Mắt bị cườm (Cataract)

Tác giả Bài
Ct.Ly

  • Số bài : 22441
  • Điểm thưởng : 0
  • Trạng thái: offline
Mắt bị cườm (Cataract) 21.05.2015 03:37:20 (permalink)

B.S. Trương Vĩnh Toàn
]Mắt bị cườm (Cataract) là nguyên nhân gây mù lòa nhiều nhất. Hiện thế giới có khoảng 30 triệu người không may mù lòa, trong đó 15 triệu trường hợp là do mắt cườm. Hàng năm, bệnh mắt cườm khiến chương trình Medicare dành cho người già ở Mỹ tốn nhiều tỉ mỹ-kim.
Thỉnh thoảng, có người dùng chữ “mắt kéo mây” để chỉ bệnh mắt cườm, nhưng chữ “kéo mây” hay làm ta nghĩ đến bệnh “mộng thịt ở mắt” (pterygium). Tốt hơn, nên dùng chữ “mắt cườm” để chỉ loại bệnh mắt có tên tiếng Anh là “cataract”, cho rõ ràng, không sợ nhầm lẫn. (Chữ “cataract” từ chữ La-tinh “catarractes”, có nghĩa “thác nước”: nhìn bằng mắt thường từ ngoài vào, thủy tinh thể người có mắt cườm nặng trông như những dòng nước cuồn cuộn của một thác nước đang chảy.)
Không mấy người chúng ta thực sự hiểu bệnh mắt cườm là gì.


Mắt cườm là gì?

Mắt giống y một máy ảnh, loại tự động điều chỉnh (auto focus). Ngay phía đằng trước máy ảnh có một ống kính, giúp thu các hình ảnh bên ngoài ta muốn chụp. Trong mắt cũng có một bộ phận nằm phía trước gọi là thủy tinh thể (lens), giống như ống kính của máy ảnh. Thủy tinh thể có nhiệm vụ điều chỉnh ánh sáng và các hình ảnh bên ngoài cho rõ, rồi rọi chiếu chúng lên trên võng mạc (retina, màn ảnh nằm phía sau mắt, ví như phim của máy ảnh), giúp ta trông thấy mọi vật bên ngoài được rõ ràng.

Mắt cườm do sự mờ đục của thủy tinh thể. Giống như trong một máy ảnh mua với giá tiết kiệm, dùng lâu, ống kính đục dần, hết còn trong như ngày đầu ta mới đem máy về.
 
Nhìn thế giới sinh động bên ngoài qua một mắt bị cườm chẳng khác gì ta từ trong nhà nhìn ra bên ngoài qua một kính cửa sổ dơ, lâu ngày chưa lau. Hoặc, như ta nhìn gió thu nhè nhẹ lay động cây cành trong vườn qua một cửa kính mù sương thu.

 
]Như vậy, qua một thủy tinh thể đục do cườm, mọi vật ta nhìn thấy nhòa đi, không rõ nét. Đã thế, khi ta nhìn thẳng vào ánh mặt trời hoặc ánh đèn xe, thị giác càng kém hơn do mắt bị chóa. Nhiều vị không còn lái xe ban đêm, nhận ra các bảng chỉ dẫn bên đường, hoặc đọc những hàng chữ nhỏ trên báo chí được nữa.

Nguyên nhân

]Những nguyên nhân được biết hay tạo ra cườm mắt: chấn thương mắt (trauma), chất phóng xạ (radiation), các bệnh gây viêm mắt (inflammation), những bệnh biến dưỡng và dinh dưỡng (metabolic and nutritional diseases), chẳng hạn như bệnh tiểu đường, sự suy dinh dưỡng.
]Ngoài ra, một số yếu tố cũng khiến ta dễ bị bệnh mắt cườm:

- Tuổi tác: trên 60 tuổi.
- Thuốc lá.
- Rượu.
- Tiếp xúc nhiều với ánh sáng mặt trời.
- Có học vấn thấp.
- Dùng các thuốc steroids (như Prednisone) dài lâu.


Không ai chống lại được thời gian, trẻ mãi không già, song chúng ta có thể bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, tránh ra nắng nhiều.
 
Chữa trị

]Bạn còn nhớ, ngày bạn lái chiếc xe mới toanh vừa cắt chỉ ra khỏi “dealer” bán xe, lòng sảng khoái, mũi ngửi mùi xe mới, và qua kính xe trong suốt, mắt bạn nhìn lên bầu trời không gợn bóng mây, nhìn ra bên ngoài cuộc đời ôi sao mà tươi đẹp.

Rồi thấm thoát đã năm bảy năm trôi qua, kể từ ngày bạn sung sướng làm chủ chiếc xe đầu tiên trong đời. Nào ai ngăn cản được sự tàn phá của thời gian. Kính xe bạn không còn trong suốt như trước, nhiều chỗ đã vẩn đục. Nhưng thôi kệ, kính xe hơi mờ chút, song vẫn còn dùng được. Bạn chỉ nhờ chuyên viên thay kính xe thay nó đi, lắp cái mới vào, nếu nó đã tệ quá, khiến việc lái xe của bạn trở thành nguy hiểm.

Ta đã biết, riêng thời gian cũng có thể tạo những thay đổi đưa đến cườm mắt, như đã làm vẩn đục kính xe của bạn. Việc này không khiến ta phải quan tâm cho lắm. Những thay đổi đầu tiên như vậy thường không gây triệu chứng gì cả, tuy được nhận ra bởi bác sĩ chuyên khoa Mắt khi bạn đến khám mắt. Bị chút cườm mắt không có nghĩa là cườm phải được chữa ngay và mổ lấy ra cho bằng được, khi chưa có triệu chứng.
 
Vậy, khi nào mới phải mổ? Nên giải phẫu, mổ lấy cườm ra khi thị giác ta đã bị kém và mắt ta bị chóa nhiều vì cườm, đeo kính cũng chẳng khá hơn, khiến những việc như lái xe, làm việc, đọc sách trở thành khó khăn.
 
Tiếc thay, vì mổ chữa cườm mắt là một phẫu thuật được trả tiền khá cao, nên một số bác sĩ chuyên khoa Mắt đề nghị mổ cườm sớm quá. Thủy tinh thể của nhiều người được mổ lấy ra, khi mắt người bệnh vẫn còn thấy rõ 20/20 (thị giác bình thường), chưa kém tí nào. Làm như vậy, quả đã khiến người bệnh có thể phải chịu những rủi ro của mổ xẻ một cách không cần thiết. Nhiều người bệnh được khuyên nên mổ cườm sớm, để lâu mổ sẽ khó hơn hoặc với nhiều nguy hiểm hơn. Cách giải thích này không vững.


Thời gian gần đây, có rất nhiều tiến bộ trong phẫu thuật mổ cườm, khiến các rủi ro trong lúc mổ, các biến chứng do giải phẫu ít xảy ra hơn trước, đồng thời thị giác cũng trở lại bình thường mau hơn.

Ngày nay ở Mỹ, giải phẫu cườm mắt đã trở thành một nghệ thuật, không làm đau người được mổ. Giải phẫu cườm mắt thực hiện chỉ trong vòng 30 đến 60 phút. Trong suốt cuộc mổ, người bệnh vẫn tỉnh táo, và sau đó ra về trong ngày, không phải ở lại bệnh viện.

100 người mổ, đến 95 người sau khi mổ, thị giác sẽ trở lại rất tốt. Số người còn lại, mổ xong vẫn không trông rõ nhiều, là vì bị thêm các bệnh của võng mạc (retinal diseases), hoặc vì các biến chứng do giải phẫu (nhiễm trùng, tróc võng mạc, thủy tinh giả đặt vào bị lệch, v.v.).

 
Đã qua rồi những ngày trước, khi mổ cườm, có thể nói, mắt bị tách hẳn làm hai mảnh để cố lấy cườm ra. Nay, phẫu thuật được làm qua những vết rạch nhỏ xíu. Dưới kính phóng đại cực mạnh, bác sĩ dùng một dụng cụ siêu âm đặc biệt để thực hiện cuộc giải phẫu. Sau khi thủy tinh thể bị cườm được lấy ra, một thủy tinh thể nhân tạo được đặt vào mắt để thay thế cho cái cũ. Chúng ta cứ để nó ở đấy suốt đời.

Ngay buổi tối hôm giải phẫu, người mổ cườm đã có thể hoạt động bình thường trở lại, đọc sách, đi bộ, ăn uống, xem truyền hình, và đa số đi làm lại sau một tuần.

Người mổ cườm thường sẽ nhìn rõ, không phải đeo kính sau mổ. Một số vị cần đeo kính để lái xe đêm hoặc đọc sách.
 
Không mổ thì sao?

Còn không mổ thì sao, một khi mắt bị cườm nặng đến độ khiến ta không còn nhìn được rõ? Người bị cườm, vì mắt kém, có thể gây tai nạn lúc lái xe, gẫy xương do té ngã, không muốn đi đến đâu, chẳng muốn giao thiệp với ai (social isolation) và mất đi sự tự lập, phải trông nhờ vào người khác trong cuộc sống hàng ngày. Nhiều vị người nhà cho rằng đã lẫn, nhưng sau khi mổ cườm mắt, tinh thần các vị lại khá hơn, bớt cả lẫn.

Rõ ràng, mắt bị cườm khiến cuộc đời ta mất nhiều thi vị.
 
Tóm lại, mắt kém ở người có tuổi thường vì thủy tinh thể trong mắt đục, ta gọi là mắt bị cườm. Giải phẫu chữa cườm cần đến khi cuộc sống của ta bắt đầu mất vui do cườm làm thị giác ta kém nhiều. Hầu hết người được mổ chữa cườm, kể cả những vị mang bệnh tiểu đường, mắt lại sáng, và rất hài lòng sau khi giải phẫu. 

<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.05.2015 03:41:14 bởi Ct.Ly >




 
#1
    Ct.Ly

    • Số bài : 22441
    • Điểm thưởng : 0
    • Trạng thái: offline
    Re:Mắt bị cườm (Cataract) 21.05.2015 04:05:48 (permalink)

    Thông tin này dành cho các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể và gia đình hiểu rõ hơn về bệnh đục thủy tinh thể, gồm các phần: triệu chứng, chẩn đoán và điều trị.
    Đục thủy tinh thể hay còn gọi là cườm khô, cườm đá: là mờ đục thủy tinh thể trong mắt, gây ra những rối loạn thị giác. Nguyên nhân thường gặp nhất là do lão hóa. Trong giai đoạn đầu, người bệnh có thể đeo kính hỗ trợ, với nguồn chiếu sáng tốt để làm giảm những rối loạn thị giác do đục thủy tinh thể.  Nhưng nếu đục thủy tinh thể nhiều, các biện pháp trên không còn tác dụng, bệnh nhân cần được phẫu thuật để cải thiện thị lực. Hiện nay, với trang thiêt bị hiện đại, phẫu thuật đục thủy tinh thể rất an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, cũng đến lúc phải phẫu thuật để cải thiện thị lực. Hiện nay phẫu thuật thủy tinh thể an toàn và rất hiệu quả.
    Thủy tinh thể là gì?
    Thủy tinh thể là cấu trúc trong mắt có chức năng như một thấu kính giúp hội tụ ánh sáng trên võng mạc. Võng mạc là lớp nhận cảm ánh sáng và gởi tín hiệu thị giác lên não. Ở mắt bình thường, ánh sáng đi xuyên qua thủy tinh thể và hội tụ trên võng mạc. Thủy tinh thể phải trong suốt để tạo ảnh rõ nét.
     
    Đục thủy tinh thể là gì?
    Thủy tinh thể được cấu tạo chủ yếu là nước và protein. Các protein được sắp xếp trật tự để cho ánh sáng xuyên qua và hội tụ trên võng mạc. Một số trường hợp protein tập trung thành đám, làm ánh sáng đi qua bị tán xạ, tạo ra những vùng mờ đục trong thủy tinh thể cản ánh sáng đến võng mạc và giảm thị lực. Tình trạng này gọi là đục thủy tinh thể.
     
    Đục thủy tinh thể ở giai đoạn đầu có thể không gây triệu chứng gì vì chỉ một phần nhỏ của thủy tinh thể bị đục. Tuy nhiên dần dần thủy tinh thể đục ngày càng nhiều và bệnh nhân nhìn mờ hơn vì giảm ánh sáng đến võng mạc. Dù nhiều người bị đục thủy tinh thể cả hai mắt nhưng bệnh không lây từ mắt này qua mắt kia.
    Người ta vẫn đang nghiên cứu thêm về đục thủy tinh thể nhưng nguyên nhân đục vẫn chưa rõ. Các nhà khoa học cho rằng các yếu tố thuận lợi dẫn đến bệnh đục thủy tinh thể có thể là hút thuốc, tiểu đường (còn gọi là đái tháo đường), môi trường sống quá nhiều nắng.
    Tình hình đục thủy tinh thể tại Việt Nam:
    Đục thủy tinh thể là một trong những nguyên nhân gây mù chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới cũng như tại Việt Nam nếu không được phẫu thuật sẽ dẫn đến mù hoàn toàn làm tăng gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội. Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2007 có khoảng 251.700 người mù do đục thủy tinh thể  TTT. 373.000 mù 2 mắt do đục thuỷ tinh thể có thị lực dưới 1/10. Hiện có hơn 700.000 mắt cần phẫu thuật. Số người mắc bệnh mới hàng năm khoảng 85.000 ca 2 mắt (1% dân số) và 85.000 ca 1 mắt. Năm 2009 cả nước đã phẫu thuật 132.419 ca đục thủy tinh thể lĩnh vực y tế công, trong đó phẫu thuật phaco 39.537 ca (29.9%).
     
    Triệu chứng bệnh như thế nào?
    Những triệu chứng thường gặp nhất là:
    - Nhìn mờ
    - Cảm giác chói mắt khi nhìn ánh sáng: ban đêm thấy đèn pha quá sáng, chói mắt khi nhìn đèn hoặc ánh sáng mặt trời mạnh, hoặc thấy quầng sáng quanh đèn.
    - Màu có vẻ nhạt hơn.
    - Ban đêm thị giác kém hơn.
    - Nhìn một hình thành hai hoặc nhiều hình.
    - Độ kính đang đeo thay đổi thường xuyên.
     
    Những triệu chứng này có thể cũng là dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác tại mắt.  Nếu bệnh nhân có những triệu chứng này thì nên đến bác sĩ mắt để được khám và tư vấn.
     
    Khi đục thủy tinh thể ít, có thể người bệnh không nhận ra thị lực có thay đổi hay không. Nhưng đục tiến triển từ từ thì thị lực kém dần. Một số người có đục thủy tinh thể nhận thấy rằng thị lực nhìn gần/ đọc sách trở nên tốt hơn, nhưng chỉ là tạm thời. Thị lực sẽ giảm khi đục thủy tinh thể phát triển  nhiều hơn.
     
    Đục thủy tinh thể có các loại nào?
    - Đục thủy tinh thể do lão hóa: phần lớn các đục thủy tinh thể do tuổi già.
    - Đục thủy tinh thể bẩm sinh
    - Đục thủy tinh thể thứ phát: phát triển ở những người có một số bệnh, ví dụ tiểu đường. Đục thủy tinh thể có thể do dùng thuốc steroid kéo dài.
    - Đục thủy tinh thể chấn thương.
     
    Làm thế nào để phát hiện đục thủy tinh thể?
    Để phát hiện đục thủy tinh thể cần phải khám mắt toàn diện, gồm các bước sau:
    - Đo thị lực bằng bảng thị lực.
    - Khám mắt với đồng tử dãn: dùng thuốc nhỏ để dãn đồng tử cho phép bác sĩ khám kỹ thủy tinh thể và võng mạc, đồng thời kiểm tra mắt có bệnh khác không.
    - Đo nhãn áp: đo thường qui để kiểm tra áp lực trong mắt, nếu nhãn áp tăng có thể là dấu hiệu bệnh glô-côm (cườm nước).
    Và một số xét nghiệm khác nếu cần để khảo sát cấu trúc và bệnh của mắt có thể đi kèm.
     
    Điều trị đục thủy tinh thể như thế nào?
    Đối với đục thủy tinh thể giai đoạn sớm, có thể cho đeo kính, dùng kính lúp hoặc chiếu sáng tốt khi làm việc. Nếu những biện pháp này không có tác dụng thì chỉ có phẫu thuật là cách điều trị hiệu quả nhất. Phẫu thuật sẽ lấy thủy tinh thể bị đục và đặt một thấu kính để thay thế thủy tinh thể.
     
    Phẫu thuật được chỉ định khi đục thủy tinh thể gây giảm thị lực cản trở sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như lái xe, đọc sách hoặc xem ti vi. Bệnh nhân và bác sĩ  cùng quyết định thời điểm phẫu thuật. Trong đa số trường hợp có thể trì hoãn phẫu thuật cho đến khi tư tưởng đã sẵn sàng. Nếu bạn bị đục thủy tinh thể cả hai mắt, bác sĩ cũng không phẫu thuật hai mắt cùng lúc mà mỗi mắt sẽ được phẫu thuật ở hai thời điểm khác nhau. Nếu hai mắt bị ảnh hưởng nhiều thì hai phẫu thuật có thể được tiến hành cách nhau 2 – 4 tuần.
    Một số trường hợp có thể lấy thủy tinh thể khi chưa gây giảm thị lực nhưng lại cản trở việc khám và điều trị các bệnh mắt khác, chẳng hạn bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già hoặc bệnh võng mạc tiểu đường.
     
    Phẫu thuật lấy thủy tinh thể có hiệu quả không?
    Hiện nay phẫu thuật lấy thủy tinh thể là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất của chuyên khoa Mắt. Đây cũng là một trong những phẫu thuật an toàn nhất và cho kết quả rất tốt. Với kỹ thuật tiên tiến và trang thiết bị hiện đại 90% trường hợp sau phẫu thuật lấy thủy tinh thể cho thị lực tốt.
     
    Lấy thủy tinh thể được thực hiện như thế nào?
    Chủ yếu có hai cách lấy thủy tinh thể. Bác sĩ sẽ giải thích cụ thể hai cách phẫu thuật khác nhau như thế nào và giúp bạn quyết định cách tốt nhất:
     
    - Phương pháp nhũ tương hóa thủy tinh thể hay phaco: Tạo một đường rạch nhỏ ở một bên giác mạc (giác mạc là cái vòm trong suốt che phủ phía trước tròng đen). Sau đó đưa một thiết bị nhỏ vào mắt. Thiết bị này phát ra sóng siêu âm làm thủy tinh thể mềm và phân thành những mảnh nhỏ, do đó có thể hút ra. Hiện nay hầu hết phẫu thuật lấy thủy tinh thể được thực hiện bằng phương pháp phaco, còn gọi là phẫu thuật đường rạch nhỏ.
     
    - Phương pháp lấy thủy tinh thể ngoài bao: Tạo một đường rạch dài hơn ở một phía giác mạc và lấy phần nhân cứng thủy tinh thể ra. Sau đó hút phần còn sót lại.
     
    Sau khi lấy thủy tinh thể, bác sĩ sẽ đặt một kính nội nhãn thay vào vị trí của thủy tinh thể. Kính nội nhãn là một thấu kính nhân tạo trong suốt, sẽ là một phần của mắt bạn suốt đời nhưng bạn không cần phải chăm sóc cho nó. Thị lực của bạn sẽ cải thiện tốt với kính nội nhãn vì ánh sáng xuyên qua nó đến võng mạc. Nhưng bạn cũng không cảm thấy hoặc nhìn thấy thấu kính mới này.
     
    Một số trường hợp không thể đặt kính nội nhãn vì đang có bệnh mắt khác hoặc có tai biến khi phẫu thuật. Trường hợp này có thể đeo kính sát tròng hoặc đeo kính gọng sau mổ.
     
    Các loại kính nội nhãn (thủy tinh thể nhân tạo):
    Hiện nay có nhiều loại kính nội nhãn (thủy tinh thể nhân tạo) đặt vào trong mắt sau phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể như
    - Kính nội nhãn đơn tiêu (giúp mắt nhìn rõ một cự ly nhất định)
    - Kính nội nhãn đa tiêu (giúp mắt nhìn rõ cả cự ly xa và gần)
    - Kính nội nhãn toric (giúp điều chỉnh loạn thị của mắt bệnh nhân).
     
    Tuỳ theo tình trạng mắt, tính chất nghề nghiệp, khả năng tài chính của bệnh nhân, Bác sỹ sẽ tư vấn để đặt kính nội nhãn thích hợp giúp hồi phục thị lực cho người bệnh một cách tốt nhất.
     
    Cần làm gì trước phẫu thuật?
    Trước phẫu thuật, bác sĩ sẽ làm một số xét nghiệm. Những xét nghiệm này bao gồm đo độ cong giác mạc, kích thước và hình dạng nhãn cầu để chọn loại kính nội nhãn thích hợp, xét nghiệm máu (người bệnh nhịn ăn sáng) và khám nội khoa để đảm bảo thể trạng người bệnh cho phép tiến hành phẫu thuật.
     
    Chuyện gì xảy ra trong khi phẫu thuật?
    Khi vào bệnh viện, bạn được nhỏ thuốc dãn đồng tử, thuốc rửa mắt.
    Cuộc phẫu thuật kéo dài không quá 30 phút và hầu như không đau. Hầu hết bệnh nhân được vô cảm tại chỗ (nhỏ thuốc tê và / hoặc tiêm tê) để làm mất cảm giác đau. Do đó bệnh nhân vẫn tỉnh táo trong suốt quá trình phẫu thuật.
    Sau phẫu thuật, bệnh nhân được băng mắt và nằm nghỉ. Bác sĩ khám và theo dõi có biến chứng sau phẫu thuật không. Hầu hết bệnh nhân có thể về ngay trong ngày. Bệnh nhân không tự lái xe được ngay nên cần có người thân đi kèm.
     
    Chuyện gì xảy ra sau phẫu thuật?
    Sau phẫu thuật bệnh nhân thường có cảm giác ngứa và xốn nhẹ một thời gian ngắn. Cũng có thể chảy nước mắt, mắt cảm thấy chói sáng và nhạy đau. Nếu mắt khó chịu, có thể dùng thuốc giảm đau mỗi 4-6 giờ. Sau 1-2 ngày mắt sẽ hết đau. Đa số trường hợp mắt sẽ lành trong khoảng 6 tuần.
    Bác sĩ sẽ cho bệnh nhân biết lịch tái khám định kỳ sau phẫu thuật. Những ngày đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân dùng thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc uống để mắt lành và ổn định nhãn áp. Bạn nên hỏi bác sĩ về cách sử dụng thuốc như thế nào, khi nào uống, và có thể có tác dụng phụ gì. Bệnh nhân cũng cần đeo kính bảo vệ mắt. Tránh dụi hoặc ấn lên mắt.
    Biến chứng sau phẫu thuật đục thủy tinh thể rất hiếm. Biến chứng có thể là nhiễm trùng, chảy máu, viêm (mắt đau, đỏ, sưng), giảm thị lực, hoặc thấy chớp sáng. Nếu phát hiện kịp thời thì có thể điều trị thành công những biến chứng này.
    Không nên khom cúi hoặc xách vật nặng. Khom cúi sẽ làm tăng áp lực nội nhãn. Bạn có thể đi bộ, leo thang lầu và làm việc nhẹ trong nhà.
     
     
    Khi nào thị lực trở về bình thường?
    Bạn có thể nhanh chóng trở về hoạt động thường ngày nhưng mắt có thể còn mờ. Cần có thời gian để mắt điều chỉnh phù hợp với mắt còn lại, nhất là khi mắt đó cũng bị đục thủy tinh thể. Nếu có đặt kính nội nhãn thì bạn sẽ cảm thấy màu có vẻ sáng hoặc hơi xanh. Khi có ánh sáng mặt trời nhiều có thể bạn cũng cảm thấy mọi vật hơi có màu đỏ trong vài giờ. Nếu bạn thấy hiện tượng này có nghĩa là kính nội nhãn trong suốt. Những cảm giác này sẽ hết sau vài tháng. Khi mắt đã lành có thể bạn cũng cần đeo kính thêm.
     
    Đục bao sau là gì?
    Bao sau của thủy tinh thể được giữ lại trong quá trình phẫu thuật. Sau phẫu thuật, đôi khi phần bao sau bị đục và làm mắt mờ. Tình trạng này gọi là đục bao sau. Nó có thể xuất hiện sau phẫu thuật nhiều tháng hay nhiều năm.
    Khác với đục thủy tinh thể, đục bao sau được điều trị bằng laser. Bác sĩ dùng tia laser tạo một lỗ nhỏ ở bao sau để cho ánh sáng xuyên qua. Thủ thuật này không gây đau và bệnh nhân không cần nằm viện.
     
    Hiện đang có những nghiên cứu gì?
    Các nhà khoa học đang nghiên cứu về sự phát triển và các yếu tố thúc đẩy đục thủy tinh thể. Người ta cũng xem xét liệu một số vitamin có thể phòng ngừa hoặc làm chậm đục thủy tinh thể hay không. Các nghiên cứu khác tìm những phương pháp mới để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị đục thủy tinh thể. Ngoài ra các nhà khoa học đang khảo sát vai trò của gen trong sự phát triển đục thủy tinh thể.
     
    Làm thế nào để bảo vệ thị giác?
    Người trên 60 tuổi có nguy cơ mắc các bệnh mắt. Do đó nên khám mắt định kỳ mỗi  năm một lần để kiểm tra các bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già, glô-côm (cườm nước), đục thủy tinh thể và các bệnh mắt khác.
     
    Nguồn: http://www.benhvienmat.com




     
    #2
      Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

      Chuyển nhanh đến:

      Thống kê hiện tại

      Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.

      Chú Giải và Quyền Lợi

      • Bài Mới Đăng
      • Không Có Bài Mới
      • Bài Nổi Bật (có bài mới)
      • Bài Nổi Bật (không bài mới)
      • Khóa (có bài mới)
      • Khóa (không có bài mới)
      • Xem bài
      • Đăng bài mới
      • Trả lời bài
      • Đăng bình chọn
      • Bình Chọn
      • Đánh giá các bài
      • Có thể tự xóa bài
      • Có thể tự xóa chủ đề
      • Đánh giá bài viết

      2000-2020 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9