RỘNG MỞ TỪ ÁI

Tác giả Bài
tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
RỘNG MỞ TỪ ÁI - 07.09.2012 22:15:43
0
RỘNG MỞ TỪ ÁI

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffry Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 22/09/2011

MỤC LỤC

Lời nói đầu

1- Quan điểm của tôi
2- Những giai tầng phát triển
3- Căn bản thanh tịnh của tâm thức
4- Bước nền tảng: Nghĩ về bạn và thù
5- Bước thứ nhất: Nhận ra bạn
6- Bước thứ hai: Đánh giá đúng sự ân cần
7- Bước thứ ba: Quay lại ân cần
8- Bước thứ tư: Học để yêu thương từ ái
9- Sự khác biệt giữa từ ái và luyến ái (dính mắc)
10- Từ ái như căn bản của nhân quyền
11- Mở rộng vòng xoay từ ái
12- Bước thứ năm: Năng lực của bi mẫn
13- Bước thứ sáu: Chí nguyện cố gắng hoàn toàn
14- Bước thứ bảy: Tìm cầu sự giác ngộ vị tha
15- Năng lực vô biên của vị tha
16- Hành động với từ ái
Các tác phẩm

***


LỜI NGƯỜI DỊCH

Cổ Đức có dạy :
"Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc
Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ ".

Tạm dịch :
Lòng thương yêu có khả năng đem đến cho tất cả chúng sanh an vui,
Lòng thương xót có khả năng cứu tất cả chúng sanh thoát khổ.

Phật Giáo Tây Tạng khi dịch ra Anh ngữ thường dùng:

- Love để dịch cho chữ Từ hay từ ái và có định nghĩa là nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc và có nguyên nhân của hạnh phúc.

- Compassion để dịch chữ Bi hay bi mẫn (hay great love: Đại bi) và có định nghĩa là nguyện cho mọi chúng sinh thoát khổ và hết những nguyên nhân của khổ.

Đức Đạt Lai Lạt Ma trong một số bài viết cũng nói rằng, không phải nói đến từ ái hay bi mẫn là chúng ta phải có khả năng để ban vui hay cứu khổ mà trước hết đấy là sự phát nguyện, mong ước của chúng ta cho mọi chúng sinh được có niềm vui và hết khổ. Quả vậy, nếu chúng ta nghĩ đến ban vui cứu khổ mà khi chúng ta chưa có khả năng thần thông tự tại như những vị Phật hay Bồ tát thì quả là ngoài sức tưởng tượng và chúng ta không thể và không dám nghĩ đến, và chúng ta cảm thấy thối chí. Tuệ Uyển nghĩ như thế. Nhưng thay vì thế, như lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma, chúng ta trước hết phải có tấm lòng rộng rãi như thế, phải phát nguyện từ ái và bi mẫn nguyện cho mọi người được hết khổ, được có niềm vui, được có nguyên nhân của niềm vui, được hết những nguyên nhân của khổ. Với lời nguyện ước, mong muốn này chắc ai cũng có thể làm được.

Dĩ nhiên nói đến từ bi là nói đến lòng thương yêu không phân biệt kẻ oán, bạn hữu hay người dưng, nhưng thật khó mà nghĩ đến người làm tổn hại chúng ta, người chúng ta không ưa với tâm bình đẳng như vậy, nhưng như Bồ tát Tokmay Sangpo nói, nếu chúng ta không thuần hóa kẻ thù nội tại mà lại muốn thuần hóa kẻ thù ngoại tại thì kẻ oán lại càng tăng, thế nên việc phát lời nguyện ước từ ái và bi mẫn hay nguyện cho mọi người đều khỏi khổ, hết nguyên nhân của khổ, được hạnh phúc và có nguyên nhân của hạnh phúc là cách hay nhất để rộng mở cõi lòng của chúng ta, thuần hóa kẻ thù nội tại của chúng ta, dù thực tế chúng ta chưa hành động gì cả.

Trong những buổi lễ của Phật Giáo, chúng ta thường có một phút nhập từ bi quán, nhưng chỉ một phút thôi và lâu lâu một lần như vậy thì thật khó mà thâm nhập được từ bi và khó mà rộng mở cõi lòng, khó mà thuần hóa kẻ thù nội tại. Nhưng nếu chúng ta thường xuyên phát nguyện từ ái và bi mấn, hay luôn luôn giữ lòng từ bi, chắc chắn kẻ thù nội tại sẽ khuất phục trước năng lực của từ bi. Các đạo sư Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, hay Thiền sư Nhất Hạnh thường nói hãy gởi những thông điệp thương yêu hay từ bi vào không gian, năng lực của từ bi của chúng ta, của càng nhiều người sẽ làm dịu "thế gian nóng bức" này, dịu những nổi thù hận trong nghiệp chướng của chúng ta. Phát nguyện từ ái bi mẫn là thiết thực làm việc này, là thiết thực biểu lộ bản chất của Đạo Phật, đạo của từ bi.

Thức dậy miệng mĩm cười,
Hăm bốn giờ tinh khôi,
Xin nguyện sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc đời.


Nam mô A Di Đà Phật
Ẩn Tâm Lộ ngày 23-9-2012
Tuệ Uyển

LỜI NÓI ĐẦU

Tôi đã gặp vị thầy đầu tiên của tôi về Phật Giáo Tây Tạng gần cuối năm 1962 ở New Jesey. Một người Kalmykia từ Astrakhan, nơi mà dòng Volga đổ vào biển Caspian, Geshe Wangyal, giống như nhiều tu sĩ Kalmykia, đã du hành sang Tây Tạng để vào một trường đại học Phật Giáo và ở đấy trong ba mươi lăm năm. Đã chứng kiến sự tàn phá những học viện Phật Giáo ở Liên Bang Sô Viết, thầy đã cảm thấy - sau khi Trung Cộng xâm chiếm Tây Tạng năm 1950 - những gì sẽ xảy đến cho Tây Tạng, và vào năm 1955 thầy đã đến Ấn Độ. Ba năm sau, thầy đã du hành bằng thuyền đến Hoa Kỳ với sự giúp đở của Hội Thánh Phụng Sự Thế Giới.

Gần như từ thời khắc đến Hoa Kỳ, Geshe Wangyal đã bắt đầu giảng dạy Đạo Phật Tây Tạng cho tất cả những ai tìm cầu, thành lập một tu viện và trung tâm tu học và mời bốn vị tu sĩ Tây Tạng để hợp lực với thầy vào năm 1960. Các thầy đã dạy cho nhiều người Mỹ, kể cả tôi. Một số này cuối cùng đã trở nên có ảnh hưởng trong những học viện, chính trị, y khoa, tôn giáo, nhà xuất bản cũng như những lĩnh vực khác.

Sự ra đi ồ ạt từ Tây Tạng năm 1959, khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đào thoát đến Ấn Độ, đã đưa đến sự hình thành của những trường học Tây Tạng cho những cư sĩ và tu sĩ ở Ấn Độ, Sikkim, và Nepal, kể cả một chương trình giáo dục tu sĩ đầu tiên trong một nơi đã từng là nhà tù trong cái nóng bức của Buxaduor, Ấn Độ, một nơi với sự điều tiết khổ sở đến khí hậu và độ cao thấp so với mặt biển của một môi trường mới [đối với những người Tây Tạng vốn ở trên một cao nguyên nóc nhà thế giới].
Cuối cùng, những tu viện chính của tất cả những trường phái quan trọng của Đạo Phật Tây Tạng được tái thiết lập, mặc dù trong hình thức thu nhỏ, ở Ấn Độ và Nepal. Trong những hoàn cảnh mới của họ, những tu viện đại học cộng đồng (college) lớn hơn đã nắm lấy cơ hội để tự cải cách, bỏ đi những khía cạnh nào đấy, chằng hạn như tổ chức tu sĩ cảnh sát, những người giữ gìn trật tự đáng sợ của Tây Tạng xưa. Những nhóm khác đã tạo nên những học viện tôn giáo đổi mới bên ngoài sự kiểm soát của những tu viện. Cũng thế, sự giáo dục cư sĩ và những trình độ thứ yếu đã đi đến bao gồm những phiên bản của những chủ đề cho đến nay chỉ giới hạn trong giới tu sĩ.

Ở hải ngoại, những vị thầy Tây Tạng - cả tu sĩ và cư sĩ - đã tìm cách để thích nghi với những phương pháp trước đây về việc nghiên cứu học hỏi và thực hành đến một môi trường thế tục hơn. Hiện tại bây giờ, sau sự thành công chậm rãi nhưng vững vàng trong hàng ngàn trung tâm khắp thế giới, chúng tôi đang tiến sát gần đến việc thành lập những trung tâm nổi bật theo phong cách Tây Tạng bên ngoài cộng đồng Tây Tạng. Sự khuếch tán đã làm cho những bộ phận rèn luyện truyền thống của Tây Tạng có từ hơn một ngàn năm lan rộng vượt xa mãnh đất nguyên thỉ của nó. Bên ngoài Tây Tạng có một mối khao khát đối với sự vững chắc về những môn học này và việc đánh giá cao cho những kiểu mẫu cổ xưa đã được thử thách qua thời gian trong việc rèn luyện, mặc dù có những khó khăn hơn dự kiến trong việc đưa những sự học hỏi nghiên cứu như vậy hoạt động bên ngoài môi trường của Tây Tạng và Mông Cổ.

Người ta có thể nghĩ rằng thế giới bị vây quanh bởi những năng lực ngăn ngừa một sự phát triển chính đáng như vậy: việc gia tăng những khuynh hướng đối với sự khai thác, tham lam, và dục vọng; chủ nghĩa tiêu dùng quá khích; những ý kiến vận động liên tục là những thôi thúc điều chỉnh thô tháo; vô số khu giải trí hiện diện khắp nơi; sự gia tăng cách biệt giữa giàu và nghèo; những giải thích đáp ứng cho các phức tạp về sự hiện hữu của con người; việc ăn uống quá mức đưa đến bệnh tật và mập phì; những vận động để đưa những quyền làm việc trở lại các trình độ thế kỷ mười chín; một sự nhấn mạnh buồn cười trên quyền lợi kinh tế, giống như điều này có thể là mục tiêu duy nhất của hơi thở. Tuy nhiên, có những dấu hiệu rằng đây là những năng lực đen tối phát sinh một khe hở của bất mãn và một sự tự nguyện thử nghiệm những cung cách khác.

Nhiều người khắp thế giới có cả văn hóa địa phương và văn hóa toàn cầu, và nhiều người đã tiếp nhận những quan điểm đã sinh khởi so với sự nổi bật của nền văn hóa bản địa của họ. Sự cởi mở này gợi lên một sự sẳn sàng cho những quan điểm mới, nhưng nó có thể biểu lộ một ý nghĩa rạn nứt của thời gian, là điều có thể đe dọa đến một loại đắm mình trong sự thực tập Phật Giáo Tây Tạng.

Chính quyền lưu vong Tây Tạng đang chuyển động đến một biểu hiện nguyên tắc dân chủ trong việc tách rời sự kiểm soát chính trị khỏi những tổ chức tôn giáo nhưng vẫn còn ở trong đề mục của những tư tưởng Đạo Phật. Điều này làm song hành sự thích nghi những hệ thống giáo dục Tây Tạng, là điều đã trở thành một hổn hợp của thế tục và tôn giáo.

Người Tây Tạng sống bên ngoài quê hương Tuyết Sơn đang đấu tranh để quyết định những phương cách truyền thống nào nên duy trì - và làm việc ấy như thế nào. Thí dụ, đối với tất cả chúng ta đánh giá cao truyền thống y khoa lâu đời của Tây Tạng. Sự tài tình của hàng trăm vị thầy thuốc qua hơn một ngàn năm đã đưa đến kết quả trong việc phát triển những sự chửa trị đầy năng lực của cỏ thuốc và khoáng chất. Khi chúng ta nhìn vào những bộ phận khác của thế giới, nơi mà chủ nghĩa hiện đại đã phá hủy và thay thế những cung cách xưa cũ của đời sống, và nơi mà tuệ trí của những hệ thống y học cổ truyền đã bị đánh mất vĩnh viễn, chúng ta thấy sự quý giá của kho tàng kiến thức cổ xưa được bảo tồn trong những truyền thống riêng lẻ của Tây Tạng và Trung Hoa.

Những khu rừng cần được duy trì qua dự án khai thác và tái tạo để bảo tồn sự đa dạng của cây cỏ và động vật lợi ích tiềm tàng cho thế giới, nhưng nổ lực thì đầy các rắc rối của sự thay đổi và thương nghiệp có thể lên án con người đến sự nghèo nàn không ngừng; người Tây Tạng cũng thế phải đối diện với sự xung đột giữa nhu cầu nuôi dưỡng con người bây giờ và sức mạnh thị trường cuối cùng sẽ để lại một kho tàng trống rỗng. Giống như những thị trường không điều hòa không làm nên thị trường tự do, sự phát triển vô tổ chức không bảo đảm tiến trình. Đây là những rắc rối mà toàn thế giới đang đối diện, và không có những giải pháp dễ dàng.

Sự cát tường tương lai của Tây Tạng tùy thuộc trên sự tự nguyện của chính quyền Trung Cộng để đặt qua một bên sự sợ hãi của họ và tiến hành những sự đối thoại chân thành với chính quyền lưu vong Tây Tạng. Có phải sự kêu gọi của Bắc Kinh cho những sự đàm phán một chính sách mới biểu hiện sự quan tâm chân thành của họ, hay đấy chỉ là một mánh khóe khác mà thôi? Đến hôm nay, chính quyền Bắc Kinh đã thi hành lừa dối như một sách lược trì hoản, một thí dụ đang được đòi hỏi rằng Tây Tạng từ bỏ mục tiêu độc lập, điều này mặc dù Đức Đạt Lai Lạt Ma đã bỏ những đòi hỏi như vậy tận năm 1978. Việc thất bại của chính quyền Trung Cộng là sự vắng bóng của từ ái và bi mẫn, là những điều được biết từ cuộc sống của chính chúng ta cuối cùng đưa đến sự tự tàn phá.

Khắp thế giới từ ái yêu thương phải tan biến tính không bao dung; kiến thức phải xói mòn si mê ám tối; chủ nghĩa năng động hợp tác phải thay thế sự chấp nhận thụ động và chán nản; đối thoại phải thay thế cho tố cáo lẫn nhau; công bằng đổi mới phải chiếm chỗ của trả thù; đạo đức phải hất cẳng sự nhấn mạnh kết quả cuối cùng; sự thừa nhận những quyển lợi phổ quát phải được thay thế sự không thừa nhận. Chỉ một nổ lực quyết tâm trải qua một thời gian dài mới có thể vượt thắng những nổ lực cố thủ của ngu xuẩn và tham lam.

Hy vọng của tôi rằng quyển sách này về từ ái, trong điều mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã vạch ra từ một truyền thống lâu dài về những kỷ năng Tây Tạng cho việc chuyển hóa tâm thức và trái tim, sẽ cống hiến đến những gì chúng ta cần thật mến thương - một ý nghĩa của từ ái và bi mẫn cho nhau.

Jeffrey Hopkins, Ph.D
Professor of Tibetan Studies
Univesity of Virginia







Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
QUAN ĐIỂM CỦA TÔI - 26.09.2012 01:26:54
0
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TÔI




Nếu kẻ thù nội tại là thù hận không được thuần hóa,
Khi người ta cố gắng để thuần hóa kẻ thù ngoại tại, kẻ thù lại gia tăng.
Do vậy, sự thực tập của người thông tuệ là tự thuần hóa chính họ.
Bằng phương tiện những năng lực của từ ái và bi mẫn.

- BỒ TÁT TOKMAY SANGPO


Khi tôi nói về từ ái và bi mẫn, tôi không nói như một Phật tử, cũng không như một người Tây Tạng, cũng không phải như một Đạt Lai Lạt Ma. Tôi thực hiện điều này như một con người nói với những người khác. Tôi hy vọng rằng quý vị tại thời điểm này sẽ nghĩ về chính quý vị như một con người thay vì là một người Mỹ châu, Á châu, Âu châu, Phi châu, hay thành viên của một xứ sở đặc thù nào đấy. Những sự trung thành này là thứ yếu. Nếu quý vị và tôi thấy một nền tảng chung như những con người, chúng ta sẽ giao tiếp trên cấp độ căn bản này. Nếu tôi nói, "tôi là một thầy tu", hay "tôi là một Phật tử", những thứ này, trong việc so sánh đến bản chất như một con người, là tạm thời. Là con người là căn bản, nền tảng mà từ đấy tất cả chúng ta phát sinh. Chúng ta sinh ra như một con người, và điều ấy không thay đổi cho đến khi chết. Tất cả những thứ khác - cho dù chúng ta có học vấn hay không học vấn, già hay trẻ, giàu hay nghèo - là thứ yếu.

GIẢI QUYẾT RẮC RỐI

Trong những thành phố lớn, trong nông trại, trong những vùng xa xôi hẻo lánh, khắp các vùng nông thôn, con người đang di chuyển một cách bận rộn. Tại sao? Tất cả chúng ta đều bị thúc đẩy bởi một khát vọng làm cho chính chúng ta hạnh phúc. Làm như thế là đúng. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn nhớ trong tâm rằng liên hệ quá nhiều với những khía cạnh nông cạn của đời sống sẽ không giải quyết những vấn đề lớn hơn bất toại ý của chúng ta. Từ ái, bi mẫn, và quan tâm cho kẻ khác là những cội nguồn hạnh phúc thật sự. Với những thứ này phong phú, chúng ta sẽ không bị quấy rầy bởi ngay cả những hoàn cảnh khó chịu nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta nuôi dưỡng thù hận, chúng ta sẽ không hạnh phúc ngay cả trong cảnh giàu có xa hoa. Vì thế, nếu chúng ta thật sự muốn hạnh phúc, chúng ta phải mở rộng môi trường của từ ái yêu thương. Điều này là cả tư duy tôn giáo và cảm nhận căn bản thông thường.

Sân hận không thể vượt thắng bằng sân hận. Nếu người ta biểu lộ sân hận đến chúng ta, và chúng ta thể hiện giận dữ trở lại, kết quả là một thảm họa. Trái lại, nếu chúng ta kiềm chế sự sân hận của mình và biểu lộ sự ngược lại của nó - từ ái, bi mẫn, bao dung, và kiên nhẫn - thế thì không chỉ chúng ta duy trì trong hòa bình mà sự giận dữ của người khác cũng sẽ dần dần giảm bớt. Không ai có thể tranh luận với sự thật rằng trong sự hiện diện của sân hận, hòa bình là không thể có. Chỉ qua ân cần và từ ái, niềm hòa bình tâm hồn mới có thể đạt được.

Chỉ có con người mới có thể phán xét và suy luận; chúng ta thấu hiểu những hậu quả và nghĩ về lâu về dài. Cũng đúng rằng con người có thể phát triển lòng từ ái yêu thương vô biên, trái lại đối với kiến thức tối đa của con người thì các thú vật chỉ có những thình thức hạn chế của tình cảm và yêu thương. Tuy nhiên, khi con người trở nên giận dữ, tất cả khả năng này bị mất đi. Không kẻ thù nào trang bị với vũ khí thôi có thể tước bỏ những phẩm chất này, nhưng sân hận có thể làm việc ấy. Nó là kẻ tàn phá.

Nếu chúng ta nhìn một cách sâu sắc vào những thứ như vậy, những dấu vết của các hành động của chúng ta có thể tìm thấy trong tâm thức. Những thái độ tự chuốc lấy thất bại, tự tổn thương, tự hại sinh khởi không phải theo ý chí riêng của họ mà do si mê ám tối. Thành công cũng thế, được thấy trong chính họ. Xuất phát từ kỷ luật tự giác, tự tỉnh thức, và việc nhận ra rõ ràng những nhược điểm của sân hận và những ảnh hưởng tích cực của ân cần sẽ đi đến hòa bình. Thí dụ, vào lúc hiện tại, chúng ta có thể là một người phát sinh cáu gắt dễ dàng. Tuy nhiên, với sự thấu hiểu rõ ràng và tỉnh thức, sự tức tối của chúng ta có thể trước nhất bị xói mòn, và rồi bị thay thế. Mục tiêu của quyển sách này là để chuẩn bị nền tảng cho sự thông hiểu ấy mà từ ấy lòng yêu thương chân chính hay từ ái có thể sinh trưởng. Chúng ta cần trau dồi tâm thức.

Tất cả các tôn giáo đều dạy một thông điệp về từ ái, bi mẫn, chân thành và trung thực. Mỗi hệ thống tìm kiếm con đường riêng của nó để cải thiện đời sống cho tất cả chúng ta. Tuy thế, nếu chúng ta nhấn mạnh quá nhiều bào triết lý, tôn giáo hay lý thuyết của chính chúng ta, trở nên quá dính mắc, chấp trước với nó, và cố gắng để áp đặt nó trên những người khác, kết quả sẽ là rắc rối. Một cách căn bản, tất cả các bậc thầy vĩ đại kể cả Đức Thế Tôn Thích Ca của Phật Giáo, Chúa Giê-Su của Ki Tô Giáo, Muhammad của Hồi Giáo, và Moses của Do Thái Giáo được thúc đẩy bởi một niềm khao khát giúp đở môn đồ của các ngài. Các ngài không tìm cầu để có được bất cứ điều gì đấy cho chính các ngài, cũng không để tạo thêm rắc rối cho thế giới.

Tôn giáo có thể đồng nghĩa với những vấn đề triết lý sâu sắc, nhưng từ ái và bi mẫn là trái tim của tôn giáo. Do thế, trong quyển sách này, tôi sẽ diễn tả việc thực hành từ ái mà tôi cũng làm như thế. Trong kinh nghiệm việc thực hành từ ái đem đến hòa bình của tâm hồn cho chính tôi và hổ trợ người khác. Những người vị kỷ ngu ngơ luôn luôn nghĩ về chính họ, và kết quả luôn luôn là tiêu cực. Những người thông tuệ nghĩ về những người khác, giúp đở họ tối đa mà họ có thể, và kết quả là hạnh phúc. Từ ái và bi mẫn lợi lạc cho chính chúng ta và người khác. Qua lòng ân cần đối với người khác, tâm tư và trái tim chúng ta sẽ rộng mở đến hòa bình.

Mở rộng môi trường nôi tại này dến những cộng đồng rộng lớn hơn chung quanh chúng ta sẽ đem đến hòa hiệp, thống nhất, và hợp tác; mở rộng hòa bình xa hơn đến những quốc gia và rồi thì đến thế giới sẽ mang đến lòng tin hổ tương, tôn trọng qua lại, sự giao tiếp chân thành, và cuối cùng là những nổ lực hòa nhập thành công để giải quyết những rắc rối của thế giới. Tất cả những điều này là có thể. Nhưng trước nhất chúng ta phải thay đổi chính mình.

Mỗi chúng ta có trách nhiệm đối với toàn thể nhân loại. Chúng ta cần nghĩ về mỗi người chúng ta như những người anh chị em thật sự, và quan tâm đến quyền lợi của mỗi chúng ta. Chúng ta phải tìm cách giảm đi nổi khổ đau của kẻ khác. Hơn là hành động chỉ để đạt đến sự giàu sang, chúng ta cần làm điều gì đấy đầy đủ ý nghĩa, điều gì đấy một cách nghiêm chỉnh hướng trực tiếp đến lợi ích của toàn thể nhân loại.

Được thúc đẩy bởi bi mẫn và từ ái, tôn trọng những quyền của kẻ khác - điều này thật sự là tôn giáo. Mặc áo tu sĩ nói về Thượng đế nhưng suy nghĩ một cách vị kỷ thì không phải là một hành vi tôn giáo. Trái lại, một nhà chính trị hay luật sư với sự quan tâm thật sự cho nhân loại, những người cáng đáng những hành động làm lợi ích cho người khác thật sự là thực hành tôn giáo. Mục tiêu phải là phụng sự cho kẻ khác, chứ không phải khống chế thiên hạ. Những ai thực hành từ ái thông tuệ, như Đại hành giả Ấn Độ Long Thọ đã nói trong Tràng Hoa Quý Báu rằng:

Đã phân tích trọn vẹn
Tất cả những hành vi của thân thể, lời nói và tâm ý,
Những ai nhận ra những gì lợi ích cho tự thân và người khác
Luôn luôn thực hiện những điều này là thông tuệ.


Một hành vi tôn giáo là được thực hiện ra với động cơ tốt lành, với tư tưởng chân thành vì lợi ích của người khác. Tôn giáo là ở đây và bây giờ trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nếu chúng ta hướng dẫn đời sống ấy vì lợi ích của thế giới, thì đây là dấu ấn xác nhận một đời sống tôn giáo.

Đây là tôn giáo đơn giản của tôi. Không cần Thánh đường, Phật đường. Không cần những triết lý phức tạp. Tâm thức của chính chúng ta, trái tim của chính chúng ta, là đền đài; triết lý của chúng ta đơn giản là ân cần.

Nguyên tác: My Outlook trích từ quyển How to Expand Love

Ẩn Tâm Lộ ngày 24/09/2011
<bài viết được chỉnh sửa lúc 26.09.2012 01:30:21 bởi tueuyen >
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
NHỮNG GIAI TẦNG PHÁT TRIỂN - 09.10.2012 06:52:29
0
NHỮNG GIAI TẦNG PHÁT TRIỂN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 24/09/2011


Chư Phật không rửa đi những hành vi xấu ác bằng nước,
Cũng không loại trừ khổ đau bằng đôi tay của các Ngài.
Cũng không trao truyền sự chứng ngộ của các Ngài cho người khác.
Chúng sinh được giải thoát qua giáo huấn về chân lý,
bản chất của mọi sự vật.

- ĐỨC PHẬT

Ở Tây Tạng nhiều đại hành giả sưu tập những sự thực hành tâm linh đưa đến giác ngộ trong một bộ sách gọi là Những Giai Tầng của Con Đường Giác Ngộ. Những giáo huấn hùng hồn về Đức Phật từ bi kể rõ chi tiết một loạt những sự thực hành mà một người may mắn có thể sử dụng cho việc rèn luyện nhằm để đạt đến giác ngộ. Các ngài chắt lọc những kinh luận Đạo Phật bao la và vô hạn mà không hy sinh bản chất tự nhiên hay sự sắp đặt cốt lõi của chúng. Được bảo tồn cho thế giới ở Tây Tạng, những giáo huấn quý giá này là những trân bảo hoàn thành nguyện ước cho những học nhân và môn đồ may mắn.

Những Giai Tầng của Con Đường Giác Ngộ là một khí cụ cho những người bắt đầu - những ai trước đây chưa từng đạt đến đỉnh cao tâm linh - nói với chúng ta bước nào nên tiếp nhận trước, và rồi bước thứ hai, thứ ba, v.v..., không lẫn lộn những gì phải đến trước và những gì nên đến sau đó. Những quyển sách này chi tiết những sự thực hành mà trong ấy tất cả chúng ta dựa vào nhằm để đạt đến giác ngộ, tập họp trong một nơi những con đường cần thiết trước tiên trong hình thức giản lược, và rồi trong hình thức mở rộng, phù hợp với khả năng của học nhân. Loại trình bày này được cấu thành cho việc thực hành để đưa đến sự thấu hiểu về lộ trình.

Những sự thực hành cho những người sơ cơ đến trước tiên. Khi chúng ta đã thực hành những sự quán chiếu này và tiếp nhận ảnh hưởng sâu sắc hay dấu ấn của chúng, tâm thức của chúng ta trở nên có khả năng cho những chủ đề sâu xa hơn, và chúng ta tiến lên trình độ kế tiếp. Chúng ta rèn luyện trong giai tầng ấy, trở nên thành thạo, và tiếp tục tiến lên. Giống như học đường, sẽ không có lợi để cho một đứa bé ghi tên vào một trường đại học.

ĐẠI CƯƠNG CỦA QUYỂN SÁCH

Trong quyển sách này, tôi sẽ trình bày bảy bước thực tiển để phát triển từ ái. Những kỷ thuật này căn cứ trên các khả năng vô hạn của con người để cải thiện, cảm ơn đến sự thanh tịnh căn bản của tâm. Vì thế, quyển sách bắt đầu với một thẩm nghiệm về vấn đề những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng được ghi khắc vào cơ cấu của tâm thức hay chúng ở ngoại vi của tâm, và vì thế có thể cho phép con người giải quyết. Chúng ta kết luận rằng tâm thức là thanh tịnh một cách căn bản, rất giống bầu trời xanh hiện hữu phía sau những đám mây u ám. Bắt đầu với viễn kiến ấy, chúng ta sẽ khám phá những hướng dẫn đặc thù của một sự thực tập mà nó cung ứng một nền tảng cho bảy giai tầng chìa khóa của việc phát triển tiếp theo.

Sự thực tập này trước khi bảy giai tầng đối diện với việc vượt thắng khuynh hướng tự nhiên của chúng ta để đặt những thứ khác vào trong các đặc trưng (như bạn hay thù). Nó khơi mở việc dính mắc hay luyến ái đến những đối tượng này được căn cứ trên sự đánh giá của chúng ta về những thuận lợi và bất lợi tạm thời mà những người nào đấy đưa đến như thế nào, một sự tiếp cận sai lầm cho rằng những cảm giác như vậy là từ ái và bi mẫn. Chúng ta sẽ thấy việc bổ sung của chúng ta đến sự hấp dẫn làm nổi bật tình cảm cho một số người nào đấy nhưng cắt xén nó đối với những người khác. Việc thực tập đầu tiên được thấy trong ý nghĩa của sự bình đẳng, khát vọng thông thường của chúng ta đến hạnh phúc. Những thực tập thiền quán về khả năng có thể thay đổi của những hoàn cảnh và các mối quan hệ được đưa ra để giúp thách thức những đặc trưng cứng nhắc, chúng ta áp dụng một cách mềm dẽo. Một kỷ thuật hổ trợ gợi đến việc quán tưởng hai người, một toàn khen ngợi và người kia đe dọa tấn công, nhằm để học nhận ra và thay đổi những phản ứng tự động thường lệ. Những bước trong sự thực tập nền tảng này - những thiền quán mở đầu, những kỷ năng hổ trợ, và những thiền quán giản lược - giống như việc làm sạch và chà giấy nhám một bức tường trước khi vẽ một bức tranh của từ ái yêu thương.

Một khi hành xả được trau dồi, bước thứ nhất đưa đến việc tạo nên một thái độ tích cực mạnh mẽ đối với những người khác trong những vòng xoay rộng lớn hơn bao giờ hết. Các bài thực hành bắt đầu với việc lựa chọn người bạn thân của chúng ta như một kiễu mẫu cho chúng ta đánh giá những người khác không như những người bạn thân, dần dần mở rộng để bao gồm những người trung tính, và cuối cùng là những kẻ thù - những người làm tổn hại cho chúng ta và những người bạn của chúng ta. Việc làm khó nhất ở đây là xua tan những tảng đá xúc cảm ngăn trở tiến tình.

Bước thứ hai liên hệ đến những quán chiếu thực tiển trên sự ân cần tử tế mà gia đình và bạn thân đã biểu lộ cho chúng ta, đặc biệt vào lúc ấu thời, khi chúng ta quá lệ thuộc trong sự quan tâm và chăm sóc của những người khác. Khi chúng ta bắt đầu đạt được một sự cảm kích sâu sắc về sự ân cần, lòng biết ơn này có thể dần dần mở rộng đến những người khác vượt khỏi vòng xoay bè bạn. Một số thực tập trong giai tầng này gọi là ghi nhớ lòng ân cần đã nhận qua vô số kiếp sống; những thứ khác được hướng tới lòng biết ơn những sự phục vụ được cung cấp bởi những người khác không phụ thuộc vào ý định của họ, như phẩm vật được cung ứng bởi nhân viên bán hàng bày trí hàng hóa trên một kệ hàng của một cửa hàng địa phương. Kỷ năng hổ trợ tập trung trên việc đánh gia các kẻ thù của chúng ta bởi vì họ cung ứng cho chúng ta những cơ hội để thực tập kiên nhẫn, bao dung, và chịu đựng.

Những bước thứ ba và thứ tư là tương ứng, bước này làm mạnh mẽ bước kia. Bước thứ ba gọi là sự đền đáp lòng tử tế ân cần của người khác bằng việc phát triển mục tiêu quả cảm để đẩy mạnh xa hơn sự giác ngộ của chính họ. Điều này hướng một cách tự nhiên đến bước thứ tư, học hỏi để yêu thương từ ái, mà bắt đầu với việc nhận biết người khác khổ đau như thế nào. Chúng ta sẽ khám phá ra vòng xoay những tình cảnh khổ đau hoạt động như thế nào, áp dụng sự thấu hiểu này đầu tiên cho chúng ta và rồi mở rộng nó đến người khác. Tại điểm này, đã tiến triển qua những bước trước đây và tăng cường một cảm giác gần gũi với những người khác, chúng ta có thể cố gắng một bộ ba thực tập, dần dần gia tăng trong khuynh hướng, mở rộng việc quan tâm và lòng từ ái sau cùng.

khuynh hướng của những bài thực tập đến đây là để trở thành một người bạn của tất cả chúng sinh, để có sự quan tâm cho tình trạng của họ và để sẳn sàng và có thể hổ trợ. Bây giờ sự khác biệt giữa từ ái và luyến ái được vạch ra với nhiều chi tiết hơn. Bằng việc mở rộng cảm giác thông thường của từ ái và quan tâm vượt khỏi những giới hạn thành kiến thông thường, từ ái được tự do khỏi sự luyến ái chướng ngại ẩn tàng. Tiến trình này không phải là vấn đề của việc tìm kiếm một lòng yêu thương mới của thế gian khác, nhưng của việc sử dụng những cảm giác yêu thương quen thuộc và áp dụng chúng trong những không gian rộng lớn hơn bao giờ hết [của lòng từ ái]. Mục tiêu là để trau dồi trong con tim chúng ta sự quan tâm của một bà mẹ hy hiến cảm nhận đối với đứa con thơ của bà, và rồi hướng trực tiếp đến nhiều hơn và nhiều hơn những con người và những chúng sinh. Đây là lòng yêu thương thành tâm, một lòng từ ái đầy năng lực. Tôi sẽ chỉ cho quý vị những cảm giác này phục vụ một sự thấu hiểu về chân thật về nhân quyền như thế nào, không phải đặt nền tảng trong những phạm vi pháp luật hay tiếng gọi bên ngoài mà bén rể một cách sâu xa trong trái tim.

Bước thứ năm là trau dồi lòng bi mẫn, một khát vọng sâu xa để thấy được giảm bớt khỏi khổ đau: đây là một khía cạnh khác của từ ái, một nguyện ước mạnh mẽ để thấy người khác hạnh phúc. Để yêu thương từ ái và bi mẫn đến mọi người - giàu hay nghèo, mạnh hay đau, già hay trẻ - thật thiết yếu để có một cảm nhận kiên định về dễ thương của họ trong khi nhận biết tình trạng khổ đau của họ. Những thực tập thực tiển trong phần này tạo nên kinh nghiệm từ từ của lòng từ bi đối với những ai mà đối với họ cảm nhận của chúng ta hoặc là yếu ớt, trung lập, không hiện hữu hay ngay cả tiêu cực. Một kỷ năng nâng đở kêu gọi cho một sự chuyển hướng đến những nơi với ai đấy rõ ràng khổ đau với nghèo khó hay bệnh tật.

Bước thứ sáu chỉ đến việc trở nên hoàn toàn hướng chí nguyện đến lòng vị tha, và bước thứ bảy cùng bước cuối cùng hướng kinh nghiệm của yêu thương (từ ái) và ân cần (bi mẫn) thiên kiến đến sự giác ngộ tối thượng - trở nên tác động hơn trong việc hổ trợ và phụng sự một sự đa dạng rộng rãi các chúng sinh.

Đi theo những giai tầng của con đường giác ngộ sẽ chuyển hóa dấu ấn chướng ngại ẩn tàng trong chính chúng ta thành sự quan tâm lành mạnh cho người khác. Bằng việc phát triển khả năng của chính mình, chúng ta có thể thay thế việc yêu mến chính mình với sự yêu mến những người khác. Vô số kỷ năng cung ứng cho việc tái cấu trúc những mối quan hệ của chúng ta trong một cơ cấu của tâm bình đẳng và chí nguyện mạnh mẽ sẽ bảo đảm sự thực tập của chúng ta không bao giờ trì trệ. Sự đa dạng sẽ làm nổi bật và làm cho kinh nghiệm của chúng ta sâu sắc hơn. Cũng thế, những kỷ năng nào đấy có thể thích hợp hơn đến tính khí và quan điểm của chúng ta; một số phương pháp có thể dễ dàng hơn và tác động hơn đến những người khác.

Nguyên tác: Stages of Development trích từ quyển How to Expand Love
Ẩn Tâm Lộ ngày 04/09/2011
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
TỊNH HÓA TÂM THỨC - 19.10.2012 07:18:45
0
TỊNH HÓA TÂM THỨC
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 04/10/2011

Bản chất của tâm là ánh sáng trong suốt (Tịnh Quang)
Những nhiễm ô là bề ngoài (khách trần phiền não)

- DHARMAKIRTI


Có thể loại trừ những cảm xúc rắc rối một cách hoàn toàn, hay có thể chỉ có đè nén chúng mà thôi? Theo tuệ giác căn bản của Đạo Phật, tâm một cách cốt yếu là sáng rở và tri nhận. Do thế, những rắc rối cảm xúc không thể lưu trú trong bản chất của tâm; những thái độ chướng ngại ẩn tàng là tạm thời và nông cạn, và có thể bị loại trừ.

Nếu những cảm xúc tai họa như giận dữ vốn ở trong bản chất của tâm, thế thì từ lúc khởi đầu tâm sẽ luôn luôn giận dữ. Một cách rõ ràng, điều này không phải như thế. Chỉ dưới những hoàn cảnh nào đó chúng ta mới trở nên giận dữ và khi những hoàn cảnh đó không hiện hữu, giận dữ cũng không hiện diện.

Những hoàn cảnh nào phục vụ như căn bản cho việc phát sinh giận dữ hay thù hận? Khi chúng ta giận dữ, đối tượng sự giận dữ của chúng ta xuất hiện dễ sợ hơn nó thật sự ở đấy. Chúng ta đang giận dữ bởi vì người đã làm tổn hại, đang làm tổn hại, hay sẽ làm tổn hại chúng ta hay bạn bè chúng ta. Vì vậy "cái tôi" này là gì mà đang bị làm tổn hại?

Trong sự phô trương của cơn thịnh nộ chúng ta cảm thấy rằng chủ thể, "cái tôi" và khách thể, kẻ thù, là cụ thể và độc lập. Bởi vì chúng ta chấp nhận những hiện tướng này như một sự thiết lập cố hữu, nên giận dữ được phát sinh. Tuy thế, nếu tại sự bùng nổ đầu tiên của giận dữ, chúng ta đã quen với lý trí tự hỏi mình, Tôi là ai? Con người này là ai mà đang bị tổn thương? Kẻ thù là gì? Có phải kẻ thù là thân thể? Có phải kẻ thù là tâm? kẻ thù hiện hữu một cách cụ thể này, người trước đây dường như là được tạo nên một cách cố hữu như điều gì đấy để giận dữ, và "cái tôi" này, kẻ được tạo nên một cách cố hữu bị tổn thương, dường như biến mất. Và sự giận dữ tan thành từng mãnh.

Nghĩ về điều ấy. Chúng ta giận dữ tại những gì làm thất bại những khao khát của chúng ta. Giận dữ bị xúi bẩy bởi nhận thức sai lầm khách thể và chính chúng ta được thiết lập trong cách này (như kẻ thù và nạn nhân) trong tự chúng và của chính chúng. Thù hận không tách rời khỏi nền tảng của tâm. Nó là một thái độ không có nền tảng vững chắc. Tuy nhiên, yêu thương từ ái được tìm thấy một cách có căn cứ trong chân lý. Khi, trải qua một thời gian dài, thái độ có nền tảng vững chắc tranh đua với thái độ không có cơ sở, thì thái độ với nền tảng vững chắc sẽ lấn át thứ kia.

Những phẩm chất tùy thuộc trên tâm có thể được gia tăng một cách vô giới hạn, và khi chúng ta tăng cường các thái độ đối kháng với những cảm xúc buồn đau, những bộ phận tương ứng không thiện chí sẽ giảm thiểu, cuối cùng trở nên bị dập tắt hoàn toàn. Vì tâm có bản chất tự nhiên rực rở và tri nhận, nên tất cả chúng ta có khí cụ căn bản cần thiết để đạt đến giác ngộ.

NHẬN DIỆN TÂM

Khoảng hai mươi năm trước đây, khi tôi ở Ladakh, Ấn Độ, tiến hành một loạt thiền quán, tôi có một bức tượng Đức Phật Thích Ca phía trước tôi, như vẫn là thói quen của tôi. Lớp vàng ở trái tim bức tượng đã bong mất rồi, và vì thế ở nơi ấy lộ một màu nâu. Khi tôi nhìn vào vùng trái tim của bức tượng, bây giờ không có màu sắc hấp dẫn nữa, nhìn vào tâm tư tôi, cuối cùng tư duy dừng lại, và trong một lúc ngắn ngủi, tôi cảm thấy tự nhiên rực rở và tri nhận của tâm. Rồi sau đó, khi tôi hồi tưởng lại điều này, kinh nghiệm sẽ trở lại.

Thật rất hữu ích trong sự thực tập hàng ngày để nhận diện bản chất tự nhiên của tâm và tập trung trên ấy. Tuy nhiên, thật khó để nắm bắt tâm bởi vì nó ẩn tàng bên dưới những tư tưởng giàn trải của chính chúng ta. Như một kỷ năng để nhận diện bản chất tự nhiên của tâm, đầu tiên dừng suy nghĩ về những gì đã xảy ra trong quá khứ, rồi thì dừng suy nghĩ về những gì có thể xảy ra trong tương lai, hãy để tâm tuôn chảy phù hợp với chính nó mà không có sự phủ lên của tư duy. Hãy để tâm ngừng lại trong thể trạng tự nhiên của nó và quán xét nó trong một lúc.

Khi, thí dụ, quý vị nghĩ một tiếng động, giữa lúc nghe nó và nhận thức nguồn gốc của nó, chúng ta có thể cảm nhận thể trạng của tâm trống rỗng tư tưởng nhưng không phải ngủ, trong điều mà đối tượng là một sự phản chiếu của sự rực rở và tri nhận của tâm. Tự nhiên căn bản của tâm có thể được nắm bắt tại một điểm như vậy. Vào lúc bắt đầu, khi chúng ta không quen với sự thực tập này, thì thật là khó khăn, nhưng đúng lúc tâm sẽ xuất hiện như nước trong vắt. Hãy cố gắng để trụ với thể trạng này của tâm mà không bị xao lãng bởi những tư tưởng nhận thức và tập cho quen thuộc với nó.

Thiền tập đề mục này vào buổi sáng sớm, khi tâm chúng ta đã tỉnh giấc và trong sáng, nhưng những giác quan của chúng ta chưa hoạt dộng hoàn toàn. Cũng lợi ích nếu không ăn quá nhiều tối đêm qua, cũng không ngủ quá nhiều: giấc ngủ của chúng ta sẽ nhẹ nhàng hơn và điều này làm cho tâm thư thái hơn cũng như sắc bén hơn vào sáng hôm sau. Nếu ăn quá nhiều, giấc ngũ sẽ dày và nặng, gần giống như thây ma. Trong việc tu tập hằng ngày, tôi ăn no nê vào lúc điềm tâm và buổi trưa nhưng chỉ ăn chút ít vào buổi tối - ít hơn nửa chén hạt dẻ hay bánh quy dòn; rồi tôi lên giường sớm và thức dậy lúc năm giờ ba mươi vào buổi sáng để bắt đầu thiền tập.

Thấy đấy nếu chú ý đến bản chất của tâm vào buổi sáng sớm tâm chúng ta sẽ tỉnh giác hơn suốt ngày. Tư tưởng chúng ta chắc chắn sẽ tĩnh lặng hơn. Trí nhớ của chúng ta sẽ cải thiện nếu chúng ta có thể thực tập một ít thiền quán mỗi ngày, rút lui khỏi tâm phân tán. Tâm nhận thức quanh quẩn trong việc suy nghĩ những chuyện tốt, những chuyện xấu, v.v... sẽ được ngơi nghĩ. Một chút không phân biệt có thể cung ứng một sự ngơi nghĩ cần thiết rất nhiều.

Thiền Quán

1- Không nghĩ về những gì đã xảy ra trong quá khứ hay những gì có thể xảy ra trong tương lai.
2- Hãy để tâm tuôn chảy thích hợp với nó mà không suy nghĩ.
3- Quán chiếu bản chất rực rở trong sáng của tâm.
4- Trụ với kinh nghiệm này trong một lúc.
Chúng ta có thể thực tập những đề mục này trong khi nằm trên giường vào buổi sáng, tâm chúng ta tỉnh thức nhưng những giác quan của chúng ta chưa hoạt động hoàn toàn.

ĐỐI KHÁNG NHỮNG RẮC RỐI

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào những cảm xúc chướng ngại ẩn tàng chẳng hạn như thèm khát, thù hận, và ganh tỵ. Tất cả bọn chúng tùy thuộc trên sự tin tưởng sai lầm ban đầu rằng những đối tượng tồn tại như những thực thể độc lập, trái lại trong thực tế chúng không như thế. Qua năng lực của si mê như vậy, tất cả những cảm xúc buồn khổ này sinh khởi. Nhưng như chúng ta đã thấy, khi chúng ta phân tích thì có phải nổi si mê này và những rắc rối tháp tùng của nó là bản chất bên trong của chính bản tâm không, chúng ta thấy, như đại luận sư Ấn Độ Dharmakirti đã nói, "Bản chất của tâm là ánh sáng trong suốt, Tịnh Quang, hay linh quang. Những nhiễm ô là bề ngoài (khách trần phiền não)." Bản chất của thức vi tế sâu xa nhất là tinh khiết. Giận dữ, dính mắc, v.v... thuộc ngoại biên và không tồn tại trong căn bản của tâm. Chúng ta gọi điều này, nền tảng bẩm sinh của tâm là ánh sáng trong suốt, Tịnh Quang, hay linh quang. Bởi vì nó làm cho giác ngộ hiện thực, nó cũng được gọi là Phật tính. Nó hiện hữu tại gốc rể của tất cả thức. Cũng thế, tất cả chúng ta có một trình độ nào của bi mẫn, mặc cho những sự khác biệt trong sự phát triển và kiến thức, và tất cả chúng ta có một sự thông tuệ phân biệt giữa tốt và xấu. Đây là tất cả những điều kiện cho giác ngộ.

Một khi chúng ta biết rằng những nhiễm ô không "cư trú" trong bản chất của tâm, có thể loại trừ chúng qua việc phát sinh những đối trị với chúng, những thái độ, như thuốc men, có thể chống lại chúng. Nhưng nếu những nhiễm ô không tách rời khỏi căn bản tâm, thế thì ngay khi mà tâm thể hiện chức năng, những tư tưởng tệ hại - giận tức, v.v... - sẽ phải hiện hữu, nhưng điều này không phải như vậy. Ngay chính lúc này, tâm chúng ta đang đọc và suy nghĩ: giận tức chắc chắn không hiện diện. Những thái độ như giận tức và dính mắc có thể được tách rời khỏi tâm chính yếu.

Vào những lúc trong đời sống chúng ta, tâm chúng ta bám chặc với giận tức và dính mắc, và vào những lúc khác là buông xả, toại nguyện, từ ái, và bi mẫn. Chúng ta không thể cảm thấy tham dục và thù hận chính xác cùng lúc đối với cùng một đối tượng. Chúng ta chắc chắn có thể có những cảm nhận này tại những thời điểm khác nhau, nhưng không cùng trong một thời điểm, điều này cho thấy rằng hai thái độ này thể hiện chức năng trong sự mâu thuẩn với nhau. Khi một trong chúng, thứ này gia tăng sức mạnh thì thứ kia giảm xuống.

Nhận thức vững chắc hổ trợ từ ái và bi mẫn. Sự trình bày của chúng không cần sự giúp đở từ si mê ám chướng là thứ đã nhận định sai lầm các đối tượng như tồn tại cố hữu (có tự tính), hay trong chính chúng và tự chính chúng mà thôi. Những thái độ phi đạo đức như thù hận và kiêu mạn - cho dù chúng mạnh mẽ như thế nào đi nữa - chỉ được sản xuất với sự hổ trợ và giúp đở của vô minh si ám. Do vậy, không có nhận thức sai lầm này trong bản chất của con người và sự vật, thì không có cách nào tham dục và thù hận có thể triển khai. May mắn thay, những thức đối lập với tham dục và thù hận có thể hoạt động ngay cả khi không có nhận thức sai lầm về sự tồn tại cố hữu.

Si mê và tuệ trí cả hai quán chiếu cùng những hiện tượng vạn pháp, nhưng những cung cách mà chúng nhận thức vạn pháp là hoàn toàn đối nghịch. Tuệ trí có nền tảng vững chắc, trái lại si mê ám tối không có nền tảng có căn cứ và sai lầm với những gì nó nhận thức. Gia tăng sức mạnh của tuệ trí làm yếu si mê. Tuệ trí làm giảm thiểu việc lãnh hội sai lầm về bản chất con người và sự vật cho đến khi si mê biến mất.

VẤN NẠN Ở PHÍA BÊN TRONG

Những hoàn cảnh ngoại tại không phải là những gì đưa đẩy chúng ta vào khổ đau. Khổ đau được tạo nên và cho phép bởi một cái tâm chưa thuần hóa. Tâm bản nhiên trong sáng bị che phủ bởi những cảm xúc và nhận thức phiền toái này. Năng lực lừa đảo của chúng đẩy chúng ta vào những hành vi sai lầm, những điều đưa đến khổ đau không tránh khỏi. Chúng ta cần, với sự tỉnh thức và quan tâm lớn, để phân biệt những thái độ rắc rối, thì phương cách tập hợp mây mù sẽ tan biến trở lại trong không gian của bầu trời. Khi những thái độ, các cảm xúc, và những nhận thức tự thất bại ngừng lại, những hành vi tổn hại sinh khởi từ chúng cũng chấm dứt. Như đại hành giả du già Tây Tạng cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 Milarepa đã nói, "Khi sinh khởi, sinh khởi tự trong không gian của chúng, khi tan biến, tan biến trở lại không gian". Chúng ta cần trở nên quen thuộc với thể trạng của tâm tư chính chúng ta để thấu hiểu những ý tưởng và những thôi thúc vô căn cứ trở lại không gian sâu thẩm của thực tại như thế nào. Bầu trời vẫn ở đấy trước khi mây mù che phủ, và nó vẫn thế sau khi mây ám tan đi. Nó cũng hiện diện khi mây đen dường như che kín từng phân vuông của bầu trời mà chúng ta có thể thấy.

Bản chất của nước không bị ô nhiễm bởi rác rưởi, bất chấp dơ bẩn như thế nào. Cùng cách như thế, bản chất ngay cả một tâm thức rối rắm là không bị nhiễm ô bởi cấu uế. Tâm Tịnh Quang của bất cứ chúng sinh nào cũng không bị nhiễm ô bởi những cảm xúc phiền não như thù hận. Lần kế tiếp chúng ta cảm thấy thù hận, hãy thấy chúng ta có thể tách ra khỏi dòng chảy chính của tâm chúng ta như một người quán sát sự thù hận. Trái lại chúng ta thường nghĩ, "tôi ghét.." giống như cảm giác của chúng ta về tự ngã và thù hận là hoàn toàn kết chặc với nhau, ở đây chúng ta đang nhìn sự thù hận từ một khoảng cách mong manh,thấy sự sai lầm của nó, là điều chính nó tạo nên thể trạng hấp dẫn này để tĩnh lặng một cách tự nhiên.

Để làm điều này, trước nhất chúng ta cần phát triển một khả năng để nhìn vào tư tưởng của chúng ta, vì cho đến khi mà ý thức của chúng ta còn bị đắm trong nhận thức hóa, thật khó khăn cho tư tưởng quán sát tư tưởng. Nhưng nếu, khi các tư tưởng sinh khởi, chúng ta có thể tách ra một chức năng quán sát để nhìn chúng, rồi thì dần dần, chúng ta sẽ phát triển một khả năng dể phát triển một năng lực của ý thức quán sát ý thức, và ngay cả tại những thời điểm của thù hận, một nhân tố từ trong tâm ấy sẽ có thể bước ra ngoài sự giận tức. Bằng việc quen thuộc với ý thức như cả người biết và đối tượng được biết, chúng ta có thể đi đến để nhận ra những gì được gọi là "tâm bình thường", không bị ảnh hưởng bởi sự thích hay không thích, muốn hay không muốn. Khi tâm không bị phân hóa thành nhiều chức năng khác nhau, thể trạng tự nhiên sáng rở và tri nhận có thể được nhận ra, và nếu chún ta trụ với điều này, kinh nghiệm của sự rực sáng và tri nhận sẽ gia tăng. Vì bản chất nội tại ngay cả của thù hận là rực sáng và tri nhận, thù hận sẽ dần dần tan chảy vào trong bản chất của ý thức.

Chúng ta không phải dừng một cách cố ý những tư tưởng và cảm giác đa dạng bắt đầu ló dạng trong tâm; đúng hơn, không nên tiêm nhiễm trong chúng, đừng để tâm chúng ta bị đẩy vào trong chúng. Tâm rồi thì sẽ đảm nhiệm hình thức tự nhiên của nó, và Tịnh Quang của nó có thể được xác định. Sau đó sự thanh tịnh căn bản của nó có thể được biết.

Khi chúng ta thấu hiểu rằng Tịnh Quang là bản chất tự nhiên của nội tâm chúng ta, những phẩm chất ngày càng lớn hơn và lớn hơn như sự biểu lộ từ ái hay lòng yêu thương vô chấp. Đây là tại sao sự chuyển hóa tinh thần không thể là kết quả của việc thực hiện những thay đổi môi trường bên ngoài của chúng ta. Việc đạt được nhiều thứ hơn một khi chúng ta có những gì cần thiết không đưa đến sự toại nguyện.

Sự giải thoát đạt được bằng việc biết rằng bản chất tối hậu của chính tự tâm: nó không được ban tặng cho chúng ta bởi một người nào đấy hay điều gì khác. Hạnh phúc đến qua việc thuần hóa tâm; không có sự thuần hóa tâm thì không có cách nào để hạnh phúc. Bất chấp bản chất của thế gian chúng ta sẽ không khổ sở vif phiền não hay gây ra đau khổ khi chúng ta tin cậy trong bản chất nền tảng rực sáng của tâm, Tịnh Quang của nó.

TÂM KIM CƯƠNG

Căn bản tự nhiên và sáng rở của Tịnh Quang là cội nguồn của tất cả những tâm thức - là vĩnh viễn không thể phá hủy được, không thể biến đổi được như kim cương. Trong Đạo Phật, khía cạnh này của tâm được xem như thường trụ trong ý nghĩa sự tương tục của nó là liên tục - nó luôn luôn tồn tại và sẽ tiếp tục mãi mãi và vì thế không là điều gì đấy được bắt đầu một cách mới mẻ bởi nhân duyên (nguyên nhân và điều kiện).

Tâm căn bản của chúng ta thanh tịnh một cách chính yếu, tự nhiên trỗng rỗng rắc rối ngay từ bắt đầu. Trong nó, tất cẩ mọi hiện tượng thanh tịnh và nhiễm ô xuất hiện như những sự biểu hiện tự nhiên thanh thoát của nó. Hào quang chói lọi rực rở vô chướng ngại của tâm ngay cả được gọi là bi mẫn, bởi vì tác động của nó là những hành vi thương yêu vô chấp, phát sinh từ thực thể thanh tịnh căn bản và tự nhiên thanh thoát.

Tinh khiết từ lúc khởi đầu và được ban cho với sự thanh thoát tự nhiên, tâm kim cương này là căn bản của mọi phát triển tâm linh. Ngay cả trong sự phát sinh vô số nhận thức tốt và xấu, chẳng hạn như tham dục, thù hận, và hoang mang, tâm kim cương tự nó tự do khỏi sự quấy nhiễu của những nhiễm ô này, như bầu trời trong suốt những đám mây. Nước có thể cực kỳ dơ bẩn, tuy thế bản chất của nó vẫn trong sạch. Tương tự như thế, bất chấp những cảm xúc phiền não nào được sinh ra như sự tạo tác thiện xảo của tâm kim cương này, và bất chấp chúng mạnh mẽ như thế nào đi nữa, căn bản của tâm tự nó duy trì không bị nhiễm ô bởi cấu uế; nó là toàn hảo mà không có bắt đầu hay kết thúc.

Những phẩm chất tâm linh kỳ diệu, chẳng hạn như từ ái và bi mẫn không bị ràng buộc, tất cả là sự hiện diện trong hình thức căn bản trong tâm kim cương này; sự biểu hiện của từ ái và bi mẫn chỉ bị ngăn ngừa bởi những điều kiện tạm thời mà thôi. Trong một ý nghĩa nào đấy, chúng ta được giác ngộ ngay từ đầu, được phú cho một tâm căn bản hoàn toàn tốt đẹp.

ĐÁNH GIÁ HOÀN CẢNH HIỆN TẠI

Bằng việc được sinh ra như một con người, chúng đã tiếp nhận một hệ thống hổ trợ vật chất mà qua nó chúng ta có thể dễ dàng đạt được cả những mục tiêu nhất thời lẫn các mục tiêu sâu rộng hơn. Bây giờ chúng ta đã đạt được hình thể đời sống thuận lợi này rất đặc biệt trong vô số hình thể sinh ra trong thế giới này, nên thật quan trọng là [để nhớ rằng] chúng ta đừng lãng phí nó. Nếu trong hoàn cảnh này chúng ta chỉ đơn thuần thực tập để đạt được một đời sống tốt đẹp trong những đời sống tái sinh sau này cho chính chúng ta, thì chúng ta sẽ sử dụng khả năng chúng ta một cách trọn vẹn. Hay, nếu chúng ta chỉ đơn thuần hướng đến giải thoát cho chính bản thân từ những trạng thái rối rắm của khổ đau, thì điều này cũng làm thui chột khả năng vốn có của chúng ta. Với thân người, chúng ta phải nên làm bất cứ điều gì đấy mà chúng ta có thể đạt đến một sự phát triển tâm linh toàn hảo và trọn vẹn.

THIỀN QUÁN

1- Quán chiếu trên khả năng của tình trạng hiện tại của hành giả cho một sự tăng trưởng tâm linh: chúng ta có một thân người; những giáo huấn tâm linh thuận lợi trong môi trường; chúng ta có khả năng tinh thần để tiếp thu những giáo huấn tâm linh - chúng ta có tâm kim cương thanh tịnh thuần khiết.
2- Đánh giá những cơ hội hiện tại cho sự thực tập tâm linh.
3- Thiết lập động cơ của chúng ta, một nguyện ước để hổ trợ không chỉ chính chúng ta mà tất cả chúng sinh.
4- Hướng đến giúp đở người khác.
Nguyên tác: Basic Purity of the Mind trích từ quyển How to Expand Love

Ẩn Tâm Lộ ngày 10/10/2011
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
TỊNH HÓA TÂM THỨC - 30.10.2012 05:01:06
0
NGHĨ VỀ THÂN VÀ THÙ
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 11/10/2011

NGHĨ VỀ THÂN VÀ THÙ

BƯỚC NỀN TẢNG




Trong hiện tại con thấy rằng thật không thể chịu nổi vì người thân của con khổ đau,
nhưng con vui thích khi kẻ thù con đau khổ,
và con dửng dưng đến khổ đau của những người không liên hệ.


- Tông Khách Ba, Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến - Lamrim [1]

Từ nền tảng bản chất thật sự của tâm, chúng ta cần phát triển từ ái và bi mẫn thật mạnh mẽ rằng khổ đau của người khác trở nên không thể chịu nổi. Vì từ ái và bi mẫn phải được cảm nhận một cách bình đẳng cho tất cả mọi loài chúng sinh, sức mạnh của những thái độ này sẽ tùy thuộc trên mức độ của sự gần gũi hay thân thiết mà chúng ta cảm nhận cho người khác. Thí dụ, khi một người bạn thân ngã bệnh, cảm giác từ ái và bi mẫn, nguyện ước của chúng ta rằng con người này được tự do khỏi bệnh đau và được hồi phục sức khỏe, là mạnh mẽ hơn nó có thể là cho một người chỉ quen biết, hay cho ai đấy mà chúng ta không thích. Loại từ ái và bi mẫn này bị lẫn lộn với khao khát theo đuổi một lợi ích nào đấy cho chính chúng ta.

Nếu một người trước đây tướng mạo hấp dẫn với cá tính vui vẻ dễ thương đánh mất bề ngoài hay tính tình ấy đi, thì thiện ý để cảm tình với người ấy có thể biến mất. Nhưng nếu chúng ta có một cảm nhận từ bi cho một người xấu xí, thế thì bất kể dung mạo người ấy thay đổi như thế nào đi nữa, cảm nhận từ bi không bị rơi rớt. Trong thí dụ lòng thương yêu bi mẫn thứ nhất lẫn lộn với tham dục: người ấy lôi cuốn chúng ta (hay nói đúng hơn đây là luyến ái). Tâm chúng ta đã thổi phồng những đặc trưng dễ thương của người ấy vì thế tham dục phát sinh, và chúng ta cảm thấy một lòng ước ao khao khát, một hổn hợp của lòng mật thiết và mong ước làm nhỏ đi bất cứ nổi khổ đau nào mà người ấy đang chịu đựng. Tuy nhiên, lòng bi mẫn thuần khiết không thành kiến hay cục bộ; nó hoàn toàn thấm nhuần với hành xả và hoàn thiện cả bạn và thù.

Không có nhận thức bình đẳng, từ ái và bi mẫn không định kiến thậm chí không thể khai triển được. Một khi chúng ta đã phát sinh một thái độ bình đẳng đối với tất cả, sau đó nó mới có thể nhìn không chỉ những người bạn mà những người trung tính (chẳng ghét-thương) và ngay cả những kẻ thù với một sự mến yêu rộng rãi. Điều này không dễ dàng. Thật khó khăn để phát triển một cảm giác thân cận đến mọi người. Thiền quán phản chiếu là cần thiết.

BÌNH ĐẲNG

Bắt đầu bằng việc chú ý rằng trong tâm, chúng ta có ba đặc trưng chính cho con người - bạn, người trung tính, và kẻ thù. Chúng ta có thể có nhiều thái độ đối với họ, nhưng ba loại trên là sự quan tâm của chúng ta ở đây - tham dục, dửng dưng sinh khởi từ sự thờ ơ, và thù hận, tương ứng cho từng thứ. Khi bất cứ một thứ nào trong ba thái độ này hiện diện, thì không thể phát sinh một cảm giác gần gũi với mọi người. Tham dục, thù hận, và dửng dưng phải được làm cho trung hòa.

THIỀN QUÁN

Ở đây là việc chúng ta có thể trau dồi hành xả trong thiền quán như thế nào.

1- Quán tưởng một người bạn, một người thù, và một người trung tính một cách đồng thời.

2- Thẩm tra cảm giác của chúng ta để thấy ai đang được ôm giữ một cách thân thiết và ai được xem như là xa cách. Chúng ta cảm thấy gần gũi tự nhiên với bạn chúng ta; việc quan tâm đến kẻ thù, chúng ta không chỉ cảm thấy xa cách mà đôi khi cũng là giận dữ hay phát cáu; chúng ta không cảm thấy gì cho người trung tính hay không quen biết. Khảo sát tại sao.

3- Xem xét có phải người bạn xuất hiện thân cận bởi vì cô ta đã hổ trợ chúng ta và bè bạn chúng ta.

4- Xem xét có phải kẻ thù xuất hiện xa cách bởi vì người ấy đã làm tổn hại chúng ta và bè bạn chúng ta.

5- Xem xét có phải chúng ta cảm thấy dửng dưng đối với người trung tính bởi vì người ấy không giúp đở cũng không làm tổn hại chúng ta và bè bạn chúng ta.

6- Nhận ra rằng, giống như chính mình, tất cả những người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, và trong cung cách quan trọng này, họ là bình đẳng.

7- Duy trì với nhận thức này cho đến khi nó chìm sâu vào trong tâm hành giả.

LÀM NỔI BẬT

Nếu chúng ta mở ra khả năng rằng sự tái sinh trong quá khứ và tương lai qua một sự tương tục của đời sống có thể xảy ra, chúng ta có thể làm nổi bật nhận thức bình đẳng bằng việc lưu tâm đến quan hệ mật thiết của tái sinh. Một sự tương tục của các đời sống có nghĩa là những sự tái sinh không có sự bắt đầu. Qua tiến triển của nhiều kiếp sống, mọi người có thể đã từng ở trong nhiều loại quan hệ với nhau. Chúng ta không thể chắc rằng những ai bây giờ là bè bạn đã luôn luôn là bằng hữu trong quá khứ và những ai bây giờ là kẻ thù đã luôn luôn là những người thù địch của chúng ta. Ngay cả trong một đời sống này, có những cá nhân, người trước đây là kẻ thù nhưng sau này biến thành thân hữu, và những người khác đã từng là bạn hữu nhưng sau này trở thành những kẻ thù. Việc nhìn vào tương lai, không có lý do gì tại sao một kẻ thù phải mãi là một người thù địch và một người bạn sẽ phải mãi mãi là một bằng hữu. Bè bạn, kẻ thù, và những người trung tính là bình đẳng bởi vì họ có thể đổi chỗ thay thế cho nhau từ vai trò này sang vai trò nọ.

Kết quả là, không có cách nào để quyết định sau cùng một cách hoàn toàn rằng một người nào đấy là kẻ thù vĩnh viễn của chúng ta và do thế, phải nên loại bỏ, hay là một người nào đó là bạn hữu vĩnh viễn và vì thế phải được yêu mến , hay rằng ai đấy sẽ luôn luôn là một người trung tính xa lạ và do thế phải được đối xử một cách dửng dưng. Đúng hơn, tất cả đã hành động một cách đồng đẳng như những kẻ thù, bạn hữu, và trung tính. Nếu ai đấy làm tổn hại chúng ta năm trước nhưng giúp đở chúng ta năm nay, và một người khác giúp đở chúng ta năm rồi nhưng lại làm tổn hại chúng ta hiện tại, họ là như nhau, có phải thế không? Đây là tại sao thật vô lý trong việc nhất quyết lưu tâm một người nào đấy chỉ là bạn hữu và một người khác chỉ là kẻ thù, hay chỉ là trung tính. Cấu trúc căn bản của đời sống là không hoàn toàn ổn định: đôi khi chúng ta thành công, thỉnh thoảng chúng ta thất bại. Mọi thứ luôn luôn thay đổi, thay đổi và thay đổi. Thế đấy, chúng ta trải nghiệm những cảm giác cứng nhắc và ổn cố đối với bạn bè, và kẻ thù như vậy là sai lầm một cách đơn giản. Phản chiếu trên điều này sẽ dần dần đưa tâm chúng ta đến hành xả (buông bỏ những chấp trước).

THIỀN QUÁN

1- Suy xét rằng ngay cả trong khoảng thời gian của tuổi thọ kiếp sống này, không chắc chắn rằng những cá nhân đặc biệt nào đấy sẽ luôn luôn là bạn hữu, kẻ thù, hay trung lập. Quán chiếu những thí dụ của điều này từ chính đời sống của mình - một người trung lập đã trở thành một người bạn; một người trung lập trở thành một người thù; một người bạn trở thành trung lập, hay một người thù; một người thù trở thành một người bạn.

2- Quán tưởng ai đấy hiện tại là một người trung lập và tưởng tượng rằng cô ta đem đến sự giúp đở và là tổn hại trong những kiếp sống quá khứ.

3- Tưởng tượng một người bạn đã giúp đở nhiều trong kiếp sống này đã đem đến tổn hại cho mình trong một kiếp sống trước và là trung lập vào những lúc khác.

4- Tưởng tượng rằng một người thù đã tổn hại mình trong kiếp sống này là trung lập trong một kiếp sống nào đây và đã đem đi đem lại nhiều lần những lợi ích trong những lúc khác.

5- Hãy thấy rằng trong nhận thức dài lâu của nhiều kiếp sống, bạn bè, kẻ thù, và người quán sát trung lập tất cả đều bình đẳng giúp đở và gây hại cho mình hay bạn bè mình, vì thế không thể kết luận rằng họ chỉ độc nhất là thứ này hay thứ kia.

6- Nhận ra rằng trong dạng thức trong sự giao hảo của tiến trình dài lâu của sự tái sinh không có khởi đầu, không ai trong chúng ta có thể quyết định rằng ai đấy người đã giúp đở hay tổn hại chúng ta trong kiếp sống này đã, đang và sẽ làm như thế trong mọi kiếp sống.

7- Quyết định rằng thật không đúng để chỉ ra một người cho sự thân thiết, một người khác cho trung lập dửng dưng, và một người nữa cho sự ghét bỏ.


Phản chiếu cách này, làm sâu sắc ý nghĩa cảm nhận bình đẳng đối với bè bạn, kẻ thù, và người trung lập.

Dường như có thể thiết yếu hơn để quan tâm những gì người khác đang làm cho mình hay đến mình trong hiện tại hơn là những kiếp sống trước đây, nhưng việc này không như vậy. Như chúng tôi đã chỉ, vị thế một cá nhân như bạn hay thù có thể thay đổi ngay trong một kiếp sống. Sự giúp đở hay tổn hại từ một người khác là tạm thời, và chỉ thời gian mà thôi thì có thể không phải là cơ sở cho việc chọn lựa sự mật thiết hay ghét bỏ. Hãy quyết định rằng thật không thực tế để khao khát một cách mãnh liệt những ai hiện tại giúp đở mình và thù ghét dữ dội những người hiện tại đang làm tổn hại chúng ta.

KỶ NĂNG HỔ TRỢ

Khi chúng ta quán chiếu vấn đề này, sự thấu hiểu cuồng nồng nhiệt về những người như bạn bè và những người khác như kẻ thù, và sự phát sinh hợp lý của khát vọng và thù ghét, sẽ trở nên yếu ớt hơn trong sức mạnh. Tuy thế, để mang mối quan hệ mật thiết của những thiền quán này về tổ ấm, thật hữu ích để phản chiếu trong một khung cảnh gây ấn tượng sâu sắc hơn.

1- Quán tưởng hai người.

2- Tưởng tượng rằng một người đang vung quả đấm vào hành giả.

3- Phản chiếu trên lý do cho việc trở nên khó chịu: hành giả dường như ở trong một hiểm họa sắp bị đánh.

4- Tưởng tượng một cách năng động rằng người thứ hai cùng lúc ấy đang làm điều gì đấy dễ chịu cho chúng ta - cầu nguyện cho chúng ta, tặng phẩm vật cho chúng ta, hay vuốt ve cánh tay chúng ta.

5- Thẩm tra tại sao chúng ta quá hài lòng với điều này. Đó là qua một tinh cảnh tạm thời ngắn ngủi mà chúng ta quá thích ý.

6- Thấu hiểu điều này, lưu ý rằng những phản ứng của chúng ta với sự quan tâm đến bạn bè hay kẻ thù là không sâu sắc lắm.


THIỀN QUÁN KẾT LUẬN

Không có gì chắc chắn rằng một người bạn, một người thù, và một người dưng sẽ mãi mãi lúc nào cũng giúp đở, gây hại, hay không gây hại cũng không giúp đở. Khi những tư tưởng và động cơ tiêu cực chẳng hạn như thù hận hay giận tức hiện diện, ngay cả một người bạn cũng được thấy như một người thù, nhưng khi những tư tưởng đối với một người thù biến mất, thì kẻ thù trở thành một người bạn. Phản chiếu trên những điều sau đây:

1- Từ quan điểm của chính họ những người bạn, những kẻ thù và những người trung tính là đồng đẳng, muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.

2- Từ quan điểm của chính chúng ta mỗi một người trong họ đã từng là bạn của chúng ta trong vô số kiếp sống từ vô thì luân hồi sinh tử và chắc chắn sẽ lại giúp đở chúng ta trong tương lai; mỗi loại người ấy là trung lập một cách bình đẳng.

3- Vì vậy, từ bất cứ phía nào được quan tâm, chính chúng ta hay những người khác, không có điểm nào trong những nhận thức thổi phồng về thân thiết và chán ghét. Chúng ta không nên đánh giá người này như căn bản là tốt và người nọ là xấu, mặc dù những hành vi của người ấy có thể là tốt hay xấu, hữu ích hay tai hại. Không có lý do gì để tử tế với người này và cáu kỉnh với người nọ. Mặc dù đúng là những cá nhân tạm thời là bạn bè hay thù địch - giúp đở hay tổn hại - thật không đúng để phân biệt bất cứ người nào với thích thú hay thù ghét.


Thật quan trọng để diễn tập những thiền quán phản chiếu này với những người đặc thù trong tâm và không chỉ hướng đến tất cả chúng sinh, toàn bộ thì quá lờ mờ để ảnh hưởng một sự thay đổi thật sự của thái độ. Bằng việc làm việc trên những cá nhân, chậm rãi mở rộng cảm giác này ra ngày càng nhiều người hơn, chúng ta sẽ phát triển một cảm nhận xả buông đối với toàn thể thế giới đời sống.

Qua thiền quán này, cuối cùng chúng ta đi đến tại một điểm, nơi mà sự phát sinh những cảm giác mạnh mẽ của khát vọng hay thù hận xuất hiện là vô nghĩa. Thành kiến yếu đi, và chúng ta thẩm định rằng sự phân loại con người một cách cứng nhắc như bạn bè hay kẻ thù đã là một sai lầm.

Giống như làm láng một bức tường trước khi vẽ lên một bức tranh hay chuẩn bị một cánh đồng trước gieo trồng, việc trau dồi một cảm nhận chân thật về tính bình đẳng cung ứng một nền tảng cho bước tiếp theo trong con đường để yêu thương từ ái: công nhận tất cả chúng sinh như nhữn người bạn thân thiết. Bây giờ trau dồi tính bình đẳng sẽ phục vụ như nền tảng cho từ ái.

Nguyên tác: Foundation Step: Viewing Friend and Foe trích từ quyển How to Expand Love
Ẩn Tâm Lộ ngày 22/10/2011
<bài viết được chỉnh sửa lúc 30.10.2012 05:02:20 bởi tueuyen >
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
NHẬN RA THÂN HỮU - 08.11.2012 00:42:12
0

NHẬN RA THÂN HỮU

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D.
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 22/10/2011

Trong khi con thấy rằng những ai thân cận với con
đang chìm đắm trong đại dương luân hồi
Và giống như rơi vào cơn bảo lửa
Không có gì ghê sợ hơn để hành động
cho sự giải thoát của riêng con,
Quên lãng những ai con không
nhận ra qua tiến trình sinh tử.

-CHANDRANGOMIN, Lá thư cho một học trò


Đã tạo nên một thái độ bình đẳng đối với bạn hữu, kẻ thù, và người trung tính, chúng ta có một nền tảng để nhìn mỗi con người như người bạn thân nhất của chúng ta. Khuynh hướng bây giờ là để phát triển một cảm giác chân thật về sự mật thiết với mọi người. Vì sự mến chuộng được phát sinh một cách dễ dàng cho bạn hữu, chúng ta cần một kỷ năng cho việc trau dồi việc nhận thức tất cả chúng sinh như bạn hữu, sử dụng chính những mối quan hệ thân hữu nhất của chính chúng ta như kiểu mẫu. Ai là người bạn thân nhất của chúng ta?

Một sự phương pháp khác là sử dụng lòng yêu thương vô điều kiện của bà mẹ của chính mỗi chúng người như một kiểu mẫu. Bởi vì tôi được xác nhận như sự tái sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười ba nên tôi đã không sống tại nhà cho đến ba hay bốn tuổi. Như một đứa trẻ, tôi đã thăm mẹ tôi thực tế mỗi ngày, hay bà sẽ đến để gặp tôi, vì gia đình tôi sống gần nơi cư trú của tôi ở Lhasa, thù đô của Tây Tạng. Bà luôn luôn có một trái tim hiền lương, rất tử bi, ân cần trong một sự cư xử rộng rãi đối với người khác, những người nghèo túng. Bà tử tế đến mọi người. Bà không bao giờ gắt gỏng đối với tôi, mặc dù sau này bà nói với tôi rằng tôi sẽ khó chịu nếu không vừa ý, và tôi sẽ giật mạnh lỗ tai của bà khi bà đang bồng tôi. Bà đã nói rằng, một ngày nọ tôi đã đã kéo rất mạnh và làm tổn thương vành tai của bà.

Từ lúc tôi bốn tuổi, người đem thức ăn cho tôi mỗi ngày ở Lhasa là một ông già hói đầu, râu quay nón tên là Ponpo. Tôi rất gần gũi với ông; ông giống như một bà mẹ. Khi tôi ở tại cung điện Mùa Hè học thuộc lòng những bài kinh luận, ông luôn luôn ở gần bên; tôi sẽ khóc nếu ông không làm thế. Tối thiểu tôi phải thấy vạt áo của ông trong khi ông ngồi phía bên kia bình phong khoảng gần một thước từ cửa ra vào. Ông phải ở đấy; bằng nếu không, tôi sẽ khóc. Ponpo, là người đã từng nấu ăn cho Đức Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm, không biết kể chuyện như thế nào, không biết đùa giờn như thế nào, và không được học hỏi trong hình thức hoặc là tôn giáo hay những chủ đề khác. Tôi rất quý trọng ông vì ông đã cung cấp thức ăn và săn sóc tôi.

Đối với tôi dường như chúng ta, giống như những động có vú như chó và mèo, thương mến nhất những ai nuôi nấng chúng ta. Chúng ta thương mến bà mẹ của chúng ta không phải bởi vì các bà đã sinh ra chúng ta nhưng bởi vì các bà đã cho chúng ta sửa và săn sóc chúng ta. Khi tôi bệnh, Ponpo cỏng tôi đi xung quanh hay để tôi trong lòng ông. Khi chúng ta ôm một con mèo trong lòng, con mèo con sẽ rên ư ư thích thú; cũng giống với những đứa trẻ. Tôi rất thích ông ta.

Mọi người, cho dù có tín ngưỡng hay không, có thể thấu hiểu từ kinh nghiệm tự nhiên và ý nghĩa thông thường rằng tình cảm quan trọng một cách thật sự từ ngày được sinh ra; đấy là căn bản của đời sống. Chính sự sống còn thân thể của chúng ta đòi hỏi tình cảm của người khác, đến điều mà chúng ta cũng đáp ứng bằng tình cảm. Mặc dù điều này hòa lẩn với luyến ái hay dính mắc, nhưng tình cảm này không căn cứ trên sự hấp dẫn của thân thể hay tình dục. Loại tình cảm này, mặc dù không phải không thiên kiến, nhưng có thể được mở rộng để bao trùm tất cả chúng sinh, làm nó không định kiến. Đây là những gì gọi là mở rộng tình thương cùng khắp hay mở rộng từ ái.

Đối với những thiền quán theo sau, nếu mối quan hệ đối với mẹ của hành giả phức tạp, thay vì thế chúng ta có thể quan tâm đến mối quan hệ tình mẹ lý tưởng, hay chúng ta có thể sử dụng bất cứ người thân, người bạn, hay bất cứ thành viên nào của gia đình.

THIỀN QUÁN

Trước nhất, chúng ta hãy quan tâm đến nền tảng của loại thiền quán này. Sự sắp xếp được xây dựng trên giả định của tái sinh, là điều chúng ta có một ý niệm mơ hồ có thể là đúng, chúng ta có thể sử dụng để khảo sát kỷ lưỡng mối quan hệ mật thiết của vô thỉ tái sinh cho những mối quan hệ với những người khác. Tuy nhiên, nếu chúng ta không hoài nghi rằng tái sinh là thật, vẫn có thể sử dụng những bước này như một sự thực tập quán tưởng thuần khiết để giúp tháo gở những gút mắc trong những mối quan hệ của chúng ta.

1- Quán chiếu rằng nếu có tái sinh, vòng luân hồi, có nghĩa rằng những sự sinh của chinh chúng ta là không có bắt đầu (vô thỉ).

2- Quan tâm rằng khi chúng ta sinh ra từ một bào thai như một con thú, hay một con nhền nhện, chúng ta đòi hỏi một bà mẹ. Và bởi vì sự sinh của chúng ta là vô số, chúng ta phải có vô số bà mẹ trải qua nhiều kiếp sống. Điều này ngụ ý rằng mỗi chúng sinh đã từng là mẹ của chúng ta vào một kiếp sống nào đấy. Nếu quý vị có rắc rối đến với kết luận ấy, thế thì hãy thấy quý vị có thể đi theo sự tương tục của những đời sống hay không và khám phá ra rằng có bất cứ chúng sinh nào không từng là bà mẹ của chúng ta hay không, một kết luận như thế là không thể được.

3- Quán chiếu rằng những lúc chúng ta được sinh ra từ một bào thai hay một cái trứng là vô hạn, và vì thế các bà mẹ của chúng ta cũng là vô số.

4- Phản chiếu trên những điểm này, hãy thấu hiểu rằng mỗi chúng siinh trong kiếp sống hiện tại của chúng ta đã là bà mẹ của chúng ta trong nhiều lần. Đừng vội vả qua những bước này; khuynh hướng ở đây là không chấp nhận một sự hợp lý (logic) nông cạn, mà thấm nhuần tâm thức và thái độ của chúng ta với tác động của nhận thức về tái sinh. Hãy cố gắng trên điều này, ví dụ như thế, và xem nó có hữu dụng hay không.

* Hãy nghĩ về một người bạn thân nhất của hành giả và xác định rằng người bạn này, qua tương tục của những kiếp sống, đã là một người bạn nuôi nấng [ta]. Hãy giữ người này trong tâm cho đến khi ta cảm thấy một sự thay đổi nhận thức.

* Sau đó dần dần xem người khác, không quá gần gũi, những người bạn, từng người một trong cùng một cách như thế, xác nhận và cảm nhận rằng qua sự tương tục của những kiếp sống, họ là rất gần gũi với ta. Điều này có thể cần nhiều ngày để thực hành - ngay cả hàng tuần.

* Rồi thì đem đến tâm một người trung tính - người nào đấy không từng giúp đở cũng không từng làm tổn hại ta trong kiếp sống này. Hãy xem rằng người này qua những kiếp sống cũng có những lúc nào đấy là một người gần gũi và nuôi nấng như người bạn thân thiết nhất của chúng ta.

* Dần dần mở rộng sự nhận thức này đến những người trung tính - những người đã thấy trong một trạm xe điện ngầm, đi ngang qua trên đường, hay thấy trong một cửa hàng.

* Khi chúng ta trở nên thành thạo thế nào ấy với việc nhận ra những người bạn và những người trung tính đã từng nuôi nấng ta, và có thể cảm thấy nhận thức của chúng ta thay đổi như thế nào, xem xét một người nào đấy đã từng làm gây hại một ít đến ta hay người thân chúng ta. Hãy bắt đầu với một kẻ thù thứ yếu, như một người đã nói điều gì đấy bình phẩm ta, vì thế chúng ta có thể phát triển một kinh nghiệm với việc tạm thời để qua một bên những cảm giác tiêu cực trong thiện ý của việc thực chứng rằng tại một thời điểm nào đấy chúng ta đã là từng là những người bạn thân. Nếu chúng ta nhảy quá nhanh trong việc lưu tâm đến những người mà chúng ta thật là không thích, thì ý tưởng tiêu cực sẽ có thể làm lưỡng lự tiến trình của chúng ta.

* Khi chúng ta cảm thấy quan điểm của chúng ta đã thay đổi đối với kẻ thù không quan trọng, trụ lại với thái độ mới ấy trong một lúc, rồi thì quan tâm một cách chậm rãi đến trình độ tiếp theo của kẻ thù (kẻ thù nặng cân hơn).


Qua sự thực tập, có thể xem mỗi chúng sinh như một người thân hữu. Nói thì dễ, nhưng làm thì khó. Đừng trở nên thối chí; hãy duy trì sự diễn tập những bước này hết lần này đến lần khác. Tích tập kinh nghiệm một cách từ từ.

Đối với tôi, do tôi mang trách nhiệm vì quyền lợi của Tây Tạng, những người khó khăn nhất để nhận thức như những thân hữu là những ai đang làm tổn hại đến đồng bào Tây Tạng một cách chủ tâm. Tuy thế, từ kinh nghiệm với những thân hữu, người trung tính, và những kẻ thù ít quan trọng, tôi có thể thấy rằng một cách căn bản họ không có khác biệt.

Điều gì đã làm tôi khỏi bị chán nản mặc dù hơn năm mươi năm hành động cho Tây Tạng không có nhiều thành công trước nhất vì nguyên nhân là công bằng, chân thật, và lợi ích cho người khác. Nguyên nhân chân thật chưa đủ; nó phải ích lợi. Việc làm của tôi cho Tây Tạng không gia tăng hoặc là tiếng tăm của tôi, ảnh hưởng của tôi, năng lực của tôi, hay lợi ích của tôi trong bất cứ cách nào; đấy là cho đồng bào Tây Tạng, những người có quyền để được tự do và để bảo tồn giáo huấn Đạo Phật lợi ích đến tất cả chúng sinh. Vì vậy, cho dù chúng tôi có đạt được mục tiêu trong kiếp sống này của chúng tôi hay không, thì nó đáng giá để duy trì cuộc đấu tranh. Chúng tôi đang ở vào một thời điểm cấp bách qua việc người Hoa đổ nhanh chóng vào Tây Tạng; giống như Mãn Châu và Nội Mông, là những nơi đã hoàn toàn trở thành bị đồng hóa với văn hóa Hán tộc. Văn hóa Tây Tạng có thể bị biến mất nếu xu hướng hiện tại tiếp diễn. Một dấu hiệu hy vọng là bây giờ mọi người trên thế giới kể cả chính nhiều người Hoa, đang ý thức hơn về những gì đang xảy ra - khả năng mất mát có thể có đối với thế giới về một nền văn hóa quý giá và do vậy có sự quan tâm đạo đức hơn. Vấn đề sẽ tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác không giống như một nhiệm kỳ chính trị ở văn phòng, nó không có giới hạn bởi một sự phân ranh giới nào đó cua thời gian. Đây là những lý do của tôi cho việc duy trì lòng nhiệt huyết.

KỶ NĂNG HỔ TRỢ

Giữa những sự thiền quán, thảng hoặc xác định bất cứ ai mà chúng ta chạm trán như là một thân hữu giúp cho sự trưởng thành. Thí dụ, khi đi ngang qua một người trung tính (không thân cũng không thù) trong một đám đông, hãy nghĩ: Con người này dường như không có bất cứ liên hệ nào đối với tôi trong kiếp sống này, nhưng qua sự tương tục của những kiếp sống chắc chắn đã từng là cha, mẹ, con, hay bạn thân của tôi. Trong cách này, chúng ta sẽ từ từ phát triển một cảm nhận rằng tất cả chúng sinh là những thân hữu của chúng ta.

LƯỢNG ĐỊNH THÀNH CÔNG

Với nhiều thực tập sẽ đi đến điều: ngay cả khi chúng ta thấy một bọ, chúng ta sẽ nghĩ, Ô, con vật này đã được sinh ra trong một điều kiện khổ sở như vậy! Mặc dù tôi là một con người, và tạo vật này là một con bọ, trong quá khứ đã là mẹ tôi, và tôi là con của bà. Vào lúc ấy, sự sống của tôi tùy thuộc vào bà, và bà đã yêu thương tôi hơn cả đời sống của chính bà. Sau sự thiền quán đầy đủ, loại suy nghĩ này sẽ sinh khởi một cách tự phát. Dấu hiệu của việc có nhận thức hoàn toàn thành công về vấn đề tất cả chúng sinh như những thân hữu giúp cho sự trưởng thành là khi chúng ta nhìn vào thế giới chung quanh chúng ta và nghĩ, những chúng sinh từ thú vật trở lên đã từng chăm sóc tôi trong những thời quá khứ không chỉ chăm sóc tôi một lần mà là nhiều lần.


Nguyên tác: The First Step: Recognizing Friends trích từ quyển How to Expand Love
Ẩn Tâm Lộ ngày 22/12/2011
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
ĐÁNH GIÁ ĐÚNG SỰ ÂN CẦN - 28.11.2012 06:17:01
0
ĐÁNH GIÁ ĐÚNG SỰ ÂN CẦN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 23/12/2011



Khi con đói và khát, bà cho con thức ăn và uống,
khi con lạnh, là áo quần;.
khi con không có gì, bà cho con mọi thứ đáng giá

- Tông Khách Ba, Đại Luận Con Đường Tiệm Tiến - Lamrim[1]
***

Các chính quyền bây giờ sử dụng những kỷ thuật phức tạp để truy tầm các kẻ có thể gây ra rắc rối, nhưng những kẻ khủng bố vẫn tiếp diễn. Bất kể kỷ thuật là phức tạp như thế nào, phía đối kháng vẫn đáp ứng được. Sự phòng vệ hiệu quả chỉ có thể là bên trong. Điều này có thể nghe như ngu ngơ, nhưng phương thức duy nhất để chấm dứt khủng bố là lòng vị tha. Vị tha có nghĩa là có một sự quan tâm căn bản đến người khác và hiểu rõ giá trị của người khác, là điều đến từ việc nhận ra lòng ân cần tử tế của họ đối với chúng ta.

Trong bước thứ hai này chúng ta quán chiếu trên sự ân cần mà những người khác ban cho chúng ta một cách cá nhân khi qua dòng diễn biến của những kiếp sống, họ đã là cha mẹ chúng ta và ta là một đứa con. Áp dụng sự quán chiếu này đến mỗi lần chạm trán, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả chúng sinh đã biểu lộ lòng ân cần một cách bình đẳng đến chúng ta hoặc là trong kiếp sống này hay trong những kiếp sống khác.

Thiền quán

Trong bước trước, chúng ta quán tưởng và nhận ra những người khác như những thân hữu của chúng ta, và bây giờ có thể trở nên chính niệm về lòng ân cần của họ khi họ là những thân hữu bậc nhất của chúng ta. Một lần nữa, có thể dễ dàng nhất cho chúng ta bắt đầu với chính bà mẹ của chúng ta trong kiếp sống này, vì bà hầu như là người nuôi dưỡng chính yếu của chúng ta. Nhưng nếu bà ta không làm thế, hay nếu mối quan hệ của chúng ta phức tạp, hãy liên hệ đến bất cứ người nào có công nhất trong việc làm cho chúng ta trưởng thành trong kiếp sống này như một biểu tượng để quán chiếu, quy vào sự thiền tập theo đây như thích đáng:

1- Quán tưởng bà mẹ của hành giả hay người nuôi dưỡng chính, một cách sinh động trước mặt hành giả.

2- Nghĩ:

Người này đã là bà mẹ của tôi nhiều lần qua sự tương tục của các kiếp sống. Thậm chí chỉ trong kiếp sống này, bà đã ban cho tôi một thân thể đã hổ trợ một đời sống triển vọng mà qua nó tôi có thể tiến triển tâm linh. Bà đã mang tôi trong bào thai của bà trong chín tháng, trong thời gian mà bà không thể ăn ở như bà mong ước nhưng phải chú ý một cách đặc biệt đến gánh nặng mà bà mang trong thân thể của bà, làm thân thể bà nặng nề và khó khăn di chuyển. Mặc dù những cử động của tôi sẽ làm cho bà đau đớn, nhưng bà vui sướng với những điều ấy, nghĩ đứa con của bà mạnh khỏe như thế nào, hơn là trở nên giận dổi và chú ý với sự đau đớn ấy. Cảm giác thân tình và yêu mến của bà là to lớn.

Hãy dừng lại một lúc với tư tưởng này, cảm nhận sự tác động của nó.

3- Làm sâu sắc hơn việc đánh giá của chúng ta bằng việc lưu ý đến những chi tiết:

Trong khi sinh nở, bà đã khổ sở vô cùng, và sau đó, bà liên tục quan tâm với lợi ích của tôi, tự hỏi tôi đã sống như thế nào, coi trọng đứa trẻ sinh ra từ thân thể của bà cao hơn bất thứ gì khác. Sau này, bà đã chịu đựng tôi trong cung cách tuyệt hảo nhất mà bà có thể biểu hiện. Bà rửa sạch phân của tôi và chùi mũi cho tôi. Bà đã cho tôi sữa của chính bà và không bực mình khi tôi cắn vú bà. Ngay cả khi bà bị phiền hà với những việc như thế, cảm giác âu yếm của bà đối với tôi là tột cùng trong tâm tư bà. Cách này không chỉ trong một ngày, một tuần, một tháng, mà từ năm này sang năm nọ, trái lại đối với hầu hết những người chăm sóc trẻ con trong một hay hai giờ sẽ bị quấy rầy.

Nếu chúng ta đang sử dụng một kiểu mẫu khác hơn bà mẹ của chúng ta, hãy nhớ lại những chi tiết về sự tử tế này của họ mà họ đã dành cho ta.

4- Nhận thức rõ chúng ta đã lệ thuộc như thế nào:

Nếu bà đã rời tôi ngay cả trong một giờ hay hai giờ, tôi đã có thể chết. Qua sự ân cần tử tế của bà trong việc nuôi nấng tôi với thực phẩm và áo quần tuyệt nhất tùy theo khả năng của bà, đời sống quý giá này với một thân thể vật lý làm cho tiến trình tâm linh có thể duy trì được.

Cảm kích sự ân cần tử tế mà chúng ta đã đón nhận. Khi chúng ta lưu tâm một cách cẩn thận sự ân cần của bà trong những cách này, không có cách nào không xúc động.

5- Gia tăng phạm vi sự cảm kích của chúng ta đến những kiếp sống khác:

Bà đã tử tế không chỉ trong kiếp sống này mà thôi nhưng cũng trong những kiếp sống khác như một con người hay như một con vật, vì hầu hết thú vật chăm sóc con cái của chúng trong những cách tương tự.

Hãy để sự tác động của nhận thức mới này thâm nhập, và không vội vả vào giai đoạn kế tiếp nếu như điều này chỉ là một bài tập nông cạn [chưa được sâu sắc].

6- Đã thấu hiểu lòng ân cần của người nuôi dưỡng chính trong kiếp sống này, hãy mở rộng điều này cảm nhận sự thấu hiểu một cách dần dần đến những người thân hữu khác. Nghĩ về việc họ đã là bà mẹ của ta hay những người thân hữu tốt nhất, họ đã bảo vệ chúng ta với lòng ân cần to tát, giống như người nuôi dưỡng chính yếu của ta đã làm. Quán chiếu một cách chậm rãi và thận trọng về sự ân cần của họ, bắt đầu với người thân hữu nhất kế tiếp và lưu tâm như chúng ta đã làm ở trên:

Con người này đã là mẹ tôi trong nhiều lần trong sự tương tục của đời sống. Ngay cả trong kiếp sống này, bà đã ban cho tôi một thân thể đã hổ trợ một đời sống thịnh vượng qua đó mà tôi có thể tiến hành quá trình tâm linh. Bà đã mang tôi chín tháng trong thân bà, trong thời gian mà bà không thể cư xử như bà mong muốn nhưng phải lưu tâm một cách đặc biệt đến gánh nặng mà bà mang trong thân thể, làm cho thân thể bà nặng nề và khó khăn chuyển động. Mặc dù, chuyển động của tôi có thể làm bà đau đớn, nhưng bà lấy đó làm vui, nghĩ đứa con của bà khỏe mạnh như thế nào, thay vì trở nên giận hờn và tập trung trên sự đau đớn của bà. Cảm nhận thân thương và yêu mến của bà là to lớn.

Trụ lại một lúc với tư tưởng này, cảm nhận tác động của nó. Sau đó, làm sâu sắc hơn sự cảm kích của chúng ta bằng việc lưu tâm đến những chi tiết:

Trong khi sinh nở, bà đã khổ đau vô cùng, và sau đó bà liên tục quan tâm với lợi ích của tôi, tự hỏi tôi dã sống như thế nào, đánh giá đứa con của bà cao hơn bất cứ thứ gì khác. Sau này, bà đã nuôi dưỡng tôi trong cách tốt đẹp nhất mà bà có thể.

Bà rửa sạch phân của tôi và chùi mũi cho tôi. Bà đã cho tôi sữa của chính bà và không bực mình khi tôi cắn vú bà. Ngay cả khi bà bị phiền hà với những việc như thế, cảm giác âu yếm của bà đối với tôi là tột cùng trong tâm tư bà. Cách này không chỉ trong một ngày, một tuần, một tháng, mà từ năm này sang năm nọ, trái lại đối với hầu hết những người chăm sóc trẻ con trong một hay hai giờ sẽ bị quấy rầy.

Nhận ra vấn đề chúng ta lệ thuộc như thế nào, cảm kích sự ân cần của người khi người ấy là mẹ hay người nuôi dưỡng chính của chúng ta.

Nếu bà đã rời tôi ngay cả trong một giờ hay hai giờ, tôi đã có thể chết. Qua sự ân cần tử tế của bà trong việc nuôi nấng tôi với thực phẩm và áo quần tuyệt nhất tùy theo khả năng của bà, đời sống quý giá này với một thân thể vật lý làm cho tiến trình tâm linh có thể duy trì được.

Cảm thấy sự tác động của về cái nhìn con người này như đã từng ân cần tử tế trong những cách này. Rồi thì gia tăng phạm vi sự cảm kích của chúng ta trong những kiếp sống khác.

Điều này đúng không chỉ trong kiếp sống này mà cũng trong những kiếp sống khác như một con người và như một con vật, vì hầu hết thú vật cũng chăm sóc con cái của chúng trong những cách tương tự.

Trụ với những cảm nhận này, và đánh giá đúng sự nâng cao thái độ tích cực của chúng ta đối với người ấy.

7- Khi năng lực của sự quán chiếu này đã được cảm nhận, di chuyển đến người thân hữu kế tiếp, thiền quán trong cùng thái độ, chậm rãi quan tâm đến tất cả những người thân hữu của chúng ta.

Những Người Trung Tính (không thù không thân)

Rồi thì quan tâm đến một người trung tính, một người nào đấy không giúp ích cũng không tổn hại cho ta trong kiếp sống này - ngay cả một người nào đấy chúng ta thấy trong một tấm hình, về ai đấy chúng ta chỉ biết chút ít hay không biết gì cả - trong cùng cách (bắt đầu với phần 6 phía trước trang ...). Khi chúng ta đã làm như thế, trụ lại với nhận thức đã thay đổi này, cho phép những cảm nhận ấm áp này lớn lên. Sau đó, từng phần một quan tâm đến những người trung tính khác cho đến khi thái độ tích cực bao quát tất cả họ.

Những Kẻ Thù

Bây giờ chúng ta đến phần khó khăn nhất. Đã quen với việc lưu tâm đến những người thân hữu và những người trung tính cách này, chúng ta đã sẳn sàng quán chiếu trên những người đã làm tổn hại một cách cố ý hay không cố ý chúng ta và những người thân hữu của chúng ta trong kiếp sống này. Với những người thân hữu và những người trung tính, chúng ta biết cảm nhận như thế nào trong việc thay đổi quan điểm của chúng ta trong một phương hướng tích cực hơn, là điều làm cho chúng ta dễ dàng hơn để bảo đảm việc thiền tập của chúng ta không trở thành chỉ là những ngôn ngữ suông mà thôi, bây giờ chúng ta đang quan tâm đến những ai đã làm tổn hại chúng ta.

Quán tưởng một người thù rõ ràng ngay trước mặt chúng ta, hãy cảm nhận sự hiện diện của người này và nghĩ:


Thứ nhất: Con người này đã là mẹ tôi nhiều lần trong sự tương tục của đời sống. Ngay cả trong kiếp sống này bà đã ban cho tôi một thân thể đã hổ trợ cho một đời sống quý giá mà qua đó tôi có thể phát triển tâm linh. Bà đã mang tôi trong bụng bà trong chín tháng, mà trong thời gian ấy bà không thể cử xử như bà muốn mà phải chú ý đặc biệt đến gánh nặng mà bà đang mang trong thân thể, làm cho bà nặng nề và khó khăn cử động. Ngay cả sự chuyển động của tôi cũng làm bà đau đớn, nhưng bà đã vui mừng vì đó, nghĩ đứa con của bà khỏe mạnh như thế nào, hơn là trở nên giận dữ và tập trung trên sự đau đớn của bà. Cảm nhận thân thương và yêu mến của bà là to tát.

Thứ hai: Trong khi sinh nở, bà khổ sở vô cùng, và sau đó bà liên tục quan tâm đến lợi ích của tôi, tự hỏi tôi đã sống như thế nào, đánh giá đứa con sinh ra từ thân thể của chính bà cao hơn bất cứ điều gì khác. Sau này, bà đã chịu đựng tôi trong một cung cách tuyệt hảo nhất mà bà có thể.

Bà rửa sạch phân của tôi và chùi mũi cho tôi. Bà đã cho tôi sữa của chính bà và không bực mình khi tôi cắn vú bà. Ngay cả khi bà bị phiền hà với những việc như thế, cảm giác âu yếm của bà đối với tôi là tột cùng trong tâm tư bà. Cách này không chỉ trong một ngày, một tuần, một tháng, mà từ năm này sang năm nọ, trái lại đối với hầu hết những người chăm sóc trẻ con trong một hay hai giờ sẽ bị quấy rầy.

Thứ ba: Nếu bà đã rời tôi ngay cả trong một giờ hay hai giờ, tôi đã có thể chết. Qua sự ân cần tử tế của bà trong việc nuôi nấng tôi với thực phẩm và áo quần tuyệt nhất tùy theo khả năng của bà, đời sống quý giá này với một thân thể vật lý làm cho tiến trình tâm linh có thể duy trì được.

Thứ tư: Điều này đúng không chỉ trong kiếp sống này mà cũng trong những kiếp sống khác như một con người và như một con vật, vì hầu hết thú vật cũng chăm sóc con cái của chúng trong những cách tương tự.

Kết luận: Do thế, mặc dù con người này hiện hữu đến với tôi trong kiếp sống này như một kẻ thù tìm cách làm tổn hại thân thể và tâm hồn tôi, trong những kiếp sống quá khứ bà là người thân hữu nhất của tôi, bà mẹ của tôi, hy sinh thân thể và tâm hồn của chính bà cho tôi. Những lần bà đã làm như thế là vô số.


Bằng việc thiền quán trong thái độ này, có thể xác định ngay cả một kẻ thù như vào lúc nào đó đã là người nuôi dưỡng của chúng ta và đã cực kỳ tử tế ân cần. Hãy mở rộng sự thấu hiểu này đến những kẻ thù khác từng người một trong cùng phương pháp. Lưu tâm mỗi người trong một thời gian tối đa cho đến khi cảm giác của chúng ta giống như ta dành cho người nuôi dưỡng gần gũi nhất của chính ta. Vì không có sự khác biệt cho dù một người đã tử tế đến ta mới đây hay lúc trước, hãy quyết định rằng tất cả chúng sinh đã ân cần tương tự như vậy đối với chúng ta qua phạm vi của nhiều kiếp sống.

Sự thay đổi quan điểm về những mối quan hệ của chúng ta như vậy với những người khác cho đời sống của chúng ta một ý nghĩa mới. Thiền quán trong cách này là đáng giá suốt cả cuộc đời mến yêu. Cuối cùng, những gì chúng ta đã thiền quán sẽ phát sinh một cách tự phát.

KỶ THUẬT HỔ TRỢ ĐỂ TRỞ NÊN TỈNH THỨC VỀ LÒNG ÂN CẦN VÔ TƯ

Để làm sâu sắc thái độ của chúng ta đối với mọi người, thật hữu ích để quán chiếu trên lòng ân cần vô tư của những ai dã cung ứng vật phẩm và phục vụ mà không nhất thiết biết về tên tuổi hay mặt mũi của ai mà họ đã phụng sự. Chúng ta sống trong sự phụ thuộc đối với những người không có một động cơ đặc biệt để giúp chúng ta.

Khi chúng ta muốn mưa và trời mưa, chúng ta cảm kích mặc dù không có động cơ thúc đẩy về phần của cơn mưa để giúp chúng ta. Cũng thế, nếu chúng ta muốn có những cây to để lang thang trong ấy, chúng ta vui vẻ để có sự lớn mạnh ấy và hiểu rõ giá trị của nó mặc dù sự sừng sửng của các cây cối tự nó không có mục đích để phục vụ. Tương tự thế, chúng sinh cung ứng những sự cần thiết cho đời sống của chúng ta; tất cả đang giúp chúng ta một cách đặc biệt mà không hề biết chúng ta một cách đặc thù như thế nào. Trong kiếp sống này, có quá nhiều điều kiện thuận tiện mà chúng ta hưởng thụ - những tòa nhà, đường xá, xinh đẹp, v.v... - được hình thành bởi những người khác. Như chúng ta thấy, hàng nghìn con người trong kiếp sống này, những người chúng ta có thể không bao giờ gặp gở, đang biểu lộ lòng ân cần đến chúng ta.

Đây là một số đề mục quán chiếu kiểu mẫu:

1- Nghĩ về tất cả thực phẩm trong một siêu thị và tất cả những người liên hệ trong việc làm cho nó sẳn sàng - từ những người nông dân đến những người lái xe tải đến những người đã đặt chúng trên các kệ hàng.

2- Nhận thức rằng ngay cả một ly nước cũng lệ thuộc trên một mối quan hệ rộng rãi với những con người.

3- Quán chiếu rằng tất cả những điều kiện thuận tiện mà chúng ta sử dụng - những tòa nhà, đường xá, v.v.... - được sản xuất bởi những người khác.


Cung cấp những sự phục vụ là một hình thức của tử tế ân cần, của việc nuôi dưỡng bất chấp động cơ có thể là gì. Khi chúng ta trải nghiệm mối quan hệ ân cần này trong một cung cách sâu xa, thì chúng ta trở nên có thể mở rộng sự cảm kích này thậm chí đến những kẻ thù của chúng ta.

Bao Gồm Những Kẻ Thù

Hầu hết những phẩm chất tốt đẹp của chúng ta được phát sinh trong sự tiếp hợp với những người khác. Như tôi sẽ giải thích trong chương sau cùng, sự thực tập những đức tính tốt như việc cho là lệ thuộc gần như toàn bộ trên những chúng sinh khác. Tương tự thế, việc lựa chọn để từ bỏ những hành vi tổn hại như giết hại và trộm cướp gần như được hoàn thành trong mối liên hệ đến những chúng sinh khác.

Hậu quả tệ hại nhất của việc không chính niệm về sự ân cần vô tư của người khác trong quan điểm khi chúng ta xem họ như những kẻ thù. Không có những kẻ thù, chúng ta không thể hoàn toàn dấn thân trong việc thực tập nhẫn nhục - tha thứ và nhường nhịn. Chúng ta cần những kẻ thù, và nên cảm kích họ. Từ quan điểm của việc rèn luyện trong lòng vị tha, một kẻ thù thật sự là một vị guru, giáo viên, chỉ một kẻ thù mới có thể dạy chúng ta lòng khoan thứ và chịu đựng. Một kẻ thù là một vị thầy tuyệt nhất về lòng vị tha, và vì lý do ấy, thay vì thù hận, chúng ta phải tôn trọng vị ấy.

Chúng ta đã học rằng không nhất thiết với người nào đó có một động cơ tốt đẹp đối với chúng ta nhằm để cho chúng ta tôn trọng và yêu mến con người đó. Thí dụ, chúng ta tìm kiếm việc làm nhẹ bớt khổ đau, và mặc dù việc làm khuây khỏa đau khổ tự nó không có bất cứ mục đích nào cả, nhưng chúng ta yêu mến, hiểu rõ, và tôn trọng nó một cách cao độ. Sự hiện diện hay vắng mặt động cơ không làm nên sự khác biệt trong dạng thức của điều gì đó hay người nào đấy có thể hữu ích trong việc tích tập những năng lực tích cực hay không cho việc định hình tương lai, là những gì Đạo Phật gọi là "phước đức". Chỉ trong mối quan hệ với những ai mong ước chúng ta bị tổn hại - những kẻ thù - mà chúng ta mới có thể thật sự trau dồi đạo đức xứng đáng cao độ của nhẫn nhục. Do vậy, kẻ thù thật sự là cần thiết. Không có nhẫn nhục, chúng ta không thể phát triển từ ái và bi mẫn chân thật bởi vì chúng ta là đối tượng của tình trạng bị chọc tức.

Lòng từ ái và bi mẫn thật sự mở rộng ngay cả đến những ai mà động cơ của họ là làm tổn hại chúng ta. Hãy cố gắng để tưởng tượng rằng những kẻ thù nổi cơn giận dữ có chủ tâm nhằm để giúp chúng ta tích tập phước đức. Nếu đời sống chúng ta diễn tiến một cách quá dễ dàng, chúng ta sẽ trở nên mềm yếu. Những hoàn cảnh tai họa giúp chúng ta phát triển sức mạnh nội tại, lòng can trường để đối diện với chúng mà không đổ gãy xúc cảm. Ai sẽ dạy điều này? Không phải bạn bè thân hữu chúng ta mà là những kẻ thù của chúng ta.

Thiền Quán

Đây là việc làm mở rộng phạm vi cảm kích kể cả những kẻ thù:

1- Quán chiếu rằng nhằm để cho chúng ta trở nên giác ngộ, việc thực tập nhẫn nhục là cần yếu.

2- Hãy thấy rằng nhằm để thực tập nhẫn nhục, chúng ta cần một kẻ thù.

3- Hãy thấu hiểu rằng trong cách này, những kẻ thù là rất đáng giá cho những cơ hội mà họ cung ứng.

4- Hãy quyết định rằng thay vì nổi giận với những ai ngăn trở mong ước của chúng ta, thì chúng ta hãy đáp ứng một cách nội tâm với lòng biết ơn.


Điều này rất khó khăn nhưng rất xứng đáng. Quan tâm đến vấn đề một cách sâu xa hơn, và chúng ta sẽ thấy rằng ngay cả những kẻ thù nặng ký, những người có xu hướng làm tổn hại chúng ta cũng mở lòng ân cần rộng lớn đến chúng ta. Chỉ khi đối diện với hành động của những kẻ thù chúng ta mới có thể thật sự thấy sức mạnh nội tại.

Trong cuộc đời của chính tôi, các thời điểm khó khăn nhất là những lúc thu thập lớn nhất trong kiến thức và kinh nghiệm. Qua một thời điểm khó khăn chúng ta có thể học hỏi để phát triển sức mạnh nội tại, quyết tâm, và can đảm để đối diện rắc rối. Nếu chúng ta trở nên mất nhuệ khí, đó thật sự là thất bại, chúng ta đã đánh mất một cơ hội đáng giá để phát triển. Để duy trì quyết tâm tự nó là một thắng lợi. Trong một thời điểm khó khăn, chúng ta có thể đến gần hơn với thực tại, để lột trần tất cả những kỳ vọng. Khi mọi việc diễn tiến trơn tru, đời sống có thể trở nên dễ dàng như một buổi lễ chính thức trong nghi lễ của nó, như chúng ta nói như thế nào và chúng ta nói như thế nào, là quan trọng hơn nội dung. Nhưng vào lúc khủng hoảng, những thứ này là vô nghĩa - chúng ta phải đối phó với thực tế và trở nên thực tiển hơn.

Những kẻ thù cho chúng ta các cơ hội này. Cũng thế, khi chúng ta nghĩ trong những dạng thức của sự thực hành nhẫn nhục, một kẻ thù là người hổ trợ rộng lượng nhất. Qua việc trau dồi nhẫn nhục, công đức chúng ta tăng trưởng; vì vậy, kẻ thù là những người khởi xướng việc phát triển tâm linh.

HỌC HỎI TỪ THẢM HỌA

Nếu thấy rằng một tình cảnh hay một người nào đó sắp làm cho chúng ta đau khổ, thật quan trọng để tiến hành trong những kỷ năng để tránh nó; nhưng một khi khổ đau đã bắt đầu, không nên đón nhận như một gánh nặng mà như điều gì đó hổ trợ chúng ta. Chịu đựng những đau khổ nho nhỏ trong kiếp sống này có thể tịnh hóa nghiệp chướng của nhiều hành động xấu ác đã tích tập trong những kiếp trước. Tiếp nhận quan điểm này sẽ giúp chúng ta thấy những bất hạnh của cõi luân hồi, và càng làm điều này chúng ta sẽ càng không thích dấn thân trong những hành vi phi đạo đức. Khó khăn cũng giúp chúng ta thấy những lợi lạc của giải thoát. Thêm nữa, qua những kinh nghiệm của chúng ta về khổ đau, chúng ta sẽ có thể thông cảm với nổi đau của kẻ khác và phát sinh nguyện ước để làm điều gì đó cho họ. Do vậy, được thấy trong cách này, khổ đau có thể cung cấp một cơ hội cho việc thực hành nhiều hơn và suy nghĩ nhiều hơn.

Theo quan điểm này, kẻ thù là những vị thầy của sức mạnh, can đảm, và quyết định nội tại. Điều này không có nghĩa là chúng ta nhượng bộ những ai làm tổn hại mình. Tùy thuộc vào thái độ của kẻ thù, chúng ta có thể phải tự vệ một cách mạnh mẽ, nhưng sâu trong đáy lòng hãy cố gắng duy trì sự tĩnh lặng của chính mình bằng việc nhận ra rằng, giống như chúng ta, kẻ ấy là một con người cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Thật khó để tin, nhưng dần dà, chúng ta có thể khai triển một thái độ như vậy. Dưới đây là việc thực hành điều ấy như thế nào:

Quan tâm đến cái gọi là kẻ thù. Bởi vì tâm thức của người này không được thuần hóa, người ấy tiến hành trong những hành vi để đem sự tổn thương đến cho chúng ta. Nếu sân giận - mong ước làm tổn hại - ở trong bản chất của người này, thì nó không thể bị thay đổi trong bất cứ cách nào, nhưng như chúng ta đã thấy, thù ghét không tồn tại trong bản chất của một người. Và ngay cả nếu bản chất của con người là thù ghét, thế thì giống như chúng ta không thể nổi giận với ngọn lửa cháy trên tay ta (chính bản chất của lửa là đốt cháy), vì thế chúng ta không nên nổi giận với một người biểu lộ bản chất của họ. Điều này nói rằng, thù ghét thật sự thuộc ngoại biên hay thứ yếu đối với bản chất con người. Vì vậy, giống như khi một đám mây che phủ mặt trời, chúng ta không nổi giận với mặt trời, vì thế chúng ta không nên nổi giận với cái gọi là kẻ thù, nhưng thay vì thế hãy để cảm xúc phiền não của người ấy chịu trách nhiệm.

Chính chúng ta đôi khi hành động trong thái độ xấu, không phải thế chứ? Tuy thế, hầu hết chúng ta không nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn tệ hại. Chúng ta nên nhìn vào người khác cùng cách như vậy. Kẻ thật sự gây ra rắc rối không phải con người, mà chính là cảm xúc phiền não của người ấy.

Khi chúng ta đánh mất sự bình tĩnh, chúng ta không do dự với việc nói những lời cay độc ngay cả đến một người bạn thân. Sau đó, khi chúng ta dịu xuống, chúng ta cảm thấy ngượng ngùng về những gì đã xảy ra. Điều này cho thấy rằng chúng ta, như những cá nhân, không muốn dùng những ngôn ngữ độc địa như vậy, nhưng bởi vì chúng ta đánh mất năng lực của mình, và chúng ta bị khống chế bởi sân giận, điều gì đấy xảy ra ngoài sự kiểm soát của chúng ta. Một ngày nọ, người tài xế của tôi ở Tây Tạng đang làm việc dưới chiếc xe của tôi và va đầu vào sườn xe, ông nổi giận dữ dội, và ông ta cụng đầu một lần nữa vào chiếc xe vài lần nữa giống như để trừng phạt chiếc xe, nhưng dĩ nhiên ông chỉ tự làm tổn thương mình thôi.

Như tôi đã đề cập trước đây, chúng ta có thể học để tách biệt một góc của tâm thức từ những cảm xúc mạnh mẽ như thù ghét và nhìn nó; điều này biểu thị rằng tâm thức và thù ghét không phải là một; con người và thù ghét không phải là một.

TÁC ĐỘNG CỦA THIỀN QUÁN THÀNH CÔNG

Khi qua thiền quán chúng ta gặt hái sự hiểu biết hơn về cả cho những sự ân cần chủ động ban cho chúng ta bởi những người bạn, kẻ thù, và những người trung tính trải qua phạm vi của những kiếp sống và cho những sự tử tế vô tư của những cung cấp thiết yếu mà chúng ta cần đến hàng ngày, thì chúng ta sẽ góp phần đến một xã hội lành mạnh hơn. Không có sự đánh giá đúng về lòng ân cần, xã hội sẽ đổ vở. Xã hội con người tồn tại bởi vì nó không thể sống trong một sự cô lập hoàn toàn. Chúng ta lệ thuộc liên đới tự bản chất, và vì chúng ta phải sống với nhau, chúng ta nên hành động như thế với một thái độ tích cực về sự quan tâm cho nhau. Khuynh hướng của xã hội loài người phải là sự tiến triển lòng từ bi của tất cả từ kiếp sống này đến kiếp sống tới.

Như những đứa bé chúng ta lệ thuộc rất nhiều trên sự ân cần của cha mẹ chúng ta. Một lần nữa, về tuổi già chúng ta lại tùy thuộc vào sự tử tế của những người khác. Giữa tuổi thiếu nhi và tuổi già, chúng ta tin tưởng một cách sai lầm rằng chúng ta độc lập, nhưng điều này không phải thế.

Nguyên tác: Appreciating Kindness - The Second Step trích từ quyển How to Expand Love
Ẩn Tâm Lộ ngày 11-02-2012
Bài liên hệ:



[1] Những Giai Tầng của Con Đường Giác Ngộ
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
THÓI QUEN ÂN CẦN - 06.12.2012 02:35:40
0
THÓI QUEN ÂN CẦN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 11/01/2012

Lòng ân cần không báo đáp lại
cân nặng hơn một ngọn núi cao hay đại dương bao la.

- TÔNG KHÁCH BA, Đại luận Con Đường Tiệm Tiến -

Khi chúng ta đã quán chiếu thông khắp những bước trước, nhận ra tất cả chúng sinh như những thân hữu hay người nuôi dưỡng qua sự tương tục của những kiếp sống và đánh giá đúng những sự ân cần có chủ tâm và vô tư, chúng ta sẽ thật sự thấy rằng chúng ta phải đáp lại sự ân cần tử tế của họ. Nhưng chúng ta hổ trợ họ như thế nào? Bất kể loại phồn vinh nào chúng ta có thể đem lại cho họ trong vòng xoay sinh, già, bệnh, và chết, nó sẽ chỉ là tạm thời và nông cạn. Sự hổ trợ sâu xa nhất là đưa họ đến hạnh phúc chân thật, mục tiêu căn bản cho kiếp sống này đến kiếp sống khác. Cung cấp những cơ hội cho người khác cải thiện điều kiện sống tạo sự giúp đở cần thiết và tạm thời, nhưng bằng việc dạy cho người khác những sự thực tập đặc thù về tâm thức, trái tim, và thân thể, thì có thể đưa họ đến giác ngộ. Sự đền đáp vĩ đại nhất đối với lòng ân cần của người khác là việc giải thoát khỏi tất cả những loại khổ đau:

THIỀN QUÁN

1- Quan tâm điều này:

Mẹ tôi - hay người thân nhất - trong kiếp sống này là mù và không ở trong trường hợp tâm thức tốt nhất. Bà đang bước đi trên bờ mé của một mõm đá ghê sợ mà không có người hướng dẫn, thật kinh khủng nếu tôi, đứa con của bà, không chú ý đến và đảm nhận nhiệm vụ giúp đở cho bà.

2- Mở rộng mô thức này:

Tất cả chúng sinh suốt khắp không gian và thời gian đã từng là mẹ tôi, bảo vệ tôi với lòng ân cần rộng lớn, tất cả không biết những gì phải buông bỏ và những gì nên tiếp nhận trong thái độ của họ nhằm để tạo nên sự hạnh phúc của chính họ. Không có sự hướng dẫn tâm linh, tất cả đang bước trên bờ mé của mõm đá khổ đau kinh khiếp trong vòng sinh tử luân hồi. Thật khiếp sợ để biết rằng mỗi bước đã đưa họ đến gần hơn với những điều bất hạnh, và tôi đã không quan tâm đến lợi ích của họ mà chỉ lo cho sự giải thoát của riêng tôi.

Trụ lại một lúc với nhận thức của mình về hoàn cảnh hiểm nghèo của họ, cảm thấy sự tác động của nó. Cho phép chính mình quan tâm đến hoàn cảnh của mọi người. Nếu điều này dường như lờ mờ, quán chiếu trên những người đặc thù ở trong một hoàn cảnh kinh khủng như vậy, và rồi thì mở rộng cảm giác mãnh liệt của mình đến mọi người. Việc trau dồi thành công các bước trước đó với sự quan tâm đến những cá nhân con người làm cho điều này có thể hiện thực.

3- Tự hứa nguyện đến lợi ích của những người khác. Giống như họ đã từng chăm sóc chúng ta trong kiếp sống này và những kiếp sống khác như một người thân nhất, hay bằng việc cung cấp cho chúng ta với những sự phục vụ cần yếu, quyết tâm hổ trợ họ trong bất cứ cách nào thích hợp:

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể vì những chúng sinh này - những thân hữu nuôi dưỡng chính tôi - đang ngặt nghèo vì khổ đau như vậy.

4- Quán tưởng cúng dường nhiều hình thức hạnh phúc đến những chúng sinh.

Cuối cùng, một cảm nhận chân thành về đền đáp sẽ trở thành ý thức đầu tiên của chúng ta đến người khác, và là nền tảng trong những mối quan hệ của chúng ta.




Nguyên tác: The Third Step: Returning Kindness
Ẩn Tâm Lộ ngày 13/01/2012
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
HỌC TẬP ĐỂ TỪ ÁI YÊU THƯƠNG - 03.01.2013 02:15:42
0
HỌC TẬP ĐỂ TỪ ÁI YÊU THƯƠNG

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 16/01/2012

Bước thứ tư: HỌC TẬP ĐỂ TỪ ÁI YÊU THƯƠNG

Hoan nghênh sự quan tâm từ ái đến những chúng sinh lưu chuyển
Những kẻ bất lực như chiếc thùng du lịch đi lên và đi xuống trong một cái giếng
Qua sự tự phóng đại ban đầu, "cái tôi",
Và rồi thì phát sinh sự luyến ái cho những thứ, "Đây là của tôi"
.
-NGUYỆT XỨNG

Bước thứ tư, việc phát sinh từ ái được diễn tả trong đây và ba chương tiếp theo. Trong chương này chúng ta khám phá chúng sinh khổ đau như thế nào - đầu tiên áp dụng sự thấu hiểu này đến chính chúng ta và rồi mở rộng nó đến người khác. Chương tiếp theo nêu ra chi tiết xa hơn về vấn để những cảm xúc bất thiện sinh khởi như thế nào, trình bày sự phân biệt rõ ràng giữa từ ái và luyến ái. Trong chương 10, từ ái thoát khỏi thành kiến và luyến ái được cho thấy là căn bản của nhân quyền. Chương 11 cung ứng một loạt những sự thực tập cho việc mở rộng những cảm nhận của từ ái và quan tâm thông thường vượt khỏi các giới hạn thường nhật của thành kiến trong một phạm vi rộng rải hơn bao giờ hết.



TRỞ THÀNH MỘT NGƯỜI THÂN HỮU ĐẾN TẤT CẢ,

Một thái độ từ ái vị tha chỉ có một khuôn mặt, ân cần tử tế đến tất cả. Tuy nhiên, sự vị tha này giúp ích người khác và chính mình, cả hiện tại bây giờ và trong tương lai dài lâu. Như một vi lạt ma Tây Tạng Kunu Tenzin Gyelsten đã nói, "nếu con muốn là một người thân hữu của tất cả, hãy phát sinh lòng từ ái và bi mẫn. Nếu con muốn là một người hướng dẫn tâm linh cho tất cả mọi người, hãy phát sinh lòng từ ái và bi mẫn. Nếu con muốn giúp ích mọi người, hãy phát sinh lòng từ ái và bi mẫn." Thậm chí nếu chúng ta muốn tầm cầu trong hàng vô số kiếp để tìm kiếm một phương pháp tuyệt hảo nhất để đạt đến một niềm hạnh phúc miên viễn, chúng ta sẽ thấy rằng cách duy nhất là phát sinh lòng từ ái và bi mẫn."

Bằng việc trở nên tỉnh thức một cách chân thật về người khác và phát triển sự tôn trọng và quan tâm đến họ, tự chúng ta trở nên hạnh phúc nhiều hơn và toại nguyện hơn, là điều tự nó có tác động ra bên ngoài trong việc tạo nên một không khí hòa bình. Thí dụ, nếu trong một căn phòng đầy người, một người nào đó trở nên sân giận và bắt đầu la hét, không khí sẽ trở nên căng thẳng đối với mọi người. Tuy nhiên, nếu mỗi người trong một nhóm cảm nhận và biểu lộ cảm giác ấm áp và tôn trọng quan tâm với nhau, không khí sẽ an bình và hòa hiệp. Bên ngoài phát sinh từ bên trong. Nếu động cơ của chúng ta thô tháo và khiếm nhã, sự kiện sẽ thất bại bất kể hoàn cảnh là thú vị như thế nào.

Thể trạng nội tại của chúng ta là siêu việt hơn cả. Nếu chúng ta trở nên bị tràn ngập bởi sự bất toại tinh thần, những thứ ngoại tại sẽ không giúp ích gì cả. Tuy nhiên, nếu một cách nội tại có từ ái, ấm áp, bi mẫn, và thông cảm, những rắc rối ngoại tại có thể chấp nhận được và đối diện một cách dễ dàng hơn.

Có thể nghi ngờ rằng các rắc rối có thể được giải quyết với sân giận. Mặc dù nó có thể đưa đến một sự thành công tạm thời với việc lưu tâm đến mục tiêu tức thời và bỏ đi một sự thỏa lòng nào đấy trong một thời gian ngắn, nhưng một cách căn bản sân giận sẽ làm nên những khó khăn xa hơn. (Không cần phải liệt kê nhiều thí dụ về điều này trong thế kỷ vừa qua và trong thế kỷ này). Với sân giận mọi hành động xảy ra một cách nhanh chóng. Khi chúng ta đối diện những rắc rối với sự quan tâm chân thành cho người khác, thành công có thể cần nhiều thời gian hơn, nhưng nó sẽ tồn tại lâu hơn.

Ngày nay thật đáng buồn để nhận thấy rằng nhiều người căng thẳng tột độ không được giúp đở bởi vì những quan tâm chính trị. Một số khổ đau gián tiếp từ những tác động của chính quyền để quá nhiều tiền cho trang bị vũ khí, và vì điều này, quên lãng những nhu cầu căn bản như nông nghiệp; kết quả là khi một thảm họa thiên nhiên xảy ra, hoàn cảnh là vô vọng. Những khổ đau khác trực tiếp từ việc

thể hiện sự phân biệt đối xử chống lại một cộng đồng. Nếu một chiến binh Hoa Kỳ bị chết, việc ấy liền được mọi người biết đến, nhưng chẳng ai buồn biết tới việc có bao nhiêu người dân thường hay quân nhân của phía kia bị giết. Tất cả những người bị chết đều là những con người, và đời sống của mỗi người đều đáng giá.

Rằng những người có nhu cầu bị bỏ quên hay bị từ chối ì những lý do chính trị cho thấy rằng những gì chúng ta đang thiếu vắng - mặc dù chúng ta thông minh và đầy năng lực, đủ mạnh để bóc lột con người và hủy diệt thế giới, nhưng chúng ta thật sự lại thiếu một sự ân cần và từ ái. Có một người Ấn Độ nói rằng: "Khi một mũi tên chạm mục tiêu, không có thời gian để hỏi ai đã bắn nó, hay đấy là loại mũi tên gì?" Tương tự thế, khi chúng ta chạm trán với khổ đau của nhân loại, điều quan trọng là đáp ứng với lòng thương xót hơn là vấn đề chính trị của những người chúng ta đang giúp đở. Thay vì hỏi quốc gia của họ là thân hay thù, chúng ta phải nghĩ: Đây là những con người; họ đang đau khổ, và họ có quyền để hạnh phúc tương đồng như chính chúng ta.



DỪNG LẠI VIỆC LÀM TỔN HẠI

Thân thể này thường không sống quá một trăm năm, ngay cả khi chúng ta may mắn. Nó không phải là điều gì đấy có thể tiếp tục trong đời sống tương lai. Sự hữu hạn của nó có nghĩa rằng những phẩm chất vật lý chẳng hạn như sức mạnh và sự lanh lẹ có giới hạn. Điều quan trọng là hành động trên những phẩm chất vô giới hạn sẽ có giá trị vượt khỏi đời sống này, những điều được đạt đến qua quán chiếu tinh thần cũng sẽ làm phong phú cho đời sống này.

Những sự thực tập Đạo Phật cho việc rèn luyện tâm có thể được tóm gọn trong hai câu: "Nếu chúng ta có thể, chúng ta nên giúp đở người khác. Nếu chúng ta không thể, chúng ta tối thiểu không làm tổn hại người khác." Cả hai căn cứ trên từ ái và bi mẫn. Đầu tiên chúng ta phải đạt được sự kiểm soát đối với khuynh hướng làm tổn hại, tự động kiềm chế những hành động gây tồn thương bằng thân thể và lời nói. Những nguyên tắc phi đạo đức thân thể là giết hại, trộm cướp, và tà dâm; những hành vi phi đạo đức lời nói là nói dối, nói lời vô ích, nói lưỡi đôi chiều, nói lời độc ác, những hành vi phi đạo đức tinh thần là tham lam, xu hướng tổn hại, và quan điểm sai lầm (hay tham, sân, si). Mười điều đó làm đau khổ cho cả người khác và chính chúng ta.

Giết hại có nghĩa là chấm dứt cuộc sống của một chúng sinh, hoặc là qua hành động của chính chúng ta hay qua việc thúc ép người khác làm việc ấy. Đôi khi nó sinh khởi từ lòng tham muốn, như trong việc giết súc vật làm thực phẩm, Những lúc khác là qua sự thù hận, như trong việc trả thù, hay có thể ngay cả qua cấp độ si mê, như trong việc suy nghĩ rằng việc giết súc vật để tế lễ là lợi ích. Mọi người chúng ta có khả năng để tiến hành một tội lỗi như ám sát; cho đến khi mà tham muốn, thù hận, luyến ái, ganh tỵ, hay si mê hiện diện;việc phạm tội là có thể xảy ra.

Trộm cướp sinh khởi chính yếu từ tham muốn - lấy của cải gì đấy của người khác bằng việc lừa dối (như khi người buôn bán dùng cân non, đong thiếu), bằng sức mạnh (cướp giật), hay ăn trộm.

Quan hệ tình dục không chính đáng được thúc đẩy bởi tham muốn để giao du với một đối tác không thích hợp, như trong trường hợp tà dâm hay hảm hiếp.

Nói dối sinh khởi từ động cơ để giả trá, như trong việc nói với người khác, "tôi thấy như vậy như vậy," khi chúng không thật sự thế. Chúng ta có thể đưa đẩy với từ ngữ và hành động thân thể không thích đáng, để người khác hiểu sai.

Nói lời chia rẻ (nói lưỡi đôi chiều) có khuynh hướng để ly gián người khác làm mất sự hòa hiệp hay làm sâu thêm sự bất đồng giữa những thù oán đang tìm kiếm sự thỏa hiệp. Nó có thể được thi hành một cách thái quá hay mờ ám với sự lừa dối, hay một cách gián tiếp qua ẩn ý.

Nói lời ác độc sinh khởi từ việc muốn nói điều gì đó không vui lòng - thường là từ việc thù oán - về một người khác hoặc là trực tiếp trước mặt, một cách mờ ám như trong đùa cợt hay một cách gián tiếp qua trò chuyện.

Nói lời vô nghĩa thường bị lèo lái bởi u tối và lãng quên. Xao lãng với người nói lời vô ích, bàn ra tán vào mất thời gian, không mục tiêu gì cả, đối với những người đang cố gắng để thực hành phát triển tâm linh là đặc biệt tai hại cho cả tự thân và người khác.

Tham lam là mong ước những sở hữu của người khác. Sinh khởi một cách chính yếu từ thèm khát, đặc biệt tổn hại khi chúng ta không xấu hổ hay ngượng ngùng về nó và không cố gắng để dừng lại việc ấy.

Khuynh hướng tổn hại sinh khởi từ thù hận, như trong khuynh hướng giết hại người khác trong chiến trận; từ ganh tỵ, như trong việc muốn làm tàn hại địch thủ; hay từ việc không thiện ý tha thứ kẻ thù. Khuynh hướng tổn hại có những tác động mạnh mẽ đặc biệt khi được xem là một phẩm chất tốt nên không cần phải điều chỉnh. (Thường được biết như là sân giận).

Quan điểm sai lạc là những khái niệm lâu đời cho rằng đạo đức và hành động bất thiện không phải là những nguyên nhân của hạnh phúc và khổ đau một cách tương ứng, và sự phủ nhận ảnh hưởng của việc thực tập tâm linh. Những quan điểm sai lạc là hoàn toàn khi chúng ta quyết định không cần phải tìm kiếm sự thật gì nữa. (Thường được biết như là si mê).

Thật quan trọng để thấu hiểu rằng những hành động phiền não chướng ngại ẩn tàng của thân thể và lời nói không phải tự sinh khởi, mà chúng phát sinh từ sự lệ thuộc trên động cơ tinh thần. Sự ảnh hưởng từ những thể trạng sai lạc của tâm làm cho những hành vi sai lạc được sinh ra. Do vậy, để kiểm soát những hành vi tiêu cực của thân thể và lời nói, điều cần thiết là phải thấu đáo gốc rể của chúng, tâm và sự thuần hóa nó. Trình độ này của việc thực hành về từ ái có thể bao gồm trong một câu: "Đừng làm tổn hại người khác."



GIÚP ĐỞ


Trình độ tiếp theo bắt đầu khi chúng ta có thể đem những nhân tố tàn phá này thế nào đấy ở dưới sự kiểm soát của chúng ta, cho chúng ta một cơ hội tốt hơn để giúp đở người khác. Lòng vị tha là tâm linh mà từ đấy chúng ta chọn để hành động và ban cho sự giúp đở có thể mang đến hạnh phúc cho người khác. Ngay cả một kinh nghiệm nhỏ của vị tha mang đến năng lượng an bình tinh thần ngay lập tức. Nếu lòng vị tha là trái tim của những hành động tốt lành , thế thì là đại từ và đại bi là trái tim của những hành động như vậy. Con người vị tha chân thật xúc động bởi khổ đau của mỗi một chúng sinh và nguyện ước cộng hưởng hạnh phúc và nguyên nhân của nó và để giải thoát họ khỏi khổ đau và nguyên nhân của đau khổ.

Có lẻ một người vị kỷ là siêu việt hơn một con thú nhiều vì thú vật bị ràng buộc với những khốn nạn lớn lao như vậy, nhưng cả hai đều đặt lợi ích của chính họ vào trung tâm của tất cả những suy nghĩ và hành động của họ. Thú vật ăn và uống để thỏa mãn những mục tiêu cạn cợt của chúng. Con người chỉ đơn thuần liên hệ trong những tiến trình của họ thiếu sự vinh quang của những ai đang đang tự nguyện sống trong ngọn lửa hừng hực của đớn đau trong thế gian nhằm để xoa tan ngay cả một loại khổ đau chỉ từ một chúng sinh nào đấy. Những người như vậy là vô cùng năng động, hiệu quả, thông tuệ, và sở hữu một năng lực cảm xúc to lớn phi thường.

Những ai được rèn luyện trong lòng đại từ nên từ bỏ lòng ích kỷ cá nhân và dấn thân trong những sự thực hành của Đức Phật, đấy là cội rể của bi mẫn. Chúng ta có thể nghĩ, từ ái thật sự rất thậm thâm, nhưng ta không có năng khiếu để thực tập nó: thay vì thế tôi sẽ tập trung những nổ lực trên sự thực hành hướng đến giải thoát chính mình khỏi vòng sinh tử luân hồi. Về một mặt, điều này là đúng, bởi vì chúng ta phải chọn lựa một con đường phát triển thích hợp đến khả năng của chúng ta. Về mặt khác, có những thuận lợi lớn lao trong việc cố gắng mức độ cao nhất của từ ái mà chúng ta có thể. Ngay cả nếu chúng ta không thể thật sự tiến hành sự thực tập về từ ái và bi mẫn, chỉ đơn thuần nghe về việc từ ái và bi mẫn có thể thiết lập những thiên hướng đầy năng lực cho sự thành công trong tương lai. Điều này có thể được mở rộng bằng việc hình thành chương tình cầu nguyện-mong ước ngưỡng mộ đến lòng vị tha. Đừng nãn lòng: thật khó để thẩm thấu một khái niệm thậm thâm như vậy. Hãy can đảm và nghĩ về khả năng tương lại của chúng ta. Đặc biệt quan trọng để thực hiện tối đa những gì chúng ta có thể.

Như đại hành giả bác học Tịch Thiên của Ấn Độ nói trong Hướng Dẫn Lối Sống Bồ Tát vào thế kỷ thứ tám là có vô số lợi ích ngay cả trong nguyện ước tất cả chúng sinh được giải thoát khỏi một nổi đau khổ như nhức đầu mà thôi:

Nếu ngay cả những người suy nghĩ rằng, "tôi sẽ xua tan
Chỉ những nổi đau đầu của chúng sinh,"
Cũng có một khuynh hướng lợi ích như vậy
Rằng họ sẽ đạt được vô số công đức
Rồi thì có gì để nói ở đấy
Của một người ao ước xua tan
Vô vàn nổi thống khổ của mỗi chúng sinh
Và ban cho mỗi chúng sinh với vô biên phẩm chất tốt đẹp?


Trong một đời quá khứ trong khi Đức Phật là một chúng sinh bình thường trước khi đạt được giác ngộ, ngài đã sinh trong địa ngục, nơi mà vì những hành vi tiêu cực trước đây (nghiệp), một vòng sắt đã hiện ra trên đỉnh đầu của ngài và bắt đầu khuấy động não bộ của ngài. Ngay lập tức phản chiếu trên sự kiện rằng nổi khổ đau ấy là do bởi thái độ trước đây của chính ngài, ngài quán chiếu những chúng sinh khác đang đau khổ trong một tình cảnh tương tự và phát ra lời nguyện ước rằng qua nổi đau của chính ngài, tất cả những chúng sinh khác có thể được giải thoát khỏi tất cả những nổi đớn đau như vậy. Ngay thời khắc ấy, vòng sắt rớt khỏi đầu ngài; ngài được giải thoát khỏi địa ngục và được tái sinh như một con người.

Nếu một lợi ích to lớn như vậy sinh khởi từ việc nguyện ước rằng tất cả chúng sinh được tự do khỏi một loại khổ đau, hãy nghĩ về lợi ích diệu kỳ của việc nguyện ước tất cả chúng sinh được giải thoát khỏi tất cả khổ đau. Như Long Thọ nói, có phước đức trong việc cúng dường đến những tu sĩ nghèo, nhưng từ ái thậm chí còn năng lực hơn nhiều.

Ngay cả cúng dường ba lần một ngày
Ba trăm chậu thức ăn cho những chúng sinh cần đến
Không bằng một phần phước đức
trong một niệm từ ái


Thậm chí sau nhiều vô số kiếp tái sinh, thật khó khăn để theo đuổi những lời nói tốt lành dạy bảo con đường thánh thiện này. Tuy thế điều kỳ diệu là chúng ta có thể ngưỡng mộ và thực tập một con đường như vậy [vì được nghe nói đến trong hiện tại[1]]. Sự cao quý của nền văn hóa Tây Tạng căn cứ trên chi tiết của giáo huấn này về việc trau dồi từ ái và bi mẫn như thế nào.

Một số người nghĩ rằng bản chất của người Tây Tạng là tĩnh lặng và đặc trưng thánh thiện, ngay cả họ đang ở trong một tình trạng khổ đau bất thường của một xứ sở bị chiếm đóng. Nhưng sự tiếp cận của người Tây Tạng sinh khởi từ một cung cách của suy tư, một ý chí để sử dụng những hoàn cảnh tệ hại trên con đường tâm linh. Hầu hết mọi người Tây Tạng không bị căng thẳng; sự tự tại bên trong khỏi những băn khoăn tự cho thấy bề ngoài như một thái độ vô tâm.

Trong những người thực tập, những người tuyệt hảo nhất là những ai mà lòng bi mẫn của họ mở rộng ngay cả đến một con sâu bọ. Có lẻ trong sự quan tâm này mà người ta chú ý điều gì đấy khác về người Tây Tạng. Thực tế, một số người Tây Tạng giết thú vật trong khi trì tụng câu mật ngôn Án Ma Ni Bát Di Hồng, là điều đáng lẻ được tụng niệm với khuynh hướng tiêu trừ những loại cảm xúc phiền não đa dạng, trong tự thân và những chúng sinh khác, là những thứ đưa đến sự tái sinh không thể kiểm soát. Nhưng người Tây Tạng trong phổ quát là hoàn toàn bi mẫn và từ ái. Thí dụ, hầu hết người Tây Tạng từ bỏ việc săn bắn, trái lại trong một số xứ sở Phật Giáo săn bắn không bị xem là bất thiện. Chắc chắn không phải người Tây Tạng đã phát triên một lòng vị tha cao độ, nhưng họ thật sự có một cảm giác lành mạnh về nó. Giáo huấn từ bi được gieo rắc một cách rộng rãi ở Tây Tạng, và sau này con người xứ sở này được thấm nhuần khuynh hướng đạt đến giác ngộ nhằm để giúp đở người khác một cách hiệu quả hơn.

Chúng ta nên nhận ra sự may mắn to lớn này trong việc tiếp xúc với giáo huấn vị tha và sự thấu hiểu tầm quan trọng của nó như thế nào trong việc đem nó vào trong việc thực hành, nếu không phải là điều gì đấy mà chúng ta nguyện ước để phát triển hay sao. Ngay cả những ai không biết nhiều về sự phát triển tâm linh cũng có thể hiểu rõ rằng những người sở hữu một thái độ quan tâm đến tha nhân có năng lực to lớn của tâm. Trong Đạo Phật, những chúng sinh như vậy được gọi là những bị bồ tát - những kẻ có khuynh hướng hùng lực (sattva - chúng sinh) trong việc đạt đến giác ngộ (bodhi) nhằm để giúp đở người khác một cách hiệu quả hơn.

Một cách căn bản bồ tát cố gắng để đưa từng chúng sinh vào trong Quả Phật. Vì lợi ích của người khác, họ tự nguyện ban cho những tài sản của chính họ, những kho tàng nghiệp quả đạo đức sẽ sinh ra những kết quả an lạc cho chính họ, và bất cứ thứ gì khác có thể thích đáng mà không có một mảy may nghĩ rằng "Đây là của tôi." Các ngài quan tâm đến lợi ích của chúng sinh khác trong mọi khía cạnh ứng xử của các ngài, bất chấp hoạt động của thân thể, lời nói, hay tâm tư là gì mà các ngài dấn thân vào. Ngay cả trong hơi thở ra và hởi thở vào. Những người này thật sự có sức mạnh phi thường của tâm để phát sinh ra lòng vị tha như vậy. Đây là tại sao những vị bồ tát được biết như "những vị anh hùng quán chiếu giác ngộ".

Mặc dù thật khó khăn để đạt đến phạm vức vị tha trọn vẹn ngay lập tức, nhưng chúng ta có thể hành động trên những thiên hướng lợi ích đối với lòng vị tha. Ngay cả nếu những ai chỉ biết một ít hay không biết gì cả về việc phát triển tâm linh mà làm việc với thái độ này - là điều thật sự là con đường duy nhất của chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai - những người này cuối cùng thân

chứng giác ngộ, vượt thắng cả những chướng ngại đến giải thoát khỏi phạm vi của khổ đau (phiền não chướng) và những rào cản của tuệ trí trọn vẹn (sở tri chướng).



BIẾT TỰ THÂN VÀ NGƯỜI KHÁC KHỔ ĐAU NHƯ THẾ NÀO


Việc trau dồi từ ái đòi hỏi sự thấu hiểu rằng tất cả chúng sinh muốn hạnh phúc, và tất cả chúng sinh bị vây quanh bởi khổ đau. Không xác định mỗi loại khổ đau, không có cách nào để yêu thương từ ái mà chỉ cục bộ. Thật dễ dàng để cảm thấy một cấp độ của từ ái và bi mẫn cho một người ở trong tình cảnh khốn cùng cơ cực một các rõ ràng, nhưng thật khó khăn để động lòng trắc ẩn với ai đấy sống trong cảnh sang giàu. Đây là một dấu hiệu mà chúng ta không nắm bắt phạm vi của khổ đau, rằng chúng ta không thấu hiểu ý nghĩa của vòng sinh tử luân hồi là gì.

Những loại khổ đau nào chúng ta chịu đựng? Những đau đớn thông thường (khổ khổ), khổ đau từ sự đổi thay (hoại khổ), và những kết quả bất hạnh từ những điều kiện lan tỏa cùng khắp (hành khổ). Tất cả chúng ta đều biết đau khổ tinh thần và thân thể - từ đau đầu đến đau lưng đến những cảm nhận đau đớn. Mọi người đều muốn thoát khỏi nó. Khó hơn nhiều để nhận ra khổ đau từ đổi thay. Sự thật đơn giản rằng hầu hết những niềm hoan lạc thông thường dễ dàng biến thành đau khổ nếu bị lạm dụng cho thấy rằng những niềm vui tạm thời này có bản chất tiềm tàng của khổ đau. Thí dụ, nếu một bửa ăn ngon thật sự có bản chất vui sướng nội tại, thế thì bất chấp chúng ta ăn bao nhiêu, chúng ta sẽ cảm thấy vui mừng hơn và vui thú hơn. Tuy nhiên, khi chúng ta ăn quá độ ngay cả những thức ăn tốt nhất, chúng ta đau khổ. Thật khó khăn để nghĩ về một kinh nghiệm vui thú rằng có phải quá đam mê, thì không có bản chất đau khổ bên trong chứ?

Vượt khỏi nổi đau đớn và khổ sở thông thường của đổi thay, có một cấp độ sâu xa hơn của khổ đau khó khăn nhất để nhận ra chẳng hạn như - đấy là khi điều gì đấy chúng ta cần chiến thắng. Được gọi "điều kiện lan tỏa cùng khắp,"sự thật rằng tâm và thân của chúng ta không hoàn toàn hoạt động dưới sự kiểm soát của chúng ta mà dưới ảnh hưởng của nghiệp chướng (những khuynh hướng được tại ra bởi những hành động trước đây) và những cảm xúc chẳng hạn như tham dục và sân hận. Trong đời sống bình thường chúng ta được sinh ra từ - trong ảnh hưởng lan tỏa cùng khắp của nghiệp chướng và cảm xúc phiền não. Ngay cả khi chúng ta không đang nghĩ bất cứ điều gì, thì chúng ta vẫn ở dưới sự khống chế của các nguyên nhân và điều kiện vượt khỏi sự kiểm soát của chúng ta - chẳng hạn trong một vòng xoay nghiêng về phía khổ đau. Khi chúng ta nhận ra rằng vòng xoay này làm cho chúng ta dễ mắc phải tất cả những loại sự kiện không muốn, chúng ta muốn thoát khỏi vòng lẫn quẩn này một cách cực độ như muốn lấy đi một hạt bụi trong mắt [đang làm xốn xang].

Khổ đau là một loại truyền nhiễm mà tất cả chúng ta có. Bằng việc chẩn đoán ba loại khổ đau này, chúng ta có thể cuối cùng thấy rõ phạm vi trọn vẹn của loại bệnh truyền nhiễm này.



CÁNH CỬA SUY NGHĨ LẠI CỦA THỨC

Vì thức thông thường đưa đến khổ đau, chúng ta hãy nhìn vào những thể trạng khác nhau của tâm. Tâm của những hành vi thông thường rất thô. Khi chúng ta rơi vào giấc ngủ và nằm mơ, có một trình độ vi tế hơn của thức. Một cách rõ ràng, giấc ngủ không mơ là một loại khác nữa, loại thức vi tế hơn. Có ba loại thể trạng của tâm cùng xảy ra trong khi thân thể còn thở, trái lại trong cơn chết ngất có những trường hợp khi hơi thở dừng lại, và tâm trở nên thậm chí vi tế hơn.

Cuối cùng, vào lúc chết tâm vi tế nhất được biểu hiện. Khi năng lực của nghiệp đưa đến đời sống hiện tại của chúng ta bị sử dụng hết, chúng ta sẽ chết. Trong khoảng thời gian này sức nóng dần dần di chuyển từ chân tay đầu mũi của thân thể đến trái tim, nơi mà một thức cực vi tế tự biểu hiện trước khi thức cuối cùng xuất ra.

Khi thức vi tế nhất này chấm dứt, trạng thái trung ấm giữa những đời sống bắt đầu. Vào lúc này, khi một thân trung ấm giữa đời sống cũ và đời sống tương lại, chúng tiếp nhận hình thể của đời sống kế tiếp và tìm kiếm một nơi để tái sinh. Nếu chúng ta tái sinh như một con người, chúng ta đến nơi mà người đàn ông và đàn bà có nghiệp quả là cha mẹ của chúng ta đang ăn nằm với nhau. Chúng ta tiếp cận với tham dục, thèm muốn người mẹ nếu chúng ta tái sinh như một cậu bé và thèm khát người cha nếu chúng ta tái sinh như một cô gái. Chúng ta xông vào họ để tiến hành việc dục tình. Khi chúng ta không thể thỏa mãn dục tình, chúng ta trở nên sân giận, và đời sống như một thân trung ấm bị chấm dứt. Chúng ta tái sinh vào đời sống kế tiếp.

Một lần nữa, chúng ta sinh ra, già đi, bệnh tật, và chết. Tiến trình giống nhau lập lại hết lần này đến lần khác. Ngay cả giữa những đời sống chúng ta tích tập nghiệp thức mỗi giây phút.

Nguyên nhân nào của sự kế tục lần lượt nhiều hình thể khổ đau này? Những cảm xúc buồn khổ - chính yếu từ ba loại thuốc độc: tham dục, thù hận, và si mê - và những hành động tuôn chảy từ những phiền não ấy, chẳng hạn như mười hành vi bất thiện đã nói trước đây.

Thiền Quán

1- Phản chiếu trên sự kiện rằng trong chính đời sống của chúng ta, một cách tự nhiên chúng ta muốn vượt thắng những nổi đau khổ rõ ràng của bệnh tật, tuổi già, và chết. Nghĩ về những nổi khổ đau đặc thù nào đấy về thân thể hay tinh thần.

2- Nghĩ về những niềm vui sướng thông thường. Có phải chúng vui sướng trong chúng và tự chúng? Hay có phải đúng là, nếu theo đuổi một cách liên tục, chúng sẽ biến thành khổ đau? Nếu đúng thế, điều này phơi bày một bản chất sâu xa hơn của đau khổ.

3- Lưu tâm đến vấn đề sẽ dễ chịu thế nào nếu vượt khỏi việc bị lừa dối bởi những niềm vui thú thông thường.

4- Gợi nhớ lại một niềm vui đã biến thành đau khổ. Phản chiếu trên vấn đề bản chất sâu xa của vui sướng tự phơi bày như thế nào. Quyết tâm rằng, trong tương lai khi một trường hợp biến thành đau khổ, chúng ta sẽ nhận ra rằng bản chất nội tại của nó đã tự biểu hiện.

5- Lưu tâm rằng chúng ta đang bị vướng trong một tiến trình lan tỏa cùng khắp của nhân duyên vượt khỏi sự kiểm soát của chúng ta, và thấy nó làm cho chúng ta dễ mắc phải nghiệp chướng và những hành vi phiền não là những hình thức của khổ đau. Khi chúng ta muốn xóa tan điều kiện này cũng như chúng ta muốn thoát khỏi đau khổ thân thể nh hạt bụi trong mắt và đau khổ tinh thần nổi buồn khổ của việc xa lìa người thân yêu, chúng ta sẽ thấu hiều phạm vi trọn vẹn của khổ đau trong kiếp sống luân hồi.




MỞ RỘNG SỰ THẤU HIỂU NÀY ĐẾN NHỮNG NGƯỜI KHÁC

Bằng việc thấu hiểu phạm vi và chiều sâu nổi khổ của chính mình, chúng ta đạt được một sự lượng định tiến trình đối với việc từ bỏ đam mê trong những hiện tướng thú vị của kiếp sống này và với việc cố gắng một cách thật mạnh mẽ cho những trường hợp tốt lành của những kiếp sống tương lai. Thay vì thế, chúng ta bắt đầu tìm kiếm sự giải thoát khỏi toàn bộ tiến trình sinh tử luân hồi. Việc tìm kiếm cho giải thoát phải được truyền cảm với lòng vị tha. Bằng khác đi, sẽ có hiểm họa rằng tâm sẽ bị làm chệch hướng đối với việc muốn một thể trạng hòa bình tĩnh lặng và giải thoát khỏi khổ đau cho riêng mình.

Hãy mở rộng nhận thức về những hình thức đa dạng của vòng luân hổi chính chúng ta đến những chúng sinh khác và phát triển lòng từ ái cùng bi mẫn cho họ. Hiến dâng chính mình trong việc giải thoát người khác khỏi khổ đau và giúp đở người khác đạt đến hạnh phúc. Như đại hành giả Tây Tạng ở thế kỷ mười bốn là Tông Khách Ba đã nói:

Nếu tâm tư chúng ta chưa bị tiêm nhiễm bởi việc suy nghĩ về những cung cách mà chính chúng ta quanh quẩn trong vòng sinh tử luân hồi, thế thì khi chúng ta suy nghĩ về những khổ đau này trong những chúng sinh khác, không có cách nào mà chúng ta như những người sơ cơ có thể thấy nổi đau khổ không thể chịu nổi của họ. Do vậy, trước nhất chúng ta phải nghĩ về những thứ này trong chính mình, và sau đấy thiền quán về chúng trong những chúng sinh khác.

Việc quán chiếu trên vấn đề người khác bị vướng trong cõi luân hồi như thế nào cùng cách như thế chúng ta sẽ gia tăng lòng bi mẫn tự nhiên. Chúng ta và tất cả chúng sinh muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Bất chấp chúng ta là quan trọng như thế nào, tự mình chỉ là một người. Do vậy, khuynh hướng trong việc tìm cầu để đạt đến sự phát triển cá nhân trọn vẹn, tinh thần và thân thể, phải có sự có mặt của những số lượng rộng lớn các chúng sinh đạt đến sự thư thái và giải thoát. Đây là động cơ mà một hành giả tâm linh cần mang đến cho mỗi cố gắng.

Thiền Quán

1- Đem vào tâm một người thân và phản chiếu trên vấn đề người này khổ sở tinh thần và thân thể như thế nào, khổ đau từ việc thấy một cách sai lầm những niềm vui thú thông thường như có một bản chất hạnh phúc nội tại, và khổ đau từ việc bị vướng mắc trong tiến trình của sự chết và tái sinh vượt khỏi sự kiểm soát của người ấy, cũng như chúng ta.

2- Mở rộng sự quán chiếu này đến những người thân mến, bạn hữu, từng người một.

3- Mở rộng xa hơn đến một vài người trung tính (không thân không oán), từng người một.

4- Lưu tâm đến vấn đề những kẻ thù khổ sở tinh thần và thân thể tối thiểu như thế nào, khổ đau từ việc thấy một cách sai lầm những niềm vui thú thông thường như có một bản chất hạnh phúc nội tại, và khổ đau từ việc bị vướng mắc trong tiến trình của sự chết và tái sinh vượt khỏi sự kiểm soát của người ấy, cũng như chúng ta.

5- Chậm rãi mở rộng điều này đến càng nhiều người đã làm tổn hại chúng ta và người thân của chúng ta.

Chúng ta sẽ thấy rằng trải qua hàng tuần hàng tháng, thái độ của chúng ta đối với người khác sẽ trở nên lành mạnh hơn và thực tế hơn. Tham dục và thù hận là không thực tế. Từ ái và bi mẫn là thực tế. Những rào cản sẽ bị biến mất.


Nguyên tác: The Fourth Step: Learning to Love trích từ quyển How to Expand Love
Ẩn Tâm Lộ ngày 3-3-2012
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
KHÁC BIỆT GIỮA TỪ ÁI VÀ LUYẾN ÁI - 20.01.2013 06:57:11
0
KHÁC BIỆT GIỮA TỪ ÁI VÀ LUYẾN ÁI
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffry Hopkin
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 3/3/2012

Giống như nước muối, những thứ vui thú
gia tăng luyến ái bất chấp chúng được sử dụng nhiều như thế nào
Sự thực tập vị tha bằng việc nhìn chúng
giống như cầu vồng mùa hè,
hiện hữu xinh đẹp nhưng không thật,
Do vậy, tránh luyến ái và tham dục.

Bồ tát TOKMAY SANGPO

Để phát sinh lòng từ ái chân thật, chúng ta cần biết nó khác biệt với luyến ái như thế nào. Lòng yêu thương và trắc ẩn thông thường quyện kết với luyến ái, bởi vì động cơ của chúng là vị kỷ: chúng ta quan tâm đến những người nào đấy bởi vì họ tạm thời giúp đở chúng ta và người thân của chúng ta. Như Long Thọ nói trong Tràng Hoa Quý Báu rằng:

Mặc dù liên hệ với luyến ái đến những người khác
là một khuynh hướng để giúp đở hay không giúp đở
Qua bị tiêm nhiễm bởi tham dục
hay một khuynh hướng để làm tổn hại.


Bởi vì lòng yêu thương và trắc ẩn như vậy ở dưới thế lực của luyến ái, chúng không thể mở rộng đến những kẻ thù, chỉ người thân mà thôi - người phối ngẫu, con cháu, cha mẹ, v.v... Trái lại từ ái và bi mẫn phát triển với nhận thức rõ ràng về tầm quan trọng và những quyền lợi của người khác, chúng sẽ vươn ra thậm chí đến những người làm tổn hại chúng ta. Từ lúc thơ ấu, tôi đã từng có một khuynh hướng từ ái và bi mẫn nhưng nó là thiên kiến. Khi hai con chó đang cắn nhau, tôi thường có một cảm giác mạnh mẽ đối với con bị thua. Ngay cả khi hai con bọ đấu nhau, tôi đã có một mối quan tâm mạnh mẽ đối cho con nhỏ hơn, nhưng tôi sẽ sân hận với con thắng trận. Điều ấy cho thấy rằng lòng từ ái và bi mẫn của tôi bị thành kiến.

Trong việc quay lưng với luyến ái, chúng ta không được quên lãng những nhu cầu cần thiết, chẳng hạn như thức ăn, chỗ ở, và ngủ nghĩ. Đúng hơn, chúng ta nên tách rời chính mình khỏi những sự xao lãng nông cạn gợi ra từ những tiếng reo như "Thứ này thật tuyệt vời" "Tôi phải có thứ này!" "Ô, phải chi chỉ mình tôi có thứ này!" Khi chúng ta buông thả cuộc sống mình với những tư tưởng như vậy, sự lòe lẹt và tiền bạc trở nên hấp dẫn hơn sự phát triển tâm linh: những cảm xúc đau khổ gia tăng, đưa đến rắc rối, quấy rầy chính mình và những ai chung quanh chúng ta, trong khi chúng ta suy nghĩ để tìm ra những phương pháp để thỏa mãn những cảm xúc này, lại chỉ tạo thêm rắc rối. Bị lèo lái tơi bời bởi luyến ái, chúng ta sẽ không tìm thấy được sự thoải mái.

Cách tốt nhất để vượt thắng sự luyến ái chướng ngại ẩn tàng là nhận ra rằng chính bản chất của đời sống là những gì được tập họp lại với nhau cuối cùng sẽ tan rả - cha mẹ, con cái, anh chị em, và bạn hữu. Bất chấp người thân yêu thương nhau như thế nào, cuối cùng họ phải chia lìa. Sai lầm là thấy những hoàn cảnh như những niềm vui cố hữu. Luyến ái được xây dựng trên khái niệm sai lầm này và luôn luôn sẽ tạo thêm đau khổ.

Vận may không phải thường trực; hệ quả là thật là nguy hiểm để quá luyến ái với những thứ đang diễn ra một cách tốt đẹp. Một quan điểm thường trụ là nguy hại. Khi chúng ta thấy hiện tại trở thành mối quan tâm chính của chúng ta, tương lai không bận tâm, chính tư tưởng ấy là điều xói mòn động cơ của chúng ta trong việc dấn thân trong những sự thực tập bi mẫn cho sự giác ngộ tương lai của những người khác. Một quan điểm về vô thường sẽ hổ trợ. Bằng việc thấy rằng bản chất thật sự của mọi thứ là tàn tạ, chúng ta sẽ không bị sốc bởi sự thay đổi khi chúng xảy ra, không ngay cả sự chết

NHỮNG CẢM XÚC QUẤY RẦY PHÁT SINH NHƯ THẾ NÀO

Tham dục và thù hận phát sinh trong nhận thức của chính chúng ta như rất chắc chắn. Một khi có một sự cụ thể rất chắc chắn, tồn tại của " tôi", sẽ có một sự phân biệt với người khác - một khi có " tôi", cũng có " người". Sự phân biệt được tháp tùng bởi sự luyến ái đến cái chính tôi cụ thể và sự sân giận đối với phía kia. Như hành giả - bác học Ấn Độ vào thứ kỷ thứ bảy là Nguyệt Xứng đã nói:

Bất lực như chiếc thùng đi lên và đi xuống một cái giếng
Qua sự phóng đại bẩm sinh cá thể, cái "tôi".
Và sau đó là sự phát sinh luyến ái đối với mọi thứ, "Đây là của tôi."
Những người đầu tiên nhận thức về sự tồn tại cái "tôi" cụ thể cũng nhận thức những sự tồn tại một cách cụ thể của mọi thứ có thể sở hữu được. Qua năng lực của tiến trình này - sự phân biệt tự thân và người khác và sự luyến ái đến các đối tượng - chúng ta lang thang qua những tình trạng tốt và xấu của cõi luân hồi, giống như cái thùng du hành một cách bất lực lên và xuống một cái giếng.

Thật quan trọng để nhận ra trong kinh nghiệm của chính mình rằng con người và sự vật xuất hiện giống như chúng tồn tại trong và tự chính chúng, nhưng không phải thế. Nếu con người hay đối tượng xuất hiện vui vẻ, hai dòng suối năng lực của hấp dẫn được sản sinh - luyến ái đến chính mình và luyến ái đến con người hay đối tượng làm vui lòng. Sự luyến ái đến cảm giác vui lòng tự nó lèo lái chúng ta vào trong những hành vi đau khổ và do thế đi vào trong cõi sinh tử. Cho đến khi mà chúng ta vẫn phủ nhận bản chất thật sự của con người và sự vật, chúng ta sẽ tin rằng cả hai tồn tại một cách cố hữu. Sẽ không lâu trước khi tham dục và thù hận đi vào khung cảnh.

BẢN CHẤT CỦA LUYẾN ÁI

Luyến ái làm gia tăng tham muốn, mà không phát sinh bất cứ sự thỏa mãn nào. Có hai loại tham muốn, chính đáng và không chính đáng. Thứ nhất là phiền não tìm thấy trong si mê, nhưng thứ hai thì không. Để sống, chúng ta cần những tài nguyên; do thế, tham muốn vì những thứ vật chất cần dùng là thích đáng. Những cảm giác chẳng hạn, "Thứ này tốt; tôi muốn thứ này. Điều này là hữu dụng," không phải là phiền não. Cũng có những thứ đáng ước ao để đạt đến như lòng vị tha, tuệ trí, và giải thoát. Loại tham muốn này là thích hợp; thực tế, tất cả mọi sự phát triển của con loài người đều đến từ tham muốn, và những nguyện vọng này không phải là phiền não.

Thí dụ, khi chúng ta đã phát triển một mối quan hệ với tất cả chúng sinh, và khao khát rằng tất cả nên có hạnh phúc, một sự khao khát như vậy là đáng giá bởi vì nó không có định kiến. Nó bao gồm tất cả chúng sinh. Thường thì sự yêu thương của chúng ta hiện tại bị giới hạn với gia đình và thân hữu, nó bị tác động một cách sâu đậm bởi luyến ái si mê. Nó là thành kiến.

Tham muốn chướng ngại ẩn tàng là luyến ái không thích đáng đến sự vật. Điều này không tránh khỏi đưa đến không thỏa mãn. Tự hỏi mình chúng ta có thật sự cần những thứ này nhất hay không, và câu trả lời là không. Loại tham muốn này là không có giới hạn, tự nó không có cách nào toại ý. Một cách cơ bản nó đưa đến khổ đau. Chúng ta phải đặt sự dừng lại trong loại tham muốn này.

Trong những tầng thực tập trước, thật khó để phân biệt giữa những tham muốn hữu ích và những tham muốn phiền não. Một hành giả có thể cảm thấy từ ái và bi mẫn nhưng vẫn nắm lấy ý tưởng si mê mà chính người ấy và đối tượng của từ ái và bi mẫn laf được thiết lập một cách cố hữu. Vào lúc khởi đầu của việc thực hành tâm linh ngay cả si mê vẫn có thể phục vụ như môt sự hổ trợ cho giác ngộ. Khi chúng ta trau dồi từ ái và bi mẫn lần đầu tiên mặc dù si mê và luyến ái liên hệ, nhưng thật là sai lầm nếu không thực tập nữa; điều lựa chọn duy nhất là tiếp tục. Để vượt thắng luyến ái, chúng ta không thể chỉ chặn đứng tâm mình khởi đến đối tượng. Thay vì thế, chúng ta phải vượt thắng qua sự thực tập về sự nhận thức đối kháng với si mê.

Tuy nhiên, khi chúng ta có luyến ái đến những sự kiện vật chất, điều tốt nhất là ngừng dứt khỏi những chính những hành vi thúc đẩy thêm luyến ái. Sự thỏa mãn là hữu ích khi tiếp xúc với những thứ vật chất, nhưng không liên hệ với sự thực tập tâm linh. Những đối tượng mà chúng ta trở nên luyến ái là điều gì đấy bị loại ra, trái lại tiến trình tâm linh là điều gì đấy được tiếp nhận - có thể được phát triển một cách giới hạn, ngay cả trong tuổi già.

Mặc dù trong lúc khởi đầu thật khó khăn để phân biệt giữa những tham muốn phiền não và những tham muốn không phiền não, nhưng qua sự khảo sát và phân tích liên tục chúng ta có thể dần dần xác định si mê và những cảm xúc phiền não, làm cho sự thực tập của chúng ta ngày cành thuần khiết hơn. Luyến ái là một phía, tập trung một cách hạn hẹp trên chính mình và chỉ ngắn hạn, càng trở nến luyến ái, càng thành kiến và hạn hòi. Ngay cả những thứ nhỏ nhoi sẽ quấy rầy chúng ta. Vô tư liên hệ đến sự vắng mặt của tâm tư hẹp hòi, nhưng không có nghĩa là chúng ta từ bỏ sự quan tâm [không thành kiến]. Bởi vì chúng ta cần một phạm vi rộng rãi những sự việc, cho nên chúng ta cần vô tư, không thành kiến, vì thế nhằm để cởi mở tâm tư hơn, thánh thiện hơn, vô tư là cần thiết. Luyến ái là khép cửa lại [với mọi thứ khác]. Đấy là chướng ngại. Các sinh viên những người quá luyến ái với một môn học sẽ trở nên phiến diện; nhiều môn học cần phải được nghiên cứu.

Những sản phẩm thông thường của đời sống tâm tư hẹp hòi của thế gian được tổng hợp trong những gì được gọi là "tám pháp thế gian" hay "bát phong":

thích / không thích
được / mất
ca ngợi / phiền trách
danh dự / nhục nhã


Cung cách trần tục của đời sống buồn bả khi bốn thứ không thuận lợi - không thích, mất, phiền trách, và nhục nhã - xảy ra đến chúng ta hay người thân, nhưng chúng ta vui mừng những thứ này xảy ra cho kẻ thù của chúng ta. Những kết quả này tất cả đều căn cứ trên vấn đề người ta hành động như thế nào, trái lại với lòng từ ái và bi mẫn chân thành căn cứ không trên hành động mà trên sự kiện căn bản rằng những chúng sinh này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, giống như chính mình, và vì thế tất cả là bình đẳng. Một số hành động là tích cực, và một khác là tiêu cực, nhưng các tác nhân của những hành vi đó là vì tất cả chúng sinh đều có khát vọng với hạnh phúc. Chúng ta luôn luôn cần nhìn vào khía cạnh ấy. Những hành vi là thứ yếu vì chúng đôi khi là tích cực và có lúc là tiêu cực - luôn luôn thay đổi - trái lại có một thứ không bao giờ thay đổi là con người muốn hạnh phúc và không muốn bất hạnh.

Khi một sự kiện sốc xảy ra, cho dù trong ngày hay trong giấc mơ, sự đáp ứng lập tức của chúng ta là cái "tôi", không phải người Tây Tạng, không phải người Mỹ, hay bất cứ chủng tộc nào; không phải Ấn Giáo, không phải Phật tử, hay bất cứ hệ thống nào khác, nhưng chỉ là cái "tôi". Điều này chỉ cho chúng ta trình độ nhân loại căn bản. Trền trình độ quan trọng ấy tất cả là giống nhau. Trẻ con không buồn nghĩ đến tôn giáo hay chủng tộc, giàu hay nghèo, chúng chỉ muốn nô đùa với nhau. Với tuổi trẻ ý nghĩa con người đồng nhất là tươi mát hơn nhiều. Khi chúng ta lớn lên, chúng ta tạo nên nhiều thứ phân biệt; nhiều sự tạo tác nhân tạo hay là giả tạo thật sự là thứ yếu đã trở nên quan trọng hơn, và sự quan tâm căn bản về loài người bị gạt bỏ. Rắc rối là ở đấy.

Từ ái, yêu thương bị cuốn hút vào trong thành kiến bởi tham dục và thù hận cuối cùng phải chấm dứt. Thương yêu bị tác động bởi tham muốn phiền não nhất thiết mang đến thù hận là chỗ đối lập với từ ái, và cùng với điều ấy đi đến ghen tỵ và tất cả những loại rắc rối. Mặc dù tham dục tự nó không trực tiếp là tổn hại, nhưng nó gián tiếp đem đến tất cả những năng lực của tổn hại. Đó là tại sao tiến trình mở rộng từ ái yêu thương bắt đầu với việc phát triển tình bình đẳng, sau điểm chính là cho dù một con người là tốt hay xấu đến chúng ta nhưng sự kiện là người ấy cũng giống như chính chúng ta trong việc muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Vì lòng tham muốn này hiện hữu trong tất cả chúng sinh, sự tỉnh thức của chúng ta về nó có thể áp dụng đến mọi người, làm căn bản cho lòng từ ái yêu thương của chúng ta thật là vững vàng. Một khi chúng ta đặt sự nhấn mạnh trên sự tương đồng của họ với chính mình, từ ái có một nền tảng vửng chắc không bị dao động vào những hoàn cảnh tạm thời.

Trong sự thực tập của riêng tôi, thí dụ, khi tôi quan tâm đến một người đặc thù nào đấy đang tra tấn người Tây Tạng trên quê hương Tuyết Sơn của tôi, tôi không tập trung trên thái độ xấu và sự tiếp cận xấu của người ấy nhưng phản chiếu trên sự kiện rằng đây là một con người giống như tôi, cũng muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau nhưng tự động mang đến khổ đau cho người ấy và có khuynh hướng tàn phá chính hạnh phúc của người ấy. Khi tôi nhìn vào những sự kiện từ quan điểm này sự đáp ứng của tôi là từ ái và bi mẫn. Tôi chọn nhận thức này và khía cạnh này. Nếu tôi xem người ấy như một kẻ thù làm tổn hại người Tây Tạng, lòng từ ái sẽ không là sự đáp ứng của tôi.

Một trong những lý do chính tại sao mà tham dục và thù hận sinh khởi là chúng ta quá luyến ái với đời sống này. Chúng ta muốn nó là thường còn, rằng nó sẽ tồn tại mãi mãi, và vì thế chúng ta tập trung quá nhiều trên những hoàn cảnh tạm thời và đặt quá nhiều những lợi ích giá trị và vật chất. Cách duy nhất để tránh điều này là phản chiếu trên sự kiện rằng mọi thứ điều sẽ qua đi - và chính chúng ta cũng sẽ qua đời. Như hành giả Tây Tạng vào thế kỷ mười ba và mười bốn là Tokmay Sangpo nói:

Chính là sự thực tập về lòng vị tha để từ bỏ chấp thủ luyến ái về đời sống này -

Những người thân cận, những người đồng hành với nhau trong một thời gian dài, rồi sẽ chia lìa,

Sự giàu sang và vật phẩm đạt được với sự cố gắng sẽ bị bỏ lại sau lưng,

Và ngôi nhà khách thân thể sẽ bị bỏ lại bởi vị khách tâm thức.


Không cần biết chúng ta sống bao lâu, khoảng một trăm năm, cuối cùng chúng ta sẽ chết, đánh mất cuộc sống con người quý báu. Và điều này có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Cuộc sống này sẽ tàn hoại, bất chấp chúng ta có tài sản nhiều như thế nào. Không có một sự giảu sang nào có thể kéo dài thêm sự sống của chúng ta. Vào ngày chấm dứt, không một thứ gì chúng ta tích lũy được có thể giúp chúng ta, chúng ta phải bỏ lại tất cả mọi thứ sau lưng. Trong sự quan tâm này, cái chết của một người giàu và cái chết của một con thú là giống nhau.

Trong vòng quanh quẩn của luyến ái đối tượng xuất hiện hoàn toàn tốt đẹp, nhưng thật sự nó không phải như thế. Khi luyến ái bắt đầu phát triển, hãy cố gắng tìm ra những phẩm chất tiêu cực trong đối tượng tham dục của mình. Một khi luyến ái đã bén rể thật rất khó để mà đèn nén hay loại bỏ, cơ hội tốt nhất là cố gắng xao lãng sự chú ý của chúng ta với đối tượng. cỏ lẻ ngay cả sự xa lìa chúng lại đằng sau một cách vật lý.

Luyến ái đến một người thân có thể rất mạnh mà nó đưa đến rối loạn với người thương vào thời điểm lâm chung. Nắm chặc tay người thương, nước mắt tràn lan bám víu người thân, ngay cả than khóc trước mặt người ấy - những hành động này có thể phá hủy bất cứ cơ hội nào để người ấy phát sinh một khung cảnh đạo đức của tâm bằng việc làm cho người ấy dính chặc với kiếp sống này. Một người thân nên cung ứng những điều kiện cho những tư tưởng đạo đức bẳng việc nhắc nhờ người sắp chết những hướng dẫn tôn giáo và nhắc nhở rằng sẽ có nhiều hiện tướng bất thường tạo ra bời nghiệp chướng trong sự chết. Thật thiết yếu để thấu hiểu rằng không có điểm nào trong việc quyến luyến với những hiện tướng vui mừng hay giận dữ bởi những người đang ở trong tình trạng kinh khủng của sự chết.

Ý CHÍ MẠNH MẼ


Thật quan trọng để gợi cảm hứng để mang đến sự cát tường với người khác và để phát triển sự ngưỡng mộ ấy vì thế nó trở nên càng lúc càng mạnh mẽ hơn. Điều này không phải là sự luyến ái hay dính mắc bởi vì nó không bị trộn lẫn với những cảm xúc phiền não. Sự ngưỡng mộ sinh khởi từ sự vô tư hay buông xả.

Một cá tính mạnh mẽ là cần thiết, nhưng không có việc trở thành vị kỷ. Chúng ta cần một ý chí mạnh mẽ để đạt đến sự thánh thiện. Để tạo nên một nguyện ước rằng chúng ta trở thành một chúng sinh có khả năng hổ trợ tất cả chúng sinh khắp hư không, chúng ta cần một tự ngã mạnh mẽ; với một cá tính hay tự ngã yếu đuối thì một mục tiêu như vậy là không thể đạt được. Loại tham muốn này là hợp lý và không phải là luyến ái hay dính mắc. Nó phải được tiếp nhận trong thực tập. Tham muốn không hợp lý phải được từ bỏ hay loại trừ bởi vì nó là hẹp hòi.

LÀM CHO CUỘC SỐNG ĐẦY NÀY ĐỦ Ý NGHĨA


Buông xả sự chấp thủ với đời sống này không có nghĩa là chúng ta phải dừng lại việc săn sóc chính mình và người khác. Khi tôi đề xuất rằng chúng ta xem thân thể như có bản chất của khổ đau, không có nghĩa rằng chúng ta phải quên lãng nó. Thân thể chúng ta có thể giúp chúng ta đạt được những mục tiêu vĩ đại. Như Tôn giả Tịch Thiên nói trong Hướng Dẫn Lối Sống Của Bồ Tát rằng:

Dựa trên chiếc thuyền thân thể con người,
Hãy giải thoát chính mình khỏi dòng sông mênh mang của khổ đau.
Sự thành công kỳ diệu và cội nguồn vô biên của bất cứ đời sống nào trong cõi luân hồi sẽ suy tàn một cách thiết yếu, nhưng thân thể phải được xem như cơ hội tự nhiên để mang lợi ích đến người khác. Như thế, tự nó phải được nuôi dưỡng và phát triển trong một thái độ buông xả. Thật cần thiết để chăm sóc điều kiện hiện tại của chúng ta trong một thể trạng của tâm hướng đến những đời sống tương lai.

Đức Phật dạy rằng chúng ta không nên thực tập cực đoan. Tra tấn chính mình là một cực đoan nên được tránh. Như Long Thọ nói trong Tràng Hoa Quý Báu [1]đã nói rằng:

Việc thực hành không phải được hoàn thành
Bằng việc hành hạ thân thể.
Vì các con không từng từ bỏ việc làm tổn thương người khác
Và không đang giúp đở người khác [bằng việc hành xác chính mình].


Khi chúng ta không quan tâm đến nhu cầu căn bản của thân thể, chúng ta làm tổn hại nhiều chúng sinh vi sinh sống trong thân thể. Chúng ta cũng nên tránh những cực đoan đối lập bằng việc sống xa hoa quá độ. Có thể tạo nên những thức ăn, quần áo, nhà cửa, và đồ đạc trong nhà quý giá mà không phát sinh những cảm xúc phiền não chẳng hạn như luyến ái; những nhân tố ngoại tại không phải tự nó hay trong nó là tốt hay xấu. Nhưng thật cũng không thích đáng nếu luyến ái gia tăng ngay cả đối với thức ăn, áo quần, v.v... thông thường.

Toại nguyện là chìa khóa. Nếu chúng ta có sự toại nguyện với những thứ vật chất, chúng ta thật sự giảu sang. Không toại nguyện, ngay cả nếu là một tỉ phú, chúng ta cũng không thấy hạnh phúc. Chúng ta sẽ luôn luôn cảm thấy đói khát và thêm và thêm nữa, như thế làm cho chúng ta không phú quý, mà chỉ là nghèo cùng. Nếu chúng ta tìm kiếm sự toại nguyện một cách ngoại tại, thì mãn nguyện sẽ không bao giờ xảy ra. Sự khao khát của chúng ta sẽ không bao giờ thỏa mãn. Kinh điển của chúng ta nói về một vị vua đạt được sự thống trị toàn thế giới, đến mức mà ông bắt đầu nghĩ về việc chiếm lấy lãnh thổ của những vị trời. Vào lúc kết thúc những phẩm chất tốt đẹp của ông đã bị tiêu tan bởi sự kiêu căng.

Toại nguyện là cần thiết cho hạnh phúc, vì thế hãy cố gắng thỏa mãn với thức ăn, quần áo, nhà cửa thích ứng. Đối với một cư sĩ, hưng phấn trong tình dục thông thường không bị xem là sái quấy, nhưng quá nhấn mạnh về điều đó có thể mang đến thảm họa. Mọi thứ cần được cảm nhận thức và thông qua trong một cung cách quân bình. Điều này là thiết yếu. Hưng phấn và luyến ái quá nhiều với tình dục có thể là hạt giống của ly hôn.

Độ lượng hay khoan dung cũng cần thiết. Khi Đức Phật là một sa môn trước khi giác ngộ, dường như những năng lực xấu ác ngoại tại đã đến để dày dò ngài. Ngài không đáp ứng với hành động hung hãn hay đe dọa của sức mạnh. Ngài chỉ trau dồi qua thiền quán từ ái và bi mẫn, và qua sự thực hành ấy đã phá hủy năng lực xấu ác.

Từ bỏ sự luyến ái với thế gian không có nghĩa là tách rời mình với thế giới. Khi chúng ta phát sinh một khát vọng chính đáng vì hạnh phúc của người khác, nhân tính sẽ gia tăng sức mạnh. Khi chúng ta trở nên buông xả hơn với thế giới, thay vì phủ nhận loài người, chúng ta sẽ trở nên nhân đạo hơn. Chính Đức Phật đã trình bày những thệ nguyện về lòng vị tha cho cư sĩ và cho tu sĩ, mà có nghĩa là ngài hình dung những hành giả với những gia đình. Chính mục tiêu của sự thực hành trong Đạo Phật là để hổ trợ người khác. Nhằm để làm như thế, chúng ta phải duy trì trong xã hội.

Nguyên tác: The different between love and attachment
Ẩn Tâm Lộ ngày 13-3-3012
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
TỪ ÁI: CĂN BẢN CỦA NHÂN QUYỀ - 13.02.2013 01:04:29
0
TỪ ÁI: CĂN BẢN CỦA NHÂN QUYỀN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Biết sự tương ứng
về hành động và kết quả của chúng.
Trong thực tế hãy luôn luôn giúp đở chúng sinh,
Giống như giúp đở chính mình.

- LONG THỌ, Tràng Hoa Quý Báu

Chính là con người có một cảm nhận đáng giá về cái "tôi" và đồng hành một cách tự nhiên từ cảm nhận ấy mà chúng ta muốn theo đuổi hạnh phúc và lẫn tránh khổ đau. Đây là quyền lợi bẩm sinh của chúng ta, và điều không cần phải bàn cải gì hơn nữa. Những chúng sinh khác cũng mong ước được tự do khỏi khổ đau, vì thế nếu chúng ta có quyền vượt thắng khổ đau, thế thì những chúng sinh khác tự nhiên cũng có cùng quyền con người như vậy. Vậy thì điều gì là sự khác biệt giữa tự thân và người khác? Có một sự khác biệt lớn lao con số, nếu không phải là bản chất. Những người khác là con số nhiều hơn ta vô cùng. Ta chỉ là một, và con số của những chúng sinh khác là vô hạn.

Ai là quan trọng hơn, ta hay những người khác? Tôi chỉ là một thầy tu Đạo Phật, nhưng những chúng sinh khác là con số vô biên. Kết luận là rõ ràng, ngay cả nếu một nổi khổ nho nhỏ xảy ra đến tất cả những người khác, phạm vi là vô hạn, trái lại khi điều gì đấy xảy ra cho tôi, nó là giới hạn đến chỉ một người. Khi chúng ta nhìn vào những người khác trong cách này, tự thân là không quá quan trọng.

Trong mười người bệnh, ai không muốn hạnh phúc? Không ai cả. Tất cả mọi người muốn thoát khỏi bệnh tật của họ. Trong sự thực tập vị tha, không có lý do nào ngoại lệ nào để đối xử với một người tốt đẹp hơn trong khi quên lãng những người khác. Trong thế giới này có hàng tỉ người, người nào, cũng giống như tôi, không ai muốn khổ đau và thật sự muốn hạnh phúc.

Từ quan điểm của chính mình, hãy nhớ rằng tất cả chúng sinh đã từng giúp đở chúng ta qua phạm vi những đời sống quá khứ và sẽ hổ trợ chúng ta trong những kiếp sống tương lai. Do vậy, không có lý do nào để đối xử người nào đấy là tốt đẹp hơn những người khác là tệ hại hơn.

Tất cả chúng ta có một bản chất của khổ đau và vô thường. Một khi chúng ta nhận ra rằng cộng đồng chúng ta ở trong một sự khốn khó [của khổ đau và nhất là vô thường], không lý do nào trong việc đấu tranh lẫn nhau. Hãy xem một nhóm tù nhân sắp bị hành quyết. Trong thời gian họ ở với nhau trong nhà tù, tất cả bọn họ sẽ đi đến chỗ kết cục. Không có ý nghĩa gì trong việc tranh cải trong những ngày còn lại của họ. Tất cả chúng ta quyện kết trong cùng một bản chất của khổ đau và vô thường, chắc chắn không có lý do gì để tranh đấu với nhau.

THIỀN QUÁN

1- Hãy chú ý kinh nghiệm tự nhiên của chúng ta về cái "tôi", như trong "tôi muốn điều này", "tôi không muốn điều nọ."

2- Hãy nhận ra rằng thật tự nhiên để muốn hạnh phúc và không muốn đớn đau. Điều này là đúng và không cần đòi hỏi tranh cải gì nữa, được đánh giá một cách giản dị bằng sự kiện rằng chúng ta muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau một cách bẩm sinh.

3- Được căn cứ trên khát vọng tự nhiên này, chúng ta có quyền đạt được hạnh phúc và loại bỏ khổ đau.

4- Xa hơn, giống như chúng ta có cảm nhận này và quyền lợi này, người khác cũng có cùng cảm nhận và cùng quyền lợi một cách bình đẳng.

5- Hãy phản chiếu trên sự kiện rằng sự khác biệt giữa tự thân và người khác là ta chỉ là một người đơn lẻ, trái là những người khác là vô lượng.

6- Đề ra câu hỏi này: mọi người phải được dùng đến cho việc đạt đến hạnh phúc của tôi, hay tôi nên giúp đở người khác đạt được hạnh phúc?

7- Hãy tự tưởng tượng, trầm tĩnh và hợp lý, việc nhìn vào quyền lợi của chính mình trong một phiên bản khác - nhưng cái tự ngã này tự hào quá đáng, không nghĩ đến quyền lợi của người khác, quan tâm chỉ với tự thân của nó, sẳn sàng để làm bất cứ điều gì để thỏa mãn nó.

8- Hãy hình dung bên trái ta một số những người khốn khó không liên hệ đến ta, nghèo nàn và đau khổ.

9- Bây giờ, ta đang ở ngay chính giữa là một người nhạy cảm không thành kiến. Hãy xem cả hai bên muốn hạnh phúc và muốn tiêu trừ khổ đau; trong cách này, họ là đồng đẳng, giống nhau. Và cả hai bên có quyền để hoàn tất mục tiêu của họ.

10- Nhưng hãy nghĩ:

Người với động cơ vị kỷ ở bên phải chỉ là một con người, trái lại những người khác là con số lớn hơn nhiều, ngay cả là vô hạn. Ai là người quan trọng hơn? Con người vị kỷ đơn lẻ và ngu si đó, hay nhóm người nghèo, và bất lực nọ?

Ta sẽ chọn phía nào? Như một người không định kiến ở giữa, chúng ta sẽ liên hệ một cách tự nhiên đến số lượng lớn những người đau khổ; không có cách nào tránh khỏi bị áp đảo với những nhu cầu của đám đông, một cách đặc biệt trong sự tương phản đến một người với các tính tự hào, ngu si ấy.

11- Hãy phản chiếu: Nếu tôi, chỉ là một người, lợi dụng số đông, thật là trái ngược với tính người của tôi. Thực tế, hy sinh một trăm đô la vì lợi ích của một đô la là rất ngu ngơ, nhưng dùng một đô la vì lợi ích của một trăm đô la là rất thông tuệ.

12- Nghĩ theo cách này, quyết định:

Tôi sẽ hướng trực tiếp năng lượng của tôi đến nhiều người hơn là đến con người vị kỷ này. Mỗi bộ phận của thân thể được xem đồng đẳng là thân thể và được bảo vệ khỏi đau đớn; vì thế tất cả chúng sinh được bảo vệ bình đẳng khỏi khổ đau.


Đối với tôi, phương pháp thiền quán này đặc biệt hiệu quả. Rất rõ ràng rằng tất cả những rắc rối trên trái đất này một cách căn bản là qua chủ nghĩa vị ngã và tự yêu mến riêng mình. Chúng ta có thể thấu hiều những nguyên tắc của phương pháp thiền quán này từ kinh nghiệm của riêng mình ngay trong kiếp sống này - rằng sự tự yêu mến đưa đến ý chí tệ hại, ngay cả giết người, và yêu mến người khác đưa đến những đạo đức chẳng hạn như từ bỏ giết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời chia rẻ, nói lời thô ác, nói lời vô ích.

Với phương pháp thiền quán này, ngay cả nếu chúng ta không tỉnh thức về lòng ân cần với người khác, chúng ta có thể học hỏi để yêu mến người khác. Hãy nhớ rằng chúng ta yêu mến chính mình một cách tự nhiên, không phải trong bất cứ ý nghĩa nào là chúng ta đã và đang tử tế với chính mình. Từ chính thực tế rằng chúng ta yêu mến đời sống của mình, chúng ta muốn loại trừ khổ đau và đạt được hạnh phúc. Trong cùng cách ấy, tất cả chúng sinh tự nhiên yêu mến chính họ, và từ điều này họ muốn xa tránh khổ đau và đạt đến hạnh phúc. Tất cả chúng ta cũng giống như thế, sự khác biệt là người khác là rất nhiều, trái lại ta chỉ là một. Ngay cả nếu chúng ta có thể dùng tất cả những người khác cho những mục tiêu của chính mình, chúng ta cũng sẽ không hạnh phúc. Nhưng nếu ta, chỉ là một con người, phục vụ người khác một cách trọn vẹn như chúng ta có thể làm, hành động này sẽ một nguồn gốc của niềm an vui nội tại.

Thật dễ dàng để thấu hiểu rằng chúng ta sẽ mất mát nếu chúng ta quên lãng mọi người khác qua việc quá nhấn mạnh đến chính mình và chúng ta sẽ gặt hái rất lớn từ việc quý trọng người khác khi chúng ta yêu mến chính mình. Vì những sự kiện này được chứng thực bởi kinh nghiệm của chính chúng ta. Tôi thấy rằng phương pháp thiền quán này có một tác động rất lớn.

Hãy tiếp nhận những sự thực tập này vào trong trái tim và chúng ta dần dần sẽ trở nên ít vị kỷ hơn và có sự tôn trọng hơn với người khác. Với một thái độ như vậy, từ ái và bi mẫn thật sự có thể lớn mạnh.

TÓM LƯỢC


Nhiều loại ý thức giá trị phát sinh từ nhận thức căn bản, tự nhiên, và rõ ràng. Tất cả chúng ta có một cái "tôi" bẩm sinh, mặc dù nếu chúng ta cố gắng để xác định vị trí của cái "tôi" này, nhưng chúng ta gặp phải nhiều khó khăn. Ý nghĩa này của cái "tôi" cho chúng ta một sự khát vọng hợp lý đến hạnh phúc và một mong ước không khổ đau.

Có những trình độ khác nhau của hạnh phúc và những loại khổ đau khác nhau. Những thứ vật chất thường đáp ứng đến hạnh phúc thân thể, trái lại sự phát triển tâm linh đáp ứng đến hạnh phúc tâm linh. Vì cái "tôi" của chúng ta có hai khía cạnh - thân thể và tinh thần - chúng ta cần một sự phối hợp bất khả phân của tiến trình vật chất và tiến trình nội tại hay tâm linh. Việc cân bằng những thứ này là thiết yếu để khai thác tiến trình vật chất và sự phát triển nội tại cho sự tốt đẹp của xã hội loài người.

Sơ đồ cho sự phát triển thế giới phát sinh từ mong ước này để đạt được hạnh phúc và giải thoát khổ đau. Nhưng có những trình độ cao hơn của hạnh phúc vượt khỏi những hình thức trần tục này, mà trong ấy chúng ta tìm cầu điều đấy cho mục tiêu dài hạn không chỉ hạn chế trong kiếp sống này. Giống như chúng ta cần một nhận thức sâu rộng có thể bảo vệ môi trường, chúng ta cần một nhận thức nội tại thâm sâu mở rộng đến những kiếp sống tương lai.

Tôi thường khuyến nghị rằng ngay cả nếu chúng ta phải vị kỷ, thế thì vị kỷ một cách thông tuệ. Những người thông tuệ phụng sự người khác một cách chân thành, đặt những nhu cầu của người khác bên trên chính mình. Kết quả căn bản sẽ là chúng ta sẽ hạnh phúc hơn. Những loại vị kỷ đưa đến đánh nhau, giết chóc, trộm cắp, và sử dụng lời thô ác - quên lợi ích người khác, luôn nghĩ về chính mình, "tôi, tôi, tôi" sẽ đưa đến kết quả trong sự mất mát của chính mình. Những người khác có thể nói những lời đẹp đẻ trước mặt chúng ta, nhưng sau lưng chúng ta họ sẽ nói những lời không đẹp.

Sự thực tập vị tha là một cung cách xác thực để hướng dẫn đời sống nhân loại và không chỉ giới hạn trong tôn giáo. Cốt lõi sự tồn tại của chúng ta là, như những con người, chúng ta sống những đời sống có mục tiêu và đầy đủ ý nghĩa. Mục tiêu của chúng ta là để phát triển một trái tim nồng ấm. Chúng ta thấy ý nghĩa trong việc là một người thân hữu đến mọi người. Cội nguồn duy nhất của hòa bình trong gia đình, xứ sở, và thế giới là lòng vị tha - từ ái yêu thương và bi mẫn ân cần.

Nguyên tác: Love as the basic of human rights
Ẩn Tâm Lộ ngày 14-3-2012
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
MỞ RỘNG CHU VI CỦA TỪ ÁI - 26.02.2013 00:41:55
0
MỞ RỘNG CHU VI CỦA TỪ ÁI
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển

Với từ ái các con sẽ đạt được tám phẩm chất thánh thiện -
Chư thiên và con người sẽ thân thiện,
Ngay cả những phi nhân sẽ hộ vệ,
Các con sẽ có nhiều niềm vui tinh thần và vật chất,
Không phải cố gắng các con cũng sẽ đạt được những mục tiêu của các con.
Và được tái sinh trong những tình trạng diệu kỳ

- LONG THỌ, Tràng Hoa Quý Báu

Trau dồi từ ái làm tiến bộ nguyện ước chúng sinh đánh mất hạnh phúc sẽ gặp gở hạnh phúc và nguyên nhân của nó. Bây giờ, mục tiêu là để mở rộng chu vi từ ái của chúng ta vượt khỏi phạm vi hiện tại. Chẳng hạn sự mở rộng sẽ đến một cách tự nhiên trong sự thực tập của chúng ta sau khi đã phát triển một cảm nhận tình cảm với người khác, những người muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Nhưng bước trước kia đã chuẩn bị để chúng ta có thể mở rộng một cách dễ dàng cảm giác nồng ấm đến càng nhiều chúng sinh hơn, đem họ vào trong tình cảm của chúng ta bất chấp họ là thân hữu, người trung tính hay kẻ thù trong hiện tại.

Nhưng ở những giai tầng đầu của sự thực tập, chúng ta có những trình độ khác nhau của từ ái - mạnh mẽ hơn cho những ai, trong kiếp sống hiện tại, gần gũi hơn với chúng ta và yếu kém hơn cho những ai trong hiện tại không quá gần gũi. Khi chúng ta thực tập và tiến bộ dần dần, năng lực của lòng từ ái của chúng ta sẽ không phân biệt giữa những người thân và thù. Lòng từ ái yêu thương lan tỏa cùng khắp, bình đẳng như vậy không đến ngay lập tức; nó phải được trau dồi. Như tôi đã nói trước đây, trong những giai tầng khởi đầu của sự thực tập, từ ái, bi mẫn, niềm tin, v.v... thường lẫn lộn với một ít cảm xúc phiền não. Những kỷ năng quán chiếu phản ảnh là cần thiết đề mở rộng phạm vi lòng từ ái yêu thương của chúng ta bao trùm ngày càng nhiều người hơn.

TRAU DỒI LÒNG TỪ ÁI YÊU THƯƠNG

Thật dễ dàng hơn để bắt đầu với người thân, vậy thì hãy bắt đầu ở đây để kinh nghiệm sự thay đổi nhận thức thành tâm khi chúng ta quan tâm đến họ từng người một:

1- Bắt đầu với người thân nhất, hãy nghĩ:

Đây là người muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Thật là dễ thương làm sao nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

Thiền quán về đề mục này thật dài lâu cho đến khi chúng ta phát sinh một cảm nhận yêu mến người thân nhất như cách một bà mẹ yêu mến đứa con yêu thương của bà. Mặc dù điều này sẽ dễ dàng cho chúng ta để thực hiện cho người thân nhất, một người tốt với ta, hãy từ từ, và chú ý cảm nhận của chúng ta, đây sẽ là kiễu mẫu để ta mở rộng đến người khác.

2- Tiếp tục cùng phương pháp thiền quán với sự quan tâm đến nhiều người thân hữu hơn cho đến khi nguyện ước này cho hạnh phúc và cho nguyên nhân của nó mạnh mẽ tương đồng với tất cả mọi người trong họ. Từng người một:

Nếu cảm giác ở đây của chúng ta không mạnh mẽ như những người này là người thân nhất, làm sống lại tác động của những bước trước; phản chiếu trên sự tương đồng của tất cả những người thân trong sự mong muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau; phản chiếu rằng trong phạm vi của sự luân hồi, họ đã từng là người thân nhất của ta - đã từng ân cần một cách bình đẳng với ta,và xứng đáng để được đền đáp lại lòng ân cần tử tế ấy.

3- Tưởng tượng một người trung tính trước mặt chúng ta, nghĩ một cách sâu lắng rằng:

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Thật là dễ thương làm sao nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

Hãy chắc chắn đừng để sự thiền quán này bẹp dí thành chỉ là chữ nghĩa: mục tiêu của chữ nghĩa là sự chuyển hóa.

4- Tiếp tục cùng sự thiền quán với sự quan tâm đến nhiều người trung tính hơn cho đến khi nguyện ước này vì sự hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó là mạnh mẽ đồng đẳng cho người thân và người trung tính.

5- Tưởng tượng những kẻ thù tối thiểu trước mặt chúng ta, quán chiếu:

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Thật là dễ thương làm sao nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

Duy trì với sự thực tập này cho đến khi ta thực sự cảm nhận cùng lòng nguyện ước chân thành vì hạnh phúc và nguyên nhân của nó cho người này, người đã làm tổn hại ta và người thân của ta - cho đến khi nguyện ước này mạnh mẽ như những người thân và người trung tính.

6- Tiếp tục cùng sự thực tập với sự quan tâm đến một kẻ thù khác, chẳng hạn như ai đấy đã làm cho ta chán nãn tại sở làm hay ở nơi công cộng. Với mỗi sự thành công mới, đưa thêm những kẻ thù càng lúc càng nhiều hơn, dần dần mở rộng phạm vi lòng từ ái yêu thương của chúng ta.


Lòng từ ái yêu thương không thành kiến là khó khăn không thể phủ nhận, nhưng nếu chúng ta thực tập cách này với một sự quyết tâm lớn lao, thế rồi ngày qua ngày, tuần qua tuần, tháng qua tháng, thái độ của chúng ta sẽ được chuyển hóa.

LÀM SÂU SẮC LÒNG TỪ ÁI YÊU THƯƠNG

Làm nổi bật kinh nghiệm của việc tìm cầu sự cát tường của người khác một cách mật thiết bằng việc bổ sung một nguyện ước mạnh mẽ hơn, kêu gọi cho một sự cải thiện của họ để tạo nên hiệu quả. Hãy sử dụng cùng kiểu mẫu như trên.

1- Bắt đầu với người thân nhất, hãy nghĩ:

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Nguyện cho người này được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

2- Mở rộng cùng nguyện ước đến nhiều người thân hữu hơn cho đến khi lời kêu gọi cho hạnh phúc và nguyên nhân của nó là mạnh mẽ đồng đẳng cho tất cả bọn họ.

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Nguyện cho người này được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

3- Tưởng tượng một người trung tính trước mặt ta, nghĩ từ chiều sâu của đáy lòng:

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Nguyện cho người này được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

4- Tiếp tục cùng sự thiền quán với sự quan tâm đến nhiều người trung tính hơn cho đến khi lời kêu gọi cho hạnh phúc và nguyên nhân của nó là mạnh mẽ đồng đẳng cho người thân và người trung tính.

5- Tưởng tượng những kẻ thù tối thiểu trước mặt chúng ta, quán chiếu:

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Nguyện cho người này được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

Áp dụng những sự quán chiếu đa dạng căn cứ trên những bước phía trước cho đến chúng ta trải nghiệm cùng lòng mong muốn chân thành cho hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó cho con người này những người đã từng làm tổn hại ta và người thân của ta - cho đến khi cũng mạnh mẽ như là đối với người thân và người trung tính. Điều này cần thời gian.

6- Tiếp tục cùng phương pháp thiền quán với sự quan tâm đến một người thù khác, người nào đấy đã từng quấy nhiễu và làm ta khó chịu.

Con người này muốn hạnh phúc nhưng đã đánh mất. Nguyện cho người này được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó.

Khi cảm giác của chúng ta là mạnh mẽ và chân thành, rồi thì quan tâm đến một kẻ thù khác, và rồi một kẻ thù khác, dần dần mở rộng chi vi lòng từ ái yêu thương của chúng ta. Hiệu quả là thậm thâm.


ĐẢM ĐƯƠNG NHIỆM VỤ

Sự phát sinh lòng từ ái và bi mẫn này cho người khác thay đổi chúng ta, nhưng những con người là đối tượng của những cảm nhận này vẫn đang khổ đau. Đã phát sinh hai trình độ của từ ái yêu thương, bước tiếp theo là phát triển khuynh hướng mạnh mẽ hơn, "tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể để làm cho người ấy được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!" Ở đây, chúng ta ở trong một quyết tâm mạnh mẽ không chỉ để thay đổi thái độ của chính chúng ta trong tâm mà thật sự là để giúp đở những chúng sinh khác trở nên được thiết lập trong hạnh phúc qua nổ lực của chính chúng ta.

Khuynh hướng cao thượng sẽ ban cho chúng ta một lòng can đảm để dấn thân trong nhiệm vụ to lớn vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Khi chúng ta có sức mạnh của tâm, càng gian lao thử thách, ý chi càng lớn mạnh hơn sẽ là quyết tâm và lòng can đảm của chúng ta. Gian khó sẽ phục vụ để làm sắc bén sự quyết tâm của chúng ta.

Nơi nào có ý chí, sẽ có một cung cách, thật sự đúng đắn. Khi chúng ta bị vướng vào một hoàn cảnh khó khăn, nếu ý chí chúng ta, hay lòng can đảm, nhỏ bé đi, nếu chúng ta rơi vào sự lười biếng hay cảm thấy kinh khủng với nhiệm vụ, nghĩ rằng chúng ta không thể tháo gở sự khó khăn này, sự suy giảm ý chí này không bảo vệ chúng ta khỏi khổ đau và sẽ có khuynh hướng tạo thêm khổ đau. Chúng ta phải phát sinh lòng can đảm đồng đẳng với kích thước những khó khăn mà chúng ta đối diện.

Kỷ năng sau đây sẽ làm sâu sắc ý chí của chúng ta và cảm nhận liên hệ:

1- Bắt đầu với người thân nhất, hãy nghĩ:

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể để làm cho người ấy thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!

Chú ý sức mạnh cảm giác liên hệ của chúng ta, cảm nhận có ý nghĩa với chúng ta.

2- Hãy mở rộng cùng mục tiêu đến nhiều hơn những người thân hữu cho đến khi sự liên hệ của chúng ta trong sự đạt đến hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó là mạnh mẽ đồng đẳng cho tất cả những người ấy.

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể để làm cho người ấy thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!

3- Tưởng tượng một người trung tính trước mặt chúng ta, nghĩ trong chiều sâu thẩm:

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể để làm cho người ấy thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!

4- Tiếp tục cùng đề mục thiền quán với sự quan tâm đến nhiều và nhiều hơn những người trung tính cho đến khi sự liên hệ của chúng ta trong sự đạt đến hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó là mạnh mẽ đồng đẳng cho những người thân và người trung tính.

5- Tưởng tượng những kẻ thù tối thiểu trước mặt chúng ta, quán chiếu:

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể để làm cho người ấy thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!

Tiếp tục thiền quán cho đến khi ta kinh nghiệm - một cách mạnh mẽ như chúng ta hành động với người thân và người trung tính - cùng sự liên hệ sâu thẩm trong sự đạt đến hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của nó. Điều này cần thời gian.

6- Tiếp tục sự thực tập với một kẻ thù khác, người nào đấy đã từng quấy nhiễu và làm ta khó chịu:

Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể để làm cho người ấy thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!

Khi cảm nhận của chúng ta mạnh mẽ và chân thành, thế thì quan tâm đến một kẻ thù khác, dần dần mở rộng phạm vi chí nguyện từ ái yêu thương của chúng ta. Chúng ta sẽ phải ngạc nhiên với những hiệu quả ấy.


KỶ NĂNG HỔ TRỢ



Trong sự thực tập hàng ngày, phản chiếu trên những lợi ích của từ ái, bi mẫn, ân cần tử tế, v.v... sau đó phản chiếu trên những bất lợi của sân giận. Sự quán chiếu liên tục ý nghĩa như vậy, sự hiểu rõ giá trị về từ ái lớn mạnh, việc làm hồi phục và tăng cường - tất cả có ảnh hưởng đến việc làm giảm thiểu cấu trúc của chúng ta cho thù hận và đạt được sự quan tâm của chúng ta cho từ ái yêu thương. Qua năng lực của sự thấu hiểu này, ngay cả sân giận sẽ thay đổi chức năng của nó và được làm cho giảm bớt đi.

***

Đây là phương pháp để thực tập: với thời gian, những thái độ tinh thần có thể thay đổi. Tất cả những phẩm chất tốt đẹp được gieo trồng và trau dồi qua hàng tháng và năm. Chúng ta không thể đoán rằng đi ngủ đêm nay như một người bình thường và thức dậy sáng mai với sự thân chứng cao thượng.


Nguyên tác: Widening the circle of love
Ẩn Tâm Lộ ngày 14-3-2012
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
Re:RỘNG MỞ TỪ ÁI - 14.03.2013 01:39:14
0
NĂNG LỰC CỦA BI MẪN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
 
Bi mẫn là một tâm có hương vị duy nhấtcủa lòng thương mến đến tất cả chúng sinh.Từ lòng bi mẫn tất cả mọi mục tiêu được đạt đến.- LONG THỌ, Tràng Hoa Quý Báu.  
Cùng với từ ái, bi mẫn là khuôn mặt của lòng vị tha. Đấy là một cảm giác từ chiều sâu của trái tim mà chúng ta không chịu đựng nổi khổ đau của người khác mà không hành động để giải thoát. Khi bi mẫn được lớn mạnh hơn, ý chí của chúng ta cũng lớn lên tương ứng để chính mình cố gắng vì ợi ích của tất cả chúng sinh, ngay cả nếu ta phải làm việc ấy đơn độc. Đây là sự phục vụ không thành kiến đối với tất cả chúng sinh, bất chấp vị thế của họ là gì. Trong việc làm sáng tỏ chí nguyện này, chúng ta thấy rằng bằng việc đạt đến giác ngộ của chính mình, cuối cùng chúng ta sẽ có thể hoàn thành hy vọng của mọi người trong chu vi mở rộng của lòng từ ái của chúng ta, "tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm để đạt đến giác ngộ vì lợi ích của họ," chúng ta quyết định như thế. Bi mẫn là viên đá nền tảng của khuynh hướng vị tha để đạt đến sự giác ngộ vô thượng nhằm để hổ trợ tất cả chúng sinh.
Đại bi là gốc rể của hành động vị tha đối tượng kinh ngạc của thế giới: không có cội nguồn nào lớn hơn cho việc cứu giúp và hạnh phúc [hơn là đại bi]. Cho đến khi mà chúng ta có lòng bi mẫn, chúng ta sẽ tự do khỏi những sự băn khoăn sâu thẩm nhất. Khả năng để cống hiến chính mình đến lợi ích của người khác mang lại, bằng trái lại thì không đạt được, sức mạnh và tiềm năng cho sự thánh thiện. Phát sinh lòng đại bi, và chúng ta trở thành một người thân hữu của tất cả chúng sinh, lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh vị tha khác và là đứa con yêu mến của đấng giác ngộ.
 
BI MẪN NHƯ HẠT GIỐNG, NƯỚC, VÀ THU HOẠCH
Bi mẫn tự nó được thấy làHạt giống của sự thu hoạch phong nhiêu, nước để tăng trưởng,Và thể trạng chín muồi của sự thụ hưởng lâu dài.Do vậy, vào lúc bắt đầu tôi nguyện cầu bi mẫn.- NGUYỆT XỨNG  
Bi mẫn là thiết yếu trong giai đoạn khởi đầu, giai đoạn giữa, và giai đoạn kết thúc của sự thực tập tâm linh. Nó giống như hạt giống của giác ngộ. Chúng ta cần nước, đất, và phân bón để canh tác mùa màng - cho dù đấy là lúa gạo, lúa mạch, lúa mì, hay bắp. Một hạt lúa chỉ có thể phục vụ như nguyên nhân của cây lúa và không thể lớn lên thành cây lúa mạch, vậy thì đấy là nguyên nhân phi thường của lúa gạo. Tương tự thế, một động cơ bi mẫn là nguyên nhân phi thường của sự giác ngộ vô thượng, và vì thế nó trở thành nền tảng của việc thực hành tâm linh, giống như một hạt giống. Đấy là sự bắt đầu.
Đến những giai đoạn giữa, khi đặt khuynh hướng vị tha vào trong sự thực tập, chúng ta khám phá ra rằng thật không dễ dàng để giúp ngay cả một chúng sinh vượt thắng hình thức biểu hiện của ngay cả một loại rắc rối, không đề cập đến việc chiến thắng khuynh hướng tiềm tàng trong tâm. Sự cải thiện như vậy đòi hỏi nổ lực liên tục. Chúng ta có thể trở nên mệt mỏi và nhụt chí, nhưng nếu chúng ta tiếp tục phát triển bi mẫn, chúng ta sẽ không đánh mất sự cống hiến vị tha mà chúng ta đã phát sinh trước đây. Nếu chúng ta duy trì lòng bi mẫn mạnh mẽ khi chúng ta chạm trán với những hoàn cảnh khó khăn, chí nguyện của chúng ta sẽ tăng trường một cách tự nhiên. Đây là tầm quan trọng của bi mẫn trong những giai đoạn giữa: nó như nước nuôi dưỡng những phẩm chất tâm linh mà nó nhằm để nuôi dưỡng những người khác đối với giác ngộ.
Sự giác ngộ tròn vẹn có nghĩa là chúng ta ở trong sự hiện diện tương tục của đại bi, do vậy chúng ta sẽ không duy trì trong sự hòa bình đơn độc mà sẽ luôn luôn dấn thân một cách trọn vẹn vì lợi ích của những người khác. Giống như thể trạng chín muồi của sự thu hoạch được thụ hưởng bởi vô số, đây là tầm quan trọng của đại bi lúc kết thúc.
Quan tâm cho người khác là một ý chí đảm đương gánh nặng để giúp đở họ đạt đến hạnh phúc của chính họ. Một sự gánh vác can đảm, vô song, vị tha như vậy của gánh nặng này cuối cùng đưa đến sự ngưỡng mộ những trình độ phát triển tâm linh nhằm đề phục vụ một cách hiệu quả hơn.
Ở Lhasa, khi trao truyền giáo huấn từ ái và bi mẫn đến giới trẻ của tôi, tôi đã phải xúc động từ sâu thẩm bên trong. Sau lần đầu tiên đến Dharamsala, Ấn Độ như một người tị nạn, tôi đã điều khiển một lễ khai tâm, và tôi đã lau nước mắt khi đọc lại thi kệ của Nguyệt Xứng (Chandrakirti - ở trang trước). Mặc dù tôi đã xúc động một cách sâu xa qua việc quán chiếu những phẩm chất diệu kỳ của vị tha, nhưng chúng dường như điều gì đấy xa vời, khó khăn cho tôi để đạt được. Khoảng năm 1969, sau khi đạt được tuệ giác nội quán vào trong việc làm thế nào chúng ta cường điệu chính mình vào trong việc biểu hiện như một đạo sư và những thứ phóng đại vào trong những đối tượng dưới sự kiểm soát của chúng ta như thế nào, tôi thấy rằng giải thoát thật sự là có thể đạt được bởi vì si mê đã làm nên những sự thổi phồng như thế đơn giản là sai lầm, và có một năng lực đối kháng - kiến thức và tuệ trí vững chắc - có thể loại trừ nó.
Biết rằng giác ngộ là có thể đạt được, và sau khi thực hành Hướng Dẫn Lối Sống Bồ Tát trong những năm cuối của lứa tuổi ba mươi, tôi đã đạt được đủ kinh nghiệm, cảm nhận của tôi về từ ái và bi mẫn chân thật ở tại một khoảng cách đã được thay đổi, và tôi đã phát triển một niềm tin đấy là tôi có thể phát triển lòng vị tha thật sự. Kể từ lúc ấy tôi đã thực hiện một tiến trình nào đó đối với mục tiêu ấy.
Hãy để tôi nói với quý vị một câu chuyện vui về những dòng nước mắt này. Một người nọ tham dự buổi lễ và không hiểu tối thiểu tại sao tôi khóc đã đi đến gặp vị giáo thọ của tôi, Trijang Rinpoche, trong ngày kế tiếp. Ông cho hay rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cực kỳ đau buồn trong buổi lễ đến nổi ngài đã khóc. Trijang Rinpoche hỏi ông ta: "Tại sao ngài khóc?" Ông nói, "Ngài đã thất vọng bởi vì ngài chỉ có một cơ hội ở Tây Tạng để ban bố lễ quán đảnh này." Trijang đã ngạc nhiên với sai lầm của người ấy. "Không chỉ ông sai lầm rằng Đức Thánh Thiện đã ban lễ quán đảnh này chỉ một lần ở Tây Tạng, nhưng ngài sẽ không bao giờ thất vọng đối với một việc như vậy." Tôi đã cười và cười khi tôi nghe câu chuyện ấy.
 
MỞ RỘNG VÒNG XOAY CỦA MỐI QUAN TÂM NÀY NHƯ THẾ NÀO

Đối với ai chúng ta trau dồi lòng bi mẫn? Câu trả lời là, Mỗi một chúng sinh, bởi vì mỗi người phiền não với một hình thức đau khổ nào đó. Trong những thiền quán trước đây, chúng ta đã phát triển một sự mật thiết với những người khác. Đầu tiên chúng ta nhận ra rằng chúng ta và người ta bỉnh đẳng trong việc muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau; thứ đến chúng ta đã học rằng trải qua sự tương tục của những kiếp sống mọi người đã từng là người thân nhất của chúng ta, cho chúng ta sự giúp đở một cách hoan hỉ; cuối cùng chúng ta đã thấy rằng chính bản chất của xã hội mà người khác cung ứng những thứ phục vụ cần thiết đã hổ trợ chúng ta, cho dù có chủ ý hay không. Nếu chúng ta không có nhận thức thấu cảm này, thế thì khi chúng ta cố gắng thấu hiểu nổi khổ của một người khác qua sự thống khổ của chính mình, chúng ta thậm chí có thể cảm thấy vui sướng trong nổi khổ đau của kẻ thù.
Vài thế kỷ trước, một tu sĩ đã vui mừng khi nghe rằng một vị tu sĩ khác, người mà ông không thích đã kết hôn, trong việc vi phạm những thệ nguyện của một tu sĩ. Vị tu sĩ vui mừng pha trà, mời một số bè bạn của ông, và nói với họ, "Tôi có một việc tốt đẹp nói với quý vị. Người ta nói rằng vị tu sĩ ấy đã có vợ." Khi vị lạt ma của vị tu sĩ kháo chuyện ấy biết việc gì đã xảy ra, ông nói, "Vị kháo chuyện này đã tích tập nhiều nghiệp xấu hơn bằng việc thích thú rằng một vị tu sĩ khác đã đánh mất thệ nguyện của mình hơn là vị tu sĩ ấy tự làm." Như Tông Khách Ba nói,
Trên thế giới, khi khổ đau được thấy trong một kẻ thù, không chỉ nó là không thể chịu nổi, mà chúng ta lại vui mừng với nó. Khi một người không từng giúp đở cũng không làm hại chúng ta được thấy là khổ đau, trong hầu hết mọi trường hợp chúng ta sẽ không chú ý đến người ấy. Những sự phản ứng này là qua việc không có một cảm nhận tình cảm với sự quan tâm đến những người này.
Tuy nhiên, khi chúng ta thấy một người thân khổ đau, thì việc đó là không chịu nổi, và mức độ không thể chịu nổi ấy lớn như tình cảm của chúng ta với người ấy. Do thế, đấy là tầm quan trọng thiết yếu để phát sinh một cảm nhận yêu mến và tình cảm mạnh mẽ đối với chúng sinh.
Bất chấp họ là giàu hay nghèo, mạnh khỏe hay ốm đau, già hay trẻ, điều cốt yếu phải có một cảm giác không thay đổi về sự yêu mến với người khác và sự đau khổ liên tục của họ.
Thật dễ dàng hơn để phát sinh lòng bi mẫn trong khi quán tưởng về một người chúng sinh rất nghèo khổ, nhưng chúng ta cũng cần phản chiếu trên những người dường như hoàn toàn không khổ đau nhưng người nào thật sự hành động trong những cách như vậy cuối cùng sẽ mang đến những biểu hiện khổ đau. Mở rộng sự quán chiếu và bi mẫn này đến những người đã từng làm nhưng việc như vậy trong quá khứ, việc tích tập những xu hướng nghiệp chướng tiêu cực. Mặc dù những tác động nghiệp chướng của họ không bị trải nghiệm trong hiện tại, những người đang thành đạt này đã chất chứa những nguyên nhân của khổ đau tương lai chắc chắn giống như một khối u ung thư không đau đớn nằm trong thân thể. Mở rộng đề mục thiền quán này một lần nữa bằng việc phản chiếu trên những chúng sinh sai lầm trong bản chất nội tại với những gì chỉ là niềm vui sướng nông cạn và phải chịu sự đau khổ của thay đổi (hoại khổ). Cuối cùng phản chiếu trên vấn đề tất cả chúng sinh phải chịu sự quay cuồng của khổ đau lan tỏa cùng khắp (hành khổ) như thế nào -- quyện kết trong một tiến trình của những điều kiện vượt khỏi tầm kiểm soát của họ
 
NHỮNG BƯỚC THIỀN QUÁN
 
Vì dễ dàng hơn để phát sinh bi mẫn đối với những người thân, hãy bắt đầu với một người thân nhất.
1- Đưa đến tâm một người thân có một nổi đau khổ rõ ràng, và hãy nghĩ:
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế trớ trêu thay lại có nổi khổ như vậy. Chỉ mong sao người này có thể thoát khỏi khổ đau và những nguyên nhân của đau khổ!
Phân tích những cách mà người này đau khổ cho đến khi chúng ta có một cảm nhận mạnh mẽ về việc sung sướng diệu kỳ như thế nào nếu người ấy có thể tự do khỏi tất cả các loại đau khổ. Khi cảm nhận suy giảm, hãy nghĩ nhiều hơn về việc con người đau khổ như thế nào, và khi điều này phát sinh một sự thương xót mạnh mẽ và một nguyện ước cho sự giải thoát của người ấy, duy trì với điều này mà không phân tích. Điều này được gọi là sự luân chuyển giữa thiền phân tích (quán) và thiền ổn định (chỉ). Tiến hành hai thứ thiền này tới và lui, thay đổi vì thế cường độ của cảm nhận duy trì mạnh mẽ. Cuối cùng, hai loại thiền tập sẽ hổ trợ lẫn nhau và làm sâu sắc mỗi thứ hơn mà chúng ta không cần phải luân chuyển giữa hai thứ nữa.
2- Quán tưởng trước mặt ta một người thân, người mặc dù không bị nổi khổ đau trớ trêu tức thời, nhưng sẽ đau khổ trong tương lai qua những hành vi phiền não chướng ngại ẩn tàng nặng nề của những loại mà tất cả chúng ta đã phạm phải trải qua từ thời vô thỉ. Hãy nghĩ:
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế trớ trêu thay lại có nổi khổ như vậy. Chỉ mong sao người này có thể thoát khỏi khổ đau và những nguyên nhân của đau khổ!
Thay đổi giữa thiền phân tích và thiền ổn định.
3- Từ từ mở rộng đề mục thiền quán này đến từng người một, đầu tiên với nhiều người thân hữu hơn, rồi thì với những người trung tính, và cuối cùng với những người thù oán, sau chót bao gồm tất cả chúng sinh khắp hư không.
Mở rộng phạm vi của thiền quán vì thể chúng ta không bị giới hạn để nguyện ước điều ấy chỉ cho một ít người được thoát khỏi khổ đau hay tất cả chúng sinh được giải thoát khỏi những loại khổ đau nào đấy mà thôi. Sự nguyện ước cho lợi ích của người khác không cục bộ và không bị thành kiến - đấy là một nguyện ước chân thành mà mỗi một chúng sinh được giải thoát khỏi tất cả mọi loại khổ đau và nguyên nhân của nó.
Bằng việc trau dồi lòng bi mẫn đầu tiên cho những người thân, rồi đến những người trung tính, và cuối cùng đến những người thù oán, chúng ta cuối cùng nắm giữ một điều là sự cảm nhận bi mẫn một cách mạnh mẽ cho chúng sinh trong phổ quát. Tuy nhiên, nếu khởi đầu, chúng ta thiền quán trên chúng sinh một cách tổng quát mà không tập trung một cách tha thiết đến những cá nhân, chúng ta có thể có cảm tưởng là có lòng bi mẫn cho tất cả chúng sinh, nhưng khi một hoàn cảnh trái ngang chẳng hạn như bị cản trở trong điều gì đó chúng ta muốn mà chẳng may sinh khởi, thì chúng ta sẽ biểu lộ hoàn toàn ngược lại.
 
THIỀN TẬP HỔ TRỢ
 
Thật hữu ích để tưởng tượng một con vật bất lực - một chúng sinh với khả năng rất giới hạn không ai bảo vệ - một tình trạng túng quẩn. Hãy tưởng tượng một tạo vật trước mặt chúng ta và hãy lưu tâm đến vấn đề, sẽ ra sao nếu thay đổi vị trí [giữa ta và tạo vật bất lực ấy]. Hãy nghĩ:
Nếu tôi ở trong vị trí của con vật khốn khó này, tôi có thể chịu nổi hay không?
Hãy cố gắng để cảm nhận những chúng sinh đang cảm nhận ra sao. Loại thiền quán tưởng tượng này là rất hữu ích cho việc bồi bổ lòng bi mẫn.
 
TĂNG CƯỜNG BI MẪN
 
Khi chúng ta đã làm một tiến trình nào đó, hãy làm mạnh năng lực của bi mẫn bằng việc di chuyển từ "Nếu người này có thể được tự do khỏi đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ mà thôi!"đến "Nguyện cho người này được tự do khỏi đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ!"
1- Đem đến tâm một người thân đang đau khổ rõ ràng, và hãy nghĩ:
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế trớ trêu thay lại có nổi khổ như vậy. Nguyện cho người này được thoát khỏi khổ đau và những nguyên nhân của đau khổ!
Thay đổi luân phiên giữa thiền phân tích và thiền định chỉ.
2- Quán tưởng trước mặt ta một người thân, người mặc dù không bị nổi khổ đau trớ trêu tức thời, nhưng sẽ đau khổ trong tương lai qua những hành vi phiền não chướng ngại ẩn tàng nặng nề của những loại mà tất cả chúng ta đã phạm phải trải qua từ thời vô thỉ. Hãy nghĩ:
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế trớ trêu thay lại có nổi khổ như vậy. Nguyện cho người này được thoát khỏi khổ đau và những nguyên nhân của đau khổ!
Thay đổi luân phiên giữa thiền phân tích và thiền định chỉ.
3- Chậm rãi mở rộng đề mục quán chiếu này đến từng người một, đầu tiên đến nhiều người thân hơn, rồi đến những người trung tính, và cuối cùng đến những người thù oán, và sau chót bao gồm cả tất cả chúng sinh khắp hư không.
Khi chúng ta cảm thấy hoàn toàn tác động với nguyện ước cao thượng này rồi, di chuyển đến trình độ mạnh mẽ nhất của bi mẫn, là quyết định: "Tôi sẽ giúp người này thoát khỏi đau khổ và nguyên nhân của khổ đau!"
1- Đem đến tâm một người thân đang đau khổ rõ ràng, và hãy nghĩ:
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế trớ trêu thay lại có nổi khổ như vậy. Tôi sẽ giúp người này thoát khỏi đau khổ và nguyên nhân của khổ đau!
Thay đổi luân phiên giữa thiền phân tích và thiền định chỉ.
2- Quán tưởng trước mặt ta một người thân, người mặc dù không bị nổi khổ đau trớ trêu tức thời, nhưng sẽ đau khổ trong tương lai qua những hành vi phiền não chướng ngại ẩn tàng nặng nề của những loại mà tất cả chúng ta đã phạm phải trải qua từ thời vô thỉ. Hãy nghĩ:
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế trớ trêu thay lại có nổi khổ như vậy. Tôi sẽ giúp người này thoát khỏi đau khổ và nguyên nhân của khổ đau!
Thay đổi luân phiên giữa thiền phân tích và thiền định chỉ.
3- Chậm rãi mở rộng đề mục quán chiếu này đến từng người một, đầu tiên đến nhiều người thân hơn, rồi đến những người trung tính, và cuối cùng đến những người thù oán, và sau chót bao gồm cả tất cả chúng sinh khắp hư không.
Qua tiến trình này, bi mẫn chân thật sẽ tiến triển. Đây không phải là lòng thương xót thông thường lẫn lộn với luyến ái hay dính mắc, là chỗ mà khi điều gì đó chỉ nho nhỏ mà không vừa ý, chúng ta lập tức nổi giận. Lòng bi mẫn thật sự là một sự tỉnh thức rằng tất cả chúng sinh phải được thoát khỏi khổ đau.
 
ĐỐI PHÓ VỚI SÂN GIẬN NHƯ THẾ NÀO
 
Khi những người khác cáu kỉnh và hiểm độc với chúng ta, thật khó khăn để duy trì lòng bi mẫn. Sân giận cần được kiểm soát, nhưng không che giấu được với chúng ta. Hãy nhận ra phản ứng của chúng ta: đừng phủ nhận chúng. Nếu chúng ta làm thế, lòng bi mẫn của chúng ta sẽ là giả dối.
Có hai loại cảm xúc. Một loại cần được bày tỏ, nói đến. Thí dụ, chán nản chẳng hạn. Có thể người nào thân cận với chúng ta chết, và chúng ta thương tiếc một cách âm thầm. Nên thay vì che dấu cảm xúc, chúng ta bày tỏ một cách công khai, năng lực áp đảo của nổi buồn sẽ bị yếu bớt đi. Loại cảm xúc khác, kể cả sân giận, luyến ái mạnh mẽ, và tham dục mạnh bạo: không có sự chấm dứt tự nhiên cho những thứ này. Thí dụ, nếu sân giận được biểu lộ, ngày mai có thể hơn nữa; trái lại nếu chúng ta giảm thiểu tối đa sự sân giận của chúng ta, nó sẽ bị yếu dần. Chúng ta có thể thấy điều này qua kinh nghiệm của chính chúng ta. Ban cho sự sân giận của chúng ta lời nói và hành động giống như cho một đứa bé một đống rơm và một hộp diêm quẹt. Một khi châm ngòi, sân giận sẽ phơi bày tràn ngập trong không khí và có thể nổi cơn thịnh nộ không thể kiểm soát. Sự lựa chọn duy nhất là kềm chế sân giận, và phương pháp để làm điều này là suy nghĩ. Giá trị của sân giận là gì? Giá trị của bao dung và bi mẫn là gì?
Những ai không xem các cảm xúc phiền não như sân giận là bất lợi bị khổ sở đối với một rắc rối và nổi cơn tức giận, họ cảm thấy họ là đúng đắn toàn hảo, ngay cả họ không buồn có một chút quan tâm nào đến việc người khác nhìn họ như thế nào hay không. Vì họ xem việc nổi giận là bình thường, họ không nổ lực để giảm thiểu sân giận. Trái lại, những ai xem các cảm xúc phiền não là tiêu cực và tai hại không tự động chấp nhận sân giận. Đôi khi sân giận có thể thắng thế và khống chế họ, nhưng sâu thẩm bên trong họ vui khi tiếp nhận nó - có một sự miễn cưởng đó. Ngay cả nếu họ không thực hiện những sự đối phó đầy đủ, sự miễn cưởng bên trong của họ về việc nổi giận sẽ làm một sự khác biệt lớn lao về lâu về dài. Vì thế, điều quan trọng là phản chiếu trên những bất lợi của sân giận.
Hãy sử dụng ý thức trung thực thông thường của chúng ta. Sân giận có ích lợi không? Nếu chúng ta nổi giận đối với ai đó, kết quả là không tốt cho ta và cũng không tốt gì cho người. Không có gì hữu ích từ đấy. Kết cục, sân giận không làm tổn hại người khác mà lại tai hại cho ta. Khi chúng ta sân giận, thức ăn ngon không có mùi vị gì. Khi chúng ta nổi giận, ngay cả bộ mặt của người phối ngẫu, con cái, hay bè bạn cũng tức tối, không phải bời vì khuôn mặt của họ thay đổi mà bởi vì điều gì đó sai lạc trong thái độ của chúng ta. Khi một sự kiện bất hạnh xảy ra, chúng ta có thể đối diện và đối phó một cách hiệu quả hơn khi không có sân giận. Sân giận hầu như vô dụng. Có lẻ một lời lẻ thô ác đôi khi cần thiết làm cho một người nào đó lánh xa một hành vi ngu ngốc, trong một phạm vi mà sân giận có thể sinh khởi, nhưng sự sân giận như thế không nên là động cơ chính,nhưng từ ái và bi mẫn mới nên là [mục tiêu chính từ trong thâm tâm]. Những hành vi phát sinh đơn thuần từ sân giận hoàn toàn không lợi ích gì cả, nhận ra điều này có thể phục vụ để làm mạnh sự quyết tâm của chúng ta để chống lại chúng.
Thật không dễ dàng để có một sự quan hệ trắc ẩn mạnh mẽ với mỗi một chúng sinh, vì thế không nên nhụt chí nếu một thái độ thành kiến làm cản trở sự thiền quán của chúng ta. Chúng ta cần một lòng can đảm của một nổ lực không dao động suốt cả cuộc đời của chúng ta và cho nhiều kiếp sống sắp đến. Một sự chuyển hóa thậm thâm như vậy không thể xảy ra chỉ qua đêm, hay trong một tuần, hay trong một tháng, hay ngay cả trong một năm. Tuy nhiên, chúng ta sẽ dần thấy sự thay đổi trong những phản ứng của chúng ta đến những con người và thế giới. Khi những phản ứng cũ tái diễn, đừng nghĩ điều này biểu hiện sự thất bại trong thiền tập của chúng ta; đúng hơn hãy lấy những sự kiện thế ấy như những thúc đẩy kích thích chúng ta thiền tập nhiều hơn nữa.
 
QUÁN TƯỞNG HỔ TRỢ:
CHO VÀ NHẬN
 
Khi chúng ta thấy chúng sinh trăn trở vì khổ đau, điều trung thực là biết rằng những khổ đau của họ là qua các nghiệp chướng của chính họ, và do thế chúng ta bị hạn chế trong vấn đề chúng ta có thể hổ trợ họ bao nhiêu một cách trực tiếp. Tuy nhiên, chúng ta có thể tự nguyện và nhiệt tình - từ trong chiều sâu thẩm của trái tim - thực hiện những nguyện ước và quán tưởng với sau đây với một năng lực to lớn của ý chí:
Con người này đang đau khổ vô cùng tệ hại và mặc dù muốn đạt được hạnh phúc cùng làm nguôi bớt khổ đau, nhưng không biết từ bỏ đức tính xấu và tiếp nhận đạo đức tốt. Nguyện cầu khổ đau của người này cũng như tất cả nguyên nhân của chúng chín muồi trong tôi.
Điều này được gọi là sự thực hành tiếp nhận khổ đau của người khác trong việc sử dụng khí cụ bi mẫn.
Một cách tương ứng, từ trong chiều sâu của trái tim chúng ta có thể nguyện ước và quán tưởng rằng chúng ta ban cho người khổ đau hạnh phúc của chúng ta.
Tôi sẽ ban cho những chúng sinh này mà không một chút do dự hay hối hận bất cứ phước đức nào mà tôi đã tích tập trong hình thức của nghiệp lành, là điều thuận lợi cho họ.
Điều này được gọi là sự thực hành bố thí sự hạnh phúc của chính ta trong việc sử dụng khí cụ từ ái.
Mặc dù sự quán tưởng tinh thần như vậy không thật sự mang đến những kết quả này, nó thật sự sẽ gia tăng quyết tâm và năng lực ý chí, trong khi tạo nên một không khí hòa bình. Những sự thực tập này được tiến hành trong sự kết hợp với hơi thở ra và hơi thở vào - thở vào khổ đau của người khác và thở ra niềm hạnh phúc của chính ta vào trong đời sống của họ.
 
QUÁN TƯỞNG HỔ TRỢ:
SỬ DỤNG NỔI BẤT HẠNH
 
Tương tự thế, khi chúng ta bệnh hoạn hay đau khổ vì một sự kiện bất hạnh, hãy tưởng tượng:
Nguyện cho cơn bệnh hay sự bất hạnh này phục vụ như một sự thay thế cho nổi khổ đau của tất cả chúng sinh.
Điều này sẽ giữ sự đau khổ của chúng ta khỏi trở nên tệ hại hơn qua việc phiền não về nó, và nó sẽ làm nổi bật lòng can đảm của chúng ta. Cũng hữu ích để nghĩ:
Nguyện cho nổi khổ mà tôi đang chịu đựng hiện nay thể hiện như một chức năng của sự chín muồi, biểu hiện, và kết thúc nhiều nghiệp không lành mà tôi đã tích tập.
Trong kinh nghiệm giới hạn của tôi, những sự thực tập này thật sự là những cội nguồn của sức mạnh nội tại và sẽ giữ một nụ mĩm cười trên khuôn mặt của chúng ta. Lo lắng sẽ không ích gì, có phải không?
Mới gần đây, có một vụ động đất khá mạnh ở Dharamsala trong khi tôi đang thiền tập hàng ngày về trau dồi từ ái và bi mẫn. Mặc dù động đất là sự đe dọa đời sống một cách mạnh mẽ, tôi không sợ hãi chút nào, điều này phải là qua việc đang trong lúc quán chiếu đến nhu cầu của những người khác. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng chỉ khoảng vài tuần trước đây, trong khi đang bay vài giờ qua một đám không khí nhiễu loạn giữa Bombay và Nam Phi. Tôi chú ý rằng những lòng bàn tay của tôi đã ướt đẩm mồ hôi. Vì thế tôi đã phản chiếu trên kiến thức của tôi là nếu nghiệp chướng của tôi dành cho là tôi phải chết, thế thì đơn giản là tôi phải chết, và nếu không, sáng mai tôi sẽ ở Nam Phi. Tôi cảm thấy khá hơn. Điều khác biệt là trong nhận thức của tôi. Nếu có thể làm điều gì đấy về vấn nạn ấy, chúng ta hãy tiến hành; nếu không thể, lo lắng là vô ích.
Theo kinh điển Phật Giáo Tây Tạng về vấn đề rèn luyện lòng vị tha, khi chúng ta hạnh phúc, đừng quá hưng phấn về điều ấy, mà hãy cống hiến lợi ích đển tất cả chúng sinh nghiệp lành thu hoạch hạnh phúc, và khi chúng ta đau khổ, hãy tự nhận vào tất cả khổ đau của chúng sinh. Chúng ta thường lên và xuống trong tâm ý, nhưng trong cách này chúng ta có thể duy trì lòng can đảm nội tại, không cho phép nổi bất hạnh quấy nhiễu sự tĩnh lặng của tâm - không quá vui mừng, cũng không quá buồn đau, hãy ổn định.
 
KHI NGƯỜI KHÁC CỐ GẮNG LỢI DỤNG CHÚNG TA
 
Có thể là ngay cả nếu chúng ta vẫn là một người khiêm tốn, trung thực, và toại nguyện, một số người bạn, hàng xóm, đồng nghiệp, hay địch thủ của chúng ta sẽ lợi dụng chúng ta. Đơn giản cho phép điều này là vô lý. Dưới những hoàn cảnh như thế, đầu tiên chúng ta phải thấu hiểu rằng người kia cũng là một con người và cũng có quyền để hạnh phúc. Với sự tôn trọng và bi mẫn đối với người ấy, chúng ta có thể hành động phù hợp với hoàn cảnh người ấy đã tạo nên. Điều này có nghĩa là việc đáp ứng một cách mạnh mẽ nếu cần thiết, nhưng không bao giờ đánh mất nhận thức bi mẫn. Trong thực tế, bi mẫn là phương cách duy nhất để đối phó với một rắc rối như vậy, vì sân giận và cáu kỉnh sẽ chỉ trở ngại hiệu quả của hành động và làm mọi thứ phức tạp hơn. Đầu tiên, thật khó duy trì bi mẫn đối với ai đấy đang đe dọa hay làm tổn hại, nhưng nếu chúng ta cố gắng liên tục, chúng ta sẽ tìm ra phương pháp để phản ứng một cách mạnh mẽ tối đa đối với hoàn cảnh đòi hỏi nhưng không đánh mất thái độ từ ái.
Giống như mối quan hệ giữa một bậc cha mẹ ân cần và con cái. Đôi khi đứa con ngu si và ngổ ngáo, và nhằm để chấm dứt thái độ ấy, người cha hoặc người mẹ hành động - tương ứng với những hoàn cảnh ấy - với lời lẻ nghiêm khăc hay ngay cả thô tháo, có thể thậm chí trừng phạt đứa trẻ, nhưng không đánh mất lòng thương mến. Đó là cung cách để đối phó với vấn nạn.
 
Nguyên tác: The fifth step: The Power of CompassionẨn Tâm Lộ ngày 17-3-2012  
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
CHÍ NGUYỆN CỐ GẮNG TOÀN LỰC - 27.04.2013 01:48:43
0
CHÍ NGUYỆN CỐ GẮNG TOÀN LỰC
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ:  Tuệ Uyển
 
Bước thứ sáu:CHÍ NGUYỆN CỐ GẮNG TOÀN LỰC


Nếu một giáo huấn được nắm bắt và được biết, tất cả mọi lời dạy của ta sẽ ở trong lòng bàn tay của các con.  
Giáo huấn này là gì? Đấy là lòng vị tha.
- ĐỨC PHẬT
Chức năng đặc trưng của đại bi là gì?  Như Liên Hoa Giới[1] nói trong Những Giai Tầng Thiền Quán:
Khi chúng ta cảm thấy bi mẫn tự động phát sinh nguyện ước tiêu trừ hoàn toàn khổ đau của tất cả chúng sinh - giống như nguyện ước của một bà mẹ làm vơi bớt nổi khổ đau vì bệnh tật của đứa con yêu mến ngọt ngào của bà - thế thì lòng bi mẫn của chúng ta là hoàn toàn và do thế được gọi là đại bi[2].


Tương tự thế, khi từ trong chiều sâu của trái tim chúng ta tự động phát sinh từ ái nguyện ước để cùng dự với tất cả chúng sinh trong hạnh phúc chân thật và miên viễn, đây là đại từ[3].  Đối với một bà mẹ mà đứa con yêu của bà đang khổ đau vì bệnh tật, bất chấp bà đang làm gì, bà ấy - không cần nổ lực nào - có một cảm giác đau xót vì rắc rối của đứa con, tự động phát sinh nguyện ước đứa con của bà được thoát khỏi tình cảnh ấy và ở trong một tình trạng hạnh phúc.  Khi chúng ta có một cảm giác sâu xa, lập tức về từ ái, và bi mẫn cho tất cả chúng sinh.  Đây là phạm vi của việc phát sinh đại từ và đại bi.
 
Đã trau dồi ba trình độ của khuynh hướng từ ái và bi mẫn và cảm thấy tác động trọn vẹn với những nguyện ước ấy, chúng ta đã sẳn sàng để thực hành bước thứ sáu, lòng vị tha phi thường kêu gọi cho một chí nguyện cố gắng hoàn toàn về phần chúng ta.  Đây là quyết định chân thành mà trong ấy chúng ta hứa nguyện:
Ngay cả nếu tôi phải làm việc này một mình, tôi cũng sẽ giải thoát tất cả chúng sinh khỏi khổ đau và nguyên nhân của đau khổ, và cùng vui với tất cả chúng sinh trong hạnh phúc và nguyên nhân của chúng.
Ý chí đảm đương trách nhiệm đơn độc là một ý nghĩa cao thượng đặc biệt của lòng vị tha.  Thực tế, không ai có thể làm điều này một mình cả, nhưng chúng ta đang tự nguyện trong một trách nhiệm trọn vẹn vì sự cát tường của người khác.
 
Những nguyên nhân thuận lợi cho việc đảm đương gánh nặng này là sự trau dồi trước đây của chúng ta về từ ái và bi mẫn, điều kiện thuận lợi là thân chứng về sự kiện rằng mỗi người có Phật tính, rằng những cảm xúc phiền não tâm của mỗi một chúng sinh  không tồn tại mãi mãi trong tâm mà có thể tiêu trừ được.  Như tôi đã bàn luận trước đây, những cảm xúc rắc rối có thể tách rời khỏi tâm, có nghĩa là giác ngộ có thể đạt được.
Nhận biết về những sự kiện căn bản này làm hiện thực việc đảm đương trách nhiệm để hổ trợ chúng sinh trong một mức độ rộng lớn.  Vì chúng ta thấu hiểu rằng tất cả những chướng ngại phiền não có thể được loại trừ, nên thật thực tiển để quyết định hổ trợ tất chúng sinh làm điều này.  Với những sự thực chứng này chúng ta có thể thực hiện quyết định vị tha này từ trong chiều sâu của trái tim và tâm thức, là điều nhằm để mở ra con đường cho sự phát triển tâm linh trọn vẹn.
 
Nếu chúng ta cảm thấy rằng một số chúng sinh nào đó có thể đạt đến giác ngộ, quyết định vị tha để giúp đở sẽ khó khăn.  Đây là vấn đề tuệ trí hoạt động như thế nào để  cộng sự trong việc phát triển từ ái và bi mẫn; dường như rằng khổ đau có thể được tiêu trừ, chúng ta xúc động từ tâm khảm về  hoàn cảnh của chúng sinh, việc phát triển một quyết tâm để làm điều gì đó về vấn đề này.  Nếu chúng ta không thể làm bất cứ việc gì về điều này một quyết định như vậy là không thể có.  Thí dụ,  tôi đã thực hiện dự phòng cả ở đây, Dharamsala, và ở Ladakh để một số con cừu không bị giết, nhưng tôi không thể cung ứng đất đai được bảo vệ cho tất cả những con cừu trong những vùng này để rong ruổi một cách tự do, thì tôi chỉ có thể xúc động  bởi lòng thương hại cho tất cả những con cừu ấy.
 
Khi chúng ta nhận ra rằng có những kỷ năng mà nhờ đó chúng sinh có thể được bảo vệ khỏi khổ đau, điều này kích thích một mức độ rộng lớn của từ ái và bi mẫn thực tiển.  Trong cách này, tuệ trí hổ trợ quyết định của chính chúng ta để hành động thoát khỏi vòng xoay của khổ đau và để giúp những người khác làm như vậy.
THIỀN QUÁN
Quán chiếu:
1- Những cảm xúc sầu khổ không lưu trú trong bản chất của tâm do thế chúng có thể được loại trừ.
2- Vì những cảm xúc sầu khổ có thể được tách rời khỏi tâm, thật thực tiển để tôi hành động đạt đến giác ngộ và hổ trợ người khác cùng làm như vậy.
3- Quyết tâm:
Ngay cả nếu tôi phải làm việc này một mình, tôi cũng sẽ giải thoát tất cả chúng sinh khỏi khổ đau và nguyên nhân của đau khổ, và cùng vui với tất cả chúng sinh trong hạnh phúc và nguyên nhân của chúng.
Rèn luyện điều này cho đến khi nó trở thành động cơ tự nhiên của chúng ta.  Đây là một lòng can đảm chân thật có thể đưa chúng ta qua tất cả nghịch cảnh.


Nguyên tác :  The Sixth Step: Total CommitmentẨn Tâm Lộ ngày 17-3-2012  
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
Re:RỘNG MỞ TỪ ÁI - 07.05.2013 02:57:47
0
 
Bước thứ bảy:
TÌM CẦU SỰ GIÁC NGỘ VỊ THA
 
 
Khuynh hướng vị tha là tìm cầu
sự giác ngộ vô thượng vì lợi ích của tất cả chúng sinh
 
- DI LẶC, Trang Hoàng cho Sự Thân Chứng Rõ Rệt
 
 
Một khi đã phát sinh thái độ vị tha đặc biệt là tự chúng ta phải mang đến lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng việc giải thoát ho khỏi khổ đau và nổi kết họ với hạnh phúc, chúng ta phải lượng định chúng ta có khả năng để hoàn thành điều này hay không trong tình trạng hiện tại.  Hầu hết chúng ta thường sẽ quyết định rằng chúng ta không có.  Thế thì tiến  hành như thế nào?
 
Giúp người khác không giới hạn trong việc cung cấp thực phẩm , chỗ ở, v.v... mà bao gồm giảm thiểu những nguyên nhân căn bản của khổ đau và cung ứng những nguyên nhân căn bản của hạnh phúc.  Với việc quan tâm đến việc mang đến những lợi ích như vậy cho người khác như thế nào, chính quan điểm của Đạo Phật là niềm vui sướng hay khổ đau của một người được đạt đén bởi chính người ấy mà không phải được phát sinh từ bên ngoài và do thế, chúng sinh tự họ phải thấu hiểu và áp dụng sự thực tập để mang đến hạnh phúc cho chính họ.  Giống như trong xã hội, bổ sung với việc ban cho thực phẩm, áo quần, và chỗ ở, chúng ta cố gắng để giáo dục con người vì thế  họ có thể chăm sóc đời sống chính họ, vì vậy trong việc thực hành lòng vị tha  phương pháp hiệu quả nhất để giúp đở người khác là qua sự giảng dạy về những gì nên được tiếp nhận trong việc thực hành và những gì nên được loại bỏ khỏi thái độ hiện tại.
 
Để giảng dạy điều này đến mọi người, đầu tiên chúng ta phải biết vị thế và sự quan tâm của họ và có nhận thức trọn vẹn lợi ích của việc thực hành.  Do vậy, thật cần thiết để đạt đến giác ngộ mà trong ấy các chướng ngại để thực chứng rằng mọi thứ có thể tri nhận được loại bỏ hoàn toàn (sở tri chướng).  Điều này đánh thức cho một khả năng đầy đủ của chính chúng ta để hoàn toàn nhận ra bản chất của tất cả mọi người và mọi vật cùng việc tiêu trừ tất cả những chướng ngại để giải thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi và kiến thức tròn vẹn.  Đây là cách để chúng ta đi đến quyết định rằng, nhằm để đem đến lợi ích cho người khác trong một cách trọn vẹn, thật cần thiết để đạt đến giác ngộ.
 
Khi chúng ta tiếp nhận quan điểm căn bản rằng vì lợi ích của tất cả chúng sinh, chúng ta tìm cầu để đạt đến giác ngộ , thì chúng ta đạt đến một khuynh hướng vị tha để trở nên giác ngộ.  Sự phát sinh thái độ này là vấn đề cuối cùng của bước thứ bảy.
 
 
QUYẾT ĐỊNH ĐẠT ĐẾN GIÁC NGỘ
 
Một thái độ vị tha mạnh mẽ mà trong ấy chúng ta hứa nguyện tìm cầu Quả Phật vì lợi ích của người khác được xây dựng trên sự quyết tâm đạo đức của việc chính mình đảm nhận gánh nặng vì lợi ích của người khác.   Điều ấy, lần lượt, phát sinh từ lòng bi mẫn và từ ái chẳng hạn như chúng ta không thể chịu nổi khi thấy sự biểu hiện khổ đau của người khác hay sống với kiến thức rằng họ bị đè nặng bởi những điều kiện không muốn nội tại đưa đến kết quả khổ đau và giới hạn.  Phát triển cảm giác này về sự khổ đau của người khác lệ thuộc trên việc thấy tất cả chúng sinh gần gũi với chúng ta, như người thân nhất, và muốn đền đáp lại lòng ân cần từ tế của họ.  Điều này tự nó phát sinh từ lần đầu tiên thấy chúng sinh trong một cung cách bình đẳng.  Do thế, cho điều này, bước thứ bảy chúng ta bắt đầu bằng việc ôn lại những bước trước đây. 
 
 
Thiền Quán
 
Căn cứ trên sự thực tập trước đây, bây giờ chúng ta có thể đem tất cả những bước trước đây trong tâm trong một cách tóm lược với cảm giác mạnh mẽ
 
 
Bước nền tảng: Tính Bình Đẳng
 
1- Từ chính quan điểm của họ người thân, kẻ thù, và người trung tính là bình đẳng trong việc muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.
 
2- Từ chính quan điểm của chúng ta mỗi người trong họ đã là người thân của chúng ta vô số lần qua vòng luân hồi từ vô thỉ kiếp và chắc chắn sẽ giúp đở chúng ta một lần nữa trong tương lai; mỗi người bình đẳng là kẻ thù của chúng ta; và mỗi người bình đẳng là trung tính.
 
3- Vì từ bất cứ vị thế nào được liên hệ, từ chính chúng ta hay chính họ, không có điềm nào trong việc phóng đại những cảm giác mật thiết hay xa cách.  Chúng ta không nên đánh giá một người như tốt lành một cách căn bản và một người khác như xấu xa, hữu ích hay tổn hại.  Không có lý do gì để là dễ thương từ cõi lòng đến một người và dễ ghét đến một người khác.  Mặc dù đúng là mọi người là bạn hữu hay thù địch tạm thời - hữu ích hay tổn hại - thật là một lỗi lầm để sử dụng tình trạng hay thay đổi này như căn bản cho một sự hấp dẫn hay thù ghét cứng nhắc.
 
 
Bước đầu tiên: Nhận ra người thân
 
1- Phản chiếu rằng nếu có sự tái sinh, những sự sinh ra của chúng ta trong cõi luân hồi là không có chỗ bắt đầu (vô thỉ sinh tử).
 
2- Lưu tâm rằng khi chúng ta được sinh ra từ một bào thai của một người hay một con thú, hay chúng ta được sinh ra từ một quả trứng, chúng ta đòi hỏi một bà mẹ.  Vì sự sinh của chúng ta là không thể đếm được, chúng ta phải có vô số bà mẹ trải qua phạm vi của nhiều kiếp sống ấy.  Hàm ý ở đây là mỗi chúng sinh đã từng là bà mẹ của chúng ta vào một kiếp sống nào đáy.  Nếu ta có rắc rối khi đi đến kết luận này, hãy thấy chúng ta có thể tìm ra một lý do tại sao bất cứ một chúng sinh nào đó đã không từng là bà mẹ của ta, một kết luận như vậy là không thể được.
 
3- Dẫn đến một kết luận vào những lúc ta được sinh ra từ một quả trứng hay một bào thai là vô hạn những con số, và do thế những bà mẹ của chúng ta cũng vô giới hạn trong con số.
 
4- Phản chiếu trên những điểm này, hãy thấu hiểu rằng mỗi chúng sinh đã từng là bà mẹ của ta nhiều lần. Hãy thực hiện điều này:
 
    *  Đem đến tâm một người thân nhất và xác định rằng người thân này, tại một thời điểm nào đấy trong sự tương tục của đời sống, đã là một người nuôi dưỡng ta.
 
    *  Rồi dần dần lưu tâm đến người khác, không phải là một người quá gần gũi, từng người một trong cùng cách quán chiếu, xác định và cảm nhận rằng trải qua sự tương tục của đời sống, họ đã gần gũi tương tự như thế.
 
    *  Rồi mang đến tâm một người trung tính - ai đấy không từng giúp đở cũng không từng làm tai hại ta trong kiếp sống này.  Lưu tâm rằng con người này tại những thời điểm nào đó trải qua sự tương tục của đời sống đã thân cận và đã nuôi dưỡng ta như người thân nhất.
 
    *  Dần dần mở rộng nhận thức này đến những người trung tính khác - những kẻ được thấy trong hầm ngầm xe điện, đi ngang qua trên đường phố, hay được thấy trong một gian hàng.
 
    *  Khi chúng ta đã trở nên thành thạo với việc xác định những người thân, và những người trung tính như đã từng là người thân nuôi dưỡng ta và đã cảm thấy nhận thức của ta thay đổi như thế nào, hãy quan tâm đến một kẻ thù bé nhỏ nhất - người nào đó đã từng gây tai hại cho ta hay người thân của ta một ít.  Hãy bảo đảm để bắt đầu với một kẻ thù mà ta thù hận ít nhất, vì thế chúng ta có thể phát triển kinh nghiệm với việc tạm thời đặt qua một bên những cảm nhận tiêu cực để nhận ra rằng tại một thời điểm nào đó ta đã từng là những người thân cận nhất.
 
    *  Khi chúng ta đã cảm thấy sự thay đổi nhận thức đối với kẻ thù ít nhất, hãy duy trì với thái độ mới của chúng ta trong một lúc, và rồi chậm rãi quan tâm đến kẻ thù ở mức độ kế tiếp.
 
 
Bước thứ hai: Đánh giá đúng sự ân cần
 
1- Quán tưởng bà mẹ của ta, hay người nuôi dưỡng chính, linh động trước  mặt ta.
 
2- Hãy nghĩ:
 
Con người này đã là mẹ ta trong nhiều lần qua sự tương tục của sự sống; chỉ trong kiếp sống hiện tại này, bà đã đặt trên ta một thân thể đã hổ trợ một đời sống  thuận lợi mà trong ấy tôi có thể tiến bộ tâm linh.  Bà đã duy trì ta trong bào thai của bà chín tháng, trong thời gian ấy bà không thể cư xử như bà muốn mà phải có một sự chú ý đặc biệt đến gánh nặng này mà bà mang trong thân thể bà, làm bà cảm thấy nặng nề và khó khăn chuyển động.  Mặc dù những chuyển động của ta sẽ làm cho bà đau đớn, nhưng bà cảm thấy vui trong những việc như vậy, lại nghĩ đứa con của bà mạnh mẽ như thế nào hơn là trở nên sân giận và tập trung trong nổi đau của bà.  Cảm nhận thân thiết và yêu mến của bà là to lớn.
 
Trụ một lúc với tư tưởng này, cảm nhận sự tác động của nó.
 
3- Cảm kích sâu xa hơn bằng việc quan tâm những chi tiết:
 
Trong khi sinh sản, bà khổ sở vô cùng, và sau đó bà đã liên tục quan tâm với lợi ích của ta, tự hỏi tôi đang hoạt động thế nào, đánh giá đứa con được sinh ra từ chính thân thể bà hơn hẳn bất cứ thứ gì khác. Sau này, bà đã săn sóc ta trong một cách tốt đẹp nhất mà bà có thể.
 
Bà đã lau sạch phân của ta và lấy chất nhầy trong mũi ta.  Bà đã cho ta sửa của chính bà và không cảm thấy bị xúc phạm khi ta cắn vú bà.  Ngay cả khi bà chán nản bởi những thứ như vậy, cảm nhận thân thiết của bà cho ta là  tột cùng trong tâm tư bà.  Điều này không chỉ trong một ngày, một tuần, một tháng, mà từ năm này đến năm khác, trái lại đối với hầu hết mọi người chăm sóc trẻ con trong một giờ hay hai giờ là phiền toái.
 
Nếu chúng ta sử dụng một kiễu mẫu khác  hơn là bà mẹ của ta, hãy nhớ lại trong chi tiết sự ân cần của người ấy dành cho ta.
 
4- Nhận ra chúng ta đã lệ thuộc như thế nào:
 
Nếu bà bỏ tôi ngay chỉ một hay hai tiếng đồng hồ , tôi đã có thể chết.  Qua sự ân cần của bà trong việc nuôi dưỡng tôi với thức ăn và áo quần tốt nhất theo khả năng của bà, cuộc sống quý báu này với một thân thể vật lý đã làm cho tiến trình tâm linh có thể  được duy trì.
 
Cảm kích sự ân cần mà ta đã nhận.  Khi chúng ta quan tâm một cách cẩn thận lòng ân cần của bà  trong những cách này, không có cách nào không cảm động.
 
5- Gia tăng phạm vi cảm kích của chúng ta đến những kiếp sống khác:
 
Bà đã ân cần không chỉ trong kiếp sống này mà thôi, nhưng cũng trong các kiếp sống khác như một con người hay một con thú, vì hầu hết thú vật quan tâm đến con cái của chúng trong những cách tương tự.
 
Hãy để sự tác động trong nhận thức mới này ngập tràn trong ấy.  Đừng vội vả chuyển qua động tác tiếp theo giống như điều này chỉ như là một sự thực tập giả tạo.
 
6- Đã thấu hiểu sự ân cần của người nuôi dưỡng chính trong kiếp sống này, mở rộng sự thấu hiểu này dần dần đến những người thân khác.  Khi họ là bà mẹ ta hay người thân nhất, họ bảo vệ ta với một lòng ân cần to lớn giống như người nuôi dưỡng chính đã làm trong kiếp sống này.  Phản chiếu một cách chậm rãi và cẩn thận trong sự ân cần của họ, bắt đầu với người thân nhất kế tiếp và phản chiếu như trên.
 
7- Khi năng lực của sự phản chiếu này đã được cảm nhận, di chuyển đến người thân kế tiếp, thiền quán trên cùng thái độ, chậm rãi quan tâm tất cả những người thân của chúng ta, rồi đến những người trung tính, và cuối cùng là những kẻ thù oán.
 
 
Bước thứ ba: Thói  Quen Ân Cần
 
1- Hãy nghĩ:
 
Nếu mẹ tôi (hay người thân nhất) trong kiếp sống này bị mù và tâm tư không ổn định, đang bước trên mõm đá nguy hiểm không ai hướng dẫn, và nếu tôi, người con duy nhất của bà, không chú ý và lãnh trách nhiệm giúp đở bà, thì thật là kinh khủng.
 
2- Mở rộng thí dụ:
 
Tất cả chúng sinh khắp trong hư không đã từng là mẹ tôi và đã từng bảo vệ tôi với lòng ân cần rộng lớn, họ không biết những gì trong thái độ của họ cần loại bỏ và những gì cần tiếp nhận nhằm đẻ thúc đẩy cho những quan tâm lâu dài của họ.  Không có sự hướng dẫn tâm linh, họ đang bước dọc theo một mõm đá của những khổ đau khủng khiếp trong cõi luân hồi.  Nếu biết điều này, tôi không quan tâm đến lợi ích của họ mà chỉ nghĩ đến sự giải thoát của riêng tôi, thì thật là kinh khủng.
 
Trụ trong nhận thức của chúng ta một lúc  về hiểm họa của họ, cảm nhận sự tác động.  Tự cho phép mình quan tâm về hoàn cảnh của mọi người.  Nếu điều này dường như quá mơ hồ, hãy phản chiếu trên một người đặc thù nào đó trong hoàn cảnh ghê sợ này, và rồi mở rộng cảm nhận mạnh mẽ của chúng ta đến mọi người.  Trau dồi những bước trước với sự quan tâm đến con người làm cho điều này có thể hiện thực.
 
3- Trong việc đáp ứng đến việc được người khác chăm sóc tỏng kiếp này cũng như những kiếp khác, phát triển một quyết tâm để hổ trợ họ trong bất cứ cách nào thích đáng: "Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm làm cho những con người này - những người thân đã nuôi dưỡng tôi - bị hành hạ bởi khổ đau thế này." Tự quyết chí làm lợi ích cho họ.
 
 
Bước thứ tư:Từ Ái
Phần một
 
1- Đem đến tâm một người thân và phản chiếu trên vấn đề người này đau khổ từ tinh thần đến thân thể như thế nào, từ những niềm vui sai lầm tạm thời đối với những thứ có niềm hạnh phúc bản chất nội tại, và từ việc bị vướng trong một tiến trình ngoài sự kiểm soát của người ấy, giống như chúng ta khổ sở trong những cách này.
 
2- Mở rộng sự phản chiếu này đến nhiều người thân hơn, từng người một.
 
3- Áp dụng tuệ giác nội quán này đến vài người trung tính, từng người một.
 
4- Quan tâm đến người thù oán tối thiểu, đau khổ trong những cách này giống như chúng ta.
 
5- Chậm rãi mở rộng điều này đến càng nhiều người hơn, những ai đã từng làm tổn hại đến chúng ta hay người thân của ta.
 
 
Phần hai
 
1-  Hãy chú ý rằng chúng ta trải nghiệm một cách tự nhiên cảm nhận của cái "tôi" như trong "tôi muốn điều này," hay "tôi không muốn điều này."
 
2- Hãy nhận ra rằng chúng ta tự nhiên muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau.  Điều này là tự nhiên và đúng đắn, không đòi hỏi bất cứ sự tranh cải nào nữa.
 
3- Căn cứ trên khát vọng tự nhiên này, chúng ta  có quyền để đạt đến hạnh phúc và để tiêu trừ khổ đau.
 
4- Giống như chúng ta có những cảm nhận này và quyền lợi này, vì thế người khác cũng có cùng cảm giác và cùng quyền lợi một cách bình đẳng.
 
5- Phản chiếu trên sự kiện rằng sự khác biệt giữa tự thân và người khác là ta chỉ là một người đơn lẻ, trái lại những chúng sinh khác là vô số.
 
6- Đề ra câu hỏi này:  Mỗi người phải được sử dụng vì việc đạt đến hạnh phúc của tôi hay tôi phải nên giúp người khác đạt được hạnh phúc?
 
7- Hãy tự tưởng tượng, tĩnh lặng và hợp lý, nhìn đến một phía vào một phiên bản khác của chính tôi - nhưng vào vị kỷ, quá tự hào, không bao giờ nghĩ đến lợi ích của người khác, chỉ quan tâm với tự thân của mình,sẳn sàng làm hầu như bất cứ điều gì để thỏa mãn cho nó.
 
8- Về phía khác của chúng ta hãy tưởng tượng một số những người nghèo cùng không liên hệ đến ta, khốn khó và đau khổ.
 
9- Bây giờ  chúng ta - như một người không thành kiến, nhạy cảm ở trung tâm - quan tâm điều này: Cả hai phía muốn hạnh phúc và muốn loại trừ đớn đau; trong cách này, họ là bình đẳng, giống nhau.  Thêm nữa, cả hai có quyền hoàn thành những mục tiêu này.
 
10- Nhưng hãy nghĩ:
 
Sự ích kỷ thúc đẩy con người bên một phía chỉ là một người duy nhất, trái lại những  người khác là số lượng lớn hơn rất nhiều, ngay cả là vô số.  Có phải con người vị kỷ đơn lẻ này là quan trọng hơn?  Hay có phải nhóm người nghèo cùng, khốn khó, bất lực ấy là quan trọng hơn?
 
Chúng ta tham gia vào phía nào? Ta, như người không thành kiến ở trung tâm, sẽ tự nhiên chiếu cố đám đông lớn hơn những người khốn khó; không có cách nào để tránh nhu cầu tràn ngập của số lượng lớn những con người, một cách đặc biệt trong sự tương phản đến đặc tính tự hào và ngu xuẩn.  Nếu chúng ta có một trái tim nồng ấm, chúng ta sẽ tự nhiên bị cuốn hút vào phía những người khốn khó.
 
11- Hãy phản chiếu:
 
Nếu, tôi chỉ là một người, lợi dụng số đông, tôi đang hành động một cách tương phản với tính người của tôi.
 
Thực tế, để hy sinh một trăm đô la vì lợi ích của một đô la là rất ngu ngơ; dành một đô la vì lợi ích của một trăm đô la là thông minh.
 
12- Suy nghĩ cách này, hãy quyết định:
 
Tôi sẽ đặt sự  nhấn  mạnh của tôi lên số nhiều hơn là trên con người vị kỷ này.
 
Giống như mỗi bộ phận trên được quan tâm một cách bình đẳng là thân thể của ta và do vậy được bảo vệ một cách bình đẳng khỏi đau đớn, vì thế tất cả chúng sinh phải được bảo vệ một cách bình đẳng khỏi khổ đau.
 
 
Phần ba
 
1- Bắt đầu với người thân nhất, hãy nghĩ:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Thiền quán cách này trong một thời gian dài cho đến khi phát sinh một cảm giác yêu mến người thân nhất như bà mẹ thực hiện cho đứa con ngọt ngào yêu mến của bà.  Mặc dù điều này không dễ dàng để làm với việc lưu tâm đến một người thân hữu tốt, nhưng hãy thong thả.  Chú ý cảm giác của chúng ta, chúng sẽ là kiễu mẫu để mở rộng đến người khác.
 
2- Tiếp tục cùng sự thiền quán với sự quan tâm đến nhiều người thân hữu hơn cho đến khi nguyện ước cho sự hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc mạnh mẽ một cách đồng đẳng cho tất cả.  Thực hiện điều này đến từng người một:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Nếu cảm giác của chúng ta không mạnh mẽ như cho người thân nhất, làm mới cảm xúc như những bước phía trước, phản chiếu trên sự mong muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau của họ, họ đã từng là người thân nhất của ta trong phạm vi của cõi luân hồi, họ đã từng ân cần với ta, và họ xứng đáng để được đền đáp cho sự ân cần ấy.
 
3- Tưởng tượng một người trung tín trước mặt ta, hãy nghĩ:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
 
Hãy chắc chắn không để việc thiền quán chỉ là chữ nghĩa; vấn đề là chúng ta thay đổi nhận thức căn cứ trên cảm giác cho người thân nhất.
 
4- Tiếp tục cùng đề mục thiền quán với sự liên hệ đến nhiều người trung tín hơn cho đến khi nguyện ước này cho hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc là mạnh mẽ một cách bình đẳng cho những người thân và người trung tín.
 
5- Hãy tưởng tượng người thù oán tối thiểu trước mặt ta, hãy quán chiếu:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Trụ với sự thực tập này cho đến khi chúng ta thật sự cảm nhận nguyện ước chân thành cho hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc cho người này, người đã làm tổn hại ta hay người thân của ta.  Duy trì điều này cho đến khi nó mạnh mẽ như đối với người thân và người trung tín.
 
6-  Tiếp tục cùng sự thực tập việc quan tâm đến một kẻ thù oán khác, chẳng hạn như người nào đó đã làm ta chán nản tại sở làm hay nơi công cộng.  Khi chúng ta dã thành công, chậm rãi quân tâm đến nhiều người thù oán hơn, dần dần mở rộng đến phạm vi cảm nhận của từ ái yêu thương.
 
 
Phần bốn
 
1- Bắt đầu với người thân nhất, hãy nghĩ:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
2- Mở rộng cùng nguyện ước đến nhiều người thân hữu hơn, đến một mức độ nơi mà yêu cầu cho hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc là bình đẳng cho tất cả những người ấy.
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
 
3- Tưởng tượng một người trung tính ở trước mặt ta, hãy suy nghĩ như sau:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
4- Tiếp tục cùng đề mục thiền quán với sự quan tâm đến nhiều người trung tính hơn cho đến khi đòi hỏi hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc là đồng đẳng một cách mạnh mẽ đối với người thân và người trung tính.
 
5- Hãy tưởng tượng đến người thù oán tối thiểu trước mặt ta, và quán chiếu:
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Phản chiếu trên điều này cho đến khi chúng ta trải nghiệm một đòi hỏi chân thành cho hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc cho con người này, người đã từng làm tổn  hại ta  hay người thân của ta.  Hãy làm như thế cho đến khi nó mạnh mẽ như đối với những người thân và người trung tính.  Điều  này cần thời gian.
 
6- Tiếp tục cùng sự thực tập với sự quan tâm đến một người thù oán khác, chẳng hạn như ai đó đã làm cho ta tức tối và bực bội.
 
Con người này muốn hạnh phúc nhưng bị đánh mất.  Thật dễ thương như thế nào nếu người ấy có thể thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Chỉ khi cảm giác của chúng ta mạnh mẽ và chân thành, hãy quan tâm đến một kẻ thù oán khác, và rồi một người  khác nữa, dần dần mở rộng chu vi từ ái của chúng ta.
 
 
Phần năm
 
1- Bắt đầu với người thân nhất, hãy nghĩ:
 
Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm cho người ấy được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Hãy chú ý sức mạnh của cảm giác liên hệ của chúng ta
 
2- Mở rộng cùng khuynh hướng ấy đến nhiều  người thân hữu hơn đến mức độ mà chí nguyện của chúng ta đến sự đạt đến hạnh phúc của họ và tất cả những nguyên nhân của hạnh phúc là mạnh bình đẳng cho tất cả những người ấy.
 
Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm cho người ấy được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!
 
3- Tưởng tượng một người trung tính trước mặt chúng ta, hãy suy nghĩ một cách mạnh mẽ như chúng ta có thể:
 
Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm cho người ấy được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!
 
4- Tiếp tục cùng sự thiền quán với sự quan tâm đến nhiều người trung tính hơn cho đến khi sự liên hệ trong việc đạt đến hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc mạnh mẽ đồng như đối với những người thân và người trung tính.
 
5- Tưởng tượng một người thù oán tối thiểu trước mặt ta, hãy quán chiếu:
 
Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm cho người ấy được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Hãy sử dụng những sự phản chiếu đa dạng trên những bước  phía trước cho đến khi ta trải nghiệm - cùng mạnh như đối với những người thân và người trung tính - cùng liên hệ sâu xa trong sự đạt đến hạnh phúc và tất cả những nguyên nhân hạnh phúc bởi người này, người đã từng làm tổn hại cho ta và người thân của ta.  Điều này cần thời gian.
 
6- Tiếp tục cùng sự thực tập với sự quan tâm đến một người thù oán khác, chẳng hạn như ai đó đã làm cho ta tức tối và bực bội.
 
Tôi sẽ làm bất cứ điều gì tôi có thể làm cho người ấy được thấm đẩm với hạnh phúc và tất cả nguyên nhân của hạnh phúc!
 
Chỉ khi cảm giác của chúng ta mạnh mẽ và chân thành, hãy quan tâm đến một kẻ thù oán khác, và rồi một người  khác nữa, dần dần mở rộng chu vi chí nguyện từ ái của chúng ta.
 
 
Bước thứ năm: Bi Mẫn
 
Phần một
 
1- Đem đến tâm một người thân, người có một nổi đau đớn rõ ràng, và hãy nghĩ:
 
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế lại bị nổi khổ như thế.  Ước gì người này có thể thoát khỏi nổi khổ và những nguyên nhân của khổ!
 
Hãy phân tích những cách mà người này đau khổ cho đến khi một cảm giác mạnh mẽ về việc kỳ diệu như thế nào nếu người này có thể thoát khỏi tất cả những loại khổ đau và rồi trụ với cảm giác ấy, hãy tiến hành sự phân tích ấy.  Sau đó, khi cảm nhận giảm thiểu, hãy phân tích con người ấy khổ đau như thế nào, và khi ta cảm thấy lòng thương cảm mạnh mẽ và một nguyện ước cho sự giải thoát của người ấy, trụ với điều này mà không phân tích.  Việc này được gọi là sự thay đổi giữa thiền phân tích (quán) và thiền định tĩnh (chỉ).  Thực hành hai loại này qua lại vì thế cường độ của cảm giác duy trì mạnh mẽ.  Cuối cùng, hai loại thiền tập này sẽ hổ trợ và làm sâu sắc cho nhau mà chúng ta không cần phải luân chuyển qua lại nữa.
 
2- Quán tưởng trước ta một người thân, người mặc dù không đau khổ hiển nhiên, nhưng sẽ khổ đau trong tương lai vì vô số hành động phiền não ẩn tàng , những thứ mà tất cả chúng ta đã phạm phải từ vô thỉ kiếp.  Hãy suy nghĩ:
 
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế lại bị nổi khổ như thế.  Ước gì người này có thể thoát khỏi nổi khổ và những nguyên nhân của khổ!
 
Thay đổi qua lại giữa thiền phân tích và thiền định tĩnh.
 
3- Chậm rãi mở rộng đề mục thiền quán này đến từng người một, đầu tiên với nhiều người thân hữu hơn, rồi thì với những người trung tính, và cuối cùng với những người thù oán, sau chót bao gồm tất cả chúng sinh trong khắp hư không.
 
 
Phần hai
 
1- Đem đến tâm một người thân, người có một nổi đau đớn rõ ràng, và hãy nghĩ:
 
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế lại bị nổi khổ như thế.  Nguyện cho người này có thể thoát khỏi nổi khổ và những nguyên nhân của khổ!
 
Thay đổi qua lại giữa thiền phân tích và thiền định tĩnh.
 
2-  Quán tưởng trước ta một người thân, người mặc dù không đau khổ hiển nhiên, nhưng sẽ khổ đau trong tương lai vì vô số hành động phiền não ẩn tàng , những thứ mà tất cả chúng ta đã phạm phải từ vô thỉ kiếp.  Hãy suy nghĩ:
 
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế lại bị nổi khổ như thế.  Nguyện cho người này có thể thoát khỏi nổi khổ và những nguyên nhân của khổ!
 
Thay đổi qua lại giữa thiền phân tích và thiền định tĩnh.
 
3- Chậm rãi mở rộng đề mục thiền quán này đến từng người một, đầu tiên với nhiều người thân hữu hơn, rồi thì với những người trung tính, và cuối cùng với những người thù oán, sau chót bao gồm tất cả chúng sinh trong khắp hư không.
 
 
Phần ba
 
1- Đem đến tâm một người thân, người có một nổi đau đớn rõ ràng, và hãy nghĩ:
 
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế lại bị nổi khổ như thế.  Tôi sẽ giúp người này được thoát khỏi nổi khổ và những nguyên nhân của khổ!
 
Thay đổi qua lại giữa thiền phân tích và thiền định tĩnh.
 
2-  Quán tưởng trước ta một người thân, người mặc dù không đau khổ hiển nhiên, nhưng sẽ khổ đau trong tương lai vì vô số hành động phiền não ẩn tàng, những thứ mà tất cả chúng ta đã phạm phải từ vô thỉ kiếp.  Hãy suy nghĩ:
 
Giống như tôi, con người này muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau, tuy thế lại bị nổi khổ như thế.  Tôi sẽ hổ trợ người này được thoát khỏi nổi khổ và những nguyên nhân của khổ!
 
Thay đổi qua lại giữa thiền phân tích và thiền định tĩnh.
 
3- Chậm rãi mở rộng đề mục thiền quán này đến từng người một, đầu tiên với nhiều người thân hữu hơn, rồi thì với những người trung tính, và cuối cùng với những người thù oán, sau chót bao gồm tất cả chúng sinh trong khắp hư không.
 
 
Bước thứ bảy: Chí Nguyện Hoàn Toàn Cố Gắng
 
1- Những cảm xúc sầu khổ không lưu trú trong bản chất của tâm, do thế, chúng có thể loại trừ được.
 
2- Vì những cảm xúc sầu khổ có thể tách rời khỏi tâm được, nên thực tiển cho tôi để hành động đạt đến giác ngộ  và để giúp người khác cùng đạt được kết quả giống như tôi.
 
3- Ngay cả nếu tôi phải làm việc này một mình, tôi sẽ giải thoát tất cả chúng sinh khỏi khổ đau và nguyên nhân của đau khổ, và tham dự cùng tất cả chúng sinh với hạnh phúc và nguyên nhân của nó.
 
 
Bước thứ bảy: Tìm Cầu Sự Giác Ngộ Vị Tha
 
Đã ôn lại những đề mục thiền quán trước, chúng ta đã sẳn sàng cho bước cuối cùng, quyết định để đạt đến giác ngộ vì lợi ích giúp đở người khác.
 
1- Hãy phân tích trong tình trạng hiện tại chúng ta có khả năng để đem đến lợi ích cho tất cả chúng sinh bằng việc giải thoát khỏi khổ đau và cùng hạnh phúc với họ hay không?
 
2- Hãy xem xét rằng cũng như việc ban cho thực phẩm, áo quần, và chỗ ở, thật cần thiết để giáo dục con người vì thế họ có thể chăm sóc chính đời sống của họ.  Việc giảng dạy những gì nên tiếp nhận và loại bỏ là thiết yếu, và do thế chúng ta phải biết vị thế và những quan tâm của họ và có tri thức trọn vẹn về những thực hành ích lợi.
 
3- Hãy nhận ra rằng mặc dù chúng ta có thể giúp đở người khác trong một trình độ giới hạn, nhưng chúng ta chưa thể làm như thế trong mọt trình độ rộng rãi.
 
4- Hãy kết luận rằng vì vậy thật cần thiết để đạt đến thể trạng giác ngộ, mà trong ấy những chướng ngại kềm giữ chúng ta khỏi việc thực chứng, mọi thứ tri nhận (sở tri chướng) được loại trừ trọn vẹn và ta đạt được sự thân chứng hoàn toàn về bản chất của mọi người và mọi vật.
 
5- Hãy quyết định rằng nhằm để đem đến lợi ích cho người khác trong một cách trọn vẹn, thì chúng ta sẽ phải đạt đến giác ngộ.
 
Khi những hành vi của chúng ta về thân thể, lời nói, và tâm ý ngày càng hướng trực tiếp đến lợi ích của người khác, thì chúng ta đã phát triển một ý nghĩa thậm thâm của từ ái và chí nguyện.
 
 
 
Nguyên tác:  The seventh step: Seeking Altruistic Enlightenment.
 
Ẩn Tâm Lộ ngày 19-3-2012
 
 
 
 
 
 
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

vukhoan1986
  • Số bài : 10
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 14.04.2013
Re:RỘNG MỞ TỪ ÁI - 10.05.2013 10:28:38
0
Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc. Tình yêu phải hội tụ đủ bốn yếu tố: TỪ - BI - HỈ - XẢ.
"Từ" là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.

"Bi" là khả năng người ta lấy cái khổ ra khỏi mình. Mình đã khổ, người ta làm cho thêm khổ, đó không thể là tình yêu đích thực. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, biết xoa dịu, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong cuộc đời. 
Như vậy, "TỪ - BI" theo Phật dạy là khả năng đem lại hạnh phúc cho nhau. Yêu thương ai là phải làm cho người ta bớt khổ. Nếu không, chỉ là đam mê, say đắm nhất thời, không phải là tình yêu thương đích thực. "Từ bi" trong tình yêu không phải tự dưng mà có. Phải học, phải "tu tập". Cần nhiều thời gian để quan sát, lắng nghe, thấu hiểu những nỗi khổ niềm đau của người yêu, để giúp người ta vượt qua, tháo gỡ, bớt khổ đau, thêm hạnh phúc. 
"Hỉ" là niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Càng yêu, càng vui, niềm vui lớn, cả gia đình cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công. 
"Xả" là không phân biệt, kì thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình. Không thể nói đây là vấn đề của em/anh, em/anh ráng chịu. Khi yêu, hai người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, hạnh phúc khổ đau không còn là vấn đề cá nhân. Tất cả những gì mình phải làm coi đó là vấn đề của hai người, chuyển hoá nỗi khổ đau, làm lớn thêm hạnh phúc. 
Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có "từ bi hỉ xả không"? Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng: "Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?..." Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ "từ bi hỉ xả"?
in phong bì, in catalogue  giá rẻ 

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
NĂNG LỰC VÔ BIÊN CỦA VỊ THA - 16.05.2013 04:26:11
0
NĂNG LỰC VÔ BIÊN CỦA VỊ THA
 
 
Tác giả:  Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển / 18-3-2012
 
 
 
Có bất cứ một đạo đức nào đồng đẳng với khuynh hướng vị tha này không?
Có bất cứ một thân hữu nào như vậy chứ?
 
- TỊCH THIÊN, Hướng Dẫn Lối Sống của Bồ Tát.
 
 
 
Giống như năm yếu tố của môi trường vật chất - không, đất, nước, lửa, và gió - là vô giới hạn, vì thế chúng sinh mà con người vị tha tìm cầu để hướng dẫn ra khỏi khổ đau tới thể trạng giác ngộ là vô giới hạn trong con số.  Sức mạnh trái tim của Bồ tát là như thế, các ngài cam kết với nhiệm vụ này trong việc hổ trợ tất cả chúng sinh - mà không có bất cứ giới hạn nào của thân hay thù, quốc gia hay chủng tộc - từ mỗi một loại khổ đau.  Các ngài muốn đưa chúng sinh vào trong thể trạng giác ngộ, được ban cho tất cả những phẩm chất thuận lợi tiềm tàng.  Để trở nên có thể cứu giúp trong một mức độ rộng rãi như vậy, các ngài tự nguyện từ trong chiều sâu trái tim của các ngài - rèn luyện trong vô số kỷ năng để tiến bộ đối với sự hoàn thiện của chính các ngài bất chấp chúng lâu dài như thế nào đi nữa, trải qua hàng vô số, a tăng kỳ kiếp sống, với nổ lực như áo giáp vô hình, ngăn ngừa sự thiếu nhẫn nại và thối chí.  Vì nhận thức của các ngài là quá rộng lớn, các ngài tích lũy nghiệp lực tích cực xứng đáng ngay cả khi các ngài đang ngủ năng lực cũng vô giới hạn cống hiến đến vô số chúng sinh .
 
Khi chúng ta quan tâm đến năng lực rộng lớn của giác ngộ và khối lượng thực hành khổng lồ tương ứng cần thiết để đạt đến, chúng ta có thể trở nên thối chí và chùn bước với nhiệm vụ.  Tuy nhiên, vì chúng sinh, những người tiếp nhận lòng từ ái và bi mẫn của chúng ta là vô hạn trong con số, năng lực lợi ích tích lũy bởi tâm vị tha của chúng ta cũng là vô giới hạn.  Trong cách này, những phẩm chất vô biên của giác ngộ, là những thứ có thể dường như khó khăn để gặt hái được qua tính chất bao la của chúng, có thể được thấy như có thể đạt được.  Việc phản chiếu cách này, chúng ta thấy rằng sự chuyển hóa thành giác ngộ là thực tế khả dĩ, do thế ngăn ngừa bất cứ khả năng nào của việc lười biếng và chần chừ.
 
Như Long Thọ nói trong Tràng Hoa Quý Báu rằng:
 
Qua tâm từ ái và bi mẫn của các ngài
Lòng vị tha quyết định để hướng dẫn
Vô lượng chúng sinh khỏi khổ đau
Và đưa họ vào trong Quả Phật.
 
Vì thế ngay cả khi đang ngủ
Sau khi thừa nhận một sự quyết tâm hoàn hảo như vậy
Những ai duy trì sự kiên định -
Mặc dù họ có thể không quá kỷ càng -
 
Luôn luôn tích lũy công đức tối thiểu như tất cả chúng sinh
Vì chúng sinh là vô lượng
Rồi thì hãy biết rằng bởi vì nguyên nhân là vô hạn
Nên Quả Phật vô biên thì không khó để đạt đến.
 
Sự lưu trú của lòng vị tha cho một thời gian vô hạn trong thế giới:
Vì vô lượng chúng sinh mà họ tìm cầu
Vô số phẩm chất của giác ngộ
Và tiến hành vô biên hành vi đạo đức.
 
Vì vậy mặc dù giác ngộ là vô lượng
Làm thế nào họ không thể đạt đến được
Với bốn nhân tố vô biên này
mà không phải cần thời gian quá dài!
 
Bằng việc hướng đến phạm vi hành đông của chúng ta không phải chỉ cho chính chúng ta hay một vài người thân cận mà ở mỗi một chúng sinh khắp hư không, hiệu quả chuyển hóa từ những hành vi tích cực của chúng ta được tăng lên gấp bội bởi vô lượng chúng sinh, là cánh đồng cho sự gieo trồng của chúng ta.  Trong cách này, lòng từ ái trở thành thành phần và nguyên nhân không thể tách rời của sự giác ngộ toàn vẹn.  Mặc dù vào lúc đầu chúng ta có thể đặt nghi vấn cho khả năng của Phật Quả, nhưng sự chuyển hóa tâm linh hoàn toàn trở nên thực tiển khi chúng ta lưu tâm đến hiệu quả của từ ái, bi mẫn và mục tiêu vị tha để trở nên giác ngộ.  Tất cả sẽ hổ trợ chúng ta trên hành trình tâm linh, và chúng ta sẽ ngạc nhiên vào năng lực của từ ái, bi mẫn và vị tha.
 
 
NGUYỆN ƯỚC HỔ TRỢ
 
Những nguyện ước chân thành cho sự phát triển tâm linh tương lai của chính mình và cho tiến trình của người khác tự nó là một hình thức của thiền tập.  Long Thọ nổi tiếng ở Ấn Độ và khắp Á châu vì đã xác định những nhận thức phóng đại của bản chất con người và sự vật và cho sự trình bày của ngài về mối quan hệ nhân quả, đã trước tác một hệ thống thệ nguyện diệu kỳ cho chính chúng ta và sự thành công của người khác trong những dạng thức của sức khỏe con người, phương pháp và những phẩm chất tâm linh.  Ở đây chúng là:
 
Qua công đức của những hành vi đạo đức
Mà tôi đã làm và sẽ làm
Nguyện cho tất cả chúng sinh ngưởng mộ
Đến quả giác ngộ tối thượng
 
Nguyện cho tất cả chúng sinh có những khả năng thuần khiết,
Thoát khỏi tất cả những điều kiện chướng ngại
Tự tại trong hành động và tài năng
Với sinh kế thánh thiện
 
Cũng nguyện tất cả chúng sinh
Có châu báu trong tay họ
Và nguyện cho tất cả những thứ cần dùng vô hạn của đời sống duy trì
không tiêu thụ hết cho đến khi vẫn còn vòng sinh tử.
 
Nguyện cho tất cả mọi người vào mọi thời
Được sinh ra trong những cung cách thuận lợi
Nguyện cho tất cả chúng sinh có
Sự thông minh của tuệ trí và đôi chân của đạo đức.
 
Nguyện cho tất cả chúng sinh có một cục diện vui vẻ
Thân thể tốt đẹp, rực rở thênh thang,
Một hiện tướng toại ý, thoát khỏi bệnh tật,
Mạnh khỏe, và sống lâu.
 
Nguyện cho tất cả giỏi giang trong phương tiện phân biệt khổ đau
Và có sự giải thoát khỏi tất cả đớn đau,
Thiên hướng đến sự thực tập tâm linh
Và sự phong phú vô cùng trong giáo huấn tâm linh.
 
Nguyện cho họ được trang hoàng với từ ái, bi mẫn, hoan hỉ,
Tâm ý tĩnh lặng trống rỗng những cảm xúc phiền não
Bố thí, đạo đức, nhẫn nhục, nổ lực,
Tập trung, và tuệ trí.
 
Hoàn thành hai sự tích tập về phúc đức và tuệ trí
Nguyện cho họ hiện tướng có những dấu  hiệu rực sáng và những biểu hiện xinh đẹp.
Nguyện cho họ vượt qua không bị trở ngại
Toàn bộ phạm vi của sự phát triển tâm linh
 
Tôi cũng nguyện được tô điểm hoàn toàn
Với những thứ và tất cả những phẩm chất thánh thiện khác.
Được tự do khỏi tất cả những khuyết điểm
Và có lòng từ ái siêu việt cho tất cả chúng sinh
 
Nguyện cho tôi hoàn thiện tất cả những đạo đức
Vì là những thứ mà tất cả chúng sinh hy vọng
Và nguyện cho tôi luôn luôn làm vơi nhẹ
Những khổ đau của tất cả những chúng sinh hiện thân
 
Nguyện cho tất cả những chúng sinh ấy trong tất cả thế giới
Những ai sầu khổ qua sợ hãi
Trở nên hoàn toàn vô úy
Mặc dù chỉ nghe tên tôi
 
Qua thấy hay nghĩ về tôi hay chỉ nghe tên tôi
Nguyện cho chúng sinh đạt được niềm vui lớn
Tự nhiên thoát  khỏi mọi lỗi lầm,
Xác định rõ ràng đối với sự giác ngộ hoàn toàn.
 
 Nguyện cho năm  loại thần thông
tương tục suốt khắp trong những kiếp sống
Nguyện cho tôi luôn luôn ở trong tất cả những phương cách mang
Sự giúp đở và hạnh phúc đến tất cả chúng sinh
 
Nguyện cho tôi luôn luôn không bị tổn hại
Đồng thời dừng lại
Những mong ước tạo tác các hành vị tệ hại
Của tất cả chúng sinh trong tất cả các thế giới.
 
Nguyện cho tôi luôn luôn là một đối tượng của hoan hỉ
Cho tất cả chúng sinh phù hợp với nguyện ước của họ
Và không bị trở ngại, như đất,
Nước, lửa, gió, thảo mộc, và rừng hoang sơ.
 
Nguyện cho tôi thân thiết với chúng sinh như đời sống của chính họ
Và nguyện thân thiết còn hơn thế đối với tôi.
Nguyện cho những hành vi tệ hại của họ trổ quả với tôi
Và tất cả những đạo đức của tôi trổ quả trong họ.
 
Cho đến khi còn bất cứ một chúng sinh nào
Bất cứ nơi nào chưa được giải thoát,
Nguyện tôi tiếp tục hiện hữu trong thế giới vì lợi ích của chúng sinh ấy
Mặc dù tôi đã đạt đến giác ngộ tối thượng.
 
Sau đó Long Thọ nói về giá trị của việc tiếp nhận những nguyện ước này vào trong tim:
 
Nếu công đức nói về điều này
Có hình sắc, nó sẽ không bao giờ chứa vừa
Trong những cõi của những thế giới
Nhiều như số cát trong sông Hằng
 
Đấng giác ngộ đã nói như thế,
Và lý do là điều này:
Công đức vô biên của nguyện ước
Cứu giúp vô lượng thế giới của chúng sinh
Thì giống như sự vô hạn của những chúng sinh ấy.
 
Bằng việc tiếp nhận những nguyện ước này từ trái tim, chúng ta cống hiến mục tiêu sâu xa nhất cho sự cát tường của người khác, do thế việc tích tập những năng lực tích cực rộng lớn như số lượng của chúng sinh bao hàm lãnh vực vị tha của chúng ta.
 
 
 
Nguyên tác: The Enormous of Altruism
Ẩn Tâm Lộ ngày 19-3-2012
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

tueuyen
  • Số bài : 512
  • Điểm: 2
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 25.09.2008
Re:RỘNG MỞ TỪ ÁI - 16.06.2013 01:32:41
0
HÀNH ĐỘNG VỚI TỪ ÁI VÀ BI MẪN
 
Tác giả:  Đức Đạt Lai Lạt Ma
Anh dịch: Jeffrey Hopkins
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
 
***
 
 
Không hy vọng với tưởng thưởng
Hãy dâng hiến sự cứu giúp đến người khác.
 
- LONG THỌ,  Tràng Hoa Quý Báu
 
 Với động cơ vị tha, mọi hành động tích tũy đức hạnh - năng lực vô biên của công đức thánh thiện.  Về bố thí hay từ thiện, Long Thọ đã nói trong Bức thư Thân Hữu:
 
Không có người bạn nào tốt hơn cho tương lai
Hơn là bố thí - ban cho tặng phẩm thích đáng
Đối với tu sĩ, giáo sĩ, người nghèo, và bạn hữu -
Biết những tài sản là chóng tàn phai và vô lực.
 
 
Ban cho với lòng vị tha có ý nghĩa rèn luyện từ chiều sâu của trái tim trong một thái độ rộng lượng chẳng hạn mà chúng ta không tìm cầu bất cứ một phần thưởng hay kết quả nào cho chính mình.  Hãy nghĩ về hành vi từ thiện và tất cả những lợi ích của nó như chỉ hướng đến lợi ích của người khác.  Mặc dù từ thiện có thể được tiến hành bởi những ai tìm kiếm lợi ích cho chính họ, chẳng hạn như ai đấy hiến tặng từ thiện nhằm để trở nên nổi tiếng, bố thí vị tha hoàn toàn không liên hệ đến lòng vị kỷ.  Do vậy, những tác động của hàn vị tha vô vị lợi, cả cho chính mình và cho người khác, thật là sâu rộng hơn chúng có thể trong trường hợp vị kỷ.  Trong cách này, rộng lượng bố thí giống như một người bạn cho chính mình và cho người khác trong tương lai.
 
Từ quan điểm của chính mình, sự vô thường của đời sống hiện tại sẽ bắt buộc chúng ta bỏ lại tất cả những tài sản lại phía sau, nhưng bằng việc ban phát nó, chúng ta có thể mang nó theo như nghiệp lành.  Như Long Thọ nói trong Tràng Hoa Quý Báu rằng:
 
Con đang sống giữa những nguyên nhân của cái chết
Giống như một chiếc đèn đứng trong làn gió hiu hiu
Phải buông trôi tất cả những sở hữu
Tại cái chết, bất lực, con phải đi đến nơi nào đấy
Nhưng tất cả đấy đã được sử dụng cho sự thực tập tâm linh
Sẽ đứng trước con như nghiệp lực lành
 
Nếu chúng ta sử dụng tài sản vì những mục tiêu lợi lạc, nghiệp quả lành mạnh được đem đến kiếp sống tới, nhưng nếu chúng ta bám lấy nó với luyến ái, tự nó sẽ làm cho sự thịnh vượng rời xa ta trong những kiếp sống tương lai.
 
Nếu con không thực hiện những cống hiến từ sự giàu sang
Đã đạt được từ sự bố thí khi xưa đến kẻ  nghèo khó,
Qua sự vô ơn và dính mắc
Con sẽ không đạt được những tài nguyên trong tương lai
 
Những ai mà đối với họ chúng ta thực hiện sự bố thí hiến tặng giống như những người công nhân mang nghiệp lành đến cho chúng ta trong những kiếp sống tương lai:
 
Ở đây trong thế giới những người công nhân không mang vác
Thực  phẩm dự trử cho một hành trình tự nguyện (không lương)
Nhưng những người hành khất nghèo nàn, không bị mua chuộc, sẽ mang đến đời sống tương lai của con.
Những gì con ban cho họ sẽ được nhân lên cả trăm lần.
 
Trong cách này, bố thí rộng lượng cũng giúp chúng ta trong ấy nó thu hoạch tài nguyên để sử dụng trong những kiếp sống tương lai.
 
Do thế, chỉ trong cung cách mà chúng ta tập trung trên những quan tâm xa hơn của chúng ta, hãy tự cống hiến để giúp đở người khác:
 
Giống như chúng ta hướng đến việc suy nghĩ
Về những gì có thể hoàn thành để giúp đở chính mình
Vì thế chúng ta nên hướng đến việc suy nghĩ
Về những gì có thể được hoàn tất để giúp đở người khác.
 
Hãy làm chính mình sẳn sàng vì người khác như một tài nguyên tự nhiên:
 
Nếu chỉ trong một niệm làm cho chính mình
Sẳn sàng cho sự sử dụng của người khác
Giống như đất, nước, lửa, gió và thuốc men,
Và những công viên cho sẳn sàng cho tất cả.
 
Phân tích mỗi hoàn cảnh để quyết định những gì sẽ hổ trợ.  Ngay cả thuốc độc được biết để chạm trán với những rắc rối nào đó:
 
Ngay cả cho thuốc độc
Đến những  người cần sự hổ trợ của nó
Nhưng không ban cho ngay cả thức ăn ngon lành
Đến những ai mà nó chẳng giúp gì
Đức Phật đã nói rằng nếu nó giúp ích người khác
Chúng ta ngay cả nên đem đến sự bất an tạm thời.
 
 
TỪ ÁI VÀ CHÍNH TRỊ
 
Từ ái và bi mẫn nên là căn bản của chính trị.  Chúng làm cho một chính trị gia được yêu mến mà không nhất thiết là một người yếu đuối.
 
Những lãnh tụ mà bản chất là rộng lượng
Giống như, nếu không nói, là họ mạnh mẽ
Như một sự ngọt ngào được làm cho cứng rắn bên ngoài
Với bạch đậu khấu và ớt.
 
Những con chim của dân chúng sẽ đậu trên
Cây cối hoàng gia cung ứng bóng râm nhẫn nhục
Rộ nở bông hoa tôn kính,
Và những quả trái to lớn lộng lẩy của bố thí.
 
Thông điệp là những chính trị gia nên luôn luôn rộng mở trái tim:
 
Luôn luôn với tâm tán dương
Và lấy làm hoan  hỉ trong những hành vi tán dương.
Từ hành động tán dương sinh khởi
Tất cả những hệ quả được tán dương
 
Long Thọ kêu gọi những lãnh tụ chính trị để cung cấp nhiều loại giúp đở công cộng:
 
Luôn luôn chăm sóc một cách bi mẫn
Cho người bệnh, không ai bảo vệ, những ai khốn đốn
Với khổ đau, người thấp kém, và người nghèo khó
Và hãy chăm sóc đặc biệt để nuôi dưỡng họ.
 
Hãy cung cấp sự chăm nom rộng rãi
Cho những kẻ bị ngược đãi, những nạn nhân thất bát mùa màng
Những kẻ khốn đốn, những ai đau khổ vì bệnh truyền nhiễm
Và cho những ai trong những vùng bị chinh phục.
 
Hãy làm cho những người mù lòa, bện tật, thấp hèn,
Không ai bảo vệ, nghèo túng cơ cực,
và những người tàn tật đạt đến một cách bình đẳng
Thực phẩm, thức uống không bị gián đoạn.
 
Nhằm để làm nhẹ nổi khổ đau
Của chúng sinh - già, trẻ, yếu đuối -
Chúng ta nên xây dựng qua những tài nguyên mà chúng ta kiểm soát
Các bác sĩ và người làm công tác sức khỏe khắp xứ sở chúng ta
Bố thí một cách yêu mến cho những người hành khất
Những áo quần đa dạng và lộng lẫy,
Đồ trang điểm, và nước dầu thơm,
Những tràng hoa, và sự vui sướng.
 
Những tù nhân được đối xử với từ ái yêu thương, ngay cả khi trừng phạt:
 
Giống như những đứa trẻ kém cỏi bị trừng phạt
Với  mong ước làm cho chúng được đầy đủ trình độ
Vì thế trừng phạt nên được thi hành với bi mẫn
Không phải thù ghét cũng không khao khát giàu sang.
 
Ngay cả những ai được xét xử công bằng
Bị giam cầm, trừng phạt, v.v...
Chúng ta, đẩm ướt với bi mẫn
Nên luôn luôn chăm sóc.
 
Qua bi mẫn chúng ta nên
Luôn luôn phát sinh chỉ một thái độ vị tha
Ngay cả cho những con người
Đã vi phạm những hành vi tệ hại vô cùng.
 
Đặc biệt phát sinh lòng bi mẫn
Cho những ai mà hành động tệ hại của họ là kinh khủng, những sự giết người
Những người mà bản chất thất bại là những chỗ chứa
Của bi mẫn từ những ai mà bản chất của họ là hào hiệp cao thượng
 
Hãy trả tự do cho những tù nhân yếu đuối
Sau một ngày hay năm ngày
Đừng nghĩ về những người khác
không được trả tự do dưới bất cứ điều kiện nào.
 
Khi mà những tù nhân không được thả ra
Họ nên được làm cho thoải mãi
Với thợ hớt tóc, tắm rửa, đồ ăn, thức uống,
Thuốc men và áo quần.
 
Một khi chúng ta đã phân tích và nhận ra một cách cùng khắp
Những kẻ giết người sân hận
Đày họ đi
Mà không giết hại hay tra tấn họ.
 
Cung cấp trường học là quan trọng đặc biệt:
 
Như những phương pháp để gia tăng tuệ trí
Bất cứ nơi nào có trường học trên mặt đất
Cung cấp cho sinh kế của giáo viên
Và cung ứng đất đai cho họ để dự phòng thực phẩm.
 
 
NHỮNG LOẠI BỐ THÍ
 
Những loại "bố thí" này liên hệ đến một thái độ rộng lượng cũng như những hành vi thân thể và lời nói được thúc đẩy bởi lòng rộng lượng.  Sự bố thí vị tha đòi hỏi việc từ bỏ tất cả tính keo kiệt, chỉ quan tâm với làm nhẹ bớt sự khốn khó của người khác, và không quan tâm về việc gặt hái bất cứ thứ gì cho mình qua việc làm này.  Nếu chúng ta tìm kiếm lợi lạc cho mình từ một hành vi từ thiện trong tương lai, nó sẽ giống như một hành động cho vay với lời lãi.  Tốt hơn, chỉ hãy cống hiến đến người khác, thay vì tìm kiếm những nghiệp quả thích ứng thật sự tích lũy lại cho ta.  Việc thực hành rộng lượng bố thí kêu gọi phát triển lòng tự nguyện ban cho tất cả tài sản.
 
Bố thí có ba loại:
 
1- Tài thí: cung hiến những thứ vật chất chẳng hạn như tiền bạc, áo quần, và thực phẩm; thực hiện những tặng phẩm cho người nghèo khó và người bệnh tật, cùng những hiến tặng cho giáo dục và những dự trử của việc chăm sóc y tế.
 
2- Pháp thí: cung ứng những giáo huấn rõ ràng về những sự thực tập tâm linh cũng như về những loại sinh kế trần gian thích đáng, chẳng hạn như trong việc trở thành người thực hành y thuật, và ban cho lòng nhiệt tình để đảm đương thái độ đạo đức.
 
3- Vô úy thí: ban cho sự thư thái khỏi những hoàn cảnh sợ hãi bằng việc bảo vệ con người khỏi bị trộm cướp, chính quyền bất công, thú vật hung dữ, bảo lụt, lửa cháy, v.v... Điều này bao gồm việc bảo vệ súc vật; ngay cả việc giúp một con côn trùng khỏi một vũng nước.
 
 
Mặc dù khó khăn, thật quan trọng để tưởng tượng việc ban cho những nghiệp lành của chính chúng ta, là điều giống như gốc rể cho sinh khởi những hoàn cảnh thuận lợi trong tương lai.  Bằng việc có một cảm giác mạnh mẽ trong việc cống hiến những gốc rể đạo đức đến người khác, chúng ta sẽ không còn tìm kiếm bất cứ phần thưởng nào cho chính mình.  Phần thường, do đó, sẽ to lớn hơn chúng ta có thể tưởng tượng rất nhiều.
 
Thiền Quán
 
1- Hãy tưởng tượng nhiều người khốn khó, bần cùng trong nhiều cách, trước mặt mình.
 
2- Hãy tưởng tượng nhiều loại thức ăn, áo quần, chổ ở, và v.v... mà những người ấy cần đến, và ban bố những thứ này cho họ.
 
 
Nếu chúng ta thi hành kỷ năng này thường xuyên, tâm chúng ta sẽ trở nên thấm đẩm một cách sâu sắc với một thái độ rộng lượng.
 
 
KHUYẾN TẤN CUỐI CÙNG CỦA TÔI
 
Từ ái và bi mẫn là quan trọng nhất, quý báu nhất, năng lực nhất, và thánh thiện  nhất.  Thực hàn những điều này lợi ích không chỉ trong dạng thức của một tôn giáo thật sự mà cũng trong đời sống thế gian cho cả sức khỏe tinh thần và thân thể.  Chúng là những yếu tố hổ trợ đời sống và hạnh phúc.  Với việc thực hành, chúng trở nên hiệu quả và lợi lạc đưa đến những năng lực cho cuộc sống.
 
 
***
 
 
Nguyên tác:  Acting with love trích từ quyển How to Expand Love
Ẩn Tâm Lộ : loạt bài này bắt đầu dịch từ 22-9-2011 đến hôm nay ngày 20-3-2012 là dịch xong!
 
 
 
 VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ & DỊCH GIẢ  
 
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA sinh ngày sáu tháng Bảy, năm 1935, trong một gia đình nông dân nghèo vùng Đông Bắc Tây Tạng.  Vào năm hai tuổi, ngài được xác nhận là Đạt Lai Lạt Ma, lĩnh tụ tâm linh và thế tục của Tây Tạng, thứ mười bốn trong một sự kế tục trãi dài từ sáu trăm năm trước.  Vào năm sáu tuổi, ngài đã bắt đầu sự rèn luyện kéo dài cả đời người như một tu sĩ Phật Giáo.  Từ năm 1959, ngài đã sống lưu vong khỏi Tây Tạng ở Dharamsala, Ấn Độ.   Nổ lực không mệt mõi của ngài vì quyền con người, hòa bình thế giới, và giá trị căn bản của loài người đã đưa ngài đến tầm vóc quốc tế.  Ngài là người nhận nhiều sự vinh danh và phần thưởng, trong ấy có giải Nobel Hòa Bình năm 1989 và Huân Chương Vàng Quốc Hội Hoa Kỳ.
 
Khi được hỏi về vai trò của ngài trong đời sống, Đức Đạt Lai Lạt Ma thường liên hệ chính ngài như một "thầy tu giản dị".  Nhiều người khác xem ngài là một trong những lãnh tụ tâm linh nổi tiếng nhất của thời đại chúng ta và một trong những học giả và đạo sư Phật Giáo hàng đầu của thế giới.  Trong phạm vi những cuộc du hành rộng rãi,  ngài cũng nói cũng biện hộ cho chí nguyện của ngài trong đời sống.  Thứ nhất, ngài nguyện cố gắng để thúc đẩy cho những giá trị căn bản của con người, hay những gì ngài thường liên hệ như những "đạo đức thế tục".  Thứ hai, ngài nguyện thúc đẩy hòa hiệp và thông hiểu trong những truyền thống tôn giáo quan trọng của thế giới.  Và thứ ba, ngài nguyện đối với "vấn đề Tây Tạng", dâng  hiến đến những lợi ích của đồng bào Tây Tạng, hành động như một phát ngôn viên trong sự đấu tranh của họ vì nhân quyền, sự tự trị, và tự do rộng rãi hơn.  Bất cứ nơi nào ngài đến, Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài đã biểu hiện một sự cởi mở chân thành đến thính chúng cho lòng ân cần từ tế, từ bi, bao dung và trách nhiệm phổ quát.
 
VÀI NÉT VỀ JEFFREY HOPKINS
 
Jeffrey Hopkins, sinh năm 1940,  là một nhà Tây Tạng học lỗi lạc của Hoa Kỳ, giáo sư Danh dự của môn Tây Tạng và Phật Học tại Đại học Virginia, nơi ông đã dạy học hơn ba thập niên từ năm 1972.  Ông nhận bằng cử nhân (B.A) Tối Ưu tại Đại học Havard năm 1963.  Tu tập năm năm tại Tu viện Phật Giáo Lạt Ma Hoa Kỳ tại Freewood Acres, New Jersey, USA (hiện nay là the Tibetan Buddhist Learning Center in Washington, New Jersey ) và nhận bằng Tiến sĩ (Ph. D.) về Phật Học tại Đại học Wisconsin năm 1973.  Tại Đại học Virginia, ông tổ chức những chương trình về nghiên cứu Phật Học và Tây Tạng và phục vụ như Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nam Á trong mười hai năm. Ông là tác giả của hơn hai mươi quyển sách về Đạo Phật Tây Tạng, cùng với quyển Ảnh Hưởng Cao Độ của Thiền Quán Tính Không, xuất hiện năm 1983, cống hiến một sự trình bày tiên phong về tư tưởng của trường phái Hệ Quả Trung Đạo của tông Hiền Nhân (Gelugpa).  Từ năm 1979 đến năm 1989, ông là trưởng ban thông dịch thuyết giảng sang Anh văn của Đức Đạt Lai Lạt Ma và đóng một vai trò nổi bật trong phong trào Tự Do cho Tây Tạng.  Năm 2006, ông phát hành dịch phẩm Anh văn, một công trình quan trọng của Jonangpa lama, Dolpopa  về Phật tính và tính không, gọi là Giáo Huấn Trên Núi.
 
VÀI NÉT VỀ TUỆ UYỂN
 
 
 
SÁCH DO TUỆ UYỂN CHUYỂN NGỮ
 
1-      Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo Giác Ngộ Luận Giải - Đức Đạt Lai Lạt Ma – nhà xuất bản Hồng Đức
2-      Bản chất của hạnh phúc - Đức Đạt Lai Lạt Ma & Howard Cutler - in chung với quyển Nghệ Thuật Hạnh Phúc trong Thế Giới Phiền Não - nhà xuất bản Hồng Đức
3-      Bừng Sáng Con Đường Giác Ngộ, His Holiness the Dalai Lama – 
4-      Tâm an bình tĩnh lặng – Lama Thubten Yeshe - đã dịch xong
5-      Câu chuyện một giấc mơ – tác giả Paolo Ceoho – Sách truyện - đã dịch xong
6-      Con Đường Đến Tĩnh Lặng, HH. the Dalai Lama - Tuệ Uyển chuyển ngữ  - nhà xuất bản Phương Đông
7-      Làm thế nào để thấy mình thật sự - Đức Đạt Lai Lạt Ma - Sách - (dịch xong 4-2012)
8-      Nghệ thuật của hạnh phúc trong thế giới phiền não Đức Đạt Lai Lạt Ma & Howard Cutler - nhà xuất bản Hồng Đức
9-      Nghệ thuật sống - Đức Đạt Lai Lạt Ma - ( dịch xong ngày 23-9-2011)
10-    Con đường dẫn đến an bình chân thật - Đức Đạt Lai Lạt Ma - ( dịch xong ngày  25/09/2011)
11-    Rộng mở từ ái - Đức Đạt Lai Lạt Ma - Sách - (dịch xong ngày 20-3-2012)
12-    Tinh Thần Tuệ Giác Văn Thù  - Đức Đạt Lai Lạt Ma - Tuệ Uyển chuyển ngữ - Sách -nhà xuất bản Phương Đông
13-    Tổng quan về những con đường của Phật Giáo Tây Tạng - Đức Đạt Lai Lạt Ma  -  Sách - in chung với quyển Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo Giác Ngộ
 
 
 
Nắng, mưa là chuyện của trời,
Vui, buồn là chuyện của người trần gian!
Cùng nhau xây cõi địa đàng,
Xua tan sầu khổ, niết bàn là đây!

Ct.Ly