Chiều Ghềnh Ráng

Thay đổi trang: < 1234 | Trang 4 của 4 trang, bài viết từ 46 đến 50 trên tổng số 50 bài trong đề mục
Tác giả Bài
tamvanvov

  • Số bài : 504
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
  • Trạng thái: offline
Re:Chiều Ghềnh Ráng 09.10.2019 17:05:49 (permalink)
Cánh chim chơ-rao của buôn làng Cơ-tu,
 
Tôi biết đến tên loài chim Chơ-rao là qua thơ ca từ hồi đi học...
           Quả là như vậy... 
           Ngày học phổ thông, sách Trích giảng văn học dùng trong nhà trường, phần văn học cách mạng, có tác phẩm "Bài ca chim Chơ-rao" của nhà thơ Thu Bồn. Ngày đó, tôi yêu thích trường ca này bởi chất bi tráng và sực hơi thở Tây Nguyên, nên đã từng thuộc lòng phần trích đoạn, như sau này thuộc trường ca "Nước non ngàn dặm" của nhà thơ Tố Hữu vậy... Nhưng ngày đó, chỉ là lòng yêu văn chương thuần khiết thôi, chứ chưa thấu hiểu cội nguồn của cảm hứng thi ca, chữ nghĩa, nhất là những gì ẩn giấu, chất chứa trong mỗi câu thơ, khổ thơ  ấy... 
           "... Chim chơ-rao ơi, chào chim nhé/ Con chim không bao giờ chịu lẻ đàn/ Chim hãy đến rãy rừng ta ca hát/ Đem nguồn vui đến nóc buôn Sang... Chim chơ-rao ơi, bay về buôn vắng/ Báo tin buồn đi khắp mọi nơi/ Mặt trời đã rụng hai tia nắng/ Rừng Tây ánh lửa đỏ sáng ngời...". Qua những vần thơ bi tráng ấy, loài chim chơ-rao đã được nhà thơ Thu Bồn nâng lên thành biểu tượng cho ý chí và sức mạnh tinh thần của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên một lòng theo cách mạng, đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương... Rồi nữa, trong ca khúc "Tiếng đàn Ta-lư", nhạc sĩ Huy Thục cũng nhắc đến loài chim này, dù chỉ thoáng thôi "...Con chim chơ-rao xinh, hót trên canh vui mừng công anh...",  song cũng để lại ấn tượng về một loài chim rừng khác lạ. Ngày ấy, nghe thì biết vậy chứ đâu biết loài chim ấy thế nào.... 
           May sao, đến một ngày, tôi có cơ hội tìm hiểu và đắm sâu vào một vùng đất với cảnh vật, con người, sắc thái bản vị địa phương, để từ đó sống lại nguồn cảm xúc thi ca mà trường ca về loại chim chơ-rao của nhà thơ Thu Bồn mang lại, từ thuở học trò...
            Ngày ấy, cũng đã mười năm rồi...
            Đầu năm 2008, cầm tờ quyết định và đôi lời dặn dò của Lãnh đạo Đài TNVN (VOV) vào Đà nẵng, phụ trách Cơ quan tại khu vực miền Trung, thú thật, ngoài quyết tâm, tôi chưa hình dung là mình sẽ thực hiện việc lên sóng phát thanh chương trình tiếng dân tộc thiểu số trong khu vực như thế nào. Địa bàn miền Trung dài dằng dặc, hàng ngàn cây số, với 9 tỉnh, từ Quảng Bình đến tận Khánh Hòa, có khá nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, vậy lựa chọn tiếng dân tộc nào đây? 
           Ý tưởng chị thành hình hài khi tham khảo bản khảo sát cũ của cơ quan từ người tiền nhiệm, và ý kiến của một vài đồng nghiệp cùng những người có vốn hiểu biết về các dân tộc thiểu số trong địa bàn, để đi đến quyết định lựa chọn tiếng Cơ-tu. Điều tra, khảo sát thấy, người dân tộc Cơ-tu chiếm số đông hơn cả, và sự ảnh hưởng của họ khá tốt với các dân tộc thiểu số khác trong vùng như Giẻ-triêng, Pa-cô, Vân kiều v,v... Thêm nữa, tiếng Cơ-tu đã từng được La-tinh hóa trước đó, nên sẽ thuận lợi cho việc làm chương trình phát thanh...
           Có một sự cảm tính, song lại củng cố lòng quyết tâm trong tôi khi lựa chọn ngôn ngữ này, ấy là tình yêu văn học từ các tác phẩmBài ca chim chơ-rao của Thu Bồn và Nước non ngàn dặm của Tố Hữu. Câu chuyện của nhà thơ Tố Hữu trong trường ca của mình thể hiện đậm nét, ấy là cảm tình và lòng kiên trung của người dân làng Rô, một buôn làng người dân tộc Cơ-tu ở huyện Giằng (Quảng Nam), một lòng hướng theo cách mạng, đã che giấu, đùm bọc, bảo vệ ông và đồng chí Huỳnh Ngọc Huệ thoát khỏi sự truy tìm của giặc Pháp, khi hai người vượt ngục Đak Glei vào năm 1942 để tiếp tục hoạt động cách mạng ... 
           Còn về Bài ca chim chơ-rao của Thu Bồn, từ trích đoạn trong sách Giảng văn thời đi học, tôi cũng đã đọc cả trường ca và thật sự yêu thích tác phẩm này. Ai cũng biết, trường ca này, tác giả sáng tác về đề tài Tây nguyên, về tình thần bất khuất của bà con các dân tộc Tây nguyên, một lòng theo cách mạng, thông qua hai nhân vật điển hình là Hùng (người Kinh) quê miệt biển miền Trung và Rin (người dân tộc thiểu số) ở vùng núi cao, cùng nhau hoạt động, vận động đồng bào dân tộc đi theo cách mạng, đánh đuổi giặc Tây... Nhà thơ Thu Bồn, người quê Điện Bàn (Quảng Nam), sớm hoạt động cách mạng, làm báo ở Liên khu 5, rồi được cử lên địa bàn Tây Nguyên, nhà thơ đã sáng tác trường ca này khi đang hoạt động của vùng Chư Prông (Gia Lai), nơi có ngon núi cao nhất Tây Nguyên,... Đương nhiên, các địa danh, cảnh sắc, hơi thở và tính chất con người Tây nguyên hiện hữu trong trường ca. song ai dám bảo, Thu Bồn không phả vào đó hình ảnh của trai tráng quê hương miền biển Quảng Nam và chính bản thân mình vào trường ca qua nhân vật Hùng? Còn Rin, người dân tộc thiểu số, nhưng nhân vật này quê đâu trong mênh mông đại ngàn Trường Sơn miền Trung? Quảng Nam quê hương của nhà thơ với các huyện miền núi Hiên, Giằng, Phước Sơn, Trà My... tuy khác về đơn vị hành chính ngày nay, nhưng lại hòa chung một tính chất dân tộc miền núi cả vùng đại ngàn Tây nguyên, phía đông Trường Sơn... Vì thế, Rin và đồng bào của mình có thể ở ngay chính vùng Chư Prông, nơi nhà thơ sáng tác trường ca, hay bất cứ một buôn làng nào đó trong bạt ngàn Tây Nguyên, như loài chim chơ-rao tự do chao lượn trên bầu trời đại ngàn Trường Sơn?... 
            Sau đó, khi chuẩn bị lên sóng tiếng Cơ-tu, tôi và các đồng nghiệp ở VOV Miền Trung có điều kiện gặp gỡ với đồng bào Cơ-tu, nhất là những người có kiến thức và sự hiểu biết về văn hóa phong tục dân tộc Cơ-tu như ông Arất Hơn (Chủ tịch Hội Khuyến học Tây Giang), một người có công sưu tập và truyền bá tiếng Cơ-tu, và ông Bríu Liếc (Chủ tịch UBND huyện Tây Giang), người biên soạn cuốn từ điển văn hóa phong tục Cơ-tu, thì được biết, người Cơ-tu rất yêu quý nhà thơ Thu Bồn, người con ưu tú của quê hương Quảng Nam mình, và họ cho rằng, trường ca Bài ca chim Chơ-rao là viết về cộng đồng Cơ-tu vốn sinh sống ở vùng Hiên, Giằng, Hòa Vang (Quảng Nam) và có thể cả khu vực Nam Đông, A Lưới của Thừa Thiên Huế... Trong một lần tâm sự, ông Bríu Liếc bày tọ sự tự hào, rằng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, không có một người dân Cơ-tu nào theo địch, một lòng kiên trong theo cách mạng, chống ngoại xâm, như nhân vật Rin và buôn làng anh, là điển hình trong trường ca Bài ca chim chơ-rao của nhà thơ Thu Bồn, của đất Quảng Nam son sắt, kiên trung... Vậy nên, người dân Cơ-tu thấy ở đó có bóng dáng văn hóa, phong tục, tập quán (như tục cà răng, căng tai, tượng nhà mồ, âm nhạc, hát lý, dân vũ, và nhiều nét sinh hoạt thường ngày... nhất là loài chim chơ-rao, loài chim thân thuộc hay đậu nóc nhà gươl )... Lẽ dĩ nhiên, cho rằng như vậy, vừa có căn cứ, vừa là cảm tính bởi sự yêu quý... Riêng mình, tôi thấy ở trường ca này của nhà thơ Thu Bồn có tính phổ quát cho các dân tộc sinh sống cả một dải đông Trường Sơn bao gồm phía tây miền núi các tỉnh từ Thừa Thiên Huế cho đến Khánh Hòa và các tỉnh Tây Nguyên...
           Quả là, vẻ đẹp văn chương đã lan tỏa đến những người làm báo chúng tôi, thêm yêu quý những người con của buôn làng Cơ-tu... Với riêng tôi, tình cảm yêu quý ấy, củng cố lòng quyết tâm thực hiện việc lập và phát sóng chương trình phát thanh tiếng Cơ-tu. Một dân tộc có tiếng nói, chữ viết đã được La-tinh hóa, bản sắc văn hóa độc đáo, có truyền thống yêu nước cao độ, cư dân khá đông, sống rải rác dọc dãy Trường Sơn và vùng biên giới Việt-Lào, họ xứng đáng có một chương trình của mình trên sóng phát thanh của Đài quốc gia!...
           Rồi đó những ngày tất bật, quan trọng nhất là yếu tố con người. Chúng tôi đã tuyển được bốn nhân sự (2 cặp nam nữ) người dân tộc Cơ-tu ở các huyện Đông Giang, Nam Giang. Cái khó là, người Cơ-tu sống ở các vùng khác nhau (cao, trung, thấp) thì tiếng nói cũng ít nhiều khác nhau, vậy phải làm sao để tất cả cộng đồng dân tộc Cơ-tu và một số các dân tộc khác hiểu tiếng Cơ-tu như người Giẻ-triêng, Pa-cô, Vân-kiều... cũng nghe được chương trình phát thanh này trong khi họ chưa có chương trình của riêng minh. Trình độ văn hóa đào tạo của các phát thanh viên Cơ-tu tương lai này cũng không đồng đều, duy nhất một em tốt nghiệp đại học Văn hóa,  người thì sau khi tốt nghiệp phổ thông có học thêm một vài lớp sơ cấp chuyên ngành ngắn hạn, người lại vừa tốt nghiệp phổ thông. Nghe nói tiếng Cơ-tu chỉ là một việc, song chuyển ngữ sang mẫu tự La-tinh sao đây, để thể hiện linh hoạt và sinh động văn bản Cơ-tu la-tinh trên sóng là rất khó,... Chúng tôi đã đưa các em lên thị trấn Prao (huyện lỵ của Đông Giang) nhờ ông Arất Hơn, một chuyên gia tiếng Cơ-tu, có kinh nghiệm giảng dạy, hường dẫn, chỉ bảo, kèm cặp hàng tháng giời mới tạm ổn. Hàm ý, chúng tôi ý thức việc cho các em được sống trong môi trường cộng đồng văn hóa, phong tục của mình mới là quan trọng, để ngay từ đầu, biết cách thể hiện bản sắc dân tộc mình trong sản phẩm báo chí. Rồi nữa, việc lựa chọn tên phát thanh viên, xây dựng và đặt tên các chuyên mục, âm nhạc, âm thanh, tiếng động sao cho mang hơi thở, sức sống, gợi không gian đẫm chất Cơ-tu...
          Vậy là, công sức của VOV miền Trung, sự nỗ lực của bản thân các em, sự hỗ trợ của địa phương và các đơn vị chức năng của VOV,  được đến đáp, khi ngày 15 tháng 9 năm 2009, chương trình phát thanh tiếng Cơ-tu lần đầu tiên lên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Tôi và vài đồng nghiệp lên Đài phát sóng trên đỉnh cao Bà Nà kiểm tra khâu cuối cùng và chờ đợi... Đúng giờ phút, nhạc hiệu chương trình phát thanh tiếng Cơ-tu vang lên, và lời chào của các phát thanh viên Cơ-tu lần đầu cất lên chào đồng bào Cơ-tu và thính giả xa gần,... khiến mấy anh em đồng nghiệp trong phòng máy kỹ thuật phát sóng mừng chảy nước mắt... Rồi cả hai đầu, Bà Nà và văn phòng cơ quan tại Tp.Đã nẵng nối điện thoại, thông báo cho nhau tín hiệu hai đầu đều tốt, cảm xúc mừng vui chộn rộn khi làn sóng phát thanh truyền tiếng nói Cơ-tu như những cánh chim chơ-rao bay lượn khắp bầu trời, trên bạt ngàn nương rãy và buôn làng Cơ-tu báo tin vui... 
           Ngay sau giờ phút lên sóng cảm động ấy, mọi người lại vùi đầu cho việc thăm dò, tìm tòi, điều chỉnh, để gần một tháng sau, vào ngày 12 tháng 10 năm 2009, Lễ công bố phát sóng chương trình tiếng Cơ-tu chính thức được diễn ra tưng bừng tại Đà Nẵng, có sự hiện diện của các bên cơ quan, chính quyền địa phương, đặc biệt là nhiều thính giả người dân tộc Cơ-tu từ buôn làng đến... Bà con vui mừng rưng rưng vô hạn, khi nghe tiếng nói của dân tộc mình trên làn sóng quốc gia, chào đón cánh sóng-cánh chim chơ-rao từ nay ngày ngày bay đến từng nhà sàn của buôn làng Cơ-tu... Với những người làm nghề chúng tôi, chung sự xúc động, còn mang ý nghĩa, đứa con thứ 12 của Hệ chương trình phát thanh tiếng dân tộc (VOV4) đã chào đời!... 
           Nhanh quá, mới ngày nào, vậy mà đã ngót 10 năm rồi đấy. Ngần ấy tháng ngày, có biết bao lo toan, khó khăn để duy trì và nâng cao chất lượng cho chương trình phát thanh này... Nhớ những ngày đầu. làm theo lối tắt, đường truyền của chương trình từ máy tính ở cơ quan qua internet đến mày tình của đài phát sóng trên đỉnh cao Bà Nà, rồi từ đó tung lên trời, có những ngày mưa bão, mưa giông, đứt cáp truyền, chúng tôi lo đến thắt lòng làm sao nối lại cáp truyền, thậm chí, tính cả phương án nếu không kịp khôi phục đường truyền, phải cóp chương trình vào USB phi xe máy mang lên núi cao cho kịp giờ phát sóng... Lại nữa, lo nơi ăn chốn ở cho các bạn trẻ Cơ-tu đảm bảo cuộc sống hàng ngày để họ yên tâm làm việc... Ngần ấy khó khăn, rồi cũng vượt qua tất cả, khi đài phát sóng phải di dời từ đỉnh cao Bà Nà, nhường đất cho dự án phát triển du lịch khu vực, để xuống đỉnh cao Sơn Trà, mất vị thế độ cao vì  độ cao thấp bằng nửa so với cũ... Mừng nữa, các chàng trai cô gái Cơ-tu ngày nào bỡ ngỡ rời núi về phố làm phát thanh viên, nay đã phương trưởng, tu nghiệp bằng cấp đầy đủ, kinh nghiệm dày lên, và nhiều người không chỉ là phát thanh viên đơn thuần, mà đã trở thành cây bút thực thụ ... Mới đây, trong một lần đến Tây Nguyên, tôi có gặp nhà báo Đỗ Trọng Phụng, người từng công tác tại Cơ quan VOV Tây Nguyên ở Buôn-ma-thuột. Chuyện nghề, nhà báo Đỗ Trọng Phụng bảo, ngày ấy, ông đang chịu trách nhiệm quản lý Phòng Phát thanh tiếng dân tộc của VOV Tây Nguyên, với 6 thứ tiếng hàng ngày. Khi VOV Miền Trung lên sóng chương trình tiếng Cơ-tu, ông đã thích thú và khâm phục những người làm chương trình vì thấy ở đấy cái mới và sự sinh động. Ông đã nhắc nhở các biên tập viên của mình, hãy biết cách gạt đi sự tự hào và ỷ lại, để lắng nghe và học tập các bạn trẻ Cơ-tu. Tôi tin, ông thực lòng, khi bộc lộ điều này...
          Sau này, theo xu thế mới, phát thanh hiện đại, đa phương tiện, đa nền tảng để thích nghi với công nghệ 4.0, tiếng Cơ-tu cũng như toàn bộ chương trình tiếng dân tộc VOV4 đều ra thêm trang thông tin điện tử, thay vì cánh sóng, kỹ thuật internet đưa các chương trình tiếng dân tộc vươn xa khắp mọi nơi, đến với từng con người bằng lợi thế của mình. 
Khi một ngôn ngữ của dân tộc nào đó được sử dụng trên phương tiện báo chí, văn học nghệ thuật, ấy là dân tộc ấy có điều kiện phát triển mà vẫn có điều kiện bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Thế giới phẳng ngày nay, văn mình thế giới ùa vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu, sự giao thao văn hóa là một tất yếu, song vô hình chung, đã xảy ra một cuộc "xâm lăng" về mặt văn hóa của các nước mạnh... Có một ví dụ nho nhỏ, ngay trên chính những buôn làng Cơ-tu, ngày nào, bà con chỉ biết đến nương rãy, chiêng trống, múa hát... thì nay, thanh niên trai gái lại thích diện áo phông, quần bò, áo sơ-mi, váy tây, vợ chồng trẻ cưới nhau, sinh nở đặt tên toàn là tên nhân vật trong phim, hay tên các ngôi sao điện ảnh Hàn Quốc vì bội thực phim Hàn Quốc trên các kênh ti vi... Sự phai nhạt bản sắc dân tộc từ những điều nhỏ nhất ấy, không mấy ai để ý, diễn ra hàng ngày, và rồi đến một lúc nào đó, ta ngỡ ngàng nhận ra, nhiều biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc mình đã phai màu, thậm chí không còn nữa. Của cải, vật chất có thể mất đi, rồi lấy lại không mấy khó, còn khi bản sắc văn hóa mất đi, có thể sẽ mất đi vĩnh viễn, khó lấy lại lắm thay... Tuy nhiên, của cải là của mỗi người nên của ai nấy giữ, còn bản sắc văn hóa kia lại là của chung cộng đồng, dân tộc, thì ai giữ đây?!...
           Một câu hỏi khó giải đáp, ở quy mô cộng đồng, dân tộc, quốc gia, trong khi sự đa dạng về văn hóa vốn là tài sản quý báu của loài người, lại đang bị đồng hóa bởi số ít thực thể văn hóa của các nước mạnh. Sẽ là nhàm chán bao nhiêu, thậm chí sẽ là thấy bại, khi không còn sự đa dạng về văn hóa?
            Với suy nghĩ đó, chỉ từ một thứ tiếng dân tộc, tiếng Cơ-tu, một trong 12 tiếng dân tộc được lên sóng đài phát thanh quốc gia, tôi đã bàn thêm về vai trò, sự quan trọng của nó trong công cuộc bảo tồn ngôn ngữ và qua đó góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số... Hiện giờ, chỉ là con số 12, nhưng một ngày nào đó, có thể sẽ là ngôn ngữ khác như Tày Nùng, Pa-cô, Vân-kiều lên sóng...
            Các bạn trẻ Cơ-tu của tôi ơi, các bạn đã lớn lên nhiều, đã thật sự trưởng thành rồi, hãy biết yêu quý và trân trọng những ngày tháng qua... Ơi, những A-lăng Lợi, Vơ-ních Oang, A-lanh Kim Cương, Hoith Nhàn, A-viết Sĩ, các bạn đã là những cánh chim chơ-rao của đại ngàn, của buôn làng Cơ-tu rồi đấy,... Các bạn đã gặt hái được những thành công, đó là những Giải Vàng trong Liên hoan Phát thanh toàn quốc, nhưng hơn cả, các bạn đã ở trong lòng mỗi người dân Cơ-tu, bởi ngày ngày các bạn đã làm bà con buôn làng Cơ-tu “ưng cái bụng”...  Hãy cùng các đồng nghiệp yêu quý của tôi ở VOV Miền Trung, cần cù và sáng tạo, biết chắt chiu để góp gió, nâng cao cánh sóng Cơ-tu nhé...
            Giờ đây, vẫn những câu thơ của nhà thơ Thu Bồn theo tôi trong dòng ký ức về một thời: "Chim chơ-rao ơi, chào chim nhé/ Con chim không bao giờ chịu lẻ đàn/ Chim hãy đến rãy rừng ta ca hát/ Đem nguồn vui đến nóc buôn Sang..." ./.
 
 
#46
    tamvanvov

    • Số bài : 504
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 26.08.2009
    • Trạng thái: offline
    Re:Chiều Ghềnh Ráng 09.10.2019 17:08:42 (permalink)
    Chuyện học sinh giỏi văn,
     
     Ngày xưa, hồi tôi đi học phổ thông, ngành Giáo dục ở ta đã sớm ý thức việc đào tạo học sinh giỏi các cấp. Tôi nhớ không nhầm, ngày ấy, người ta chỉ tập trung và hai môn chính, là Toán (Tự nhiên) và Văn (Xã hội). Hằng năm, theo hệ phổ thông 10/10, đều tổ chức kỳ thi học sinh giỏi tất cả các lớp từ 1-10. Nhưng, chỉ riêng các lớp cuối cấp là 4 (cấp I), 7 (cấp II) và 10 (cấp III) là lần lượt tổ chức kỳ thi học sinh giỏi từ cấp huyện, tỉnh thành phố và sau cùng là Toàn miền Bắc (khi ấy chưa thống nhất đất nước, còn phân miền Bắc-Nam). Riêng lớp 10 thì tổ chức kỳ thi từ cấp tỉnh, rồi toàn miền Bắc. Sau năm 1975, thống nhất chung ngành Giáo dục cả nước, thì cấp thi cao nhất là Toàn quốc, và theo đà phát triển mở rộng, các môn thi cũng được mở rộng sang các môn tự nhiên, xã hội khác (ngoài Toán và Văn)...
    Thực ra, ngày ấy, cũng chưa có trường chuyên lớp chọn mang tính phổ biến ở các cấp và nhiều môn học như sau này. Thường là, sau mỗi kỳ thi học sinh giỏi các cấp, phát hiện ra một số học sinh giỏi, đúng ra là có năng khiếu Toán hoặc Văn, tập trung thành đội tuyển, mời một số giáo viên được cho là dạy giỏi hai bộ môn này, đến giảng dạy cho đội tuyển trong một thời gian ngắn. Cách đào tạo này na ná như huấn luyện gà nòi để thi đấu vậy. 
                Năm học lớp 4, tức là cuối cấp 1, tôi được chọn vào đội tuyển của cấp huyện, cũng tập trung ôn luyện chừng nửa tháng rồi tham dự kỳ thi học sinh giỏi Văn cấp tỉnh. Ngày ấy, tôi còn nhỏ và cũng không đạt kết quả gì, nên không nhớ kỹ, song tôi mang máng, chúng tôi cũng được rèn theo kiểu đề bài mở, chẳng hạn như "Em phải xa một làng quê một thời gian dài. Khi xa em nhớ nhất những gì ở làng quê mình? Em hãy kể chuyện đó...". Vậy cũng là khó rồi. 
                Cho đến lớp 10, cuối cấp 3, tôi lại may mắn trúng vào đội tuyển học sinh giỏi môn văn của rỉnh Hải Hưng. Đề thi ở cấp tỉnh, không phải là đề mở, vẫn là kiểu cách bình giảng một chủ đề cúa tác phẩm văn học được giảng dạy trong chương trình học, tuy khó nhưng không có gì đặc biệt.
                 Mùa xuân, 1975, đội tuyển học sinh giỏi mon Văn lớp 10 của Hải Hưng có 20 người được triệu tập về Trường cấp III Hồng  Quang, tại thị xã Hải Dương, hầu hết các huyện trong tỉnh đều có học sinh được chọn, tôi thuộc huyện Mỹ Hào. Năm lớp 8 tôi học ở Trường Cấp III Văn Lâm, nhưng sang lớp 9 thì tôi xin chuyển trường về Mỹ Hào cho gần nhà, đi học đỡ vất vả. Năm ấy, cấp III Văn Lâm, trường cũ của tôi không có ai được tuyển, nên tôi thấy buồn buồn. Tề tựu về cấp III Hồng Quang, tôi biết tin đội tuyển của mình có nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa nên mừng lắm. Từ khi học cấp I, tôi đã nghe danh về nhà thơ thiếu nhi này rồi, tuy nhiên chỉ nghe trên đài nói này nọ chứ đâu có sách báo để đọc mà biết thơ của Trần Đăng Khoa hay thế nào. May mắn, năm tôi học lớp 8 ở trường cấp III Văn Lâm, thầy giáo dạy Văn lớp tôi là thầy Lê Thường, một giáo viên giỏi bộ môn Văn của Ty giáo dục Hải Hưng. Thầy Lê Thường người Hà Nội, trước đó có nhiều năm công tác ở Ty Giáo dục Hải Hưng, và từng được Ty phân công tìm kiếm, phát hiện, theo dõi và kèm cặp các học sinh có năng khiếu Văn học, đặng ươm mầm tài năng, mong có được những Trần Đăng Khoa khác nữa. Thầy Lê Thường đi về nhiều địa phương trong tỉnh, và thầy cũng đã nhiều lần gặp gỡ, nói chuyện, với Trần Đăng Khoa, và sau đó viết bài phê bình, nghiên cứu về thơ Khoa. Tôi nhớ, khi dạy chúng tôi, thầy Lê Thường hay nói chuyện về thơ Trần Đăng Khoa. Thầy đăng đàn ngoại khóa Văn học nói chuyện cả buổi về Trần Đăng Khoa và tài năng thơ ca của thần đồng thơ. Thầy thuộc hầu hết thơ Khoa và hay chọn những bài điển hình đọc cho chúng tôi nghe. Tôi thích lắm, noi theo tập tọng làm thơ...
               Hôm đầu gặp mặt cả đội tuyển, tôi háo hức lần đầu gặp mặt thần đồng thơ mà tôi ngưỡng mộ bấy lâu. Vì thiếu cơ sở vật chất, nhà trường lầy tạm một căn phòng rộng, mà giữa phòng vẫn kê một chiếc bàn bóng bàn. Tất cả hai mươi đứa từ các trường cấp 3 trong tỉnh, được lựa chọn về đội tuyển, ngồi xung quanh chiếc bàn bóng bàn. Thầy giáo phụ trách đội tuyển là thầy Hậu, giáo viên dạy mon văn của trường Hồng Quang, được Ty Giáo dục cử phụ trách, đồng thời cũng là người dạy chính cho đội tuyển. Thầy Hậu dáng vè hiền lành, cử chỉ điềm đạm, phổ biến nội quy chung. Tôi nhìn quanh điểm qua tất cả các gương mặt, thầm tìm kiếm ai là thần đồng thơ Trần Đăng Khoa. Tôi quan sát một khuôn mặt nam sinh đeo cặp kính cận dày cộm, vì đoán đó là Khoa. Cậu ta luôn cúi xuống, chốc chốc ngước mình, mủm mỉm cười, tay cầm một chiếc bút vạch vạch vào mặt bàn bóng. Tôi hơi khó chịu, bởi là người biết chơi bóng bàn, tôi hiểu, việc đó rất có thể gây xước mặt bàn làm lệch đường bay của quả bóng nếu trúng vào vết xước. Thậm chí tôi bực mình, nhẩm bụng chê thần đồng thơ gì mà lại nghịch như vậy. Đến khi thày Hậu mời Trần Đăng Khoa phát biểu, thấy anh chàng phục phịch thấp lùn đứng lên, tôi thầm à lên, biết mình "bé cái nhầm". Anh chàng cận thị kia là Trịnh Bá Ninh, cùng trường cấp 3 Nam Sách với Trần Đăng Khoa. Thời gian ở đội tuyển, ba chúng tôi thân nhau như anh em, và tình bạn thân bộ ba ấy theo đến bây giờ... 
               Trở lại câu chuyện đội tuyển văn. Ngày ấy, mỗi đứa trong đội tuyển được đưa về ở nhờ nhà của một học sinh trong trường, nên ba đứa tôi không được ở cùng nhau. Thời gian ở đội tuyển, chúng tôi phải học cả ngày, buổi sáng bồi dưỡng văn, buổi chiều học các môn học khác cho kịp chương trình và để còn thi tốt nghiệp. Thày Hậu là người dạy văn chính, còn có thày Trị được mời từ một trường trong tỉnh lên giảng một số tiết. Chương trình bồi dưỡng môn văn, chúng tôi được ôn luyện các thể loại văn nghị luận chính như chứng minh, giải thích, bình giảng và sự kết hợp các thể loại này. Cùng đó, chúng tôi tập phân tích một số bài văn mẫu. Thêm nữa, có một số buổi ngoại khóa, nói chuyện văn thơ theo chủ để, nhằm mở mang kiến thức văn học chung... Năm ấy, thày Lê Thường không được gọi dạy đội tuyển, nhưng một lần đi công tác Ty Giáo dục, thày Lê Thường ghé thăm đội tuyển. Thày rất vui khi gặp lại tôi, người học trò cưng của thày khi tôi học ở trường cấp 3 Văn Lâm. Khi đó, tôi đứng đầu khối về môn văn, được thày Lê Thường tin tưởng, nhờ chép lại vào sổ lưu trữ một số bài văn hay của học sinh các trường mà thày tuyển chọn ra. Thày vui hơn khi gặp lại Trần Đăng Khoa. Khi còn công tác ở Ty giáo dục Hải Hưng, thày Lê Thường được giao nhiệm vụ tìm kiếm học sinh có năng khiếu văn học, nên thày từng qua lại nhà Trần Đăng Khoa nhiều lần, thân tình với gia đình Khoa, bố mẹ, anh ruột Khoa là nhà thơ Trần Nhuận Minh. Thời gian ấy, chúng tôi còn được gặp gỡ một số văn nghệ sĩ của tỉnh nhà như nhà thơ Ngô Hoàng Anh, nhà văn Nguyễn Phúc Lai, nhà văn Triều Dương (Triều Dương khi đó ở Đài Phát thanh tỉnh, sau về tuần báo Văn Nghệ, Hội Nhà văn). Ngày ấy, ấn tượng nhất đối với tôi, không phải là các nhà văn, nhà thơ địa phương, mà là một cán bộ Tỉnh đoàn, chị Trần Thị Duyên. Chị Duyên, quê Thái Bình, cơ duyên đưa chị về công tác ở Tỉnh đoàn Hải Hưng, và chị là một cán bộ đoàn gương mẫu, người chị-người bạn thân thiết với Trần Đăng Khoa từ thời Khoa còn là thiếu nhi mới tập làm thơ. Chủ nhật, Khoa hay dẫn chúng tôi đến Tỉnh đoàn thăm chị Duyên, khi đó chị ở một căn phòng khu tập tập thể. Tôi nhận từ chị thứ tình cảm trìu mến, ấm áp. Biết chị bị bệnh tim, ngày càng nặng thêm,  khó qua khỏi, biết chị nhiều lúc cô đơn, khi chị từng từ chối tình cảm luyến ái của vài ba đàn ông vì không muốn làm phiền đến cuộc sống của họ... Mỗi khi chúng tôi đến, chị vui lắm. Mấy chị em líu ríu cả buổi. Sau khi giải tán lớp, mọi người về lại trường cũ, chị Duyên giữ địa chỉ, hay gửi thư thăm hỏi, động viên, nhất là mỗi khi có chuyện buồn. Khoa vào bộ đội, chúng tôi vào đại học, tứ tán dần, chỉ còn lại bộ ba Trần Đăng Khoa-Trịnh Bá Ninh- và tôi là giữ mối liên lạc thường xuyên, qua lại nhà nhau. Mấy năm sau, chị Duyên mất vì căn bệnh tim, không ai trong số chúng tôi biết lúc đó. Sau Khoa biết tin, báo cho chúng tôi, mọi người rất buồn và thương nhớ chị. Riêng Khoa viết bài bài thơ “Bến đò” về chị, hay và cảm động. Câu kết thức dậy trong lòng người về một thuở “... Ta đi theo/ lòng vẫn ở nơi đây/ ai cũng chỉ có một lần/ cái thuở thơ ngây...”... Gần đây, xem bộ phim tài liệu “Thế giới nhỏ của Khoa” do truyền hình Pháp thực hiện từ ngày Khoa mới làm thơ, cùng hình ảnh nhà thơ Xuân Diệu, thấp thoáng bóng hình chị Trần Thị Duyên, tôi bồi hồi nhớ vê một thuở học trò giỏi văn ngày ấy....
               Lại chuyện thi. Năm ấy, kỳ thi được tổ chức lập Hội đồng thi tại từng tỉnh, khi đọc đề thi, mọi người ngơ ngác với dòng chữ cụt lủn "Văn học với việc xây đắp tâm hồn anh (chị)". Thể loại gì? Làm thế nào đây? Ai cũng bần thần. Tôi mất nửa tiếng đồng hồ, không biết bắt đầu như thế nào... Sau cái mở bài khá chật vật, tôi viết liên hồi kỳ trận, viết như kẻ mộng du, viết về sự say mê văn học từ ngày còn nhỏ, viết về văn học đã tác động lại mình như thế nào... Tóm lại là nghĩ sao viết vậy, viết như một sự giải tỏa, trài lòng... Mươi trang giấy kín đặc, viết đến mỏi rã tay cho đến hêt giờ. Nộp bài thi, cũng chẳng hiểu bài mình thuộc thể loại nào. Sau này, khi đã trưởng thành, cầm bút viết văn, tôi nghĩ, bài văn ngày ấy của tôi là tùy bút cũng nên. 
               Kỳ thi ấy, đội tuyển Hải Hưng không ai được giải, kể cả thần đồng thơ Trần Đăng Khoa. Nghe nói, đội tuyển Hải Hưng người cao điểm nhất cũng không vượt quá điểm 10/20 (theo qui chế, từ điểm 11.20 mới được xét giải). Thi xong, cả đội cười đùa vui vẻ, trêu nhau việc không biết làm theo thể loại nào. Cũng chẳng ai áp lực gì, có chăng Trần Đăng Khoa, bởi chàng ta là thần đồng thơ, lại giật giải Nhất kỳ thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc hồi cấp 2 (lớp 7/10). Kỳ thi học sinh giỏi văn lớp 10 toàn miền Bắc cuối cùng ấy (4.1975), người đoạt giải nhất là một nữ học sinh chuyên văn trường cấp 3 Thái Phiên, Hải Phòng, được chấm điểm 16;20. Mãi về sau, khi các loại sách tuyển chọn này nọ được xuất bản, tôi mới biết, đấy là năm đầu tiên Ngành giáo dục của ta dùng đề thi mở, và đáp án của đề thi ấy, yêu cầu thí sinh phải nêu được các chức năng cơ bản của văn học, rồi dùng các tác phẩm văn học đã đọc và học để chứng minh cho từng chức năng ấy... Thảo nào, ngày ấy, đội tuyển chúng tôi trượt hết, bởi chẳng một ai nghĩ ra vậy... 
               Song chẳng hề hấn gì, cái chính là chúng tôi được gặp và quen nhau, trở thành bạn thân đi bên nhau dọc chặng đường đời. Chúng tôi chia tay thày Hậu, thày Trị và những thày cô khác ở trường cấp 3 Hồng Quang. Chúng tôi, hai mươi thành viên đội tuyển chia tay nhau với những dòng lưu bút... Tất cả cùng ghi nhớ, bữa cơm liên hoan chia tay, trưa ngày 15/4/1975. Lưu luyến lắm, đã có nước mắt, và cả những mối tình lứa đôi nảy nở... Ai về trường ấy, riêng Trần Đăng Khoa đến tỉnh đội để nộp đơn xin nhập ngũ... Lúc ấy, tin chiến thắng dồn dập bay về từ chiến trường Miền Nam, những ngày sôi sục  của chiến dịch Hồ Chí Minh...
               Về đến trường, bắt đầu những ngày ôn thi, thi học kỳ 2 và chuẩn bị thi tốt nghiệp. Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Niềm hân hoan vỡ òa, khiến lũ học sinh cuối cấp chúng tôi như muốn bay lên. Từ đây, tha hồ học hành, để bay đến mọi miền khi non sông liền một dải... Phần lớn những thành viên chúng tôi vào đại học, những lạ thay, không một ai học ngành văn học cả. Tôi và Trịnh Bá Ninh học đại học nông nghiệp, Trần Đăng Khoa vẫn miệt mài quân ngũ, hay như Nguyễn Việt An học ngành điện, vào quân đội rồi thành chủ doanh nghiệp, song lòng yêu văn chương thì vẫn theo cùng. Có sao đâu, khi mầy chúng tôi vẫn theo đuổi văn chương, báo chí, để sau này và cho đến bây giờ, đều là dân báo chuyên nghiệp, văn thơ đủ loại. 
               Nhớ lại chuyện học sinh giỏi văn, còn là cái cớ để bàn thêm việc đào tạo gà chọi thi đấu, và việc ra đề mở của ngành giáo dục. Nên hay không nên đây ?
                Theo tôi, việc đào tạo học sinh giỏi văn kiểu gà chọi, nhằm thì thố giật giải này giải nọ, cho đến cùng, vẫn là "thành tích chủ nghĩa", giờ không nên duy trì nữa vì thực sự không cần thiết. Thành tích ấy chẳng nói lên điều gì. Với mỗi cá nhân, không riêng gì môn văn học, để có kiến thức cơ bản, đương nhiên việc giảng dạy ở các cấp học là cần thiết, nhưng để có một tài năng, thành nhân tài, có đóng góp cho sự tiến bộ và phát triển xã hội, lại phần lớn nhờ tư chất thông minh, sáng tạo và sự khổ luyện, nỗ lực của cá nhân đó. Điều ấy, lại mang tính chất cá biệt, chẳng thể đào tạo, bồi dưỡng. huấn luyện  mà thành. Thực tiễn đời sống xã hội đông tây kim cổ đã cho thấy chân lý đó. Trong một hội thảo bàn về giáo dục do Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức, có sự tham gia của một số vị lãnh đạo cao nhất ngành và các chuyên gia giáo dục xã hội, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tham luận, đưa ra ý kiến, rằng anh có mười năm đi học, và sau đó phải mất mười năm để thoát ra khỏi cái vỏ kén kiến thức phổ thông mà trưởng thành như bây giờ. Như vậy, không có nghĩa là  phủ nhận vai trò của giáo dục, mà hàm ý, chỉ coi giáo dục như những chất liệu cơ bản, để mỗi người tự thiết kế, tạo nên sản phẩm mang dấu ấn cá nhân; rằng giáo dục ban đầu, không phải là cái bục cao, để rồi người ta đứng trên cái bục ấy thành cao hơn... Xin nói gọn trong lĩnh vực văn học, năng khiếu thiên bẩm là quan trọng nhất, còn việc học tập, bồi dưỡng kiến thức là góp  cho tài năng thiên bẩm ấy phát sáng thôi.
                Riêng việc ra đề mở môn văn học (và có thể mở rộng sang các môn xã hội khác như lịch sử, địa lý, triết học,...) là rất nên. Cần khuyến khích các nhà trường, các kỳ thi sử dụng đề mở. Những năm gần đây, ngành giáo dục sốt sắng thực hiện cải tiến, trong đó có việc làm sách giáo khoa, tổ chức thi cử, cấu trúc đề thi... Điều đó là chủ trương đúng, nhưng khi thực hiện, lại rất chi lúng túng, được cái này thì hỏng cái khác, tránh tả khuynh lại chạy sang hữu khuyên. Vì lẽ ấy, hầu như sau mỗi kỳ thi (vào bậc THCS, tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẳng), cả xã hội lại được dịp bàn tán, chê bai này nọ. Chê chán, người ta lại mang so sánh với các quốc gia có nền giáo dục tiến bộ. Việc ra đề mở cũng vậy... Đã có bao nhiêu bài viết trên mạng xã hội bàn luận về việc đề thi mở trong các kỳ thi tú tài ở Trung Quốc...
                Tôi nhớ, hơn chục năm trước, năm 2007, tôi tình cờ đọc một bài viết bàn về đề thi tú tài môn văn ở Bắc Kinh, yêu cầu thí sinh thẩm 2 câu thơ trong bài thơ Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên của Lưu Trường Khanh, đời Đường: "細 雨 濕 衣 看 不 見/ 閒 花 落 地 聽 無 聲",(Tế vũ thấp y khan bất kiến / Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh, dịch nghĩa là: mưa phùn làm ướt áo, có nhìn mà chẳng thấy/ hoa rơi từ từ xuống đất, nghe không tiếng động). Khi đó, tôi đã nghĩ là khó nhưng rất hay. Những năm gần đây đề mở họ ra còn thú vị hơn nhiều. Ví như mùa hè 2019, đề thi văn ở tỉnh Giang Tô, khiến mọi người phải lè lưỡi công nhận là hay và cực khó (Dựa theo tài liệu bên dưới, chọn góc độ, tự nghĩ đề bài, viết bài văn trên 800 chữ, không hạn chế thể văn (trừ thơ)."Mỗi vật đều có 1 tính, nước thì nhạt, muối thì mặn. Nước thêm nước vẫn là nước, muối thêm muối vẫn là muối. Chua ngọt cay nhạt mặn, năm vị điều hòa, cùng tồn tại hòa trộn tạo ra trăm ngàn vị khác. Vật đã thế, sự việc cũng thế, con người càng thế."). Và người ta lại bàn tán về bài luận của cậu học sinh đạt điểm tuyệt đối. Tôi không lạm bàn về đề thi này, song tôi ủng hộ cách ra đề mở kiều này. Cái gì hay và phù hợp thì nên nghiên cứu học tập. Tôi nghĩ, ngành giáo dục ở ta nên nghiêm túc nhìn lại mình. Có thể, kỳ thi mang tính phổ cập thì áp dụng đề mở các môn xã hội tự luận ở mức độ nào đó, nhưng các kỳ thi mang tính tuyển chọn thì nên áp dụng...
    Thiết nghĩ, học sinh giỏi văn, và mở ra các môn xã hội khác, là để học kiến thức nền, còn muốn trở thành nhà nọ, nhà kia thì phải có năng khiếu, lòng đam mê và sự nỗ lực khác thường, mà những phẩm chất đó, không thể đào tạo, bồi dường mà nên.
              Học giỏi văn, mà thiếu phẩm chất như vừa nêu, thì có mang danh xưng nhà nọ, nhà kia, vẫn chỉ là thứ "văn chương học trò" mà thôi!,,,
     
     
     
    #47
      tamvanvov

      • Số bài : 504
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 26.08.2009
      • Trạng thái: offline
      Re:Chiều Ghềnh Ráng 24.10.2019 10:29:59 (permalink)
      Có ai đò dọc cùng tôi ?...
       
      Có ai đò dọc cùng tôi ?...
      Tôi viết bài tùy bút "Thương nhớ những chuyến phà", đăng trên trang blog cá nhân, nhà văn Trần Tâm ở Quảng Ninh đọc rồi buông một câu cảm thán "Cuộc đời con người ta, phà sang ngang thì nhiều, nhưng hỏi có mấy ai đi đò dọc!?...". Tôi bảo: "Đò dọc nhọc nhằn, gian nan lắm, liệu mấy ai dám?...". Biết là, vất vả, nhọc nhằn đấy, nhưng việc đến người thì người phải đi thôi...
      Vậy có ai đò dọc với tôi không?...
      Là đò dọc thật, chứ không phải biểu theo nghĩa bóng, đi đò dọc cuộc đời, tức là chuyện ăn đời ở kiếp với nhau. Tôi có đò dọc cuộc đời của tôi, và bạn thì cũng vậy. Nên chăng, ta có thể cùng nhau làm một chuyến đò dọc kiểu du ngoạn, souvenir với nhau mà thôi... Khi chờ đợi ai đó cùng đò dọc, tôi sẽ kể đôi chuyến đò dọc mà tôi đã từng trong cuộc đời bươn chải đây đó của mình...
                 Tôi nhớ, ngày đi học, khi kể chuyện cuộc đời này nọ, bố tôi hay đọc câu ca "Thuận buồm xuôi gió thì chén chú chén anh. Lên thác xuống ghềnh thì buồi anh dái chú". Thật tình, tôi không nỡ dùng từ tục, nhưng không giữ nguyên câu cửa miệng ấy thì chẳng thể lột tả được ngữ nghĩa, hàm ý của câu ca. Hàm ý, mượn chuyện đi đò dọc, để nhắc nhở, răn con người ta, chơi với nhau, kết chạ cùng làm việc, khi thuận buồm xuôi gió thì ra bề thân tình lắm, nhưng lúc lên thác xuống ghềnh, gian nan khó nhọc, người ta mới sinh mâu thuẫn, mới hiểu lòng người...
                  Hồi tôi đang làm việc ở Ban Nông Lâm nghiệp huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, cách đây cũng đã hơn ba chục năm rồi, tôi hay phải đi công tác cơ sở. Từ thị trấn huyện lỵ, đến các xã xa nhất, giáp biên giới với tỉnh Cam-pốt của Campuchia, tôi thường chọn phương tiện tàu đò, ấy là đò dọc. Cỡ ba chục cây số, đò chạy tằng tằng len lách theo kênh dọc giữa đồng đất bạt ngàn tràm và năn nác. Mùa mước nổi mênh mông, chao ơi là sốt ruột. Khách đi tàu đò phần lớn là người buôn bán nhỏ, hàng hóa đủ loại, mùi cá mắm, hơi người nhức mũi. Nhưng khổ nhất là cái khoản tiểu tiện. Giữa đồng nước chẳng đâu là bến bờ, chẳng biết đi vào đâu, mà nhịn thì chết ngất...
                 Có một lần, tôi làm chuyến đò dọc thực đã đời. Khi ấy, cơ quan tôi mua mấy trăm con bò, do thương lái gom từ bên Campuchia. Tiền đầu tư từ ngân sách của huyện. Cậu giám đốc người địa phương, thuộc diện thoát nạn mù chữ, chỉ thạo mỗi chữ ký, nên tôi với  tư cách là Phó giám đốc nông trường được giao chịu trách nhiệm thực hiện thủ tục thanh toán tại hai đầu mua-bán, qua ngân hàng Tri Tôn (An Giang) và Hà Tiên (Kiên Giang). Từ thị trấn Tri Tôn đến Hà Tiên ước chừng 150 km theo đường thủy. Chúng tôi có ba người, thêm một nhân viên nam người địa phương, thông thạo đường xá và nữ kế toán trưởng thuê một tàu đò nhỏ trọn gói đi Hà Tiên. Theo kênh Tám Ngàn, tàu chạy miết ngang qua Hòn Đất, vùng đất mà nhà văn Anh Đức đã lầy chất liệu sống từ anh hùng Phan Thị Ràng để xây dựng nhân vật chị Sứ trong tiểu thuyết Hòn Đất của mình. Tàu đò theo các con lạch xuyên giữa đồng tràm bạt ngàn. Đất vùng này nhiễm phèn nặng, chỉ thích hợp với tràm. Chẳng thế mà, trước đây, không hiểu sao ngành nông nghiệp lại quy hoạch triển khai hàng chục nông trường chuyên canh lúa. Cứ cuối mùa mưa, đầu mùa khô, lúa đang thì con gái thì sặc phèn chết úa gần hết, lúa thu hoạch được chỉ bằng một phần mười số thóc gióng sạ xuống. Chính cái nông trường chăn nuôi bò tôi đang làm việc, ngay trước đó cũng lâm vào tình trạng như vậy, Bộ chủ quản bỏ của chạy lấy người, trả lại đất đai và cơ sở cho địa phương quản lý, tìm hướng chuyển đổi cây con phù hợp với đất đai, thổ ngơi bản địa... Ờ thời điểm ấy, tôi đã nghe nói, người ta đổ lỗi cho những ai đó, trong đó, có một nhà báo, viết sách ca ngợi hết lời về đồng bằng sông Cửu Long là vụa lúa của đất nước, với cách ví von hình tượng là đất nước ta mang hình cái đòn gánh là dải đất miền Trung, gánh hai thúng thóc hai đầu là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Hình tượng thì quả là đẹp và ý nghĩa, nhưng đồng bằng lưu vực sông Hồng, nhiều năm đã thực sự là vựa lúa của miền Bắc, chứ đồng bằng sông Cửu Long mắc dù rộng lớn hơn nhiều, song mới chỉ là tiềm năng. Và một người nữa, người làm công việc quy hoạch, hoặc đình chính sách của nhà nước, người biến ý tưởng và hình tượng ví von của nhà báo nọ, thành hiện thực. Thế là người ta rầm rộ cho thành lập hàng chục nông trường chuyên canh lúa ở vùng tứ giác Long Xuyên-Hà Tiên, và kết quả thất bại thảm hại, thóc lúa thu hoạch chỉ bằng một phần nhỏ của thóc giống sạ xuống, chưa kể bao nhiêu chi phí đầu tư khác. Sau nhiều thất bại cay đắng, rồi cũng đến ngày đồng đất miền Tây Nam bộ thành vựa lúa thật, khi người ta thay đổi tư duy, cơ cấu lại cây trồng thích hợp...
                Tàu đò của chúng tôi chạy mải miết, vợ chồng chủ tàu, chồng cầm lái, vợ nấu cơm bằng bếp đun than củi ngay trên tàu, phục vụ bữa ăn cho mọi người. Về phía Hà Tiên, xa xa thấy cột ống khói của nhà máy xi măng vươn trên bầu trời, ngày ấy, chúng là biểu tượng của công nghiệp ở miền Tây. Trời ngả bóng chiều, tàu đò đến vungj biển Vĩnh Hồ, nơi hội tụ của nhiều dòng kênh, trong đó có kênh Vĩnh Tế. Vĩnh Hồ tấp nập tàu thuyền vào ra, ngang dọc trong bóng hoàng hôn, ngút xa là cửa biển, bên kia là trung tâm thị trấn, cảnh sắc thật nên thơ. Tôi đã từng đọc lịch sử hình thành vùng đất này, hiểu câu chuyện của cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, đã dày công mở đất từ thời chúa Nguyễn đàng trong. Biết lịch sử, yêu thích thơ văn của Tao đàn Chiêu Anh các với Hà Tiên thập vịnh...
                  Sau một ngày tàu thuyền vất vả, đêm ấy, giấc ngủ vẫn chập chờn, phần lạ nhà, phần việc chính chưa xong. Sáng trở ra, ăn sáng và nhấp chút cà phê rồi vội đến ngân hàng. Xong thủ tục, cũng chẳng thời gian đâu mà ngắm, lách ngang qua chợ đông đúc để trở về bến tàu đò, và lặng lẽ rời Hà Tiên. Thực lòng, tôi muốn thăm thú chút đỉnh, nhất là thăm chùa Hang,Thạch động, nhưng gấp việc, nên chẳng lòng dạ nào... Tàu lại cần mẫn, mải miết về lại Tri Tôn. Mấy bữa ăn cũng quấy quá cho xong. Mệt bã người, chui vào trong mui, nằm ngủ vùi, cho đến tận nửa đêm thì về đến nông trường... 
                Mãi sau này, khi làm báo, tôi mới trở lại vùng đất Hà Tiên, bấy giờ mới có điều kiện thăm thú đây đó trong Hà Tiên thập vịnh. Và phải sau nhiều năm nữa, mùa hè 2018, tôi lại về Hà Tiên. Đi bằng xe hơi, nhanh chóng nên thăm thú được nhiều. Vẫn những di tích, danh thắng xưa, song nay đổi khác nhiều. Để kinh doanh du lịch, người ta cho mở rộng, thiết kế này nọ, nguy nga, sáng láng lắm, nhưng thực lòng, tôi thích vẻ xưa hơn... 
      Chuyến đò dọc đi Hà Tiên năm 1985 ấy, dù sao vẫn khá êm ả bởi chúng tôi thuê bao cả chuyến. Sau này, đò dọc mà lại là đò chợ, phức tạp hơn nhiều. Tôi sẽ kể lại đây,...
                Đã 27 năm qua rồi, vẫn nhớ chuyến đi ấy. Hè năm 1992, tôi tháp tùng nhà văn Đặng Quang Tình, khi đó là Trưởng ban Thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), từ Hà Nội vào Nam thực hiện một công việc quan trọng, điều tra thính giả nghe đài. Xong công việc ở Nha Trang (Phú Khánh) và tại thành phố Hồ Chí Minh, thày trò chúng tôi đi Miền Tây. Cơ quan thường trú của Đài tại phía Nam điều hẳn một xe phục vụ. Ở Cần Thơ, bí thư Tỉnh ủy Hậu Giang khi ấy là ông Nguyễn Hà Phan rất nhiệt tình với việc điều tra thính giả nghe đài trên địa bàn, khi chúng tôi đặt vấn đề trước. Song mọi việc ở đây, tạm chờ, ưu tiên cho chuyến xuống Minh Hải (gồm Bạc Liêu và Cà Mau). Tỉnh lỵ tại thị xã Bạc Liêu thì tôi khá thạo, bởi thời gian còn công tác ở An Giang, tôi đã vài lần sang đây, thăm các bạn cùng lớp Đại học Nông nghiệp I về công tác ở tỉnh này. Nhà văn Đặng Quang Tình bảo, phải điều tra ở Cà Mau mới đích đáng. Vậy lại Cà Mau thẳng tiến. Đích xa nhất là Rạch Gốc.
      Trước đây, Rạch Gốc thuộc huyện Năm Căn, phiên chế về huyện Ngọc Hiển. Khó khăn nhất là muốn đi đến đây, chỉ duy nhất phương tiện thủy, tàu đò. Thế là, cả xe và anh tài đành để lại thị xac Cà Mau. Thày trò tôi mua vé tàu đò đi Ngọc Hiển. Tàu đò lớn, khách đi đông, phần lớn cũng là người buôn bán vặt từ miệt biển lên thị xã mua hàng về bán, nên tàu đò đấy ắp hàng hóa. Kênh lớn, tàu bè qua lại tấp nập, sóng nước đánh ì oạp, nhất là khi có những chiếc ghe bè, ngất ngưởng hàng hóa, chạy qua khiến nhiều xuồng nhỏ của dân bị sóng đầy dạt, hoặc nước bắn tung tóe. Khách thương lái ăn uống, trò chuyện rôm rả, tôi nghe loáng thoáng câu được câu chăng, còn nhà văn Đặng Quang Tình không nghe quen, thỉnh thoảng lại hỏi lại tôi xem họ nói gì. Ngày ấy, tình trạng ngăn sông cấm chợ khá phổ biến ở Miền Nam, và ở đây cũng vậy. Tàu đò chạy dăm cây số lại bắt gặp một trạm kiểm soát của một xã nào đó lập ra, để kiểm tra bắt hàng buôn lậu, ngày ấy, phổ biến là thuốc lá ngoại nhập lậu như Zet, Capstan, More, Dullhin... Tàu chạy ngang trạm, không thấy phất cờ thì cư vô tư chạy, còn thấy phất cờ thì dừng tàu, cặp bờ để nhân viên trạm xuống tàu khám xét hàng, kiểm tra, nếu thấy hàng lậu là phạt, hoặc tích thu. Qua một trạm, có phất cờ, thay vì phải giảm tốc độ cặp bờ, thì người lái tàu đò phớt lờ, tăng tốc cứ giữa dòng mà chạy. Mấy nhân viên trạm tuýt còi, hô hoán bắt dừng nhưng không được, tức giận ôm súng CKC đuổi dọc bờ, và bất ngờ, nổ mấy phát súng. Chắc là chỉ bắn chỉ thiên để dọa, nhưng khách tàu đò nhốn nháo, hét lên vì sợ. Thày trò chúng tôi cũng sợ, phải thụp người nép sát lòng tàu, tránh đạn. Ngộ nhỡ thì khốn... Chủ tàu vẫn cố chạy không dừng, nên nhân viên trạm cũng đành bỏ cuộc. Thày trò chúng tôi bảo nhau, chắc chuyến này, khách buôn có nhiều hàng lậu nên quyết chạy... Rồi tàu đến bến cuối. Chúng tôi xuống bến, hỏi thăm, biết được, muốn đến Rạch Gốc, Tân An lại phải đi tiếp tàu đò. Thế là hai thày trò, tìm thuê một chiếc vỏ lãi để đi Rạch Gốc. Vùng này, sông nước, đầm phá mênh mông, chiếc vỏ lãi tắt ngang một góc đầm phá khá rộng, trời nổi cơn giông, rồi mưa ràn rạt. Ngồi trên võ lãi mỏng manh, giữa trời nước trong tiết mưa giống như thế, thày trò nhìn nhau, không khỏi lo lắng. Thấy vậy, người chủ đò bảo yên tâm đi, nước trông mênh mông vậy nhưng không sâu, khỏi phải lo lắng. Rồi võ lãi rẽ vào lạch nhỏ, đôi bờ đã loáng thoáng nhà dân, đã có gì đó ấm áp, đỡ hoang vắng. Rồi khu dân cư đông đúc Rạch Gốc đã hiện ra. 
                 Cặp bờ, lên tìm gặp cán bộ khóm ấp, trình giấy tờ và đặt vấn đề công việc. Mọi người nhiệt tình lắm. Nước nôi qua loa và bắt tay vào công việc. Họ cử một người giúp việc cho thày trò, đưa chúng tôi đến từng hộ gia đình, phát phiếu, hướng dẫn cách ghi phiếu. Ngày ấy, dân cư tiếng là đông nhưng cũng chẳng mấy, phần lớn ở cặp đôi bờ kênh và khu vực chợ. Đôi bờ kênh qua nhau vẫn phải dùng xuồng ba lá, hình như có vài cây cầu khỉ ở những lạch ngang, chứ kênh chính, thuyền bè lớn qua lại để thông ra biển nên không có cầu vì sợ vướng. Thày trò chúng tôi làm một mạch, quên cả đói, miễn sao xong việc. Đến nhà nào, thấy chủ nhà có radio là mừng lắm. Nhưng người dân ở đây, chủ yếu là nghe tin tức và ca nhạc, dân ca, nhất là cải lương, vọng cổ. Gần như họ nghe không sót chương trình cải lương nào của nhà đài. Xẩm tối thì xong việc, nhưng quá muộn để trở về. Họ mời chúng tôi nghỉ qua đêm. Trong ngôi nhà cộng đồng gỗ lá, bữa cơm tôi được bày ra. Đồ nhậu có xoài xanh, khô cá đuối, lẩu cá lóc. Thày trò tôi cùng dăm cán bộ ấp và cán bộ văn hóa xã, cụng ly. Vài ba ly, chuyện trò rôm rả hơn. Lúc này, chúng tôi mới có dịp để hỏi thêm về địa lý, thổ ngơi, lịch sử vùng đất.
      Câu chuyện chủ yếu xoay quanh ngọn hải đăng trên đảo Hòn Khoai và cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai do Phan Ngọc Hiển lãnh đạo. Từ biển Rạch Gốc ra Hòn Khoai không xa, chừng hơn chục cây số, ở đấy có ngọn hải đăng được người Pháp xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 20. Chắp nối từ câu chuyện kể của mọi người, biết ở đào này, còn có nhà tù để thực dân Pháp giam giữ tù nhân, trong đó những người theo tư tưởng cách mạng, chống Pháp. Đấy cũng là mầm mống để cuối năm 1940, nhà giáo, nhà báo Phan Ngọc Hiển đã lãnh đạo các tù nhân nổi dậy, đánh chiếm và giết tên chúa đảo. Cuộc khởi nghĩa này được xem là một bộ phận của Nam Kỳ khởi nghĩa. Tuy rằng, sau đó, cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp, Phan Ngọc Hiển và những người tham gia khởi nghĩa bị Pháp bắt và xử tử, song ý nghĩa của nó lại lớn lao. Tinh thần vì cách mạng hy sinh của nhà giáo-nhà báo-nhà văn Phan Ngọc Hiển đã được ghi nhận, để sau này, người ta lấy tên ông đặt cho tên đất ở vùng cực nam tổ quốc này...
      Đêm ấy, thày trò tôi đều khó ngủ, chuyện trò về nghề báo, nghề văn, về các vùng đất đã qua, quá nửa đêm về sáng mới chợp mắt. Sáng ra, chia tay ra về, các cán bộ ở đây cứ tiếc, bảo nếu ở lại vài ngày, có thể thuyền ra Hòn Khoai thăm thú cho biết. Biết là thế, nhưng kế hoạch công việc ở Cần Thơ đang chờ mà lịch trình đi có hạn định. Hứa đại, khi nào trở lại sẽ ra Hòn Khoai. Lúc về, tôi mới có tâm trí quan sát kỹ cảnh sắc hai bên bờ kênh, vì biết rằng sẽ khó có thời gian trở lại đây. Thấy thấp thoáng xa xa hai bên bở là những vuông tôm. Ngày ấy, người dân mới khởi xướng việc nuôi tôm nước lợ vùng đồng ruộng, đàm phá ven biển. Đi sao về vậy, vẫn đò dọc như thế, nhưng suôn sẻ, bình yên. 
                Mới đó mà đã gần ba mươi năm trôi qua. Quả là không dễ trở lại. Nghe các bạn tôi ở Bạc Liêu, Cà Mau bảo là, Rạch Gốc bây giờ sầm uất lắm, đã được tách ra khỏi xã Tân An để trở thành thị trấn riêng, còn đảo Hòn Khoai đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn.
                 Vậy có ai đò dọc với tôi không? Ta cùng trở lại Rạch Gốc. 
                 Nhưng nghe nói, đường xá bây giờ đã đấu nối, có thể xe hơi bon bọn đến tận nơi, chứ không cảnh đò giang cách trở, đò dọc bồng bềnh như xưa nữa ... 
       
       
       
      #48
        tamvanvov

        • Số bài : 504
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 26.08.2009
        • Trạng thái: offline
        Re:Chiều Ghềnh Ráng 13.02.2020 11:16:26 (permalink)
        Mưa dầm tháng hai,
         
        Tháng Hai âm lịch.
                   Chưa đến rằm nhưng đã có nhiều ngày mưa, đúng tiết mưa dầm xứ Bắc. Chẳng nhớ hôm mồng Một có mưa không? Nhớ lời mẹ tôi dạy từ ngày còn nhỏ, hễ mồng Một, ngày đầu tháng âm lịch nào mà có mưa là cả tháng ấy mưa nhiều...

                   Mưa phùn, mưa bụi, mưa xuân, ấy là một. Kiểu mưa này chỉ có ở Bắc bộ và bắc miền Trung. Sở dĩ có nhiều cách gọi là do thói quen của từng vùng, miền và từng người mà thôi. Gọi mưa phùn, là người ta hình dung, mưa như cỗ máy thiên nhiên phun mạnh vào không gian thành những hạt nước nhỏ xíu; còn gọi mưa bụi hay mưa phấn, ấy là hạt mưa li ti như khói, như bụi, giăng mờ mịt bầu không; còn gọi mưa xuân là bởi kiểu mưa này chỉ có vào tiết xuân. Thường là vào cuối tháng Giêng, kéo sang hết tháng Hai, mùa xuân, xen kẽ giữa những đợt không khí lạnh khô hanh từ phương Bắc tràn xuống, và những ngày oi nóng như mùa hè, là những ngày có không khí lạnh yếu đi lệch Đông ra phía biển, gặp khí nóng phương Nam chặn lại, đưa hơi nước từ biển bốc lên, gặp không khí lạnh từ Bắc vào, tạo thành những đám mây mưa, song chỉ đủ sức làm thành kiểu mưa phùn, mưa bụi cho đất liền mà thôi. Với tình chất vậy, tạo nên tiết nồm ẩm, nóng lạnh thất thường, rất khó chịu, khó lường cho con người, vạn vật...
                 Tùy mỗi năm, sụ chệnh lệch giữa cách tính theo dương lịch và âm lịch sự chênh nhau về thời gian độ vài ba tuần, thậm chí bốn năm tuần. Thời vụ, tiết trời được người xưa ấn định cho vạn vật, được tả trong ca dao, tục ngữ thì tính theo âm lịch. Ví như, tiết Giêng Hai âm lịch chẳng hạn, theo dương lịch thì là cả khoảng thời gian các tháng hai, ba, tư của năm dương lịch rồi. Lại ví như, câu ca dao "Tháng Giêng là tháng trồng khoai, tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà, tháng Tư cày vỡ ruộng ra,,." cho thấy nông lịch của người xưa. Dĩ nhiên, cái nông lịch này là theo tập quán canh tác xưa cũ, của nền văn minh lúa nước của vùng Bắc bộ, canh tác năm chỉ một đến hai vụ lúa nước, xen kẽ là hoa màu, hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên... Ngày nay, nông lịch này không còn phù hợp nữa, bởi sự can thiệp của con người bằng khoa học kỹ thuật trong tạo giống cây trồng phản ứng ánh sáng trung tính, trong chế độ tưới nước, điều chỉnh nhiệt độ, nên thời vụ của từng loại cây trồng cũng khác đi... Còn cây cối thiên thiên thì chịu tác động của biến đổi khí hậu nên việc ra hoa, kết trái, đổi màu, trút lá cũng ít nhiều thay đổi...
                 Tiết mưa phùn tháng Hai cũng đa dạng lắm. Nếu như không khí lạnh yếu, thường chỉ trời mưa bụi vào lúc chiều tối, qua đêm đến sáng ngày sau, ban trưa thì trời hửng. Nếu không khí lạnh mạnh hơn, có thể trời lắc cắc mưa thành hạt rồi kéo dài vài ba ngày thành mưa dầm. Thường gió mùa về lúc nửa đêm về sáng. Đêm trước đi ngủ, trời còn chưa mưa, nhưng rồi, trong giấc ngủ mơ màng ta nghe lơ mơ đâu đó tiếng động nhẹ, mau thưa, rồi lắc cắc, lộp độp, tiếng mưa gõ vào mái hiên, lá cây ngoài ban công, rồi rỏ giọt... Sáng ra, sân đã ướt đầm... Mưa lây nhây, trời có lúc tạnh, rồi lại mưa, cứ thế vài ba ngày liền. Ẩm ướt, lép nhép...
                 Trong tiết mưa dầm tháng Hai, cũng đã là tháng ba dương lịch rồi, khi hoa bưởi hoa chanh đã vãn, hoa xoan rộ lên rồi nhanh chóng qua đi. Ấy là lúc hoa gạo bung trời, đỏ lựng, đỏ ối tùy thời tiết hay cảm giác của người ta. Lúc đầu. lác đác hoa, gợi con người ta về một sự khởi phát, rồi cả cây bừng nở, thì cho người ta sự viên mãn, và khi hoa gạo vãn dần, lại cho ta cảm giác buồn buồn của sự rụng rơi, hoài niệm, luyến tiếc. Các cây gạo nở hoa cũng trước sau khác nhau tuy theo đọ tuổi của cây. Thường là, những cây gạo còn non, hoa hay trổ sớm, cái kiểu háo hức của tuổi trẻ, và hoa cũng không bền, nhanh chóng rụng hết. Cây già hơn, hoặc cổ thụ, thường điềm tĩnh, hoa nở chậm, cũng lớp lang, cành già cành non, cành bổng, cành la, hoa trước hoa sau, nên mùa hoa kéo dài cả tháng trời và lúc nào cũng cho ta thấy vẻ đẹp của nó. Hoa gạo có phẩm chất và vẻ đẹp ấn tượng trong mọi kiểu thời tiết... Này nhé, trời hửng nắng, hoa gạo tươi rạng cả khung trời nơi nó đứng, cho người ta cảm hứng sáng tạo. Trời sương mờ, nhiều thứ cỏ cây bị sương che phủ, riêng bông hoa gạo, to tướng và đỏ lựng điểm xuyết trong màn sương làm cho quang cảnh hư ảo, mộng mĩ, mê hoặc cõi trần. Còn như trời mưa gió, hoa gạo ở trên cành thì tươi rói, khi rụng xuống, không mỏng manh tan tác như cánh phượng, mà ngổn ngang, bề bộn và có gì đó quằn quại như những nỗi đau đời, nỗi niềm thương cảm chưa tan...
                Cứ thế, suốt hàng tháng trời, từ độ trung tuần tháng hai, đến tận gần cuối tháng ba âm lịch, hoa gạo đó đây, khi lác đác, lúc đỏ tung trời xứ Bắc bộ. Và để rồi khi mùa hè đến, quả gạo lại một lần nữa tung trời những sợi tơ trắng. Ngày xua, những nhà nghèo, người ta đi nhặt, lượm những sợi tơ gạo ấy về nhồi làm áo, gối và chăn ấm cho mùa đông đấy. Chẳng thế mà, đã có ý kiến đề xuất lấy Hoa Gạo làm quốc hoa.
                 Với riêng tôi, một lần đi thăm chùa Keo ở Vũ Thư, Thái Bình, nhằm đúng vào mùa hoa gạo. Từ trên đê cao, nhìn xuống cổng chùa Keo, mấy vầng hoa gạo đỏ ối phủ kín cả tam quan chùa. Những cội gạo già mốc thân, thi thoảng buông vai ba bông gạo xuống lộp bộp khiến người ta giật mình thảng thốt. Nhìn lên, bất ngờ một bông gạo rơi, xoay tròn như chiếc ô trên cao xuống, có cảm giác như vòng luân hồi trần gian. có một bà cụ già, lưng còng gập xuống, lẩn thẩn tìm trong đám hoa gạo thảm đỏ khoảng trống trước cửa chùa, nhặt lấy vài bông hoa gạo cầm về, chẳng hiểu để làm gì. Hình ảnh ấy cứ ám ảnh trong tôi mỗi mùa hoa gạo...
                Sáng nay, trước răm tháng Hai, trời mưa bụi giăng mờ mịt phố phường Hà Nội. Mưa dầm đã mấy ngày nay rồi. Tiết trời này thật điển hình của mùa xuân Bắc bộ. Người đi đường áo mưa cũng được, mà không áo mưa cũng chẳng ướt. Lại rẩm riu nhớ câu thơ của Trần Đăng Khoa "Mưa bay như khói qua chiều/ Vòm cây như rỏ giọt đều qua đêm... / Sáng ra mở cửa nhìn ra/ Vẫn mưa mà đất trước nhà vẫn khô"...
                 Và thế, tiết mưa dầm tháng hai ẩm ướt sẽ dần qua,...
                 Mùa xuân rồi cũng cạn ngày,...
         
         
         
        #49
          tamvanvov

          • Số bài : 504
          • Điểm thưởng : 0
          • Từ: 26.08.2009
          • Trạng thái: offline
          Re:Chiều Ghềnh Ráng 14.03.2020 09:09:50 (permalink)
                                                                    NẮNG MUỘN
                                                                    Truyện ngắn
           
                  Đã cuối thu đầu đông.
                  Chiều chưa muộn mà những vạt nắng đã lụi dần, chỉ còn đâu đó chút ánh sáng yếu ớt váng vất nơi ngọn tre, tán cau chót vót trước nhà. Bà Nguyệt vừa cho lợn ăn, vừa tranh thủ quét tước mảnh sân con vương vãi lá cây. Xong việc, bà vào bếp, lẩn thẩn lấy chiếc nồi còn lưng cơm nấu từ trưa vả chiếc niêu đất chuyên kho cá ra hâm lại. Chỉ cần nấu chút canh rau tập tàng, ở nhà có một mình, thế cũng là quá đủ. Bà thần người nghĩ, không biết giờ này, ông Chiến, chồng bà đã ăn cơm chưa nhỉ. Đã hơn tuần nay, chồng bà được con trai về đón lên chơi mãi trên trang trại của nó ở mạn ngược. Theo thói quen, cứ chiều xâm xẩm là bà lại ngóng ra cổng như chờ chồng về. Rõ là “lo bò trắng răng”, trên ấy cha con, ông cháu líu ríu, đông vui là thế, việc gì mình phải ngồi nhà lo chuyện cơm nước cơ chứ? Bao nhiêu năm đằng đẵng, bà lo thế quen rồi. Thôi, giờ cứ lo cái thân già mình đi đã. Dạo này, cái lưng nhâm nhẩm đau, hai đầu gối cũng khó chịu, đêm nằm, bắp chân buồn như trấu cắn. Mình đã là một bà già rồi. Ngày xưa, ở tuần tuổi ngoài sáu chục như mình thì hẳn là già, nhưng thời nay có khác, nhất là các bà, các mợ sống ngoài thành phố, áo quần son phấn cứ phây phây. Đấy, chẳng đâu xa, như cô vợ của người ấy, nghe nói tuổi cũng ngót sáu mươi rồi, nghĩa là chỉ kém mình có dăm tuổi, vậy mà nhìn béo tốt, mỡ màng, dáng vẻ sang trọng như vào tuổi trung niên...
                    Bà Nguyệt tự cười buồn. Ôi dào, mỗi khi ngắm cái khuôn mặt già héo của mình nơi thau nước lúc rửa mặt, bà chẳng dám tin ngày trẻ mình xinh đẹp có tiếng trong làng là thế. Mà tự dưng bà lại nghĩ ngợi, thầm so sánh cái bộ dạng già lão quê mùa của mình vời vợ người ấy làm gì nhỉ? Rõ vớ vẩn chưa. Phải chăng, lâu rồi bà mới ở vào tình trạng sống một mình như bây giờ, nên sinh nghĩ ngợi lung tung. Hay là, vài hôm nay, trông thấy người ấy, khi sóng đôi cùng với vợ, lúc đi một mình trên đường làng, mà sinh nghĩ ngợi này nọ chăng?
                    Chẳng buồn dọn cơm vào mâm bưng lên nhà ăn, bà Nguyệt cứ vậy, cơm canh, cá kho cứ nồi nào thức ấy, để xuống nền bếp, xới bát cơm, ngồi ăn. Nhìn ra sân, nắng chiều đã tắt, ngõ ngoài phảng phất khói sương. Bà Nguyệt ăn uể oải, miệng nhai, mắt nhìn, nhưng đầu óc nghĩ đâu đâu...
          X
          Ngày ấy, vào học cấp 2, chung lớp học với Nguyệt có đến chục đứa người cùng làng, xét chuyện họ hàng dây mơ dễ má, nội ngoại, đều có họ với nhau cả. Cùng tuổi với Nguyệt có vài ba đứa, do muộn đi học, hoặc do học kém bị đúp, số còn lại kém vài tuổi, có Đăng. Cậu ta quê ở làng, nhưng sinh ở Hà Nội, khi bắt đầu xảy ra chiến tranh chống Mỹ thì Đăng theo gia đình chuyển về quê sinh sống  Cậu ta người nhỏ nhắn, trắng trẻo, thư sinh, có vẻ nhút nhát, ít nói. Xét về họ hàng bắc cầu, Đăng là vai anh của Nguyệt. Cậu ta học giỏi, đều cả hai môn toán và văn, học lực luôn đứng đầu lớp, thậm chí đầu cả khối học toàn trường. Năm nào cậu ta cũng được nhận giấy khen về thành tích học tập. Chẳng bù cho Nguyệt, học hành khó khăn chật vật làm sao. Đặc biệt là môn Toán, Nguyệt học thế nào thì những con số nó cứ chuồi ra khỏi đầu. Có lần, Nguyệt đánh bạo nhờ Đăng giảng cho cách giải mấy bài toán khó. Thấy vậy, Đăng bảo là nếu Nguyệt không ngại, thì mỗi tuần, Đăng sẽ dến tận nhà Nguyệt giảng giải lại những kiến thức Toán cơ bản, đặng để Nguyệt hiểu và có thể tự làm những bài toán đơn giản. Nguyệt chỉ cố sao cho đạt điểm trung bình môn học này thôi, trong lòng muốn lắm, nhưng cứ ngại, nên từ chối khéo. Dẫu vậy. hai người cũng cảm thấy thân nhau hơn.
                    Bù lại, Nguyệt giúp Đặng một số việc thuộc về đồng áng nhà nông. Trẻ con ở quê, những năm chiến tranh, thường phải giúp cha một số công việc nhà nông đơn giản như chăn trâu, căt cỏ, vào những buổi không phải tới trường, Nguyệt lớn tuổi hơn, lại con nhà nông bẩm sinh nên khá thạo công việc đống áng. Khi gặp nhau ở ngoài đồng, để ý, Nguyệt thấy mỗi khi đi chăn trâu, Đăng thường mang theo sách học, hoặc truyện gì đó tranh thủ đọc. Nguyệt vưa thả trâu vừa cắt cỏ, đầy gánh cho mình rồi thì cắt thêm nữa, mang buộc thành bó để Đăng cho lên lung trâu cưỡi mang về. Ít trò chuyện, nhưng hai người ngầm giúp nhau vậy. Lớn tuổi hơn, Nguyệt sớm dậy thì, đã có những rung động đầu đời, tự lòng mình đã phảng phất hình ảnh của Đăng, dù biết cậu ta kém mình mấy tuổi.
                    Trong đám trẻ làng hay chăn trâu cắt cỏ và làm việc đồng áng, con gái lớn chút, còn có cái Hớn. Đúng với cái tên của mình,  Hớn phổng phao và lúc nào cũng nó cũng hơn hớn như bắt được của vậy. Nó tính khí tồ tề, nên hay làm mọi người bực mình vì những câu nói vớ vẩn, vô duyên. Xét về họ hàng, nó thuộc chi họ và là vai em của Đăng, nên khi xưng hô giữa đám đông, cái Hớn chẳng ngài gì, thản nhiên xưng em với Đăng . Việc này làm Đăng lúng túng đỏ mặt.  Cái Hớn cứ xưng xưng gọi Đăng, “anh ơi, anh à, bố em bảo thế này, thế nọ”… Nguyệt là người kín đáo, ít nói nên cảm giác khó chịu mỗi khi thấy vậy, bởi thâm tâm, Nguyệt quan tâm nhiều đến Đăng.
                    Làng Hạ nắm dọc theo một con sông nhỏ, chi lưu của sông Cái, nên mỗi mùa mưa lũ thượng nguồn, nước từ sông Cái đổ về sông làng đầy ăm ắp, ngầu đỏ phù sa. Đối với đám trẻ chăn trâu cắt cỏ đồng, vui thích nhất là mùa nước sông to. Khi ấy, lòng sông rộng ra, tha hồ vùng vẫy, bơi lội, tôm cá theo nước nguồn về cũng nhiều hơn, nên thoải mái đánh bắt. Song cũng có cái lo, ấy là mỗi khi trâu lội sông bơi qua bờ bên kia, phá lúa và hoa màu, thì lại phải bơi sang rong trở lại… Có lần, con trâu Ba Gông sứt mũi nhà Đăng nuôi, xuống sông đầm rồi lên bờ bên sà vào ruộng lúa của Hợp tác xã. Đăng sợ bị phạt, cuống lên, không biết xử trí ra sao,. Cậu ta mới tập bơi, nước cạn thì không sao, nhưng nước sông lớn lại chảy xiết, nên không dám liều bơi sang. Nguyệt muốn giúp nhưng cũng lúng túng chưa biết tính sao, thì cái Hớn bảo “Để tớ… Anh Đăng ơi, em bơi sang dắt trâu cho”. Nói rồi, cái Hớn cứ nguyên quần áo nhào xuống sông, phăm phăm bơi sang. Sau một hồi dằng co, hò hét, đánh vật với con trâu Ba Gông sứt mũi, nó cưỡi lưng trâu vượt sông trờ lại bờ bên này như một vị anh hùng chiến thắng trở về vậy. Cái Hớn dúi thừng trâu vào tay Đăng bảo “Đây nhé. Anh cố giữ đừng để nó lôi anh xuống sông nữa đấy. Rõ đàn ông đàn ang gì mà nhát thế!”. Đăng vửa mừng vừa bực vì bị nó tét tát, đỏ mặt, né người nhìn đi nơi khác, trong khi cái Hớn thì cứ hi hi ha ha. Nguyệt cũng bực thay cho Đăng, song để ý, thấy quần áo cái Hớn ướt bết vào người nó, khiên cơ thể nó, nhất là những chỗ mây mẩy con gái mới lớn nổi rõ như người không mặc gì. Nguyệt ngượng đỏ mặt ngoảnh đi, thấy ghét sự vô duyên của cái Hơn, lại như giận gì Đăng, trong khi cái Hớn cứ như tung tẩy… Phải chăng, Nguyệt cảm nhận được thứ tình cảm của mình dành cho Đăng ?...
                    Những năm ấy, chân ruộng xa và trũng úng của làng, gặt xong vụ chiêm, nước đã ngập sâu, cứ bữa chùi, cấy chay thôi, được bao nhiêu cũng quý. Đến vụ mùa lúa chín, nước vẫn ngập đến ngọn, vì các cơn bão cuối mùa khiến trời đổ mưa như trút. Khi gặt, người ta dùng lưới hái quơ lấy ngọn, gánh về xếp đống, lúa ướt sũng chày thành nước nơi sân kho hợp tác xã. Đập đập, rũ rũ rồi mang chia cho các hộ gia đình, có trừ hao thì vẫn thiệt cho người lấy. Hình như lão đội trưởng ghét gì nhà Đăng, nên những hôm thóc ướt như vậy, nhiều nhà chê không lấy, lão ta cứ nhè những gia đình, trong đó có nhà Đăng mà chia thóc. Chứng kiến cảnh ấy, Nguyệt xót cho nhà Đăng lắm, nhưng biết làm sao?
                    Đã chiến tranh, gian khổ, thiếu thốn, lại hay thiên tai. Đáng sợ nhất là trận lụt xảy ra vào mùa mưa bão năm 1971. Mùa thu ấy, mưa đâu mà nhiều thế, liền cả tuần, đồng trũng chưa kịp thoát nước đi đâu thì bỗng nhiên nước lại đổ về ấm ầm, đồng làng trắng băng, sông cưồn cuộn nước, nhiều khúc lút cả bở, không phân biệt nổi đâu là đồng đâu là sông. Cả làng, chỉ mấy nhà quen nghề chài lưới là có thuyền, cũng là loại thuyền nan, thuyền gỗ nhỏ bé, là còn dám bơi loanh quanh. Vườn nhà Nguyệt bị ngập hết, còn nhà Đăng ở chỗ đất khá cao thì cũng ngập mấp mé cổng vào. Nghe nói, đê vỡ  tứ tung đâu mãi mạn sông Lô, sông Đà, sông Hồng, làm mấy tỉnh đống bằng ngập ráo, đồng ruộng hoa màu mất trắng và đau xót là có rất nhiều  người chết do lũ vở đê cuốn trôi. Người dân bảo nhau, chính phủ phải cho máy bay trực thăng đi cứu tế những vùng bị ngập sâu bằng cách đóng bao ni-lông bánh mì, bột mì và gạo thả xuống như rài truyền đơn ấy. Chừng nửa tháng, nước cũng rút dần. Đường làng, rồi các đường trục chính ngoài đồng ruộng cũng nhô lên. Nước rút đến đâu, cỏ mọc đến đấy. Lúc lụt lớn, trâu bò phải cho ăn rơm dự trữ, nhưng khi nước rút, thì cũng phải kiếm cỏ cho ăn chứ. Bà con dân làng sốt ruột, cũng chớp chới ra đồng kiếm cá tôm mà ăn…
          Một chiều, Nguyệt thoáng thấy bóng Đăng dắt con trâu Ba Gông ngang ngoài cổng nhà mình. Cảm giác không yên tâm, Nguyệt bảo bố mẹ đi cắt ít cỏ tươi, rồi liềm gánh bám theo. Đồng vắng toe, lác đác người đây đó lội ngụp ngoài xa giăng lưới, đặt rọ đặt lờ cá. Đăng dắt trâu cho ăn cỏ nơi con đường trục chính giữa cánh đồng. Nước vẫn ngập khá sâu. Nguyệt cắt cỏ loanh quanh cách đó một quãng, chốc chốc lại đưa mắt theo dõi Đăng. Mải chút, Nguyệt cảm giác bất an, và khi nhìn ra, thấy Đăng đang loay hoay dưới nước, ngập đến nách, dằng co với con trâu đang cố chuồi ra xa nữa đắm cả mình. Nguyệt bỏ liềm cẩm chiếc đòn gánh, chạy vội về phía ấy, đến nơi thì cũng là lúc con trâu Ba Gông lôi tuột cả Đăng xuống vùng nước sâu ngập đầu người. Nguyệt ào xuống, gọi bảo Đăng hãy buông thừng trâu ra, bơi lại vào bở. Nguyệt nhoài người đưa chiếc đòn gánh ra để Đăng nắm lấy rồi kéo đòn gánh lôi Đăng vào. Đến chỗ nước nông, Đăng đứng được chân, cả hai tái mét mặt, thở hổn hển, rồi bì bõm lội vào lên lên bờ đường. Thực ra, bình tĩnh  thì Đăng cũng bơi vào chỗ nước nông được, nhưng do đồng nước ngập trắng băng nên khó biết chỗ nông sâu ra sao, Đăng mới hoảng vậy. Trong khi Đăng còn chưa hoàn hồn, thì Nguyệt lại ý tứ chuyện con gái, lánh người ra xa một chút, xây lưng lại, vừa vắt nước trên quần áo, vừa long ngóng tìm cách tránh để quần áo của mình bết vào người như cía Hớn dạo nào. Biết là Đăng lén nhìn mình, Nguyệt đỏ mặt, lí nhí bảo: “Cậu cứ chờ chút, vùng vẫy chán, con trâu nó tự lên thôi... Còn tớ... tớ phải đi cắt cỏ tiếp đây”. Nói rồi, Nguyệt bỏ đi, quên cả chiếc đòn gánh của mình... Đăng gọi “Ơ kìa, Nguyệt ơi, cậu quên đòn gánh à?”. Nguyệt quay lại,, bảo “ Ừ nhỉ... cứ để đấy, tý nữa tớ lấy”... Nguyệt cắt cỏ, đầu óc cứ để đâu đâu, suýt cắt vào tay. Chốc chốc, lén nhìn về phái Đăng, lần nào cũng bắt gặp cậu ta đang nhìn mình. Nguyệt nghĩ, cậu ta cũng thích mình, nếu không, sao cứ nhìn mình mãi thế, và ngợp đi trong niềm vui dâng lên. Cảm giác như có cái gì chạm vào người, Nguyệt giật bắn, ngoảnh lại, thì ra Đăng đứng ngay sau lung, đưa chiếc đòn gánh khẽ chạm vào người cô ”Con trâu tự lên rồi…Trả Nguyệt đòn gánh này”. Đăng chỉ nói được có vậy rồi đứng chết trân. Nguyệt cố nói to “Để đây cho tớ …Tờ nói rồi, khi nào cắt xong tớ qua lấy mà”. Quấn áo ướt, Nguyệt cứ ngồi, nhưng thấy vậy thật không tiện, bèn đứng dậy, lùi cách xa một chút, hai tay lúng túng che che sợ Đăng nhìn rõ thân thể mình trong quần áo ướt bết. Đăng biết ý nhìn ngang, bảo “Ban nãy, may có cậu… không thì tớ … không biết thế nào… Cảm ơn cậu nhé!...”. Hai cặp mắt đối nhau, Nguyệt cảm nhận mắt Đăng nhìn mình khác lạ, như có gì đó bùng cháy…Nguyệt né cái nhìn ấy, và cô thoát ra bằng cách xẻ một phần cỏ mình vừa cắt, để riêng ra, bảo “Cậu mang cho con Ba Gông ăn thêm, rồi về đi, kẻo người ngấm nước lâu cảm lạnh đấy… Tớ cùng về đây:”. Nguyệt xếp quang gánh cỏ, quảy lên vai, chào Đăng. rảo bước, không ngoành lại, nhưng linh cảm mách bảo, Đăng vẫn đứng đấy nhìn theo mình. Nguyệt tự nhủ lòng, cậu ấy thích mình thật rồi, và tự nhiên, cô đưa lén tay khẽ chạm vào phần ngực mẩy thiếu nữ của mình…
          Những năm tháng ấy, cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt. Mỗi năm, vài lần tuyển quân, trai làng lác đác nhập ngũ, ở làng chỉ còn đám choai choai và đàn ông đứng tuổi. Anh trai của Nguyệt vừa tốt nghiệp cấp 2 là nhập ngũ ngay. Người đi ra chiến trường vẫn đi, không khí vẫn hào hùng lắm, Ngược chiều ấy, lâu lâu tin buồn về làng quê một âm thầm lặng lẽ, ấy là giấy báo tử các liệt sĩ đã hy sinh ở mặt trận và nó chỉ bùng ra trĩu nặng, uất hận, đau buồn trong lễ truy điệu ở đình làng. Ấn tượng và ám ảnh mãi về sau, còn là sự trừng phạt đối với một vài người đào ngũ, bằng cách cho dân quân áp giải họ trên đường làng, đeo biển trước ngực “Ai cũng hèn nhát như tôi thì mất nước”. Nguyệt thương và lo cho anh trai mình lắm, nhưng lại cầu mong anh ấy đừng có đào ngũ, để khỏi phải chịu nhục như vậy. Cái Hớn bày tỏ muốn đi bộ đội hay thanh niên xung phong để được cống hiến. Và nó được toại nguyện. Hôm mấy đứa gặp nhau ngoài đồng, nó bảo :”Chào các cậu, tớ sắp đi thanh niên xung phong rồi. Bố tớ bảo trai thời loạn mà. Tiếc cái, tờ là con gái, nếu vào bộ đội, tớ cũng có thể thành dũng sĩ diệt Mỹ, thành anh hùng…”. Nó hớn hở, nhơn nhơn chỉ tay vào mặt Đăng:”Con trai như anh, xung phong nhập ngũ đi chứ… Nghe bảo, mấy đứa ở làng bên còn cắt tay lấy máu viết đơn xin nhập ngũ đấy.”. Thấy mặt Đăng tĩn ra, Nguyệt thương, cãi hộ “Cậu ấy vẫn chưa lớn  mà… với lại có đi khám nghĩa vụ quân sự cũng không đủ sức khỏe đâu…”. Cái Hớn nhìn chăm chăm từ đầu đến chân Đăng bảo: “Ừ nhỉ… cái mã anh thì sao đeo nổi ba lô, còn gạo nước, súng đạn nữa chứ”. Bộ dạng, mặt mũi Đăng nhăn nhó trông thật tội nghiệp. Nguyệt cố đùa để lấy lại tinh thần cho Đăng “Với lại, ai cũng ra trận hết thì sau này chiến tranh kết thúc, thông nhất đất nước, lây đâu ra người để xây dựng lại đất nước… Đăng học giỏi, học tiếp thành kỹ sư, tiến sĩ, mai đây cống hiến vẫn kịp mà…”. Đăng nhìn Nguyệt, ánh mắt tỏ vẻ biết ơn, nói như tự nhủ “Mình cũng nghĩ thế!...”.
          Cái Hớn đi. Bố nó đem thư nó khoe với hàng xóm, nên người làng ít nhiều biết được mặt trận trong ấy cũng đầy gian khổ hy sinh,.. Thế rồi, chuyện buồn đến với nhà Nguyệt. Giấy báo tử anh Trung, anh trai Nguyệt hy sinh ở chiến trường B.
          Lễ truy điệu anh Trung ở sân đình, giữa đám dân làng, Nguyệt thấy thấp thoáng bóng Đăng, nhưng cậu ta e dè đứng xa lẫn vào đám đồng. Sau đấy, Nguyệt vẫn phải đầm ải việc đồng áng, vì bố mẹ dường như già yếu đi trông thấy sau khi anh Trung hy sinh. Chị gái Nguyệt lấy chồng ở xã bên, năng đi lại an ủi cha mẹ hơn, nhung việc chính trong nhà, Nguyệt phải đảm đương hết. Tuổi mới lớn, chưa kịp  niềm vui hoa niên thì đau buồn đã ập đến, làm Nguyệt vốn bản tính nhu thuận, lại thêm lặng lẽ hơn. Mỗi khi ra đồng, làm gì thì Nguyệt cũng có ý, đưa mắt quanh quất, bao quát xem có bóng dáng Đăng không. Hết cấp 2, Nguyệt ở nhà làm ruộng giúp gia đình, Đăng học lên cấp 3 nên phải đi trọ học xa. Cuối tuần nào, Đăng cũng về nhà, thi thoảng ra đồng giúp bố mẹ, nên hai người cũng khó giáp mặt nhau. Thiếu bóng dáng Đăng, Nguyệt thấy công việc đồng áng chẳng còn thú vị gì nữa, nhưng cô không thể không làm. Nguyệt váng vất trong lòng bởi không ngờ mình lại đem lòng yêu mến, quý trọng người anh họ xa kém mình vài tuổi, thư sinh nho nhã ấy. Thâm tâm, Nguyệt hiểu, Đăng cũng có tình cảm đặc biệt với mình, nếu không muốn nói là thích mình ra mặt,... Cô cũng ý thức được hình thức xinh đẹp của mình. Người như Nguyệt, nếu không phải vì chiến tranh, làng quê thiếu trai tráng, thì có mà đắt như tôm tươi, nhiều nhà tranh nhau đánh tiếng. Hoàn cảnh chung vậy, Nguyệt không dám nghĩ về chuyện chồng con của mình. Ngay như tình cảm thầm kín giữa Nguyệt và Đăng, hai người hiểu lòng nhau, nhưng không một ai dám thộ lộ. Với Nguyệt, lớn tuổi hơn, nếu như Đăng chủ động, cũng chưa chắc cô dám đón nhận, bởi chiến tranh vẫn còn đó, ngày thêm ác liệt, ái dám bảo không, ngày một ngày hai, Đăng cũng sẽ lên đường nhập ngũ, vào mặt trận và không bao giờ trở về như anh trai Nguyệt và bao trai tráng khác? Nếu không, học giỏi như cậu ấy, sẽ học lên cao nữa, thậm chí ra nước ngoài học tập, tương lai tiền đồ rạng mở, lúc ấy, Nguyệt và làng quê sao níu chân người đi? Và một cản trở nhãn tiền, ấy là cha mẹ hai bên, chắc gì họ đã đồng tình, ủng hộ, khi hai nhà có họ hàng xa với nhau, và Nguyệt lại hơn Đăng vài tuổi?... Nguyệt không dám nghĩ, lại càng chẳng dám mơ, hai người có hạnh phúc đôi lứa!... Còn Đăng, Nguyệt thầm phỏng đoán, cậu ấy thích mình bởi thứ cảm xúc nhất thời của chầng trai mới lớn, ít nhiều mang tính bản năng, khi mà Nguyệt đang độ tuổi xinh đẹp mỡ màng của thiếu nữ dậy thì, tính nết lại ngoan hiền, chăm chỉ, nhường nhịn...
          Với ý nghĩ như vậy, Nguyệt cố dứt mình ra khỏi thứ tình cảm thuần khiết đầu đời dành cho Đăng, để quyết định việc lựa chọn người đàn ông của đời mình,,,
          X
          Số là, làng Hạ đang ảm đạm bởi những mất mát đau thương vì một số trai làng hy sinh nơi mặt trận, thì không khí bỗng thay đổi đột ngột, tưng bừng hẳn lên, khi có một người anh hùng từ chiến trường trở về. Người ấy là anh Dũng. Nói là anh hùng thì hơi quá, đúng ra, anh Dũng được phong danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Anh ấy hơn Nguyệt mấy tuổi, nhập ngũ trước anh trai cô một năm, Khi còn học cấp 3, anh ấy học giỏi văn và nói năng lưu loát, văn hoa. Nhập ngũ, huấn luyện rồi đi chiến trường B. biền biệt mấy năm không tin tức, nay bỗng trở về với danh hiệu dũng sĩ và là thương binh vì mất một bên chân. Việc anh Dũng trở về gây nên một sự kiện chưa từng có ở làng Hạ, thậm chí cả xã, Từ cán bộ xã, đến cán bộ các đoàn thể, thôn xóm đều đến tận nhà thăm anh. Họ hàng, làng xóm cũng ùn ùn kéo đến thăm. Đến nhà anh, không những để chia vui, và để hỏi thăm người nhà đang ở mặt trận, còn để nghe anh Dũng kể chuyện chiến đấu nơi chiến trường ác liệt ra sao... Đảng ủy xã gợi ý và tổ chức mời anh Dũng đứng ra nói chuyện với mọi người nhằm động viên tinh thần chiến đấu, sản xuất chung. Sau buổi tổ chức ở xã, anh Dũng nói chuyện ở làng. Mọi người càng xôn xao chuyện về anh Dũng bao nhiêu, thì nhà Nguyệt tủi thân bấy nhiêu, nỗi buồn vì anh Trung hy sinh. Nguyệt cứ ước, giá anh Trung mình cũng như anh Dũng thì hạnh phúc bao nhiêu. Buồn là thế, nhưng khi anh Dũng kể chuyện chiến trường ở sân đình, Nguyệt có đi nghe, nhưng chọn chỗ xa đứng. Công bằng, anh Dũng kể chuyện rất cuốn hút, dẫn dắt, lưu loát, truyền cảm, khiến mọi người khi lặng đi vì xúc động, lúc lại ồn lên vui vẻ vì sự hài hước. Nguyệt ngồi khá xa bàn diễn giả, và nghe cũng câu được câu mất, nhưng cô cảm thấy ánh mắt anh Dũng luôn dõi thẳng vào mình. Vì vậy, cô vờ như không biết, quanh quất nhìn đi đâu đó. Khi anh Dũng nhăc tên vài ba chiến sĩ người lầng đã hy sinh, có tên anh Trung, thì anh nhìn thẳng vào mắt Nguyệt, khiến cô trào nước mắt suýt bật khóc thành tiếng. Kết thúc buổi nói chuyện, anh Dũng hùng hồn nói những lời như hiệu triệu. Khi dân làng giải tán, ra về hoặc túm lại thành từng nhóm, chuyện trò này nọ, không ngớt lời khen ngợi, thì anh đi thẳng đến chỗ Nguyệt đứng. Nguyệt thắt tim không biết ứng xử ra sao thì anh ân cần: “Nguyệt phải không?... Anh đi mấy năm mà ở nhà em lớn vổng lên,… xinh quá... Anh suýt không nhận ra đấy... Anh lấy làm buồn tiếc khi biết tin anh Trung em hy sinh... Chiến trường mà, mũi tên hòn đạn nó tránh mình, chứ mình làm sao tránh nó... Lúc ấy chỉ còn biết tìm địch mà tiêu diệt... Anh may mắn hơn, chỉ mất một chân... Nhưng không sao, em à. Còn một chân với hai cánh tay này, không chiến đấu nơi chiến trường thì cống hiến nơi mặt trận sản xuất, xây dựng... Em ạ, anh tin mình đủ khả năng gánh vác việc gia đình...”. Câu cuối, anh trầm giọng nhỏ như chỉ đủ cho hai người nghe. Sau này, khi lấy nhau. Nguyệt mới hiểu, khi ấy, anh Dũng đã hàm ý việc sẽ hỏi mình làm vợ...
          Và rồi, chì dăm tháng sau, bao ồn ã từ việc anh Dũng xuất ngũ về làng với các câu chuyện chiến trường của mình lắng đi, thì anh lại gây nên một xôn xao mới, ấy là việc đánh tiếng hỏi Nguyệt làm vợ. Làng nước, ai cũng khen là đẹp đôi vừa lứa, trai anh hùng, gái thuyền quyên. Gọi anh Dũng là trai anh hùng cũng là xứng đáng với những cồng hiến và mất mất của anh cho chiến tranh thống nhất đất nước, còn Nguyệt, nói gái thuyền quyên thì hơi quá, song ở tuổi mười tám đôi mươi, dẫu không giỏi giang xuất sắc nhưng xinh xắn và hiền thục. Bố mẹ Nguyệt mừng lắm, phân giải cho cô, tuy anh Dũng là thương binh đấy, nhưng như vậy là phúc rồi, lại nữa, anh đang là sự ngường mộ của mọi người, lấy nhau, vợ chồng yên phận mà sản xuất, sinh con đẻ cái. Nguyệt có vẻ thuận theo, nhưng trong lòng, vẫn ít nhiều vương vấn mối thiện cảm với Đăng. Song le, chuyện ấy chỉ hai người biết với nhau, có chăng, mẹ Nguyệt mơ hồ biết chuyện, tìm cách gạt ngay đi để Nguyệt không mơ tưởng gì, bảo “Con gái có thì, chiến tranh thì ngút trời như thế, biết đâu mà lường, con ạ... Với lại, nhà bên ấy dòng Nho gia nền nếp, chọn dâu con kỹ lắm, duyên số có thành thì làm dâu cũng mệt... Mà nhà người ta có hỡi hơi gì đâu,… chẳng nhẽ cọc đi tìm trâu à?”. Mẹ Nguyệt buông mấy câu như vậy khi có hai mẹ con với nhau, lửng lơ vậy thôi nhưng có sức lay chuyển, và Nguyệt sụp đỏ trước lý lẽ đó, chấp thuận việc đánh tiếng ngỏ lời của anh Dũng. Việc chọn ngày cũng phiên phiến  vì chiến tranh. Động viên thành tích của anh Dũng, xã bán phân phổi cho anh ít bánh kẹo, chè gói và thuốc lá để tổ chức đám cưới.
          Trước lẽ cưới ít ngày, một chiều, Nguyệt tranh thủ làm đồng giúp bố mẹ. Xong việc, chiều đã muộn, Nguyệt ra bờ sông rửa chân tay, định về thì chạm trán Đăng. Cậu ta trọ học xa nhà, chiều ấy từ nơi trọ về nhà. Thấy Đăng, Nguyệt lúng túng như người mắc lỗi, lí nhí chào. Khác mọi khi, Đăng mạnh bạo, chủ động nói chuyện. Hai người đi sóng đôi nhưng Nguyệt lánh xa đủ để nói chuyện. Chuyện nhì nhằng một hồi, khi gần đến cây đa đầu làng, Đăng dặng hắng, hỏi  “Nghe nói... Nguyệt săp lấy chồng?”. Nguyệt bước chậm như đứng lại “Ừ... Đăng biết rồi à?”. “Chủ nhật tuần trước về nhà, ... mẹ tớ nói...Vậy là đúng...”. “Vài ngày nữa là chúng tớ tổ chức đám cưới...”. “Nghe nói... là anh Dũng... Anh ấy xứng đáng mà... Anh ấy thật may mắn ... khi lấy được Nguyệt...”. “Tớ tưởng cậu nghĩ... tớ may mắn lấy được anh ấy cơ ?”. Nguyệt thoát khỏi mặc cảm có lỗi, cố đùa. Hai người dừng hẳn, đối diện nhau, Đăng nói chậm, từng từ một “Nguyệt có yêu... À, có thích anh ấy không?’. Hai cặp mặt gặp nhau, Nguyệt nói lảng tránh “Bố mẹ tớ... cả tớ... đồng ý lời cầu hôn của anh ấy...”. Đăng nén tiếng thở dài “Đáng tiếc... tớ không phải là người may mắn... Chúc đắng ấy hạnh phúc!...”. Nguyệt nín thinh, cúi mặt “Đăng còn trẻ... Lại học giỏi... tương lai rạng ngời...chờ cậu mà...”. Đăng gặng “Cậu có vẻ buồn? Sắp cười rồi... thì phải vui chứSao vây?”. Nguyệt như muốn khuỵu chân, lấy hết can đảm “Tớ xin lối... ấy nhé...”. Rồi như một kẻ trốn chạy, Nguyệt nén bật khóc, rảo bước thật nhanh  đi hút vào đường làng. Đến khúc ngoặt, Nguyệt mới dám ngoải nhìn lại, Đăng vẫn đấy, cái bóng mảnh khảnh thư sinh của cậu ta như một dấu chấm phảy trong bóng hoàng hôn...
           
          X
          Mới đó, mà đã hơn bốn mươi năm rồi...
          Ánh chiều đã tắt. Sương phảng phất đâu đó nơi ngọn cây. Bà Nguyệt thở dài, đứng dậy dọn dẹp bát đũa, nôi niêu. Khép cửa bếp, lên nhà, đến trước gương. Lâu rồi, bà mới dám đứng trực diện soi gương. Đâu rồi gương mặt trái xoan vẻ buồn buồn, hàm răng trắng đều và mái tóc đen dày dài chấm thắt lưng tuổi mười tám đôi mươi của cô Nguyệt xinh có tiếng trong làng? Giờ chỉ còn gương mặt hao mòn dày nếp nhăn và mái tóc thưa mỏng bạc già nửa... Bật đèn sáng trưng, từ hôm chồng vắng nhà, bà Nguyệt thích để đèn sáng, bật ti vi cho đỡ cô quạnh. Ngó mặt ti vi mà bà chẳng rõ người ta nói gì ở đấy...
           Ngần ấy năm, vẫn tất bật sớm hôm việc đồng áng, nhà cửa. già đi là đương nhiên, song bà Nguyệt hiểu mình già hơn so tuổi. Lo việc nhà chồng, nhà mình, bà như đã quên Đăng từ lâu lắm rồi. Sau lần giáp mặt cuối cùng ấy, thi thoảng Nguyệt thấy bóng dáng Đăng đâu đó trong làng. Đăng có đi khám nghĩa vụ quân sự nhưng không đủ sức khỏe nhập ngũ, tốt nghiệp cấp 3 thì cũng là lúc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đăng đậu đại học, ra trường nhận công tác mãi phương Nam. Bố mẹ Đăng người trước người sau mất cả, các chị gái lấy chồng nên nhà vườn ở làng Hạ bỏ không nhờ người quen trông hộ. Lâu lâu, người làng thấy Đăng đáo về thăm nom ...
          Còn Nguyệt, sau đám cưới, chỉ biết chuyên tâm, quán xuyến việc cả hai gia đình. Sống với nhau, Nguyệt hiểu, ngoài chuyện chiền trường, chồng mình cũng chỉ văn hoa vặt vãnh thôi, chứ kiến thức chẳng là bao. Thêm nữa, việc đồng áng cũng không mấy thạo, sức khỏe yếu vì thương tật nên bao việc nặng nhọc hai bên đều đổ hết vào đầu Nguyệt. Thực lòng, cô cũng không trách gì chồng, hiểu chồng mình đã hiến tuổi thanh xuân cho chiến tranh và bị thương tật đã là một thiệt thòi lớn. Sự buồn tủi của Nguyệt ấy là mãi không chửa đẻ. Vài ba năm, rồi dăm năm qua đi, Nguyệt không một lần mang thai. Làng xóm cũng xì xào này nọ, người chê cô đực, không biết chửa đẻ, kẻ lại bảo anh Dũng bị nhiễm gì đó ở chiến trường nên tịt dường con cái. Chẳng biết giải thích làm sao, Nguyệt thây kệ, nhưng thâm tâm, tự biết mình vẫn đầy đủ, đều đặn chức năng sinh lý đàn bà. Vậy thì chỉ có thể tại chồng thôi. Nghĩ vậy, song cũng không dám nói thẳng với chồng. Có vài ba lần Nguyệt tìm thầy, thuốc thang, đông tây y đủ cả nhưng vẫn chẳng được. Cực chẳng đã, Nguyệt đánh bạo nói với chồng, thì anh Dũng gạt phắt, bảo anh khỏe mạnh, ngoài cái chân cụt ra, không bệnh tật gì cả. Nói vậy thôi, anh Dũng có thể giấu người ngoài chứ làm sao giấu được Nguyệt. Vợ chồng đầu gối tay ấp hàng đêm, chuyện giường chiếu, chăn gối ra sao, Nguyệt hiểu chứ. Vốn bản tính hiếu thắng nên anh Dũng không bao giờ nhận lỗi về mình. Sự hiếu thắng của một người lính trận trở về bộc lộ cả trong chuyện tình ái với vợ ngay đêm tân hôn. Khi Nguyệt còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì anh Dũng đã làm xong nhiệm vụ con đực của mình với vẻ hoan hỉ. Nguyệt những tưởng có thể chồng háo hức kiểu của đàn ông lần đầu lâm trận. Nhưng rồi, sau vẫn vậy, nên Nguyệt chưa một lần có được cảm giác sung sướng đàn bà. Nói năng thì khéo léo là thế nhưng chuyện chăn gối anh Dũng lại vụng về, đơn điệu, vị kỷ…Và dần dần, mỗi lần chăn gối, Nguyệt chỉ còn cảm giác cam chịu cho xong chuyện. Song như thế còn là may mắn. Sinh lực đàn ông trong chuyện tình dục của anh Dũng như ngọn đèn hao dầu cạn bấc, chập chờn, le lói và lụi dần. Kể cả việc chồng trở thành bất lực đi chăng nữa, Nguyệt cũng cam chiụ nếu như trước có được mụn con. Mỗi đêm, vợ chồng nằm bên nhau, canh thâu đằng đẵng, nhiều lúc Nguyệt ứa nước mắt tủi thân, nhưng ngẫm nghĩ, chồng mình cũng đáng thương lắm chứ. Mươi năm vẫn không con cái, muốn níu giữ gia đình, Nguyệt hiểu mình phải có con bằng mọi giá. Người chị ruột nhỏ to, bàn với Nguyệt, tính toán nếu thuốc thang không được mà mình vẫn có thể sinh đẻ, thì liều một phen, chủ động xin giống của ông thầy thuốc nào đó, miễn sao có thai sinh con. Ai biết đấy là đâu. Chuyện này, Nguyệt nghe đâu đó đã từng, song bản tính nhu mì, không dám nghe theo. Thực lòng, những năm tháng không con cái, hằng đêm, vợ chồng nằm cạnh nhau như hai miếng gỗ ghép không khớp, Nguyệt cũng từng phiêu lưu trong ý nghĩ. Có nhiều lần, Nguyệt khát khao được ân ái thì chồng cũng chỉ ôm ấp, vuốt ve qua loa. Nguyệt đã nghĩ về người đàn ông thuở hoa niên của lòng mình, và tự hỏi, nếu hai người có duyên phận với nhau, biết đâu có vài ba đứa con cũng nên. Lại có lúc nghĩ quẩn, Nguyệt khát khao đàn bà ước được ôm ấp, được dâng hiến cho người ấy... Song mới chỉ nghĩ vậy thôi, Nguyệt đã cảm giác của người có lỗi với chồng... Chồng buồn một thì Nguyệt buồn mười, song cứ buồn phiền thì cuộc sống chỉ mòn mỏi thêm mà thôi. Cuối cùng, vợ chồng bàn bạc, nhờ cậy tận bệnh viện tỉnh, xin được một trẻ sơ sinh trai vô thừa nhận, về nuôi làm con. Khi nhà có tiếng trẻ khóc cười, niềm vui đến với vợ chồng Nguyệt như một sự đến bù của cuộc đời.
          May là, cu Đạt, đứa con nuôi lớn lên khỏe mạnh. Dù không giỏi giang nhưng được cái lanh lợi, biết nghe lời cha mẹ. Đến tuổi, cu Đạt đi nghĩa vụ quân sự, đóng quân mấy năm ở miền Trung du. Ra quân, thấy miền đất ấy thuận lợi cho việc làm kinh tế, nó xin với bố mẹ thuê gom đất lập trang trại canh nông, rồi bén duyên với cô gái bản địa, nên vợ chồng. Giờ thì Nguyệt đã là bà nội của hai đứa cháu đủ nếp tẻ. Rốt cuộc, hạnh phúc cũng mỉm cười với vợ chồng Nguyệt, bù đắp cho những gì là thiệt thòi của mấy chục năm qua... Cu Đạt, dẫu chẳng phải giọt máu của vợ chồng Nguyệt, nhưng người xưa bảo “cha sinh không bằng mẹ dướng”, nó về làm người của nhà Nguyệt từ lúc lọt lòng, cũng đâu có khác con ruột. Thiên hạ đầy rấy nhà con cái hư hỏng, cha mẹ đau xót đã phải thốt lên rằng “biết khổ thế này, tao bóp chết mày từ lúc sơ sinh”…Được như vậy, với Nguyệt là may mắn rồi…
          Thực ra, khi nhà có tiếng trẻ khóc cười, mọi quan tâm đổ dồn hết vào đứa con nuôi. Hạnh phúc đôi lứa của vợ chồng Nguyệt đâu cfn quan trọng việc chăn gối, mà niềm vui là ở đứa con kia.
                    Đã từng này tuổi đầu, chuyện cũ đã qua đi những bốn mưới năm, bà Nguyệt chẳng còn vui buồn với quá khứ xa xưa. Sở dĩ. bà nhớ lại, nghĩ ngợi chuyện cũ, là bởi vài năm gần đây, các anh chị em nhà Đăng về quê cho xây ngôi thờ tự trên nền đất vườn có ngôi nhà gianh vách đất cũ. Kể từ đó, Đăng và vợ con hay về quê hơn. Năm trước, sau bao nhiêu năm, Nguyệt mới giáp mặt Đăng. Chùa làng được trùng tu, Đăng về quê, đến chùa thắp hương công đức. Hai người chạm mặt nhau nơi cổng chùa, mặc dù bà Nguyệt cố tình né đi, giấu mặt dưới khăn choàng đầu, song Đăng vẫn nhận ra, chào trước “Bà Nguyệt đấy à? Có phải Nguyệt không?”. “Vâng, tôi … Ông về quê,… lên chùa lễ Phật ạ”. “Lâu lắm rồi… mới gặp lại…bà… Ông nhà và cháu khỏe chứ?...”. “Vâng,…Cảm ơn ông hỏi thăm … ông nhà tôi và các cháu vẫn thường…Bà nhà và các cháu có về cùng ông không ạ?… Cho tôi gửi lời thăm sức khỏe…”. Đại khái mấy câu xã giao vậy, bà chủ động cắt chuyện cáo lỗi đi trước. Tưởng chỉ vậy, nhưng sau đó bà cũng nghĩ ngợi ít nhiều. Mới hôm trước, bà đi làm đồng, nhác trông xa biết vợ chồng Đăng đang xây lại mộ cha mẹ. Bà chống lưng nhìn, thoáng chạnh lòng. Mà ngày trước cũng đâu vào đâu, ngoài chút tình cảm nam nữ của những kẻ mới lớn. Nghe đâu, mấy đứa con của Đăng học hành giỏi giang lắm, còn Đăng thành nhà văn nhà thơ gì đó. Bà Nguyệt từng nghe đám thanh niên ở làng kháo nhau rằng, chúng đọc trên mạng, thấy thơ văn của ông Đăng viết nhiều về chuyện làng mình, cả về Nàng Thơ ngãy xưa chi dó, không biết có thật không và là ai nhỉ? Bà có chút bâng khuâng trong lòng, chả nhẽ, ông ấy viết về mình?...
                     Chợt có tiếng chuông điện thoại. Chồng bà gọi về bảo, ông sẽ ở thêm mươi ngày nữa nơi trang trại của con. Cũng báo thêm, vợ chồng cu Đạt muốn năm nay đón bố mẹ lên ăn Tết trên ấy, thay vì như mọi năm, vợ chồng con cái chúng kéo nhau về quê ăn Tết với bố mẹ, và ông đang cân nhắc…
          Bà Nguyệt chộn rộn, thắp một tuần hương trên bàn thờ gia tiên, thầm nghĩ, ừ có lẽ như thế cũng hay?!.. ./.
           
           
          #50
            Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark
            Thay đổi trang: < 1234 | Trang 4 của 4 trang, bài viết từ 46 đến 50 trên tổng số 50 bài trong đề mục

            Chuyển nhanh đến:

            Thống kê hiện tại

            Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.

            Chú Giải và Quyền Lợi

            • Bài Mới Đăng
            • Không Có Bài Mới
            • Bài Nổi Bật (có bài mới)
            • Bài Nổi Bật (không bài mới)
            • Khóa (có bài mới)
            • Khóa (không có bài mới)
            • Xem bài
            • Đăng bài mới
            • Trả lời bài
            • Đăng bình chọn
            • Bình Chọn
            • Đánh giá các bài
            • Có thể tự xóa bài
            • Có thể tự xóa chủ đề
            • Đánh giá bài viết

            2000-2020 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9