VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I )

Thay đổi trang: < 1234567 > | Trang 6 của 7 trang, bài viết từ 76 đến 90 trên tổng số 93 bài trong đề mục
Tác giả Bài
tamvanvov

  • Số bài : 602
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
  • Trạng thái: offline
Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 13.09.2020 11:40:01 (permalink)
Nhàn đàm chuyện củi lửa, đốt lò,...
 
 Gần đây, chuyện củi lửa, đốt lò, mình cũng đọc để biết. Nhiều quá đâm nhàm, nên chẳng muốn bàn mà làm gì... Lâu nay, sách vở cũng đọc nhì nhằng này nọ, kể cả Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử từng ngó ngàng gọi là có. Mới đây, nhân người bạn mọt sách tiện mua tặng cho cuốn LÃO TỬ, ĐẠO ĐỨC KINH, của Nxb Hồng Đức, bản mới có đầy đủ nguyên văn chữ Hán, bản âm Hán Việt và dịch nghĩa, rõ ràng, mạch lạc, lại thêm hình vẽ, nhìn bắt mắt lắm. Dạo này, trời nắng nóng, nhàn việc, nên lấy ra túc tắc đọc chơii, và ngộ ra nhiều điều mà trước đây vẫn lơ tơ mơ... 
          Ngay như cái câu " Đạo khả đạo phi thường đạo/ Danh khả danh phi thường danh" mình cũng đã từng trích dẫn cho bài biết này nọ, giờ cũng sáng tỏ hơn nhiều, khi nhìn nhận đó là điểm khởi đầu của minh triết, là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt, hòa hợp nhuần nhuyễn trong sự tương quan vận hành của Trời Đất-Vạn vật-Con người, đặng tồn tại và phát triển,...
          Đến đoạn này, nhẩm đi nhẩm lại, thấy thú vị, chợt liên tưởng chuyện thế sự, củi lửa, đốt lò hiện tại  "... Thị dĩ thánh nhân hậu kỳ thân nhi thân tiên, ngoại kỳ thân nhi thân tồn. Phi dĩ kỳ vô tư tà. Cố năng thành kỳ tư. Thượng thiện nhược thủy. Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh. Phù duy bất tranh, cố vô vưu. Xử chúng chi sở ác..." ( được dịch, hiểu nghĩa: Đối với mọi việc, thánh nhân thường để ngước khác đi trước Đối với việc của bản thân mình thường không suy tính đến mà vẫn đến trước. Đem bản thân đặt ra bên ngoài sự an nguy, khiến sinh mệnh bản thân được bảo toàn. Đó chính là không muốn thu được lợi ích cho bàn thân mình. Người phù hợp với đạo giống như nước vậy, nước khéo trợ giúp vạn vật nhưng không tranh đoạt ngắn dài với vạn vật. Do không tranh đoạt dài ngắn nên không phạm phải lỗi lầm, nó thường ở nơi thấp trũng nên mọi người không muốn tới...)
           Ôi, thì hẳn, mấy người đã và đang bị mang ra làm củi đốt lò, ắt không phải là thánh nhân rồi!...
Nhàn đàm chút, đặng có cái mà dõi theo dòng thế sự...
 
 
 
 
#76
    tamvanvov

    • Số bài : 602
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 26.08.2009
    • Trạng thái: offline
    Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 25.10.2020 10:44:03 (permalink)
    Thương nhớ những chuyến phà.
     
    Trong cuộc đời làm việc của mình, nhất là từ khi vào nghề làm báo chuyên nghiệp, những chuyến công tác đó đây, gần xa, tôi đã từng qua biết bao chuyến phà... Từ chuyến đò ngang sông quê đầu đời ngày nhỏ đi học, cho đến ngưỡng tuổi già, để xuôi chuyến đò dọc cuộc đời dần về cuối bến, làm sao nhớ nổi những lần đò phà ngang bến bãi cơ chứ ?,,, 
    Có lẽ, ở xứ sở Việt mình, với mỗi người, tiếng hát ru của mẹ thời thơ ấu và tiếng gọi đò khi lớn khôn là gợi nhớ nhất, nó đi theo ta suốt cả cuộc đời !?...
    "Đò ơi... đò ơ ơ ơ...i...", tiếng gọi đò lúc chiều buông bến vắng, của những ai từng lỡ đò, chờ đò mãi chẳng được, thả một nỗi buồn len vào lòng lữ khách và mãi không tan... 
               Ở xứ sở mình, nắng lắm mưa nhiều, sông ngòi giăng mắc như mạng nhện, ai đâu biết có bao nhiêu bến đò, phà?... Sông ngăn cách trở, vô tình cho những con đò, chiếc phà sứ mệnh nối liền hai bờ thương nhớ của mỗi đời người...
               Đã bao lần qua đò, qua phà, chẳng thể nhớ số chuyến, nhưng vẫn có những lần đò phà để nỗi nhớ khôn nguôi. Nỗi nhớ này nó không cồn lên như nỗi nhớ tình yêu đầu đời đánh mất, cũng chẳng khứa vào lòng như những trắc trở đường đời, mà nó chỉ man mác như có như không, chợt thấy chợt tan, mỗi khi ta ngang qua một dòng sông nào đó ...
    Chuyến phà đầu tiên tôi mà tôi nhớ lại rất bình yên, Ấy là khi tôi đang học đại học. Cậu bạn cùng lớp Hoàng Gia Trình, rủ về thăm nhà bạn ở mãi tận Hưng Hà, Thái Bình. Tôi lai Gia Trình trên chiếc xe đạp Phượng Hoàng từ nhà tôi, gần Phố Nối, theo đường 39 đến thị xã Hưng Yên, rồi rẽ theo đường đê vài cây số đến bến phà Triều Dương thuộc địa phận Tiên Lữ. Dòng sông Luộc nước hiền hòa, đôi bờ xanh rờn ngô lúa. Ngoài con sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình, thì đây là lần đầu tiên tôi biết sông Luộc. Anh bạn Gia Trình chỉ tay sang bờ bên kia bảo, qua phà đi thêm chục cây số nữa mới đến, ở phía ấy còn có sông khác là Trà Lý. Tôi nghe tên sông này hay hơn tên sông Luộc nên thích ngay. Không ngờ, sông Luộc còn có tên chữ là Phú Nông. Ngày xưa qua sông này về quê vợ Thái Bình, thi hào Nguyễn Du đã cảm tác thành thơ (Độ Phú Nông giang cảm tác). Xưa kia, Nguyễn Du gắn bó với vùng đất sông Luộc này. Ngay từ khi còn nhỏ, lúc gia đình ở Thăng Long bị loạn lạc, Nguyễn Du đã được Đoàn Nguyên Tuấn, bạn thân của Nguyễn Nghiễm (anh ruột Nguyễn Du) đưa về nhà mình ở Quỳnh Côi (Thái Bình) nuôi ăn học như người thân. Không những thế, sau Nguyễn Du lấy vợ là em gái Đoàn Nguyễn Tuấn, trở thành con rể của Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục. Thái Bình trở thành quê vợ và nơi trú ngụ của Nguyễn Du, bởi sau này, dưới triều Tây Sơn, Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan, nhưng Nguyễn Du vẫn giữ quan điểm trung với vua Lê chúa Trịnh, không muốn làm quan với nhà Tây Sơn, cũng lánh về đây ở ẩn một thời gian. Khi làm quan với triều Nguyễn, Nguyễn Du từng được bổ làm Tri huyện Phù Dung (thuộc Phù Cừ, Hưng Yên) liền kề vùng đất này. Vậy ra, một phần ba cuộc đời ông sống ở vùng sông Luộc này, bao nhiêu lần đò giang qua sông, nên có thơ cảm tác là phải thôi. Thời ấy, đôi bờ sông Luộc hẳn xanh tươi lắm, nên Nguyễn Du đã tả trong thơ mình "Du nhân vô hạn cảm/ Phương thảo biến thiên nhai" ( nghĩa là: Người lãng du dạ đầy thương cảm. Cỏ thơm rợn đến chân trời ).
              Trở lại chuyến đi ấy, Gia Trình qua lại đây nhiều nên khi yên vị trên phà, kể cho tôi nghe sơ lược lịch sử vùng đất quê mình, trấn Sơn Nam Hạ, xưa cũng là nơi phát nghiệp đế vương của nhà Trần (Hải Ấp, Lưu Xá, Hưng Hà, Thái Bình)... Chuyến đi ấy để lại cho tôi ấn tượng tốt về một vùng quê thuần nông thanh bình, yên ả. Để sau đó, trước khi cùng Gia Trình vào Nam nhận công tác, tôi về lại đây, một mình trên con ngựa sắt Phượng Hoàng, lốp nứt phòi cả săm, phải quấn tạm bằng dây chun, tôi phải vất vả vác xuống phà...
                Cùng với Gia Trình, chúng tôi vào Nam nhận công tác trên chuyến tàu hỏa bão táp vào đầu thu năm 1981, dọc đường phải nhiều lần tăng-bo, ngủ vạ vật ở nhà ga vì mưa bão miền Trung gây sạt lở chắn đường ở đèo Cù Mông, đèo Cả. Chia tay nhau ở Bến xe miền Tây, Sài Gòn, Gia Trình lên xe đi Bạc Liêu (Minh Hải), còn tôi về Long Xuyên (An Giang). Lần đầu chạm mặt đồng bằng sông Cửu Long bạt ngàn cò bay thẳng cánh, thấy Cửu Long giang sóng nước ra sao. Cho đến tận giờ, mỗi nhớ lại, tai tôi vẫn âm vang tiếng rao của những người bán hàng rong, đặc biệt là nem Lai Vung ở bến Bắc Mỹ Thuận qua sông Tiền. Tiếng rao cất lên đều đều, buồn buồn, gợi nỗi nhớ nhà da diết, dù mới đi xa nhà có một tuần. Người Nam gọi phà là bắc, lúc ấy tôi chưa hiểu, nên cứ nghĩ là bến phà Mỹ Thuận này ở phía Bắc, vậy còn bến phà nữa ở phía Nam. Nhưng rồi, xe đi trên đất huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) đến bến phà nữa, là Bắc Vàm Cống, qua sông Hậu, bờ bên đã là đất Long Xuyên (An Giang) rồi. Tôi thắc mắc mà không dám hỏi ai, phần vì ngại, phần "sợ quê", để dần dà tìm hiểu sau. Miền Tây Nam bộ đang mùa lũ, năm ấy lũ lớn, đồng ruộng trắng băng, phân biệt ruộng với sông nhờ những hàng dừa nước xanh chớp chới. Con phà đầy nhóc ô tô, xe máy và người, lừng lững như dãy nhà hai tầng chênh chếch nương theo con nước mà sang bờ bên. Buồn vui chộn rộn, lạ lẫm xen chút lo lằng, không biết mình sẽ nhiệm sở ra sao. Đầu lởn vởn câu thơ Huy Cận "Lòng quê rờn rợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà". 
                Khi về Bảy Núi, Tri Tôn công tác và ở đấy gần bảy năm trời, tôi bao lần qua lại mấy bến phà này (Vàm Cống, Cần Thơ, Mỹ Thuận) mỗi lần lên Sài Gòn,đi phép ra Bắc. Rồi đó, những chuyến đò dọc, chẳng khác chi dân thương hồ miền Tây, đi công việc tại những điểm xa như Ba Chúc, Lạc Quới, Vĩnh Gia, hay sang tận Hòn Đất, Hà Tiên...
                Sau này, anh bạn Gia Trình rời Bạc Liêu, về nông trường Đông Anh, Hà Nội làm việc, tôi cất công đến thăm bạn, lần mò hỏi đường, người ta bảo đừng theo đường vòng Cầu Đuống mà đi tắt qua bến phà Đông Trù, gần ngã ba Dâu, nơi sông Đuống lấy nước từ sông Cái. Sông không rộng nhưng nước xiết, nên cảm giác sờ sợ. Qua phà, đạp xe theo đường đê, ngang đất Mai Lâm, lại nhớ đến chuyện bố tôi hay kể rằng ngày xưa hay vỡ đê sông Cái hoặc sông Đuống, đâu quãng ấy, nên đời sống người dân trong vùng cơ cực lắm.  Năm nào mùa mưa lũ, cũng lo ngay ngáy, sợ vỡ đê, chẳng chết trôi thì cũng chết đói. Chẳng thế mà, cụ Ngô Tất Tố, người quê đây, chẳng cần đi đâu xa, cứ chất liệu thực tế ở vùng quê mình mà viết nên các tác phẩm kinh điển của văn chương xứ Việt là Việc làngTắt đènLều chõng... Nhờ thế, khi làm báo chuyên nghiệp, tôi đã trở lại vùng quê này, để thực hiện một chương trình phát thanh đặc biệt trong dịp Lễ Quốc khánh.
                Trong cuộc đời làm báo chuyên nghiệp, công tác liên miên, sông ngòi, đò phà là chuyện cơm bữa. Hầu như các phà lớn, tôi đều qua hết, như phà Tân Đệ, Đò Quan, Ninh Cơ (Nam Định), phà Bính, phà Gót, phà Đình Vũ (Hải Phòng), phà Bãi Cháy (Quảng Ninh), phà Đà Bắc (Hòa Bình), phà Bến Thủy (Nghệ An), phà Sông Gianh, bến đò Son (Quảng Bình), bến đò Vàng (Bắc Ninh), bến đò Ninh Xá (Hải Dương) ... 
    Phà Bãi Cháy, ngày trước cắt ngang vịnh biển, rộng và luôn đông khách, mỗi lần qua chờ cả tiếng đồng hồ là chuyện thường. Những ngày mưa giông, thời tiết xấu, phải qua phà thật ái ngại. Tôi đã gặp những lần như thế, lần qua Hòn Gai công tác, nhân tiện ghé thăm gia đình nhà thơ Trần Nhuận Minh, và một lần khác, đúng khi có bão rớt, tìm gặp nhà văn Dương Hướng và nhà thơ Trần Ngọc Tảo, nhờ chỉ dẫn để xuống Cẩm Phả, tầm bằng được nhà văn Võ Huy Tâm, thực hiện cuộc phỏng vấn ông về tác phẩmVùng Mỏ. Ngồi trên phà mà cứ nơm nớp lo lắng, ngộ nhỡ... May là không có chuyện gì bất trắc. 
                Giờ thì những nơi ấy phần lớn có cầu cả rồi. Nhiều cây cầu mang tầm vóc thể kỷ, như cầu Bãi Cháy, cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, và mới đây nhất là Vàm Cống cũng đã thông xe, bỏ lại đó bến Bắc Vàm Cống, nơi ghi dấu ấn đầu tiên cuộc đời công chức của tôi. Năm 2017, trước khi nghỉ hưu, tôi có dịp đi lại tuyến đường Lấp Vò (Đồng Tháp) qua Bắc Vàm Cống sang Long Xuyên, để đi tiếp Tri Tôn, nơi 37 năm trước, tôi qua đây đi nhiệm sở, bắt đầu cuộc đời công chức của mình. Con phà hai tầng rẽ nước sang bên, nhìn cây cầu xây dở vắt ngang sông mà lòng nao nao, nhớ lại ngày xưa ấy, nhìn những cụm lục bình, nhưng cành mục trôi dạt trên sóng nước, tự nhiên thương cảm cả con phà lẫn những thợ thuyền vận hành, rồi sẽ ra sao khi thông cầu. Giờ thì tất cả đã đi bến bờ khác cả rồi... Một con đò nhỏ chở tuổi thơ ta qua sông quê, hay con phà khủng thì cũng như nhau cả thôi, đều có thân phận, đều trôi chảy cùng dòng sông và dòng đời !...
                 Có một bến đò mà tôi chưa nhắc đến. Đấy là bến đò Hàn qua sông Thái Bình, từ thị xã Hải Dương sang đất Nam Sách. Bến đò này một thời như bến đò tình yêu của tôi. Ngày đó, tôi và người bạn gái ấy, hay cùng nhau qua đò Hàn sang Nam Sách thăm nhà Trịnh Bá Ninh và Trần Đăng Khoa, là những bạn chung của hai tôi. Mối tình đầu vụng dại, chỉ biết yêu hết lòng, còn chẳng biết đoán ý của người bạn gái nữa. Đò giang, sóng nước, mây trời, và cả thơ phú, đều bồng bềnh, choi vơi, nương theo tâm trạng buồn vui của lòng mình và gương mặt tươi tắn hay đượm buồn của người ấy... Và hình như, ở vào tuổi mới lớn, trong tình yêu, con gái thường là người dẫn dắt thì phải? Tôi như con đò để người ấy cầm lái, chèo đi đâu cũng được... Mối tình đầu đánh mất, cầu qua sông cũng đã bắc đâu đó, người xưa đi lấy chồng, mình cũng đã yêu người khác, rồi lập gia đình. Nghe đâu bến đò ấy vẫn còn, vì cuộc đời luôn có người lỡ dở cần qua sông...
                Tôi và người bạn ấy, sau gặp lại nhau, trêu đùa như chưa từng có chuyện gì, cũng chẳng còn nỗi đau khứa lòng nào... Nhưng bóng dáng con đò và tiếng gọi đò ơi lan trên sống nước một thuở thì vẫn như đâu đó!... Cuộc sông không thể dừng lại, những cây cầu hiện đại thay thế cho đò phà là lẽ đương nhiên, không thể à ơ thương nhớ mãi được. Cũng biết vậy, nhưng con người ta, chẳng thể cứ bảo không là thôi ngay được, khi mà nỗi nhớ thương những bến bờ và những chuyến đò phà một thuở, không phài là tội lỗi gì !,,,
     
     
    #77
      tamvanvov

      • Số bài : 602
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 26.08.2009
      • Trạng thái: offline
      Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 10.11.2020 10:43:01 (permalink)
       
                                           Từ nghệ thuật thực cảnh
      nghĩ về chiếu chèo sân đình,
       
       Thật khó diễn tả nổi cảm giác trước sự tráng lệ của Thực cảnh Ký ức Hội An... Một sự choáng ngợp trong không gian ánh sáng và âm thanh cùng những cảnh vật, con người sống động, linh hoạt và đầy biểu cảm ...
      Đó là những gì tôi mục sở thị  thực cảnh Ký ức Hội An. Thực tình, trước khi xem, tôi đã thử hình dung, nhưng quả thực, nó khác với mường tượng của tôi, về độ tráng lệ, về kỹ xảo ánh sáng, sắc màu, sự sống động, về số lượng người tham gia, về cảm xúc tức thì nơi tôi...
                Thực cảnh tái hiện lịch sử hơn bốn trăm năm hình thành của Hội An với sự pha trộn của văn hóa Việt-Champa, Nhật bản, Trung Quốc, Bồ Đào nha, Pháp... Thậm chí, có những hình ảnh tái hiện lại câu chuyện từ thời Huyền Trân công chúa nhà Trần vào làm dâu xứ sở Champa (đầu thế kỷ 14), và xa xưa hơn nữa, là những sinh hoạt của xứ sở Champa cổ từ thế kỷ thứ 10 ... 
                 Đây là lần đầu tiên tôi xem nghệ thuật thực cảnh. Năm 2002, trong một lần công tác sang Trung Quốc, tôi đi dọc tuyến Nam Ninh-:Liễu Châu-Quế Lâm, và từ Quế Lâm, theo dòng Ly Giang tôi đi thị trấn Dương Sóc, một địa điểm du lịch nổi tiếng ở miền nam Trung Quốc. Dọc đường, du thuyền ghé bờ để du khách tham quan hang động Quan Mâu. Nghe nói, vài năm sau đó, người ta dựng sân khấu thực cảnh ngay gần đó để diễn vở thực cảnh Chuyện chị Ba Lưu, do Trương Nghệ Mưu làm tổng đạo diễn. Các đồng nghiệp sau tôi sang đó, được phía bạn mời xem, về kể lại, tôi cứ tiếc là không được mục sở thị. Nay được xem Ký ức Hội An thật đã mắt đã tai, thây với quy mô này, hẳn là hoành tráng hơn thực cảnh Chuyện chị Ba Lưu. 
      Ở quy mô ngược lại, ấy là chiếu chèo sân đình. 
                Với người dân xứ Bắc, nhất là các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng-sông Thái Bình, thì chèo là hình thức sân khấu phổ biến và được yêu thích nhất. Ngày nhỏ đi học, nhất là những năm chiến tranh về sống ở quê, tôi mới biết nhiều về chèo. Thời ấy, các địa phương hầu như đều có đoàn chèo chuyên nghiệp, nổi tiếng như chèo Thái Bình, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Bắc, Nam Hà và Hải Hưng quê tôi. Nhưng được xem các đoàn chèo chuyên nghiệp diễn là rất hiếm, thì bù lại, các chuyên mục Dân ca và nhạc cổ truyền của Đài Tiếng nói Việt Nam phát các làn điệu chèo, hoạt cảnh chèo khá nhiều. Người ta biết đến tên tuổi của các nghệ sĩ hát chèo qua làn sóng như Minh Lý, Kim Đức, Minh Tâm, Như Hoa, Đỗ Xuân... Còn mỗi đoàn chèo, đều có những diễn viên gạo cội nổi tiếng của mình, và lâu lâu họ lại được mời thu thanh để phát trên đài nhằm phục vụ đông đảo thính giả. 
                 Chuyện chiếu chèo sân đình, là một hình thức văn nghệ cộng đồng có từ xưa vào những dịp làng có hội, lễ tết gì đó. Hình thức biểu diễn này thường do một gánh chiều gia đình, hành nghề lưu diễn khắp nơi để kiếm sống, hoặc do những người yêu thích chèo tự biên tự diễn như một sinh hoạt tình thần vui làng xóm. Nghe cah tôi kể lại, ngày trước, hình thức chiếu chèo sân đình khá phổ biến, vì nghệ thuật sân khấu chưa mấy phát triển, vả lại đời sống thôn dã xưa thích hợp với hình thức diễn xướng kiểu này, biểu diễn các rích chèo cổ, các trích đoạn, chẳng hạn như: Súy Vân giả dại (Kim Nham), Thị Màu lên chùa (Quan âm Thị Kính), Tuần ty Đào Huế (Chu Mãi thần) v.v... Vừa giải trí gây cười vừa có tính giáo dục cao. Sau này, những năm chiến tranh ở miền Bắc, tuy đã có nhiều đoàn văn công, đoàn tuồng, chèo, cải lương nhưng lưu diễn địa phương khó khăn, vả lại còn sợ máy bay địch bắn phá, nên hình thức chiếu chèo sân đình trở nên phù hợp với hoàn cảnh và khá hữu dụng. 
                 Quê tôi ngày ấy, tuy không phải là đất chèo, thì cũng có những người do nghe chèo trên Đài mà mê chèo. Chiến tranh, phim ảnh, văn nghệ hiếm nên làng xã khuyến khích các hoạt động văn nghệ quần chúng. Hầu như làng nào cũng thành lập đội chèo, thành viên thì hổ lốn, già trẻ, trung niên, thanh niên chưa có gia đình, lại có những ông bố và mẹ vài ba con, miễn là biết hát chèo sơ sơ và nhiệt tình là được. Hình thức thì cũng búa xua, hát đơn, hát đôi, hoạt cảnh, dựng trích đoạn chèo cổ đều được. Vui thì có nhưng buồn cũng chẳng phải không. Nhiều anh chị tập tành, biểu diễn chung mà bén duyên nên vợ chồng. Lại có những cặp có vợ chồng cả rồi. khi tập chung với nhau nảy sinh tình cảm, tình giả thành thật, rạn nứt hôn nhân. Buồn nữa, có nhưng chị vợ bộ đội, chồng xa nơi chiến trường, ở nhà lại có thai... Tôi nhớ, có nhà văn nào đó đã viết thành truyện, Thị Màu lại phải nuôi con riêng của Thị Kính ngoài đời, là chuyện hoàn toàn có thật... Thế mới là cuộc sống!?...
                 Dù chiến tranh và thiếu thốn, nhưng vẫn có những đoàn văn công trung ương và địa phương đi lưu diễn. Quê tôi, cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, nên năm đôi lần có đoán văn công chuyên nghiệp, tuồng, cải lương, kịch nói, chèo đến biểu diễn vài ba đêm. Đấy thực sự là ngày hội của làng quê. Tôi nhớ, các vở chèo cổ như Kim Nham, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ, Quan âm Thị Kính, Tấm Cảm, Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa... được các đoàn dựng, đưa về biểu diễn. Cả xã có cái chợ Lạng, sân gạch rộng, dưới tán mấy cây bàng cổ thụ, gần trụ sở Ủy ban xã, lại vị trí trung tâm, được chọn là nơi dựng sân khấu biểu diễn. Mọi người nô nức mua vé đi xem, phải đi sớm để giành chỗ ngồi gần sân khấu. Vở nào cũng có đoạn hài cười nôn ruột, lại có đoạn cảm động rơi nước mắt. Làng xã hân hoan cả tuần, cả tháng, đi đâu người ta cũng bàn tán các tình tiết trong vở diễn. Giờ nghĩ lại, thấy những buổi biễu diễn sân khấu ngày ấy có sức mạnh tinh thần ghê gớm, một sự doping khó có gì bằng...
      Có một thời kỳ, diễn ra sự đổi mới trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thì lĩnh vực sân khấu cũng vậy. Ở ta, kịch Lưu Quang Vũ là một hiện tượng rầm rộ. Lặng thầm, sau hoạt cảnh chèo Đường về trận địa, ít nhiều mang tính thử nghiêm, soạn giả Tào Mạt tung ra bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước lấy đề tài lịch sử nhưng lại có sự cách tân. của mình ( Lý Thánh Tông tuyển hiền, Nhiếp chính Ý Lan và Lý Nhân Tông kế nghiệp) đã để lại tiếng vang và dấu ấn sâu đậm trong hoạt động sân khấu cô truyền là sự phát triển của nghệ thuật chèo.
                 Ấy là thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật sân khấu và nghệ thuật biểu diễn nói chung. Đó cũng là niềm hạnh phúc của các nghệ sĩ. Giờ đây, con người ta có quá nhiều thứ giải trí, thời đại 4.0 thì nằm trên giường người ta cũng có thể lựa chọn được các hình thức giải trí mà mình yêu thích, chẳng cần phải bước chân ra. Sân khấu và nghệ thuật biểu diễn bị thu hẹp đất sống, và như vậy sẽ mai một, nếu không tìm cách biểu đạt mới, cách sống mới cho phù hợp với thời đại ? Đương nhiên, hiện nay, vẫn còn đó các nghệ sĩ hát và biểu diễn chèo sống chết với nghề như Quốc Anh, Thanh Ngoan, Thanh Hoài, Hồng Ngát, Văn Chương, Xuân Hinh, Thu Huyền v.v... nhưng cứu vãn chèo, mang lại sức sống cho chèo không chỉ có lòng yêu nghề là đủ?...
                 Song tôi đã thấy sức sống mới của nghệ thuật biễu diễn ở Hội An. Người ta đã đưa nghệ thuật sân khấu ra đường phố, như dân ca bài chòi, cải lương vọng cổ, hát tuồng... và nghệ thuật thực cảnh (qua thực cảnh "Ký ức Hội An") là một cách làm mới hoàn toàn...
                 Đương nhiên, Hội An có sự thuận lợi, ấy là điểm du lịch nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới, mà không phải nơi nào cũng có. Hội An biết tạo ra sản phẩm du lịch mới và du khách đến Hội An đông là điểm mấu chốt cho nghệ thuật tìm được đất sống ở đây. Hội An biết cách nuôi dưỡng du khách và khách tiếp thêm sức sống cho Hội An...
                  Và, chiếu chèo sân đình, đâu có chết. Hình thức này tự tìm được sức sống mới cho mình ở nơi làng xóm. Giờ đây, người dân tự biết cách nuôi dường hình thức này, bởi khi biễu diễn chiếu chèo sân đình, người ta đến xem, không đờn thuần là thưởng thức nghệ thuật, mà là được tham gia vào hoạt động và tạo sự gắn kết cộng đồng, là tình nghĩa xóm làng, những thứ không gian mạng chưa đem lại cho họ!?...
       
       
       
      #78
        tamvanvov

        • Số bài : 602
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 26.08.2009
        • Trạng thái: offline
        Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 16.12.2020 18:20:04 (permalink)
         
         Lang thang chuyện gốm
         
         
                  Tôi là người yêu gốm.
                  Tôi vốn mệnh hỏa, nên tự thân yêu thích các vật dụng, vật trang trí bằng chất liệu gỗ và đất nung. 
                   Riêng về gốm, vì yêu thích, nên hay sưu tầm, khi đi đâu, hễ biết và có điều kiện là tôi tìm đến, thăm thú các địa chỉ gốm, làng gốm...
                   Ở miền Bắc, hầu như các vùng đất, các làng gốm nổi tiếng, như Bát Tràng, Chu Đậu, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh, Đông Triều... tôi đều mò đến, thăm thú, chọn mua vài ba sản phẩm gốm mỹ nghệ, bổ sung cho bộ sưu tập của mình...
                   Nhưng với các làng gốm nổi tiếng của miền Trung và miền Nam thì quả thật tôi chưa thạo, Vậy nên, thời gian biệt phái vào miền Trung, mỗi chuyến công tác, tôi gắng thu xếp công việc để ghé các địa chỉ gốm. Đương nhiên, gốm Thanh Hà là ưu tiên số một, vì tiện đường sá, lại gần ngay Hội An nên dễ đi. Ngang qua trung tâm Hội An như cưỡi ngựa xem hoa, tôi tìm đến làng gốm Thanh Hà. 
                   Vào làng gốm Thanh Hà, ở vào thời điểm ấy (2008), thú thực tôi có chút thất vọng. Thì ra, chỉ có ngần này thôi ư? Làng vắng vẻ, lèo tèo mấy nhà còn giữ nghề. Ghé vào một nhà gần đường, sản phẩm gốm đã nung và gốm mộc không nhiều, chủng loại cũng ít. Chỉ có hai người đàn bà, một trung tuổi đang làm đất, một bà già đang chuốt gốm trên bàn xoay. Hỏi chuyện bà già đang nặn gốm, giọng Quảng nặng, nghe câu được câu chăng, tuy nhiên tôi cũng hiểu được đại khái. Rằng, làng giờ chuyển làm nghề khác dễ kiếm sống hơn, chỉ còn ít nhà giữ nghề gốm cha ông như nhà bà...Lại hỏi về sản phẩm gốm bây giờ, bà già phảy tay về đống gốm ý chỉ có bấy nhiêu, có làm thêm gốm con giống bộ 12 con giáp bán cho khách du lịch thăm Hội An cũng tàm tạm...
                   Thăm rồi, về cứ rẩm riu nghĩ, chả nhẽ, gốm Thanh Hà mai một dần và mất đi? Một làng gốm có lịch sử hình thành lâu đời, từ cuối thế kỷ 15, đến nay khoảng 500 năm tồn tại. Gốm Thanh Hà có cội nguồn từ một dòng gốm Thanh Hóa, di vào đàng trong theo chân tiên chúa Nguyễn Hoàng vô phương Nam mở cõi mà nên ở đất này. Chắc hẳn, khi ấy, dấu ấn của gốm Chăm vẫn còn đậm nét trong đời sống dân sinh, nên dòng gốm này có tiếp thu, pha trộn với gốm bản địa để nên dòng gốm Thanh Hà hiện còn? Gốm Chăm hiện chỉ còn và phát triển ở Bàu Trúc (Ninh Thuận) và Bình Thuận. Một thời, nhất là vào thế kỷ 17, cùng với sự hình thành và phát triển của đô thị Hội An, gốm Thanh Hà phát triển rực rỡ và có mặt ở hầu hết các thị trường suốt dải miền Trung, còn ra cả thị trường nước ngoài, cho đến khi thương cảng Hội An suy thoái, thì gốm Thanh Hà cũng mai một dần,... Dẫu là vậy, thì dòng gốm mộc, không men, từ chất liệu đất sét vẫn lưu giữ được vẻ riêng có của mình. Còn giữ nghề thì còn cơ hồi sinh, phát triển?!...
                  Khi suy nghĩ về làng gốm Thanh Hà mai một còn chưa vơi, thì có đồng nghiệp của tôi ở Đà Nẵng giới thiệu, là trong vùng có một nghệ nhân, trên cơ sở dòng gốm Thanh Hà phát triển thành gốm nghệ thuật, ấy là Lê Đức Hạ. Nghe nói, nghệ nhân này có cửa hàng giới thiệu sản phẩm của mình ở thị trấn Điện Bàn (Quảng Nam).
        Một ngày cuối tuần, tôi rủ vài đồng nghiệp đi thị trấn Điện Bàn. Hỏi thăm vòng vo tam quốc một hồi, chúng tôi tìm được cửa hàng gốm của nghệ nhân Lê Đức Hạ. 
                  Ở gian hàng ngoài, tôi đảo qua lướt mắt thấy sản phẩm đất nung một số hình đơn giản và một số là tượng đất nung nhái các hình mẫu Châu Âu theo lô, nên không mấy ấn tượng. Nhưng bước chân vào gian trong, tôi sững người bởi các bình gốm cách điệu và nhìn biết là sản phẩm đơn chiếc. Mỗi bình một dáng vẻ, cách điệu, màu đất nung khác nhau cho thấy độ chín khác nhau, rồi ngay trên một sản phẩm, gốm lên màu khác nhau. 
                 Quan sát kỹ, nâng tầng chiếc bình ra xem kỹ, và lại bao quát, tôi nhận thấy, tính folklor và chất phồn thực trong gốm của Lê Đức Hạ rất đặc trưng. Điều này, chỉ có thể thấy ở tín ngưỡng phồn thực của người Chăm, vốn được thể hiện trong các hình họa, điêu khắc trên các đền tháp Champa. 
                  Cùng với gốm dân gian phồn thực, có một dạng gốm khác, ấy là gốm chân dung. Trên các bình, lọ gốm cách điệu, Lê Đức Hạ khắc họa các khuôn mặt người, và cũng có vài dạng khác nhau, ví như khuôn mặt hài, bi, mặt nạ nhân vật tuồng, Hoặc khắc họa chân dung, ví như chân dung thi sĩ cuồng Bùi Giáng. Nghe nói, Lê Đức Hạ từng khắc họa chân dung nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn với tâm trạng ca khúc "Tôi ơi, đừng tuyêt vọng"... 
                   Với những gì tôi thấy ở đây, thực sự đã làm nên một tên tuổi "Gốm Lê Đức Hạ" rồi. Theo thiển ý, tôi thấy, có một gốm Lê Đức Hạ riêng biệt, với sự kết tinh nhuần nhuyễn của gốm Thanh Hà (chất liệu, kỹ thuật nung nói chung), chất phồn thực của gốm Chăm và sáng tạo riêng của Lê Đức Hạ với sự cách điệu kiểu dáng, tạo hình họa chân dung... Vậy là Lê Đức Hạ đã tạo nên một phong cách riêng biệt, không trộn lẫn với bất kỳ ai. 
        Nghe mọi người đồn, nghệ nhân Lê Đức Hạ, từng lập lò gốm của mình ở làng Đông Khương, xã Điện Phương, bên bờ sông Thu Bồn, rồi phá bỏ vì không bán được hàng, đi kiếm sống bằng nghề khác. Nhưng trời đày ông bằng nghề gốm nên quay lại niềm đam mê nghịch đất, để rồi thành công, thành danh ngoài mong đợi. Tôi còn vài lần trở lại cửa hàng của Lê Đức Hạ cùng với bạn bè mình, để gom lấy những sản phẩm đơn chiếc của ông. Mỗi lần trở lại, thấy các sản phẩm gốm mỹ thuật ấy vơi đi mà không thấy bổ sung, khiến tôi sinh chút hoài nghi. Hoài nghi bởi, những sản phẩm hàng lô bán xi thì nhiều, còn sản phẩm đơn chiếc lại không mấy, phải chăng sự thành công đã khiến nghệ nhân mê mải với chuyện kinh doanh và xao nhãng việc sáng tạo? Tôi mong một ngày nào đó, được thấy những sản phẩm độc đáo của Lê Đức Hạ, khiến người ta phải ngỡ ngàng như ngày nào!... Dẫu sao, cũng mừng cho sự thành công của nghệ nhân này... 
                   Cuối năm 2009, sau khi kết thúc nhiệm kỳ công tác ở Cơ quan Đài tiêng nói Việt Nam khu vực miền Trung tại Đà Nẵng, tôi ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới. Đi cùng có vài phóng viên kết hợp công tác Huế và Quảng Trị. Có người mách tôi, ở Huế, ông Hồ Tấn Phan là người có bộ sự tập gốm cổ thuộc cỡ "độc nhất vô nhị". Một gợi ý không thể bỏ qua, chúng tôi liền tìm đến nhà ông (phố Cao Bá Quát, Tp. Huế). Thật may, ông Hồ Tấn Phan có nhà. 
                   Vừa bước chân vào ngõ, tôi sửng sốt bởi không thể ngờ, đồ gốm cổ lại nhiều đến thế, là liệt ra đến vườn cổng nhà. Sao lại không ngạc nhiên cơ chứ, khi đồ cổ quý hiếm có số lượng đếm không xuể và được bày la liệt, chẳng sợ bị trộm cắp. Biết chúng tôi là nhà báo, ông Hồ Tấn Phan vừa pha trà mời khách, vừa vui vẻ trả lời những câu hỏi của chúng tôi, không ngại giãi bày tâm tư của người sở hữu một khối lượng "khủng" cổ vật quý hiếm. Phần lớn, cổ vật trong "ngôi nhà gốm" của ông là gốm Sa Huỳnh (niên đại 2.500 trước) và gốm Chu Đậu, cùng đó, có cổ vật từ thời văn hóa Đông Sơn, các triều đại Lý Trần, Champa và nước ngoài...
        Ông Hồ Tấn Phan cho biết, phần lớn số cổ vật mà ông có được là thu gom từ các vụ trục vớt những con tàu đắm ở vùng cửa sông Hương. Để làm được việc đó, cùng với sự hiểu biết và lòng say mê, ông đã bỏ bao công sức, tiền của cho bộ sưu tập khủng này. Tranh thủ lúc ông bận trả lời phỏng vấn của phóng viên VOV, tôi loanh quanh quan sát nơi bày cổ vật của ông...
                   Cơ man là gốm, gốm trong nhà, tủ, bàn, kệ, bậu cửa, lỗ thông hơi, góc của, thềm nhà... nghĩa là nào bày được là bày... Ngoài sân vườn thì thành nhóm, thành kiêu, bên gốc cây, nơi thành giếng, mép sân, góc vườn...  Ở độ tuổi bảy mươi, khi ấy, ông còn khá khỏe, tuy thân hình gày guộc. Đối thoại với Hồ Tấn Phan, thấy niềm đam mê gốm cổ trong ánh mắt, trong giọng điệu, trong mỗi cử chỉ khi thuyết trình về gốm cổ nói chung và bộ sưu tập của mình... Ông còn là một người sưu tầm sách, sách cổ, sách quý, đặc biệt là những bộ sách về văn hóa-lịch sử-dư địa chí, tự vị, khảo cổ học... Ông lần giở cho chúng tôi xem một số bài báo viết về bộ sưu tập gốm cổ của mình...
                   Chia tay, ông tiễn chúng tôi ra ngoài ngõ, rời chân đi mà tôi cứ ngoái lại nhìn đống gốm cổ bày tràn ra mép hàng rào... 
                   Năm 2016, nghe tin nhà sưu tập Hồ Tấn Phan mất ở tuổi 77, và trước khi mất ít lâu, ông đã làm một việc đầy ý nghĩa. Ấy là hiến tặng Ủy ban Biên giới quốc gia bộ 'Đại Nam thực lục' của Quốc sử quan triều Nguyễn do Trường Đại học Keio, Nhật Bản thực hiện. Tôi hiểu, mình đã may mắn, dù chỉ một lần được đàm thoại và tận mắt chiêm ngưỡng bộ cổ vật, gốm cổ của Hồ Tấn Phan, nhà sưu tập-nghiên cứu văn hóa Huế... 
                    Cùng trên mảnh đất Huế, nghe danh làng cổ Phước Tích đã lâu, bản thân qua lại vùng đất này không biết bao nhiêu lần, vậy mà đến năm 2014, tôi mới tìm đến thăm làng cổ vang danh gốm này...
                    Làng Phước Tích năm bên bờ sông Ô Lâu êm ả, thanh bình thuộc huyện Phong Điền, cách thành phố Huê hơn ba chục cây số. Thời điểm tôi đến, trùng với Festival Huế 2014, nên đây cũng là một điểm tham quan cho du khách...
                    Loanh quanh trên các nẻo đường làng, ít khi bắt gặp người dân, chỉ dăm ba đám khách thơ thẩn, ngó nghiêng. Nhà cổ, vườn rộng, hàng rào cây là đặc điểm chung, Bắt gặp một điểm trưng bày gốm, trương khẩu hiệu "Lễ hội hương xưa làng cổ 2014, điểm trưng bày và quảng diễn gốm Phước Tích", chúng tôi rẽ vào thăm. Chủ nhà tuổi trung niên, anh vui vẻ chào mời khách nhưng vẫn không ngừng bàn xoay tạo gốm. 
                    Hỏi chuyện, biết làng hiện còn ít nhà theo nghề này, chủ yếu là lòng đam mê, muốn lưu giữ nghề truyền thống của một làng gốm danh tiếng xưa nay ở đất cố đô. Xem tấm bảng về lịch sử hình thành, biết làng Phước Tích có lịch sử lâu đời 500 năm nay, từ thời đầu chúa Nguyễn đi mở đất. Theo đó, nghề gốm dần hình thành. thịnh vượng mang lại danh thơm và nguồn sống cho làng.
                    Cũng như nhiều làng gốm cổ truyền khác, Phù Lãng,Thổ Hà, Thanh Hà, Bàu Trúc, gốm Phước Tích là gốm mộc, không men từ chất liệu đất sét. Thời nhà Nguyễn, làng Phước Tích từng phải nộp một số lượng nhất định nồi đất nung cho triều đình dùng nấu cơm, thảo nào dân gian có câu ca "Om Phước Tích ngon cơm Hoàng đế..." là vậy. Nghe nói, Phươc Tích đã từng có sản phẩm gốm được bán sang Nhật Bản... 
        Ngày nay, tuy số nhà làm gốm ít, nhưng chủng loại, kiểu dáng, tạo hình mỹ nghệ trên sản phẩm phong phú hơn xưa nhiều, và rõ ràng có sự chi phối của mỹ thuật công nghiệp hiện đại.
                    Làng vẫn còn một số nghệ nhân, nhưng nghe đâu chỉ gia đình ông Lê Trọng Diễn là giữ được bộ sưu tập trưng bày cho thấy sự phong phú của làng gốm Phước Tích một thời. Bầu không khí làng tĩnh lặng, có gì đó buồn buồn, đó đây bắt gặp dấu tích vài ba lò gốm cổ, lò gốm cũ, bị bỏ hoang, không đỏ lửa từ lâu rồi, song là minh chứng cho một làng gốm Phước Tích từng thịnh vượng...
                    Gốm cổ, mai một, rồi lại hồi sinh. Tôi đã thấy điều đó ở gốm Phù Lãng, gốm sứ Chu Đậu, Đông Triều,... và mới đây là dòng gốm Thanh Hà ở Hội An.
                    Gần chục năm trước, lần đầu đến làng gốm Thanh Hà, tôi đã ít nhiều thất vọng, như đã kể cùng mọi người, nhưng giờ đây, gốm Thanh Hà đã hồi sinh với một sức sống mới. Một trung tâm trưng bày-một bảo tàng gốm quy mô và đẹp đẽ đã được dựng lên ở đây, mà người ta quen gọi là Công viên đất nung Thanh Hà. Công viên đất nung này là ý tưởng hiện thực của kiến trúc sư Nguyễn Văn Nguyên, thiết kế và là chủ nhân. Tổng thể, chia thành 2 khu vực, khu biểu trưng "lò úp" là để trưng bày lịch sử hình thành phát triển của gốm Thanh Hà, với ý nghĩa lưu giữ các giá trị truyền thống. Còn khu biểu trưng "lò ngữa" là nơi trưng bày các sản phẩm gốm Thanh Hà và một số dòng gốm khác như Phù Lãng, Bát Tràng, Vĩnh Long... 
                    Tôi và mấy đồng nghiệp ở VOV miền Trung đến tham quan công viên đất nung này từ những ngày đầu khai trương. Quả thật, với phần trưng bày đất nung mới mô hình các công trình kiến trúc thuộc hàng kỳ quan thế giới (như Nhà thờ Đức Bà Paris, Tòa Bạch Ốc, đền Tajmahan, Tượng nữ thần Tự do, Nhà hát opera Sydney...), tôi không mấy thú, song khi bắt gặp những sản phẩm gốm Thanh Hà qua quá trình hình thành và phát triển thì vô cùng thích thú. Phần bày các dòng gốm khác cũng rất thú vị. Với quy mô như vậy, chủ đầu từ chắc phải bỏ ra nhiều chục tỷ để thiết kế xây dựng. Lỗ lãi thế nào chưa biết, song phải có lòng đem mê và ý chí khá lớn mới làm ra được. Điều đó thật đáng khâm phục. 
                    Đáng bàn hơn nữa, là ý nghĩa xã hội, cộng đồng to lớn, khi mà vừa duy trì bảo tồn nghề truyền thống, vừa đem lại công ăn việc làm cho người dân làng gốm. Giờ đây, du khách về làng gốm Thanh Hà, ngoài việc thăm thú, vua sắm sản phẩm, còn được thỏa thú vui trải nghiệm tự tay nặn đất ra sản phẩm của mình... 
                    Mong là, gốm Phước Tích cũng có ngày như thế...
                    Lang thang chuyện gốm, rong chơi chút vậy... khi mà, đích tiếp theo của tôi là gốm Bàu Trúc, gốm Đồng Nai, gốm Vĩnh Long...
                     Trong khi chưa đặt chân đến làng gốm Bàu Trúc  (Ninh Phước. Ninh Thuận), tôi có được xem một video về  quá trình làm gốm Bàu Trúc khá thú vị. Dòng gốm Chăm này, từ ngàn xưa đến nay dường như không thay đổi. Ta có thể thấy mấy đặc trưng của gốm Bàu Trúc, khiến nó khác biệt với các dòng gốm dân gian khác trên dải đất hình chữ S này.
                    Ấy là, thợ làm gốm tất cả đều là phụ nữ. Phải chăng người Chăm theo chế độ mẫu hệ nên việc làm gốm là việc hệ trọng phải do người đàn bà làm? Và phải chăng, người đàn bà vốn được xem là khéo tay hơn trong các việc thủ công?
                    Ấy là, nguồn nguyên liệu là đất sét nhưng được pha trộn thêm cát mịn theo một tỷ lệ phù hợp với từng loại và kích cỡ của gốm  .
                    Ấy là, người đàn bà làm gốm không dùng bàn xoay, cho đến nay vẫn vậy, khi tạo dáng gốm, người làm xoay tay, xoay mông tròn quanh bệ gốm, có lẽ vậy mà dáng người đàn bà thợ gốm khá đẹp, ngực nở bụng eo, mông mở và bước chân uyển chuyển?
                    Ấy là, cách tạo hoa văn trang tri trên gốm khá đơn giản, không cầu kỳ, hoa mỹ, nhưng rất ấn tượng, bắt mắt, mang sắc thái nghệ thuật dân tộc rõ ràng, làm nên sự độc đáo riêng. Dụng cụ tạo hoa văn trên gốm cũng đơn thuần từ các vật dụng trang sức của người đàn bà trong sinh hoạt đời thường. 
                    Một sự đặc biệt nữa, ấy là kỹ thuật đốt gốm. Gốm Bàu Trúc không nung gốm trong lò mà nung trần ngoài trời. Lót củi xuống đáy, úp góm lên, phủ rơm và trấu lên trên cùng, rối đốt, thành gốm màu tự nhiên tùy mức độ tiếp xúc lửa.          
                    Khi nào thăm làng gốm Bàu Trúc, tôi sẽ lại kể câu chuyện của mình ... 
         
         
         
         
        #79
          tamvanvov

          • Số bài : 602
          • Điểm thưởng : 0
          • Từ: 26.08.2009
          • Trạng thái: offline
          Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 12.01.2021 17:43:48 (permalink)
          Đốt lên đống rấm,
          tản văn 

          Ngày đầu năm mới, về quê dự đám cưới đứa cháu, rồi ghé về thắp hương ngôi thờ tự của gia đình. Trời nắng hanh vàng óng. Đường làng đang đổ bê tông. Rồi đây rộng rãi, sạch sẽ và dễ đi đấy, nhưng sao lại thèm và nhớ con đường làng lát gạch nghiêng cổ rợp bóng tre xưa đến thế... Ngày ấy, nhà nào cũng có sân vườn rộng lắm, lũy tre um tùm, sân vườn rợp cau, xoan và cây ăn quá như nhãn, mít, ổi, na, hống xiêm, bưởi... Giờ thì toàn nhà hình ống kiểu phố, bao nhiêu ao chuôm, vườn đều bị lấp hết chia thành thổ cư. Buồn vui chộn rộn, bởi làng quê bay mất hồn vía cảrồi,... Nao lóng, nhớ mấy câu thơ cũ:

          "... Chiều đông bàng bạc ngõ thôn,
          đốt lên đống rấm gọi hồn ngày xưa,
          cha về lại bến đò đưa,
          mẹ thời nhóm lửa gió lùa vách quê,..."


           
          #80
            tamvanvov

            • Số bài : 602
            • Điểm thưởng : 0
            • Từ: 26.08.2009
            • Trạng thái: offline
            Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 06.02.2021 10:41:50 (permalink)

            LẶNG LẼ NGUYỄN THÀNH LONG


            1. Lặng lẽ Sa pa
            Thời hoa niên, đọc truyện ngắn Lặng lẽ Sa- pa của nhà văn Nguyễn Thành Long, tôi đã khóc, như sau đó tôi từng rưng rưng trước những trang văn trữ tình và giàu tính nhân văn của Pautôpxky và Aimatốp. Truyện Trời xanh mênh mông, Nguyễn Thành Long viết về chuyến đi thực tế của một nữ thi sĩ đến với một đơn vị hải quân đang canh giữ vùng biển, vùng trời ở vịnh Bắc Bộ, càng làm cho tôi thêm yêu mến công việc của họ. Tôi thầm mong được gặp ông, chí ít là để nói với ông rằng tôi say cái chất thơ trong những truyện ngắn của ông chừng nào...
            Một lần, khi nói chuyện với nhà thơ Trần Phương Trà (Trần Nguyên Vấn) tại sân 58 Quán Sứ, anh cho biết là anh và một vài người nữa đang định đến thăm nhà văn Nguyễn Thành Long và thế là tôi xin đi cùng. Nhà ông ở thuộc một biệt thự cổ theo kiến trúc Pháp, chung với mấy gia đình khác, theo kiểu tập thể. Chật hẹp, tối tăm, chung đụng và dễ va chạm trong sinh hoạt là đặc điểm chung của hầu hết các khu tập thể cán bộ viên chức Hà Nội một thời. Bước qua đống gạch vụ ngổn ngang trước cổng số nhà 9 phố Dã Tượng, chúng tôi lần bước theo chiếc cầu thang gỗ ọp ẹp lên tầng hai. Bà Nguyệt, vợ ông và một cô con gái của ông cũng có nhà. Nhà văn đã quá yếu sau gần 3 năm ốm liệt giường, nhưng để tỏ lòng mến khách, ông nhờ vợ đỡ cố ngồi dậy. Trong số những người đến thăm ông hôm ấy chỉ có tôi là lạ, nên ông hỏi tên tôi trước rồi mới hỏi thăm sức khỏe gia đình từng người. Một lượt như thế, ông mệt quá thở dốc, nhờ vợ đỡ nằm xuống. Tôi nhìn chăm chăm vào thân hình nhỏ thó xanh trong xanh bóng vì ốm lâu ngày và cớm nắng của ông mà thầm hỏi, cái duyên đằm thắm và chất thơ bay bổng mượt mà trong mỗi trang văn của ông ẩn chứa nơi nào ?...
            Qua chuyện trò với vợ ông, mọi người được biết là chính cái đống gạch vụn ngổn ngang nơi cổng số 9 Dã Tượng kia là của gia đình ông. Đúng ra là, nhà ông và vài ba nhà khác hiện đang sống chung số nhà 9 Dã Tượng đã cùng nhau xây mỗi nhà một gian bếp con con dưới sân ngôi biệt thự ngay giáp với mặt đường, việc này bị xem là vi phạm nên Đội quy tắc quận dỡ bỏ. Ông nằm nghe mọi người nói chuyện căn bếp, chỉ lặng lẽ đưa mắt hết nhìn người này sang người khác, tuyệt nhiên không tham gia. Mấy hôm sau sẽ diễn ra Đại hội nhà văn, mấy anh đi cùng muốn nhà văn Nguyễn Thành Long đến dự, bởi các anh hiểu, rất có thể đối với ông thì đó là Đại hội nhà văn cuối cùng, bèn đùa bảo: “Anh cố tới dự. Nếu Hội nhà văn thiếu xe đến đón thì bọn em đưa anh đi bằng xe đạp. (vỗ vai tôi) Chú này đây còn trẻ khỏe, lại có xe Phượng Hoàng chắc, bọn em sẽ nhờ chú ấy giúp một tay, thế nào cũng thồ bác đến Đại hội được..”. Ông cười, nhìn mọi người với vẻ biết ơn...
            Lẽ dĩ nhiên, tôi không phải giúp mấy anh ấy đưa nhà văn Nguyễn Thành Long bằng xe đạp, bởi Hội nhà văn rất quan tâm, trân trọng dành hẳn một chiếc ô tô chuyên đưa đón nhà văn Nguyễn Thành Long và một số văn nghệ sĩ khác già yếu suốt mấy ngày Đại hội. Sau lần ấy, tôi cùng đồng nghiệp còn trở lại nhà ông vài lần nữa, và tất nhiên không phải chuyện văn chương, mà là chuyện xung quanh căn bếp. Thực tình chuyện đơn giản song xét về lý tình thì khó xử. Nguyên gia đình nhà văn Nguyễn Thành Long cùng nhiều gia đình khác sống chung trong ngôi biệt thự thời Tây, hầu hết các nhà đều không có bếp riêng, mà phải đun nấu ngay phòng ở. Cảnh ấy thật bức bối khi ông ốm liệt giường hàng mấy năm trời, mà quanh năm suốt tháng, ngày vài ba lần phải ngửi mùi bếp dầu. Bà vợ và cô con gái thương ông quá, nên mới có chuyện cùng vài nhà khác cơi nới thêm căn bếp dưới sân chung giáp cổng. Nhà có, nhà không, sinh chuyện kiện tụng, vì thế Đội quy tắc buộc phải dỡ bỏ nhất là khi ấy thành phố còn chưa có phong trào nhà cơi nới, trổ cửa ra đường như sau này, nên sự việc thường thành chuyện vi phạm nghiêm trọng làm vậy. Một lần, chỉ có mình tôi với ông, nhà văn Nguyễn Thành Long bảo tôi, bằng giọng chân tình gần như thì thầm và đứt đoạn: “Nghe nói, em có viết văn... Hay lắm... nhưng khó lắm thay... Chân tình là điều cốt lõi... Còn chuyện căn bếp... Mình biết bà ấy thương mình nên mới làm thế... nhưng mà không sao, mình quen rồi... với lại, việc nước, việc xã hội thì phải lấy làm trọng... Nếu sai thì thôi... phải biết chấp hành pháp luật chứ... đúng không em?...”. Tôi rưng rưng xúc động trước sự chân thực, trong sáng của ông, và chỉ dám chạm nhẹ bàn tay mình vào cẳng tay gầy tóp, xương xẩu của ông, để bày tỏ sự đồng tình và lòng biết ơn, cảm phục!...
            Rồi mọi chuyện qua đi. Sau một chuyến đi công tác dài ngày trở về Hà Nội, tôi được biết nhà văn Nguyễn Thành Long đã mất. Tôi tiếc không được tiễn biệt ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Chẳng biết ông có về chốn Lặng lẽ Sa Pa của ông không?...
            2. Hiện thực Sa pa & Lý Sơn mùa tỏi

            Ngày còn đi học, tôi cảm nhận địa danh Sa-pa thật xa xôi, lãng mạn và đầy chất sách vở, ấy là sự ảnh hưởng bởi truyện ngắn " Lặng lẽ Sa-pa " của nhà văn Nguyễn Thành Long. Cái bầu không khí se lặng và sương khói hư ảo của dãy Hoàng Liên Sơn; cái lạ lẫm kỳ bí của đời sống các dân tộc thiểu số sinh sống nơi đây; và thêm, sự nhiệt tình tận tâm với công việc của những con người miền xuôi lên đây, tất cả làm nên sự lôi cuốn, hấp dẫn của thiên truyện. Cái truyện ngắn ấy của Nguyễn Thành Long càng về sau càng trở nên nổi tiếng, thành tác phẩm kinh điển để các nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học ở xứ ta đưa vào giảng dạy trong hệ thống văn học nhà trường, trong các khóa học dài hạn, hoặc lớp bồi dưỡng viết văn ở xưa ta...
            Với riêng tôi, Lặng lẽ Sa-pa không ngoại lệ, và tôi cũng ao ước được đặt chân đến Sa-pa. Hơn thế nữa, được gặp gỡ hỏi chuyên nhà văn Nguyễn Thành Long, trong một hoàn cảnh trớ trêu như tôi đã nói ở trên. Bằng chất giọng Quảng Ngãi đặc sệt, tuy hơi khó nghe song nhỏ nhẹ thân thương, ông chỉ chen vào khi cần thiết trong câu chuyện của chúng tôi với bà Nguyệt, vợ ông. Thực ra, khi ấy, tôi và đồng nghiệp là những người được nhà văn Đặng Quang Tình ( khi đó là Trưởng ban Ban thính giả của VOV ), theo chỉ đạo của nhà văn Phan Quang, Tổng giám đốc VOV, cử đến nhà ông để hỏi chuyện, tìm hiểu thực tế, tìm cách giúp đỡ gia đình ông. Giờ thì là câu chuyện của cái lý, cái tình... Lẽ đương nhiên, được cả lý cả tình là tốt nhất, còn không, thì phải để cái lý thắng cuộc. Cũng trao đi đổi lại, song việc của gia đình ông lại thuộc về cái tình, rốt cuộc, cũng không thể làm gì khác được...
            Còn Sa pa, mùa hè năm 2004 tôi mới lần đầu đặt chân đến. Lần đầu, lạ lẫm, thích thú, chộn rộn, nên ham nhìn, ham biết, song chẳng mấy nhớ... Sau này, tôi chỉ còn ấn tượng về ngôi nhà thờ cổ nơi trung tâm thị trấn trầm lặng trong cái lạnh và sương mù; rồi đó là những câu chuyện hóm hỉnh về chuyện sinh con đẻ cái và những bài thơ ngơ ngác, ngộ nghĩnh của nghệ nhân dân gian Giàng Seo Gà, người Mông, Trưởng phòng VHTT huyện Sa pa; rồi nữa là hai cô gái phóng viên trẻ trung xinh đẹp của VOV Tây Bắc, áo đỏ chói, đèo nhau bằng xe máy đổ dốc diệu nghệ theo các con dốc ngoằn ngoèo, cua tay áo từ Sa pa về thị xã Lào Cai trong trời mưa to đường trơn nhẫy...
            Sau đó, thêm vài lần nữa tôi trở lại với Lào Cai và Sa-pa, song trong điều kiện công việc vội vàng. Nay mới trở lại Sa-pa thư thả hơn. May mắn được mấy ngày nắng đẹp xen kẽ giữa những đợt mưa triền miên do ảnh hưởng tư cơn bão số 9 đổ vào miền nam Trung quốc và cơn bão số 10 đang lăm le ngoài khơi miền Trung... Giờ thì nhà cửa đẹp đẽ khang trang hơn, nhiều khách sạn to nhỏ mọc lên, khách du lịch đông hơn, dịch vụ ăn uống cũng đầy đủ, sang trọng hơn. Ấn tượng nhất là những quán cafe Wifi theo kiểu Tây, na ná kiểu quán cafe phố nhỏ, thị trấn nhỏ ở phương Tây mà tôi từng thấy trong các chuyến công du nước ngoài. Lẽ dĩ nhiên, thoạt đầu là để phục vụ khách Tây, rồi đó, nó cũng phù hợp với nét sinh hoạt mới của giới chủ, giới trẻ xứ ta... Rồi đó, món ăn cá hồi sống kiểu Tây ( loại cá hồi được nuôi ngay tại Sa pa )... Nét văn hóa Tây pha trộn, song cơ bản vẫn là văn hóa bản địa của người Mông, người Tày Nùng, người Giáy... Cũng không thể không nhắc đến những phiên chợ Tình Sa pa tụ họp thường xuyên vào tối thứ bảy hằng tuần ngay trung tâm trước của nhà thờ cổ. Thay vì, chỉ thuần các cặp trai gái người dân tộc thủ thỉ bên nhau, còn có thêm các cặp gái Mông trai Tây thủ thỉ với nhau bằng tiếng Anh...
            Ôi, một Sa pa vừa lạ vừa quen của thời mở cửa... Bầu trời trong đầy sao, phảng phất trong gió lạnh buổi khuya mùi ngô khoai nướng, trứng nướng, mùi thuốc tắm thảo mộc từ hai bên đường lan tỏa... Xa xa kia bên hổ nước, một cặp nam nữ đang đi nép bên nhau...
            Lòng lại nhớ đến bầu không gian huyền hoặc của một Sa pa trong truyện ngắn " Lặng lẽ Sa-pa " của nhà văn Nguyễn Thành Long, nhớ đến từng chi tiết của câu chuyện, nhất là trạng thái hân hoan của chàng trai ở Trạm thủy văn, nhân vật chính, dùng thủ thuật lăn đá chặng đường ô tô, chỉ với mục đích dừng xe khách, để được nhìn thấy, được nói chuyện với khách miền xuôi của một thời khao khát, mộng mơ...
            Với nhà văn Nguyễn Thành Long, Sa pa khiến ông thành danh, vậy còn Lý Sơn thì sao ?
            Ông quê Quảng Ngãi, tập kết ra Bắc và trở thành nhà văn. Mặc dù, những truyện ông viết về miền Bắc ( cứ coi là quê hương thứ hai của ông đi ) đều đẹp và đậm chất thơ ( như : Lặng lẽ Sa pa, Trời xanh mênh mông... ), song trong ông vẫn đau đáu một nỗi niềm quê hương bản quán. Và điều đó, chỉ biến thành hiện thực khi giải phóng miền Nam, ông được về thăm lại quê hương Quảng Ngãi, được ra đảo Lý Sơn... Sau chuyến về quê ấy, ông cho ra đời tập sách “ Lý Sơn mùa tỏi “. Thực lòng mà nói, mặc dù nặng lòng với quê, nhưng về bút pháp và giá trị văn chương, theo tôi, “ Lý Sơn mùa tỏi “ không bằng những tác phẩm trước ông viết về miền Bắc. Phải chăng, với Lý Sơn, Quảng Ngãi, mảnh đất cha sinh mẹ đẻ, ông đã quá quen thuộc, nên khi chấp bút, ông sa vào tả thực, thấy sao viết vậy, như để thỏa nỗi nhớ mong những năm tháng ngày Bắc đêm Nam, nên nó mất đi chất thơ mộng, một thế mạnh vốn có của ông.
            Song, khi tước bỏ bút pháp giàu chất thơ, Nguyễn Thành Long không còn là chính mình nữa. Người đọc, không bị ông dẫn dụ vào mê cung của mình, không còn bị cuốn theo cảm xúc thơ trong mỗi câu văn, trong từng tình tiết truyện từng làm nên không gian ảo mộng trong mỗi truyện ngắn trước đây của mình... Ngỡ như có một Nguyễn Thành Long khác vậy ...
            Mùa hè vừa rồi, lần đầu tôi ra Lý Sơn trong đoàn công tác của VOV, mang quỹ ra đảo hỗ trợ cho tập đoàn nghề cá của đảo thuộc chương trình giúp ngư dân nơi đây vươn khơi, bám biển. Hình ảnh ví von của một phóng viên Đài Phát thanh truyền hình Quảng Ngãi trong các phóng sự của mình, rằng mỗi con tàu ngư dân trên biển Đông như những cột mốc khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng và sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc trên biển, cứ ám ảnh tôi. Điều ấy, khiến tôi mường tượng, cả đảo Lý Sơn này là một con tàu lớn kiêu hãnh thả neo giữa trùng khơi. Và mỗi nhánh tỏi mồ côi lớn lên trong cát dâng hương vị cay nồng như mỗi con người bám trụ nơi đây...
            Và như vậy, Lý Sơn mùa tỏi, có giá trị riêng của nó...


             
            #81
              tamvanvov

              • Số bài : 602
              • Điểm thưởng : 0
              • Từ: 26.08.2009
              • Trạng thái: offline
              Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 14.02.2021 10:58:11 (permalink)
              NGƯỜI XUA CẢNH CŨ GIỜ ĐÂU NHỈ ?
               
              Dạo này, giáp tết, dịch dã (Covid 19) bùng phát ở một số nơi, hạn chế đi lại nên bó chân. Ngồi nhà, rỗi hơi thì hay nở máy vào mạng xã hội. Định viết này nọ, nhưng đâu có dễ. Ngay bài đang viết dở chừng, tiếp nối, cũng cạn ý từ, cảm xúc. Mỗi khi vậy, tôi thường giở xem lại trang riêng của mình trên nền tảng Blog Tiếng Việt (blogtiengviet.net)...
              Vậy là, tính đến xuân này (Tân Sửu), tôi đã lập ngôi nhà trên mảnh vườn nhỏ có tên Ngẫm & Viết sang năm thứ 12 rồi đấy. Cái Xóm Lá thân thương, mà cư dân ở đây quen gọi nôm na, trên nền tảng mạng xã hội blogtiengvieet.net, cũng có nhiều phen thăng trầm. Thăng trầm, bởi nền tàng kỹ thuật còn yếu, nên lâu lâu lại "rớt mạng", thậm chí, mất bài, nhất là dạo mùa hè năm 2016. Khi ấy, bà con Xóm Lá kêu trời vì bị mất bài viết, có người trắng tay. Riêng mình, vì dân làm báo chuyên nghiệp, từng có kinh nghiệm qua những vụ mất bài này nọ, nên biết cách lưu trữ bài bằng USB, ổ cứng riêng lẻ, file mềm và trên các nền tảng vũng hơn, vì thế hầu như chẳng mất bài nào. Chính vì vậy, chuyên mục Thơ Đường của tôi vẫn nguyên vẹn, đủ tư liệu để tôi tập hợp, đề dẫn, chú giải, biên soạn thành cuốn sách Rong chơi miền Đường thi. Tuy vậy, với việc bị mất một năm bài đăng (tương đương 100 bài viết), tôi bị mất toàn bộ phần cảm nhận ở đó, mà thực sự, nhiều cảm nhận hay, rất hay, như những bình luận, tiểu luận văn chương thú vị... Sau vụ rớt mạng, làm mất bài của bloggers, nhà mạng có nỗ lực cứu vãn, nhưng không thành công, bản thân nền tảng kỹ thuật cũng trục trắc dài dài. Giờ khá hơn thì cư dân cũng bỏ đi vãn cả rồi. Nhiều trang blog, chủ nhân bỏ bê dăm năm nay không hề lai vãng. Làng Phây (Facebook) nền tảng kỹ thuật vững chắc (con nhà giàu mà), lại thêm nhiều tính năng, trò chơi, tính phổ cập cao, không phân biệt giới tính, tuổi tác, sắc tộc, tôn giáo, quốc gia, nên có sức hấp dẫn cực kỳ. Dân Xóm Lá rầm rầm kéo sang lập nhà tại Chợ Giời - Phây... Rồi đó, ở Xóm Lá cũng có những phiền hà, phần nhiều xuất phát từ sự hiểu nhầm, tranh luận hơi quá lời mà gây nên những xích mích này nọ, nhưng làng xóm cũng nhanh chóng giải tỏa, yên hàn trờ lại...
              Tôi cũng thế, có mành vườn con con trong làng Phây, ngày ngày cuốc xới, rau cỏ...
              Nhưng khác nhiều cư dân cũ của Xóm Lá, tôi vẫn mở cửa ngôi nhà, chăm bón mảnh vườn nhỏ của riêng mình nơi xóm cũ đìu hiu. Thực lòng, tôi yêu mến mảnh đất này, bởi nơi đây, lần đầu tôi biết đến mạng xã hội, cũng chính nơi đây đã tạo cho tôi cảm hứng sáng tác, để chục năm qua, tôi viết và xuất bản hàng chục đầu sách, thơ văn, tiểu luận, chân dung văn học đủ cả. Và quan trọng hơn, từ sự giao lưu trong không gian ảo, tôi đã làm quen với nhiều blogger trong đời thực, phần đông họ là những người tử tế, giỏi giang. Thậm chí, nhiều người trong số đó đã trờ thành những người bạn tâm giao, thân thiết, giúp đỡ lẫn nhau như ruột thịt...
               
              #82
                tamvanvov

                • Số bài : 602
                • Điểm thưởng : 0
                • Từ: 26.08.2009
                • Trạng thái: offline
                Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 22.02.2021 11:09:37 (permalink)
                Khói đồng cay mắt....
                Truyện ngắn 
                          Ngày ấy, chị mới ngoài ba mươi tuổi thôi và còn trẻ đẹp, hấp dẫn lắm ... Vậy nên,...
                          Chị đã là mẹ của ba đứa con, lít nhít trứng gà trứng vịt. Ngoài đôi mươi, chị đã lấy chồng và đẻ liền hai đứa. Chồng chị là một người Nam tập kết ra Bắc, hơn chị đến chục tuổi, làm nghề kỹ thuật cơ giới. Ngay sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, anh Sáu, chồng chị thuộc diện lớp cán bộ đầu tiên được chọn về Nam gây dựng cơ giới ở tỉnh quê nhà. Chị khăn gói đưa hai con nhỏ theo chống về sinh sống ở tỉnh lỵ quê anh thuộc miền biên giới Tây Nam bộ. Vào trong đó, chị chưa có việc làm, chỉ chợ búa, cơm nước, trông con nhỏ. Phấn khởi, chị sòn sòn thêm đứa nữa, thành ra chưa đến ba mươi tuổi đầu đã là mẹ nái sề với những ba đứa con,... Vậy là, cắm mặt chăm sóc con cái, chị có biết trời đất bên ngoài thế nào đâu. Rồi gia đình chị chuyển về huyện lỵ quê nhà, lại vướng bận thêm các mối quan hệ bên nhà chồng, hỏi han thưa gửi là cạn ngày hết tháng. Mấy mà già?... Thực ra, chị cũng từng có quãng ngắn ngày son trẻ, phơi phới thanh xuân, yêu đời,...
                          Hồi đó, chị độ tuổi đôi mươi.
                          Mẹ chị mất sớm, sau khi sinh đứa em trai được vài tuổi, nhưng cha chị không tục huyền, gà trống nuôi hai chị em, nên dù nghèo nhưng chị được sống trong cảnh thương yêu đùm bọc, ấm cúng. Cái Tấm, ngoài việc đi học cũng giúp giập được cha nhiều việc nhà và cả việc đống áng nặng nhọc. Chẳng hiểu sao, cha mẹ lại đặt cho chị cái tên Tấm. Chắc là muốn chị có hậu vận sung sướng như cô Tấm trong cổ tích?
                          Tấm sớm phổng phao, nên khi học hết cấp hai, chừng mười lăm tuổi, đã là cô gái xinh xắn. May thay, thu hết các nét đẹp của cha mẹ, Tấm  có vóc người dong dỏng, da trắng môi đỏ, tóc dài óng, và khuôn mặt có nét Tây, mắt to, xống mũi cao, miệng hơi rộng và hàm răng trắng đều đặn, khác hẳn với đám con gái quê. Thế nên, người làng bảo Tấm như con lai Tây. Đang độ tuổi phơi phới thì mẹ mất sau một thời gian lâm bệnh chữa trị không qua khỏi. Tấm không học lên nữa, ở nhà giúp cha nuôi em. Những năm đất nước chiến tranh, con gái quê, học thế cũng là đủ. Trời phú cho Tấm giọng hát hay, thuộc và hát theo được hầu hết các làn điệu chèo nghe được từ đài phát thanh trong các chương trình dân ca nhạc cổ. hay học lỏm khi xem chèo. Có năng khiếu vậy nên ở xã gọi tham gia vào đội văn nghệ, cũng biểu diễn thi thố này nọ. Xinh xắn và có năng khiếu văn nghệ như vậy, nhưng ở làng chẳng đám trai nào đánh tiếng, ngoài sự trêu chọc tán tỉnh của mấy tay cán bộ xã và đám đàn ông đã có vợ, trong khi đám con gái mới lớn bình thường khác lại đắt như tôm tươi. Hình như người ta ngại cái vẻ đẹp khác người của Tấm. Tấm cũng chẳng cần, bởi thâm tâm cô vẫn chờ đợi cơ hội để theo nghề văn công chuyên nghiệp. Và cô hội ấy đã đến, khi đoàn chèo tỉnh nhà về địa phương tìm tuyển người. Vẻ đẹp hình thể và khả năng ca hát trời phú nên Tấm trúng tuyển ngay. Những tưởng may mắn thì cha cô đột ngột qua đời vì một cơn bạo bệnh ngay sau khi cô nhận được giấy gọi nhập đoàn chèo tỉnh. Thật tình, Tấm không đang tâm tìm cơ hội phát triển tài năng nghệ thuật cho mình mà để lại đứa em trai chưa đến mười tuổi ở nhà một mình. Tấm đã mấy đêm mất ngủ, nước mắt vắn dài, đắn đo để đi đến quyết định không vào đoàn chèo tỉnh mà ở nhà làm ruộng nuôi em.  
                          Cho đến giờ, chị cũng chẳng rõ quyết định ngày ấy của mình là đúng sai thế nào. Chỉ biết, chị không cảm thấy hối tiếc hay ân hận gì, thi thoảng lúc lòng dạ yếu mềm càm thấy chạnh lòng. Theo chồng về quê, một vùng đất viễn biên Tây Nam bộ, người ta thuần cải lương, vọng cổ, vui cũng ca mà buồn cũng ca, chị ngỡ quên hết những làn điệu chèo mà trước đây chị thuộc nằm lòng. Vậy chứ, thi thoảng, những lúc ở nhà một mình, chạnh buồn nhớ quê ngoài Bắc, chị cất lời hát đôi làn điệu Đường trường thu không, Đường trường trong rừng man mác, đủ buồn. Trong đầu chị vẫn âm u làn điệu Sử rầuLần thảm, nhưng nó bi ai quá, chị không dám hát vì sợ vận vào thân. Có lần, lâu lắm rồi, ấy là sau lễ Thất tuần bố chị, cám cảnh thân phận mình, phải ở nhà nuôi em, từ bỏ ước vào văn công để trở thành nghệ sĩ hát chèo, chị đã hát Sử rầu. Là hát cho sự chua xót nỗi lòng, thân phận. Và kể từ đấy, thôi hẳn. Cũng có khi, nhà có nhậu, anh Sáu, chồng chị ngà ngà say, khoe với bạn nhậu bảo chị hát chèo, chị giữ thể diện cho chồng, cất lời điệu Lới lơ vui tươi gây không khí. Lời hát thì vui, nhưng ngừng lời, lòng người hát lại buồn, nhớ quê da diết. Cả tuổi thanh xuân, lớn lên ở một làng quê Bắc bộ, cách sông Cái không xa, chị thân thuộc với mái nhà tường đất mái rạ, với con đường làng quanh co lát gạch nghiêng long lở, với những hàng rào râm bụt hoa đỏ, mây gai, hoặc ô rô, hay cúc tần có dây tơ hồng quấn quýt. Vùng quê chị, ngoài lúa còn có đay và đất bãi trồng ngô, Vào đây, cảnh sắc đồng ruộng khác hẳn, chỉ có lúa, tràm và cỏ dại. Một năm chỉ có hai mùa, mùa mưa thì hầu như ngày nào cũng mưa, nước sông Hậu tràn về mênh mông, chỉ có những ngọn núi vùng biên ải này là nhô lên và các chòm ấp cùng những hàng thốt nốt phất phơ trên biển nước trắng xóa một màu... Còn mùa khô thì cơ khổ, nóng và bụi, ba bốn tháng trời không một giọt mưa. Nắng chang chang từ mờ sáng đến mờ tối. Khói đốt đồng lên mờ mịt cả bầu trời. Lại thêm những làn bụi đường cuộn lên mỗi khi có xe chạy, khiến người đi đường và nhà cửa cặp mé lộ ngập chìm trong làn bụi đất. Cái kiểu thời tiết đặc trưng vùng miền này chị mãi không quen...
                          Vùng đất Thất Sơn, đồng bằng lầy thụt xen lẫn núi này thật chẳng đâu có trong cả xứ miền Tây này. Anh Sáu, chồng chị bảo, cả vùng có tới hơn ba chục ngọn núi có tên gọi, nhưng người ta chỉ chọn bảy ngọn núi làm biểu tượng chính ấy là các núi Cấm, Tượng, Dài, Tô, Sam, Két, Tà Biệt. Cũng nhiều người kể tên khác, nhưng với chị thì như nhau cả thôi. Nhà chị ở cách chân núi Nam Vi không xa, nên chị hay lên núi này kiếm củi, tìm cây thuốc và dọn chút rẫy trồng khoai mì. Quê anh Sáu gần chân núi Dài, mỗi khi rảnh rỗi anh hay cùng đám bạn và người bà con lên núi đốt than và đi săn thú rừng.
                          Yên ổn gia đình sau chiến tranh biên giới Tây Nam, anh Sáu cậy nhờ xin cho chị vào làm người nấu ăn bếp tập thể liên cơ quan huyện gồm nông, lâm, thủy lợi, cơ giới. Khu liên cơ đóng trong một khu vườn rộng hàng chục công đất, dày xanhg cây cối, những xoài, dừa, mãng cầu, vú sữa. Đây là một khu tịnh xá cũ vô chủ được trưng dụng do người chủ cũ bỏ lại chay ra nước ngoài dịp giải phóng niềm Nam năm 1975. Cả thấy vài chục người ăn tập thể, mình chị xoay xở cũng vất, phụ cấp thấp nhưng có việc làm và thu nhập là vui rồi. Có điều tiền ăn ít nên việc đổi món thật khó bề. Cứ ngày ngày, mớ cá rô, chia ra, nửa đem kho tiêu, nửa nấu canh chua me rau súng. Ăn mãi cũng chán. Mùa nước nổi về thì đỡ hơn. Chị lọ mọ lội nước cánh đồng trũng ngay sau cơ quan nhặt được ít cua đồng và vài bó rau muống đồng, về nấu riêu cua và rau muống xào tỏi, ăn lạ miệng, ngon đáo để.
                          Chị vui hơn khi bếp ăn cơ quan đông thêm khi có người bổ sung. Ấy là mấy cán bộ kỹ thuật, trong đó có một chàng kỹ sư nông học mới tốt nghiệp ra trường được điều từ ngoài Bắc vào. Bảo, chàng ký sư trẻ này lại là đồng hương hàng tỉnh với chị. Vậy là hai chị em nhanh chóng thân nhau. Chị coi Bảo như cậu em trong nhà, quý như cậu Vinh, em ruột chị vậy. Bảo dáng dấp thư sinh, kiểu người ít lao động chân tay, là con trai duy nhất và út trong nhà, bên trên có mấy chị đỡ hết việc nặng nhọc cho, nên cậu ta chỉ biết đôi việc lặt vặt như chăn trâu, tát nước. Tiếp xúc gần, chị thấy cậu chàng hiểu biết, thông minh và ăn nói cũng khá. Ngày chủ nhật, hễ nhà có món nhậu là anh Sáu chồng chị lại sai con đi mời cậu Bảo đến nhậu cho vui. Bảo khéo tay, hằng tháng, cậu chàng đến nhà chị hớt tóc cho mấy cha con anh Sáu. Những ngày đầu, Bảo háo hức, còn đòi theo chị lên núi hái cây thuốc và kiếm củi về đun.
                          Mùa đốt đồng, nhằm chủ nhật, chỉ rủ Bảo đi đốt rơm rạ trên mấy công đất trồng lúa của gia đình. Hai chị em kẽo kẹt đèo nhau bằng xe đạp xa gần chục cây số. Rồi lại băng ruộng mệt nhoài mới tới nơi. Hai chị em ôm rơm rạ chất thành đống, Chị quen việc không sao, chứ Bảo sức vóc thư sinh, làm một lúc đã mồ hôi nhễ nhại. Châm lửa đốt, khói lên nghi ngút về trời. Hai chị em ngồi nghỉ uống nước, ăn bắp luộc. Nhắc chuyện quê ngoài Bắc, Bảo nói nhớ nhà, nhớ mẹ. Chị cũng thấy nhớ, cất lời hát điệu Đường trường thu không. Lâu không hát, giọng không nhuần nhưng vẫn đúng giai điệu. Man mác buồn. Làn điệu chèo giữa đồng quê Tây Nam Bộ nghe có gì đó là lạ. Chị dứt lời, hỏi Bảo bớt nhớ nhà chưa, thì cậu chàng chỉ cười nhẹ, rồi đọc nho nhỏ mấy câu thơ. Chị nghe câu được câu mất, cũng là nỗi nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ người yêu chi đó... Để ý, thấy cậu chàng rụi tay đầy nước mắt. Chị đùa là khóc nhè nhớ người yêu, thì cậu chàng chối, bảo khói đồng vào cay mắt thôi. Mùa đốt đồng, khói gọi khói, các đồng rấm rải trác khắp đồng nghi ngút như mây, cuộn lơ lửng trong nắng quái hoàng hôn đỏ bầm, ma mị, ám ảnh. Lúc về, thấy cậu chàng mệt, chị nhận phần đạp xe. Bảo ngồi sau có vè ngượng vì để đàn bà đèo, nhưng do mệt quá, tựa đầu vào lưng chị, thiu thiu ngủ thì phải. Bàn tay cậu chàng bám nhẹ vào eo bụng chị, vô tình tạo cảm giác lâng lâng, chị đạp mải miết mà không thấy mệt...
                          Thấm thoắt vài năm qua qua nhanh. Bếp tập thể liên cơ quan giải tán. Chị mất việc làm, ở nhà trông giữ con, nuôi thêm bày gà và mấy con heo thịt làm vui. Không còn bếp ăn tập thể, Chi lo cho Bảo ăn uống thất thường, nhưng cũng may, cậu ta quen thung quen thổ, có chỗ thân quen đi lại và cũng thêm bạn bè nhậu nhẹt. Chị vẫn giữ lệ, hễ nhà có mồi nhậu ngon ngon chút là sai con đi mời cậu Bảo đến nâng ly làm vui. Cậu Vinh, em trai chị về quê ngoài Bắc khi trở vào đưa theo một người con gái họ bên mẹ chị. Những tưởng vào chơi thăm thú tính kế làm ăn, nào ngờ cô nàng ở tịt nhà chị, rồi hai anh ả lằng ngoằng với nhau có thai. Chị cản không được, hai đứa lấy nhau và xin ở riêng. Chị giận em trai mà cũng thương cho cái thân mình, nuôi em lớn nhưng bảo em không được, để ra nông nỗi này. Nghĩ mà buồn, thấy uổng phí cái công mình đã hy sinh cả thanh xuân, tài năng bỏ đoàn chèo ở nhà làm lụng muôi em trai mà giờ nó đổ đón ra thế. Hai nhà cách nhau có một quãng thôi, nhưng ít qua lại, vì cô em dâu bất đắc dĩ kia e ngại, tránh mặt chị. Tình thương em trai, chị chuyển sang cho Bảo. Chị chịu khó nấu nướng các món ăn kiểu Bắc mời Bảo đến ăn...
                          Mùa nước nổi về, thật thích. Cả  cánh đồng mênh mông dưới chân núi Dài trắng băng một màu nước, ngút ngàn đến tận mạn kinh Vĩnh Tế. Người ta chị còn nhận biết đâu là lộ bởi những làn khói bụi đường, khói xăng xe bay lên, và đó đây hàng cây thốt nốt và dừa để phân định bờ đất.  Con đường dài mấy chục cây số từ thị xã Châu Đốc đi Tịnh Biên, Tri Tôn mảnh như một sợi chỉ, những hòn núi to như Cấm Sơn, Nam Vi và những quả núi nhỏ khác nổi lổn nhổn trên đồng nước chẳng khác gì đám dừa điếc khô rụng rơi nổi lềnh bềnh. Xa xa, bờ kinh Tám Ngàn ngày đêm rộn ràng tiếng ghe xuồng, tắc-ráng phành phạch. Nước lên to, cùng với tôm cá theo về là cua và chuột đồng. Chị và hai thằng cu con đầu, má con rủ nhau đi nhặt cua và bẫy lưới bắt chuột đồng. Cua thì con nào con nấy to cộ bò lổm ngổm cắt ngọn lúa, còn chuột đồng thì từng đàn bám đuôi nhau bơi thành dây, đớp đọt cỏ non trên mặt nước rồi leo lên thân dừa, thân cây thốt nốt, thân tràm trú ngụ khi no bụng. Thế nên, người miền Tây mới gọi chuột đồng tránh đi là sóc tràm cho bớt ghê... Chị tha hồ trổ tài bếp núc làm các món ngon như chuột đồng quay, chuột bỏ lu, cua đồng rang xả ớt, cua đồng muối nặm, hay nấu riêu chua me, hay nấu rau đay rau dền cơm... Anh Sáu, cậu Bảo có mồi ngon nhậu, còn đám trẻ con thì thức ăn đãy bụng.  Cả nhà tuần nào cùng vài ba bữa tưng bừng.
                          Một lần, Bảo nghỉ phép ra Bắc cả tháng, trở vào, dáng vẻ buồn buồn ít nói. Chị làm đồ nhậu, để anh Sáu và Bảo cụng ly mừng gặp lại sau chuyến đi phép của Bảo. Bữa nhậu, chị hỏi han luôn miệng, nhưng Bảo chỉ trả lời cầm chừng, mặt mũi vẫn không vui lên chút nào. Đoán có chuyện, nhưng chị không nài hỏi thêm. Thời gian sau, Bảo lăn ra sốt. Sốt rét. Vùng này nổi tiếng là vùng sốt rét. Những ai từ vùng khác đến đây sinh sống, dù có giữ gìn mấy thì không trước thì sau cũng nhiễm sốt rét. Chị và mấy người quen lo thuốc thang, cơm cháo cho Bảo. May mà cũng nhẹ nên nhanh qua khỏi. Nhưng sau trận sốt, Bảo gày và xanh xao, cử chỉ chậm chạp, tính tình mềm yếu hẳn đi. Chị thương Bảo nhiều, nhưng cũng chẳng thể giúp gì hơn. Chị luấn quấn với đám con đã mệt nhoài ra rồi, nay lại mới mang bầu đứa nữa, chẳng biết sẽ xoay xở ra sao đây. Mỗi chủ nhật, không phải đi làm, Bảo hay ra nhà chị, có việc vặt gì thì làm giúp. Chị cũng lấy đó làm vui.
                          Mùa hè năm ấy, hai thằng cu lớn được nghỉ hè. Anh Sáu hứa cho chúng theo lên rãy làm khoan mì và dạy cách làm than củi. Bữa cơm trước khi lên rẫy, có mấy ký thịt nhím rừng do một người quen bẫy được gửi cho, chị trổ tài làm món xào lăn xả ớt và món cà ri ăn với bún. Anh Sáu và Bảo cụng lý liên tục. Chị ăn qua loa rồi ra xếp đồ đạc cho mấy cha con ở rãy cả tuần. Buổi chiều, anh Sáu đánh xe bò chở đầy nhóc đồ đạc lên rãy. Hai thằng cu con mừng vui gõ vung nồi hát váng lên. Chị dọn dẹp nhà cửa. Bảo quá chén, nằm bệt ở bộ ngựa gian ngoài ngủ ly bì. Chốc chốc cậu chàng lại ngóc đầu dậy thổ ra chiếc chậu chị đặt sẵn bến dưới. Rõ khổ, bữa nay quá chén, lại cảm gió chi đây nên mới như vậy. Chị lấy nước cho Bảo uống, rồi bắt cậu chàng nằm sấp để chị giác gió khắp lưng. Nghe chừng cũng đỡ nhiều, nên Bảo ngủ thiếp đi.
                          Trời sẩm tối. Chị bắc nồi cháo lên bếp để lát cho Bảo ăn giã rượu. Tắm táp cho đứa bé và lấy cơm cho ăn, rồi chị đi tắm. Cái buồng tắm đơn sơ phía sau buồng trong và bếp, được quây bằng lá dừa khô, cũng chỉ để cho đàn bà con gái dùng thôi, chứ đàn ông thì khỏi cần. Là cách nhớ thế thôi, chứ lúc tối trời, chị ngồi cạnh lu, cởi bỏ áo múc nước dội lên người loáng chút là xong, lâu thành quen thế rồi. Dân miệt này các nhà đều vậy cả. Vừa dội nước, nhìn mảnh trăng non nhô đầu núi, tự nhiên vui miệng, chị nhớ đến một điệu chèo và cất tiếng khe khẽ hát. Bỗng cảm giác có gì là lạ, bèn ngoái nhìn, chị giật mình vì thấy Bảo đang đứng ở cửa bếp gần sau lưng chị lặng nhìn. Chị khẽ kêu ối. Bảo ấp úng: “Đang mơ ngủ, nghe như ai hát... Thì ra là... Chị hát chèo hay quá...”. Chị lúng túng, quờ tay lấy cái áo vắt nhanh lên bờ vai che ngực: “Ồ, cậu Bảo...  đã tỉnh rượu rồi ha? ... Chị xong rồi đây. Cậu vừa xỉn dậy, chớ có tắm mà cảm đó nghen...Lau người qua cho mát thôi,... để chị lấy cháo cho cậu ăn. Cháo ngon lắm...”.  Chị cũng cảm nhận giọng nói không bình thường của mình. Bảo vẫn đứng nguyên đấy, nhưng ý tứ nhìn nghiêng ra mé lộ: “Em vẫn mệt lắm... Bụng còn  nôn nao. Chỉ thấy khát nước thôi...”. Nói rồi Bảo trở lui, đi ra buồng ngoài. Chị vội vàng thay quần áo, luýnh quýnh thế nào, xỏ nhầm cả ống quần...
                          Chị dọn mâm. Mâm cơm chỉ có hai người. Chị ăn những thức ăn cũ còn lại từ bữa trưa. Bảo ăn cháo, món cháo thơm ngon mùi gạo mới, có thịt nhím băm nhỏ, bỏ hành răm cho giải cảm. Bảo ăn uể oải, cố ăn hết tô cháo để chiều lòng chị. Bữa ăn kéo dài, vừa ăn vừa chuyện. Lúc này, chị mới lựa lời hỏi chuyện Bảo chuyến ra Bắc vừa qua. Bảo nói mẹ câu năm nay yếu nhiều, nên đang tính gắng ở lại đây một thời gian rồi ra Bắc xin việc. Chị chỉ biết nói lời động viên, nhưng thực lòng, nếu Bảo ra hắn ngoài Bắc, chị sẽ rất buồn, cảm như mình mất đi chỗ dựa tinh thần. Bảo định xin phép về khu liên cơ thì chị gàn, bảo ở lại đây ngủ, bởi sợ người còn yếu, sợ đêm hôm ngoài trời gió máy, ngộ nhỡ làm sao thì khổ. Không hiểu sao, chị muốn Bảo ngủ lại. Rồi chị xếp mềm gối bộ ngựa gian ngoài dọn chỗ ngủ cho Bảo. Cậu chàng chỉ còn biết nghe theo. Còn chị và đứa nhỏ ngủ buồng trong...
                          Chị và Bảo lội bì bõm bắt cua trên đồng ngập nước mênh mông. Thảm lúa hè thu bị lướt đi bởi nước ngập tận ngọn. Cỏ năn nác mọc chen lẫn. Những con cua càng to kềnh càng chẳng sợ người, lổm ngổm trên ngọn co giơ càng nghiến cắt ngang ngọn lúa, thấy động thì lấc láo cặp mắt lồi thô lố ra nhìn và giương càng lên phong thù chứ không them bò chạy. Chị lựa chiều tay tránh càng. chộp ném vào chiếc thùng tôn. Bảo vụng về hơn nên thỉnh thoảng bị cua cắp tay đau kêu oai oái. Đang mùa mưa lũ, mây đen kéo lên rất nhanh rồi mưa xuống như trút. Chị em hò nhau chạy mưa lên bờ kinh, tìm chỗ trú mưa. Chạy vội, chị vấp chân trong bùn ngã rúi rụi xuống ruộng nước. Bảo vội chồm tới đỡ chị lên. Mưa ngập ướt, quần áo bết vào người, Bảo giúp chị gột bùn đất, chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tay Bảo quờ quạng đụng vào bầu ngực căng mẩy của chị...  ”Ấy đừng... đừng...”, chị buột miệng và bừng tỉnh. Thì ra chị vưa thiếp đi, mê ngủ vậy thôi. Đang ngẩn ngơ hư thực, trong ánh sáng mù mờ của ngọn đèn hãm nhỏ treo trên bếp, chị nhột người nhận ra Bảo đang ngồi ghé mép giường ngủ, Chị nhắm mắt vờ ngủ thì Bảo khẽ cúi người xuống, chạm nhẹ môi vào trán chị, rồi lướt khẽ chạm vào đầu mũi và dừng ở môi chị. Chị mơ màng êm ái tận hưởng sự đụng chạm. Rồi nữa, đôi bàn tay Bảo đặt vào hai bầu ngục chị đang căng mẩy lên. Và một bàn tay rời bầu vú trướt nhẹ xuống dưới thân, lập tức chị hiểu cái đích đến của bàn tay ấy nhưng khi nó lướt đến cái bụng bầu thai mấy tháng lùm lùm thì dựng lại... Bảo rút tay lên e dè... “Đừng...đừng...”. Chị khẽ đảy tay bảo, ngồi dậy. Phía trong giường, đứa bé vẫn ngủ say... Bảo lắp bắp: “Nước...khát nước”... Chị chỉ chỗ, Bảo chui ra khỏi mùng, rót nước ra cốc, uống ừng ực, thở hổn hển, tần ngần rồi trở ra buồng ngoài. Chị không tài nào ngủ lại được nữa, nghe tiếng Bảo lát lát trở mình, thở dài... Vắt tay ngang mày, suy nghĩ đắn đo một hồi, chị nhỏm dậy, nhìn đứa bé con vẫn say ngủ, nén thở, ra khỏi màn. Chị thổi tắt ngọn đèn dầu hãm nhỏ ở bếp, rồi nhẹ chân ra buồng ngoài. Ánh sáng sao đêm hắt qua cửa sổ sáng mờ. Chị rón rén đến ghé ngồi bên mép bộ ngựa nơi Bảo ngủ. Chị nghe rõ tiếng thở và nhịp tim mình đập mạnh. Như hồi chị con gái mới lớn lén ghé bên hàng rào nhìn trộm chàng trai trẻ hàng xóm sắp vào quân ngũ. Chị lưỡng lự, rồi đặt bàn tay khẽ vuốt mái tóc Bảo. Cậu chàng nằm co như con tôm, quay mặt vào trong, im thít như ngủ. Vuốt tóc Bảo một lát, chị mạnh bạo co chân vào trong mùng, xoay mình nhẹ nhàng nằm xuống bên cạnh, choàng tay ôm Bảo vào lòng. Nghe tiếng thở, chị biết Bảo thức nhưng nằm im không phải ứng. Tay chị vòng ôm bụng Bảo vừa khẽ kéo vào lòng vừa nhích mình để hai thân thể vừa khít cánh cung. Chị cảm nhận bầu ngực mình khẽ tì vào lưng Bảo. Im lặng . Chị đưa tay chạm khuôn mặt Bảo thì thấy ươn rướt. Vai Bảo khẽ rung và chị biết Bảo khóc. Chị lặng lẽ cởi cúc áo để bộ ngực trần chà nhẹ. Bảo nấc nhẹ, nhệu nhạo “Cô ấy không chờ đợi được nữa... bỏ... nhận lời với người khác rồi...”.  Chị không kìm mình được nữa, đột ngột xoay người Bảo và cậu nương theo ấp cả khuôn mặt mình vào bầu ngực chị. Bảo rụi rụi mặt, nức nở thành tiếng. Chị ghì đầu bảo vào bộ ngực trần của mình, cảm nhận nước mắt Bảo ướt dẫm hai bầu vú, vỗ về: “Thôi nào... Khổ thân... Tội nghiệp quá... Không sao đâu....”. Bảo cứ lắp bắp, chẳng rõ nói gì. Rồi đôi môi Bảo ngập ngừng chạm vào đầu vú chị đang mẩy căng của người đàn bà mang bầu, bên này rồi bên kia, như một kẻ tham lam, háu đói, lâu ngày... Tay Bảo lần sờ xuống thân dưới chị, bắp đùi, bẹn, lướt nhẹ qua vùng kín và dừng lại ở vòm bụng lùm lùm. Chị ý thức, đưa tay mình ấp lên bàn tay Bảo ở vòm bụng, giữ không cho bàn tay ấy di chuyển nữa. Bảo không dám nhúc nhích, nhưng người như căng lên như cánh cung đang kéo chờ buông dây... Chị nén mình thở trút ra thật nhẹ kiểu đánh úp, một tay chị vẫn giữ bàn tay cậu trên bụng mình, tay kia chị rờ nhẹ lướt từ bụng xuống dưới chạm chỗ phồng căng, dừng lại... Chị nhắm nghiền mắt, sợ mở mắt ra thì tỉnh cơn mê mà ý thức... Trong mê loạn, vô thức, bày tay chị làm trò ảo thuật, Bảo ngậm cả bầu vú chị đầy miệng, bên này, nhả, bên kia, lập bập, mê mẩn... Cả hai mê sảng, tê dại, lịm đi...
                          Chị bừng tỉnh, ý thức. Bảo vẫn ngậm bầu vú ngủ lịm. Hai bàn tay trên vòm bụng vẫn ấp vào nhau, chị khẽ rút bàn tay kia dính dấp và cảm nhận mình ướt át. Lặng im, chị khẽ thở dài, nhích người rút bầu vú ra, ngồi dậy, cài khuy áo, nhẹ ra khỏi mùng. Hình như trời đã dần về sáng. Trở vào buồng trong, không dám thắp lại đèn, vì không muốn cơn mộng mị tan mất, lần mò bóng tối rút then, mở cửa sau, ra lu nước, rửa qua mình mẩy. Trở về giường, ghé nằm xuống cạnh con, chị vẫn lâng lâng. Tự hỏi lòng mình, tình cảm với Bảo như thế nào, rồi nhủ lòng, đương nhiên như cậu em quý mến rồi. Gì nữa? Chắc có chút tình cảm ngoài tình chị em, bởi không sẽ chẳng thể có chuyện này?... Thực ra, cả thời thanh xuân, xinh đẹp, chị đã từng yêu ai đâu, ngoài bóng dáng anh chàng hàng xóm có họ xa, điển trai, vừa kịp lớn đã vào lính rồi hy sinh. Với chồng chị, anh Sáu, ấy là sự cảm thông, tình thương dành cho một người đàn ông lớn tuổi, xa quê phải sống độc thân nơi đất Bắc, là sự đền bù cá nhân nhưng lại mang cái danh chung dành cho miền Nam còn trong cảnh chia cắt, là nghĩa vợ chống chung con chung của. Mang tiếng là ngấn ấy mặt con, ăn ở với nhau hơn chục năm trời, đêm đêm đầu gối tay ấp, nhưng chị luôn là người thụ động, nhiều khi là cam chịu. Đã bao giờ chị chủ động và quyết liệt trong bày tỏ tình cảm của minh đâu. Chị có băn khoăn, dẫu sao chị là gái có chồng, gần sắp bốn đứa con, nhưng chị mới ngoài ba mươi tuổi thôi mà, vẫn còn trẻ đẹp, hấp dẫn lắm .. Chẳng hiểu Bảo có ý thức tình cảm của chị không, hay là cậu ta chỉ nghĩ về cô người yêu cũ và coi chị như một kẻ thay thế chốc lát lúc cô đơn? Thôi kệ, nghĩ nhiều mà làm gì, chị tin vào sự thành thật của mình và sự đón nhận nồng nhiệt của Bảo, xem như một sự an ủi với cả hai. Chị thiếp đi...
                          Cả nửa tháng sau đó, Bảo không qua nhà chị. Còn chị chút lăn tăn nhưng bận rộn quên đi. Anh Sáu và hai đứa lớn từ rãy trở về nhà. Nhịp sống thường ngày hối hả. Rồi không nén được, chị đi chợ thị trấn và tiện thể ghé qua căn phòng tập thể của Bảo ở khu liên cơ. Bảo có nhà, đang ôm ghi ta tập một bài gì đó. Chị chủ động: “Lâu lâu không thấy cậu ghé nhà, chị đi chợ, vào thăm sợ cậu đau yếu chi ?...” . Bảo cười gượng: “À không... em bận vừa đi xã mấy hôm mới về, chị...”. Chị em đôi câu chuyện không đầu cuối, chị để lại bịch vài chục trứng: “Cậu nhớ ăn, kẻo một mình ngại nấu, ăn qua loa là không đủ sức khỏe đâu... Cậu nhớ vừa  qua sốt rét đấy nha...”. Chị ra về, Bảo tiễn chị một đoạn đến cổng cơ quan, lúng búng: “Chị Tấm... em thật có lỗi...”. Chị nhìn Bảo, cười buồn: “Bữa nào rảnh qua nhà... lỗi chi đâu... là ở chị... Để chị bảo anh Sáu kiếm chút mồi, cậu qua nhậu cho vui... Anh Sáu lâu không thấy cậu, nhắc hoài đó... Đâu như anh có cái dạ dày nhím rừng mang ngâm rượu, nói là xớt cho cậu một phần dành để chữa bệnh đâu bao tử... Quý lắm đó... Nhớ qua chi nghe...”. Bảo gật đầu...
                          Ít ngày sau, Bảo nói nhận thư nhà, rồi cậu chàng làm đơn xin nghỉ không lương ra Bắc chăm mẹ bệnh nặng. Chừng mấy tháng sau, Bảo trở vào, làm thủ tục chuyển công tác ra Bắc hẳn. Cậu chàng bận rộn thủ tục giấy tờ, chào hỏi, chia tay người quen bạn bè, nhậu liên miên cả tuần. Trước hôm đi, Bảo mới dành ăn bữa cơm chia tay với gia đình chị. Bữa cơm bùi ngùi, người đi kẻ ở. Chuyện đêm ấy, chị không nghĩ là mình dâng hiến, đơn thuần, có thể, đấy là lần cuối cùng ngọn lửa tình dục trong chị bùng cháy, để rồi dần tàn lụi. Bảo ít nói, trong khi anh Sáu liên thuyên đủ chuyện, say líu cả lưỡi. Chị phải gàn anh chớ ép rượu Bảo để cậu tỉnh táo sớm mai đi xe về Sài Gòn. Ánh mắt chị và Bảo thỉnh thoảng gặp nhau, soi rọi nỗi niềm riêng. Đêm ấy, anh Sáu tỉnh rượu, cứ vần vò này nọ, thây kệ cái bùng chềnh ềnh sắp sinh của chị...
                          Bảo ra Bắc ít ngày thì chị sinh bé Út Hường. Vậy mà, cho đến khi, Út Hường học xong, đang lo xin việc làm thì Bảo trở lại mảnh đất này. Bảo đã là người đứng tuổi, chững chạc, và là người thành đạt, có con lớn đang học đại học rồi. Hơn hai mươi năm qua, chị không gặp lại, dù thi thoảng vẫn nghe được tin tức này nọ. Bảo già đi nhưng vóc dáng vẫn kiểu thư sinh xưa. Còn chị đã thành bà lão rồi. Gánh nặng gia đình đông con, chồng quanh năm say xỉn khiến khuôn mặt xinh đẹp nét Tây xưa đầy nếp nhăn, và đầu tóc rụng thưa vãn, thân hình dỏng cao thành gù xuống. Hai chị em khi thì tranh nói, lúc lại lặng thinh. Ngần ấy năm xa cách, chị rất sợ vầy mà đã vài lần phải hát điệu Sử rầu. Chị phải tiễn biệt anh Sáu và hai kẻ đầu xanh, đứa do tai nạn, đứa thì bệnh tật. Chị đứng vững trên cõi đời này đã là khó nhọc lắm rồi. Nhưng nay chị có chút niềm vui, vì sau lần trở về thăm chốn cũ, Bảo nhận lo việc làm cho Út Hường, và nhờ đấy, bé lập gia đình, làm chỗ dựa cho chị. Chị theo vợ chồng Út Hường lên thành phố giữ cháu. Ở thành phố, đông vui là thế, nhưng chiều chiều, chị lại bồng cháu ra ngõ, nhẩn nha hát ru, ngóng về miền Tây mà nhớ quay nhớ quắt ruộng đồng mênh mông, kinh rạch và bóng núi Dài, núi Cấm...
                          Thấm thoắt, giờ thì cô Tấm xinh đẹp hát chèo hay nhất làng ngày xưa đã là một bà lão gần bảy mươi lưng còng xuống, sống ở căn nhà nhỏ trên nền đất cũ gần ngã ba lộ. Mùa đốt đồng, mỗi chiều bà lão hay kê ghế ngồi trước sân nhà hóng mặt về phía đồng xa, nơi những cuộn khói đốt đồng đùn lên quấn quện thành những dải mây. Mắt bà rớm nước, chắc không phải do khói đốt đồng cay mắt... ./.
                ( Nguyễn Chu Nhạc )
                 
                #83
                  tamvanvov

                  • Số bài : 602
                  • Điểm thưởng : 0
                  • Từ: 26.08.2009
                  • Trạng thái: offline
                  Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 28.02.2021 14:40:21 (permalink)
                  Con trâu Ba Gông
                                                                                     ( Truyện ngắn của Nguyễn Chu Nhạc )
                  xưa cô hàng xóm chưa chồng
                  hay sang giúp mẹ hay mong ta về...
                   
                   
                            Ngày ấy,
                            Việt dong trâu đi chăn. Cứ cách hai ngày, nhà có một phiên trâu. Hợp tác xã của làng giao một trâu cho hai hộ gia đình chăm nuôi theo hình thức luân phiên. Quy định chung, môi gia đinh nhận nuôi trâu phải có nghĩa vụ nuôi con trâu được giao hai ngày rồi mang trả cho nhà kia, cú thế xoay vần. 
                            Ngày nhỏ, sống ở thanh phố, Việt đâu biết con trâu đầu cua tai nheo thế nào. Vậy mà, khi về quê ở, phải đi chăn trâu, khổ sở là thế. Thường thì những ngày có phiên trâu, bố mẹ Việt phải thay nhau đi chăn, hoặc nhốt trong chuồng cắt cỏ về cho ăn, bởi anh chi em Việt phải đi học. Riêng ngày chủ nhật, các chị bận giíp bố mẹ việc đồng áng thì Việt phải nhận việc nang trâu ra đồng chăn thả. 
                            Thực ra, việc chăn thả trâu không mấy khó. Hiềm nỗi, con trâu hợp tác xã giao cho nhà Việt là một con trâu đực to khỏe, sứt mũi và có cặp sừng lệch, với một lai lịch hết sức bất bảo. Nó khỏe và hay gây sự với những con trâu đực khác của làng trong các cuộc chiến tranh giành con cái mùa động dục. Người chăn nuôi nó trước đây giằng kéo nó đến nỗi sẹo gỗ và dây thừng cứa đứt mũi nó, nên người ta phải tạo cặp nẹp tre gông hai bên mõm cổ buộc dây thừng vào đất mà dắt. còn một sừng bị gẫy bớt phần chôt nhọn do gãy sau một trận huyết chiến giành cái. Thế là, cái tên gọi Ba Gông dành cho nó từ đấy.
                            Con Ba Gông cũng không phải lúc nào cũng gây sự. Thường thì, khi Việt dắt cho ăn cỏ dồng, nó khá hiền lành, gặm cỏ ngoan ngoãn. Nó chỉ giở quẻ, mỗi khi trong khu vực chăn thả có trâu cái, nó phất hiện qua việc ngửi mùi nước đái. Mỗi lúc vậy, nó bỏ ăn, hít hà mũi lần thro mùi tìm con cái. Việt khổ sở, gắng sức giăng co với nó để dứt nó khỏi cơn đam mê... Mà bận săn cái thì con đâu gặm cỏ. Đến lúc thấy đói thì nó sắn sàng băng qua ngòi bơi sang bờ bên kia sà vào ruộng lúa mà ngoạm lấy ngoạm để cho thỏa cơn đói thèm ăn.  Đã có lần, con ba Gông ăn vẹt cả vạt lúa lớn, bị người lớn bắt được, dong nó về làm bằng chứng, cán bộ hợp tác xã phạt nhà Việt cả trăm điểm công lao động. 
                            Đám trẻ trâu trong làng hay dong trâu chăn thả với nhau có mươi đứa, toàn con trai, chỉ có Vân và Thân là con gái. Cái Thân nhỉnh hơn Việt một tuổi, khô gày và nói năng bỗ bã như con trai. Còn cái Vân thì hơn Việt những ba tuổi, nữ tính, người lớn nhất bọn. Những ngày mưa dầm, hoặc những ngày quá nắng, cả đám thả trâu trên bờ mương thủy lợi, rủ nhau vào quán Cổ Thạch ngồi tán gẫu, toán chơi ô ăn quan. Mới học lên cấp 2 mà Việt đã đọc hết truyện Tam Quốc nên thỉnh thoảng mang ra kể cho cả đám nghe. Chúng nó thích lắm. Thường thì Việt chỉ mang từng chương, hồi ra kể/ Trong khi đám con trai, thắng Chiến, thằng Đấu chỉ thích nhưng hồi như Lưu Quan Trương kết nghĩa vườn đào, Tam anh chiến Lã Bố, thì cái Vân chỉ thích nghe chuyện về Điêu Thuyền nghe lời Vương Doãn lập mưu để cha con Đổng Trác, Lã Bố hiềm khích hại lẫn nhau... Nó bảo, sao đàn ông thâm hiểm, độc ác thế, sao đàn bà lại khổ sở làm vậy, càng đẹp cáng khốn khổ...
                  Bọn trẻ trâu quen nghe Tam Quốc, nên hay giục Việt kể chuyện. Nhiều hôm Việt không có hứng, lờ đi thì chúng nó lén xua con trâu Ba Gông nhà Việt xuống sông, bơi sang bờ kia. Việt không biết bơi, đành chịu, phải nhờ chúng nó bợi sang dắt về bên này, và để trả công Việt phải kể một hồi Tam Quốc, hay Tay Du Ký, Thủy Hử gì đấy. Chuyện ấy, cái Thân thì hùa theo đám con trai, còn Vân lại không đồng tình. Nó bảo, Việt gày yếu thư sinh thế, phải giúp đỡ chứ ai lại chơi xấu kiếu ấy, gì cũng trong họ ngoài làng với nhau. Thật đúng cách nghĩ của người lớn, xứng đáng chị cả đám trẻ trâu.
                            Riêng với Việt, xét về họ hàng xa cỡ 'bắn đại bác mới tới". cái Vân là vai em, nhưng trong lòng, Việt thích nó, kiểu trai gái thích nhau. Việt mười hai, Vân mười lăm, con gái vào tuổi bắt đầu dậy thì, vú và mông mây mẩy từng ngày. Hàm răng trắng đều đặn, cặp môi mỏng, nét cười duyên. Đã có đêm, Việt ngủ mê thấy cái Vân trần truồng tắm sông. Tỉnh ngủ, cứ tiếc mãi, mong mơ tiếp xem sao...
                            Từ khi phát hiện, mình thích cái Vân, Việt mong đến ngày có phiên trâu chăn để thấy mặt Vân. Nhưng cái Vân lớn hơn, phải giúp nhà làm việc đồng áng khác, thinh thoảng mới đi thả trâu. Có lần, buổi chiều, Việt tranh thủ giúp bố mẹ mang trâu thả ăn cỏ ven bờ sông làng. Trời chiều muộn, dang định dắt trâu về thì máy bay giặc ập đến. Súng phòng không và tên lửa của ta giăng lửa bầu trời. Tiếng máy bay gầm rít, làm con trâu Ba Gông hoảng sợ, nó lội ào xuống sông, còn Việt sợ rum chúi vào một góc quán Cổ Thạch. Bom đạn chát chúa đâu đó. Đúng lúc ấy, cái Vân gánh cỏ về qua đấy, cũng quảng bỏ quang gánh chúi vào quán tránh. Hai đứa chíu chung một góc, cúi gằm đầu vào lòng, hai tay bịt chắt tay phong tiếng động lớn thủng màng nhĩ. Một ánh chớp léo sàng bừng kèm thei tiếng nổ lớp, Việt sợ quá ngã rúi rui vào cái Vân, vô tình rúc đầu vào lóng nó. Nó  cũng sợ phản sạ tự vệ khiến nó ôm cuộn chặt Việt vào trong lòng như quả bóng người quện lấy nhau. Trong cơn sợ hãi, Việt vẫn cảm nhận được cả khuôn mặt mình như úp gọn vào khoảng lũm giữa hai bầu vú mây mẩy của cái Vân. Qua cơn sợ, nhưng cả hai không buông nhau ra, Việt còn cố tính rụi rụi cà nhẹ lên đôi núm mẩy. Vân bớt sợ đưa một bàn tay lên khẽ xoa đầu Việt. Rồi choảng tỉnh, cái Vân khẽ nâng đầu Việt lên khỏi lòng nó. Việt chẳng rõ sợ, hay thích, hay cả hai, mắt rơm rớm nước. Cái Vân  cười nhỏ, hỏi trêu là Việt khóc đấy à. Hai đứa rời nhau ra,... Lúc ấy, Việt chợt nhớ đến con trâu Ba Gông, vôi nhìn ta, thì không hiểu sao, nó không bời qua bờ sông bên kia như bản tính mọi lần, mà lại tự lên, đừng ngay ngoài quán, khẽ nghiêng đầu, nghếch chiếc mũi sứt,tròn mắt nhìn hai đứa ôm nhau, cái mũi sứt trồng ngồ ngộ như cười. Trời nhá nhem tối, cái Vân gánh cỏ đi vội như chạy, còn Việt dắt con Ba Gông thũng thẵng theo sau cách xa một quãng dài. Nhìn cái bóng bước nhanh như chúi về phía trước, không hiểu sao Việt chợt nhớ tới lời mẹ nói, sau này lớn lên chớ lấy người đàn bà cps dáng đi như vậy, bởi số người ấy sẽ vất vả, long đong...
                            Sau lần ấy, hai người ít chạm mặt nhau, bởi Vân không đi thả trâu nữa, mà phải làm việc chính đống áng của gia đình. Vắng bóng Vân, Việt thấy việc thả trâu thật tẻ nhạt, chán phèo. Việt cũng chẳng hứng thú gì với kể chuyện Tam Quốc, Tay Du, Thủy Hử nữa. Con trâu Ba Gông dường như cũng bớt quậy phá hơn,... Hình như nó cảm được sự thay đổi tâm tính, sự lớn dần lên thành người lớn trong con người Việt, nên không coi Việt là trẻ con để nó khinh thường, quậy phá,...
                  Chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt. Học hết cấp 2, cái Vân phổng phao thiếu nữ, xinh hơn. Nó tình nguyện đi thanh niên xung phong. Việt vào cấp 3 phải đi trọ học xa nhà. Mỗi lần về nhà, Việt vẫn nghe ngóng, hỏi thăm về cái Vân. Thâm tâm, Việt còn thích nó, nhưng ở cấp 3, đám học sinh nữ trong huyện cũng nhiều đứa xinh, lại hàng ngày học hành bên nhau, gần gũi, nên hình ảnh cáo Vân không còn dâu đậm trong trí óc Việt nữa. Ngày ta bảo, xa mặt cách lòng cũng đúng. Với lại, hình thư, cái Vân chỉ quý và tôn trọng sự hiểu biết, trí óc của Việt hơn là cái thích về mặt thể xác của người khác giới, Hình như nó nhìn nhận Việt như một đứa trẻ hơn là chàng trai..
                            Việt tốt nghiệp phổ thông đúng vào thời điểm chiến tranh kết thúc. Học tiếp lên đại học, thi thoảng về làng, gặp đây đó những trai làng nhập ngũ năm nào đã phục viên hoặc chuyển ngành, nhưng tuyệt không thấy bóng dáng cái Vân đâu, Dò hỏi thì có người bảo, ở chiến trường, Vân yêu một chàng bộ đội lãi xe và có thai với anh ta rồi sinh con. Sau giải phóng miền Nam, có lần, Vân về làng mang theo đúa con gái nhỏ. Ở quê độ mươi hôm rồi Vân mang con đi, bảo là tì vào quê bố đứa bé đâu mãi trong Thanh Nghệ Tình gì đó. Nghe tin, Việt có chút buâng khuâng, nghĩ ngợi, Là nghĩ về kỷ niệm cùa thời trẻ trâu với nhau, bời dẫu sao, ngày đó, chí ít Việt cũng quý nó hơn mức bình thường. Chiêm nghiệm lời mẹ bảo tướng Vân vất vả, đa đoan, thấy đúng cả.
                            Nhớ đến cái Vân, lại nhớ thằng Chiến, thằng Đấu và con trâu Ba Gông. Hai thằng Chiến và Đấu đều nhập ngũ vào những đợt tuyển quân cuối cùng của cuộc chiến tranh và không đứa nào trở về khi chiến tranh kết thúc. Một đứa bị sốt rét ác tính chết, còn một, nghe đâu hy sinh trước cửa ngõ Sài Gòn. Còn con trâu Ba Gông, khi Việt vào cấp 3, nhà không có người chăn nên trả lại cho hợp tác xã, giao cho hộ khác ở cuối làng nhận nuôi. Sau nó già yếu, giảm sức kéo nên bị giết thịt. Việt nghe mẹ nói, bộ da nó dày tốt nên người ta đem thuộc và dùng để sửa mặt trống cái của làng. Vậy là linh hồn của con trâu Ba Gông vẫn còn theo tiếng trống mỗi khi làng có việc mang trống ra đánh,...
                  Có một thời gian dài, Việt ít về quê. Chuyện là, bố Việt ốm rồi mất. Mẹ thì ra thành phố trông con giúp mấy chị gái của Việt. Còn Việt thì sau khi tốt nghiệp được điều vào công tác ở miền Tây Nam bộ dăm năm, rồi xin chuyển về Sài Gòn làm việc, lập gia đình với một cô gái gốc Bắc và định cư luôn ở đó. Ngôi nhà trên mảnh vườn quê bỏ không một thời gian, do người chị cả lấy chồng làng bên trông nom. Hơn chục năm, mẹ Việt chán ở phố đòi về quê sống. Thế là mấy anh chị em góp vốn sửa lại căn nhà cũ cho khang trang, sạch sẽ để mẹ sống. Tiếng là bà cụ ở một mình nhưng họ hàng làng xóm ngay cạnh, và nhà chị cả cũng gần đấy, năng qua lại chăm nom. Ỏ thế, túc tắc vườn tược, cây cối nên mẹ Việt hơn chín chục tuổi đầu óc vẫn minh mẫn. Mẹ ở quê, thì dẫu xa xôi phương Nam, làm ăn bận bịu đến mấy thì năm ít nhất đôi ba lần Việt bay ra Bắc về quê ở với mẹ chừng tuần lễ.,mươi ngày. Có lần, Việt ở quê, mẹ bảo là đi xa nhiều năm, làng giờ sủa sang chùa cũ thành mới, nên qua chùa thắp hương lễ phật và công đức chút tiền của. Việt nghe lời mẹ, vào chùa làng, lòng vẫn nhớ hình ảnh ngôi chùa làng bé nhỏ cũ nát với sư già ngày xưa. Không ngờ, chùa làng giờ khang trang, bề thế. Lễ phật xong, Việt làm việc công đức thì nghe tiếng mô phật đằng sau, ngoảnh lại bắt gặp sư trụ trì. Vị ni sư trong nét mặt quen quen, ngờ ngợ nhưng không đoán ra ai người làng. Khi ni sử bảo "Ông đi xã lâu ngày về làng, công đức chùa, xin cảm tạ tầm lòng của ông dâng đức Phật". Lúc ấy, Việt mới nhận ra ni sư chính là Vân. Nhận ra nhau, uống chén trà, nói dăm ba câu chuyện mới vỡ lẽ về cuộc sống của Vân. Ngày ấy, Vân mang con tìm vào quê người lính lãi xe thì hay tin anh ta đã hy sinh, bèn tìm việc làm và ở lại vùng quê ấy sinh sống. Nhan sắc có, nên dăm năm sau, Vân lấy một người trong vùng chết vợ, còn đứa con được gia đình người bố xin nuôi vì cũng hiếm người. Cuộc hôn nhân đó chẳng ra gì, rồi đổ vỡ. Vân làm nụng kiếm tiền thêm thắt phụ giúp gia đình nhà họ nuôi con gái. Thấm thoắt ngày tháng con bé lớn khôn. Vân từ người giúp việc cho một ngôi chùa ở đó, xuất gia đầu phật làm ni sư. Trong một lần về quê, thấy ngôi chùa làng cũ nát, không sư trụ trì, các vãi làng phải cắt cứ nhau trông nom, bèn xin về đây trụ trì, bỏ công sức gây dựng nên cơ ngơi khang trang ngày hôm nay. Như vậy, cái Vân con gái làng xưa nay ni sư pháp danh Thích Diệu Vân chính là người có công với đời sống tâm linh của làng... 
                  Từ gần năm nay, mẹ Việt đổ bệnh, năm liệt một chỗ, phải ăn qua ống xông, nên lúc nào cũng phải có người trông nom bên cạnh. Các anh chị em trong nhà cắt cử, thay phiên nhau chăm mẹ. Nhà đông con nên cũng đỡ. Thế nhưng, vất vả nhất là người chị cả lấy chồng trong làng, rồi đến Việt. Dù xa xôi cách trở, nhưng Việt thu xếp ra chăm mẹ thường xuyên. Tết này, dịch covid bùng phát, Việt mắc kẹt ở quê, vì vùng quê của Việt có ca mắc dịch. Làng bị phong tỏa. Cổng làng bị rào kín, bịt tôn che hết. Người ta chỉ để một cái lỗ to như miệng thúng dưới chân để trong ngoài tiếp tế qua lô thủng đõ. Hai chị em Việt đánh vật trông nom mẹ. Khổ nỗi, người chị cả có con gái lấy chông ở Quảng Ninh, quảng con về cho bố mẹ trông, nên cũng kẹt ngoài đó không về quê ăn tết được. 
                            Đêm giao thừa, người chị cả bận cỗ cúng giao thừa nhà mình, lại vướng cháu nhỏ không qua được. Một mình Việt, vừa cúng giao thừa vừa chăm mẹ. Mẹ Việt yếu lắm rồi, phải mở nọi khí quản để thở, Già lão, sức yếu, đờm dâng lên nghẹt thở, nên cứ vài tiếng Việt lại phải xốc mẹ dậy dùng máy hút đờm cho bà cụ thở. Loay hoay một mình, cực quá, tủi thân. Dẫu nam giới đấy nhưng muốn trào nước mắt. Nói dại, nhỡ cụ đi lúc này thì biết xoay xở sao đây. Quá giao thừa sang năm mới, Việt tựa ghế bên giường bệnh của mẹ, chợp mắt thiếp đi. Chợt choàng tình vì nghe tiếng ai gọi cổng. Việt vội vàng ra mở cổng thì ra ni sư Thích Diệu Vân chùa làng. Việt ngạc nhiên lắm, miệng bạch thầy nhưng không biết ứng xử thế nào cho phải phép.
                            Ni sư Thích Diệu Vân chủ động bảo "Kìa, nhà ông mở công cho nhà chùa vào chứ... Nhà chùa biết tin bà cụ mệt nặng, lại biết nhà ông có một mình, nam giới chăm mẹ cực lắm... để nhà chùa đây giúp nhà ông một tay chăm cụ... Nhà chùa cũng đã xong việc giao thừa bên chùa rồi mà...". Mừng đấy, nhưng Việt vẫn lúng túng, đưa ni sư vào nhà...
                            Ni sư bảo "Nhà ông cứ yên tâm... ngày trước, nhà chùa đã từng làm nghề chăm sóc người già bệnh tât rồi mà...". Miệng nói tay làm, ni sử nhẹ nhàng đỡ bà cụ lên để hút đờm... Việt thì cứ quanh quẩn chân tay như thừa... Ni sư vừa chăm vừa hỉu chuyện bệnh tình bà cụ...
                            Có lúc, cả hai người như lặng đi, chẳng ai nói câu nào. Việc nhà chùa thì Việt không mấy biết nên chẳng dám hỏi thăm thế nào/ Chợt ni sư bảo "Này nhà ông... có còn nhớ con trâu Ba Gông xưa không đấy? Con trâu nhà ông nhận nuôi của làng ấy?...". Việt bảo nhớ, thậm chí nhớ như in nhiều chuyện trẻ trâu xưa, thì ni sư lại bảo "Sau này người ta lấy da nó thuộc đi, đem sửa trống làng... Khi về trông coi chùa làng, nhà chùa biết chuyện nên đã công đức làng một trống cái mới, xin đổi lại cái trống cũ ấy. Nhà chùa đem về, cất giữ cái trống ấy trong kho nơi Nhà tổ của chùa... Ra giêng ôn ổn, hôm nào nhà ông sang chùa thắp hương lễ Phật, rôi quá bộ xem cái trống ấy, ông ạ" Nghe vậy, Việt ngẫm nghĩ, triết lý nhà Phật, vàn vật chúng sinh theo vòng luân chuyển cửa trời đất đều biến hóa rồi siêu thoát cả, lưu giữ vật chất mà làm gì. Đến cuộc đời mình, Thích Diệu Vân còn chẳng màng sướng khổ nữa là, chẳng qua, đấy như hình bóng về làng mạc cửa một thời. Vừa chăm sóc bà cụ, vừa thủng thẳng chuyện, một người thì “bạch thầy”, một người lại “mô Phật”, cứ vậy, câu chuyện đứt quãng, không đầu không cuối...
                            Việt chỉ biết vâng dạ... Tự nhiên, bao hình ảnh cả một thời trẻ trâu xua cũ ùa về như sóng cồn. Hình ảnh cái Vân, cái Thân, thắng Chiến, thằng Đấu và con trâu ba Gông hiện rõ môn một. Ấn tượng nhất là hình ảnh con trâu ba Gông hếch mũi, mắt tròn xoe nhìn cái Vân và Việt ôm chặt rúm ró vì sợ ở một góc quán Cổ Thạch trong buổi chiều bom đạn ngút trời ngày ấy... 
                   
                  Mồng 4 tết Tân Sửu, 
                   
                   
                  <bài viết được chỉnh sửa lúc 28.02.2021 14:42:03 bởi tamvanvov >
                   
                  #84
                    tamvanvov

                    • Số bài : 602
                    • Điểm thưởng : 0
                    • Từ: 26.08.2009
                    • Trạng thái: offline
                    Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 27.03.2021 15:42:28 (permalink)

                       Đỏ như hoa gạo tháng ba,
                       Tản văn của Nguyễn Chu Nhạc

                        Thiên nhiên thật kỳ diệu,
                        Tháng Giêng, chẳng gì bằng sắc hồng của hoa đào, sắc trắng thanh khiết của hoa mai.
                        Tháng Hai, chẳng gì hơn sắc tím của hoa xoan, sắc trắng tinh khôi của hoa ban.
                        Thì tháng Ba, không gì ấn tượng hơn sắc đỏ của hoa gạo,...
                        Tháng ba hoa gạo, đã là thành ngữ, là câu cửa miệng dân gian,
                        Ca dao có câu: "Bao giờ đom đóm bay ra. Hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng", vừa là câu ca, vừa thành nông lịch
                        Còn nhà thơ Hữu Thỉnh trong trường ca Sức bền của đất, đã mở đầu: "Đom đóm bay ta hoa gạo đỏ/ Mẹ ở nhà đã cất áo bông/ mẹ có ra bờ sông/ ra bến đò tiễn con dạo trước/ đường xuống bến có mười sáu bậc/ mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu...". 
                        Tôi đã viết về hoa gạo từ vài chục năm trước, thơ, truyện, tản văn. Nhưng giờ đây, tôi vẫn đầy cảm xúc và muốn viết tiếp về hoa gạo mỗi tháng ba về. 
                        Cuối xuân này, tôi và những đồng nghiệp báo chí có chuyến du xuân thăm chùa Nôm ở Văn Lâm, Hưng Yên, vùng quê tôi. May mắn làm sao trúng mùa hoa gạo. Cây gạo cổ thụ trước cổng chùa Nôm đơm đầy hoa, rụng dát đỏ nền chợ, bậc thang lên chùa và thảm đỏ vòm cong mái ngói tam quan. Nhóm chúng tôi, người già nhất ngót nghét chín chục, còn trẻ nhất cũng ngoại năm mươi, ai nấy đều ngỡ ngàng trước quang cảnh kỳ ào này, mà làm nên tất cả là hoa gạo. Già trẻ, ai cũng muốn mình có bức ảnh trong quang cảnh kỳ diệu này. Cảm xúc trào dâng và lan tỏa, thật khó diễn tả và không có gì cưỡng nổi. Vài năm trước, xuân Kỷ Hợi (2019), chúng tôi thăm viếng chùa Thầy, cây gạo cổ trước sân đình Sài Sơn bên chùa Thầy cũng đỏ ối những hoa, soi bóng hồ nước lung linh hình bóng thủy đình... 
                        Với riêng tôi, trước cảnh sắc như vậy, chỉ còn biết mê mải lựa góc máy, chon; khuôn hình mà bấm lia lịa, cứ cảm như mình chụp chậm thì cảnh sắc bay biến đi mất, không kịp....
                        Về nhà, lựa chọn dăm bức ảnh ưng ý, đăng lên trang cá nhân trên mạng xã hội. Bạn bè vào cảm nhận lia chia, khen tuyệt vời, phổng cả mũi. Có người đùa, hỏi trêu rằng: "Gọi là hoa gạo sao lại màu đỏ nhỉ, đáng ra phải sắc trăng như hạt gạo chứ?". Biết là hỏi đùa, nhưng cũng ớ người ra/ Mà sao bấy lâu nay mình không tự phản biện thế nhỉ? 
                        Rồi tự tìm cách lý giải. Trả lời cho bạn, cũng là cho mình. Cây hoa gạo có tên khoa học là Bombax ceiba, thuộc họ Gạo (Bombacaceae). Gọi cây gạo là cách gọi dân dã ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ và bắc miền Trung gồm Thanh Nghệ Tĩnh. Người dân miền núi phía Băc giáp biên giới Trung Quốc còn gọi là mộc miên, theo âm Hán Việt. Còn người dân Tây Nguyên gọi là pơ-lang.
                     Tôi nghĩ, sở dĩ, người ta gọi loài cây hoa đỏ này là cây hoa gạo là bởi sự liên quan đến mùa màng. Theo nông lịch và tập quán canh tác lúa nước ở vùng Bắc bộ và bắc Trung bộ, một năm có hai vụ lúa luân phiên. Vụ chiêm xuân tính từ khi cấy sau tết nguyên đán cho đến cuối tháng tư, đầu tháng năm âm lịch là gặt, còn vụ mùa tính từ đầu tháng sáu đến đầu tháng mười âm thì gặt. Như vậy, quãng thời gian phòng cơ tích cốc một năm đủ 12 tháng, chia hai nhưng lệch nhau. Thóc gạo trữ ăn tính từ gặt vụ chiêm đến gặt vụ mùa  (tháng 5 đến tháng 10), chỉ có 5 tháng, còn từ gặt vụ mùa đến gặt vụ chiêm (tính từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau) kéo dài những 7 tháng, nên có nguy cơ thiếu đói lương thực. Vậy nên người ta mới tranh thủ lấy chân ruộng cao làm thêm hoa màu vụ đông như như rau củ quả (khoai lang, khoai tây, cà chua, sư hào, các loại đậu ...) để thêm thắt bù vào lương thực thiếu hụt lại có thực phẩm cho bữa ăn. Ngày xưa, thường vào dịp trung tuần tháng ba đến trung tuần tháng tư hàng năm, quãng thời gian được gọi là giáp hạt, nhiều nhà hết lương thực, thiếu đói,... Có lẽ, những cây gạo, thưởng được trồng ở đầu làng, cuối bãi, nơi gò cao, quán xá. bồ sông, bờ mương, đường ra đồng. bừng nở phô  sắc đỏ tươi thắm, những bông hoa gạo to tướng, cánh hoa dầy dặn rung tơi bời dưới gốc, thẳm cỏ, nhắc nhở con người ta đang mùa giáp hạt, hãy gắng chịu đựng thêm chút nữa, rau dưa thêm thắt, chẳng mấy vụ lùa chiêm sẽ chín... Phải vậy chăng, mà người ta gọi loài cây hoa đỏ này là gạo, như một ẩn dụ, một phép tu từ, mang hàm ý cổ vũ, động viên tinh thần ?... 
                         Là tôi cứ nghĩ thế thôi !...
                        Nói đến cây hoa gạo, không thể không nhắc đến câu thành ngữ Việt "Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề". Ở đây, chỉ kiến giải cái phần "ma cây gạo" mà thôi. Thường thì ở thôn quê, cây hoa gạo hay được trồng ở đầu làng, cuối làng, đến miếu. gò đóng, quán nghỉ giữa đồng, bờ sông... những nơi hoang vắng, gay nhiều cây cối rậm rạp, theo quan niệm dân gian ma tìm đến trú ngụ, ẩn náu. Ma ở đây đều là các oan hồn, lang bạt phiêu dạt, đói khát vì không có người nhận thờ cúng. Tất cả tụ về nơi có cây hoa gạo hòng kiếm ăn. Ấy là quan niệm thế mà nên thành ngữ chăng ?...
                        Đấy là chuyện xưa, còn thời nay, công nghệ 4.0,  mỗi mùa hoa gạo nở tháng ba. người ta chẳng còn sợ "ma cây gạo" nữa, mà thi nhau tìm đến chiêm ngưỡng vầng hoa gạo đỏ ối khung trời và thảm bông gạo rụng bời bời sắc đỏ dưới đất. Đẹp ngỡ ngàng, kỳ ảo,...
                        Đỏ như hoa gạo tháng ba @... 

                     
                    #85
                      tamvanvov

                      • Số bài : 602
                      • Điểm thưởng : 0
                      • Từ: 26.08.2009
                      • Trạng thái: offline
                      Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 10.04.2021 16:13:52 (permalink)

                      CHÍNH DANH GỌI TỄU
                      ( Chân dung nhà thơ Phạm Công trứ )

                      Ấy là một gã đặc biệt. Đặc biệt người, đặc biệt thơ. Cứ nhìn cách gã đặt tên cho những đứa con tinh thần của gã-các tập thơ là đủ thấy : Lời thề cỏ may I-II-III, rồi Cỏ may thi tập ; Phồn thi I-II và tới đây là Phồn thi III, để hoàn tất thành Phồn tập.
                      Tôi thì nhất quyết gọi gã là Tễu. Đơn giản bởi tôi thấy gã đã tự họa chân dung mình khá ấn tượng trong bài thơ Tễu :
                      Cởi trần đống khố múa chơi
                      Hát rằng, giữa đất và trời có ta
                      Đất là mẹ, trời là cha
                      Chính danh là Tễu, tự là Thảo Dân ...
                      Còn tên khai sinh do cha mẹ đặt cho là Phạm Công Trứ- Tiến sĩ Luật- Nhà thơ- Nhà báo.
                      Thật khốn khổ cho cái thân gã, sinh ra lớn lên đã phải mang vác những tên tuổi lớn trên thân xác cực kỳ quê mùa của mình.
                      Thoạt đầu là cái tên. Công Trứ, khiến người ta nhớ đến danh nhân Nguyễn Công Trứ- Doanh điền sứ, nhà thơ và nhà khẩn hoang lỗi lạc của đất Việt thời Nguyễn, đầu thế kỷ 19. Có lẽ cha mẹ gã, những nông dân của vùng đất biển bồi Hải Hậu ( Nam Định ) vốn là những người hiểu biết nên lấy tên Công Trứ đặt cho gã, một để tỏ lòng kính trọng với danh nhân Nguyễn Công Trứ, người đã có công sáng lập ra hai huyện nguyên là vùng đất mới bồi, Tiền Hải ( Thái Bình) , Kim Sơn (Ninh Bình ), hơn nữa, cũng là sự kỳ vọng vào tương lai của gã. Hẳn sau này, nếu tài danh không mấy nổi thì gã cũng có cớ để biện bạch rằng, vị danh nhân kia họ Nguyễn, còn gã họ Phạm.
                      Khốn nỗi, chẳng hiểu gã có biết rằng, trong lịch sử xa xưa, còn có một người trùng danh tính với gã, song lại rất nổi tiếng, ấy là Phạm Công Trứ, một nhà chính trị danh tiếng, nhà sử học thời Lê, đầu thế kỷ 17. Ông này sinh năm 1600, quê Liêu Xuyên, Đường Hào ( Hưng Yên ), đậu tiến sĩ năm 1628, làm quan to trải các chức Đô ngự sử, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Lại, Tham tụng phủ Chúa, tước Yến quận công, người từng được nhà vua giao trọng trách cùng với cộng sự đương triều sửa chữa và duyệt bộ quốc sử Đại Việt sử ký toàn thư .
                      Thôi rồi, gã hết đường biện bạch nếu chẳng may sự nghiệp không thành. May thay, gã không hổ danh đội tên danh sĩ, danh nhân, dù thân xác quê mùa, trí tuệ chú Tễu. đã từng và hiện vẫn đứng trên bục giảng của giảng đường đại học mà cao giọng giảng luật học, cũng tiến sĩ và thơ phú như ai, lại thêm cái danh nhà báo, dẫu chẳng dám so sánh với tiền nhân, thì cũng có thể tự hào mà đứng trong trời đất này !...
                      Tôi biết Phạm Công Trứ khi đã nổi danh với bài thơ Lời thề cỏ may, sau cả khi lấy bằng Phó tiến sĩ Luật từ Liên Xô về, làm việc tại Báo Pháp luật, và còn độc thân. Trứ tuổi Quý Tỵ, tôi tuổi Đinh Dậu, hơn kém những 4 tuổi, song chơi ngang hàng, xưng hô ông-tôi thân mật. Chúng tôi biết nhau nhờ cùng là cộng tác viên của Báo Nông nghiệp Việt Nam. Biết thì thế, song chơi được với nhau lại qua trung gian là Trần Đăng Khoa và Trịnh Bá Ninh ( hiện là Phó Tổng biên tập Báo NNVN ). Tiếng là thân, nhưng không gần. Cứ ai việc nấy, lâu lâu gặp nhau do hẹn hò hoặc tình cờ thì vẫn có chuyện để mà nói. Ngồi với nhau, lúc tại công sở, khi nhâm nhi tách cà-phê nơi quán xá, đủ độ thân để thật lòng chuyện nghề, chuyện thơ văn, chuyện gia đình, chuyện đời... Khi nghe nhau nói, lúc hăng lên cùng tranh nhau nói, một bộc trực to tát, một uyển chuyển nhỏ nhẹ hơn, và chưa bao giờ bất đồng hoặc gay gắt đến phát cáu, đến mức một ai đó phải bỏ đi trước.
                      Song le, nhắc đến Phạm Công Trứ, thì phải nói đến thơ của gã. Thơ lại dăm bảy loại, Phạm Công Trứ chỉ gắn với thơ lục bát thôi. Thế quả có thiệt cho gã, bởi thơ không lục bát gã cũng có ối bài hay, song người đời đã nghĩ thế, cho là thế, nên đành vậy, thanh minh mà làm gì .
                      Như một định mệnh, Phạm Công Trứ đến với người yêu thơ bằng lục bát Lời thề cỏ may, rồi cứ đà tiếp mạch nguồn tuôn chảy. Hễ đụng đến lục bát là ngòi bút của gã trơn tru, tung tẩy, uyển chuyển làm sao. Tôi biết, với ngần ấy tập thơ, Phạm Công Trứ đã được nhiều nhà phê bình thơ để mắt, săm soi, và trong số đó, đáng kể là Vũ Quần Phương, Trần Đăng Khoa, Vũ Nho và Chu Văn Sơn. Khen chê đủ mùi, có cả chuyện bảo gã ngồi vào chiếu của Nguyễn Bính. Dẫu vậy thì có sao đâu.
                      Quả thật, Phạm Công Trứ sở trường về thơ lục bát. Song le, khốn nạn thay cho gã, ngay cái tên đã đội danh nhân lên đầu, đến nghiệp thơ cũng không thoát khỏi kiếp con rùa vào chùa đội hạc ra đình đội bia , phải đội các bậc cao thủ tiền bối thơ lục bát là Nguyễn Du, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Bính. Là kẻ hậu sinh, dẫu chỉ bén gót các bậc danh tài tiền bối cũng chẳng có gì xấu hổ. Xét hiện tại, trong làng thi ca Việt mình, chiếu thơ lục bát có mấy người thành danh thì trong số ấy cũng có tên gã. Bốn người ngồi bốn góc : Nguyễn Duy-Lê Đình Cánh-Phạm Công Trứ-Đồng Đức Bốn, mỗi người riêng một vẻ hay.
                      Chơi với Phạm Công Trứ, cũng thích nhiều bài thơ của gã, tôi đã tự chọn và bình dăm ba bài, đăng báo chỗ này chỗ nọ. Lẽ dĩ nhiên, cũng na ná những bài viết của làng phê bình ta, khen một tý và chê một tý, rồi cộng thêm tham số hy vọng bằng kết quả bài thơ ( tập thơ ). Tôi không thông báo, cũng chẳng kể công gì với gã, song gã để ý và gom góp đủ cả. Lại còn tuyên bố, khi làm tuyển các bài giới thiệu phê bình thơ gã, thì gã sẽ chọn lựa đưa vào. Không rõ đến bao giờ gã mới làm cái tuyển đó? A ha, gã đã vậy thì sợ gì mà không biếm họa chân dung gã ?
                      Tôi từng viết một bài tạp văn Sân trăng ( in trong tập Lên núi tầm mai - NXB Văn học-2005 ), lấy cảm hứng từ mấy câu thơ của gã: " ... Vợ thì mặt khó đăm đăm/ Con thì ọ oẹ đái dầm cả đêm/ Mình thì ngồi xuống đứng lên/ Trăng thì cứ vãy đầy thêm như trêu ". Tôi gán chàng thi sĩ trong tạp văn ấy vào gã, và còn rủa khéo, bảo gã hãy bỏ cái chốn phồn hoa đô hội mà về quê cày cuốc cấy hái, để rồi tha hồ ngắm trăng. Gã biết, không giận bạn, mà lại cười hiền.
                      Thoạt trông tướng gã quê quê, lại thêm ẩm ương thơ phú, nhiều người lo không biết gã làm gì ra tiền để nuôi vợ con ( một vợ, hai con - đủ cả nếp tẻ ). Đùng một cái, gã mua đất xây nhà lầu ở Cầu Giấy. Xây nhà rồi, lại còn bắt chước người xưa đặt tên chữ nữa. Thảo am thì quyết không phải rồi, thế thì phải là hiên, hoặc các, lâu chi đó. Kể từ đấy, nhiều bài thơ, gã đề bên dưới là Quan Hoa các, hoặc giả Nghênh Phong hiên, hay Vọng Nguyệt lâu...cho thêm phần nho nhã. Vậy mà Tễu , một kẻ đặc quê mùa và láu cá lại được ra đời từ đấy.
                      Đa phần người yêu thơ, biết đến Phạm Công Trứ là nhờ Lời thế cỏ may. Hẳn tự thân gã cũng nghĩ vậy, thế nên mới có chuyện gã lấy tên một bài đặt cho cả tập, rồi không những một mà cả ba tập, lại còn thành tên tuyển. Tôi biết, trong cuộc đời, đã có bao nhiêu cô gái sướt mướt chùi nước mắt, bao kẻ ngậm ngùi nhớ về cái thuở " ngồi gỡ lời thề cỏ may ". Song chuyện gió trăng ấy chỉ là những phút thăng hoa ban đầu dễ làm người ta lầm tưởng, thực ra, không mấy hợp cái tạng của gã. Gã là fonklore , gã tưng tửng mang mình ra mà tự trào để rồi bông lơn, trêu ghẹo, châm chọc cả làng, cả tổng, cả thiên hạ.( Đâu kém cạnh gì các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương cùng quê với gã ). Tôi lại cho rằng, sự nghiệp thi ca của gã là ở trâu với cỏ, là ở Bờm với Cuội, là ở Tễu kia.
                      Tễu sinh ra ở quê, đích thị nông dân. Ở quê, Tễu là đệ nhất, đếch sợ bố con thằng nào. Vậy nên, Tễu mới " cởi trần đóng khố múa chơi ". Hãy xem cái chú Tễu của gã tự bạch : " Đất là mẹ, trời là cha/ Chính danh gọi Tễu, tự là Thảo Dân/ Gia tài độc một chữ cần/ `Trọng thực thường lấy chữ ăn làm đầu / Bạn thì những chó cùng trâu... ". Nhưng đâu chỉ lầm lụi, hèn mọn, cần lao,Tễu bình thường cam phận là thế : " Ra trận đành phận tốt đầu/ Về làng thì lại cưỡi trâu ra đồng " , song lúc máu yêng hùng nổi lên thì nhất là bét nhé: " Kéo cày đã cực chai lỳ/ Khi giương sừng nhọn hổ thì ngán ta ". Gì thì gì, Tễu vẫn biết và trở về với thân phận giáo trò của mình.
                      Đấy là Tễu gốc. Biến tướng sang Tễu II , Tễu ta không còn chính hiệu nông dân nữa, mà đã nhuốm màu thị dân rồi. Nghĩ phận mình bèo bọt, cỏ rả " Độc một mảnh vải che thân/ Giấc mơ xuất ngoại đâu phần Tễu tôi ", Tễu đâu tài cán như Trạng tiên tri mà biết, chỉ là chó ngáp phải ruồi, há miệng chờ sung may sung rụng thôi: " Ai ngờ dân dã lên ngôi/ Thế rồi Tễu cùng được ngồi máy bay ". Tễu ta ngồi máy bay, nhòm xuống nhân gian thấy dân làng mình cấy cày vất vả, mới ô hay biết phận mình bấy lâu là thế. Rồi trải đất Tàu trời Tây, diễn trò đồng áng , thảo dân ma lanh hết xứ gà trống đến xứ sương mù, trở về quê, chợt thấy mình không còn là nông dân nữa. Vậy không là nông dân thì là ai ? Là thị dân chứ còn gì. Nhưng muốn thành thị dân thì cũng phải có điều kiện gì chứ? Đơn giản thôi, thì cứ " sống lâu ở phố/ hóa thành thị dân ".
                      Thế là thành Tễu III, thị dân, kiêm nghệ sĩ. Tễu-thị dân khác hẳn với Tễu-nhà quê hồi mới bén mảng ra phố " Nhà quê khí huyết tràn trề/ Tớ đi rung cả vỉa hè Đồng Xuân ". Thêm nữa, sau lần đầu xuất ngoại, Tễu ta quen mui. Bây giờ xuất ngoại với Tễu không còn là may, đã thành chuyện cơm bữa. Tễu biểu diễn chuyên nghiệp, mặc thì quen với gi-lê , mũ phớt, ăn thì quen xúc-xích, dăm-bông, màn-thầu, sủi-cảo, nói năng thì gút-bai, nỉ-hảo... Đấy là trước đám đông Tây Tàu bộ tịch thế thôi, chứ hễ xong việc trở về, Tễu ta chỉ dễ chịu khi là chính mình, với khố áo , với tre trúc ngõ quê, với ao bèo sân đình, với ối a điệu chèo và câu dân ca não buồn giã bạn đếm trăng.
                      Tễu ta đành lột xác, song chớ trêu thay, nỗi ám ảnh nông dân bám lấy Tễu, lẽo đẽo theo đi mọi lúc mọi nơi, trung thành và nhẫn nại. Kỳ thực, bước ra với đời thì cũng bộ tịch thế thôi, chứ sâu thẳm cõi lòng, nếp văn hóa làng quê Việt luôn ẩn chứa " Này nước tre trúc lung linh/ Này mây lồng bóng thủy đình gần xa ". Kỳ cùng cho đến một ngày kia, con cháu Tễu tiễn đưa Tễu về nằm lại nghĩa địa làng bằng một đám rước ra trò !... Song trước khi sắp đặt sẵn cho Tễu một kết cục bi hài, hãy xem Tễu ta sống ở phố thế nào, ăn ở với dân khối phố, đối xử với kẻ phường ra sao ?
                      Tễu ta, thị dân : " Thị dân trong mặc/ Váy áo ngắn dần/ Thị dân trong ăn/ Chán cơm có phở/ Thị dân trong ở/ Nhà ống mái tôn/ Thị dân phát ngôn/ Cám ơn! Hân hạnh/ Thích coi phim ảnh/ Thuê đĩa xi-đi/ Muốn uống cà phê/ Quán vườn mờ ảo/ Rất chăm đi dạo/ Vì ngại bụng to/ Cần gọi xích lô/ Thì ra đầu phố/ Thuê một tốp thợ/ Cứ đến chợ người/ Cả đến khóc cười/ Cũng có dịch vụ ...". Mọi việc dễ ợt, như là lẽ đương nhiên. Ở quê khó hơn nhiều.
                      Quanh đi quẩn lại, Tễu thấy mình chỉ có thể về quê, đánh bạn với trâu. Đấy là con vật luôn gần gũi, thân mật với mình, buồn vui chia xẻ cùng mình. Tễu nhận mình là Thảo Dân. Trâu lại là bạn của thảo dân : " Từ ngày về với thảo dân/ Trên thừng xiên mũi, dưới chân lội bùn/ Trưa hè nước bỏng như đun/ Chiều đông sương muối rét run từng hồi/ Vụ năm cho chí vụ mười/ Hạt vàng người hưởng, rơm mời trâu ăn/ Lòng riêng thoáng chút lăn tăn/ Vẫn thề đi với thảo dân trọn đời ".
                      Xin được nhắc lại, gã biết tuốt song giả ngây giả ngô, tưng tửng, chất chưởng, chẳng ngại gì và cũng không ngán ai . Thấy chướng tai gai mắt là phê, là trào lộng. Bây giờ thì gã quen với cái giọng điệu này rồi. Châm chọc, chê bai rồi gã cười. Cười chán cười chê, cười đến trào nước mắt. Rồi gã giật mình, tỉnh ngộ. Lại buồn, lại hoài cổ, hoài quê... Thân phận gã đâu khác thân phận Tễu kia chứ ?!
                      Khi ngồi với vài ba bạn bè thân mật, lúc ngồi riêng với tôi, Phạm Công Trứ không tiếc lời khen chúng bạn, rằng ông này nhàn, cậu kia thì sướng, tay nọ khôn ngoan...chỉ riêng gã là khổ. Cơ khổ. Rằng cái mặt gã ... ý muốn nói là khó coi, khó chơi, hãm tài ... ! Có phải vậy không ? Có lần tôi giở trò chữ nghĩa suy luận, mang tên gã ra chiết tự mà đoán : Trứ , có nghĩa là sự rõ ràng, còn chỉ sự soạn thuật, làm văn, làm sách ( theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ), chữ này bao gồm chữ giả và bộ thảo đầu. Giả ở đây là chỉ người ( như học giả, hiền giả ), còn bộ thảo chỉ cây cỏ . Vậy là kẻ đội tên Trứ muốn thành giả ( như tác giả thi ca chẳng hạn ) là phải nhập vào cây cỏ. Chẳng trách, thoạt đầu gã thành danh là nhờ cỏ may. Rồi để nổi tiếng hơn lên, gã phải gắn với trâu, với cỏ, rồi hóa thân vào Bờm, vào Cuội, vào Tễu, toàn những loại gần gũi thân thuộc với thôn xóm, với chuyện cỏ rơm và công việc nông phu.
                      Phạm Công Trứ nghe. Gã gật gù cười ra chiều tán đồng, lại như nghi ngờ. Thì cũng là chuyện vui thôi mà. Định viết thêm về gã, song thấy chẳng hơn gì gã tự bạch rất ngắn gọn : " Đúng là/ Hồn gửi ngõ quê/ Xác chôn hẻm phố/ Chưa giây phút thăng thiên/ Đã đôi lần thất thố/ Nhờ câu thơ làm tin/ Lấy đức năng thắng số/ Sớm muộn trời gọi mình/ Việc chi mà lo sợ ".
                      Không những thế, ở phần V bài Thơ phú giao duyên , gã thẳng thắn tự giễu cợt mình : " Nửa kim nửa cổ/ Dăm câu trần tình/ Vừa thơ, vừa phú/ Chắp nhặt linh tinh/ Nếu có điều gì/ Xin được lượng thứ/ Hoặc nữa : chấp chi / Hắn-Phạm Công Trứ ! ".
                      Gã đã chơi bài ngửa, trắng phớ trước bàn dân thiên hạ.Trước tiên, gã lấy bản thân ra mà châm biếm cái đã ( kiểu như cụ Tú Xương, người cùng quê Nam Định với gã, tự rủa mình là kẻ cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi lường, rồi mới xỏ đổng thiên hạ ; hoặc như bạn thơ cùng thời là Trần Đăng Khoa, trước khi chê cả làng văn chương thì hạ mình tự nhận là kẻ vô tích sự ). Đến ngay cái thân mình cũng chẳng buồn nương tay, thề thì thương xót và nương nhẹ ai đây ?!...
                      Giờ thì gã đã nghỉ hưu. Riêng cái nghiệp làm thơ thì không nghỉ được, bởi nó ám vào thân rồi. Thi thoảng vẫn thấy thơ gã xuất hiện ở đâu đó. Mỗi dịp tết nhất, thơ gã vẫn bán đắt cho một số tờ báo lớn. Đủ thấy, tên tuổi gã vẫn có giá...


                       
                      #86
                        tamvanvov

                        • Số bài : 602
                        • Điểm thưởng : 0
                        • Từ: 26.08.2009
                        • Trạng thái: offline
                        Re:Dùng dằng phận cối, nhọ nhem phận nồi 02.05.2021 19:07:21 (permalink)
                        Như sóng đập bờ đá ngàn năm.
                        Truyện ngắn của Nguyễn Chu Nhạc
                        Ở tuổi này khi ta được trần như nhộng và tại cái giây phút ấy, rất bất ngờ ta chợt nhận ra rằng tất tần tật những ngày tháng trước đó của ta cũng đã tuột trôi vĩnh viễn vào quá khứ; và một thế giới mới mở ra như xà lim phòng tối không hề ánh sáng!
                        - Đời như sóng đập bờ đá ngàn năm
                        - Tưởng tượng và ngẫm rằng: ta vừa thoát ra khỏi phòng tối sau một tháng trời cầm giam (thử xem...) - ta không thể nào nhận nối ra chính ta - ta đã thành người khác !… Cái đêm thứ năm tuần mới rồi mà hôm nay mới là thứ hai đầu tuần, bật thức và chưa tỉnh hẳn sao ta lại nghĩ đến chuyện khua bàn phím? 
                        Chỉ tại cái đêm thứ bảy ở Điền Lư ...; cái đêm cám sáng giật mình tội lỗi khi bước chân vào toilet lúc tinh mơ – trời ạ, bao nhiêu là xac chết thiêu thân... cả những thân tàn xác dại côn trùng vô thức ấy đang rẫy rụa rụng cánh nơi chân tường lạnh bẩn kia… Vâng! Chỉ tại ta thắp bóng sáng qua đêm… Ta đâu có nghĩ cửa sổ mở thoáng khí trong nhà vệ sinh… Cũng chẳng nghĩ quy luật sinh tồn, quy luật đào thải tự nhiên này nọ
                        Ôi ánh sáng nhân tạo… Ánh sáng của con người mà; ta là một dạng ánh sáng ấy ư(?)
                        Ôi ! Cái đêm Thứ Năm ấy; Sao em lại đến với ta …và nóng bỏng như vậy?.
                                 Ta chợt nghĩ rằng nếu ta có được năm mươi năm ở tù thì mình cũng trùng khớp ý nghĩ và khát khao của thằng già tù khổ sai kia! Đừng cho ta được mãn hạn khi ta không muốn ra ngoài; ta rất không muốn được sống trong ánh sáng phát minh của con người,
                        Chỉ mới một đôi lần cảm sáng như trên mà sao ta cứ quẩn quanh nghĩ ngợi lung tung như vậy.
                        Ta quả đúng không phải là thức dạng loại ánh sáng nhân tạo ấy! Em đừng lao vào ta như thế…Ta thật tâm xin em hãy cùng nghĩ như ta rằng cứ tồn sinh mà vui sống trong thứ ánh tự nhiên của trời đất như Hàn Thi-sĩ ngợi ca rằng Trăng là ánh sáng mãi thơm thơm và ngọt ngào. Em đây cũng là thứ ánh sáng ngọt ngào thơm thơm. Hãy cho ta thưởng hưởng từ xa…
                        Ta hứa yên tâm thụ hưởng… Một đời!...
                        Lão viết những như thế trên trang của mình ở mạng xã hội, khi lão ngồi lì cả tiếng đồng hồ trong toilet bởi căn bệnh táo bón cố hữu. Tối hôm trước, trong trạng thái bâng lâng của rượu, lão chát với người bạn gái vứa mới quen thì cô ả chỉ yên lặng trân trối nhìn cái đầu bạc như cước và cái miệng dẻo quẹo của lão hót như khiếu. Chán, lão ngủ trong cơn mộng mị. Choảng tình lúc hơn 4 giờ sáng. Lão vớ máy chát với cô ả, Hình như thị cũng không ngủ được, nhìn lão bằng cặp mắt thâm quầng, bợt bạt thiếu son phấn, không lên tiếng ngoài chút ầm ừ trong cổ họng. Lão thì thào dỗ ngon dỗ ngọt một hồi với cái hình chập chờn của thị trong màn hình, cho đến khi người bạn văn ngủ cùng phòng khách sạn trở mình càu nhàu "Bác có cho em ngủ không đấy?". 
                        Lão cụt hứng, tắt máy, tự nhiên thấy mót đại tiện,...
                        ***
                        Chốt cổng cận thận. Dắt chiếc xe máy tay ga vào nhà. Bật điện sáng choang. Thấy lão vẫn ngơ ngác, ngó nghiêng nhin quang cảnh nhà vườn, thị giục lão:
                        - Kìa anh, vào nhà đi chứ. Đứng đấy để người ta thấy à. 
                        Lão như cậu bé con, bẽn lẽn bước vào nhà, cười biết lỗi. Thị khép cửa, chốt khóa, cẩn thận kiểm tra. Lão đứng giữa nhà, nhìn quanh quất, chưa biết phải làm gì. Căn nhà ba gian, ngăn nắp gọn gàng, một gian chia buồng, hai gian trống, giũa để thờ, gian bên để giường được ngăn cách bằng ri-đô. Kiểu nhà thường thấy ở nông thôn. Thoàng chút chấn chừ, thị tay nắm tay lão, tay kia mạnh dạn đặt lên vai lão, đi giật lùi dìu đến chiếc giường bên, thoắt trở người, ấn lão ngồi xuống mép giường. Thị ập vào ngồi lên hai đùi lão, vít đầu lão hôn cuống quýt tràn mặt lão. Lão thụ động, chiều theo, đầu thoáng nghĩ, cả đời lão từ trẻ trai đến tuổi thất thập lẻ, dày dạn tình trường nhưng chưa một người đàn bà nào lại chủ động táo bạo nhu thị với lão lúc này... Lão đảo mắt quanh, ý bảo thị là đèn nhà sáng choang thế không ngại à. Thị hiểu ý bảo:
                        - Cứ để đèn sáng... mới chập tối mà tắt đèn, hàng xóm họ nghi.... Với lại, lâu lắm rồi... em thèm nhìn thân thể của đàn ông...
                        Thị đẩy lão nằm ngửa xuống giường, khi lão còn chưa hết ngạc nhiên. Lão mò lên tận đây, thị ra điểm hẹn đón lão đưa về nhà thị, chốt kỹ cổng cửa, vật ngửa lão xuống giường, đương nhiên cả hai đều hiểu họ sẽ làm gì với nhau, nhưng sấn sổ thô bạo cỡ này thì lão mới thấy lần đầu. Lão nhe răng ngô nghê, hai chân còn vắt xuống đất, trân trân nhìn thị vội vàng cời bỏ áo quần trần truồng áp sát, tỳ hai chân thị vào hai chân lão. Lão ngắm thị lõa thể, như bức tượng thạch mĩ nữ lão từng thấy ở viện bảo tàng trong một lần lão đến Paris. Tự nhiên lão ớn người, cứ nguyên quần áo thế, bởi lão sợ mình không nên trò trống gì. 
                        - Kìa anh,... sao thế ?...
                        Thị nhắc lão bổn phận của mình. rồi không ngần ngại, thị cởi bỏ quần aao của lão. Lão làm theo như một cái máy. Khi trên người không còn mảnh vải, lão chợt nhìn những vết nhăn nheo điểm những mảng thâm đen di chứng xuất huyết dưới da, ngượng nghịu. Thị xoa khắp người lão, dỗ dành như dỗ trẻ con "Không sao đâu anh". Lão nhìn xuống bộ hạ của mình, cứ gật gù như gà bị cắt tiết, không ngỏng lên được, 
                        - Anh xin lỗi,...
                        - Để em giúp... tuổi như mình thế này là khá lắm đấy... Nào, từ từ thôi mình,...
                        Tay thị mân mê, xoa nắn bộ hạ của lão. Người lão nóng dần lên. Lão lập bập hôn từng bầu ngực thị. Vú thị kiểu bánh dầy, nên ngoại năm chục vẫn không bị chảy sệ, cương lên như vú con gái. Môi lão đánh vật với cặp vú bánh dầy một hồi, lão hăng hái lên, khiến đôi tay thô xương gân của lão nhậy cảm hơn, linh hoạt xoa lưng và phàn dưới của thị. Khác mọi lân, khi hăng tiết vịt, lão nổi máu yêng hùng làm chủ cuộc chơi, nhưng lần này lão lặng lẽ cam chịu để thị làm chủ dẫn dắt, bời lão biết, nếu mình không biết kiềm chế cảm xúc, lão sẽ nhanh tiết dương và như vậy cuộc chơi sẽ mãn nừa chừng, thị chưa tới đỉnh thì coi như lão thất bại thảm hại. Và như vậy, lần gặp đầu tiên sẽ là lần gặp cuối cùng của hai người... Lão thả lỏng, đầu óc thư giãn, mặc thị nắn bóp, cấu véo khắp người lão... Thị hực lên ngồi trên người lão chúi người, tự tay cầm cái chuôi búa cứng của lão chà vào lõm giữa hai bầu vú của thị một hồi, rồi ấn vào cái của thị. Lão nhìn lên trần nhà, đưa mắt tìm kiếm xem có cái mạng nhện nào không. Còn thị cứ oằn oại trên bụng lão, cố nén tiếng rên khoái cảm, song nó vẫn bật ra ứ hự... Cho đến khi, thị mệt nhoài, đổ ập xuống dán vào người lão, mặt áp mặt, thị thè lưỡi đấu vào lưỡi lão... và thầm thào kêu sướng quá... Lão nhoẻn cười, tinh quái nghĩ, thị đã bại dưới tay lão....
                        Lặng ắng chút. Lão nghe rõ tiếng thị thở mệt, nhịp thở của sự thoải mãn. Cả tiếng đập của tim thị lão cũng cảm nhận được thấy sự thỏa mãn. Chợt thị nhỏm phắt dậy, nhìn chằm chằm vào mặt lão, rồi nhìn xuống bụng dưới của mình, ngạc nhiên thấy cái cán búa của lão vẫn cắm sâu vào cái của thị...
                        - Ơ, anh vẫn chưa... sao à ?
                        - Sao là sao?... 
                        - Của anh vẫn y nguyên như ... chưa ấy....
                        - Thì y nguyên... ý em là... anh bị em dứt mất rồi à?...
                        Lão cười trêu thị. Thì ngồi xuống bên lão, vẫn giữ lão nằm ngửa, tay vuốt ve cái cán búa còn cứng của lão... khẽ cười,
                        - Ôi... của anh thật tuyệt,... Tuyệt quá, anh ơi...
                        - Em muốn nữa không ? Anh chiều,...
                        - Thôi anh... Em mệt... với lại, cũng sướng lắm rồi.... Để dành... còn cả đêm nay nữa mà anh... Giờ ăn cái đã. Em đói ngấu rồi... Chắc anh cũng đói,...
                        Thị vùng ra, mặc quần áo nhanh như lúc cởi ra. Lườm yêu lão, thị giực:
                        - Mặc quần áo nghiêm chỉnh đi anh. Đợi em mươi phút, em hâm nóng thức ăn rồi mình ăn, anh...
                        Lão mặc quần áo, vô tình để mắt vào tấm ảnh chồng thị trên bàn thờ, và lúc này lão mới cảm nhận được mùi hương nhang mới thắp... Dù đang lúi húi bên bếp, thị vẫn cảm nhận thấy, bảo:
                        - Anh ấy nhà em mất đã dăm năm nay, em cũng thờ chồng chăm con ngần ấy năm chu toàn... Giờ các cháu đã trưởng thành, cả ba đứa đều có gia đình, có công ăn việc làm cả... em mới dám nghĩ... này nọ... Chiều nay, được tin anh lên,... em sửa cái lễ khấn xin anh ấy thương tình lượng thứ cho... 
                        Bữa ăn được sắp ra. Hai người đối ẩm, nhấp chút rượu thuốc. Thị gắp thức ăn bỏ bát lão, giục ăn. 
                        - Rượu bổ thận tráng dương đấy... Ạnh uống đi... Dạo trước, anh nhà em yếu xìu, em phải tìm thuốc cường dương ngâm tẩm bổ cho anh ấy... dưng mà. chẳng ăn thua gì... Từ ngày anh ấy bỏ em mà đi, em bê cất luôn vào buồng kín... đã có lúc tính bỏ đi... nay vừa lôi ra đấy... Em biết, anh chẳng cần rượu bổ cũng hoành tráng lắm rồi....
                        Thị cười lục khục trong cổ. Lão vênh mặt tự đắc, cười kẻ chiến thắng. Thị có biết đâu, trước đó, lão đã ngầm uống mấy viên thuốc trợ lực đông y lão vẫn quen dùng mà bà vợ bác sĩ của lão kê cho, mỗi khi phải lâm trận
                        Thị luôn tay gắp thức ăn bỏ vào bát lão. Lão nhai, trệu trạo như bò nhai cỏ khô. Chẳng thấy ngon gi, chỉ thấy khát. Thị ăn chiếu lệ, buông bát, bảo:
                        - Anh cố ăn đi mà lấy sức... Em đủ rồi... nhìn anh đã thấy no... Chỉ thèm mỗi...của nợ anh thôi,... - Thị bụm miệng cười,...
                        ***
                        Bàn ăn dọn đi. Hai người ngồi uống nước. Lúc này, lão mới ngắm kỹ gương mặt thị. Thị không xinh nhưng khuôn mặt dễ ưa với cách trang điểm nhẹ. Ở tuổi ngoài năm mươi, thị vẫn giữ được dáng người thon gọn. Trước đấy vừa đùng một tuần, hai người mới lần đầu làm quen với nhau qua ứng dụng hẹn hò của một mạng xã hội. Lão làm quen với ứng dụng này nửa năm nay, cũng đã thả tìm, tán tỉnh, à ới với vài ba người đàn bà nạ dòng, cao tuổi hơn thị, nhưng chằng đi đến đâu. Dẫu thế, lão có chút từng trải với loại hình mới này/ Còn thị, thị bảo, bạn bè bày cách nhưng thị ngại, sợ con cháu biết chê trách, sợ phiền hà này nọ, sợ hàng xóm làng giềng cười nhạo. Chồng chết dăm năm nay, thị nghĩ mình cũng đâu trẻ trung gì, an phận thờ chồng, giữ gìn không điều tiếng gì. Giờ hẹn hò kiểu này, chỉ là mốt thời thượng, đú theo đám đàn bà rửng mỡ, ngộ nhỡ sao thì mất toi công nênh "tiết hạnh khả phong" bấy lâu nay,  sao đành,... Nghĩ thế, nhưng rồi sự tò mò, bản năng lấn át, thị vào trang hẹn hò... Trong số hàng chục nhân sự dược hệ thống gợi ý, thị xem kỹ hình ảnh, giới thiệu tóm tắt, rồi quyết định thả tim cho lão. Thực tình, đã có vài ba người thả tim cho thị nhưng thị không đáp lại. Sở dĩ thị chủ động chọn lão, bởi lão có mái tóc bạc như cước, và khuôn mặt góc cạnh, đàn ông, vẻ cương trực, quyết đoán. Thị bị hấp dẫn bởi mẫu đàn ông như vậy, bởi cả đời thị đã phải sống với người chông bạc nhược, thụ động từ công việc đến chuyện tình dục. Thêm nữa, ở phần tự giới thiệu về mình, lão còn đề từ câu thơ "Đời như sóng đập bờ đá ngàn năm/ nhưng với em ta chẳng bao giờ nhàm chán/ dằng dặc đường đời dẫu bước chân ta nản/ em luôn kà bến đỗ của đời ta...".  Ôi, đọc và ngẫm nghĩ. thoạt cớ gì đó hơi sến, nhưng rồi mường tượng, thị thấy con người này ẩn chứa sự thú vị. Qua vài lần tâm sự, thị bị lão hấp dẫn, bởi những ấn ý trong mỗi lời lão nói, thật thật, ảo ảo, đầy khơi gợi. Thuận lợi nữa, tuy lão sống ở thủ đô, nhưng quê lão gần ngay quê thị, ngày nhỏ cùng uống nước một dòng sông, và lão cũng hay đi về. Nếu nên cơm cháo gì, cũng tiện đôi đường...
                        Mới đầu tuần, lão nhắn sẽ lên thăm thị. Thị thách, lão bảo "chớ thách nhà giàu húp tương". Thị hẹn đại cho xong, nhưng lão đến thật thì sao, bèn dặn, có đến thì cứ giữa tuần, bởi cuối tuần, con gái lờn thị lập gia đình sống ở thành phố, con gái út học đại học ở chung với chị, con gài giữa cùng gia đình nó sống ở thị xã, thường cuối tuần, thay nhau, có khi cả ba cùng về quê thăm mẹ. Phiền lắm. Hẹn đại, song thị cũng có ý chờ. Mấy ngày thị chẳng làm nổi việc gì cho ra hồn, tâm trạng ra vào mong ngóng, đợi chờ, rồi tự giễu mình vớ vẩn .... Sớm ngày thứ năm, khi thì còn oằn oài chưa muốn dậy bời đêm qua, đợt gió bắc cuối mùa, rét Nàng Bân, thì lão gọi, bảo lão ra bến xe về quê, chiều viếng đám hiếu người chị họ xong, lão tiện đường tìm nhà thăm thị, cần thị chỉ đường cụ thể. Đột ngột, thì từ chối thì lão bảo, sẽ lật tung cái xã nhà thị để tìm, thì chịu thua, dặn là, khi nào lão xong việc, alo, thị chỉ điểm hẹn gần đấy rồi phi xe ra đón. Thị vùng dậy, ra chợ, mua thực phẩm ý thức làm cơm đón lão. Bữa trưa, tiện bếp thị nấu nhiều hơn mọi khi, dành riêng thức ăn cho bữa chiều, ăn qua quít cho xong. Nằm ngả lưng mà chẳng sao ngủ nổi vì hồi hộp. Cả chiều, nghĩ quanh ra quẩn vào, vưa mong ngóng vửa mở tủ quần áo, lựa chọn ra mấy bộ. nhẩm tính, bộ nào mặc khi đi đón lão, bộ váy nào mặc ở nhà sao đẹp và gợi cảm. Chiều muộn, chưa thấy lão gọi, thị sốt ruột mấy lần bấm máy định gọi cho lão, nhưng ngại lại thôi. Lão không đến được cũng tốt thôi, vì thực tình, thị ngại phiền hà. mang tiếng. Lúc lão gọi. thị hơi hoảng vì trời còn sáng. Thị chỉ điểm đợi, dặn lão ở đấy thêm chút nữa, đợi trời nhá nhem tối. Khi nào thị bắt đầu đi đón thì nhắn để lão đi bộ ra là vừa. Thị trang phục kín mít, đeo kính đen, khẩu trang kín mặt, như ninja, phi ra điểm hẹn trong sự hồi hộp phấn khích. Dọc đường, thị quan sát ngõ lối và có ý tránh giáp mặt người quen. Gần đến điểm hẹn. thị thấy người đàn ông cao tuổi đứng đó, áo sơ mi hoa, khoác ngoài gi-lê kiểu ký giả, tóc bạc. kính đen. Thị nhận ra lão ngay, giảm ga rà xe máy tới gần. Lão cũng nhận ngay ra thị, hời "Có phải Lụa không em?". Thị mừng: "Vâng, em đây... anh ". Thị chụp chiếc mũ bảo hiểm lên đầu lão, cuống quýt giục lão ngồi lên xe, phóng nhanh đi. Dọc đường, lão hỏi han, thị bảo, đợi về nhà hãy nói, bởi thị còn tập trung quan sát đường, né nguồi quen. Thị không muốn bất cứ một ai trông thấy thị chở một người đàn ông lạ mặt dù đầu bạc trắng về nhà. May ngõ nhà thị gần đường, lại đúng tầm các nhà đang bữa tối, nên không gặp ai. Chốt cổng xong, thị thở phào bớt lo. Chuyện vụng trộm nên khổ thế....Tự nhiên, thị thấy rực người thèm muốn xác thịt... Bao kìm nén bấy lâu vỡ bục ra, lan khắp người, dâng đắng họng, ngợp thở ...
                        ***
                        Tiết cuối xuân, đầu hạ, lại đợt gió mùa vớt nên trời se lạnh. Chuyện vãn một hồi. Lão quen chứng nói to vì nghễnh ngãng, khiến nhiều lần thị phải nhắc khéo hạ bớt volume bời sợ hàng xóm nghe thấy. Thị cẩn thận kiểm tra khóa cổng, cửa lần nữa, thắp nén nhang mới trên bàn thờ, rồi trở vào buồng trong. Lát bước ra diện chiếc váy ngủ màu xanh ngọc, ngượng nghịu. Lão ngắm thị đắm đuối. Lúc chập tối, hai người mải bập vào nhau, vội vàng quần thảo nhau nên lão chưa kịp ngắm kỹ. Giờ lão thấy thân thể người đàn bà ngoại năm mươi, mẹ của ba đứa con gái, bà ngoại của mấy cháu này vẫn hấp dẫn lắm. Da thịt trắng trẻo, béo lẳn, đang độ hối xuân rừng rực, cảm giác như gái nạ dòng tứ tuần thôi. Thị tắt đèn phòng ngoài, dắt lão vào buồng ngủ. Của phòng ngủ vừa khép, lão đã vòng tay ôm riết thị vào lòng, hôn hít từ tung. 
                        Lần này, lão chủ động, còn thị thả lỏng, hưởng thụ, mặc kệ lão. Đang cơn đê mê, thị chợt nghĩ, hăng quá không khéo chưa đến chợ lão đã hết tiền. Thôi thì cứ phương châm "năm xu hơn một hào" cho chắc ăn, bèn khẽ đẩy lão ra, nhắc khéo:
                        - Từ từ thôi nào... đêm còn dài mà, anh... 
                        Lời thị khiến lão tỉnh táo. Cả hai đứng sát người, giúp nhau cởi bỏ quần áo. Lão hà hít cảm nhận mùi nước hoa, mùi da thịt đàn bà lạ từ chăn nệm... Thị nằm ngửa, khẽ dạng cặp đùi, lim dim mắt tận hưởng sự vuốt ve của lão. Chợt nhớ, lão hỏi:
                        - Sao ban nãy, em khéo thế?... Anh tưởng đầu hàng... vậy mà em làm cho súng ống của anh ngỏng nòng được... lại dai... mãi không thèm nhả đạn nữa chứ... Oách.
                        Thị cười không thành tiếng, khuôn mặt rạng lên, ửng hồng. Tự nhiên, lão không ưa cái vẻ mặt đầy vẻ tự đắc của thị, và cảm thấy mình yếu thế:
                        - Em có vẻ thành thạo nhỉ?... Này em, anh là người thứ mấy của em rồi?...
                        - Sao anh? ... Ý anh là... em là loại đàn bà nay người này... mai kẻ khác?...
                        Thị nhỏm phắt dậy, hất tay lão khỏi người thị. Mặt thị hiện vẻ hằn dỗi. Lão biết mình nhờ lời:
                        - Ý anh không phải thế... là anh... khen em giỏi tâm lý ấy mà... Đừng hiểu sai thiện ý của anh... Thôi mà, anh ngàn lần xin lỗi ...
                        Lão chủ động làm lành, vòng tay ôm ghì lấy thị, bịt miệng thị bằng một cái hôn, rằn thị xuống, chồm lên người thị, phủ dụ bặng một trận hôn hít từ trên xuống dưới, loanh quanh một hồi, lại từ dưới lên. Thị rên lên sung sướng. Chợt thị vùng dậy...
                        - Khoan đã anh... đợi em chút đã,...
                        Thị với tay, mở ngăn kéo, lấy viên thuốc, bỏ miệng, chiêu nước uống... Cười.
                        - Em phải uống thuốc tránh thai cấp kỳ... tháng em vẫn đều... Cứ phòng thế cho chắc... ngộ nhỡ ễnh bụng ra thì chết... biết giải thích thế nào với con cháu... Điện nước đầy đủ cũng phiền hà thế,...
                        Lão chỉ biết nhìn thị cười nhăn nhó. Nhưng cũng may, sự giảm hưng phấn làm cho lão kéo dài cuộc chơi. Cả hai lâm trận, vầy vò, vật lộn nhau, lên xuống, xuôi ngược đủ kiểu, chăn đệm nhàu nát, mình đẫm mồ hôi, cho đến khi thị cong tớn người, ằng ặc, có kìm nén để không rú lêm. Lão rền rứ, vào ra chán, rồi dồn toa hùng hục liên hồi kỳ trận, rướn người, hổn hển, từ từ ập dán xuống người thị, nẳm im... Thị cũng lịm đi... 
                        - Anh... anh ơi... em chưa bao giờ thích như thế này... em biết ơn anh nhiều. nhiều lắm...
                        Lão vẫn nằm im, bất động trên người thị. tận hưởng cái sự thì thào bảy tỏ cảm xúc và lòng biết ơn của thị... Cũng lâu rồi, lão mới thống khoái như thế...
                        - Anh, anh ơi... anh mệt à... anh có sao không?
                        Nghe giọng thị có vẻ lo lắng, lão định giả vở xỉu để dọa thị, nhưng nghĩ lại thôi. Làm vậy thị sợ, nhỡ đâu thị hoảng rồi cụt hứng luôn thì toi cơm cháo...
                        - Không... không sao, em... là anh muốn nghe em nói thôi... Em nói hay quá... hay như đài ấy... - lão hài hước để thị bớt lo.
                        Lão nằm xuống bên cạnh thị, ấp người vào nhau. Lão cảm nhận chiếc lưỡi mềm ướt của thị lướt khắp mặt lão. Thị khẽ sụt sịt khóc vì sung sướng hạnh phúc. Cái giống đàn bà đến lạ, chỉ một cuộc làm tình cao trào thỏa mãn mà đã thấy hạnh phúc rồi. Lão nghĩ vậy, hỏi thị muốn nữa không. Thị cười, đụng nhẹ cái cái cán búa của lão đã mềm oặt bảo:
                        - Chỉ tinh tướng thôi, bố già của em ạ... Em đùa đấy, anh vừa mới, mệt chết... ngủ chút đi anh. 
                        Lão nịnh, bảo muốn nghe thị nói. Thế là thị kể, chồng thị trước đây sớm bệnh tật, dăm năm trước khi mất, sinh lý yếu lắm, ngại quan hệ với vợ Mỗi lần thị muốn, lại phải dỗ dành, trợ giúp đủ cách anh ta mới làm tình được chút Cứ vậy, thị đâm thành thạo cách vỗ về thằng nhỏ, chứ nào thị có biết người đàn ông khác ngoài chồng. Cho đến giờ duyên tình xui khiến thế nào cho thị gặp lão... Lão an ủi, giờ lão sẽ đền bù cho những thiệt thòi tỉnh cảm của thị những năm tháng qua. Thị cười biết ơn, ấn ngón tay vào trán lão đay:
                        - Nhớ đấy nhé...nói lời chớ có nuốt lời... Em sẽ cho anh biết tay. Em sẽ nuốt chửng anh... Nhưng mà, anh ơi... mình xa cách nhau thế này,... Anh đến đây với em là cả một sự phiền hà? Mà em thì chẳng dám về thành phố thăm anh đâu... Em sợ lắm... Lại còn vợ con anh chứ... Em thế này là đi cướp chồng người rồi đấy... 
                        Lão bịt miệng thị, xưa đi nỗi băn khoăn lo lắng của thị bằng một trận hôn túi bụi. Lão mút hai bầu ngực trắng ngần của thị như trẻ con khát sữa. Lão nâng đầu thị gối lên vầng ngực vẫn còn khá rắn chắc của mình. Lão mơ màng. Tự nhiên lão nhớ Tú Trinh. Mới chỉ mấy tháng trước thôi, lão cũng để nàng ta gối đầu vào ngực lão thế này...
                        ***
                        Lão tình cờ biết Tú Trinh từ dăm năm trước, khi dự một đám cưới ở quê. Cưới đứa cháu gọi lão bằng ông, bố mẹ nó nằn nì nhờ lão dẫn chương trình lễ cưới, mà việc này là sở trường của lão. Ngoài khả năng ứng biến, lão hay cao hứng trích dẫn thơ tình của mình, của bạn bè mình vào những tình huống hợp lý nên nhiều người thích. Tan cuộc, có một nàng cỡ tứ tuần gặp lão, tự giới thiệu, làm quen, khen lão nói hay. Lão phổng mũi, tán dương nàng này nọ, rồi xin số điện thoại của nhau. Cô nàng nhan sắc bình thưởng nên lão không mấy để ý. Tưởng vậy thôi, không ngờ sau đó ít lâu, nàng ta nhắn tin cho lão. Nhắn qua nhắn lại, thành thân nhau. Thấy nàng bảo yêu thơ, lão bèn lập cho nàng trang cá nhân trên mạng blog, và còn chỉ dẫn nàng vào trang của nhà thơ này, nhà văn nọ là bạn mạng xã hội với lão. Nàng tập tọng làm thơ, lão chỉnh sửa giúp để nàng đăng trên trang của nàng. Một ngày đẹp trời,  nàng bày tỏ tình yêu với lão. Nàng là chủ một doanh nghiệp nhỏ, thuộc một doanh nghiệp lớn. Chồng nàng làm việc xa nhà, năm đôi ba lần đáo qua. Lâu ngày, chán nhau, li thân. Đứa con gái duy nhất của nàng sống với mẹ nàng là chính bởi nàng cũng đi suốt. Tình cảnh nàng vậy nên lão cám cảnh sinh tình, bời kinh tế khá giả đấy, nhưng đời sống tình cảm, tình dục thiếu thốn. Rồi một lần, lão nhận cú điện của nàng, hẹn lão đến gặp nàng tại một khách sạn hạng sang cách nhà lão không xa. Lão tìm đến và hai người lao vào cuộc mây mưa long trời lở đất. Nàng khát thèm lâu ngày còn lão say tình mới. Cứ thế, lâu lâu một trận theo tần suất công việc của nàng ở thành phố, thành bện hơi nhau. Cuộc tình vụng trộm nhát gừng kéo dài mấy năm nay. Lão ít nhiều nhàm chán, có phần mệt mỏi, và cảm thấy sợ sự đòi hỏi xác thịt quá mức của nàng. Nàng đang độ chín của tình dục. Mỗi lần gặp nhau, nàng chuẩn thị thuốc tăng lực cho lão, quần thảo lão lên bờ xuống ruộng. Sau một lần như vậy, lão mệt bã người cả tuần mới hồi sức. Nàng cảm nhận được điều đó nên có lần nàng an ủi bảo là nàng đã bóc lột tình dục lão. Lão nổi máu yêng hùng bảo không sao. Nàng cón muốn lão phải có một vài bài thơ nửa kín nửa hở bày tỏ tình yêu với nàng đăng trên trang của lão...  Lão chiều hết, nhưng cảm xúc và sức lực có hạn. Gần đây, nàng công du châu Âu và mắc nạn dịch Covid may mà không sao, thoát được về. Khi gặp lại, nàng như hổ đói lâu ngày, ngấu nghiến ăn gỏi lão. Lão cạn kiệt, ý nghĩ chợt thoáng. nếu mình thoát xác trên bụng nàng thì sao nhỉ? Mình thì chẳng sao, chó chết hết chuyện, nhưng vợ con mình hẳn chịu tai tiếng... Lão chùn nhụt, nhất là khi nàng nửa đùa nửa thật, rủ lão theo nàng ra nước ngoài...
                        Vài tháng thôi, giờ đây lão đã du ngoạn đào tiên với người đàn bà khác. Nghĩ, đàn ông tệ bạc thật. Nhưng đàn bà thời nay, cũng đâu có kém cạnh gì. Ngẫm, chuyện đực cái của con người ta, xưa như trái đất, cuộc đời như sóng đập bở đá ngàn năm, chẳng có gì mới mẻ, ức triệu con sóng xô bờ, thấy na ná nhau cả, nhưng chẳng có cái nào giống in hệt cái nào, chỉ cần li ti chi tiết khác thì cũng là cái khác rồi. Lão nhẩm tính, đã bao nhiêu đàn bà qua tay lão, ăn nằm với lão, na ná nhau đấy nhưng với mỗi người đều có sự khác biệt. Lão sắp xếp thành bộ sưu tập của mình,...
                        - Anh ngủ à?... Hay nghĩ gì đấy?
                        Thị chợt nhỏm đầu nhìn mặt lão, thấy lão vẫn mở to mắt nhìn đâu đó, thị cười. Rồi thị kéo chăn che phủ trạng thái nuy của mình, xoay lưng lại với lão ngủ. Lão nhắm mắt, suy nghĩ miên man,...
                        Một người đàn ông bước vào, nhìn chằm chằm vào mặt lão: "Chú em đấy à... Ta còn nhớ, chú em tên Vĩnh thì phải... Còn nhớ ta không?". Lão ú ớ "Anh là, là... Nhớ rồi, Nghĩa...". Người đàn ông cười nhẹ "Vậy là chú em vẫn nhớ tên ta... quên là ta phạt đấy,". Người đàn ông nhìn quanh quất: "Lâu quá rồi nhỉ.... ngày ấy, chú em trẻ măng.... Chú em sống thế nào? ... Ta hỏi chơi vậy thôi, cứ nhìn chú em lúc này ta biết... Đầu bạc trắng thế kia, mà tình duyên vẫn tràn trề... ". Lão rúm người lại. Người đàn ông cười bảo "Chằng bù cho ta, cưới vợ được mươi ngày thì đi... vừa biết mùi đời, bén hơi đàn bà đã biền biệt, trân mạc triền miên... cho đến lúc về nằm nghĩa trang quê nhà còn một nhúm xương tàn lẫn lộn...". Lão nhăm nhó "Tôi nhớ rồi, cái đêm ấy,... anh Nghĩa,,, tôi với anh nằm chung một giường bệnh...". Người đàn ông buồn: "Đêm ấy... Lúc ta đi... định chào và nhắn gửi chú em một câu... chú em ngủ say quá... ta không nỡ đánh thức... Người lính trận, có được một giấc ngủ ngon là quý vô cùng... Nay gặp lại chú thế thôi. Ta đi đây.... À, lời ta định nhắn chú cái đêm ấy, ... chưa kịp, nay tiện nói, đời con người ta ấy mà, cũ mèm, chẳng có gì lạ cả, nhưng cũng luôn mới... cười... cứ như ta đây, kể từ khi hai ta tình cờ gặp nhau ở binh trạm, ... Còn ta vẫn thế, không cũ mà chẳng mới...Người chết muôn năm chẳng đổi...". Người đàn ông quay người trở ra, thoảng mất hút... Lão còn chưa kịp chào... Choảng tỉnh giấc, định thần, thì ra lão vừa chợp mắt. Trong ánh đèn ngủ, thị vẫn nằm cạnh lão, mái tóc xoăn của thị xòa trên gối, chạm nhẹ vào má lão...
                        Trong bóng chiều chạng vạng, Vĩnh được đưa đến một trạm y tế ở vùng giáp ranh thuộc đất Quảng Bình biên giới Việt Lào. Vĩnh bị vết thương phần mềm, lại thêm sốt rét. Gian bệnh nhân có vài chục người, chật chột. Vĩnh được xếp nẳm chung với một bệnh binh sốt rét nặng, đoán chừng hơn Vĩnh vài tuổi. Anh ta sốt rét nặng. Lúc chập tối, anh ta còn tỉnh, hai người hỏi han tên tuổi, quê quán và gia đình của nhau. Đêm ngủ, Vĩnh nằm úp thìa, trong cơn thức ngủ chập chờn, quờ tay ôm lấy anh ta, rồi thiếp đi,,, Mờ sáng, nghe chim hót, tỉnh ngủ, thấy anh ta vẫn nằm nguyên tư thế cũ, lay gọi thì thấy người anh ta lạnh toát, đã mất từ lúc nào chẳng biết... Sau này, suốt chặng đường quân ngũ, cho đến thời bình mãi sau, Vĩnh vẫn nhớ về cái đêm ấy mình đã ôm người chết mà ngủ. Ngày ấy. chẳng biết sợ là gì, lạ thế !... Lão cho rằng mình may mắn hơn người lính tên Nghĩa kia vì được ở lại cõi đời này...
                        Lão thao thức không ngủ lại được. Bao hình ảnh thời lão là lính chiến hơn nửa thế kỷ trước chen nhau xuất hiện trong đầu lão, nhưng đều dồn tụ về cái đêm binh trạm lão ôm cái xác người bệnh binh tên Nghĩa mà ngủ. Sát cạnh lão, thị ngủ ngon lành sau cơn thỏa mãn xác thịt. Lão quờ tay chạm nhẹ và vuốt ve cái eo săn chắc và cặp mông nở của thị. Chợt lão cảm nhận hơi lạnh nơi bàn tay mình từ thân thể thị. Ý nghĩ chợt lóe, sao lạnh thế này, chẳng lẽ thị sướng quá mà đi luôn à?... Chỉ có người chết thì thân thể mới lạnh chứ. Lão ớn lưng, đưa ngón tay để hờ sát mũi thị, hình như hơi thở mong manh... Lão vội lay vai thị, thị ứ hự, trở mình. Lão mừng, thị vẫn sống nhăn, chỉ ngủ sâu thôi. Lão nhìn đồng hồ, mới hơn 2 giờ sáng, bèn nằm xuống. Thị tỉnh ngủ, xoay người úp mặt vào lão, tay luồn xuống, chạm vào hạ bộ của lão... Vuốt ve, xoa nắn,
                        - Anh muốn nữa à?... Em đang ngủ say,... sao lay em dậy? Muốn... em chiều,
                        - Ờ nãy anh muốn... nhưng giờ buồn ngủ rồi... Em ngủ thêm chút nữa đi... 
                        Thị giữ nguyên bàn tay ấp lên cái của lão khiến nó gật gù, lên xuống... Lão nằm yên trong khi thị thiếp đi... Ý nghi lại miên man quẩn quanh miền ký ức xa vời do giấc mơ vô tình đánh thức. Sáng năm ấy, lão như người vô hồn trân trân nhìn người ta khiêng thi thể nằm nghiêng cong như dấu hỏi của người bệnh binh ấy đi. Lão tự nhủ, đến khi nào thì người ta cũng khiêng thân xác lão như này... Vậy mà lão sống nhăn răng, qua trận này, trận khác, dằng đẵng thêm nữa thế kỷ trôi qua cho đến giờ phút này, vẫn còn sức hưởng lạc thú, đủ để ngộ ra cái triết lý cũ và mới của cuộc đời mỗi con người ta... 
                        Gà gáy sáng. Lão choàng tỉnh. Thị nửa nằm nửa ngồi, bàn tay lướt nhẹ mặt lão. 
                        - Chết, mấy giờ rồi em? ... Anh phải đi thôi, kẻo muộn, người ta thấy, lại phiền em.
                        - Mới hơn 4 giờ chút,... còn sớm mà anh... Em tính để anh ngủ thêm chút nữa, đỡ mệt. Chừng 5 giờ anh dậy ra bến xe là vừa chuyến đầu ngày... 
                        Lão nhìn thị vẻ biết ơn. Lần đầu lão nhìn thị đầy thiện cảm, không phải cái nhìn của kẻ chinh phục, chiến thắng. Khác với Tú Trinh, chỉ biết chiếm hữu, thị vừa chiếm hữu vừa dâng hiến. Lão cảm động và biết ơn thị vì điều đó. Cho dù nay mai thế nào, chốc lát hay dài lâu, thị vẫn là món quà mà trời đất ban tặng cho lão, lão phải biết quý trọng điều đó... 
                        Lão nhẹ nhàng đặt thị nằm xuống. Lại nhẹ nhàng trườn lên người thị, mặc dù thị chẳng dám đòi hỏi thêm. Thị nhìn lão, ánh mắt hàm ơn. Uyển chuyển và quyết liệt, lão làm cho thị oằn oại, rung chuyển, rưng rưng khoái cảm và cảm kích... Thị chẳng thể biết một bí mật, thời trai trẻ, lão từng bị chứng thiểu năng sinh lý, rất khó xuất tinh, may nhờ người vợ là nhân viên y tế có kinh nghiệm trong lĩnh vực này tận tình chữa trị cho lão. Khi thị và lão rời nhau ra, cả đôi cũng mệt lả, dù lão chẳng xuất gì nhưng sức già cũng đến thế là cùng. Cả đôi thiếp đi ,...
                        Thị đánh thức lão dậy. Chậu nước ấm thị bưng vào sẵn, lão lau rửa qua người. Quần áo chỉnh tế, lão theo thị ra phòng ngoài. Đĩa trứng gà chần và cốc sữa nóng.
                        - Anh ăn lót dạ, đỡ đói mệt.
                        Thị ngối đối diện nhìn lão ăn, gương mặt âu yếm và tràn đầy hạnh phúc. Lão chợt nhận ra, chỉ qua một đêm, thị như trẻ ra dăm tuổi. Lão dùng điểm tâm, vừa nghĩ, thị cho lão ăn uống kiểu này chẳng khác tiêu chuẩn suất ăn của lợn đực giống sau khi đi phối giống... Lão xuýt buột miệng đùa thế nhưng kịp nuốt lại, miệng cười nhẹ. Hình như thị cảm nhận được, suy đoán gì đấy,
                        - Anh cười gì đấy?... chớ trêu em nhé,...
                        - Thì... ngon bổ mà... Anh cảm ơn em nhiều lắm...về mọi nhẽ,...
                        Thị bảo, thị biết ơn lão mới đùng, cả đời con gái, đàn bà của thị, chưa bao giờ thị sung sướng, thỏa mãn, như lão vừa mang đến tận nhà ban tặng cho thị. Cứ đùn đấy, cuối cùng lão phán, cả đôi mạng niềm vui, hạnh ngộ cho nhau thị mới thôi. Con người ta, hễ đem niềm hạnh phúc cho nhau, đúng sai, phải trái hậu xét, là quý rồi,.. Cứ như lão và thị đây, dễ gì có được, chiến tranh ác liệt thế, mà không cướp được của lão sự sống, ấy là số phận, thì niềm hạnh ngộ với thị, ấy là duyên phận định trước...
                        Lão lách qua khe cổng mở hẹp nhà thị luồn ra ngoài lúc trời mờ mịt sương sớm. Thị vội khép lại cài theo đóng khóa ngay. Mặc dù thị làm rất nhẹ vì không muốn ai biết song lão vẫn nghe rõ cả tiếng khóa  bấm tách. May là ra khỏi ngõ, đến đường lớn, lão không gặp một ai. Vậy là không ai biết về sự có mặt của lão ở nhà thị suốt đêm qua. Thị vẫn có thể an tâm, không ngại điều tiếng gì. Lúc này, không biết thị đang làm gì? Có lẽ thị bận gấp gọn chăn gối, dấu tích của những trận mây mưa đêm qua, và rửa bất đĩa tồn từ tối qua. Thị có nghĩ đến lão không? Thị có chút băn khoắn là cho đến lúc ăn nằm với nhau, thị mới biết là lão vẫn đang sống cùng vợ. Như vậy, liệu thị có phải là "con giáp thứ mười ba" như cách nói ngoài đời hiện nay? 
                        Về câu hỏi, liệu lão và thị còn gặp gỡ nhau nữa không, cả hai đều né tránh, bời chẳng thể đoán định điều gì sẽ xảy ra với mỗi người...
                        Lão lững thững đi bộ trên con đường đê ra bến xe, lũ tiểu mãn đang về, nước sông lên to sau mấy trận mưa tàn xuân đầu nguồn,... ./.
                         
                         
                         
                        #87
                          tamvanvov

                          • Số bài : 602
                          • Điểm thưởng : 0
                          • Từ: 26.08.2009
                          • Trạng thái: offline
                          Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) 23.05.2021 11:12:42 (permalink)
                          Có một nhà thơ tên là Ma Bích 
                          (hay Người thơ, ngơ ngác như thằng mất trâu,...)
                           
                           
                          Người thơ ấy là Ma Bích,
                                    Còn thơ Ma Bích thì tôi chỉ nhớ mỗi câu “Đồi xưa bẻ lá em nằm/Nay qua ngơ ngác như thằng mất trâu,”...
                                    Ma Bích tên thật là Hà Hồng Vanh, dân tộc Mường, quê xã Điền Quang, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Thông tin này, tôi lấy theo nguồn của nhà thơ Trương Thị Mầu, hội viên Hội Văn học nghệ thuật dân tộc thiểu số Việt Nam, Bác sĩ Ưu tú, giám đốc Phòng khám đa khoa Lương Điền, Bá Thước, Thanh Hóa.
                                    Tôi biết nhà thơ Ma Bích từ ngót chục năm nay, tại cuộc gặp gỡ, giao lưu thơ văn đầu xuân hằng năm tại gia nhà văn Trịnh Tuyên ờ Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Những lần như thế, Ma Bích theo xe của nhà thơ Trương Thị Mầu xuống Cẩm Thủy. Thú thật, trong những cuộc vui như vậy, thơ văn hòa rượu tuôn ào ào, tôi không thuộc nổi câu thơ nào của Ma Bích, ngoài việc thuộc tên nhớ mặt nhau. Ấn tượng của tôi về ông kể từ ngày đầu gặp gõ, ấy là cách nói năng và những bài thơ ngắn ngẫu hứng đọc tại chỗ có giọng điệu đúng chất người dân tộc thiểu số...
                                    Cho đến mùa hạ năm 2019, nhóm chúng tôi có nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, họa sĩ Lã Minh Kính và một vài bạn hữu vào Bá Thước, rồi cùng Trương Thị Mầu, Ma Bích và vào bạn hữu du ngoạn Pù Luông, ngủ đêm lại đó trong nhà sàn homstay, tôi mới có điều kiện trò chuyện và nghe Ma Bích đọc nhiều thơ của ông.
                                    Chuyến ấy, theo lời mời từ mấy năm trước còn chưa thực hiện được của nhà thơ Trương Thị Mầu, chúng tôi đến thẳng Phòng khám đa khoa Lương Điền. Đây là phòng khám chữa bệnh Đa khoa do Trương Thị Mầu lập sau khi cô nghỉ hưu với chức danh giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Bá Thước. Khi còn làm việc, nữ nhà thơ này được phong Bác sĩ ưu tú, cô là một người giỏi chuyên môn và quản lý, sớm có y định xây dựng một trung tâm y tế nhằm phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân địa phương bới đây là một huyện miền núi biên giới điều kiện giao thông khó khăn. Bữa đó, Mầu làm thịt cả một con lợn cắp nách để đãi bạn văn chương thủ đô. Lên mâm, chỉ thấy có Mầu và mấy nữ nhân viên y tế, tôi nhìn quanh. Mầu hiểu ý cười: “Các anh yên trí, em đã mời anh Ma Bíchm anh ấy nhận lời rồi”. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền vui đùa “Đến Bá Thước mà thiếu bạn thơ Ma Bích thì coi như vắng một nửa”. Dứt lời, đã thấy ngay Ma Bích xuất hiện ngoài cửa tay cầm chai rượu thuốc tự ngâm.
                                    Theo chương trình xếp trước, chiều ấy tất cả  đi Pù Luông. Xe dừng ngoài ngõ để Ma Bích tranh thủ ghé nhà báo cáo vợ và lấy thêm tư trang vì đoàn ngủ qua đêm ở Pù Luông. Đường lên Pù Luông quanh co những dốc, trong xe chuyện thơ văn rôm rả. Nhiều thửa ruông bậc thang của đồng bào Mường đã bắt đầu gặt Chốc chốc, dừng xe để mọi người chụp ảnh check in, nhất là nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền vốn say món tự sướng. Ma Bích chỉ cười hiền ngắm bạn thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền txoay chóng cả mặt.  Khi rẽ vào Bản Đôn thuộc xã Thành Lâm chiêm ngưỡng ruộng bậc thang thì trời cơn giông kéo lên đen ngòm, rồi mưa như trút. Mưa sầm sầm, trắng cả đất trời, khiến các đoàn xe của khách du lịch dồn ử cả đống. Cả vùng ruộng bậc thang mờ mịt trong mưa, nên chúng tôi chỉ có thể ngồi yên trong xe chụp ảnh qua cửa kính. Lúc quay ra, mấy cái đập tràn nước đã dâng lên nhanh mấp mé, may mà xe còn qua được. Khi lên đến khu nhà sàn homestay thì trời tạnh hẳn, mây quang quẻ, hửng chút nắng hoàng hôn rất đẹp,... Ma Bích ngắm hoàng hôn, miệng lẩm bẩm gì đó, hinh như nhẩm thơ...
                                    Tiệc tối, món ăn theo phong cách cơm Mường địa phương, hấp dẫn với món thịt vịt Cổ Lũng béo mềm và ốc đá hấp lá gừng, cá suối rán giòn. Rau thì toàn món rau rừng chúng tôi không rõ tên. Rượu nhắm cũng là thứ rượu ngâm trái rừng rất đặc biệt không đâu có. Rượu vào lời ra, Nguyễn Vĩnh Tuyền và Ma Bích thay nhau đọc thơ. Mâm bên có cặp vợ chồng trẻ người Mỹ cũng bị lôi vào cuộc... Đêm, khách ngủ chiếu sàn gỗ. Tôi thao thức mãi không ngủ được, phần vì lạ cảnh, vì tách cà phê đen lúc chiều và phần vì bên cạnh, Ma Bích ngủ ngáy khá to. Thêm nữa, tiêng nước suối đâu đó tạo thác đổ ầm ào suốt đêm. Tôi thiếp đi mộng mị. Trờ dậy tảng sáng, nhóm của Trương Thị Mầu và Ma Bích chào vội để về thị trấn Bá Thước vì Mầu phải dự một cuộc họp gì đó...
                                    Năm 2020, dịch covid bùng phát, lỗi hẹn với xứ Thanh,  đợi qua năm 2021. Lần này, vào Thanh đã chớp chới hè. Chúng tôi tả qua Cẩm Thúy thăm nhà văn Trịnh Tuyên rồi cùng anh ngược Bá Thước. Vẫn một Truong Thị Mầu ân tình và chu đáo, một Ma Bích hiền hòa ấm áp. Mọi người du ngoạn Duồng Cốc, một vùng hồ nước đúng chất sơn thủy hữu tình ẩn sâu trong rừng núi Bá Thước ít người biết. Bữa cơm tối tại đây theo kiểu cơm Mường, cá nướng măng tươi xôi nếp nương. Trần ngập rượu và thơ, ngẫu hứng thì đũa gõ bát làm nhịp mà hát/ Ma Bích đọc thơ, nhưng tồi chỉ nhớ mỗi câu thơ “Đồi xưa bẻ lá em nằm/nay qua ngơ ngác như thằng mất trâu” vì thấy thú vị. Sự thú vị ở đây là cái cách ví von giữa việc mất người yêu như việc mất trâu. Thoáng qua tưởng ví thế là thô. Nhưng với người dân tộc thiếu số, con trâu to lắm, gần như là thứ của cải lớn nhất trong nhà, nên mất trâu coi như mất cơ nghiệp, tiếc lắm chứ. Vậy mà, mất người yêu từ ngày còn trẻ, đến giờ thăm lại nơi tình tự ngày xưa vẫn “ngơ ngác như thằng mất trâu”, thì thử hỏi. ngày xưa đau đớn đến thế nào?... Cách diễn đạt như vậy, thật thà mà hài hước, đúng nếp nghĩ và lối diễn đạt của người dân tộc thiểu số. Ngẫm kỹ, rồi đem so sánh với trường hợp giả ngô ngọng thật thà mách qué trong một bài thơ về cái sự chửi vừa được trao giải cao, mà thấy buồn cười....
                                    Không ngờ, cái đêm giao lưu thơ nhạc ấy, là lần cuối cùng tất cả chúng tôi gặp Ma Bích. Non tháng sau, ngày 13.4. 2021, Ma Bích đột ngột ra đi vĩnh viễn sau một cơn đột quỵ khi đang khỏe mạnh bình thường, bời ngay trước đó, ông còn đi xe máy chở vợ đi khám bệnh ở Bênh viện đa khoa huyện và ngủ lại bệnh việc chăm vợ...
                                    Đọc tin báo và bài viết vội của nhà thơ Trương Thị Mầu về Ma Bích, mới thấy cái tình, người và thơ của ông để lại trong lòng và tâm trí những người thân thiết, không hề nhỏ !...
                                    ***
                                    Tôi lần giở lại toàn bộ trang cá nhân của Ma Bích trên Facebook, cả thông tin va bài viết không nhiều. Thơ cũng vậy. Ông cho thấy không phải là người thạo công nghệ, nên gặp khó khăn trong việc đăng bài viết và thơ phú của mình. Thế nhưng. với ngần ấy thôi, thêm hồi tưởng về những lần gặp gỡ Ma Bích, cũng đủ cho tôi phác thảo nên một người thơ Ma Bịch,...
                                    Có lẽ, Trương Thị Mầu là người cùng dân tộc Mường, lại là bạn thơ lâu năm thân thiết với Ma Bích, nên chị hiểu và thích thơ ông hơn chăng? Ngôn ngữ Mường cổ và cách diễn đạt rất Mường. Còn cảm tính, ấy là hồn vía Mường, không chỉ nằm trong ý tứ, câu chữ bài thơ mà ở cả trong cái cách ứng xử, trong biểu cảm khi Ma Bích đọc thơ và diễn giải nguồn gốc từ ngữ bắt nguồn từ phong tục dân tộc mình,...
                                    Cũng theo nhà thơ Trương Thị Mầu thì Ma Bích làm thơ muộn, khi đã lớn tuổi. Song cũng không vì thế mà sốt ruột, ào ạt cho nhanh, mà rỉ rả kể chuyện mình, chuyện phong tục dân tộc mình, trước hết cho chính minh, rồi ra có cái để mà chơi với thiên hạ. Với ý thức đó, ông không vội vàng là thế, chỉ lấy thơ nói hộ lòng mình khi cần phải vậy, nên số lượng thơ ông không nhiều, nhưng cũng vì thế mà thơ Ma Bích không đểnh đoàng, khá chắt lọc và quan trọng là có giọng điệu riêng. Cái chất Mường trong thơ Ma Bích cũng không giống chất Mường trong thơ của một vài nhà thơ người dân tộc Mường khác. Nó là của riêng ông. Ví như, bài thơ Lóng la, thì cùng với việc nói cái tình riêng, Ma Bích còn lục kho ngôn ngữ, lôi ra, đặng gột rửa cụm từ Mường cổ lóng la. Theo nhà thơ Trương Thị Mầu, trong tiếng Mường “lóng” là cây chuối rừng, nhưng “la” thì là một từ không cụ thể, song khi kết hợp thành “lóng la” thì người ta hiểu ấy là ngàn rừng, một khái niệm rộng lớn hơn nhưng không rõ ràng. Trở lại bài thơ:
                                    “Tôi về thăm Lóng La/ Mưa hoàng hôn tất tưởi/ Gió San mười chạm với/ Tìm mường hoa Lóng La/ Tìm vệt trăng bay xa/ Em xòe tay khung cửi/ Trập trùng hoa cỏ núi/ Thắm biếc tình hai ta/ Rồi hẹn không gặp hẹn’ Rồi thương gặp lũ ngàn/ Ta Lóng La trắc trở/ Nhịp cồng chùng lâu san/ Con chim kêu khản tiếng/ Sao bạn tình không lên/ Anh ở miền gió lửa/ Ôm vú cồng thức đêm/ Nhớ nhau Lóng La nhé/ Gọi nhau Lóng La ơi/ Cây chày anh lỡ nhịp/ Cối nương em đầy vơi...”
                           
                          Vậy là, Ma Bích đã biến cụm từ lóng la thành địa danh, một nơi vữa xa vừa gần, nửa thật nửa ảo, mà ở đó, người thơ có cái tình với mộr bóng hình nào đó, trắc trở, không nên ngãi, để bây giờ nên nhớ thương, day dứt.
                          Hay như, bài thơ Tặc ven em cùng dạng thức như vậy:
                           “Lâu rồi không gọi tặc ven/ Nỗi nhớ quên theo ngày tháng/ Dây rừng - chạng vạng/ Xập xoè tặc ven.../ Đừng đau tặc ven ơi/ Nếu như ngàn năm không gặp lại/ Đá lở non mòn, ruộng sâu đồng bãi/ Cha mẹ đi ta vẫy Tặc ven đi”.
                          Cũng theo ý nhà thơ Trương Thị Mầu, “tặc-ven” là một khái niệm không cụ thể trong tiếng Mường cổ, mà chỉ cho người ta hình dung là đám cỏ bợ, dây rợ lằng nhằng ven bờ, góc ruộng, xó rừng... Đưa “tặc ven” vào thơ, Ma Bích muốn gòi thành tên, đặng nhắc nhở mọi người, nhất là giới trẻ chớ quên từng có một xứ Mường nguyên bản, không pha tạp, và cho dù theo xu thế phát triển chung của thời đại mới. càng cần thiết gìn giữ bản sắc Mường trong đa dạng văn hóa Việt Nam.
                          Dường như, ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa Muờng thường trực trong con người Ma Bích, nên thơ tình cũng là cái tình Mường của riêng ông: “Anh bây giờ không nhớ cả tên anh/ không biết mình năm nay bao nhiêu tuổi/ Mường nọ chòm kia mấy sông mấy suối.../còn mấy vần thơ gác bếp lửa hong phơi/ anh buộc lá Làn Ai gửi cho người tri kỷ/ Đá dựng thành lời, lá bay thành ý/ Ta mây bạc trắng trời lãng đãng phiêu du...” (Phiêu du). Hay như: “Sợ say ta trốn vào nhau/ Sợ câu xường lạc truông vầu không lên/ Xin đừng gọi vía kêu tên/ Mà đau võng bạc tre đền Mường Ai/ Chát nồng ăn lá giêng hai/ Neo trong suối lũ thung dài tìm xưa” (Tìm Xưa”... Ma Bích từng có gần chục năm sống ở Tây Nguyên, ông dần hòa nhập vào đời sống trên vùng đất mới, nhưng nỗi nhớ Mường vẫn canh cánh trong lòng: “Mẹ gùi câu khặp theo cha/ Đi làm người mường khác/ Câu Xường cũ sấm rền rung cuối thác/ Con nhặt về buộc lại vía ngày xa... (Thư gửi con) .
                          Ma Bích tạo được giọng điệu riêng, nên thơ ông làn về đề tài rừng có nhiều người đã làm, thi ông vẫn có cái của riêng mình, để không lẫn vào người khác:
                          Chiều nay qua Thành Nhà Hồ
                          Nhìn tan nát một cơ đồ mà đau!
                          Sân rồng ngập vết chân trâu
                          Đâu vườn Thượng Uyển, đâu cầu vua qua
                          Ngai vàng nắng táp mưa sa
                          Triều đình còn lại một ta giữa đường...
                          Liêu xiêu leo dốc ngược mường
                          Qua truông ra gặp người thương không chào...
                          (Qua thành Nhà Hồ)
                           
                          Đến rồi đang giữa tháng ba
                          Sao mà ngồi nhớ người ta thế này
                          Nhớ mái tóc nhớ bàn tay
                          Và đôi ánh mắt những ngày còn xưa...
                          Xa xưa lay lá lay mưa
                          Người còn lên lại Pha Dùa hay thôi
                          Miền biên viễn nở hoa rồi
                          Sáo ai hổn hển đất trời đang yêu
                          Một mình ôm chiếc khăn piêu
                          Đùm cơm cháy lá dong chiều... Đêm buông?
                          (Tháng Ba)
                           
                          Theo tôi, đây là những bài tho hay của Ma Bích. Bởi lẽ, nếu là người khác mà không phải là người Mường-Ma Bích, thì dễ gì có những câu kiểu này: “Triều đình còn lại một ta giữa đường.../ Liêu xiêu leo dốc ngược mường/ Qua truông ra gặp người thương không chào...”(Qua thành Nhà Hồ); Hay như: “Xa xưa lay lá lay mưa/ Người còn lên lại Pha Dùa hay thôi/ Miền biên viễn nở hoa rồi/ Sáo ai hổn hển đất trời đang yêu/ Một mình ôm chiếc khăn piêu/ Đùm cơm cháy lá dong chiều... Đêm buông?” (Tháng Ba), ...
                          Như một tiền định, mới gần đây thôi, ngày 20.11.2020, ngày Nhà giáo Việt Nam, Ma Bích làm thơ nhớ thầy giáo cũ, người ngày xưa từng dạy ông lúc còn đi học, ông đã viết: “Thầy giáo đi rồi còn lại mình em/ Lớp học ngày xưa không còn ai nhớ nữa/ Mái lá sàn tre rét run cánh cửa/ Em tìm về cách biệt âm dương.../ Chúng em lớn lên đứa lấy vợ gả chồng / Nay tóc trắng như tóc thầy ngày ấy/ Mỗi lần gặp nhau khi nào cũng vậy/ Hay nhắc về thầy, thầy có nghe không./ Còn riêng em thích luyện bút văn phong/ Ghét kẻ bất lương thương người nghèo khó/ Rồi một ngày kia em sẽ về dưới cỏ/ Lại đến tìm thầy xin đọc để Người nghe”. (Thầy giáo).Ma Bích mong rằng, đến một ngày kia nào đó, ở thế giới bên kia, ông được đọc thơ cho thầy giáo cũ của mình nghe...
                          Giờ thì Ma Bích đã toại nguyện, ông được “về dưới cỏ” để rồi “lại đến tìm thầy xin đọc để Người nghe” !... ./.
                           
                           
                           
                           
                           
                          #88
                            Ct.Ly
                             
                            #89
                              tamvanvov

                              • Số bài : 602
                              • Điểm thưởng : 0
                              • Từ: 26.08.2009
                              • Trạng thái: offline
                              Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( I ) 12.06.2021 16:26:40 (permalink)
                              Chân thành cảm ơn Hiệp sĩ Hào hoa đã quan tâm.
                              Chúc mọi sự an lành.
                              Có thêm truyện mới đăng bên Văn xuôi NGUYỄN CHU NHẠC II
                               
                              #90
                                Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark
                                Thay đổi trang: < 1234567 > | Trang 6 của 7 trang, bài viết từ 76 đến 90 trên tổng số 93 bài trong đề mục

                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

                                Chú Giải và Quyền Lợi

                                • Bài Mới Đăng
                                • Không Có Bài Mới
                                • Bài Nổi Bật (có bài mới)
                                • Bài Nổi Bật (không bài mới)
                                • Khóa (có bài mới)
                                • Khóa (không có bài mới)
                                • Xem bài
                                • Đăng bài mới
                                • Trả lời bài
                                • Đăng bình chọn
                                • Bình Chọn
                                • Đánh giá các bài
                                • Có thể tự xóa bài
                                • Có thể tự xóa chủ đề
                                • Đánh giá bài viết

                                2000-2021 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9