VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II )

Thay đổi trang: < 123456 | Trang 6 của 6 trang, bài viết từ 76 đến 85 trên tổng số 85 bài trong đề mục
Tác giả Bài
tamvanvov

  • Số bài : 672
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 26.08.2009
  • Trạng thái: offline
Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 04.10.2021 09:55:47 (permalink)
Văn sĩ làng
Truyện ngắn


Cả làng, cả xã hội gọi y như thế. Mà tự thân; y cũng ngầm kiêu hãnh với cái danh hiệu văn sĩ. Tên cúng cơm của y là Nguyễn Văn Sĩ. Bình thường ra thì cái tên đó có khác gì với cơ man người Việt có họ và tên đệm là Nguyễn Văn. Song với y thì khác, y đã nhiều lần nhẩn nha cắt nghĩa cái tên của mình rằng Văn Sĩ là kẻ sĩ văn chương, và như thế cả tên y có hàm ý là kẻ sĩ văn chương của họ Nguyễn. Đã có lần y bảo rằng: “Theo cách phân chia dân chúng thành Tứ dân như xưa là sĩ, nông, công, thương thì đây vốn thuộc dòng sĩ”. Người làng thấy y nhận vậy cũng cho rằng có lý, bởi trước đây, ông nội y có biết chút chữ nghĩa nên giữ chức trưởng bạ, tức là quản lý ruộng đất của làng mấy năm. Nhưng mới thế thôi thì cũng chưa đủ gọi y là văn sĩ, mà còn bởi y đã từng có bài đăng báo và y cũng đã từng tuyên bố hùng hồn sau những cơn say khướt là y sẽ dấn thân vào sự nghiệp viết lách cho đến tận lúc tan thành bụi cát. Qủa là y đã có bài đăng báo, không phải một lần mà nhiều lần. Cơn cớ gì dẫn dắt y dính vào cái nghiệp cứ tự dày vò tinh thần và thân xác này? Số là thế này, trước đây y học hết cấp hai rồi đi thanh niên xung phong. Cái ý tưởng trai thời loạn của y không thành bởi vì y bị lé mắt phải nên người ta không lấy y vào bộ đội.  Mấy năm sau y trở về với vết thương phần mềm nên không được hưởng chế độ gì. Dù sao thì y cũng có chút công lao, địa phương xem xét cho y giữ chân kế toán đội sản xuất. Được vài vụ thì y mắc tội chữa sổ sách để tham ô mấy tạ thóc nên bị bãi miễn. Thế là y chẳng còn nghề gì ngoài việc theo đít trâu. Trong tứ dân thì nông, y đang làm nhưng lại không muốn làm; còn công thì y không biết tí gì; thương thì y không có vốn và không có gan; vậy chỉ còn cách là y làm sĩ. Một lần, tình cờ một mảnh báo cũ nát gói miến do vợ y mang từ chợ huyện lọt vào tay y, y xem và thấy ở đó một bài viết về tổ thanh niên xung phong gan dạ san lấp hố bom giữ vững giao thông thời chiến tranh. Xem rồi, y nghĩ, cứ như mô tả thì hồi ấy y an nhàn hơn họ nhiều, song viết ra như thế thì không mấy khó, y có thể bịa ra những câu chuyện tương tự, thậm chí còn gay go và ác liệt hơn cũng được. Ý nghĩ ấy nung nấu y, và rồi sau mấy đem chong đèn dầu thức viết đến gần sáng, bài báo bảy trang viết tay trên giấy học trò, kể về một tổ đội thanh niên xung phong, trong đó có y, đã dũng cảm quên mình giữ vững huyết mạch giao thông và tuyến lửa, đã hình thành. Y sướng điên lên, tự thưởng cho mình một cốc rượu tự nấu nhắm với ổi xanh. Vừa nhắm y vừa nhẩn nha đọc lại. Y phát hiện ra chữ mình xấu như gà trống đói mái bới, nên chép lại. Nhưng rồi cũng không ổn. Y đành chia sẻ niềm vui với vợ y để đọc cho vợ chép hộ. Mấy đêm liền, khi mấy đứa con y đã ngủ, vợ chồng y đọc đọc chép chép và hú hí với nhau trong niềm hoan lạc cuồng dại. Bài gửi đi theo đường bưu điện, nhưng rồi nhà y không có báo để theo dõi xem có được đăng hay không. Nghe vợ mách nước, cứ vài ba ngày y lại lai vãng đến nhà cậu bí thư Đoàn thôn, nói là đọc báo nhờ. Thực ra y chả cần biết đến các thông tin trên báo, mà chỉ để dò xem báo có đăng bài của mình không. Và một hôm y sửng sốt không tin vào mắt mình nữa. Rõ ràng cái tên Văn Sĩ to tướng trên một bài báo. Tim y thót lại, mặt y tái đi. Hay là một Văn Sĩ nào khác? Nhưng không, tên bài báo cũng hệt tên bài của y. Thôi đúng rồi. Y đọc lướt nhanh nội dung bài thấy đúng là của mình, thế mà y vẫn còn không tin là bài mình được đăng. Xem đi xem lại và cuối cùng là y tin. Một niềm sung sướng, kiêu hãnh trào dâng trong huyết quản khiến y chỉ thiếu nước nhảy cẫng lên mà gào thét “Ôi làng nước ơi, tôi đã thành nhà báo, nhà văn rồi!”. Cậu bí thư Đoàn thôn thấy y chăm chú đọc, buột miệng khen: “Dân trí bà con làng mình còn thấp quá, ngay cả đám trẻ cũng vậy. Gía ai cũng được như anh Sĩ thì mấy mà dân làng mình bằng thành thị… Mà này, anh Sĩ. Số báo này có một bài viết về tổ đội thanh niên xung phong thời chiến tranh hay lắm. Anh đọc chưa? Tôi định kỳ họp này sẽ mang bài ấy ra đọc, bình và để mọi người phấn đấu noi theo!... À, hình như tác giả bài báo ấy trùng với anh thì phải?!”. Đến nước này thì niềm kiêu hãnh của y trào lên như sóng vỡ bờ, y nói hụt hơi: “Bài ấy do tôi viết đấy”. Rồi y phóng cái nhìn đắc thắng về phía khuôn mặt đầy ngạc nhiên và cái miệng há hốc của cậu bí thư đoàn thôn.Y bắt đầu nổi tiếng ở làng từ đấy. Người ta kháo nhau, một đồn mười, mười thành trăm. Được dịp, y bắt đầu khoe mẽ rằng: “Làng này không biết đấy thôi, chứ tôi viết báo, viết văn từ lâu rồi. Thỉng thoảng tôi vắng nhà lên Hà Nội để gặp gỡ các tòa soạn báo và các nhà báo, các nhà văn nổi tiếng ở trung ương”. Cũng có không ít người bảo: “Thằng cha ấy khoác lác chứ nhà báo, nhà văn gì nó. Học không hay, cày không biết, cái ngữ ấy có hót phân trâu cũng không nổi”. Còn một ông giáo làng về hưu thì cứ hễ ai nhắc đến tên y trước mặt ông, ông đều gật gù với vẻ mặt đầy bí hiểm: “Cậu ấy cũng được đấy chứ. Mà cậu ta có thành nhà báo, nhà văn thì cũng có gì lạ. Làng mình được thơm lây… Có điều này… Tướng cậu ấy cao gầy, khô cứng như chiếc bút chì đen kí hiệu HH ấy. Không có hậu. Chỉ e rằng, sau này…!”. Với riêng y, để xứng danh với danh hiệu mà mọi người tự phong cho y, y lao vào viết. Đêm nào y cũng đỏ đèn, vò đầu bứt tai để viết. Có khi đêm trước viết còn dở dang, sáng hôm sau dù có buổi trâu y cũng bỏ mặc không chịu ra đồng, kệ vợ y có ra rả thế nào đi chăng nữa. Vợ y người thấp lùn, béo tròn vò đầu kêu khổ, dậm chân bành bạch và lăn lộn làm mình làm mẩy chán chê, rồi tự động dậy, đi tìm người cày thuê. Mụ đâu có hiểu, với y bây giờ viết là điều hệ trọng nhất. Mà đã là nhà báo, văn sĩ thì ai lại còn cày với cuốc nữa cơ chứ.Nổi tiếng chưa được bao lâu thì y bắt đầu phải gánh chịu hậu quả của sự nổi tiếng đó. Ở làng, hễ ai đó nghe đài, hoặc đọc báo, thấy ở đó có người, có cảnh tương tự, na ná với người và chuyện ở trong làng, là họ lại đồn nhau: “Đúng là thằng cha văn sĩ dởm làng mình viết rồi. A… nó mang chuyện làng, chuyện gầm giường, xó bếp nhà người ta ra mà viết báo, viết chuyện để ăn tiền. Quân ba que xỏ lá thật!”. Đã có dăm ba cuộc chửi rủa cạnh khóe, hoặc áp đảo tại gia của người làng với nhà y. Nhưng nói chung, y đều khôn khéo hóa giải được, tránh để xô xát, đổ máu. Sau những cuộc như thế, y lại phải gánh chịu những cơn thịnh nộ của mụ vợ y. Thật là họa vô đơn chí. Y tức lắm, âm thầm nghĩ cách đối phó. Y biết chắc chắn những thứ đó không phải do y viết ra, song y phải gánh chịu hậu quả. Đã thế, y sẽ viết, lấy chuyện làng chuyện nước quê mình mà viết, chỉ cần bịa thêm cho khác đi tí ti là được. Y dùng bút danh cho các bài viết đó, đại loại như: Điếu Cày, Khoai Ngứa, Kiến Càng, chẳng hạn… Một loạt những mẩu chuyện châm biếm lấy từ chuyện ở làng của y được các báo đài ở trung ương sử dụng. Chỉ có điều, để họ gửi tiền nhuận bút về nhà thì y dễ bị lộ. Đành phải ra tận tòa soạn lấy nhuận bút vậy. Thế là lâu lâu, y lại cưỡi chiếc xe đạp cọc cạch ra thành phố. Mỗi lần đi như vậy, y đều trù tính trước, khoản nhận bút y sẽ chia ra làm ba phần, một để thuốc nước mời các ông ở tòa soạn, phần đưa về cho mụ vợ để gây thanh thế cho mình và cũng là để xoa dịu mụ, phần nữa y cất giữ, tích góp, biết đâu đấy lại có lúc đủ để mua một chiếc xe Simson tàng. Chẳng lẽ lại cứ xe đạp rách đến các tòa soạn mãi, nó so xúi quá, mất thể diện quá.Được một thời gian dài trót lọt, y không bị vướng vào một vụ rầy rà, to tiếng nào. Vợ y thấy yên chuyện nên cũng không lèo nhèo gì. Cho đến một lần, nhóm thầu điện ở làng tăng giá điện vô tội vạ. Y tức lắm. Bà con trong làng cũng thắc mắc. Y nghĩ, không làm gì được thì cũng phải chửi khéo cho tụi nó một trận. Thế là y bèn viết một mẩu chuyện xỏ xiên đám thầu điện. Y ví von họ như những kẻ vô tri vô giác, người ngợm như cứt sắt, ăn bớt bao nhiêu điện mà không chết. Y yên tâm gửi bài đi vì trong chuyện, y đã cẩn thận viết bằng cái chuyện ấy xảy ra ở tận thôn X, xã Y, huyện Z kia, lại ký bằng bút danh. Mẩu truyện đó được in, y nghe ngóng không thấy động tĩnh gì, nên càng yên chí. Song ngẫm nghĩ thì y lại thấy tức. Định xỏ xiên bọn nó nhưng chúng lại không hề biết thì khác nào đấm bị bông, khác nào rượu đổ hang chuột. Đùng một cái, đoàn kiểm tra điện từ tỉnh đột ngột kiểm tra, phát hiện tổ thầu điện này dùng mẹo ăn cắp điện ngoài công tơ. Lập biên bản. Tổ điện thôn bị xử phạt, cả làng thì bị cắt điện hàng tháng trời. Bà con tức quá chửi om lên. Mấy tay thầu điện, ăn cắp điện lợi lộc chẳng bao nhiêu, lại bị phát hiện, tiền mất tật mang nên ức lắm. Chúng ngồi lại với nhau, truy xem chuyện bại lộ từ đâu. Rốt cuộc chúng đều nhất trí cho rằng chính y là người viết báo, hoặc viết đơn tố giác. Thế là mấy tay gậy gộc kéo đến nhà y. Lúc đó y đang vừa hút thuốc lào vặt, vừa ngẫm nghĩ. Sự việc đột ngột quá khiến y bàng hoàng, vừa sợ vừa ức. Y vớ cái cuốc chim lao ra đứng thế thủ. Tuy có vũ khí tùy thân trong tay nhưng quả là y không muốn sử dụng đến nó chút nào. Văn sĩ thì vũ khí phải là cây bút chứ đâu phải là cuốc chim. Vì thế, y thế thủ nhưng luôn miệng phân bua. Mấy tay kia vẫn hung hăng. Được cái, vợ y lăn xả ra chắn trước mặt y, vừa chửi mấy tay kia vừa kêu làng nước. Hung hãn là thế nhưng mấy tay kia cũng phải kinh. Y có vũ khí mà đứng sau lưng vợ, trong hoàn cảnh nực cười ấy thế mà y cũng còn đủ thời gian hình dung ra cái cảnh vợ y hệt như gà mái mẹ xòe cánh che cho gà con trước lũ diều hâu. Thật phúc bảy mươi đời cho nhà y, vừa lúc đó, ông phó chủ tịch xã kiêm trưởng công an phóng xe máy ngang qua. Thấy huyên náo, với bản tính nghề nghiệp và tinh thần cảnh giác cao độ, ông ta dừng xe, chưa biết phải trái ra sao, lên miệng quát mấy tiếng thị uy. Mấy tay thầu điện thấy không có lợi bèn bảo nhau rút. Y được giải thoát. Được thể, y liến thoắng thanh minh với ông phó chủ tịch, tưởng ông ta bênh vực mình. Y sững người khi ông ta buông một câu: “Cậu cũng nên bớt cái miệng đi. Từ nay về sau bỏ cái tính thóc mách, xỏ xiên đi nhé. Không hay hớm gì đâu. Đừng để chuyện tương tự xảy ra, tôi không phải ăn lương để bảo vệ cho nhà cậu đâu nhớ”. Ông ta khinh khỉnh nổ xe máy, phóng đi. Y bực bội quay vào nhà, đá thúng đụng nia, nghĩ bụng, cha này nó sợ mình moi chuyện tham ô ra viết đây, nên, đe mình trước. Cho đến khi vợ y quát lên: “Sao ban nãy không anh hùng anh trưởng đi mà núp sau váy vợ, giờ còn lèm bèm ra điều ta đây. Đồ nhát như thỏ đế!”. Y cụt hứng, im bặt.Sau đận ấy, y nhụt chí, bỏ bẵng đến hàng dăm tháng không viết lách gì cả. Nhưng mà cái nghiệp văn chương nó tai quái làm sao, nó làm cho hết thảy những ai đã trót dại dính vào nó thì khó mà giãy ra nổi. Đến bậc cao thủ, “mục hạ vô nhân” còn khó huống hồ như y, thứ tép riu quèn. Y càng cố tình thôi thì người y càng ngứa ngáy, bứt rứt không chịu nổi. Một lần, y thả bộ vu vơ, ngang qua nhà ông giáo về hưu, thấy ông đang chăm tỉa mấy khóm cúc đại đóa và chậu trà bạch, y cao hứng đùa: “Hôm nào em mang lễ vật sang cậy nhờ ông giáo bày cho kĩ thuật Bonsai”. Ông giáo phá lên cười, bảo: “ Cậu vào đây, ta uống trà ướp hoa nhài, đàm đạo chuyện thế sự, âu còn ích hơn”. Khi hai người đối ẩm, ông giáo bảo: “Ở làng này, tôi thấy cậu là người có chút chữ nghĩa… Nhưng mà chữ nghĩa cũng có dăm bảy đường. Đến như ông lang Đạt ở làng trên, nho y lý số nhất vùng mà gia cảnh lại éo le. Thôi thì ta cứ một vừa hai phải, để phúc cho con cháu. Văn chương chữ nghĩa thật cao sang song cũng thật nghiệt ngã. Ấy vì thế mà trước đây tôi có tí toe ngâm vịnh thi ca nhưng khi ngẫm thấy sợ, nên mới thôi!... Mà này, dạo này cậu viết lách ra sao?”. Nghe ông giáo nói y cũng thấy tởn, bèn chối: “Ấy ông giáo hỏi thế, tôi có văn chương gì đâu. Chẳng qua là giải buồn, nho nhoe kiếm câu chuyện làm quà, vậy mà đã gặp bao nhiêu phiền hà”. Ông giáo cười ra chiều độ lượng: “Tôi biết cậu giấu tài… Viết được làm con người ta nó sang trọng lên, còn chuyện phiền nhiễu thì thế gian tránh sao khỏi. Làng văn ta xưa có cụ Cao Bá Quát rồi đến ông Nam Cao gặp bao rắc rối vì văn chương, còn ở bên Tàu thì có cụ Lỗ Tấn là gương tày liếp… Nhưng mà văn chương nó phải vậy, cứ phải rung chuyển thì mới đáng là văn chương chứ!”. Ông giáo cười ngậm ngùi khiến y lặng người, nổi hết da gà. Lúc tiễn y về, ông giáo bảo y: “Thi thoảng cậu lại chơi nhà… Ta lại đàm đạo. Cũng thú lắm… Thoang thoảng hoa nhài thơm lâu, cậu ạ!”.Sau lần ấy, y lấy lại dũng khí và phong độ. Nhưng chết nỗi chuẩn bị được tinh thần rồi, y lại không biết viết cái gì. Chẳng lẽ văn sĩ chỉ quanh năm chuyện con cà con kê, xỏ xiên người này người nọ. Viết gì bây giờ nhỉ? Y bí quá. Không ngờ, vợ y lại chính là người khơi nguồn cho y. Thị bô bô kể với y chuyện một cụ cao niên ở làng trên, đã có cháu gọi bằng cụ rồi, thế mà còn đi chim chuột bà góa nạ dòng, bị con cháu biết được, nhiếc móc cho, phẫn uất bèn uống thuốc sâu, nhưng may người nhà biết nên ngăn chặn kịp thời. Nghe rồi, y vỗ đùi, reo lên: “A… Phải rồi! Phải rồi!... Dân làng này hãy chờ đấy”. Vợ y tưởng rằng y khoái trá với cái chuyện ấy lắm bèn đe: “Này! Đừng có mà lớ xớ với con nào nhớ. Đây mà biết thì đây cứ mà xẻo…”. Y giật mình, rồi sau đó hết lời giải thích cho thị hiểu là y chỉ viết về những chuyện đó thôi. Thế mà mãi y không nghĩ ra, ở trên đời này, cái chuyện tình tang, chuyện trai trên gái dưới thì bao giờ cũng sẵn, mà lại li kì, hấp dẫn nữa. Xưa nay, từ vua chúa đến dân đen đều thích cái khoản ấy. Ngay đến y, xấu xí đen đủi là thế, vớ được cô vợ sạch mắt và hết lòng vì chồng con, nhưng cứ ra khỏi nhà, mắt đã tia ngang tia dọc cấm có bỏ sót người đàn bà nào. Và thế là y viết. Trong làng trong xã, cái chuyện ấy vô thiên lủng, viết đến già cũng không hết. Mà lại đơn giản, dễ dàng nữa chứ. Cứ người thật, việc thật, chỉ cần thay đổi tên họ, bịa địa điểm, thêm mắm muối chút ít là ngon lành, bởi tự thân những chuyện ấy đã thừa sức kích thích trí tò mò, lòng hiếu kì của người ta rồi. Quả nhiên là không sai. Hàng loạt báo đăng các mẩu chuyện của y. Bây giờ thì y khôn rồi. Qua những lần bị phiền nhiễu, thực tế đã dạy cho y sự cảnh giác cao độ. Cảnh giác với mọi người, cảnh giác với chính vợ y, nhất là những mẩu chuyện tình tang. Y giấu vợ biệt những chuyện ấy. Y chẳng dại gì để những thứ đó lọt vào tay thị, biết đâu thị lại ghen bóng ghen gió với các nhân vật thì mệt lắm. Viết như thế riết một hồi, tự dưng y thấy y cũng là một gã đàn ông có giá, chí ít thì ở cái vùng quê chiêm trũng này, y đáng là một đấng anh hào. Y không còn thấy mình xấu trai nữa, bởi đàn ông ăn nhau ở vẻ đẹp trí tuệ kia mà. Trái với hồi thanh niên, y luôn mang mặc cảm ế vợ, thì nay y thấy mình là đối tượng cho đám gái trẻ trong làng ước ao, thèm muốn. Và y nhiễm cái thói tán tỉnh từ khi nào chẳng rõ. Một lần, y đổ trâu cày, ngồi nghỉ ở quán cây gạo giữa đồng, chợt trời mưa rào, cô con gái lớn của ông giáo làng về hưu chạy vào trú mưa. Cô ngót ba chục tuổi, được người được nết, nhưng không hiểu sao lại muộn chồng. Ngoài trời mưa to, trong quán lại chỉ có hai người. Cô gái có vẻ e thẹn, khép nép vào góc quán. Lén quan sát cô, y thấy thương thương và y tìm cách bắt chuyện: “Gái nông thôn mà như cô thế kia thì thành thị có còn lâu mới bằng”. Cô nhìn y ngường ngượng: “Thế mà ế đấy”. Y cười: “Bọn con trai làng này có mắt cũng như mù. Giai nhân ở đây mà cứ đi tìm ở đâu cơ chứ. Giá mà…”. Y bỏ dở câu nói, ngẩn ngơ. Cô nhấm nhẳng: “Anh quá khen, nhìn cú lại ngỡ chim công”. Y được thể, nhìn chằm chằm, tán: “Cô không chê… hay là để tôi làm mối?”. Cô cười nhoẳn: “Thôi, xin cảm ơn anh… Tôi chẳng thiết gì, người tài ba như anh thì làng này hết rồi!”. Nói rồi cô vác cuốc bỏ ra về trong khi trời vẫn mưa dày hạt. Y gọi với theo, lòng chộn rộn, và lần đầu nhìn mưa, y thấy cô đơn…Rồi y viết một câu chuyện, nhân vật chính là cô gái quê nhan sắc muộn chồng, mọi người không ai biết, chỉ đoán già đoán non nhưng thực ra chỉ vì người tình trong mộng của cô đã có vợ con, người ấy là một chàng thợ cày, chơi sáo tài tử, có tâm hồn nghệ sĩ hệt như chàng Trương Chi. Y nâng niu, ấp ủ câu chuyện đó, và rồi y cũng gửi cho báo…Sẽ chẳng có gì nói thêm về tay văn sĩ làng quèn như y, nếu một ngày kia không xảy ra chuyện động trời. Một lần đi làm đồng về, vợ y chu chéo ngay từ ngoài cổng. Thị xô cửa vào nhà, xông thẳng đến trước mặt y, dí tờ báo, gầm lên: “Trời ơi là trời, sao số kiếp tôi lại khổ thế này, vớ phải thằng Sở Khanh mạt hạng. Bà hỏi mày xem cái con nào ở trong này. Bà cứ là bà chém! Bà cứ là bà xẻo!... Rõ là cái quân mèo mả gà đồng gặp nhau chửa!...”. Thị rúi y ngã nhào xuống đất, rồi vùng chạy xuống bếp. Y hiểu rõ cơ sự, lồm cồm bò dậy, chạy tháo thân ra cổng. Thị rượt theo, tay lăm lăm con dao nhọn vót nan tre sắc lẻm, luôn miệng đe: “Bà mà bắt được mày thì bà xẻo, bà xẻo quách cái của nợ ấy vứt đi cho chó nó nhai!”. Cả làng bị phen náo loạn. Mọi người đổ ra xem, cười đùa, khích bác, chế giễu… Lúc ấy thì y mặc tất cả, bởi điều quan trọng với y là chạy mau cho thoát, và sau đó là sẽ trở về nhà như thế nào. Y không còn tâm trí đâu nghĩ ngợi này nọ. Y cũng chẳng biết rằng, bọn thầu điện chơi xỏ y, tìm tờ báo đưa cho vợ y xem, rồi kích động thị. Sau đận ấy, người làng cứ thêu dệt thêm ra. Còn y thì mỗi khi nhớ lại thấy ớn xương sống. Y chẳng buồn viết lách gì nữa, song tự sâu trong tâm khảm, y vẫn nuối tiếc mộng văn chương, vì thế mà y sinh chứng mất ngủ, thỉng thoảng lại lẩm bẩm trong miệng gì đấy. Cô con gái lớn ông giáo làng lấy chồng tận thị xã hẳn hoi. Với ông giáo thì hễ ai đó nhắc đến tên y với biệt danh văn sĩ làng, ông lại rền rĩ: “Người xưa nói cấm có sai mà, lập thân tối hạ thị văn chương”!?...
R
<bài viết được chỉnh sửa lúc 12.10.2021 21:35:30 bởi Ct.Ly >
 
#76
    tamvanvov

    • Số bài : 672
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 26.08.2009
    • Trạng thái: offline
    Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 14.10.2021 17:10:32 (permalink)
    Thân phận,
     
     
                                                                                               Truyện ngắn               
     
                                                                                   “Lưu linh! Lưu linh,
                                                               Lý Bạch! Lý Bạch!
                                                               Say có danh gì mà truyền lưu?”
                                                                                 (Đặng Huy Trứ)
    Thoạt đầu người ta nghe thấy tiếng rú, sau là những tiếng gào thét, rồi mới đến tiếng khóc thảm thương. Lúc ấy trời đã nhá nhem, các thành viên của từng gia đình ở cái xóm lao động này hầu như đã về đủ cả, nên nghe thấy vậy, mọi người đùn ra từ những lỗ cửa toen hoẻn, đứng chật ngõ, nháo nhác hỏi lẫn nhau xem chuyện gì xảy ra. Người ta tập trung vào nơi phát ra những tiếng gào rú khóc lóc. Thì ra ở nhà thằng Quấy. Anh chàng đạp xích lô, người trong xóm, mặt đỏ phừng, miệng sặc hơi men gạt đám đông xông vào nhà Quấy, rồi quay trở ra ngay, nói oang oang: “Thằng Quấy chết rồi. Chẳng biết chết từ bao giờ. Vợ nó đi đâu mới về, mở cửa vào nhà thì thấy nó nửa nằm nửa ngồi trên sàn nhà, đầu nghếch lên thành giường. Vợ nó tưởng nó say rượu như mọi ngày, lay gọi thì thấy người cứng nhắc lạnh giá, mới biết là chết”. Thế là cả xóm lại nhao nhao. Người ta tranh nhau nói. Một bà bảo: “Thảo nào, cả ngày hôm nay tôi không thấy mặt nó. Mọi hôm, đêm có say rượu thì ngày sau muộn lắm cũng chỉ chừng mười giờ là nó bò dậy, mở cửa ra bắc ghế ngồi sưởi nắng. Đằng này…”. Một bà khác không chịu thua: “Thì mới trưa hôm qua hay hôm kia gì đó, tôi thấy thằng Quấy ngồi uống rượu với mấy quả táo, tôi còn đùa bảo nó là bớt uống rượu đi, để dành tiền mà xây nhà lầu… Thế mà bây giờ nó đã là người thiên cổ!”. Tôi hiểu là bà hàng xóm đùa Quấy như thế bởi mấy tháng nay có một ông làm giám đốc công ty mua lô đất ở giữa xóm lao động này xây thành ngôi biệt thự bốn tầng theo kiểu nửa cổ nửa kim. Rồi người này, người kia đua nhau kể lể những chuyện xung quanh thằng Quấy. Riêng tôi, trước đó mấy ngày là chủ nhật, tôi còn thấy Quấy chơi cờ tướng với một cậu hàng xóm, thấy hắn gặp thế cờ bí, tôi bèn mách hắn mấy nước và sau đó hắn chuyển bại thành thắng, và khi đó Quấy còn bảo tôi: “Em không ngờ bác chơi cờ khá thế”. Trong khi mọi người còn đang bàn tán thì cảnh sát khu vực đến, chẳng hiểu ai đó đã nhanh nhẹn gọi điện báo. Đúng rồi, chết đột tử tại nhà không ai biết thì phải báo các nhà chức trách khám nghiệm tử thi xem có phải án mạng gì không. Biết đâu lại chẳng phải là kẻ trộm vào nhà cướp của giết người, hoặc chuyện thù oán, chuyện tình duyên trắc trở…? Khi xác Quấy được đưa đi rồi, mọi người còn bàn tán một hồi rồi ai nấy rút về nhà mình và trong nhà lại tiếp tục bàn quanh chuyện cái chết của Quấy…
    Đêm đó, bên nhà Quấy đông chật họ hàng. Còn cả xóm, hình như mọi người cũng mất ngủ? Đoán vậy bởi tôi nằm mãi không ngủ được, và dường như cố tình ngủ thì mắt cứ chong chong. Hình dáng Quấy lúc chết nửa nằm nửa ngồi, rồi những hình ảnh, những câu nói thường ngày trước đây của Quấy cứ hiện ra trong suy nghĩ của tôi lộn xộn…
    Cách đây chừng ba năm có lẻ, gia đình Quấy từ nơi khác dọn đến ở xóm lao động này. Nghe đâu, bố mẹ Quấy có mảnh đất khá to ở ngoại ô. Thời đất đai rẻ mạt thì chỉ cấy rau muống, nhưng khi đất đai có giá, bố mẹ Quấy bán bớt đi lấy tiền chia cho mỗi con một ít để chúng tự lo mua đất làm nhà theo ý mình. Và Quấy đã mua một căn nhà cấp bốn ở xóm lao động này. Nhà Quấy dọn đến ở dễ đến nửa tháng mà cả xóm không ai biết là có Quấy bởi người ta chỉ thấy một người đàn bà với một bé gái ra vào hàng ngày và thế là họ nghĩ nhà này chỉ có mẹ góa con côi. Nhưng rồi một hôm, tôi thấy người đàn bà ấy thập thò ngoài cửa thì hỏi: “Chị hỏi gì?”. Cô ta nói: “Em nhờ bác xem hộ xem cái ti vi nhà em làm sao mà không lên hình”. Tôi liền theo cô ta, bước chân vào nhà tối om nên chẳng thấy gì. Cô ta bật điện thoại và tôi mầy mò một lát thì phát hiện được cái ti vi bị tuột dây ăng ten. Khi đã lên hình rồi, tôi hỏi cô ta: “Đàn ông đàn ang nhà này đi đâu cả rồi”. Cô ta nói to cười cười rằng: “Bác ơi nhà này có đàn ông thì cũng coi như không ấy mà. Đây, đàn ông nhà này đây, ở ngay sau lưng bác đấy”. Nghe vậy tôi nghoảnh lại và bây giờ tôi mới nhìn rõ một chiếc giường kê phía trong bỏ màn sùm sụp là một người đàn ông, không phải vậy, đúng ra là một hình nhân, lặng thinh và nhìn tôi chòng chọc. Ngạc nhiên nhưng tôi vẫn khẽ gật đầu chào, song hình như anh ta chả phản ứng gì với cái gật đầu của tôi. Người đó là Quấy. Lúc ấy, Quấy vừa qua một cơn thập tử nhất sinh. Lâu lâu sau đó, Quấy khỏe lên đôi chút và hắn bắt đầu đi lại được. Dần dà, cả xóm biết chuyện là Quấy nghiện rượu nặng và nghe đâu nghiện từ khi còn chưa thành người lớn. Bình thường mỗi ngày Quấy phải đủ ba cữ, sáng, trưa, tối và mỗi cữ ít ra cũng phải chai ba. Quấy ngày một khỏe thêm, nhưng gọi là khỏe vậy thôi, chứ người Quấy vẫn chỉ là bộ khung, hai chân như xe điếu, gò má nhô cao, miệng dẩu ra. Người vậy nhưng miệng lưỡi có vẻ hoạt lắm. Theo lời Quấy thì hồi trai trẻ hắn khỏe mạnh và đẹp trai lắm, lại có nghề cơ khí trong tay; nhưng rồi cơ sở hắn làm sa sút, hắn nghỉ ở nhà không việc, lại thêm tật nghiện rượu và cứ thế hắn nhậu tì tì ngày này qua ngày khác, năm này sang năm khác mặc vợ làm, mặc chuyện con học hành thế nào không cần biết. Rượu đã nhấn chìm hắn!...
    Có một dạo, Quấy có vẻ đỏ da thắm thịt, hắn đi lại lăng xăng ngoài đường trong ngõ. Rồi hắn lại còn ăn diện, đèo vợ con bằng xe đạp đi chơi đây đó vào ngày chủ nhật. Thấy vậy, mọi người khen: “Vợ chồng nhà này hạnh phúc nhỉ!”. Vợ Quấy cười như mếu, còn Quấy thì dẻo quẻo: “Phải nói là cứ như đôi chim quyên chứ”. Gần nhà Quấy có một cặp vợ chồng trung tuổi, họ sống với nhau có vẻ yêu thương nhau lắm, những ngày nghỉ, người chồng ngồi múc từng gáo nước bồ kết cho vợ gội đầu. Những lúc như thế, Quấy bắc ghế ngồi cửa chứng kiến từng động thái của cặp vợ chồng này và đùa: “Kiếp này thì em chịu, nhưng chờ kiếp sau, em sẽ sống đầm ấm như hai bác… Nhìn cảnh hai bác, em thấy thèm!”. Vợ chồng nhà kia đùa lại: “Thì ai cấm. Bây giờ chỉ cần chú bớt rượu đi là cô chú cũng thế được, thậm chí còn hơn nữa”. Hắn cười phá lên: “Trời ơi! Không kịp nữa rồi! Hai bác không biết đấy thôi, em đã xí được mấy thước ở Văn Điển rồi”. Thấy vậy, vợ hắn bảo: “Sao lại không kịp? Kịp hay không là ở mình, nếu muốn thì vẫn kịp. Còn muốn đi Văn Điển ư?...”
    “Đi được thì đã phúc cho cái thân tôi”. Mấy người cùng cười. Đùa hay không thì không rõ nhưng nghe ra thì cũng bi hài lắm. Lúc ấy, tình cờ nghe được, tôi cũng không khỏi bật cười!
    Rồi sau đó, đến những ngày quẫn chí của hắn. Hễ chiều là hắn mò đi, uống ở quán xá nào không rõ, nhưng khi về đến nhà thì say mèm. Hôm thì bạn rượu đưa hắn về, hôm thì về đến ngõ ngã rúi rụi, hàng xóm nhìn thấy rìu về. Có lần, tôi thấy hắn say quá ngã xấp mặt xuống vũng nước, lồm cồm bò dậy, lại ngã, lại bò dậy. Mấy nhà ở quanh đấy cứ nhìn mà cười rũ. Tôi phải gọi vợ hắn ra rìu hắn về. Vợ hắn cứ rền rĩ: “Khổ cho tôi không!”. Nhiều đêm hắn say li bì, vợ hắn đi làm ca về gọi cửa mãi hắn không tỉnh để mở. Rồi có hôm, hắn đi uống đến đêm mới về, gọi cửa nhưng vợ hắn kiên quyết không mở cửa thế là hai vợ chồng, kẻ trong người ngoài chửi cãi nhau như hát hay làm cả xóm mất ngủ. Lại có những đêm hắn không ngủ được, cũng không có chỗ để đi, hắn bật cát-xét, những băng nhạc ẽo ợt sướt mướt, những băng cải lương mùi mẫn. Hàng xóm láng giềng đều tức, nhà nào nhà nấy lủng bủng nhưng chẳng ai nói ra, bởi không ai muốn dây với hắn. Đời ai đi chấp những thằng Chí Phèo. Thằng Quấy tuy không rạch mặt ăn vạ, song nó say, nó cho rằng đời nó chẳng còn gì, nó chửi vung lên cho thì dại mặt à. Dưới con mắt của bà con trong xóm lao động này, thằng Quấy là hiện thân của sự bệ rạc, cỏ ráy xã hội. Ai cũng bảo: “Cái ngữ ấy chết đi không ai thương. Chỉ thương con vợ trông sạch sẽ, hiền lành, chăm chỉ là thế mà vớ phải thằng chồng cặn bã thì khổ quá”…
    Tưởng đời thằng Quấy cứ lặng lẽ trôi đi và chìm hẳn trong u mê như thế, nhưng không, hắn đã có một quãng đời chót không đến nỗi uổng phí. Chuyện là thế này: Trước đó ít lâu, có ông giám đốc mua đất trong xóm xây nhà lầu.
    Một toán thợ xây mấy chục người ùn ùn kéo đến. Rồi kế đó là gạch, cát, xi măng, sắt thép bề bộn. Quấy ta hễ lúc say, lúc ngủ thì thôi, hắn bắc ghế ngồi cửa xem người ta làm, thỉnh thoảng nói góp một câu. Ngoài rượu, Quấy còn có thú hút thuốc lào, mặc dù sau mỗi lần hút, hắn lại ôm ngực ho sù sụ, mà đám thợ lại có cái điếu cày rất kêu, thế là dần dà hắn quen hết cả đám thợ. Những lúc họ nghỉ giải lao, hắn cùng ngồi với họ, chén nước, điếu thuốc hoặc tranh thủ làm ván cờ. Hắn vui lắm, trong những câu chuyện phiếm như thế, người ta thấy hắn nói năng, đưa đẩy rất có duyên.
    Hắn kể chuyện tiếu lâm. Và hắn nói đạo lý. Đúng thế. Một thằng cùn, thằng càn quấy vào loại “đệ nhất thiên hạ” bỗng nói toàn giọng đạo lý. Ấy là chuyện lạ.
    Thường là buổi tối, cánh thợ vào nhà tôi xem nhờ ti vi. Theo cánh thợ, lần đầu tiên hắn bước chân vào nhà tôi. Và hắn đánh tiếng: “Em đến nhà bác là tôm đến nhà rồng mặc dù bác không mời. Em biết là em không đáng để bác mời và dưới con mắt bác em chỉ là đồ bỏ đi. Đúng thế. Nhưng chẳng lẽ cả đời không bao giờ bác thèm nói chuyện với đồ bỏ đi à!”. Tôi cười bảo hắn: “Cậu cứ vào. Không việc gì phải rào trước đón sau và cũng không cần phải hạ mình như thế”. Hắn hớn hở: “Như thế là bác hiểu em. Bác đã đánh cho hai chữ đại xá”. Hắn nhìn quanh một lát rồi reo lên: “Ôi nhà bác có nhiều sách quá. Bác làm gì và lấy đâu thời giờ để ngốn hết từng kia sách? Lại toàn là những quyển dày cộp. Giá mà em có nó nhỉ… thì em đâu đến nỗi thân tàn ma dại thế này!”. Tôi bảo: “Thế bây giờ cậu có muốn đọc những sách đó không?”. Hắn cười và xua tay: “Không, không… đầu óc em làm sao hiểu được những ý tưởng cao siêu trong những cuốn sách kia. Nếu có thể, bác cho em mượn mấy tờ báo xanh xanh đỏ đỏ kia em xem để giết thời gian thôi”. Và trong một lần sang mượn sách, hắn lần tay trên các gáy sách rồi rút ra một quyển. Hắn đọc to tên sách và tên tác giả. Rồi ngạc nhiên: “Bác viết sách này à? Đúng là bác thật. Tên bác rành rành đây này”. Tôi mủm mỉm: “Nếu đúng thì sao?”. Hắn so người lại: “Thôi chết! Mấy năm trời sống bên cạnh văn nghệ sĩ mà không biết. Hẳn bác nhìn cảnh vợ chồng em sống với nhau buồn cười lắm nhỉ. Ôi, thật là xấu hổ…”. Và sau đó hắn còn tuôn ra một bài diễn văn dài hổ lốn các thứ đạo lý ở đời vào với nhau.
    Cánh thợ xây hay đi lại nhà hắn. Hắn vui vẻ, sống chan hòa và vì thế hắn ít cãi nhau với vợ. Vợ hắn cũng thấy nhẹ người. Một hôm, tình cờ gặp tôi, vợ hắn bảo: “Dạo này em nhẹ cả người, nhà em bớt la lối vô lý đi nhiều”. Tôi cười: “Ừ, Quấy nó vui vì có người trò chuyện. Vì người ta không coi nó là người thừa. Vì nó xem sách báo…Mà này, Quấy nó nói năng khéo léo ra trò”. Vợ hắn nở mặt khoe: “Vâng! Khéo lắm. Nhất là những lúc…”. Vợ hắn bỏ dở câu nói đỏ mặt.
    Một hôm, tôi thấy Quấy ngồi uống rượu một mình, mặt lầm lì. Tôi đùa: “Này, vẫn chưa đủ bộ à?”. Hắn bảo: “Không!…Bác này, em muốn hỏi bác điều này, xem xử thế nào cho phải?”. Nhận thấy vẻ nghiêm túc trên mặt hắn, tôi hỏi: “Việc gì? Có nghiêm trọng lắm không?”. Hắn há miệng mãi không thành lời: “Chuyện vặt ấy mà…Bác này, dạo này bác có thấy mụ vợ em nó xí xớn không? Trước mặt mấy tay thợ xây mà nó cứ đi đi lại lại, uốn a uốn éo. Lại còn son phấn, ăn diện nữa chứ”. Tôi gạt đi: “Cậu cứ ru rú ở nhà. Xã hội bây giờ ngươi ta ăn mặc đẹp thế cả. Cậu hẹp hòi đấy!”. Hắn vẫn không chịu: “Đằng này còn thì thì thầm thầm với nhau”. Tôi vặn: “Với ai?”. Hắn cấm cảu: “Thằng cha thợ cả ấy”. Tôi chuyển sang bông đùa: “Chắc không có gì đâu! Còn cậu, bớt rượu cho đỏ da thắm thịt thêm rồi đẻ lấy một thằng cu nối dõi tông đường chứ!”. Hắn vui lên ngay: “Đúng thế. Em cũng đang tính vậy. Bác xem này, cánh tay em cũng săn đấy chứ”. Vừa nói hắn vừa co tay cho tôi xem. Thực lòng, nhìn cánh tay cẳng cà toàn xương với da nổi lên những đường tĩnh mạch xanh xám, tôi không giấu nổi vẻ thất vọng, song vẫn gắng đùa: “Chắc lắm. Vật tay với nhau không khéo tôi thua cậu cũng nên”. Quấy nghe vậy phấn khởi lắm: “Bác này, em thấy sao những năm tháng qua mình lại phung phí thời gian, sức lực mà sống vô nghĩa thế nhỉ. Hôm nọ, em bảo cả nhà em nữa rằng từ nay vợ chồng mình đừng cãi nhau nữa, hàng xóm đây có nhiều trí thức lắm, lại có cả văn nghệ sĩ nữa, người ta cười cho”. Tôi cười cười: “Mọi người bình thường cả thôi, nhưng mà cậu nghĩ thế là phải”. Hắn ngần ngừ: “Nhưng mà…hằng ngày em chẳng có việc gì để làm. Em thèm rượu. Cố uống cho thật say. Say rồi li bì đi. Lúc tỉnh tỉnh lại thấy trống rỗng và vô nghĩa…Thế là lại muốn say. Cứ cái vòng luẩn quẩn thế mãi… Bác bảo, đời em còn gì nữa đâu. Em biết là em chẳng còn được ở với các bác, các anh em xóm này lâu nữa đâu”. Tôi mắng: “Bậy nào! Người hay nói đến cái chết sẽ là người thọ nhất”. Hắn cười như mếu: “Bác cứ động viên em!”. Tôi vỗ vai hắn: “Cậu lo không có việc gì để làm phải không? Tỉ như thế này, hằng ngày cậu đọc sách báo chút ít, luyện tập thân thể, cứ lấy mục đích là có sức khỏe để đẻ con trai đi! Thế nhé, bắt đầu từ hôm nay!”. Hắn vui: “Vâng! Em xin nghe lời bác!...”.
    Sau lần ấy, tôi đi công tác một chuyến dài. Khi về đến nhà thì khung cảnh xóm lao động nhà tôi đã khác. Biệt thự của ông giám đốc đã xây xong, đám thợ xây đi nơi khác hết cả. Các gia đình lại khép kín biệt lập như cũ. Trừ những lúc xe rác đến thì mọi người mới túa ra với xô đựng rác trên tay và người ta tranh thủ lúc ấy nói với nhau, trêu đùa nhau đôi ba câu. Tôi để ý, ít thấy Quấy ra ngồi ngoài cửa uống rượu hoặc hóng chuyện nữa. Mọi người đều sấp ngửa từ mờ sáng đến tối mịt, ai đâu có thời giờ mà chuyện gẫu nữa. Chẳng hiểu Quấy có còn uống đều đều như cũ không? Cho đến khi xảy ra cái chết của Quấy tại gia không ai biết…
    Mọi chuyện nhanh chóng được làm sáng tỏ. Sau khi khám nghiệm tử thi, người ta kết luận là cái chết của Quấy do chính những căn bệnh tiềm tàng trong người hắn bấy lâu gây ra. Nghe đâu như là tim gan, phèo phổi hắn mục ruỗng hết. Chất rượu tuôn chảy trong huyết mạch hắn và vi trùng là những kẻ đồng mưu sát hại Quấy. Cả xóm thở phào nhẹ người vì cái chết của hắn không liên can đến ai và hắn cũng không còn ở trên đời để quấy rối làm phiền mọi người. Buổi đưa đám hắn, người ta đi đông lắm. Lúc sống có không ưa nhau thì nay bỏ hết nghĩa tử là nghĩa tận mà! Người ta bảo nhau rằng hắn cũng đủ mùi đời rồi, chỉ tiếc cho hắn là chưa có con trai nối dõi. Lại có người bảo là cần gì con trai, có con trai để sau cũng rượu chè như bố thì vứt.
    Sau khi Quấy chết, người trong xóm cảm thấy thiêu thiếu cái gì đó. Hắn sống như thừa mà hắn chết thì thấy thiếu. Lạ thế! Ngẫm mãi tôi hiểu ra thế này, lúc hắn sống gây phiền cho mọi người, và khi ấy, người trong xóm có cái cớ để kêu ca, phàn nàn với nhau, kể lể với nhau về hắn, thậm chí giễu cợt, xỏ xiên hắn rồi nói với nhau. Nay hắn không còn, chẳng ai làm phiền ai và cũng không ai nhờ vả gì nhau. Thế là mọi người đều cố thủ trong cái lô cốt của gia đình mình.
    Dạo này, người trong xóm thấy vợ Quấy ăn diện lắm. Thị vui vẻ dần sau cái đại tang. Chẳng hiểu thị có buồn phiền thật không? Nghe đâu thị rao bán nhà, chuyển đi sống nơi khác. Rất có thể, sẽ lại có một ông giám đốc nào mua và sau đấy xây lên một ngôi biệt thự. Người ta sẽ nhanh chóng quên đi rằng trước đây trên mảnh đất ấy có một thằng cha tên Quấy nghiện ngập chìm đắm!...
    Khi hắn còn sống, có một lần nghe hắn rao giảng về đạo lý ở đời, tôi đã cười và đùa hắn rằng: “Cậu nói hay lắm. Thế nào tôi cũng sẽ viết một cái gì đấy về cậu”. Hắn sáng mắt lên: “Ôi, thế thì tuyệt quá! Bác hứa nhé, thế nào cũng viết truyện về em. Thế thì em yên tâm rồi. Em những tưởng đời em chỉ toàn vô nghĩa, bỏ đi. Bây giờ được bác viết thì em có ra đi, cũng có nghĩa là em vẫn còn ở với cái đời này. Đọc truyện của bác viết về em, người có cười, thậm chí có chửi rủa cái thằng em thì em cũng sướng!...”.
    Tôi viết truyện này là thực hiện ý nguyện và giữ đúng lời hứa với Quấy. Cũng là nén nhang cho Quấy!...
     
    Đã mang vào thư viện
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 14.10.2021 17:23:02 bởi Ct.Ly >
     
    #77
      tamvanvov

      • Số bài : 672
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 26.08.2009
      • Trạng thái: offline
      Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 17.10.2021 17:00:04 (permalink)
      Ơi cái thời chị đẹp
      Truyện ngắn
      Bẵng đi hàng mấy năm trời, tôi mới lại có dịp về thăm quê. Tôi tranh thủ đi hỏi thăm hàng xóm láng giềng và bà con họ hàng. Một buổi tối đến chơi nhà chú họ, tôi ngồi uống nước chè với cậu con trưởng của người chú. Cậu ta đang chăm chú nghe tôi nói chuyện thủ đô, chuyện thời sự quốc tế, chợt quát hỏi thằng em khi ấy vừa đi từ trong buồng ra:   - Này, tay mày cầm cái gì thế kia? Thằng em lúng túng, một tay giấu đằng sau lưng. - Có gì đâu, em… - Gạo phải không? Mày lấy trộm gạo để đi đến ổ Luyến à? Nói rồi anh xông ngay đến tước lấy cái bọc mà cậu em đang giấu đằng sau. Cái gói bung ra làm gạo bắn tung tóe. Khi cậu em đi rồi, thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, cậu anh giải thích:  - Anh có hiểu là nó mang gạo đi đâu không? - Chắc là… bán lấy tiền tiêu hoặc cùng lắm tích tiền mua sắm quần áo, tệ hơn nữa là cờ bạc, rượu chè. - Không, anh nhầm rồi - Cậu ấy cười khẩy - để chơi gái đấy.  - Chơi gái? Tôi hỏi lại bởi ngạc nhiên thật sự. Lúc trước nghe cậu anh nói đến “ổ Luyến” thì tôi nghĩ ngay đến một ổ rượu chè, cờ bạc nào đó, chứ không thể nghĩ đến là “ổ điếm”. Ở nông thôn, đi với gái điếm lại trả công bằng gạo, thật là một chuyện lạ. Điều đó kích thích lòng tò mò nghề nghiệp của tôi. Một suy nghĩ chợt xuất hiện, có thể viết một bài báo, hoặc một phóng sự chẳng hạn. Tôi bèn xoay vào cậu anh: - Này, thế chủ ổ điếm đó tên Luyến à? - Chủ gì đâu. Có độc mình mụ Luyến, con riêng của bà cả Ái.  - Chị Luyến à? Thế là chẳng còn đợi tôi hỏi, cậu anh thông thốc kể cho tôi nghe hàng loạt chuyện xung quanh ổ điếm làng này…
      *
           *         *
      Tình họ hàng, chị Luyến có họ xa với tôi, kiểu họ bắc cầu “bắn đại bác không tới”. Tuy nhiên, ngày nhỏ chị khá gần gũi với gia đình nhà tôi và tôi luôn kính trọng chị. Ngày ấy, những năm sáu mươi, tôi còn đang học cấp một, chị ấy đã hết cấp hai. Chị học cùng lớp với chị Thúy của tôi. Lúc ấy, tuy còn bé nhưng tôi cũng biết được rằng chị Luyến rất đẹp. Có thể nói, ngày đó, không những chị đẹp nhất làng mà còn nhất xã, thậm chí nhất huyện không chừng. Chị Thúy tôi cũng đẹp nhưng là vẻ đẹp thùy mị, nết na, còn chị Luyến thì ngược lại, đẹp một cách quyến rũ, lẳng lơ. Tôi nhớ, lúc bấy giờ là những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ rất dữ dội. Làng tôi cách Hà Nội chỉ vài chục cây số lại làng quê cổ nên có rất nhiều trường đại học sơ tán về. Các chàng sinh viên phát hiện ngay ra những cô gái quê có nhan sắc để bâu quanh tán tỉnh. Chị Luyến được các chàng chú ý nhất và xoay quanh như chong chóng. Chàng tặng thơ, chàng tặng sách, chàng rủ đi xem… Chị nhận lời với tất cả. Có lần, tôi được nghe một chàng trong số đó, từng bị chị Luyến cho ra rìa, đến tán tỉnh chị Thúy tôi và kể lại rằng chị Luyến đã chơi trội bằng cách xin theo học ngoại ngữ cùng với lớp sinh viên và đã từng diện chiếc áo len đỏ chói đi từ cửa lớp phía gần bục giảng với dáng vẻ kiêu hãnh xuống hàng ghế cuối lớp trước hàng trăm con mắt nửa thèm muốn thán phục, nửa chê trách khích bác của đám sinh viên. Chị Luyến không những đẹp mà học cũng rất giỏi. Cánh thanh niên trong thôn và cả đám sinh viên đều cho là chị hâm hâm. Chị có hâm hay không thì chẳng biết song rõ ràng chị là đối tượng khao khát của đám con trai và đàm tiếu của nữ giới, kể cả các nàng sinh viên vốn được tiếng là cao giá… Bây giờ tôi mới hiểu rõ là người ta muốn, người ta giành giật không được, hoặc người ta kém hơn thì sinh dèm pha, chứ thực ra chị cũng không đến nỗi nào. Có chăng bởi chị đẹp quá, đẹp một cách khêu gợi làm ngứa ngáy và gai mắt mọi người.   Thế rồi, đùng một cái, chị Luyến lấy chồng. Chồng chị không phải là một trong số những người mê chị mà là một anh chàng hiền lành người làng nhưng đi thoát ly. Những năm bấy giờ, thoát ly là niềm mơ ước của biết bao trai gái nông thôn. Anh ta tên Ngọc. Chẳng hiểu vì tật bẩm sinh hay bệnh ngoài da mà cứ đến độ hanh hao thì da anh lại mốc lên, cho nên ở làng, anh ta có biệt hiệu là Ngọc “mốc”. Ngọc là con độc nhất của một bần nông. Bố Ngọc là cốt cán trong năm giảm tô cải cách. Gia đình được chia quả thực. Bố mẹ Ngọc lại căn cơ nên lúc đó nhà Ngọc được tiếng là khá giả nhất làng. Cũng không hiểu vì sao chị Luyến lấy Ngọc “mốc”. Lấy Ngọc, chị Luyến được tiếng là có chồng làm cán bộ thoát ly, bố mẹ chồng lại thuộc diện nhà ngói, sân gạch, cây mít. Đối với đám con gái làng, có lẽ được như vậy là toại nguyện lắm rồi, song với chị Luyến thì tôi nghĩ là không. Về chuyện chị Luyến lấy Ngọc “mốc” thì người làng có đồn rằng, bà cả Ái, mẹ chị - một người đàn bà có nhan sắc sớm lận đận chuyện tình duyên, góa chồng, đi bước nữa với ông làng Triển, vì cuộc đời quá long đong nên ngẫm mình tủi thân mà bắt con gái sớm lấy chồng cho yên phận. Cũng nghe đâu là chị Luyến định cự tuyệt thì bà Ái đe tự tử, thế là chị đành cam lòng. Ngọc “mốc” công tác xa, tháng đảo qua nhà một vài lần, song chị Luyến nào được sống tự do, mà luôn phải ghép mình trong vòng kiềm tỏa chặt chẽ khắt khe của bố mẹ chồng. Thế rồi chị Luyến xin đi học lớp sơ cấp sư phạm của tỉnh. Mãn khóa học, chị Luyến nhận nhiệm sở trường cấp một của xã và cũng là ngày chị ở cữ đứa con trai đầu lòng. Thằng bé chẳng có nét gì của bố. Cánh giáo viên ở trường xì xào rằng đứa bé không phải là con của Ngọc “mốc” mà của một ông thầy dạy ở trường sư phạm tỉnh. Tuy vậy, mọi chuyện vẫn bình thường bởi Ngọc “mốc” rất quí đứa bé. Cuộc đời chị có lẽ như thế trôi đi, nếu như không có chuyện một buổi người ta ấn vào tay chị bức điện tín báo tin chồng chị bị cảm và mất đột ngột ở cơ quan. Chồng chị được đưa về chôn cất ở quê. Nhìn cảnh chị khóc lóc thảm thiết trước linh cữu chồng, ai dám bảo là chị không yêu chồng. Chẳng biết người làng nghĩ gì, song riêng tôi thì nghĩ có lẽ chị cám cảnh thân phận mình thì nhiều hơn. Mãn tang chồng, chị Luyến trở về với vẻ cởi mở vốn có của mình. Chị cười đùa nhiều hơn, mắt nhìn đong đưa hơn. Gái một con đầy đặn, mặn mà. Lại khối kẻ nhòm ngó, tán tỉnh… Một thời gian, người làng đồn đại về mối quan hệ kỳ quái giữa chị với ông bố chồng. Người ta bảo là ông bố chồng chị “giữ gian cho con trai ở dưới suối vàng”. Còn ở trường học, mọi người lại thì thầm về việc ông hiệu trưởng “chỉ quí có mỗi mình cô Luyến”. Thật chẳng biết tin vào đâu. Mà thực ra, người ta cần gì phải tin hay không. Miệng thế gian ngoan miễn có chuyện để nói là được.  Chị Luyến lại gây ra một chuyện bất ngờ nữa. Chị xin thôi việc ở cơ quan, mang con bỏ lên mạn ngược với người chị gái. Thế là làng hết chuyện để mà đàm tiếu. Hơn một năm sau, chị Luyến về thăm quê, đi kèm là một chàng trai cao to mang sắp phục công an. Theo lời giới thiệu của chị, người ta biết được ở trên đó, chị xin vào dạy một trường cấp một và chàng trai đi cùng là chồng mới cưới của chị. Anh ta người dân tộc thiểu số, là trai tơ, gặp chị là si mê ngay và đòi cưới bằng được mặc dù biết chị đã qua một đời chồng và có con riêng. Đợt về thăm quê ấy chính là tuần trăng mật của đôi uyên ương. Trời lạnh, chị Luyến diện quần âu, mặc chiếc áo len cổ lọ màu hoàng yến, tay dắt con, đi cùng chồng từ đầu làng đến cuối làng thăm thú hết nhà nọ đến nhà kia. Vẻ hãnh diện và vẻ đẹp rực rỡ kết hợp hài hòa trên con người chị. Người làng chứng kiến cảnh ấy, kẻ khen thực lòng “cô Luyến thế mà may. Dạo này cô ấy trẻ đẹp quá”; kẻ lại dè bỉu “Đồ đĩ thõa. Rồi xem được mấy nả”… Riêng mình, khi ấy đang học cấp hai nói theo kiểu ngươi lớn là “hỉ mũi còn chưa sạch”, tôi thấy chị đẹp quá chừng và tôi vừa mừng, vừa thương cho chị, xen chút ghen tỵ, ước ao sau này mình cũng lấy được một người vợ xinh đẹp và quyến rũ như vậy.  Cuộc đời thật lắm điều chẳng ngờ. Tưởng vợ chồng chị sẽ yên ấm. Ai dè, mấy năm sau lần về quê thăm ấy, chị Luyến lại dắt con về làng. Lần này không có anh chồng đi cùng. Dù cố tình che đi nhưng chị Luyến không sao dấu nổi những vết thâm tím trên khuôn mặt mình, chắc là dấu vết của những trận đòn. Theo bà Ái rêu rao trong làng thì anh chồng chị vốn tính hay ghen, lại cục, hễ bắt gặp vợ mình đi cùng hoặc nói chuyện với người đàn ông nào là xông đến gây sự, rồi về nhà đè vợ ra mà thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Không chịu nổi những trận đòn ghen, chị Luyến đã mang con bỏ về làng và cũng chằng buồn ra tòa ly dị. Bà Ái ví thân phận con gái mình như nàng Kiều.  Chị Luyến ở hẳn quê. Chị xin đi dạy cấp một nhưng người ta không nhận lại nữa. Làng cũng đã chia xong ruộng khoáng nên chị không xin được ruộng để làm. Bà cả Ái thương con bèn xẻ bớt vài sào ruộng trong định suất của mình cho con sinh sống.  Một thời gian dài sau khi tốt nghiệp đại học, tôi nhận công tác xa, lâu lâu mới có dịp về quê. Hỏi thăm, tôi được biết chị Luyến không lấy ai nữa. Mà có lẽ cũng không ai dám lấy mặc dù vẫn không ít kẻ thèm muốn thân xác chị. Chị xin xã được mấy chục thước đất dựng một căn nhà nhỏ ở góc sân kho hợp tác xã lâu ngày bỏ không để rêu mọc và làm ruộng nuôi con. Chị có mua thêm ít nước mắm, dầu thắp bán lẻ cho mọi người những lúc nhỡ nhàng. Thôi thế cũng được, tôi thầm nghĩ. Nào ngờ, nay lại đến bước đường này…!
      *
           *         *
      Một buổi trước kỳ nghỉ kết thúc, tôi gọi thằng con thứ của ông chú để hỏi thêm về chuyện chị Luyến. Nghe xong, nó cười và bảo tôi: - Anh cứ đùa dai. Ở ngoài đó thiếu gì gái đẹp mà phải tìm đến mụ gái già nhà quê này làm gì? - Dào ơi, ông anh lại khéo che đậy. Thôi được, để viết báo hay để làm gì thì cũng mặc, thằng em xin chiều. Nó kể và bày cách cho tôi tiếp cận. Rồi nó bông đùa một cách đểu giả:  - Bọn trai làng từ trung tuần đến choai choai bất cứ ai mụ ta cũng đều tiếp cả. Mụ ta dễ dãi lắm mà. Có tiền thì trả tiền không có tiền thì trả bằng gạo thóc. Hiện vật là được. Không có thì chịu đến lần sau trả một thể. Anh có tin rằng đã có đứa sau khi hành sự, trả mụ bằng bọc mắm tôm không? Ha, ha… - Nó cười - Mụ Luyến mà vớ được anh, dân thủ đô, phóng Cub vèo vèo, bẫm phải biết. Chúc anh một buổi tối sung sướng. Ôkê! Theo chỉ dẫn, tôi tìm đến ổ Luyến. Căn nhà gạch bé nhỏ xây vữa không trát, nép dưới bụi tre bên góc sân kho lở lói. Tôi gõ cửa rụt rè. Tiếng chị Luyến uể oải nhưng tôi vẫn nhận rõ: - Cứ đẩy cửa mà vào.  Tôi lách mình vào nhà và vội vã khép ngay cửa lại. Chị Luyến mặc bộ đò hoa mỏng, nằm chân co chân duỗi trên giường xem tiểu thuyết. Thấy tôi, chị buông sách hỏi: - Anh cần gì? Hình như anh không phải là người ở đây? - Vâng. Tôi… tôi gặp chị. - Gặp tôi à? Vậy thì anh uống nước đi. Có chè pha sẵn rồi đấy. Nếu không muốn uống thì nằm ngay xuống đây với tôi.  Chao ơi, trơ tráo và chai lỳ đến thế là cùng, tôi cay đắng nghĩ. Thấy tôi cúi đầu, chị khiêu khích: - Hay anh không mang tiền? Nếu không sĩ thì chịu cũng được. Anh nằm xuống đây đi, tôi đang mệt, không muốn ngồi dậy đâu.  - Chị Luyến, chị không nhận ra tôi sao? Tôi cố kìm mình để không quát lên. Chị Luyến nhỏm dậy, nhìn tôi trân trân rồi nhếch mép, cái nhếch mép nửa cười khẩy, nửa như mếu: - Đã đến thế này, thì quen biết làm gì… Nhưng thôi, cậu là Nguyên. Cậu tưởng cậu đi xa mà tôi không còn nhận ra nữa sao? Chắc nghe nói về tôi rồi chứ gì? Thảo nào cậu cũng biết đường đến đây! Tôi hiểu ra rồi… Mọi thằng đàn ông đến đây đều xông ngay vào tôi mà cấu xé, còn cậu… Tôi biết cậu đến không vì lý do đực cái mà để lý thuyết, dạy đạo đức, chứ gì? Tôi thêm phần lúng túng bởi sự đáo để đến quyết liệt và tàn nhẫn của chị, song dù sao cũng còn dễ chịu hơn.  - Tôi là nhà báo, chị hiểu cho… - A, thế thì còn tệ hơn! Cậu viết bài đăng báo lấy nhuận bút. Cậu kiếm tiền bằng cách phỉ báng tôi. Cậu cút đi! Tôi không tiếp những người đạo đức giả như cậu. Bọn đàn ông trong làng đến đây, tuy toàn một lũ cục mịch, ngu ngốc, háo sắc và đểu giả ra mặt, nhưng như thế còn hơn bởi dù sao họ cũng thành thực, chứ không như loại lắm chữ như cậu! Chị Luyến rít lên. Tự nhiên, tôi không còn cảm thấy lúng túng nữa mà trong người tôi bừng lên một sự giận dữ. Rồi tôi chùng người xuống. Tự ngồi xuống bàn, tôi rót nước cho mình và đưa cho chị một chén. Châm thuốc hút. Chị Luyến cầm chén nước trên tay, không uống mà cũng không đặt xuống. Im lặng hồi lâu, tôi nhìn sang thì thấy đầu chị cúi gục xuống, vai khẽ rung từng đợt. Chị khóc. Tôi định chào chị và ra về thì chị Luyến lên tiếng: - Cậu đến đây mà không sợ xấu hổ với người làng à? Ngộ nhỡ bây giờ có ai đến, người ta sẽ biết mặt cậu… - Không. Nhưng chị đối xử với tôi còn tệ hơn với đám khách làng chơi của chị, vậy tôi đành về thôi.  - Cậu Nguyên - tôi tự giận mình đấy thôi. Tôi đâu có ngờ mình lại đến nông nỗi này. Lúc tôi mới về làng, còn khó khăn, mấy tay cán bộ xã bốc giàu lên, học đòi thiên hạ, thèm của chua tìm đến tán tỉnh tôi. Tôi cự tuyệt thì họ dọa sẽ gây khó khăn mà đuổi tôi ra khỏi làng. Còn như, tôi chấp nhận thì họ sẽ tạo điều kiện cấp đất làm nhà cho tôi và mấy sào ruộng khoán. Cực chẳng đã, cậu ơi. Lâu thành quen, tôi nghĩ thế cũng nhàn. Bây giờ thì cả làng khinh bỉ tôi, cả mẹ tôi, con tôi… Cái đám đàn ông cũng vậy, họ vừa thèm khát, lại vừa khinh bỉ tôi. Đến nước này, cuộc đời quăng vật, còn gì để mà danh giá, gìn giữ nữa cậu! Đã điều tiếng thì dù mình có thế nào cũng vẫn điều tiếng. Nhiều lúc mệt mỏi, chán nản, tôi muốn chết quách cho xong. Nhưng rồi lại nghĩ đến con… Muốn bỏ nghề, từ chối thì họ lại chửi “Đĩ còn giữ giá”. Thôi thì mặc thây cái cuộc đời này, cũng đáng bỏ đi lâu rồi… - Thế con trai chị đâu? - Cứ tối đến thì nó bỏ đi. Đến nửa đêm mới về, thậm chí cũng không về, bởi nó biết tôi thường có khách. Hồi nhỏ, nó còn chịu được, sau lớn lên một chút, nó hầm hè với khách. Lớn lên nữa nó hiểu, và nhất là sau mấy lần bị tôi mắng, nó bèn nghĩ ra cách ấy. Có khi đến mấy ngày nó chẳng nói với tôi một câu nào.  Ngắm kỹ chị Luyến, tôi thấy chị phai tàn đi nhiều. Chị đã ngoài bốn mươi rồi, qua hai lần đò, bây giờ lại thế này thì còn gì là người nữa. Tôi nén tiếng thở dài. Chợt chị hỏi: - Nghe đâu, Thúy cũng sống ở ngoài đó? - Vâng, gia đình chị ấy cũng tạm ổn.  - Tôi có một đề nghị thế này. Ra ngoài ấy, cậu muốn viết gì thì tùy cậu nhưng không được để đúng tên tôi. Và nhất là, không được nói bất cứ điều gì cậu biết về tôi với Thúy. Chị Luyến lại tức tưởi. Tôi lặng nhìn. Rồi móc túi tiền đặt khẽ lên bàn, lách cửa ra ngoài. Trời đêm đầy vẻ rầu rĩ. Tôi đi giữa những tiếng chó sủa rấm rẳng. Mà tôi để tiền lại làm gì nhỉ. Tiền bạc nghĩa lý gì? Lại một sự ngu ngốc. Nào có ai cần tôi thương vay khóc mướn đâu!... Tháng 9/1992
       
       
      #78
        tamvanvov

        • Số bài : 672
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 26.08.2009
        • Trạng thái: offline
        Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 29.10.2021 16:47:46 (permalink)
        Én xuân  
        Truyện ngấn
         
        Đầu xuân, Duy đi công tác lên biên giới phía Bắc. Anh cùng vài ba phóng viên trẻ của các tờ báo bạn được một ngành chức năng tổ chức đi thực địa khảo sát tình hình cai nghiện thuốc phiện ở vùng rừng núi. Đến thị xã Cao Bằng, đoàn dừng lại lâu hơn bởi đây là trọng điểm của chuyến đi. 
        Mấy hôm đầu đến các điểm cai nghiện tập trung, tiếp xúc với những con nghiện phần lớn đều ở độ tuổi trên dưới đôi mươi và khi hỏi chuyện, họ đều xem như chuyện hút xách là nhu cầu tự nhiên thì anh không khỏi rùng mình. Đến như anh, chỉ mắc mỗi tật nghiện thuốc lá, anh đã gặp bao nhiêu điều phiền nhiễu, nào vợ con kêu anh là “bếp than tổ ong khói um”, nào ngồi làm việc phòng máy lạnh mỗi khi hút thuốc lại phải ra ngoài hành lang, rồi lúc yếu người vừa hút vừa ho sù sụ… Sau đó, theo sự hướng dẫn của cán bộ chuyên trách sở tại, đoàn của Duy xuống các cụm dân cư ở vùng ngoại ô thị xã xem xét việc cai nghiện tại cộng đồng. Mọi người dừng trước một căn nhà mái bằng nhỏ và xinh xắn. Người cán bộ sở tại giới thiệu rằng chủ nhà là một người vừa cai nghiện đã dứt cơn, hiện đang ở trong thời kỳ phục hồi sức khỏe. Chủ nhà mới ngoài hai mươi chút ít. Anh ta pha trà mời mọi người. Theo thói quen nghề nghiệp, không đợi làm xong các thủ tục xã giao ban đầu, Duy bấm nút chiếc máy ghi âm nhỏ và hỏi chuyện luôn bởi anh hiểu như thế câu chuyện sẽ thoải mái hơn, hiệu quả hơn. Trong lúc anh hỏi chuyện, mấy cậu phóng viên trẻ tản đi quanh nhà. Thì ra, họ đang hỏi chuyện cô vợ chủ nhà ở buồng trong. Lúc anh bước vào thì liền đó, mấy ánh đèn flash nhoáng lên. Anh nhẩm bụng, mấy cậu này ranh mãnh thật. Trong lúc anh chồng mải nói chuyện với anh, các cậu đã tìm được cô vợ, thuyết phục cô để chụp mấy pô ảnh cảnh cô đang cho con bú, tạo ra một xen tuyệt vời về chủ điểm hạnh phúc gia đình. Xong việc, cô vợ trẻ bế đứa con mới sinh được ba bốn tháng bước ra chào tiễn khách. Duy hơi sững người. Người mẹ trẻ này có khuôn mặt khá xinh xắn, đôi mắt to thoảng chút u buồn trước tuổi và mái tóc đen dày, xoăn tự nhiên để dài đến eo lưng, được tết thành chiếc đuôi sam nặng trĩu. Từ gương mặt, ánh nhìn đến dáng vóc cô đều gợi lên trong Duy về một thiếu phụ mà anh đã tình cờ gặp gỡ cũng tại thị xã địa đầu này từ mười lăm năm trước. Cô gái hôm nay và thiếu phụ năm trước giống nhau đến lạ lùng. Chẳng lẽ, hai người là mẹ con của nhau? Có thể lắm chứ. Ngày ấy, người thiếu phụ cũng có một đứa con gái chừng năm, sáu tuổi, và bây giờ cũng bằng chừng này. Duy định hỏi cô gái một vài câu, song anh chợt nhận ra, cho đến lúc này anh cũng không biết tên thiếu phụ năm trước tên là gì…
         
             *
             * *
                   gày ấy anh còn rất trẻ, tốt nghiệp Tổng hợp văn xong là anh chuyển sang bộ đội. Đơn vị của anh đóng ở Ba Bể. Một lần hành quân dã ngoại và luyện tập tìm địa hình, cả đơn vị từ nơi đóng quân ngược lên thị xã Cao Bằng. Đường đi gieo neo hiểm trở. Gần tới thị xã thì trời đã tối. Đêm mùa đông sập xuống nhanh chóng, sương giăng mờ mịt. Toàn đơn vị được lệnh tản ra và mỗi người tự tìm nơi nghỉ đêm trong dân. Lúc đầu anh hơi lo vì nghĩ rằng không biết mình có tìm được nhà nào xin ngủ nhờ hay không, hay là đành ngủ ngoài phố vậy. Chợt anh nhớ ra, cùng khóa học với anh có một cậu người thị xã này, anh sẽ tìm nhà cậu ta để ngủ nhờ. Nhưng rồi anh tìm mãi không thấy, bởi anh chỉ nhớ mang máng tên phố, vả lại việc tìm nhà lúc đêm hôm ở cái thị xã miền núi sau chiến tranh này thật chẳng khác gì việc tìm kim đáy bể. Anh mệt mỏi quẳng ba lô và bệt ngay xuống đất vừa thở vừa nghĩ. Già nửa thị xã mất điện tối om om. Ánh mắt anh bắt gặp ánh đèn dầu hỏa le lói lọt qua khe cửa của một căn nhà phía trên cao cách nơi anh ngồi không xa. Anh nhẩm bụng, đánh bạo tìm đến ngôi nhà đó xin ngủ nhờ. Quả quyết vậy, anh đeo ba lô lên vai mò đường đi. Rẽ phải rồi rẽ trái mấy lần, anh tìm được tới chân bậc đá. Lại lần sờ tay, leo một hồi theo các bậc đá, anh mới tới sân nhà. Anh đứng thở giây lát, trấn tĩnh và khẽ gõ cửa. Không thấy tiếng người, thưa anh lại gõ. Lần này, anh nghe tiếng phụ nữ hỏi ra: “Còn biết đường mà về nhà à?”. Anh hiểu là người trong nhà nhầm anh với một ai đó, song anh cũng không biết nói thế nào, bèn gõ cửa thêm. Người phụ nữ cất tiếng nửa giận dữ, nửa ấm ức: “Sao anh không đi hẳn đi… Đi khuất mắt cho mẹ con tôi được yên”. Trong nhà, người phụ nữ vỡ tiếng khóc. Anh định lên tiếng cải chính nhưng tự nhiên nghẹn lại. Từ lâu lắm rồi, khi anh còn bé, đã có lần anh thấy mẹ anh khóc như vậy, đó là lần bố anh thua bạc hết cả số tiền mấy mẹ con anh dành dụm để sắm Tết và mua quần áo mới cho anh và lũ em. Anh cay cay nới sống mũi. Người phụ nữ đã bớt khóc, chỉ còn tiếng thổn thức khe khẽ. Anh ghé vào khe cửa nói nhỏ: “Chắc chị nhầm tôi với anh nhà… Tôi là bộ đội, đi hành quân, lỡ độ đường, xin gia đình cho nghỉ nhờ qua đêm”. Người phụ nữ trong nhà hốt hoảng: “Ấy chết… Tôi nhầm, tôi xin lỗi”. Im lặng một chút, chị ta bảo: “Tôi không dám cho anh nghỉ nhờ đâu. Đàn ông vắng nhà… Không được… Ngộ nhỡ!...”. Anh lắp bắp: “Tôi là bộ đội thật mà!... Còn như, chị thấy phiền thì tôi đi vậy… Không sao cả. Tôi sẽ tìm được nhà khác cho ngủ nhờ”. Ngần ngừ một lát, anh chào: “Thôi tôi di nhé”. Anh quay người, lần tìm bậc đá trở xuống. Chợt sau lưng anh, tiếng chị ta gọi: “Anh gì ơi! Đừng đi nữa… Anh vào nhà đi, thế nào tôi cũng thu xếp được mà”. Anh định đi để không làm phiền chị ta nhưng nghe tiếng gọi thân thiết quá chừng, anh đành quay lên. Người phụ nữ đã mở tung cửa, tay chị cầm đèn soi cho anh bước vào. 
        Sau những câu xã giao, chị lấy nước cho anh rửa mặt, rồi pha nước cho anh uống. Chị hỏi anh đã ăn chưa, anh từ chối nhưng chị vẫn ép anh ăn một bát cơm nếp sắn. Vừa ăn, anh vừa ngầm quan sát, căn nhà tuy nhỏ nhưng gọn ghẽ. Nhìn chiếc bàn con kê góc nhà, trên để mấy quyển sách và tập giáo án, anh hiểu chị là giáo viên. Đứa con gái của chị thấy người lạ cứ nem nép bên mẹ, thỉng thoảng lại khẽ nhõng nhẽo điều gì đó làm mẹ nó gạt đi. Anh hỏi chuyện và đùa với nó nhưng nó chỉ nhìn anh không nói gì. Mọi việc xong xuôi, hai người ngồi bên ngọn đèn và chẳng biết nói chuyện gi cả. Lúc này anh mới có điều kiện ngắm kỹ, chị còn khá trẻ và có lẽ chỉ cỡ tuổi anh hoặc nhỉnh hơn đôi chút. Chị có khuôn mặt vẻ phúc hậu. Nhìn chị, anh nghĩ sao người trông phúc hậu lại sớm vất vả vậy. Anh hiểu người chồng của chị chắc mắc mớ chuyện gì đó và đã bỏ nhà đi đâu một thời gian vì thế mới có chuyện nhầm lẫn ban đầu. Anh nhìn đồng hồ tay, đã gần nửa đêm rồi, chẳng nhẽ cứ ngồi mãi thế này, anh bèn giục chị đi ngủ. Cả nhà chỉ có một chiếc giường to, chị áy náy vì chưa biết để anh ngủ đâu thì anh đã lôi từ ba lô ra chiếc võng và tìm nơi để mắc. Chiếc võng của anh mắc song song với chiếc giường nơi mẹ con chị nằm và chỉ cách nhau một tầm với. Sau khi anh ngả lưng xuống võng, chị mới hãm nhỏ ngọn đèn dầu, đặt lên bàn và vào màn nằm với con. Anh không ngủ được, nghĩ về cảnh ngộ của mình lúc nãy và bật cười khẽ. Chị cũng không ngủ được bèn hỏi sang: “Anh cười gì thế? Chắc cười chuyện tôi nhầm anh với nhà tôi lúc nãy?”. Anh lại cười: “Ồ không, tôi đang nghĩ là nếu như chồng chị về nhà lúc này thì sẽ thế nào nhỉ?”. Chị không trả lời, lát sau khẽ thở dài. Anh biết mình vô duyên nhỡ lời. Song quả nếu như chồng chị ta về nhà đêm nay thì chuyện gì sẽ xảy ra? Lại nghen tuông, nhầm lẫn chưa biết chừng đánh nhau cũng nên. Nghĩ rồi anh thấy lo lo. Chợt chị lên tiếng: “Anh nói quả có lý… Anh cũng chưa ngủ, hay ta nói chuyện gì đi, tôi không ngủ được”. Anh đồng ý, chị bảo: “Anh nói thế làm tôi làm tôi sinh lo. Ngộ nhỡ nhà tôi về, thật khó mà giải thích. Tình ngay lý gian…”. Anh hỏi: “Vậy anh ấy đi đâu bấy lâu nay?”. Chị lại thở dài: “Nói ra sợ anh chê cười. Xấu chàng thì hổ ai… Nhưng mà tôi cũng không có ý định giấu anh làm gì cả. Có lẽ, lúc này nói ra được với anh, không phải cầu lấy chút cảm thông của anh, mà lòng tôi nhẹ đi được chút nào chăng?”. Và chị kể. 
        Chị là người Kinh ở dưới xuôi theo gia đình đến đây lập nghiệp từ khi chị còn bé. Chị học trung cấp sư phạm và được điều động về một xã vùng ven thị xã dạy cấp một. Chồng chị bây giờ là người Tày gốc xã đó nhưng ra thị xã làm công nhân. Anh ta to khỏe, đẹp trai và tính tình rất thực thà. Hai người gặp nhau và yêu nhau. Lúc đầu chị còn ngần ngại nhưng anh ta si mê chị và bỏ bê cả việc làm để suốt ngày bám theo chị. Hai người thành hôn rồi thì chị mới biết là anh ta có tật nghiện thuốc phiện. Những ngày đầu, chị khuyên can, anh có bớt hút nhưng không bỏ được. Chị nghĩ, dần dà rồi sẽ giúp anh bỏ hẳn. Và năm tháng cứ thế đi qua. Đứa con ra đời. Chị trút tình thương vào đứa con và thầm hi vọng, vì hạnh phúc gia đình chồng chị sẽ dứt được nghiện ngập. Tiền lương của hai vợ chồng chỉ tùng tiệm đủ để sống, thế nhưng phải chi thêm vào khoản nghiện hút của chồng nên sinh túng thiếu. Anh ta thề sẽ quyết chí làm giàu. Một thời gian sau, anh ta đem về nhà khá nhiều tiền và xây căn nhà này. Chị hỏi thì anh ta chỉ cho biết là có buôn bán thêm. Và một lần, do tình cờ, chị biết chồng chị tham gia vào một nhóm buôn thuốc phiện lậu. Gia đình sinh lục đục, rạn nứt. Anh ta bỏ việc, suốt ngày đi đâu đó, hút xách và lâu lâu lại làm một chuyến thuốc kiếm tiền để hút. Và đến lúc ấy, anh ta đã bỏ nhà đi lâu hơn một tháng rồi…
        Chị kể mà rân rấn nưới mắt. Anh cảm thông nhưng không biết khuyên giải thế nào. Vả lại, lúc ấy có khuyên thì cũng chẳng khác nào khía sâu thêm nỗi buồn phiền cay đắng của chị. Chợt trong nhà đèn dầu tù mù, anh nhìn nơi hốc tường góc nhà có một vật gì trắng xám mông mốc, anh bèn hỏi để lảng chuyện khác, để chị quên chuyện buồn. Chị bảo: “Tổ chim én đấy”. Anh ngạc nhiên thực sự: “Chim én. Sao chim én lại làm tổ trong nhà thế nhỉ? Tôi không tin!”. Chị cãi lại: “Thật mà. Có một đôi én làm tổ ở đó đã ba năm nay rồi. Năm nào cũng vậy, cứ đông về là chúng bay đến phương nam, đến độ cuối đông, xuân sắp về là chúng lại quay về đây. Chúng đúng hẹn lắm. Có lẽ chỉ ít ngày nữa là chúng trở về… Đôi chim quyến luyến, ríu rít nhau lắm!”. Anh chẳng biết nói gì, miệng lưỡi của chàng cử nhân văn khoa như cứng lại. Một lúc lâu anh mới thốt lên: “Thiên nhiên thật là kỳ diệu”. Chị đáp theo: “Vâng… Sao mình là người mà không bằng được chim!”. Nghe chị, anh rưng rưng. Chị bảo: “Thôi ta ngủ đi. Ngày mai chắc anh còn phải hành quân… Còn tôi cũng phải lo bao nhiêu là việc”. Nói rồi chị trở mình quay mặt vào trong. Im lặng. Anh lén đưa mắt nhìn sang, chỉ thấy qua bức màn, mái tóc dày quăn của chị xòa trên gối, đường cong từ bờ vai chạy xuống eo, vòng lên hông và thuôn về phía chân thật mềm mại. Anh lẩm bẩm trong miệng: “Con người thật là kỳ diệu”…
        Đã nghe tiếng chị thở đều đều. Anh nằm ngửa trên võng, nhìn mông lung lên trần nhà. Một tình cảm vừa thương xót, cảm thông, vừa rạo rực khát khao dâng lên trong lòng. Anh đặt hai tay lên ngực mình nén xuống, nhè nhẹ, nhè nhẹ,… Và anh ngủ lúc nào không biết. 
        Anh và chị nắm tay nhau chạy trên bờ sông. Bạt ngàn những dâu. Dâu lúc lỉu quả. Những quả dâu to và chín mọng. Anh vít một cây dâu to, hái lấy mấy quả dâu chín. Anh xòe lòng bàn tay nhón từng quả đưa vào miệng chị. Chị vừa nhai vừa trêu đùa anh. Nước dâu ứa ra bên khóe miệng chị tím xịm. Anh ghé môi khẽ liếm chút nước dâu trên khóe miệng chị và thấy ngọt ở đầu lưỡi. Chị vùng ra, chạy ào xuống mép nước, anh vùng đuổi theo. Chị lội xuống nước và khi anh ào tới nơi thì chị chụm hai tay té nước vào mặt anh. Anh nhao xuống, chị quay người lội ra giữa dòng nhưng nước sâu không lội được. Chị chới với và anh nhoài người ra ôm chặt lấy chị. Anh xốc chị lên. Tóc chị ướt đẫm, quần áo dán vào người. Khuôn ngực nở hô cao của chị chạm vào ngực anh. Và anh ôm ghì lấy chị… Anh thấy mình bồng bềnh, khoan khoái…
        Và anh mở mắt. Vật anh nhìn thấy đầu tiên là tổ chim én nơi góc nhà. Anh bần thần giây lát nghĩ xem mình đang ở đâu. Anh hiểu ra. Anh khẽ cười. Chợt anh nhớ là chị đang ngủ ở chiếc giường bên cạnh võng của anh, bèn nhìn sang. Chị đã không còn nằm ở đó, chỉ còn đứa bé gái con chị. Anh nhìn qua khe cửa ra sân, trời đã rạng. Anh ngồi dậy và ra khỏi võng. Nhìn quanh quất, cửa trước vẫn chốt trong. Thì ra căn nhà còn có cửa hậu. Anh khẽ đẩy, cánh cửa hậu mở ra và anh bước xuống mảnh sân sau con con. Trước tầm mắt của anh là dòng sông. Đúng là sông Bằng rồi. Dòng sông mùa cạn nước thu lại thành một dải manh mảnh. Hai bên bờ cũng toàn là dâu. Những cây dâu thân cao gày khẳng khiu, loáng thoáng búp lá nõn. Anh nhìn kỹ nhưng chẳng thấy có trái dâu nào như giấc mơ đêm qua. Anh ngơ ngần chẳng hiểu chị chủ nhà đi đâu. Và anh ngửi thấy mùi khói bếp, rồi mùi ngô nướng thơm thơm. Anh nghĩ, chị ấy đây rồi. Và anh đi về phía căn bếp nhỏ, ở góc sân sau. Đến bên cửa bếp, anh dừng lại nhìn vào. Chị đang ghé đầu thổi lửa. Những bắp ngô hồng lên trên than. Không quay lại, chị hỏi nhỏ: “Anh đã dậy rồi đấy à?”. Anh thấy vui vui trong lòng và bông lơn: “Ồ, tôi ngủ say quá. Sợ không biết có ngáy làm chị mất ngủ không?”. Chị cũng tươi tỉnh: “Không đâu… Chắc anh mơ thấy điều gì hay lắm… Buổi sớm tôi dậy nhóm lửa, đi ngang qua võng thấy anh khẽ cười trong giấc ngủ… Anh thật hạnh phúc!”. Chị cười. Anh cảm thấy thế. Anh nói: “Tôi mơ thấy…”. Chỉ chút nữa là anh bật ra câu nói: “Mơ thấy chị”, nhưng anh kịp dừng lại, và anh vội chữa: “Mơ thấy đôi chim én trở về”. Và thật kỳ lạ thay, tai anh nghe vẳng đâu đó tiếng chim chíp chiu… 
        Chị tiễn anh. Trong ba lô của anh có mấy bắp ngô nướng. Anh đi chậm rãi từng bậc đá. Xuống tới chân dốc vườn. Anh quay nhìn lên. Chị vẫn đứng ở nơi đầu dốc. Và cách chị chút ít là cây đào lổ trổ đôi ba nụ phớt hồng. Anh nhìn chị trân trân. Chị đưa bàn tay lên ngang bờ vai khẽ vẫy. Anh thấy mình phấn khích, bắc tay làm loa với lên: “Đôi chim én sẽ trở về…!”. Anh nhìn chị lần cuối và quay lưng bước đi, miệng lẩm bẩm: “Đôi én xuân sẽ trở về. Trở về…!”.
        Đã từng ấy năm rồi. Anh không biết đôi chim én có trở về đúng hẹn hay không? Ừ mà không biết có phải đúng đó là tổ chim én thật không, hay chị chỉ bịa ra thế để lúc ấy có chuyện mà nói, để chị tạm quên đi cảnh ngộ hiện tại của mình, tự xoa dịu lòng mình, và để anh hiểu là chị vẫn sống rất lạc quan?
        Với anh, cái đêm ấy thật đặc biệt mà cũng lại bình dị. Thực ra, chỉ là chuyện của một chàng lính thư sinh lỡ độ đường ngủ nhờ nhà một thiếu phụ có cảnh ngộ éo le. Cái đêm ấy sẽ chẳng là gì nếu như không có câu chuyện về đôi chim én đi trú đông cứ đến độ xuân sang lại ríu rít trở về chốn cũ; nếu như không có giấc mơ về bãi dâu ven sông, và cảm giác va chạm da thịt; nếu như không có những bắp ngô nướng thơm lừng mà chị nướng vội để nhét vào ba lô của anh; và nếu như không có cây đào lác đác trổ hoa nơi đầu dốc ngõ vườn… Anh ra đi mang theo trong lòng niềm hứng khởi về cuộc sống. Còn chị, chị sẽ lập tức phải trở về với đời sống thực tại gia đình có người chồng nghiện ngập… Gía như anh không tới, không xóc vào cái đời sống bế tắc của gia đình chị thì có phải chị cứ cam tâm sống như vậy, chịu đựng như vậy một cách bình thản không! Liệu sự xuất hiện của anh có đem đến cho chị một liều thuốc phiện hay không? Hút một lần rồi để không bao giờ có nữa. Đấy là anh cứ tự huyễn hoặc vậy, chứ có thể với chị, câu chuyện đêm ấy chỉ là một cơn giớ từ sông Bằng thoảng qua. Thậm chí, có khi chị còn buồn cười vì đã làm cho anh tin một cái tổ tò vò vớ vẩn nào đó là tổ chim én, tin rằng đôi én xuân là một sự kỳ diệu của trời đất!...
        Duy cứ tự lục vấn mình như vậy. Suốt dọc đường từ Cao Bằng trở về Hà Nội, anh luôn bị ám ảnh rằng người mẹ trẻ anh vừa gặp là cô bé con thiếu phụ năm nào. Nếu đúng, thì trời đất thật trớ trêu. Nhưng dẫu sao, anh chồng trẻ của ngày hôm nay đã biết nhấn phanh đúng lúc trên cái dốc trượt thăm thẳm của sự đam mê bệnh hoạn. 
        Một cú xóc nảy người. Xe đang phóng nhanh vượt qua chiếc ổ trâu giữa đường không kịp giảm tốc độ. Mấy cậu phóng viên trẻ đang ngủ gà ngủ vịt bừng tỉnh hét lên, rồi sau đó câu chuyện giữa họ lại râm ran. Anh nhìn ra bên ngoài, một cây đào phai chơ vơ bên mỏm đá rìa đường, hoa nở bung, cánh phớt hồng rắc tơi bời trong tiết muộn…
         


         
          
          Đã mang vào thư viện
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 14.03.2022 15:41:45 bởi Ct.Ly >
         
        #79
          tamvanvov

          • Số bài : 672
          • Điểm thưởng : 0
          • Từ: 26.08.2009
          • Trạng thái: offline
          Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 02.12.2021 17:43:24 (permalink)
           
          Vĩ nhân nằm bàn
          TRUYỆN NGẮN
                   Họ có ba người. Thắng, Phó tiến sĩ vật lý học ở Liên Xô về, hiện công tác ở một Viện nghiên cứu. Hữu, cán bộ nghiên cứu văn học cổ. Và Kiên, nhà báo. Họ cùng chạc độ tuổi “Tam thập nhị lập”. Ba người quen nhau trong một cua học tiếng Pháp buổi tối. Buổi học đầu tiên, hoàn toàn do ngẫu nhiên mà họ ngồi cùng bàn với nhau. Rồi hứng lên, họ rủ nhau vào quán trà ngay trong sân trường làm một chầu thuốc nước. Đến lúc trả tiền thì cả ba đều tranh trả, song cô bán hàng trẻ đẹp cũng rất am hiểu tính khí của đám trí thức nghèo vốn hay sĩ diện, nên đã nhận tiền của cả ba chàng, tính tiền cho từng người, rồi trả lại tiền thừa cẩn thận, với mỗi chàng đều kèm theo một nụ cười tình tứ khiến ba chàng đều ngượng nhưng rất đẹp lòng.
          Sau đó dần dà họ hiểu nhau hơn. Cả ba đều có một điểm giống nhau là cùng Celibataire. Nhưng đến với tiếng Pháp thì họ lại có những động cơ khác nhau. Với Thắng, tuy nói thạo tiếng Nga như tiếng mẹ đẻ, song nhu cầu cấp thiết thêm một ngoại ngữ khác nhất là trong thời buổi bùng nổ về thông tin này thì không phải là thừa, nhưng lại chê tiếng Anh là bị “thương mại hóa”.  Còn Hữu, ngoài chút vốn liếng về tiếng Hán, một thứ ngôn ngữ cổ có chữ tượng hình, khi cần có thể tra cứu tạm các văn bản, thư tịch cổ, chàng mơ ước dịch được một số tác phẩm văn học từ nguyên bản tiếng Pháp. Riêng với Kiên, chàng nhà báo lang thang, kiết xác mang trong mình một chút mộng mơ thi sĩ thì thích tiếng Pháp bởi chàng cho đó là thứ ngôn ngữ nhẹ nhàng, tinh tế, để nói với người tình. Tuy nhiên, có một lý do giống nhau mà cả ba đều nghĩ đến song không ai nói ra, nhưng thâm tâm họ đều hiểu nhau, đó là tìm đến với lớp ngoại ngữ buổi tối - vốn nổi tiếng là để “nên vợ nên chồng”, với ít nhiều hy vọng tìm thấy tại đây người bạn đời.
          Thoạt đầu, Kiên theo địa chỉ mà Hữu ghi lại cho anh tìm đến thăm Hữu. Đó là một chiều chủ nhật. Tới nơi, Kiên mới biết đó là cơ quan. Bác gác cổng già tốt bụng chỉ dẫn cẩn thận cho anh. Kiên lần theo hành lang tối om, sực mùi ẩm mốc đến một căn phòng khuất hẳn phía trong. Ánh điện vàng vọt hắt ra khe cửa nên vừa hé mắt nhìn vào Kiên đã nhận ra Hữu đang nằm ngửa trên hai chiếc bàn buyrô ghép lại với nhau, đọc sách.
          Bonjour monsieur - Kiên đẩy cửa chào to.
          - A… Cơn gió lành nào đã đưa người đến đây? Hữu cũng reo to không kém
          - Này, thế chủ nhật là cậu không đi chơi đâu à? Cứ nằm đây mãi rất có thể người cậu bị bốc mùi như tịch cổ mất.
          - Thì cậu bảo đi đâu bây giờ? Thế còn cậu?
          - Thì cậu thấy đấy, ít ra tớ cũng đã hòa mình vào dòng người trên phố, tìm đến đây thăm dinh cơ của cậu.
          - Của đếch gì tớ. Của thiên hạ mà tớ là ông chủ bất đắc dĩ và còn có phần vô trách nhiệm nữa chứ.
          - Thôi mời ông chủ xuống tiếp khách cho, cứ ngự mãi trên long sàng như thế thật bất lịch sự đấy.
          Trong lúc Hữu chạy ra ngoài quán mua chè, Kiên đi lại quanh quẩn trong phòng và mắt anh bắt gặp mấy chiếc xoong con và bát đũa giấu dưới gầm tủ. Hữu về, pha chè. Kiên móc túi lấy ra bao Hêrô đã hút dở.
          - Sang nhỉ? Hữu khen.
          - Sang chứ! Có điều là của thiên hạ. Mình làm nghề chống tiêu cực nên thỉng thoảng có vị khách đến hỏi điều này điều nọ… và khi đứng lên ra về, bao giờ họ cũng cố tình quên không cầm theo thuốc. Lúc đầu mình nhắc nhưng thấy chẳng vị nào chịu nhận lại, sau đó thành quen, mình cũng mặc kệ.
          - Này, tớ hỏi nhé, Hữu vòng vo - Thấy tớ thế này cậu có ngạc nhiên không?
          - Không. Đến cổng là mình hình dung ra ngay, bởi mình cũng chẳng khác gì cậu là bao.
          - Có nghĩa là…
          - Nằm bàn.
          - Tớ lại cứ nghĩ cậu có nhà.
          - Thì mình có ở trong Toilette đâu. Phòng làm việc của mình lạ lắm. Đó là hai khối tam giác ghép lại với nhau. Mình kiếm được chiếc bàn rộng, kê vào một góc, chăng bên ngoài chiếc riđô. Sang đáo để. Hôm nào cậu đến sẽ rõ.
          - Mà này, tớ cũng nghĩ là Thắng chịu chung số phận như ta.
          - Không đâu, cơ quan hắn sang lắm, và lại hắn là phó tiến sĩ, ai nỡ để vậy.
          Và rồi trước khi chia tay nhau, họ hẹn chủ nhật tuần tới sẽ người ngựa ngậm tăm đến thăm Thắng. Ai thua cuộc sẽ phải chịu đãi một chầu bánh rán.
          Y hẹn, hai người đạp xe ra rìa thành phố. Cơ quan Thắng nhìn bề ngoài vẻ bề thế, bên trong có khu tập thể kiểu nhà ngói mái tạm. Kiên khấp khởi mừng nghĩ mình sẽ thắng cuộc nên xông vào trước. Chợt nhác thấy Thắng mặc bộ pi-ja-ma đi vào một phòng trong dãy nhà đó.
          - Này Hữu, cậu nhìn cho kỹ xem, đúng là chàng Thắng kia.
          Quả đúng là Thắng. Thấy bạn, Thắng tay bắt mặt mừng. Liếc vào bên trong thấy bóng dáng phụ nữ. Kiên ngạc nhiên:
          - Cậu lấy vợ hồi nào vậy?
          - Đâu có - Thắng ngẩn người - Chợt hiểu ra - Thôi rồi, các cậu bé cái nhầm. Chị đây cùng phòng làm việc với mình, chồng chị là sĩ quan quân đội nên thường xuyên vắng nhà…
          Hữu ghé sát Thắng đùa nhỏ:
          - Vì vậy tổ chức phân công cậu thường xuyên đến nhà động viên?
          - Bậy nào - Thắng cười rất tươi - Tớ đến thường xuyên nhưng không có trách nhiệm động viên mà để gửi tiền nhờ đi chợ giúp.
          - Chao ơi, chàng phó tiến sĩ nhà ta quả là “gà công nghiệp” trước biến động của thị trường.
          Thế rồi, cả ba kéo nhau vào một chiếc quán ngay gần cổng cơ quan. Hữu gọi một chai rượu. Thắng chạy đi mua thêm mấy chiếc bánh đa to tướng. Cuộc vui bắt đầu. Bác gái chủ quán tốt bụng thương tình, vét vại cho một đĩa dưa muối chua và bát tương ớt, làm bữa tiệc thêm phần thịnh soạn. Khi đã ngà ngà. Hữu gật gù dáng vẻ triết gia:
          - Tớ nghĩ kỹ rồi các cậu ạ. Cứ như bọn mình đây lại hóa hay. Các cậu cứ nghĩ mà xem, biết đâu rồi chúng mình lại chẳng thành những vĩ nhân cũng nên? Trong bọn mình, không đứa nào dốt. Đúng không?
          - Đúng vậy! Thắng gật gù đồng tình.
          - Thế thì vì cớ gì mà chúng mình không thành các vĩ nhân nhỉ? Này nhé, không vướng víu vợ con, có chí, có học, còn thời gian thì… vô khối. Tớ vẽ cho các cậu thấy cảnh sống của giới trí thức thành phố: Sáng ngủ dậy ăn quà rồi vội vã đến cơ quan; chiều về đi uống bia hoặc không thì về nhà xem báo chờ vợ nấu cơm; buổi tối xem ti vi hoặc bảo cho con học, và ngủ. Một vòng khép kín. Cứ thế vòng nọ chồng lên vòng kia. Mấy mà hết đời người. Hà… chúng ta thì không!
          - Xem ra cũng có lý đấy, song e rằng chúng ta mắc bệnh vĩ cuồng cũng nên - Thắng chọc thêm vào.
          - Chúng ta sẽ trở thành các vĩ nhân - Kiên tủm tỉm - Các vĩ nhân nằm bàn.
          - Đúng vậy. các vĩ nhân nằm bàn. Muôn năm! Hữu kêu to.
          Tiếng kêu của Hữu làm cháu nhỏ của bà chủ quán tỉnh ngủ, khóc inh ỏi. Bữa tiệc đến đó là chấm dứt.
           
                                                          *
                                                      *       *
          Các buổi học sau đó vẫn diễn ra đều đặn một tuần ba tối. Đến gần cuối cua học thì Thắng hay tách ra đi lẻ và ít tham gia vào các cuộc tán gẫu có hơi men. Với nhạy cảm, Kiên đoán Thắng đã tìm được bạn gái. Dự đoán không nhầm. Trong thời gian chờ trường mở tiếp cua B, Thắng báo tin cưới vợ. Vợ chưa cưới của Thắng là một cô gái học lớp tiếng Anh bên cạnh, con gia đình cán bộ khá giả, có vẻ vì cứng tuổi và cũng không lấy gì xuân sắc cho lắm, hoặc giả vì duyên số, nên gặp Thắng là bén luôn. Kiên và Hữu đều đến dự đám cưới. Đám cưới to, tổ chức theo đúng bộ lệ thành phố, nghe đâu phần lớn là do bên nhà gái bỏ ra, khách nhà Thắng mấy người lèo tèo từ quê ra, cung cách rụt rè. Lúc về, Hữu hỏi Kiên:
          - Chắc nhà gái bỏ tiền ra tậu một chàng rể phó tiến sĩ lấy tiếng.
          - Chỉ nói lung tung - Kiên ngăn - Bây giờ còn đâu kiểu lấy tiếng.
          - Tớ thì tớ nhất địng không lấy vợ nhà giàu - Hữu nói - Suất gầm trạn ngán lắm.
          - Con gái nhà giàu nó thèm vào lấy cậu - Kiên đánh lảng - Thế là một vĩ nhân phá thế độc thân.
          Sau khi cưới vợ, Thắng bỏ dở cua ngoại ngữ. Hữu học hành bữa đực bữa cái, chỉ có Kiên là nghiêm chỉnh. Cua B vừa kết thúc thì Hữu cũng báo tin lấy vợ. Không ngạc nhiên song Kiên vờ hỏi:
          - Cậu không đùa đấy chứ?
          - Một trong ba việc quan trọng của đời người, không thể đùa. Mặt Hữu có vẻ nghiêm trang khác vẻ hài hước thường ngày.
          - Vĩ nhân cũng cần có vợ à?
          - Mình nghĩ kĩ rồi - Hữu nhoẻn cười - Một vĩ nhân mà không có vợ thì chỉ là vĩ nhân một nửa.
          - Cũng lại một suất gầm trạn chứ?
          - Ô… Non pas - Hữu kêu lên - Vợ mình là một thím bộ đội mới thoát cảnh chân lấm tay bùn vài năm nay. Cũng gần như nằm bàn tại đơn vị. Một thím khác cùng phòng đã nhanh chân lấy chồng trước nên chiếc giường duy nhất biến thành giường cưới của họ.
          - Hỏi thật nhé, rồi vợ chồng cậu sẽ… ngủ với nhau ở đâu?
          - Còn ở đâu nữa! Ở trên bàn.
                    - Ha, ha… Kiên bật cười - và rồi các vĩ nhân con cũng lần lượt chào đời ở trên bàn. Tuyệt thật!
                    Đám cưới của Hữu được tổ chức nhanh chóng. Theo Hữu thì cưới vợ thì phải cưới liền tay, để lâu sẽ sinh mất nhuệ khí. Tổ chức theo kiểu mít tinh hô khẩu hiệu, ông chính trị viên đơn vị vợ Hữu vẫn giữ cung cách cũ, nghĩa là tràng giang đại hải, căn dặn cô dâu chú rể vui duyên mới không quên nhiệm vụ hết già nửa thời gian. Tan, Hữu tiễn bạn:
                    - Cưới mình mà sao cậu rầu rầu thế nào ấy?
                    - À… Mình thương cho các cậu và cám cảnh mình. Cậu thử về soi gương xem, mặt cậu đâu khác gì mặt mình.
                    - Thế thật… - Hữu bần thần - Sao không thấy Thắng nhỉ?
                    - Chắc hắn bận. Nghe đâu dạo này hắn cùng bố vợ áp phe gì đấy.
                    Thời gian sau, nhóm ba người gần như tan bởi họ ít có dịp gặp nhau. Riêng Kiên, ngoài công việc cơ quan anh tâm niệm làm một cái gì đấy, song rồi cũng vẩn vơ không làm được việc gì. Vẫn son rỗi, những lúc buồn anh muốn ghé nhà bạn tâm sự song lại sợ bạn mất việc. Ai cũng có gia đình của họ với biết bao sự lo toan. Một hôm, Kiên tình cờ gặp Hữu và hai người lại kéo nhau vào quán. Hữu thông báo hai tin quan trọng. Thứ nhất,vợ đã có thai; và thứ hai, sắp được cơ quan phân nhà cho, tuy hơn chục mét vuông thôi nhưng ở ngay phía sau cơ quan.
                    - Cả hai tin đều đáng mừng - Kiên thành thực vui với bạn.
                    Họ thay nước chè băng rượu trắng lạc rang. Nửa chừng cuộc vui, Hữu thông báo là vợ Thắng đẻ con gái nhưng hiện gia đình không được bình thường.
                    - Sao? Cãi nhau? Ngoại tình? Hay sắp ly dị?
                    - Non pas - Hữu khẽ nhăn mặt - cảnh gầm trạn bức bối, chật chội lắm.
                    - Bố vợ Thắng làm to. Nhà cửa rộng rãi lắm cơ mà.
                    - Cậu thật chẳng xứng đáng làm nhà báo tý nào. Là mình muốn nói đến sự bức bối, chật chội về tinh thần ấy.
                    Thấy Kiên thừ người ra. Hữu bảo:
                    - Mình đã lường trước rồi, sự đài các rởm của kẻ trọc phú là khó chịu lắm.
                    - Thôi, cậu ạ, buồn mà làm gì, âu cũng là số phận.
                    - Số phận? Hữu đay lại - Tự mình quyết định tất cả. Như mình đây, quyết thế nào là làm thế ấy, không phụ thuộc vào ai.
                    Không khí trầm hẳn xuống. Nhưng mà ai quan tâm đến họ làm gì. Là những kẻ đa sầu, đa cảm, vui đấy và họ cũng buồn ngay đấy.
           
                                                          *
                                                      *       *
                    Bẵng đi dễ chừng hơn nửa năm sau, Kiên mới có dịp gặp Thắng. Bề ngoài, Thắng béo và chững chạc hơn. Thắng hồ hởi bắt tay và rồi trách bạn không đến thăm gia đình mình.
                    - Thì cậu biết đấy, mình thường xuyên phải đi công tác xa, còn Hữu bận việc gia đình. Chắc vợ nó sắp đẻ.
                    - Mình biết cả rồi - Thắng buồn - các cậu ngại đến cũng phải. Nghe Thắng thở dài, nhìn mặt bạn ngẩn ra, lúc này Kiên mới nhận thấy vẻ chán chường của bạn. Kiên cũng khẽ thở dài cảm thông. Chợt Thắng sôi nổi:
                    - Cậu biết chuyện Hữu mua đất làm nhà không?
                    - Sao? Nó được phân nhà rồi cơ mà! Kiên ngạc nhiên.
                    - Thì lúc đầu mình cũng biết như vậy, nhưng sáng nay mình gặp một anh cùng cơ quan Hữu ở thư viện, hỏi thăm thì biết nó nhường căn hộ ấy cho người khác, rồi tự bỏ tiền mua đất, làm nhà. Điên thật.
                    - Đúng thế thì quả là điên. Nhưng vợ chồng hắn làm gì ra tiền mà bày trò mua đất làm nhà cho khổ. Hai bên gia đình cũng nghèo lấy đâu ra giúp đỡ cơ chứ?
                    Đến cơ quan Hữu, hai người được chỉ dẫn đường đến nhà Hữu mới làm trong làng Gỉang Võ. Họ lại tức tốc đến luôn. Hữu có nhà. Vợ Hữu đã sinh con và trong thời gian nghỉ đẻ. Gọi là nhà, lại đổ mái bằng hẳn hoi, song tất cả chỉ chừng dăm mét vuông là cùng. Cửa sổ lại bé tí tẹo, chẳng theo một khuôn mẫu nào cả. Ngắm nghía kĩ, Thắng buông lời nhận xét:
                    - Vợ cậu là lính nên nhà thiết kế theo kiểu lô cốt.
                    - Cậu nhường nhà thật đấy à, Hữu? Kiên sốt ruột hỏi tuột.
                    - Đúng đấy.
                    - Nghe hắn thủng thẳng chỉ thêm tức, Kiên à - Thắng nổi cáu - Mình đã bảo là điên mà. Thời buổi này lấy đâu ra lòng tốt thế.
                    Hữu kéo hai người ra đầu nhà, nơi có kê một tấm dát giường đã trải chiếu trên đống gạch, mái giấy dầu vảy ra che mưa nắng. Đó là chỗ làm việc của Hữu. Tập thơ văn Lý Trần và mấy văn bản Hán tự vứt lổng chổng trên đó. Hữu giãi bày. Thực ra là Hữu rất vui khi biết được phân nhà, song trong cùng cơ quan có một anh tên Tầm, vợ con ở cả quê, lại mắc chứng ho lao, cũng phải nằm bàn, chẳng nhẽ để anh ta mãi như vậy sao? Mới lại, vợ chồng Hữu còn trẻ khỏe, có khả năng làm nhà. Tiền thiếu có thể vay chỗ này, giật tạm chỗ nọ, mà bên đơn vị vợ Hữu hứa bán cho ít vôi cát giá rẻ. Thế là Hữu nhường. Anh chàng Tầm này còn nói là giành giụm được ít tiền sẽ cho vợ chồng Hữu mượn làm nhà khi nào có thì trả.
                    - Dù thế nào đi chăng nữa thì cũng vẫn là điên - Thắng kết luận.
                    - Điên thật - Hữu buồn - Mình vay tiền chàng Tầm ta nào có cho vay, được nhà xong anh ta chuồn luôn. Thiếu gạch, mình cũng ăn cắp. Các cậu có biết không, gần đây có một công trình tập thể đang xây dựng. Mấy tay chắc là chủ công trình lén đến chở đi mấy ô tô gạch, tức quá mình nghĩ tội gì mà không lấy. Nhưng mỗi lần chỉ được có mấy viên.
                    - Ha, ha… vĩ nhân mà cũng ăn trộm à? Kiên cười trêu.
                    - Đêm hôm giá lạnh, mặc quần đùi ra rìa ao lấy trộm gạch, khi ngủ lại phải tính toán thiếu đủ vay mượn ra sao, nhưng hôm sau đến cơ quan thấy tay Tầm bô lô ba la vui vẻ, thế quái nào rồi mình lại rủ hắn vào quán các cậu ạ.
                    - Cậu xứng đáng là vĩ nhân. Trái tim vàng và tình yêu thương nhân loại bao la - Thắng gật gù cười.
                    - Buồn cho nhân tình thế thái - Kiên thêm vào.
                    Đứa con Hữu vừa mới sinh, khóc. Vợ Hữu gọi. Cuộc hàn huyên buộc phải giải tán.
           
                                                          *
                                                      *       *
                    Một năm sau.
                    Cả ba người vẫn giữ được tình bạn với nhau, mỗi người đều bận bịu với công việc của mình, song thi thoảng họ vẫn thu xếp để gặp nhau, thông tin cho nhau những điều cần thiết.
                    Thắng vẫn sống tại gia đình bên vợ. Kinh tế có khá hơn chút ít nhờ cơ quan vợ là cơ quan buôn bán nên có chút màu mè. Trong thời buổi chạy đua về kinh tế, người ta cũng bắt đầu làm quen với việc sử dụng chất xám và làm tăng giá trị của nó lên, song chỉ với các ngành khoa học ứng dụng. Cái bằng phó tiến sĩ về vật lý nguyên tử của Thắng không ai cần đến. Mấy chục ngàn tiền lương Thắng lĩnh hàng tháng chỉ đủ để ngày ngày trả tiền gửi xe đạp tại thư viện, ăn qua loa chiếc bánh mỳ buổi trưa và một tháng mua được vài quyển sách bán hạ giá. Được cái vợ Thắng tốt bụng không bao giờ lèo nhèo Thắng về chuyện tiền nong. Bố mẹ vợ Thắng càng giàu lên lại càng hay va chạm, làm không khí gia đình luôn trong tình trạng nặng nề. Vì thế kể cả ngày chủ nhật Thắng vẫn thích đến thư viện hơn là ở nhà. Thắng nuôi hy vọng trở lại Liên Xô làm luận án tiến sĩ.
                    Hữu đã xây xong nhà ba buồng. Với phương châm “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, vợ chồng Hữu thực sự là những “Ngu công dời núi”. Lâu lâu, Hữu lại có một bài điểm sách đăng trên báo để bạn bè biết là Hữu vẫn tồn tại, và nữa là làm những người cùng đơn vị với vợ Hữu phải lè lưỡi bái phục, khen ngợi hết lời. Vợ Hữu cũng lấy đó làm mát mặt về chồng, làm cớ để quên đi nỗi băn khoăn về đồng lương ít ỏi mà mỗi tháng Hữu nộp cho vợ. Chỉ buồn là khi công trình nhà cửa vừa xong thì Hữu phát bệnh thần kinh tọa, hơn tháng châm cứu tại ngoại bệnh mới bớt nhưng giờ đạp xe đi lâu thì người mỏi nhừ. Có lẽ cũng đáng buồn nữa là khoản nợ Hữu vay mua đất làm nhà vẫn còn đó chưa biết lúc nào mới trả xong. Chủ nợ thỉng thoảng nhắc nhở đôi câu làm vợ chồng Hữu khó nghĩ. Mỗi khi bạn bè chúc mừng làm được nhà mới Hữu đều giữ vẻ mặt trung tính.
                    Với Kiên, anh luôn bị cảm giác là mình đang chuồi ra khỏi cuộc đời đè nặng. Bạn bè anh, ai cũng có gia đình riêng của họ rồi, còn anh cứ vất vơ vất vưởng, ngày mấy bữa cơm bụi. Theo con đường của Hữu thì Kiên không đủ sức, còn theo kiểu Thắng thì anh lại e sợ, cái gì cũng có giá của nó. Kiên quay về với công việc, song anh cũng chẳng thích thú gì những chuyến đi triền miên các bữa tiệc hiếu hỷ đầy bia rượu và ngồn ngộn thức ăn. Công việc và công việc, Kiên nhủ mình như vậy, nhưng trái tim khao khát yêu thương của anh vẫn luôn thôi thúc anh. Có thể viết ra những dòng về tình yêu và hôn nhân hay, song thực hiên, nghĩa là phải sống đích thực với đời thì anh thấy mệt mỏi quá. Những người quen biết chẳng hiểu vô tình hay hữu ý đôi khi nói nhỏ với nhau rằng “dạo này nó hâm hâm rồi”, hoặc “có lẽ thằng cha ấy ái nam ái nữ cũng nên”, người thiện chí hơn thì “thời buổi khó khăn vật giá leo thang một thân như cậu chẳng phải nuôi ai như thế là sướng”… Những lúc như thế, Kiên hoặc lờ đi như không biết, hoặc chua thêm vào, lấy mình ra bông phèng cho vui.
                    Hữu và Thắng đều nhiệt tình và sốt sắng trong việc mối lái tìm vợ cho Kiên. Thắng giới thiệu một người cùng cơ quan với vợ mình đã cứng tuổi, còn Hữu lại giới thiệu ngay chính cô em vợ mình còn trẻ măng và xuề xòa “lấy nó đi, không có nhà mình cho mượn một ngăn lô cốt mà ở tạm”. Do bất đồng quan điểm, Hữu và Thắng lại tranh luận với nhau rằng lấy vợ già hay trẻ thì hơn. Tuy nhiên cả hai đều đồng tình với nhau rằng “muốn vĩ nhân gì thì vĩ nhân cũng phải lấy vợ cái đã”, rằng “vĩ nhân bây giờ hiện đại lắm, ở nhà đầy đủ tiện nghi, đi lại bằng xe du lịch, chứ không phải như vĩ nhân xưa sống trong lều cỏ nơi rừng rú, trên đỉnh núi cao”. Nghe có lý. Trước sự thuyết phục của các bạn, Kiên hứa sẽ nhanh chóng lấy vợ. Hứa thì hứa, song lúc đêm về, nằm vắt tay lên trán, Kiên lại tự hỏi: “Lấy ai? Ai lấy?”.
                    Những lúc vui, có hơi men, hứng lên, họ chẳng đùa nhau là những vĩ nhân đó sao! Nghĩ mà buồn cười, cũng buồn rơi nước mắt.
                    Ừ đã là vĩ nhân, dù là vĩ nhân nằm bàn cũng không có việc gì là không làm nổi!
           
           
          #80
            tamvanvov

            • Số bài : 672
            • Điểm thưởng : 0
            • Từ: 26.08.2009
            • Trạng thái: offline
            Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 08.01.2022 15:19:36 (permalink)
            Vòng đá Ngũ hành sơn
            Truyện ngắn
            Từ miền Tây, Tâm lên thành phố Hồ Chí Minh đi phép ra Hà Nội. Anh đi nhờ xe của cơ quan người anh họ đưa đoàn văn nghệ đi hội diễn toàn ngành. Xe khởi hành quá sớm, đến thị trấn Hố Nai trời mới sáng. Lúc này, người anh mới giới thiệu Tâm với cả đoàn. Mọi người vui vẻ bắt tay anh, người sau cùng là một cô gái xinh xắn, dễ thương, gọn gàng trong bộ đồ thể thao, tuổi chưa đến đôi mươi. Cô chìa bàn tay thon thả cho Tâm và khẽ nghiêng mình:
            - Mai Quyên rất vui mừng được làm quen với anh!
            Đi cùng với đoàn văn nghệ, ngoài Tâm ra còn có ông Trần, một nhạc sĩ già từng nổi tiếng bởi những ca khúc trữ tình đượm màu sắc dân ca của nhiều vùng quê. Dọc đường đi, Tâm hoặc chúi đầu vào tập truyện của nhà văn Pháp Andre Maurois hoặc trao đổi với nhạc sĩ Trần. Mai Quyên ngồi băng ghế bên cạnh anh. Cô luôn miệng khẽ hát một vài ca khúc nước ngoài, thỉnh thoảng lén quan sát anh, và khi Tâm chợt nhìn sang thì cô vội lảng nhìn ra ngoài đường, nói lảng câu gì đó, đại loại như “Ủa, trên cây kia có một chú chim”, hoặc “cây gì kia nhìn lạ hoắc”. Cô hay trêu mấy cô bạn diễn viên, đôi khi lại chun chiếc mũi thanh tú mà nũng nịu với nhạc sĩ Trần “Chú ơi, hát bài gì cho tụi con nghe đi”. Cô bé như một chú chim vành khuyên hiếu động và ngộ nghĩnh, Tâm thầm nghĩ. Thế nhưng, sau cái bắt tay làm quen lúc đầu, cô không có cử chỉ dùng sợi tóc ngoáy mũi Tâm khi anh ngủ quên trên xe thì anh cũng chẳng dám đùa với cô bằng những lời thân mật.
            Đoàn ra đến Đà Nẵng vào một ngày mùa đông mưa rét làm thành phố xám xịt và ẩm ướt. Theo lịch trình, đoàn sẽ nghỉ ở Đà Nẵng chừng một tuần để tập dượt và duyệt lại chương trình dự thi. Tâm và nhạc sĩ Trần vì đi nhờ nên sốt ruột song cũng đành chờ. Những ngày này, nhạc sĩ Trần ở lì khách sạn, đi ra đi vào, lúc buồn ông lại tợp suông hớp rượu lấy hứng và ôm đàn hát say sưa các bài hát của mình. Tâm giết thời gian bằng mấy cuốn truyện, bằng những câu chuyện linh tinh với nhạc sĩ Trần, bằng sự lang thang trong thành phố lạ, thảng có lúc anh tạt vào phòng tập xem họ biểu diễn.
            Một ngày đẹp trời, mọi người đi chơi phố hết. Tâm hơi mệt nên anh ở lại khách sạn. Đọc sách chán, anh vớ cây ghi ta chơi vài bản quen thuộc. Vừa hết bản “Thư gửi Elyse” của Bet-thô-ven thì anh nghe tiếng gõ cửa. Cửa mở ra, Mai Quyên đứng trước mắt anh, trên tay là chiếc ấm pha trà:
            - Bên anh còn nước nóng cho em xin chút xíu.
            Tâm thoáng ngạc nhiên, anh mời cô vào phòng. Cô khép nép ngồi xuống ghế xa lông, phụng phịu:
            - Em hổng có nơi đi. Mấy anh chị qua lại đây nhiều lần, lắm bạn, nay bỏ em đi chơi hết trọi. Tức thiệt!
            - Thì anh em mình nói chuyện cũng vui chứ sao - Tâm tủm tỉm.
            - A… - Cô reo lên - Anh chơi ghi ta đi. Vừa rồi em nghe hay lắm đó.
            Từ chối không được, Tâm đành chơi bản “Adelita” của Tarrega, bài tủ của anh thật điêu luyện rồi quả quyết buông đàn. Cô nài anh chơi tiếp. Tâm lảng:
            - Đi xa, Mai Quyên có nhớ nhà không?
            - Có chớ, nhớ ba má, nhớ các em, nhớ thành phố.
            - Và nhớ người yêu nữa chứ?
            - Hổng đâu ghen.
            - Sao thế? Hay chưa có? Mai Quyên còn nhỏ mà!
            - Còn nhỏ - Cô trề môi - Có anh Tâm nhỏ thì có.
            - Thế rồi, cô kể chuyện về người yêu của mình. Cậu ta học trên cô một lớp. Hết phổ thông, cậu ta không thi đại học mà vào bộ đội nói là “rèn luyện phẩm chất”. Thấy Tâm cười, cô tròn mắt rồi cười theo:
            - Thiệt đó? Với ảnh em vừa ghét vừa thương. Còn anh Tâm?
            - À, anh thì… Tâm lung túng bởi sự phản công - Trước có, giờ thì không. Được chưa nào?
            - Hổng tin.
            - Tùy em.
            Vừa lúc đó thì nhạc sĩ Trần bước vào:
            - Xin lỗi hai bạn trẻ.
            Nhìn Tâm, mắt ông hấp háy cười vẻ trẻ trung sau cặp kính cận. Ông lục túi tìm thuốc lá rồi đi ngay. Trước khi khép cửa phòng lại, ông tinh nghịch buông một câu tiếng Pháp:
            - C’est très bien. Més voeux de bonhéur (Rất tuyệt. Chúc hạnh phúc)
            Nhạc sĩ Trần đi khỏi, Mai Quyên cũng xin phép trở về phòng mình. Cô bỏ quên chiếc ấm trà và Tâm hiểu chẳng qua cô lấy cớ xin nước nóng để bắt chuyện với anh.
            Ngày tiếp theo lại là một ngày đẹp trời. Gió bắc thổi. Nắng chan hòa. Mọi người náo nức chuẩn bị cho chuyến đi Ngũ Hành Sơn.
            Xe đậu dưới chân núi. Bậc đá quanh co dẫn mọi người lên chùa Linh Ứng phảng phất mùi hương trầm. Tâm và Mai Quyên đứng bên nhau trên đỉnh Vọng Hải Đài nhìn ra xa, biển hiện lên xanh thẳm với dẫy Sơn Trà nhấp nhô. Mắt cô sáng lên. Đến cửa động Huyền Không cô so vai e sợ. Mọi người xuống hết, chỉ còn Tâm. Cô quơ tay chạm phải tay anh liền nắm chặt lấy, kêu khẽ:
            - Ôi, tối quá, hổng thấy đường.
            - Cứ nắm chặt tay anh - Tâm hân hoan - Anh sẽ đưa em đến bất cứ nơi đâu dù là thiên đường hay địa ngục.
            - Xạo hoài - Cô nũng nịu.
            Khi hai người xuống tới lòng động thì mọi người đã tản ra các góc. Sau giây phút ngây ngất vì được nắm cổ tay tròn trịa, mềm mại của Mai Quyên, Tâm hứng khởi dắt cô đi thăm thú. Anh thao thao kể về sự tích của từng hòn núi, anh còn đọc cả bài thơ của Bảng nhãn Phan Qúy viết từ thuở xưa ca ngợi Ngũ Hành Sơn khiến cô tròn mắt thán phục. Tâm xòe tay hứng dưới núm vú Cô Tiên và kì lạ thay một giọt nước trong vắt rớt xuống đúng lòng bàn tay.
            - Ôi sữa tiên - Mai Quyên kêu lên sung sướng - Cô cúi đầu thè lưỡi khẽ liếm giọt nước trong lòng tay anh và ngước nhìn anh đầy vẻ hạnh phúc.
            Tâm bàng hoàng trước cái nhìn nửa ngây thơ, nửa mời gọi quyến rũ ấy. Cô khẽ lay vai anh:
            - Kìa anh Tâm, mua một chiếc vòng đá tặng người yêu đi!
            - Người yêu nào đâu. Anh đã nói là không có rồi mà.
            Cô nhìn anh, che miệng cười thành tiếng. Thực lòng, khi nhìn những vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bằng đá xinh xắn màu bích ngọc, da cam, thủy mặc, Tâm đã nẩy ra ý định mua tặng Yến, người yêu của anh, nhưng vì đã trót nói dối Mai Quyên nên anh đành thôi. Nói dối Mai Quyên anh cũng chẳng nhằm lợi dụng cô, mà anh chỉ nghĩ đơn giản là hành trình đường dài với một cô gái trẻ đẹp lại quấn quýt lấy mình thì nói có người yêu rồi thật quả vô duyên. Yến là em ruột Quân, người bạn học cùng phổ thông với anh, hiện cô đang học đại học năm cuối. Tâm mơ màng nghe những giọt nước tý tách nhỏ từ thạch nhũ xuống lòng hang, chợt Mai Quyên nắm tay anh kéo đi:
            - Anh nghĩ gì đó? Làm thơ hả? Anh Tâm mơ mộng thiệt. Đi anh mọi người đã lên hết rồi.
            Tâm để mặc cho Mai Quyên dắt đi. Lên khỏi động, chợt anh nẩy ra một ý định và anh vờ dừng lại, kêu lên:
            - Thôi chết, anh đánh rơi chiếc khăn mùi xoa trong đó rồi.
            - Vậy hả? Em đợi, anh quay xuống lấy đi.
            Tâm đâm bổ xuống. Tối om mà anh cứ nhảy đại hai ba bậc một. Anh hỏi giá, không mặc cả, trả tiền và chọn lấy một chiếc màu thủy mặc có những đường vân rất đẹp, gói vào một tờ giấy có hai lần bông lót bảo vệ do cô bé bán hàng đưa cho, cẩn thận cất vào túi áo, rồi lại hai ba bậc một đâm bổ lên. Mai Quyên ngồi đợi dưới gốc cây và cô khe khẽ hát.
            - Thấy không, anh? - Cô sốt sắng.
            - Thấy. Nó rơi ngay chỗ thạch nhũ hình bàn tay Phật.
            Anh móc túi lấy chiếc khăn đưa cho cô xem. Nhìn gương mặt cô hồn nhiên, anh thầm nghĩ “cô bé không biết gì”.
            Ở bãi biển, cánh đàn ông uống rượu với mực nướng và dưa chuột hộp. Hôm nay ngày biển động nên bãi biển vắng tanh. Trận bóng đá được tổ chức ngay trên bãi. Hai cô bạn Diệu Huyền và Kiều Hương nằm phơi nắng, chỉ mình Mai Quyên tắm. Cô mặc bộ đồ tắm hai mảnh màu đỏ sẫm, mái tóc để xòa cho gió thổi. Cô ném quả bóng cao su ra xa rồi nhoài người theo ngọn sóng bắt lấy. Vừa chơi bóng, Tâm ngầm đưa mắt quan sát cô gái, chiêm ngưỡng tấm thân xinh đẹp, trắng ngần. Với bộ đồ tắm màu đỏ, cô uyển chuyển linh động như một tia nắng. Khi Tâm đi một đường bóng lắt léo đến gần cửa gôn, làm động tác giả lừa thủ môn đối phương và tạt nhẹ bóng vào cầu môn trống ghi bàn, anh nghe rõ tiếng Mai Quyên reo lên. Cô gái có tên Diệu Huyền kêu to với mọi người:
            - Anh Tâm cẩn thận nghen, Mai Quyên mê anh rồi đó!
            Mọi người cười ồ. Người anh họ của Tâm trêu:
            - Nếu chú ghi thêm được bàn nữa, anh sẽ thay mặt cơ quan gả Mai Quyên cho chú.
            Mai Quyên giơ hai bàn tay bé nhỏ lên vờ đe rồi cô ném quả bóng cao su về phía hai người bạn gái.
            *
            * *
            Chỉ còn một ngày nữa là đoàn lại lên đường ra Hà Nội. Tối ấy, Tâm thẩn thơ ra vườn hoa gần khách sạn. Anh tìm một ghế kín đáo ngắm người qua lại. Ngoài cảng, một con tàu nào đó lên hồi còi tạm biệt. Mới chỉ một tuần trước đây, thành phố này đối với anh thật xa lạ. Giờ thì khác, chia tay anh sẽ rất nhớ. Một cô gái đi ngang trước mắt, Tâm nhận ra và tim anh nhói lên:
            - Mai Quyên!
            Cô gái dừng lại đưa mắt quanh quất tìm. Thật kỳ lạ, anh vừa nghĩ đến cô thì cô xuất hiện. Khi thấy anh, cô mừng quýnh. Cô ngồi xuống, sát bên anh, nũng nịu:
            - Anh đi đâu vậy?
            - Thì em thấy đó. Anh thơ thẩn cho đỡ buồn. Còn em?
            - Mọi người đều đi hết trọi. Họ tạm biệt bồ mà. Còn em… Em tạm biệt thành phố, tạm biệt những kỷ niệm đẹp.
            - Mai Quyên mơ mộng quá?
            - Đâu bằng anh.
            - Á này, em hát hay lắm đó? Tâm khen thực lòng.
            - Thiệt hông? Thiệt hả anh? Cô hỏi dồn, mắt long lanh.
            - “Dù trái tim em không trao anh được. Một chút hương tràm cho ta bên nhau”, Tâm lấy giọng hát một đoạn bài “Hương tràm”, bài hát mà Mai Quyên sẽ hát dự thi.
            - Ôi anh Tâm!
            - Nếu em không được thấy cây tràm, được bơi xuồng giữa rừng tràm vào mùa trổ bông và hít thở hương thơm của nó - Tâm mơ mộng - thì khi đó em sẽ hát hay hơn, truyền cảm hơn.
            Mai Quyên nhìn anh chăm chăm, mặt hồng lên niềm hứng khởi. Còn Tâm, ngồi sát bên cô, mùi nước hoa, hương vị dịu ngọt và quyến rũ toát ra từ tấm thân trẻ trung, hừng hực sức sống của cô cộng với vẻ huyền ảo của trời đêm làm anh ngây ngất. Bất giác, anh cầm bàn tay cô đưa lên môi hôn, và chỉ đợi có thế, cô nép vào lòng anh. Hai môi hôn rạo rực tìm nhau, gắn chặt vào nhau đến tê dại. Những cái hôn kéo dài đến ngạt thở, khiến đầu óc quay cuồng. Tâm thoảng nghĩ đến Yến, anh khẽ ngửa đầu ra nhưng thấy cô mắt vẫn nhắm nghiền và đôi môi đờ đẫn thì anh lại mụ đi. Xúc cảm mạnh hơn anh. Đến khi anh cảm thấy cô khẽ rùng mình và má anh chạm phải tóc cô lành lạnh, anh mới biết là sương xuống đã nhiều.
            - Ta về thôi em, kẻo khuya lạnh.
            - Về sao anh? Cô thảng thốt.
            - Ta phải về thôi…
            Khi đã nằm yên trên giường ngủ, Tâm tự hỏi mình. Rõ ràng chưa thể có một hình bóng nào thay thế nổi chỗ của Yến trong tâm trí anh. Xa Yến, anh luôn nhớ cô, hướng về cô, nhưng sao chỉ vừa mới quen biết Mai Quyên, anh đã cảm thấy hạnh phúc bởi những phút giây ngắn ngủi được ở bên cô gái bé bỏng ấy?
            *
            * *
            Ra đến Hà Nội, Tâm chia tay mọi người. Anh hứa với Mai Quyên là sẽ đến dự buổi biểu diễn của cô. Cô rất vui. Hình như nỗi buồn của sự chia ly chẳng hề bén mảng cô.
            Về nhà được một ngày bất chấp lời khuyên của mẹ nghỉ ngơi cho đỡ mệt, Tâm lấy xe đến nhà Yến. Trên đường đến, anh gặp Quân và được bạn anh cho biết là Yến vừa mới ăn hỏi, chờ thi tốt nghiệp xong thì cưới. Chồng chưa cưới của Yến vốn cùng học phổ thông với cô và là con một ông to, người có khả năng bảo trợ cho cô công tác ở Hà Nội. Thấy Tâm buồn sụp xuống, Quân chia sẻ, cảm thông:
            - Lạ thật! Mình cũng nghĩ là cậu và cái Yến nhà mình yêu nhau lắm mà. Thôi cũng là duyên số. Tình yêu, sao rắc rối quá chừng. Như mình đây, mình giành tất cả tình yêu cho hội họa. Khi nào thấy cần và đủ điều kiện, mình sẽ lấy vợ. Đơn giản thế thôi. Còn cậu, đừng buồn mà làm gì! Sẽ có một cô gái nào đó đẹp hơn, tốt hơn Yến đến với cậu. Cuộc đời công bằng lắm! Cậu định đi đâu bây giờ?
            - À, mình chuyển hộ một món quà - Tâm nói dối vì anh không muốn đến nhà Quân nữa.
            - Thế này nhé - Quân bắt chặt tay anh - giờ mình có hẹn đi vẽ với tụi bạn - chủ nhật này thế nào cũng đến mình. Hai đứa ta sẽ hàn huyên nói chuyện đời. Mặc kệ cái Yến với thằng chồng chưa cưới của nó.
            Tâm trở về nhà, đầu óc rối bời. Anh uống một ly nước lạnh đến tê buốt cả răng và nằm vật ra giường thở dài sườn sượt. Mẹ gặng hỏi, anh chỉ ầm ừ cho qua chuyện. Phải đối mặt với thất vọng của mình anh cũng hiểu ra tình yêu cũng vô cùng nghiêm túc và không được phép lấy nó ra làm trò bỡn. Anh có quyền gì căm tức Yến khi mà chính anh đang yêu cô vẫn đi với một cô gái khác!
            Chợt nhớ đến chiếc vòng tay bằng đá núi Ngũ Hành anh mua về tặng Yến, anh vùng dậy mở túi du lịch lôi ra chiếc hộp đựng. Không hiểu vì sao khi đến nhà Yến anh đã quên không lấy nó mang theo? Khi lật lần bông lót lên, Tâm sững người bởi sự hiển nhiên đến kì lạ của định mệnh thật khó lí giải, chiếc vòng tay bằng đá màu thủy mặc bị vỡ làm ba mảnh. Tâm nhón tay cầm lên từng mảnh, ngắm nghía rồi bỏ vào lòng bàn tay xóc xóc. Ba mảnh vòng khẽ chạm vào nhau lanh canh, rồi rời riêng từng mảnh. Tâm mỉm cười chua chát. Chợt anh thấy hiện ra trước mắt mình tấm thân thon thả với bộ đồ tắm đỏ sẫm dập dềnh theo làn sóng biển và môi anh như phảng phất vị mặn nồng của những chiếc hôn…..
            1987 - 1991

             

            Đã mang vào thư viện

             
            <bài viết được chỉnh sửa lúc 14.03.2022 15:45:01 bởi Ct.Ly >
             
            #81
              tamvanvov

              • Số bài : 672
              • Điểm thưởng : 0
              • Từ: 26.08.2009
              • Trạng thái: offline
              Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 20.02.2022 11:40:43 (permalink)
              Quà tặng ở chợ hoa
              ( Truyện ngắn )

              Vận lững thững đạp xe trên phố. Anh có cái thú được đạp xe thật chậm vào chiều tất niên để nhìn ngắm mọi người bận rộn mua sắm chuẩn bị đón xuân. Và sau đó anh sẽ vào chơi chợ hoa. Đã từ nhiều năm nay, anh vẫn duy trì được ý thích này. Cả cơ quan, duy chỉ có mình anh là vợ con sống ở quê, nên bao giờ anh em cũng nhường cho anh trực trước Tết. Anh sẽ đáp chuyến tàu đêm tất niên trở về nhà đúng lúc giao thừa. Trời mua phùn lây phây từ mấy ngày trước làm đường phố lầy lội, nhất là lối vào chợ Hoa. Năm nay, có vẻ như chợ đông hơn năm trước, nó được mở rộng thêm ra mấy ngách phố bên cạnh. Ngay lối vào là những hàng hoa giấy, hoa lụa đủ màu sắc, kiểu loại. Vận tiếp tục đi sâu vào trong và anh bắt gặp cả thế giới của loài cúc, cẩm chướng, thược dược, violet, đồng tiền. Mưa phùn vẫn rắc như rây bột làm những cánh hoa trĩu nặng, bởi những hạt mưa nhỏ li ti đậu xuống như nạm cườm cánh hoa. Nước mưa đọng trên lá cây nhỏ thánh thót xuống đầu, xuống quần áo mọi người. Người Hà Nội bao giờ cũng mang dáng vẻ hào hoa của riêng mình. Mưa như vậy mà chẳng mấy người mũ nón, hay che ô gì cả. Họ cứ để đầu trần như vậy, lại còn quần áo là lượt mà mua sắm dưới màn mưa xuân. Vận đến dãy bán đào, mời chào luôn miệng. Một anh chàng có vẻ lém lỉnh, nháy mắt với Vận: - Ông anh mua cho thằng em cành đào này đi. Cành này hoa hết ý. Em lấy rẻ ông anh thôi. - Cành này hoa nở hết rồi, ít nụ, nhanh tàn lắm. Vận chưa biết trả lời ra sao thì có tiếng phụ nữ nói ngay sau lưng anh. - Này bà chị, việc gì đến bà - chàng bán đào nói vẻ gây sự. - Đây là anh trai tôi. Đàn ông không biết. Tôi mua hộ anh ấy. Lúc này Vận mới quan sát người đàn bà vừa trả lời thay anh. Chị chạc tuổi bốn nhăm, đẹp và đầy vẻ kiêu sa. Chị mặc áo dài màu vàng, dắt theo một bé gái chừng mười tuổi. Chị nhìn anh cười cười vẻ thiện cảm. Anh ngượng ngùng nhưng vẫn khẽ gật đầu thầm cảm ơn chị, rồi đi sâu hơn vào giữa chợ.  Từ lúc ấy, hình ảnh người đàn bà này cứ lởn vởn trong đầu anh. Có nét gì đó quen quen. Anh cố nghĩ nhưng không thể nhớ ra. Vận chẳng còn để tâm vào chuyện mua đào nữa. Anh đi đến cuối chợ nhưng không chọn được cành nào. Anh quay trở lại và anh lại nhìn thấy hai mẹ con người đàn bà. Chị ta có vẻ như đang tìm ai. Cháu bé cầm trên tay một cành đào nho nhỏ nhưng dáng và nụ hoa rất đẹp. Anh định tránh mặt thì chị đã nhìn thấy anh, chị mừng rỡ dắt con len đến chỗ anh đứng.

              - Anh vẫn chưa tìm được cành đào nào ưng ý sao? Chị chủ động. - Ồ, vâng,… Chưa chị ạ. - Con chào bác đi. Rồi nói điều mẹ vừa dặn con - Chị nói với đứa con. - Cháu chào bác ạ! - Con bé e thẹn, ngước nhìn mẹ. Chị nhìn nó khuyến khích. Con bé hai tay giơ cành đào lên đưa cho anh và nói chậm rãi từng tiếng một: - Mẹ con cháu xin tặng bác cành đào này ạ! Vận chưa hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Anh lúng túng: - Xin lỗi… Tôi không nhớ chị là ai, với lại không biết lý do, tôi không dám nhận đâu. - Vâng! Tôi quên… Đúng anh công tác ở tòa án quận…? - Đúng vậy. Sao chị biết? - Tôi nhớ anh… Còn anh không nhớ tôi cũng phải thôi. Anh xử án cho biết bao người. Còn tôi… - Chị cười thành tiếng - cả đời, ra trước tòa một lần là quá đủ. Có lẽ chúng ta đi ngoài nói chuyện cho tiện. Anh cứ nhận cành đào cho mẹ con tôi vui. Tôi sẽ nói rõ lý do ngay thôi. *                       *        * Khi chiến tranh gần kết thúc, Vận trở về với mấy vết thương trên mình. Anh học nốt đại học dở dang trước đây, rồi được ưu tiên về nhận công tác ở một tòa án quận. Vụ ly hôn của vợ chồng Hà, tên người đàn bà, là vụ đầu tiên trong cuộc đời “cầm cán cân công lý” của anh. Vận tìm hiểu kỹ lưỡng, thì ra sự rạn nứt trong quan hệ vợ chồng họ bắt nguồn từ sự ghen tuông của người chồng. Anh chồng là kỹ sư cơ khí, còn Hà là diễn viên sân khấu. Hà phải theo đoàn đi lưu diễn đây đó, rồi cô phải đóng vợ chồng, yêu đương với người này, người nọ. Anh chồng vốn hay ghen, cộng thêm sự đùa cợt của bạn bè cùng cơ quan “Má văn công, mông bộ đội”. Anh chồng nghi ngờ vợ rồi sinh to tiếng, bắt vợ phải bỏ nghề. Vợ kiên quyết không chịu. Cứ thế, tình trạng ngày càng xấu đi đến mức cả hai đi đến quyết định ly hôn. Vận thấy tiếc cho vợ chồng họ, và anh thương đứa bé gái, con họ khi ấy mới chừng năm sáu tuổi. Ly hôn rồi, mỗi người có thể tìm lại được hạnh phúc, song đứa trẻ thì không. Sống với ai, đứa trẻ cũng phải chịu sự ghẻ lạnh khi người thứ ba xuất hiện. Anh đã từng nghĩ, sao người lớn lại ích kỷ làm vậy. Suốt đời, họ chỉ chạy theo khát vọng của riêng mình…
              Anh thì không. Vận vào bộ đội. Khi chưa đi B, thỉng thoảng anh tạt về nhà thăm mẹ. Rồi một lần, mẹ anh bảo là có cô giáo Thuận mới về dạy ở trường làng. Vì trường ở cạnh nhà anh, nên thỉng thoảng cô giáo vào chơi và giúp mẹ anh đôi việc lặt vặt lúc tắt lửa tối đèn. Mẹ khen cô giáo được người được nết và tỏ ý nhắm cô giáo cho anh. Rồi Vận gặp cô giáo và hai người nói với nhau đôi ba câu chuyện, thấy qui quí nhau. Rồi nữa, lần về thăm nhà khi đi B, anh cưới cô giáo Thuận. Họ lấy nhau mà có yêu đương gì đâu. Còn người ta yêu nhau đằm thắm, thế mà khi ở với nhau thì chưa chi đã sứt mẻ. Hay tại anh cứ xa nhà suốt, và vì thế vợ chồng anh ít va chạm, hoặc thể anh là con người cũ kỹ, cổ điển?... Không phải anh không biết yêu. Lấy vợ rồi nhưng anh vẫn có lần yêu, song anh phải nén lại tất cả… vì con… Và có lẽ anh sợ tai tiếng. Khi xử vụ ly hôn của Hà, anh đã gà cho con bé nói trước tòa rằng nó muốn ở với cả bố và mẹ. Mượn cớ ấy, anh phân giải rồi cuối cùng họ xin rút đơn, về ở lại với nhau. Lúc đầu, anh vui mừng vì nghĩ là mình đã giúp ích cho gia đình họ đoàn tụ. Lâu rồi, anh sinh băn khoăn. Biết đâu, vợ chồng họ lại xô xát và không chịu đựng nổi nhau, đứa con còn khổ hơn?...*                      *       * - Vậy mà ngày ấy tôi cứ lo… - Chắc anh lo chúng tôi lại bỏ nhau, bởi tính ghen tuông con người ta đâu có dễ bỏ - Hà khẽ cười - Anh thấy đấy chúng tôi còn có thêm một cháu trai sau, và con bé út đây là “vỡ kế hoạch” đấy. - Anh ấy nhà chị vẫn ghen chứ? - Vâng, vẫn vậy… - Điều đó chứng tỏ anh ấy quá yêu chị!... - Yêu… quả là thế, nhưng nhiều khi cũng khó chịu lắm. Song có điều là… - Hà lại cười - … sau lần ấy, tôi có khôn hơn, không để cái gì đi quá đà…” “Già néo, đứt dây” mà anh, các cụ ta xưa đã dạy thế.   - Tôi nói thế này, có thể chị cho là văn vẻ - tự nhiên Vận cảm thấy cần thổ lộ với Hà suy nghĩ của mình - Từ ngày ấy, cứ sau khi xử xong một vụ ly hôn, tôi cảm thấy rỗng người, bởi sự có lý đến thành vô lý của chuyện hôn nhân và hạnh phúc. Chị có hiểu tôi không?... - Anh là một người đa cảm - Hà nói - Người đa cảm thường chẳng sung sướng gì đâu. Có điều… Hà bỏ dở chừng câu nói, và chẳng bao giờ anh đoán được chị định nói gì.


              Đêm tất niên ấy, Vận về ăn tết với gia đình trong nỗi bâng khuâng khác thường. Con tàu xuyên đi trong đêm mù mịt. Bên ngoài gió bấc đang gầm rít. Vận nhìn rõ những đốm lửa hồng loang loáng lướt qua bên cửa sổ tàu. Mỗi đốm lửa hồng đó là một gia đình. Có lẽ họ đang quây quần chờ đón giao thừa. Vợ con anh lúc này chắc đang nhắc đến anh. Khác mọi năm, anh đem về cả một cành đào. Thế nào vợ anh cũng xuýt xoa tiếc tiền bởi cô ấy vốn tằn tiện. Anh có cần phải giải thích cho vợ nghe không nhỉ? Bỗng tiếng pháo ở một làng ven đường rộ lên. Rồi như truyền, pháo rộn lên bốn bề. Tiếng còi tàu gần về đến ga bị ngợm đi trong tiếng pháo. Người kiểm soát viên già bước vào toa, ông xoa xoa hai tay vào nhau cho đỡ cóng, vui vẻ nói to cùng mọi người. - Giao thừa rồi đấy! Chúc cho một năm mới tốt lành. Hà hà… Giờ này chắc thằng cu út nhà tôi đang đốt pháo. Sáng nay lúc tôi đi nó bảo: “Đúng giao thừa, con sẽ đốt một bánh pháo thật đặc biệt, xem bố đi trên tàu có nhận ra pháo nhà ta không”.
               
               
              #82
                tamvanvov

                • Số bài : 672
                • Điểm thưởng : 0
                • Từ: 26.08.2009
                • Trạng thái: offline
                Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 12.03.2022 10:08:42 (permalink)
                Tượng vệ nữ với chiếc bàn tính
                Truyện ngắn
                 
                Nàng đến với cuộc đời Vĩnh nhanh và mạnh như một cơn gió lốc. Cách đây hơn ba năm, khi còn là sinh viên mỹ thuật, Vĩnh đã gặp nàng lần đầu tiên. Giờ học hình họa, người mẫu là một cô gái mà mới thoạt nhìn, mọi người ngỡ là trẻ con. Với riêng Vĩnh thì ngoài tranh ảnh, đó là lần đầu tiên anh nhìn thấy đàn bà khỏa thân. Anh từng được nghe bạn bè trong trường học trên anh kháo nhau về chuyện học họa với người mẫu khỏa thân, và anh đã hồi hộp chờ cái ngày đó đến gần. Hôm ấy, phải đến mấy phút ngỡ ngàng, anh mới bắt đầu làm việc được. Sự thanh mảnh trên đường nét thân thể, vẻ măng tơ trên khuôn mặt của cô gái làm mẫu khiến anh xót xa tự hỏi: “Không hiểu thân phận cô bé như thế nào mà mới từng ấy tuổi đầu, cô đã phải dấn thân vào cái nghề, mà theo định kiến xã hội ta, không hơn gì nghề làm điếm?”. Hết buổi học, đám sinh viên nam giới tụm lại thành từng nhóm, bàn tán, đùa cợt nhau, làm đám sinh viên nữ nổi xung lên. Còn Vĩnh thì sao? Anh lặng lẽ đi ra chỗ gửi xe đạp để về. Mấy cậu bạn thấy vậy, trêu anh: “Ê, ê… Vĩnh. Mày cảm cô bé người mẫu rồi phải không?”; “Trông kìa chúng mày, tay thằng Vĩnh vẫn còn run run…”.Sau lần ấy, Vĩnh còn học hình họa qua bao nhiêu người mẫu khác, trẻ có, già có, đàn ông và đàn bà cũng lắm. Nhưng ấn tượng về vẻ đẹp thiên phú của nữ giới để lại cho anh mạnh nhất là lần đầu ấy. Nghề nghiệp đã tạo cho Vĩnh sự mạnh bạo dầy dạn khi phải tiếp cận với hình mẫu và thân thể thật của nữ giới. Anh mất đi sự run rẩy giới tính, thay vào đó là những xúc cảm thẩm mỹ và sự sáng tạo. Thỉng thoảng, Vĩnh chợt nhớ đến cô bé người mẫu ngày nào và khi ấy anh lại tự mỉm cười giễu cợt mình.Tốt nghiệp trường mỹ thuật, Vĩnh xin việc nhưng vẫn chưa cơ quan nào nhận anh cả. Thời buổi kinh tế thị trường, chẳng ai người ta muốn nhận anh. Bố Vĩnh mất sớm, mẹ anh yếu sức và vì thế cơ quan cho về nghỉ chế độ mất sức, đứa em gái anh mới đang học phổ thông trung học, kinh tế gia đình eo hẹp. Để giúp mẹ và em, từ khi còn học, Vĩnh đã phải nhờ bạn bè mai mối làm thêm. Anh làm những bức tượng phiên bản của các tác phẩm điêu khắc nổi tiếng thế giới như Đavit, Vệ nữ Mi lô, Mùa xuân vĩnh cửu… Thế rồi Vĩnh gặp lại cô bé người mẫu.Trong lúc lơ cơ chờ xin việc, một lần đám bạn bè cùng lớp con nhà giàu rủ Vĩnh đến sàn nhảy của câu lạc bộ ban đêm. Vĩnh không biết nhảy. Anh ngồi nhấm nháp bia. Chợt anh chú ý đến một cô gái nhảy mà theo anh phỏng đoán thì cô là gái nhảy thường xuyên của khách sạn này. Hết một điệu, cô rời người bạn đi cùng với anh, tiến lại phía bàn anh ngồi hỏi nhỏ:- Sao anh không ra nhảy? Em mời anh một điệu có được không?- Tôi không biết nhảy - Vĩnh ngượng nghịu.- Ồ, không biết nhảy? Anh chỉ đùa. Không nhảy thì anh đến đây làm gì?- Thật mà… Bạn bè cứ nài nên tôi đến.- Vậy thì em uống với anh một li bia nhé. Anh ngồi một mình, thấy buồn thế nào ấy.Miệng nói, tay cô cầm hộp bia trên bàn bật nắp một cách tự nhiên. Phải đến lúc này, Vĩnh mới có điều kiện nhìn kỹ cô gái. Nét quen quen. Mình đã từng gặp cô ta chưa nhì? Và ngay lúc ấy, đầu anh chợt lóe lên. Đúng rồi, cô gái này chính là cô bé người mẫu hình họa ngày nào. Tim anh nhói lên, và anh hồi hộp. Anh nhấp liền mấy ngụm bia để lấy lại vẻ bình tĩnh. Nhận thấy vẻ khác lạ trên mặt anh, cô gái hỏi:- Anh làm sao thế?- Không, không sao cả… Có điều là tôi nhận ra, chúng ta đã từng quen nhau.- Ồ, vui thật… Quen nhau - Cô gái cười rất to - Chắc là anh nói dối không biết nhảy. Em đoán là anh nhảy rất giỏi và thường hay đi nhảy. Có khi anh đã từng nhảy với em vài ba lần rồi cũng nên. Ngoài sàn nhảy này, em còn hay lui tới vài ba sàn nhảy khác. Toàn loại nổi tiếng nhé.- Không phải thế đâu, nhầm rồi cô bạn ạ - Vĩnh bình tĩnh - Chúng ta gặp nhau trong một hoàn cảnh khác. Mà cô không nhớ được cũng phải, bởi… - Vĩnh ngập ngừng - Lúc ấy cô ở trong trạng thái thoát tục… à, nói thế cô không hiểu, cô ở trong tình trạng nguyên thủy… Và có biết bao nhiêu cặp mắt hau háu chiếu vào thân thể cô.- À… Thế thì em nhớ ra rồi. Chắc anh từng là sinh viên trường mỹ thuật.- Đúng thế. Quả là trí nhớ của cô không tồi. Lúc đó, tôi ngồi ở ghế dưới và cũng có một cặp mắt…Cô gái bật cười to trước câu đùa của Vĩnh. Cô bật bia, rót đầy hai cốc, cầm đưa lên cho Vĩnh một và giữ lại cho mình một:
                - Nào, chúng ta chạm ly, chúc mừng cho cuộc hội ngộ của những kẻ tri âm, tri kỷ. Trăm phần trăm nhé.Sau li bia, đầu bốc lên bừng bừng, miệng lưỡi Vĩnh thêm phần hoạt bát:- Hơi tò mò một chút nhưng nếu không nhầm thì cô đã thôi không làm người mẫu nữa?- Vâng… Làm nghề ấy cũng không sung sướng gì. Vạn bất đắc dĩ.- Nhưng cô đã cống hiến cho nghệ thuật. Còn hơn cái nghề…Vĩnh định nói là nghề gái nhảy nhưng anh kịp kìm lại.- Gái nhảy chứ gì. Vâng, cũng lại vận bất đắt dĩ… Nhưng dẫu sao, với nghề này em còn có tiền. Chứ với cái nghề làm người mẫu cho các anh, em nghèo xác xơ. Em chẳng hiểu nghệ thuật của các anh như thế nào, nên chẳng việc gì em phải hi sinh thân mình mà cống hiến cho nó.
                - Nhưng cô sẽ còn mãi với thời gian ngay cả khi, xin lỗi, thân xác cô tan rũa vào đất.- Đúng. Anh luôn đúng, cả khi với những lời nói cao sang này. Song em xin hỏi anh, với nghề này, anh có kiếm được tiền không?- À… Vĩnh lúng túng - Hiện thời thì chưa, nhưng sau chắc là…- Không chắc là gì cả. Em biết, hiện anh không dư dật lắm. Nhìn bề ngoài của anh em đoán ra. Anh ơi, làm nghệ thuật chân chính thì chẳng bao giờ ra tiền bạc cả đâu. Cái này thì em rõ hơn anh. Nhưng thôi, nghe em nói này. Gặp lại anh, em thấy rất quý anh. Em muốn giúp anh kiếm tiền. Anh yên tâm là kiếm tiền bằng chính sức lao động của anh chứ không phải là phi pháp đâu. Anh cứ việc ôm mộng làm nghệ thuật nhưng trước tiên phải có tiền cái đã. Lấy ngắn nuôi dài mà.Cô nói một thôi làm Vĩnh không kịp chen vào. Song anh cũng kịp nhận ra cái mớ lý sự của cô lờ mờ nhưng lại vô cùng rõ ràng và ít nhiều đúng với thực trạng của anh hiện nay. Tuy nhiên với bản tính tự chủ của đàn ông, Vĩnh vẫn cố cưỡng lại khi bị đàn bà dắt mũi:- Nhưng tôi không cần tiền. Tôi…- Không nhưng gì hết. Em biết anh đang cần tiền. Tối mai anh lại đến đây. Không cần phải đi với bạn bè. Đúng tám giờ tối em đợi anh ở cửa. Em có tiền, em sẽ đãi anh. Và em… sẽ dạy cho anh nhảy - Cô cười - Điều quan trọng hơn, em sẽ giới thiệu cho anh mối làm ăn. À quên, anh tên gì nhỉ?- Tôi là Vĩnh - Anh cũng bật cười.- Còn em là Thùy Trang, gái nhảy siêu hạng. Thôi nhé, em phải ra nhảy đây.Cô đứng lên mạnh mẽ và dứt khoát, song lại bước đi rất nhẹ nhàng về phía sàn nhảy, kiểu đi của loài mèo cái.
                *              
                Sau đêm băn khoăn mất ngủ, tối hôm sau Vĩnh đến đúng hẹn. Thùy Trang đã đứng đợi anh ở cửa. Hôm ấy, hai người có điều kiện ngồi lâu với nhau và qua chuyện trò, hiểu thêm về nhau. Vĩnh đã đặt câu hỏi mà ngày nào anh tự hỏi mình, đó là việc vì sao Thùy Trang đi làm mẫu vẽ khỏa thân. Cô đã cho anh biết, cô mồ côi cha từ nhỏ, mẹ đi bước nữa, cô phải đến ở cùng nhà người chồng sau của mẹ. Đến năm học cấp ba, cô phổng phao và xinh xắn lên. Người cha dượng đã có lần định giở trò bỉ ổi với cô. Thế là cô bỏ nhà đi lang thang, rồi cô gặp một tay cò mồi và hắn đã giới thiệu cô vào làm người mẫu hội họa. Tưởng như thế là yên thân nhưng rồi một lần, tay cò mồi đã cưỡng bức cô và chiếm đoạt cô. Cô bỏ nghề, theo mấy người quen đi buôn vặt vãnh. Có chút lưng vốn, cô nuôi chí làm giàu đi buôn Bắc Nam, nhưng rồi một lần cô mang hàng cấm nên bị bắt và bị tịch thu hết. May mà không phải ngồi tù. Cô lại lang thang vất vưởng nhờ vả người quen, bạn bè. Và rồi, theo chúng bạn, cô mon men đến sàn nhảy. Ở đây, tài nhảy của cô nảy sinh và cô trở thành “ngôi sao siêu hạng” trong làng gái nhảy. Mỗi tối đi nhảy, cô có thể kiếm được vài ba trăm ngàn đồng. Và lẽ dĩ nhiên, cô không nghèo nữa, song phải chung chạ không ít với đàn ông. Sau những đêm đi nhảy về, cô rã rời và cô độc. Những lúc như thế cô chỉ muốn khóc…Nghe chuyện, Vĩnh thấy xót xa cho thân phận cô. Mới từng ấy tuổi đầu mà cô đã trải qua bao nhiêu là sự đời. Anh cũng nghèo nhưng anh còn có mẹ, có em gái, còn được học hành dẫu chưa thành tài song cũng là tạm đủ với xã hội. Vĩnh rung động trước cuộc đời trắc trở của Thùy Trang. Phải chăng, anh đã trúng mũi tên của thần Qui-pi-đôn, hay theo kiểu nói của người Anh là It was love at first sight, có nghĩa là tiếng sét ái tình?Những ngày sau đó, Thùy Trang đưa một số người đến nhà anh để đặt anh làm tượng, kiểu mô phỏng tác phầm điêu khắc nổi tiếng mà anh từng làm quen, đại loại vẫn là những Vệ nữ Mi lô, Mùa xuân vĩnh cửu… Bây giờ, giàu sang là người ta sính mốt đặt tượng mô phỏng các tác phầm nổi tiếng thế giới trong nhà để trang trí. Thây kệ họ, miễn là mình có việc làm và kiếm được tiền giúp mẹ và em.Sau nhiều lần Thùy Trang đưa khách đến nhà anh, cảm thấy sự thân mật của anh với cô, mẹ anh đã hỏi anh về mối quan hệ này. Vĩnh nói chỉ là bạn thì mẹ anh không tin. Không dấu mẹ, vĩnh kể sơ lược về cuộc đời của Thùy Trang. Mẹ anh nghe và khuyên anh hãy cảnh giác với cô, tuy mẹ không cấm anh quan hệ. Còn em gái anh, nó có vẻ lạnh nhạt với cô, hình như linh cảm của nữ giới mách bảo cho nó rằng Thùy Trang là một người không bình thường. Thế là cả mẹ và em gái đều không ủng hộ mối quan hệ của anh với cô. Nhưng dẫu sao, Thùy Trang luôn tốt với anh và điều quan trọng hơn nữa là cô đã chiếm được tình cảm của anh.
                *               
                Một lần, Thùy Trang phóng xe máy đến nhà anh. Chưa bước chân vào, cô đã hào hứng:
                - Anh gác việc lại. Đi với em ngay bây giờ. Em vừa tìm được cho anh một mối rất sộp.
                - Nhưng em phải giải thích sơ sơ cho anh biết thì anh mới đi.- Được rồi! Đại loại thế này. Có một thằng cha hay đến sàn nhảy chỗ em làm. Hắn có vợ con ở quê, làm chủ thầu xây dựng, giờ phất lên, bỏ tiền xây một khách sạn mini. Hắn muốn có một bức tượng bằng bê tông thật to cũng Vệ nữ gì đó như anh vẫn làm để đặt ngay cửa khách sạn. Thật là bọn rởm đời rửng mỡ. Nhưng mà thây kệ họ. Miễn là anh có việc làm và có thu nhập. Món này hời đó. Xong việc, anh sẽ được một khoản tiền lớn giúp mẹ và em. Anh đồng ý chứ?
                Quả là cô nói đúng. Vì mẹ và em, anh sẵn sàng làm mọi thứ miễn không phải là phạm tội. Song như thế này có phải làm phạm tội với nghệ thuật không? Khi anh còn phân vân thì Thùy Trang mạnh bạo nắm tay anh lôi ra khỏi cửa và cô ra lệnh cho anh ngồi lên đằng sau và nổ máy xe. Tay chủ thầu tiếp Thùy Trang và anh rất lịch sự. Bia hei-ne-ken ướp lạnh nhắm với mực nướng. Hắn đặt yêu cầu là anh làm cho hắn một bức tượng kiểu vệ nữ nhưng bàn tay của vệ nữ cầm một chiếc bàn tính cổ.- Tại sao lại như vậy? Tôi chưa thấy ai làm như thế bao giờ - Anh ngạc nhiên phản đối.- Nhưng tôi lại cần. Còn anh thì cần… Hắn bỏ lửng câu nói mà mỉm cười ra hiệu bằng mấy ngón tay đếm đếm.Máu sĩ của anh nổi lên và anh định vùng đứng dậy bỏ về nhưng Thùy Trang kịp thời ngăn anh lại. Tay chủ thầu xuề xòa:- Anh đừng nóng thế! Có gì anh em ta bàn nhau thêm, phải không cô Thùy Trang xinh đẹp.Cuối cùng thì cuộc ngã giá cũng xong. Anh nhận một phần ba khoản tiền công như tiền đặt cọc. Dọc đường về, anh cứ ca cẩm, còn Thùy Trang chỉ cười. Những tiếng cười ròn tan, thoải mái đầy vẻ từng trải. Sau buổi ấy, anh hùng hục làm. Để công việc nhanh chóng, anh gọi thêm mấy tay đàn em học sau đến phụ giúp. Còn Thùy Trang biệt đi đến nửa tháng trời, mới thấy cô đảo qua nhà anh xem anh làm đến đâu. Bức tượng đất ban đầu anh làm giống cô. Anh cố hình dung, cố khơi gợi lại trí nhớ để làm sống lại hình bóng của cô như lần đầu anh thấy. Những xúc cảm yêu thương, xót xa cho thân phận cô hiện nay trào dâng và nó giúp anh nhiều việc trong việc tái hiện này. Khi tạo hình chiếc bàn tính cổ trong tay bức tượng anh không khỏi suy nghĩ về sự kỳ quái của bọn trọc phú mới. Chiếc bàn tính từ thời tiền sử trên tay một vệ nữ. Phải chăng khi đẻ ra ý tưởng kỳ quái này, hắn ta muốn nói đến sự toan tính của nữ giới? Còn Vĩnh, anh không nghĩ thế. Anh cho rằng đàn ông toan tính hơn, cơ mưu hơn và mọi sự xấu xa đều bắt nguồn từ đàn ông. Người đàn bà bao giờ cũng tốt hơn, khổ hơn và đáng yêu hơn.Khuôn mẫu làm xong, chỉ còn khâu cuối cùng là đổ bê tông nhưng mãi không thấy Thùy Trang trở lại. Sốt ruột, Vĩnh tìm đến sàn nhảy nơi cô thường làm nhưng cũng không thấy đâu. Anh hỏi người bảo vệ thì được biết là cách đó chừng nửa tháng cô có lui tới chút ít rồi biến đi đâu đó cùng với một người bạn nhảy đứng tuổi ăn mặc sang trọng nhưng vẫn có vẻ quê, còn đã một tuần nay thì không thấy cô đến nữa. Vĩnh đã phần nào đoán ra sự việc, anh hộc tốc đạp xe đến biệt thự mini của tay chủ thầu xây dựng, người đã đặt anh làm bức tượng vệ nữ cầm chiếc bàn tính. Bấm chuông mãi mới thấy người hầu ra mở cổng. Vĩnh bày tỏ ý muốn gặp ông chủ thì người hầu nói rằng ông chủ không thể tiếp khách lúc này được bởi ông đang sửa soạn đi đâu đó. Anh nói dối là cần gấp để bàn với ông chủ một áp phe mới béo bở. Cuối cùng người hầu để cho anh vào. Vĩnh ngồi đợi ở ghế ngoài hiên chờ người hầu vào báo chủ. Vô tình, mắt anh hướng vào nơi mà tay chủ từng nói với anh sẽ đặt bức tượng. Chao ôi, ở đây sẽ mọc lên một biểu tượng về sự toan tính của đàn bà!. Cửa phòng khách chợt mở, tay chủ thầu đi ra trong bộ veston đắt tiền. Hắn chìa tay:- Xin chào anh. Đáng tiếc là lúc này tôi rất bận. Xin anh để cho lúc khác, chúng ta sẽ có nhiều thời gian để đàm luận.- Không mất nhiều thời gian đâu. Tôi đến để hỏi xem tôi đã có thể đổ tượng được chưa, khuôn mẫu đã làm xong.
                - A… Tôi biết - Hắn cười - Tôi còn biết anh đến đây vì một lý do khác nữa. Đúng không nào, anh bạn trẻ yêu quí? Quả là cô Thùy Trang đang ở đây. Cô ấy dọn đến đây sống với tôi một tuần nay. Và chỉ cần một tuần là đủ thời gian tôi nhận ra cô ấy chính là một Vệ nữ. Một Vệ nữ tuyệt vời, sống động nồng nàn chứ không vô hồn băng giá như bức tượng bê tông anh sắp dựng cho tôi. Tôi không cần bức tượng ấy nữa. Anh cứ giữ lấy một phần ba tiền cọc trước. Và đây, xin được thù lao thêm một khoản nho nhỏ. Hắn móc túi lấy một xấp tiền đưa cho anh.- Không. Tôi không cần - Vĩnh như nghẹn lại.- Lấy hay không là tùy anh - Hắn cười - Tôi biết mà, nghệ sĩ các anh không sống bằng tiền. Xin chào nhé, bây giờ tôi phải lên gác đón Thùy Trang, cô ấy đang còn trang điểm, chúng tôi đi dự sinh nhật một người bạn làm ăn của tôi. Bai nhé!Hắn bỏ mặc Vĩnh đấy quay vào nhà. Máu bốc lên đầu bừng bừng, Vĩnh dắt xe ra cổng đạp liên miên chẳng biết về đâu. Nhưng rồi anh cũng tĩnh tâm được. Thì ra cô nàng lừa anh. Mà có lừa đâu nhỉ, bởi cô luôn giúp anh kiếm tiền đấy thôi. Còn việc cô đến sống với thằng cha trọc phú thô lỗ thì đâu có phải là lỗi với anh. Vừa đạp xe, Vĩnh vừa kết tội Thùy Trang rồi chính anh cãi lại mình để bênh vực cho cô.Đến lối rẽ vào cổng khu tập thể nhà mình, mải nghĩ, chút nữa anh đâm xe vào một chiếc xích lô cũng đang lao tới. Anh còn chưa kịp hết bàng hoàng thì một cô gái từ xích lô nhảy xuống:- Anh Vĩnh!Người gọi anh chính là Thùy Trang. Cô mặc chiếc váy màu vàng lộng lẫy.- Ra là cô. Cô còn đến đây làm gì - Vĩnh tức giận.
                - Anh Vĩnh. Hãy nghe em nói - Giọng Thùy Trang như khóc.- Vậy à? Còn gì cô nói nốt đi. Tôi không có thời gian - Vĩnh đã phần nào dịu đi và anh nói dỗi. - Em thật có lỗi với anh. Đáng lẽ ra em không nên quen với anh để rồi làm khổ anh. Nhưng em lại muốn giúp anh kiếm tiền đỡ mẹ và em. Em biết, sống với thằng cha ấy em cũng không sung sướng và lâu bền đâu, bởi hắn rởm đời và thô lỗ. Nhưng anh biết đấy, thân em cũng có ra gì đâu. Thôi thì “ngưu tầm ngưu” vậy. Em không xứng với anh đâu, bởi em biết là anh đã đem lòng yêu thương em. Chính vì lẽ đó mà em quyết định đến ở với hắn. Em muốn đẩy anh ra xa em. Mặc dù trong lòng mình, em luôn ước ao có được một người bạn đời như anh. Với em, anh thành có lỗi khi anh trong sáng quá, tốt quá và giỏi giang quá. Tất cả là thế đấy. Hãy tin em và tha thứ cho em.Nước mắt cô ràn rụa. Vĩnh cũng rưng rưng. Người anh trùng xuống. Anh những muốn đặt bàn tay lên vai cô để nói những lời yêu thương, an ủi song không hiểu sao anh không thể làm được.- Anh đã tha lỗi cho em rồi. Thế là em an tâm. Em có một khoản tiền dành dụm được. Anh cầm lấy để mà sống rồi làm những tác phẩm nghệ thuật chân chính như anh từng ao ước. Xin vĩnh biệt anh!Thùy Trang ấn vào tay anh gói tiền và cô nhảy lên xích lô giục đạp mau đi. Vĩnh bàng hoàng và đến khi anh nhận ra bọc tiền trong tay mình thì chiếc xích lô chở cô đã khuất vào một ngõ phố.Vĩnh dắt xe về nhà mình. Đến trước cửa nhà, anh đứng sững nhìn lên chiếc khuôn bức tượng vệ nữ với chiếc bàn tính. Tim anh nhói lên. Anh buông tay để chiếc xe đạp đổ kềnh rồi xông đến vớ lấy một khúc gỗ đập liên hồi vào phần khuôn chiếc bàn tính. Ai dám bảo là đàn bà toan tính? Sẽ không bao giờ có một bức tượng như vậy!Vĩnh sẽ làm một bức tượng Vệ nữ khác. Vệ nữ Thùy Trang của anh. Đó sẽ là tác phẩm nghệ thuật chân chính đầu tiên của anh. Và như vậy, nàng đã nhập vào đời anh.
                Hà Nội 5/1993 

                r
                <bài viết được chỉnh sửa lúc 07.04.2022 01:03:38 bởi Ct.Ly >
                 
                #83
                  tamvanvov

                  • Số bài : 672
                  • Điểm thưởng : 0
                  • Từ: 26.08.2009
                  • Trạng thái: offline
                  Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 13.04.2022 17:22:05 (permalink)
                  Bức tranh để lại
                  Truyệun ngắn.

                  Bảo gã là một người tốt bụng ư? Phải. Phần đông những người cùng cơ quan và những người quen biết gã đều công nhận như vậy. Ở vào thời buổi này, việc thống nhất công nhận thế quả là khó, song không hiểu sao với riêng gã mọi người đều có chung nhận định như vậy. Có lẽ, bởi gã không hại ai, không bon chen đố kỵ với ai, và hễ ai nhờ việc gì gã cũng sốt sắng giúp đỡ mặc dù nhiều khi gã chẳng nên cơm cháo gì. Mọi người trong cơ quan hay lấy gã ra để mà đàm luận trong lúc nhàn rỗi. Tỉ như người ta hỏi nhau rằng gã ham muốn gì, gã sống vì mục đích gì. Chịu thôi. Nghĩ rằng gã sống vì tiền? Không đúng. Gã không ham hố chuyện kiếm tiền, và khi kiếm được gã cũng tiêu vung tiêu vẩy cho kỳ hết. Bảo gã sống ham địa vị chức tước. Cũng không đúng. Gã không màng chuyện đó, ở cơ quan nào gã cũng chỉ là thằng lính quèn. Vậy gã sống vì một sự nghiệp, một niềm đam mê nào đó chăng? Chẳng phải thế. Phàm những gì liên quan đến nghệ thuật gã đều biết tí chút, và gã cũng chẳng dại gì sống chết vì những thứ vô bổ đó. Vậy mục đích cuộc đời của gã là gì? Có một đôi lần, gã say mèm và gã hùng hổ tuyên bố rằng gã chỉ sống vì tình, vì “sự nghiệp giải phóng phụ nữ”. Song không ai tin. Nghe gã tuyên bố vậy, người ta chỉ cười, cái thằng cha hiền lành, nhát như thỏ đế, nói không nên câu, chỉ lung búng trong miệng thì đến ma nó cũng chẳng thèm, nói chi đến đàn bà. Gã làm việc ở một bảo tàng ngành. Gã tự hỏi, không hiểu vì sao người ta lại thành lập cái bảo tàng ngành ấy. Song gã lại biết ơn chuyện đó, bởi nhờ có nó mà gã thoát được cảnh lao động nặng nhọc. Gã vốn là công nhân. Gã lái tàu. Gã ngồi trên cái đầu tàu hơi nước to đen trùi trũi với chiếc lò than hồng và chiếc nồi súp-de nóng hầm hập, kéo đằng sau một dãy toa cũng đen xì như vậy. Hàng ngày, gã và chiếc đầu tàu của gã chạy đi chạy lại trên một cung đường quen thuộc, quen đến mức, cứ ngồi lên, vận hành một lát là gã ngủ khì, đến lúc tỉnh thì vừa là đến cái thời điểm gã phải nhấn lên một hồi còi dài. Cũng may cho gã là bao nhiêu năm ngủ khì trên tay lái nhưng tàu không gặp tai nạn trắc trở gì, nếu không thì gã đã ngồi tù mục xương từ lâu rồi. Khi trai trẻ, gã không lầm lì như bây giờ. Lúc ấy, gã thuộc diện nhanh chân nhẹ bước, mồm miệng đáo để. Gã biết khá nhiều trò lặt vặt, đại loại như hát hò, kẻ vẽ, trang trí hội họp, bởi thế, ông giám đốc xí nghiệp nhắc gã từ chân lái tàu về làm việc ở văn phòng. Rồi ông ta hứa sẽ cho gã đi học, và gã được đi học thật. Học xong, gã không muốn quay về chốn cũ nữa, vả lại, ông giám đốc cũ bị đẩy đi nơi khác nên cũng chẳng quan tâm đến gã ở hay đi, và thế là gã cầy cực xin được về cái bảo tàng ngành này. Làm việc ở đây tuy lương có ba cọc ba đồng song được cái nhàn rỗi. Điều chính là gã được về sống ở thành phố, niềm mơ ước từ thuở thiếu thời của gã.
                       *                 * *
                  Cơ quan gã lúc nào cũng vắng như chùa bà đanh, ấy là nói những người vào ra liên hệ công tác, chứ còn cánh nhân viên thì lại đông nhung nhúc. Họ chẳng làm gì. Đi ra đi vào, ngắm vuốt, khen nhau có bộ quần áo đẹp, kiểu đầu lạ, và sau hàng giờ tán gẫu, mọi người kéo nhau đi chợ, rồi khi về lại rãi thai rãi thẻ ra bàn nhặt rau, làm thịt, mổ cá sẵn rồi quẳng vào chiếc tủ lạnh của cơ quan, chờ chiều mang về nhà. Thường là khi ấy, gã thu mình trên chiếc “buồng chim của gã”. Đó là một căn gác xép, bên dưới là nơi chứa bàn ghế hỏng. Gã nằm thẳng cẳng, nghĩ ngợi linh tinh và thỉnh thoảng lại ngồi dậy nhấp một ngụm chè suông. Cũng có lúc, gã như phát cuồng, gã trải bất kỳ thứ gì gã có, chẳng hạn như tờ giấy, mảnh gỗ, miếng vải trắng ra bàn và gã vẽ. Khi thì gã vẽ phong cảnh, lúc thì gã vẽ phố phường, rồi gã vẽ các con vật như bò, gà, chó, lợn, thỏ và cả cóc nữa. Có bức, gã vẽ một bầy cóc lổm ngổm những cóc, con ngồi, con nhảy, con đớp ruồi, có cả đôi cóc đang gièo nhau và gã chua vào bên dưới “cóc vườn địa đàng”.Mọi người biết chuyện gã hay vẽ tranh, một hôm cả cơ quan, từ bà nạ dòng bảnh chọe đến mấy cô gái măng tơ rủ nhau tìm lên cái “chuồng chim” của gã. Mọi người đòi xem tranh. Cực chẳng đã, gã đành phải lôi hết cái đống của nả ra cho mọi người thỏa mãn. Mọi người ồ lên bảo là gã vẽ giống như thật. Rồi người ta, kẻ xin bức này, người xin bức khác, cho đến hết, chỉ chừa ra mỗi bức “Cóc vườn địa đàng”. Có bà kêu lên: “Eo ơi, bẩn quá”, còn hai cô gái trẻ lại bấm nhau, rì rầm nho nhỏ: “Trông phồn thực quá”. Gã nghĩ bụng, ở đời toàn những thứ phồn thực cả, riêng chỉ có khoản lương hàng tháng gã lĩnh là còm cõi. Thấy lương gã thấp, cánh đàn bà ở cơ quan kêu hộ lên ông thủ trưởng. Ông ta hứa sẽ tăng lương cho gã, nhưng rồi bận họp hành, công cán đâu đó, ông ta quên luôn. Và gã cũng chẳng bao giờ nhắc lại chuyện đó. Đám đàn bà trong cơ quan thấy gã đụt vậy cũng sinh chán. Gã còn nghe họ bảo nhau: “Như cái của nợ này thì có mỡ đến miệng cũng chẳng biết đớp”. Gã chỉ cười thầm.
                       *                 * *
                  Gã biết, mọi người coi gã không phải là đàn ông. Gã từng là đàn ông, thậm chí là đàn ông mạnh mẽ. Cuộc đời lái tàu của gã, gã tiếp xúc với biết bao loại đàn bà. Những người đàn bà buôn lậu, những đàn bà giang hồ, những đàn bà trốn chúa lộn chồng đã từng nhảy lên đầu tàu hoặc rúc vào toa đen trên chuyến tàu của gã. Họ trả công cho gã không phải bằng tiền mà bằng cái vốn có của họ. Gã chán chết. Song có một chuyện thì gã không chán, gã nhớ, gã khát khao. Ấy là vào cái thời điểm gã học xong, còn lơ cơ chưa biết xin việc làm ở đâu. Tình cờ, gã về quê và gặp lại anh bạn thuở thiếu thời. Anh bạn đang dạy học ở mãi phương Nam, nơi xứ dừa. Anh bạn rủ gã vào trong đó chơi, nếu thấy thích thì ở lại hẳn. Gã bùi tai nghe theo. Ở đó gã đã gặp một cô gái. Cô gái quê miệt sông nước phương Nam làm cho gã xao lòng. Gã nhớ lắm… Một lần cô gái rủ gã đi hái dừa. Vạt dừa nhà cô nằm mãi ở cồn đất nổi rìa sông. Hai người lên xuồng. Cô gái cầm bơi chèo đưa gã đi. Gã ngồi một đầu xuống, nhìn vào vồng ngực cô cứ trồi lên trồi xuống theo nhịp bơi chèo, gã nhẩm bụng nghĩ con gái miệt sông nước người nào cũng thắt đáy lưng ong, ngực nở, hông nở vì phải bơi chèo từ nhỏ. Đến lúc hái dừa, gã không biết trèo cây, đành phải đứng dưới. Cô gái leo thoăn thoắt, loáng cái đã tới ngọn. Cô bứt dừa quẳng xuống và gã bắt từng trái một. Gã nghĩ tới bức tranh dân gian “Hứng dừa”. Chỉ khác là gã đứng dưới còn cô gái ở trên cây. Gã ngửa mặt nhìn lên, đôi gót chân hồng hồng của cô gái, bắp chân rồi bắp vế trăng trắng trong ống quần rộng. Gã mải nhìn vào chỗ đó mà quên cả đỡ dừa, cô gái quen tay cứ bứt và lẳng xuống, thiếu chút nữa là gã vỡ đầu. Hái xong, cô gái ngồi thở, gã cứ nhìn cô mà tưởng tượng ra bắp chân bắp vế. Cô gái chặt dừa đưa cho gã uống. Gã uống một hơi rồi đứng lom khom đưa trả cô gái trái dừa. Gã nhìn sâu vào ngực áo bà ba cổ trễ của cô và gã đùa: “Hai trái dừa của em tròn quá”. Cô đỏ mặt bảo gã: “Anh Hai chớ đùa heng”. Gã hấp háy mắt nhại giọng cô: “Anh nói thiệt đó heng”. Đến lúc chuyển dừa xuống xuồng, không may gã trượt chân ngã ùm xuống kênh. Gã không biết bơi, tay gã chới với trên mặt nước. Cô gái nhảy ào xuống vực gã lên. Gã ngồi tựa vào thân cây dừa đổ bên bờ kênh vuốt nước trên mặt. Cô gái sợ quá cứ luống cuống trước mặt gã, lắp bắp hỏi xem gã có sao không. Gã hoàn hồn và đập ngay vào mắt gã là đôi vú căng mẩy dưới lần áo ướt của cô gái. Xúc cảm rực lên trong lòng gã. Gã vờ lả người tựa vào thân dừa. Cô gái vội vàng day day ngực gã, và mặt cô kề sát mặt gã. Gã đưa tay khẽ choàng lấy eo cô gái và bàn tay kỳ diệu của gã cứ lần lần vuốt ve. Khi cô gái mừng vì gã đã tỉnh thì cô lập tức sa vào nỗi đam mê mà gã tạo ra cho cô. Cô gái ôm ghì lấy gã, mắt nhắm nghiền, miệng rên khe khẽ. Khi ấy gã tỉnh táo, nhanh nhẹn hẳn lên, và gã từ từ bế cô lên, đặt cô nằm ngửa trên thân cây dừa đổ ven bờ kênh… Tối ấy, gã ngồi uống rượu cá lóc bông nướng chấm muối tiêu với cha cô gái bên đống lửa hun muỗi. Còn cô gái cứ lúi húi bên đống trái dừa, nâng lên đặt xuống mà chẳng ra làm việc gì cả. Gã hiểu tâm trạng cô gái, song câu chuyện với cha cô trong hơi men lấn áp đi. Gã bốc đồng nói những chuyện trên trời dưới bể đâu đâu.  Một tuần sau gã ra Bắc. Gã nhớ chuyện đã xảy ra với cô gái xứ dừa nhưng cũng chỉ xem như một kỷ niệm sâu sắc. Với đám phụ nữ cùng làm việc, gã thấy họ cứ như là những hình nhân mặc váy, bảnh chọe, biết quay cuồng trên chiếc đĩa hát nhựa. Gã chán họ và họ cũng chán gã.  Nhưng rồi người bạn của gã bỗng từ phương Nam ra, hỏi thăm người làng, biết gã làm việc ở đây và anh ta đã tìm đến. Gã biết được rằng, gã đã có một đứa con trai, con với cô gái xứ dừa. Cô gái có thai với gã rồi sinh con ngoài giá thú. Vì lỡ dở như vậy mà cô khó lấy chồng. Cô đành ở vậy nuôi con. Nghe người bạn kể chuyện, gã thấy như sụn người xuống…
                       *                 * * Gã biến mất khỏi cơ quan. Không ai biết gã đi đâu. Gã cũng chẳng để lại mảnh giấy nào. Mọi người trong cơ quan xáo xác. Họ đồn đoán bảo rằng gã chán cảnh nhàn rỗi mốc thếch nơi gác xếp nên bỏ đi đào vàng. Lại có người bảo rằng một lần xem ti vi thấy công an một tỉnh mãi miền Trung nhắn tin tìm tung tích nạn nhân bị tai nạn giao thông, ảnh chụp người bị nạn hao hao giống gã. Thật chẳng biết thế nào. Hôm mọi người tổ chức lục tìm nơi gác xép “chuồng chim” của gã, chợt một ai đó xướng lên “Thằng cha này được lên lương chưa nhỉ?”. Tất cả cùng ớ người ra, rằng gã vẫn chưa được lên lương. Trong đống tranh vẽ trên đủ loại chất liệu, người ta vẫn thấy bức tranh “Cóc vườn địa đàng”. Hai cô gái trẻ trề môi dè bỉu: “Gớm ghiếc quá! Rõ một lũ cóc chết”. Còn bà nạ dòng lần trước chê là bẩn thì lại lẩm bẩm: “Nhìn kỹ thấy phồn thực thật”.  Mọi người bàn nhau nên đốt đi hay giữ lại. Cuối cùng cánh phụ nữ đi đến thống nhất là giữ lại bức tranh, mặc dù nó chẳng có giá trị gì và không hợp với bảo tàng ngành này, song xem nó như là kỷ vật của một người từng làm việc ở đây đã khuất…

                   
                  #84
                    tamvanvov

                    • Số bài : 672
                    • Điểm thưởng : 0
                    • Từ: 26.08.2009
                    • Trạng thái: offline
                    Re:VĂN XUÔI CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CHU NHẠC ( II ) 03.05.2022 11:26:50 (permalink)
                    Con chó mực của bà tôi
                    Truyện ngắn
                     
                     
                    Con chó mực của bà tôi Ngày ấy, tôi đang học cấp hai. Tôi vui lắm khi thấy hoa phượng nở báo hiệu năm học chấm dứt. Theo lệ thường tôi sẽ được về quê nghỉ hè với bà ngoại; Thực lòng phải xa đám bạn bè trong phố tôi cũng hơi buồn. Song về với bà, tôi sẽ được thỏa sức ăn hoa quả, được đi thả diều với tụi trẻ trong làng và tha hồ vùng vẫy, bơi lội trên sông. Bà ngoại tôi sống một mình. Các cậu các dì tôi đều lập gia đình và làm việc ở xa. Đã nhiều lần, cậu tôi, người con trai duy nhất của bà ở Hà Nội về đón bà đi, nhưng bà nhất định không nghe. Bà bảo sinh ra ở đâu thì bà sẽ chết ở đó, rằng bà không muốn xa căn nhà đã bao năm trời gắn bó, một thân tần tảo nuôi con khôn lớn. Làng quê đối với bà thật gần gũi, thân thiết. Điều này, khi lớn lên tôi mới ý thức được, chứ bấy giờ tôi chỉ nghĩ đơn giản là bà quen sống ở nông thôn rộng rãi, thoáng mát nên không chịu được cảnh thành phố chật chội ồn ào và bụi bậm. Bà tôi già lắm rồi nhưng vẫn còn khỏe. Suốt ngày bà cặm cụi, lặng lẽ vun xới cây cối trong vườn. Sống thui thủi một mình nên khi thấy tôi về bà rất vui. Tôi về mấy ngày thì bà đi chợ Huyện mua một con chó nhỏ nhưng bụ bẫm, lông đen tuyền rất đẹp. Bà gọi nó là con chó Mực. Khi tôi chìa ngón tay nhứ nhứ miệng nó là nó khẽ thè lưỡi bé tí xíu có đốm đen mút mút như bú mẹ. Từ đấy lúc nào tôi cũng quấn quýt với con Mực. Buổi tối đầu tiên, khi đi ngủ, tôi định cho con Mực ngủ cùng, song bà không đồng ỳ. Bà bảo: - Cháu ạ, nuông chó chó liếm mặt. Chiều nó quá nó sẽ hư đi. Bà đuổi con Mực ra sân. Hình như nó còn nhớ mẹ và sợ bóng tối: suốt đêm nó kêu ăng ẳng kì cục cạy cửa. Nhưng bà đã đóng chặt cửa. Tôi nằm trong nhà không tài nào ngủ được. Thương con mực lắm song tôi không dám trái ý bà. Sáng ra, tôi ngủ dậy sớm hơn bà. Mở cửa, con Mực nằm ngủ ngay bên bậu cửa. Tuy ngủ nhưng người nó vẫn run bần bật, nhìn thật tội nghiệp. Vài ngày sau con Mực quen dần. Hễ thấy bà cháu tôi chuẩn bị đi ngủ là nó lẳng lặng ra ngoài. Thấy vậy, bà vui mừng bảo tôi: - Chó chịu nằm sương là quí lắm đấy. Rồi bà giảng giải thêm cho tôi biết là hễ thấy chó không sủa to mà chỉ hực lên và lùi dần vào nhà thì chắc chắn có người đang đi vào. Ban ngày tôi đi đâu là con Mực đi theo đấy. Khi tôi ngồi câu cá bên gốc cây sấu ven ao, con Mực cũng tới nằm cạnh. Cũng như tôi, mắt nó hau háu nhìn chiếc phao. Tôi giật được cá, nó nhẩy cẫng lên mừng rối rít. Có lần tôi giật non, vừa chấm bờ thì chú cá rô tuột khỏi lưỡi câu rạch ngay xuống mép ao, con Mực chồm tới, ngoạm ngay được chú cá. Buổi trưa nóng nực, tôi thường leo lên cây ổi, chọn cành chạc ba ngả xoài ra mặt ao nằm nhai ổi và đọc sách. Con Mực hiền lành nằm dưới gốc, gối đầu lên đôi dép của tôi mà ngủ. Thỉng thoảng nó mê ngủ rên ấm ứ trong cổ. Một hôm tôi cũng nằm như vậy mà mê mải đọc truyện, chợt nghe tiếng gà con kêu quang quác. Thì ra con mèo già nhà ai mắt xanh lè, mũi đỏ lựng chộp một chú gà con trong đàn gà của bà tôi. Tôi vội vàng tụt xuống. Thấy động, con Mực choàng dậy, nó ngơ ngác một lúc rồi nhận ra tình thế, bèn xông thẳng vào con mèo già còn to hơn cả nó. Con mèo vẫn không buông mồi, trước khi nhẩy lên bờ tường cao tít con mèo còn kịp tát mạnh vào đầu con Mực. Con Mực vừa đau, vừa tức, hậm hực sủa theo. Khi tôi xuống đến nơi thì con mèo đã kịp tha chú gà lẩn mất. Con Mực ư ử quấn lấy chân tôi như hờn giận, lại như trách móc sự chậm trễ của tôi. Vết cào của con mèo già hóa cáo rất sâu, máu rỉ ra ướt đẫm một bên má nó. Tôi phải xin chút thuốc lào ăn trầu của bà dịt vào vết cào. Thật là chó liền da, gà liền xương, mấy ngày sau vết đau lành hẳn. Nhưng từ đấy tôi và con Mực càng quấn nhau hơn. Những ngày đầu con Mực ăn rất khỏe. Cá câu được bao giờ tôi cũng dành phần cho nó. Sau khi ăn, bụng nó tròn căng như bụng ễnh ương. Đến cuối hè, tự nhiên con Mực biếng ăn hẳn đi. Một bữa nó chỉ nhỏ nhẻ vài miếng rồi lỉnh ra vườn nằm. Nó mất vẻ tinh ranh xông xáo thường ngày. Chắc là nó ốm. Một tuần như vậy, con Mực gầy hẳn đi, bụng thắt lại trông đến thiểu não. Anh Toàn, hàng xóm với bà tôi, là cán bộ thú y sang chơi thấy con Mực như vậy, anh nói: - Con chó của bà nó bị sán đấy. Bà kiếm lấy chút diêm sinh tán nhỏ trộn với cơm cho nó ăn là khỏi ngay thôi. Bà ậm ừ cho qua chuyện. Khi anh Toàn về rồi, bà gọi tôi lại, ghé tận tai tôi thầm thì vẻ quan trọng: - Cường này, mấy hôm nữa bà sẽ bán con Mực cho quán thịt chó lão Phệ ở cổng làng, lấy ít tiền thêm vào số tiền bán hoa quả trong vườn góp vào Hội bảo thọ. - Sao bà lại bán nó? Tôi sửng sốt. Bà tôi điềm nhiên bảo: - Nó có một tội rất nặng, cháu chưa biết đấy thôi. - Nó ăn vụng à bà? - Tôi ngạc nhiên. - Không phải. Bà khẽ ay ay mắt nhìn tôi vẻ bí mật rồi nói nhỏ và rất nhanh như sợ có người nghe trộm - Nó lê trôn. - Chó lên trôn là gì hả bà - Tôi không hiểu. Bà liền giảng giải cho tôi nghe thế nào là chó lê trôn và hàng loạt những tai họa kèm theo (có lẽ do bà tưởng tượng ra hoặc theo lời truyền tụng từ ngày xưa để lại). Rồi bà bỏ mặc tôi tần ngần bên con Mực mà vác cuốc ra vườn, miệng lẩm bẩm: - Gà gáy gở, chó lê trôn. Tai hại lắm. Tôi đâu có chịu ngay, năn nỉ xin bà tha cho con Mực, nhưng bà cứ lắc đầu. Vả lại bà nói, bà cần có tiền nộp cho Hội bảo thọ.  Một lần tôi hỏi bà: - Thế Hội bảo thọ là cái gì mà bà phải đóng tiền vào đấy?  - À… à. Có nói cháu cũng chẳng hiểu đâu. - Thì bà cứ nói đi, bà cứ làm như cháu còn bé lắm đấy - Giọng tôi hơi gắt. - Mày chả còn bé thì lớn với ai - Bà tôi nói. Nhưng rồi bà cũng kể cho tôi nghe về Hội bảo thọ. Không biết ở những nơi khác thì thế nào, chứ Hội bảo thọ ở quê tôi là hội của những người già họp lại với nhau để chuẩn bị sửa soạn cho cái chết của mình. Những người trong hội tự nguyện góp tiền vào bao nhiêu cũng được, tùy khả năng từng người. Số tiền đó, một phần gửi vào quỹ tiết kiệm, một phần giành để mở mang vườn cây ăn quả của các cụ, và được trích dần để mua quan tài, sửa lễ viếng gồm có câu đối, hương hoa, trầu cau, rượu cúng, mỗi khi trong Hội có người mất. Là sau này tôi mới hiểu tường tận như vậy chứ bấy giờ tôi chỉ biết lờ mờ.  - Bà ơi - Tôi ngạc nhiên thắc mắc - Cháu thấy ở xóm này khối nhà có sẵn quan tài để trong nhà. Hội không mua cho nhà họ à. Sang nhà mấy đứa bạn mới quen trong xóm chơi, tôi thường thấy những chiếc quan tài sơn đỏ chói kê ngay dưới bàn thờ. Bọn bạn bảo trong đó đựng đầy thóc đấy. Nghĩ sợ thật.  - Là vì người ta có con cháu lo sẵn cho. Họ không cần phải vào Hội - Bà tôi đăm chiêu nói: Tôi băn khoăn: - Thế bố mẹ cháu và các cậu các dì không mua được quan tài cho bà hay sao? - À… à… Bà ngập ngừng - Được chứ. Nhưng bà tự lo được. Bà buồn lắm. Tôi không dám hỏi thêm. Nhưng hôm sau bà bảo tôi là không bán con Mực nữa. Tôi nảy ra một ý định là chờ đến hôm giỗ ông ngoại mẹ, cậu và các dì tôi về, tôi sẽ xin tiền cho bà góp Hội.  Hôm giỗ ông ngoại mọi người về đủ. Đông vui lắm. Tôi cứ canh cánh lo không thực hiện được ý định của mình. Khi tôi nói ra, mẹ tôi và tất cả mọi người đều ồ lên. Có người khen tôi sáng ý, biết nghĩ xa. Rồi mọi người góp tiền, nhưng hình như bà tôi không muốn nhận số tiền do “sáng kiến” của tôi ấy. Mọi người năn nỉ ép mãi bà mới nhận một phần tiền rất nhỏ với vẻ miễn cưỡng. Tự nhiên tôi thấy giận bà. Tôi thấy bà phụ công tôi. Sao bà lại dại dột thế nhỉ.  Ngay sau hôm ấy, tôi theo mẹ về thành phố. Chia tay với con Mực, tôi vuốt ve nó mãi, còn nó thì ngước cặp mắt đen sáng ươn ướt nhìn tôi, miệng ư ử rên khẽ như nói lời tạm biệt. Tôi ra đi, lòng cảm thấy buồn. Chẳng ai nhận ra điều ấy, ngoài bà tôi. Tuy bà không nói gì nhưng dáng vẻ bà buồn lắm.  Đến cuối mùa thu năm ấy, trường tôi tổ chức đi thăm di tích lịch sử Côn Sơn. Tôi và cả hai đứa bạn thân là Thành, Phương cùng tham dự. Trên đường về, chiếc xe buýt chở bọn tôi dừng ngay trên phố huyện gần nhà bà ngoại tôi. Thời gian nghỉ khá lâu, tôi bèn rủ Thành, Phương vào nhà bà ngoại tôi chơi nhân thể khoe với hai đứa vườn cây ăn quả um tùm và con chó Mực khôn ngoan của bà. Hồi đầu năm học, tôi đã bao lần khoe với chúng nó về con Mực với những chiến công oanh liệt của nó (Lẽ dĩ nhiên là tôi có phóng đại thêm cho ly kỳ). Lũ bạn tôi nhất là thằng Thành, cứ ao ước có một con chó khôn như thế. Ba chúng tôi hấp tấp bước vào cổng. Cửa nhà đóng. Sân gạch đầy lá rụng. Không thấy con Mực chạy ra và cũng không nghe thấy tiếng nó sủa.  - Bà ơi - Tôi hoang mang gọi. Bà lên tiếng và đi từ trong vườn ra. Thấy chúng tôi bà mừng quá: - Cháu về thăm bà đấy à? Vào đây, vào đây các cháu.  Bà giục luôn miệng, chân lật đật bước lên trên khoảng sân đã long gạch gần hết, phủ đầy rêu xanh và lá khô vàng. Gớm, lá rụng nhiều quá. Bà phải quét ngày hai lần mà vẫn không xuể. Được cái sẵn cái đun - Bà kể lể. Chúng tôi theo bà vào nhà, bà bê chiếc nồi đất cũ kỹ, đổ nước chè xanh ra mấy cái bát sứt mẻ. - Các cháu uống nước đi cho đỡ khát. Nước chè xanh mát lắm. - Con Mực đâu rồi hả bà - Không nén được, tôi hỏi. - Nó chết mất rồi cháu ạ - Giọng bà khàn khàn. - Sao lại chết. Hay bà lại bán nó rồi? Tôi gần như kêu lên. Bà tôi ngồi xuống chiếc tràng kỷ tre cũ kỹ ngả màu vàng xám đã gãy mất mấy nan, thừ người một lát rồi nói: - Sao cháu lại hỏi bà vậy hả Cường? Bà đã bảo với cháu là bà không bán nó rồi mà - Bà thở dài. Nó chết thật rồi. Nó chết vì nó chỉ muốn ở với bà thôi. Bà tôi lấy góc chiếc khăn quàng đầu khẽ chấm đuôi con mắt. Chúng tôi lúng túng.  - Cháu đi được ít lâu thì ông cụ Hồi, cái ông lão trồng sen cho xã vẫn thỉng thoảng cho cháu hoa sen ấy, cháu hẳn còn nhớ, đến lợp lại cho bà cái mái bếp. Thấy con Mực có tướng bắt chuột, ông lão cứ nằng nặc đòi bà nhường lại cho ông để cho ông huấn luyện nó săn chuột. Nể lời, bà cho không con Mực cho ông Hồi chứ có mua bán gì đâu, vả lại cháu còn nhớ cái ngày “điềm gở” làm bà còn chột dạ mãi. Bà già rồi hay lo mà cháu. Bẵng đi mấy hôm bà thấy con Mực mò về. Nó mừng rối rít. Bà bảo nó: “Ông lão xin mày rồi thì mày về nhà ông lão. Ông ấy cho mày ăn thì mày phải về ở nhà săn chuột cho ông nghe chưa”. Bà xua mãi nó mới chạy đi. Ông Hồi dặn bà là khi thấy con Mực về thì không cho nó ăn, và đánh mắng đuổi nó đi hộ ông. Ông lão dặn vậy chứ bà nỡ nào đánh mắng nó. Đôi khi nó vẫn lảng về thăm bà. Thấy gà lợn hàng xóm đến phá vườn, nó lại xông ra đuổi như hồi cháu còn đây ấy! Bà thương nó nên thỉng thoảng lại lỗi hứa với ông Hồi lấy cơm cho nó ăn, nhưng nó chẳng ăn bao nhiêu. Cứ như là nó chỉ sống bằng tình nghĩa ấy. Lâu lâu không thấy nó sang, bà đâm ra nhớ. Bà chiêu một ngụm nước chè, dụi dụi cặp mắt kèm nhèm kể tiếp: - Cho mãi tới cái đêm rằm tháng tám ấy. Gớm, mà bão to quá. Gió muốn bay cả nhà. Bà sợ quá đóng chặt cửa. Mãi tới sáng hôm sau bão ngớt bà mới dám mở cửa thì thấy con Mực nằm trên thềm ngay lối ra vào. Chẳng biết nó nằm đấy từ bao giờ, chắc thấy bão to nó lo cho bà nên mới chạy về. Người nó lạnh toát, lông ướt bết lại. Khi bà nhấc đầu nó lên thì nó hé con mắt ươn ướt nhìn bà. Thật tội nghiệp, nó trách bà đấy. Bà đốt lửa sưởi cho nó, nhưng nó yếu quá không hồi lại được. Đến chiều thì nó chết hẳn. Bà chôn nó dưới gốc sấu, chỗ nó thường hay nằm trước đây. - Tại bà tự nhiên lại đem nó đi cho cái ông Hồi nên nó mới chết - Tôi nói giọng trách móc.  Bà tôi ngồi thừ ra một lát, thở dài rồi đứng dậy: - Các cháu ngồi đây nhé. Bà ra vườn chặt mía và lấy bưởi cho ăn. Bà lật đật đi ra vườn. Dáng bà còng hẳn xuống. Căn nhà im ắng. Nghe rõ cả tiếng mọt nghiến gỗ kèn kẹt, tiếng bú rách đớp muỗi trong bóng tối tắc tắc. Khi sống con Mực đi về còn làm bà vui, nay nó chết rồi bà lại thui thủi một mình. Lát sau bà ôm vào một bó mía và mấy quả bưởi đã gọt vỏ, tách múi. Chúng tôi còn bụng dạ nào mà ăn nữa. Thành và Phương lén giục tôi vì lo xe chạy. Khi chúng tôi chào bà thì bà thẫn người tưởng chúng tôi giận bà vì chuyện con Mực nên mới bỏ đi sớm như vậy. Tôi phải phân bua mãi. Bà đưa chúng tôi ra tận cổng. Khi ô tô chạy qua bà vẫn còn đứng đấy. Đầu bà bạc trắng. Những sợi tóc bị gió thổi xòa xuống đôi gò má nhăn nheo và khuôn mặt khắc khổ của bà. Tôi nhoài hẳn người ra ngoài cửa xe gọi to:  - Bà ơi… - Đừng giận bà, Cường nhé. Khi nào nghỉ hè nhớ về chơi với bà nhé… Bà gọi với theo. Tiếng bà hút theo chiều xe chạy, bị kéo dài ra, đuối đi rồi mất hẳn. Tự nhiên tôi thấy cay cay nơi sống mũi. Mắt rân rấn nước. Tôi cứ nhìn mãi về phía sau, nơi bà đứng. Biết bao nhiêu người trong chúng ta có một làng quê và có một người bà để thương để nhớ. Cho đến bây giờ, khi đã trưởng thành đi đây đó, và chắc mãi sau này nữa tôi vẫn nhớ buổi chiều cuối thu năm ấy; Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp bà. Chưa kịp đến kỳ nghỉ hè tiếp theo để về thăm bà thì một hôm đi học về, tôi được biết mẹ tôi vừa vội vàng về quê vì được tin bà tôi mất. Bà bị cảm rồi đi đột ngột, không kịp dặn lại gì. Tôi ân hận vô cùng. Chắc là bà không biết là tôi không giận gì bà về chuyện con Mực. Không mấy ai lại gắn bó với làng quê như bà tôi. Mẹ, cậu và các dì tôi cho đó là do bà bị những định kiến xưa cũ đè nặng.  Nhưng buổi chiều hôm ấy, đứng trước mộ bà, tuy vẫn còn là một đứa bé, tôi bỗng chợt cảm thấy, dù chỉ lờ mờ thoảng qua thôi, cái sợi dây vô hình nhưng bền chặt ấy gắn con người với cội nguồn gốc rễ của mình. Giờ tôi mới cảm thấy rõ ràng là mẹ tôi, cậu tôi, các dì tôi và cả tôi nữa đều bắt nguồn từ người bà đã nằm sâu dưới mộ. Và bỗng tôi lại nhớ đến con chó Mực của bà tôi, con chó không bao giờ quên người chủ đầu tiên, con chó khi mưa bão đã chạy về nằm chịu chết trên thềm nhà cũ. Là giống vật mà sao nó lại như hiện thân của những quan hệ tình cảm bền chặt ở làng quê, nơi mà chúng tôi đã dứt áo ra đi. Nhưng đấy là sau này tôi mới hiểu ra như vậy. Còn lúc ấy, tôi chỉ biết cắm lên mộ bà tôi những thẻ hương mà tôi mang về từ thành phố và thầm khấn cho linh hồn bà siêu thoát…
                     
                    Đã mang vào thư viện

                    <bài viết được chỉnh sửa lúc 06.05.2022 20:14:11 bởi Ct.Ly >
                     
                    #85
                      Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark
                      Thay đổi trang: < 123456 | Trang 6 của 6 trang, bài viết từ 76 đến 85 trên tổng số 85 bài trong đề mục

                      Chuyển nhanh đến:

                      Thống kê hiện tại

                      Hiện đang có 0 thành viên và 4 bạn đọc.

                      Chú Giải và Quyền Lợi

                      • Bài Mới Đăng
                      • Không Có Bài Mới
                      • Bài Nổi Bật (có bài mới)
                      • Bài Nổi Bật (không bài mới)
                      • Khóa (có bài mới)
                      • Khóa (không có bài mới)
                      • Xem bài
                      • Đăng bài mới
                      • Trả lời bài
                      • Đăng bình chọn
                      • Bình Chọn
                      • Đánh giá các bài
                      • Có thể tự xóa bài
                      • Có thể tự xóa chủ đề
                      • Đánh giá bài viết

                      2000-2022 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9