Chiều Ghềnh Ráng

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 45 bài trong đề mục
Tác giả Bài
tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Chiều Ghềnh Ráng - 13.08.2011 10:11:51
                                        Chiều Ghềnh Ráng.
 
                                               Tản văn của Nguyễn Chu Nhạc
 
          Đấy là một buổi chiều giữa mùa hè miền Trung đầy nắng gió. Một buổi chiều đầy ăm ắp những hình ảnh về cảnh sắc thiên nhiên nơi Ghềnh Ráng và hình bóng, thanh điệu từ những câu thơ của Hàn Mặc Tử âm âm từ những trang sách hiện hình. Không hiểu sao, bước chân trên mảnh đất gần thế kỷ nay bao dung những con người bị cuộc sống ghẻ lạnh, chối bỏ, song đầu tôi lại cứ lởn vởn những câu thơ mượt mà êm ái bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” của Người thơ “ Sao anh không về chơi thôn Vỹ/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Mướt quá vườn ai xanh như ngọc ...”. No con mắt nhìn, đầy hình trong máy ảnh, nhẩm bụng sẽ viết một cái gì đấy. Vậy mà...
          Đầu năm 2008, vào Miền Trung ( Văn phòng VOV Miền Trung ), tôi định bụng, chuyến công tác đầu tiên trong địa bàn mình phụ trách ( 9 tỉnh duyên hải miền Trung, từ Quảng Bình đến Khánh Hòa ), sẽ “ hành phương Nam “ và tạm dừng chân Bình Định. Thâm tâm, tôi muốn đến hai địa danh nổi tiếng thuộc tỉnh Bình Định mà mình chưa hề đặt chân, đó là Quy Hòa-Ghềnh Ráng và Tây Sơn.
          Thành phố Quy Nhơn như nhoài ra biển, mà  thế lao ấy là con đường dẫn lên Quy Hòa, Ghềnh Ráng. Nắng vẫn nắng, nhưng gió biển lồng lộng, làm không khí dễ chịu hẳn. Đường vào Quy Hòa lượn quanh co giữa đồi núi và biển, đất khô cằn nhưng đó đây vẫn có những loại cây hoang, mà giờ đây đã dần hiếm, bởi người ta đang săn tìm đưa về trồng vườn nhà thành cây cảnh. Núi, biển và cây dại nơi đây, đó là những thứ rất đỗi thân thuộc với những người không may bị mắc chứng bệnh phong hủi từ nhiều chục năm nay, kể cả Hàn Mặc Tử. Bóng dáng khu trại Quy Hòa hiện ra sau khúc quanh. Dù đã được nghe kể, được đọc những bài viết, được xem những hình ảnh về khu trại này từ lâu lắm rồi, song tôi vẫn có cảm giác tò mò. 
          Nhiều thân phận người bệnh ở khu trại phong hủi này, nghề làm báo đã cho tôi tiếp cận họ qua nhiều phương thức khác nhau, nên khi đặt chân đến đây, thứ tôi mong muốn không phải là tìm gặp người này, kẻ nọ trong số họ để hỏi han những câu hỏi không nên hỏi, mà để cảm nhận bầu không khi đặc biệt nơi đây. Cũng mặt đất, cây cỏ, núi non, bầu trời và biển cả như vô vàn nơi khác, song con người thì lại mang thân phận khác. Căn bệnh quái ác mà họ mang trên mình, dù đã được khoa học chứng mình, giái đáp, song vẫn không dễ để cộng đồng gần gũi chia sẻ, bởi định kiến bao đời ăn sâu bám rễ bằng sự kỳ thị, e dè... Tha thẩn ngắm vườn tượng bên ngoài, mà đầu tôi cứ ong ong những bài thơ điên, những câu thơ kỳ dị của Hàn thi sĩ một thuở...
          Quay trở ra, lên Ghềnh Ráng. Một không gian Hàn Mặc Tử đậm đặc, từ ngôi mộ thi nhân đến nhà lưu niệm, rồi những bức ảnh Hàn thi sĩ, và ảnh những người đẹp liên quan đến đời thơ của thi nhân... Tất thảy đều gợi nhớ về người thi sĩ tài hoa bạc mệnh nổi tiếng của làng thi ca Việt. Thử hỏi, nếu thi nhân không bị mắc chứng phong hủi, mà lại thành đạt sánh bên các người đẹp đến đầu bạc răng long, thì biết đâu, lại chỉ làm ra những bài thơ ve vuốt nịnh đầm, chứ chắc gì, Hàn thi sĩ có được những bài thơ hay, những tứ thơ và hình bóng kinh dị trong mỗi bài thơ để sống mãi với nhân gian ?... Ôi, thật là một giả thiết không nên có ?!...
          Tôi tìm ra bờ biển, tương truyền, nơi xưa cũ, Hàn thi sĩ hay ngồi một mình nhìn ra biển, ngóng trông chờ điều kỳ diệu đến với mình. Nhìn ngắm bốn bề không gian. Chỉ cách khu nhà lưu niệm có một quãng ngắn khúc quanh, mà ở đây yên tĩnh lạ. Chỉ có tiếng sóng và tiếng gió. Kìa đá cuội. Những hòn cuội to nhỏ đủ cỡ rải rác khắp bờ, hẳn là có từ thời Hàn. Chiều muộn nghiêng hẳn về phía Tây, hắt những vạt nắng quái đan phía trên những con thuyền xa mờ tít ngoài vịnh. Giơ ống kính, thu không gian vào tầm nhìn. Bầu trời nghiêng, biển nghiêng, thành phố nghiêng, và nỗi nhớ cũng nghiêng chao về cố thi nhân ...
          Gần đây, tôi và nhà thơ Trần Đăng Khoa có chuyến công tác xuyên Việt. Dừng chân ở Quy Nhơn vào chiều đầu hạ. Bữa tiệc chiêu đãi tối được đặt tại nhà hàng ngay trên Ghềnh Ráng. Khoa hình như lần đầu lến Ghềnh Ráng, nên anh có vẻ bỡ ngỡ với cảnh sắc nơi đây. Chúng tôi lại cùng nhau ngắm hoàng hôn buông trên biển, ngắm những viên sỏi bên bờ vịnh. Khoa khẽ đọc mấy câu thơ của Hàn mà anh nhớ.
          Hai thi nhân lớn của làng thi ca Việt. Chẳng có gì để so sánh hay liên tưởng về thi ca, bởi họ thuộc về hai thời đại khác nhau. Có chăng, cùng tâm hồn Việt. Ngoài kia, biển trời Ghềnh Ráng đã sẫm một màu đêm ...
         
<bài viết được chỉnh sửa lúc 13.08.2011 10:13:45 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 04.09.2011 12:28:59
Lũ đẹp

 Tản văn của Nguyễn Chu Nhạc
 
Năm nay, một tuần trước khi lũ đồng bằng sông Cửu Long đạt đỉnh, tôi có chuyến công tác về miền Tây Nam bộ.
Trước đây, khi còn làm việc ở Bảy Núi, An Giang, mỗi lần về Tp.Hồ Chí Minh rồi theo tàu Thống Nhất ra Bắc đi phép, tôi thường phải đi mất 2 ngày. Ngày đầu đi xe đò từ Tri Tôn lên Long Xuyên, ngày sau từ Long Xuyên lên Tp.HCM. Lúc trả phép cũng vậy. Khi đó, chùng chình mất thời gian là bởi vượt sông Tiền, sông Hâu, buộc phải qua phà Mỹ Thuận và phà Cần Thơ ( hoặc phà Vàm Cống nếu đi Long Xuyên ). Xe cộ rồng rắn nối đuôi dài hàng cây số chờ xuống phà. Thêm nữa, đường sá xuống cấp khó đi, nếu trúng mùa gặt thì hai bên lề, bà con nông dân phơi thóc lúa choán phân nửa lòng đường.
Giờ thì xe bon nhanh trên đường cao tốc Sài Gòn-Trung Lương, vượt cầu Mỹ Thuận và Cần Thơ chẳng mấy chốc. Lần này, đoàn cán bộ VOV chúng tôi đi Miền Tây là để tổ chức lễ công bố phát sóng phát thanh từ Trạm phát sóng FM trên độ cao 712m ở Núi Cấm ( Bảy Núi, An Giang ), thuộc Dự án tăng cường năng lực phát sóng phát thanh khu vực Tây Nam bộ. Vượt cầu Mỹ Thuận, rẽ sang đất Đồng Tháp, ngang Lai Vung, Lấp Vò. Ngày trước, ấn tượng với tôi, mỗi lần đi xe đò qua vùng đất lầy trũng nằm kề sông Hậu này, là những nếp nhà đơn sơ như những lều vó cặp mép lộ giăng hàng nổi nênh trên mặt nước đồng mênh mông những năn nác, cỏ dại... Nay thì lộ đẹp, nhà cửa san sát khang trang. Thì qua những mấy chục năm rồi có khác.
Chiều muộn. Bắc Vàm Cống vẫn xe cộ đông đúc, vẫn những tiếng rao hàng rong chốc lại vang lên bền bỉ buồn buồn. Ráng chiều suộm mặt sông, hắt sáng lên những con phà và tàu thuyền ngang dọc. Mênh mông nước. Lũ Cửu Long đang mùa. Năm nay lũ to hơn nhiều năm trước. Biến đổi khí hậu, mưa nắng không còn đúng nhịp điệu thiên thiên xưa cũ nữa, lại thêm việc người ta xây đập làm thuỷ điện mãi trên thượng nguồn, làm cho lũ sông Cửu Long thấp mấy năm nay, khiến cả vùng đồng bằng Tây Nam bộ mất mùa lũ. Vậy mà năm nay lũ to, lại về đúng nhịp. Người dân bảo, lũ năm nay là lũ đẹp.
Bữa cơm tối ăn tại Đài Phát thanh truyền hình An Giang thân mật. Phần lớn món ăn dân dã mang đậm chất bản địa. Tuyệt nhất là lẩu cá linh với bông điên điển. Vài tháng trước, trong chuyến về Cần Thơ, chúng tôi còn nói chuyện thèm cá linh vì cá linh giờ đã là đặc sản khá đắt tiền, rằng chẳng biết năm nay mùa cá linh sẽ ra sao. Vậy mà, giờ lại được ăn lẩu cá linh, lại cá linh non, thì mới tuyệt làm sao ! Anh Sáu, bí thư tỉnh ủy An Giang, bạn học cùng lớp với tôi cách đây mấy năm, trong một cua đào tạo tại nước ngoài, thân tình bảo, hôm sau, sẽ đặt giúp thực đơn cho bữa tiệc chiêu đãi của VOV toàn những món đặc sắc chế từ sản vật sông Hậu và đồng đất An Giang. Quả vậy, bữa tiệc chiêu đãi sau lễ công bố phát sóng hôm sau, thật đặc biệt. Có hai món đáng nhớ nhất, ấy là cá linh tẩm bột chiên ròn và chuột đồng ướp sả nướng. Năm nay, lũ lớn nên cá linh từ Biển Hồ theo nước xuôi dòng về nhiều, và chuột đồng cũng lắm. Tôi đã từng sống ở đây nhiều năm nên biết cái ngon của hai món ăn này, còn với phần đông người khác, ít nhiều tò mò và e ngại trước món chuột đồng ướp sả nướng. Cũng phải thôi, ai đã từng thấy những con chuột cống to sụ dơ dáy nơi phố thị, làm gì mà chả e ngại. Chuột đồng vùng sông nước An Giang vào mùa lũ, chúng bơi thành đàn, nương theo con nước, lặn ngụp giữa đồng, bám thân bò lên ăn những đọt cỏ non vươn trên mặt nước đồng. Chỉ sinh sống như vậy nên thịt chúng vừa săn chắc, vừa béo, lại thơm. Đó thật sự là món khoái khẩu của dân nhậu miệt sông nước này từ bao đời rồi.
Con đường từ Long Xuyên đi Châu Đốc, rồi bẻ quẹo đi Núi Sam, Nhà Bàng, Tịnh Biên, Tri Tôn, bên sông, bên đồng, mênh mông nước. Lũ đẹp, cụm từ ấy luôn được lặp đi lặp lại trên miệng người xứ sở này. Lũ đẹp, niềm vui hiện rõ trên gương mặt mọi người . Bên dưới mặt đất đồng bằng là túi phèn tiềm tàng. Ấy vậy, năm nào lũ lớn lũ đẹp, không những nhiều tôm cua cá về theo nước, mà thêm phù sa màu mỡ, đồng ruộng được thau chua rửa mặn. Ngược lại, lũ nhỏ, vụ sau mất mùa...Bao đời nay đã thế, và bây giờ cũng không mấy khác. Kỹ thuật canh tác cao cũng chỉ giúp được con người ta phần nào thôi, bởi thiên nhiên có những quy luật riêng của mình
Hôm chia tay Miền Tây, máy bay cất cánh từ sân bay Trà Nóc, Cần Thơ. Đồng bằng sông Cửu Long trắng trời nước, từ cửa sổ máy bay nhìn xuống, thấp thoáng những mái nhà, những hàng dừa xanh... Lũ đẹp !...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 21.09.2011 10:41:45
Sáng nay...


Sáng nay, có việc phải nhào ra đường sớm.  Tôi thoáng ngỡ ngàng. Phố xá vắng lặng. Thường nhật, thành phố lúc nào cũng như cơm sôi sùng sục, nay tĩnh lặng lạ thường, cũng khiến ta phải gợn mình.
Giờ mới để ý đến nắng, đến gió, đến hàng cây và màu hoa bên đường ngày nào ta cũng qua, đến quán trà chén nơi đầu ngõ nhỏ, quán cà phê kiểu Paris... Hiu quạnh. Ấy là bởi, ngày thường mỗi khi ra đường, phải lưu thông trong dòng xe cộ chật cứng và lộn xộn, sặc sụa hơi xăng và hơi người, khiến ta thu mình, gò người trong sự tự bảo vệ, chỉ nhăm nhăm mà đi sao cho nhanh chóng đến nơi, miễn là sớm thoát khỏi sự gò bó khốn khổ. Giờ thì thèm bỏ kính mắt, bỏ cái rọ mõm ( khẩu trang ), để mà căng mắt nhìn màu vàng của nắng, màu xanh của cây, để mà hít thở hơi thu cho thỏa...
Sáng ngày Quốc khánh. Kỳ nghỉ kéo dài những 3 ngày, thế là dân tình thi nhau đi đâu hết cả. Người quê lập nghiệp sống lâu ở phố, khá giả thì vợ chồng con cái xe cộ, áo quần, quà cáp linh kỉnh về quê, tránh cái tiếng " áo gấm đi đêm ", lại được tiếng " áo gấm về làng "; đám dân quê ra phố kiếm việc làm, thì thu vén chút tiền kiếm được, sắm sanh chút đỉnh mang về quê cho gia đình; cánh sinh viên thì đứa về quê, đứa rủ nhau thành hội đi pic-nic đâu đó xa hơn; người phố chẳng đi đâu thì cũng dậy muộn cho thỏa cơn thèm ngủ mà thường nhật không có ... Ôi thôi, có cả tá lý do để sáng nay, phố xá Hà Thành ắng lặng ...
Nhớ ngày xưa, mỗi dịp Quốc khánh, dân quê nô nức kéo nhau ra phố, ra Thủ đô đi chơi phố, xem triển lãm, xem duyệt binh, xem bắn pháo hoa, ăn kem Tràng Tiền và chụp ảnh lưu niệm Bờ Hồ lấy hình bóng Tháp Rùa ; khi ấy, dân phố thì nhà nhà mua sắm quà cáp, làm cơm để tiếp người nhà quê ra chơi phố... Nay ngược lại hoàn toàn. Cái xã hội nông nghiệp cũ đang đổi chiều, nhưng chưa thành xã hội công nghiệp, mà chỉ ở dạng thức khác của xã hội nông nghiệp màu sắc Á Đông mà thôi. Bởi xét về khía cạnh tâm lý xã hội, hiện vẫn là tâm lý của một xã hội nông nghiệp, kiểu mới ... Hay, hay không, vẫn còn phải bàn, phải chờ.
Chỉ có thiên nhiên mùa thu là chẳng màng đến tâm lý xã hội kiểu gì. Nắng lá đến độ hiu vàng, lặng lẽ trở mình, đợi ngày thu chín !...


 

   
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2011 10:46:26 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 21.09.2011 10:45:24
Nhớ bão rằm tháng tám xưa


Năm nay, đúng dịp Trung Thu, mưa gió nhiều ở khắp nơi, trẻ em vui thì vẫn vui đấy, song khó mà được ngắm cảnh trăng tròn và phá cỗ dưới trăng.
Thời tiết thản nhiên, vận hành theo quy luật của mình, khó mà chiều lòng người được. Thường thì vào dịp này, đã qua hẳn tiết Ngâu tháng bảy, nên trời dễ quang mây, trong trẻo. Nhưng cũng có năm, thời tiết bất thường, Ngâu muộn nên tiết mưa dầm kéo cả sang tháng tám âm lịch.
Cũng không hẳn do biến đổi khí hậu gây nên sự bất thường, trước đây, thời tiết bất thường từng có nhiều rồi.
Tôi nhớ, cách đây mấy chục năm, khi ấy tôi đang học đại học năm cuối. Năm đó, tết Trung thu đúng vào ngày nghỉ cuối tuần, tôi từ trường đạp xe về quê ăn rằm tháng tám với mẹ. Đài báo bão, lại đổ bộ vào trung tâm đồng bằng Bắc bộ. Thường thì dịp này, bão ít lên phía Bắc, mà hay vào miền Trung. Vậy mà, năm ấy, đúng chiều muộn rằm tháng tám thì bão đổ vào. Gió cấp 12 gầm rú, lồng lộn trên không trung, quật nát bươm những ngọn tre, cây trái trong vườn cũng tơi tả. Bưởi, hồng xiêm, và sấu, ổi vườn nhà rụng hết, vung vãi khắp vườn...
Gió giật, làm tung một góc mái rạ chái nhà tôi. Hai mẹ con tôi lúng túng, chẳng biết chống đỡ ra sao. Chỉ biết chốt chặt những chốt cửa chính, cửa sổ mà thôi. Gió theo chỗ mái bị thổi bay, xộc vào nhà, xô đổ đồ đạc trong nhà. Rồi mưa. Mưa như trút. Khi mưa to thì gió cũng giảm đi nhiều. Lúc ấy, không còn lo chốt cửa nữa, hai mẹ con tôi lo tìm thau chậu, ang nồi, có bao nhiêu mang ra hết để hứng nước mưa. Con chó mực, cũng rấm rẳng kêu, luẩn quấn bên chân chủ lo chống giột ...
Trời tối, bão tan, mưa ngớt nhiều. Hai mẹ con tôi mở cửa, ra sân vườn. Chao ơi, tất cả đều tan hoang, ngổn ngang. Lại cắm cúi lo dọn dẹp, nhặt hoa quả rụng đầy vườn...Mẹ tôi thì cứ ca cẩm, rằng mưa bão cướp mất tối vui ngắm trăng phá cỗ Trung thu của bọn trẻ. Mà ngày ấy, thời bao cấp còn nghèo, trẻ quê đâu có quà gì. Cây trái vườn nhà có gì thì bầy nấy, trò chơi cũng là những chiếc đèn ông sao tự mầy mò dán lấy, rồi đó đốt những hạt bưởi khô xâu thành chuỗi để tinh dầu bưởi cháy phát những tia sáng kèm mùi thơm hăng hăng...
Năm nay, trung thu lại mưa nhiều. Nhớ trận bão rằm tháng tám xưa. Nhớ mẹ. Và nhớ tuổi trẻ đã đi qua ...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2011 10:47:47 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 27.09.2011 17:55:30
                                                             Quả cuối mùa 

                                                         Tản văn của Nguyễn Chu Nhạc

Hoa quả bây giờ, mùa nào thức ấy, từ siêu thị sang trọng đến hàng rong, cơ man, tha hồ mà lựa chọn. Thậm chí, hoa quả trái vụ cũng có, bởi đã có giống mới cho quả quanh năm, hoặc hàng nhập từ nước ngoài. Vậy mà, để khi cầm miếng quả lên miệng cắn, nhấm nháp thấy ngon, thấy thú vị, thật khó. Còn như thấy thi vị, thì càng không !...

Lâu lâu, nhà đi chợ về, mua được mớ táo, mớ ổi ta, mang rửa qua rồi bầy ra đĩa, đã thoang thoảng mùi thơm rồi. Nhẩn nha chọn lấy một quả, ngắm nghía no con mắt, đưa lên hà hít một chút, lấy hương thơm đánh thức thính giác, rồi mới lựa chiều cắn nhẹ, nhai chậm và ngẫm nghĩ, để thưởng thức cái hương vị tự nhiên của cây quả, ta sẽ thấy, không có vị thuần nhất như loại quả giống mới, mà cảm nhận được vị ngọt, pha chút chua, hơi chan chát của loại quả tự nhiên...Và khi ấy, quá khứ, tuổi thơ đồng hiện trong ta, lung linh huyền diệu làm sao ...

Hồi nhỏ, khi gia đình tôi còn ở Hà Nội, tôi sống trong khu nhà 50A Trúc Lạc, phố Phó Đức Chính. Khu nhà nằm trong làng Trúc Lạc xưa, ven bờ hồ Trúc Bạch, có vườn rộng quanh năm rợp bóng nhãn, roi, ổi... Rồi đó là những chuyến ngao du lên vùng Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá ven Hồ Tây, xứ sở của hoa trái Hà Thành ngày ấy. Thế nên, tôi đã sớm ý thức về cây trái thiên nhiên. Sau này, sơ tán tránh chiến tranh về quê Văn Lâm, Hưng Yên, mảnh đất vườn quê nhà tôi khá rộng, Vườn tạp kiểu xưa, cây trái tự túc, nên cũng có đủ loại cam, chanh, bưởi, ổi, na, mít, sấu, thị, hồng xiêm...Thôi thì mùa nào thức ấy. Quê ngoại tôi cách đó gần chục cây số, vườn rộng những 5 sào đất, ao chuôm đầy đủ, cây trái không thiếu thứ gì. Tôi quen gọi là khu vườn cổ tích. Năm nào cũng vậy, dăm ba lần theo bố mẹ, chị gái sang quê ngoại vào những dịp giỗ tết và nghỉ hè. Nhất là kỷ nghỉ hè, được ở quê ngoại hàng tuần, hàng nửa tháng. Vui nhất, là được hội quân, đám trẻ chúng tôi hàng chục đứa, con chú con bác, con cô con cậu, đôi con dì với nhau, từ Hà Nội và các nơi kéo về. Chúng tôi câu cá, và tuần hành mọi xó xỉnh trong vườn, leo trèo, bứt quả chín quả ương, nếm thử. Vui thật đấy.
Song với riêng tôi, lặng lẽ dấu trong lòng một cái thú, ấy là tầm quả cuối mùa. Quả giữa vụ, đương nhiên không có gì để nói. Với cây trái, có hai thời điểm ấn tượng, ấy là quả đầu mùa và quả cuối mùa. Quả đầu mùa, người ta mong ngóng chờ, sau vòng quay của thiên nhiên trở lại vừa đúng một năm, nên có chút gì đó của sự háo hức, chờ đợi, lạ lẫm ... Song ở thời điểm này, quả thường chưa ngon, chưa đủ hương đủ vị, và có thể châm chước được. Còn quả cuối vụ, là quả chín muộn và còn sót lại. Khi ấy, cây đã gần hết trái, nên bao nhiêu sức của cây, hay nói một cách chữ nghĩa, là bao nhiêu hương sắc, tinh tuý còn  lại trong cây, được dồn hết cho quả chín muộn, đặng cây sắp bước vào mùa rụng lá, hoặc bị đốn bớt cành, chuẩn bị cho guồng sinh sôi mới, đơm hoa kết trái mùa sau. Thế nên, quả cuối mùa viên mãn, thơm ngon, là vậy...Thêm nữa, tâm lý người ta, khi cái gì còn lại ít ỏi, cái gì sắp đi qua, mới thấy quý, thấy tiếc, là vậy...Lại chợt nghĩ đến chuyện nhan sẵc của những người đàn bà ở độ tuổi tứ tuần...
Tôi đã lặng lẽ, tha thẩn vườn nhà, hay nơi vườn quê ngoại, tầm những quả còn sót lại trên cây. Quả muộn thường là khuất tầm nhìn, bị che bởi những tán lá um tùm, nên người tầm quả phải để ý hơn, dụng tâm hơn, ở dưới đất phải nghiêng ngó, quan sát từ nhiều góc nhìn khác nhau, thậm chí, phải leo lên chạc cây cao hơn một chút, may ra mới thấy được. Thường là người thua các loài chim, nên quả muộn hay bị chim mổ lỗ chỗ đôi chút. Cũng có quả còn nguyên vẹn, và khi ấy, sao thấy thật may mắn và sung sướng thay. Giản dị vậy thôi. Song dù quả có bị chim ăn trước, thì phần quả còn lại cũng rất ngon thơm. Đấy là chưa nói đến việc, quả chín nào bị chim ăn, thường là ngon hơn quả bình thường, ấy bởi loài chim tinh tường hơn con người chúng ta về khoản này... Tôi đã từng nâng niu những quả cuối vụ như thế, và thấy tiêng tiếc khi phải ăn đi mất, đặng thỏa cái thú thưởng thức bằng đủ các giác quan. Vâng, quả là, đã có những trái thị nhỏ xinh cuối vụ, để chín thơm trên bàn thờ đến thành nẫu, không ăn...
Sau này trưởng thành, và ngay cả bây giờ cũng vậy, tôi vẫn giữ trong mình thú tầm quả chín cuối mùa. Nhưng cuộc sống phố thị và sự bận bịu của công việc đã dần tước đi của mình những thú vui nho nhỏ và giản dị như vậy. Song, mỗi khi có dịp về quê, hoặc đi đâu đó có cây vườn, tôi lại tha thẩn ra vườn, lặng lẽ dưới gốc cây mà ngước nhìn lên. May ra thì ...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 27.09.2011 17:56:47 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 07.01.2012 20:52:51
Mùa đông nói chuyện tuyết


Người xưa bảo, con người ta cứ thiếu cái gì thì thèm cái ấy. Chắc là đúng, bởi cha ông ta đã chiêm nghiệm chán chê rồi mới phán vậy. Trong khi người xứ hàn đới thèm cái nắng vàng rực rỡ trên bờ biển mênh mông và bầu trời trong xanh cao thẳm của xứ nhiệt đới, thì người xứ nhiệt đới hoặc vùng xích đạo lại khát khao được ngửa mặt mà đón nhận những bông hoa tuyết trắng xốp mát lạnh… Và tôi, tôi cũng vậy. Ngày nhỏ, chỉ nghe người lớn nói tuyết, rồi lớn lên tý chút lại đọc về tuyết qua những câu chuyện như Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, và những câu chuyện trong Truyện cổ Grim, Truyện cổ tích An-đec-xen hay như các tác phẩm Rừng thẳm tuyết dày, Tiếng gọi nơi hoang dã v.v… Sau này thì qua phim ảnh, nhất là những bộ phim của Liên Xô sản xuất, phim nào mà chẳng có cảnh tuyết. Chao ơi, không biết tý gì thì cái thèm chỉ một, những đã he hé biết đôi chút rồi thì cái thèm, cái khao khát bằng mười, bằng trăm kia !... Thế rồi, tôi cũng biết thế nào là tuyết. Những bông tuyết thực sự chứ không phải là tuyết trong chuyện kể, trong sách báo, phim ảnh. Ấy là vào đầu đông năm 1996, khi tôi được cử tham gia một khóa học nghiệp vụ báo chí tại Pháp. Những ngày đầu đặt chân tới Paris, mùa thu còn rơi rớt trên những tán lá vàng ươm và lớp lớp xác lá khô dày trài khắp lối đi trong vườn Lucxambourg. Nhiệt độ thấp nhất về đêm đã xuống tới 2-3 độ C song vẫn chưa có tuyết. Hỏi thăm bạn bè Pháp thì họ bảo khí hậu ở Paris vốn ấm, rất ít khi có tuyết rơi, hằng năm thường chỉ có vào dịp trước lễ Giáng sinh, thậm chí có năm còn không có tuyết. Nghe vậy mà thấy buồn, sinh chán… Những thật may mắn, tôi và một đồng nghiệp nữ được mời tham dự một triển lãm về radio có tên gọi là Radio-ngã tư quốc tế do câu lạc bộ sóng ngắn vùng Auvergne tổ chức tại thành phố Clermont Ferrand thuộc miền trung Pháp, nghe đâu gần biên giới Thuỵ Sỹ và cách Lyon không mấy xa. Hôm gọi điện lên Paris liên hệ với chúng tôi, ông Jean Piegant, chủ tịch Câu lạc bộ sóng ngắn vùng Auvernge có dặn là ở dưới đó rất rét, tuyết đang rơi dầy nên khi xuống nhớ mặc cho thật ấm.Xuất phát từ nhà ga xe lửa phía nam Paris (Gare de Lyon) từ rất sớm. Tàu hỏa xuôi hướng nam, tuy không phải là TGV song lắng nghe âm thanh và nhìn cảnh vật hai bên đường, tôi đồ rằng tàu đang chạy với tốc độ chừng 150 km/h. Trời rạng sáng thì đã xa Paris lắm rồi. Làng xóm và cảnh vật đôi bên nhấp nhô theo địa hình. Người Pháp ở nông thôn đa phần vẫn sống trong những ngôi nhà truyền thống hai hoặc ba tầng, bốn mái, có tầng hầm. Vẫn trưa thấy tuyết đâu. Khi cách Clermont Ferrand không xa, thì bắt đầu thấy tuyết. Tuyết thưa thớt trên mặt đồi, mặt ruộng. Tuyết lác đác trên mái nhà, cành cây. Tuyết càng ngày càng dày, rồi như con tàu như xuyên giữa miêm man tuyết trắng, cho đến khi băng tuyết trắng xóa nhức nhối khắp nơi thì cũng là lúc nhà tàu thông báo tới ga Clermont Ferrand. Tôi cẩn thận quấn chặt khăn quàng cổ, kéo kín cổ áo khoác, đội mũ len chùm tai, đi găng tay và nhắc Thu Hương, đồng nghiệp nữ và cũng là người phiên dịch làm như thế, rồi hai anh em bước xuống sân ga. Đứng định thần giây lát, tôi bước đi trên băng tuyết dày, do không để ý nên mấy lần trơn trượt xuýt ngã. Cái cảm giác bỡ ngỡ qua nhanh và chúng tôi đã có thể đi lại mạnh bạo, nhanh nhẹn trên truyết. Ông già Jean Piegant đã đứng sẵn trong đường hầm trước lối ra cửa ga với tấm bìa viết chữ VIETNAM và nụ cười tươi chào đón chúng tôi. Ông líu ríu tiếng Pháp hỏi thăm, trò chuyện với Thu Hương và dùng xe riêng chở chúng tôi về điểm tập kết. Bữa trưa, cả đoàn mấy chục người gồm ban tổ chức và các khách mời, phần lớn đều là các phóng viên chương trình phát thanh tiếng Pháp đến từ một số Đài phát thanh như Russia., Rep.Tseck, Slovaque, Mondovie, Coreé, Equateur, Syrie, Gabon, Iran ... Nhà hàng, nơi ban tổ chức đặt cơm cách xa hơn cây số, thế nên cả đoàn dắt dây đi bộ. Trưa nắng lên, tuyết bắt đầu tan nên đường phố chỗ còn băng tuyết, chỗ đã tan hẳn nhưng lép nhép lắm. Nước từ băng tuyết tan chảy tràn trên mặt đường, dồn lại thành dòng róc rách chảy. Lại do không cẩn thận vì mải quan sát nhà phố nên hơn một lần tôi trượt chân xuýt ngã bổ chửng. Mọi người cười vui và cảm thông với người xứ nhiệt đới là tôi, bởi phần đông trong số họ, tuyết đã quá quen thuộc. Clermont Ferrand là một thành phố nhỏ, với 13 ngàn dân, vốn nằm trong một vùng đất thung lũng xưa từng có núi lửa hoạt động, là quê hương của chiếc săm lốp xe rời đầu tiên trên thế giới, và còn nổi tiếng với một Liên hoan phim ngắn quốc tế mang tên thành phố. Đêm ấy, cả đoàn khách mời chúng tôi nghỉ trong một ký túc xá sinh viên trên phố nhỏ- Rue de Saint Eutrop, mỗi người một phòng 7 mét vuông . Cửa sổ các phòng nhìn một nhà thờ nhỏ. Trời tắt nắng là tuyết lại bắt đầu rơi. Trời càng về tối tuyết rơi càng mau, nhìn qua cửa kính, nhà thờ thâm sì với tháp chuông vuốt nhọn trong bóng đêm và tuyết. Quảng trường nhỏ trước nhà thờ vắng lặng, chỉ thưa thớt cây và tuyết. Bỗng thèm nghe tiếng chuông nhà thờ. Lại thèm được rụi mình trong chăn ấm nệm êm và thấy buồn ngủ díp mắt. Thế nhưng, khi chui vào giường ngủ, tưởng đâu sẽ chìm sâu vào giấc ngủ thì nằm mãi, trở mình mãi mà không ngủ được. Đầu óc tỉnh như sáo. Có lẽ do lạ giường, hay do ấn tượng về băng tuyết lần đầu ? Rồi nghĩ miên man và lại nhớ về bếp lửa rơm quê nhà những chiều đông nướng khoai vùi sắn. Mới biết, con người ta càng đi xa lại càng nhớ quê nhà. Và giấc ngủ cũng đến . Trong giấc ngủ, thấy mình thời học trò, theo đám trẻ trâu đi săn chuột đồng, bắt cá sau vụ gặt tháng mười, rồi nhặt quả phi lao khô đốt sưởi trong những chiếc bếp lò tự làm từ ống bơ. Gió mùa đông bắc về, mưa rét giăng đầy đồng và bỗng nhiên những hạt mưa ngưng kết nở thành những bông tuyết trắng muốt bay đầy trời bám vào các gốc rạ và nhữg khóm rau khúc tần trên ruộng... Tỉnh ra mới biết là nằm mơ, trời đã sáng tự bao giờ. Lúc xuống đường thì trời ơi, những tuyết là tuyết. Đêm qua tuyết rơi nhiều quá. Những hàng cây ven đường cành lá đeo nặng tuyết, những chiếc ô tô con đậu ngoài trời bên phố nóc xe tuyết chất thành những quả núi con. Triển lãm Radio -ngữ tư quốc tế diễn ra ở trung tâm văn hóa thành phố. Dự khai mạc xong, hai anh em, tôi và Thu Hương bỏ ra sân ngoài trời. Băng tuyết dày hàng gang tay, và để có cái cảm giác lạnh giá, chúng tôi xục hai tay xuống tuyết vốc lên xoa vào mặt. Rồi hai anh em bốc tuyết ném nhau một thôi một hồi đến râm rấp mồ hôi … Rời Clermont Ferrand, chúng tôi đáp tàu về Paris. Trời chiều, tuyết vẫn rơi trắng trời, nóc nhà thờ và các toà nhà cao thành phố cứ lùi xa và khuất dần ngoài cửa kính tàu. Vừa mới đó đã nao nao nhớ về những món pho-mát, những ly rượu vang mà ông Jean Piegant chủ định đổi món mỗi bữa, nhằm khoe ngầm với khách quý bốn phương biết sự phong phú trong ẩm thực vùng quê ông… Những tưởng thế thôi, cho đến lúc về chẳng còn thấy tuyết. Song khi chỉ cách Noel chục ngày, Paris có tuyết rơi. Tuyết bắt đầu rơi từ nửa đêm về sáng. Có lẽ chỉ những kẻ overnight hoặc mò mẫm ăn sương trong mọi ngõ ngách đường phố Paris mới biết tuyết rơi tự lúc nào. Hôm ấy như có một linh cảm nào đó nên dậy sớm. Mở cửa sổ nhìn xuống vườn, thì trời ơi, chiếc ghế xích-đu và khóm táo dại cùng mấy bụi hoa trong vườn điểm xuyết những bông tuyết. Tuyết mỏng và thưa nên cảm giác như có lại như không. Song quả là có đấy, bởi những con cá chúng tôi mua từ phiên chợ giời nông dân trên phố chiều hôm trước đem về buộc dây treo ngoài của sổ thay vì để trong tủ lạnh sợ mùi, loáng thoáng bông tuyết bám vào. Đưa tay chạm vào những bông tuyết mỏng manh, chúng nhanh chóng tan biến. Những ngửa mặt nhìn trời, tuyết còn rơi mơ hồ… Ngày ấy đã thành xa. Mấy năm nay, mùa đông về, đôi khi Sapa (Lào Cai ), Mẫu Sơn ( Lạng Sơn ), Nguyên Bình ( Cao Bằng ) đều có tuyết rơi. Đặc biệt mùa đông năm 2007, rét kỷ lục khiến khắp miền đông nam Trung Hoa và cả miền núi Bắc Việt Nam chìm trong giá rét lê thê hơn tháng trời. Băng dày và tuyết rơi đến hàng tuần ở Mẫu Sơn, Nguyên Bình và Sa-pa, phủ trắng xóa lưng đèo Hoàng Liên Sơn. Chẳng thể lên xem, mà có lên cũng không kịp. Lại đành nhìn tuyết made in Vietnam qua hình, ảnh vậy. Mùa đông rồi lại mùa đông, năm nào cũng vậy, truyền hình đưa hình ảnh miền bắc Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và hàng loại những nước châu Âu như Pháp, Đức, Italia, Thuỵ Sỹ, Anh băng tuyết phủ kín. Người dân Paris luôn thèm được đón năm mới trên đại lộ Champs Élysées và quảng trường Charles de Gaulle trước Khải Hoàn Môn dưới một bầu trời đầy tuyết bay!... Phong, hoa, tuyết, nguyệt từ ngàn đời nay đã bất tử cùng thi họa Trung Hoa. Quả là tuyết đã làm nên bao áng thi văn bất hủ. Tuyết đã thành máu thịt ruột rà của người dân, là một phần của văn hóa xứ hàn đới. Người ta đã lo ngại nạn ô nhiễm môi trường tràn lan toàn cầu dẫn đến biến đổi khí hậu, băng Bắc Cực tan chảy sẽ nhấn chìm một phần lục địa, và một ngày kia mùa đông không có tuyết rơi. Nếu như một ngày kia, thế giới sẽ là gì nếu mùa đông không còn tuyết ?...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 31.05.2012 21:36:09
Tự ngẫm


Bạn bè văn chương, có cả bậc đàn anh, từng bảo tôi rằng : “ Tớ thích đọc văn xuôi của cậu hơn là thơ “ ; “ Này, lâu lâu không thấy ông viết văn xuôi nữa nhỉ ?“ ; “ Dạo này, thấy ông có thơ liên tục, mà thơ cũng được đấy“... Nghe vui vui vậy thôi chứ chẳng nên tin...
Thực tình, tôi ngẫm nghĩ, cũng không biết mình có khả năng nào hơn. Tôi thích sao thì viết vậy. Cũng có khi là viết do sự thúc bách của công việc, của giao lưu bạn bè ( ví như việc chơi blog chẳng hạn ). Thuở ban đầu tập tễnh văn chương, tôi làm thơ. Rồi tập viết truyện ngắn. Chẳng ra làm sao cả. Song vẫn cứ viết. Đăng hay không, không quan trọng. Rồi biết yêu, rồi thất tình, làm thơ. Nhất là khi có bài thơ đăng báo Văn Nghệ, phấn khích lên, thơ càng hăng... Sau thấy thơ nhiều quá, thiên hạ cũng toàn những thơ, cùng nhàm, lại xoay sang viết truyện ngắn. Khi có mấy truyện được đăng báo, phát sóng thì càng hăng máu. Ngày đêm, bò ra mà viết truyện. Thành tập, được in, được trao giải khuyến khích cho cả tập, phởn chí hăng hơn. Rồi tập thứ hai, thứ ba lần lượt xuất bản. Lại thấy nhàm. Nhưng đã chót chọn nghề làm báo làm văn rồi, không viết thì làm gì ? Bèn viết tản văn, tạp bút...Liều hơn, mon men sang lĩnh vực phê bình và chân dung văn học. Mấy anh bạn thân vốn dân chuyên nghề phê bình văn học chửi khéo rằng:"
Thấy ông viết cả phê bình nữa, định cướp cơm chim chúng tôi à ? “. Cười xuề. Thây kệ, cứ viết, rồi tập hợp in sách. Cũng ổn cả. Song bỏ thơ. Dăm bảy năm không làm bài thơ nào, trong khi văn xuôi thì cứ đều đều, 2 năm in 1. Rồi xa nhà, đồn trú biền biệt miền duyên hải, lại sinh thơ. Lúc về lại Hà thành, công việc bận túi bui, vả lại chơi cái trò blog blếch thì phải có bài, thế nên đành phải viết. Thời gian không có, lại bị cắt vụn ra, đêm ngày với sự vụ phức tạp, rồi các cuộc lễ lạt, khách khứa triền miên, lấy đâu thời gian mà văn xuôi cơ chứ. Thế là thơ tuôn ào ào. Hay dở thì cũng chặc lưỡi cho qua. Mà bạn bè người quen cũng chẳng nỡ chê ( mà có chê, có khi lại dễ nổi tiếng cũng nên ). Thôi thì, cứ thích gì viết nấy cái đã...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.11.2012 07:44:31 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 12.06.2012 22:02:09
Myanmar du ký ( I )

1.Cố đô Yangon

Chiếc Fokker của Vietnam Airlines số hiệu chuyến bay VN 957 sau 1h45 phút hành trình, hạ cánh xuống sân bay quốc tế Yangon đúng giờ quy định ( 18h30 h địa phương, chậm hơn giờ VN 30 phút ). Đón đoàn VOV là 2 cán bộ ngoại vụ của Đài FT&TH Myanmar ( MR ), một nam một nữ, đều mặc váy. Thoáng chút ngạc nhiên, song tôi nhanh chóng hiểu, họ ăn mặc trang phục dân tộc truyền thống. Ngạc nhiên hơn, chờ sẵn bên ngoài là 2 phóng viên Truyền hình Myanmar ( MR.TV ) chĩa chiếc camera cổ lỗ sĩ quay hình đoàn chúng tôi để đưa tin. Quả nhiên, tối hôm ấy, tôi đã xem được tin này trên Kênh MRTV4 . 15 phút ô tô thì đến khách sạn 3 * Yangon Hotel. Trên đường về khách sạn, điều đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là đường mườn mượp xe hơi, và tuyệt nhiên không thấy bóng dáng chiếc xe gắn máy nào. Hỏi bạn thì được biết, thành phố Yangon cấm xe gắn máy lưu thông. Khác hẳn Việt Nam mình, giao thông đô thị khốn khổ vì xe máy.
Sở dĩ gọi Yangon là cố đô, bởi vào ngày 26 tháng 3 năm 2006, nhằm né tránh nguy cơ chiến tranh với phương Tây từ phía vịnh Martaban trên Ấn Độ dương, đồng thời tìm vùng đất mới để xây dựng và phát triển thủ đô, Chính phủ Myanmar quyết định dời thủ đô đến Nay Pyi Taw thuộc tỉnh Mandalay, cách Yangon hơn 300 km về phía đồng bắc.
Căn phòng tôi ở là phòng loại VIP trên tầng 9 của khách sạn cao 12 tầng, nên có điều kiện quan sát khoảng không rộng lớn của cố đô Yangon. Tên cũ của thành phố là Rangoon, sau đổi thành Yangon. Anh U Myint Wai, người đưa đón đoàn VOV giải thích, cái tên Yangon theo tiếng Myanmar có nghĩa là “ sạch bóng quân thù “, và anh còn nhấn mạnh “ ý nghĩa hòa bình “ của cái tên thành phố. Yangon hiện có hơn 4 triệu dân ( trong tổng số 56 triệu dân cả nước ) là thủ đô của MR từ lâu đời, tọa lạc nơi ngã ba hai con sông lớn là Yangon và Bago, cách vịnh biển Martaban chừng 30 cây số. Từ trước năm 1948, MR là thuộc địa của Anh, nên ở trung tâm thành phố có nhiều kiến trúc châu Âu như Tòa thị chính, Tòa án tối cao, Nhà ga xe lửa ( nay là Bảo tàng xe lửa )... Ngay từ chiều tối hôm mới đến, chúng tôi có vài ấn tượng về Yangon.
Thứ nhất, chúng tôi rủ nhau đi dạo mấy khu phố gần khách sạn. Chừng hơn 9 giờ đêm đường phố đã thưa thớt xe. Đây là thời điểm, các xe chở khách, taxi được dịp thả phanh. Yangon cho phép cả hai loại xe tay lái thuận và tay lái nghịch đều được phép lưu thông, thế nên mới có sự, từng cặp xe ( 1 tay lái thuận, 1 tay lái nghịch ) bám sát cạnh nhau cùng chạy song song rất nhanh trên phố, trong khi các lái xe và khách đi xe hai bên trò chuyện sang nhau ầm ĩ cả phố xá.
Thứ hai, đó là chuyện massage. Nếu ai mỏi mệt, chỉ sau một giờ massage MR sẽ thấy khoan khoái ngay. Nói vậy, bởi tôi cùng vài đồng nghiệp nam đã tò mò đi tìm hiểu massage MR nó như thế nào, ngay tại khách sạn mình ở. Xin nói ngay, massage MR rất chi là khoa học và “ nghiêm văn chỉnh”. Phòng massage tập thể, từ 2-3 người cùng, khách được massage phải thay quần áo của mình để mặc một bộ pizama mềm và rộng rãi. Các nữ nhân viên massage trẻ trung khỏe mạnh, mặc trang phục truyền thống kín đáo song vẫn đủ độ gợi của thân hình. Họ massage bài bản, cố đến mức cao nhất có thể để không va chạm xác thịt, và rất chi mềm mại điệu nghệ, đủ cho những ai giàu trí tưởng thư giãn tâm trí. Trong khi massage, giữa khách với nhau, hoặc giữa khách với nhân viên thoải mái trò chuyện giao tiếp vui đùa qua ngôn ngữ hay cử chỉ, song không vượt ngưỡng lịch sự, và nhân viên không đòi hỏi tiền “ bo”. Quả là khoan khoái sau đúng 1 giờ đồng hồ với mức phí là 12 USD.
Thứ ba, đường phố Yangon, trừ khu phố cũ ( kiểu như khu phố cũ với các “ hàng “ ở Hà Nội ) thì kiến trúc phần lớn theo kiểu khuôn viên, khá thoáng đãng. Người dân di chuyển bằng xe bus, xe chở khách kiểu xe lam, xe đạp kéo 3 bánh và đi bộ. Nhìn chung, các phương tiện xe cộ đều chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, song với người đi bộ thì hiện tượng băng cắt qua đường giữa dòng xe vẫn phổ biến như ở bên ta.
Thứ tư, thành phố Yangon có thể coi là xứ sở của hoa phượng ( đủ các màu như đỏ, vàng, nâu ngà ); và xứ sở của chim, nhất là loài quạ đen. Quạ nhởn nhơ trong vườn, đậu kín trên cây và giăng hàng trên dây điện. Hình như, đất nước Phật giáo này, họ kiêng cữ việc “ sát sinh”...
Thứ năm, vì là đất nước Phật giáo nên hệ thống chùa chiền và tăng lữ có ở khắp đất nước Myanmar. Thế nên, ở Yangon, sáng sáng, sư sãi từ các chùa đổ về các ngả đường, phố đông dân cư để khất thực.
Thứ sáu, tiền tệ Myanmar là đồng “ kyat “, giá quy đổi khoảng từ 700-820 kyat/1 USD, và nhìn chung, hệ thống thương mại, kể cả bán lẻ của Myanmar, và Yangon khá quen với việc tiêu đồng USD lẫn với đồng kyat.

( còn nữa )

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 17.06.2012 09:14:00
Myanmar du ký ( II )

2. Shwedagon- Chùang.

Chùa Vàng ở cố đô Yangon được xây dựng từ gần 2.600 năm trước, ông U Maung Maung Og, trưởng ban quản lý chùa cho biết vậy. Đấy là theo tương truyền, chứ thực ra, chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ 6, thêm nữa vào thế kỷ thứ 10, và sau đó trải suốt chiều dài lịch sử đã có rất nhiều lần chùa được tu bổ, xây dựng thêm bởi lâm vào tình trạng đổ nát vì thiên tai và chiến tranh. Chùa nằm trên đồi Singuttara, có chiều cao 105 m ( không kể phần ăng-ten ), riêng phần vòm tháp dát vàng cao 98 m.


Vì được coi là khách VIP, nên chính ông trưởng ban quản lý đích thân dẫn và giới thiệu đoàn thăm viếng chùa. Đoàn chụp ảnh lưu niệm dưới bóng cây bồ đề gần 50 tuổi do Ấn Độ trồng tặng. Việc thăm viếng chùa được tiến hành thông lệ đi theo chiều kim đồng hồ, và đương nhiên, như tất thảy mọi người, chúng tôi phải bỏ giày dép đi chân đất.
Lần theo các cụm kiến trúc, mới thấy được sự cổ kính và vĩ đại của ngôi chùa. Còn thấy cả sự sùng kính của người dân MR qua nhiều đời, công đức đóng góp cho việc bảo tồn, tu bổ công trình. Theo ông trưởng bản quản lý chùa, thì đã tốn nhiều tấn vàng nguyên chất cho việc dát tòa tháp chính và một số điểm trọng yếu của ngôi chùa. Hiện chùa Vàng còn bảo tồn được bốn báu vật thiêng liêng với các tín đồ Phật giáo, đó là 8 sợi tóc của Đức Phật Thích Ca, cái lọc nước của Phật Câu Na Hàm, cây gậy của Phật Câu Lưu Tôn và mảnh áo của Phật Ca Diếp. Chính sự lâu đời và kỳ vĩ, cùng các báu vật được lưu giữ trong chùa, nên không riêng gì các tín đồ Phật giáo ở MR và các nước khác, mà nhìn chung, mọi người trên khắp thế giới đều mong muốn ít nhất một lần được thăm viếng ngôi chùa này.
Nếu có thời gian, khách phải mất cả ngày, thậm chí cả tuần để thăm viếng và thực hiện các nghi lễ Phật giáo. Tuy nhiên, với chúng tôi, chỉ có thời gian hơn một giờ đồng hồ nên đành “ cưỡi ngựa xem hoa “ vậy. Song vì có ông trưởng ban đưa dẫn, nên chúng tôi chỉ dừng chân ở những điểm quan trọng để nghe giới thiệu hoặc hành lễ, như : bảo tháp, phật vàng, phật ngọc, phật nằm, chuông Singu Min...Mặc dù người dân MR rất hiền lành và sùng đạo, song nhằm đảm bảo an toàn cho những tượng tháp quý, nhà chùa đều đặt trong các lồng khung sắt vững chắc, có khóa bảo vệ. Được sự đồng ý của ông trưởng ban, ở mỗi tượng tháp này, nhân viên bảo vệ mở khóa cho đoàn chúng tôi vào bên trong, nên có thể “ sờ tận tay“ và hành lễ ngay cạnh. Ở tượng Phật ngọc, ông trưởng ban khuyến khích mọi người trong đoàn hành lễ và bảo rằng, theo quan niệm của tín đồ Phật giáo MR, thì cầu nguyện điều gì đó trước bức tượng này sẽ được linh ứng. Cầu được ước thấy đây. Thôi thì đã đến được nơi đây, lại thêm lời khuyên vậy, nên ai cũng hành lễ và thầm cầu nguyện một điều gì đó cho riêng mình. Khi đến tượng Phật nằm, chúng tôi bắt gặp 2 người thợ thủ công đang dát vàng nguyên chất bồi bổ thêm cho bức tượng. Ông trưởng ban quản lý cho hay, các thợ được tuyển chọn vào thực hiện việc dát vàng tháp tượng chùa, ngoài tay nghề điêu luyện, họ phải có tính chân thật và lòng sùng kính Phật giáo.
May mắn, chúng tôi bắt gặp các nhà sư đang thực hiện một buổi cầu kinh. Các sư hành lễ đồng thanh tụng kinh theo lời tụng kinh dẫn dắt của vị sư chủ trì buổi lễ. Tiếng cầu kinh trầm buồn vang lên đều đều lan tỏa khắp không gian chùa, hòa lẫn trong mớ tạp âm của khách thập phương, tạo nên một cảm giác về sự pha trộn của hai thế giới tâm linh và đời thường...
Ông trưởng ban dẫn chúng tôi đến nơi treo một quả chuông cổ khổng lồ, vừa đi ông vừa hào hứng kể lai lịch quả chuông này. Quả chuông có tên gọi là Maha Gandha ( có nghĩa là “ âm thanh tuyệt diệu “ ), được nhà vua Singu Min cho đúc năm 1779 và tặng nhà chùa. Vì thế, nên ngày nay người ta quen gọi là chuông Singu Min. Có chuyện kể rằng, vào năm 1824, khi quân Anh xâm lược MR, chúng đã lấy quả chuông này đưa xuống thuyền định chở về Calcuta ( Ấn Độ ), song do chuông quá nặng nên đã bị lật thuyền chìm tận đáy sông. Quân Anh không biết làm sao. Các tín đồ Phật giáo MR đề nghị xin vớt chuông với điều kiện nếu vớt được thì sẽ phải trả chuông về lại chùa. Nghĩ rằng họ không vớt được nên quân Anh đồng ý. Họ đã thay nhau lặn xuống sông buộc xung quanh chuông rất nhiều cây tre bương, nên khi bè tre nổi đã kéo được quả chuông khổng lồ nổi theo.
Chúng tôi lần lượt mỗi người thỉnh 3 tiếng chuông, song do quá chú ý nghi lễ nên chưa ai đủ để thấu “ âm thanh tuyệt diệu “ của chuông Singu Min ra sao. Vậy cũng là mãn nguyện rồi.
Số tiền chúng tôi công đức cho chùa được họ ghi nhận vào tấm bằng có in hình tháp chùa Vàng lồng khung kính mang về. Đoàn chúng tôi cũng tặng lại mấy vị trong ban quản lý chùa mỗi người một món quà dân tộc mang theo từ Việt Nam.
Rời chùa Vàng mà lòng ngẩn ngơ. Sau đó, tôi còn được chiêm ngưỡng ngọn tháp chùa Vàng nhiều lần nữa, từ tầng cao Yangon Hotel hoặc từ công viên hồ nước Inya ( Inya Lake )
...
<bài viết được chỉnh sửa lúc 17.06.2012 09:15:17 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 26.06.2012 21:22:31
Myanmar du ký III

3. Nay Pyu Taw, thủ đô hoang vu



Băng quakhoảng cách 350 km về phía đông bắc của cố đô Yangon với thời gian 3 giờ đồng hồ trên đường cao tốc Yangon-Mandalay, chúng tôi rẽ ngang để vào thủ đô mới Nay Pyi Taw.
Không riêng tôi, mọi người trong đoàn đều sốt ruột cất tiếng hỏi xem đã tới thủ đô chưa. Anh U Myint Wai, cán bộ ngoại vụ khẳng định như đinh đóng cột rằng xe đang chạy trên đường phố thủ đô rồi đấy. Sở dĩ vậy, là bởi, chẳng thấy phố phường đâu cả, chỉ thấy đất hoang dại khô cằn cây cối lúp xúp trống không, đây đó là các khuôn viên nhà cửa dáng dấp biệt thự và chốc chốc lại một ngả đường bê tông rộng rãi rẽ phải, trái, rồi lại bùng binh trang hoàng hiện ra trước mặt. Mọi người có vẻ thất vọng khi tận mắt thấy một thủ đô không phố, không nhà mặt phố, không cửa hàng cửa hiệu và người qua lại sầm uất, trái lại rất hoang vu huếch hoác ( so với VN hay các nước khác, ngay cả khi so với Yangon ). Rồi tôi cũng hiểu ra, cái thủ đô mới này mới có lịch sử độ 5 năm ( từ năm 2006 khi Chính phủ MR quyết định dời đô từ Yangon về đây ), một vùng đất bình nguyên khô cằn thuộc tỉnh Madalay, lấy cái tên làng Nay Pyi Taw nguyên thuỷ làm tên thủ đô mới. Rút kinh nghiệm từ một Yangon chật chội, đông đúc, cao thấp lô nhô phát triển tự do theo kiểu phình to, thủ đô mới được quy hoạch quy củ ngay từ đầu. Thoạt đầu là quy hoạch tổng thể, phân khu rõ ràng, làm đường xá, chia lô, rồi mới xây dựng công trình. Giờ mới nên nhà còn thưa thớt, tạo ra cảm giác trống trải, độ mươi mười lăm năm nữa, nhà cửa và công trình chêm vào chỗ trống, sẽ ra dáng một đô thị ngay ngắn chỉnh tề. Có một nét định hình rõ, ấy là nhà cửa và công trình ở đây không được phép xây cao, đều phải theo khuôn phép của khuôn viên biệt thự để phù hợp với khí hậu vùng đất cao và khô nóng này. Hiện thủ đô có một đặc điểm nữa về dân cư, ấy là sự thuần khiết về dân cư, hay nói một cách khác, là chưa có dân cư. Thật ra, nói vậy chưa thật chuẩn, bởi hằng ngày, người qua lại sinh hoạt tại đây chỉ có mấy loại như thế này : công chức thuộc các cơ quan của Chính phủ, công nhân lao động ở các công trình đang được xây dựng tại đây, và người từ các tỉnh các vùng đến thủ đô liên hệ giải quyết các công việc rồi về... Chính vì thế mà người ở thủ đô cực kỳ thưa thớt, các hoạt động thương mại chủ yếu phục vụ cho số ít cư dân này, mà cũng chỉ diễn ra tại các siêu thị, trung tâm thương mại mới xây, không có thị trường tiểu thương. Sáng sớm, thả bộ trên đường phố, có khi nửa tiếng đồng hồ chẳng gặp ai. Cảm giác của một thành phố không người.

Juntion Hotel, nơi chúng tôi ở khá gần trung tâm thành phố, và đã từng có khách người Việt Nam đến ở trước đó, nên khi chúng tôi tới đây đã thấy lá cờ Việt Nam phấp phớp nơi cột cao trước cửa Reception. Có một điều ngạc nhiên nữa, khi ăn tại khách sạn này, chúng tôi đòi nước mắm nguyên chất, bồi bàn hiểu ngay và họ mang ra phục vụ nước mắm xịn hẳn hoi, trong khi không hề có ở khách sạn tại Yangon...

Ở Nay Pyi Taw, chúng tôi được bạn đưa đi thăm viếng chùa Uppatasanti ( Uppatasanti Pagoda ). Đây là ngôi chùa mới, được Chính phủ MR cho xây dựng vào năm 2006 và khánh thành vào năm 2009, mô phỏng theo chùa Vàng tại Yangon, nhằm làm nơi hành lễ Phật giáo cho quan chức Chính phủ và cư dân của thủ đô mới. Ngoài ra, chúng tôi còn đến xem voi trắng được nuôi giữ gần ngôi chùa này. Theo phía bạn cho biết thì voi trắng là động vật quý hiếm, hiện trên toàn lãnh thổ MR chỉ còn độ chục con...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 11.08.2012 09:44:58
Ký sự Hàn Quốc


Phi lộ : Lịch trình 8 ngày hoạt động của Đoàn đại biểu Hội Nhà báo Việt Nam sang thăm và làm việc tại Hàn Quốc ( 6.7-14.7/2012) , qua các thành phố và tỉnh lỵ : Incheon ( Nhân Xuyên ), Seoul ( Thủ Nhĩ, còn được gọi là Hán Thành ), Gwangju ( Quang Châu ), Gyeongnam ( Khánh Nam ), Ulsan ( Uất Sơn ), Busan ( Phủ Sơn ) và Jeju ( Tế Châu ).


1. Ấn tượng Seoul
Chuyến bay trên chiếc Boeing của Hãng Asiana Airlines cất cánh đúng giờ, lúc 11 giờ đêm từ Nội Bài đi Seoul. Khác với lần đi Tokyo, bay đêm, mất ngủ trong chuyến đi công tác tại Nhật Bản cách đây dăm năm, lần này tôi ngủ tốt. Lúc tỉnh ngủ, nhìn mặt đồng hồ, 5 rưỡi ( lấy theo giờ Hàn Quốc, sớm hơn giờ Việt Nam 2h ), rồi nhìn ra bên ngoài cửa sổ máy bay, thấy bầu trời đã rạng. Giờ này, ở Việt Nam mới 3 rưỡi sáng, định ngủ tiếp,thì tiếp viên thông báo máy bay hạ độ cao chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay quốc tế Incheon. Vậy là tỉnh hẳn. Còn để nhìn ngắm mặt biển, mặt đất Seoul từ trên cao nữa chứ.

Chỉ còn mây và biển, thấp thoáng đâu xa dưới cánh máy bay là đồi núi và nhà cửa. Khi hạ độ cao đến cảm giác là càng máy bay sắp chạm mặt nước biển, ấy là lúc máy bay truờn xuống đường băng. Thì ra, sân bay quốc tế Incheon áp sát mép biển. Đây là một sân bay rộng và hiện đại, luôn tấp nập bởi nó là trạm trung chuyển cho nhiều đường bay vượt Thái Bình Dương sang châu Mỹ.

Đón chúng tôi là một cặp nam nữ người Hàn Quốc, nam Kim Dong Ki, Phụ trách phòng Hành chính, Hội Nhà báo Hàn Quốc, và nữ, Seon Kcum Hi, phiên dịch viên tiếng Việt. Cả hai đều độc thân. Seon Kcum Hi từng học tiếng Việt tại Việt Nam, song khả năng nghe nói còn yếu; còn Kim Dong Ki chỉ mỗi tiếng Hàn ( không biết tiếng Việt và tiếng Anh ). Đây là 2 người gần như đồng hành cùng chúng tôi suốt chặng đường trên xứ sở Kim chi. Họ có một đặc điểm chúng là nhanh nhẹn, nhiệt tình, lịch sự và rất chuyên nghiệp.

Sau bữa ăn sáng tại một nhà hàng sân bay, chúng tôi lên xe chạy chừng gần trăm cây số để đến thăm Tháp canh Thống Nhất. Tháp canh này nằm trên một quả đồi cao, ngay mép sông Hàn, đoạn giới tuyến với Bắc Triều Tiên. Mục đích xây dựng tháp Thống Nhất là để làm đài quan sát giới tuyến, và là nơi để những người Nam Hàn có quê hương ở Bắc Triều Tiên hằng năm và dịp giỗ tết lên đây hướng về phương Bắc mà tế tổ; còn là nơi biểu hiện ý chí thống đất nhất đất nước của người Hàn Quốc. Chính vì lẽ đó, họ đã rất khéo léo khi tổ chức các gian trưng bày mang tính đối lập biểu hiện giữa đời sống tiện nghi hiện đại của Hàn Quốc với sự nghèo khó thiếu thốn lạc hậu của Bắc Triều Tiên, và biến nơi đây thành điểm tham quan du lịch.

Đứng trên tầng cao của tháp Thống Nhất, dù nhìn bằng mắt thường hay qua hệ thống ống nhòm, tôi không khỏi chạnh lòng khi nghĩ đến một thời dòng sông Bến Hải chia cắt đôi miền Bắc-Nam của ta ngày nào...Hòa hợp dân tộc và thống nhất đất nước, hẳn là ước nguyện của hầu hết người dân Triều Tiên nói chung, còn diễn ra theo chiều hướng nào thì quả là khó lường trước được ...

Hơn 2 ngày làm việc ở Seoul, chúng tôi được bố trí ở President Hotel 4 sao, ngay trung tâm sầm uất náo nhiệt, bên kia là Tòa Thị chính mới xây dựng dựng chuẩn bị khánh thành, chéo một chút là Tòa nhà báo chí và Trung tâm thương mại Seoul. Có thể hiểu, bạn bố trí vậy để chúng tôi có thể thấy quy mô tầm vóc Seoul thế nào mà không mất thời gian tìm hiểu. Những ngày ở Seoul, chúng tôi có những hoạt động như : Thăm và làm việc với Hội nhà báo Hàn Quốc, gặp gỡ và dự tiệc với Phó thị thưởng Seoul, thăm và làm việc với Đài KBS ( Đài phát thanh & truyền hình quốc gia Hàn Quốc ), Tập đoàn viễn thông & báo chí Quân đội, xem kịch Miso ( một loại kịch hát dân tộc truyền thống )...

Có thể nói, Seoul là một trung tâm chính trị-văn hóa-thương mại du lịch tầm cỡ hàng đầu của Châu Á và thế giới, biểu hiện đầy đủ sức mạnh của Hàn Quốc, một quốc gia kinh tế công nghiệp phát triển. Đường phố phong quang, ngăn nắp, phương tiện giao thông khá hiện đại ( ô tô, xe buýt và 9 tuyến tầu điện ngầm ). Địa hình đồi núi, kiến trúc hài hòa giữa hiện đại và truyền thống. Rất nhiều hoa và cây xanh, chủ yếu là ngân hạnh và thông. Ngài Phó thị trưởng Seoul cho biết, Seoul có có đặc điểm là : núi, sông,trường đại học và giới tuyến... Với hơn 10 triệu dân, diện tích hơn 600 cây số vuông, lịch sử rất lâu đời ( từng là kinh đô của triều đại Bách Tế , từ năm 660 CN trở về trước ), và ngày nay là 1 trong số 20 thành phố toàn cầu của thế giới, Seoul hoàn toàn có quyền tự hào về mình...

Đấy là sơ bộ ấn tượng về Seoul. Tôi sẽ trở đi trở lại về chiếu sâu của Seoul trong những phần tiếp theo...



( còn nữa )

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 01.09.2012 09:03:40
Ký sự Hàn Quốc ( II )

.2. Dấu ấn của đá

Đến đảo Jeju của Hàn Quốc, tôi hết sức thích thú khi bắt gặp những bờ ruộng của người dân nơi đây toàn bằng đá. Đá hòn đá tảng xếp thành bờ ruộng cao như kiểu hàng rào đá của người Mông ở vùng cao nguyên đá Hà Giang ( Việt Nam ). Dọc ngang khắp đảo, đâu cũng một kiểu bờ ruộng như vậy. Cô Kim, một phiên dịch viên tiếng Việt kiêm hướng dẫn viên du lịch giải thích, người dân đảo Jeju chọn kiểu bờ ruộng đá trước hết là theo tập quán canh tác xưa cũ. Ấy là, gió ở đây thường to quanh năm suốt tháng, bờ ruộng đá cao như tường chắn cản gió cho cây trồng bên trong khỏi gãy đổ; thứ nữa, hằng năm, đều qua một lần đốt ruộng ( kiểu như đốt đồng vào mùa khô ở Việt Nam ), nên tường đá giữ không cho lửa cháy lan ra phía ngoài; và cuối cùng, bờ ruộng đá còn có tác dụng ngăn không cho bò ngựa chăn thả tự do vào phá ruộng.

Tập quán là như vậy, song lý giải tại sao, với phương tiện hiện đại và kỹ thuật canh tác mới như hiện nay, người dân đảo Jeju lại vẫn giữ nguyên lối canh tác cũ có vẻ đã lạc hậu này ? Ấy là ý tưởng. Các nhà quản lý ở đây đã nhìn nhận thấy, đó là một lợi thế về bản sắc văn hóa truyền thống trong kinh doanh du lịch. Thế nên, bờ ruộng đá, cùng lối canh tác xưa cũ đã được gìn giữ nhất quán, vừa chứa đựng ý thức bảo tồn phong tục lại vừa tạo lợi thế cho du lịch...
Mọi người đều biết đến đảo Jeju của Hàn Quốc với sự kiện ( cùng với vịnh Hạ Long của Việt Nam ) được bình chọn là 1 trong 7 kỳ quan thế giới mới. Ai đã từng đặt chân đến Jeju, đều công nhận đảo này là thiên đường của du lịch.
Jeju được kiến tạo bởi hoạt động của núi lửa từ khoảng 2 triệu năm trước, có cấu trúc địa chất nham thạch. Toàn bộ địa hình địa chất nói chung của Hàn Quốc, bao gồm cả đảo Jeju là không có núi đá vôi, nên không thể hình thành các hệ thống hang động, thua thiệt hơn so với Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, ý tưởng về đá đã khiến đảo Jeju vốn toàn đá nham thạch, sống dậy từ đá với một tinh thần mới.
Cùng với bờ ruộng đá và lối canh tác xưa cũ, giờ Jeju thêm phong phú và sinh động, bởi bao nhiêu hình thái mới của đá như : lâm viên đá, làng dân tộc đá, bờ biển vách đá, đỉnh cao, miệng núi lửa đá, vườn tượng đá, chùa chiền đá... Đâu đâu cũng đá, song là đá có hồn...Ý tưởng và dấu ấn của đá ở Jeju đã góp công lớn, biến Jeju vốn chỉ như một đảo thuyền chài xưa cũ thành thiên đường du lịch ngày nay.
Các nhà quản lý vịnh Hạ Long, “ Hạ Long cạn”-Ninh Bình, Phong Nha-Kẻ Bàng của ta nghĩ gì ?...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 16.09.2012 10:09:02
Ký sự Hàn Quốc ( III )

3. Giao thông & sự thuận tiện cho con người

Lẽ đương nhiên, biểu hiện của sự phát triển và thuận tiện về giao thông của Hàn Quốc, trước hết là sân bay quốc tế Incheon. Cả quy mô, hiện đại và sự thuận tiện của nó, không chỉ phản ánh sự phát triển về kinh tế, vai trò về chính trị nói chung của Hàn Quốc trên trường quốc tế, mà còn bởi, đây là trạm trung chuyển lớn, kết nối hai bờ đông tây của Thái Bình Dương. Song tôi xin không bàn thêm về nó, để nói về các loại hình, phương tiện giao thông khác đều hướng tới sự phục vụ tiện lợi nhất cho mọi hoạt động của con người trên xứ sở kim chi.

Những ngày hoạt động ở Hàn Quốc, đoàn nhà báo Việt Nam di chuyển bằng hầu hết các loại phương tiện, như ô tô, metro, tàu hỏa, tàu thuỷ và máy bay.
Trước tiên là đường bộ. Diện tích tự nhiên của Hàn Quốc không nhiều, chỉ trên trăm ngàn cây số vưông, dân số khoảng 50 triệu người, mật độ dân số đứng thứ 3 thế giới ( sau Bangladesh và Đài Loan ), Vậy mà, Hàn Quốc lại dành quỹ đất cho phát triển giao thông một cách thích đáng. Đơn giản, bởi giao thông giữ vai trò vô cùng quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội và hiện đại hóa đất nước. Hệ thống đường sá, cầu vượt quy củ, thông thoáng, chất lượng cao, dù ở nội đô thành phố hay ngoại tỉnh. Để giải bài toàn ách tắc giao thông, như hầu hết các quốc gia phát triển khác, Hàn Quốc cho quy hoạch xây dựng hệ thống giao thông lập thể : đường mặt đất, cầu vượt, đường trên cao và đường ngầm. Thủ đô Seoul hiện có 9 tuyến metro, tuy ít hơn so với Paris ( 13 tuyến ) và Tokyo ( 13 tuyến ), song cũng cực kỳ hiện đại và thuận tiện. Với hệ thông giao thông như vậy, đông dân như Seoul, thì vào giờ cao điểm, cũng có thể bắt gặp cảnh ùn xe, song không ách tắc. Phương tiện xe bus thì tuyệt vời, loại xe chất lượng cao, cứ đều đặn, 3-5 phút một chuyến trên mọi tuyến và điểm đỗ, nên không ai phải kêu ca phàn nàn.
Tiếp đến, xe lửa cao tốc, người Hàn Quốc gọi theo tên viết tắt là KTX, cũng được phân tuyến thuận lợi và đạt chất lượng cao về tốc độ, giờ chạy tàu, toa xe và dịch vụ. Vì độ dài ngang dọc Hàn Quốc không lớn, nên phần lớn tàu KTX đều không thiết kế giường nằm, song ghế ngồi lại rất tiện lợi, có thiết bị ngả lưng ghế và nâng chân, tạo tư thế nằm nghiêng, cho khách có thể nghỉ ngơi hoặc ngủ bình thường. Cách thiết kế ghế ngồi tiện lợi này, được sử dụng cho cả ô tô chuyên chở khách. Hôm chúng tôi đi từ Seoul xuống thành phố ở miền Nam là Gwangju, quãng đường dài hơn 300 cây số, tàu chạy chỉ mất 2h15, tốc độ chạy tàu khoảng 150 km/h ( tốc độ gấp 3 lần tàu ở xứ ta ). Từ Gwangju đi Gyeongnam, đến thành phố Ulsan, Busan, chúng tôi đi bằng phương tiện xe khách, hoặc khi di chuyển nội tỉnh thăm thú các khu công nghiệp hoặc di tích văn hóa, danh lam thắng cảnh, xe đều chạy với tốc độ 100-120 km/h, và đường vô cùng thông thoáng.
Có một điều khác biệt là, dù ở Seoul, Gwangju, Gyeongnam, Ulsa, Busan, Jeju, đều không thấy phương tiện xe máy ( moto ). Thi thoảng bắt gặp phương tiện xe gắn máy trên đường, ấy là những người đưa thư báo, hoặc thanh niên tay chơi với loại xe phân khối lớn. Xin nói thêm, ở nhiều thành phố phát triển khác thuộc châu Á như Bắc Kinh, Thượng Hải, Tokyo cũng đều như vậy. Việc này, khiến các nhà quản lý giao thông ở ta sớm cân nhắc, có biện pháp quản lý ( hạn chế đi đến loại bỏ phương tiện xe máy trong khu vực nội đô ). Đơn giản, bởi đây chính là nguyên nhân gậy nên họa ách tắc giao thông...
Cùng với đó, phương tiện giao thông thủy và hàng không ở Hàn Quốc cũng rất phát triển và thuận lợi, đạt chất lượng cao. Xin không bàn nhiều ở đây. Song có thể nói, nhìn chúng, toàn bộ hệ thống đường sá, loại hình phương tiện các cách quản lý giao thông ở Hàn Quốc hiện nay đều ở mức chất lượng cao, nhằm hướng tới sự phục vụ cho mọi hoạt động của con người một cách thuận lợi nhất...
( còn nữa )

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 18.11.2012 18:00:57
Ký sự Hàn Quốc ( IV )

4. Công nghiệp & sự vươn lên.
Khoảng hai mươi năm trước, xứ ta đã biết đến một vài thương hiệu của Hàn Quốc như : Samsung ( máy thu hình, tủ lạnh, máy giặt ), Daewoo (ô tô, máy giặt ). Còn người miền Nam thì biết đến thương hiệu, hàng hóa của Hàn Quốc sớm hơn nữa. Giờ đây, Hàn Quốc vươn lên, trở thành một quốc gia có nền công nghiệp phát triển trong khu vực và tầm thế giới.

Quả thật, với diện tích tự nhiên già trăm ngàn cây số vuông, địa hình đồi núi trải khắp nước, gần như không có đồng bằng, nếu không sớm đi theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thì hẳn Hàn Quốc sẽ lâm vào tình trạng không đủ ăn. Điều này, người dân xứ Hàn đã hiểu và ý thức được vào những năm bảy mươi của thế kỷ 20. Vậy nên, phát triển công nghiệp là một tất yếu, và họ đã làm được điều đó ...
Chuyến thăm và làm việc này, các nhà báo xứ ta được các đồng nghiệp Hàn Quốc tổ chức đưa đến thăm mấy tập đoàn công nghiệp lớn, đều là niềm tự hào của xứ sở kim chi : Hyundai, Doosan, Taekwang, tại thành phố Ulsan, Gwangnam. Họ đưa ta đến thăm mấy tập đoàn công nghiệp này, còn bởi, mấy tập đoàn ấy đang đầu tư lớn và có nhà máy sản xuất ở Việt Nam. Khi thăm trụ sở của họ, ở mỗi nơi, chúng tôi đều được xem một phim ngắn giới thiệu về tập đoàn đó qua lời thuyết minh bằng tiếng Việt, và cái tên Việt Nam cũng luôn xuất hiện trên bản đồ, biểu đồ sản xuất kinh doanh của tập đoàn. Hẳn họ hiểu rằng, việc để các nhà báo xứ ta đến thăm quan, sau khi được “ mục sở thị “, sẽ viết bài PR cho họ. Hiểu dụng ý là vậy, song không thể không thán phục mà viết một chút gì đấy.
Khi thăm các công xưởng, dây chuyền sản xuất, chúng tôi không được phép chụp ảnh, bởi đây là quy định bắt buộc, nên tôi chỉ có thể có được những pô ảnh chụp nơi trụ sở, văn phòng hành chính và khu giới thiệu chung về mô hình hoặc điểm trưng bày sản phẩm mà thôi. Thương hiệu ô tô Hyundai ( nghĩa là Hiện đại ) hiện quá phổ biến ở Việt Nam. Thăm liên xưởng lắp ráp ngay tại đấy, bạn cho biết, mỗi ngày ra 6 nghìn sản phẩm hoàn chỉnh các loại, còn khi thăm thương cảng, bãi xe, dây chuyền bốc hàng lên tàu thủy, càng thấy quy mô và tiềm năng công nghiệp của Hàn Quốc thật đáng nể.
Đến khu sản xuất, lò đúc của tập đoàn công nghiệp nặng Doosan, chúng tôi ngạc nhiên và thích thú khi bắt gặp mấy rotor khổng lồ ở dạng sản phẩm hoàn chỉnh, có dán giấy ghi nơi đặt hàng là nhà máy điện Mông Dương ( Quảng Ninh, Việt Nam ). Nữ nhân viên của Văn phòng Doosan, Lee Eun Young ( Management Division ), người giới thiệu, duyên dáng, chuyên nghiệp, lịch sự và nói tiếng Anh khá hay, tạo nên cảm giác dễ chịu mặc dù chúng tôi được cô dẫn vào thăm quan tận nơi lò đúc có nhiệt độ cực lớn. Cũng như nhiều quốc gia có nền công nghiệp phát triển khác, hiện tại, lượng điện tiêu thụ của Hàn Quốc đến 40% từ điện hạt nhân. Tập đoàn Doosan chính là nơi sản xuất, lắp đặt các lò phản ứng hạt nhân cho ngành công nghiệp điện hạt nhân của quốc gia này.
Khác với hai tập đoàn kia, tập đoàn Taekwang đầu tư ở lĩnh vực hóa dầu, bảo hiểm, tài chính và hàng tiêu dùng... Hiện, Taekweang có nhà máy đặt tại các tỉnh miền Đông nam bộ Việt Nam, với ngành hàng giày thể thao nhãn hiệu NIKE, giải quyết cho khoảng 4 vạn lao động tại chỗ, và đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 400 triệu USD/năm. Phó Chủ tịch tập đoàn Taekwang Hàn Quốc, ông E.C. Kim, trong buổi làm việc và tiệc chiêu đãi đoàn nhà báo Việt Nam, ngoài vấn đề về phát triển sản xuất, còn kiến giải, nêu một số vấn đề nhằm cải thiện điều kiện lao động, xã hội, đãi ngộ đối với công nhân người Việt Nam đang làm việc trong các nhà máy của tập đoàn.
Nhìn chung, công nghiệp phát triển, mặt trái của nó cũng nảy sinh những hệ lụy về xã hội, gia đình, con người, khiến các nhà quản lý phải giải quyết. Ở đây, xin chưa vội bàn...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 17.12.2012 21:26:47
Ký sự Hàn Quốc ( V )

5. Gốc ngân hạnh cổ thụ & bản sắc truyền thống xứ kim chi

Tự thân, gốc ngân hạnh cổ thụ ( một loài cây được trồng phổ biến ở Hàn Quốc ) trong một ngôi làng cổ tại cố đô Gwangju ( Quang Châu ) và món ăn kim chi trong ẩm thực xứ Hàn đã là sự hiện diện rõ nét bản sắc truyền thống của văn hóa đất nước này rồi.


Ai cũng hiểu, sau chiến tranh Nam-Bắc Triều vào giữa thế kỷ trước, Hàn Quốc cũng lâm vào hoàn cảnh đói kém, kinh tế khó khăn. Vậy mà, khi bước sang thế kỷ 21, Hàn Quốc đã trở thành một quốc gia có nền công nghiệp phát triển, kinh tế vững mạnh, có uy tín trên trường quốc tế. Ngài Ban Ki Moon, với hai nhiệm kỳ liên tiếp giữ cương vị Tổng thư ký Liên hiệp quốc, hay đơn giản như việc tại Olimpic London 2012, Hàn Quốc luôn nằm trong tốp quốc gia dẫn đầu về huy chương, đã nói lên điều đó. Có thể lý giải dài dòng về hiện tượng Hàn Quốc, song với tôi, hiểu đơn giản chỉ cần qua vài ba yếu tố là đủ, như: định hướng đúng, đầu tư hợp lý, quản lý tốt, và sự nỗ lực vươn lên từ mỗi cá nhân...
Cái gì cũng mang tính hai mặt. Hàn Quốc cũng như một số quốc gia phát triển ( như Nhật Bản, Mỹ... ), cùng với nền công nghiệp hiện đại và kinh tế giàu có, là những hệ lụy về mặt xã hội, gia đình và tính cách cá nhân con người ( cạnh tranh quyết liệt, tính khắc kỷ, sự cô đơn, bệnh xã hội ... ). Vậy giải quyết mặt trái ấy như thế nào ? Chính sách xã hội phù hợp, đương nhiên rồi. Ấy là văn hóa, mà là bản sắc truyền thống...
Rõ ràng, xu hướng toàn cầu hóa về chính trị kinh tế, kéo theo đó là sự nhất thể hóa về văn hóa. Ấy là sự nguy hại. Thực tế cho thấy, đang có một sự xâm lăng về mặt văn hóa của văn minh-văn hóa Âu Mỹ với các nước đang phát triển, mà hệ luỵ của nó, ấy là, trong khi các giá trị truyền thống đang bị băng hoại và mai một, thì các giá trị mới còn chưa hình thành, hiện trạng xã hội là sự lổn nhổn hỗn tạp...
Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và cả Hàn Quốc đã từng trải qua thời kỳ như vậy. Giải pháp hữu hiệu, không gì nằm ngoài việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc. Những gì tôi biết ở Hàn Quốc vừa qua, cho thấy họ đã và đang làm được điều này...
Suốt chặng đường từ thủ đô Seoul, qua Gwangju, Gyeongnam, Ulsan, Busan, Jeju, ở đâu cũng cảm nhận được bản sắc văn hóa truyền thống biểu hiện trong quy hoạch, kiến trúc, bảo tồn, trong ứng xử xã hội, lối sống, hoạt động biểu diễn, ẩm thực... Hơn thế, việc phát huy yếu tố bản sắc truyền thống không những mang lại lợi ích xã hội, còn thu được lợi ích kinh tế rất lớn trong hoạt động du lịch...
Ở ta, việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã sớm được đưa ra và triển khai từ mười mấy năm trước ( Nghị quyết trung ương 5 Khoá 8 ). Đã có nhiều chuyển biến tích cực về mọi mặt, chẳng hạn như công tác bảo tồn văn hóa dân tộc và việc xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư... Tuy nhiên, vẫn còn nặng tính phong trào, hình thức, nên hiệu quả chưa cao...
Trở lại yếu tố lịch sử. Ấy là, cùng với Nhật Bản và Hàn Quốc, Việt nam cũng là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu nặng của văn hóa cổ Trung Hoa với hơn nghìn năm phong kiến. Song cả ba nước đều biết cách thoát ra khỏi cái bóng khổng lồ của văn hóa phong kiến Trung Hoa, tự tạo nên nền văn hóa riêng của mình, song vẫn bảo lưu được những giá trị tinh hoa của văn hóa cổ Trung Hoa mà mỗi nước từng chịu ảnh hưởng.
Ở các cấp độ khác nhau, so với họ, việc bảo tồn và phát huy bản sắc, giá trị văn hóa truyền thống của ta vẫn còn nhiều việc phải làm...
( còn nữa )

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
RE: Chiều Ghềnh Ráng - 02.01.2013 20:36:17
Ký sự Hàn Quốc ( VIII )

8 ... & Sex

Đến Jeju, có biết bao nhiêu điểm tham quan, thắng cảnh, song nếu không đến “ Love land “ ( Miền đất tình yêu ) thì coi như chưa đến Jeju. Có người nhắn gửi vậy, nên càng sinh háo hức. Vừa may, trong chương trình thăm thú Jeju có địa điểm này.


Hôm ấy, trời mưa rả rích cả ngày. Sau khi lên Đỉnh Bình minh trong cơn mưa, tiếp đến là tua cưỡi ngựa, mệt nhoài rồi, chúng tôi được phía bạn đưa đến thăm “ Miền đất tình yêu “. Nói vậy cho thêm hấp dẫn, thực ra, đây là Bảo tàng sức khỏe và giới tính. Là gì thì gì, cũng xem cho biết, cho thỏa chí tò mò...
Cái gọi là “Miền đất tình yêu” này được xây dựng thành một công viên khép kín, bên trong chia thành nhiều khu vực, có vườn hoa, cây cảnh, hồ nước, khu trưng bày và bán các dụng cụ sex cho người trưởng thành...Và đặc biệt nhất, là la liệt các tượng, khóm tượng về chủ đề sex, có nhiều tượng đơn lẻ thể hiện các tư thế, cách thức về tình dục, lại có hàng loạt các tượng, khóm tượng trình bày theo chủ đề về bộ phận sinh dục và mối quan hệ trong tình dục...
Nói đến sex, thì phải bàn về “ văn hóa sex ”. Song bàn về lĩnh vực này thì vô cùng phong phú, có mà cả ngày, cả năm, cả đời cũng chẳng bao giờ cạn. Thôi thì, cụ thể hơn, là nghĩ và bàn về sức khỏe tình dục, hay trừu tượng hơn là đôi chút quan niệm về sex. Sâu xa hơn, lịch sử phong kiến cho thấy, một số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, đều cấm kỵ cái việc viết và nói chuyện phòng the một cách công khai, trong khi vẫn coi tình dục là một trong “ tứ khoái “. Ngay cả khi, về các ngón nghề chơi bời, các bậc cao nhân quân tử xưa nay vốn thông thạo, thì vẫn cứ cấm kỵ việc bàn về nó ở chỗ đông người, và xem như việc này thuộc phạm vi đạo đức. Thế nên, dân gian mới có câu bỡn rằng: “ Ban ngày quan lớn như thần/ban đêm thì lại lần mần như ma “...
Trở lại với chủ đề sex ở Jeju. Love land, chắc chắn là sự biểu hiện một cách công khai, rõ ràng quan niệm về sex. Từ xã hội phong kiến, Hàn Quốc bước vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với đó là kinh tế thị trường, là sự du nhập của văn hóa văn minh Âu Mỹ. Hẳn là, cũng đã từng có một cách mạng về tình dục ở đây, và sản phẩm của nó chính là những gì được trưng bày tại công viên-bảo tàng này. Quan trọng hơn, đó là quan niệm và cách nghĩ, cách hành xứ mới về sex trong đời sống xã hội của họ.
Thiển nghĩ, về sex, ở đây, chí ít là có sự rõ ràng, công khai. Để rồi theo đó, mà hành xử, trong phạm vi gia đình, quan hệ đôi lứa và ngoài xã hội...
Xin không bàn thêm nữa, thay đó, là một số hình ảnh ghi từ Jeju Love land ...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 28.07.2013 17:41:28
Làng

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn 

Chế Lan Viên

Chủ bút : Cuối năm 1964, khi chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc bắt đầu nổ ra, gia đình tôi chuyển từ nơi ở trên phố Phó Đức Chính ( Hà Nội )về sống tại quê ( huyện Văn Lâm, Hưng Yên ). Khi đó tôi mới 7 tuổi, đang học năm đầu của bậc tiểu học. Môi trường sống thay đổi, đã ảnh hưởng đến cả gia đình và cá nhân tôi sau này. Dự định viết một tiểu thuyết về làng quê mình đã nảy sinh trong tôi từ lâu. Và cách đây mấy năm, tôi đã bắt tay viết những dòng đầu tiên. Song công việc công sở bận rộn khiến tôi bỏ bê...
Nay tôi gắng ép mình khởi động lại công việc khó khăn này...


Ngày giỗ tổ. Tôi thu xếp công việc để về quê. Cái họ Nguyễn làng Khê có ba chi. Nhà tôi là trưởng chi giữa. Mỗi chi có một ngày giỗ tổ riêng, và cùng chung ngày giỗ cụ tổ khởi phát . Cũng chẳng rõ thuở lập làng, cụ thuỷ tổ từ đâu đến. Chỉ biết rằng, cụ có ba con trai thì lập thành ba chi đến ngày nay. Lại căn cứ vào ngôi chùa Lĩnh làng bên, tương truyền được xây từ thời Lý, là một trong số bảy mươi hai ngôi chùa được xây theo lệnh của bà Hoàng thái hậu Ỷ Lan triều Lý Nhân Tông, sau khi bà này hối hận vì đã ra xui bẩy nhà vua giết Thái hậu Thượng Dương cùng bảy hai cung nữ, thì chí ít làng cũng được lập từ trước đó, nghĩa là vào thế kỷ mười một . 
Theo thói quen, mỗi khi về quê, bao giờ tôi cũng ghé thăm mảnh vườn nhà. Trước đây, khi mẹ tôi mất, vườn bỏ không người ở, tôi nhờ người hàng xóm trông nom hộ. Đầu năm nay, thằng con trai lớn chị gái tôi viện cớ nhà nó hẻo lánh khó làm ăn nên muốn mượn đất xây cửa hàng bán tạp hóa ở đó. Thế là một cửa hiệu mọc lên. Tôi về đến nơi, thấy vợ chồng đứa cháu đang tíu tít bán hàng. Không ngờ nông thôn mà đông khách ra trò. Khách mua hàng toàn người loanh quanh người làng, họ chào tôi , lại khen tôi tốt bụng nhường cho cháu. Đáp lễ họ mà tôi có cảm giác trong những lời khen ấy có gì đó canh khoé. Nghĩ thế, tôi chợt giật mình, thôi chết, lát nữa trong bữa cỗ việc họ, thế nào cũng có người trong họ cới chuyện từ việc này cho mà xem. Quả nhiên, khi cỗ nửa chừng, chén chú chén anh đã ngà ngà, người chú họ chừng tuổi tôi tên Cán, vốn nóng tính hay gây sự , rót đầy chén rượu cho tôi và cho chú, rồi bảo : 
- Anh trưởng... Anh uống với tôi một chén. Trăm phần trăm nhé. Uống là uống cái tình họ hàng ruột thịt, chứ quyết không phải là uống rượu đâu mà sợ say. 
Tôi nâng hai tay cung kính mời chú uống trước, bụng nhẩm tính cách nói năng vì biết không khéo sẽ sinh chuyện từ đây. Chú Cán một hơi cạn , dốc ngược chén không còn một giọt , cao giọng : 
- Tình nghĩa là phải cạn. Cạn là cạn rượu, tình thì còn dài, còn dây dưa hết đời này sang đời khác, phải thế không các ông, các bác, các cháu ? 
Một người chú họ cao niên tên Mảnh, vốn có tiếng túc trí đa mưu trong làng, cười khà khà, thủng thẳng : 
- Này anh trưởng. Chú Cán chú ấy nói đúng đấy. Xưa nay, chi nhà này bao giờ cũng lấy chuyện tình nghĩa làm đầu. Cũng chính vì tình nghĩa, mà xưa ông nội anh đi thi đỗ đạt, có chạy chọt quan trên thì cũng được một chức quan nhỏ địa phương, những ông cụ đã không làm thế, mà về quê mở trường dạy học cho con em họ hàng làng xóm, được tiếng thơm để đời. Rồi nữa đến cha anh, chữ nghĩa Tây Tàu làu làu, thêm nghề kiến trúc, về quê tậu ruộng xây nhà tây to đùng ăn hàng trăm mâm cỗ không hết chỗ ngồi, giàu có nhất vùng, thuốc phiện cô đầu đủ cả, thế rồi lúc già cũng về quê làm ruộng sinh sống... Thử hỏi, không tình nghĩa thì sao làm được vậy ?... Còn đến anh, xin lỗi anh trưởng... Bây giờ anh giàu có thế nào họ hàng không biết, chứ với chức cán bộ cấp vụ thì cũng coi như ngày xưa đỗ đạt làm quan... những không biết tân thời... anh có làm giống ông nội anh, cha anh hay không thì họ hàng chúng tôi đây chẳng rõ ?... 
Tôi cười . Méo mặt mà cuời. Cố nặn ra câu nói lấy lòng, bởi tôi hiểu chẳng biết sau này mình có làm được như thế không, song trước mắt cứ phải thoát ra khỏi trận đồ bát quái mà mọi người đang bầy ra trước mặt mình: 
- Thưa các ông, các chú ! Mọi người thấy đấy, cháu đã cho xây tường bao giữ đất giữ vườn. Cháu định sau này về hưu, nhà ngoài thành phố cháu để cho các cháu, còn vợ chồng cháu về quê xây nhà sống nốt quãng đời tuổi già, Bây giờ đường sá thuận tiện, đi lại dễ dàng, với lại ở mãi thành phố cũng tù túng lắm ạ... 
Chú Giảng, người chú cao niên, nhánh gần nhất với nhà tôi, người mà họ hàng quen gọi vui là phó chi, những lúc tôi vắng nhà, mọi công việc đầu trò của chi họ đều do chú quyết định, mừng ra mặt, thật thà bảo : 
- Anh trưởng nghĩ thế là phải ! ... Được lời ấy của anh, chú với mọi người trong họ rất mừng. Hôm nay giỗ tổ, nói có các cụ tổ tiên và mọi người trong họ chứng giám, tôi có đến năm con trai, lo lấy vợ dựng nhà cho chúng nó đến tàn một đời... quê lại đất chật người đông, nhiều lần định nói chuyện với anh, định mua lại mảnh đất hoặc một nửa chỗ đất ấy của anh cho các em nó có chỗ ở... 
Chú Giảng nói đến đây thì dừng lại nhìn tôi, nhìn mọi người. Đám cỗ ồn ào hẳn lên ra vẻ tán đồng. Tôi chưa biết nói sao thì chú Giảng tiếp lời : 
- Nhưng cứ nghĩ đi nghĩ lại, thấy có gì đó không phải, nên thôi. Hôm nay nói ra thế, anh trưởng ạ, không phải chú mượn chuyện đánh tiếng mua đất của anh đâu, mà chỉ muốn bày tỏ nỗi lòng... Chú biết, mảnh đất ấy không phải là đất hương hoả xưa do các cụ để lại, mà là cha mẹ anh mua lại khi về làng sống, lúc chiến tranh đánh Mỹ xảy ra. Như thế nào là toàn quyền ở anh, chứ họ hàng quyết không dám ý kiến gì ... 
Chú Cán oang oang tham gia : 
- Nhưng mà thằng cu cháu con chị Ngoãn xây cửa hàng to đùng ở đấy. Thì cứ cho là cho nó mượn nhưng biết đến bao giờ nó trả ? Chẳng hiểu anh trưởng có tính đến chuyện ấy không ? 
Tôi nhẩm bụng, gay rồi. Giờ mới là lúc khó xử đây. Tôi im lặng nín nhịn, kéo dài chừng nào hay chừng ấy. Liền khi đó, chú Mảnh vuốt râu, khề khà lên tiếng : 
- Chú Cán đừng lo hộ ... Chú chỉ được cái biết một mà không biết mười thôi... Tôi là tôi hiểu tấm lòng anh trưởng... Thôi thì thiên hạ bao la, đâu cũng là nhà, ở đâu quen đó. Anh trưởng và các cháu ở thành phố quen rồi, sau này về hưu anh có về quê với chúng tôi thì càng vui , song cứ ở ngoài đó cùng các cháu cho gia đình đông đúc cũng tốt. Miễn là.... 
Chú Mảnh bỏ lửng, nâng chén nhấp một ngụm, lại vuốt vuốt chòm râu mới để còn ngắn tũn, vừa định nói thì chú Cán chặn họng : 
- Sao bác bảo em chỉ biết một mà không biết mười ? Bác thì thông minh nhất họ, nhất làng rồi. Thông minh bác có thừa, truyền sang cho cả mấy đứa con, nên bây giờ chúng nó mới không đứa nào chịu đứa nào cả... 
Mọi người lên tiếng gạt đi không cho chú Cán nói tiếp. Chú Mảnh vẫn giữ vẻ mặt bình thản, cười cười nói với tôi, coi như chưa từng nghe chú Cán khích bác : 
- Anh trưởng ạ !... Miễn là... anh cứ cho xây một căn nhà nhỏ ba gian bỏ đấy... Tiền xây anh bỏ ra cũng được... mà để họ hàng chúng tôi góp vào cũng được ... Gọi là có nơi thừa tự , như nhà thờ họ ấy mà... 
- A a a ... Chú Cán vống lên rồi tự vả nhẹ vào mặt mình, hệt như người diễn trò trên sân khấu – Bái phục ! Em thật bái phục quan bác... Bác Mảnh ạ... Em là em cứ xin lỗi vì nãy vô lễ với bác... Đúng là em chỉ biết một... Không. Biết nửa một thôi ... Ngu quá. Mình ngu quá !... 
- Thế ý kiến bác Giảng thế nào ? Thấy em đề đạt như vậy có được không ? 
Chú Mảnh hỏi thẳng chú Giảng theo kiểu mớm lời, tìm đồng minh, rồi cười khà khà, lại đắc ý nhìn khắp lượt mọi người, vuốt vuốt chòm râu ngắn tũn , ghé sát mặt chú Giảng ngồi bên vẻ chờ đợi. Chú Giảng bị hỏi đột ngột, lại khó nghĩ, cứ ậm à ậm ừ mãi không thành câu. Song dường như dưới áp lực cái nhìn xoáy vào tâm can của chú Mảnh, đành nuốt khan cục khó vào bụng, liều nói : 
- Nói có anh trưởng đây... lại có đủ mặt họ hàng... Tôi thấy chú Mảnh nói cũng được đấy... Có điều là... Thôi thì tuỳ anh trưởng ... 
Chú Giảng cười bối rối, sợ mất lòng tôi lại sợ mất lòng họ, song bụng chắc cũng tán thành ý kiến chú Mảnh, muốn tôi hiến mảnh vườn cho họ mạc xây nhà thờ tổ. Tôi không chấp chú Giảng, song hơi bực vì chú cũng vào hùa với mọi người. Tôi cố lờ đi, hỏi chuyện một cậu em ngồi cạnh mình chuyện mùa màng, làng xóm . Chú Giảng cũng không dám nói gì thêm. Còn chú Mảnh thì sợ câu chuyện nguội mất, cất lời xuê xoa : 
- Anh trưởng ạ !... Hôm nay nhân việc họ giỗ tổ, mọi người cùng cái tâm hướng tổ nên mới chuyện vậy... Anh trưởng cũng đừng nghĩ ngợi nhiều, ngày tháng còn dài rộng cơ mà !... Chúng tôi ở làng, biết anh trưởng học rộng hiểu nhiều, bao giờ anh trưởng cũng có những việc làm đúng lễ nghĩa, phải thế không ạ ? 
Lác đác có người tán thưởng, phần đông cánh trẻ thì chỉ mải ăn uống, không muốn can dự vào. Chú Mảnh hơi mất hứng, có vẻ không hài lòng, bắt đầu quay lại phản công chú Cán. Cái cục giận ban nãy với chú Cán còn chặn ngang họng. Chú Cán tự nhận mình ngu, thua cuộc rồi, không ngờ ông anh họ vẫn để bụng, đề xướng việc to không thành, quay ra chơi mình, liền chấp nhận vào trận mới . Bữa cỗ chạp tổ sôi sục hẳn lên. Người đứng về phía chú Mảnh, kẻ lại bênh chú Cán, có người ra điều can ngăn cả hai bên ... Tôi nén tiếng thở dài, nhìn ra những bụi tre xơ xác khô cằn nơi góc vườn...
còn nữa )
 

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 25.08.2013 11:30:56
Làng ( 1 )

1. Ngót năm mươi năm trước, chiếc xe cam nhông chở gia đình tôi dừng bánh nơi ngã ba đường. Tôi ngồi trong lòng bố ở ca bin xe ngơ ngác chưa hiểu gì thì bố tôi bảo : 
- Đến nơi rồi. Nào bố con mình xuống đi. Quê nhà mình đây...

Bác tài xế cùng bố tôi đỡ mẹ và hai chị gái tôi lục tục trèo từ thùng xe hàng xuống đất. Tôi thấy rất đông người đứng chờ, họ giúp nhà tôi chuyển giường tủ, đồ đạc trên thùng xe xuống rồi buộc dây khiêng đi. Khi đồ đạc chuyển đi hết rồi, bố mẹ tôi chào cảm ơn bác tài xế , đợi cho chiếc xe quay đầu nổ máy chạy đi, để lại phía sau luồng bụi đất và khuất hẳn sau khúc ngoặt, mới dắt chị em tôi đi. Qua một chiếc cầu bắc chênh vênh bằng những thanh tà vẹt ngang con sông nhỏ, lại theo đường bờ mương nước, tôi thấy cơ man là tre. Đã mấy lần theo cha mẹ về quê ngoại mỗi dịp hè nên tôi biết cây tre là thế nào nên cứ chỉ chỏ làm vẻ hiểu biết. Đường làng lát gạch nghiêng, tôi đi guốc gỗ nên trầy trật mấy lần suýt trẹo chân. Khi ngang qua một luỹ đất cao với tre gai và dứa dại dầy đặc, mẹ tôi bảo là ngày trước nhà mình ở đây. Tôi ngây thơ hỏi: 
- Thế bây giờ nhà mình về ở chỗ này hả mẹ ? 
- Không, không ! ... – mẹ vội bảo – Bây giờ là của người khác rồi. Nhà mình không có nhà, phải ở nhờ nhà cụ Thi, con ạ . 
Tôi không hiểu tại sao lại đi ở nhờ , song cũng không hỏi thêm. Tôi lờ mờ biết rằng có chuyện gì đó mà trẻ con không hiểu được. Hôm ấy, bữa cơm trưa cả nhà tôi ăn cơm với nhà bà cụ Thi. Lại mất cả buổi chiều, đến sâm sẩm tối, mọi người mới giúp nhà tôi kê dọn xong đồ đạc vào căn nhà ngang mà bà cụ Thi cho gia đình tôi mượn. 
Đêm đầu tiên ngủ ở quê, tôi thiếp đi vì mệt sau một ngày di chuyển, bận rộn cùng cả nhà. Rồi tôi tỉnh ngủ. Thoạt đầu tôi vẫn tưởng mình đang ở ngôi nhà cũ ở ngoài thành phố, nên đưa mắt nhìn ra cửa sổ cạnh giường, những bây giờ tối om. Ngọn đèn dầu hãm hạt đỗ đỏ quạch trên nóc tủ chè đủ cho tôi hiểu mình đang ở quê. Gia tài nhà tôi, của nả trông thấy có một chiếc giường tây, một chiếc phản lim, một tủ chè gụ, một tủ đứng đựng quần áo, thêm chạn bát và vài cái chum vại đựng gạo. Thường thì tôi ngủ chung với bố mẹ trên chiếc giường tây, hai chị gái tôi ngủ trên chiếc phản, đã nhiều năm nay là thế. Tôi nằm im nghe ngóng. Chợt tôi nghe tiếng bố tôi húng hắng, trở mình và hình như ông quàng tay lên người mẹ định âu yếm, an ủi. Lại hình như mẹ gạt tay bố rồi trở mình nằm nghiêng về phía tôi ở trong cùng và choàng tay ôm riết tôi vào lòng. Tôi vốn sợ bóng đêm nên sung sướng nép mình trong lòng mẹ êm ái, lại lo mẹ biết là mình tỉnh ngủ, bèn nằm im thin thít vờ ngủ say, không dám thở mạnh. Tôi đoán là mẹ giận bố. Tôi biết, trước khi về quê, giữa cha mẹ tôi đã xảy ra một cuộc tranh luận gay gắt. Mẹ tôi thì không muốn về quê nội mà muốn về quê ngoại, nơi đất vườn rộng, lại có bà ngoại và các cậu dì tôi giúp đỡ. Còn bố tôi thì nhất quyết về quê nội, dù có phải bỏ tiền ra mua đất, dù có thiếu thốn đến mấy cũng chịu được, vì vốn chất gia trưởng, muốn giữ tiếng là không phiền lụy bên nhà vợ . Tôi chỉ hiểu vậy thôi, chứ đâu biết còn những nguyên nhân sâu xa khác, mà mãi đến sau này tôi mới rõ. Ấy là sự ê chề, cay đắng mà mẹ tôi phải gánh chịu những ngày tháng về làm dâu bên quê nội tôi trong thời kỳ cải cách ruộng đất...
Tôi nghe tiếng bố tôi thở dài. Lại nghe tiếng côn trùng sau nhà i ỉ, tiếng cá đớp ao bèo lóp tóp, tiếng ếch nhái từ ngoài đồng xa mơ hồ. Ngoài sân vườn không ánh điện, chỉ bóng đêm đặc quánh đến mức có thể xắt ra thành miếng. Rồi nghe đâu như gió mùa nổi. Tôi hình dung ra cả một thế giới mồ mả ma quái đang nhảy nhót ngoài kia, bỗng thấy sởn người, nên co mình nằm thụt sâu vào lòng mẹ như bào thai trong bụng người. Và tôi thiếp dần đi trong nỗi sợ, mơ hồ thấy tiếng thở dài của cha, tiếng mẹ trở mình quay lại phía cha ... 
Rồi những bỡ ngỡ ban đầu cũng dần qua đi . Chỉ lo nhất là không biết rồi đây cả nhà sẽ sinh sống bằng gì ?... 

 
( còn nữa )
 

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 02.09.2013 08:33:21
Độ Hán giang, nỗi niềm quê của Lý Tần

Tôi có khoảng chục năm sống và đi học phổ thông ở quê. Quê tôi, một làng quê điển hình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nay thuộc tỉnh Hưng Yên, còn xưa kia, thuộc trấn Kinh Bắc. Nếp sống, tập tục là của vùng Kinh Bắc. Dù không còn đất hương hỏa do cụ kị xưa để lại, ở quê, tôi vẫn còn chút đất cắm dùi, là do thời chiến tranh chống máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc, bố mẹ tôi về quê bỏ tiền mua lại một mảnh đất ở giữa làng. Sau này, lập nghiệp thành phố, cha mẹ khuất núi đều chôn cất tại quê, nên năm dăm ba lần về quê thăm vườn cũ, thắp hương cho cha mẹ ông bà. Thêm nữa, vê họ hàng ở quê, nhà tôi là ngạch trưởng, bản thân phải đóng vai ông trưởng chi họ. Thôi thì, có đi đâu thì cũng phải thủ lễ ngày giỗ cụ tổ chi họ... Đi xa, lâu lâu mới về làng, lại chớp nhoáng đảo nhoàng, nên cái gì cũng lạ. Quang cảnh, nhà cửa, sông ngòi nay ít nhiều đổi khác, song không mấy ngại. Điều đáng ngại nhất, là gặp người làng mình, mà cứ như người xa lạ. Người ta biết mình, chào mình, mà mình lại chẳng thể nhớ, chẳng thể thuộc mặt thuộc tên họ là ai... Gặp người quen thì chào trước, được chào thì chào lại, giữ lễ là chính thôi. Lâu lâu, có người làng hay chuyện, tự giới thiệu họ là ai, con cái nhà nào trong làng... Mình thi khi biết, khi không, đành gật đầu vâng dạ cho qua chuyện ... Thật ái ngại làm sao. Thế nên, với tâm trạng này, tôi đã có lần bình bài thơ " Hồi hương ngẫu thư " của Hạ Tri Chương, là để tự nhủ lòng mình. Bài thơ ấy có câu rằng:" Nhi đồng tương kiến bất tương thức/ Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai.( Nghĩa là : Trẻ con ở làng trông thấy mình nào biết mình là ai/ Chúng cười hỏi, rằng khách từ nơi đâu đến đây ).... Song như vậy, khả dĩ vẫn còn được. Chứ đằng này, Lý Tần, trong bài thơ " Độ Hán Giang " của mình, mức độ e ngại còn hơn nhiều; những là " Cận hương tình cánh khiếp,/Bất cảm vấn lai nhân", kia mà !
Hôm nay, tranh thủ kỳ nghỉ lễ, tôi mới về quê ra. Đi trên đường làng, vẫn cái tình cảnh ấy, tâm trạng ấy. Tới đây, tôi bận chút việc sân vườn, nhà cửa ở quê, hẳn sẽ hay phải về quê hơn. Ô, may mà, đã có cái nhà ông Lý Tần, sống từ thời Đường, giãi bày hộ tâm trạng mình rồi
 

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 22.09.2013 16:33:11
Làng ( 2 )
 
2
Điều lo lắng nhất là gia đình tôi sẽ sống bằng gì, rồi ra cũng có cách giải quyết. Ngoài việc được hỗ trợ một năm tiền lương của bố tôi, ông còn bán đi chiếc xe đạp loại dành cho thiếu nhi Liên Xô vốn vẫn làm phương tiện đi làm công sở ở Hà Nội, được cả thẩy 150 đồng. Số tiền bán xe đạp vừa đủ để mua một miếng đất thổ cư giữa làng rộng hơn một sào Bắc Bộ, song người chủ đất cho chịu 50 đồng sau một năm mới phải trả nốt. Vậy là gia đình tôi đã có miếng đất cắm dùi.

Có đất cắm dùi, nhưng rồi lấy tiền đâu ra để làm nhà ? Dù có nhà tranh vách đất thì cũng tốn kém ít nhiều. Song đấy là chuyện tính sau, trước mắt, miếng ăn cho vào miệng hàng ngày mới là đáng kể. Các cụ nhà mình xưa đã dạy “miệng ăn núi lở “ là gì. Miếng ăn rỉ rả ngày ngày đến núi còn lở, huống hồ trông vào khoản trợ cấp một lần. Hợp tác xã người ta có ưu tiên cấp cho chút ruộng 5 phần trăm thì cũng con phải cấy hái chờ đến mùa màng chứ. Lo miếng ăn chưa xong thì cái tết sầm sập đến...
Cái tết năm 1964 sang 1965, mùa đông tháng chạp ấy sao mà rét. Ở thành phố, nhà cửa san sát chật hẹp nên cái lạnh dường như bớt đi. Căn nhà ngang gia đình tôi ở nhờ nhà bà cụ Thi, đầu hồi nhà kề ngay bờ ao, hướng Bắc. Mấy cái ao liên tiếp nhau, điểm xuyết đôi ba cụm tre là đến ngay cánh đồng. Gió mùa đông bắc hun hút thổi. Những ngày gió mùa về, rét ơi là rét. Có bao nhiêu quần áo rét mang ra mặc hết vào người vẫn thấy rét.
Gần tết năm ấy, chờ đợi mãi mà chẳng thấy nhà mình sắm sửa tết nhất gì cả. Khác hẳn mọi năm khi còn ở thành phố, dù cài gì cũng mua theo tem phiếu song đủ cả, nhất là đám trẻ con mấy chị em chúng tôi còn được sắm quần áo mới. Mấy ngày giáp tết, trẻ con được nghỉ học. Ở nhà, lẩn quẩn chân mẹ, chẳng thấy sắm sanh gì. Tôi lại hồi tưởng đến những tết trước. Dịp này, năm ngoàí, tôi còn được mẹ cho đi chơi chợ hoa Hàng Lược. Thật khó tả cái niềm vui trẻ thơ khi lạc vào chợ hoa tết. Cơ man là hoa đào, lay ơn, thược dược... Như xứ sở thần tiên mà tôi đã từng được xem trên phim ở bãi chiếu bóng ngoài trời dốc Yên Phụ. Tuyệt nhất là mấy chị em chúng tôi, cùng chúng bạn trong cái ngõ Trúc Lạc, trốn nhà, rủ nhau lên tận Quảng Bá xem đánh cờ người. Những hình tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, tốt trong bộ Tam cúc vẫn chơi hàng ngày, nay là những con người cụ thể diện trang phục xanh đỏ tím vàng, y hệt quân bài, tay cầm biển chữ, di chuyển theo sự điều khiển của người chơi cờ. Chúng tôi xem mê ly, quên cả đói bụng, cho đến khi trời ngả sang chiều mới rủ nhau về, trong sự chờ đợi lo âu của bố mẹ. 
Giờ thì xa rồi. Tôi có nằm mơ cũng chẳng được thế nữa. Đám trẻ con trong cái ngõ Trúc Lạc ấy, theo cha mẹ tứ tán cả. Chẳng biết mấy đứa còn ở lại, tết này có lên Quảng Bá xem cờ người không ?...
Thấy đám trẻ chúng tôi buồn thiu mà không dám ho he thắc mắc gì, lựa lúc bố tôi vắng nhà, mẹ tôi bảo: “ Giờ nhà mình về hẳn quê rồi. Chẳng còn được mua sắm tết theo tem phiếu như ở Hà Nội nữa đâu. Tết năm nay, thiếu thốn nhiều, các con ạ...”. Mẹ tôi bỏ dở chừng câu nói, giọng như nghẹn đi, mắt ầng ậc nước. Tôi biết bà cố nén để không bật lên tiếng nấc. 
Chị Nguyên, là chị lớn trong ba chị em chúng tôi, khi đó đang học dở lớp 6, cố làm ra vẻ người lớn, an ủi : “ Đâu có gì, mẹ ơi. Chúng con cùng lớn rồi mà. Tết nhất, nhà có gì ăn nấy... Với lại, quần áo mẹ mua tết năm ngoái vẫn còn mới tinh, diện vào vẫn đẹp lắm ...”. Nói an ủi cho mẹ yên lòng, mà giọng chị Nguyên cũng có nước mắt... Mẹ tôi cố làm ra cười, bảo: “ Gì thì gì...Thế nào... thì cũng có bánh chưng, các con ạ “. 
Phiên chợ giáp tết, mẹ tôi ghé cùng mấy người làng lần mò đi chợ Nôm, nghe nói là khá xa. Đây là cái chợ đặc biệt, mà mãi sau này tôi mới rõ, câu dân gian cửa miệng rằng “ đồng nát thì về Cầu Nôm, con gái nỏ mồm về ở với cha “, là nói đến cái chợ Nôm này. Mẹ đi chợ tết, còn bố tôi ở nhà, hì hục lấy đất thịt, nhào thật nhuyễn với trấu thóc, đắp một cái bếp lò to tướng ngay trong góc nhà. Tôi xem bố đắp bếp, mấy lần hỏi mà bố tôi chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Quá trưa ấy, mẹ tôi đi chợ về, trong quang thúng, ngoài những thứ hàng sắm tết, còn có một chiếc nồi đồng to tướng. Tôi lăng xăng giúp mẹ bỏ những thứ hàng tết ra, tò mò hỏi :” Sao nhà mình lại thổi cơm vào cái nồi to thế hả mẹ ? “. Mẹ ngần ngừ một chút, rồi ấn nhẹ ngón tay chỏ vào trán tôi, bảo : “ Sau tết này, nhà mình sẽ tráng bánh cuốn, để mang bán cho mọi người lấy tiền mà nuôi các con ăn học chứ “.
Tôi reo lên thích thú: “ Ôi, thích thế mẹ. Nhà mình tha hồ được ăn bánh cuốn rồi “.
Nhưng tôi đã nhầm. Thực ra, tôi còn quá nhỏ để chưa thể hiểu gì...
Ấy, bắt đầu cho một nỗi cơ cực, tủi hờn !...
 

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 05.10.2013 11:10:18
Trở lại Sa pa
 
Ngày còn đi học cái địa danh Sa-pa thật xa xôi và lãng mạn sách vở, ấy là sự ảnh hưởng bởi truyện ngắn " Lặng lẽ Sa-pa " của nhà văn Nguyễn Thành Long. Cái bầu không khí se lặng và sương khói hư ảo của dãy Hoàng Liên Sơn; cái lạ lẫm kỳ bí của đời sống các dân tộc thiểu số sinh sống nơi đây; và thêm, sự nhiệt tình tận tâm với công việc của những con người miền xuôi lên đây, tất cả làm nên sự lôi cuốn, hấp dẫn của thiên truyện. Cái truyện ngắn ây của Nguyễn Thành Long càng về sau càng trở nên nổi tiếng, thành kinh diển để các nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học ở xứ ta đưa vào giảng dạy trong hệ thống văn học nhà trường, trong các khóa học dài hạn, hoặc lớp bồi dưỡng viết văn ở xưa ta...Với riêng tôi, Lặng lẽ Sa-pa không ngoại lệ. Sau này, khi về làm báo chuyên nghiệp, đầu quân cho VOV từ giữa những năm tám mươi của thế kỷ trước, tôi cũng ao ước được đặt chân đến Sa-pa, hơn thế nữa, được gặp gỡ hỏi chuyên nhà văn Nguyễn Thành Long. Thế rồi, tôi đạt được cả hai nỗi mong muốn đó, trước khi khi lên với Sa-pa, tôi đã được đến thămm gặp gỡ nhà văn Nguyễn Thành Long tại nhà ông ở phố Dã Tượng Hà Nội. Nhà ông ở thuộc một biệt thự cổ theo kiến trúc Pháp, chung với mấy gia đình khác, theo kiểu tập thể. Chật hẹp, tối tăm, chung đụng và dễ va chạm trong sinh hoạt là đặc điểm chung của hầu hết các khu tập thể cán bộ viên chức Hà Nội một thời. Khi đó, Nguyễn Thành Long ốm yếu, bệnh thêm nặng vì hằng ngày phải hít thở khí thải từ bếp đun dầu hỏa được đặt ngay trong nhà. Tôi và nhà thơ Trần Phương Trà hỏi chuyện ông. Bằng chất giọng Quảng Ngãi đặc sệt, tuy hơi khó nghe song nhỏ nhẹ thân thương, ông kể lể sự tình. Chỉ vì xây cất trái phép mây căn bếp cùng với các gia đình khác, mà nhà ông gặp phiền toái, ấy là việc đội quy tắc phường đến phá dỡ và phạt diện tích xây dựng trái phép. Ông than phiền dến Hội Nhà văn, rồi Hội nhà văn lại nhờ cậy đến nhà văn Phan Quang ( khi dó đương kim Tổng giám đốc VOV, kiêm Tổng thư ký Hội Nhà báo VN ). Tôi là người được nhà văn Đặng Quang Tình ( khi đó là Trưởng ban Ban thính giả của VOV ) cử đến nhà ông để hỏi chuyện, tìm hiểu thực tế, tìm cách giúp đỡ gia đình ông. Giờ thì là câu chuyện của cái lý, cái tình... Lẽ đương nhiên, được cả lý cả tình là tốt nhất, còn không, thì phải để cái lý thắng cuộc. Cũng trao đi đổi lại, song việc của gia đình ông lại thuộc về cái tình, rốt cuộc, cũng không thể làm gì khác được...Còn Sa pa, mãi dến mùa hè năm 2004 tôi mới lần đầu đặt chân đến. Lần đầu, lạ lẫm, thích thú, chộn rộn, nên ham nhìn, ham biết, song chẳng mấy nhớ... Sau này, tôi chỉ còn ấn tượng về ngôi nhà thờ cổ nơi trung tâm thị trấn trầm lặng trong cái lạnh và sương mù; rồi đó là những câu chuyện hóm hỉnh về chuyện sinh con đẻ cái và những bài thơ ngơ ngác, ngộ nghĩnh của nghệ nhân dân gian Giàng Seo Gà, người Mông, Trưởng phòng VHTT huyện Sa pa; rồi nữa là hai cô gái phóng viên trẻ trung xinh đẹp của VOV Tây Bắc, áo đỏ chói, đèo nhau bằng xe máy đổ dốc diệu nghệ theo các con dốc ngoằn ngoèo, cua tay áo từ Sa pa về thị xã Lào Cai trong trời mưa to đường trơn nhẫy...Sau đó, thêm vài lần nữa tôi trở lại với Lào Cai và Sa-pa, song trong điều kiện công việc vội vàng. Nay mới trở lại Sa-pa thư thả hơn. May mắn được mấy ngày nắng đẹp xen kẽ giữa những đợt mưa triền miên do ảnh hưởng tư cơn bão số 9 đổ vào miền nam Trung quốc và cơn bão số 10 đang lăm le ngoài khơi miền Trung... Giờ thì nhà cửa đẹp đẽ khang trang hơn, nhiều khách sạn to nhỏ mọc lên, khách du lịch đông hơn, dịch vụ ăn uống cũng đầy đủ, sang trọng hơn. Ấn tượng nhất là những quán cafe Wifi theo kiểu Tây, na ná kiểu quán cafe phố nhỏ, thị trấn nhỏ ở phương Tây mà tôi từng thấy trong các chuyến công du nước ngoài. Lẽ dĩ nhiên, thoạt đầu là để phục vụ khách Tây, rồi đó, nó cũng phù hợp với nét sinh hoạt mới của giới chủ, giới trẻ xứ ta... Rồi đó, món ăn cá hồi sống kiểu Tây ( loại cá hồi được nuôi ngay tại Sa pa )... Nét văn hóa Tây pha trộn, song cơ bản vẫn là văn hóa bản địa của người Mông, người Tày Nùng, người Giáy... Cũng không thể không nhắc đến những phiên chợ Tình Sa pa tụ họp thường xuyên vào tối thứ bảy hằng tuần ngay trung tâm trước của nhà thờ cổ. Thay vì, chỉ thuần các cặp trai gái người dân tộc thủ thỉ bên nhau, còn có thêm các cặp gái Mông trai Tây thủ thỉ với nhau bằng tiếng Anh...Ôi, một Sa pa vừa lạ vừa quen của thời mở cửa... Bầu trời trong đầy sao, phảng phất trong gió lạnh buổi khuya mùi ngô khoai nướng, trứng nướng, mùi thuốc tắm thảo mộc từ hai bên đường lan tỏa... Xa xa kia bên hổ nước, một cặp nam nữ đang đi nép bên nhau...Lòng lại nhớ đến bầu không gian huyền hoặc của một Sa pa trong truyện ngắn " Lặng lẽ Sa-pa " của nhà văn Nguyễn Thành Long, nhớ đến từng chi tiết của câu chuyện, nhất là trạng thái hân hoan của chàng trai ở Trạm thủy văn, nhân vật chính, dùng thủ thuật lăn đá chặng đường ô tô, chỉ với mục đích dừng xe khách, để được nhìn thấy, được nói chuyện với khách miền xuôi của một thời khao khát, mộng mơ...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 26.10.2013 17:13:38
 
LŨ MUỘN
 
Cuối tháng 9, vào công tác Sài Gòn. Thời gian eo hẹp nên dự định xuống miền Tây phải cắt bỏ. Chợt nhớ, mùa này đang là mùa nước nổi vùng đồng bằng sông Cửu Long, bèn alo cho anh bạn đồng nghiệp, người phụ trách Văn phòng VOV Miền Tây tại Cần Thơ nài : " Cuối tuần, tiện có xe, ông chạy ù lên thành phố chơi với tôi đi. Anh em mình lai rai nói chuyện miền Tây cho đỡ nhớ. Có quà gì đặc sản miền Tây thì mang lên, nhất là mắm cá linh...". Là đùa vậy thôi, chứ gặp nhau, cạch ly tý chút là vui rồi, chứ giờ này, kiếm đâu ra mắm cá lình...

Anh bạn lên, lúc ngồi lai rai với nhau nơi quán ăn ngõ nhỏ, ngoài chuyện nghề, chuyện tiếu lâm hiện đại, là chuyện ẩm thực. Thôi thì các món ăn Bắc Trung Nam đủ cả. Lẽ đương nhiên, ẩm thực miền Tây không thể không nhắc đến. Tôi từng có gần chục năm trời sống ở miền Tây Nam Bộ, gì thì gì, những món nhậu khoái khẩu như khô cá đuối, xoài xanh chấm nước mắm dầm đường thốt nốt, canh chua me bông súng cá rô, lấu mắm cá linh, cá linh tẩm bột chiên ròn đã từng ăn. Bàn món ăn, để xôm trò, để đưa cay, song cái chính là để nhớ một thời xa xưa gian khó, một thời tuổi trẻ đầy hoài bão, khát khao được tung hoành đó đây, mong được cống hiến...
Và nữa, còn để nuối tiếc một miền sinh thái đặc trưng nơi mảnh đất Chín Rồng. Anh bạn than thở, rằng năm nay lũ nhỏ, bà con miền Tây buồn xo xúi. Nước lũ nhỏ, theo đó là thất bát mùa màng, thất bát mùa đánh bắt thủy sản. Ở đâu, chứ miền Tây thì phải lũ to, lũ càng to càng mừng. Bởi giản đơn, lũ miền Tây là mùa màng, là cơm ăn áo mặc, là của cải trời cho, là văn hóa sinh hoạt tinh thần của người dân. Một vùng sinh thái ngập nước đặc trưng mà thiên nhiên ban tặng cho con người từ thuở khai thiên lập địa, từ thuở người đi mở đất...
Mấy hôm nay, báo chí đưa tin, lũ miền Tây đang lên to. Nghe mà mát lòng hởi dạ. Lại bấm máy alo vào cho anh bạn đồng nghiệp " Lũ to rồi nhé. Mừng ông, mừng bà con miền Tây ". Anh bạn cười hồ hởi : " Uh, mừng quá ông ơi. Lũ muộn, thôi thì vớt vát ông ạ. Phen này, may ra, anh em ta còn có mắm cá linh mà ăn".
Nói nói cười cười với nhau qua điện thoại, mà xống mũi mình lại cay cay ứa nước mắt... Chao ơi, nhớ mùa nước nổi miền Tây biết chừng nào!...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 16.11.2013 17:23:43
Thiên chức
 
Sáng nay, tình cờ xem một phóng sự về thiên nhiên hoang dã trên truyền hình, nói về loài chim tu hú. Câu thơ “ Khi con tu hú gọi bầy / Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần...” của Tố Hữu, gợi lên bao cảm giác thân thương về những mùa hè vái chín, mùa thi học trò trong ký ức một thời ...

Vậy mà, tiếng chim gọi mùa thân thương ấy, lại là tiếng kêu của một loài chim, nếu mang phân tích từ góc độ khoa học đặc trưng loài trong sự sinh tồn của thiên nhiên hoang dã, thì lại rất vô duyên...
Tôi dùng từ “ vô duyên “, thực ra chỉ là một cách nói theo kiểu tu từ mà thôi. Chim tu hú sinh tồn trong thiên nhiên hoang dã như thế nào, thực ra, đã được gói gọn trong câu tục ngữ của người xưa rồi, ấy là “ tu hú đẻ nhờ “...
Chim tu hú, có tên khoa học là Endynamis scolopacea, chuyên ăn sâu bọ (cả những loài sâu bọ độc, chính điều này khiến nó chối bỏ thiên chức ấp trứng, nuôi con ) và các loại quả chín hoang dại. Nếu chỉ có vậy, hẳn nó sẽ là loài chim vô hại, thậm chí đáng yêu. Song cái đáng bàn là đặc tính “ đẻ nhờ “ của nó. Để thực hiện được việc này, chim tu hú trống phải rình mò, rồi đánh lạc hướng và canh cho con mái thực hiện hành vi đẻ nhờ. Thường chúng chọn tổ làm sẵn của các loại chim chích, chim sâu nhỏ bé và hiền lành. Con mái có thể rỉa ăn trứng của chim chích rồi đẻ trứng của nó vào đấy. Về hình thù và kích cỡ bên ngoài, trứng của chúng na ná nhau, nên chim chích bố mẹ không phát hiện ra được trứng lạ. Thời gian nở cũng cỡ gần nhau, thậm chí, trứng tu hú còn nở trước. Khi chim tu hú non mới nở ra, nó có thể đủ sức gồng mình để hất những quả trứng chim chích chưa kịp nở, hoặc cả chim chích non nếu nở cùng, bắn tung ra khỏi tổ rơi xuống đất. Vậy là, tu hú non đã độc chiếm sự nuôi dưỡng của chim chích bố mẹ để lớn nhanh như thổi. Trong khi đó, chim chích bố mẹ cứ hằng ngày cần mẫn kiếm tìm sâu bọ tha về mớm nuôi những con tu hú non, kẻ đã giết chết con đẻ của mình mà không hay ...
Câu hỏi đặt ra là, khi còn là trứng, hoặc còn là chim non mới nở, chim chích bố mẹ không phát hiện ra kẻ giả danh, song khi tu hú non lớn hơn, mọc nhiều lông cánh, có kích cỡ to lớn chim chích bố mẹ đến mấy lần, vậy mà, chúng vẫn không phát hiện ra chăng, mà lại cứ cần mẫn mù quáng chăm bẵm tu hú non ?... Câu trả lời nhường về thuộc tính thiên nhiên, ấy là thiên chức làm cha làm mẹ của phần lớn sinh vật, giống nòi trên trái đất này...
Con người cùng vậy. Cha mẹ sinh con đẻ cái, là thiên chức, nuôi dạy con cái lớn lên là thiên chức... Và cũng đã có những đứa trẻ dễ thương ấy, sau này lớn lên sinh ra hư hỏng, thành kẻ thủ ác, phạm tội bất lương... Có cha mẹ nào lại muốn con như vậy chẳng ?... Đã có những bậc cha mẹ, khi đứa con mình mang nặng đẻ đau, dầy công nuôi dưỡng, vun đắp, sau này trở thành kẻ bất lương, thủ ác, đã đau đớn mà thốt lên rằng “ biết thế này, tao bóp chết mày từ trong trứng, từ lúc còn đỏ hỏn “... 
Nếu biết thế... Là than vậy thôi, khi người ta không thể làm gì khác, chứ nếu cho làm lại, tin rằng, sẽ chẳng một ai đang tay... 
Là bởi thiên chức, hay là niềm hy vọng, cũng là trời ban cho con người, vào sự tốt lành chăng ?...
 

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 18.01.2014 18:11:25
Lối đi đầy mùi khói cuối năm
 
"Sương chiều nghe lạnh bước chân/ Khách áo cũ/ Tìm về bạn cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi đầy mùi khói cuối năm ", trong bài thơ Khói cuối năm của mình, nhà thơ Phùng Cung đã viết thế.
Một cảm xúc lan nhẹ trong lòng tôi. Ôi cái mùi khói đống rấm lâu lắm rồi tôi không được thấy. Đã ngót nghét hai chục năm rồi, kể từ khi mẹ tôi theo mấy chị em chúng tôi ra thành phố sống, rồi bệnh già mà khuất núi, tôi không được ăn tết ở quê. Nhớ hồi, mới chuyển từ Nam ra lại ngoài Bắc, bỏ nghề cũ theo nghề cầm bút, khi đó mẹ tôi cũng đã gửi căn nhà ở quê cho đứa cháu trông nom hộ, ra ở với chị tôi, tết năm ấy mẹ bảo tôi rằng hai mẹ con sẽ về quê ăn tết. Đó là năm cuối cùng của cái thời gạo sổ, thịt phiếu. Năm ấy, giáp tết, anh em cơ quan cậy nhờ chỗ quen biết ở cơ sở mua rẻ được con lợn ngót tạ, cùng cả gạo nếp, đỗ xanh về chia nhau ăn tết. Chiều hai chín tết, tôi đến nhà người chị gái đón mẹ về quê. Chiếc xe đạp Phượng hoàng cà tàng của tôi ghi-đông treo lủng củng những túi đựng đồ. Mẹ ngồi sau ôm trong lòng tay nải đẫy quần áo. Xe nặng, đường gió bấc to, kẽo kẹt mãi trong dòng xe cộ nườm nượp ngược xuôi về quê ăn tết, phải nghỉ dọc đường đến vài lần lấy sức và cho mẹ đỡ tê chân, hai mẹ con tôi mới vượt được chặng đường non ba chục cây số về đến quê. Đến nhà, chẳng kể đường xa tuổi cao mệt mỏi, mẹ nhanh nhẹn hoạt bát hẳn lên, bắt tay ngay vào công việc dọn dẹp quét tước. Đúng tâm trạng người được trở về những gì từng thân thuộc gắm bó với mình. Căn nhà bỏ lâu không người chăm chút nên bề bộn quá. Rồi mẹ làm cơm bữa tối cho hai mẹ con, và nữa là sơ chế thịt thà thức ăn mang về. Tôi cũng sà vào giúp mẹ một tay, vừa làm vừa trò chuyện cho vui, dù biết nhiều khi chỉ làm quẩn chân mẹ. Sáng ba mươi tết, hai mẹ con lại cật lực dọn dẹp, sửa sang bàn thờ, nhà cửa, sân vườn. Ngôi nhà tranh tường đất lợp rạ ba gian hai chái được cha mẹ tôi dựng trên mảnh đất rộng sào rưỡi sang nhượng lại từ hồi đầu cuộc chiến tranh chống xâm lược bằng không quân của Mỹ ra miền Bắc khi gia đình tôi từ Hà Nội về quê định cư, trông bên ngoài có vẻ sập sệ những bên trong đồ đạc vẫn khá sạch sẽ ngăn nắp. Tôi quét mảnh sân trước nhà dài mảnh như tấm khăn, mà ngày trước cha tôi đã cầy cục mua lại gạch Bát Tràng cổ của một nhà nọ cậy bỏ đi để làm sân theo kiểu mới, mang về lát. Lòng rẩm riu rằng đã có bàn chân của bao thế hệ dẫm lên đó ? 
Khi sắp xếp lại bàn thờ, tôi tỷ mẩn dùng tro bếp đánh bóng kỹ đôi chân nến dồng cổ, bình hương có hình lưỡng long chầu nguyệt, bát đựng nước cúng vẽ hình phượng múa và hai chữ Nho nội phủ, rồi bộ ấm tách trà sứ Nhật Bản mỏng tang đến mức ánh sáng có thể xuyên qua và những chiếc đĩa sứ thạch trúc. Đó là những món đồ thờ tự mà cha tôi kỳ công sắm từ ngày trước... 
Chiều tất niên, theo đúng tập tục làng quê tôi, làm những thủ tục tống cựu nghênh tân, chắc cũng như nhiều vùng quê Bắc bộ khác, mẹ quét tước mùn rác, là khô từ xó vườn, luỹ tre, đến lối ngõ, tất cả vun thành đống tướng phía bìa hàng rào ngoài cổng, châm lửa đốt. Lửa đống rấm âm ỉ cháy, khói lên nghi ngút. Lắng nghe, kìa đây đó những tiếng chổi nhà nhà quét tước, khắp ngõ khắp làng. Và đống rấm nhân lên những đống rấm. Khói thơm nồng quấn quýt mái nhà, vòm cây, lũy tre như một dải mây trầm mãi không thoát lên cao được, ôm choàng lấy xóm làng. Người đi mà mắt cay cay, bởi nhiều nhẽ, bị khói xông ư, không, hơn thế là cảm xúc chờ đón thời khắc giáp ranh năm cũ năm mới cùng vạn vật thiên nhiên... Với người quanh năm ngày tháng ở quê đã thế, thì với người đi xa hiếm có khi ăn tết quê như tôi lại càng chứa chan xúc cảm. Tôi tha thẩn, hết ra ngõ ngó nghiêng khói đống rấm và chào đáp lễ lời hỏi thăm của bà con họ hàng , lại quay vào bếp xem mẹ tôi nấu cỗ , rồi lên nhà châm tuần hương mới trên bàn thờ tổ tiên, tư lự chiêu đôi ba ngụp trà ... 
Như đã thành nếp, chiều ba mươi, trong những món cỗ, bao giờ mẹ tôi cũng làm món bún chả. Mùi vị quyến rũ của chả nướng quện với mùi khói bếp, khói lửa đống rấm, mùi hương trầm tạo nên một hương vị đầm ấm khôn cùng. Trách chi khách giang hồ tha hương, vào giờ phút ấy vẫn lang thang trên nẻo đường phiêu bạt, chưa được sum vầy cùng người thân, sao khỏi nao lòng ?!...
Chiều muộn, mẹ tôi có ý ngóng chị gái tôi lấy chồng xã bên về gửi tết. Chưa kịp nhắc thì đã thấy vợ chồng chị tôi và lúc nhúc mấy đứa cháu lên tiếng ngoài cổng. Vợ chồng chị mang biếu mẹ cặp bánh chưng và nửa cân giò nạc. Mẹ giục tôi sắp cỗ cúng sớm để vợ chồng chị tôi cùng ăn cơm tất niên và còn phải về kịp cúng tất niên bên nhà chồng. Đông người ăn, con cháu tuy chưa thật đầy đủ song mẹ tôi vui lắm. Mẹ chỉ ăn qua quýt, luôn miệng nói ,chuyện nọ dọ chuyện kia, chưa xong người này đã nhoằng sang người khác, và cũng luôn tay gắp thức ăn bỏ vào bát mọi người, nhìn con cháu ăn làm vui. 
Lúc anh chị tôi về rồi, mẹ thắp tuần hương mới trên bàn thờ, khấn các cụ và khấn mà như nói chuyện với cha tôi, đại ý muốn báo với ông rằng hãy yên tâm ở bên kia thế giới vì mẹ đã nuôi chị em chúng tôi nên người đúng như lời hứa với cha tôi lúc ông rời xa mãi mãi. Mẹ còn hẹn với cha tôi hãy gắng đợi bà dăm năm nữa, bởi bà con muốn lo cho tôi thành gia thất thì mới yên lòng... 
Nghe lời mẹ khấn cha, tôi cảm thấy mình bé bỏng lạ, hệt như cậu bé con ngày nào thỉnh thoảng bị cha mẹ rầy mắng, tự đáy lòng thầm nhận bao lỗi lầm mà mình từng mắc phải làm cha mẹ buồn lòng, và cầu xin người tha thứ. Ngoài vườn, những cây cải sót lên ngồng vào hạt mẩy tự bao giờ đung đưa trong gió lạnh. Bên kia hàng rào, những đống rấm vẫn âm ỉ cháy, toả mùi khói thơm nồng xua bớt đi cái giá rét. Chốc chốc, gió lùa mạnh làm bùng lên ngọn lửa, phát ra những tiếng nổ lách tách vui vui mơ hồ trong gió xuân !...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 09.03.2014 08:30:36
Hoa rừng
 
Lần này đi Tây Bắc, đúng vào ngày giáp ranh tháng Giêng và Hai xuân Giáp Ngọ. Thời tiết trái ngược nhau, khi miền đồng bằng Bắc Bộ đang mưa phùn lây nhây, vậy mà mới qua cung đường Mai Châu sương mù khuất lối, rồi ngang cao nguyên Châu Mộc se se, Tây Bắc đã hiện ra với quanh cảnh trời khô nắng nhẹ nồng nồng... 
Dù đào muộn và hoa mận hoa mơ đã mạn, bù lại, đến Yên Châu hai bên đường ngập tràn hoa xoài, đây là một địa danh nóng nhất của vùng Tây Bắc, cùng với Mường La, Quỳnh Nhai, và lòng chảo Điện Biên, thị xã Lai Châu cũ ...
Trên những dặng núi xa mờ trong sương chiều, đã phảng phất đâu đó màu trắng hoa ban,lòng rẩm riu, hình như mùa hoa ban năm nay đến sớm...
Đây là một thời điểm hiếm hoi nhất của núi rừng Tây Bắc, ấy là khoảng thời khắc nhiều loai hoa đặc trưng nhất của miền Tây Bắc lựa chọn để phô mình. Trong khi đào hoa gắng gượng trút nốt những giọt nhựa cuối cùng từ thân cành khô già thành những nụ hoa rụt rè e ngại chút xuân mưộn, thì hoa mận hoa mơ đến lúc mãn khai; còn hoa ban và hoa gạo lại nhanh nhẩu mà phô mình chút ít, nhằm báo hiệu cho một mùa khai mở mỗi riêng mình... Trong khi đó, mặc cho những loài hoa có thời có khắc, hoa trạng nguyên lại thủng thẳng mà đỏ suốt bốn mùa bất kể hàng nơi rào hay bờ hoang cỏ dại...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 13.04.2014 17:34:42
Về bốn chữ Hán trên cổng Đền Hùng
 
Về bốn chữ Hán trên cổng Đền Hùng, mấy năm qua đã có nhiều bài viết lý giải ngữ nghĩa khác nhau. Bốn chữ ấy là Cao sơn cảnh hành hay là Cao sơn cảnh hạnh , và ý nghĩa như thế nào ? Đa phần ý kiến thiên về Cao sơn cảnh hành và dịch nghĩa là: Núi cao đường lớn, hoặc là : Lên cao để ngắm cảnh đẹp. Giản đơn vậy sao ?!Theo thiển ý của chúng tôi, cuộc tranh luận này có thể đi đến hồi kết sau bài viết của nhà thơ Ngô Văn Phú. Nói như vậy, về cơ bản, chúng tôi đồng tình với cách lý giải của tác giả. Nhà thơ Ngô Văn Phú đã truy nguyên được gốc của bốn chữ đó xuất phát từ Kinh Thi. Theo dẫn dụ thì câu " Cao sơn ngưỡng chỉ. Cảnh hành hành chỉ" là hai câu đầu trong chương V của Thiên Xa hạt ( chốt xe ), bài số 224 phần Tiểu nhã. Tác giả cũng đã đặt tổng thể hai câu ấy không những trong chương V mà cả bốn chương còn lại củaThiên Xa hạt. Ở đây, nhà thơ Ngô Văn Phú tóm tắt nội dung cả thiên ( gồm 5 chương, mỗi chương là một bài có 6 câu ) , đó là : chuyện về gặp được người con gái út đẹp, hân hoan sắm sửa xe nhằm đánh tới nhà nàng xin được cưới về, với tình cảm hạnh phúc tràn ngập vì sắp lấy được người con gái tài hạnh vẹn toàn mà mình ngưỡng mộ từ lâu.Cùng với ý này, chúng tôi xin được bàn thêm. Ấy là, không chỉ có vậy, cả 5 chương nêu trên còn hàm ý rằng, người đàn ông ( chủ thể của Thiên Xa hạt) còn có sự lo âu mình kém tài đức hơn nàng và cả lòng mong, tự nhủ sẽ tu dưỡng tài đức sao cho đủ sánh với nàng. Và như vậy, ngay ở đây, vượt lên trên câu chuyện bình thường là hàm ý đức hạnh và sự tu dưỡng của con người ta.Về phần chú giải của Chu Hy, tác giả Ngô Văn Phú dẫn sách Lễ ký tập thuyết, Chu Hy lý giải là : Núi cao thì để người ta ngưỡng trông. Bậc có đức hạnh lớn thì được người ta xem như khuôn phép mà noi theo. Theo chúng tôi, nếu viện dẫn thêm chút nữa thì mọi sự sẽ sáng tỏ hơn. Đó là, cũng trong phần chú giải nêu trên, Chu Hy còn lý giải tiếp : " Khổng Tử mới khen rằng : Kinh Thi chuộng điều nhân nghĩa như thế, cứ hướng tới con đường mà đi, nửa đường kiệt sức mới chịu dừng quên thân mình già, chẳng cần biết số năm mình còn sống là không đủ, cứ cần cù lao nhọc, ngày ngày cố gắng mãi, đến chết mới thôi ". Vậy đã rõ ràng , cao hơn và phủ lên trên đó không chỉ là con đường, mà còn là ý nghĩa về đường đời của con người ta với ý chí và sự hành xử hướng tới những điều nhân nghĩa . Cách lý giải trên có thể xem là cội nguồn của bốn chữ đó. Tuy nhiên, theo chúng tôi, đặt trong văn cảnh cụ thể của Đền Hùng thì từng cặp từ vẫn có thể bàn thêm. Trong bài viết của mình, nhà thơ Ngô Văn Phú cho rằng, hai chữcao sơn ( hiểu nghĩa là núi cao ) như thế đã rõ ràng không cần nhắc đến. Nhưng chúng tôi nghĩ, nghĩa đen là vậy, song nó còn mang một ý nghĩa tượng trưng nữa. Mới đây, trong một lần trao đổi với ông Nguyễn Xuân Đài, nguyên Trưởng ban quản lý Khu di tích lịch sử Đền Hùng, ông cho rằng : Nói cao sơn là phải nghĩ đến tín ngưỡng dân gian của một số nước Đông Á ( có Trung Hoa và Việt Nam ), là tục thờ thần cao sơn của Đất Việt ( tức thần núi cao, chẳng hạn như Tản Viên sơn thần ). Điều này cũng phù hợp với sự kính trọng, tôn vinh, sùng bái và thể hiện lòng biết ơn Vua Hùng của cư dân Lạc Việt từ xưa đến nay. Chúng tôi đồng tình với ông Nguyễn Xuân Đài về điểm này. Đồng thời, cũng khiến chúng tôi liên hệ đến các bức đại tự Cao sơn ngưỡng chỉ thường được treo trong nhiều nhà thờ tổ họ, dòng tộc có truyền thống Nho học ở ta. Chỉ khác , chữ chỉ có bộ Thổ nên mang ngữ nghĩa là nền đất ( nghĩa bóng là truyền thống dòng tộc ) mà thôi. Còn hai chữ Cảnh hành ( hay Cảnh hạnh ? ). Từ lý giải của nhà thơ Ngô Văn Phú, chúng tôi đồng tình với cách hiểu của tác giả nên đọc hiểu là cảnh hạnh, chỉ đức hạnh lớn, song vẫn muốn được bàn thêm. Bộ sách Minh tâm bảo giám ( NXB Văn hóa thông tin -1996- dịch giả Nguyễn Quốc Đoan), là một tập đại thành những câu cách ngôn của các bậc danh nho, hiền triết Trung Hoa từ cổ đại đến đời Tống, và được xem là quyển sách về đức dục của người xưa. Điều mang ra bàn ở đây là trong 20 thiên của bộ sách này, có rất nhiều câu cách ngôn được rút ra từ bộ Cảnh Hạnh lục, và được chú giải là : sách cảnh hạnh, là sách viết về những nết ( hạnh ) vô cùng tốt đẹp (cảnh ), lấy ý từ Kinh Thi : Thái sơn ngưỡng chỉ. Cảnh hạnh hành chỉ (Ngửa trông núi Thái. Làm theo hạnh lớn ). Cao sơn ở đây đã được cụ thể là Thái sơn. Cái chính muốn nói là ý nghĩa đức hạnh được nhấn mạnh. Lại xin được chia sẻ với ông Nguyễn Xuân Đài, trong một bài viết khác về sự lựa chọn cách đọc và hiểu thế nào cho hợp. Ông Nguyễn Xuân Đài đã viện dẫn đôi câu đối hai bên cổng chính Đền Hùng để minh chứng. Đó là : "Thác thủy khai cơ tứ cố sơn hà quy bản tịch/ Đăng cao vọng viễn quần phong la liệt tự nhi tôn " ( Mở lối đắp nền bốn mặt non sông về một mối/ Lên cao nhìn rộng chập trùng đồi núi tựa cháu con ) ; " Đăng giả hệ hà tư, vạn cổ giang sơn đế tạo thủy/ Giai tai do vượng khí, thiên nhiên thành quách úy thông gian " ( Lên đây nhớ về cội nguồn, vạn cổ giang sơn này do vua tạo dựng/ Đẹp thay nhờ vượng khí, ngàn năm thành quách cây cỏ tốt tươi ). Như thế có thể thấy, sự lên cao kia chỉ nhằm thấy được tầm vóc và công đức của các Vua Hùng to lớn dường bao. Đấy mới là ý nghĩa chính, quy tụ tất hết thảy chữ nghĩa, ý vị của cả quần thể di tích này. Vậy, dù cách đọc bốn chữ đó là Cao sơn cảnh hành hay Cao sơn cảnh hạnh, ( chỉ vì trong tiếng Hán cùng một mẫu tự tuỳ theo văn cảnh mà đọc làhành chỉ sự đi, con đường hay hạnh chỉ sự nết na, đức hạnh ), thì ở đây ( Đền Hùng ) cũng không thể hiểu đơn sơ là núi cao, đường lớn được, mà phải hiểu rút gọn là núi cao, đức hạnh lớn , cụ thể hơn, như cách hiểu nghĩa mà nhà thơ Ngô Văn Phú lý giải là : Núi cao để mà trông ngóng. Đức lớn để mà ngưỡng mộ.Cách hiểu nghĩa này phù hợp với di tích Đền Hùng, mà càng hợp với sự tôn kính, ngưỡng vọng của cả dân tộc, đất nước ta với công đức dựng nước của các Vua Hùng, đến mức hằng năm có một ngày Giỗ tổ chung của quốc gia vào mồng 10 tháng 3 âm lịch ! ./.

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 21.09.2014 18:11:38
Vi Ứng Vật - U nhân ưng vị miên...

Chủ bút :
Năm nay, tiết ngâu muộn, mưa suốt tháng bảy, kéo sang đầu tháng tám. Khi trời hửng, nắng đã rõ tiết thu. Ừ, mà tiết Trung thu đến nơi rồi. Hơi thu rõ nhất là lúc nửa đêm về sáng, trong cái se lạnh tĩnh lặng của đất trời. Nơi phố thị, có được sự tĩnh lặng không phải dễ. Song lúc trở mình chợt tỉnh canh khuya, lắng nghe, gạn lọc, ta có thể bắt gặp được những thanh âm bí ẩn của đất trời lúc chuyển mùa. Rồi, có thể ta khó ngủ lại. Thức thì sinh nghĩ ngợi. Nhưng mà, có kể chi, cứ miên man nghĩ, biết đâu, ta lại ngộ được những điều thú vị, mới mẻ; hoặc giả, có những điều bấy lâu tưởng phức tạp, khó lý giải, khó xử, giờ đây lại hiển hiện rõ ràng, giản dị, minh triết...

Vi Ứng Vật, thi sĩ đời Đường, trong bài thơ " Thu dạ ký Khâu viên ngoại ", đã thấu tỏ điều này " Không sơn tùng tử lạc/ U nhân ưng vị miên."...
Về tiểu sử : Vi Ứng Vật là người Trường An (nay là Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây).
Đời Đường Huyền Tông, ông được bổ làm chức Tam vệ lang, được ra vào cung cấm. Sau ông thi đỗ Tiến sĩ, được cử làm Thứ sử Trừ Châu, Giang Châu, rồi Tô Châu; được dân chúng rất mến phục. Năm 792 ( hoặc 793 ? ), đời Đường Đức Tông, Vi Ứng Vật mất, lúc ấy ông khoảng 55 tuổi.
Sinh thời, tính ông chuộng nghĩa hiệp, có lúc cuồng phóng, nhưng cũng rất cao khiết, mỗi lần đi đến đâu, ông cũng cho quét sạch đất, đốt hương rồi mới ngồi. Ông không thích giao du rộng, bạn thơ chỉ có Lưu Trường Khanh, Cố Huống, Thích Hiệu Nhiên; và ông thường ví mình với Đào Tiềm.
Cùng với bài thơ " Hữu sở tư ", bài " Thu dạ ký Khâu viên ngoại " là những bài thơ nổi tiếng của Vi Ứng Vật :
# Nguyên bản chữ Hán :
秋夜寄丘員外

懷君屬秋夜,
散步詠涼天。
空山松子落,
幽人應未眠。
# Bản âm Hán Việt:
Thu dạ ký Khâu viên ngoại
Hoài quân thuộc thu dạ
Tản bộ vịnh lương thiên
Không sơn tùng tử lạc
U nhân ưng vị miên.
# Dịch nghĩa :
Đêm thu gửi viên ngoại họ Khâu
Nhớ bạn thường vào lúc đêm thu,
tản bộ gặp trời đẹp lòng những muốn ngâm vịnh,
núi vắng ( đến nỗi ) nghe rõ tiếng quả thông rụng,
Người đi lánh đời ( mà ) ngủ không nổi,
Hiện có một số bản dịch thơ, song tôi chưa ưng bản dịch nào, nên chẳng tiện nêu ra đây, là có ý muốn chờ ...
 
ĐÊM THU GỬI KHÂU VIÊN NGOẠI
Dịch: Lan Hoa
***
Lẻ bước rừng thu khuya
Tri âm hoài khúc vịnh
Thông rụng vào u mịch
Trằn trọc đường chân tu

 
Hoa Mai dịch :
*Bài 1:
Đêm thu thường nhớ tri âm,
Những ngày trời đẹp muốn ngâm thơ nhàn.
Trái thông rụng giữa non ngàn,
Lánh đời mà cứ mơ màng năm canh!

Bài 2:
Đêm thu nhớ bạn hiền
Ngày ngâm ngợi cảnh tiên
Núi vắng quả thông rụng
Ước một giấc cô miên!
 
Đêm Thu thương nhớ bạn hiền
Nhẹ chân tản bộ lạc miền trời say
Mình ngâm vịnh, một mình hay
Tiếng thông rơi giữa đồi cây vắng người
Vấn vương chi với cuộc đời?
Mà không ngủ được
mình tôi...
một mình...!
( Nguyễn Trọng Liên dịch )
Đêm thu thường nhớ bạn hiền
Một mình ngâm vịnh với miền đơn côi
Thông rơi núi vắng bóng người
Đêm dài thao thức lánh đời chẳng yên!
 (Đặng Đình Nguyễn dịch )
Đêm thu bỗng nhớ chàng
Trời đẹp thèm ngâm vịnh
Chỉ thông rơi núi vắng
Lánh đời ngủ sao đang!
 
( Nhược Mộng dịch )
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2014 18:17:15 bởi tamvanvov >

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 11.10.2014 16:40:49
Viết cho người níu giữ mùa thu
 
(Thân tặng Nguyễn Chu Nhạc!)
Hoa Mai với Nguyễn Chu Nhạc quen nhau trên mạng thấm thoắt mà đã gần 2 năm và cũng đã gặp nhau vài lần trong đời thực tại Sài Gòn. Nhà báo, nhà đài, nhà văn, nhà thơ… Ôi nhiều “nhà” quá! Biết gọi sao cho chính xác nhỉ? Thôi thì tôi cứ gọi
là nhà thơ Chu Nhạc vì bài này tôi viết về những bài thơ của anh – một người nặng duyên nợ với mùa Thu.
Trong vòng nửa năm nay, anh tặng tôi 4 cuốn sách, 2 thơ, 2 văn xuôi. Trừ cuốn Hiên lan ra thì 3 cuốn kia tựa đề đều có chữ thuChút thu (NXBVH – 2011); Cho thu dùng dằng thêm chút nữa (NXBVH – 2014); Khi lòng ta chợt nhớ thu (NXBLĐ – 2014). Tôi hỏi thẳng: “Sao Chu Nhạc thích mùa thu đến thế?” Anh trả lời ngay: “Vì tôi mạng Hỏa nên thích những gì êm ái, dịu dàng như mùa thu vậy!” Có lý! Nhưng tôi thầm nghĩ chắc anh có nhiều kỷ niệm tình yêu gắn với mùa thu.
Anh xa vào lúc cuối thu
Đồng hoe hoe sắc chim gù thung hoa
Muộn màng bão mới đi qua
Bình yên choàng xuống mái nhà thôn quê.
Anh xa vào lúc gió se
heo may chín rực bờ tre. Ráng chiều,
bên trời ai lẩy câu Kiều
lặng yên mía ngọt từ nhiều đắng cay.
Anh xa vào lúc hương bay
Cỏ thơm đến nỗi đắm say đất trời
Sen tàn giữ lá còn tươi
Dành cho hạt cốm một đời sắc hương.
Anh xa vào lúc mờ sương
hàng cây trơ trụi ven đường khẽ run
vòm trời tai tái màu hun
lẻ loi con én cô đơn cuối trời,
Anh xa thương nhớ em ơi
dọc đường câu hát nhắn người thiết tha
gừng cay muối mặn ngày qua
chớ quên ở chốn quê nhà ai mong
.

 
Bài thơ Anh xa vào lúc cuối thu này anh viết từ năm 1981, in trong tập thơ đầu tayChút thu (NXBVH- 2011) khi là chàng kỹ sư nông nghiệp mới ra trường được vài năm và đang công tác tận miền Tây Nam Bộ. Nhân vật trữ tình là “Anh”, kể lại việc mình đi xa vào lúc cuối thu, trong khung cảnh thân thuộc của một miền quê đồng bằng Bắc Bộ với bao hình ảnh thân quen: cánh đồng hoe hoe sắc, tiếng chim gù đây đó, những mái rạ bình yên, heo may se lạnh, hương cỏ thơm, lá sen gói cốm ủ hương mùa hạ, hàng cây trơ trụi ven đường run rẩy trong sương lạnh lúc sớm mai và cả vòm trời tai tái lúc bình minh chưa rạng. Người đi như cố thu hết vào trong tầm mắt, ghi khắc vào trong tim óc tất cả những gì yêu dấu của quê hương trước lúc đi xa.
Anh giấu người mà anh muốn san sẻ nỗi niềm đến tận cuối bài mới cho hiện diện qua mấy từ emngười và ai:
Anh xa thương nhớ em ơi
dọc đường câu hát nhắn người thiết tha
gừng cay muối mặn ngày qua
chớ quên ở chốn quê nhà ai mong.

Đó là người con gái gắn bó với anh gừng cay muối mặn những tháng năm qua. Anh tự nhủ lòng: chớ quên ở chốn quê nhà ai mong. Cảm nhận quê hương và con người quê hương tinh tế đến thế. Lòng tự dặn lòng chân thành như thế, hẳn người ra đi phải là người sâu sắc, thủy chung.
Thì ra Hoa Mai đoán mò mà… trúng! Hì...
***
Năm nay, thu đến quá muộn với Hà Nội nói riêng và miền Bắc nói chung nhưng lại có dấu hiệu ra đi sớm vì gió Bắc đã lởn vởn ở trên cao. Tôi chia sẻ nỗi buồn mong đợi thu của Chu Nhạc bằng bài thơ Hà Nội giờ này chưa có mùa thu. Có lẽ tình yêu mùa thu của anh từ trước đến nay đã thể hiện khá rõ trong bài thơ nhỏ có tựa đề hơi dài và cũng hơi điệu đàng: Cho thu dùng dằng thêm chút nữa. Đây cũng là tên một tập thơ của anh do NXBVH xuất bản vào đầu năm 2014. 
Bài thơ vỏn vẹn 4 câu:
Cho thu dùng dằng thêm chút nữa,
Để lá rớt buồn mái phố rêu
Ô cửa nhà ai vờ khép mở
Dáng thu mờ tỏ cứ như trêu…

Vậy là hồn thu của thi nhân đang năn nỉ Tạo Hóa hãy để cho thu dùng dằng thêm chút nữa bởi luyến tiếc mùa thu đang chuyển sang đông. Dùng dằng là cái thế đã tới lúc đi rồi nhưng còn bâng khuâng, bịn rịn chưa nỡ rời chân. Đem cái động thái, cái tâm thế của người mà gán cho thu thì đã là cao hơn nghệ thuật nhân hóa nhiều rồi. Thu đã là một hình hài có linh hồn tựa người thu! Năn nỉ là bởi lòng yêu thu chưa thỏa và cũng bởi một lý do thật dễ thương:
Ô cửa nhà ai vờ khép mở
Dáng thu mờ tỏ cứ như trêu

Rõ là dáng thu hữu ý nên mới vờ khép mở để thu hút ánh nhìn của thi nhân. Sự ỡm ờ, bỡn cợt rất tình tứ nằm trong hai trạng thái tương phản khép>mở và mờ>tỏ. Cái ảo bao giờ cũng đẹp hơn, hấp dẫn hơn cái thật và cái ảo cứ như trêu ngươi tính tò mò, hiếu kì cố hữu của nòi thi sĩ đa tình. Sợ thu đi nhanh, cánh cửa sổ kia sẽ khép chặt ngăn gió đông về và bóng dáng thu sẽ mất hút thì chao ôi là tiếc! Người đọc cũng phải bật cười trước tâm trạng phức tạp của nhân vật trữ tình trong bài thơ.
Nếu thơ đúng là người thì khi viết những dòng này, tôi cảm thấy một Chu Nhạc thật sự đang hiện diện bên tôi với vóc dáng thư sinh, vẻ mặt tư lự và đôi mắt thăm thẳm một chiều sâu suy nghĩ về thế thái nhân tình cùng với nụ cười tủm tỉm... Không ồn ào sôi nổi mà chân thành, đằm thắm, ấy là tính cách Chu Nhạc - ông bạn văn chương trên blog tiếng Việt của Hoa Mai. Đấy là Hoa Mai "rẩm riu" nghĩ thế!
Sài Gòn 11-10-2014
 

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 25.02.2015 14:31:08
Lòng trần chợt động...
 
Những ngày giáp tết Ất Mùi, bận bịu tối tăm mặt mũi, vậy mà vẫn phải thu xếp đi Tây Bắc, bởi chung riêng đều có. Chiều phóng đi Sơn La, đường 6 đang giai đoạn mở rộng, xe chen chúc nhau trong làn bụi, từ vùng cam Cao Phong trở lên mới thông thoáng. Thường vào mùa này, từ con đèo Thung Khe trở đi sương mù dầy đặc...

Vậy mà gặp lúc trời hửng nắng, chỉ bảng lảng sương chiều. Xe leo dốc, ngược chiều với đoàn xe về xuôi, xe nào xe ấy, từ du lịch 4 chỗ sang trọng đến xe tải siêu trường siêu trọng đều buộc vài ba cành đào núi trên nóc hoặc nơi sau xe. Chốc chốc lại bắt gặp xe tải loại nhỏ chở đầy đào núi, có cả những gốc đào cổ thụ thân đầy rêu mốc. Lòng thấy hứng khởi với không khí xuân tết dù ngoài trời buốt giá. Chặng đường từ lối rẽ đi Mai Châu, ngang qua cửa ngõ Hang Kia, Pà cò, đến Vân Hồ, Châu Mộc, quãng quãng lại có một chợ đào tự lập, do người dân bản địa chặt cành đào nhà ra bán lấy tiền tiêu tết và cả dân buôn đào chuyên nghiệp, mà thành. Hai bên đường trải dài miên man những nương những vườn đào, mận mơ của người dân đang mùa ra hoa. Từ trên cao nhìn xuống như những mâm xôi ngũ sắc bầy xếp liền nhau trong bữa tiệc năm của nhà Trời. Thật tuyệt vời. Mấy cậu phóng viên trẻ đi cùng trầm trồ háo hức muốn dừng xe sà xuống chụp ảnh Nhưng tôi bảo, đi thôi kẻo trời muộn đường xa, đợi hôm về thảnh thơi hơn thì tha hồ mà chụp.
Hy vọng là thế, nhưng hôm sau quay về, trời mù sương đặc quánh trong buốt giá. Xe đi như bò trong ánh đèn rùa vàng vọt dù mới đầu chiều. Bao nhiêu vườn đào mận hôm trước rực trong ánh chiều nay mờ mịt chẳng thấy gì, Xe bám đuôi nhau dò đường mà đi vì chỉ sơ xảy một chút là lao xuống vực ngay. Chúng tôi xuýt xoa tiếc mãi vì chiều qua bỏ lỡ. Vì nghĩ là lỗi ở mình, tôi động viên khéo, rằng kiểu gì cũng sẽ chụp được cảnh đẹp...
Thật may, bỗng nhiên, đến một đoạn đường, sương mù loãng ra chút ít, và ngay đó, chúng tôi phát hiện thấy, rìa đường ngay sau những dãy hàng đào cành bày bán, bên trong hàng rào đá, llà những vườn đào, mận mơ đang độ trổ hoa... Thật chẳng còn mong muốn gì hơn, mấy chúng tôi liên sà vào, tha hồ chọn góc độ, lựa khuôn hình mà chớp... Khi xem lại hình, mới nhận ra, hiệu ứng sương mù đã tạo ra một không gian huyền ảo, và có gì đó kỳ bí... Nếu sáng rõ, có thê hoa sẽ rực rõ hơn, song sau cây và hoa, sẽ chẳng còn gĩ nữa. Đằng này, cây và hoa cũng mờ ảo, hơn thế không gian xung quanh huyền bí như hút lấy cái nhìn, như quyến rũ người ta, thầm rủ hãy dấn thêm chút nữa...
Ôi, lòng trần chợt động... 
Tất cả những gì của 35 năm trước như ùa về... Nhớ nao lòng cái ngày cánh sinh viên Đại học Nông nghiệp Hô-xê Mac-ti ( ĐH Nông nghiệp I Hà Nội ) chúng tôi lên cao nguyên Châu Mộc thực tập, học, ăn ở cùng các đội sản xuất của Nông trường Mộc Châu những 3 tháng trời... Nhớ khung cảnh, trời đất Mộc châu ngày ấy, nhớ tên các em gái công nhân nông trường trẻ trung, xinh tươi, tốt bụng và nồng nhiệt, hồn nhiên, nào Hường, Luyên, Dịu và gì gì nữa... 
Mấy năm gần đây, tôi thường xuyên qua lại tuyến đường này, cùng có lòng dò hỏi xem những cô gái ngày ấy chồng con ra sao, rồi cũng biết được tin về cô này, cô nọ và gia đình của họ... Thậm chí, trong bữa tiệc giao lưu với Quỹ tín dụng Mộc Châu, có cu cậu nhân viên khi biết tôi có thời sống ở đây, đã tự nhận là con cô nọ, rồi còn vui miệng mà bảo tôi rằng: " Có khi bác là bố cháu cũng nên ". Rồi sau đó, cu cậu cứ chốc chốc lại rót chén rượu đầy đưa đến tôi, mà mỗi câu gọi " Bố ơi ", nó bắt tôi cạn một chén, cho đến lúc tôi say mèm, và cũng tiện miệng mà gọi cu cậu là con...
Ôi, một thời trẻ trung và nồng nhiệt...
Những cô gái một thời của Mộc Châu, cũng như những cây đào, mận mơ đứng chân trên mảnh đất huyền diệu này...
Sau mỗi cô gái ngày ấy là một thân phận, và sau mỗi cây đào, mận mơ cũng là những thân phận...

tamvanvov
  • Số bài : 487
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
Re:Chiều Ghềnh Ráng - 15.03.2015 15:05:08
Vừa đó, mà đã bốn mươi năm...
 
Vậy là, chúng tôi lại ơi ới hẹn họ gặp nhau...
Là để ngồi với nhau. Hàn huyên, chuyện trò, và bàn chuyện kỷ niệm bốn mươi năm ngày tốt nghiệp phổ thông.
Vừa đó, mà đã gần bốn mươi năm trôi qua...


Chúng tôi, những học sinh niên khóa 1972-1975 của mái trường cấp 3 Bần Yên Nhân ( nay là Trường trung học phổ thông Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên theo cách gọi mới ).
Ngày ấy, vẫn là tỉnh chung Hải Hưng, từ hai tỉnh Hưng Yên-Hải Dương sáp nhập mà thành. Cái tên trường Bần Yên Nhân là tên của thị trấn sở tại, chẳng thể nhầm lẫn với bất kỳ địa danh nào, là bởi cái tên rất riêng, còn về địa lý, nó cách thủ đô chừng 25 cây số trên trục quốc lộ số 5 nối thủ đô Hà Nội với cảng Hải Phòng; và nữa, bởi nó gắn liền với món tương Bần tiến vua nổi tiếng xứ Việt ta từ xa xưa... qua những câu dân gian còn truyền lại, như: " Dưa La, cà Láng/ Nem Báng, tương Bần ", hay như: “ Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì/ Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn ” ...
Mùa hè năm ấy, là một mùa hè đặc biệt của dân tộc, của đất nước ta, có một không hai trong lịch sử nước nhà. Nói vậy, quả không quá lên chút nào. Đúng vào thời điểm chúng tôi ráo riết ôn luyện bài vở để chuẩn bị cho kỳ thi Tốt nghiệp phổ thông và Đại học thì tin chiến thắng từ chiến trường miền Nam dồn dập bay về, với trận thắng mở màn tại Buôn-mê-thuột, Tây Nguyên, khởi đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng...
Tôi nhớ, những ngày ấy, chiếc loa phát thanh công cộng của thị trấn Bần Yên Nhân gần nơi cổng trường học chúng tôi học, liên tục phát đi thông báo của Đài Tiếng nói Việt Nam đưa tin chiến thắng gấp theo bước chân thần tốc của các chiến sĩ giải phóng quân. Các nhân viên Văn hóa thông tin thị trấn còn sáng tạo bằng cách treo biển có bản đổ tổ quốc, vẽ sơ đồ chiến dịch Hồ Chí Minh biểu thị bằng những mũi tên đỏ mô tả đường tiến quân giải phóng của ta... Ôi, náo nức không gì bằng. Cánh học sinh chúng tôi, ai ai cũng hăng hái bày tỏ sự hiểu biết của mình về lịch sử, địa lý và quân sự qua các cuộc bàn tán, tranh luận trong giờ ra chơi... Và thú thật, vui quá, náo nức quá, cũng ít nhiều xao nhãng việc học hành, ôn luyện...
Và năm ấy, cũng đi vào lịch sử việc học hành thi cử của ngành giáo dục nước nhà. Ấy là, từ việc thi tốt nghiệp trung học phổ thông thường xuyên với 4 môn bắt buộc tùy chọn theo năm ( 2 môn tự nhiên + 2 môn xã hội ), cộng thêm môn ngoại ngữ khuyến khích, thì kỳ thi ấy, đột xuất chuyển ngay thành 6 môn bắt buộc ( 3 môn tự nhiên : Toán, Lý, Sinh + 3 môn xã hội : Văn, Sử, Chính trị ) và vẫn thêm môn ngoại ngữ khuyến khích. Vậy là, nếu thi đủ, thì phải thi những 7 môn học. Việc ấy, với cánh học sinh chúng tôi bấy giờ ít nhiều gây tâm lý ngỡ ngàng, lo ngại, nhất là các bạn học lực trung bình. Nhưng rồi, nương theo khí thế chiến thằng hào hùng của đất nước, cánh học sinh chúng tôi đã vượt qua kỳ thi Tốt nghiệp phổ thông niên khóa 1972-1975 với kết quả khá cao. Và ngay sau đó, lại tiếp tục vượt qua kỳ thi Đại học để bước chân vào các Trường Đại học mà mình mơ ước, với mong muốn có được tri thức, đặng góp phần xây dựng, phát triển nước nhà sau chiến tranh...
Và giờ đây, đã ngót bốn mươi năm qua, kể từ ngày ấy... Không ít người trong số chúng tôi đã học hành thành tài, có địa vị xã hội, ngang dọc đó đây... và cũng có nhiều người ở lại quê nhà làm lụng mọi nghề... Song điều đó, chẳng hề gì để hằng năm, cứ định kỳ, chúng tôi lại họp mặt. Bao hàn huyên, bao câu chuyện cuộc đời, buồn vui đã trải, để rồi sau đó, bạn bè thêm chan hòa, gắn kết, giúp giập, đỡ đần nhau hơn ...
Và bao giờ cũng vậy, khi chúng tôi ngồi lại với nhau, thì mỗi người, từ ông bà giáo sư tiến sĩ, vị cán bộ hàm thứ trưởng, cục trưởng, vụ trưởng, hay ông bà nông dân ở làng gì gì đó, đều hồn nhiên trở về với tính cách học trò, bông đùa, trêu chọc, tán nhau thoải mái, với những câu xưng hô cửa miệng, ông ông tôi tôi, tớ tớ cậu cậu, mày mày tao tao... Có hề hấn chi đâu, khi mà, mái đầu chúng mình đều rưng rưng ngả bạc...

Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 30 trên tổng số 45 bài trong đề mục