Những Năm Tháng Hồn Nhiên

Tác giả Bài
mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 18.03.2016 11:51:21
Những Năm Tháng Hồn Nhiên
Bút ký
Tác giả: Tô Vũ Tô Huyền Vân
Nguồn: Tác giả thân tặng
 
Giới thiệu tác giả: 
Tô Vũ (THV)  sinh năm 1934 tại Đà nẵng, Quảng Nam. Ông là một nhà báo chuyên nghiệp và là thông tín viên kỳ cựu của đài truyền hình Hoa Kỳ vào những năm chiến tranh khốc liệt nhất tại Việt Nam (1965-1975). Hiện ông về hưu và cư ngụ tại California miền Tây Hoa Kỳ.
 
Lời mở đầu:  Người đời thường nói: “trẻ sống cho tương lai, già hồi tưởng quá khứ”, thật cũng không ngoa! Nhưng với ký ức của người lớn tuổi, việc nhắc lại dĩ vãng cho đám hậu sinh đặng hình dung lại được cái thời của ông cha mình; và cũng còn để cho người trẻ đọc, hiểu biết được những sự việc đã qua, há chẳng phải là một việc làm hữu ích sao?   
       
                                                                   Mến tặng các cháu tôi,
                                                                   thế hệ thứ ba tại Hoa Kỳ.
Chương một             
 Con Cá Dìa Ở Sông Hàn                                                                           
 
Tôi vốn sinh ra tại Đà Nẵng Quảng Nam, nhưng thật sự biết rất ít về chốn chôn nhau cắt rốn của mình. Lý do là lúc còn bé, tôi đã phải theo cha tôi di chuyển về các thị xã khác, nơi ông đã phải nhận công tác, đôi khi sáu tháng, cũng có nơi một vài năm. Vì thế ký ức tôi không mấy nhiều về thành phố mà mình đã ra đời. Tôi chỉ nhớ là khi má tôi bị bịnh nặng vào mấy tháng đầu của năm 45, ba tôi đã phải nghỉ việc để đưa má tôi ra bệnh viện đa khoa ở Huế để giải phẫu.. Bà mắc phải bệnh lao xương, mà Đà Nẵng lúc đó không đủ phương tiện và bác sĩ giỏi để giải phẫu cho bà.
 
Lúc đó tôi đã là một thiếu niên 10 tuổi, cái tuổi đáng lẽ phải được học hành đầy đủ, thì lại phải bỏ ngang để theo cha mẹ ra Huế trong mấy tháng dài bà nằm trong bệnh viện và sau đó 3 năm trường tản cư về miền quê hẻo lánh. Một đêm trong bệnh viện tôi nghe tiếng súng nổ rền vang bên tả ngạn sông Hương, mọi người trong bệnh viện hò hét tản cư vì Việt minh đã tiến đánh thành phố Huế. Cha tôi cũng tất tả đưa vợ và các con lên xe lửa để về lại Đà Nẵng ngay trong sáng hôm sau. Mẹ tôi thì được nằm trên cái võng cáng (*) đem lên xe lửa. Mấy tuần sau đó tại Đà Nẵng lại có tin quân đội Pháp thất thủ ở thành phố Huế, đến phiên Đà Nẵng bắt đầu rục rịch tản cư. Một lần nữa lại khăn gói quả mướp lên đường!  Ba tôi đành phải thuê một chiếc ghe bầu (ghe loại lớn có mui cả một gia đình có thể ở) để tản cư về quê.
 
Năm 1945 đất nước mình còn nghèo lắm, Việt Minh nổì dậy kháng chiến chống Pháp khắp nơi, nhất là miền Trung, nơi mà thiên hạ vẫn cho là xứ chó ăn đá, gà ăn muối. Lúc đó không còn xe hơi chuyên chở hành khách, phương tiện chung cho dân chúng chỉ còn có xe lửa chạy bằng hơi nước. Xe hơi cá nhân thì chỉ dành riêng cho các quan chức bảo hộ người Pháp. 
 
Sau khi lên ghe và phải đợi đến lúc tối trời ba tôi mới dám cùng gia đình chủ ghe khởi sự xuôi ghe để về quê ông ở làng Phú Mỹ, cách thị xã Đà nẵng khoảng chừng 3 hay 4 chục cây số. Vì đường bộ thì bị quân Việt Minh ngày đêm đắp mô quấy phá nên chỉ còn có phương tiện duy nhất là dùng đường thủy.
 
Ghe xuôi trên sông Hàn vào đêm cho đến Ngũ hành sơn thì bắt đầu rẽ ra biển. Chạy theo ven biển về hướng Nam một cách lặng lẽ, tôi chỉ còn nghe tiếng mái chèo rẽ nước, tiếng kẽo kẹt của mái chèo cọ vào thân cột cùng tiếng nước róc rách đập vào mạn thuyền. Thỉnh thoảng người chủ ghe rít một hơi thuốc và phà ra một cách khoan khoái. Tôi mon men đến cận ông ta và hỏi ông hút thuốc gì vậy? Ông ta trả lời là thuốc lá Cẩm Lệ, một loại thuốc rê rất thơm trồng ở làng Cẩm Lệ có tiếng ở Quảng Nam mà hầu hết người dân quê xứ Quảng đều hút, thậm chí đến những cậu cô bé 6, 7 tuổi cũng phì phà điếu thuốc vấn trên môi rồi. Đàn bà ăn trầu cũng không quên nhét vào dưới môi trên một cục thuốc rê vo tròn làm cho cái miệng vều và lệch hẳn qua một bên xem chẳng đẹp chút nào, thỉnh thoảng lại nhổ bẹt xuống đất một bãi nước trầu đỏ như máu, thảo nào mà người Pháp khi mới đến Việt Nam đầu tiên đã phải viết trong nhật ký là dân Việt ta hầu hết đều bị thổ huyết (!!!)
 
Nằm ngửa trên mui ghe cùng thằng em ngắm trăng sao, gió mát trên biển về đêm làm tôi càng thích thú. Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời tôi được cái thú phiêu lưu sông nước trong một chiếc ghe bầu trên biển. Với tuổi lên mười, hầu hết tuổi thiếu thời của tôi sống ở tỉnh thị, có bao giờ  được phiêu du như vậy đâu, nên tôi rất sung sướng tay vừa đập nhịp vào mạn thuyền, miệng khe khẽ hát. Tôi cũng không còn nhớ là tôi đã hát những gì, nhưng khi tôi hát to lên thì ba tôi đã vội vã la tôi và bảo nín đi kẻo Tây nó nghe thì chết cả lũ. Ông còn mắng thêm, đi tản cư mà hát mới xướng!  Lúc đó thật tình tôi nghe ba tôi la thì tôi im, nhưng tôi nào biết tản cư là cái quái gì? Chỉ cứ tưởng là một chuyến phiêu lưu về làng quê của ba tôi thôi. Cũng như những lần trước, thỉnh thoảng ông dắt tôi về thăm quê ông trên chiếc xe hàng cọc cạch Con Gà. Đã lâu lắm nên tôi cũng không còn nhớ cái hãng xe đó tên gì, chỉ nhớ có vẽ hình con gà hai bên hông và trước khi đi khoảng một tiếng đồng hồ thì người lơ phải ra đằng sau xe, nơi đặt hai cái ống thụt to cao bằng người anh ta. Anh trèo lên dùng hai tay nắm lấy càng ống thụt, thụt lấy thụt để, cho đầy hơi vào cái thùng hơi nén ở đằng trước mũi xe. Tiếng gió trong ống thụt phì phò nghe như trâu thở chen lẫn với tiếng rọt rẹt của nồi than, hơi lửa đốt cháy phừng phừng lên mỗi lần anh lơ gồng hai tay thụt lên thụt xuống. Khi thấy đủ hơi cho chiếc xe mình, anh tài mới lên tay lái mở máy, và anh lơ lại ra đằng trước mũi xe đã có sẵn chiếc cần quay, tiếng Pháp gọi là cái manivel quay lấy quay để cho máy nổ. Chắc cũng vì thế nên lúc đó người ta gọi chiếc xe đò đó là chiếc xe hơi!  
 
Thời đó chỉ có quan quyền người Pháp mới được đi xe hòm Citroen bốn cửa bằng xăng mà thôi, còn người dân thuộc địa thì đi xe hàng như trên đã là quý hoá và tối tân lắm rồi! Tôi còn nhớ mỗi lần xe lăn bánh là cả cái thùng xe rung chuyển, hành khách trong xe phải ngồi cho vững, hai tay nắm chắc cái ghế đằng trước, không khéo có cơ lọt ra ngoài. Chính mắt tôi đã thấy một cụ già rơi cái bịch xuống đường sau khi xe khởi sự lăn bánh cũng chỉ vì lo cầm chắc chiếc dù sợ bị mất cắp. Chỉ khổ cho anh lơ phải nhảy xuống xe nhấc vội cụ lên. Trên xe hàng chỉ có anh tài và anh lơ, nhưng tôi cảm phục anh lơ nhất, chẳng phải vì mọi việc nặng nhọc anh đều cáng đáng, như thụt cho đầy hơi trước khi xe chạy, lo giúp đỡ bạn hàng đi buôn đem hàng hóa để trên mui xe, thu tiền hành khách và nhất là khi xe đã chạy anh còn đu đưa bên hông xe nom như con khỉ orangutang mặt dính than đen sì, một tay víu lấy cửa xe một tay vẫy qua vẫy lại để mời mọc khách lên thêm cho đầy xe. Nhiều chuyến xe khởi sự đi từ sáng tinh sương, khoảng 4 giờ sáng, nhưng cứ loanh quanh lẩn quẩn mãi để đón khách cho đầy đến 5 giờ rưỡi, 6 giờ mới thực sự chạy.
 
Đang ngồi thõng hai chân bên mạn thuyền, ba tôi gọi tôi vào trong khoang để đi ngủ. Đêm đó tôi nào có ngủ được chỉ vì lạ nước lạ cái, lạ cả cái giường tre trên ghe, phần vì bị rệp cắn tôi cứ trằn trọc mãi cho đến sáng mới thiếp đi được.
 
Ghe xuôi một đêm trên ven biển bấy giờ đã đi vào sông. Tôi còn nhớ nhánh sông ấy là một trong những đoạn cuối của con sông Thu Bồn chảy ra biển. Đến sáng ghe dừng lại và neo ở giữa sông cạnh một cồn cát trắng phau. Lần đầu tiên tôi được ăn một buổi sáng trên ghe với xôi và cá cơm kho khô. Không biết có phải vì cái gió mát buổi sáng và cái không khí trong lành thanh tịnh trên sông hay sao, mà tôi ăn rất ngon miệng. Má tôi nằm trong khoang ghe nhưng bà vẫn lo lắng đốc thúc hai anh em tôi ăn sáng cho no, vì còn phải đi một khoảng đường nước nữa, đến trưa mới đến bến Chợ Được.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                      
 
Ba tôi thì đã nhảy xuống sông tắm tự hồi nào, ông bảo tôi cởi quần áo cùng nhảy xuống tắm với ông. Vì ghe neo ở cạnh cồn cát nên nước cũng cạn, chỉ đến lưng quần, tôi bèn nhảy xuống tắm. Sau này khi lớn lên tôi mới nhớ có một câu ca dao tả thú tắm sông là hạng nhứt.  Ai ở vùng quê mà không biết hai cái thú sướng:  nhất là tắm sông, nhì là “ị” đồng!                                  
 
Tản cư về làng quê gần ba năm tôi mới được “dinh tê”(**), sau khi quân Pháp chiếm lại các tỉnh thị. Trong thời gian ba năm trong làng quê tôi đã được đi cùng ba tôi thăm viếng các làng khác như Xuân Lư, Quế Sơn và cũng lên tận Thu Bồn nơi có giòng sông cùng tên đến mùa lũ là nước thượng nguồn chảy xiết mang theo cả người, vật và nhà cửa ven sông trôi theo ra biển.
 
Bình thường giòng sông nầy rất hiền hòa, nhưng đến mùa lũ nước chảy hai giòng, giữa giòng nước chảy xuống, nhưng hai bên tách ra và chảy ngược lại. Ghe nào xuôi dòng xuống từ thượng nguồn thì chạy phom phom ở giữa giòng không cần buồm, nhưng các ghe chạy ngược lên mạn thì phải xuôi theo hai ven sông.
 
Mỗi đầu ghe người ta cột dây thừng vào và có người đi dọc ven sông kéo. Tùy theo ghe lớn hay nhỏ, lớn thì hai, nhỏ thì một người kéo, và ghe chở nặng thì nhiều người kéo hơn.  Người sau ghe thì chống chứ không chèo, vừa chống vừa hò dô ta râm ran cả giòng sông. Nếu hôm đó trời có gió thì ghe dương buồm chạy “ zig zag” (chạy xéo qua lại) mà dân đi ghe miền Trung gọi là chạy dát (!)
 
Thị trấn Thu Bồn lúc đó là một làng quê nhộn nhịp. Tôi còn nhớ hai ven sông tre lồ ô mọc san sát. Thỉnh thoảng có nhiều cây phượng vĩ rũ cành xuống nước mà trên cành thì chi chít những con dơi treo ngược, có con to bằng con gà ri. Ban đêm trên sông nhộn  nhịp hẳn lên vì những đoàn ghe đi đánh cá đêm, mỗi ghe thắp một ngọn đèn “măng sông” sáng rực. Họ chạy hàng ngang và đập rầm rập trên ghe để lùa cá vào lưới. Thật là một khung cảnh rộn rịp chen lẫn với tiếng gọi nhau ơi ới, tiếng hò trên sông, ánh đèn phản chiếu lấp lánh trên mặt nước, tạo nên một khung cảnh như một lễ hội về đêm.
 
Đặc biệt Thu Bồn cũng trồng rất nhiều cây dâu để lấy lá nuôi tằm, cả nguyên một làng đều nuôi tằm dệt tơ nên ban ngày tiếng khung cửi chạy nghe rầm rập vang dội tận bên kia sông. Vì ba tôi có bà con ở đó, nên ông thường dắt hai anh em tôi đến nhà người bà con xem cách thức nuôi tằm để kéo tơ.
 
Thoạt tiên người ta đặt nhiều cái nong to mà mỗi cái đường kính cũng đến 4 feet. Trên nong đầy đặc những con ngài đang đập cánh tìm bạn tình và đâu đít lại với nhau. Sau đó, tôi không nhớ bao lâu thì con ngài cái đẻ trứng, trứng lại nở thành con tằm. Người nuôi tằm bèn bắt nó ra cho lên một cái vỉ lớn bằng tre cao hơn đầu người, trên vỉ gài những nhánh dâu lá thật tươi. Con tằm bắt đầu ăn từ dưới cuống lá ăn lên ngọn (vì thế nên ta có câu: ăn như tằm ăn lên). Tiếng tằm ăn dâu nghe rào rào suốt ngày đêm. Khi con tằm ăn no và đã lớn nó bèn tự nhả tơ và cuộn mình lại trong cái kén. Người nuôi tằm chờ đủ ngày tháng bèn lấy kén ra bỏ vào nồi nước sôi đun lên và bắt đầu kéo tơ ra trục để quay tơ. Có kén thì màu trắng nhưng cũng có kén thì lại màu vàng óng ánh. Người ươm tơ phải biết chọn đúng lúc để ươm tơ, nếu để lâu ngày, con tằm nằm trong kén sẽ biến thành con ngài có cánh và nó tự động cắn cái kén để chui ra rồi tiếp tục ái ân trong cái vòng lẩn quẩn để đẻ trứng nở thành con tằm. Sau khi người ta đã kéo hết tơ trên cái kén, lòi ra con tằm lúc đó hình dáng nửa giống như con ngài nhưng chưa có cánh, người ta gọi nó là con nhộng.
 
Tụi tôi chỉ chờ đến lúc đó là nhảy tửng lên, vì biết họ sẽ bỏ hết ra đĩa và đem lên cho chúng tôi xúc bánh tráng. Tằm vừa nóng hổi, cắn vào nghe bùm bụp, mùi béo ngậy của con tằm và bánh tráng gạo lức miền quê, thật ngon hơn cả mỹ vị cao lương. Đến bây giờ đã trên mấy chục năm xa xứ, nhưng nhớ đến những buổi ăn nhộng xúc bánh tráng ở Thu Bồn là tôi vẫn còn chảy nước miếng.
 
Lụa ở vùng đó có hạng như hai làng Bảo An và Xuân Đài, nơi tơ lụa có tiếng ở tỉnh Quảng nam. Người ta cũng dệt lụa dày để may áo veste cho đàn ông gọi là tuissor, một thứ lụa không óng ánh lắm nhưng màu vàng mỡ gà và tấm lụa rất mắc tiền, sản xuất ra đủ chỉ để bán cho các người giàu có ở tỉnh thị lớn như Đà Nẵng, Huế vào thời bấy giờ mà thôi. 
 
Một hôm tôi được đi xe bò vào Trà Kiệu để xem tháp Chàm. Với kiến thức của một cậu bé 12, lúc đó tôi chỉ biết mang máng do ba tôi kể,  tháp Chàm là của một giống người Chiêm đã đến đây lập quốc từ nhiều trăm năm về trước, và bây giờ họ đã bị hủy diệt. Chỉ có thế thôi và tôi cũng không thắc mắc chi cho lắm, cho đến khi lớn khôn về lại Đà Nẵng viếng lại Cổ viện Chàm tôi mới ý thức đầy đủ về một dân tộc có một nền văn minh và văn hiến rất xưa khởi từ Phan Rang ra quá Thừa Thiên.
 
Đà Nẵng vào thời niên thiếu của tôi là cả một trời mộng mơ.  Những ngày nghỉ học cuối tuần lúc còn ở tiểu học, và sau này khi ra Huế học vì Đà Nẵng lúc ấy chưa có trường trung học (vào năm 1949)  mỗi dịp nghỉ hè về lại Đà Nẵng là những dịp tôi được rong chơi từ Chợ Mới ăn bánh bèo chén thịt heo nạc, qua cầu De Lattre lên Non nuớc, xuôi theo sông Hàn ra tận núi Sơn Chà lặn xuống biển xem cá đủ màu mà bây giờ bên Mỹ gọi là đi snorkeling, hoặc rủ bạn bè ra tắm biển Thanh Bình. Nhưng trong những cái thú nhất của tôi là được về trong quê cùng ba tôi để thăm lại Thu Bồn, Thanh Quít, làng chằm nón lá có tiếng cùng Duy Xuyên, Điện Bàn nơi quê của mẹ tôi.Tôi dứt áo rời Đà Nẵng từ năm 1950 để ra Huế rồi sau đó vào Saigon tiếp tục việc học, và cũng từ đó tôi đã thật sự xa Đà Nẵng và Quảng Nam cho đến khi mất nước cùng đoàn người di tản sang Hoa Kỳ, thì Đà Nẵng Quảng Nam của tôi đã đi vào huyền thoại.                         
 
Dẫu vậy sau 55 năm rời xa Đà Nẵng nhưng thâm tâm tôi vẫn cứ hằn nhớ rõ những ngày còn bé thả bộ bên cạnh sông Hàn, xuống Trẹm ra cầu tàu trước Công sứ đi câu cá dìa. Từ nhỏ tôi đã mê câu cá , sau vườn nhà tôi không có chỗ nào mà tôi không đào không xới để bắt giun đất đi câu. Có một loại cá ven sông Hàn, mình dẹp hai bên lườn lốm đốm hoa màu tím nhạt. Thứ cá này đụng mồi gì nó cũng đớp, mỗi lần bỏ lưỡi câu 3 móc xuống thì cả một đoàn lớn bé xúm vào rỉa mồi, cứ giật lên là không bao giờ trật. Cái thói ăn bẩn và hùng hục cái gì cũng ăn giống như loại cá bên các sông hồ Amazon ở Nam Mỹ có tên là Piranha; một loại cá ăn bẩn nhưng dễ câu, song câu lên là phải quăng xuống vì đem về nhà là bà má tôi căng nọc ra đánh, không phải vì đi câu mà vì câu phải con cá dìa gớm ghiếc chuyên ăn đồ dơ dọc ven sông.
 
(*) cáng: là một phương tiện chuyên chở cá nhân gồm một chiếc võng mắc hai đầu vào một đòn tre tròn to, hai đầu cáng là hai người phu kê vai cáng đi.
 
(**) dinh tê: có nghĩa là khăn gói dọn về thành phố                                               


           
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 20.03.2016 23:00:39
 
 
 
                                           Chương hai
 
 
                                     Kho muối Hòn khói 
                                   (Entrepot de Sel de Honekohe)
 

Chiếc xe ngựa hai bánh gỗ nghiến rào rào trên con đường trải đá dẫn từ Vạn giả xuống Hòn khói. Tôi nằm co ro trên ván xe, đầu gối vào đùi của mẹ, cố dỗ giấc ngủ trưa nhưng nào tôi đâu ngủ được! Lạ nước lạ cái, lạ cả cái mùi hương hoa đồng nội. Nhọc mệt và đói, vì hai mẹ con tôi vừa trải qua một cuộc hành trình dài, hai ngày một đêm trên xe lửa từ Đà Nẵng vào đến tỉnh Khánh hòa. Cuối cùng chúng tôi cũng đến.

 Xuống xe lửa ở ga Vạn giả, mẹ dắt tôi vào trong ga nghỉ ngơi cùng kiểm lại hành lý và cũng để mẹ tôi tìm người xà ích đánh xe ngựa đến đón. Ba tôi đã cẩn thận thuê riêng một chiếc xe ngựa từ Hòn khói lên ga Vạn giả để rước chúng tôi. Trước đó ít tuần, ông cũng đã viết thư về cho mẹ tôi dặn dò kỹ lưỡng rằng, ngày đó nếu ba tôi được nghỉ sẽ cùng đi với ông xà ích lên đón mẹ con tôi. Nhưng nếu bận việc ở sở không nghỉ được, thì khi đến ga mẹ cứ tìm người xà ích mặc bộ đồ xanh đội chiếc nón phớt màu nâu, tên ông ta là cai Phúc. Ông cai Phúc là cai cu-li gánh muối làm cho sở ba tôi ở dưới Hòn Khói. Buổi sáng ông làm cai coi phu đổ muối cho sở, nhưng chiều về làm phu đánh xe ngựa đưa người lên xuống Vạn giả và Hòn khói. Tôi ngủ không được bèn ngồi dậy đưa mắt nhìn ông Phúc. Ông người gầy gò, nhưng rắn chắc, da ngăm ngăm đen, nước da của những người chuyên sống ở miền biển. Ông ngồi đằng trước xe sau đít con ngựa, một chân co lên trên ván xe, chân kia bỏ thõng xuống đu đưa qua lại theo nhịp xe chạy. Tay mặt cầm cương, tay trái ông dí dí chiếc roi vào đít con vật. Từ lúc xe chạy cho đến nơi, tôi chẳng hề thấy ông đánh vào đít nó một cái nào, chỉ có miệng ông thỉnh thoảng bảo con ngựa đi thẳng hoặc đứng lại, qua phải hoặc qua trái. Ông nói tiếng địa phương giọng lơ lớ nên tôi nghe không hiểu, chỉ nghe mẹ tôi thuật lại rằng ông là người Chàm lai Việt. Gương mặt ông khắc khổ nên tôi không thể đoán rằng ông được mấy mươi? Cổ ông quấn một cái khăn rằn ca rô màu đen trắng, khi gió thổi vào, một góc cái khăn bay che hết nửa khuôn mặt ông.
 
Con đường có đoạn trải đá, cũng có nhiều đoạn không, nên khi có chiếc xe ngựa nào chạy ngược chiều, bụi đất lại tung bay từng loạt. Tôi uể oải ngồi lên, hai tay nắm chặt lấy thành xe, mắt dõi nhìn bên đường, đầu lắc lư theo tiếng vó ngựa lốc ca lộc cộc. Đôi mắt mẹ tôi cũng mõi mệt, bà ngồi tựa lưng vào thành xe, tay mặt vòng ngang qua chiếc rương gỗ, thỉnh thoảng hỏi ông xà ích là sắp đến chưa? Ông trả lời chậm chạp, “chắc tàn điếu thuốc thì đến đó bà!”. Ngoài tiếng hỏi đáp của mẹ tôi và ông Phúc, tiếng vó ngựa lộp cộp, con đường im vắng hoàn toàn, thảng hoặc có vài tiếng chim kêu hoặc tiếng ục ặc của những con mãng nấp trong bụi rậm.
 
Xe đi qua một cái truông nhỏ, hai bên là dốc núi đất rậm rạp dày đặc những hàng cây sim chín cùng những bụi lá tơ hồng màu vàng thẫm, trãi dày trên chót những cụm cây sao. Trời xanh lơ, mặt trời trút nắng chói chang trên cảnh vật. Chợt một ngọn gió mang nặng mùi nước biển thổi lên mát rượi. Ông xà ích đưa cây roi chỉ vào đằng trước bảo với má tôi: "Sắp đến nơi rồi rồi đó bà"..
Tôi nhướn người nhìn ra phía trước theo hướng cái roi của ông xà ích, thấy bên trái mặt đường khởi đầu là ruộng muối. Hằng hà sa số cơ man là muối, muối trắng phau phau phản chiếu ánh mặt trời trưa trên những cánh đồng rộng. Hàng cò bay từng đoàn trên cao. Phu ruộng muối đang gom muối lại từng cụm, vun đống lên như những nóc nhà nhỏ trên mặt ruộng. Ước chừng cũng có đến cả trăm thửa.
 
Nước biển xanh nhạt còn lấp xấp trong ruộng, nhưng cũng có nhiều ruộng, đất đã khô. Xa xa bên tay trái là một cái doi đất cao nhô ra vịnh trên đó có một ngôi nhà lầu sơn trắng lợp ngói đỏ lấp ló trong lùm cây. Bên phải là một ngọn đồi thoai thoải, có con đường mòn đất nhỏ dẫn lên đồi, hai bên đường những hàng sim thấp mọc dày đặc như rừng. Xa xa bên trong lấp ló một dãy nhà nhiều căn, lưng dựa vào đồi. Trước sân thấp thoáng bóng trẻ con qua lại cười đùa trững giỡn. Vì xa tầm mắt nên tôi chỉ thấy nhiều mái đầu trai gái, tiếng nói thì nghe tiếng được tiếng mất. Sau này tôi mới biết rằng nơi đó chính là mái trường duy nhất mà tôi sẽ theo học trong thời gian ở với ba tôi tại chốn khỉ ho cò gáy này.
 
Vó ngựa vẫn lộc cộc khua vang trên con đường nhựa, đôi ba người phu đang cào muối ở cánh ruộng gần vệ đường dừng tay lại, đứng lên lấy tay che mắt tò mò nhìn chiếc xe ngựa chở mẹ con tôi đi qua. Xe băng qua một chiếc cầu gỗ ngắn không có lan can, rồi tiến thẳng vào một xóm chài nhỏ chừng đôi chục căn nhà lá dọc theo hai bên đường. Nơi đây người dân địa phương đánh cá và làm muối dùng để ở và để họp chợ vào mỗi sáng. Một cái cổng xây bằng gạch trét vôi đã cũ, màu sơn trắng cũng đã ngã sang vàng đục, lỗ chỗ rêu phong, trên cao có gắn một tấm biển lớn vòng cung sơn màu xanh đậm với hàng chữ trắng thật lớn: “Entrepot de sel de Honekohe”.
 
Sau khi xe ngựa chui qua cổng, ông xà ích kéo chiếc giây cương cho con ngựa rẽ sang phải đến một khu nhà năm gian dài lợp mái ngói đỏ và đổ ngay trước cửa căn đầu. Ông ghìm cương cho con ngựa đứng lại và nhảy xuống đất quay mặt ra sau xe: “thưa bà Đội, đến rồi”. Cẩn thận cột giây cương vào cái lan can nhỏ trước nhà, ông giật cái khăn rằn quấn trên cổ lau vội những hạt mồ hôi lấm tấm trên trán, chạy vào căn số 1 gõ cửa cộc cộc. Chưa dứt tiếng gỏ đã thấy ba tôi chạy ra, mặt ông rạng rỡ, một tay kẹp cuốn tập tay kia cầm cây viết. Vừa thấy mẹ tôi, ông lại chạy vô nhà, lính qua lính quýnh, bỏ cuốn tập với cây viết, chạy ra hí hửng nắm lấy tay mẹ tôi, tay kia phụ khiêng chiếc rương với ông xà ích, tới tấp hỏi:
 
“Mình đi có mệt không? Xe tới lâu chưa? Thằng con đâu?
 
Ông quay mặt nhìn ra sau, vì tôi đứng khuất sau lưng mẹ nên ông không thấy!
 
Mẹ tôi trả lời: “Nó đây nè! Ừa  thì cũng mệt, nhưng chắc thằng nhỏ đói.”
 
Ba tôi nhoẻn miệng cười khi thấy tôi, tay ông xoa xoa cái đầu húi cua của tôi, rồi bỏ chiếc rương xuống, ông ôm lấy tôi hôn lên má  trái tôi một cái “chụt”!.  

Tôi nhìn ông mím môi cười sung sướng vì sau ba tháng rồi tôi mới lại được thấy mặt ba. Ông lại nhìn vào mặt tôi một giây rồi quay sang hỏi mẹ tôi:
 
“Chớ đứa mô cúp (hớt) tóc cho hắn rứa? Răng cạo trọc giống lính săng đá ri?(*)”
 
Mẹ tôi trả lời.

“Thằng Bốn chó con đó chớ ai!  Đã nói cúp cua cho thằng nhỏ mà ổng ba chớp ba nháng cúp răng thiếu điều như cạo trọc! Tui la hắn một trận rồi!. hắn nhăn răng cười trừ!!”.

Số rằng trước khi đi mẹ tôi đã cẩn thận mang tôi lên căn tiệm hớt tóc của chú Bốn ở chợ Mới để húi cua, vì nghe trong Nam trời nóng lắm, cắt ngắn cho nó mát. Tôi có cái tật mỗi lần đi cắt tóc là hay ngủ gật, thế nên về nhà lần nào cũng bị la! Cứ hể khi nào bắt đầu trèo lên cái ghế da mềm mềm của tiệm chú Bốn, cúi đầu xuống nghe tiếng tông đơ rột roạt đều đều, lại có gió mát hây hây dưới cái quạt vải to treo trên trần, là y như rằng, không mời không rủ ông thần ngủ cũng tới viếng tôi ngay tức khắc!
 
Để nói thêm một tí về chiếc quạt có một không hai thời ấy. Thập niên 30-40 thời Tây đô hộ, thành phố Đà nẵng cũng như các thành phố nhỏ khác, 70% dân chúng không có điện. Chỉ có dưới Trẹm vùng Tòa Công sứ và quartier Francais (cư xá của Tây ở) đồn bót Tây hay một vài con đường lớn là có điện mà thôi. Đà nẵng còn thắp đèn dầu mù u, sang lắm là đèn măng sông.
 
Cái quán hớt tóc của chú Bốn chó con ở chợ mới là cái quán khá nhất trong vùng vì trong phòng có trang bị 2 chiếc ghế da bò, trên trần lại có bắt một chiếc quạt vải dày thật đẹp, bề ngang khoảng một thước tây, bề đứng chừng ½ thước. Ở giữa cái quạt phía trên có cột một sợi giây vải gai mịn, móc theo sà ngang xỏ qua một cái vòng sắt nhỏ, sợi giây kéo dài xuống đất cạnh góc tường. Ở  đó chú Bốn thuê một thằng nhỏ ngồi cầm cái giây kéo qua kéo lại cho chiếc quạt phất phơ. Thằng nhỏ nhiều khi làm biếng móc cái đầu giây vào ngón chân cái co đầu gối kéo lên kéo xuống cho đỡ mỏi tay. Lâu lâu tôi cũng thấy nó gục như tôi, những lúc đó cái quạt chậm lại, chú Bốn khỏ vào đầu nó nghe một cái cốc, nó tỉnh ngủ liền, mở mắt ngước mặt lên, chân đạp tíu tít. Con trai chú Bốn đi học buổi sáng nhưng chiều về thì ra quán thay thằng nhỏ để kéo quạt cho ba nó bớt tốn tiền thuê.
 
Thời đó mà chú Bốn có quán hớt tóc, lại trang bị được chiếc quạt vải, là tiệm chú thuộc loại khá, vì hầu hết thợ hớt tóc thời bấy giờ đều đi hớt dạo, số thợ khác thì trang bị được cái gương soi, cái ghế xếp di động cùng hộp đồ nghề, đặt ghế ngồi dọc theo lối đi ven vệ đường sát các bờ tường là cùng. Tiếc rằng về sau này chẳng bao giờ tôi lại còn được thấy chiếc quạt hi hữu như trên nữa. Chỉ cần nghe tiếng quạt phành phạch, mát rượi, cái tông đơ trên tay chú Bốn bóp soạt qua soạt lại đều đặn, là cơn ngủ ở đâu kéo tới liền. Ngoại trừ khi nào tôi choàng giấc, là bữa đó chú Bốn quên mài tông đơ, nên sau khi bóp vài ba cái, tông đơ đùi nhách tóc kẹt vào giữa hai cái lưỡi, mà chú Bốn thì cứ vô tư giật lên, là tôi hét lớn liền:
“Đau quá à”!

Chú Bốn dừng tông đơ lại ngay , lấy tay xoa xoa đầu tôi, chỗ vừa mới bị kẹt. Nhưng sau đó vài phút cơn ngủ gục lại lò dò tới liền, cái đầu tôi từ từ cúi xuống đàng trước: “gật !”.. chú Bốn biết ý ngay, nâng nhẹ đầu tôi lên la khe khẻ:
 
“Đừng có ngủ, để tau cúp chớ?”
 
Những lúc đó mẹ tôi luôn luôn mắng: “Cái thằng ni, không ngủ thì cười, răng lạ rứa?”
 
Tôi đáp: “nhột”!.
 
Nhưng nhất định lần này tôi không ngủ nữa, ráng ngồi ngay ngắn, song chỉ được vài phút thì tôi lại co rúm cái cổ lên vì nhột.  Chắc vì vậy mà chú Bốn hôm nay xì nẹt, thay vì húi cua, chú cắt ngắn như lính tẩy cho bỏ ghét, thiếu đều như cạo trọc!
 
Mẹ tôi cằn nhằn, “bảo dặn rồi mà chú cúp ngắn quá vô trỏng ba nó thấy ba nó la tui.”
 
Chú Bốn cười hì hì: “Í, coi rứa mà đẹp trai đó chị Ba”.
 
Tôi cũng chẳng buồn soi gương mần chi vì mẹ tui bảo sao thì tui nghe vậy!
 
Tôi cũng không nhớ và cũng không biết rằng ai đã đặt cho chú Bốn cái  danh hiệu là Bốn chó con?!  Lúc mẹ tôi còn sinh tiền tôi có hỏi bà thì bà cười kể rằng “Ừa, tao nghe thiên hạ gọi nó là Bốn chó con nên tao gọi theo. Nhưng chỉ gọi sau lưng nó thôi chớ trước mặt ai mà gọi nó như rứa, sợ nó giận!” Bà tiếp: “Chắc có lẽ nó tuổi Tuất, người lại nhỏ thó loắc choắc như chó con nên người ta gọi vậy.”
 
Năm căn nhà dài như trại gia binh, Tây cất cho gia đình người Đội và mấy anh Cai cùng lính ở. Vì ba tôi là người đội Việt nam duy nhất trong cái depot đó nên được ở căn đầu lớn và tiện nghi hơn. Có điện, có quạt máy trần khá hơn mấy căn kia không có quạt. Ba tôi lúc đó làm cho Sở quan thuế Pháp (Douane & Regis) nên trung ương cử vào để xem sở muối này, trên dưới khoảng 2 chục công nhân cả cai và lính lẫn phu gánh muối. Trưởng sở là một người Pháp to béo khoảng 30 tuổi, nặng cũng có đến 80 kí lô gram, tên là Bernard. Ông ta ở bên cái nhà lầu vi-la trông ra vịnh với vợ đầm cùng hai con, một trai một gái còn nhỏ và một chiếc xe Citroen màu đen trong nệm bọc toàn vải trắng. Ổng có tài xế riêng, người tài xế Việt đội cát két trắng viền đen, mặc bộ đồ tây trắng ủi láng cóng, mỗi sáng chở bà đầm đi ra chợ Hòn mua rau quả cá thịt đằng xóm trước. Trong thời gian tôi ở đó, thỉnh thoảng thấy có chiếc máy bay đậu dưới nước (thủy phi thoàng) hạ cánh đáp xuống vịnh, đậu cạnh cái cầu gỗ nhỏ bắt từ ngoài vịnh vào ngôi nhà hắn. Sau này cũng chiếc máy bay đó đến đưa gia đình hắn ta đi ra tàu thủy về Pháp.
 
Mẹ vào thăm ba tôi độ một tuần thì bà phải quay về Đà nẵng ngay, vì tôi còn thêm một thằng em nhỏ đang gửi cho bà ngoại trông, vì thế bà không ở với ba tôi lâu được. Lại nữa bà phải về để mở cửa hàng vải, sau cả tuần cửa đóng im ỉm.  Tôi nhớ ngày cuối bà đã lật đật dậy từ sáng sớm cùng ba tôi khăn gói lên xe ngựa để ra ga Vạn giả đón xe lửa trở về Trung. Tôi phải ở lại với chú Tư người làm. Tôi khóc suốt trong thời gian ba đưa mẹ ra ga. Tôi nhớ rằng sau đó đã khóc hết mấy ngày mới nguôi vì nhớ mẹ. Hôm ra đi mẹ  ôm tôi hôn, hai mẹ con cùng sướt mướt, trong lúc đó ba tôi mặt buồn rười rượi! Mẹ dặn tôi đủ điều, miệng tôi vâng dạ nhưng lòng rối như mớ bòng bong, nên có nhớ chi mô! Ba kêu chị bếp dắt tôi đi chơi chỗ khác, nhưng tôi cứ nằng nặc không chịu rời bà. Tuổi nhỏ dễ quên, sau đó ở với ba rồi mọi việc cũng đâu vào đấy!
 
Ở đây tôi được nuông chìu lắm vì nay ba tôi đã có thêm tôi, đỡ nhớ nhà, nhớ vợ và thằng em ngoài Đà nẵng. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời tôi phải theo ba tôi rời xa thành phố chôn nhau cắt rún của mình. Ba tôi được hai người phụ việc, chú Tư lo việc dọn dẹp coi sóc trong nhà, đưa tôi đi học. Chị bếp thì lo việc chợ búa bếp nước. Đi đâu xa thì có ông Phúc xà ích.
 
Tuần vừa mới đến ba tôi chưa cho tôi vào trường, vì đã cuối niên khóa học trò sắp nghỉ hè, nên ba cho chú Tư dắt tôi đi chơi mọi nơi trong vùng. Hôm nào ba tôi có đi tuần vào buổi chiều mà không có ông sếp Tây, ổng cũng cho tôi đi theo, tôi lại được dịp đi ca nô cùng ông với hai người lính có trang bị hai khẫu mút cờ tông (súng trường Tây thời đó). Nhưng có một hôm ông đi tuần đêm với hai người lính, ca nô rọi đèn sáng rực. Ngọn đèn vừa quét qua bên phải, phía cầu cho tàu cặp bến ăn muối, bỗng ông chợt thấy có một chiếc ghe nhỏ khả nghi, đang cặp sát chân cầu. Trên bờ có hai người trai trẻ mặc đồ đen đang hì hục ăn cắp muối. Ông la lên bảo dừng lại, chúng nó hoảng hốt nhảy tùm hết xuống biển. Ông cho lính lên cò súng tiến đến chiếc ghe. Ngờ đâu có một thằng đang lặn dưới nước bất thình lình trồi lên gần ca nô phía ba tôi ngồi, hươi dao đâm vào ba tôi. Ông né người tránh được mũi dao, nhưng tay mặt ông cũng bị chém một nhát vào ngón cái gần đứt tiện. Anh lính bồng súng nghe ba tôi la bèn nhắm súng vào hướng quân gian nổ một cái ầm. Chúng lặn mất tiêu. Ba tôi đành phải quay ca nô trở về trại để băng bó vết thương. Sáng hôm sau đến chỗ củ xem lại thì chiếc ghe đã biến mất, nhưng đống muối vẫn còn trên bờ chưa kịp tẩu tán. Từ đó ba tôi không dám cho tôi đi theo, cho dẫu có đi ban ngày cũng vậy.
 
Tối tối đêm nào rảnh rỗi ít công việc ông đi câu cá cũng dắt tôi theo ra cầu đá cuối vịnh để câu cá mú ghềnh. Một hôm ông câu được một con mú rằn  khoảng 3, 4 pounds, cá ăn mồi rồi kéo vào hốc đá mắc kẹt trong hang. Ông cởi áo và quần dài, mặc có cái quần xà lỏn bảo tôi ngồi yên nắm cái cần câu cho ông. Ông lặn xuống theo giây cước vào hang một chặp kéo con mú ra xách lên bờ cười ha hả.
 
Cũng từ đó tôi bắt đầu đam mê thú câu cá và sau đó xin ông cho tôi một cái cần nho nhỏ và dạy tôi câu. Nhưng người dạy tôi câu không phải là ba tôi mà là chú Tư vì ba tôi ít khi rảnh rỗi. Mấy hôm sau tôi háo hức lắm chỉ mong chú Tư chùi nhà cửa cho lẹ để dắt tôi đi câu, nhưng chú Tư bảo phải từ từ và phải dậy thật sớm để đi ra bãi bắt mồi trước. Tôi nghe phải thức dậy sớm cũng hơi lo lo, vì tánh con nít ít đứa nào dậy sớm được.
 
Tôi hỏi chú Tư, “dậy sớm là mấy giờ?”
 
Chú đáp: “khoảng 5 giờ ½ sáng”. Chú tiếp: “nhưng mà cháu dậy sớm được không? thì chú mới tới sớm để dẫn cháu đi?”
 
Chú Tư đến làm mỗi ngày trừ chủ nhật, lúc bảy giờ sáng. Chỉ có chị Ba nấu bếp là được ở lại luôn, trong một căn phòng nhỏ kế nhà bếp mà thôi. Tôi nói mạnh: “được chớ chú Tư, con ráng dậy sớm mà, chú cứ đến nếu thấy con còn ngủ thì đánh thức con dậy.” Chú Tư bằng lòng rồi xin ba tôi mai cho chú đến sớm để đưa tôi ra bãi biển bắt mồi câu cá suốt. Ba tôi bằng lòng nhưng cũng căn dặn chú là đừng để nó ham quá rồi đi ra xa bị nước cuốn!
 
Quay sang tôi ba tôi hỏi: ‘Con dậy nổi không mà làm phiền chú Tư?”
 
“Con dậy được mà!” Tôi đáp ngay!
 
Gió biển ở đây sáng tinh sương sao nó mát rời rợi!.. Buổi sáng nước biển ròng nên sóng biển đã lùi ra xa tít, trơ lại trong bờ một vùng sình lỗ chỗ những lỗ nhỏ xì xọp nước trồi lên xuống khi có bước chân người bước đến gần. Chú Tư dắt tay tôi lội xuống bãi sình để bắt trùn biển làm mồi. Tay chú cầm một miếng giẻ rách và một cái lon thiếc sửa bò củ. Chú khom lưng đi từ từ, mặt cúi xuống sình xem cái lỗ nào nước biển khô mà chú nghi là có con trùn trong đó. Chú bèn nhúng miếng giẻ xuống vũng nước cạnh đó rồi vò tròn lại trong tay, bóp nhẹ cho nước vô lỗ. Lập tức có một con trùn biển to bằng chiếc đũa tre dài khoảng một tấc tây trồi lên mặt sình. Chú vội vàng chụp lấy đầu lôi con trùn ra khỏi hang rồi bỏ vào cái lon thiếc có để chút nước biển. “Dzậy là được một con!”, mặt chú hý hững!..Chú dạy tôi rằng buổi sáng khi nước ròng, mấy con trùn biển nó trốn phía dưới đáy lỗ. Chờ tới khi nước biển lên thì nó cũng ngoi lên để ra ngoài đi ăn. Vì vậy mình nhử nó bằng cách cho nước vào, con trùn tưởng nước biển đã lên, tự động chui lên, dzậy là cứ nắm đầu hắn kéo ra khỏi lỗ. Tôi học được cách bắt trùn từ nơi chú Tư, sau đó cùng bè bạn trong xóm ra chỗ chiếc cầu gỗ mỗi chiều sau 4 giờ để câu cá suốt.
 
Giờ đó nước biển trong vịnh và ruộng muối bắt đầu rút ra từ từ. Tôi ngồi trến ván cầu, hai chân bỏ thõng xuống. Cứ rức một đoạn nhỏ của con trùn móc vào lưỡi câu bỏ xuống là a lê hấp một hai ba thấy cần rung là giật. Chỉ một buổi chiều mà tôi câu được cũng gần hai ba lon lớn cá suốt. (Lon sữa guigoz) Thế là tôi mê mẫn, chiều nào cũng xin đi câu, nhưng ba tôi chỉ cho phép một tuần hai lần mà thôi vì cá câu về chị Bếp có kho cũng không hết, đem đổ chớ cho ai họ cũng chẳng lấy.
 
Vùng tôi ở là một bán đảo nhỏ, nhưng không hiểu sao dân chúng ở đây gọi là cái Hòn? Hòn khói! Có lẽ xưa kia Hòn khói là một cái hòn gần sát với đất liền. Lúc đó nước biển còn bao quanh hòn? Sau này nước biển rút thấp lòi ra một doi đất còn dính liền đảo với đất chăng? Hòn khói hiện tại có hai đầu nhoi ra biển, giữa là cái vịnh nhỏ, xung quanh vịnh là vùng đất thấp và bằng phẳng. Từ lúc Tây sang đô hộ nước ta, họ đắp bờ xây nên ruộng muối. Hòn khói phong cảnh thật đẹp và nếu không có cái depot muối thì cảnh trí nên thơ vô cùng.
 
Cả mùa hè rảnh rỗi tôi chưa có đi học vả lại thầy Lang người cai làm chung với Ba tôi chỉ kèm hè cho tôi một ngày 2 tiếng vào buổi tối khi thầy đi làm về, nên cả ngày tôi được rảnh rỗi. Sau mỗi sáng ôn bài và làm bài tập xong  là tôi được quyền đi chơi. Nhưng đi đâu cũng phải nói cho chú Tư và chị Bếp biết. Tôi không được đi xa, song xóm tôi ở, đi chưa tới nửa ki lo mét là hết xóm. Vì thế tôi chỉ lẩn quẩn trong xóm, lên cái đồi sim trên trường làng, hay vòng qua cái doi đất lên đồi phía ông Tây Bernard ở, để rình xem bà đầm cùng mấy đứa con nhỏ chơi xích đu, nhưng ba tôi cấm là không được mon men đến gần vì nhà ông Tây có lính bồng súng gác. Quanh đi quẫn lại rốt cuộc cũng ra  chiếc cầu ván ngồi chờ mấy thằng bạn vác cần ra câu.
 
Vùng tôi ở có rất nhiêu kên kên (vautour) và cò. Nhiều khi ban đêm chó hay mèo đi rình cá, nước ròng chúng lội theo ra vũng sình, bị kẹt sình nằm chết chình ình trên vũng. Rứa là sáng hôm sau một lũ kên kên bay vần vũ la ó om trời đất, sà xuống làm thịt con mồi. Chúng dành ăn đánh nhau chí chóe cả bãi sình. Lắm con cũng bị kẹt sình nhưng cố ráng quạt cánh bay lên. Cò thì bay trắng cả ruộng, bay từng đoàn, chúng lăm le khi thấy vắng người là sà xuống ruộng bắt cá và tép. Chúng đậu trên những hàng cây lớn ven sườn đồi trắng lỗ chỗ và cũng làm tổ trên đó. Tôi ghét chúng nhất là mùa cò đẻ, tiếng cò con khóc như tiếng con nít ở trên cây! và dưới vệ đường ôi thôi toàn là phân cò trắng toát!
 
Mỗi buổi sáng xóm chợ chồm hổm trước cửa depot muối, rộn rịp bán buôn từ lúc 5, 6 giờ sáng. Những ghe đi đánh cá đêm vừa về đổ cá ra chợ bán cho con buôn xuống từ Vạn giả, Đại lảnh, cũng có khi tận trong Ninh Hòa ra mua. Xe ngựa đến mang rau cỏ thịt thà xuống chợ, khi về thì hai bên thành  xe móc đầy ắp các giỏ cùng thúng đầy những cá. Chợ tấp nập ồn ào cho đến khoảng 10 giờ sáng, khi kẻ nhóm chợ về hết trả lại cái xóm Hòn vắng tanh như chùa bà Đanh. Chợ xóm Hòn này có cái đặc biệt là không có bán cá từng con, trừ những con cá lớn đôi ba chục ký trở lên, còn lại họ bán từng thúng hoặc rổ là ít nhất. Vì bán sỉ cho con buôn, nên chị bếp nhà tôi có là dân ở đó cũng phải mua nguyên cả một rỗ đem về chia ra cho bà con cùng dãy. Dĩ nhiên mỗi căn lấy cá phải trả lại chị bếp tiền phần cá của mình. Có khi nguyên cả tuần, một dãy năm căn ăn có một loại cá. Thỉnh thoảng rỗ cá lọt ít con mực hoặc vài con cua hay một loại cá khác thì chị bếp luôn dành cho nhà tôi, nhưng khi ba tôi biết được thì ba la chị bếp đừng làm vậy không được công bằng. Có một hôm chú Tư ra chợ mang về cho ba tôi một con tôm hùm lớn gần bằng cái ống chân của tôi. Râu ria và càng của nó tua tủa ra tôi cầm không hết. Tôm hùm ở đây con nào con nấy cân cũng đến ba bốn pounds (gần hai kí lô). Hôm đó cả nhà ba tôi và chú Lang ăn tôm hùm nướng bơ và nhậu hết nửa lít đế. Chú Tư mặt đỏ gay vừa ăn vừa hát cải lương rân-cà-tum vang cả xóm Hòn!
 
Mấy tuần lễ đầu tiên mới đến tôi lợm giọng mỗi khi đi ngang qua đó vì tanh quá. Nhưng riết rồi cũng quen. Còn bữa nào tôi đi ra bãi sớm để bắt trùn, khi về đi ngang qua chợ cá cũng được bà con cho vài con cá tươi mang về. Nhiều lúc tôi không lấy nhưng họ biết tôi con thầy Đội nên cứ nhấn đại vô tay. Bất đắc dĩ tôi phải mang về cho chị bếp. Chị bếp lần sau dặn tôi đừng đi qua đó nữa, đợi tới trưa trưa rồi hẵng về. Nhưng ở cái xóm Hòn Khói này buồn quá là buồn, không có khỉ ho, nhưng có cò gáy, chỉ mong sang sáng có phiên chợ còn ra xem được thiên hạ tấp nập mua bán cho vui. Bởi vậy chiều nào mà tôi được đi câu cá là chiều đó vui xiết kể.
 
Ruộng muối phu phen bắt đầu đầm lại sau khi đã xả hết nước biển ra và lấy hết muối. Công nhân cào muối bằng chiếc cào to bản làm bằng gỗ tốt có sơn và phết chai để nước biển khỏi ăn mục. Muối cào lên dồn từng đống sau đó phu muối gánh lên bờ đổ vào các thùng xe rùa , (2 thước nhân 4 thước), đặt nằm trên đường rầy nhỏ ven lộ gần rìa ruộng. Đầy hết các thùng thì xe lăn bánh kéo về depot để đổ ra, tại đó có công nhân dồn muối lên thành từng đống lớn bằng cả cái nhà ba gian trên có lợp mái lá hẵn hoi để nước mưa không thấm vào muối. Tôi đếm ở depot có cũng hơn chục núi muối là ít. Lâu lâu có tàu nhỏ cặp bến lấy muối ra phân phối cho các thành phố khác. Công việc làm muối này do chánh phủ Tây thuộc địa thực hiện và cai quản bởi sở quan thuế Pháp (Douane et Regis) như đã nói ở trên. Thời Tây cai trị xứ mình mọi công việc gì làm ra tiền lớn đều do chánh phủ Tây cai quản, ngay cả đến rượu trắng bán cho dân, Tây cũng dành lấy thành lập một cơ quan chế biến và bán rượu trắng tên gọi là SICA (+) Vì thế ngành quan thuế ngoài việc đi tuần tra để bắt thuốc phiện lậu, rượu lậu, còn thêm công tác  làm muối và phân phối muối, cũng là một Sở rất lớn vào thời bấy giờ.
 
 Có một lần tôi thấy một đoàn người Thượng trên các buôn làng trong dãy trường sơn gần Đại lãnh kéo nhau xuống Hòn Khói lưng mang gùi đầy thú rừng nhỏ như khỉ, gà rừng, vải vóc tự dệt, cùng các hàng hóa thuốc dân tộc như gạc nai, v.v.. Họ đi bộ cả mấy ngày trường xuống vùng biển để đổi lấy muối mang về. Người dân tại đó có một số ít biết tiếng Thượng (Rhadé hay Kohor gì đó) nói chuyện với họ, vì một số lớn dân ở Hòn khói là sắc tộc Chăm có ngôn ngữ gần gũi với các giống người Thượng miền núi. Tôi nghe chú Tư kể lại rằng dân trong xóm bữa đó hỏi ai đã chỉ cho các người biết ở đây có muối mà xuống mua? Họ đáp: Bấy tôi từ trước nay có xuống đổi ở mấy phố trên đường lộ, nhưng bây giờ họ đòi bán và đổi muối ít quá, có người chỉ cho đi xuống đây mà đổi có nhiều lắm!. Hàng xóm bảo ai chỉ cho mà ác nhơn vậy? Đâu có được, ở đây muối của ông Tây không có bán, ai mà bán trong sở bắt được họ bỏ tù. Và lại tụi tui đâu có nhiều muối mà đổi, mỗi gia đình chỉ được phép mang về nhà một ít mỗi tuần nếu có thân nhân làm trong sở muối. Mấy chú đi về ngay đi, ở đây Tây nó biết nó đem súng ra bắn chết hết đó! Nói vậy chớ khi tôi thấy họ quay về trong gùi trên lưng người nào cũng đầy muối và xóm tôi từ đó có thêm một con khỉ. Nhưng rồi sau đó trở đi tôi không còn thấy đám người Thượng léo hánh đến Hòn Khói nữa!.
 
Những ruộng đã cào lấy muối từ nhiều tháng trước nay đất đáy đã khô, phu muối tiếp tục đầm cho đất dày và mịn lại như trét xi măng để sẵn sàng mở cửa cho nước biển vào cho vụ muối mới. Nhiều ruộng công nhân đã mở cho nước mới vào xâm xấp từ cả tháng nay. Sau vài lần tháo nước cũ ra, thay nước mới vào thì người ta đóng bờ ruộng lại để cho nước biển bốc hết hơi. Lúc nước biển bốc hết hơi còn đọng lại là muối trắng, họ chờ muối khô đủ ngày tháng thì sẵn sàng cào để lấy muối mới.
 
Những tháng cho nước mới vào ruộng là những lần tôi được chú Tư dắt đi xúc tép trong ruộng. Từng đống tép đỏ ối nằm dưới mặt nước biển trong ruộng, tha hồ đem cái thúng có lỗ chỉ việc nhẹ nhàng đút chiếc thúng dưới đám tép và múc nó lên. Chao ôi những con tép màu hồng nhảy tưng tưng dưới ánh nắng trông đẹp làm sao. Thế là về nhà chị bếp lại có nhiều màn nào kho sả, xào với giá hay làm mắm ruốc.
 
Sau những tháng hè rong chơi vui vẻ, sáng nay là niên khóa đầu tiên của niên học l942-43. Ba tôi dắt tôi tới ngôi trường trên đồi trong làng gặp thầy hiệu trưởng để xin cho con vào lớp mới. Ông hiệu trưởng sau khi tiếp ba tôi, xem học bạ cùng những giấy ban khen “mentions bien” chứng chỉ lớp tư năm rồi và thư xin đổi trường. Ông phê cho tôi được miễn thi. Tôi được ngồi lớp ba (**) với hai thằng bạn đi câu cá suốt là thằng Mến và thằng Đạt. Ngôi trường nhỏ rêu phong nằm dựa lưng trên một cái đồi sim thoai thoải. Sau trường có lối mòn đi lên tận đỉnh, trên đó chúng tôi có thể nhìn bao quát từ Hòn sang mấy ngọn đồi kế và xa xa là biển Nam Hải. Những giờ ra chơi hay buổi sáng đến trường sớm, tụi tôi rủ nhau leo lên tận đỉnh đồi hái sim chín và bắt chim con về nuôi. Thỉnh thoảng cũng thấy nai và mãng đi ăn dọc theo con đường mòn trên đỉnh đồi đối diện. Thầy giáo và chú Tư cũng đã dặn dò tụi tôi rằng không được trèo qua bên đồi khác vì bên đó có cọp. Lúc đó cư dân Hòn Khói đồn rằng ban đêm thỉnh thoảng có cọp xuống bắt nai, mãng, nhưng thấy cọp thì chả nghe ai nói đến.  Song trên quốc lộ 1 từ Đại lãnh vào Nha trang thỉnh thoảng buổi chiều tối cọp hay ra đường cái ngồi xổm nhìn đèn xe hơi. Xe chạy đến thì nhảy tuốt vào bụi rậm. Thời gian đó vùng này nổi tiếng rất nhiều cọp vì thế nên dân địa phương có câu: “cọp Khánh hòa ma Bình Thuận”.
 
Ngày tháng êm đềm trôi, cuối năm tôi được theo ba tôi về Đà nẵng ăn Tết rồi ra giêng lại lót tót theo ông trở lại Hòn Khói. Một đêm đang ngủ, ba tôi bỗng choàng thức giấc dậy vì có những tiếng động lạ bên vi-la của người sếp Tây Bernard vọng qua, có cả tiếng quát mắng lớn nhưng ba tôi nghe không rõ. Tôi cũng thức theo ba rõi mắt nhìn qua cửa sổ kính, thấy bên vi-la đèn đuốc bật sáng trưng. Có rất nhiều lính cầm súng chạy vào chạy ra, những người lính này mặc đồ kaki màu vàng trên đầu lại đội mũ vải có tai bèo che hai bên hông tai. Trước đó tôi cũng có nghe một vài tiếng súng nổ. Bên cạnh nhà tôi căn của chú Lang mở đèn, ba tôi hết hồn gọi qua bảo chú tắt đèn đi. Tôi thấy gương mặt ba tôi lộ vẻ lo lắng khẩn trương, ông xem giờ thì thấy khoảng 2 giờ sáng. Ông bảo tôi đi tới giường ngủ lại đi con, nhưng tôi cứ nắm tay ông và không muốn trở lại giường mà không có ông. Ông ngồi cạnh chiếc ghế đặt bên cửa sổ mắt vẫn theo dõi qua phía vi-la bên kia vịnh. Sau đó ông thấy nhiều tiếng máy xe nổ và một số người lố nhố ra xe lái đi. Vì xa quá nên ba tôi không thấy rõ là những ai, chỉ thấy bóng dáng nhiều lính, người lại thấp lùn. Ba tôi bèn trở lại giường, nhưng ông nằm trằn trọc thao thức không ngủ tiếp được.
 
Mới năm giờ sáng, ba tôi giật mình choàng dậy vì nghe có nhiều tiếng chân người rầm rập đi vào depot. Tôi cũng thức giấc dậy theo ông. Tiếng chân đi rập ràng có vẻ như một toán lính mang giầy bốt đờ sô (giày lính). Họ dừng lại trước sân. Im lặng vài phút, rồi có tiếng người đi vào phía cửa chính nhà tôi. Có tiếng gõ cửa dồn dập. Ba tôi đoán có chuyện chẳng lành, ông vội tiến đến cửa sổ mà đêm qua sơ ý ông quên không đóng kín. Lần theo khe hở ghé mắt dòm ra, ông hoảng hồn khi thấy một đám lính Nhật lố nhố đàng trước nhà. Ông xỏ dép đi ra mở cửa. Tôi cũng líu ríu đi theo.
 
Cửa mở, một người lính Nhật hiện ra tay cầm súng nói xí xa xí xô chi đó rồi kéo ba tôi ra ngoài. Tôi chạy theo, ba tôi la bảo tôi đi vào trong. Tôi thấy cái cổng lớn đã mở toang, một chiếc xe jeep đang chạy vào, trên xe có cắm cờ Nhật Bản. Toán lính chia nhau đến trước các căn nhà kế bên gọi mọi người trong nhà đi ra ngoài hết. Anh lính Nhật nói một tràng tiếng Nhật chi đó nhưng ba tôi không hiểu, anh ta ra dấu cho ba tôi theo anh đi ra ngoài xe. Hai người lính khác tiến vào nhà bật đèn lục soát kỷ lưỡng xem trong nhà còn có ai không, nhưng khi chỉ thấy có tôi và chị bếp họ bèn bỏ đi ra.
 
Chúng dắt ba tôi ra ngoài xe jeep gặp cấp chỉ huy và bắt đứng ở đó chờ. Dần dà đến lượt chú Lang cùng mấy người cai và lính ở các căn kế cận cũng cùng đi ra với mấy người lính Nhật. Một người lính khác cầm theo ra hai cây súng mút cờ tông và một thùng đạn. Hắn đem ra giao cho người chỉ huy. Họ dắt tất cả mấy người cai và lính tới đứng cùng chỗ với ba tôi.
 
Trên xe jeep bước xuống một người lính Nhật vóc dáng nhỏ thó, mắt đeo kính cận, đội mủ tai bèo hông mang súng lục và một cây kiếm, có vẻ là một sĩ quan. Ông ta đưa mắt nhìn tất cả mọi người rồi nói gì đó bằng tiếng Nhật với ba tôi. Ba tôi và các chú cai không ai hiểu gì cả đành lắc đầu. Ông ta bèn móc vào túi áo trên lấy ra một mảnh giấy viết bằng tiếng Pháp đưa cho ba tôi. Ba tôi đọc và hiểu ngay rằng Nhật đã đảo chính Pháp và bắt hết người Pháp dẫn đi vào sáng sớm nay lúc 2 giờ sáng. Trong số đó có ông sếp Tây của sở muối và cả gia đình. Ba tôi ra dấu cho người sĩ quan xin phép cho ông nói cùng mấy người cai và lính đứng sau lưng ông. Vị sĩ quan gật đầu. Sau đó họ ra dấu cho ba tôi và mấy người cai trở lại nhà, không được đi đâu và cắt một toán nhỏ lính Nhật canh gác sở muối cùng nhà của nhân viên trong sở.
 
Bảy giờ dân phu lục tục kéo tới sở làm, nhưng thấy cổng đóng và có lính Nhật gác, chưng hững, không ai dám vô chỉ đứng lớ quớ trước sở chờ. Chú Tư cũng có đứng trong đám đó rướn cổ ngóng vô nhà tôi. Phần tôi khi ba đi ra ngoài với mấy người lính Nhật tôi muốn bật khóc, nhưng vì quá sợ nên dằn lại cứ đứng nắm tay chị bếp mà run lây bẩy. Chị bếp cũng run không kém tôi. Mặt chị xanh như tàu lá. Một lát sau ba tôi vào, tôi bật khóc òa, ba tôi bảo: “đừng khóc con, lớn rồi, lính Nhật nó nghe nó bắt đi thì ba không biết làm sao”. Tôi nghe lính Nhật bắt đi bèn ráng nín khóc, chùi nước mắt hỏi ba: “Mấy người lính đó có bắt ba đi không?” Ông lắc đầu: “Không, họ không bắt ai hết”. Tôi nghe thấy an tâm nhưng vẫn còn sợ hãi. Ba tôi sờ xuống quần tôi, thấy ướt vì tôi sợ quá nên tè ra lúc nào không biết. Ông cười và kêu chị bếp đem quần ra cho tôi thay.
 
Đâu khoảng mấy ngày sau đó, một sáng tôi thức dậy thấy lính Nhật gác depot đã rút đi êm từ tối qua không để lại một dấu vết nào. Ba tôi ra mở cổng và kêu mấy người phu gần đó vào làm nốt mấy công việc còn dang dỡ mấy ngày qua. Đến khoảng xế trưa ba tôi thấy ông sếp Tây Bernard đi cùng mấy viên sĩ quan Nhật trong xe Citroen của ông qua sở gặp ba tôi nói chuyện chi đó thật lâu rồi ông ta lại trở về bên vi-la. Song từ đó trở đi chẳng ai thấy ổng trở lại depot nữa.
 
Quân Nhật kiểm soát và quản lý về phần hành chánh và giao công việc điều hành nhân viên công tác cho ba tôi. Công việc sở lại chuyển động như cũ. Nhưng trên  gương mặt ba và chú Lang cùng mấy người cai và lính đều âu lo thấy rõ. Cuồi năm sau thì ba tôi được lệnh thuyên chuyển lên Vạn giả. Một hôm có người lính củ của ba tôi dưới Hòn lên báo cho ba tôi biết rằng có chiếc tàu bay đậu dưới nước đến đón người xếp Tây đi rồi.
 
Tình hình biến đổi thấy rõ. Chiến tranh bùng nổ lớn giữa Nhật và Mỹ cùng đồng minh. Nhật hiện thời thôn tính và cai trị nước tôi. Chỉ có một đêm mà chúng giải giới quân Anh và Pháp toàn cõi Đông dương, tiến chiếm xuống tận Mã Lai và Nam dương. Chính sách Đại đông Á ban hành. Quân phiệt Nhật rất là tàn ác! Sau này ba tôi thuật lại rằng có nhiều người Việt lúc đó biết tiếng Nhật mà không chịu làm thông ngôn cho chúng thì chúng chặt đầu mổ bụng! Cũng có nhiều người dân mình đôi khi chỉ vì quá đói, ăn cắp của chúng một lon gạo hay một vật dụng nhỏ nào là chúng cũng chặt tay. Mấy tháng sau nghe đồn có nạn đói lớn đang xảy ra ngoài Bắc nữa. Lý do là vì khi quân Nhật chiếm đóng nước ta họ đã bắt dân ta ngoài Bắc không được trồng lúa, thay vào đó trồng đay (?) cho quân đội Nhật, nên mới xảy ra vụ đói 45 giết cả hàng trăm ngàn đồng bào ta!
 
Một buổi sáng đang học trong lớp, tụi tôi nghe có nhiều tiếng máy bay trên không phận Hòn Khói. Có cả tiếng súng ầm ầm nổ vang trên trời. Thầy tôi biết có biến nên cho học trò ra sân sau xuống hầm ẩn núp. Trước đó mấy ngày thầy giáo cũng đã cho học trò các lớp biết rằng xứ mình sắp có chiến tranh, nên trường đã cho đào một rãnh mương sâu phía trước sân trường để làm hầm trú ẩn. Khi có biến thì học trò chạy ra xuống hết dưới mấy chiếc mương đó. Sáng nay khi nghe tiếng máy bay, thầy hiệu trưởng chạy ra sân bảo tất cả các phòng học đóng cửa và cho học trò xuống hầm ngay. Ông thổi tu huýt ra lệnh cho các thầy cô di tản gấp học sinh.
 
Ngồi dưới hầm lộ thiên chúng tôi nhìn lên thấy ba bốn chiếc máy bay hai hình bay thiệt cao, có một chiếc chao qua chao lại. Chốc chốc thấy có hai chiếc máy bay nhỏ hơn bay xẹt qua bắn vào mấy chiếc máy bay lớn trên. Rồi lửa và khói đằng sau đuôi chiếc lớn vọt ra. Tôi nghe có tiếng súng lớn bắn trả lại ở mấy chiếc phi cơ hai hình. Chiếc có đuôi lửa bỗng nổ và cháy rực trên trời, có hai chấm trắng lao ra từ chiếc máy bay lớn, sau đó hai chiếc dù mở ra và có người lắc lư dưới thân dù. Hai chiếc dù rớt xuống biển. Mấy chiếc phi cơ nhỏ đã bay đi mất và biến vào trong mây. Sau đó không còn nghe tiếng phi cơ nữa. Chờ cho máy bay đi xa và thật yên vắng thầy hiệu trưởng mới huýt còi cho học sinh trở lại lớp. Sau đó thầy hiệu trưởng đến từng lớp một ra lịnh cho thầy cô cho học sinh về sớm. Chúng tôi nào biết chiến tranh là gì đâu, tung tăng chạy ra ngõ theo thầy cô mình sắp hàng xuôi về xóm.
 
Tôi về tới nhà thấy chú Tư đang loay hoay lau bàn ghế ngạc nhiên nhìn lên vì chưa tới giờ đón tôi sao thấy tôi đi về một mình. Tôi thuật lại trận máy bay đánh trên trời và cho biết thầy hiệu trưởng hôm nay cho học trò về sớm. Tôi hỏi chú Tư có thấy máy bay bắn lộn không, chú nói có thấy và chú cũng trốn ở cái mương sau với chị bếp. Chiều về cả xóm đồn rân rằng máy bay Nhật bắn máy bay Mỹ. Thế là trận chiến Mỹ Nhật đã xảy ra trên đất nước nhỏ bé của tôi. Đêm đêm đang ngủ ba con tôi cũng bị thức giấc bởi tiếng máy bay và súng đại liên bắn nhau râm ran cả bầu trời đêm cùng những trái hỏa châu phi cơ thả ra soi sáng cả một vùng trời phía bắc Hòn Khói. Sau này tôi mới biết lúc đó hạm đội của Mỹ đánh Nhật có một số lớn tàu chiến vào nấp ở Vũng Rô.
 
Mấy tháng sau đó depot Hòn Khói tạm thời đóng cửa. Cai, lính và công nhân bị thôi việc. Ba tôi thì được giấy của trung ương thuyên chuyển lên xem kho muối trên ga Vạn giả. Nói là kho chứ thật sự chỉ là năm sáu toa xe lửa đầy muối, trên lợp lá tranh đậu nấp dưới hàng cây còng. Thế là cha con tôi lại khăn gói quả mướp lên đường rời bỏ Hòn Khói sau một năm tràn đầy kỷ niệm của cậu học trò,- có cái giò [***] đi câu


Chú thích:
(*) lính săng đá: soldat
(**)Thời đó chương trình học 5 năm đầu tiên cho trẻ là:  lớp năm, lớp tư, lớp ba, lớp nhì rồi đến lớp nhất. Thi Tiểu học (Primaire) Rồi đến Trung Học: đệ thất, đệ lục, đệ ngủ, đệ tứ, đệ tam. Thi Thành Chung (Diplome). Tiếp đến: đệ nhị, đệ nhất. Thi Tú tài phần nhất…rồi toàn phần.
(***) giò: chân, cẳng.
  
(+) Hãng SICA (Không nhớ toàn tên, chỉ nhớ các chữ tắt)     

<bài viết được chỉnh sửa lúc 20.03.2016 23:19:36 bởi Ct.Ly >

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 20.03.2016 23:06:38
 
                                           Chương ba
 
                         Nếm mùi bom đạn.
 
 
Ầm, ầm, ầm!…Đàn chim đang đậu trên mấy lùm cây gần đó tung bay tán loạn. Mặt đất rung rinh. Tiếng rít của chiếc phi cơ chiến đấu Pháp đang xé gió nhào xuống từ trên không. Đạch, đạch, đạch, đùng đùng…Hàng tràng đạn đại liên tới tấp tuôn ra từ hai bên cánh máy bay xối xả đổ xuống các toa xe lửa chở đầy muối đang đậu ở ga Vạn Giả. Có tiếng ầm vang lớn, tiếp theo là lửa bốc cháy từ các toa xe. Mùi khói súng,  mùi khen khét của lá khô cùng tàn của nó bay đầy trong không khí.
 
Tôi có cảm tưởng như đang có một vật gì thật lớn đè nặng lên thân thể tôi. Bản năng tự vệ khiến tôi đưa tay lên cổ. Nhưng tay tôi bị dính kẹt như có ai đang cầm lấy hai tay mình ghì xuống. Tôi cảm thấy nghẹt thở ở cổ họng. Tôi ráng hét một tiếng thật lớn: Ba ơi! Rồi tắt nghẹn như bị ai bóp cổ, tôi không còn thốt thành tiếng nữa nhưng miệng thì vẫn há to gọi ba.
 
Từ căn hầm bên kia ba tôi bò lết sang, thấy tôi đang cố vùng vẫy trong đống cát, ông bèn lấy hai tay đào cát ra khỏi thân tôi, miệng vừa trấn an:
 
“Đừng sợ, đừng sợ, nó bay đi rồi, có ba đây! Không sao đâu..
 
Sau một hồi cào cát, may mà cát chỗ đó mềm nhưng hai tay ông cũng rướm máu. Ông lôi tôi ra khỏi đống cát trong hầm núp. Cái hầm cá nhân trốn bom của tôi chỉ còn thấy miệng hầm mà thôi. Tôi thoát chết trong gang tấc nếu không có ba tôi bò qua kịp thời, không thì đã bị nghẹt thở trong đống cát! Hú hồn…Hai cha con kéo nhau đứng dậy.
 
Lửa vẫn còn cháy dữ dội trên các toa xe đầy muối. Khói cuồn cuộn lên thành những cột đen thui. Tiếng nổ lốp bốp của muối và tiếng la ó của quân lính Nhật đóng gần đó chạy ra, ơi ới gọi nhau lấy nước chữa lửa. Ba tôi dìu tôi vào nhà, trên sân tôi đạp phải những vỏ đạn đồng “dum dum”(*) còn nóng hổi. Tôi co cẳng nhảy lò cò. Ông quan sát kỹ tôi từ đầu xuống chân rồi bảo:
 
“Xong rồi, con không có hề hấn chi mô. Để ba chạy ra ngoài chữa cháy”.
 
Nói xong ông chạy vụt ra ngoài nhập với đoàn lính Nhật đang đem thùng múc nước dưới ruộng gần đó hắt lên các toa muối đang bị cháy. Kiểm điểm lại thì không có ai bị thương, nhưng ba toa xe muối bốc cháy vì trên trần có lợp lá ngụy trang. Hai toa xe lửa trống bị nổ tung, sườn và thùng xe văng ra xa, bánh xe sắt vỡ ra làm hai ba mảnh, hai đường rầy chỗ đó bị cong lại như hai cái đòn gánh. Nhà ga Vạn Giả cũng bị trúng bom sập tan tành. Chiếc máy bay vừa thả bom xong, bay vút lên trời thật cao, vòng lại áng chừng như để chụp hình quang cảnh đám cháy hay tránh cao xạ của Nhật bắn lên?
 
Sau cơn chấn động tôi ngồi thở hổn hển mắt nhìn dán vào đoàn người đang chạy lên chạy xuống dưới mương ruộng gần đó. Ông bà Lý hàng xóm kế nhà tôi thần hồn nát thần tính chạy ra chạy vô đâm sầm vào nhau kêu ơi ới! Chị Huệ con ông bà cũng hớt ha hớt hải chạy qua nhà tôi xem tôi có bị thương không? Sau khi biết tôi không hề hấn gì chị lại chạy về nhà trấn an hai ông bà già đang cãi nhau inh ỏi. Chị Huệ thương tôi lắm. Từ ngày ba tôi cùng tôi dọn về đây, ngày nào chị đi rừng về cũng ghé qua nhà cho tôi nào sim chín nào trái mây. Có hôm có cả chà là mật nữa. Sáng nào chị cũng vào rừng cắt giây mây về bán. Một số chị để nhà cho ba má chị gọt chuốt để đan rổ rá. Còn lại chị đem xuống chợ bán cho tiệm đồ gỗ để họ dệt nắp bàn hay ghế. Chị thương tôi như em vì ba má chị chỉ có mình chị là con gái và tôi thì ở một mình với ba. Người con trai trưởng đã có vợ và ra riêng nên không còn ở với cha mẹ từ năm ngoái.
 
Từ ngày quân Nhật chiếm đóng,  sau đó không lâu Sở hỏa xa đã được lịnh ngưng chuyển vận hành khách và hàng hóa vào ban ngày. Xe chỉ chạy có một chuyến vào ban đêm để tránh máy bay Pháp bắn phá. Nhà ga Vạn Giả ở đây cũng đã bị quân Nhật sung công và đóng cửa. Chúng đóng quân cách đó không xa. Mọi việc di chuyển của dân chúng bằng xe hỏa về đêm phải về các ga lớn như Nha Trang hay Ninh Hòa. Lúc ba tôi được thuyên chuyển về đây chỉ thấy có mấy cái toa xe muối và một số toa xe chở hàng trống trơn nằm dọc theo đường rầy thứ hai nấp dưới các tàn cây bàng hay cây còng lớn. Dẫu vậy ba tôi không hiểu tại sao chúng vẫn giữ ông lại đó để trông mấy cái toa muối đó, làm mà không được trả lương.
 
Ông lo lắng và buồn chán vô cùng bèn gửi thư về trung ương, nhưng cũng chẳng thấy trung ương trả lời. Sau đó mấy tháng có một chuyện hi hữu xảy ra.
 
Số là hôm đó có một viên sĩ quan Nhật đi với mấy người lính đến gặp ba tôi và ra dấu bảo cho chúng nó lấy đi một số muối. Ba tôi hỏi chứng thư cho phép của cấp trên. Nó lắc đầu bảo không có và ra dấu cho ba tôi là: “nhắm mắt bịt tai” làm như không biết! Theo lịnh của trung ương thì mỗi lần quân Nhật đến lấy muối phải có chứng từ cùng chữ ký của vị sĩ quan coi Sở muối dưới Hòn Khói mới cho lấy muối. Không hiểu tại sao bữa đó lại có cái thằng sĩ quan vô kỷ luật này đến đòi lấy muối,  đã không có giấy tờ lại còn bảo ba tôi nhắm mắt làm ngơ làm như không biết. Ba tôi lắc đầu bỏ đi, vậy là hắn ta nhảy xổ tới đứng trước mặt ba tôi rút gươm ra dọa đòi mổ bụng ba tôi.
 
Không biết trời xui đất khiến gì ông già hôm đó đã không sợ lại còn vạch áo đưa ngực và bụng ra thách nó mổ. Trời đất ơi, ông già chịu chơi quá chừng!  Ông bảo với nó rằng ông sẽ đi đến trại đóng quân báo cáo sự việc. Tên sĩ quan bèn vội vàng đút gươm vào vỏ, miệng cười rồi lên xe bảo tài xế lái đi. Sau này khi lớn lên tôi cứ nhắc lại chuyện đó hỏi ba tôi sao không sợ, ông cũng lắc đầu không hiểu tại sao lúc đó ông gan cùng mình vậy?  nhỡ nó làm thiệt thì sao? Ông bảo ông nghi rằng Nhật chúng nó cho người đến thử xem ông có tham nhũng bán muối lậu không?
 
Hôm đó một phen hú hồn hú vía, về nhà ba tôi suy nghĩ mãi tại sao lại có cái màn này? Vì từ khi quân Nhật sang đây thiên hạ đồn rằng chúng nó kỷ luật lắm, ăn cắp là chặt tay chứ đâu phải chơi. Ông suy nghỉ mãi và ngày hôm sau ông quyết định vô trại Nhật gần đó nhờ người thông dịch viên báo cáo lại sự việc với viên sĩ quan trưởng trại. Họ tra hỏi ba tôi lâu lắm, hỏi rằng có nhớ mặt người sĩ quan đó không? có biết tên hắn không? và đi xe mang biển số gì. Ba tôi lắc đầu bảo không nhớ và cũng không biết. Chúng lập biên bản và bảo ba tôi đi về.
 
Mấy ngày hôm sau có hai người lính Nhật bên trại đóng quân cùng với một anh thông ngôn đi qua nhà tôi. Ba tôi thấy họ đến thình lình thì lo sợ ra mặt, tưởng họ sang bắt mình. Nhưng sau đó thấy họ không có mang súng và anh thông dịch nói rằng mấy anh lính Nhật muốn sang nhà thăm ba tôi chơi mà thôi, chứ không có chuyện chi. Họ hỏi han ba tôi ba điều bốn chuyện chi đó. Ba tôi mời tất cả ngồi và vào trong pha nước trà ra mời họ. Một anh lính Nhật đến bên tôi lấy ra mấy viên kẹo cho tôi, nhưng tôi lắc đầu không nhận, anh lính nhờ anh thông ngôn hỏi tôi tên chi, bao nhiêu tuổi, có đi học đâu không? Tôi đáp:
 
“Từ khi ba tôi dọn về đây tôi không được đi học vì không có trường.”
 
Anh lính bảo rằng anh cũng có một người em trai nhỏ bằng tuổi tôi ở bên Nhật.  Anh hỏi tôi:
 
"Em có biết hát không?"
 
Tôi đáp: "dạ có."
 
Anh ta hẹn bữa nào rảnh sẽ qua nhà dạy tôi hát bài Shina no yoru! Khi họ về có để lại biếu cho ba tôi một bịch đường trắng và mấy trái dưa chuột. Đó cũng là khẩu phần thường ngày của quân lính Nhật. Dĩ nhiên cũng có những ngày khác đổi món, nhưng tôi để ý thấy hầu hết là họ ăn cơm với dưa chuột cùng đường trắng mỗi ngày. Còn tắm thì cởi truồng tồng ngồng không che đậy chi hết.
 
“Shina no yo ru”…lúc đó tôi cũng chẳng biết bài đó là bài gì cho mãi đến tuần sau thì thấy anh lính Nhật ấy lại qua nhà tôi, trên tay anh cầm theo cây đàn vuông nhỏ nom giống như cây đàn nguyệt nhưng thay vì tròn thì nó lại vuông. Anh đàn và dạy tôi hát, tôi không thích lắm nhưng sợ và cả nể nên học theo anh. Cây đàn anh khảy với một miếng tre vọt mỏng và nhọn tà một đầu. Tiếng đàn khản đục như nước vo gạo, khô khúc như tiếng mộc chạm vào nhau, không thanh tao như đàn tranh hay đàn kìm của mình. Anh hát ư ử say sưa, gảy đàn cành cạch, tiếng bấc tiếng chì!
 
“ Shi..i..i..na..no..yo rư …ư…ư.!!” 
 
Hết bài tôi khen anh lấy lòng. Từ đó cứ mỗi tuần anh lính Nhật đều qua nhà tôi dạy tôi hát cùng học tiếng Nhật, nhưng tôi nghe lỗ tai này rồi nó đi ra ở lỗ tai kia, tôi cũng chẳng còn nhớ! Vả lại thời gian đó mà nhà nào giao du nhiều với quân đội Nhật là trong làng lối xóm họ để ý. Một hôm ba tôi bảo thôi con tránh nó đi, vác cần câu xuống dưới xóm dưới đi câu, để khi nào nó sang ba sẽ nói với nó rằng con đi câu với chúng bạn từ sáng rồi. Vài lần như vậy, anh Nhật qua nhà không thấy tôi, riết chán rồi cũng không qua nữa.
 
Trại đóng quân của Nhật ở cách nhà tôi không xa lắm, đi bộ dăm phút, cách nhà ga độ ba trăm mét. Chúng lập căn cứ trong một căn nhà tranh đầu xóm bao bọc bởi một mảnh vườn rộng lớn, hai bên nhà là hai lũy tre rậm rạp, nằm trên con đường từ nhà ga vào làng. Chúng căng trại dưới tàn tre rậm. Lính Nhật mỗi sáng tập trung trong trại dã chiến chào cờ, xong rồi đua nhau đi nấu cơm rồi tụ tập ăn sáng. Chúng chia nhau gác các chốt hai đầu đường rầy dẫn đến nhà ga ở phía dưới bè ruộng, cùng con đường dẫn vào làng. Từ ngày quân Nhật đến đây đóng quân, dân chúng trong làng không ai dám đi ra phía nhà ga. Hơn nữa ga Vạn giả đã đóng cửa từ lâu, chuyến tàu đêm chỉ đi ngang qua ga chớ không dừng lại. Căn nhà đầu xóm đó của một tá điền khá giả đã bị chúng sung công và chiếm ngụ từ khi mới đến, nên họ sợ và cuốn gói bỏ đi giao cho chúng xử dụng từ lâu. Bên góc nhà đằng trước sân có một cái giếng nước một nửa xây mặt vào trong nhà, một nửa xây ra ngoài đường nhỏ để cho dân chúng trong làng đến lấy nước xử dụng chung. Nhưng từ ngày Nhật đến chiếm cứ thì không một ai còn dám léo hánh đến để gánh nước. Mấy ngày đầu có một vài chị trong làng thử quang gánh đến giếng, quân Nhật đuổi đi không cho lấy nước. Nhưng mà không đuổi mấy chị ấy cũng cạch không bao giờ dám đến nữa, vì trời ơi cả chục thằng lính Nhật sáng chiều hai bận, tồng ngồng như ông A đam đứng ra ven đường cạnh giếng tắm rửa tỉnh bơ. Chúng cười ha hả khi thấy mấy chị lần đầu lò dò đến lấy nước. Chúng xí xô xí xa ngoắc mấy chị lại, trong lúc đó mấy bà chụp thùng vớ đòn gánh chạy trối chết. Từ đó không có ma nào trong làng dám đi ngang qua đó, thỉnh thoảng chỉ có mấy thằng chăn trâu cỡi trâu men bờ ruộng dòm Nhật tắm cỡi truồng rồi về khoe với dân làng trong xóm. Một buổi sáng cả làng nhốn nháo lên vì thấy quân Nhật rút đi âm thầm từ đêm qua. Dân làng tụm năm tụm ba đoán già đoán non, chẳng ai hiểu mô tê gì hết.  Họ hỏi ba tôi, ba tôi nói cũng không biết gì, vì có gặp họ thường xuyên đâu? Sau đó ít lâu ba tôi được giấy báo của trung ương cho biết sẽ triệu hồi ông về Đà Nẵng nay mai. Ba tôi vui mừng ra mặt vì thấy thoát được hiểm nghèo, và nếu mà còn ở lại đây thì đói vì tiền bạc dành dụm mấy lâu nay ăn xài cũng đã gần hết.
 
Lúc đó Pháp đang muốn trở lại Đông dương, miếng đất béo bở phì nhiêu này, sau khi quân phiệt Nhật tước khí giới và cướp đi miếng mồi ngon. Mỹ đang cố tình giúp cho Pháp trở lại bán đảo này nên ngày ngày máy bay Pháp từ ngoài hàng không mẫu hạm Mỹ bay dọc theo các chốt đóng của quân đội Nhật trên các tuyến đường xe lửa thả bom cùng bắn phá vào các cơ sở mà quân đội Nhật đã chiếm đóng của Pháp trước đây. Tình trạng giằng co giữa Pháp và Nhật kéo dài cho đến năm 1945 khi Mỹ thả hai trái bom nguyên tử đầu tiên trên hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật, chấm dứt chiến tranh cùng đuổi Nhật ra khỏi bán đảo Đông dương.
 
Mấy tháng ở Vạn Giả nhưng sao tôi thấy thời gian nó dài tưởng chừng như cả năm vậy. Ba tôi thì ngày nào cũng phập phồng lo sợ vì không biết quân Nhật sẽ chiếm đóng xứ sở mình trong bao lâu, cũng không biết chánh sách của họ đối với người Việt ta như thế nào nói chung và đối với nhân viên làm cho Pháp cũ ra sao?.  Phần cũng vì lương bổng từ ngày thuyên chuyển lên đây chỉ nhận được có một tháng đầu, từ tháng thứ hai đến nay thì không thấy có. Ba tôi bèn qua trại đóng quân của Nhật gần đó để hỏi tình trạng lương bổng của ông như thế nào thì cấp sĩ quan dưới đó bảo không biết và cứ về làm việc như thường. Hỏi nữa thì người thông dịch bảo ông Tướng Nhật ra lệnh phải làm không công một thời gian cho đến khi có lịnh mới. Trung ương thì biệt tăm không có chỉ thị hay liên lạc gì hết.
 
Mấy tháng trước ba tôi có lần muốn xuống Hòn Khói để hỏi xem tình trạng và người chỉ huy dưới đó ra sao, nhưng quân Nhật không cho ba tôi rời nhà và bắt phải ở lại Vạn Giả để xem xét các xe muối từ dưới Hòn Khói giao lên cùng ký giấy cho Nhật khi họ muốn di chuyển muối đi các nơi khác.
 
Thực ra công việc ở đây chẳng có gì vì ngày ngày mỗi sáng cha con tôi cứ lắng tai nghe tiếng máy bay của Pháp u u từ xa là vội chạy ngay lao xuống hầm trú ẩn. Máy bay qua rồi thì trèo lên vào nhà đi vô đi ra cho hết ngày. Khi nào có lính Nhật tới kêu ba tôi ra ga ký nhận giấy tờ xe muối thì mới ra mà thôi. Mọi việc chuyển muối từ xe rùa sang xe lửa đã có quân đội Nhật làm. Ba tôi không hiểu tại sao họ không sa thải ổng mà cứ bắt ông ở đó như làm con tin.
 
Hầu hết các lần trước máy bay Pháp có bay ngang qua rồi thôi, cũng có lúc bắn xẹt xẹt vài tràng đại liên rồi cũng bay luôn. Nhưng hôm nay chắc quân Pháp có tin tình báo cho biết mấy toa xe lửa muối ngụy trang đang nằm che lấp dưới các tàng cây còng lớn ở ga Vạn Giả hay sao mà nó làm dữ, thả bom và bắn phá nhiều hơn các lần trước. Vì máy bay Pháp dùng chiến thuật bắn phá thần tốc rồi bay đi ngay nên quân Nhật không trở tay kịp và cũng không thấy phòng không bắn trả, hay quân Nhật sợ khi phòng không bắn lên Pháp sẽ biết chỗ đóng quân của quân đội Nhật. Quân Nhật di chuyển luôn luôn, không khi nào ở nguyên một chỗ quá hai ba ngày.
 
Vào thời gian hỗn độn đó ba tôi thật không biết xoay xở làm sao, vì không làm cho Nhật thì chúng cắt cổ chặt đầu, mà làm thì không có lương để sống. Trong lúc đang tiến thối lưỡng nan, thì ba tôi được lịnh ở Nha quan thuế trung ương cho biết Tây đã trở lại và bảo phải ở yên tại đó chờ cho đến khi Sở chuyển vận Hỏa xa cho nhân viên địa phương sửa chữa thay thế những khoảng đường rầy đã bị máy bay Pháp đánh phá hư hỏng từ trước. Một số nhà ga cũng đã trùng tu lại và sau một thời gian ngắn Sở Hỏa Xa đã tái lập lại các tuyến giao thông ban ngày.
 
Những ngày ở Vạn Giả còn buồn thảm hơn ở Hòn Khói. Tôi chỉ biết ngồi nhà lấy sách vở cũ ra ôn lại. Ba tôi cũng tiếp tục dạy Toán và Pháp văn cho tôi. Học xong tôi chạy sang nhà ông bà Lý xem họ đan rổ rá và chờ chị Huệ đi rừng về để ăn trái mây và sim. Cũng có bữa tôi ra đường rầy kép chơi với chúng bạn trèo lên xe rùa hai đứa đứng hai bên, mỗi thằng cầm cán đẩy lên đẩy xuống cho xe rùa chạy. Nhưng chúng tôi không dám đi xa vì thật sự xe rùa đâu có ra được phía ghi mà kiểm soát viên của ga cho phép. Ban đêm chuyến tàu đi ngang sẽ đụng phải và chỗ đó cũng đã có cái khóa kềm xe lại rồi. Buồn nhất là chiều chiều ngồi trong nhà nhìn ra phía xóm dưới. Xóm nhà tranh ẩn khuất sau lùm cây, khói nấu cơm chiều bay lên lãng đãng. Chợt có tiếng ru con văng vẳng vọng qua. Tiếng võng kẽo cà kẽo kẹt, và giọng ru mới buồn thảm làm sao:
 
“Cú mà kiu, ba tiếng, cú mà kiu…
  Anh đang giả nếp..í..nấu chè phai (khoai) đợi cú dìa (về)..!!”
 
Một buổi sáng, một nhân viên nhận tín hiệu morse ở nhà ga cho người chạy đến nhà trao cho ba tôi một cái giây thép (điện tín) Trung ương gọi ba tôi hãy về gấp lại Đà Nẵng, nhận nhiệm vụ mới và để lãnh rappel (**). Ba tôi hớn hở,  lòng như mở cờ, rối rít xếp gọn hành trang để sửa soạn sáng mai lên đường. Mười một giờ trưa hôm sau con tàu lù lù đến mang theo nỗi vui mừng của hai cha con tôi vui không xiết kể. Sáng đó trên sân ga cũng có hai vợ chồng bác Lý hàng xóm lẫn chị Huệ ra tiễn đưa. Cả bọn năm người nước mắt chạy quanh, riêng tôi vừa khóc lại vừa mừng, miệng méo xệch; nếu có chiếc gương mà soi thì chắc mặt tôi lúc đó không giống một con giáp nào cả.
 
(*) Dumdum: Một loại đạn xuyên phá mà quân đi Anh dùng trong Đệ nhất thế chiến. Họ lấy tên một cái làng bên Ấn là “Damdam”,( phía Tây vịnh Bengal) để đặt tên cho loại đạn đó.
 
(**) truy lĩnh phụ cấp
                                                                                                                                                                                         
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 20.03.2016 23:29:47
 
 
                                         Chương tư
 
                                     Bắt đầu cơ cực
 
 
“Tour-âne”…Tiếng nhắc của ông Tây soát vé “contrôleur” trên toa xe lửa hạng nhì có cút sết (*) làm tôi bật ngồi dậy ngay. Ngoài nhiệm vụ soát vé khi nào xe lửa sắp đến ga lớn ông ta còn có nhiệm vụ đi từng phòng ngủ nhắc cho hành khách biết tên ga sắp tới. Nghe tiếng “merci” của ba tôi, tôi vội vàng đứng dậy, tay nắm lấy chiếc va li. Ba tôi bật cười:
 
“Chưa tới mô con! còn ít nhất cũng năm mười phút nữa.”
 
Xe bắt đầu vào ga và chạy chậm lại. Tiếng xì xịt của cái thắng hơi nước bắt đầu nhả ra. Đoàn xe đi qua khúc quanh hai hàng bánh sắt cọ vào đường rầy nghe bắt rợn người! Tiếng còi tàu báo sắp đến ga vang lên lanh lảnh cùng tiếng thắng xe rít lên nghe như chuột rúc! Khói và mùi than cháy len vào toa tàu làm tôi khó chịu vô cùng. Tôi đưa tay lên che miệng và nuốt vội miếng nước bọt đánh ực. Hành khách lố nhố thò đầu ra cửa sổ dòm qua lại và bắt đầu gọi nhau ơi ới sửa soạn hành lý để xuống ga. Đoàn xe từ từ chạy chậm rồi dừng lại, tiếng hơi nước xả ra nghe một tiếng xì  ii… thật dài, mấy toa xe cụng vào nhau đánh rầm, con tàu lắc một cái thật mạnh làm cho hành khách ai cũng lắc theo, rồi đứng hẳn. 
 
“Tour âne”!!! Người Pháp đến cái xứ sở của tôi vào những năm mà ông bà cố nội ngoại tôi còn là những đứa trẻ con. Họ đi một vòng làng này bằng con lừa rồi trở lại khởi điểm, gọi là một: “tour”, con lừa: “âne”. Ghép hai chữ vào một nên gọi là Tourâne. Từ đó họ giở nón chào thành phố của tôi bằng cách bỏ cái dấu ^  trên chữ  a của con lừa, và đặt tên cho cái thị xã của tôi bằng tiếng Phú lang sa(**) của họ là: Tourane!
 
Đó là giai thoại của mấy cụ tôi từ thời Tây bảo hộ kể lại. Tôi là hậu sinh nhưng không khả úy nên các cụ bảo sao nghe vậy! Sau đó chính quyền thời thủ tướng Trần trọng Kim đặt lại tên Việt là Đà nẵng.
 
Đà nẵng, quê tôi là một phố thị hiền hòa nằm tựa ven biển ở miền Trung. Phía bắc ngăn cách tỉnh Thừa thiên bởi ngọn đèo Hải vân. Phía Nam có dãy núi Ngũ hành trấn giữ. Lưng dựa vào dãy trường sơn trùng điệp ngút ngàn, có vùng nghỉ mát Bà Nà và phía Đông trông ra biển Nam Hải. Con sông Hàn cắt đôi thành phố từ Đông Nam đổ ra vịnh và cửa Hàn, tạo ra bên mặt một bán đảo nhỏ gọi là Mỹ Khê chạy dài đến biển và giải đất chấm dứt với ngọn Sơn Chà. Bao quanh Đà nẵng lúc đó thêm bốn làng chài có tiếng: Thanh Khê, Hà Khê, Cu Đê và Nam ổ. Ven sông từ chợ Hàn xuống Trẹm là một hàng cây phượng rủ cành xuống tận bờ sông. Mùa hè hoa phượng đỏ rực, chèo thuyền ra giữa sông mà ngắm, cảnh đẹp tựa trong tranh.
 
Sau khi theo ba tôi từ cuối tỉnh miền Trung trở về. Đà nẵng năm 45 cũng vậy, không khác chi từ lúc tôi mới ra đi. Thành phố nhộn nhịp và tấp nập hơn một tí. Xe kéo vẫn kéo những ông Tây bà đầm đi chợ, mấy thằng nhỏ ba nhe (***) vẫn đứng xớ rớ dưới chợ Hàn! Phú lít Tây còn đứng trên cái bục tròn trên có mái dù che nắng giữa mỗi ngả tư, tay cầm ma trắc làm ‘chim bay cò bay’  chỉ đường cho đám xe kéo! Dân tôi vẫn còn đi bộ nhiều, vài chiếc xe đạp hiệu Peugeot cũ kỹ do các thầy cai phú lít Tây và Ta đạp lên đạp xuống dọc đường bờ sông để rình phạt mấy người đái đường hay rượt bắt mấy chị bán hàng rong ngồi không đúng chỗ.
 
Chợ Hàn nhóm ngay cạnh bờ sông. Bạn hàng bán cá và rau quả ngồi la liệt bên nhau phía mé sông cạnh những thúng cá tươi có con còn nhảy đồm độp xen lẫn những mẹt rau quả vừa mới chuyển từ dưới ghe lên. Phía bên trong là một số sạp tre có mái che, cái thì che bằng tranh hay vải bạt. Một số sạp gỗ dành cho bạn hàng bán đồ khô cùng vải vóc, trên mái lợp mấy tấm tole thiếc củ kỷ rỉ sét đà ngã sang màu vàng sẩm.                          
 
Anh tây lai thâu thuế chợ cho Tây ở đâu trờ tới dựng chiếc xe đạp cạnh cây cột đèn lấy cái xích sắt khóa chiếc xe cẩn thận rồi lững thững đi vào chợ trên
tay cầm xấp tem phiếu thâu tiền chỗ. Gương mặt anh đanh đá lạnh lùng, anh dừng lại trước một chị bán cá ngồi chồm hổm đang loay hoay cúi xuống xếp mâý con cá lại cho ngay ngắn. Chẳng nói chẳng rằng anh điềm nhiên dán một con tem ngay trên chiềc nón lá cuả chị ta rồi im lặng ngữa tay chờ chị đưa tiền. Chờ một chặp không thấy chị bán hàng nhúc nhích, mặt anh đanh lại, anh quát một tiếng thật to:
 
“Đóng thuế!”
 
Chị bán hàng giật thót cả người ngẫng mặt lên rầu rầu than vãn:
 
Chu choa mẹ wơi, sáng mới tới đã bán được đồng xu cắc bạc chi mô mà đóng thuế rứa anh!?
 
Không mô tê chi hết, đóng trước liền đi không thôi thì dẹp.!
 
Thế là có một màn năn nỉ ỉ ôi của chị bán cá:
 
Ăn ở chi ác đức rứa anh? Tui đã bán được đồng cắc chi mô mà mà…lấy thuế, chớ tiền mô mà đóng bây chừ! Mà anh dán tem xanh hay tem đỏ rứa?
 
 Dường như quá quen với cái lối cù cưa ngoan cố của mấy chị bán cá, anh thâu thuế không muốn dài dòng cải cọ. Anh sẵng giọng quát to:
 
Định giỡn mặt hả? Có đưa không thì nói? Năm cắc hay muốn lên một đồng?
 
Xem chừng cò cưa với thằng cha Tây lai ni không ăn thua chi, chị bán cá lặng lẽ đành móc túi lấy mấy cắc bạc đưa cho hắn. Đợi hắn đi một quảng xa chị mới lầu bầu rủa nhỏ trong miệng: cái đồ mắc dịch! Sáng ra chưa bán chi mà quỷ đã tới ám! Chị bán rau ngồi cạnh cũng nguýt gã thâu thuế một cái thiếu đều muốn lác mắt, song chị cũng chẳng dại gì mà dây dưa với gã, chị móc sẵn tiền ra cầm đó đợi đến lượt chị thì cũng cúng cho hắn đi cho khuất mắt. Gã Tây lai thâu thuế đi một vòng chợ, xấp tem phiếu trên tay hắn đã vơi gần hết chỉ còn trơ lại cái cùi, nhưng cái túi dết nhỏ hắn mang trên vai thì đã no tròn bạc cắc. Gã đủng đỉnh đi ra phiá chiếc xe đạp của gã, bỏ lại sau lưng những tiếng càm ràm của bạn hàng mà chắc gã nghe mãi hằng ngày hầu như phát nhàm phát chán.
 
 Đó là một trong những hoạt cảnh đa dạng mà người dân Đà nẵng phải cúi mặt xấu hổ chịu đựng trong thời thực dân bảo hộ. Nhưng năm nay cái lo lắng của người dân và đám Tây thuộc địa thấy rõ hơn vì dân nước tôi đã vùng dậy sau gần 80 mươi năm đô hộ, nét âu lo hằn rõ trên gương mặt mỗi người.
 
Chiến tranh đã thực sự xảy ra trên đất nước tôi. Những tên tuổi có tinh thần quốc gia chống Pháp như Phan chu Trinh, Phan bội Châu, Huỳnh thúc Kháng v.v… những nhà cách mạng thuần túy được người dân Quảng Nam- Đà nẵng lúc đó nhắc nhở trên môi một cách kính cẩn, bảo trọng và ngưỡng mộ. Ngoài ra người ngoài Bắc vào đã đồn ầm lên rằng Tây đang ký hiệp định trả lại Việt Nam cho mình. Người ta cũng đồn miền Trung sắp đói đến nơi, nhà nhà phải ăn đổi bữa, thêm sắn và khoai, thay vì ba bữa cơm như trước. Mặc dầu nhà tôi chưa đến nỗi phải bữa đói bữa no, nhưng mỗi buổi sáng tôi không còn được ăn mì ăn bún hay ăn xôi, mà thay vào đó những bữa khoai hoặc sắn. Người dân miền Trung vốn dĩ đã thắt lưng buộc bụng từ lâu nay phải thắt thêm để có gạo đem ra Bắc nuôi đồng bào ngoài đó.
 
Tiếng đồn Việt minh nổi dậy đánh Tây đâu ngoài Bắc, nhưng trong này dân chúng cũng rộn lên không kém. Tôi nhớ cậu Út tôi cũng xung vào đội thanh niên xung phong của xóm, ban đêm lén nhà đi họp ngoài bưng? Nghe nhũng danh từ mới như bưng biền, chiến khu, những danh từ lạ hoắc hoặc cùng những bài ca hùng tráng như: “Chiều nay trên chiến khu trong rừng chiều.” mà từ bé đến nay tôi có nghe thấy đâu, bèn hỏi cậu Út thì cậu thì thầm vào tai tôi:
 
“Bưng là ngoài rừng” nhưng con nít đừng nói bá láp Tây nó nghe thì chết…
 
Rứa là thằng nhỏ dạ ran xin giữ kín, nhưng khi ông ngoại nghi tôi biết mà dấu ông, ông cầm roi nhịp nhịp hỏi tôi:
 
“Thấy cậu Út mày đâu không?”
 
Tôi rét run dưới cái roi mây, bèn ghé tai ngoại thưa nhỏ:
 
“Cậu đi ra bưng đó ông Ngoại”!
 
Ngoại tôi giựt mình đánh thót…“Chết cha! thằng nhỏ này bị mấy thằng trời đánh dụ khị rồi.!” Tôi cũng chẳng biết mình nói như vậy có hại chi cho cậu Út không, nhưng mấy ngày sau đó thì tôi thấy rõ cái tai hại của cái miệng tòa loe không giữ kín . Cậu tôi giận tôi ra mặt. Ông hầm hầm chỉ vào mặt tôi và nói:
 
“Lần sau mà mi khai với ông là tao thiến d..ái mi chớ không chơi mô?
 
Bất chợt nghĩ đến cái ông thợ thiến heo mỗi ngày đi qua nhà tôi rao: “Ai thiến heo không? là tui rụng rời chân tay, hết dám hỏi han và từ đó biết giữ mồm giữ miệng!
 
Về lại Đà nẵng, ba tôi tiếp tục cho tôi đi học lớp nhì ở trường Lyceé. Học trường Tây nhưng tôi với mấy thằng bạn An nam ghét tụi Tây con đáo để. Tụi mặt trắng dã mũi lõ đó kỳ thị hết chỗ nói. Giờ học thì ngồi chung, tới giờ ra chơi là chúng họp riêng lại một nhóm và chơi với nhau. Có mấy thằng Tây lai cũng hùa theo tụi nó, nên tụi tôi cũng lập một nhóm An nam mít chơi riêng. Thường thì học trò An nam nhiều hơn Tây, chúng tôi chơi đá cầu. Một hôm thằng Rô trong nhóm tôi tức giận thằng Henri sao đó, giờ ra chơi nó bèn rỉ tai với tụi tôi là để nó đá phạt thằng Henri cho mà coi.
 
Thằng Rô đá cầu rất giỏi. Hắn có cú đá tài tình lắm là móc cái chân đá ngược ra sau. Nói là làm. Bữa đó hắn đá cầu với tụi tôi môt chặp rồi bỗng nhiên la lên:
 
“Coi nè!”
 
Rứa là hắn lộn mèo đá trái cầu cái chóc vô mặt thằng Henri đang đứng lớ quớ nói chuyện với mấy con đầm nhỏ cách đó không xa. Thằng Henri hôm đó đang cười cợt với mấy con Hélene và Agnes, thình lình bị một cú đá móc của thằng Rô, trái cầu ở đâu bay vụt ngay vào trán nó xớt một đường máu chảy rịn trán. Thế là cu cậu ôm mặt mước mắt chảy ròng ròng chạy vào mét thầy hiệu trưởng.
 
Một cuộc gây gổ ỏm tỏi suýt đòi đánh nhau giữa bọn tây con và tụi mũi tẹt. Đám đầm con cũng sợ quá phú lĩnh đâu mất tiêu! Mấy thằng tôi còn đứng xớ rớ đó mặt thằng nào thằng nấy xanh lè như tàu lá chuối non. Khi thấy thầy hiệu trưởng dắt thằng Henri đi ra phía chúng tôi, mấy đứa chúng tôi đứng chết trân vì biết chắc thầy hiệu trưởng không đánh thì cũng đuổi một trong mấy đứa chúng tôi, chớ không tha cho cái vụ này. Sau khi hạch hỏi kỹ bọn tôi, “ai đá?” đứa nào cũng chối không cho biết rằng cú đá đó là của thằng Rô. Thầy hiệu trưởng giận ra mặt cầm cái roi mây chỉ vào mặt tụi tôi và mẹt xà lù rầm lên, vì ba thằng Henri là bạn của ổng và là Sếp sở mật thám Đà nẵng. Thằng Rô có trốn đàng trời cũng bị ổng lôi ra, nhẹ là đánh đòn, nặng là đuổi. Chúng tôi đứa nào cũng im re, chối bai bải đổ thừa tại nó đứng gần, tụi con đá trật chứ không cố ý.
 
Thầy hiệu trưởng bèn đem thằng Henri vô phòng lấy cồn xoa vết trầy rồi bảo nó thôi đừng tới gần mấy thằng A na mít nữa. Hú vía, tụi tôi vô lớp mà còn run. Sau này mấy con đầm cái mét thầy hiệu trưởng nên thằng Rô bị đuổi còn tụi tôi thì không được phép chơi trò đá cầu nữa!
 
Không đá cầu thì bắn bi. Dạo đó tụi tôi mua bi bằng đá cẩm thạch non lấy ở núi Non nước. Bi mua lại của thằng Rô, (lại cũng thằng Rô là đầu têu), nó biết tụi tui chịu chi mua bi cẩm thạch nên nó lên mấy chỗ làm bia mộ xin đá vụn về mướn mấy thằng ba nhe ngoài chợ Hàn khi nào rảnh rỗi không có việc chi làm thì mài cho nó. Nó gặp tụi tôi ngoài cổng trường sau giờ tan học bán 10 bi một dát (cắc bạc) trong khi nó trả cho mấy thằng ba nhe một cắc tới 20 chục hòn. Mới 10 tuổi đầu mà nó đã biết buôn bán, thảo nào 20 năm sau gặp hắn ta tại Saigon, hắn nghiễm nhiên là ông chủ bự có hãng nhập cảng buôn đồ nhựa (plastic). Chúng tôi nhắc lại kỷ niệm thưở ấu thời đó và cười đến đau cả bụng!
 
Chẳng may vào đầu hè 45, sau khi má tôi ngã bệnh, bác sĩ khám phá ra là má tôi bị lao xương. Bệnh viện Đà nẵng không đủ tiêu chuẫn mổ bèn gửi má tôi ra Huế để tái khám và chuẫn bị phẫu thuật, vì có vị thạc sĩ y khoa giỏi chuyên về phẫu thuật ở đó. Thế là cha mẹ con cái lại lục tục lên đường ra Huế, vì thế việc học của tôi bị gián đoạn. Tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ những ngày học hành vui vẻ tại mái trường Lycée Đà nẵng mặc dầu có hôm đi học về tôi oang oang học bài sử ký: “Nos ancêtres sont des Gaulois” (+) làm ba tôi tức cười muốn bể bụng, phần tôi nào có hiểu gì đâu, học và đọc như con vẹt!.
 
Xe lửa lại đưa ba mẹ và hai anh em tôi ra Huế. Vì mẹ tôi đau cột sống không thể ngồi lâu được, nên ba tôi phải mua 5 vé, 1 vé đôi cho mẹ tôi có chỗ nằm. Khi lên tàu ông báo cho người soát vé rằng ông cần móc cái võng lên hàng ghế cho mẹ tôi nằm vì bà bịnh lao xương sau lưng, không ngồi được. Người  soát vé thấy bà có 2 vé nên đồng ý dành riêng cho chúng tôi một dãy ghế 5 chỗ liền nhau, nơi đó ba tôi căng võng cho bà và hai đứa tôi thì ngồi sát phía dưới. Băng tàu hạng nhì có phần rộng rãi hơn và lòng ghế được đóng bằng những thanh gỗ dọc dài có khe hở để cho hành khách ngồi khỏi phải nóng đít và lưng.
 
Chiều hôm ấy chúng tôi đến ga An cựu. Nơi đây ba tôi phải vất vả lắm để thuê một cái xe ngựa cho mẹ nằm và chở thẳng đến nhà thương Huế.
 
Sau khi làm thủ tục nhập viện cho mẹ tôi xong thì đã quá khuya. May quá ba tôi cũng đã lo mua quà cho chúng tôi lót dạ ở ga An cựu trước khi đến nhà thương nên chúng tôi cũng không thấy đói. Vì đã nửa đêm nên ông xin phép người y tá cho hai đứa tôi vào ngủ đỡ trên một cái băng dài dành cho khách đến thăm nuôi. Lạ chỗ phần vì nhà thương hôi mùi crésyl (bleach) quá nên tôi trằn trọc mãi.  Còn ba tôi thì thao thức suốt đêm bên mẹ cho đến sáng. Vì ba tôi cũng đã lo trước nên hôm sau có người chị bà con bên Cồn qua đón chúng tôi về nhà họ. Chúng tôi lót tót theo chị về Cồn, ba tôi phải ở lại với mẹ tôi để lo gặp các bác sĩ phẫu thuật. Từ ngày về ở bên Cồn anh em tôi được chị bà con dắt đi chơi dưới Vỹ dạ, được ăn bắp Cồn, chè Cồn, một loại chè bắp trồng ở Cồn nấu chè ăn dẻo và ngon đáo để. Thỉnh thoảng chị rảnh rỗi cũng dắt tụi tôi vào thăm mẹ tôi.
 
Theo lời ba tôi thuật lại, mẹ tôi bị lao xương tới thời kỳ phải mổ ngay tức khắc nếu không lao sẽ lan ra các khúc xương khác làm hư lây, thối tủy cùng biến dạng cột sống. Sáng ngày thứ ba má tôi được đưa vào phòng mổ ngay để lấy khúc xương sống bị lao. Bác sĩ dùng một khúc xương nhỏ dưới ống chân của bà để thay thế, nên bà bị mỗ hai chỗ, vừa trên lưng, vừa dưới ống chân. Sau đó bà nằm lại nhà thương khoảng một tháng. Bác sĩ cho về nhưng bà bị liệt cả hai chân không còn đi được nữa. Thế là hết bịnh này lại xoay sang bịnh khác! Ba tôi đành phải tính chuyện mang bà trở về lại Đà nẵng. Tôi còn nhớ ông phải đặt cho bà một chiếc giường đặc biệt bằng mây đan có lỗ để bà nằm cho êm cái lưng và mát người, vì lúc đó làm gì có nệm!
 
Ngày rời nhà thương cũng là ngày Huế chạy giặc vì tiếng đồn Việt minh đánh vào thành phố Huế nay mai. Thiệt là phước bất trùng lai, họa vô đơn chí!! Ba tôi tức tốc đưa ngay mẹ tôi lên xe lửa cùng chúng tôi xuôi Nam. Một cuộc hành trình vô cùng khó khăn mà tôi còn nhớ mãi trong lòng. Nội nhờ người đem nguyên chiếc giường và bà lên xe lửa cũng là một chuyện trần ai! Phải đút nguyên chiếc giường và bà qua cửa sổ thay vì cửa bước lên xe. Nhưng rốt cuộc mọi việc cũng đâu vào đấy. Về đến Đà nẵng cũng đà yên đâu, tiếng đồn Việt Minh đã tấn công vào Huế, người dân ngoài Huế lũ lượt tản cư vô Đà nẵng. Ba tôi lòng dạ rối bời, ngày ngày giao mẹ cho hai đứa tôi canh giữ. Ông ra Sở xin phép thôi việc để đưa vợ con về quê lánh nạn. Phải lo bán cửa hàng và đồ đạc gấp. Cũng nhờ vậy mà gia đình tôi có một số tiền kha khá để đi tản cư.
 
Mẹ tôi nằm liệt trên giường, tuy đã hết cảnh lo thuốc thang, nhưng cơm nước tôi phải đành thay ba lo cho mẹ và em nhũng lúc ba phải chạy ra ngoài lo công việc. Từ đó trở đi tôi bắt đầu nếm mùi cơ cực, và cũng nhờ vậy mà tôi rất thành thạo trong việc nấu cơm, kho cá, cùng những công việc lặt vặt bếp núc,  mà lúc đó mẹ tôi nằm trên giường chỉ cho tôi. Tôi cũng phải trông chừng thằng em lúc đó đã được 7 tuổi, lo cơm nước tắm rửa cho em cùng dạy cho nó học vỡ lòng. Tôi làm công việc của một chị hai. 
 
Một buổi sáng ba tôi đi tới trưa mới về bảo mẹ và chúng tôi sẵn sàng để ngày mai tản cư về làng của ông. Ông đã thuê được một chiếc ghe bầu để chở cả nhà ra đi. Nhà sẽ đóng cửa bỏ đó, căn tiệm vải của má tôi thì cũng đã dẹp và bán đi từ lâu. Má tôi nghe thì khóc và cả nhà buồn phiền song biết sự ra đi là rất cần thiết cho cả gia đình. Theo cha về mới có mấy tháng lại phải đi ngay ra Huế rồi bây giờ lại phải xa Đà nẵng vì chiến tranh, thật cái số tôi sao mà lận đận chẳng ở đâu được lâu! Nghĩ như vậy trong lòng tôi thật buồn vô hạn.
 
 
(*) couchette: giường nằm trên xe lửa
(**) Phú lãng sa, phiên âm Việt của từ Francais.
(***) ba nhe: tiếng Pháp là panier: cái thúng, người đội cái thúng. Thời đó ở các chợ miền Trung có một số thanh niên vô nghề nghiệp tụ họp tại chợ để khuân vác hay đội thúng thuê giúp khách hàng mua bán gọi là ba nhe. Từ này cũng có nghĩa bóng gọi những kẻ đó là dân du côn ngoài chợ.
(+) tổ tiên chúng ta là dân Gaulois (Tây)
 
                                                                                                               
 
 
                                                                                                                                                                                              
 
 
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 20.03.2016 23:32:18
                                       Chương năm
 
                                       Nẫu tản cư (*)
                                                            
 
Chiếc ghe bầu mà Ba tôi thuê để chở cả nhà di tản về quê, tôi nhớ không lầm thì bề ngang đâu khoảng 2 thước rưởi, bề dài khoảng 8 đến 10 thước tây. Toàn thân ghe đóng bằng gỗ tốt, dày bản và có trét chai xung quanh. Thân ghe sơn màu nâu sẫm. Chiếc ghe Ba tôi thuê không có buồm, cũng chẳng thấy có cột để trang bị buồm khi chạy gió. Giữa ghe, có một mái vòm dài khoảng 5,6 thước làm bằng lạt tre đan để che nắng mưa. Trong khoang đủ chỗ rộng cho 7, 8 người nằm. Khoang ghe chia làm hai phần, ngăn trước như một phòng ngủ. Giữa khoang để các vật dụng dùng để ngủ trên ghe và ngăn sau là bếp. Một cái đầu rau làm bằng đất nung dùng để nấu ăn, dăm ba cái thau nhôm cùng rổ rá chén bát, đó là cái nhà bếp chính dùng cho ghe. Sàn ghe phía trước đánh bóng láng cóng, sạch sẽ. Chiều tối sau khi cơm nước xong là hai anh em tôi a-la-kềnh (nằm) dài trên sàn ghe tha hồ ngắm trăng sao. Đêm nào tôi cũng nằm đếm sao, và cãi lộn với thằng em chùm sao bánh lái khác với chùm sao bắc đẩu. Cho đến bây giờ tôi mới hình dung được cái thú ở khách sạn ngàn sao. Nhưng lần đếm nào cũng khoảng sau 5, 10 phút là tụi tôi “kéo gỗ rừng khuya” ngay. Phía sau hai bên thành ghe có gắn hai cái cọc lớn dùng để buộc mái chèo. Cạnh đó mỗi bên có hai khúc tre dài khoảng tám thước dùng để chống khi ghe đi vào chỗ cạn trong sông. Đàng sau lái cũng có trang bị thêm cái ghế đẩu để cho ông lái ghe ngồi kềm cái bánh lái. Bên trái cái ghế có một khoảng trống đậy nắp có tam cấp gỗ dùng để đi xuống dưới gầm ghe, dưới đó cũng có thêm một tầng nhỏ để các vật dụng cần thiết, và cũng là nơi chủ ghe xuống lườn ghe để tát nước ra khi nước thấm nhiều vào ghe. Trước mũi hai bên đều có vẽ hai con mắt và một hàng chữ cùng số bộ của ghe.
 
Chủ ghe là một ông trung niên người rắn rỏi dạn dày sông nước. Mắt ông rất buồn duy chỉ cái miệng thì khi cười tôi có cảm tình ngay mặc dầu lúc nào trên môi ông cũng gắn một điếu thuốc lá vấn Cẩm Lệ to tổ chảng!. Khi ông bặp bặp môi thì đầu thuốc nháng lửa lên như cục than trong bếp khi người ta thổi vào làm than hừng lên vậy. Ban đêm ông ngồi một mình sau lái, tay kẹp càng tay lái, tôi chẳng nhìn rõ ông, chỉ thấy mẫu thuốc lá trên môi ông sáng lên sau mỗi lần ông bặp bặp. Lúc nhỏ tôi có cái tật là hễ thấy người nào có một chút gì đặc biệt, tôi hay đặt tên cho họ. Tôi gọi ông chủ ghe là “ông bặp bặp!” Tay chân ông rám nắng chắc nịch, cái chắc của người quanh năm nổi trôi trên sông nước. Ông nói tiếng Quảng Nam đặc sệt, một đôi khi ông dùng những từ gì mà tôi nghe không hiểu bèn nhớ đó để tới chiều tối hỏi nhỏ lại ba tôi. Vì tôi sinh ra tại thành phố, cũng nói tiếng Quảng, nhưng nhiều từ ở địa phương khác tôi vẫn không rành vì chẳng bao giờ có dịp để nghe và dùng đến. Vả lại người xứ Quảng trên miệt nguồn nói cũng có khi khác hơn người dưới biển, thậm chí ngoài cửa Đại có một hòn đảo nhỏ ngoài khơi không xa lắm gọi là cù lao Chàm, ôi thôi nghe mấy “ôn mệ” ngoài đó phát ngôn, thì tôi chỉ có vái dài cả nón không hiểu mô tê chi cả. Bà vợ ông chủ ghe là một bà người Quảng Ngãi nhỏ thó, xứ của đường phổi nhưng bà chả ngọt chút nào. Ăn nói nhát gừng, lúc nào mặt cũng đăm chiêu cau có như chẳng bao giờ hài lòng với ai cả!  Thỉnh thoảng bà nhai trầu, miệng đỏ chót, lúc nào nói chuyện cũng lúng ba lúng búng không ai nghe rõ, chỉ có mình ông chồng là hiểu bà thôi. Nhiều khi bà nhìn ông chồng, hứ một tiếng, rồi nhổ toẹt bãi trầu xuống sông nghe cái chủm. Thêm vào đó cái mà tôi ghét nhất và không ưa bà ta là lúc nào miệng bà cũng méo xệch vì trong môi trái ở phía trên bà nhét một cục thuốc lá Cẩm Lệ to gần bằng nửa quả bóng pin poong. Thỉnh thoảng bà lại lấy chiếc lưỡi của mình rà cục thuốc qua lại ra cái điều khoái trá. Bà cười như mếu, nên thỉnh thoảng tôi cứ nhìn trộm bà và quay mặt đi ôm bụng cười một mình như nắc nẻ!. Mỗi lần bà dọn cơm lên là tôi nghe mùi thuốc lá với trầu nó dính đâu đây trong chén cơm hay đôi đũa. Có bữa tôi phải nói với má tôi: thôi má xới cơm cho con đi. Tuổi nhỏ hễ thấy gì thích thì nói thích, không thì nói không chẳng bao giờ biết lịch sự là gì nên tôi thường bị má tôi quở mắng và khỏ vào đầu bảo thằng này ăn nói không lễ độ, bủng bủng chảng chảng!. Thật vậy, cho đến bây giờ tôi vẫn còn không hiểu rõ các từ bủng bủng chảng chảng là nghĩa làm sao? Ông bà chủ ghe có hai người con trai, anh lớn khoảng đâu 24, 25 tuổi, cậu em nhỏ hơn vài ba tuổi. Hai anh em tánh tình dễ mến, ông anh ít nói, lúc nào cũng cười, hỏi gì thì anh cũng hỏi lại: cái chi? Riết rồi tôi đặt tên anh là “anh Chi”. Còn cậu em thì hiền như Bụt cả ngày cạy răng cũng không thấy một lời, cha mẹ bảo gì thì cứ vâng lời lầm lũi làm ngay. Tôi mến hai anh em đó nhất, dầu chỉ có ba ngày trên ghe, nhưng khi xuống ghe về làng, nước mắt tôi cũng chạy quanh.
 
Loại ghe bầu này rất thông dụng trong vùng Quảng Nam-Đà Nẵng thời bấy giờ. Con buôn chở thực phẩm trên mạn ngược xuôi dòng Thu Bồn xuống Hàn để bán rồi mua các vật dụng ngoài thành phố chở ngược về nguồn. Một số lớn chở cát lấy ở lòng sông hay bãi biển về bán tại Đà nẵng cho những nhà thầu làm nhà. Tính cách hữu dụng của ghe bầu lúc đó rất cần thiết cho nền kinh tế vùng Quảng Nam, nên sự đi lại trên sông và ven biển cửa Đại thật tấp nập và nhộn nhịp vô cùng. Có thể nói đó là những chiếc tàu đò con thoi nhỏ thời bấy giờ.
 
Mùa hè năm 1945 là thời điểm chiến tranh Pháp Việt bùng nổ lớn. Mặt trận Việt Minh nổi lên khắp nơi chống Pháp, và Đà Nẵng cũng không là ngoại lệ. Tiếng súng râm ran ngoài Huế từ đầu tháng năm và dân chúng rộn rịp tản cư dồn dập vào Đà nẵng. Họ đi bằng đủ mọi phương tiện. Xe đò, xe lửa, ghe thuyền tấp nập đậu ở sông Hàn. Nét mặt người nào người nấy cũng hối hả và lo âu. Thậm chí có rất nhiều gia đình từ Huế đã chạy vào đến Đà nẵng rồi, lại nghe tản cư nữa thì họ cũng chẳng còn biết chạy đi đâu, thôi thì ở lì tại đó. Tiếng đồn Việt Minh đã chiếm Huế, trong khi một vài đoàn convoy của Tây tiến vào Đà nẵng, thế là cả thị xã hoảng hồn, dân chúng lại rộn ràng tất bật tản cư..
 
Gia đình tôi cũng ở trong hoàn cảnh đó. Thoạt đầu Ba má tôi cũng không biết chạy đi đâu. Sau đó Ba tôi quyết định là về quê ngoại của ông, trong 2 làng Phú Mỹ và Phước Thành. Dùng xe đò trên quốc lộ 1 để đi vào phía đó thì muộn rồi, vì cứ mỗi một đoạn đường ngắn thì Việt Minh lại đào đường đắp mô để cản xe của Tây không cho tiến vào Hội An cùng Tam Kỳ được. Mà nếu gia đình tôi có đi được cũng chưa chắc đã bình yên mà qua lọt các chốt gác của Tây. Vì thế mà Ba tôi chỉ còn có một quyết định là dùng ghe bầu xuôi Nam vào cửa Đại, xong theo một nhánh nhỏ của sông Thu Bồn để đến một địa điểm gần làng nhất càng tốt. Từ đó chúng tôi sẽ liên lạc người trong làng đem xe bò ra rước hoặc cáng về làng. Làng quê bên ngoại của Ba tôi nằm chếch trên quốc lộ số 1 gần dãy trường sơn, cách xa Đà nẵng khoảng 30 cây số. Nơi đó có thể tạm yên ổn trong thời gian có đụng độ ngoài Đà nẵng.
 
Trời tháng năm oi nồng sau những cơn mưa rào ẩm thấp. Những đám mây mọng nước đen dày giăng kín cả bầu trời bên phải chợ Được, nhưng bên trái thì trời lại nắng ráo! Những lúc mưa như vậy thì tôi lại bảo với thằng em rằng nơi đó có tới hai ông Trời! Người tôi ngột ngạt, chỉ mong cởi được chiếc áo tơi ra (áo mưa dệt bằng lá dừa khô), nhưng sau đó lại phải co ro đứng sát dưới hàng hiên đụt mưa trên thềm đất nhà tranh của chợ. Mưa vẫn trút nước xuống ào ào, sấm chớp nổi lên như muốn xé tan bầu trời đen nghịt. Thỉnh thoảng những cánh chớp loằng ngoằng từ trên trời rơi xuống đất. Tiếp sau đó là những tiếng nổ long trời, tiếng rền vang vọng đi từ tây sang đông kéo dài như tiếng gầm của một loài ma quái. Cái áo mưa của Ba tôi đã rách một khoảng sau lưng nên nước mưa bắt đầu thấm vào lưng ông ướt sủng. Ông chủ ghe và hai đứa con trai đã giúp khiêng chiếc giường và mẹ tôi lên tận chợ đặt trên một cái sạp trống. Ông nhận tiền và cùng mấy cậu con trở lại ghe từ lâu. Thằng em tôi ngồi đó dưới chân giường cuộn tròn trong cái áo tơi nhỏ nom như cái giỏ lác!
 
Cơn mưa to quá! Tôi ngồi xuống bó gối trên hàng hiên nhìn ra khoảng sân đằng trước. Những giọt mưa ào ạt ném xuống đất đồm độp làm dội lên từng vũng nước nhỏ. Nước chảy không kịp tràn vào đến tận thềm nhà. Vài con ếch không biết ở đâu nhảy ra ngồi đó giương mắt nhìn đoàn người tản cư chúng tôi. Tôi ngước đầu lên nhìn lên phía Ba tôi rồi lo lắng hỏi: Bao giờ người ta mới tới đón gia đình mình hả Ba? Ba tôi lắc đầu tiếp: Ba không biết nữa, nhưng chắc không lâu đâu. Cứ ngồi đây chờ chớ bây giờ mưa quá đi đâu được. Thế là chúng tôi đành phải ngồi từ sáng đến trưa mà bụng thì đói meo. Thức ăn mang theo từ lúc rời ghe đã ăn hết từ sáng. Quán hàng ở chợ Được thì lưa thưa hiu hắt dưới cơn mưa. Chợ trưa đã vắng lại càng vắng thêm vì những trận mưa rào. Mà cũng chẳng có chi để mua ngoại trừ vài sạp quán còn bán ít bắp nướng đã nguội ngắt hoặc vài ba dĩa khoai mì hấp, ruồi bu lốm đốm như những hạt đậu đen. Chả bỏ bằng mấy ngày trên ghe bầu, tụi tui được ăn uống no nê ngon lành. Sáng ra cháo khoai với cá kho khô, trưa cơm nếp thịt kho, tối thì thịnh soạn hơn, khi ông chủ ghe được ba tôi hào phóng chi thêm khoảng tiền đồ ăn nên ông lo đầy đủ chu đáo lắm. Bữa cơm tối hôm qua có ba món: thịt gà nướng, cá chiên cùng canh rau bù ngót nấu với tôm tươi. Đi tản cư mà ăn uống được như vậy cho dù chỉ trong ba ngày hai đêm trên sông biển cũng đã làm tụi tôi thích thú vô cùng. Chiều hôm qua khi ghe vào sông nước ròng nên bị mắc cạn, chống thế nào ghe cũng không nhúc nhích, thế là ông chủ ghe cùng mấy người con trai đành phải cắm sào dừng lại bên cồn cát chờ tới sáng cho nước lên. Tụi tôi tha hồ nhảy ùm xuống sông tắm lội thỏa thuê. Sau đó lên ăn một bụng xôi và cá cơm kho khô ngon lành mà đến bây giờ tôi còn nhớ rõ.
 
Tôi quay mặt qua thằng em thấy nó đang ngủ gà ngủ gật. Tôi hích nhẹ vào vai nó hỏi khẽ: Mi có đói không? Hắn khẽ gật đầu. Ba tôi tinh ý đứng dậy. Ông lững thững theo hàng hiên đi men qua mấy cái sạp bỏ không, tiến đến một cái sạp có treo mấy xâu bánh ú. Ông lấy 4 cái trả tiền rồi lẵng lặng đi về chỗ tụi tôi ngồi. Ông đưa cho mỗi đứa một cái và bảo ăn đi. Tôi và thằng em đang kiến bò bụng nên chụp lấy và bóc ăn ngay. Duy chỉ có má tôi lắc đầu và bảo để đó khi nào đói bà mới ăn.
 
Cơn mưa đã dứt, trời lại sáng trong. Xa xa trên mõm cồn cát bên kia chợ một cái mống đủ màu hiện ra. Nắng bắt đầu chói nghiêng qua nóc các chòi trong chợ. Hơi nước dưới ruộng vẫn còn bốc lên như khói nhạt. Tiếng ếch nhái bắt đầu ọt ệt râm ran. Chợ cũng bắt đầu đông lại. Kẻ mua người bán lại tấp nập ra vào. Chẳng mấy chốc chợ Được lại nhộn nhịp như đàn chim chiều về tổ.
 
Một toán bốn người trong đó có ba thanh niên và một ông trung niên trờ tới. Ông nháo nhác nhìn qua nhìn lại như có ý kiếm ai. Ba tôi nhìn thấy ông vội vàng đứng lên và chạy ra vừa ngoắc vừa mừng.
 
- A, chào cậu Tám, lại có cả anh hai Diện nữa!
 
Ba tôi tíu tít chào hỏi và nắm tay mấy bà con vừa mới đến. Ông mà ba tôi gọi là cậu Tám là em út của bà nội tôi. Bà là chị thứ tư. Tôi phải gọi ông bằng ông cậu Tám. Ông cậu Tám vóc người nhỏ nhắn, cỡ ngang tuổi với ba tôi, nhưng vì ông là con út của bà nội tôi, theo vai vế tôi phải gọi là ông chứ thực ra ông còn trẻ măng à, mặc dầu công việc đồng áng có làm ông già hơn trước tuổi và gương mặt khắc khổ hơn ba tôi. Ông mừng rỡ ra mặt hỏi ngay:
 
Chú Minh chờ tôi có lâu không? Tới lâu chưa? Ăn uống gì chưa?
 
Ba tôi chưa kịp trả lời ông lại hỏi tiếp:
 
Thím và mấy đứa đâu? có mạnh giỏi không?
 
Má tôi đang nằm trên cái giường mây ngóc đầu lên chào ông và chỉ vào tụi tôi ngồi bên cạnh.
 
“Dạ chào cậu,” rồi bà chỉ tay vào hai đứa tôi tiếp: “Tụi nhỏ đây, chúng nó vẫn bình thường. Cậu mạnh giỏi không cậu?. Mợ và mấy anh chị cũng khỏe hả cậu?”
 
Ông cậu Tám nhìn má tôi nằm trên giường vẻ ái ngại nói tiếp:
 
“Tội nghiệp chị Đội, cái cẳng đi mà chừ nằm đó thiệt !…( ông chép miệng)  rồi nói tiếp:
 
“Cầu Trời Phật về đây tỉnh dưỡng rồi tập đi lại hỉ!”
 
Ông quay sang tôi hỏi:
 
“Chà cái thằng... chi?”
 
Ông nhìn tôi ngập ngừng một chút, rồi tiếp.
 
“À, cái thằng Thông! Chu choa, mới mấy năm mà hắn lớn ghê hè?. Mạnh giỏi không con?” 
 
Tôi ấp úng định trả lời thì Ba tôi tiếp:
 
“Dạ tụi con và các cháu tới đây lúc nửa buổi, mắc mưa nên ngồi đây từ đó cho đến giờ.”
 
Ông cậu Tám quay sang má tôi:
 
“Cơ khổ! tại trời mưa dữ quá nên mấy tui vừa đi vừa đụt mưa, chớ nếu không đã đến đây từ ngọ. Thôi ăn uống chi chưa? Nếu chưa thì vào chợ kiếm cái chi ăn qua loa ba miếng rồi về trên làng ăn túi (tối). Cậu đã dặn tụi nhỏ lo giết mấy con gà làm gỏi mình về nhậu lai rai đó chú Minh. Thiệt tình, có chạy giặc mới gặp chớ ít khi chú Minh về lại trong làng. Đã 3, 4 năm rồi đó chứ răng!”
 
Ba tôi gật đầu cám ơn cậu Tám và cho biết rằng sáng cũng đã ăn no rồi. Ông chỉ vào hai đứa tôi:
 
“Mấy thằng ni vừa mới ăn bánh ú nên chắc cũng không đói mô. Thôi cám ơn cậu, nếu cậu chưa ăn chi thì cứ ăn rồi hẵn về, tui cũng mới ăn một cái bánh ú lưng lửng bụng rồi.”
 
Ông cậu Tám gật đầu rồi nói tiếp với Ba tôi:
 
“Thôi để cậu bảo bầy trẻ vác cáng vô kiếm chút chi lót lòng rồi lên đường về cho sớm, chớ cái điệu ni trời mưa tới mưa lui đường sá trên ruộng trơn trợt sợ mấy đứa nhỏ chú Minh đi không quen nó chụp ếch thì cũng mệt.”
 
Ông nói xong nhe hàm răng sún mất mấy cái ra cười khì khì. Ông cậu Tám tiếp:
 
“Sáng ni cậu làm một bụng bây chừ cũng còn no chưa có đói. Tụi nhỏ ăn xong thì thím Minh cho thằng út lên nằm với rồi tôi bảo tụi nhỏ cáng giường đi, chú với thằng lớn chịu khó đi theo tui nghen. Cũng không xa lắm đâu, qua khỏi cái cồn cát này băng qua quốc lộ 1 đi lên một tí nữa là tới làng. Có mang theo đồ chi nhiều không?”
 
Ông nhìn xuống chỗ ba tôi ngồi thấy có hai chiếc rương và mấy cái giỏ lát, ông tiếp:
 
"Để mấy cái rương đó tụi nhỏ nó tiếp tay cho.”
 
Ông nói một hơi rồi ngồi thở dốc, nhưng miệng vẫn nở nụ cười nhân hậu. Ông lấy chiếc nón lá quạt phành phạch, mồ hôi trên trán ông lấm chấm, tay kia ông lấy cái khăn quấn ở càng cổ lau mặt rồi mỉm cười thoải mái.
 
Chúng tôi rời chợ Được vào khoảng xế trưa. Trời lúc đó nắng ráo. Một làn gió nóng phía hạ Lào thổi qua làm cho tôi phải cởi cái áo tơi ra quấn tròn lại cầm trong tay. Ba tôi dắt lấy tay tôi đi ra phía trước để theo ông cậu Tám cho khỏi lạc đường. Cái nóng hâm hấp vào buổi xế trưa làm tôi bắt đầu buồn ngủ. Tôi nhướng mắt nhìn trời cầu cho đừng có mưa trên đường về làng, nhưng cũng không biết chắc từ đây đến chiều còn trận mưa nào không? Sức khỏe má tôi còn rất yếu sau trận mổ xương ngoài Huế vừa qua nên bà chỉ nằm trên giường chứ không ngồi dậy được. Thằng em tôi trèo lên giường nằm dưới chân bà.  Hai cậu thanh niên lực lưỡng cột giây vào hai đầu giường rồi xỏ cây cáng tre qua. Một tấm vải bạt choàng qua đòn tre để cáng, nên tôi không còn thấy mặt mũi má và em tôi. Tôi thấy có một đám đông khoảng ba bốn người cùng đám trẻ con tò mò nhìn theo đoàn chúng tôi tay họ chỉ trỏ vào cáng. Tôi chỉ nghe loáng thoáng tiếng được tiếng mất của một người đàn bà hỏi chi đó, sau đó có tiếng đàn ông trả lời là:
 
“Xi’.., cái nẫu tản cư đó!”
 
Tôi cố gắng nhớ mấy chữ nẫu tản cư để đến chiều về trên làng sẽ hỏi lại ba tôi. Vượt qua cái cồn cát trắng tôi mệt đứ đừ, vì từ lúc chập chững biết đi đến giờ là đã mười mấy năm, nào tôi có bao giờ được đi qua cái cồn cát rộng thăm thẳm như thế đâu. Có chăng chỉ những lần đi tắm biển Thanh Bình với ba má tôi thì được chạy tung tăng trên cát biển là cùng. Qua khỏi cái cồn cát tôi đứng lại để xỏ giày vào, nhưng không quên nhìn lại nó một lần chót. Tôi cúi xuống nhìn đôi chân đỏ hỏn, rớm nước mắt nhưng tôi kìm được tiếng rên. Ba tôi quay lại:
 
Con có đau chân không? Tôi cố gắng bậm môi trả lời:
 
“Dạ không!”
 
Tôi ráng không cho ông biết rằng chân tôi bắt đầu bỏng rát bởi cát nóng phía dưới mặt cồn nung hầm mà ở lượt trên thì vì cơn mưa rào vừa rồi làm dịu bớt nên không nóng mấy. Tuy vậy tôi cũng ý thức được chút đỉnh rằng mình bấy giờ là đi tản cư chớ không phải đi du lịch, nên tôi ráng không tỏ ra đau đớn hoặc khó chịu trước mặt ba tôi và ông cậu Tám. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ mông lung, tại sao đám người bên đường kia cứ chỉ chỏ vào chúng tôi mà kêu là cái “nẫu tản cư?” Ba mươi năm sau vào những ngày sau 30 tháng tư 75, tôi chợt nhớ lại và thấm thía với ba chữ ấy nhưng lần này thì lại là cái “nẫu di tản!”
 
(*) Nẫu, hay nậu: nghĩa là bọn nó, chúng nó…  
 
 
                                                                                                                                                                                                                                                                          
 
 
 
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 21.03.2016 00:23:16
 
                       
                                       Chương sáu
 
                                Nước mắt chan cơm
 
 
“Trèo lên đi, trèo lên, hổng có sao đâu mà sợ!  tao đã nắm chặt cái mũi nó rồi, mày cứ nghe tao, trèo lên đi!”
 
Thằng Nhái con ông hai Ếch cứ giục tôi mãi nhưng tôi vẫn ngần ngại không dám leo lên lưng con trâu. Đây là lần thứ nhất trong đời tôi được trèo lên lưng một con vật to lớn nên còn sợ sệt và e dè lắm. Hơn nữa từ nhỏ đến nay, đã hơn 10 tuổi đầu thằng tôi chỉ quen ở tỉnh chớ có ở nhà quê lần nào đâu mà biết trâu với nghé!  Sau khi thằng Nhái đồng ý cho tôi leo lên lưng trâu và cũng đã nghe nó căn dặn kỹ lưỡng năm lần bảy lượt rằng thì là:
 
“Mi cứ tự nhiên nghe, khi mô tao biểu trèo lên thì trèo nhè nhẹ lên, đừng làm cho nó nhột nó chạy hoặc mi mà nhảy mạnh lên là nó hất văng mi xuống đất đó.”
 
Nhái còn nói thêm với tôi là "Tao thích mi lắm tao mới cho mi cưỡi hén đó nghe, chớ ba tau mà biết được ổng tát tai tau liền." 
 
Tôi nghe lời thằng Nhái, lom khom hai tay vịn lưng trâu, một chân đứng trên bờ đê còn chân kia bỏ nhẹ qua lưng con trâu mắt thì theo dõi thái độ của nó và thằng Nhái. Tim tôi đập mau hơn bình thường thấy rõ. Nhưng không biết tại con trâu nó kỳ thị tôi hay sao mà khi tôi vừa mới đặt đít lên lưng nó, bỗng nó phát nhảy một cái và hất tôi xuống ruộng một cái bạch như trời giáng! Áo quần mặt mũi tôi dính bê bết đầy bùn đất, tôi hết hồn lồm cồm bò dậy trong tiếng cười ha hả của thằng Nhái và tiêng “é ngọ” của con trâu. Vì con trâu giật quá mạnh nên cái giây thừng máng vào mũi nó cũng kéo thằng Nhái đi một sải suýt hỏng cẳng té luôn. Tôi nghe tiếng thằng Nhái la con trâu một tiếng thật lớn và ghìm cái dây móc mũi nó xuống đất rồi cười ha hả. Con trâu dừng lại ngay, lúc lắc cái đầu ngoảnh cổ nhìn thẳng vào mặt tôi như có ý trêu tức!. Tôi không giận nó nhưng ước gì tôi có thể đọc được ý nghĩ trong đầu nó vào lúc này? Nó sợ tôi chăng? hay giận, hay chơi khăm tôi đây? Tôi đã theo lời thằng Nhái trèo nhè nhẹ lên lưng nó mà?!  Con trâu đứng đó mắt lờ đờ nhìn tôi như một triết gia, miệng nhai qua nhai lại, rồi quay mặt ngoảnh đi.  Của đáng tội, bây giờ tôi mới thấy ghét nó quá chừng mà không làm chi nó được. Đá nó một cái chăng? Đâu có được, nhỡ nớ đau nó quật cho một cái thì gãy ba sườn với lại con Trâu là của thằng Nhái mà! Tôi nghĩ vậy rồi ì a ì ạch đứng lên, cái chân bên trái và mông đít của tôi đau như dần vì té nửa cái mông dộng mạnh trên bờ ruộng. Tôi xuýt xoa thoa chỗ đau, cố nở một nụ cười mếu mó với Nhái. Tôi nói với thằng Nhái:
 
“Thôi con trâu của mi nó không ưa tao, không cho tao ngồi thì thôi, tao không thèm cỡi nữa đâu”!.
 
Thằng Nhái mắng át tôi:
 
“I’, cái thằng ở tỉnh mà nhát gan thấy mẹ, thằng Sếu tao cho trèo lên lần trước nó cũng bị té như mi đó, riết rồi nó cũng ngồi được, có răng mô na?”
 
Tôi lắc đầu quầy quậy không phải vì sợ con trâu nhưng tức và vì tôi nghỉ tới chiều về khai với ông bà già ra sao về bộ đồ ướt nhẹp dính đầy bùn đất đây? Ổng bả cũng dặn đi nhắc lại thằng tôi mấy lần rồi, rằng chơi chi thì chơi đừng có đụng tới con trâu vì xem mặt nó hiền rứa chớ nó mà đã không ưa ai là nó báng (lấy sừng đâm) cho mà chết đó! Nghĩ tới đó tôi càng sợ con vật này. Từ đó trở đi tôi mất cảm tình với con trâu và cái cảnh thằng bé con ngồi trên lưng trâu thổi sáo hay miệng hát nghêu ngao “ai bảo chăn trâu là khổ? không! chăn trâu sướng lắm chứ” thì tôi chắc chỉ có trong tiểu thuyết hay nét nhạc của ông Phạm Duy mà thôi!
 
Sau gần cả tháng từ ngày gia đình tôi khăn gói tản cư về cái làng này, tôi mới làm bạn được với hai thằng: thằng Nẩm con ông Tám riu bà con bên ba tôi và thằng Nhái con ông hai Ếch tá điền của ông dượng tôi. Ban đầu cũng chẳng có ai dám làm bạn với anh em tôi, tôi cũng không hiểu và không cần biết lý do làm chi nên chỉ lủi thủi chơi với thằng em nhỏ của mình. Tụi con nít xóm này không phải nó kỳ thị, nhưng vì nó thấy nẫu tản cư lạ hoắc mới ở tỉnh dọn về nên mấy ngày đầu chúng nó tò mò cứ đứng đằng xa mà ngó chớ không đến gần làm quen. Tôi và thằng em dạn dĩ hơn ra làm quen trước. Sau này mới vỡ lẽ ra rằng cha mẹ tụi nó có dặn: mấy đứa bây đừng chơi thân với cái nẫu tản cư vì tao thấy xóm trên có mấy gia đình tới đây tháng trước có mấy thằng con tính nết mất dạy lắm. Cha mẹ chúng nó cũng oánh và chửi lộn như cơm bữa. Nhưng sau một thời gian nửa tháng mấy đứa trẻ trong làng này thấy gia đình tôi sống im lìm lặng lẽ. Ba tôi thì khi nào có dịp đi ra ngoài gặp ai cũng chào hỏi tử tế và gia đình không có chào xáo chi hết nên mấy thằng nhỏ trong xóm mới bắt đầu ló dó đến làm quen với anh em tôi. Từ đó tôi mới dạn dĩ theo tụi nhỏ đi bỏ lờ, đôm cá cùng với mấy anh lớn của chúng, và theo đánh bắt chim “chà chiện” (trò chuyện).
 
Trời trưa hè ở làng quê yên lắng lắm. Cái nắng nóng hầm làm mồ hôi trong người vã ra, song thỉnh thoảng cũng có cơn gió nhẹ thổi qua mát rượi. Làng quê của ba tôi thật êm đềm, trưa hè chỉ nghe thấy tiếng chim cuốc cuốc gọi nhau trong bụi cây hoặc tiếng gà mẹ túc túc lũ gà con sau vườn. Mặt trời chói chang oi ả chiếu xuống trên những cánh đồng lúa ngập nước, hơi nước dợn sóng bay lên nhè nhẹ như nồi nước sôi mới vừa mở hé chiếc vung.  Những cánh lúa nở đòng đòng nặng trĩu cành, đầy ắp những hạt. Một cơn gió thổi qua, lúa rạp mình xuống và gió lướt êm làm cả cánh đồng dợn sóng.  Một màu xanh chen vàng nhạt lung linh tít tận chân trời. Im lặng, hoàn toàn im lặng. Tôi ngồi đó cuộn tròn người lại như một hòn bi.  Tôi nghe rõ cả tiếng con ruồi trâu vo ve đâu đây. Một mình tựa cửa nhìn ra, buồn lắm, tôi nhớ nhà, nhớ Đà nẵng, nhớ những tiếng rao hàng mỗi chiều của bà bán bún bò:
 
“Ai ăn bún bò không?..........”
 
Tiếng rao mệt nhọc của bả mỗi chiều khi gánh cái gánh bún bò nặng chĩu ngang qua ngõ nhà tôi. Rồi thì kế tiếp vào chập tối là chị bán chè đậu ván. Đặc biệt tôi thấy là cứ mỗi tối khi chị này đi ngang qua nhà tôi, chị ta dừng lại một chút và có ý rao to hơn, dường như chị đoán biết rằng ba tôi và tôi rất mê chè đậu ván của chị.  Nhớ đến đó tôi thèm lắm, nước miếng chạy quanh. Bụng đang đói, suy nghĩ không cũng đã thấy cồn cào. Tôi ước chi bây giờ có được tô bún bò và chén chè đậu ván!
 
Mấy hôm nay nhà tôi gần hết gạo, hũ gạo còn được vài ba lon nhỏ.  Còn ít gạo quá nên ba tôi ghế sắn khoai nhiều vào rồi nhặt từng hạt cơm ra cho tôi và đứa em ăn!  Nhìn cha mẹ ăn sắn với khoai, tôi cầm chén cơm mà nước mắt lưng tròng.  Thương cha mẹ quá! Tôi cố mỉm cười quên chuyện đó đi, chợt nhớ lại chị bán chè đậu. Số là sau nhiều lần tối tối ba tôi cứ kêu gánh chè của chị Huế vào trước sân ăn như thường lệ. Bỗng hôm nay sao lần này ba tôi vừa kêu chị chè đậu vào là má tôi la lên ngay:
 
“Thôi đi nghe ông, đừng có ăn nữa, tiền mô mà chè với cháo mỗi đêm?”
 
Nhưng tôi thấy có cái chi là lạ trong giọng nói của bà? Bà đã bắt đầu để ý? Tại sao thỉnh thoảng ba tôi kêu bà bún bò vô ăn thì không thấy bà già cằn nhằn chi, nhưng hễ mỗi lần thấy chị Huế bán chè đậu ván là bả lên tiếng la ba tôi liền?.  Để ý như vậy chứ thật ra thâm tâm tôi nào có thắc mắc làm chi đến chuyện người lớn, cho đến một ngày có bà hàng xóm thấy má tôi la ba tôi hoài, gặp tôi bả cười tõn tẽn nói nhỏ cho tôi biết rằng má tôi ghen bóng ghen gió đó! Tôi muốn hỏi bả ghen bóng ghen gió là cái gì thì bả chỉ cười trừ rồi bỏ đi. Một hôm tôi bèn đem chuyện đó mét lại với ba tôi, ổng cười xòa nói rằng má tôi ghen vì có một lần bà bắt gặp ba tôi cười với chị Huế nên bả cáu! Sau này khi lớn lên ít tuổi nữa tôi hiểu biết hơn về chuyện người lớn, bèn nhớ lại và mới vỡ lẽ ra rằng là cô Huế bán chè đậu ván có cái eo tuyệt đẹp và có cái liếc gợi tình! Thảo nào! Nghĩ đến đó tôi không nhịn cười được.  Thằng em tôi thấy tôi cười bèn hỏi tới:
 
“Anh hai cười cái chi rứa?” Tôi không đáp.
 
Từ ngày tản cư đến đây ba tôi xài đã hết tiền để dành, nên má tôi lo lắm. Tuy vậy sau mấy tháng trời ăn uống kham khổ, một hôm ông dượng tôi qua thăm gặp vào bữa cơm chiều. Nhìn mâm cơm chẳng có chi ngoài vài con cá rô chiên dầm nước mắm cùng tô canh rau đắng sau hè. Nhìn nồi cơm thì thấy sắn nhiều hơn cơm, ông bèn ái ngại hỏi ba tôi:
 
“Bộ cháu ba thiếu thốn lắm hả”.
 
Ba tôi đáp:
 
“Dạ đâu có, thưa dượng. Tại mấy bữa ni tôi không đi làm thuốc nên ít tiền ăn uống có phần đạm bạc hơn chút thôi.”
 
Nói rồi ông đứng dậy đi ra ngoài để giấu đi vẻ mặt lo lắng.  Ông dượng tôi nhạy cảm lắm, nhưng ông cũng chẳng nói chi sợ ba tôi mặc cảm. Về bên nhà hôm sau ông cho người đem qua cho ba tôi ba giạ(*) lúa cùng hai giạ gạo và một ít tiền mặt, nhưng ba tôi chỉ nhận lúa gạo và trả lại món tiền mặt viện cớ rằng ba tôi còn tiền.
 
Ông dượng tôi là một điền chủ nhỏ ở làng này. Ông rất tốt với mọi người, nên tá điền và dân làm ruộng rất yêu mến ông. Đặc biệt với gia đình tôi khi mới chân ướt chân ráo đến đây, ông đã giúp đỡ rất là tận tình. Nào gạo nào khoai, nào lúa giống và ông cũng có cho ba tôi mượn riêng một đám ruộng nhỏ để cấy lúa tự túc cùng nửa héc ta đất rẫy để trồng khoai và sắn mà ăn. Ở thôn quê người ta thực tế lắm: lúa, khoai, sắn, bắp là chính, ít khi họ xài tiền. Tiền chỉ cần khi có tiệc tùng giỗ quảy hay Tết nhất lớn thì mới ra chợ Hà Lam mà mua thịt cá.
 
Căn nhà nhỏ mà gia đình tôi đang tá túc là của ông thuê lại một gian giữa của chị người làm thuê cho ổng. Ông bảo với ba tôi: “Chú thím ba khỏi lo lắng chi hết, nhà này trước kia của tôi, nhưng tôi bán rẻ cho vợ chồng con mẹ Tấn. Nay chồng nó mất rồi, còn có hai mẹ con, ở chi cho nhiều nên tôi mướn lại một gian cho chú thím. Chú thím cứ yên tâm, đừng ngại ngùng chi hết, tôi có nói chuyện với mẹ con nó rồi, cứ yên lòng ở đó cho đến khi mô yên giặc thì trở về Đà nẵng. Chỉ có gia đình ông là ba tôi chịu ơn rất nhiều, chẳng phải vì ruột thịt mà thôi, nhưng với lòng nhân đức thương người sa cơ có một không hai của ông. Chẳng thấy ông ăn chay nằm đất, nhưng tôi thiết nghĩ ăn ở như ông thì ngay tại thế ông đã thành Phật rồi. Nhưng cái mụ Tấn cho thuê nhà là cứ tìm đủ chuyện gây gỗ với ba mẹ tôi hoài. Tôi cũng không hiểu tại sao. Có lẽ là vì tụi tôi đến ở chình ình trong căn nhà của mụ? Nhưng ông dượng tôi đã trả tiền hàng tháng cho mụ ấy rồi mà? Có một hôm mụ mất một con gà, không biết có mất thiệt hay không, mà mụ ra sân chửi đổng:
 
“Ối, chắc cái nẫu tản cư đây, chớ gà của tao nuôi từ trước tới nay có đi mô mà mất, reng (răng) bữa ni kêu hoài kêu hũy mà nó chẳng về?"                                
 
Ba mẹ tôi nghe, giận lắm nhưng để bụng chớ không đối chất làm chi, và mẹ tôi bảo rằng khi mô mụ Tấn chửi ra mặt rồi hẵng nói với ông dượng.
 
Sáng nay có một đám người quang gánh nào nồi nào ống nào dây chão vào đám rừng tràm nằm dưới khu rừng cây mà anh em chúng tôi vẫn đi bẻ củi, hốt lá về chụm mỗi ngày. Thằng Nhái thấy lạ bèn chạy tót qua nhà réo tôi  rủ đi ra đó xem họ làm cái gì. Khi tôi đến đã thấy đám con nít trong làng tụ tập chỉ chỏ, tôi cũng nhập vào bọn nó và đứng đó xem. Đám người mới đến đặt hết đống đồ xuống một khu ruộng khô.  Số là sau nhà tôi ở không xa có một đám rừng tràm lá dày (cùng họ eucalyptus) thấp, cao không quá ngực. Bên Mỹ vùng Nam Cali tôi cũng có thấy loại cây tràm này, nhưng cây to và cao, ước đến ba bốn chục feet. Lá cũng có mùi thơm khuynh diệp nhưng mùi không nồng bằng lá tràm ở rừng tôi. Vỏ cây này hay bị bung ra lòi cái lõi cây trắng vàng nhạt láng như da người bị lang ben. Cái chỗ rừng tràm đó rộng cũng đến 3, 4  mẫu là ít. Tôi hay ra đó lặt lá tươi mang về cho ba tôi nấu nước xông khi trong nhà có người bị cảm. Dân làng có người cũng ra chặt cây về phơi khô làm chổi quét sân.
 
Tôi thấy một người có vẻ là trưởng nhóm đang phân công cho một số lên rừng trên để lấy củi, một số đi lấy nước trong xóm, người còn lại đang loay hoay ráp mấy cái nồi vào một chiếc ống to. Tôi thắc mắc không hiểu họ sẽ làm cái gì. Tôi đến bên anh đang ráp cái ống vô một cái nồi lớn bằng nửa cái thùng phuy (loại barrel đựng dầu xăng). Trên nồi có cái nắp vung tròn đầu nhọn ló ra một cái ống ngắn, nói tóm lại nó giống như cái phễu lớn úp lên trên cái nồi vậy. Anh ta đặt cái nồi trên một cái kiềng ba chân làm bằng sắt, dưới có chỗ rộng để đút cây chụm lửa. Trên cái ống phễu đó anh nối cái ống thiếc qua một cái nồi nhỏ bằng nửa cái nồi kia.  Đặc biệt tôi thấy là cái ống không có thẳng cũng không cong như chũ U lộn ngược, mà lại giống như chữ V lật úp. Nối hai đầu ống xong, ông trưởng nhóm đến xem xét lại và gật đầu ra ngồi kế bên một ông mặc bộ đồ xanh lá cây như lính, hai ông ngồi hút thuốc tán gẫu. Tôi thấy ông trưởng nhóm rảnh rổi bèn lân la đến hỏi:
 
“Thưa chú, mấy chú nấu cái chi vậy?”
 
Ông quay sang tôi cười rồi trả lời:
 
“Nấu dầu chổi.”
 
Tôi à lên một tiếng thật to, và tài lanh tiếp:
 
“Dạ cháu biết rồi, mấy chú lấy lá tràm ni bỏ vô nồi nấu nước xông phải không?”
 
Ông cười to rồi đáp với tôi:
 
“Cậu ni giỏi đó nhưng nói đúng có một phần!”.
 
Ông nhìn tôi nheo mắt, thấy mặt tôi có vẻ sáng sủa hơn mấy thằng kia bèn cười và hỏi tiếp:
 
“Cháu là người địa phương này hả?”
 
Tôi cười đáp:
 
“Dạ thưa đúng, nhưng đúng có một nửa”.
 
Ông tỏ vẻ ngạc nhiên thấy tôi lý sự bèn hỏi:
 
“Thế nửa kia là sao?”
 
Tôi tiếp:
 
“Dạ cháu ở đây, nhưng không phải là người địa phương này, cháu là nậu tản cư ngoài Đà nẵng vào”.
 
Ông à lên một tiếng rồi quay mặt qua ông mặc đồ xanh cười nói:
 
“Cậu ni cũng là dân Đà nẵng tản cư đó bác sĩ nè.”
 
Tôi nghe ông kêu ông đó là bác sĩ tôi cũng hơi tò mò định hỏi nữa nhưng không dám. Ông trưởng nhóm quay sang tôi giảng giải tay chỉ chỏ vào hai cái nồi một cái lớn và một cái nhỏ nối bởi một ống thiếc lớn. Ông nói:
 
“Cái nồi lớn này để nấu lá tràm, khi nước lá tràm sôi bốc hơi, hơi nước đó sẽ dẫn qua cái ống nầy. Khi lên đến chỗ cong cao kia (ông chỉ chỗ góc hình chữ V) ống nhỏ lại, hơi nước qua đó gặp lạnh sẽ rơi vào cái nồi nhỏ này và chất nước đó là dầu chổi.”
 
Mấy thằng chăn trâu đứng kế bên quay qua bảo với nhau:
 
"Ông nớ nấu dầu chủi (chổi)"!
 
Tôi nghe ông nói xong gật đầu cám ơn và rồi nhìn vào ông bên kia, thấy ông ta cũng đang cười với tôi và gục gặc cái đầu. Sau này tôi mới biết ông đó là bác sĩ Bùi kiện Tín, người sáng chế dầu xanh có tên là “dầu khuynh diệp bác sĩ Tín”.
 
Tôi đứng xem họ nấu dầu một chặp chán rồi bỏ ra về. Vừa về đến nhà thấy thằng Nẩm đi qua ngõ ngoắc tôi rối rít rủ đi bỏ lờ. Thế là tôi bật dậy như cái lò xo với tay lấy chiếc lờ đi theo thằng Nẩm ngay. Tôi vừa đi vừa quay mặt lại dặn thằng em:
 
"Ba có hỏi nói tau đi đặt lờ với thằng Nẩm nghen".
 
Thằng em tôi nói với theo:
 
"Cho em đi theo với!"
 
Tôi la lớn:
 
"I', mi đi răng được, nhỡ té ngoài ruộng ai khiêng mi về?"
Tao đi khoảng chiều tao về ngay, ba có kiếm thì ra ngoài ruộng ông Tám riu nghe”.
 
Nói rồi là ba chân bốn cẳng chạy theo thằng Nẩm. Tôi nhủ thầm, phen này chắc có cả lờ cá rô chón (rô nhỏ), tha hồ cho má mình chiên. Nghĩ đến con cá rô chiên dòn rụm mà ăn với cơm nóng hổi làm nước miếng tôi chạy quanh rồi. Đây là lần thứ hai thằng Nẩm cho tôi đi bỏ lờ với nó. Lần trước mỗi lờ được vài chục con chón, nhưng lờ của thằng Nẩm nên nó chỉ cho tôi được có bảy tám con nhí. Tôi nói với nó kỳ này tôi có lờ riêng, cho tôi lấy nguyên cả lờ nghe. Nẩm gật đầu. Nhưng tôi không có chiếc lờ mới như tôi mong, vì ông anh bà con tôi là anh cả Lượng cháu ông dượng, không có thì giờ đan cho, nên cho tôi cái lờ cũ của anh, cũ nhưng cũng còn tốt chán. Bữa đó tôi hớn hở mang lờ về khoe với ba mẹ tíu tít nên hôm nay khi thấy thằng Nẩm đi ngang qua nhà vẫy tay là tôi chạy theo liền không suy nghĩ chi hết.
 
Ra đến ruộng, tôi theo Nẩm đến cái mương dài nước chảy giữa hai bên bờ ruộng phía trên, nó nắm tay tôi bảo không phải chỗ ni, đi lần theo bờ đê xuống ruộng dưới cũng của nhà nó.  Tìm một chỗ nước chảy mạnh hai bên có nhiều cỏ che bít hàng mương rồi hắn dạy tôi cách gài lờ. Gài vào bên mé mương, để nước ngập trên thân lờ chút đỉnh, đừng có đặt lờ sâu quá vì cá nhỏ hay đi theo hai bên bờ ruộng. Đặt sâu chừng khoảng hai gang tay người lớn tính từ trên bờ ruộng xuống. Lấy cỏ phủ lên lờ rồi để đó theo nó đi qua chỗ khác để đặt thêm hai cái lờ nữa của nó. Đặt xong hai thằng xuống cái ao gần bụi tre cách đó hai cái ruộng rồi cổi đồ ra tắm.
 
Kỳ này tôi đã dạn dĩ hơn mấy lần trước khi mò xuống ao. Tôi cởi hết áo quần ra để trên bờ ao rồi nhảy cái ùm xuống với thằng Nẩm. Nước ao văng tung tóe, hai đứa tôi thì thụp lặn xuống, nổi lên chơi trò tạt nước vào mặt nhau. Nhưng bữa ni răng thằng Nẩm lặn đâu mất tiêu! Tôi bắt đầu sợ, kêu lên:
 
“Nẩm ơi, mi ở mô rứa?”
 
Thằng Nẩm lần này chơi cắc cớ nhảy xuống ao rồi lặn riết vô trong chỗ lùm bèo dày đặc sát mé ao ngóc nhẹ đầu lên giấu mặt trong đám lục bình. Tôi kêu mấy tiếng vẫn không thấy nó trả lời, tôi thất kinh tưởng nó chết đuối rồi bèn hét to lên:
 
“Nẩm ơi, Nẩm...”
 
rồi rõi mắt dáo dác tìm. Nhưng sau đó tôi nhác thấy thằng bạn tiểu yêu đang ngó ngoáy cái đầu nhấp nhô dưới đám lục bình, tôi ngưng gọi giả vờ không thấy chậm chạp trèo lên bờ. Tôi bốc một nắm sình rón rén men theo bờ đến trên chỗ thằng Nẩm thảy xuống đầu nó một cái rầm. Cu Nẩm bị nắm sình vào đầu bèn hết hồn bơi tuốt ra giữa ao miệng la bài hải.  Tôi cười ha hả rồi nhảy xuống lại, hai thằng lại tạt nước và bắt cẳng với nhau cho đến lúc có một người đàn bà hàng xóm gánh đất đi ngang qua ao la hai thằng:
 
“Tụi bây không sợ ma da kéo cẳng răng tụi bây dám tắm dưới nớ vào giữa trưa?” 
 
Thằng Nẫm nguýt bà hàng xóm một cái, nhưng tôi thì không ngạc nhiên chút nào song bắt đầu sợ, bèn nhè nhẹ bơi vô trèo lên bờ trước đôi mắt khó chịu của thằng Nẩm. Tôi sực nhớ ngay là ông anh cả Lượng có kể cho tôi nghe một lần trong một buổi tối ăn bắp nướng bên sân nhà bác cả Cửu.  Anh nói rằng cái ao đó có ma da, vì năm ngoái có hai đứa nhỏ chăn trâu ở xóm trên xuống tắm và chết đuối dưới đó mà không ai hay. Đến chiều tối cha mẹ không thấy con về mới xách đuốc đi ra ruộng tìm thì nghe thấy tiếng é ngọ của con trâu mình, bèn vội vã đến ao thì chỉ thấy đống quần áo của tụi nhỏ để trên bờ cạnh đó, còn con trâu thì đang đứng nhai cỏ bên ruộng.  Xuống ao mò xác 2 đứa cõng về chôn trên rừng chàm, nên sau đó mỗi đêm người trong làng Phú mỹ thấy nhiều ánh lửa chập chờn trên ao cho đến sáng. Ông bác tôi nghe anh cả nói vậy thì la át anh:
 
“Ma mô mà ma, người ta thắp đuốc đi bắt nhái bắt ếch chứ ma cái chi, đừng dọa mấy đứa con nít nó sợ!”
 
Nghỉ đến đó tôi giật mình ớn da gà thật. Nhìn thằng Nẩm tôi ra dấu kéo nó lên khỏi ao. Từ khi nghe chuyện đó trở đi tôi bắt đầu ngán cái ao đó, vì có đêm tôi thức dậy ra sân sau đi tiểu nhớ lại lời kể của anh cả Lượng, nhìn ra phía cái ao cũng thấy có nhiều ánh lửa chập chờn trên đó, nhưng tôi đâu có biết rằng hôm nay chính thằng Nẩm lại cắc cớ dắt tôi đi tắm đúng cái ao này. Tôi rùng mình, gai ốc nổi lên đâỳ người. Líu ríu xỏ chân vào cái quần cụt và mặc vội cái áo thun vô mình, vội vàng nên không thấy một con đỉa to bằng đầu đũa đang đeo cứng bên ống quyển phía trên mắt cá trái đang co lại hút máu tôi một cách ngon lành. Tôi cảm thấy ngứa ở dưới cái ống quyển trước bèn ngó xuống thấy con đĩa mập ú lên, tôi cầm lấy con đỉa dựt ra và vứt ngay xuống ao. Lấy tay chùi vào chỗ máu, thấy nguyên cái lỗ nhỏ máu còn rịn ra. Tôi nhúng vội tay xuống ao vốc nước rửa chỗ vết cắn, miệng lẩm bẩm rủa con đỉa một mình. Đang lầm bầm tôi nghe tiếng thằng Nẩm phân bua với bà gánh đất.
 
“Ma mô mà ma, tui với thằng Sếu tắm hoài ngoài ni có răng mô?”
 
Nói dạn vậy, chớ cu con cũng bắt đầu ớn và hỏi lại bà hàng xóm:
 
“Thiệt hả dì?”
 
“Ủa chớ cha mi không nói cho mi biết hả? Lần sau đừng có rắn mắt nghe con. Nó mà kéo cẳng thì chỉ có trời cứu!”
 
Nói rồi bà lật đật gánh cái gánh đất bỏ đi. Hai thằng mặt tái mét không còn hột máu vội vàng chạy đi không kịp cám ơn bà gánh đất.
 
Thằng Nẩm vùa chạy vừa thở nói với tôi.
 
 “Đến coi mấy lờ cá đã vô chưa?"
 
Nói xong hắn chạy đi liền. Tôi thầm nghĩ thằng này nói dạn chớ cũng nhát gan thấy tía! Lúc tôi còn tần ngần chưa kịp đi vì còn rửa chỗ vết cắn của con đĩa, Nẩm bỗng giật tay tôi lia lịa kéo chạy đi ngay sang hướng mé ruộng của nó. Hai đứa cắm đầu cắm cổ chạy. Cũng không dám quay mặt nhìn lại cái ao! Kéo ba chiếc lờ lên đầy nhóc cá rô, có lẫn mấy con cá tràu (cá lóc) nhỏ. Hai đứa cười ỏn ẻn mặt sáng rỡ. Nẩm la lên:
 
“Túi ni có cá ăn rồi! Thôi xách lờ về đi mi.”
 
Hai thằng oắt con thoăn thoắt đi theo mé ruộng về làng. Mỗi đứa trên tay đầy lờ cá. Bóng tối đã tràn ngập. Tiếng ếch nhái bắt đầu hợp ca bản đồng ca: Ột ệt…à oang!...
                                                                                                                                                                                          
 
 
 
 
(*) Giạ là một cái thúng tròn đựng vào khoảng ba chục ký gạo hay lúa.
 
                                                                                                                                                                                                                                            
 
 
 
 
                                                                                                                                                                                                                                      
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 21.03.2016 00:29:24
 
                       
                                         Chương bảy
                      
                           Trên đồng cạn, dưới đồng sâu..
 
 
Tôi xách cái thúng bước lững thững theo đoàn con gặt. Sáng nay trời quang mây tạnh, gió thổi hiu hiu. Trên mặt đê đất đã khô, chỉ một vài nơi nước còn đọng lại trên những lằn bánh xe bò lún sâu vào đất ngày hôm qua. Nước phản chiếu ánh mặt trời ban mai lấp loáng lên gương mặt đoàn con gặt.
 
Đêm qua trời tự dưng đổ mưa thật lớn vào lúc nửa đêm. Tôi thức giấc vì tiếng gió rít cùng những loạt mưa nặng hạt lộp độp trên nóc nhà. Không ngủ được, tôi nằm im nghe tiếng con dế ma nỉ non dưới bếp đất hòa lẫn với tiếng gió rung bụi chuối sau hè nghe phành phạch. Một lúc lâu gió lặng bớt , mưa nhẹ dần. Tiếng nước mưa nhỏ giọt từ trên mái hiên nhà xuống cái lon để trước sân nghe lộc cộc đều đặn như tiếng gõ mõ tụng kinh. Ba tôi thức giấc lò dò bật que diêm ẩm mấy lần để thắp chiếc đèn dầu mang xuống bếp, ông lục tìm lấy cái chậu để dưới đất hứng nước mưa giọt xuống từ chỗ mái nhà giột. Ngửa mặt nhìn lên trần nhà, ông lẩm bẩm:
 
“Chắc mai phải trèo lên lợp lại cái mái rạ!”
 
Tôi xoay mình vào phên tường, cố dỗ giấc ngủ vì mai còn phải dậy sớm để theo con gặt.
 
Bụi chuối sau vườn đêm qua gió thổi quá mạnh, lá già lá non rách bung tơi tả. Mấy cây chuối con gãy nằm ngã nghiêng. Đàn gà con sáng ra đã theo mẹ ríu rít đi ăn. Nền trời trong xanh. Từng cụm mây trắng cao lờ lững trôi. Gió sớm thổi tạt vào mặt tôi thấy mát lạnh. Đang suy nghĩ vẩn vơ chân tôi vấp phải hòn đá đau nhói làm tôi khựng lại vài giây. Tôi hấp tấp bước vội theo đoàn con gặt, thấy trên tay ai nấy cũng cầm liềm cùng giây lác và giỏ cơm trưa. Tôi sực nhớ chắc mình có quên một cái gì đây? Nhưng tiếng hò hát của đoàn con gặt lấn át trí tôi làm tôi cũng quên luôn điều mình muốn nhớ, tôi bật tiếng hò theo họ những chỗ tôi biết. Có con chó nhà ai cũng chạy theo phụ họa sủa vang.
 
Đây là lần đầu tiên tôi đi mót lúa. Tối hôm qua khi ba tôi qua thăm nhà ông dượng, thấy trước sân một đám thợ gặt đang ngồi nghe ông phân phối công việc cho họ vào ngày mai. Sau khi dặn dò đám thợ gặt xong, ông xoay ngang ba tôi bảo, ngày mai nhớ cho thằng nhỏ đi theo mót lúa và cũng nhớ dặn nó đem theo cái thúng lơn lớn nghe. Ba tôi dạ, về nhà lấy một cái thúng để sẵn trước sân dặn tôi sáng mai theo họ.
 
Sáng hôm sau khi đoàn con gặt đi ngang qua nhà, tôi cầm thúng theo ngay. Len lỏi lên phía trên tôi bám sát theo chị Nhàn, cháu gái của ông dượng tôi.  Đến thửa ruộng của ông tôi, chị Nhàn và con gặt cùng nhau dừng lại.  Họ sửa soạn liềm móc cùng giây lác để buộc lúa. Đoàn người xắn ống quần lên quá gối rồi thong thả bước xuống. Những nhánh lúa nặng trĩu cành oằn những hạt vàng thẩm, vàng suốt cả cánh đồng. Nước ruộng có chỗ xâm xấp còn lại vì cơn mưa lớn đêm qua. Tiếng roạt roạt của liềm hái bắt đầu hoạt động. Tôi bước xuống theo chị Nhàn, nước ban mai lạnh và ngập gần đến mắt cá chân. Con gặt xếp hàng ngang và tiến đều đặn. Gặt đến đâu họ gom lúa trong tay, đến khi đầy họ tìm chỗ khô xếp lại từng đống trên ruộng, lấy lạc bó lại thành từng ôm. Tôi bước sau chị Nhàn, hễ nhánh lúa nào rơi rớt ra ngoài mà con gặt không cột vô thì tôi được phép lấy. Có mấy thằng nhỏ như tôi cũng theo bà con nó đi mót lúa. Nhưng mấy con gặt kế bên ít khi để rơi rớt nhiều, họ túm lấy rồi cột lại thành từng bó ngay, riêng chị Nhàn thì cố tình để rơi rớt nhiều hơn cho tôi. Từ sáng tới trưa tôi đã lượm được gần một thúng bèn lên bờ kiếu chị Nhàn để chạy về nhà. Tôi lật đật ôm thúng lúa mót lên bờ chạy một mạch về nhà đổ xuống sân, đến cái lu hứng nước mưa cầm chiếc gáo dừa uống một hơi rồi chạy ngay ra ruộng mót nữa.
 
Đến ruộng thì đã giữa trưa, con gặt ai nấy cũng dừng tay lên bờ tụ tập để ăn trưa. Người thì mang cơm, kẻ mang xôi, lên bờ ruộng hoặc vào núp dưới bóng lùm tre gần đó cho mát. Họ ăn trưa một cách vui vẻ. Riêng tôi vì lo chạy về bỏ lúa rồi chạy ngay ra để mót tiếp nên quên cả vụ ăn trưa. Thấy mọi người ăn tôi mới chợt nhớ ra rằng mình đã quên xới cơm theo. Thảo nào thấy xót xót trong bụng, cũng vì ham mót lúa nên quên cả chuyện ăn trưa!. Chị Nhàn thấy tôi còn nhớn nhác dưới ruộng bèn kêu lên bờ ngồi chung với chị.  Tay chị cầm cái nón quạt lấy quạt để, mồ hôi trên trán và trên má chị chảy ròng ròng. Chị ngưng tay mở gói xôi ra, định ăn,  nhưng khi thấy tôi ngồi im, chị liền hỏi:
 
“Chớ em đã ăn chi chưa?, răng không thấy đem cơm theo?.
 
Tôi đáp:
 
“Hồi nãy em về nhà trút vội rổ lúa mót chạy ngay ra đây nên quên đem cơm! Nhưng em không đói lắm vì sáng đã có ăn khoai rồi. Để chút chiều về ăn luôn thể.”
 
Chị cười thuần hậu:
 
“Thằng ni thiệt, ham mót lúa quá nên quên cả ăn, thôi ngồi đây ăn miếng xôi với chị.”
 
Tôi lắc đầu bảo không đói, nhưng nhác thấy đồ ăn là kiến bò bụng rồi, vì sáng nay chỉ ăn có mấy củ khoai sùng còn lại tối qua. Gáo nước lạnh làm cho bụng tôi trống trơn và kêu rột rột nãy giờ!. Chị Nhàn cũng tâm lý lắm, biết tôi đang đói nhưng ngại ngùng không lẽ mới hỏi thì ừ liền sao, nên chị cầm tay tôi dúi vào một cục xôi và bắt phải lấy. Chỉ chờ có thế, tôi vui vẻ nhận liền.  Nói nào ngay, miệng tôi lúc đó thoái thác cho có lệ chớ trong bụng thì lại muốn chị mời!  Tôi cầm xôi nhưng thấy hơi ngượng, bèn xây mặt qua chỗ khác. Ăn xong mọi người lại lục tục kéo nhau xuống ruộng.
 
Chị Nhàn hơn tôi năm sáu tuổi chi đó. Tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu. Chị không đẹp lắm, dáng người rắn chắc khỏe mạnh, nước da ngăm ngăm, tóc đen nhánh chấm ngang vai. Chị là đứa con gái duy nhất của bác tôi kêu ông dượng tôi bằng ông nội. Con nhà khá giả trong làng nên chị cũng được đi học buổi sáng ngoài chợ Hà Lam, nhưng đang nghỉ hè về nhà lo giúp đỡ cha mẹ cơm nước và gặt lúa. Chị giỏi việc bếp núc lắm, cùng với mấy người làm lo cho cả chục miệng ăn vào mỗi vụ mùa. Khi mùa gặt đã xong thì đến lúc bà con trong xóm tụ họp bên sân nhà chị đập lúa giã gạo sáng đêm. Chị thương tôi lắm và coi tôi như em. Nhiều lần chị qua nhà thăm ba mẹ tôi thấy tôi ngồi một mình trước sân, chị đến ngồi bên vuốt tóc tôi hỏi:
 
“Chắc em buồn lắm hỉ, ở đây không có ai trang lứa mà chơi! Em nhỏ lớn ở tỉnh đâu có quen việc nhà quê?! Mẹ em thì nằm liệt giường, chị thấy em cực chị thương lắm.”
 
Tôi rơm rớm nước mắt. Tôi mến chị từ hôm ấy, nhưng ít khi tôi qua nhà chị, trừ khi nào bên nhà chị có đi nhổ đậu đen hay đậu phộng chị kêu tôi qua ăn đậu luộc.
 
Đoàn thợ gặt ăn uống đã xong, họ bắt đầu xuống ruộng gặt tiếp. Cái nóng buổi chiều hâm hấp trên ruộng làm mọi người không buồn nói chuyện với nhau. Ai lo phần nấy. Chỉ nghe tiếng lưỡi liềm sột soạt cắt lúa mà thôi. Vài tiếng chim kêu “bắt cô trói cột” vang rân trong xóm gần đấy, còn lại là tiếng lỏm bõm của con gặt bước đi trong ruộng.
 
Tôi lót tót chạy theo chị Nhàn. Có vài thợ gặt nhìn tôi lắc đầu chặc lưỡi, chắc thấy tôi là dân tỉnh thị chưa bao giờ lam lũ như dân quê, nhưng cũng có người nhìn tôi mà mặt chẳng hề tỏ chút cảm tình, có lẽ họ cho tôi là con của đám tản cư đến đây dành mót lúa với mấy thằng nhỏ trong xóm.
 
Theo sau đoàn thợ gặt, tôi thấy họ yên lặng say mê công việc. Thinh thoảng có vài tiếng hỏi han nho nhỏ hay dừng tay lại quấn điếu thuốc hoặc lầm bầm kể lể chuyện nhà cửa mưa gió tối qua. Mồ hôi đẫm trên lưng nhễ nhại, biến cái áo vải đen của chị Nhàn thành từng đám trắng loang lổ,  mồ hôi muối khô đọng lại trên áo nom như chị đang mặc áo vá. Tôi chậm rãi đi theo và lượm từng nhánh lúa rơi, thỉnh thoảng đứng thẳng người lên nhìn đám con gặt chỉ thấy toàn mông đít và nón lá. Họ lội bì bõm trong ruộng, chân người nào cũng bê bết bùn đen. Tôi nhìn họ và rồi nhìn lại tôi! Mới mấy tháng trước đây tôi vẫn còn là cậu học trò thư sinh chẳng biết một chút gì về đồng áng. Nay nghiễm nhiên trở thành một thằng nhỏ nhà quê chính cống! Một nỗi buồn man mác xâm chiếm lòng tôi kể từ đó. Nhưng tôi cảm thấy tôi hòa mình với họ, những người nông dân chất phác chân lấm tay bùn quanh năm vật vã với nắng mưa trên ruộng đồng. Bài ca dao trong quốc văn giáo khoa thư thoạt hiện lên trong đầu tôi với hoạt cảnh: “trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa!” Hai chiếc xe bò ở đâu trờ tới đậu ở cuối ruộng. Mấy người trai trẻ nhảy xuống khuân các bó lúa mà con gặt đã bó sẵn đem lên xe. Khi chất đầy họ đánh xe đi. Ruộng còn trơ lại những gốc rạ nửa khô nửa ướt. 
 
Chiều hôm đó trên đường về tôi hớn hở vì được thêm nửa thúng lúa nữa. Về nhà đổ chung với đống lúa lúc sáng ở sân để phơi cho khô, chờ tới khi nào bên sân ông dượng nhà tôi có đập lúa tôi sẽ mang sang nhờ họ đập. Và cứ thế liên tiếp cả mấy tuần sáng nào tôi cũng xin đi theo con gặt. Hết ruộng này đến ruộng khác. Nhưng cũng có ruộng họ không cho mót, chỉ dành riêng cho bà con họ. Người tôi đen dòn, tôi ốm thấy rõ, nhưng cái ốm rắn chắc. Mặt tôi rám nắng hồng lên như mặt con gái thấy trai. Những hôm nào có chị Nhàn đi gặt thì tôi theo chị để được lúa mót nhiều hơn. Cuối mùa tôi được một đống lúa to, khi đem qua nhà ông dượng đập lúa ra tôi nhớ mang máng cân cũng được gần 4, 5 giạ. Ba tôi cất lại một giạ làm lúa giống, còn bao nhiêu xay ra gạo ghế sắn khoai ăn cũng được trên dưới nửa năm. Từ đó trở đi cho đến khi khôn lớn, cho dẫu đến lúc khá giả, tôi vẫn quý từng hạt cơm và ăn không bỏ mứa. Tôi trân quý từng hạt cơm hạt gạo và hay dặn con cái rằng: “mồ hôi và nước mắt của bao nhiêu người nông dân đổ ra cho chúng ta mới có lúa gạo mà ăn, đừng bao giờ phung phí hạt ngọc trời cho”.
 
Đang ngồi trước sân chơi với thằng em, bỗng thằng Nẩu ở đâu chạy đến cho biết chiều nay anh em nó đi đánh chim chà chiện, nó xin anh nó cho tôi đi theo. Tôi hỏi đánh ở đâu, thì nó chỉ mấy đám ruộng của nó đã gặt từ mấy tuần trước, nay chim lúa đi ăn tối về đậu dưới gốc rạ để ngủ. Anh Hai và mấy bạn của anh nó sẽ đi đặt bẫy đêm nay. Tôi hỏi nó:
 
“Chim gì mà mày kêu là chà chiện?”
 
Nó nói:
"Thì là chà chiện chớ chim chi?”
 
Tôi cũng chẳng tò mò hỏi thêm sợ nó giận không cho đi theo, tôi bảo ngay với nó:
 
“Ừa, chiều tao sẽ chạy qua ngay.” 
 
Tôi hớn hở chạy qua nhà thằng Nẩm thì đã thấy anh Hai nó và bốn người thanh niên lực lưỡng đang hì hục giăng lưới trước sân, sau đó cuộn tròn  lưới lại vào hai khúc tre lớn. Chiều cao mỗi khúc cũng đến 5, 6 thước là ít. Lưới cột từ đoạn tre bên này giăng qua đến đoạn tre bên kia. Chiều dài của lưới ước chừng cũng từ 8 đến 10 thước. Cuộn xong, hai người vác một đầu phía trước, hai người vác phía sau ra đi. Tôi và thằng Nẩu với một người lớn cùng hai thằng nhỏ nữa chạy theo sau đám họ. Lúc đó trời đã ngã về chiều, ráng đỏ phía tây sáng ửng cả một vùng, tôi lẩm bẩm trong miệng, chắc ngày mai có mưa đây. Thường thì nhà nông hay đoán trước trời sắp mưa hay gió bằng những câu ca dao ngắn ngủi nhưng nội dung đầy ắp những kinh nghiệm mà những thế hệ đi trước đã từng trải. Ví dụ như chiều nay trời ráng đỏ ửng thì ngày mai trên 50% sẽ có mưa, vì “ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa.” Từng đàn chim đi ăn bay về hướng núi, gió hây hây thổi và mặt trời sắp lặn ở chân trời.
 
Đến nơi anh em chúng tôi đặt lưới xuống ruộng cách xa với đám ruộng mà chim sẽ đáp xuống vài ba đám và ngồi chờ. Chúng tôi không chờ lâu, chỉ tàn một điếu thuốc, lúc mặt trời vừa gần tắt nắng, bỗng đâu bay về một đoàn chim lúa ước chừng cả mấy trăm con ào ào đến. Chúng lượn qua lượn lại mấy vòng trên thửa ruộng rồi từ từ hạ cánh xuống. Lúc đó tụi tôi nằm sát rạt xuống dưới một đám ruộng khô cách xa để tránh cho chim không thấy người. Đoàn chim hạ cánh rồi bắt đầu râm ran trò chuyện, bấy giờ tôi mới nhớ lại lời thằng Nẩu nói ngọng, gọi chúng là chim chà chiện. Chắc cả ngày lo tung ra đi ăn bây giờ đêm về tụ hội lại chuyện trò kể lể cho nhau nghe trước giờ đi ngủ? Tiếng chim trò chuyện át hẳn tiếng sột soạt của chúng tôi đang nhẹ nhàng vác lưới đến.  Chờ cho trời chạng vạng tối, và sau khi chim bắt đầu im lặng để ngủ, mấy anh lướt như êm đến gần bờ ruộng chim ngủ giăng sẵn lưới ra một cách êm thắm. Cứ hai người mỗi bên, tay cầm chắc cọc tre, số còn lại là một anh lớn cùng đám trẻ nhỏ chúng tôi lúi húi đi vòng ra phía trước đối diện miếng ruộng mà chim đậu, ngồi chồm hổm chờ lịnh. Mặt trời đã lặn hẳn, bóng tối bao trùm cảnh vật, và đàn chim cũng lặng lẽ đi vào giấc ngủ. Bỗng một tiếng la ra hiệu của anh Hai thằng Nẩu, chúng tôi hè nhau đứng lên chạy qua đám ruộng chim ngủ, vừa chạy vừa la lớn vang rân trời đất. Chim mới vừa ngủ nghe tiếng la hoảng hồn thức dậy bay tán loạn về phía lưới, trong lúc đó anh Hai thằng Nẩu cùng mấy người bạn đã dựng đứng cái lưới từ bao giờ sẵn sàng ập mạnh lưới xuống. Bị một cú bất ngờ, một số lớn chim mắc kẹt vào lưới kêu en ét, còn lại một số thoát thân được bay dạt ra hai bên lưới. Chúng tôi phụ cuộn tròn lưới lại và mấy anh lớn vác lên vai lục tục trở về. Ai nấy mặt mũi hớn hở, anh Hai nói:
 
“Chắc cũng trăm con! Kỳ này khá hơn kỳ trước.”
 
Tụi trẻ con tôi cũng vui như mở cờ trong bụng, vừa đi vừa hát râm ran. Đêm đó đem chim về sân trải lưới ra, chúng tôi chia nhau bắt từng con đập chết, ước cũng đến cả bảy tám chục con. Anh Hai thằng Nẩu chia đều cho mọi người, riêng phần tôi cũng được khoảng mười con, về nhà vặt lông cho má rô ti ăn cơm. Cả tuần sau đó chúng tôi mới ăn hết chỗ thịt chim chà chiện.
 
Ngày ngày tôi và thằng em mỗi đứa phải đeo sau lưng một cái giỏ nan giống như cái gùi của người Thượng, để vào rừng cạnh nhà kiếm củi. Nhưng số cành cây khô thì rất ít chúng tôi phải cào lá khô dưới gốc cây về chụm thay củi. Những ngón tay cầm viết của tôi không còn tròn và trắng như mấy tháng trước, thay vào đấy đã xác xơ đen đúa, có chỗ trầy trụa và chảy máu, trên bàn tay nhiều vết xước, máu đã đông khô gồ lên thành một vệt hằn dài màu nâu sậm. Vì cào rác quá nhiều nên gân guốc nổi hằn lên trên hai bàn tay. Lòng bàn tay thì bắt đầu chai cứng không còn trong đỏ như trước. Nhưng không đi cào lá thì lấy gì chụm lửa nấu cơm, nhiều khi tôi tủi thân nhìn hai bàn tay ngồi khóc một mình.
 
Ba tôi mấy lâu nay bận đi lên mạn ngược chữa mấy bệnh lặt vặt cho đồng bào Thượng trên buôn. Bệnh sốt rét ngã nước, bệnh mất ngủ, đau bụng nhức đầu ăn không tiêu, đi tỏng, vân vân. Số là trước khi đi tản cư ông có mang theo một số thuốc thông thường như asperine, gadenan, ký ninh cùng một số thuốc khác kể cả thuốc ta dùng trong tủ thuốc gia đình. Vì kỳ này ông biết tản cư sẽ ở lâu nên cố mua thêm ít thuốc Tây nhiều hơn để mang theo về quê mà  xài. Nào ngờ bây giờ lại đến lúc cần thiết dùng tới làm cần câu cơm. Ông cũng biết chút ít về thuốc men, và chích kim. Ở vào thời gian củi quế gạo châu này, ngay ở tỉnh thị bịnh nhân cũng ít khi chịu đi bác sĩ, ngoại trừ trường hợp bịnh nặng lắm mới phải nghĩ tới bác sĩ cùng nhà thương mà thôi. Thông thường thì kêu y tá đến nhà chích khi gặp nóng sốt cảm hàn hoặc tự mua thuốc về nhà uống.
 
Một hôm trong làng có người bà con bị bệnh sốt rét, ông bèn qua thăm và cho gia đình đó một số thuốc ký ninh. Sau đó bệnh nhân thuyên giảm, gia đình bà con đó sang nhà ba tôi cám ơn rối rít và nói ba tôi mát tay, họ cũng  mang theo một ít lúa để trả ơn. Từ đó một đồn hai, hai đồn bốn, hễ trong làng trong xóm có ai bị bệnh thì đều mời ba tôi qua chữa bệnh dùm.
 
Sau đó ông mới nghỉ ra là tại sao không đi lên mấy xóm trên xem có ai đau yếu thông thường gì không thì theo kinh nghiệm mình có cho họ ít thuốc chữa bệnh mà đổi lấy thực phẩm. Ba tôi thành công trong công việc đó, mấy tháng sau tiếng đồn vang ra và họ gọi ba tôi là ông thầy tản cư. Hầu hết là những bệnh như sốt rét, sốt vàng da, đi tháo tỏng hay một vài bịnh đàn bà do không biết vệ sinh để giữ gìn cơ thể. Khi chữa chạy xong xuôi thường là bệnh nhân trả bằng gạo hay lúa chứ không có trả tiền. Có một bữa chữa bệnh xong thì trời đã tối, thân chủ trả cho một gánh khoai lang, ba tôi đành phải gánh về cho nhà ăn cả tháng, vì thế cũng tạm đủ chi dùng trong nhà, ba tôi khỏi phải nặng nhọc lo cấy lúa và trồng khoai sắn ngoài rẫy.
 
Thậm chí một hôm có một chị trong xóm đau đẻ cả một ngày một đêm mà chưa đẻ được, họ cũng kêu ba tôi qua giúp dùm. Ba tôi hết hồn nói với họ rằng ba tôi đâu có biết đỡ đẻ. Nhưng họ cố tình nằng nặc đòi ba tôi giúp chớ bây giờ đêm hôm trong làng trong xóm chúng tôi biết đem đi đâu! Ba tôi trong bụng thì đánh lô tô, nhưng ngoài mặt cố bình tĩnh, ông trấn an hai vợ chồng và bảo với bà mụ vườn nấu nồi nước sôi rồi lấy khăn sạch ra cho ông. Lúc đó là thời buổi chiến tranh, trong làng trong xóm nhà quê đêm hôm đâu có xe mà chở bà chửa ra chợ, nơi duy nhất có một căn nhà lá nhỏ làm y viện có cô y tá vườn và một bà đở. Hầu hết mọi người trong làng xóm khi sanh nở đều mời cô mụ vườn đến đở mà thôi. Vậy mà cám ơn Trời, ổng loay hoay sao đó với bà mụ, đến quá nửa đêm thì bà có chửa mới cho thằng nhỏ ra đời và mẹ tròn con vuông. Sáng hôm đó ba tôi về đến nhà mệt nhọc thuật lại cho má tôi nghe, má tôi la bài hải:
 
“Chu choa…bữa sau ông đừng có làm tài lanh rứa nghe, nhỡ con người ta chết người ta đổ tội cho mình, hơn nữa ông có biết chi mô mà làm mụ đẻ?”
 
Ba tôi nói:
 
“Ừa, thì tôi cũng có nói cho họ biết rồi, tôi không phải bà mụ cũng chẳng đở đẻ bao giờ mà họ vẫn không tin, và hứa với tôi rằng họ không có kiện cáo chi mô khi có tai nạn, miễn sao giúp dùm cho mẹ con nó qua là được rồi!”
 
Lúc đó ba tôi định bỏ về thì họ cố níu kéo, thấy bỏ đi thì nhẫn tâm quá mà ở lại thì mình mần được cái gì đây? Ba tôi bèn hỏi nhỏ bà mụ vườn, bà đáp:
 
“Tại cái con khỉ ni nó đau quá nó la làng mà thằng chồng nó lại nhác, cửa mình chưa mở hết thì ráng chờ, chớ tui nói rồi, không có reng mô, chiện ni tui gặp nhiều lần lắm rồi cũng xong hết.”
 
Ba tôi yên chí ngồi yên đó giúp bà một tay và cũng để cho hai vợ chồng kia vững tâm hơn.
 
Một hôm có người trên buôn xuống nhắn ba tôi lên chữa giùm cho một gia đình người Thượng. Khi ra về trời đã nhá nhem tối, ông gặp một toán Việt Minh mang súng ống đầy mình chận lại hỏi giấy tờ và bắt ông dẫn đi hết mấy ngày. Ở nhà mẹ tôi nóng ruột chờ mãi không thấy chồng về, bà lo lắng ra mặt, khóc lóc cả đêm vì không đi được để tìm ông. Phần tôi thì còn nhỏ quá đâu có biết đường nào mà đi tìm ba tôi. Tôi bèn chạy qua nhà ông dượng cho ông hay ba tôi đi đã hai bữa nay mà chưa thấy về. Ông cũng lo lắng ra mặt và dặn các chú bác tôi nếu ngày mai không thấy ổng về thì đổ ra đi tìm, mặc dầu không ai đoán được rằng ông đang ở đâu?. Ông dượng tôi nghe xong lật đật qua nhà an ủi mẹ tôi, hứa một hôm nữa không thấy sẽ cho bầy nhỏ lên miệt trên để tìm ba tôi. Mẹ tôi an lòng một tí, nhưng nằm trên giường mà thao thức suốt ngày đêm. Tôi cũng không đi hốt rác, cũng chẳng đi đâu chơi nữa dù mấy thằng bạn qua nhà rủ rê đi bỏ lờ. Tôi chỉ loanh quanh với thằng em sau nhà kiếm củi vụn hoặc qua nhà ông dượng mượn ít củi khô về nấu ăn. Cả nhà mẹ và tôi buồn bã, bà chả thiết ăn uống gì. Duy có tôi và thằng em thì không nhịn đói được nên mỗi ngày  nấu nồi khoai lang hay sắn (khoai mì) ăn cho đỡ đói để chờ ba tôi về. Sáng ngày thứ ba, ba tôi lù lù về mặt mũi có phần âu sầu lo lắng. Gia đình chúng tôi tạ ơn Chúa vô cùng vì sau những đêm ba tôi đi vắng má tôi đều cầu nguyện tha thiết cho ba tôi được bình yên  trở về. Ông cho biết, sau khi chữa bệnh xong, ông ra về với một bọc gạo sau lưng thì gặp một số người xưng là Việt Minh. Họ chận ba tôi lại trên đường về và hỏi ba tôi lên đây làm chi?. Ba tôi đáp, ba tôi là thầy thuốc nên có bệnh nhân trên này phải lên khám bịnh và cho thuốc. Họ hỏi tiếp: “vậy ông là bác sĩ à?”Ba tôi nói không. Tôi chỉ là người biết ít thuốc Nam và thuốc Tây trị những bệnh thông thường và chỉ giúp những người có bịnh như sốt rét, đau bụng tháo dạ hoặc những bịnh không ngoài sự hiểu biết của ba tôi mà thôi. Họ nghi ngờ ba tôi làm gián điệp cho Tây, mang ba tôi trở lại gia đình người Thượng và hỏi lại có đúng như vậy không? Sau khi biết đúng rằng ba tôi chỉ đi chữa bệnh, họ giữ ba tôi lại một ngày nữa để tra hỏi thêm về quá khứ của ông, làm chi mà tản cư đến đây? Ba tôi khai thật tất cả ngoại trừ việc làm quan thuế cho Tây, chỉ nói là có cửa hàng buôn bán ngoài thành, vì má tôi đau nặng phải tản cư về quê để tĩnh dưỡng và tránh chiến tranh. Sau một ngày nữa họ giữ ba tôi lại, thấy không có gì khả nghi họ cho ba tôi về và nói rằng vì ông biết chữ, biết đánh máy nên ông phải lên trên đó làm cho họ hai ngày một tuần để đánh công văn và chỉ thị. Ba tôi đành phải chấp nhận và cứ mỗi tuần hai ngày lên trên buôn để đánh máy và làm một vài công việc hành chánh.
 
Lúc đó ngoài thành (Đà nẵng) Tây vẫn còn đóng giữ. Tây đi tuần tiễu vào ban ngày, nhưng về đêm là của Việt Minh. Tây đóng trong đồn có căng giây kẽm gai và đắp nhiều bị cát xung quanh, trỏ súng lớn súng nhỏ ra ngoài.  Nhiều đêm các đồn lẻ tẻ ngoại thành bị Việt Minh pháo vào và tấn công suốt đêm.  Ở các làng xóm xa như làng quê của ba tôi là hoàn toàn yên tĩnh và do Việt Minh nắm giữ. Họ bắt đầu tụ họp dân làng ra Hà Lam nghe thuyết trình về chủ nghĩa Cộng sản chi đó và hô hào giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Tây. Họ cũng phát cờ cùng hình ảnh của một ông già má hóp có chòm râu lưa thưa trên cằm. Dân làng thoạt đầu mới nghe thấy rất lạ và có lắm người thích thú, sau đó Việt Minh kêu gọi thanh niên trai tráng trong làng đi kháng chiến chống Pháp dành lại độc lập và ai có học biết hát biết hò ăn nói chững chạc thì sung vào đoàn thanh niên tiền phong. Làng tôi ở cũng có một số trai tráng lên đường, ra mặt xin gia đinh đi đàng hoàng nhưng cũng có một số gia đình không chấp thuận thì họ bỏ trốn theo Việt Minh. Mấy tháng sau khi làm thư ký đánh máy không công cho Việt Minh trên buôn, một hôm ba tôi lên làm như thường lệ thì thấy toán Việt Minh đã dọn đi đâu mất. Hỏi mấy người Thượng trong buôn họ cho biết Việt Minh đã dời đi từ tối hôm qua vì bị động sao đó, sợ Tây vô ruồng. Từ đó ba tôi về nhà dưới làng không lên trên buôn làm việc nữa.
 
Một buổi sáng khi đang mang cơm lên cho mẹ, tôi thấy mấy ngón chân của bà nhúc nhích. Tôi đứng lại dòm cho kỷ, thấy hai ngón chân cái của bà ngo ngoe đụng đậy qua lại. Tôi vui quá suýt làm đổ bát cơm. Để vội cơm trên chõng tre gần đó, tôi hỏi mẹ tôi liên tiếp:
 
“Má, má…ngón chân của má động đậy được rồi tề.”
 
Má tôi gật gật cái đầu, miệng bà cười tươi rói. Bà nói:
 
“Ra kêu ba vô đi”.
 
Tôi chạy vội ra sau vườn kêu ba tôi:
 
“Ba ơi, chân của má đụng đậy được rồi.”
 
Ba tôi đang lom khom lượm trứng của con gà mái  vừa mới đẻ, ông nhìn lên mặt hớn hở:
 
“Rứa hả, rứa hả?”
 
Ông vội bỏ mấy cái trứng vô giỏ chạy ngay vô nhà. Tôi theo sau mặt mày vui vẻ vì nghỉ rằng mẹ mình sắp sửa đi lại được rồi. Vào đến nhà vô giường mẹ, tôi thấy ba tôi đang bảo mẹ tôi nhúc nhích thêm nữa đi. Bà cố gắng động đậy hai ngón chân cái và sau đó cố co ống chân lên, nhưng chân vẫn còn liệt chưa co lên được. Ba tôi miệng cười tươi bảo với mẹ tôi:
 
“Thôi đừng ráng, cám ơn Chúa co mấy ngón chân cái lên được là tốt rồi, để thủng thỉnh từ từ rồi sẽ co ống chân sau.”
 
Ông tiếp:
 
“Đó là dấu hiệu mấy cái gân trên lưng xuống chân đã hoạt động lại rồi đó.”
 
Ba mẹ tôi vui quá, ông nắm lấy tay bà giật giật nhẹ rồi hôn trên má mẹ tôi. Mẹ tôi vui nhất, cả ngày bà mừng ra mặt. Chiều đó mẹ tôi một mình đã xây lưng qua lại được nhiều lần, không cần chúng tôi giúp như trước kia khi bà muốn trở mình.
 
Mấy tháng sau mẹ tôi đã ngồi dậy và chập chững tập đi lại trong nhà. Những tháng ngày đó là những ngày vui nhất trong gia đình tôi kể từ khi bà liệt giường đến nay là đã gần hai năm! Ba tôi vào ra huýt gió lẩm bẩm hát hò cả ngày, chúng tôi cũng vui lây và sốt sắng giúp mẹ đi đứng qua lại trong nhà. Ba tôi ra tận Hà Lam cất thêm thuốc bổ cho bà. Còn mỗi chiếc xuyến vàng trong tay bà cũng đưa cho ba tôi đi bán nốt để mua thêm thuốc thang tẩm bổ. Sau đó ba mẹ tôi bàn với nhau xin ông dượng cho phép dọn lên xóm trên gần đường xe lửa để ba mẹ tôi mở quán bán cho khách đi buôn vào ra trên con đường mòn sát cạnh đường rầy.

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 21.03.2016 00:52:37
 
                     
                                          Chương tám
                      
                                       Bầu nhiệt huyết
 
 
Ba tôi cất cái mái tranh này đã được ba hôm, với sự trợ giúp vật liệu cùng công sức của mấy bác và ông tôi. Ông dượng thì cho tiền mua tre, tranh, phên, các thứ cần thiết khác và xin phép sơ qua làng xóm. Mấy bác cùng ba tôi hì hục khiêng tre gánh lá đến một nơi mà ba tôi đã chọn. Chỗ đó khoảng khoát và bằng phẳng nằm bên cạnh đường rầy xe lửa đã bỏ hoang từ lâu, cách xa ga Hà Lam chừng ba bốn trăm thước. Đất rộng ra một khoảnh nhỏ vừa cất đủ một mái nhà tranh chừng 4m x 10m.  Cất xong vừa đúng ba ngày. Hôm sau cả nhà bèn dọn lên trên đó. Nói dọn cho oai chớ vài ba cái chõng tre, một rương đồ đạc áo quần, cái giường mây đặc biệt của mẹ tôi cùng nồi niêu chén bát. Gia tài chỉ có vậy. Ăn ở ngủ ngáy buôn bán cùng một chỗ. Mái tranh nhỏ hẹp nhưng cũng đủ ấm cho cả gia đình tôi, tản cư mà! gói ghém chật chội thế nào cũng xong. Nỗi vui mừng hơn hết là mẹ tôi nay đã đi lại được, tuy không đi được xa nhưng ra vào trong nhà là tốt lằm rồi. Nỗi vui thứ hai là tránh được cái “mẹt” của mụ Tấn cho thuê nhà, hết nghe tiếng chửi đổng mỗi ngày: “Cái nậu tản cư!”
 
Vài hôm sau yên vị đâu đó, ba tôi dắt tôi ra chợ Hà Lam mua chén dĩa, nồi niêu soong chảo cùng thịt thà rau quả về để cho má tôi mở cửa hàng. Lúc đó bạn hàng buôn bán vô ra tuyến Đà nẵng-Tam Kỳ đều phải dùng đường bộ. Quốc lộ 1 thì Tây đóng chốt, và tối thì Việt minh công đồn, nên bạn hàng không ai dám đi. Chỉ còn có một con đường duy nhất là men theo đường rầy gánh hàng đi mà không bị Tây ruồng bắt. Họ vô ra nườm nượp, kẻ buôn thuốc Tây lậu ngoài thành mang vô Tam Kỳ bán cho con buôn lẻ rồi mua thổ sản đem ra Đà nẵng. Họ mua bán đủ thứ, cái gì người tiêu dùng cần thiết mà có thể gánh đi được là họ bán tuốt luốt. Vì thế nên ngay hôm đầu quán tôi khai trương bạn buôn hàng chạy (tiếng mẹ tôi quen dùng) dừng lại ngồi đen nghẹt hết chỗ, ba tôi phải kiếm thêm ghế để ra đằng trước sân. Cũng nhờ mẹ tôi khéo xoay xở, bà nấu chè nấu cháo, mì, bún v.v…bán cho khách buôn qua đường ghé chân lại trong ngày. Một hôm ba tôi ra chợ Hà Lam mua ít thực phẩm thì gặp lại một người chị bà con xa của tôi đang đi lang thang trong chợ. Chị gặp ba tôi mừng rỡ rối rít. Sau mấy phút hỏi han về gia cảnh, chị nắm tay ba tôi khóc ròng và cho biết rằng ba chị đi theo kháng chiến cả năm nay, mẹ bỏ đi lấy chồng, chị đi ở đợ cho gia đình người lối xóm. Họ đánh chửi dữ quá nên cuối cùng chị phải bỏ đi. Chị lưu lạc đến chợ này đã hai ngày, ban ngày phụ giúp với bạn hàng bán trong chợ, bữa đói bữa no, tối ngủ lại trên sạp chợ. Quần áo thì chỉ có một bộ mặt trong mình, một bộ đem theo với mấy đồ dùng lặt vặt bị quân gian lấy trộm mất tối qua. Tên chị là Bẻo, chị năm nay khoảng 18, 19 tuổi gì đó nhưng nom chị như đứa con nít 15 vì ốm o thiếu ăn mặt xanh lè xanh lét. Người chị lại cao lêu nghêu, khi ngồi xổm hai đầu gối của chị cao hơn cái đầu. Ba tôi thấy hoàn cảnh chị thật đáng thương bèn bảo chị về ở với ba mẹ và giúp đỡ lặt vặt cho mẹ tôi trong lúc nhà đang có cái quán. Chị gật đầu nhận lời ngay. Thế là gia đình chúng tôi được thêm một người giúp việc, trong lúc ba tôi đang lo lắng vì không có ai phụ giúp mẹ tôi trong công việc chạy bàn, rửa chén bát v.v...
 
Hai đứa tôi cũng phụ ba mẹ, nhưng chỉ có tôi còn sai vặt được, thằng em tôi còn nhỏ quá nên chẳng giúp được gì, có khi lại làm bận bịu thêm. Khi chị Bẻo về nhà phụ giúp má tôi thì tôi vui lắm, vì được rảnh rang đi câu cá bắn chim và cũng không còn đi hốt rác cho nhà nữa. Mọi việc vặt vãnh đã có chị Bẻo giúp đỡ rồi. Tôi yên chí dắt em đi chơi.! Sau cơn mưa trời lại sáng, anh em chúng tôi đỡ cực và rảnh rỗi hơn trước. Từ ngày mở quán hàng nhà có đồng ra đồng vào chúng tôi cũng không còn ăn cơm ghế sắn (*) khoai như trước. Hai năm vật vã với sắn cùng khoai nên từ đó trở đi cho đến về già hễ tôi thấy khoai với sắn là ngán ngấy đến tận cổ!!
 
Một chiều nọ có một đoàn văn nghệ thanh niên tiền phong đến làng, dùng đình làng để sửa soạn cho một buổi trình diễn kịch và hát. Một số anh chị em lo dàn dựng sân khấu, số còn lại đi vào làng đến từng nhà mời bà con tối ra xem hát.  Tối đó chị Nhàn tất tả qua nhà xin phép ba mẹ cho tôi đi cùng với chị. Đêm hôm đó chị mặc một chiếc áo dài trắng tinh, chân đi đôi guốc mộc sơn láng, trên đầu chị cài lược có điểm mấy bông hoa màu xanh đỏ. Nom chị y hệt như một nữ sinh trường áo trắng. Cái dáng dấp quê mùa của chị biến đi đâu mất! Tôi nhìn chị nhoẻn miệng cười khen chị hôm nay đẹp gái. Chị cười, cũng nụ cười thuần hậu.
 
Đây là lần đầu tiên tôi đi đêm (nghĩa đen) với một người con gái lớn hơn tôi đến sáu tuổi. Tôi mới 11 còn ngây thơ và chẳng nghĩ ngợi gì, chỉ thấy được đi chơi và xem hát là vui, lại còn hối thúc ba mẹ cho đi với chị kẻo muộn. Tuổi thơ nào có biết e dè gì đâu nhất lại mình là con trai nên chẳng chút ngại ngùng. Tôi cầm tay chị hối đi kẻo trời tối họ hát mất mình đến xem không còn chỗ ngồi. Mà thật, lúc chúng tôi đến thì trong đình làng đã đầy nhóc bà con trong xóm. Chị Nhàn và tôi len lỏi đám đông một chặp cũng tìm được một chỗ đứng không xa lắm với sân khấu, lại có chỗ chị tựa lưng vào cây cột đình. Lúc còn ở Đà Nẵng, chỉ có một lần duy nhất được đi xem hát cùng ba mẹ. Lúc đó có gánh hát cải lương của đoàn hát Nam Phong do nghệ sĩ Năm Châu và cô Phùng Há ở trong Nam ra Trung trình diễn. Năm đó nước mình chưa có chiến tranh, tỉnh thị thanh bình chẳng ai biết đến mùi súng đạn. Và một lần nữa thì được đi xem đoàn xiệc của gánh Tạ duy Hiển mà thôi. Rồi từ đó trở đi, lúc vào Nam theo ba tôi, lúc ra Huế và về lại Đà Nẵng phần vì má tôi đau nặng, phần giặc giã phải lo tản cư nên đâu có thì giờ mà xem hát với xướng!
 
Khán giả nói chuyện ào ào, chỉ chỏ tứ tung. Có người hút thuốc lá vấn, phà cả khói vào mặt nhau, cũng có người nhai trầu bỏm bẻm. Bên cạnh tôi có hai anh thanh niên mặt mũi nom trắng trẻo, dường như ở thành vào đây tản cư chứ không phải người ở quê vì cung cách ăn nói bặm trợn hơn. Họ đang cãi nhau nho nhỏ nhưng rất dữ dội về Việt Minh và Việt cộng. Một anh cho là Việt Minh đánh Tây dành độc lập. Anh kia cãi lại là Việt Minh Cộng sản chớ không phải là Việt Minh. Anh nọ không nhường:
 
"Đ..m, mi không biết cái c…gì thì im đi!
Việt Minh là Việt Minh còn Cộng sản là cộng sản chớ Việt Minh Cộng sản là cái thứ chi? "
 
Anh kia không chịu thua nói tiếp:
 
“Mi không biết chứ Việt Minh là nói chung chung, chớ còn VMCS là những người ư..ư”
 
Nói đến đó anh thấy anh bạn kia nháy mắt bảo im, nên anh nọ bèn đánh trống lãng quay sang hỏi bà ngồi bên cạnh:
 
“Mấy giờ họ mới hát hả chị? "
 
Bà kia lắc đầu trả lời không biết.
 
Bỗng ba tiếng “cộc cộc cộc” nổi lên. Giọng nói của một thanh niên vang lên trong hậu trường:
 
“Kính thưa bà con cô bác, buổi trình diễn bắt đầu.”
 
Màn kéo ra. Một đoàn thanh niên năm người đứng nghiêm giữa sân khấu, người đứng giữa tay cầm cây cờ nghiêng ra đằng trước. Một tiếng hô lớn:
 
“Xin bà con đứng dậy chào quốc kỳ”.
 
Mọi người lục tục đứng lên. Người thanh niên cầm cờ phất thẳng lá cờ dựng đứng. Bài quốc ca trổi lên với tiếng hát rập ràng của đoàn thanh niên tiền phong trong hậu trường vang vang cùng tiếng đệm của mấy cây đàn giây, mandoline và guitar.  Sau phần chào cờ đến phần mặc niệm, tiếng đàn réo rắt với bài Chiêu hồn tử sĩ. Màn đóng lại, mọi người ngồi xuống, tiếng nói cười râm ran trở lại cùng vài ba tiếng ghế xê dịch rột roạt. Tôi nhìn chị Nhàn nhoẽn miệng cười. Chị cũng nhìn tôi, tay chị bóp nhẹ vào tay tôi. Đêm hôm đó tôi nhớ rất nhiều anh chị em thanh niên trong đoàn ra trình diễn đơn ca, hợp ca, toàn những bài ca hùng tráng như: Tiến quân ca, Nhớ chiến khu v.v.. Có một chị ăn mặc như người Thượng hay Lào gì đó ra ngâm thơ và hát một bài hát ngắn với mấy câu tiếng Lào (?) mà đến nay sau hơn 60 năm tôi vẫn còn nhớ rõ bản hát ấy. Bài ca như vầy:
 
“Sam siếc clai… khâm pí qua da nạ, dần pon dà..
  Mênh hành ha pằng những tua vải mo..
  Pạch pày pù ta po hết rương, phát tán khơ moi phè
  Mền thu sắc khổ nua, riềm lòng âu leo sự.
  Khai tháng ngoi…”
 
Trên đây là bản hát mà tôi nhớ âm điệu và chữ thì âm theo (phonetic) tiếng Việt chứ không phải là như vậy. (Nếu ai có biết và nhớ đó là bài hát gì, tiếng nước nào hay dân tộc gì xin cho tôi biết). Tôi chỉ nghe và nhớ như trên và từ đó trở đi có vài lần tôi hát cho một vài người Thượng, Thái hoặc Miên thì họ bảo rằng đó là tiếng Lào, diễn tả một hoàn cảnh gia đình bị chiến tranh cướp mất người thân yêu, khởi đầu bằng mấy chữ dịch ra tiếng Việt là: “Thảm thiết thay!...”
 
Tiếng hoan hô vang dội cả đình làng, sau khi một nhóm thanh nữ ra trình diễn một màn bi kịch nói về hai thanh niên nam nữ ở thành thị vừa mới lấy nhau được trên một năm.  Sau nhiều đắn đo suy nghỉ, anh chồng nhất quyết rủ áo thê nhi đi theo tiếng gọi của non sông, tòng quân đi bộ đội đánh giặc Pháp. Anh đi để lại một mẹ già, người vợ thân yêu và đứa con trai chưa đầy hai tháng. Hai thanh nữ, một đóng vai anh chồng, người kia đóng vai vợ. Được tin chồng công đồn giặc Tây và bị thương gần chết, người vợ nghe hung tin vội chạy xông ra chiến trường ôm lấy chồng. Trên sân khấu sau tiếng bom đạn xé trời anh trúng đạn bị thương nằm ngắc ngoải trên tay người vợ.  Anh trối trăn với vợ bằng một bài thơ bi ai, giọng ngâm trong vắt nhưng  não nùng ai oán:
 
“Này em ạ, giờ nay anh đã chết!
  Chết vì non sông, nghĩa vụ làm trai.
  Danh thơm ấy không bao giờ tiêu diệt
  Em vui đi lo lắng việc ngày mai…”
 
Anh nấc mấy tiếng, máu trong miệng trào ra. Anh tiếp:
 
  “Việc gia đình, anh nhờ em gánh hộ
  Dù trăm năm vất vả chớ phiền than!
  Con khôn lớn em vui lòng dạy dỗ
  Biết yêu người yêu cả non sông!
 
  Nếu nó hỏi người cha yêu đâu tá?
  Thì cứ bảo anh bỏ mạng chốn sa tràng
  Cho con thấy tấm lòng hỉ xả
  Mà noi gương gìn giữ non sông!”
 
Đến đây tay chân anh run lẩy bẩy, anh thiếp đi một chốc và tỉnh dậy thều thào:
 
  “Thôi từ nay… em âm thầm… chăn gối lẻ
  Vĩnh biệt mình... ta vĩnh biệt ngàn thu…”
 
Ngâm đến đấy anh nấc lên một tiếng rồi ngoẹo đầu vĩnh viễn ra đi. Chỉ còn nghe tiếng chị vợ hét lên. 
 
"Anh…anh ơi !!!"
 
Xem đến đó thì nước mắt tôi ràn rụa, cảnh vật trên sân khấu nhạt nhòa. Tôi không còn thấy gì nữa, ngay cả khi chiếc màn vải đã đóng lại tự bao giờ. Tôi thẫn thờ như một người vừa thoát khỏi cơn mộng du. Khán giả trong đình làng im phăng phắc, có tiếng khóc nức và tiếng sụt sùi xịt mũi trong hàng ghế trên cùng. Con thạch sùng trên bờ tường chắc lưỡi một tràng. Im lặng rồi đột nhiên có tiếng vỗ tay rộ lên. Hàng trăm người đứng dậy vỗ tay theo ào ào như cơn mưa rào, chen lẫn tiếng la ơi ới của đám nhỏ sau hàng ghế chót!
 
Tôi đứng lọt trong vòng tay chị Nhàn từ lúc nào không biết. Dựa sát vào người chị, tôi cảm thấy âm ấm sau lưng. Chị ôm tôi vào lòng và cũng sụt sịt như tôi. Tôi ngước lên nhìn chị, bấy giờ tôi mới cảm thấy người tôi tự nhiên nóng ran.  Một cảm giác kỳ diệu lạ lùng khó tả. Mặt tôi đỏ gay như người say rượu, tôi lính qua lính quýnh nửa muốn gỡ đôi tay chị ra nửa muốn không! Tôi đứng như trời trồng một lúc lâu, đến khi chị cúi đầu bảo tôi:
 
“Thôi mình về đi em.”
 
Tôi tần ngần một lát rồi líu ríu bước theo chị, tay tôi nắm chặt tay chị.
 
Đêm đó tôi về nhà ngủ mơ, mớ kêu tên chị om sòm đến nỗi ba tôi phải quay qua vỗ vào vai tôi: 
 
 "Con, con...đừng có mớ nữa.."         
 
Tôi nghe thấy tiếng má tôi trở mình và cằn nhằn:                                                                                                                                                                                                 
 
“Cho nó đi coi kịch làm chi về tối mớ om sòm”.
 
Sáng hôm sau thức dậy ba tôi hỏi:
 
“Tối qua con đi coi kịch gì mà về nằm mơ mớ dữ rứa?”
 
Tôi dạ dạ nói giả lả, hỏi lại ba:
 
“Ủa rứa chớ con mớ cái chi?”
 
Ba tôi cười, nói:
 
“Mi kêu tên con Nhàn!”
 
Tôi mắc cở quá, vội lẩn ra trước sân. Từ đó về sau hễ mỗi lần tôi thấy chị Nhàn là tôi lẩn tránh chị, cũng có cả tháng trường. Lần cuối cùng tôi gặp lại chị là hôm chị lên quán báo cho ba mẹ tôi biết chị sắp đi lấy chồng. Mấy tháng sau, trước khi gia đình tôi quyết định trở về thành, tôi nghe tin chị lấy một người nông dân xóm trên, không cân xứng với chị nhưng do cha mẹ quyết định để về nhà lo việc đồng áng giúp ông bà gia nhà vợ. Anh ở rể trong gia đình ba má chị. Từ đó trở đi tôi bặt tin chị, cuộc đời đã đưa tôi đi xa rất xa và không biết bao giờ có dịp quay trở lại nơi chốn mà một thời tôi là chú nhà quê bất đắc dĩ!
 
Từ hôm có đội thanh niên tiền phong về đình hát, cổ võ khích lệ đồng bào đứng lên kháng chiến chống Tây, tôi thấy xóm tôi ban đêm thanh niên trai gái trong làng tụ tập thật đông ở sân vận động. Sóng bước hàng một họ tập đi như lính, tập hô to khẩu hiệu chống Pháp, tập bắn bằng súng gỗ. Cũng có người vác theo tầm vông vót nhọn đi tập. Khí thế chống Tây bùng lên trong đám thanh niên thanh nữ trong làng. Hầu hết đêm nào sân vận động cũng nghẹt người. Một số thiếu niên chúng tôi tò mò đến xem, có thằng ngỏ ý cho nó đi với, nhưng mấy anh lớn nói không được, mày còn nhỏ lắm. Nói chung hồi đó cao trào chống Pháp đang dâng cao, mọi người đều cùng chung lý tưởng hăng say muốn giải phóng đất nước giành lại độc lập sau bao nhiêu năm bị quân Pháp đô hộ áp bức, song dân quê đã được trang bị gì đâu, ngoài một tấm lòng cùng niềm phấn khởi.
 
Sau đó một thời gian tự nhiên một số thanh nữ trong làng thi nhau có bầu! Cả làng hoảng hốt nhốn nháo cả lên! Một số gia đình có con gái bị chửa hoang đem con đi làng khác tìm cách phá thai, một số bỏ xóm đi biệt tích không trở về! Mấy gia đình có con gái may mắn không bị chửa hoang vì đã ngăn cấm và không cho con mình đi họp đêm, lên mặt dạy đời:
 
“Thấy không? Tụi tui đã nói mà! Có con gái hơ hớ mà không biết giữ, cứ cho con đi đêm cho lắm vào, thì mang cái trống cà rùng chớ reng?"
 
Quán bán mấy tháng đầu đắt khách lắm, nhưng từ những tháng sau trở đi thì khựng lại. Lý do là người đi buôn dạo rày bị bắt dữ. Tây bắt có, Việt Minh bắt có. Lý do Tây bắt thì bảo là VM trà trộn trong số người đi buôn để về thành làm nội gián. Việt Minh bắt thì bảo là có một số người lợi dụng đi buôn để làm mật thám cho Tây. Thôi thì một cổ đôi ba tròng, tiếng đồn rối bung cả lên. Cũng vì thế mà một số con buôn sợ nên nghỉ việc, tuyến đường Đà nẵng-Tam Kỳ thưa thớt hẳn. Nhiều hôm cuối ngày chè cháo còn dư lại không thể để đến mai, nên tụi tôi lại được dịp ăn cố. Tuy vậy, cũng không nhiều nhỏi chi, vì với sức trai mới lớn tôi ăn nhiều mà chẳng thấy mập!
 
Một hôm có một người lái buôn gánh hàng tên là chú Tư Thịnh hay ghé lại ăn uống nên quen mặt. Ba tôi hỏi thăm anh Thịnh tình hình ngoài thành và than thở rằng dạo rày buôn bán ế ẩm quá.  Ông hỏi ba tôi sao quán không thấy bán trái cây như  xoài, mít, ổi mận v.v..?  Ba tôi nói rằng ngoài chợ thì họ bán lẻ mắc lắm, đây chẳng ai bán sỉ, mua về bán không kiếm lời được. Ông ta cho biết rằng phía ngoài Tam Kỳ mấy cây số có một cái làng trồng thơm (dứa) gọi là Chưn Đờn. Chỗ ấy họ trồng thơm ngọt lắm, có bán sĩ nữa, sao anh không đi mua về mà bán. Ba tôi lắc đầu nói, nhà đơn chiếc quá đâu có ai đi mua được, tôi lại phải ở nhà lo cho quán và vợ tôi thì không khỏe lắm, sức khỏe bả ngày đực ngày cái nay ốm mai đau. Ông trầm ngâm một chút rồi nói:
 
“Anh có thể cho thằng nhỏ,” ông chỉ vào tôi, “đi theo tôi, tôi sẽ chỉ cho nó mua vài chục trái gánh về mà bán.”
 
Ba tôi lắc đầu nói:
 
"Nó còn nhỏ đi xa chưa chắc được đâu, vả lại còn phải gánh gồng, sợ nó chưa quen.”
 
Ông nhìn tôi cười, nhưng tôi nói liền với ba tôi:
 
“Được mà ba, con đi mua được mà, nhất lại có chú Tư đây chỉ đường cho con. Vô trỏng con mua rồi gánh về liền, đâu có sao”.
Tôi tiếp:
 
“Với lại theo đường xe lửa thì đâu có lạc đi đâu mà sợ? Có mươi cây số mà!”
 
Tôi nói vậy, nhưng ba tôi không chịu cho liền, thối thác rằng tôi chưa quen việc gánh gồng sợ không kham nổi; rồi xoay qua anh bạn hàng cám ơn, xin để cho ông nghĩ lại, chuyến sau anh vào sẽ tính và cho nó theo. Sau khi chú Tư Thịnh đi rồi, tôi nài nỉ ba tôi lần tới ổng có vào thì cho tôi đi theo để tôi mua thơm về bán. Tôi thấy mình lớn rồi, lại ăn không ngồi rồi đâu có làm gì lợi cho mẹ cha. Bây giờ có cơ hội, lại là lúc quán hàng đang ế ẩm nên tôi nhất quyết xin ba cho đi. Ông đồng ý và rồi đi kiếm cho tôi hai cái thúng, một cái đòn gánh và đôi quai gióng. Tôi không đợi lâu, chỉ mấy hôm sau thì thấy ông Tư Thịnh gánh hàng từ ngoài Đà Nẵng vô và ghé lại quán tôi uống nước ăn bánh. Ba tôi nhắc lại chuyện hôm nọ và ngỏ lời với anh cho tôi theo vô Chưn Đờn mua thơm. Sau khi chú Tư ăn uống xong tôi liền lên đường quang gánh theo ông.
 
Mới mười giờ sáng mà sao trời lại nóng nực quá chứng. Tôi men theo đường mòn sát bên con đường rầy xe lửa đã hoen rỉ, chạy lúp xúp theo sau lưng chú Thịnh. Đi mới độ một hai tiếng đồng hồ chi đó mà miệng tôi thì đã khô queo, mắt tôi hoa và chân thì bắt đầu kéo dép nghe lẹp kẹp. Khổ nỗi đôi dép mo của tôi cũng chẳng êm ái gì, hai quai trước cọ vào khe giữa của ngón chân cái và ngón kế, đỏ lên và bắt đầu rát. Tôi xin chú Tư dừng lại một chút cho tôi nghỉ và uống vài hớp nước. Ông đồng ý và bảo tôi ngồi nghỉ một chút, chớ đừng uống nước nhiều óc ách khó đi. Tôi tu một ngụm nước mang theo trong chiếc bầu khô mà thấy cổ họng mát rợi. Trời nắng chói chang, trên đường xe lửa không có một bóng cây để nấp mát. Nhìn theo hai thanh sắt con đường rầy, hơi nóng bốc lên mờ mờ ảo ảo. Tôi hoa cả mắt vì đây cũng là lần đầu tiên tôi đi bộ xa nhà để học đi buôn. Tôi nghĩ ngợi mông lung thì tiếng chú Tư lôi tôi về thực tại.
 
“Thôi đi đi em, cũng còn độ dăm cây số nữa là tới”. 
 
Tôi nghe dăm cây số nữa thì trong bụng cũng mừng, vì lúc ra đi là khoảng 10 giờ, bây giờ đã quá trưa. Sáng nay có lót lòng bát cơm nguội và lúc đi thì cũng làm vài củ khoai. Tôi mang theo một ít cơm rang và định bụng nếu có quán hàng hay cây cối gì cạnh con đường sẽ xin nghỉ ăn vội ba miếng. Nhưng con đường mòn sao nó dài thăm thẳm, đi mãi mà chẳng thấy hết, phần thì cái nắng chang chang, tôi mệt quá chừng nhưng không dám ngừng lại cứ lúp xúp chạy theo sau chú Tư, chốc chốc lại hỏi:
 
“Tới chưa chú?”
 
Ông chỉ ra đằng trước một cái quán lá nhỏ nằm ven vệ đường rầy và nói:
 
“Đó, chỗ nớ đó, sắp tới rồi đó!”
 
Nhìn theo ngón tay ông trỏ, tôi thấy xa xa độ một cây số, có một mái tranh nhô ra trên đường rầy. Mừng quên cả mệt và khát tôi cố gắng lầm lũi theo ông và không dám hỏi nữa. Đến nơi chú Tư dắt tôi vô quán. Tôi quăng đôi thúng và gióng vô một góc, dựng cây đòn gánh lên bệ tường tranh, rồi theo ổng bước vào. Bây giờ tôi lại là khách của cái quán ọp ẹp này. Bà chủ quán thấy người chạy ra nhanh nhẩu:
 
“Cha con uống chi nì? Có ăn chi không?”
 
Chú Tư đi buôn cười, ngồi xuống trên chiếc chõng tre, thong thả dở chiếc nón xuống quạt phành phạch rồi nói:
 
“Chị Nho mạnh khỏe không? Cho tôi xin bát nước chè với lại tô mì, còn cậu ni không phải con tui. Con ông bạn đi theo tui vô đây mua thơm Chưn Đờn.”
 
Bà chủ quán quay qua tôi hỏi:
 
“Rứa à? Rứa cậu có ăn chi không?”
 
Tôi nói cám ơn chưa đói và chỉ xin bát nước chè.  Chú Tư đi buôn nói tiếp:
 
“À, bà chủ quán chỉ dùm cho cậu ni vô trong xóm mua thơm. Cậu ấy muốn mua vài chục rồi còn phải gánh về ngay.”
 
Bà chủ quán vui vẻ đáp:
 
“Dạ được, để rồi tui bảo tụi nhỏ chỉ cho cậu vô nhà ông Thức mà mua, ông có thơm ngon mà lại bán rẻ nữa.”
 
Tôi ngỏ lời cám ơn bà và vừa uống nước vừa đợi. Chú Tư đi buôn uống nước ăn mì xong thì sửa soạn đi ngay. Chú kiếu chủ quán và tôi dặn mua xong rồi lại về ngay kẻo trời tối. Vì chú Tư còn phải đi một khoảng 8 cây số nữa mới tới Tam Kỳ. Lấy hàng xong chiều mai chú lại trở ra. Có khi gặp hàng con buôn dặn gấp chú lại phải đi suốt đêm để đem hàng về cho kịp bán. Tôi cám ơn chú rồi ngồi nghỉ chờ con bà chủ quán dắt vô nhà ông Thức. Một chốc thấy thằng nhỏ khoảng đâu 7, 8 tuổi chi đó đang dắt trâu vô sau quán. Bà chủ quán đon đả bảo nó cột trâu sau nhà rồi chỉ đường cho cậu này vô nhà ông Thức mua thơm. Bà vừa nói vừa chỉ vào tôi. Thằng nhỏ dạ rồi bảo tôi chờ một chút cột trâu lại rồi đi.
 
Tôi theo thằng nhỏ hỏi nó tên chi? Nó đáp tên Liếng. Tui nói:
 
"Chắc là em liến thoắng lắm phải không? Chăn trâu có vui không em?"
 
Nó cười rồi vừa đi vừa kể rằng sáng ni có một thằng chăn trâu bạn nó giận con trâu sao đó, đánh nó, nó báng cho một cái thằng nọ kịp thời nhảy  tránh được chớ không là chết rồi. Tôi sực nhớ lại vụ tôi trèo lên lưng con trâu thằng Nẩm bị nó hất cho té ê đít ê càng! Tôi cười một mình rồi hỏi nó tiếp:
 
“Rứa chăn trâu có cực không em?”
 
Nó đáp:
 
“Cực chi mà cực, khỏe re à, cứ đánh trâu ra đồng rồi có khi ngủ gục luôn trên lưng trâu tới chiều mới về”.
 
Tôi nghe mà bắt phì cười.
 
Vào đến nhà ông Thức tôi biểu thằng nhỏ về và cám ơn nó. Nó chần chờ, tôi nói tiếp:
 
“Anh biết đường ra mà, đừng lo. Cám ơn em, thôi về đi.”
 
Hắn đi rồi tôi chờ không lâu gặp ông Thức mua 20 chục trái thơm. Một chục là 12 trái. Trả tiền xong tôi chia mỗi bên 12 trái bỏ vô thúng và gánh về. Vừa gánh ra khỏi nhà ông Thức một quãng tôi thấy xây xẩm và tối tăm mày mặt. Tôi hết hồn dừng lại ngồi bên vệ đường đất nghỉ một chút. Sờ trên đầu tôi thấy đầu nóng ran như lửa. Mồ hôi tôi vã ra như tắm. Tôi lấy cái nón xuống quạt lấy quạt để rồi ráng đứng dậy tiếp tục gánh thơm đi. Ra tới quán bà Nho tôi quăng đôi thúng cái phịch rồi ngồi bệt xuống đất cạnh cái chõng tre. Bà Nho thấy tôi ra mặt mày xanh lè xanh lét, lúc đó người tôi hết nóng, giờ đổi qua lạnh. Tôi run và nói với bà chủ quán làm ơn cho tôi nằm một chút. Bà ra ngoài nhìn vào tôi và hỏi:
 
“Cháu thấy trong mình ra răng?” Tôi đáp:
 
“Dạ không biết răng hồi nãy tới quán đã thấy mệt lử rồi. Vô tới nhà ông Thức cháu thấy trong người nóng hổi và khi ra về thì toát mồ hôi. Bây chừ lại thấy lạnh run. Chắc cháu bị cảm.”
 
Bà Nho vừa nói vừa sờ lên đầu tôi rồi tiếp:
 
“Chắc bị say nắng rồi, kiểu nắng như ri mà đi mấy tiếng suốt ngoài đường rầy thì say nắng là cái chắc”.
 
Rồi với một giọng quở trách, bà nói bâng quơ:
 
“Con cái nhà ai còn nhỏ mà đã cho đi buôn?”
 
Nói rồi bà bảo tôi nằm đại xuống đó mà nghỉ. Tôi trèo lên cái chõng tre bên cạnh nằm co quắp và run bần bật. Tôi thiếp đi không biết bao lâu thì thấy có người lay tôi dậy. Tôi mở mắt thấy bà chủ quán. Bà hỏi:
 
“Chớ cậu ở mô, cha mẹ tên chi, để tui nhắn bạn đi buôn cho cha mẹ cậu biết?”
 
Tôi thở mệt nhọc và cho bà biết tôi là con ông Minh có cái quán bán chè cháo trên đường rầy ở Hà Lam. Bà đáp:
 
“À, thôi tui biết rồi, để có ai đi ngang tui nhắn dùm cho”.
 
Tôi nhìn cây đèn dầu trong quán biết rằng trời đã tối. Bà Nho nói tiếp:
 
“Giờ ni bạn đi buôn đi vô chớ chưa có ai đi ra, thôi cháu nằm đỡ đây sáng mai có ai qua sớm thì tui kêu nhắn ra dùm cho.”
 
Tôi cám ơn bà và xây lưng vô vách phên nằm ngủ tiếp. Tiếng thằng Liếng hỏi bên tai tôi:
 
“Anh ơi, má hỏi anh có ăn cháo được không nì?”.
 
Tôi bèn xoay ra cám ơn nó nói tôi không đói. Vả lại tôi còn mệt và cảm thấy đầu nhức như búa bổ.
 
Đêm đó tôi ngủ thiếp tại quán bà Nho cho đến sáng thì có ai đánh thức tôi dậy. Tôi uể oải mở mắt nhìn lên thì thấy ba tôi đang ngồi cạnh giường, tôi ngạc nhiên hỏi sao ông biết tôi đau và ba vào tự bao giờ? Ông sờ vào đầu tôi rồi lòn tay vào mình và rờ xuống tới chân, vừa sờ vừa nói.
 
“Thì sáng ni có người đi ngang cho ba biết con đau nằm trong ni, ba tức tốc vô liền.”
 
Tôi hỏi ông bây giờ là mấy giờ rồi, ông đáp:
 
“Cũng khoảng 8 giờ sáng”.
 
Nhìn thấy ông lo lắng tôi muốn bật khóc, nhưng kềm lại được. Ba tôi lắc đầu rồi nói:
 
“Con, dậy uống miếng thuốc rồi ba gánh về. Ba tôi cằn nhằn: Tại mi không chịu nghe lời tau, đòi đi cho được nên bị say nắng đây. Thôi cái đầu mát rồi, ngồi dậy được không mà đi về?"
 
Tôi bảo với ba tôi rằng tôi đói vì từ chiều hôm qua đến giờ tôi không ăn uống chi. Ông gật đầu rồi nói vọng vô với bà chủ quán xin nấu cho tôi một miếng cháo trắng để ăn với đường thẻ. Bà chủ quán vui vẻ đi nấu ngay và thuật lại đầu đuôi nội vụ cho ba tôi nghe. Ba tôi cám ơn bà chủ quán mấy lần. Tôi cũng cám ơn bà Nho đã cho tôi ngủ lại đêm và hứa rằng lần tới tôi hết bịnh sẽ vô mua thơm và thăm bà. Ba tôi bắt tôi ngồi trong một cái thúng, còn lại cái kia ông bỏ hết thơm vô và quảy tôi đi. Ông không quên đem theo một cái khăn vải lớn như chiếc “ra” giường quấn từ đầu gióng xuống quanh cái thúng tôi ngồi. Tôi ngồi trong thúng ngủ dật dờ, thỉnh thoảng ba tôi hỏi tôi có mệt không? Vừa về đến quán nhà thì má tôi đã hớt hải chạy ra hỏi rân:
 
“Chu choa, có răng không ông?”.
 
Ba tôi lắc đầu bảo:                                                                                                                                  
"Không răng mô!"  
 
Má tôi hỏi tới:
 
“Hắn bị cảm nắng chớ chi? Đã biểu đừng đi mà tài lanh! Đi vô trong nằm đắp mền lại cho ấm rồi tau nấu nồi nước xông và cạo gió cho.”
 
Rồi bà gọi chị Bẻo:
 
“Bẻo ơi, mi lấy cho tau gói lá xông để trên bếp đó xuống. Bắc cho tau cái nồi nấu một nồi nước sôi nghe!”
 
Bà rối rít quên cả mấy anh bạn đi buôn đang ngồi chờ ăn bún. Tôi lê thân vào giường mỏi mệt nằm xuống. Thằng em tôi ở đâu chạy tới hỏi:
 
“Anh hai đau hả, ai biểu đi nắng… Má ở nhà lo quá chừng!”
 
Tôi không trả lời thằng em, xoay vô phên cố dỗ giấc ngủ. Tôi thiệt không có số đi buôn! Mới ra quân mà đã ngã ngựa! 
 
 
(*) Sắn (tiếng miền Trung) là khoai mì
                                                                                                                                                        
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.03.2016 01:06:17 bởi mythanh >

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 21.03.2016 01:05:05
 
 
                                         Chương chín
 
                                             Dinh tê
 
 
Công việc buôn bán ở quán ba mẹ tôi càng ngày càng ế ẩm. Sau vụ đi xem Việt Minh xử bắn một người gọi là “Việt gian” thì quán tôi lại càng vắng tanh vì không còn ai dám đi buôn đi bán trên tuyến đường Tam Kỳ-Đà Nẵng nữa.
 
Số là có một hôm, một đoàn VM, 4 người đi đến chợ Hà Lam, trên vai đều có mang súng ống. Một người trong bọn lôi theo một người đàn ông trung niên khoảng 4, 5 chục tuổi bị cột cả hai tay. Vừa đi họ vừa cầm ống loa la lớn ra hai bên rằng: “A lô, a lô, xin đồng bào nghe cho rõ, ngày mai 8 giờ sáng, xin mời đồng bào ra sân vận động để chứng kiến vụ xử bắn tên Việt gian phản quốc này đã làm mật thám cho Tây.”
 
Ba tôi bữa đó đi chợ về nghe tiếng ồn ào cũng dừng lại với đám đông nhìn thấy toán VM và người đàn ông nghi can là Việt gian. Ông nhớ mang máng gương mặt người này ông đã gặp ở đâu đó. Về đến nhà ông nói nhỏ với mẹ tôi cái tin là mai 8 giờ VM sẽ hành quyết một người ngoài sân vận động! Một chặp ông đang chẻ củi sau hè, thình lình ông buông vội cái rựa chạy vô quán ngoắc má tôi rồi nói:
 
“Tui nhớ ra rồi bà ơi, cái thằng cha ni là thằng…(ông ngập ngừng vài giây) mà mấy tháng trước đây nó đi buôn thuốc Tây vô ra ngoài thành, có ghé qua quán mình ăn uống mấy lần đó, bà có nhớ không?”
 
Má tôi đang làm cá, bà lắc đầu:
 
“Làm răng tui nhớ hết được!  Ối cha, cái mửng ni ai đi buôn ra thành cũng là VG hết rứa răng?” 
 
Ba tôi tiếp:
 
“Nói nho nhỏ rứa bà, chắc không phải vì buôn bán thuốc Tây lậu mà bị bắn mô! Cùng lắm bán thuốc lậu thì bắt người ta bỏ tù chớ căn cứ vô chỗ mô mà cho người ta là VG rồi đem đi xử bắn?”
 
Má tôi tiếp:
 
“Thôi ông ơi! Mình không biết rõ chuyện thì thôi, kệ người ta chớ bàn luận làm chi cho thêm mệt!”
 
Sáng hôm sau, trước tám giờ ba tôi ra sân vận động và dắt tôi theo để xem VM xử bắn. Hàng xóm trong làng cũng đã tụ tập thật đông, vì đây là lần đầu tiên có vụ xử bắn nên ai cũng háo hức ra xem cho biết. Cũng có đến vài trăm người đi xem, hầu hết là dân trong các làng xung quanh. Một vụ xử bắn hi hữu đầu tiên của cái quận Hà Lam này. Riêng tôi nghe nói xử bắn thì cũng mường tượng rằng có người nào đó làm bậy bị đem ra xử bắn cái bùm, chứ còn chết hay không thì tôi chưa bao giờ thấy và cũng không hình dung được là nó sẽ ra sao. Cái gì lần đầu mà mình chưa biết, chưa gặp thì mình không hình dung được. Đó là tâm trạng của tôi sáng nay, tôi chỉ háo hức vì tò mò mà thôi.
 
Một chốc tôi thấy một toán 4 người VM mang súng ống đi đến. Hai người đi đầu lôi theo một anh mồm bị nhét đầy giẻ. Anh này bị kêu là VG, bước theo mà chân tay run lẩy bẩy. Tháp tùng theo sau, là hai người VM tay cầm súng dí mũi xuống đất. Anh bị bịt miệng được dắt đi tới một cái cột trồng trước một đống đất cao hơn đầu người. Hàng người đi xem vội dạt ra hai bên. Một người VM mở trói tay cho anh ta nhưng vừa mở xong thì hai người khác chờ sẵn quặt ngay hai tay anh VG ra đằng sau cây cột, rồi cột anh lại. Hai chân anh cũng bị cột. Anh ta đứng nhìn đám đông một lượt mặt cắt không còn hột máu và run như cầy sấy.
 
Một người VM đến gần bên anh lôi miếng giẻ trong miệng anh ra và quăng xuống đất rồi bịt mắt anh ta lại với một miếng giẻ màu đen. Anh đứng đó cúi gục cái đầu xuống chờ đợi. Chẳng nói chẳng rằng, ba người VM còn lại xách súng ra đằng phía trước anh VG độ khoảng vài chục mét dựng súng đứng thế nghỉ. Người VM bịt mắt anh ta xong lùi ra đứng xa bên tay trái hô lên một tiếng. Ba người VM cầm súng đưa lên trước mặt nhắm vào anh VG. Cả sân banh im lặng, mọi cái miệng đều im thin thít, cũng có người há hốc nhưng không một ai dám hó hé. Im lặng như tờ. Bỗng có tiếng chim cú kêu lên đâu đây.  Một tiếng hô vang lên:
 
"Nhắm..!"
 
Rồi tiếp theo:
 
"Bắn!"
 
Ba tiếng súng đồng loạt nổ vang, anh VG máu ứa ra miệng, cúi gập người xuống. Anh VM có nhiệm vụ hô bắn tiến tới chỗ anh VG, rút súng lục ra nhắm vào đầu anh VG bắn thêm một phát nữa. Tôi thấy đầu anh ta giật một cái rồi gục hẳn sang bên tay mặt.
 
Tôi lạnh người, níu tay ba tôi đòi đi về. Một cảm giác rờn rợn chạy trong người tôi. Chân tôi đi không vững. Tôi nhướng mắt lên hỏi ba: “Rứa là ông nớ chết rồi hả ba?” Ba tôi gật đầu. Mọi người lục tục ra về, tiếng ồn ào cãi lẫy nổi lên. Tôi nghe có tiếng người đi bên cạnh nói với nhau: “Thiệt đáng đời quân Việt gian phản quốc!”
 
Kể từ hôm xử bắn người VG trở đi, ba tôi về nhà thường trầm ngâm nghĩ ngợi. Tối tối ông hay ngồi uống nước chè hút thuốc lá suy nghĩ một mình. Thỉnh thoảng ông lắc đầu rồi thở dài. Mẹ tôi thấy ông lo lắng thì chỉ nhìn ông mà không nói năng chi. Tối ngủ tôi để ý thấy ba mẹ tôi hay nói chuyện thì thầm với nhau cả đêm rồi sau đó lại cùng nhau cầu nguyện. Cũng có lúc tôi nghe bà khóc nữa. Tôi không dám để ý tới việc của người lớn chỉ thắc mắc chút đỉnh rồi vì mãi lo chơi nên mọi chuyện cũng qua.
 
Cho đến một buổi chiều, có một người thanh niên trẻ hơn ba tôi mấy tuổi ghé vào quán uống nước.  Sau khi ba tôi chào hỏi thì ông nhìn ra ba tôi và kêu ba tôi là “anh đội”! Ông ta người mảnh khảnh, tóc húi cua, vai mang túi xách, bên hông có giắt khẩu súng lục nổi cộm trong chiếc áo sơ mi trắng bỏ ra ngoài. Ba tôi hết hồn lạnh cả người, giật mình ngạc nhiên nhìn anh trân trân không biết tại sao anh lại biết ba tôi mà còn gọi là anh đội, tức là chức vụ mà trước kia ba tôi làm cho quan thuế Tây. Trong lúc ba tôi đang bối rối thì anh nói tiếp:
 
“Ủa, anh đội quên tôi rồi hả? Tôi là con ông Chánh Ba ngoài làng Bảo An đây.”
 
Ba tôi hoàn hồn buộc miệng cười như mếu:
 
“I’ chu choa, tôi nhớ ra rồi! Anh là?..là?..anh chi chi đây, tôi quên rồi?”
 
Anh tiếp lời ba tôi ngay:
 
“Tôi là Thắng đây, con trai trưởng ông Chánh mà ngày trước khi anh còn làm cho Tây, Tây vô ruồng bắt cha tôi nấu rượu lậu, mấy lần nớ không nhờ anh báo trước cho biết thì ba tôi đã bị Tây bắt đi tù rồi! anh còn nhớ không?”
 
Ba tôi giựt mình và nhớ lại rằng thì là trước kia khi ba tôi còn làm cho quan thuế Đà Nẵng, hễ mỗi lần có người điềm chỉ trong làng chạy ra báo cáo cho Tây biết, làng có người nấu rượu lậu là hôm sau thế nào Tây nó cũng dắt lính vô càn bắt liền. Những lúc như vậy thì ba tôi nửa đêm cho người chạy ngay vô làng báo cho ông Chánh biết, vì ông Chánh cũng nấu rượu lậu lại là chỗ bà con và người cùng làng với ông nội tôi. Ba tôi đáp:
 
“Nhớ, nhớ, tôi nhớ ra rồi! Sao? Anh Thắng? Anh khỏe không? Bác Chánh ra sao?”
 
Anh đáp:
 
“Dạ ba tôi cũng khỏe, nhưng bây giờ già rồi mắt lòa nên loanh quanh lẩn quẩn trong nhà.”
 
Trả lời xong ông Thắng hỏi ba tôi dồn dập: 
 
“Chớ anh đội dọn về đây bao lâu rồi? Mở quán được lâu chưa?”
 
Ba tôi nhìn anh rồi nhìn cây súng lục cồm cộm trong lưng có vẻ ngần ngại. Ông hiểu ý ba tôi rồi ghé đầu nói nhỏ cho ba tôi biết rằng ông bây giờ là cán bộ thanh tra vùng cho VM ở liên khu năm này. Hôm nay tình cờ đi ngang đây thấy có cái quán định ghé vô uống nước nghỉ chân, không ngờ gặp chủ quán lại là ba tôi. Ông nói:
 
“Anh đội không phải sợ, tôi không làm chi anh đâu!”
 
Ba tôi bớt lo và yên chí nên thật tình kể lể lại hết sự việc từ khi má tôi bị lao xương phải ra Huế mổ, xong rồi về Đà Nẵng thì lại tiếp tục tản cư vì chiến tranh, mẹ tôi liệt giường hai năm nằm dưới Phú Mỹ nay mới bớt được mấy tháng, vì sinh kế nên dọn lên đây dựng quán nấu chè cháo bán qua ngày. Anh nghe ba tôi kể xong, thì ngồi yên suy nghĩ. Một chốc anh nói:
 
“Thôi tôi đói rồi anh có chi cho tôi ăn, đêm nay tôi ngủ lại đây với anh chị cho vui và cùng bàn với anh chị một việc. Chị đâu? Để tôi vào chào chị một tiếng.”
 
Nói rồi ông đi thẳng vô bếp. Má tôi thấy người lạ thì hơi khựng lại, định hỏi han thì ba tôi giới thiệu ngay:
 
“Đây là anh Thắng, con bác Chánh Ba ở ngoài Bảo An đó bà, lâu quá mới gặp, anh đi ngang qua quán mình định ghé vào uống nước, nào ngờ tình cờ anh em lại gặp nhau.”
 
Giới thiệu xong, ba tôi quay sang ông Thắng và nói:
 
“Nhà tôi đó anh.”
 
Ông Thắng gật đầu:
 
“Chào chị.”
 
Rồi theo ba tôi ra ngồi ngoài chõng trước. Ba tôi nói với vào:
 
“Má nó làm cơm mời anh Thắng ăn với mình tối nay nghe. Biểu con Bẻo dọn cái giường thằng T. cho ảnh ngủ lại. Còn nó sang ngủ với em”.
 
“Dạ.”
 
Tôi nấp trong nhà ló ra nhìn ba tôi.
 
Ba tôi nói vọng vô tiếp:
 
“Cho tôi xin hai bát nước chè nóng nghe, với bao thuốc lá.”
 
Sau bữa cơm tối, đêm hôm đó ba mẹ tôi đem chõng ra đằng trước nhà ngồi uống nước chè ăn chè ngọt và nói chuyện sáng đêm với ông Thắng. Tôi vì ăn no quá, lên giường nằm chơi với thằng em rồi ngủ khò lúc nào không biết. Sáng ra thì thấy ông khách lạ tên Thắng đã ra đi từ lâu.
 
Từ hôm đó trở đi ba mẹ tôi dọn dẹp đồ đạc trong nhà lại cho gọn gàng, mở cửa bán lai rai chớ không nấu nướng chi nhiều và tôi để ý thấy ông cất áo quần tiền bạc vào rương sẵn sàng cho một cuộc ra đi. Buổi sáng hôm ông Thắng ra về, ngay sau đó ba tôi đánh thức cả nhà dậy bảo mọi người quỳ xuống giuờng với ông bà để cầu nguyện. Tôi nghe thấy ông bà cám ơn Thượng đế đã trả lời cho ông bà, trong lúc ông bà đang lo lắng bối rối thì Ngài đã sai người đến giải cứu gia đình chúng tôi. Tôi chỉ biết thế thôi!
 
Rồi một đêm tối trời ba mẹ dắt chúng tôi khăn gói lầm lủi ra đi theo hướng Chợ Được. Ở đó ba tôi đã thuê sẵn một chiếc ghe (lần này ghe nhỏ, không phải ghe bầu) rồi xuôi thuyền trở về Đà Nẵng. Lần đi này im lặng và xuôi chèo mát mái. Đến nơi thuyền cặp bến ở Cống Bà Xin vào lúc xẩm tối. Ba tôi kêu xe kéo chở mọi người về nhà.
 
Sau này ba tôi cho biết rằng chính cái đêm ông Thắng ghé quán gặp ba tôi, ông Thắng có khuyên ba mẹ tôi nên dinh tê (về thành) gấp, trước khi VM khám phá ra là ba tôi đã làm cho Pháp trước đó. Và cũng chính ông là người cấp giấy tờ cho ba mẹ tôi đi trót lọt về thành mà không bị cản trở chi khi qua các chốt gác của VM. Thật là lạ lùng, không thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên được, mà là phải có một sự sắp đặt, một sự sắp đặt mà cha mẹ và tôi hằng tin tưởng rằng "có Ơn Trên phù hộ", hoặc nói như cách nói của chúng tôi là người có đạo Chúa: “Trong cơn gian truân, ngươi hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ giải cứu ngươi”. Chúng tôi lớn tiếng tạ ơn Thượng Đế là Đấng hằng cứu giúp con cái Ngài ra khỏi cơn hoạn nạn. 
                                                             
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 21.03.2016 01:31:27
 
 
                                        Chương mười
                                   Trở về mái nhà xưa
 
Sau gần ba năm tản cư xa Đà Nẵng, gia đình tôi nay đã trở về. Chiếc ghe chở chúng tôi cập vào đúng cái bến mà trước đây chúng tôi đã ra đi. Chỉ khác có một cái là ngày đi thì chiếc ghe bầu lớn chở chúng tôi chạy bon bon ra biển, song ngày về thì lại lén lút với chiếc ghe tam bản nhỏ vừa đủ chỗ cho 6 người ngồi.
Lên bờ, cảnh cũ lại hiện ra trước mắt. Cũng cái bến đá này: Cống Bà Xin, nơi mà mỗi chiều trước đây tôi hằng thả bộ dọc sông Hàn để câu cá dìa. Cũng cây đa trong công viên trước Cổ viện Chàm, bên này đường là cái bến cũ có con đò đưa khách sang Mỹ Khê. Con đường vẫn còn lồi lõm bởi những ổ gà chưa trám nhựa. Dọc ven bờ sông có đôi trai gái tay trong tay tản bộ hóng mát. Đàn chim chiều đã về tổ, đang râm ran trò chuyện trong những tàn cây rậm rạp dọc dài theo khu Thương Chánh.
Chúng tôi lặng lẽ đi, không ai nói năng gì. Ba mẹ tôi dẫn đầu, đến phiên hai đứa chúng tôi và chị Bẻo. Từ bến đá Cống bà Xin về đến nhà tôi không xa lắm. Đi bộ khoảng 15 phút là cùng, nhưng ba tôi cẩn thận chưa muốn về nhà vội. Ông đưa chúng tôi đến nhà ông bà Phán Trinh là người bà con gần đó để ngủ nhờ lại ít hôm. Sáng hôm sau ba mẹ tôi tất tả về nhà tính để mở khóa dọn dẹp lại nhà cửa cho sạch sẽ trước khi về. Nào ngờ khi đến nơi thì thấy có bóng người thấp thoáng trong nhà. Ba tôi sợ không dám vào bèn ghé qua gặp lối xóm. Họ cho biết khi ba tôi bỏ nhà đi được vài tháng thì có một gia đình nào đó ngoài Huế tản cư vô thấy nhà trống bèn bẻ khóa dọn vào ở. Ba mẹ tôi đành phải trở về nhà thuật lại đầu đuôi câu chuyện cho ông bà Phán nghe. Vì gia đình ông bà Phán là nhà có địa vị trong làng, ông lại làm thông phán cho Tây, nên hôm sau ông tức tốc cùng ba tôi lên nhà để mời họ ra và lấy nhà lại. Giằng co cãi cọ với họ cả buổi sáng và cũng nhờ lối xóm đứng ra chứng nhận rằng nhà này là nhà của ba tôi, ông Phán cũng hăm he rằng sẽ đi báo cho chính quyền biết nếu họ không dọn đi ngay trả nhà lại cho người ta vì họ bẻ khóa vào nhà là bất hợp pháp. Ba tôi có mang theo văn tự nhà đất cho họ coi nên họ đuối lý đồng ý sẽ dọn nhà đi vài ba bữa nữa.
Sáng hôm sau ba tôi tức tốc lên sở cũ trình diện và được ông Chánh chủ sở (ông này là người Pháp mới đến nhậm chức) cho biết rằng trước khi nhận ba tôi lại, ông phải lập hồ sơ gửi ba tôi qua bên Sở Mật Thám để họ điều tra và cứu xét vì ba tôi đi tản cư mà ở lâu quá gần ba năm mới trở về nên họ tình nghi. “Tình hình bắt đầu rắc rối đây,” ba tôi than thở với mẹ tôi và ông bà Phán. Lại một lần nữa chúng tôi có quý nhân phò trợ. Ông Phán bảo ngay với ba tôi:
“Chú Minh đừng lo, tôi có bạn quen bên Sở Mật Thám, để tôi nói với họ một tiếng và bảo đảm cho gia đình chú là được ngay”.
Ba tôi nghe lấy làm hớn hở trong lòng. Mấy hôm sau ông sang Sở Mật Thám trình diện. Người Chánh Sở Mật Thám biết ba tôi trước đây rồi nên cũng không làm khó khăn chi, song họ cũng bắt ba tôi đứng phơi nắng ngoài sân chờ đúng một ngày mới cho giấy nhập cư. Ba tôi cầm tấm giấy nhập cư về nhà lòng mừng khấp khởi, ông cám ơn ông bà Phán vô cùng. Má tôi nói:
“Nó hành ông có một ngày đứng nắng là may cho ông lắm đó, chứ 10 ngày ông cũng phải đứng chờ chớ biết mần răng?”
Mấy ngày sau đó vợ chồng người chiếm nhà dọn đi và trả lại nhà cho ba tôi. Ông vào quét dọn sạch sẽ, xem lại vườn tược bếp núc xong rồi mới cho mẹ con tôi về.
“Trở về mái nhà xưa! Come back to Sorrento!)
Sau này mỗi lần tôi nhớ lại cái lúc tản cư trở về nhà là tôi bèn ngân nga ca khúc trên của Ý và mỉm cười lấy một mình.
Chúng tôi dọn nhà cửa xong xuôi thì đã gần Tết. Còn hai hôm nữa là tiễn đưa ông Táo. Hàng xóm có một vài người bắt đầu đi chợ mua cá chép về cúng. Có bà người miền Bắc ở cạnh nhà tôi mua sẵn xấp giấy vàng bạc để về hóa vàng (đốt tiễn đưa ông Táo về Trời). Ngoài đường cũng đã thấy lác đác những người gánh hoa mai, hoa cúc xuống chợ Nại Hiên gần nhà. Mặc dầu đang trong thời buổi chiến tranh nhưng Tết đến không nhiều thì ít ai cũng lo đón Tết, không có thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ hay nêu cao buồng pháo bánh chưng xanh thì cũng có được cái bánh tét bánh ú và vài đĩa trái cây. Nhiều ông bà vẫn cằn nhằn với nhau: “Ôi chiến tranh mà Tết với nhứt chi!” Nói thì nói vậy chớ trong nhà mồng một cũng phải có đĩa xôi cái bánh cho nó có vị. Đó cũng là tình cảnh nhà tôi. Đi tản cư về tiền bạc hết sạch sành sanh, cơm không đủ ăn lấy đâu cho Tết?! Ba tôi trong lúc chờ đợi Sở gọi đi làm, ông mượn chiếc xe đạp của người lối xóm đi lo ba công bốn chuyện. Ông bà Phán Trinh cho chúng tôi ở đậu được 5 ngày, lại nuôi cho 5 miệng ăn cũng đã là khá tốt lắm rồi. Trước khi gia đình chúng tôi rời nhà ông bà để về trên nhà, ba mẹ tôi thành thật ngỏ lời cám ơn sự giúp đỡ tận tình của ông bà trong lúc ngặt nghèo, ông bà Phán vui vẻ bắt tay ba tôi và tiễn đưa ra đến tận ngõ.
Mấy hôm chờ đợi vụ nhà cửa ba tôi cũng có ghé thăm mấy người bà con để vay mượn đỡ mỗi người ít chục, nên nhà cũng có đủ tiền tiêu dùng trong lúc chờ công đợi việc. Người giúp đỡ ba tôi đầu tiên là cụ Dư Phước Thuận (sau này là Thượng nghị sĩ thời ông Thiệu) đã cho ba tôi liền 50 chục đồng khi ba tôi rời ghe chạy lên nhà ông thông báo gia đình vừa mới hồi cư. Cũng chính ông đã giúp đỡ cho ba tôi mau trở lại làm việc ở Nha Quan Thuế. Mẹ tôi thì xuống chợ dò la bạn bè để vay tiền mở lại sạp vải bán trong chợ, vì trước kia mẹ tôi có tiệm buôn bán vải vóc. Có thất cơ lỡ vận mới biết được người tốt người xấu! Bình thường trong lúc mình còn có tiền có bạc, có chức tước thì lắm kẻ mình chưa hỏi vay, họ cũng đã đưa. Đến lúc cơ hàn chưa gặp, họ đã lánh mặt rồi. Còn lỡ mà đối diện thì cũng kiếm cớ thối thác chối từ rằng dạo này tui làm ăn thất bại, hay dạo này nhà túng quẫn quá vì vừa có mấy việc không hay v.v.. Ngay cả đến trước kia những người đã mang ơn gia đình tôi rất nhiều, nay thấy ba mẹ tôi xuống dốc cũng liền ngoảnh mặt đi. Thói đời là vậy! Song ba mẹ tôi cũng đã tính trước những trạng huống xấu có thể xảy ra nên không buồn lắm vì lúc nào ông bà cũng tin rằng mình ăn ở phải thì trước sau gì cũng có người giúp.
Một bằng chứng hiển nhiên sau đây làm cho ba mẹ tôi ngạc nhiên vô cùng là một hôm mẹ tôi đến thăm ông bạn người Ấn độ tên Shia có tiệm vải cùng đường với tiệm mẹ tôi trước đó. Sau khi bà đến chào thăm ông và kể lể hoàn cảnh hiện tại của gia đình, cùng ngỏ lời xin ông dành cho cái đặc ân là khi nào mẹ tôi tìm và sang được một cái sập để bán vải trong chợ Hàn , thì xin ông trao vải cho mẹ tôi bán trước rồi mẹ tôi sẽ giao tiền sau. Bà vừa nói xong, chẳng những ông đã nhận lời ngay mà còn hứa cho mẹ tôi mượn trước một số tiền để đặt cọc cho chủ sập. Mẹ tôi quá đỗi ngạc nhiên, không ngờ ông tốt đến làm vậy. Ông nói: (nguyên văn)
“Chi Barr…tui minh la chorr anh em di buonrr voi nhau. Con nguoi corr luc nay luc khacrr. Chi nayrr het von canrr tien thi toi corr là toi giup, nay mai chi corr thi tra lai tui, cho on nghia chi hè?. Chi dung corr ngai, cu cam lay di, tui giup chi thi mai kia corr Phat giup lai tui.”
(Chị Ba.. tụi mình là chỗ anh em đi buôn với nhau. Con người có lúc này lúc khác. Chị nay hết vốn cần tiền thì tôi có là tôi giúp, nay mai chị có thì trả lại tui, chớ ơn nghĩa chi hè? Chị đừng có ngại, cứ cầm lấy đi, tui giúp chị thì mai kia có Phật giúp lại tui.)
Nghe ông nói mà mẹ tôi mừng bắt ứa nước mắt, bà thầm nghĩ: ngay cả bà con anh em bạn bè người Việt với nhau mà cũng không có ai tốt bằng ông này. Số là trước năm 1945, mẹ tôi cũng có cửa hàng bán vải như ông ở cách đây một block đường. Ông là người giao sỉ hàng lụa nhập cảng bên Ấn cho mẹ tôi, và cùng là chỗ bạn hàng. Ông là người Ấn. Cha mẹ ông sang Việt Nam buôn bán từ những thập niên cuối thế kỷ 19. Ông sinh ra bên Ấn nhưng theo cha qua VN lập nghiệp từ năm 1920. Ông có vợ Việt Nam và nói rành sỏi tiếng Việt, nhưng cách phát âm thì còn rặt Ấn độ. Sau đó ông bảo với mẹ tôi rằng hai ba bữa nữa đến ông mà lấy tiền để đóng cọc cho người ta. Mẹ tôi về nhà thuật lại với ba tôi và bảo hôm nào có đến lầy tiền thì ba tôi cùng đi xuống thăm và cám ơn ông luôn thể.
Mấy tuần sau khi mẹ tôi có sạp rồi, chính ông và đứa con thân chinh vác vải ra sạp cho mẹ tôi bán. Hai tuần sau ba tôi cũng được sở cũ gọi lại nhận công việc, lần này làm trong văn phòng chứ không phải đổi đi đâu cả.
Mọi việc rồi đâu cũng vào đấy, sau đó ba tôi xin cho hai anh em tôi vào trường huyện trên chợ mới gọi là trường Hòa Vang (lấy cùng tên của huyện). Em tôi vào lớp Tư, tôi vào lớp Nhất. Niên khóa đầu tiên của tôi rất là cực nhọc. Lý do là tôi đã bỏ học đã gần ba năm nên chữ trả lại cho thầy hết. Tôi phải tranh thủ (học) ban ngày không đủ, tranh thủ cả ban đêm, nên năm đầu tôi ốm thấy rõ. Tôi không được đi chơi với chúng bạn ngoại trừ vào chiều Chủ Nhật, vì buổi sáng tôi phải đi lễ cùng cha mẹ. Tôi cũng không có thì giờ đi câu, cái thú mà tôi thích nhất, vì ba tôi hễ khi nào ông thấy tôi có cần câu mà đem giấu, biết được là chỉ có chết với ông!
Căn nhà của ba tôi là căn nhà ngói ba gian thứ nhì trong xóm, sau nhà của ông bà Thị Tuấn bà con với chúng tôi. Căn nhà của ông bà lớn gấp đôi nhà tôi và có nhiều phòng hơn, tọa lạc ở phía sau nhà tôi cách một con hẻm nhỏ. Vì ông bà và cậu con đi tản cư chưa về nên quân đội Pháp trưng dụng nhà làm căn cứ hành chánh trong xóm tôi. Vì thế có một anh trung úy người Pháp làm bên đó mướn một căn phòng nhỏ trong nhà tôi để ở cho gần nơi làm việc. Anh này thích tôi lắm, mỗi chiều đi làm về là mang theo bánh mì và phó mát cho tôi. Có hôm anh cũng cho tôi hộp C-ration (khẩu phần lương khô của lính) của Tây nữa. Tôi ăn xong bèn lấy cái hộp làm hộp đàn (hộp vuông vắn khoảng 5 x 5 inches, cao hơn 1 inch, bằng nhôm sơn màu xanh lá cây), kiếm miếng gỗ vuông xỏ vào làm cán đàn và giây đàn thì lấy giây điện telephone tháo từng sợi ra làm giây. Thế là tôi có một cái đàn guitar nho nhỏ để khảy tứng từng tưng chơi.
Tôi thích nhạc lắm, mỗi khi anh Trung úy mang về cái máy quay đĩa hiệu Pathé có vẻ hình con gà ở ngoài cùng mấy chục cái đĩa hát 85 tours là tôi theo qua phòng anh nghe khính. Hầu hết đều là mấy bản xưa “ vi a cà cộ”, do cô đào Edith Piaf hát, như J’ai deux amours…Marseillais v.v.. tôi nghe mà bắt thuộc lòng. Bài mà tôi thích nhất là “Sur le pont d’Avignons” sau này năm 1985 tôi có dịp sang Pháp ghé thăm, ở vùng Provence miền Nam nước Pháp trên đường từ Marseille về Paris.
Một hôm có một người Việt Nam đi lính cho Pháp bên Tunisie về thăm nhà mang theo một cây đàn banjo. Ông ta đến thăm người Trung úy và tiện thể ghé qua phòng thăm xả giao ba tôi. Ông thấy tôi đang ngồi so giây khảy cây đàn C- ration tự chế. Ông hỏi tôi:
 “Ai làm cây đàn này vậy?”
Tôi đáp:
“Dạ cháu làm ra đấy”.
 Ông cầm lên và cười với tôi rồi nói với ba tôi:
“Thằng con ông khéo tay nhỉ”.
Tôi tiện thể đáp luôn:
“vì cháu không có tiền mua đàn thiệt, vả lại cháu cũng chưa biết đàn, chưa học đàn nên làm cây này khảy tưng tưng chơi cho đỡ buồn”.
Ông cười và khen tôi có khiếu. Ngày hôm sau ông về nhà đem qua một cây đàn banjo thật đẹp, khung đàn làm bằng aluminum, xung quanh bọc mấy hạt kim cương giả sáng chói. Giữa lòng đàn là miếng da trừu trắng căng thẳng băng. Ông khảy mấy tiếng làm tôi mê liền. Ông đàn mấy bài tôi biết nên tôi khe khẽ hát theo. Ông hỏi tôi sao biết mấy bài ông đàn? Tôi thưa:
“Dạ cháu biết chớ!”
Ông hỏi tiếp:
“Cháu học với ai mà biết?”
Tôi đáp:
“Dạ cháu nghe đĩa hát của anh Trung úy Tây nên thuộc lòng.”
Ông thấy tôi nhìn cây đàn của ông mà không chớp mắt, dáng điệu thèm thuồng, ước gì mình mà có cái đàn ni thì sướng kể gì! Tôi đang suy nghĩ như vậy, thì ông ta buột miệng hỏi tôi:
“Cháu thích cây đàn này không?”
Tôi trả lời không suy nghĩ:
“Dạ cháu thích lắm chớ, ước gì cháu có một cây như vầy?”
Ông ta nhìn tôi nói:
“Chú cho cháu cây đàn này đó.”
Vừa nghe xong tôi nhảy tưng tưng hét lên với ba tôi.
“Ba ơi, ông này cho con cây đàn.”
Ba tôi nhìn tôi la nhỏ:
“Của ông mà sao con dám xin?”
Tôi đáp:
“Tự ông ấy thương con thì ông cho con, chứ con đâu có dám xin.”
Tôi cười ngỏn ngoẻn, tay cầm cây đàn hết vuốt ve phím đàn đến xoa xoa cái trống đàn. Tôi nâng niu còn hơn bà xã tôi ngày đầu tiên bà có chiếc nhẫn hột xoàn. Tôi thích quá quên cả cám ơn ông khách. Ba tôi nhắc:
“Cám ơn ông đi con!”
Chừng đó tôi mới nhớ rằng tôi quên chưa cám ơn ông. Tôi rối rít cám ơn đi cám ơn lại mấy lần. Ba tôi ngoài mặt thì vui nhưng trong lòng không thích cho lắm vì sợ tôi mê đàn mê hát rồi bỏ học hành, nên sau đó mấy tuần khi thấy tôi có vẻ lơ là ông liền đem cây đàn cho cậu tôi. Ông bảo tôi phải lo học vì đã bị bỏ học từ lâu, bây giờ không phải là thời gian chơi mà là thời gian chú trọng vào việc học, nên tôi không được phép lơ là. Vả lại cuối niên học này tôi phải đi thi tiểu học, ông dọa nếu không đậu ông sẽ gửi về quê ở với ông dượng tôi để đi làm ruộng. Tôi nghe vậy hết hồn đành vuốt nước mắt chịu trận. Ngay cả sau này khi ra Huế học trung học ở trường dòng Pellerin, tôi được theo học khóa guitar và nhạc lý căn bản của trường. Nghỉ hè tôi đem cây guitar mới toanh mà tôi mới mua ngoài Morin định về khoe với ông, thế mà ông giận tôi vì đã không nghe lời ông, không lo học mà cứ lo đờn ca xướng hát. Tôi bảo việc học nhạc cũng là một môn học của nhà trường, tuy không có ghi vào thời biểu nhưng cũng giúp cho sinh viên khỏi phải đi đàn đúm trong thời gian nghỉ hè. Ông càng giận hơn và xách cây đàn mà bao nhiêu tiền ăn quà tôi đã dành dụm cả năm mới mua được đập bể nát tan. Tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ và năm đó cả mùa hè tôi buồn lắm chỉ đi câu và mong cho mau hết hè để trở lại trường.
Thời giờ thấm thoát thoi đưa. Cuối niên học này tôi phải khăn gói vào Hội An để thi Tiểu học. Ngày rời trường huyện Hòa vang, thầy Lê Quý Kỵ là người đã dạy chúng tôi lớp Nhất, ông chúc mấy đứa chúng tôi ráng thi cho đỗ để còn sửa soạn mà vào Trung Học. Thầy Kỵ còn trẻ lắm, mới 20, 21 tuổi chi đó, người trắng trẻo dong dỏng cao, tôi nhớ lúc đó ông vừa mới thi xong sư phạm ở Huế về thì dạy ở trường tôi. Cũng cái chuyện “học trò trong Quảng ra thi, thấy o gái Huế bước đi không đành”, nên vừa về trường tôi dạy đâu được 6 tháng, ông ra Huế ẵm vô một o gái Huế thiệt xinh về Đà Nẵng làm đám cưới liền. Nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò, tụi tôi cứ đọc câu ca dao trên mỗi khi thấy ông, ông chỉ cười và lắc đầu. Một hôm tôi thấy ông vui tôi bèn nói: 
“Thầy ơi! Kỳ này chắc em không vào Hội An thi đâu, thầy làm ơn xin cho em ra Huế thi đi, để em còn có dịp bắt chước thầy!”
Những lúc đó tôi thấy ông dễ thương lạ, mặt đỏ rần miệng cười mím chi lắc đầu với tụi học trò quỷ sứ. Có hôm chủ nhật, tụi tôi rón rén đến nhà ông giả vờ mượn sách, qua khe cửa chúng tôi thấy hai ông bà đang ôm nhau ngáy khò khò. Tụi này rúc rích cười rồi bỏ ra về.
Vì gián đoạn việc học trong mấy năm trước đó nên phần đông tụi chúng tôi cũng đã lớn, trong số đó có tôi, nên thầy Kỵ không cho chúng tôi gọi bằng thầy mà chỉ gọi bằng anh. Ông cười và còn đe chúng tôi, nếu đứa nào kỳ này mà thi không đậu thì đi trường khác mà học chớ đừng có trở lại lớp này với anh nghe. Chúng tôi hứa và từ đó trở đi tôi ít khi được gặp thầy Kỵ, thỉnh thoảng nghỉ hè mới về lại Hòa Vang để thăm ông. Năm đó tôi đậu cao và được ba mẹ sắm cho chiếc xe đạp hiệu Peugeot mới toanh.
Những ngày học ở trường Huyện rất êm đềm. Chiều chiều chúng tôi hay qua một cái chùa gần bờ sông trên con đường mù u (đường này trông rất nhiều cây mù u, người Đà Nẵng dùng dầu mù u để thắp đèn) để học bài vì trong sân chùa trồng rất nhiều cây cao tỏa bóng mát cả sân. Chúng tôi ngồi trên mấy cái ghế đá trước sân chùa mà học bài, gió mát trước sông thổi vào hây hây lắm khi muốn ngủ gục. Thỉnh thoảng cũng vác ná đi bắn chim gần đó. Sau này chỗ ngã ba đường mù u và đường lên Chợ Mới này Tây có làm một cây cầu bê-tông ngang qua sông Hàn đặt tên là cầu De Lattre de Tassigny (*).
Hội An là một phố nhỏ, hai bên đường là những phố cổ rêu phong. Một bên là lối kiến trúc Nhật Bản, một bên là kiến trúc Trung Hoa. Nhận xét cho kỹ mới thấy, nếu không thì nhà nào cũng giống nhau cả, chỉ khác rõ nét là mái ngói âm dương và bên trong mà thôi. Tôi ở trọ trong nhà một người quen với ba tôi. Gian nhà hình chữ nhật rộng rãi và dài thòng, cửa chính bên này đường nhưng cửa sau lại trổ sang bên con đường khác. Thật ra nhiều nhà chẳng có cái gọi là cửa sau vì hai cửa cũng đều giống như nhau. Ở ngay chính giữa căn nhà là một khoảng sân vuông vức (courtyard) rất rộng. Ở đó có một hồ chứa nước lớn dùng cho cả nhà. Giặt giũ, tắm rửa và nấu ăn cũng cạnh khuôn viên đó. Trong nhà những cây cột gỗ lim đen nhánh vòng tay ôm trọn chống đỡ cả nhà và gác. Xung quanh gác trên courtyard một vòng lan can vuông vức chạm trổ hoa văn thật xinh đẹp. Hầu hết nhà cửa như vậy ở đây có tuổi trên vài ba trăm năm là chuyện thường.
Xưa kia trước thời Pháp thuộc, những dãy phố lầu này được gọi là phố Hiến, (sau này Pháp gọi là Faifo) một kỳ công về kiến trúc của hai dân tộc Nhật Bản và Trung Hoa đến đây giao thương và lập nghiệp. Vì thế sách sử ta có ghi: “thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”. Phía kiến trúc của người Hoa họ dùng căn dưới để ở và thường thì tầng trên để buôn bán, có nơi lầu đặc biệt sơn màu đỏ, vì thế mới gọi là lầu son. Đặc sản ở phố Hội An lúc đó (1948) có món cao lầu, một loại hủ tíu của người Hoa bán trên lầu nên người Đà Nẵng lúc đó hay rủ nhau vào Hội An để ăn cao lầu. Nếu gọi đúng tên ra thì phải gọi là món hủ tíu cao lầu mới đúng, vì nguyên liệu chính làm bằng bột gạo lứt (brown rice) tại địa phương, tráng ra thành bánh phở dày có màu tím nhạt. Sau đó họ xắt thành từng lát bề ngang khoảng 1 phân. Riêng người Việt ta ở Hội An cũng có một món na ná như trên nhưng lại gọi là "mì gỗ" vì sợi bánh lớn cứng và dày, ăn không ngon như mì Quảng ngày nay. Đặc sản Quảng Nam chỉ có tô mì Quảng là mềm mại và đậm đà. Sợi mì Quảng cũng làm bằng bánh ướt nhuộm màu nghệ và không thay đổi cho đến ngày nay. Cho đến bây giờ tôi vẫn thắc mắc và không hiểu tại sao người Quảng gọi món đó là “mì” (**) vì sợi phở đó làm bằng bột gạo mà? Có nhiều người cắc cớ hỏi tôi: "Anh là dân xứ Quảng, vậy tại sao món đó gọi là 'mì' Quảng?" Tôi bí!
Tôi đến sớm trước ngày thi một ngày, được ba dắt cho đi xem Chùa Cầu làm theo lối kiến trúc Nhật Bản. Hai đầu cầu có tượng 2 con chó và 2 con khỉ.  Khi xe đạp đi qua cầu tôi nghe mấy miếng ván cũ lót cầu kêu lọc cọc cơ hồ như muốn sứt ra! Tôi cũng được ra cửa Đại ngắm cảnh hoàng hôn trên biển. Về đêm thì phố yên tĩnh đến rợn người, chẳng có một tiếng xe hay cả tiếng hàng quán bán rong. Đèn dầu lờ mờ trong vài căn nhà gỗ, thỉnh thoảng vài tiếng chèo khua nước trên sông Hoài chảy dài sát phố. Sau này có nhiều lần trở về thăm phố cổ, Hội An chẳng hề thay đổi, nếu có chỉ thêm đèn lồng về đêm, nhưng Đà Nẵng thì mỗi ngày mỗi khác. 
 
 (*) tên một vị Đại tướng Pháp ở Đông dương.
(**) có thể là người ta nhuộm bánh phở ra màu vàng nghệ giống màu sợi mì chăng?
 
 
 

mythanh
  • Số bài : 12
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 18.03.2016
Re:Những Năm Tháng Hồn Nhiên - 21.03.2016 01:36:05
 
 
                                      
                                           Đoạn kết
 
                          "Những năm tháng hồn nhiên"  
 
 
Những năm tháng hồn nhiên của cuộc đời tôi đã không còn đầy đủ sự hồn nhiên của tuổi ấu thơ nữa!
 
Cái bất hạnh cho tôi là tôi đã được sinh ra trong thời gian chiến tranh, khi mà vừa mới mở mắt chào đời đã nếm mùi súng đạn. Chiến tranh với sự tàn phá ghê tởm của nó đã cướp đi sự hồn nhiên của tuổi thơ, làm chai sạn tâm hồn tôi cùng những bạn bè cùng trang lứa trong thế hệ tôi. Những bất hạnh và sự khốn cùng của nó chẳng những không buông tha mà còn đeo đuổi mãi cho đến cuối đời!
 
Không chỉ riêng tôi mà cả thế hệ của chúng tôi cùng nhiều thế hệ sau đó cũng đã phải gánh chịu những hậu quả nặng nề bởi sự tàn phá của chiến tranh. Hàng triệu thanh thiếu niên Việt ở tuổi tôi đã lớn lên trong chiến tranh đã bị chiến tranh làm ung thối cả tâm hồn lẫn thể xác!
 
Tôi muốn viết lên sự thật ấy để con cháu tôi ở những thế hệ kế tiếp nhìn rõ bộ mặt thật tàn khốc của chiến tranh mà tránh nó. Cho dù con người có khoác lên cho nó bằng những mỹ từ, những chiêu bài đẹp đẽ, hay cho những mục đích cao cả, mà lấy chiến tranh làm phương tiện giải quyết hầu đạt lấy cứu cánh thì đó cũng chỉ là một sự xuẩn dại vô cùng!
 
Vì chiến tranh là: tàn phá, chết chóc, lưu đày, nó sẽ ảnh hưởng không dứt cho những thế hệ kế tiếp!
 
Chiến tranh là một tội ác lớn cho nhân loại, nó không phục vụ và nâng cao phẩm giá con người. Trái lại nó chỉ thể hiện lên cái ác tính trong con người mà thôi.
 
Trong một buổi hội luận của đài truyền hình ABC vào năm 2006 hay 07 gì đó, tôi nhớ có một học sinh Mỹ gốc Việt (thế hệ thứ ba) em là một thần đồng. Mới 12 tuổi mà em đã lấy được một số các bằng cao học trong các đại học ở Hoa Kỳ. Khi người điều hợp chương trình hỏi em:
 
"Em có quyết định gì trong tương lai?"
 
Em đáp ngay không do dự:
 
"Em muốn trở thành một khoa học gia về gene (di truyền)".
 
Và với một giọng nói không thiên về tính chất đạo đức hay tôn giáo, nhưng với một lối nhìn thực tiễn về khoa học, em tiếp:
 
"Em sẽ tìm ra cái gene "độc ác" của con người và loại nó ra khỏi hệ thống!"
 
Chừng nào trong con người chúng ta hết "cái ác thú tính", chừng đó tự nhiên con người sẽ thương yêu nhau và không tạo ra chiến tranh, và cũng chừng đó con người mới hãnh diện chứng minh với đồng loại rằng mình là chủng loại cao hơn các chủng loại khác trên hành tinh này. 
 
Tô Vũ Tô Huyền Vân
  
Nam California ,
Mùa thu, năm 2005
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Ct.Ly