Luong Hiền_ Đường đời giông bão

Tác giả Bài
Lương_Hiền

  • Số bài : 160
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 27.06.2016
  • Nơi: diễn đàn văn học
  • Trạng thái: offline
Luong Hiền_ Đường đời giông bão 30.06.2016 20:41:01 (permalink)
LƯƠNG HIỀN
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
ĐƯỜNG ĐỜI GIÔNG BÃO 
(Tiểu thuyết)
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM
1990
 
I
CON MỘT THẰNG TÙ
 
Đầu năm 1983 công trình thủy lợi Hàm Long, một công trình lớn ở địa phương, đang chuẩn bị khởi công thì một tình huống xảy ra là mãi đến lúc này người ta mới phát hiện ra đó là một bãi bom thời chống Mỹ còn lại, chưa được thanh toán, phá gỡ xong, mà các kỹ sư thiết kế công trình này khi đi khảo sát đã quên mất một đặc điểm quan trọng. Chả là trước đây, khu vực này là một đầu nút giao thông, ngã ba đường tránh quan trọng của con đường mòn chiến lược Hồ Chí Minh, thường do một Đại đội công binh chốt giữ. Từ sau 1973 hội nghị Pari ký kết ngừng bắn đến nay, các lực lượng bộ đội đã rút, con đường nhánh trong rừng sâu nay cũng bị bỏ, dân cư ở cách đây xa hàng vài chục cây số, nên cũng chẳng ai ngó ngàng gì đến nơi khỉ ho cò gáy này nữa. Thấm thoát đã chục năm trời, những đồi hoang, rừng trọc do bom đạn Mỹ tàn phá, đã được hồi sinh  bởi thiên nhiên và đất đai màu mỡ đã bao phủ lên màu xanh của núi rừng, ở xa nhìn, hoặt đi lướt qua, người không chú ý thì khó có thể phát hiện ra nơi đây đã là một bãi chiến trường khốc liệt xưa kia.
Duy chỉ còn những hố bom, mặc dầu cây cối đã mọc lên, hoặc thành thùng vũng nước và những cành cây đứt, gốc cây cụt vẫn để lại những vết thương đã thành những xẹo gỗ xần xùi và đập vào mắt một anh cán bộ thi công, vốn là lính Trường Sơn trước đây. Hòa Bình trở lại, anh được đi học đại học, tốt nghiệp về làm cán bộ kỹ thuật ở Công ty xây dựng thuỷ lợi này. Trong đợt khảo sát, thi công cuối cùng, anh đã phát hiện ra và đã đi tìm hiểu qua bà con dân bản vùng xung quanh đó, mới biết nơi đó có một túi bom thời chống Mỹ. Hàng trăm chiến sỹ hi sinh ở đây. Còn nhiều bom chưa nổ, chưa được phá huỷ sau chiến tranh. Dân vùng xung quanh cũng không ai bén mảng đến vùng này, phần vì xa, phần cũng vì còn nhiều nguy hiểm, bởi nhiều ma thiêng và chất đọc hoá học, có thể gây nên thảm hoạ, chết chóc...Thời gian khởi công của Công trình thuỷ lợi Hàm Long bị dừng lại.
Người ta vội vàng tìm đến cơ quan quân sự địa phương, huyện, tỉnh, để tìm hiểu tình hình, để yêu cầu phá gỡ bom đạn một cách khẩn trương nhất, cấp bách nhất.
Rồi những chỉ thị mệnh lệnh từ cơ quan Huyện uỷ, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân các cấp tới tấp đưa đến cơ quan quân sự làm cho các thủ trưởng và cơ quan quân sự như bị đánh đố, bị thách thức, làm họ cuống lên như bị “Pháo đốt đít” họ phải khoác chân lên cổ mà chạy.
Hầu hết số cán bộ chỉ huy lãnh đạo thời chống Mỹ ở đây đã về hưu, về mất sức đã 10 năm rồi còn gì nữa, số trẻ thời đó thì đi học rồi chuyển đi các đơn vị khác, nên không còn ai rõ về chuyện bom đạn cụ thể ra sao nữa, nhất là khu vực Hàm Long xa xôi đó....
Tấm bản đồ “Bom rơi” lập tức được săn tìm. Hình như có một bản đồ như thế từ hồi chiến tranh lưu lại, chẳng ai nhớ nữa. Cơ quan tác chiến hỏi cơ quan công binh, công binh lại hỏi trinh sát, trinh sát hỏi dân quân... và ngược lại - Cứ hỏi luẩn quẩn loanh quanh như vậy, rồi lục tìm hồ sơ, hết tủ tài liệu này hòm bảo mật khác, suốt mấy ngày liền, mà vẫn không tìm ra tấm bản đồ đó, hoặc một tài liệu tương tự nào khác nói về bom đạn khu vực Hàm Long.
Bí mật về tấm bản đồ bom rơi bị mất làm đau đầu các thủ trưởng cơ quan quân sự địa phương. Tuy nó không phải là bản đồ tác chiến, bản đồ phòng thủ nên không phải loại hồ sơ “tối mật”, “tuyệt mật” gì cả nên không chết ai mà lo. Nhưng cái lo là những chỉ thị mệnh lệnh của đích thân đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch yêu cầu cơ quan quân sự có nhiệm vụ phải phá gỡ rất khẩn trương, rất cấp bách, trong thời gian một vài tuần phải xong. Nếu không xong thì cơ quan quân sự phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về thời hạn thi công công trình, về an toàn cho người và phương tiện trên công trường... Và cái ghế chỉ huy quân sự địa phương cũng bị lung lay.
Chỉ còn cách xuống hỏi Diêm Vương xem nó còn bao nhiêu quả, và nằm ở đâu?
*        *        *
*       *
 
Cơ quan quân sự không tìm thấy bản đồ bom rơi. Họ lúng túng, nhưng rồi cái khó ló cái khôn. Họ có sáng kiến đi tìm tài liệu sống vậy.
Người này hỏi người kia, người kia lại hỏi người kia nữa, cơ quan tung người đi khắp các huyện xã trong tỉnh để tìm người đã chiến đấu ở khu cực Hàm Long. Tìm mãi, tìm mãi, rồi cũng tìm ra được một người. Đó là cô Huệ, nay đã là bà Huệ - trước đây là lính của Đài quan sát bom rơi khu vực Hàm Long, trước lúc hoà bình, bà Huệ nay đã có con, có cháu ríu ra ríu rít, suốt ngày khó mà dứt ra khỏi nhà lấy một ngày, huống chi là hàng tuần lễ.
- Trời, mười năm rồi còn gì. Ai mà nhớ hết được, bà Huệ trả lời khi được cán bộ cơ quan quân sự địa phương hỏi.
- Chị hãy cố gắng nhớ lại xem. Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp bách....
Rồi. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh trực tiếp gặp và động viên bà Huệ rồi chủ nhiệm công trường, đại diện Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân cũng gặp gỡ thăm hỏi động viên làm bà Huệ bỗng dưng thấy cảm động trước sự quan tâm của các cơ quan chỉ huy lãnh đạo các cấp, mà mười năm qua, bà chưa hề được ai hỏi han đến và cái tính hăng hái của thời trai trẻ, cái máu lính lại ào ạt trỗi dậy trong lòng bà, bà xung phong nhận nhiệm vụ trở lại chiến trường xưa.
Ngày hôm sau, họ lặn lội theo bà Huệ luồn rúc trong rừng đến gần trưa mới đến nơi, thì một tình huống bất ngờ xẩy ra. Những quả bom, không còn ở đây nữa. Bà Huệ chạy ngược chạy xuôi lên đồi, xuống suối, chui rúc chỗ này, leo lên cây chỗ  kia, đào chỗ này bới chỗ nọ tất cả đều không còn một quả nào nằm nổi trên  mặt đất nữa. Những quả bom không cánh mà bay.
-         Hay là nó chìm xuống đất? -  một người hỏi.
-         Chìm sao được, đất chỗ này là đá cơ mà, toàn là đá, cho nên nó mới không chui được xuống đất, phải nằm chềnh ềnh ở đây như con lợn ấy. Chính em đã lấy sơn ghi vào từng quả bom ngày giờ bom rơi rồi cơ mà. Nó là loại bom nổ chậm từ trường, một dây bom cuối cùng 12 quả đều rơi vào khu vực khe cạn này đấy.
-         Hay tự nó nổ hết rồi?
-         Loại bom TN Modell 3 này có thể tự huỷ trong vòng sáu tháng trở lại, khi nguồn pin còn tác dụng. Hồi cuối năm 1974 em có dẫn người nhà một cô bạn liệt sĩ đến viếng mộ ở đây. Em đã đi kiểm tra hết chỉ nổ có hai quả tự huỷ, còn lại mười quả vẫn còn nguyên. Chắc có ai phá rồi?
-         Nhưng phá mà sao không thấy hút bom?
-              Cơ quan Bộ chỉ huy quân sự Tỉnh từ năm 1973 đến nay không cử một tổ phá bom nào vào khu vực này cả.
-              Vậy thì những quả bom bị mất tích ư?
-              Tại sao?
*        *        *
*       *
 
Một đêm, trời đã khuya lắm, có lẽ đến nửa đêm rồi hoặc cũng có thể hơn dưới ánh trăng mờ bàng bạc với sương xa, chiếc cầu Vực Thẳm trông gần cũng chỉ còn mờ mờ ảo ảo. Bóng một cô gái đang đi lại trên cầu cô đi thong thả như người đi dạo ban đêm, những bước chân ngập ngừng lúc nhanh lúc chậm, rồi cô tựa người vào lan can, cúi nhìn xuống dòng sông, có lúc cô gái cúi gập hẳn người qua lan can, như muốn lao người xuống, rồi cô lại níu chặt lấy lan can, đứng lên lại đi, lại đứng, lại cúi xuống, lại bật lên, có lúc cô như chạy trốn khỏi cầu, rồi lại bỗng dưng quay lại. Nếu có ai đứng gần đó, hẳn nhìn rõ bộ mặt tuyệt vọng của cô, sẽ hiểu tâm trạng của cô, và cũng sẵn sàng dơ tay ra cho cô cầm, và kéo cô về với cuộc sống. Nhưng lúc đó trời khuya lắm rồi, chẳng còn ai đi lại đó cả, chỉ có mình cô. Cô tự dằn vặt với mình, tự đấu tranh quyết liệt với mình – cô chán đời, chán tất cả, chỉ muốn chết. Đáng lẽ cô đã chết ngay rồi, chết một cách nhanh chóng và thanh thản, nhưng đúng cái lúc cô định lao xuống sông thì bỗng như có tiếng gọi từ một nơi xa xăm nào đó “ơi Loan, ơi Loan”. Đó là tiếng của mẹ cô, từ khi cô còn nhỏ, cái tiếng gọi đó bỗng dưng trỗi dậy, làm cô như bừng tỉnh, và cô lại níu lấy lan can đứng lên, nghe ngóng. Không, không có ai gọi cô cả, mẹ cô đến đón cô ở nhà mẫu giáo về, mẹ gọi cô và vội vàng ôm cô vào lòng hôn hít cô liên hồi và nước mắt mẹ trào ra, mẹ khóc suốt  từ trường về đến nhà, làm cô không hiểu, mãi sau này cô mới biết hôm đó người ta gửi giấy báo về là bố cô đã hi sinh. Thế là cô mãi mãi không bao giờ nhìn thấy mặt bố. Từ lúc lọt lòng mẹ đến nay cô cũng chỉ nhớ mỗi một câu tự hào là “Bố con đi đánh Mỹ” còn mặt bố ra sao, cô chưa bao giờ gặp, và bây giờ cô bé sáu tuổi đã hoàn toàn mất bố.
Từ đó mẹ cô ngày càng chăm sóc cô nhiều hơn, âu yếm cô nhiều hơn. Rồi thời gian trôi đi, cái khăn tang trên đầu mẹ đã thay mấy lần, rồi bỗng nhiên mẹ bỏ từ lúc nào không ai biết. Có một người đàn ông hay đến nhà chơi, lần nào ông ta cũng cho Loan nhiều quà, ông mua sắm cho Loan nhiều quần áo đẹp. Ông còn đèo Loan đi chơi trên cái xe máy màu xanh nữa.
Mấy năm sau, mẹ Loan đi bước nữa, mẹ bắt Loan đi theo, nhưng Loan nhất định không chịu về ở với ông lái buôn ấy, cô nằng nặc đòi ở lại với bà nội để chăm sóc bà. Nhưng hai năm sau bà nội mất, Loan bơ vơ, mẹ đón Loan về để bế em và giúp đỡ mẹ. Loan thương mẹ, nên chịu khó lao động, bế em và chăm chỉ việc nhà. Ông bố dượng phát triển kinh doanh công việc bề bộn, khách khứa tới tấp, khiến Loan suốt ngày cặm cụi làm không hết việc, học hành trễ nải. Hết cấp hai, Loan phải thôi học để ở nhà làm nội trợ và trông nom các em, Loan quý các em, thương mẹ, nhưng cô cảm thấy sờ sợ ông bố dượng, mặc dầu ông rất thương cô, không mấy khi mắng chửi hoặc nói nặng tới cô, chính vì thế nên cô càng sợ. Cái lo lắng mơ hồ của một cô gái 16 tuổi; cái tuổi dậy thì của cô làm nhiều chàng trai để ý, ngắm nhìn. Trong đó có vài lần cô đã bất chợt thấy đôi mắt của ông bố dượng nhìn cô, một cái nhìn khác lạ. Nhiều lần ông khen cô “đẹp, giống mẹ”, và dân làng cũng bảo thế “đúng là mẹ nó thời xưa”, một cô gái đẹp, làm nhiều trai làng đấm đá nhau, đã nhiều anh mẻ đầu sứt trán vì mẹ nó đấy…
Và mối lo của Loan đã đến thật, đúng cái hôm mẹ đi nhà hộ sinh đẻ đứa em thứ ba, hai em nhỏ đã được dượng đưa sang nhà bà nhờ cô út cho đi xem chiếu bóng ở rạp, chỉ còn một mình Loan ở nhà trông nhà. Sau khi dượng sang nhà hộ sinh về trong lúc Loan đang mơ mơ màng màng ngủ, ông đã vào buồng cô. Loan bừng tỉnh dậy và nhìn thấy đôi mắt rực lửa của ông, Loan hiểu ngay sự tình. Người cô run bắn lên, cô vội vàng xụp xuống lạy van, nhưng không được. Ông túm lấy cô, cô vùng ra, nhưng sức cô làm sao chống lại nổi đôi tay của người đàn ông 45 tuổi, khỏe như một con trâu mộng. Cô định kêu lên, nhưng đã bị bàn tay hộ pháp bịp chặt mồm, rồi những lời dụ dỗ mơn trớn, và những lời đe dọa của ông thốt ra, cùng với lúc ông giật tung, xé toạc hết quần áo cô, thế là cô chết ngất dưới sức nặng của một con sư tử với bàn chân như những gọng kìm thép. Cô không sao cựa quậy được, hơi rượu nồng nặc phả vào mặt vào mồm cô, tiếng thét đau đớn của cô rú lên, nhưng bị bịt lại không lọt qua khỏi bức tường trong căn buồng chết.
Ngay đêm đó Loan đã khóc hết nước mắt và cô muốn chết. Cô đã thử cắn lưỡi nhưng không được, hình như số cô chưa được chết, mà còn phải sống để chịu cực hình ở nhà này chăng? Không, không thể được. Một ý nghĩ nhỏ lóe lên: Phải sống để trả thù – nhưng cô không thể ở nhà này được nữa, phải bỏ đi, càng nhanh càng tốt, lợi dụng lúc bố dượng đang đi ra nhà hộ sinh, cô liền gói vài bộ quần áo rồi bỏ nhà ra đi ngay trong đêm đó. Cô chạy thật nhanh, với một ý nghĩ: phải xa cái hang hùm heo rắn độc này, phải xa cái làng ô nhục này trước khi trời sáng. Cô đi qua cổng làng, cô tránh không cho những người gác đêm hoặc người làng trông thấy, đi qua cửa chùa, theo con đường gạch, qua đường sắt, lên đường ô tô, cô cắm đầu chạy, không biết chạy đi đâu nữa, chỉ sợ đến sáng ra, chiếc xe máy lại đuổi kịp theo cô và bắt cô về. Cô cứ chạy, tưởng chừng như những bước chân có thể xua tan đi nỗi tủi nhục đau đớn trong cô và cô cứ chạy:
 
*   *   *
**
Nguyễn Văn Hùng có cái biệt danh là “Hùng liều” không phải khi  vào bộ đội mới có, mà từ khi ở quê và ngay từ lúc còn bé. Nhất là từ khi sự hiểu biết cuộc sống ngày càng rõ ràng thì cái sự “liều” của anh ta cũng ngày càng tăng. Cho nên khi vào bộ đội anh ta biến cái tên Nguyễn Văn Hùng thành Nguyễn Phi Hùng cho nó có màu sắc “người hùng” gần nghĩa với cái biệt danh “Hùng liều” hơn.
 Đời con một thằng tù, có ai coi ra gì nữa! Anh ta thường nói với bạn bè ngay từ ở cái làng quê như vậy – Mà các vị đã coi khinh tôi, thì cớ gì lại bắt tôi phải trọng vọng các vị là thế nào?
Bố Nguyễn Văn Hùng là Nguyễn Văn Cáy, hồi nhỏ chắc cũng có vài cái tên cu Tý cu Tẹo gì đó, nhưng vì thấy cậu bé rất nhát, sợ ma sợ mãnh, sợ từ cái bóng tối có hình người, sợ chuột, sợ cả mèo, chó và sợ cả người nói to, người trừng mắt… Vì thế nên ông bà mới gọi là thằng Cáy “nhát như cáy” mà. Rồi cả nhà gọi, cả xóm, cả làng gọi nên cuối cùng thành cái tên thật! Thì cũng chẳng sao, ông cam lòng với cái tên ấy vậy, để mọi người đỡ tròng ghẹo, gây phiền hà. Con người ông, bản chất ông cũng đúng như cái tên Cáy vậy, chỉ suốt đời làm anh nông dân cổ cày vai bừa, làm hết phần ruộng nhà mình thì lại làm thuê cho người khác, tính tình hiền lành như ông bụt, chẳng to tiếng xích mích với ai bao giờ, chuyện việc làng việc nước, ông cũng chẳng hề quan tâm, họp hành tổ đội, làng xóm đều dồn cho bà ấy đi cả. Vì thế, nên khi có đứa con trai đầu lòng, ông quyết đặt cho con một cái tên để đối lập với cái chữ Cáy mà ông phải mang suốt đời, âu cũng là mong cho nó phải hùng dũng, đừng giống bố nhát như cáy.
Ấy thế mà đùng một cái, lại có một cái lệnh ở trên tỉnh gì đó về bắt ông Cáy đi tù với lý do là liên quan tới chính trị, có chân trong đảng phái phản động hay làm chỉ điểm gì đó cho Tây (?)
Suốt đời hầu như ông Cáy cũng chẳng đi đến cái chợ đầu làng, chẳng biết mặt một tờ báo một quyển sách. Ông có đi học vỡ lòng từ cách đây trên 30 năm rồi, nhưng chẳng có tác dụng gì nên ông đã bỏ chẳng nhớ gì cả, chỉ còn viết được mỗi chữ “Cáy” tên mình mà thôi! Hồi Tây chiếm, nó chê ông đần chẳng bắt đi lính, còn du kích thì chê ông nhát nên cũng chẳng bắt mối giao việc gì cả. Ấy vậy mà bây giờ lại có cái lệnh bắt ông vì tội “chính trị”.
Cả làng cả xóm biết chắc là ông bị tai vạ, nhưng không hiểu vì sao? Mọi người đều thương ông nhưng không ai dám đứng ra bảo lãnh cho ông – Mà thời đó làm gì có cái quyền bảo lãnh. Vấn đề chính trị cơ mà – Sợ mà đụng vào, có tù mọt gông (!). Rồi chẳng có lý do, chẳng có giải thích gì cả, ông Cáy bị bắt đưa lên huyện, rồi lên tỉnh, chẳng có tòa án, chẳng có xét xử gì cả. Ông bị giam, bị đánh đập tàn nhẫn, để bắt ông khai, nhưng ông biết gì mà khai, ngoài con trâu với cái cày và lòng ngay thẳng của mình. Hai năm sau, ông Cáy, con trâu mộng, người thợ cày khỏe nhất xóm Trần đó bị chết rũ trong tù vào cái tuổi 45 không một lời buộc tội. Mãi sau này, người ta mới được nghe tin đồn rằng, có một thằng bé bị tình nghi là Việt gian, chỉ điểm cho máy bay Pháp, bị bắt, bị đánh đập nên nó khai bừa ra để đỡ đòn. Nó không dám khai những tên người mà nó biết, nó chỉ khai những tên vớ vẩn mà nó cho là không thể có như ông kèo, ông cột, ông cua, ông cáy… mà thôi. Ai dè, người ta truy mãi, xóm này, làng khác người có cái tên đó. Khốn nạn cho ông Cáy – người hay mò mẫm, sà sẩm đánh dậm tát vét nửa đêm gà gáy ngoài đồng; và thế là không trệu đi đâu được nữa, kẻ có những “hành động ngụy trang” khả nghi ấy, ông đã bị bắt!
Từ hôm ấy, gia đình nhà Hùng bị làng xóm cô lập, không ai dám liên quan đến, thậm chí anh chị em trong họ hàng cô bác cũng tìm cách tránh mặt hoặc xa lánh. Bà mẹ Hùng sống trong đau buồn tủi nhục. Từ đó Hùng sống trong cảnh như bị cách ly, bọn trẻ khinh bỉ “con thằng tù” “con thằng phản động”… Sự nhịn nhục và căm ghét cuộc đời, làm cho Hùng một thằng con trai hay nghịch ngợm trở nên bướng bỉnh, bất cần đời, coi thường mọi người và thù ghét cả xóm làng. Cậu ta đang học cấp hai bị đuổi học vì “con thằng tù”. Chỉ còn cách yên phận làm ruộng, chờ đợi, hi vọng bố được minh oan tha về, nhưng rồi ông Cáy chết trong tù, bà Cáy một năm sau ốm đau, cũng chết theo. Còn lại một mình sống côi cút, nay đi ở nhà này, mai làm thuê cho nhà khác. Cuộc sống tạm bợ, bữa no, bữa đói, ngày hôm nay không biết ngày mai, luôn luôn gây gổ, trêu trọc mọi người với những trò tinh nghịch quỷ quái của mình.
Ấy là cái chuyện một hôm đi chăn trâu, thấy một đám các bà các chị đi làm thủy lợi về kéo nhau nhảy xuống sông tắm truồng, mà quần áo ngoài thì để cả trên bờ. Bọn trẻ con tinh nghịch liền đố nhau xem đứa nào dám đến lấy hết quần áo của cánh đàn bà con gái đem giấu đi. Không đứa nào dám, vì thằng nào cũng có người nhà trong đám đó. Chỉ có thằng Hùng liều!
- Ê Hùng liều, nếu mày giam được đám đàn bà kia dưới sông, bọn chúng tao xin tôn mày làm đại ca.
- Thế thì từ nay chúng mày là quân của tao, hiểu chưa, bọn tiểu yêu!
Và thế là thằng Hùng liều đi khom lần dưới ruộng ngô, rồi bò, rồi trườn qua bờ đê, vơ hết số quần áo đó buộc vào một ôm và treo lên tận cây gạo trước cửa đình. Khi bọn đàn bà con gái phát hiện ra mất quần áo, đành cứ phải ngâm mình dưới sông và réo gọi ba đời bốn họ nhà thằng Hùng ra mà chửi.
Nhưng thằng Hùng đã đánh trâu về nhà từ lâu. Đến tối bọn đàn bà mới dám mặc quần áo lót lên bờ và chạy ù té về nhà.
Ấy là cái chuyện cô gái con ông chủ tịch xã, có bộ ngực đồ sộ nhưng lại rất chanh chua, làm bọn con trai làng tức tối muốn trả thù. Một hôm cô gái đi chợ về, đầu đội một thùng gạo nếp và một tay xách một làn cá chép còn sống, rẫy đành đạch. Bọn con trai lớn thấy cô gái đi từ xa, liền kích Hùng:
-       Ê liều, đố mày dám bóp vú con Ngã kia kìa.
-       Mất gì?
-       Một bao Sông Cầu!
-       Xong ngay!
Thế là Hùng liều chờ cho cô Ngã – cô con gái ông Chủ tịch đó – đang phải sắn quần qua đoạn đường lội đến trên đầu gối, một tay giữ thúng gạo trên đầu, một tay xách làn cá chép, Hùng ta liền lội đối diện lại, đến sát cô ta, và dơ cả hai bàn tay lên sờ vào cái đám đồ sộ ở ngực cô ấy. Cô gái mặt đỏ nhừ, cứ phải uốn éo người để tránh, và chửi bới độc địa, nhưng không được, cái thằng nhóc con liều nó cứ sờ mãi. Bọn thanh niên ở gần đó reo hò ầm lên, làm cô gái ngượng không biết chui vào đâu được nữa, đành phải van lạy Hùng:
- Thôi, thôi, tao lạy mày, Hùng!... Ừ thì chị xin em…! Vâng, thì em xin anh vậy, thôi thôi đi, ngã bây giờ…
Thế Hùng mới chịu tha.
Đến năm 16 tuổi, ơn trời, cậu ta to xác và thô kệch, lộc ngộc như con trai 20 tuổi. Và thế là mặc cho cái lý lịch không được “trong sạch rõ ràng”, mấy ông cán bộ địa phương cũng tìm cách tống cho cậu ta đi bộ đội bằng được, nói là để “cho bộ đội nó rèn cho”, mà cũng là tống nó đi cho khuất mắt cái “của nợ” ở địa phương này, để “giữ gìn trật tự trị an” cho xóm làng yên ổn vì cậu ta hay “đâm bị thóc chọc bị gạo” nhất là với mấy ông cán bộ, có cái gì ăn tư ăn túi một chút là cũng bị cậu ta chọc cho ngay, nên chỉ còn cách là tống đi bộ đội cho rảnh.
Một hôm chính ông Chủ tịch xã gọi Hùng đến, giọng ngọt nhạt và thân mật, chưa bao giờ Hùng được nghe như thế:
-             Này, cháu có muốn vào trường đại học không?
-             Hả, ông định xỉ nhục cháu đấy à? – Hùng quát tướng lên – Cấp hai còn bị đuổi mà còn vào đại học a?
-         Không, thật đấy mà, thế cháu có nghe những ông tướng tá người ta thường nói “Quân đội là trường đại học của tôi” đấy à? Ý định chú muốn tạo điều kiện cho cháu được đi bộ đội: cháu có đồng ý không?
-         Ồ thế thì hay quá ! Chú cho cháu đi ngay lần này nhé.
-         Được rồi để chú nói với xã đội cho.
Và thế là Hùng liền được tống đi bộ đội cho khuất mắt làng Trần này, rồi muốn ra sao thì ra.
*     *    *
**
Hùng Liều vào bộ đội từ những ngày đầu chồng Mỹ, anh ta giấu biệt tăm cái lai lịch “con thằng tù” bởi vì mấy ông cán bộ xã cũng muốn tống anh ta đi, mà trong lí lịch lại ghi rõ là “con thằng tù” thì không ổn, chẳng ai người ta lấy, hơn nữa về hạnh kiểm lại nhận xét là ngổ ngáo gây gỗ hoặc khuyết này tật nọ thì chắc chắn chẳng đơn vị nào muốn rước lấy cái của nợ này. Nên buộc lòng mấy ông xã đành phải ghi là bố bị ốm chết và phê vào lí lịch là tốt, rất tốt..vv… Với cái “thành phần cơ bản” ấy, anh được lựa chọn vào binh chủng đặc công. Thật là cầu được ước thấy, cả đời anh chỉ mơ cái binh chủng đặc biệt này. Nhiều bè bạn cùng làng xóm ghen tị.
Trải qua những tháng ngày huấn luyện, Hùng liều vui mừng phấn khởi như mở cờ trong bụng, anh lao vào học tập. Nhờ sức khoẻ tốt và tính cách liều lĩnh vốn có nên anh đã làm hài lòng các thủ trưởng đơn vị các cấp, môn học thực hành nào cũng đạt loại giỏi và khá, duy chỉ có môn chính trị và điều lệnh là chỉ đạt yêu cầu.
Rồi những tháng ngày hành quân, những trận chiến đấu gian khổ ác liệt trong chiến trường, Hùng đã luôn luôn lập được chiến công suất sắc. Anh đã được thưởng hai huân chương chiến công.
Đi đôi với khen thưởng là đề bạt, anh được cất nhắc làm cán bộ tiểu đội phó, tiểu đội trưởng rồi trung đội trưởng, đã có thể chỉ huy một mũi độc lập trong chiến đấu. Và anh được vinh dự đứng trong hàng ngũ những người đảng viên tiên phong.
Nhưng rồi sự việc không may bỗng xảy ra. Trong một cuộc chiến đấu khá gay go ác liệt, anh bị thương, vết thương vào sọ não. Người ta đưa anh về trạm cấp cứu và về bệnh viện tuyến sau.
Nhờ sự chăm sóc tận tình của các y bác sĩ các bệnh viện, anh được cứu sống và vết thương sọ não chỉ còn ảnh hưởng nhẹ. Sau sáu tháng điều trị và an dưỡng anh đã bình phục.
Trên đường về đơn vị anh phấn khởi bao nhiêu thì đến nơi, vụt thất vọng bấy nhiêu. Trái với niềm vui tay bắt mặt mừng là sự tẻ nhạt của cấp trên và nỗi buồn rầu thương cảm của bè bạn chí thân. Người ta lập tức trả anh về hậu cứ trước sự tiếc rẻ của đồng đội. Chả là có một kẻ xấu bụng nào đó ở cái làng quê tủi nhục của anh, cùng trong đợt nhập ngũ với anh, ghen tuông với những bước đường may rủi và chiến công của anh, đã viết thư tố cáo. Đơn vị thận trọng cho người về tận quê hương thẩm tra, lại gặp ngay chính những người trước đây đã nhận xét tốt về anh bao nhiêu thì nay lại nhận xét xấu về anh bấy nhiêu. Họ không ngờ, cái ý định đuổi anh đi khỏi làng xóm lại làm cái cầu danh vọng cho anh. Cái tính đố kị của họ không thể chịu được khi nghe tin anh lập hết chiến công này đến chiến công khác, luôn được thưởng huân chương này huân chương kia. Thay vì lòng tự hào cho quê hương, họ lại thù địch với anh, và cái từ “con thằng tù” lại được dùng làm vũ khí để chống lại anh mặc dầu họ đã biết mười mươi bố anh bị oan uổng và bản thân anh bị xã hội bạc đãi, coi khinh.
Người cán bộ thẩm tra là một người công tâm và trung thực, biết rõ ngọn ngành như vậy, nhưng một thủ trưởng chính trị của đơn vị rất nguyên tắc và máy móc “nguyên tắc là nguyên tắc”, “Điều lệ là điều lệ”; thà để mất một người tốt còn hơn là để cá nhân mình, đơn vị mình vi phạm nguyên tắc. Ông đích thân gặp gỡ “Hùng liều” đả thông rõ, đó là nguyên tắc của Đảng, ông động viên, an ủi Hùng hãy kiên định vững vàng, tiếp tục chiến đấu tốt, lập công tốt, chờ đợi một thời cơ nào đó, mọi việc được rõ ràng, anh sẽ được kết nạp lại. Ông chỉ động viên suông như vây, chứ còn đến bao giờ, và ai làm lại cái thời cơ này thì ông cũng chịu.
Thế là “Hùng liều” được đưa ra khỏi Đảng và xét tầm quan trọng của nghề nghiệp, không thể để anh hoạt động ở binh chủng đặc công được nữa. Đề phòng anh bất mãn, bị địch lợi dụng hoặc phản bội, trên đã điều anh sang binh chủng công binh, chuyển môn làm đường trong chiến trường. Từ một trung đội trưởng đặc công, Hùng liều được chuyển sang trung đội trưởng công binh cầu đường là như thế. Đó cũng là năm thứ sáu của đời lính trong chiến trường của Hùng liều.
Sau một thời gian làm cầu đường, Hùng liều lại được ra mặt trận trong một đơn vị chiến đấu và lần này Hùng liều lại lao vào một cuộc chiến đấu mới, cũng không kém phần gian khổ và phức tạp, tuy nhiên “tiếng tăm” không được như ở đơn vị đặc công. Anh em trong đơn vị chỉ biết rằng: anh cán bộ trung đội trẻ tuổi và nhiều chiến công này do bị thương nên không chiến đấu ở đặc công được mà chuyển về đơn vị công binh mà thôi. Ngoài việc chỉ huy, anh cũng lao vào làm như một chiến sĩ thực thụ, cuốc đất, phá đá, đẩy xe, chống lầy, đóng cọc, đẵn gỗ bắc cầu, san lấp hố bom v.v…Việc gì anh cũng lao vào làm, nên chẳng mấy chốc những kĩ thuật cơ bản của người lính công binh anh đã nắm được và làm thành thạo. Anh chỉ làm và ngày càng ít nói đi, trước đây vốn là tay tinh nghịch mà nay trở nên lầm lì. Cái đó lại được lòng anh em và cán bộ ở đây, người ta ưa người làm mạnh, húc mạnh, hơn là kẻ hay nói. Cái nghề “thổ mộc” của người lính công binh ăn no vác nặng là như thế.
Anh còn là người xông xáo và dũng cảm trong việc phá gỡ bom đạn của địch trên tuyến đường này. Chẳng bao lâu cái anh chàng Hùng liều của đơn vị công binh lại nổi tiếng ở đây. Những ngày đầu mùa khô năm ấy, bọn Mỹ tăng cường đánh phá tuyến đường, mật độ bom đạn ngày càng tăng, thủ đoạn ngày càng xảo quyệt, tình hình đường sá ngày càng khó khăn, cầu đường bị tắc, xe bị ùn, việc  giao thông vận tải quân sự cho chiến trường trở nên gay go ác liệt. Các binh trạm, đường dây phải tổ chức thêm nhiều tổ đội phá gỡ bom đạn của địch. Và Hùng liều lại được chuyển sang phụ trách một đội phá bom tiểu đoàn.
Từ khi sang đội phá bom, Hùng liều cảm thấy phấn khởi và thoải mái hơn. Bởi lẽ, cái việc phá bom nó phù hợp với tính cách của Hùng liều, chứ không như cái việc thổ mộc chỉ ăn no vác nặng, nó mệt lắm, và cũng chẳng có tiếng tăm gì, nghe nó ù lì quá. Hơn nữa sang đội phá bom, chỉ có hơn chục người toàn những tay “anh chị” của các đơn vị cả, họ thường làm việc độc lập phân tán, từng người, từng tổ, đỡ phải quản lí, mà cũng chẳng phải lên gân, gương mẫu hay kiểm tra đôn đốc nhắc nhở luôn mồm như ở phân đội cầu đường, quân số 30-40 người, có lúc được tăng cường đến 50-60 người.
Về đội phá bom, thực chất anh cũng làm một người chiến sĩ phá bom ở một hướng, một mũi như anh em, lại có phần nhiều hơn, nặng hơn. “Đội phá bom” của Hùng liều luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu, có ngày đội của anh phá hàng chục quả bom, kịp thời giải phóng cầu đường, bảo đảm an toàn cho xe pháo hành quân vào chiến dịch.
Ở đội phá bom, cái tính “liều” của Hùng, lại có dịp trỗi dậy như cái thời ở đặc công. Chính vì thế, mà các đối thủ của anh lại có cớ để hạ uy tín của anh. Chả là trước đây, tiểu đoàn đã có hai đội phá bom, theo yêu cầu chiến đấu, nên đội phá bom thứ ba của anh mới được tổ chức, đội ba đã nhanh chóng lập được nhiều thành tích phá bom vượt cả hai đội kia. Và anh chàng đội trưởng, thượng sĩ có biệt hiệu là Hùng Liều ấy lại nổi tiếng, không những về phá bom mà đặc biệt nổi tiếng về “tháo bom”.
Vào cuối tháng 12 năm ấy, cũng là thời điểm giữa chiến dịch mùa khô, bọn giặc điên cuồng phá hoại cầu đường, hòng ngăn chặn việc chi viện lớn của ta vào chiến trường. Chúng ném bom bừa bãi vào các xóm làng xung quanh, những trọng điểm đầu mút giao thông và lân cận tuyến đường.
Trên khu vực cầu đường của tiểu đoàn công binh 195 phụ trách bị máy bay giặc Mỹ đánh liên tục mấy ngày liền, nhất là bến cầu sông Cô Pơ Rông, chúng ném bom bắn phá suốt ngày đêm, chúng thả bom nổ ngay, chúng lại thả bom nổ chậm xen kẽ. Loại bom từ trường Modell 2, lại cả Modell 3 mới nhất nữa.
Tất cả đội phá bom của tiểu đoàn được tung ra hết. Khi nhận được nhiệm vụ, các đội trưởng đội một và đội trưởng đội hai đều tìm cách né tránh địa điểm bến sông Cơ Pơ Rông, là nơi nghe tin có loại bom từ trường mới và cũng là nơi đòi hỏi giải phóng bến sông cấp bách hơn để nhường cho đội ba.
- Đấy, đội ba giỏi hơn, anh em xin nhường bến Cô Pơ Rông đấy. Xin học tập đội bạn! Chúc bạn thành công! – Trung uý đội trưởng đội một vỗ vào vai Hùng liều.
-Nếu xong sớm thì xin nhớ đến chi viện cho đội hai xóm Hạ nhé. Thiếu uý đội trưởng đội hai, nói với Hùng, nhưng lại nháy mắt với đội trưởng đội một và mỉm cười một cách mỉa mai, thách thức.
Ở chỗ tiểu đoàn trưởng ra, đội trưởng đội một nói với đội trưởng đội hai:
- Cứ để xem “Người hùng” của chúng ta sẽ xoay sở ra sao với cái vệt bom Modell 3 ấy! Tớ cho rằng hắn mà xong được thì cũng còn ốm xác. Không khéo lại toi vài mạng cho mà xem.
- Kể thì cũng gay đấy – Đội trưởng đội hai nói – Modell 3 chưa hiểu nó thế nào?
- Cứ để cậu ấy thí điểm xem sao, ta sẽ rút kinh nghiệm sau.
- Thế anh định xử trí vệt bom bên xóm Thượng của anh thế nào? Liệu có tháo gỡ được quả nào không?
- Bên mình ấy à? Nếu quyết tâm cũng có thể tháo được một, hai quả. Nhưng cái loại Modell 2 ấy, ta thiếu gì đầu nổ mà tháo làm gì nữa. Mình cứ cho phá tuốt tuột cho nhanh gọn và an toàn. Lệnh của tiểu đoàn trưởng là bằng bất cứ giá nào cũng phải giải phóng mặt đường và khu dân cư cho nhanh kia mà!
- Anh quên là: Mỗi đầu nổ nguyên vẹn sẽ được thưởng một đồng hồ Pôn- Jốt à? Và còn tính mạng và tài sản của nhân dân nữa chứ. Nếu cứ phá cả thì e rằng nhà cửa xóm làng của đồng bào cũng bị phá hết mất.
- Ôi dào, chiến tranh cơ mà, làm sao tránh khỏi được thiệt hại hi sinh. Trăm sự đều đổ vào đầu bọn giặc Mỹ tất cả. Lỗi đó đâu phải của chúng mình. Còn Pôn- Jốt à, chỉ dành cho người tháo chứ đâu phải cho đội trưởng – Đội trưởng đội một làm động tác nhún vai, chìa hai tay ra như phân bua, miệng nói dẻo quẹo mặt tỉnh bơ – Mà thử hỏi cậu, nếu bọn Mỹ nó cứ ném bom nổ ngay thì cái làng này, cái xóm này có còn nguyên vẹn không, liệu cậu có còn thời gian mà suy xét nên để tháo nữa không? hả, hả?
– Kể ra cứ phá hết thì cũng áy náy và phân vân lắm. Đội trưởng đội hai nói – Nhưng có lẽ tôi cũng bắt chước anh. Cứ cho phá đồng loạt hết, tội ác đã có bọn Mỹ chịu. Vả lại, nếu cứ chần chừ tham mấy cái đầu nổ và tiếc mấy cái nhà rách của dân, không khéo chúng ta bị chậm, thua đội thằng Hùng keo này nữa thì ê mặt, chi bằng… đành vậy…
- Thôi thống nhất, cứ thế nhé! Họ bắt tay nhau hứa hẹn một cách hiếu thắng, rồi mỗi người nhanh chóng về vị trí chiến đấu của họ.
Riêng Hùng liều không nói không rằng gì cả. Khi nhận nhiệm vụ, anh thường khiêm tốn, nhường cho các đội bạn nhận trước, còn lại đâu anh sẽ làm, không nề hà hơn thiệt, suy bì tị nạnh. Nhưng trên đường về vị trí, anh suy nghĩ rất lung, lời đồng chí tiểu đoàn trưởng còn dặn riêng với Hùng.
- “Đây là loại bom từ trường mới. Cố gắng nghiên cứu tháo lấy một đầu nổ để nghiên cứu, trường hợp không thuận tiện thì cứ cho phá hết, lấy nhiệm vụ đảm bảo giao thông gấp đêm nay là chủ yếu, số lượng xe bị ùn tắc hàng ngàn chiếc, nếu đêm nay không giải phóng được thì ngày mai, rất nguy hiểm, chúng sẽ phá hỏng hết bao nhiêu tài sản, xe cộ súng đạn, chiến trường đang cần”…
*          *            *
 *          *
Trận chiến đấu phá bom ngày hôm đó trên khu vực  tiểu đoàn 195 thật là gay go quyết liệt. Ở ba hướng do ba đội phá bom phụ trách đều gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Ở xóm Thượng do đội một của trung uý Bê phụ trách phá một vệt bom nổ chậm từ trường Modell 2 gồm 12 quả, có 6 quả rơi ngoài tuyến đường, 2 quả rơi ngoài cánh đồng lúa đang chín và 4 quả rơi vào chính giữa xóm Thượng. Ở xóm Hạ do đội hai của thiếu uý Ca phụ trách, phá một vệt bom nổ chậm từ trường Modell 1 gồm 12 quả đã bị kích nổ 2, làm chết 3 người dân và một con trâu, còn lại 10 có 2  quả ở dưới sông, 4 quả ngoài ruộng, 1 quả trên đường và 3 quả ở trong làng. Còn ở bến Cô Pơ Rông do đội ba của thượng sĩ Hùng phụ trách phá một vệt bom nổ chậm từ trường Modell 3 gồm 12 quả có 4 quả ở khu vực bến phà, 4 quả trên đường và 4 quả trong làng.
Ngay từ 6 giờ sang ngày N các đội đã triển khai phá bom, yêu cầu đến 18h cùng ngày phải thông đường¸ thông bến và giải phóng dân cư, để bảo đảm cho chiến dịch vận tải rất khẩn trương.
Sở chỉ huy tiểu đoàn thường xuyên theo dõi từng giờ, từng phút của ba mũi tiến công bằng đường dây điện thoại. Riêng bến Cô Pơ Rông, thì xa hơn nên liên lạc bằng máy vô tuyến điện, bộ đàm, ngoài ra còn đài quan sát tiểu đoàn theo dõi bằng mắt và ống nhòm.
Đến 9 giờ, ở xóm Thượng, đội Một nổ quả bom đầu tiên: 9h30 ở xóm Hạ đội Hai nổ quả bom thứ hai. Sau đó đội Một và đội Hai thi nhau nổ bom dồn dập. Riêng ở trận địa đội Ba ở Cô Pơ Rông đến 12 giờ vẫn im lặng như tờ. Tình hình đó làm cho các thủ trưởng tiểu đoàn và nhiều người lo lắng.
Mười hai giờ trưa, tiểu đoàn trưởng quyết định cử  phái viên, trợ lí chính trị xuống đội Ba nắm tình hình rồi báo cáo ngay. Nhưng 12 giờ 30 có hai tốp máy bay Mỹ đến bắn phá vào đội hình của tiểu đoàn. Trợ lí chính trị vừa xuống đến khu vực bến Cô Pơ Rông thì bị máy bay đến bắn phá, anh vội chui ngày vào một căn hầm ở đó để trú ẩn. Anh vốn là học sinh trường sĩ quan chính trị mới ra trường, chưa qua chiến đấu, vừa được điều về tiểu đoàn Công binh, chưa biết một chút gì về nghề nghiệp công binh cả, nên nói đến cầu đường đều mù tịt, nói đến phá bom thì lại càng sợ, ngay cả việc đi lại trên bãi bom và tránh máy bay địch cũng chưa quen cứ mắt la mày lét, nhìn trước ngó sau. Ngồi trong hầm ẩn nấp giữa bến phà, anh ta vừa sợ chết lại vừa không biết làm sao để tìm được đội trưởng đội Ba nắm tình hình về để về báo cáo tiểu đoàn.
Vừa lúc đó máy bay lao xuống, rồi một quả bom nổ gần đó làm căn hầm tung lên, đất đá rơi lả tả, đầu óc anh trợ lý chính trị choáng váng, tai ù như không còn nghe gì nữa. Sau khi khói bom tan hết, anh vội nhìn ra quan sát, bỗng thấy bóng đội trưởng Hùng từ ngôi nhà gạch trước mặt lao ra, chạy về phía bến, rồi lại thấy một cô gái dân quân, tay vừa cầm súng, cũng từ ngôi nhà đó chạy theo Hùng, hình như họ đang giằng co hay cãi cọ nhau gì đó. Lúc máy bay vừa quay lại, đang bồ nhào xuống, thì thấy họ cùng nhảy xuống một căn hầm ngay trước mặt cách đó độ vài chục mét. Rồi bom lại nổ, anh trợ lý chính trị mắt hoa lên, không còn nhìn thấy gì nữa. Một thoáng nghi ngờ, mơ hồ nảy ra trong đầu anh trợ lí chính trị.
Bỗng một chiến sỹ nhảy bổ xuống hầm anh trợ lý đang trú ẩn, anh ta mừng quá, tùm chặt lấy cậu chiến sĩ hỏi rối rít:
- Tình hình thế nào? Tại sao chưa phá được bom? Đội trưởng Hùng đâu? Đang làm gì? Tại sao chưa phá bom? Sao không báo cáo về tiểu đoàn?
Máy bay địch đang vòng lượn lại khu vực bến, anh chiến sĩ liền kéo tay anh trợ lí chính trị vừa chạy vừa hô lớn:
-             Nhanh, ra khỏi khu vực này ngay, chúng nó quay lại, thả bom đấy!
Anh trợ lý cắm đầu chạy theo người chiến sĩ. Vừa chạy xuống hầm khác, chưa kịp thở, anh ta lại vội vàng quát hỏi cậu chiến sĩ, cứ như cậu ta là người chịu trách nhiệm ở đây.
- Tại sao chưa phá bom? Tại sao? Tại sao không báo tinh thần chiến đấu của các anh ở đây? Liệu có hoàn thành nổi nhiệm vụ không? Các anh sẽ bị kỷ luật…
- Nhưng cậu chiến sĩ không nghe thấy gì cả, tai cậu ta bị điếc đặc rồi, nên cũng chẳng trả lời cho anh trợ lý chính trị được. Anh trợ lý lại càng quát tháo to hơn cho đỡ run vì sợ.
Câu chiến sĩ làm một động tác chỉ tay lên tai, ra hiệu bị điếc rồi không nghe gì cả. Anh trợ lí liền hỏi:
- Có phải đội trưởng bỏ đi tán gái không? Đang ngồi với nhau ở hầm kia có phải không? Cậu chiến sĩ lắc đầu, rồi lại gật đầu tỏ ý không rõ gì cả. Nhưng anh trợ lí lại tưởng rằng cậu chiến sĩ thừa nhận ý kiến của mình.
- Những tốp máy bay lại quần đảo khu vực bến, anh trợ lý tiểu đoàn vội lần theo giao thông hào chạy lui về phía sau, bỏ mặc chiến sĩ đang ngơ ngác đứng đó. Khi chạy xa khu vực bến rồi, anh mới dám dừng lại. Khu vực bến mù mịt khói bom đạn. Anh hú vía, một ý nghĩ khác lại thoáng qua! “Chắc gì cậu Hùng và cô gái ở đó được an toàn”, một quả bom nổ đúng chỗ ấy rồi! Thật may cho mình!
Đáng lẽ ra anh trợ lý phải quay lại khu vực bến để nắm tình hình đội Ba rồi mới về báo cáo. Nhưng anh ta thần hồn nát thần tính không dám quay lại nữa mà chạy ngay một mạch về sở chỉ huy tiểu đoàn. Và báo cáo lại với đồng chí tiểu đoàn phó, đang trực chỉ huy “Anh ta đã nhìn thấy đồng chí đội trưởng đội Ba bỏ nhiệm vụ chỉ huy vào nhà dân tán gái, và chính anh ta đã bắt quả tang hai người đang nhảy xuống một căn hầm để hú hí với nhau… Có một chiến sĩ đội ba đã thừa nhận điều đó…” Anh ta không nói cái đoạn bị bom trúng hầm có thể hai người đã hi sinh.
Đồng chí tiểu đoàn phó là một cán bộ già, nhưng không phải là con người hồ đồ, chấp nhặt hoặc định kiến, tính nết ông rất xuề xoà và vị tha. Giá như lúc bình thường thì cái chuyện anh trợ lí chính trị báo cáo về cậu Hùng ấy anh chỉ bỏ qua “Dào, bọn trẻ mà lại”. Có khi chính người báo cáo lại bị dèm pha “Chắc cậu lại ghen với nó chứ gì?” Nhưng vào lúc này, tình hình chiến đấu rất khẩn trương, mọi người đang lo cho nhiệm vụ tối nay, cái trọng điểm là chỗ đội Ba, từ sáng đến giờ không thấy làm ăn gì được, đầu óc ông đang căng thẳng như sợi dây đàn, lại nghe được trợ lí chính trị báo cáo như vậy thì khác gì lửa đang cháy đổ thêm dầu, thế là ông bật ra, hét toáng lên.
- Hả, hả, sao lại như thế hả? Kỉ luật, kỉ luật, làm ngay quyết định kỉ luật cho tôi.
- Đến nỗi anh trợ lí chính trị cũng không ngờ thủ trưởng lại nóng nẩy như vậy, anh ta tìm cách lỉnh ngay ra chỗ khác, để mặc cho tiểu đoàn phó quát tháo một mình.
Lúc này đã là 16 giờ, tình hình phá bom của tiểu đoàn vẫn còn căng thẳng chưa có hi vọng gì.
Tiểu đoàn phó đang lúng túng chưa biết sử trí ra sao, thì trợ lý thông tin báo cáo đã liên lạc được với đội 3 bằng bộ đàm nhưng đội trưởng còn ở xa máy, chưa gặp trực tiếp được. Trong nỗi quá lo sợ cho nhiệm vụ nặng nề đêm nay, tiểu đoàn phó bị xúc động run lên, ông mất bình tĩnh, và trong cơn bực tức chưa nguôi ông liền truyền đạt, điện cho thượng sĩ Hùng đội trưởng đội 3 nội dung như sau:
“Tôi cảnh cáo anh vì đã bỏ vị trí chỉ huy và không nghiêm chỉnh báo cáo kịp thời về tiểu đoàn. Nếu 18 giờ chiều nay không hoàn thành nhiệm vụ thì anh sẽ phải ra toà án binh – ký tên – Đại uý tiểu đoàn phó”.
Ông cho rằng đó là một biện pháp tốt nhất để thúc đẩy đội trưởng Hùng. Không ngờ cái điện truyền miệng nóng nảy đó của ông, lại được đồng chí trực ban ghi vào sổ “nhật kí chiến đấu” của tiểu đoàn theo đúng điều lệnh; và đã trở thành văn bản sau này để trị tội đội trưởng Hùng và phản lại chính ông.
*        *        *
*       *
 Tối hôm ấy, thằng “Tùng nhóc” cố kèo néo Hùng sang qua sông, đến xóm Cô Pơ Tông, nơi rẽ vào nhà cụ Hoà. Trong nhà còn ánh đèn mờ mờ, Tùng gọi toáng lên!
- Chị Chinh ơi! Chị Chinh ơi ! Anh Hùng đến chơi đây nè! Hắn bắt chước cái giọng Nam Bộ - Mau ra mà đón đi nè!
Tiếng Chinh trong nhà thưa, rồi ngọn đèn được vặn to lên, cánh cửa mở, và Chinh ra đón Hùng và Tùng. Tùng nói nhỏ với Chinh một điều gì đó rồi rút chạy:
-             Anh ở đây chơi nhé, em đi đằng này một lát, chờ em rồi hãy về nhé!
Hùng không kịp gọi lại, nó đã lao vút đi, khuất vào trong đêm tối rồi. Họ chưa kịp nói gì với nhau, thì ở ngoài đường đã có tiếng thét:
-         Nhà ai để đèn sáng thế kia? Không sợ máy bay hả? Tắt đèn đi.
Chinh vội khêu nhỏ đèn xuống và đưa vào một góc nhà che cho tối. Họ ngồi yên, chưa ai nói một điều gì. Ban ngày ban mặt, khi ở trận địa, họ nói với nhau rất tự nhiên, giữa đội trưởng phá bom và tiểu đội trưởng dân quân, họ quát tháo nhau công khai và giận dỗi nhau. Vậy mà bây giờ chỉ có mặt hai người với nhau….
  -    Bố Chinh không về nhà à? – Hùng liều lên tiếng trước.
-         Không, bố em lại vào lán sơ tán rồi – Chinh trả lời. Rồi cô vào trạn bưng một đĩa sắn đã luộc đem ra.
-         Mời anh Hùng ăn sắn đi, sắn nhà đấy, em vừa mới luộc xong. Chú Tùng bảo anh thích ăn sắn lắm phải không?
-         Con nhà nghèo thì ai mà chả thích ăn sắn? Nói chứ quê anh làm gì có sắn mà ăn, đi bộ đội vào chiến trường ăn nhiều nó quen thôi – Rồi Hùng cũng lấy ra một chai bia trong chiếc túi sách mà Tùng nhóc để lại.
-         Để em đi lấy cốc và tìm con dao mở bia; bố em có con dao sáu lưỡi mà! – Chinh nói rồi đứng dậy cầm đèn vào trong buồng, nhưng cô chẳng tìm thấy cốc mà cũng chẳng tìm thấy dao mở bia.
-         Thôi chả cần đâu Chinh à, đem hai cái bát ra đây. Lính mà em, còn mở bia thì cánh phá bom lại có kiểu riêng! Vừa nói anh vừa ghé một bên nút chai vào thành ghế, đập mạnh một phát, nắp bia vụt bắn lên trời và từ cổ chai, bia bùng lên toàn bọt, tràn cả vào tay Hùng.
-         Chà bia lắm ga thế? Hùng rót bia vào hai bát con.
-         Nào chúc mừng trận phá gỡ bom của chúng ta đại thắng! Chúc mừng em!
-         Chúc mừng anh tháo được nhiều đầu nổ nữa. Nhưng em sợ lắm anh Hùng ạ.
-         Sợ gì?
-         Sợ anh … chết. Như anh Hoà ấy. Bố em cũng lo cho anh.
-         Chỉ được cái lo vớ vẩn.
Bỗng có tiếng kẻng báo động. Chinh kéo Hùng ra phía hầm ẩn nấp phía sau nhà. Hùng cầm theo một chai bia nữa, còn Chinh bưng theo đĩa sắn luộc. Họ ngồi trên nọc hầm uống bia, ăn sắn luộc và chờ nghe tiếng máy bay. Hùng lại rót bia cho Chinh.
  -   Thôi em chẳng uống nữa đâu. Sợ say lắm!
-         Bia chứ có phải rượu đâu mà say. Lính phá bom mà em, đôi lúc bọn anh cũng phải lấy bình tĩnh bằng bia đấy!
Kẻng báo yên, ánh trăng bắt đầu nhô lên. Bầu trời bỗng sáng hẳn ra. Núi đồi, cây cỏ, sông nước đều lấp lánh dưới trăng. Chinh reo lên.
-         Trăng đẹp quá! Ta ra bờ sông chơi tí anh đi!
-         Bằng lòng. Ừ đi!
Làng xóm vắng ngắt, phía dưới lòng sông chưa có ánh trăng, còn tối đen lặng lẽ. Ở phía hạ lưu cách đó một đoạn không xa là bến cầu nổi sóng, những ánh đèn xe phòng thủ đang nối đuôi nhau ì ầm qua cầu như sao sa, một sức sống mãnh liệt của chiến tranh. Còn ở đây, gần bến phà phụ này, cuộc sống như yên ắng. Họ đi qua bến phà, rồi lại lên bờ đê. Cảnh vật hư hư thực thực, hình như cuộc sống đã ngưng lại, như chỉ còn có họ là hai sinh vật duy nhất trên đời. Họ đi dọc những ngôi nhà còn nguyên vẹn, nhưng khi ghé mặt qua cửa sổ để nhìn vào thì chỉ thấy ánh trăng phản chiếu trên những miếng cót hay giấy dầu che kín phía sau. Hình như cả xóm làng đang trong cảnh tang tóc, giống như một nhà xác dài vô tận, phó mặc cho màu đen và bóng tối với những căn nhà đóng kín mít như những chiếc quan tài.
  -    Sao tối nay có vẻ chết chóc hơn mọi ngày. Dân làng đi đâu cả?
-         Có lẽ họ đi sơ tán hết cả rồi. Sau mỗi đợt ném bom họ lại đi, độ vài ngày yên yên người ta mới lại về. Để rồi chờ có một đợt bom mới, họ lại kéo nhau đi.
Cứ như thành một thói quen. Cảnh giác rồi lại lơ là chủ quan, rồi lại cảnh giác. Đến khi cảnh giác lại thì đã tan nát hết rồi còn gì.
Hai người đi vào một xóm gần bến, nhà cửa bị phá trụi. Trên trời, những đám mây xơ xác ra từng mảnh nhỏ lững thững trôi, kéo theo những bóng lờ mờ dưới mặt đất, chim đêm kéo đến đầy các căn nhà hoang, chúng bay cuống cuồng để tránh ánh trăng vằng vặc. Sau cùng họ nghe tiếng tách chén đụng vào nhau.
- A, dù sao cũng còn có người đang ở nhà. Cuộc sống vẫn còn tồn tại, tuy chỉ chút ít.
- Chắc là họ uống rượu. Hôm nay có mấy con trâu bị bom chết, hợp tác xã chia cho xã viên mỗi nhà vài cân. Cứ mỗi lần sau một trận bom là có tang tóc, người ta chôn cất người chết xong, lại về nhà đánh chén, chẳng có trận bom nào mà không có trâu bò chết, lợn gà chết.
Bầu trời êm ả, họ nghe tiếng một chiếc xe quệt đi tới, rồi họ thấy một con trâu kéo đang lồng lên. Hoảng hốt vì bóng tối rung rinh con vật chạy hỗn độn, mắt mũi chừng chừng, mũi hếch lên. Bất thình lình, người lái xe giật mạnh dây thừng xẹo. Con trâu nhảy lồng lên như một con quái vật trong ánh sáng huyền ảo. Hai người phải trèo qua một đống đất trên đê để tránh con trâu lồng. Chinh như không muốn tránh, lúc con trâu đi lướt qua người cô.  
- Tưởng em nhảy lên lưng trâu mà đi?
- Nếu có thể đi được thì cũng đi rồi. Nhưng biết đi đâu? Chỗ nào cũng có chết chóc, chỗ nào cũng có tang tóc! Chỗ nào cũng có bom đạn!
- Và cuộc đời cũng thế! Chẳng có thể nào trốn tránh số phận được em ạ.
- Sao anh cứ buồn buồn thế nào ấy. Hay đi với em, anh chán à?
- Sao lại chán, anh muốn đi với em như thế này. Nhưng liệu rồi cuộc đời có để cho chúng ta đi với nhau được mãi không?
- Thôi, ngồi đây một lúc đi anh Hùng, em chẳng muốn đi nữa đâu, mỏi chân rồi.
Chinh ngồi xuống bãi cỏ mép bờ đê. Hùng cũng ngồi xuống bên cạnh. Họ ngồi trong một bóng cây gạo, cả tán lá cây che phủ họ. Họ ngồi đó có thể nhìn thấy cả xóm làng dưới chân họ. Không một tia sáng anh đèn pha. Chỉ có dòng sông lấp lánh dưới ánh trăng.
Chinh cứ muốn nói một điều gì đó mà không sao nói được.
… Trái tim cô đang thổn thức, đầu óc cô đang nóng bừng bừng. Giá như ban ngày Hùng có thể nhìn thấy khuôn mặt cô đỏ rực, nhưng trong bóng đêm, chỉ thấy ánh mắt của cô cứ long lanh nhìn anh.
Bỗng nhiên Chinh vươn vai như lấy một cái cớ cho đỡ mệt mỏi, và nằm dài ra trên bãi cỏ. Cô cầm lấy tay Hùng kéo về phía mình.
-         Ôi, sao tay anh lạnh thế?
-         Anh cũng chẳng biết nữa.
-         Để em ủ tay cho kẻo lạnh đấy. Cô kéo tay Hùng đặt lên ngực mình, nơi trái tim cô đang đập hồi hộp. Hùng cúi xuống nhìn vào mắt cô. Bốn mắt nhìn nhau trong ánh đêm. Hùng nhẹ nhàng đặt một cái hôn lên môi Chinh. Và Chinh ghì chặt lấy Hùng. Anh những tưởng mình có thể nuốt chửng tấm thân nóng hổi rạo rực lửa này. Nhưng bỗng một sức bật dồn nén đầu óc của Hùng, anh nghiến răng cắn vào cái núm ngực cô một cái rất đau.
-         Cảm ơn em, cảm ơn em. Anh là kẻ đã có nhiều tội lỗi lắm rồi, anh không thể để em khổ nữa. Anh sợ lắm! Thôi về đi!
-         Hùng nhớ lại cái điện cảnh cáo của tiểu đoàn phó mới chiều qua. Anh nuốt nước bọt, vừa thương vừa tiếc, đành phải quay đi.
-         Cô gái thất vọng đứng lên. Kéo lại sống áo cho ngay ngắn rồi bước theo anh. Cô nguýt một cái rõ dài và mỉa mai:
-         Thế mà cũng gọi là Hùng liều, có mà Hùng nhát thì có!
*          *         *
*        *
Cú điện cảnh cáo của tiểu đoàn phó chưa kịp đến tai người nhận là đội trưởng Hùng, thì nó đã không cánh mà bay đến tai đội trưởng Bê.
Sau  khi được tin về bức điện đó, Bê liền gọi điện thoại thông báo cho Ca ngay. Thiếu uý Ca nghe thấy vậy, thì thực sự bùi ngùi, ái ngại thương cho thượng sĩ Hùng và lo cho nhiệm vụ chung toàn tiểu đoàn khó hoàn thành nhiệm vụ. Riêng trung uý Bê thì ngược lại, lại vui mừng phấn khởi ra mặt trước sự thất bại của đối phương.
- Thế là một không rồi nhé! Hãy theo dõi tiếp từ giờ đến tối, sẽ còn nhiều bất ngờ nữa!
Quả nhiên, những bất ngờ mà trung uý Bê nói đã đến. Vào hồi 17 giờ 5 phút, trung uý Bê đã báo cáo đội 1 đã hoàn thành nhiệm vụ thông đường, giải phóng dân cư xong. Đài quan sát tiểu đoàn cũng ghi nhận đã nghe và nhìn thấy 12 tiếng nổ ở phía xóm Thượng.
Sau này thiếu ý Ca mới biết thực chất việc hoàn thành nhiệm vụ của Trung uý Bê vào hồi 17 giờ 5 phút hôm ấy là không thực sự. Trung uý Bê không những cay cú với thượng sĩ Hùng, mà cũng không muốn để chiến công đầu tiên lại về đội 2 nữa. Khi nghe tin đội 2 sắp hoàn thành nhiệm vụ, đội 1 còn một quả bom dưới sông chưa phá được, vì chưa tìm thấy, nếu cứ bỏ qua mà báo cáo là xong thì e chỉ giấu được hút bom, vì ở dới nước không nhìn thấy, chứ không thể giấu được tiếng nổ. Thế là anh ta liền bịt mắt đài quan sát bằng một khối thuốc 5 ki lô gam cho nổ dưới nước… rồi báo cáo là đã hoàn thành toàn bộ, phá nổ được 12 quả, nhưng thực chất thì mới phá được 11 quả. Không những thế 4 quả bom ở trong làng, đáng lẽ đội 1 có thể đào bom tháo đầu nổ hoặc phá đầu nổ rồi vần bom ra chỗ khác để phá, vì là loại Modell 2 anh em đã thành thạo, nhưng Bê đã chạy đua với thời gian, sợ thua đội bạn nên anh đã cho phá tại chỗ cả 4 quả làm huỷ diệt gần như toàn bộ xóm Thượng, với trên 60 ngôi nhà không bị bay, bị đổ thì cũng bị rạn nứt hết.
Thiếu uý Ca còn ân hận mãi về trận phá bom ngày hôm đó, anh đã mù quáng nghe theo lời trung uý Bê, nên đã cho phá cả 3 quả bom trong làng Hạ gây nên thiệt hại cho dân một cách đáng tiếc.
Hồi 17 giờ 50 phút – đội 2 của thiếu uý Ca báo cáo về sở chỉ huy tiểu đoàn “đã hoàn thành nhiệm vụ” một bị  thương nhẹ.
Đúng 18 giờ Đại đội cầu phà báo cáo thông cầu ở bến Cô Phơ Rông cũng là lúc đội trưởng Hùng báo cáo đội 3 đã hoàn thành nhiệm vụ đúng giờ, bảo đảm thông đường thông bến, bảo vệ được toàn vẹn nhà cửa và tài sản của nhân dân xóm Cô Pơ Rông, tháo được một đầu nổ loại mới Modell 3 nguyên vẹn và bảo đảm an toàn cho người và phương tiện, chỉ có 2 chiến sĩ bị thương nhẹ.
Ngay đêm đó, tiểu đoàn trưởng đã xuống kiểm tra cụ thể từng nơi trên bãi bom của đội 3. Ông rất hài lòng, sau đó ông chia tay anh em đội 3 lên xe đi hộ tống một đoàn xe tăng vào mặt trận rồi được lệnh ở luôn trong đó. Tiểu đoàn phó thay ông làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 195. Cùng ngày hôm sau, chiếc đầu nổ Modell 3 do chính tay Hùng liều tháo đã được cấp tốc đưa về Bộ Tổng tham mưu, bằng một chiếc xe con mang cờ hiệu hoả tốc, sau đó lại được đưa lên một chuyến máy bay chuyên cơ đưa về Viện kỹ thuật của Bộ Quốc phòng tại một hậu cứ để các chuyên gia kịp thời nghiên cứu vũ khí địch để tìm cách đối phó.
Cái tin đội 3 hoàn thành nhiệm vụ đúng giờ, và đạt được cả 4 mục tiêu, nhất là Hùng liều lại trực tiếp tháo được một đầu nổ Modell 3, làm cho cả tiểu đoàn 195 vui mừng phấn khởi. Riêng trung uý Bê, đội trưởng đội 1 thì càng cay cú, anh cố tìm cách xuyên tạc làm lu mờ thành tích của đội 3 và tìm cách chống phá bằng những đòn ti tiện. Bê lôi kéo Ca, bị Ca từ chối. Bê phát hiện được điểm yếu của thượng uý Dát trợ lí chính trị trong chuyến làm phái viên xuống đội 3, chiều hôm đó, Bê liền doạ dẫm và lôi kéo Dát. Dát vào hùa với Bê để bảo vệ danh dự cho mình.
Và thế là cái tin Hùng liều với cô dân quân chỉ trong một đêm đã được tô vẽ phóng đại lên và rỉ tai truyền nhau khắp tiểu đoàn.
Để cho sự việc được chính xác hơn, Bê và Dát đã tung cả tin Hùng đã bị tiểu đoàn trưởng kỉ luật cảnh cáo tại trận, văn bản còn ghi ở sổ nhật kí chiến đấu của tiểu đoàn, trang, dòng, hồi, ngày, giờ, cụ thể hẳn hoi.
Việc khen thưởng trong trận chiến đấu đó không được bình xét công khai. Tiểu đoàn trưởng mới, tuy ân hận về cú điện cảnh cáo Hùng, nhưng sĩ diện không muốn công khai cải chính.
*        *        *
*       *
Thưa hội nghị!
Vâng, tôi xin khai trung thực và đầy đủ để hội nghị xét xử công minh.
Hôm ấy, ngày N tiểu đội dân quân xóm Cô Pơ Rông chúng tôi được lệnh của Ban chỉ huy xã đội, phối hợp với đội 3 tiểu đoàn 195 phá bom ở khu vực bến Cô Pơ Rông, dưới sự chỉ huy của đội trưởng 3. Từ lúc 6 giờ 30 phút sáng hôm đó chúng tôi đã có mặt đầy đủ. Đây là loại bom mới cho nên đồng chí đội trưởng rất thận trọng, anh và tôi đều đi quan sát lại từng quả một và đặt kế hoạch đào, và phá gỡ cụ thể rồi mới cho các chiến sĩ làm nhiệm vụ tiếp cận bom. Chúng tôi không chủ trương được quả nào phá quả ấy như các đội khác, vì loại bom mới, làm như thế, tư tưởng anh chị em dễ nôn nóng chạy đua với thời gian và thành tích, dễ sinh chủ quan thiếu thận trọng, làm ẩu.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ xong, đội trưởng Hùng yên cầu tất cả đều phải đào bới làm lộ hết bom ra, trong khi đào không được tập trung đông quá 2 người và không được dùng dụng cụ bằng sắt ở gần bom. Các xẻng cuốc bằng duyara, đội chúng tôi đã chuẩn bị đủ.
Theo kế hoạch, đến 16 giờ mới bắt đầu cho phá nổ, đến 17 giờ thì xong, còn dự phòng một giờ cuối cùng để xử trí tình huống.
Riêng ở khu vực bến có hai quả bom nằm ở dưới sông, không xác định được vị trí chính xác. Đội trưởng Hùng quyết định 3 phương án, kéo nam châm và thùng tôn, dùng máy phóng từ và khi cần dùng ca nô chạy tốc độ nhanh.
Đây là trọng điểm của toàn đội, chúng tôi làm hai dây vắt ngang sông và kéo dọc hai bên bờ sông, một dây kéo thung phuy và một dây kéo nam châm. Chúng tôi kiên trì làm đi làm lại nhiều lần nhưng đều không được. Đến 10 giờ, đội trưởng Hùng quyết định dùng máy phóng từ, từ trên bờ phóng xuống, nhưng cũng vẫn không được. 11 giờ 30 phút anh quyết định dùng ca nô. Đây cũng là một sáng kiến mới, tuy có nguy hiểm thật, nhưng không còn cách nào khác, đội trưởng Hùng trực tiếp ngôi trên ca nô chỉ huy, anh cho chạy với tộc đội thật nhanh qua vị trí quả bom. Quả nhiên chỉ sau hai vòng thì một quả nổ và tiếp sau năm vòng nữa thì quả thứ hai nổ. Quả này nổ to đến nỗi nhấc tung cả ca nô lên không rồi lại rơi xuống nước gần  sát đáy sông. Đội trưởng Hùng đứng không vững bị hất tung ra ngoài, nhưng may anh chỉ bị ướt, không việc gì, anh vội bơi vào bờ.
Hai qua bom nổ dưới sông làm chết nhiều cá. Nếu không vớt thì cá bị trôi, bị chìm mất, tiếc quá. Tôi có đề nghị anh cho anh chị em dừng lại một lát vớt cá, để cải thiện, anh đồng ý, và chính anh cũng lao xuống và vớt được nhiều cá nhất. Được đến trên một tạ cá, chúng tôi chỉ lấy một phần còn lại chia cho các bếp của bộ đội và dân quan trực chiến gần đó đến lấy. Riêng tôi có mang về cho gia đình hai con, anh chị em dân quân cũng mỗi người lấy một, hai con để chiều đem về nhà.
Trời hôm đó rất rét. Đội trưởng Hùng vừa bị ngã xuống sông ướt hết quần áo, lại vừa lội bắt cá, khi lên bờ anh cứ run lên cầm cập. Tôi liền kéo anh về nhà tôi ở ngay gần bến, đốt lửa cho anh sưởi và hơ quần áo cho anh. Về đến nhà, tôi tìm quần áo của của anh tôi là liệt sĩ còn lại bắt anh tạm thay, cởi quần áo của anh vắt khô nước rồi hơ lửa.
Chúng tôi vừa sưởi vừa bàn kế hoạch phá gỡ bom tiếp theo. Ngay ở đầu nhà tôi bị một quả bom ném trúng, rơi xuống giữa sân, luồn qua nền nhà chui qua một móng tường rồi cắm ở một góc vườn sát đầu nhà trên. Quả này do anh chị em tổ 2 đang tiếp tục đào bới. Anh Hùng quyết tâm tháo gỡ đầu nổ quả này, anh yêu cầu tổ 2 khẩn trương đào nhanh, và để đấy chờ anh đến chiều về sẽ nghiên cứu cách tháo.
Chính là vì ông bố tôi, nên anh càng quyết tâm tháo quả này. Chả là, ông cụ đang ở trong núi sơ tán, thấy bom rơi trúng nhà mình, cụ sợ không dám về. Nhưng hôm nay nghe tin có đơn vị về phá bom, nên cụ vội về mục đích để nhờ anh em bằng cách nào đó cứu lấy ngôi nhà.
Thưa hội nghị!
Tôi cũng xin khai thành thật là, chính tôi đã có cảm tình riêng với anh Hùng, lúc đầu tôi rất mến rất quý anh, coi anh như anh trai tôi, nhưng dần dần tôi cảm thấy thầm yêu anh. Nhất là cái hôm được phối hợp chiến đấu phá bom với anh thì tôi càng xác định là cuộc sống của tôi không thể thiếu được anh.
Trong việc tháo phá bom ở đầu nhà tôi, tôi rất băn khoăn và lưỡng lự trước hai tình cảm phức tạp. Nếu tán thành việc phá nổ bom tức là tôi đã quyết định phá chính ngôi nhà đã sinh ra tôi, phá cả công sức lao động cả một đời của bố mẹ tôi, và cũng là phá ngôi nhà mà sau này tôi được thừa hưởng. Ngược lại nếu tôi tán thành để tháo quả bom đó tức là tôi đồng ý để anh Hùng lao vào vòng nguy hiểm, vì chỉ có anh mới có khả năng nghiên cứu tháo, mà anh cũng quyết định không chịu nhường cho ai cái mối nguy hiểm đó. Mà đây là một loại bom mới, liệu anh Hùng có tháo được an toàn hay không? Nếu anh Hùng có mệnh hệ nào thì tôi sẽ ân hận suốt đời! Ôi, tôi sẽ sống với ai, và sống làm gì nữa?
Trước tình hình đó, trong cuộc hội ý chớp nhoáng tại trận địa tôi không tán thành việc phá bom, cũng phản đối cả việc tháo bom, nghĩa là tôi cứ muốn để quả bom đó cho ma quỷ thần linh quyết định, cứ để đấy rồi sau này muốn ra sao thì ra. Nếu như vậy thì nhiệm vụ phá bom của chúng tôi sẽ không hoàn thành. Ôi, cái đó còn nặng nề hơn, còn nguy hiểm hơn, không những cho dân cư, cho đội hình hành quân vào chiến dịch đi qua và nhất là cũng không kém phần nguy hiểm cho danh dự và sinh mệnh chính trị của anh Hùng.
Tôi cứ rối cả ruột lên, đầu óc đến phát điên lên mất. Anh Hùng nóng nảy quát tháo lại tôi, rồi chúng tôi to tiếng cãi nhau. Tôi cứ bám chặt theo anh Hùng, anh đi đâu tôi đi đấy, phần vì đó là nhiệm vụ chỉ huy chung của tôi, phần vì tôi không muốn cho anh có thời cơ quyết định trở lại tháo quả bom ở nhà tôi, tôi kéo anh ra bến. Càng lúc máy bay bắn phá, tôi càng không muốn rời anh, vì tôi muốn một trong hai chúng tôi không được xa nhau lúc gian nguy; tôi muốn luôn luôn ở gần anh, bảo vệ anh, che chở cho anh bằng tình yên của tôi. Ôi, một ý nghĩ thật là ngớ ngẩn, thật là đàn bà, phụ nữ chúng tôi thường như  thế đấy, các quý vị cười ư? Thì cứ cười đi, lúc đó tôi cứ tin rằng có tình yêu của tôi, những mảnh bom, những trái đạn sẽ phải né tránh anh. Và đúng như vậy, ai dám bảo rằng hôm đó tôi đã không bảo vệ được anh?
*        *        *
*       *
 Vâng tôi xin thành thật khai tiếp – Vâng tôi xin nói ngắn gọn, còn một chút nữa thôi.
Vào lúc 12 giờ 30 phút, đúng như dự kiến của đội trưởng Hùng, hai tốp máy bay giặc Mỹ đến bắn phá vào khu vực bến, trận địa chúng tôi. Một tình huống mới xảy ra, nếu những quả bom nổ chậm cũ mà không được phá xong thì có thể bọn Mỹ sẽ thả bom nổ ngay để làm lộn nhào đất đá vào vùi lấp chúng đi. Sau đó có mà trời tìm. Đội trưởng Hùng đã xử lý kịp thời, lệnh cho các tổ cho phá ngay những quả ở khu vực bến và trên đường. Không phải chờ đến 16 giờ nữa. Và chúng tôi đã chuẩn bị sẵn rồi, các chiến sĩ lại ở gần đó, nên chỉ chờ thời cơ bọn máy bay lượn vòng là anh chị em xông lên phá được ngay. Những tiếng nổ phá bom của chúng tôi lẫn vào những tiếng của bom nổ ngay mà chúng mới thả xuống, làm cho đài quan sát và sở chỉ huy tiểu đoàn không thể phân biệt được nên mới cho rằng chúng tôi chưa triển khai. Nhưng thực chất sau trận oanh tạc đó chúng tôi đã phá xong 8 quả bom từ lúc 14 giờ rồi. Chỉ còn lại 4 quả ở trong làng, đang giằng co giữa anh và tôi mà thôi.
Sau trận địch oanh tạc, anh quyết định đuổi tôi đi xa khỏi anh, bằng cách lệnh cho tôi đi chỉ huy san lấp hố bom ở đầu bến, chuẩn bị cho các đơn vị bắc cầu. Tôi phải khóc lên, vừa ấm ức vừa gạt nước mắt mà đi. Nhưng tôi một lần nữa tha thiết khuyên can anh:
- Em van xin anh, đừng có tháo bom, cứ phá đi, em chịu trách nhiệm tất. Anh hãy nghĩ đến tính mạng của anh!
- Nếu ai cũng nghĩ đến tính mạng mình thì lấy ai xung phong lên trước – Anh trả lời, làm tôi phải tức gắt lên:
- Nếu vậy thì anh đi mà tháo ở các quả khác, không được động đến quả bom ở nhà tôi. Mặc kệ tôi, tôi không khiến các anh, tôi cũng biết cách phá.
- Thôi được rồi, tôi phải về nghiên cứu xem đã chứ, mà chắc gì tháo được, thời gian gấp lắm rồi. Thôi cô đi mau đi – Anh đành đấu dịu và đuổi tôi đi.
Tôi gạt nước mắt chạy lao xuống bến, anh lững thững quay trở lại bãi bom trong làng.
Xuống bến, tôi nhanh chóng tổ chức lực lượng san lấp hố bom, tôi huy động thêm lực lượng dân quân và yêu cầu cả lực lượng giao thông, lái xe và cao xạ quanh đó nữa, nên chẳng mấy chốc làm đã gần xong. Tôi giao lại cho tổ trưởng tổ một phụ trách, rồi lao vội về bãi bom trong làng.
Tôi chạy về nhà, tôi lao ngay ra sau vườn nhìn vào hút bom và gọi anh Hùng, nhưng chẳng có ai ở đấy cả. Một quả bom 500 bảng đã được kéo lên nằm chềnh ềnh giữa vườn và đầu nổ bom đã được tháo mang đi, xẻng cuốc dây dợ vứt ngổn ngang. Tôi như mở cờ trong bụng, sướng run lên; tôi vội quỳ xuống ôm lấy quả bom và thầm gọi tên anh.
Nhưng bỗng một linh tính lại nhắc nhở tôi, tôi vùng lên chạy đến các hút bom còn lại, chắc anh đang tiếp tục tháo. Không, phải ngăn anh lại thôi, chỉ cần một đầu nổ là đủ rồi, không thể để anh cứ liều mãi được. Bây giờ đã là 17 giờ 30 rồi. Chỉ còn nửa tiếng nữa thôi, phải nhanh chóng bảo đảm thời gian thông cầu.
Quả nhiên, anh đang nghiên cứu tháo quả thứ 2, nhưng đầu nổ bị bẹp do va chạm khi rơi xuống đất, nên không tháo được, anh đành chịu. Anh đã dùng một lượng nổ nhỏ đánh bật đầu nổ ra khỏi thân bom, bảo đảm an toàn. Còn hai quả nữa, anh em đang xúm lại thay nhau đào, chúng chui xuống sâu quá. Một quả sâu 6 mét, một quả sâu 8 mét. Nhiều người đã đề nghị cho phá trực tiếp cho nhanh, kể cả gia đình chủ ngôi nhà tranh ở đó, nhưng anh kiên quyết bắt đào để lôi bom lên. Theo anh tính toán, còn nửa tiếng nữa, vẫn còn đủ thời gian để đào, ít nhất cho lòi bom ra, rồi dùng biện phát phá huỷ đầu nổ là bảo đảm an toàn rồi.
Hai tiếng nổ cuối cùng của đội 3 vừa đúng vào lúc 18 giờ, như các vị đã biết  - Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian, hoàn thành các mục tiêu mà buổi sáng đội trưởng Hùng đã đề ra.
Thưa hội nghị!
Các ông hỏi tôi về tình yêu của anh Hùng đối với tôi ấy ư ?
- Vâng, tôi cũng xin thành thật trả lời, mà không thấy xấu hổ: thật là đau khổ cho tôi, tôi đã yêu anh ấy với hết cả tấm lòng mình, nhưng tình yêu của tôi chưa hề được anh đáp lại. Có lúc tôi đã linh cảm thấy tín hiệu của anh đối với tôi, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó, anh chưa một lần ngỏ lời với tôi, thậm chí cả cách xưng hô “anh anh em em” mà tôi mong muốn vẫn chưa hề có, mà là cô xưng tôi mà thôi. Và cũng không hổ thẹn mà nói với các ông rằng: có lần một tí nữa thì tôi đã chiếm được tình yêu xác thịt của anh. Nhiều lần tôi đã quyến rũ anh, nhưng anh đều lảng tránh, lần đó anh đã bị tôi chinh phục, nhưng đến phút cuối cùng anh lại tuột khỏi tôi rồi bỏ đi, để lại một mình tôi  uất ức tủi nhục. Tôi cảm thấy, không phải anh ghét tôi hay không hẳn không yêu tôi, nhưng có một cái gì đó ức chế anh, làm anh đau khổ,, uất ức, tủi hờn, sống cô độc, né tránh tất cả những vui vẻ trên đời. Một cái gì đó làm tôi không thể lý giải được.
- Ôi, giá như có một hội nghị như thế !
Và giá như cô dân quân xinh đẹp, dũng cảm có cái tên Thuý Chinh ấy được khai một cách trung thực và dũng cảm, cũng như đã trung thực và dũng cảm trong bãi bom như thế nhỉ? Thì cuộc đời của Hùng liều đã khác rồi.Chỉ khi được tin Hùng liều sau chiến dịch đó, đã bị người ta đẩy đi xa hơn, không kịp ghé lại chào cô và gia đình, thì cô dân quân ấy tin rằng, nguyên nhân chủ yếu là do cô, nên anh đã bị xử lý, đẩy đi. Và cô lại một lần nữa muốn che chở cho anh, thanh minh cho anh bằng tình yêu và lòng trung thực của cô….
 
II
CÔ GÁI LANG THANG
1975. Hoà bình lập lại, xóm làng tưng bừng như những ngày hội. Người ta đón những đứa con chiến thắng trở về nhà, có nhà mổ bò mổ lợn ăn mừng. Nhưng cũng có gia đình suốt ngày suốt tháng chỉ có tiếng khóc, tiếng gào thảm thiết thê lương. Những tràng pháo nổ giòn, những cờ hoa rực rỡ đi đôi với những vành khăn trắng, những dải áo xô, tràn lan lẫn lộn khắp xóm làng đường phố.
Ở cái làng quê thân yêu ấy. Hùng biết chẳng có ai đợi chờ anh hết cả. chẳng có ai mừng khi anh trở về, mà cũng chẳng có ai khóc khi anh không còn trên đời này nữa. Nhưng dẫu sao quê hương vẫn đón chào anh. Anh hoà vào trong đoàn quân chiến thắng trở về.
Vui vẻ nhất là những anh bạn chăn trâu cắt cỏ, đánh khăng đánh đáo, những bạn học cùng trường cấp I và cấp II, những đứa bạn không cần biết gì đến lịch sử đến thành phần, không màng gì đến chính trị và danh vọng.
- Chà Hùng liều, mày còn sống trở về đó hả? Á, á, khoẻ mạnh đáo để, lính đặc công có khác! Lại tiếp tục bạn cày bừa chứ?
- Còn bọn trẻ con thì xúm xít nhau chạy theo Hùng:
- Ôi, lắm huân chương quá chúng mày ơi. Oai nhỉ, những hai chiếc, ờ không ba chiếc cơ, toàn huân chương đặc công cả. Có cả huân chương công bình nữa. Thế mà có anh chẳng có mẹ gì, Đấy cái anh gì con ông bí thư Đảng uỷ ấy cũng đi bộ đội 10 năm mà đếch có huân chương.
Một đứa khác cãi:
-         Khốn sợ chết, chúi vào làm thủ kho tít trong hang thì làm đếch gì có huân chương!..
Những ông già bà cả, thương cảm cho hoàn cảnh gia đình Hùng:
-         Hùng đấy ư? Con còn sống mà về đấy ư? Ôi quý hoá quá. Tội nghiệp ông bà ấy chẳng sống mà nhìn thấy con nó đi chiến đấu về, Âu cũng gỡ lại một phần danh dự cho gia đình, thôi cũng mát mặt với vong linh ông bà ấy ở suối vàng.
Còn những cán bộ đuổi Hùng đi bộ đội và những kẻ đố kị xúc xiểm thì chào: cũng phải chào người tiền tuyến về chứ. Lại chính cái ông Bây, chủ tịch xã mười năm trước ấy, bây giờ là Bí thư Đảng uỷ cũng vồn vã:
-         A, cậu Hùng vẫn còn sống trở về đấy à? Khấm khá nhỉ, đấy nếu bọn tớ không chiếu cố, chạy vạy cho cậu đi bộ đội thì cũng chì là anh nông dân quèn làm gì được vẻ vang như hôm nay? Cậu phải cảm ơn chúng tớ đấy.
-         Vâng, cũng phải cảm ơn các anh.
Ngày đầu tiên Hùng phải về ở nhờ nhà bà cô, hoàn cảnh cũng nghèo khó. Căn nhà nhỏ một gian hai trái bằng tre lá của bố mẹ Hùng để lại, trước khi đi bộ đội, Hùng nhờ bà cô trông nom. Sau đó hợp tác xã mượn làm nhà trẻ cho một đội lao động. Vài năm sau hợp tác xã dựng lên ở khu vực đó cả một trại chăn nuôi lợn, trong đó có mảnh đất của bố mẹ Hùng. Ngay chiều hôm đó, anh đã ra nghĩa địa thắp hương viếng mộ bố mẹ. Đêm về anh nói chuyện với bà cô suốt đêm. Bà bùi ngùi bảo:
-         Cháu  ạ, thôi thì ở nhà chơi với cô vài ngày, rồi liệu mà lên huyện lên tỉnh xem, xin lấy công việc gì đó mà làm ăn. Chứ ở nhà không sống nổi đâu con ạ !
-         Bà cô chẳng nói thì Hùng cũng tính thế thôi. Ở làng còn gì nữa đâu? Nhà cửa đã mất, đất thì không còn, nếu hợp tác có trả cho chỗ khác thì cũng lấy gì mà làm, ruộng vườn không có, cày cuốc thì không? Làm sao mà sống được ở đây. Cái hồ hởi, cái vui thích ban đầu khi trở lại quê hương nó mau chóng qua đi, chỉ còn lại cái lo lắng, tính toán cho cuộc sống ngay từ ngày mai mà thôi.
Ngày hôm sau anh lên trình diện uỷ ban và xã đội, theo đúng thủ tục, và anh xin một cái giấy giới thiệu để đi xin việc làm. Vẫn ông xã đội và ông uỷ ban cũ. Các ông sẵn sàng cấp ngay, vì họ đã không muốn anh ở làng xã này từ lâu rồi. Trước đây hắn còn nhỏ mà đã ngỗ ngược như vậy, huống hồ bây giờ đi chiến đấu về, lại có thẻ thương binh, lại có huân chương, cứ tha hồ mà lên mặt cho mà xem. À mà có thời hắn lại ở đặc công nữa thế thì không khéo nó sẽ thành cướp mất. Phải nhanh nhanh mà cho nó đi càng sớm càng tốt.
Thế là cuộc hành trình đi tìm một đoạn đời tiếp sau của Hùng liều bắt đầu ngay từ ngày thứ hai khi trở về làng.
*        *        *
*       *
 Phải mất hơn một tuần lễ sau, Hùng mới tìm đến được những bạn bè, những đồng đội cũ thăm hỏi và nhờ dò hỏi các đơn vị cơ quan, công nông trường, xí nghiệp xung quanh vùng. Ai nói ở đâu anh cũng liều đến, ai chỉ cơ quan nào anh cũng liều nhận, với bất cứ điều kiện nào anh cũng tán thành, mặc dầu anh chưa có nghề nghiệp nào cả, nhưng cũng cứ nhận bừa đi là làm được, đã gọi là liều cơ mà!
-         Ở đây thiếu một chân kế toán.
-         Tôi đã làm kế toán hợp tác xã nông nghiệp!
-         Ở đây cần một trợ lý tuyên huấn.
-         Vâng, tôi có thể làm được, ở đơn vị tôi đã học một lớp chính trị trung sơ cấp!
-         Chúng tôi cần một gác cổng.
-         Ô thế thì tôi làm tốt, tôi vốn là lính đặc công!
-         Ở đây chỉ thiếu lao động làm đường thôi.
-         Dạ tôi vốn là chiến sĩ công bình cầu đường!
-         Anh có chạy được máy nổ không?
-         Vâng cũng tàm tạm, bỏ lâu rồi, tôi sẽ học lại được ngay!
-         Công ty vệ sinhh chúng tôi chỉ thiếu người đổ thùng thôi.
-         Vâng cũng được, tôi vốn là con nhà nông dân lao động!
Anh đến cả cái nghĩa trang mà một thời anh đã làm nhiệm vụ chôn xác chết, để xin nhận việc đào huyệt, họ trả lời:
- Vâng ở đây thiếu người đào huyệt!
- Tôi sẵn sàng, tôi đã từng đào ở đây rồi.
- Thế thì hoan nghênh!
Ở đâu người ta cũng sẵn sàng tiếp anh và ở đâu anh cũng liều “nhận” như vậy. Nhưng rất tiếc là không một đơn vị, một cơ quan nào đáp lại cái liều của anh “mà nhận liều” anh vào làm.
Bởi lẽ bất kỳ cơ quan, đơn vị nào cũng yêu cầu anh phải nộp hồ sơ để người ta còn nghiên cứu.
-         Được, anh viết đơn đi, rồi kẹp vào tập hồ sơ, và để hồ sơ lại đây để chúng tôi nghiên cứu. Có gì chúng tôi sẽ báo cho anh biết sau. Anh để địa chỉ lại đây.
-         Dạ tôi ở xa lắm ạ, chưa có địa chỉ ổn định.
-         Nếu vậy mời anh đúng hai tuần nữa trở lại đây chúng tôi trả lời.
Đúng hai tuần sau, Hùng đến cơ quan. Ông cán bộ tổ chức lại hẹn:
-         Việc của anh chưa giải quyết được, đồng chí giám đốc đi công tác xa vắng, hẹn anh hai tuần nữa nhé.
Thực chất là ông cán bộ tổ chức đó quên, vì nhiều hồ sơ quá không đọc đến. Cứ như thế, nơi này hẹn hai tuần, nơi khác hẹn một tháng. Một lần, hai lần, rồi ba bốn lần, nơi nhanh nhất một tuần, nơi chậm cũng phải 3-4 tháng, có nơi 5-6 tháng. Hết cơ quan, đơn vị này không được, lại rút đơn nộp sang cơ quan đơn vị khác.
Trong vòng một năm trời anh đã viết hàng trăm lá đơn xin việc, có cái viết đi viết lại hàng chục lần vì chưa đúng thủ tục, chưa đúng mẫu, đã đến trên vài chục đơn vị cơ quan để xin việc. Nhưng tất cả đều không ai tiếp nhận anh. Nguyên nhân chỉ tại cái tập hồ sơ lí lịch của anh. Đầu tiên người ta hoạnh hoẹ về hồ sơ thủ tục, thiếu giấy tờ này, thiếu giấy tờ nọ, cái này chưa đúng mẫu chữ, cái kia chưa đúng khổ giấy. Làm đi làm lại chán, mới đầy đủ hồ sơ. Thoát cái hồ sơ rồi, họ mới xét đến cái lí lịch thì té ra không đủ tiêu chuẩn.
Bất kỳ một công việc gì dù lớn hay bé, văn phòng hay sản xuất, bốc vác hay thủ kho, quét rác hay đổ thùng dọn hố xí hay đào mồ mả… nhất nhất cũng đều cần cái tiêu chuẩn chính trị hàng đầu, nghĩa là lí lịch phải trong sạch, phải rõ ràng, chưa hề bị kỉ luật lần nào vv… rồi mới xét đến trình độ nghề nghiệp, rồi sức khoẻ, rồi mới đến chiếu cố thương binh, bộ đội, con em cán bộ vv…
Một anh bạn mách với anh:
-         Chỉ có một tiêu chuẩn “đầu tiên” là xong tuốt cậu ạ?
-         Hả? Đầu tiên là cái gì
-         Cậu thực thà quá, là tiền đâu ấy! – Cứ tiền, có tiền cho vào phong bì biếu các ông ấy là xong hết.
-         Nhưng mình lấy đâu ra tiền bây giờ?
-         Thế mới chết mấy thằng lính!
Anh không thể xoay đâu ra tiền, cũng chẳng có gì mà bán, ngoài cái ba lô và mấy bộ quần áo rách, vay mượn ai được, họ hàng bạn bè đều nghèo cả, mà có vay người khác thì rồi lấy đâu mà trả. Giá có tiền thì anh cũng liều “cúng” cho mấy bố ấy cho được việc. Anh chỉ có hai bàn tay trắng, đôi chân chạy và cái mồm nói suông.
Trong suốt thời gian chạy vạy công việc, anh nhờ vả quá nhiều đối với bạn bè, họ cũng đã phát chán anh. Vì điều kiện hoàn cảnh họ đâu có được dư dật dồi dào. Những kẻ giàu có thì lại khinh bạc, lên mặt dạy đời và xa lánh anh. Để có cái ăn, để sinh sống và để chạy việc, anh đã phải làm đủ mọi công việc lao công khổ cực và hèn hạ, gặp việc gì làm việc đó, đi bốc vác hàng hoá, đạp xe xích lô thuê, kéo xe bò thuê, xúc bùn, gánh đất, phu hồ, đẵn gỗ, kiếm củi, đánh đá, đi nhặt phân, dọn chuồng xí… thậm chí cả dạy trẻ con học võ và biểu diễn mua vui cho một vài kẻ vô công rồi nghề xem, kiếm vài ba đồng. Việc gì cũng làm, miễn là có tiền có ăn. Trừ việc ăn cắp, ăn trộm là anh chưa dám liều làm, bản chất người chiến sĩ và người công dân lương thiện đã ngăn anh không để bọn đầu bò các băng cướp lôi kéo quyến rũ.
Rồi có một lần, anh nhờ được một anh bạn tốt, đã kéo đi làm hợp đồng một thời gian với một xí nghiệp đá, anh chỉ việc bốc vác đá xuống xà lan. Họ động viên anh cố gắng làm rồi họ xét chiếu cố, thế là anh làm việc hết sức mình. Mãi một năm sau, xuýt nữa thì được xí nghiệp đá quyết định tạm tuyển, nhưng lại cũng tại hồ sơ lí lịch. Cuối cùng không những không được tuyển dụng mà lại còn không được làm hợp đồng nữa: vì đảm bảo an toàn cho xí nghiệp.
Lại một lần khác anh làm hợp đồng cho một xí nghiệp gạch. Nhưng chẳng được bao lâu thì xí nghiệp bị giải thể vì làm ăn thua lỗ, nên anh lại mất việc.
Và “cuộc hành trình kiếm ăn vĩ đại” của anh kéo dài gần bằng thời gian ở chiến trường đánh Mỹ. Nhưng cuộc hành trình đánh Mỹ tuy xông pha vào đạn bom nguy hiểm nhưng còn vui còn có mục đích và hi vọng. Còn cuộc hành trình kiếm ăn của anh tuy không có đạn bom nguy hiểm mà sao anh cảm thấy thật là buồn tẻ và vô hi vọng.
 *        *        *
*       *
 Một đêm sáng trăng, ánh trăng mờ trong sương gió. Ở một thành phố nhỏ, Nguyễn Phi Hùng tức Hùng liều vừa đi bốc vác xi măng thuê cho một đoàn xà lan về. Hôm đó anh làm liên tục suốt ngày, lại làm đến gần nửa đêm mới xong, đang trên đường về nhà một anh bạn mà anh đã nghỉ trọ nhờ ít lâu nay. Vừa mệt nhọc vừa đói bụng, anh định tìm một hàng ăn. Nhưng khuya lắm rồi, các hàng quán đã đóng cửa hết. Anh lững thững mệt mỏi, chân tay rã rời. Khi đến gần cây cầu gỗ có tên là cầu Vực Thẳm, anh ngồi lại nghỉ, định xuống sông rửa ráy xong mới về. Anh ngồi bệt xuống bờ đê vệ sông, ngồi ngắm nhìn ánh trăng. Ánh trăng lu như cuộc đời anh vậy, tự nhiên anh liên tưởng thấy thế. Anh định nằm ngả lưng ra một lát. Thì bỗng dưng thấy một vật gì từ trên cầu rơi xuống nước, rồi một tiếng kêu “ối ối” dưới sông, nước bắn tung lên lấp lánh dưới ánh trăng. Linh tính có người trượt chân rơi xuống sông, không phải là đâm đầu xuống, mà là rơi thẳng đứng như kiểu người nhảy cho chân xuống trước, và tiếng kêu như tiếng đàn bà con gái.
Hùng vội nhổm người bật đứng lên, mắt nhìn xuống sông. Anh vội chạy xuống hạ lưu, sát mép nước đón đầu dòng chảy. Vật đen đen, nhấp nhô lên xuống lúc ẩn lúc hiện trôi theo dòng nước rất nhanh.
Không kịp chần chừ, không kịp cởi quần áo, anh lao ngay xuống nước bơi ra giữa dòng đuổi theo. Khi gần đến nơi anh phát hiện ra người bị ngã là đàn bà vì mái tóc xoã. Vốn là người lính đã hoạt động trên sông nước nhiều và đã có kinh nghiệm cứu người chết đuối, anh bơi lại gần, và bằng một động tác rất nhanh, túm lấy tóc người đàn bà, kéo giật lùi về phía mình và bơi dìu người ấy vào bờ. Người chết đuối đã bị  uống nhiều nước và ngất đi, trời đã sang đầu mùa đông, nước lạnh buốt. Khi vào đến bờ, anh mới nhận ra, đó là một cô gái còn rất trẻ, trẻ như cô bé. Anh vội bế cô lên bờ, đặt cô nằm xuống, làm một số động tác hô hấp nhân tạo xốc ngược cô lên để tháo nước ra, và xoa bóp cho người cô nóng lên. Vì mới bị xuống nước đã được cứu ngay, nên cô gái đã mau chóng tỉnh lại. Cô mở mắt ra và nhìn thấy Hùng, cô bỗng giật mình, định nói một câu gì đó, nhưng bị cứng họng chưa nói lên được. Mắt cô cứ nhìn chừng chừng như nhìn một kẻ thù nào đó, rồi bỗng thét lên giọng còn yếu ớt, ngắt quãng.
- Chúng mày là đồ hèn, chúng mày là đồ đểu… Trả tiền của tao đây, trả đồ đạc của tao dây… Để mặc tao cho tao chết, chúng mày cút đi ..!
Hùng cứ lặng yên để cho cô bé la mắng chửi bới. Một lát sau cô lại lịm đi. Hùng vội vàng lay gọi:
- Này cô ơi, này em bé ơi, tỉnh lại đi. Tôi là người cứu cô đây mà, không phải bọn cướp đâu – qua những lời mê sảng trên; anh đoán bọn cướp nào đó đã chấn cô, rồi quẳng cô xuống sông.
Anh phải gọi mãi và tiếp tục làm các động tác hô hấp, một lúc sau cô mới tỉnh hẳn, nhìn Hùng chừng chừng:
-         Đây là đâu? Ông là ai?
-         Đây là bờ sông gần cầu gỗ. Tôi là người vớt cô từ dưới sông lên.
-         Tại sao ông lại cứu tôi, vớt tôi làm gì? Tôi có khiến ai vớt tôi đâu? Tôi tự nhảy xuống sông đấy! Thôi ông đi đi, mặc tôi, hãy làm ơn để cho tôi chết.
-         Không, không, cô không được chết, cô còn trẻ lắm, làm sao phải chết cơ chứ. Không, tôi không thể nào bỏ mặc cô tự tử lần nữa đâu.
-         Ông đi đi, mặc kệ tôi!
Bỗng nhiên cô ngồi dậy, rồi vùng đứng lên lảo đảo, và vụt chạy ra mé sông. Hùng vội vàng túm lấy cô, cô lại vùng ra và chạy đi, nhưng sức yếu, không chạy được nữa, cô liền ngã xuống ngay sát mép nước. Hùng chạy lại, ôm bế thốc cô lên, về lại bờ sông, đặt cô ngồi xuống, và an ủi?
-         Thôi bình tĩnh lại, đừng có hoài phí đời như thế. Hãy sống mà về với gia đình, với cha với mẹ, với anh chị em chứ, đời cô còn trẻ lắm.
-         Ôi tôi làm gì có gia đình, trên đời này chẳng còn ai thân thích cả.
-         Thế thì phải sống với đời chứ!
-         Đời có ra gì mà đáng sống, thà chết quách đi còn hơn. Giọng nói cô gái yếu ớt, như từ một nơi xa xăm, hay từ một nấm mồ vọng lên, buồn thảm, làm Hùng xúc động, rơm rớm nước mắt.
-         Hãy sống mà nhìn đời, mà ngắm đời chứ. Cô có nhiều nỗi oan ức ư? Chết mà nỗi oan chưa được giải, mà oán thù chưa được trả, thì chết nhục, chết nhã, chết yếu hèn. Thôi nào hãy đứng lên, tôi sẽ giúp cô, tôi đưa cô về nhà, cô ở đâu?
-         Tôi làm gì có nhà, tôi sống lang thang!
-         Trời – Hùng bỗng kêu lên, cô bé như thế này mà đã sống lang thang ư?
-         Bước đường cùng, biết làm thế nào được.
Hùng suy nghĩ lưỡng lự một lát rồi bỗng nói:
- Như thế là cô còn cao số lắm, chưa chết được đâu! Hãy can đảm mà sống đã cô em ạ. Thôi thế này vậy, bây giờ tôi tạm đưa cô về nhà tôi, à quên nhà anh bạn tôi mà tôi nghỉ nhờ ở đó, cũng gần đây thôi. Cô tạm nghỉ ở đó, rồi mai ta sẽ liệu vậy nhé!
Cô gái cúi đầu rũ xuống, nói rất khẽ:
- Vâng, thế nào cũng được!
Và Hùng dìu cô gái đi, cô gái tựa hẳn vào người anh, bước đi nặng nề chậm chạp. Thấy cô còn yếu quá, Hùng cúi xuống ghé vai vào cõng cô gái. Cô lúc đầu còn lưỡng lự, nhưng Hùng cứ xốc lên, và cô để mặc cho anh cõng, gục hẳn đầu vào vai anh.
Trong ánh trăng mờ ven thành phố nhỏ, bóng hai người thất thểu đi trên đê. Người lang thang lại cõng kẻ lang thang.
Lần đầu tiên trong đời anh bế một cô gái, và động chạm đến người cô gái, khi có một mình. Nhưng lúc đó anh không có cảm giác gì cả, hoàn toàn không có cảm giác gì về một người đàn bà, mà chỉ là một nạn nhân đang cần được cứu sống, do vậy anh bế ẵm và cởi quần áo cô, xoa bóp cho cô một cách tự nhiên chỉ một ý nghĩa làm sao cho cô sống lại, càng nhanh càng tốt.
Nhưng đến lúc này, khi cô sống lại rồi, anh đang cõng cô trên lưng, cái cảm giác về cô gái, về người đàn bà, bỗng nhiên lại xâm chiếm anh, làm anh cảm thấy ngường ngượng. Mọi động tác cử chỉ của anh tự nhiên lại thận trọng, chỉ sợ một hành động nhỏ nào đó làm cô gái hiểu lầm về lòng tốt của anh. Vừa đi anh vừa suy nghĩ xem đưa cô về nhà như thế nào. Cũng may, anh bạn của anh đêm nay làm ca ba mãi mười giờ trưa mai mới về, có đủ thời gian để cô bình phục lại, dẫu sao phải đưa cô đi trước mười giờ trưa mai, anh không muốn để bạn hiểu lầm.  Anh sẽ đốt lửa sưởi cho cô, đun nước nóng cho cô lau người, lấy quần áo của anh cho cô tạm thay và phải giặt là ngay bộ quần áo của cô. Phải đi mua thuốc cho cô uống, và phải nuôi cô cho lại sức khoẻ hẳn, có khi còn phải chữa bệnh cho cô nữa; có thể cô gái này còn nhiều điều bí ẩn, nên mới phải quyên sinh. Cũng may tiền công buổi làm ngày hôm nay cũng được kha khá, có thể nuôi sống cô được vài ngày.
*        *        *
*       *
 Kể từ cái đêm đen tối, cô bé bỏ làng ra đi ấy, cuộc đời cô đã trải qua bao nhiều đau khổ đắng cay, đúng như người ta thường nói: xảy nhà ra thất nghiệp. Cô trốn tránh cái đau khổ ở nhà thì lại rơi vào cái đắng cay ngoài đường, cô thoát khỏi cái tủi nhục chỗ này thì lại rơi vào cái khốn khổ khác; thôi thì một liều ba bảy cũng liều.
Cái đêm đen hôm ấy, trời tối đen như mực, cô cảm thấy cuộc đời mình còn đen tối hơn, cô cứ chạy dọc theo đường cái, chạy mãi, chạy mãi cho đến khi người cô nóng bừng lên, rồi mồ hôi ra như tắm làm ướt hết cả quần áo, cô mệt bã người tưởng chừng như đứt hơi, cô mới dừng lại, ngồi bệt ngay xuống vệ đường nghỉ.
Khi hơi sức đã trở lại, cũng không thấy ai theo đuổi mình, cô mới hoàn hồn và bình tâm suy nghĩ. Đi đâu, về đâu bây giờ? Mà cũng không biết bây giờ mình đang ở đâu? Cô đứng lên ngó nhìn xung quanh trong đêm tối. Bỗng có tiếng đoàn tàu từ xa chạy tới, cô nghe ngóng và đón chờ xem đoàn tàu ngược hay xuôi. Tiếng đoàn tàu từ xa tới gần, đã nhìn thấy ánh đèn pha của đầu máy đang quét một vùng sáng, lấp loáng những hàng cây, những cột mốc lướt nhanh qua. Đoàn tàu đã tới gần.
Một thoáng đớn đau tuyệt vọng trỗi dậy. Cô thầm nghĩ “Hay là…. Đây là thời cơ tốt nhất, nào dũng cảm lên Loan ơi cái quý giá nhất của mày đã mất rồi thì mày còn sống làm gì nữa…”
Đoàn tàu đã lướt qua, cô vùng đứng lên người cô run cầm cập, những toa tàu cứ vun vút lướt qua nhanh trước mặt làm cô chóng mặt. Tiếng gọi của ma quỷ lại cám dỗ: “Nào hãy lao vào đi còn chần chừ gì nữa, chỉ một tích tắc thôi, cái chết thật êm ả, không đau đớn gì cả cũng chẳng ai hay biết đâu…”. Rồi như có một bàn tay ma lực nào đó đẩy vào lưng cô. Cô vội chạy từ đường ô tô sang đường tàu. Còn kịp chán, nhanh chân lên, mới qua được một nửa đoàn tàu. Cô vội nhảy qua một cái rãnh, nhưng không may cô bị hẫng chân, trời tối quá nhìn không rõ, cô ngã xuống rãnh, nằm úp mặt vào nền đường sắt toàn đá, làm sây sát cả mặt, cô lại vùng lên, nhưng không được, chân cô đau nhói, hình như bị chẹo chân, cô lại cố lết lên bò vào phía đường ray. “Cố lên, còn một sải tay nữa thôi” tiếng những bánh sắt trên đường ray gõ nhịp xình xịch khích lệ cô, cô với tay cào vào những đống đá toài người lên, nhích từng tí một.
Nhưng muộn rồi, khi cô bò đến đường ray, thì toa cuối cùng của đoàn tàu cũng đi qua, ánh đèn đỏ làm hiệu cuối tàu cứ xa dần, xa dần. Cô nằm gục trên đường ray nghe tiếng đoàn tàu đi, xa mãi và tắt hẳn, chỉ còn lại nhịp tim của cô đập “xình xịch” tưởng như nhịp của đoàn tàu tuyệt vọng.
Cô định thần lại, và tự hỏi: đi đâu, về đâu, cho thoát cái cảnh đen tối này? Cô hoang mang không tìm ra lối thoát, có lúc cô đã nghĩ là phải quay về nhà, đành phải sống trong cảnh tủi nhục vậy. Nhưng rồi cô lại tự xỉ vả mình vì đã có những ý nghĩ hèn mạt ấy. Không, ngàn lần không, thà chết chứ không thể trở về cái căn nhà ô nhục ấy được nữa. Nếu số phận chưa cho cô chết, thì cô phải sống, sống để tìm thời cơ chết sau vậy. Cô quyết định đằng nào cô cũng phải chết, mà chỉ có cái chết mới rửa được nỗi ô nhục của cô. Nếu còn sống chỉ là tạm thời, sống để mà chờ thời cơ được chết.
Một ánh đèn ô tô lướt qua soi rõ con đường gạch rẽ vào làng gần đó. Cô chợt nhớ ra, đây là làng bà cô ruột của cô. Một ý nghĩ nảy ra, tạm ghé vào nhà bà cô trú nhờ đêm nay đã rồi mai hãy hay. Phải ẩn tránh gặp ông chú dượng đi tìm vào sáng mai. Quyết định xong, cô đứng lên, lần đường trong đêm tối. Cũng may nhà bà cô ở gần ngay đầu làng. Nhà không có chó, cô lách cánh cổng bằng rào tre vào sân, rón rén ngồi bên hè.
Mãi một lúc sau, cô mới dám ghé vào khe cửa sổ ngập ngừng run run gọi:
-         Cô ơi, cô ơi, mở của cho cháu với!
-         Đứa nào đấy, gọi gì mà sớm thế, đã sáng đâu!
-         Cháu đây mà, cháu Loan đây mà!
-         Loan nào? Đi đâu sớm vậy?
-         Loan nhà Phượng đây mà!
-         À, Loan nhà Phượng à? Sao đi chợ sớm thế.
-         Bà dậy, khêu đèn to lên rồi quờ đôi dép đi loẹt quẹt ra mở cửa. Loan bỗng mừng vì cô đang lo chưa biết nói cái cớ gì để vào đây, may quá bà cô lại ngỡ là đi chợ.
-         Mẹ cháu sắp đẻ, mẹ cháu khoẻ chứ, vẫn khoẻ à, khổ quá, ba bốn mặt con rồi, còn đẻ làm gì nữa cho thêm khổ. Tao đây này chỉ có hai em mà vất vả, từ khi chú mày hi sinh, nuôi con một mình, vừa làm mẹ vừa làm cha thật khổ.
Rồi bà kéo Loan ngồi vào giường:
-         Còn sớm lắm cháu ạ, khổ thân cháu tôi, con bé đến là liều, một mình mà đêm hôm thế mà không sợ ma sợ mãnh gì à? Thôi vào đây ngủ một lát nữa đi, còn sớm lắm, chưa đến canh ba đâu. Sáng sớm mai dậy ra chợ cũng vừa.
-         Thế là cô chui vào giường bà cô và kéo chăn đắp chùm kín đầu, mệt quá ngủ thiếp đi.
Sáng sớm cô đã dậy thổi cơm, đánh thức Loan dậy
- Cơm cô đã thổi rồi đấy, sáng ra chị em gọi nhau dậy ăn cơm, rồi hãy ra chợ nhé. Cô phải đi ra đồng nhổ mạ cấy đây, đến nửa buổi tao mới về được.
Và Loan ngủ một mạch đến trưa, khi cô đi làm về, Loan vẫn chưa dậy.
- Con gái con đứa gì, bảo đi chợ, mà trưa rồi vẫn chưa thèm dậy là thế nào, hỏng rồi, con ươn lười ạ?
Loan bỗng oà lên khóc, ôm chầm lấy bà cô nức nở.
- Cô ơi, con nói dối cô đấy, con bỏ nhà đi, con không về được nữa đâu. Chú dượng ông ấy… - cô định nói toạc chuyện đó ra, nhưng lại sợ và xấu hổ, nên chỉ nói thác đi – À không, mẹ cháu đuổi cháu đi rồi.
Người đàn bà có linh tính. Qua vài câu chuyện hỏi han, đôi lời căn vặn, cô bé mới chớm tuổi dậy thì này chưa đủ khôn ngoan để nói dối. Tuy bà không hỏi cặn kẽ, nhưng bà cũng đã biết cái việc gì nó đã xảy ra cho cô cháu gái ruột của bà rồi. Bà giận người chị dâu không giữ được lòng chung thuỷ thờ chồng nuôi con; để đến nỗi gây ra nỗi khổ cực cho cháu gái bà, bà càng tự hào về minh đã chịu đựng được, không đi bước nữa.
Bà thương cái Loan lắm, bà phải nuôi nó và bao che cho nó, không thể cho nó về cái nhà ấy được, không thể để cho nó một lần nữa rơi vào tay cái lão dê xồm đê tiện ấy nữa.
Và thế là, Loan ở lại nhà bà cô, ở xóm chợ, hàng ngày theo cô đi làm ăn, đi chợ đi búa, mớ rau mớ cỏ, và giúp cô chăm sóc các em như một cô con gái lớn trong gia đình. Tuyệt nhiên giữ kín không để lộ cho ông bố dượng và bà mẹ Loan hay biết gì cả.
*        *        *
*       *
 Nhưng chuyện đời là thế, cái kim giấu trong túi lâu ngày rồi cũng phải tòi ra, huống chi là một con người, lại chỉ ở cách nhà có 5 km, hàng ngày đi chợ búa làm ăn gặp gỡ tiếp xúc bao nhiêu con người. Chuyện cái Loan trốn ở nhà cô xóm chợ Đường đến tai ông bố dượng. Từ ngày Loan bỏ đi, linh tính bà mẹ cũng đã biết chuyện gì rồi, bà đay nghiến xỉ xả ông chồng thậm tệ, bắt ông phải tìm bằng được Loan về, nếu không bà doạ sẽ đập phá hết và tự tử. Chiếc xe máy của ông lồng lên, đi khắp đó đây đã hàng tuần lễ liền cũng không tìm thấy. Bỗng có người làng nói đi chợ Đường gặp cái Loan bán rau với bà cô ở chợ. Ông liền tìm đến. Được bà cô và các em che chở, báo tin nên lần nào ông đến, Loan cũng kịp đi trốn, không giáp mặt. Ngồi chán rồi ông phải về; cuối cùng ông đe doạ bà cô Loan: nếu không trả cái Loan về ông sẽ làm dầy dà to cho mà xem.
“Không thể dây với quân chó dại cắn càn này được”. Bà cô của Loan thở dài não ruột, biết rằng cho Loan về chẳng khác nào thả lợn con vào chuồng cọp. Nhưng biết làm sao, tuy là cháu mình, nhưng con người ta, làm sao giữ được, không khéo lại tai vạ lôi thôi. Cái thằng cha này ấy à, nó chẳng từ một thủ đoạn đê hèn nào đâu. Thôi thì phải khuyên Loan ngậm đắng nuốt cay mà trở về nhà vậy.
Nhưng Loan nhất định không nghe, nếu cô không che chở được cho nó thì nó thà chết chứ không bao giờ về cái nhà ấy nữa. Bàn đi tính lại, bà cô cũng phải đồng ý với Loan. Bà thương cháu quá, nhưng bà chẳng biết làm sao được, thôi đành thu xếp cho nó tạm lánh đi xa hơn vậy, nó đã nhất quyết rồi, bà chẳng khuyên can được.
Thế là sau mười lăm ngày, ẩn náu tại nhà bà cô, Loan lại đáp chuyến tầu đêm lên ở nhờ nhà ông bác họ ở Hà Nội. Bà cô nghèo quá, cũng chỉ giúi cho cháu được tí tiền mua vé đi tàu và ăn quà vặt.
Ông bác họ, thấy cô cháu xinh đẹp, ngoan ngoãn chăm chỉ, cũng thương và cho ở, đằng nào cũng phải có người làm nội trợ, đỡ đần bác gái còn đi chợ buôn bán. Các anh, các chị đi học cả, nhà nhiều người ăn, nhưng ít người làm. Cô bé ở đây được cả nhà thương mến. Cô cảm thấy sung sướng và hạnh phúc. Cái vui của tuổi thơ ngây mới chập chững vào đời. Nhưng niềm vui của cô chẳng được bao lâu. Chỉ một tháng sau, ông bố dượng đã mò ra, và cô lại phải đi một lần nữa.
Cô quyết định phải dứt ra khỏi họ hàng, dây mơ rễ má, để ông bố dượng và bà mẹ không tìm được nữa, bằng cách đi ở thuê cho một vài gia đình thành phố.
Thôi thì đành vậy, mình phải sống bằng lao động của mình. Dù phải lao động vất vả cực nhọc, dù phải bị mắng chửi, dù phải bị sai khiến khinh rẻ đoạ đầy, nhưng là miếng cơm do sức lao động của mình kiếm ra.
Nhưng rồi sự cam tâm làm tôi tớ cho người khác để kiếm ăn cũng không được yên thân. Nguyên nhân chính là do cái nhan sắc của cô, cái dáng vóc hừng hực của cái tuổi dậy thì. Lúc thì do chính cô tự đòi hỏi, cảm thấy mình cần phải được ngắm vuốt, được ăn diện, được chăm sóc, được thương yêu chiều chuộng, và lúc đó cứ mơ mơ màng màng, ra ngắm vào vuốt, cũng muốn đua đòi mốt này mốt nọ. Ở cái đất thị thành thì một cô gái trẻ đẹp như cô, lại có ai không ước mong điều đó, thế là những cái bát vỡ, những cái nồi bị rơi, thóc gạo tung toé, lợn gà quên không cho ăn, “cậu ấm cô chiêu” chưa kịp tắm rửa; và những cái bạt tai, những cái túm tóc của một bà chủ đanh đá chua ngoa cứ va vào mặt cô, những lời cay nghiệt, độc địa cứ xa xả vào mặt cô, cô chỉ còn biết khóc ấm ức, cô có lỗi thật sự, cái lỗi của một đứa ở, con sen.
Lúc thì do hoàn cảnh khách quan tác động đến. Nếu không bị những ông chủ háo sắc, hoặc những cậu cả, cậu hai đa tình, cứ ra cấu vào véo bất cứ chỗ nào của cô, hoặc đêm đêm chỉ chực rình mò đột nhập vào buồng con ở, thì cũng lại bị mấy cậu con trai hàng xóm, đường phố đứng ngắm, đón rình hễ cô đi ra ngoài gánh nước, giặt giũ, đi chợ… là cứ bám theo lẵng nhẵng như bầy đỉa đói. Sơ hở một chút là những bàn tay phũ phàng của chúng chẳng tha gì nắm bắt cô ở mọi nơi mọi chỗ trên thân thể cô.
Một cô gái trẻ, đẹp mới lớn lên, thân cô thế cô một mình ở giữa chốn phố phường thì làm sao mà chống trọi nổi với sự cám dỗ của lối sống thị thành? Làm sao mà chống trọi nổi với mọi mưu ma chước quỷ của những kẻ ăn chơi lọc lõi muốn chiếm tình yêu và thể xác của cô.
Cô đã chống trọi và né tránh được với những dục vọng đòi hỏi ở bản thân, cam chịu thân phận nghèo hèn, không dám đua đòi hình thức, không đi chơi bời, hội hè, xem hát, thậm chí cả chiếu bóng. Cô ăn mặc xoàng xĩnh và xuề xoà giản dị. Ngay trong việc ăn uống cô cũng tự hạn chế mình, không ăn uống xô bồ như trước nữa, chỉ ăn thanh đạm nhẹ nhàng, mặc cho gia đình có yến tiệc linh đình, cô chỉ làm người hầu trọn phận sự. Đến nỗi ông chủ bà chủ phải kêu lên:
-         Con bé này định đi tu chắc?
-         Nhà cháu nghèo, ăn mãi rồi nó quen đi, sau này lấy gì mà ăn – Cô trả lời chống chế như vậy. Nhưng thực chất là cô chuẩn bị để đi tu. Cô đã nhìn thấy nhà chùa rồi, đã hỏi những nhà sư. Cũng có người trẻ như cô. Những điều kiện để đi tu, cô đang tập sự nó. Cô cảm thấy các nhà sư thật là thanh thản lảng tránh mọi sự đời. Nhưng cô chưa thể đi ngay được, cô sợ mình không chịu đựng nổi, lại giữa đường đứt gánh, nên phải chuẩn bị rèn luyện cho bản thân đã.
  Cô đã chống trọi và né tránh được những bọn trai lơ si tình, ở ngay trong nhà chủ, và ở đường phố - đám con trai, bạn bè chúng và các tay anh chị đầu đường xó chợ. Cô ít đi ra khỏi nhà, và đêm đêm cô cửa đóng then cài như một bức tường thành hay một lô cốt, không tiếp bất cứ một ai. Cô không nhận và trả lời bất cứ một thư của ai, cô đã yêu cầu bà chủ giúp đỡ trên mặt này, và được bà chủ hoàn toàn ủng hộ một cách sốt sắng hơn. Có bà , tối tối đã tự mình khoá cửa nhốt cô ở trong buồng, để đề phòng những đức ông thích mày mò của lạ.
Cô đã thắng trên hai mặt trận, bản thân cô và những kẻ si tình nông nổi. Nhưng cô đã thua ở mặt trận thứ ba: những kẻ có quyền thế, giầu có và hào hoa phong nhã nhưng lại rất đa tình.
Ở bọn người này thường là những người già hoặc đứng tuổi, thường coi cô như cháu; họ đã trải qua cả một đời người yêu thương, hoặc ăn chơi lọc lõi, họ có nhiều bài bản kinh nghiệm trong cuộc sống và trong tình yêu; họ có đủ mọi thủ đoạn, mưu ma chước quỷ, để đạt tới dục vọng mà một cô gái ngây thơ như cô không thể nào lường hết được.
Đó là một ông chủ, làm giám đốc một xí nghiệp lớn, ông mới 50 tuổi, hơn tuổi bố cô, nếu bố cô còn sống; người to cao, nước da trắng trẻo, dáng vẻ bệ vệ đẹp trai, trông rất ưa nhìn. Ông thường đi, về bằng chiếc xe von – ga đen dành riêng cho giám đốc. Việc nhận cô về làm người hầu ở nhà là do vợ ông, chứ ông không biết gì hết. Chỉ khi cô gái đã ở trong nhà ông một thời gian, tuy còn đang gầy gò ốm yếu, nhưng con mắt tinh đời của ông đã nhìn thấy bóng dáng hoa hậu ở người cô. Và ông chính thức nhận cô làm con nuôi, cho thêm tình thân mật, để đối xử quan hệ, và ông giám đốc đỡ mang tiếng là thuê người làm.
- Con bé cháu ở dưới quê lên học việc đấy mà ! – Bà giám đốc thường nói với láng giềng và khách khứa như vậy. Ông giám đốc đặc biệt chăm sóc cô con gái nuôi như con gái út của mình, cũng xấp xỉ như cô. Mỗi lần đi công tác xa về, bao giờ ông cũng mua quà hoặc may sắm cho các con gái, cái gì cũng một đôi như nhau. Ngày chủ nhật thường cả nhà được đi chơi bằng xe ô tô. Khi thì Bãi Cháy, khi thì Sầm Sơn; hoặc chí ít cũng có hai cô gái với ông, hoặc bà ấy cùng cái Loan, nếu cô bé bận đi học ngày chủ nhật.
Ông còn động viên và hứa hẹn với cô:
- Con cứ chịu khó ngoan ngoãn, rồi bố sẽ cho đi học nghề hoặc xin việc vào làm ở xí nghiệp cho, vài tháng tới sẽ có một lớp học, để bố xem đã. Cô nghe mà cứ như mở cờ trong bụng, cái ước mơ có công ăn việc làm, được thoát li được biên chế nhà nước đã trở thành ước mơ của hàng triệu thanh niên thời đại này, huống gì cô, một con người đang chết đuối lại vớ được cọc. Cô ơn huệ gấp trăm lần, ông cho cô ở nhà ông, cô chờ đợi và cô tin tưởng;  hình tượng của ông, người cứu tinh của cô, người cha đỡ đầu cô, người ân nhân của cô, luôn luôn được in sâu vào lòng cô. Và rồi từ sự quý trọng đối với ông, cô nhìn thấy ông, có những nét đáng khâm phục. Đúng là một người đàn ông thời đại, cô thấy tự hào về ông.
- Ôi trông bố oai quá, đẹp trai quá,
- Ấy, con phải nói đẹp lão chứ!
- Vâng a! – Cô cười, cái cười của một cô gái ngây thơ, nhìn một con người hay một sự vật mà mình mới khám phá ra.
Sống ở nhà ông giám đốc, cô cảm thấy mình được sung sướng và hạnh phúc thực sự. Cô ngày càng đẹp ra, đúng như điều dự kiến của giám đốc và xì xào của mọi người xung quanh. Quần áo mốt thời trang nhất cô đều có. Và trong ví riêng của cô đã có một số vốn nho nhỏ, lúc thì bố cho, lúc thì mẹ cho, khi bà vắng nhà là ông thường dúi cho cô những món lớn, bảo cô muốn tiêu gì thì tiêu, nhưng cô để dành sau này làm vốn.
Rồi một ngày nghỉ chủ nhật, bà giám đốc bận ở nhà đi lễ đền với với các bà, vì bà mê tín, vì bà còn đang cầu tự, chưa có con trai, và bà còn mê cả tiếng hát chầu văn của cái ông thầy đàn ở chùa Trần. Nên bà chỉ để cho ông và hai cô con gái đi chơi cùng chồng thôi. Nhưng khi đến Sầm Sơn, thì cô con gái ông lại xin phép bố cho đi chơi với người yêu, việc này ông đã bố trí từ trước, còn anh lái xe, ông cũng đồng ý cho đánh xe về thăm nhà ở gần đó. Và thế là chỉ có hai bố con.
-         Thật là buồn, chúng nó đi hết cả (!)
-         Ông giám đốc nói vậy, và mìm cười trong bụng, còn cô Loan thì lại thấy vui, vì lần đầu tiên cô được ở gần bố một mình, để được làm nũng bố, để được bố chiều và để hỏi bố, nhắc nhở bố cái việc cho mình đi học, đi làm được sớm hơn, nhanh chóng hơn.
Trên bãi biển hôm đó người ta thấy một đôi trai gái tắm biển như hai bố con, mà cũng như một đôi tình nhân. Đêm đến chỉ có hai cha con uống rượu, uống bia với nhau trong một buồng khách sạn nhìn ra bãi biển, cô được ông săn sóc chiều chuộng. Chưa bao giờ cô được ai chiều như thế, nên cô cảm thấy sung sướng và tận hưởng. Cô uống quá nhiều rượu bổ. Một loại rượu kích thích thân thể cường tráng. Cô bị say nhưng chỉ là cái say êm dịu, mơ mơ màng màng, ông phải bế cô lên giường nằm và ông ngồi ngắm cô, vuốt ve mơn trớn cô, cô bị kích thích người cứ nóng bừng, hai mắt đỏ ngầu đờ đẫn như tê dại đi, người cô cứ run run, nói không lên lời. Cô bỗng ngồi nhổm dậy, ôm chồm lấy ông, gục đầu vào ông. Cô chủ động hiến thân cho ông.
Thế là con cừu non đã nhảy vào lòng con sói hung ác. Từ đó Loan trở thành bồ bịch với ông giám đốc, một gái bao của ông. Những cuộc tình của họ thường xảy ra ở trong một căn buồng do ông giám đốc thuê riêng ở một phố khác trong thành phố.
Loan đã có lúc thấy ân hận, muốn dừng lại, muốn thôi đi, nhưng không thể dừng được nữa. Trước hết nó bị ràng buộc bởi cái điều mà cô ân nghĩa trước đây ông đã cưu mang, và sắp tới cho cái việc đi làm trong biên chế của cô, nếu dừng lại, cô sẽ cảm thấy ân hận và chưa chắc cái nhiệt tình của ông giám đốc có còn nữa không? Sau nữa nó còn như một đòi hỏi của chính cô, cái thể xác phổng phao của tuổi dậy thì lại trong điều kiện được ăn uống no đủ thoải mái, nó cứ luôn đòi hỏi phải được thoả mãn. Và trong tình cảm vốn đã bị đau khổ mất mát nhiều, cô chưa có một tình yêu nào, có lẽ với ông, đây là tình yêu ban đầu, thành thử cô muốn níu chặt lấy nó, muốn được yêu đương, vuốt ve chiều chuộng, an ủi nhiều, cô chưa được ai yêu như ông và ngược lại cô cũng yêu ông với cả nhiệt tình của cô.
Nhưng chỉ hai tháng sau bà giám đốc phát hiện ra cái mối tình vụng trộm ấy. Những hiện tượng của một cô gái có mang không thể giấu được người đàn bà đã có ba con. Và cơn ghen của con sư tử Hà Đông nổi dậy, bà theo dõi, bà tìm kiếm, bà truy lùng, bà truy bức, cuối cùng cả cô Loan và ông giám đốc cũng đều không chối cãi được. Bà bắt trói Loan ở trong buồng đánh cho một trận thừa sống thiếu chết, rồi buộc ông giám đốc phải giải quyết hậu quả một cách êm thắm. Bà cho một số tiền bắt cô đi nạo thai, rồi đuổi cô đi thẳng cánh, với lời đe doạ: cấm không được quan hệ với ông giám đốc nữa, nếu còn bà bắt được bà xé xác vứt cho hổ vườn bách thú ăn.
Ông giám đốc bí mật cho cô đi bệnh viện, rồi thuê cho cô nghỉ ở một căn buồng khác kín đáo hơn, hàng ngày ông nhờ người săn sóc cô; sau một tuần lễ thì cô bình phục. Ông giám đốc đến, đưa cho cô chiếc va li nhỏ, đựng toàn bộ đồ dùng quần áo của cô mà ông đã mua sắm, cho một số quà bánh và cho cô thêm 10 ngàn đồng, một số tiền kha khá lúc đó, chắc hẳn ông mong muốn để chuộc lại lỗi lầm của ông hoặc trả giá cho sự phá hoại một đời con gái của cô, ông ân hận không thể cưu mang hoặc bao cô được nữa, vì dư luận nhà máy đã xì xào. Ông cần phải cắt đứt, để cứu vãn lấy cái ghế giám đốc của ông. Ông khuyên cô nên trở về quê làm ăn sinh sống với bố mẹ. Ông chia tay cô, không hề nhắc gì đến chuyện cho cô đi học hay vào làm trong xí nghiệp nữa. Từ đó cô không gặp lại ông giám đốc có cái tên là Toàn ấy nữa.
Hi vọng của cô về công ăn việc làm đã hoàn toàn tan vỡ, tình yêu của cô bị trà đạp, trái tim của cô bị suy sụp hoàn toàn.
*        *        *
*       *
 Giữa lúc cô đang suy sụp về tinh thần và nằm lì ở khách sạn du lịch, chưa biết tính toán ra sao, thì cô lại gặp bác Sạn, một ông già ngoài sáu mươi tuổi, người cao mảnh khảnh, mái đầu gần như bạc trắng, nước da xạm đen, dáng người thô kệch và tính tình thì khô khan. Ông là một cán bộ cao cấp, hình như là thứ trưởng của một bộ nào đó, cấp trên trực tiếp của ông giám đốc Toàn, mà cô Loan đã gặp một vài lần hoặc là khi ông đến chơi, ăn uống tại nhà ông Toàn hoặc là cô đã cùng ông Toàn đến thăm ông, đôi khi đưa quà bánh tặng phẩm đến biếu ông. Đã có lần ông xoa đầu cô và khen trước mặt ông Toàn:
- Chú Toàn có cháu bé kháu khỉnh và ngoan đáo để nhỉ? Thỉnh thoảng đưa cháu lại đằng tôi chơi cho vui nhé. Giá mà tôi có được một con bé nhà chú mà nuôi thì cũng vui cái tuổi già?
- Ông thứ trưởng mỉm cười và nháy mắt với ông giám đốc. Những lúc đó cô Loan chỉ biết lễ phép vâng dạ và quý trọng ông, vì ông là khách quý của gia đình, là cấp trên của bố Toàn, tuy ông đáng tuổi ông nội của cô, nhưng vì là con chú Toàn nên chỉ được  gọi ông là bác Sạn cho thân mật tình gia đình.
Không hiểu vì đâu, bác Sạn biết hết cái chuyện giữa cô với ông Toàn, và bác tỏ lòng rất thương cháu Loan, hoàn cảnh côi cút lại gặp không may trên đường đời.
- Thôi cháu cứ về nhà bác nghỉ ngơi ít lâu cho khoẻ mạnh đã rồi hãy về quê, trông cháu dạo này yếu lắm, hình như cháu đang ốm thì phải, cứ về ở với bác ít ngày, rồi bác sẽ bảo chú Toàn, à bảo bố cháu lo liệu cho… Cháu biết đấy, bố cháu là cấp dưới của bác cơ mà, lại là tình người nhà thân thiết, bác sẽ bảo bố cháu phải nghe. Mà nếu cháu muốn, thì bác sẽ thu xếp chỗ khác cho lo gì..
Đang chết đuối lại vớ được cọc, cái hi vọng, cái ước mơ về một công ăn việc làm, về một vị trí tối thiểu trong xã hội, vẫn còn có chỗ le lói, nhen nhóm lên. Sau một vài lần ông già đến thăm cô ở khách sạn, cô xách va li lên chiếc xe LA-ĐA của ông về nhà ông ở một khu phố sang trọng hơn.
Những ngày đầu cô hoàn toàn với danh nghĩa là cháu bé con gái ông bạn giám đốc đến chơi thăm bác, rồi sau đó là cháu đến ở chơi nhà bác chờ đi học nước ngoài, rồi tiếp sau là cháu gái đến ở giúp đỡ bác một thời gian, thay bà công vụ đang nghỉ phép về quê thăm con cháu. Chả là ông thứ trưởng sống độc thân, bà vợ ông đã chết cách đây mấy năm, con cái đều đã trưởng thành, toàn những đứa đi Tây hết, chúng đã có con cái và ở riêng hết cả rồi, chẳng có đứa nào ở với ông già cả. Ông được tiêu chuẩn cơ quan cử công vụ đến phục vụ và nấu ăn riêng cho ông. Nhưng ông không lấy người ở cơ quan. Trước đây khi bà còn sống thì ông lấy tiêu chuẩn đó cho bà phục vụ ông, từ khi bà chết, ông xin cơ quan cho phép tự tuyển người phục vụ cho hợp với tính nết và phong cách của ông, cơ quan chỉ việc chi tiền trả lương; cũng chẳng ai muốn động đến ông già khó tính ấy.
Thực ra chẳng phải là ông khó tính lắm đâu, người ta cứ đồn thế, mang tiếng cho ông. Trông con người ông khô khan là vậy nhưng bên trong lại là một con người rất tình cảm và tâm lý, ông có một tấm lòng nhân hậu. Trước hết ông dùng cái lương công vụ ấy lần lượt để trả ơn trả nghĩa cho những người mà ông nặng tình nặng nghĩa, đó là bản thân hoặc con cái của những người đã giúp đỡ ông trong những ngày hoạt động cách mạng trước tháng 8 năm 1945. Và sau này trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Ông mời họ lên ở chơi một thời gian, tiện thể giúp đỡ một vài việc vặt trong nhà, không ai nỡ để ông cán bộ cách mạng già lại tự nấu cơm, bưng bê hầu hạ khách, tất nhiên khi nhà có khách đông thì thế nào cũng có mấy cháu hành chính đến giúp. Nhưng ít khi ông tiếp khách đông ở nhà, trừ ngày giỗ ngày tết mà ông có trách nhiệm phải lo liệu với gia đình họ hàng.
Thật là một công đôi việc của người phúc ta, vừa có tình vừa có nghĩa mà lại hợp lý hợp tình với cơ quan, chẳng ai nói gì ông cả, ai cũng khen ông là con người tình nghĩa. Chỉ có gần đây ít lâu, tự nhiên người ta thấy ông ngày càng khó tính ra, chắc hẳn vì tuổi càng già càng khó tính? Đáng lẽ ông đến tuổi về hưu rồi, nhưng ông chưa muốn nghỉ. Con người cách mạng như ông nghỉ thì sớm quá, ông muốn cống hiến nhiều hơn nữa cho cách mạng đến trọn đời, vì thế ông cứ nằn nỉ xin xỏ ông này, ông nọ để ở thêm một vài năm nữa. Cái tuổi 65 của ông, ông cố gắng tạo cho mình phong thái còn mạnh mẽ còn sôi nổi, nói năng nhiều, đi lại, tiếp xúc nhiều, đặc biệt là ông hay ngắm vuốt cầu kỳ, lúc nào cũng sang trọng, đường bệ. Và bà vợ chết đã lâu, mấy năm nay rồi, ông bỗng thiếu tình cảm, sức tình của ông cũng trỗi dậy, ông thích đi chơi bời, xem hàt, dạ hội, đến những nơi mà trước đây ông thường rất ghét hoặc ít đến. Nhưng bây giờ đến để “Xem bọn trẻ nó làm ăn ra sao”. Thực ra là ông đang học tập bọn trẻ, cố tạo cho mình được trẻ lại, ông luyến tiếc những ngày đã đi qua, ông muốn tận hưởng những lạc thú trên đời những ngày còn lại của cuối cuộc đời mình.
Vì thế nên ông khó tính, không một người bà con họ hàng nào ở quê ra giúp việc phục vụ làm ông hài lòng nữa. Ông bắt đầu thuê chọn những người  mà ông ưa thích, trước hết là những người tình cũ đang sống trong hoàn cảnh cô đơn, ông kéo đến để cho có bạn già, sống lại những ngày trai trẻ một thời, tất nhiên là những bà còn chút máu mặt và trẻ hơn ông, các bà ở tuổi trên dưới 50 mà thôi. Họ sống lại với nhau thật chân tình, vì đó là những tình nhân cũ, săn sóc chiều chuộng nhau hơn vợ chồng, bởi vì họ muốn sống gần, sống cho đã những ngày đã qua, kẻo sắp chết mất, phí của đời. Người ta thấy ông thứ trưởng già bỗng nhiên trẻ ra, hoạt bát và tươi tỉnh hẳn lên. Có lẽ do ông được thoải mái tư tưởng? Được hoạt động cơ thể và tâm sinh lí bình thường? Và được tẩm bổ nhiều sâm nhung, thuốc men quý hiếm? Có cả ba nguyên nhân đó, đặc biệt ông rất chú ý chăm sóc sức khoẻ, chăm tập thể dục và chăm bồi dưỡng tẩm bổ. Trong buồng ông lúc nào cũng có dây co cử tạ, có vợt bóng bàn, cầu lông, trong tủ ông lúc nào cũng đầy ắp rượu rắn, tắc kè, mã kích…. Tử các nơi gửi biếu.
Nhưng rồi người ta không thể sống mãi với quá khứ được, các bà tình già lần lượt được trả về vị trí cô đơn cũ của mình, chỉ thỉnh thoảng vãng lai thăm hỏi chốc lát mà thôi, ông đi tìm những tình yêu mới cho phù hợp với cái tâm hồn hồi xuân của ông. Ông thứ trưởng của chúng ta bắt đầu “say sưa ” lớp trẻ. Ông cảm thấy hình như tạo hoá sinh ra cho ông một quy luật riêng ở đoạn đời này, vì càng về già ông lại càng thích các bà các cô gái trẻ. Nếu như ở tuổi
60 ông thích một bà khoảng trên dưới 40 tuổi “cho nó chững chạc” thì đến tuổi 62-63 thì ông lại thích một cô ở quãng 30 tuổi “cho nó tâm lý”, còn ở tuổi 65-66 của ông, ông lại ưa các cô cháu gái trên dưới 20 tuổi “cho nó trẻ trung” (!)
Thế đấy, và người ta thấy ông thay đổi người phục vụ luôn, chỉ dăm ba tháng 1 lần, có khi 1 – 2 tháng, thậm chí có cô chỉ ở một vài tuần ông đã thay; tất cả đều với lý do là do họ: đứa thì không biết làm ăn, người thì lừơi, cô thì phải về lấy chồng, kẻ thì hay ăn cắp vặt, hay ăn quà.vv…
Danh sách trả lương phục vụ cho ông ở cơ quan chỉ có một tên nhưng có khi ông đã thay đổi 3 – 4 người mà vẫn để nguyên tên cũ ở đó, nhưng cũng chẳng ai để ý đến, một vài người có biết nhưng họ cũng cho qua, bởi lẽ “chuyện đó là sinh hoạt ấy mà” vả lại “ông già được mấy sức? cuối đời thôi mà!”. Có kẻ chỉ nói: “mặc kệ! tham  thực thì cực thân, không giữ gìn thì có lúc lại không chết rũ ra ấy à?”…
Riêng ông và một số bạn già cũ thường nhắc đi nhắc lại cái chuyện của ông Gớt, nhà thơ vĩ đại người Đức, 75 tuổi còn yêu một cô gái 18 tuổi, vì thế nên nhân loại mới có được một tập thơ tình tuyệt tác lưu lại đời đời. Rồi cái chuyện ông Nguyễn Công Trứ làm quan đời xưa năm 73 tuổi còn cưới cô nàng hầu thứ tám mới 16 tuổi thì đã sao?
-         Thì nói đâu xa, ngay ở Hà Nội này mấy năm trước chả có một ông lang ở phố Lãn Ông 70 tuổi còn cưới một cô vợ 18 tuổi đấy thôi.
-         Ôi dào, cái chuyện ấy từ cổ kim đông tây đều có cả cơ mà, chứ riêng gì cánh ta đâu, thế mới gọi là quy luật, đã là quy luật thì phải có tính phổ biến chứ lị (!). Nói rồi các ông cười ha hả khoái chí với cái quy luật ấy.
-         Trong việc chơi bời, tìm kiếm lớp trẻ mới này, ông thứ trưởng cũng có nhiều kiểu cách. Thường là ông lựa chọn trong số bọn con gái lang thang do một số bạn già chiến hữu giới thiệu hoặc thải ra, chuyển lại, hoặc do cấp dưới, bọn đàn em bợ đỡ xu nịnh tình cảm với cấp trên cống nộp một cách tế nhị, với những cái giá bằng một chữ ký hoặc lời phê vào một tờ trình nào đó mà họ cần, và xét không ảnh hưởng gì lớn tới ông.
     Cũng có trường hợp ông chủ động nẫng tay trên của một cấp dưới hay bạn bè yếu thế hơn mình, với điều kiện trả giá thoả thuận, xòng phẳng.
    Còn trường hợp của Loan, “con nuôi” của giám đốc Toàn thì lại là trường hợp may mắn hiếm có – Ông không phải tranh chấp, ông không phải trả giá gì mà bỗng nhiên rước được một con bé vừa trẻ vừa đẹp như hoa hậu “thằng cha Toàn cũng tiếc lắm đấy, nhưng cực chẳng đã, nó phải bỏ rơi, tại cái con vợ nó quá quắt”, ông thầm nghĩ như vậy và ông thấy mình không đi bước nữa thế mà hay
.     Dự định của ông chơi bời cũng chỉ có thời có lúc thôi, tuổi tác của ông nó đòi hỏi ở cái tình cảm là chủ yếu chứ đâu phải là cái tình dục. Ông đang muốn tìm một cô nào đó mà mình ưa thích và hoàn cảnh điều kiện có thể ở với ông lâu dài, để ông dành tất cả tình cảm tình yêu của ông cho nó, để nó mãi mãi ở với ông, ông sẽ chăm sóc nó, xây dựng cho nó, dựng vợ gả chồng cho nó, xây dựng nhà cửa cho nó, để khi về hưu, ông sẽ ở với nó để nó trông nom tuổi già cho ông, như một gia đình cha con thực sự.
Như cái cảnh của Jăng- Van –Jăng và Cô – Dét (*), nhưng Cô – Dét của ông phải là một người tình thực sự của ông cơ, chứ không phải chỉ là cái vỏ như của Jăng- Van – Jăng mà ông Vichto Huygô đã dựng nên cho.
Loan mà ông đã gặp ở nhà giám đốc Toàn, thật đúng là con bé mơ tưởng, vì thế ông đã tìm hiểu lai lịch nó, và ông đã có ý định chiếm nó trong tay Toàn. Cái thế của ông là thế mạnh, cái thế của Toàn là thế yếu. Việc bài binh bố trận của ông rất đơn giản chẳng có gì phải hiểm hóc, ông chỉ khèo nhẹ, kích vợ Toàn một cái là xong thôi. Ông sẵn sàng dăng lưới chờ đợi. Cái lưới đó ông đã dăng sẵn ở khách sạn mà Toàn đã nhờ ông đưa Loan đến ở. Con cá đã vào lưới ông, một cách gọn nhẹ êm ru.
Chỉ một tháng sau, ông bác thứ trưởng đã xin cho đứa cháu con chú em giám đốc, cái quyết định chính thức vào biên chế “nhân viên tiếp tân” thuộc bộ chủ quản. Cô “con gái nuôi” của ông giám đốc Toàn trở thành “người phục vụ” cho thứ trưởng Sạn là như thế đó…
 
 
 
 
*        *        *
*       *
 Sau một tháng phục vụ cho ông thứ trưởng Sạn, cô đã cầm trong tay cái quyết định biên chế của cơ quan, lại là một cơ quan có tầm cỡ cấp bộ, ở thủ đô Hà Nội chứ chẳng phải đùa. Cô có tên trong sổ lương hàng tháng, có chứng minh thư, có thẻ công đoàn, có giấy ra vào cơ quan. Mức lương bằng với những người đã có công tác phục vụ hàng chục năm. Cô đi lại, ra vào cơ quan được nhiều người chú ý, trầm trồ khen ngợi, nhất là với những cán bộ, nhân viên trẻ. Cô đã có ít nhiều bạn gái, bạn trai mà bao giờ cô cũng là trung tâm, là mẫu mực cho các bạn gái bắt chước noi theo, từ kiểu đầu tóc mới nhất, mốt quần áo xa lạ, từ đôi giày cao gót, cái đồng hồ đeo tay, vòng dây chuyền, chiếc nhẫn…
Khi cô đã đạt tới cái đỉnh cao danh vọng mà cô tưởng chừng như mơ ấy, và khi những kẻ khác đang mơ tới cái vị trí của cô, cái danh vọng của cô, thì cô lại cảm thấy bình thường, lại cảm thấy quá tầm thường và cô đã chán, cô đã thất vọng, cô đã buồn nản. Có phải cô lại muốn cao hơn nữa chăng? Đứng núi này trông núi nọ mà? Không, cô chẳng biết có cái gì cao hơn không, nên cô chẳng muốn, cô chỉ thấy cái vị trí mà cô đang đứng, mà cô đang làm, chỉ là chán ngán, vì cô đã phải vật vã, vì cô đã phải hi sinh, vì cô đã quá mệt mỏi tinh thần.
Ông thứ trưởng yêu quý cô như tình cha con, và cũng kính trọng cô như một tình nhân cao quý. Ông sống lẫn lộn giữa tình yêu và tình thương hoà hợp. Ông cưng chiều chuộng cô và tin tưởng cô. Ông giao cho cô quản lý toàn bộ gia đình, một cái điều mà chưa bao giờ ông trao cho ai, kể cả khi bà vợ ông còn sống. Như vậy là cô có toàn quyền như một bà chủ của một gia đình cán bộ cao cấp, đời sống khá phong lưu, vương giả, mà lại ít người, chỉ có hai người, ông và cô. Cô có toàn quyền mua sắm, ăn diện và tiếp khách. Cô cũng có quyền dành dụm lại riêng cho cô ít nhiều, để làm vốn liếng khi xây dựng gia đình hoặc khi xa cơ lỡ vận, cái cảnh xuất thân con nhà nghèo thường hay lo xa, nghĩ đến. Ông cũng hoàn toàn đồng ý chiều theo, trích trong phần lương của cô và tiết kiệm của ông. Ông chiều cô để cô vừa ý, để cô được thích thú, chứ ông tin rằng ông đã nắm chắc được cô, con chim nhỏ yếu ớt này không thể rời được cái tổ ấm nhung lụa của ông, cho nên ông hoàn toàn tin tưởng và trao quyền cho cô. Ông không đòi hỏi dục vọng ở cô nhiều, ở cái tuổi của ông, ông chỉ cần tình cảm nhiều hơn, thông thường buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng dậy, cô xoa bóp cho ông theo những bài bản mà ông đi học được, rồi về truyền lại cho cô (!). Thời gian đầu khi mới chiếm được cô, tưởng chừng như ông ngấu nghiến nuốt chửng cô, ông dốc hết số thuốc men dự trữ đầu tư của ông cho những cuộc tình đó. Nhưng rồi về sau thưa dần và gần đây, chỉ thi thoảng, năm thì mười hoạ ông mới đòi hỏi ở cô, thường là chỉ trong chốc lát ngắn ngủi, đôi khi chỉ làm cô bực mình, nhưng ông không thể thiếu hơi ấm và da thịt của cô.
Cô chẳng có tình yêu gì với ông như đối với ông giám đốc Toàn. Cô chỉ phó mặc cho ông, muốn làm gì thì làm. Đối với ông cô chỉ có cái tình của kẻ chịu ơn huệ, trả nghĩa với ân nhân mà thôi. Đôi lúc, cô cũng nghĩ đến, thôi thì “chót vì tay đã nhúm chàm”, “một liều ba bảy cũng liều”, cô cứ thử liều làm vợ một ông thứ trưởng xem sao? Đã khối người như thế rồi đấy mà thời gian qua sống ở đây cô đã được nghe được thấy, và họ đã thành “cô” thành “bà” đấy, cũng chẳng sao! Cô đem chuyện đó bàn với ông, liền bị ông gạt đi.
- Nếu cô thật thương tôi, thì hãy cứ tạm sống như thế này chẳng tốt hơn ư?
Ông rất yêu cô, quý cô nhưng không muốn cưới cô, bởi lẽ ông muốn giữ cái tiếng là con người đạo đức, thuỷ chung với người vợ cũ, ông không muốn các con ông làm rùm beng lên như nhiều người khác, và ông càng không muốn để cơ quan có cái cớ cho ông là hưởng lạc, làm mất uy tín của ông, và buộc ông phải về hưu. Nhưng ông cũng không muốn mất cô, nếu cô muốn ông sẵn sàng cưới cô nhưng là sau khi về hưu kia, nhưng lại không muốn hậu quả về chuyện con cái, già rồi mà nuôi con mọn thì chỉ có chết, còn người con gái thì lại không muốn là người không có con. Vì thế ông chọn một con đường cho cô, khi ông về hưu, ông sẽ gây dựng gả chồng cho cô.
Ông thứ trưởng chỉ muốn cô mãi mãi là của ông. Ông chỉ muốn người ta phục vụ ông, tôn trọng ông, nhưng ông lại không muốn tôn trọng hạnh phúc của người khác. Ông muốn được sử dụng, được hưởng lạc, nhưng lại không muốn gánh chịu trách nhiệm hậu quả do ông gây ra, ông cũng không tôn trọng hạnh
phúc của người mà ông thương yêu, chung đụng. Ông muốn trút cho người khác chịu đựng, với danh nghĩa một người chồng của cô sau này. Sau này là bao giờ? Liệu ông còn bám cái cương vị này bao nhiêu lâu, Ừ thì cũng chóng thôi, nhưng khi về hưu đã chắc gì ông buông tha cô, và đến khi ông nhượng bộ, như ông hứa, thì đã chắc có ai dám lấy cô với cái vai trò như thế không?
Cô Loan bé nhỏ và xinh đẹp đã đạt được cái danh vọng: có công ăn việc làm, có cái mẽ cao sang, nhiều người mong mỏi không bao giờ có. Rồi cô lại đạt được sống no đủ, làm bà chủ một gia đình kinh tế khá giả, mà nhiều người đàn bà phấn đấu cả đời mà không được. Ấy thế mà cô vẫn buồn chán. Bởi lẽ cô đã thất vọng trong tình yêu.
Cái cuộc sống vương giả của cô hiện nay càng làm cô thèm khát một tình yêu chân chính. Cuộc đời này cô tuy còn trẻ, mà đã trải qua bao nỗi thăng trầm, tình yêu của cô đã quá nhiều trắc trở. Mối tình đầu với ông giám đốc đã tan vỡ, cô đã phải hi sinh một đứa con, và trải qua một trận đòn khủng khiếp. Được ông thứ trưởng cứu vớt, được ông thương, ông yêu quý cô hết mức, tình yêu của ông đối với cô như mù quáng như ngây dại, cô được chiều chuộng, được tôn thờ, được kính trọng. V ậy mà cô lại không thể yêu ông được. Bởi lẽ ông chỉ cần tình yêu của cô làm thoả mãn cuộc sống của ông, bởi ông chỉ muốn ích kỷ cho riêng mình, ông chỉ muốn cô suốt đời chỉ là một cô nhân tình chung thuỷ của ông, như một nàng hầu của ông – kiểu như vua quan đời xưa. Ông chỉ muốn dùng cô để cân bằng cuộc sống của ông, để ông vẫn ung dung ngồi vững trên ghế thứ trưởng, mà không phải trả giá cuộc đời.
Cô chỉ còn cái nghĩa với ông, cô chỉ còn cái nhiệm vụ đối với ông. Nhưng khát vọng về một tình yêu vẫn ngày càng nung nấu cô, thôi thúc cô mãnh liệt. Cô vẫn yêu quý ông, kính trọng ông và cô vốn là con người biết tự trọng, cô không làm điều gì khiến ông không hài lòng. Cô không quan hệ tình cảm với bất cứ một ai, bởi lẽ tình yêu trong cô hầu như đã chết rồi, đến nỗi trong cơ quan nhiều người đánh giá cô là con nhà gia giáo và đứng đắn, càng làm nhiều người quý mến cô.
Ở cơ quan ông vẫn giữ nghiêm quan hệ giữa thủ trưởng và nhân viên, ấy là khi ở cơ quan thấy có việc gì nhắc đến cô với những người khác, chứ mấy khi cô đến cơ quan. Còn ở nhà thì rõ ràng là quan hệ bác cháu, cha con thực sự. Cái quan hệ yêu đương chỉ có ở trong lòng ông và khi chung đụng với cô. Thành thử cơ quan và hàng xóm láng giềng bạn bè ông cũng đều không có ai nghi ngờ gì cả.
*        *        *
*       *
 Đúng vào cái đêm trăng lu ấy. Trời về khuya, đường vắng tanh. Bỗng có một chiếc xe ô tô con kiểu U – oát, mà biển số đã bị bùn đất bắn lên, hoặc người ta cố tình xoa lên cho mờ đi, không nhận ra là số nào thuộc địa phương đơn vị nào cả. Chiếc xe phóng từ hướng Hà Nội về, chạy với tốc độ khá nhanh, như sợ có xe nào đuổi đằng sau.
Đến đoạn gần cầu Vực Thẳm, tức là sắp vào thành phố, chiếc xe bỗng phanh kít lại, đít xe bị đột ngột nhấc bổng lên, tưởng chừng như sắp lật ngửa chiếc xe lộn về đằng trước. Cửa bên trái mở ra, và bóng một người được đẩy từ trong xe lao ra ngã xuống bên vệ đường.
Trong xe có tiếng nói to như cãi nhau:
- Anh Hai, một lần nữa em xin anh, cho em mang nó đi theo, trời con bé ngon quá mà anh, đưa đi cũng có giá đấy chứ - Vừa nói hắn vừa nhảy xuống.
 -Thôi im đi, thiếu cha gì đứa hay gấp trăm lần, muốn chạy cho êm, mà còn cứ nhũng nhẽo, không khéo chết cả lũ.
- Thì cũng phải để em bịt cái mồm nó lại đã chứ, kẻo bị lộ không kịp mất. Vừa nói hắn vừa rút một con dao găm sáng loáng.
- Ê, không cần, gây sự lúc này không ổn đâu. Thôi kệ xác nó, nhanh lên đi mày.
Tên ở dưới đường đã kịp cúi xuống cô gái đang nằm dưới vệ cỏ.
-         Vĩnh biệt cô em.
-         Hắn nhảy lên xe, chiếc xe vù ga lao vút đi, để lại một mình cô gái nằm ngơ ngác.
….Cô gái đó chính là Loan. Cô bị đẩy từ trên xe xuống quá mạnh, nên bị ngã dúi dụi xuống vệ đường. Người cô như bị choáng, nên bọn trên xe, chúng nó nói gì với nhau cô cũng không nghe rõ, chỉ loáng thoáng, loáng thoáng. Khi tên trên xe xuống thọc tay luồn vào ngực cô, cô mới sực tỉnh, và theo quán tính, giơ hai tay giữ lấy ngực, cũng là giữ lấy cái gói nhỏ để trong nịt vú của cô. Nhưng hắn đã giật mạnh làm đứt cả dây chằng và tung cả khuya áo ngoài của cô, làm cô không kịp chống lại. Đó là một gói vàng nhỏ, mà thằng đàn em định giấu riêng; hắn đã bí mật nhét vào ngực cô gái từ lúc ở sào huyệt đi, mà tên đại ca không biết.
Tên đại ca băng trưởng của băng cướp này có cái biệt danh là thằng “gấu chó” còn cái tên xuống đường “vĩnh biệt” cô có biệt danh là thằng “lợn ỉ” ngoài ra trên xe còn một thằng nữa, râu ria xồm xoàm mặt mũi gớm ghiếc, cô không biết tên là gì. Hắn lái xe như điên, và miệng câm như hến.
Cái lạnh của cây cỏ và mặt đất, của sương đêm làm cô tỉnh lại. Nhìn bầu trời đêm ngơ ngác, bàng hoàng. Cô bỗng nhớ lại những ngày đã qua trong sào huyệt của băng cướp và cô bỗng oà lên khóc tu tu giữa đêm thanh vắng. Giá như cô cứ ở nhà ông thứ trưởng, giá như cô đừng xin nghỉ phép đợt này, và giá như cô đừng có đổi lòng thay dạ với ông Sạn thì đâu đến nỗi ấy. Ôi sự đời thật đắng cay, rời cùm bẫy này lại xa vào nanh vuốt khác. Cô ân hận và tự trách mình “gieo gió phải gặp bão”.
Số là những ngày gần đây, bỗng nhiên cô nhớ đến quê hương, nhớ đến người mẹ thân yêu và nhớ cả bầy em nhỏ cùng mẹ khác cha của cô. Có lẽ do sự buồn chán, nỗi tuyệt vọng ở gia đình ông Sạn, làm cô nhớ đến những người thân? Và cô cũng muốn được thay đổi không khí cho tâm hồn được khuây khoả. Cô chưa dám có ý định xa rời hẳn ông Sạn, người ân nhân mà cô phải ơn huệ suốt đời, nhưng cô cũng muốn dần dần thay đổi quan hệ cho bình thường hơn. Đã liên tục mấy tháng trời nay, cô không xa rời ông, cô ít được đi đây đi đó tự do như hồi ở với ông Toàn. Cho nên cô cũng muốn được đi xa về gần, và để ông làm quen với những ngày thiếu hơi ấm của cô, làn da mịn màng của cô. Kết hợp với nỗi nhớ nhà bùng lên, làm cô có ý định muốn về thăm nhà.
Cô đã tin tưởng ông như tin tưởng một người cha thân yêu, nên cô đã nói hết hoàn cảnh gia đình và cuộc đời với ông. Ông tỏ lòng thông cảm và bao dung không bao giờ nhắc lại làm cô buồn phiền. Cô đã đấu tranh với mình, suy nghĩ nhiều ngày, xem có nên về không, đã nên về chưa? Mặc dù ở đó, có con người gây nên nỗi bất hạnh của cô, là nguyên nhân, nguồn gốc đau khổ của cô, cô vẫn còn e ngại, tuy không sợ như trước nữa. Nhưng cô còn bà mẹ thân yêu và những người thân khác, mà hơn một năm nay cô không được gặp.
Nhất là mẹ cô, mẹ thương cô lắm, hẳn trong những ngày qua bà đã khóc hết nước mắt vì cô. Cô không thể không về thăm mẹ được.
Dù sao, bây giờ cô đã là người của nhà nước, là công nhân viên của một cơ quan ở Trung ương. Cô cũng đã có cuộc sống tương đối đầy đủ, cũng đáng tự hào lắm chứ, mặc dầu nỗi lòng cô đắng cay, nhưng nào ai biết. Và cô cũng có quyền để làm cho mẹ vui, gia đình vui, để xoá đi những tai tiếng với làng xóm.
Ông thứ trưởng Sạn ủng hộ việc về phép của cô, tuy rằng có hơi buồn, bởi lẽ những ngày cô đi vắng, ông sẽ sống với ai? Có lẽ ông phải vào bếp tập thể cơ quan? Nhưng mọi việc đều ổn thoả, Chính Loan đã đi nhờ bạn đến thay, săn sóc ông trong những ngày cô vắng nhà.
Ông Sạn định cho xe đưa cô về, nhưng đáng tiếc là tuần lễ này ông đang bận họp, họp hành liên miên, vì ông cũng chỉ biết có đi họp. Chả lẽ một ông thứ trưởng đến họp lại đi bộ, đi xe đạp, đi xe buýt hay đi nhờ xe người khác?
Nhưng ông Sạn cũng không băn khoăn nữa, Chính Loan không muốn đi xe của ông về quê. Làm như vậy nó lộ liễu lắm, ấy là do tự cô có tật giật mình đấy thôi… Cô quyết định đi xe hàng, cũng chẳng có gì là xa, hơn một trăm cây số, từ sáng đến trưa là về đến nhà.
Ông Sạn chuẩn bị quà bánh cho cô, toàn những đồ quý mua trong cửa hàng Intershop. Rồi ông ký giấy phép và cả giấy công tác, để cô có giấy tờ hợp pháp về trình diện với gia đình, với hàng xóm quê hương. Cô đi chỉ một tuần lễ mà cứ tưởng chừng như sắp đi xa mãi mãi. Đêm chia tay cứ như có linh tính một điều gì đó, không những ông mà ngay cả cô cũng đằm thắm quyến luyến. Bữa cơm sáng vừa buồn vừa vui. Vui cho cô và buồn cho ông, cũng buồn cho cả cô nữa.
Sáng hôm đó, nhân thể đi họp ở một cơ quan trong nội thành, ông cùng lên xe đưa cô ra bến xe về Hải Phòng.
Cô xách va li xuống, vẫy chào ông, chờ cho xe ông đi khuất, mới quay lại, định vào bến xếp hàng lấy vé. Bỗng một chiếc xe du lịch kiểu Mát – cô – vít màu xanh còn bóng loáng dừng lại bên cạnh, anh chàng lái xe trẻ, mở cửa gọi to:
-         Cô Loan!
-         Ô,… cô còn đang ngơ ngác, không nhớ người lái xe này ở đâu, thì anh ta liền nói luôn:
-         Xe đi về Hải Phòng đây, hôm qua bác Sạn dặn, nếu hôm nay đi Hải Phòng thì đón Loan đi cùng, tôi đã vào nhà, thấy Loan và bác Sạn đi rồi, nên mới vòng ra đây, may quá vẫn còn kịp. Thôi lên xe đi!
-         Thế có ai đi nữa không?
-         Còn đón một chị ở Vụ Tổ chức đi lấy hàng nữa!
-         Ôi thế thì hay quá! – Những lời anh lái xe nói, làm cô tin sái cổ, không còn nghi ngờ gì nữa. Anh ta xuống mở cửa xe phía sau trịnh trọng như đón khách.
Chiếc xe đó không đi Hải Phòng, nó ngoằn ngoèo trong thành phố một lúc rồi rẽ vào một vùng ngoại ô, nói là đi tìm bà Tổ chức. Gã lái xe đưa cô vào một căn nhà bảo ngồi chờ một lát để đi tiếp xăng. Chiếc xe lại lao vút đi mang theo toàn bộ va li của cô, cô không kịp cầm lại.
Cô bị sa bẫy của một băng cướp nhẹ nhàng như thế đó. Cô cứ suy nghĩ mãi, không hiểu làm sao, chúng lại biết được việc cô đi phép và lại lừa đón được cô như vậy, và chúng cần gì ở cô?
Vào một ngày chủ nhật trước đó ít lâu, có một nhóm thanh niên la cà ở một khu chợ Hà Nội, bỗng thấy một cô gái trẻ đẹp, đi một chiếc xe đạp Mini, làm bọn thanh niên lác mắt, chúng liền nháy mắt nhau bám đuôi. Rồi chúng xì xào tấm tắc khen cô hết điểm này đến điểm khác. Chúng không rời cô từ lúc cô vào chợ, đi mua sắm thức ăn, rồi ra khỏi chợ. Trên đường về nhà, chúng phân công một kẻ theo dõi cô để biết địa chỉ của cô. Rồi những ngày sau, bằng cách nào đó chúng điều tra nắm được lai lịch và những hoạt động thường ngày của cô.
Nhóm thanh niên đó là một băng cướp, có cái tên là “Băng cướp cuộc đời”. Chúng là những thanh niên hư hỏng, lười lao động, ăn chơi trác táng, tụ họp lại với nhau đi ăn trộm, ăn cắp, rồi trấn lột, ăn cướp, rồi thành băng cướp – cướp của và cướp cuộc đời những cô gái trẻ đẹp. Những tên trong bọn đều còn rất trẻ nhưng đã trải qua ra tù vào tội nhiều lần, chúng chỉ có dăm bảy tên chủ yếu, với những cái biệt danh nào là “Gấu chó”, “Lợn ỉ” nào là “Lùn thọt”, “Răng cá ngựa” v.v…
Phần lớn là bọn thanh niên trẻ, đẹp trai, trông bề ngoài rất bảnh bao và rất lịch sử, nhưng lại rất liều lĩnh, dã man và bỉ ổi “Băng cướp cuộc đời”, đang ở giai đoạn diệt vong, phần lớn đã bị bắt, chỉ còn lại ba tên đang ẩn núp bí mật trước sự truy nã của công an. Thỉnh thoảng chúng mới lại hoạt động một cú chớp nhoáng rồi nằm im. Chúng đang bí mật chuẩn bị  vượt biên để trốn, tránh các cơ quan pháp luật của ta đang truy lùng ráo riết. Ngoài việc chuẩn bị vàng và thuốc phiện để mang theo, chúng còn muốn đem theo cả gái đẹp để sử dụng và bán cho nước ngoài nữa.
Suốt một tuần lễ trong hang ổ của chúng, một biệt thực ở ngoại ô thành phố, mà nhìn bề ngoài không ai có thể lường tới được. Chúng thay nhau dày vò cắn xé thân thể của Loan, như một bọn chó đói lâu ngày không được ăn uống. Chúng lấy hết toàn bộ va li và tài sản của Loan, bao nhiêu áo quần sang trọng, dây chuyền, đồng hồ, nhẫn, vòng tay… và mấy chục ngàn tiền mặt. Một tài sản đáng kể mà cô mang đi hết, với ý định khoe khoang với bà con xóm làng, và đưa tiền về giúp đỡ mẹ cô một phần, một phần để đền ơn trả nghĩa với những cô dì, chú bác đã giúp đỡ cô trong lúc khó khăn.
Chúng chỉ để lại cho cô một bộ quần áo bị xé rách và một tấm thân tàn ma dại. Trong số những con quỷ xứ ăn sống nuốt tươi cô có một thằng biệt danh là “Lợn ỉ” đã đổ cho cô cái bệnh phong tình nguy hiểm.
Mấy hôm nay chúng bị vây ráp gắt gao, nên chúng đành từ bỏ ý định đem theo gái đẹp mà chạy tháo thân lấy một mình, chúng đã bỏ rơi hai cô ở Hà Nội, để nghi binh trốn thoát khỏi tai mắt công an. Chúng đẩy tiếp cô ở đoạn đường này, trên đường về Hải Phòng để xuống một con tàu vượt biên nào đó mà chúng đã bắt mối.
Cô chạy lại  phía cầu, cô tựa vào lan can, nhìn xuống dòng sông, cô tự hỏi mình khi cô đã không còn nước mắt để khóc. Cô còn sống làm gì? Còn gì nữa mà sống? Phải chăng đây là thời cơ để cô đáng được chết. Hỡi ôi hà bá, hãy đón tôi đi.Và cô nhảy xuống sông, như cái hồi trẻ con chăn trâu, nhảy từ cây si xuống nước.
*        *        *
*       *
 Chuyện kể của cô gái làm Hùng Liều bùi ngùi xúc động. Anh lặng người đi một lúc lâu, không nói gì được, cô gái cũng ngừng kể, và cô đang nhìn vào mắt anh như muốn hỏi:
“Cuộc đời của tôi đau khổ như thế đấy, chẳng đáng chết hay sao, anh còn cứu vớt tôi làm gì, cho tôi khổ thêm nữa….” Thì ra – Hùng nghĩ – trên mảnh đất này, cuộc đời này, đâu có phải chỉ có mình anh khổ đau uất hận. Có biết bao người cùng chung số phận với anh. Ở mỗi con người, chẳng có nỗi đau nào giống nỗi đau nào. Thời nào cũng thế, cũng có những số phận cao sang và số phận đớn hèn, chỉ có khác nó diễn ra ngày càng tinh vi hơn, phức tạp hơn trong cái xã hội phát triển ngày càng văn minh và hiện đại. Và nó được núp dưới các hình thức khác nhau, ở dạng này hay dạng khác, phù hợp với thời gian diễn ra cuộc sống muôn màu muôn vẻ này.
Duy chỉ có ý chí của mỗi con người có chịu đựng nổi với những hoàn cảnh của số phận hay không, để đấu tranh, để rạch ròi giữa cái thiện và cái ác, để phấn đấu tồn tại và vươn lên những đỉnh cao của cuộc sống. Và thời nào cũng thế: ý chí con người vẫn thắng, lương tâm con người vẫn cao cả…
Hùng đang miên man suy nghĩ, cô gái bỗng làm anh giật mình bởi câu hỏi:
-         Sao ? Anh thấy cuộc đời tôi có đáng sống nữa không? Hả…?
Anh nhìn vào mắt cô như muốn phát hiện ra một cái gì đó sâu thẳm rồi hỏi lại một cách có vẻ triết lí:
-             Nhưng tại sao, những kẻ ác lại đang sống và vẫn sống, còn người tốt lại phải chết và cứ chết ? Tại sao?
            Cô gái cũng lạ lùng nhìn anh, chẳng biết trả lời sao, và chính câu hỏi đó cũng xói vào tâm can cô. Ừ tại sao lại cứ thế nhỉ? Họ im lặng một lúc lâu, mỗi người đều trầm tư, theo dòng riêng của mình, chỉ có chiếc đồng hồ báo thức trên bàn kêu tích tắc nghe rõ mồn một mà thôi. Bỗng Hùng bật đứng lên khoát tay chém vào không khí một cái rồi quả quyết:
-             Dù thế nào thì cô cũng phải sống! Sống để làm lại cuộc đời. Tôi sẽ giúp cô, nhưng cô phải vui lên, phải quên đi những quá khứ, cái gì đã qua thì cứ cho qua không nghĩ làm gì nữa. Nào cô bé, hãy vui lên đi, cười lên nào, cuộc đời này vẫn đáng yêu lắm chứ. Tất cả còn là ở phía trước có phải không cô?...
Tự nhiên Hùng càng nói càng sôi nổi hẳn lên, anh nói như diễn thuyết. Những lời tốt đẹp cứ tự nhiên bột phát ra, hào hứng và phấn khởi. Bởi lẽ, anh nói với cô cũng chính là anh nói với lòng mình vậy.
Cô gái ngẩng đầu lên nhìn anh bất giác cũng mỉm một nụ cười, tuy gượng gạo.
Ngay sáng hôm đó, anh đi tìm mua thuốc để chữa bệnh cấp tốc cho cô gái và mua cho cô vài thứ lặt vặt tối thiểu của phụ nữ. Còn cô gái thì thùng thình trong bộ quần áo bộ đội bạc màu của anh, đi lại trong buồng làm những việc vặt nấu cơm, đun nước…
Đến mười giờ trưa, anh bạn của Hùng đi làm về, bỗng nhìn thấy một cô bộ đội trẻ đang ở nhà mình, tự nhiên như người nhà và ngỡ ngàng nhìn anh. Cô chỉ chào anh và tự giới thiệu:
-         Em là người nhà của anh Hùng.
-         Ủa, thằng Hùng nó làm gì có người nhà như thế này? – Lời nói của anh bạn làm cô gái bỗng nhiên ngượng chín cả mặt. Thần sắc cô đã trở lại bình thường, nhưng vẻ mệt mỏi và chán chường vẫn bao phủ trên dáng người như ốm đau bệnh hoạn của cô. Mãi đến lúc Hùng đi chợ về, mới kể vắn tắt cho anh bạn nghe rõ đầu đuôi câu chuyện. Anh bạn thấy rất vui và sẵn sàng mời cô ở lại rồi sẽ cùng lo liệu giúp đỡ cô.
-         Cô thông cảm, chỉ có những người nghèo mới thương nhau – Anh bạn nói.
-         Và cũng chỉ có những người cùng cảnh ngộ mới hiểu nhau – Hùng thêm.
Bữa cơm trưa hôm ấy, ba người quây quần rất vui. Bữa cơm đạm bạc chẳng có gì, nhưng cô gái ăn rất ngon lành. Hơn một tuần qua, từ khi bị bọn cướp bắt giam trong sào huyệt đến nay cô mới được ăn bữa cơm ngon lành.
Cô gái tỏ ý lo sợ bọn băng cướp còn lẩn khuất quanh thành phố này, bất thần phát hiện ra và lại bắt cô đi; hơn nữa ở gần đây, cô cũng dễ có thể bị bắt gặp những người làng người xóm đi qua. Vả lại Hùng liều cũng không muốn để tai để tiếng lại cho anh bạn tốt, vì ở đây là khu tập thể của xí nghiệp, nhất là không muốn để cho cô gái hàng xóm kề vách tốt bụng, mà Hùng cảm thấy đang có tình với anh bạn, dễ hiểu lầm. Do đó Hùng bàn với anh bạn phải đưa cô gái đi khỏi nơi này ngay.
Anh bạn của Hùng góp cho anh một ít tiền dành dụm được và một ít đồ đạc cần thiết cho cô gái; tiễn họ ra ga xe lửa, và chúc:
-         Các bạn đi mạnh giỏi nhé. Hẹn gặp lại trong một gia đình hạnh phúc.
-         Xin cảm ơn bạn! – Nhưng Hùng cho đến lúc này vẫn chưa hề có một ý nghĩ gì về chuyện quan hệ với cô gái này, họ mới gặp nhau chưa tròn một ngày, biết sao được, anh chỉ làm theo tiếng gọi của lương tâm cứu vớt một con người.
-         Đêm đó, họ đi tàu suốt đêm đến một tỉnh miền núi. Ngày hôm sau hai người tìm đến nhà một ông chú họ của Hùng xin chú cho ở nhờ một thời gian. Anh chỉ giới thiệu với gia đình: Loan là cô em gái một anh bạn, đang gặp hoàn cảnh khó khăn, nhờ anh kéo đi làm ăn một thời gian.
-         Những ngày đầu ở đó, Hùng tiếp tục lo thuốc men chạy chữa bệnh tật cho cô: may quá ở gần đó có một bà lang người dân tộc dùng thuốc nam chữa bệnh phụ nữ giỏi. Hùng đã đưa Loan đến đó, chỉ sau mươi ngày, Loan khỏi hẳn. Hùng lại mua thuốc men bồi dưỡng sức khoẻ cho cô.
Hàng ngày Hùng tìm việc làm quanh đó để kiếm ăn, thường là lên rừng đẵn củi gánh về chợ bán. Còn Loan ở nhà nghỉ ngơi chữa bệnh và giúp đỡ công việc nhà cho ông chú bà thím. Quan hệ giữa Hùng và Loan trên tình anh em rất rõ ràng sòng phẳng, anh chưa bao giờ vượt ranh giới đó. Loan càng thêm phục anh và gia đình ông chú chẳng có điều  gì dị nghị, cũng thấy thương cái Loan hiền lành nết na, đẹp người đẹp nết và hi vọng vun đắp cho Hùng. Đôi lúc rỗi rãi, hai người tâm sự với nhau. Hùng hỏi Loan xem có muốn về quê hoặc trở lại Hà Nội với “ông bác” không, để anh đưa về. Nhưng Loan nhất mực từ chối không thể về, và anh cũng không muốn về đâu cả.
Một hôm cô ngập ngừng hỏi Hùng, giọng rất khẽ và run run:
-         Nếu anh không chê em là gái lang thang, là loại người bỏ đi, thì em xin đi theo anh và ở với anh mãi mãi ….
-         Không, anh chẳng chê em đâu – Hùng trả lời – Em chỉ là một nạn nhân đau khổ, đáng thương! Nhưng trước mắt chúng ta là cuộc sống, phải ổn định cuộc sống đã rồi mới nói gì thì nói được.
Đôi lúc họ đã bàn với nhau về tương lai, nhưng trước mắt họ là miếng ăn hàng ngày đã thấy chật vật rồi, huống chi là bàn chuyện tương lai. Với sức lực Hùng mỗi ngày một gánh củi nuôi hai người mà còn bữa đói bữa no, lại còn những ngày mưa gió nghỉ ăn không, và còn lúc ốm đau trái gió trở trời nữa. Anh đã phải vay mượn ông chú bà thím thêm bát gạo đồng tiền ít nhiều. Gần đây bà thím đã xì xầm to nhỏ, ca thán về chuyện vay mượn đó.
Hùng không còn cái hoài bão xin công ăn việc làm trong biên chế cơ quan, xí nghiệp nhà nước nữa, anh cũng không có hi vọng kiếm được những việc làm hợp đồng chuyên nghiệp ở một nơi ổn định. Anh chỉ còn cách đi kiếm ăn kiểu cò con gặp đâu hay đó mà thôi. Thời buổi khó khăn này, kiếm được việc vặt làm ra một đồng cũng khó. Thế mà anh vẫn ước mơ. Anh ước mơ, giá như anh có tiền, anh sẽ cho cô gái đi học nghề, như nghề thợ may chẳng hạn, mà anh thấy hợp với phụ nữ nhất. Rồi anh kiếm tiền mua cho cô một cái máy khâu. Anh sẽ làm một ngôi nhà hay một túp lều cũng được, ổn định một nơi, như ở ngay vùng này, thị trấn này chẳng hạn, cho cô làm thợ may, và anh cũng sẽ làm một cái nghề gì đó, sửa chữa xe đạp cũng được… hoặc xin đất khai hoang trồng trọt.. Và hai người sẽ sống yên ổn với nhau xa hẳn nơi quê hương bản quán, nơi đau buồn tủi nhục.
 
III
 
GÃ LÁI BOM
Một hôm ông chú họ đi họp về, vừa dắt chiếc xe đạp vào sân, trông thấy Hùng ông vội vàng hỏi vừa hỏi ông vừa dựng xe ở thềm hè.
-         Hình như cháu trước đây là lính công binh có phải không nhỉ?
-         Vâng, có việc gì thế chú?
-         Chết người cháu ạ, một quả bom nổ làm chết người! À mà thôi, cháu không dính dáng vào đây làm gì, nhỡ một cái nó phiền hà ra thì khổ.
-         Nhưng việc gì chứ, làm sao lại chết người Chú cứ kể cháu nghe xem nào?
Ông chú kéo Hùng vào nhà, ngồi xuống ghế hẳn hoi, ông với lấy chiếc điếu cày làm một hơi, thở khói ra khoan khoái, ý chừng như muốn làm quan trọng hoá câu chuyện hoặc nó cũng quan trọng thật làm ông khó nói, vì nó liên quan đến sự quyết định của ông.
- Chả là thế này – Ông chú khề khà nói – Trên tỉnh mới đầu tư cho xã xây dựng một cái đập thuỷ điện nhỏ kết hợp lấy nước tưới tiêu nông nghiệp cho xã. Một cái hồ lớn chứa khoảng bốn triệu mét khối nước, ở khu vực khe Rú. Công trình đang ở trong giai đoạn chuẩn bị và làm công trình phụ. Họ đang phát bãi dọn mặt bằng, thì phát hiện ra bom. Một quả, hai quả rồi hàng chục quả bom, cả một bãi bom; không biết Pháp hay Mỹ thả từ năm nào; vì đây là khu vực mới khai hoang, đồng bào ở dưới xuôi lên, nên không ai biết. Công trường phải dừng lại và tìm người phá bom. Có một cậu dân quân xung phong đến phá; nhưng chẳng biết làm thế nào mà bom bị nổ, cậu ta hi sinh, tan xác không còn một mảnh, lại thêm hai người ở gần đó bị thương. Thế là công trường tự nhiên bị giải tán, dân công bỏ trốn về hết. Mấy ông xã loay hoay mãi về vụ bom mấy hôm nay chưa xong. Mà trên tỉnh, trên huyện còn thúc triển khai thi công gấp để còn kịp làm đập xong trước mùa mưa sang năm. Mấy ông đang lúng túng quá, chạy vạy lạy van khắp nơi mà chẳng thấy ông cấp trên, cấp ngang, cấp dọc nào đến giải quyết phá bom cho.
Ấy thế mà chẳng hiểu tay nào nó biết anh, nó mách với xã đội là: “Thằng Hùng cháu ông An là lính phá bom trước đây đến nhờ nó xem”. Họ mới nói với chú, là mấy ông đảng uỷ, uỷ ban, xã đội, nói với chú về nói với cháu trước xem liệu có giúp được họ không? Chú trả lời là chú cũng chẳng biết cháu có phải là lính bom mìn gì không, phải để về hỏi xem đã. Đấy đầu đuôi nó là như vậy. Bây giờ chú hỏi cháu xem, có phải cháu là lính công binh phá bom không? Và liệu cháu có phá được bom không? Nếu cháu phá được thì cố gắng giúp địa phương, âu là ta cũng nhân dịp này tranh thủ, để họ tạo điều kiện cho cháu sinh sống ở đây cũng tốt.
Ông chú nói là để họ tạo điều kiện cho cháu, nhưng chính ông cũng muốn lợi dụng cái thời cơ hiếm có này, nếu Hùng phá được bom, lập được công cũng là làm mát mặt mát mày ông chú. Chẳng gì ông cũng là người đã giải quyết được vụ bom rắc rối này, vậy thì cái chân chủ tịch, phó chủ tịch xã trong nhiệm kỳ tới, sẽ có cơ ông leo tới được, chả gì bây giờ ông cũng là uỷ viên hội đồng nhân dân, phụ trách cái khâu khai hoang trồng rừng rồi. Ông đang phấn đấu để nhiệm kỳ tới được vào chân phụ trách chính quyền ở mảnh đất này.. Ông chú thấy Hùng đang phân vân suy nghĩ thì lại giục:
- Thế nào? Nói thực cháu có biết về bom biếc gì không? Và ông lại kích động. Hay là bỏ lâu rồi, nên chẳng còn nhớ gì nữa. Mà cũng coi chừng xem. Đấy như cái cậu dân quân ấy, nghe nói trước cũng là một tay phá bom cừ khôi, mà đến nay vẫn bị hi sinh. Chắc là lâu ngày nó cũng quên đi nên bây giờ mới lúng túng mà bị thôi.
- Hồi xưa cháu cũng có phá bom, ít thôi, chẳng có nhiều kinh nghiệm lắm đâu – Hùng trả lời – Phải bây giờ lâu rồi, nó cũng quên đi, nên chưa thể nhận lời ngay với xã được, để xem sao đã.
- Xem gì nữa, phá béng đi một quả cho cả xã này biết mặt thằng cháu ông An đi xem nào (!) – Ông chú với giọng bông phèng nói toạc cái ý nghĩa kích động đứa cháu ra.
Hai chú cháu còn đang bàn bạc thảo luận chưa ngã ngũ, thì bỗng thấy mấy ông cán bộ xã kéo đến ầm ầm, nào bí thư nào chủ tịch, nào xã đội và đi theo còn mấy ông phụ trách công trường Đập Rú nữa. Các ông kéo đến, ngồi chật cả nhà, ông An vội sai con cháu đi hái chè tươi, đun nước tiếp khách.
Rồi không cần rào đón gì cả, các ông vào đề luôn, nói chuyện với Hùng và ông An. Từ ông bí thư, đến ông chủ tịch, từ ông xã đội đến ông chỉ huy công trường, ai cũng tranh nói, cứ nhắc đi nhắc lại mãi cái ý nghĩa, cái tầm quan trọng, cái sống còn của xã này trông ở cái đập.
Hùng bỗng nhớ lại năm ngoái, cách đây một năm Hùng đã lên đây nhờ ông chú nói với địa phương cho anh nhập khẩu ở đây và xin một mảnh đất khai hoang với hợp tác xã. Nhưng họ đã từ chối khéo vì cái lí lịch của anh. Và ông chú họ cũng sợ liên quan không dám đứng ra bảo lãnh cho anh. Người nọ đùn người kia và cuối cùng anh đành phải bỏ đi. Vậy mà hôm nay họ hót như sáo, chẳng một chút ngượng ngùng, họ cứ làm như lần đầu tiên họ biết anh vậy. Mà họ chỉ biết có yêu cầu người ta làm, người ta lao vào chỗ chết, còn họ phải làm gì, để bảo đảm cho người ta thì họ chẳng hề đả động đến.
Hùng thực lòng không bao giờ muốn đụng đến cái “nghề chiến tranh” ấy nữa. Nhưng vì nể ông chú, dẫu sao anh cũng nhờ vả ông nhiều và lời ông chú nói có lẽ cũng đúng, cần thiết cũng có thể nhân dịp này làm vẻ vang cho ông và gây uy tín cho anh, để làm cái cầu xin định cư chôn chân cắm rễ ở đây. Nếu như chỉ một mình anh thì anh chưa cần, nhưng lại còn Loan nữa. Chính Loan cũng có thể là cái cớ để họ gây phiền hà khó dễ cho mình, nếu mình không nhận giúp họ; ngay lập tức họ có thể tìm cớ này nọ đuổi mình và Loan, hoặc chỉ đuổi Loan đi khỏi nơi này ngay. Do vậy Hùng nhận lời với điều kiện là để đi khảo sát xem cụ thể thế nào.
*        *        *
*       *
 Ngày hôm sau, Hùng ra hiện trường trinh sát bãi bom, vẫn cái bộ xậu hôm qua đến nhà ấy cùng đi, nhưng họ chỉ đến lán chỉ huy công trường rồi ngồi lại uống nước chè hút thuốc, và đôn đốc một bộ phận phục vụ làm cơm thết cán bộ đến phá bom. Hùng đi qua đã thấy một chú mộc tồn khoảng 15 – 20 kg và dăm con gà con vịt buộc sẵn ở đó.
Chỉ có một chỉ huy phó công trường, một ông già 60 tuổi cùng đi với anh vào hiện trường. Ông già dẫn anh đi đến những vị trí người ta đã phát hiện ra bom. Sau một buổi đi xem xét cụ thể cùng ông già, anh đã xác định được, đây là một vệt bom nổ chậm thời chống Mỹ, loại bom từ trường Modell -1, vệt bom này có 12 quả loại 500 bảng Anh, nhưng đã tự huỷ 6 quả, chỉ còn 6 quả thôi, vừa mới bị nổ một quả, còn lại 5 quả. Toàn bộ đều ảnh hưởng tới khu vực công trình, nhưng chỉ có 3 quả là cần phải xử trí ngay vì là ngay móng chân đập. Đến từng vị trí, anh bảo ông già đứng ở xa, chỉ một mình anh mặc quần đùi áo lót vào sát quả bom mà thôi. Không được mang theo sắt thép vào gần bom. Dẫu sao kinh nghiệm cũ, anh vẫn cứ phải áp dụng đã.
Trước mắt, anh nhận nghiên cứu phá một quả ở vị trí chân đập chính, cần phải làm ngay để kịp thi công. Còn lại anh đề nghị uỷ ban, báo cáo lên cơ quan quân sự địa phương cử người về phá. Đó là nguyên tắc, thuộc phạm vi quản lý và xử trí của quân sự.
Mọi người đều hể hả, chỉ mong có như vậy, ít ra là phá một quả bom gần nhất để kịp thi công và để lấy lại tinh thần cho nhân dân sau vụ bom nổ vừa rồi. Còn xã và công trường cũng đã báo cáo lên các ngành các cấp ở trên, tin rằng nay mai họ sẽ xuống phá giúp.
Sau gần mười năm, lại sờ đến bom, đối với Hùng cũng là một điều đáng lo ngại, vì dẫu sao về kĩ thuật tay nghề anh cũng đã bỏ lâu rồi, hơn nữa loại bom Mỹ qua mười năm, phong ba bão táp và thời gian làm cho các tính chất cơ lí của chúng bị biến dạng, nếu không thận trọng sẽ nguy hiểm ngay. Người lính phá bom không được phép làm sai, vì chỉ cần sai một lần thôi, họ đã chết rồi, còn đâu mà sửa chữa nữa. Anh đã nghiên cứu tỉ mỉ trường hợp hi sinh của đồng chí dân quân nọ, nguyên nhân vì sao? Nhưng rất tiếc là không còn ai kể tỉ mỉ cho anh về trường hợp cụ thể đó được cả. Anh phải tự mình đặt giả thiết, đặt câu hỏi và tự trả lời. Nếu chỉ phá thì biện pháp cũng dễ dàng đối với anh. Nhưng anh lại muốn tháo đầu nổ, nên mới khó. Vốn tính anh vẫn thích liều mà. Suốt hai đêm suy nghĩ, suốt hai ngày ròng rã trên bãi bom. Và anh đã tìm ra được biện pháp để tháo bom.
Chưa lần phá bom nào anh thận trọng như lần này, bởi lẽ đây không phải là nhiệm vụ chính thức của anh. Trước đây hồi chiến tranh anh là lính, nhiệm vụ người lính buộc anh phải làm và dẫu có hi sinh thì chí ít cũng còn được cái bằng liệt sĩ. Còn bây giờ anh chẳng còn là người lính nữa, cũng chẳng phải là người của một cơ quan nhà nước nào, anh chỉ là một thằng dân thường sống “lưu vong”. Chẳng ai có quyền giao nhiệm vụ cho anh, mà anh cũng chẳng có trách nhiệm gì với các tổ chức đó.
*        *        *
*       *
 Ngay hôm sau cái tin cháu ông An tháo được bom đã lan truyền khắp xã. Họ truyền tụng và thêu dệt nên bao nhiêu kì tích về vụ phá bom này. Nào là anh đã tháo được một chiếc đầu nổ toàn bằng vàng (!) (chả là đầu nổ mạ đồng màu vàng choé). Nào là anh ta khoan đục suốt hai ngày trời, lôi trong ruột bom ra toàn là thuốc nổ đến mấy tạ, đem mà nghiền ra làm pháo nổ rất kêu, cả huyện dùng một cái Tết không hết (!). Nào là vỏ quả bom to ơi là to, dài ơi là dài, đã được đưa về sân kho hợp tác xã làm kẻng, kêu to cả xã bên cạnh cũng nghe thấy, cả bên sông cũng nghe thấy (!).
Để chứng minh cho những điều đó; ngay lúc ấy một hồi kẻng bằng vỏ bom mà Hùng vừa tháo và làm cho xã, kêu lên ba hồi. Tiếng kẻng đầu tiên vang khắp xã.
Sau việc tháo quả bom thứ nhất, các cán bộ lãnh đạo và chính quyền cùng nhân dân trong xã đều vui mừng phấn khởi. Nhưng người phấn khởi nhất là ông An.
Sau khi phá được quả bom, lại lấy được một số thuốc nổ quý, uỷ ban xã liền cho thu hồi về xã, rồi đem bán lại cho công trường Đập Rú (cũng của xã) theo giá thị trường được 200 ngàn đồng để lấy tiền gọi là chi tiêu cho việc phá bom, “gậy ông đập lưng ông”, nhưng thực chất là chỉ để liên hoan chè chén của mấy ông xã với nhau. Trong khi đó ở công trường đập Rú cũng đã làm quyết toán chi tiêu cho quả bom này cũng khoảng 300 ngàn đồng rồi (?) Thế mà Hùng chẳng được một xu nào ngoài một tràng vỗ tay ở trụ sở tối hôm đó (!)
Riêng Hùng tự nghĩ, hừ, một quả bom, mình tháo  gỡ cho họ mà họ đã chi  tiêu hết những 500 ngàn đồng. Mình chỉ cần 1/10 cái số đó cũng đã mua cho Loan được một cái máy khâu.
Chẳng biết ông An vận động thế nào, lại được uỷ xã quyết định bổ sung vào cái chức phó ban chỉ huy công trường Đập Rú, phụ trách thi công mặt bằng, tức là cái việc phát rừng, dọn bãi, cái việc phá bom v.v… toàn là những việc nặng nề phức tạp. Ông bàn với Hùng về việc phá bom tiếp, ông hứa sẽ bảo đảm đem lại thu nhập kinh tế hẳn hoi chứ không làm không công để lấy một tràng vỗ tay như trước nữa.
 Ngày hôm sau quả nhiên như lời ông An đã nói trước, đại diện đảng uỷ, uỷ ban, xã đội và công trường lại đến nhà ông An tìm gặp Hùng.
Theo đúng kế hoạch của ông An đã đạo diễn, Hùng trình bày những khó khăn ở quả bom thứ hai sắp tới. Hùng yêu cầu gì, công trường và chính quyền xã cũng hoàn toàn chấp nhận đúng như dự kiến của ông An.
Thế là hôm sau ông lên bàn với uỷ ban và công trường về cái hợp đồng kinh tế ấy.
Người thì cho rằng chỉ cần trả công cho người phá bom bằng công của một công nhân kĩ thuật: 500 đồng/ngày là đủ (?) kẻ thì lại đề nghị trả công người phá bom bằng tiền tuất của một liệt sĩ (?) Người lấy thực chi của quả bom thứ nhất làm giá, kẻ đòi lấy thực chi của cả công trường và tiền bán thuốc nổ của uỷ ban cộng lại mới đúng.
Rồi một hợp đồng phá bom được kí kết với giá 600 ngàn đồng, trong đó 300 ngàn chi cho lao động trực tiếp, còn 300 ngàn chi phí gián tiếp. Một bên là ông chỉ huy trưởng công trường đại diện bên A kí và một bên là ông An đại diện bên B kí.
Ông An về không nói cho Hùng biết gì về cái hợp đồng bên A và bên B cả. Ông chỉ làm một cái hợp đồng riêng với Hùng gọi là hợp đồng thuê mướn công nhân, mà ông là chủ thầu, và Hùng là lao động trực tiếp với công tổng hợp phá quả bom đó là 100 ngàn đồng. Ông nói là ông phải đấu tranh gay gắt mới được cái giá đó, chứ không thì họ chỉ trả có 50 ngàn thôi. Và trong cái hợp đồng đó thì: Hà, hà, chú cháu ta chia đôi cùng hưởng (!)
… Hợp đồng đã được ký, và Hùng phải có trách nhiệm thi hành. Sau một tuần lễ lăn lộn trên bãi bom với bao gian khổ, nguy hiểm, đào cuốc hố bom liên tục nặng nhọc, tay anh bị phồng và rớm cả máu nhưng anh vẫn cố gắng đào bới. Khi đào lộ bom rồi, anh dùng biện pháp phá huỷ đầu nổ triệt tiêu bom, rồi dùng dây chão buộc và nhờ hai con trâu kéo bom lên.
Cuối tuần thanh toán, riêng cái hợp đồng A – B, trong khoản 300 ngàn của bên A, nộp sang đảng uỷ uỷ ban 150 ngàn gọi là chi phí chung còn để công trường 150 ngàn. Còn trong số 300 ngàn của bên B, ông An chỉ chia phần cho ông chỉ huy trưởng 50 ngàn, bộ phận tài vụ 50 ngàn ,trả cho hợp đồng thuê mướn nhân công với Hùng 100 ngàn,chia đôi phần ông một nửa,còn lại ông đút túi 100 ngàn. Nhưng trong số ½ của Hùng ông An lại gợi ý anh đưa biếu uỷ ban 10 ngàn, xã đội 10 ngàn gọi là tiền chè thuốc để lấy chỗ đi lại làm  ăn sau này. Như vậy, tổng cộng riêng quả bom thứ hai này với cái cách làm ăn theo kiểu cai đầu dài ông An đã kiếm được 150 ngàn. Còn Hùng là người trực tiếp lao động nặng nọc và thế cả tính mạng mình vào thì chỉ được 30 ngàn bằng 1/5 của ông An(!)
Dẫu sao đối với Hùng thì đây cũng là một món tiền khá, mà từ trước tới nay chưa có nên anh rất vui.
Hùng lại lao vào phá quả bom thứ ba.
Ông An đang phấn khởi với cách làm ăn kinh tế của mình! Nhưng ông không ngờ rằng các đứa cháu của ông, cả Hùng và Loan đều đã thất vọng qua vụ phá gỡ bom này. Họ không thể chịu để cho ông bịp bợm và bóc lột nữa.
Sáng hôm sau, nhân dịp ông bàn tiếp về chuyện phá quả bom thứ 4, thứ 5… Hùng xin phép đưa cô Loan về thăm nhà, nếu có thể để cô ở quê luôn, rồi khi lên sẽ tiếp tục phá gỡ sau. Ông An không được hài lòng lắm, nhưng Hùng và Loan đều nói tha thiết nên đành phải đồng  ý. Và khuyên Hùng nhanh chóng lên sớm, cho kịp làm theo yêu cầu tiến độ thi công của công trường.
Thế là Hùng và Loan dẫn nhau ra đi trong một buổi chiều xâm xẩm tối họ lại ra ga lên tàu.
*        *        *
*       *
 
Gần đây trong những ngày phá bom ở công trường Đập Rú, Hùng được một số bà con cho biết tin, ở công trường xây dựng xi măng Đá Xanh, cách đây dăm chục cây số, người ta đang thuê người hợp đồng đánh đá.
Họ đi tàu đêm và buổi sáng hôm sau tìm đến công trường Đá Xanh. Thấy một căn lều lụp xụp ở một làng gần đó, họ xin vào trọ nhờ. Đó là căn nhà của một bà già cô đơn đã ngoài 70 tuổi, con cái đã chết hết, chỉ còn một mình. Nhà chỉ có một chiếc chõng tre bà cụ nằm, Hùng nhường cho Loan nằm võng, chiếc võng dù kỉ niệm chiến trường xưa vẫn còn đi theo anh, còn anh thì nằm dưới đất.
Anh tìm đến công trường xin việc làm, nhưng việc đánh đá đã có nhiều toán đến hợp đồng, không còn chỗ để nhận người khác nữa, chỉ còn lại việc bốc xếp đá hàng ngày ở bến thôi.
 
Sau thời gian làm bốc vác đá ở bến sông được ít ngày, công trường bị thiếu thuốc nổ nghiêm trọng, nên tốc độ khai thác đá bị chậm, sản lượng bị thiếu hụt không đạt yêu cầu. Cơ quan vận động một số người đi đào bom để lấy thuốc nổ bán cho công trường. Việc này vào đúng ngành nghề của Hùng, một lần nữa anh lại “sinh vì nghệ…”, (người xưa có câu sinh vì nghệ, tử vì nghệ chả biết sau này có tử vì nghệ không, nhưng trước mắt anh cứ sinh vì nghệ cái đã). Nhưng quanh đây không nghe nói có bom; anh đi hỏi, và đề nghị: ai biết có bom ở đâu chỉ cho anh, anh sẽ trả tiền thù lao tiền công thích đáng. Thế là chỉ mười ngày sau, đã có người đến dẫn anh đi tìm bom, anh tìm cách phá rồi lấy thuốc bán cho công trường, anh trích tiền trả bồi dưỡng cho họ 10-20% số tiền bán được. Dần dà cái “công ty chỉ trỏ” đó kéo đến nhà Hùng ngày càng nhiều, và họ gọi đùa nhau là “công ty chỉ trỏ bom”.
Nếu cứ chờ đến khi Hùng phá được bom, tháo thuốc nổ đem bán cho công trường mới trả thù lao cho họ thì họ không có gì đảm bảo chắc chắn. Ngộ nhỡ ra Hùng không tháo được bom hoặc rủi không may anh ta có làm sao thì họ bị mất công không, thế là họ đặt điều kiện một cách thông minh và thực dụng hơn: “bán đứt ”. Nghĩa là sòng phẳng “cưa đứt đục suốt” giá cả thoả thuận luôn, còn sau này lỗ lãi ra sao tuỳ nhà chủ phá bom chịu. Họ có thể dẫn anh đến vị trí quả bom, thậm chí họ đưa cả bom về tận nhà cho anh, và yêu cầu “tiền trao cháo múc” luôn, anh phải xuất tiền vốn ra trả cho họ ngay.
Đầu tiên anh phải đi đến từng hiện trường ở xa, nhưng dần dần người ta đưa bom về cho anh, bom to dùng xe bò xe trâu chở, bom nhỏ dùng gồng gánh đưa về.
Thế là sân nhà bà cụ già bỗng nhiên trở thành một sân bom, một bãi bom, ngổn ngang cả ra, ai đi qua cũng sợ. Anh buộc phải chuyển kho bom – cửa hàng bom – ra một nơi xa nhà hơn. Và anh phải dựng một gian lán che làm xưởng tháo bom.
-         Này ông lái ơi, có mua quả này không?
-         Ông lái ơi, quả này trả bao nhiêu?
Chỉ mình anh dám mua bom và có cả một cửa hàng bom như vậy. Bởi thế anh độc quyền, muốn trả cho ai bao nhiêu thì trả. Trong việc buôn bán thế nào cũng có cò kè bớt một thêm hai, cũng chê, cũng dèm, cũng ngắm cũng nguýt ra trò.
Lúc đầu chỉ một mình anh vừa là thợ vừa là chủ, nhưng sau anh không làm xuể, nên phải thuê thêm người làm phụ, như cưa cắt thân bom, đục bới thuốc nổ, đem nấu và đúc thuốc thỏi thuốc bánh… theo yêu cầu của công trường. Đầy những việc nguy hiểm và khó khăn vẫn chỉ do một mình anh làm, người ta sợ, không ai dám làm.
Lúc đầu mục tiêu cũng chỉ là lấy thuốc đem bán cho công trường, nhưng sau thấy việc tận thu gang cũng có giá trị, anh liền phá nhỏ vỏ bom ra, dùng xe trâu chở lên bán cho xưởng nông cụ của huyện để đúc lưỡi cày. Sau đó có khách đến tận nhà mua gang và nhôm để đúc nồi, đúc chảo. Anh còn thu mua bom bi để tháo bi đem bán cho cửa hàng làm bi xe đạp và bi xe cải tiến nữa. Những cái tên “Cửa hàng bom”, “Ông chủ bom”, “Gã lái bom” họ đặt cho Hùng liều có từ đó.
Khi Hùng chỉ là người chiến sĩ phá bom thì những người xung quanh, cán bộ công nhân viên công trường, bà con xóm làng kính phục anh, tôn trọng anh và quý mến anh, vì anh dũng cảm và tài giỏi, dám xả thân vì lợi ích của nhân dân. Nhưng khi anh đã trở thành “ông chủ bom”, “gã lái bom” thì người ta lại coi thường anh, thậm chí có người khinh bỉ anh, coi anh là một con người liều lĩnh trục lợi.
*        *        *
*       *
 Nếu trên đời có may rủi, thì đối với Loan đây cũng là dịp may. Và trong đoạn đời trẻ trung của cô có những bước thăng trầm, thì đây là một cái gạch ngang ở giữa. Cái tuổi thanh xuân tươi đẹp của cô đã từng đạt tới những đỉnh cao danh vọng đối với cô, cuộc sống được thoả mãn no đủ, trong nhà cao cửa rộng, một bước có xe đưa, xe đón, những phút say sưa huy hoàng ở những buổi chiêu đãi cao sang và giữa nhà câu lạc bộ, công viên, bãi biển đẹp đẽ nhất. Nhưng chính những lúc đó tâm hồn cô lại không được thanh thản, cô sống gượng gạo, lo âu, bởi cô phải phụ thuộc hoàn toàn vào người khác, phụ thuộc vào cái ma lực cứ cuốn hút cô, làm cô phải say đắm, làm cô phải đam mê, mà không hề dám hé một lời ca thán hay chống lại.
Thời gian này cuộc sống của cô tạm được ổn định, tương đối bình thường. Số phận đã đưa cô đến gặp Hùng và cô đã được anh tạo dựng lại cuộc sống. Bằng sức lao động của cô, bằng hai bàn tay của chính mình, với sự cứu trợ và giúp đỡ của Hùng, cô đã chịu khó làm ăn để đỡ đần cho anh, và dần dần tiến tới có thể tự nuôi sống mình.
Những ngày đầu gian khổ, anh đi bốc vác, kiếm củi, gồng thuê gánh mướn, còn cô với cái vốn nho nhỏ dăm ba chục, một vài trăm mà anh vay mượn, cô đã nhân dần lên.
Thời gian này hầu như cô đã quên đi những bộ mốt quần bò, áo phông hay quần trắng áo dài màu sặc sỡ, quên đi những làn sóng tóc “thời đại”, những hộp phấn son ngoại đắt tiền, những mùi thơm đầy quyền rũ. Ở nơi xó xỉnh núi rừng này, cái cô gái nhỏ bé, mặc bộ quần áo bộ đội bạc màu khâu vá lại, hoặc cái quần cái áo vải thô rẻ tiền may sẵn mua ở chợ, với mái tóc ngắn bù xù, như cố ý làm cho xuềnh xoàng giản dị, như muốn nguỵ trang che dấu một tung tích nào đó có một thời vàng son lẫy lừng một khu phố ở thủ đô Hà Nội ngày nào, vẫn còn ẩn dấu trong con mắt sáng, nước da màu trắng nhợt và nụ cười tươi đôi chút mỉa mai của cô.
Từ khi anh Hùng lao vào cuộc phá bom, rồi buôn bom, thì cuộc sống của cô đã được khá hẳn lên, nhưng cô vẫn chạy chợ, và lao động kiếm sống để lo những bữa ăn hàng ngày của anh và của cả bà cụ chủ nhà mà cô và anh đều đối xử như với bà nội mình.
Vừa lao vào kiếm tiền, vừa ăn uống tằn tiện kham khổ, anh và cô đã tích góp được một số tiền đủ cho cô đi học thợ may và mua cho cô một máy khâu cũ để vừa làm vừa học. Anh gửi cô xuống một phố chợ gần đó để học. Thật là một điều mơ được ước thấy, cô vui mừng phấn khởi vô cùng. Cô lao vào học ngày học đêm, quyết chí thành nghề. Thầy dạy cho cô là một bà già khéo tay và hay nói hay chữ nghĩa, nửa cổ nửa kim, Bà bảo:
-         Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh! Con ạ!
Thấm thoắt mấy tháng trời ở ngay trong nhà bà, vừa học vừa làm, tính nết hiền lành chịu khó của cô làm bà già yêu mến như con mà truyền đạt hết mọi kiến thức của mình về nghề nghiệp, chỉ bảo cô những cung cách làm ăn và dạy dỗ cô cả về lẽ sống làm người. Cô đã tiếp thu một cách sáng dạ, thông minh, và cô đã thành nghề một cách nhanh chóng trước sự ngạc nhiên vui mừng của bà thợ già.
Hùng đến đón cô và tạ ơn bà giáo…
Rồi ở khu chợ miền núi xa xôi đó, mọc lên một cái lều thợ may. Cô thợ may trẻ tuổi có nước da trắng bợt và mái tóc cắt ngắn như đầu con trai, ngồi đạp máy khâu suốt ngày không mệt mỏi. Những chiếc quần bò kiểu gin, những cái áo phông kiểu Thái và những quần lót phụ nữ, những nịt vú, những sơ mi, áo khoác, màu hoa sặc sỡ… cuốn hút lớp thanh niên miền núi đua đòi nhất là đám em gái nhàng nhàng mới lớn lên. Cô được nhiều khách hàng ưa chuộng, làm không hết việc. Và thu nhập cũng ngày càng được cao hơn. Rồi cô đủ tiền thay máy mới tốt hơn, mua thêm nhiều vải đẹp,việc làm ăn ngày càng khấm khá. Cuộc sống của cô dần dần được no đủ hơn. Sức khoẻ cô được hồi phục, tâm hồn cô được thanh thản, sắc đẹp của cô được trở lại như xưa và ngày càng đẹp hơn.
Cô chỉ muốn làm một cô thợ may bình thường ở xó núi, ăn cơm gạo chợ nước sông mà thôi.
*        *        *
*       *
 Nó chỉ là một bãi đất đồi trống ở gần phía đầu nhà bà cụ già độc thân ở một xóm gần công trường Đá Xanh. Không có quầy hàng, cửa hiệu, không có biển quảng cáo tên hiệu đủ thủ tục như ta thường thấy (Trên phố chợ Núi có một cửa hàng cắt tóc chỉ là một cái ngõ xép, bé tí tẹo, chỉ có một thợ và một ghế ngồi xoàng xĩnh, nhưng lại có một cái biển tên hàng bằng gỗ to tướng cao 1,5 mét và dài tới 4 mét, choán hết cả mái nhà vệ sinh công cộng liền đó. Biển sơn đỏ, kẻ chữ vàng, từ đằng xa 100m người ta đã nhìn thấy hàng chữ UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ NÚI to tướng ở hàng trên cùng. Đi đến cự li 50m mới đọc thấy hàng chữ: LIÊN HIỆP HỢP TÁC XÃ THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN ở hàng thứ hai. Đến cự li 30 mét lại đọc được hàng chữ: HỢP TÁC XÃ THỦ CÔNG NGHIỆP HƯNG TIẾN ở hàng thứ 3. Đi vào đến cự li 10m mới đọc được hàng chữ CỬA HÀNG ĂN UỐNG DỊCH VỤ CHỢ NÚI  ở hàng thứ 4 rồi lại vào cự li 5 mét mới đọc hàng chữ: “Tổ dịch vụ cắt tóc – Đoàn Kết – Quầy số 3” ở hàng thứ 5. Nghe thật là kêu, thật là oai, nhưng suốt ngày có mỗi một ông già cằm nhẵn thín ngồi nhổ râu, vì chẳng có ma nào đến cái quầy bẩn thỉu ấy).
Năm, sáu quả bom câm to nhỏ khác nhau nằm lăn lóc trên bãi như lợn! Quả thì còn đầu nổ tịt, quả thì còn nguyên thuốc, quả thì còn vỏ không, quả thì chỉ còn một nửa đã bị bổ dọc hoặc cưa ngang. Chẳng có hàng rào chắn, chẳng có cửa kéo hoặc dây chẳng xung quanh như chợ trâu, Cũng chẳng có biển vẽ đầu lâu báo nguy hiểm chết người! Ấy thế mà ở đây lại có tên là “ cửa hàng mua bán bom”, bom câm hoặc bom tịt cũng thế, mà cũng có khá nhiều người qua lại mua bán quan hệ hẳn hoi.
Cửa hàng trưởng “Hùng liều”, cũng phải là một tay liều mới dám mở một cửa hàng như thế.
Người tìm bom thì có thể có nhiều, ông già bà cả, trẻ con người lớn, đều có thể biết và có thể tìm được bom. Nhưng còn người đào bom lên, thì không phải ai cũng dám đào bới, dám đụng vào, sờ vào quả bom, nên họ lại bán quả bom đó cho một số người có sức khoẻ và có gan đào bới bom. Còn khâu gỡ bom, tức là: tháo đầu nổ, rồi moi thuốc ra thì những người đào bom cũng chịu. Cả vùng này chỉ có mỗi mình Hùng liều, mà Hùng thì lại không thể đi khắp mọi chỗ để tháo gỡ, anh chỉ hướng dẫn và cấp thuốc nổ cho họ phá triệt tiêu đầu nổ, thế là cánh đào bom lại khiêng bom về bán lại cho Hùng. Hùng tháo gỡ lấy thuốc nổ đem bán cho công trường. Công việc này được bảo đảm về mặt pháp lí hẳn hoi. Cái pháp lí ấy chính là cái hợp đồng kinh tế bán thuốc nổ bom cho công trường đã được kí kết.
Đầu tiên người ta làm theo kiểu khác. Ấy là công trường đứng ra mua bom, rồi thuê Hùng đến phá tháo. Nhưng vì việc đó công trường bị lỗ, vì không ai có kĩ thuật, hiểu biết gì về bom, và việc quản lí cũng rất khó khăn phức tạp. Cán bộ công trường có khi mua lầm bom nọ với bom kia, tưởng cái này nhiều thuốc cái kia ít thuốc, có khi lại chỉ mua được vỏ bom không có thuốc. Chỉ một đợt đầu, công trường bị lỗ hàng trăm ngàn. Vì thế công trường mới tính nước khác, khôn hơn chắc chắn hơn, là lùa cái sự lỗ lãi ấy cho Hùng chịu, công trường chỉ làm hợp đồng mua thuốc với Hùng và đứng ra bảo đảm cho Hùng về việc mua bán, phá gỡ bom này với chính quyền địa phương. Ấy thế nên mới có cái chuyện bãi bom, cửa hàng mua bán bom của Hùng, đầu tiên chỉ là cái chuyện vui đùa của cánh thanh niên, thế rồi dần dần quen mồm, bà con gần đấy cứ gọi như thế một cách tự nhiên, như những cửa hàng khác.
-         Ấy, cô chờ tôi ở chỗ cửa hàng bom ấy nhé!
-         Anh đi đâu đấy? Đi bán bom à? Có khá không? Khá hả? Chuyện họ đi bán bom cứ bình thường như đi bán lợn ấy.
Trong cái cửa hàng chợ trời mua bán bom của anh chàng Hùng liều ấy, người ta mua bán tất cả các loại bom và dùng vào nhiều thứ việc, với nhiều động cơ khá nhau. Người bán thì chỉ có một động cơ là vì tiền, nhưng người mua thì lại khác. Ngoài việc công trường mua thuốc nổ để đánh đá, còn  xưởng nông cụ mua gang đúc lưỡi cày, lưỡi bừa, hợp tác xã cơ khí mua nhôm mua gang về đúc nồi đúc chảo và các loại dụng cụ khác. Các quầy xe đạp, xe kéo, thì mua bi của bom bi về làm bi xe đạp, xe cải tiến. Cũng có bà đi chợ mua vỏ bom bi mẹ về làm máng lợn cho đàn lợn sề của bà. Có hợp tác xã mua vỏ bom về làm kẻng. Có đơn vị đến mua vỏ bom về làm học cụ, có xã mua về bày triển lãm thành tích phá gỡ bom, hoặc để vào bảo tàng truyền thống cho nó sinh động và mang tính chiến đấu, mặc dầu cái xã ấy chưa hề phá gỡ được quả bom nào. Có ông đến mua vỏ bom bi về làm lọ hoa, có ông mua làm gạt tàn thuốc lá, lại có ông hâm hâm mua cả đầu nổ bom tịt về để bày trong tủ li, tủ buýp phê để khoe khoang, chứng tỏ mình cũng đã từng là lính công binh.
Còn Hùng liều thì muốn bán hết, bán tuốt tuột, đắt cũng bán, rẻ cũng bán, anh chỉ cần tiền.
Cái cửa hàng bom của Hùng liều, ấy thế mà lại có rất nhiều tác dụng tích cực. Nó đã kích thích việc thu nhặt bom rơi đạn vãi ở khu vực này, mà hàng chục năm nay các cơ quan quân sự địa phương ở đây tổ chức, kêu gọi mãi và chi phí bao nhiều tiền của, vẫn chưa làm hoặc làm không hết, thỉnh thoảng lại một vụ bị thương vong, hoặc tai nạn cho trâu bò, lại điều tra, lại họp hành khẩn cấp, lại huy động lực lượng để đến xem những quả bom đã nổ, chi phí tốn kém rất nhiều không lường hết. Có cửa hàng của Hùng mọc lên, chỉ vài tuần sau, từ rừng thẳm đến đồi hoang, đâu đâu người ta cũng đào bới, moi móc, thu nhặt sạch sành sanh, mà nhà nước chẳng mất một đồng xu nhỏ nào cả. Cán bộ quân sự địa phương ung dung ngồi rung đùi uống rượu mà báo cáo với cấp trên về thành tích: dọn sạch bom đạn, giải phóng mặt bằng sản xuất, loại trừ nguy cơ thương vong, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho khu vực toàn xã hoặc toàn huyện (!).
Cửa hàng thu mua bom đã khai thác hàng tấn thuốc nổ, bán (cung cấp) cho công trường nhà máy ciment Đá Xanh, để phá đá – Nhờ có số thuốc nổ đó, công trường đã sản xuất được hàng vạn mét khối đá, bảo đảm hoàn thành và vượt mức kế hoạch hàng quý hàng năm. Nhờ đó công nhân viên còn có công ăn việc làm, bảo đảm được thu nhập, bảo đảm được đời sống thời gian qua.
- Nhờ có cái “cửa hàng bom” của cậu mà chúng tớ có công ăn việc làm đấy, hoan hô cậu! – Công nhân xí nghiệp nói với Hùng liều như vậy.
- Xuýt nữa chúng tớ không hoàn thành kế hoạch vì nhà nước không cấp đủ nguyên liệu. May mà có cái khoản vỏ bom của cậu mà chúng tớ đúc thêm được hàng ngàn lưỡi cày đấy. Nào mời cậu làm một chén – Một cán bộ xưởng nông cụ nói.
- Ông hỏi cánh tớ lấy nhôm đâu mà đúc nồi ở cái xó này a? Thì đấy, của cái cửa hàng bom của cậu Hùng kia kìa. Hàng ngàn cái nồi, thau, chậu, mâm, thìa bát đĩa nhôm này cũng từ ấy mà ra đấy. Cứ chờ Công ti các ông cung cấp vận chuyển lên ấy à, có mà tết sang năm, dân khai hoang chúng tôi mới có – Cánh thương nghiệp nói với nhau.
Còn mấy ông phụ trách ngành Văn hoá thì bảo:
- Có mấy cái vỏ bom để bày ở các nhà bảo tàng mà hàng chục năm nay xin không được, tìm không ra. Thế mà chỉ vài tuần nay, các nhà truyền thống của mấy xã này đã trở nên đầy đủ nhất, đứng đầu toàn huyện…..
Riêng Hùng liều, mặc dầu cơ quan tài chính xã, huyện đã quy định giá cả thống nhất kịp thời cho việc mua bán bom (không đặt giá tự do tuỳ tiện như ở công trường đập Rú trước đây). Nhưng sau đợt thu mua phá gỡ bom trong vòng vài tháng nay Hùng cũng đã thu nhập được một số lãi kha khá, tới trên 30 ngàn đồng. Ngoài việc mua máy khâu cho Loan và cho Loan đi học may, sửa chữa lại cái nhà bà cụ già chủ nhà anh ở nhờ, đóng hai cái giường, một tủ, một bộ bàn ghế, mua một chiếc xe đạp thồ và một số đồ dùng may mặc ra; anh vẫn còn vài ngàn làm vốn để tiếp tục làm ăn.
Công sức của anh bỏ ra đã được bù đắp lại. Cái việc lao động nặng nhọc đối với anh không quản ngại. Cái gay go nhất, vất vả nhất, ấy là những đêm không ngủ, ngày không ăn vì một cái đầu nổ lạ, vì một cái chốt an toàn của quả bom bị gẫy, vì một vòng đai của bom bi bẹp. Anh phải nghiên cứu, phải mò mẫm một mình ở kho bom, ở cửa hàng. Có khi suốt ngày một mình cặm cụi không kịp ăn uống gì cả. Có khi nửa đêm không ngủ, vùng dậy đọc sách, nghiên cứu các hình vẽ, lần mò từng li từng tí một. Có lúc toát mồ hôi, sôi nước mắt, có lúc run lên vì một vài động tác sai sót xuýt nữa thì chết. Có ngày bàng hoàng không dám nhìn đến bãi bom nữa. Mấy lần anh định thôi, bỏ nghề, giải tán cái cửa hàng éo le kì lạ và chết tiệt này, rồi lại làm, lại bỏ. Từng phút từng giây thần chết cứ luôn luôn bám sát anh, rình rập anh và bọn ma quỷ cứ xông vào đập phá làm anh hoa mắt nhức đầu, có lúc ngã quỵ gục xuống một quả bom. Rồi thần linh lại hiện ra, lôi anh dậy, và anh lại cầm lấy búa lấy kìm lại đục, lại vặn, lại kéo, lại lôi lại vần bom, kiên trì và lì lợm, một sự lì lợm đến kinh sợ.
Sự lì lợm của anh đã được trả giá. Trên 30 ngàn đồng đối với anh là cả một gia tài lớn, chưa bao giờ anh có được. Anh cũng bàng hoàng trước cả số tiền đó. Tuy nhiên sau khi tính toán chi li, cân nhắc từng đồng từng món, và sau khi chi tiêu những thứ cần thiết nhất, thì cũng chẳng đáng là bao. Bây giờ anh mới biết nhu cầu cho cuộc sống của một gia đình hỗn hợp ba người này cũng không  phải là nhỏ. Với số thu nhập kia, tuy đã giải quyết được cơ bản bước đầu nhưng chưa đủ. Anh còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, còn phải liều lĩnh nữa mới có thể tạo cho cuộc sống của anh được đẩy đủ hơn. Làm gì đây? Ngoài cái việc anh lại phải lao vào những bãi bom, lao vào những phút nguy hiểm, cầm cố cả tính mạng mình để kiếm lấy những đồng lương (nếu những tiền công được trả trong hợp đồng, có thể gọi là lương – dù đó là những đồng lương ứng trước trả cho cái chết, những đồng lương khủng khiếp !….)
*        *        *
*       *
 Như thường lệ, buổi sáng mùa hè, anh thường ra suối tắm rửa rồi mới đi làm  hoặc ra kho bom, cửa hàng bom. Cái mùi thuốc bom lúc nào cũng quấn lấy người anh, quần áo anh, làm cho Loan phải kêu lên:
-         Đi tắm đi, ông tướng ạ, lúc nào cũng khét lẹt như bồ hóng ấy.
-         Thì đó là mùi thuốc bom, mùi cay đắng mà em, mùi nghề nghiệp đấy.
-         Khốn khổ cho cái nghề của anh! Thôi đi tắm nhanh đi, quần áo để đấy em giặt cho.
Hùng tắm xong, đứng ngâm mình dưới nước đến ngang lưng, nghe tiếng Loan gọi về ăn sáng, có một nồi sắn luộc bốc mùi thơm lừng.
Sương sớm long lanh, những đỉnh núi in nét rõ mồn một trên nền trời trong vắt, cách anh không xa có một con chim bói cá vừa lao xuống nước cắp lên một con cá màu trắng, đang đứng trên cây, con cá vẫn còn giãy giụa. Mặt nước suối trong veo. Bên trên tất cả một sớm mai hồng đang ngự trị, nắng vàng đang tràn lan, sức sống đang bao trùm. Và trên mặt nước chảy trôi, lá thông reo ngọt ngào. Anh không thể không nghĩ rằng, chưa phải mọi điều ở trên đời đều mất cả, rằng đường đời còn có thể ngoặt theo hướng tốt đẹp hơn, rằng trên trái đất này vẫn còn hi vọng và mảnh đất này vẫn còn một niềm tin…
… Thế là chúng ta đã sống với nhau hơn một năm trời rồi, kể từ cái đêm anh vớt em ở dưới sông lên, đưa em về nhà một anh bạn cứu chữa cho em. Rồi anh đưa em đi xa, xa quê hương, xa thành phố, xa thị thành để cắt bỏ đoạn đời đau khổ và tủi nhục của em. Anh đã đưa em từ dưới đáy cầu Vực Thẳm lên đến tận chợ Núi vùng cao. Anh đã tìm mọi cách cứu chữa bệnh tình cho em và em đã khỏi. Anh đã đi làm, làm bất cứ việc gì, gian lao vất vả để kiếm từng đồng nuôi em, nuôi một con bé không đáng sống. Những ngày đầu em nằm ở nhà ốm đau bệnh tật, thấy anh vất vả quá, em tự hỏi, em có quyền gì mà cứ sống dựa vào anh, để anh khổ sở, để anh gầy rạc đi vì mình, và tại sao lại cứ phải nhờ vào người khác? Lòng tự ái, tính tự trọng của con người lại đưa em tìm đến cái chết một lần nữa, với hi vọng đỡ phần gian khổ cho anh, bởi vì em đã xác định, đằng nào em cũng phải chết cơ mà, nhất định em không sống làm gì nữa. Lần anh vớt em lên ở bờ sông, khi em tỉnh lại, em lại lao xuống sông, nhưng anh đã túm được em, kéo em trở lại, còn lần này em lừa lúc anh đi vắng để lại ra đi. Em đã đi ra cái mỏm đá, mà hôm đầu tiên chúng ta ngồi nghỉ ấy, nhìn xuống khe sâu thẳm, em đã chọn nơi đây để vĩnh viễn xa anh, vĩnh viễn rời khỏi sự bố thí khốn khổ của anh. Khi em đã định nhảy xuống thì bỗng lời anh nói với em hôm chúng ta mới gặp nhau lại vang lên.
“Hãy sống mà chịu đựng, mà nhìn đời” và “chết là nhục nhã, là là hèn hạ, là trốn tránh, là ăn quỵt cuộc đời” – Thế là lòng em sôi lên, máu nóng bừng bừng trong huyết quản. Có lẽ ta hèn hạ ư? Ừ, thì hãy cứ sống xem sao? Và em lại quay về, với cái võng đung đưa và với tấm lòng của anh. Em chỉ muốn để anh đỡ mất cái công đã vớt em và đã đưa em lên đây. Em cũng chỉ muốn sống, để chữa khỏi bệnh, người khoẻ mạnh lên, và em sẽ đền bù và trả nghĩa cho anh, theo cái kiểu thông thường của người đời. Sau đó em sẽ lại tìm đường chết. Và em cố sống vì thương anh, thương một chàng trai đã chót mất công sức cứu em mà chưa được trả giá, nên em phải sống.
Rồi tháng ngày lần lữa trôi qua, em đã khoẻ mạnh bình thường, em đã đi làm để kiếm sống cùng anh, và em chờ đợi đến ngày anh sẽ đòi hỏi món nợ với em. Nhưng em cứ chờ, chờ mãi mà chẳng bao giờ thấy anh đòi hỏi gì cả. Làm em sinh nghi và tự hỏi: Anh vớt em để làm gì? Ừ thì lòng nhân đạo con người khi thấy hoạn nạn thì cứu vớt, nhưng anh lại còn nuôi em ? nuôi em để làm gì? Nếu không phải để sử dụng em, đòi hỏi em như lẽ đời tầm thường, thì chắc hẳn sẽ có một âm mưu nào đó, cao xa hơn chăng? Nếu như anh không đòi hỏi nơi em có lẽ vì anh đã coi khinh em vì em chỉ là một đứa con gái đã bị hư hỏng, đã bị bệnh tật, thì có lẽ anh nuôi em để một ngày nào đó có thể lợi dụng em, dùng em để đánh đổi một cái gì đó?
Nhưng rồi ngày tháng cứ trôi qua, mặc dầu em đã nhiều lần nhẹ nhàng kín đáo ngỏ lời với anh, khêu gợi anh, kích động anh, nhưng anh vẫn làm ngơ và để em bị hẫng. Em chưa thấy một người đàn ông nào lại quá khô khan như vậy. Vì anh khinh em quá chăng? Và cái điều em nghi ngờ cũng chẳng bao giờ thấy anh có ý định gì cả. Càng ngày anh càng thương em, quý mến em. Săn sóc em thật sự như một đứa em gái. Lo cho em từ việc ăn ở đến nghề nghiệp việc làm, để em có thể tạo dựng cuộc đời tự lập của mình. Thế là bây giờ em mới rõ, chính là anh đã thương em nhiều hơn, mà em đã xúc phạm nghi ngờ anh, em thật có lỗi với anh. Ngàn lần xin lỗi anh. Nhưng nỗi đau khổ lại đến với em: tại sao anh chỉ coi em như là một cô em gái? Tại sao? Phải chăng em đã không xứng đáng với tình yêu của anh? Có phải vì anh đã coi khinh em? Vì em không còn là cô gái thơ ngây với lòng trinh bạch? Có phải vì em đã trải qua năm tháng phũ phàng? Có phải vì em thân thể đã tan nát và tâm hồn đã chai sạn? Có phải vì em đã ô uế cuộc đời, vì em đã xấu xa, không còn có thể gợi lại cho anh một chút tình yêu nữa?
Ôi nếu cuộc đời em sống mà thiếu tình yêu của anh, thì em sẽ sống làm sao đây? Ừ thì cho rằng những ngày tháng qua, chúng ta còn nghèo túng phải lao vào con đường làm ăn kiếm sống, nên anh đã kiềm chế lòng mình, tạm gác tình yêu với em. Nhưng đến bây giờ ơn trời chúng ta đã tương đối no đủ., cuộc sống đã không còn quá khó khăn, thì tại sao anh lại vẫn không đáp lại tình yêu của em? Anh ơi chúng ta tuy sống gần nhau mà sao vẫn xa nhau vời vợi? Tình yêu của em ơi, hãy thương cho số phận nghèo hèn này, em chẳng dám một lần chê anh, dù anh có đen đủi xấu xí, dù sau này anh có đui què mẻ sứt, thì cuộc đời này mãi mãi vẫn là của anh. Ôi, tình yêu của em, hãy đến với em đi, em đang thổn thức đợi chờ…?
*        *        *
*       *
 Nếu như số phận còn có lần gặp may, thì chính cái đêm ở bên cầu Vực Thẳm đó là cái may lớn nhất trong đời anh. Anh đã gặp một con người đau khổ. Cái con người đau khổ đang muốn chết và đã sắp chết ấy làm cho anh lại thấy yêu mến cuộc đời này. Bởi lẽ niềm tin vào cuộc đời của anh đã lụi tàn từ lâu rồi, từ cái ngày còn ở trong đội ngũ và ở giữa chiến trường, từ cái ngày trở về nơi không chốn nương thân, để rồi lang thang khắp đầu đường xó chợ như một kẻ hành khất suốt mấy năm qua. Bởi lẽ, thì ra trên đời này vẫn còn có những người nhận ra chân lí. Họ nhìn thấy quá rõ ràng đến nỗi họ không thể nào sống được để nhìn thấy cái hình tròn chân lí ấy lại bị biến ra cái hình lục lăng bát giác quái quỷ nào đó tựa như một mảng cao su rách tả tơi kéo ra thế nào cũng được.
Trời đã phú cho anh bắt nhặt được em từ tay hà bá. Và Diêm Vương đã tự nguyện trao em vào chính tay anh. Em là tặng vật của đời cho anh. Vậy thì anh phải nhận và gìn giữ em – gìn giữ tặng phẩm của cuộc đời anh. Trách nhiệm của anh là phải bảo vệ phải nâng niu tặng phẩm đó và phải làm cho nó ngày càng tươi đẹp lên, ngày càng phát sáng hào quang lấp lánh.
Anh yêu anh quý “tặng phẩm cuộc đời” của anh, đến nỗi cứ để cách ra xa mà chiêm ngưỡng.
Nếu anh vội vàng đòi hỏi em, như những kẻ tầm thường thì sao em còn tin vào sự vô tư và cao thượng của cuộc đời. Anh chẳng dám chê em chút nào. Em là một cô gái trẻ và đẹp, có một tâm hồn cao thượng mà anh cảm thấy mình thật không xứng đáng. Anh chỉ là một thằng lao công thô kệch và đen đủi. Anh chỉ là một thằng có cái lí lịch khó có chỗ đứng trên cuộc đời này, theo như người ta bảo. Anh chỉ là một thằng cha căng chú kiết nghèo hèn lang thang khắp đó đây để kiếm sống.
Anh cũng chẳng dám kinh bạc em chút nào! Anh rất thương em, những nỗi khổ đau của em, nào đâu có phải tại em? Anh là con trai chưa vợ, chưa một lần yêu, cũng chưa một lần chung đụng với đàn bà. Nhưng anh chẳng bao giờ có một cái ý nghĩ nào đó về thể xác. Tình yêu phải được bảo đảm bằng tâm hồn, chứ đâu phải quyết định bởi xác thịt.
Một năm qua, đã đủ là một thời gian thử thách hai tâm hồn của chúng ta chưa? Một năm qua chúng ta đã như đôi chim, đi nhặt nhạnh từng cọng rơm cọng cỏ để xây dựng nên một cái tổ. Có phải cuộc đời đã bù đắp lại cho những tâm hồn đau khổ này không?
Ôi! “tặng phẩm cuộc đời” của anh, số phận của anh, tình yêu của anh, hãy đến cùng anh. Em hãy nằm trong vòng tay chờ đợi của anh…
*        *        *
*       *
 … Hồm đó Loan theo anh, đến xem một bãi bom, mà theo anh nói, ở đó phong cảnh đẹp lắm.
Họ đi vào rừng. Mấy ngày nay, Hùng cảm thấy lúc nào cũng muốn gần Loan, và Loan cũng không muốn rời anh một phút.
Khi phải lội qua một đoạn suối, Hùng cõng Loan lên vai, mang cô qua suối, rồi lên núi, theo một sườn dốc thoai thoải, rào rạt cỏ xanh mơn mởn. Vầng mặt trời đã lên cao qua khỏi ngọn núi. Đôi tay cô gái mềm mại, trắng trẻo nắm chắc trong tay anh.
Anh có thể mang cô như vậy đi mãi mãi. Một sinh lực kì lạ, mới được giải phóng, tuôn chảy khắp cánh tay, lồng ngực anh, khiến anh cảm thấy nhẹ nhõm, như thể được chắp thêm đôi cánh.
Những luồng gió ngào ngạt hương sắc từ phía rừng thổi tới, làm lồng phổi anh nở nang, những hơi mát lạnh trong lành từ núi cao tràn về làm lồng ngực anh tươi mát. Cẳng chân săn gân đi không biết mệt mỏi, sẵn sàng đưa anh cùng người con gái đi mãi về phía mặt trời.
-         Bỏ em xuống nào. Anh không mệt à?
-         Anh mà mệt à? Anh xốc cô lên và chạy ngược hẳn lên dốc như một người điên khùng. Tiếng cười của Loan như nắc nẻ, thơ ngây như những ngày chăn trâu cắt cỏ mà chúng bạn chúng bè phải cõng nhau vì đánh võ, nhảy dây bị thua.
-         Bỏ xuống nào!
Anh quay cô gái từ phía sau  lưng trở lại ôm trước ngực và tung cô lên không trung, một lần nữa, lại một lần nữa.
-         Này bầu trời xanh, em hãy túm lấy và leo lên đi nào, anh sẽ đưa em tới bầu trời xanh kía! Nào!
-         Thôi thả em xuống đi, chóng mặt lắm!
Từ trên cao, từ khoảng xanh không trung mênh mông cô nhìn xuống anh bằng đồi mắt ngây dại, diệu kỳ. Cô thấy mái tóc rối bù, cặp mắt long lanh, cái miệng cười tươi, phô hai hàm răng trắng muốt.
- Yên nào – Cô co rúm trong vòng tay anh, nhắm nghiền mắt lại và khẽ khàng chạm làn môi mình vào môi anh. Cô cảm giác, thấy mình vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ, cô có uy quyền tuyệt đối với anh – một cảm giác mới lạ tràn ngập trái tim cô, làm cô sung sướng mãn nguyện.
Anh y như một con mãnh thú to lớn mà hiền lành. Như con voi hay con gấu, khoẻ vô cùng, nhưng lại sợ sức mạnh của chính mình. Giầu lòng trắc ấn, dễ dàng vâng theo một ánh mắt dịu dàng đầu tiên. Thế đấy, chẳng phải ta đã là của riêng anh rồi đó ư? Chẳng phải là anh đã chấp nhận tình yêu của ta rồi đó ư? Ôi con bé ngu ngốc và đau khổ ơi! Còn gì vui sướng hơn, hạnh phúc hơn, chỉ có mình ta với anh trên cánh rừng này, trên bầu trời này, trái đất này, cuộc đời này …, còn gì sung sướng hơn? …
Họ đi theo đường bờ suối vào rừng sâu.
-         Đàn chim gì xanh xanh đang xà vào ngọn cây cao ấy anh?
-         Đàn chim cu xanh đấy. Trông cũng như chim cu cu, nhưng màu nó xanh, chúng cũng đi từng đôi như chim bồ câu ấy.
-         Như chúng ta chứ?
-         Ừ như chúng mình. Nhưng nó có cả một bầy kia kìa. Loài chim ấy mùa này béo lắm.
Hình như cô uống không biết chán ánh nắng và sự gần gũi của anh. Một anh sáo đá véo von khúc ca mê li cuối cùng của nó trong mùa hè này. Một chị vàng anh, đầu xanh, hót líu lo trong bụi cây đỏ ngọn màu sặc sỡ. Một con chim xám nhỏ xíu chuyền cành ngay trước mặt họ.
-         Chim gì đây anh?
-         Chim sâu đấy! Loài chim cần cù chịu khó nhất trong các loài chim mà chẳng cần ai yêu cầu, chẳng cần cây cối yêu cầu, ở đâu có sâu là nó đến bắt… Vì miếng ăn của nó, nhưng cũng vì cuộc sống của các loại cây cỏ và con người.
-         Anh cũng như con chim sâu ấy. Ở đâu có bom đạn là anh đến. Không khéo lại để em mồ côi đấy, con chim sâu của em ạ ?
-         Ví von gì mà kì cục vậy?
Cô gái chạy vọt lên phía trước, lon ton, lon ton như con chim vành khuyên, trông thấy cỏ cây lạ cũng đứng lại xem, thấy hòn đá màu sắc óng ánh dưới suối cũng lội xuống nhặt, cô tìm, bới và đào, và nhổ những cây thuốc, ôm thành một bó.
Anh vừa đi vừa ngắm nhìn cô gái khi cô cúi xuống đào cây thuốc, khi cô lội xuống suối, đôi chân thon dài, khoẻ chắc, căng thẳng, eo thắt đáy lưng ong mềm mại uốn cong như cánh cung, mái tóc ngắn loà xoà trước trán và cô lấy mu bàn tay gạt chúng lên, một cử chỉ muôn thuở mà vẫn riêng của con gái. Anh những muốn ngắm cô mãi mãi suốt đời. Và anh mải mê ngắm nghía khiến cô đã mấy lần phải ngước mắt lên, lo lắng nhìn anh. Mắt anh vốn xanh trong, những khoảng khắc ấy chúng sẫm lại.
Anh đứng đó như một cây tùng, cây bách vững vàng – Cô gái thầm nghĩ – Mà em không thể không dựa vào anh được. Anh thanh khiết và dũng mãnh quá. Muốn chết ư? Không được. Bỏ chạy ư? Không được. Anh già dặn mà sao ngây thơ? Không thể làm cho anh buồn tủi vì sự ngây thơ của anh được.
Chính do sự ngây thơ ấy, mà anh chẳng hiểu tí gì cả. Cả giây phút này anh cũng không hiểu và không linh cảm gì. Không nên đường đột như vậy, một khi còn chưa hiến dâng hết cho anh. Trời ơi, người anh như vàng rực bởi ánh mặt trời, anh mở toang cửa đón ánh nắng và đón em. Anh cởi mở, hồn nhiên, anh vui sướng, và em sẽ làm cho anh mãi mãi được vui sướng như vậy. Anh yêu dấu, anh nhân hậu và cao đẹp của em!
Họ đi qua một ngọn đồi cây thấp có lẽ ban đêm ở đây lạnh hơn, nên cây cỏ có nhiều màu sắc, lá đỏ ối, đỏ da cam, đỏ tím, tím, vàng, vàng rực, vàng dịu, thỉnh thoảng mới có chỗ mầu xanh, có chỗ nắng đầy thì xanh biếc. Nhưng giờ đây không khí nóng nực và oi bức đang ngự trị, từ những bụi rậm phả ra một hương thơm ngây ngất.
-         Mùi ngải cứu đấy, cả mùi tóc tiên nữa… Cô thốt lên.
Họ đi qua khu rừng đó, sắp đến nơi có bãi bom. Phải qua những bãi cỏ, nơi giữa ban ngày ban mặt mà sao trông mập mờ như ánh trăng xanh bàng bạc bí ẩn. Ấy là trăm ngàn cụm hoà hình chân chim đang lay động, biển hoa trắng thanh ấy rập rờn mênh mông. Rừng hiện ra đột ngột, họ đi vào những tán lá rừng như đi vào bóng đêm, tối đen. Những thân cây lim, cây sến đồ sộ cao đến ba bốn chục mét, bóng tối âm u, cây bị bom trước đây đổ ngổn ngang, bụi rậm chằng chịt, vài vệt nắng hiếm hoi, yếu ớt. Những tràn nắng như những mũi kiếm dài đâm vào thân cây, có chỗ tia nắng rộng và mảnh như một tấm lụa căng rất phẳng từ trên vòm cây xuống đất, như những tấm cánh gà của một sân khấu vĩ đại.
Những cây cao to như những cột chống vòm trời. Từ trên cây dây leo to bằng bắp đùi, bắp tay rủ xuống, lòng thòng hoặc uốn quanh thân cây như những con trăn, con rắn. Tất cả chằng chịt, rối tung. Cả một mảng hàng trăm, nghìn con rắn gỗ, chúng leo đến tận ngọn, bò sang những cây bên cạnh, rủ xuống. Và chót vót tận đỉnh ngọn cây mới có lác đác vài cái lá dây leo. Chúng cướp ánh sáng, bóp nghẹt, che kín tất cả. Đôi khi chúng giết chết cả cây chúng leo nhờ. Đấy, một cây vàng tâm chết khô. Kìa lại một cây lát chun khô héo. Những dây leo cứ chẳng chịt tranh nhau vươn lên cướp ánh nắng mặt trời.
-         Anh ơi, cây gỗ gì to thế kia mà bị chết thế anh?
-         Cây gỗ lát đấy, còn kia là cây lim xanh, thế mà bị những cái cây lòng thòng dây dợ kia làm chết khô đấy.
-         Ôi tiếc quá nhỉ, gỗ quý như thế, to như thế mà cũng chết phí hoài.
-         Cuộc sống trong rừng cũng chẳng khác gì cuộc đời con người đâu. Những cây gỗ càng quý, càng cao đẹp bao nhiêu, thì lại càng bị những loại dây dợ ghen tị ăn bám nhiều bấy nhiêu, chúng ăn bám leo nhờ nhiều quá đến nỗi cây cổ thụ chẳng bị đổ vì gió bão thì cũng chết vì thiếu ánh nắng mặt trời.
-         Ôi, lạ quá nhỉ?
-         Em nhìn xem chỗ kia kìa. Bọn dây leo đã nhờ cây táu trắng mà vươn lên được tới đỉnh cao của rừng. Khi tới đỉnh rồi đáng lẽ nó phải chừa ánh nắng cho cây táu sống được, nhưng bọn dây dợ tham lam kia đã giành hết cả nắng, lấn chiếm và bao phủ hết ánh mặt trời làm cho cây táu lực lưỡng là thế mà cũng đang chết dần chết mòn đấy. Những tán lá đã héo trụi hết rồi, chỉ còn trơ lại những cành khẳng khiu như những xương cẳng tay cẳng chân và bộ xương sườn của con người ốm yếu sắp chết vậy.
Ở một chỗ khác, có một cây gỗ hương đổ xuống chẳng biết tự bao giờ, chắc đã lâu lắm. Trên thân cây mọc lên nhiều loại nấm kì dị, mịn màng, trắng toát, hay hồng hồng, nhiều cành nhánh như san hô nhỏ, khắc trổ tinh vi.
- Ôi, nấm gì đấy anh? Đẹp quá, thích quá! – Cô gái reo lên.
- Nấm hương đấy. Một loại nấm quý nhất của rừng Việt Nam đấy. Em hái đi!
Nhiều quá, em mới chỉ được ăn nấm hương chứ chưa thấy nó mọc như thế này. Nấm hương mà nấu với thịt gà hoặc xào thịt bò thì ngon tuyệt. Tối nay về em sẽ nấu cho anh ăn, em đã học cách nấu hồi ở Hà Nội rồi.
-         Rau má mà sào với thịt bò thì cũng ngon chẳng cứ gì nấm hương – Anh mỉm cười, chế giễu cô.
-         Thế thì em sẽ nấu hai món. Nấm hương và rau má, liệu hồn ông tướng mà không xơi rau má sẽ bị phạt.
-         Loan thận trọng hái một ít nấm bỏ vào túi xách tay. Thân nấm mát rượi, hương ẩm ướt thơm ngon. Cô nhấm nháp một cánh nấm, vừa thơm, vừa ngọt.
-         Em này – Anh nói nhỏ - Em có biết khi cả hai chúng mình đã già rồi, anh sẽ hồi tưởng những gì không? Sau một trăm năm nữa?
-         Anh nhớ những gì?
-         Nhớ hình ảnh em đứng giữa rừng hoang sơ này.
-         Và đang hái nấm hương?
-         Dưới một vòm trời, dây leo chẳng chịt, nhưng chẳng có cái nào quấn được vào người em.
Khi đó, Hùng cầm con dao con, phát những dây leo đang bám vào một thân cây nhỏ yếu ớt.
-         Vì có vị thần hộ mệnh là anh! – Loan nhanh trí trả lời.
Họ lại đi và gặp một thân cây đã bị chặt đổ, thân cây còn bị băm chém nhiều đoạn, những mảnh phôi gỗ như những con dăm bằng bàn tay bằng quân bài vung tứ tung khắp chung quanh, một loại gỗ xốp và trắng, mềm Loan lại hỏi:
-         Cây gì đây anh? Mà sao lại có người băm nát ra thế này.
-         Cây gỗ dó đấy ! Một loại gỗ chẳng ra gì, ấy thế mà trầm hương lại được tạo ra từ nhựa của nó.
-         Một cái cây xốp bồm bộp như thế này chắc chẳng ai lấy gỗ đóng đồ đâu nhỉ? Không ngờ lại quý thế. Nghe nói một cân trầm trị giá ngang một cây vàng. Chà kì lạ thật.
-         Thế đấy, có những con người trông bề ngoài thì chẳng ai muốn nhìn ngó, tưởng chừng chẳng làm được việc gì nên hồn. Ấy thế mà bên trong lại chứa nhiều sức lực tiềm tàng, lại là những con người tuyệt vời đấy. Người ta chặt những đoạn làm cho cây dó bị thương sần sùi. Rồi theo bản năng tự vệ mà thiên nhiên đã phú cho mỗi loài, cây dó liền dồn các dòng máu nhựa vào chỗ bị thương để ngăn các vi khuẩn không cho phá hoại thân cây. Chính những chỗ bị sần sùi thương tích đó, dòng nhựa đã đọng lại, biến hoá thành trầm,tích tụ lại như một thứ keo mà người đời đã lấy để làm hương liệu quý. Hương trầm đốt ở đình chùa trong những ngày tế lễ hội hè, pha vào nước tắm cho những mỹ nữ. Người ta còn dùng để ướp xác những vua chúa hoặc cung tần, mà ngành khảo cổ khai quật những xác người chết hàng ngàn năm vẫn còn tươi nguyên.
Thời đại khoa học hiện nay trầm còn được dùng làm nhiều loại dược liệu cao cấp, chữa nhiều bệnh hiểm nghèo, làm nhiều sản phẩm công nghiệp quý hiếm khác. Trầm được người ta khai thác và lưu thông như thuốc phiện và vàng. Là mặt hàng quốc cấm của bất cứ quốc gia nào.
Người ta chỉ biết khai thác ở rừng, phá hoại rừng, bóc lột rừng, những thức mà thiên nhiên đã tạo nên cho. Nhưng hẳn đã có mấy ai nghĩ tới việc trồng cây gỗ dó để sản xuất và khai thác trầm hương, mặc dù biết giá trị của nó quý gấp trăm ngàn lần các loại cây gỗ khác?
-         Ôi anh nói gì mà cứ như là một nhà khoa học về rừng, cứ thao thao ấy thôi, em chả hiểu gì cả.
Hùng bỗng dừng lại, thấy mình đã đi quá xa.
-         Anh xin lỗi em nhé! Thôi ta đi đến thác nước đi. Một con suối nhỏ chảy trên núi đá xuống vũng nước sâu, thác nước cao đến dăm chục mét. Nước chảy thành dòng thẳng đứng lao xuống khe, nước trùm lên những mỏm đá nhô ra, như một mái nhà, người ta có thể đứng ở trong đó mà không bị ướt. Họ cởi quần áo để tắm và nô với nhau như một đôi trẻ thơ. Bơi ở khe nước, đuổi nhau trên những mỏm đá và làm trò ú tim dưới mái vòm nước. Một lúc lâu, khi đã mệt, họ nằm dài song đôi trên một tảng đá phẳng lì như chiếu, những giọt nước bắn tung toé trên đầu họ, long lanh như những hạt ngũ sắc trên bờ vai, trên ngực nóng rát ánh nắng.
Những hàng cây mọc dầy đặc sừng sững như bức tường, cành lá xanh tươi loà xoà, dây leo lòng thòng như một bức mành mành rủ xuống như thể muốn che phủ, muốn quấn chặt lấy hai người.
Ánh nắng và bóng râm đan nhau nhảy nhót trên người họ. Rừng già xung quanh đan quyện, xoắn tít. Hương rừng phảng phất hơi thở người con gái kề sát bên anh.
Cách đó một đoạn không xa là bãi bom, những quả bom mà Hùng đang tìm cách tháo gỡ. Nhưng đó cũng là bãi chết, bãi diệt vong con người, nếu không chiến thắng nó. Nó lì lợm và thách thức. Sự đe doạ chết chóc cho những con người, cho những sinh vật và cây cối trên mảnh đất này. Nó đã nằm phục ở đó hàng chục năm nay, và sẽ còn hàng trăm năm sau. Những cây dây leo thì cứ xoắn tít lấy những cây to cao, để bám lấy, để vươn lên, để rồi lại trở lại làm hại những cây trụ cột đó. Còn quả bom, nó không việc gì phải nhọc nhằn như những cây dây leo, không việc gì phải hèn hạ như chúng nó, hắn cứ nằm im lìm đấy, cứ để cho những cây rừng phát triển lớn mạnh, kể cả cây to cao đẹp đẽ và cả những loài ăn bám…
Nhưng đến một lúc nào đó khi có động trời động đất, khi có giông tố sấm sét hoặc khi có những xe, những máy móc tối tân hiện đại, mà con người, những lớp người không hiểu biết gì về lịch sử hay đã quên đi quá khứ trên mảnh đất này, hoặc đến lúc do chính sự biến dạng nội lực của bản thân, nó tự huỷ. Thì lúc đó sự bùng nổ mới tung lên. Như một quả núi lửa sẽ huỷ diệt hoàn toàn những gì đang đè lên trên nó, cho dù đó là những rừng thẳm tuyết dầy hay những công trình thế kỉ….
-         Em nghĩ gì thế?
-Em nghĩ đến anh, nghĩ đến những trái bom của anh, chưa bao giờ em thấy lòng được thanh thản. Thật là kinh khủng, nếu những trái bom kia… ngộ nhỡ…. – Cô không dám nói tiếp.
Đột nhiên cô ôm chặt lấy anh như muốn bảo vệ, che chở cho anh khỏi những giông bão cuộc đời.
*        *        *
*       *
 Từ khi Hùng và Loan bỏ nhà ông An, chú họ của Hùng ở khu vực Đập Rú ra đi, nói là đưa Loan về quê chơi, ông An mong ngày mong đêm. Ông hẹn Hùng chỉ đi độ một tuần lễ rồi lên, để phá nốt mấy quả bom, kịp cho công trường thi công theo kế hoạch. Nhưng rồi một tuần, hai tuần, vẫn không thấy tăm hơi đâu cả. Ông An sốt ruột, lo lắng cho cái kế hoạch phá quả bom thứ 4, thứ 5 của công trường, mà mỗi quả bom ông có thể thu lợi nhuận bằng cách lấy tiền của công trường và ăn chặn ăn bớt thằng cháu họ.
Mãi hơn hai tháng sau ông An tình cờ biết được tin Hùng và Loan đang ở tận công trường nhà máy xi măng Đá Xanh. Ông đang phân vân suy tính, thì có một thanh nên vào dạng to khoẻ đầu óc bù xù, nước da đen sạm, áo quần lệch thếch, lúc nào cũng phanh để khoe bộ ngực xăm một cô gái trần truồng cưỡi con rồng bay. Hắn bước vào sân. Ông chợt nhớ ra, à đây rồi – thằng này có thể được việc đây, ông nhớ hình như thằng này đang chết mê chết mệt vì con Loan đây.
Hắn cũng là một tay vào dạng anh chị trong đám thanh niên xóm này, đám trẻ nể hắn và sợ hắn, bởi hắn khoẻ và hay gây gổ. Hắn cũng là một tay tứ cố vô thân, trước đã làm thợ lái máy cày cho nông trường, bị đuổi vì tội ăn cắp và đánh người bị thương. Bị đi tù hai năm rồi về nhà thất nghiệp, chơi bời lêu lổng, ăn bám gia đình, làm thuê làm mướn, gặp việc gì là làm việc đó, được đồng nào lại la cà uống rượu hết. Vừa qua công trường Đập Rú cần thợ nên thuê hắn đến chạy máy bơm nước. Hắn hay tụ tập đám thanh niên, đàn đúm rượu chè cờ bạc, rồi gây gổ đánh chửi nhau suốt.
-         Phải lấy độc trị độc mới được !
Ông An bỗng nói một mình, ông đang nghĩ về việc dùng thằng Tâm, tên anh chàng thợ máy bơm nước đó. Thằng Tâm vừa vào sân vừa đon đả chào ông An, giọng xu nịnh cầu tài:
-         Chào bố An, dạo này đói rách quá, bố xem thế nào, ứng cho cọn một ít chứ!
-         Lại hết tiền uống rượu hả? Anh vừa mới ứng 100 đồng tuần trước thôi, công trường lấy đâu mà cho anh vay mãi được.
-         Thì mấy bố ăn nhiều, chứ bọn con đáng là bao.
-         Chết, chớ nói bậy mà vạ vào thân đấy. Nhưng mà hôm nay chủ nhật cơ quan nghỉ hết rồi, chờ mai đến tôi kí giấy cho vay 100 nữa vậy nhé!
Khi thằng Tâm định quay ra về, thì ông An vẫy lại:
-         Này thôi thế này nhé, chỗ người nhà với nhau cả, tôi cũng rất thương tình anh. Tôi tạm lấy tiền của nhà tôi ứng cho anh trước đây. Tâm mừng nhảy cẫng lên, rồi quỳ sụp xuống chắp tay vái lia lịa.
-         Ôi, con xin lạy bố, cảm ơn bố!
-         Khoan, tôi dặn nhé, không được đi uống rượu nghe không? Phải đưa về cho bà cụ đong gạo đấy nhé. À này, dạo này anh có nhận được thư từ gì của cái Loan không?
-         Không, bố ạ. Ôi bố ơi, con đang chết nửa đời người rồi đây. Chẳng được tin tức gì cả (hắn làm như là hắn đã thân với Loan lắm). Không biết em ấy làm sao  hả bố?
-         Chẳng làm sao cả, nó đang theo thằng Hùng đi làm ăn ở đâu như là công trường Đá Xanh ấy.
-         Đá Xanh à? Đi với thằng Hùng à? Thế thì con phải lên đấy xem sao? … Nhưng ý bố thế nào? Bố có định gả cho con hay cho thằng Hùng nào? (Chả là trước đây để hợp pháp với bà con làng xóm ông nhận Hùng là cháu họ bên nội, còn Loan lại là cháu họ bên ngoại, theo đề nghị của Hùng, hai đứa đều do ông kéo lên để làm ăn, rồi tình cờ gặp nhau trên đây thôi Chẳng có  tình ý  gì cả
      Anh chàng Tâm và nhiều thanh niên khác cũng tưởng là vậy nên hay săn đón la cà tán tỉnh Loan ).
-         Ý tao là thế nào ấy à? Thằng Hùng là cháu, cái Loan cũng là cháu và thằng Tâm … (ông nháy mắt với Tâm một cái) cũng là cháu tao ! Không thể nhất bên trọng, nhất bên khinh được, tao là tao cứ công bằng ở giữa, mạnh đứa nào đứa ấy được, đứa nào tao cũng quý cũng ủng hộ, mày lại ở gần tao, tất nhiên tao sẽ có phần chiếu cố hơn, nếu cái Loan nó đồng ý!
-         Thế thì được, hoan nghênh bố, bố phải ủng hộ con. Nhất định Loan sẽ phải về tay con – Thằng Tâm sướng quá reo lên.
-         Nhưng mà tao cấm không được đánh nhau đấy nhé! – Ông An răn đe một cách tinh khôn có tính toán trước, đề phòng sau này có chuyện gì ông không liên quan trách nhiệm, vì rằng tôi đã ngăn cấm nó rồi, tự nó gây ra, tôi biết làm thế nào được (?)
Thằng Tâm được tin Loan ở công trường Đá Xanh, lại được ông An kích động và tiếp tay, hứa ủng hộ, hắn vui mừng ra mặt, liền sà vào quán ngồi nhấm nháp rượu và suy nghĩ cách để chiếm Loan. Hắn nhớ lại những ngày gặp Loan ở công trường Đập Rú này, mấy tháng trước đây….
Dạo đó, hắn đã vào làm thợ chạy máy bơm của công trường, làm theo hợp đồng, vì cũng chẳng ai nhận hắn vào biên chế, mà công trường của xã cũng chẳng có biên chế nào cả. Lần đầu tiên thấy một cô gái bé nhỏ, xách cái túi đến công trường bán thuốc lá, hắn giật mình : “chà con bé xinh quá”. Mặc dù cô ăn mặc lôi thôi lếch thếch, đội nón chùm khăn che mặt, nhưng cũng không lọt qua được con mắt của anh chàng thợ máy bơm si tình này. Ngày nào anh chàng cũng phải một vài lần gặp cô gái, lúc thì mua điếu thuốc, lúc thì  uống chén rượu với vài củ lạc, kề cà và tán tỉnh. Lúc đầu hắn phải đến chỗ cô gái ngồi bán ở đám đông giữa công trường. Sau đó, hắn kéo được cô gái đến chỗ hắn chạy máy bơm cách xa trung tâm một đoạn ngắn. Hắn tưởng chừng như mình đã thân quen với cô. Cô gái rất dễ thương, nhỏ nhẹ và rất khôn khéo. Đã nhiều lần hắn túm được tay cô và định ôm hôn cô, nhưng lần nào cô cũng ranh ma chuồn khỏi tay hắn như trạch.
-         Kìa có người đấy!
Loan nói giật giọng đột ngột, làm anh chàng si tình giật mình, lỏng tay và cô vội vàng rút chạy. Cứ như thế, Tâm không những tán tỉnh Loan một cách sỗ sàng, mà còn nhiều lần đến gặp  Loan ở những đoạn đường vắng. Nhưng Loan đều đoán biết được ý định và khôn khéo tránh.
Loan đã chán ngấy cái bọn đàn ông rồi, cô chẳng còn hứng thú gì nữa, cho dù anh chàng Tâm hoặc nhiều chàng trai khác cố tình tán tỉnh khêu gợi và kích thích đến nơi đến chốn. Vả lại điều này là điều chủ yếu, cô không thể phản lại Hùng được, cho dù anh có khinh rẻ cô, chê cô, không muốn chung đụng với cô, thì cô càng phải giữ gìn, càng phải sống trong sạch, như điều anh mong muốn. Cô đã yêu anh, trăm lần không, ngàn lần không thể yêu ai khác nữa, cho dù tình yêu đó chỉ có một phía. Cô không thể phản lại người yêu của mình được. Nhưng cô cũng không muốn mất những khách hàng nhiệt thành của cô, chuyện làm ăn mà, cho nên cô phải hết sức tỉnh táo và khôn khéo, những ngày tháng khổ cực và va chạm với đời đã dậy cô những mánh lới tinh ranh của các cô gái lang thang.
Những ngày anh chàng Tâm sôi sục để tìm cách đón bắt cô, thì bỗng nhiên cô bé “về quê” làm cho anh ta bị hẫng, rồi vài tháng qua, cơn bồng bột hăng máu cũng lắng dần xuống, nay được ông An khuấy động lên làm cho cái tính máu gái của hắn lại được hâm nóng lên một cách mau chóng, và nồng độ ngày càng cao hơn. Nỗi khao khát tình yêu của Loan, nỗi thèm muốn cơ thể của Loan làm anh chàng đa tình này mất ăn mất ngủ.
Thằng Tâm đã suy nghĩ và tính toán phải làm sao tách được Loan ra khỏi Hùng, mà theo hắn. Hùng là đối thủ chủ yếu của hắn, là tình địch của hắn. Hắn có thể trị cho Hùng một trận và buộc Hùng phải từ bỏ Loan, trả lại cho hắn. Việc này hắn có thể làm được vì hắn to khoẻ hơn Hùng, trò đời là vậy: cá lớn nuốt cá bé mà ! Ngại gì, cách này hắn tin chắc hắn sẽ thắng. Tuy nhiên cũng phải tính đến một tình huống dự phòng đến lúc đó sẽ hay.
Ngay ngày hôm sau hắn bỏ việc công trường, một mình lên tàu đi chợ Núi, hỏi thăm đường đến khu vực Đá Xanh, tìm Loan và Hùng.
 Tìm mãi hắn mới gặp được Loan ở chợ Núi. Anh chàng thợ máy Đập Rú bỗng bàng hoàng chết đứng trước một cửa hàng thợ may nho nhỏ xinh xinh mà trong đó người đẹp của anh đang đạp máy khâu. “Loan đẹp như một nàng tiên”, hắn thầm nghĩ, hắn không ngờ Loan đã làm thợ may và lại có một cơ ngơi như thế này.
Loan đang máy, ngẩng đầu lên, nhận ra người quen đang đứng ngây dại nhìn mình, cô reo lên:
- A, anh Tâm! Anh đi đâu thế này? Sao lại ở đây? – Gặp lại người quen cô vui mừng thật sự, bỏ máy đứng lên chạy ra – Mời anh vào đây chơi. Lâu quá không về Đập Rú được, tình hình ở đấy thế nào? Anh vẫn khoẻ đấy chứ. Chú thím em có khoẻ không? …
Anh chàng tội nghiệp cứ đứng ngây ra nhìn Loan, anh tưởng rằng Loan sẽ đuổi anh đi hoặc ít ra cũng lạnh nhạt với mình, không ngờ Loan tỏ vẻ vui mừng, ríu ra ríu rít, chứng tỏ Loan vẫn có cảm tình với mình, Loan không ghét bỏ mình. Một lát sau, anh ta mới lắp bắp nói được mấy câu khe khẽ:
-         Anh, anh đi tìm Loan đây!
-         Tìm em? – Loan bỗng nhíu lông mày và chợt nhận ra động cơ của anh chàng máu gái này, nhưng cô kịp trấn tĩnh và khéo léo rất tự nhiên – Tìm em làm gì đấy ? Chú An có việc gì chăng?
-         Phải, chú An đang bị ốm – anh chàng phịa ra – bảo anh lên tìm em và Hùng phải về thăm chú ngay. Thế Hùng đâu?
-         Anh ấy ở trong nhà, nhà kia kìa – cô chỉ về phía căn nhà bà già – Anh ấy cũng đang phá bom cho công trường Đá Xanh đấy. Bận lắm, chả chắc có về ngay được không.
-         Thế em ở riêng một mình ở hiệu may này à?
-         Ừ, sao cơ? Cửa hàng của em mà.
Anh chàng si tình lại tưởng là cô ở riêng một mình ở đây, còn thằng Hùng ở trong nhà kia, chứng tỏ chúng nó cũng chưa có gì với nhau, vẫn còn nhiều khả năng cho anh chàng lôi kéo Loan.
Loan pha nước, lấy thuốc lá mời Tâm, thái độ tiếp khách rất niềm nở, làm Tâm càng khoái chí. Trước khi gặp Loan, hắn đã uống mấy chén rượu ở đầu chợ, đến bây giờ rượu mới ngấm, và anh chàng đa tình này vội vàng tuôn ra hàng tràng lời lẽ tán tỉnh thô kệch mà Loan đã nghe nhàm tai. Với phép lịch sự mến khách, cô cứ để cho anh ta nói, không nỡ đuổi anh ta đi. Còn anh chàng Tâm thì thổ lộ hết lòng mình. Nào là “chúng ta sẽ về Đập Rú cưới nhau, anh làm thợ máy nước, em làm thợ máy khâu, thế thì đẹp đôi quá rồi, cuộc sống đã có chú An nâng đỡ thì chẳng mấy chốc mà giầu…”
*        *        *
*       *
 Câu chuyện đang rôm rả từ cái miệng của chàng Tâm thì bỗng Hùng đi làm ở công trường về, ghé vào hiệu may, làm cho Tâm tự nhiên cứng họng lại. Hắn ngỡ ngàng nhìn Loan rồi lại nhìn Hùng, Hùng liền cảnh giác. Anh biết hắn vốn là tay chân của ông An và rất mê Loan, chắc hẳn lên đây chẳng phải chuyện tình cờ, ngoài chuyện đến gặp và tán tỉnh Loan.
-         Chào cậu, Hùng đấy à?
-         Ừ, chào cậu, Tâm đấy hả? Cậu từ đâu tới đây thế? Từ Đập Rú hả, chắc ông An lại cho cậu lên tìm tớ về phá bom phải không ?
-         Ừ đúng rồi! – Tâm vớ được chuyện, thực ra ông An chẳng giao việc gì cho hắn cả - Ông An, à chú An cử mình lên “mời” cậu về Đập Rú, chú ấy đang bị ốm cậu phải đi về với mình ngay, tiện thể tớ có việc cần nói chuyện với cậu.
-         Việc gì?
-         Việc riêng! – Tâm đã lấy lại được vẻ bình tĩnh, hắn đứng lên nhún vai một cái như làm điệu bộ kẻ cả, một tín hiệu của giới anh chị, ý nói “chuyện của riêng cánh đàn ông chúng ta thôi”.
Loan linh cảm thấy có chuyện không hay sẽ xảy ra giữa hai người con trai này. Cô lo cho Hùng, cái con gấu kia nó có thể đè bẹp anh, cô cố tìm cách hoà giải:
-         Anh Tâm cứ ngồi xuống đây uống nước đã, có chuyện gì rồi sẽ bàn sau, đi đâu mà nóng vội thế!
-         Ừ thôi, cậu cứ ngồi đây nói chuyện với Loan đi, để mình đi tìm mấy lạng mã kích gửi cho chú An đã nhé, nhớ chờ mình đấy! – Hùng nói xong, bắt tay Tâm bóp một cái, tỏ dấu hiệu “sẵn sàng tiếp cậu”, rồi lắc lắc mấy cái và nháy mắt – chớ có chuồn sớm nhé!
-         Hùng bước ra ngoài đi về phía rừng, phía bãi bom.
Tâm ngồi xuống tiếp một chén nước, nhưng mắt vẫn dõi theo hướng Hùng đi, thấy Hùng nắm tay giơ lên làm hiệu. Tâm vội vàng bước ra ngoài và bảo Loan:
-         Anh ra quán này một lát. Tí nữa anh quay lại nhé.
Hắn bước đi với vẻ chững chạc. Hắn ghé vào quán rượu gần đó làm vài chén để lấy sức cho cuộc nói chuyện với Hùng, sau đó hắn lững thững đi ra một phía khác để tránh cho Loan không nhìn thấy. Sau đó hắn mới vòng về hướng của Hùng đi. Hắn ung dung bước đi vững vàng, chắc chắn và tự tin như ông hộ pháp ra pháp đài xử trảm kẻ tội phạm.
Thật cứ như hai hiệp sĩ châu Âu thời trung cổ hẹn nhau đi đấu kiếm hoặc đấu súng để rửa hận ấy. Chỉ khác ở đây không hề có trọng tài, không có lời cam đoan trong biên bản quyết đấu, cũng không có người hộ tống và thầy thuốc cho mỗi bên. Họ chỉ có hai người với nhau mà thôi.
Khi thấy Tâm đến gần, mặt đỏ bừng, mắt như tóe lửa, sặc mùi rượu. Hùng vẫn ngồi tư thế tự nhiên, anh hỏi một cách từ tốn:
-         Nào ngồi xuống đây, ta nói chuyện với nhau, cậu cần gì ở mình.
-         Chẳng có chuyện gì dài dòng cả - Tâm vẫn đứng hai tay chống nạnh, với thái độ uy hiếp đối thủ - Cậu nhường Loan cho tớ, có thể thôi!
-         Hả, nhường Loan cho cậu? – Hùng hỏi lại, Tâm gật gật đầu.
-         Thế cậu đã hỏi Loan chưa, và cô ấy có đồng ý không đã chứ?
-         Tớ đã hỏi Loan, nhưng vì còn vướng cậu cho nên cô ấy chưa trả lời dứt khoát – Hắn phịa ra như vậy – Tớ cũng đã hỏi ông An, ông An nhất quyết gả cho tớ.
-         Nếu cậu có thể là người chồng tốt, tớ sẵn sàng gả cho cậu, như người anh trai gả chồng cho em gái. Nhưng không được, với cung cách của cậu, cậu chỉ làm hỏng cô ấy đi mà thôi.
-         Hả, cung cách tớ làm sao? Cậu coi thường tớ hả? – Thằng Tâm liền đổi giọng ngay, vẻ sinh sự thách thức. Nè, nếu cậu không nhường hẳn cái Loan cho tớ, thì hãy cho tớ mượn một thời gian cũng được. Tớ sẽ sòng phẳng với cậu, nghe không?
-         Hùng tái mặt đi, không ngờ hắn lỗ mãng đến thế. Nhưng anh vẫn cố lấy giọng bình tĩnh:
-         Này, tớ không muốn gây sự đâu, mệt lắm. Nhưng cậu hãy nói lại đi, không nói cái giọng như thế được đâu.
-         Thằng Tâm thấy đối phương bị lún, liền xáp lại gần và tấn công luôn:
-         Ừ thì anh mày nói lại nhé. Một là mày hai là tao. Nếu không muốn về chầu hà bá thì hãy biết điều đi, đại vương này tha cho, tiểu quỷ ạ!
-         Thôi được, nếu mày muốn thì tao cũng sẵn sàng – Hùng bật đứng dậy và lùi lại xa thằng Tâm – Tay không nhé! Cởi quần áo ra!
-         Được đấy, sẵn sàng – Thằng Tâm chỉ chờ có thế, nó đã chọc đúng chỗ ngứa của Hùng, nó cười khẩy, vì tin sức vóc của mình:
-         Nhưng tao phải nói rõ ràng thế này, nếu mày thua mày phải nhường cái Loan cho tao?
-         Đồng ý, cô Loan sẽ thuộc về kẻ nào thắng.
Họ cùng cởi quần áo, mỗi người chỉ còn một chiếc quần đùi, Hùng cởi bộ quần áo lính bạc màu. Tâm cởi bộ quấn bò dính đầy dầu mỡ.. Cả hai xếp cẩn thận quần áo của mình lại rồi đặt trên cỏ. Trong quần áo của thằng Tâm, hắn cố che đi một con dao găm. Khi cởi quần áo ra, nhìn thấy bộ ngực và chân tay thằng Tâm mới gớm ghiếc làm sao, toàn hình xăm các loại. Hùng trông thấy cơ thể hắn, cao to hơn hẳn Hùng nên anh cũng có ý chờn. Thằng Tâm làm một động tác lên tấn và vài đường quyền để áp đảo Hùng… Những cơ bắp ở ngực, ở chân tay cuồn cuộn lên, trông thật là hùng dũng.
Lúc đó vào giữa buổi trưa hè, trời nắng chang chang, khí hậu oi bức, bãi phẳng bị rừng che khuất, không một ngọn gió. Hai người đứng cách nhau năm bước, hầm hè nhìn nhau, không nói một lời, như hai đô vật đang vào hiệp đấu, như hai võ sĩ đang trên võ đài, không có trọng tài không có khán giả, chỉ có ông mặt trời chứng kiến cho cuộc đấu của họ và xuyên vào họ những tia nắng chói chang, làm họ chảy mồ hồi bóng nhoáng và thân thể họ như phát sáng lấp loá dưới ánh mặt trời.
Như hai con sư tử đang vờn nhau, bỗng thằng Tâm quát lên một tiếng và lao tới tưởng chừng như nuốt lấy Hùng, và thế là hai con gấu ôm lấy nhau, quần đảo nhau, hết đợt này đến đợt khác, họ lăn lộn trên bãi đất trống làm đất bụi mù lên. Họ quắp chặt lấy nhau và lăn lông lốc xuống chân đồi, rơi vào một cái khe nước, chân tay mình mẩy bê bết máu và bùn nước, chiếc quần lót của cả hai rách bươm, tơi tả, mặt mũi thâm tím. Họ đã thoả thuận đánh nhau đến khi nào một người bị ngã bất tỉnh như các võ sĩ quyền Anh đếm đến 10 mà không dậy được thì mới thôi. Theo luật rừng, khi một kẻ đã ngã bất tỉnh thì kẻ kia sẽ không đánh nữa, rất hảo hán, và người thua sẽ gọi kẻ thắng bằng đại ca, còn ở đây người nào thắng sẽ được Loan.
Họ quần nhau suốt hai tiếng đồng hồ vẫn không phân thắng bại, cả hai đều kiệt sức, đành phải dừng lại nghỉ. Họ phải nằm vật ra cỏ, thở không ra hơi. Mặt thằng Tâm xưng lên một cái u ở đuôi mắt trái to như một quả ổi, mọng nước thâm tím và hộc máu mũi. Còn Hùng thì khạc ra một đống máu trong mồm, máu còn chảy cả ra đằng tai. Chân tay mình mẩy bị cào cấu, hoặc bị sỏi đá, cây cỏ làm xước, chảy máu thâm tím lẫn bùn đất, chiếc quần lót của thằng Tâm chỉ còn cái cạp.
- Rồi mày sẽ biết tay tao – Thằng Tâm ngồi dậy lấy đống quần áo lau máu trên mặt vừa nói không thành tiếng – Mày đã nhận là mày thua chưa hả thằng tiểu yêu mất dạy kia?
- Không đời nào, thằng khốn nạn – Hùng cũng nói lạc cả giọng đi. Anh cũng lấy quần áo lau máu và định mặc vào người.
- Thế thì hãy khoan mặc quần áo, tiếp tục cho đến khi nào phân thắng bại, như đã thoả thuận.
Hùng định xông vào Tâm, nhưng hắn đã vội vã cầm ngay con dao găm trong đống quần áo lên.
- Mày làm gì thế, đã thoả thuận chỉ đánh nhau tay không thôi cơ mà! – Vừa nói Hùng vừa bất ngờ đá một phát vào cánh tay thằng Tâm, làm con dao găm bật tung bắn ra xa.
- Thằng Tâm lại cúi xuống định nhặt một hòn đá. Hùng xông tới quật ngã Tâm. Hai người tiếp tục ôm ghì nhau quần đảo. Nhưng xem ra sức thằng Tâm bị đuối, nó không ôm chặt Hùng được mạnh như trước nữa. Hùng tiếp tục bám chặt đối thủ và đạp cho lăn tiếp xuống sườn dốc để làm hao sức của con trâu mộng này, anh mới hòng quật được nó. Những ngày rèn luyện gian khổ, những năm chiến đấu ác liệt và những ngày cơ cực lao động vất vả của Hùng đã giúp sức anh chiến đấu với thằng Tâm. Hùng lừa thế dùng một động tác bật lên, tuột khỏi tay hắn và theo đà kéo một tay hắn vặn chéo ra phía sau, làm một thế khoá tay thằng Tâm lại, hắn đau nhói hét lên một tiếng và nằm cứng đờ, cố gượng ngồi lên nhưng không được. Bị thất bại hắn đau đớn lồng lên:
- Mày sẽ biết tay ông, đồ mất dạy!
- Cứ nằm đấy mà sám hối đi, thằng khốn nạn ạ! – Hùng vừa nói vừa lên đồi lấy quần áo xuống, vứt cho thằng Tâm, lại nhặt cả con dao găm quẳng cho nó và mỉa mai – Thôi, chào đại ca nhé, cứ chờ đấy, tao sẽ dẫn cô Loan đến tận nơi giao cho mày nhé.
Hùng ôm quần áo khập khễnh bước đi, về phía làng. Đến gần bãi bom anh mới rẽ xuống một khe suối tắm rửa. Mặc cho tiếng kêu la của thằng Tâm vừa van xin vừa chửi bới ở “bãi chiến trường” phía sau cứ xa dần, xa dần rồi im hẳn.
*        *        *
*       *
 Sau khi tắm rửa xong, Hùng lững thững ra về, vừa mệt mỏi vừa đói, chân tay run lẩy bẩy. Trong đời anh chưa có trận chiến đấu nào, kể cả trận đấm đá nào mệt như hôm nay. Trong chiến đấu tuy mệt nhưng sau đó lại vui chiến thắng nên hào hứng và thoải mái. Còn hôm nay, tuy đối thủ bị hạ, nhưng anh lại rất buồn. Tại sao mình không được yên thân? Mình không muốn thù oán ai, cho dù họ muốn hại mình, mình không muốn đánh nhau, cho dù họ chủ động gây sự, mình muốn rút lui khỏi vũ đài những cuộc gây gổ, nhưng họ không cho mình rút, họ buộc mình phải ra tay, phải chống đỡ, và phải đo ván họ. Biết làm sao được, khi đã đụng độ thì chẳng ai muốn bại trận cả.
Hùng cứ lủi thủi một mình, chân khập khễnh bước đi, như đếm từng bước, mỗi bước đi lại tự hỏi: tại sao? Anh khao khát được “hoà bình” với tất cả mọi người, với các đối thủ của anh. Nhưng khát vọng bình yên của anh luôn bị những kẻ khác làm đảo lộn, buộc anh phải đổ máu và cũng buộc anh phải vấy máu.
Hùng đang lầm lũi bước về, thì bỗng gặp Loan đầu không nón hớt ha hớt hải chạy đến, mặt mũi đỏ bừng, mồ hôi lã chã.
-         Ôi anh Hùng, em đi tìm anh mãi, em lo sợ quá!
Cô nhìn vào mặt Hùng, những vết thương thâm tím mặt mũi làm cô kinh sợ:
-         Chết làm sao thế này anh? Thế hắn Tâm đâu rồi? Em chỉ lo con beo ấy nó ăn thịt anh mất thôi. Em chạy hết chỗ này đến chỗ khác, ra cả công trường mà không thấy anh. Em còn sợ nó bắt anh đưa đi đâu nữa thì chết mất! – Loan cứ cuống cuồng lên, vừa hỏi vừa xoa bóp các vết thương trên mặt trên cổ Hùng – Chết thôi, đánh nhau gì mà ghê thế này, sao anh không tránh mặt đi có hơn không, khổ quá! Thế hắn có làm sao không ? hay là lại nhỡ tay thì rầy rà to. Hả? hắn đâu? Có làm sao không? – Loan bỗng dưng sợ thằng Tâm chết, thì sẽ liên quan đến Hùng, cô sợ người ta bắt Hùng đi tù. Nhưng lúc đó Hùng lại nghĩ khác, tưởng là Loan thương hại cho thằng Tâm.
-         Nó chưa chết đâu mà lo. Nó còn đang nằm chờ cô ở xó rừng kia kìa, ra mà cứu lấy nó!
-         Anh Hùng! – Loan bỗng thốt lên – Sao anh lại nói thế ? Em lo là nhỡ anh đánh nó chết, thì công an người ta đến bắt anh đi tù mất.
Hùng bỗng ân hận:
-         Em đừng lo, nó vẫn khoẻ như hùm ấy, tí nữa thì anh toi mạng với nó chứ chả chơi. Thôi em về trước đi, anh ra “cởi trói” cho nó.
-         Không, em sợ lắm, em đi cùng anh cơ. Nhỡ lại đánh nhau nữa thì chết thôi.
Hai người lại quay lại “bãi chiến trường”. Thằng Tâm vẫn nằm bất động tại chỗ, mắt nhằm nghiền như đang ngủ, chỉ có chiếc quần mà Hùng đã phủ lên thân hình trần truồng của hắn. Thấy tiếng động, hắn mở mắt ra lắp bắp không ra hơi:
-         Thôi tôi chịu thua anh rồi. Hãy tha cho tôi, tha…. Hắn không nói được nữa. Hùng cúi xuống người hắn, kéo tay làm một động tác nhanh, làm hắn ối lên một tiếng rồi từ từ ngồi dậy. Chợt trông thấy Loan đi đến hắn xấu hổ cúi gằm mặt xuống.
-         Tôi mong các anh hoà bình với nhau anh Tâm ạ. Chúng tôi chẳng hận thù gì anh cả. Tôi xin báo anh biết: Tôi đã yêu anh Hùng từ lâu rồi và đã lấy anh Hùng rồi. Anh hãy để chúng tôi yên. Thôi anh đi đi và không nên đến đây làm gì nữa. Chào anh!
Nói xong cô dắt tay Hùng đi.
-         A…! – Thằng Tâm thốt lên một tiếng ngạc nhiên. Hắn chợt nhận ra sự thật, thì ra hắn đã bị ông An nói dối. Và hắn trút nỗi căm tức lên đầu Loan: - Đồ con đĩ, chính mày đã lừa tao, làm tao cứ tưởng… (thực ra Loan chẳng lừa gì hắn cả).
-         Loan và Hùng vừa quay lưng bước đi một vài bước, bỗng Hùng trông thấy bóng Tâm (do ánh sáng mặt trời xế chiều tạo nên) vung tay lên, có một tia sáng loé lên phía sau, và một tiếng rít trong không khí. Nhanh như cắt Hùng vội đẩy Loan ngã sang bên trái. Loan vừa ngã xuống, thì con dao găm bay đến đâm trúng cánh tay trái Hùng, và rơi xuống đất, Hùng kêu lên một tiếng và ngã quỵ xuống. Máu từ cánh tay vọt ra. Tay phải Hùng vẫn còn kịp nhặt con dao cầm lên, quay lại để phòng thằng Tâm lao đến.
-         A, thằng hèn! – Hùng hét.
-         Ai bào mày muốn hứng cái chết thay cho con đĩ ? – Thằng Tâm nói – Được rồi chúng mày sẽ biết tay tao, hãy chờ đấy!
Nói xong hắn vội ôm quần áo, trần truồng chạy vào rừng.
Loan vội vàng xé áo băng cánh tay cho Hùng. Cũng may sức của thằng Tâm đã bị yếu, tay bị tê cứng, nên con dao phóng ra với tốc độ nhẹ chỉ làm tay Hùng bị thương nhẹ.
Mãi gần chiều tối Loan mới dìu được Hùng về đến nhà.
*        *        *
*       *
 Ngay đêm hôm đó, sau chiến bại, thằng Tâm xuôi tàu về ngay Đập Rú, trong nỗi cay cú tột độ. Hắn phải phục thuốc và nghỉ ốm mất một tuần lễ. Chưa lần nào hắn bị thất bị một cách nhục nhã như lần này, cho nên chí khí phục thù của hắn ngày càng nung nấu. Tuy thất bại, nhưng hắn vẫn khoe với ông An là hắn đã dạy cho thằng Hùng một bài học đích đáng rồi. Ông An phải cảm ơn hắn, phải bồi thường cho hắn tàu xe đi đường và thết đãi hắn.
Mấy tuần sau Tâm lại lên chợ Núi, vào khu vực công trường Đá Xanh. Hắn bí mật ra ga lên tàu vào buổi chiều tối, không cho một ai hay biết, kể cả người nhà. Hắn mang theo một chiếc hòm gỗ nhỏ xách tay dính đầy dầu mỡ như hòm dụng cụ đồ nghề của một anh thợ máy đi sửa chữa lưu động.
Hắn không mua vé đi tàu khách, mà đón nhảy tàu hàng chở đá, cẩn thận dấu chiếc hòm đó trong một góc toa, ngồi nấp kín ở một góc đối diện gật gù ngủ.
Gần đến ga chợ Núi hắn tỉnh dậy, vớ lấy chiếc hòm dụng cụ, nhảy xuống tàu. Lúc đó vào khoảng 2-3 giờ sáng. Hắn tìm đường lần mò đến khu vực Đá Xanh. Đêm đó, một đêm cuối tháng, không trăng, trời tối đen, chỉ có ánh sao mờ mờ soi trên con đường mòn gập ghềnh. Hắn thận trọng và nhẹ nhàng khi mang xách hòm dụng cụ, cứ như là trong đó đựng đầy trứng gà, chỉ sợ va chạm mạnh là vỡ hết vậy. Đến chợ Núi, hắn rẽ xuống đường vào nhà của bà lão già mà Hùng vào Loan đang ở. Hắn dừng lại, ngồi nép vào một góc cổng ở bụi hàng rào ô rô quan sát. Không có động tĩnh gì, may quá, nhà lại không có chó. Trong nhà ánh đèn dầu lờ mờ. Hắn nhẹ nhàng lướt tới hè, nhìn qua khe liếp, chỉ thấy hai chiếc màn trắng buông xuống.
Hắn nhẹ nhàng mở hòm dụng cụ, lấy ra một bọc vải, rồi lướt giở từng lớp. Giở mãi, giở mãi hết lớp này lớp khác, chứng tỏ vật trong đó được bọc rất kín. Cuối cùng lôi ra vật bằng kim loại tròn như một quả ổi lớn, loại ổi xá lị to, mầu xám đen. Hắn nhẹ nhàng cầm “quả ổi” rón rén đặt xuống hè, ngay giữa cửa ra vào, mọi động tác nhẹ nhàng như bưng một bát nước đầy. Lấy một chiếc ghế thấp, đặt lên quả ổi đó, xong xuôi, hắn đi giật lùi ra cổng, lao vào trong đêm tối.
… Hồi còn ở công trường Đập Rú, trong khi Hùng đang mày mò phá gỡ bom trên công trường thì có một anh chàng thợ máy bơm cũng hay xán lại gần xem Hùng phá gỡ bom. Anh ta lân la dần dà, trước lạ sau quen, gần gũi chỗ làm việc của Hùng mà không sợ gì nguy hiểm cả.
Một hôm hắn phát hiện được một bãi bom bi ở phía trên thượng nguồn khe Rú, vội vàng chạy về hỏi Hùng. Hùng đã theo hắn dẫn lên bãi, rồi tiến hành nhặt phá được một vài quả. Vừa làm Hùng vừa giảng giải cho Tâm nghe tỉ mỉ về tính năng tác dụng của bom, cách thu nhặt, vận chuyển và bảo quản quả bom này như thế nào. Anh dậy cho hắn những điều cơ bản của lí thuyết, thực hành.
Sau khi Tâm bị Hùng đo ván, nỗi nhục nhã này thôi thúc hắn trả thù, và hắn nhớ đến kho bom bi của hắn để ở một hang đá trên rừng không ai biết.
Lúc bấy giờ, sau khi đặt bom bi xong, hắn chưa muốn trở về Đập Rú ngay, mà ở lại xem kết quả.
… Thằng Tâm nằm nhìn lên trời, một bầu trời sao mùa hè dày đặc, ngôi sao mai đang lấp lánh sáng rất gần, trông như ở ngay mỏm đồi trước mặt. Hắn mơ tưởng và lại hi vọng về việc chiếm đoạt cô gái xinh đẹp kia. Hắn tính đến chuyện, nếu hạ thủ xong Hùng, sẽ bắt cóc Loan và sẽ đưa cô đến một nơi kín đáo. Trước sau rồi cô ta cũng  phải thuần phục.
*        *        *
                                                  *       *
 Đếm hôm ấy Hùng không về nhà, anh đi cùng một khách hàng “giải quyết” một quả bom đã tìm thấy mãi trong rừng sâu cách đó 20 km. Họ ngủ trong rừng, chờ sáng hôm sau mới phá. Chỉ có hai người đàn bà ở nhà, một bà một cháu, bà cụ Kim và Loan. Buổi sáng bà Kim dậy sớm, mở cửa ra ngoài trước, còn Loan sau đó xuống bếp nấu ăn, chuẩn bị ra quầy dọn hàng.
Bà Kim vừa mắt nhắm mắt mở bước ra khỏi cửa, thì chẳng may bước vào chiếc ghế con, ghế trượt, làm bà ngã ra hè, qua bom bi “quả ổi” bị lăn theo rơi xuống sân và nổ tung. Một tiếng đanh gọn, hàng trăm viên bi tung toé ra xung quanh. Bà Kim bị thương, Loan đang đứng ở cửa cũng ngã gục xuống. Cả hai bà cháu đều bất tỉnh nhân sự, máu me lênh láng.
Hàng xóm, láng giềng nghe thấy tiếng nổ, vội chạy sang đã thấy hai người đàn bà nằm chết ở hè: không rõ nguyên nhân tai nạn. Họ tưởng Hùng tháo bom làm nổ. Nhưng không thấy Hùng ở nhà, hỏi ra thì mới biết anh đi vắng từ trưa hôm qua.
Họ vội vàng cấp cứu bà Kim và Loan, khiêng đến bệnh viện huyện gần đó.
Tiếng ồn ào huyên náo đầy nhà, khắp xóm làng, khắp chợ Núi.
Hai chiếc băng ca khiêng hai người đàn bà được băng khắp người và phủ một chiếc khăn trắng bên trên, trông như hai xác chết, được diễu qua đoạn đường từ nhà đến bệnh viện.
-         Ôi, thật đáng thương bà cụ già phúc hậu!
-         Ôi, thật đáng thương cô bé thợ may xinh đẹp hiền lành!
Vào lúc 6 giờ 30 sáng hôm đó, có một kẻ lạ mặt khoảng 30 tuổi người to mập, đen xì, đi lẫn vào trong đoàn người theo hai cái cáng thương chở xác lên bệnh viện. Hắn cúi gằm mặt xuống, mặt tái xanh tái xám. Một lát sau, hắn rẽ đám đông đi về phía ga. Phải chuồn cho nhanh. Hắn không ngờ Hùng lại đi vắng và sự việc lại diễn ra ngược với  ý định của hắn. Thật là một tai hoạ khủng khiếp. Hắn bỗng thấy sợ, người run lên. Phải cao chạy xa bay ngay, kẻo thằng Hùng về, nó mà gặp thì lôi thôi. Có lẽ hắn phải trốn đi một nơi nào đó một thời gian chăng? Thế là hắn chuồn ra ga và nhảy kịp lên tàu tốc hành.
Sáng hôm đó, Hùng dậy sớm và có linh tính rằng có chuyện gì đó xảy ra, làm anh bồn chồn.
*        *        *
*       *
 Khoảng gần trưa anh mới về đến nhà. Trong nhà còn đông người tụ họp. Cơ quan công an, chính quyền đang lập biên bản và bà con đến trông nom nhà cửa giúp và bàn tán về sự việc xẩy ra. Nghe tin, Hùng ngất xỉu, phải nằm một lát sau mới dần dần tỉnh lại. Anh vội chạy lên bệnh viện ngay để thăm bà Kim và Loan. Trông thấy hai người nằm như chết ở trong phòng cấp cứu, anh oà khóc như một đứa trẻ.
Mãi đến chiều Loan mới tỉnh lại, và bà Kim cũng tỉnh lại. Hai người đều mất máu nhiều. Anh lên gặp bác sĩ viện trưởng đề nghị cho tiếp máu và cứu chữa bằng bất cứ già nào. Bác sĩ thấy hoàn cảnh như vậy cũng rất thương tình, hứa sẽ chạy chữa với khả năng cao nhất. Họ sẽ mổ để nhặt các viên bi bắn vào trong cơ thể và khâu các vết thương ngay từ chiều tối nay.
Ngoài việc chăm sóc bà Kim và Loan, Hùng dành nhiều thời gian nghiên cứ hiện trường ở sân nhà minh, cùng các cán bộ điều tra, công an và chính quyền địa phương.
Sau khi nghiên cứu điểm nổ, vết hằn trên chiếc ghế, những viên bi bắn vào gỗ vào phên còn găm lại. Hùng xác định ngay đây là loại bom bi hình cầu, còn gọi là bom bi quả ổi. Vậy bom này ở đâu ra? Quanh vùng Đá Xanh mà anh đã phá gỡ và nhiều người thu nhặt về, không  phát hiện thấy có loại bom này. Cũng có bom bi những toàn loại quả dứa. Bom này từ nơi khác đưa đến. Nếu là khách, cán bộ, cơ quan đến bán bom hoặc nhờ tháo gỡ bom, không ai mang vào nhà anh. Họ đều để ở ngoài bãi, còn được gọi là cửa hàng bom.
Hùng lại suy luận: ở đâu có loại bom này? Trong vòng bán kính 50- 100 km? hoặc xa hơn? Anh bỗng nhớ lại thời gian ở Đập Rú. Chính thằng Tâm thợ máy bơm đã dẫn anh đến một vệt bom bi quả ổi, chính anh đã hướng dẫn nó cách thu nhặt vận chuyển và tháo gỡ, nó tỏ ra thông minh nhận thức nhanh và đã thực hành vài ba quả thành công. Anh chả đã đề nghị công trường xét khen thưởng hắn là gì, thôi đúng rồi chỉ có là thằng Tâm.
-         Chính nó, cái thằng hèn đấy, định trả thù mình đây!. Hùng bỗng thốt lên một mình.
-         Anh có ai là kẻ thù không ?
-         Không! – Hùng chối phắt, không muốn để công an dây vào việc của mình.
-         Vậy thì theo anh ai có khả năng làm vụ này ?
-         Có thể là người từ xa đưa đến, rồi lại chạy về xa!
-         Anh không nghi ngờ cho ai ư ?
-         Không.
Hùng cương quyết không nhờ pháp luật để trị nó, anh muốn tự mình công khai quyết đấu và hạ nó như luật rừng xanh. Đây là trận thứ hai, thằng Tâm tìm đến đánh anh. Anh tuy may mắn không bị hại, nhưng còn đau đớn hơn chính mình bị thương.
Chưa bao giờ anh có ý định trả thù, vậy mà lần này anh lại có ý định trả thù, nỗi đau đớn này không nguôi, nếu chưa đánh quỵ được địch thù. Ý chí trả hận ngày càng khắc sâu trong tâm can anh, anh định vùng lên đi ngay, tìm cho được thằng Tâm và bắt hắn phải đền tội.
Nhưng còn những người bị thương ? Anh không nỡ bỏ họ đi ngay được. Hàng ngày anh phải chăm sóc, cơm nước thuốc men, giặt rũ và nâng giấc. Và anh quyết định lùi lại, chờ bao giờ bà Kim và Loan khoẻ hẳn đã…
Khi bà Kim và Loan đã trở lại bình thường, thì Hùng cũng nguôi đi một chút, không muốn tự mình đi trả thù nữa. Anh đợi thời cơ kẻ thù lại tự dẫn xác đến, ngày ấy hẳn không xa…
Sau cái tai hoạ khủng khiếp nổ bom bi đó một thời gian, mọi việc lại qua đi. Cuộc sống của cái gia đình hỗn hợp ấy lại trở lại bình thường. Bà cụ Kim trông nom nhà cửa; Loan làm thợ may và Hùng vẫn tiếp tục phá gỡ bom trong cái gọi là cửa hàng mua bán bom, lấy thuốc nổ cung cấp cho công trường Đá Xanh phá đá, xây dựng nhà máy xi măng.
Giá như ở cái khu vực này trước đây bọn Mỹ trút xuống một kho bom nổ chậm nhỉ, thì có lẽ Hùng cũng đủ công ăn việc làm suốt đời, và cái cửa hàng buôn bán bom của Hùng cũng đem lại nguồn lợi kinh tế cho Hùng kha khá, chẳng mấy mà giầu. Nhưng tiếc rằng, ở cả khu vực này trước đây bọn Mỹ chỉ để lại có vài đợt bom chưa nổ. Đối với bọn giặc thì từng ấy cũng đủ khống chế khu vực này mất an toàn vài chục năm.
Thế cho nên cái “Công ty chỉ chỏ bom” rồi cái cửa hàng mua bán bom và cả cái “gã lái buôn bom” là Hùng đã bị thất nghiệp!
Hết bom rồi, làm gì đây?
Và thế là Hùng lại ra đi…
 
 
IV
ĐIỀU THIỆN VÀ ĐIỀU ÁC
 
Hùng trở về bến cũ, cái bến cuộc đời công binh của anh đã gắn bó ấy. Không phải là để ôn lại những kỉ niệm đau buồn. Không phải là để đi thăm lại chiến trường xưa như kiểu các nhà văn, hay tướng tá về hưu thường làm, để gặp gỡ bạn bè, thăm lại cơ sở, để ôn lại những năm tháng bão bùng, để chén chú chén anh cho thoả lòng mong ước: “Bao giờ hết chiến tranh, chúng ta sẽ đến thăm nhau uống rượu”.
Đoạn đời của Hùng ở bến sông này chỉ là một chuỗi đau khổ tiếp nhau, nên anh chẳng muốn ôn lại làm gì, chẳng đến thăm thú nơi nào, gia đình nào cả. Cái mục đích chính của anh là tìm lại những quả bom mà trước đây anh và đơn vị chưa kịp phá gỡ! Chúng có còn không? Còn bao nhiêu quả? Liệu anh có phá gỡ được không? Thế thôi! Tuy nhiên khi gặp một người đàn bà trong xóm ra bến giặt giũ, anh cũng hỏi thăm gia đình Chinh, cái cô dân quân bướng bỉnh đã làm anh vui sướng và cũng làm anh đau khổ đó.
- Anh chàng chậm chân ơi, sao đến bây giờ mới đến? Con bé đã đi lấy chồng xa rồi, cũng là bộ đội cấp tá cấp uý gì đó, nghe đâu quê chồng ở tận Ba Vì – Hà Nội gì ấy – Người đàn bà đứng ngập chân dưới nước vừa vò quần áo vừa nói chuyện với Hùng – Còn ông cụ thì ở có một mình, ốm đau bệnh tật suốt, con cháu thì xa, hàng xóm láng giềng cũng chỉ một chốc một lát , thành thử chẳng có ai chăm sóc thường xuyên, bữa no bữa đói, đến là khổ. Ngoài 70 tuổi rồi mà còn sống một mình thì thật là tội!
Hùng tìm đường lên đài quan sát bom rơi, cần phải từ trên cao, xác định lại hướng máy bay bổ nhào và cắt bom, từ đó nhớ lại toạ độ các vệt bom… Có mấy vệt bom cuối cùng, đơn vị chưa kịp phá, đã có lệnh hành quân cấp tốc vào tuyến trong.
… Lời bà giặt dưới sông vẫn còn như bên tai anh “ngoài 70 tuổi rồi mà vẫn sống một mình thì thật là tội!” “Hoà ơi, mày chết đi có biết rằng ông bố già không còn ai chăm sóc không, cô em gái đã đi lấy chồng xa rồi” – Hùng bỗng như thầm gọi người đồng đội.
Anh lên tới đỉnh đồi.
A, kia rồi, đúng từ cái ngã ba sông đến mỏm đồi trọc kia là một vệt bom mà thằng con ma F4H đã thả, rồi vòng sang trái chuồn thẳng. Còn một vệt nữa bắt chéo sang vệt này. Cần phải sang mỏm đồi bên kia sông mới quan sát rõ.
… Cái thằng con rể nào mà tồi vậy, kể cả Chinh nữa, nỡ nào theo chồng con mà để bố như vậy? Cái thời nhốn nháo thật, có một ông bố già mà chúng nó cũng bỏ rơi, huống chỉ người ngoài, uý, tá gì cái loại người ấy! Ước gì mình còn một ông bố!
Sau khi xác định lại được hướng hai vệt bom, đáng lẽ Hùng đi khảo sát các vị trí từng quả bom ngay, nhưng chẳng biết làm sao, đôi chân anh lại rẽ về ngôi nhà quen thuộc ở xóm Cô Pơ Rông. Dạo đó anh và Chinh đã cãi nhau kịch liệt về việc phá hay gỡ quả bom ở ngay đầu nhà Chinh này. Anh phải đánh lừa Chinh và phân công cô đi một việc khác, để mình về nhà và đã tháo được cái đầu nổ Modell 3 chính tại đây.
Anh đã bước vào trong sân, nhà cửa vắng tanh vắng ngắt như không có người, sân mọc đầy rêu và cỏ dại.
Thấy có khách lạ đến, ông cụ ngồi nhỏm dậy. Trời mười năm qua, cụ già yếu quá rồi. Hùng bỗng thầm thốt lên, rồi chào cụ:
- Bố có nhận ra con không?
- Ông là ai thế?
- Con trước đóng quân ở đây, bắc cầu phá bom ấy mà.
- Tôi nghe tiếng anh quen lắm, chẳng nhớ nữa! Mười năm hoà bình rồi còn gì, bạn bè cũ của thằng Hoà lâu lắm chẳng thấy ai đến đây đâu!
Đã không đến thì thôi, đã đến thì Hùng không thể bỏ ông cụ mà đi ngay được. Hùng quyết định ở lại với cụ buổi chiều và đêm nay. Anh đi ra bến mua gạo và thức ăn, về nấu cơm cùng ăn với cụ. Đêm đó hai ông con nói chuyện suốt đêm.
- Sau hoà bình, cái Chinh nó đi tìm anh mãi mà chả thấy – Ông cụ kể - Nó về đâu tận quê anh thì phải. Nó cứ ân hận mãi, là vì nó mà anh bị kỉ luật. Và nó cứ chờ anh. Mãi 5 năm sau nó mới chịu lấy chồng, quá lứa rồi, nên ai người ta thương cho là quý. Nó lấy một anh thiếu tá, vợ chết, đã có hai con rồi, nó cũng đã đẻ hai bận, một trai một gái. Thôi thế cũng là hạnh phúc rồi. Bố nó đã chuyển về cơ quan ở Hà Nội, còn mẹ nó bây giờ một nách bốn đứa con, cũng vất vả ,hoàn cảnh khó khăn này, nuôi nổi con cũng là giỏi, còn tiền đâu mà đi đi về về thăm bố.
- Thế địa phương bảo đảm chính sách gia đình liệt sĩ cho bố thế nào?
- Ôi dào, ông cụ thở một hơi dài – Người ta lo cho người sống còn chưa xong, còn gì mà lo cho người chết. Có đấy, nhưng “chế độ” thì được là bao!
Rồi ông cụ lại bắt Hùng kể lại trận chiến đấu mà Hoà đã hi sinh mãi tận Tây Ninh mà trước đây Hùng đã kể nhiều lần. Sau đó anh hỏi cụ về chuyện bom đạn ở đây.
-         Bố có nghe, từ dạo ấy đến nay dân quân địa phương hoặc trên có ai về phá gỡ bom đạn gì nữa không?
-         Chẳng có ai sất, anh nói lạ nhỉ! Hoà bình rồi ai người ta dại gì mà lao vào chỗ chết?
-         Thì cũng phải khắc phục hậu quả chiến tranh, phá gỡ để đảm bảo an toàn cho nhân dân chứ?
-         Hồi mới yên ấy cũng có một vài người về để bàn việc phá, nhưng rồi chỉ bàn suông thế thôi, mười năm nay có ai động đến làm gì. Còn chuyện thương vong ấy à? Cũng có đấy, thỉnh thoảng một con trâu con bò chết. Năm ngoái có em bé chăn trâu bị bom nổ tan xác đấy… Những người đi rừng hoặc đến các khu vực bom trước đây cũng cứ lo nơm nớp. Mẹ cha thằng Mỹ thế mà nó thâm. Mấy quả bom nổ chậm nó để lại mối lo cho mình hàng chục năm nay rồi mà vẫn chưa yên đâu?
-         Thế mà bây giờ có người tình nguyện đến phá đấy bố ạ!
-         Chẳng có ai người ta dại gì đến cả. Hoạ chăng chỉ có anh thôi – Rồi cụ nói giọng chân tình – Thôi con ạ, việc nhà nước nhà nước làm, mình hơi đâu mà nhúng vào đấy. Nhỡ một cái khổ thân ra, chuyện bom đạn chứ chơi à.
     Nhưng cụ làm sao biết được nỗi lòng của anh con rể hụt này. Chả là trước đây cụ cứ tưởng anh yêu Chinh và hai người sẽ lấy nhau. Nhưng thực ra Hùng tuy cũng yêu Chinh nhưng không dám bộc lộ sợ tổ chức đơn vị “đánh giá” và Hùng cũng chẳng hứa hẹn gì với Chính cả.
      Sau đó với chuyện kỉ luật, rồi đơn vị đi vào tuyến trong, rồi anh bị xuất ngũ, nỗi buồn chồng chất lên nhau, anh ngại ngùng không muốn trở về nhìn thấy Chinh nữa. Lúc đó anh nghĩ: chắc gì Chinh còn yêu một anh chàng bị kỉ luật và có một lí lịch xấu như mình. Cuộc chạy đua với công ăn việc làm và những tháng năm kiếm sống làm anh quên dần đi.
Sáng hôm nay Hùng tiếp tục đi khảo sát. Sau hai ngày liên tục anh đã vẽ được phác hoạ một sơ đồ, còn khoảng gần chục quả anh có thể tự mình tháo gỡ được.
Sau đó anh đi liên hệ tìm các công trường đá, để hợp đồng bán thuốc bom phá đá. Đồng thời tìm xem nơi nào cần mua vỏ bom nữa.
Hùng cũng đã liên hệ được một lò đúc chảo ở cách đó 40 km. Họ hoan nghênh Hùng nhiệt liệt nếu như anh có thể cấp thêm cho họ 1-2 tấn gang?
Mới phá gỡ xong hai quả đầu tiên, anh đã thu được một món tiền lớn hàng chục ngàn đồng. Anh lập tức củng cố lại gia đình cho cụ Hoà. Đong lương thực, thực phẩm dự trữ, mua sắm một số dụng cụ cần thiết và dành thời gian sửa sang cổng ngõ lại sạch sẽ đàng hoàng, mua thuốc men chữa chạy và bồi dưỡng cho cụ.
Từ hôm Hùng đến đây, cụ Hoà người khoẻ hẳn lên, mừng mừng tủi tủi, không ngờ đời cụ lại được người đến nuôi nấng và chăm sóc thế này.
*        *        *
*       *
 … Sau khi Hùng ra đi, Loan ở nhà vừa buồn vừa lo, chẳng thiết làm ăn gì mấy. Bà cụ Kim phải luôn luôn động viên Loan.
- Thôi cháu ạ, nó đi rồi nó sẽ về thôi, những người tốt như nó, đã có trời phật phù hộ, chẳng lo gì đâu!
Cô cũng nghe lời bà mà yên lòng. Chứ biết đâu được, trời đất này, lành ít dữ nhiều.
Đang trong cảnh lo nghĩ buồn rầu, Loan nhận được thư ở nhà quê do mẹ cô viết gửi lên. Mừng quá, nhận được thư, vui như trẻ con mừng mẹ đi chợ về. Trước đây ít lâu cô có bàn với Hùng chuyện về thăm quê, cả hai nơi, quê Loan và quê anh. Hùng cũng đồng ý, sẽ có một ngày nào đó, hai vợ chồng về quê, thăm lại họ hàng, thăm làng xóm cũ, tuy rằng những nơi đó đều đã để lại những nỗi đau khổ cho hai người. Nhưng hai tiếng quê hương vẫn có một cái gì đó thiêng liêng, đau đáu trong lòng.
Anh bàn với Loan biên thư về trước, nhất là với quê Loan, báo trước cho mẹ khỏi bất ngờ. Chỉ ít ngày sau mẹ đã biên thư trở lại cho Loan.
Ôi sung sướng quá, Loan ôm chặt lá thư của mẹ vào lòng. Cô như thấy cả hơi ấm của mẹ năm nào, thấy cả mùi mồ hôi trên áo mẹ. Mẹ đã vất vả thờ chồng nuôi con khôn lớn. Khi được tin bố hi sinh, mẹ đã khóc hết nước mắt suốt ba năm dòng, Cô như thấy lại nước mắt của mẹ đang cay cay trên mắt mình. Cô mở thư đọc, những chữ cứ nhoè đi không sao đọc nổi. Cô nằm vật ra giường mà khóc, khóc hu hu như một đứa trẻ. Ôi dòng nước mắt sướng vui, ôi dòng nước mắt thương nhớ.
Trong thư mẹ cô báo tin: Mẹ và các em vẫn khoẻ, các em nhớ chị lắm, việc làm ăn buôn bán vẫn bình thường nên đời sống cũng vẫn sung túc, ông bố dượng đi Sài Gòn mua hàng đến cuối tháng mới về. Cả nhà đều mong cô về xum họp một ngày gần đây…
Ôi, thế thì cô phải về nhà ngay, cô chỉ muốn về thăm mẹ và các em thôi. Cô quyết định đi về quê bằng xe máy để có phương tiện đi lại chơi bời và cũng muốn chưng diện với bạn bè. Quãng đường hơn 150 cây số cũng chẳng xa là bao.
Một buổi chiều mùa hè, gió biển lồng lộng, một cô gái trẻ, ăn mặc kiểu thành phố sang trọng, cưỡi trên một chiếc xe Cúp 70 màu xanh da trời, trên đường bờ đê về Giang Thuỷ - một làng ven sông, ven biển. Cô mặc áo mỏng mùa hè màu hồng cắt may rất khéo làm nổi bật bộ ngực căng tròn. Dáng người nhỏ nhắn thân hình cân đối, co người “thời trang” đang được ưa thích nhất. Những cô gái thành thị ấy còn ghen với sắc đẹp và cách ăn mặc của cô, huống chi là các chị em ở quê nhà thì làm sao có thể nhận ra cô bạn chăn trâu cắt cỏ thời nhỏ của mình.
Loan cho xe đi chầm chậm để thở hít làn gió mát quê hương, để ngắm những đổi thay của xóm làng sau năm năm xa cách, để kìm trái tim mình lại cho bớt hồi hộp, và để nhìn lại những mô đất, những gốc cây, dấu vết kỉ niệm ngày thơ ấu, đi học và chăn trâu cắt cỏ.
Bà mẹ Loan và cả nhà bỗng ngỡ ngàng một lúc lâu trước một cô gái thị thành đến nhà mình. Cho đến khi Loan chạy lại ôm lấy bà và gọi:
-         Mẹ!
-         Trời ơi con tôi đây ư? Thế mà mẹ tưởng con đã chết ở đâu đó rồi?
Hai mẹ con ôm lấy nhau, oà lên khóc. Hai em nhỏ cũng chạy lại bíu lấy mẹ lấy chị cùng khóc theo.
… “Nước mắt chỉ dành cho ngày vui gặp mặt”. Chẳng mấy chốc chị em họ hàng bà con lối xóm kéo đến quây quần đầy nhà, xem con bé Loan từ ngày 16 tuổi đã trốn nhà đi tự tử, đến nay trở về như thế nào. Thật như một chuyện huyền thoại, người ta đồn đã vớt xác cô đến mấy lần rồi, cô gái nào tự tử chết, cũng bảo: “Ấy cái Loan làng này đấy, tội nghiệp” thế mà bây giờ lại còn sống trở về, xinh đẹp và sang trọng như thế này này?
Những ngày ở quê là những ngày hạnh phúc, thoả mãn nhất đời Loan. Cô dành nhiều thời gian để cùng cô bạn gái láng giềng đo và cắt may một số quần áo cho mẹ, cho các em và bà cô, bà thím… bằng số vải quý mà cô đem về.
Ngay ngày hôm sau, cô đã đặc biệt dành thời gian đến nhà bà cô ở xóm chợ Đường, người đã cưu mang cô.
- Cha bố mày chứ, cái lúc bấy giờ, phải chui phải lủi, nhem nhem nhuốc nhuốc là thế, mà bây giờ giàu có và xinh đẹp như tiên thế này này! – Bà cô vồn vã ôm lấy đứa cháu của mình.
 Họ hàng khen cô, dân làng khen cô đẹp người đẹp nết, giỏi may khéo vá, làm ăn buôn bán, hái ra tiền, ai cũng thương cô nếu không bị ông bố dượng cưỡng hiếp, thì việc gì phải bỏ làng ra đi, việc gì phải mấy lần tự tử. Ai cũng tiếc hộ, nếu chết thì thật là hoài một bông hoa tươi đẹp, một đời nhan sắc. Họ chỉ nhìn thấy Loan bây giờ mà khen, mà hoan hỉ, mà mừng vui, có ai thấu nổi đoạn trường thăng trầm lang bạt của cô đâu. Cô cũng tuyệt nhiên không nhắc tới chuyện đó làm gì cho đau khổ.
Một buổi tối, hai mẹ con nằm tâm sự, mẹ cô nhắc đến chuyện đã qua cách đây năm năm.
Hồi đó sau khi Loan trốn đi, mẹ đã làm tình làm tội ông bố dượng, bắt ông phải tìm bằng được cô, nếu không mẹ sẽ tự tử chết. Ông hối hận, ông ăn năn, ông lo cuống lên, chạy ngược chạy xuôi, khắp đó đây. Khi được tin cô còn sống, mẹ mới nguôi lòng mà sống nuôi con. Còn ông ta xấu hổ quá, nhục nhã quá với bà con xóm làng, cũng phải bỏ đi Sài Gòn mất nửa năm mới về. Bây giờ ông ta muốn gặp cô, xin lỗi cô, làm lành với cô và hứa sẽ bù đắp cho cô, gây dựng cho cô để chuộc lại những tội lỗi của ông… Bà mẹ khuyên cô ở nhà chờ ông ta về “cha con làm lành với nhau cho thuận hoà” đó cũng là nguyện vọng của bà.
Nhưng Loan không nghe, Loan không bao giờ muốn nhìn mặt cái con người ấy nữa. Loan xin tôn trọng hạnh phúc của mẹ, của các em, của gia đình, nhưng Loan không thể nào và cũng không bao giờ tha thứ cho người ấy được. Loan chỉ xin đi về thăm mẹ và các em thôi. Còn đời sống, còn gia đình Loan đã có đầy đủ rồi, không phải nhờ vả, xin xỏ gì ai cả. Một ngày nào đó, chồng Loan sẽ về thăm mẹ. Và sau này khi mẹ già yếu, Loan xin nuôi nấng chăm sóc mẹ đến trọn đời. Còn người ấy, thì kệ ông ta. Đừng bắt Loan phải quan hệ, phải chào đón, phải gặp gỡ mà tủi hờn cho Loan.
                                               *
                                        *           *  
.
… Sau vụ đặt bom bi để sát hại Hùng không thành công, hắn vội ra ga và nhảy lên tàu tốc hành chuồn thẳng. Về đến nhà, hắn lặng lẽ chuẩn bị một ít đồ đạc quần áo và dụng cụ đồ nghề, rồi nói với gia đình là đi chữa máy thuê cho một cơ quan ở Hà Nội. Nhưng chính là hắn chạy trốn lên tận Lạng Sơn, ở một nhà người bà con đi khai hoang.
Tháng sau, được tin hai người đàn bà đã được bệnh viện cứu sống, thằng Tâm mới hoàn hồn. Dần dà hắn mò về Đập Rú nghe tin tức, không thấy ai truy lùng gì cả, nên lại về nhà và lại tiếp tục chạy máy cho công trường Đập Rú.
Rồi cái tin thằng Hùng vẫn làm ăn ngày càng khấm khá và giàu có, làm hắn ghen tức lồng lộn lên. Cái tin cô Loan sau khi bị thương về lại càng ngày càng đẹp ra, làm hắn càng thêm thèm muốn. Nỗi cay đắng chưa trả được hận và nỗi ghen tuông thèm muốn ngày càng nhân lên trong lòng kẻ si tình và đố kị. Thế là thằng Tâm gấu lại mò lên Đá Xanh lần thứ ba. Lần này hắn không dám mang bom đạn gì nữa. Nhưng đem theo một thằng đàn em hung hãn.
Chúng lại lên tàu và bí mật xuống ga chợ Núi mò vào khu vực Đá Xanh, rồi phục kích tại mé ngoài nhà Hùng và Loan. Chúng định quyết đấu với Hùng, ít ra là phải cho anh ta bị què quặt tàn tật, nếu không phải là chết. Và chúng quyết chiếm đoạt Loan, ít ra cũng cưỡng bức một lần, nếu không bắt đưa đi hẳn được.
Nhưng chúng đã bị hụt, suốt ngày hôm đó lảng vảng quanh nhà nhưng không thấy Hùng và Loan đâu, chỉ có bà cụ già đi đi lại lại, vào vào ra ra mà thôi. Chúng liền giả vờ người mua bán bom đạn, vào nhà hỏi thăm bà cụ. Bà Kim thực thà kể hết, chúng mới ngã ngửa người ra là Hùng đã đi “Nam” từ hơn hai tuần nay và Loan về quê đã một tuần rồi.
Thế là chúng lại vội vàng ra ga chuồn về ngay, thua keo này bày keo khác. Bà cụ Kim thấy hai người khách lạ, sinh nghi, liền sang nói chuyện với ông hàng xóm, ông vội chạy đi báo công an xã để kiểm tra, khi đến nơi thì chúng đã chuồn mất rồi. Bà cụ Kim ngày đêm lo sợ cho Hùng và Loan, bà ân hận vì đã chót nói lộ công việc của các cháu, nhất là nói việc Loan về quê, nhỡ ra chúng tìm đường mò đến thì sao.
Tâm gấu xuống tầu, bực tức vì chuyến trả thù bị hẫng, kéo thằng đàn em vào quán uống rượu, khi say hắn móc túi trả tiền, bỗng rơi một tờ giấy lộn. Hắn nhặt lên dở ra xem một cách tình cờ xem là cái gì trước khi làm đóm hút thuốc lào mà thôi.
Bỗng hắn trừng mắt lên, cái gì thế này, đơn tố giác à? Tố giác ai? Ai tố giác? Hắn đọc lại một lượt, và bỗng vỗ đùi đánh đét một cái phởn chí: Đây rồi, thế mà bây giờ mới biết.
Thằng chân tay hỏi:
-         Cái gì đấy đại ca?
-         À, thằng chú tố cáo thằng cháu. Chà chuyến này thì thằng Hùng nhất định sẽ chết.
-         Nhưng sao lại ở trong túi đại ca?
Thằng Tâm bỗng nhớ ra và kể lại cho đàn em nghe. Chả là từ mấy tháng trước hắn đến nhà ông An uống rượu, rồi ông An cho hắn vay tiền. Toàn tiền lẻ nên ông An phải lấy giấy lộn để gói tiền cho hắn. Chắc ông An đã gửi bản chính đi rồi, đây là tờ giấy nháp nên ông mới vò vứt nó đi. Có lẽ hắn sẽ gửi vào bưu điện để tiếp tay cho ông An lần nữa cho chắc chắn.
Thằng đàn em, xì một tiếng khinh bỉ:
- Cái trò kiện cáo, chẳng anh hùng hảo hán một chút nào. Đó chỉ là những thằng hèn nên mới đánh trộm người khác đằng sau, phải không đại ca ?.
- Đúng là hèn thật, nhưng nếu đối thủ là một kẻ mạnh, chính diện không thắng nổi thì cũng phải đánh lén chứ. Biết làm sao được?
- Đây không phải là tao, mà là chú nó tố cáo nó đấy chứ. Hà hà, toạ sơn quan hổ đấu mà, chú em có hiểu không?
Ngay hôm đó, thằng Tâm liền kiếm một cái phong bì, gửi cái tờ giấy lộn đó vào hòm bưu điện với hi vọng bồi thêm một nhát kiếm cho thằng Hùng bằng cái kiếm của ông chú An.
*        *        *
*       *
 Sau hơn hai tuần ra đi, Hùng liều đã khảo sát các bãi bom ở khu vực sông Cơ Pơ Rông xong, làm thử hai quả, lấy tiền chi tiêu. Anh thu xếp cho ông cụ Hoà một số đồ đạc lương thực thực phẩm cần thiết, để lại cho cụ một số tiền, rồi nhanh chóng từ Cô Pơ Rông trở về chợ Núi. Bởi vì linh tính làm anh bồn chồn lo lắng.
Khi về đến nhà, Loan vẫn về quê chưa lên. Bà cụ Kim kể hết mọi tình hình cho Hùng nghe. Cái linh tính mà Hùng cảm thấy, quả nhiên là có thật. Hùng đoán ngay hai kẻ lạ mặt là Tâm gấu và một tay chân. Anh hiểu tính quyết liệt của đòn thù thứ ba này.
Hùng dặn lại bà cụ Kim một số việc cần thiết phải đề phòng, rồi hôm sau lên đường về quê Loan để đón Loan. Anh không yên tâm để Loan về một mình.
Trên đường hỏi thăm về Giang Thuỷ, lòng anh càng bồn chồn không yên, chỉ sợ Loan đã đi rồi và có chuyện gì không may xảy ra. Nhưng sự lo lắng của Hùng bằng thừa. Khi anh về đến nơi thì cả nhà đang ăn cơm chiều. Loan vội vàng bỏ bát đứng lên, anh thở phào trút một hơi dài.
Gia đình Loan đón anh thật tưng bừng náo nhiệt, thật đầm ấm thuận hoà, ai cũng mừng cho Hùng, cho Loan. Bà mẹ cứ tíu ta tíu tít, nói nói cười cười, khoe khoang với họ hàng, với làng xóm về anh con rể hiền lành của mình. Các em thì ríu ra ríu rít bám lấy anh, đòi anh kể chuyện chiến đấu, chuyện phá bom nguy hiểm.
Hùng chỉ ở lại nhà chơi hai ngày, cùng Loan đi thăm chào bà con trong họ ngoài làng, ai cũng khen hai người đẹp đôi, ai cũng khen Loan chọn được người chồng lí tưởng và chúc cho hai người được hạnh phúc.
Ngày thứ ba Hùng xin phép đưa Loan về trên chợ Núi.
Buồi chia tay thật là vui mà cũng thật là buồn. Bà mẹ và Loan lại ôm nhau khóc, các em cũng khóc theo, em bé đòi đi theo chị Loan và anh Hùng. Bạn bè của Loan cũng nước mắt ngắn, nước mắt dài đưa tiễn nhau.
Trên đường về, Hùng đã nói toàn bộ tình hình cho Loan nghe, Loan nhăn mặt lại.
-         Thật là hú vía!
Ngay tối hôm đó họ đã về đến chợ Núi, trước sự mừng rỡ của bà lão Kim. Hùng thu xếp một số công việc nhà, rồi xin phép bà lão Kim đưa Loan cùng đi vào phía Nam.
-         Bà ơi, chúng cháu thu xếp xong nhà cửa ăn ở ổn định thì về đón bà vào.
-         Ừ thôi, ở đâu yên lành thì đến đấy mà ở, nơi này đất nghịch lắm cháu ạ.
Hùng muốn cùng Loan đi ngay vì nhiều lẽ.
Thứ nhất vì muốn tránh xa bọn thằng Tâm gấu, mà tính hung ác của chúng đã lên đến đỉnh cao, mất cả tính người rồi. Nếu không vì vướng Loan, còn ở nhà thì anh có thể sống mái với nó một phen, cho dù anh lại bị thương hay bị chết. Một mình nó đã làm cả nhà anh bị thương rồi, mà anh vẫn chưa trị tội được nó. Vốn tính anh không muốn trả thù, không muốn oán hờn, không muốn nhúng tay vào máu, do những việc oán thù. Anh tin rằng những kẻ ác rồi sẽ bị đời trừng phạt. Tốt hơn là nên tránh xa. Thứ hai, Hùng cũng muốn tránh xa cái vòng “phong toả” của ông An, cắt đứt mọi liên hệ với ông.
Còn lí do thứ ba mà Hùng muốn đi khỏi đây chính là nguyện vọng của Loan. Cái người phá nát đời Loan đầu tiên, cái ông bố dượng vô luân ấy ở Sài Gòn sắp về ngày một ngày hai thôi. Một khi ông đã biết địa chỉ của Loan, hẳn ông không thể không lao ngay xe máy lên để gặp gỡ Loan, để làm lành với Loan, xin lỗi Loan v.v… Mà Loan thì không muốn gặp mặt con người  ấy một phút nào, một lần nào cả.
Có thể nói là họ lại đi trốn lần nữa, cũng đúng thôi, trốn khỏi cảnh đổ máu vì hận thù, trốn kẻ giết người hung ác, trốn kẻ muốn lợi dụng mình và trốn kẻ đã gây cho mình đau khổ. Trốn khỏi quá khứ đau buồn – thì có sao đâu.
Hùng muốn dừng lại để đối trọi với tất cả, anh sẵn sàng thách thức với tất cả. Bởi vì anh có sợ gì ai? Một thằng liều cơ mà! Nhưng vì có Loan , nên anh phải chịu nhượng bộ tất, chịu lép vế tất, và để bảo vệ Loan, anh cũng trốn khỏi cùng Loan.
… Hùng và Loan chưa kịp đi lên đường vào miền trong thì bất ngờ bị một tai hoạ xô tới đè lên đầu họ.
Một cuộc kiểm tra hành chính do chính quyền địa phương tổ chức ập đến. Người ta kết tội Hùng liều làm giàu không chính đáng. Người ta tịch thu toàn bộ tài sản và bắt Hùng giam giữ ở xã chờ xét xử đưa đi tù. Loan phải chạy chọt van xin đút lót các cán bộ địa phương mới cứu được Hùng về. Ngôi nhà hai tầng đẹp đẽ khang trang nhất khu chợ Núi được dùng làm trụ sở ban thuế vụ. Chiếc xe máy cúp 70 được đấu giá bán cho ông Chủ tịch huyện với giá rẻ như cho và trả tiền dần dài hạn năm năm. Người ta chở đồ đạc nhà Hùng – Loan về trụ sở Uỷ ban đầy mấy xe bò. Buổi bán đấu giá vui như một ngày hội chia quả thực hồi cải cách ruộng đất năm 1956 – 1957.
-         Mẹ kiếp, cho mày trắng tay – Chuyến này có mà đi ăn mày.
Người ta đuổi vợ chồng Hùng và bà cụ Kim ra khỏi ngôi nhà lầu, họ lại về cái lều ọp ẹp của bà cụ Kim, mà Hùng đã chống lại để làm chuồng bò. Hai con bò kéo xe người ta cũng đã tịch thu rồi, chỉ còn lại chuồng rỗng không …
Tai họa do cuộc kiểm tra hành chính vô cớ vừa qua càng làm cho cái ý định đi trốn chạy khỏi nơi này của Hùng được nhanh hơn, mạnh mẽ hơn.
*        *        *
*       *
 Ý định của Loan muốn mua nhà ở phố Phủ để mở hiệu may và đưa cả nhà ra đó để làm ăn lâu dài. Nhưng Hùng không tán thành. Anh bàn với Loan trước mắt chỉ ở trong nhà cụ Hoà cho kín đáo, và tôn trọng cụ Hoà không muốn rời mảnh đất của mình, mặc dầu nhà chỉ cách phố Phủ có 2 km, Loan chỉ cần mở hiệu may ở ngay trong nhà.
Chưa đầy một tháng sau, quả nhiên hiệu may của Loan đã thu hút được nhiều khách quanh vùng, nhất là khách nữ.
Từ khi Hùng về chợ Núi đón bà cụ Kim vào ở trong này thì không khí gia đình ấm cúng hẳn lên. Trẻ vui bạn trẻ, già vui bạn già.
-         Chỉ còn thiếu một đứa trẻ con nữa cho nó bi bô suốt ngày, thì cánh già chúng tao mới vui hơn – Bà cụ Kim bảo Loan như vậy, làm cô mỉn cười e thẹn, mặt đỏ hồng lên, cúi xuống bụng mình đang ngày một to dần.
-         Chỉ sợ ông, bà già không bế nổi cháu thôi.
Hùng tiếp tục cái nghề “phá gỡ bom làm giàu” của mình. Hàng ngày anh vào trong rừng sâu bí mật một mình hì hục đào bom, tháo đầu nổ, đục phá thuốc, có khi còn nấu thuốc đúc thành từng thỏi để phá đá, theo yêu cầu của các xí nghiệp và hợp tác xã. Rồi đêm đêm gùi ba lô thuốc hoặc gang vụn đi đến địa điểm giao nộp cho các hợp tác xã và xí nghiệp. Có khi anh ăn ngủ trong rừng mấy ngày liền mới về.
Những hợp đồng với các xí nghiệp, hợp tác xã dưới danh nghĩa thu nhặt thuốc bom phế liệu và thu nhặt sắt vụn đã đem lại cho anh nguồn thu nhập kinh tế khá lớn, càng làm anh say sưa và thích thú:
Nhưng rồi số bom có thể làm một mình kín đáo bí mật cũng hết và chẳng có là bao. Anh liền đến chính quyền địa phương xã hỏi, xin đăng ký phá gỡ bom cho địa phương. Có địa phương nào lại không tán thành và hoan nghênh khi có người đến nhận phá gỡ bom, khắc phục hậu quả cho địa phương mình, vừa được đảm bảo an toàn cho nhân dân, lại vừa được thành tích phá gỡ bom của địa phương, nhất là không những không mất tiền mà còn được thêm tiền.
Bằng cách đó Hùng đã tháo gỡ hết cả hai  vệt bom còn lại sau chiến tranh, ngoài việc chi tiêu nhân công, anh còn để lại cho xã một phần của số tiền bán thuốc nổ và vỏ gang.
Rồi bom ở Cô Pơ rông cũng hết, anh lại đi vào các vùng lân cận xung quanh, mà anh đã tìm hiểu được nhân dân phát hiện còn bom. Thế là anh lại lang thang trong rừng hàng tuần hàng tháng trời, trên những nẻo đường Trường Sơn quen thuộc.
Anh gặp những đám người đi tìm trầm hương (một dược liệu quý có giá trị xuất khẩu cao ngang với thuốc phiện và vàng). Anh cũng gặp những đoàn người đi tìm vàng. Họ tranh dành nhau, xô đẩy chen lấn nhau và có khi đánh nhau, toán này với toán khác, băng này với băng khác. Trong rừng sâu tưởng chừng như hoà bình yên lặng, nhưng đôi khi lại còn náo nhiệt và có nhiều tiếng súng hơn cả thời chiến tranh.
Chỉ có một mình anh đi tìm bom, chẳng có ai tranh dành với anh. Khi gặp họ đi tìm trầm hoặc đào vàng, họ hỏi, anh trả lời là đi tìm bom, thì họ cho rằng anh là một kẻ bị tâm thần. Anh đi trong rừng, chân tay không, với độ bồ nghề phá gỡ bom của anh, tuyệt nhiên chẳng có một vũ khí nào phòng thân. Mà anh cũng chẳng cần, khác với bọn người trên, họ trang bị tận răng, cả súng trường, tiểu liên, súng ngắn, cả lựu đạn và mìn nữa. Có khi họ gài cả mìn và lựu đạn vào cây trầm hương để ngăn chặn kẻ nào đến lấy trộm cái cây mà bọn họ đã ngả xuống. Có khi bọn họ còn đặt mìn trên đường vào bãi vàng để ngăn chặn cảnh sát, công an và chính quyền địa phương đến xua đuổi.
-         Này ông nội tâm thần ơi, hãy theo bọn mình làm một chuyến trầm thôi thì ông có đủ tiền xài suốt đời.
-         Này cậu hâm, đi đãi vàng với chúng tớ, chẳng có nguy hiểm gì mà lại có vàng, vàng cậu hiểu không! Vàng là chúa của tất cả!
-         Không, mình chỉ đi tìm bom thôi. Số phận mình nó thể rồi mà, biết làm sao được.
Có hôm Hùng gặp cả thú dữ: Hùm, gấu, trăn, rắn độc…nhưng anh đã có kinh nghiệm của những ngày đánh Mỹ để né tránh hoặc trị các loại này bằng mưu mẹo. Chiếc võng dù từ những ngày đánh Mỹ vẫn theo anh, cảnh màn trời chiếu đất thường xuyên đối với anh…
Nguồn tài nguyên “đặc biệt” hiếm có của Hùng liều ở khu vực Cô Pơ Rông và các vùng xung quanh trên dưới 100km cũng đã hết.
Anh gặp một đồng đội cũ và trong câu chuyện, anh ta hỏi:
-         Thế cậu đã vào khu vực Hàm Long chưa ? Đấy hồi xưa là một túi bom đấy. Nếu chưa thì hãy tìm đến đi. Chúc cậu may mắn, và đừng có để xác lại ở đó nhé, anh chàng liều lĩnh và gàn dở ạ !
Thế là Hùng cương quyết tìm đến Hàm Long. Sau mấy ngày đêm vất vả, anh đã đến nơi. Một chiến trường xưa xa lạ. Một bãi bom mà anh chẳng hề biết một chút gì. Dù có là liều thật, nhưng cũng không thể liều một cách vô căn cứ, không có “khoa học” được. Cũng như các kỹ sư địa chất đi tìm tài nguyên, nếu không có một tấm bản đổ tổng hợp khái quát, thì làm sao có thể làm việc được.
Hùng phải đi tìm những người nắm được bãi bom này trong những ngày chiến tranh. Anh đến cơ quan quân sự tỉnh.
Thật là may mắn, anh đã gặp được một chiến sĩ  cũ của anh ở đội phá bom tiểu đoàn 195 mà anh làm đội trưởng. Sau hoà bình, cậu ta được đi đào tạo sĩ quan, còn anh thì về xuất ngũ, tên cậu ta là Hải. Hiện nay Hải là trung uý trợ lí tham mưu Bộ chỉ huy quân sự tỉnh.
Hai người đồng đội cũ, như hai anh em gặp nhau, tay bắt mặt mừng. Sau một thời gian hàn huyên ngắn ngủi về quê hương, về gia đình, về những đồng đội cũ, kỉ niệm chiến trường xưa, Hùng nói rõ ý định của mình muốn nhờ Hải cung cấp cho một bản đồ hay sơ đồ bãi bom của khu vực Hàm Long.
- May quá có cái bản đồ bom khu vực ấy đấy, em còn giữ được – Hải nói – chả là hồi chiến tranh biên giới 1979 có lệnh sơ tán cơ quan, bên công binh họ đem đốt nhiều hồ sơ, để cho gọn nhẹ, em thấy nó hay hay nên kéo nó ra khỏi lửa và giữ lại làm kỉ niệm. Không phải trách nhiệm gì của mình. Nhưng cái máu nghề nghiệp mà anh ! nó đã bị cháy mất một góc rồi, em đang dải để lót tủ quần áo ở nhà ngủ. Để em về tìm lấy cho anh mượn.
Thật là không hẹn mà gặp, ước được mong thấy. Hùng cứ mừng thầm và cho rằng số mình vẫn gặp may. Tấm bản đồ mà Hải cho anh mượn quả là giá trị bạc triệu.
-         Nhưng ai bắt anh vất vả thế anh Hùng ơi ! Đến cơ quan quân sự địa phương tỉnh huyện này, người ta cũng chẳng nghĩ đến làm gì, kể cả cánh công binh họ cũng còn bỏ qua nữa là…
-         Nó cũng là cái bệnh nghề nghiệp như cậu nói đấy! khổ thê! Nếu như cậu đã có máu nghề nghiệp mà cứu tấm bản đồ này khỏi bị cháy thì mình cũng có máu nghề nghiệp để phá gỡ những quả bom này chứ. Nếu không thì cái công cứu bản đồ của cậu cũng chẳng ích gì ?
-         Đành rằng việc anh làm là cần thiết, là có ích, nhưng có ai khiến anh làm đâu. Nhỡ ra thì chỉ thiệt thân mình thôi. Còn các cơ quan ấy à ? họ lại được thành tích để báo cáo, để nhận thưởng. Thôi mặc xác nó, anh ạ, em khuyên anh, cuộc đời anh đã khổ lắm rồi còn gì nữa.
Hai người đang nói chuyện với nhau ở phòng khách ngoài cổng Bộ chỉ huy, bỗng thấy một chiếc xe U-oát từ ngoài phố đi vào cổng.
-         Ai như thủ trưởng Tính, tiểu đoàn trưởng cũ của mình ở 195 có đúng không ?
-         Đúng rồi, thủ trưởng Tính đấy, quên em chưa nói với anh. Hiện nay cụ ấy là đại tá chỉ huy trưởng ở đây. Anh có muốn gặp thủ trưởng không ? Chắc gặp anh thủ trưởng vui lắm đấy. Có một dạo mà cụ ấy cứ hỏi thăm em về tin tức của anh mà em chẳng biết. Anh cứ ngồi đây để em vào báo cáo nhé !
Chưa biết Hùng có đồng ý hay không, Hải đã vội chạy vào cổng. Trong khi chờ đợi, anh vừa mới mở tấm bản đồ ra xem, thì đã thấy tiếng ông Tính oang oang.
Đâu, Hùng liều đâu ?
-         Xin chào thủ trưởng! – Hùng đứng lên.
-         Mạnh giỏi chứ, bây giờ ở đâu ? Làm ăn thế nào ? Lâu quá bọn mình chẳng biết tin tức gì về cậu cả. Thế anh bạn từ đâu đến đây ? Đến có việc gì đấy hả ?
-         Lại việc phá bom đấy thủ trưởng ạ - Hải đỡ lời Hùng.
-         Thế thì hay quá rồi. Bọn mình cũng muốn làm từ lâu mà chẳng ai chịu làm cả. Vẫn máu công binh hả? Thôi thế này nhé, chuyện bom đạn gì nói sau. Bây giờ cậu vào chơi với bọn mình đã. Hải xuống nói hành chính chuẩn bị cơm khách cho mình với nhé. Chà lâu quá rồi nhỉ, hơn mười năm trời rồi còn gì!
Hùng định từ chối ngay, nhưng trước nhiệt tình của đại tá, thấy ông vui mừng thực sự, nên anh không nỡ bỏ đi. Anh đành theo tay ông Tính dắt đi vào phòng khách. Ông Tính tiếp anh trân trọng và thân mật như những người đồng đội lâu ngày gặp nhau.
Ông tự pha nước và lấy thuốc lá mời Hùng.
-         Có gặp ai của 195 cũ không? Mình thỉnh thoảng cũng gặp một vài cậu.
-         Lâu lắm tôi cũng không gặp ai !
-         Thế bây giờ Hùng công tác ở đâu? Ở viện khoa học kĩ thuật quân sự nào mà đi sưu tầm phá gỡ bom đạn?
-         Không, tôi xuất ngũ về nhà từ ngày hoà bình lập lại cơ.
-         Hả? Xuất ngũ à? Tại sao thế? Thế mà tớ cứ tưởng cậu…
-         Chuyện dài dòng lắm thủ trưởng ạ. Hiện nay tôi đi phá bom theo hợp đồng …!
Vừa chuyện trò một lát thì công vụ đã dọn cơm xong, mời ông Tính và khách đi ăn.
-         Coi như những chiến hữu 195 gặp nhau. Nào xin mời nâng cốc! – Ông Tính vẻ trịnh trọng cười nói rất vui mừng. Bữa cơm chỉ có những người đồng đội cũ, thôi thì bao nhiêu chuyện của tiểu đoàn cũ, từ đầu cho đến cuối bữa.
Sau đó ông bắt Hùng phải kể lại từ đầu đến cuối cuộc đời anh, kể từ cái lúc ông rời tiểu đoàn đi hộ tống đoàn xe tăng vào chiến trường rồi ở lại trong đó. Nhưng Hùng chỉ kể khái quát, không chỉ trích một ai, không phê phán hay oán trách một ai.
- Ừ, thật là kỳ lạ! – Ông Tính thỉnh thoảng lại thốt lên –“Hừ, tệ quá đấy” hoặc là “thôi đành vậy, biết làm sao được”, “khổ quá, thật tội nghiệp” v.v…
Ông nghe chuyện, bỗng cảm thấy sót xa, trong lòng dâng lên tình cảm thương yêu và cảm phục con người đã phải chịu bao nỗi đớn đau, cay đắng, mà vẫn vươn lên, làm chủ cuộc đời mình.
Để ủng hộ và giúp đỡ Hùng, ông Tính tán thành phương án phá gỡ bom đạn của anh mà chính Bộ chỉ huy của ông đang cần. Thay vì những hợp đồng kinh tế trước đây mà Hùng đã làm, ông Tính sẽ mệnh lệnh trưng dụng Hùng vào làm, và cũng vẫn được trả thù lao theo kiểu “lấy nó nuôi nó” như phương án của Hùng.
Trước mắt, ông cấp cho Hùng một giấy giới thiệu, giao nhiệm vụ đi trinh sát, khảo sát bãi bom, Hùng sẽ phải làm một luận chứng kinh tế, kĩ thuật, hay gọi là phương án cụ thể, để ông duyệt và giao cho cơ quan tham mưu chủ trì, chỉ huy và điều hành. Các cơ quan chính trị, hậu cần phải làm công tác bảo đảm và thông báo cho các địa phương cùng tham gia v.v…Nghĩa là ông muốn đi vào bài bản, cái bài bản đó có lợi cho ông và có lợi cho Hùng. Lợi cho ông vì ông đã chủ động đứng ra tổ chức một chiến dịch phá vỡ bom đạn, khắc phục hậu quả chiến tranh đem lại lợi ích thiết thực cho địa phương, giải phóng mặt bằng sản xuất và xây dựng: “Làm thì phải có người biết mà tuyên truyền cho mình chứ cứ im ỉm làm thì ai biết ”. Thế  thì mới gọi là quân sự địa phương. Đã gọi là quân sự địa phương tức là làm phong trào, mà đã làm phong trào thì phải tuyên truyền. Nếu không thì làm sao ra phong trào được ?
Còn cái lợi của Hùng tức là ông Tính muốn đưa việc làm của Hùng vào tổ chức hẳn hoi, có bạn có bè, có chỉ huy có lãnh đạo từ trên xuống. Rủi chẳng may có chuyện gì xảy ra thì có cái tổ chức này đảm bảo, rằng đó là việc tập thể, do một tổ chức tập  thể làm, chứ không phải do một cá nhân tự phát nào làm. Cái đó sẽ đem lại cho Hùng những quyền lợi chính trị như thương binh, liệt sĩ mà nhà nước đã có chế độ ưu tiên đãi ngộ. Nghĩa là ông Tính muốn tự mình đứng ra bảo lãnh việc làm và cả tính mạng cho Hùng. Đó là một ý định rất tốt, xuất phát từ tình thương người của ông đối với Hùng, cũng xuất phát từ cách biết đánh giá và biết sử dụng người có tài vào đúng thời cơ cần thiết, tức là xuất phát từ lòng cảm phục Hùng và lòng tin tưởng vào người chiến sĩ cũ này, như hơn mười năm trước đây ông đã tin và cảm phục.
Nhưng Hùng, ngược lại, lại không muốn có cái tổ chức cồng kềnh đầy quan liêu đó, nó chẳng có ý nghĩa gì về thực chất. Người trực tiếp phá bom chỉ có một – hai, nhưng người chỉ huy lãnh đạo và bộ máy tổ chức đó lại có tới vài ba chục người. Nó chỉ gây rắc rối, có khi lại làm hỏng việc.
Còn về phần bảo lãnh chính trị ư ? Mười năm ở chiến trường người ta đã chẳng bảo lãnh cho anh đấy ư ? Nhưng đã dẫn anh đến đâu ? Có phải anh đã đi xuống đến tận cùng đau khổ ? và mười năm hoà bình vừa qua, nào có ai lãnh đạo  anh đâu ? Có phải anh đang từ tận cùng bùn đen đi lên ? Không, anh chẳng cần sự bảo lãnh đó của ông Tính, sự bảo lảnh của ông đại tá chỉ huy trưởng đâu! Trước mắt anh, anh không cần cái chính trị kiểu của ông, cho dù ông là thủ trưởng cũ của Hùng, cho dù ông là đại tá chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự một tỉnh. Cái kiểu chính trị sáo rỗng ấy nó không phù hợp với anh.
Trước mắt, anh chỉ cần tiền – Và anh tin vào bản năng kỹ thuật của mình. Cho dù có phải hy sinh, anh cũng vui lòng. Chính cuộc sống, tính mạng của anh bảo lãnh chính trị cho cuộc đời anh.
*        *        *
*       *
 Vùng rừng Hàm Long là một vùng rừng tối thẫm, không có lối đi qua để vượt Trường Sơn từ Đông sang Tây, bởi dãy núi cao có mỏm 1238 sừng sững đứng chắn ngang như một bức trường thành. Những khe nước xói lở do những dòng lũ mùa mưa đào sâu mãi tạo lên. Những gò đống mấp mô với những mảng đất đá trơ trụi, xuất hiện sau những cơn bảo lũ tàn phá. Rồi những hố nước sâu thăm thẳm, xung quanh chăng đầy mạng nhện. Những đầm lầy tù đọng, thỉnh thoảng nổi lên một vài gò cây con, rong rêu, cây dại bị mục, bốc mùi thối rữa. Rất nhiều những con suối có chỗ trong và réo vang như tiếng gõ vào pha lê, có chỗ nâu đen như dầu pha nhựa, có chỗ lại lặng, nước rầu rĩ, giữ  vẻ âm thầm bí hiểm.
Trên đỉnh các mỏm núi ở Trường Sơn thường có nắng, bầu trời xanh biếc, mà ở vùng rừng Hàm Long vẫn sương mù dầy đặc toả cuồn cuộn, cả cánh rừng già âm u, không gió, đôi khi có tiếng cành khô gãy rơi xuống.
Hùng liều đi không vội vã, vừa đi vừa quan sát hai bên, để tìm những quả bom mà trên bản đồ đã đánh dấu. Anh phải thường xuyên dùng dao phát vào thân cây những kí hiệu riêng để đánh dấu đường, nếu không sẽ dễ bị lạc, anh đã có nhiều “kỉ niệm lạc đường” khốn khổ rồi, đời lính ở rừng đã huấn luyện cho anh cái thói quen đánh dấu ây. Đôi lúc Hùng lại bị sa xuống một hố bom cũ, đã bị cây cối um tùm và những cây đổ che lấp đi. Thỉnh thoảng anh phải ngừng lại nghe ngóng. “Quỷ tha ma bắt cái vùng rừng Hàm Long lầy lội và rậm rịt chết tiệt này đi!” – Đôi lúc anh thốt lên rủa một mình. Anh phải hút thuốc, phả khói liên tục, để xua bớt đám muỗi rừng to như những con ruồi, háu ăn bay đặc cả không khí và xông đến đốt nhoi nhói vào mặt vào cổ và chân tay anh.
Một ông già người Pa Cô đã cho anh biết là trong thung lũng Hàm Long này có con ma rừng ác độc nhất vùng này: nó là một con yêu tinh, từ một con rắn già biến thành rồng. Hàm Long tức là mồm con rồng, mồm con rắn yêu tinh ấy – Ông cụ giải thích như vậy “… Trước đây có rất nhiều người đi vào đây, bị nó làm cho u mê, nên bị lạc không biết đường về, và bỏ xác tại đây cho nó ăn thịt”.
Còn hồi chống Mỹ, con ma ấy lại kéo được bao nhiêu bom Mỹ xuống đây để giết hại bộ đôi dân công, hàng ngàn người chứ không ít (!)
Có lúc nó biến thành người, có lúc thành con hùm, con gấu, con trăn, con khỉ, có khi là con nai, con hoãng để nhử người đi săn, có khi lại hoá thành một cô gái xinh đẹp làm mê hoặc những người đàn ông vào rừng rồi dẫn về trong hang ổ của nó…
Hùng liều chẳng bao giờ tin vào những chuyện ma quỷ kì quặc hoang đường đó. Nhưng càng đi sâu vào rừng Hàm Long, anh càng cảm thấy rờn rợn; nó có một cái gì huyền hoặc bí ẩn khác những cánh rừng đã qua. Do vậy anh càng đi chậm hơn, thận trọng hơn.
Hùng rất ưa thích đi lại trong rừng, nhất là dọc theo những chỗ chưa biết. Đi như thế, nghĩ được nhiều. Những gì anh chưa kịp nghĩ ở nhà , anh thường nghĩ nốt trên đường đi. Chính ở trong giờ phút ấy, anh tranh luận thầm trong óc những quan điểm của mình với các ý đối lập, và đặt ra những giả thuyết mới. Suy tính về những khả năng mở rộng việc phá gỡ bom của mình trên khắp nẻo Trường Sơn này.
Bây giờ, nhìn rừng Hàm Long đang nhuộm thẫm màu sắc hoàng hôn, anh nhớ lại những điều mình đã suy nghĩ về những bãi bom ở đây, anh dở tấm bản đồ của Hải đã cho mượn, mà anh đã nghiên cứu kĩ như thuộc lòng bàn tay. Nhìn tia nắng để lấy lại phương hướng đặt bản đồ, Hùng đối chiếu giữa bản đồ với thực địa, nhẩm tính những quả bom ở xung quanh khu anh đứng. Những quả bom đã được đánh gạch chéo bằng bút chỉ đỏ trên bản đồ là những hố bom trên thực địa, những quả bom màu xanh chưa có gạch chéo là những quả bom anh cần tìm. Tuy nhiên bản đồ không phải là hoàn toàn chính xác, đành phải dựa vào chính mình, anh phải đo từng bước chân, sờ đến tận các hút bom mà năm tháng đã bị đất cát vùi lấp và cỏ cây mọc lên che khuất.
Anh phải vận dụng cái trực cảm, cái linh tính của người chiến sĩ đã trải qua hàng chục năm chiến đấu để tìm kiếm bom. Nhiều người thường cho những trực cảm, linh tính là một trò duy tâm. Nhưng Hùng không cần biết đến từ ngữ, đến học thuật, anh chỉ quan tâm tới kinh nghiệm thực tế mà anh đã thấy bằng chính công việc của mình.
Hùng không duy tâm, nhưng anh tin vào linh cảm của chính mình, nhất là những tình huống xảy ra trong chiến đấu. Có lẽ những sự việc có liên quan tới cái chết, bao giờ cũng báo trước cho thần kinh của người đó những tín hiệu chính xác nhất, chỉ  có con người có nhạy cảm hay không mà thôi. Trong lĩnh vực phá bom này, Hùng đã có kinh nghiệm, và anh tin vào chính mình.
Đi đến một đoạn gần khe suối, Hùng bỗng nhận thấy có dấu vết lạ, dấu của những sinh vật đi qua. Thoạt nhìn, Hùng đã xác định ngay đó không phải là thú, mà là người đã đi qua vùng rừng ở đoạn này, từ khe suối lên. Điều đó thật bất ngờ đến nỗi trong những giây phút đầu tiên, người thợ “săn bom” tưởng như là không tin vào chính mình. Nếu là người đi qua đây sao họ không đi qua chỗ mình, con đường mòn, mà lại đi từ dưới suối? – Anh nghĩ. Nhưng càng xem xét kĩ các dấu vết, anh càng tìn chắc không có con thú nào qua đây cả. Con thú thường để lại những dấu vết đặc biệt, Những chỗ cây gẫy không liên tục mà cách quãng, những cành lá bị gập lại trên đường đi của nó, cỏ dại bị giẫm nát, trên đất có những chỗ bị móng thú xới lên. Nhất là những vết móng chân của chúng. Từ dấu chân hổ, chân gấu đến các dấu chân của nai, hoãng, chồn, cáo. Hùng đều đã nhận dạng được, nhờ kinh nghiệm sống ở rừng trước đây; anh còn có thể ước  lượng trọng lượng con vật khi nhìn dấu chân.
Ở đôi ba chỗ dưới gốc cây chò cao vút, có vết giầy vải leo núi, nhìn kĩ thấy có hai dấu giầy cỡ khác nhau. Vậy là toán này có ít nhất hai người. Họ là ai? Đi đâu? Chỉ thấy dấu chân đi vào rừng sâu, chưa thấy dấu chân đi ra. Chắc là bọn đi tìm trầm. Bọn này thường nằm trong rừng hàng tuần lễ, có khi hàng tháng trời. Anh đoán như vậy và lại tiếp tục việc tìm kiếm bom của mình. Tuy nhiên anh vẫn phải luôn cảnh giác, đề phòng có thể gặp bọn thổ phỉ, bọn phun rô, hoặc bọn buôn lậu, hay chính những kẻ đi tìm trầm, tìm vàng cũng có thể thủ tiêu anh, để bịt đầu mối. Bọn chúng với kẻ cướp thường ăn cánh hoặc đồng loã với nhau.
Anh đang dò dẫm bước xuống một hố bom vừa quan sát, bỗng có tiếng rít như một làn gió, mấy cây phía trái lay động như bão, anh quay ngoắt lại, một con trăn gió đang rình mồi, thấy động vội vàng lao đi trên các cành cây. Nó sợ con người. Ở một chỗ khác anh gặp một chú gấu chó đang leo lên cây vớ được một tổ ong ở cành thấp, thấy người cũng bỏ chạy, mặc cho đàn ong đuổi theo vù vù.
Anh đi tiếp, càng gần tới bờ suối Hàm Long, lòng càng tràn ngập vui sướng. Anh đã tìm ra và đánh dấu được 5 quả bom trên đường đi. Vào rừng sâu, ở hướng này không thấy dấu người, chỉ thấy nhiều chỗ có vết hằn chân nai ra bờ suối uống nước, cả vết chân hổ. Tất cả các động vật đều phải ra bờ suối uống nước, đó là quy luật mà người đi săn nào cũng biết.
Tới suối, Hùng lội xuống uống nước, một thứ nước trong vắt, nhìn suốt đến đáy, thấy những hòn đá nhiều màu sắc dưới những tia nắng xuyên qua tán lá cây.
Rừng lặng lẽ im lìm, chỉ có tiếng chim kêu vượn hót vang động. Hùng nghỉ chân lâu bên bờ suối. Anh tháo giầy, nước lạnh làm anh tỉnh người ra, rồi anh nhóm lửa đun nấu nước chè trong một cái ống sữa bò, lấy bánh mì kẹp thịt ra ăn. Tinh thần anh sảng khoái và yên tĩnh, hệt như sự tĩnh mịch trong rừng. Anh mắc võng, chiếc võng Trường Sơn năm xưa và nằm nghỉ cạnh đống lửa, chắp tay ra sau gáy, thiu thiu ngủ ngon lành.
Giấc ngủ của anh tuy ngắn ngủi những rất sâu. Tỉnh dậy, anh thấy người khoẻ khoắn hẳn ra, chân hết ê ẩm, vùng thắt lưng hết đau buốt, đầu óc tỉnh táo và minh mẫn. Anh lấy đất lấp đống lửa, lửa nhỏ cháy âm ỉ rồi tiếp tục đi.
Đi trên bờ suối Hàm Long, đến chỗ ngã ba suối, có lẽ đây chính là cái hàm con rồng chăng, trông nó kì vĩ lạ lùng. Một mỏm núi nhô lên ở phía bên kia, một cái cửa hang lớn hoẳm vào trông như cái hàm trên của con thú, một khối núi lớn nhô ra như cái mũi con rồng và đầu rồng. Ở chính giữa ngã ba suối có một hòn đá nhô lên tượng trưng hòn ngọc mà con rồng đang muốn ngậm, trông như một hòn núi non bộ lớn khá đẹp. Nơi đây chính là cái nơi mà bà Huệ - cô lính phá bom thời xưa, về sau này dẫn đoàn cán bộ đến khảo sát, rồi lội xuống để tìm quả bom dưới đáy vũng nước Hàm Long này. Còn bây giờ thì Hùng đã tìm thấy quả bom trước rồi, theo dấu trên bản đồ, anh tìm xung qunah không thấy, nên đã lặn xuống vụng, quả bom vẫn nằm nguyên, vì chỗ này không bị đất cát lấp phủ được. Anh tiếp tục đi dọc theo suối. Đôi chỗ rừng rậm không thể nào qua được, đành phải đi sát vào mép bờ suối treo lơ lững trên dòng nước đang réo chảy cuồn cuộn. Anh đã quen với những mối nguy hiểm này, vẫn tiếp tục đi lên, lúc bám vào những cành xi rừng, lúc bám vào những cây lau cây sậy, chỉ cần sẩy chân một chút là bất cứ lúc nào cũng có thể lộn nhào xuống vực, mà những hòn đá nhọn nhấp nhô như những mũi chông đang tua tủa đâm lên.
Chính những đoạn đường nguy hiểm đó càng hấp dẫn Hùng. Đi cheo leo phía trên dòng nước, anh nhìn xuống dưới và lấy làm thoả mãn. Có lúc anh bám lấy dây leo, đánh đu người vượt qua một khe lạch, rồi truyền người qua những thân cây, như làm xiếc, có lúc vượt cầu khỉ một dây, anh phải cầm cành cây để lấy thăng bằng, cũng có lúc cầm sào để nhảy vượt qua một đoạn suối lội… Những kiến thức thể thao vẫn còn theo anh trong quãng đời gió bụi này.
Ở một đoạn rừng khác, anh lần theo vết chân voi để đến đó là những khu rừng thưa, đầy lau sậy và chuối rừng. Anh phải nhanh chóng tránh xa, khi trông thấy cả bầy voi đang kiếm ăn ở một khu rừng “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”. Lúc này thì đúng cả nghĩa đen và nghĩa bóng của câu châm ngôn đó. Anh suy nghĩ, dẫu sao thì gặp bọn voi này còn ít nguy hiểm hơn gặp hổ. Ban đêm anh phải treo võng lên những cành cây cao để ngủ. Cuộc đi rừng mệt mỏi, anh ngủ thiếp đi cho đến khi ánh mặt trời đã xuyên rừng le lói, và đàn khỉ kêu rối rít ở đầu cây bên cạnh võng anh nằm…
*        *        *
*       *
 Niềm vui của ông cụ Hoà, bố liệt sĩ Hoà, bạn chiến đấu của Hùng, ngày càng được nhân lên gấp bội.
Càng nghĩ đến thằng Hùng, cái Loan ông cụ càng vui, coi họ chẳng khác gì con đẻ và con dâu. Chẳng khác gì thằng Hoà còn sống. Niềm vui to lớn như vậy làm sao không báo cho cái Chinh được nhỉ? Mặc dầu thằng Hùng đã khẩn khoản nói với cụ: “Bố đừng báo gì cho cô ấy nhé –Bao giờ cô ấy về chơi rồi cô ấy sẽ gặp chúng con thôi”.
Chinh về thật, cả hai vợ chồng cùng về, với đứa con nhỏ.
Khi Hùng từ Hàm Long về Cô Pơ Rông thì vợ chồng Chinh về chơi đã được ba ngày. Anh ngỡ ngàng nhìn Chinh đã già hẳn đi, cái tuổi 30 của cô mà trông cứ như người gần 40. Hùng còn bất ngờ hơn, khi chồng Chinh chạy lại nắm tay anh:
-         Hùng, còn nhớ mình không?
Hùng phải nhìn một lúc, mãi mới nhận ra và ôm chầm lấy.
-         Trời ơi, anh Bối có phải không? Thủ trưởng Bối, tiểu đoàn trưởng 195 có phải không? Trông thủ trưởng khác quá, làm tôi mãi không nhận ra?
-         Hùng mãi không nhận ra Bối là phải, vì Bối trông đã già quá, cái tuổi năm mươi của Bối mà trông cứ như ông cụ ngoài sáu mươi. Bối,tiểu đoàn phó, người thường trực Sở chỉ huy tiểu đoàn ngày N ở bến Cô Pơ Rông ngày ấy. Người đã phát cú điện kỉ luật đội trưởng đội ba phá bom là thường sĩ Hùng, và sau đó thay ông Tính làm tiểu đoàn trưởng 195. Bối cũng chính là người đã kí cái quyết định xuất ngũ của Hùng sau ngày hoà bình lập lại !
Sau hoà bình, Bối được phong thiếu tá, rồi chuyển ngành ra một cơ quan dân chính ở Hà Nội, vì quê của Bối ở Ba Vì thuộc đất Hà Nội. Nhưng cơ quan ngán mấy ông lính già đã không có kĩ thuật nghiệp vụ gì, không làm được việc mấy, lại cứ sống theo “nguyên tắc một cách cứng nhắc”, họ liền “bái chào” cho gọn nhẹ cơ quan, trong đó có Bối. Bối nghỉ hưu đã vài năm nay. Vì không có nghề nghiệp gì, chỉ ở nhà làm ruộng, ruộng vườn lại không có mấy, lương hưu của Bối không đủ sống. Nhà đông, hai vợ chồng bốn đứa con,Bối lại muốn giữ sĩ diện cán bộ quân đội về hưu, không muốn làm những việc lao động bình thường của một “phó thường dân”. Khi thấy một ông đại tá về hưu hàng ngày đẩy xe thồ mua rau từ làng ra phố bán, thì Bối bảo:
-         Tôi thà ăn cháo chứ không chịu đi buôn!
Khi gặp một ông thiếu tá về hưu đi bán kem, Bối bảo:
-         Khổ lắm ông ơi, làm mất thanh danh cán bộ.
Rồi gặp một ông trung tá khác đi đẩy xe bò thuê, Bối lại nói:
-         Gì mà nhục nhã thế, ông làm ô nhục sĩ quan quân đội rồi.
Nhưng lương hưu không đủ sống, đàn con nheo nhóc, một mình Chinh nai lưng ra làm không đủ nuôi con, Bối phải đi xa xin việc, đến cơ quan này, cơ quan nọ chạy rạc cả chân, nói sùi bọt mép ra chẳng ai người ta nhận Bối. Bởi vì ở đâu người ta cũng kiểm tra bằng cấp, kiểm tra tay nghề, rồi mới nhận cho làm hợp đồng, kẻo hỏng hết vật liệu của người ta thì bỏ tù “ông cán bộ” được à? Mà ông về hưu thì lấy gì mà đền?
Lúc này mới bắt chước mấy ông cấp tá về hưu trước, đi đẩy xe bò, chẳng ma nào thuê. Đi bán hàng, không có vốn, đi xe thồ, không có xe. Trước có cái xe đạp cọc cạch thì đã bán đong gạo  hết rồi.
Cực chẳng đã, Chinh đành xắm cho Bối một đôi rành và quang gánh cho Bối đi nhặt phân trâu bò về bón ruộng và về phơi khô đun thay củi. Cũng đỡ được một số tiền mua củi mua rơm.
Thật là trớ trêu, quả đất xoay vần, sau hơn 10 năm, ông tiểu đoàn trưởng Bối lại gặp anh đội trưởng phá bom cũ của mình trong căn nhà ông cụ Hoà, bố Chinh, mà vì căn nhà đó Hùng đã bị kỉ luật (!). Bối lại lấy Chính, người đã từng yêu Hùng say đắm, đã chờ Hùng mấy năm trời biệt tăm không trở lại. Cô gái mà vì cô, Hùng đã bị kỷ luật. Và thật là nực cười: Cái ông Bối già thích nguyên tắc hay sĩ diện ấy lại phải ngửa tay nhận “trợ cấp” của anh chàng thượng sĩ !
*        *        *
*       *
 … Tổ công an kinh tế khu vực Long Hà – một khu vực khai thác đá lớn của một tỉnh phía Nam, bao gồm nhiều xí nghiệp, công ty và hợp tác bỗng phát hiện thấy gần đây hợp tác xã Vôi đá mang tên Đại Thắng đang làm ăn bí bét nay lại nổi bật hẳn lên.
Trước đây hợp tác xã không có chỉ tiêu thuốc nổ để đánh đá do nhà nước cấp, hoặc năm thì mười hoạ mới xin được huyện cấp cho chỉ tiêu một vài chục cân không đáng kể. Vậy mà gần đây lại nổ mìn rất nhiều, liên tục ngày này qua ngày khác. Thu nhập của hợp tác xã và xã viên tăng hẳn lên, làm cho nhiều người phấn khởi. Hi vọng cuối năm hợp tác xã sẽ đạt cờ luân lưu của ngành thủ công nghiệp huyện.
Thiếu uý tổ trưởng công an liền đặt dấu hỏi: Điều gì đã làm cho hợp tác xã này làm ăn khấm khá hẳn lên? Thiếu uý Tiên liền cử tổ viên là hạ sĩ Huỵ đến tìm hiểu điều tra, chủ yếu xem nguồn vật tư thuốc nổ từ nơi đâu tới.
Ban quản lí hợp tác xã báo cáo: có một đồng chí bộ đội phục viên đến hợp đồng bán thuốc bom cho hợp tác xã theo giá thoả thuận của hai bên. Đây là bản sao những biên bản nói trên và bản sao chứng từ hoá đơn thanh toán với khách hàng.
Vậy hắn là ai? Gã bán thuốc bom ấy? Có phải là bộ đội phục viên hay là gã lưu manh? Hắn lấy thuốc bom ở đâu? Chắc hẳn là ở một kho thuốc nổ hoặc thuốc bom nào đó? Mà làm gì có cả một kho thuốc bom. Vậy thì chắc chỉ có lấy thuốc nổ đưa ra làm thuốc bom để bán theo hợp đồng cho hợp lí thôi… Cần phải điều tra tiếp.
Đây không phải chỉ là một vụ kinh tế đơn thuần, mà có liên quan đến quốc phòng, đến an ninh quốc gia.
Thế là ở cơ quan công an huyện và tỉnh hình thành lập hồ sơ ban đầu về vụ mua bán thuốc nổ của hợp tác xã Đại Thắng.
Báo cáo bổ sung của hạ sĩ Huy:
Gã bán thuốc nổ cho hợp tác xã Đại Thắng có tên là Nguyễn Phi Hùng như trong biên bản hợp đồng kinh tế đã ghi. Theo ban quản trị cho biết đặc điểm nhận dạng: Người cao tầm thước, nước da đen xạm, thân hình đậm, chắc, đôi mắt tinh nhanh, có một vết sẹo ở mé trên thái dương… Tuổi khoảng 29-30. Nghe nói trước đây là bộ đội công binh Trường Sơn. Quê quán và địa chỉ ở đâu chưa biết.
Bộ phận kĩ thuật đã phân tích thuốc nổ là loại TNT kí hiệu  0224 T được đúc thành thỏi có đường kính là 18-20 mm dài 200mm. Tổng số hợp tác xã Đại Thắng đã mua trong 3 đợt là 213 kilogam thuốc nổ TNT đúc. Chưa phát hiện ra kho nào mất thuốc nổ, đã đến các đơn vị và các kho trong phạm vi gần đây. Không đơn vị nào báo cáo bị mất thuốc nổ, các đơn vị đã cho kiểm kê, không thấy hao hụt. Đang tiếp tục điều tra tiếp.
Sổ tay của tổ trưởng Tiên ghi: Ngày…. Đã bám được đối tượng bán thuốc nổ cho hợp tác xã Đại Thắng, đúng như nhận dạng đã được khai thác. Đối tượng gùi thuốc nổ bằng ba lô con cóc cũ đưa lên. Hạ sĩ Huy yêu cầu cho bắt quả tang lập biên bản, tôi chưa đồng ý, cần phải để theo dõi xem hắn ăn cắp thuốc nổ từ nơi nào đến. Đã cử Huy tiếp tục bám.
Ngày…. Đối tượng đi tàu hoả ra ga phố Phủ, rồi về nhà ở bến Cô Pơ Rông, chưa thấy hành động tiếp. Đã liên lạc với công an phố Phủ tiếp tục theo dõi…
Các đơn vị: Công bình 122, kho K và trường tập huấn sĩ quan B23 đều báo cáo không mất thuốc nổ. Vậy nguồn thuốc nổ có thể từ xa đến? Cần hỏi tại các đơn vị và kho ở khu vực phố Phủ.
Ngày… Công an phố Phủ thông báo, 6 đơn vị quân đội, 1 đơn vị địa chất đều báo cáo không mất thuốc nổ. Vậy nguồn thuốc có thể từ ngoài Bắc vào? Hay từ ngoài biên giới Cam – pu – chia về? Cần hỏi các nơi ? …
Cứ như thế, thiếu uý Tiên tiếp tục điều tra, phán đoán, suy luận và cử nhân viên trinh sát đi điều tra, Vụ án có nhiều nghi vấn, chưa sáng tỏ. Nếu có thể đề nghị với trên cho bắt để hỏi cung trực tiếp.
Cùng thời gian đó, Sở công an tỉnh nhận được thông báo của công an một tỉnh khác gửi vào, kèm theo đơn tố giác tên Nguyễn Phi Hùng đã lấy thuốc bom của Nhà nước tại các kho “dã chiến” đem bán cho các xí nghiệp, công trường, hợp tác xã lấy tiền… và cung cấp thuốc nổ cho một nhóm làm pháo tự do ở một trại thương bình.
Đối chiếu cả hai nguồn hồ sơ, giám đốc công an tỉnh đồng ý cho bắt đối tượng.
*        *        *
*       *
… Đoàn cán bộ của cơ quan quân sự địa phương tỉnh và công trường thuỷ lợi Hàm Long, do bà Huệ dẫn đi khảo sát bãi bom Hàm Long về, đã kết luận: Cả hai vệt bom nổ chậm trước đây bọn Mỹ thả đã không cánh mà bay. Tức là đã có người của đơn vị nào đó đến phá gỡ cả rồi.
Như vậy là khu vực công trường đã hết bom, bảo đảm an toàn. Công trường có thể triển khai thi công được ngay. Ban giám đốc công trường vô cùng phấn khởi, đề nghị với Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tìm xem đơn vị nào phá, người nào phá, để công trường thưởng một cách thích đáng, vì đã rút ngắn thời gian chuẩn bị khởi công cho công trường được ít nhất 2 – 3 tháng trời.
Họ phán đoán: đây là một đơn vị lớn có kinh nghiệm tổ chức lực lượng và có trình độ kĩ thuật cao mới phá nổi. Đội phá gỡ này phải có hàng chục kĩ sư cán bộ và nhân viên kĩ thuật. Phải có máy móc tinh vi hiện đại và trang thiết bị hoàn chỉnh như kiểu các công ty phá bom của Tây Đức, Đông Đức, Ba Lan… Họ phải thăm dò, tổ chức thi công phá gỡ hàng năm trời mới xong. Một loạt công văn nữa gửi đi các đơn vị công binh: “Có phải đơn vị các đồng chí phá bom ở Hàm Long không? Yêu cầu các đồng chí làm một bản báo cáo thành tích đơn vị và những cá nhân xuất sắc gửi ngay về Bộ chỉ huy quân sự tỉnh để xét khen thường và báo cáo lên trên… Cần có số liệu thống kê và danh sách trích ngang kèm theo…”
… Tại sao cơ quan Bộ chỉ huy quân sự lại không biết? Số là thế này: Cái dạo Hùng đến gặp trung uý Hải trợ lí tham mưu để mượn bản đồ bom rơi, và gặp đại tá Tính chỉ huy trưởng ấy, đại tá đã có ý định tổ chức phá gỡ một cách quy mô và triệt để hẳn hoi.
Nhưng sau đó ít ngày ông được lệnh trên cho đi học học viện cấp cao tận mãi Hà Nội. Ông giao lại cho trung uý Hải tiếp tục theo dõi. Nhưng rồi Hải cũng lại được đi học một lớp bổ túc vài tháng, nên chẳng có ai theo dõi hay biết gì về việc phá gỡ bom đạn nữa.
Giữa lúc cơ quan đang lúng tứng tìm mài không ra “thủ phạm” phá gỡ bom đế đến nhận thưởng, thì trung uý Hải đi học về. Hải nhớ lại việc đã cho Hùng mượn bản đồ và Hùng cũng đã gặp thủ trưởng Tính, được chỉ huy đồng ý và chủ trương tổ chức phá gỡ. Anh phán đoán, người phá gỡ hết bom đạn ở Hàm Long chỉ có thể là Hùng liều. Hay lắm, đây là một thành tích mới của Hùng, mà Hải thấy cần phải báo cáo, cần phải được khen thưởng xứng đáng, để làm sáng tỏ con người Hùng, trong những năm tháng qua, để động viên anh, giúp anh bù đắp lại những điều đau buồn đã qua…
*        *        *
*       *
 … Một buổi sáng mùa đông, sau suốt một tuần lễ bị cái rét tê cứng và bầu trời ảm đạm luôn luôn bị mây mù che phù, hôm nay trời bỗng nắng ấm. Mặt trời đã nhô lên, những tia nắng đang vờn trên những hạt sương lóng lánh còn đọng trên những bông hồng bông cúc. Ông cụ Hoà đã rời ổ, đang đi lại chăm sóc dàn hoa cây cảnh.
Bà cụ Kim ngồi sưởi nắng trên chiếc chõng tre.
Còn Hùng thì cưa đục, bào, rũa một cái kìm để tháo đầu nổ bom. Anh đang chuẩn bị gỡ một bãi bom mới ở vùng cao Tây Nguyên.
Bỗng có hai chiếc xe con từ ngoài đường đi vào cổng làm mọi người ngơ ngác. Chiếc U –oát đi đầu mang biển số quân sự màu đỏ và chiếc xe du lịch TOYOTA đi phía sau mang biển số dân sự màu xanh. Xe dừng lại trước cổng. Những người trên xe lần lượt bước xuống. Trung uý Hải dẫn cả đoàn qua cổng tiến vào sân.
Đoàn khách gồm bốn người mặc quần áo sĩ quan và hai người ăn mặc dân sự. Tiếng chào hỏi ríu rít ngoài sân.
Hùng vội bỏ đồ nghề đi ra sân. Hải chạy lại phía anh, và kéo anh về phía đoàn khách giới thiệu:
-Báo cáo thủ trưởng và các anh, đây là anh Hùng còn có biệt danh là “Hùng liều” người đã lập kỉ lục tháo gỡ bom ở Hàm Long đấy ạ.
Hải đẩy Hùng về phía một trung tá và nói tiếp:
- Xin giới thiệu với anh Hùng, đây là thủ trưởng Tuấn quyền chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, trực tiếp đến thăm anh và gia đình. Còn đây là – Hải chỉ về phía một người dân sự - Anh Hoàng giám đốc công trường thuỷ lợi Hàm Long, cùng đoàn đến thăm anh.
- Hùng lần lượt bắt tay ông Tuấn, ông Hoàng và các thành viên trong đoàn rồi mời khách vào nhà, Loan nhanh chóng dọn bàn ghế, pha nước, lấy thuốc lá, đưa mời từng quý khách. Không khí trong nhà nhộn nhịp hẳn lên, các khách quý người nói chuyện với cụ Hoà, người nói chuyện với cụ Kim, người lại hỏi chuyện Loan, riêng Hùng tiếp chuyện ông Tuấn và ông Hoàng.
Chẳng mấy chốc người trong xóm, trong làng kéo đến chật cả sân xem đoàn khách lạ.
Sau một chầu chè thuốc, trung uý Hải đứng lên với giọng trịnh trọng:
-         Kính thưa cụ Hoà, cụ Kim!
-         Kính thưa toàn thể bà con dân làng!
Tôi xin báo cáo với gia đình và bà con một tin mừng. Thời gian qua anh Hùng đã lập một chiến công xuất sắc, một mình đã dũng cảm phá gỡ xong hai vệt bom nổ chậm ở khu vực Hàm Long giải phóng mặt bằng cho công trường xây dựng thuỷ lợi, một công trình lớn của phía Nam nước ta.
Xét thành tích xuất sắc trên, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh… đã quyết định tuyên dương công trạng và cấp bằng khen cho đồng chí Nguyễn Phi Hùng. Đồng thời ban giám đốc công trường cũng ghi công đầu và đem tiền thưởng đến tặng quà cho đồng chí Hùng.
Ông Tuấn đứng lên, kính thưa kính gửi xong, ông nói về âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ ném bom nổ chậm xuống Hàm Long, như găm dao vào thịt đất nước ta để phá hoại lâu dài. Ông nói về việc trước đây muốn phá được bom phải có tổ chức này, đơn vị nọ, rất phức tạp và tốn kém, ông nói về chiến công của Hùng là góp phần vào khắc phục hậu quả chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của tập thể Đảng uỷ và Bộ chỉ huy quân sự tỉnh…. Ông nói về thành tích của Hùng làm sáng tỏ đường lối quân sự lấy chiến tranh nhân dân làm gốc. Rồi ông thay mặt Bộ chỉ huy tuyên dương thành tích của đồng chí Hùng và trực tiếp trao tặng bằng khen.
-         Mời anh Hùng đứng lên.
-         Phóng viên nhiếp ảnh đâu, xin mời, đề nghị anh Hùng giơ tay nhận bằng khen để còn chụp ảnh.
Ông Hoàng đứng lên, ông nói: Nếu cứ để công trường phải tự xử trí số bom đó, thì phải mất thời gian vài ba tháng và tổn phí vài triệu bạc. Nhưng anh Hùng đã chủ động phá gỡ trước, đã giúp cho công trường khởi công sớm. Cái đó đã đem lại lợi ích vô giá.
Cuối cùng ông giám đốc Hoàng trao tặng bằng khen và trao tiền thưởng.
Tiếng vỗ tay nổi lên, kéo dài vang cả nhà, vang cả làng xóm. Người ta cười cười nói nói, hết lời khen ngợi, mọi người trong làng xóm đều bất ngờ, hôm nay có phái đoàn này đến, họ mới biết anh chàng Hùng đã tẩm ngẩm tầm ngầm tháo gỡ bom một mình.
-         Thật là gan dạ !
-         Thế mới gọi là Hùng liều !
*        *        *
*       *
Tiếng xì xào khen ngợi của dân làng còn ồn ào theo mãi hai xe của phái đoàn ra đến tận ngoài đường cái.
Hai xe gặp một chiếc u – oát biển số cảnh sát đi ngược chiều ở đầu làng, Đường hẹp, loay hoay mãi mới tránh được nhau. Chiếc U- oát cảnh sát cũng rẽ vào nhà cụ Hoà và dừng lại. Từ trên xe xuống có ba người. Thiếu ý Tiên, tổ trưởng công an kinh tế khu vực Long Hà và hai cảnh sát mang theo vũ khí và còng tay, bước vào sân không cần chào hỏi ai. Hai cảnh sát nhanh chóng vòng vào sân nhà, hình thành thế bao vây, đề phòng thủ phạm chạy chốn. Thiếu uý Tiên đứng ở giữa sân gọi to:
-         Trong nhà chú ý! Ai là Nguyễn Phi Hùng ra trình diện. Hùng còn đang thu dọn bàn ghế ấm chén vừa tiếp đoàn khách xong giật mình:
-         Có tôi!
-         Anh đã bị bắt!
Người Hùng bỗng run lên không còn nghe rõ người sĩ quan tuyên đọc một lệnh bắt người câu được câu chăng. Rồi ngay lúc đó, anh nghe thấy một tiếng tách rất nhẹ và một cái còng đã lồng vào tay anh. Anh kịp thời trấn tĩnh lại. Một thoáng ngỡ ngàng như lần đầu vào bãi bom.
Anh quay lại nhìn căn nhà và những người thân một lần cuối, rồi bình tĩnh bước đi theo người cảnh sát. Mỗi bước chân của anh như bước lên từng quả bom mà anh đã từng phá gỡ, vừa nóng bỏng vừa mát lạnh.
-         Không hiểu mấy ông chức trách ra sao nữa, người thì đến khen thưởng, người thì đến bắt.
Dân làng Cô Pơ Rông bỗng bàng hoàng kháo nhau. Họ vừa hân hoan chia sẻ một niềm vui chưa tàn, lại phải chứng kiến cảnh như tiễn đưa người sống vào mồ.
Loan vừa khóc vừa chạy theo anh, nỗi tuyệt vọng bao trùm lên cô. Nếu anh phải chết cô cũng sẽ chết theo anh, nếu anh phải đi tù, cô cũng xin đi tù cùng anh. Vì cô không thể nào sống đơn độc một mình và lại lang thang được nữa. Cô xin tình nguyện vào tù, để được gần gũi anh, để được chia sẻ cùng anh, gánh chịu với anh.
Ông cụ Hoà người như bị chết đứng. Bà cụ Kim nói không ra hơi, khóc không còn nước mắt.
-         Ông ơi, nếu nó phải đi tù thì chúng ta còn sống làm gì nữa.
-         Tôi tin rằng sẽ đến lúc vượt qua được sự éo le trớ trêu này.
Loan đứng lặng. Nắng hanh nhẩy nhót trước mặt. Vụt như người bị đần độn, cô bỗng không hiểu tất cả những gì đã xảy ra.
Ánh mắt dại đờ nhìn đăm đăm phía trước, nơi bụi đường cuộn lên sau bánh xe nhỏ bé xa dần….
                                                                                        L H .1987
 
 
 
 
 
ĐƯỜNG ĐỜI GIÔNG BÃO
 
Tiểu thuyết: LƯƠNG HIỀN
Nhà xuất bản: HỘI NHÀ VĂN
 
 
 
 
 
Chịu trách nhiệm xuất bản:     VŨ TÚ NAM
Biên tập:                                 NGUYỄN PHAN HÁCH
Bìa:                                         TRẦN VIỆT SƠN
Sửa bản in                                NGUYỄN TIẾN MIÊNG
 
 
 
 
 
 
 
In 3.100 cuốn khổ 13x19 tại xí nghiệp in Hà Bắc. Số xuất bản 02 TPM. Số in 183 Nộp lưu chiểu tháng 7 -1990
 
 
#1
    Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

    Chuyển nhanh đến:

    Thống kê hiện tại

    Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

    Chú Giải và Quyền Lợi

    • Bài Mới Đăng
    • Không Có Bài Mới
    • Bài Nổi Bật (có bài mới)
    • Bài Nổi Bật (không bài mới)
    • Khóa (có bài mới)
    • Khóa (không có bài mới)
    • Xem bài
    • Đăng bài mới
    • Trả lời bài
    • Đăng bình chọn
    • Bình Chọn
    • Đánh giá các bài
    • Có thể tự xóa bài
    • Có thể tự xóa chủ đề
    • Đánh giá bài viết

    2000-2021 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9