Pleiku, phố núi trời gần * - Minh Nguyễn

Tác giả Bài
Thanh Vân

  • Số bài : 3322
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 28.05.2007
  • Trạng thái: offline
Pleiku, phố núi trời gần * - Minh Nguyễn 07.11.2010 18:33:01 (permalink)


Pleiku, phố núi trời gần *

MINH NGUYỄN
Cứ mỗi lần nghe ai đó nhắc " phố núi cao " thì y như rằng trong ký ức tôi, lại hiện ra tuổi thơ mình với những năm tháng đã từng sống lưu lạc trên cao nguyên.Thời gian trôi qua thật nhanh .Đến nổi tôi không thể ngờ được, mới ngày nào mà giờ đây ngoảnh mặt nhìn lại, thấy tóc mình không còn xanh nữa.Hơn năm mươi năm rồi còn gì.Kỷ niệm của một thời thơ ấu đối với cậu học trò mười một tuổi,vừa đậu xong bằng tiểu học,lại phải một thân một mình.Lặn lội từ Sàigòn lên Bam Mê Thuột,ngủ lại đó một đêm, chờ đến sáng hôm sau đi tiếp chuyến xe đò lên phố núi.
Sau một ngày đường ngồi xe mệt nhoài.Chiều tối. Chiếc xe buột phải ghé lại chốt kiểm soát để được kiểm tra .Lợi dụng lúc rảnh tay, người tài xế già ngã người trên ghế thư giản; đồng thời tỏ ra hiểu biết, chỉ vẽ cho tôi thấy: Bên này là quốc lộ 14. Con đường xe từ Sàigòn lên.Bên kia là quôc lộ 19 dẩn tới An Khê-Bình Định. Còn lại, con đường trước mặt sẽ là con đường dẩn tới Pleiku. Mảnh đất của 28 dân tộc sinh sống hoà bình bên cạnh sử thi Đam San oai hùng. May quá,Lần đầu tiên tôi được nghe nói đến ngưởi dân tộc Ba Na, dân tộc Gia Rai . . .
Pleiku ! Tôi dõi theo hướng chỉ tay của người tài xế nhìn lên ngọn đồi cao trên tầm mắt. Pleiku đây ư ? Tôi lẩm nhẩm lập đi lập lại hai từ Plei - Ku như người mộ đạo cầu kinh. Nôn nóng muốn mau chóng nhìn rõ bộ mặt phố núi. Nơi tôi sẽ đặt chân đến trong giây lát .Pleiku , Ôi ! Pleiku.Thành phố mà trước khi đến tôi chỉ nghe nhắc tới sương mù , lạnh giá và đất đỏ. Có thật vậy không hay chỉ là những lời đồn đãi làm nản lòng một cậu học trò tuổi tôi ?Dù gì thì tôi cũng đã đến đây.Pleiku đang sừng sửng trước mặt. Ấn tượng trong tôi lúc này không gì khác hơn là con đường dốc dựng đứng. Mà điểm nhấn là chiêc cầu Hội Phú đang treo lơ lửng phố núi trên cao. Bỗng dưng tôi cảm thấy có chút lo âu trong chuyến đi này.Tôi tự vấn bản thân.Giả dụ,nếu tôi không thi rớt lớp đệ thất trường công lập dưới Sàigòn thì, hẳn nhiên tôi đâu phải làm chuyến đi xa .Người ta nói đúng hay sai khi cho rằng :" mỗi con người đều có duyên số trước mỗi nơi đến " ?
Có thật vậy không ? Chuyện tôi từ Sàigỏn lên Pleiku trọ học ở nhà người chú họ là có duyên số ? Thực sự tôi không tin vào điều đó lắm, nhưng sự hiện diện của tôi nơi phố núi này là có thật.Và, đúng như việc tính toán giữa những người lớn với nhau.Tôi không thấy có khó khăn gì khi được nhận vào học tại trường trung học công lập.Một ngôi trường độc nhất chỉ với hai lớp đệ thất. Kịch bản này xảy ra do ông chú họ chìu theo ý nguyện của gia đình tôi, khi không muốn tôi theo học ở trường tư thục, dù ở Sàigòn không thiếu các trường có tiếng tăm.Tại sao ư ? Mãi sau này, khi lớn khôn tôi mới phát hiện ra gia đình tôi ai cũng mang nặng đầu óc thủ cựu,nhất là ông bố,coi việc học của con ở trường công lập, mới làm cho ông nở mặt nở mày khi ăn nói trước người đối diện.Riêng tôi,việc đường hoàng vào học ngay lớp đệ thất A,dù đã chật cứng học sinh người Kinh, thế mà chẳng ai tị hiềm gì .Trong khi lớp đệ thất B với hai phần ba học sinh là con em người dân tộc,một phần ba còn lại là hoc trò người Kinh, nhưng còn thừa vài chỗ trống, tại sao tôi lại được ưu tiên ngồi vào lớp A ? Sở dĩ mọi việc xảy ra êm đẹp là nhờ có thầy hiệu trưởng đích thân đánh xe công vụ đưa tôi tới tận lớp. Giao thẳng cho thầy phụ trách nên thay vì bị tiếng bấc tiếng chì, tôi lại được nhiều người vị nể.Có điều, sau này khi phát hiện ra hai cô chị em ruột người Ba Na xinh đẹp, ngồi ở lớp B khiến tôi cứ phải tiếc hùi hụi vì đã chọn nhầm lớp.Về sau, bạn bè thấy tôi quan tâm nhiều tới hai cô con gái kia, bèn kể rõ lai lịch về họ. À ! Thì ra hai cô gái xinh đẹp không thua gì minh tinh màn bạc kia lại là con gái của ông Phó Giám Đốc Ty Tiểu Học.Ông này ngưởi dân tộc.Tướng cao to và bảnh trai.Mẹ là người nước Pháp.Nghe đâu đã mất trong một cơn bạo bệnh.Nhờ mang dòng máu lai nên hai cô có khuôn mặt xinh đẹp không khác chi người nước ngoài.Từ mái tóc uốn quăn đến quần áo trang phục, cách đi đứng giao tiếp đều thể hiện lối sống hiện đại .Đến ngay các cô gái người Kinh có nhan sắc, nếu muốn so sánh cùng họ e chưa bì kịp. Vậy mà tôi đã có dịp làm quen với cả hai cô gái cùng lúc, trong buổi chiếu phim hàng tháng, dành cho những gia đình khá giả hoặc chí ít cũng có thân thế tại một câu lạc bộ. Không ngờ, qua sự tình cờ quen biết này đã mau chóng thúc đẩy quan hệ bạn bè giữa chúng tôi, ngày thêm khắn khít. Nếu như vào một kỳ nghỉ hè, tôi không bị gia đình đột ngột gọi trở về nhà rồi ở luôn dưới đó.Có lẽ cho đến bây giờ tôi không dễ dàng quên đi hình ảnh hai cô bạn gái xinh đẹp núi rừng Tây nguyên này.
Nhưng cuộc đời dẩu có ra sao .Pleiku trong tuổi thơ tôi vẫn là PHỐ NÚI TRỜI GẦN.Là sớm mai mù sương co ro áo ấm .Là gió núi đại ngàn hát ru theo nhịp điệu cồng chiên bên ánh lửa bập bùng.Là con đường rợp bóng thông xanh, đi về hai buổi đến trường .Là bạn bè Kinh - Thượng chuyền tay nhau quyển lưu bút với giòng chữ nắn nót ghi đậm tình người.Có lẽ nhờ vào thứ tình cảm thiêng liêng đó nên tôi luôn hướng tới phố núi. Hoài niệm về ngôi nhà thờ xưa rất xưa nằm trên khu đất cao. Về ngôi trường trung học công lập đặc biệt chỉ với hai lớp đệ thất A,B . Về rạp chiếu bóng lấm lem đất đỏ. Về một cái hồ được gọi là biển nằm ở ngoại vi thành phố ,Về sự tỉnh lặng qua một vài con đường thân quen để khi bước ra ngoài thế nào cũng bắt gặp nhau trên phố.
Và Sau hơn năm mươi năm trôi qua . Chiến tranh chấm dứt. Hoà bình được lập lại. Tôi luôn tự hỏi Pleiku bây giờ có còn mướt xanh bên những đồi thông ?Có còn mù sương sớm mai chùn xuống phố núi trời gần ? Có còn những cô em nhan sắc mặn mà đi tung tẩy trong mùa lễ hội ?Thực ra hỏi chỉ hỏi vậy thôi. Hiện tại tôi còn nhiều việc phải làm, bởi qủy thời gian dành cho đời người còn rất ít. Biết vậy, song trong tôi cứ luôn ôm ấp một nỗi buồn. Mong muốn có được ngày trở về bên phố núi. Đi thăm lại căn nhà cũ,mái trường xưa, cùng bao bạn bè thân quen nay còn hay mất ?
Cuối cùng .Phải đấu tranh lắm tôi mới chiến thắng được bản thân để có được ngày trở về bên phố núi. Pleiku ! Pleiku đây ư ? Pleiku đang ở ngay trước mắt tôi với dáng đứng mạnh mẽ từ một phố núi trẻ trung đến không ngờ. Sự thay da đổi thịt được nhìn thấy rõ nét qua từng khu phố bán buôn nhộn nhịp,sầm uất. Qua từng con đường mở rộng thệnh thang với đôi hàng cây thẳng tắp, nối tiếp công viên xanh lá thân thiện môi trường. Điều gì đã làm cho bộ mặt phố núi thay đổi nhanh chóng một cách thần kỳ, đến nổi tôi không tài nào nhận ra một Pleiku ngày xưa trong chốc lát ?
Thật vậy ! Về lại Pleiku sau hơn năm mươi năm để thấy mình giống " anh khách lạ đi lên đi xuống " của nhà thơ VHĐ ngày nào, quả thật không ngoa.Bởi qua từng ấy thời gian kể ra cũng đủ dài nếu so sánh với bao sự đổi thay đời người. Chỉ tiếc một điều, căn nhà và ngôi trường đầy kỷ niệm một thời trong tôi,tìm kiếm mãi hoài vẫn không thấy.Hỏi thăm, ai cũng lắc đầu nói " mình là cư dân mới đến sống ở thành phố này chừng mươi năm " .Buồn.Tôi đi loanh quanh qua các con phố cho tới lúc chân cẳng mỏi nhừ. Đành phải chịu thua để kịp ghé lại quán nước thưa người.Tôi nhớ ai đó nói " đến Pleiku không thưởng thức chút cà phê phố núi, đâu gọi là đã tới ". Tôi gọi cho mình ly cà phê đen nóng hổi. Ra sức tận hưởng thứ hương vị thơm tho qua đầu lưỡi. Nhớ lại bát phở vĩa hè, ăn bên cái lạnh cuối ngày ngon ơi là ngon, trên con đường đi học về. Bất chợt, tôi nhận ra con đường trước mặt có chút gì quen biết. Tôi quay sang hỏi thăm nơi người đàn ông lớn tuổi đang ngồi trầm tư bên tách trà uống dỡ. Về ngôi giáo đường rêu phong trên đồi thông thơ mộng. Về cái thư viện nho nhỏ đứng lẽ loi giữa hai con đường giao nhau tạo nên một mũi tàu. Về cái sân vận động bốn bề trống hoát, nơi mỗi buổi chiều về, tôi và đám bạn bè cùng nhau ghé lại đá bóng cho đến tối mịt. Về ngôi trường trung học chỉ với hai lớp đệ thất, nằm dọc theo con đường quốc lộ hướng lên thảo nguyên Kontum. Nghe qua, người đàn ông gục gặc chiếc đầu trắng tóc, tỏ ra dễ dãi, nói cho tôi biết cái thư viện kia đã bị dẹp bỏ từ lâu để mở rộng thành con đường giao thông.Còn ngôi giáo đường đẹp đẽ đến vậy, không hiểu tại sao người ta cho đập bỏ đi, để xây dựng thành khu nhà thờ mới, với những mái vòm bằng tộn màu xanh nõn trông đến loè loẹt. Riêng cái sân vận động vẫn nằm trên nền cũ, nhưng đã được vây kín bởi mấy dãy khán đài cùng với tường rào cao vượt tầm mắt. Cuối cùng, ngôi trường trung học nằm giữa khu đồi dã quỳ vàng rực,nay cũng đã được dời ra xa thành phố, thay vào đó là khu dân cư mới.
Ôi ! Pleiku . Ôi ! Phố núi trời gần . Mọi sự thay đổi trong hiện tại đã giúp tôi hiểu ra một Pleiku xưa . Nay chỉ còn là hình ảnh thuộc về quá khứ để mà hoài niệm. Dù biết vậy, nhưng sao trong tôi vẫn luôn thấy thân thiện, gần gũi hơn đối với một phố núi hoang sơ hơn là hiện đại.
Điều này nói ra có thể sẽ có ai đó cho rằng tôi cực đoan. Nhưng không sao.Vì mỗi con người đều có quyền yêu Pleiku,yêu phố núi theo cách riêng của mình.

_______________________________________

(* ) Thơ VHĐ  










nguồn Newvietart.com.
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
 
#1
    Thanh Vân

    • Số bài : 3322
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 28.05.2007
    • Trạng thái: offline
    RE: Pleiku, phố núi trời gần * - Minh Nguyễn 07.11.2010 18:34:05 (permalink)
    DÒNG SÔNG HÁT
    Đứa em gái út của tôi vừa đi dự cuộc họp mặt các thầy cô giáo đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh ở Sở giáo dục về, đã khoe ầm lên:
    -Chị biết em vừa gắp ai hông ?
    -Ai, mà em hớn hở giữ vậy?
    -Anh Thiện đó, anh Thiện ở xóm  mình trước đây, vừa học vừa làm mướn, bây giờ ngon nghe. Đạt danh hiệu Nhà giáo ưu tú, công nhận giáo viên giỏi vĩnh viễn…
    À, Thiện, tôi nhớ rồi. Bầy chim sẻ kéo nhau bay về đậu trong sân nắng, chúng xoải cánh rỉa lông tắm cát, ríu rít gọi nhau hí hoáy cái đầu nghiêng qua ngó lại. Loài chim thanh mãnh loắt choắt đùa vui. Tôi cô bé ngày xưa bây giờ đã là một giáo viên nghỉ hưu. Hình như trước mắt tôi hiện ra cô bé con đang ngồi gở từng bông cỏ may dính đầy lai quần trên bờ ruộng  nắng, mảng nắng vàng ươm màu đường thốt lốt ngọt ngào kỷ niệm. Cỏ may nở đầy xào xạc gọi một bóng hình nào đó còn đọng quanh đây :
    " Bầy chim sẻ bay qua mùa hè rực rỡ
    Giấu tình anh trong chiếc lá mưa "

    (thơ- VMĐ)
    Tôi mở ngăn tủ nào đó trong trái tim : Thiện ở cạnh nhà tôi, bên một dòng sông nhỏ. Dòng sông như phết mật trên chiếc bánh của cô bé ngày thơ ấu.Dòng sông cũng biết hát. Như lời Thiện kể :
    -Hạ à,mình đã nghe dòng sông hát, bài hát mượt mà  no ấm, dịu dàng thân thiết biết bao !
    Tôi mỉm cười, trong lòng thầm nghĩ : Một anh chàng ngớ ngẩn !
    Cuộc sống Thiện rất vất vã, gánh nước mướn cho mấy bạn hàng ngoài chợ, bửa củi mướn…để có tiền đi học. Thiện ham học lắm, quảy đôi thùng nước đi hứng nước chờ đầy, anh lấy quyển sách ở túi ra chăm chú học, có lúc mải mê nước tràn ra ngoài bị chủ la mắng, buổi trưa bửa đống củi to tướng xong lại ngồi lẩm nhẩm học bài dưới gốc mận trước nhà. Tôi chỉ biết ba Thiện mất vì bị điện giật, mẹ thiện bỏ đi lấy chồng khác. Thiện ở lại với bà nội già lại bị mù. Nhiều hôm mưa dầm không ai mướn làm gì, hai bà cháu phải nhịn đói. Mẹ tôi sai tôi đem gạo và trứng sang cho. Cực nhọc thế nhưng không bao giờ bỏ buổi học nào. Anh là tấm gương mà ba mẹ tôi thương lấy cho chúng tôi soi vào.
    Cô Phấn chủ nhiệm lớp rất thương và luôn giúp đỡ anh, khi thì tập, viết, co khi cho cả  tiến ăn quà vặt.
    Ba mươi tháng tư, gia đình tôi dọn về quê nội ở Vĩnh Long, chúng tôi không còn liên lạc với nhau nữa, chỉ biết loáng thoáng rằng bà anh mất, anh đươc cô Phấn đem về nuôi ăn hoc.
    Bây giờ tôi đã nghe được tiếng hát của dòng sông ư ? Mà dòng sông làm gì biết hát, chỉ có nụ hoa vừa chớm nở trong khu vườn hương mật của tôi mà tình cờ tôi gặp lại !
    Tại sao Thiện lại chọn nghề dạy học nhỉ ? Muốn trả ơn cô Phấn ? Ngày xưa tôi nói với Thiện lớn lên tôi sẽ chọn nghề dạy học ?
    Những buổi chiều tiếp nối theo thật lạ lùng, tôi cứ lật mãi những trang hồi ức. Nó cứ như mắc chuổi tôi đang đeo hình thành từ bao buổi chiều kết lại. Không riêng tôi, có cả Thiện, cô Phấn, em gái tôi…Có cả màu mây trắng và bầy chim sẻ, có bông cỏ may bám đầy lai quần, có cả lời của ngày xưa : ‘ Khi nào Hạ nghe được tiếng hát của dòng sông, Hạ sẽ lớn thêm một chút’.
    Tôi là con bé ngốc nghếch nên mãi mãi không bao giờ nghe được tiếng hát của dòng sông.
    Đồng Bằng 









    . Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com
    Cuộc đời một giấc mộng
    Thời gian thoáng mây bay
    Nguồn tâm không xao động
    Khoan thai
     
    #2
      Thanh Vân

      • Số bài : 3322
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 28.05.2007
      • Trạng thái: offline
      RE: Pleiku, phố núi trời gần * - Minh Nguyễn 07.11.2010 18:35:06 (permalink)

      CHUYỆN VỀ MỘT NGÔI NHÀ

      MANG VIÊN LONG

      1-
      Đó là một căn nhà có sáu cạnh,mỗi cạnh dài khoảng 3mét 50-do đó diên tích có lẽ chừng ba mươi ba mét vuông.Nhà vách ván, lợp tôn-thời Pháp thuộc người ta dựng nên ngôi nhà ấy là để làm chỗ nghỉ như một trạm gác cho những người quản lý khu chợ phía trước. Sau này, không biết vì lý do gì-căn nhà lại được dem bán đấu giá. Phía sau căn nhà lục giác là dãy phố chỉ cách căn nhà vài mét, người ta có thể đi chung quanh –chẳng gây cản trở gì cho việc lưu thông không mấy nhộn nhịp trong thời ấy khi mà cả khu phố thị trấn chỉ có vài chiếc xe đạp hiệu Pacifice-và khoảng năm sáu chiếc xe kéo, xe ngựa…
      Lão Khải ở dãy  phố dọc quốc lộ đã nhanh chân tham dự cuộc đấu giá và trúng thầu sở hữu căn nhà lục giác ấy trong lúc ông Huyên đang chờ chực cuộc đấu giá từ nhiều tháng trước nhưng đến ngày bỏ thầu thì bị đau nặng phải vắng mặt. Dự tính của ông Huyên là sẽ đấu  với bất cứ giá nào miễn có được căn nhà đã án ngữ ngay trước mặt tiền dãy nhà bốn căn của ông ở phía sau để sẽ giở bỏ căn nhà lục giác ấy đi như một cái gai ! Ông Huyên đã đến thương lượng với lão Khải để xin nhượng lại quyền sở hữu với giá gấp ba nhưng lão Khải cứ nhe răng cười, không chịu trả lời! Cái gai ấy đã không được nhổ đi-mà lại mọc thêm một cái gai khác- em lão Khải dọn về ở ngay trong căn nhà lục giác bé tí ấy để  mở hiệu làm nữ trang bằng vàng bạc- suốt ngày đêm đập dỗ chan chát inh ỏi , xả nước thải lênh láng ra phía sau-ngay trước mặt mấy ngôi nhà của ông Huyên như một thách thức. Vốn căn nhà lục gíác ấy dược dựng lên không phải dùng để ở, sinh hoạt-nên không hề có một hệ thống hầm rút nào, không tiện nghi vệ sinh tối thiểu nên hằng đêm em ông Khải tha hồ đổ nước bẩn ra ngoài, nồng nặc mùi hôi thúi…
      Suốt mấy năm chiến tranh với Pháp, căn nhà lục giác bị bỏ phế-khu chợ cũng hoang vắng  biến thành nơi tăng gia sản xuất trồng bông vải, mì, bắp của nguời dân quanh phố-mấy căn nhà của Ông Huyên cũng um tùm cây  cỏ vì ba người con còn lại không sao ở cho hết . Không có một ai còn nghĩ đến chuyện nhà cửa, của cải-bởi ngay cả mạng sống  cùa họ cũng chỉ được biết từng ngày. Đời sống bị giam hãm bởi nhiều nỗi lo, nỗi sợ- và nghèo đói , nên mọi người đều ngơ ngác bương chải cho qua ngày. Mọi thứ trước cái chết đều trở nên vô nghĩa…
      Sau hiệp định Geneve vài năm-khu phố dần dần hồi sinh, căn nhà lục giác cũng đã được lão Khải cho sơn sửa lại, chia tài sản cho vợ chồng cô em gái út.Gia đình cô em gái này có đến bốn đứa con, mà căn nhà thì không có nhà cầu, giếng nước-nên mọi thứ đều chờ đêm tối đổ bừa ra phía chợ, có khi nước bẩn chảy ra bốn phía căn nhà .Thật ra, cô em gái lão Vĩnh còn được chia cho một ngôi nhà khá rộng ở dưới phố dọc quốc lộ, nhưng bà ta dồn hết con cái vào “ chiếc lô cốt” ấy với nhiều mưu tính .Cô em gái lão Khải cũng giống hệt tính người anh cả. Hình như mấy anh em của lão Khải đều  có tính na ná như nhau vậy. Ba người con của ông Huyên sau nhiều lần “ góp ý “ không xuể, đành bán bớt hai căn nhà nằm ngay phía sau căn nhà lục giác với giá rẻ để tránh bất hòa, xích mích . Người con trưởng của ông Huyên đã tỏ ra rất thông cảm với bà Xuyến-tên người em gái lão Khải-ưu tiên cho gia đình bà mua trước với giá rẻ hơn 10 phần trăm-nhưng bà Xuyến thờ ơ, đáp lời với giá rẻ mạt! Ông Mười ở dọc khu chợ mua một căn cho người con trai giữa có vợ ra ở riêng , và gia đình một người vừa tản cư lên phố mua một căn. Hai căn này nằm ngay sau căn nhà lục giác của bà Xuyến
      Bà Xuyến chờ đến năm người anh trai kế của bà lên làm thôn trưởng, nửa đêm cho cơi thêm phía sau hai tấm tôn dài bốn mét, dựng vách ván che-làm nhà bếp. Sáng ra, hai căn nhà phía sau thấy được thì đã muộn. Một  tay bà cầm dao phay, hai đúa con gái lớn cầm gậy-thách thức hai gia đình phía sau dám động đến mái hiên tôn  đã che gần sát trước mặt nhà của họ. Không ai dám làm gì-chỉ nguyền rủa, la ó ồn ào một lát rồi cũng im bặt. Đơn gởi lên thôn-bị người anh bà Xuyến xé bỏ.Gởi lên xã, bị vứt vào giỏ rác.Đến huyện. bị xếp lại. Mệt mỏi-chỉ thình thoàng ra đứng trước cửa nhà mà chưởi đổng vài tràng cho đỡ tức khi không ngửi nổi mùi khói bốc lên mù mịt hay mùi hôi thối phảng phất quanh nhà vậy thôi. .. 

      2-  

      Năm 1980-bà Xuyến chia căn nhà lục giác này cho cô con gái út vừa có chồng để có chỗ mua bán quanh chợ. Thật ra, người chồng của cô con gái khi cưới vợ không nghĩ đến “ chiếc lô cốt” tồi tàn, chật hẹp ấy-mà nghĩ đến phần hồi môn khá hơn.Khi dọn về trụ lại trong căn nhà lục giác bít bùng nóng bức ấy chỉ vài tháng-hai vợ chồng thường lục đục gây gỗ, có khi giằng co xô xác nhau phài nhờ đến công an. Căn nhà lục giác không đủ dưỡng khí cho một cuộc tình nở hoa kêt trái nên sau đó, hai người đã chia tay. Tình yêu cũng giống như cây hoa khó trồng-nó đòi hỏi đủ không gian, phân nước, nắng gió thì mới xanh tốt được. Đem giam một cuộc tình mới chớm vào trong “chiếc lô cốt” tối tăm, bịt bùng thì hỏi làm sao không héo tàn?.Bà Xuyến không hề quan tâm tới điều  gì ngoài xâu chìa khóa tủ vàng nắm giữ chặt trong tay khi người con gái khóc lóc yêu cầu được giúp đỡ để vợ chồng cô có một nơi sống tương đối dễ thở.  Bà Xuyến đã chọn xâu chìa khóa và để măc cho cô con gái thất thểu đến tòa án một mình trước sự hả hê của mấy người chị.
      Căn nhà lục giác lập tức biến thành nhà chứa hàng cho hai sạp hàng tạp hóa ở khu chợ phía trước của hai người con gái đầu đã sấp sỉ tuổi 40 mà chưa có ai dám đến cho dầu hai cô này chưng diện áo quần  son phấn không khác các ngôi sao người mẫu là mấy! Xem ra các mode áo quần, các loại mỹ phẫm đắc tiền khó quyến dụ được những đôi mắt chân tình lâu dài. Họ đến rồi đi như bầy ong vỏ vẻ ! Hai cô con gái của bà ngày càng tàn tạ trong son phấn như hoa cuối mùa! Bà vẫn thờ ơ, nắm chắc xâu chià khóa trong tay với niềm tự hào : “ Tao có tiền có vàng là sẽ có tất cả! “
      Rồi cậu con trai út cũng cưới được vợ nhờ người mai mối khéo ăn nói.Bà Xuyến đi đâu cũng khoe con trai bà đi tắm biển, picnic với người con gái xinh đẹp ở thành phố biển nhưng từ chối làm đám cưới ở nhà hàng vì sợ tốn kém! Bà duyệt danh sách khách mời, hạn chế không quá ba chục người đủ ngồi quanh hai chiếc bàn tròn đặt giữa nhà mà thôi. Sáu lễ rút lại còn hai lễ-hỏi và cưới, nhanh gọn trong một tuần. Bà đồng ý cho cô dâu đôi bông tai và mỗi người một chiếc nhẫn .Bà nói với họ nhà gái: “ Nếu  có ai đến hỏi cưới con  gái tôi, tôi cũng cho không, không hề đòi hỏi gì! Cũng chẳng cần lễ lộc, tiệc tùng chi cho thêm mệt! Tôi  cưới vợ cho thằng Hùng như vậy là đã quá lắm rồi! “.
      Sau ngày cưới vài hôm, người ta thấy bà Xuyến lo thu dọn hàng hóa trong căn nhà lục giác-và Hùng-con trai út của bà, đã cùng cô vợ trẻ dắt nhau về sống ở trong “ chiếc lô cốt “ ấy như vợ chồng chị ngày nào!   

      3-   

      Gia đình phía vợ của Hùng cũng lầm như gia đình chồng của người chị trước đó: Họ nhìn vào chiếc tủ vàng của bà Xuyến, chứ không phải nhìn vào “chiếc lô cốt” mấy chục mét vuông tạm bợ bằng tôn ván. Nhưng rút cục, con gái yêu của họ lại bị bà Xuyến nhốt vào “chiếc lô cốt” ấy như một con heo chui vào rọ, mà chẳng ngó ngàng gì.
      Hai vợ chồng Hùng nhẫn nhục sống được nửa năm, khi vợ cậu ta có thai 3 tháng-thì cũng đành phải rời xa căn nhà lục giác tối tăm nóng bức ấy mà về nhà mẹ ỉ ôi than khóc! Tình yêu lại một lần nữa không đủ dưỡng khí để sống chứ không phải như thuở nào chỉ cần “ một túp lểu tranh, hai quả tim vàng” là có thể cùng nhau qua ngày hạnh phúc! Càng về sau-tình yêu hình như  càng cần có thêm nhiều điều kiện mới có thể sống được. Tình yêu thật khó nuôi. Có lẽ- thời không khí bị ô nhiễm  của nền kỹ nghệ phát triển đã ảnh hưởng đến những đóa hoa tình yêu trong trắng chăng? . Mấy tháng đầu, Hùng còn gắng đạp xe lên xuống thăm vợ -nhưng khi vợ sinh, gia đình phía vợ cấm tuyệt không cho cậu ta bén mảng đến thăm con. Mấy đứa em của vợ Hùng còn hăm: “ Nếu ông cứ vác mặt lui tới, tôi sẽ đánh cho què giò!”. Hùng đau khổ vì mất vợ, không nhìn được mặt con, nhưng bà Xuyến thì tỉnh bơ tuyên bố : “ Tao sẽ bỏ ra vài chỉ vàng cưới cho mày con khác! Ngày nay con gái thiếu gì mà mày phải buồn? “.
      Sau đó không lâu-khi những lần ông mai đích thân đến nhà thương lượng với bà Xuyến hãy mở lòng thương con cháu mà mở tủ vàng ra lo cho chúng một chỗ ở tươm tất, một ít vốn liếng làm ăn, không kết quả-vợ chồng Hùng lại ra tòa như người chị trước đó mấy năm. Thế là một cuộc tình nữa đã được kết thúc chóng vánh như truyện phim ngay trong căn nhà lục giác ấy.
      Còn lại một mình trong căn nhà trống trải-Hùng sống lủi thủi, tự lo cơm nước bằng số tiền ít ỏi mà bà Xuyến dúi cho vào mỗi sáng. Hùng không có nghề ngỗng gì để làm. Không có mảnh bằng gì để xin việc ngoài bằng tốt nghiệp cấp 3-nên hằng ngày phụ đẩy chiếc ba gác sáng dọn hàng ra , chiều tối  bê hàng vào cho hai người chị để kiếm thêm chút tiền .
      Có lẽ vì quá  khổ đau cho cuộc tình chóng tàn và sư xa cách vợ con sớm hôm cô độc-Hùng quẩn  trí, thường cầm gậy chạy ra đường, vào chợ la hét om sòm. Không biết cậu ta chạy đi tìm ai, nguyền rủa ai- nhưng bà Xuyến chạy theo năn nỉ cũng bị gậy. Mấy người chị ế ẩm chanh chua đanh đá cũng bị rượt đuổi.
      Có hôm, mới sáng-Hùng đã cởi áo quần nhảy cẩng ra đường la hét. chưởi bới-không ai biết vì lý do gì.  Thời gian đầu, quanh chợ còn có người  hiếu kỳ rỗi việc bu lại xem thử. Nhưng dần dà về sau-nghe tiếng la hét của Hùng vang ra từ ngôi nhà lục giác kín mít-họ chỉ cười. Thở dài…
      Ông Mười-chủ ngôi nhà mua lại của con ông Huyên đã có lần gạ hỏi mua lại căn nhà lục giác để giở bỏ cho mặt tiền nhà con ông sáng sủa, không bị ô nhiễm bởi đủ thứ mùi nồng nặc từ chái nhà bếp của bà Xuyến phía trước-bà ta đã trề cái môi dài ra: “ Anh có trả tôi một cục vàng bằng cái đầu, tôi cũng không bán!”. Năm sau, con dường phía trước được chuẩn bị tráng nhựa. mở rộng-UBND thị trấn đã cho mời bà đến ký giấy nhận một lô đất bồi thường ở ngoại ô để bên thi công giở bỏ căn nhà lục giác theo sơ đồ đã quy hoạch. Bà Xuyến không chịu ký-đòi phải đổi một ngôi nhà mặt tiền đường phố chính rộng một trăm mét vuông. Dĩ nhiên là không ai dám chìu theo ý bà-dù bà có chạy chọt nhiều chỗ, nhiều thầy…
      Ngày sang lấp mặt bằng để chuẩn bị trải nhựa, bà tuyên bố, nếu ai đụng vào chân góc nhà của bà-thì sẽ biết tay. Bà đã nói thật. Toán thi công không dám đụng vào tuy căn nhà nằm choán ngay trên đường đi. Mấy ông nhà đất ở thị trấn cũng không dám đụng. Cuối cùng,  ở huyện cũng không dám đụng nốt. Người có trách nhiệm giải tỏa cao nhất chỉ than: “ Một ngày nhận được đến ba bốn cú điện thoại của đồng chí phó chủ tịch tỉnh..chỉ đạo từ xa, làm sao dám sờ vào cơ chứ? “.
      Con đường vẫn được hoàn thành dù cho căn nhà  đã quy hoạch phải giở bỏ còn nằm chình ình trước mặt mọi người. Nó còn đó như một thách thức, một thắng lợi của bà Xuyến, và cũng là một khẳng định đanh thép rằng cái tủ vàng của bà Xuyến  có một sức mạnh  rất đáng ghê sợ.
      Cái tủ vàng ấy còn thêm một lần nữa chứng tỏ sức mạnh khi sau đó không lâu-một toán người công tác ở thị trấn đến đo đạt, ghi chép, vẻ sơ đồ-chuẩn bị cấp giấy phép cho bà Xuyến thi công thành ngôi nhà đúc kiên cố. Năm gia đình ở phía sau căn nhà lục giác đồng làm đơn khiếu nại  gởi lên huyện .Bị ngăn cản, bà Xuyến đã chạy lên phòng tiếp dân vào ngày thứ Năm để xin xỏ, nhưng ông chủ tịch không giải quyết theo ý muốn ngông cuồng và ỷ lại của bà-ông còn cho bà biết thêm, bà đã không được xây cất, mà cũng không được quyền sửa chữa thêm gì nữa. Bà Xuyến hậm hực vì vàng mất, mà mọi chuyện không thành. Căn nhà vẫn đìu hiu như một khối u lở lói . Cái ô to của bà ở tỉnh đã bị xếp lại-về hưu rồi!
      Vậy là căn nhà còn nguyên đó với mái hiên tôn hoen rỉ, vách ván dần dần rã mục-hằng đêm Hùng phải lần mò lén lút tô trét xi măng quanh chân vách ván, để có thể giữ cho nó dứng vững trong mùa mưa bão.  
      4- 
      Cho đến ngày hôm nay -cô vợ của Hùng đã có chồng.
      Đứa con gái duy nhất của Hùng đã lập gia đình mà Hùng không hề hay biết.
      Bà Xuyến đã bị tê liệt nằm yên trên giường từ hai năm qua vì bị biến chứng của bênh cao huyết áp.
      Hùng vẫn lùi lũi chui ra chui vào nơi căn nhà ẩm thấp xiêu vẹo ấy.
      Và dòng đời vẫn đang lặng lẽ trôi chảy từng ngày từng tháng như thế…
      Chuyện về ngôi nhà do vậy chưa có hồi kết cục?
       
       

      Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com

      Cuộc đời một giấc mộng
      Thời gian thoáng mây bay
      Nguồn tâm không xao động
      Khoan thai
       
      #3
        Thanh Vân

        • Số bài : 3322
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 28.05.2007
        • Trạng thái: offline
        RE: Pleiku, phố núi trời gần * - Minh Nguyễn 07.11.2010 18:36:27 (permalink)


        Ba Điều Ước

        Chuyện ba điều ước đã xưa như trái đất; cũ như ngàn năm Thăng Long. Rồng bay quên lối về nên dân tộc ta còn chưa qua cơn mê…" Không biết ông bạn già đã uống mấy ve hay uống lộn thuốc mà triết lý dễ nể! Anh bạn trẻ-kể chuyện đã có từ khi anh chưa biết nhậu, chuyện "Ông lão đánh cá và con cá vàng" do vỉa hè chuyển dịch-thì ngu tôi 3 năm 2 lớp, làm học trò không sách vở cầm tay… cớ gì không biết được. Nhưng nhớ chuyện anh bạn trẻ kể hôm nay-đã nghe bạn già kể từ khi còn trẻ. Hôm đó, mấy đứa trốn học giờ chính trị, tụ tập bên quán cà phê hông trường, ngồi tán dóc với bình trà cám và cơn mưa vào hạ… Tên bạn ngổ ngáo ngồi nghe cô bạn kể chuyện 3 điều ước, rồi hắn kể đáp lại chuyện cá vàng. Hắn kể: Ông lão đi đánh cá cả ngày. Từ mặt trời mọc tới mặt trời lặn, chỉ được con cá vàng bằng ba ngón tay. Lão nghĩ: đưa con cá này về nhà thì lão bà không bỏ qua cho lão vì cả ngày lão bà trông lão ông về để bán cá mua gạo, chừa chút cá vụn kho, nấu qua bữa… Hôm nay chỉ được mỗi con cá vàng bé tẻo tèo teo thế này thì… lão thở dài theo mặt trời lặn. Bỗng cá vàng lanh lảnh trong khoang, "Lão ơi! Lão thả tôi đi. Tôi chết khô trong khoang thuyền của lão thì chiều nay lão bà cũng không để yên cho lão đâu-với thân tôi bé bỏng. Nhưng lão thả tôi thì…"
           Ông lão tóc trắng như sóng bạc đầu, có chuyện gì trên biển mà ông không biết: Cá đuối không giữ lời, vì lúc đuối nó chuồn êm; cá chuồn không chữ tín vì nguy hiểm là nó…  chuồn. Lần đầu ông lão gặp con cá vàng ngây thơ! Người ta hứa với trời đất, vạn vật vô tri chứ ai lại đi hứa với con người để xoán ngôi vô thiên lủng. Nhưng lòng nhân trong lão thắng sợ hãi bà lão, lão thả con cá vàng xuống biển như cảm ơn một người cho địa chỉ của ông thầy thuốc nam nào đó ngoài bến xe… Lão về, de đít vô chòi chứ không trườn gương mặt già nua, sóng gió như mọi hôm. Lão bà rít lên như gió qua lều… một buổi tối buồn thảm từ trong tâm khảm buồn ra của hai vợ chồng già. Không ai buồn nói với ai tiếng nào nữa, ngủ thì không ngủ được vì đói và người lớn tuổi ít ngủ.
           Lão lần theo ánh trăng, lang thang ra biển để bắt mớ ốc về cho lão bà đỡ dạ. Tội nghiệp bà theo ông cả đời-chưa có ngày ấm no đúng nghĩa… lão thơ thẩn nghĩ với trăng và biển, cả ba như nhau, đời này không ai hiểu. Bỗng ngoài khơi ánh bạc chói lòa, rẽ nước vào bờ. Thì ra cá vàng: "Tôi đã xin Ngọc hoàng Thượng đế cho lão 3 điều ước. Ngọc hoàng không ngờ dưới dương gian còn có người như lão! Bây giờ lão về nhà nghĩ đi, rồi nói với tôi. Lão muốn gì được nấy, - 3 điều."
           Cá vàng bơi đi, lão trở về căn chòi giột nát trong cơn đói, mệt, đủ để lão qua đời. Ánh trăng làm chứng lão ước một hũ gạo đủa ăn đến cuối đời lão bà, một căn chòi không giột nát khi mưa và cái áo đủ ấm cho bà lão không rét run cầm cập, khi biển nổi cơn thịnh nộ… Nếu được ba thứ ấy thì lão yên tâm trầm mình xuống biển khơi để trả mạng cho những con cá vô tội đã bị lão đánh bắt trong nhiều năm qua… Lão sẵn sàng từ khi còn trẻ nên chết già, đời lão không có gì vui.
           Ánh trăng biển nhạt nhoà hay mắt lão đã loà: Bà lão ngồi đợi lão chứ không ngủ trước. Bà đợi lão,- như nhiều năm trước- khi hai người còn trẻ cũng đợi nhau trong những đêm trăng, làm lão cảm động biết chừng nào. Lão nói lại chuyện cá vàng cho vợ nghe. Bà lão quên đói, quên mệt, quên già… quên luôn lão chồng hấp hối vì kiệt sức… "Ông ơi!... Sao chiều giờ ông không nói tôi nghe… ông thiệt là u mê như biển… Bây giờ, ông hãy ra biển ngay! Gọi to lên cho cá vàng vào bờ, và nói với nó… "Cho tôi trẻ đẹp như ngày nào. -Một lâu đài tình ái. -Và… suốt đời nhung lụa như Hoàng hậu trong cung… Đi đi ông, nhanh lên! Mà khoan đã… sao lại chỉ cho có 3 điều ước. Ông hãy nói với cá vàng là tôi còn 3 trăm điều ước nữa nha ông. Ít nhất cũng cho tôi thêm vài điều… an ủi. - Như ông cũng trẻ mãi không già… Tôi ước, ông trẻ như ngày hẹn hò ngoài biển, trăng đẹp mãi như hôm ông bơi ra biển đêm để hái hoa biển cho tôi… ông còn nhớ không? Ông ước gì không?..."
           Bà lão thao thao bất tuyệt, lão thì đói và mệt muốn tắt thở. Lão gắt… "Ước cái con… cò." Thế là căn chòi bên ngoài mưa lớn bên trong mưa nhỏ của lão mọc đầy cò bốn vách, trên nóc… tới dưới nền đất cát cũng lổn ngổn… cò. Bà lão chết khiếp, "Ông ơi,... là ông! Ước gì ác nhơn thất đức. Một con đã khổ thân già. Bây giờ, tôi có trẻ đẹp như ngày nào. -Một lâu đài tình ái. -Và… suốt đời nhung lụa như Hoàng hậu trong cung… mà tứ bề thọ địch, cò lả cò lơi thế này thì lực bất tòng tâm! Thôi… lỡ rồi. Ông ước cho lũ cò này tan biến đi mau, để tôi chết tiếc…"
           Lão ước, "Tất cả cò hãy biến mất cho ta!" Lập tức, cơn gió nhẹ hều mang đi tất cả. Hai ông bà đi nằm vì trời đã khuya lắc khuya lơ…  trăng vằng vặc xuyên qua mái giột; gió lộng lộng, biển gào muôn thuở… Bà lão chỉ còn một điều ước sau cùng nên đắn đo không ngủ. Bà không cho ông nói gì, vì sợ cá vàng nghe thấy lại tưởng ước mơ của ông thì khổ. Ông phải im lặng để bà suy nghĩ. Bà nghĩ bằng óc-không ra; nhưng nghĩ bằng tay lại sáng ra chân lý… Lão ước, "Tất cả cò hãy biến mất cho ta!" Nhưng cá vàng ngu ngốc, lại mang đi luôn con cò của lão. Bây giờ bà lão có ước: trẻ đẹp như ngày nào. -Một lâu đài tình ái. -Và… suốt đời nhung lụa như Hoàng hậu trong cung… nhưng sống trong nhung lụa như Hoàng hậu, ở lâu đài tình ái, trẻ đẹp như nào… thì ích gì khi Quân vương là một tên thái giám. Nghĩ chín đêm trường: trăng đã già, gió đã mỏi, biển gọi tên người yêu từ ngàn xưa tới ngàn sau với tiếng sóng muôn đời của biển…  Đêm đã cạn mà sao buồn chưa hết. Mặt trời lên, bà lão nói phu quân: "Tôi có tất cả nhưng không có… ông thì đời này vô nghĩa! Ông hãy ra biển, nói với cá vàng: Trả lại cho tôi… từng tuổi này tôi mới biết qúy cái của mình, ông đi đi…"
           Ông lão chào ngày mới, ra khơi. Chiếc thuyền con bồng bềnh hình ảnh cô gái biển của nhiều năm trước. 

        Anh bạn trẻ kết thúc câu chuyện với hớp bia đầu thu nhờn nhợn. Những tiếng cười ma quái im ru. Hình như là chuyện cười đôi khi làm người ta muốn khóc. Nhớ 3 điều ước của cô bạn học, không hứng thú lúc nghe. Thì ra chuyện kể để người ta thấm-theo thời gian và những thăng trầm…
           Cơn mưa hạ tuổi ngồi quán cóc, bạn bè như mưa nắng đi về… mây vẫn trắng trôi theo nhau biền biệt, em có về con đường ấy nữa không… đã mấy mùa bái biệt những chiếc ghế lòi đinh, bạn bè chia nhau điếu thuốc tập tành nhả khói ra thơ tình lãng tử. Bước thời gian lững thững đi về. Câu chuyện cũ mới hoài trong thấm thía…  Tại một làng chài hẻo lánh xa xôi, có người thanh niên đã sinh ra và lớn lên với tiếng sóng hiền hoà của biển… Ngày kia, gió bão đưa về chiếc độc bình dạt trôi. Người thanh niên đã cứu vớt chiếc bình trôi dạt. Anh ta mở nút vì tò mò chứ không có ý xúc phạm người nút chiếc bình để quên đi, hay không muốn ai biết một điều gì đó! Chút nút bìng bật ra làm khói, vị thần linh bị nhốt lâu ngày đã tĩnh tâm… cười dung dị với anh thanh niên hiền lành, "Cảm ơn con đã cứu ta, nếu không thì chiếc bình này đã trôi về vô biên, mang theo điều hạn hữu như một vị thần cũng bị phạt. Không có ai đúng đắn trọn đời, luôn cả người nghĩ ra hình phạt là đã tự nhặt cho mình-từ đó ăn năn… ta biết nói với con cho hết lòng biết ơn của ta, đền đáp cho con gì đây cho xứng đáng với công cứu mạng… Thôi, ta cho con 3 điều ước. Con muốn gì?..."
           Anh thanh niên không thể nghĩ ra liền 3 điều ước muốn nên hẹn gặp nhau sau. Vị thần bay đi, anh thả hồn về những ước mơ thời thơ ấu, -ngồi nhìn đám trẻ con hồn nhiên, say mê chơi đùa, tuổi thơ của anh đã qua đi hôm nào… để lòng riêng ôm ấp những mong muốn hiện tại, phải như hôm đó anh can đảm hơn, tài giỏi hơn thì đã cứu được dân làng khỏi tay bọn cướp. Và tương lai về sau của anh sẽ ra sao? Có được mọi người kính trọng như lão làng sử xự: Hôm cá voi mắc cạn, mọi người đem dao, búa, cưa ra bãi biển để xẻ thịt về ăn. Lão chỉ nói: "Hãy trả lại biển những gì của biển." Lão chỉ nói thế thôi mà cá voi không chết, lại được mọi người giúp đỡ-thoát chết…
           Đêm đã xuống chập chùng ý tưởng, người thanh niên đã biết mình muốn gì? Anh nói với thần linh: Xin hãy ban cho tôi sự hồn nhiên của trẻ thơ; lòng dũng cảm của tuổi trẻ; và nhân ái, vị tha của tuổi già…" Vị thần nghe xong, "Cảm ơn con đã cho ta toại nguyện, ta đi tìm người đó mấy trăm năm, bị bắt nhốt vào độc bình, không biết thời gian vì không thấy mặt trăng mặt trời… Con đã ước đúng những thứ qúy nhất trong đời người. Ta sẽ ban cho con."
           Câu chuyện đứng đắn quá của người bạn học, không biết thời gian có giữ mãi cho cô là một người tử tế. 



        Cuộc đời một giấc mộng
        Thời gian thoáng mây bay
        Nguồn tâm không xao động
        Khoan thai
         
        #4
          Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

          Chuyển nhanh đến:

          Thống kê hiện tại

          Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

          Chú Giải và Quyền Lợi

          • Bài Mới Đăng
          • Không Có Bài Mới
          • Bài Nổi Bật (có bài mới)
          • Bài Nổi Bật (không bài mới)
          • Khóa (có bài mới)
          • Khóa (không có bài mới)
          • Xem bài
          • Đăng bài mới
          • Trả lời bài
          • Đăng bình chọn
          • Bình Chọn
          • Đánh giá các bài
          • Có thể tự xóa bài
          • Có thể tự xóa chủ đề
          • Đánh giá bài viết

          2000-2022 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9