khô mỗi khi về đêm và buổi sáng, dù ban trưa ít nhiều có nắng ấm. Đến cuối tháng giêng, trời đã dày sương lúc chiều chạng vạng và buổi sớm mai, kiểu trời báo hiệu sắp có mưa phùn. Theo tự nhiên, kiểu này, sang tháng hai âm lịch, tiết trời sẽ âm u, mù sương, mưa phùn mưa bụi lây phây cả ngày, đến mấy ngày, thậm chí suốt cả tuần. Ai nấy, cũng kêu trời nồm ẩm khó chịu, nhất là những người mắc chứng hô hấp, hoặc xương khớp. Người khỏe thì cũng thấy ỉu xìu, ươn ươn, khó ngủ. Ấy vậy, kêu ca mà làm gì !...
Lâu rồi, tôi mới thấy tiết trời vùng Bắc bộ điển hình nồm ẩm giêng hai đến vậy. Kiểu tiết trời này, ngày xưa là thường, hầu như năm nào cũng na ná vậy. Có lẽ, tiết trời bất thường, không còn tuân theo hai mươi bốn tiểu tiết, trên cơ sở phân đoạn lịch âm điển hình, đã trở thành phố biến, và là sản phẩm của biến đổi khí hậu chăng? Ngày xưa, cũng có năm thất thường, có hiện tượng thời tiết cực đoan, quá nóng, quá rét, song cơ bản là hài hòa, tiết thuận, nghĩa là điển hình mùa nào ra mùa nấy. Chính vì thế, thiên nhiên theo mùa, vạn vật, cỏ cây hoa lá thuận theo tiết, con người lâu thành quen, nó ăn sâu bám rễ vào tiềm thức, trạng thái, tình cảm, tâm lý, cảm xúc...; rồi qua đó mà ảnh hưởng đến phong tục, văn hóa, nghệ thuật, xã hội nữa... Giờ thì thất thường và bất thường, thật là đáng lo ngại đấy chứ !...
Vâng, lại ngày xưa, tiết giêng hai nồm ẩm, với biểu hiện đặc trưng là dầy mây, sương mù, mưa bụi mưa phùn lây nhây... Nhưng đấy là mùa của hoa xoan tím ngát, mùa của hoa chanh, hoa cam thơm dìu dịu tinh khiết, mùa của hoa bưởi sực nức vườn quê; rồi nữa hoa mơ hoa mận, hoa lê trắng xóa sườn đồi... Nữa là, cỏ non tơ mơn mởn khắp chốn cùng quê. Lại nhớ câu thơ Nguyễn Du: "Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa/ Thanh minh trong tiêt tháng ba/ Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh...", rồi câu thơ cổ Việt là "Xuân du phương thảo địa...".
Tiết trời này, rau khúc đồng cũng lên xanh mỡ, tha hồ mà thu hái để làm món bánh khúc thơm ngon. Mùa thu cũng có rau khúc, nhưng khúc thu già và cỗi hơn khúc xuân.
Cho đến khi, chợt trời nổi cơn giông, bầu trời thấp thoàng lóe sáng lằng ngoằng những tia chớp mảnh, rồi thoảng đâu đó từ xa xôi ì ầm tiếng sấm, ấy là đã qua tiết tháng hai nồm ẩm, báo hiệu mùa hạ sắp đến. Cho đến khi, chớp chới vài ba bông gạo đỏ đầu làng, cuối xóm, đầu non sườn núi, và vườn nhà ai, hoa lựu đâm bông...

Cuối xuân bàng đã lá xanh,
Sót đôi chiếc đỏ trên cành ngẩn ngơ,
Thôi đừng, mùa đợi tháng chờ
Kìa bông hoa lựu thập  thò lửa nhen,...

 
( 18/02/2020 )
<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.04.2022 12:19:01 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 03.05.2022 11:17:41

NGHÈ TIẾN SĨ LÀNG ( hỌ NGUYỄN )
(Thanh Khê, Minh Hải, Văn Lâm, Hưng Yên)
@@@
Tiến sĩ Nguyễn Huy Quân thuộc Họ Nguyễn làng tôi. là 1 trong số 15 vị đỗ tiến sĩ khoa thi Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (1779)
Văn bia đề danh tiến sĩ khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 (1779) tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, Hà Nội. Đây cũng là bia tiến sĩ cuối cùng trong số 82 bia được lưu giữ ở Văn Miếu
Cụ nghè Nguyễn Huy Quân (1744-?) người xã Thanh Khê huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Hiến sát sứ.
Trong số 15 vị đỗ tiến sĩ khoa thi Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 (1779) được nêu tên tuổi trong văn bia, có tiến sĩ Nguyễn Huy Quân thuộc Họ Nguyễn làng tôi...

Nguyên văn Văn bia được dịch như sau:

Năm Kỷ Hợi, Hoàng đế ở ngôi chẵn 40 năm, long thể an khang vui mạnh, hằng chính đạo thường. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư Tĩnh vương] sửa sang trị giáo, đào tạo nhân tài. Mùa đông năm ấy, đặc biệt mở khoa thi Hội cho các Cống sĩ trong nước tại lầu Ngũ Long. Sai Quốc cữu Phó Thủ hiệu Hậu uy cơ Phó cai quan Đề đốc Viêm Quận công Nguyễn Trọng Viêm làm Đề điệu, Nhập thị hành Tham tụng Hình bộ Tả Thị lang Thự Lại bộ Hữu Thị lang kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp Tứ Xuyên hầu Phan Trọng Phiên làm Tri Cống cử, Thiêm sai Phủ liêu Tri Công phiên Hàn lâm viện Thị giảng Nguyễn Duy Hoành, Thiêm sai Phủ liêu Tri Hộ phiên Hàn lâm viện Hiệu lý Dương Trọng Khiêm làm Giám thí. Lấy trúng cách tứ trường là bọn Phạm Nguyễn Du 15 người.
Mùa xuân năm Canh Tý vào Điện thí. Ngày hôm sau, Vương thượng ngự tới phủ đường đích thân ra đề thi văn sách. Sai nhập thị hành Tham tụng Binh bộ Tả Thị lang Thự Lại bộ Tả Thị lang kiêm Quốc tử giám Tế tửu Liên Khê hầu Vũ Miên giữ quyển, bề tôi là Phiên duyệt quyển. Ban cho bọn Lê Huy Trâm, Phạm Nguyễn Du đều đỗ Tiến sĩ xuất thân, đồng Tiến sĩ xuất thân có thứ bậc khác nhau. Lại sai Bộ Công khắc đá đề tên dựng tại nhà Thái học, sai từ thần soạn văn bia.
Thần là (Phan Trọng) Phiên cúi đầu cầm bút, ngước trông Hoàng thượng, Vương thượng cùng chung một đức, thịnh tâm rộng mở, đặc cách lựa chọn nhân tài, xưa nay chưa từng có tiền lệ. Những người trúng tuyển khoa này cũng xứng đáng được khen là đắc nhân. Kính cẩn cúi đầu rập đầu ghi chép sự việc để nêu rõ thịnh sự thánh triều chọn lựa được nhiều nhân tài, lưu truyền đến vô cùng.
Thần kính cẩn làm bài ký.
Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, 2 người:
LÊ HUY TRÂM 黎輝簪1 người xã Bối Khê huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên trấn Sơn Nam, Nho sinh trúng thức, đỗ năm 38 tuổi.
PHẠM NGUYỄN DU 范阮攸2 người xã Đặng Điền huyện Chân Phúc phủ Đức Quang Nghệ An, Đầu xứ, Văn chức, đỗ kỳ thi Tứ trọng, các bài thi do vua ra bài đều đỗ đầu, được vào hầu giảng hàng ngày, từng được bổ chức Huyện Tự viên lang, Thiêm phó tiến triều, Cai đạo, Thiêm sai Tri Hình phiên, Hàn lâm viện Hiệu thảo, kiêm Quốc sử Toản tu, thi đỗ năm 40 tuổi. Trường hai, trường bốn và ứng chế đều đỗ đầu.
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, 13 người:
PHẠM QUÝ THÍCH 范貴適3 người phường Báo Thiên huyện Thọ Xương phủ Phụng Thiên, nguyên quán xã Hoa Đường huyện Đường An phủ Thượng Hồng, Thiếu tuấn, đỗ thứ 2, Bộ Lễ, đỗ năm 20 tuổi.
HOÀNG QUỐC TRÂN 黃國珍4 người xã Nam Chân huyện Nam Chân phủ Thiên Trường trấn Sơn Nam, Giám sinh, thi ở Bộ Lễ và thi Chế đều đỗ thứ 3, đỗ năm 29 tuổi.
NGUYỄN HUY QUÂN 阮輝鈞5 người xã Thanh Khê huyện Văn Giang phủ Thuận An trấn Kinh Bắc, Giám sinh, đỗ năm 26 tuổi.
NGUYỄN HÀN 阮翰6 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm phủ Thuận An trấn Kinh Bắc, Huấn đạo, đỗ năm 33 tuổi.
NGUYỄN ĐÌNH THIỀU 阮廷韶7 người xã Phù Cảo huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc, Nho sinh trúng thức, đỗ năm 33 tuổi.
NGUYỄN ĐÌNH THẠC 阮廷碩8 người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây, Nho sinh trúng thức, Đầu xứ, đỗ năm 26 tuổi.
LÊ ĐĂNG CỬ 黎登舉9 người xã La Khê huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây, Giám sinh, đỗ năm 40 tuổi.
NGUYỄN KIÊM 阮兼10 người xã Tây Đam huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây, Giám sinh, đỗ năm 29 tuổi, sau đổi tên Huy Đảng.
VŨ DI LƯỢNG 武夤亮11 người xã Yên Thái huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên, Huấn đạo, đỗ năm 34 tuổi, thi Hội đỗ thứ 3.
TRẦN HUY LIỄN 陳輝璉12 người xã Phú Thị huyện Gia Lâm phủ Thuận An trấn Kinh Bắc, Huấn đạo, đỗ năm 45 tuổi, Khoa trưởng.
NGÔ TIÊM 吳暹13 người xã Cát Đằng huyện Vọng Doanh phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam, Sinh đồ, đỗ năm 31 tuổi.
NGUYỄN ĐƯỜNG 阮堂14 người xã Trung Cần huyện Thanh Chương phủ Đức Quang trấn Nghệ An, đỗ Tứ trọng, Huấn đạo, Ứng chế đỗ thứ 2, Thế khoa, chú cháu đồng triều, thi đỗ năm 34 tuổi.
PHAN HUY ÔN 潘輝溫15 người xã Thu Hoạch huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang trấn Nghệ An, Nho sinh trúng thức, Đầu xứ, cha con anh em đồng triều, thi đỗ năm 26 tuổi.
Bia dựng ngày tốt tháng giữa đông năm Canh Tý niên hiệu Cảnh Hưng thứ 41 (1780).
Đinh Sửu khoa đồng Tiến sĩ xuất thân Thiếu tuấn Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Nhập thị Kinh diên Tri Quốc tử giám, Tri Đông các Tri Hàn lâm viện phụng quản Thị hậu nghiêm hậu đội Hộ bộ Tả Thị lang Tứ Xuyên hầu Phan Trọng Phiên vâng sắc soạn.

Chú thích
1. Lê Huy Trâm (1742-?) người xã Bối Khê huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Thời Lê, ông làm quan Hàn lâm viện Thị độc. Thời Nguyễn, được bổ chức Học sĩ và Đốc đồng xứ Kinh Bắc.
2. Phạm Nguyễn Du (1740-1786) hiệu Thạch Động , tự là Hiếu Đức và Dưỡng Hiên , người xã Đặng Điền huyện Chân Phúc (nay thuộc xã Nghi Thạch huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An). Ông giữ các chức Huyện Tự viên lang, Thiêm phó tiến triều, Cai đạo, Thiêm sai Tri Hình phiên, Hàn lâm viện Hiệu thảo kiêm Quốc sử Toản tu, Đốc đồng Nghệ An. Thời Tây Sơn, ông đến vùng núi huyện Thanh Chương ở. Ông còn có tên là Phạm Vĩ Khiêm.
3. Phạm Quý Thích (1759-1825) hiệu là Lập Trai Thảo Đường Hoa Đường và tự là Dữ Đạo , người xã Hoa Đường huyện Đường An (nay thuộc xã Thúc Kháng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương), trú quán ở phường Báo Thiên huyện Thọ Xương (nay thuộc quận Hoàn Kiếm Tp. Hà Nội). Thời Lê, ông làm quan Thiêm sai Tri Công phiên, Đông các Hiệu thư. Thời Tây Sơn, ông đi ở ẩn. Thời Gia Long, ông được bổ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An hầu. Sau ông cáo quan về quê nghỉ.
4. Hoàng Quốc Trân (1751-?) người xã Nam Chân huyện Nam Chân (nay thuộc xã Nam Đồng huyện Nam Trực tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Hiến sát sứ Kinh Bắc.
5. Nguyễn Huy Quân (1744-?) người xã Thanh Khê huyện Văn Giang (nay thuộc huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế, Thự Hiến sát sứ.
6. Nguyễn Hàn (1747-?) người xã Phú Thị huyện Gia Lâm (nay là xã Phú Thị huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm Đãi chế, Đốc đồng Cao Bằng. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Hấp.
7. Nguyễn Đình Thiều (1747-?) người xã Phù Cảo huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Chẩn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị chế, Đốc đồng Sơn Tây. Khi nhà Lê mất, ông về quê ở ẩn.
8. Nguyễn Đình Thạc (1754-?) người xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm (nay xã Đông Ngạc huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm Thị giảng. Khi nhà Lê mất, ông đi đâu không rõ tung tích. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Công Thạc.
9. Lê Đăng Cử (1740-?) người xã La Khê huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Văn Khê thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đông các Hiệu thư, Đốc đồng Thái Nguyên.
10. Nguyễn Kiêm (1751-1817) người xã Tây Thiềm huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Tây Tựu huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông giữ các chức quan, như Đông các Hiệu thư, Đốc đồng Tuyên Quang, Học sĩ, tước hầu, rồi thăng Đốc học Sơn Nam. Sau ông đổi tên là Nguyễn Huy Đảng.
11. Vũ Di Lượng (1746-?) người phường Yên Thái huyện Quảng Đức (nay thuộc phường Bưởi quận Ba Đình Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Hiệu thảo, Đốc đồng Sơn Tây. Có tài liệu ghi ông là Vũ Dần Lượng.
12. Trần Huy Liễn (1735-?) người xã Phú Thị huyện Gia Lâm (nay là xã Phú Thị huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Đông các Đại học sĩ, Thự Tham chính Hải Dương.
13. Ngô Tiêm (1749-1818) người xã Cát Đằng huyện Vọng Doanh (nay thuộc xã Yên Tiến huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông giữ các chức quan, như Đông các Hiệu thư, Đốc đồng kiêm Đốc trấn Lạng Sơn, Thái Hòa điện Học sĩ, tước Mỹ Phái hầu. Sau về quê dạy học.
14. Nguyễn Đường (1746-?) người xã Trung Cần huyện Thanh Chương (nay thuộc xã Nam Trung huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An). Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Hiệu thảo, Thị chế, Đốc trấn Lạng Sơn, tước Chi Phong bá và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc).
15. Phan Huy Ôn (1755-1786) hiệu là Chỉ Am, Nhã Hiên và tự là Hoà Phủ, Trọng Dương, người xã Thu Hoạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thạch Châu huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con của Phan Cận (tức Phan Huy Áng), em Phan Huy Ích. Ông giữ các chức quan, như quan Đốc đồng Sơn Tây, Hàn lâm Thị chế, Tham đồng đê lĩnh, Thiêm sai Tri Công phiên, tước Mỹ Xuyên bá. Sau khi mất, ông được tặng chức Hàn lâm Thị giảng, tước Mỹ Xuyên hầu.

@ Bàn thêm:
1. Hiện nay, tên Thanh Khê được giữ làm tên làng tôi. Do thời thế thay đổi mấy trăm năm, nên các làng xã được phiên chế lại. Nay làng Thanh Khê quê tôi thuộc xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Hơn trăm năm trước, huyện Văn Lâm mới được thành lập trên cơ sở một phần đất đai làng xã của 2 huyện cắt ra để thành lập huyện mới (Văn Giang, và Gia Lâm, Kinh Bắc. Sau này, huyện Văn Lâm lại phiên chế thuộc về tỉnh Hưng Yên cho đến tận bây giờ).
2. Vài chục năm trở lại đây, để tôn vinh bậc danh nhân là người làng và khuyến học khuyến tài, họ Nguyễn làng tôi đã đứng ra quyên góp để dựng Nghè tiến sĩ, thờ bài vị của Tiến sĩ Nguyễn Huy Quân, nơi dòng họ và người làng hương khói tuần rằm, mồng một, lúc tết nhất, khi hội làng...
3. Duyên số, tôi thuộc dòng họ Tiến sĩ Nguyễn Huy Quân, khi lập gia đình, vợ tôi quê gốc Tam Hưng, Thanh Oai, Hà Tây cũ, và mẹ vợ tôi thuộc dòng họ của Tiến sĩ Lê Huy Trâm, người đứng đầu khoa thi Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) này, nghĩa là cùng khoa với cụ Nghè Quân họ bên nhà tôi.
4. Về chức danh Hiến sát sứ mà cụ Nghè Quân đảm nhiệm, tôi đã tra cứu và được biết "Hiến sát sứ là chức vụ trưởng quan của Hiến sát sứ ty, còn được gọi tắt là Hiến ty. Theo quan chế thời Hồng Đức, chức Hiến sát sứ, Hiến sát phó sứ chức vụ là đàn hặc, xét hỏi, khám đoán, hội đồng kiểm soát, khảo khoá, tuần hành… Thời Bảo Thái, Hiến sát sứ hàm chánh lục phẩm"
5. về chức danh Hàn lâm viện Đãi chế của cụ Nghè Quân sau khi đỗ đạt, được giải thích như sau: "Hàn lâm viện (翰林院, Hanlin Academy) là một tổ chức trong các triều đại quân chủ Á Đông xưa gồm các học sĩ uyên thâm Nho học, văn hay chữ tốt, chuyên trách việc soạn thảo văn kiện triều đình như chiếu, chỉ, sắc, dụ, chế.
Quan viên của Hàn lâm viện cũng là nguồn nhân lực cung cấp cho Quốc sử quán trong việc biên soạn quốc sử, thực lục, điển lễ. Ngoài ra, Hàn lâm viện cùng với các cơ quan học thuật khác đảm nhiệm trọng trách nghiên cứu, giảng dạy kinh truyện, phụ trách việc khoa cử, thị tùng văn học, và khi cần, đảm nhận trách nhiệm Khâm sai. Hàn lâm viện và Quốc tử giám (tức trung tâm giáo dục giữ trọng trách đào tạo nhân tài cho quốc gia) là hai cơ quan học thuật rất được trọng vọng trong quan chế triều đình xưa
". Còn Hàn lâm viện Đãi chế là một cấp bậc xếp gần cuối của thang bảng chức danh trong Hàn lâm viện.

Hiến sát sứ (chữ Hán: 憲察使) là một chức vụ quan chức trong lịch sử Việt Nam. Hiến sát sứ là chức vụ trưởng quan của Hiến sát sứ ty, còn được gọi tắt là Hiến ty. Theo quan chế thời Hồng Đức, chức Hiến sát sứ, Hiến sát phó sứ chức vụ là đàn hặc, xét hỏi, khám đoán, hội đồng kiểm soát, khảo khoá, tuần hành… Thời Bảo Thái, Hiến sát sứ hàm chánh lục phẩm.
6. Tôi đã mượn hình tượng quan nghè Nguyễn Huy Quân để xây dựng nhân vật trong một số sáng tác của minh (như các truyện Ngày xưa ấy. Thấm thoát tháng ngày, Giải thoát...),..Tôi sưu tầm, viết ra đây chỉ với mục đích lưu giữ về dòng tộc hai bên mà thôi,...


<bài viết được chỉnh sửa lúc 03.05.2022 11:21:07 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 21.05.2022 11:14:14

OI NƯỚC LÊN
( Tản văn )
@@@

Mùa hè Hà Nội, trời oi nồng. Mỗi khi nghe ai đó ta thán rằng trời oi bức khó chịu quá, tôi lại buột miệng giải thích " Oi nước lên ấy mà ". Thực ra, tôi chỉ lặp lại câu nói mà cha mẹ tôi hay nói ngày trước. Ngày ấy, còn ở độ tuổi đi học, tôi đã từng được nghe cha mẹ tôi nói về oi nước lên. Khi đó, làng quê chưa có điện, để giải nhiệt những cơn nắng nóng oi nồng, người dân quê chỉ biết trông chờ vào những chiếc quạt nan, quạt mo, những cơn gió đồng tươi nguyên lúc chiều hôm, rồi những gàu nước giếng trong mát, những phút giây đắm mình bơi lội dưới dòng sông quê, và cả bằng những món ăn dân dã như canh cua mồng tơi mướp hương, canh rau tập tàng, rau dền luộc...
Cứ nghe người lớn ta thán những ngày oi nước lên, có lần tôi đã hỏi cha mẹ, oi nước lên là oi như thế nào. Mẹ tôi bảo, là do mưa nhiều ở thượng nguồn nhưng đồng bằng mình lại không mưa nên nồng oi khó chịu. Còn cha tôi thì giải thích cặn kẽ hơn, rằng những ngày ấy trời mưa nhiều ở thượng nguồn, mãi từ vùng cao nguyên Tây tạng, nơi khởi nguồn của những con sống chảy trên đất Việt mình, thêm nữa cùng lúc đó, ngoài khơi biển Đông thường hay có các cơn bão lớn nhỏ, thế là hai vùng không khí ấy chèn ép gây nên sự oi bức ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Còn nước lên ư ? Là do mưa nhiều nơi đầu nguồn nên nước đổ về hạ lưu rất lớn, mực nước các con sông ở Bắc và Trung Bộ lên nhanh và cao ở mức báo động, đe doạ vỡ đê, trong khi ở đồng bằng vẫn không có hoặc ít mưa. Ấy là oi nước lên đấy. Cha tôi còn chỉ tay ra con sông quê nước dâng ngầu đỏ bảo, quê mình ở xa sông Cái và các con sông lớn khác mà nước đổ về còn thế nữa là... Rồi cha tôi hồi tưởng và kể rằng, ngày xưa nữa, những ngày oi nước lên thế này, những làng xóm dọc triền các đê lớn trống từ điếm canh đê giục thì thùm suốt ngày đêm, chùm sự lo âu phấp phỏng lên đầu người dân, nhất là đám dân nghèo nỗi sợ vỡ đê mất mùa mà sinh đói kém bệnh dịch.
Nghe người lớn nói thì biết vậy, chứ tuổi học trò có nghĩ xa xôi gì đâu. Đám trẻ chúng tôi chỉ thấy toàn những vui thú, vui vì nước sông về to đem lại bao nhiều là trò vè. Nào là chiều hè tắm sông, lũ trẻ tha hồ leo lên cành đa, cành vối ven bờ xòa trên mặt nước thi nhau bông nhông từ trên cao xuống sông bơi lội thoả sức. Rồi là nước to tràn vào các cừ nước nhỏ, mương máng, rạch ao đầy ăm ắp và cá mú từ sông Cài cũng theo nước mà về . Lũ trẻ chúng tôi chỉ cần buông câu nơi rạch nước là có thể câu được những chú cá ngão kếch xù , những chú cá trôi, hoặc chép nhỡ. Thêm nữa, cá vào đồng sinh sôi nảy nở, khi nước còn xăm xắp thì đánh rọ rô, đến cuối thu đầu đông, gặp vụ mùa xong rồi, tha hồ tìm vũng nước, ổ nước trong đồng cỏ rối lẫn gốc rạ mà bắt cá. Còn thú nữa là săn tìm nấm. Thường là sau mỗi đợt oi nồng trời mưa dấm dẳng, thế rồi nơi góc vườn, vùng đất ẩm chân đống rơm đống rạ, nấm rơm đội đất nhú lên trắng mởm từng vạt. Tha hồ hái về nấu canh hoặc xào tái rất ngon. Rồi dọc các triền mương, bờ sông, nấm cỏ lác đác lên từng ổ lổn nhổn như quả trứng, nắm tay, nhặt về bóc đi lớp vỏ mỏng xắt ra kho mỡ ăn khá ngon, thêm vào bữa ăn hằng ngày đỡ phần đơn điệu mà lại bổ dưỡng.
Dịp oi nước lên năm nay, tôi có chuyến đi Tây Bắc. Mới đến Kỳ Sơn men bờ sông Đà cuồn cuộn đỏ đã hình dung ra sức nước nơi thượng nguồn sẽ đến cỡ nào. Rồi ngược dốc Cun sang Cao Phong, Tân Lạc, Mai Châu, lên tiếp Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn đến Sơn La. Suốt chặng đường núi, trời chợt nắng chợt mưa, những cơn mưa bất ngờ mù trời sầm sập nước. Mưa tạnh song những thác nước vẫn không ngừng từ trên cao dội xuống vách núi đá trắng xóa. Thác xuống khe, nhiều khe nhỏ thành ngòi, rồi trăm ngàn ngòi dồn hết vào sông vào hồ thì làm gì mà nước chẳng cả. Nhiều ruộng vườn nơi thung sâu ngập trắng. May mà còn nương rẫy cao, nhà ở của bà con người Thái, người Mường, người Dao toàn nhà sàn, và nhà bà con người Mông thì chênh vênh trên vách núi nên cũng không mấy phương hại. Bà con cũng nương theo đó mà tìm kế sinh nhai, xuống suối săn bắt cá, lên rừng kiếm măng tươi, hái rau bò khai đem bán, thôi thì tùng tiệm thêm thắt ít đồng... Song vẫn còn đấy nỗi lo sạt đất, lở núi và lũ ống, lũ bùn khi mà rừng đã bị tàn phá nhiều. Dọc đường đi, lại liên tục nghe cập nhật tin bão ngoài biển Đông. Bão cứ rình rập trườn dọc bờ biển từ Nam ngược ra Bắc như trêu ngươi, và mới có vậy mà mưa lũ đã vượt đỉnh lũ lịch sử ở các sông vùng Trung Bộ, gây bao lo âu phiền toái và cả thiệt hại nữa.
Người xưa bảo, trời nào cảnh ấy, mùa nào thức ấy. Cuộc sống nơi thôn dã, chốn sơn lâm thời điểm oi nước lên có khó chịu đấy song cũng đầy thú vị riêng .



tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 10.06.2022 17:53:04
Nguyễn Huấn, kịch sĩ giữa dời,...
 
Vậy là. Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Huấn đã diễn nốt vai diễn cuối cùng của mình trên sân khấu cuộc đời, ấy là sự ra đi vĩnh viễn của anh sau cơn đột quỵ tịtại Huế vào một ngày đầu tháng 9 năm 2021, giữa lúc dịch Covid 19 mù trời....
O tuổi 66, không phải là trẻ nhưng cũng chưa là cao, nếu biết chăm sóc sức khỏe, hoàn toàn có thể thêm mươi, mười lăm nắm nữa, Nghe nói, Nguyễn Huấn đang ;ang thang đâu đó ở Huếm rồi đột ngột ngột bị đột quỵ, đưa về quê Vụ Bản, Nam Định rồi mất vào chiều ngày mồng một tháng chín. Với bạn bè và anh em cơ quan thì là đột ngột, song thực ra, Nguyễn Huấn đã sắp đặt cho sũ ra đi vình viễn của mình từ mấy năm trước, kh anh bỏ nhà lang bạt kỳ hồ,... Sống như thế, nghĩa là anh đã chọn cho mình cách sống những năm còn lại của mình, kể cả cái chết, có điều, ngày giờ sớm muộn thế nào là chuyện thiên cơ huyền bí mà thôi,...
1. Cách đây khoảng 25 năm, đọ năm 1996, khi mấy chúng tôi làm việc chung phòng với nhau, tôi và Nguyễn Huấn, cùng Phamj Duy Hưng, Trần Nhật Minh. Nguyễn Thị Thu Liên là  phings viên chương trình Tạp chí  truyền thanh & Du ;ịch do nhà báo Thanh  Lịch phụ trách. Gần gũi. hay nghe Nguyễn Huấn kể chuyện đời mình, nhất là các cuộc phiêu lưu tình ái của anh,  tôi đã lấy chuyện tình của anh với một cố gái xứ dùa Bến Tre làm nguyên mẫu cho truyện ngắn “Bức tranh để lại”. Truyện in báo rồi vái sách, mọi người biết lấy ra trêu Nguyễn Huấn, anh vờ trách và còn khoái trí bịa thêm chi tiết cho ly kỳ. Cái kết của truyện ngắn ấy, nhân vật chính nôi máu giang hồ, bỏ việc đi biệt  tăm và nghe đâu bỏ mạng vì tai nạn ở một tỉnh miền Trumg.  Nguyễn Huần cười khì bảo :”Mày rủa tao nhá... cứ đợi đấy, tao sống nhăn răng cho chúng mày hay,...”. Quả là Nguyễn Huấn đã sống thêm một tứ thế kỷ, mặc dù qua mấy cơn bạo bệnh, để nối dài vai diễn cuộc đời mình. Lần này, thì anh diễn cố cho xong!...
Nguyễn Huấn quê Kim Thái, Vụ bản, Nam Định, sinh naw,1956 tuổi Bính Thân. Anh hay vui miệng khie, tuổi Con Khỉ nên theo nghiệp diễn là đúng vai đúng số. Nghe đâu, sơ sinh, Nguyễn Huấn nặng tới 4,3 kg,, là chuyện hiếm hồi ấy. Bố là công an, mẹ là cán bộ phụ nữ, thuộc thành pjaan cơ bản, nhưng anh không theo nghiệp hpcj hành mà sớm trở thành công nhaa, vì bố mất sớm. Nguyễn Huấn làm công nhân ở Khu gang thép Thái Nguyên với nghề chính là láo xe goòng chở than và quảng. Sau này, những cuộc rượy vui, anh hay đùa về thời kỳ ấy, rằng hàng ngày cứ phải cầm lái điều khiển cái đầu tàu  kép dăm toa  xe chờ đầy than, quặng chạy đi chạy lại trên một đoạn đường cố dịnh faii vài ytwm mét, không khác gì phải diên một vai kịch phụ khô cứng và nhạtphèo. Có lẽ vì chán nghề, không cam chịu, Nguyễn Huấn tìm niềm vui trong hoạt động văn nghệ quần chúng. Anh có khiếu kẻ vẽ, cắt giấy, hát hò, diễn kịch nên trờ thành hạt nhân văn nghệ quần chúng ở Khu gang thép Thép Tháo Nguyên.  Và tôi cớ hội đến, Nguyễn Huấn được đơn vị mình cử đi dự tuyển đào tạo ở Trường Sân khấu Điện ảnh trung ương. Được đào tạp chính quy ở ngôi trường danh giá tạo thủ đii, Nguyễn Huấn bắt đầu làm quen và giao di với nhiều nhân vật có tiếng trong giối nghệ thuật biểu diễn ở trung ương, nên khi  tốt nghiệp, anh không muốn quay về chốn cũ, vì như thế, nghĩa là anh chấp nhận vau diễn nhỏ, chẩng biết đến bao giờ mặt mũi mới suit tăm lên được. Nhưng không quay về cơ quan cũ, cũng đòng nghĩa với bỏ vieecjm chấp nhận cuộc sống tự do, tự lo công ăn việc làm, cơm áo gạo tiền, mà thời bao cấp, những việc ấy còn quan trọng hơn cả sự nghiệp. Thế nhung, Nguyễn Huấn vẫn dẵn sàngchấp nhận, để đi tìm vai diễn lớn cho cuộc đời mình.  Ạm bước chân vào ngưởng cửa Nhà hát Tuổi trẻ khi đó có các tên tuổi lớn là Thùy Chi, Phạm Thị Thành, Đức Trung và cùng với lứa diễn viên trẻ đầy tài năng như Lan Hương, Chí Trung, Ngọc Huyền, Minh Hằng, Anh Tú, Lê Khanhv...
Dương như, vận may chưa mìm cười với Nguyễn Huấn khi anh chỉ được giao thỉ các vai phụ, vao quần chúng, thậm chí không  có vai mà chỉ làm casv việc khiêng vác, bưng bê, kê dọn phông cảnh, kéo phông màn,..  Vài năm như thế. Nguyễn Huấn bỏ việc tời Nhà hát Tuổi trẻ, sống dặt dẹo, tá túc nhà bạn bè, người quen, ở Hà Nội,. Quãng thời gian này, Nguyễn Huấn may mắn bám được vào Đài TNBN (VOV) để theo nghiệp diễn bằng cách viết kịch bản, diễn xuất, đạo diễn kịch truyền thanh. Những năm ấy, ngoài các chương trình như Sân khấu truyền thanh, Văn nghệ quân đội sáng chủ nhật, kể chuyện cảnh giác tối thứ bày, thì nhiều chương trình khác của Đài TNVN có chủ trương sân khấu hóa bằng các tiết mục câu chuyện truyền thanh, như Công nghiệp, Nông nghiệp, Thanh niên, Phụ nữ, Đại gia đình các dân tộc  Việt Nam,.. Cứ loanh quanh, đeo đuổi  với ngần ấy, nhuận bút còm nhưng đó là nguồn sống và động lực để Nguyễn Huấn theo nghiệp diễn, vingf bới đó. Nguyễn Huấn còn tham nhập vào nhóm kịch sĩ nghiệp dư công tác ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao gồm Phạm Huỳnh Công, Nguyễn Tùng Lâm, Phạm Xuân Chiến,...lấy chỗ tá túc và niềm vui làm nghề,
Tôi lần đầu biết Nguyễn Huấn vào năm 1988 lại là một kỷ niệm và ấn tượng xấu Tôi lần đầu biết Nguyễn Huấn vào năm 1988 lại là một kỷ niệm và ấn tượng xấu Khi ấy ttooi làm việc ở Phòng Tiếp dân và sử lú đơn thu của Ban Thình giả Đài TNVN do nhà báo Hoàng Đồng phụ trách và nhà văn Đặng Quang Tình làm trưởng ban,Nột  Phòng làm biệc của thuộc dãy nhà cấp 4 trong khu trụ sở 58 Quán Sứ, ngay phóa dưới tòa biệt thự  kiến trúc Pháp, mơi làm việc của Ban Băn nghệ với các phòng Văn học, Sân khấuVăn học thiếu nhi. Một chiều, nghe tiếng ồn ào bên ngoài, rồi tiếng chân người chạy, Tôi và nhà báo Hoàng Đồng ngó ra thì thấy một người to béo,mặt đỏ bự, tay cầm chiếc kéo đuổi theo một người già hơn có mái tóc bạc. Miệng anh chàng to béo lảm nha,r đe ddaanhs người kia. Nhà báo Hoàng Đồng nhận ra người đầu bạc là đạo diễn sân khấu truyền thanh Vũ Hà, bèn xồ ra chặn ngay trước mặt anh chàng béo. Người này khuengj kại, bằn mắt quát nhà báo Hoàng Đông bằng tiếng Nga: Kto? *Mày là ai?. MIệng hỏi tay lăm lăm chiếc kéo nhọn. May sao, vừa lúc ấy, biên taapj viên Hồ Nhật Quang chạy đến ki[j vòng tay ôm ngang ngươi chàng béo, vừa quát  vừa dỗ dành, ngăn được vụ ấu đả có thể đổ máu. Sàu đó, tôi biết được chàng béo say rượu quạy phá gây rồi hôm ấy là Nguyễn Huấn.Bữa đó, Nguyễn Huấn đến Đài lấy nhuận bít, rồi vui miệng rut Bũ hà và Hồ Nhật Quang đi nhậu. Quá chén rủ nhau về cơ quan, chuyện nọ dọ chuyên kia thành cãi nhau và thế là xảy ra xô xát. Cái tật say rượu hoặc mượn rượu để quậy ăn vào máu thịt Nguyễn Huần thành tính, mà sau này tôi hay phải chứng kiếm, thậm chí là nạn nhân của Nguyễn Huấn khi về chung phòng lam việc với nhau. Được cái, Nguyễn Huấn là người phũ thiện, khi tỉnh rượu, tĩnh tró, biết xin lỗi bạn bè nên mọi chuyện cũng qua.
Lân la rồi chầng hiểu sao, Nguyễn Huấn xin được vào hpjc việc ở một phòng phát thanh mới thành lập là Nhà nước và Pháp luật di nhà báo Lê Thông phụ trách, cùng với mấy phóng viên mới là Đàm Hoa và Nguyễn Sĩ Lý. Nhà báo Lê Thông bản tính thân thiện, ôn hòa và bao dung nên ông dung nạp được con ngựa bất kham Nguyễn Huấn mà không để xảy ra chuyện gì đáng tiếng cả. Khi ấy, Đài dã bắt đầu tổ chức tuyển dụng theo hình thức thi tuyển và Nguyễn Huấn đã vượt qua được kỳ thi để trở thành phóng viên chính thức của nhà đài. Dau này, Nguyễn Huấn vui miệng kể, thực ra anh còn nợ miin ngoại ngữ (đăng ký thi tiếng Nga) nhưng không đạt điểm tuyển. Nhà báo Trần Quang Khải khi đó là Trưởng ban Ban Tổ chức cán bộ của Đài bảo, vì tiếc chất giọng vàng của Nguyễn Huấn mà chọ nợ ngoại ngữ. Quả là, vào Đài, Nguyễn Huấn đã phát huy được chất giong tốt trời phú và khả năng diễn xuất của mình cho làn sóng của Đàim không những thế đây còn là chiếc cần câu cơm khi anh làm thêm, diễn thuê, đọc quảng cáo thuê. Nguyễn Huấn vào Đài nọe môn tiếng Nga là thế, nhưng đã có kần, tôi chưng kiến, trong một chuyến công tấc, khi cần giao lưu với cơ sở, anh ngà ngà say, đã ông ghi ta hát bài Đôi Bờ vằng riếng Nga khá chuẩn xác, hay và đầt cảm xúc. Anh có khả năng bắt chước của một kịch sĩ và nhở khả năng này Nguyễn Huấn hóa giải nhiều chuyện không hat do anh gây nên để thoát hiểm. Tiiu và nhiều bạn bè đều biết vậy, bực đấy nhưng khó giận lâu được. THực ra, ẩn trong khả năng sự diễn của một kịch sĩ, là sự phục thiện của Nguyễn Huấn. Thời còn ở chung phòng với Nguyễn Huấn, cungf Phạm Duy Hưng và Trần Nhật Minh, mỗi khi tháy Nguyễn Huấn giả là nói cười cầu tài sau khi anh gây chuyện, mấy chúng tôi lại nháy mắt nhau hàm ý “lại diễn đấy”, tồi thì bỏ qua chi nhau cả.
 
Kể chuyện Nguyễn Huấn mà quên không nhắc chuyện “liên kết mậm giềng” của anh thì thật thiếu sót. Đây là câu chuyện đời thực nhưng đầy yếu tố hài hước như chuyện ở một dân khấu hài kịch.chuyện này lý giải đời Nguyenx Huấn chins thức ba đời vowej và mỗi thị sinh cho anh một công chúa, hay như cách nói dân dã của anh là vịt giời hoặc chữ nghĩa là hoàng tử đái ngồi. Cứ như lời Nguyễn Huấn kể, tôi chấp nối lại thì toàn cảnh thế thiếp của Nguyễn Huấn nhứ sau: Thời còn là công nhân lãi tài goòng ở Gang thép Thái Nguyên, anh sớm lấy vợ và có con gái đầu lòng.  Cô vợ này sau đi lao động ở Nga và vợ chồng ly hôn. Tiếp theo, lang bạt về quê, Nguyễn Huấn tán đổ một cô công nhân ngành dệt thì phải và kết cục của cuộc hôn nhân thứ hai này cũng là một con gái. Mãi sau này, khi đã là phóng viên nhà Đài, trong một chuyến công tác lên Đoan Hùng, Phú Thọ, Nguyễn Huấn tình cờ làm quen với một cô giáo dạy mầm non người dân tộc Tày, lấy làm vợ rồi đưa theo về hà Nội. Rốt cuộc, lại thêm một cố con gái nữa ra đời. Vậy là, liên doanh mậm diềng của Nguyễn Huấn thất bại hoàn toàn. Ba đời vợ, mỗi nàng sinh hạ cho Nguyễn Huấn một công chúa. Nguyễn Huấn vẫn hậm hực, tim cách liên doanh tiếp với hy vọng cho ra một mậm diềng (con trai) đặng có người nối dõi tông đường. Thế nhưng, trời đâu có chiều lòng người. người muốn song trời chẳng gật. Trước tuổi nghỉ hưu vài ba năm, Nguyễn Huấn bị một cơn tai biến nhẹ, nằm nhà cả năm trời. Dẫu không méo miệng, bại tay, thọt chân, hay bán thân bất toại thì cơ thể cũng chậm chạp, chỉ đi nhẹ nói khẽ, loanh quanh trong nhà mà thôi. Đành nghỉ hưu trước tuổi mầy năm, song Nguyễn Huấn cũng không đến nỗi thiệt thòi lắm. Về chức vụ, hàm phó vụ trưởng, về nghề nghiệp, phóng viên chính, nghệ sĩ ưu tú chuyên ngành kịch phát thanh, huân chương Lao động hạng 3.
 
2. Nguyễn Huấn là người yêu thơ, là tác giả của hàng trăm bài thơ, ...song chẳng mấy quan tâm. Hình như, ờ vào thời kỳ chiến tranh gian khó và thời bao cấp khổ ải, nhiều người lấy thơ ca làm chỗ fuwaj tinh thần, nuôi dưỡng tâm hồn thì phải. Nguyễn Huẫn cũng là người như vậy. Sau này hình như Nguyễn Huấn có tập hợp in thành tập, nhưng cũng làng nhàng nên chỉ bạn bè, đồng nghiệp biết anh dính dáng thi ca. Là người thực tế, Nguyễn Huấn sớm nhận thtuwsc, thi ca không nuôi soongss bản thân nên anh chọn nghề kịch. Sáng tác kịch, diễn kịch phất thanh, rồi công tác tham gia các hội diễn văn nghệ q2uaanf chúng ngành nghề. Miễn là có tiền tuowi thóc thật để lấy cái ăn cho vào miệng, và thi thoảng góp tiền nuôi con cho các bà vợ đã mất công sinh ra các tiểu thư, công chúa cho mình.
Tôi nhớ, trong nhiều chuyến công tác đi các địa phương với tôi, lúc trà dư tửu hậu, Nguyễn Huấn cao hứng đọc thơ anh, thơ tôi và một số bài thơ tình khác mà anh thuộc. Mục đích làm gia vị cho các cuộc nhậu thêm màu sắc mà thôi. Đã có lần, lucd ngà ngà say, Nguyễn Huấn mượn rượu, viện dẫn người này kẻ nọ, dính vào thơ, đam mê thơ,  tôn thờ thơ và cũng thân tàn ma dại về thơ. Nguyên Huấn nửa đùa nửa thật khuyên tôi: “ Ông chớ dấn vào thơ mà khốn đấy nhé. Ông là dân văn xuôi thì cuwss văn xuôi mà tẩn. Thơ phú đôi câu để tán gái và làm duyên với đời chút đỉnh thôi...”. Ngẫm ra, thấy Nguyễn Huân cũng có lý. Nhưng mà, cái gì chót thích rồi thì đâu dễ bỏ. Tôi vẫn văn xuôi là chính, song thơ túc tắc, cũng dăm bảy tập rồi. CÒn với Nguyễn Huấn, nói vậy thôi, chứ từ khi nghỉ hưu, nằm khoèo một chỗ, nhất là khi khỏe lại, lang thang trên đường, dường như chỉ có thơ (sau miếng ăn, cuộc nhâu) là giúp anh chuyên chở sự hưng phấn hay nôi cô đơn cơ nhỡ,... Trang cá nhân trên mạng xã hội của mình, Nguyễn Huấn trải lòng bằng những bài thơ... Ví nhuw “SócTrăng nhớ” làm vào cuối naem 2018 nơi từng ghi dấu một thời trai trẻ lang bạt kỳ hồ đây những lỗi lầm:  “Anh sẽ đưa em về/ Bến Nguyệt Giang vắng gió/ Chiều Sóc Trăng đò nhỏ/ Chở lời thề sang sông/ Dù đục và dù trong/ Thì muôn đời vẫn thế/ Câu dân ca dâu bể/ Mãi day dứt khôn cùng/ Người ơi !/ Và Sông ơi!/ Đừng vô tình như thể/ Nhớ không chiều cửa bể/ Mây nước buồn nghiêng em/ Bãi bờ rưng rưng mắt/ Phù sa xanh tóc dừa/ Người xưa !/ Và sông xưa !/ Chở ta về ký ức/ Mùa Ghe Ngo háo hức/ Rực rỡ hồn Khmer/ Sông Trăng buồn sắt se/ Chiều nhớ nhung hoang hoải/ Thế mà người đi mãi/ Cô đơn một bóng thuyền/ Thế mà người đi mãi// Sóc Trăng vẫn nặng duyên tính”.  
          Dường như, cái nghiệp diễn kịch thấm vào con người Nguyễn Huấn, ảnh hưởng đến cách ứng xử hằng ngày, cũng như trong nghề báo của anh. Và với thơ phú cũng vậy. Ý tứ có chút tính kịch, câu chữ lại càng rõ, chất hội họa thêm chút khoa trương kiêu diễn viên thoại sân khấu vậy. Thôi không sao, mỗi người mỗi vẻ, chẳng mấy quan trọng. Miễn sao Nguyễn Huân thấy vui, hay yên lòng mình là được,  bởi nhiều nhà thơ lớn con ối bài ngô nghê, ối câu khờ khạo nữa là,... Thơ tình đã vậy, thơ thế sự của Nguyễn Huấn còn đạm chất khoa trương hơn. Ví như bài thơ tặng người cha nguyên là bộ đội Điện Biên của mình, bài Cha tôi và Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên: “Thấp thoáng gương mặt cha tôi/ Ào ào đi trong câu hát/ Diệu kỳ Điện Biên mở trang cổ tích/ Người lính trẻ trung theo đồng đội tìm về/ Cuộc chiến xưa băm nát ngực làng quê/ Súng bom thù xé ngang trời Tây Bắc/ Mẹ kể rằng: đêm trùng trùng câu hát/ Phía “ Vừng đông hửng sáng”* người đI/ Hiền lành như bông lúa rễ tre / Trong như giọt chuông/ chiều trong trẻo / Lành hiền câu dân ca cò lả / Từ biệt quê hương / son sắt lời thề / Điện Biên ơi hãy nói nhỏ tôi nghe/ Căn hầm nào đồng đội cùng cha thức/ Giọt mưa dầm lạnh giữa lòng cơm vắt/ Nòng súng đăm đăm phía quân thù/ Chiến hào Him Lam/ nhành ban nở ngày xưa/ 50 năm Xuân này thao thiết quá/ Có phải không cha: cánh hoa ban ấy/ Trắng ngút ngàn phút lấp lánh Điện Biên/ Giữa rợp trời mầu cờ đỏ thần tiên/ Bản mường vang khúc reo hò chiến thắng/ Cha về nhé - sớm nay - cùng nắng/ Hòa vào đoàn quân giữ nước kiêu hùng/ Bài ca hóa lửa vừng đông/Bóng cha xanh mướt cánh đồng Điện Biên”...
          Thơ ca làng nhàng vậy thôi, nhưng trong nghề kịch truyền thanh, Nguyễn Huấn là một người làm nghê hết sywsc nghiêm túc. Cùng với các nghệ sĩ, đạo diên sân khấu truyền thanh Vũ Hà, Nghi Xuyên, Nguyễn Huấn có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực sân khấu truyền thanh không những trên làng sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) mà còn hệ thống phát thanh cả nước. Gjui nhận cuối đời về nghệ thuật của Nguyễn Huấn-danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (NSUT) trong lĩnh vực Kịch truyền thaf thanh hoàn toàn xúng đáng. Không nghững vậy, Nguyễn Huấn còn mang chất kịch, đặc biệt nghệ thuật sử dụng âm thanh, tiếng động trong nghè báo phát mthanh và lịch vực quang cáo khá thành công.... Thời kỳ Nguyễn Huấn làm việc ở Chương trình Tạp chí truyền thanh cùng với tôi và các phóng viên Phạm Duy Hưng, Trần Nhật Minh... là những năm tháng Nguyễn Huấn say nghề nhất. Nguyễn Huấn đã phát huy hết khả năng chất kịch trong con người và kiến thức của mình để sáng taojm từ khâu kịch bản đến đạo diễn, diễn xuất của mình, để tạo nên những sản phẩm phát thanh chất lượng cao,...

           3. Một sáng chủ nhật (tháng 9/2018) , sau khi nhâm nhi tách cafe đen không đường, thưởng chút hơi thu mát mẻ, bật máy, định viết một cái stt. Lưỡng lự chưa biết viết gì thì điện thoại reo, Nhìn số máy lạ, nhưng vẫn nghe. Một giọng đàn ông ấm, hỏi tôi có biết anh ta là ai không, Tôi nghe quen quen, nhưng không đoán ra là ai. Sau một hồi chất vấn với hàng loạt câu hỏi, không cho tôi trả lời, anh ta bảo "Huấn đây. Nguyễn Huấn đây". Nguyễn Huấn thật sao? Thực lòng, khi nghe máy, đầu óc tôi không hề nghĩ đến Nguyễn Huấn, bởi anh bị bệnh, "lặn không sủi tăm" những dăm, bảy năm nay rồi. Giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa. Cả hai vui quá, tranh nhau nói... Một hồi, Nguyễn Huấn trách:"Ông vào Fb chưa? Tôi gửi yêu cầu kết bạn với ông rồi đấy". Quả là, lúc vừa vào mạng, tôi thấy mục xin kết bạn nổi cái nick Nguyen Huan Hue, có ngó qua, nhưng avatar nhỏ quá, tôi nhìn không rõ, nên chưa vội ok. Thói quen của tôi, hễ ai yêu cầu kết bạn, nếu không phải là người quen cũ, thì tôi cũng phải vào trang đó xem họ là ai, viết thế nào, rồi mới chấp nhận... Thì ra, anh bạn già lại kèm thêm cái tên của vợ vào, nên tôi không nhận ra... Vậy là hai thằng í ới đến gần nữa tiếng... Sau hôm đó, gần như ngày nào tôi và Nguyễn Huân cùng alo cho nha, này nọ. Tôi biết anh khỏe lại được mấy tháng nay, là nhờ gặp thầy gặp thuốc, chữa căn bệnh "thần kinh chập mạch" từ gần chục năm nay, khiến anh phải nghỉ hưu sớm khi đang đương chức Phó trưởng ban Ban Kiểm tra và UVTV-thường trực LCH Nhà báo VOV... An ủi, khi đó, anh đã xong cái danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú...
Nói căn bệnh "thần kinh chập mạch" là nói vui, nhưng cũng là thật. Năm 2011, Nguyễn Huấn bị tai biến nhẹ. Anh nghỉ chữa bệnh, tưởng chừng dăm tháng là có thể đi làm lại. Ai cũng nghĩ vậy, bởi nhìn vẻ ngoài, chân tay bình thường, mặt mũi cũng vậy, nhưng cái khác là ở độ nhanh chậm. Ví dụ, trước đấy, anh nhanh mười thì sau chỉ còn ba, bốn phần. Rồi anh đành phải nghỉ hưu sớm. An phận vậy đã hơn dăm năm nay. Cách đây 2 năm. bà cụ thân sinh Nguyễn Huấn mất, tôi cùng một số anh em cơ quan đi viếng ỡ mãi Nam Định. gặp anh, Nguyễn Huấn vẫn chậm chạp vậy... Ai ngờ đâu... Lý giải việc này, Nguyễn Huấn giải thích,anh được các bác sĩ Viện Quân đội 103 chẩn trị, châm cứu để chữa căn bệnh các dây thần kinh bị bó lại, chập nhau, tác động đến một số chức năng... Nay anh khỏi bệnh, nhanh nhẹn như hồi nào. Tôi được biết, anh đã tự phóng xe máy đi gặp gỡ anh em bạn bè, và mới đầu tuần, anh đã lên VOV, đóng kịch truyền thanh cho VOV6 được rồi... Thật mừng!
Đúng hẹn, Nguyễn Huấn ghé thăm tôi ở nơi làm việc... Dồn nén bao chuyện, cả hai đều muốn bung ra... Vui nhiều, song vẫn đúng là tính chất Nguyễn Huấn xưa,có vui đến mấy, nhưng hẹn ai, làm gì, đúng giờ là dứt ra, để không sai hẹn với người khác. Tôi có chút quà, sách tặng bạn.
Nói theo cách nói thông dụng. NSUT Nguyễn Huấn đã trở lại... và mọi người mong anh, lợi hại hơn xưa !...
Nhưng lợi hại chẳng thấy đâu, Nguyễn Huân trở lại cuộc sống nguyên tính cách xưa, ăn to nói lớn, đi phăm phăm, làm linh tinh, thậm chí còn dữ hơn xưa. Hinh như, Nguyễn Huân sống bù cho gần chục năm tròi bệnh tật ru rú xó nhà, đi nhẹ nói khẽ. Có cảm giác, Nguyễn Huấn hung hổ tận hưởng cuộc sống. Sau liên tiếp gặp gơ lại các bạn bè đồng nghiệp làng báo, bạn học sân khấu cũ, Nguyễn Huấn rời Hà Nội, lang thang đâu đó mãi miền Tây Nam bộ, rồi lên Tây Nguyên,...bỏ lại sau lưng người vợ thứ ba, người đã sinh cho anh cô công chúa út.
Lần gặp cuối cùng của tôi với Nguyễn Huấn, ấy là vào cuối năm 2018, khi anh theo tôi về quê dịp tôi xây lại phần mộ cha mẹ. Mấy ngày ở quê tôi, anh dôc chuyện, nhậu tưng bừng và quậy  cũng ra trò. Tôi nhớ, đêm oqr quê, Nguyễn Huấn không ngủ mặc dù anh uống khá nhiều. Rặng sáng, anh bổ chửng dậy, bật máy tính, cập nhật trang cá nhân trên Facebook, rồi làm thơ tặng người cha xưa là chiến sĩ Điện Biên, vì hôm ấy đúng ngày Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12.  Anh dánh thức, dựng tôi dậy khi trời còn chưa sáng, để đọc cho tôi sang bài thơ anh vừa sáng tác (tôi đã trích ở phần trước bài viết này)....
Sau lần ấy, tôi chỉ con thấy bóng dáng Nguyễn Huân thấp thoáng qua Facebook của anh, hoặc dòng tin nhắn trên điện thoại, khi hỏi thăm này nọ, khi tỏ ý muốn được giúp đõ chút đỉnh về tài chính,... Làn theo dấu vết, bạn bè và người thân biết là Nguyễn Huân vẫn lang bạt đâu đó khi thì miền Cửu Long sóng nước, lúc lại miền Trung nắng gió hay Tây Nguyên bạt ngàn rứng núi. Cả thời kỳ dịch Covid19 mù trời, Nguyễn Huấn vân đâu đó trên đường. Hẳn là ông giời bắt tội đầy anh phải đi. Thế thôi, biết giải thích sao đây,...?
Và cho đến một ngày (kỳ nghỉ lễ Quốc khaanhs 2021), Ông Giời bảo Nguyễn Huấn dừng lại thôi, vì biết anh quá mỏi chân rồi!...? Sân khấu cuộc đời anh, cánh màn nhung đã khép lại rồi, chẳng cần anh phải diễn thêm nữa,... Khi sống, thi thoảng sau những cơn say, Nguyễn Huấn nhập đồng diến, làm phiền không ít người. Giờ thì bạn bè ai đó có muốn được Nguyễn Huấn làm phiền cũng không được nữa rồi,
Nguyễn Huấn, chàng kịch sĩ giang hồ lãng tử ơi, bạn bè, đông nghiệp làng báo, chẳng quên anh đâu !...
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 26.06.2022 17:48:18
THŨNG THẴNG LƯU QUỐC HÒA
 
Mỗi lúc gặp nhau, hay khi giao tiếp trên mạng xã hội, tôi thường gọi đùa Lưu Quốc Hòa là Hòa đại nhân. Ông vui vẻ chấp nhận cách gọi ấy. Sở dĩ tôi gọi ông như vậy, là muốn nhằm tới lỗi nói năng thủng thẳng, dí dóm và khá sâu cay của Lưu Quốc Hòa, khi đem so sánh với nhân vật Hòa Thân, một vị quan đại thần Triều Thanh xứ Trung Hoa. Đương nhiên về tầm vóc và sự cơ mưu, ông còn thua xa nhân vật được tôi mang ra ví von.
Tôi biết đến Lưu Quốc Hoa từ cuối năm 2009 khi tham gia mạng xã hội Blog Tieng Việt (blogtiengviet.net). Lưu Quốc Hòa chuyên viết chuyện xã hội, làng xã, đặc biệt về những tàn dư cũ còn sót lại, hoặc các mẫu thuẫn mới này sinh trong quá trình chuyển đổi xã hội sang thời kỳ hiện đại. Viết tự nhiên, như mang chuyện thật mắt thấy tai nghe ra kể lại. Giọng văn nhẩn nha, dí dỏm, hai hước pha chút chua ngoa, đanh đá kiểu “hàng tôm, hàng cá” làm nên bản sắc Lưu Quốc Hòa. Tôi sẽ nói thêm về bản sắc văn chương Lưu Quốc Hòa sau, vì con người ông mới là điều đáng nói,...
Nói Lưu Quốc Hòa “thũng thẵng”, đúng với ông về cách xứng xử với văn chương và với cả cuộc đời. Chí ít, kể từ khi tôi biếết ông cho đến lúc ông từ giã cồi đời theo cõi hạc, Lưu Quốc Hòa vẫn thũng thẵng như vậy. Sống thũng thẵng và viết cũng thũng thẵng. Chẳng hiểu trước đây Lưu Quốc Hòa làm nghề gì, nhưng khi tôi biết ông thì Lưu Quốc Hòa làm nghề tự do. Chỉ thấy vợ con ông tần tảo làm lụng gì đó, còn bản thân ông thì chỉ viết lách là chính. Thi thoảng tham gia nhóm văn nghẹ đàn ca sáo nhị í a hát chèo, vui là chính chứ có ra tiền bạc không thì tôi chẳng rõ. Cứ nhìn giaa cảnh, bảo Lưu Quốc Hòa dư dả, không phải, song cho là túng thiếu thì không hẳn. Chắc tùng tiệm đủ ăn thôi. Ấy vậy mà, căn nhà tuềnh toàng của Lưu Quốc Hoa trên mảnh đất vườn khá rộng có ao chuôm lũy tre nằm rìa thị xã Phủ Lý (Hà Nam) luôn rộng mở vỡi bạn bè văn chương xa gần. Chẳng thế mà, trong vòng mấy năm liền, cánh bạn văn chương thi họa Hà Nội chúng tôi mỗi lần về Phủ Lý theo lời nhắn mời của Lưu Quốc Hòa đến nhà ông dùng bữa, khi ít cũng mươi người con khi đông cả huyện người. Vợ chồng con cái căng ra lo chuyện cơm nước mệt bã mà mặt vẫn tươi tỉnh, đủ biết Luu Quốc Hòa khéo và cái uy của ông với vợ con như thế nào rồi.
Có một dạo, đâu khoảng năm 2011 đến 2014, nhóm văn nghệ sĩ, báo chí Hà Nội tham gia Blog Tiếng Việt hay tổ chức giao lưu, thưởng là vào mỗi xuân, dự lễ Tịch Điền ở Duy Tiên, mồng bảy tháng giêng, rồi men theo bờ sông Châu về Phủ Lý, chơi nhà Lưu Quốc Hòa. Kế đến, hội thơ Nguyên Tiêu Văn Miếu, cả nhóm lại hội quân ở Văn Miếu. Những ngày tháng đó, tháp thoáng bóng dáng Lưu Quốc Hòa, ăn diện bảnh bao, sơ mi veston, quân âu giày bóng lộn, nụ cười thường trực tươi rói. Tôi nghĩ, có lẽ những năm tháng đó là những ngày hạnh phúc, vui tười nhất cuộc đời văn chương Lưu Quốc Hòa. Những ngày tháng ấy, chí ít Lưu Quốc Hòa được tắm mình trong bầu không khí bạn bè thương mến, thi nhau viết đặng để khoe ra các sáng tác mjới hất của mình, chờ đón những lời bình phảm khen chê của bạn đọc. Đương nhiên, khên chê chẳng màng và cũng cẳng ra tiền bạc gì đâu song con người ta như được do-ping, cảm thấy hứng khởi, thăng hoa và luôn được tôn trọng. Đành rằng, Lưu Quốc Hòa là người viết tự do, không sống bám vào một cơ quan đơn vị nào để lấy lương kiếm sống, những các tác phẩm của ông thời ấy cũng đã góp phần làm nên tên tuổi Lưu Quốc Hòa, để từ đó, ông nương minh mà theo đuổi cái nghề cầm bút bạc bẽo, khắc nghiệt này với đời,...Song thực lòng mà nói, chỉ khi sống cô đơn, thoát khỏi trạng thái đám dông bày đàn, thấm nỗi khốn khó của việc mưu sinh, dồng tiền bát gạo, manh áo, của căn nhà tuềnh toàng, mảnh vườn xác xơ, Lưu Quốc Hòa viết mới thật hay, mới thấm nỗi đau mình, đau đời..
Về tác phẩm văn học, báo chí, chủ yếu văn xuôi, truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, ký ự, có thể kể tên các tác phẩm chính của Lưu Quốc Hoa như: Cung đàn xưa ngân mãi, Câu đồng dao làng Vòi, Vĩnh biệt làng Ô Hợp, Người thức với mùa đông, tuyển truyện ngắn và bút ký, tản văn, và trường ca Những vì sao không tắt,...
Sở dĩ, tôi phác thảo chân dung con người Lưu Quốc Hòa trước, đơn giản bởi với ông, điển hình đời sao văn vậy. Với Lưu Quốc Hòa, dáng dấp, điệu bộ ra anh chàng văn chương tỉnh lẻ, khôn dại –dại khôn, chút ma lanh láu cá đấy nhưng mà cũng dại khờ ngay đấy. Thế nên, các nhân vật trọng câu chuyện của Lưu Quốc Hòa, dù ở truyện ngắn, hoặc trong tiểu thuyết hay ký sự thì cũng ná ná con người Lưu Quốc Hòa, bởi ông lấy mình ra làm nhân nhân, hoặc tính cách hành xử theo hệ qui chiếu Lưu Quốc Hòa. Trong một đôi lần đàm đạo văn chương với nhà nhà văn Nguyễn Hiếu, người từng dự trại viết và chuyện trò với Lưu Quốc Hòa, ông khen văn Hòa này nọ, nhưng có ý chê rằng truyện của Hòa yếu về kết cấu. Tôi thì không nghĩ vậy. Tôi cho rằng, Lưu Quốc Hòa không có khả năng hư cấu chăng? Truyện của Hòa thật như cuộc sống vậy. Hay phải chăng, Hòa viết bịa mà như thật. Vậy thì tài tình chứ ao? Gì thì gì, chứ văn Hòa có giọng điệu riêng, hóm hỉnh, hài hước, láu cá, tung tảy, nghĩ sao viết vậy, không câu nệ, chất văn nói, nhiều chi tiết, dễ đánh lạc hướng bạn đọc... Nói chung, có gì đó tự nhiên chủ nghĩa,. Có lẽ thế mà Nguyễn Hiếu có ý Lưu Quốc Hòa yếu về kết cấu sao? Tôi vẫn không nghi thế,...và đi tìm cách lý giải khác ,...
 
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, Lưu Quốc Hòa dôc gan ruột. Ông thổ lộ một cách hình tượng là muốn được “đổ bóng buồn vui” qua các trang viết vào những thất thái thân phận của người dân, mà mỗi thân phận con người ấy làm nên thân phận làng quê, và thân phận làng quê ra số phận vùng đất, qua đó thấy bóng dáng thân phận đất nước... Có vẻ gì to tát nhỉ? Không. Tôi nghĩ vậy. Lưu ý ở đây, Lưu Quốc Hòa dùng từ ”thất thái” để chỉ thân phận con người, Mặc dù không giải thích, song tôi hiểu hàm ý, ông muốn nhân mạnh, hay ám chỉ những cái mất của con người (hơn là cái được) trong quá trình chuyển đổi này,... Với quan niệm, hay mong muốn vậy, nên Lưu Quốc Hoa chẳng quan tâm đến thể loại hay kết cấu mà làm gì, ông chỉ muốn viết ra, viết ngay những cái ông thấy, ông nghĩ, ông nhắm tới và ông ám chỉ, gửi gắm thông điệp, triết lý về cuộc sống. Thế nên, kết cấu chẳng là gì với Lưu Quốc Hòa. Quan trọng, là chi tiết và giọng điệu thì điều này ông có thừa,... thậm chí còn là thế mạnh của Lưu Quốc Hòa,... Thú thật, mỗi khi đọc tác phẩm của Lưu Quốc Hòa, dù ngắn dài, dù truyện ngắn, bút ký, phóng sự hay mẩu chuyện thôi, tôi đều tủm tỉm cười vì thích thú vì sự dí dỏm, giàu chất uy-mua, và cả sự tinh quái, láu cá của tác giả. Đọc rồi mường tượng khuôn mặt tỉnh bơ, cái cười nhẹ trên khóe miệng của Lưu Quốc Hòa mà thêm phần thú vị. Ấy là cái tài của Lưu Quốc Hòa và cũng là sự thành công của ông. Song có lẽ, sự khiêm nhường, vẻ rụt rè tỉnh lẻ của ông đã phần nào hạn chế sự vươn lên, lớn dậy để trở thành một cây bút thành danh, thậm chí nổi tiếng,...? Với Lưu Quốc Hòa thì cũng chẳng sao, nhưng là tôi cứ cả nghĩ vậy?... Lưu Quốc Hòa đã chọn làng quê, chọn nông thôn để viết sau khi đã có ngót hai chục năm từng trải đây đó khắp đất nước. Chỉ có ở quê, mảnh đất thân quen mà ông hăng yêu mến, chỉ những con người mà ông thấy thân thuộc, chỉ công việc nhà nông mà ông thông thao, hiểu biết, Luu Quốc Hòa tháy tự tin mà viết, mà tung tẩy ý tưởng, mà bông lơn hay sắc lẻm câu chữ. Ông đã tìm thấy ở đấy vùng sáng tác của mình sau khi đã mất già nửa đời người đi tìm kiếm ở đẩu đâu,...
Tuy không lớn, chẳng nổi danh này nọ, nhưng dường như, trong con người và văn chương của Lưu Quốc Hòa có chút dấu vết, bóng dáng của những cây bút tiền bối nổi tiếng vùng Sơn Nan xưa cũ như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nam Cao,... Nhặt nhạnh chuyện nhân tình thế thái, cũng thấm nỗi đau đời mà nên châm biếm, chua chát, sâu cay,...
Trong thời kỳ chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, có những huyền thoại về sự hy sinh của nữ nhân như Ngà Ba Đồng Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) với nữ thanh niên xung phong, Hang Tám Cô (Bố Trạch, Quảng Bình), thì đất Hà Nam quê của Lưu Quốc Hòa có chuyện 10 nữ pháo thủ Lam Hạ (Phủ Lý). Có thể nói, Lưu Quốc Hòa góp chút phần nhỏ bé công sức của mình, thông qu các bài báo, câu chuyện, vận động này nọ,... để sự hy sinh oanh liết của 10 nữ pháo thủ Lam Hạ (trong đó có cô giáo dạy Lưu Quốc Hòa hồi cấp 1) không bị chìm vào quên lãng,... Đương nhiên, để mộ sự kiện lịch sử và sự hy sinh của con người cho độc lập dân tộc trở thành huyện thoại, thành di tích lịch sử là công sức của biết bao người, của nhiều cấp chính quyền, của ngành văn hóa,... Song không vì thế mà không kể đến công sức của riêng Lưu Quốc Hòa. Tôi đã đôi ba lần cùng đám bạn bè văn nghệ sĩ, báo chí về thăm nhà Lưu Quóc Hòa và được nghe ông kể chuyện, đưa đến viếng ngôi thờ tự (sau thành đền thờ, thành cụm di tích) 10 nữ pháo thủ Lam Hạ,... Ấy là chút công sức bé nhỏ của Lưu Quốc Hòa cho quê hương, là sự tri ân của ông với những nữ anh hùng đã khuất, song hành cùng những trang văn thơ của mình,...
Bằng đi mày năm, cuộc sống xã hội có những bước chuyển mới, bạn bè văn chương mootju thời ít gặp nhau. Vẫn thấy đâu đó bóng dang của nhau qua từng tác phẩm in ấn, trên báo, mạng xã hội. Lưu Quốc Hòa vẫn thung thẵng như vậy. Thi thoảng có bạn bè gặp ông ở đâu đó, hoặc về Phủ Lý đáo nhà Lưu Quốc Hòa thăm ông. Thị xã Phủ Lý phát triển lên thành phố, cái làng ngoại ô quê ông cũng mở mang đường sá phong quang, Nghe đâu, người ta mở đường ngang qua mảnh vườn nhà ông, láy đát đền bù, có tiền ông xây nhà mới khang trang lắm, Khi không thiếu thốn thì lại buòn vì thưa bạn bè. Chỉ mong có bạn đến chơi nhà để to nhỏ, dốc bầu tâm sự, để khoe nhau những tác phẩm mới. Ngắm cái ảnh chụp Lưu Quốc Hòa ngồi tựa của ngôi nhà mới khang trang, hút thuốc lào vặt, như ngóng khách với gương mặt thất thần mà buồn đến nao lòng. Phải chăng đây là thất thái của riêng ông?
Mấy năm dịch Covid 19 mờ mịt nên chẳng ai đến thăm ai được. Bạn bè đã xa lai càng xa. Rồi một ngày đọc tin buồn gia đình và bạn bè thông báo Lưu Quốc Hòa rời cõi tạm. Mọi người hỏi nhau Lưu Quốc Hòa mất vì bệnh gì. Thực ra, Lưu Quốc Hòa bệnh trọng nhiều năm nay, nhưng ông cứ gắng gỏi, cứ vui bạn bầu đẻ sống và viết. Còn vì gia đình ông nữa, nơi có người vợ hiền thục tảo tần, những đứa con ngoan, nơi ông có thể yên tâm, lấy làm chỗ dựa đặng cầm bút ngao du với đời,...
Giờ bạn bè mới giật mình, tự hỏi, những năm chơi với nhau, mình có làm điều gì thất thố, có làm buồn lòng bạn văn Lưu Quốc Hòa của mình không nhỉ? Và nếu có, Lưu Quốc Hòa sẽ mỉm cười độ lương. Tôi tin là thế. Khi mà, tôi và bạn cảm thấy trống vắng nơi Lưu Quốc Hòa bỏ lại!...
Chợt nhớ lúc trà dư tửu hậu, một nhà văn đàn anh vui miệng bảo “Lưu Quốc Hòa có tài nhưng mà vẫn chưa lớn lên được...” Tôi nghĩ, Lưu Quốc Hòa chẳng quan xiêm chuyện lớn nhỏ. Ông cứ tủm tỉm, thẵng thẵng với đời , cùng văn chương vậy thôi. Chỉ biết, giờ đây đọc những trang văn của ông, thấy đau, muốn bật ười mà lại ứa nước mắt !...
 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 24.07.2022 18:20:00
THẤP THOÁNG TRÚC THÔNG
 
Mùa thu năm 1987, tôi bước chân vào ngôi nhà 58 Quán Sứ Hà Nội, bắt đầu cuộc đời làm báo chuyên nghiệp của mình. Khi ấy. Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam chiếm trọn ngôi biệt thự trong cùng, một trong ba ngôi biệt thự kiến trúc Pháp ở khu vực trụ sở Đài. Phòng làm việc của tôi thuộc Ban Thính giả, là vài căn phòng cấp 4 ngay bên dưới tòa biệt thự của Ban Văn nghệ. Hằng ngày, nhìn các anh chị của Ban Văn nghệ đi lại ngang qua, và nghe tiếng các vị từ tầng cao vọng xuống, mà ngưỡng mộ. Nhiều lần tôi đứng dưới ngước nhìn lên ô của sổ tầng trên biệt thự với những cánh cửa chơp mở ra, của kính khép hờ mà ước ao một ngày nào đó, mình được là biên tập viên văn học làm việc ở đấy. Thú thực, ngày ấy, với gia tài vỏn vẻn một bài thơ đăng báo Văn Nghệ từ năm 1978 lúc là sinh viên đại học năm thứ ba, thì ước vọng trở thành biên tập viên văn học nhà Đài thật viển vông...
Thế rồi, dịp tết năm ấy, biên tập viên Thu Liên, người cùng phòng với tôi, con gái của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, bảo : "Em nghe bố em nói, chương trình Tiếng thơ đêm ba mười tết này anh có một bài thơ được phát sóng đấy". Quả tình, tôi nghe mà không tin, Quả nhiên, bài thơ của tôi được đứng chung với các bài thơ của các tên tuổi làng thơ Việt trong chương trình Tiếng Thơ tết ăm ấy. Nghe mà sướng run người vì không tin vào tai mình. Sở dĩ, tôi nhắc lại sự việc này là để nói tới một ban biên tập văn học thời  ấy của Đài Tiếng nói Việt Nam với các nhà thơ nhà văn, biên tập viên kỳ cựu. Cùng với nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, còn có nhà thơ Trần Nhật Lam và vợ ông-biên tập viên Nông Thị Nhuận (một trong những biên tập viên thế hệ đầu của chương trình phát thanh Tiếng Thơ nổi tiếng), nhà thơ Trần Nguyên Vấn, nhà thơ Trần Mạnh Thường, nhà thơ Trúc Thông, nhà văn Tuấn Vinh, nhà thơ Lâm Huy Nhuận,...Để lọt qua các con mắt xanh, nhất là Trúc Thôing thật không phải dễ.  Và đấy cũng là cái cớ để sau đó tôi lân la làm quen với các “nhà”, các “cây” của Ban Văn nghệ. Cùng với việc,năm 1978 khi còn là sinh viên, đã có thơ đăng báo Văn nghệ,  nay lại có thơ phát trong chương trình Tiếng Thơ  tết, tôi thêm phần tự tin để theo đòi mộng văn chương.
Thú thực ngày đó, dù yêu văn học nghệ thuật đến mấy, bảnthân đã có thơ và có truyện ngắn đăng báo Văn Nghệ, những tôi ngại bén mảng đến Phong phát thanh Văn học, mà chỉ hay ghé Phòng phát thanh Văn học thiếu nhi, nơi nhà thơ Lê Đình Cánh và Trường Hữu Lợi phụ trách.
Khi ấy, Ban Văn học nghệ thuạt  (Đài TNVN)  cùng với Báo Văn nghệ, (Hội Nhà văn Việt Nam) Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (Bộ Quốc phòng) và Tạp chí Văn học (Viện Văn hiọc thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam) thực sự là Tứ trụ về lĩnh vực Văn học Việt Nam.  Có thể nói, ở đấy, chủ trương, quan điểm , sự chỉ đạo về văn  học nói riêng và văn hóa văn nghệ mói chung được thể hiện rõ nhất. Đó cũng chính là yếu tố cơ bản làm nên cái uy của những cơ quan này trong làng văn học nghệ thuật ở nước ta. Cũng vì lẽ ấy, các văn nghệ sĩ, nahf thơ nhà văn, các biên tập viên làm việc ở đấy được hưởng lây cái uy .
Với những ai đó oai thế nào thì tôi không rõ, song với văn nghệ sĩ người nhà Đài thì không. Trúc Thông không giống các đồng nghiệp như nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Trần Nhật Lam, Trần Nguyên Vấn, Trần Mạnh Thường, Lê Đình Cánh ở sự giản dị, dễ gần, mà cũng không thỏa mãi, cởi mở như nhà thơ Trường Hữu Lợi, Lâm Huy Nhuận,,, Ông nhẹ nhàng, lịch  thiệp đấy song không dễ gần. Thế nên, mỗi khi gặp hoặc tiếp xúc gần với ông, tôi đều giữ sự kiêng nể, cẩn trọng trong thái đọ và lời ăn tiếng nói. Tôi cảm nhận từ ông, gần đấy mà xa ngay đấy, dễ chịu dấy nhưng khó tính ngay đấy,...
Với tư cách nhà thơ, Trúc Thông  có xuất bản vài tập tiểu luận phê bình văn học và bình thơ, song tôi nghĩ, sự nghiệp chính của ông vẫn ở thi ca. Mà chủ yếu là những tập thơ: Chầm chậm tới mình (1985), Maraton (1993), Một ngọn đèn xanh  (2000) và Vừa đi vừa ở (2005). Năm 2017, nhà thơ Trúc Thông được Giả thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, là sự hgi nhận xứng đáng cho những đóng góp của ông trong lĩnh vực thi ca. nhất là sự tìm tòi không mệt mỏi trên hành trình đổi mới thơ Việt  thời kỳ hiện đại,...
Trước hết, Trúc Thông thuộc số các  nhà thơ theo đuổi chủ trương đổi mới thơ Việt. Ông cẩn trọng, kỹ lương và có gì đó cầu kỳ trong từng câu chữ, đến tít bài thơ và cả trong việc  đặt tên tập thơ. Tôi nghe một nhà thơ kể rằng, một nhà thơ đàn anh và là đồng nghiệp của Trúc Thông từng nhận xét về thơ ông, “Trúc Thông là người đau chữ đau câu,...”.  Không rõ thực hư sao, nhưng cứ lẽ mà suy thấy cod lý. Trở lại với việc nhà thơ Trúc Thông đặt tít bài, têt sách thì biết. Nghe đâu, cũng như việc ông đặt tên cho con, các ái nữ của mình....
Nói có lý, còn bởi, đã có lần, trong lúc đàm đạo văn chương ở Ban Văn học nghệ thuật nhà đài, tôi nghe Trúc Thông cao hứng bày tỏ quan điểm của mình, rằng “Thơ khi in, trên báo hay vào sacsgh, nên in khổ chữa to, để câu chữ nào p không có chỗ ẩn nấp”. Thế này thì rõ là “đau chữ đâu câu” chứ đâu? Cứ theo quan điểm này của nhà thơ Trúc Thông, tôi thử suy luận, ông coi mỗi bài thơ như một bông lúa. DĨ nhiên, hiếm có bông lúa nào toàn bộ hạt đều căng mẩy cả, thế nào chẳng có dăm ba hạt lép, thậm chí rất nhiều hạt léo. Thế nên, mỗi bài thơ, những câu chữ hay là nhưng hạt mẩy, còn câu chữ độn, câu như văn nói, hoặc ngô nghê là những hạt lép. Nhìn cả bông khó thấy hạt lép, cũng như đọc cả bài thơ, câu chữ dở, lép lẩn trong cả bài. Vậy mới phải tìm cách để câu chữ dở, lép không có nơi ẩn nấp, lộ diện ra,... Quả là ý tưởng đọc đáo, khác người. nhưng cũng không dễ làm chút nào.
Trở lại thơ Trúc Thông. Sau Chầm chậm tới mình (hẳn là nhà thơ tìm đường hướng,giọng điệu?), Ông tự tin,bắt đầu tăng tốc với Ma-ra-tông, rồi giữ nhịp ở Một ngọn đèn  xanh.  Và sau đó, có chút lắng lại, thoáng băn khoăn ở Vừa đi vừa ở. Khác với nhiều nhà thơ, lấy tên sách như một cách sáng tác, Trúc Thông chọn tên sách với nhãn quan phê bình, thể hiện quan điểm sáng tác của mình. Bao quát, thơ Trúc Thông, du vần điệu hay không, đều hàm súc, suy ngẫm, hình ảnh và giàu sức liên tưởng.
Ngày trước, khi tôi còn tham gia giữ mục cho một tờ báo nọ, tôi từng chon bài thơ “Lát sông quê” và “Nho nhỏ mùa thu “của Trúc Thông để bình. Liên tưởng đến minh triết “Chhẳng một aai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”, bài “Lát sông quê,” cùng cảnh tượng trước mắt, tác giả sống lại ký ức xa xưa với hỉnh  bóng bà cụ già, hình bóng người mẹ và câu bé cùng lũ trẻ suốt nửa thế kỷ trôi qua,... như nhau mà lại khác thế, để ngộ ra một sự thật đơn giản “vẫn sông Châu yên lặng thế thôi mà”. Nhưng bà cụ giờ đây rất có thể là con của bà cụ ngày xưa, còn cậu bé “tim loạn nhịp” ngày xưa là tác giả, nhà thơ đứng tuổi lịch lãm phong trần và người mẹ vội chợ ngày ấy giờ đã năm lại ở bờ sông lẫn với đám ngô mà “bờ sông vẫn gió  người không thấy về”.Tim quy luận vận hành của cuộc sống luôn đau đáu và chẳng dễ dễ với Trúc Thông. Tính ông vốn thế mà.
Ở  bài thơ “Nho nhỏ mùa thu”, ngôn ngữ thơ văn xuôi, Trúc Thông tô màu bức tranh: “Đôi chim câu chân son mỏ đỏ, bên bờ con sông Sa Lung/ chim đi đâu đây?/ cúc cù cu chúng tôi kiếm mồi. Cúc cù cu chúng tôi rong chơi? Rồi chim bay vù.Một quãng đáp xuống. Chim lại đi đôi trong cỏ gật gù/ cỏ mùa thu xanh ngả đượm chút vàng. Sông Sa Lung tháng bảy nước chảy phù sa. Trời thu rộng rãi, gió nhè nhẹ trải/ vợ chồng chim như hai anh em như hai bè bạn. Áp trắng ,mắt xườm, chân son, mỏ đỏ. Gật gù đi trong cỏ pha thu.” Nguyên bài thơ như vậy, đầy ắp sắc màu, hình ảnh, sống động, làm nên một bức  tranh thu thật đẹp. Sự cầu kỳ cũng đáng giá đấy chứ?
Bản chất của sự vật và hiện tượng cùng mối liên kết sâu xa của nó mới là mối quan tâm và làm ông bận lòng. Điều này có thể tháy ở một  số bài thơ, như; Cảnh quan, Múa cổ. Qua tháp Dương Long, Vũ nữ Trà Kiệu bước ra từ sa thạch, . Dặn bức tranh năm cô gái, Bài ca các em bé theo công trường,... Ví như, bài Múa cổEm múa điệu rông đô thời cổ/ bàn chân chắc nịch sau làn váy/ da đồng quê/ khăn mận chín vùng vẫy/ ngực căng/yếm sồi/ rông đô/ chân trần tiếp đất/ làng ta thế kỷ mười/ đất âm thầm tự do trong cầm giữ/ rông đô/ trống vỗ/ rông đô/ vai trần/ rông đô/ không biết mệt...”  Cảm giác, Trúc Thông mải miết, không mệt mỏi đi tìm cách diễn đạt mới.
Nhưng thấp thoáng đó đây, lại thấy một Trúc Thông rất đỗi thật thà, chẳng hạn như bài thơ “Cao Bằng”:  “Sau khi qua đèo Gió/ Ta lại vượt đèo Giang/ Lại vượt đèo Cao Bắc/ Thì ta tới Cao Bằng... Rồi đến chị rất thương/ Rồi đến em rất thảo/ Ông  lành như hạt gạo/ bà hiền như suối trong.../ Bạn ơi có thấy đâu/ Cao Bằng xa xa ấy’ Vì ta mà giữ lấy/ Một dải dài biên cương”. Lời thơ giản dị những tình cảm dạt dào. Có lẽ vậy mà các nhà giáo dục đã chọn đưa vào sách giáo khoa Tiềng Việt để giảng dạy cho học sinh bậc tiểu học.
Hay đâu, có một Trúc Thông nhuần nhị, thấm đã tình người, tình mẫu tử trong bài thơ “Bờ sông vẫn gió.” Theo tôi, đây không những là bài thơ toàn bích của Trúc Thông, mà còn là một trong những bài lục bát hayở xứ ta. Hay về mọi nhẽ., ý tứ, ngôn từ, vần điệu,... Cùng câu mở rất gợi, lời thơ ra tựa lời cửa miệng nhẹ bẫng như không mà đằm nặng nghĩa tình ;“Xin người hãy trở về quê/ Một lần cuối... một lần về cuối thôi,Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh/ Lệ xin giọt cuối để dành/ Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha/ Cây cau cũ, giại hiên nhà/ Còn nghe gió thổi sông xa một lần/ Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.
Còn  có một Trúc Thông thẩm thơ bằng “con mắt xanh”. Gần bốm chục năm làm biên tập thơ của chương trình Tiếng thơ, Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã đọc, đã chọn lựa, bình luận, phê bình hàng vạn bài thơ để giới thiệu cũng thình giả, công chúng. Đây là sự đòng ghóp khồng  nhỏ của Trúc Thông cho sự phát triển của thi ca Việt hiện đại. Cũng nhớ vốn tích luy và kinh nghiệm của ngần ấy năm mà nhà thơ Trúc Thông đã thêm vào gia tình tác phẩm của mình dày dặn.
Với riêng tôi, mấy chục năm công tác cùng cơ quan với nhà thơ Trúc Thông, gặp mặt khi mau khi thưa, ông vẫn cứ thấp thoáng đâu đó, gần gũi đấy mà xa cách đấy, thân thiện đấy mà lành lạnh cách nhỡ đấy,... Về phần mình, tôi luôn kính nể ông, mỗi khi tiếp xuc mạn đàm về văn chương hay cuộc sống, tôi thường nghe ông nói, hơn là chia sẻ, giãi bày,...
Tiếc là, sau nhiều năm năm bệnh sau đột quỵ, hoạt đông văn học của ông phần nào hạn chế. Song với những gì Trúc Thông để lại khi ông rời cõi tạm, bạn bè văn chương và người yêu thơ đát Việt chắc chắn sẽ nhớ đến ông không riêng chỉ “Bờ sông vẫn gió” và tên những tập thơ khác lạ !...
 
 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 07.08.2022 17:28:45
 
 
Một người  là “bà đỡ văn chương”,...
 
 
        Người ấy là nhà báo Trịnh Bá Ninh, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Nông nghiệp Việt Nam.
          Tôi từng có bài viết về ông, bài“P16 Thụy Khê có một căn phòng” in trong tập bút ký, ký sự “Nơi tận cùng xứ sở” (NXB Hội Nhà văn, 2018). Ở bài viết đó, tôi đã kể tên hàng loạt nhà văn, nhà thơ, cây bút, có cả những người rất nổi tiếng, một thời  bao cấp khốn khó từng lui tới, ta túc tại căn phòng rộng 9 m2 của nhà báo Trịnh Bá Ninh tại khu tập thể Bộ Nông nghiệp ở P16 phố Thụy Khuê, Hà Nội. Giờ xin phép không nhắc lại chuyện cũ đó, tuy nhiên, theo thiển nghĩ của tôi, việc đó chứng tỏ một điều, nhà báo Trịnh Bá Ninh và vợ ông (bà Trần Thị Mai) không khác gì việc đỡ đầu cho nhiều tác phẩm văn học của các nhà ấy thai nghén và ra đời,...
          Thực ra, cách ví này chưa chuẩn. Khi ấy, nhà báo TRịnh Bá Ninh chỉ là phóng viên đơn thuần, mà đời sống xã hội lại cực kỳ thiếu thốn, làm được  như vậy cũng  thật đáng nể trọng bởi không dễ mấy ai làm nổi. Về sau, khi nhà báo Trịnh Bá Ninh giữ cượng vị Phó Tổng biên tập báo Nông nghiệp Việt Nam chuyên trách mảng nội dunng, ông đã làm  người thúc đẩy và  có thể nói là đỡ đầu cho nhiều tác phẩm văn học có giá trị của một số nhà văn ra đời,  đến với công chúng . ...
          Trước hết, với nhà thơ Trần Đăng Khoa. Với thần đồng thơ nổi tiếng này, lại là bạn học cùng trường phổ thông ở quê, sau cùng đội tuyển học sinh giỏi văn tỉnh Hải Hưng, ở thời điểm đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước, gia tài văn chương, ngoài tập thơ Góc sân và khoảng trời, cùng một số bài thơ sáng tác thời tham gia chiến tranh biên giới Tây Nam và bộ đội Hải quân ra Trường Sa, thì Trần Đăng Khoa vẫn chưa có gì nhiều đẻ làm dày dặn thêm gia  tài của mình. Chỉ đến khi, xuất bản tập phê bình văn học, Chân dung và đối thoại, thêm làn nừa nữa tên tuổi Trần Đăng Khoa nổi như cồn. Tập sách này, cùng một số chân dung văn học được Trần Đăng Khoa viết khi làm việc ở Tạp chí Văn Nghệ quân đội, giữ chuyên mục Đối thoại tháng, thì nhiều bài viết khác do Trịnh Bá Ninh gợi ý và đặt hàng, chẳng hạn như những bài viết về các nhà văn Phù Thăng, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường...  Đây thực sự là những chân dung văn học hay, trước hết là về người được khắc họa, tính cách và sự đóng góp của người đó cho văn học. Thứ đến, là bút pháp, phong cách, giọng điệu “rất Trần Đăng Khoa” về thể loại chân dung văn học. Theo tôi, những chân dung văn học của Trần Đăng Khoa mà Trịnh Bá Ninh gợi ý đặt hàng là những bài viết hay, góp phần làm nên thành công cho tập Chân dung và đối thoại,  tiêu biểu về thể loại chân dung văn học trong tiến trình phát riển văn học Việt Nam  hiện đại.
          Riêng với nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, trước hết, nhà báo Trịnh Bá Ninh biết đến với tư cách là một đọc giả yêu thích truyện ngắn của tác giả này. Tôi nhớ, hồi Nguuyễn Huy Thiệp mới nổi sau những truyện ngắn xuất sắc đăng trên Báo Văn Nghệ, đã có lần, Trịnh Bá Ninh rủ tôi tìm đến nhà ông này ở Khương Hạ, Thanh Trì, Hà Nội. Hôm ấy, Nguyễn Huy THiệp vắng nhà nên chúng tôi chỉ ngó nghiêng quanh quất khu nhà vườn tuềnh toàng và chuyện xã giao dăm ba câu với người vợ của ông. Quan trọng là, từ sự yêu thích văn chương và ngưỡng mộ con người nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, sau này, khi có cơ hội, Trịnh Bá Ninh đã dám làm và có công trong việc đăng các truyện ngắn của ông.
          Ngày Nguyễn Huy Thiệp  mất (tháng 4.2021), trong một bài viết ngắn vĩnh biệt nhà văn đăng trên trang cá nhân, nhà báo Trịnh Bá Ninh đã kể lại  chuyện ông và các đồng nghiệp ở Báo Nông nghiệp Việt Nam tìm cách cho xuất hiện lại truyện của Nguyễn Huy Thiệp. Số là sau khi đăng hàng loạt truyện ngắn lấy đề tài lịch sử, người ta cho rằng ông “hạ bệ thần tượng”, rồi cơ quan quản lý sờ đến, cho ý kiến nọ kia,... Thế là, các tờ bao9s ngán ngẩm, engaij, thậm chí từ chối đăng truyện của ông. Cứ thế, mấy năm liền văn đài vắng bóng truyện Nguyễn Hu Thiệp, như ông “mất tích” đâu đó.
          Rồi đến một mùa xuân, trong vô vàn báo tết báo xuân, bạn đọc bỗng thấy truyện ngắn Thiên văn của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên số tết báo Nông nghiệp Việt Nam. Chuyện là, trước tết năm ấy, Trịnh Bá Ninh với cương vị Phó Tổng biên tập, cùng phong viên-nhà văn Văn Chinh tìm đến tận nhà ông đặt bài xin truyện.  Chính Nguyễn Huy Thiệp cũng không tin cũng không tin là tờ báo này dám phợt lờ lệnh trên mà đăng truyện của mình. Trịnh Bá Ninh kể rằng, ông và đồng nghiệp cũng dè chừng, rất có thể sẽ có chuyện chẳng lành và nghĩ cách phòng thủ, bóc bài khi cần thiết.  Ấy là việc in  truyện của Nguyễn Huy Thiệp thành một tay báo riêng, để khi có biến là gỡ bỏ thày truyện khác vào vẫn kịp phát hành trước tết. May mà, mọi sự êm xuôi, lãnh đạo Bộ chủ quản còn khen báo tết  hay, truyện cảu Nguyễn Huy Thiệp hay. Nghe ngóng dư luaajun chung, cũng không thấy ban này bộ kia nhắc nhở  chuyện ấy. Tòa soạn thở phào, nhưng có lẽ mừng nhất, chẳng kém gì tác giả truyện, là Trịnh Bá Ninh, người đề xuất và sẵn sàng nhận trách nhiệm  nếu bị cho là sai sót từ việc ấy. Kể từ đấy, nhiều tờ báo khác bắt đầu cho đăng các sáng tác mới của Nguyễn Huy Thiệp. Đương nhiên, hầu như tết nào, Nguyễn Huy Thiệp cũng dành riêng một tryện ngắn cho báo Nông nghiệp Việt Nam., tờ báo ông  quý trọng từ nội dung đến nhân cách người làm báo. Cũng  vì thế, lúc còn sống, nhiều lúc Nguyễn Huy Thiệp cà phê Hàng Hành hay bát phố cổ thi thoảng ghé Tòa soạn báo Nông nghiệp Việt Nam uống trà chuyện phiếm cùng Trịnh Bá Ninh...
          Nâng niu, chăm nhà cây bút  thượng thặng là Trần Đăng Khoa và Nguyễn Huy Thiệp, Trịnh Bá Ninh cùng các đồng nghiệp của mình ở báo Nông nghiệp Việt Nạ cũng rất biết cách chiêu dung nhân tài, vì thế mà nhiều cây bút nổi tiêng xứ ta như Mà Văn Kháng, Bảo Ninh, hay những cây bút nổi tiếng gai góc như Tạ Duy Anh, Trần Huy Quang, Dạ Ngân ... đều góp mặt ở đây. Thời kỳ Trinhju Bá Ninh quản lý nội dung tờ báo cùng là thời kỳ có nhiều nhà văn đầu quân làm phong viên bản báo như Văn Chinh, Đỗ Bảo Châu, Vũ Hữu Sự, Thái Sinh,...
Báo  Nông nghiệp Việt Nam là một tờ nhật báo chuyên ngành của Bộ Nông nghiệp, nội dung chính chủ yếu các vấn đề về Tam nông (Nông nghiệp, nông thôn, nông dân) nên Trịnh Bá Ninh và ban biên tập tờ báo chủ trương bám sát các vấn đề thời sự về Tam  nông, lấy tiêu chí phục vụ cho các lợi ích của nông dân la hàng đầu, tuy nhiên, khi ra các số báo nhân dịp lễ te4ets, kỷ niệm này nọ, có điều kiện làm văn thì hàm lượng và chất lượng văn chương ở đây không kém một số tờ báo chuyên về văn chương, thậm chí chất lượng bài còn cao hơn, theo đánh giá của bạn đọc, bởi có nhiều bài viết hay, rất hay của các cây bút và nhà văn hàng đầu của Việt Nam. Có một điều quan trọng nữa là, phong cách làm báo của ông, tôi tạm gọi là là “phong cách báo Trịnh Bá Ninh” làn truyền sang thế hệ đàn em và để lại dấu ấn đậm nét đến giờ, kể cả  thái độ ứng xử, sự tôn trọng và độ tinh tế văn chương.
Là dân làm báo với nhau, biết nhau, hiểu nhau cả, Làm được như Trịnh Bá Ninh không dễ chút nào. Giờ nghỉ hưu, ông vẫn được một  số kênh truyền thông mời tham gia tư vấn trực tiếp về tam nông và nhiều vấn đề văn hóa xã hội khác.
Riêng về văn chương, không còn  là những khát khao cháy bỏng thuở nào, mà là độ đằm sâu đầy trách nhiệm.
Cùng với những bút ký đoạt giải các cuộc thi bút ký văn hijc từ những năm 80-90 thế kỷ trước, nhà báo Trịnh Bá Ninh còa hàng trăm bài thơ. Song đưa thơ mình ra với công chúng thế nào, là quyền của riêng ông ,..../.
 
 

tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 10.09.2022 11:03:02
Người xưa cảnh cũ giờ đâu nhỉ?

Ngồi nhà, rỗi hơi thì hay nở máy vào mạng xã hội. Định viết này nọ, nhưng đâu có dễ. Ngay bài đang viết dở chừng, tiếp nối, cũng cạn ý từ, cảm xúc. Mỗi khi vậy, tôi thường giở xem lại trang riêng của mình trên nền tảng Blog Tiếng Việt (blogtiengviet.net)...
Vậy là, tính đến xuân này (Tân Sửu), tôi đã lập ngôi nhà trên mảnh vườn nhỏ có tên Ngẫm & Viết sang năm thứ 12 rồi đấy. Cái Xóm Lá thân thương, mà cư dân ở đây quen gọi nôm na, trên nền tảng mạng xã hội blogtiengvieet.net, cũng có nhiều phen thăng trầm. Thăng trầm, bởi nền tàng kỹ thuật còn yếu, nên lâu lâu lại "rớt mạng", thậm chí, mất bài, nhất là dạo mùa hè năm 2016. Khi ấy, bà con Xóm Lá kêu trời vì bị mất bài viết, có người trắng tay. Riêng mình, vì dân làm báo chuyên nghiệp, từng có kinh nghiệm qua những vụ mất bài này nọ, nên biết cách lưu trữ bài bằng USB, ổ cứng riêng lẻ, file mềm và trên các nền tảng vũng hơn, vì thế hầu như chẳng mất bài nào. Chính vì vậy, chuyên mục Thơ Đường của tôi vẫn nguyên vẹn, đủ tư liệu để tôi tập hợp, đề dẫn, chú giải, biên soạn thành cuốn sách Rong chơi miền Đường thi. Tuy vậy, với việc bị mất một năm bài đăng (tương đương 100 bài viết), tôi bị mất toàn bộ phần cảm nhận ở đó, mà thực sự, nhiều cảm nhận hay, rất hay, như những bình luận, tiểu luận văn chương thú vị... Sau vụ rớt mạng, làm mất bài của bloggers, nhà mạng có nỗ lực cứu vãn, nhưng không thành công, bản thân nền tảng kỹ thuật cũng trục trắc dài dài. Giờ khá hơn thì cư dân cũng bỏ đi vãn cả rồi. Nhiều trang blog, chủ nhân bỏ bê dăm năm nay không hề lai vãng. Làng Phây (Facebook) nền tảng kỹ thuật vững chắc (con nhà giàu mà), lại thêm nhiều tính năng, trò chơi, tính phổ cập cao, không phân biệt giới tính, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, quốc gia, nên có sức hấp dẫn cực kỳ. Dân Xóm Lá rầm rầm kéo sang lập nhà tại Chợ Giời - Phây... Rồi đó, ở Xóm Lá cũng có những phiền hà, phần nhiều xuất phát từ sự hiểu nhầm, tranh luận hơi quá lời mà gây nên những xích mích này nọ, nhưng làng xóm cũng nhanh chóng giải tỏa, yên hàn trờ lại...
Tôi cũng thế, có mành vườn con con trong làng Phây, ngày ngày cuốc xới, rau cỏ...
Nhưng khác nhiều cư dân cũ của Xóm Lá, tôi vẫn mở cửa ngôi nhà, chăm bón mảnh vườn nhỏ của riêng mình nơi xóm cũ đìu hiu. Thực lòng, tôi yêu mến mảnh đất này, bởi nơi đây, lần đầu tôi biết đến mạng xã hội, cũng chính nơi đây đã tạo cho tôi cảm hứng sáng tác, để chục năm qua, tôi viết và xuất bản hàng chục đầu sách, thơ văn, tiểu luận, chân dung văn học đủ cả. Và quan trọng hơn, từ sự giao lưu trong không gian ảo, tôi đã làm quen với nhiều blogger trong đời thực, phần đông họ là những người tử tế, giỏi giang. Thậm chí, nhiều người trong số đó đã trờ thành những người bạn tâm giao, thân thiết, giúp đỡ lẫn nhau như ruột thịt...
Trở lại câu chuyện cảm xúc sáng tác. Quả là, mỗi lúc "tắc tị" trên bàn phím, tôi giở lại, đọc những bài viết cũ cùng các cảm nhận của mọi người ngày xưa, lòng những dâng đầy cảm xúc, điều đó làm đầu óc tôi như được khơi thông, để rồi, vững lòng mà gõ tiếp...
Đọc lại, xem lại những hình ảnh của dăm bảy năm về trước, buâng khuâng nhớ những người đã đi xa... Hình ảnh, những dòng cảm nhận vẫn còn đây, như tươi mới, vậy mà người đã khuất nẻo xa xăm... Các anh Trương Hữu Lợi, Trần Khẩu, Trần Bài (Hương đất bãi), Phạm Duy Đức, Nguyễn Vinh Dũng (Phẫu-Phauthuattk), đã hóa thân thành những cánh hạc về trời... Từng có ý tưởng, các anh em Xóm Lá cùng gia đình người đã khuất làm sách cho các anh (Nguyễn Vinh Dũng, Phạm Duy Đức) song tiếc là, chưa thành hiện thực,...
Vậy nên:
Người xưa cảnh cũ giờ đâu nhỉ
Xóm Lá địu hiu, hỏi mấy ai,
cái thời đàm ấm thương mến ấy
về lại vườn xưa chẳng nguôi ngoai ...


tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 14.10.2022 17:22:40

MÙA NƯỚC NỔI
(Tản văn)

Ngày ấy, mùa mưa lũ năm 1981, tôi-chàng kỹ sư nông nghiệp trẻ mới tốt nghiệp, nhận quyết định vào công tác ở An Giang. Cùng đi với tôi vào thành phố Hồ Chí Minh, có Hoàng Gia Trình, bạn cùng lớp và hai người nữa, một nam một nữ, học trước tôi một khóa. Ba người vào vào An Giang, riêng Hoàng Gia Trình vào Minh Hải (khi ấy nhập Bạc Liêu và Cà Mau). Lo ăn đường, mẹ tôi gói ít bánh chưng cho tôi và Trình mang theo. Dọc đường vào, gặp áp thấp gây mưa, ngập úng và sạt lở đèo Cù Mông (Nghĩa Bình) và đèo Cả (Phú Khánh). Hành khách đi tàu hỏa Thống Nhất phải dặt dẹo ngủ trên tàu, ngủ nhà ga, đi bộ, tăng-bo mấy đoạn, ngót một tuần mới vào được thành phố Hổ Chí Minh. Ai nấy, quần áo nhàu nát lấm lem, lại bị đám xe lam Sài Gòn lừa, loanh quanh mãi mới ra được bến xe Miền Tây.
Xe rời thành phố từ mờ sương, lút vào miền Tây Nam bộ. Qua cửa kính xe, lần đầu tôi thấy đồng ruộng bao la đến thế, quanh cảnh mà tôi chưa từng thấy ở đồng bằng Bắc Bộ. Tôi nghĩ về cuốn sách của nhà báo Phan Quang viết về đồng bằng sông Cửu Long mà tôi mới đọc, thầm đồng tình với ông khi đưa ra nhận định, vùng đất này là vựa lúa khổng lồ của nước ta, nó không những thừa nuôi dân ta, còn dư để mang bán ra nước ngoài, Ngày ấy, nghĩ thế là đúng, song thực ra, không chỉ đơn giản là vậy?!...
Xe đến Bắc Mỹ Thuận, xe nối đuôi rồng rắn, chờ xuống phà. Sông Hậu mênh mông nước ngầu đục vì đang mùa mưa, đôi bờ bên này thuộc Tiền Giang, bên kia là Vĩnh Long. Lần đầu thấy sông Hậu, lại biết thêm người Nam gọi Phà là Bắc. Những chiếc phà 2 tầng như tòa nhà di động, nghe nói được sử dụng từ thời Mỹ Ngụy, xen kẽ đưa thoi đôi bờ. Qua được Bắc Mỹ Thuận mất hơn tiếng đồng hồ. Quang cảnh đôi bờ tấp nập hàng quán ăn nhậu, những người bán hàng rong rao ời ợi đến sốt ruột; có một món hàng nghe đến quen tai vậy mà không luận ra được, mãi sau này tôi mới hiểu đúng là nem Lai Vung.
Xe cứ chầm chậm miên man mãi như chẳng bao giờ tới đích. Đồng thì mênh mông, chỉ những nước là nước, cỏ đồng năn nác ngập đầu, sen súng lênh bềnh, khiến con đường cảm giác như sợi dây thừng dải ngoằn ngoèo trên biển nước vô tận. Tôi nhẩm đọc các biển tên địa danh hai bên đường, thấy nôm na, ngồ ngộ, buồn cười. Tôi nhớ lắm, khi ấy, cái tên Lấp Vò như ám vào đầu, và tôi rẩm riu nghĩ mãi, tại sao người ta lại gọi tên như vậy? Rồi cũng chẳng hỏi ai, cứ tự mình xét đoán, cả những khi sau này, mỗi lần nghỉ phép ra Bắc, xe lên thành phố lại ngang qua Lấp Vò. Lại hình như có một thời gian người ta đổi tên thành Thanh Bình thì phải? Khi ấy, tôi chỉ nghĩ, cái tên mới này chữ nghĩa quá, chẳng ấn tượng bằng Lấp Vò được. May mà, đã trở lại với cái tên gốc.
Trở lại chuyện cũ. Ngày ấy, sau một thời gian ngắn ở thị xã Long Xuyên, tôi được điều về Ban Nông Lâm nghiệp huyện Tri Tôn, đóng tại xã An Lạc, giáp ranh thị trấn huyện lỵ. Đây là vùng đất Bảy Núi cũ, được chia tách làm hai, Tri Tôn và Tịnh Biên. Đây cũng là vùng đất duy nhất ở miền Tây Nam bộ có đất cao, gò đồi. Những gò đồi lổn nhổn rải rác kéo sang Hòn Đất, Hà Tiên, Rạch Giá. Với địa thế đặc biệt, vùng đất này trở thành huyền thoại trong quá trình khai mở của các đời chúa Nguyễn trong mấy trăm năm qua. Trong số mấy người cùng tôi gồng gánh ba lô, hòm xiểng vào Nam ngày ấy, duy nhất một bạn nữ ở thị trấn Tịnh Biên (An Giang) lập gia đình với một sĩ quan biên phòng sở tại và định cư hằn ở đó, còn lại, tôi cùng anh bạn Hoàng Gia Trình và một người nữa, kẻ trước người sau trở lại Bắc cả. Sau ngót bảy năm lăn lộn ở Tri Tôn, tôi về Đài Tiếng nói Việt Nam làm báo chuyên nghiệp. Chính nhờ nghề làm báo, nên sau này tôi thường xuyên trở lại miền Tây Nam bộ, kể cả mảnh đất Tri Tôn, và khi ấy, mới có thời gian để mà ngẫm nghĩ về lẽ thiệt hơn của hệ sinh thái ngập nước ở đây vốn tồn tại từ hàng ngang năm trước.
Với người dân miền Tây Nam bộ, mùa nước nổi bao giờ cũng là nỗi mong chờ của người dân. Nước về mênh mang, rửa chua, thau phèn, và đặc biệt đem về một nguồn lợi thủy sản dồi dào, phong phú, không dám nói là vô tận. Sinh thái ngập nước nhiều trăm năm nay đã là một đặc trưng phong thổ của cả vùng đất này. Ngưới dân Việt Miên sinh sống ở đây cũng đã dần thích nghi đến quen thuộc và trở thành tập quán, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống vật chất, tâm sinh lý và cộng đồng, xã hội. Cũng từ đây, các hình thức ca hát, diễn xướng dân gian, nghệ thuật mang đặc trưng thổ ngơi hình thành và phát triển. Những điệu lý, vọng cổ, cải lương ra đời và mãi lưu truyền, trở thành tài sản phi vật thể quý giá của vùng đất...
Đã có một thời gian, chúng ta thiếu suy xét, cho xây dựng hàng loạt những nông trường bộ tại vùng đất phèn nặng của tứ giác Long Xuyên-Hà Tiên, dẫn đến thất bại, rồi tan rã. Kế đó, chúng ta lại ào ạt với chủ trương “vựa lúa khổng lồ”, làm thủy nông nội đồng, thoát nước biển Tây, miễn sao có được thật nhiều diện tích trồng lúa hai vụ, giống ngắn ngày, tăng năng suất. Công bằng mà nói, miền Tây Nam bộ đã thực sự trờ thành vựa lúa, không những dân ta đủ gạo ăn, còn dư thừa để xuất khẩu hạng nhất nhì thế giới.
Nhưng, khi đã no đủ rồi, lúc ấy mới ngẫm nghĩ, thấy tiêng tiếc nền tàng vật chất và xã hội xưa cũ, quen thuộc, ấy là sinh thái ngập nước. Càng ngẫm, càng thấy cái lý, cái cơ sở khoa học và lợi ích to lớn và toàn diện của hệ sinh thái này. Đó là sự cân bằng và sắp xếp của tự nhiên. Rồi nữa, lại nghĩ, giá như mình đừng nóng vội, bình tĩnh mà nhìn nhận, đánh giá, so sánh, để rồi chỉ quy hoạch vùng lúa đến mức nào đó, trên nền tảng của sinh thái ngập nước... thì có phải bây giờ, ta sẽ thế này, thế kia... lợi ích đôi đường ?...
Mấy năm gần đây, những năm ít mưa, thêm nạn thủy điện nơi thượng và trung lưu sông Mê-kông, dẫn đến mất mùa nước nổi, rồi nạn xâm mặn, sâu bọ, chuột phá v.v... lợi bất cập hại. Khi ấy, ta mới thấy tiếc, thấy thèm, thấy khao khát mùa sa mưa, nước nổi đến chừng nào !?...
Gần đây, trong một chuyến về Đồng Tháp, Bí thư Tỉnh ủy Lê Minh Hoan (ông nay hiện được điều ra trung ương là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT), trong lúc làm việc và cả khi tiếp cơm đoàn công tác của Đài Tiếng nói Việt Nam, ông say sưa nói về chương trình, mỗi thôn ấp, mỗi vùng đất-một sản phẩm hàng hóa,... Để ý, tôi thấy ông luôn miệng nói về sinh thái ngập nước với những lợi ích của nó. Có một câu, hình như đã thành câu cửa miệng của ông “mình đã sai, thấy sai, thì mình sửa thôi”. Lê Minh Hoan cũng nổi tiếng là một người yêu sen. Loài hoa đặc trưng và nổi tiếng của vùng Đồng Tháp Mười.
Bữa cơm khách, Bí thư Tỉnh ủy Lê Minh Hoan chăm chút đến từng chi tiết, món ăn, như rượu dừa, các món chế biến từ sen và cá đồng, cá sông, loại chỉ có ở Đồng Tháp và miền Tây, rồi cả chuột đồng mà ông gọi chệch là sóc tràm; rồi nữa, tặng phẩm là khăn rằn làm bằng tay, khăn rằn làm thành ca-vát... Tôi bày tỏ sự đồng cảm với ông về sinh thái ngập nước, và sự cần thiết hồi phục hệ sinh thái này ở vùng đất Đồng Tháp, và hơn thế là vùng Tây Nam bộ, chỉ cần giữ một diện tích vừa đủ để trồng lúa mà thôi.
Bằng hiểu biết của mình, có thể ít nhiều hạn hẹp, với cả tấm lòng, tôi yêu và tâm đắc hệ sinh thái ngập nước, cũng yêu và thèm khát mùa nước nổi !... Ở đó, có kỷ niệm về một thời gian khó nhưng giàu mơ ước; ở đó, có tình yêu, nỗi xa cách, cùng sự thất bại và nỗi thất vọng; ở đấy, còn có sự tìm tòi và tự nhận thức, để rồi đi đến sự minh triết !...


tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 11.11.2022 16:21:44

CHỚM ĐÔNG
@@@

Năm nay rét muộn. Mãi cuối tháng Mười âm lịch mới có những cơn gió bấc đầu mùa. Ngoài chút mưa lắc cắc, đủ để ướt lá, thấm mặt đường và chút xao động khi gió về, còn lại chưa đủ để xua đi cái nắng nóng kéo dài từ hè sang tận cuối thu...
Mấy nhà thơ sốt ruột, thi nhau làm thơ ca ngợi mùa thu đến, nào những lá thu vàng, những heo may ngọt vào mía, mọng nước vào bưởi, vào hồng, se lạnh vào đêm khuya, sương mù buổi sớm, thì mùa thu vẫn trốn ở nơi đâu... Rồi bão, rồi mưa ầm ào đâu đó, ngập lụt, lũ dâng ở đâu đó, xứ Bắc vẫn nóng nực như hè... Thời tiết thay đổi đến lạ, như chẳng màng gì đến quy luật muôn thuở... Thiên nhiên là vậy, đầy sự bất thường, xã hội con người cũng dường như cộng hưởng... Nóng chuyện biển khơi, nóng chuyện người di cư, nóng chuyện EU tan rã trước sự ly khai của quốc đảo Anh, nóng chuyện tranh cử tổng thống ở Mỹ... Có lẽ, từ người mà ra cả. Thực ra, thiên nhiên luôn vô sự, việc đúng sai, được thua, thuận nghịch là ở con người?...
Rồi thì gió mùa đông bắc cũng về. Chỉ những ai thức khuya dậy sớm mới nhận thấy sự thay đổi của thời tiết. Ngày xưa, Lưu Vũ Tích, một thi nhân đời Đường, cảm thu mà viết trong bài thơ Thu phong dẫn: "Triêu lai nhập đình thụ/ Cô khách tối tiên văn" ( có nghĩa là: Gió sớm se lạnh lùa vào cổ thụ trước sân/ ( Ta ) khách cô đơn là người biết đầu tiên, ). Tinh tế thay và nhậy cảm đến nhường nào.
Sớm gió mùa, chớm rét. Trở dậy, trong nhà chỉ thấy se se. Lúc ra đường mới thấy gió, thấy lạnh. Mùa đông đã về thật rồi.
Cánh phụ nữ, mới hôm trước còn váy ngắn, tay trần, hôm sau trang phục đã "kín cổng cao tường". Nhưng rồi, chớm rét thôi, đâu đến mức lạnh co người. Quen quen một chút, lại muốn váy áo nõn nường, tung tẩy, dường như định níu thu ...
Ừ, chớm rét thôi mà, ngại chi đâu " Người tay trần áo mỏng/ Vờ như chưa có đông " !...
(Lập đông 2016)



tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 29.11.2022 09:23:30

GIẬU CÚC TẦN
(Tản văn)
"Về quê, ... ngơ ngác bờ ao/ cúc tần tơ dại bờ rào cũngđâu?..."
###
Một lần đến chơi nhà người bạn thời đại học, anh bảo tôi: “Đọc tập truyện ông tặng, thú thật, tôi chỉ thích những chuyện ông viết về làng quê thôi… Mà này, trong truyện, để ý tôi thấy ông hay nhắc đến giậu cúc tần. Quê tôi người ta cũng hay trồng làm hàng rào nhưng lại gọi là khúc tần cơ. Vậy thế nào là đúng?”. Nghe thế, tôi cười, bảo bạn: “Ngôn ngữ dân gian mình quen dùng theo thổ ngơi từng vùng. Tôi nghĩ, muốn biết thế nào cho chính xác thì cứ tra Từ điển Tiếng Việt… nhưng mà ông ơi, căn vặn cái gì. Cúc tần hay Khúc tần thì cũng thế cả thôi, nó đều là một thứ cây ở quê chuyên trồng làm bờ giậu. Gọi thế nào thì người ta cũng không thể nhầm thành cây hoa cúc hoặc rau bánh khúc là được chứ gì?”. Anh bạn tôi tán đồng và sau đó chúng tôi còn bốc hứng nói hàng thôi hàng hồi về cái giậu cúc tần ở quê mình, cứ như là ở trên đời này không có thứ cây nào hơn.

Quả thật, hình bóng giậu cúc tần ở quê mãi in đậm trong tâm khảm tôi. Làng quê tôi những năm đó, hai bên con đường làng và những ngõ xóm chính lát gạch nghiêng xưa cũ rặt một màu xanh cúc tần bờ giậu. Thi thoảng là những bụi tre, trúc, hoặc những khóm mây gai xem kẽ. Sau tiết mưa xuân, rồi kế đến mưa rào tháng ba, đất ẩm, cúc tần được thể lên xanh bời, xanh suốt mùa hè, ngay cả dưới cái nắng tháng sáu chó già le lưỡi. Nắng xiên khoai buổi chiều làm cúc tần héo lá rũ xuống, trông đến xót ruột, nhưng sáng hôm sau tất cả lại tươi nguyên. Sương đêm, hơi đất ẩm là thứ thuốc hồi sinh. Mùi lá cúc tần hăng hắc nồng nồng thật dễ nhận và không thể không nhầm lẫn với bất cứ mùi gì khác. Giản dị vậy. Như người nông dân quê tôi, ngày lao động vất vả, sau bữa cơm tối, ngồi uống nước ối vủ, xỉa răng, nói đôi ba câu chuyện phiếm, bấm đốt ngón tay nhẩm tính công việc ngày mai rồi đánh một giấc rõ thật nồng, sớm hôm sau tỉnh dậy là khỏe khoắn ngay, và lại một ngày mới, một vòng tuần hoàn mới không mấy khác trước bắt đầu.

Nhớ cách đây nhiều năm, tôi gặp một người đồng hương Hưng Yên ở Paris. Ông ta đã ngót tám chục tuổi, bị Pháp bắt vào lính thợ ONS từ cuối những năm ba mươi khi đang trai trẻ, đưa sang châu Phi rồi lại về Pháp, lấy vợ đầm, và chưa hề một lần về thăm quê. Vợ mất, mấy đứa con Tây lập gia đình riêng, bỏ ông bố sống cô đơn trong một căn hộ những bảy buồng trên tầng chín chung cư. Ông bị bệnh tim mạch phải đeo máy trợ tim dưới lần da ngực trái. Người như thế, lại sống một mình, có thể tắc tử bất cứ lúc nào, tôi rẩm riu mà ái ngại thay. Ông viết văn, khi biết tôi cũng viết văn, ông bảo: ”Này em, không biết ở quê mình có giậu cúc tần không nhỉ?”. “Còn chứ, bác…”. “Vậy à!...”. Ông mơ màng: “Giậu cúc tần… Ngày ấy… Nàng mười lăm, còn tôi mười bảy… Hai nhà đối diện nhau… Tôi và nàng cách trở một con ngõ nhỏ và những hai… giậu cúc tần cơ…”. Ông cười khe khẽ, rồi ngâm: “Cúc tần, ơi giậu cúc tần/ Để ai thương nhớ, lòng gần trời xa/ Xanh mơ một nỗi niềm ta/ Người em năm ấy quê nhà có hay?...”. Ông dừng bài thơ nửa chừng từ lúc nào tôi cũng không biết nữa. Lâu lâu ông bảo tôi mà như nói với lòng mình: “Nàng giờ chắc đã già… Móm mém lắm rồi nhỉ… Mà chưa biết chừng… đã là người thiên cổ rồi cũng nên…”. Rồi ông còn lẩm nhẩm nói mãi về cái thằng ông thuở trai tơ, về nàng và đôi mắt nàng nhìn trộm ông sau kẽ lá mãi giậu cúc tần bên kia (tôi đồ là một cô gái quê nào đó người yêu ông ngày trước), về những dây tơ hồng sống tầm gửi vào cúc tần… và về một ngày nào đấy ông sẽ trở về quê nhà để được chạm tay vào những chiếc lá cúc tần giậu quê.

Nỗi niềm thương nhớ của người đàn ông già nua, cô đơn nọ có sức nặng lan truyền sang tôi. Trở về nước ít lâu, tôi về quê. Những bờ giậu cúc tần vẫn còn đấy song đã ít dần. Thay vào đó là những hàng rào ô rô và lác đác có nhà xây tường bao. Thêm vài năm nữa, cùng với phong trào “mái bằng hóa” thì tường bao vườn nhà gần như khắp lượt. Nhà nhà kín cổng cao tường. Đi trên đường làng nhìn lướt chỉ thấy những gạch là gạch, cảm giác như các dãy nhà kho san sát. Ao chuôm lấp hết thành thổ cư. Không còn cảnh người đi đường và người đứng trong vườn nhà chào hỏi nhau, nói chuyện với qua bờ giậu cúc tần như ngày trước nữa. Có lẽ thế mà sinh hoạt của các gia đình dần khép kín. Âu cũng là biến đổi tất yếu của xã hội nông thôn làng nửa phố, phố nửa làng đấy sao!. Có nhà dường như vẫn luyến tiếc giậu cúc tần xưa nên còn giữ lại chút ít, loi thoi phía bên trong tường gạch.

Rồi một lần, nhân ngày giỗ mẹ tôi, mấy người chị gái bảo tôi: “Cậu xem thế nào… mảnh đất vườn dưới quê của ông bà để lại cậu cũng nên tính xây bức tường bao đi, kẻo lợn gà và trẻ nhỏ phá tan hoang cả. Hôm nọ các chị về quê thắp hương mộ bố mẹ, ghé qua mảnh vườn cũ, nhìn mà xót xa. Cây cối xơ xác, trụi thùi lụi hết. Ngày trước xanh um là thế.. Mà giậu cúc tần thì xơ xác, dày đặc những dây tơ hồng… Khiếp quá”. Những điều các chị tôi nói, tôi đều biết cả. Song tôi cứ nấn ná mãi không quyết được. Dường như tôi muốn chờ… Nhưng mà chờ cái gì kia chứ? Tôi cũng không rõ nữa… Nếu nói là tôi muốn níu kéo tuổi thơ, giữ chân quá khứ, giữ nguyên hồn quê kiểng của một thời xưa cũ thì cũng là dở hơi mất rồi chăng ?... Song quả là nỗi niềm về quê hương bản quán và những câu thơ của ông già Việt ở Paris ngày nào cứ lảng bảng đâu đó trong tôi!
Giờ dây thì:
Về quê, ... ngơ ngác bờ ao
cúc tần tơ dại bờ rào cũng đâu ?..,.
may còn một chút bóng cau
để ta lưu dấu có nhau... một thời,



tamvanvov
  • Số bài : 788
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) - 18.12.2022 10:34:18
CHỢ PHIÊN
Tản văn 

Sau này, lớn lên, đi đó đây, yêu thơ, biết đến bài thơ Chợ Tết của thi sĩ Đoàn Văn Cừ, rồi tấm tắc phục ông tài tình, chứ ngày nhỏ, tuy nhút nhát và không thích nơi đông người, song tôi vẫn mong được túm áo mẹ theo đi chơi chợ tết.Cha tôi kể, ngày xưa chợ Lạng ở quê tôi to lắm, không kém gì các chợ ở trong vùng. Chợ họp trước sân đình Lạng, dưới hai cây bàng to và kéo dài đến cả nửa cây số, vắt cả về các ngã rẽ vào từng xóm, bán mua thượng vàng hạ cám. Khi tôi lớn, hai cây bàng cổ thụ vẫn còn đó, bóng tỏa rợp một vùng, nhưng chợ Lạng xưa thì không còn nữa và theo thời gian, hai cây bầng cũng bị chặt hạ. Cứ theo lời cha tôi thì chợ Lạng bị mất là do thời Pháp chiếm đóng lập đồn bốt vì thế dân các vùng không dám đi chợ Lạng nữa, mỗi phiên một vắng dần, lâu thưa thớt hóa ra chợ nội bộ của xã. Chợ Lạng bây giờ nhỏ, chỉ mấy thôn xóm mua bán với nhau và không họp theo phiên nữa, ngày nào cũng mở vài ba hàng xén và dăm hàng quà, mươi hàng thịt cá, đậu phụ, rau cỏ… Bù lại, dân quê tôi còn có ba chợ phiên đều cách đấy chừng vài ba cây số, đứng thế chân kiềng, đó là chợ Bần, chợ Dầm, chợ Nôm. Trong số đó, hai chợ Bần và Dầm trùng phiên ngày lẻ, chợ Nôm riêng phiên ngày chẵn, thế là người dân ngày nào cũng có chợ phiên để đi, thật là thuận tiện.Chợ Bần thuộc đất Bần với món tương cổ truyền tiến vua nổi tiếng từ xa xưa. Vì nằm rìa đường 5, giao thông thuận tiện nên hàng hóa chợ này rất phong phú, nhất là những mặt hàng công nghệ gia dụng. Dịp giáp tết, nếu bận bịu công việc nhà nông không có thời giờ để đi chơi các chợ thì chỉ cần đi một phiên chợ Bần là gần như mua được đủ thứ cần. Thế nhưng nhà nào muốn mua được giống gà tốt về nuôi thì chỉ có chợ Bần mới có giống gà Đông Tảo to cộ. Thêm nữa, chợ này dịp trước tết bán nhiều rau cải bẹ Đông Dư, hành và kiệu tươi, mua về nén ăn tết ngon. Chợ Dầm họp giữa vùng chiêm trũng. Các lều quán chợ chơ vơ trong gió đồng. Ai đó bảo, trước đây những ngày mưa dầm gió bấc, đường đi chợ Dầm bùn đất lầy lội, ngay trong nền chợ cũng bùn nước lõng bõng, người đi chợ phải dầm chân trong bùn đất, thế nên mới thành tên chợ. Chợ Dầm mang đặc trưng của vùng quê thuần nông, hàng công nghệ ít, bù lại hàng quà bánh và hàng đan lát gia dụng lại nhiều vô kể. Nhà nhà nuôi lợn đều thích đi chợ Dầm vì lợn ở đây rặt giống ỉ thuần nuôi dễ ngon thịt, lợn nái thì sai con, dễ gột lợn bột… Còn chợ Nôm, chân kiềng thứ ba, lại mang một sắc thái khác. Nếu hai chợ kia na ná giống nhau, cùng nằm giữa trục nối Phố Hiến với Thăng Long xưa, và cùng vùng văn hóa, thì chợ Nôm lại mang sắc thái văn hóa Kinh Bắc, pha chút hơi hướng vùng giáp trung du. Sản vật bày bán ở chợ này cũng có khác. Hàng ngày, người dân vùng quê tôi ít đi chợ Nôm. Song những ai muốn mua nồi, sanh, thau, mâm và đồ tế nhuyễn bằng đồng thì không thể không đi, bởi nơi đây là đất tổ sư nghề đúc đồng. Chợ Nôm gắn liền với câu ca hẳn nhiều người nhớ: “Đồng nát thì về cầu Nôm / Con gái nỏ mồm về ở với cha”. Đồ đồng bán ở chợ Nôm đủ loại, đủ cỡ và giá cả bao giờ cũng mềm hơn, lại là hàng chính hiệu. Tuyệt nhất, dịp Tết Nguyên Đán, đi phiên chợ Nôm thật no mắt nhìn. Cuốn thư, câu đối, tranh Đông Hồ như Chuột vinh quy, Lợn âm dương, Đàn gà, Tố nữ, Tứ mùa, Hứng dừa…thôi thì đủ loại tranh dân gian tươi rói sắc màu. Ngày tết, nhà nhà nhăm nhăm lo nồi bánh chưng vài chiếc giò, chút măng miến khô, mà có thêm tranh tết nữa thì thật không gì vui bằng, bởi vật chất, tinh thần đủ cả.Tôi không biết cái chợ ở làng quê ta có tự bao giờ. Cũng không dám so sánh nó với bất cứ thiết chế nào ở nông thôn, song nhất định nó phải là một cái gì đó quan trọng lắm với đời sống dân làng. Với nông thôn Việt Nam mình, tôi cứ mường tượng rằng đình, chùa và chợ là ba hòn trong cỗ đồ rau để làng quê tựa vào đó vững chắc.Ngày trước chợ phiên quê tôi là vậy, bây giờ thời kinh tế mở, các chợ này có thêm nhiều hàng hóa và mang hơi hướng của xã hội tiêu dùng hiện đại, song những nét cổ sơ thì vẫn còn. Những tiệm may thời trang, những nhà hàng cho thuê đồ đám cưới…góp phần tô điểm thêm cho sự sầm uất của chợ phiên. Lẽ dĩ nhiên, không thể tránh khỏi sự xô bồ của thời kinh tế mở, sự phai lạt nét văn hóa vùng riêng mỗi chợ phiên xưa cũ, và âu cũng là điều dễ hiểu. Người đi chợ ít ai kẽo kẹt đòn gánh quang thúng hai đầu như trước mà thay vào đó là xe đạp, xe máy. Sự pha tạp hiên đại ít nhiều làm phai nhạt nét đặc trưng của từng chợ xưa,...Song những dịp gần Tết Nguyên Đán, về quê giỗ chạp, dự cưới xin, thăm hỏi họ hàng làng xóm, tôi được vui lây với cảnh mẹ bìu con ríu đi chơi chợ tết, cảnh đám trẻ con ở nhà khấp khởi ngóng trông cha mẹ về chợ để rồi sau đó chí chóe tranh giành nhau quà chợ tết. Mỗi lần vậy, tự nhiên tôi thèm được như ngày nào nhỏ dại để theo mẹ đi chơi chợ tết,... Ơi những chợ Bần, chợ Dầm, chợ Nôm quê tôi!...   ./.

Thay đổi trang: << < 45 > | Trang 4 của 5 trang, bài viết từ 91 đến 120 trên tổng số 136 bài trong đề mục