Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi

Thay đổi trang: < 123456 | Trang 6 của 6 trang, bài viết từ 76 đến 78 trên tổng số 78 bài trong đề mục
Tác giả Bài
tamvanvov

  • Số bài : 548
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
  • Trạng thái: offline
Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 13.09.2020 11:40:01 (permalink)
Nhàn đàm chuyện củi lửa, đốt lò,...
 
 Gần đây, chuyện củi lửa, đốt lò, mình cũng đọc để biết. Nhiều quá đâm nhàm, nên chẳng muốn bàn mà làm gì... Lâu nay, sách vở cũng đọc nhì nhằng này nọ, kể cả Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử từng ngó ngàng gọi là có. Mới đây, nhân người bạn mọt sách tiện mua tặng cho cuốn LÃO TỬ, ĐẠO ĐỨC KINH, của Nxb Hồng Đức, bản mới có đầy đủ nguyên văn chữ Hán, bản âm Hán Việt và dịch nghĩa, rõ ràng, mạch lạc, lại thêm hình vẽ, nhìn bắt mắt lắm. Dạo này, trời nắng nóng, nhàn việc, nên lấy ra túc tắc đọc chơii, và ngộ ra nhiều điều mà trước đây vẫn lơ tơ mơ... 
          Ngay như cái câu " Đạo khả đạo phi thường đạo/ Danh khả danh phi thường danh" mình cũng đã từng trích dẫn cho bài biết này nọ, giờ cũng sáng tỏ hơn nhiều, khi nhìn nhận đó là điểm khởi đầu của minh triết, là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt, hòa hợp nhuần nhuyễn trong sự tương quan vận hành của Trời Đất-Vạn vật-Con người, đặng tồn tại và phát triển,...
          Đến đoạn này, nhẩm đi nhẩm lại, thấy thú vị, chợt liên tưởng chuyện thế sự, củi lửa, đốt lò hiện tại  "... Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn. Phi dĩ kỳ vô tư tà. Cố năng thành kỳ tư. Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh. Phù duy bất tranh, cố vô vưu. Xử chúng chi sở ác..." ( được dịch, hiểu nghĩa: Đối với mọi việc, thánh nhân thường để ngước khác đi trước Đối với việc của bản thân mình thường không suy tính đến mà vẫn đến trước. Đem bản thân đặt ra bên ngoài sự an nguy, khiến sinh mệnh bản thân được bảo toàn. Đó chính là không muốn thu được lợi ích cho bàn thân mình. Người phù hợp với đạo giống như nước vậy, nước khéo trợ giúp vạn vật nhưng không tranh đoạt ngắn dài với vạn vật. Do không tranh đoạt dài ngắn nên không phạm phải lỗi lầm, nó thường ở nơi thấp trũng nên mọi người không muốn tới...)
           Ôi, thì hẳn, mấy người đã và đang bị mang ra làm củi đốt lò, ắt không phải là thánh nhân rồi!...
Nhàn đàm chút, đặng có cái mà dõi theo dòng thế sự...
 
 
 
 
#76
    tamvanvov

    • Số bài : 548
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 26.08.2009
    • Trạng thái: offline
    Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 25.10.2020 10:44:03 (permalink)
    Thương nhớ những chuyến phà.
     
    Trong cuộc đời làm việc của mình, nhất là từ khi vào nghề làm báo chuyên nghiệp, những chuyến công tác đó đây, gần xa, tôi đã từng qua biết bao chuyến phà... Từ chuyến đò ngang sông quê đầu đời ngày nhỏ đi học, cho đến ngưỡng tuổi già, để xuôi chuyến đò dọc cuộc đời dần về cuối bến, làm sao nhớ nổi những lần đò phà ngang bến bãi cơ chứ ?,,, 
    Có lẽ, ở xứ sở Việt mình, với mỗi người, tiếng hát ru của mẹ thời thơ ấu và tiếng gọi đò khi lớn khôn là gợi nhớ nhất, nó đi theo ta suốt cả cuộc đời !?...
    "Đò ơi... đò ơ ơ ơ...i...", tiếng gọi đò lúc chiều buông bến vắng, của những ai từng lỡ đò, chờ đò mãi chẳng được, thả một nỗi buồn len vào lòng lữ khách và mãi không tan... 
               Ở xứ sở mình, nắng lắm mưa nhiều, sông ngòi giăng mắc như mạng nhện, ai đâu biết có bao nhiêu bến đò, phà?... Sông ngăn cách trở, vô tình cho những con đò, chiếc phà sứ mệnh nối liền hai bờ thương nhớ của mỗi đời người...
               Đã bao lần qua đò, qua phà, chẳng thể nhớ số chuyến, nhưng vẫn có những lần đò phà để nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ này nó không cồn lên như nỗi nhớ tình yêu đầu đời đánh mất, cũng chẳng khứa vào lòng như những trắc trở đường đời, mà nó chỉ man mác như có như không, chợt thấy chợt tan, mỗi khi ta ngang qua một dòng sông nào đó ...
    Chuyến phà đầu tiên tôi mà tôi nhớ lại rất bình yên, Ấy là khi tôi đang học đại học. Cậu bạn cùng lớp Hoàng Gia Trình, rủ về thăm nhà bạn ở mãi tận Hưng Hà, Thái Bình. Tôi lai Gia Trình trên chiếc xe đạp Phượng Hoàng từ nhà tôi, gần Phố Nối, theo đường 39 đến thị xã Hưng Yên, rồi rẽ theo đường đê vài cây số đến bến phà Triều Dương thuộc địa phận Tiên Lữ. Dòng sông Luộc nước hiền hòa, đôi bờ xanh rờn ngô lúa. Ngoài con sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình, thì đây là lần đầu tiên tôi biết sông Luộc. Anh bạn Gia Trình chỉ tay sang bờ bên kia bảo, qua phà đi thêm chục cây số nữa mới đến, ở phía ấy còn có sông khác là Trà Lý. Tôi nghe tên sông này hay hơn tên sông Luộc nên thích ngay. Không ngờ, sông Luộc còn có tên chữ là Phú Nông. Ngày xưa qua sông này về quê vợ Thái Bình, thi hào Nguyễn Du đã cảm tác thành thơ (Độ Phú Nông giang cảm tác). Xưa kia, Nguyễn Du gắn bó với vùng đất sông Luộc này. Ngay từ khi còn nhỏ, lúc gia đình ở Thăng Long bị loạn lạc, Nguyễn Du đã được Đoàn Nguyên Tuấn, bạn thân của Nguyễn Nghiễm (anh ruột Nguyễn Du) đưa về nhà mình ở Quỳnh Côi (Thái Bình) nuôi ăn học như người thân. Không những thế, sau Nguyễn Du lấy vợ là em gái Đoàn Nguyễn Tuấn, trở thành con rể của Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục. Thái Bình trở thành quê vợ và nơi trú ngụ của Nguyễn Du, bởi sau này, dưới triều Tây Sơn, Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan, nhưng Nguyễn Du vẫn giữ quan điểm trung với vua Lê chúa Trịnh, không muốn làm quan với nhà Tây Sơn, cũng lánh về đây ở ẩn một thời gian. Khi làm quan với triều Nguyễn, Nguyễn Du từng được bổ làm Tri huyện Phù Dung (thuộc Phù Cừ, Hưng Yên) liền kề vùng đất này. Vậy ra, một phần ba cuộc đời ông sống ở vùng sông Luộc này, bao nhiêu lần đò giang qua sông, nên có thơ cảm tác là phải thôi. Thời ấy, đôi bờ sông Luộc hẳn xanh tươi lắm, nên Nguyễn Du đã tả trong thơ mình "Du nhân vô hạn cảm/ Phương thảo biến thiên nhai" ( nghĩa là: Người lãng du dạ đầy thương cảm. Cỏ thơm rợn đến chân trời ).
              Trở lại chuyến đi ấy, Gia Trình qua lại đây nhiều nên khi yên vị trên phà, kể cho tôi nghe sơ lược lịch sử vùng đất quê mình, trấn Sơn Nam Hạ, xưa cũng là nơi phát nghiệp đế vương của nhà Trần (Hải Ấp, Lưu Xá, Hưng Hà, Thái Bình)... Chuyến đi ấy để lại cho tôi ấn tượng tốt về một vùng quê thuần nông thanh bình, yên ả. Để sau đó, trước khi cùng Gia Trình vào Nam nhận công tác, tôi về lại đây, một mình trên con ngựa sắt Phượng Hoàng, lốp nứt phòi cả săm, phải quấn tạm bằng dây chun, tôi phải vất vả vác xuống phà...
                Cùng với Gia Trình, chúng tôi vào Nam nhận công tác trên chuyến tàu hỏa bão táp vào đầu thu năm 1981, dọc đường phải nhiều lần tăng-bo, ngủ vạ vật ở nhà ga vì mưa bão miền Trung gây sạt lở chắn đường ở đèo Cù Mông, đèo Cả. Chia tay nhau ở Bến xe miền Tây, Sài Gòn, Gia Trình lên xe đi Bạc Liêu (Minh Hải), còn tôi về Long Xuyên (An Giang). Lần đầu chạm mặt đồng bằng sông Cửu Long bạt ngàn cò bay thẳng cánh, thấy Cửu Long giang sóng nước ra sao. Cho đến tận giờ, mỗi nhớ lại, tai tôi vẫn âm vang tiếng rao của những người bán hàng rong, đặc biệt là nem Lai Vung ở bến Bắc Mỹ Thuận qua sông Tiền. Tiếng rao cất lên đều đều, buồn buồn, gợi nỗi nhớ nhà da diết, dù mới đi xa nhà có một tuần. Người Nam gọi phà là bắc, lúc ấy tôi chưa hiểu, nên cứ nghĩ là bến phà Mỹ Thuận này ở phía Bắc, vậy còn bến phà nữa ở phía Nam. Nhưng rồi, xe đi trên đất huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) đến bến phà nữa, là Bắc Vàm Cống, qua sông Hậu, bờ bên đã là đất Long Xuyên (An Giang) rồi. Tôi thắc mắc mà không dám hỏi ai, phần vì ngại, phần "sợ quê", để dần dà tìm hiểu sau. Miền Tây Nam bộ đang mùa lũ, năm ấy lũ lớn, đồng ruộng trắng băng, phân biệt ruộng với sông nhờ những hàng dừa nước xanh chớp chới. Con phà đầy nhóc ô tô, xe máy và người, lừng lững như dãy nhà hai tầng chênh chếch nương theo con nước mà sang bờ bên. Buồn vui chộn rộn, lạ lẫm xen chút lo lằng, không biết mình sẽ nhiệm sở ra sao. Đầu lởn vởn câu thơ Huy Cận "Lòng quê rờn rợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". 
                Khi về Bảy Núi, Tri Tôn công tác và ở đấy gần bảy năm trời, tôi bao lần qua lại mấy bến phà này (Vàm Cống, Cần Thơ, Mỹ Thuận) mỗi lần lên Sài Gòn,đi phép ra Bắc. Rồi đó, những chuyến đò dọc, chẳng khác chi dân thương hồ miền Tây, đi công việc tại những điểm xa như Ba Chúc, Lạc Quới, Vĩnh Gia, hay sang tận Hòn Đất, Hà Tiên...
                Sau này, anh bạn Gia Trình rời Bạc Liêu, về nông trường Đông Anh, Hà Nội làm việc, tôi cất công đến thăm bạn, lần mò hỏi đường, người ta bảo đừng theo đường vòng Cầu Đuống mà đi tắt qua bến phà Đông Trù, gần ngã ba Dâu, nơi sông Đuống lấy nước từ sông Cái. Sông không rộng nhưng nước xiết, nên cảm giác sờ sợ. Qua phà, đạp xe theo đường đê, ngang đất Mai Lâm, lại nhớ đến chuyện bố tôi hay kể rằng ngày xưa hay vỡ đê sông Cái hoặc sông Đuống, đâu quãng ấy, nên đời sống người dân trong vùng cơ cực lắm.  Năm nào mùa mưa lũ, cũng lo ngay ngáy, sợ vỡ đê, chẳng chết trôi thì cũng chết đói. Chẳng thế mà, cụ Ngô Tất Tố, người quê đây, chẳng cần đi đâu xa, cứ chất liệu thực tế ở vùng quê mình mà viết nên các tác phẩm kinh điển của văn chương xứ Việt là Việc làngTắt đènLều chõng... Nhờ thế, khi làm báo chuyên nghiệp, tôi đã trở lại vùng quê này, để thực hiện một chương trình phát thanh đặc biệt trong dịp Lễ Quốc khánh.
                Trong cuộc đời làm báo chuyên nghiệp, công tác liên miên, sông ngòi, đò phà là chuyện cơm bữa. Hầu như các phà lớn, tôi đều qua hết, như phà Tân Đệ, Đò Quan, Ninh Cơ (Nam Định), phà Bính, phà Gót, phà Đình Vũ (Hải Phòng), phà Bãi Cháy (Quảng Ninh), phà Đà Bắc (Hòa Bình), phà Bến Thủy (Nghệ An), phà Sông Gianh, bến đò Son (Quảng Bình), bến đò Vàng (Bắc Ninh), bến đò Ninh Xá (Hải Dương) ... 
    Phà Bãi Cháy, ngày trước cắt ngang vịnh biển, rộng và luôn đông khách, mỗi lần qua chờ cả tiếng đồng hồ là chuyện thường. Những ngày mưa giông, thời tiết xấu, phải qua phà thật ái ngại. Tôi đã gặp những lần như thế, lần qua Hòn Gai công tác, nhân tiện ghé thăm gia đình nhà thơ Trần Nhuận Minh, và một lần khác, đúng khi có bão rớt, tìm gặp nhà văn Dương Hướng và nhà thơ Trần Ngọc Tảo, nhờ chỉ dẫn để xuống Cẩm Phả, tầm bằng được nhà văn Võ Huy Tâm, thực hiện cuộc phỏng vấn ông về tác phẩmVùng Mỏ. Ngồi trên phà mà cứ nơm nớp lo lắng, ngộ nhỡ... May là không có chuyện gì bất trắc. 
                Giờ thì những nơi ấy phần lớn có cầu cả rồi. Nhiều cây cầu mang tầm vóc thể kỷ, như cầu Bãi Cháy, cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, và mới đây nhất là Vàm Cống cũng đã thông xe, bỏ lại đó bến Bắc Vàm Cống, nơi ghi dấu ấn đầu tiên cuộc đời công chức của tôi. Năm 2017, trước khi nghỉ hưu, tôi có dịp đi lại tuyến đường Lấp Vò (Đồng Tháp) qua Bắc Vàm Cống sang Long Xuyên, để đi tiếp Tri Tôn, nơi 37 năm trước, tôi qua đây đi nhiệm sở, bắt đầu cuộc đời công chức của mình. Con phà hai tầng rẽ nước sang bên, nhìn cây cầu xây dở vắt ngang sông mà lòng nao nao, nhớ lại ngày xưa ấy, nhìn những cụm lục bình, nhưng cành mục trôi dạt trên sóng nước, tự nhiên thương cảm cả con phà lẫn những thợ thuyền vận hành, rồi sẽ ra sao khi thông cầu. Giờ thì tất cả đã đi bến bờ khác cả rồi... Một con đò nhỏ chở tuổi thơ ta qua sông quê, hay con phà khủng thì cũng như nhau cả thôi, đều có thân phận, đều trôi chảy cùng dòng sông và dòng đời !...
                 Có một bến đò mà tôi chưa nhắc đến. Đấy là bến đò Hàn qua sông Thái Bình, từ thị xã Hải Dương sang đất Nam Sách. Bến đò này một thời như bến đò tình yêu của tôi. Ngày đó, tôi và người bạn gái ấy, hay cùng nhau qua đò Hàn sang Nam Sách thăm nhà Trịnh Bá Ninh và Trần Đăng Khoa, là những bạn chung của hai tôi. Mối tình đầu vụng dại, chỉ biết yêu hết lòng, còn chẳng biết đoán ý của người bạn gái nữa. Đò giang, sóng nước, mây trời, và cả thơ phú, đều bồng bềnh, choi vơi, nương theo tâm trạng buồn vui của lòng mình và gương mặt tươi tắn hay đượm buồn của người ấy... Và hình như, ở vào tuổi mới lớn, trong tình yêu, con gái thường là người dẫn dắt thì phải? Tôi như con đò để người ấy cầm lái, chèo đi đâu cũng được... Mối tình đầu đánh mất, cầu qua sông cũng đã bắc đâu đó, người xưa đi lấy chồng, mình cũng đã yêu người khác, rồi lập gia đình. Nghe đâu bến đò ấy vẫn còn, vì cuộc đời luôn có người lỡ dở cần qua sông...
                Tôi và người bạn ấy, sau gặp lại nhau, trêu đùa như chưa từng có chuyện gì, cũng chẳng còn nỗi đau khứa lòng nào... Nhưng bóng dáng con đò và tiếng gọi đò ơi lan trên sống nước một thuở thì vẫn như đâu đó!... Cuộc sông không thể dừng lại, những cây cầu hiện đại thay thế cho đò phà là lẽ đương nhiên, không thể à ơ thương nhớ mãi được. Cũng biết vậy, nhưng con người ta, chẳng thể cứ bảo không là thôi ngay được, khi mà nỗi nhớ thương những bến bờ và những chuyến đò phà một thuở, không phài là tội lỗi gì !,,,
     
     
    #77
      tamvanvov

      • Số bài : 548
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 26.08.2009
      • Trạng thái: offline
      Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 10.11.2020 10:43:01 (permalink)
       
                                           Từ nghệ thuật thực cảnh
      nghĩ về chiếu chèo sân đình,
       
       Thật khó diễn tả nổi cảm giác trước sự tráng lệ của Thực cảnh Ký ức Hội An... Một sự choáng ngợp trong không gian ánh sáng và âm thanh cùng những cảnh vật, con người sống động, linh hoạt và đầy biểu cảm ...
      Đó là những gì tôi mục sở thị  thực cảnh Ký ức Hội An. Thực tình, trước khi xem, tôi đã thử hình dung, nhưng quả thực, nó khác với mường tượng của tôi, về độ tráng lệ, về kỹ xảo ánh sáng, sắc màu, sự sống động, về số lượng người tham gia, về cảm xúc tức thì nơi tôi...
                Thực cảnh tái hiện lịch sử hơn bốn trăm năm hình thành của Hội An với sự pha trộn của văn hóa Việt-Champa, Nhật bản, Trung Quốc, Bồ Đào nha, Pháp... Thậm chí, có những hình ảnh tái hiện lại câu chuyện từ thời Huyền Trân công chúa nhà Trần vào làm dâu xứ sở Champa (đầu thế kỷ 14), và xa xưa hơn nữa, là những sinh hoạt của xứ sở Champa cổ từ thế kỷ thứ 10 ... 
                 Đây là lần đầu tiên tôi xem nghệ thuật thực cảnh. Năm 2002, trong một lần công tác sang Trung Quốc, tôi đi dọc tuyến Nam Ninh-:Liễu Châu-Quế Lâm, và từ Quế Lâm, theo dòng Ly Giang tôi đi thị trấn Dương Sóc, một địa điểm du lịch nổi tiếng ở miền nam Trung Quốc. Dọc đường, du thuyền ghé bờ để du khách tham quan hang động Quan Mâu. Nghe nói, vài năm sau đó, người ta dựng sân khấu thực cảnh ngay gần đó để diễn vở thực cảnh Chuyện chị Ba Lưu, do Trương Nghệ Mưu làm tổng đạo diễn. Các đồng nghiệp sau tôi sang đó, được phía bạn mời xem, về kể lại, tôi cứ tiếc là không được mục sở thị. Nay được xem Ký ức Hội An thật đã mắt đã tai, thây với quy mô này, hẳn là hoành tráng hơn thực cảnh Chuyện chị Ba Lưu. 
      Ở quy mô ngược lại, ấy là chiếu chèo sân đình. 
                Với người dân xứ Bắc, nhất là các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng-sông Thái Bình, thì chèo là hình thức sân khấu phổ biến và được yêu thích nhất. Ngày nhỏ đi học, nhất là những năm chiến tranh về sống ở quê, tôi mới biết nhiều về chèo. Thời ấy, các địa phương hầu như đều có đoàn chèo chuyên nghiệp, nổi tiếng như chèo Thái Bình, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Bắc, Nam Hà và Hải Hưng quê tôi. Nhưng được xem các đoàn chèo chuyên nghiệp diễn là rất hiếm, thì bù lại, các chuyên mục Dân ca và nhạc cổ truyền của Đài Tiếng nói Việt Nam phát các làn điệu chèo, hoạt cảnh chèo khá nhiều. Người ta biết đến tên tuổi của các nghệ sĩ hát chèo qua làn sóng như Minh Lý, Kim Đức, Minh Tâm, Như Hoa, Đỗ Xuân... Còn mỗi đoàn chèo, đều có những diễn viên gạo cội nổi tiếng của mình, và lâu lâu họ lại được mời thu thanh để phát trên đài nhằm phục vụ đông đảo thính giả. 
                 Chuyện chiếu chèo sân đình, là một hình thức văn nghệ cộng đồng có từ xưa vào những dịp làng có hội, lễ tết gì đó. Hình thức biểu diễn này thường do một gánh chiều gia đình, hành nghề lưu diễn khắp nơi để kiếm sống, hoặc do những người yêu thích chèo tự biên tự diễn như một sinh hoạt tình thần vui làng xóm. Nghe cah tôi kể lại, ngày trước, hình thức chiếu chèo sân đình khá phổ biến, vì nghệ thuật sân khấu chưa mấy phát triển, vả lại đời sống thôn dã xưa thích hợp với hình thức diễn xướng kiểu này, biểu diễn các rích chèo cổ, các trích đoạn, chẳng hạn như: Súy Vân giả dại (Kim Nham), Thị Màu lên chùa (Quan âm Thị Kính), Tuần ty Đào Huế (Chu Mãi thần) v.v... Vừa giải trí gây cười vừa có tính giáo dục cao. Sau này, những năm chiến tranh ở miền Bắc, tuy đã có nhiều đoàn văn công, đoàn tuồng, chèo, cải lương nhưng lưu diễn địa phương khó khăn, vả lại còn sợ máy bay địch bắn phá, nên hình thức chiếu chèo sân đình trở nên phù hợp với hoàn cảnh và khá hữu dụng. 
                 Quê tôi ngày ấy, tuy không phải là đất chèo, thì cũng có những người do nghe chèo trên Đài mà mê chèo. Chiến tranh, phim ảnh, văn nghệ hiếm nên làng xã khuyến khích các hoạt động văn nghệ quần chúng. Hầu như làng nào cũng thành lập đội chèo, thành viên thì hổ lốn, già trẻ, trung niên, thanh niên chưa có gia đình, lại có những ông bố và mẹ vài ba con, miễn là biết hát chèo sơ sơ và nhiệt tình là được. Hình thức thì cũng búa xua, hát đơn, hát đôi, hoạt cảnh, dựng trích đoạn chèo cổ đều được. Vui thì có nhưng buồn cũng chẳng phải không. Nhiều anh chị tập tành, biểu diễn chung mà bén duyên nên vợ chồng. Lại có những cặp có vợ chồng cả rồi. khi tập chung với nhau nảy sinh tình cảm, tình giả thành thật, rạn nứt hôn nhân. Buồn nữa, có nhưng chị vợ bộ đội, chồng xa nơi chiến trường, ở nhà lại có thai... Tôi nhớ, có nhà văn nào đó đã viết thành truyện, Thị Màu lại phải nuôi con riêng của Thị Kính ngoài đời, là chuyện hoàn toàn có thật... Thế mới là cuộc sống!?...
                 Dù chiến tranh và thiếu thốn, nhưng vẫn có những đoàn văn công trung ương và địa phương đi lưu diễn. Quê tôi, cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, nên năm đôi lần có đoán văn công chuyên nghiệp, tuồng, cải lương, kịch nói, chèo đến biểu diễn vài ba đêm. Đấy thực sự là ngày hội của làng quê. Tôi nhớ, các vở chèo cổ như Kim Nham, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ, Quan âm Thị Kính, Tấm Cảm, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa... được các đoàn dựng, đưa về biểu diễn. Cả xã có cái chợ Lạng, sân gạch rộng, dưới tán mấy cây bàng cổ thụ, gần trụ sở Ủy ban xã, lại vị trí trung tâm, được chọn là nơi dựng sân khấu biểu diễn. Mọi người nô nức mua vé đi xem, phải đi sớm để giành chỗ ngồi gần sân khấu. Vở nào cũng có đoạn hài cười nôn ruột, lại có đoạn cảm động rơi nước mắt. Làng xã hân hoan cả tuần, cả tháng, đi đâu người ta cũng bàn tán các tình tiết trong vở diễn. Giờ nghĩ lại, thấy những buổi biễu diễn sân khấu ngày ấy có sức mạnh tinh thần ghê gớm, một sự doping khó có gì bằng...
      Có một thời kỳ, diễn ra sự đổi mới trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thì lĩnh vực sân khấu cũng vậy. Ở ta, kịch Lưu Quang Vũ là một hiện tượng rầm rộ. Lặng thầm, sau hoạt cảnh chèo Đường về trận địa, ít nhiều mang tính thử nghiêm, soạn giả Tào Mạt tung ra bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước lấy đề tài lịch sử nhưng lại có sự cách tân. của mình ( Lý Thánh Tông tuyển hiền, Nhiếp chính Ý Lan và Lý Nhân Tông kế nghiệp) đã để lại tiếng vang và dấu ấn sâu đậm trong hoạt động sân khấu cô truyền là sự phát triển của nghệ thuật chèo.
                 Ấy là thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật biểu diễn nói chung. Đó cũng là niềm hạnh phúc của các nghệ sĩ. Giờ đây, con người ta có quá nhiều thứ giải trí, thời đại 4.0 thì nằm trên giường người ta cũng có thể lựa chọn được các hình thức giải trí mà mình yêu thích, chẳng cần phải bước chân ra. Sân khấu và nghệ thuật biểu diễn bị thu hẹp đất sống, và như vậy sẽ mai một, nếu không tìm cách biểu đạt mới, cách sống mới cho phù hợp với thời đại ? Đương nhiên, hiện nay, vẫn còn đó các nghệ sĩ hát và biểu diễn chèo sống chết với nghề như Quốc Anh, Thanh Ngoan, Thanh Hoài, Hồng Ngát, Văn Chương, Xuân Hinh, Thu Huyền v.v... nhưng cứu vãn chèo, mang lại sức sống cho chèo không chỉ có lòng yêu nghề là đủ?...
                 Song tôi đã thấy sức sống mới của nghệ thuật biễu diễn ở Hội An. Người ta đã đưa nghệ thuật sân khấu ra đường phố, như dân ca bài chòi, cải lương vọng cổ, hát tuồng... và nghệ thuật thực cảnh (qua thực cảnh "Ký ức Hội An") là một cách làm mới hoàn toàn...
                 Đương nhiên, Hội An có sự thuận lợi, ấy là điểm du lịch nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới, mà không phải nơi nào cũng có. Hội An biết tạo ra sản phẩm du lịch mới và du khách đến Hội An đông là điểm mấu chốt cho nghệ thuật tìm được đất sống ở đây. Hội An biết cách nuôi dưỡng du khách và khách tiếp thêm sức sống cho Hội An...
                  Và, chiếu chèo sân đình, đâu có chết. Hình thức này tự tìm được sức sống mới cho mình ở nơi làng xóm. Giờ đây, người dân tự biết cách nuôi dường hình thức này, bởi khi biễu diễn chiếu chèo sân đình, người ta đến xem, không đờn thuần là thưởng thức nghệ thuật, mà là được tham gia vào hoạt động và tạo sự gắn kết cộng đồng, là tình nghĩa xóm làng, những thứ không gian mạng chưa đem lại cho họ!?...
       
       
       
      #78
        Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark
        Thay đổi trang: < 123456 | Trang 6 của 6 trang, bài viết từ 76 đến 78 trên tổng số 78 bài trong đề mục

        Chuyển nhanh đến:

        Thống kê hiện tại

        Hiện đang có 0 thành viên và 3 bạn đọc.

        Chú Giải và Quyền Lợi

        • Bài Mới Đăng
        • Không Có Bài Mới
        • Bài Nổi Bật (có bài mới)
        • Bài Nổi Bật (không bài mới)
        • Khóa (có bài mới)
        • Khóa (không có bài mới)
        • Xem bài
        • Đăng bài mới
        • Trả lời bài
        • Đăng bình chọn
        • Bình Chọn
        • Đánh giá các bài
        • Có thể tự xóa bài
        • Có thể tự xóa chủ đề
        • Đánh giá bài viết

        2000-2020 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9