DÒNG SÔNG LỬA_tiểu thuyét _lương Hiền

Tác giả Bài
Lương_Hiền

  • Số bài : 160
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 27.06.2016
  • Nơi: diễn đàn văn học
  • Trạng thái: offline
DÒNG SÔNG LỬA_tiểu thuyét _lương Hiền 01.07.2016 22:59:58 (permalink)
 
                                                               
 
 
                                          







                 



                                        









Chương 1-CHIẾN DỊCH K2 VÀ LÒNG TIN
Gần nửa đêm, cuộc họp đảng uỷ mở rộng của tiểu đoàn công binh quân khu mới xong. Chiếc đèn bão đã đen kịt những muội, ngọn lửa đỏ sạm như một con mắt đói ngủ soi lên những gương mặt đã khá hốc hác vì vật lộn trong mưa nắng, dưới bon đạn liên tục mấy tháng trời nay chưa một lúc nghỉ.
    Ngoài trời, mưa đầu thu vẫn lai rai. Mưa suốt từ hai, ba ngày nay rồi. Mưa đến thối đất thối cát.
    Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Trung Hiếu có biệt danh là Đen, Nguyễn Đen đứng dậy, vóc người dong dỏng chắc nịch của anh in một bóng đậm trên bức vách phía sau. Anh mỉm cười làm cho gương mặt cháy nắng xương xương bình thường nom hơi nghiêm nghị, khắc khổ, lúc này trở nên linh hoạt, cởi mở hơn.
    - Thôi, ta lên đường, các đồng chí !
    Lập tức mệnh lệnh di chuyển sở chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn được phát ra. Mấy tay cán bộ tham mưu đã mắc màn, ngủ được một giấc, choàng tỉnh dậy. Đã quá thuộc phong cách chiến đấu của Nguyễn Đen, không ai hỏi một lời, cũng chẳng ai phàn nàn một tiếng. Hết sức xuề xoà dễ dãi trong mọi sự chơi bời, nói năng, sinh hoạt, nhưng đã vào việc nhất là tác chiến, thì Nguyễn Đen lại hết sức nghiêm khắc và vô cùng chặt chẽ về nguyên tắc, chớ có ai dại mà lơ mơ với ông tiểu đoàn trưởng da ngăm ngăm đen “trời đánh không chết này”.
    Đại uý Nguyễn Đen và thượng uý tiểu đoàn phó Đoàn Liễu, một con người thấp bé quê ở miền Trung, cùng lên một chiếc xe con.
 Chiếc xe gầm lên, cặp đèn pha sáng loá chọc thủng màn mưa đang rơi chênh chếch. Đường lầy bùn, dài hun hút trong đêm khuya. Không một bóng người, ễnh ương, cóc nhái kêu râm ran bốn bề. Vắng và cô đơn lạ lùng. Những đêm mưa thế này, bọn Mỹ chắc ít hoạt động, anh em mình cũng đỡ vất vả.
Vừa lên xe ngồi được một lúc, Đoàn Liễu đã ngọeo đầu sang một bên, ngáy hộc như một chiếc xe tăng đang gầm rú. Con người thật dễ ăn, dễ ngủ. Ai dám bảo đây là con người “ Lòng dạ khó lường” ? Nguyễn Đen cũng nhắm mắt, muốn chớp lấy một giấc ngủ con, nhưng đầu óc anh vẫn bề bộn công việc.
                    *        *
*
Giữa mùa mưa năm 1970, để đẩy mạnh tốc độ vận chuyển hàng quân sự cho chiến trường miền Nam, chuẩn bị khẩn trương cho chiến dịch mùa khô trên toàn miền, trước mắt là khu Trị – Thiên – Huế, mà trọng tâm là đường Chín – Nam Lào. Bộ tổng tham mưu quyết định mở một đợt vận tải quân sự lớn là “chiến dịch K2”. Mọi lực lượng giao thông vận tải từ Bắc tới Nam đều được huy động hết ra tuyến, bao gồm lực lượng giao thông vận tải các địa phương, tỉnh, huyện, các binh trạm đường dây, các đơn vị thanh niên xung phong và các đơn vị công binh cầu đường, vượt sông của các Quân khu và của Bộ. Ngoài ra còn huy động nhân dân trên dọc tuyến, chuẩn bị sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống bất trắc xảy ra. Toàn bộ các lực lượng đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ chỉ huy chiến dịch trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.
    Một cuộc họp giao nhiệm vụ và hiệp đồng giữa các lực lượng từ vĩ tuyến 18 trở ra được triệu tập tại Chi Nê, trong một hang đá rộng và đẹp của Quân khu 3, do Bộ Tổng tham mưu chủ trì, có đầy đủ thành phần các Bộ, Tổng cục, Cục có liên quan, đại diện Bộ tư lệnh các Quân khu, đại diện các Uỷ ban nhân dân tỉnh và các Trưởng ty giao thông vận tải trên tuyến chiến dịch , các chỉ huy của các binh trạm và các trung đoàn, sư đoàn công binh, cao xạ, vận tải v.v… Đại uý Nguyễn Đen tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27- tiểu đoàn vượt sông độc lập của Quân khu 3 cũng được dự.
    Trong cuộc họp, mọi người bàn nhiều nhất đến các biện pháp bảo đảm vượt sông băng cầu, bằng phà và việc tổ chức đánh trả máy bay địch một cách tích cực, có hiệu quả. Trên toàn tuyến, người ta đặc biệt chú ý đến tỉnh Thanh Hoá, một trọng điểm đánh phá ác liệt của bọn giặc Ních-xơn lúc bấy giờ nhằm cắt đứt đoạn đầu mút của chiến dịch vận tải quân sự của ta. Từ khi Ních-xơn liều lĩnh đánh phá miền Bắc, liên tục mấy tháng trời bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt và khoa học tối tân, chúng đã đánh hỏng hầu hết cầu cống, kể cả cầu Hàm Rồng, nhiều phương tiện cầu phà bị phá huỷ hoặc hư hỏng nặng. Hướng đường số 1A, giao thông hầu như bị ngừng trệ, hướng đường 59 và đường 15 thường bị gián đoạn, tốc độ vận chuyển giảm sút rất nhiều. Mùa mưa, nước lũ trên các sông tràn về, gây thêm nhiều khó khăn cho các lực lượng giao thông, nước sông Mã có ngày lên cao hai, ba mét chảy xiết như “ ngựa lồng”- đúng như cái tên “sông ngựa” mà ông cha đã gọi – phà không thể qua lại được. Nước sông Chu (sông trâu) bình thường chảy nhẹ nhàng nhưng thỉnh thoảng lại có những con lũ đột ngột dâng cao, mạnh như “ trâu húc” cuốn phăng những nhịp cầu phao chưa kịp cắt, phá vỡ những bè mảng, phao thuyền trôi lênh bềnh khắp sông. Tình hình đoạn đầu mút chiến dịch giao thông này ngày càng khó khăn thêm.
    Tiểu đoàn 27 là tiểu đoàn công binh vượt sông. Trong suốt bốn năm chống chiến tranh phá hoại đợt một của giặc Mỹ, tiểu đoàn hoạt động trên khắp địa bàn Quân khu, đặc biệt là khu vực Thanh Hoá. Chả thế mà không những lực lượng giao thông, mà cả chính quyền và nhân dân địa phương ở đây đã mệnh danh cho tiểu đoàn 27 là “những mũi tên xung kích”, là “lực lượng ứng cứu thần tốc” chiến lược ở khu này. Thật vậy, hễ cứ nơi nào cầu bị tắc, phà bị đắm, bến bãi bị đánh phá là có lực lượng của tiểu đoàn đến ứng cứu ngay. Có chỗ chỉ cần một tuần, có chỗ nửa tháng, có nơi tiểu đoàn trụ lại để đảm bảo giao thông hằng tháng, hai, ba tháng cho đến khi nào trang bị và huấn luyện cho lực lượng địa phương thay thế được mới thôi. Những năm sau chiến tranh, tiểu đoàn thường chỉ làm lực lượng cơ động ứng cứu nhanh chóng, có khi chỉ một đêm tiểu đoàn  hành quân hàng trăm ki-lô-mét, đến bến hạ thuỷ, bắc cầu hoặc ghép phà bảo đảm cho các đơn vị pháo, tên lửa, vượt sông xong lại bốc dỡ và hành quân hàng trăm ki-lô-mét trở về.
    Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh phá hoại lần hai của giặc Mỹ, tiểu đoàn phải làm nhiệm vụ ứng cứu nhiều hơn, vì lần này bọn giặc xảo quyệt, tinh vi hơn, đánh phá ác liệt và gây nhiều thiệt hại về giao thông cho ta hơn.
    Trong chiến dịch K2 này, nhiệm vụ của tiểu đoàn 27, mà Nguyễn Đen đã báo cáo lại trong cuộc họp của Đảng uỷ và thủ trưởng tiểu đoàn là: Do có truyền thống và kinh nghiệm vượt sông giỏi hơn các đơn vị bạn, lại là nơi địa hình quen thuộc, nên tiểu đoàn đựơc trên giao nhiệm vụ bảo đảm những bến đầu cầu: ngoài lực lượng sẵn có, theo biên chế là ba đại đội  cầu LPP, tiểu đoàn phải tổ chức thêm hai đại đội trang bị phà TPP (loại khí tài mới, đơn vị chưa được huấn luyện) để đảm bảo năm bến tuyến đường 59 từ Chi Nê, Nho Quan đến Cổ Tế, sau đó là Cổ Tế, Kiều và Thiệu Hoá, bảo đảm cho xe vận tải các loại, và một tuyến đặc biệt ở đường 15 gồm hai bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn để đảm bảo cho xe tăng hành quân. Ngoài ra tiểu đoàn còn được tăng cường thêm các đại đội pháo cao xạ bảo vệ các bến và trang bị thêm súng 12.7, súng 14.5 để tổ chức các phân đội bắn máy bay bay thấp. Như vậy, đội hình của tiểu đoàn  kéo dài gần 200 ki-lô-mét. Sở chỉ huy tiểu đoàn sẽ ở khu vực bến Cổ Tế là nơi trung tâm chỉ huy hai đầu; cũng là một bến trọng điểm nhất của chiến dịch, vì bến này là điểm đầu mút của Thanh Hoá, lại là ngã ba trọng điểm, một đường theo tuyến 59, một dường rẽ theo Eo Lê lên tuyến đường 15. Ở đây thành lập một “Ban chỉ huy thống nhất” để chỉ huy chung các lực lượng giao
thông, vận tải, cao xạ… do đại uý Nguyễn Đen, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27 là chỉ huy trưởng. Bộ chỉ huy chiến dịch và Quân khu cũng cử những bộ phận chỉ đạo đặc biệt tại khu vực đầu mút này.
    Cuộc họp giao nhiệm vụ ở hang đá Chi Nê mãi đến 17giờ chiều ngày 22 tháng 8 mới xong. Nhưng mệnh lệnh yêu cầu chậm nhất 19 giờ ngày 25 tháng 8 phải thông cầu trên toàn tuyến. Thời gian còn rất ngắn. Chỉ còn có ba ngày tính từ hôm nay. Ngay tối 22 tháng 8, Đảng uỷ và thủ trưởng tiểu đoàn đã họp bàn những biện pháp khẩn trương nhất. Vừa hành quân, vừa tổ chức lực lượng mới, vừa đi lĩnh khí tài, vũ khí, trang bị, vừa huấn luyện bổ sung, nhiều việc phải làm cùng một lúc. Điểm lại số lái xe, thiếu hàng trăm người. Lấy đâu ra ? Trên không có bổ sung kịp. Mấy hôm nay trời lại mưa liên tục suốt ngày, có đại đội làm nhiệm vụ mãi ở cửa sông Hồng cách xa vị trí bến mới trên 250 ki-lô-mét, khí tài bổ sung phải lấy tận Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hoá… Lại nữa, chưa đại đội nào được học khí tài TTP, trước đây thường chỉ trang bị cho các đơn vị của Bộ, nay mới trang bị cho cấp quân khu. Vậy mà tất cả thời gian dành cho chỉ có ba ngày ba đêm kể từ lúc tiểu đoàn trưởng nhận lệnh xong.
    Liệu tiểu đoàn có thể hoàn thành nhiệm vụ theo đúng mệnh lệnh được không? Cuộc họp Đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng bàn bạc tranh luận sôi nổi, gay gắt và căng thẳng kéo dài đến nửa đêm vẫn chưa xong…
Chỉ có ba ngày! Một kỷ lục.
Một kỷ lục – một nhiệm vụ mà kẻ yếu bóng vía có thể choáng váng. Các cầu cống nơi đây đều đã bị bọn Mỹ đánh hỏng hết. Các phương tiện cầu, phà, cũng đã bị phá huỷ hoặc hư hại khá nhiều, ở hướng đường 1A, giao thông gần như đã bị đình trệ từ trên nửa tháng nay. Hướng đường 59 và đường 15 bị bom ác liệt, tốc độ vận chuyển cũng đã giảm xuống chỉ còn một nửa…Lại đang mùa mưa. Tân binh thì nhiều, khí tài bắc cầu mới do Bộ cấp cho, chưa hề được huấn luyện, cả tiểu đoàn chỉ có hai cán bộ trung đội là võ vẽ ít nhiều về loại cầu phà này. Đó là chưa kể đội ngũ lái xe đang rất thiếu. Nguyễn Đen đã chủ động cho tập trung 50 chiến sỹ để tiểu đoàn tự đào tạo. Anh em học chưa xong. Tình hình này chắc phải “dỡ non”, mạnh dạn tung họ vào nhiệm vụ. Vừa làm vừa học tiếp thôi. Hơn nữa tiểu đoàn đang đóng rất phân tán. Có đại đội hiện nay còn đang cách Cổ Tế- bến trọng điểm mà tiểu đoàn phải trực tiếp chỉ huy – những 250 ki-lô-mét. Làm sao nội trong đêm nay có thể điều động họ về tới địa điểm tập kết được?
Tất cả những chuyện đó đã làm cho Nguyễn Đen muốn thắt cả tim lại. Cũng vì thế mà cuộc họp của đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng đã phải làm việc hết sức khẩn trương và cũng căng thẳng chưa từng thấy. Họp xong là phải đứng dậy đi liền. Ba ngày ! Ba ngày!... Làm sao chỉ trong có ba ngày mà tất cả bằng ấy công việc đều phải được thu xếp, giải quyết thắng lợi?...

CHUYỆN TRONG HANG ĐÁ
   
Có một chi tiết nữa trong cuộc họp ở hang Chi Nê chiều 2 tháng 8 mà Nguyễn Đen không muốn kể lại trong cuộc họp Đảng uỷ tiểu đoàn. Khi phân chia nhiệm vụ ở điểm đầu mút thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hoá, đồng chí đại tá Lê Nam Thắng thay mặt bộ tổng tham mưu hỏi thượng tá Nguyễn Đoan phó tư lệnh công binh :
    - Ở khu vực đầu mối này có ba lực lượng. Của bộ tư lệnh công binh có một trung đoàn - trung đoàn 49, của quân khu có một tiểu đoàn – tiểu đoàn 27 và lực lượng của Ty giao thông Thanh Hoá. Lực lượng Ty giao thông Thanh Hoá là lực lượng tại chỗ phối hợp với chủ lực. Chủ lực anh định giao cho các đơn vị bến nào trong số 7 bến chủ yếu này? - Ông cầm gậy chỉ huy chỉ lên bản đồ và đọc:
    - Bến Chi Nê, bến Nho Quan thuộc Hoà Bình do quân khu tự lo, trước là 27 lo, còn bến Cổ Tế, Kiểu, Thiệu Hoá, Cẩm Thuỷ, Mục Sơn. Đặc biệt bến Cổ Tế là điểm đầu mút ác liệt nhất. Vậy là chúng ta có một trung đoàn và một tiểu đoàn bằng bốn tiểu đoàn sẽ phân chia mỗi tiểu đoàn một bến, trong đó có một tiểu đoàn phải phụ trách hai bến có phải không? - Ông hất đầu về phía Nguyễn Đoan.
    Thượng tá Nguyễn Đoan lại liếc nhìn về phía trung đoàn trưởng 49 và tiểu đoàn trưởng 27 và hỏi:
    - Đơn vị nào nhận bến nào, nào?
    Trung đoàn trưởng 49 lặng im không nói; Nguyễn Đen chỉ chờ cho quân chủ lực, quân đàn anh nói trước – Nhưng hội nghị vẫn im lặng.
    Một lát đại tá Lê Nam Thắng lại nhắc:
    - Sao ? Việc này giao anh Đoan phân bổ nhiệm vụ cụ thể theo khả năng từng đơn vị cho hợp lý.
    Thượng tá Nguyễn Đoan ngồi cạnh Nguyễn Đen nên nói nhỏ với Nguyễn Đen:
    - Các cậu có nhiều kinh nghiệm chứ 49 còn yếu lắm, không thể bằng quân các cậu được đâu.
    “ Hả, quân triều đình mà lại yếu hơn quân địa phương à?”
    Đen bỗng bật lên câu hỏi thầm trong lòng và nhìn về phía trung đoàn trưởng 49 – Nhưng trung đoàn trưởng 49 vẫn ngồi thừ ra, lặng im không nói.
    Mọi người đều hiểu rằng bến Cổ Tế là đầu mút ngã ba đường, sẽ là nơi gay go, ác liệt nhất: Đại tá Lê Nam Thắng lại hỏi:
    - Sao? Đơn vị nào xung phong đảm nhận bến nào?
    Ông ngước nhìn trung đoàn trưởng 49 – Quân triều đình phát biểu trước nào?
    Trung đoàn trưởng 49 vẫn chưa nói, phó tư lệnh công binh cũng còn đang tính toán ngập ngừng.
    Giữa lúc ấy, Nguyễn Đen lên tiếng:
    - Tôi đề nghị trung đoàn 49 đảm nhận bến nào, còn bến nào tôi xin nhận hết.
    Hội nghị bỗng vỡ oà ra. Một anh chàng đại uý mà dám nói mạnh như vậy có hợm mình không?
    Lúc này thượng tá Nguyễn Đoan mới dám nói:
    - Theo kinh nghiệm và truyền thống của tiểu đoàn 27 trong những năm qua lập được nhiều chiến công, thành tích nhất. Căn cứ vào khả năng chỉ huy của tiểu đoàn, theo ý tôi giao cho tiểu đoàn 27 gồm ba bến Chi Nê, Nho Quan, Cổ Tế.
    Còn trung đoàn 49 giao cho hai bến Kiểu và Thiệu Hoá.
    Phó chủ tịch Thanh Hoá - Nguyễn Ngọc Bích đứng lên nói:
    - Riêng bến Thiệu Hoá hiện đang có  cầu tre luồng của Ty giao thông cho nên trung đoàn 49 chỉ là lực lượng dự bị, khi cần thiết thì mới phải ứng cứu.
    Đại tá Lê Nam Thắng nói:
    - Hoan hô tiểu đoàn 27, hoan hô Thanh Hoá. Trung doàn 49 chỉ còn một bến Kiểu thôi à? Vậy còn hai bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn bảo đảm cho xe tăng nữa. Ông hất hàm hỏi phó tư lệnh công binh Đoan.
    Trung đoàn trưởng  49 lúc này mới nói:
    - Báo cáo, trung đoàn 49 chỉ còn đủ khí tài bắc cầu bến Kiểu thôi ạ! Chúng tôi xin nhận bến Kiểu ạ!
    Nguyễn Đoan hỏi Nguyễn Đen :
    - Các cậu có bảo đảm cho tăng ở Cẩm Thuỷ và Mục Sơn được không?
    - Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi chỉ có LPP thôi làm sao bảo đảm được, mà lực lượng thì chỉ có ba đại đội bảo đảm ba bến được thôi ạ.
    - Ừ nhỉ? Khó khăn thật. Nguyễn Đoan ghé tai hỏi nhỏ một cán bộ đi theo. Mình còn bao nhiêu TPP. – Anh cán bộ trả lời là còn dự trữ một nửa bộ nữa. Nguyễn Đoan liền nói tiếp:
    - Hay là thế này. Ông hướng về Nguyễn Đen. Bộ sẽ cấp cho các anh đủ hai phà TPP để anh đảm bảo cả hai bến nữa.
    - Nhưng còn lực lượng?
    - Thì tổ chức thêm hai đại đội nữa. – San sẻ lực lượng nòng cốt ra rồi bổ sung quân mới vào.
    - Nhưng còn huấn luyện? Quân tôi đã biết gì về phà TPP đâu?
    - Thì tranh thủ vừa làm vừa học vậy. Câụ thông cảm, quân của Bộ đã tung ra hết cả rồi, mà còn bị sa lầy ở nhiều nơi. Chỉ có các cậu mình mới tin tưởng được. Chứ giao cho chúng nó (ý nói trung đoàn 49) thì không thể làm được. Thôi cố gắng lên, giúp Bộ tư lệnh phá gỡ khó khăn này, chiến trường đang khẩn trương. Động viên anh em cố gắng làm. Bộ tư lệnh tin tưởng ở các cậu.
    Nguyễn Đen còn biết nói gì hơn trước lời lẽ của phó tư lênh binh chủng. Một con người hiền lành chất phác mà anh đã cảm phục từ lâu.
    - Vâng chúng tôi sẽ cố gắng.
    Trên đường về Nguyễn Đen bỗng nhiên suy nghĩ: Thế là mình tự buộc cổ mình rồi. Biết làm sao đây? Anh vừa đi vừa nhanh chóng tính toán, biết bao công việc cần phải làm khẩn trương, gấp chỉ trong ba ngày. Nhưng cũng phải phân loại ra việc gì làm trước, việc gì làm sau.
    Xe vừa về tới đơn  vị anh vội vàng mời Chính trị viên Trần Huy Tiệm về hội ý và thông báo triệu tập họp Đảng uỷ ngay trong đêm nay, kịp gọi các đảng uỷ viên từ xa về gấp.
    Và suốt đêm 22 tháng 8 Đảng uỷ tiểu đoàn đã kịp thời ra được một nghị quyết sáng suốt. Việc tiểu đoàn 27 ra quân đợt này trong chiến dịch K2 với muôn vàn khó khăn và thử thách.
Chỉ có ba ngày, phải tiến công! Cuộc họp Đảng uỷ mở rộng kết thúc lúc năm giờ sáng. Mọi người oà ra xe, xe nổ máy rồn vang về các ngả đường, bến sông.
                           *        *
                                                            *
Chưa bao giờ, trong suốt cả cuộc đời chiến đấu của mình, Nguyễn Đen phải đứng trước một con toán khổng lồ và hóc búa như lần này.
Tuy vậy, sau cuộc họp đảng uỷ tiểu đoàn Nguyễn Đen cũng có thể yên tâm được nhiều điều. Giờ đây, trong đầu óc anh nếu có gì vẫn còn nặng nề thì dường như lại là một chuyện khác: ấy là sự xuất hiện của Thượng uý Cao Thành, một cán bộ quen biết cũ. Cách đây tám năm, khi Nguyễn Đen là đại đội trưởng, Cao Thành cũng là một cán bộ trung đội, tuy không cùng một đại đội, nhưng cùng một tiểu đoàn công binh của quân khu. Cao Thành đã được cử vào Nam làm trợ lý công binh, sau đó xuống đơn vị một thời gian. Nay do sức yếu anh được trở ra Bắc, làm trợ lý trên cơ quan tham mưu của Bộ tư lệnh quân khu. Nguyễn Đen thỉnh thoảng lên họp, do đó hai người đã gặp lại nhau. Nhưng không ngờ, ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên, Nguyễn Đen đã có cảm giác không vui. Hoàn toàn trái ngược với sự mừng rỡ thực sự của anh, người cán bộ quen biết cũ này đã tiếp anh bằng một sự lạnh nhạt và luôn luôn nhìn vào bộ quân hàm Đại uý trên ve áo của anh với cặp mắt khinh thị: “Đại uý rồi cơ à? Anh mà cũng đã lên đại uý? Bằng ấy năm ăn sung mặc sướng an toàn ở miền Bắc, mà anh cũng lên được đại uý?”. Dường như Cao Thành chỉ thiếu nói hẳn ra điều ấy. Đến khi được đồng chí tư lệnh vui vẻ giới thiệu Nguyễn Đen là một sĩ quan trí thức đáng quý, kiên nhẫn học tại chức sau đó được đưa đi học thêm đã tốt nghiệp hai bằng kỹ sư trong hai năm liền. Một bằng kỹ sư cầu đường, một bằng kỹ sư cơ khí ô tô, máy kéo….”, thì đôi mắt Cao Thành trố hẳn ra. Anh lặng đi một lúc rồi nhếch mép cười: “Bằng cấp cũng quý thật. Nhưng tất cả đều phải qua thử thách lửa máu đã anh ạ”. Đến lượt đồng chí tư lệnh phải nhướng cặp mắt lên. Có lẽ anh không thể nào hiểu nổi thái độ của Cao Thành.
Từ đó, mỗi lần gặp nhau, sự lạnh nhạt giữa hai người càng rõ rệt và sâu sắc thêm. Cái nhìn của Cao Thành không chỉ khinh thị mà còn tỏ ra tức giận nữa.
Mặc dầu Nguyễn Đen vẫn cố giữ thái độ thân mật, kể cả kính trọng (anh thực sự quý trọng những người đã từng tắm trong máu lửa chiến trường miền Nam ác liệt, gian khổ), nhưng cuối cùng lần nào giữa hai ngườicũng xảy ra một vài câu hoặc một vài ý ít nhiều khác biệt và thường dẫn tới thái độ ít nhiều gay gắt.
Chính vì vậy từ nửa năm nay, Nguyễn Đen đã tìm đủ mọi cách để lánh mặt người cán bộ quen biết cũ ấy. Tính anh vốn không ưa chuyện “đấu đá”, mặc dầu trong cuộc đời đôi khi bị dồn tới thế không thể lùi được; anh cũng biết thế nàolà tự vệ, chứ không đến nỗi là kẻ nhu nhược hoặc ngu hèn…
Vậy mà hôm nay Cao Thành lại xuất hiện trong đoàn cán bộ của quân khu khi tiểu đoàn 27 đã được giao trách nhiệm ở đoạn đường xung yếu nhất, anh ta đã chất vấn Nguyễn Đen rất nhiều điều, như một vị tư lệnh chất vấn cấp dưới. Thôi cũng được, nếu như tất cả những câu hỏi đấy đều thuộc về kĩ thuật như “Hai bộ phà mới T.P.P., các anh chưa học, làm thế nào để sử dụng được ngay?”-“Các anh báo cáo là tiểu đoàn đang đóng rất phân tán, có đại đội ở xa những 250 ki-lô-mét làm thế nào để về kịp?” – “Các anh báo cáo là lái xe thiếu, sẽ phải “dỡ non” lớp đang đào tạo liệu có đảm bảo an toàn?”. Vân vân và vân vân…Nhưng cuối cùng anh ta lại hỏi thêm: “Các anh đảm bảo sẽ đúng thời gian, và an toàn tuyệt đối, không bốc đấy chứ?”. Câu hỏi đã làm cho Nguyễn Đen phải đỏ mặt lên. Không thể nhún nhường được mãi, Nguyễn Đen buộc phải đáp lại: “Xin anh cứ chờ xem rồi hãy xét đoán một thể cũng không sợ muộn!”. Tưởng như hai lưỡi kiếm cùng rút ra khỏi vỏ. May thay, mọi chuyện cũng lại qua đi…
Nhưng dẫu sao cho đến lúc này, ngồi trên xe mà trong lòng Đen vẫn còn thấy cộm lên một cái gì đó không vui. Anh thở dài nhẹ nhẹ. Anh không thích gì hơn là được thanh thản trong lòng để làm việc, và rất thích sự ân cần, vui vẻ của anh em chung quanh. An nhàn ư? Tiếng tăm ư? Cấp bậc ư? Cũng như mọi người khác, anh không phải thần thánh gì mà không có những lúc nghĩ tới cái gì đó, nhưng quả thật anh chưa bao giờ coi đó là những mong muốn cao nhất của đời mình.
Mưa, mưa vẫn lai rai. Ngoài trời vẫn tối mù, chỉ trừ hai vệt đèn pha chiếu sáng ở phía trước với những giọt mưa láp loáng bay, hàng cây hai bên đường rũ rượi, ướt át và một sự hoang vắng như từ một thủa hoang sơ xa xôi nào đang chế ngự nơi đây.
Đoàn Liễu cựa mình tỉnh dậy. Anh hỏi mấy giờ rồi, sau đó bất chợt hỏi tiếp:
- Này ông Đen, ông có biết vì sao hôm nay cái lão Cao Thành nó vặn vẹo nhiều thế không?
Nguyễn Đen đáp lấp lửng:
- Không! Không rõ lắm.
Đoàn Liễu cười ranh mãnh:
- Nó ỷ thế tư lệnh phó quân khu là chỗ quen biết cũ với nhau đấy mà. Lúc giải lao tôi có nghe nó nói thế này: “Cậu Nguyễn Đen trước đây được anh Cúc Tư lệnh phó cũ quá tin, quá đề cao. Bây giờ anh Cúc đi rồi, anh Nhiệm mới về thay, vì chưa rõ tình hình lắm nên anh Nhiệm mới tạm sử dụng vậy thôi!”.
Nguyễn Đen nhíu lông mày:
- Thế là…. nghĩa thế nào?
Đoàn Liễu cười to:
- Có nghĩa là nó bảo: Ông Cúc là “ô” của ông đi rồi. Bây giờ cần phải…. đánh  lại ông.
Nguyễn Đen thở hắt ra một cái. Anh không khỏi lặng người. Thì ra lại có cái chuyện vớ vẩn “ô, dù” này nữa ư? Sao chuyện đời quá phức tạp làm vậy? Nguyễn Đen làm gì có “ô”, có “dù” nào. Đối với anh, hết sức rõ ràng và minh bạch: phục tùng tất cả mọi người mọi đồng chí chỉ huy lãnh đạo cấp trên, không phân biệt bất cứ ai và làm việc hết mình. Có vậy thôi! Trong dầu óc Cao Thành sao lại có những ý nghĩ xấu thế nhỉ? Nhưng, nếu như Đoàn Liễu tinh quái đã thấy đúng, thì…sao? Trời ơi! Ngày rời ghế nhà trường để vào quân đội, trước mặt anh chỉ toàn thấy những hoa hồng và cuộc sống xung quanh sao mà tuyệt vời, sao mà cao cả đến mê say…
Từ lúc đó, cái gì nằng nặng trong đầu óc Đen càng như thêm nặng và có phần nhức nhối. Anh cố xua đuổi mọi ý nghĩ rắc rối đi, cố quên tất cả, ngoài công việc trước mắt: phải hoàn thành nhiện vụ, một nhiệm vụ hết sức phức tạp, khó khăn đang đòi hỏi  bọn anh phải căng sức, căng óc ra. Tóm lại là phải làm việc, phải chiến đấu hết mình, không được một phút giây chậm chễ, lơi lỏng, càng không được mảy may lo sợ, dao động!…
    Đôi môi mím lại, cặp mắt nhìn thẳng phía trước, mặt bừng bừng nóng, lát sau Nguyễn Đen mới khẽ thốt lên, như với chính anh:
    - Không có chuyện gì hết. Mặc nó. Phải làm việc đã!
    Cũng như toàn tiểu đoàn đã rất thuộc tính Nguyễn Đen, khi nghe thấy giọng nói của tiểu đoàn trưởng này thoắt như khô rắn lại, và gương mặt anh bừng bừng như lên cơn sốt, thì Đoàn Liễu hiểu rằng: Nguyễn Đen đã quyết vào trận. Và đã vào trận là anh sẽ quên hết, dám vứt hết tất cả mọi cái gì gọi là riêng tư, kể cả những chuyện lặt vặt, vớ vẩn trong đơn vị. Nguyễn Đen là con người biết tập trung sức lực cũng như dám tập trung sức lực để chiến đấu. Những lúc đó,dù nhiều khi trong thâm tâm không thích Nguyễn Đen vì chuyện này chuyện khác, Đoàn Liễu cũng phải thầm chịu: Con người này quả thật trong sáng và tích cực, không thể phủ nhận hoặc dễ dàng bôi bác.

NHỮNG TAY LÁI “DỠ NON”

    Một lúc sau, chiếc xe nhỏ đã vượt hết con đường đất lầy lội, ra tới quốc lộ một. Cũng đúng lúc ấy,cả Nguyễn Đen, cả Đoàn Liễu bỗng nhổm lên, nhô người về đằng trước, mở to mắt ra. Cậu lái xe cũng đột nhiên bật reo như một chú bé bắt được một chú chim non:
    - Ô! Kia rồi! Cánh nhà mình kia rồi!
    Trên quốc lộ một, một đoàn xe chở các khí tài cầu phà của công binh đang nối đuôi nhau ầm ầm chạy, gần như là một đoàn xe lửa dài dằng dặc đang chạy ngang qua, chắn hết cả con đường phía trước.
    - Đúng! Anh em ta! – Nguyễn Đen, đôi mắt bật sáng, mở tung cửa xe, khoác áo mưa nhào xuống. Lòng anh tràn ngập vui sướng. Anh giơ cao tay vẫy vẫy, nói như thét lên:
    - Hoan hô 27! hoan hô các chiến sỹ lái xe 27!
    Từ trong ca bin những chiếc xe tải đồ sộ, gần như tất cả những gương mặt đều ló ra ngơ ngác nhìn, ánh đèn pha đã soi rõ người đang đứng ở ngã ba đang vẫy chào và hoan hô họ là ai. Lập tức những tiếng reo, tiếng hô đáp lại râm ran cả một quãng đường, hoà lẫn tiếng xe máy gầm gào rung chuyển .
    - Hoan hô tiểu đoàn trưởng!
    - Xin cứ tin tưởng ở chúng em!
    - Bảo đảm an toàn tuyệt đối! Tiểu đoàn trưởng cứ yên tâm!
    Nguyễn Đen chạy tới sát từng chiếc xe. Anh siết chặt những bàn tay thò ra – Những bàn tay nhỏ nhắn, chưa nhiều chai sẹo, những bàn tay em út.
    - Cẩn thận! Dẫu sao vẫn phải hết sức cẩn thận tập trung tư tưởng vào tay lái đấy!
    Một chiếc xe bỗng dừng lại, cửa xe mở, một bóng người nhảy xuống, đứng nghiêm lại, giơ tay lên vành mũ sắt:
    - Báo cáo, tôi Nguyễn Đức Thắng, đại đội trưởng đại đội ba…
    Nguyễn Đen giơ tay lên đáp lễ, rồi nhào lấy ôm chặt Nguyễn Đức Thắng, quay tròn:
    - Các cậu cừ quá! Tôi đang lo…
    - Báo cáo anh, đúng năm giờ chiều nhận được điện lệnh của tiểu đoàn, chúng tôi ra quân ngay…
    - Lúc ấy, chúng tôi chưa họp đảng uỷ tiểu đoàn, nhưng cứ lệnh điều quân đã, kẻo không kịp. Điện văn tắt quá, tôi cứ lo các ông không hiểu hết tầm quan trọng.
    Nguyễn Đức Thắng ngửa người ra cười vang:
    - Báo cáo, đã quá thuộc cách điện của thủ trưởng rồi. Cứ thấy những từ tức khắc và nghiêm chỉnh là bọn tôi biết ngay việc lớn, việc khẩn cấp loại một. Thế là, dù có bão, có lụt, cũng phải lên đường…
    Nguyễn Đức Thắng trở lại xe. Các chiến sĩ lái trẻ vừa được “dỡ non” đang tiếp tục cuộc diễu hành kỳ diệu và lịch sử của đời lính công binh của họ: chuyến xe đầu tiên trong đời đi làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông, vận tải đánh Mỹ.
    Nguyễn Đen vẫn đứng như say. Đoàn Liễu ngại mưa nhưng rồi không thể ngồi yên trên xe được nữa, cũng chạy xuống. Hai người đứng ngắm mãi đoàn xe. Tốc độ đẹp quá, cự li cũng đẹp quá! Ai dám bảo đây là các chiến sĩ lái xe chưa học trọn khoá học? Nguyễn Đức Thắng vừa nói tới bức điện. Nhưng thật ra đâu chỉ vì một bức điện khẩn! Ngay từ khi họ khoác tấm áo lính, còn như một chú bé lớ ngớ bước vào tiểu đoàn, Nguyễn Đen cùng toàn thể cán bộ chỉ huy ở đây đều đã biết phải làm những gì để giúp đỡ họ; trước hết là làm cho họ ý thức được thật sâu sắc trách nhiệm của mình, sâu sắc đến mức mọi nhận thức đã chuyển thành tình cảm. Họ đã biết vui từng cái vui nhỏ của đơn vị, biết lo tới cả những nỗi lo lớn của tiểu đoàn, của đảng bộ. Họ đã cùng tất cả cán bộ các cấp trong tiểu đoàn trở thành một thể thống nhất. Đúng vậy, tất cả đã biết lo, biết tính, biết làm ngay từ đầu, từ ngày họ vẫn còn như những tờ giấy trắng…
    Nguyễn Đen và Đoàn Liễu cùng trở lại xe của mình. Anh bảo cậu lái xe lách lên, vượt đoàn xe vận tải khí tài của Nguyễn Đức Thắng để tranh thủ tới  Cổ Tế trước.
    Lần này, ngồi trên xe khác với cách đây nửa giờ lúc mới ra đi, Đen thấy lòng mình khá yên ổn . Quyết tâm của anh (vừa cấp tốc hành quân, vừa cho một bộ phận đi lĩnh khí tài mới T.T.P., vừa triển khai, tổ chức lực lượng…) được đảng uỷ, tiểu đoàn hoàn toàn nhất trí, đã bước đầu tỏ ra có hiệu lực.
    - Chỉ còn lo nhất cái “xê” Trần Đằng đang còn ở tít cửa sông Hồng, liệu sáng mai có về kịp Cổ Tế không? - Đoàn Liễu cũng không nén khỏi sự mừng rỡ, cất tiếng nói như vậy.
    - Tôi tin là được. Cậu Đằng vẫn giỏi về môn cơ động. Mà thằng cha này thật là tinh ranh, cái quái gì nó cũng làm được.
    - Còn cậu Như “xê” phó di lĩnh T.T.P nữa…
    - Đã cho cả cậu Luận “bê’ trưởng biết về T.T.P đi giúp sức! Cũng không đáng lo lắm.
    Nguyễn Đen nhắm mắt lại để hình dung ra toàn cảnh của tiểu đoàn trong giờ phút này, trong đêm khuya mưa gió, lầy lội, cùng một loạt lên đường ra quân để gấp rút bước vào chiến dịch vận chuyển lớn lao nhằm chi viện cho miền Nam đánh thắng. Trong đầu óc anh hiện lên rõ ràng từng khuôn mặt: này Nguyễn Đức Thắng, này Trần Đằng, này Hoàng Anh Tự… này các chiến sĩ lái xe, này các chiến sĩ ca-nô, các chiến sĩ cầu phà… Tất cả đều quen thuộc. Tất cả đều thân yêu. Những người chiến sĩ công binh ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng thế, vẫn như là những tảng đá câm lặng – nhưng là những tảng đá mưa không mòn, nắng không chảy – Những tảng đá chìm dưới bùn non, lót đường cho xe ra phía trước đánh giặc – Những tảng đá được ghép lại với nhau thành tường thành, thành lô cốt vững bền nơi bờ biển, ngoài hải đảo, trên non cao… để góp phần chở che Tổ quốc. Những tảng đá khi cần, và có thời cơ, cũng trực tiếp giáng vào đầu giặc, tiêu diệt giặc góp phần vào chiến thắng chung của đất nước… Những tảng đá cần thiết biết bao và cũng đơn giản làm sao ! Nguyễn Đen đã từng chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp. Đã hơn hai mươi năm làm lính công binh, trải đủ mọi nỗi nhọc nhằn, mọi điều hiểm nguy ghê ghớm, cũng như mọi niềm vui, mọi vinh dự đã dành cho những người lính cách mạng khi hoàn thành nhiệm vụ. Giờ đây nếu có ai hỏi anh: muốn đi đâu không? thì Đen sẽ trả lời không cần phải suy nghĩ “ Không! Chỉ trừ khi Đảng cần tôi đi đâu thì tôi sẵn sàng tới đó”. – Công binh! Những người lính chân chất, vai trĩu nặng khí tài, những người lính suốt đời tắm trong mồ hôi, và lắm khi cả máu tươi. những người lính “thổ, mộc” suốt đời tận tuỵ, âm thầm, suốt đời trung thành với sự nghiệp của Đảng và coi đó cũng là sự nghiệp của chính mình…
    Nguyễn Đen xoè bật lửa mồi một điếu thuốc, rít từng hơi dài. ánh lửa soi hồng gương mặt anh. Đoàn Liễu liếc nhìn thấy một nét gì như sung sướng và quả quyết trên khuôn mặt ấy.
    Bản thân mình, Nguyễn Đen cũng cảm thấy dễ chịu, tỉnh táo. Anh đã quên bẵng câu chuyện Cao Thành vừa làm cho đầu óc anh bận rộn và thoáng nhức nhối.
    Trời tờ mờ sáng, mưa đã tạnh. Một buổi sáng nhợt nhạt, đẫm hơi nước nặng nề trên đồng bằng Bắc Bộ. Đã nhìn thấy một cây biển gỗ siêu vẹo ở bên đường chỉ bến phà Cổ Tế.











CHƯƠNG II
CÔ GÁI TRẠM CHẮN XE


Rồi dòng sông đã hiện ra trước mặt. Một làn nước trắng đục mênh mông, cuồn cuộn. – Những cơn mưa đã dồn lũ về đây rồi! – Nguyễn Đen nhíu lông mày thầm nghĩ. Thấy ba-ri-e trên bến  mở Nguyễn Đen giục cậu lái xe chạy thẳng xuống bến. Bỗng có tiếng còi ré lên, và giọng một người con gái quát to:
    - Xe dừng lại!
    Rồi tiếp:
    - Nguy hiểm đấy, quay lại đã!
    Nguy hiểm! Có lẽ cô gái nào đó không biết rằng mình đang doạ dân công binh. Một chuyện như quá thừa. Nhưng dẫu sao, vì tôn trọng luật lệ, Nguyễn Đen vẫn vỗ vai cậu lái xe bảo lùi lại.
    Một cô gái mảnh dẻ từ trong gian nhà hầm nửa chìm, nửa nổi chạy ra. Một bên tay đeo băng đỏ, vai khoác tiểu liên, cô đeo chiếc còi nhỏ, tóc búi gọn, quần xắn tới gối, cô gái vừa có vẻ khoẻ mạnh, cứng cỏi, lại vừa có vẻ duyên dáng. Nguyễn Đen bỗng mở to mắt ngờ ngợ.
    Anh nhảy vội xuống xe:
    - Chinh! Cô Chinh phải không?
    Cô gái cũng ngạc nhiên, tiến lại. Rồi cô bỗng reo lên như một đứa trẻ:
    - Ối anh Đen! Anh Đen! Sao lại gặp anh ở đây thế này? Lạ quá! Thật không ngờ. Em cứ tưởng anh đi B dài từ hồi ấy rồi…
    Tuy vậy cô đã vội ngắt sự mừng rỡ bồng bột của mình lại:
    - Nhưng, nhưng mà các anh đi đâu? Đang giờ cao điểm. ở đây chúng nó hay đánh lúc sáng sớm lắm. Các anh cho xe núp dưói bóng cây kia, rồi vào nghỉ, chờ các đài quan sát báo đã…
    Quả nhiên, khi Nguyễn Đen, Đoàn Liễu và cậu lái xe vừa nhảy ra khỏi xe thì kẻng báo động vang lên râm ran khắp bốn bề. Cũng lạ, lúc mới tới nhìn bến phà này hoang vắng đến thế, tưởng như không một sinh vật nào còn sống ở bến sông này, ai ngờ dấu kín ở đâu đây, khắp chỗ dưới đất, dưới từng ngọn cỏ, dưới từng quãng sông là bao nhiêu con người vẫn ngày đêm tỉnh táo…
    Thế rồi ào ào một tốp máy bay Mỹ lao tới như những làn gió quỷ quái đen xì. Dường như đã quá quen với bến phà này rồi, chúng không cần phải lượn, không 4cần phải quan sát, tính toán gì nữa, lướt tới là đáp bom xuống liền. Một loạt 4 trái bom nổ chuyển đất, khói lửa bùng lên nơi đầu bến phà. Nước sông dội lên thành những cột nước trắng xoá, cao ngất.
    Nguyễn Đen quay lại nhìn Chinh, thầm cám ơn cô. Và lúc này anh mới để ý thấy Chinh đã già, nhan sắc cũng đã giảm so với năm 1966, khi cô còn ở đội thanh niên Xung phong ở bến cầu Đò Lèn – Thanh Hoá… Năm ấy, đơn vị Nguyễn Đen cũng phục vụ ở đó, anh hãy còn là một tiểu đoàn phó. Năm ấy Chinh đẹp và nổi tiếng cả một vùng từ Đò Lèn về tới Thanh Hoá. Không một lái xe nào chạy đường trường qua đây mà không biết Chinh và mê Chinh. Không một anh lính nào, dù công binh, dù cao xạ, dù đặc công nước…. ở quanh đó là không tìm dịp để ít nhất một lần được gặp Chinh. Và đã gặp một lần thì cũng như các anh lính “xế’, tất cả lính các binh chủng cũng đều yêu Chinh. Nhiều anh mê say đến khốn khổ. Nhiều vụ mất đoàn kết nội bộ cũng chỉ vì Chinh.
    Nguyễn Đen cũng thuộc số cán bộ trẻ đã thực sự yêu Chinh. Nhưng cũng như nhiều người có lòng tự trọng, anh đã biết ghìm mình lại để không lao vào cuộc tình duyên một cách “vô điều kiện”. Là bởi khi ấy Chinh đã cho mọi người biết rõ: Cô đã có người yêu là bộ đội đi Nam từ năm 1961, và cô đang kiên nhẫn thuỷ chung chờ đợi…
    Sau sáu tháng ở Đò Lèn, Nguyễn Đen cùng đơn vị đã lặn lội đi khắp nơi. không ngờ sau 5 năm mới gặp lại nhau.
    Trong khi Đoàn Liễu, vị chỉ huy phó đã nổi tiếng háu gái của tiểu đoàn cứ ngồi thần ra ngắm nhìn Chinh, Nguyễn Đen cùng cô ôn lại những kỷ niệm cũ một cách cảm động.
    - Thế bây giờ… Cô Chinh đã lập gia đình chưa? Mấy cháu rồi?
    Gương mặt Chinh thoắt như có một áng mây buồn:
    - Chưa anh ạ! Em vẫn…
    - Sao ? - Nguyễn Đen ngạc nhiên.
    Cúi đầu, lặng đi một lúc, Chinh mới ngẩng lên, lần này đôi mắt cô vẫn sáng nhưng đã lạnh đi một cách rất lạ. Cô nói bình thản và gần như lạnh lùng:
    - Anh Đen ạ! Anh Bìa người yêu đầu tiên của em như các anh đã biết, đi B, đã hy sinh rồi. Sau đó hai năm em đã gặp và yêu một anh ở tên lửa. Nhưng rồi anh ấy cũng lại hy sinh trong một trận bảo vệ Hàm Rồng. Và gần đây em lại yêu một anh lái xe Trường Sơn. Nhưng hồi đầu năm, em lại nhận được tin anh ấy cũng hy sinh rồi!
    Đen sững sờ. Đầu óc anh rung lên. Anh nhìn Chinh. Anh muốn cầm lấy tay Chinh khóc lên, để chia sẻ nỗi đau cuộc đờingười con gái trong cuộc chiến đấu này, gia đình Đen cũng mất đi một người anh. Đó là một chiến sĩ hải quân chuyên vượt biển đưa người, đưa vũ khí và thuốc men vào Nam. Mới chỉ một sự mất mát ấy, Đen đã cảm thấynhiều lúc mình như già đi. Vậy mà! Cả ba đều là bộ đội. Ba anh bộ đội đều rất trẻ, đều đang yêu tha thiết…
    Đen nén mình lại, cố tìm một câu nói đùa cho không khí đỡ đau khổ.
    - Vậy hẳn bây giờ cô sợ bộ đội rồi lắm hả ?
    Chinh buồn bã: `
    - Với người lạ, em sẽ nói là: không. Nhưng với anh, em nói thực: cũng hơi ngài ngại rồi đấy!
    Nhưnng rồi cô bỗng bật cưòi thành tiếng, và trên khuôn mặt rám nắng, thoáng những vết nhăn của tháng năm dãi dầu khổ cực, bỗng ửng lên một màu hồng. Cặp mắt Chinh liếc nhanh:
    - Nhưng nói vậy thôi, bây giờ có anh bộ đội nào hỏi chỉ cần một câu, em sẽ bằng lòng lấy liền.
    Rồi trở lại nghiêm trang, cô thở dài:
    - Đời em như sinh ra là để... Nguyễn Đen lại im lặng ngắm nhìn. Lúc này anh như thấy cô trẻ đẹp như xưa. Trước mặt anh là hiện thân của một sức sống, một lẽ sống mới, và phải chăng cũng vì lẽ sống ấy mà chính cô và cả anh đã từng dám xông vào mọi chỗ khó khăn, ác liệt…
Lát sau, không tiếp tục câu chuyện được nữa, Nguyễn Đen phải ra bến cùng Đoàn Liễu quan sát, nghiên cứu thực địa, cùng mọi vấn đề khác có liên quan, như lưu tốc, khí hậu, khí tài, phương tiện tại chỗ, cuối cùng là tình hình nhân dân và mọi quy luật hoạt động của địch…
Chinh cho biết nhà cô ở gần ngay bến. Đây là chính quê của cô. Đen rất mừng. Anh tin là sẽ có nhiều dịp gặp gỡ và nói chuyện với Chinh.
Bước ra khỏi căn nhà hầm, Nguyễn Đen và Đoàn Liễu cùng có một nhận xét: Đường xuống bến phà chật chội và lầy quá, sẽ gây không ít trở ngại cho công việc của đơn vị. Vì vậy nếu không có địa phương giúp sức chắc sẽ không xong.
Nguyễn Đen vẫy Chinh lại:
-    Ai là bí thư đảng uỷ ở đây?
-    Ông Cậy!
-    Chủ tịch?
-    Ông Mãn!
-    Chủ nhiệm hợp tác xã?
-    Ông Vi.
-    Tôi muốn gặp các đồng chí đó ngay. Cô Chinh giúp tôi được không?
-    Được chứ. Vậy anh đi luôn với em!
Hai người cùng rẽ vào xóm.Đoàn Liễu ở lại tiếp tục đo đạc sức nước và tìm nơi mở một đường tránh khác xuống bến, nhằm bỏ con đường lầy lội kia.
Đến lúc này Chinh mới có thì giờ để hỏi Đen:
- Thế còn anh?
-Tôi lập gia đình rồi. Đã có một cháu. Nhưng với cô, tôi cũng không thể không nói thực: Một cuộc hôn nhân… bình thường, do cha mẹ tìm và cưới cho. Cô ấy cùng làng, dạy cấp một. Bộ đội mà cô! Chiến tranh. Đi suốt. Thời giờ đâu để mà tìm hiểu người mà mình mong ước. Hôm cưới, lúc nằm bên vợ, tôi cứ thầm tự hỏi: “ Sao mình lại lấy vợ nhỉ?”.
Chinh bật cười ran:
-…Rồi chúng tôi có con. Tôi rất yêu cháu bé. Tôi cũng bắt đầu dần dần yêu mẹ nó. Nói tóm lại, cả một thời trai trẻ đã ném vào lửa, không còn có thể đòi hỏi gì hơn nữa…
Bỗng nhiên nhìn vào mắt Chinh, Nguyễn Đen như thấy hiện lên bóng dáng của ba anh bộ đội trẻ tuổi, tất cả đều mười chín, hai mươi. Họ đang nhìn anh bằng cặp mắt hết sức nghiêm trang…
    Đen lại chợt nhớ tới Cao Thành. Chắc hẳn đối  với anh ta, đây cũng là một cô gái ở hậu phương ăn sung mặc sướng, ít được rèn luyện, ít thực tế, trong khi người khác phải lăn lộn hy sinh năm này qua năm khác nơi chiến trường máu lửa…
    Những kỷ niệm về tiểu đoàn hai bảy trước đây ở Đò Lèn cô vẫn còn nhớ như in.

KHÔC LIỆT
Phan Trạc nhớ lại, trong một trận bảo đảm cầu phà hồi cuối năm 1966 tại bến Lèn, lúc đó Phan Trạc còn là trợ lý tham mưu đi cùng tiểu đoàn phó Nguyễn Đen trên một chiếc xe cóc, xe con lội nước đang đi trinh sát bến chuẩn bị cho đại đội hai bắc cầu. Bến bãi ở đây đã quá quen thuộc với những người lính tiểu đoàn hai bảy. Từ năm 1965, rồi 1966 đơn vị đã nhiều lần trụ tại bến này để bắc cầu và chở phà đảm bảo cho xe pháo qua sông. Có đợt liên tục hàng mấy tháng liền, vừa bắc cầu bảo đảm giao thông vừa huấn luyện cho 1 tiểu đoàn thanh niên xung phong về bắc cầu cho đến khi đơn vị thanh niên xung phong thành thạo bắc được cầu rồi, đơn vị mới được lệnh rút về làm lực lượng dự bị, cơ động nhanh; ở đâu tắc bến là tiểu đoàn 27 nhanh chóng đến ngay, bảo đảm gấp cho 1 đoàn pháo binh, tên lửa vượt sông xong lại rút về, hoặc đến mở bến, phá gỡ bom đạn, khắc phục hậu quả xong lại bàn giao lại cho bến giao thông hoặc đoàn thanh niên xung phong.
Lần này Nguyễn Đen và Phan Trạc đến bến đã quá ngỡ ngàng, bến bãi không còn mảnh đất nào nguyên vẹn, không còn đoạn đường nào được ngay thẳng, tất cả đều bị cày sới nhiều lần, lộn xộn, Nguyễn Đen lệnh cho Phan Trạc về điều máy húc C100 đến để húc lại mặt đường và đắp lại bến. Đồng thời hiệp đồng với bến giao thông huy động lực lượng thanh niên xung phong và công nhân bến phà đem cuốc xẻng ra san lấp hố bom, đắp nền đường.
“... Dô hây nào, dô hầy nào ...!
Ai về Thanh Hóa, Thanh Hoá anh hùng...”
Trong lúc lao động, tiếng hò tiếng hát lại vang lên khắp bến bãi đường xá. Đúng là “tiếng hát át tiếng bom” chẳng ngoa một chút nào.
Chiếc xe con của Nguyễn Đen liền bị chị em thanh niên xung phong quây lại, ai cũng tranh nhau cầm micrô trên xe hát, tiếng loa phát ra ầm vang làm không khí trên công trường làm đường làm bến sôi động nhộn nhịp.
- Cho em hát với, em hát với.
- Nào xin mời các ca sĩ cây nhà lá vườn.
Cô gái tên là Huề, có nước da trắng trẻo, lông mày lá dăm đang vừa hát song ca với Phan Trạc bài “Vàm Cỏ Đông” thì trên đồi cao có kẻng báo động.
Mọi người đều dừng lại tản ra chạy về hố ẩn nấp cá nhân ở quanh đó. Chiếc xe con phóng nhanh về phía đồi thông, chưa chạy được bao xa thì một loạt bom do máy bay Mỹ rải xuống. Tiếng súng các trận địa cao xạ xen lẫn tiếng bom nổ ầm ầm. Có một quả bom rơi trúng ngay giữa đường ở sát ga Lèn, nơi chiếc xe con dừng lại cho các cô thanh niên xung phong hát.
Khi máy bay đã đi xa, Nguyễn Đen cho xe chạy lại nơi khói bom còn dày đặc, Nguyễn Đen và Phan Trạc đều nhảy xuống vừa chạy tìm kiếm xung quanh, vừa gọi:   
- Ơi các cô ơi !...
- Ơi cô Huề ơi !... .ơi... !
Không có tiếng trả lời, trước mặt các anh là một hố bom sâu thẳm đen ngòm ở ngay giữa lòng đường.
Nguyễn Đen và Phan Trạc bỗng dưng nước mắt trào ra. Các anh cố lần mò xung quanh một lúc lâu cũng chỉ được một vài mảnh quần áo rách màu cỏ úa.
Thế là cô Huề và toàn tiểu đội của mình mười hai cô gái đã bị bom Mỹ giết hại tan mất xác. Nỗi đau đớn cảm thương còn theo các anh trong suốt ngày hôm đó và mãi mãi sau này, mỗi lần đi qua đây họ lại dừng lại một phút để tưởng nhớ tiểu đội thanh niên xung phong của cô Huề.
                    *        *
                                                             *
Cách đấy không lâu, trong một trận chiến đấu khác, cũng ở bến Lèn này Nguyễn Đen dẫn một đại đội - đại đội Ba – cấp tốc đến bảo đảm cho một tiểu đoàn tên lửa vượt sông gấp sang bờ nam để bảo vệ cầu Hàm Rồng.
Bến phà đã bị tắc từ hai hôm nay, khi đoàn xe thuyền của đại đội ba tiểu đoàn hai bảy mới đến khoảng rừng thông, còn cách xa bến ba ki-lô-mét nữa thì đường đã tắc nghẽn vì xe đậu để chờ qua sông, ở các đường tránh, trong rừng, trong làng xóm, các xe còn ùn ùn kéo ra thêm, đã tắc càng thêm tắc.
- Báo cáo tắc đường thế này thì làm sao tới bến được ạ ! Đại đội trưởng đại đội ba lúc đó là Nguyễn Xuân Hồng báo cáo với Nguyễn Đen. Nếu xe công binh không đến được bến có nghĩa là không được đưa tên lửa qua sông, có nghĩa là đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, tức là thất bại.
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen triệu tập cán bộ lại để bàn mưu tính kế. Ai cũng lắc đầu, cho là hết cách rồi, chỉ có cách chờ đợi hoặc quay về, báo cáo với Quân khu. Nguyễn Đen quyết không lùi bước:
-“Quân lệnh như sơn” – chúng ta phải tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ.
Anh tổ chức ngay một đội quân cảnh, hàng chục người ăn mặc tề chỉnh, quân hàm, quân hiệu, phù hiệu công binh đeo băng đỏ, tay cầm cờ đỏ hiệu, đội mũ sắt, đeo súng dương lê nghiêm chỉnh. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen: đại uý công binh, cầm cờ lệnh đứng trên đầu xe lội nước, xe chỉ huy, cầm loa tay và còi dẫn đầu đoàn xe.
- Yêu cầu các xe dẹp sang một bên nhường đường cho xe công binh lên bắc cầu. A lô - a lô !
Các chiến sĩ cảnh vệ xuống đất, đi dẹp từng xe cho xe chỉ huy đi qua, đồng thời đoàn xe phía sau bám sát không được rời nửa mét. Chiếc xe bab lội nước đi sau xe chỉ huy, thét còi ủ cùng các xe nhất loạt phát còi thúc giục.
Cũng có anh bướng không chịu nhường, nhưng quay lại thấy một đoàn xe thuyền toàn bằng sắt thì cũng khiếp nên phải tránh vậy. Nguyễn Đen điện cho tiểu đoàn tên lửa phải bám sát đội hình đoàn xe thuyền của công binh.
Bằng cách ấy vừa kêu gọi, vừa vận động, vừa hăm doạ kể cả cãi cọ nhau. Sau một giờ đoàn xe thuyền đã tới bến phà, và chỉ sau hai giờ lắp ghép phà và chèo chở bảo đảm cho tên lửa vượt sông. Đang vượt sông thì máy bay Mỹ đến bắn phá ác liệt, nhưng các chiến sĩ công binh và tên lửa không ai lùi bước. Pháo cao xạ xung quanh và tất cả súng bộ binh cũng đều bắn lên buộc máy bay địch phải lên cao, không đánh trúng mục tiêu lợi dụng pháo sáng, quân ta tắt đèn đóm vẫn lầm lũi vượt sông nhanh chóng.
Sau hơn bốn mươi phút bốc dỡ khí tài lên xe, đội hình xe thuyền lại quay về khu rừng thông được đầy đủ. Đại đội trưởng Nguyễn Xuân Hồng đề nghị cho anh em nghỉ. Nhưng Nguyễn Đen đã động viên cán bộ chiến sĩ đại đội ba phải nhanh chóng trở về căn cứ trước khi trời sáng. Lúc này đã là bốn giờ sáng, cố gắng về tới địa điểm trú quân trước sáu giờ rưỡi. Nguyễn Đen linh tính thấy sự nguy hiểm khi trời sáng ở khu vực này:
- Mục tiêu tên lửa hành quân đã bị lộ.
- Xe cộ đang bị ùn tắc lại, không kịp thời sơ tán.
Quả nhiên, đúng như phán đoán của Nguyễn Đen, sáng hôm sau máy bay giặc Mỹ làm một cuộc tập kích huỷ diệt khu vực bến Lèn. Hàng trăm xe bị cháy tan tành, trong đó có cả xe chở khách không kịp sơ tán. Nỗi khốc liệt tang thương bao trùm lấy khu vực bến Lèn và làng xóm nhân dân trong vòng ba ki-lô-mét. Cũng may đơn vị tên lửa vượt sông đã kịp triển khai trận địa trước khi trời sáng và đã bắn rơi hai chiếc máy bay F105 khi chúng đánh phá huỷ diệt bến Lèn.
Những ngày khốc liệt theo mãi trên những tuyến đường, những dòng sông của tiểu đoàn 27


KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN CỦA CÔ CHINH
   
Sông Chu, một đêm mùa đông năm 1965. Bọn Mỹ đang đánh phá rất dữ dội. Tổ thợ lặn công binh của tiểu đoàn 27 do Nguyễn Văn Bìa làm tổ trưởng được cử đi cắt những thanh sắt cầu bị sập để mở thông dòng sông. Sau khi làm hết ca, Mậu đồng chí trẻ nhất tổ lên bờ nghỉ. Đến lượt Nhẫn xuống cắt tiếp một thanh sắt hình chữ T hai tầng đang cản trở giữa dòng sông.
    Công việc đã xong, Nhẫn đang bám vào thanh sắt khác ngoi lên bờ để kiểm tra điểm hoả bộc phá thì một đợt nước xoáy khá mạnh bỗng tràn qua. Bị bất ngờ, Nhẫn tuột khỏi thanh sắt và bị dòng nước cuốn băng đi. Nhẫn cố ngoi lên, ngoi lên nhưng chiếc dây bảo hiểm đã tuột ra từ bao giờ và mắc lằng nhằng vào vật gì đó làm anh không thể nào ngoi lên được. Cùng một lúc, đầu nhọn của thanh sắt khác đâm xuyên vào tay trái, xé rách một miếng áo lặn khá to, nước từ ngoài, theo lỗ thủng ùa vào. Nhẫn phải dùng tay phải bịt lại, ngăn nước, nhưng vẫn không sao ngăn được tia nước quái ác ấy. Nhẫn vội vàng gọi điện cấp cứu cho Mậu và Chinh, (Chinh hồi đó là cô thanh niên xung phong được cử đến giúp công binh làm việc). Lúc đầu Nhẫn còn nghe Mậu hỏi lại: “Mắc dây à? Thủng áo à?” Sau đó không nghe thấy gì nữa. Thật là nguy hiểm! Giữa dòng nước mênh mông, đen sẫm, người Nhẫn bị treo lơ lửng gần đáy sông, hai chân chới với. Nhẫn không còn cách gì để gỡ dây ra được. Tất cả chỉ còn hy vọng vào những người trên bờ xuống cứu, nhưng anh gọi điện đến rát cổ họng mà vẫn không thấy tiếng trả lời.
    “Dây dứt hay Mậu bỏ về tìm người? Có thể là như vậy. Mậu là thợ lặn mới, chưa lặn “vo” dưới chiều sâu tám, chín mét nước bao giờ. Hơn nữa, đây là công việc mạo hiểm. Thế thì Mậu bỏ mình thật ư? Bỏ mình giữa dòng nước này ư?  Ôi!.. Nhẫn rùng mình với ý nghĩ ấy, và cố giãy dụa đôi chân hòng tự thoát. Nhưng càng giãy thì dây ở sau lưng anh càng kéo căng và xiết chặt hơn, xung quanh anh nước mênh mông, đen sẫm, vẫn tiếng nứơc xối  qua các chân cầu, rít qua những thanh sắt phía sau, vẫn tiếng nước luồn lách chảy qua chỗ áo rách thành những tiếng rùng rợn ghê người. Chiếc áo lặn lúc bình thường là vật che chở thân thể, giúp cho anh lặn, làm việc, nhưng giờ đây lại trở thành thứ hại anh.
Nhẫn vẫn cố giãy dụa, cố vùng vằng để thoát ra khỏi nó, nhưng nó vẫn bọc kín lấy anh để cho nước bên trong dâng lên, lúc đầu nước còn ở dưới bàn chân. Dần dần lên đến đầu gối, rồi dâm dấp tràn lên bụng… Nhẫn hét lên gọi Mậu, gọi Chinh, rồi nói huyên thuyên những gì, anh không rõ nữa. Chỉ biết lúc ấy, Nhẫn đã khóc và gọi mẹ.
Đang miên man với những lời nói cuối cùng thì anh cảm thấy “ào” một tiếng động lớn, rồi lát sau có bàn tay ai nắm lấy áơ lặn phía sau giật giật mấy cái. “Có người xuống cứu rồi! Đúng Mậu rồi”. Nhẫn vụt nghĩ ra và đưa cả hai tay định chộp lấy Mậu, nhưng vừa buông tay nước đã xối vào, anh lại phải bịt lại và la lên: Gỡ ra! Gỡ ra cho mình! Nước vào nhiều quá rồi! Nhưng Mậu đã bỏ anh. Nỗi vui mừng thoáng đến với anh rồi tan biến, để anh trở lại với cảm giác hãi hùng ban đầu.
Lại có bàn tay người nào đó chộp mạnh vào áo lặn của Nhẫn một cái rồi mất luôn. Tiếp theo, lại một lần nữa có cái gì động nhẹ vào mũ của anh rồi cũng mất nốt. “Ai thế nhỉ?”. Nhẫn không thể biết được người đó là ai mà chỉ đoán là một người đã yếu sức nên không lặn lâu được.
Nhẫn phải rướn cổ lên để giành giật khoảng không khí nhỏ nhoi trong mũ và bắt đầu uống nước. Những ngụm nước chảy nhanh qua cổ lạnh buốt làm anh càng sợ hãi. Anh cố rướn người lên nữa để giành giật lấy giây phút ít ỏi của cuộc sống. Nhưng không được. Nước vẫn liên tiếp chảy vào bụng anh. Anh kinh hoàng đến tột độ. Một cảm giác mang máng có bàn tay ai đẩy anh một cái rồi cũng không thấy đâu nữa. Những tia hy vọng mỏng manh hé lên rồi lại vụt tắt như đùa giỡn với sự hấp hối của anh.
… Nhẫn đã lịm đi, nhưng lại có người nào đó giật nhùng nhằng phía sau làm anh bừng tỉnh. Sức sống thoi thóp của anh bỗng tập trung truyền ra cả hai tay. Anh quờ quạng trong nước tìm người kia nhưng hình như người kia đã biết và tránh được phía sau anh, người kia vẫn giật nhùng nhằng. Rồi bỗng nhiên lưng anh bị đạp rất mạnh làm anh chúi xuống… Lúc ấy, anh đã lịm đi và không còn biết gì nữa.
Khi tỉnh lại, Nhẫn đang nằm trong căn phòng của một bệnh viện sơ tán. Ngồi bên là một cô gái mà anh nhận được ngay đó là Chinh. Chinh cũng nhìn anh đăm đăm. Cô khẽ reo lên:
- Ôi ! Anh Nhẫn! Anh tỉnh rồi!...
Nhẫn tưởng như mình vừa qua một giấc ngủ say, vội hỏi Chinh:
- Sao tôi lại ở đây, cô Chinh?
Chinh vui vẻ cười:
- Thế là anh thoát nạn rồi đó!
- Sao? Tôi bị nạn à? Có thật không?
- Thật! – Chinh trả lời rồi chẳng đợi Nhẫn giục, cô hổn hển kể lại sự việc cho anh nghe.
Thì ra giữa lúc cô thay anh Mậu để bơm hơi cho Nhẫn được một lát thì Mậu buông máy điện thoại la lên:
“ Nhẫn bị mắc dây, thủng áo lặn rồi! Cứu ! Cứu ngay, Chinh ơi, ối bà con ơi, có ai không, giúp tôi với!” Chinh hoảng quá, cũng la lên và chạy theo Mậu. Tới nơi, Mậu chỉ kịp giật áo, ném lại rồi lao ngay xuống dòng nước, Chinh cũng xuống theo, Mậu lặn lần thứ nhất, nhưng vì lặn vo không có áo nên đã phải sớm ngoi lên. Mậu lấy hơi lặn tiếp, nhưng lần này sức chịu đựng của anh ở dưới nước càng ít hơn. Chỉ độ hơn một phút anh đã phải ngoi lên. Tiếng anh lạc đi. Anh bảo: “Sâu quá!... Sâu quá!...” không thể để cho Mậu lặn nữa. Chinh bám vào dây lặn luôn.
-Trời! Chinh cũng lặn cứu tôi nữa cơ à? – Nhẫn không nén được nữa, kêu lên nho nhỏ.
- Vâng, lúc đó nhìn thấy các anh như vậy, em không sao cầm lòng được. Em cũng liều, may ra cứu được anh. Nhưng vừa mới chạm vào anh thì cũng phải bỏ, ngoi lên ngay.                   
Giữa lúc Chinh đang trò chuyện với Nhẫn thì từ phòng bên cạnh có tiếng nói ú ớ, miên man của một người nào đó, rồi có tiếng gọi cấp cứu. Chinh vội ngừng lại: “Thôi, anh nằm lại đây nhé, em sang bên này một lát đã?” . Nói rồi Chinh chạy đi luôn.
Nhẫn nằm lại, nhưng bụng dạ không yên chút nào. Anh cố nhỏm người dậy nhìn theo Chinh và chập choạng lần ra một chiếc giường kê sát phòng bên: Có ba bốn người mặc áo choàng trắng đang chụm đầu vào một người nằm trên giường. Trên đầu người nằm có một vòng băng cuốn gần sát mắt, ở mũi anh có hai ống cao su thông với một cái bình đặt trên bàn. Một y tá đang ngồi bóp bóp một quả bóng cao su điều chỉnh ô xy cho người nằm thở. Một y sỹ khác đang cắm mũi kim tiêm vào cánh tay người đang nằm thiêm thiếp.
Dưới chân giường có một chiếc khay sắt tráng men còn nguyên những miếng bông đỏ máu. Nhẫn ngạc nhiên và buột miệng kêu lên: “Ai bị thương thế kia?”.
Một chị đã đứng tuổi, có lẽ là y sĩ quay lại vội vàng hỏi:
- Cô Chinh đâu? Sao lại để anh này ngồi đây thế?
- Nghe gọi, Chinh liền chạy trở lại, vòng tay qua lưng Nhẫn, giọng khe khẽ:
- Anh về nghỉ cho lại sức! Anh về nghỉ đi!
Nằm xuống giường, Nhẫn nhắc lại câu chuyện cứu anh mà Chinh đang nói dở dang. Chinh lại kể tiếp:
- Vừa lúc em lặn không được, phải ngoi lên anh ạ, thì thấy một người ở phía trong xóm chạy ra, tới chỗ em và anh Mậu. Em chưa kịp nói gì thì anh ấy đã hỏi: Nhẫn mắc ở chỗ này à? Chỗ này à? Bị lâu chưa? Em và anh Mậu chưa kịp trả lời, anh ấy đã bám dây bảo hiểm lặn xuống luôn.
Mấy phút sau, anh ấy phá mặt nước trồi lên, miệng thở dốc ra, sức anh ấy có vẻ đuối lắm, anh Mậu vội cầm lấy tay bảo: “ Cậu đang ốm, đừng lặn nữa, lên đi!”. Nhưng anh âý không nghe, giật tay ra khỏi anh Mậu rồi lấy hơi lặn tiếp. Em và anh Mậu cứ cuống cả lên lo cho anh ấy. Anh ấy đã lặn được một lúc nhưng mà chưa thấy lên, làm cho em càng hoảng. Bỗng đầu dây bảo hiểm giật mạnh đến nỗi làm em và anh Mậu phải nhào theo thì ra, anh ấy đã đạp rách áo lặn mới cứu được anh.
- Rách áo lặn à?...
Nhẫn vừa hỏi lại được có thế, thì ở phòng bên  lại có tiếng xôn xao làm cho Chinh lại phải kiễng người, ghé mắt qua tấm phên nứa nhìn sang. Cô lặng đi, lát sau cô kể tiếp:
-  Cứu được anh lên, thì anh ấy đã bị dòng nước cuốn đi mất anh ạ! Nhìn dòng nước đang cuồn cuộn chảy, em không sao cầm được nước mắt. Anh Mậu phải động viên em rồi giao nhiệm vụ: “ Cô đưa Nhẫn về trạm ngay, còn tôi ở lại tìm anh ấy”.  Em xốc anh lên vai, chạy về. Anh Mậu ở lại, tìm quanh chỗ đó mãi vẫn không thấy nên phải chạy xuống hạ lưu, lại gọi mấy người ra tìm giúp. Họ phải tìm khá vất vả mới thấy anh ấy. Tệ quá, không hiểu vướng vấp vào những thứ gì mà người anh ấy bị toạc ra mấy chỗ. Lại bị thêm sức ép, máu từ mũi anh ấy ộc ra khá nhiều. Đấy anh ấy đấy! Từ lúc đưa về đây đến giờ, anh ấy vẫn chưa tỉnh lại được. Anh Mậu bảo anh ấy cũng cùng một tiểu đội, tên là anh Bìa.
- Bìa? Bìa? – Nhẫn gần như giật bắn người kêu lên. Người anh như có một dòng điện chạy qua. Anh tung chăn vùng dậy.
“ Ôi! không ngờ người đang nằm phòng bên kia lại là Bìa, mà Bìa chính là người đã cứu sống tôi!” Không thể chịu được nữa. Nhẫn liền hất tay Chinh, định lao sang phòng bên, nhưng Chinh đã cố giữ anh lại. Cô ôm chặt lấy Nhẫn.
- Em xin anh, anh nằm lại đây! Anh làm sao thế?
Giữa lúc Nhẫn đang giằng co với Chinh thì chị y sĩ ban nãy nghe tiếng chạy sang. Chị ngồi xuống cạnh anh dẽ dọt:
- Nhẫn ạ! Chị, chị rất biết tâm trạng của em lúc này, nếu sang gặp Bìa bây giờ thì có thể ảnh hưởng đến tính mạng của đồng chí ấy nữa. Để lúc khác, hãy sang gặp em ạ!
Lời nói của chị ngọt ngào làm sao, mà cũng như một mệnh lệnh. Nhẫn chỉ biết nghe lời chị và nằm lại.
Nhẫn nằm lại đấy, nhưng đầu óc anh mỗi lúc một thêm rối tung, đau đớn: “Bìa đang nằm kia! Bìa đã cứu sống tôi, cứu sống một thằng bạn. Không xứng đáng!!!”.
 Cách đây bốn hôm. Đêm ấy, khi Nhẫn vừa hết ca làm việc, Bìa xuống thay Nhẫn kiểm tra và bổ sung thêm những đoạn giằng chéo chân cầu Lèn bị bom làm hỏng. Bìa làm việc được một lúc lâu, Nhẫn liền bảo Mậu ở lại bơm hơi cho Bìa, còn anh đi kiếm cái đòn khiêng khác, chuẩn bị cho lúc về. Nhẫn rời chỗ Mậu độ chừng hai ba chục mét thì máy bay ào ào lao tới, cắt bom luôn. Một loạt, hai loạt, rồi ba loạt bom nổ tung ở dưới quãng sông gần cầu dưới, cách chỗ Bìa và Mậu đang làm một vài chục mét. Nhẫn vội vàng nhảy vào một căn hầm chữ A gần trước mặt. Giữa lúc đó, từ phía cầu có tiếng gọi thất thanh: “ Nhẫn ơ ơ…ơi!... Lại.. đâ… ây lại đâ…ây ngay! .. Nhẫn ơ ơ.. ơi !...” Mậu gọi Nhẫn làm gì ? Chắc là có chuyện ! Một ý nghĩ thoáng nhanh, anh liền nhảy lên miệng hầm, toan chạy trở lại, thì một loạt bom khác lại nổ, làm anh ngã giúi xuống. Anh ngóc lên định chạy, nhưng lại loạt bom nữa nổ. Tiếng nổ ầm ầm, nhưng bên tai anh vẫn văng vẳng tiếng của Mậu thất thanh hơn: “Nhanh lê ên lên Lạ ại đây !”. Nhẫn nhổm lên lần nữa, nhưng loạt bom khác lại nổ. Tiếng nổ đè nặng lên đầu làm anh không sao nhấc lên nổi. Nhẫn ơ ơi … nhanh lê ên cứu vớ ới …! Tiếng Mậu càng thất thanh, càng thúc giục. Những ánh chớp bom cứ sáng loé làm Nhẫn sợ quá, cứ nằm bẹp tại chỗ. Trong ánh chớp bom, anh thấy thoáng bóng một cô gái chạy như bay đến chỗ Mậu “Đúng là có chuyện gì rồi ! Có chuyện Mậu mới gọi Nhẫn gấp thế !” Nhẫn lại muốn chạy đến, nhưng tiếng rít của máy bay, tiếng bom nổ và ánh đèn dù lại đè Nhẫn dán người xuống. Đàn máy bay lồng lộn và ném thêm mấy loạt bom nữa rồi chuồn ra xa. Bấy giờ Nhẫn mới dám rời căn hầm về chỗ Mậu.
Nhẫn tới nơi thì thấy Bìa nằm đấy. Mậu đang xoa xoa bóp bóp khắp người Bìa. Thấy hơi thở thoi thóp của Bìa mà Nhẫn bủn rủn cả người. Anh không hiểu câu chuyện xảy ra như thế nào và cũng không dám hỏi câu gì. Nhẫn lẳng lặng thu gọn bộ áo lặn lại và làm những việc lặt vặt mà Mậu hay cô gái cần tới. Được lúc lâu sau anh mới biết: Lúc bom nổ, nước sông chấn động mạnh, một thanh sắt cầu bị gãy từ hôm trước văng ra đè lên dây bảo hiểm dây truyền hơi của Bìa. Bìa không gỡ ra được và đã bị ngạt. Giữa lúc Mậu gọi Nhẫn, không thấy anh đến, thì có một cô dân quân từ phía hạ lưu xách súng chạy tới. Mậu đã giao cho cô gái bơm hơi, còn mình xuống cứư. Vì lặn “vo” chưa quen, nên phải lặn tới mấy lần, Mậu mới kéo được thanh sắt ra cho Bìa…
Từ hôm đó, lòng Nhẫn luôn luôn day dứt xấu hổ. Cứ mỗi lần nhìn thấy Bìa, cổ anh lại tắc nghẹn, mặt anh rát bỏng, Nhẫn đã mấy lần định nói hết tâm trạng của mình cho Bìa nghe và xin Bìa tha lỗi cho anh. Nhưng mỗi lần định nói thì lại không sao nói được nữa. Anh chỉ dành hàng ngày đến chăm sóc cơm cháo cho Bìa. Nhưng ác thay, sự ân hận như thế không những không giảm mà càng tăng thêm. Nhẫn cảm thấy như bên tai lúc nào cũng có tiếng gọi văng vẳng của Mậu và tiếng thở thoi thóp của Bìa. Hôm nay nhận nhiệm vụ, anh hy vọng sẽ làm thêm phần việc chưa làm xong. Nhẫn không may đã bị tai nạn tưởng chừng không thoát nổi. Thật không thể ngờ, người đã cứu sống anh hôm nay lại chính là Bìa người bạn mà mới cách đây vài hôm, Nhẫn đã bỏ mặc trong giây phút hiểm nghèo.
Tiếng ú ớ miên man của Bìa lại dội sang, Nhẫn càng bối rối Nhẫn lại định tung chăn chạy sang lần nữa nhưng bàn tay của Chinh lại nhẹ nhàng đỡ anh nằm xuống.
Tình cảm của Chinh với Bìa bắt đầu nẩy nở từ hôm đó. Nhưng họ chưa được yêu nhau trọn vẹn thì Bìa lại đi Nam chiến đấu cùng với Nguyễn Đen từ dạo đó. Rồi Bìa hy sinh và nay lại gặp Nguyễn Đen ở bến sông này.
                    *        *
                                                        *
KẺ ĐỐ KỴ KHÔNG NGỒI YÊN
   
Hai hôm sau, Cao Thành từ Bộ tư lệnh quân khu cũng đùng đùng lên đường vào lúc gần nửa đêm để xuống bến Cổ Tế kiểm tra, đôn đốc tiểu đoàn 27. Anh lái xe của cơ quan tham mưu Bộ tư lệnh tuy mới trong vòng hơn nửa năm, cũng đã quá thuộc cái tính đồng bóng bất tử của vị trợ lý mới về. Khi được yêu cầu ra đi vào giờ khuya khoắt thế này, anh vẫn không khỏi bực tức, cằn nhằn.
    Lẽ ra Cao Thành có thể đi từ chiều, theo gợi ý của đồng chí phó tư lệnh. Nhưng Cao Thành vẫn cố nán ở lại để xin dự một hội nghị của hậu cần. Theo Cao Thành nghĩ: Việc gì anh ta cũng cần phải biết, và cần đóng góp ý kiến. Xẩm tối, anh lại xin đi dự cuộc họp của thanh niên cơ quan. Buổi sinh hoạt này là buổi sinh hoạt của nữ thanh niên. Cao Thành cũng rất muốn có mặt để được kể lại cho các em, các cháu nghe về những cô thanh niên trong chiến trường nhằm giáo dục họ. Cuộc họp thanh niên kết thúc lúc mười giờ khuya. Thông thường thì sáng sớm mai Cao Thành lên đường cũng được. Nhưng anh không thích thế. Anh muốn tỏ ra cho Bộ tư lệnh và tất cả mọi người  hiểu rằng: Cao Thành là một con người cực kỳ sôi nổi, cực kỳ xông xáo, một con người đã dành tuyệt đối và trọn vẹn cuộc sống của mình cho cách mạng, không hề tiếc máu cũng không hề tiếc sức! Đó là một mặt, mặt khác ra đi lúc nửa đêm như thế này là để nhắc nhở cho tiểu đoàn 27 hiểu rằng công việc là cực kỳ quan trọng, khẩn trương, và cấp trên đang theo dõi, giám sát công việc  của tiểu đoàn 27 một cách hết sức chặt chẽ, nghiêm túc; do đó tiểu đoàn cần phải ra sức mà làm việc cho tốt…
    Chiếc xe rồ máy ra đi, làm nhiều người trong cơ quan Bộ tư lệnh tỉnh giấc. Họ ngơ ngác, không hiểu con người này cứ luôn luôn thích lao vào, xỉa vào tất cả công việc của ngưòi khác, và luôn luôn thích gây ra những tình huống căng thẳng giả tạo và rất nhiều lúc không cần thiết để làm gì vậy?
    Cũng gần giống với Nguyễn Đen hai đêm trước, ngồi trên xe Cao Thành suy nghĩ mông lung không sao chợp mắt được. Anh sắp gặp lại Nguyễn Đen, con người “quá may mắn ấy”! Không hiểu sao cứ trông thấy vẻ mặt hơi lầm lì nhưng đầy tự tin và bướng bỉnh của Đen là Cao Thành lại chỉ muốn sốt tiết. Nói chung anh không thể nào chịu được những cán bộ mà anh cho là quá nhàn nhã và xa thực tế ở cái hậu phương này. Cần phải để họ được thử thách, được tôi luyện gắt gao hơn nữa. Tốt nhất là ở chiến trường. Như thế họ mới có thể được một lập trường thật kiên định, vững chắc. Thực tế chiến trường quả là vô cùng vĩ đại, mầu nhiệm. Những con người đã lăn lộn trong máu, có thể làm được tất cả mọi chuyện, mọi việc ở trên đời này một cách chính xác và tuyệt diệu nhất. Họ là những lớp người hoàn toàn mới, lớp người đỏ rực lửa máu, lớp người tiêu biểu, xứng đáng được lịch sử trao cho những nhiệm vụ then chốt của Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới….
    Thật vậy, Cao Thành từ khi về đây, luôn luôn bứt rứt không yên trong lòng. Anh muốn phá bỏ tất cả, thay đổi tất cả, đã một lần gặp riêng đồng chí phó Tư lệnh, lấy tình thân quen, Cao Thành đã thẳng thắn, và tin tưởng tuyệt đối là vì lợi ích cách mạng mà mình phát biểu: “Anh hãy cho tôi về chỉ huy cái 27 đi! Tôi sẽ vực nó lên, đấu tranh kiên quyết, loại trừ mọi sự trì trệ, bảo thủ tiêu cực của nó…”. Đồng chí phó tư lệnh cũng tin là Cao Thành xông xáo, sôi nổi có thể xốc được cái 27 lên hơn nữa. Mặt khác trong chốn kín đáo nhất của lòng mình, ông cũng muốn có một nhóm thân tín trong “ê kíp” để đễ làm ăn khi vào đơn vị mới. Nhưng ngặt một điều: trước mắt 27 đang không có vấn đề nào có thể chê trách được nó, cho nên ông thấy chưa tiện thay đổi gì lớn đối với nó. “Được, để rồi xem, nếu cậu thích”. – “ Báo cáo anh, đâu có vấn đề tôi thích hay không thích. Đây là vì lợi ích chung anh ạ!” – “Đúng! Đúng! Tất cả chúng ta cũng chỉ vì cách mạng hết mà!”.
    Trời sáng dần. Mặt trời như một trái cam vàng đã vượt lên khỏi đường chân trời, sau một làn sương mỏng nhẹ kéo dài. Đã tới Cổ Tế, chiếc xe ngoặt vào trong xóm. Hỏi một vài người, Cao Thành nhanh chóng tìm được ngay nhà tạm trú của sở chỉ huy tiểu đoàn 27.
    Cả Nguyễn Đen và Đoàn Liễu đều vắng mặt, chỉ có một anh đại đội phó trẻ tuổi đang ngồi trực ban bên một máy vô tuyến điện và một máy điện thoại.
    - Hai đồng chí kia đi đâu cả?
    - Báo cáo, các đồng chí ra bến hết, tiểu đoàn trưởng đang ở bờ nam, tiểu đoàn phó ở bờ bắc.
    - Làm gì vậy?
    - Báo cáo, đường xuống bến Cổ Tế sau đợt mưa dài ngày, lầy lội quá, lại thêm hố bom be bét cả ở ngay đầu cầu. Tiểu đoàn đang cùng với nhân dân địa phương sửa lại đường, lấp hố bom.
    Cao Thành thở dài lắc đầu, nhăn mặt:
    - Vậy hôm nay đã là ngày cuối cùng, làm thế nào mà các anh có thể hoàn thành nhiệm vụ?
    Anh đại đội phó trẻ, tươi cười, hồn nhiên:   
- Báo cáo đồng chí phái viên, được chứ ạ!
- Được là thế nào? Các anh đừng có chủ quan!
- Báo cáo, tiểu đoàn đã có tính toán đầy đủ cả.
- Tính toán! Tính toán! Được để xem! Vậy còn tình hình các bến khác trong phạm vi khu vực do toàn tiểu đoàn các anh phụ trách thế nào rồi? Đã nắm được tình hình gì chưa? Nơi nào cũng thế cả thì chết cả lũ đấy!
Một lần nữa anh đai đội phó trẻ lại tươi cười hồn nhiên như không:
- Các đại đội trên bến Mục Sơn, bến Cẩm Thuỷ đều có báo cáo rõ: Đã tập kết về gần đầy đủ, khí tài, quân số, nhất là cái anh ở bến Mục Sơn. Báo cáo, đại đội đồng chí Trần Đằng ở tít cuối tỉnh, xa đúng hai trăm năm mươi ki-lô-mét, vậy mà cũng vừa mới điện về: bảo đảm mười giờ sáng hôm nay có thể triển khai toàn diện để bắc cầu qua sông Bưởi...
Cao Thành nhìn anh đại đội phó trực ban. Anh rất khó tin đây là những lời báo cáo thật chính xác. Dường như đọc được sự nghi ngờ trong cặp mắt nhỏ, nhọn sắc và luôn luôn cứng như hai mũi dùi của Cao Thành, anh đại đội phó trực ban vui vẻ, hồn nhiên:
- Báo cáo đồng chí phái viên, lần đầu đồng chí về 27, chưa hiểu rõ chúng tôi đấy thôi, 27 có truyền thống cơ động từ lâu, lại đã quá quen trong việc vừa tổ chức, vừa huấn luyện trong hành tiến cơ động… Đồng chí cứ yên tâm. Tiểu đoàn đã tính toán cả rồi!
- “Tính toán! Tính toán!” – Cao Thành lẩm bẩm. Anh cũng lo cho cái 27 không hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng đồng thời trong anh, lại có một tiếng nói khác đang cầu mong cho cái 27 này sẽ không thể làm tốt công việc đó
    Lát sau, anh đại đội phó gọi một chiến sĩ liên lạc đưa Cao Thành ra bến sông.
    Anh chiến sĩ còn quá trẻ, trạc 17, 18 tuổi là cùng, đen như củ súng, quần áo nhàu nát, đầy dầu mỡ và bùn đất, hai vai áo rách tã. Đúng là quân công binh, không cần phải đoán, chỉ thoáng nhìn là biết ngay. Nhưng cũng lạ, không hiểu có phải mọi người của cái tiểu đoàn này đều giống nhau cả hay không mà anh chiến sĩ trẻ nom vất vả, gầy guộc, lam lũ vậy lại cũng rất vui vẻ chẳng khác gì anh đại đội phó ban nãy.
    Ra khỏi xóm đã thấy ở đằng xa, nhân dân và bộ đội đang gồng gánh, khiêng vác qua lại rất tấp nập – Cao Thành nheo mắt lại hỏi:
    - Sao ít bộ đội vậy? Đi đâu cả rồi?
    - Báo cáo, một nửa đơn vị đang cấp tốc học khí tài mới T.P.P ở trong làng ạ!
    - Hả? Học hả?
    - Vâng ạ! Báo cáo, tiểu đoàn mở lớp ngay từ hôm qua, tiểu đoàn bảo một mặt cấp tốc huấn luyện để nắm vững khí tài mới, một mặt khẩn trương sửa bến. Hai việc cùng song song ạ!
    - Nhưng ai dạy? Chưa có giáo viên về mà!
    - Báo cáo, tiểu đoàn trưởng chúng em cũng kỹ sư đấy ạ. Kỹ sư hai bằng là đằng khác! Tiểu đoàn trưởng đọc tài liệu rồi hướng dẫn. Đợi người ở trên về sợ muộn, không kịp…
    Cao Thành một lần nữa nhăn mặt, lắc đầu.
    Hai người đã ra tới bến sông. Quang cảnh sửa đường khá tấp nập, sôi nổi. Dân quân, thanh niên, bộ đội… tất cả như những con thoi, chuyển đất, chuyển đá từ xa về để vá, lấp các hố bom, và san sửa các hốc hố, ổ gà lầy lội ghê gớm trên mặt đường. Tiếng hò, tiếng hát râm ran, vang rộn cả bến sông.
    Anh liên lạc đưa Cao Thành tới chỗ Đoàn Liễu. Anh này đang đôn đốc, chỉ huy chung công cuộc sửa đường ở bờ bắc.
    Từ xa, nom thấy cái dáng đi hùng hục của một tấm thân hơi thấp và to ngang, Đoàn Liễu đã ngờ ngợ. Rồi nhìn rõ một khuôn mặt rám nắng cứng cỏi và đôi mắt sắc nhọn như hai mũi dùi, Đoàn Liễu đã nhận ra người phái viên này là ai.
    Cao Thành tiến lại bắt tay Đoàn Liễu và mỉm cười dịu dàng:
    - Thế nào, công việc liệu có kịp không anh?
    Đối với Cao Thành, Đoàn Liễu không là cái gì hết. Đây là một con người mà Cao Thành coi như dưới tầm mình về đủ mọi phương diện. Chẳng những thế, vốn sắc xảo và hay xóc óc, đi tới đâu cũng tìm cách gây chuyện, và thọc sâu vào nội bộ của người khác, Cao Thành đã biết được không ít điều về người tiểu đoàn phó này, một con người bình thường về tất cả mọi mặt, nhưng lại nổi tiếng về tính đố kỵ. Do đó Đoàn Liễu có tài gây dư luận, gây bè phái rất nhanh. Cao Thành biết Nguyễn Đen đã và đang bị vị tiểu đoàn phó này âm thầm kèn cựa. Thỉnh thoảng Đoàn Liễu lại chơi một đòn ngầm sau lưng để hạ uy tín Nguyễn Đen
Đối lại, Đoàn Liễu cũng hiểu Cao Thành. Trong thâm tâm, Đoàn Liễu chẳng ưa con người này nhiều điều, nhưng lại rất thích một điều: ấy là Cao Thành cũng đố kị Nguyễn Đen. Bởi vậy giữa Liễu và Cao Thành có một điểm gặp gỡ như đã đón đợi nhau từ lâu. Cũng do đó, hai người bề ngoài cũng tỏ ra hết sức dịu dàng, yêu thương và tôn trọng nhau.
    Đoàn Liễu mời Cao Thành ngồi nghỉ dưới một gốc cây nhỏ bên đường đã bị bom phạt cụt gần một nửa cành lá. Đoàn Liễu phân trần khi thấy Cao Thành nêu lên nhận xét đầu tiên: “Tinh thần làm việc của mọi người rất tốt, nhưng lực lượng hơi ít. Theo ý tôi, lẽ ra phải huy động bà con mấy xã chung quanh để sửa lại đường này cho bảo đảm chắc chắn về thời gian”.
    - Báo cáo, tôi hoàn toàn nhất trí với anh, ý tôi ngay từ đầu cũng vậy. Nhưng ông Nguyễn Đen của chúng tôi cứ không chịu. Tôi là phó. Tôi không có toàn quyền. Tôi làm thế nào khác được hở anh? Anh thông cảm cho. Ngoài ra, anh xem kia, chung quanh bến đều đồng trũng lênh láng nước cả. Đất đá, gỗ lạt đều phải chuyển từ xa đến, như vậy liệu rồi sẽ ra sao? Tôi đã có ý kiến là: nên dỡ mấy cái văn chỉ ở rìa làng, cái nhà bia ở cổng làng để lấy thêm gạch đá. Cả cái tam quan chùa đã bị bom hư hại nữa. Mà bây giờ thì còn mê tín cái gì chứ? Ông ấy cũng không nghe, bảo tính toán đất đá gỗ lạt với uỷ ban, dân quân và thanh niên trong làng cả rồi. Lại còn hy vọng ở tỉnh nữa. Theo kế hoạch hiệp đồng, 9 giờ sáng nay tỉnh sẽ có xe chở đá từ bến Chuyên tới. Tôi sợ hiệp đồng ấy không chắc đã thành, nên cũng đang lo lắm…
    Thấy Cao Thành chăm chú, và như đọc được những đồng tình, ủng hộ trong mắt người phái viên, Đoàn Liễu chép miệng thở dài, tiếp tục:
    - Ông Đen “nhà chúng tôi” là người tháo vát thật, nhưng dạo này “anh em” họ kêu lắm, nhất là từ khi có hai bằng kỹ sư, ông ấy chẳng còn chịu nghe ai nữa…
    “Anh em”, hai từ ấy sao mà thiêng liêng và quan trọng! “Anh em” hẳn có nghĩa là đông đảo quần chúng. “Anh em” cũng có nghĩa là tuyệt đại đa số trong Đảng bộ… “Anh em “ đã “kêu” như vậy, Nguyễn Đen hiển nhiên là sai lầm rồi còn hồ nghi gì nữa? Cao Thành quá hiểu như vậy.
    Nhưng anh cũng thừa biết hai tiếng “Anh em” mà Đoàn Liễu vừa tung ra, thực chất chỉ là… Đoàn Liễu!
    Cao Thành chìa tay ra cho Đoàn Liễu nắm lấy và mỉm cười. “Tao khinh mày quá! Mà tao cũng hoan nghênh mày quá! Nụ cười có đầy đủ ý nghĩa của câu nói ấy.
    Giữa lúc đó, một cô gái chừng gần ba mươi tuổi, vai khoác súng, quần xắn cao, áo xanh bạc chạy tới. Đoàn Liễu quay lại, đôi mắt của vị tiểu đoàn phó bỗng như bật sáng:
    - Đây là cô Chinh, Chinh là công nhân bến phà , kiêm chỉ huy phó lực lượng địa phương đang giúp đỡ chúng tôi sửa gấp đường, bến.
    Cao Thành đã ba mươi lăm tuổi, nhưng chưa có vợ và cũng chưa từng một lần có người yêu. Đối với phụ nữ, nhất là người có chút ít nhan sắc, con người “gang thép” này bao giờ cũng thoắt trở nên vô cùng dịu dàng, tế nhị. Anh siết chặt tay Chinh và giữ bàn tay cô rất lâu, rồi hỏi bằng một giọng mềm mượt như nhung:
    - Công việc tiến triển tốt chứ? Liệu chừng nào thì có thể hoàn thành kế hoạch, hả cô Chinh?
    Chinh sôi nổi báo cho Đoàn Liễu và cả vị phái viên có vóc người lủn củn, với cặp mắt nhọn hoắt như dùi, nghe về tình hình công việc. Cô cho biết trong xã đang tiếp tục chuyển gỗ, luồng để tăng cường chống lầy.
    Nguyễn Đen từ bờ Nam cũng vừa báo về cho biết: đã nhận được tin đoàn xe tải chở đá của tỉnh còn cách Cổ Tế trên 20ki-lô-mét. Chinh báo cáo thêm, theo kế hoạch của Nguyễn Đen, cô đã triển khai đầy đủ hệ thống cảnh giới báo động máy bay, và trạm cấp cứu cũng đã đặt xong ở ngay sát bến.
    Nguyễn Đen! Cái gì cũng Nguyễn Đen! Đoàn Liễu sầm mặt. Cao Thành cũng thấy rất khó nghe.
    Chinh nói tiếp:
    - Báo cáo các anh, theo tính toán của tiểu đoàn thì 16 giờ 30 sẽ có thể thông cầu. Tình hình này, theo ý em, chắc chắn là được. Các anh cứ yên tâm.
    Lại tính toán! Tính toán! – Cao Thành suýt nữa phải thốt lên một từ gắt gỏng. Tính toán! Từ hội nghị lớn cách đây hai hôm, cho tới nay, đã nghe Nguyễn Đen nói nhiều đến chuyện tính toán, về đây lại thấy từ cậu trực ban đến cô công nhân này cũng lại nói đúng y một giọng như vậy. Lẽ ra Nguyễn Đen phải nói nhiều đến quyết tâm, tới ý chí. Đúng thế, anh chàng này chưa trải qua nhiều máu, lửa chưa thấy hết được vấn đề cơ bản, quyết định này…
    Chinh báo cáo xong, xin Đoàn Liễu bổ sung cho dân quân xã một cán bộ có kỹ thuật để tập trung dứt điểm việc mở một đường tránh trên ruộng lầy, bên trái lối chính xuống bến. Sau đó cô tất tả định quay đi. Đoàn Liễu và Cao Thành không ai bảo ai, đều hết sức ân cần, niềm nở giữ cô lại để uống chén trà mà Liễu đã công phu mang cả phích nước nóng và bộ ấm chén đẹp của anh ta lại “trận tiền”, “uống cho tỉnh táo trong những lúc đầu óc căng thẳng”.
     Chinh từ chối. Liễu thân mật nắm lấy cổ tay cô và gần như  quàng tay ôm choàng lấy lưng cô, với dáng vẻ một người anh vô cùng trong sáng và hết lòng quý mến em út, để giữ cô lại.
    Giữa lúc đó, ngoài xa, tiếng reo hò bỗng nổi lên ran ran cả một vùng sông nước.
    Cao Thành, Đoàn Liễu và Chinh cùng nhìn ra thì thấy một đoàn xe tải cắn đuôi nhau hối hả chạy về phía đoàn người đang tấp nập làm việc nơi gần bến.
    - Đá! Đá! Đá đã về các anh ơi!
    Chinh reo ầm. Cô dựt tay ra và chạy vù đi.   
    Đoàn Liễu và Cao Thành không thể nào khác, cùng vội vã, lật đật chạy theo cô.
    Đá về, công trường càng thêm nhộn nhịp,khẩn trương. Tốc độ và năng suất tăng lên rõ rệt. Cũng thêm một may mắn: hôm nay đã tạnh mưa nhưng trời vẫn còn đầy mây. Từ sáng sớm đến giờ, chưa có máy bay Mỹ đến dội bom như thường lệ.
    Tuy nhiên, đồng hồ đã chỉ 12 giờ rồi. Công việc ở bờ bắc đã có vẻ “hòm hòm”, nhưng tin ở bờ nam cho biết công việc chống lầy, sửa đường còn đang hết sức gian nan. Bên đó lầy lún hơn bờ bắc rất nhiều, hố bom cũng dày đặc hơn.
    Cao Thành đi đi, lại lại từ trên đường xuống dưới bến, rồi lại từ bến ngược lên. Có vẻ như anh đang lo cho công việc của tiểu đoàn, nhưng trong lòng anh, một tiếng nói thầm kín lại vang lên “Cho chúng mày chết! Phen này để rồi xem mày còn trổ tài tính toán đến đâu nữa?”.
    Đoàn Liễu không hoàn toàn như vậy. Anh cũng lo có thể tiểu đoàn không hoàn thành kế hoạch trong hôm nay, nhưng trở lại sở chỉ huy vẫn cứ nhẩn nha bên ấm trà để cố tìm được cơ hội gần gũi Chinh…
    Tin trực ban thoắt báo cáo ra: các đại đội của tiểu đoàn trên toàn tuyến đã báo cáo triển khai toàn bộ đội hình và khí tài, khắc phục xong hầu hết mọi trở ngại trên đường lên, lối xuống; tất cả đang chuẩn bị để bắc cầu ngay ban ngày…
    Tin vui làm cho mọi người ở Cổ Tế cả quân, cả dân đều phấn khởi, và như được một sự kích thích rất mạnh. Tốc độ và năng suất lại vọt lên một mức mới.
    Nguyễn Đen thoắt từ bờ nam trở về bờ bắc bằng một chiếc xe lội nước nhỏ. Toàn thân anh đầy bùn, như vừa chui từ dưới cống lên. Chỉ còn hở có hai con mắt. Anh chỉ gật đầu chào qua Cao Thành rồi lại bắt tay ngay vào việc.
    - Ông Liễu! Khí tài của Nguyễn Đức Thắng đã nhận đủ chưa? Liễu hơi ngẩn ra một chút, rồi lúng túng:
    - Để hỏi lại. Từ sáng tới giờ tôi tập trung vào đường và bến!
    Nguyễn Đen cố giấu một nét cau có:
    - Tôi đã dặn ông: đường sá hết sức quan trọng đã đành rồi nhưng ông chớ có quên khí tài, kể cả cho anh em dượt lại lần chót toàn bộ kiến thức về T.P.P. để sẵn sàng thao tác bắc cầu ngay tức khắc, bất cứ giờ phút nào tính từ 13giờ trở đi. Đã tính toán cả rồi mà…
    Lại tính toán! – Cao Thành ngoảnh mặt đi chỗ khác. Riêng Đoàn Liễu càng không giấu được vẻ bối rối. Nguyễn Đen khoát tay:
    - Thôi được! Anh trở vào làng nắm và đôn đốc ngay hai việc đó. Tôi sẽ chịu trách nhiệm ngoài này.
    Đoàn Liễu úp mũ lên đầu, lật đật đi luôn. Nhưng khi về tới gần xóm, anh chợt phân vân: “Có lẽ thằng này nó đuổi khéo mình vào xóm, để nó tiện trò chuyện với Chinh chăng?”. Rồi thêm hậm hực: “Nó chẳng giữ thể diện cho mình trước mặt thằng Cao Thành. Cái thằng Đen này đúng là chỉ thích chơi trội và hách dịch!”.
    13 giờ, tin bờ nam báo về: mọi việc đã hoàn tất. Tin từ trong làng cũng báo ra: mọi đơn vị, mọi cán bộ, chiến sĩ đã sẵn sàng.
    Chinh cũng hồ hởi sung sướng, bắt chước bộ đội, đứng nghiêm lại trước mặt Nguyễn Đen và Cao Thành vui vẻ:
    - Báo cáo các anh, đường xuống bến chính đã xong. Đường phụ cũng đã xong!
    Thế là lập tức, từ trong xóm, các phân đội cùng ào ào vận chuyển khí tài tiến ra.
    Nguyễn Đen cầm máy nói gọi về các trận địa cao xạ bảo vệ: “Đề nghị sẵn sàng, quyết liệt đánh trả máy bay địch nếu chúng tới, để bọn tôi bắt đầu bắc cầu…”.
    Không khí trên toàn bến trở nên nhộn nhịp gấp bội. Quang cảnh bộ đội công binh ghép phao bắc cầu chưa từng thấy ở nơi đây. Tất cả hệt như một cuốn phim diễn tập quân sự vượt sông quy mô, hùng tráng đang hiện ra trước mắt dân làng, thanh niên nam nữ dân quân, và lẽ cố nhiên cả Cao Thành. Quả thực đây là lần đầu Thành được chứng kiến cuộc bắc cầu hiện đại qua sông với một nhịp độ, một tinh thần đặc biệt như thế này.Hầu hết các cán bộ chiến sĩ 27 đều tỏ ra hết sức dẻo dai, dũng cảm và thông thạo về kĩ thuật, khiến Cao Thành không thể nào ngờ một đơn vị chưa hề được mó tay tới loại cầu T.P.P. này lần nào, chưa có cả thời gian để huấn luyện đầy đủ, vậy mà xem ra cứ như họ đã được dùng khí tài này từ khá lâu rồi.
    14 giờ 20, chiếc cầu hiện đại thẳng tắp như một chiếc thước kẻ khổng lồ đã vắt ngang con sông đang ngầu ngầu nước lũ.
    Nguyễn Đen đến trước mặt Cao Thành nói nho nhỏ:
    - Tôi quyết định 14 giờ 30 cho thông cầu, xin báo cáo để anh biết.
    Cao Thành không còn cách gì hơn  là chìa tay ra bắt tay Đen và thốt lên một câu không thể nào không thốt lên được, dù anh ta không muốn:
    - Xin chúc mừng các anh! Chúc mừng và hoan hô 27 anh hùng!
    Ba giờ sau, một chiếc xe con từ xa bật pha sáng loáng ngả nghiêng phóng tới và phanh cứng lại ở đầu cầu. Cửa xe bật mở, một đồng chí đại tá nhanh nhẹn bước xuống. Nụ cười rất rộng, rất tươi, ông giơ tay nói to ở giữa cầu, nơi dòng sông đang cuồn cuộn xoáy tròn nhiều chỗ đến chóng mặt:
    - Được lắm! 27 đã đánh trả bọn Ních-xơn bằng một trận đầu tuyệt diệu!
    Đó là đồng chí đại tá Lê Nam Thắng đang làm nhiệm vụ phái viên đốc chiến của Bộ tổng tham mưu trong chiến dịch giao thông vận tải lớn này.
    Một lát sau lại có một xe con nữa đến, đó là ông Nhiệm phó tư lệnh quân khu cũng xuống kiểm tra kịp thời.
    Trong lúc đó, đứng cạnh Nguyễn Đen, Cao Thành bỗng nghiêm mặt, ghé sát tai anh, nói nhỏ, như muốn thân mật nhắc kín một việc còn nhiều khiếm khuyết:
    - Nhưng ông Đen ạ, các trận địa phòng không, ông cho đặt xa bến quá. Như vậy đánh địch không tốt đâu!
    Nguyễn Đen gật đầu:
    - Tôi cũnng biết điều này. Nhưng anh coi, chung quanh bến đều đồng trũng, lênh láng ngập lụt cả, không tài nào đưa cao xạ vào gần hơn được nữa.
    Cao Thành vẫn nghiêm nét mặt:
    - Không nói thế được! Phải có quyết tâm! Phải có ý chí, kiên quyết đánh địch. Phải cho anh em đắp công sự nổi mà vào gần chứ!
    Nguyễn Đen lắc đầu:
    - Đã tính toán rồi. Vả lại ở đây bảo vệ bến là chính.
    - Không! Anh coi nhẹ nhiệm vụ tiêu diệt địch là không đúng!
    - Với công binh, tiêu diệt địch là thông bến, thông xe chứ anh?
    - Không! Không đúng! Muốn thông xe, thông bến phải tích cực tiêu diệt địch!
    Ông Nhiệm tư lệnh phó quân khu trao đổi với ông Thắng một lát rồi đi tới trước mặt hai người Nguyễn Đen và Cao Thành. Ông đã trên năm mươi, lăn lộn rất nhiều ở chiến trường, nhưng trông vẫn còn rất mạnh mẽ, hồng hào. Cao Thành vội chìa tay ra. Vốn là chỗ quen biết cũ mà. Vừa là thủ trưởng, lại vừa là người thân, thậm chí còn có thể là người bảo trợ nữa. Nhưng ông Nhiệm hình như chỉ bắt tay Cao Thành một cái chiếu lệ, rồi quay lại phía Nguyễn Đen, không giấu giếm sự mừng rỡ của mình:
    - Nói thật chứ, giao nhiệm vụ cho các cậu mà tớ vẫn lo! Đang đồ chừng giỏi lắm hết đêm nay may ra mới có thể nhận được điện của các cậu báo cáo tạm xong. Được đấy, Đen ạ!
    Ngay đêm ấy, qua cầu phao Cổ Tế đã có 1.500 chiếc xe vào và gần 1.000 chiếc xe ra. Số xe bị ùn tắc từ mấy ngày hôm trước đã được giải phóng hoàn toàn. Nhân dân hai bên bờ sông đã gọi đêm ấy, đêm 25, là “Đêm hội vận chuyển”. Một quang cảnh sôi động, tấp nập xe qua, xe về suốt đêm không ngớt đã diễn ra trên bến sông này như chưa bao giờ thấy.

 
CHƯƠNG III
TRẬN VƯỢT SÔNG IM LẶNG
   


Vũ Bình bồi hồi nhớ lại một trận vượt sông im lặng mà lại bị lộ. Dạo đó vào chiến dịch đầu mùa khô năm 1967. Tiểu đoàn công binh 27 được lệnh hành quân gấp vào phía Nam chi viện chiến trường. Trung đội 8 công binh lái xe xích lội nước của tiểu đoàn cử một đội gồm 3 xe, có nhiệm vụ luồn sâu vào lòng địch, ém quân tại chân một ngọn đồi không tên, để chuẩn bị mở một bến vượt sông bí mật, bảo đảm cho đơn vị đặc biệt mang số hiệu Z12 qua sông Krông Pư thọc sâu vào sau lưng tuyến phòng ngự của địch, tạo thế tấn công bất ngờ tiêu diện đồn A Pưi, mở màn cho một hướng chiến dịch vào giờ G ngày N để mở rộng tuyến đường mòn Hồ Chí Minh.
    Bình vốn là trung đội trưởng sửa chữa xe của tiểu đoàn, vì muốn bảo đảm kỹ thuật cho trận vượt sông đột xuất này, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đã tăng cường anh xuống trực tiếp làm trung đội phó cho trung đội trưởng 8 ở đây là Hoàng Bân.
    Bình và Bân vốn là bạn thân với nhau từ ngày còn là lính mới ở trung đội 5 công binh. Cậu ta hơn Bình một tuổi, nhưng lại biết trân trọng cái bằng tốt nghiệp lớp mười của Bình. Cậu ta cứ ân hận mãi cái vốn văn hoá lớp bảy của mình không đủ để làm lính công binh giỏi, do đó trong huấn luyện hễ gặp phải những phần kỹ thuật  phức tạp là cậu ta lại không nề hà, giấu dốt gì, chạy đến Bình nhờ chi viện. Rồi Bình và Bân cùng được đi học lái xe một khoá, Bình đỗ vào loại ưu còn cậu ta chỉ đạt ba điểm, thật đáng buồn cho cậu ta quá. Sau một thời gian lái xe, rồi làm tiểu đội trưởng tiểu đội lái xe, Bình vừa làm vừa học thêm và trở thành người thợ, rồi được điều về làm trung đội trưởng sửa chữa xe của tiểu đoàn.
    Mỗi lần chuẩn bị đi chiến đấu, bảo đảm vượt sông, thế nào Bân cũng tìm cách kéo được Bình xuống trung đội 8 kiểm tra xe cho cậu ta. “Dẫu sao thì cậu cũng phải quan tâm tới cái “hạ tầng cơ sở” sinh ra cậu chứ” – nó đã nói thế thì Bình làm sao từ chối được và lần này sau khi nhận nhiệm vụ xong. Bân lại vội vàng chạy đến Bình:
    - Bình này, đi một chuyến với cánh mình chứ ! Hấp dẫn lắm! Trung đội 8 không thể thiếu cậu trong trận đặc biệt này được.
    Sau khi được Bân cho biết nhiệm vụ luồn sâu theo kế hoạch của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen, khoái quá Bình liền kéo Bân lên gặp thẳng tiểu đoàn trưởng. Bân dứt khoát đề nghị trên cho một thợ giỏi đi cùng, người đó phải là Bình, để giúp đỡ trung đội, vừa làm thợ, vừa lái xe, và giúp Bân cả việc chỉ huy nữa. Còn Bình, miễn là được đi với trung đội 8 trận này, còn thì làm gì cũng được, anh không chút băn khoăn nào cả.
    Trước lý lẽ của hai người, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen cũng phải đồng ý và còn căn dặn thêm:
    - Đây là nhiệm vụ hết sức đặc biệt và nặng nề, các đồng chí phải hết sức bí mật và bình tĩnh xử trí tình huống. Tiểu đoàn luôn theo dõi từng bước và sẵn sàng chi viện cho các đồng chí.
                                                *        *
                                                        *
    . Vào một đêm đông, trời tối như mực, những hạt mưa phùn lất phất phả vào mặt lạnh buốt. Phân đội công binh luồn sâu cho ba chiếc xe xích tắt hết đèn, lầm lũi bò ra một mé bờ sông hoang vắng. Một tổ đi sau, bằng mọi cách xoá hết mọi dấu vết, bảo đảm che hoàn toàn mắt địch. Các xe lần lượt bò xuống sông, toàn bộ bánh xích chìm dưới nước, chỉ còn nhô lên một phần buồng lái và thành xe thấp lè tè như một mạn thuyền chở nặng. Các xe phủ đầy cành cây nguỵ trang, tắt hết máy rồi bí mật thả xuôi dòng. Trung đội trưởng Bân ghé sát vào Bình nói nhỏ:
    - Cái trò này của cậu quả là mạo hiểm đấy, liệu mà đi cho tốt, kẻo không xuống chầu hà bá thì cũng lên chầu quỷ sa tăng ở trên bờ đấy.
    Bình gật đầu rồi nói thêm:
    - Có khi không liên lạc kỹ còn bị du kích cho ăn đạn nữa ấy chứ !
    Chả là, trước đây suốt một tuần, toán công binh cùng cánh trinh sát dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen chia nhau đi tìm đường, nhưng không có con đường nào tới được địa điểm bến an toàn cả. Chỗ thì phải qua nhiều đồn bốt, ấp chiến lược, làng bản chi chít, chỗ thì núi cao vực sâu không có đường, Bình đã đề nghị phương án “trôi sông” và được tiểu đoàn trưởng duyệt y. Sau đó tiểu đoàn tổ chức hiệp đồng với các địa phương và đơn vị bạn.
     Cứ thế đơn vị hành quân, một cuộc hành quân lặng lẽ. Ngồi trên xe thuyền nhưng còn mệt hơn hành quân bộ. Xe Bình trôi trên cùng dẫn đường. Đầu óc Bình luôn luôn bị căng thẳng. Chiếc đèn pin trong tay Bình phát ra ánh sáng xanh, nhỏ như một con đom đóm luôn soi trên bản đồ hành quân mà trong khi đi trinh sát, anh đã ghi chép đánh dấu những địa hình, đặc điểm sông nước. Toàn tổ phân công: một người luôn dán mặt xuống mặt nước để quan sát lòng sông và giúp lái xe đi theo đúng luồng lạch, một người cầm sào đo nước và chèo chống với thác ghềnh, bãi cạn, còn một người theo dõi tình hình địch trên bờ và máy bay, đồng thời quan sát nhận, phát các ám hiệu liên lạc với tổ trinh sát và cơ sở bí mật ở trên bờ, để giữ bí mật các xe tuyệt đối không được bật “đèn lade”, đề phòng địch phát hiện bằng sóng vô tuyến điện.
    Thỉnh thoảng ánh đèn xanh lập loè, báo hiệu đoạn sông an toàn, toàn đội cứ việc từ từ trôi. Khi có đèn đỏ, tín hiệu báo động có địch thì những “lùm cây” di động phải dừng lại một bên bờ, nằm im cho đến lúc có ánh đèn xanh.
    “Tốt rồi” – Bình khẽ thốt lên và bí mật trả lời, đồng thời cho xe dừng lại. Xe của Bân cũng áp mạn vào xe Bình. Bình bàn với Bân ở lại để xử trí với những bất trắc còn anh và một chiến sĩ nữa thả phao cao su xuống bơi nhẹ nhàng về phía “xanh ngang - đỏ dọc” ấy.
    Một ông già và một cô gái Pa-cô súng lăm lăm trong tay tiến ra kiểm tra bằng hai lần mật khẩu nữa mới chính thức nhận và tiếp các chiến sỹ công binh. Đó là các đồng chí ở một trạm giao liên bí mật của cơ sở địa phương, nơi đơn vị đã được vượt một chặng đường sông dài, khá nhiều thác ghềnh hiểm trở và luồn qua được nhiều đồn bốt địch. Họ dẫn phân đội giấu xe vào một khu vực hang đá rất kín đáo. Rồi từ đây, phân đội nhận lệnh cấp trên, qua ông già và cô gái này, vì vô tuyến điện chỉ khi nào hành động mới được phát. Đồn địch ở khá gần đây. Ban ngày anh em phải hết sức im hơi lặng tiếng. Chỉ đến đêm mới được kéo nhau ra, bí mật làm bến đổ bộ.
    Hai đêm, ba đêm, rồi năm đêm, được sự giúp đỡ của Binh trạm giao liên, bến đổ bộ đã làm xong và ngày N đã đến. Ngay từ chiều hôm trước, cô gái Pa-cô có mái tóc dài quen thuộc đã đưa đến một bức điện hoả tốc: Phân đội được lệnh bảo đảm cho đơn vị Z.12 vượt sông. Đó là một tiểu đoàn pháo hỗn hợp, gồm một đại đội pháo chống tăng, một đại đội cối 120 ly và một đại đội tên lửa bắn thẳng, loại vũ khí mới đưa vào chiến trường.
    Từ chập tối, anh em công binh đã hăm hở chờ đón đơn vị bạn. Rồi bằng phương pháp chèo chở riêng biệt, ròng rã gần một đêm, đưa đơn vị bạn vượt sông an toàn, bảo đảm cho Z.12 luồn sâu vào phía sau đồn A Pưi, chuẩn bị trận địa kịp trước giờ nổ súng.
    Nhiệm vụ công binh coi như đã hoàn thành. Bân và Bình cho xe về vị trí tập kết chờ đợi. Chỉ còn cho anh em nghỉ ngơi chờ nghe chiến dịch bắt đầu. Trước niềm vui hoàn thành nhiệm vụ, và sự hồi hộp trước giờ súng nổ, anh em không ai muốn ngủ. Nhưng khi vừa chợp mắt thì hàng loạt đạn pháo bỗng nổ ầm ầm ngoài bến. Mọi người choàng tỉnh cùng nhau ra ngoài hang nghe ngóng, phán đoán. Bị địch phát hiện chăng ? Hay chúng bắn hú hoạ như mọi ngày ?
    Bân và Bình định lên đài quan sát xem xét tình hình thì cô gái Pa-cô lại chạy tới, đưa vội một bức điện của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen tới: Trung đội xe thuyền chở gấp thêm một đại đội pháo nữa qua sông. Đó là đại đội bốn pháo cối cũng phải vào trận địa trước giờ G. Lúc đó trời đã sáng, sương mù đã tan, nắng chọc thủng lớp rừng già thành những vệt sáng như những mũi tên song song cắm xuống mặt đất. Trong lúc Bân lệnh cho các xe quay lại bến thì đài quan sát báo về có tình huống bất ngờ xảy ra: một đại đội địch đang tiến ra đồi không tên. Cùng một lúc, đại đội bốn pháo cối cũng đang hành quân tới bến.
    Bân và Bình chạy ngay lên đài. Quả có tình huống như vậy ! Làm thế nào đây ? Bình và Bân hết nhìn bên ta lại nhìn sang địch, người như run lên. Đằng sau lưng hai người, những cành lá nguỵ trang nhấp nhô, lúc ẩn lúc hiện trên đường mòn, đang lao đến bến. Có lúc còn nhìn rõ cả những chiến sĩ đang lặc lè khiêng pháo lên dốc. Còn trước mặt, bọn địch bên kia sông, những tên lính rằn ri, cũng đang nghênh ngang theo đường mòn đi tới, có lẽ chúng chốt lại đồi không tên. Đội hình hai bên cứ xích lại gần: khoảng cách mỗi bên đến chỗ hai người tương tự bằng nhau: 1.500 mét, 1.200 mét, rồi 1.000 mét... !
    Toàn trung đội công binh đã kéo cả lên đài quan sát. Ai cũng lo lắng. Sau một cuộc hội ý chớp nhoáng phân đội quyết định chia làm hai bộ phận, một chặn địch, một đảm bảo vượt sông.
    Bình xin lên chặn địch, nhưng Bân buộc Bình ở lại chỉ huy xe, đề phòng xe hỏng hóc bất ngờ. Còn bộ phận chặn địch, Bân nhất quyết giành về phần mình. Bân cười, bảo Bình:
    - Đánh giặc, biết địch, biết ta, trăm đánh, trăm thắng. Còn nội bộ chúng mình, biết anh, biết tôi thì cũng trăm hay, trăm tốt đấy cậu ạ.
    Thế là bộ phận vượt sông chỉ để lại mỗi xe một lái chính, một lái phụ, ba xe gồm sáu người do Bình chỉ huy. Còn lại bốn người do Bân trực tiếp chỉ huy, phải nhanh chóng vượt sông chiếm đỉnh đồi không tên trước và chốt chặn địch tại đây, mặt khác liên lạc với đại đội bốn pháo binh, đề nghị tăng tốc độ hành quân vượt sông nhanh chóng. Khi cần phân đội sẵn sàng thực hiện phương án hai như đã bàn từ trước tức là “vượt sông đổ bộ bằng sức mạnh” như tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đã điện chỉ thị và thông báo tình hình địch.
    Khi cô gái Pa-cô mà Bình cử xuống gặp đại đội 4 pháo binh vừa đi khuất thì tổ do Bân chỉ huy cũng đã vượt sông. Một lát sau tới bến. Bân và các tổ viên cùng chạy vọt lên đồi không tên.
    Nhanh lên ! Nhanh lên Bân ơi ! Chỉ cần các cậu lên trước bọn địch vài ba phút thôi ! – Bình thầm gọi, thầm giục giã Bân.
    - Lên rồi, các bạn ấy lên rồi ! Hay lắm ! – Anh em khẽ reo lên.
    Bình ngước nhìn lên điểm cao: một bóng, hai bóng, ba bóng… rồi cả bóng của Bân nữa, và qua ám hiệu của Bân, Bình biết là địch đang tiến đến nơi.
    Cố gắng giữ vững, chỉ cần các cậu giữ được hai mươi phút thôi là đã đủ thời gian cho chúng mình đưa pháo qua sông ! Bình thầm nhủ các đồng chí trên đồi không tên.
    Khi các xe xích K61 đã bơi ra đến bến thì đại đội bốn pháo binh cũng vừa tới. Bình báo cáo cho đồng chí đại đội trưởng biết rõ tình hình địch và phương án vượt sông của phân đội. Đại đội trưởng nhanh chóng quyết định:
    - Đúng, phải làm sao vượt sang tới bên kia trước khi bọn địch chiếm được đỉnh đồi.
    Để tranh thủ thời gian, đại đội trưởng lệnh cho các khẩu đội xuống ngay bến, lên xe tự hành. Các lái xe công binh giúp các chiến sĩ pháo binh đưa pháo lên xe và nguỵ trang kín đáo.
    Mọi người đang khẩn trương, bỗng có tiếng súng nổ ran trên đồi. Trước tiên là những tràng RPĐ và cả AK của tổ Bân, nhưng chỉ rộ lên có mấy loạt đã im bặt. Hình như bọn địch bị đánh bất ngờ, vội tụt xuống tìm cách đối phó. Mãi một lát sau mới thấy có tiếng nổ bên phía chúng. Rồi tiếng súng ngày càng mạnh.
    - Hỏng rồi ! Khéo không kịp mất ! – Một người nào đó thốt lên.
    Đại đội trưởng lên tiếng nhắc:
    - Tất cả phải bình tĩnh, yên lặng giữ bí mật đến cùng.
    Sau khi kiểm tra các xe và xin ý kiến đại đội trưởng, Bình hạ lệnh vượt sông.
    Anh em công binh đẩy sào, cầm lái. Anh em pháo thủ mỗi người một cây dầm bơi hai bên mạn.
    Tiếng súng trên đồi vẫn nổ ran.
    Bân ơi cố gắng giữ lấy đồi ! Chỉ cần hai mươi  phút ! Không! Mười lăm phút nữa thôi ! Bình lại thầm gọi Bân.
    Mới ra được một phần ba sông. Tiếng súng trên đồi bỗng thưa dần rồi lắng đi như báo hiệu một điều gì không lành sắp xảy ra; Bình hết nhìn trời, nhìn quả đồi cao, lại nhìn xuống dưới sông, suy nghĩ mung lung.
    Đã được nửa sông rồi ! Cố lên ! – Tiếng anh đại đội trưởng pháo binh vừa dứt thì bỗng trên đồi tiếng súng lại nổ xen lẫn tiếng lựu đạn, tiếng la hét chửi bới ầm ĩ.
    Mọi người ngước nhìn lên. Bình bỗng lạnh toát người. Phương án vượt sông bí mật không được nữa rồi. Bọn địch đã chiếm được đỉnh đồi, chúng đang lố nhố chạy về phía bờ sông. Một bọn đã phát hiện ra bộ đội giải phóng, hốt hoảng la lối:
    - Việt cộng ! Thuyền Việt cộng !
    Hàng loạt AR.15 bắn xuống sông té nước lên. Thì ra quân ta nguỵ trang kỹ nên bọn địch tưởng là thuyền. “Càng hay”, Bình nghĩ bụng. Đại đội trưởng lệnh cho các khẩu đội chuẩn bị chiến đấu bằng súng bộ binh. Đầu óc Bình căng lên, mắt anh hết nhìn đồi, lại nhìn đến những khẩu pháo đang nằm trên xe, ý nghĩ hỗn độn chồng chéo lên nhau “Tổ chặn địch đã hy sinh, Bân đã hy sinh, còn những khẩu pháo ? Chỉ còn hơn ba mươi phút nữa đã tới giờ G chiến địch mở màn” Nhưng một tia sáng chợt loé lên trong đầu Bình, anh ra lệnh cho các lái xe công binh về vị trí chuẩn bị.
    - Bắt sống, bắt sống lấy thuyền, lấy hàng chúng mày ơi ! - Địch lại hối thúc nhau.
    Một vài thằng đứng trên đồi bắt tay làm loa gọi xuống:
    - Này mấy ông nội Việt cộng hàng đi ! Không hàng thì được xuống chầu hà bá !
    Mọi người trên thuyền vẫn im lặng.
    Theo đà bơi, các xe vẫn từ từ lao đi. Đại đội trưởng pháo binh nhìn Bình. Bình nhìn anh rồi hất đầu về phía bờ sông gợi ý tiến công. Anh nắm lấy tay Bình, Bình bóp chặt: Cả hai người đã nhất trí triển khai chiến thuật vượt sông bằng sức mạnh trong tình thế bất đắc dĩ như phương án hai.
    Chờ cho bọn địch đổ xô nhau ra bãi trống sát bến và lợi dụng lúc chúng đang nhốn nháo. Bình bật lên tiếng hô:
    - Tất cả nổ máy ! Tăng hết ga !
    Cùng lúc đó đại đội trưởng hạ lệnh:
    - Bắn !
    Khúc sông yên tĩnh bỗng ầm ầm sóng dậy. Ba chiếc xe thuyền tự hành như ba con mãnh hổ rú ga gầm thét xé nước lao như bay vào bờ. Những loạt đạn tiểu liên, súng trường của pháo binh, đạn trung liên, đại liên của công binh gắn trên xe tới tấp xả đạn.
    Bọn địch hoàn toàn bị bất ngờ, trở tay không kịp, phần lớn bị tiêu diệt. Toàn phân đội, đổ bộ lên bờ được an toàn. Nhưng bọn còn lại, sau một lát choáng váng chúng hoàn hồn, tập trung trên điểm cao bắn xuống. Đơn vị tiếp tục tiến công. Tiếng máy rú ga ầm ầm. Tiếng xích xe nghiến ken két trên đá.
    - Xe tăng Việt cộng ! Xe tăng Việt cộng ! – Bọn địch thần hồn nát thần tính hoảng sợ la hét và dẫm đạp lên nhau, bỏ chạy thật sự.
    Anh em pháo binh nhanh chóng tràn lên truy quét, tiêu diệt địch.
    Mấy phút sau, đại đội trưởng pháo binh cho người xuống gọi Bình lên. Bốn anh em của tổ chặn địch thì ba đã hy sinh, chỉ có Bân còn nằm thoi thóp trên cánh tay đại đội trưởng và kỳ lạ thay, khi Bình vừa ngồi xuống cạnh Bân thì Bân mở choàng mắt. Bằng một giọng yếu ớt, nhưng của một con người rất tỉnh táo, Bân thều thào nói:
    - Bình. Bình thay tôi… làm tất cả... thôi, đi đi để tôi ở lại…. muộn rồi. Cả đồng chí. đại đội.. trưởng pháo binh, đi ngay. đi !.... Kìa...muộn...rồi !....
    Đại đội trưởng pháo binh đang trong phút đầy thương cảm, bỗng sực tỉnh, anh xem đồng hồ, nhanh tay đặt Bân xuống, vuốt cặp mắt ướt còn hé mở của Bân. Rồi anh đứng vụt dậy, cúi đầu trước thi hài còn nóng ẩm của Bân, nước mắt anh giàn giụa, anh nói ngắn gọn:
    - Đúng, còn mười lăm phút nữa thôi ! Rất biết ơn đồng chí ! Chấp hành mệnh lệnh đồng chí, chúng tôi xin đi ngay.
    Bình bừng mắt, nhưng cố nén khỏi bật ra tiếng khóc, và cũng nói với Bân:
    - Vâng tôi đi ngay. Xin chấp hành tuyệt đối lệnh của Bân.
    Sau khi cắt đặt người ở lại lo liệu công việc cuối cùng cho tổ Bân, đại đội trưởng pháo binh kéo Bình chạy bay xuống bờ sông.
    Còn ít thời gian quá nếu để các đồng chí pháo binh tự đưa pháo vào trận địa thì chậm nên anh em công pháo lại tiếp tục hiệp đồng, cùng nhau đấu sức giải quyết.
    “Đi ngay đi ! Muộn rồi ! Đi ngay đi” - Đó là khẩu lệnh của đại đội trưởng phát ra cho bộ đội bắt đầu hành động.
    “Đi ngay đi ! Muộn rồi ! Đi ngay đi” - Đó là lời cuối cùng. Bân hối thúc đồng đội và cũng là lời được nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần suốt đoạn đường từ bờ sông thúc sâu vào lòng địch.
    “Đi ngay đi ! Muộn rồi ! Đi ngay đi” với lời giục giã đó, công binh đã đưa pháo tới đích trước giờ G được đúng một phút.
    Và ba mươi phút sau đó, đồn A Pưi đã chìm ngập trong khói đạn và đã chật căng những tiếng thét xung phong của các chiến sĩ bộ binh Quân giải phóng !
    Đồn APưi bị tiêu diệt mở màn cho chiến dịch mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh. Thắng lợi bảo đảm cho việc chi viện chiến trường từ Bắc vào Nam được thông suốt và thuận lợi.
    Đêm đêm, ngày ngày, những đoàn xe pháo nối đuôi nhau, người người lớp lớp dài dằng dặc, kéo vào miền Nam, có thể nói đông vui hơn cả chiến dịch Điện Biên năm xưa. Với một ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những chuyện đó Cao Thành chưa bao giờ biết được. Mà Nguyễn Đen cũng không bao giờ đem những chuyện chiến trường ra khoe khoang. Nhiều người cũng không biết trong chiến tranh việc thay đổi luân phiên cán bộ luôn xảy ra. Người đi, kẻ ở luôn diễn biến, không phải trong thời gian ngắn đã hiểu được về nhau. Anh cứ kệ cho Cao Thành muốn nghĩ thế nào về mình thì nghĩ, rồi đến lúc nào đó, chắc anh ta sẽ ân hận và xấu hổ.

GIÂY PHÚT BÌNH YÊN
    Qua đêm thứ ba ở bến Cổ Tế khi mọi việc trên bến đã ổn định, việc việc vận chuyển đã hoàn thành thông suốt, Nguyễn Đen mới có thể bứt ra được để tìm tới nhà Chinh, theo lời hẹn của Chinh ngay từ buổi đầu gặp lại. Tới thăm Chinh đồng thời cũng tiện thể Đen ghé vào chỗ ông Bảo bến trưởng bến Cổ Tế, người của bến giao thông dân sự đã được bổ nhiệm làm việc ở đây từ hai năm nay.
    Đêm mùa thu bên sông dịu mát lạ lùng. Không có trăng, nhưng trời rất trong và sáng. Nguyễn Đen bỏ mũ, ngửa mặt đón từng làn gió dạt dào, cảm thấy tâm hồn thật thư thái. Những giây phút dịu dàng và thư thái như thế này vô cùng hiếm hoi đối với anh. Không cầu mong gì hơn là thỉnh thoảng lại có những khoảnh khắc như thế này. Con người như được bứt ra khỏi mọi sự lo âu, phiền muộn, bứt ra khỏi mọi sự ràng buộc phức tạp trong cuộc sống hàng ngày. Con ngưòi như trở lại trong sáng, ngây thơ. Lòng như lành lại, mọi ham muốn không còn gì hết. Tất cả chỉ còn lại một niềm vui, và sẵn sàng để làm mọi điều tốt đẹp, không phải chỉ cho mình mà cho tất cả những người khác…
    Quanh co mấy xóm ngõ, Nguyễn Đen đã tìm được căn nhà tranh nhỏ bé ở giữa một mảnh vườn có nhièu cây ăn quả khá râm rạp. Một con chó xồ ra sủa.
    Nguyễn Đen bỗng cảm động, nhớ lại những lần nào đó, cũng rất hiếm hoi, mỗi lần đi họp trên Bộ hoặc lên quân khu, tranh thủ tạt được về một đêm hoặc một vài giờ. Cũng một căn nhà lụp xụp như thế này, cũng một sự yên ắng như xa xưa, như chìm ngập trong thời gian bình lặng đến nỗi không thể tin rằng đây là một nơi đang có chiến tranh, và bây giờ đã là năm thứ bao nhiêu đó của thế kỷ thứ 20…
    Ngọn đèn trong nhà bật sáng to. Chinh mau mắn chạy ra mắng con chó. May quá, tối nay cô ấy có nhà! Đen mừng thầm. Khi nhận ra anh, Chinh reo lên một tiếng. Tiếng reo trẻ trung như của một cô bé, và xiết bao mừng rỡ, cảm động như  của một người ruột thịt đã cách xa nhau từ lâu chưa gặp lại.
    Chinh mừng đến mức gần như cuống quýt. Mừng quá, quên cả e lệ hoặc vốn bạo dạn từ những năm thoát ly đi Thanh niên xung phong, Chinh cầm lấy tay Đen dắt anh vào nhà.
    Nguyễn Đen dừng lại mấy giây, đưa mắt nhìn bao quát ba gian nhà vắng vẻ đến lạnh lẽo dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu. Nhà vắng và trống trơ tới mức không thể tưởng tượng nổi. Trên các vách ngoài tấm Tổ quốc ghi công liệt sỹ Lê Văn Kháng ra không một bức tranh, không một tờ lịch. Bộ bàn ghế mộc cũ kỹ như đã có ở thế kỷ trước. Một chiếc giường tre. Một tấm phản gỗ. Trên chiếc giường tre, tấm màn nâu buông rủ. Trong màn, một ông cụ đang nằm ngủ, nhỏ như một đứa trẻ…
    Dường như đọc được tất cả mọi nhận xét, ý nghĩ của Nguyễn Đen, Chinh mỉm cười buồn, kéo ghế mời anh ngồi:
    - Nhà em đây anh ạ! Bố em đang ốm! Từ năm ngoái mẹ em bị bom mất ở ngoài bến, cụ cứ ốm đau luôn. mà nói cho đúng ra, từ những năm trước em đi Thanh niên xung phong chưa được về, cụ cũng cứ buồn.
    Nguyễn Đen đưa chén nước lên môi, cố giấu một nét xúc động.
    - Còn chị cả em – Chinh tiếp – Từ khi anh ấy đi Nam, một nách hai cháu nhỏ, chị chẳng còn đi được đến đâu. Thỉnh thoảng mới chạy ù lại thăm nom ông cụ được một chốc, một lát. Còn em Chiến cũng đi Nam từ đầu năm. Có nó ở nhà thì còn đỡ vắng vẻ… Đi một năm rồi mà chưa tin tức về…Đen gật đầu. Vốn dễ xúc dộng, nhưng lại không quen nói năng để bày tỏ, diễn đạt ý mình, anh vẫn chỉ ngồi im, nhấp nước chè luôn miệng.
    Bỗng có tiếng người gọi ở ngoài cổng. Tiếng một người đàn bà đã có tuổi. Chinh xin lỗi Đen, chạy ra. Lát sau cô quay vào vẻ mặt hơi bối  rối, ửng đỏ lên một chút. Nguyễn Đen chợt nhận thấy Chinh vẫn khá đẹp mặc dù đã tới cái tuổi  ba mươi đáng lo ngại của các cô gái.
    Chinh không để Nguyễn Đen phải hỏi, nói trước:
    - Chị Vân gọi em bảo anh Tín nhắn em mai sang nhà anh ấy có chút việc muốn trao đổi.
    - Tín nào vậy?
    - Xã đội phó của chúng em đấy… - Chinh lại mỉm cười và cặp mắt lại sáng lên lấp lánh như vui đùa và ẩn giấu cả một điều bí mật.
    Nguyễn Đen nói anh muốn sang nhà ông Bảo bến trưởng để trao đổi về việc phối hợp huấn luyện. Theo ý anh, cán bộ công nhân của giao thông dân sự trên bến này cũng cần phải tổ chức huấn luyện tốt, phối hợp với chương trình huấn luyện lớn của tiểu đoàn 27 của anh.
    - Huấn luyện à? – Chinh chưa hiểu.
    - Phải! Tiểu đoàn vừa họp và ra quyết định: bắt đầu tổ chức một đợt huấn luyện lớn kết hợp với việc thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch vận chuyển K2 này.
    Chinh vẫn chưa hiểu:
    - Em tưởng các anh bắc cầu như đêm hôm vừa qua là quá tuyệt vời rồi, còn phải huấn luyện nữa ư? Thôi, đêm đêm anh em đã quần quật bắc cầu, chở phà, sớm lại phải dỡ đi cất dấu, vất vả thế ban ngày cho họ nghỉ được không anh? Em thấy khối đơn vị công binh vẫn làm như vậy. Huấn luyện cũng chỉ theo mùa thôi!
    Nguyễn Đen bật cười:
    - Ai làm vậy, tôi đâu có biết. Tôi chỉ biết cái 27 này đã có nề nếp thế rồi. Vả lại Mỹ nó có đánh theo mùa đâu, mà bảo có mùa huấn luyện.
    Chinh lắc đầu, trách yêu:
    - Các anh ghê thật đấy!
    Quả thật mới ngay sáng nay, tiểu đoàn uỷ27 đã họp để thông qua một quyết tâm mới là tổ chức huấn luyện lớn trong chiến dịch K2. Ba ngày qua, tuy tiểu đoàn đã làm tốt nhiệm vụ và được biểu dương trên toàn tuyến nam, bắc nhưng dẫu sao tiểu đoàn 27 cũng mới chỉ huấn luyện gấp được một số kiến thức và kinh nghiệm cần thiết, trước mắt nhất để kịp thời phục vụ nhiệm vụ, chứ thật ra chưa có bài bản thật vững vàng. Nguyễn Đen đã được gần như tất cả cán bộ trong đơn vị, và toàn thể đảng uỷ tiểu đoàn ủng hộ chủ trương: tranh thủ tiến hành huấn luỵên cơ bản, huấn luyện ngay trong thời gian làm nhiệm vụ. Hai việc này không trở ngại cho nhau, mà trái lại sẽ hỗ trợ đắc lực và thúc đẩy nhau thu được kết quả tốt.
    Kế hoạh huấn luyện cụ thể đã được vạch ra rất tỉ mỉ và thích hợp cho từng đại đội và trên từng bến, từng cung đường khác nhau. Bãi tập của các đơn vị đã được hướng dẫn chọn là khu vực giấu khí tài của các đại đội, mỗi đơn vị  còn phải có một thao trường học bắn súng bộ binh bài 2 (bài 1 đã bắn đạn thật từ đầu năm). Còn các phân đội trinh sát, thông tin, lặn… học ngay tại chỗ, các phân đội cao xạ học ngay tại trận địa… Và như Nguyễn Đen đã nói với Chinh, tiểu đoàn cũng đặt thành vấn đề: yêu cầu cán bộ, công nhân giao thông của các bến cùng huấn luyện để nâng cao trình độ. Các đại đội công binh ở các bến sẽ tích cực giúp đỡ họ, nhất là ở các khoa mục: tháo gỡ bom trên cạn, dưới nước, bom chờ nổ, bom từ trường, bom lân tinh, và cách bắn máy bay tầm thấp…
    Sau khi đã hiểu rõ ý định không phải chỉ là của Nguyễn Đen mà của cả tiểu đoàn, Chinh đứng dậy:
    - Vậy, để em đưa anh sang ông Bảo.
    - Tôi đi một mình cũng được!
    - Đường hơi rắc rối, tối khó đi lắm. Để em đưa anh đi cho chóng.
    Vặn nhỏ ngọn đèn, hạ cánh liếp xuống, Chinh nhẹ nhàng bước ra sân với Nguyễn Đen. Khi cô vô tình đi sát trước mặt, Nguyễn Đen chợt ngửi thấy mùi lá chanh và bồ kết thơm thơm từ trên mái tóc bỏ xoã, khá dài và óng ả của Chinh toả ra. Thoáng một cái như rạo rực trong ngực mình Nguyễn Đen bước nhanh ra cổng.
    Hai người đi trên cánh đồng vắng bên sông, dưới bầu trời đêm đen xanh dịu dàng, huyền hoặc. Gió từ sông dạt dào thổi vào làm bay mái tóc Chinh. Ngước nhìn lên những vì sao lấp lánh xa gần, Nguyễn Đen một lần nữa lại cảm thấy tâm hồn mình hoàn toàn yên tĩnh và tươi sáng.
    Chinh cất tiếng nói trước:
    - Anh Đen ạ! Lúc nãy em nói chuyện tới anh Tín…
 Đen chăm chú. Chinh tiếp:
- Anh biết không?... Đấy là… chồng chưa cưới của em đấy!
Đến lúc này, Đen ngạc nhiên thực sự. Anh quay lại nhìn Chinh. Cô vẫn nhìn thẳng. Khuôn mặt Chinh nhìn nghiêng trong ánh đêm mờ ảo dường như đẹp lạ lùng, mà Đen chưa bao giờ từng thấy. Anh thoắt thấy nao nao. Nhưng cũng lạ, nói tới chồng chưa cưới, Chinh lại không hề có một nụ cười bẽn lẽn nào như thường tình của một cô gái. Trái lại, một vẻ gì như lạnh lùng, xa lạ đang bao phủ lên khuôn mặt với mái tóc dài mềm mại, cặp mắt nhỏ thông minh, và một sống mũi thẳng, thanh tú…
- Vậy hả! Anh Tín. Từ bao giờ vậy, Chinh? - Nguyễn Đen hồi hộp hỏi lại.
- Cũng mới thôi anh ạ! Mọi người, nhất là đội dân quân  cứ vun vào mãi… Cuối cùng… thấy anh ấy… cũng được… Và thế là em đồng ý!
Nguyễn Đen thấy rõ có cái gì chưa thật ổn, anh hỏi lại:
- Sao? Như vậy, theo Chinh nói, có nghĩa là…
Đến lúc ấy, Chinh mới quay lại. Dưới ánh sao đêm mờ nhạt, Nguyễn Đen nhìn thẳng, dưòng như chỉ còn nhìn thấy một cặp mắt hết sức dịu dàng và cũng hết sức buồn bã:
- Vâng, với anh, em có thể nói thực. Đây không phải là một chuyện tình yêu. Anh Đen ạ! Em phải lấy chồng thôi, biết làm thế nào được! Ba mươi tuổi rồi đâu còn trẻ nữa! Tuổi trẻ của em đã vùi hết dưới bom đạn, trong bùn lầy, trên các sông bến rồi, chắc chắn anh cũng đã biết khá rõ. Em đã yêu lần lượt ba anh bộ đội, lần lượt họ đã ngã xuống vì Tổ quốc, khi vẫn còn rất trẻ… Bây giờ em đã ba mươi. Người trẻ quá thì em chỉ coi như em út. Và họ chỉ có thể coi em  như chị cả, chị hai. Người như lớp các anh thì hầu hết đã có vợ, có con. Anh ạ, thật vậy, em không giấu giếm, em vẫn khát khao yêu thương, vì thật ra trong đời em chưa lần nào được yêu đương trọn vẹn. Nhưng giờ đây em không còn tìm được tình yêu như thời còn trẻ nữa. Em lấy chồng là vì… con gái sinh nở có thì, không thể nấn ná tìm chọn được mãi. Như thế đấy, anh ạ! Em sẽ lấy chồng. Và em sẽ làm tròn bổn phận người vợ. Chỉ thế thôi. Như một nhu cầu hoàn toàn thuộc về… tự nhiên…
Nguyễn Đen bỗng trạnh nghĩ đến phận mình. Anh lấy Xoan cũng tương tự như Chinh sắp lấy Tín. Nhưng dẫu sao Chinh cũng đã từng trải qua, tuy chưa trọn vẹn ba cuộc tình duyên say đắm, chân thực với ba người trẻ tuổi. Còn Nguyễn Đen, lớn lên là vào bộ đội luôn, và cứ thế lăn lộn , cứ thế quay tròn trong guồng máy chiến tranh… Chưa một lần anh hiểu được thật rõ thế nào là tình yêu. Phải chăng, cũng chính vì thế mà hầu hết anh em trong đơn vị vẫn đều cho Nguyễn Đen là vụng về, là thiếu tâm lý trong các vấn đề tình cảm, nhất là tình yêu và hôn nhân…
Chinh tiếp tục nói. Nhưng cô nói những gì Đen không nghe rõ nữa. Anh chỉ cảm thấy mình đang được tận hưởng những giây phút mà lòng mình ấm áp, sung sướng, yên ổn… chưa từng có bao giờ. Có lẽ ngay cả khi xưa còn bé bỏng, ngồi lọt trong vòng tay mẹ, Đen cũng không có được những tình cảm tin cậy, thân thiết và cảm thông kỳ lạ như đêm nay. Nhưng rồi anh chợt thấy ngơ ngác, vừa như buồn cười, lại vừa như muốn khóc. ừ phải, trong đêm nay, hai con người đang đi bên nhau giữa cái bao la, vắng vẻ, hai người hoàn toàn hiểu nhau và tin nhau, một người đã có vợ, mà vợ lại không phải là người yêu, mà người kia sắp lấy chồng thì chồng cũng lại là một người phải lấy như một sự “đói thì phải ăn, mưa thì phải tìm chỗ trú”… Vậy tại sao hai con người này lại không được gặp gỡ nhau, không được yêu nhau, không được cùng chung sống với nhau?...
Bỗng có tiếng súng cao xạ phía xa, nơi cầu phao Cổ Tế bắc qua, nổ ran. Rồi cả tiếng súng máy, súng trường của dân quân. Những dòng đạn lửa đỏ lừ bay lên tới tấp. Cả một vùng trời rực sáng và ầm ầm tiếng nổ. Máy bay địch đã tới. Chúng đang lượn. Tiếng gầm rít trên không trung tối đen nghe ghê rợn như tiếng ma quỷ.
Nguyễn Đen cầm tay Chinh kéo vội. Hai người cùng nhảy xuống một hầm trú ẩn lộ thiên ở bên đường.
Bom đã nổ. Đất rung chuyển. Nguyễn Đen căng đầu óc. Nhưng anh nghe và biết rõ: Bom ném khá xa bến và cầu. Yên tâm anh ngồi xuống. Chinh liền nép sát người anh và gục mặt vào khuôn ngực anh.
Lát sau máy bay đã đi hết, bốn bề lại trở nên yên tĩnh như không hề có chuyện gì vừa xảy ra.
Nguyễn Đen dìu Chinh lên khỏi hầm trú ẩn. Dưới ánh sao, anh thấy khuôn mặt Chinh đẫm lệ. Ôi phải chăng, đấy là những giọt nước mắt của hạnh phúc, của tất cả những gì thuộc về sự chân thực của lòng mình? Cũng trên gương mặt đẫm lệ ấy, hé lên một nụ cười mà có lẽ suốt đời Đen sẽ không sao quên được…

 
CHƯƠNG IV
BẾN CẦU RỰC LỬA



Trời đêm rực sáng những chớp lửa đạn cao xạ, súng máy, súng trường. Máy bay địch liên tục rít lên từng hồi. Bom lại nổ. Căn hầm chỉ huy của Nguyễn Đen một lần nữa bị nhấc bổng lên rồi quật mạnh xuống. Ngọn đèn bão đổ vật trên chiếc bàn điện thoại. Đất trên nóc hầm trút xuống rào rào.
Nguyễn Đen vuốt mặt, nhổ một bụm cát trong miệng ra, tay vẫn áp chặt ống tổ hợp bên tai. Đường dây điện thoại đã được chôn sâu dưới đất cẩn thận, nên liên lạc giữa sở chỉ huy với các trận địa phòng không và ngoài bến vẫn bảo đảm thông suốt.
- Sao ? Hả ? Cầu vẫn an toàn, nhưng một xe lương thực bên bờ bắc đang bốc cháy ? Được rồi ! Bình tĩnh ! Tôi sẽ ra ngay với các anh !
Nói đoạn, trao ống tổ hợp cho Đoàn Liễu, dặn anh trực chỉ huy, động viên cao xạ và nhắc nhở anh em ở các khu vực cất giấu khí tài phải sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xấu nhất. Xong, Nguyễn Đen úp chiếc mũ sắt lên đầu, trườn mình ra khỏi căn hầm ở dưới luỹ tre đầu xóm. Một cán bộ tham mưu, một chiến sĩ liên lạc nhanh nhẹn chạy theo Nguyễn Đen.
Ra đồng trống, ngẩng lên, Nguyễn Đen thấy những chùm đạn cao xạ đang tiếp tục tung lên. Anh cũng nhìn thấy ngay đám cháy ở trước mặt, mà anh hiểu đó là chiếc xe lương thực vừa bị trúng bom.
Nguyễn Đen vẫy hai người cùng băng tắt ngang cánh đồng nước để ra bến. Đi qua ruộng ngập bùn nước tuy có chậm nhưng gần hơn lại tránh được bom đạn.
Khoảnh khắc sau anh đã tới chiếc xe đang bốc cháy. Một toán chiến sĩ đang hò nhau xúc đất, té nước giập lửa. Nhưng xem chừng vô hiệu. Máy bay địch vẫn tiếp tục gầm gào trên cao. Chiếc xe cháy làm cả một đoạn đường, nhất là khu mố đầu cầu hiện lên khá rõ, dễ cho máy bay địch quan sát.
Nguyễn Đen nói nhanh với anh chiến sĩ liên lạc:
- Báo anh Thắng, phương án 2, thi hành ngay !
- Rõ !
Anh chiến sĩ liên lạc vọt đi như một chiếc pháo chuột. Chỉ sau khoảng năm phút, ở phía xa, cách khu đầu cầu khoảng chừng hơn năm trăm mét, một đám cháy khác bùng lên, rồi xa tít nữa, một đám khác.
Đại đội trưởng Thắng đã thực hiện kế hoạch đốt lửa nghi binh để phân tán mục tiêu, không cho máy bay địch có điểm ngắm cụ thể nữa. Phương án này đã được bàn bạc và chuẩn bị kĩ từ đêm đầu.
Quả nhiên, khi đã có thêm hai đám cháy dọc theo bờ sông, lũ máy bay địch không còn nhận rõ đâu là đám cháy chuẩn ở bến.
Bom vẫn gầm lên rung chuyển cả đất trời. Bọn phi công Mỹ đã ném vào đám lửa nghi binh thứ nhất, đúng như mọi người đang mong muốn. Cây cầu L.P.P. vẫn hiên ngang, can đảm vắt mình qua dòng sông cuồn cuộn chảy.
- Cho tiếp tục thông xe! - Nguyễn Đen nhảy lên mặt đường, ra lệnh, khi tiếng máy bay đã cuốn xa dần.
Một phát súng báo hiệu nổ vang. Mặt dất đang tối om và như còn đang run lên sau trận oanh tạc dai dẳng thoắt như bừng tỉnh và sống lại mạnh mẽ trong tiếng động cơ vang rền của hàng trăm chiếc xe tải trước đây ít phút còn đang nằm im, nín thở ở hai bờ nam, bắc nay lại tiếp tục cuộc hành trình.
Đại đội trưởng Thắng tới gặp Nguyễn Đen ở đầu cầu. Anh báo cáo tóm tắt về thiệt hại sau trận bom: Cầu chỉ có năm khoang bị thủng. Đang tích cực sửa lại. Coi như không có vấn đề gì lớn, còn về thương vong chỉ có một chiến sĩ bị sức ép, ngất đi, nay đã hồi tỉnh. Nhưng khu cất giấu khí tài của đại đội đã bị hai quả bom ném gần sát. Hai chiếc ca nô bị hư hại. Chỉ còn lại chiếc thứ ba. Nguyễn Đức Thắng không giấu khỏi sự lo lắng của mình về công việc đêm mai, mà cũng có thể cả đêm nay nữa. Thiếu ca nô, công việc kéo dắt các phao cầu và khí tài sẽ vô cùng khó khăn và chậm trễ.
Nguyễn Đen xem đồng hồ. Gần 12 giờ đêm rồi. Anh nhìn người đại đội trẻ tuổi có gương mặt sôi nổi và cởi mở, đáng yêu của mình:
- Được! Tôi sẽ cho hai chiếc xe tải trở về căn cứ kéo thêm hai ca nô dự bị nữa ra đây. Tuy nhiên, ngay tại chỗ, anh cũng phải gấp rút, bằng mọi cách cho sửa ngay hai ca nô bị hư hại ấy.
- Rõ! Tôi đã cho kéo hai chiếc ấy đưa về trạm sửa chữa lưa động của tiểu đoàn! Nhưng còn việc cho xe tải về căn cứ thì…
-    Sao?
-    Xa quá, 150 ki-lô-mét chứ ít đâu!
-    Tôi cho đi ngay đêm nay.
-    Thế thì hay quá! Chúng tôi rất cám ơn tiểu đoàn.
Dặn dò công việc với Nguyễn Đức Thắng xong, Nguyễn Đen quay trở vào trạm sửa chữa lưu động đặt ở bên bãi tha ma, dưới mấy gốc đa khá lớn, cách bến không bao xa. Nếu như mỗi khi ra cầu chứng kiến cảnh anh em tác nghiệp và chiến đấu, Nguyễn Đen thường xúc động, sung sướng thế nào khi tiếp xúc với những cán bộ và chiến sĩ trong trạm sửa chữa lưu động, anh cũng thường có những cảm giác tương tự. ở đây là một công cuộc chiến đấu tuy âm thầm nhưng cũng không kém phần gian khổ, ác liệt, của những người lính thợ. Anh em thợ hàn, thợ gò, thợ máy… đã làm việc hết sức nặng nhọc, căng thẳng, nhiều ngày, nhiều đêm họ không được ngủ. Họ đã luôn luôn phải đảm bảo tốt việc sửa chữa khí tài để phục vụ cho các đơn vị khác tác nghiệp thắng lợi. Họ cũng đã từng bị bom vùi, bom phá… Họ cũng chịu đủ mọi nỗi gian nan cũng như chia sẻ đủ mọi nỗi vui buồn của toàn tiểu đoàn. Họ là những chiến sĩ gần như không tên, không tuổi nhưng hiển nhiên không thể nào thiếu họ. Không, Tuyệt đối không! Trong bất cứ nhiệm vụ lớn nhỏ nào của tiểu đoàn đều nhất thiết phải có khối óc, cánh tay của họ.
Rồi như đã nói với Nguyễn Đức Thắng, ngay sau đó, khi từ trạm sửa chữa trở về sở chỉ huy, Nguyễn Đen lệnh cho hai chiếc Din 157 quay trở về căn cứ để kéo ra Cổ Tế thêm hai ca nô dự bị.
Ngày hôm sau, Nguyễn Đen ngóng chờ mãi nhưng chiều muộn rồi mà vẫn chưa thấy hai chiếc Din 157 trở lại. Anh đã toan cử Đoàn Liễu quay về xem sao. Nhưng Đoàn Liễu có ý ngại, kêu nhức đầu,Nguyễn Đen đành nhảy lên chiếc xe con, bảo phóng thật nhanh. Chín giờ tối anh đã có mặt ở hậu cứ của tiểu đoàn.
Chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Giảng đang ngồi tính toán sổ sách gì đó với cậu quản lý. Nguyễn Giảng đã đứng tuổi, công tác chỉ bằng những kinh nghiệm bản thân, học hành cũng chỉ sơ qua một lớp quân chính ngắn hạn, nhưng được cái vô cùng tận tuỵ, vô cùng thuần chất, và đặc biệt là chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Thấy Nguyễn Đen đột ngột trở về, Giảng biết là anh đang sốt ruột lắm, vội bỏ tất cả sổ sách đó để đón đợi ý kiến anh.
- Hai chiếc xe cho về kéo ca nô ra Cổ Tế đâu anh Giảng? – Đen hỏi.
Giảng hơi tái mặt, vội vã phân trần:
- Anh ạ! Trên tham mưu quân khu điều đi mất rồi!
- Hả?- Nguyễn Đen tròn mắt – Sao lại điều xe của ta?
- Anh ạ! Chả là khi hai chiếc Din 157 về đây thì anh Cao Thành trên tham mưu quân khu xuống nom thấy. Anh ấy về quân khu lấy lệnh điều luôn đi kéo pháo 100 mi-li-mét ở căn cứ II của quân khu đưa xuống bổ sung cho tỉnh đội Ninh Bình ở tận bờ biển Rạng Đông, để bắn tàu chiến dịch. Việc đang gấp lắm.
- Thế việc của chúng ta không gấp ư? Mà sao anh lại đưa xe cho họ?
- Anh ạ! Lệnh của anh Thượng Trung tham mưu phó quân khu mà. Tôi không chấp hành sao được?
Nguyễn Đen thở hắt ra. Anh càng bực khi nghe Nguyễn Giảng báo cáo tiếp là hai chiếc xe ấy kéo pháo ra khỏi căn cứ II thì bị lầy ở giữa ruộng, kéo không nổi, phải dấu cả hai xe vào cũng không xong. Nay đang còn lình xình cả ở đấy!


ĐỐI THOẠI
Đến lúc này, Nguyễn Đen không sao nín nhịn được nữa. Anh phải nói như gắt lên:
- Bận sau anh đừng làm thế! Anh nên cho gọi hai chiếc xe ấy về ngay đây anh ạ!
Liền sau đó, anh gọi máy nói lên tham mưu quân khu.
- Vâng! Tôi Nguyễn Đen đây! Ai đấy? Anh Thượng Trung ạ!
Xin chào thủ trưởng! May quá tôi đang muốn được trực tiếp nói chuyện với thủ trưởng. Tôi xin báo cáo đề thủ trưởng biết: tôi đã cho gọi hai xe tải Din 157 của chúng tôi về…
Tiếng nói đầy uy quyền từ đầu dây bên kia như bỗng gắt lên:
- Hừ ? Tại sao các anh không chấp hành mệnh lệnh như vậy ? – Nguyễn Đen trả lời:
- Vì xe Din 157 không thể nào kéo được pháo 100 mi-li-mét.
Tiếng nói bên kia càng đầy uy quyền và càng thêm gay gắt:
- Sao không kéo được ? Như vậy là các anh không muốn chấp hành lệnh phải không ? Các anh sẽ phải chịu trách nhiệm đấy !
Đến lúc ấy Nguyễn Đen cũng không thể không nổi xung;
- Báo cáo tham mưu phó , đồng chí có hiểu tính năng, tác dụng của xe Din 157 không? Anh cứ nhân danh cấp trên hạ lệnh như vậy, ai chấp hành nổi? Sao lại bắt Din 157 kéo loại pháo ấy trên đường dài, mà lại là đường lầy lội? Xe xích đâu, quân khu thiếu gì xe xích?
Nguyễn Đen đang chờ một tiếng gầm lên từ đầu dây nói bên kia, nhưng lại thấy im lặng. Nguyễn Đen hiểu trung tá Thượng Trung núng rồi, anh tiếp:
- Hơn nữa, chúng tôi đang bắc cầu bảo đảm chiến dịch, ca nô bị địch đánh hỏng, phải cho kéo gấp ca nô dự bị ra. Chẳng lẽ anh không biết nhiệm vụ của chúng tôi thế nào ư?
Đến lúc đó, người bên kia đã trấn tĩnh lại được:
- Á à, anh lý sự khá đấy, anh Đen ạ! Thôi được, tôi sẽ báo cáo việc này với Bộ tư lệnh quân khu.
- Rõ! Anh cứ báo cáo đi!
Nguyễn Đen nói đoạn, ném chiếc ống tổ hợp xuống, không buồn nói tiếp nữa. Nửa giờ sau, anh nhảy lên xe, quay trở về Cổ Tế anh không quên dặn Nguyễn Giảng:
- Anh bảo đảm cho hai chiếc Din 157 kéo ngay ca nô ra cho tôi trong đêm nay. Mọi việc với quân khu, tội lỗi đâu tôi sẽ chịu. Anh cứ yên tâm.
Nguyễn Giảng nhăn nhúm cả mặt lại, Nguyễn Đen nói như vậy Giảng vẫn còn lo. Cũng như nhiều người khác, Nguyễn Giảng đã khá hiểu Cao Thành là người như thế nào, hiểu cả việc anh ta luôn luôn cậy thần cậy thế để lấn át mọi người. Việc này, lẽ cố nhiên Nguyễn Đen sẽ chịu trách nhiệm là chính. Nhưng lẽ nào Giảng lại không có liên đới? Thế mới gay…
Việc Nguyễn Giảng lo không phải là điều vô lý.
Ngay sáng hôm sau tham mưu phó Thượng Trung và Cao Thành đã đi thẳng tới chỗ phó tư lệnh Nhiệm để báo cáo về sự “ vô kỷ luật” của Nguyễn Đen.
Ông Nhiệm ngồi im lặng lắng nghe. Trong lòng ông không khỏi phân vân về sự đúng sai trong chuyện này. Thêm nữa, ông bắt đầu thầm cảm thấy khó xử và không thích Cao Thành cứ luôn luôn bám sát lấy ông, và bám sát một cách quá lộ liễu. Nhiều tối, chẳng có việc gì, Cao Thành cũng vào phòng ông để trò chuyện, mà toàn là chuyện công chẳng ra công, tư chẳng ra tư, thậm chí tầm phào giải trí với nhau cũng chẳng phải nốt. ông hiểu cung cách ra vào của Cao Thành đã làm mọi người chung quanh phải chú ý. Dường như đã có sự xì xầm coi Cao Thành như là một “gia nhân, thủ túc” của ông vậy. ông không thích có điều tiếng như thế. Tất nhiên với chỗ quen biết cũ, ông cũng có ít nhiều cảm tình với Cao Thành. Ông cũng muốn anh ta có một vai trò nào đó trong đội ngũ cán bộ chung quanh ông, để ông gửi gắm lòng tin cậy thực sự. Nhưng càng ngày, xem ra con người này không phải đúng như ông nghĩ và mong muốn. Trong đầu óc ông bắt đầu le lói lên một ý nghĩ thầm kín: không khéo vớ phải một tay ma giáo cũng nên, nếu như thế thì phiền thật! Ông là người cách mạng chân chính, ông đâu có chịu để cho ai lợi dụng mình làm điều không hay!
Đối lại, vốn là người không đến nỗi thiếu thông minh, Cao Thành cũng đã ít nhiều hiểu được những ý nghĩ thầm kín cuả ông Nhiệm. Tuy vậy, Cao Thành vẫn hoàn toàn kiên định trong chủ trương của mình: Phải bám chặt. Bám sát lấy ông Nhiệm. Phải tích cực khai thác triệt để mối quan hệ cũ giữa hai người. Phải biết chịu đựng, phải biết phớt lờ và coi khinh tất cả mọi dư luận…
Riêng về việc đụng độ với Nguyễn Đen hôm nay, theo Thành là trường hợp rất cụ thể, hết sức thuận lợi để tạo cho ông Nhiệm một cơ hội xét xử. Bởi vậy Cao Thành đã ra sức thuyết phục để ông hiểu rằng: Nguyễn Đen đúng là một tay kiêu ngạo, thiếu ý thức tổ chức, đã có một hành vi vô kỷ luật nghiêm trọng, thậm chí còn tỏ ra coi thường và thách thức cả cấp trên…
Ông Nhiệm gật gù lắng nghe. Dẫu sao, biết gì, nghĩ gì về Cao Thành, ông vẫn chưa vượt qua nổi những tình cảm xưa cũ với nhau. Nói đúng hơn: dẫu sao ông cũng còn một chút thương, một chút nể anh ta.
Cao Thành tiếp tục nói. Nhưng, gần như bất ngờ, ông Nhiệm quay máy nói gọi đòng chí thư ký riêng vào:
- Anh mời giúp tôi đồng chí trưởng phòng kỹ thuật sang đây cho tôi!
Lát sau, một trung tá đeo kính cận bước vào phòng, ông Nhiệm ôn tồn và vắn tắt hỏi về việc kéo pháo 100 mi- li- mét bằng xe Din 157. Đồng chí chủ nhiệm kỹ thuật tủm tỉm cười, nhẹ nhàng trả lời là không thể như thế được.
Như bị mồi lửa gí giữa trán, Thượng Trung bật dậy:
- Sao cậu Cao Thành trợ lý công binh bảo tôi là kéo được?
Đồng chí trưởng phòng kỹ thuật vẫn tủm tỉm cười, dịu dàng:
- Cậu Thành thì về xe máy còn lỗ mỗ lắm đấy ạ! Din 157 cố kéo cũng được, nhưng chỉ trên đường bằng, đường nhựa một quãng ngắn thôi. Lẽ ra anh nên hỏi phòng chúng tôi, ta thiếu gì xe xích, xe xích mới kéo được nó…
Khi đồng chí tham mưu phó và trưởng phòng kỹ thuật trở ra, ông Nhiệm khó khăn lắm mới quay lại chỗ Cao Thành nói nho nhỏ:
- Thôi, cậu hãy cứ về đi! Để rồi tôi sẽ nhắc nhở Nguyễn Đen sau…
Cao Thành ra về, mặt bừng bừng. Gần như suốt đêm ấy anh trằn trọc. Ba hôm sau anh đi xuống Cổ Tế anh lại đã có một “ phương án mới”. Anh muốn gặp Đoàn Liễu. Con người này đã tới lúc cần đến. Hắn sẽ làm được việc, khi có người hướng dẫn cho hắn. Nếu không, trước sau hắn cũng chỉ là một con người chỉ biết hậm hực vì lòng đố kỵ, ghen ghét. Giỏi lắm là chỉ biết ngồi lê la trong đám cán bộ cấp dưới, hoặc chiến sĩ để tung tin thất thiệt, hoặc dèm pha sau lưng người mà hắn đang muốn cầy bẩy.
Bây giờ cần hướng cho Đoàn Liễu biết tập trung vào một khâu mấu chốt nhất; tìm hoặc tạo cho một vụ việc nào đó; chỉ cần một thôi, miễn là vụ việc đó quan trọng, có liên quan tới lập trường, quan điểm, hoặc nguyên tắc. Nhân dân ta trong chiến trường đánh Mỹ ngụy vẫn thường dùng cách moi từ trong ruột chúng moi ra, gây rối loạn ngay từ trong ruột chúng, tạo cho chúng suy yếu và tự diệt lẫn nhau. Kinh nghiệm ấy là một kinh nghiệm thật đáng học tập và vận dụng… Cao Thành nghĩ thế!




VỤ VIỆC ẤY ĐÂY RỒI

Chinh gần như ngày nào cũng phải ghé vào sở chỉ huy của tiểu đoàn 27 một lần. Có buổi có công việc cần bàn, cần phối hợp giữa đôi bên bộ đội,công nhân và dân quân xã. Nhưng có buổi không có việc gì, Chinh cũng vẫn cứ tới. Một ngày không gặp được Đen là cô cảm thấy hết sức trống trải buồn bã, mặc dầu Đen vẫn kiên trì giữ vững mối quan hệ giữa hai người một cách hoàn toàn trong sáng. Nhưng chính vì vậy mà Chinh càng yêu anh, kính trọng anh hơn bao giờ hết.
Tuy vậy, sự năng lui tới của Chinh đã làm cho Đoàn Liễu thêm tức tối. Cho đến hôm Cao Thành xuống và sau khi đã tâm sự với nhau một đêm, Đoàn Liễu suýt phải bật kêu lên sung sướng: “ Ôi vậy nó đây rồi, cái vụ việc ấy đây rồi, còn phải tìm đâu xa, còn phải chờ đợi gì nữa!”. Đó là mối quan hệ bất chính giữa đồng chí tiểu đoàn trưởng đã có vợ có con với một đồng chí nữ công nhân sắp sửa xây dựng gia đình. Đây là một vụ việc bỉ ổi, đã phá hoại hạnh phúc của đồng chí, đồng bào mình, một vụ việc vi phạm nghiêm trọng tới đạo đức xã hội chủ nghĩa sáng ngời của chúng ta.
“ Nhưng chớ có hấp tấp! Chớ có làm ồn lên vội mà chúng kịp thời đề phòng, ông Liễu ạ!” – Cao Thành đã nghiêm chỉnh căn dặn như vậy. – “Hãy im lặng thêm ít nữa đã, coi như không biết gì hết. Hơn nữa, có đứa nào xì xầm, cũng gạt đi, coi như mình hết lòng tin tưởng ở tiểu đoàn trưởng và hết lòng bảo vệ đồng chí ấy. Cứ để mở rộng cửa. Chắc chắn họ sẽ đi sâu hơn nữa. Lúc đó ta mới khép lại, thì họ có chạy đằng trời. Hiểu chứ? Và, ngoài ra, để cho chắc chắn thêm, ông xem các công việc thì đồng chí này còn thường hay phạm hoặc có thể phạm cái gì? Đường lối quân sự của Đảng chẳng hạn, hoặc nguyên tắc tác chiến, hoặc tài chính, vật tư chẳng hạn…”.
“Vật tư? Vật tư? Vật tư thì có chuyện lắm chứ! ờ cái 27 này nhiều xi măng, sắt thép… Nhưng lại là ở chỗ tay quản lý cơ! Nguyễn Đen không ăn gì, nhiều lúc chỉ phóng tay ký ào ào làm tôi cũng sợ…”
“Ôi, thế thì đúng rồi! Cứ gì phải trực tiếp ăn cắp? Chỉ nguyên cái ào ào ấy là đủ, là đại vô nguyên tắc, là tiếp tay cho kẻ ăn cắp rồi! Trời ơi, việc như vậy mà ông hữu khuynh bao năm nay không chịu đấu tranh, đưa ra pháp luật hả? Chưa đủ chứng cớ tài liệu hả? Không sao! Ông cứ phát đơn tố giác đi, hoặc tìm một đứa nào đó, mượn tay nó mà tố giác. Sẽ có giải pháp, có kiểm tra họ xuống và họ sẽ tìm ra đủ chứng cớ, tài liệu… Khó mượn tay thằng nào được hả? Chẳng lẽ Nguyễn Đen là một ông thánh ở đây sao? à, có hả, một cậu cán bộ trung đội bị Nguyễn Đen thi hành kỷ luật , cho đi khỏi đơn vị vì tội hủ hoá, và ăn cắp xi măng bán cho dân buôn hả? Vậy phải tìm cho ra tên này! Nó bây giờ ở đâu ? ở đơn vị khác rồi hả ! Khác cũng được. Từ đó nó phát đơn tố giác càng tốt !”
“… Như vậy rõ ràng là vị tiểu đoàn trưởng của ông có hai tội không thể chối cãi được nhé: một là hủ hoá với cô Chinh, hai là đồng loã ăn cắp vật tư với quản lý tiểu đoàn. Đủ chưa nào ? Thôi ông Đoàn Liễu ạ, ông chuẩn bị để mà gánh lấy trọng trách xây dựng lại cái tiểu đoàn này cho nó vững mạnh và trong sạch hơn lên. Nặng đấy, nhưng tôi coi tướng ông có thể đảm đương được. Tôi sẽ báo cáo với “cụ” Nhiệm về ông. Chắc ông biết “cụ” ấy quý tôi như thế nào rồi…”.
Từ sau buổi tâm sự tuyệt mật và tràn đầy hy vọng ở tương lai ấy, Đoàn Liễu đã âm thầm ghi nhận không để sót một cử chỉ, thái độ, lời nói nào của Nguyễn Đen và Chinh mỗi khi hai người gặp nhau.
Cũng từ sau buổi gặp Cao Thành, Đoàn Liễu đã xin tranh thủ về phía sau, và đã tìm được Hưởng, cậu cán bộ trung đội đang hết sức căm giận Nguyễn Đen. Một lá đơn dài 8 trang đầy chữ nhỏ li ti đã được hai người đọc đi đọc lại, sửa từng ý, từng lời, chuẩn bị để gửi lên trên tố giác quản lý Thức của tiểu đoàn về tội ăn cắp tài sản, và tố giác cả Nguyễn Đen về tội bao che cho Thức vì có những mối quan hệ ăn chia mờ ám, xấu xa…
Tất cả những việc đó, Nguyễn Đen không hề biết một mảy may. Anh vẫn vùi đầu vào công việc, lăn lộn không những trên bến chính là Cổ Tế mà còn luôn đi tới tất cả các bến khác, những nơi mà tiểu đoàn anh đang phải đảm bảo. Đôn đốc, kiểm tra, anh lăn vào giúp các đơn vị đẩy mạnh việc huấn luyện tại chỗ theo kế hoạch của tiểu đoàn và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm giao thông.
Sáng hôm nay, theo đúng kế hoạch, anh lại tới bến Cẩm Thuỷ làm việc. Suốt cả buổi sáng, anh ở ngoài bến với các cán bộ và chiến sĩ đại đội Trần Đằng . Anh em ở đây chiến dấu và huấn luyện đều tốt, không kém gì anh em trên Cổ Tế. Nguyễn Đen hết sức vui mừng. Buổi chiều, anh tiếp tục ra bến để cùng anh em chung sức nghiên cứu thí điểm cải tiến mố cầu phà chở xe tăng. Đây là một công việc mà anh đang hết sức ham mê. Sở dĩ phải lên bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn để nghiên cứu, vì mấy hôm nay bọn Mỹ đánh Cổ Tế liên tục, rất khó có thể thí điểm, nghiên cứu được cái gì hết.
Anh đang lụi hụi làm việc, chợt nghe đài quan sát của đại đội đặt trên điểm cao 405 báo cáo gấp: Có rất nhiều máy báy địch đang oanh tạc ở hướng Cổ Tế.


TÌNH HUỐNG BẤT NGỜ

Sau khi phán đoán tình huống, giao công việc lại cho kỹ sư Nguyễn Hạnh cùng đại đội trưởng Trần Đằng tiếp tục làm thí điểm, Nguyễn Đen lên xe quay trở lại Cổ Tế.
Xe lao như bay trên đường. Ruột anh như có lửa đốt. Khi cách bến chừng một ki- lô- mét, Nguyễn Đen đã nhìn thấy một nhóm cán bộ chiến sĩ của mình đang đi vội vã ngược lại phía anh. Nhưng anh nào anh nấy mặt mũi lại phởn phơ. Nguyễn Đen nhận ra đội trưởng trinh sát Đoàn Lộc cùng với anh em trinh sát chuyên ghi chép và xác định các vệt bom của địch.
Nguyễn Đen cho dừng xe lại. Mọi người cùng vây lấy anh. Đoàn Lộc báo cáo vắn tắt tình hình đã xảy ra ở “nhà”: Bọn Mỹ vừa cho máy bay ồ ạt đánh thẳng vào Cổ Tế. Lúc đầu bọn chúng dùng 4 tốp liên tiếp thả bom nổ tức thì, sau đó cho một tốp khác thả hai vệt bom nổ chậm. Xảo quyệt, chúng lại cho một tốp nữa thả tiếp một loạt bom nổ tức thì để xoá mọi dấu vết nổ chậm, không cho ta phát hiện và khắc phục được. Trên đài quan sát, anh em trinh sát đã ghi được 24 bom nổ chậm và 96 quả bom nổ các loại. Đại đội cao xạ đã bắn cháy một F.4. Các lực lượng dân quân do Chinh trực tiếp chỉ huy hôm nay cũng bắn rất mạnh, nên máy bay Mỹ phải hất lên cao, chỉ có một số bom trúng bến, còn phần lớn rơi xuống sông , trên ruộng, vài quả rơi vào làng làm cháy một số nhà của đồng bào…
Tình huống này đã làm cho đại đội 3 gặp không ít khó khăn. Nhưng Nguyễn Đức Thắng ra sức khắc phục mọi hậu quả. Hai người dân đang làm ngoài đồng bị bom chết. Một quả bom rơi cạnh hầm đầu bến làm một chiến sĩ gác của đại đội 3 hy sinh, một chiến sĩ khác và một công nhân bến phà bị thương…
Ban chỉ huy đại đội phải họp cấp tốc phân công cán bộ cùng một lúc giải quyết nhiều việc. Trước hết phải cấp cứu người bị thương, tổ chức tang lễ liệt sĩ đồng thời cử người đi viếng các đám tang của nhân dân trong làng. Việc này được giao cho chính trị viên phó Huynh phụ trách, sau đó là trinh sát bến bãi, tổ chức khắc phục phá gỡ bom và san lấp hố bom, sửa chữa bến phà, làm lại đường vào bến, giải vệt chống lầy, khắc phục lầy lội…Việc này đựơc phân công cho chính trị viên Lai và đại đội phó Quang. Đại đội phó Quang phụ trách bờ nam, còn chính trị viên Lai phụ trách bờ bắc.
Riêng về phía Đoàn Lộc cùng anh em trinh sát, ngay sau khi máy bay Mỹ cút hết, Đoàn Lộc đã cùng anh em lao ngay ra bến, đo vẽ, ghi chép trong khu vực này. Đã phát hiện được một hút bom nổ chậm nằm ngay trên đường xuống bến. Sau hơn một giờ tập trung đào bới, quả bom ấy đã lộ mặt. Xem xét kỹ, Đoàn Lộc nhận ra đây là một loại có ngòi nổ từ trường kiểu mới “Model 3”. Loại này Đoàn Lộc chưa hiểu nguyên lý và phương pháp tháo gỡ. Anh em trinh sát đã bàn: Đánh bộc phá để hủy quả bom này đi. Nhưng nếu làm như vậy sẽ hỏng bến,vì khối lượng thuốc nổ của quả bom khá lớn. Mặt khác Đoàn Lộc cũng tiếc đây là loại bom mới, nghiên cứu được cách tháo gỡ đầu nổ của nó để lấy kinh nghiệm “ giềng” những quả khác về sau này thì tốt hơn.
Không một ai phản đối ý kiến của Đoàn Lộc. Tất cả anh em có mặt tại đây đều tình nguyện được làm cái công việc mạo hiểm, ngàn cân treo sợi tóc này. Nhưng Đoàn Lộc cũng không nhường cho ai với lý do: “ Tôi đề xuất ý kiến, tôi phải là người thực hiện”, và với vẻ mặt đầy tự tin. Đoàn Lộc đưa bàn tay phải có những ngón trai sạn cứng quèo lên vỗ đồm độp vào khuôn ngực nở vồng lên của mình và lớn tiếng nói thêm rằng: “ Đừng nghĩ thằng Lộc này tự kiêu khi nói nó là thằng kinh nghiệm nhất trong bọn phá bom ở đây. Không đựơc tranh nhau với nó!”. Dứt lời Đoàn Lộc xua hết mọi người ra xa phân công người gác xung quanh, chỉ để một mình anh “chiến đấu” với cái đầu “Model 3” quỷ quái ấy.
Anh cởi hết quần áo, cầm những dụng cụ đặc biệt để tháo gỡ bom, bình tĩnh đi vào hút bom. Anh thận trọng từng động tác, vừa suy nghĩ vừa nghiên cứu, mò mẫm từng li từng tí, mười phút, mười lăm phút, lúc nằm ngửa, lúc nằm sắp, lúc quỳ, lúc ngồi, mồ hôi Lộc vã ra như tắm…
Hai mươi phút trôi qua. Một chiến sĩ sốt ruột quá, lo lắng chạy lao vào hút bom.
- Thế nào đội trưởng? Để em tháo tiếp cho!
Lộc dừng tay lại quát:
- Sao lại vào đây? Sắp được rồi, thôi ra đi! Coi chừng kẻo có người vào đây nguy hiểm đấy!
Nhưng Lộc lại gọi cậu chiến sĩ, nói cho cậu ấy nghe, mình đã tháo đến đâu và biện pháp tiếp theo là…
Lộc nói như thế để bàn giao cho người sau biết mà tháo gỡ, đề phòng tình huống bất trắc xảy ra, bom nổ, Lộc có thể hy sinh.
Nhưng rồi, hai mươi phút sau nữa, trong khi tất cả anh em đều nằm rán mắt nhìn về phía quả bom và lo lắng thì thấy Lộc bỗng reo và đứng lên, tay cầm chiếc đầu nổ vàng choé giơ lên.
- Được rồi, được rồi !
Các chiến sĩ trinh sát liền reo lên và chạy ùa lại ôm lấy đội trưởng. Cũng vừa lúc đó tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh từ sở chỉ huy tiểu đoàn đi xe cóc ra bến. Đang sốt ruột và lo việc tháo đầu chiếc nổ mới của Lộc không an toàn, trông thấy Lộc cầm chiếc đầu nổ chạy về phía xe, Ngô Doãn Hanh cũng mừng quýnh lên. Nghe Lộc báo cáo tình hình và quan sát lại bến một lần nữa, trao đổi với cán bộ đại đội 3 ở bến những công việc phải làm. Lộc cũng giao nhiệm vụ cho các chiến sĩ trinh sát tiếp tục làm nhiệm vụ, rồi lên xe mang chiếc đầu nổ mới về sở chỉ huy cùng Ngô Doãn Hanh.
Sau khi nhận được điện báo cáo về Quân khu, Quân khu báo cáo lên Bộ. Ngay ngày hôm sau Bộ Tổng tham mưu đã cử một cán bộ của Cục nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, đem lệnh của Bộ xuống lấy chiếc đầu nổ “Modell – 3” mà Lộc tháo được về nghiên cứu.
Và quả thật Đoàn Lộc là một con người tuyệt vời. ý muốn của anh, anh đã thực hiện được một cách vô cùng êm ngọt như biết bao nhiêu quả bom anh đã từng vô hiệu hoá chúng trước đây. Tất cả các chiến sĩ trinh sát ùa đến ôm chặt lấy anh reo mừng.
Nhưng khi đưa cái đầu nổ của quả bom “Modell 3” ấy trên đường về sở chỉ huy của tiểu đoàn, không khí vui vẻ chưa kịp tan lắng, gặp tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen mới ở bến Mục Sơn về, anh liền đặt ngay một câu hỏi bức xúc:
- Còn các quả khác ? Và cả mấy vệt bom kia nữa, tính sao đây ?
Đến lúc đó Đoàn Lộc thoắt trở nên lúng túng. Thì ra vì quá say mê “tỉ mẩn” với trái bom có đầu nổ “Modell 3” ấy, anh đã không chú ý đầy đủ tới những vệt bom trong toàn khu vực.
Nguyễn Đen quyết định:
- Thôi, tất cả quay lại ! Lên xe, trở lại bến ngay với tôi !
Mọi người đều im bặt, liếc nhìn nhau. Họ đã “tỉnh” cơn vui và biết lo tới lũ “ác ôn” còn đang ẩn náu ở tất cả chung quanh bến.
Chiếc xe lại rồ máy lao đi như bay. Đến chân một ngọn đồi, Nguyễn Đen dừng xe lại, nhảy phốc xuống, anh lên thẳng đài quan sát.
Hai chiến sĩ đang bám trụ ở đó thấy tiểu đoàn trưởng đột ngột leo lên, mặt đẫm mồ hôi, thì không khỏi giật mình.
- Cho tôi xem sổ và sơ đồ ghi chép bom !
Các chiến sĩ vội đưa cho anh một quyển sổ đã nhầu nát và một tờ giấy lớn có vẽ sơ đồ bến và đã được đánh dấu nơi những trái bom vừa rơi xuống.
Nguyễn Đen cắn môi đọc một lúc rồi ngẩng lên chăm chú hỏi lại về các hướng đường bay của địch và đội hình của tốp máy bay thả bom nổ chậm. Sau đó, anh cùng Đoàn Lộc và nhóm trinh sát trao đổi ý kiến, phán đoán, xác định lại tình hình từng vệt bom. Cuối cùng, anh khẳng định: một vệt bom đã cắt ngang bến phà. Còn một vệt nữa thả chéo theo dọc sông về phía thượng lưu. Nhận định ấy làm cho Đoàn Lộc và nhóm trinh sát nhẹ cả người. Không còn phải đắn đo gì nữa, họ đã hoàn toàn tin tưởng ở khả năng và sự nhạy cảm của Nguyễn Đen từ lâu.
- Khí tài của Nguyễn Đức Thắng đã đưa xuống giấu ở hạ lưu rồi phải không ? – Nguyễn Đen hỏi.
- Không ạ ! Vẫn ở thượng lưu. - Đoàn Lộc đáp.
- Chết rồi ! – Nguyễn Đen thốt lên – Tôi đã lệnh cho cậu ấy chuyển khu cất giấu khí tài xuống hạ lưu rồi cơ mà ! Sao vẫn còn ở trên đó ?
- Báo cáo, ở nhà anh Đoàn Liễu bảo cứ để ở đấy ôn luyện cho tiện. Chuyển sau cũng được !
- Thế ở dưới hạ lưu không ôn luyện được ư ? ở đó có rặng tre, càng kín đáo chứ sao !
Đoàn Lộc không biết đáp sao nữa. Đen thở dài:
- Thôi được ! Dẫu sao việc cũng đã rồi. Bây giờ phải lo đánh dấu cho hết các bãi bom đã, rồi tính tới việc rà phá sau.
Nói đoạn, anh quay trở xuống chân đồi. Chiếc xe một lần nữa lại rú lên, nhằm thẳng bến lao tới.
Nguyễn Đức Thắng được tin tiểu đoàn trưởng về, đã ra đón anh ở đầu bến. Con người luôn luôn tươi cười, sôi nổi, lạc quan đến thế mà lúc này cũng trở nên lo lắng,gần như bối rối nữa.
Thoắt cái, Nguyễn Đen đã cởi hết quần áo ngoài, ngồi bệt xuống bên đường, trải bản đồ ra cùng Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Lộc bàn bạc. Các chiến sĩ trinh sát và cả các chiến sĩ nghiệp vụ khác nhau của công binh cùng đứng vây tròn lấy ba người chỉ huy.
Nguyễn Đen nhắc lại nhận định của anh về hai vệt bom, rồi cầm bút chì xanh vẽ lên bản đồ. Tất cả mọi người, từ Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Lộc tới các chiến sĩ đều nhất trí với anh. Nguyễn Đen kết luận: phải nhanh chóng xác định vị trí từng quả bom một, rồi tìm cách phá trước những quả nào có liên quan trực tiếp tới việc bắc cầu tối nay, số còn lại tuy cũng phải khẩn trương giải quyết nhưng hãy tạm thời đánh dấu để đấy, “hỏi tội chúng sau”
- Anh ra lệnh cho Nguyễn Đức Thắng chuẩn bị ngay các phương tiện rà phá bom dưới sông và biện pháp tổ chức hành quân bằng thuyền đưa khí tài qua bãi bom xuống bến bắc cầu đêm nay.
Sau đó anh phân công cụ thể từng người vào bãi bom trinh sát theo đội hình “ô vuông”. Mỗi người cách nhau khoảng 100mét. Cuối cùng, anh hạ lệnh cho tất cả cán bộ chiến sĩ cởi bỏ hết quần áo ngoài. Anh hô ngắn ngọn: Tất cả vào bãi bom!
Anh cầm bản đồ tiến lên trước. Cả đoàn tiếp sau anh, từ các đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Lộc tới các chiến sĩ chở phà, lái xe… Theo đúng nghĩa đen: Tất cả đang tiến vào một vùng chết chóc để giành lấy cái sống.
Nửa giờ sau, Nguyễn Đen thu quân.
Tất cả lại ngồi quây quần bên nhau, người nào cũng lấm lem mồ hôi nhễ nhại. Nhưng tất cả đều tươi cười rạng rỡ. Vệt bom thứ nhất đã được ghi chép và đánh dấu đầy đủ.
- Tiếp tục!
Nguyễn Đen lại đứng dậy, ra lệnh.
Đúng như dự đoán của anh, vệt bom thứ hai địch đã rải dọc theo bờ sông. Nhưng trong số 12 quả, chỉ phát hiện được có 8 ở trên bờ (5 ở bờ bắc, sát mép nước, 3 ở bờ nam, phía trong đê). Như vậy còn 4 ở dưới sông! Chúng đã khống chế một khúc  sông khoảng 500 mét ở thượng lưu.
- Dừng lại đã! Chưa được kéo thuyền xuống bến bắc cầu vội.
Nguyễn Đen kịp thời phát ra mệnh lệnh quan trọng ấy cho Nguyễn Đức Thắng.
Và, đến lúc này thì chính anh cũng phải thấy thoáng như lạnh gáy, vì không ngờ tình huống lại phức tạp đến thế. Trong khi đó Nguyễn Đức Thắng gần như ứa nước mắt, thành thực nhận lỗi đã không kiên quyết chấp hành lệnh của Nguyễn Đen chuyển khu cất giấu khí taì xuống hạ lưu. Nguyễn Đen an ủi anh vì đã có ý kiến can ngăn của Đoàn Liễu thì cũng khó thực hiện. Đoàn Lộc cũng càng giận mình vì đã quá say mê với quả bom ở trên bến mà không chú ý tới cả khu vực.









             CHƯƠNG V
KHÚC SÔNG HIỂM NGHÈO


           Mọi người đều nín thinh. Ai cũng hiểu rằng: chỉ một chút nữa, nếu Nguyễn Đen không về kịp, Nguyễn Đức Thắng cứ cho kéo khí tài từ thượng lưu xuống bến để bắc cầu tối nay, thì có nguy cơ toàn bộ khí tài sẽ tan tành hết.
Nguyễn Đức Thắng nhăn nhó:
- Báo cáo anh Đen, hay là… hôm nay anh cho bỏ huấn luyện?
Nguyễn Đen lắc đầu:
- Không cần phải thế! Cứ chấp hành nghiêm chỉnh kế hoạch. Muốn đảm bảo thời gian thông cầu, càng phải giữ vững kế hoạch huấn luyện. Đây cũng là một cơ hội cho đại đội 3 lập công và rèn luyện. Mọi việc sẽ bàn tỉ mỉ. Cứ bình tĩnh!...
Giữa lúc đó, ở bờ nam có một tiếng nổ lớn. Mọi người cũng ngoái lại thì thấy một cột khói và đất đá phụt cao tới vài chục mét. Nguyễn Đức Thắng nói:
- Anh em dân quân địa phương và công nhân bến phà họ chịu trách nhiệm rà phá bên ấy. Tôi đã phân công lúc nãy. Có lẽ cô Chinh đó anh ạ. Vâng! Cô Chinh trực tiếp làm nhiệm vụ phá bom, vì cô ấy nói hồi còn làm thanh niên xung phong ở chiến trường, cô ấy chuyên phá bom.
Đen sững sờ. Quả bom đã phá nổ, nhưng liệu người phà nó có sao không? Anh quay đi, để giấu nỗi lo lắng, bàng hoàng trên nét mặt mình…
Lát sau, theo đúng kế hoạch đã được vạch ra, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng cấp tốc tổ chức một đội rà phá bom dưới sông, ở phía thượng lưu, bằng phương pháp thủ công: Các chiến sĩ dùng những sợi dây có đeo nam châm và cả những sợi dây có buộc những thùng phuy rỗng để kéo ngang sông.
Một cảnh tượng khá đặc biệt diễn ra trên đoạn sông đã trở nên bình lặng: các chiến sĩ ra sức kéo qua kéo lại những sợi dây trên sông, kiên trì như những toán dân chài đang kéo lưới vét cá. Nhưng 15, rồi 20 phút đã trôi qua, mặt sông vẫn hoàn toàn câm lặng, bí mật.
- Không lẽ… không có bom? - Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng sốt ruột quay lại phía Nguyễn Đen rấm rứt nói.
Mặt vẫn lì ra, Đen câm lặng như dòng sông. Anh không lộ rõ một vẻ gì thất vọng hoặc nôn nóng.
Các chiến sĩ lại từng đôi một tiếp tục rạp mình xuống kéo dây ngược lên, rồi lại kéo xuôi xuống, hết sức kiên trì, nhẫn nại. Cùng lúc đó, ở một đoạn sông phía xa, có một toán nữ dân quân vừa đi lấp hố bom về, quần áo lấm như trâu đầm. Các cô láo nháo rủ nhau nhảy ù xuống sông tắm. Một chú lính trẻ đứng gác ở bụi cây gần đó đỏ mặt lên khi thấy những thân hình trắng muốt uốn lượn cách tầm mắt chú không xa. Đã toan quay mặt đi, nhưng vẫn nhớ tới nhiệm vụ cảnh giới, chú vội bắc loa tay lên miệng gọi to:
- Có bom dưới sông đấy! Lên đi các chị ơi!
Các cô gái giật mình quay lại, cùng kêu lên vì xấu hổ. Nhưng sau thấy chỉ có một chú lính trẻ, một cô réo lên:
- Làm gì có bom! Xuống đây tắm cho vui, anh bộ đội ơi!
- Xuống đây! Cởi bỏ hết đi, xuống đây anh ơi!...
Các cô đang ré lên cười với nhau và chú lính thêm đỏ mặt, quay vội đi thì ở phía trên thượng lưu, một tiếng nổ rất mạnh trong lòng nước dội tới. Các cô sợ hãi cuống quýt che ngực, ù té chạy vào bờ. Có cô trần truồng chui cả vào bụi cây gai rậm, toạc cả da thịt.
Một trái bom từ trường đã nổ.
Nguyễn Đen, Nguyễn Đức Thắng và tất cả các chiến sĩ đều mừng rỡ thét lên. Cột nước dưới sông tung lên cả bùn đất tạo thành một cơn mưa đặc sệt trùm xuống tất cả bọn Nguyễn Đen, Nguyễn Đức Thắng… Người nào cũng ướt bê bết như chuột lội cống.
- Tiếp tục! Tiếp tục rà phá nữa, chưa hết ! – Nguyễn Đen ra lệnh.
Phấn khởi trào lên, lần này các chiến sĩ vừa rạp mình xuống kéo dây, vừa “hò dô ta” ồn ã cả một góc trời.
Mấy phút sau, lại một quả nữa nổ. Đoàn người lại reo ầm ầm. Thế là đã phá được quả thứ hai. Còn hai quả nữa.
Công việc rà phá tiếp tục. Nhưng lần này không thấy có kết quả.
Theo Nguyễn Đức Thắng, có lẽ hai quả còn lại đã chìm sâu xuống bùn nên khó nổ. Anh đề nghị cho dùng ca nô, tạo từ trường mạnh, may ra mới thắng. Nguyễn Đen đồng ý.
Nguyễn Tuyển, chiến sĩ lái ca nô lập tức nhận được lệnh đưa ca nô vào trận. Đó là một chiến sĩ trẻ, mảnh khảnh, môi đỏ hồng như môi con gái; nhưng được anh em gọi là “Vua húc” vì không phải đây là lần đầu, mà đã nhiều lần Tuyển xung phong lái ca nô rà phá bom hoặc đưa dắt những con phà qua sông dưới bom đạn rất ác liệt của bọn Mỹ.
Chiếc ca nô đã tới. Nó dúm dó, xấu xí như một thùng sắt cũ. Nhưng mấy ai  biết chiếc ca nô cùng với người lái nó đã bao lần vào lửa và chiến thắng, góp phần đưa biết bao nhiêu trọng pháo, xe tăng, cùng các dũng sĩ của chúng ta qua sông, tiếp tục cuộc hành trình vào Nam, giải phóng Tổ quốc.
Nguyễn Tuyển ngồi ngay ngắn trên ghế sắt, trước vành lái. Nguyễn Đen xuống tận nơi, siết chặt tay người dũng sĩ của mình:
- Chúc em thắng lợi!
Chiếc ca nô như một con ngựa chiến, hất đầu tung vó. Nó gầm một tiếng rồi thoắt tăng tốc, lao vút đi.
Trên bờ, tất cả đứng yên lặng cố giấu nén nỗi hồi hộp, nhìn theo chiếc ca nô đang xé nước thành hai cánh trắng xoá bay qua bãi bom. Tuyển đã quay lại. Lần này anh cho chiếc ca nô đi chầm chậm. Chân vịt cuốn nước sôi sùng sục cả dòng sông… Cứ như thế, một vòng rôì hai vòng… vẫn chưa thấy gì. Hay là hết bom rồi? Mọi người trở lại băn khoăn nhìn nhau.
Nhưng bỗng chiếc ca nô như bị một bàn tay khổng lồ vô hình nào đó ở dưới lòng sông túm lấy, nâng bổng lên trên đầu một cột nước trắng xoá, dữ dội.
Những người trên bờ đều nhắm mắt lại và kêu lên kinh hãi, tưởng chừng chiếc ca nô đã bị quật vỡ tan tành.
Nhưng lạ chưa nó vẫn còn kia, lại nổi lềnh bềnh trên dòng sông đã trở lại yên tĩnh, và một cánh tay đang giơ lên vẫy vẫy.
- Tuyển! Hoan hô Tuyển! Giỏi quá, cậu Tuyển ơi!
Như để đáp lại những tiếng reo tiếng thét mừng rỡ cuồng nhiệt ấy, chiếc ca nô lại gầm lên, tăng tốc lao vút như một con cá thần trong huyền thoại.
Lại một vòng nữa, rồi thêm vòng nữa… Quả bom thứ tư nổ tiếp. Lần này quả bom đã nổ lại phía sau ca nô chừng mười mét. Phần đuôi ca nô chỉ bị hất lên như chú ngựa đá hậu một phát, và cột nước đã trùm kín lấy nó trong khoảnh khắc.
Cả bến sông huyên náo, sung sướng hoan hỉ. Lúc đó trời vừa sẩm tối. Nguyễn Đức Thắng rít lên một hồi còi dài kiêu hãnh thu quân, và chuẩn bị cho đoàn thuyền đưa khí tài về bến để bắc cầu đêm nay.
Chiếc ca nô của Nguyễn Tuyển đã được cắm một lá cờ đỏ ở phía mũi, nhanh nhẹn, hăm hở dẫn đoàn thuyền chở khí tài dày đặc ở dưới sông. Trên ca nô Nguyễn Đức Thắng đứng cạnh Tuyển, hai tay chống vào sườn, sau lưng anh dắt hai lá cờ hiệu xanh đỏ. Gió thổi những lá cờ bay phần phật, nom anh tựa một chiến tướng trên sông Bạch Đằng từ  thuở xa xưa. Các chiến sĩ trên đoàn thuyền vẫn chưa hết phấn trấn, vừa hò, vừa hát.
Trên bờ, dân quân, thanh niên nam nữ kéo ra vẫy chào hoan hô đoàn thuyền công binh như đi xem hội.
Riêng Nguyễn Đen và Đoàn Lộc cùng đi đường bộ để về sở chỉ huy tiểu đoàn.
Vừa đi được một đoạn ngắn, bỗng mặt nóng bừng bừng như phải bỏng, Nguyễn Đen quay phắt lại, chạy như bay về khúc sông hiểm nghèo nọ. Anh thét vang động cả sông nước:
- C3, dừng lại ngay! C3, dừng lại ngay đã !
- Gì thế anh? Đoàn Lộc cũng phát hoảng lên, nhưng chưa hiểu chuyện gì.
- Trời đất! Tôi quên mất! Chỉ chú ý bốn quả bom dưới sông mà quên phắt mất mấy quả còn găm ở mép nước mà ta hẹn giải quyết sau đấy. Cũng tựa như lúc nãy anh chỉ mải đánh vật với quả bom “Model 3” ở bến mà quên cả hai vệt bom dài…
Cả hai cùng cười như mếu và cùng chạy té lên.
Cũng may Nguyễn Đức Thắng đã nghe được tiếng gọi của Nguyễn Đen và kịp ra lệnh cho cả đoàn thuyền với biết bao nhiêu khí tài sắt thép dừng lại.
Nguyễn Đen nhào xuống sát mép nước. Vừa thở anh vừa nói rõ lại tình hình với Nguyễn Đức Thắng.
- Vậy bây giờ làm sao, anh? Nguyễn Đức Thắng nhăn nhó.
- Cho ca nô tắt máy. Tất cả chiến sĩ lên bờ dùng dây kéo thuyền, kéo từng khoang một, vượt qua khu vực bom có thể ảnh hưởng.
Thắng càng nhăn nhó. Anh không giấu được sự bực bội khi thấy Đen thay đổi bổ sung nhiều phương án quá. Tuy nhiên, anh cũng cởi áo nhảy xuống nước để kéo ca nô tắt máy đi qua.
“Nhanh tay lên nào, ta kéo con phà
“Qua bom quân thù, chở xe ra chiến trường”
“Dò hô, hò dô hò….”
Một chiến sĩ có giọng nam cao bỗng cất tiếng hát phá tan sự im lặng đè nặng trĩu trong lòng mọi người. Rồi không ai bảo ai, tất cả các chiến sĩ cùng cất tiếng hát theo. Nguyễn Đen đứng lặng. Một lần nữa trong cuộc đời chiến đấu của mình, anh đã được chứng kiến cảnh như thế này. Các chiến sĩ của chúng ta cao đẹp và đáng quý biết nhường nào !
Cứ như thế, từng khoang thuyền được lặng lẽ kéo dắt qua khỏi đoạn sông vẫn còn bốn trái bom từ trường nằm kín ở mép nước chưa nổ.
Nguyễn Đen xem đồng hồ tay, rồi ngẩng lên nhìn vòm trời đã bắt đầu mờ tối. Kịp! Vẫn có thể kịp! Đêm nay cầu vẫn có thể tiếp tục vắt qua sông, bảo đảm giao thông thông suốt như tất cả mọi đêm trước…
Cho tới khi toàn bộ khí tài đã tới bến, Nguyễn Đen mới thở trút ra nhẹ nhõm. Dặn dò công việc với Nguyễn Đức Thắng xong, Đen quay trở về sở chỉ huy.
    Một cô gái quần áo ướt như chuột vội vã lao vào sở chỉ huy, gặp ngay Nguyễn Đen vừa về. Cô ta lắp ba lắp bắp:
- Báo cáo, điện thoại bị đứt, Bác bến trưởng.... cho em chạy sang báo cáo anh. Tình hình khẩn cấp, nguy... nguy hiểm lắm ạ... Chị Chinh... nguy hiểm lắm ạ... – Cô ta lắp bắp không ra hơi...
    Nguyễn Đen bỗng giật mình, rồi bất thình lình hỏi to:
- Chinh... Chinh làm sao?... Cô hãy bình tĩnh báo cáo lại xem nào!... Nguy hiểm cái gì?
    Tuy bảo cô gái phải bình tĩnh, nhưng chính Nguyễn Đen lúc này mới nghe đến Chinh, cũng đã không được bình tĩnh nữa rồi. Một cái gì đó đang chẹn lấy cổ họng anh người anh run run lên.

          ÔNG BẾN TRƯỞNG TO TIẾNG

    Trong lúc bến bị máy bay giặc Mỹ bắn phá. Ông Bảo bến trưởng đã ở khu sơ tán mới. Mấy hôm nay, ban ngày ông ít rời chỗ này với lý do thường trực máy điện thoại để chỉ huy và liên lạc với trên Đoạn, trên Ty. Ông Bảo hài lòng với mình, vì đã biết tính toán trước. Trong lúc bắn phá, ông đứng trong hầm quan sát. Mỗi lúc thấy bom rơi xuống khu vực bến, mặt ông lại tái đi, lúc đầu còn đếm, nhưng sau nhiều quá, ông không thể đếm được nữa. Người ông run lên cầm cập. Ông lo cho bến phà bị đánh tan nát. Ông lo đêm nay công binh không thể bắc cầu được, xe lại bị ùn trên đường, địch lại càng xăm đường, bắn phá, càng thiệt hại thêm. 
    Khi kẻng đã báo yên, ông vào hầm quay điện thoại hỏi các trạm gác ngoài bến. Quay mãi, quay mãi vẫn không được. Quay hỏi sở chỉ huy công binh cũng không được, quay về Đoạn, về Ty cũng không được. Toàn bộ các đường dây đều bị đứt hết.
    Vừa lúc đó, một công nhân tự vệ gác bến phà chạy về báo cáo với ông tình hình ngoài bến phía bờ nam; Có nhiều bom rơi trúng bến, có mấy quả bom nổ chậm rơi cạnh trạm gác bờ nam, một số hầm bị sập, có người bị thương... Đề nghị ông xử trí.
    Trước đây không có chiến dịch K2, không có bộ đội công binh, bến cũng đã bị đánh một vài lần, nhưng ông cảm thấy bình tĩnh hơn bây giờ nhiều. Khi đó, ông có thể thong thả xử lý dần dần. Phà bị tắc một, hai đêm có sao đâu, do địch đánh chứ có phải tại ông đâu? Nhưng lần này tại sao ông không bình tĩnh được? Bởi lẽ lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch là không được để tắc bến phà, thậm chí cũng không được chậm giờ nữa! Bởi lẽ theo phân công của Ban chỉ huy thống nhất thì phía bờ nam là do ông phụ trách, ông phải xử trí bằng lực lượng của ông, làm sao để đến mười tám giờ thì phải có bến cho công binh bắc cầu, cho thông xe được an toàn.
    Ông lấn bấn chưa biết nên giải quyết cái gì trước, sau, cử ai đi. Lấy người đâu mà giải quyết cùng một lúc? Ông mới kịp suy nghĩ : “ Trước hết phải cấp cứu người bị thương đã...”. Vừa lúc đó, bến phó phụ trách kỹ thuật và Chinh đã kiếm đâu được cáng và ra bến từ lúc nào, họ đã kịp bới hầm và khiêng được người bị thương về. Y tá cũng đã kịp băng bó. Sau khi cử người khiêng thương binh về trạm cấp cứu ở bệnh xá, bến phó ở lại bàn bạc với ông Bảo: Có hai việc cần phải làm  gấp hơn nữa là phá bom nổ chậm và san lấp hố bom, sửa bến. Việc thứ hai có thể huy động công nhân và nhân dân ra làm được ngay, nhưng việc phá bom thì ai làm?
    Bến phó phàn nàn
    - Trước đây bộ đội người ta đến huấn luyện cho thì bác lại không để cho anh em học. Bây giờ mới gay.
    Mà không phá được bom thì không thể đưa lực lượng và xe cộ vào sửa đường, sửa bến được.
    Ông Bảo bỗng nhiên nóng mắt lên:
    - Thì điện nhờ bên công binh cử người sang phá hộ cũng được chứ sao?
    Bến phó cãi lại:
    - Việc đã phân công rồi, sao mình lại đi nhờ, không bõ người ta chửi cho ấy à? Vả lại bên bờ bắc bị nhiều bom lắm, họ lo bên ấy chưa xong, chắc gì họ sang được?
    Ông Bảo nổi nóng thật sự:
    - Ai chửi? Làm sao mà chửi? Họ chửi tôi chứ chửi gi ông?
    Thế là lời qua tiếng lại, hai ông chỉ huy bến phà gắt nhau thành to tiếng. Đến lúc này Chinh mới quay lại nói:
    - Thôi, xin hai bác bình tĩnh. Việc phá bom cháu xin đảm nhiệm cho. Cháu đã chuẩn bị cả rồi ạ!
    Cô mở túi xách ra cho các ông xem. Trong túi có dăm bánh thuốc nổ, kíp, dây, cháy chậm, nụ xoè, dây gai v.v... Ông Bảo và bến phó đang há hốc mồm ra nhìn thì Chinh lại nói:
    - Các bác cứ yên tâm. Việc này cháu đã làm quen ít nhiều ở chiến trường rồi. Còn những thứ này, hôm nọ cháu đã xin ở bên công binh một ít để sẵn sàng đấy!
    - Nói xong, Chinh chạy vụt ra bãi bom ngay, không kịp để cho ông Bảo có đồng ý hay không.
    Ông Bảo vội vàng gọi thét lên:
    - Không được. Nguy hiểm lắm!... Chinh quay lại đi!...
    Nhưng Chinh không quay lại. Cô chỉ nói với lại, xa dần, rồi khuất sau bờ đê:
    - Các bác cứ yên... tâm... !
    Ông Bảo vội vàng bảo ông bến phó ra giữ Chinh lại, không cho phá, vì nhỡ cô ấy chết thì trách nhiệm lại đổ cả vào đầu ông. Còn ông thì túm ngay được một cô gái vừa đến, bắt cô ta phải chạy nhanh, bơi qua sông đến báo cáo với anh Nguyễn Đen, xin lực lượng chi viện sang phá bom ngay.
    Thế là cô gái hấp tấp chưa kịp nghe hết ý kiến của ông Bảo đã vụt chạy lao đi. Cái chính là cô sợ cho Chinh – vừa như người chị, vừa là bạn gái mà cô rất quý mến vì cô đã nhìn thấy Chinh lao vào bãi bom rồi. Cô cần phải báo ngay cho Nguyễn Đen, vì theo cô, anh Đen và Chinh đang có mối quan hệ đặc biệt.
Cô gái bơi qua sông, rồi để cả quần áo ướt chạy vội về sở chỉ huy tiểu đoàn. Bộ quần áo mỏng cứ dính chặt vào người làm cho các chàng lính lái xe, trinh sát cứ đứng ngây người ra vì quá bất ngờ.
                    *       *
                                                        *
Đoàn Liễu đang ngồi chơi cờ tướng với anh chiến sĩ liên lạc. Thấy Nguyễn Đen về, anh dẹp bàn cờ lại, vươn vai hỏi:
- Dưới bến Mục Sơn , công việc tốt cả chứ? Sao anh lại về muộn vậy?
Đang quá mệt, Đen chỉ ừ hữ và cởi áo toan ngả lưng xuống một lúc thì Chinh vụt tới. Mặt cô xanh xao, đôi mắt thâm quầng, quần áo lấm láp.
Đen vội nhổm dậy:
- Chinh! Có phải cô vừa phá một quả bom bên bờ nam không?
- Vâng….
Nhưng dường như Chinh chẳng hề quan tâm tới chuyện đó:
- Anh Đen ạ, thầy em hôm nay sao ấy! Cụ lại sốt cao, và nói mê sảng nữa. Anh đến với em một lát đi!
Đen mặc vội lại chiếc áo ngoài, dặn Liễu chờ mình về sẽ hội ý công việc, đoạn bước nhanh ra khỏi cửa cùng với Chinh.
Đoàn Liễu đứng nhìn qua theo. Hai mắt anh tối tăm. Trong lòng anh giằng xé một mâu thuẫn: vẻ quyến luyến, thân thiết của hai người làm cho máu anh sôi lên, nhưng đồng thời nhớ tới những lời Cao Thành thì lòng anh mừng rỡ. Tốt lắm! lại thêm một dịp để ghi nhận tội lỗi của hai đứa…
Vẫy cậu liên lạc trẻ tuổi lại, Đoàn Liễu ghé tai, nhưng nghiêm chỉnh:
- Đồng chí hãy… bí mật đi theo tiểu đoàn trưởng tới nhà cô Chinh xem sao nhá!
Cậu liên lạc ngơ ngác:
- Báo cáo tiểu đoàn phó, để làm gì ạ?
Đoàn Liễu cười, vỗ vỗ vào vai anh chiến sĩ, hết sức thân mật:
- À, là để… bảo vệ ban chỉ huy.
- Em chưa hiểu ạ!
- Ví dụ, tới đó, có kẻ phản động ám sát tiểu đoàn trưởng chẳng hạn… Hoặc giả cô Chinh không phải đưa tiểu đoàn trưởng về nhà mà lại rủ… ra cánh đồng, hoặc đi đâu chẳng hạn…
- Em vẫn chưa hiểu ạ!
- Thì rồi sẽ hiểu! Cứ đi đi. Nhớ phải bí mật đấy! Đừng để cho tiểu đoàn trưởng biết mới là bảo vệ tốt và có hiệu quả, hiểu không?


ÔNG GIÀ VỚI NGÔI NHÀ LIỆT SỸ

Khi nghe thấy tiếng bom nổ ở ngã ba đầu bến, tổ trinh sát tiểu đoàn liền chạy lao về phía đó. Từ trong khói bom mù mịt, Chinh chạy lại chỗ bến phó đang đứng canh gác. Thấy Chinh, mấy chiến sĩ trinh sát đều phấn khởi reo lên:
    - Chị Chinh! Hoan hô chị Chinh! Thế mà chị làm chúng em hết hồn đấy... Cả anh Đen nữa, anh Đen lo lắm nhé!
    Chinh nở nụ cười rạng rỡ. Bến phó thấy tổ trinh sát đến, rất phấn khởi:
    - May quá, các anh sang đây rồi! Tôi gàn mãi cô Chinh không được, cô ấy cứ nhất định đòi phá. Chúng tôi cũng lo các anh bận bên bờ bắc chưa xong, nên tôi cũng phải liều, đứng gác cho cô ấy phá. Ấy thế mà cô ấy phá được đấy! Nào, các chú xem con gái bến phà có giỏi không nào? À hà!...
    - Báo cáo bác, không những tổ trinh sát chúng cháu sang phối hợp với bến phà, mà còn tổ phá bom của đại đội 3 cũng đang phá gỡ ở dưới nước nữa đấy ạ!- Lê Thanh Sơn, tổ trưởng tổ trinh sát báo cáo với bến phó.
    Sau đó Sơn đề nghị bến phó và Chinh về nghỉ, còn việc phá bom để lại cho tổ trinh sát. Nhưng Chinh nhất định không nghe, cứ đòi cùng tham gia phá cho nhanh. Bến phó thấy Chinh cũng phá được, đồng thời thấy cần có người của bến phà tham gia nên quyết định một phương án chia làm hai nhóm. Nhóm một gồm bến phó. Chinh và một trinh sát, do Chinh làm nhóm trưởng, phá từ ngã ba ngược lên bờ đê, nhóm hai gồm hai trinh sát còn lại, do Sơn làm nhóm trưởng, phá từ ngã ba xuống bến phà và bến cầu.
    - Chia ra làm cho nhanh. Thời gian gấp lắm rồi đấy! Nhưng nhớ phải bảo đảm tuyệt đối an toàn nhé! – Bến phó nói thêm, trước khi chia tay sang hai hướng.
    Nhóm của Lê Thanh Sơn đã tìm và phá được một quả ở dọc đường xuống bến cầu, một quả ở đường xuống bến phà. Tới quả ở gần ngã ba thì phải dừng lại vì quả bom nằm sát ở phía sau một nhà dân. Tổ của Sơn mới về bến này nên chưa biết nhà ai. Hai chiến sĩ trinh sát đi vòng quanh ngắm ngôi nhà: một ngôi nhà gạch ba gian, lợp lá cọ, chắc chắn và xinh xắn. Hai người bàn nhau nếu phá bom thì ngôi nhà bay hết, bao nhiêu công sức, mồ hôi, cả đời chắt chiu mới có được ngôi nhà. Họ mở cửa vào trong, cả nhà đã sơ tán hết, nhưng vẫn còn ít đồ đạc, chứng tỏ vẫn có người ở lại nhà. Một tấm bằng Tổ quốc ghi công treo trên tường làm  hai người chú ý.
    Gia đình này đã hy sinh một người con, không lẽ phải hy sinh cả ngôi nhà này nữa ư? Ngôi nhà của một gia đình liệt sĩ, cũng có thể chính bố mẹ đã dành ngôi nhà này cho người liệt sĩ đó! Không thể để mất hết những kỷ niệm thiêng liêng của gia đình liệt sĩ này!
    Thế là nhóm của Lê Thanh Sơn quyết định phải tháo đầu nổ bom này. Nhưng tháo như thế nào? Đây là loại bom từ trường kiểu “  Modell-3” mà đội trưởng Đoàn Lộc mới tháo được một quả, còn chưa ai tháo được. Họ phải cùng nhau ôn lại kinh nghiệm mà đội trưởng Đoàn Lộc vừa mới phổ biến sơ sơ lúc nãy, rồi quyết tâm thay nhau đào theo hút bom. Đào mãi, đào mãi vẫn chưa tới bom. Chà, tai ác quá! Qua bom lại đâm xiên vào mãi trong móng tường. Họ vẫn kiên nhẫn đào.
    Các nơi khác, hướng nhóm của Chinh và tổ đại đội ba ở dưới bến thỉnh thoảng lại nổ một quả. Theo Sơn đếm, có lẽ đã phá hết cả vệt bom rồi, chỉ còn lại quả này là quả cuối cùng.
    Đã nghe thấy tiếng ồn ào của nhân dân đang chuẩn bị kéo nhau ra san lấp hố bom. Họ đang chờ tiếng nổ cuối cùng mới lao ra mặt đường. Sơn càng ra sức đào cho nhanh. Mồ hôi nhễ nhại, đất bám bê bết hết đầy đầu tóc, mắt mũi, Sơn vẫn đào, bới luôn tay.
    Vừa lúc đó một cụ già từ ngoài đường chạy về nhà. Cụ vội vàng vơ một số đồ đạc trong buồng đưa ra ngoài vườn, rồi chạy lại phía sau nhà, lao vào chỗ nhóm của Lê Thanh Sơn đang đào bom, gọi to:
    - Thôi, các chú ơi ! Cứ cho nó một gói thuốc nổ, phá bom đi  Người còn chả tiếc được, lại tiếc cái nhà làm gì ? Nhanh chóng lên, bà con đang chờ để ra lấp hố bom. Sắp tới rồi, bộ đội đang sắp bắc cầu rồi, mà xe vẫn chưa có đường đi thì tắc hết, ùn hết, chúng nó lại đến đánh thì còn thiệt hại nhiều hơn. Mà tháo nguy hiểm lắm. Nhỡ ra lại hy sinh thì sao ?
    Nói rồi, cụ cứ kéo tay Sơn lên khỏi hút bom:
    - Cứ phá đi cho nhanh, các cháu ạ, tiếc làm gì ? Mau lên, kẻo xe đã ùn hết ở bên kia cầu bây giờ.
    Lê Thanh Sơn phải nhảy lên khỏi hút bom nói với cụ:
    - Bố ơi, bố cứ bình tĩnh. Chúng con sẽ tháo bằng được Chúng con không nỡ để ngôi nhà liệt sĩ này bị tàn phá được.
    Rồi Lê Thanh Sơn bảo một chiến sĩ trinh sát dẫn cụ tránh ra xa. Anh lại nhảy xuống hút bom. Đuôi bom đã lòi ra, anh thận trọng dùng dụng cụ tháo, nhớ lại kinh nghiệm đội trưởng Đoàn Lộc phổ biến, anh mò mẫm từng động tác nhỏ, lắm lúc phải nín thở.
    Chinh sau khi cùng nhóm mình phá hết số bom ở trên đường ra bờ đê, cô lao xuống bến cầu. Ở đây nhóm đại đội ba cũng đã phá xong. Cô cùng bác bến phó chuẩn bị dụng cụ cho nhân dân vào sau lấp hố bom. Nhưng chờ mãi vẫn chưa thấy quả cuối cùng nổ, cô vội chạy về phía bến phà. Nghe bà con cho biết là quả bom này rơi vào đúng nhà cô, ông cụ nhà cô đã chạy về và cất hết đồ đạc ra ngoài và bảo anh em phá bom, nhưng các anh ấy lại cứ đào bới, nên mới bị chậm như thế. Chinh vội chạy về nhà, ba chân bốn cẳng về đến nơi thì cũng là lúc Lê Thanh Sơn đã tháo xong đầu nổ quả bom cuối cùng này Chinh cảm động rơi nước mắt, cô chạy lại cầm lấy hai tay Sơn:
    - Hoan nghênh chú Sơn !Cảm ơn chú. Chú đã cứu được nhà chị !
    - Ơ ! Nhà chị Chinh ở đây à ? Thế mà em không biết !


CÔ LÁI XE KHÓ TÍNH
   
Như thường lệ ở các bến phà, cứ khoảng chiều tối, tuy chưa đến giờ thông cầu và chưa được phép cho xe ra mặt đường, nhưng những anh chàng lái xe khôn lỏi thường đã cho xe từ trong rừng, trong các lùm cây ra xếp hàng, tranh đường, tranh bến trước. Họ nổ máy xe không tiếc gì xăng dầu hàng giờ đồng hồ liền để nhích lên từng mét đường. Họ dùng đủ mọi cách để chắn nhau không cho xe sau vượt trước xe mình, nhưng cũng tìm mọi thời cơ để xe mình vọt lên trên xe trước. Họ to tiếng cãi nhau, và khi cần, dùng cả tay quay để “ngoại giao” với nhau nữa. Hết tranh nhau, quát nhau, họ chửi đến bến phà, bến cầu: Nào chậm giờ, nào sợ chết, nào chở chậm chạp như sên. Họ văng ra đủ mọi lời tục tĩu, chẳng kiêng nể gì ai cả.
    Trong số những “anh tài” kiểu như trên, hôm nay ở phía bờ nam có một xe kiểu mui rùa, một loại xe cứu thương trung xa, có mui tránh mảnh đạn cho lái xe, trông như mui rùa: Chiếc xe này đi rất ngổ ngáo, chắc lái xe là một chú tinh quái. Cũng tranh đường, cũng len lỏi cố lách vượt lên trên. Người ta đoán xe chở thương binh nặng cần cấp cứu. Từ mãi tít đằng sau, chỉ một lúc, chiếc xe đã lách lên đứng ở tận hàng đầu. Xe thương binh ưu tiên cũng phải thôi. Nhưng nó lại bất chấp cả nội quy. Nó vượt qua cả ba-ri-e, đứng hẳn vào trong đầu bến.
    Không ngờ cửa xe mở, một cô gái tầm thước, hơi cứng rắn trong bộ quần áo bộ đội bạc màu, bước ra. Cô ta quay lại mấy anh chàng lái xe phía sau đang túm năm tụm ba, nguýt dài một cái, rồi nói như đe doạ một cách bâng quơ:
    - Nào, tay nào giỏi cứ vượt lên nữa xem nào !
    Rồi cô ta bước hẳn lên nóc đầu xe ngó nhìn xuống sông. Chỉ thấy nước lũ ngập mênh mông. Chẳng thấy bóng dáng một cái cầu hay một con phà nào cả, thậm chí phao thuyền làm cầu cũng chẳng có cái nào. Những hố bom còn đang lấp dở ngổn ngang, bừa bãi, trên bến, chỗ này một tốp bộ đội, chỗ kia một tốp công nhân, nhân dân, có cả ông già bà cả và trẻ em cũng tham gia san lấp hố bom.
    - Thế này thì chết cha rồi, đến mai cũng chẳng qua được sông ! – Cô lái xe thốt lên một câu thất vọng, rồi quay đến chỗ mấy người mặc áo xanh, chắc hẳn là công nhân bến phà đang sửa lại một cái hầm ở gần ba-ri-e, hỏi với một giọng nửa Bắc, nửa Nam, hai tay chống nạnh vẻ trịch thượng:
    - Nè, mấy ông nội ! Bến phà định chôn sống bầy tui ở đây sao mà giờ vẫn chưa có cầu phà chi hết ? Làm ăn kiểu này thì chết cha người ta chớ !
    Người bến phà đã quen với những câu hỏi, với thái độ này rồi, nếu phải là một “anh tài” thì họ cũng trả đũa vuốt mặt không kịp, nhưng đây lại là một cô gái, một cô gái trẻ, nom mặt cũng hay hay, nên họ chẳng cố chấp làm gì. Vài chàng trai tinh nghịch nhìn nhau, im lặng như để trêu tức cô gái. Họ vẫn làm việc, mặt tỉnh bơ như không nghe thấy.
    - Này ! Tôi hỏi các ông, - cô gái nóng mặt, quát to – Các ông điếc cả đấy à ? Bao giờ có phà ? Nghe đồn dạo này ở bến đây có cầu chạy tốt lắm kia mà ? Hừ, toàn tin nhảm ! Cái bến “khổ thế” này mà lại làm ăn ra hồn thì… thì…
    - Thì làm sao nào ? – Một tay công nhân vớ được thời cơ, tấn công luôn – Thì ở lại đây làm vợ lính bến phà chứ, bà chị ?
    - Ơ, bêu chưa ? Thì cứ thử hôm nay xem nào? Mấy giờ thông cầu ?... Sáu giờ tối hả ? Ồ thế thì đây sẵn sàng ngay. Sợ gì? – Cô gái cũng chanh chua đối phó lại ngay, vẻ thách thức, rồi đi về xe mình.
    Một tiếng gọi với lại:
    - Thế thì cô em thua thôi ! Tìm chỗ cho xe vào bến mà ở lại thôi.
    Cô gái quay ngoắt người một cái, vẻ khinh bỉ không thèm trả lời, rồi mở cửa xe vào buồng lái, đóng cửa xe đánh rầm một cái, bực bội.
    Một lúc sau, không thấy động tĩnh gì nữa, cô gái tranh thủ làm một giấc trong xe. Nóng quá, cô vén áo lên ngủ mà không biết
    Một cậu lính gác bến phà vừa mới tới, thấy chiếc xe đỗ nghênh ngang liền quát:
    - Cậu lái xe nào mà liều thế ? Cho xe lùi lại, tránh vào bụi cây đi, đứng lộ liễu thế này à ?
    Cậu ta chạy lại xe, định mắng cho chàng lái xe vô kỷ luật một trận, nhưng bỗng dừng lại trên bậc xe, không dám gọi vì trông thấy bộ ngực trần theo nhịp thở cứ phập phồng, nhấp nhô cao lên thấp xuống. Cậu ta bỗng há hốc mồm như người chết đứng, chớp chớp mắt. Khoảnh khắc sau, cậu lính gác định quát to để đánh thức “cậu lái xe” dậy nhưng không hiểu sao cậu ta từ từ bước xuống đất rồi bỏ đi.
    Mãi một lúc lâu sau, cậu ta mới đến đuôi xe, thổi một hồi còi dài và dập vào thùng xe:
    - Ê, đồng chí nào lái xe đây ? Cho lùi lại đi !
    Cô gái bừng tỉnh dậy, sửa sang lại quần áo, lấy lại tư thế và nhảy xuống xe, nhìn chằm chằm vào cậu lính gác.
 
CHƯƠNG VI
      TIẾNG CƯỜI BÊN HỐ BOM

         Ông bến trưởng khi nghe tiếng bom nổ ở bờ nam đầu tiên ông như người bị ngất, suýt ngã. “Thôi đúng rồi, con bé Chinh đã bị bom nổ chết mất rồi !” Ông tiếc và thương con bé chăm chỉ, nết na, có nghĩa có tình, lại tháo vát đảm đang. ở cái bến phà này, việc gì nó cũng làm được. Nếu nhỡ ra nó chết thật thì đau xót biết chừng nào ! Nhưng ông lại còn lo trách nhiệm của ông. Vì sao lại để cho nó đi phá bom ? Vì sao lại không huấn luyện ít nhất một tổ con trai biết phá bom ? Mặc dầu đã có chỉ thị của Uỷ ban tỉnh, của Đảng uỷ và thủ trưởng ngành giao thông, rồi kế hoạch của Ban chỉ huy quân sự huyện huấn luyện cho tự vệ, ông cũng không hoàn thành. Mà ông là bí thư chi bộ, là chính trị viên đại đội tự vệ. Thậm chí gần đây bên công binh cử người sang huấn luyện, ông cũng không kiên quyết dứt người ra học tập, mà chỉ tập trung vào việc chuyển địa điểm sơ tán cho cơ quan bến phà thôi. Lệnh của trên, rồi phân công của Ban chỉ huy chung ở đây cũng rõ ràng: Bến phà tự lực giải quyết hậu quả phía bờ nam, tức là phía ít bom đạn hơn so với bờ bắc. Vậy mà ông lại phải đi cầu cứu bên bộ đội. Đành rằng việc cầu cứu cũng được, nhưng còn cái Chinh. Giấu cấp trên thì không khó, nhưng không thể giấu anh em trong cơ quan, cũng không thể giấu bà con được, không thể giấu ông cụ Khang được. À, ông nhớ ra rồi ! Ông đã cử bến phó lại còn để cho cái Chinh lao vào bãi bom ? Tất nhiên trách nhiệm lãnh đạo là ông, nhưng trước hết trách nhiệm chỉ huy thuộc về ông bến phó đã.
Ông bến trưởng cứ hết đứng lại ngồi, hết nằm lại đứng, suy nghĩ lo lắng. Mỗi lúc nghe tiếng bom nổ, ông lại giật mình  Ông ôm lấy máy điện thoại, quay chán không được, ông lại chạy ra đài quan sát của ông. Ông đếm số bom nổ. Theo thông báo của sở chỉ huy chung, có 21 quả bom nổ chậm từ trường thì bảy quả ở bên bờ nam, còn ở bờ bắc và dọc sông cả. Tổ phá bom của công binh đã sang phá rồi, nhưng vẫn còn thiếu một quả nữa ông chưa nghe thấy. Hay ông đếm nhầm ? Chết nỗi, hầm chỉ huy của ông ở hơi xa bến, nên không thể chạy ra bến xem rồi lại chạy về được.
Mãi đến khi một công nhân do bến phó cử về báo cáo, ông bến trưởng mới hoàn hồn:
- Thì ra con Chinh giỏi, con Chinh giỏi thật !
Ông bến trưởng bỗng nhảy lên khỏi hầm, cười khà khà, nói với một số người xung quanh:
- Xem nào, công nhân bên phà cũng phá bom giỏi đấy chứ !
Rồi ông chợt nhớ ra điều gì. Phải rồi, phải báo cáo ngay với Tỉnh, với Đoạn. Thế là ông lại chạy vào quay máy, quay toát cả mồ hôi mới được. Ông vội vàng báo cáo ngay là việc gỡ bom ở bến đã sắp xong. Vâng, việc phá bom do bến tự đảm nhiệm đầu tiên, mãi sau mới có sự phối hợp của công binh. Vâng, chính ông đã chủ động tổ chức và cho đi huấn luyện tổ phá bom này từ trước nên đã xử trí được kịp thời. Vân vân và vân vân… Chả biết ông còn báo cáo gì dài dòng nữa không, nhưng khi ra khỏi hầm thì bộ mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Và khi được tin quả bom cuối cùng đã phá gỡ xong, ông liền chạy như bay ra bến phà.
Ở ngoài bến, bến phó đang chỉ huy dân công san lấp hố bom, ông cũng hoà mình vào đó. Ông cười nói oang oang, chạy chỗ này uốn nắn một tí, chạy chỗ kia chỉ thị một ít như con rối chạy khắp bến phà.
Tiếng cười, tiếng nói, tiếng hò, tiếng hát của dân quân, tự vệ, dân công, bộ đội cứ rộn ràng, âm vang như ngày hội.
Ở bờ bắc, một đoàn xe dưới sự chỉ huy của đại đội phó Nguyễn Đức Quang đi lại như con thoi vận chuyển đã rải vệt chống lầy cho đoạn đường xuống bến bị hỏng nặng, đang sửa chữa. Lực lượng san lấp hố bom do dân quân các xã ra làm dưới sự chỉ huy của chính trị viên Trần Văn Lai cùng các xã đội trưởng, đại đội trưởng dân quân. Trần Văn Lai phân công cho mỗi đại đội dân quân phụ trách san lấp một hố bom và sửa một đoạn đường, mời mỗi đại đội cử một người trong ban chỉ huy đại đội, xã đội lên lập thành ban giám khảo để giám sát, kiểm tra và chấm điểm cho cuộc thi đua ngắn này. Chính trị viên Trần Văn Lai gọi đây là một cuộc hội thao của các lực lượng dân quân về khoa mục “sửa đường quân sự làm gấp” ở bến phà. Các chỉ tiêu và bảng điểm được nhanh chóng công bố bằng loa tay và phổ biến xuống từng phân đội, đại đội. Cứ mười lăm phút lại công bố thành tích lao động, khối lượng hoàn thành của các đội và nhận xét về chất lượng để chấn chỉnh kịp thời. Các tiểu đội công binh được rải ra ở những nơi trọng điểm chống lầy và gần sát mép nước. Từng tiểu đội đã được học tập khoa mục “sửa bến, sửa đường, chống lầy bảo đảm cơ động cho xe cơ giới”. Đây là dịp để thực tập và sát hạch kiểm tra lại thực tế ở trận địa. Do vậy các tiểu đội đều tổ chức lao động có trật tự theo đúng đội hình, bài bản và bảo đảm đúng kỹ thuật. Đại đội có tổ kiểm tra kỹ thuật ngay tại chỗ. Ban giám khảo chung của tiểu đoàn cũng đã có mặt ở các nơi xử trí tình huống của đại đội ba.
Nhờ phương pháp tổ chức chỉ huy, vừa lao động vừa huấn luyện mang tính chất hội thao, thi đua như trên, nên đoạn đường vào cầu ở bờ bắc tuy bị hỏng nặng gần ba ki-lô-mét nhưng đã được khắc phục một cách nhanh chóng, năng suất cao, chất lượng bảo đảm kỹ thuật, khí thế bộ đội, dân quân ngày càng cao, tiếng hò tiếng hát át tiếng bomg như không lúc nào ngừng trên đoạn đường gian khổ ác liệt này.
Ở trận địa phòng không, các chiến sĩ cao xạ, các chiến sĩ súng máy của bộ đội và dân quân cũng đang ráo riết củng cố lại trận địa, bổ sung đạn dược, lau chùi, sửa chữa vũ khí và đắp lại công sự. Đại uý Nguyễn Đen, chỉ huy trưởng cũng đã kịp thời tăng cường cho trận địa cao xạ một đại đội dân quân để đắp sửa công sự.

ĐẠI ĐỘI 3 CÓ BỎ CUỘC KHÔNG?

Khoảng 17 giờ, đại uý Trần Huy Tiệm, chính trị viên tiểu đoàn về tới bến Cổ Tế. Theo kế hoạch, anh lên lớp bài chính trị trong chương trình giáo dục cơ bản cho đại đội hai ở bến Thiệu Hoá, đến tối mới về đây. Nhưng buổi chiều được tin địch đánh lớn vào bến Cổ Tế, nên sau khi lên lớp xong, anh vội vàng lên xe về ngay, không kịp ở lại ăn cơm chiều.
Tới bến, anh gặp tiểu đoàn phó Đoàn Liễu và tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh báo cáo tình hình cho anh nghe. Anh thấy mọi việc đều được xử trí tương đối chặt chẽ nên rất hài lòng. Sau khi thăm hỏi, động viên các lực lượng dân quân sửa chữa đường hai bên bờ sông, anh cùng Ngô Doãn Hanh ra khu vực kéo thuyền của đại đội 3, Đoàn Liễu ở lại trực chỉ huy sở.
Ở đây, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng đang chỉ huy kéo nốt những khoang thuyền dự bị cuối cùng ra khỏi khu vực bị bom nguy hiểm. Còn toàn bộ đoàn thyền đang được dừng lại để chuẩn bị khí tài vào tư thế bắc cầu.
Sau khi chuẩn bị khí tài xong, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng tập hợp đơn vị và kiểm tra lại toàn bộ trang phục. Tất cả cán bộ, chiến sĩ đều thống nhất như nhau: quân phục mùa hè, đủ quân hàm quân hiệu, quần dài xắn ba nếp đến bụng chân, chân đi giầy vải buộc dây chắc chắn, mũ bỏ quai, trên mũ mỗi người đều có khẩu hiệu bướm nói lên quyết tâm đạt điểm cao trong hội thao, thành tích tốt trong chiến đấu, súng đeo chéo qua vai, vòng nguỵ trang đồng loạt.
Những tổ công tác chính trị cũng kiểm tra lại cách cắm cờ và biểu ngữ theo đúng vị trí, để khi quay cầu xong thì cờ và biểu ngữ đã sắp thành hàng thống nhất và đẹp mắt.
Cán bộ các cấp đều làm công tác kiểm tra lại khí tài, từng mối dây, nút buộc, con sào, cái neo chắc chắn.
Hai ca-nô do Tuyển và Phích lái, đều được kiểm tra lại cẩn thận.
Dù vội đến đâu, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng cũng vẫn phải làm công tác kiểm tra toàn diện trước khi bắc cầu. Đó là tác phong quen thuộc của các cán bộ tiểu đoàn vượt sông. Nó còn là một chỉ tiêu chấm điểm trong nội dung công tác chỉ huy của cán bộ nữa. Chính trị viên Trần Huy Tiệm và tham mưu trưởng trực tiếp giám sát và kiểm tra lại công tác chuẩn bị của đại đội ba.
Đoàn thuyền nối toa của đại đội 3 do ca-nô của Tuyển và Phích kéo đã bắt đầu tiến về bến cách đó khoảng hai ki-lô-mét nữa. Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng đứng ở vị trí chỉ huy trước mũi ca-nô, vẻ chững chạc và tự tin.
Trong khi đó, ở hai mố bờ nam và bờ bắc, các tiểu đội mố cũng đang gấp rút sửa chữa nốt bến bãi của mình. Các đơn vị dân quân cũng khẩn trương làm những phần việc cuối cùng ở nền đường, cắm cọc tiêu bảo hiểm ở cạnh hố bom… Loa trong tay, chính trị viên Trần Văn Lai đang động viên, biểu dương những đơn vị đã hoàn thành tốt và nhắc nhở các đơn vị khác tiếp tục sửa chữa cho hoàn chỉnh.
Lúc bấy giờ là 17 giờ 40 phút. Ở trạm gác bờ bắc, những đoàn xe đã nối đuôi nhau như một con rồng dài đến bôn năm ki-lô-mét, nhưng quanh trạm gác, những “anh tài” cứ bao vây lấy cô Chinh. Nào bông đùa, nào trêu chọc, nào quát tháo, mắng mỏ: Vì sao đến bây giờ vẫn chưa thấy cầu phà đâu cả ? Chinh cố giải thích là đúng 18 giờ sẽ có cầu, nhưng họ vẫn không tin.
Thực lòng hôm nay Chinh cũng không dám khẳng định mạnh mẽ bởi vì Chinh biết đại đội ba đang gặp nhiều khó khăn trên đoạn đường sông thượng lưu. Nhưng Chinh vẫn có một niềm tin, chẳng biết dựa vào đâu, chỉ biết là trong đơn vị công binh này, đơn vị của anh Bìà trước đây, và anh Đen, anh Hạnh đang ở hiện giờ, họ không bao giờ chịu tắc cầu phà, không bao giờ chịu bỏ cuộc. Suốt từ khi đơn vị vào đây, đã hơn một tháng nay bảo đảm thông cầu liên tục, chưa hôm nào tắc, cũng chưa hôm nào bị muộn quá giờ quy định cả. Hôm nay, trong tình huống nhiều phức tạp này, có chậm lắm cũng chỉ vài chục phút là cùng.
Bỗng cô reo lên khi được điện thoại báo đại đội ba đang chuẩn bị vào vị trí bắc cầu:
- Thôi, các tướng lái xe về xe chuẩn bị cả đi ! Này, lơ mơ đi chậm là tôi phạt cho ở lại đấy !
- Ôi dào ôi ! Được cô em phạt cho ở lại với cô em thì còn gì bằng !
- Nhưng này bà chị ơi, sông nước còn mênh mông thế kia thì bà chị định cho anh em lội xuống sông à ?
- Chà, cô em đóng kịch để giải vây khôn thế !
Những chuỗi cười vang lên quanh trạm gác.
Nhưng một phát pháo hiệu đỏ ở bến phà bắn lên làm Chinh mừng không thể nói được. Lúc bấy giờ là 17 giờ 45 phút. Đó là tín hiệu bắt đầu hội thao bắc cầu của đại đội 3 và cũng là tín hiệu chuẩn bị cho xe bờ bắc vào bến, khi cầu vừa xong cũng là thông xe qua cầu luôn.
Chinh reo lên:
- Các anh ơi, hay quá, tín hiệu bắc cầu đấy ! Hôm nay vẫn bảo đảm đúng 18 giờ thông cầu. Ôi, các anh có biết hôm nay ở đây đã xảy ra chuyện gì không ? Mà thôi, các anh về xe chuẩn bị nổ máy đi !
Và Chinh thổi một hồi còi dài rồi hô dõng dạc:
- Tất cả các xe chuẩn bị nổ máy !
Cô ra đứng ở giữa đường, chuẩn bị mở ba-ri-e cho thông xe trước những con mắt ngơ ngác của các “anh tài” trẻ tuổi.
Trong khi đó, ở ngoài bến, đại đội ba đã bắc cầu xong. Một nhịp cầu đẹp mắt, thẳng tắp, vươn dài qua dòng sông Bưởi đang bị lũ ngập chảy xiết. Các chiến sĩ đứng thành hàng cũng thẳng như đường dây lan can cầu. Và những cờ, biểu ngữ từng hàng, từng lối trông như một cái cầu có nhiều hoa.
Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng chạy lại báo cáo với chính trị viên Trần Huy Tiệm, thường trực chỉ huy và là trưởng ban giám khảo hôm đó.
Chính trị viên Trần Huy Tiệm ra lệnh cho thông cầu.
Một phát pháo hiệu xanh bắn lên: Lúc đó đúng 18 giờ.


CUỘC GẶP GỠ LÝ THÚ LÚC NỬA ĐÊM

Cô lái xe khó tính, sau khi phải lùi xe vào bóng cây, lại vào buồng lái. Ngồi một lúc, những mệt nhọc trên đường làm cô buồn ngủ và cô lại ngủ thiếp đi. Tiếng xe ầm ĩ qua cầu lên dốc làm cô bật tỉnh dậy.
Ô kìa, lạ chưa ? Cầu bắc lúc nào mà đã xong rồi. Thế là cô vội vàng chuẩn bị nổ máy xe theo quán tính. Nhưng đoàn xe bờ bắc đi quá dài, làm cô lại càng sốt ruột. Cô nhảy ra khỏi xe rồi la cà xuống bến. Đoàn xe bờ bắc còn dài lắm. Cô đi tìm xem có gặp ai. Cô lại chạy về xe, vừa lúc được lệnh cho xe qua cầu.
Đến trạm gác bờ bắc, cô bỗng nhận ra một bóng dáng quen thuộc, cô cho xe chạy chậm lại, rồi thò đầu ra cửa xe, gọi to:
- Chinh ! Chinh có phải không ?
Chinh quay đầu lại và bỗng nhận ra cô bạn quen:
- Ơ ! Phúc ! Phúc ơi, dừng lại tý đã, mày ! – Chinh nhảy lên bậc xe.
Phúc lái xe vào vệ đường, tắt máy, nhảy xuống. Thế là hai cô bạn gái ôm lấy nhau quay như chong chóng giữa đường, làm vui lây đến những chàng lái xe quanh đó.
Phúc – Cô lái xe ấy – không vội lắm nên có thể dừng lại chơi với bạn một lúc được.
Chinh và Phúc cùng đứng ở chỗ ba-ri-e vừa làm nhiệm vụ điều chỉnh xe vừa nói chuyện với nhau. Ôi, có biết bao nhiêu chuyện muốn hỏi nhau, muốn kể cho nhau nghe. Họ ôn lại những kỷ niệm vui buồn, những bạn bè, đồng đội cũ.
Ấy là những ngày ở Trường Sơn, hai cô cùng ở một tiểu đội, trong một đại đội công binh cầu đường ở Binh trạm, bám đường, bám bến, sống chết với bom đạn địch suốt mấy năm trời. Sau khi Chinh bị thương ra Bắc điều trị ít lâu thì Phúc được chuyển đi học lái xe. Hiện nay cô đang phục vụ ở Binh trạm, chuyển chở thương binh. Trong chuyến này, cô đã giao hết thương binh vào bệnh viện quân y ở Thanh Hoá. Bây giờ cô ra ngoài Hà Nội lĩnh thuốc chở vào. Cô xin phép thủ trưởng cho ghé về thăm gia đình ít ngày. Đã sáu, bảy năm xa nhà rồi còn gì nữa !
Sau khi hỏi hết chuyện công tác, bạn bè, họ hỏi nhau chuyện riêng tư. Phúc kể cho Chinh nghe gần đây cũng đã được bạn bè kể lại là Chinh đã về nhà Bìa và nỗi buồn của Chinh vì người yêu hy sinh, nhưng chưa hiểu tại sao Chinh lại ở đây. Còn Phúc thì vẫn “chưa có gì”. Nghề lái xe của Phúc còn đang bay nhảy lắm. Phúc chưa muốn dừng lại ở một trái tim cố định nào.
Chinh kể cho Phúc biết nguyên nhân vì sao Chinh lại ở đây.
- Thế bây giờ mày đã “có gì” chưa ? – Phúc hỏi – Chinh lắc đầu, rồi nói một giọng buồn buồn:
- Mình bây giờ yếu thế rồi, có còn như thời mấy năm trước nữa đâu. Ừ nói là chưa có gì thì cũng không hẳn là thế.
Rồi kéo Phúc ngồi xuống, Chinh thổ lộ:
- Gần đây Chinh có gặp một người. Người đó là bạn của anh Bìa  trước đây, ở ngay đơn vị công binh đang bắc cầu đây. Anh ấy cũng cùng một cảnh ngộ như mình, trước có yêu một cô văn công ở Đoàn văn công Quân khu. Hai người đã ước hẹn với nhau chờ ngày cưới. Nhưng rồi cô ấy hy sinh trong một đợt đi biểu diễn phục vụ chiến trường. Anh ấy buồn thương nhớ tiếc, mấy năm nay cũng chẳng buồn tìm hiểu ai nữa. Mình rất thương và mến anh ấy. Anh ấy cũng thương và mến mình. Các cụ nhà mình, cũng rất quý anh ấy và mong cho chúng mình thành đôi lứa và ở đây với các cụ mãi mãi. Nhưng lạ thật, mình và anh ấy đều không ai dám thổ lộ tình yêu với nhau cả. Mấy lần anh ấy định nói gì với mình nhưng không rồi ngập ngừng lại thôi.
- Tại sao mày không thổ lộ với anh ấy ? Tao là tao cứ chủ động nói với anh ấy trước, chứ sợ gì nào ?
- Tao không sợ anh ấy không yêu mình. Tao biết anh ấy yêu và thương tao, nhưng tao sợ… Một trong hai người chúng tao lại như anh Bìa hay cô văn công thì sao ? Chiến tranh còn dài, ai biết rồi sẽ ra sao ? Có lẽ anh ấy cũng có tâm tư như tao.
- Mày chỉ nghĩ vớ vẩn, chiến tranh là một chuyện, tình yêu hạnh phúc là một chuyện chứ ! Có tình yêu, có hạnh phúc, càng tăng thêm sức mạnh và niềm tin để chịu đựng và chiến đấu cơ mà! Ấy là tao nghe người ta nói vậy.
Hai cô bạn gái cứ rủ rỉ nói chuyện với nhau đến nỗi quên cả nhiệm vụ điều chỉnh xe, đã để mấy xe lọt lướt xuống đầu cầu làm tắc cả giao thông. Tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh trực chỉ huy cầu phải lên kiểm tra xem sao. Chinh đi đâu ? Sao lại để thế? Hay là Chinh mệt quá ngủ thiếp mất rồi ? Đã gần nửa đêm rồi còn gì, Hanh lên gác thay Chinh một lát vậy.
Nhưng khi đến nơi, thì nhìn thấy hai cô gái vẫn nói chuyện với nhau, Hanh đánh tiếng từ xa, ra vẻ trách móc:
- Cô Chinh có đấy không ? Sao lại làm ăn thế, tắc hết xe dưới đầu cầu rồi !
Chinh chưa kịp trả lời thì Phúc, nhận ra tiếng Ngô Doãn Hanh, nó nhảy bổ ra ôm chầm lấy cổ Hanh, như hồi ở nhà nó cũng hay nghịch thế, rồi reo lên:
- Ôi, anh Hanh ! Anh Hanh ! Sao em lại gặp anh ở đây ? Thế mà buổi chiều em nhìn mãi chả thấy anh đâu !
Rồi nó cứ láu táu:
- Chinh ơi anh Hanh tức là anh Hạnh, anh ruột tao đây này ! Em giới thiệu với anh, cái Chinh nó là bạn em, cùng một tiểu đội ở chiến trường đấy ! Chúng em vừa mới gặp nhau xong mà…
Hanh gỡ tay nó ra và đặt tay lên hai vai nó và ngắm nó: Ôi, cô em gái của tôi lớn thế này rồi cơ à ? Chững chạc và già dặn lắm rồi ! Chỉ cái tính láu táu là chưa thay đổi chút nào.
Chinh mừng rỡ thật sự: Cô cứ nhìn Hạnh mủm mỉm cười, rồi lại nhìn cái Phúc, chớp chớp mắt. Cô Phúc như chợt nhớ ra điều gì, bỗng reo lên như sợ ai cướp mất lời:
- A, Chinh ơi, tao đoán ra rồi ! Anh Hanh ạ, em biết hết chuyện rồi nhé !
Rồi bằng một giọng hóm hỉnh, nó nói tiếp:
- Này thôi, để tôi chính thức làm mối cho hai người nhé! Có được không ? Ôi Chinh ơi, mày mà là chị dâu tao à, hay quá nhỉ?
Rồi cô ôm lấy cả cổ Hanh và Chinh, chụm ba cái đầu lại nhau cười như nắc nẻ – tiếng cười thật hồn nhiên.

“CUNG ĐƯỜNG 27”

“Cung đường 27”, đoạn đường do tiểu đoàn 27 đảm nhiệm nay đã có một cái tên mới như vậy. Tên ấy không rõ ai đặt ra, nhưng dường như là cánh lái xe, cả quốc doanh lẫn quân sự. “Cung đuờng 27” đã trở thành câu cửa miệng của hầu hết những ai đã đi qua. Quãng đường này  chỉ dài trên 200 ki-lô-mét mà có những năm bến sông hiểm yếu, nhất là bến Cổ Tế bị bon Mỹ liên tục đánh phá ác liệt ngày đêm. Nhưng cũng trên 200 ki-lô-mét đường này lại là cung đường mà tất cả cánh lái xe đều cảm thấy khá vững tâm khi đi qua. Gần như nạn tắc phà, tắc cầu ở đâu đó thường dễ xảy ra, nhưng đã đến “Cung đường 27” thì khỏi lo tới chuyện ấy. Tất nhiên cũng có đêm hoặc cầu Cổ Tế bị hỏng, hoặc phà bến Mục Sơn bị chìm, nhưng nếu có tắc thì quá lắm cũng chỉ một nửa đêm. Tỷ lệ ùn tắc xe trên cung đường này luôn luôn là một tỷ lệ thấp nhất so với toàn tuyến bắc, nam. ở đó không chỉ có những chiến sĩ công binh vững vàng mà nhân dân địa phương cũng thật dũng cảm.
Bởi vậy mấy tiếng “Cung đường 27” đã trở thành đồng nghĩa với “Cung đường an toàn”, hoặc “Cung đường luôn thông suốt”…
Nhưng hoàn toàn chẳng vì thế mà bọn Mỹ nản lòng, bỏ qua cung đuờng trọng yếu này. Chúng càng ra sức đánh phá,càng ngày càng ác liệt,bằng mọi thủ đoàn thâm độc và sảo quyệt.
Đêm nay Nguyễn Đen lại trực chiến. Lẽ ra là phiên của Đoàn Liễu. Nhưng dạo này Liễu hay lộn trở vệ hậu cứ. Anh nói cần phải trông nom các cơ sở ở phía sau. Và dạo này anh còn hay than phiền về việc tiểu đoàn trưởng quá lao đầu vào công việc chuyên môn, ít quan tâm tới các vấn đề tài sản, tài chính… Anh nói là anh rất lo có những sự bê bối xảy ra. Anh đã một vài lần chính thức lên tiếng trong mấy buổi giao ban tiểu đoàn, hối thúc Nguyễn Đen phải cho kiểm tra lại tài sản, tài chính. Nhưng Nguyễn Đen vẫn chưa làm được. Tất cả đầu óc gan ruột của Đen  rõ ràng vẫn để hết trên các bến bãi. Anh thừa nhận là chưa coi trọng đúng mức các việc nội bộ; đã ỷ lại hoàn toàn vào Đoàn Liễu, Nguyễn Giảng.
Tuy vậy, nhận thì nhận, anh vẫn như con thiêu thân thì lao đầu vào lửa.
Có lẽ cũng vì vậy mà bữa nay Đoàn Liễu lại đòi  phải quay về hậu cứ !

DÒNG SÔNG LỬA

Trời đã tối lâu. Đại đội 3 của Nguyễn Đức Thắng báo cáo về: cầu đã lắp xong, xin phép phát tín hiệu cho thông xe, Nguyễn Đen đồng ý.
Nhưng chỉ mười phút sau kẻng báo động đã ran lên khắp nơi, từ xa xa ngoài bến sống cho tới ngay trong xóm, nhân dân đã sơ tán triệt để, chỉ còn lại sở chỉ huy của tiểu đoàn trụ bám.
Rồi máy bay dịch gầm rít lao tới. Đêm nay cuối tháng, trời tối thui. Tiếng máy bay trong đêm nghe dữ dội. Cao xạ ta đã phản ứng kịp thời và khá mạnh mẽ.
Bom nổ ình ịch phía ngoài sông Cả một vùng trời thoắt đỏ rực, đỏ lên mãi, sáng lên mãi, như cả bầu trời đang bốc cháy.
Điện của Nguyễn Đức Thắng réo lên, báo về: địch đêm nay giở thủ đoạn mới:Chúng ném bom cháy một vệt ngang sông, phía thượng lưu. Lửa đang cháy trôi tràn xuống phía cầu. Tình hình vô cùng nguy ngập.
- Tôi sẽ ra ngay với các anh!
Như mọi đêm có biến cố lớn ngoài cầu, Nguyễn Đen nói đoạn úp chiếc mũ sắt lên đầu lại lao nhanh ra khỏi cửa hầm chỉ huy.
Khoảnh khắc sau anh đã tới bờ sông. Anh đứng trước một dòng sông ngập lửa. Dòng sông lửa kéo dài mấy cây số. Tất cả cùng đang cháy. Cỏ cây bên bờ cháy. Nước trên sông cháy. Tất cả đỏ rực trong tuyến lửa đang thiêu đốt điên cuồng. Cảnh tượng thật kinh khủng.
Nguyễn Đen nghiến răng, úp mũ sát lên mặt, quay lại, nhảy xuống một chiến hào. Nguyễn Đức Thắng và các chiến sỹ của anh đã có mặt ở đó. Tất cả những khuôn mặt đẫm mồ hôi và như đang chín đỏ, nứt nở ra.
- Mỗi đồng chí một cây sào theo tôi! Phải sớm cắt lửa từ thượng lưu.
Nói đoạn, vớ lấy một cây sào dài, anh nhảy lên mặt đất, lao thẳng lên tuyến lửa. Mọi người cùng ào ạt tiếp theo anh. Tới bờ sông nhiều chiến sĩ trẻ hăng hái cầm sào nhảy xuống trước. Nguyễn Đức Thắng cũng không kịp cởi áo quần, cũng cầm sào lao xuống.
Trên khúc sông thoắt diễn ra một trận chiến đấu kỳ lạ chưa từng thấy giữa con người và thần lửa. Các chiến sĩ vừa hò hét vừa tung sào đập tan những mảng hoá chất đang cháy giần giật trên mặt nước như những cụm lửa lớn. Những mảng cháy bị đập tan ra và lập tức bị gạt hết sang hai bên bờ cát, hoặc cho trôi tự do nhưng đã bị xé nhỏ, tản mát trên dòng sông.,luồn dưới gầm cầu,trôi xuống hạ lưu.
Cuộc chiến đấu như trong một cơn điên say, cuồng nộ. Nước sông nóng hầm hập. Lát lát, các chiến sĩ lại phải ngụp xuống để cho đỡ rát mặt.Có chiến sỹ bị cháy cả tóc cũng vội vàng lặn xuống cho tắt lửa.
Cũng lúc ấy có tiếng lao xao trên bờ, Nguyễn Đen vuốt nước trên mặt nhìn lên. Chinh. Đúng là Chinh ! Cô và đội công nhân cùng dân quân  đã kịp thời tới ứng cứu cho đơn vị. Rất nhanh, trông thấy cảnh tượng này, Chinh , đội công nhân,dân quân đã hiểu ngay là mình phải làm gì.
Thế là trong phút chốc cả đội công nhân và dân quân nam, nữ cùng cầm sào, cầm gậy lao xuống. Người không có gậy thì bẻ những cành cây cũng nhảy ùm theo đồng đội.
Chinh sải mấy sải đã đến bên Đen. Suốt đời anh sẽ không bao giờ quên giây phút ấy. Hai con người, mình đều chìm dưới nước, chỉ nhô lên hai gương mặt ướt đẫm và đỏ rực trong ánh lửa. Tưởng như hai người đang gặp nhau trong một hoả ngục hoặc trong một thế giới hồng hoang tàn khốc nào đó. Nhưng cả hai đều nhìn nhau nhoẻn cười. Nụ cười như thoắt làm tắt được hết mọi ngọn lửa, và dòng sông trong mát trở lại…
Lúc đó, ở phía cầu, các chiến sĩ ta, theo mệnh lệnh của chỉ huy cũng đã đang dàn hàng ngang trên mặt cầu, mỗi người vẫn một cây sào hoặc một cành lá tươi. Một chút lửa nào trôi xuống là cũng bị dập tan ngay tức khắc,rồi đẩy xuống hạ lưu....
Trận giặc lửa dưới sông dịu dần, thì ở trên bờ và dưới hạ lưu những đám lửa dài do tổ nghi binh cũng đã được nhóm lên theo đúng kế hoạch.
Trên bờ lửa đỏ. Dưới sông lửa đỏ. Cây cối, ruộng đồng cũng nhuộm đỏ. Trời mây cũng cháy đỏ. Tất cả như sắp bị thiêu, huỷ diệt hết, chỉ còn có Con Người – Con Người chiến thắng – Con Người kiêu hãnh.
 Đột nhiên tiếng máy bay rít ào ào. Một loạt bom nổ ở dưới hạ lưu. Mọi người nhìn cả lại  phía ấy nơi hai chiến sĩ Nguyễn Đức Thắng cử đi đã kịp thời chăng dây qua sông. Lửa đã đọng lại, hình thành một tuyến cầu giả. Nguyễn Đen phấn khởi reo lên:
- A! “Dùng gậy của giặc mà đập lưng giặc!” Anh quay sang hỏi Nguyễn Đức Thắng – Bọn nào thế nhỉ?
Nguyễn Đức Thắng mừng rỡ trả lời:
- Chúng ta cả đấy!
- A! Cậu thông minh quá! Giỏi!
- Không. Tôi chỉ làm tiếp ý định của thủ trưởng đấy thôi !
Đèn tín hiệu thông cầu được bật lên. Đoàn xe pháo tiếp tục qua cầu giữa mùi khét nồng nặc của chất cháy và bom giặc
Thế là đêm thứ 100 trong chiến dịch K2 nhịp cầu của tiểu đoàn 27 vẫn thông suốt!
Hơn nửa giờ sau, Nguyễn Đen đồng ý với Nguyễn Đức Thắng cho thu quân. Chỉ có hai chiến sĩ bị bỏng, một nhẹ, một trung bình. Đội công nhân và dân quân cũng lên bờ. Chinh ướt lướt thướt. Bộ quần áo bó sát lấy tấm thân thon thả, chắc lẳn càng làm cho cô thêm đẹp ra. Mái tóc xoã chảy dài sau lưng, cô đi ngang qua trước mặt Nguyễn Đen. Anh đang ngồi trên một đống gỗ với Nguyễn Đức Thắng, hút thuốc cho đỡ lạnh. Chinh nhìn anh và mỉm cười, ánh mắt và nụ cười âý đã nói quá đủ tất cả những gì cô muốn nói với anh. Nguyễn Đen mỉm cười gật đầu đáp lại. Với Chinh dường như không còn điều gì phải nói nữa và cũng không còn lời nào để nói thêm nữa. Ai đó đã nói hoàn toàn đúng: Sự cảm thông đã lớn gấp ngàn lần những lời nói cụ thể.
Khi Chinh và anh chị em công nhân, dân quân đi khỏi, các chiến sĩ công binh ai lại vào việc nấy. Chỉ còn lại hai người Nguyễn Đức Thắng bỗng rụt rè quay lại phía Nguyễn Đen:
- Anh Đen ạ! Tiện lúc này tôi muốn nói với anh một chuyện.
Nhìn vào đôi mắt của Thắng và nghe giọng nói, Đen biết người bạn trung thực và luôn luôn cởi mở này đang muốn nói với anh một điều gì đó hết sức hệ trọng.
- Gì vậy ông?
- Tôi quý anh, tôi muốn nói với anh từ mấy tuần trước. Nhưng tôi cứ ngại…
- Gì vây? Cứ nói đi. Mình sẵn sàng nghe đây Thắng ạ. Mình cũng rất quý và tin ông.
- Tôi hiểu. Tôi hiểu anh rất tin và cũng rất quý tôi. Bởi vậy tôi không thể nào yên lòng, nói cho đúng hơn: Không thể chịu nổi…
- Sao cơ?
- Khi nghe thấy những lời không hay, những lời dị nghị về anh…
- Ông cứ nói đi!
Thắng bạo dạn hơn, nhìn thẳng vào đôi mắt Đen, rồi đột nhiên giọng như lạc đi, rung lên:
- Anh Đen! Anh có… chuyện gì với cô Chinh phải không?
Thế là hiểu rồi. Đen thở hắt ra một cái nhè nhẹ.
- Anh Đen! Anh nói đi! Anh yêu cô Chinh phải không?
Đen cúi nhìn xuống. Rồi anh lắc đầu, đôi mắt buồn bã:
- Không! Không phải thế!
- Trời ơi! Anh biết không, họ còn nói là… anh đã… gì với cô ấy rồi phải không?
- Hả! – Tới lúc này thì Nguyễn Đen phải bật lên một tiếng thực sự ngạc nhiên, và tức giận nữa.
- Hả? Sao? Người ta nói cái gì?...
Hỏi lại một lần nữa, rồi thoắt lặng đi. Trên gương mặt dãi dầu của anh tràn ngập một nỗi buồn tê tái.
Là một người thông minh, chỉ một câu hỏi và cũng là một sự thông báo nhỏ của Nguyễn Đức Thắng cũng đủ để cho anh hiểu rõ: một chuyện gì đó đã và đang xảy ra với riêng anh.
Nhưng đồng thời anh cũng là một con người có bản lĩnh, luôn kịp thời có phản ứng đối phó với tất cả những gì dù xấu xa, dù ác liệt hiểm nghèo xảy đến. Hơn nữa, từ khi bước vào tuổi trưởng thành anh chưa hề biết sợ một cái gì, ngoài sự sợ hãi yếu hèn của chính mình. Và anh cũng rất ghê tởm sự phản trắc …
Nguyễn Đen thoắt xây hẳn người lại. Một lần nữa anh nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Đức Thắng một cách hết sức nghiêm trang:
- Ông Thắng! Thôi được, dư luận hãy để đó đã, tôi hỏi ông, chính ông thôi, ông có nghĩ tôi là một thằng đồi bại, xấu xa?
Thắng lắc đầu dứt khoát:
- Không! Hoàn toàn không.
- Vậy ông có thể tin tôi trong việc này?
- Tôi luôn luôn tin anh. Nhưng anh Đen ạ, quả thật đang có dư luận xì xào không hay về chuyện này. Tôi rất bực và lo cho anh…
- Dư luận ở đâu?
- Trong trạm sửa chữa lưu động cũng có, trong hàng ngũ cán bộ trung đội của tôi cũng có.
- Họ nói họ thấy như vậy?
- Họ nói là họ cũng nghe đâu đó. Anh  Đen ạ, tôi tin anh, tôi quý anh, tôi thề với anh nếu cần để lấy máu tôi để bảo vệ anh tôi cũng sẵn sàng. Nhưng tôi cũng xin lưu ý anh phải giữ lấy mình. Có khi anh vô tình.
Nguyễn Đen cúi đầu xuống, ngồi lặng giây lâu. Đầu óc anh thoắt nhức nhối. Bàn tay anh lần lần tìm bàn tay Thắng. Đúng là lúc này anh cần một sự ấm áp, cần một sự tin yêu hơn bất cứ lúc nào hết.
Lát sau anh mới cất tiếng hỏi tiếp:
- Ông Thắng ông có thể nói cho tôi biết những tin thất thiệt này từ đâu ra không?
Thắng cân nhắc:
- Cũng thật khó biết. Nếu nhớ lại thì một hôm tình cờ tôi ở ngoài cầu về, thấy ông Liễu xuống đại đội từ lúc nào không rõ, đang ngồi uống rượu với mấy tay cán bộ trung đội của tôi. Sau đó ông Liễu về, tôi có hỏi thì các cậu ấy bảo ông ấy xuống chơi thôi và có tiết lộ là: Nghe đâu nhân dân dịa phương họ đang xì xào nhiều… về anh và cô Chinh. Nhưng ông Liễu cũng dặn họ là chớ có nói lại. Cần phải kín để bảo vệ uy tín cho tiểu đoàn trưởng. Vì thân tình  mà ông Liễu chót tiết lộ ra thế thôi…
Nguyễn Đen bỗng nhếch mép cười. Bảo vệ uy tín cho tiểu đoàn trưởng? Có thật vậy không? Cho tới lúc này anh mới chợt nhớ ra: gần đây thái độ Đoàn Liễu đối với anh có gì khang khác. Còn nhân dân địa phương thì là ai nhỉ? Có thật là nhân dân địa phương xì xầm không? Hay chỉ là những điều bịa đặt?...
    Đoàn Liễu! – ý nghĩ của anh lại trở về với người chỉ huy phó của anh. Bây giờ Nguyễn Đen mới thực sự nhận được ra: Lâu nay mình đã quá chủ quan, ít chú ý tới con người này. Nếu quả thật anh ta muốn xử tốt, sao không thẳng thắn nói với anh, dù chỉ một vài lời vắn tắt, việc gì lại đi la cà xuống dân, nói ra rồi lại căn dặn người ta giữ bí mật? Nhưng cũng có thể anh ta quá nể mà không dám nói thẳng ra chăng? Cũng có thể như thế lắm. Cần phải xem lại đã. Nhưng dẫu sao cho đến lúc này những chuyện cũ về Đoàn Liễu mà Đen đã quên đi, những cái lặt vặt về anh ta mà Đen đã dễ dãi bỏ qua tha thứ, cùng những dư luận xa gần không hay về con người ấy, như đột nhiên bị cơn gió thổi bùng lên từ đống bụi thời gian làm cho Đen không khỏi ngỡ ngàng.
    Nhưng vốn không thích những thành kiến, những sự để tâm vụn vặt. Nguyễn Đen cố xua đi những ý nghĩ ấy, và tự dặn mình: Cần phải xem lại. Còn dư luận không tốt về anh và Chinh, thì anh hoàn toàn không thấy một chút gì phải phiền muộn, lo lắng. Bởi anh hiểu chính anh. Chinh cũng hiểu rõ anh hơn ai hết. Anh hoàn toàn tin ở chính mình, tin ở Chinh.
    Nguyễn Đen xiết tay Nguyễn Đức Thắng rồi quay trở về sở chỉ huy. Người rã rời, vừa thay quần áo xong, thì một cán bộ tham mưu lại đưa tới một bức điện khẩn của quân khu.
















CHƯƠNG VII
GIÂY PHÚT MỎNG MANH



    Nguyễn Đen vặn to ngọn đèn. Mệnh lệnh hết sức vắn tắt nhưng cũng hết sức rõ ràng: Đêm mai tiểu đoàn 27 phải đảm bảo cho một trung doàn xe tăng hạng nặng qua bến Cẩm Thuỷ và bến Mục Sơn.
    Đặt bức điện xuống, anh vừa lo lại vừa mừng. Lo vì nhiệm vụ quá gấp, hơn nữa ở bến Cẩm Thuỷ và bến Mục Sơn lực lượng quốc doanh cũng như toàn tiểu đoàn 27 chỉ có khí tài loại nhẹ và loại trung, không đủ trọng tải cho xe tăng cỡ lớn. Nhưng cũng mừng vì trong nội dung huấn luyện tại trận, tại chỗ của tiểu đoàn đang  triển khai đã có một số giờ tập ghép phà theo phương pháp cải tiến đề phòng khi bất chợt phải chở các loại xe hạng nặng qua sông. Chiến tranh còn phát triển, công tác huấn luyện phải đón trước được những tình huống phức tạp.
    Bây giờ thì thật là may. Hơn lúc nào hết, công việc tích cực huấn luyện, tranh thủ huấn luyện rõ ràng đã tỏ ra giúp cho đơn vị có thể đối phó với những tình huống lớn, bất ngờ.
    Nguyễn Đen lập tức cho triển khai mọi khâu cần thiết, một mặt điện cho Văn Thám ở bến Mục Sơn và Trần Đằng ở bến Cẩm Thuỷ chuẩn bị. Mặt khác, anh lệnh cho hai đại đội cao xạ từ bến Sĩ lên tăng cường bảo vệ bến Cẩm Thuỷ và bảo vệ  bến Mục Sơn, đêm mai kiên quyết đánh địch cho xe tăng qua sông trọn vẹn và thắng lợi.
    Mọi công việc triển khai xong, trời cũng gần sáng Nguyễn Đen điện cho Đoàn Liễu ra thay anh ở Cổ Tế, để anh tới bến Cẩm Thuỷ trực tiếp tổ chức việc vượt sông cho xe tăng.
    Bảy giờ sáng, Nguyễn Đen đã tới bến Cẩm Thuỷ. Anh vào thẳng sở chỉ huy đại đội bốn. Trần Đằng cởi trần trùng trục, bụng xệ như lão Phệnh mập, trông đến tức cười. Anh đang chủ trì cuộc họp cán bộ. Không khí cuộc họp vừa nhác thấy đã biết ngay là rất khẩn trương và căng thẳng.
    Thấy Nguyễn Đen tới, mọi người đều mừng rỡ. Trần Đằng cười khà khà:
    - May quá! “ông tác giả” đây rồi! Mấy cha này chúng nó còn cứ cãi với tôi về mấy điểm.
    Đen sà ngay vào bàn họp. Mọi người đang thảo luận  lại phương án kỹ thuật cải tiến phà loại nhỏ, loại trung để chở trọng tải lớn. Nói cho đúng ra, đây không phải hoàn toàn là sáng tạo của Nguyễn Đen như Trần Đằng vừa nói, mà là một sáng kiến táo bạo của tập thể cán bộ trong tiểu đoàn từ mấy tháng trước. Nhưng anh em chỉ có sáng kiến và kinh nghiệm thực hành nên chưa đúc kết được thành lý luận và nguyên tắc khoa học. Do có trình độ nên Nguyễn Đen đã tổng hợp được mọi ý kiến và cũng có phần đóng góp của mình, cuối cùng anh đã nâng cao lên thành lý luận, rồi mạnh dạn đưa vào chương trình huấn luyện ngay trong chiến dịch K2 này.
    Bởi thế, giờ đây cán bộ đại đội bốn cũng còn phải tranh luận thêm một vài điểm chưa thật rõ, hoặc chưa thật tin chắc Nguyễn Đen cầm lấy bút, thước, miệng nói tay vẽ. Chỉ một lúc sau tất cả cán bộ của đại đội bốn đã nắm được vấn đề, và hứa hẹn  khi trở về trung đội mình sẽ bắt tay ngay vào việc.
    Trong số các trung đội trưởng, Văn Hậu là cán bộ trẻ nhất, can đảm nhất, và có văn hoá cao nhất (anh đang học dở đại học giao thông thì đi nghĩa vụ quân sự) được Nguyễn Đen và Trần Đằng hoàn toàn nhất trí chọn làm người trực tiếp chỉ huy chuyến phà thí nghiệm đầu tiên.
    Nguyễn Đen giữ tay Văn Hậu rất lâu trong tay mình:
    - Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng ở cậu.
    - Báo cáo, cái tốt là được huấn luyện kỹ rồi nên chúng tôi rất vững tâm và tin là có thể làm được. Xin thủ trưởng cứ yên trí! – Văn Hậu hăng hái đáp lại.
    Suốt ngày hôm đấy Nguyễn Đen và Trần Đằng cùng xuống các trung đội để trực tiếp hướng dẫn anh em ôn luyện lại các động tác, các quy trình kỹ thuật lắp ghép phà cải tiến theo phương pháp hoàn toàn mới của tiểu đoàn. Vừa ôn luyện giải quyết những thắc mắc còn lại, các anh vừa khêu gợi tiếp những sáng kiến mới của chiến sĩ để đóng góp vào việc cải tiến con phà thêm hoàn chỉnh.
    Trời tối dần. Máy bay địch hôm nay hoạt động sớm. Bom nổ xa gần. Nguyễn Đen, Trần Đằng cùng ra sông. Dòng sông cuồn cuộn dữ dội như cả một đoàn ngựa chiến đang tung bờm lồng lên. Nguyễn Đen không khỏi thầm lo lắng. Trần Đằng mọi khi rất lè phè, thích bông đùa vì luôn luôn tin ở tài tháo vát và sự nhanh trí của mình, nhưng lúc này đứng trước dòng sông hung dữ cũng không khỏi lo sợ số phận của những chiếc phà ghép theo kiểu mới. Liệu trong thực tế chúng có chở nổi những khối thép đồ sộ nọ vượt qua dòng sông ghê ghớm kia hay không? Chỉ cần một chiếc xe tăng chìm nghỉm xuống dòng nước đêm nay là cũng đủ khiến cho số phận của cả Trần Đằng và Nguyễn Đen sẽ đi tới đâu?...
    Đã nhọ mặt người. Trần Đằng hạ lệnh ghép phà mặc cho máy bay địch vẫn gầm rít trên bầu trời. Không hiểu đêm nay tại sao bọn máy bay Mỹ bay sớm và lượn nhiều ở khu vực này như vậy? Hay là chúng đã đánh hơi thấy xe tăng lớn của ta lên đường ra trận?...
    Lát sau, chiếc phà cải tiến đã được lắp ghép xong Trần Đằng vẫn phơi cái bụng xệ ra , cùng với Nguyễn Đen nhảy bay xuống. Hai người phân công nhau kiểm tra lại từng chi tiết nhỏ. Trần Đằng lại bông phèng: “Mô phật, có huấn luyện kỹ có hơn, anh Đen ạ!” làm cho Nguyễn Đen phải bật cười.
    Trên bờ đất như rung chuyển. Tiếng máy hết sức nặng đã gầm lên. Đoàn xe tăng đã tới. Trần Đằng từ dưới phà ngẩng lên nhìn thấy như cả một đoàn voi khổng lồ đang hầm hè bước xuống.
    Trần Đằng cùng Nguyễn Đen nhảy lên bờ, lệnh cho chiếc xe tăng đầu tiên xuống phà được Trần Đằng phát ra giữa sự hồi hộp của tất cả mọi người trên bến.
    Chiếc xe tăng đi dầu nhai xích rào rạo, rồ lên rồi nặng nể, thận trọng bò xuống.
Trần Đằng đứng ở đầu phà để làm hiệu cho xe xuống phà, nhưng chiếc xe cứ đi chệch sang trái, tí nữa là đè nát bó vỉa mố, có nguy cơ lao xuống sông. Trần Đằng vội vàng giơ cả 2 nắm tay bắt chéo và hô to:
- Dừng lại ! Dừng ... lại !
Cũng may chiếc xe đã dừng lại kịp thời, bánh xích đã đè vào bó vỉa mố cầu. Trần Đằng liền chạy lại đầu xe quát lên và văng tục:
- Mẹ kiếp ! đi như thế à ? Đồ con khỉ, đè nát hết cả bó vỉa rồi !!!
Mọi người ở gần đó cũng ồ lên, lo sợ.
Lúc đó Nguyễn Đen cũng đứng ở đầu mố, toát cả mồ hôi, tí nữa thì xe xuống sông. Anh vội chạy xuống rồi nhảy lên đầu xe tăng, cậu chiến sĩ lái tăng mặt tái mét không còn hột máu, run run lắp bắp không nói lên lời. Nguyễn Đen cúi xuống kéo nách, nhấc bổng cậu lái xe tăng lên và quát:
- Ra đi, xuống đây mà xem kỹ bến đi.
Cậu lái tăng vội nhảy xuống, lúc này mọi người mới ồ lên.
- Thì ra là một chú nhóc, thấp bé nhẹ cân, thế mà cũng làm lái xe tăng à ?
- Này chú bé, bao nhiêu tuổi rồi, học lái xe lâu chưa ?
Cậu bé run run nói không ra hơi:
- Dạ, em 18 tuổi, mới được học lái xe ba tháng, mới chỉ học lái xe trên đường thôi, chưa lái xuống phà bao giờ ạ.
- Mười tám, mười tám gì cậu, mặt non choẹt, chắc lại khai tăng thêm tuổi để đi bộ đội hả? Chết chửa, mới học ba tháng đã lại “dỡ non” chứ gì. Anh bỗng nhớ lại lớp lái xe của anh, cũng mới chỉ học 2 tháng đã phải dỡ non đi lái xe thuyền. Anh bỗng chặp miệng: “Thì cũng hoàn cảnh như thế cả đây. Anh bỗng thốt lên: “Chiến trường yêu cầu gấp, biết làm sao được”.
Nguyễn Đen nhìn cậu lái xe tăng bé nhỏ mà thương hại, cơn nóng nẩy bỗng dịu xuống. Cậu ta như người chết đứng, đứng đực người ra chẳng nói chẳng rằng. Nguyễn Đen lại an ủi cậu ta:
- Cũng may mà chú mày phanh lại được, thôi cứ bình tĩnh. Bây giờ đứng đây nhìn người ta lên phà mà học tập.
Nói xong Nguyễn Đen liền trèo lên xe, chui vào buồng lái, nhìn lại các bảng điều khiển một lượt rồi ngồi vào ghế lái. Đẩy cần số về số lùi, rồi tăng ga dần, chiếc xe tăng từ từ lùi lên dốc. Anh chỉnh hướng, căn lại cho đúng mũi cầu phà. Rồi đẩy cần số tiến, chiếc xe tăng bò dần dần lên phà.
Con phà rùng mình, đầu phà gần như chìm hẳn xuống mặt nước, nhưng rồi lại nổi lên. Chiếc xe tăng cỡ lớn bò vào, nằm lù lù, cao ngất ở giữa con phà. Mớm nước mấp mé. Nhưng không sao. Trần Đằng sung sướng quá reo to: “Ăn rồi! Ăn rồi!...” khiến mọi người đang hết sức hồi hộp cũng phải cười phá lên.
Xe tắt máy, Nguyễn Đen nhô lên nhảy ra khỏi xe trước sự thán phục và mừng rỡ của mọi người xung quanh. Cậu lái xe tăng nhỏ bé vội chạy lại:
- Ô ! thế thủ trưởng cũng lái được tăng à ? Hay quá !
Trần Đằng liền trả lời ngay cho cậu bé lái tăng và cũng là thông báo cho mọi người biết:
- Thủ trưởng vẫn lái xe xích K61 đấy. Có khác gì xe tăng đâu. Cậu tưởng công binh không có xe tăng à ? Xe xích lội nước K61 còn chở được cả xe ô tô và xe xích khác cơ mà.
Khi chiếc xe tăng đã lên phà yên ổn rồi mới thấy thiếu tá Bách chính uỷ trung đoàn tăng từ phía sau chạy lên đến chỗ Nguyễn Đen:
- Tôi định xuống phía sau, điều mấy cậu lái cũ lên để lái xe xuống phà. Vậy mà anh đã cho lên được rồi. May quá ! toàn “dỡ non” cả đấy anh ạ.
Nguyễn Đen thông cảm với chính uỷ Bách và nói:
- Thì chúng tôi cũng thế thôi, khác gì các anh. Cứ để cho anh em lái, có điều là cần phải kèm chặt chẽ, những chỗ khó thì cán bộ và lái cũ phải ở bên cạnh chỉ bảo để anh em đỡ run.
- Vâng, đúng thế ạ !
Chính uỷ Bách liền triệu tập cán bộ và lái xe tăng lại hội ý ở đầu bến phà để rút kinh nghiệm.
Nguyễn Đen bảo chú lái xe tăng bé nhỏ:
- Cậu phải kê cao thêm ghế ngồi mới nhìn rõ được, và cứ bình tĩnh, từ từ nhả côn, không được giật cục là vỡ phà đấy nghe chưa ?
- Rõ, vâng ạ !
    Văn Hậu gọn gàng trong bộ quân phục, gương mặt sáng sửa và can đảm, dứng ở mũi phà như một dũng sĩ  trong huyền thoại, cất tiếng hô vang cho lệnh con phà vượt sông.
    Hai chiếc ca nô cùng rú máy, giật xích, kéo con phà nặng nề theo nhịp sóng nhấp nhô, xa bờ dần.
    Mọi người trên bờ vẫn chưa hết hồi hộp. Con phà xem ra như quá mong manh so với chiếc xe tăng, so với cả sông nước.
    Đã tới giữa sông, dòng nước chảy xiết. Những dòng nước hung hăng chồm cả mặt phà, bọt nước bắn tung lên tận chóp pháo của xe tăng.
 Văn Hậu vẫn đứng vững trên mũi phà. Chiếc đèn pin trên tay anh luôn luôn nhấp nháy, lúc gạt sang phải, lúc tia sang trái. Anh chỉ huy cho hai chiếc ca nô hiệp đồng chặt chẽ kéo phà vượt qua dòng nước xiết.
Hình ảnh Văn Hậu đẹp đến nỗi Nguyễn Đen ở trên phà cũng phải thốt lên:
- Cán bộ trẻ của ta, giá ai cũng được như Văn Hậu cả!...
Trên phà các chiến sĩ xe tăng hết sức yên tâm và thú vị trò chuyện cùng các chiến sĩ công binh.
- Chà, các cậu được lái xe tăng nghiền nát đầu giặc, sướng ghê! – Một chiến sĩ công binh thốt lên.
Các chiến sĩ xe tăng đáp lại:
-Nhưng không có các cậu “cõng” qua sông như thế này bọn tớ cũng thành đống thép vô dụng thôi. Như vậy, chiến công đầu là của các cậu, chứ không bao giờ là của bọn tớ!
Những chuỗi cười cùng bật lên giòn giã.
Nhưng khi con phà lọt vào luồng nước cường ở giữa sông thì bị cuốn trôi xuống phía hạ lưu, mặc cho hai chiếc ca nô đã mở hết ga cưỡng lại. Nước cuốn đến chóng mặt.
Trên bờ, nhiều người không dấu được sự lo ngại. Trần Đằng cũng hết tí tởn, hai bàn tay xoắn vào nhau thốt lên:
- Gay rồi! Có lẽ gay rồi!
Nhưng con phà đã ngoi lên được. Kìa! Nó đang nhích dần về phía thượng lưu để trở về bến. Rồi một lúc sau, nó đã từ từ quay mũi để vào mố bờ nam.
Tất cả mọi người cùng thở phào nhảy bật lên reo hò vui sướng.
Vừa lúc đó, kẻng báo động đột ngột vang lên lảnh lói. Rồi máy bay địch ầm ầm lao tới như một cơn lốc điên cuồng. Các trận địa cao xạ cùng nổ súng. Cả bến phà phút chốc rung chuyển. Qua ánh lửa của các đường đạn cao xạ, đại liên, Nguyễn Đen nhìn thấy Văn Hậu vẫn đứng sừng sững ở đầu phà để chỉ huy, kiên quyết đưa con phà vào bến an toàn.
Bỗng có một tiếng nổ lớn bùng lên ở dưới sông, ngay phía sau đuôi phà. Một cột nước dựng đứng cao hàng chục mét. Con phà rùng mình và bị nhấc bổng khỏi mặt nước rồi bị quật mạnh xuống. Cùng lúc ấy, do sức nặng ghê gớm mang trên mình, con phà đã kéo giật đứt tung sợi xích lớn đang ghìm phà vào mố để chuẩn bị cho xe tăng vượt lên bờ. Tiếng xích đứt phát ra một tiếng “păng”, nghe rất căng và vô cùng ghê rợn.
- Đứt xích ghìm phà rồi! Nhiều tiếng kêu thét lên sợ hãi bàng hoàng.
Nhưng cũng lúc ấy lại có cả tiếng hoan hô. Bọn Mỹ đã chủ quan không ngờ ở bến Cẩm Thuỷ đêm nay đã được tăng cường cao xạ, nên cứ lao xuống đánh như mọi bữa khác. Một chiếc đã bị trúng đạn, bốc cháy trên bầu trời,soi sáng rực cả bến sông.
Riêng Văn Hậu, anh dường như không hay biết gì nữa. Xích dứt: một tình huống hiểm nghèo đang xảy ra! Khoảng cách giữa phà và mố trên bờ đang hoác rộng ra một cách đáng sợ: Con phà đang dần dần xa bến! Trong khi dó xe tăng đã nổ máy, chuẩn bị vượt lên bờ. Như vậy có nguy cơ xe tăng sẽ bị hẫng và rơi xuống sông. Lệnh cho xe dừng lại! – Không kịp rồi! Bánh xích đã chuyển động. Xe tăng đang đà lao lên, đột ngột dừng lại lúc này còn nguy hiểm hơn, vì lực quán tính quá lớn có thể làm vỡ phà. Đầu óc Văn Hậu như có một trăm con tính cùng lướt qua nóng rực. Anh chỉ còn kịp thét lớn:
- Tất cả, nhảy xuống. Ghìm phà!
Vừa hô, anh vừa nhảy xuống trước, nhảy sát gầm xe. Cùng một loạt, các chiến sĩ công binh lao mình xuống dòng sông, vật lộn với sóng nước để ghìm con phà lại. Trần Đằng không kịp cởi quần áo cũng nhảy xuống theo…
Nước cuồn cuộn. Bóng Văn Hậu nổi bật ngay sát gầm chiếc xe tăng đang từ từ bò lên. Anh không quản cả khối thép khổng lồ có thể bị hẫng, rơi xuống nghiền nát đầu mình. Toàn thân ngập dưới nước, một tay bám vào mố, tay kia bám vào phà, cố dồn sức lực của mình vào hai cánh tay, răng nghiến chặt, hàm bạnh ra, mắt như sắp bật khởi tròng, anh cố, cố mãi để giữ cho con phà khỏi trôi ra. Vừa ghìm anh vừa hét to:
- Ghìm ... vào. Cố ... lên ... !
Phía sau Hậu, các chiến sĩ cũng dốc hết sức, rạp mình xuống, co kéo con phà vào sát mố.
Tất cả chỉ còn trong tích tắc, một là thắng lợi, hai là tan tành…
Giữa cái khoảnh khắc nhỏ nhoi kinh hoàng ấy, Nguyễn Đen đã nhảy lên bờ, kịp thời ném được một đầu cuộn dây neo ra đúng vào đầu phà. Một tiếng “choang” bật lên nghe thật là kinh dị…(cho mãi về sau này, không ai có thể hiểu, mà chính Đen cũng không thể hiểu vì sao anh đã kịp nghĩ ra cách ấy, hơn nữa tại sao mình  lại có sức mạnh lạ lùng ném được cuộn dây neo nặng ấy tới con phà, mà lại trúng hẳn vào đầu phà…) Các chiến sỹ ở trên phà và mố đều quấn dây vào cọc :
- Ghìm chặt! Ghìm chặt!- Những tiếng hô như thét lên.
Đúng lúc đó bánh xích đầu tiên của chiếc xe tăng chạm vào đầu mố. Chiếc xe chồm lên băng qua khỏi khoảng cách nguy hiểm, vọt lên bến an toàn.
Tất cả bằng ấy con người đều mừng rỡ. Nhưng đã quá mệt rồi, không ai còn sức hò hét được nữa. Dường như họ đều ngồi lặng đi trong nỗi mừng ghê gớm của một keo hút chết.
… Sau khi nhanh chóng rút kinh nghiệm với các chiến sĩ lái xe tăng, Văn Hậu lại tiếp tục chỉ huy con phà đưa đàn voi thép qua sông cho tới chiếc cuối cùng. Tất cả đều an toàn tuyệt đối. Thời gian lại sớm hơn dự kiến một giờ. Đồng chí trung đoàn trưởng xe tăng, một con người nhỏ bé gầy còm, nom không ai có thể tin là người chỉ huy xe tăng cứ ôm lấy Văn Hậu mà khóc, vì quá mừng, quá yêu những chiến sĩ công binh. Đến khi đồng chí quay lại để cảm ơn Nguyễn Đen và Trần Đằng thì hai người gần như chỉ còn biết ngồi thở, tiếng đã khản đặc, không ai mở được miệng để nói câu gì nữa.

LÚC NÀO CŨNG PHẢI VUI TƯƠI CHỨ Ạ

Trong một cuộc giao ban của Bộ Tổng tham mưu ở Tổng hành dinh tại Hà Nội, bỗng có một bức điện được đọc lên đại ý là: “Cầu phà bị tắc, nên đoàn tăng 203 chưa vượt sông được”. Tổng tham mưu phó trung tướng Lê Ngọc Hiền liền quắc mắt hỏi:
- Vì sao cầu phà lại tắc, đã hỏi xuống quân khu chưa ? Làm ăn thế này thì chết người à? Nếu không nhanh chóng, để ùn xe lại, bọn máy bay giặc Mỹ phát hiện được thì càng gay go nguy hiểm...
Ông giao cho trung tá Phạm Văn Các xử lý ngay vụ này gấp.
Trung tá Phạm Văn Các nguyên là trưởng phòng tác chiến Quân khu 3 mới được điều lên Cục tác chiến, phụ trách theo dõi hành quân’ bỗng giật mình, trước bức điện và lời nói của thủ trưởng Bộ.
Anh liền nói:
- Báo cáo, từ đầu chiến dịch K2 đến nay, tôi theo dõi các bến cầu phà của quân khu do tiểu đoàn 27 đảm nhiệm, chưa lần nào bị tắc ! Sao lại có bức điện này?
- Cứ xuống tận nơi kiểm tra xem thực hư thế nào, và đôn đốc khẩn trương bảo đảm cho vượt sông ngay, càng nhanh càng tốt.
- Rõ.
Sau buổi giao ban đó Trung tá Phạm Văn Các liền điện xuống Quân khu 3. Trực chỉ huy lúc đó là Đại tá Phó chính uỷ quân khu Vũ Đức Thái. Ông Thái liền hỏi lại ông Các:
- Sao lại có điện như thế. Trực ban Quân khu báo cáo các bến mấy hôm nay đều thông suốt cơ mà.
Ông Các liền hỏi:
- Vậy ở bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn hiện nay ai chỉ huy ?
Ông Thái liền hỏi trực ban, trực ban báo cáo là do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen chỉ huy. Ông Thái liền báo cáo cho ông Các.
- Cậu Nguyễn Đen nó trực tiếp chỉ huy ở đây đấy. Nguyễn Đen thì nó không bao giờ bị tắc đâu.
- Nguyễn Đen à ? nếu là thằng Đen thì đúng thế, nó chưa bị tắc bao giờ. Chắc có vấn đề gì đây. Để tôi xuống thẳng dưới đó xem sao .
Sau khi trao đổi với ông Vũ Đức Thái phó chính uỷ quân khu xong, Phạm Văn Các lên xe con đi ngay. Khoảng 30 phút sau ông Các có mặt tại chỉ huy  sở Quân khu 3. Đại tá Vũ Đức Thái ra tiếp ở ngay tác chiến thất. Ông Các hỏi lại trực ban và xem sổ giao ban xem tình hình địch mấy hôm nay ra sao ? “Địch có đánh vào bến một vài lần, nhưng không thiệt hại gì nhiều. Cầu vẫn vững, phà vẫn thông. Tình hình mưa lũ không có gì”. Ông Vũ Đức Thái nói với ông Các:
- Tay Nguyễn Đen này thì bọn mình tin tưởng nó lắm, chưa bao giờ nó bị tắc cầu phà đâu.
- Tôi cũng nghĩ như thế. Ông Các nói – chắc hẳn anh còn nhớ trận ngày 19.5.1967 ở Non Nước không ? hành quân và bảo đảm cầu phà ban ngày dưới bom đạn mà nó vẫn còn làm được cơ mà.
Ông Các nhớ lại, hồi đó ông là trưởng phòng tác chiến quân khu. Hôm đó, nhận được tin tình báo, bọn giặc Mỹ quyết đánh phá nhà máy điện Ninh Bình trong ngày hôm đó. Tin đó mãi 8h sáng mới đến quân khu. Thiếu tướng tư lệnh Hoàng Sâm liền cùng trưởng phòng tác chiến kiểm tra lại lực lượng phòng không, thấy còn mỏng, ông quyết tâm điều ngay một tiểu đoàn cao xạ ở phía Nam Định, xuống sát Ninh Bình để đánh địch, bảo vệ nhà máy điện. Đồng thời lệnh cho tiểu đoàn 27 nhanh chóng bảo đảm cầu phà qua bến Non nước chậm nhất 11h30’ trưa tiểu đoàn pháo phải chiếm lĩnh trận địa xong, sẵn sàng đánh địch. Nhận được lệnh tiểu đoàn 27 liền điều đại đội hai cầu phà do Nguyễn Văn Chỉnh làm đại đội trưởng và Lê Thụ làm chính trị viên. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen, đại đội hai đã nhanh chóng hành quân cấp tốc, với 50 xe cầu phà nguỵ trang kỹ đã kéo đi theo đường số một qua thị xã Phủ Lý và thành phố Nam Định đang bị địch đánh phá. Có xe phải lao qua lửa, bị bốc cháy, anh em đã bình tĩnh dừng lại dập lửa cứu xe, xong lại hành quân ngay. Vào lúc 10 giờ đã đến bến, Nguyễn Đen kịp thời tổ chức ghép phà, đưa pháo qua sông ngay.
Tiểu đoàn pháo đã qua sông được một nửa thì máy bay giặc Mỹ đến đánh thị xã Ninh Bình. Các chiến sĩ công binh và cao xạ vẫn bình tĩnh qua sông. Đại đội cao xạ cuối cùng qua sông đã không kịp vào trận địa mà được lệnh triển khai ngay trận địa trên đường để đánh địch, kịp phối hợp với các đơn vị pháo và không quân ta lúc đó.
Vào lúc 11 giờ tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đã trực tiếp điện thoại với thiếu tướng Hoàng Sâm:
- Báo cáo tư lệnh, tiểu đoàn 27 đã hoàn thành nhiệm vụ, bộ đội cao xạ đang đánh địch ngay trên đường. A ! một máy bay đang bị bốc cháy rồi...
- Hoan hô tiểu đoàn 27 – cảm ơn các đồng chí ! – Tư lệnh vui sướng nói.
Ông Các còn nhớ trận ấy tiểu đoàn 27 thiệt hại một xe bị cháy và hai chiến sĩ bị thương nhưng tinh thần vẫn vững, cầu phà vẫn an toàn.
- Vậy mà lần này tại sao cầu phà lại tắc ? Ông Các thốt lên, rồi ra xe lao đi ngay, vượt gần 200km đến bến Cẩm Thuỷ. Lúc đó vào khoảng năm giờ chiều, ông Các dừng lại, mở cửa xuống xe, bến phà đang nhộn nhịp hàng đoàn xe tăng nối đuôi nhau qua phà. Bầu trời yên tĩnh, trên một mô đất phía bờ Bắc, một số lính lái xe tăng đang quây xúm lại nghe tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đánh đàn ghi ta, bộ mặt rất thản nhiên và bình tĩnh.
Trung tá Phạm Văn Các liền chạy lại phía Nguyễn Đen, Nguyễn Đen nhận ra người quen, vội đứng lên:
- Chào thủ trưởng Các, thủ trưởng khoẻ chứ, thủ trưởng đi đâu vậy ?
Ông Các liền cười và nói to:
- Trời, thằng Đen, mày vẫn thản nhiên nhỉ. Còn chơi đàn cơ à?
- Vâng, vẫn bình tĩnh có làm sao đâu. Đời lính mà anh, lúc nào cũng vui tươi chứ ạ !
Ông Các lúc này mới dịu mặt xuống và cười ha hả:
- Thế mà đứa nào nó lại điện lên Bộ là bến phà bị tắc, xe tăng không vượt sông được, thế có chết không chứ, làm tao phải xuống đây xem sao.
- Báo cáo thủ trưởng đêm qua, anh em chờ suốt cả đêm mà chẳng có xe tăng nào qua được. Suốt cả tuần nay, lúc nào cũng thông cả.
- Sao lại có điện là cầu phà tắc ?
- Ai điện thế ạ ?
- Trung đoàn 203.
- Hả, Trung đoàn 203 ? Vậy thì có chính uỷ trung đoàn 203 ở đây. Đề nghị anh hỏi lại xem.
Nguyễn Đen liền gọi một cán bộ đi tìm anh Bách đang nghỉ ở đâu quanh đây. Một lát sau thiếu tá Bách đến. Nguyễn Đen giới thiệu Bách với ông Các. Ông Các liền quắc mắt lên nhìn ông Bách:
- Ai điện về Bộ là phà bị tắc, có phải anh không ?
Ông Bách lúng túng rồi ấp úng:
- Báo cáo tôi điện ạ, nhưng tôi chỉ điện là trời mưa, đường bị tắc, đơn vị không hành quân được thôi ạ !
- Chết cha người ta chưa, anh nói như thế thì trực ban nó hiểu là cầu phà bị tắc là phải rồi.
Ông Bách thành thật nói:
- Báo cáo anh, là trời mưa, đường lầy lội, lái xe yếu, có một chiếc xe đi đầu bị sập cầu gỗ ở chân đèo cách đây 20km không lên được. Anh em phải co kéo nhau mà vẫn không lên được vì đường hẹp quá. May có anh Nguyễn Đen sốt ruột đi tìm xe tăng đến thấy vậy, liền về điều xe húc lên húc đường và kéo giúp xe lên mới được đấy.
- Vâng thưa tình hình như thế ạ.
- Thế mà anh còn đổ vấy cho người ta là bến phà bị tắc.
- Không dám thế đâu ạ. Ông Bách đấu dịu. Vâng, xin lỗi thủ trưởng Các, xin lỗi anh Đen, cảm ơn các anh em công binh nhiều.
 
CHƯƠNG VIII
CON TỐT SANG SÔNG
   


Mặt đường lầy lội, bề bộn đất đá. Những chiếc xe tăng gầm gừ nặng nhọc xẻ bùn, rẽ những bánh xích nối tiếp nhau tiến về Mục Sơn. Gần tới phố Cống, chiếc xe con của công binh phải dừng lại vì có mấy chiếc xe tăng chắn mất đường đi. Tham mưu trưởng tiểu đoàn công binh 27 Ngô Doãn Hanh xuống xe. Thì ra có một chiếc xe tăng bị rệ, nó đang còn nằm dưới hố lầy, mặc dù có hai chiếc khác nhau đang hết sức kéo. Hanh lại gần, chia sẻ nỗi lo lắng sốt ruột cùng anh em xe tăng.
    - Đường đất xấu quá, anh ạ: - Một người phàn nàn. Đó là một người đã đứng tuổi, mặc bộ quần áo bê bết bùn đất, mặt đen sạm, râu tóc tua tủa. Hai mắt anh trũng sâu dưới hàng lông mày rậm rì đen kịt. Bỗng nhiên người đó nhìn chằm chằm vào đôi quân hàm trên ve áo Hanh rồi mừng rỡ:
    - Này, đồng chí có phải là cán bộ công binh ở bến Mục Sơn không ?
    - Vâng.
    - Chà ! Thế thì hay quá ! Anh chịu khó chờ tôi một lúc nhé. Thủ trưởng tôi đang muốn gặp các anh đấy !
Nói rồi người ấy chạy vụt đi. Hanh hỏi mấy anh lái xe tăng mới biết anh ta là trợ lý tam mưu trung đoàn. Một lúc sau anh trợ lý tham mưu trở về, cùng đi có một người đã cao tuổi, dáng mảnh dẻ, nước da sáng, chân tay cũng đầy bùn đất đeo quân hàm thiếu tá. Gặp Hanh tự giới thiệu tên là Bách, chính uỷ của đoàn xe tăng. Trên gương mặt xương xương của anh không giấu được vẻ lo âu. Anh cho Hanh biết, đơn vị anh đã vượt qua bến Cẩm Thuỷ đang trên đường hành quân chiến đấu gấp. Mấy hôm nay mưa dữ, đường đất tồi quá. Anh em lái xe phần lớn lại mới ra trường, xe bị sa lầy luôn nên phải kéo nhau liên tục. Đáng lẽ ra tiểu đoàn này phải vượt bến Mục Sơn ở phía trước mặt đơn vị Hanh từ đêm qua mà nay vẫn ì ạch ở đây. Tiểu đoàn thứ hai của trung đoàn đã đuổi tới nơi, thành ra hai tiểu đoàn cùng đọng lại ở đoạn đường này. Chính uỷ đang đi với tiểu đoàn 3 sau cùng, phải tức tốc lên đây. Anh đề nghị công binh gắng giúp làm sao cho tiểu đoàn này vượt được bến Mục Sơn ngay đêm nay. Chính uỷ cũng hứa sẽ cố đốc thúc cho xe tới bến vào lúc 17 giờ. Anh nhắc đi nhắc lại: “May quá ! Tôi đang định tới bến Mục Sơn, để gặp các đồng chí công binh thì lại gặp anh ở đây”.
    Ngô Doãn Hanh không khỏi thấy thương thương đồng chí chính uỷ và cảm động trước thái độ khẩn khoản của anh, Hanh liền hiệp đồng kế hoạch với xe tăng ngay “tại trận”. Chính uỷ mừng quá, cho lệnh hai chiếc xe tăng lánh tạm sang bên đường, nhường chiếc xe con của công binh vượt lên trước…
    Tiểu đoàn công binh cầu phà 27, đang phụ trách một đoạn đường quan trọng. Phía trước họ là một con sông không lớn nhưng hễ mưa là trở nên rất hung dữ. Tiểu đoàn đã tổ chức thêm hai bến vượt để cho bộ đội và xe tăng, pháo đêm đêm di chuyển được nhanh gọn. Bến Cẩm Thuỷ do C1 – một đại đội mạnh giữ. Bến Mục Sơn do C5 – một đại đội luôn luôn “đội sổ” của tiểu đoàn – phụ trách. Đây chính là bến Mục Sơn mà đoàn xe tăng đang ùn ùn kéo tới và tham mưu trưởng Hanh cũng đang cấp bách tìm đến nơi đó để gặp C5. Đêm trước, bọn Mỹ đánh phá ác liệt xuống bến chính. Cấp trên đã quyết định cho cả một trung đoàn xe tăng chuyển hướng, vượt qua bến phụ tức là bến Mục Sơn. Một cuộc thảo luận khá sôi nổi đã diễn ra ở sở chỉ huy tiểu đoàn công binh. Có người đề nghị đưa C1 – con “chủ bài” của tiểu đoàn tới bến Mục Sơn thay cho C5. Nhưng từ lâu, tiểu đoàn này đã có một sự chuyển biến về nhận thức quan điểm trong việc xây dựng và sử dụng lực lượng của mình. Giá như trước đây, tiểu đoàn đã chấp nhận phương án tung C1 – con “chủ bài” tới bến Mục Sơn ngay. Nhưng như vậy thật quá dễ dàng và nhàn nhã, để rồi sau đó lại được dịp báo cáo lên cấp trên. “Chúng tôi đã có dự kiến, dành sẵn một lực lượng mạnh để tung vào lúc cần thiết nhất…” Như vậy cũng có nghĩa là tiểu đoàn đã lãnh đạo tốt,  tiểu đoàn đã chỉ huy giỏi và đủ trăm thứ tốt, thứ giỏi khác nữa. Trong khi đó, C5 vốn yếu kém vẫn hoàn yếu kém. Và mọi tư tưởng ỷ lại, hữu khuynh của nó vốn có sẽ mãi mãi tồn tại. Ban chỉ huy tiểu đoàn không muốn C5 cứ phải đội sổ mãi. Bởi vậy sau khi thảo luận. Đảng uỷ quyết định quyết tâm dùng C5 bến Mục Sơn, tạo mọi điều kiện cho nó, và hết sức động viên nó hoàn thành nhiệm vụ đêm nay để lấy đà cho nó vươn lên…
    Chấp hành quyết nghị ấy, tiểu đoàn trưởng ra lệnh điều một trung đội của C1 cấp tốc tới gần bến Mục Sơn chờ đấy làm đội dự bị cho C5 và  cử tham mưu trưởng xuống truyền đạt quyết tâm của Đảng uỷ, trực tiếp hợp lực cùng Ban chỉ huy C5 tổ chức việc đưa tăng vượt sông đêm nay…
    Vào một đêm cách đây không lâu, đầu mùa mưa lũ năm nay và cũng những ngày đầu chiến dịch chở xe tăng qua sông. Ngô Doãn Hanh được lệnh tiểu đoàn trưởng phân công đi kiểm tra đại đội 1 ở bến sông Mục Sơn. Trời tối, mưa to, đường trơn lầy lội, chiếc xe cóc nhỏ lội nước đã bị vỡ kính và rách bạt cứ phải đội mưa lao đi trong đêm tối. Đến ngầm phố Cống, thì nước lũ đang lên cao, đồng chí lái xe sợ không qua được ngầm cũng lại sợ không dám cho xe bơi qua sông, vì sợ trời tối, nước chảy xiết. Lao vào dòng chảy xiết có thể trôi xe nguy hiểm – Ngô Doãn Hanh cùng tặc lưỡi theo đề nghị của lái xe:
    - Ừ thì để sáng mai, ban ngày ban mặt hãy tìm cách sang cũng được - bây giờ cũng đã quá 12 giờ đêm rồi còn gì.
    Nói xong, hai thầy trò đánh xe rẽ vào bản ngủ. Đến sáng dậy, Hanh vội vàng cho xe ra bến, thì đã thấy chiếc xe con của tiểu đoàn trưởng nằm ở đấy không thấy lái xe, không thấy tiểu đoàn trưởng, chỉ thấy đồng chí liên lạc nằm ngủ trông xe. Hanh đánh thức liên lạc dậy:
    - Tiểu đoàn trưởng đâu ? Lái xe đâu ? Sao lại chỉ có một mình thế này ?
    Gọi mãi, cậu liên lạc mới dậy, vừa dụi mắt vừa trả lời:
    - Báo cáo tham mưu trưởng, anh Sự lái xe ốm ở nhà ạ. Chỉ có tiểu đoàn trưởng lái xe đi thôi ạ !
    - Thế tiểu đoàn trưởng đâu ?
    - Dạ, đã sang sông đêm qua rồi, từ lúc hai giờ sáng, thủ trưởng bảo em ở đây trông xe thôi.
    - Sao, bơi qua sông à ? Có chắc chắn là tiểu đoàn trưởng đã bơi sang sông được không ? Hay bị trôi mất rồi ?
    - Sang rồi ạ, bị trôi một đoạn xa lắm, nhưng em đã nghe thủ trưởng gọi, báo là đã sang bên kia rồi ạ ?
    Cả Hanh và cậu lái xe đều trố mắt nhìn nhau, và đều ân hận: Vậy mà mình, đi xe lội nước, thì lại chịu nằm đây, phải chăng mình đã ngại  khó, ngại khổ ?
    Hanh và lái xe, liền tìm cách qua sông. Họ phải loay hoay mãi mới vượt qua dòng nước lũ. Anh giục lái xe tăng tốc độ nhanh để tới bến - Đến nơi anh mới rõ chuyện: Thì ra tiểu đoàn trưởng đã bơi qua sông và đi bộ hơn một chục cây số để đến bến, trong khi đại đội 1 đang loay hoay ghép phà, nhưng chưa dám chở xe tăng qua dòng nước lũ, một số đã bàn nghỉ, chờ nước rút mới chở. Nhưng tiểu đoàn trưởng đã đến kịp thời, phổ biến, hướng dẫn cách ghép phà và trực tiếp chỉ huy chuyến phà chở tăng đầu tiên vượt dòng nước lũ đang chảy xiết ở sông Chu này. Khi cán bộ đại đội 1 đã chỉ huy chuyên chở được rồi, anh mới lấy một chiếc xe thuyền để quay về ngầm phố Cống. Đi đến giữa chừng, Ngô Doãn Hanh mới gặp tiểu đoàn trưởng quay về. Hanh rất ngượng ngùng, không biết nói thế nào. Anh chưa kịp báo cáo lý do thì tiểu đoàn trưởng đã nói:
    - Tôi biết ngay là đại đội 1 gặp khó khăn, chưa có kinh nghiệm nên phải vội đến ngay – Thôi, bây giờ đã tạm ổn rồi, tôi đã lệnh cho nó chở cả ban ngày đấy. Anh đến theo dõi và giúp đỡ nó đi, chú ý cảnh giới máy bay.
    Nói xong, tiểu đoàn trưởng bắt tay Hanh rồi nhảy lên xe về ngay – Anh vội phải về bến Cổ Tế. Về sở chỉ huy, vì ở đấy là bến điểm đầu và bến trọng điểm nhất của tiểu đoàn. Tuy không bị tiểu đoàn trưởng trách mắng một câu nào cả, nhưng Ngô Doãn Hanh lại thấy đau đớn và ân hận day dứt.
    - Nếu tiểu đoàn trưởng không đến kịp thời thi có lẽ C1 phải bỏ cuộc để xe tăng ùn tắc lại một đêm thì gay go cho đội hình hành quân của đơn vị bạn biết bao - Ôi giá mà mình đến ngay từ đêm qua thì đâu đến nỗi.
    Từ đó, Hanh cứ ân hận mãi đến nay. Và hôm nay, anh nghĩ rằng mình sẽ không để xảy ra như vậy nữa. Tới Mục Sơn, Hanh sục ngay xuống bến để nắm tình hình sông nước. Chưa lần nào Hanh thấy nước sông lên to như thế. Nước lũ cuồn cuộn đổ về. Dòng sông mênh mông vắng ngắt không có bóng thuyền qua lại. Từng đợt sóng chồm lên như thách thức đe doạ. Chiếc phà của địa phương nép sát bên một gốc cây cổ thụ cạnh bờ, những cành lá nguỵ trang úa héo lưa thưa. Hai dây pu-ly cáp buông thõng vật vờ trên dòng sông. Sau khi lội xuống bến kiểm tra, Hanh phác qua kế hoạch rồi trở vào C5.
    Xung quanh nhà ban chỉ huy C5 cũng vắng lặng như cảnh bến sông. Chính trị viên đại đội Vũ Hồng Khâm đang ngồi xếp bằng tròn trên giường xem sách. Còn đại đội trưởng Phạm Văn Thám thì đang đánh cờ với trung đội trưởng Mẫn ở một góc nhà. Thấy Hanh đến, chính trị viên Khâm liền đứng lên:
    - Chào tham mưu trưởng !
    Thắm và Mẫn cùng quay lại – Mẫn nói:
    - A, may quá, tôi đang bí đây, thủ trưởng ạ ! Gỡ hộ nước này với !
    Cũng là tay rất mê cờ tướng, trong các cuộc thi đấu giải của tiểu đoàn, Hanh và đại đội trưởng Thắm thường là đối thủ của nhau, mới ngó qua, Hanh chưa kịp nhận ra hết nước. Đang bị nước chiếu mới, trung đội trưởng Mẫn vừa chệch tướng thì đội trưởng đẩy luôn tốt đầu qua sông. Hanh đùa:
    - Được, hay lắm ! Đẩy tiếp.
    Vừa lúc đó, chính trị viên Khâm đã pha chè, rót nước gọi:
    - Mời các anh nghỉ tay ra uống nước đã ! Tham mưu trưởng có việc gì gấp thế !
    Mẫn đang bí nên vội hưởng ứng ngay:
    - Đồng ý tạm dừng ở đây đã, mai lại tiếp.
    - Được, nhưng nhớ đấy, con tốt đã sang sông rồi nhá! Thám vẫn còn say, hăng hái giao hẹn.
    Hanh bảo Thám:
    - Thôi, nghỉ là phải, ngồi cả xuống đây. Có nhiệm vụ khẩn trương. Đêm nay một đoàn xe tăng sẽ qua đây !
    - Xe tăng à ? – Thám có vẻ ngạc nhiên và lo lắng hỏi – Hôm kia nước lũ chưa về, được tin có người đến hợp đồng mà sao không đến, làm chúng tôi mất bao công chờ đời. Từ hôm qua, nước lũ tràn về to lắm anh ạ. Liệu mình có đảm nhiệm được không ?
    - Mình vừa ra bến rồi ! Hanh nói – Sông nước hôm nay có khó khăn. Nhưng đơn vị bạn đang khẩn trương hành quân đi chiến đấu. Đêm nay, nếu không đưa được một tiểu đoàn sang thì ngày mai cả trung đoàn sẽ ùn lại với nhau. Vì vậy, bằng bất cứ giá nào, đêm nay ta cũng phải cho một tiểu đoàn của họ qua sông.
    Thám càng lộ vẻ lo lắng hơn:
    - Nhưng C5 chưa bao giờ đưa xe tăng vượt bến cả, anh cũng biết rồi đấy ! Cán bộ chúng tôi thi trình độ, khả năng còn yếu. Đang lúc nước sôi lửa bỏng, bờ bến lại phức tạp. Đêm tối, nhỡ để các ông ấy nhào xuống sông thì làm thế nào ?
    Ngô Doãn Hanh bèn phổ biến lại quyết tâm của tiểu đoàn về việc giao cho C5 đưa xe tăng qua sông đêm nay. Hanh cũng nói rõ: Đảng uỷ tiểu đoàn đã nhấn mạnh “Khó khăn thì cán bộ phải vắt óc ra, phải phát động quần chúng phát huy sáng kiến mà khắc phục. Anh em cán bộ, chiến sĩ của C5 không thiếu người có trình độ, không thiếu những nhân tố tích cực. Phải tìm ra biện pháp mà phát động lên biến nó thành sức mạnh của đơn vị !”
    - Báo cáo với đồng chí  - Thám ngồi im một lát rồi nói – Vâng chúng tôi sẽ cố gắng.
    Hanh gật đầu, bảo ngay:
    - Bây giờ các anh nên cho tập trung cán bộ các “bê” quán triệt quyết tâm của Đảng uỷ, rồi ta sẽ ra hẳn ngoài bến bàn cho cụ thể.
    Chính trị viên Khâm có vẻ phấn khởi hơn, hăng hái bắt tay ngay vào việc.
    Cuộc họp diễn ra rất khẩn trương. Nhiều vấn đề thảo luận rất gay gắt. Trung đội trưởng Mẫn hăng hái đưa ra được khá nhiều ý kiến sắc. Anh đã làm ngạc nhiên một số người từ trước tới nay vẫn lo sức nước, muốn chờ cho nước rút mới dám làm để đảm bảo an toàn. Tất cả chỉ có một vấn đề chưa nhất trí đúng như dự kiến của tiểu đoàn khi Hanh còn ở sở chỉ huy, là làm sao đưa được phà vào áp bến vì nước dâng lên cao nên bến đã thụt sâu vào lòng đường tạo thành cái eo nhỏ. Chiều ngang của phà với ca nô không nằm vừa cái eo nhỏ ấy. Cuộc họp tiếp tục bàn và phân tích nhưng mãi vẫn chưa tìm ra biện pháp nào hay cả. Đại đội trưởng Thám lại có vẻ thất vọng:
    - Thật là một vấn đề hóc búa quá đấy, anh ạ !
    Vừa lúc ấy, một người đã có tuổi, khoác áo tơi mưa loà xoà hớt hải bước tới. Thì ra bác Dần, trưởng bến phà Mục Sơn của hạt giao thông dân sự. Bác được tin công binh sẽ đưa xe tăng vượt sông đêm nay, bác cuống lên, vội đến xem thực hư ra sao. Theo ý bác đây là một việc làm rất mạo hiểm. Thế là việc bác tới không làm số cán bộ công binh vui hơn, mà thêm lo lắng. Hanh bèn nhắc lại một lần nữa quyết tâm của Đảng uỷ: Phải mạnh dạn tin tưởng vào trí tuệ của tập thể. Chỉ có bàn tiến không bàn lùi.
    Cuối cùng mọi người cùng nhất trí, để có thể đi tới một kế hoạch cụ thể, phải cử người xuống nghiên cứu lại con nước cho thật kỹ nữa. Trung đội trưởng Hạnh, một con người rất khiêm tốn, ít nói, nhưng cũng là một trung đội trưởng rất giàu kinh nghiệm sông nước trước đây, được mọi người đồng thanh cử đi cùng với hai cán bộ tiểu đội nữa, Hạnh đứng dậy, mặt nóng đỏ lên. Anh không giấu được cảm động và hồi hộp.
    Một lúc sau, anh trở lại, quần áo ướt đẫm, hai chân đầy bùn, gương mặt xanh tái đi vì lạnh. Nhưng thấy vẻ hớn hở của anh, mọi người đã mừng thầm. Hạnh đưa cho tham mưu trưởng một mảnh giấy đã có những đường nét phác hoạ được từ lúc nào, rồi phát biểu.
    - Theo chúng tôi, ta có thể cải tiến phà ba chân thành bốn chân. Hai chân ngoài vẫn để mỗi chân 3 khoang thuyền như cũ. Hai chân trong mỗi chân ta chỉ ghép hai khoang. Chiều ngang hai chân trong sẽ thu nhỏ lại. Như vậy sẽ vào vừa bến ! Mọi người đều rất chú ý, cùng xô vào để phân tích, Hanh gặng hỏi lại.
    - Theo phương pháp ấy có ánh hưởng gì đến trọng tải của phà không, các cậu phải bàn và tính toán cho kỹ xem !
    Hạnh lại nói một cách chắc chắn.
    - Không sao đâu anh ạ ! Chân trong cùng được tỳ lên mố phà cố định vẫn đảm bảo cho xe tăng trườn lên được. Hai chân ngoài vẫn như cũ. Xe tăng sẽ đỗ chính giữa chân thứ ba kể từ trong bờ. Như thế trọng tải vẫn như hệ phà ba thôi.
    - Đúng đấy ! Nhiều người cùng ồ lên mừng rỡ.
    - Được ! Ta cứ làm rồi thử xem ! Tham mưu trưởng Hanh nói.
    Mọi người xôn xao tán thành. Đại đội trưởng Thám cũng đứng phắt dậy, ôm choàng lấy Hạnh và Mẫn:
    - Hay quá ! Cái đầu các cậu thật là sáng suốt !
    Đến lúc ấy, bác Dần cũng cất tiếng cười ha hả và nói:
    Nếu các anh đã quyết tâm làm trong đêm nay thì cũng được thôi, nhưng phải hết sức cẩn thận. Năm ngoái, nước còn nhỏ hơn thế này mà chúng tôi cũng đã làm đổ một xe tải xuống sông đấy. Bây giờ chúng tôi gờm lắm. Nếu các anh làm, chúng tôi sẽ bổ sung cho một ca nô. Nó chẳng được tốt lắm, nhưng lúc cần thiết thì cũng được việc đấy, đồng ý không ?
    - Hay quá ! Cảm ơn bác ! – Thám càng phấn chấn hẳn lên – Chúng tôi sẽ dùng nó để dự phòng, khi cần cho đẩy ở phía sau, bác ạ !
    Cuộc họp kết thúc.
    C5 hôm ấy tác nghiệp phà với khí thế vô cùng sôi nổi. Niềm tin ở sức mình cộng với cái náo nức hăm hở vì lần đầu được chở xe tăng cỡ lớn đã đẩy lùi xa tất cả mọi nỗi lo âu. Hanh đang cùng anh em say sưa ghép phà thì anh Bách, Chính uỷ xe tăng cùng một số đồng chí lái xe hăm hở tới bến. Thấy Hanh ở dưới phà, anh chạy ngay xuống. Hanh dừng tay, hỏi:
    - Tăng tới chưa, anh ?
    - Sắp tới rồi anh ạ. Chỉ khoảng mười lăm phút thì mấy chiếc đầu có thể tới đây. Tôi cứ phải bám riết với nó suốt từ sáng đến giờ! Chật vật quá! Cứ sợ muộn giờ hợp đồng. Mấy giờ rồi, anh nhỉ ?
    Hanh móc túi lấy đồng hồ:
    - Chưa đến mười sáu giờ. Sớm được như thế càng tốt. Trời u ám thế này cũng thuận tiện cho ta.
    Một nụ cười thoáng hiện trên môi chính uỷ rồi lại vụt tắt. Anh đứng sững người ngắm dòng sông rồi nói:
    - Sông nước dữ tợn thế này, liệu phà có đảm bảo được không, các anh, Nhỡ ra một chiếc nằm lại đây thì ảnh hưởng đến kế hoạch, các anh ạ !
    - Anh cứ yên tâm, việc cần, ta cứ phải đi thôi !
    Thế rồi cả chính uỷ và mấy đồng chí lái xe cũng ùa xuống ghép phà với C5. Thấy các anh cũng hăm hở khênh ván lát phà. Thám cười bảo:
    - Các anh cứ lên nghỉ đi. Sắp xong cả rồi. Các anh chưa quen nhỡ xảy ra sứt chân, mẻ tay như chơi đấy !
    - Các anh cứ để mặc chúng tôi. Cũng phải học tập dễ tìm hiểu kỹ thuật ghép phà của các anh chứ !
    Vừa nói các anh vừa lăn vào mọi việc với lính công binh cho tới lúc con phà được ghép hoàn chỉnh.
    Thám báo cáo với Hanh xong, liền lệnh cho Hạnh đưa một chuyến phà sang sông thử. Hai chiếc ca nô từ từ rú máy gầm lên. Phà nhích dần ra khỏi bến. Hai dây pu-li cáp từ từ bon trên đường dây dẫn. Phà cập bến, ai nấy đều hết sức vui mừng.
    16 giờ 30 phút. Những chiếc xe tăng đầu tiên rầm rập tiến tới bến. Nhiều người đổ xô lại ngắm nghía, hết lời trầm trồ, bình phẩm. Chính uỷ xe tăng chạy lại chỗ Hanh.
    - Cho xuống ngay chứ anh !
    - Tranh thủ sớm chuyến nào hay chuyến ấy, anh ạ ! Anh bảo đồng chí lái chiếc xuống đầu tiên là phải hết sức thận trọng đấy nhé.
    Chiếc xe tăng ầm ầm nổ máy rồi từ từ bò lên phà. Thám giơ tay điều khiển xe tăng. Chiếc xe tăng đỗ khựng lại đúng giữa chân cầu thứ ba. Con phà nhoi ra ngoài bến.
    Một anh khác nói toáng lên, phá tan không khí lo lắng ấy:
    - Phà mà chìm thì Hà bá phải đòn. Báo trước thế !
    Tiếng cười rộn lên làm Hanh cũng vui lây. Dù sao Hanh cũng còn thấp thỏm. Vạn sự khởi đầu nan đấy. Rồi Thám lệnh cho phà rời bến. Nghe giọng nói và nhìn bước đi vội vàng, Hanh hiểu Thám cũng đang hồi hộp. Anh đến đứng gần Thám, bảo nhỏ:
    - Cứ bình tĩnh ! Bình tĩnh để mà vượt mọi khó khăn, Thám ạ.
    Phà nhích dần ra ngoài, rồi lừ lừ rẽ nước sang sông. Tới chỗ nước chảy xiết, phà giảm dần tốc độ rồi như dừng lại. Những mũi phà trên thượng lưu bị nước dập vào mạn, có lúc trào cả lòng phà, làm mấy người cuống lên.
    Hanh bàn với Thám:
    - Cho phà trôi xuống chừng dăm mét rồi cùng tăng tốc độ ca nô lao chếch sang trái. Nước xoáy đấy !
    Thám gật đầu. Và sau lệnh của anh, hai chiếc ca nô ngớt tiếng máy rồi lại gầm lên. Trên đầu nó, nước bắn tung toé. Phà dần dần cập bến. Anh em mố bờ nam cực kỳ sung sướng, reo lên:
    - Thắng lợi rồi !
    - Hà bá tiu nghỉu vì đớp hụt rồi !
    - Mình trên này cứ run bắn người lên ! – Một anh nào đó thành thực thốt lên.
    Tiếng cười nói râm ran. Hanh càng phấn chấn trong lòng.
    Gần hết một tiểu đoàn xe tăng lần lượt được vượt sông, chính uỷ xe tăng chạy đến nói với Hanh và Thám:
    - Các anh ạ, tiểu đoàn 2 chúng tôi cũng gần tới đây rồi. Các anh xem có thể cho cả tiểu đoàn 2 vượt sông trong đêm nay thì hay quá !
    Thấy Hanh và Thám im lặng, chính uỷ có vẻ thất vọng:
    - Hay là tôi cho tiểu đoàn 2 đi sơ tán vậy ? Kẻo sáng mai thì…
    Hanh và Thám cùng xem đồng hồ. Đã gần 12 giờ đêm. Từ trước đến nay C1 giữa kỷ lục cao nhất cũng chỉ mới đưa vượt sông được hơn một tiểu đoàn xe tăng trong một đêm. Trong hoàn cảnh đêm nay, cả C5 - đại đội “đội sổ” của tiểu đoàn… đưa được một tiểu đoàn qua sông chắc cũng đã đủ mệt rồi. Tuy nhiên, Hanh và Thám cùng với chính trị viên Khâm cứ hội ý bàn bạc xem sao.
    Phải nói rằng, thắng lợi của đơn vị đang làm cho Thám và Khâm rất phấn chấn. Niềm tìn ở trí tuệ và sức mạnh ở quần chúng giúp các anh có một cái nhìn rất khác trước đối với đơn vị mình. Hai anh cùng hăng hái xin nhận chở vượt mức thêm cả tiểu đoàn xe tăng thứ hai qua sông đêm nay. Nhưng dù sao, trong lúc các anh quá vui, quá hăng này, Hanh lại thấy cần tung lực lượng dự bị của tiểu đoàn ra và cho đến bây giờ Hanh mới nói rõ cho các anh biết là: Tiểu đoàn đã điều sẵn một trung đội của C1 tới đây rồi. Tất cả đều ngạc nhiên:
    - Vậy à ? Thế thì hay quá ! C5 đêm nay sẽ quyết trở thành một C5 mới ! – Cả Thám và Khâm đều hào hứng rồi như reo lên.
    Chỉ một lúc sau, trung đội của C1 đã có mặt ở bến. Và Thám cũng cho người sử dụng cả chiếc ca nô của bác Dần. Thế là ba chiếc ca nô kết hợp đã đưa tốc độ phà lên nhanh dần, từ 20 phút một chuyến, anh em đã hạ xuống 13 phút. Đại đội trưởng Thám càng thêm thành thạo với công việc chỉ huy, con phà hối hả sang sông.
    Bỗng có tiếng kẻng báo động phát ra từ đồi lim dội tới.  Tiếng động cơ máy bay ì ầm rồi đổ về phía bến sông. Những chùm pháo tung ra trắng loá trên đầu. Bến sông đã hiện nguyên hình giữa tầm pháo sáng. Đứng trên bờ, Hanh và chính uỷ xe tăng đều cùng lo cho chuyến phà đang sang sông. Tiếng súng đại liên trên trận địa của C5 đã nổ ran lên. Các trận địa phòng không gần đây cũng thi nhau nhả đạn. Những luồng đạn đỏ rực, vun vút lao lên, đan thành lưới lửa trên bầu trời. Nhìn lên phà, bóng Thám lúc ẩn lúc hiện. Tiếng anh hô vang:
    - Tất cả bình tĩnh… ca nô tăng tốc độ lên !... lao chếch sang trái !.
    Tiếng máy bay gầm rú điên loạn trên bầu trời. Phà vừa vào gần bờ thì mấy chiếc máy bay bổ nhào xuống cắt bom. Tiếng bom nổ ầm ầm làm rung chuyển cả mặt đất. Những cột nước tung lên trắng xoá ở phía hạ lưu, những đợt sóng xô đẩy con phà như dấy lên rồi lại trằn xuống. Bóng Thám vẫn hiên ngang đứng trên phà chỉ huy, đưa tăng vào bến.
    Sau loạt bom, bọn máy bay địch cút hẳn. Mọi người cùng thở phào mừng rỡ, Hanh rất hài lòng. Mới có một đêm mà xem ra năng lực của Thám đã tăng lên rõ rệt. Thám lại lệnh cho tăng xuống phà…
    Trời sáng dần. Mọi việc lại được tiến hành hết sức khẩn trương. Tiếng máy, tiếng cười vẫn rộn ràng trên bến, dưới sông…
                        *     *
                                                                       
    Chiếc xe tăng cuối cùng của tiểu đoàn tăng thứ hai đã được sang sông. Chính uỷ xe tăng vui mừng lần lượt nắm chặt tay Thám, Khâm, Mẫn và Hanh cảm ơn mãi. Hanh cũng hết sức sung sướng: Thật không sao ngờ nổi C5, đại đội “đội sổ” của tiểu đoàn 27, không những đã đưa được một tiểu đoàn mà cả hai tiểu đoàn tăng qua sông. Đây là một kỷ lục chưa từng có trong một đêm của lính công binh cầu phà.
    Đại đội trưởng Thám sau một đêm thức trắng, đã mệt lử nhưng nụ cười rạng rỡ vẫn không tắt trên môi anh. Lúc mọi việc đã xong, trung đội trưởng Mẫn lại sực nhớ đến ván cờ chiều hôm qua, anh cay cú gọi Thám:
    - Này, anh Thám! Tý nữa về ta làm nốt ván cờ rồi hãy nghỉ nhé !
    Thám cười vang nháy mắt:
    - A, được ! sẵn sàng ! Nhưng nhớ đấy, con tốt của tôi đã sang sông rồi đấy !
    Một chiến sĩ  gần đó nghe vậy, liền nhìn các cán bộ và cất giọng oang oang:
    - Vâng ! Khi tốt đã sang sông thì chỉ có tiến nhập cung thôi đấy, các thủ trưởng nhỉ ?
    Phải chăng anh chiến sĩ nọ có ý định nói bóng về những chiếc xe tăng hùng mạnh của chúng ta đã vượt sông trót lọt suốt đêm qua không ?
Đại đội trưởng Thám và chính trị viên Khâm thì lại nghĩ rằng đại đội 5 của mình đã sang sông – và Ngô Doãn Hanh cũng nghĩ rằng chính anh cũng đã sang sông.

                    *        *
                                                                  *
AI TỐ GIÁC VẬY ?

Ngày hôm sau, Nguyễn Đen trở về Cổ Tế. Đại đội Trần Đằng tặng anh một mớ khoai lang.
Về tới nơi, thấy trong sở chỉ huy có đông người, Đen biết ngay là có khách.
Một đồng chí trung tá đã có tuổi, hom hem, và một thiếu tá có cặp mắt sắc lạnh, bộ mặt lầm lì cùng với một đại uý hơi rụt rè và có vẻ miễn cưỡng trong tất cả mọi công việc, kể cả trong thái độ giao tiếp với Nguyễn Đen. Đoàn Liễu, chính trị viên Trần Huy Tiệm cũng có mặt ở đó.
Tiệm, vẻ mặt rầu rĩ và đầy lo lắng, lễ phép khẽ giới thiệu khách với Nguyễn Đen :
- Đây là đoàn kiểm tra của quân khu…
Nguyễn Đen chưa hiểu chuyện gì, hỏi lại:
- Các đồng chí kiểm tra chúng tôi?
- Vâng!
- Nội dung gì vậy?
Đồng chí trung tá nhỏ nhẹ, thận trọng:
- Giấy tờ, các đồng chí Tiệm và Liễu đã xem cả, xin báo cáo tóm tắt cho đồng chí Đen rõ: Quân khu có chỉ thị cho chúng tôi… Số là quân khu có nhận được đơn tố giác đơn vị các đồng chí có nhiều vấn đề… không đúng trong tài chính…
Bây giờ Nguyễn Đen mới hiểu được phần nào nhưng anh vẫn chưa thật rõ:
- Ai tố giác vậy, đồng chí?
Đồng chí trung tá cười nhã nhặn:
- Xin lỗi đồng chí, chúng tôi không được phép nói điều này, chúng tôi chỉ có nhiệm vụ kiểm tra.
Nguyễn Đen thở dài. Anh quay lại phía Đoàn Liễu. Vị tiểu đoàn phó này đang hết sức chăm chú nhìn Đen. Không rõ anh ta đang lo lắng cho Đen, cho đơn vị, hay là anh ta đang chờ xem Đen có những phản ứng hoặc đối phó ra sao. Chỉ riêng Trần Huy Tiệm vẫn buồn rười rượi, cố lên tiếng với khách:
- Mời các đồng chí xơi nước! Vâng, thôi thì đã là nhiệm vụ quân khu giao, các đồng chí cứ tiến hành, chúng tôi biết nói sao? Nhưng cũng phải thú thật: chúng tôi hoàn toàn không ngờ lại có chuyện thư từ, tố tụng này. mà cũng không rõ ở đâu ra? Thật đáng tiếc, tiểu đoàn chúng tôi đang “ăn nên làm ra”, đang phải gánh vác nhiệm vụ hết sức nặng nề, mọi người đều đang quên mình mà chiến đấu…
Nguyễn Đen thoắt khoát tay như muốn cắt lời Trần Huy Tiệm. Anh hiểu: Người chính trị viên này đang buồn bã lo phiền thực sự. Tuy năng lực yếu, văn hoá có kém, nhưng quả thật đây là một con người trung thực, và hết lòng vì đơn vị, vì anh em, một con người mà ai ai cũng có thể tin cậy, và yêu mến. Nhưng mặt khác, đây cũng là một con người nhu nhược, hữu khuynh, một con người chỉ tốt chung chung mà ít sắc sảo, được việc, một con người rất sợ cấp trên nữa. Chính vì thế, Đen không muốn Trần Huy Tiệm cứ phải trình bày, than thở với đoàn kiểm tra nhiều. Anh nói không một chút run sợ, cũng không một chút buồn bã:
- Nhân danh tiểu đoàn trưởng, tôi báo cáo với các đồng chí: chúng tôi hoàn toàn chấp hành lệnh kiểm tra và hoàn toàn tạo điều kiện để các đồng chí làm việc.
Đồng chí trung tá có vẻ hài lòng với thái độ của Đen. Nhưng sau đó, nghĩ kỹ thêm một chút, Đen nói tiếp:
- Tôi cũng xin thẳng thắn hỏi đoàn cho rõ: Tôi có được tiếp tục chỉ huy tiểu đoàn không? Hay tạm thời nghỉ để chờ đợi kết luận việc kiểm tra đã?
Đồng chí trung tá mỉm cười lắc đầu
- Không ạ. Đồng chí cứ tiếp tục làm việc!
Rồi dường như muốn Nguyễn Đen yên tâm hơn, ông nói tiếp:
Đồng chí Nhiệm, tư lệnh phó quân khu đã có chỉ thị cho chúng tôi: Công việc kiểm tra phải tiến hành vì đó là sự nghiêm minh của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng tiến hành kiểm tra không được để ảnh hưởng tới việc tác chiến của các đồng chí  cũng như của quân khu. Đồng chí Nhiệm còn dặn kỹ: Phải nói rõ để các đồng chí ở tiểu đoàn hiểu, nếu có kiểm tra thì cũng chỉ là để làm tốt cho tiểu đoàn. Để xây, chứ hoàn toàn không phải để phá!
Lòng Đen dần dần dịu lại. Ông trung tá rít một mồi thuốc lào xong lại nói, nhưng lần này dường như ông muốn nói không phải với tư cách đoàn trưởng đoàn kiểm tra, mà với tấm lòng một người đã từng biết tiếng về Nguyễn Đen từ lâu:
- Anh Đen ạ, chẳng qua vì có giấy người ta thưa kiện thì phải làm, chứ có ai lại giữa lúc các anh đang đổ máu ra thế, lại đi xét xử, bới móc cái này, cái nọ. Các anh cứ yên tâm. Anh Nhiệm, tôi xem ra rất nghiêm nhưng lại là một đồng chí rất nhân nghĩa và hiểu biết sâu rộng đấy!..

TRÁNH VỎ DƯA GẶP VỎ DỪA

Trong cuộc họp hiệp đồng ở hang đá Chi Nê ngày 22-8, trung tá Phạm Quang Phát trung đoàn trưởng trung đoàn 49 công binh của Bộ, tính toán kén chọn mãi giữa 2 bến Cổ Tế và Kiểu. Bến Cổ Tế thì hẹp, bình thường chỉ dưới 100m nước, nhưng lại là điểm đầu mút ngã ba đường, tính chất ác liệt bởi bom đạn sẽ nguy hiểm hơn. Còn Bến Kiểu thì rộng hơn thường khoảng 150m nước, nhưng lại là bến ở giữa nên tính chất ác liệt sẽ ít hơn, an toàn hơn.
Thượng tá Nguyễn Đoan phó tư lệnh công binh gợi ý:
Thế nào ? 49 đảm nhận Cổ Tế nhé. Giảm nhẹ khí tài bắc cầu hơn. Trung tá Phạm Quang Phát bỗng giẫy nảy lên:
- Báo cáo quân lính tôi chưa quen bom đạn lắm, sợ không gánh vác nổi. Xin nhận bến khác ạ.
- Ý kiến 27 sao ? ông quay sang hỏi Nguyễn Đen.
Nguyễn Đen liền trả lời:
- Trung đoàn 49 của Bộ, đảm bảo những bến nào, còn bến nào 27 xin sẵn sàng nhận cả. Nhưng chúng tôi chỉ có 1 bộ cầu LPP loại nhẹ, đề nghị Bộ chi viện thêm khí tài.
Rồi sau một lúc bàn đi bàn lại trong cuộc họp, cuối cùng thượng tá Đoan kết luận:
- “Giao cho 49 bảo đảm bắc cầu ở bến Kiểu và sẵn sàng chi viện bến Thiệu Hóa của Ty giao thông Thanh Hoá” trên cùng tuyến đó. Còn lại 27 sẽ được bổ sung thêm khí tài TPP tổ chức thêm 2 đại đội và bảo đảm cả 5 bến còn lại trên 2 tuyến đường 56 và đường 15 trong đó có bến Cổ Tế là đầu mút ngã ba đường...” Nhưng thói đời là thế, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa.
Trung đoàn 49 bắc cầu ở bến Kiểu, mấy ngày đầu được yên ổn. Bọn máy bay giặc Mỹ chỉ tập trung vào đánh phá bến đầu mút nhiều hơn các bến khác, bến Kiểu ít bị bom đạn nên được an toàn hơn.
Nhưng một tình huống khác bất ngờ xảy ra, đó là mưa lũ, nước đầu nguồn sông Mã đổ về, đột ngột dâng cao chảy xiết. Do chủ quan, thường trực chỉ huy không thường xuyên và thiếu kinh nghiệm, cứ để cầu dăng mãi, không chịu đựng nổi nước lũ dâng cao nên bị đứt cầu, nhiều đoạn các phao cầu bị cuốn đi. Phải tung hết cả 8 ca nô ra vớt cầu mà không xuể, nửa chừng lại bị hỏng 2 ca nô vì chạy nhiều quá và bị lật 1 ca nô. Trung đoàn trưởng Phát vội vàng điện cho 27 xin chi viên ca nô gấp.
Trong khi đó ở bến Cẩm Thuỷ trên thượng lưu sông Mã, cách đó gần 70km, đại đội 3 tiểu đoàn 27 đã bảo đảm trực chỉ huy, theo dõi nước lũ, chiều ngang bến hồi đêm là 120m, đến sáng tăng lên 140m, 160m. Đại đội trưởng Trần Đằng đã kịp thời cho dỡ cầu và kéo mố lên, các khoang thuyền đã được ghìm dọc theo bờ vững chắc, các khí tài kịp thời bốc lên bờ, bảo đảm an toàn.
Tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh trực chỉ huy nhận được điện của trung đoàn 49 xin chi viện ca nô, thì chần chừ vì còn lo nhiệm vụ bắc cầu của mình tối nay, nhưng tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen lại nói:
- “Thương người như thể thương thân”, đơn vị bạn đang gặp khó khăn hơn mình, ta phải chi viện, bảo đảm nhiệm vụ chung của toàn chiến dịch”.
Chấp hành ý kiến của Nguyễn Đen, Ngô Doãn Hanh lệnh cho Trần Đằng đưa ngay 2 ca nô của Tuyển và Phích là những tay lái dày dạn có nhiều kinh nghiệm, nhanh chóng xuôi dòng sông Mã về bến Kiểu chi viện trung đoàn 49.
- Vậy tối nay chúng tôi chỉ còn một ca nô thì làm sao được, nước lũ to lắm - Trần Đằng kêu lên.
- Yên trí –Nguyễn Đen nói: Tôi sẽ điều một ca nô của C4 tăng cường cho anh, được chưa?
- Vâng thế thì được, Trần Đằng trả lời. Rồi vội vàng buông máy điện thoại, chạy lao ra bến để điều ca nô đi ngay.
Hai chiến sĩ lái ca nô  Tuyển và Phích vội vàng chuẩn bị tiếp đầy đủ xăng dầu, trên mỗi ca nô còn mang theo một phuy xăng 200 lít nữa. Các anh không kịp ăn cơm, chỉ kịp mang theo một chiếc bánh mì và một túi khoai lang luộc của cô chủ nhà xinh đẹp ở Cẩm Thuỷ đưa cho. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, các anh xuôi dòng nước lũ lao về bến Kiểu gặp chỉ huy Trung đoàn 49 ở ngay bến đã đón sẵn và giao nhiệm vụ, mỗi ca nô chở một tổ chiến sĩ cùng đi tìm kéo các khoang thuyền bị trôi về bến, có khoang bị trôi xa hàng chục cây số, phải kéo ngược dòng nước lũ rất vất vả.
- Toàn những tay lái cừ khôi, tiểu đoàn 27 có khác. Cán bộ và chiến sĩ trung đoàn 49 đã thốt lên như vậy.
Với tinh thần chiến đấu không mệt mỏi của cán bộ chiến sĩ trung đoàn 49 lại được ca nô của 27 chi viện kịp thời. Suốt một ngày đêm vật lộn với sông nước, Trung đoàn 49 đã thu gom đủ khí tài để ghép phà chở xe pháo qua sông ngay trong đêm. Hai ngày sau khi nước lũ rút xuống, mới đủ khí tài bắc cầu. Phạm Quang Phát biểu dương và cảm ơn chiến sĩ lái ca nô Phích và Tuyển, báo các đồng chí lên bờ nghỉ ngơi vài tiếng cho lại sức đã rồi hãy về, nhưng Tuyển và Phích đều bảo:
- Báo cáo thủ trưởng, chúng em xin phép về ngay đơn vị đêm nay còn kịp bắc cầu.

BẢN TIẾN ĐỘ HỘI THAO
Đoàn Liễu là tiểu đoàn phó, mấy hôm liền loay hoay mãi với kế hoạch tổ chức hội thao. Càng lúng túng, bực mình, anh càng uống nhiều rượu. Nhưng cũng vì vậy anh càng nhức đầu, càng phờ phạc. Anh giận và rất bực Nguyễn Đen. Trong lúc tác chiến căng thẳng thế này mà con bày ra hội thao! Hội thao? Huấn luyện kết hợp với chiến đấu thì được. Nhưng hội thao thì làm sao nổi? Chuỵên đó là chuyện của thời bình hoặc ít ra cũng là lúc mà tiểu đoàn  không có nhiệm vụ tác chiến , chỉ chuyên huấn luyện. Vậy mà chính trị viên Tiệm “ông già Khốt-ta-bít” ấy cùng với bọn Ngô Doãn Hanh, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Anh Tự, Trần Đằng… trong đảng uỷ tiểu đoàn lại cứ đua nhau tán thành Nguyễn Đen. Hơn nữa cả bọn còn tâng anh ta lên là quyết tâm, là nhiệt tình… mặc dù là đơn vị đang “lâm nạn” (có nghĩa là đoàn kiểm tra tài chính vẫn còn đang tiếp tục kiểm tra sổ sách và tìm hiểu một số người trong đơn vị).
Đoàn Liễu cho rằng dứt khoát đây chỉ là một “cú” của Đen nhằm tỏ ra ta đây bình tĩnh, không vì bị kiểm tra, không cả vì tai tiếng đang lan rộng về chuyện quan hệ bất chính với cô Chinh, mà nao núng, nản lòng. Thằng này “trì” đây! Nó vẫn luôn có cách để chơi trội, làm nổi bật nó lên. Và rút cuộc là chỉ có mình là vất vả. Lão Cao Thành xuống hôm qua, đã mừng tưởng có mưu kế sâu gì hơn, nhưng vẫn chỉ có độc bài bản: “kiên trì” mà làm, “vững tâm” mà chờ đợi, “cậu sẽ thắng!”. Có vậy thôi!
Đoàn Liễu vẫn phải tiếp tục đánh vật với những biểu đồ, thống kê. Trong lúc đó Nguyễn Đen và Trần Huy Tiệm đi khắp tuyến để động viên, đôn đốc tổ chức hội thao. Đoàn Liễu cảm thấy đầu mình buốt nhói. Chỉ riêng năm khoa mục chính trên năm bến bãi là đủ hành hạ cái đầu rồi. Cụ thể là: Thi ghép phà T.P.P ở bến Mục Sơn, bắc cầu T.P.P ở bến Cẩm Thuỷ. Ghép phà L.P.P ở bến Cách, bắc cầu L.P.P ở Cổ Tế và bắc cầu hỗn hợp vật liệu tại chỗ ở bến Thiệu Hoá. Lại còn năm khoa mục binh chủng nữa chứ: Phá gỡ bom, làm đường quân sự, cầu quân sự, công sự trúc thành và làm bến vượt. Ngoài ra còn sáu khoa mục chung của bộ đội: Bắn súng bộ binh bài 2, lựu đạn, bộc phá, bơi lội và thể dục thể thao… Đấy là chưa kể các phân đội trinnh sát, thông tin, lặn, 12 ly 7, 14 ly 5, và cao xạ 37 ly. Tất cả đều phải tổ chức kiểm tra.
Riêng năm khoa mục hội thao , phải tính toán sao cho tất cả các đại đội đều tham gia được liên tục mà không để ảnh hưởng tới nhiệm vụ, đêm đêm vẫn phải bắc cầu qua các bến bãi đã quy định, bảo đảm giao thông thông suốt. Các bến bãi của tiểu đoàn  cách xa nhau từ 45 tới 80 ki-lô-mét. Đó là một bài toán vận trù học khá hóc búa.
Đã tới đêm thứ ba, giấy tờ cứ nát bét, bừa bộn rối tung. Tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh và mấy cậu trợ lý tham mưu trẻ vẫn chưa chịu những phương án kế hoạch của Đoàn Liễu đề ra. Giữa lúc đó Nguyễn Đen và Trần Huy Tiệm từ bến Mục Sơn trở về. Đen sà ngay vào chỗ Đoàn Liễu và Ngô Doãn Hanh đang làm việc. Nhìn vào đôi mắt gần như sưng húp và vẻ phờ phạc của Đoàn Liễu, anh có phần ái ngại.
- Thôi được, tôi sẽ tham gia với các anh.
Suốt đêm ấy, các trợ lý tham mưu thấy ngọn đèn bão có che ánh sáng để phòng máy bay trong căn hầm của Nguyễn Đen đã phải hai lần rót thêm dầu. Con người săn dẻo như dây chạc trìu ấy quả là có một sức làm việc ít người đuổi kịp. Cũng thời gian ấy và cũng số công việc ấy. Đoàn Liễu người càng cảm thấy chảy xệ ra bao nhiêu thì với Nguyễn Đen, người lại cứ sắt đi bấy nhiêu.
Sáng hôm sau Đen đưa cho Đoàn Liễu, Ngô Doãn Hanh và nhóm cán bộ tham mưu một bản nháp:
- Các anh xem thử. Có gì cần phải sửa đổi, các anh cứ sửa lại cho!
Nhóm cán bộ tham mưu cùng tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh và cả Đoàn Liễu cùng châu đầu lại, chăm chú xem và đọc. Đây là bản nháp tiến trình hội thao toàn tiểu đoàn nhưng được trình bày giống như một bản tiến độ thi công một công trình kỹ thuật vậy.
- Hay quá! Thật là khoa học! - Đào Văn Nhuận, một anh cán bộ tham mưu trẻ mừng rỡ thốt lên.
Đoàn Liễu cũng phải ngạc nhiên trước bản tiến trình hội thao này. Xem ra thật đơn giản, nhưng lại thật rõ ràng và hợp lý – “Có vậy mà tính toán mãi không ổn!” – Anh thầm thán phục Nguyễn Đen, nhưng đồng thời một cái gì đó như cay đắng lại âm ỉ, tê nhói trong lòng anh.
Mọi người hoan hỉ vây quanh lấy bản nháp với một toạ độ X-Y đơn giản. Trục tung chỉ bến và khoa mục, trục hoành chỉ thời gian. Nguyễn Đen đã dùng năm màu tượng trưng cho năm đơn vị. Thời gian hội thao được vẽ liền mạch và tô đậm, thời gian hành quân thì vẽ cách đoạn. Người xem có thể dễ dàng nhận ra từng đại đội với công việc và thời gian của họ. Đúng. Thật đơn giản! Có vậy mà sao nghĩ mãi không xong! Thì ra thằng cha này may mắn được học cũng có hơn thật…
Suốt buổi sáng, Nguyễn Đen làm việc tiếp với Đoàn Liễu, Ngô Doãn Hanh cùng nhóm cán bộ tham mưu của tiểu đoàn để tính toán, chỉnh lý và vẽ sơ đồ kế hoạch cho thật hoàn chỉnh hơn.
Qua hai ngày, đã tới kỳ hạn hội thao. Các đoàn “tuyển thủ” của các đại đội nối tiếp nhau kéo về Cổ Tế là bến được chọn làm nơi để mở màn hội thao toàn tiểu đoàn. Cũng không ngờ đang thời gian làm nhiệm vụ  lớn trong chiến dịch K2, công việc huấn luyện, hội thao dù thế nào cũng chỉ là nhiệm vụ thứ hai, vậy mà các đoàn “tuyển thủ” của các đơn vị vẫn tập họp lại đầy khí thế hết sức hứng khởi, hào hùng. Đoàn nào cũng mang theo cờ, biểu ngữ, ảnh Bác Hồ. Có đoàn còn đem cả một tổ văn nghệ xung kích “cây nhà lá vườn” để làm “cổ xuý viên” khích lệ tinh thần đội mình.
Cuộc hội thao bắc cầu L.P.P tại Cổ Tế đã diễn ra sôi nổi và không kém phần phức tạp. Đại đội ba do Nguyễn Đức Thắng chỉ huy, tuy đã quen bến, quen bãi và nắm chắc quy luật hoạt động của máy bay Mỹ trên bến quan trọng này, nhưng lại gặp tình huống mưa lũ đột ngột dồn về, và ngay lúc năm giờ chiều, máy bay địch đã phá hỏng một đầu bến. Toàn thể đoàn tuyển thủ đại đội ba đã phải trần mình ra khắc phục mọi thử thách thực sự khốc liệt ấy. Và cuối cùng trước con mắt thán phục của các đoàn bạn đoàn tuyển thủ của đại đội ba do Nguyễn Đức Thắng tung ra gồm những chiến sĩ giỏi và những cán bộ trung đội trẻ, xông xáo, lanh lợi nhất chỉ huy, đã hoàn thành bắc cầu đúng giờ quy định. Thêm nữa, trong suốt đêm ấy mặc dầu máy bay địch ném bom một lần nữa làm ba khoang cầu bị đứt, nhưng anh em vẫn kịp thời sửa chữa, bảo đảm đưa 920 xe vào và 850 xe ra, an toàn tuyệt đối.
Sang đêm sau, đến lượt đại đội một của thượng uý Hoàng Anh Tự từ bến Sĩ về. Đại đội này cũng đã trải qua một thử thách khá căng thẳng: Cách đây một tuần, theo yêu cầu của cơ quan tham mưu quân khu, tiểu đoàn đã trao cho đại đội một của Hoàng Anh Tự nhiệm vụ di phá bom nổ chậm ở một cửa sông lớn, nhằm giải phóng một đoàn sà lan và tàu biển chở hàng đặc biệt tiến vào nơi bốc dỡ. Hoàng Anh Tự nhận nhiệm vụ này và vẫn quyết tâm không chịu bỏ hội thao. Là một người trầm mặc, ít nói, hỗn danh là “Cục sắt”. Tự có một đặc tính: Đã làm gì thì làm cho đến thắng lợi mới thôi bất chấp mọi trở lực, mọi vật cản trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái mình. Do đó Hoàng Anh Tự đã ra sức tổ chức rà phá bom một cách hết sức tích cực, rút ngắn thời gian quy định, sau đó để lại một tiểu đội và một xe Bab lội nước để hộ tống đoàn sà lan, còn toàn đại đội tức tốc hành quân trở về, trong một đêm vượt 250 ki-lô-mét để kịp nhận khí tài và bến bãi của Nguyễn Đức Thắng bàn giao lại. Đêm nay, lũ có rút một chút, nhưng bến lại bị lầy lội, phải đổ không ít công sức khắc phục. Nhưng cũng giống như trường hợp  đại đội Nguyễn Đức Thắng, các chiến sĩ và cán bộ đại đội một do Hoàng Anh Tự dẫn đầu đã bắc cầu rất đúng thời hạn trước những cặp mắt đầy kinh ngạc của các vị giám sát.
Các đại đội khác hội thao vào đêm thứ ba và thứ tư, tất cả cũng đều xử trí tình huống kịp thời. Nói chung, mấy ngày hội thao đã trôi qua một cách trót lọt, có kết quả tốt. Toàn tiểu đoàn hết sức phấn khởi, và đặt nhiều hy vọng vào đại đội cuối cùng là đại đội của Trần Đằng bến Cẩm Thuỷ trong đêm kế tiếp, đêm thứ năm.
Từ bến Cẩm Thuỷ vào Cổ Tế đường xa, gần bảy mươi ki-lô-mét. Trên chặng đường này có một cái ngầm tương đối khó đi. Cách Cổ Tế tám ki-lô-mét. Đoàn “tuyển thủ” của Trần Đằng xuất phát từ rất sớm. Nhưng không ngờ đến ngầm thì gặp lũ đang cuồn cuộn dâng cao, xe không tài nào qua nổi. Trần Đằng lại phanh áo ra, đứng trên bờ, tay bóp méo cái bụng xệ, miệng nguyền rủa “lão giời” om sòm. Với kinh nghiệm đã dư thừa, Trần Đằng hiểu rằng ở ngầm này nước lũ đã cao thế, vậy Cổ Tế chắc chắn nước cũng sẽ lên không kém; như vậy càng phải nhanh chóng tới đó để nhận bàn giao, chuẩn bị khí tài thật đầy đủ, sau đó còn cho bộ đội ôn tập vài lần, thì chiều tối mới mong có tên đơn vị treo cao trên bảng vàng được.
Càng nhìn dòng nước chảy xiết, Trần Đằng càng tức. Nhưng con người này không đến nỗi chỉ biết gầm thét. Trần Đằng đã có một quyết định thật dứt khoát. Cởi phăng áo quần ngoài, Trần Đằng thét vang, ra lệnh:
- Tạm để xe lại, tất cả bơi qua ngầm !
Thế là thoắt cái, cả đoàn người cùng lao xuống nước, hô nhau vùng vẫy. Nước chảy xiết, anh khoẻ dìu anh yếu, lát sau, mọi người đều qua được bờ bên kia an toàn, đầy đủ. Trần Đằng cứ ôm nguyên mớ quần áo trên tay, lại cất tiếng như sấm như sét hô mọi người chạy việt dã về Cổ Tế. Anh đã dặn các lái xe của đại đội cứ yên tâm chờ. Về Cổ Tế, anh sẽ xin xe lội nước của tiểu đoàn quay lại đón.
Trần Đằng nom vậy mà hoá ra khoẻ. Đám chiến sĩ thanh niên chưa anh nào vượt nổi đại đội trưởng của mình. Chạy được một thôi dài, Trần Đằng bỗng đứng sững lại, tròn mắt, rồi reo ầm.
Thì ra, dự kiến đại đội này sẽ gặp khó khăn ở ngầm, Nguyễn Đen, Trần Huy Tiệm, Đoàn Liễu đã cùng nhất trí cử một đoàn xe xích K.61 đi ứng cứu.
Nom thấy đoàn xe xích lội nước K.61 rầm rộ chạy lại, Trần Đằng và đoàn “tuyển thủ” của anh sướng quá, cứ nhảy tâng tâng lên vì hai “chí lớn” không hẹn mà gặp nhau rất đẹp.
Đêm ấy, đại đội Trần Đằng đã biểu diễn công việc lắp cầu L.P.P. trên bến Cổ Tế một cách thật tuyệt vời, được mọi người ngay tức khắc công nhận là đứng đầu toàn tiểu đoàn.

            CHƯƠNG IX
TIẾNG NGƯỜI LAO XAO



Mọi người còn đang hân hoan chúc mừng Trần Đằng và cái lão Phệnh mập ấy còn đang vểnh râu lên đòi tiểu đoàn phải liên hoan thịt chó sau kỳ hội thao này, thì ông Nhiệm, tư lệnh phó quân khu đột ngột xuống. Vẫn tráng kiện, hồng hào và vẻ mặt cởi mở, ông bước từng bước dài trên cây cầu L.P.P. của đại đội Trần Đằng vừa mới bắc xong. Ông bắt tay từng chiến sĩ và dừng lại hỏi han nhiều anh về quê quán, cha mẹ, vợ con. Rồi ông cùng Nguyễn Đen, Trần Huy Tiệm và các đại đội trưởng khác trở về sở chỉ huy tiểu đoàn. Đoàn Liễu có nhiệm vụ ở lại trực bến. Anh không một chút nào vui vẻ, nhưng không thể thốt ra một lời, chỉ còn biết nhìn theo đoàn người mỗi lúc một xa bến. Tần ngần một lát, chợt thấy một trung đội trưởng đi qua, anh giữ chặt ngay lại, hất hàm một cách đàn anh và thân mật:
- Có rượu không mày ?
Nhưng lại thoáng nghe có tiếng người lao xao và cả tiếng Chinh ở phía thượng lưu mố cầu. Liễu quên phắt ngay rượu, hỏi vội:
- Này, dân quân tự vệ  hả ?
- Dạ, phải ! – Anh trung đội trưởng đáp.
- Họ đến đây làm gì thế ?
- Chết, thủ trưởng quên ? Đêm nay đại đội của cô Chinh cũng hội thao diễn tập gỡ bom và mở đường phụ xuống cầu giúp công binh đấy mà !
- Ừ nhỉ. Tao quên.
Nói đoạn, Đoàn Liễu sấp ngửa đi thẳng tới chỗ đang ồn ào tiếng nói, và tiếng cười của Chinh lại vừa cất lên trong trẻo, giòn giã…
Tại sở chỉ huy tiểu đoàn, ông Nhiệm mở một cuộc họp với tất cả cán bộ của tiểu đoàn để nghe báo cáo tỉ mỉ về công việc hội thao trong mấy đêm trước. Sau đó nhân danh vừa là phái viên của Bộ trong chiến dịch K2, vừa với tư cách tư lệnh phó quân khu ông nêu lên những nhận xét tóm tắt, và chỉ thị thêm cho một số điều cần phải chú ý trong nội dung và kế hoạch hội thao. Trong khi nói, ông luôn luôn hướng về Nguyễn Đen và thường lắp đi lắp lại mấy câu đệm, nhưng đồng thời cũng là những câu chan chứa lòng tin yêu của ông dành cho người tiểu đoàn trưởng này: “… Có phải thế không, ông Đen ?” – “Đúng thế chứ, ông Đen?”…
Ông cũng không giấu giếm thái độ ấy trước đông đảo cán bộ. Cho tới hôm nay, qua nhiều tháng đã làm việc và nhất là qua mọi tiếp súc thực tế với tiểu đoàn 27, từ những nhận xét ban đầu còn dè dặt và có phần bán tín bán nghi, dần dần ông đã hiểu rõ hơn con người này và cái tập thể này. Rõ ràng ông không hề có định kiến với bất cứ ai, mặc dầu quả thật ông luôn dè dặt và thận trọng.
Ông ngắm nhìn gương mặt xương cháy nắng, dần dần của Nguyễn Đen. Ông nhìn thẳng vào cặp mắt cứng cỏi, thông minh và ngay thật của anh. Cho tới hôm nay thì không có thể nghi ngờ được nữa: đúng là một con người có nghị lực đã dành, nhưng còn là một con người có năng lực. Đúng thế. Năng lực hoặc nói là khả năng cũng không đến nỗi quá… Nhưng ở anh ta còn có những tội lỗi gì nhỉ ? Đằng sau anh ta còn ẩn dấu những yếu kém gì mà mình chưa rõ ? Những tiếng đồn thổi đến tận tai ông, do Cao Thành nói lại, về chuyện cô Chinh là có thật hay không thật ? Hoặc có thì nó ở mức độ nào ? Nếu quả anh ta bê bối về mặt này thì đáng tiếc biết bao. Còn vụ tố tụng về tài chính nữa. Anh ta có dính líu gì không ? Và nếu có, thì dính líu tới mức độ nào ? Cũng mong rằng anh ta không có gì sai phạm lớn. Nếu không, xử trí cũng thật đau đầu. Vì nghiêm với anh ta, mà trong khi tìm hiểu, phân tích, kết luận thiếu chuẩn xác, dù chỉ chút ít nào đó thôi, thì cũng sẽ mất một cán bộ giỏi. Nhưng nếu không nghiêm thì sẽ làm hư hỏng cả số đông, ít nhất là cả đơn vị này. Thế đấy!
Nhưng dẫu sao trong cuộc họp chủ yếu bàn về công việc tác chiến và huấn luyện này ông Nhiệm cũng cảm thấy được thoải mái trong cách đối xử, và thẳng thắn đưa ra những lời khen với tiểu đoàn, với Nguyễn Đen, kể cả việc bày tỏ sự tin cậy của mình về mặt chuyên môn, tác chiến đối với anh.
Tới khuya, cuộc họp cán bộ giải tán. Trước khi ngả lưng đi ngủ, ông Nhiệm cho mời đồng chí trung tá trưởng ban kiểm tra tới để tranh thủ làm việc thêm.
Ngọn đèn vặn nhỏ. Hai người trao đổi có tính chất kín đáo, cẩn mật, không có người thứ ba nào khác.
- Anh Huyên ạ ! Thiếu tướng tư lệnh Vũ Yên và thiếu tướng chính uỷ Tô Ký có dặn tôi tranh thủ gặp các anh để xem tình hình công việc đến đâu ? Tư lệnh và chính uỷ đều rất không muốn kéo dài vụ này…
Một mồi thuốc lào rít lên, khói phả ra um tùm, đồng chí trung tá nhỏ nhẹ, thận trọng như đã cân nhắc sẵn từng ý kiến của mình:
- Báo cáo, tỉ mỉ thì chúng tôi sẽ xin phát biểu sau. Còn đại thể thì cho tới hôm nay đoàn chúng tôi đã sơ bộ trao đổi, nhận thấy là… về cơ bản không có vấn đề gì nghiêm trọng về phía các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy ở đây. Vấn đề tập trung lại là ở cậu quản lý…
-Các cán bộ chỉ huy, lãnh đạo ở đây có vấn đề gì là chính?
- Báo cáo, chủ yếu là quá tin cậu quản lý, không kiểm tra, chỉ đạo chặt, để cho cậu này lạm dụng, làm nhiều điều vô nguyên tắc và tham ô…
- Đồng chí Đen thế nào ?
- Đồng chí này thì không dính líu gì về tiền nong cả, chỉ có vài bản thanh toán, quyết toán ký mà không chú ý soát xét lại cẩn thận. Vì quá tin vào quản lý mà ký cho chóng vánh mọi việc.
- Sao đơn kiện nói là Nguyễn Đen thông đồng…
- Báo cáo điều này thì không có. Hoàn toàn không có. Chỉ có một số việc là…
- Việc gì ?
- Nhưng lại không phải đồng chí Nguyễn Đen, mà là ở đồng chí Đoàn Liễu…
- Hả ? Đoàn Liễu ?
- Vâng ! Quần chúng phát hiện là quản lý Thực thường mời Đoàn Liễu đi chè chén nhậu nhẹt và cho vay tiền tiêu luôn luôn.
Ông Nhiệm nhíu lông mày lại. Đồng chí trưởng đoàn kiểm tra lại thận trọng, nhỏ nhẹ tiếp:
- Báo cáo, chúng tôi về đây làm việc, lại thấy rằng ở tiểu đoàn này vấn đề tài chính thật ra chưa phải là vấn đề lo nhất. Mà lại là vấn đề khác.
- Hả ? Vấn đề gì ?
- Vấn đề đoàn kết !
- Sao ?
- Báo cáo, mới qua tuần đầu, trong khi làm kiểm tra tài chính, chúng tôi đã ngờ ngợ hình như có chuyện gì nữa ở đằng sau vụ tố tụng này. Chúng tôi kiên trì làm việc thì, báo cáo tư lệnh phó, gần đây một chiến sĩ liên lạc trẻ đã bất ngờ xin gặp riêng chúng tôi và than thở rằng: cậu ấy luôn luôn bị bắt buộc phải đi dò xét tiểu đoàn trưởng. Rồi lại còn bị ép buộc phải vu cho đồng chí đó… Cậu này rất sợ, và đã báo cáo với đoàn chúng tôi phải giữ bí mật cho…
- Ai ? Ai làm cái công việc kỳ lạ ấy?
- Báo cáo: Tiểu đoàn phó… Đoàn Liễu!
- Hả? Thật vậy hả? Lẽ nào nhỉ?...
Đoàn Liễu ư?  Người tiểu đoàn phó mà Cao Thành mỗi lần xuống tiểu doàn 27 này trở về vẫn thường khen là trung thực và có nhiều năng lực, cũng như tinh thần cách mạng cao… Thật vậy chăng? Vậy thế này là thế nào? Và tại sao lại như thế? Trước mặt ông Nhiệm như vẽ lại một con người hơi đầm đậm, có bộ mặt đầy tham vọng, và “xác thịt”…
Sáng hôm sau, lẽ ra theo kế hoạch, ông trở về quân khu, nhưng lấy cớ để dự thêm buổi hội thao khoa học ghép phà cấp tốc chở vũ khí hạng nặng qua sông bằng phương tiện và khí tài nhẹ, ông nán lại với ý định để quan sát thêm từng con người ở đây một cách tỉ mỉ, cụ thể hơn nữa. Ông cũng muốn sẽ trực tiếp gặp cậu chiến sĩ trẻ nọ, cũng như xuống tận các đại đội để tìm hiểu qua các cán bộ cấp dưới nữa xem sao… Hãy cứ đặt một giả định ngược lại: Có thể cậu chiến sĩ nọ là do Nguyễn Đen bố trí để “nhiễu” đoàn kiểm tra? Nếu không thì từ cậu chiến sĩ này sẽ còn có thể nghe được nhiều điều rắc rối khác nữa.
Đoàn kiểm tra cũng hết sức hoan nghênh khi thấy ông Nhiệm quyết định ở lại.

CHUYỆN KỂ CỦA CÔ LÍNH THÔNG TIN
   
Đã có mấy đơn vị cao xạ pháo có chiến sĩ gái làm công tác thông tin không nhỉ? Vậy mà đơn vị tôi có đấy ! Người ấy là tôi. Dạo ấy đơn vị chúng tôi được lệnh về bảo vệ bến phà Cổ Tế. Một hôm máy bay địch đến bắn phá dữ dội trên bến phà. Giữa lúc đang chiến đấu ác liệt thì đường dây liên lạc với đại đội 2 bên kia sông bị đứt, tôi vơ vội chiếc mũ sắt và tấm nguỵ trang, lao về phía bờ sông.
    Kia rồi ! Đường dây bị đứt ở ngay giữa sông. Chà, gay quá ! Mặc cho máy bay quần đảo, tôi cứ chạy lên chạy xuống mãi mà vẫn không tìm được con đò nào. Tôi đành lòng phải chuẩn bị bơi qua sông. May sao vừa lúc đó từ một lùm cây, một con đò bỗng xuất hiện và lao nhanh về phía tôi. Ngồi trên là một cô gái trẻ đội mũ rơm, áo nhuộm xanh.
    - Chị đừng bơi, chờ đấy, em nối dây cho ! – Cô gái vừa chèo vội vã vừa gọi.
    Mừng quá tôi chạy lại phía con đò. Tới gần tôi mới nhận ra trông cô gái khoảng mười bảy, mười tám, có lẽ kém tuổi tôi, dáng người nhỏ nhắn, nước da trắng trẻo, rất xinh. Đò vừa tới bờ, cô nói ngay:
    - Đưa dây đây, em ra sông nối cho ! Em là dân quân thường trực bến đấy chị ạ !
    Tôi vội lắc đầu:
    - Không được đâu nguy hiểm lắm ! Cô cho tôi mượn đò thôi !
    Cô gái không nghe.Chúng tôi giằng co nhau mãi. Cuối cùng, tôi ngồi ở mũi thuyền, lần theo đầu dây, còn cô cầm chèo. Mảnh bom đạn rơi xuống sông, lõm bõm. Có lúc chúng tôi phải cúi đầu xuống để tránh mảnh. Nhờ cô dân quân vững tay chèo nên tôi đã nối xong đường dây khá nhanh. Hai chúng tôi cùng quay vào bến, nhảy lên bờ. Máy bay địch vẫn gầm rít trên trời. Đi được mấy bước, bất thình lình cô gái đẩy tôi ngã dúi xuống một hố cá nhân rồi cô nằm đè trên thành hố. Một tiếng bom nổ xé tai làm tôi tối sầm mặt mũi. Chừng đến hai, ba phút sau, tôi mới tỉnh lại, gạt đất đá đứng lên. Cô dân quân trẻ cũng đã giũ đất ngồi dậy. Đầu tóc cô rối bời, quần áo lấm láp, cô nhìn tôi cười, nụ cười dễ thương quá ! Tôi chỉ còn biết ôm chầm lấy cô. Rồi sau đó tôi vơ vội lấy dây máy, gật đầu chào cô, lao nhanh lên đồi, vội quá tôi đã quên cảm ơn cô.
                        *        *
                                                                    *
    Mãi chiều hôm sau tôi mới có dịp vào xóm hỏi thăm và tìm đến nhà Điểm – cô gái dân quân ấy. Tôi gặp Điểm ở ngay đầu ngõ. Điểm đang đắp lại một căn hầm chữ A. Tôi giằng lấy xẻng giúp Điểm đắp đất lên nắp hầm. Chúng tôi vừa làm vừa chuyện trò, thăm hỏi nhau thân mật như những bạn thân xa nhau lâu ngày mới gặp lại.
    Khi căn hầm đã sửa xong. Điểm mời tôi vào nhà. Cô xuống bếp đun nước, tôi ngồi ngắm quang cảnh và trang trí trong nhà. Mắt tôi lướt qua bảng gia đình vẻ vang, các bằng khen, giấy khen, rồi dừng lại ở một khung ảnh treo trên tường. Tôi bỗng sửng sốt: Trong khung kính có cả tấm ảnh của một người rất… thân quen của tôi.
    - Ô, anh Sơn ! Sao ở đây cũng có ảnh anh nhỉ ? – Tôi đứng dậy, nhìn cho kỹ hơn.
    - Đúng rồi ! Tấm ảnh của anh chụp lúc mới vào bộ đội. Anh đã gửi cho tôi một tấm đúng như thế này. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn là còn có một tấm ảnh ở bên cạnh to hơn. Anh chụp chung với Điểm. Vâng. Chính Điểm. Hai người đang ngồi bên cạnh nhau. Cả hai cùng mỉm cười.
    Tôi phân vân, tại sao nhà này lại có ảnh anh Sơn ? Và sao lại có cả ảnh chụp chung thế này ? Tôi thầm tự hỏi. Tôi bỗng nhớ lại, cách đây mấy tháng, trong một lá thư anh báo tin cho tôi biết là đơn vị anh đi bắc cầu xa. Thì ra đơn vị anh đã đến đây ! Nhưng sao không thấy dấu vết gì nữa ? Hay đơn vị anh lại đi rồi ? Hay là… hay là… ừ nhỉ. Tại sao sau đó anh chẳng viết thêm cho tôi lá thư nào nữa ?
    Nhìn lại bức ảnh anh chụp chung với Điểm, tự nhiên tôi thấy mặt nóng lên. Tôi phải thầm thừa nhận cả hai người đều đẹp và thoắt cái, một ý nghĩ nghi ngờ bỗng mơ hồ nhen lên trong đầu tôi như một chút sương mù. Tôi phải cố xua đuổi nó đi.
    Điểm đã xách ấm nước lên, rót vào phích. Cô nhanh nhẹn vui vẻ pha nước mời tôi xuống. Tôi vẫn hết liếc nhìn tấm ảnh lại nhìn Điểm. Bất giác tôi ghé người soi mình vào một tấm gương to. Tôi bỗng muốn khóc lên vì thấy mình quả thật kém xinh hơn Điểm nhiều. Tôi không kìm được mình nữa, liền chỉ vào tấm ảnh và cố gắng hết sức giữ một vẻ tự nhiên, hỏi Điểm.
    - Ai đấy. Điểm ơi !
    - A, anh Sơn đấy mà ! Anh Sơn ở đơn vị công binh bắc cầu. Trước anh ấy đóng ngay ở nhà em đấy chị ạ !
    Ra thế, “đóng ngay ở nhà em” thảo nào ! Tôi hỏi tiếp:
    - Thế đơn vị bắc cầu đi đã lâu chưa !
    - Các anh ấy đi vào phía trong đã ba tháng rồi ! Thế ra chị cũng biết anh Sơn à ?
    Không hiểu sao, tôi bỗng nói dối:
    - Ừ mình cũng biết anh ấy. Chả là trước đây hai đơn vị đóng ở gần nhau.
    Một nét nghi ngờ thoáng hiện trên khuôn mặt Điểm nhưng sau đó cô đã thành thật tin lời tôi. Cô có vẻ cảm động và mừng rỡ:
    - Thế ạ ! Vậy ra chị cũng quen anh Sơn. Anh ấy tốt lắm cơ chị ạ.
    Vừa lúc đó, một cô bạn nào réo gọi Điểm ở ngoài ngõ. Điểm bảo tôi cứ ngồi chơi, rồi vội chạy ra.
    Chỉ còn lại một mình tôi. Nỗi nghi ngờ ngày càng tăng lên trong lòng tôi, tôi lại quan sát toàn bộ căn nhà như tìm kiếm thêm những dấu vết của Sơn. Mắt tôi dừng lại ở hàng quần áo đang phơi nắng ngoài sân. Tôi bỗng giật mình. Tôi nhìn thấy một chiếc khăn thêu bên cạnh một tấm vải dù trắng. Chiếc khăn ấy là của tôi tặng Sơn trước lúc anh lên đường nhập ngũ. Ôi ! sao chiếc khăn lại ở đây ? Sơn đánh rơi ? Bỏ quên ư ! Sơn đã tặng lại Điểm ư. Có thể lắm chứ ! Họ đã chụp ảnh chung với nhau cơ mà ! Sự nghi ngờ của tôi đã gần như được khẳng định. Mắt tôi nhoà đi.
     Ở quê, nhà tôi cách nhà Sơn có hai ngõ. Sơn hơn tôi một tuổi. Chúng tôi đã thân nhau từ những ngày chăn trâu kiếm củi. Tôi học dưới Sơn một lớp, cùng với Hà, em gái Sơn. Khi học cấp ba. Sơn luôn luôn là học sinh giỏi của trường. Anh thường chỉ bảo cho tôi và Hà những bài toán khó. Những buổi đi làm hợp tác xã, những buổi lao động nhà trường hay họp đoàn chúng tôi cũng thường gần gũi nhau. Lần chụp ảnh kỷ niệm các học sinh giỏi của trường, tôi cũng tìm cách ngồi sát cạnh Sơn.. như tấm ảnh Điểm chụp chung với Sơn ở đây. Tình yêu của chúng tôi được cả hai gia đình và bạn bè vun đắp. Hai năm trước đây, Sơn tốt nghiệp cấp ba rồi xung phong đi bộ đội. Sau đó một năm, tôi cũng lên đường nhập ngũ theo gương anh. Chúng tôi vẫn luôn biên thư cho nhau động viên khuyến khích nhau. Làn này đơn vị tôi được chuyển ra vùng ngoài, tôi đang có hy vọng tìm gặp anh. Thế mà bây giờ.. Hèn nào mấy tháng nay tôi không nhận được thư của anh nữa !... Ừ Điểm trẻ hơn tôi, đẹp hơn tôi. Sơn lại ở đây được gia đình chăm sóc đến thế. Nhưng mà tôi cũng lạ ! Nào tôi với Sơn đã chính thức ước hẹn gì đâu ! Tại sao tôi có quyền bực dọc ?
    Nghĩ đến đây, tôi bỗng thấy mình xấu hổ. Và lại tự an ủi: Có lẽ tôi đã nghi ngờ sai. Đây chỉ là một tình cảm quân dân bình thường. Tôi sẽ hỏi cho ra nhẽ và nói thẳng với Điểm về chuyện này. Nhưng không, tôi sẽ không nói gì hết. Tôi sẵn sàng tôn trọng tình cảm của Sơn và Điểm nếu có thực. Dòng suy nghĩ của tôi cứ miên man kéo dài mãi mãi.
    Lát sau, bà mẹ của Điểm đi đâu trở về. Điểm cũng về. Hai mẹ con đều niềm nở. Tôi phải gắng trò chuyện cho khỏi lộ vẻ miễn cưỡng, và mấy lần đã định cáo từ ra về. Nhưng Điểm và bà mẹ vẫn cứ vồn vã kéo tôi lại, hỏi han tôi hết chuyện này qua chuyện khác mãi.
    Và cuối cùng. Điểm bỗng nói:
    - Chị à, bây giờ em mới nói thật Anh Sơn… không còn nữa. Chị ở đây chơi, em nói lại cho mà nghe.
    Như có một tiếng sét giáng mạnh xuống đầu tôi, hai mắt tôi tối lại.
    Hôm ấy..
    Đơn vị công binh được lệnh bắc cầu bảo đảm cho một đoàn xe chở hàng quân sự đặc biệt vào mặt trận. Lệnh của trên: bằng bất cứ giá nào, đúng 6 giờ tối phải thông cầu để bảo đảm cho đoàn xe vượt cả chặng đường từ đây đến trạm 10.X trước khi trời sáng. Nhưng hình như bọn địch đã phát hiện được đoàn xe quan trọng này, nên chiều hôm ấy, chúng liên tục đánh phá bến. Chúng âm mưu chặn đứng đoàn xe. Các đơn vị phòng không ta đã bắn rơi tại chỗ hai máy bay, nhưng chúng vẫn ùn ùn kéo đến như đàn thiêu thân, quần đảo liên tục. Chúng đã thả ba vệt bom nổ chậm từ chiều, hàng chục loạt bom phá, bom bi, chồng chất lên nhau, vùi lấp lên nhau thành một bãi bom lộn xộn đất đá, nhà cửa, cây cối nháo nhào, hòng gây khó khăn nguy hiểm cho ta khi vào bãi bom.
    Trước tình hình đó, đơn vị công binh đã dốc hết các tổ phá bom ra bến. Tổ dân quân phá bom do cô Điểm làm tổ trưởng cũng được phối hợp với tổ Sơn, phá vệt bom ở bến bờ Nam. Sau khi một mình vào trinh sát sơ bộ vệt bom xong. Sơn mới cho cả tổ vào vừa nhặt dọn bom bi, bom xuyên, vừa tìm các hút bom. Toàn tổ dàn hàng ngang tìm đi tìm lại mãi khắp bãi bom mà chỉ thấy có mười ba quả, vẫn thiếu một quả. Theo phán đoán, nó nằm đúng ngay bến, nhưng bị vùi lấp đi nên không xác định được rõ vị trí.
    Lúc này ở phía dưới sông phía bờ bắc, các tổ bạn đã tấn công. Chốc chốc lại một quả bom nổ. Có quả ở gần bến, mảnh vụn bắn sang cả bờ nam như thách thức kêu gọi bờ nam nhanh chóng hành động. Trời đã sắp tối, thời gian gấp lắm rồi. Dạo ấy đơn vị công binh này chưa có loại máy phá bom từ trường mà chỉ dùng phương pháp bộc phá. Sơn đưa ra một phương án là: Vừa bộc phá liên tục, vừa trinh sát tiếp. Riêng hai quả ở sau nhà ông Đinh và trong nhà bà Đoạt thì phải tháo để bảo vệ nhà của nhân dân, đồng thời giữ nền đường và bờ đê. Mọi người đều lo lắng không kịp thời gian quy định. Tổ dân quân đề nghị cứ cho nổ cả để bảo đảm thời gian thông cầu. Nhưng Sơn nói:
    - Nhân dân ta đau khổ nhiều với giặc Mỹ rồi ! Chúng ta cố gắng giảm bớt thiệt hại cho dân được bao nhiêu, quý bấy nhiêu. Phải coi nhà của bà con như chính nhà mình vậy !
    Tất cả đều thấy anh nói đúng. Ai cũng xung phong vào tháo bom. Nhưng Sơn chỉ phân công cho mọi người chuẩn bị lượng nổ, còn anh cùng Đắc thay nhau vào đào quả bom sau nhà ông Đinh bên cạnh đường trước. Quả bom chui sâu quá, lại đâm qua móng tường gạch vào trong nhà, nên phải đào khá vất vả. Phía bờ bắc tiếng bom nổ giòn giã càng làm cho cả tổ sốt ruột. Rồi bỗng thấy Đắc reo lên:
    - Tháo được rồi, hoan hô anh Sơn !
    Thì ra, Sơn đã mò mẫm tháo được loại đầu nổ mới (modell 3). Anh vội báo cáo về sở chỉ huy. Được đội trưởng Lộc cho biết, đây là loại đầu nổ kiểu mới, chúng mới dùng đầu tiên ở đây. Tính năng cụ thể, ta chưa nghiên cứu được. Nhưng sơ bộ biết là độ nhạy và chu kỳ cảm ứng từ trường rất phức tạp, lắt léo, nham hiểm Đó lại là một khó khăn mới cho tổ bờ nam.
    Sau đó, Sơn lần lượt cử từng người vào phá bom. Người nào cũng được anh đưa vào và chỉ dẫn cách đánh cụ thể.
    Những tiếng nổ rền vang báo hiệu trận đánh bom của tổ bờ nam đang tiến triển. Đến lượt Điểm, Sơn cũng vừa đưa đường, vừa nhắc nhở Điểm từng động tác. Điểm vừa mừng vừa lo. Mừng vì mình là con gái lần này được trực tiếp đánh bom, đặt bộc phá vào “xé tan xác thẳng Nich-xơn ra” theo kiểu mọi người thường nói – chứ không phải chỉ làm nhiệm vụ cảnh giới, gác bãi bom như những lần trước. Để rồi xem cánh con trai trong làng có coi thường bọn con gái được nữa không ? Nhưng Điểm cũng có cái lo, không phải vì lo chết, mà chỉ lo làm không đúng động tác kỹ thuật, bom không nổ thì bọn chúng nó lại cười, rồi bêu riếu là nhát gan nên run tay. Vì có Sơn bên cạnh nên Điểm đã lấy lại được bình tĩnh. Đến nỗi khi đốt dây cháy chậm rồi mà cô cứ xem đi xem lại mãi, xem có cháy thật chưa ? Sơn phải hô to mấy lần, Điểm mới vội vàng chạy. Được vài chục bước, bỗng Điểm ngã khuỵu. Một cái gì đâm nhói vào bàn chân trái cô. Thì ra một mảnh bom to bằng bàn tay, dựng ngược như răng cưa ở bờ ruộng. Buốt quá, Điểm không đứng lên được, nghiến răng chịu đau. Máu chảy thấm ướt cả hai bàn tay.
    Tình thế lúc này thật nguy hiểm, Điểm nhìn lại chỗ quả bom, khói xanh của dây cháy chậm xì xì phùn lên. Hồn vía Điểm đã bay đi đâu hết.
    Nhưng Sơn đã quay ngay lại, anh nâng Điểm đứng dậy rồi ghé vai vác Điểm lên, chạy như bay về phía sau. Vừa nhảy được xuống một hố bom gần đấy thì bom nổ.
    Trận chiến đấu trên bãi bom vẫn tiếp tục khẩn trương, 6 giờ kém 20 phút.
    Đã đến giờ bắc cầu. Các vệt bom ở bờ bắc và dưới sông đã phá xong. Đại đội 3 đã cho ca nô kéo đoàn thuyền nối nhau như một đoàn tầu hối hả tiến về bến. Ở phía bắc đoàn xe đặc biệt cũng từng chiếc từng chiếc chạy về bến. Những nòng súng cao xạ đi hộ tống đang tua tủa chĩa lên trời.
    Vậy mà ở bờ nam, quả bom cuối cùng ở ngay đầu bến vẫn chưa phá được. Tổ của Sơn ai cũng lo lắng. Họ liên tục thay nhau đào đúng hút bom mà vẫn chưa thấy bom. Vì nó bị một quả bom phá nổ ở gần vùi lấp đi, ấn xuống sâu hơn. Cần phải đào, bới cho nó lộ cái mặt giặc ra như những quả bom trước thì mới phá được.
    6 giờ kém 15.
    Bất chấp cả nguy hiểm, toàn tổ ùa vào thuốn, đào tận lực mà vẫn không thấy. Điểm càng cuồng lên.
    6 giờ kém 10.
    Pháo hiệu xanh – tín hiệu xin vào tìm cầu của đại đội 3 bắn lên. ánh đèn gầm như sao sa đang tiến vào bến. Sơn chạy lại trạm gác. Chộp lấy máy nói, anh báo cáo:
    - Bờ nam còn nguy hiểm Xin cho bộc phá lượng nổ lớn để gây nổ bằng chấn động !
    - Biện pháp này rất nguy hiểm, nhưng không còn cách nào khác nên sở chỉ huy đồng ý. Sơn cắm tim hút bom rồi cho khênh cả hai lượng thuốc nổ lớn vào.
    6 giờ kém 5 phút.
    Một tiếng nổ gầm lên. Nhưng quả bom vẫn chưa suy chuyển. Mọi người đều toát mồ hôi. Nhiều ý kiến trao đổi xôn xao. Lại tín hiệu xanh ở dưới sông bắn lên. Anh chàng lái ca nô nào đó cho nổ máy ran như thúc giục. Những ánh sao sa từ trên đèo K đang bay nhanh về bến. Mọi người càng thêm lo lắng. Sơn giải thích cho cả tổ biết là tình trạng của quả bom hiện nay ở vào thế chờ nổ rất nguy hiểm, vì nó đã bị bộc phá gây chấn động. Có thể nó bất thình lình nổ ngay bây giờ, cũng có thể 5 – 10 giờ sau hoặc lâu hơn nữa. Nếu như có máy phá bom thì ta có thể xử trí được. Nhưng hiện nay máy chưa về đến nơi, mà nhiệm vụ thông cầu thì không thể dừng lại được phút nào cả. Dù thế nào cũng phá tiếp quả bom này, dẫu phải hy sinh tính mạng. Nếu không phá ngay thì khi cầu vào bến hoặc lúc đoàn xe qua, bom sẽ cảm ứng từ gây nổ ngay, có thể mất cầu, mất xe. Mọi người đều giơ tay xung phong lên phá. Cả Điểm cũng xin Sơn cho cô được tham gia.
    6 giờ kém 2 phút.
    Điểm vẫn năn nỉ xin lên đánh tiếp quả bom ngoan cố ấy. Nhưng Sơn đã ôm lấy gói bộc phá, nói.
    - Nguy hiểm lắm ! Phải thật quen ! Phải đặt đúng chỗ mới trị được nó !
    Điểm không bằng lòng vì nếu tính lượt thì lần này chính là của cô.
    - Không ! Phần của cả tổ và của cô hết rồi ! – Anh nói rồi ôm bộc phá lao lên.
    6 giờ kém 1 phút.
    Anh hơi cúi người về phía trước. Với một vẻ rất bình tĩnh, anh tiến vào bãi bom. Đến nơi, anh thận trọng bới đất để đặt bộc phá, rồi anh quỳ xuống đốt dây cháy chậm. Khói xanh phun lên bao trùm lấy anh. Anh kiểm tra lần cuối cùng rồi lẹ làng đứng lên quay ra. Vừa lúc đó, một tiếng nổ bất thình lình bùng lên hất ngã tất cả mọi người xuống. Điểm tối tăm mặt mũi lại. Quả bom tai ác ấy đã tự huỷ trước khi Sơn chưa kịp chạy ra xa.
    Tôi bỗng ôm chầm lấy mẹ Điểm và Điểm, nước mắt trào ra. Ôi ! Những ý nghĩ của tôi thật quá tầm thường trước những hành động cao cả của anh. Mẹ Điểm dỗ dành lau nước mắt cho tôi rồi chỉ lên tấm ảnh:
    - Đây là ảnh của anh Sơn chụp với cái Điểm sau lớp dạy phá bom đấy !
    Trong khi đó, Điểm ra sân lấy hai cái khăn ở dây phơi mang vào đưa cho tôi và nói:
    - Những thứ này, anh ấy vẫn gửi mẹ em cất ở hầm kèo nơi để ba lô. Anh ấy bảo của vợ anh ấy ở quê nhà. Anh hứa khi nhận được ảnh của chị ấy, anh sẽ cho em và mẹ em xem !
    Tôi càng nức nở. Quả đúng là tôi chưa có tấm ảnh riêng nào để gửi cho anh.
    - Mẹ ! Mẹ ơi ! Con là… là Thảo đây ! Điểm ơi, chị là… bạn của anh Sơn đây !
    Cả mẹ, cả Điểm đều như bàng hoàng kêu lên:
    - Giời ơi ! Thảo ! chị Thảo thật đấy ư ? Thế mà bây giờ chị mới nói.
    Cả hai mẹ con cùng oà khóc.
    Tôi không sao nói lên lời nữa. Lúc này trong lòng tôi càng tràn ngập nỗi day dứt ân hận Tôi đã có lỗi với anh với cả Điểm ! Hãy tha thứ cho em, anh Sơn ! Hãy tha thứ cho đứa em gái bụng dạ còn nông nổi, nhỏ nhẹ, đố kỵ này ! Em đã dám nghi ngờ cả một tâm hồn cao cả như anh !
    Khi tôi ra về. Điểm bỗng nói:
    - Chị ạ, em vẫn luôn luôn nhớ tới anh Sơn và nguyện noi gương anh.
    Thêm một lần nữa, tôi thấy Điểm cô dân quân trẻ tuổi, sáng đẹp như sao băng !

          PHÓ TƯ LỆNH Ở LẠI

Đại tá Nhiệm không phải chỉ ở lại tiểu đoàn 27 thêm một ngày, mà thêm hẳn ba ngày nữa. Nhiều chuyện ông muốn tìm hiểu cho rõ ngọn ngành. Nhiều việc mới vỡ ra làm cho ông không thể nào bỏ qua.
Ông đã xuống tận đại đội của Nguyễn Đức Thắng xuống cả đại đội của Trần Đằng, đại đội của Hoàng Anh Tự, đại đội Nguyễn Trọng Đào và cả đại đội của Phạm Văn Thám nữa. Ông đã tiếp xúc trực tiếp với nhiều cán bộ chiến sĩ. Ông còn gặp cả đội dân quân xã. Đặc biệt, ông đã nói chuyện với Chinh cả một buổi sáng. Rồi ông còn tới thăm và trò chuyện với anh em công nhân giao thông ở trên bến nữa. Trước khi đoàn kiểm tra về hậu cứ  của tiểu đoàn để xem xét các kho vật liệu, và trực tiếp làm việc với quản lý Thực, ông Nhiệm cũng đã trao đổi nhiều ý kiến quan trọng với đồng chí trung tá đoàn trưởng. Sau đó ông đã đề nghị tiểu đoàn uỷ họp một buổi, trong đó vấn đề đoàn kết nội bộ đã được nêu lên…
Sáng nay ông chuẩn bị sang gặp đồng chí thiếu tướng tư lệnh và đồng chí thiếu tướng chính uỷ để báo về công việc tác chiến, huấn luyện của tiểu đoàn 27 trên cung đường trọng điểm và nhiều vấn đề quan trọng khác của nội bộ đơn vị này, cái tốt cũng như cái chưa tốt, đặc biệt là vấn đề đoàn kết.
Ông vừa mới ăn sáng xong thì đã có người gõ cửa phòng. Cửa mở. Cao Thành với vóc người thấp đậm, chắc lẳn và bộ mặt tròn, căng nở ra như đang phấn khởi bước vào.
- Báo cáo anh Nhiệm, tôi vừa đi xuống tiểu đoàn 19 ở cung đường cuối quân khu về. Có rất nhiều điều thú vị kể cả khẩn cấp nữa muốn báo cáo anh…
Ông Nhiệm miễn cưỡng chìa tay về phía chiếc ghế đối diện, mời Cao Thành ngồi.
- Mình sắp phải đi làm việc với thiếu tướng tư lệnh và thiếu tướng chính uỷ…
- Báo cáo anh, vậy tối nay tôi sẽ tới nhà riêng báo cáo tỉ mỉ mọi chuyện với anh.
- Tối… mình bận.
- Vậy sáng sớm mai.
Cậu nên trao đổi với văn phòng để họ bố trí hẳn hoi một buổi để anh tham mưu trưởng và các chủ nhiệm khác cùng nghe một thể…
Cao Thành gật đầu, nhưng dường như vẫn chưa hết phấn hứng:
- Anh ạ! Nhiều vấn đề hay lắm. Phải chịu sục xuống cơ sở mới phá hiện được anh ạ. Nếu không rất khó chỉ đạo tốt được! Kinh nghiệm xương máu đã chỉ cho ta thấy: Một giây, một phút cũng phải nắm bắt cho được tất cả những biến chuyển mới. Một giây, một phút, sự việc cũng đã có những thay đổi và phát triển kỳ lạ. Một giây, một phút nếu tỏ ra trì trệ, thiếu nhạy cảm, kể cả thiếu quyết tâm và dũng khí thì chúng ta sẽ dễ dàng thất bại lắm…
Ông Nhiệm thoáng nhăn mặt, đẩy chén nước lại phía Cao Thành như có ý muốn ngắt lời anh ta:
- Uống đi cậu!
- …Anh còn nhớ cái hồi 1967 tôi với anh cùng nhau ngồi giữa vòng vây bọn Mỹ, trùng trùng bốn bề xe tăng, thiết giáp, trên đầu thì phản lực vũ trang che kín cả bầu trời không? Vậy mà anh vẫn cười bảo tôi: “Cậu nghĩ thế nào, Cao Thành? Chúng mình liệu có ra nổi chỗ này không? Mình thì mình bảo sẽ ra được! Mặc dầu lúc này chúng mình vẫn chưa tính được cái gì cụ thể cả…”
Ông Nhiệm phải mỉm cười. Cũng không ngờ tới lúc này, nhắc lại những kỷ niệm cũ, Cao Thành đã làm cho ông đỡ khó chịu hơn.
Kể liên tiếp, kể một cách càng say sưa, hào hứng hơn, và luôn luôn kèm những câu “triết lý”để nhấn mạnh, làm đậm thêm ý nghĩa của vấn đề về mặt chính trị, xã hội hoặc kỹ, chiến thuật, cuối cùng Cao Thành đã khéo léo quay trở lại chuyến đi của anh xuống tiểu đoàn 19 vừa xong.
-… Anh ạ! ở đó, anh em làm việc nói chung là tương đối tốt. Nhưng xét cho cùng họ đang còn thiếu một cái gì đó vô cùng quan trọng, một cái gì  như vô giá, mà cái đó lại cần thiết biết bao cho tất cả mọi chúng ta trong giai đoạn cách mạng vô cùng quyết liệt, cũng như vô cùng khó khăn này. Thiếu nó, khi gặp những trở lực lớn hơn, gặp những khúc quanh phức tạp hơn tôi lo anh em sẽ rất bê bối và bị thất bại. Cái đó không biết gọi nó là cái gì nhỉ? Nhưng hãy cứ gọi tạm nó một cái tên: “ Sự từng trải chiến trường”…
Tới lúc này, dường như không thể cứ nể nang ngồi nghe mãi, ông Nhiệm phải ngắt lời Cao Thành bằng một câu hỏi:
- Vậy theo cậu những ai có thể tạm gọi là có cái “sự từng trải chiến trường” ấy?
Cao Thành đanh mặt lại, hăng hái, tự hào và văn hoa:
- Như anh, như tôi chẳng hạn và tất cả những ai đã từng sờ vào cái đầu thằng Mỹ, và lấy được cái đai quần của nó mà vật lộn với nó…
Ông Nhiệm châm một điếu thuốc. Rồi ông trở nên nghiêm trang và có vẻ như muốn kết thúc câu chuyện dông dài ở đây:
- Cao Thành ạ! Thôi được, mình hiểu rồi. Nhưng mình thấy cần phải cân nhắc lại cho cậu hiểu: Đừng nên  luôn luôn “chúng ta, chúng ta” mãi như vậy. Và cả nước ta là một chiến trường, chẳng lẽ cậu lại quên một điều vô cùng cơ bản ấy?
Cao Thành vẫn hăng hái và tỏ ra ham tranh luận cũng như dám tranh luận:
- Nhưng thưa anh, trong cái chiến trường ấy có cái tiền tuyến và cái hậu phương của nó anh ạ!
- À, đúng! Nhưng nói vậy là biết một mà chưa biết hai: Khi người ta nói rạch ròi ra như thế là chỉ có một ý nghĩa tương đối về hai khu vực chiến lược trong một quốc gia có chiến tranh. Tuyệt nhiên không nhằm để nói rằng bên nào ác liệt, cực khổ hơn bên nào và do đó cho là bên này vinh quang hơn bên nọ. Đó là chưa nói thêm: Cần phải nhớ rằng cái hậu phương ở Việt Nam nó khác lắm. Nó cũng đang sống dưới mưa bom, bão đạn, vẫn từng phút, từng giây tiếp máu mình ra tiền tuyến, và nhịn tới từng hạt gạo, lá rau… cũng vì tiền tuyến…
Ngừng một chút sau cái thở dài nhè nhẹ, ông tiếp:
- Tôi biết có một vài dồng chí, đối với những người ở hậu phương này đã có cái nhìn khá lệch lạc, thậm chí có đồng chí lại như muốn bắt họ phải đền bù lại cho mình những năm mình gian khổ? Không! Hoàn toàn không đúng đâu! Cuộc sống có sự phân công của nó. Cách mạng càng có sự phân công khoa học. Bác Hồ đã nói: “ Mỗi chiếc bánh xe, dù nhỏ, trong một chiếc đồng hồ đều có giá trị và tầm quan trọng riêng của nó…”. Còn cái gọi là “sự từng trải chiến trường” mà cậu vừa nói ấy là vô cùng quý giá; đúng lắm, nhưng nó đâu có nghĩa là: Cái tất cả! Không! Không như thế đâu. Cần phải tỉnh táo và khiêm tốn hơn anh bạn ạ!
Ngừng một lát, ông vỗ lên trán như sực nhớ ra điều gì đó. Ông Nhiệm nói tiếp:
- Mà hình như cậu chưa hiểu biết gì về Nguyễn Đen đâu. À, trưởng phòng cán bộ có nói với mình là Nguyễn Đen đã hai lần đi B rồi đấy. Một lần làm tiểu đoàn trưởng bộ binh dẫn quân vào B 2 và một lần trực tiếp  đưa một đại đội công binh của cậu ấy vào chi viện trong chiến dịch mở rộng đường dây 559 ở khu vực B 3 thì phải. Nghe nói cậu ta đã được trên gọi về cho đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, nhưng cậu ta xin ở lại chiến đấu, chờ đợt sau mới đi đấy… Cả tôi và cậu đều mới về quân khu này, chưa hiểu hết những con người ở đây đâu. Đừng vội vàng phán xét… Ông nhìn thẳng vào mắt Cao Thành như dò hỏi, như thẩm định, như phỏng vấn…
    Rồi ông xem đồng hồ:
    - Mà thôi không còn thì giờ mà nói nhiều nữa. Nhưng chắc chắn tôi sẽ còn phải gặp cậu. Ngoài công việc ở 27 mà cậu sẽ báo cáo, còn có một số việc khác mà cậu sẽ phải làm sáng tỏ trước tổ chức, chứ không phải riêng tôi…
    Cao Thành thoáng nhíu cặp lông mày lại.
    Ông Nhiệm lưỡng lự một giây rồi mở ngăn kéo lấy ra một tờ giấy đặc kịt những chữ viết tay:
    - Cậu hãy đọc đi! Trong này người ta nói tới cậu không ít điều đâu!
    Cao Thành như vội vồ lấy tờ giấy. Tay anh run run.
    Bản tự kiểm điểm của Đoàn Liễu, tiểu đoàn phó tiểu đoan 27 về vấn đề đoàn kết nội bộ...
    - Cái gì thế này?
    - Thế là thế nào?
    - Chuyện gì? Chuyện gì đã xảy ra vậy? Mắt anh ta hoa lên.
    Khi anh ta ngẩng lên thì đại tá Nhiệm đã bước ra khỏi phòng…
    Ngay tối hôm ấy Cao Thành nhảy bổ vào nhà riêng ông Nhiệm mà không cần báo trước. Anh ta như gầm thét lên:
    - Không! Không! Vu cáo! tất cả đều vu cáo hết. Tôi tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện này. Trâu lấm vẩy càn. Cậu Đoàn Liễu này thì nhiều người đã rõ hắn: một con người lòng dạ đen tối, hôi thối vì tính đố kỵ ghen ghét.Cứ thấy bạn hữu hơn mình một chút là ăn không ngon, ngủ không yên. Hám danh đến điên cuồng, mà hám gái cũng đến … ghê tởm. Năng lực thì kém cỏi…
    - Này! Hãy bình tĩnh! Tôi vẫn chưa quên là cậu đã nói nhiều lần với tôi về Đoàn Liễu bằng những lời tốt đẹp lắm kia mà! Có đâu cay độc như vậy?
    Cao Thành tím mặt, không khỏi lúng túng:
    - Tôi… Tôi…
    - Thôi, cậu về đi Cao Thành ạ! Tôi đang rất mệt.
    - Anh Nhiệm ạ, việc này có lẽ tôi phải trình bày lên đến tận… tận…
    - Tận thủ tướng cũng được. Tuỳ cậu. Thôi, cậu về đi! Đã bảo là mình mệt lắm rồi.

 
CHƯƠNG X
NỖI BUỒN CỦA PHAN TRẠC




Trong một dịp đoàn văn công Quân khu xuống biểu diễn phục vụ tiểu đoàn 27, đôi bạn trẻ ấy họ gặp nhau. Ai cũng khen là đẹp đôi. Phan Trạc trung đội trưởng ở đại đội 2 tiểu đoàn 27. Một anh chàng đẹp trai, người cao lớn nhưng lại có dáng vẻ thư sinh, hiền lành, học hết lớp 10 tốt nghiệp Phổ thông trung học, không đi thi đại học mà xung phong vào bộ đội, được về đơn vị công binh này, rồi trưởng thành khá nhanh từ chiến sĩ lên đến trung đội trưởng đại đội 2, một dại đội anh cả của tiểu đoàn 27. Phan Trạc có năng khiếu văn nghệ, thích đàn nhạc, hò hát, nên được các chiến sĩ yêu mến. Đã bao lần gặp gỡ các đơn vị thanh niên xung phong ở các bến phà, cùng nhau bắc cầu, mở đường và cùng nhau tổ chức nhiều buổi liên hoan văn nghệ. Phan Trạc được nhiều cô gái đến làm quen, mà anh chàng chưa đọng lại ở một trái tim nào.
    Ấy vậy mà anh chàng lại say mê một cô gái văn công ở đoàn văn công quân khu, đó là Thuý Trang, một cô gái bé nhỏ xinh xắn và rất vui tính, nhí nhảnh. Thúy Trang thường hay đóng vai cô bé hoặc cậu bé vui nhộn, nghịch ngợm trong các vở diễn, và được khán giả ưa thích tán thưởng.
    Trong một lần tâm sự, Phan Trạc thú nhận với tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen, về mối cảm tình với Thúy Trang, được nguyễn Đen tán thành ngay.
    - Này chú em, cứ mạnh dạn tấn công đi, anh ủng hộ nhiệt liệt.
    - Em cũng muốn anh tạo điều kiện cho em !
    - Cái chính là ở các em có thực sự yêu nhau không ?
    - Em cũng thấy cô ta có vẻ thích em rồi...
    - Vậy thì phải nắm chắc cơ hội ấy. Các cô gái văn công vốn được nhiều người ưa thích, dễ hay đỏng đảnh lắm đấy.
    Và để ủng hộ Phan Trạc, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen liền gặp đoàn trưởng đoàn văn công là Việt Cường, vốn là bạn cũ quen thân với Nguyễn Đen từ những ngày còn ở cơ quan Quân khu, hai người cùng ở nhóm văn nghệ thường tham gia biểu diễn với thành phố, với đài phát thanh ở tỉnh Nam Định, cũng nổi tiếng một thời.
    - Quân ông bắn trúng tim quân tôi rồi. Việt Cường nói với Nguyễn Đen – Con bé ấy là kênh kiệu lắm đấy, thế mà lại chết mệt với lính công binh của ông. Cũng kỳ thật !
    - Biết đâu, duyên số cũng nên.
    - Nhất trí, chúng ta cùng ủng hộ cho chúng nó, quan hệ công khai với nhau, tôi càng đỡ phải canh gác giữ gìn.
    Thế là đôi trai anh hùng, gái thuyền quyên ấy họ đi lại với nhau và yêu nhau say đắm, thư từ liên tục gửi cho nhau. Phan Trạc đã đưa Thúy Trang về thăm mẹ sơ tán ở một vùng núi, sống  thanh đạm, một bà mẹ rất tình cảm, vẫn còn dáng dấp của một thời son phấn vương giả. Bà mẹ rất sung sướng và chờ đợi ngày họ cưới nhau đem lại nguồn vui cho bà.
    Nhưng một tình huống xảy ra: Phan Trạc được đề bạt lên đại đội phó đại đội 4 đi chiến trường C, chi viện nước Lào anh em. Ngày lên đường Thúy Trang cũng được Đoàn trưởng Việt Cường cho phép đến tiễn đưa. Họ hứa hẹn nhau, đợi chờ... và chờ đợi...
Đại đội 4 tung đi tăng cường cho chiến trường C, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh 379 quân tình nguyện Việt Nam chi viện cho Lào, mọi mặt xây dựng và chiến đấu đều trực thuộc Bộ tư lệnh 379 bên đất Lào, không còn liên quan gì tới tiểu đoàn 27 nữa. Tuy nhiên, do truyền thống và tình cảm của đơn vị “19-5” đơn vị mang tên ngày sinh của Bác Hồ, thành lập ngày 19-5-1958, được Bác đến thăm ngày 1 Tết Bính Ngọ năm 1966 vì lập được nhiều chiến công trong việc bắc cầu chở phà bảo đảm giao thông trong chiến tranh và 2 lần được Bác tặng  lẵng hoa vì thành tích chiến đấu và xây dựng, nên tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen và chính trị viên Trần Huy Tiệm đã đặc biệt quan tâm đến đại đội 4 và những đại đội đi B, đi C sau này. Vẫn luôn giữ vững liên lạc bằng vô tuyến điện và bằng thư từ, để trao đổi, động viên, cổ vũ và giúp đỡ đơn vị ra đi hoàn thành tốt nhiệm vụ, lấy đó là nguồn động viên đơn vị ở lại cũng học tập đại đội 4 sẵn sàng lên đường chi viện các chiến trường. Đại đội trưởng đại đội 4 Nguyễn Phú Mãn và chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Tương cũng đã thường xuyên điện về hoặc gửi thư về khi có điều kiện để báo cáo tình hình C4 đã phát huy truyền thống: chiến đấu và xây dựng đơn vị đạt nhiều thành tích, bảo đảm cầu phà trên chiến trường C được liên tục thông suốt. Khi có điều kiện có xe về Bắc lĩnh khí tài, Nguyễn Đen và Trần Huy Tiệm lại gửi cho C4 một số quà như lương thực, thực phẩm và cả khí tài thiết yếu mà C4 khó khăn, để động viên cán bộ chiến sĩ C4 phấn đấu, yên tâm làm nhiệm vụ.
Đặc biệt, trong đợt giặc Mỹ dừng ném bom miền Bắc, tiểu đoàn 27 đã tổ chức đưa đội văn nghệ, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen sang thăm C4 ở chiến trường Lào. Đoàn đi một xe tải kéo theo 1 moóc chở sân khấu và 16 cán bộ chiến sĩ văn nghệ, cùng một số lương thực, thực phẩm lợn gà, gạo, rau xanh do đơn vị tăng gia gửi đến uý lạo các chiến sĩ ở chiến trường.
Anh em đại đội 4 rất bất ngờ và vô cùng phấn khởi khi đón đoàn đại biểu đơn vị cũ đến tận chiến trường cách xa gần 1 ngàn ki-lô-mét thăm hỏi và động viên.
- Hoan hô Đoàn công binh 19-5,hoan hô tiểu đoàn 27.
- Hoan hô đại đội 4 !
- Chúng ta vẫn là đoàn công binh 19-5 truyền thống đơn vị anh hùng .
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen ôm lấy đại đội trưởng Nguyễn Phú Mãn và chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Tương. Các cán bộ, chiến sĩ ôm lấy nhau, mừng vui khôn xiết, nước mắt xúc động trào dâng.
Rồi những cuộc liên hoan mặn và liên hoan văn nghệ kéo dài, không những bà con quanh các bản người Lào ngạc nhiên mà ngay cả anh em C4 cũng ngạc nhiên. Chỉ trong vòng 30 phút đội văn nghệ đã lắp ráp xong một bộ sân khấu to rộng như của văn công Quân khu, đầy đủ phông màn, ánh sáng bừng lên và loa đài vang cả khu rừng quanh làng bản.
Cả đội văn nghệ, cả đại đội C4 và cả nhân dân trong bản làng xung quanh đều biểu diễn, đều ca hát. Rồi điệu múa Lăm Vông quanh đống lửa rừng rộn ràng vang mãi suốt đêm.
Thấy bộ mặt đại đội phó Phan Trạc có vẻ buồn rầu, Nguyễn Đen liền kéo ra một chỗ tâm sự.
- Chú em sao thế ? có nhận được tin tức gì của Thuý Trang không ?
- Anh ơi, em buồn lắm, Thúy Trang bỏ rơi em rồi !
- Sao, nó dám bỏ rơi cậu à ?
- Đi chiến trường mà anh, đã hơn 1 năm rồi, em không nhận được tin tức gì về cô ta cả, gần đây nghe 1 thằng bạn cùng lớp mới sang nói là cô ta đã yêu một ông thiếu tá, trung tá ở Học viện chính trị gì đó anh ạ.
Nguyễn Đen bỗng thốt lên:
- Hả, có thật thế không ?
- Đúng mà anh, hồi đầu, em còn nhận được thư, vài tháng 1 lá, vẫn mặn mà lắm, nhưng rồi bẵng đi hơn 1 năm rồi chẳng thư từ gì cả, thằng bạn em nó cũng ở gần thị xã Hà Đông ấy mà.
Biết làm sao được, chiến tranh là thế đấy – Nguyễn Đen nằm chung  với Phan Trạc 1 đêm không ngủ, chỉ còn biết an ủi Trạc:
- Thôi, quên đi để mà yên tâm chiến đấu, đời vẫn còn dài chú em ạ.
- Vâng, chiến tranh mà anh. Biết làm sao được ...

             CÔ Y TÁ ĐỨNG GIỮA ĐƯỜNG
   
Chiếc xe con chỉ huy đang lao nhanh trên đường ra mặt trận. Đêm không trăng, nhưng trời đầy sao. Ánh đèn gầm chỉ soi rọi mặt đường phía trước trên mười mét, nhưng đồng chí lái xe trẻ tuổi và nhanh nhẹn vẫn lao tới vận tốc độ 30-40 km giờ, để vượt lên đầu đoàn xe thuyền của tiểu đoàn đang hành quân. Đó là chiếc xe cóc lội nước cỡ nhỏ, hạ hết mui trần cho mát và tiện quan sát chỉ huy.
    Gió lùa vi vu bên tai làm bay dạt những cành lá nguỵ trang hai bên thành xe. Ngồi trên xe, nhìn những ánh đèn gầm như sao sa chen lẫn với sao trời, trông như những ánh đèn đăng đó tôm ở vùng quê biển Đồ Sơn, Tràng Cát, lòng Ngọc Bính bỗng rộn lên một niềm vui đến rạo rực. Trợ lý tham mưu - Đào sĩ quan trẻ, ngồi bên cạnh – cũng say sưa khe khẽ cất tiếng hát, một bài hát quen thuộc của các đơn vị công binh:
    “…. Xe ta băng băng qua ngàn mây gió đâu ngại chi. Quê hương ta thân yêu, kia đồng lúa đang vẫy chào. Xe ta đi nhanh nhanh vượt bao núi cao Trường Sơn Khắc sâu trong tim đau thương nơi miền Nam đó đang đón chờ…”
    Bỗng chiếc xe phanh kít lại, đầu xe chúi xuống, Bính đang mơ mơ màng màng thì bị bật về đằng trước, đầu va vào kính xe đau điếng.
    - Cái gì vậy ? Làm sao thế ?
    - Phía đằng trước có người !
    Một cô gái lao ra chặn xe đang đứng lù lù trước mặt – một cô bộ đội. Mọi người chưa kịp nhận rõ mặt mũi thì cô gái reo lên:
    - A, đây rồi, xe thủ trưởng đây rồi ! Em đoán đúng mà ! Thủ trưởng ơi, em đây mà ! Cho em lên với nào !
    Đồng chí lái xe đang định quát mắng, nhưng nhận ra người quen nên kìm lại được.
    - Úi chà cô Mai, y tá Mai ! Này, đi đứng kiểu gì thế ? Định hy sinh đấy hả ? Mà đi đâu sao lại đứng đây ?
    - Khổ quá, có một đồng chí ở “xê” hai bị đau bụng, em phải dừng để cấp cứu. Thế là xe tiểu đoàn bỏ đi luôn không chờ em nữa, bảo em nhảy lên xe sau. Vậy mà em đón mãi chẳng xe nào cho đi cả !
    - Thế đồng chí đau bụng đâu ?
    - Dạ, đỡ rồi ạ ! Lên xe đi với “xê” hai ngay rồi.
    - Thế sao cô không lên xe đi với “xê” hai ?
    Cô gái lúng túng chưa kịp trả lời thì đồng chí trợ lý tham mưu cười nói:
    - Thôi đúng rồi ! Lại muốn chờ xe thủ trưởng đi cho nó êm chứ gì ? Có cấp cứu thật không hay lại bày chuyện ra để ở lại chờ thủ trưởng đấy ?
    - Thì ở lại chờ cũng được chứ sao ? Chả lẽ thủ trưởng lại không cho em đi với hay sao ?
    - Thôi, lên xe đi ! Bính bỗng cắt ngang, ra vẻ gắt gỏng.
    Mai đang bám thành xe, vội vã trèo lên, rồi như lao cả tấm thân béo tròn, nặng nề vào ghế đằng sau, ngồi với Bính. Xe tiếp tục lăn bánh.
    - Này, tôi bắt đền đấy ! Cô làm bươu cả đầu thủ trưởng vì phanh xe đột ngột rồi đấy ! – Cậu trợ lý tham mưu lại tán.
    - Ô, thế à ? Đâu, đưa em xem nào ? Ôi, sưng lên thật rồi ! Em xin lỗi nhé, để em lấy cồn bóp cho tan nhé !
    Cô lại mở túi thuốc lấy bông thấm cồn rồi đắp lên trán Bính! Cô kéo đầu Bính ngả về phía ngực cô và xoa bóp trán cho anh một cách nhẹ nhàng.
    Xe chạy nhanh, gió làm xổ tung mái tóc của Mai bay như làn sóng. Trong đêm sao, Mai cúi xuống. Và một nụ cười rạng rỡ trên môi. Một cảm giác hoà bình mơn man trong lòng Bính.
                        *        *
                                                                    *
    Cũng trong chiến dịch mùa khô 1970, ở một khu vực phía tây Trường Sơn, tiểu đoàn Công binh cầu phà 27B được nhận nhiệm vụ bảo đảm một tuyến cầu phà liên tiếp gồm ba bến, cách nhau trên bảy mươi ki-lô-mét để bảo đảm mở mang cho một hướng chiến dịch.
    Theo yêu cầu phát triển lực lượng bảo đảm chiến đấu, đại đội 1 công binh vốn là đại đội công binh cầu phà độc lập trực thuộc binh trạm, nay được phát triển thành tiểu đoàn lấy tên là tiểu đoàn 27B để mang truyền thống cũ của tiểu đoàn 27 để đủ sức bảo đảm một khu vực tuyến đường. Ngọc Bính từ đại đội trưởng đại đội 1 được đề bạt lên tiểu đoàn phó, phụ trách tiểu đoàn trưởng, trong khi chưa có tiểu đoàn trưởng mới về. Lực lượng ngoài đại đội 1 cũ ra, tiểu đoàn còn được tăng cường đại đội 2 công binh mặt trận, vốn là của tiểu đoàn 27 do Nguyễn Đen chỉ huy và thành lập thêm một đại đội mới là đại đội 3.
    Đại đội 2 công binh mặt trận vốn là một đại đội có truyền thống chiến đấu và xây dựng tốt, là bậc đàn anh trong các đơn vị công binh cầu phà, nổi tiếng về sáng kiến quay cầu nhanh, đạt kỷ lục nhất toàn quân, năng suất cao, là đơn vị có nhiều phần thưởng cao quý và vinh dự. Chính Ngọc Bính cũng từ một chiến sĩ của đại đội 2 mà trưởng thành lên. Cách đây ba năm, Ngọc Bính còn là đại đội phó đại đội 2. Theo yêu cầu phát triển quân đội, đại đội 2 chia đôi làm nòng cốt để thành lập đại đội 1 do Ngọc Bính làm đại đội trưởng và được điều về một binh trạm đường dây. Còn đại đội 2 cũ lại được bổ sung tân binh, vừa xây dựng vừa chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn trực thuộc mặt trận. Trong chiến đấu đại đội 2 đã tham gia nhiều chiến dịch, trên nhiều trọng điểm, địa hình sông nước phức tạp, đã từng được rèn luyện dày dạn trong các trận bom đạn gay go, ác liệt. Trong huấn luyện, vẫn luôn luôn là ngọn cờ đầu của các đơn vị cầu phà trong toàn binh chủng.
    Lần này mặt trận tăng cường cho tiểu đoàn 27B có dụng ý để làm đơn vị nòng cốt chủ lực của tiểu đoàn, đảm nhiệm những trọng điểm khó khăn nhất trên toàn tuyến.
    Đại đội 3 được thành lập từ một số nòng cốt của đại đội 1 và đại đội 2, dĩ nhiên chủ yếu là của đại đội 1 của Bính. Bây giờ mới bắt tay vào huấn luyện cấp tốc, vừa đảm nhiệm một bến ngắn, vừa làm lực lượng dự bị của tiểu đoàn.
    Đại đội 1 do đại đội phó cũ của Ngọc Bính phụ trách quyền đại đội trưởng. Đó là thiếu uý Ích, một thanh niên trẻ, khoẻ và sôi nổi, vốn là liên lạc cũ của Ngọc Bính ở đại đội 1, được đi học, vừa mới tốt nghiệp trường sĩ quan về ít lâu nay. Nó là người yêu, đúng hơn là chồng chưa cưới của Loan – em gái Ngọc Bính. Chúng nó định “tổ chức” vào cuối năm nay. Nhớ lại một hôm về nhà, Ngọc Bính vô tình nghe thấy chúng nó thủ thì với nhau: “Được ở với anh Bính, sướng nhé ! – Em rể ở với anh vợ thì còn gì bằng ? – Tha hồ được quan tâm nâng đỡ… “ Bính nghe thế cũng thấy vui vui. “Ừ, cứ yên tâm cô em ạ ! Anh chẳng quan tâm tới nó thì quan tâm ai nữa ? Có thằng em rể ở đơn vị cũng dễ sai khiến chứ sao ?”
    Về trang bị, ngoài hai bộ cầu của C1, C2 sẵn có, tiểu đoàn 27B được trên tăng cường một bộ cho C3 để huấn luyện và làm dự bị. Như vậy tiểu đoàn Bính đựoc trang bị vào loại mạnh nhất lúc đó.
    Tiểu đoàn chưa có chính trị viên, mới chỉ có một đồng chí là chính trị viên Đại đội 1 lên phụ trách quyền chính trị viên phó. Tiểu đoàn chưa có Đảng uỷ tiểu đoàn, trên mới chỉ định Ngọc Bính là phó bí thư tạm thời phụ trách chung cả công tác Đảng.
                        *        *
                                                                    *
    Trước mặt Ngọc Bính là tấm bản đồ trải rộng phủ khắp mặt bàn như một bàn cờ lớn, có những đường dọc ngang. Sau khi di trinh sát địa hình về, Bính và đồng chí trợ lý tham mưu đang đánh dấu cao đặc điểm địa hình, ghi chép các số liệu và tô màu đậm nét toàn khu vực trên tuyến bảo đảm vượt sông của tiểu đoàn. Bính đang nghiên cứu để bố trí đội hình và quyết tâm sử dụng lực lượng trên bản đồ. Đồng chí trợ lý tham mưu cắt sẵn các ký hiệu bằng bìa cứng, chỉ các đơn vị, sở chỉ huy, các bãi tập kết, bãi cất giấu xe, trạm sửa chữa, trạm cấp cứu, nơi tiếp xăng dầu, kho gạo… đựng đầy một hộp, rồi đem bày trên bản đồ như sắp đặt các quân cờ trên bàn cờ vậy.
    Mai từ nãy vẫn ngồi lấy kéo quân y cắt giúp trợ lý tham mưu Đào, những ký hiệu rồi đặt lên bàn. Vì người hơi thấp, nên cô phải kiễng chân lên và có lúc phải tỳ cả bộ ngực đầy sức sống của cái tuổi hai mươi lên bàn để dò tìm, đọc những địa đanh trên bản đồ theo hướng dẫn của trợ lý tham mưu. Có lúc cậu Đào trợ lý phải kêu lên một cách nghịch ngợm:
    - Ối chết, thế này thì đè nát hết các đơn vị và cầu phà rồi còn gì nữa !
    - Đâu ! Đâu! cô gái đỏ mặt chống chế. Cô vội gỡ những ký hiệu dính đầy vào ngực. Bính phải trừng mắt lên, cậu ta mới thôi không đùa nữa.
    Cây bút chì xanh đỏ Ngọc Bích chạy trên bản đồ, đi theo thứ tự từ hậu phương ra tiền tuyến. Đây là bến số một, đó là bến Nậm Hắc – một con sông tương đối rộng, nước sâu và chảy xiết – là đầu mối của toàn tuyến. Từ đây đi ra các ngả đường chiến dịch có nhiều sở chỉ huy cấp trên đặt quanh. Các cấp trung đoàn, sư đoàn đến Bộ chỉ huy chiến dịch cũng luôn quan tâm tới nó. Có thể nói nó là trọng điểm của toàn tuyến của tiểu đoàn, nên Sở chỉ huy tiểu đoàn cũng phải đặt gần đấy.
    Cách bến Nậm Hắc 23 ki-lô-mét là bến hai. Đó là ngầm Nước Hai. Bình thường chỉ đi ngầm trừ khi có nước lũ thì phải đi phà. Nó là bến nhỏ nhất trong ba bến. Ngọc Bính định đặt đại đội 3 ở đây, vừa làm nhiệm vụ bảo đảm ngầm, vừa tranh thủ huấn luyện cầu phà, để làm lực lượng dự bị chung của tiểu đoàn, khi cần có thể vận động về chi viện cho bến một hoặc bến ba.
    Cách Nước Hai 50 ki-lô-mét là Suối Ba. Đây là bến thứ ba. Đó là cũng là một bến phải bắc cầu, nhưng sông nước không phức tạp bằng bến một.
    Theo mệnh lệnh cấp trên, tiểu đoàn 27B phải bảo đảm thông cầu phà, thông tuyến liên tục bảy ngày đêm để chuyển quân vào mặt trận từ ngày N đến N+6.
    Trong cuộc họp Ban chỉ huy sáng nay Ngọc Bính và đồng chí Nguyễn Văn Chính, chính trị viên phó tiểu đoàn cùng một số trợ lý cơ quan tham dự để bàn quyết tâm chiến đấu. Khi bố trí lực lượng, nhiều ý kiến cho rằng phải đặt C2 vào vị trí trọng điểm, với lý lẽ đó là một bến khó, nước chảy xiết, mà đại đội 2 lại là một đại đội đã có nhiều kinh nghiệm, đã từng bảo đảm chiến đấu nhiều ở ngay bến sông này. Nhưng cũng có ý kiến đồng tình với lý lẽ phân công của Ngọc Bính là:
    - Nhiệm vụ ở bến trọng điểm phải được giao cho đại đội một, đại đội một phải là đại đội chủ công của tiểu đoàn. Và bằng cách nào cũng phải đưa đại đội này lên ngọn cờ đầu, vì nó là đại đội cũ, đại đội gốc sở tại của binh trạm này.
    Bính còn muốn nói thêm: “Nó là đại đội của tôi, tôi dễ chỉ huy sai bảo hơn. Rồi, chẳng lẽ đại đội của tôi lại chịu thua kém một đại đội khác mới tăng cường đến hay sao ? Một đơn vị bạn, tuy trước đây tuy là một, nhưng bây giờ dẫu sao vẫn là một đơn vị khác. Tôi sẽ ăn nói ra sao với binh trạm, với cấp trên và bạn bè? Rồi còn khen thưởng, còn thi đua. Các cán bộ cấp trên, các nhà văn báo sẽ luôn luôn lao xuống bến trọng điểm gần gũi này. Tôi muốn cho mọi người biết, đại đội  1 của tôi sẽ vượt lên, hơn hẳn các đơn vị bạn, xứng đáng là ngọn cờ đầu chứ ? Còn một điều tâm sự thầm kín nữa: Không lẽ tôi lại phải để cấp trên điều một tiểu đoàn trưởng khác về hay sao ?”.
    Còn nhiều ý kiến thảo luận, nhưng Ngọc Bính e bàn cãi nhiều sẽ làm giảm quyết tâm chung, nên Ngọc Bính dùng quyền thủ trưởng quyết định.
    Thế là đơn vị hành quân. Các đoàn xe nối đuôi nhau rầm rập ra trận. Ngồi trên chiếc xe con chỉ huy, Ngọc Bính đi đi lại lại, kiểm tra các đơn vị. Lòng anh rộn lên một niềm vui thích thú. “Chưa bao giờ lực lượng chúng ta lại lớn mạnh như ngày nay”.
                        *        *
                                                                     *
    Mai là người cùng quê Hải Dương với Ngọc Bính. Cô ấy là bạn học của cái Loan, em gái Bính. Học xong lớp 10, Mai xung phong đi bộ đội. Còn Loan ở nhà đi học trung cấp nông nghiệp. Khi Ngọc Bính đi bộ đội 20 năm trước đây, thì chúng nó mới sinh ra. Chiến tranh chống Pháp, rồi chống Mỹ biền biệt, nên Bính cũng không quen biết hết những người làng xóm nữa.
    Gần đây có một số lính nam nữ được điều đến đơn vị. Nhân đọc lý lịch quân nhân, Bính mới biết Mai là người cùng quê. Sau khi chuyện trò thăm hỏi, Mai nhận ra Ngọc Bính là anh của Loan: “Một người rất thân quen nhưng chưa hề gặp mặt” – theo như Mai nói. Bởi lẽ Loan đã kể cho bạn gái mình nghe về người anh trai như một thần tượng của người anh hùng trên các chiến trường, giống như những chuyện kể về anh bộ đội trong các sách giáo khoa cấp một mà các cô đã học vậy.
    Sự bất ngờ khiến Mai được gặp Ngọc Bính, lại ở cùng đơn vị với Bính. Cô rất thích thú và vui sướng. Cô viết thư về báo tin cho cái Loan ngay. Loan càng vui hơn, nó đi khoe khắp làng về chuyện Mai được ở đơn vị với anh mình. Lúc đầu Ngọc Bính vẫn coi Mai như là cô em gái bé nhỏ, nhí nhảnh. Ngược lại, Mai cũng coi Ngọc Bính như một người anh ruột thịt. Nhưng rồi thư đi thư về nhiều – cái Loan rất chăm viết cho Mai – chẳng hiểu gia đình và bè bạn nói với nhau những gì, mà dần dần Mai lại chuyển từ tình anh em sang tình yêu đối với Bính.
    Trước tình cảm bất ngờ của Mai dành cho Bính, anh cũng rất mừng và tự hào. Không vui sao được khi có một cô gái trẻ và đẹp yêu mình, cô gái ấy kém mình tới mười tám tuổi ? Nhưng tình cảm ngây thơ, chân thật và ngày càng nồng nhiệt của Mai lại làm anh e ngại. Mai có khuôn mặt rất tươi và đẹp, ai cũng phải thừa nhận. Còn dáng người thì anh em thường chế với Ngọc Bính là “rất đẹp đôi”. Chả là Bính cũng béo và thấp, chỉ hơn Mai một tý thôi, lại còn đen nữa. Còn Mai, nước da cô rất trắng, các cô gái ai cũng phải khen. Cũng không phải trình độ văn hoá cô ta hơn Ngọc Bính, vì Bính mới chỉ học hết lớp bảy bổ túc trong quân đội; hoặc không phải vì tính nết cô ta hay nhí nhảnh và hấp tấp, bồng bột – Các cô gái trẻ, ai mà chả thế mà chính bởi cái tuổi chênh lệch quá nhiều ấy đã làm Ngọc Bính e ngại. Tuổi ba mươi tám của Bính đã bị chiến tranh làm mất đi những tính cách tế nhị và sôi động của tình yêu. Thêm vào đó, sương gió, bụi đường đã làm con người Ngọc Bính già cỗi, già quá tuổi đời của mình rất nhiều – cả về thể xác và tâm hồn. Liệu rồi đây tình yêu của Bính và Mai có được bền chặt không, cuộc sống có được hạnh phúc không ?
    Cái Loan luôn biên thư động viên phân tích và khuyến khích anh rất nhiều, nhưng Ngọc Bính vẫn còn đắn đo suy nghĩ. Bính tiếp nhận tình cảm của Mai một cách rất dè dặt. Nhất là từ khi tiểu đoàn mới được thành lập. Ngọc Bính đang phụ trách quyền Tiểu đoàn trưởng. Sự tiếp xúc với Mai càng hạn chế hơn. Dẫu sao thì cũng không thể để khách quan đánh giá xấu về mối quan hệ này được, nhất là không để cấp trên nhận xét về quan hệ cán bộ, chiến sĩ thiếu đứng đắn. Ngọc Bính rất sợ tai tiếng. Có những lúc tình cảm của Mai cứ hừng hực bùng lên như ngọn lửa, lăn xả vào Ngọc Bính, quyện lấy anh, muốn thiêu cháy anh trong giây phút. Và lúc đó anh cũng không cầm lòng mình được, anh cũng sục sôi muốn lao vào ngọn lửa đó. Nhưng một cái gì đấy chặn đứng anh lại. Bính sợ cái “tai tiếng”, cái “tai tiếng” có thể làm ảnh hưởng tới vị trí chỉ huy của anh hiện nay và sắp tới. Và anh tìm cách nhẹ nhàng lảng tránh ngọn lửa của Mai, để mặc Mai đau đớn.
    Hôm nay, trên đường hành quân, Mai lại tìm cách ở lại để đón xe anh, và trao cho anh cái hương thơm của tuổi trẻ. Ngọc Bính được Mai bóp trán và đang như ngây ngất bởi mùi vị ngọt ngào trong bầu ngực nóng hổi của Mai, bỗng chiếc xe lao vào một ổ gà, xóc tung lên. Ngọc Bính bừng lên, xấu hổ và ngồi xích ra xa Mai.
    Hai ngày sau, các đơn vị đã vào chiếm lĩnh trận địa bến vượt an toàn. Đại đội 1 ở gần hơn nên đến sớm hơn. Tuy vậy Ngọc Bính cũng đã kịp thời ra một quyết định biểu dương đại đội 1 đã hành quân nhanh gọn, tới bến an toàn nhất, để động viên làm đà cho đại đội 1. Quyết định đó cũng được gửi lên cơ quan cấp trên để báo cáo và gửi lên báo mặt trận.
                       
                                                           *        *
                                                               *
   



KHÔNG KỊP NỮA RỒI
    Trong sổ nhật ký chiến đấu của tiểu đoàn, đồng chí Đào trợ lý tham mưu ghi:
    Ngày…
    Tình hình sông nước: Các bến đều bình thường.
    Tình hình địch: 8 giờ 10 phút, một tốp F1045 bay qua, không phát hiện được gì.
    15 giờ 03 phút, một tốp F4 bay qua, không phát hiện gì.
    Bến an toàn.
    Tình hình ta:     C1 bắc cầu 16 giờ xong.
                C2 bắc cầu 16 giờ 10 phút xong.
                C3 bảo đảm ngầm 16 giờ 15 phút xong.
    Tổng số xe bảo đảm qua tuyến: 1213 chiếc vào, 821 chiếc ra.
    Ngọc Bính đọc xong trang nhật ký chiến đấu của tiểu đoàn, trợ lý tham mưu Đào đưa lên báo cáo. Anh hết sức vui mừng ký vào nhật ký để đồng chí trợ lý tham mưu điện báo cáo lên trên. Sau đó Bính tìm chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Văn Chính và nói với đồng chí ấy:
    - Anh phải biểu dương các đại đội và đặc biệt phải có phần thưởng gì cho đại đội 1 đi chứ ? - Đến đây, anh khoái chí cười ha hả rồi nói thêm – Xem nào, đã xứng đáng là ngọn cờ đầu chưa nào? Cứ gì phải đại đội 2. Làm cứ như là không có C2 thì các bến trọng điểm đều tắc hết vậy ! Thằng Ích thế mà làm ăn khá. Giỏi ! Phải đề nghị chính thức cái chức đại đội trưởng cho nó thôi !
    Chính trị viên phó cũng hài lòng với thành tích chung của cả tiểu đoàn và đặc biệt của đại đội 1.
    Thế là trang nhật ký lại được ghi thêm:
    “Thủ trưởng tiểu đoàn điện khen các đại đội 1, 2, 3. Đặc biệt biểu dương đại đội 1 đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh, thông cầu trước 20 phút, bảo đảm an toàn tuyệt đối…”.
    Lúc này Ngọc Bính bỗng nhớ tới đại đội trưởng Ích. Anh cử liên lạc đưa xuống cho cậu ta một gói chè thơm. Chiều nay anh sẽ xuống thăm cậu ta, động viên thêm. Chả là cách đây hai hôm, khi họp giao nhiệm vụ cho các đại đội, cậu ta giãy nảy lên như đỉa phải vôi:
    - Báo cáo tiểu đoàn phó, chúng tôi xin nhường cho C2 bến Nậm Hắc đấy ạ !
    - Hả ? Sao lại nhường ? – Ngọc Bính phải quắc mắc lên với cậu ta - Đây có phải là chuyện ăn cỗ ăn bàn đâu mà nhường với nhịn? Các cậu sợ à ?
    - Dạ, báo cáo thủ trưởng, chúng tôi không sợ ạ, nhưng C1 chưa bao giờ được tập luyện ở địa hình sông nước phức tạp như thế này. Giá trong điều kiện bình thường, lâu dài thì không sao. Chúng tôi vừa học vừa làm cũng được. Nhưng đây là một chiến dịch quan trọng ngắn ngày, sợ chúng tôi lúng túng làm ảnh hưởng chung toàn tuyến.
    - Không quen thì phải rèn luyện cho quen. Liệu đến bao giờ các anh mới chịu rèn luyện cho quen? – Ngọc Bính ngừng một lát rồi nhìn thẳng vào mắt Ích: - Đây là quyết định của tiểu đoàn. Thôi, không bàn cãi nữa !
    Ai đó thốt lên phụ hoạ:
    - Đã là mệnh lệnh thì chỉ có chấp hành !
    Thế là cậu ta ngồi xuống, vẻ mặt lầm lì, suốt cuộc họp không nói gì nữa.
    Sau khi giải tán, chờ mọi người về hết, Ngọc Bính mới gọi cậu ta lại rồi vỗ vai thân mật:
    - Cờ đã đến tay rồi đấy. Thế chú mày định để cho người khác phất hộ à ?
    Cậu ta vò vò cái đầu:
    - Dạ, tôi đâu muốn thế. Nhưng báo cáo anh, anh biết đấy, đại đội ta lập tành có ra sao đâu. Lính tráng thì toàn loại ương bướng, mà tôi lại mới ra trường về, chưa quen chỉ huy.
    Ngọc Bính lại vỗ nhẹ lên vai cậu ta, trở về giọng anh em trong nhà:
    - Chả nhẽ, mày lại để chúng tao điều một đại đội trưởng khác về thay mày hay sao ?
    Cậu ta lại trở về là một đứa em ngoan ngoãn:
    - Em cũng biết anh quan tâm, nhưng…
    - Thôi, cứ yên trí, cố gắng lên. Đã có tao, chỉ huy sở tiểu đoàn ở sát đại đội 1. Có gì tao sẽ xuống trực tiếp.
    Ngừng một lát, uống hết chén nước, Ngọc Bính bảo Ích:
    - Này, biên thư về nhà một tý. Báo cho cái Loan nó biết kẻo nó mong.
    - Vâng, em định xong chiến dịch này xin anh cho em về mấy ngày để đưa Loan về dưới quê em chơi và bàn với các cụ việc “tổ chức” một tý ạ !
    - Ừ, thế cũng được thôi. Sau chiến dịch hãy hay!
    Nó lại cười vui vẻ, rồi đứng nghiêm chào anh ra về:
    - Báo cáo tiểu đoàn phó…. à quên, báo cáo thượng uý tiểu đoàn trưởng, em về ạ !
    - Lại sai điều lệnh rồi !
    Mặt nó đỏ dừ lên rồi chạy biến mất. Đúng là một thằng trẻ con. Mới hai mươi tuổi đầu mà lại ! ừ, cái tuổi nó anh còn là tiểu đội  trưởng. Thế mà hôm nay, hôm đầu tiên ra quân, nó cũng làm ăn khá đấy chứ ? Cứ cái đà này thì… Ngọc Bính bỗng nở một nụ cười mãn nguyện.
                        *        *
                                                                    *
    Nhật ký chiến đấu
    Bến Nậm Hắc do C1 đảm nhiệm. Ngày ...
    Nước lũ xuất hiện từ 0 giờ 45 phút, tốc độ lên rất nhanh. Không có biện pháp theo dõi tình hình lũ, không có phương án chuẩn bị trước, khi gặp lũ lúng túng không xử trí kịp, các dây neo bị đứt toàn bộ.
    Số xe đã thông: 540. Số xe còn ùn lại bến bờ bắc: 361 chiếc. Bờ nam: 211 chiếc.
    Tình hình địch: Máy bay hoạt động hồi 03 giờ 50 phút, 04 giờ 50 phút, 05 giờ 50 phút. Tất cả đều thả đèn dù khu vực bến, nhưng không phát hiện được gì (cầu đã đứt).
    Mai đang dọn cơm cho Ngọc Bính ăn. Một mâm cơm rất ngon, có canh cua nấu rau đay, để dành phần anh. Nhưng anh không còn bụng dạ nào mà ăn cơm được nữa. Sáng nay từ mặt trận anh đã được tin cầu Nậm Hắc bị đứt. Ngọc Bính vội vàng phóng xe về. Chết nỗi, đến ngầm Ê-len lại bị nước lũ, phải chờ mất ba tiếng đồng hồ mới qua được, nên mãi chiều nay mới về đến sở chỉ huy tiểu đoàn.
    Sau khi đọc nhật ký chiến đấu, Ngọc Bính trút quần áo bẩn nhờ Mai giặt, thay quần áo khác, không kịp ăn cơm trước sự buồn phiền của Mai. Anh vội vàng phóng xe ngay xuống đại đội 1.
    Vừa tới đầu xóm, Ngọc Bính đã gặp ngay một chiếc xe kéo ca-nô qua bãi lầy. Cậu lái xe mặt non choẹt. Rõ ràng chú này mới ra trường, bổ sung về đơn vị này vừa được mấy hôm. Cậu lái xe cứ ngồi trên buồng lái rú ga ầm ầm. Chiếc ca-nô chẳng nhích lên được tý nào, bánh xe cứ quay tròn, lún dần xuống bãi lầy, ngập cả cầu sau mà cậu ta vẫn còn rú máy mãi. Ngọc Bính vội nhảy bám lên cửa xe, quát vào tai cậu ta:
    - Tắt máy ngay. Cậu định phá xe đấy à ?
    Thấy tiểu đoàn trưởng, cậu ta đang mồ hôi như lắm, mà bỗng mặt tái đi như cắt không còn hột máu. Ngọc Bính kéo cậu ta xuống xe và giúi đầu cậu ta nhìn xuống gầm xe:
    - Này, có nhìn thấy gì đây không. Cậu định phá hoại à ? Sao lại mang xe thuyền đi kéo ca-nô thế này, đến trên đường nhựa còn ì ạch kéo không nổi, huống chi đường lầy thế này. Cậu phá cái xe này rồi còn gì ? Thế xe Gill đâu, sao không đem nó ra kéo? Mà kéo ca-nô đi đâu mới được chứ ?
    - Dạ, báo cáo thủ trưởng – Giọng cậu ta run run: - Tiểu đội trưởng bảo: Chính trị viên lệnh phải tiết kiệm cây số xe Gill ạ. Dạ, kéo ca-nô ra bến để tìm những khoang thuyền bị trôi đêm qua ạ.
    - Trời, có mà phá hoại thì có, chứ tiết kiệm gì ? Nếu dùng xe Gill có phải các cậu đã xong từ lâu, mà lại không bị hỏng chiếc xe này không nào ? Mà này, thuyền đã trôi từ đêm qua, bây giờ mới kéo ca-nô ra tìm thì còn đâu mà tìm nữa ?
    - Dạ, hai ca-nô ngoài bến đi tìm từ sáng nay, máy nóng quá không chạy được nữa ạ.
    - Hả, Ngọc Bính bỗng há hốc mồm ra – Lại hỏng hết cả ca-nô nữa à ?
    Vừa lúc đó, tiểu đội trưởng nghe thấy tiếng Ngọc Bính quát tháo, vội vàng ở đâu chạy ra. Cơn nóng đang bốc lên đầu, anh trút ngay vào đầu tiểu đội trưởng. Ngọc Bính túm lấy vai cậu ta.
    - Này, Nhà nước cấp cho anh cái bằng lái xe bậc ba để phá hoại đấy à ?
    - Báo cáo thủ trưởng, tiểu đội trưởng sợ sệt nói, - nhưng lệnh chính trị viên đại đội cứ bắt lấy xe này đi kéo ạ !
    - Chính trị viên của anh biết đếch gì về xe máy mà lệnh với lọt. Đã dốt lại không chịu học, lại hay lệnh bừa bãi ! Chính các anh phải chịu trách nhiệm với tôi về sử dụng xe máy chứ ?
    - Dạ, báo cáo thủ trưởng, nhưng chúng tôi chỉ là cấp dưới ạ !
    Ngọc Bính bỗng nhận ra mình thật vô lý. Anh hạ giọng buông một câu rồi bỏ đi:
    - Thôi, kéo xe Gill mà xử trí. Khẩn trương lên !
    Đi một đoạn, anh bỗng khoát tay vào không khí và chửi đổng một câu cho biết nỗi bực dọc.
    Như người bị ma đuổi, Ngọc Bính chạy lao xuống bến đại đội 1.
                        *        *
                                                                   *
    Những trận mưa nguồn thật tai ác. Đã cuối tháng chín âm lịch mà những trận lũ Trường Sơn vẫn liên tiếp kéo về. Bính thật không ngờ, trong khi đi trinh sát chuẩn bị trận địa, các anh đã quên không nghiên cứu đặc điểm khí hậu, thời tiết các tỉnh miền trong, cứ tưởng như ở miền Bắc, thì cứ độ này đã hết lũ từ lâu.
    Nậm Hắc: quả là một con sông tai ác. Do thiếu kinh nghiệm, đại đội 1 đã để nó cuốn trôi mất cầu, khí tài bị chìm đắm, bẹp thủng khá nhiều. Ngày thứ ba Ích đã tung hết số khí tài dự bị của đại đội. Hết đêm thứ tư thì không còn đủ khí tài để bắc cầu nữa.
    Ngọc Bính đành phải tung một nửa bộ cầu của C3 về cho C1 vào ngày thứ năm và huy động toàn bộ trạm sửa chữa về bến một, ngày đêm liên tục hàn vá, sửa chữa khí tài ngay tại chỗ. Nhưng vẫn không đủ. Ngày thứ sáu, Ích lại điện về xin chi viện khí tài và cả người nữa, để thay thế cho số thương vong mấy ngày nay – Ngọc Bính lại phải quát vào máy điện thoại:
    - Hả ? Thế nào ? Cậu định đốt hết khí tài của tiẻu đoàn đấy hả ? Cậu định hại tôi phải không ? – Và anh quyết một cách gay gắt – Nhất định không. Tôi không cho anh một khoang thuyền nào nữa đâu. Hãy tự lo lấy. Anh hãy liệu hồn đấy !
    Lúc bực dọc Ngọc Bính lại tung ra những câu chửi bới thậm tệ. Vừa lúc đó, trợ lý tham mưu Đào, ở bến Nậm Hắc về báo cáo lại tình hình. Quả tình đêm qua do tổ chức cắt cầu chậm, nên địch đến đánh. Lại bị thủng mất sáu khoang mà hơi hàn đã hết, không còn một chai nào để hàn vá nữa. Đã điện xin trên rồi, nhưng chưa thấy về.
    Trước Ngọc Bính vẫn  là tấm bản đồ trải rộng khắp mặt bàn. Nhưng ký hiệu các đơn vị như những quân cờ nhảy múa, đập vào mắt anh làm đầu óc anh cứ rối tung lên. Anh hết nhắc quân này đặt vào chỗ kia, lại nhắc quân kia đặt vào chỗ nọ, đảo đi, rồi lại đảo lại. Cách nào cũng không thể giữ lại mấy khoang thuyền dự bị được nữa. Ngọc Bính như người đánh cờ bị rơi vào thế cờ bí, mà đối phương là những nét bút chì xanh, ghi ký hiệu những quả bom, những cơn lũ tai ác đang bao vây lấy các quân cờ của anh. Anh bỗng tặc lưỡi:
    - Cờ bí thí quân, lo gì ? Miễn là thắng lợi cuối cùng !
    Thế là Ngọc Bính tung nốt một nửa bộ khí tài và một trung đội của đại đội 3 về cho đại đội 1. Anh gọi Ích lên. Trông cậu ta như người mất hồn. Mới có ba, bốn ngày mà người cậu ta rạc đi, bơ phờ, đen sạm. Ngọc Bính bỗng thấy thương thương cậu ta, cơn nóng nảy của anh bõng dưng xẹp xuống. Thay vào đó, anh nói với cậu ta bằng giọng mỉa mai và chua xót, xen lẫn hăm doạ:
    - Anh có biết, đây là những khoang dự trữ cuối cùng của tôi không ? Còn hai ngày nữa. Anh hãy liệu hồn đấy ! Toà án quân sự người ta không để yên anh đâu.
    Mặt Ích lại càng tái nhợt đi. Cậu ta chỉ còn biết “vâng, vâng dạ dạ”, hứa sẽ hết sức cố gắng đến cùng. Ngọc Bính định hết đêm nay, cả ngày mai lại xuống họp chi bộ, họp hội đồng quân nhân của C1, quần liên tục để kiểm điểm gay gắt cái lối làm ăn kiểu chiến bại, chết người thế này.
    Nhưng tiếc thay, đại đội trưởng Ích không còn để nghe anh quát tháo hay nạt nộ nữa. Vào khoảng 01 giờ 30 phút sáng hôm sau, địch lại đánh đứt cầu, mấy khoang thuyền bị trôi, Ích lao ra cứu. Ngọc Bính thét gọi quay lại. Nhưng không kịp rồi ! Một loạt bom lại nổ, Ích hy sinh cùng ba chiến sĩ của C3 mới chi viện chiều qua.
                    *        *
*
   
 
CHƯƠNG XI
    ĐÊM CUỐI CÙNG CHIẾN DỊCH
   



Mờ sáng ngày thứ bảy, ở C1 về, Ngọc Bính định về nhà ngủ thay quần áo. Vừa đến đầu ngõ đã gặp hai đứa con chị chủ nhà: thằng Hải bảy tuổi tát vào cái Hoà, làm nó khóc váng lên. Dưới chân chúng, một lọ thuỷ tinh đựng đường bị rơi vỡ tung toé. Thằng Hải vừa khóc vừa bốc đường vào mảnh lọ vỡ. Ngọc Bính dừng lại can:
    - Hải, sao cháu lại đánh em ?
    Thằng Hải cãi lại:
    - Sao nó lại đánh đổ hết đường, về mẹ cháu lại đánh cháu thôi.
    - Cháu lớn, cháu phải bê cho em chứ, nó bé nó bê thế nào nổi ?
    - Cháu đã bảo nó cầm bánh xà phòng, cháu bê lọ đường cho. Nó cứ đòi bê đường, lại còn nói: Không khiến, không khiến !
    Anh quay sang con bé. Cái Hòa vội vàng nói trong nước mắt như thanh minh:
    - Mẹ cháu bảo bê về rồi mẹ nấu chè cho ăn.
    Thì ra, ăn cơm xong, cái Hoà theo mẹ ra cửa hàng hợp tác xã mua bán để mua đường và xà phòng. Có ai đó gọi chị ra đồng vội. Chị liền đưa lọ đường cho cái Hoà rồi nựng con gái để cho nó khỏi theo:
    - Cái Hoà ngoan, đứng đây trông, rồi anh Hải ra bê đường về, rồi mẹ nấu chè cho ăn nhé !
    Thế là con bé thèm ăn chè quá, nên cố mà bê về. Thằng Hải ra đòi, nó cũng không cho anh bê đỡ. Chẳng may, nó bị vấp hòn đá. Thế là ngã, lọ đường vỡ và quần áo lấm bê bết.
    Ngọc Bính vội bế cái Hoà về, lục trong túi còn gói lương khô đêm qua chưa kịp ăn, đưa cho nó rồi dỗ nó. Anh bảo thằng Hải đưa em sang nhờ cô Mai tắm rửa cho. Rồi anh sang ngay phòng chỉ huy.
    Ngọc Bính mệt quá, ngồi xuống bàn, hai tay chống lên trán, đầu gục xuống tấm bản đồ, nghe đồng chí trợ lý tham mưu báo cáo tình hình tổng hợp sáu ngày qua.
    Bính rùng mình khi nghe những con số thương vong, số khí tài xe máy hư hỏng. Nhưng đau đầu hơn cả là số xe bị ùn lại trong mấy ngày qua ở bờ bắc, bờ nam. Mỗi nơi năm sáu trăm chiếc. Và số khoang thuyền còn lại không đủ bắc cầu cho đêm nay, đêm cuối cùng của chiến dịch. Số lượng xe qua đê47m nay bằng tổng số hai đêm cộng lại. Liệu một đêm có thông được hết không ? Nếu không hết, tiểu đoàn sẽ phải kéo dài thêm một đêm nữa. Có biết bao nhiêu chuyện sẽ xảy ra mà mệnh lệnh không được chấp hành nghiêm chỉnh.
    Trợ lý tham mưu lại nhắc những ký hiệu đơn vị lên, đặt vào chỗ này, đặt vào chỗ kia. Ngọc Bính liền gạt tay cậu ấy và toàn bộ những ký hiệu đó ra:
    - Còn đâu nữa mà đi với đứng, tính với toán ? Nước cờ đã hoàn toàn bế tắc. Cũng chẳng còn quân mà thí nữa !
    Vừa lúc đó, chính trị viên phó Nguyễn Văn Chính vừa đi kiểm tra ở bến Suối Ba C2 về, nghe thấy tiểu đoàn trưởng nói, anh vội bước vào nhà. Anh nhìn Bính và nói to như bông đùa vui vẻ, cố làm cho không khí bớt nặng nề:
    - Yên trí, chưa hết cách đâu. Anh còn một con xe chưa dùng đến. Đáng lẽ dùng nó từ lâu thì nhẹ nhàng, nhưng bây giờ dùng vẫn chưa muộn cơ mà !
    Ngọc Bính ngạc nhiên, Nguyễn Văn Chính báo cáo cho anh biết ở bên Suối Ba, đại đội 2 đã thường xuyên tổ chức phòng tránh tốt và đánh địch tốt, chớp được thời cơ quay cầu và dỡ cầu nhanh nên ít bị địch đánh trúng. Đặc biệt trong ba hôm nay C2 đã tận dụng vật liệu tại chỗ, kết hợp với địa phương làm cầu phao luồng nứa, nên số khoang thuyền đã rút ra làm dự trữ. Mặt khác, một cậu nào đó đã có sáng kiến làm cầu phao giả ở phía hạ lưu và nguỵ trang kỹ cầu chính nên bọn địch toàn đánh nhầm cả.
    Trước khi về sở chỉ huy, chính trị viên phó Nguyễn Văn Chính đã qua bến C1 nên đã nắm được tình hình ở bến Nậm Hắc. Anh đề nghị với tiểu đoàn trưởng.
    - Tôi đã điện báo cho C2 chuẩn bị một bộ phận sẵn sàng rồi, chờ lệnh anh.
    Ngừng một lát, chưa thấy Ngọc Bính trả lời, anh lại nói tiếp, như chính anh đã quyết định sẵn:
    - Không còn cách nào khác. Tôi đã động viên anh em trạm sửa chữa rồi, nhưng cố gắng lắm cũng chỉ khôi phục được 10 khoang, còn thiếu những 8 khoang nữa, lại còn dự bị, ít nhất cũng 2 khoang nữa. Tôi đã điện cho C2 chuẩn bị đưa về 10 xe, nguỵ trang thật kín đáo, hành quân ban ngày, đi thật thưa. Chỉ ba tiếng có thể về kịp. Cánh tay lái C2 chúng nó dày dạn lắm…
    Thì ra Nguyễn Văn Chính đã tính toán cụ thể cả rồi. Không còn cách nào hơn thế nữa. Cái thần tượng của C1 mà Ngọc Bính đã cố gắng xây đắp, tô vẽ, giương cao, đã sụp đổ và chìm nghỉm theo đại đội trưởng của nó rồi. Không còn cách nào cứu vãn được nữa, đành phải nhờ C2 ứng cứu nó vậy thôi. May ra còn cứu vãn được danh dự của tiểu đoàn này, cứu vãn được cái đầu của tiểu đoàn trưởng.
    Ngọc Bính suy nghĩ khá lâu. Rồi bỗng như người chết đuối với được cọc, anh bỗng bật dậy, đập tay xuống bản đồ, cố gắng nói cho vui:
    - Đồng ý ! Không những phải xuất xe mà còn phải xuất cả tướng nữa mới được.
    Nói xong, Ngọc Bính như người trút được một gánh nặng. Anh thấy mình như tỉnh ra không buồn ngủ nữa. Tiếp đó, anh bàn với đồng chí chính trị viên phó và trợ lý tham mưu về một số việc để giải quyết hậu quả đêm qua và chuẩn bị cho trận quyết liệt đêm nay. Rồi anh lại lao ngay xuống đại đội 1.
    - À, anh Bính này ! Đồng chí chính trị viên gọi giật lại:
    - Gì nữa ? – Ngọc Bính sốt ruột hỏi.
    - Cái Mai nó không muốn đi học y sĩ đâu. Tôi đã đưa quyết định đi học cho nó và nhờ xe binh trạm tối nay xuất phát đi thẳng ra ngoài Bắc, nhưng nó cứ nhùng nhằng không muốn đi.
    - Thì tôi đã bảo cô ấy rồi cơ mà !
    - Anh khuyên nó nữa xem sao ?
    Hôm qua binh trạm thông báo chiêu sinh lớp y sĩ cấp tốc. Ngọc Bính đã bàn với chính trị viên phó cho Mai đi. Thực lòng anh muốn cho Mai được học tập tiến bộ. Mặt khác cũng muốn Mai tạm thời xa anh một thời gian, ít nhất là trong giai đoạn đang xây dựng đơn vị mới đầy thử thách. Anh không muốn để tai tiếng gì về quan hệ giữa anh và Mai.
    Cuốn nhật ký chiến đấu của đồng chí trợ lý tham mưu Đào lại ghi:
    Đêm: …
    + Tình hình sông nước: Vẫn bị lũ, lưu tốc các bến đều trên 2m/s.
    - Đại đội 2 vẫn bảo đảm bằng cầu phao luồng nứa, còn chi viện về cho C1 10 khoang thuyền và 1 trung đội công binh.
    - C3 khắc phục hố bom ở giữa ngầm.
    - Bến C1 do đại đội phó C2 chỉ huy bắc cầu và tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy bến.
    - Toàn tuyến thông cầu từ 17 giờ, cất cầu 06 giờ 30 sáng.
    + Tình hình địch:
    - Bến Suối Ba địch đánh ba lần vào 20 giờ, 22 giờ 30, đều ra ngoài, 0 giờ lũ địch đánh trúng cầu, một đoạn phao luồng bị cháy. C2 dập tắt được ngay.
                        *        *
                                                                   *
    Sáu giờ sáng ngày thứ bảy, Tư lệnh Mặt trận và Binh trạm trưởng đi qua cùng đi có đặc phái viên của Bộ Tổng tham mưu đại tá Lê Nam Thắng dừng lại ghé vào thăm tiểu đoàn 27B. Ngọc Bính báo cáo tình hình mấy ngày qua, tất nhiên anh chỉ báo cáo chủ yếu về đêm cuối cùng của chiến dịch, còn những ngày qua chỉ nói sơ sơ hoặc chỉ báo cáo tình hình khó khăn, tuyệt nhiên anh không nhắc gì đến việc sai lầm trong quá trình sử dụng lực lượng cả. Chính trị viên phó Chính và trợ lý tham mưu Đào cũng không ai đả động đến chuyện ấy, không ai nhắc đến chuyện thương vong và tổn thất nhiều hay ít.
    Các thủ trưởng biểu dương tiểu đoàn 27B đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, đặc biệt khen ngợi tiểu đoàn trưởng đêm qua đã xông xáo và dũng cảm, cứu được tình huống phức tạp, giải phóng hết toàn bộ số xe bị ùn lại.
    Ngọc Bính bỗng nhớ đến tối hôm qua, khi ngồi ở bến sông Nậm Hắc chính trị viên phó Chính nói với trợ lý tham mưu Đào.
    - Muốn gạt bỏ truyền thống một đơn vị cũ cũng không phải dễ dàng. Muốn xây dựng một truyền thống cho một đơn vị mới lại càng không đơn giản. Không thể đốt cháy giai đoạn được, phải rèn luyện bền bỉ, đầu tư tích luỹ lâu dài. Thổi nhanh lên cũng như bọt xà phòng mà thôi, sẽ bị vỡ tan tành không còn một cái gì cả.
                        *        *
*
    Chiến dịch đã kết thúc.
    6 giờ 30, Binh trạm trưởng đã lệnh cho dỡ cầu, chuẩn bị hành quân vào tuyến trong theo kế hoạch đợt hai của chiến dịch.
    Sau khi kiểm tra cầu, trên đường từ bến về nơi đỗ xe, Ngọc Bính nghe thấy đồng chí Tư lệnh nói với Binh trạm trưởng:
    - Xe máy phải biết sử dụng đúng tính năng kỹ thuật thì mới phát huy hết tác dụng của nó và mới giữ được lâu bền. Con người cũng vậy. Phải biết sử dụng đúng khả năng của từng người thì mới phát huy được tài năng của họ và tạo được điều kiện cho họ ngày càng phát triển. Người chỉ huy giỏi, trước hết là phải biết tổ chức giỏi, tức là biết sử dụng con người, sử dụng xe máy, trang bị một cách hợp lý. Sử dụng con người - đó là một nghệ thuật.
                        *        *
                                                                      *
    Sau khi tiễn Tư lệnh Mặt trận cùng đặc phái viên Bộ Tổng tham mưu và Binh trạm trưởng đi qua tuyến, Ngọc Bính quay về sở chỉ huy. Bỗng người như muốn quỵ xuống. Chân tay rã rời. Những ngày đêm căng thẳng thần kinh quá, bây giờ như mới có dịp thả mình xuống. Mệt mỏi và buồn ngủ. Anh giao việc lại cho chính viên phó, rồi quay về nhà ngủ.
    Con bé Hoà - con chị chủ nhà - thấy anh về, nó reo lên, chạy lại ôm chầm lấy anh.
    - A, a  Chú Bính, chú Bính đã về !
    Anh bế nó lên rồi vuốt ve hỏi nó:
    - Thế hôm qua mẹ cháu có đánh cháu không ?
    Nó vội vàng khoe:
    - Mẹ không đánh cháu. Mẹ không mắng cháu, mà còn khen cháu ngoan nữa cơ !
    - Thế mẹ cháu có cho ăn chè không ?
    - Không. Mẹ cháu phạt không cho ăn chè nữa, còn bảo cháu, lần sau không được tranh công với anh như thế đổ vỡ hết lọ đường thì lấy gì mà ăn nữa ? Rồi nó lại léo nhéo hỏi: - Chú Bính ơi, cô Mai đã về chưa ? Hôm qua cô bảo đến sáng nay cô sẽ tết tóc đẹp cho cháu này, cô sẽ làm hoa bằng giấy cho cháu chơi này… Thế cô Mai sắp về chưa ?
    Nghe con bé Hoà nhắc đến tên Mai, Ngọc Bính bỗng sững sờ cả người, và tự dưng nước mắt tuôn trào ra. Anh ôm chặt bé Hoà vào lòng, không dám trả lời nó. Anh nhắm mắt lại. Hình ảnh Mai chập chờn đến.
    Đêm qua, cái đêm cuối cùng của chiến dịch ấy, Mai tìm xuống bến gặp anh. Lúc đó vào khoảng nửa đêm, cầu vẫn thông, tình hình yên tĩnh.
    Anh đang ngồi nghỉ một mình ở bờ sông phía thượng lưu và đang say sưa ngắm nhìn từng đoàn xe nối đuôi nhau rầm rập qua cầu ra mặt trận. Khi quay lại thì thấy Mai không biết từ đâu đến, ngồi bên cạnh anh từ lúc nào cũng không hay.
    - Mai đến đây từ lúc nào thế, làm người ta giật cả mình ?
    - Anh thì lúc nào mà chả giật mình ! Lại sợ em làm ảnh hưởng tới cái chức tiểu đoàn trưởng sắp tới chứ gì ?
    - Sao Mai lại nói thế ? Anh đã bảo Mai đi học y sĩ cơ mà ? Tại sao lại không đi ?
    - Em chưa muốn đi, vì anh chưa nói gì với em cả !
    - Nói gì cơ ?
    - Trời ơi, chả lẽ anh lại còn ngây thơ thế ư ? Hay lúc nào anh cũng ra vẻ mô phạm, ra vẻ đạo đức ? Hay anh muốn bắt em phải nói với anh: em yêu anh ! Anh có yêu em không  ? Anh Bính ? Hả ? Hả ?
    Mai nhìn thẳng vào mắt anh, chờ đợi. Ngọc Bính bỗng run run, khẽ trả lời lúng túng:
    - Có chứ, anh có yêu em.
    - Tại sao anh lại trốn tránh em ?
    - Nhưng anh sợ…
    Bỗng nhiên giọng Mai trở nên nhát gừng và mỗi lúc lại trở nên gay gắt:
    - Anh sợ cái gì ? Một tình yêu chân chính anh cũng sợ ư ? Anh sợ “tai tiếng” à ? Hay anh tưởng tôi – Mai thay hẳn cách xưng hô - là một đứa con gái hư đến với anh chứ gì ? Anh tưởng tôi yêu anh vì danh vọng, vì địa vị ư, vì cái cấp thượng uý hay cái chức tiểu đoàn trưởng của anh ư ? Vì sao anh già như vậy mà tôi vẫn yêu anh, anh không biết sao ? Anh chỉ nghĩ đến bản thân anh, thì anh còn coi trọng gì ai nữa ! Anh đã coi thường tình yêu của tôi với anh, mà chính em gái anh đã vun đắp cho tôi từ thuở bé. Cái thần tượng con người lý tưởng của anh đã làm cho tôi tan vỡ. Anh hoàn toàn chỉ là một con người ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ và nhỏ nhen. Thôi vĩnh biệt anh ! Mai tôi sẽ đi ! Đi học hoặc đi đâu cũng được. Miễn là xa anh để anh khỏi nhìn thấy tôi, khỏi ảnh hưởng, khỏi tai tiếng. Chào anh !
    Nói liền một hơi không nghỉ, rồi Mai chạy lao về phía đầu cầu. Trong cơn phẫn nộ, tâm thần bất định cô chạy lao qua cầu để trở về sở chỉ huy tiểu đoàn.
    Ngọc Bính vội vàng chạy đuổi theo Mai. Nhưng giữa lúc đó máy bay giặc Mỹ bất thình lình đến. Hàng chùm bom nổ ngay trên mặt cầu trùm lên đoạn Mai vừa chạy tới.
    - Mai ! Anh hét gọi thật to, lạc cả giọng, rồi quỵ xuống.
    Cầu bị đứt. Những khoang thuyền bị bắn tung lên, rồi chìm xuống sông hoặc trôi đi. Lửa cháy khắp mặt sông. Người hy sinh duy nhất trong đêm lại là Mai.
    Chuyện của con bé Hoà cũng không làm sao cho anh mở mắt ra được, hai mí cứ cụp lại, anh đã ngã lăn vào giường, không kịp cởi giầy và thay quần áo, ngất lịm đi. Con bé Hoà tưởng anh ngủ, nó lẳng lặng bỏ đi chơi lúc nào không biết.
    Một lát sau, đồng chí cơ yếu chạy đến, lay Ngọc Bính dậy và đưa cho anh một bức điện. Nội dung đại ý là:
“Cho tiểu đoàn hành quân về hậu cứ củng cố và sửa chữa xe máy, khí tài, bổ sung quân số, vũ khí và huấn luyện một thời gian”. Có nghĩa là tiểu đoàn 27B không thể hành quân ngay vào tuyến trong theo kế hoạch đợt 2 của chiến dịch được nữa, vì thương vong và xe máy, khí tài bị hư hỏng nhiều, phải có một thời gian dừng lại để củng cố, bổ sung và huấn luyện. Và trên tất nhiên lại phải điều một đơn vị khác thay 27B, như chính anh đã điều C2 thay C1 vậy !
    Ngay sau đó, liên lạc cũng đến đưa cho Ngọc Bính một lá thư.
    Thư cái Loan, trời ! – Anh thốt lên – Mình sẽ ăn nói với nó làm sao đây ? Có phải chính anh đã vun đắp cho nói một mối tình đẹp đẽ song lại chính anh đã chặt đứt niềm hy vọng cuộc đời của nó ? Và nó đã vun đắp cho anh một tình yêu cao đẹp, nhưng lại chính anh đã bỏ rơi phũ phàng ?”
    Tay anh run run cầm lấy bức thư mà không dám xé ra đọc. Anh lại nằm xuống, nhưng không sao ngủ được. Anh vùng lên, chạy lao ra phía sông. Cầu đã di chuyển hết. Không còn ai cả. Nỗi cô đơn, hiu quạnh bao trùm lấy anh. Chỉ còn lại dòng sông phẳng lặng như tờ.


EM LÀ NGƯỜI YÊU CỦA“VÀM CỎ ĐÔNG”

Hôm đó, đại đội 3 sau khi bảo đảm chờ phà cho tên lửa vượt sông bến Lèn, thì rút về trú quân trong một xóm nhỏ gần rừng thông. Các cụ già liền xua bọn trẻ đi chơi.
- Các cháu đi chơi đi, để yên cho các anh bộ đội ngủ. Thức suốt đêm qua, mãi sáng mới được về ngủ đấy !
Các trẻ em định vào nhờ các anh bộ đội dạy hát, đành tiu ngỉu bước ra ngõ.
Đại đội trưởng đại đội 3 Nguyễn Văn Thắng thức dậy, gọi đội trưởng phá bom Đoàn Văn Lộc dậy và bảo:
- Cậu ở nhà gác cho “cụ ấy” ngủ một lát nữa nhé. Mình đi kiểm tra bãi dấu xe, nhân tiện kiếm một mớ rau rừng về nấu bát canh chiêu đãi “cụ ấy” cho mát dạ.
- Ừ, anh cứ đi đi ! Lộc vùng dậy và trả lời.
Thắng lấy mũ, súng, nai nịt gọn gàng, bước ra ngoài. Lộc lại nằm xuống, chùm chăn lên đầu định ngủ thêm. Ở trong nhà, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen mà đại đội trưởng Thắng gọi thân mật là “cụ ấy” đang nằm ngủ ở góc trong cùng. Anh là người về muộn nhất vì còn đi hiệp đồng với bến phà và đơn vị pháo vượt sông tối nay.
Một lúc sau bỗng có tiếng con gái rụt rè nói từ ngoài ngõ vào:
- “Vàm Cỏ Đông” có đây không các anh ơi !
Không thấy tiếng trả lời, cô gái lại bước lên hè rồi gọi vào trong nhà giọng nhỏ hơn.
- Anh Đen có đây không ạ ?
Đội trưởng Lộc bỗng tung chăn, vùng dậy ngó ra:
- Ai đấy ?
- Em đây mà !
Lộc đứng lên bước hẳn ra ngoài vì nhớ đến nhiệm vụ đại đội trưởng Thắng dặn, và bỗng ngỡ ngàng.
Một cô gái khá xinh, người chắc đậm, nước da trắng trẻo trông có dáng là sinh viên hoặc một cô giáo.
Hai người bỡ ngỡ nhìn nhau. Bỗng Lộc mỉm cười vẻ hóm hỉnh hỏi:
- Cô hỏi ai ?
- Em hỏi anh Vàm Cỏ Đông !
Lộc liền nháy mắt bảo cô gái ra ngoài nhà sang đầu trái (để yên cho Nguyễn Đen ngủ) rồi hỏi một cách nghịch ngợm:
- Thế em là gì với Vàm Cỏ Đông nào ?
Cô gái cũng không vừa, vẻ tinh nghịch trả lời:
- Em là... là người yêu của Vàm Cỏ Đông mà.
- Hả ... là người yêu à, thế thì cứ chờ ở đây, một lúc nữa, anh ấy sẽ về...
Thế là anh chàng Lộc chớp ngay thời cơ tán tỉnh cô gái, cô gái cũng xỗ xàng chẳng kém.
Hai người đang tán tỉnh nhau. Nguyễn Đen bỗng tỉnh dậy, anh vội nhớ tới công việc, liền vội vàng gấp chăn xếp lại, rồi mặc quần áo bước ra ngoài, gật đầu chào hai người rồi đi ra ngõ.
Cô gái vẫn thản nhiên không tỏ dấu hiệu gì. Lúc này Lộc mới nói:
- Đấy anh Nguyễn Đen – thủ trưởng Vàm Cỏ Đông của chúng tôi vừa đi ra đấy !
Cô gái bỗng ngỡ ngàng:
- Hả. Thế mà anh không bảo em ngay.
- Tại em bảo là người yêu ... mà lại không nhận ra nhau à ?
Cô gái bỗng đỏ mặt lên, thẹn thùng quá, liền xô đến đấm vào lưng Đoàn Lộc liên hồi để chữa thẹn:
- Thế mà chẳng bảo người ta – ghét thế !
Chả là ở đâu, tiểu đoàn 27 cũng hay tổ chức liên hoan văn nghệ với nhân dân địa phương và bến phà, trong đó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen là một cây đơn ca xuất sắc, hát bài Vàm Cỏ Đông được nhiều người ưa thích. Anh em cán bộ chiến sỹ yêu mến và tự hào về tiểu đoàn trưởng của mình nên gọi là “thủ trưởng Vàm Cỏ Đông”.
Vào một dịp khác tiểu đoàn 27 trở lại bến sông này. Cô Hảo, tên người con gái thanh niên xung phong ấy đã tìm gặp được Nguyễn Đen ở ngay đầu bến phà. Họ đã gặp gỡ nhau, cùng song ca bài Vàm Cỏ Đông trước đám đông của bộ đội và thanh niên xung phong đều tán thưởng nhiệt tình.
Nhưng trong một trận bom ác liệt vào cuối năm 1972 tại bến Lèn, cô Hảo đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, để lại niềm tiếc thương cho Nguyễn Đen và đồng đội. Mỗi lần qua bến phà anh lại dừng lại thắp một nén hương vĩnh biệt, tưởng niệm người con gái song ca ấy.

ĐOẠN KẾT


Một buổi sáng sớm, khi ông Nhiệm mới ngủ dậy, một sĩ quan tham mưu vội vã đưa tới một tin diện:” Đêm qua bọn Mỹ đã oanh tạc rất dữ dội ở Cổ Tế. Cầu ba lần bị đứt. Nhưng ba lần đã nối lại được. Thiệt hại chung tuy nhẹ nhưng tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen bị thương khá nặng, đã đưa vào trạm phẫu tiền phương quân khu ở gần đó.”
Ông Nhiệm bậm môi lại. Ông bỏ cả ăn sáng, lệnh lấy xe cho ông đi luôn.
Chiếc xe vừa ra khỏi cổng doanh trại, ông thấy Cao Thành đang từ xa sấp ngửa chạy tới. Anh ta vẫy vẫy và gọi to rất nồng nhiệt:
- Anh Nhiệm đấy phải không? Xuống Cổ Tế phải không? Cho tôi đi với anh!
Làm như không nghe thấy, và cũng không trông thấy ai hết, ông Nhiệm đập nhẹ tay vào cậu lái xe ra hiệu phóng nhanh và đi thẳng…
Ba giờ sau, ông đã có mặt ở trạm giải phẫu tiền phương của quân khu. Quang cảnh tất bật nhưng lại hết sức yên lặng ở đây làm cho ông cũng không tránh khỏi  hồi hộp. Nom thấy chiếc xe, bác sĩ Thuần trưởng trạm vội vã chạy ra.
Vừa bắt tay bác sĩ Thuần, ông Nhiệm đã hỏi vội:
- Thế nào, Nguyễn Đen ra sao, anh?
- Báo cáo! Đã mổ từ sáng sớm….
- Triển vọng?
- Báo cáo… Còn đang theo dõi… Cũng may, anh này có một sức chịu đựng thật kỳ lạ.
Ông Nhiệm nắm chặt lấy bàn tay Thuần, giọng ông như nghẹn lại:
- Tôi đề nghị các anh hãy hết lòng… Xin các anh hãy săn sóc như chăm lo cho chính bản thân tôi.
Bác sĩ Thuần rớm nước mắt:
- Rõ, thưa đại tá phó tư lệnh, chúng tôi hiểu!
Ông Nhiệm được đưa tới phòng của Nguyễn Đen. Ông rón rén mở hé cửa. Nhưng ông vội dừng ngay lại. Trong phòng một chiếc giường trắng toát đặt chính giữa, Đen đang nằm thiêm thiếp trên đó. Và một phụ nữ trạc ba mươi tuổi, tóc xổ dài ngồi ở bên, gần như ôm lấy toàn thân anh mà khóc lặng. Chinh! Ông Nhiệm cảm thấy trái tim mình như rung lên. Cô đã đến đây từ lúc nào vậy? Cô Chinh, tôi đã hiểu tất cả mọi điều. Tôi kính trọng cô cũng như kính trọng tất cả những tình cảm nồng nàn trong sạch của cô. Tôi kính trọng cô như tôi kính trọng cả phẩm chất, tâm hồn cao quý của Nguyễn Đen… Xin hãy cứ khóc, khóc đi cho vơi bớt nỗi đau thương, cho nhẹ bớt bao điều nén ép…
Chinh không hay biết gì hết. Cô vẫn gục xuống như ghìm chặt lấy Đen, nước mắt chan hoà…
Trong lúc đó, Đen, đầu băng kín, cả hai mắt cũng vậy, đang nằm thoi thóp thở. Tâm hồn anh như đang bay lượn đâu đây, quanh tấm thân đẫm máu của anh, và người con gái đã luống tuổi. Tâm hồn anh đang lắng nghe tiếng khóc ở trong này, lắng nghe cả cuộc đời đang nhộn nhịp ngoài kia; cuộc đời mà trong đó con người đang phải vật lộn dữ dội với thiên nhiên, với kẻ thù dân tộc, kẻ thù giai cấp, và… cũng buồn thay, vật lộn cả với nhau nữa. Cuộc đời bình dị vô cùng và cũng phức tạp vô cùng – Cuộc đời vẫn buồn, vui lẫn lộn – Nhưng cuộc đời to rộng, đáng quý biết bao, cuộc đời này vẫn còn đầy đủ chỗ đứng cho những con  người chân chính và dũng cảm. Và cuộc đời bao giờ cũng thật công bằng đối với tất cả mọi người lương thiện và ngay thẳng…
Ông Nhiệm lẳng lặng khép cửa lui ra. Vừa lúc đó một đoàn cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn 27 cùng anh em bên cao xạ, giao thông, dân quân và nhân dân địa phương sấp ngửa bước vào. Ông vội giơ tay xua xua, ra hiệu cho mọi người dừng lại, hãy đợi ở ngoài này, và thì thào:
- Để cho cậu ấy yên tĩnh một lúc đã! Tốt thôi. mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp cả; không có gì phải lo lắng lắm các đồng chí ạ! Cứ yên tâm, yên tâm!

2013-2014


                                                                 DÒNG SÔNG LỬA
 
 
                                           LƯƠNG HIỀN







                 DÒNG SÔNG LỬA



                                         TIỂU THUYẾT







Tác phẩm dự thi về đề tài Cách mạng và Kháng chiến
                             ( 1930 – 1975 )

---------------------------------
Tác giả:Lương Hiền
         ĐC: Số 52,ngõ 31,phố Nguyễn Cao,phường Bạch Đằng
         Quận Hai Bà Trưng,Hà Nội.
ĐT:0975.429.042  
CHƯƠNG I
CHIẾN DỊCH K2 VÀ LÒNG TIN



Gần nửa đêm, cuộc họp đảng uỷ mở rộng của tiểu đoàn công binh quân khu mới xong. Chiếc đèn bão đã đen kịt những muội, ngọn lửa đỏ sạm như một con mắt đói ngủ soi lên những gương mặt đã khá hốc hác vì vật lộn trong mưa nắng, dưới bon đạn liên tục mấy tháng trời nay chưa một lúc nghỉ.
    Ngoài trời, mưa đầu thu vẫn lai rai. Mưa suốt từ hai, ba ngày nay rồi. Mưa đến thối đất thối cát.
    Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Trung Hiếu có biệt danh là Đen, Nguyễn Đen đứng dậy, vóc người dong dỏng chắc nịch của anh in một bóng đậm trên bức vách phía sau. Anh mỉm cười làm cho gương mặt cháy nắng xương xương bình thường nom hơi nghiêm nghị, khắc khổ, lúc này trở nên linh hoạt, cởi mở hơn.
    - Thôi, ta lên đường, các đồng chí !
    Lập tức mệnh lệnh di chuyển sở chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn được phát ra. Mấy tay cán bộ tham mưu đã mắc màn, ngủ được một giấc, choàng tỉnh dậy. Đã quá thuộc phong cách chiến đấu của Nguyễn Đen, không ai hỏi một lời, cũng chẳng ai phàn nàn một tiếng. Hết sức xuề xoà dễ dãi trong mọi sự chơi bời, nói năng, sinh hoạt, nhưng đã vào việc nhất là tác chiến, thì Nguyễn Đen lại hết sức nghiêm khắc và vô cùng chặt chẽ về nguyên tắc, chớ có ai dại mà lơ mơ với ông tiểu đoàn trưởng da ngăm ngăm đen “trời đánh không chết này”.
    Đại uý Nguyễn Đen và thượng uý tiểu đoàn phó Đoàn Liễu, một con người thấp bé quê ở miền Trung, cùng lên một chiếc xe con.
 Chiếc xe gầm lên, cặp đèn pha sáng loá chọc thủng màn mưa đang rơi chênh chếch. Đường lầy bùn, dài hun hút trong đêm khuya. Không một bóng người, ễnh ương, cóc nhái kêu râm ran bốn bề. Vắng và cô đơn lạ lùng. Những đêm mưa thế này, bọn Mỹ chắc ít hoạt động, anh em mình cũng đỡ vất vả.
Vừa lên xe ngồi được một lúc, Đoàn Liễu đã ngọeo đầu sang một bên, ngáy hộc như một chiếc xe tăng đang gầm rú. Con người thật dễ ăn, dễ ngủ. Ai dám bảo đây là con người “ Lòng dạ khó lường” ? Nguyễn Đen cũng nhắm mắt, muốn chớp lấy một giấc ngủ con, nhưng đầu óc anh vẫn bề bộn công việc.
                    *        *
*
Giữa mùa mưa năm 1970, để đẩy mạnh tốc độ vận chuyển hàng quân sự cho chiến trường miền Nam, chuẩn bị khẩn trương cho chiến dịch mùa khô trên toàn miền, trước mắt là khu Trị – Thiên – Huế, mà trọng tâm là đường Chín – Nam Lào. Bộ tổng tham mưu quyết định mở một đợt vận tải quân sự lớn là “chiến dịch K2”. Mọi lực lượng giao thông vận tải từ Bắc tới Nam đều được huy động hết ra tuyến, bao gồm lực lượng giao thông vận tải các địa phương, tỉnh, huyện, các binh trạm đường dây, các đơn vị thanh niên xung phong và các đơn vị công binh cầu đường, vượt sông của các Quân khu và của Bộ. Ngoài ra còn huy động nhân dân trên dọc tuyến, chuẩn bị sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống bất trắc xảy ra. Toàn bộ các lực lượng đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ chỉ huy chiến dịch trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.
    Một cuộc họp giao nhiệm vụ và hiệp đồng giữa các lực lượng từ vĩ tuyến 18 trở ra được triệu tập tại Chi Nê, trong một hang đá rộng và đẹp của Quân khu 3, do Bộ Tổng tham mưu chủ trì, có đầy đủ thành phần các Bộ, Tổng cục, Cục có liên quan, đại diện Bộ tư lệnh các Quân khu, đại diện các Uỷ ban nhân dân tỉnh và các Trưởng ty giao thông vận tải trên tuyến chiến dịch , các chỉ huy của các binh trạm và các trung đoàn, sư đoàn công binh, cao xạ, vận tải v.v… Đại uý Nguyễn Đen tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27- tiểu đoàn vượt sông độc lập của Quân khu 3 cũng được dự.
    Trong cuộc họp, mọi người bàn nhiều nhất đến các biện pháp bảo đảm vượt sông băng cầu, bằng phà và việc tổ chức đánh trả máy bay địch một cách tích cực, có hiệu quả. Trên toàn tuyến, người ta đặc biệt chú ý đến tỉnh Thanh Hoá, một trọng điểm đánh phá ác liệt của bọn giặc Ních-xơn lúc bấy giờ nhằm cắt đứt đoạn đầu mút của chiến dịch vận tải quân sự của ta. Từ khi Ních-xơn liều lĩnh đánh phá miền Bắc, liên tục mấy tháng trời bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt và khoa học tối tân, chúng đã đánh hỏng hầu hết cầu cống, kể cả cầu Hàm Rồng, nhiều phương tiện cầu phà bị phá huỷ hoặc hư hỏng nặng. Hướng đường số 1A, giao thông hầu như bị ngừng trệ, hướng đường 59 và đường 15 thường bị gián đoạn, tốc độ vận chuyển giảm sút rất nhiều. Mùa mưa, nước lũ trên các sông tràn về, gây thêm nhiều khó khăn cho các lực lượng giao thông, nước sông Mã có ngày lên cao hai, ba mét chảy xiết như “ ngựa lồng”- đúng như cái tên “sông ngựa” mà ông cha đã gọi – phà không thể qua lại được. Nước sông Chu (sông trâu) bình thường chảy nhẹ nhàng nhưng thỉnh thoảng lại có những con lũ đột ngột dâng cao, mạnh như “ trâu húc” cuốn phăng những nhịp cầu phao chưa kịp cắt, phá vỡ những bè mảng, phao thuyền trôi lênh bềnh khắp sông. Tình hình đoạn đầu mút chiến dịch giao thông này ngày càng khó khăn thêm.
    Tiểu đoàn 27 là tiểu đoàn công binh vượt sông. Trong suốt bốn năm chống chiến tranh phá hoại đợt một của giặc Mỹ, tiểu đoàn hoạt động trên khắp địa bàn Quân khu, đặc biệt là khu vực Thanh Hoá. Chả thế mà không những lực lượng giao thông, mà cả chính quyền và nhân dân địa phương ở đây đã mệnh danh cho tiểu đoàn 27 là “những mũi tên xung kích”, là “lực lượng ứng cứu thần tốc” chiến lược ở khu này. Thật vậy, hễ cứ nơi nào cầu bị tắc, phà bị đắm, bến bãi bị đánh phá là có lực lượng của tiểu đoàn đến ứng cứu ngay. Có chỗ chỉ cần một tuần, có chỗ nửa tháng, có nơi tiểu đoàn trụ lại để đảm bảo giao thông hằng tháng, hai, ba tháng cho đến khi nào trang bị và huấn luyện cho lực lượng địa phương thay thế được mới thôi. Những năm sau chiến tranh, tiểu đoàn thường chỉ làm lực lượng cơ động ứng cứu nhanh chóng, có khi chỉ một đêm tiểu đoàn  hành quân hàng trăm ki-lô-mét, đến bến hạ thuỷ, bắc cầu hoặc ghép phà bảo đảm cho các đơn vị pháo, tên lửa, vượt sông xong lại bốc dỡ và hành quân hàng trăm ki-lô-mét trở về.
    Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh phá hoại lần hai của giặc Mỹ, tiểu đoàn phải làm nhiệm vụ ứng cứu nhiều hơn, vì lần này bọn giặc xảo quyệt, tinh vi hơn, đánh phá ác liệt và gây nhiều thiệt hại về giao thông cho ta hơn.
    Trong chiến dịch K2 này, nhiệm vụ của tiểu đoàn 27, mà Nguyễn Đen đã báo cáo lại trong cuộc họp của Đảng uỷ và thủ trưởng tiểu đoàn là: Do có truyền thống và kinh nghiệm vượt sông giỏi hơn các đơn vị bạn, lại là nơi địa hình quen thuộc, nên tiểu đoàn đựơc trên giao nhiệm vụ bảo đảm những bến đầu cầu: ngoài lực lượng sẵn có, theo biên chế là ba đại đội  cầu LPP, tiểu đoàn phải tổ chức thêm hai đại đội trang bị phà TPP (loại khí tài mới, đơn vị chưa được huấn luyện) để đảm bảo năm bến tuyến đường 59 từ Chi Nê, Nho Quan đến Cổ Tế, sau đó là Cổ Tế, Kiều và Thiệu Hoá, bảo đảm cho xe vận tải các loại, và một tuyến đặc biệt ở đường 15 gồm hai bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn để đảm bảo cho xe tăng hành quân. Ngoài ra tiểu đoàn còn được tăng cường thêm các đại đội pháo cao xạ bảo vệ các bến và trang bị thêm súng 12.7, súng 14.5 để tổ chức các phân đội bắn máy bay bay thấp. Như vậy, đội hình của tiểu đoàn  kéo dài gần 200 ki-lô-mét. Sở chỉ huy tiểu đoàn sẽ ở khu vực bến Cổ Tế là nơi trung tâm chỉ huy hai đầu; cũng là một bến trọng điểm nhất của chiến dịch, vì bến này là điểm đầu mút của Thanh Hoá, lại là ngã ba trọng điểm, một đường theo tuyến 59, một dường rẽ theo Eo Lê lên tuyến đường 15. Ở đây thành lập một “Ban chỉ huy thống nhất” để chỉ huy chung các lực lượng giao
thông, vận tải, cao xạ… do đại uý Nguyễn Đen, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27 là chỉ huy trưởng. Bộ chỉ huy chiến dịch và Quân khu cũng cử những bộ phận chỉ đạo đặc biệt tại khu vực đầu mút này.
    Cuộc họp giao nhiệm vụ ở hang đá Chi Nê mãi đến 17giờ chiều ngày 22 tháng 8 mới xong. Nhưng mệnh lệnh yêu cầu chậm nhất 19 giờ ngày 25 tháng 8 phải thông cầu trên toàn tuyến. Thời gian còn rất ngắn. Chỉ còn có ba ngày tính từ hôm nay. Ngay tối 22 tháng 8, Đảng uỷ và thủ trưởng tiểu đoàn đã họp bàn những biện pháp khẩn trương nhất. Vừa hành quân, vừa tổ chức lực lượng mới, vừa đi lĩnh khí tài, vũ khí, trang bị, vừa huấn luyện bổ sung, nhiều việc phải làm cùng một lúc. Điểm lại số lái xe, thiếu hàng trăm người. Lấy đâu ra ? Trên không có bổ sung kịp. Mấy hôm nay trời lại mưa liên tục suốt ngày, có đại đội làm nhiệm vụ mãi ở cửa sông Hồng cách xa vị trí bến mới trên 250 ki-lô-mét, khí tài bổ sung phải lấy tận Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hoá… Lại nữa, chưa đại đội nào được học khí tài TTP, trước đây thường chỉ trang bị cho các đơn vị của Bộ, nay mới trang bị cho cấp quân khu. Vậy mà tất cả thời gian dành cho chỉ có ba ngày ba đêm kể từ lúc tiểu đoàn trưởng nhận lệnh xong.
    Liệu tiểu đoàn có thể hoàn thành nhiệm vụ theo đúng mệnh lệnh được không? Cuộc họp Đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng bàn bạc tranh luận sôi nổi, gay gắt và căng thẳng kéo dài đến nửa đêm vẫn chưa xong…
Chỉ có ba ngày! Một kỷ lục.
Một kỷ lục – một nhiệm vụ mà kẻ yếu bóng vía có thể choáng váng. Các cầu cống nơi đây đều đã bị bọn Mỹ đánh hỏng hết. Các phương tiện cầu, phà, cũng đã bị phá huỷ hoặc hư hại khá nhiều, ở hướng đường 1A, giao thông gần như đã bị đình trệ từ trên nửa tháng nay. Hướng đường 59 và đường 15 bị bom ác liệt, tốc độ vận chuyển cũng đã giảm xuống chỉ còn một nửa…Lại đang mùa mưa. Tân binh thì nhiều, khí tài bắc cầu mới do Bộ cấp cho, chưa hề được huấn luyện, cả tiểu đoàn chỉ có hai cán bộ trung đội là võ vẽ ít nhiều về loại cầu phà này. Đó là chưa kể đội ngũ lái xe đang rất thiếu. Nguyễn Đen đã chủ động cho tập trung 50 chiến sỹ để tiểu đoàn tự đào tạo. Anh em học chưa xong. Tình hình này chắc phải “dỡ non”, mạnh dạn tung họ vào nhiệm vụ. Vừa làm vừa học tiếp thôi. Hơn nữa tiểu đoàn đang đóng rất phân tán. Có đại đội hiện nay còn đang cách Cổ Tế- bến trọng điểm mà tiểu đoàn phải trực tiếp chỉ huy – những 250 ki-lô-mét. Làm sao nội trong đêm nay có thể điều động họ về tới địa điểm tập kết được?
Tất cả những chuyện đó đã làm cho Nguyễn Đen muốn thắt cả tim lại. Cũng vì thế mà cuộc họp của đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng đã phải làm việc hết sức khẩn trương và cũng căng thẳng chưa từng thấy. Họp xong là phải đứng dậy đi liền. Ba ngày ! Ba ngày!... Làm sao chỉ trong có ba ngày mà tất cả bằng ấy công việc đều phải được thu xếp, giải quyết thắng lợi?...

CHUYỆN TRONG HANG ĐÁ
   
Có một chi tiết nữa trong cuộc họp ở hang Chi Nê chiều 2 tháng 8 mà Nguyễn Đen không muốn kể lại trong cuộc họp Đảng uỷ tiểu đoàn. Khi phân chia nhiệm vụ ở điểm đầu mút thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hoá, đồng chí đại tá Lê Nam Thắng thay mặt bộ tổng tham mưu hỏi thượng tá Nguyễn Đoan phó tư lệnh công binh :
    - Ở khu vực đầu mối này có ba lực lượng. Của bộ tư lệnh công binh có một trung đoàn - trung đoàn 49, của quân khu có một tiểu đoàn – tiểu đoàn 27 và lực lượng của Ty giao thông Thanh Hoá. Lực lượng Ty giao thông Thanh Hoá là lực lượng tại chỗ phối hợp với chủ lực. Chủ lực anh định giao cho các đơn vị bến nào trong số 7 bến chủ yếu này? - Ông cầm gậy chỉ huy chỉ lên bản đồ và đọc:
    - Bến Chi Nê, bến Nho Quan thuộc Hoà Bình do quân khu tự lo, trước là 27 lo, còn bến Cổ Tế, Kiểu, Thiệu Hoá, Cẩm Thuỷ, Mục Sơn. Đặc biệt bến Cổ Tế là điểm đầu mút ác liệt nhất. Vậy là chúng ta có một trung đoàn và một tiểu đoàn bằng bốn tiểu đoàn sẽ phân chia mỗi tiểu đoàn một bến, trong đó có một tiểu đoàn phải phụ trách hai bến có phải không? - Ông hất đầu về phía Nguyễn Đoan.
    Thượng tá Nguyễn Đoan lại liếc nhìn về phía trung đoàn trưởng 49 và tiểu đoàn trưởng 27 và hỏi:
    - Đơn vị nào nhận bến nào, nào?
    Trung đoàn trưởng 49 lặng im không nói; Nguyễn Đen chỉ chờ cho quân chủ lực, quân đàn anh nói trước – Nhưng hội nghị vẫn im lặng.
    Một lát đại tá Lê Nam Thắng lại nhắc:
    - Sao ? Việc này giao anh Đoan phân bổ nhiệm vụ cụ thể theo khả năng từng đơn vị cho hợp lý.
    Thượng tá Nguyễn Đoan ngồi cạnh Nguyễn Đen nên nói nhỏ với Nguyễn Đen:
    - Các cậu có nhiều kinh nghiệm chứ 49 còn yếu lắm, không thể bằng quân các cậu được đâu.
    “ Hả, quân triều đình mà lại yếu hơn quân địa phương à?”
    Đen bỗng bật lên câu hỏi thầm trong lòng và nhìn về phía trung đoàn trưởng 49 – Nhưng trung đoàn trưởng 49 vẫn ngồi thừ ra, lặng im không nói.
    Mọi người đều hiểu rằng bến Cổ Tế là đầu mút ngã ba đường, sẽ là nơi gay go, ác liệt nhất: Đại tá Lê Nam Thắng lại hỏi:
    - Sao? Đơn vị nào xung phong đảm nhận bến nào?
    Ông ngước nhìn trung đoàn trưởng 49 – Quân triều đình phát biểu trước nào?
    Trung đoàn trưởng 49 vẫn chưa nói, phó tư lệnh công binh cũng còn đang tính toán ngập ngừng.
    Giữa lúc ấy, Nguyễn Đen lên tiếng:
    - Tôi đề nghị trung đoàn 49 đảm nhận bến nào, còn bến nào tôi xin nhận hết.
    Hội nghị bỗng vỡ oà ra. Một anh chàng đại uý mà dám nói mạnh như vậy có hợm mình không?
    Lúc này thượng tá Nguyễn Đoan mới dám nói:
    - Theo kinh nghiệm và truyền thống của tiểu đoàn 27 trong những năm qua lập được nhiều chiến công, thành tích nhất. Căn cứ vào khả năng chỉ huy của tiểu đoàn, theo ý tôi giao cho tiểu đoàn 27 gồm ba bến Chi Nê, Nho Quan, Cổ Tế.
    Còn trung đoàn 49 giao cho hai bến Kiểu và Thiệu Hoá.
    Phó chủ tịch Thanh Hoá - Nguyễn Ngọc Bích đứng lên nói:
    - Riêng bến Thiệu Hoá hiện đang có  cầu tre luồng của Ty giao thông cho nên trung đoàn 49 chỉ là lực lượng dự bị, khi cần thiết thì mới phải ứng cứu.
    Đại tá Lê Nam Thắng nói:
    - Hoan hô tiểu đoàn 27, hoan hô Thanh Hoá. Trung doàn 49 chỉ còn một bến Kiểu thôi à? Vậy còn hai bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn bảo đảm cho xe tăng nữa. Ông hất hàm hỏi phó tư lệnh công binh Đoan.
    Trung đoàn trưởng  49 lúc này mới nói:
    - Báo cáo, trung đoàn 49 chỉ còn đủ khí tài bắc cầu bến Kiểu thôi ạ! Chúng tôi xin nhận bến Kiểu ạ!
    Nguyễn Đoan hỏi Nguyễn Đen :
    - Các cậu có bảo đảm cho tăng ở Cẩm Thuỷ và Mục Sơn được không?
    - Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi chỉ có LPP thôi làm sao bảo đảm được, mà lực lượng thì chỉ có ba đại đội bảo đảm ba bến được thôi ạ.
    - Ừ nhỉ? Khó khăn thật. Nguyễn Đoan ghé tai hỏi nhỏ một cán bộ đi theo. Mình còn bao nhiêu TPP. – Anh cán bộ trả lời là còn dự trữ một nửa bộ nữa. Nguyễn Đoan liền nói tiếp:
    - Hay là thế này. Ông hướng về Nguyễn Đen. Bộ sẽ cấp cho các anh đủ hai phà TPP để anh đảm bảo cả hai bến nữa.
    - Nhưng còn lực lượng?
    - Thì tổ chức thêm hai đại đội nữa. – San sẻ lực lượng nòng cốt ra rồi bổ sung quân mới vào.
    - Nhưng còn huấn luyện? Quân tôi đã biết gì về phà TPP đâu?
    - Thì tranh thủ vừa làm vừa học vậy. Câụ thông cảm, quân của Bộ đã tung ra hết cả rồi, mà còn bị sa lầy ở nhiều nơi. Chỉ có các cậu mình mới tin tưởng được. Chứ giao cho chúng nó (ý nói trung đoàn 49) thì không thể làm được. Thôi cố gắng lên, giúp Bộ tư lệnh phá gỡ khó khăn này, chiến trường đang khẩn trương. Động viên anh em cố gắng làm. Bộ tư lệnh tin tưởng ở các cậu.
    Nguyễn Đen còn biết nói gì hơn trước lời lẽ của phó tư lênh binh chủng. Một con người hiền lành chất phác mà anh đã cảm phục từ lâu.
    - Vâng chúng tôi sẽ cố gắng.
    Trên đường về Nguyễn Đen bỗng nhiên suy nghĩ: Thế là mình tự buộc cổ mình rồi. Biết làm sao đây? Anh vừa đi vừa nhanh chóng tính toán, biết bao công việc cần phải làm khẩn trương, gấp chỉ trong ba ngày. Nhưng cũng phải phân loại ra việc gì làm trước, việc gì làm sau.
    Xe vừa về tới đơn  vị anh vội vàng mời Chính trị viên Trần Huy Tiệm về hội ý và thông báo triệu tập họp Đảng uỷ ngay trong đêm nay, kịp gọi các đảng uỷ viên từ xa về gấp.
    Và suốt đêm 22 tháng 8 Đảng uỷ tiểu đoàn đã kịp thời ra được một nghị quyết sáng suốt. Việc tiểu đoàn 27 ra quân đợt này trong chiến dịch K2 với muôn vàn khó khăn và thử thách.
Chỉ có ba ngày, phải tiến công! Cuộc họp Đảng uỷ mở rộng kết thúc lúc năm giờ sáng. Mọi người oà ra xe, xe nổ máy rồn vang về các ngả đường, bến sông.
                           *        *
                                                            *
Chưa bao giờ, trong suốt cả cuộc đời chiến đấu của mình, Nguyễn Đen phải đứng trước một con toán khổng lồ và hóc búa như lần này.
Tuy vậy, sau cuộc họp đảng uỷ tiểu đoàn Nguyễn Đen cũng có thể yên tâm được nhiều điều. Giờ đây, trong đầu óc anh nếu có gì vẫn còn nặng nề thì dường như lại là một chuyện khác: ấy là sự xuất hiện của Thượng uý Cao Thành, một cán bộ quen biết cũ. Cách đây tám năm, khi Nguyễn Đen là đại đội trưởng, Cao Thành cũng là một cán bộ trung đội, tuy không cùng một đại đội, nhưng cùng một tiểu đoàn công binh của quân khu. Cao Thành đã được cử vào Nam làm trợ lý công binh, sau đó xuống đơn vị một thời gian. Nay do sức yếu anh được trở ra Bắc, làm trợ lý trên cơ quan tham mưu của Bộ tư lệnh quân khu. Nguyễn Đen thỉnh thoảng lên họp, do đó hai người đã gặp lại nhau. Nhưng không ngờ, ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên, Nguyễn Đen đã có cảm giác không vui. Hoàn toàn trái ngược với sự mừng rỡ thực sự của anh, người cán bộ quen biết cũ này đã tiếp anh bằng một sự lạnh nhạt và luôn luôn nhìn vào bộ quân hàm Đại uý trên ve áo của anh với cặp mắt khinh thị: “Đại uý rồi cơ à? Anh mà cũng đã lên đại uý? Bằng ấy năm ăn sung mặc sướng an toàn ở miền Bắc, mà anh cũng lên được đại uý?”. Dường như Cao Thành chỉ thiếu nói hẳn ra điều ấy. Đến khi được đồng chí tư lệnh vui vẻ giới thiệu Nguyễn Đen là một sĩ quan trí thức đáng quý, kiên nhẫn học tại chức sau đó được đưa đi học thêm đã tốt nghiệp hai bằng kỹ sư trong hai năm liền. Một bằng kỹ sư cầu đường, một bằng kỹ sư cơ khí ô tô, máy kéo….”, thì đôi mắt Cao Thành trố hẳn ra. Anh lặng đi một lúc rồi nhếch mép cười: “Bằng cấp cũng quý thật. Nhưng tất cả đều phải qua thử thách lửa máu đã anh ạ”. Đến lượt đồng chí tư lệnh phải nhướng cặp mắt lên. Có lẽ anh không thể nào hiểu nổi thái độ của Cao Thành.
Từ đó, mỗi lần gặp nhau, sự lạnh nhạt giữa hai người càng rõ rệt và sâu sắc thêm. Cái nhìn của Cao Thành không chỉ khinh thị mà còn tỏ ra tức giận nữa.
Mặc dầu Nguyễn Đen vẫn cố giữ thái độ thân mật, kể cả kính trọng (anh thực sự quý trọng những người đã từng tắm trong máu lửa chiến trường miền Nam ác liệt, gian khổ), nhưng cuối cùng lần nào giữa hai ngườicũng xảy ra một vài câu hoặc một vài ý ít nhiều khác biệt và thường dẫn tới thái độ ít nhiều gay gắt.
Chính vì vậy từ nửa năm nay, Nguyễn Đen đã tìm đủ mọi cách để lánh mặt người cán bộ quen biết cũ ấy. Tính anh vốn không ưa chuyện “đấu đá”, mặc dầu trong cuộc đời đôi khi bị dồn tới thế không thể lùi được; anh cũng biết thế nàolà tự vệ, chứ không đến nỗi là kẻ nhu nhược hoặc ngu hèn…
Vậy mà hôm nay Cao Thành lại xuất hiện trong đoàn cán bộ của quân khu khi tiểu đoàn 27 đã được giao trách nhiệm ở đoạn đường xung yếu nhất, anh ta đã chất vấn Nguyễn Đen rất nhiều điều, như một vị tư lệnh chất vấn cấp dưới. Thôi cũng được, nếu như tất cả những câu hỏi đấy đều thuộc về kĩ thuật như “Hai bộ phà mới T.P.P., các anh chưa học, làm thế nào để sử dụng được ngay?”-“Các anh báo cáo là tiểu đoàn đang đóng rất phân tán, có đại đội ở xa những 250 ki-lô-mét làm thế nào để về kịp?” – “Các anh báo cáo là lái xe thiếu, sẽ phải “dỡ non” lớp đang đào tạo liệu có đảm bảo an toàn?”. Vân vân và vân vân…Nhưng cuối cùng anh ta lại hỏi thêm: “Các anh đảm bảo sẽ đúng thời gian, và an toàn tuyệt đối, không bốc đấy chứ?”. Câu hỏi đã làm cho Nguyễn Đen phải đỏ mặt lên. Không thể nhún nhường được mãi, Nguyễn Đen buộc phải đáp lại: “Xin anh cứ chờ xem rồi hãy xét đoán một thể cũng không sợ muộn!”. Tưởng như hai lưỡi kiếm cùng rút ra khỏi vỏ. May thay, mọi chuyện cũng lại qua đi…
Nhưng dẫu sao cho đến lúc này, ngồi trên xe mà trong lòng Đen vẫn còn thấy cộm lên một cái gì đó không vui. Anh thở dài nhẹ nhẹ. Anh không thích gì hơn là được thanh thản trong lòng để làm việc, và rất thích sự ân cần, vui vẻ của anh em chung quanh. An nhàn ư? Tiếng tăm ư? Cấp bậc ư? Cũng như mọi người khác, anh không phải thần thánh gì mà không có những lúc nghĩ tới cái gì đó, nhưng quả thật anh chưa bao giờ coi đó là những mong muốn cao nhất của đời mình.
Mưa, mưa vẫn lai rai. Ngoài trời vẫn tối mù, chỉ trừ hai vệt đèn pha chiếu sáng ở phía trước với những giọt mưa láp loáng bay, hàng cây hai bên đường rũ rượi, ướt át và một sự hoang vắng như từ một thủa hoang sơ xa xôi nào đang chế ngự nơi đây.
Đoàn Liễu cựa mình tỉnh dậy. Anh hỏi mấy giờ rồi, sau đó bất chợt hỏi tiếp:
- Này ông Đen, ông có biết vì sao hôm nay cái lão Cao Thành nó vặn vẹo nhiều thế không?
Nguyễn Đen đáp lấp lửng:
- Không! Không rõ lắm.
Đoàn Liễu cười ranh mãnh:
- Nó ỷ thế tư lệnh phó quân khu là chỗ quen biết cũ với nhau đấy mà. Lúc giải lao tôi có nghe nó nói thế này: “Cậu Nguyễn Đen trước đây được anh Cúc Tư lệnh phó cũ quá tin, quá đề cao. Bây giờ anh Cúc đi rồi, anh Nhiệm mới về thay, vì chưa rõ tình hình lắm nên anh Nhiệm mới tạm sử dụng vậy thôi!”.
Nguyễn Đen nhíu lông mày:
- Thế là…. nghĩa thế nào?
Đoàn Liễu cười to:
- Có nghĩa là nó bảo: Ông Cúc là “ô” của ông đi rồi. Bây giờ cần phải…. đánh  lại ông.
Nguyễn Đen thở hắt ra một cái. Anh không khỏi lặng người. Thì ra lại có cái chuyện vớ vẩn “ô, dù” này nữa ư? Sao chuyện đời quá phức tạp làm vậy? Nguyễn Đen làm gì có “ô”, có “dù” nào. Đối với anh, hết sức rõ ràng và minh bạch: phục tùng tất cả mọi người mọi đồng chí chỉ huy lãnh đạo cấp trên, không phân biệt bất cứ ai và làm việc hết mình. Có vậy thôi! Trong dầu óc Cao Thành sao lại có những ý nghĩ xấu thế nhỉ? Nhưng, nếu như Đoàn Liễu tinh quái đã thấy đúng, thì…sao? Trời ơi! Ngày rời ghế nhà trường để vào quân đội, trước mặt anh chỉ toàn thấy những hoa hồng và cuộc sống xung quanh sao mà tuyệt vời, sao mà cao cả đến mê say…
Từ lúc đó, cái gì nằng nặng trong đầu óc Đen càng như thêm nặng và có phần nhức nhối. Anh cố xua đuổi mọi ý nghĩ rắc rối đi, cố quên tất cả, ngoài công việc trước mắt: phải hoàn thành nhiện vụ, một nhiệm vụ hết sức phức tạp, khó khăn đang đòi hỏi  bọn anh phải căng sức, căng óc ra. Tóm lại là phải làm việc, phải chiến đấu hết mình, không được một phút giây chậm chễ, lơi lỏng, càng không được mảy may lo sợ, dao động!…
    Đôi môi mím lại, cặp mắt nhìn thẳng phía trước, mặt bừng bừng nóng, lát sau Nguyễn Đen mới khẽ thốt lên, như với chính anh:
    - Không có chuyện gì hết. Mặc nó. Phải làm việc đã!
    Cũng như toàn tiểu đoàn đã rất thuộc tính Nguyễn Đen, khi nghe thấy giọng nói của tiểu đoàn trưởng này thoắt như khô rắn lại, và gương mặt anh bừng bừng như lên cơn sốt, thì Đoàn Liễu hiểu rằng: Nguyễn Đen đã quyết vào trận. Và đã vào trận là anh sẽ quên hết, dám vứt hết tất cả mọi cái gì gọi là riêng tư, kể cả những chuyện lặt vặt, vớ vẩn trong đơn vị. Nguyễn Đen là con người biết tập trung sức lực cũng như dám tập trung sức lực để chiến đấu. Những lúc đó,dù nhiều khi trong thâm tâm không thích Nguyễn Đen vì chuyện này chuyện khác, Đoàn Liễu cũng phải thầm chịu: Con người này quả thật trong sáng và tích cực, không thể phủ nhận hoặc dễ dàng bôi bác.

NHỮNG TAY LÁI “DỠ NON”

    Một lúc sau, chiếc xe nhỏ đã vượt hết con đường đất lầy lội, ra tới quốc lộ một. Cũng đúng lúc ấy,cả Nguyễn Đen, cả Đoàn Liễu bỗng nhổm lên, nhô người về đằng trước, mở to mắt ra. Cậu lái xe cũng đột nhiên bật reo như một chú bé bắt được một chú chim non:
    - Ô! Kia rồi! Cánh nhà mình kia rồi!
    Trên quốc lộ một, một đoàn xe chở các khí tài cầu phà của công binh đang nối đuôi nhau ầm ầm chạy, gần như là một đoàn xe lửa dài dằng dặc đang chạy ngang qua, chắn hết cả con đường phía trước.
    - Đúng! Anh em ta! – Nguyễn Đen, đôi mắt bật sáng, mở tung cửa xe, khoác áo mưa nhào xuống. Lòng anh tràn ngập vui sướng. Anh giơ cao tay vẫy vẫy, nói như thét lên:
    - Hoan hô 27! hoan hô các chiến sỹ lái xe 27!
    Từ trong ca bin những chiếc xe tải đồ sộ, gần như tất cả những gương mặt đều ló ra ngơ ngác nhìn, ánh đèn pha đã soi rõ người đang đứng ở ngã ba đang vẫy chào và hoan hô họ là ai. Lập tức những tiếng reo, tiếng hô đáp lại râm ran cả một quãng đường, hoà lẫn tiếng xe máy gầm gào rung chuyển .
    - Hoan hô tiểu đoàn trưởng!
    - Xin cứ tin tưởng ở chúng em!
    - Bảo đảm an toàn tuyệt đối! Tiểu đoàn trưởng cứ yên tâm!
    Nguyễn Đen chạy tới sát từng chiếc xe. Anh siết chặt những bàn tay thò ra – Những bàn tay nhỏ nhắn, chưa nhiều chai sẹo, những bàn tay em út.
    - Cẩn thận! Dẫu sao vẫn phải hết sức cẩn thận tập trung tư tưởng vào tay lái đấy!
    Một chiếc xe bỗng dừng lại, cửa xe mở, một bóng người nhảy xuống, đứng nghiêm lại, giơ tay lên vành mũ sắt:
    - Báo cáo, tôi Nguyễn Đức Thắng, đại đội trưởng đại đội ba…
    Nguyễn Đen giơ tay lên đáp lễ, rồi nhào lấy ôm chặt Nguyễn Đức Thắng, quay tròn:
    - Các cậu cừ quá! Tôi đang lo…
    - Báo cáo anh, đúng năm giờ chiều nhận được điện lệnh của tiểu đoàn, chúng tôi ra quân ngay…
    - Lúc ấy, chúng tôi chưa họp đảng uỷ tiểu đoàn, nhưng cứ lệnh điều quân đã, kẻo không kịp. Điện văn tắt quá, tôi cứ lo các ông không hiểu hết tầm quan trọng.
    Nguyễn Đức Thắng ngửa người ra cười vang:
    - Báo cáo, đã quá thuộc cách điện của thủ trưởng rồi. Cứ thấy những từ tức khắc và nghiêm chỉnh là bọn tôi biết ngay việc lớn, việc khẩn cấp loại một. Thế là, dù có bão, có lụt, cũng phải lên đường…
    Nguyễn Đức Thắng trở lại xe. Các chiến sĩ lái trẻ vừa được “dỡ non” đang tiếp tục cuộc diễu hành kỳ diệu và lịch sử của đời lính công binh của họ: chuyến xe đầu tiên trong đời đi làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông, vận tải đánh Mỹ.
    Nguyễn Đen vẫn đứng như say. Đoàn Liễu ngại mưa nhưng rồi không thể ngồi yên trên xe được nữa, cũng chạy xuống. Hai người đứng ngắm mãi đoàn xe. Tốc độ đẹp quá, cự li cũng đẹp quá! Ai dám bảo đây là các chiến sĩ lái xe chưa học trọn khoá học? Nguyễn Đức Thắng vừa nói tới bức điện. Nhưng thật ra đâu chỉ vì một bức điện khẩn! Ngay từ khi họ khoác tấm áo lính, còn như một chú bé lớ ngớ bước vào tiểu đoàn, Nguyễn Đen cùng toàn thể cán bộ chỉ huy ở đây đều đã biết phải làm những gì để giúp đỡ họ; trước hết là làm cho họ ý thức được thật sâu sắc trách nhiệm của mình, sâu sắc đến mức mọi nhận thức đã chuyển thành tình cảm. Họ đã biết vui từng cái vui nhỏ của đơn vị, biết lo tới cả những nỗi lo lớn của tiểu đoàn, của đảng bộ. Họ đã cùng tất cả cán bộ các cấp trong tiểu đoàn trở thành một thể thống nhất. Đúng vậy, tất cả đã biết lo, biết tính, biết làm ngay từ đầu, từ ngày họ vẫn còn như những tờ giấy trắng…
    Nguyễn Đen và Đoàn Liễu cùng trở lại xe của mình. Anh bảo cậu lái xe lách lên, vượt đoàn xe vận tải khí tài của Nguyễn Đức Thắng để tranh thủ tới  Cổ Tế trước.
    Lần này, ngồi trên xe khác với cách đây nửa giờ lúc mới ra đi, Đen thấy lòng mình khá yên ổn . Quyết tâm của anh (vừa cấp tốc hành quân, vừa cho một bộ phận đi lĩnh khí tài mới T.T.P., vừa triển khai, tổ chức lực lượng…) được đảng uỷ, tiểu đoàn hoàn toàn nhất trí, đã bước đầu tỏ ra có hiệu lực.
    - Chỉ còn lo nhất cái “xê” Trần Đằng đang còn ở tít cửa sông Hồng, liệu sáng mai có về kịp Cổ Tế không? - Đoàn Liễu cũng không nén khỏi sự mừng rỡ, cất tiếng nói như vậy.
    - Tôi tin là được. Cậu Đằng vẫn giỏi về môn cơ động. Mà thằng cha này thật là tinh ranh, cái quái gì nó cũng làm được.
    - Còn cậu Như “xê” phó di lĩnh T.T.P nữa…
    - Đã cho cả cậu Luận “bê’ trưởng biết về T.T.P đi giúp sức! Cũng không đáng lo lắm.
    Nguyễn Đen nhắm mắt lại để hình dung ra toàn cảnh của tiểu đoàn trong giờ phút này, trong đêm khuya mưa gió, lầy lội, cùng một loạt lên đường ra quân để gấp rút bước vào chiến dịch vận chuyển lớn lao nhằm chi viện cho miền Nam đánh thắng. Trong đầu óc anh hiện lên rõ ràng từng khuôn mặt: này Nguyễn Đức Thắng, này Trần Đằng, này Hoàng Anh Tự… này các chiến sĩ lái xe, này các chiến sĩ ca-nô, các chiến sĩ cầu phà… Tất cả đều quen thuộc. Tất cả đều thân yêu. Những người chiến sĩ công binh ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng thế, vẫn như là những tảng đá câm lặng – nhưng là những tảng đá mưa không mòn, nắng không chảy – Những tảng đá chìm dưới bùn non, lót đường cho xe ra phía trước đánh giặc – Những tảng đá được ghép lại với nhau thành tường thành, thành lô cốt vững bền nơi bờ biển, ngoài hải đảo, trên non cao… để góp phần chở che Tổ quốc. Những tảng đá khi cần, và có thời cơ, cũng trực tiếp giáng vào đầu giặc, tiêu diệt giặc góp phần vào chiến thắng chung của đất nước… Những tảng đá cần thiết biết bao và cũng đơn giản làm sao ! Nguyễn Đen đã từng chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp. Đã hơn hai mươi năm làm lính công binh, trải đủ mọi nỗi nhọc nhằn, mọi điều hiểm nguy ghê ghớm, cũng như mọi niềm vui, mọi vinh dự đã dành cho những người lính cách mạng khi hoàn thành nhiệm vụ. Giờ đây nếu có ai hỏi anh: muốn đi đâu không? thì Đen sẽ trả lời không cần phải suy nghĩ “ Không! Chỉ trừ khi Đảng cần tôi đi đâu thì tôi sẵn sàng tới đó”. – Công binh! Những người lính chân chất, vai trĩu nặng khí tài, những người lính suốt đời tắm trong mồ hôi, và lắm khi cả máu tươi. những người lính “thổ, mộc” suốt đời tận tuỵ, âm thầm, suốt đời trung thành với sự nghiệp của Đảng và coi đó cũng là sự nghiệp của chính mình…
    Nguyễn Đen xoè bật lửa mồi một điếu thuốc, rít từng hơi dài. ánh lửa soi hồng gương mặt anh. Đoàn Liễu liếc nhìn thấy một nét gì như sung sướng và quả quyết trên khuôn mặt ấy.
    Bản thân mình, Nguyễn Đen cũng cảm thấy dễ chịu, tỉnh táo. Anh đã quên bẵng câu chuyện Cao Thành vừa làm cho đầu óc anh bận rộn và thoáng nhức nhối.
    Trời tờ mờ sáng, mưa đã tạnh. Một buổi sáng nhợt nhạt, đẫm hơi nước nặng nề trên đồng bằng Bắc Bộ. Đã nhìn thấy một cây biển gỗ siêu vẹo ở bên đường chỉ bến phà Cổ Tế.











CHƯƠNG II
CÔ GÁI TRẠM CHẮN XE


Rồi dòng sông đã hiện ra trước mặt. Một làn nước trắng đục mênh mông, cuồn cuộn. – Những cơn mưa đã dồn lũ về đây rồi! – Nguyễn Đen nhíu lông mày thầm nghĩ. Thấy ba-ri-e trên bến  mở Nguyễn Đen giục cậu lái xe chạy thẳng xuống bến. Bỗng có tiếng còi ré lên, và giọng một người con gái quát to:
    - Xe dừng lại!
    Rồi tiếp:
    - Nguy hiểm đấy, quay lại đã!
    Nguy hiểm! Có lẽ cô gái nào đó không biết rằng mình đang doạ dân công binh. Một chuyện như quá thừa. Nhưng dẫu sao, vì tôn trọng luật lệ, Nguyễn Đen vẫn vỗ vai cậu lái xe bảo lùi lại.
    Một cô gái mảnh dẻ từ trong gian nhà hầm nửa chìm, nửa nổi chạy ra. Một bên tay đeo băng đỏ, vai khoác tiểu liên, cô đeo chiếc còi nhỏ, tóc búi gọn, quần xắn tới gối, cô gái vừa có vẻ khoẻ mạnh, cứng cỏi, lại vừa có vẻ duyên dáng. Nguyễn Đen bỗng mở to mắt ngờ ngợ.
    Anh nhảy vội xuống xe:
    - Chinh! Cô Chinh phải không?
    Cô gái cũng ngạc nhiên, tiến lại. Rồi cô bỗng reo lên như một đứa trẻ:
    - Ối anh Đen! Anh Đen! Sao lại gặp anh ở đây thế này? Lạ quá! Thật không ngờ. Em cứ tưởng anh đi B dài từ hồi ấy rồi…
    Tuy vậy cô đã vội ngắt sự mừng rỡ bồng bột của mình lại:
    - Nhưng, nhưng mà các anh đi đâu? Đang giờ cao điểm. ở đây chúng nó hay đánh lúc sáng sớm lắm. Các anh cho xe núp dưói bóng cây kia, rồi vào nghỉ, chờ các đài quan sát báo đã…
    Quả nhiên, khi Nguyễn Đen, Đoàn Liễu và cậu lái xe vừa nhảy ra khỏi xe thì kẻng báo động vang lên râm ran khắp bốn bề. Cũng lạ, lúc mới tới nhìn bến phà này hoang vắng đến thế, tưởng như không một sinh vật nào còn sống ở bến sông này, ai ngờ dấu kín ở đâu đây, khắp chỗ dưới đất, dưới từng ngọn cỏ, dưới từng quãng sông là bao nhiêu con người vẫn ngày đêm tỉnh táo…
    Thế rồi ào ào một tốp máy bay Mỹ lao tới như những làn gió quỷ quái đen xì. Dường như đã quá quen với bến phà này rồi, chúng không cần phải lượn, không 4cần phải quan sát, tính toán gì nữa, lướt tới là đáp bom xuống liền. Một loạt 4 trái bom nổ chuyển đất, khói lửa bùng lên nơi đầu bến phà. Nước sông dội lên thành những cột nước trắng xoá, cao ngất.
    Nguyễn Đen quay lại nhìn Chinh, thầm cám ơn cô. Và lúc này anh mới để ý thấy Chinh đã già, nhan sắc cũng đã giảm so với năm 1966, khi cô còn ở đội thanh niên Xung phong ở bến cầu Đò Lèn – Thanh Hoá… Năm ấy, đơn vị Nguyễn Đen cũng phục vụ ở đó, anh hãy còn là một tiểu đoàn phó. Năm ấy Chinh đẹp và nổi tiếng cả một vùng từ Đò Lèn về tới Thanh Hoá. Không một lái xe nào chạy đường trường qua đây mà không biết Chinh và mê Chinh. Không một anh lính nào, dù công binh, dù cao xạ, dù đặc công nước…. ở quanh đó là không tìm dịp để ít nhất một lần được gặp Chinh. Và đã gặp một lần thì cũng như các anh lính “xế’, tất cả lính các binh chủng cũng đều yêu Chinh. Nhiều anh mê say đến khốn khổ. Nhiều vụ mất đoàn kết nội bộ cũng chỉ vì Chinh.
    Nguyễn Đen cũng thuộc số cán bộ trẻ đã thực sự yêu Chinh. Nhưng cũng như nhiều người có lòng tự trọng, anh đã biết ghìm mình lại để không lao vào cuộc tình duyên một cách “vô điều kiện”. Là bởi khi ấy Chinh đã cho mọi người biết rõ: Cô đã có người yêu là bộ đội đi Nam từ năm 1961, và cô đang kiên nhẫn thuỷ chung chờ đợi…
    Sau sáu tháng ở Đò Lèn, Nguyễn Đen cùng đơn vị đã lặn lội đi khắp nơi. không ngờ sau 5 năm mới gặp lại nhau.
    Trong khi Đoàn Liễu, vị chỉ huy phó đã nổi tiếng háu gái của tiểu đoàn cứ ngồi thần ra ngắm nhìn Chinh, Nguyễn Đen cùng cô ôn lại những kỷ niệm cũ một cách cảm động.
    - Thế bây giờ… Cô Chinh đã lập gia đình chưa? Mấy cháu rồi?
    Gương mặt Chinh thoắt như có một áng mây buồn:
    - Chưa anh ạ! Em vẫn…
    - Sao ? - Nguyễn Đen ngạc nhiên.
    Cúi đầu, lặng đi một lúc, Chinh mới ngẩng lên, lần này đôi mắt cô vẫn sáng nhưng đã lạnh đi một cách rất lạ. Cô nói bình thản và gần như lạnh lùng:
    - Anh Đen ạ! Anh Bìa người yêu đầu tiên của em như các anh đã biết, đi B, đã hy sinh rồi. Sau đó hai năm em đã gặp và yêu một anh ở tên lửa. Nhưng rồi anh ấy cũng lại hy sinh trong một trận bảo vệ Hàm Rồng. Và gần đây em lại yêu một anh lái xe Trường Sơn. Nhưng hồi đầu năm, em lại nhận được tin anh ấy cũng hy sinh rồi!
    Đen sững sờ. Đầu óc anh rung lên. Anh nhìn Chinh. Anh muốn cầm lấy tay Chinh khóc lên, để chia sẻ nỗi đau cuộc đờingười con gái trong cuộc chiến đấu này, gia đình Đen cũng mất đi một người anh. Đó là một chiến sĩ hải quân chuyên vượt biển đưa người, đưa vũ khí và thuốc men vào Nam. Mới chỉ một sự mất mát ấy, Đen đã cảm thấynhiều lúc mình như già đi. Vậy mà! Cả ba đều là bộ đội. Ba anh bộ đội đều rất trẻ, đều đang yêu tha thiết…
    Đen nén mình lại, cố tìm một câu nói đùa cho không khí đỡ đau khổ.
    - Vậy hẳn bây giờ cô sợ bộ đội rồi lắm hả ?
    Chinh buồn bã: `
    - Với người lạ, em sẽ nói là: không. Nhưng với anh, em nói thực: cũng hơi ngài ngại rồi đấy!
    Nhưnng rồi cô bỗng bật cưòi thành tiếng, và trên khuôn mặt rám nắng, thoáng những vết nhăn của tháng năm dãi dầu khổ cực, bỗng ửng lên một màu hồng. Cặp mắt Chinh liếc nhanh:
    - Nhưng nói vậy thôi, bây giờ có anh bộ đội nào hỏi chỉ cần một câu, em sẽ bằng lòng lấy liền.
    Rồi trở lại nghiêm trang, cô thở dài:
    - Đời em như sinh ra là để... Nguyễn Đen lại im lặng ngắm nhìn. Lúc này anh như thấy cô trẻ đẹp như xưa. Trước mặt anh là hiện thân của một sức sống, một lẽ sống mới, và phải chăng cũng vì lẽ sống ấy mà chính cô và cả anh đã từng dám xông vào mọi chỗ khó khăn, ác liệt…
Lát sau, không tiếp tục câu chuyện được nữa, Nguyễn Đen phải ra bến cùng Đoàn Liễu quan sát, nghiên cứu thực địa, cùng mọi vấn đề khác có liên quan, như lưu tốc, khí hậu, khí tài, phương tiện tại chỗ, cuối cùng là tình hình nhân dân và mọi quy luật hoạt động của địch…
Chinh cho biết nhà cô ở gần ngay bến. Đây là chính quê của cô. Đen rất mừng. Anh tin là sẽ có nhiều dịp gặp gỡ và nói chuyện với Chinh.
Bước ra khỏi căn nhà hầm, Nguyễn Đen và Đoàn Liễu cùng có một nhận xét: Đường xuống bến phà chật chội và lầy quá, sẽ gây không ít trở ngại cho công việc của đơn vị. Vì vậy nếu không có địa phương giúp sức chắc sẽ không xong.
Nguyễn Đen vẫy Chinh lại:
-    Ai là bí thư đảng uỷ ở đây?
-    Ông Cậy!
-    Chủ tịch?
-    Ông Mãn!
-    Chủ nhiệm hợp tác xã?
-    Ông Vi.
-    Tôi muốn gặp các đồng chí đó ngay. Cô Chinh giúp tôi được không?
-    Được chứ. Vậy anh đi luôn với em!
Hai người cùng rẽ vào xóm.Đoàn Liễu ở lại tiếp tục đo đạc sức nước và tìm nơi mở một đường tránh khác xuống bến, nhằm bỏ con đường lầy lội kia.
Đến lúc này Chinh mới có thì giờ để hỏi Đen:
- Thế còn anh?
-Tôi lập gia đình rồi. Đã có một cháu. Nhưng với cô, tôi cũng không thể không nói thực: Một cuộc hôn nhân… bình thường, do cha mẹ tìm và cưới cho. Cô ấy cùng làng, dạy cấp một. Bộ đội mà cô! Chiến tranh. Đi suốt. Thời giờ đâu để mà tìm hiểu người mà mình mong ước. Hôm cưới, lúc nằm bên vợ, tôi cứ thầm tự hỏi: “ Sao mình lại lấy vợ nhỉ?”.
Chinh bật cười ran:
-…Rồi chúng tôi có con. Tôi rất yêu cháu bé. Tôi cũng bắt đầu dần dần yêu mẹ nó. Nói tóm lại, cả một thời trai trẻ đã ném vào lửa, không còn có thể đòi hỏi gì hơn nữa…
Bỗng nhiên nhìn vào mắt Chinh, Nguyễn Đen như thấy hiện lên bóng dáng của ba anh bộ đội trẻ tuổi, tất cả đều mười chín, hai mươi. Họ đang nhìn anh bằng cặp mắt hết sức nghiêm trang…
    Đen lại chợt nhớ tới Cao Thành. Chắc hẳn đối  với anh ta, đây cũng là một cô gái ở hậu phương ăn sung mặc sướng, ít được rèn luyện, ít thực tế, trong khi người khác phải lăn lộn hy sinh năm này qua năm khác nơi chiến trường máu lửa…
    Những kỷ niệm về tiểu đoàn hai bảy trước đây ở Đò Lèn cô vẫn còn nhớ như in.

KHÔC LIỆT
Phan Trạc nhớ lại, trong một trận bảo đảm cầu phà hồi cuối năm 1966 tại bến Lèn, lúc đó Phan Trạc còn là trợ lý tham mưu đi cùng tiểu đoàn phó Nguyễn Đen trên một chiếc xe cóc, xe con lội nước đang đi trinh sát bến chuẩn bị cho đại đội hai bắc cầu. Bến bãi ở đây đã quá quen thuộc với những người lính tiểu đoàn hai bảy. Từ năm 1965, rồi 1966 đơn vị đã nhiều lần trụ tại bến này để bắc cầu và chở phà đảm bảo cho xe pháo qua sông. Có đợt liên tục hàng mấy tháng liền, vừa bắc cầu bảo đảm giao thông vừa huấn luyện cho 1 tiểu đoàn thanh niên xung phong về bắc cầu cho đến khi đơn vị thanh niên xung phong thành thạo bắc được cầu rồi, đơn vị mới được lệnh rút về làm lực lượng dự bị, cơ động nhanh; ở đâu tắc bến là tiểu đoàn 27 nhanh chóng đến ngay, bảo đảm gấp cho 1 đoàn pháo binh, tên lửa vượt sông xong lại rút về, hoặc đến mở bến, phá gỡ bom đạn, khắc phục hậu quả xong lại bàn giao lại cho bến giao thông hoặc đoàn thanh niên xung phong.
Lần này Nguyễn Đen và Phan Trạc đến bến đã quá ngỡ ngàng, bến bãi không còn mảnh đất nào nguyên vẹn, không còn đoạn đường nào được ngay thẳng, tất cả đều bị cày sới nhiều lần, lộn xộn, Nguyễn Đen lệnh cho Phan Trạc về điều máy húc C100 đến để húc lại mặt đường và đắp lại bến. Đồng thời hiệp đồng với bến giao thông huy động lực lượng thanh niên xung phong và công nhân bến phà đem cuốc xẻng ra san lấp hố bom, đắp nền đường.
“... Dô hây nào, dô hầy nào ...!
Ai về Thanh Hóa, Thanh Hoá anh hùng...”
Trong lúc lao động, tiếng hò tiếng hát lại vang lên khắp bến bãi đường xá. Đúng là “tiếng hát át tiếng bom” chẳng ngoa một chút nào.
Chiếc xe con của Nguyễn Đen liền bị chị em thanh niên xung phong quây lại, ai cũng tranh nhau cầm micrô trên xe hát, tiếng loa phát ra ầm vang làm không khí trên công trường làm đường làm bến sôi động nhộn nhịp.
- Cho em hát với, em hát với.
- Nào xin mời các ca sĩ cây nhà lá vườn.
Cô gái tên là Huề, có nước da trắng trẻo, lông mày lá dăm đang vừa hát song ca với Phan Trạc bài “Vàm Cỏ Đông” thì trên đồi cao có kẻng báo động.
Mọi người đều dừng lại tản ra chạy về hố ẩn nấp cá nhân ở quanh đó. Chiếc xe con phóng nhanh về phía đồi thông, chưa chạy được bao xa thì một loạt bom do máy bay Mỹ rải xuống. Tiếng súng các trận địa cao xạ xen lẫn tiếng bom nổ ầm ầm. Có một quả bom rơi trúng ngay giữa đường ở sát ga Lèn, nơi chiếc xe con dừng lại cho các cô thanh niên xung phong hát.
Khi máy bay đã đi xa, Nguyễn Đen cho xe chạy lại nơi khói bom còn dày đặc, Nguyễn Đen và Phan Trạc đều nhảy xuống vừa chạy tìm kiếm xung quanh, vừa gọi:   
- Ơi các cô ơi !...
- Ơi cô Huề ơi !... .ơi... !
Không có tiếng trả lời, trước mặt các anh là một hố bom sâu thẳm đen ngòm ở ngay giữa lòng đường.
Nguyễn Đen và Phan Trạc bỗng dưng nước mắt trào ra. Các anh cố lần mò xung quanh một lúc lâu cũng chỉ được một vài mảnh quần áo rách màu cỏ úa.
Thế là cô Huề và toàn tiểu đội của mình mười hai cô gái đã bị bom Mỹ giết hại tan mất xác. Nỗi đau đớn cảm thương còn theo các anh trong suốt ngày hôm đó và mãi mãi sau này, mỗi lần đi qua đây họ lại dừng lại một phút để tưởng nhớ tiểu đội thanh niên xung phong của cô Huề.
                    *        *
                                                             *
Cách đấy không lâu, trong một trận chiến đấu khác, cũng ở bến Lèn này Nguyễn Đen dẫn một đại đội - đại đội Ba – cấp tốc đến bảo đảm cho một tiểu đoàn tên lửa vượt sông gấp sang bờ nam để bảo vệ cầu Hàm Rồng.
Bến phà đã bị tắc từ hai hôm nay, khi đoàn xe thuyền của đại đội ba tiểu đoàn hai bảy mới đến khoảng rừng thông, còn cách xa bến ba ki-lô-mét nữa thì đường đã tắc nghẽn vì xe đậu để chờ qua sông, ở các đường tránh, trong rừng, trong làng xóm, các xe còn ùn ùn kéo ra thêm, đã tắc càng thêm tắc.
- Báo cáo tắc đường thế này thì làm sao tới bến được ạ ! Đại đội trưởng đại đội ba lúc đó là Nguyễn Xuân Hồng báo cáo với Nguyễn Đen. Nếu xe công binh không đến được bến có nghĩa là không được đưa tên lửa qua sông, có nghĩa là đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, tức là thất bại.
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen triệu tập cán bộ lại để bàn mưu tính kế. Ai cũng lắc đầu, cho là hết cách rồi, chỉ có cách chờ đợi hoặc quay về, báo cáo với Quân khu. Nguyễn Đen quyết không lùi bước:
-“Quân lệnh như sơn” – chúng ta phải tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ.
Anh tổ chức ngay một đội quân cảnh, hàng chục người ăn mặc tề chỉnh, quân hàm, quân hiệu, phù hiệu công binh đeo băng đỏ, tay cầm cờ đỏ hiệu, đội mũ sắt, đeo súng dương lê nghiêm chỉnh. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen: đại uý công binh, cầm cờ lệnh đứng trên đầu xe lội nước, xe chỉ huy, cầm loa tay và còi dẫn đầu đoàn xe.
- Yêu cầu các xe dẹp sang một bên nhường đường cho xe công binh lên bắc cầu. A lô - a lô !
Các chiến sĩ cảnh vệ xuống đất, đi dẹp từng xe cho xe chỉ huy đi qua, đồng thời đoàn xe phía sau bám sát không được rời nửa mét. Chiếc xe bab lội nước đi sau xe chỉ huy, thét còi ủ cùng các xe nhất loạt phát còi thúc giục.
Cũng có anh bướng không chịu nhường, nhưng quay lại thấy một đoàn xe thuyền toàn bằng sắt thì cũng khiếp nên phải tránh vậy. Nguyễn Đen điện cho tiểu đoàn tên lửa phải bám sát đội hình đoàn xe thuyền của công binh.
Bằng cách ấy vừa kêu gọi, vừa vận động, vừa hăm doạ kể cả cãi cọ nhau. Sau một giờ đoàn xe thuyền đã tới bến phà, và chỉ sau hai giờ lắp ghép phà và chèo chở bảo đảm cho tên lửa vượt sông. Đang vượt sông thì máy bay Mỹ đến bắn phá ác liệt, nhưng các chiến sĩ công binh và tên lửa không ai lùi bước. Pháo cao xạ xung quanh và tất cả súng bộ binh cũng đều bắn lên buộc máy bay địch phải lên cao, không đánh trúng mục tiêu lợi dụng pháo sáng, quân ta tắt đèn đóm vẫn lầm lũi vượt sông nhanh chóng.
Sau hơn bốn mươi phút bốc dỡ khí tài lên xe, đội hình xe thuyền lại quay về khu rừng thông được đầy đủ. Đại đội trưởng Nguyễn Xuân Hồng đề nghị cho anh em nghỉ. Nhưng Nguyễn Đen đã động viên cán bộ chiến sĩ đại đội ba phải nhanh chóng trở về căn cứ trước khi trời sáng. Lúc này đã là bốn giờ sáng, cố gắng về tới địa điểm trú quân trước sáu giờ rưỡi. Nguyễn Đen linh tính thấy sự nguy hiểm khi trời sáng ở khu vực này:
- Mục tiêu tên lửa hành quân đã bị lộ.
- Xe cộ đang bị ùn tắc lại, không kịp thời sơ tán.
Quả nhiên, đúng như phán đoán của Nguyễn Đen, sáng hôm sau máy bay giặc Mỹ làm một cuộc tập kích huỷ diệt khu vực bến Lèn. Hàng trăm xe bị cháy tan tành, trong đó có cả xe chở khách không kịp sơ tán. Nỗi khốc liệt tang thương bao trùm lấy khu vực bến Lèn và làng xóm nhân dân trong vòng ba ki-lô-mét. Cũng may đơn vị tên lửa vượt sông đã kịp triển khai trận địa trước khi trời sáng và đã bắn rơi hai chiếc máy bay F105 khi chúng đánh phá huỷ diệt bến Lèn.
Những ngày khốc liệt theo mãi trên những tuyến đường, những dòng sông của tiểu đoàn 27


KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN CỦA CÔ CHINH
   
Sông Chu, một đêm mùa đông năm 1965. Bọn Mỹ đang đánh phá rất dữ dội. Tổ thợ lặn công binh của tiểu đoàn 27 do Nguyễn Văn Bìa làm tổ trưởng được cử đi cắt những thanh sắt cầu bị sập để mở thông dòng sông. Sau khi làm hết ca, Mậu đồng chí trẻ nhất tổ lên bờ nghỉ. Đến lượt Nhẫn xuống cắt tiếp một thanh sắt hình chữ T hai tầng đang cản trở giữa dòng sông.
    Công việc đã xong, Nhẫn đang bám vào thanh sắt khác ngoi lên bờ để kiểm tra điểm hoả bộc phá thì một đợt nước xoáy khá mạnh bỗng tràn qua. Bị bất ngờ, Nhẫn tuột khỏi thanh sắt và bị dòng nước cuốn băng đi. Nhẫn cố ngoi lên, ngoi lên nhưng chiếc dây bảo hiểm đã tuột ra từ bao giờ và mắc lằng nhằng vào vật gì đó làm anh không thể nào ngoi lên được. Cùng một lúc, đầu nhọn của thanh sắt khác đâm xuyên vào tay trái, xé rách một miếng áo lặn khá to, nước từ ngoài, theo lỗ thủng ùa vào. Nhẫn phải dùng tay phải bịt lại, ngăn nước, nhưng vẫn không sao ngăn được tia nước quái ác ấy. Nhẫn vội vàng gọi điện cấp cứu cho Mậu và Chinh, (Chinh hồi đó là cô thanh niên xung phong được cử đến giúp công binh làm việc). Lúc đầu Nhẫn còn nghe Mậu hỏi lại: “Mắc dây à? Thủng áo à?” Sau đó không nghe thấy gì nữa. Thật là nguy hiểm! Giữa dòng nước mênh mông, đen sẫm, người Nhẫn bị treo lơ lửng gần đáy sông, hai chân chới với. Nhẫn không còn cách gì để gỡ dây ra được. Tất cả chỉ còn hy vọng vào những người trên bờ xuống cứu, nhưng anh gọi điện đến rát cổ họng mà vẫn không thấy tiếng trả lời.
    “Dây dứt hay Mậu bỏ về tìm người? Có thể là như vậy. Mậu là thợ lặn mới, chưa lặn “vo” dưới chiều sâu tám, chín mét nước bao giờ. Hơn nữa, đây là công việc mạo hiểm. Thế thì Mậu bỏ mình thật ư? Bỏ mình giữa dòng nước này ư?  Ôi!.. Nhẫn rùng mình với ý nghĩ ấy, và cố giãy dụa đôi chân hòng tự thoát. Nhưng càng giãy thì dây ở sau lưng anh càng kéo căng và xiết chặt hơn, xung quanh anh nước mênh mông, đen sẫm, vẫn tiếng nứơc xối  qua các chân cầu, rít qua những thanh sắt phía sau, vẫn tiếng nước luồn lách chảy qua chỗ áo rách thành những tiếng rùng rợn ghê người. Chiếc áo lặn lúc bình thường là vật che chở thân thể, giúp cho anh lặn, làm việc, nhưng giờ đây lại trở thành thứ hại anh.
Nhẫn vẫn cố giãy dụa, cố vùng vằng để thoát ra khỏi nó, nhưng nó vẫn bọc kín lấy anh để cho nước bên trong dâng lên, lúc đầu nước còn ở dưới bàn chân. Dần dần lên đến đầu gối, rồi dâm dấp tràn lên bụng… Nhẫn hét lên gọi Mậu, gọi Chinh, rồi nói huyên thuyên những gì, anh không rõ nữa. Chỉ biết lúc ấy, Nhẫn đã khóc và gọi mẹ.
Đang miên man với những lời nói cuối cùng thì anh cảm thấy “ào” một tiếng động lớn, rồi lát sau có bàn tay ai nắm lấy áơ lặn phía sau giật giật mấy cái. “Có người xuống cứu rồi! Đúng Mậu rồi”. Nhẫn vụt nghĩ ra và đưa cả hai tay định chộp lấy Mậu, nhưng vừa buông tay nước đã xối vào, anh lại phải bịt lại và la lên: Gỡ ra! Gỡ ra cho mình! Nước vào nhiều quá rồi! Nhưng Mậu đã bỏ anh. Nỗi vui mừng thoáng đến với anh rồi tan biến, để anh trở lại với cảm giác hãi hùng ban đầu.
Lại có bàn tay người nào đó chộp mạnh vào áo lặn của Nhẫn một cái rồi mất luôn. Tiếp theo, lại một lần nữa có cái gì động nhẹ vào mũ của anh rồi cũng mất nốt. “Ai thế nhỉ?”. Nhẫn không thể biết được người đó là ai mà chỉ đoán là một người đã yếu sức nên không lặn lâu được.
Nhẫn phải rướn cổ lên để giành giật khoảng không khí nhỏ nhoi trong mũ và bắt đầu uống nước. Những ngụm nước chảy nhanh qua cổ lạnh buốt làm anh càng sợ hãi. Anh cố rướn người lên nữa để giành giật lấy giây phút ít ỏi của cuộc sống. Nhưng không được. Nước vẫn liên tiếp chảy vào bụng anh. Anh kinh hoàng đến tột độ. Một cảm giác mang máng có bàn tay ai đẩy anh một cái rồi cũng không thấy đâu nữa. Những tia hy vọng mỏng manh hé lên rồi lại vụt tắt như đùa giỡn với sự hấp hối của anh.
… Nhẫn đã lịm đi, nhưng lại có người nào đó giật nhùng nhằng phía sau làm anh bừng tỉnh. Sức sống thoi thóp của anh bỗng tập trung truyền ra cả hai tay. Anh quờ quạng trong nước tìm người kia nhưng hình như người kia đã biết và tránh được phía sau anh, người kia vẫn giật nhùng nhằng. Rồi bỗng nhiên lưng anh bị đạp rất mạnh làm anh chúi xuống… Lúc ấy, anh đã lịm đi và không còn biết gì nữa.
Khi tỉnh lại, Nhẫn đang nằm trong căn phòng của một bệnh viện sơ tán. Ngồi bên là một cô gái mà anh nhận được ngay đó là Chinh. Chinh cũng nhìn anh đăm đăm. Cô khẽ reo lên:
- Ôi ! Anh Nhẫn! Anh tỉnh rồi!...
Nhẫn tưởng như mình vừa qua một giấc ngủ say, vội hỏi Chinh:
- Sao tôi lại ở đây, cô Chinh?
Chinh vui vẻ cười:
- Thế là anh thoát nạn rồi đó!
- Sao? Tôi bị nạn à? Có thật không?
- Thật! – Chinh trả lời rồi chẳng đợi Nhẫn giục, cô hổn hển kể lại sự việc cho anh nghe.
Thì ra giữa lúc cô thay anh Mậu để bơm hơi cho Nhẫn được một lát thì Mậu buông máy điện thoại la lên:
“ Nhẫn bị mắc dây, thủng áo lặn rồi! Cứu ! Cứu ngay, Chinh ơi, ối bà con ơi, có ai không, giúp tôi với!” Chinh hoảng quá, cũng la lên và chạy theo Mậu. Tới nơi, Mậu chỉ kịp giật áo, ném lại rồi lao ngay xuống dòng nước, Chinh cũng xuống theo, Mậu lặn lần thứ nhất, nhưng vì lặn vo không có áo nên đã phải sớm ngoi lên. Mậu lấy hơi lặn tiếp, nhưng lần này sức chịu đựng của anh ở dưới nước càng ít hơn. Chỉ độ hơn một phút anh đã phải ngoi lên. Tiếng anh lạc đi. Anh bảo: “Sâu quá!... Sâu quá!...” không thể để cho Mậu lặn nữa. Chinh bám vào dây lặn luôn.
-Trời! Chinh cũng lặn cứu tôi nữa cơ à? – Nhẫn không nén được nữa, kêu lên nho nhỏ.
- Vâng, lúc đó nhìn thấy các anh như vậy, em không sao cầm lòng được. Em cũng liều, may ra cứu được anh. Nhưng vừa mới chạm vào anh thì cũng phải bỏ, ngoi lên ngay.                   
Giữa lúc Chinh đang trò chuyện với Nhẫn thì từ phòng bên cạnh có tiếng nói ú ớ, miên man của một người nào đó, rồi có tiếng gọi cấp cứu. Chinh vội ngừng lại: “Thôi, anh nằm lại đây nhé, em sang bên này một lát đã?” . Nói rồi Chinh chạy đi luôn.
Nhẫn nằm lại, nhưng bụng dạ không yên chút nào. Anh cố nhỏm người dậy nhìn theo Chinh và chập choạng lần ra một chiếc giường kê sát phòng bên: Có ba bốn người mặc áo choàng trắng đang chụm đầu vào một người nằm trên giường. Trên đầu người nằm có một vòng băng cuốn gần sát mắt, ở mũi anh có hai ống cao su thông với một cái bình đặt trên bàn. Một y tá đang ngồi bóp bóp một quả bóng cao su điều chỉnh ô xy cho người nằm thở. Một y sỹ khác đang cắm mũi kim tiêm vào cánh tay người đang nằm thiêm thiếp.
Dưới chân giường có một chiếc khay sắt tráng men còn nguyên những miếng bông đỏ máu. Nhẫn ngạc nhiên và buột miệng kêu lên: “Ai bị thương thế kia?”.
Một chị đã đứng tuổi, có lẽ là y sĩ quay lại vội vàng hỏi:
- Cô Chinh đâu? Sao lại để anh này ngồi đây thế?
- Nghe gọi, Chinh liền chạy trở lại, vòng tay qua lưng Nhẫn, giọng khe khẽ:
- Anh về nghỉ cho lại sức! Anh về nghỉ đi!
Nằm xuống giường, Nhẫn nhắc lại câu chuyện cứu anh mà Chinh đang nói dở dang. Chinh lại kể tiếp:
- Vừa lúc em lặn không được, phải ngoi lên anh ạ, thì thấy một người ở phía trong xóm chạy ra, tới chỗ em và anh Mậu. Em chưa kịp nói gì thì anh ấy đã hỏi: Nhẫn mắc ở chỗ này à? Chỗ này à? Bị lâu chưa? Em và anh Mậu chưa kịp trả lời, anh ấy đã bám dây bảo hiểm lặn xuống luôn.
Mấy phút sau, anh ấy phá mặt nước trồi lên, miệng thở dốc ra, sức anh ấy có vẻ đuối lắm, anh Mậu vội cầm lấy tay bảo: “ Cậu đang ốm, đừng lặn nữa, lên đi!”. Nhưng anh âý không nghe, giật tay ra khỏi anh Mậu rồi lấy hơi lặn tiếp. Em và anh Mậu cứ cuống cả lên lo cho anh ấy. Anh ấy đã lặn được một lúc nhưng mà chưa thấy lên, làm cho em càng hoảng. Bỗng đầu dây bảo hiểm giật mạnh đến nỗi làm em và anh Mậu phải nhào theo thì ra, anh ấy đã đạp rách áo lặn mới cứu được anh.
- Rách áo lặn à?...
Nhẫn vừa hỏi lại được có thế, thì ở phòng bên  lại có tiếng xôn xao làm cho Chinh lại phải kiễng người, ghé mắt qua tấm phên nứa nhìn sang. Cô lặng đi, lát sau cô kể tiếp:
-  Cứu được anh lên, thì anh ấy đã bị dòng nước cuốn đi mất anh ạ! Nhìn dòng nước đang cuồn cuộn chảy, em không sao cầm được nước mắt. Anh Mậu phải động viên em rồi giao nhiệm vụ: “ Cô đưa Nhẫn về trạm ngay, còn tôi ở lại tìm anh ấy”.  Em xốc anh lên vai, chạy về. Anh Mậu ở lại, tìm quanh chỗ đó mãi vẫn không thấy nên phải chạy xuống hạ lưu, lại gọi mấy người ra tìm giúp. Họ phải tìm khá vất vả mới thấy anh ấy. Tệ quá, không hiểu vướng vấp vào những thứ gì mà người anh ấy bị toạc ra mấy chỗ. Lại bị thêm sức ép, máu từ mũi anh ấy ộc ra khá nhiều. Đấy anh ấy đấy! Từ lúc đưa về đây đến giờ, anh ấy vẫn chưa tỉnh lại được. Anh Mậu bảo anh ấy cũng cùng một tiểu đội, tên là anh Bìa.
- Bìa? Bìa? – Nhẫn gần như giật bắn người kêu lên. Người anh như có một dòng điện chạy qua. Anh tung chăn vùng dậy.
“ Ôi! không ngờ người đang nằm phòng bên kia lại là Bìa, mà Bìa chính là người đã cứu sống tôi!” Không thể chịu được nữa. Nhẫn liền hất tay Chinh, định lao sang phòng bên, nhưng Chinh đã cố giữ anh lại. Cô ôm chặt lấy Nhẫn.
- Em xin anh, anh nằm lại đây! Anh làm sao thế?
Giữa lúc Nhẫn đang giằng co với Chinh thì chị y sĩ ban nãy nghe tiếng chạy sang. Chị ngồi xuống cạnh anh dẽ dọt:
- Nhẫn ạ! Chị, chị rất biết tâm trạng của em lúc này, nếu sang gặp Bìa bây giờ thì có thể ảnh hưởng đến tính mạng của đồng chí ấy nữa. Để lúc khác, hãy sang gặp em ạ!
Lời nói của chị ngọt ngào làm sao, mà cũng như một mệnh lệnh. Nhẫn chỉ biết nghe lời chị và nằm lại.
Nhẫn nằm lại đấy, nhưng đầu óc anh mỗi lúc một thêm rối tung, đau đớn: “Bìa đang nằm kia! Bìa đã cứu sống tôi, cứu sống một thằng bạn. Không xứng đáng!!!”.
 Cách đây bốn hôm. Đêm ấy, khi Nhẫn vừa hết ca làm việc, Bìa xuống thay Nhẫn kiểm tra và bổ sung thêm những đoạn giằng chéo chân cầu Lèn bị bom làm hỏng. Bìa làm việc được một lúc lâu, Nhẫn liền bảo Mậu ở lại bơm hơi cho Bìa, còn anh đi kiếm cái đòn khiêng khác, chuẩn bị cho lúc về. Nhẫn rời chỗ Mậu độ chừng hai ba chục mét thì máy bay ào ào lao tới, cắt bom luôn. Một loạt, hai loạt, rồi ba loạt bom nổ tung ở dưới quãng sông gần cầu dưới, cách chỗ Bìa và Mậu đang làm một vài chục mét. Nhẫn vội vàng nhảy vào một căn hầm chữ A gần trước mặt. Giữa lúc đó, từ phía cầu có tiếng gọi thất thanh: “ Nhẫn ơ ơ…ơi!... Lại.. đâ… ây lại đâ…ây ngay! .. Nhẫn ơ ơ.. ơi !...” Mậu gọi Nhẫn làm gì ? Chắc là có chuyện ! Một ý nghĩ thoáng nhanh, anh liền nhảy lên miệng hầm, toan chạy trở lại, thì một loạt bom khác lại nổ, làm anh ngã giúi xuống. Anh ngóc lên định chạy, nhưng lại loạt bom nữa nổ. Tiếng nổ ầm ầm, nhưng bên tai anh vẫn văng vẳng tiếng của Mậu thất thanh hơn: “Nhanh lê ên lên Lạ ại đây !”. Nhẫn nhổm lên lần nữa, nhưng loạt bom khác lại nổ. Tiếng nổ đè nặng lên đầu làm anh không sao nhấc lên nổi. Nhẫn ơ ơi … nhanh lê ên cứu vớ ới …! Tiếng Mậu càng thất thanh, càng thúc giục. Những ánh chớp bom cứ sáng loé làm Nhẫn sợ quá, cứ nằm bẹp tại chỗ. Trong ánh chớp bom, anh thấy thoáng bóng một cô gái chạy như bay đến chỗ Mậu “Đúng là có chuyện gì rồi ! Có chuyện Mậu mới gọi Nhẫn gấp thế !” Nhẫn lại muốn chạy đến, nhưng tiếng rít của máy bay, tiếng bom nổ và ánh đèn dù lại đè Nhẫn dán người xuống. Đàn máy bay lồng lộn và ném thêm mấy loạt bom nữa rồi chuồn ra xa. Bấy giờ Nhẫn mới dám rời căn hầm về chỗ Mậu.
Nhẫn tới nơi thì thấy Bìa nằm đấy. Mậu đang xoa xoa bóp bóp khắp người Bìa. Thấy hơi thở thoi thóp của Bìa mà Nhẫn bủn rủn cả người. Anh không hiểu câu chuyện xảy ra như thế nào và cũng không dám hỏi câu gì. Nhẫn lẳng lặng thu gọn bộ áo lặn lại và làm những việc lặt vặt mà Mậu hay cô gái cần tới. Được lúc lâu sau anh mới biết: Lúc bom nổ, nước sông chấn động mạnh, một thanh sắt cầu bị gãy từ hôm trước văng ra đè lên dây bảo hiểm dây truyền hơi của Bìa. Bìa không gỡ ra được và đã bị ngạt. Giữa lúc Mậu gọi Nhẫn, không thấy anh đến, thì có một cô dân quân từ phía hạ lưu xách súng chạy tới. Mậu đã giao cho cô gái bơm hơi, còn mình xuống cứư. Vì lặn “vo” chưa quen, nên phải lặn tới mấy lần, Mậu mới kéo được thanh sắt ra cho Bìa…
Từ hôm đó, lòng Nhẫn luôn luôn day dứt xấu hổ. Cứ mỗi lần nhìn thấy Bìa, cổ anh lại tắc nghẹn, mặt anh rát bỏng, Nhẫn đã mấy lần định nói hết tâm trạng của mình cho Bìa nghe và xin Bìa tha lỗi cho anh. Nhưng mỗi lần định nói thì lại không sao nói được nữa. Anh chỉ dành hàng ngày đến chăm sóc cơm cháo cho Bìa. Nhưng ác thay, sự ân hận như thế không những không giảm mà càng tăng thêm. Nhẫn cảm thấy như bên tai lúc nào cũng có tiếng gọi văng vẳng của Mậu và tiếng thở thoi thóp của Bìa. Hôm nay nhận nhiệm vụ, anh hy vọng sẽ làm thêm phần việc chưa làm xong. Nhẫn không may đã bị tai nạn tưởng chừng không thoát nổi. Thật không thể ngờ, người đã cứu sống anh hôm nay lại chính là Bìa người bạn mà mới cách đây vài hôm, Nhẫn đã bỏ mặc trong giây phút hiểm nghèo.
Tiếng ú ớ miên man của Bìa lại dội sang, Nhẫn càng bối rối Nhẫn lại định tung chăn chạy sang lần nữa nhưng bàn tay của Chinh lại nhẹ nhàng đỡ anh nằm xuống.
Tình cảm của Chinh với Bìa bắt đầu nẩy nở từ hôm đó. Nhưng họ chưa được yêu nhau trọn vẹn thì Bìa lại đi Nam chiến đấu cùng với Nguyễn Đen từ dạo đó. Rồi Bìa hy sinh và nay lại gặp Nguyễn Đen ở bến sông này.
                    *        *
                                                        *
KẺ ĐỐ KỴ KHÔNG NGỒI YÊN
   
Hai hôm sau, Cao Thành từ Bộ tư lệnh quân khu cũng đùng đùng lên đường vào lúc gần nửa đêm để xuống bến Cổ Tế kiểm tra, đôn đốc tiểu đoàn 27. Anh lái xe của cơ quan tham mưu Bộ tư lệnh tuy mới trong vòng hơn nửa năm, cũng đã quá thuộc cái tính đồng bóng bất tử của vị trợ lý mới về. Khi được yêu cầu ra đi vào giờ khuya khoắt thế này, anh vẫn không khỏi bực tức, cằn nhằn.
    Lẽ ra Cao Thành có thể đi từ chiều, theo gợi ý của đồng chí phó tư lệnh. Nhưng Cao Thành vẫn cố nán ở lại để xin dự một hội nghị của hậu cần. Theo Cao Thành nghĩ: Việc gì anh ta cũng cần phải biết, và cần đóng góp ý kiến. Xẩm tối, anh lại xin đi dự cuộc họp của thanh niên cơ quan. Buổi sinh hoạt này là buổi sinh hoạt của nữ thanh niên. Cao Thành cũng rất muốn có mặt để được kể lại cho các em, các cháu nghe về những cô thanh niên trong chiến trường nhằm giáo dục họ. Cuộc họp thanh niên kết thúc lúc mười giờ khuya. Thông thường thì sáng sớm mai Cao Thành lên đường cũng được. Nhưng anh không thích thế. Anh muốn tỏ ra cho Bộ tư lệnh và tất cả mọi người  hiểu rằng: Cao Thành là một con người cực kỳ sôi nổi, cực kỳ xông xáo, một con người đã dành tuyệt đối và trọn vẹn cuộc sống của mình cho cách mạng, không hề tiếc máu cũng không hề tiếc sức! Đó là một mặt, mặt khác ra đi lúc nửa đêm như thế này là để nhắc nhở cho tiểu đoàn 27 hiểu rằng công việc là cực kỳ quan trọng, khẩn trương, và cấp trên đang theo dõi, giám sát công việc  của tiểu đoàn 27 một cách hết sức chặt chẽ, nghiêm túc; do đó tiểu đoàn cần phải ra sức mà làm việc cho tốt…
    Chiếc xe rồ máy ra đi, làm nhiều người trong cơ quan Bộ tư lệnh tỉnh giấc. Họ ngơ ngác, không hiểu con người này cứ luôn luôn thích lao vào, xỉa vào tất cả công việc của ngưòi khác, và luôn luôn thích gây ra những tình huống căng thẳng giả tạo và rất nhiều lúc không cần thiết để làm gì vậy?
    Cũng gần giống với Nguyễn Đen hai đêm trước, ngồi trên xe Cao Thành suy nghĩ mông lung không sao chợp mắt được. Anh sắp gặp lại Nguyễn Đen, con người “quá may mắn ấy”! Không hiểu sao cứ trông thấy vẻ mặt hơi lầm lì nhưng đầy tự tin và bướng bỉnh của Đen là Cao Thành lại chỉ muốn sốt tiết. Nói chung anh không thể nào chịu được những cán bộ mà anh cho là quá nhàn nhã và xa thực tế ở cái hậu phương này. Cần phải để họ được thử thách, được tôi luyện gắt gao hơn nữa. Tốt nhất là ở chiến trường. Như thế họ mới có thể được một lập trường thật kiên định, vững chắc. Thực tế chiến trường quả là vô cùng vĩ đại, mầu nhiệm. Những con người đã lăn lộn trong máu, có thể làm được tất cả mọi chuyện, mọi việc ở trên đời này một cách chính xác và tuyệt diệu nhất. Họ là những lớp người hoàn toàn mới, lớp người đỏ rực lửa máu, lớp người tiêu biểu, xứng đáng được lịch sử trao cho những nhiệm vụ then chốt của Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng mới….
    Thật vậy, Cao Thành từ khi về đây, luôn luôn bứt rứt không yên trong lòng. Anh muốn phá bỏ tất cả, thay đổi tất cả, đã một lần gặp riêng đồng chí phó Tư lệnh, lấy tình thân quen, Cao Thành đã thẳng thắn, và tin tưởng tuyệt đối là vì lợi ích cách mạng mà mình phát biểu: “Anh hãy cho tôi về chỉ huy cái 27 đi! Tôi sẽ vực nó lên, đấu tranh kiên quyết, loại trừ mọi sự trì trệ, bảo thủ tiêu cực của nó…”. Đồng chí phó tư lệnh cũng tin là Cao Thành xông xáo, sôi nổi có thể xốc được cái 27 lên hơn nữa. Mặt khác trong chốn kín đáo nhất của lòng mình, ông cũng muốn có một nhóm thân tín trong “ê kíp” để đễ làm ăn khi vào đơn vị mới. Nhưng ngặt một điều: trước mắt 27 đang không có vấn đề nào có thể chê trách được nó, cho nên ông thấy chưa tiện thay đổi gì lớn đối với nó. “Được, để rồi xem, nếu cậu thích”. – “ Báo cáo anh, đâu có vấn đề tôi thích hay không thích. Đây là vì lợi ích chung anh ạ!” – “Đúng! Đúng! Tất cả chúng ta cũng chỉ vì cách mạng hết mà!”.
    Trời sáng dần. Mặt trời như một trái cam vàng đã vượt lên khỏi đường chân trời, sau một làn sương mỏng nhẹ kéo dài. Đã tới Cổ Tế, chiếc xe ngoặt vào trong xóm. Hỏi một vài người, Cao Thành nhanh chóng tìm được ngay nhà tạm trú của sở chỉ huy tiểu đoàn 27.
    Cả Nguyễn Đen và Đoàn Liễu đều vắng mặt, chỉ có một anh đại đội phó trẻ tuổi đang ngồi trực ban bên một máy vô tuyến điện và một máy điện thoại.
    - Hai đồng chí kia đi đâu cả?
    - Báo cáo, các đồng chí ra bến hết, tiểu đoàn trưởng đang ở bờ nam, tiểu đoàn phó ở bờ bắc.
    - Làm gì vậy?
    - Báo cáo, đường xuống bến Cổ Tế sau đợt mưa dài ngày, lầy lội quá, lại thêm hố bom be bét cả ở ngay đầu cầu. Tiểu đoàn đang cùng với nhân dân địa phương sửa lại đường, lấp hố bom.
    Cao Thành thở dài lắc đầu, nhăn mặt:
    - Vậy hôm nay đã là ngày cuối cùng, làm thế nào mà các anh có thể hoàn thành nhiệm vụ?
    Anh đại đội phó trẻ, tươi cười, hồn nhiên:   
- Báo cáo đồng chí phái viên, được chứ ạ!
- Được là thế nào? Các anh đừng có chủ quan!
- Báo cáo, tiểu đoàn đã có tính toán đầy đủ cả.
- Tính toán! Tính toán! Được để xem! Vậy còn tình hình các bến khác trong phạm vi khu vực do toàn tiểu đoàn các anh phụ trách thế nào rồi? Đã nắm được tình hình gì chưa? Nơi nào cũng thế cả thì chết cả lũ đấy!
Một lần nữa anh đai đội phó trẻ lại tươi cười hồn nhiên như không:
- Các đại đội trên bến Mục Sơn, bến Cẩm Thuỷ đều có báo cáo rõ: Đã tập kết về gần đầy đủ, khí tài, quân số, nhất là cái anh ở bến Mục Sơn. Báo cáo, đại đội đồng chí Trần Đằng ở tít cuối tỉnh, xa đúng hai trăm năm mươi ki-lô-mét, vậy mà cũng vừa mới điện về: bảo đảm mười giờ sáng hôm nay có thể triển khai toàn diện để bắc cầu qua sông Bưởi...
Cao Thành nhìn anh đại đội phó trực ban. Anh rất khó tin đây là những lời báo cáo thật chính xác. Dường như đọc được sự nghi ngờ trong cặp mắt nhỏ, nhọn sắc và luôn luôn cứng như hai mũi dùi của Cao Thành, anh đại đội phó trực ban vui vẻ, hồn nhiên:
- Báo cáo đồng chí phái viên, lần đầu đồng chí về 27, chưa hiểu rõ chúng tôi đấy thôi, 27 có truyền thống cơ động từ lâu, lại đã quá quen trong việc vừa tổ chức, vừa huấn luyện trong hành tiến cơ động… Đồng chí cứ yên tâm. Tiểu đoàn đã tính toán cả rồi!
- “Tính toán! Tính toán!” – Cao Thành lẩm bẩm. Anh cũng lo cho cái 27 không hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng đồng thời trong anh, lại có một tiếng nói khác đang cầu mong cho cái 27 này sẽ không thể làm tốt công việc đó
    Lát sau, anh đại đội phó gọi một chiến sĩ liên lạc đưa Cao Thành ra bến sông.
    Anh chiến sĩ còn quá trẻ, trạc 17, 18 tuổi là cùng, đen như củ súng, quần áo nhàu nát, đầy dầu mỡ và bùn đất, hai vai áo rách tã. Đúng là quân công binh, không cần phải đoán, chỉ thoáng nhìn là biết ngay. Nhưng cũng lạ, không hiểu có phải mọi người của cái tiểu đoàn này đều giống nhau cả hay không mà anh chiến sĩ trẻ nom vất vả, gầy guộc, lam lũ vậy lại cũng rất vui vẻ chẳng khác gì anh đại đội phó ban nãy.
    Ra khỏi xóm đã thấy ở đằng xa, nhân dân và bộ đội đang gồng gánh, khiêng vác qua lại rất tấp nập – Cao Thành nheo mắt lại hỏi:
    - Sao ít bộ đội vậy? Đi đâu cả rồi?
    - Báo cáo, một nửa đơn vị đang cấp tốc học khí tài mới T.P.P ở trong làng ạ!
    - Hả? Học hả?
    - Vâng ạ! Báo cáo, tiểu đoàn mở lớp ngay từ hôm qua, tiểu đoàn bảo một mặt cấp tốc huấn luyện để nắm vững khí tài mới, một mặt khẩn trương sửa bến. Hai việc cùng song song ạ!
    - Nhưng ai dạy? Chưa có giáo viên về mà!
    - Báo cáo, tiểu đoàn trưởng chúng em cũng kỹ sư đấy ạ. Kỹ sư hai bằng là đằng khác! Tiểu đoàn trưởng đọc tài liệu rồi hướng dẫn. Đợi người ở trên về sợ muộn, không kịp…
    Cao Thành một lần nữa nhăn mặt, lắc đầu.
    Hai người đã ra tới bến sông. Quang cảnh sửa đường khá tấp nập, sôi nổi. Dân quân, thanh niên, bộ đội… tất cả như những con thoi, chuyển đất, chuyển đá từ xa về để vá, lấp các hố bom, và san sửa các hốc hố, ổ gà lầy lội ghê gớm trên mặt đường. Tiếng hò, tiếng hát râm ran, vang rộn cả bến sông.
    Anh liên lạc đưa Cao Thành tới chỗ Đoàn Liễu. Anh này đang đôn đốc, chỉ huy chung công cuộc sửa đường ở bờ bắc.
    Từ xa, nom thấy cái dáng đi hùng hục của một tấm thân hơi thấp và to ngang, Đoàn Liễu đã ngờ ngợ. Rồi nhìn rõ một khuôn mặt rám nắng cứng cỏi và đôi mắt sắc nhọn như hai mũi dùi, Đoàn Liễu đã nhận ra người phái viên này là ai.
    Cao Thành tiến lại bắt tay Đoàn Liễu và mỉm cười dịu dàng:
    - Thế nào, công việc liệu có kịp không anh?
    Đối với Cao Thành, Đoàn Liễu không là cái gì hết. Đây là một con người mà Cao Thành coi như dưới tầm mình về đủ mọi phương diện. Chẳng những thế, vốn sắc xảo và hay xóc óc, đi tới đâu cũng tìm cách gây chuyện, và thọc sâu vào nội bộ của người khác, Cao Thành đã biết được không ít điều về người tiểu đoàn phó này, một con người bình thường về tất cả mọi mặt, nhưng lại nổi tiếng về tính đố kỵ. Do đó Đoàn Liễu có tài gây dư luận, gây bè phái rất nhanh. Cao Thành biết Nguyễn Đen đã và đang bị vị tiểu đoàn phó này âm thầm kèn cựa. Thỉnh thoảng Đoàn Liễu lại chơi một đòn ngầm sau lưng để hạ uy tín Nguyễn Đen
Đối lại, Đoàn Liễu cũng hiểu Cao Thành. Trong thâm tâm, Đoàn Liễu chẳng ưa con người này nhiều điều, nhưng lại rất thích một điều: ấy là Cao Thành cũng đố kị Nguyễn Đen. Bởi vậy giữa Liễu và Cao Thành có một điểm gặp gỡ như đã đón đợi nhau từ lâu. Cũng do đó, hai người bề ngoài cũng tỏ ra hết sức dịu dàng, yêu thương và tôn trọng nhau.
    Đoàn Liễu mời Cao Thành ngồi nghỉ dưới một gốc cây nhỏ bên đường đã bị bom phạt cụt gần một nửa cành lá. Đoàn Liễu phân trần khi thấy Cao Thành nêu lên nhận xét đầu tiên: “Tinh thần làm việc của mọi người rất tốt, nhưng lực lượng hơi ít. Theo ý tôi, lẽ ra phải huy động bà con mấy xã chung quanh để sửa lại đường này cho bảo đảm chắc chắn về thời gian”.
    - Báo cáo, tôi hoàn toàn nhất trí với anh, ý tôi ngay từ đầu cũng vậy. Nhưng ông Nguyễn Đen của chúng tôi cứ không chịu. Tôi là phó. Tôi không có toàn quyền. Tôi làm thế nào khác được hở anh? Anh thông cảm cho. Ngoài ra, anh xem kia, chung quanh bến đều đồng trũng lênh láng nước cả. Đất đá, gỗ lạt đều phải chuyển từ xa đến, như vậy liệu rồi sẽ ra sao? Tôi đã có ý kiến là: nên dỡ mấy cái văn chỉ ở rìa làng, cái nhà bia ở cổng làng để lấy thêm gạch đá. Cả cái tam quan chùa đã bị bom hư hại nữa. Mà bây giờ thì còn mê tín cái gì chứ? Ông ấy cũng không nghe, bảo tính toán đất đá gỗ lạt với uỷ ban, dân quân và thanh niên trong làng cả rồi. Lại còn hy vọng ở tỉnh nữa. Theo kế hoạch hiệp đồng, 9 giờ sáng nay tỉnh sẽ có xe chở đá từ bến Chuyên tới. Tôi sợ hiệp đồng ấy không chắc đã thành, nên cũng đang lo lắm…
    Thấy Cao Thành chăm chú, và như đọc được những đồng tình, ủng hộ trong mắt người phái viên, Đoàn Liễu chép miệng thở dài, tiếp tục:
    - Ông Đen “nhà chúng tôi” là người tháo vát thật, nhưng dạo này “anh em” họ kêu lắm, nhất là từ khi có hai bằng kỹ sư, ông ấy chẳng còn chịu nghe ai nữa…
    “Anh em”, hai từ ấy sao mà thiêng liêng và quan trọng! “Anh em” hẳn có nghĩa là đông đảo quần chúng. “Anh em” cũng có nghĩa là tuyệt đại đa số trong Đảng bộ… “Anh em “ đã “kêu” như vậy, Nguyễn Đen hiển nhiên là sai lầm rồi còn hồ nghi gì nữa? Cao Thành quá hiểu như vậy.
    Nhưng anh cũng thừa biết hai tiếng “Anh em” mà Đoàn Liễu vừa tung ra, thực chất chỉ là… Đoàn Liễu!
    Cao Thành chìa tay ra cho Đoàn Liễu nắm lấy và mỉm cười. “Tao khinh mày quá! Mà tao cũng hoan nghênh mày quá! Nụ cười có đầy đủ ý nghĩa của câu nói ấy.
    Giữa lúc đó, một cô gái chừng gần ba mươi tuổi, vai khoác súng, quần xắn cao, áo xanh bạc chạy tới. Đoàn Liễu quay lại, đôi mắt của vị tiểu đoàn phó bỗng như bật sáng:
    - Đây là cô Chinh, Chinh là công nhân bến phà , kiêm chỉ huy phó lực lượng địa phương đang giúp đỡ chúng tôi sửa gấp đường, bến.
    Cao Thành đã ba mươi lăm tuổi, nhưng chưa có vợ và cũng chưa từng một lần có người yêu. Đối với phụ nữ, nhất là người có chút ít nhan sắc, con người “gang thép” này bao giờ cũng thoắt trở nên vô cùng dịu dàng, tế nhị. Anh siết chặt tay Chinh và giữ bàn tay cô rất lâu, rồi hỏi bằng một giọng mềm mượt như nhung:
    - Công việc tiến triển tốt chứ? Liệu chừng nào thì có thể hoàn thành kế hoạch, hả cô Chinh?
    Chinh sôi nổi báo cho Đoàn Liễu và cả vị phái viên có vóc người lủn củn, với cặp mắt nhọn hoắt như dùi, nghe về tình hình công việc. Cô cho biết trong xã đang tiếp tục chuyển gỗ, luồng để tăng cường chống lầy.
    Nguyễn Đen từ bờ Nam cũng vừa báo về cho biết: đã nhận được tin đoàn xe tải chở đá của tỉnh còn cách Cổ Tế trên 20ki-lô-mét. Chinh báo cáo thêm, theo kế hoạch của Nguyễn Đen, cô đã triển khai đầy đủ hệ thống cảnh giới báo động máy bay, và trạm cấp cứu cũng đã đặt xong ở ngay sát bến.
    Nguyễn Đen! Cái gì cũng Nguyễn Đen! Đoàn Liễu sầm mặt. Cao Thành cũng thấy rất khó nghe.
    Chinh nói tiếp:
    - Báo cáo các anh, theo tính toán của tiểu đoàn thì 16 giờ 30 sẽ có thể thông cầu. Tình hình này, theo ý em, chắc chắn là được. Các anh cứ yên tâm.
    Lại tính toán! Tính toán! – Cao Thành suýt nữa phải thốt lên một từ gắt gỏng. Tính toán! Từ hội nghị lớn cách đây hai hôm, cho tới nay, đã nghe Nguyễn Đen nói nhiều đến chuyện tính toán, về đây lại thấy từ cậu trực ban đến cô công nhân này cũng lại nói đúng y một giọng như vậy. Lẽ ra Nguyễn Đen phải nói nhiều đến quyết tâm, tới ý chí. Đúng thế, anh chàng này chưa trải qua nhiều máu, lửa chưa thấy hết được vấn đề cơ bản, quyết định này…
    Chinh báo cáo xong, xin Đoàn Liễu bổ sung cho dân quân xã một cán bộ có kỹ thuật để tập trung dứt điểm việc mở một đường tránh trên ruộng lầy, bên trái lối chính xuống bến. Sau đó cô tất tả định quay đi. Đoàn Liễu và Cao Thành không ai bảo ai, đều hết sức ân cần, niềm nở giữ cô lại để uống chén trà mà Liễu đã công phu mang cả phích nước nóng và bộ ấm chén đẹp của anh ta lại “trận tiền”, “uống cho tỉnh táo trong những lúc đầu óc căng thẳng”.
     Chinh từ chối. Liễu thân mật nắm lấy cổ tay cô và gần như  quàng tay ôm choàng lấy lưng cô, với dáng vẻ một người anh vô cùng trong sáng và hết lòng quý mến em út, để giữ cô lại.
    Giữa lúc đó, ngoài xa, tiếng reo hò bỗng nổi lên ran ran cả một vùng sông nước.
    Cao Thành, Đoàn Liễu và Chinh cùng nhìn ra thì thấy một đoàn xe tải cắn đuôi nhau hối hả chạy về phía đoàn người đang tấp nập làm việc nơi gần bến.
    - Đá! Đá! Đá đã về các anh ơi!
    Chinh reo ầm. Cô dựt tay ra và chạy vù đi.   
    Đoàn Liễu và Cao Thành không thể nào khác, cùng vội vã, lật đật chạy theo cô.
    Đá về, công trường càng thêm nhộn nhịp,khẩn trương. Tốc độ và năng suất tăng lên rõ rệt. Cũng thêm một may mắn: hôm nay đã tạnh mưa nhưng trời vẫn còn đầy mây. Từ sáng sớm đến giờ, chưa có máy bay Mỹ đến dội bom như thường lệ.
    Tuy nhiên, đồng hồ đã chỉ 12 giờ rồi. Công việc ở bờ bắc đã có vẻ “hòm hòm”, nhưng tin ở bờ nam cho biết công việc chống lầy, sửa đường còn đang hết sức gian nan. Bên đó lầy lún hơn bờ bắc rất nhiều, hố bom cũng dày đặc hơn.
    Cao Thành đi đi, lại lại từ trên đường xuống dưới bến, rồi lại từ bến ngược lên. Có vẻ như anh đang lo cho công việc của tiểu đoàn, nhưng trong lòng anh, một tiếng nói thầm kín lại vang lên “Cho chúng mày chết! Phen này để rồi xem mày còn trổ tài tính toán đến đâu nữa?”.
    Đoàn Liễu không hoàn toàn như vậy. Anh cũng lo có thể tiểu đoàn không hoàn thành kế hoạch trong hôm nay, nhưng trở lại sở chỉ huy vẫn cứ nhẩn nha bên ấm trà để cố tìm được cơ hội gần gũi Chinh…
    Tin trực ban thoắt báo cáo ra: các đại đội của tiểu đoàn trên toàn tuyến đã báo cáo triển khai toàn bộ đội hình và khí tài, khắc phục xong hầu hết mọi trở ngại trên đường lên, lối xuống; tất cả đang chuẩn bị để bắc cầu ngay ban ngày…
    Tin vui làm cho mọi người ở Cổ Tế cả quân, cả dân đều phấn khởi, và như được một sự kích thích rất mạnh. Tốc độ và năng suất lại vọt lên một mức mới.
    Nguyễn Đen thoắt từ bờ nam trở về bờ bắc bằng một chiếc xe lội nước nhỏ. Toàn thân anh đầy bùn, như vừa chui từ dưới cống lên. Chỉ còn hở có hai con mắt. Anh chỉ gật đầu chào qua Cao Thành rồi lại bắt tay ngay vào việc.
    - Ông Liễu! Khí tài của Nguyễn Đức Thắng đã nhận đủ chưa? Liễu hơi ngẩn ra một chút, rồi lúng túng:
    - Để hỏi lại. Từ sáng tới giờ tôi tập trung vào đường và bến!
    Nguyễn Đen cố giấu một nét cau có:
    - Tôi đã dặn ông: đường sá hết sức quan trọng đã đành rồi nhưng ông chớ có quên khí tài, kể cả cho anh em dượt lại lần chót toàn bộ kiến thức về T.P.P. để sẵn sàng thao tác bắc cầu ngay tức khắc, bất cứ giờ phút nào tính từ 13giờ trở đi. Đã tính toán cả rồi mà…
    Lại tính toán! – Cao Thành ngoảnh mặt đi chỗ khác. Riêng Đoàn Liễu càng không giấu được vẻ bối rối. Nguyễn Đen khoát tay:
    - Thôi được! Anh trở vào làng nắm và đôn đốc ngay hai việc đó. Tôi sẽ chịu trách nhiệm ngoài này.
    Đoàn Liễu úp mũ lên đầu, lật đật đi luôn. Nhưng khi về tới gần xóm, anh chợt phân vân: “Có lẽ thằng này nó đuổi khéo mình vào xóm, để nó tiện trò chuyện với Chinh chăng?”. Rồi thêm hậm hực: “Nó chẳng giữ thể diện cho mình trước mặt thằng Cao Thành. Cái thằng Đen này đúng là chỉ thích chơi trội và hách dịch!”.
    13 giờ, tin bờ nam báo về: mọi việc đã hoàn tất. Tin từ trong làng cũng báo ra: mọi đơn vị, mọi cán bộ, chiến sĩ đã sẵn sàng.
    Chinh cũng hồ hởi sung sướng, bắt chước bộ đội, đứng nghiêm lại trước mặt Nguyễn Đen và Cao Thành vui vẻ:
    - Báo cáo các anh, đường xuống bến chính đã xong. Đường phụ cũng đã xong!
    Thế là lập tức, từ trong xóm, các phân đội cùng ào ào vận chuyển khí tài tiến ra.
    Nguyễn Đen cầm máy nói gọi về các trận địa cao xạ bảo vệ: “Đề nghị sẵn sàng, quyết liệt đánh trả máy bay địch nếu chúng tới, để bọn tôi bắt đầu bắc cầu…”.
    Không khí trên toàn bến trở nên nhộn nhịp gấp bội. Quang cảnh bộ đội công binh ghép phao bắc cầu chưa từng thấy ở nơi đây. Tất cả hệt như một cuốn phim diễn tập quân sự vượt sông quy mô, hùng tráng đang hiện ra trước mắt dân làng, thanh niên nam nữ dân quân, và lẽ cố nhiên cả Cao Thành. Quả thực đây là lần đầu Thành được chứng kiến cuộc bắc cầu hiện đại qua sông với một nhịp độ, một tinh thần đặc biệt như thế này.Hầu hết các cán bộ chiến sĩ 27 đều tỏ ra hết sức dẻo dai, dũng cảm và thông thạo về kĩ thuật, khiến Cao Thành không thể nào ngờ một đơn vị chưa hề được mó tay tới loại cầu T.P.P. này lần nào, chưa có cả thời gian để huấn luyện đầy đủ, vậy mà xem ra cứ như họ đã được dùng khí tài này từ khá lâu rồi.
    14 giờ 20, chiếc cầu hiện đại thẳng tắp như một chiếc thước kẻ khổng lồ đã vắt ngang con sông đang ngầu ngầu nước lũ.
    Nguyễn Đen đến trước mặt Cao Thành nói nho nhỏ:
    - Tôi quyết định 14 giờ 30 cho thông cầu, xin báo cáo để anh biết.
    Cao Thành không còn cách gì hơn  là chìa tay ra bắt tay Đen và thốt lên một câu không thể nào không thốt lên được, dù anh ta không muốn:
    - Xin chúc mừng các anh! Chúc mừng và hoan hô 27 anh hùng!
    Ba giờ sau, một chiếc xe con từ xa bật pha sáng loáng ngả nghiêng phóng tới và phanh cứng lại ở đầu cầu. Cửa xe bật mở, một đồng chí đại tá nhanh nhẹn bước xuống. Nụ cười rất rộng, rất tươi, ông giơ tay nói to ở giữa cầu, nơi dòng sông đang cuồn cuộn xoáy tròn nhiều chỗ đến chóng mặt:
    - Được lắm! 27 đã đánh trả bọn Ních-xơn bằng một trận đầu tuyệt diệu!
    Đó là đồng chí đại tá Lê Nam Thắng đang làm nhiệm vụ phái viên đốc chiến của Bộ tổng tham mưu trong chiến dịch giao thông vận tải lớn này.
    Một lát sau lại có một xe con nữa đến, đó là ông Nhiệm phó tư lệnh quân khu cũng xuống kiểm tra kịp thời.
    Trong lúc đó, đứng cạnh Nguyễn Đen, Cao Thành bỗng nghiêm mặt, ghé sát tai anh, nói nhỏ, như muốn thân mật nhắc kín một việc còn nhiều khiếm khuyết:
    - Nhưng ông Đen ạ, các trận địa phòng không, ông cho đặt xa bến quá. Như vậy đánh địch không tốt đâu!
    Nguyễn Đen gật đầu:
    - Tôi cũnng biết điều này. Nhưng anh coi, chung quanh bến đều đồng trũng, lênh láng ngập lụt cả, không tài nào đưa cao xạ vào gần hơn được nữa.
    Cao Thành vẫn nghiêm nét mặt:
    - Không nói thế được! Phải có quyết tâm! Phải có ý chí, kiên quyết đánh địch. Phải cho anh em đắp công sự nổi mà vào gần chứ!
    Nguyễn Đen lắc đầu:
    - Đã tính toán rồi. Vả lại ở đây bảo vệ bến là chính.
    - Không! Anh coi nhẹ nhiệm vụ tiêu diệt địch là không đúng!
    - Với công binh, tiêu diệt địch là thông bến, thông xe chứ anh?
    - Không! Không đúng! Muốn thông xe, thông bến phải tích cực tiêu diệt địch!
    Ông Nhiệm tư lệnh phó quân khu trao đổi với ông Thắng một lát rồi đi tới trước mặt hai người Nguyễn Đen và Cao Thành. Ông đã trên năm mươi, lăn lộn rất nhiều ở chiến trường, nhưng trông vẫn còn rất mạnh mẽ, hồng hào. Cao Thành vội chìa tay ra. Vốn là chỗ quen biết cũ mà. Vừa là thủ trưởng, lại vừa là người thân, thậm chí còn có thể là người bảo trợ nữa. Nhưng ông Nhiệm hình như chỉ bắt tay Cao Thành một cái chiếu lệ, rồi quay lại phía Nguyễn Đen, không giấu giếm sự mừng rỡ của mình:
    - Nói thật chứ, giao nhiệm vụ cho các cậu mà tớ vẫn lo! Đang đồ chừng giỏi lắm hết đêm nay may ra mới có thể nhận được điện của các cậu báo cáo tạm xong. Được đấy, Đen ạ!
    Ngay đêm ấy, qua cầu phao Cổ Tế đã có 1.500 chiếc xe vào và gần 1.000 chiếc xe ra. Số xe bị ùn tắc từ mấy ngày hôm trước đã được giải phóng hoàn toàn. Nhân dân hai bên bờ sông đã gọi đêm ấy, đêm 25, là “Đêm hội vận chuyển”. Một quang cảnh sôi động, tấp nập xe qua, xe về suốt đêm không ngớt đã diễn ra trên bến sông này như chưa bao giờ thấy.

 
CHƯƠNG III
TRẬN VƯỢT SÔNG IM LẶNG
   


Vũ Bình bồi hồi nhớ lại một trận vượt sông im lặng mà lại bị lộ. Dạo đó vào chiến dịch đầu mùa khô năm 1967. Tiểu đoàn công binh 27 được lệnh hành quân gấp vào phía Nam chi viện chiến trường. Trung đội 8 công binh lái xe xích lội nước của tiểu đoàn cử một đội gồm 3 xe, có nhiệm vụ luồn sâu vào lòng địch, ém quân tại chân một ngọn đồi không tên, để chuẩn bị mở một bến vượt sông bí mật, bảo đảm cho đơn vị đặc biệt mang số hiệu Z12 qua sông Krông Pư thọc sâu vào sau lưng tuyến phòng ngự của địch, tạo thế tấn công bất ngờ tiêu diện đồn A Pưi, mở màn cho một hướng chiến dịch vào giờ G ngày N để mở rộng tuyến đường mòn Hồ Chí Minh.
    Bình vốn là trung đội trưởng sửa chữa xe của tiểu đoàn, vì muốn bảo đảm kỹ thuật cho trận vượt sông đột xuất này, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đã tăng cường anh xuống trực tiếp làm trung đội phó cho trung đội trưởng 8 ở đây là Hoàng Bân.
    Bình và Bân vốn là bạn thân với nhau từ ngày còn là lính mới ở trung đội 5 công binh. Cậu ta hơn Bình một tuổi, nhưng lại biết trân trọng cái bằng tốt nghiệp lớp mười của Bình. Cậu ta cứ ân hận mãi cái vốn văn hoá lớp bảy của mình không đủ để làm lính công binh giỏi, do đó trong huấn luyện hễ gặp phải những phần kỹ thuật  phức tạp là cậu ta lại không nề hà, giấu dốt gì, chạy đến Bình nhờ chi viện. Rồi Bình và Bân cùng được đi học lái xe một khoá, Bình đỗ vào loại ưu còn cậu ta chỉ đạt ba điểm, thật đáng buồn cho cậu ta quá. Sau một thời gian lái xe, rồi làm tiểu đội trưởng tiểu đội lái xe, Bình vừa làm vừa học thêm và trở thành người thợ, rồi được điều về làm trung đội trưởng sửa chữa xe của tiểu đoàn.
    Mỗi lần chuẩn bị đi chiến đấu, bảo đảm vượt sông, thế nào Bân cũng tìm cách kéo được Bình xuống trung đội 8 kiểm tra xe cho cậu ta. “Dẫu sao thì cậu cũng phải quan tâm tới cái “hạ tầng cơ sở” sinh ra cậu chứ” – nó đã nói thế thì Bình làm sao từ chối được và lần này sau khi nhận nhiệm vụ xong. Bân lại vội vàng chạy đến Bình:
    - Bình này, đi một chuyến với cánh mình chứ ! Hấp dẫn lắm! Trung đội 8 không thể thiếu cậu trong trận đặc biệt này được.
    Sau khi được Bân cho biết nhiệm vụ luồn sâu theo kế hoạch của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen, khoái quá Bình liền kéo Bân lên gặp thẳng tiểu đoàn trưởng. Bân dứt khoát đề nghị trên cho một thợ giỏi đi cùng, người đó phải là Bình, để giúp đỡ trung đội, vừa làm thợ, vừa lái xe, và giúp Bân cả việc chỉ huy nữa. Còn Bình, miễn là được đi với trung đội 8 trận này, còn thì làm gì cũng được, anh không chút băn khoăn nào cả.
    Trước lý lẽ của hai người, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen cũng phải đồng ý và còn căn dặn thêm:
    - Đây là nhiệm vụ hết sức đặc biệt và nặng nề, các đồng chí phải hết sức bí mật và bình tĩnh xử trí tình huống. Tiểu đoàn luôn theo dõi từng bước và sẵn sàng chi viện cho các đồng chí.
                                                *        *
                                                        *
    . Vào một đêm đông, trời tối như mực, những hạt mưa phùn lất phất phả vào mặt lạnh buốt. Phân đội công binh luồn sâu cho ba chiếc xe xích tắt hết đèn, lầm lũi bò ra một mé bờ sông hoang vắng. Một tổ đi sau, bằng mọi cách xoá hết mọi dấu vết, bảo đảm che hoàn toàn mắt địch. Các xe lần lượt bò xuống sông, toàn bộ bánh xích chìm dưới nước, chỉ còn nhô lên một phần buồng lái và thành xe thấp lè tè như một mạn thuyền chở nặng. Các xe phủ đầy cành cây nguỵ trang, tắt hết máy rồi bí mật thả xuôi dòng. Trung đội trưởng Bân ghé sát vào Bình nói nhỏ:
    - Cái trò này của cậu quả là mạo hiểm đấy, liệu mà đi cho tốt, kẻo không xuống chầu hà bá thì cũng lên chầu quỷ sa tăng ở trên bờ đấy.
    Bình gật đầu rồi nói thêm:
    - Có khi không liên lạc kỹ còn bị du kích cho ăn đạn nữa ấy chứ !
    Chả là, trước đây suốt một tuần, toán công binh cùng cánh trinh sát dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen chia nhau đi tìm đường, nhưng không có con đường nào tới được địa điểm bến an toàn cả. Chỗ thì phải qua nhiều đồn bốt, ấp chiến lược, làng bản chi chít, chỗ thì núi cao vực sâu không có đường, Bình đã đề nghị phương án “trôi sông” và được tiểu đoàn trưởng duyệt y. Sau đó tiểu đoàn tổ chức hiệp đồng với các địa phương và đơn vị bạn.
     Cứ thế đơn vị hành quân, một cuộc hành quân lặng lẽ. Ngồi trên xe thuyền nhưng còn mệt hơn hành quân bộ. Xe Bình trôi trên cùng dẫn đường. Đầu óc Bình luôn luôn bị căng thẳng. Chiếc đèn pin trong tay Bình phát ra ánh sáng xanh, nhỏ như một con đom đóm luôn soi trên bản đồ hành quân mà trong khi đi trinh sát, anh đã ghi chép đánh dấu những địa hình, đặc điểm sông nước. Toàn tổ phân công: một người luôn dán mặt xuống mặt nước để quan sát lòng sông và giúp lái xe đi theo đúng luồng lạch, một người cầm sào đo nước và chèo chống với thác ghềnh, bãi cạn, còn một người theo dõi tình hình địch trên bờ và máy bay, đồng thời quan sát nhận, phát các ám hiệu liên lạc với tổ trinh sát và cơ sở bí mật ở trên bờ, để giữ bí mật các xe tuyệt đối không được bật “đèn lade”, đề phòng địch phát hiện bằng sóng vô tuyến điện.
    Thỉnh thoảng ánh đèn xanh lập loè, báo hiệu đoạn sông an toàn, toàn đội cứ việc từ từ trôi. Khi có đèn đỏ, tín hiệu báo động có địch thì những “lùm cây” di động phải dừng lại một bên bờ, nằm im cho đến lúc có ánh đèn xanh.
    “Tốt rồi” – Bình khẽ thốt lên và bí mật trả lời, đồng thời cho xe dừng lại. Xe của Bân cũng áp mạn vào xe Bình. Bình bàn với Bân ở lại để xử trí với những bất trắc còn anh và một chiến sĩ nữa thả phao cao su xuống bơi nhẹ nhàng về phía “xanh ngang - đỏ dọc” ấy.
    Một ông già và một cô gái Pa-cô súng lăm lăm trong tay tiến ra kiểm tra bằng hai lần mật khẩu nữa mới chính thức nhận và tiếp các chiến sỹ công binh. Đó là các đồng chí ở một trạm giao liên bí mật của cơ sở địa phương, nơi đơn vị đã được vượt một chặng đường sông dài, khá nhiều thác ghềnh hiểm trở và luồn qua được nhiều đồn bốt địch. Họ dẫn phân đội giấu xe vào một khu vực hang đá rất kín đáo. Rồi từ đây, phân đội nhận lệnh cấp trên, qua ông già và cô gái này, vì vô tuyến điện chỉ khi nào hành động mới được phát. Đồn địch ở khá gần đây. Ban ngày anh em phải hết sức im hơi lặng tiếng. Chỉ đến đêm mới được kéo nhau ra, bí mật làm bến đổ bộ.
    Hai đêm, ba đêm, rồi năm đêm, được sự giúp đỡ của Binh trạm giao liên, bến đổ bộ đã làm xong và ngày N đã đến. Ngay từ chiều hôm trước, cô gái Pa-cô có mái tóc dài quen thuộc đã đưa đến một bức điện hoả tốc: Phân đội được lệnh bảo đảm cho đơn vị Z.12 vượt sông. Đó là một tiểu đoàn pháo hỗn hợp, gồm một đại đội pháo chống tăng, một đại đội cối 120 ly và một đại đội tên lửa bắn thẳng, loại vũ khí mới đưa vào chiến trường.
    Từ chập tối, anh em công binh đã hăm hở chờ đón đơn vị bạn. Rồi bằng phương pháp chèo chở riêng biệt, ròng rã gần một đêm, đưa đơn vị bạn vượt sông an toàn, bảo đảm cho Z.12 luồn sâu vào phía sau đồn A Pưi, chuẩn bị trận địa kịp trước giờ nổ súng.
    Nhiệm vụ công binh coi như đã hoàn thành. Bân và Bình cho xe về vị trí tập kết chờ đợi. Chỉ còn cho anh em nghỉ ngơi chờ nghe chiến dịch bắt đầu. Trước niềm vui hoàn thành nhiệm vụ, và sự hồi hộp trước giờ súng nổ, anh em không ai muốn ngủ. Nhưng khi vừa chợp mắt thì hàng loạt đạn pháo bỗng nổ ầm ầm ngoài bến. Mọi người choàng tỉnh cùng nhau ra ngoài hang nghe ngóng, phán đoán. Bị địch phát hiện chăng ? Hay chúng bắn hú hoạ như mọi ngày ?
    Bân và Bình định lên đài quan sát xem xét tình hình thì cô gái Pa-cô lại chạy tới, đưa vội một bức điện của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen tới: Trung đội xe thuyền chở gấp thêm một đại đội pháo nữa qua sông. Đó là đại đội bốn pháo cối cũng phải vào trận địa trước giờ G. Lúc đó trời đã sáng, sương mù đã tan, nắng chọc thủng lớp rừng già thành những vệt sáng như những mũi tên song song cắm xuống mặt đất. Trong lúc Bân lệnh cho các xe quay lại bến thì đài quan sát báo về có tình huống bất ngờ xảy ra: một đại đội địch đang tiến ra đồi không tên. Cùng một lúc, đại đội bốn pháo cối cũng đang hành quân tới bến.
    Bân và Bình chạy ngay lên đài. Quả có tình huống như vậy ! Làm thế nào đây ? Bình và Bân hết nhìn bên ta lại nhìn sang địch, người như run lên. Đằng sau lưng hai người, những cành lá nguỵ trang nhấp nhô, lúc ẩn lúc hiện trên đường mòn, đang lao đến bến. Có lúc còn nhìn rõ cả những chiến sĩ đang lặc lè khiêng pháo lên dốc. Còn trước mặt, bọn địch bên kia sông, những tên lính rằn ri, cũng đang nghênh ngang theo đường mòn đi tới, có lẽ chúng chốt lại đồi không tên. Đội hình hai bên cứ xích lại gần: khoảng cách mỗi bên đến chỗ hai người tương tự bằng nhau: 1.500 mét, 1.200 mét, rồi 1.000 mét... !
    Toàn trung đội công binh đã kéo cả lên đài quan sát. Ai cũng lo lắng. Sau một cuộc hội ý chớp nhoáng phân đội quyết định chia làm hai bộ phận, một chặn địch, một đảm bảo vượt sông.
    Bình xin lên chặn địch, nhưng Bân buộc Bình ở lại chỉ huy xe, đề phòng xe hỏng hóc bất ngờ. Còn bộ phận chặn địch, Bân nhất quyết giành về phần mình. Bân cười, bảo Bình:
    - Đánh giặc, biết địch, biết ta, trăm đánh, trăm thắng. Còn nội bộ chúng mình, biết anh, biết tôi thì cũng trăm hay, trăm tốt đấy cậu ạ.
    Thế là bộ phận vượt sông chỉ để lại mỗi xe một lái chính, một lái phụ, ba xe gồm sáu người do Bình chỉ huy. Còn lại bốn người do Bân trực tiếp chỉ huy, phải nhanh chóng vượt sông chiếm đỉnh đồi không tên trước và chốt chặn địch tại đây, mặt khác liên lạc với đại đội bốn pháo binh, đề nghị tăng tốc độ hành quân vượt sông nhanh chóng. Khi cần phân đội sẵn sàng thực hiện phương án hai như đã bàn từ trước tức là “vượt sông đổ bộ bằng sức mạnh” như tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đã điện chỉ thị và thông báo tình hình địch.
    Khi cô gái Pa-cô mà Bình cử xuống gặp đại đội 4 pháo binh vừa đi khuất thì tổ do Bân chỉ huy cũng đã vượt sông. Một lát sau tới bến. Bân và các tổ viên cùng chạy vọt lên đồi không tên.
    Nhanh lên ! Nhanh lên Bân ơi ! Chỉ cần các cậu lên trước bọn địch vài ba phút thôi ! – Bình thầm gọi, thầm giục giã Bân.
    - Lên rồi, các bạn ấy lên rồi ! Hay lắm ! – Anh em khẽ reo lên.
    Bình ngước nhìn lên điểm cao: một bóng, hai bóng, ba bóng… rồi cả bóng của Bân nữa, và qua ám hiệu của Bân, Bình biết là địch đang tiến đến nơi.
    Cố gắng giữ vững, chỉ cần các cậu giữ được hai mươi phút thôi là đã đủ thời gian cho chúng mình đưa pháo qua sông ! Bình thầm nhủ các đồng chí trên đồi không tên.
    Khi các xe xích K61 đã bơi ra đến bến thì đại đội bốn pháo binh cũng vừa tới. Bình báo cáo cho đồng chí đại đội trưởng biết rõ tình hình địch và phương án vượt sông của phân đội. Đại đội trưởng nhanh chóng quyết định:
    - Đúng, phải làm sao vượt sang tới bên kia trước khi bọn địch chiếm được đỉnh đồi.
    Để tranh thủ thời gian, đại đội trưởng lệnh cho các khẩu đội xuống ngay bến, lên xe tự hành. Các lái xe công binh giúp các chiến sĩ pháo binh đưa pháo lên xe và nguỵ trang kín đáo.
    Mọi người đang khẩn trương, bỗng có tiếng súng nổ ran trên đồi. Trước tiên là những tràng RPĐ và cả AK của tổ Bân, nhưng chỉ rộ lên có mấy loạt đã im bặt. Hình như bọn địch bị đánh bất ngờ, vội tụt xuống tìm cách đối phó. Mãi một lát sau mới thấy có tiếng nổ bên phía chúng. Rồi tiếng súng ngày càng mạnh.
    - Hỏng rồi ! Khéo không kịp mất ! – Một người nào đó thốt lên.
    Đại đội trưởng lên tiếng nhắc:
    - Tất cả phải bình tĩnh, yên lặng giữ bí mật đến cùng.
    Sau khi kiểm tra các xe và xin ý kiến đại đội trưởng, Bình hạ lệnh vượt sông.
    Anh em công binh đẩy sào, cầm lái. Anh em pháo thủ mỗi người một cây dầm bơi hai bên mạn.
    Tiếng súng trên đồi vẫn nổ ran.
    Bân ơi cố gắng giữ lấy đồi ! Chỉ cần hai mươi  phút ! Không! Mười lăm phút nữa thôi ! Bình lại thầm gọi Bân.
    Mới ra được một phần ba sông. Tiếng súng trên đồi bỗng thưa dần rồi lắng đi như báo hiệu một điều gì không lành sắp xảy ra; Bình hết nhìn trời, nhìn quả đồi cao, lại nhìn xuống dưới sông, suy nghĩ mung lung.
    Đã được nửa sông rồi ! Cố lên ! – Tiếng anh đại đội trưởng pháo binh vừa dứt thì bỗng trên đồi tiếng súng lại nổ xen lẫn tiếng lựu đạn, tiếng la hét chửi bới ầm ĩ.
    Mọi người ngước nhìn lên. Bình bỗng lạnh toát người. Phương án vượt sông bí mật không được nữa rồi. Bọn địch đã chiếm được đỉnh đồi, chúng đang lố nhố chạy về phía bờ sông. Một bọn đã phát hiện ra bộ đội giải phóng, hốt hoảng la lối:
    - Việt cộng ! Thuyền Việt cộng !
    Hàng loạt AR.15 bắn xuống sông té nước lên. Thì ra quân ta nguỵ trang kỹ nên bọn địch tưởng là thuyền. “Càng hay”, Bình nghĩ bụng. Đại đội trưởng lệnh cho các khẩu đội chuẩn bị chiến đấu bằng súng bộ binh. Đầu óc Bình căng lên, mắt anh hết nhìn đồi, lại nhìn đến những khẩu pháo đang nằm trên xe, ý nghĩ hỗn độn chồng chéo lên nhau “Tổ chặn địch đã hy sinh, Bân đã hy sinh, còn những khẩu pháo ? Chỉ còn hơn ba mươi phút nữa đã tới giờ G chiến địch mở màn” Nhưng một tia sáng chợt loé lên trong đầu Bình, anh ra lệnh cho các lái xe công binh về vị trí chuẩn bị.
    - Bắt sống, bắt sống lấy thuyền, lấy hàng chúng mày ơi ! - Địch lại hối thúc nhau.
    Một vài thằng đứng trên đồi bắt tay làm loa gọi xuống:
    - Này mấy ông nội Việt cộng hàng đi ! Không hàng thì được xuống chầu hà bá !
    Mọi người trên thuyền vẫn im lặng.
    Theo đà bơi, các xe vẫn từ từ lao đi. Đại đội trưởng pháo binh nhìn Bình. Bình nhìn anh rồi hất đầu về phía bờ sông gợi ý tiến công. Anh nắm lấy tay Bình, Bình bóp chặt: Cả hai người đã nhất trí triển khai chiến thuật vượt sông bằng sức mạnh trong tình thế bất đắc dĩ như phương án hai.
    Chờ cho bọn địch đổ xô nhau ra bãi trống sát bến và lợi dụng lúc chúng đang nhốn nháo. Bình bật lên tiếng hô:
    - Tất cả nổ máy ! Tăng hết ga !
    Cùng lúc đó đại đội trưởng hạ lệnh:
    - Bắn !
    Khúc sông yên tĩnh bỗng ầm ầm sóng dậy. Ba chiếc xe thuyền tự hành như ba con mãnh hổ rú ga gầm thét xé nước lao như bay vào bờ. Những loạt đạn tiểu liên, súng trường của pháo binh, đạn trung liên, đại liên của công binh gắn trên xe tới tấp xả đạn.
    Bọn địch hoàn toàn bị bất ngờ, trở tay không kịp, phần lớn bị tiêu diệt. Toàn phân đội, đổ bộ lên bờ được an toàn. Nhưng bọn còn lại, sau một lát choáng váng chúng hoàn hồn, tập trung trên điểm cao bắn xuống. Đơn vị tiếp tục tiến công. Tiếng máy rú ga ầm ầm. Tiếng xích xe nghiến ken két trên đá.
    - Xe tăng Việt cộng ! Xe tăng Việt cộng ! – Bọn địch thần hồn nát thần tính hoảng sợ la hét và dẫm đạp lên nhau, bỏ chạy thật sự.
    Anh em pháo binh nhanh chóng tràn lên truy quét, tiêu diệt địch.
    Mấy phút sau, đại đội trưởng pháo binh cho người xuống gọi Bình lên. Bốn anh em của tổ chặn địch thì ba đã hy sinh, chỉ có Bân còn nằm thoi thóp trên cánh tay đại đội trưởng và kỳ lạ thay, khi Bình vừa ngồi xuống cạnh Bân thì Bân mở choàng mắt. Bằng một giọng yếu ớt, nhưng của một con người rất tỉnh táo, Bân thều thào nói:
    - Bình. Bình thay tôi… làm tất cả... thôi, đi đi để tôi ở lại…. muộn rồi. Cả đồng chí. đại đội.. trưởng pháo binh, đi ngay. đi !.... Kìa...muộn...rồi !....
    Đại đội trưởng pháo binh đang trong phút đầy thương cảm, bỗng sực tỉnh, anh xem đồng hồ, nhanh tay đặt Bân xuống, vuốt cặp mắt ướt còn hé mở của Bân. Rồi anh đứng vụt dậy, cúi đầu trước thi hài còn nóng ẩm của Bân, nước mắt anh giàn giụa, anh nói ngắn gọn:
    - Đúng, còn mười lăm phút nữa thôi ! Rất biết ơn đồng chí ! Chấp hành mệnh lệnh đồng chí, chúng tôi xin đi ngay.
    Bình bừng mắt, nhưng cố nén khỏi bật ra tiếng khóc, và cũng nói với Bân:
    - Vâng tôi đi ngay. Xin chấp hành tuyệt đối lệnh của Bân.
    Sau khi cắt đặt người ở lại lo liệu công việc cuối cùng cho tổ Bân, đại đội trưởng pháo binh kéo Bình chạy bay xuống bờ sông.
    Còn ít thời gian quá nếu để các đồng chí pháo binh tự đưa pháo vào trận địa thì chậm nên anh em công pháo lại tiếp tục hiệp đồng, cùng nhau đấu sức giải quyết.
    “Đi ngay đi ! Muộn rồi ! Đi ngay đi” - Đó là khẩu lệnh của đại đội trưởng phát ra cho bộ đội bắt đầu hành động.
    “Đi ngay đi ! Muộn rồi ! Đi ngay đi” - Đó là lời cuối cùng. Bân hối thúc đồng đội và cũng là lời được nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu lần suốt đoạn đường từ bờ sông thúc sâu vào lòng địch.
    “Đi ngay đi ! Muộn rồi ! Đi ngay đi” với lời giục giã đó, công binh đã đưa pháo tới đích trước giờ G được đúng một phút.
    Và ba mươi phút sau đó, đồn A Pưi đã chìm ngập trong khói đạn và đã chật căng những tiếng thét xung phong của các chiến sĩ bộ binh Quân giải phóng !
    Đồn APưi bị tiêu diệt mở màn cho chiến dịch mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh. Thắng lợi bảo đảm cho việc chi viện chiến trường từ Bắc vào Nam được thông suốt và thuận lợi.
    Đêm đêm, ngày ngày, những đoàn xe pháo nối đuôi nhau, người người lớp lớp dài dằng dặc, kéo vào miền Nam, có thể nói đông vui hơn cả chiến dịch Điện Biên năm xưa. Với một ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những chuyện đó Cao Thành chưa bao giờ biết được. Mà Nguyễn Đen cũng không bao giờ đem những chuyện chiến trường ra khoe khoang. Nhiều người cũng không biết trong chiến tranh việc thay đổi luân phiên cán bộ luôn xảy ra. Người đi, kẻ ở luôn diễn biến, không phải trong thời gian ngắn đã hiểu được về nhau. Anh cứ kệ cho Cao Thành muốn nghĩ thế nào về mình thì nghĩ, rồi đến lúc nào đó, chắc anh ta sẽ ân hận và xấu hổ.

GIÂY PHÚT BÌNH YÊN
    Qua đêm thứ ba ở bến Cổ Tế khi mọi việc trên bến đã ổn định, việc việc vận chuyển đã hoàn thành thông suốt, Nguyễn Đen mới có thể bứt ra được để tìm tới nhà Chinh, theo lời hẹn của Chinh ngay từ buổi đầu gặp lại. Tới thăm Chinh đồng thời cũng tiện thể Đen ghé vào chỗ ông Bảo bến trưởng bến Cổ Tế, người của bến giao thông dân sự đã được bổ nhiệm làm việc ở đây từ hai năm nay.
    Đêm mùa thu bên sông dịu mát lạ lùng. Không có trăng, nhưng trời rất trong và sáng. Nguyễn Đen bỏ mũ, ngửa mặt đón từng làn gió dạt dào, cảm thấy tâm hồn thật thư thái. Những giây phút dịu dàng và thư thái như thế này vô cùng hiếm hoi đối với anh. Không cầu mong gì hơn là thỉnh thoảng lại có những khoảnh khắc như thế này. Con người như được bứt ra khỏi mọi sự lo âu, phiền muộn, bứt ra khỏi mọi sự ràng buộc phức tạp trong cuộc sống hàng ngày. Con ngưòi như trở lại trong sáng, ngây thơ. Lòng như lành lại, mọi ham muốn không còn gì hết. Tất cả chỉ còn lại một niềm vui, và sẵn sàng để làm mọi điều tốt đẹp, không phải chỉ cho mình mà cho tất cả những người khác…
    Quanh co mấy xóm ngõ, Nguyễn Đen đã tìm được căn nhà tranh nhỏ bé ở giữa một mảnh vườn có nhièu cây ăn quả khá râm rạp. Một con chó xồ ra sủa.
    Nguyễn Đen bỗng cảm động, nhớ lại những lần nào đó, cũng rất hiếm hoi, mỗi lần đi họp trên Bộ hoặc lên quân khu, tranh thủ tạt được về một đêm hoặc một vài giờ. Cũng một căn nhà lụp xụp như thế này, cũng một sự yên ắng như xa xưa, như chìm ngập trong thời gian bình lặng đến nỗi không thể tin rằng đây là một nơi đang có chiến tranh, và bây giờ đã là năm thứ bao nhiêu đó của thế kỷ thứ 20…
    Ngọn đèn trong nhà bật sáng to. Chinh mau mắn chạy ra mắng con chó. May quá, tối nay cô ấy có nhà! Đen mừng thầm. Khi nhận ra anh, Chinh reo lên một tiếng. Tiếng reo trẻ trung như của một cô bé, và xiết bao mừng rỡ, cảm động như  của một người ruột thịt đã cách xa nhau từ lâu chưa gặp lại.
    Chinh mừng đến mức gần như cuống quýt. Mừng quá, quên cả e lệ hoặc vốn bạo dạn từ những năm thoát ly đi Thanh niên xung phong, Chinh cầm lấy tay Đen dắt anh vào nhà.
    Nguyễn Đen dừng lại mấy giây, đưa mắt nhìn bao quát ba gian nhà vắng vẻ đến lạnh lẽo dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu. Nhà vắng và trống trơ tới mức không thể tưởng tượng nổi. Trên các vách ngoài tấm Tổ quốc ghi công liệt sỹ Lê Văn Kháng ra không một bức tranh, không một tờ lịch. Bộ bàn ghế mộc cũ kỹ như đã có ở thế kỷ trước. Một chiếc giường tre. Một tấm phản gỗ. Trên chiếc giường tre, tấm màn nâu buông rủ. Trong màn, một ông cụ đang nằm ngủ, nhỏ như một đứa trẻ…
    Dường như đọc được tất cả mọi nhận xét, ý nghĩ của Nguyễn Đen, Chinh mỉm cười buồn, kéo ghế mời anh ngồi:
    - Nhà em đây anh ạ! Bố em đang ốm! Từ năm ngoái mẹ em bị bom mất ở ngoài bến, cụ cứ ốm đau luôn. mà nói cho đúng ra, từ những năm trước em đi Thanh niên xung phong chưa được về, cụ cũng cứ buồn.
    Nguyễn Đen đưa chén nước lên môi, cố giấu một nét xúc động.
    - Còn chị cả em – Chinh tiếp – Từ khi anh ấy đi Nam, một nách hai cháu nhỏ, chị chẳng còn đi được đến đâu. Thỉnh thoảng mới chạy ù lại thăm nom ông cụ được một chốc, một lát. Còn em Chiến cũng đi Nam từ đầu năm. Có nó ở nhà thì còn đỡ vắng vẻ… Đi một năm rồi mà chưa tin tức về…Đen gật đầu. Vốn dễ xúc dộng, nhưng lại không quen nói năng để bày tỏ, diễn đạt ý mình, anh vẫn chỉ ngồi im, nhấp nước chè luôn miệng.
    Bỗng có tiếng người gọi ở ngoài cổng. Tiếng một người đàn bà đã có tuổi. Chinh xin lỗi Đen, chạy ra. Lát sau cô quay vào vẻ mặt hơi bối  rối, ửng đỏ lên một chút. Nguyễn Đen chợt nhận thấy Chinh vẫn khá đẹp mặc dù đã tới cái tuổi  ba mươi đáng lo ngại của các cô gái.
    Chinh không để Nguyễn Đen phải hỏi, nói trước:
    - Chị Vân gọi em bảo anh Tín nhắn em mai sang nhà anh ấy có chút việc muốn trao đổi.
    - Tín nào vậy?
    - Xã đội phó của chúng em đấy… - Chinh lại mỉm cười và cặp mắt lại sáng lên lấp lánh như vui đùa và ẩn giấu cả một điều bí mật.
    Nguyễn Đen nói anh muốn sang nhà ông Bảo bến trưởng để trao đổi về việc phối hợp huấn luyện. Theo ý anh, cán bộ công nhân của giao thông dân sự trên bến này cũng cần phải tổ chức huấn luyện tốt, phối hợp với chương trình huấn luyện lớn của tiểu đoàn 27 của anh.
    - Huấn luyện à? – Chinh chưa hiểu.
    - Phải! Tiểu đoàn vừa họp và ra quyết định: bắt đầu tổ chức một đợt huấn luyện lớn kết hợp với việc thực hiện nhiệm vụ trong chiến dịch vận chuyển K2 này.
    Chinh vẫn chưa hiểu:
    - Em tưởng các anh bắc cầu như đêm hôm vừa qua là quá tuyệt vời rồi, còn phải huấn luyện nữa ư? Thôi, đêm đêm anh em đã quần quật bắc cầu, chở phà, sớm lại phải dỡ đi cất dấu, vất vả thế ban ngày cho họ nghỉ được không anh? Em thấy khối đơn vị công binh vẫn làm như vậy. Huấn luyện cũng chỉ theo mùa thôi!
    Nguyễn Đen bật cười:
    - Ai làm vậy, tôi đâu có biết. Tôi chỉ biết cái 27 này đã có nề nếp thế rồi. Vả lại Mỹ nó có đánh theo mùa đâu, mà bảo có mùa huấn luyện.
    Chinh lắc đầu, trách yêu:
    - Các anh ghê thật đấy!
    Quả thật mới ngay sáng nay, tiểu đoàn uỷ27 đã họp để thông qua một quyết tâm mới là tổ chức huấn luyện lớn trong chiến dịch K2. Ba ngày qua, tuy tiểu đoàn đã làm tốt nhiệm vụ và được biểu dương trên toàn tuyến nam, bắc nhưng dẫu sao tiểu đoàn 27 cũng mới chỉ huấn luyện gấp được một số kiến thức và kinh nghiệm cần thiết, trước mắt nhất để kịp thời phục vụ nhiệm vụ, chứ thật ra chưa có bài bản thật vững vàng. Nguyễn Đen đã được gần như tất cả cán bộ trong đơn vị, và toàn thể đảng uỷ tiểu đoàn ủng hộ chủ trương: tranh thủ tiến hành huấn luỵên cơ bản, huấn luyện ngay trong thời gian làm nhiệm vụ. Hai việc này không trở ngại cho nhau, mà trái lại sẽ hỗ trợ đắc lực và thúc đẩy nhau thu được kết quả tốt.
    Kế hoạh huấn luyện cụ thể đã được vạch ra rất tỉ mỉ và thích hợp cho từng đại đội và trên từng bến, từng cung đường khác nhau. Bãi tập của các đơn vị đã được hướng dẫn chọn là khu vực giấu khí tài của các đại đội, mỗi đơn vị  còn phải có một thao trường học bắn súng bộ binh bài 2 (bài 1 đã bắn đạn thật từ đầu năm). Còn các phân đội trinh sát, thông tin, lặn… học ngay tại chỗ, các phân đội cao xạ học ngay tại trận địa… Và như Nguyễn Đen đã nói với Chinh, tiểu đoàn cũng đặt thành vấn đề: yêu cầu cán bộ, công nhân giao thông của các bến cùng huấn luyện để nâng cao trình độ. Các đại đội công binh ở các bến sẽ tích cực giúp đỡ họ, nhất là ở các khoa mục: tháo gỡ bom trên cạn, dưới nước, bom chờ nổ, bom từ trường, bom lân tinh, và cách bắn máy bay tầm thấp…
    Sau khi đã hiểu rõ ý định không phải chỉ là của Nguyễn Đen mà của cả tiểu đoàn, Chinh đứng dậy:
    - Vậy, để em đưa anh sang ông Bảo.
    - Tôi đi một mình cũng được!
    - Đường hơi rắc rối, tối khó đi lắm. Để em đưa anh đi cho chóng.
    Vặn nhỏ ngọn đèn, hạ cánh liếp xuống, Chinh nhẹ nhàng bước ra sân với Nguyễn Đen. Khi cô vô tình đi sát trước mặt, Nguyễn Đen chợt ngửi thấy mùi lá chanh và bồ kết thơm thơm từ trên mái tóc bỏ xoã, khá dài và óng ả của Chinh toả ra. Thoáng một cái như rạo rực trong ngực mình Nguyễn Đen bước nhanh ra cổng.
    Hai người đi trên cánh đồng vắng bên sông, dưới bầu trời đêm đen xanh dịu dàng, huyền hoặc. Gió từ sông dạt dào thổi vào làm bay mái tóc Chinh. Ngước nhìn lên những vì sao lấp lánh xa gần, Nguyễn Đen một lần nữa lại cảm thấy tâm hồn mình hoàn toàn yên tĩnh và tươi sáng.
    Chinh cất tiếng nói trước:
    - Anh Đen ạ! Lúc nãy em nói chuyện tới anh Tín…
 Đen chăm chú. Chinh tiếp:
- Anh biết không?... Đấy là… chồng chưa cưới của em đấy!
Đến lúc này, Đen ngạc nhiên thực sự. Anh quay lại nhìn Chinh. Cô vẫn nhìn thẳng. Khuôn mặt Chinh nhìn nghiêng trong ánh đêm mờ ảo dường như đẹp lạ lùng, mà Đen chưa bao giờ từng thấy. Anh thoắt thấy nao nao. Nhưng cũng lạ, nói tới chồng chưa cưới, Chinh lại không hề có một nụ cười bẽn lẽn nào như thường tình của một cô gái. Trái lại, một vẻ gì như lạnh lùng, xa lạ đang bao phủ lên khuôn mặt với mái tóc dài mềm mại, cặp mắt nhỏ thông minh, và một sống mũi thẳng, thanh tú…
- Vậy hả! Anh Tín. Từ bao giờ vậy, Chinh? - Nguyễn Đen hồi hộp hỏi lại.
- Cũng mới thôi anh ạ! Mọi người, nhất là đội dân quân  cứ vun vào mãi… Cuối cùng… thấy anh ấy… cũng được… Và thế là em đồng ý!
Nguyễn Đen thấy rõ có cái gì chưa thật ổn, anh hỏi lại:
- Sao? Như vậy, theo Chinh nói, có nghĩa là…
Đến lúc ấy, Chinh mới quay lại. Dưới ánh sao đêm mờ nhạt, Nguyễn Đen nhìn thẳng, dưòng như chỉ còn nhìn thấy một cặp mắt hết sức dịu dàng và cũng hết sức buồn bã:
- Vâng, với anh, em có thể nói thực. Đây không phải là một chuyện tình yêu. Anh Đen ạ! Em phải lấy chồng thôi, biết làm thế nào được! Ba mươi tuổi rồi đâu còn trẻ nữa! Tuổi trẻ của em đã vùi hết dưới bom đạn, trong bùn lầy, trên các sông bến rồi, chắc chắn anh cũng đã biết khá rõ. Em đã yêu lần lượt ba anh bộ đội, lần lượt họ đã ngã xuống vì Tổ quốc, khi vẫn còn rất trẻ… Bây giờ em đã ba mươi. Người trẻ quá thì em chỉ coi như em út. Và họ chỉ có thể coi em  như chị cả, chị hai. Người như lớp các anh thì hầu hết đã có vợ, có con. Anh ạ, thật vậy, em không giấu giếm, em vẫn khát khao yêu thương, vì thật ra trong đời em chưa lần nào được yêu đương trọn vẹn. Nhưng giờ đây em không còn tìm được tình yêu như thời còn trẻ nữa. Em lấy chồng là vì… con gái sinh nở có thì, không thể nấn ná tìm chọn được mãi. Như thế đấy, anh ạ! Em sẽ lấy chồng. Và em sẽ làm tròn bổn phận người vợ. Chỉ thế thôi. Như một nhu cầu hoàn toàn thuộc về… tự nhiên…
Nguyễn Đen bỗng trạnh nghĩ đến phận mình. Anh lấy Xoan cũng tương tự như Chinh sắp lấy Tín. Nhưng dẫu sao Chinh cũng đã từng trải qua, tuy chưa trọn vẹn ba cuộc tình duyên say đắm, chân thực với ba người trẻ tuổi. Còn Nguyễn Đen, lớn lên là vào bộ đội luôn, và cứ thế lăn lộn , cứ thế quay tròn trong guồng máy chiến tranh… Chưa một lần anh hiểu được thật rõ thế nào là tình yêu. Phải chăng, cũng chính vì thế mà hầu hết anh em trong đơn vị vẫn đều cho Nguyễn Đen là vụng về, là thiếu tâm lý trong các vấn đề tình cảm, nhất là tình yêu và hôn nhân…
Chinh tiếp tục nói. Nhưng cô nói những gì Đen không nghe rõ nữa. Anh chỉ cảm thấy mình đang được tận hưởng những giây phút mà lòng mình ấm áp, sung sướng, yên ổn… chưa từng có bao giờ. Có lẽ ngay cả khi xưa còn bé bỏng, ngồi lọt trong vòng tay mẹ, Đen cũng không có được những tình cảm tin cậy, thân thiết và cảm thông kỳ lạ như đêm nay. Nhưng rồi anh chợt thấy ngơ ngác, vừa như buồn cười, lại vừa như muốn khóc. ừ phải, trong đêm nay, hai con người đang đi bên nhau giữa cái bao la, vắng vẻ, hai người hoàn toàn hiểu nhau và tin nhau, một người đã có vợ, mà vợ lại không phải là người yêu, mà người kia sắp lấy chồng thì chồng cũng lại là một người phải lấy như một sự “đói thì phải ăn, mưa thì phải tìm chỗ trú”… Vậy tại sao hai con người này lại không được gặp gỡ nhau, không được yêu nhau, không được cùng chung sống với nhau?...
Bỗng có tiếng súng cao xạ phía xa, nơi cầu phao Cổ Tế bắc qua, nổ ran. Rồi cả tiếng súng máy, súng trường của dân quân. Những dòng đạn lửa đỏ lừ bay lên tới tấp. Cả một vùng trời rực sáng và ầm ầm tiếng nổ. Máy bay địch đã tới. Chúng đang lượn. Tiếng gầm rít trên không trung tối đen nghe ghê rợn như tiếng ma quỷ.
Nguyễn Đen cầm tay Chinh kéo vội. Hai người cùng nhảy xuống một hầm trú ẩn lộ thiên ở bên đường.
Bom đã nổ. Đất rung chuyển. Nguyễn Đen căng đầu óc. Nhưng anh nghe và biết rõ: Bom ném khá xa bến và cầu. Yên tâm anh ngồi xuống. Chinh liền nép sát người anh và gục mặt vào khuôn ngực anh.
Lát sau máy bay đã đi hết, bốn bề lại trở nên yên tĩnh như không hề có chuyện gì vừa xảy ra.
Nguyễn Đen dìu Chinh lên khỏi hầm trú ẩn. Dưới ánh sao, anh thấy khuôn mặt Chinh đẫm lệ. Ôi phải chăng, đấy là những giọt nước mắt của hạnh phúc, của tất cả những gì thuộc về sự chân thực của lòng mình? Cũng trên gương mặt đẫm lệ ấy, hé lên một nụ cười mà có lẽ suốt đời Đen sẽ không sao quên được…

 
CHƯƠNG IV
BẾN CẦU RỰC LỬA



Trời đêm rực sáng những chớp lửa đạn cao xạ, súng máy, súng trường. Máy bay địch liên tục rít lên từng hồi. Bom lại nổ. Căn hầm chỉ huy của Nguyễn Đen một lần nữa bị nhấc bổng lên rồi quật mạnh xuống. Ngọn đèn bão đổ vật trên chiếc bàn điện thoại. Đất trên nóc hầm trút xuống rào rào.
Nguyễn Đen vuốt mặt, nhổ một bụm cát trong miệng ra, tay vẫn áp chặt ống tổ hợp bên tai. Đường dây điện thoại đã được chôn sâu dưới đất cẩn thận, nên liên lạc giữa sở chỉ huy với các trận địa phòng không và ngoài bến vẫn bảo đảm thông suốt.
- Sao ? Hả ? Cầu vẫn an toàn, nhưng một xe lương thực bên bờ bắc đang bốc cháy ? Được rồi ! Bình tĩnh ! Tôi sẽ ra ngay với các anh !
Nói đoạn, trao ống tổ hợp cho Đoàn Liễu, dặn anh trực chỉ huy, động viên cao xạ và nhắc nhở anh em ở các khu vực cất giấu khí tài phải sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xấu nhất. Xong, Nguyễn Đen úp chiếc mũ sắt lên đầu, trườn mình ra khỏi căn hầm ở dưới luỹ tre đầu xóm. Một cán bộ tham mưu, một chiến sĩ liên lạc nhanh nhẹn chạy theo Nguyễn Đen.
Ra đồng trống, ngẩng lên, Nguyễn Đen thấy những chùm đạn cao xạ đang tiếp tục tung lên. Anh cũng nhìn thấy ngay đám cháy ở trước mặt, mà anh hiểu đó là chiếc xe lương thực vừa bị trúng bom.
Nguyễn Đen vẫy hai người cùng băng tắt ngang cánh đồng nước để ra bến. Đi qua ruộng ngập bùn nước tuy có chậm nhưng gần hơn lại tránh được bom đạn.
Khoảnh khắc sau anh đã tới chiếc xe đang bốc cháy. Một toán chiến sĩ đang hò nhau xúc đất, té nước giập lửa. Nhưng xem chừng vô hiệu. Máy bay địch vẫn tiếp tục gầm gào trên cao. Chiếc xe cháy làm cả một đoạn đường, nhất là khu mố đầu cầu hiện lên khá rõ, dễ cho máy bay địch quan sát.
Nguyễn Đen nói nhanh với anh chiến sĩ liên lạc:
- Báo anh Thắng, phương án 2, thi hành ngay !
- Rõ !
Anh chiến sĩ liên lạc vọt đi như một chiếc pháo chuột. Chỉ sau khoảng năm phút, ở phía xa, cách khu đầu cầu khoảng chừng hơn năm trăm mét, một đám cháy khác bùng lên, rồi xa tít nữa, một đám khác.
Đại đội trưởng Thắng đã thực hiện kế hoạch đốt lửa nghi binh để phân tán mục tiêu, không cho máy bay địch có điểm ngắm cụ thể nữa. Phương án này đã được bàn bạc và chuẩn bị kĩ từ đêm đầu.
Quả nhiên, khi đã có thêm hai đám cháy dọc theo bờ sông, lũ máy bay địch không còn nhận rõ đâu là đám cháy chuẩn ở bến.
Bom vẫn gầm lên rung chuyển cả đất trời. Bọn phi công Mỹ đã ném vào đám lửa nghi binh thứ nhất, đúng như mọi người đang mong muốn. Cây cầu L.P.P. vẫn hiên ngang, can đảm vắt mình qua dòng sông cuồn cuộn chảy.
- Cho tiếp tục thông xe! - Nguyễn Đen nhảy lên mặt đường, ra lệnh, khi tiếng máy bay đã cuốn xa dần.
Một phát súng báo hiệu nổ vang. Mặt dất đang tối om và như còn đang run lên sau trận oanh tạc dai dẳng thoắt như bừng tỉnh và sống lại mạnh mẽ trong tiếng động cơ vang rền của hàng trăm chiếc xe tải trước đây ít phút còn đang nằm im, nín thở ở hai bờ nam, bắc nay lại tiếp tục cuộc hành trình.
Đại đội trưởng Thắng tới gặp Nguyễn Đen ở đầu cầu. Anh báo cáo tóm tắt về thiệt hại sau trận bom: Cầu chỉ có năm khoang bị thủng. Đang tích cực sửa lại. Coi như không có vấn đề gì lớn, còn về thương vong chỉ có một chiến sĩ bị sức ép, ngất đi, nay đã hồi tỉnh. Nhưng khu cất giấu khí tài của đại đội đã bị hai quả bom ném gần sát. Hai chiếc ca nô bị hư hại. Chỉ còn lại chiếc thứ ba. Nguyễn Đức Thắng không giấu khỏi sự lo lắng của mình về công việc đêm mai, mà cũng có thể cả đêm nay nữa. Thiếu ca nô, công việc kéo dắt các phao cầu và khí tài sẽ vô cùng khó khăn và chậm trễ.
Nguyễn Đen xem đồng hồ. Gần 12 giờ đêm rồi. Anh nhìn người đại đội trẻ tuổi có gương mặt sôi nổi và cởi mở, đáng yêu của mình:
- Được! Tôi sẽ cho hai chiếc xe tải trở về căn cứ kéo thêm hai ca nô dự bị nữa ra đây. Tuy nhiên, ngay tại chỗ, anh cũng phải gấp rút, bằng mọi cách cho sửa ngay hai ca nô bị hư hại ấy.
- Rõ! Tôi đã cho kéo hai chiếc ấy đưa về trạm sửa chữa lưa động của tiểu đoàn! Nhưng còn việc cho xe tải về căn cứ thì…
-    Sao?
-    Xa quá, 150 ki-lô-mét chứ ít đâu!
-    Tôi cho đi ngay đêm nay.
-    Thế thì hay quá! Chúng tôi rất cám ơn tiểu đoàn.
Dặn dò công việc với Nguyễn Đức Thắng xong, Nguyễn Đen quay trở vào trạm sửa chữa lưu động đặt ở bên bãi tha ma, dưới mấy gốc đa khá lớn, cách bến không bao xa. Nếu như mỗi khi ra cầu chứng kiến cảnh anh em tác nghiệp và chiến đấu, Nguyễn Đen thường xúc động, sung sướng thế nào khi tiếp xúc với những cán bộ và chiến sĩ trong trạm sửa chữa lưu động, anh cũng thường có những cảm giác tương tự. ở đây là một công cuộc chiến đấu tuy âm thầm nhưng cũng không kém phần gian khổ, ác liệt, của những người lính thợ. Anh em thợ hàn, thợ gò, thợ máy… đã làm việc hết sức nặng nhọc, căng thẳng, nhiều ngày, nhiều đêm họ không được ngủ. Họ đã luôn luôn phải đảm bảo tốt việc sửa chữa khí tài để phục vụ cho các đơn vị khác tác nghiệp thắng lợi. Họ cũng đã từng bị bom vùi, bom phá… Họ cũng chịu đủ mọi nỗi gian nan cũng như chia sẻ đủ mọi nỗi vui buồn của toàn tiểu đoàn. Họ là những chiến sĩ gần như không tên, không tuổi nhưng hiển nhiên không thể nào thiếu họ. Không, Tuyệt đối không! Trong bất cứ nhiệm vụ lớn nhỏ nào của tiểu đoàn đều nhất thiết phải có khối óc, cánh tay của họ.
Rồi như đã nói với Nguyễn Đức Thắng, ngay sau đó, khi từ trạm sửa chữa trở về sở chỉ huy, Nguyễn Đen lệnh cho hai chiếc Din 157 quay trở về căn cứ để kéo ra Cổ Tế thêm hai ca nô dự bị.
Ngày hôm sau, Nguyễn Đen ngóng chờ mãi nhưng chiều muộn rồi mà vẫn chưa thấy hai chiếc Din 157 trở lại. Anh đã toan cử Đoàn Liễu quay về xem sao. Nhưng Đoàn Liễu có ý ngại, kêu nhức đầu,Nguyễn Đen đành nhảy lên chiếc xe con, bảo phóng thật nhanh. Chín giờ tối anh đã có mặt ở hậu cứ của tiểu đoàn.
Chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Giảng đang ngồi tính toán sổ sách gì đó với cậu quản lý. Nguyễn Giảng đã đứng tuổi, công tác chỉ bằng những kinh nghiệm bản thân, học hành cũng chỉ sơ qua một lớp quân chính ngắn hạn, nhưng được cái vô cùng tận tuỵ, vô cùng thuần chất, và đặc biệt là chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên. Thấy Nguyễn Đen đột ngột trở về, Giảng biết là anh đang sốt ruột lắm, vội bỏ tất cả sổ sách đó để đón đợi ý kiến anh.
- Hai chiếc xe cho về kéo ca nô ra Cổ Tế đâu anh Giảng? – Đen hỏi.
Giảng hơi tái mặt, vội vã phân trần:
- Anh ạ! Trên tham mưu quân khu điều đi mất rồi!
- Hả?- Nguyễn Đen tròn mắt – Sao lại điều xe của ta?
- Anh ạ! Chả là khi hai chiếc Din 157 về đây thì anh Cao Thành trên tham mưu quân khu xuống nom thấy. Anh ấy về quân khu lấy lệnh điều luôn đi kéo pháo 100 mi-li-mét ở căn cứ II của quân khu đưa xuống bổ sung cho tỉnh đội Ninh Bình ở tận bờ biển Rạng Đông, để bắn tàu chiến dịch. Việc đang gấp lắm.
- Thế việc của chúng ta không gấp ư? Mà sao anh lại đưa xe cho họ?
- Anh ạ! Lệnh của anh Thượng Trung tham mưu phó quân khu mà. Tôi không chấp hành sao được?
Nguyễn Đen thở hắt ra. Anh càng bực khi nghe Nguyễn Giảng báo cáo tiếp là hai chiếc xe ấy kéo pháo ra khỏi căn cứ II thì bị lầy ở giữa ruộng, kéo không nổi, phải dấu cả hai xe vào cũng không xong. Nay đang còn lình xình cả ở đấy!


ĐỐI THOẠI
Đến lúc này, Nguyễn Đen không sao nín nhịn được nữa. Anh phải nói như gắt lên:
- Bận sau anh đừng làm thế! Anh nên cho gọi hai chiếc xe ấy về ngay đây anh ạ!
Liền sau đó, anh gọi máy nói lên tham mưu quân khu.
- Vâng! Tôi Nguyễn Đen đây! Ai đấy? Anh Thượng Trung ạ!
Xin chào thủ trưởng! May quá tôi đang muốn được trực tiếp nói chuyện với thủ trưởng. Tôi xin báo cáo đề thủ trưởng biết: tôi đã cho gọi hai xe tải Din 157 của chúng tôi về…
Tiếng nói đầy uy quyền từ đầu dây bên kia như bỗng gắt lên:
- Hừ ? Tại sao các anh không chấp hành mệnh lệnh như vậy ? – Nguyễn Đen trả lời:
- Vì xe Din 157 không thể nào kéo được pháo 100 mi-li-mét.
Tiếng nói bên kia càng đầy uy quyền và càng thêm gay gắt:
- Sao không kéo được ? Như vậy là các anh không muốn chấp hành lệnh phải không ? Các anh sẽ phải chịu trách nhiệm đấy !
Đến lúc ấy Nguyễn Đen cũng không thể không nổi xung;
- Báo cáo tham mưu phó , đồng chí có hiểu tính năng, tác dụng của xe Din 157 không? Anh cứ nhân danh cấp trên hạ lệnh như vậy, ai chấp hành nổi? Sao lại bắt Din 157 kéo loại pháo ấy trên đường dài, mà lại là đường lầy lội? Xe xích đâu, quân khu thiếu gì xe xích?
Nguyễn Đen đang chờ một tiếng gầm lên từ đầu dây nói bên kia, nhưng lại thấy im lặng. Nguyễn Đen hiểu trung tá Thượng Trung núng rồi, anh tiếp:
- Hơn nữa, chúng tôi đang bắc cầu bảo đảm chiến dịch, ca nô bị địch đánh hỏng, phải cho kéo gấp ca nô dự bị ra. Chẳng lẽ anh không biết nhiệm vụ của chúng tôi thế nào ư?
Đến lúc đó, người bên kia đã trấn tĩnh lại được:
- Á à, anh lý sự khá đấy, anh Đen ạ! Thôi được, tôi sẽ báo cáo việc này với Bộ tư lệnh quân khu.
- Rõ! Anh cứ báo cáo đi!
Nguyễn Đen nói đoạn, ném chiếc ống tổ hợp xuống, không buồn nói tiếp nữa. Nửa giờ sau, anh nhảy lên xe, quay trở về Cổ Tế anh không quên dặn Nguyễn Giảng:
- Anh bảo đảm cho hai chiếc Din 157 kéo ngay ca nô ra cho tôi trong đêm nay. Mọi việc với quân khu, tội lỗi đâu tôi sẽ chịu. Anh cứ yên tâm.
Nguyễn Giảng nhăn nhúm cả mặt lại, Nguyễn Đen nói như vậy Giảng vẫn còn lo. Cũng như nhiều người khác, Nguyễn Giảng đã khá hiểu Cao Thành là người như thế nào, hiểu cả việc anh ta luôn luôn cậy thần cậy thế để lấn át mọi người. Việc này, lẽ cố nhiên Nguyễn Đen sẽ chịu trách nhiệm là chính. Nhưng lẽ nào Giảng lại không có liên đới? Thế mới gay…
Việc Nguyễn Giảng lo không phải là điều vô lý.
Ngay sáng hôm sau tham mưu phó Thượng Trung và Cao Thành đã đi thẳng tới chỗ phó tư lệnh Nhiệm để báo cáo về sự “ vô kỷ luật” của Nguyễn Đen.
Ông Nhiệm ngồi im lặng lắng nghe. Trong lòng ông không khỏi phân vân về sự đúng sai trong chuyện này. Thêm nữa, ông bắt đầu thầm cảm thấy khó xử và không thích Cao Thành cứ luôn luôn bám sát lấy ông, và bám sát một cách quá lộ liễu. Nhiều tối, chẳng có việc gì, Cao Thành cũng vào phòng ông để trò chuyện, mà toàn là chuyện công chẳng ra công, tư chẳng ra tư, thậm chí tầm phào giải trí với nhau cũng chẳng phải nốt. ông hiểu cung cách ra vào của Cao Thành đã làm mọi người chung quanh phải chú ý. Dường như đã có sự xì xầm coi Cao Thành như là một “gia nhân, thủ túc” của ông vậy. ông không thích có điều tiếng như thế. Tất nhiên với chỗ quen biết cũ, ông cũng có ít nhiều cảm tình với Cao Thành. Ông cũng muốn anh ta có một vai trò nào đó trong đội ngũ cán bộ chung quanh ông, để ông gửi gắm lòng tin cậy thực sự. Nhưng càng ngày, xem ra con người này không phải đúng như ông nghĩ và mong muốn. Trong đầu óc ông bắt đầu le lói lên một ý nghĩ thầm kín: không khéo vớ phải một tay ma giáo cũng nên, nếu như thế thì phiền thật! Ông là người cách mạng chân chính, ông đâu có chịu để cho ai lợi dụng mình làm điều không hay!
Đối lại, vốn là người không đến nỗi thiếu thông minh, Cao Thành cũng đã ít nhiều hiểu được những ý nghĩ thầm kín cuả ông Nhiệm. Tuy vậy, Cao Thành vẫn hoàn toàn kiên định trong chủ trương của mình: Phải bám chặt. Bám sát lấy ông Nhiệm. Phải tích cực khai thác triệt để mối quan hệ cũ giữa hai người. Phải biết chịu đựng, phải biết phớt lờ và coi khinh tất cả mọi dư luận…
Riêng về việc đụng độ với Nguyễn Đen hôm nay, theo Thành là trường hợp rất cụ thể, hết sức thuận lợi để tạo cho ông Nhiệm một cơ hội xét xử. Bởi vậy Cao Thành đã ra sức thuyết phục để ông hiểu rằng: Nguyễn Đen đúng là một tay kiêu ngạo, thiếu ý thức tổ chức, đã có một hành vi vô kỷ luật nghiêm trọng, thậm chí còn tỏ ra coi thường và thách thức cả cấp trên…
Ông Nhiệm gật gù lắng nghe. Dẫu sao, biết gì, nghĩ gì về Cao Thành, ông vẫn chưa vượt qua nổi những tình cảm xưa cũ với nhau. Nói đúng hơn: dẫu sao ông cũng còn một chút thương, một chút nể anh ta.
Cao Thành tiếp tục nói. Nhưng, gần như bất ngờ, ông Nhiệm quay máy nói gọi đòng chí thư ký riêng vào:
- Anh mời giúp tôi đồng chí trưởng phòng kỹ thuật sang đây cho tôi!
Lát sau, một trung tá đeo kính cận bước vào phòng, ông Nhiệm ôn tồn và vắn tắt hỏi về việc kéo pháo 100 mi- li- mét bằng xe Din 157. Đồng chí chủ nhiệm kỹ thuật tủm tỉm cười, nhẹ nhàng trả lời là không thể như thế được.
Như bị mồi lửa gí giữa trán, Thượng Trung bật dậy:
- Sao cậu Cao Thành trợ lý công binh bảo tôi là kéo được?
Đồng chí trưởng phòng kỹ thuật vẫn tủm tỉm cười, dịu dàng:
- Cậu Thành thì về xe máy còn lỗ mỗ lắm đấy ạ! Din 157 cố kéo cũng được, nhưng chỉ trên đường bằng, đường nhựa một quãng ngắn thôi. Lẽ ra anh nên hỏi phòng chúng tôi, ta thiếu gì xe xích, xe xích mới kéo được nó…
Khi đồng chí tham mưu phó và trưởng phòng kỹ thuật trở ra, ông Nhiệm khó khăn lắm mới quay lại chỗ Cao Thành nói nho nhỏ:
- Thôi, cậu hãy cứ về đi! Để rồi tôi sẽ nhắc nhở Nguyễn Đen sau…
Cao Thành ra về, mặt bừng bừng. Gần như suốt đêm ấy anh trằn trọc. Ba hôm sau anh đi xuống Cổ Tế anh lại đã có một “ phương án mới”. Anh muốn gặp Đoàn Liễu. Con người này đã tới lúc cần đến. Hắn sẽ làm được việc, khi có người hướng dẫn cho hắn. Nếu không, trước sau hắn cũng chỉ là một con người chỉ biết hậm hực vì lòng đố kỵ, ghen ghét. Giỏi lắm là chỉ biết ngồi lê la trong đám cán bộ cấp dưới, hoặc chiến sĩ để tung tin thất thiệt, hoặc dèm pha sau lưng người mà hắn đang muốn cầy bẩy.
Bây giờ cần hướng cho Đoàn Liễu biết tập trung vào một khâu mấu chốt nhất; tìm hoặc tạo cho một vụ việc nào đó; chỉ cần một thôi, miễn là vụ việc đó quan trọng, có liên quan tới lập trường, quan điểm, hoặc nguyên tắc. Nhân dân ta trong chiến trường đánh Mỹ ngụy vẫn thường dùng cách moi từ trong ruột chúng moi ra, gây rối loạn ngay từ trong ruột chúng, tạo cho chúng suy yếu và tự diệt lẫn nhau. Kinh nghiệm ấy là một kinh nghiệm thật đáng học tập và vận dụng… Cao Thành nghĩ thế!




VỤ VIỆC ẤY ĐÂY RỒI

Chinh gần như ngày nào cũng phải ghé vào sở chỉ huy của tiểu đoàn 27 một lần. Có buổi có công việc cần bàn, cần phối hợp giữa đôi bên bộ đội,công nhân và dân quân xã. Nhưng có buổi không có việc gì, Chinh cũng vẫn cứ tới. Một ngày không gặp được Đen là cô cảm thấy hết sức trống trải buồn bã, mặc dầu Đen vẫn kiên trì giữ vững mối quan hệ giữa hai người một cách hoàn toàn trong sáng. Nhưng chính vì vậy mà Chinh càng yêu anh, kính trọng anh hơn bao giờ hết.
Tuy vậy, sự năng lui tới của Chinh đã làm cho Đoàn Liễu thêm tức tối. Cho đến hôm Cao Thành xuống và sau khi đã tâm sự với nhau một đêm, Đoàn Liễu suýt phải bật kêu lên sung sướng: “ Ôi vậy nó đây rồi, cái vụ việc ấy đây rồi, còn phải tìm đâu xa, còn phải chờ đợi gì nữa!”. Đó là mối quan hệ bất chính giữa đồng chí tiểu đoàn trưởng đã có vợ có con với một đồng chí nữ công nhân sắp sửa xây dựng gia đình. Đây là một vụ việc bỉ ổi, đã phá hoại hạnh phúc của đồng chí, đồng bào mình, một vụ việc vi phạm nghiêm trọng tới đạo đức xã hội chủ nghĩa sáng ngời của chúng ta.
“ Nhưng chớ có hấp tấp! Chớ có làm ồn lên vội mà chúng kịp thời đề phòng, ông Liễu ạ!” – Cao Thành đã nghiêm chỉnh căn dặn như vậy. – “Hãy im lặng thêm ít nữa đã, coi như không biết gì hết. Hơn nữa, có đứa nào xì xầm, cũng gạt đi, coi như mình hết lòng tin tưởng ở tiểu đoàn trưởng và hết lòng bảo vệ đồng chí ấy. Cứ để mở rộng cửa. Chắc chắn họ sẽ đi sâu hơn nữa. Lúc đó ta mới khép lại, thì họ có chạy đằng trời. Hiểu chứ? Và, ngoài ra, để cho chắc chắn thêm, ông xem các công việc thì đồng chí này còn thường hay phạm hoặc có thể phạm cái gì? Đường lối quân sự của Đảng chẳng hạn, hoặc nguyên tắc tác chiến, hoặc tài chính, vật tư chẳng hạn…”.
“Vật tư? Vật tư? Vật tư thì có chuyện lắm chứ! ờ cái 27 này nhiều xi măng, sắt thép… Nhưng lại là ở chỗ tay quản lý cơ! Nguyễn Đen không ăn gì, nhiều lúc chỉ phóng tay ký ào ào làm tôi cũng sợ…”
“Ôi, thế thì đúng rồi! Cứ gì phải trực tiếp ăn cắp? Chỉ nguyên cái ào ào ấy là đủ, là đại vô nguyên tắc, là tiếp tay cho kẻ ăn cắp rồi! Trời ơi, việc như vậy mà ông hữu khuynh bao năm nay không chịu đấu tranh, đưa ra pháp luật hả? Chưa đủ chứng cớ tài liệu hả? Không sao! Ông cứ phát đơn tố giác đi, hoặc tìm một đứa nào đó, mượn tay nó mà tố giác. Sẽ có giải pháp, có kiểm tra họ xuống và họ sẽ tìm ra đủ chứng cớ, tài liệu… Khó mượn tay thằng nào được hả? Chẳng lẽ Nguyễn Đen là một ông thánh ở đây sao? à, có hả, một cậu cán bộ trung đội bị Nguyễn Đen thi hành kỷ luật , cho đi khỏi đơn vị vì tội hủ hoá, và ăn cắp xi măng bán cho dân buôn hả? Vậy phải tìm cho ra tên này! Nó bây giờ ở đâu ? ở đơn vị khác rồi hả ! Khác cũng được. Từ đó nó phát đơn tố giác càng tốt !”
“… Như vậy rõ ràng là vị tiểu đoàn trưởng của ông có hai tội không thể chối cãi được nhé: một là hủ hoá với cô Chinh, hai là đồng loã ăn cắp vật tư với quản lý tiểu đoàn. Đủ chưa nào ? Thôi ông Đoàn Liễu ạ, ông chuẩn bị để mà gánh lấy trọng trách xây dựng lại cái tiểu đoàn này cho nó vững mạnh và trong sạch hơn lên. Nặng đấy, nhưng tôi coi tướng ông có thể đảm đương được. Tôi sẽ báo cáo với “cụ” Nhiệm về ông. Chắc ông biết “cụ” ấy quý tôi như thế nào rồi…”.
Từ sau buổi tâm sự tuyệt mật và tràn đầy hy vọng ở tương lai ấy, Đoàn Liễu đã âm thầm ghi nhận không để sót một cử chỉ, thái độ, lời nói nào của Nguyễn Đen và Chinh mỗi khi hai người gặp nhau.
Cũng từ sau buổi gặp Cao Thành, Đoàn Liễu đã xin tranh thủ về phía sau, và đã tìm được Hưởng, cậu cán bộ trung đội đang hết sức căm giận Nguyễn Đen. Một lá đơn dài 8 trang đầy chữ nhỏ li ti đã được hai người đọc đi đọc lại, sửa từng ý, từng lời, chuẩn bị để gửi lên trên tố giác quản lý Thức của tiểu đoàn về tội ăn cắp tài sản, và tố giác cả Nguyễn Đen về tội bao che cho Thức vì có những mối quan hệ ăn chia mờ ám, xấu xa…
Tất cả những việc đó, Nguyễn Đen không hề biết một mảy may. Anh vẫn vùi đầu vào công việc, lăn lộn không những trên bến chính là Cổ Tế mà còn luôn đi tới tất cả các bến khác, những nơi mà tiểu đoàn anh đang phải đảm bảo. Đôn đốc, kiểm tra, anh lăn vào giúp các đơn vị đẩy mạnh việc huấn luyện tại chỗ theo kế hoạch của tiểu đoàn và hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm giao thông.
Sáng hôm nay, theo đúng kế hoạch, anh lại tới bến Cẩm Thuỷ làm việc. Suốt cả buổi sáng, anh ở ngoài bến với các cán bộ và chiến sĩ đại đội Trần Đằng . Anh em ở đây chiến dấu và huấn luyện đều tốt, không kém gì anh em trên Cổ Tế. Nguyễn Đen hết sức vui mừng. Buổi chiều, anh tiếp tục ra bến để cùng anh em chung sức nghiên cứu thí điểm cải tiến mố cầu phà chở xe tăng. Đây là một công việc mà anh đang hết sức ham mê. Sở dĩ phải lên bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn để nghiên cứu, vì mấy hôm nay bọn Mỹ đánh Cổ Tế liên tục, rất khó có thể thí điểm, nghiên cứu được cái gì hết.
Anh đang lụi hụi làm việc, chợt nghe đài quan sát của đại đội đặt trên điểm cao 405 báo cáo gấp: Có rất nhiều máy báy địch đang oanh tạc ở hướng Cổ Tế.


TÌNH HUỐNG BẤT NGỜ

Sau khi phán đoán tình huống, giao công việc lại cho kỹ sư Nguyễn Hạnh cùng đại đội trưởng Trần Đằng tiếp tục làm thí điểm, Nguyễn Đen lên xe quay trở lại Cổ Tế.
Xe lao như bay trên đường. Ruột anh như có lửa đốt. Khi cách bến chừng một ki- lô- mét, Nguyễn Đen đã nhìn thấy một nhóm cán bộ chiến sĩ của mình đang đi vội vã ngược lại phía anh. Nhưng anh nào anh nấy mặt mũi lại phởn phơ. Nguyễn Đen nhận ra đội trưởng trinh sát Đoàn Lộc cùng với anh em trinh sát chuyên ghi chép và xác định các vệt bom của địch.
Nguyễn Đen cho dừng xe lại. Mọi người cùng vây lấy anh. Đoàn Lộc báo cáo vắn tắt tình hình đã xảy ra ở “nhà”: Bọn Mỹ vừa cho máy bay ồ ạt đánh thẳng vào Cổ Tế. Lúc đầu bọn chúng dùng 4 tốp liên tiếp thả bom nổ tức thì, sau đó cho một tốp khác thả hai vệt bom nổ chậm. Xảo quyệt, chúng lại cho một tốp nữa thả tiếp một loạt bom nổ tức thì để xoá mọi dấu vết nổ chậm, không cho ta phát hiện và khắc phục được. Trên đài quan sát, anh em trinh sát đã ghi được 24 bom nổ chậm và 96 quả bom nổ các loại. Đại đội cao xạ đã bắn cháy một F.4. Các lực lượng dân quân do Chinh trực tiếp chỉ huy hôm nay cũng bắn rất mạnh, nên máy bay Mỹ phải hất lên cao, chỉ có một số bom trúng bến, còn phần lớn rơi xuống sông , trên ruộng, vài quả rơi vào làng làm cháy một số nhà của đồng bào…
Tình huống này đã làm cho đại đội 3 gặp không ít khó khăn. Nhưng Nguyễn Đức Thắng ra sức khắc phục mọi hậu quả. Hai người dân đang làm ngoài đồng bị bom chết. Một quả bom rơi cạnh hầm đầu bến làm một chiến sĩ gác của đại đội 3 hy sinh, một chiến sĩ khác và một công nhân bến phà bị thương…
Ban chỉ huy đại đội phải họp cấp tốc phân công cán bộ cùng một lúc giải quyết nhiều việc. Trước hết phải cấp cứu người bị thương, tổ chức tang lễ liệt sĩ đồng thời cử người đi viếng các đám tang của nhân dân trong làng. Việc này được giao cho chính trị viên phó Huynh phụ trách, sau đó là trinh sát bến bãi, tổ chức khắc phục phá gỡ bom và san lấp hố bom, sửa chữa bến phà, làm lại đường vào bến, giải vệt chống lầy, khắc phục lầy lội…Việc này đựơc phân công cho chính trị viên Lai và đại đội phó Quang. Đại đội phó Quang phụ trách bờ nam, còn chính trị viên Lai phụ trách bờ bắc.
Riêng về phía Đoàn Lộc cùng anh em trinh sát, ngay sau khi máy bay Mỹ cút hết, Đoàn Lộc đã cùng anh em lao ngay ra bến, đo vẽ, ghi chép trong khu vực này. Đã phát hiện được một hút bom nổ chậm nằm ngay trên đường xuống bến. Sau hơn một giờ tập trung đào bới, quả bom ấy đã lộ mặt. Xem xét kỹ, Đoàn Lộc nhận ra đây là một loại có ngòi nổ từ trường kiểu mới “Model 3”. Loại này Đoàn Lộc chưa hiểu nguyên lý và phương pháp tháo gỡ. Anh em trinh sát đã bàn: Đánh bộc phá để hủy quả bom này đi. Nhưng nếu làm như vậy sẽ hỏng bến,vì khối lượng thuốc nổ của quả bom khá lớn. Mặt khác Đoàn Lộc cũng tiếc đây là loại bom mới, nghiên cứu được cách tháo gỡ đầu nổ của nó để lấy kinh nghiệm “ giềng” những quả khác về sau này thì tốt hơn.
Không một ai phản đối ý kiến của Đoàn Lộc. Tất cả anh em có mặt tại đây đều tình nguyện được làm cái công việc mạo hiểm, ngàn cân treo sợi tóc này. Nhưng Đoàn Lộc cũng không nhường cho ai với lý do: “ Tôi đề xuất ý kiến, tôi phải là người thực hiện”, và với vẻ mặt đầy tự tin. Đoàn Lộc đưa bàn tay phải có những ngón trai sạn cứng quèo lên vỗ đồm độp vào khuôn ngực nở vồng lên của mình và lớn tiếng nói thêm rằng: “ Đừng nghĩ thằng Lộc này tự kiêu khi nói nó là thằng kinh nghiệm nhất trong bọn phá bom ở đây. Không đựơc tranh nhau với nó!”. Dứt lời Đoàn Lộc xua hết mọi người ra xa phân công người gác xung quanh, chỉ để một mình anh “chiến đấu” với cái đầu “Model 3” quỷ quái ấy.
Anh cởi hết quần áo, cầm những dụng cụ đặc biệt để tháo gỡ bom, bình tĩnh đi vào hút bom. Anh thận trọng từng động tác, vừa suy nghĩ vừa nghiên cứu, mò mẫm từng li từng tí, mười phút, mười lăm phút, lúc nằm ngửa, lúc nằm sắp, lúc quỳ, lúc ngồi, mồ hôi Lộc vã ra như tắm…
Hai mươi phút trôi qua. Một chiến sĩ sốt ruột quá, lo lắng chạy lao vào hút bom.
- Thế nào đội trưởng? Để em tháo tiếp cho!
Lộc dừng tay lại quát:
- Sao lại vào đây? Sắp được rồi, thôi ra đi! Coi chừng kẻo có người vào đây nguy hiểm đấy!
Nhưng Lộc lại gọi cậu chiến sĩ, nói cho cậu ấy nghe, mình đã tháo đến đâu và biện pháp tiếp theo là…
Lộc nói như thế để bàn giao cho người sau biết mà tháo gỡ, đề phòng tình huống bất trắc xảy ra, bom nổ, Lộc có thể hy sinh.
Nhưng rồi, hai mươi phút sau nữa, trong khi tất cả anh em đều nằm rán mắt nhìn về phía quả bom và lo lắng thì thấy Lộc bỗng reo và đứng lên, tay cầm chiếc đầu nổ vàng choé giơ lên.
- Được rồi, được rồi !
Các chiến sĩ trinh sát liền reo lên và chạy ùa lại ôm lấy đội trưởng. Cũng vừa lúc đó tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh từ sở chỉ huy tiểu đoàn đi xe cóc ra bến. Đang sốt ruột và lo việc tháo đầu chiếc nổ mới của Lộc không an toàn, trông thấy Lộc cầm chiếc đầu nổ chạy về phía xe, Ngô Doãn Hanh cũng mừng quýnh lên. Nghe Lộc báo cáo tình hình và quan sát lại bến một lần nữa, trao đổi với cán bộ đại đội 3 ở bến những công việc phải làm. Lộc cũng giao nhiệm vụ cho các chiến sĩ trinh sát tiếp tục làm nhiệm vụ, rồi lên xe mang chiếc đầu nổ mới về sở chỉ huy cùng Ngô Doãn Hanh.
Sau khi nhận được điện báo cáo về Quân khu, Quân khu báo cáo lên Bộ. Ngay ngày hôm sau Bộ Tổng tham mưu đã cử một cán bộ của Cục nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, đem lệnh của Bộ xuống lấy chiếc đầu nổ “Modell – 3” mà Lộc tháo được về nghiên cứu.
Và quả thật Đoàn Lộc là một con người tuyệt vời. ý muốn của anh, anh đã thực hiện được một cách vô cùng êm ngọt như biết bao nhiêu quả bom anh đã từng vô hiệu hoá chúng trước đây. Tất cả các chiến sĩ trinh sát ùa đến ôm chặt lấy anh reo mừng.
Nhưng khi đưa cái đầu nổ của quả bom “Modell 3” ấy trên đường về sở chỉ huy của tiểu đoàn, không khí vui vẻ chưa kịp tan lắng, gặp tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen mới ở bến Mục Sơn về, anh liền đặt ngay một câu hỏi bức xúc:
- Còn các quả khác ? Và cả mấy vệt bom kia nữa, tính sao đây ?
Đến lúc đó Đoàn Lộc thoắt trở nên lúng túng. Thì ra vì quá say mê “tỉ mẩn” với trái bom có đầu nổ “Modell 3” ấy, anh đã không chú ý đầy đủ tới những vệt bom trong toàn khu vực.
Nguyễn Đen quyết định:
- Thôi, tất cả quay lại ! Lên xe, trở lại bến ngay với tôi !
Mọi người đều im bặt, liếc nhìn nhau. Họ đã “tỉnh” cơn vui và biết lo tới lũ “ác ôn” còn đang ẩn náu ở tất cả chung quanh bến.
Chiếc xe lại rồ máy lao đi như bay. Đến chân một ngọn đồi, Nguyễn Đen dừng xe lại, nhảy phốc xuống, anh lên thẳng đài quan sát.
Hai chiến sĩ đang bám trụ ở đó thấy tiểu đoàn trưởng đột ngột leo lên, mặt đẫm mồ hôi, thì không khỏi giật mình.
- Cho tôi xem sổ và sơ đồ ghi chép bom !
Các chiến sĩ vội đưa cho anh một quyển sổ đã nhầu nát và một tờ giấy lớn có vẽ sơ đồ bến và đã được đánh dấu nơi những trái bom vừa rơi xuống.
Nguyễn Đen cắn môi đọc một lúc rồi ngẩng lên chăm chú hỏi lại về các hướng đường bay của địch và đội hình của tốp máy bay thả bom nổ chậm. Sau đó, anh cùng Đoàn Lộc và nhóm trinh sát trao đổi ý kiến, phán đoán, xác định lại tình hình từng vệt bom. Cuối cùng, anh khẳng định: một vệt bom đã cắt ngang bến phà. Còn một vệt nữa thả chéo theo dọc sông về phía thượng lưu. Nhận định ấy làm cho Đoàn Lộc và nhóm trinh sát nhẹ cả người. Không còn phải đắn đo gì nữa, họ đã hoàn toàn tin tưởng ở khả năng và sự nhạy cảm của Nguyễn Đen từ lâu.
- Khí tài của Nguyễn Đức Thắng đã đưa xuống giấu ở hạ lưu rồi phải không ? – Nguyễn Đen hỏi.
- Không ạ ! Vẫn ở thượng lưu. - Đoàn Lộc đáp.
- Chết rồi ! – Nguyễn Đen thốt lên – Tôi đã lệnh cho cậu ấy chuyển khu cất giấu khí tài xuống hạ lưu rồi cơ mà ! Sao vẫn còn ở trên đó ?
- Báo cáo, ở nhà anh Đoàn Liễu bảo cứ để ở đấy ôn luyện cho tiện. Chuyển sau cũng được !
- Thế ở dưới hạ lưu không ôn luyện được ư ? ở đó có rặng tre, càng kín đáo chứ sao !
Đoàn Lộc không biết đáp sao nữa. Đen thở dài:
- Thôi được ! Dẫu sao việc cũng đã rồi. Bây giờ phải lo đánh dấu cho hết các bãi bom đã, rồi tính tới việc rà phá sau.
Nói đoạn, anh quay trở xuống chân đồi. Chiếc xe một lần nữa lại rú lên, nhằm thẳng bến lao tới.
Nguyễn Đức Thắng được tin tiểu đoàn trưởng về, đã ra đón anh ở đầu bến. Con người luôn luôn tươi cười, sôi nổi, lạc quan đến thế mà lúc này cũng trở nên lo lắng,gần như bối rối nữa.
Thoắt cái, Nguyễn Đen đã cởi hết quần áo ngoài, ngồi bệt xuống bên đường, trải bản đồ ra cùng Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Lộc bàn bạc. Các chiến sĩ trinh sát và cả các chiến sĩ nghiệp vụ khác nhau của công binh cùng đứng vây tròn lấy ba người chỉ huy.
Nguyễn Đen nhắc lại nhận định của anh về hai vệt bom, rồi cầm bút chì xanh vẽ lên bản đồ. Tất cả mọi người, từ Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Lộc tới các chiến sĩ đều nhất trí với anh. Nguyễn Đen kết luận: phải nhanh chóng xác định vị trí từng quả bom một, rồi tìm cách phá trước những quả nào có liên quan trực tiếp tới việc bắc cầu tối nay, số còn lại tuy cũng phải khẩn trương giải quyết nhưng hãy tạm thời đánh dấu để đấy, “hỏi tội chúng sau”
- Anh ra lệnh cho Nguyễn Đức Thắng chuẩn bị ngay các phương tiện rà phá bom dưới sông và biện pháp tổ chức hành quân bằng thuyền đưa khí tài qua bãi bom xuống bến bắc cầu đêm nay.
Sau đó anh phân công cụ thể từng người vào bãi bom trinh sát theo đội hình “ô vuông”. Mỗi người cách nhau khoảng 100mét. Cuối cùng, anh hạ lệnh cho tất cả cán bộ chiến sĩ cởi bỏ hết quần áo ngoài. Anh hô ngắn ngọn: Tất cả vào bãi bom!
Anh cầm bản đồ tiến lên trước. Cả đoàn tiếp sau anh, từ các đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng, Đoàn Lộc tới các chiến sĩ chở phà, lái xe… Theo đúng nghĩa đen: Tất cả đang tiến vào một vùng chết chóc để giành lấy cái sống.
Nửa giờ sau, Nguyễn Đen thu quân.
Tất cả lại ngồi quây quần bên nhau, người nào cũng lấm lem mồ hôi nhễ nhại. Nhưng tất cả đều tươi cười rạng rỡ. Vệt bom thứ nhất đã được ghi chép và đánh dấu đầy đủ.
- Tiếp tục!
Nguyễn Đen lại đứng dậy, ra lệnh.
Đúng như dự đoán của anh, vệt bom thứ hai địch đã rải dọc theo bờ sông. Nhưng trong số 12 quả, chỉ phát hiện được có 8 ở trên bờ (5 ở bờ bắc, sát mép nước, 3 ở bờ nam, phía trong đê). Như vậy còn 4 ở dưới sông! Chúng đã khống chế một khúc  sông khoảng 500 mét ở thượng lưu.
- Dừng lại đã! Chưa được kéo thuyền xuống bến bắc cầu vội.
Nguyễn Đen kịp thời phát ra mệnh lệnh quan trọng ấy cho Nguyễn Đức Thắng.
Và, đến lúc này thì chính anh cũng phải thấy thoáng như lạnh gáy, vì không ngờ tình huống lại phức tạp đến thế. Trong khi đó Nguyễn Đức Thắng gần như ứa nước mắt, thành thực nhận lỗi đã không kiên quyết chấp hành lệnh của Nguyễn Đen chuyển khu cất giấu khí taì xuống hạ lưu. Nguyễn Đen an ủi anh vì đã có ý kiến can ngăn của Đoàn Liễu thì cũng khó thực hiện. Đoàn Lộc cũng càng giận mình vì đã quá say mê với quả bom ở trên bến mà không chú ý tới cả khu vực.









             CHƯƠNG V
KHÚC SÔNG HIỂM NGHÈO


           Mọi người đều nín thinh. Ai cũng hiểu rằng: chỉ một chút nữa, nếu Nguyễn Đen không về kịp, Nguyễn Đức Thắng cứ cho kéo khí tài từ thượng lưu xuống bến để bắc cầu tối nay, thì có nguy cơ toàn bộ khí tài sẽ tan tành hết.
Nguyễn Đức Thắng nhăn nhó:
- Báo cáo anh Đen, hay là… hôm nay anh cho bỏ huấn luyện?
Nguyễn Đen lắc đầu:
- Không cần phải thế! Cứ chấp hành nghiêm chỉnh kế hoạch. Muốn đảm bảo thời gian thông cầu, càng phải giữ vững kế hoạch huấn luyện. Đây cũng là một cơ hội cho đại đội 3 lập công và rèn luyện. Mọi việc sẽ bàn tỉ mỉ. Cứ bình tĩnh!...
Giữa lúc đó, ở bờ nam có một tiếng nổ lớn. Mọi người cũng ngoái lại thì thấy một cột khói và đất đá phụt cao tới vài chục mét. Nguyễn Đức Thắng nói:
- Anh em dân quân địa phương và công nhân bến phà họ chịu trách nhiệm rà phá bên ấy. Tôi đã phân công lúc nãy. Có lẽ cô Chinh đó anh ạ. Vâng! Cô Chinh trực tiếp làm nhiệm vụ phá bom, vì cô ấy nói hồi còn làm thanh niên xung phong ở chiến trường, cô ấy chuyên phá bom.
Đen sững sờ. Quả bom đã phá nổ, nhưng liệu người phà nó có sao không? Anh quay đi, để giấu nỗi lo lắng, bàng hoàng trên nét mặt mình…
Lát sau, theo đúng kế hoạch đã được vạch ra, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng cấp tốc tổ chức một đội rà phá bom dưới sông, ở phía thượng lưu, bằng phương pháp thủ công: Các chiến sĩ dùng những sợi dây có đeo nam châm và cả những sợi dây có buộc những thùng phuy rỗng để kéo ngang sông.
Một cảnh tượng khá đặc biệt diễn ra trên đoạn sông đã trở nên bình lặng: các chiến sĩ ra sức kéo qua kéo lại những sợi dây trên sông, kiên trì như những toán dân chài đang kéo lưới vét cá. Nhưng 15, rồi 20 phút đã trôi qua, mặt sông vẫn hoàn toàn câm lặng, bí mật.
- Không lẽ… không có bom? - Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng sốt ruột quay lại phía Nguyễn Đen rấm rứt nói.
Mặt vẫn lì ra, Đen câm lặng như dòng sông. Anh không lộ rõ một vẻ gì thất vọng hoặc nôn nóng.
Các chiến sĩ lại từng đôi một tiếp tục rạp mình xuống kéo dây ngược lên, rồi lại kéo xuôi xuống, hết sức kiên trì, nhẫn nại. Cùng lúc đó, ở một đoạn sông phía xa, có một toán nữ dân quân vừa đi lấp hố bom về, quần áo lấm như trâu đầm. Các cô láo nháo rủ nhau nhảy ù xuống sông tắm. Một chú lính trẻ đứng gác ở bụi cây gần đó đỏ mặt lên khi thấy những thân hình trắng muốt uốn lượn cách tầm mắt chú không xa. Đã toan quay mặt đi, nhưng vẫn nhớ tới nhiệm vụ cảnh giới, chú vội bắc loa tay lên miệng gọi to:
- Có bom dưới sông đấy! Lên đi các chị ơi!
Các cô gái giật mình quay lại, cùng kêu lên vì xấu hổ. Nhưng sau thấy chỉ có một chú lính trẻ, một cô réo lên:
- Làm gì có bom! Xuống đây tắm cho vui, anh bộ đội ơi!
- Xuống đây! Cởi bỏ hết đi, xuống đây anh ơi!...
Các cô đang ré lên cười với nhau và chú lính thêm đỏ mặt, quay vội đi thì ở phía trên thượng lưu, một tiếng nổ rất mạnh trong lòng nước dội tới. Các cô sợ hãi cuống quýt che ngực, ù té chạy vào bờ. Có cô trần truồng chui cả vào bụi cây gai rậm, toạc cả da thịt.
Một trái bom từ trường đã nổ.
Nguyễn Đen, Nguyễn Đức Thắng và tất cả các chiến sĩ đều mừng rỡ thét lên. Cột nước dưới sông tung lên cả bùn đất tạo thành một cơn mưa đặc sệt trùm xuống tất cả bọn Nguyễn Đen, Nguyễn Đức Thắng… Người nào cũng ướt bê bết như chuột lội cống.
- Tiếp tục! Tiếp tục rà phá nữa, chưa hết ! – Nguyễn Đen ra lệnh.
Phấn khởi trào lên, lần này các chiến sĩ vừa rạp mình xuống kéo dây, vừa “hò dô ta” ồn ã cả một góc trời.
Mấy phút sau, lại một quả nữa nổ. Đoàn người lại reo ầm ầm. Thế là đã phá được quả thứ hai. Còn hai quả nữa.
Công việc rà phá tiếp tục. Nhưng lần này không thấy có kết quả.
Theo Nguyễn Đức Thắng, có lẽ hai quả còn lại đã chìm sâu xuống bùn nên khó nổ. Anh đề nghị cho dùng ca nô, tạo từ trường mạnh, may ra mới thắng. Nguyễn Đen đồng ý.
Nguyễn Tuyển, chiến sĩ lái ca nô lập tức nhận được lệnh đưa ca nô vào trận. Đó là một chiến sĩ trẻ, mảnh khảnh, môi đỏ hồng như môi con gái; nhưng được anh em gọi là “Vua húc” vì không phải đây là lần đầu, mà đã nhiều lần Tuyển xung phong lái ca nô rà phá bom hoặc đưa dắt những con phà qua sông dưới bom đạn rất ác liệt của bọn Mỹ.
Chiếc ca nô đã tới. Nó dúm dó, xấu xí như một thùng sắt cũ. Nhưng mấy ai  biết chiếc ca nô cùng với người lái nó đã bao lần vào lửa và chiến thắng, góp phần đưa biết bao nhiêu trọng pháo, xe tăng, cùng các dũng sĩ của chúng ta qua sông, tiếp tục cuộc hành trình vào Nam, giải phóng Tổ quốc.
Nguyễn Tuyển ngồi ngay ngắn trên ghế sắt, trước vành lái. Nguyễn Đen xuống tận nơi, siết chặt tay người dũng sĩ của mình:
- Chúc em thắng lợi!
Chiếc ca nô như một con ngựa chiến, hất đầu tung vó. Nó gầm một tiếng rồi thoắt tăng tốc, lao vút đi.
Trên bờ, tất cả đứng yên lặng cố giấu nén nỗi hồi hộp, nhìn theo chiếc ca nô đang xé nước thành hai cánh trắng xoá bay qua bãi bom. Tuyển đã quay lại. Lần này anh cho chiếc ca nô đi chầm chậm. Chân vịt cuốn nước sôi sùng sục cả dòng sông… Cứ như thế, một vòng rôì hai vòng… vẫn chưa thấy gì. Hay là hết bom rồi? Mọi người trở lại băn khoăn nhìn nhau.
Nhưng bỗng chiếc ca nô như bị một bàn tay khổng lồ vô hình nào đó ở dưới lòng sông túm lấy, nâng bổng lên trên đầu một cột nước trắng xoá, dữ dội.
Những người trên bờ đều nhắm mắt lại và kêu lên kinh hãi, tưởng chừng chiếc ca nô đã bị quật vỡ tan tành.
Nhưng lạ chưa nó vẫn còn kia, lại nổi lềnh bềnh trên dòng sông đã trở lại yên tĩnh, và một cánh tay đang giơ lên vẫy vẫy.
- Tuyển! Hoan hô Tuyển! Giỏi quá, cậu Tuyển ơi!
Như để đáp lại những tiếng reo tiếng thét mừng rỡ cuồng nhiệt ấy, chiếc ca nô lại gầm lên, tăng tốc lao vút như một con cá thần trong huyền thoại.
Lại một vòng nữa, rồi thêm vòng nữa… Quả bom thứ tư nổ tiếp. Lần này quả bom đã nổ lại phía sau ca nô chừng mười mét. Phần đuôi ca nô chỉ bị hất lên như chú ngựa đá hậu một phát, và cột nước đã trùm kín lấy nó trong khoảnh khắc.
Cả bến sông huyên náo, sung sướng hoan hỉ. Lúc đó trời vừa sẩm tối. Nguyễn Đức Thắng rít lên một hồi còi dài kiêu hãnh thu quân, và chuẩn bị cho đoàn thuyền đưa khí tài về bến để bắc cầu đêm nay.
Chiếc ca nô của Nguyễn Tuyển đã được cắm một lá cờ đỏ ở phía mũi, nhanh nhẹn, hăm hở dẫn đoàn thuyền chở khí tài dày đặc ở dưới sông. Trên ca nô Nguyễn Đức Thắng đứng cạnh Tuyển, hai tay chống vào sườn, sau lưng anh dắt hai lá cờ hiệu xanh đỏ. Gió thổi những lá cờ bay phần phật, nom anh tựa một chiến tướng trên sông Bạch Đằng từ  thuở xa xưa. Các chiến sĩ trên đoàn thuyền vẫn chưa hết phấn trấn, vừa hò, vừa hát.
Trên bờ, dân quân, thanh niên nam nữ kéo ra vẫy chào hoan hô đoàn thuyền công binh như đi xem hội.
Riêng Nguyễn Đen và Đoàn Lộc cùng đi đường bộ để về sở chỉ huy tiểu đoàn.
Vừa đi được một đoạn ngắn, bỗng mặt nóng bừng bừng như phải bỏng, Nguyễn Đen quay phắt lại, chạy như bay về khúc sông hiểm nghèo nọ. Anh thét vang động cả sông nước:
- C3, dừng lại ngay! C3, dừng lại ngay đã !
- Gì thế anh? Đoàn Lộc cũng phát hoảng lên, nhưng chưa hiểu chuyện gì.
- Trời đất! Tôi quên mất! Chỉ chú ý bốn quả bom dưới sông mà quên phắt mất mấy quả còn găm ở mép nước mà ta hẹn giải quyết sau đấy. Cũng tựa như lúc nãy anh chỉ mải đánh vật với quả bom “Model 3” ở bến mà quên cả hai vệt bom dài…
Cả hai cùng cười như mếu và cùng chạy té lên.
Cũng may Nguyễn Đức Thắng đã nghe được tiếng gọi của Nguyễn Đen và kịp ra lệnh cho cả đoàn thuyền với biết bao nhiêu khí tài sắt thép dừng lại.
Nguyễn Đen nhào xuống sát mép nước. Vừa thở anh vừa nói rõ lại tình hình với Nguyễn Đức Thắng.
- Vậy bây giờ làm sao, anh? Nguyễn Đức Thắng nhăn nhó.
- Cho ca nô tắt máy. Tất cả chiến sĩ lên bờ dùng dây kéo thuyền, kéo từng khoang một, vượt qua khu vực bom có thể ảnh hưởng.
Thắng càng nhăn nhó. Anh không giấu được sự bực bội khi thấy Đen thay đổi bổ sung nhiều phương án quá. Tuy nhiên, anh cũng cởi áo nhảy xuống nước để kéo ca nô tắt máy đi qua.
“Nhanh tay lên nào, ta kéo con phà
“Qua bom quân thù, chở xe ra chiến trường”
“Dò hô, hò dô hò….”
Một chiến sĩ có giọng nam cao bỗng cất tiếng hát phá tan sự im lặng đè nặng trĩu trong lòng mọi người. Rồi không ai bảo ai, tất cả các chiến sĩ cùng cất tiếng hát theo. Nguyễn Đen đứng lặng. Một lần nữa trong cuộc đời chiến đấu của mình, anh đã được chứng kiến cảnh như thế này. Các chiến sĩ của chúng ta cao đẹp và đáng quý biết nhường nào !
Cứ như thế, từng khoang thuyền được lặng lẽ kéo dắt qua khỏi đoạn sông vẫn còn bốn trái bom từ trường nằm kín ở mép nước chưa nổ.
Nguyễn Đen xem đồng hồ tay, rồi ngẩng lên nhìn vòm trời đã bắt đầu mờ tối. Kịp! Vẫn có thể kịp! Đêm nay cầu vẫn có thể tiếp tục vắt qua sông, bảo đảm giao thông thông suốt như tất cả mọi đêm trước…
Cho tới khi toàn bộ khí tài đã tới bến, Nguyễn Đen mới thở trút ra nhẹ nhõm. Dặn dò công việc với Nguyễn Đức Thắng xong, Đen quay trở về sở chỉ huy.
    Một cô gái quần áo ướt như chuột vội vã lao vào sở chỉ huy, gặp ngay Nguyễn Đen vừa về. Cô ta lắp ba lắp bắp:
- Báo cáo, điện thoại bị đứt, Bác bến trưởng.... cho em chạy sang báo cáo anh. Tình hình khẩn cấp, nguy... nguy hiểm lắm ạ... Chị Chinh... nguy hiểm lắm ạ... – Cô ta lắp bắp không ra hơi...
    Nguyễn Đen bỗng giật mình, rồi bất thình lình hỏi to:
- Chinh... Chinh làm sao?... Cô hãy bình tĩnh báo cáo lại xem nào!... Nguy hiểm cái gì?
    Tuy bảo cô gái phải bình tĩnh, nhưng chính Nguyễn Đen lúc này mới nghe đến Chinh, cũng đã không được bình tĩnh nữa rồi. Một cái gì đó đang chẹn lấy cổ họng anh người anh run run lên.

          ÔNG BẾN TRƯỞNG TO TIẾNG

    Trong lúc bến bị máy bay giặc Mỹ bắn phá. Ông Bảo bến trưởng đã ở khu sơ tán mới. Mấy hôm nay, ban ngày ông ít rời chỗ này với lý do thường trực máy điện thoại để chỉ huy và liên lạc với trên Đoạn, trên Ty. Ông Bảo hài lòng với mình, vì đã biết tính toán trước. Trong lúc bắn phá, ông đứng trong hầm quan sát. Mỗi lúc thấy bom rơi xuống khu vực bến, mặt ông lại tái đi, lúc đầu còn đếm, nhưng sau nhiều quá, ông không thể đếm được nữa. Người ông run lên cầm cập. Ông lo cho bến phà bị đánh tan nát. Ông lo đêm nay công binh không thể bắc cầu được, xe lại bị ùn trên đường, địch lại càng xăm đường, bắn phá, càng thiệt hại thêm. 
    Khi kẻng đã báo yên, ông vào hầm quay điện thoại hỏi các trạm gác ngoài bến. Quay mãi, quay mãi vẫn không được. Quay hỏi sở chỉ huy công binh cũng không được, quay về Đoạn, về Ty cũng không được. Toàn bộ các đường dây đều bị đứt hết.
    Vừa lúc đó, một công nhân tự vệ gác bến phà chạy về báo cáo với ông tình hình ngoài bến phía bờ nam; Có nhiều bom rơi trúng bến, có mấy quả bom nổ chậm rơi cạnh trạm gác bờ nam, một số hầm bị sập, có người bị thương... Đề nghị ông xử trí.
    Trước đây không có chiến dịch K2, không có bộ đội công binh, bến cũng đã bị đánh một vài lần, nhưng ông cảm thấy bình tĩnh hơn bây giờ nhiều. Khi đó, ông có thể thong thả xử lý dần dần. Phà bị tắc một, hai đêm có sao đâu, do địch đánh chứ có phải tại ông đâu? Nhưng lần này tại sao ông không bình tĩnh được? Bởi lẽ lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch là không được để tắc bến phà, thậm chí cũng không được chậm giờ nữa! Bởi lẽ theo phân công của Ban chỉ huy thống nhất thì phía bờ nam là do ông phụ trách, ông phải xử trí bằng lực lượng của ông, làm sao để đến mười tám giờ thì phải có bến cho công binh bắc cầu, cho thông xe được an toàn.
    Ông lấn bấn chưa biết nên giải quyết cái gì trước, sau, cử ai đi. Lấy người đâu mà giải quyết cùng một lúc? Ông mới kịp suy nghĩ : “ Trước hết phải cấp cứu người bị thương đã...”. Vừa lúc đó, bến phó phụ trách kỹ thuật và Chinh đã kiếm đâu được cáng và ra bến từ lúc nào, họ đã kịp bới hầm và khiêng được người bị thương về. Y tá cũng đã kịp băng bó. Sau khi cử người khiêng thương binh về trạm cấp cứu ở bệnh xá, bến phó ở lại bàn bạc với ông Bảo: Có hai việc cần phải làm  gấp hơn nữa là phá bom nổ chậm và san lấp hố bom, sửa bến. Việc thứ hai có thể huy động công nhân và nhân dân ra làm được ngay, nhưng việc phá bom thì ai làm?
    Bến phó phàn nàn
    - Trước đây bộ đội người ta đến huấn luyện cho thì bác lại không để cho anh em học. Bây giờ mới gay.
    Mà không phá được bom thì không thể đưa lực lượng và xe cộ vào sửa đường, sửa bến được.
    Ông Bảo bỗng nhiên nóng mắt lên:
    - Thì điện nhờ bên công binh cử người sang phá hộ cũng được chứ sao?
    Bến phó cãi lại:
    - Việc đã phân công rồi, sao mình lại đi nhờ, không bõ người ta chửi cho ấy à? Vả lại bên bờ bắc bị nhiều bom lắm, họ lo bên ấy chưa xong, chắc gì họ sang được?
    Ông Bảo nổi nóng thật sự:
    - Ai chửi? Làm sao mà chửi? Họ chửi tôi chứ chửi gi ông?
    Thế là lời qua tiếng lại, hai ông chỉ huy bến phà gắt nhau thành to tiếng. Đến lúc này Chinh mới quay lại nói:
    - Thôi, xin hai bác bình tĩnh. Việc phá bom cháu xin đảm nhiệm cho. Cháu đã chuẩn bị cả rồi ạ!
    Cô mở túi xách ra cho các ông xem. Trong túi có dăm bánh thuốc nổ, kíp, dây, cháy chậm, nụ xoè, dây gai v.v... Ông Bảo và bến phó đang há hốc mồm ra nhìn thì Chinh lại nói:
    - Các bác cứ yên tâm. Việc này cháu đã làm quen ít nhiều ở chiến trường rồi. Còn những thứ này, hôm nọ cháu đã xin ở bên công binh một ít để sẵn sàng đấy!
    - Nói xong, Chinh chạy vụt ra bãi bom ngay, không kịp để cho ông Bảo có đồng ý hay không.
    Ông Bảo vội vàng gọi thét lên:
    - Không được. Nguy hiểm lắm!... Chinh quay lại đi!...
    Nhưng Chinh không quay lại. Cô chỉ nói với lại, xa dần, rồi khuất sau bờ đê:
    - Các bác cứ yên... tâm... !
    Ông Bảo vội vàng bảo ông bến phó ra giữ Chinh lại, không cho phá, vì nhỡ cô ấy chết thì trách nhiệm lại đổ cả vào đầu ông. Còn ông thì túm ngay được một cô gái vừa đến, bắt cô ta phải chạy nhanh, bơi qua sông đến báo cáo với anh Nguyễn Đen, xin lực lượng chi viện sang phá bom ngay.
    Thế là cô gái hấp tấp chưa kịp nghe hết ý kiến của ông Bảo đã vụt chạy lao đi. Cái chính là cô sợ cho Chinh – vừa như người chị, vừa là bạn gái mà cô rất quý mến vì cô đã nhìn thấy Chinh lao vào bãi bom rồi. Cô cần phải báo ngay cho Nguyễn Đen, vì theo cô, anh Đen và Chinh đang có mối quan hệ đặc biệt.
Cô gái bơi qua sông, rồi để cả quần áo ướt chạy vội về sở chỉ huy tiểu đoàn. Bộ quần áo mỏng cứ dính chặt vào người làm cho các chàng lính lái xe, trinh sát cứ đứng ngây người ra vì quá bất ngờ.
                    *       *
                                                        *
Đoàn Liễu đang ngồi chơi cờ tướng với anh chiến sĩ liên lạc. Thấy Nguyễn Đen về, anh dẹp bàn cờ lại, vươn vai hỏi:
- Dưới bến Mục Sơn , công việc tốt cả chứ? Sao anh lại về muộn vậy?
Đang quá mệt, Đen chỉ ừ hữ và cởi áo toan ngả lưng xuống một lúc thì Chinh vụt tới. Mặt cô xanh xao, đôi mắt thâm quầng, quần áo lấm láp.
Đen vội nhổm dậy:
- Chinh! Có phải cô vừa phá một quả bom bên bờ nam không?
- Vâng….
Nhưng dường như Chinh chẳng hề quan tâm tới chuyện đó:
- Anh Đen ạ, thầy em hôm nay sao ấy! Cụ lại sốt cao, và nói mê sảng nữa. Anh đến với em một lát đi!
Đen mặc vội lại chiếc áo ngoài, dặn Liễu chờ mình về sẽ hội ý công việc, đoạn bước nhanh ra khỏi cửa cùng với Chinh.
Đoàn Liễu đứng nhìn qua theo. Hai mắt anh tối tăm. Trong lòng anh giằng xé một mâu thuẫn: vẻ quyến luyến, thân thiết của hai người làm cho máu anh sôi lên, nhưng đồng thời nhớ tới những lời Cao Thành thì lòng anh mừng rỡ. Tốt lắm! lại thêm một dịp để ghi nhận tội lỗi của hai đứa…
Vẫy cậu liên lạc trẻ tuổi lại, Đoàn Liễu ghé tai, nhưng nghiêm chỉnh:
- Đồng chí hãy… bí mật đi theo tiểu đoàn trưởng tới nhà cô Chinh xem sao nhá!
Cậu liên lạc ngơ ngác:
- Báo cáo tiểu đoàn phó, để làm gì ạ?
Đoàn Liễu cười, vỗ vỗ vào vai anh chiến sĩ, hết sức thân mật:
- À, là để… bảo vệ ban chỉ huy.
- Em chưa hiểu ạ!
- Ví dụ, tới đó, có kẻ phản động ám sát tiểu đoàn trưởng chẳng hạn… Hoặc giả cô Chinh không phải đưa tiểu đoàn trưởng về nhà mà lại rủ… ra cánh đồng, hoặc đi đâu chẳng hạn…
- Em vẫn chưa hiểu ạ!
- Thì rồi sẽ hiểu! Cứ đi đi. Nhớ phải bí mật đấy! Đừng để cho tiểu đoàn trưởng biết mới là bảo vệ tốt và có hiệu quả, hiểu không?


ÔNG GIÀ VỚI NGÔI NHÀ LIỆT SỸ

Khi nghe thấy tiếng bom nổ ở ngã ba đầu bến, tổ trinh sát tiểu đoàn liền chạy lao về phía đó. Từ trong khói bom mù mịt, Chinh chạy lại chỗ bến phó đang đứng canh gác. Thấy Chinh, mấy chiến sĩ trinh sát đều phấn khởi reo lên:
    - Chị Chinh! Hoan hô chị Chinh! Thế mà chị làm chúng em hết hồn đấy... Cả anh Đen nữa, anh Đen lo lắm nhé!
    Chinh nở nụ cười rạng rỡ. Bến phó thấy tổ trinh sát đến, rất phấn khởi:
    - May quá, các anh sang đây rồi! Tôi gàn mãi cô Chinh không được, cô ấy cứ nhất định đòi phá. Chúng tôi cũng lo các anh bận bên bờ bắc chưa xong, nên tôi cũng phải liều, đứng gác cho cô ấy phá. Ấy thế mà cô ấy phá được đấy! Nào, các chú xem con gái bến phà có giỏi không nào? À hà!...
    - Báo cáo bác, không những tổ trinh sát chúng cháu sang phối hợp với bến phà, mà còn tổ phá bom của đại đội 3 cũng đang phá gỡ ở dưới nước nữa đấy ạ!- Lê Thanh Sơn, tổ trưởng tổ trinh sát báo cáo với bến phó.
    Sau đó Sơn đề nghị bến phó và Chinh về nghỉ, còn việc phá bom để lại cho tổ trinh sát. Nhưng Chinh nhất định không nghe, cứ đòi cùng tham gia phá cho nhanh. Bến phó thấy Chinh cũng phá được, đồng thời thấy cần có người của bến phà tham gia nên quyết định một phương án chia làm hai nhóm. Nhóm một gồm bến phó. Chinh và một trinh sát, do Chinh làm nhóm trưởng, phá từ ngã ba ngược lên bờ đê, nhóm hai gồm hai trinh sát còn lại, do Sơn làm nhóm trưởng, phá từ ngã ba xuống bến phà và bến cầu.
    - Chia ra làm cho nhanh. Thời gian gấp lắm rồi đấy! Nhưng nhớ phải bảo đảm tuyệt đối an toàn nhé! – Bến phó nói thêm, trước khi chia tay sang hai hướng.
    Nhóm của Lê Thanh Sơn đã tìm và phá được một quả ở dọc đường xuống bến cầu, một quả ở đường xuống bến phà. Tới quả ở gần ngã ba thì phải dừng lại vì quả bom nằm sát ở phía sau một nhà dân. Tổ của Sơn mới về bến này nên chưa biết nhà ai. Hai chiến sĩ trinh sát đi vòng quanh ngắm ngôi nhà: một ngôi nhà gạch ba gian, lợp lá cọ, chắc chắn và xinh xắn. Hai người bàn nhau nếu phá bom thì ngôi nhà bay hết, bao nhiêu công sức, mồ hôi, cả đời chắt chiu mới có được ngôi nhà. Họ mở cửa vào trong, cả nhà đã sơ tán hết, nhưng vẫn còn ít đồ đạc, chứng tỏ vẫn có người ở lại nhà. Một tấm bằng Tổ quốc ghi công treo trên tường làm  hai người chú ý.
    Gia đình này đã hy sinh một người con, không lẽ phải hy sinh cả ngôi nhà này nữa ư? Ngôi nhà của một gia đình liệt sĩ, cũng có thể chính bố mẹ đã dành ngôi nhà này cho người liệt sĩ đó! Không thể để mất hết những kỷ niệm thiêng liêng của gia đình liệt sĩ này!
    Thế là nhóm của Lê Thanh Sơn quyết định phải tháo đầu nổ bom này. Nhưng tháo như thế nào? Đây là loại bom từ trường kiểu “  Modell-3” mà đội trưởng Đoàn Lộc mới tháo được một quả, còn chưa ai tháo được. Họ phải cùng nhau ôn lại kinh nghiệm mà đội trưởng Đoàn Lộc vừa mới phổ biến sơ sơ lúc nãy, rồi quyết tâm thay nhau đào theo hút bom. Đào mãi, đào mãi vẫn chưa tới bom. Chà, tai ác quá! Qua bom lại đâm xiên vào mãi trong móng tường. Họ vẫn kiên nhẫn đào.
    Các nơi khác, hướng nhóm của Chinh và tổ đại đội ba ở dưới bến thỉnh thoảng lại nổ một quả. Theo Sơn đếm, có lẽ đã phá hết cả vệt bom rồi, chỉ còn lại quả này là quả cuối cùng.
    Đã nghe thấy tiếng ồn ào của nhân dân đang chuẩn bị kéo nhau ra san lấp hố bom. Họ đang chờ tiếng nổ cuối cùng mới lao ra mặt đường. Sơn càng ra sức đào cho nhanh. Mồ hôi nhễ nhại, đất bám bê bết hết đầy đầu tóc, mắt mũi, Sơn vẫn đào, bới luôn tay.
    Vừa lúc đó một cụ già từ ngoài đường chạy về nhà. Cụ vội vàng vơ một số đồ đạc trong buồng đưa ra ngoài vườn, rồi chạy lại phía sau nhà, lao vào chỗ nhóm của Lê Thanh Sơn đang đào bom, gọi to:
    - Thôi, các chú ơi ! Cứ cho nó một gói thuốc nổ, phá bom đi  Người còn chả tiếc được, lại tiếc cái nhà làm gì ? Nhanh chóng lên, bà con đang chờ để ra lấp hố bom. Sắp tới rồi, bộ đội đang sắp bắc cầu rồi, mà xe vẫn chưa có đường đi thì tắc hết, ùn hết, chúng nó lại đến đánh thì còn thiệt hại nhiều hơn. Mà tháo nguy hiểm lắm. Nhỡ ra lại hy sinh thì sao ?
    Nói rồi, cụ cứ kéo tay Sơn lên khỏi hút bom:
    - Cứ phá đi cho nhanh, các cháu ạ, tiếc làm gì ? Mau lên, kẻo xe đã ùn hết ở bên kia cầu bây giờ.
    Lê Thanh Sơn phải nhảy lên khỏi hút bom nói với cụ:
    - Bố ơi, bố cứ bình tĩnh. Chúng con sẽ tháo bằng được Chúng con không nỡ để ngôi nhà liệt sĩ này bị tàn phá được.
    Rồi Lê Thanh Sơn bảo một chiến sĩ trinh sát dẫn cụ tránh ra xa. Anh lại nhảy xuống hút bom. Đuôi bom đã lòi ra, anh thận trọng dùng dụng cụ tháo, nhớ lại kinh nghiệm đội trưởng Đoàn Lộc phổ biến, anh mò mẫm từng động tác nhỏ, lắm lúc phải nín thở.
    Chinh sau khi cùng nhóm mình phá hết số bom ở trên đường ra bờ đê, cô lao xuống bến cầu. Ở đây nhóm đại đội ba cũng đã phá xong. Cô cùng bác bến phó chuẩn bị dụng cụ cho nhân dân vào sau lấp hố bom. Nhưng chờ mãi vẫn chưa thấy quả cuối cùng nổ, cô vội chạy về phía bến phà. Nghe bà con cho biết là quả bom này rơi vào đúng nhà cô, ông cụ nhà cô đã chạy về và cất hết đồ đạc ra ngoài và bảo anh em phá bom, nhưng các anh ấy lại cứ đào bới, nên mới bị chậm như thế. Chinh vội chạy về nhà, ba chân bốn cẳng về đến nơi thì cũng là lúc Lê Thanh Sơn đã tháo xong đầu nổ quả bom cuối cùng này Chinh cảm động rơi nước mắt, cô chạy lại cầm lấy hai tay Sơn:
    - Hoan nghênh chú Sơn !Cảm ơn chú. Chú đã cứu được nhà chị !
    - Ơ ! Nhà chị Chinh ở đây à ? Thế mà em không biết !


CÔ LÁI XE KHÓ TÍNH
   
Như thường lệ ở các bến phà, cứ khoảng chiều tối, tuy chưa đến giờ thông cầu và chưa được phép cho xe ra mặt đường, nhưng những anh chàng lái xe khôn lỏi thường đã cho xe từ trong rừng, trong các lùm cây ra xếp hàng, tranh đường, tranh bến trước. Họ nổ máy xe không tiếc gì xăng dầu hàng giờ đồng hồ liền để nhích lên từng mét đường. Họ dùng đủ mọi cách để chắn nhau không cho xe sau vượt trước xe mình, nhưng cũng tìm mọi thời cơ để xe mình vọt lên trên xe trước. Họ to tiếng cãi nhau, và khi cần, dùng cả tay quay để “ngoại giao” với nhau nữa. Hết tranh nhau, quát nhau, họ chửi đến bến phà, bến cầu: Nào chậm giờ, nào sợ chết, nào chở chậm chạp như sên. Họ văng ra đủ mọi lời tục tĩu, chẳng kiêng nể gì ai cả.
    Trong số những “anh tài” kiểu như trên, hôm nay ở phía bờ nam có một xe kiểu mui rùa, một loại xe cứu thương trung xa, có mui tránh mảnh đạn cho lái xe, trông như mui rùa: Chiếc xe này đi rất ngổ ngáo, chắc lái xe là một chú tinh quái. Cũng tranh đường, cũng len lỏi cố lách vượt lên trên. Người ta đoán xe chở thương binh nặng cần cấp cứu. Từ mãi tít đằng sau, chỉ một lúc, chiếc xe đã lách lên đứng ở tận hàng đầu. Xe thương binh ưu tiên cũng phải thôi. Nhưng nó lại bất chấp cả nội quy. Nó vượt qua cả ba-ri-e, đứng hẳn vào trong đầu bến.
    Không ngờ cửa xe mở, một cô gái tầm thước, hơi cứng rắn trong bộ quần áo bộ đội bạc màu, bước ra. Cô ta quay lại mấy anh chàng lái xe phía sau đang túm năm tụm ba, nguýt dài một cái, rồi nói như đe doạ một cách bâng quơ:
    - Nào, tay nào giỏi cứ vượt lên nữa xem nào !
    Rồi cô ta bước hẳn lên nóc đầu xe ngó nhìn xuống sông. Chỉ thấy nước lũ ngập mênh mông. Chẳng thấy bóng dáng một cái cầu hay một con phà nào cả, thậm chí phao thuyền làm cầu cũng chẳng có cái nào. Những hố bom còn đang lấp dở ngổn ngang, bừa bãi, trên bến, chỗ này một tốp bộ đội, chỗ kia một tốp công nhân, nhân dân, có cả ông già bà cả và trẻ em cũng tham gia san lấp hố bom.
    - Thế này thì chết cha rồi, đến mai cũng chẳng qua được sông ! – Cô lái xe thốt lên một câu thất vọng, rồi quay đến chỗ mấy người mặc áo xanh, chắc hẳn là công nhân bến phà đang sửa lại một cái hầm ở gần ba-ri-e, hỏi với một giọng nửa Bắc, nửa Nam, hai tay chống nạnh vẻ trịch thượng:
    - Nè, mấy ông nội ! Bến phà định chôn sống bầy tui ở đây sao mà giờ vẫn chưa có cầu phà chi hết ? Làm ăn kiểu này thì chết cha người ta chớ !
    Người bến phà đã quen với những câu hỏi, với thái độ này rồi, nếu phải là một “anh tài” thì họ cũng trả đũa vuốt mặt không kịp, nhưng đây lại là một cô gái, một cô gái trẻ, nom mặt cũng hay hay, nên họ chẳng cố chấp làm gì. Vài chàng trai tinh nghịch nhìn nhau, im lặng như để trêu tức cô gái. Họ vẫn làm việc, mặt tỉnh bơ như không nghe thấy.
    - Này ! Tôi hỏi các ông, - cô gái nóng mặt, quát to – Các ông điếc cả đấy à ? Bao giờ có phà ? Nghe đồn dạo này ở bến đây có cầu chạy tốt lắm kia mà ? Hừ, toàn tin nhảm ! Cái bến “khổ thế” này mà lại làm ăn ra hồn thì… thì…
    - Thì làm sao nào ? – Một tay công nhân vớ được thời cơ, tấn công luôn – Thì ở lại đây làm vợ lính bến phà chứ, bà chị ?
    - Ơ, bêu chưa ? Thì cứ thử hôm nay xem nào? Mấy giờ thông cầu ?... Sáu giờ tối hả ? Ồ thế thì đây sẵn sàng ngay. Sợ gì? – Cô gái cũng chanh chua đối phó lại ngay, vẻ thách thức, rồi đi về xe mình.
    Một tiếng gọi với lại:
    - Thế thì cô em thua thôi ! Tìm chỗ cho xe vào bến mà ở lại thôi.
    Cô gái quay ngoắt người một cái, vẻ khinh bỉ không thèm trả lời, rồi mở cửa xe vào buồng lái, đóng cửa xe đánh rầm một cái, bực bội.
    Một lúc sau, không thấy động tĩnh gì nữa, cô gái tranh thủ làm một giấc trong xe. Nóng quá, cô vén áo lên ngủ mà không biết
    Một cậu lính gác bến phà vừa mới tới, thấy chiếc xe đỗ nghênh ngang liền quát:
    - Cậu lái xe nào mà liều thế ? Cho xe lùi lại, tránh vào bụi cây đi, đứng lộ liễu thế này à ?
    Cậu ta chạy lại xe, định mắng cho chàng lái xe vô kỷ luật một trận, nhưng bỗng dừng lại trên bậc xe, không dám gọi vì trông thấy bộ ngực trần theo nhịp thở cứ phập phồng, nhấp nhô cao lên thấp xuống. Cậu ta bỗng há hốc mồm như người chết đứng, chớp chớp mắt. Khoảnh khắc sau, cậu lính gác định quát to để đánh thức “cậu lái xe” dậy nhưng không hiểu sao cậu ta từ từ bước xuống đất rồi bỏ đi.
    Mãi một lúc lâu sau, cậu ta mới đến đuôi xe, thổi một hồi còi dài và dập vào thùng xe:
    - Ê, đồng chí nào lái xe đây ? Cho lùi lại đi !
    Cô gái bừng tỉnh dậy, sửa sang lại quần áo, lấy lại tư thế và nhảy xuống xe, nhìn chằm chằm vào cậu lính gác.
 
CHƯƠNG VI
      TIẾNG CƯỜI BÊN HỐ BOM

         Ông bến trưởng khi nghe tiếng bom nổ ở bờ nam đầu tiên ông như người bị ngất, suýt ngã. “Thôi đúng rồi, con bé Chinh đã bị bom nổ chết mất rồi !” Ông tiếc và thương con bé chăm chỉ, nết na, có nghĩa có tình, lại tháo vát đảm đang. ở cái bến phà này, việc gì nó cũng làm được. Nếu nhỡ ra nó chết thật thì đau xót biết chừng nào ! Nhưng ông lại còn lo trách nhiệm của ông. Vì sao lại để cho nó đi phá bom ? Vì sao lại không huấn luyện ít nhất một tổ con trai biết phá bom ? Mặc dầu đã có chỉ thị của Uỷ ban tỉnh, của Đảng uỷ và thủ trưởng ngành giao thông, rồi kế hoạch của Ban chỉ huy quân sự huyện huấn luyện cho tự vệ, ông cũng không hoàn thành. Mà ông là bí thư chi bộ, là chính trị viên đại đội tự vệ. Thậm chí gần đây bên công binh cử người sang huấn luyện, ông cũng không kiên quyết dứt người ra học tập, mà chỉ tập trung vào việc chuyển địa điểm sơ tán cho cơ quan bến phà thôi. Lệnh của trên, rồi phân công của Ban chỉ huy chung ở đây cũng rõ ràng: Bến phà tự lực giải quyết hậu quả phía bờ nam, tức là phía ít bom đạn hơn so với bờ bắc. Vậy mà ông lại phải đi cầu cứu bên bộ đội. Đành rằng việc cầu cứu cũng được, nhưng còn cái Chinh. Giấu cấp trên thì không khó, nhưng không thể giấu anh em trong cơ quan, cũng không thể giấu bà con được, không thể giấu ông cụ Khang được. À, ông nhớ ra rồi ! Ông đã cử bến phó lại còn để cho cái Chinh lao vào bãi bom ? Tất nhiên trách nhiệm lãnh đạo là ông, nhưng trước hết trách nhiệm chỉ huy thuộc về ông bến phó đã.
Ông bến trưởng cứ hết đứng lại ngồi, hết nằm lại đứng, suy nghĩ lo lắng. Mỗi lúc nghe tiếng bom nổ, ông lại giật mình  Ông ôm lấy máy điện thoại, quay chán không được, ông lại chạy ra đài quan sát của ông. Ông đếm số bom nổ. Theo thông báo của sở chỉ huy chung, có 21 quả bom nổ chậm từ trường thì bảy quả ở bên bờ nam, còn ở bờ bắc và dọc sông cả. Tổ phá bom của công binh đã sang phá rồi, nhưng vẫn còn thiếu một quả nữa ông chưa nghe thấy. Hay ông đếm nhầm ? Chết nỗi, hầm chỉ huy của ông ở hơi xa bến, nên không thể chạy ra bến xem rồi lại chạy về được.
Mãi đến khi một công nhân do bến phó cử về báo cáo, ông bến trưởng mới hoàn hồn:
- Thì ra con Chinh giỏi, con Chinh giỏi thật !
Ông bến trưởng bỗng nhảy lên khỏi hầm, cười khà khà, nói với một số người xung quanh:
- Xem nào, công nhân bên phà cũng phá bom giỏi đấy chứ !
Rồi ông chợt nhớ ra điều gì. Phải rồi, phải báo cáo ngay với Tỉnh, với Đoạn. Thế là ông lại chạy vào quay máy, quay toát cả mồ hôi mới được. Ông vội vàng báo cáo ngay là việc gỡ bom ở bến đã sắp xong. Vâng, việc phá bom do bến tự đảm nhiệm đầu tiên, mãi sau mới có sự phối hợp của công binh. Vâng, chính ông đã chủ động tổ chức và cho đi huấn luyện tổ phá bom này từ trước nên đã xử trí được kịp thời. Vân vân và vân vân… Chả biết ông còn báo cáo gì dài dòng nữa không, nhưng khi ra khỏi hầm thì bộ mặt ông rạng rỡ hẳn lên. Và khi được tin quả bom cuối cùng đã phá gỡ xong, ông liền chạy như bay ra bến phà.
Ở ngoài bến, bến phó đang chỉ huy dân công san lấp hố bom, ông cũng hoà mình vào đó. Ông cười nói oang oang, chạy chỗ này uốn nắn một tí, chạy chỗ kia chỉ thị một ít như con rối chạy khắp bến phà.
Tiếng cười, tiếng nói, tiếng hò, tiếng hát của dân quân, tự vệ, dân công, bộ đội cứ rộn ràng, âm vang như ngày hội.
Ở bờ bắc, một đoàn xe dưới sự chỉ huy của đại đội phó Nguyễn Đức Quang đi lại như con thoi vận chuyển đã rải vệt chống lầy cho đoạn đường xuống bến bị hỏng nặng, đang sửa chữa. Lực lượng san lấp hố bom do dân quân các xã ra làm dưới sự chỉ huy của chính trị viên Trần Văn Lai cùng các xã đội trưởng, đại đội trưởng dân quân. Trần Văn Lai phân công cho mỗi đại đội dân quân phụ trách san lấp một hố bom và sửa một đoạn đường, mời mỗi đại đội cử một người trong ban chỉ huy đại đội, xã đội lên lập thành ban giám khảo để giám sát, kiểm tra và chấm điểm cho cuộc thi đua ngắn này. Chính trị viên Trần Văn Lai gọi đây là một cuộc hội thao của các lực lượng dân quân về khoa mục “sửa đường quân sự làm gấp” ở bến phà. Các chỉ tiêu và bảng điểm được nhanh chóng công bố bằng loa tay và phổ biến xuống từng phân đội, đại đội. Cứ mười lăm phút lại công bố thành tích lao động, khối lượng hoàn thành của các đội và nhận xét về chất lượng để chấn chỉnh kịp thời. Các tiểu đội công binh được rải ra ở những nơi trọng điểm chống lầy và gần sát mép nước. Từng tiểu đội đã được học tập khoa mục “sửa bến, sửa đường, chống lầy bảo đảm cơ động cho xe cơ giới”. Đây là dịp để thực tập và sát hạch kiểm tra lại thực tế ở trận địa. Do vậy các tiểu đội đều tổ chức lao động có trật tự theo đúng đội hình, bài bản và bảo đảm đúng kỹ thuật. Đại đội có tổ kiểm tra kỹ thuật ngay tại chỗ. Ban giám khảo chung của tiểu đoàn cũng đã có mặt ở các nơi xử trí tình huống của đại đội ba.
Nhờ phương pháp tổ chức chỉ huy, vừa lao động vừa huấn luyện mang tính chất hội thao, thi đua như trên, nên đoạn đường vào cầu ở bờ bắc tuy bị hỏng nặng gần ba ki-lô-mét nhưng đã được khắc phục một cách nhanh chóng, năng suất cao, chất lượng bảo đảm kỹ thuật, khí thế bộ đội, dân quân ngày càng cao, tiếng hò tiếng hát át tiếng bomg như không lúc nào ngừng trên đoạn đường gian khổ ác liệt này.
Ở trận địa phòng không, các chiến sĩ cao xạ, các chiến sĩ súng máy của bộ đội và dân quân cũng đang ráo riết củng cố lại trận địa, bổ sung đạn dược, lau chùi, sửa chữa vũ khí và đắp lại công sự. Đại uý Nguyễn Đen, chỉ huy trưởng cũng đã kịp thời tăng cường cho trận địa cao xạ một đại đội dân quân để đắp sửa công sự.

ĐẠI ĐỘI 3 CÓ BỎ CUỘC KHÔNG?

Khoảng 17 giờ, đại uý Trần Huy Tiệm, chính trị viên tiểu đoàn về tới bến Cổ Tế. Theo kế hoạch, anh lên lớp bài chính trị trong chương trình giáo dục cơ bản cho đại đội hai ở bến Thiệu Hoá, đến tối mới về đây. Nhưng buổi chiều được tin địch đánh lớn vào bến Cổ Tế, nên sau khi lên lớp xong, anh vội vàng lên xe về ngay, không kịp ở lại ăn cơm chiều.
Tới bến, anh gặp tiểu đoàn phó Đoàn Liễu và tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh báo cáo tình hình cho anh nghe. Anh thấy mọi việc đều được xử trí tương đối chặt chẽ nên rất hài lòng. Sau khi thăm hỏi, động viên các lực lượng dân quân sửa chữa đường hai bên bờ sông, anh cùng Ngô Doãn Hanh ra khu vực kéo thuyền của đại đội 3, Đoàn Liễu ở lại trực chỉ huy sở.
Ở đây, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng đang chỉ huy kéo nốt những khoang thuyền dự bị cuối cùng ra khỏi khu vực bị bom nguy hiểm. Còn toàn bộ đoàn thyền đang được dừng lại để chuẩn bị khí tài vào tư thế bắc cầu.
Sau khi chuẩn bị khí tài xong, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng tập hợp đơn vị và kiểm tra lại toàn bộ trang phục. Tất cả cán bộ, chiến sĩ đều thống nhất như nhau: quân phục mùa hè, đủ quân hàm quân hiệu, quần dài xắn ba nếp đến bụng chân, chân đi giầy vải buộc dây chắc chắn, mũ bỏ quai, trên mũ mỗi người đều có khẩu hiệu bướm nói lên quyết tâm đạt điểm cao trong hội thao, thành tích tốt trong chiến đấu, súng đeo chéo qua vai, vòng nguỵ trang đồng loạt.
Những tổ công tác chính trị cũng kiểm tra lại cách cắm cờ và biểu ngữ theo đúng vị trí, để khi quay cầu xong thì cờ và biểu ngữ đã sắp thành hàng thống nhất và đẹp mắt.
Cán bộ các cấp đều làm công tác kiểm tra lại khí tài, từng mối dây, nút buộc, con sào, cái neo chắc chắn.
Hai ca-nô do Tuyển và Phích lái, đều được kiểm tra lại cẩn thận.
Dù vội đến đâu, đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng cũng vẫn phải làm công tác kiểm tra toàn diện trước khi bắc cầu. Đó là tác phong quen thuộc của các cán bộ tiểu đoàn vượt sông. Nó còn là một chỉ tiêu chấm điểm trong nội dung công tác chỉ huy của cán bộ nữa. Chính trị viên Trần Huy Tiệm và tham mưu trưởng trực tiếp giám sát và kiểm tra lại công tác chuẩn bị của đại đội ba.
Đoàn thuyền nối toa của đại đội 3 do ca-nô của Tuyển và Phích kéo đã bắt đầu tiến về bến cách đó khoảng hai ki-lô-mét nữa. Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng đứng ở vị trí chỉ huy trước mũi ca-nô, vẻ chững chạc và tự tin.
Trong khi đó, ở hai mố bờ nam và bờ bắc, các tiểu đội mố cũng đang gấp rút sửa chữa nốt bến bãi của mình. Các đơn vị dân quân cũng khẩn trương làm những phần việc cuối cùng ở nền đường, cắm cọc tiêu bảo hiểm ở cạnh hố bom… Loa trong tay, chính trị viên Trần Văn Lai đang động viên, biểu dương những đơn vị đã hoàn thành tốt và nhắc nhở các đơn vị khác tiếp tục sửa chữa cho hoàn chỉnh.
Lúc bấy giờ là 17 giờ 40 phút. Ở trạm gác bờ bắc, những đoàn xe đã nối đuôi nhau như một con rồng dài đến bôn năm ki-lô-mét, nhưng quanh trạm gác, những “anh tài” cứ bao vây lấy cô Chinh. Nào bông đùa, nào trêu chọc, nào quát tháo, mắng mỏ: Vì sao đến bây giờ vẫn chưa thấy cầu phà đâu cả ? Chinh cố giải thích là đúng 18 giờ sẽ có cầu, nhưng họ vẫn không tin.
Thực lòng hôm nay Chinh cũng không dám khẳng định mạnh mẽ bởi vì Chinh biết đại đội ba đang gặp nhiều khó khăn trên đoạn đường sông thượng lưu. Nhưng Chinh vẫn có một niềm tin, chẳng biết dựa vào đâu, chỉ biết là trong đơn vị công binh này, đơn vị của anh Bìà trước đây, và anh Đen, anh Hạnh đang ở hiện giờ, họ không bao giờ chịu tắc cầu phà, không bao giờ chịu bỏ cuộc. Suốt từ khi đơn vị vào đây, đã hơn một tháng nay bảo đảm thông cầu liên tục, chưa hôm nào tắc, cũng chưa hôm nào bị muộn quá giờ quy định cả. Hôm nay, trong tình huống nhiều phức tạp này, có chậm lắm cũng chỉ vài chục phút là cùng.
Bỗng cô reo lên khi được điện thoại báo đại đội ba đang chuẩn bị vào vị trí bắc cầu:
- Thôi, các tướng lái xe về xe chuẩn bị cả đi ! Này, lơ mơ đi chậm là tôi phạt cho ở lại đấy !
- Ôi dào ôi ! Được cô em phạt cho ở lại với cô em thì còn gì bằng !
- Nhưng này bà chị ơi, sông nước còn mênh mông thế kia thì bà chị định cho anh em lội xuống sông à ?
- Chà, cô em đóng kịch để giải vây khôn thế !
Những chuỗi cười vang lên quanh trạm gác.
Nhưng một phát pháo hiệu đỏ ở bến phà bắn lên làm Chinh mừng không thể nói được. Lúc bấy giờ là 17 giờ 45 phút. Đó là tín hiệu bắt đầu hội thao bắc cầu của đại đội 3 và cũng là tín hiệu chuẩn bị cho xe bờ bắc vào bến, khi cầu vừa xong cũng là thông xe qua cầu luôn.
Chinh reo lên:
- Các anh ơi, hay quá, tín hiệu bắc cầu đấy ! Hôm nay vẫn bảo đảm đúng 18 giờ thông cầu. Ôi, các anh có biết hôm nay ở đây đã xảy ra chuyện gì không ? Mà thôi, các anh về xe chuẩn bị nổ máy đi !
Và Chinh thổi một hồi còi dài rồi hô dõng dạc:
- Tất cả các xe chuẩn bị nổ máy !
Cô ra đứng ở giữa đường, chuẩn bị mở ba-ri-e cho thông xe trước những con mắt ngơ ngác của các “anh tài” trẻ tuổi.
Trong khi đó, ở ngoài bến, đại đội ba đã bắc cầu xong. Một nhịp cầu đẹp mắt, thẳng tắp, vươn dài qua dòng sông Bưởi đang bị lũ ngập chảy xiết. Các chiến sĩ đứng thành hàng cũng thẳng như đường dây lan can cầu. Và những cờ, biểu ngữ từng hàng, từng lối trông như một cái cầu có nhiều hoa.
Đại đội trưởng Nguyễn Đức Thắng chạy lại báo cáo với chính trị viên Trần Huy Tiệm, thường trực chỉ huy và là trưởng ban giám khảo hôm đó.
Chính trị viên Trần Huy Tiệm ra lệnh cho thông cầu.
Một phát pháo hiệu xanh bắn lên: Lúc đó đúng 18 giờ.


CUỘC GẶP GỠ LÝ THÚ LÚC NỬA ĐÊM

Cô lái xe khó tính, sau khi phải lùi xe vào bóng cây, lại vào buồng lái. Ngồi một lúc, những mệt nhọc trên đường làm cô buồn ngủ và cô lại ngủ thiếp đi. Tiếng xe ầm ĩ qua cầu lên dốc làm cô bật tỉnh dậy.
Ô kìa, lạ chưa ? Cầu bắc lúc nào mà đã xong rồi. Thế là cô vội vàng chuẩn bị nổ máy xe theo quán tính. Nhưng đoàn xe bờ bắc đi quá dài, làm cô lại càng sốt ruột. Cô nhảy ra khỏi xe rồi la cà xuống bến. Đoàn xe bờ bắc còn dài lắm. Cô đi tìm xem có gặp ai. Cô lại chạy về xe, vừa lúc được lệnh cho xe qua cầu.
Đến trạm gác bờ bắc, cô bỗng nhận ra một bóng dáng quen thuộc, cô cho xe chạy chậm lại, rồi thò đầu ra cửa xe, gọi to:
- Chinh ! Chinh có phải không ?
Chinh quay đầu lại và bỗng nhận ra cô bạn quen:
- Ơ ! Phúc ! Phúc ơi, dừng lại tý đã, mày ! – Chinh nhảy lên bậc xe.
Phúc lái xe vào vệ đường, tắt máy, nhảy xuống. Thế là hai cô bạn gái ôm lấy nhau quay như chong chóng giữa đường, làm vui lây đến những chàng lái xe quanh đó.
Phúc – Cô lái xe ấy – không vội lắm nên có thể dừng lại chơi với bạn một lúc được.
Chinh và Phúc cùng đứng ở chỗ ba-ri-e vừa làm nhiệm vụ điều chỉnh xe vừa nói chuyện với nhau. Ôi, có biết bao nhiêu chuyện muốn hỏi nhau, muốn kể cho nhau nghe. Họ ôn lại những kỷ niệm vui buồn, những bạn bè, đồng đội cũ.
Ấy là những ngày ở Trường Sơn, hai cô cùng ở một tiểu đội, trong một đại đội công binh cầu đường ở Binh trạm, bám đường, bám bến, sống chết với bom đạn địch suốt mấy năm trời. Sau khi Chinh bị thương ra Bắc điều trị ít lâu thì Phúc được chuyển đi học lái xe. Hiện nay cô đang phục vụ ở Binh trạm, chuyển chở thương binh. Trong chuyến này, cô đã giao hết thương binh vào bệnh viện quân y ở Thanh Hoá. Bây giờ cô ra ngoài Hà Nội lĩnh thuốc chở vào. Cô xin phép thủ trưởng cho ghé về thăm gia đình ít ngày. Đã sáu, bảy năm xa nhà rồi còn gì nữa !
Sau khi hỏi hết chuyện công tác, bạn bè, họ hỏi nhau chuyện riêng tư. Phúc kể cho Chinh nghe gần đây cũng đã được bạn bè kể lại là Chinh đã về nhà Bìa và nỗi buồn của Chinh vì người yêu hy sinh, nhưng chưa hiểu tại sao Chinh lại ở đây. Còn Phúc thì vẫn “chưa có gì”. Nghề lái xe của Phúc còn đang bay nhảy lắm. Phúc chưa muốn dừng lại ở một trái tim cố định nào.
Chinh kể cho Phúc biết nguyên nhân vì sao Chinh lại ở đây.
- Thế bây giờ mày đã “có gì” chưa ? – Phúc hỏi – Chinh lắc đầu, rồi nói một giọng buồn buồn:
- Mình bây giờ yếu thế rồi, có còn như thời mấy năm trước nữa đâu. Ừ nói là chưa có gì thì cũng không hẳn là thế.
Rồi kéo Phúc ngồi xuống, Chinh thổ lộ:
- Gần đây Chinh có gặp một người. Người đó là bạn của anh Bìa  trước đây, ở ngay đơn vị công binh đang bắc cầu đây. Anh ấy cũng cùng một cảnh ngộ như mình, trước có yêu một cô văn công ở Đoàn văn công Quân khu. Hai người đã ước hẹn với nhau chờ ngày cưới. Nhưng rồi cô ấy hy sinh trong một đợt đi biểu diễn phục vụ chiến trường. Anh ấy buồn thương nhớ tiếc, mấy năm nay cũng chẳng buồn tìm hiểu ai nữa. Mình rất thương và mến anh ấy. Anh ấy cũng thương và mến mình. Các cụ nhà mình, cũng rất quý anh ấy và mong cho chúng mình thành đôi lứa và ở đây với các cụ mãi mãi. Nhưng lạ thật, mình và anh ấy đều không ai dám thổ lộ tình yêu với nhau cả. Mấy lần anh ấy định nói gì với mình nhưng không rồi ngập ngừng lại thôi.
- Tại sao mày không thổ lộ với anh ấy ? Tao là tao cứ chủ động nói với anh ấy trước, chứ sợ gì nào ?
- Tao không sợ anh ấy không yêu mình. Tao biết anh ấy yêu và thương tao, nhưng tao sợ… Một trong hai người chúng tao lại như anh Bìa hay cô văn công thì sao ? Chiến tranh còn dài, ai biết rồi sẽ ra sao ? Có lẽ anh ấy cũng có tâm tư như tao.
- Mày chỉ nghĩ vớ vẩn, chiến tranh là một chuyện, tình yêu hạnh phúc là một chuyện chứ ! Có tình yêu, có hạnh phúc, càng tăng thêm sức mạnh và niềm tin để chịu đựng và chiến đấu cơ mà! Ấy là tao nghe người ta nói vậy.
Hai cô bạn gái cứ rủ rỉ nói chuyện với nhau đến nỗi quên cả nhiệm vụ điều chỉnh xe, đã để mấy xe lọt lướt xuống đầu cầu làm tắc cả giao thông. Tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh trực chỉ huy cầu phải lên kiểm tra xem sao. Chinh đi đâu ? Sao lại để thế? Hay là Chinh mệt quá ngủ thiếp mất rồi ? Đã gần nửa đêm rồi còn gì, Hanh lên gác thay Chinh một lát vậy.
Nhưng khi đến nơi, thì nhìn thấy hai cô gái vẫn nói chuyện với nhau, Hanh đánh tiếng từ xa, ra vẻ trách móc:
- Cô Chinh có đấy không ? Sao lại làm ăn thế, tắc hết xe dưới đầu cầu rồi !
Chinh chưa kịp trả lời thì Phúc, nhận ra tiếng Ngô Doãn Hanh, nó nhảy bổ ra ôm chầm lấy cổ Hanh, như hồi ở nhà nó cũng hay nghịch thế, rồi reo lên:
- Ôi, anh Hanh ! Anh Hanh ! Sao em lại gặp anh ở đây ? Thế mà buổi chiều em nhìn mãi chả thấy anh đâu !
Rồi nó cứ láu táu:
- Chinh ơi anh Hanh tức là anh Hạnh, anh ruột tao đây này ! Em giới thiệu với anh, cái Chinh nó là bạn em, cùng một tiểu đội ở chiến trường đấy ! Chúng em vừa mới gặp nhau xong mà…
Hanh gỡ tay nó ra và đặt tay lên hai vai nó và ngắm nó: Ôi, cô em gái của tôi lớn thế này rồi cơ à ? Chững chạc và già dặn lắm rồi ! Chỉ cái tính láu táu là chưa thay đổi chút nào.
Chinh mừng rỡ thật sự: Cô cứ nhìn Hạnh mủm mỉm cười, rồi lại nhìn cái Phúc, chớp chớp mắt. Cô Phúc như chợt nhớ ra điều gì, bỗng reo lên như sợ ai cướp mất lời:
- A, Chinh ơi, tao đoán ra rồi ! Anh Hanh ạ, em biết hết chuyện rồi nhé !
Rồi bằng một giọng hóm hỉnh, nó nói tiếp:
- Này thôi, để tôi chính thức làm mối cho hai người nhé! Có được không ? Ôi Chinh ơi, mày mà là chị dâu tao à, hay quá nhỉ?
Rồi cô ôm lấy cả cổ Hanh và Chinh, chụm ba cái đầu lại nhau cười như nắc nẻ – tiếng cười thật hồn nhiên.

“CUNG ĐƯỜNG 27”

“Cung đường 27”, đoạn đường do tiểu đoàn 27 đảm nhiệm nay đã có một cái tên mới như vậy. Tên ấy không rõ ai đặt ra, nhưng dường như là cánh lái xe, cả quốc doanh lẫn quân sự. “Cung đuờng 27” đã trở thành câu cửa miệng của hầu hết những ai đã đi qua. Quãng đường này  chỉ dài trên 200 ki-lô-mét mà có những năm bến sông hiểm yếu, nhất là bến Cổ Tế bị bon Mỹ liên tục đánh phá ác liệt ngày đêm. Nhưng cũng trên 200 ki-lô-mét đường này lại là cung đường mà tất cả cánh lái xe đều cảm thấy khá vững tâm khi đi qua. Gần như nạn tắc phà, tắc cầu ở đâu đó thường dễ xảy ra, nhưng đã đến “Cung đường 27” thì khỏi lo tới chuyện ấy. Tất nhiên cũng có đêm hoặc cầu Cổ Tế bị hỏng, hoặc phà bến Mục Sơn bị chìm, nhưng nếu có tắc thì quá lắm cũng chỉ một nửa đêm. Tỷ lệ ùn tắc xe trên cung đường này luôn luôn là một tỷ lệ thấp nhất so với toàn tuyến bắc, nam. ở đó không chỉ có những chiến sĩ công binh vững vàng mà nhân dân địa phương cũng thật dũng cảm.
Bởi vậy mấy tiếng “Cung đường 27” đã trở thành đồng nghĩa với “Cung đường an toàn”, hoặc “Cung đường luôn thông suốt”…
Nhưng hoàn toàn chẳng vì thế mà bọn Mỹ nản lòng, bỏ qua cung đuờng trọng yếu này. Chúng càng ra sức đánh phá,càng ngày càng ác liệt,bằng mọi thủ đoàn thâm độc và sảo quyệt.
Đêm nay Nguyễn Đen lại trực chiến. Lẽ ra là phiên của Đoàn Liễu. Nhưng dạo này Liễu hay lộn trở vệ hậu cứ. Anh nói cần phải trông nom các cơ sở ở phía sau. Và dạo này anh còn hay than phiền về việc tiểu đoàn trưởng quá lao đầu vào công việc chuyên môn, ít quan tâm tới các vấn đề tài sản, tài chính… Anh nói là anh rất lo có những sự bê bối xảy ra. Anh đã một vài lần chính thức lên tiếng trong mấy buổi giao ban tiểu đoàn, hối thúc Nguyễn Đen phải cho kiểm tra lại tài sản, tài chính. Nhưng Nguyễn Đen vẫn chưa làm được. Tất cả đầu óc gan ruột của Đen  rõ ràng vẫn để hết trên các bến bãi. Anh thừa nhận là chưa coi trọng đúng mức các việc nội bộ; đã ỷ lại hoàn toàn vào Đoàn Liễu, Nguyễn Giảng.
Tuy vậy, nhận thì nhận, anh vẫn như con thiêu thân thì lao đầu vào lửa.
Có lẽ cũng vì vậy mà bữa nay Đoàn Liễu lại đòi  phải quay về hậu cứ !

DÒNG SÔNG LỬA

Trời đã tối lâu. Đại đội 3 của Nguyễn Đức Thắng báo cáo về: cầu đã lắp xong, xin phép phát tín hiệu cho thông xe, Nguyễn Đen đồng ý.
Nhưng chỉ mười phút sau kẻng báo động đã ran lên khắp nơi, từ xa xa ngoài bến sống cho tới ngay trong xóm, nhân dân đã sơ tán triệt để, chỉ còn lại sở chỉ huy của tiểu đoàn trụ bám.
Rồi máy bay dịch gầm rít lao tới. Đêm nay cuối tháng, trời tối thui. Tiếng máy bay trong đêm nghe dữ dội. Cao xạ ta đã phản ứng kịp thời và khá mạnh mẽ.
Bom nổ ình ịch phía ngoài sông Cả một vùng trời thoắt đỏ rực, đỏ lên mãi, sáng lên mãi, như cả bầu trời đang bốc cháy.
Điện của Nguyễn Đức Thắng réo lên, báo về: địch đêm nay giở thủ đoạn mới:Chúng ném bom cháy một vệt ngang sông, phía thượng lưu. Lửa đang cháy trôi tràn xuống phía cầu. Tình hình vô cùng nguy ngập.
- Tôi sẽ ra ngay với các anh!
Như mọi đêm có biến cố lớn ngoài cầu, Nguyễn Đen nói đoạn úp chiếc mũ sắt lên đầu lại lao nhanh ra khỏi cửa hầm chỉ huy.
Khoảnh khắc sau anh đã tới bờ sông. Anh đứng trước một dòng sông ngập lửa. Dòng sông lửa kéo dài mấy cây số. Tất cả cùng đang cháy. Cỏ cây bên bờ cháy. Nước trên sông cháy. Tất cả đỏ rực trong tuyến lửa đang thiêu đốt điên cuồng. Cảnh tượng thật kinh khủng.
Nguyễn Đen nghiến răng, úp mũ sát lên mặt, quay lại, nhảy xuống một chiến hào. Nguyễn Đức Thắng và các chiến sỹ của anh đã có mặt ở đó. Tất cả những khuôn mặt đẫm mồ hôi và như đang chín đỏ, nứt nở ra.
- Mỗi đồng chí một cây sào theo tôi! Phải sớm cắt lửa từ thượng lưu.
Nói đoạn, vớ lấy một cây sào dài, anh nhảy lên mặt đất, lao thẳng lên tuyến lửa. Mọi người cùng ào ạt tiếp theo anh. Tới bờ sông nhiều chiến sĩ trẻ hăng hái cầm sào nhảy xuống trước. Nguyễn Đức Thắng cũng không kịp cởi áo quần, cũng cầm sào lao xuống.
Trên khúc sông thoắt diễn ra một trận chiến đấu kỳ lạ chưa từng thấy giữa con người và thần lửa. Các chiến sĩ vừa hò hét vừa tung sào đập tan những mảng hoá chất đang cháy giần giật trên mặt nước như những cụm lửa lớn. Những mảng cháy bị đập tan ra và lập tức bị gạt hết sang hai bên bờ cát, hoặc cho trôi tự do nhưng đã bị xé nhỏ, tản mát trên dòng sông.,luồn dưới gầm cầu,trôi xuống hạ lưu.
Cuộc chiến đấu như trong một cơn điên say, cuồng nộ. Nước sông nóng hầm hập. Lát lát, các chiến sĩ lại phải ngụp xuống để cho đỡ rát mặt.Có chiến sỹ bị cháy cả tóc cũng vội vàng lặn xuống cho tắt lửa.
Cũng lúc ấy có tiếng lao xao trên bờ, Nguyễn Đen vuốt nước trên mặt nhìn lên. Chinh. Đúng là Chinh ! Cô và đội công nhân cùng dân quân  đã kịp thời tới ứng cứu cho đơn vị. Rất nhanh, trông thấy cảnh tượng này, Chinh , đội công nhân,dân quân đã hiểu ngay là mình phải làm gì.
Thế là trong phút chốc cả đội công nhân và dân quân nam, nữ cùng cầm sào, cầm gậy lao xuống. Người không có gậy thì bẻ những cành cây cũng nhảy ùm theo đồng đội.
Chinh sải mấy sải đã đến bên Đen. Suốt đời anh sẽ không bao giờ quên giây phút ấy. Hai con người, mình đều chìm dưới nước, chỉ nhô lên hai gương mặt ướt đẫm và đỏ rực trong ánh lửa. Tưởng như hai người đang gặp nhau trong một hoả ngục hoặc trong một thế giới hồng hoang tàn khốc nào đó. Nhưng cả hai đều nhìn nhau nhoẻn cười. Nụ cười như thoắt làm tắt được hết mọi ngọn lửa, và dòng sông trong mát trở lại…
Lúc đó, ở phía cầu, các chiến sĩ ta, theo mệnh lệnh của chỉ huy cũng đã đang dàn hàng ngang trên mặt cầu, mỗi người vẫn một cây sào hoặc một cành lá tươi. Một chút lửa nào trôi xuống là cũng bị dập tan ngay tức khắc,rồi đẩy xuống hạ lưu....
Trận giặc lửa dưới sông dịu dần, thì ở trên bờ và dưới hạ lưu những đám lửa dài do tổ nghi binh cũng đã được nhóm lên theo đúng kế hoạch.
Trên bờ lửa đỏ. Dưới sông lửa đỏ. Cây cối, ruộng đồng cũng nhuộm đỏ. Trời mây cũng cháy đỏ. Tất cả như sắp bị thiêu, huỷ diệt hết, chỉ còn có Con Người – Con Người chiến thắng – Con Người kiêu hãnh.
 Đột nhiên tiếng máy bay rít ào ào. Một loạt bom nổ ở dưới hạ lưu. Mọi người nhìn cả lại  phía ấy nơi hai chiến sĩ Nguyễn Đức Thắng cử đi đã kịp thời chăng dây qua sông. Lửa đã đọng lại, hình thành một tuyến cầu giả. Nguyễn Đen phấn khởi reo lên:
- A! “Dùng gậy của giặc mà đập lưng giặc!” Anh quay sang hỏi Nguyễn Đức Thắng – Bọn nào thế nhỉ?
Nguyễn Đức Thắng mừng rỡ trả lời:
- Chúng ta cả đấy!
- A! Cậu thông minh quá! Giỏi!
- Không. Tôi chỉ làm tiếp ý định của thủ trưởng đấy thôi !
Đèn tín hiệu thông cầu được bật lên. Đoàn xe pháo tiếp tục qua cầu giữa mùi khét nồng nặc của chất cháy và bom giặc
Thế là đêm thứ 100 trong chiến dịch K2 nhịp cầu của tiểu đoàn 27 vẫn thông suốt!
Hơn nửa giờ sau, Nguyễn Đen đồng ý với Nguyễn Đức Thắng cho thu quân. Chỉ có hai chiến sĩ bị bỏng, một nhẹ, một trung bình. Đội công nhân và dân quân cũng lên bờ. Chinh ướt lướt thướt. Bộ quần áo bó sát lấy tấm thân thon thả, chắc lẳn càng làm cho cô thêm đẹp ra. Mái tóc xoã chảy dài sau lưng, cô đi ngang qua trước mặt Nguyễn Đen. Anh đang ngồi trên một đống gỗ với Nguyễn Đức Thắng, hút thuốc cho đỡ lạnh. Chinh nhìn anh và mỉm cười, ánh mắt và nụ cười âý đã nói quá đủ tất cả những gì cô muốn nói với anh. Nguyễn Đen mỉm cười gật đầu đáp lại. Với Chinh dường như không còn điều gì phải nói nữa và cũng không còn lời nào để nói thêm nữa. Ai đó đã nói hoàn toàn đúng: Sự cảm thông đã lớn gấp ngàn lần những lời nói cụ thể.
Khi Chinh và anh chị em công nhân, dân quân đi khỏi, các chiến sĩ công binh ai lại vào việc nấy. Chỉ còn lại hai người Nguyễn Đức Thắng bỗng rụt rè quay lại phía Nguyễn Đen:
- Anh Đen ạ! Tiện lúc này tôi muốn nói với anh một chuyện.
Nhìn vào đôi mắt của Thắng và nghe giọng nói, Đen biết người bạn trung thực và luôn luôn cởi mở này đang muốn nói với anh một điều gì đó hết sức hệ trọng.
- Gì vậy ông?
- Tôi quý anh, tôi muốn nói với anh từ mấy tuần trước. Nhưng tôi cứ ngại…
- Gì vây? Cứ nói đi. Mình sẵn sàng nghe đây Thắng ạ. Mình cũng rất quý và tin ông.
- Tôi hiểu. Tôi hiểu anh rất tin và cũng rất quý tôi. Bởi vậy tôi không thể nào yên lòng, nói cho đúng hơn: Không thể chịu nổi…
- Sao cơ?
- Khi nghe thấy những lời không hay, những lời dị nghị về anh…
- Ông cứ nói đi!
Thắng bạo dạn hơn, nhìn thẳng vào đôi mắt Đen, rồi đột nhiên giọng như lạc đi, rung lên:
- Anh Đen! Anh có… chuyện gì với cô Chinh phải không?
Thế là hiểu rồi. Đen thở hắt ra một cái nhè nhẹ.
- Anh Đen! Anh nói đi! Anh yêu cô Chinh phải không?
Đen cúi nhìn xuống. Rồi anh lắc đầu, đôi mắt buồn bã:
- Không! Không phải thế!
- Trời ơi! Anh biết không, họ còn nói là… anh đã… gì với cô ấy rồi phải không?
- Hả! – Tới lúc này thì Nguyễn Đen phải bật lên một tiếng thực sự ngạc nhiên, và tức giận nữa.
- Hả? Sao? Người ta nói cái gì?...
Hỏi lại một lần nữa, rồi thoắt lặng đi. Trên gương mặt dãi dầu của anh tràn ngập một nỗi buồn tê tái.
Là một người thông minh, chỉ một câu hỏi và cũng là một sự thông báo nhỏ của Nguyễn Đức Thắng cũng đủ để cho anh hiểu rõ: một chuyện gì đó đã và đang xảy ra với riêng anh.
Nhưng đồng thời anh cũng là một con người có bản lĩnh, luôn kịp thời có phản ứng đối phó với tất cả những gì dù xấu xa, dù ác liệt hiểm nghèo xảy đến. Hơn nữa, từ khi bước vào tuổi trưởng thành anh chưa hề biết sợ một cái gì, ngoài sự sợ hãi yếu hèn của chính mình. Và anh cũng rất ghê tởm sự phản trắc …
Nguyễn Đen thoắt xây hẳn người lại. Một lần nữa anh nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Đức Thắng một cách hết sức nghiêm trang:
- Ông Thắng! Thôi được, dư luận hãy để đó đã, tôi hỏi ông, chính ông thôi, ông có nghĩ tôi là một thằng đồi bại, xấu xa?
Thắng lắc đầu dứt khoát:
- Không! Hoàn toàn không.
- Vậy ông có thể tin tôi trong việc này?
- Tôi luôn luôn tin anh. Nhưng anh Đen ạ, quả thật đang có dư luận xì xào không hay về chuyện này. Tôi rất bực và lo cho anh…
- Dư luận ở đâu?
- Trong trạm sửa chữa lưu động cũng có, trong hàng ngũ cán bộ trung đội của tôi cũng có.
- Họ nói họ thấy như vậy?
- Họ nói là họ cũng nghe đâu đó. Anh  Đen ạ, tôi tin anh, tôi quý anh, tôi thề với anh nếu cần để lấy máu tôi để bảo vệ anh tôi cũng sẵn sàng. Nhưng tôi cũng xin lưu ý anh phải giữ lấy mình. Có khi anh vô tình.
Nguyễn Đen cúi đầu xuống, ngồi lặng giây lâu. Đầu óc anh thoắt nhức nhối. Bàn tay anh lần lần tìm bàn tay Thắng. Đúng là lúc này anh cần một sự ấm áp, cần một sự tin yêu hơn bất cứ lúc nào hết.
Lát sau anh mới cất tiếng hỏi tiếp:
- Ông Thắng ông có thể nói cho tôi biết những tin thất thiệt này từ đâu ra không?
Thắng cân nhắc:
- Cũng thật khó biết. Nếu nhớ lại thì một hôm tình cờ tôi ở ngoài cầu về, thấy ông Liễu xuống đại đội từ lúc nào không rõ, đang ngồi uống rượu với mấy tay cán bộ trung đội của tôi. Sau đó ông Liễu về, tôi có hỏi thì các cậu ấy bảo ông ấy xuống chơi thôi và có tiết lộ là: Nghe đâu nhân dân dịa phương họ đang xì xào nhiều… về anh và cô Chinh. Nhưng ông Liễu cũng dặn họ là chớ có nói lại. Cần phải kín để bảo vệ uy tín cho tiểu đoàn trưởng. Vì thân tình  mà ông Liễu chót tiết lộ ra thế thôi…
Nguyễn Đen bỗng nhếch mép cười. Bảo vệ uy tín cho tiểu đoàn trưởng? Có thật vậy không? Cho tới lúc này anh mới chợt nhớ ra: gần đây thái độ Đoàn Liễu đối với anh có gì khang khác. Còn nhân dân địa phương thì là ai nhỉ? Có thật là nhân dân địa phương xì xầm không? Hay chỉ là những điều bịa đặt?...
    Đoàn Liễu! – ý nghĩ của anh lại trở về với người chỉ huy phó của anh. Bây giờ Nguyễn Đen mới thực sự nhận được ra: Lâu nay mình đã quá chủ quan, ít chú ý tới con người này. Nếu quả thật anh ta muốn xử tốt, sao không thẳng thắn nói với anh, dù chỉ một vài lời vắn tắt, việc gì lại đi la cà xuống dân, nói ra rồi lại căn dặn người ta giữ bí mật? Nhưng cũng có thể anh ta quá nể mà không dám nói thẳng ra chăng? Cũng có thể như thế lắm. Cần phải xem lại đã. Nhưng dẫu sao cho đến lúc này những chuyện cũ về Đoàn Liễu mà Đen đã quên đi, những cái lặt vặt về anh ta mà Đen đã dễ dãi bỏ qua tha thứ, cùng những dư luận xa gần không hay về con người ấy, như đột nhiên bị cơn gió thổi bùng lên từ đống bụi thời gian làm cho Đen không khỏi ngỡ ngàng.
    Nhưng vốn không thích những thành kiến, những sự để tâm vụn vặt. Nguyễn Đen cố xua đi những ý nghĩ ấy, và tự dặn mình: Cần phải xem lại. Còn dư luận không tốt về anh và Chinh, thì anh hoàn toàn không thấy một chút gì phải phiền muộn, lo lắng. Bởi anh hiểu chính anh. Chinh cũng hiểu rõ anh hơn ai hết. Anh hoàn toàn tin ở chính mình, tin ở Chinh.
    Nguyễn Đen xiết tay Nguyễn Đức Thắng rồi quay trở về sở chỉ huy. Người rã rời, vừa thay quần áo xong, thì một cán bộ tham mưu lại đưa tới một bức điện khẩn của quân khu.
















CHƯƠNG VII
GIÂY PHÚT MỎNG MANH



    Nguyễn Đen vặn to ngọn đèn. Mệnh lệnh hết sức vắn tắt nhưng cũng hết sức rõ ràng: Đêm mai tiểu đoàn 27 phải đảm bảo cho một trung doàn xe tăng hạng nặng qua bến Cẩm Thuỷ và bến Mục Sơn.
    Đặt bức điện xuống, anh vừa lo lại vừa mừng. Lo vì nhiệm vụ quá gấp, hơn nữa ở bến Cẩm Thuỷ và bến Mục Sơn lực lượng quốc doanh cũng như toàn tiểu đoàn 27 chỉ có khí tài loại nhẹ và loại trung, không đủ trọng tải cho xe tăng cỡ lớn. Nhưng cũng mừng vì trong nội dung huấn luyện tại trận, tại chỗ của tiểu đoàn đang  triển khai đã có một số giờ tập ghép phà theo phương pháp cải tiến đề phòng khi bất chợt phải chở các loại xe hạng nặng qua sông. Chiến tranh còn phát triển, công tác huấn luyện phải đón trước được những tình huống phức tạp.
    Bây giờ thì thật là may. Hơn lúc nào hết, công việc tích cực huấn luyện, tranh thủ huấn luyện rõ ràng đã tỏ ra giúp cho đơn vị có thể đối phó với những tình huống lớn, bất ngờ.
    Nguyễn Đen lập tức cho triển khai mọi khâu cần thiết, một mặt điện cho Văn Thám ở bến Mục Sơn và Trần Đằng ở bến Cẩm Thuỷ chuẩn bị. Mặt khác, anh lệnh cho hai đại đội cao xạ từ bến Sĩ lên tăng cường bảo vệ bến Cẩm Thuỷ và bảo vệ  bến Mục Sơn, đêm mai kiên quyết đánh địch cho xe tăng qua sông trọn vẹn và thắng lợi.
    Mọi công việc triển khai xong, trời cũng gần sáng Nguyễn Đen điện cho Đoàn Liễu ra thay anh ở Cổ Tế, để anh tới bến Cẩm Thuỷ trực tiếp tổ chức việc vượt sông cho xe tăng.
    Bảy giờ sáng, Nguyễn Đen đã tới bến Cẩm Thuỷ. Anh vào thẳng sở chỉ huy đại đội bốn. Trần Đằng cởi trần trùng trục, bụng xệ như lão Phệnh mập, trông đến tức cười. Anh đang chủ trì cuộc họp cán bộ. Không khí cuộc họp vừa nhác thấy đã biết ngay là rất khẩn trương và căng thẳng.
    Thấy Nguyễn Đen tới, mọi người đều mừng rỡ. Trần Đằng cười khà khà:
    - May quá! “ông tác giả” đây rồi! Mấy cha này chúng nó còn cứ cãi với tôi về mấy điểm.
    Đen sà ngay vào bàn họp. Mọi người đang thảo luận  lại phương án kỹ thuật cải tiến phà loại nhỏ, loại trung để chở trọng tải lớn. Nói cho đúng ra, đây không phải hoàn toàn là sáng tạo của Nguyễn Đen như Trần Đằng vừa nói, mà là một sáng kiến táo bạo của tập thể cán bộ trong tiểu đoàn từ mấy tháng trước. Nhưng anh em chỉ có sáng kiến và kinh nghiệm thực hành nên chưa đúc kết được thành lý luận và nguyên tắc khoa học. Do có trình độ nên Nguyễn Đen đã tổng hợp được mọi ý kiến và cũng có phần đóng góp của mình, cuối cùng anh đã nâng cao lên thành lý luận, rồi mạnh dạn đưa vào chương trình huấn luyện ngay trong chiến dịch K2 này.
    Bởi thế, giờ đây cán bộ đại đội bốn cũng còn phải tranh luận thêm một vài điểm chưa thật rõ, hoặc chưa thật tin chắc Nguyễn Đen cầm lấy bút, thước, miệng nói tay vẽ. Chỉ một lúc sau tất cả cán bộ của đại đội bốn đã nắm được vấn đề, và hứa hẹn  khi trở về trung đội mình sẽ bắt tay ngay vào việc.
    Trong số các trung đội trưởng, Văn Hậu là cán bộ trẻ nhất, can đảm nhất, và có văn hoá cao nhất (anh đang học dở đại học giao thông thì đi nghĩa vụ quân sự) được Nguyễn Đen và Trần Đằng hoàn toàn nhất trí chọn làm người trực tiếp chỉ huy chuyến phà thí nghiệm đầu tiên.
    Nguyễn Đen giữ tay Văn Hậu rất lâu trong tay mình:
    - Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng ở cậu.
    - Báo cáo, cái tốt là được huấn luyện kỹ rồi nên chúng tôi rất vững tâm và tin là có thể làm được. Xin thủ trưởng cứ yên trí! – Văn Hậu hăng hái đáp lại.
    Suốt ngày hôm đấy Nguyễn Đen và Trần Đằng cùng xuống các trung đội để trực tiếp hướng dẫn anh em ôn luyện lại các động tác, các quy trình kỹ thuật lắp ghép phà cải tiến theo phương pháp hoàn toàn mới của tiểu đoàn. Vừa ôn luyện giải quyết những thắc mắc còn lại, các anh vừa khêu gợi tiếp những sáng kiến mới của chiến sĩ để đóng góp vào việc cải tiến con phà thêm hoàn chỉnh.
    Trời tối dần. Máy bay địch hôm nay hoạt động sớm. Bom nổ xa gần. Nguyễn Đen, Trần Đằng cùng ra sông. Dòng sông cuồn cuộn dữ dội như cả một đoàn ngựa chiến đang tung bờm lồng lên. Nguyễn Đen không khỏi thầm lo lắng. Trần Đằng mọi khi rất lè phè, thích bông đùa vì luôn luôn tin ở tài tháo vát và sự nhanh trí của mình, nhưng lúc này đứng trước dòng sông hung dữ cũng không khỏi lo sợ số phận của những chiếc phà ghép theo kiểu mới. Liệu trong thực tế chúng có chở nổi những khối thép đồ sộ nọ vượt qua dòng sông ghê ghớm kia hay không? Chỉ cần một chiếc xe tăng chìm nghỉm xuống dòng nước đêm nay là cũng đủ khiến cho số phận của cả Trần Đằng và Nguyễn Đen sẽ đi tới đâu?...
    Đã nhọ mặt người. Trần Đằng hạ lệnh ghép phà mặc cho máy bay địch vẫn gầm rít trên bầu trời. Không hiểu đêm nay tại sao bọn máy bay Mỹ bay sớm và lượn nhiều ở khu vực này như vậy? Hay là chúng đã đánh hơi thấy xe tăng lớn của ta lên đường ra trận?...
    Lát sau, chiếc phà cải tiến đã được lắp ghép xong Trần Đằng vẫn phơi cái bụng xệ ra , cùng với Nguyễn Đen nhảy bay xuống. Hai người phân công nhau kiểm tra lại từng chi tiết nhỏ. Trần Đằng lại bông phèng: “Mô phật, có huấn luyện kỹ có hơn, anh Đen ạ!” làm cho Nguyễn Đen phải bật cười.
    Trên bờ đất như rung chuyển. Tiếng máy hết sức nặng đã gầm lên. Đoàn xe tăng đã tới. Trần Đằng từ dưới phà ngẩng lên nhìn thấy như cả một đoàn voi khổng lồ đang hầm hè bước xuống.
    Trần Đằng cùng Nguyễn Đen nhảy lên bờ, lệnh cho chiếc xe tăng đầu tiên xuống phà được Trần Đằng phát ra giữa sự hồi hộp của tất cả mọi người trên bến.
    Chiếc xe tăng đi dầu nhai xích rào rạo, rồ lên rồi nặng nể, thận trọng bò xuống.
Trần Đằng đứng ở đầu phà để làm hiệu cho xe xuống phà, nhưng chiếc xe cứ đi chệch sang trái, tí nữa là đè nát bó vỉa mố, có nguy cơ lao xuống sông. Trần Đằng vội vàng giơ cả 2 nắm tay bắt chéo và hô to:
- Dừng lại ! Dừng ... lại !
Cũng may chiếc xe đã dừng lại kịp thời, bánh xích đã đè vào bó vỉa mố cầu. Trần Đằng liền chạy lại đầu xe quát lên và văng tục:
- Mẹ kiếp ! đi như thế à ? Đồ con khỉ, đè nát hết cả bó vỉa rồi !!!
Mọi người ở gần đó cũng ồ lên, lo sợ.
Lúc đó Nguyễn Đen cũng đứng ở đầu mố, toát cả mồ hôi, tí nữa thì xe xuống sông. Anh vội chạy xuống rồi nhảy lên đầu xe tăng, cậu chiến sĩ lái tăng mặt tái mét không còn hột máu, run run lắp bắp không nói lên lời. Nguyễn Đen cúi xuống kéo nách, nhấc bổng cậu lái xe tăng lên và quát:
- Ra đi, xuống đây mà xem kỹ bến đi.
Cậu lái tăng vội nhảy xuống, lúc này mọi người mới ồ lên.
- Thì ra là một chú nhóc, thấp bé nhẹ cân, thế mà cũng làm lái xe tăng à ?
- Này chú bé, bao nhiêu tuổi rồi, học lái xe lâu chưa ?
Cậu bé run run nói không ra hơi:
- Dạ, em 18 tuổi, mới được học lái xe ba tháng, mới chỉ học lái xe trên đường thôi, chưa lái xuống phà bao giờ ạ.
- Mười tám, mười tám gì cậu, mặt non choẹt, chắc lại khai tăng thêm tuổi để đi bộ đội hả? Chết chửa, mới học ba tháng đã lại “dỡ non” chứ gì. Anh bỗng nhớ lại lớp lái xe của anh, cũng mới chỉ học 2 tháng đã phải dỡ non đi lái xe thuyền. Anh bỗng chặp miệng: “Thì cũng hoàn cảnh như thế cả đây. Anh bỗng thốt lên: “Chiến trường yêu cầu gấp, biết làm sao được”.
Nguyễn Đen nhìn cậu lái xe tăng bé nhỏ mà thương hại, cơn nóng nẩy bỗng dịu xuống. Cậu ta như người chết đứng, đứng đực người ra chẳng nói chẳng rằng. Nguyễn Đen lại an ủi cậu ta:
- Cũng may mà chú mày phanh lại được, thôi cứ bình tĩnh. Bây giờ đứng đây nhìn người ta lên phà mà học tập.
Nói xong Nguyễn Đen liền trèo lên xe, chui vào buồng lái, nhìn lại các bảng điều khiển một lượt rồi ngồi vào ghế lái. Đẩy cần số về số lùi, rồi tăng ga dần, chiếc xe tăng từ từ lùi lên dốc. Anh chỉnh hướng, căn lại cho đúng mũi cầu phà. Rồi đẩy cần số tiến, chiếc xe tăng bò dần dần lên phà.
Con phà rùng mình, đầu phà gần như chìm hẳn xuống mặt nước, nhưng rồi lại nổi lên. Chiếc xe tăng cỡ lớn bò vào, nằm lù lù, cao ngất ở giữa con phà. Mớm nước mấp mé. Nhưng không sao. Trần Đằng sung sướng quá reo to: “Ăn rồi! Ăn rồi!...” khiến mọi người đang hết sức hồi hộp cũng phải cười phá lên.
Xe tắt máy, Nguyễn Đen nhô lên nhảy ra khỏi xe trước sự thán phục và mừng rỡ của mọi người xung quanh. Cậu lái xe tăng nhỏ bé vội chạy lại:
- Ô ! thế thủ trưởng cũng lái được tăng à ? Hay quá !
Trần Đằng liền trả lời ngay cho cậu bé lái tăng và cũng là thông báo cho mọi người biết:
- Thủ trưởng vẫn lái xe xích K61 đấy. Có khác gì xe tăng đâu. Cậu tưởng công binh không có xe tăng à ? Xe xích lội nước K61 còn chở được cả xe ô tô và xe xích khác cơ mà.
Khi chiếc xe tăng đã lên phà yên ổn rồi mới thấy thiếu tá Bách chính uỷ trung đoàn tăng từ phía sau chạy lên đến chỗ Nguyễn Đen:
- Tôi định xuống phía sau, điều mấy cậu lái cũ lên để lái xe xuống phà. Vậy mà anh đã cho lên được rồi. May quá ! toàn “dỡ non” cả đấy anh ạ.
Nguyễn Đen thông cảm với chính uỷ Bách và nói:
- Thì chúng tôi cũng thế thôi, khác gì các anh. Cứ để cho anh em lái, có điều là cần phải kèm chặt chẽ, những chỗ khó thì cán bộ và lái cũ phải ở bên cạnh chỉ bảo để anh em đỡ run.
- Vâng, đúng thế ạ !
Chính uỷ Bách liền triệu tập cán bộ và lái xe tăng lại hội ý ở đầu bến phà để rút kinh nghiệm.
Nguyễn Đen bảo chú lái xe tăng bé nhỏ:
- Cậu phải kê cao thêm ghế ngồi mới nhìn rõ được, và cứ bình tĩnh, từ từ nhả côn, không được giật cục là vỡ phà đấy nghe chưa ?
- Rõ, vâng ạ !
    Văn Hậu gọn gàng trong bộ quân phục, gương mặt sáng sửa và can đảm, dứng ở mũi phà như một dũng sĩ  trong huyền thoại, cất tiếng hô vang cho lệnh con phà vượt sông.
    Hai chiếc ca nô cùng rú máy, giật xích, kéo con phà nặng nề theo nhịp sóng nhấp nhô, xa bờ dần.
    Mọi người trên bờ vẫn chưa hết hồi hộp. Con phà xem ra như quá mong manh so với chiếc xe tăng, so với cả sông nước.
    Đã tới giữa sông, dòng nước chảy xiết. Những dòng nước hung hăng chồm cả mặt phà, bọt nước bắn tung lên tận chóp pháo của xe tăng.
 Văn Hậu vẫn đứng vững trên mũi phà. Chiếc đèn pin trên tay anh luôn luôn nhấp nháy, lúc gạt sang phải, lúc tia sang trái. Anh chỉ huy cho hai chiếc ca nô hiệp đồng chặt chẽ kéo phà vượt qua dòng nước xiết.
Hình ảnh Văn Hậu đẹp đến nỗi Nguyễn Đen ở trên phà cũng phải thốt lên:
- Cán bộ trẻ của ta, giá ai cũng được như Văn Hậu cả!...
Trên phà các chiến sĩ xe tăng hết sức yên tâm và thú vị trò chuyện cùng các chiến sĩ công binh.
- Chà, các cậu được lái xe tăng nghiền nát đầu giặc, sướng ghê! – Một chiến sĩ công binh thốt lên.
Các chiến sĩ xe tăng đáp lại:
-Nhưng không có các cậu “cõng” qua sông như thế này bọn tớ cũng thành đống thép vô dụng thôi. Như vậy, chiến công đầu là của các cậu, chứ không bao giờ là của bọn tớ!
Những chuỗi cười cùng bật lên giòn giã.
Nhưng khi con phà lọt vào luồng nước cường ở giữa sông thì bị cuốn trôi xuống phía hạ lưu, mặc cho hai chiếc ca nô đã mở hết ga cưỡng lại. Nước cuốn đến chóng mặt.
Trên bờ, nhiều người không dấu được sự lo ngại. Trần Đằng cũng hết tí tởn, hai bàn tay xoắn vào nhau thốt lên:
- Gay rồi! Có lẽ gay rồi!
Nhưng con phà đã ngoi lên được. Kìa! Nó đang nhích dần về phía thượng lưu để trở về bến. Rồi một lúc sau, nó đã từ từ quay mũi để vào mố bờ nam.
Tất cả mọi người cùng thở phào nhảy bật lên reo hò vui sướng.
Vừa lúc đó, kẻng báo động đột ngột vang lên lảnh lói. Rồi máy bay địch ầm ầm lao tới như một cơn lốc điên cuồng. Các trận địa cao xạ cùng nổ súng. Cả bến phà phút chốc rung chuyển. Qua ánh lửa của các đường đạn cao xạ, đại liên, Nguyễn Đen nhìn thấy Văn Hậu vẫn đứng sừng sững ở đầu phà để chỉ huy, kiên quyết đưa con phà vào bến an toàn.
Bỗng có một tiếng nổ lớn bùng lên ở dưới sông, ngay phía sau đuôi phà. Một cột nước dựng đứng cao hàng chục mét. Con phà rùng mình và bị nhấc bổng khỏi mặt nước rồi bị quật mạnh xuống. Cùng lúc ấy, do sức nặng ghê gớm mang trên mình, con phà đã kéo giật đứt tung sợi xích lớn đang ghìm phà vào mố để chuẩn bị cho xe tăng vượt lên bờ. Tiếng xích đứt phát ra một tiếng “păng”, nghe rất căng và vô cùng ghê rợn.
- Đứt xích ghìm phà rồi! Nhiều tiếng kêu thét lên sợ hãi bàng hoàng.
Nhưng cũng lúc ấy lại có cả tiếng hoan hô. Bọn Mỹ đã chủ quan không ngờ ở bến Cẩm Thuỷ đêm nay đã được tăng cường cao xạ, nên cứ lao xuống đánh như mọi bữa khác. Một chiếc đã bị trúng đạn, bốc cháy trên bầu trời,soi sáng rực cả bến sông.
Riêng Văn Hậu, anh dường như không hay biết gì nữa. Xích dứt: một tình huống hiểm nghèo đang xảy ra! Khoảng cách giữa phà và mố trên bờ đang hoác rộng ra một cách đáng sợ: Con phà đang dần dần xa bến! Trong khi dó xe tăng đã nổ máy, chuẩn bị vượt lên bờ. Như vậy có nguy cơ xe tăng sẽ bị hẫng và rơi xuống sông. Lệnh cho xe dừng lại! – Không kịp rồi! Bánh xích đã chuyển động. Xe tăng đang đà lao lên, đột ngột dừng lại lúc này còn nguy hiểm hơn, vì lực quán tính quá lớn có thể làm vỡ phà. Đầu óc Văn Hậu như có một trăm con tính cùng lướt qua nóng rực. Anh chỉ còn kịp thét lớn:
- Tất cả, nhảy xuống. Ghìm phà!
Vừa hô, anh vừa nhảy xuống trước, nhảy sát gầm xe. Cùng một loạt, các chiến sĩ công binh lao mình xuống dòng sông, vật lộn với sóng nước để ghìm con phà lại. Trần Đằng không kịp cởi quần áo cũng nhảy xuống theo…
Nước cuồn cuộn. Bóng Văn Hậu nổi bật ngay sát gầm chiếc xe tăng đang từ từ bò lên. Anh không quản cả khối thép khổng lồ có thể bị hẫng, rơi xuống nghiền nát đầu mình. Toàn thân ngập dưới nước, một tay bám vào mố, tay kia bám vào phà, cố dồn sức lực của mình vào hai cánh tay, răng nghiến chặt, hàm bạnh ra, mắt như sắp bật khởi tròng, anh cố, cố mãi để giữ cho con phà khỏi trôi ra. Vừa ghìm anh vừa hét to:
- Ghìm ... vào. Cố ... lên ... !
Phía sau Hậu, các chiến sĩ cũng dốc hết sức, rạp mình xuống, co kéo con phà vào sát mố.
Tất cả chỉ còn trong tích tắc, một là thắng lợi, hai là tan tành…
Giữa cái khoảnh khắc nhỏ nhoi kinh hoàng ấy, Nguyễn Đen đã nhảy lên bờ, kịp thời ném được một đầu cuộn dây neo ra đúng vào đầu phà. Một tiếng “choang” bật lên nghe thật là kinh dị…(cho mãi về sau này, không ai có thể hiểu, mà chính Đen cũng không thể hiểu vì sao anh đã kịp nghĩ ra cách ấy, hơn nữa tại sao mình  lại có sức mạnh lạ lùng ném được cuộn dây neo nặng ấy tới con phà, mà lại trúng hẳn vào đầu phà…) Các chiến sỹ ở trên phà và mố đều quấn dây vào cọc :
- Ghìm chặt! Ghìm chặt!- Những tiếng hô như thét lên.
Đúng lúc đó bánh xích đầu tiên của chiếc xe tăng chạm vào đầu mố. Chiếc xe chồm lên băng qua khỏi khoảng cách nguy hiểm, vọt lên bến an toàn.
Tất cả bằng ấy con người đều mừng rỡ. Nhưng đã quá mệt rồi, không ai còn sức hò hét được nữa. Dường như họ đều ngồi lặng đi trong nỗi mừng ghê gớm của một keo hút chết.
… Sau khi nhanh chóng rút kinh nghiệm với các chiến sĩ lái xe tăng, Văn Hậu lại tiếp tục chỉ huy con phà đưa đàn voi thép qua sông cho tới chiếc cuối cùng. Tất cả đều an toàn tuyệt đối. Thời gian lại sớm hơn dự kiến một giờ. Đồng chí trung đoàn trưởng xe tăng, một con người nhỏ bé gầy còm, nom không ai có thể tin là người chỉ huy xe tăng cứ ôm lấy Văn Hậu mà khóc, vì quá mừng, quá yêu những chiến sĩ công binh. Đến khi đồng chí quay lại để cảm ơn Nguyễn Đen và Trần Đằng thì hai người gần như chỉ còn biết ngồi thở, tiếng đã khản đặc, không ai mở được miệng để nói câu gì nữa.

LÚC NÀO CŨNG PHẢI VUI TƯƠI CHỨ Ạ

Trong một cuộc giao ban của Bộ Tổng tham mưu ở Tổng hành dinh tại Hà Nội, bỗng có một bức điện được đọc lên đại ý là: “Cầu phà bị tắc, nên đoàn tăng 203 chưa vượt sông được”. Tổng tham mưu phó trung tướng Lê Ngọc Hiền liền quắc mắt hỏi:
- Vì sao cầu phà lại tắc, đã hỏi xuống quân khu chưa ? Làm ăn thế này thì chết người à? Nếu không nhanh chóng, để ùn xe lại, bọn máy bay giặc Mỹ phát hiện được thì càng gay go nguy hiểm...
Ông giao cho trung tá Phạm Văn Các xử lý ngay vụ này gấp.
Trung tá Phạm Văn Các nguyên là trưởng phòng tác chiến Quân khu 3 mới được điều lên Cục tác chiến, phụ trách theo dõi hành quân’ bỗng giật mình, trước bức điện và lời nói của thủ trưởng Bộ.
Anh liền nói:
- Báo cáo, từ đầu chiến dịch K2 đến nay, tôi theo dõi các bến cầu phà của quân khu do tiểu đoàn 27 đảm nhiệm, chưa lần nào bị tắc ! Sao lại có bức điện này?
- Cứ xuống tận nơi kiểm tra xem thực hư thế nào, và đôn đốc khẩn trương bảo đảm cho vượt sông ngay, càng nhanh càng tốt.
- Rõ.
Sau buổi giao ban đó Trung tá Phạm Văn Các liền điện xuống Quân khu 3. Trực chỉ huy lúc đó là Đại tá Phó chính uỷ quân khu Vũ Đức Thái. Ông Thái liền hỏi lại ông Các:
- Sao lại có điện như thế. Trực ban Quân khu báo cáo các bến mấy hôm nay đều thông suốt cơ mà.
Ông Các liền hỏi:
- Vậy ở bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn hiện nay ai chỉ huy ?
Ông Thái liền hỏi trực ban, trực ban báo cáo là do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen chỉ huy. Ông Thái liền báo cáo cho ông Các.
- Cậu Nguyễn Đen nó trực tiếp chỉ huy ở đây đấy. Nguyễn Đen thì nó không bao giờ bị tắc đâu.
- Nguyễn Đen à ? nếu là thằng Đen thì đúng thế, nó chưa bị tắc bao giờ. Chắc có vấn đề gì đây. Để tôi xuống thẳng dưới đó xem sao .
Sau khi trao đổi với ông Vũ Đức Thái phó chính uỷ quân khu xong, Phạm Văn Các lên xe con đi ngay. Khoảng 30 phút sau ông Các có mặt tại chỉ huy  sở Quân khu 3. Đại tá Vũ Đức Thái ra tiếp ở ngay tác chiến thất. Ông Các hỏi lại trực ban và xem sổ giao ban xem tình hình địch mấy hôm nay ra sao ? “Địch có đánh vào bến một vài lần, nhưng không thiệt hại gì nhiều. Cầu vẫn vững, phà vẫn thông. Tình hình mưa lũ không có gì”. Ông Vũ Đức Thái nói với ông Các:
- Tay Nguyễn Đen này thì bọn mình tin tưởng nó lắm, chưa bao giờ nó bị tắc cầu phà đâu.
- Tôi cũng nghĩ như thế. Ông Các nói – chắc hẳn anh còn nhớ trận ngày 19.5.1967 ở Non Nước không ? hành quân và bảo đảm cầu phà ban ngày dưới bom đạn mà nó vẫn còn làm được cơ mà.
Ông Các nhớ lại, hồi đó ông là trưởng phòng tác chiến quân khu. Hôm đó, nhận được tin tình báo, bọn giặc Mỹ quyết đánh phá nhà máy điện Ninh Bình trong ngày hôm đó. Tin đó mãi 8h sáng mới đến quân khu. Thiếu tướng tư lệnh Hoàng Sâm liền cùng trưởng phòng tác chiến kiểm tra lại lực lượng phòng không, thấy còn mỏng, ông quyết tâm điều ngay một tiểu đoàn cao xạ ở phía Nam Định, xuống sát Ninh Bình để đánh địch, bảo vệ nhà máy điện. Đồng thời lệnh cho tiểu đoàn 27 nhanh chóng bảo đảm cầu phà qua bến Non nước chậm nhất 11h30’ trưa tiểu đoàn pháo phải chiếm lĩnh trận địa xong, sẵn sàng đánh địch. Nhận được lệnh tiểu đoàn 27 liền điều đại đội hai cầu phà do Nguyễn Văn Chỉnh làm đại đội trưởng và Lê Thụ làm chính trị viên. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen, đại đội hai đã nhanh chóng hành quân cấp tốc, với 50 xe cầu phà nguỵ trang kỹ đã kéo đi theo đường số một qua thị xã Phủ Lý và thành phố Nam Định đang bị địch đánh phá. Có xe phải lao qua lửa, bị bốc cháy, anh em đã bình tĩnh dừng lại dập lửa cứu xe, xong lại hành quân ngay. Vào lúc 10 giờ đã đến bến, Nguyễn Đen kịp thời tổ chức ghép phà, đưa pháo qua sông ngay.
Tiểu đoàn pháo đã qua sông được một nửa thì máy bay giặc Mỹ đến đánh thị xã Ninh Bình. Các chiến sĩ công binh và cao xạ vẫn bình tĩnh qua sông. Đại đội cao xạ cuối cùng qua sông đã không kịp vào trận địa mà được lệnh triển khai ngay trận địa trên đường để đánh địch, kịp phối hợp với các đơn vị pháo và không quân ta lúc đó.
Vào lúc 11 giờ tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đã trực tiếp điện thoại với thiếu tướng Hoàng Sâm:
- Báo cáo tư lệnh, tiểu đoàn 27 đã hoàn thành nhiệm vụ, bộ đội cao xạ đang đánh địch ngay trên đường. A ! một máy bay đang bị bốc cháy rồi...
- Hoan hô tiểu đoàn 27 – cảm ơn các đồng chí ! – Tư lệnh vui sướng nói.
Ông Các còn nhớ trận ấy tiểu đoàn 27 thiệt hại một xe bị cháy và hai chiến sĩ bị thương nhưng tinh thần vẫn vững, cầu phà vẫn an toàn.
- Vậy mà lần này tại sao cầu phà lại tắc ? Ông Các thốt lên, rồi ra xe lao đi ngay, vượt gần 200km đến bến Cẩm Thuỷ. Lúc đó vào khoảng năm giờ chiều, ông Các dừng lại, mở cửa xuống xe, bến phà đang nhộn nhịp hàng đoàn xe tăng nối đuôi nhau qua phà. Bầu trời yên tĩnh, trên một mô đất phía bờ Bắc, một số lính lái xe tăng đang quây xúm lại nghe tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen đánh đàn ghi ta, bộ mặt rất thản nhiên và bình tĩnh.
Trung tá Phạm Văn Các liền chạy lại phía Nguyễn Đen, Nguyễn Đen nhận ra người quen, vội đứng lên:
- Chào thủ trưởng Các, thủ trưởng khoẻ chứ, thủ trưởng đi đâu vậy ?
Ông Các liền cười và nói to:
- Trời, thằng Đen, mày vẫn thản nhiên nhỉ. Còn chơi đàn cơ à?
- Vâng, vẫn bình tĩnh có làm sao đâu. Đời lính mà anh, lúc nào cũng vui tươi chứ ạ !
Ông Các lúc này mới dịu mặt xuống và cười ha hả:
- Thế mà đứa nào nó lại điện lên Bộ là bến phà bị tắc, xe tăng không vượt sông được, thế có chết không chứ, làm tao phải xuống đây xem sao.
- Báo cáo thủ trưởng đêm qua, anh em chờ suốt cả đêm mà chẳng có xe tăng nào qua được. Suốt cả tuần nay, lúc nào cũng thông cả.
- Sao lại có điện là cầu phà tắc ?
- Ai điện thế ạ ?
- Trung đoàn 203.
- Hả, Trung đoàn 203 ? Vậy thì có chính uỷ trung đoàn 203 ở đây. Đề nghị anh hỏi lại xem.
Nguyễn Đen liền gọi một cán bộ đi tìm anh Bách đang nghỉ ở đâu quanh đây. Một lát sau thiếu tá Bách đến. Nguyễn Đen giới thiệu Bách với ông Các. Ông Các liền quắc mắt lên nhìn ông Bách:
- Ai điện về Bộ là phà bị tắc, có phải anh không ?
Ông Bách lúng túng rồi ấp úng:
- Báo cáo tôi điện ạ, nhưng tôi chỉ điện là trời mưa, đường bị tắc, đơn vị không hành quân được thôi ạ !
- Chết cha người ta chưa, anh nói như thế thì trực ban nó hiểu là cầu phà bị tắc là phải rồi.
Ông Bách thành thật nói:
- Báo cáo anh, là trời mưa, đường lầy lội, lái xe yếu, có một chiếc xe đi đầu bị sập cầu gỗ ở chân đèo cách đây 20km không lên được. Anh em phải co kéo nhau mà vẫn không lên được vì đường hẹp quá. May có anh Nguyễn Đen sốt ruột đi tìm xe tăng đến thấy vậy, liền về điều xe húc lên húc đường và kéo giúp xe lên mới được đấy.
- Vâng thưa tình hình như thế ạ.
- Thế mà anh còn đổ vấy cho người ta là bến phà bị tắc.
- Không dám thế đâu ạ. Ông Bách đấu dịu. Vâng, xin lỗi thủ trưởng Các, xin lỗi anh Đen, cảm ơn các anh em công binh nhiều.
 
CHƯƠNG VIII
CON TỐT SANG SÔNG
   


Mặt đường lầy lội, bề bộn đất đá. Những chiếc xe tăng gầm gừ nặng nhọc xẻ bùn, rẽ những bánh xích nối tiếp nhau tiến về Mục Sơn. Gần tới phố Cống, chiếc xe con của công binh phải dừng lại vì có mấy chiếc xe tăng chắn mất đường đi. Tham mưu trưởng tiểu đoàn công binh 27 Ngô Doãn Hanh xuống xe. Thì ra có một chiếc xe tăng bị rệ, nó đang còn nằm dưới hố lầy, mặc dù có hai chiếc khác nhau đang hết sức kéo. Hanh lại gần, chia sẻ nỗi lo lắng sốt ruột cùng anh em xe tăng.
    - Đường đất xấu quá, anh ạ: - Một người phàn nàn. Đó là một người đã đứng tuổi, mặc bộ quần áo bê bết bùn đất, mặt đen sạm, râu tóc tua tủa. Hai mắt anh trũng sâu dưới hàng lông mày rậm rì đen kịt. Bỗng nhiên người đó nhìn chằm chằm vào đôi quân hàm trên ve áo Hanh rồi mừng rỡ:
    - Này, đồng chí có phải là cán bộ công binh ở bến Mục Sơn không ?
    - Vâng.
    - Chà ! Thế thì hay quá ! Anh chịu khó chờ tôi một lúc nhé. Thủ trưởng tôi đang muốn gặp các anh đấy !
Nói rồi người ấy chạy vụt đi. Hanh hỏi mấy anh lái xe tăng mới biết anh ta là trợ lý tam mưu trung đoàn. Một lúc sau anh trợ lý tham mưu trở về, cùng đi có một người đã cao tuổi, dáng mảnh dẻ, nước da sáng, chân tay cũng đầy bùn đất đeo quân hàm thiếu tá. Gặp Hanh tự giới thiệu tên là Bách, chính uỷ của đoàn xe tăng. Trên gương mặt xương xương của anh không giấu được vẻ lo âu. Anh cho Hanh biết, đơn vị anh đã vượt qua bến Cẩm Thuỷ đang trên đường hành quân chiến đấu gấp. Mấy hôm nay mưa dữ, đường đất tồi quá. Anh em lái xe phần lớn lại mới ra trường, xe bị sa lầy luôn nên phải kéo nhau liên tục. Đáng lẽ ra tiểu đoàn này phải vượt bến Mục Sơn ở phía trước mặt đơn vị Hanh từ đêm qua mà nay vẫn ì ạch ở đây. Tiểu đoàn thứ hai của trung đoàn đã đuổi tới nơi, thành ra hai tiểu đoàn cùng đọng lại ở đoạn đường này. Chính uỷ đang đi với tiểu đoàn 3 sau cùng, phải tức tốc lên đây. Anh đề nghị công binh gắng giúp làm sao cho tiểu đoàn này vượt được bến Mục Sơn ngay đêm nay. Chính uỷ cũng hứa sẽ cố đốc thúc cho xe tới bến vào lúc 17 giờ. Anh nhắc đi nhắc lại: “May quá ! Tôi đang định tới bến Mục Sơn, để gặp các đồng chí công binh thì lại gặp anh ở đây”.
    Ngô Doãn Hanh không khỏi thấy thương thương đồng chí chính uỷ và cảm động trước thái độ khẩn khoản của anh, Hanh liền hiệp đồng kế hoạch với xe tăng ngay “tại trận”. Chính uỷ mừng quá, cho lệnh hai chiếc xe tăng lánh tạm sang bên đường, nhường chiếc xe con của công binh vượt lên trước…
    Tiểu đoàn công binh cầu phà 27, đang phụ trách một đoạn đường quan trọng. Phía trước họ là một con sông không lớn nhưng hễ mưa là trở nên rất hung dữ. Tiểu đoàn đã tổ chức thêm hai bến vượt để cho bộ đội và xe tăng, pháo đêm đêm di chuyển được nhanh gọn. Bến Cẩm Thuỷ do C1 – một đại đội mạnh giữ. Bến Mục Sơn do C5 – một đại đội luôn luôn “đội sổ” của tiểu đoàn – phụ trách. Đây chính là bến Mục Sơn mà đoàn xe tăng đang ùn ùn kéo tới và tham mưu trưởng Hanh cũng đang cấp bách tìm đến nơi đó để gặp C5. Đêm trước, bọn Mỹ đánh phá ác liệt xuống bến chính. Cấp trên đã quyết định cho cả một trung đoàn xe tăng chuyển hướng, vượt qua bến phụ tức là bến Mục Sơn. Một cuộc thảo luận khá sôi nổi đã diễn ra ở sở chỉ huy tiểu đoàn công binh. Có người đề nghị đưa C1 – con “chủ bài” của tiểu đoàn tới bến Mục Sơn thay cho C5. Nhưng từ lâu, tiểu đoàn này đã có một sự chuyển biến về nhận thức quan điểm trong việc xây dựng và sử dụng lực lượng của mình. Giá như trước đây, tiểu đoàn đã chấp nhận phương án tung C1 – con “chủ bài” tới bến Mục Sơn ngay. Nhưng như vậy thật quá dễ dàng và nhàn nhã, để rồi sau đó lại được dịp báo cáo lên cấp trên. “Chúng tôi đã có dự kiến, dành sẵn một lực lượng mạnh để tung vào lúc cần thiết nhất…” Như vậy cũng có nghĩa là tiểu đoàn đã lãnh đạo tốt,  tiểu đoàn đã chỉ huy giỏi và đủ trăm thứ tốt, thứ giỏi khác nữa. Trong khi đó, C5 vốn yếu kém vẫn hoàn yếu kém. Và mọi tư tưởng ỷ lại, hữu khuynh của nó vốn có sẽ mãi mãi tồn tại. Ban chỉ huy tiểu đoàn không muốn C5 cứ phải đội sổ mãi. Bởi vậy sau khi thảo luận. Đảng uỷ quyết định quyết tâm dùng C5 bến Mục Sơn, tạo mọi điều kiện cho nó, và hết sức động viên nó hoàn thành nhiệm vụ đêm nay để lấy đà cho nó vươn lên…
    Chấp hành quyết nghị ấy, tiểu đoàn trưởng ra lệnh điều một trung đội của C1 cấp tốc tới gần bến Mục Sơn chờ đấy làm đội dự bị cho C5 và  cử tham mưu trưởng xuống truyền đạt quyết tâm của Đảng uỷ, trực tiếp hợp lực cùng Ban chỉ huy C5 tổ chức việc đưa tăng vượt sông đêm nay…
    Vào một đêm cách đây không lâu, đầu mùa mưa lũ năm nay và cũng những ngày đầu chiến dịch chở xe tăng qua sông. Ngô Doãn Hanh được lệnh tiểu đoàn trưởng phân công đi kiểm tra đại đội 1 ở bến sông Mục Sơn. Trời tối, mưa to, đường trơn lầy lội, chiếc xe cóc nhỏ lội nước đã bị vỡ kính và rách bạt cứ phải đội mưa lao đi trong đêm tối. Đến ngầm phố Cống, thì nước lũ đang lên cao, đồng chí lái xe sợ không qua được ngầm cũng lại sợ không dám cho xe bơi qua sông, vì sợ trời tối, nước chảy xiết. Lao vào dòng chảy xiết có thể trôi xe nguy hiểm – Ngô Doãn Hanh cùng tặc lưỡi theo đề nghị của lái xe:
    - Ừ thì để sáng mai, ban ngày ban mặt hãy tìm cách sang cũng được - bây giờ cũng đã quá 12 giờ đêm rồi còn gì.
    Nói xong, hai thầy trò đánh xe rẽ vào bản ngủ. Đến sáng dậy, Hanh vội vàng cho xe ra bến, thì đã thấy chiếc xe con của tiểu đoàn trưởng nằm ở đấy không thấy lái xe, không thấy tiểu đoàn trưởng, chỉ thấy đồng chí liên lạc nằm ngủ trông xe. Hanh đánh thức liên lạc dậy:
    - Tiểu đoàn trưởng đâu ? Lái xe đâu ? Sao lại chỉ có một mình thế này ?
    Gọi mãi, cậu liên lạc mới dậy, vừa dụi mắt vừa trả lời:
    - Báo cáo tham mưu trưởng, anh Sự lái xe ốm ở nhà ạ. Chỉ có tiểu đoàn trưởng lái xe đi thôi ạ !
    - Thế tiểu đoàn trưởng đâu ?
    - Dạ, đã sang sông đêm qua rồi, từ lúc hai giờ sáng, thủ trưởng bảo em ở đây trông xe thôi.
    - Sao, bơi qua sông à ? Có chắc chắn là tiểu đoàn trưởng đã bơi sang sông được không ? Hay bị trôi mất rồi ?
    - Sang rồi ạ, bị trôi một đoạn xa lắm, nhưng em đã nghe thủ trưởng gọi, báo là đã sang bên kia rồi ạ ?
    Cả Hanh và cậu lái xe đều trố mắt nhìn nhau, và đều ân hận: Vậy mà mình, đi xe lội nước, thì lại chịu nằm đây, phải chăng mình đã ngại  khó, ngại khổ ?
    Hanh và lái xe, liền tìm cách qua sông. Họ phải loay hoay mãi mới vượt qua dòng nước lũ. Anh giục lái xe tăng tốc độ nhanh để tới bến - Đến nơi anh mới rõ chuyện: Thì ra tiểu đoàn trưởng đã bơi qua sông và đi bộ hơn một chục cây số để đến bến, trong khi đại đội 1 đang loay hoay ghép phà, nhưng chưa dám chở xe tăng qua dòng nước lũ, một số đã bàn nghỉ, chờ nước rút mới chở. Nhưng tiểu đoàn trưởng đã đến kịp thời, phổ biến, hướng dẫn cách ghép phà và trực tiếp chỉ huy chuyến phà chở tăng đầu tiên vượt dòng nước lũ đang chảy xiết ở sông Chu này. Khi cán bộ đại đội 1 đã chỉ huy chuyên chở được rồi, anh mới lấy một chiếc xe thuyền để quay về ngầm phố Cống. Đi đến giữa chừng, Ngô Doãn Hanh mới gặp tiểu đoàn trưởng quay về. Hanh rất ngượng ngùng, không biết nói thế nào. Anh chưa kịp báo cáo lý do thì tiểu đoàn trưởng đã nói:
    - Tôi biết ngay là đại đội 1 gặp khó khăn, chưa có kinh nghiệm nên phải vội đến ngay – Thôi, bây giờ đã tạm ổn rồi, tôi đã lệnh cho nó chở cả ban ngày đấy. Anh đến theo dõi và giúp đỡ nó đi, chú ý cảnh giới máy bay.
    Nói xong, tiểu đoàn trưởng bắt tay Hanh rồi nhảy lên xe về ngay – Anh vội phải về bến Cổ Tế. Về sở chỉ huy, vì ở đấy là bến điểm đầu và bến trọng điểm nhất của tiểu đoàn. Tuy không bị tiểu đoàn trưởng trách mắng một câu nào cả, nhưng Ngô Doãn Hanh lại thấy đau đớn và ân hận day dứt.
    - Nếu tiểu đoàn trưởng không đến kịp thời thi có lẽ C1 phải bỏ cuộc để xe tăng ùn tắc lại một đêm thì gay go cho đội hình hành quân của đơn vị bạn biết bao - Ôi giá mà mình đến ngay từ đêm qua thì đâu đến nỗi.
    Từ đó, Hanh cứ ân hận mãi đến nay. Và hôm nay, anh nghĩ rằng mình sẽ không để xảy ra như vậy nữa. Tới Mục Sơn, Hanh sục ngay xuống bến để nắm tình hình sông nước. Chưa lần nào Hanh thấy nước sông lên to như thế. Nước lũ cuồn cuộn đổ về. Dòng sông mênh mông vắng ngắt không có bóng thuyền qua lại. Từng đợt sóng chồm lên như thách thức đe doạ. Chiếc phà của địa phương nép sát bên một gốc cây cổ thụ cạnh bờ, những cành lá nguỵ trang úa héo lưa thưa. Hai dây pu-ly cáp buông thõng vật vờ trên dòng sông. Sau khi lội xuống bến kiểm tra, Hanh phác qua kế hoạch rồi trở vào C5.
    Xung quanh nhà ban chỉ huy C5 cũng vắng lặng như cảnh bến sông. Chính trị viên đại đội Vũ Hồng Khâm đang ngồi xếp bằng tròn trên giường xem sách. Còn đại đội trưởng Phạm Văn Thám thì đang đánh cờ với trung đội trưởng Mẫn ở một góc nhà. Thấy Hanh đến, chính trị viên Khâm liền đứng lên:
    - Chào tham mưu trưởng !
    Thắm và Mẫn cùng quay lại – Mẫn nói:
    - A, may quá, tôi đang bí đây, thủ trưởng ạ ! Gỡ hộ nước này với !
    Cũng là tay rất mê cờ tướng, trong các cuộc thi đấu giải của tiểu đoàn, Hanh và đại đội trưởng Thắm thường là đối thủ của nhau, mới ngó qua, Hanh chưa kịp nhận ra hết nước. Đang bị nước chiếu mới, trung đội trưởng Mẫn vừa chệch tướng thì đội trưởng đẩy luôn tốt đầu qua sông. Hanh đùa:
    - Được, hay lắm ! Đẩy tiếp.
    Vừa lúc đó, chính trị viên Khâm đã pha chè, rót nước gọi:
    - Mời các anh nghỉ tay ra uống nước đã ! Tham mưu trưởng có việc gì gấp thế !
    Mẫn đang bí nên vội hưởng ứng ngay:
    - Đồng ý tạm dừng ở đây đã, mai lại tiếp.
    - Được, nhưng nhớ đấy, con tốt đã sang sông rồi nhá! Thám vẫn còn say, hăng hái giao hẹn.
    Hanh bảo Thám:
    - Thôi, nghỉ là phải, ngồi cả xuống đây. Có nhiệm vụ khẩn trương. Đêm nay một đoàn xe tăng sẽ qua đây !
    - Xe tăng à ? – Thám có vẻ ngạc nhiên và lo lắng hỏi – Hôm kia nước lũ chưa về, được tin có người đến hợp đồng mà sao không đến, làm chúng tôi mất bao công chờ đời. Từ hôm qua, nước lũ tràn về to lắm anh ạ. Liệu mình có đảm nhiệm được không ?
    - Mình vừa ra bến rồi ! Hanh nói – Sông nước hôm nay có khó khăn. Nhưng đơn vị bạn đang khẩn trương hành quân đi chiến đấu. Đêm nay, nếu không đưa được một tiểu đoàn sang thì ngày mai cả trung đoàn sẽ ùn lại với nhau. Vì vậy, bằng bất cứ giá nào, đêm nay ta cũng phải cho một tiểu đoàn của họ qua sông.
    Thám càng lộ vẻ lo lắng hơn:
    - Nhưng C5 chưa bao giờ đưa xe tăng vượt bến cả, anh cũng biết rồi đấy ! Cán bộ chúng tôi thi trình độ, khả năng còn yếu. Đang lúc nước sôi lửa bỏng, bờ bến lại phức tạp. Đêm tối, nhỡ để các ông ấy nhào xuống sông thì làm thế nào ?
    Ngô Doãn Hanh bèn phổ biến lại quyết tâm của tiểu đoàn về việc giao cho C5 đưa xe tăng qua sông đêm nay. Hanh cũng nói rõ: Đảng uỷ tiểu đoàn đã nhấn mạnh “Khó khăn thì cán bộ phải vắt óc ra, phải phát động quần chúng phát huy sáng kiến mà khắc phục. Anh em cán bộ, chiến sĩ của C5 không thiếu người có trình độ, không thiếu những nhân tố tích cực. Phải tìm ra biện pháp mà phát động lên biến nó thành sức mạnh của đơn vị !”
    - Báo cáo với đồng chí  - Thám ngồi im một lát rồi nói – Vâng chúng tôi sẽ cố gắng.
    Hanh gật đầu, bảo ngay:
    - Bây giờ các anh nên cho tập trung cán bộ các “bê” quán triệt quyết tâm của Đảng uỷ, rồi ta sẽ ra hẳn ngoài bến bàn cho cụ thể.
    Chính trị viên Khâm có vẻ phấn khởi hơn, hăng hái bắt tay ngay vào việc.
    Cuộc họp diễn ra rất khẩn trương. Nhiều vấn đề thảo luận rất gay gắt. Trung đội trưởng Mẫn hăng hái đưa ra được khá nhiều ý kiến sắc. Anh đã làm ngạc nhiên một số người từ trước tới nay vẫn lo sức nước, muốn chờ cho nước rút mới dám làm để đảm bảo an toàn. Tất cả chỉ có một vấn đề chưa nhất trí đúng như dự kiến của tiểu đoàn khi Hanh còn ở sở chỉ huy, là làm sao đưa được phà vào áp bến vì nước dâng lên cao nên bến đã thụt sâu vào lòng đường tạo thành cái eo nhỏ. Chiều ngang của phà với ca nô không nằm vừa cái eo nhỏ ấy. Cuộc họp tiếp tục bàn và phân tích nhưng mãi vẫn chưa tìm ra biện pháp nào hay cả. Đại đội trưởng Thám lại có vẻ thất vọng:
    - Thật là một vấn đề hóc búa quá đấy, anh ạ !
    Vừa lúc ấy, một người đã có tuổi, khoác áo tơi mưa loà xoà hớt hải bước tới. Thì ra bác Dần, trưởng bến phà Mục Sơn của hạt giao thông dân sự. Bác được tin công binh sẽ đưa xe tăng vượt sông đêm nay, bác cuống lên, vội đến xem thực hư ra sao. Theo ý bác đây là một việc làm rất mạo hiểm. Thế là việc bác tới không làm số cán bộ công binh vui hơn, mà thêm lo lắng. Hanh bèn nhắc lại một lần nữa quyết tâm của Đảng uỷ: Phải mạnh dạn tin tưởng vào trí tuệ của tập thể. Chỉ có bàn tiến không bàn lùi.
    Cuối cùng mọi người cùng nhất trí, để có thể đi tới một kế hoạch cụ thể, phải cử người xuống nghiên cứu lại con nước cho thật kỹ nữa. Trung đội trưởng Hạnh, một con người rất khiêm tốn, ít nói, nhưng cũng là một trung đội trưởng rất giàu kinh nghiệm sông nước trước đây, được mọi người đồng thanh cử đi cùng với hai cán bộ tiểu đội nữa, Hạnh đứng dậy, mặt nóng đỏ lên. Anh không giấu được cảm động và hồi hộp.
    Một lúc sau, anh trở lại, quần áo ướt đẫm, hai chân đầy bùn, gương mặt xanh tái đi vì lạnh. Nhưng thấy vẻ hớn hở của anh, mọi người đã mừng thầm. Hạnh đưa cho tham mưu trưởng một mảnh giấy đã có những đường nét phác hoạ được từ lúc nào, rồi phát biểu.
    - Theo chúng tôi, ta có thể cải tiến phà ba chân thành bốn chân. Hai chân ngoài vẫn để mỗi chân 3 khoang thuyền như cũ. Hai chân trong mỗi chân ta chỉ ghép hai khoang. Chiều ngang hai chân trong sẽ thu nhỏ lại. Như vậy sẽ vào vừa bến ! Mọi người đều rất chú ý, cùng xô vào để phân tích, Hanh gặng hỏi lại.
    - Theo phương pháp ấy có ánh hưởng gì đến trọng tải của phà không, các cậu phải bàn và tính toán cho kỹ xem !
    Hạnh lại nói một cách chắc chắn.
    - Không sao đâu anh ạ ! Chân trong cùng được tỳ lên mố phà cố định vẫn đảm bảo cho xe tăng trườn lên được. Hai chân ngoài vẫn như cũ. Xe tăng sẽ đỗ chính giữa chân thứ ba kể từ trong bờ. Như thế trọng tải vẫn như hệ phà ba thôi.
    - Đúng đấy ! Nhiều người cùng ồ lên mừng rỡ.
    - Được ! Ta cứ làm rồi thử xem ! Tham mưu trưởng Hanh nói.
    Mọi người xôn xao tán thành. Đại đội trưởng Thám cũng đứng phắt dậy, ôm choàng lấy Hạnh và Mẫn:
    - Hay quá ! Cái đầu các cậu thật là sáng suốt !
    Đến lúc ấy, bác Dần cũng cất tiếng cười ha hả và nói:
    Nếu các anh đã quyết tâm làm trong đêm nay thì cũng được thôi, nhưng phải hết sức cẩn thận. Năm ngoái, nước còn nhỏ hơn thế này mà chúng tôi cũng đã làm đổ một xe tải xuống sông đấy. Bây giờ chúng tôi gờm lắm. Nếu các anh làm, chúng tôi sẽ bổ sung cho một ca nô. Nó chẳng được tốt lắm, nhưng lúc cần thiết thì cũng được việc đấy, đồng ý không ?
    - Hay quá ! Cảm ơn bác ! – Thám càng phấn chấn hẳn lên – Chúng tôi sẽ dùng nó để dự phòng, khi cần cho đẩy ở phía sau, bác ạ !
    Cuộc họp kết thúc.
    C5 hôm ấy tác nghiệp phà với khí thế vô cùng sôi nổi. Niềm tin ở sức mình cộng với cái náo nức hăm hở vì lần đầu được chở xe tăng cỡ lớn đã đẩy lùi xa tất cả mọi nỗi lo âu. Hanh đang cùng anh em say sưa ghép phà thì anh Bách, Chính uỷ xe tăng cùng một số đồng chí lái xe hăm hở tới bến. Thấy Hanh ở dưới phà, anh chạy ngay xuống. Hanh dừng tay, hỏi:
    - Tăng tới chưa, anh ?
    - Sắp tới rồi anh ạ. Chỉ khoảng mười lăm phút thì mấy chiếc đầu có thể tới đây. Tôi cứ phải bám riết với nó suốt từ sáng đến giờ! Chật vật quá! Cứ sợ muộn giờ hợp đồng. Mấy giờ rồi, anh nhỉ ?
    Hanh móc túi lấy đồng hồ:
    - Chưa đến mười sáu giờ. Sớm được như thế càng tốt. Trời u ám thế này cũng thuận tiện cho ta.
    Một nụ cười thoáng hiện trên môi chính uỷ rồi lại vụt tắt. Anh đứng sững người ngắm dòng sông rồi nói:
    - Sông nước dữ tợn thế này, liệu phà có đảm bảo được không, các anh, Nhỡ ra một chiếc nằm lại đây thì ảnh hưởng đến kế hoạch, các anh ạ !
    - Anh cứ yên tâm, việc cần, ta cứ phải đi thôi !
    Thế rồi cả chính uỷ và mấy đồng chí lái xe cũng ùa xuống ghép phà với C5. Thấy các anh cũng hăm hở khênh ván lát phà. Thám cười bảo:
    - Các anh cứ lên nghỉ đi. Sắp xong cả rồi. Các anh chưa quen nhỡ xảy ra sứt chân, mẻ tay như chơi đấy !
    - Các anh cứ để mặc chúng tôi. Cũng phải học tập dễ tìm hiểu kỹ thuật ghép phà của các anh chứ !
    Vừa nói các anh vừa lăn vào mọi việc với lính công binh cho tới lúc con phà được ghép hoàn chỉnh.
    Thám báo cáo với Hanh xong, liền lệnh cho Hạnh đưa một chuyến phà sang sông thử. Hai chiếc ca nô từ từ rú máy gầm lên. Phà nhích dần ra khỏi bến. Hai dây pu-li cáp từ từ bon trên đường dây dẫn. Phà cập bến, ai nấy đều hết sức vui mừng.
    16 giờ 30 phút. Những chiếc xe tăng đầu tiên rầm rập tiến tới bến. Nhiều người đổ xô lại ngắm nghía, hết lời trầm trồ, bình phẩm. Chính uỷ xe tăng chạy lại chỗ Hanh.
    - Cho xuống ngay chứ anh !
    - Tranh thủ sớm chuyến nào hay chuyến ấy, anh ạ ! Anh bảo đồng chí lái chiếc xuống đầu tiên là phải hết sức thận trọng đấy nhé.
    Chiếc xe tăng ầm ầm nổ máy rồi từ từ bò lên phà. Thám giơ tay điều khiển xe tăng. Chiếc xe tăng đỗ khựng lại đúng giữa chân cầu thứ ba. Con phà nhoi ra ngoài bến.
    Một anh khác nói toáng lên, phá tan không khí lo lắng ấy:
    - Phà mà chìm thì Hà bá phải đòn. Báo trước thế !
    Tiếng cười rộn lên làm Hanh cũng vui lây. Dù sao Hanh cũng còn thấp thỏm. Vạn sự khởi đầu nan đấy. Rồi Thám lệnh cho phà rời bến. Nghe giọng nói và nhìn bước đi vội vàng, Hanh hiểu Thám cũng đang hồi hộp. Anh đến đứng gần Thám, bảo nhỏ:
    - Cứ bình tĩnh ! Bình tĩnh để mà vượt mọi khó khăn, Thám ạ.
    Phà nhích dần ra ngoài, rồi lừ lừ rẽ nước sang sông. Tới chỗ nước chảy xiết, phà giảm dần tốc độ rồi như dừng lại. Những mũi phà trên thượng lưu bị nước dập vào mạn, có lúc trào cả lòng phà, làm mấy người cuống lên.
    Hanh bàn với Thám:
    - Cho phà trôi xuống chừng dăm mét rồi cùng tăng tốc độ ca nô lao chếch sang trái. Nước xoáy đấy !
    Thám gật đầu. Và sau lệnh của anh, hai chiếc ca nô ngớt tiếng máy rồi lại gầm lên. Trên đầu nó, nước bắn tung toé. Phà dần dần cập bến. Anh em mố bờ nam cực kỳ sung sướng, reo lên:
    - Thắng lợi rồi !
    - Hà bá tiu nghỉu vì đớp hụt rồi !
    - Mình trên này cứ run bắn người lên ! – Một anh nào đó thành thực thốt lên.
    Tiếng cười nói râm ran. Hanh càng phấn chấn trong lòng.
    Gần hết một tiểu đoàn xe tăng lần lượt được vượt sông, chính uỷ xe tăng chạy đến nói với Hanh và Thám:
    - Các anh ạ, tiểu đoàn 2 chúng tôi cũng gần tới đây rồi. Các anh xem có thể cho cả tiểu đoàn 2 vượt sông trong đêm nay thì hay quá !
    Thấy Hanh và Thám im lặng, chính uỷ có vẻ thất vọng:
    - Hay là tôi cho tiểu đoàn 2 đi sơ tán vậy ? Kẻo sáng mai thì…
    Hanh và Thám cùng xem đồng hồ. Đã gần 12 giờ đêm. Từ trước đến nay C1 giữa kỷ lục cao nhất cũng chỉ mới đưa vượt sông được hơn một tiểu đoàn xe tăng trong một đêm. Trong hoàn cảnh đêm nay, cả C5 - đại đội “đội sổ” của tiểu đoàn… đưa được một tiểu đoàn qua sông chắc cũng đã đủ mệt rồi. Tuy nhiên, Hanh và Thám cùng với chính trị viên Khâm cứ hội ý bàn bạc xem sao.
    Phải nói rằng, thắng lợi của đơn vị đang làm cho Thám và Khâm rất phấn chấn. Niềm tìn ở trí tuệ và sức mạnh ở quần chúng giúp các anh có một cái nhìn rất khác trước đối với đơn vị mình. Hai anh cùng hăng hái xin nhận chở vượt mức thêm cả tiểu đoàn xe tăng thứ hai qua sông đêm nay. Nhưng dù sao, trong lúc các anh quá vui, quá hăng này, Hanh lại thấy cần tung lực lượng dự bị của tiểu đoàn ra và cho đến bây giờ Hanh mới nói rõ cho các anh biết là: Tiểu đoàn đã điều sẵn một trung đội của C1 tới đây rồi. Tất cả đều ngạc nhiên:
    - Vậy à ? Thế thì hay quá ! C5 đêm nay sẽ quyết trở thành một C5 mới ! – Cả Thám và Khâm đều hào hứng rồi như reo lên.
    Chỉ một lúc sau, trung đội của C1 đã có mặt ở bến. Và Thám cũng cho người sử dụng cả chiếc ca nô của bác Dần. Thế là ba chiếc ca nô kết hợp đã đưa tốc độ phà lên nhanh dần, từ 20 phút một chuyến, anh em đã hạ xuống 13 phút. Đại đội trưởng Thám càng thêm thành thạo với công việc chỉ huy, con phà hối hả sang sông.
    Bỗng có tiếng kẻng báo động phát ra từ đồi lim dội tới.  Tiếng động cơ máy bay ì ầm rồi đổ về phía bến sông. Những chùm pháo tung ra trắng loá trên đầu. Bến sông đã hiện nguyên hình giữa tầm pháo sáng. Đứng trên bờ, Hanh và chính uỷ xe tăng đều cùng lo cho chuyến phà đang sang sông. Tiếng súng đại liên trên trận địa của C5 đã nổ ran lên. Các trận địa phòng không gần đây cũng thi nhau nhả đạn. Những luồng đạn đỏ rực, vun vút lao lên, đan thành lưới lửa trên bầu trời. Nhìn lên phà, bóng Thám lúc ẩn lúc hiện. Tiếng anh hô vang:
    - Tất cả bình tĩnh… ca nô tăng tốc độ lên !... lao chếch sang trái !.
    Tiếng máy bay gầm rú điên loạn trên bầu trời. Phà vừa vào gần bờ thì mấy chiếc máy bay bổ nhào xuống cắt bom. Tiếng bom nổ ầm ầm làm rung chuyển cả mặt đất. Những cột nước tung lên trắng xoá ở phía hạ lưu, những đợt sóng xô đẩy con phà như dấy lên rồi lại trằn xuống. Bóng Thám vẫn hiên ngang đứng trên phà chỉ huy, đưa tăng vào bến.
    Sau loạt bom, bọn máy bay địch cút hẳn. Mọi người cùng thở phào mừng rỡ, Hanh rất hài lòng. Mới có một đêm mà xem ra năng lực của Thám đã tăng lên rõ rệt. Thám lại lệnh cho tăng xuống phà…
    Trời sáng dần. Mọi việc lại được tiến hành hết sức khẩn trương. Tiếng máy, tiếng cười vẫn rộn ràng trên bến, dưới sông…
                        *     *
                                                                       
    Chiếc xe tăng cuối cùng của tiểu đoàn tăng thứ hai đã được sang sông. Chính uỷ xe tăng vui mừng lần lượt nắm chặt tay Thám, Khâm, Mẫn và Hanh cảm ơn mãi. Hanh cũng hết sức sung sướng: Thật không sao ngờ nổi C5, đại đội “đội sổ” của tiểu đoàn 27, không những đã đưa được một tiểu đoàn mà cả hai tiểu đoàn tăng qua sông. Đây là một kỷ lục chưa từng có trong một đêm của lính công binh cầu phà.
    Đại đội trưởng Thám sau một đêm thức trắng, đã mệt lử nhưng nụ cười rạng rỡ vẫn không tắt trên môi anh. Lúc mọi việc đã xong, trung đội trưởng Mẫn lại sực nhớ đến ván cờ chiều hôm qua, anh cay cú gọi Thám:
    - Này, anh Thám! Tý nữa về ta làm nốt ván cờ rồi hãy nghỉ nhé !
    Thám cười vang nháy mắt:
    - A, được ! sẵn sàng ! Nhưng nhớ đấy, con tốt của tôi đã sang sông rồi đấy !
    Một chiến sĩ  gần đó nghe vậy, liền nhìn các cán bộ và cất giọng oang oang:
    - Vâng ! Khi tốt đã sang sông thì chỉ có tiến nhập cung thôi đấy, các thủ trưởng nhỉ ?
    Phải chăng anh chiến sĩ nọ có ý định nói bóng về những chiếc xe tăng hùng mạnh của chúng ta đã vượt sông trót lọt suốt đêm qua không ?
Đại đội trưởng Thám và chính trị viên Khâm thì lại nghĩ rằng đại đội 5 của mình đã sang sông – và Ngô Doãn Hanh cũng nghĩ rằng chính anh cũng đã sang sông.

                    *        *
                                                                  *
AI TỐ GIÁC VẬY ?

Ngày hôm sau, Nguyễn Đen trở về Cổ Tế. Đại đội Trần Đằng tặng anh một mớ khoai lang.
Về tới nơi, thấy trong sở chỉ huy có đông người, Đen biết ngay là có khách.
Một đồng chí trung tá đã có tuổi, hom hem, và một thiếu tá có cặp mắt sắc lạnh, bộ mặt lầm lì cùng với một đại uý hơi rụt rè và có vẻ miễn cưỡng trong tất cả mọi công việc, kể cả trong thái độ giao tiếp với Nguyễn Đen. Đoàn Liễu, chính trị viên Trần Huy Tiệm cũng có mặt ở đó.
Tiệm, vẻ mặt rầu rĩ và đầy lo lắng, lễ phép khẽ giới thiệu khách với Nguyễn Đen :
- Đây là đoàn kiểm tra của quân khu…
Nguyễn Đen chưa hiểu chuyện gì, hỏi lại:
- Các đồng chí kiểm tra chúng tôi?
- Vâng!
- Nội dung gì vậy?
Đồng chí trung tá nhỏ nhẹ, thận trọng:
- Giấy tờ, các đồng chí Tiệm và Liễu đã xem cả, xin báo cáo tóm tắt cho đồng chí Đen rõ: Quân khu có chỉ thị cho chúng tôi… Số là quân khu có nhận được đơn tố giác đơn vị các đồng chí có nhiều vấn đề… không đúng trong tài chính…
Bây giờ Nguyễn Đen mới hiểu được phần nào nhưng anh vẫn chưa thật rõ:
- Ai tố giác vậy, đồng chí?
Đồng chí trung tá cười nhã nhặn:
- Xin lỗi đồng chí, chúng tôi không được phép nói điều này, chúng tôi chỉ có nhiệm vụ kiểm tra.
Nguyễn Đen thở dài. Anh quay lại phía Đoàn Liễu. Vị tiểu đoàn phó này đang hết sức chăm chú nhìn Đen. Không rõ anh ta đang lo lắng cho Đen, cho đơn vị, hay là anh ta đang chờ xem Đen có những phản ứng hoặc đối phó ra sao. Chỉ riêng Trần Huy Tiệm vẫn buồn rười rượi, cố lên tiếng với khách:
- Mời các đồng chí xơi nước! Vâng, thôi thì đã là nhiệm vụ quân khu giao, các đồng chí cứ tiến hành, chúng tôi biết nói sao? Nhưng cũng phải thú thật: chúng tôi hoàn toàn không ngờ lại có chuyện thư từ, tố tụng này. mà cũng không rõ ở đâu ra? Thật đáng tiếc, tiểu đoàn chúng tôi đang “ăn nên làm ra”, đang phải gánh vác nhiệm vụ hết sức nặng nề, mọi người đều đang quên mình mà chiến đấu…
Nguyễn Đen thoắt khoát tay như muốn cắt lời Trần Huy Tiệm. Anh hiểu: Người chính trị viên này đang buồn bã lo phiền thực sự. Tuy năng lực yếu, văn hoá có kém, nhưng quả thật đây là một con người trung thực, và hết lòng vì đơn vị, vì anh em, một con người mà ai ai cũng có thể tin cậy, và yêu mến. Nhưng mặt khác, đây cũng là một con người nhu nhược, hữu khuynh, một con người chỉ tốt chung chung mà ít sắc sảo, được việc, một con người rất sợ cấp trên nữa. Chính vì thế, Đen không muốn Trần Huy Tiệm cứ phải trình bày, than thở với đoàn kiểm tra nhiều. Anh nói không một chút run sợ, cũng không một chút buồn bã:
- Nhân danh tiểu đoàn trưởng, tôi báo cáo với các đồng chí: chúng tôi hoàn toàn chấp hành lệnh kiểm tra và hoàn toàn tạo điều kiện để các đồng chí làm việc.
Đồng chí trung tá có vẻ hài lòng với thái độ của Đen. Nhưng sau đó, nghĩ kỹ thêm một chút, Đen nói tiếp:
- Tôi cũng xin thẳng thắn hỏi đoàn cho rõ: Tôi có được tiếp tục chỉ huy tiểu đoàn không? Hay tạm thời nghỉ để chờ đợi kết luận việc kiểm tra đã?
Đồng chí trung tá mỉm cười lắc đầu
- Không ạ. Đồng chí cứ tiếp tục làm việc!
Rồi dường như muốn Nguyễn Đen yên tâm hơn, ông nói tiếp:
Đồng chí Nhiệm, tư lệnh phó quân khu đã có chỉ thị cho chúng tôi: Công việc kiểm tra phải tiến hành vì đó là sự nghiêm minh của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng tiến hành kiểm tra không được để ảnh hưởng tới việc tác chiến của các đồng chí  cũng như của quân khu. Đồng chí Nhiệm còn dặn kỹ: Phải nói rõ để các đồng chí ở tiểu đoàn hiểu, nếu có kiểm tra thì cũng chỉ là để làm tốt cho tiểu đoàn. Để xây, chứ hoàn toàn không phải để phá!
Lòng Đen dần dần dịu lại. Ông trung tá rít một mồi thuốc lào xong lại nói, nhưng lần này dường như ông muốn nói không phải với tư cách đoàn trưởng đoàn kiểm tra, mà với tấm lòng một người đã từng biết tiếng về Nguyễn Đen từ lâu:
- Anh Đen ạ, chẳng qua vì có giấy người ta thưa kiện thì phải làm, chứ có ai lại giữa lúc các anh đang đổ máu ra thế, lại đi xét xử, bới móc cái này, cái nọ. Các anh cứ yên tâm. Anh Nhiệm, tôi xem ra rất nghiêm nhưng lại là một đồng chí rất nhân nghĩa và hiểu biết sâu rộng đấy!..

TRÁNH VỎ DƯA GẶP VỎ DỪA

Trong cuộc họp hiệp đồng ở hang đá Chi Nê ngày 22-8, trung tá Phạm Quang Phát trung đoàn trưởng trung đoàn 49 công binh của Bộ, tính toán kén chọn mãi giữa 2 bến Cổ Tế và Kiểu. Bến Cổ Tế thì hẹp, bình thường chỉ dưới 100m nước, nhưng lại là điểm đầu mút ngã ba đường, tính chất ác liệt bởi bom đạn sẽ nguy hiểm hơn. Còn Bến Kiểu thì rộng hơn thường khoảng 150m nước, nhưng lại là bến ở giữa nên tính chất ác liệt sẽ ít hơn, an toàn hơn.
Thượng tá Nguyễn Đoan phó tư lệnh công binh gợi ý:
Thế nào ? 49 đảm nhận Cổ Tế nhé. Giảm nhẹ khí tài bắc cầu hơn. Trung tá Phạm Quang Phát bỗng giẫy nảy lên:
- Báo cáo quân lính tôi chưa quen bom đạn lắm, sợ không gánh vác nổi. Xin nhận bến khác ạ.
- Ý kiến 27 sao ? ông quay sang hỏi Nguyễn Đen.
Nguyễn Đen liền trả lời:
- Trung đoàn 49 của Bộ, đảm bảo những bến nào, còn bến nào 27 xin sẵn sàng nhận cả. Nhưng chúng tôi chỉ có 1 bộ cầu LPP loại nhẹ, đề nghị Bộ chi viện thêm khí tài.
Rồi sau một lúc bàn đi bàn lại trong cuộc họp, cuối cùng thượng tá Đoan kết luận:
- “Giao cho 49 bảo đảm bắc cầu ở bến Kiểu và sẵn sàng chi viện bến Thiệu Hóa của Ty giao thông Thanh Hoá” trên cùng tuyến đó. Còn lại 27 sẽ được bổ sung thêm khí tài TPP tổ chức thêm 2 đại đội và bảo đảm cả 5 bến còn lại trên 2 tuyến đường 56 và đường 15 trong đó có bến Cổ Tế là đầu mút ngã ba đường...” Nhưng thói đời là thế, tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa.
Trung đoàn 49 bắc cầu ở bến Kiểu, mấy ngày đầu được yên ổn. Bọn máy bay giặc Mỹ chỉ tập trung vào đánh phá bến đầu mút nhiều hơn các bến khác, bến Kiểu ít bị bom đạn nên được an toàn hơn.
Nhưng một tình huống khác bất ngờ xảy ra, đó là mưa lũ, nước đầu nguồn sông Mã đổ về, đột ngột dâng cao chảy xiết. Do chủ quan, thường trực chỉ huy không thường xuyên và thiếu kinh nghiệm, cứ để cầu dăng mãi, không chịu đựng nổi nước lũ dâng cao nên bị đứt cầu, nhiều đoạn các phao cầu bị cuốn đi. Phải tung hết cả 8 ca nô ra vớt cầu mà không xuể, nửa chừng lại bị hỏng 2 ca nô vì chạy nhiều quá và bị lật 1 ca nô. Trung đoàn trưởng Phát vội vàng điện cho 27 xin chi viên ca nô gấp.
Trong khi đó ở bến Cẩm Thuỷ trên thượng lưu sông Mã, cách đó gần 70km, đại đội 3 tiểu đoàn 27 đã bảo đảm trực chỉ huy, theo dõi nước lũ, chiều ngang bến hồi đêm là 120m, đến sáng tăng lên 140m, 160m. Đại đội trưởng Trần Đằng đã kịp thời cho dỡ cầu và kéo mố lên, các khoang thuyền đã được ghìm dọc theo bờ vững chắc, các khí tài kịp thời bốc lên bờ, bảo đảm an toàn.
Tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh trực chỉ huy nhận được điện của trung đoàn 49 xin chi viện ca nô, thì chần chừ vì còn lo nhiệm vụ bắc cầu của mình tối nay, nhưng tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen lại nói:
- “Thương người như thể thương thân”, đơn vị bạn đang gặp khó khăn hơn mình, ta phải chi viện, bảo đảm nhiệm vụ chung của toàn chiến dịch”.
Chấp hành ý kiến của Nguyễn Đen, Ngô Doãn Hanh lệnh cho Trần Đằng đưa ngay 2 ca nô của Tuyển và Phích là những tay lái dày dạn có nhiều kinh nghiệm, nhanh chóng xuôi dòng sông Mã về bến Kiểu chi viện trung đoàn 49.
- Vậy tối nay chúng tôi chỉ còn một ca nô thì làm sao được, nước lũ to lắm - Trần Đằng kêu lên.
- Yên trí –Nguyễn Đen nói: Tôi sẽ điều một ca nô của C4 tăng cường cho anh, được chưa?
- Vâng thế thì được, Trần Đằng trả lời. Rồi vội vàng buông máy điện thoại, chạy lao ra bến để điều ca nô đi ngay.
Hai chiến sĩ lái ca nô  Tuyển và Phích vội vàng chuẩn bị tiếp đầy đủ xăng dầu, trên mỗi ca nô còn mang theo một phuy xăng 200 lít nữa. Các anh không kịp ăn cơm, chỉ kịp mang theo một chiếc bánh mì và một túi khoai lang luộc của cô chủ nhà xinh đẹp ở Cẩm Thuỷ đưa cho. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ sau, các anh xuôi dòng nước lũ lao về bến Kiểu gặp chỉ huy Trung đoàn 49 ở ngay bến đã đón sẵn và giao nhiệm vụ, mỗi ca nô chở một tổ chiến sĩ cùng đi tìm kéo các khoang thuyền bị trôi về bến, có khoang bị trôi xa hàng chục cây số, phải kéo ngược dòng nước lũ rất vất vả.
- Toàn những tay lái cừ khôi, tiểu đoàn 27 có khác. Cán bộ và chiến sĩ trung đoàn 49 đã thốt lên như vậy.
Với tinh thần chiến đấu không mệt mỏi của cán bộ chiến sĩ trung đoàn 49 lại được ca nô của 27 chi viện kịp thời. Suốt một ngày đêm vật lộn với sông nước, Trung đoàn 49 đã thu gom đủ khí tài để ghép phà chở xe pháo qua sông ngay trong đêm. Hai ngày sau khi nước lũ rút xuống, mới đủ khí tài bắc cầu. Phạm Quang Phát biểu dương và cảm ơn chiến sĩ lái ca nô Phích và Tuyển, báo các đồng chí lên bờ nghỉ ngơi vài tiếng cho lại sức đã rồi hãy về, nhưng Tuyển và Phích đều bảo:
- Báo cáo thủ trưởng, chúng em xin phép về ngay đơn vị đêm nay còn kịp bắc cầu.

BẢN TIẾN ĐỘ HỘI THAO
Đoàn Liễu là tiểu đoàn phó, mấy hôm liền loay hoay mãi với kế hoạch tổ chức hội thao. Càng lúng túng, bực mình, anh càng uống nhiều rượu. Nhưng cũng vì vậy anh càng nhức đầu, càng phờ phạc. Anh giận và rất bực Nguyễn Đen. Trong lúc tác chiến căng thẳng thế này mà con bày ra hội thao! Hội thao? Huấn luyện kết hợp với chiến đấu thì được. Nhưng hội thao thì làm sao nổi? Chuỵên đó là chuyện của thời bình hoặc ít ra cũng là lúc mà tiểu đoàn  không có nhiệm vụ tác chiến , chỉ chuyên huấn luyện. Vậy mà chính trị viên Tiệm “ông già Khốt-ta-bít” ấy cùng với bọn Ngô Doãn Hanh, Nguyễn Đức Thắng, Hoàng Anh Tự, Trần Đằng… trong đảng uỷ tiểu đoàn lại cứ đua nhau tán thành Nguyễn Đen. Hơn nữa cả bọn còn tâng anh ta lên là quyết tâm, là nhiệt tình… mặc dù là đơn vị đang “lâm nạn” (có nghĩa là đoàn kiểm tra tài chính vẫn còn đang tiếp tục kiểm tra sổ sách và tìm hiểu một số người trong đơn vị).
Đoàn Liễu cho rằng dứt khoát đây chỉ là một “cú” của Đen nhằm tỏ ra ta đây bình tĩnh, không vì bị kiểm tra, không cả vì tai tiếng đang lan rộng về chuyện quan hệ bất chính với cô Chinh, mà nao núng, nản lòng. Thằng này “trì” đây! Nó vẫn luôn có cách để chơi trội, làm nổi bật nó lên. Và rút cuộc là chỉ có mình là vất vả. Lão Cao Thành xuống hôm qua, đã mừng tưởng có mưu kế sâu gì hơn, nhưng vẫn chỉ có độc bài bản: “kiên trì” mà làm, “vững tâm” mà chờ đợi, “cậu sẽ thắng!”. Có vậy thôi!
Đoàn Liễu vẫn phải tiếp tục đánh vật với những biểu đồ, thống kê. Trong lúc đó Nguyễn Đen và Trần Huy Tiệm đi khắp tuyến để động viên, đôn đốc tổ chức hội thao. Đoàn Liễu cảm thấy đầu mình buốt nhói. Chỉ riêng năm khoa mục chính trên năm bến bãi là đủ hành hạ cái đầu rồi. Cụ thể là: Thi ghép phà T.P.P ở bến Mục Sơn, bắc cầu T.P.P ở bến Cẩm Thuỷ. Ghép phà L.P.P ở bến Cách, bắc cầu L.P.P ở Cổ Tế và bắc cầu hỗn hợp vật liệu tại chỗ ở bến Thiệu Hoá. Lại còn năm khoa mục binh chủng nữa chứ: Phá gỡ bom, làm đường quân sự, cầu quân sự, công sự trúc thành và làm bến vượt. Ngoài ra còn sáu khoa mục chung của bộ đội: Bắn súng bộ binh bài 2, lựu đạn, bộc phá, bơi lội và thể dục thể thao… Đấy là chưa kể các phân đội trinnh sát, thông tin, lặn, 12 ly 7, 14 ly 5, và cao xạ 37 ly. Tất cả đều phải tổ chức kiểm tra.
Riêng năm khoa mục hội thao , phải tính toán sao cho tất cả các đại đội đều tham gia được liên tục mà không để ảnh hưởng tới nhiệm vụ, đêm đêm vẫn phải bắc cầu qua các bến bãi đã quy định, bảo đảm giao thông thông suốt. Các bến bãi của tiểu đoàn  cách xa nhau từ 45 tới 80 ki-lô-mét. Đó là một bài toán vận trù học khá hóc búa.
Đã tới đêm thứ ba, giấy tờ cứ nát bét, bừa bộn rối tung. Tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh và mấy cậu trợ lý tham mưu trẻ vẫn chưa chịu những phương án kế hoạch của Đoàn Liễu đề ra. Giữa lúc đó Nguyễn Đen và Trần Huy Tiệm từ bến Mục Sơn trở về. Đen sà ngay vào chỗ Đoàn Liễu và Ngô Doãn Hanh đang làm việc. Nhìn vào đôi mắt gần như sưng húp và vẻ phờ phạc của Đoàn Liễu, anh có phần ái ngại.
- Thôi được, tôi sẽ tham gia với các anh.
Suốt đêm ấy, các trợ lý tham mưu thấy ngọn đèn bão có che ánh sáng để phòng máy bay trong căn hầm của Nguyễn Đen đã phải hai lần rót thêm dầu. Con người săn dẻo như dây chạc trìu ấy quả là có một sức làm việc ít người đuổi kịp. Cũng thời gian ấy và cũng số công việc ấy. Đoàn Liễu người càng cảm thấy chảy xệ ra bao nhiêu thì với Nguyễn Đen, người lại cứ sắt đi bấy nhiêu.
Sáng hôm sau Đen đưa cho Đoàn Liễu, Ngô Doãn Hanh và nhóm cán bộ tham mưu một bản nháp:
- Các anh xem thử. Có gì cần phải sửa đổi, các anh cứ sửa lại cho!
Nhóm cán bộ tham mưu cùng tham mưu trưởng Ngô Doãn Hanh và cả Đoàn Liễu cùng châu đầu lại, chăm chú xem và đọc. Đây là bản nháp tiến trình hội thao toàn tiểu đoàn nhưng được trình bày giống như một bản tiến độ thi công một công trình kỹ thuật vậy.
- Hay quá! Thật là khoa học! - Đào Văn Nhuận, một anh cán bộ tham mưu trẻ mừng rỡ thốt lên.
Đoàn Liễu cũng phải ngạc nhiên trước bản tiến trình hội thao này. Xem ra thật đơn giản, nhưng lại thật rõ ràng và hợp lý – “Có vậy mà tính toán mãi không ổn!” – Anh thầm thán phục Nguyễn Đen, nhưng đồng thời một cái gì đó như cay đắng lại âm ỉ, tê nhói trong lòng anh.
Mọi người hoan hỉ vây quanh lấy bản nháp với một toạ độ X-Y đơn giản. Trục tung chỉ bến và khoa mục, trục hoành chỉ thời gian. Nguyễn Đen đã dùng năm màu tượng trưng cho năm đơn vị. Thời gian hội thao được vẽ liền mạch và tô đậm, thời gian hành quân thì vẽ cách đoạn. Người xem có thể dễ dàng nhận ra từng đại đội với công việc và thời gian của họ. Đúng. Thật đơn giản! Có vậy mà sao nghĩ mãi không xong! Thì ra thằng cha này may mắn được học cũng có hơn thật…
Suốt buổi sáng, Nguyễn Đen làm việc tiếp với Đoàn Liễu, Ngô Doãn Hanh cùng nhóm cán bộ tham mưu của tiểu đoàn để tính toán, chỉnh lý và vẽ sơ đồ kế hoạch cho thật hoàn chỉnh hơn.
Qua hai ngày, đã tới kỳ hạn hội thao. Các đoàn “tuyển thủ” của các đại đội nối tiếp nhau kéo về Cổ Tế là bến được chọn làm nơi để mở màn hội thao toàn tiểu đoàn. Cũng không ngờ đang thời gian làm nhiệm vụ  lớn trong chiến dịch K2, công việc huấn luyện, hội thao dù thế nào cũng chỉ là nhiệm vụ thứ hai, vậy mà các đoàn “tuyển thủ” của các đơn vị vẫn tập họp lại đầy khí thế hết sức hứng khởi, hào hùng. Đoàn nào cũng mang theo cờ, biểu ngữ, ảnh Bác Hồ. Có đoàn còn đem cả một tổ văn nghệ xung kích “cây nhà lá vườn” để làm “cổ xuý viên” khích lệ tinh thần đội mình.
Cuộc hội thao bắc cầu L.P.P tại Cổ Tế đã diễn ra sôi nổi và không kém phần phức tạp. Đại đội ba do Nguyễn Đức Thắng chỉ huy, tuy đã quen bến, quen bãi và nắm chắc quy luật hoạt động của máy bay Mỹ trên bến quan trọng này, nhưng lại gặp tình huống mưa lũ đột ngột dồn về, và ngay lúc năm giờ chiều, máy bay địch đã phá hỏng một đầu bến. Toàn thể đoàn tuyển thủ đại đội ba đã phải trần mình ra khắc phục mọi thử thách thực sự khốc liệt ấy. Và cuối cùng trước con mắt thán phục của các đoàn bạn đoàn tuyển thủ của đại đội ba do Nguyễn Đức Thắng tung ra gồm những chiến sĩ giỏi và những cán bộ trung đội trẻ, xông xáo, lanh lợi nhất chỉ huy, đã hoàn thành bắc cầu đúng giờ quy định. Thêm nữa, trong suốt đêm ấy mặc dầu máy bay địch ném bom một lần nữa làm ba khoang cầu bị đứt, nhưng anh em vẫn kịp thời sửa chữa, bảo đảm đưa 920 xe vào và 850 xe ra, an toàn tuyệt đối.
Sang đêm sau, đến lượt đại đội một của thượng uý Hoàng Anh Tự từ bến Sĩ về. Đại đội này cũng đã trải qua một thử thách khá căng thẳng: Cách đây một tuần, theo yêu cầu của cơ quan tham mưu quân khu, tiểu đoàn đã trao cho đại đội một của Hoàng Anh Tự nhiệm vụ di phá bom nổ chậm ở một cửa sông lớn, nhằm giải phóng một đoàn sà lan và tàu biển chở hàng đặc biệt tiến vào nơi bốc dỡ. Hoàng Anh Tự nhận nhiệm vụ này và vẫn quyết tâm không chịu bỏ hội thao. Là một người trầm mặc, ít nói, hỗn danh là “Cục sắt”. Tự có một đặc tính: Đã làm gì thì làm cho đến thắng lợi mới thôi bất chấp mọi trở lực, mọi vật cản trước mặt, sau lưng, bên phải, bên trái mình. Do đó Hoàng Anh Tự đã ra sức tổ chức rà phá bom một cách hết sức tích cực, rút ngắn thời gian quy định, sau đó để lại một tiểu đội và một xe Bab lội nước để hộ tống đoàn sà lan, còn toàn đại đội tức tốc hành quân trở về, trong một đêm vượt 250 ki-lô-mét để kịp nhận khí tài và bến bãi của Nguyễn Đức Thắng bàn giao lại. Đêm nay, lũ có rút một chút, nhưng bến lại bị lầy lội, phải đổ không ít công sức khắc phục. Nhưng cũng giống như trường hợp  đại đội Nguyễn Đức Thắng, các chiến sĩ và cán bộ đại đội một do Hoàng Anh Tự dẫn đầu đã bắc cầu rất đúng thời hạn trước những cặp mắt đầy kinh ngạc của các vị giám sát.
Các đại đội khác hội thao vào đêm thứ ba và thứ tư, tất cả cũng đều xử trí tình huống kịp thời. Nói chung, mấy ngày hội thao đã trôi qua một cách trót lọt, có kết quả tốt. Toàn tiểu đoàn hết sức phấn khởi, và đặt nhiều hy vọng vào đại đội cuối cùng là đại đội của Trần Đằng bến Cẩm Thuỷ trong đêm kế tiếp, đêm thứ năm.
Từ bến Cẩm Thuỷ vào Cổ Tế đường xa, gần bảy mươi ki-lô-mét. Trên chặng đường này có một cái ngầm tương đối khó đi. Cách Cổ Tế tám ki-lô-mét. Đoàn “tuyển thủ” của Trần Đằng xuất phát từ rất sớm. Nhưng không ngờ đến ngầm thì gặp lũ đang cuồn cuộn dâng cao, xe không tài nào qua nổi. Trần Đằng lại phanh áo ra, đứng trên bờ, tay bóp méo cái bụng xệ, miệng nguyền rủa “lão giời” om sòm. Với kinh nghiệm đã dư thừa, Trần Đằng hiểu rằng ở ngầm này nước lũ đã cao thế, vậy Cổ Tế chắc chắn nước cũng sẽ lên không kém; như vậy càng phải nhanh chóng tới đó để nhận bàn giao, chuẩn bị khí tài thật đầy đủ, sau đó còn cho bộ đội ôn tập vài lần, thì chiều tối mới mong có tên đơn vị treo cao trên bảng vàng được.
Càng nhìn dòng nước chảy xiết, Trần Đằng càng tức. Nhưng con người này không đến nỗi chỉ biết gầm thét. Trần Đằng đã có một quyết định thật dứt khoát. Cởi phăng áo quần ngoài, Trần Đằng thét vang, ra lệnh:
- Tạm để xe lại, tất cả bơi qua ngầm !
Thế là thoắt cái, cả đoàn người cùng lao xuống nước, hô nhau vùng vẫy. Nước chảy xiết, anh khoẻ dìu anh yếu, lát sau, mọi người đều qua được bờ bên kia an toàn, đầy đủ. Trần Đằng cứ ôm nguyên mớ quần áo trên tay, lại cất tiếng như sấm như sét hô mọi người chạy việt dã về Cổ Tế. Anh đã dặn các lái xe của đại đội cứ yên tâm chờ. Về Cổ Tế, anh sẽ xin xe lội nước của tiểu đoàn quay lại đón.
Trần Đằng nom vậy mà hoá ra khoẻ. Đám chiến sĩ thanh niên chưa anh nào vượt nổi đại đội trưởng của mình. Chạy được một thôi dài, Trần Đằng bỗng đứng sững lại, tròn mắt, rồi reo ầm.
Thì ra, dự kiến đại đội này sẽ gặp khó khăn ở ngầm, Nguyễn Đen, Trần Huy Tiệm, Đoàn Liễu đã cùng nhất trí cử một đoàn xe xích K.61 đi ứng cứu.
Nom thấy đoàn xe xích lội nước K.61 rầm rộ chạy lại, Trần Đằng và đoàn “tuyển thủ” của anh sướng quá, cứ nhảy tâng tâng lên vì hai “chí lớn” không hẹn mà gặp nhau rất đẹp.
Đêm ấy, đại đội Trần Đằng đã biểu diễn công việc lắp cầu L.P.P. trên bến Cổ Tế một cách thật tuyệt vời, được mọi người ngay tức khắc công nhận là đứng đầu toàn tiểu đoàn.

            CHƯƠNG IX
TIẾNG NGƯỜI LAO XAO



Mọi người còn đang hân hoan chúc mừng Trần Đằng và cái lão Phệnh mập ấy còn đang vểnh râu lên đòi tiểu đoàn phải liên hoan thịt chó sau kỳ hội thao này, thì ông Nhiệm, tư lệnh phó quân khu đột ngột xuống. Vẫn tráng kiện, hồng hào và vẻ mặt cởi mở, ông bước từng bước dài trên cây cầu L.P.P. của đại đội Trần Đằng vừa mới bắc xong. Ông bắt tay từng chiến sĩ và dừng lại hỏi han nhiều anh về quê quán, cha mẹ, vợ con. Rồi ông cùng Nguyễn Đen, Trần Huy Tiệm và các đại đội trưởng khác trở về sở chỉ huy tiểu đoàn. Đoàn Liễu có nhiệm vụ ở lại trực bến. Anh không một chút nào vui vẻ, nhưng không thể thốt ra một lời, chỉ còn biết nhìn theo đoàn người mỗi lúc một xa bến. Tần ngần một lát, chợt thấy một trung đội trưởng đi qua, anh giữ chặt ngay lại, hất hàm một cách đàn anh và thân mật:
- Có rượu không mày ?
Nhưng lại thoáng nghe có tiếng người lao xao và cả tiếng Chinh ở phía thượng lưu mố cầu. Liễu quên phắt ngay rượu, hỏi vội:
- Này, dân quân tự vệ  hả ?
- Dạ, phải ! – Anh trung đội trưởng đáp.
- Họ đến đây làm gì thế ?
- Chết, thủ trưởng quên ? Đêm nay đại đội của cô Chinh cũng hội thao diễn tập gỡ bom và mở đường phụ xuống cầu giúp công binh đấy mà !
- Ừ nhỉ. Tao quên.
Nói đoạn, Đoàn Liễu sấp ngửa đi thẳng tới chỗ đang ồn ào tiếng nói, và tiếng cười của Chinh lại vừa cất lên trong trẻo, giòn giã…
Tại sở chỉ huy tiểu đoàn, ông Nhiệm mở một cuộc họp với tất cả cán bộ của tiểu đoàn để nghe báo cáo tỉ mỉ về công việc hội thao trong mấy đêm trước. Sau đó nhân danh vừa là phái viên của Bộ trong chiến dịch K2, vừa với tư cách tư lệnh phó quân khu ông nêu lên những nhận xét tóm tắt, và chỉ thị thêm cho một số điều cần phải chú ý trong nội dung và kế hoạch hội thao. Trong khi nói, ông luôn luôn hướng về Nguyễn Đen và thường lắp đi lắp lại mấy câu đệm, nhưng đồng thời cũng là những câu chan chứa lòng tin yêu của ông dành cho người tiểu đoàn trưởng này: “… Có phải thế không, ông Đen ?” – “Đúng thế chứ, ông Đen?”…
Ông cũng không giấu giếm thái độ ấy trước đông đảo cán bộ. Cho tới hôm nay, qua nhiều tháng đã làm việc và nhất là qua mọi tiếp súc thực tế với tiểu đoàn 27, từ những nhận xét ban đầu còn dè dặt và có phần bán tín bán nghi, dần dần ông đã hiểu rõ hơn con người này và cái tập thể này. Rõ ràng ông không hề có định kiến với bất cứ ai, mặc dầu quả thật ông luôn dè dặt và thận trọng.
Ông ngắm nhìn gương mặt xương cháy nắng, dần dần của Nguyễn Đen. Ông nhìn thẳng vào cặp mắt cứng cỏi, thông minh và ngay thật của anh. Cho tới hôm nay thì không có thể nghi ngờ được nữa: đúng là một con người có nghị lực đã dành, nhưng còn là một con người có năng lực. Đúng thế. Năng lực hoặc nói là khả năng cũng không đến nỗi quá… Nhưng ở anh ta còn có những tội lỗi gì nhỉ ? Đằng sau anh ta còn ẩn dấu những yếu kém gì mà mình chưa rõ ? Những tiếng đồn thổi đến tận tai ông, do Cao Thành nói lại, về chuyện cô Chinh là có thật hay không thật ? Hoặc có thì nó ở mức độ nào ? Nếu quả anh ta bê bối về mặt này thì đáng tiếc biết bao. Còn vụ tố tụng về tài chính nữa. Anh ta có dính líu gì không ? Và nếu có, thì dính líu tới mức độ nào ? Cũng mong rằng anh ta không có gì sai phạm lớn. Nếu không, xử trí cũng thật đau đầu. Vì nghiêm với anh ta, mà trong khi tìm hiểu, phân tích, kết luận thiếu chuẩn xác, dù chỉ chút ít nào đó thôi, thì cũng sẽ mất một cán bộ giỏi. Nhưng nếu không nghiêm thì sẽ làm hư hỏng cả số đông, ít nhất là cả đơn vị này. Thế đấy!
Nhưng dẫu sao trong cuộc họp chủ yếu bàn về công việc tác chiến và huấn luyện này ông Nhiệm cũng cảm thấy được thoải mái trong cách đối xử, và thẳng thắn đưa ra những lời khen với tiểu đoàn, với Nguyễn Đen, kể cả việc bày tỏ sự tin cậy của mình về mặt chuyên môn, tác chiến đối với anh.
Tới khuya, cuộc họp cán bộ giải tán. Trước khi ngả lưng đi ngủ, ông Nhiệm cho mời đồng chí trung tá trưởng ban kiểm tra tới để tranh thủ làm việc thêm.
Ngọn đèn vặn nhỏ. Hai người trao đổi có tính chất kín đáo, cẩn mật, không có người thứ ba nào khác.
- Anh Huyên ạ ! Thiếu tướng tư lệnh Vũ Yên và thiếu tướng chính uỷ Tô Ký có dặn tôi tranh thủ gặp các anh để xem tình hình công việc đến đâu ? Tư lệnh và chính uỷ đều rất không muốn kéo dài vụ này…
Một mồi thuốc lào rít lên, khói phả ra um tùm, đồng chí trung tá nhỏ nhẹ, thận trọng như đã cân nhắc sẵn từng ý kiến của mình:
- Báo cáo, tỉ mỉ thì chúng tôi sẽ xin phát biểu sau. Còn đại thể thì cho tới hôm nay đoàn chúng tôi đã sơ bộ trao đổi, nhận thấy là… về cơ bản không có vấn đề gì nghiêm trọng về phía các cán bộ lãnh đạo, chỉ huy ở đây. Vấn đề tập trung lại là ở cậu quản lý…
-Các cán bộ chỉ huy, lãnh đạo ở đây có vấn đề gì là chính?
- Báo cáo, chủ yếu là quá tin cậu quản lý, không kiểm tra, chỉ đạo chặt, để cho cậu này lạm dụng, làm nhiều điều vô nguyên tắc và tham ô…
- Đồng chí Đen thế nào ?
- Đồng chí này thì không dính líu gì về tiền nong cả, chỉ có vài bản thanh toán, quyết toán ký mà không chú ý soát xét lại cẩn thận. Vì quá tin vào quản lý mà ký cho chóng vánh mọi việc.
- Sao đơn kiện nói là Nguyễn Đen thông đồng…
- Báo cáo điều này thì không có. Hoàn toàn không có. Chỉ có một số việc là…
- Việc gì ?
- Nhưng lại không phải đồng chí Nguyễn Đen, mà là ở đồng chí Đoàn Liễu…
- Hả ? Đoàn Liễu ?
- Vâng ! Quần chúng phát hiện là quản lý Thực thường mời Đoàn Liễu đi chè chén nhậu nhẹt và cho vay tiền tiêu luôn luôn.
Ông Nhiệm nhíu lông mày lại. Đồng chí trưởng đoàn kiểm tra lại thận trọng, nhỏ nhẹ tiếp:
- Báo cáo, chúng tôi về đây làm việc, lại thấy rằng ở tiểu đoàn này vấn đề tài chính thật ra chưa phải là vấn đề lo nhất. Mà lại là vấn đề khác.
- Hả ? Vấn đề gì ?
- Vấn đề đoàn kết !
- Sao ?
- Báo cáo, mới qua tuần đầu, trong khi làm kiểm tra tài chính, chúng tôi đã ngờ ngợ hình như có chuyện gì nữa ở đằng sau vụ tố tụng này. Chúng tôi kiên trì làm việc thì, báo cáo tư lệnh phó, gần đây một chiến sĩ liên lạc trẻ đã bất ngờ xin gặp riêng chúng tôi và than thở rằng: cậu ấy luôn luôn bị bắt buộc phải đi dò xét tiểu đoàn trưởng. Rồi lại còn bị ép buộc phải vu cho đồng chí đó… Cậu này rất sợ, và đã báo cáo với đoàn chúng tôi phải giữ bí mật cho…
- Ai ? Ai làm cái công việc kỳ lạ ấy?
- Báo cáo: Tiểu đoàn phó… Đoàn Liễu!
- Hả? Thật vậy hả? Lẽ nào nhỉ?...
Đoàn Liễu ư?  Người tiểu đoàn phó mà Cao Thành mỗi lần xuống tiểu doàn 27 này trở về vẫn thường khen là trung thực và có nhiều năng lực, cũng như tinh thần cách mạng cao… Thật vậy chăng? Vậy thế này là thế nào? Và tại sao lại như thế? Trước mặt ông Nhiệm như vẽ lại một con người hơi đầm đậm, có bộ mặt đầy tham vọng, và “xác thịt”…
Sáng hôm sau, lẽ ra theo kế hoạch, ông trở về quân khu, nhưng lấy cớ để dự thêm buổi hội thao khoa học ghép phà cấp tốc chở vũ khí hạng nặng qua sông bằng phương tiện và khí tài nhẹ, ông nán lại với ý định để quan sát thêm từng con người ở đây một cách tỉ mỉ, cụ thể hơn nữa. Ông cũng muốn sẽ trực tiếp gặp cậu chiến sĩ trẻ nọ, cũng như xuống tận các đại đội để tìm hiểu qua các cán bộ cấp dưới nữa xem sao… Hãy cứ đặt một giả định ngược lại: Có thể cậu chiến sĩ nọ là do Nguyễn Đen bố trí để “nhiễu” đoàn kiểm tra? Nếu không thì từ cậu chiến sĩ này sẽ còn có thể nghe được nhiều điều rắc rối khác nữa.
Đoàn kiểm tra cũng hết sức hoan nghênh khi thấy ông Nhiệm quyết định ở lại.

CHUYỆN KỂ CỦA CÔ LÍNH THÔNG TIN
   
Đã có mấy đơn vị cao xạ pháo có chiến sĩ gái làm công tác thông tin không nhỉ? Vậy mà đơn vị tôi có đấy ! Người ấy là tôi. Dạo ấy đơn vị chúng tôi được lệnh về bảo vệ bến phà Cổ Tế. Một hôm máy bay địch đến bắn phá dữ dội trên bến phà. Giữa lúc đang chiến đấu ác liệt thì đường dây liên lạc với đại đội 2 bên kia sông bị đứt, tôi vơ vội chiếc mũ sắt và tấm nguỵ trang, lao về phía bờ sông.
    Kia rồi ! Đường dây bị đứt ở ngay giữa sông. Chà, gay quá ! Mặc cho máy bay quần đảo, tôi cứ chạy lên chạy xuống mãi mà vẫn không tìm được con đò nào. Tôi đành lòng phải chuẩn bị bơi qua sông. May sao vừa lúc đó từ một lùm cây, một con đò bỗng xuất hiện và lao nhanh về phía tôi. Ngồi trên là một cô gái trẻ đội mũ rơm, áo nhuộm xanh.
    - Chị đừng bơi, chờ đấy, em nối dây cho ! – Cô gái vừa chèo vội vã vừa gọi.
    Mừng quá tôi chạy lại phía con đò. Tới gần tôi mới nhận ra trông cô gái khoảng mười bảy, mười tám, có lẽ kém tuổi tôi, dáng người nhỏ nhắn, nước da trắng trẻo, rất xinh. Đò vừa tới bờ, cô nói ngay:
    - Đưa dây đây, em ra sông nối cho ! Em là dân quân thường trực bến đấy chị ạ !
    Tôi vội lắc đầu:
    - Không được đâu nguy hiểm lắm ! Cô cho tôi mượn đò thôi !
    Cô gái không nghe.Chúng tôi giằng co nhau mãi. Cuối cùng, tôi ngồi ở mũi thuyền, lần theo đầu dây, còn cô cầm chèo. Mảnh bom đạn rơi xuống sông, lõm bõm. Có lúc chúng tôi phải cúi đầu xuống để tránh mảnh. Nhờ cô dân quân vững tay chèo nên tôi đã nối xong đường dây khá nhanh. Hai chúng tôi cùng quay vào bến, nhảy lên bờ. Máy bay địch vẫn gầm rít trên trời. Đi được mấy bước, bất thình lình cô gái đẩy tôi ngã dúi xuống một hố cá nhân rồi cô nằm đè trên thành hố. Một tiếng bom nổ xé tai làm tôi tối sầm mặt mũi. Chừng đến hai, ba phút sau, tôi mới tỉnh lại, gạt đất đá đứng lên. Cô dân quân trẻ cũng đã giũ đất ngồi dậy. Đầu tóc cô rối bời, quần áo lấm láp, cô nhìn tôi cười, nụ cười dễ thương quá ! Tôi chỉ còn biết ôm chầm lấy cô. Rồi sau đó tôi vơ vội lấy dây máy, gật đầu chào cô, lao nhanh lên đồi, vội quá tôi đã quên cảm ơn cô.
                        *        *
                                                                    *
    Mãi chiều hôm sau tôi mới có dịp vào xóm hỏi thăm và tìm đến nhà Điểm – cô gái dân quân ấy. Tôi gặp Điểm ở ngay đầu ngõ. Điểm đang đắp lại một căn hầm chữ A. Tôi giằng lấy xẻng giúp Điểm đắp đất lên nắp hầm. Chúng tôi vừa làm vừa chuyện trò, thăm hỏi nhau thân mật như những bạn thân xa nhau lâu ngày mới gặp lại.
    Khi căn hầm đã sửa xong. Điểm mời tôi vào nhà. Cô xuống bếp đun nước, tôi ngồi ngắm quang cảnh và trang trí trong nhà. Mắt tôi lướt qua bảng gia đình vẻ vang, các bằng khen, giấy khen, rồi dừng lại ở một khung ảnh treo trên tường. Tôi bỗng sửng sốt: Trong khung kính có cả tấm ảnh của một người rất… thân quen của tôi.
    - Ô, anh Sơn ! Sao ở đây cũng có ảnh anh nhỉ ? – Tôi đứng dậy, nhìn cho kỹ hơn.
    - Đúng rồi ! Tấm ảnh của anh chụp lúc mới vào bộ đội. Anh đã gửi cho tôi một tấm đúng như thế này. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn là còn có một tấm ảnh ở bên cạnh to hơn. Anh chụp chung với Điểm. Vâng. Chính Điểm. Hai người đang ngồi bên cạnh nhau. Cả hai cùng mỉm cười.
    Tôi phân vân, tại sao nhà này lại có ảnh anh Sơn ? Và sao lại có cả ảnh chụp chung thế này ? Tôi thầm tự hỏi. Tôi bỗng nhớ lại, cách đây mấy tháng, trong một lá thư anh báo tin cho tôi biết là đơn vị anh đi bắc cầu xa. Thì ra đơn vị anh đã đến đây ! Nhưng sao không thấy dấu vết gì nữa ? Hay đơn vị anh lại đi rồi ? Hay là… hay là… ừ nhỉ. Tại sao sau đó anh chẳng viết thêm cho tôi lá thư nào nữa ?
    Nhìn lại bức ảnh anh chụp chung với Điểm, tự nhiên tôi thấy mặt nóng lên. Tôi phải thầm thừa nhận cả hai người đều đẹp và thoắt cái, một ý nghĩ nghi ngờ bỗng mơ hồ nhen lên trong đầu tôi như một chút sương mù. Tôi phải cố xua đuổi nó đi.
    Điểm đã xách ấm nước lên, rót vào phích. Cô nhanh nhẹn vui vẻ pha nước mời tôi xuống. Tôi vẫn hết liếc nhìn tấm ảnh lại nhìn Điểm. Bất giác tôi ghé người soi mình vào một tấm gương to. Tôi bỗng muốn khóc lên vì thấy mình quả thật kém xinh hơn Điểm nhiều. Tôi không kìm được mình nữa, liền chỉ vào tấm ảnh và cố gắng hết sức giữ một vẻ tự nhiên, hỏi Điểm.
    - Ai đấy. Điểm ơi !
    - A, anh Sơn đấy mà ! Anh Sơn ở đơn vị công binh bắc cầu. Trước anh ấy đóng ngay ở nhà em đấy chị ạ !
    Ra thế, “đóng ngay ở nhà em” thảo nào ! Tôi hỏi tiếp:
    - Thế đơn vị bắc cầu đi đã lâu chưa !
    - Các anh ấy đi vào phía trong đã ba tháng rồi ! Thế ra chị cũng biết anh Sơn à ?
    Không hiểu sao, tôi bỗng nói dối:
    - Ừ mình cũng biết anh ấy. Chả là trước đây hai đơn vị đóng ở gần nhau.
    Một nét nghi ngờ thoáng hiện trên khuôn mặt Điểm nhưng sau đó cô đã thành thật tin lời tôi. Cô có vẻ cảm động và mừng rỡ:
    - Thế ạ ! Vậy ra chị cũng quen anh Sơn. Anh ấy tốt lắm cơ chị ạ.
    Vừa lúc đó, một cô bạn nào réo gọi Điểm ở ngoài ngõ. Điểm bảo tôi cứ ngồi chơi, rồi vội chạy ra.
    Chỉ còn lại một mình tôi. Nỗi nghi ngờ ngày càng tăng lên trong lòng tôi, tôi lại quan sát toàn bộ căn nhà như tìm kiếm thêm những dấu vết của Sơn. Mắt tôi dừng lại ở hàng quần áo đang phơi nắng ngoài sân. Tôi bỗng giật mình. Tôi nhìn thấy một chiếc khăn thêu bên cạnh một tấm vải dù trắng. Chiếc khăn ấy là của tôi tặng Sơn trước lúc anh lên đường nhập ngũ. Ôi ! sao chiếc khăn lại ở đây ? Sơn đánh rơi ? Bỏ quên ư ! Sơn đã tặng lại Điểm ư. Có thể lắm chứ ! Họ đã chụp ảnh chung với nhau cơ mà ! Sự nghi ngờ của tôi đã gần như được khẳng định. Mắt tôi nhoà đi.
     Ở quê, nhà tôi cách nhà Sơn có hai ngõ. Sơn hơn tôi một tuổi. Chúng tôi đã thân nhau từ những ngày chăn trâu kiếm củi. Tôi học dưới Sơn một lớp, cùng với Hà, em gái Sơn. Khi học cấp ba. Sơn luôn luôn là học sinh giỏi của trường. Anh thường chỉ bảo cho tôi và Hà những bài toán khó. Những buổi đi làm hợp tác xã, những buổi lao động nhà trường hay họp đoàn chúng tôi cũng thường gần gũi nhau. Lần chụp ảnh kỷ niệm các học sinh giỏi của trường, tôi cũng tìm cách ngồi sát cạnh Sơn.. như tấm ảnh Điểm chụp chung với Sơn ở đây. Tình yêu của chúng tôi được cả hai gia đình và bạn bè vun đắp. Hai năm trước đây, Sơn tốt nghiệp cấp ba rồi xung phong đi bộ đội. Sau đó một năm, tôi cũng lên đường nhập ngũ theo gương anh. Chúng tôi vẫn luôn biên thư cho nhau động viên khuyến khích nhau. Làn này đơn vị tôi được chuyển ra vùng ngoài, tôi đang có hy vọng tìm gặp anh. Thế mà bây giờ.. Hèn nào mấy tháng nay tôi không nhận được thư của anh nữa !... Ừ Điểm trẻ hơn tôi, đẹp hơn tôi. Sơn lại ở đây được gia đình chăm sóc đến thế. Nhưng mà tôi cũng lạ ! Nào tôi với Sơn đã chính thức ước hẹn gì đâu ! Tại sao tôi có quyền bực dọc ?
    Nghĩ đến đây, tôi bỗng thấy mình xấu hổ. Và lại tự an ủi: Có lẽ tôi đã nghi ngờ sai. Đây chỉ là một tình cảm quân dân bình thường. Tôi sẽ hỏi cho ra nhẽ và nói thẳng với Điểm về chuyện này. Nhưng không, tôi sẽ không nói gì hết. Tôi sẵn sàng tôn trọng tình cảm của Sơn và Điểm nếu có thực. Dòng suy nghĩ của tôi cứ miên man kéo dài mãi mãi.
    Lát sau, bà mẹ của Điểm đi đâu trở về. Điểm cũng về. Hai mẹ con đều niềm nở. Tôi phải gắng trò chuyện cho khỏi lộ vẻ miễn cưỡng, và mấy lần đã định cáo từ ra về. Nhưng Điểm và bà mẹ vẫn cứ vồn vã kéo tôi lại, hỏi han tôi hết chuyện này qua chuyện khác mãi.
    Và cuối cùng. Điểm bỗng nói:
    - Chị à, bây giờ em mới nói thật Anh Sơn… không còn nữa. Chị ở đây chơi, em nói lại cho mà nghe.
    Như có một tiếng sét giáng mạnh xuống đầu tôi, hai mắt tôi tối lại.
    Hôm ấy..
    Đơn vị công binh được lệnh bắc cầu bảo đảm cho một đoàn xe chở hàng quân sự đặc biệt vào mặt trận. Lệnh của trên: bằng bất cứ giá nào, đúng 6 giờ tối phải thông cầu để bảo đảm cho đoàn xe vượt cả chặng đường từ đây đến trạm 10.X trước khi trời sáng. Nhưng hình như bọn địch đã phát hiện được đoàn xe quan trọng này, nên chiều hôm ấy, chúng liên tục đánh phá bến. Chúng âm mưu chặn đứng đoàn xe. Các đơn vị phòng không ta đã bắn rơi tại chỗ hai máy bay, nhưng chúng vẫn ùn ùn kéo đến như đàn thiêu thân, quần đảo liên tục. Chúng đã thả ba vệt bom nổ chậm từ chiều, hàng chục loạt bom phá, bom bi, chồng chất lên nhau, vùi lấp lên nhau thành một bãi bom lộn xộn đất đá, nhà cửa, cây cối nháo nhào, hòng gây khó khăn nguy hiểm cho ta khi vào bãi bom.
    Trước tình hình đó, đơn vị công binh đã dốc hết các tổ phá bom ra bến. Tổ dân quân phá bom do cô Điểm làm tổ trưởng cũng được phối hợp với tổ Sơn, phá vệt bom ở bến bờ Nam. Sau khi một mình vào trinh sát sơ bộ vệt bom xong. Sơn mới cho cả tổ vào vừa nhặt dọn bom bi, bom xuyên, vừa tìm các hút bom. Toàn tổ dàn hàng ngang tìm đi tìm lại mãi khắp bãi bom mà chỉ thấy có mười ba quả, vẫn thiếu một quả. Theo phán đoán, nó nằm đúng ngay bến, nhưng bị vùi lấp đi nên không xác định được rõ vị trí.
    Lúc này ở phía dưới sông phía bờ bắc, các tổ bạn đã tấn công. Chốc chốc lại một quả bom nổ. Có quả ở gần bến, mảnh vụn bắn sang cả bờ nam như thách thức kêu gọi bờ nam nhanh chóng hành động. Trời đã sắp tối, thời gian gấp lắm rồi. Dạo ấy đơn vị công binh này chưa có loại máy phá bom từ trường mà chỉ dùng phương pháp bộc phá. Sơn đưa ra một phương án là: Vừa bộc phá liên tục, vừa trinh sát tiếp. Riêng hai quả ở sau nhà ông Đinh và trong nhà bà Đoạt thì phải tháo để bảo vệ nhà của nhân dân, đồng thời giữ nền đường và bờ đê. Mọi người đều lo lắng không kịp thời gian quy định. Tổ dân quân đề nghị cứ cho nổ cả để bảo đảm thời gian thông cầu. Nhưng Sơn nói:
    - Nhân dân ta đau khổ nhiều với giặc Mỹ rồi ! Chúng ta cố gắng giảm bớt thiệt hại cho dân được bao nhiêu, quý bấy nhiêu. Phải coi nhà của bà con như chính nhà mình vậy !
    Tất cả đều thấy anh nói đúng. Ai cũng xung phong vào tháo bom. Nhưng Sơn chỉ phân công cho mọi người chuẩn bị lượng nổ, còn anh cùng Đắc thay nhau vào đào quả bom sau nhà ông Đinh bên cạnh đường trước. Quả bom chui sâu quá, lại đâm qua móng tường gạch vào trong nhà, nên phải đào khá vất vả. Phía bờ bắc tiếng bom nổ giòn giã càng làm cho cả tổ sốt ruột. Rồi bỗng thấy Đắc reo lên:
    - Tháo được rồi, hoan hô anh Sơn !
    Thì ra, Sơn đã mò mẫm tháo được loại đầu nổ mới (modell 3). Anh vội báo cáo về sở chỉ huy. Được đội trưởng Lộc cho biết, đây là loại đầu nổ kiểu mới, chúng mới dùng đầu tiên ở đây. Tính năng cụ thể, ta chưa nghiên cứu được. Nhưng sơ bộ biết là độ nhạy và chu kỳ cảm ứng từ trường rất phức tạp, lắt léo, nham hiểm Đó lại là một khó khăn mới cho tổ bờ nam.
    Sau đó, Sơn lần lượt cử từng người vào phá bom. Người nào cũng được anh đưa vào và chỉ dẫn cách đánh cụ thể.
    Những tiếng nổ rền vang báo hiệu trận đánh bom của tổ bờ nam đang tiến triển. Đến lượt Điểm, Sơn cũng vừa đưa đường, vừa nhắc nhở Điểm từng động tác. Điểm vừa mừng vừa lo. Mừng vì mình là con gái lần này được trực tiếp đánh bom, đặt bộc phá vào “xé tan xác thẳng Nich-xơn ra” theo kiểu mọi người thường nói – chứ không phải chỉ làm nhiệm vụ cảnh giới, gác bãi bom như những lần trước. Để rồi xem cánh con trai trong làng có coi thường bọn con gái được nữa không ? Nhưng Điểm cũng có cái lo, không phải vì lo chết, mà chỉ lo làm không đúng động tác kỹ thuật, bom không nổ thì bọn chúng nó lại cười, rồi bêu riếu là nhát gan nên run tay. Vì có Sơn bên cạnh nên Điểm đã lấy lại được bình tĩnh. Đến nỗi khi đốt dây cháy chậm rồi mà cô cứ xem đi xem lại mãi, xem có cháy thật chưa ? Sơn phải hô to mấy lần, Điểm mới vội vàng chạy. Được vài chục bước, bỗng Điểm ngã khuỵu. Một cái gì đâm nhói vào bàn chân trái cô. Thì ra một mảnh bom to bằng bàn tay, dựng ngược như răng cưa ở bờ ruộng. Buốt quá, Điểm không đứng lên được, nghiến răng chịu đau. Máu chảy thấm ướt cả hai bàn tay.
    Tình thế lúc này thật nguy hiểm, Điểm nhìn lại chỗ quả bom, khói xanh của dây cháy chậm xì xì phùn lên. Hồn vía Điểm đã bay đi đâu hết.
    Nhưng Sơn đã quay ngay lại, anh nâng Điểm đứng dậy rồi ghé vai vác Điểm lên, chạy như bay về phía sau. Vừa nhảy được xuống một hố bom gần đấy thì bom nổ.
    Trận chiến đấu trên bãi bom vẫn tiếp tục khẩn trương, 6 giờ kém 20 phút.
    Đã đến giờ bắc cầu. Các vệt bom ở bờ bắc và dưới sông đã phá xong. Đại đội 3 đã cho ca nô kéo đoàn thuyền nối nhau như một đoàn tầu hối hả tiến về bến. Ở phía bắc đoàn xe đặc biệt cũng từng chiếc từng chiếc chạy về bến. Những nòng súng cao xạ đi hộ tống đang tua tủa chĩa lên trời.
    Vậy mà ở bờ nam, quả bom cuối cùng ở ngay đầu bến vẫn chưa phá được. Tổ của Sơn ai cũng lo lắng. Họ liên tục thay nhau đào đúng hút bom mà vẫn chưa thấy bom. Vì nó bị một quả bom phá nổ ở gần vùi lấp đi, ấn xuống sâu hơn. Cần phải đào, bới cho nó lộ cái mặt giặc ra như những quả bom trước thì mới phá được.
    6 giờ kém 15.
    Bất chấp cả nguy hiểm, toàn tổ ùa vào thuốn, đào tận lực mà vẫn không thấy. Điểm càng cuồng lên.
    6 giờ kém 10.
    Pháo hiệu xanh – tín hiệu xin vào tìm cầu của đại đội 3 bắn lên. ánh đèn gầm như sao sa đang tiến vào bến. Sơn chạy lại trạm gác. Chộp lấy máy nói, anh báo cáo:
    - Bờ nam còn nguy hiểm Xin cho bộc phá lượng nổ lớn để gây nổ bằng chấn động !
    - Biện pháp này rất nguy hiểm, nhưng không còn cách nào khác nên sở chỉ huy đồng ý. Sơn cắm tim hút bom rồi cho khênh cả hai lượng thuốc nổ lớn vào.
    6 giờ kém 5 phút.
    Một tiếng nổ gầm lên. Nhưng quả bom vẫn chưa suy chuyển. Mọi người đều toát mồ hôi. Nhiều ý kiến trao đổi xôn xao. Lại tín hiệu xanh ở dưới sông bắn lên. Anh chàng lái ca nô nào đó cho nổ máy ran như thúc giục. Những ánh sao sa từ trên đèo K đang bay nhanh về bến. Mọi người càng thêm lo lắng. Sơn giải thích cho cả tổ biết là tình trạng của quả bom hiện nay ở vào thế chờ nổ rất nguy hiểm, vì nó đã bị bộc phá gây chấn động. Có thể nó bất thình lình nổ ngay bây giờ, cũng có thể 5 – 10 giờ sau hoặc lâu hơn nữa. Nếu như có máy phá bom thì ta có thể xử trí được. Nhưng hiện nay máy chưa về đến nơi, mà nhiệm vụ thông cầu thì không thể dừng lại được phút nào cả. Dù thế nào cũng phá tiếp quả bom này, dẫu phải hy sinh tính mạng. Nếu không phá ngay thì khi cầu vào bến hoặc lúc đoàn xe qua, bom sẽ cảm ứng từ gây nổ ngay, có thể mất cầu, mất xe. Mọi người đều giơ tay xung phong lên phá. Cả Điểm cũng xin Sơn cho cô được tham gia.
    6 giờ kém 2 phút.
    Điểm vẫn năn nỉ xin lên đánh tiếp quả bom ngoan cố ấy. Nhưng Sơn đã ôm lấy gói bộc phá, nói.
    - Nguy hiểm lắm ! Phải thật quen ! Phải đặt đúng chỗ mới trị được nó !
    Điểm không bằng lòng vì nếu tính lượt thì lần này chính là của cô.
    - Không ! Phần của cả tổ và của cô hết rồi ! – Anh nói rồi ôm bộc phá lao lên.
    6 giờ kém 1 phút.
    Anh hơi cúi người về phía trước. Với một vẻ rất bình tĩnh, anh tiến vào bãi bom. Đến nơi, anh thận trọng bới đất để đặt bộc phá, rồi anh quỳ xuống đốt dây cháy chậm. Khói xanh phun lên bao trùm lấy anh. Anh kiểm tra lần cuối cùng rồi lẹ làng đứng lên quay ra. Vừa lúc đó, một tiếng nổ bất thình lình bùng lên hất ngã tất cả mọi người xuống. Điểm tối tăm mặt mũi lại. Quả bom tai ác ấy đã tự huỷ trước khi Sơn chưa kịp chạy ra xa.
    Tôi bỗng ôm chầm lấy mẹ Điểm và Điểm, nước mắt trào ra. Ôi ! Những ý nghĩ của tôi thật quá tầm thường trước những hành động cao cả của anh. Mẹ Điểm dỗ dành lau nước mắt cho tôi rồi chỉ lên tấm ảnh:
    - Đây là ảnh của anh Sơn chụp với cái Điểm sau lớp dạy phá bom đấy !
    Trong khi đó, Điểm ra sân lấy hai cái khăn ở dây phơi mang vào đưa cho tôi và nói:
    - Những thứ này, anh ấy vẫn gửi mẹ em cất ở hầm kèo nơi để ba lô. Anh ấy bảo của vợ anh ấy ở quê nhà. Anh hứa khi nhận được ảnh của chị ấy, anh sẽ cho em và mẹ em xem !
    Tôi càng nức nở. Quả đúng là tôi chưa có tấm ảnh riêng nào để gửi cho anh.
    - Mẹ ! Mẹ ơi ! Con là… là Thảo đây ! Điểm ơi, chị là… bạn của anh Sơn đây !
    Cả mẹ, cả Điểm đều như bàng hoàng kêu lên:
    - Giời ơi ! Thảo ! chị Thảo thật đấy ư ? Thế mà bây giờ chị mới nói.
    Cả hai mẹ con cùng oà khóc.
    Tôi không sao nói lên lời nữa. Lúc này trong lòng tôi càng tràn ngập nỗi day dứt ân hận Tôi đã có lỗi với anh với cả Điểm ! Hãy tha thứ cho em, anh Sơn ! Hãy tha thứ cho đứa em gái bụng dạ còn nông nổi, nhỏ nhẹ, đố kỵ này ! Em đã dám nghi ngờ cả một tâm hồn cao cả như anh !
    Khi tôi ra về. Điểm bỗng nói:
    - Chị ạ, em vẫn luôn luôn nhớ tới anh Sơn và nguyện noi gương anh.
    Thêm một lần nữa, tôi thấy Điểm cô dân quân trẻ tuổi, sáng đẹp như sao băng !

          PHÓ TƯ LỆNH Ở LẠI

Đại tá Nhiệm không phải chỉ ở lại tiểu đoàn 27 thêm một ngày, mà thêm hẳn ba ngày nữa. Nhiều chuyện ông muốn tìm hiểu cho rõ ngọn ngành. Nhiều việc mới vỡ ra làm cho ông không thể nào bỏ qua.
Ông đã xuống tận đại đội của Nguyễn Đức Thắng xuống cả đại đội của Trần Đằng, đại đội của Hoàng Anh Tự, đại đội Nguyễn Trọng Đào và cả đại đội của Phạm Văn Thám nữa. Ông đã tiếp xúc trực tiếp với nhiều cán bộ chiến sĩ. Ông còn gặp cả đội dân quân xã. Đặc biệt, ông đã nói chuyện với Chinh cả một buổi sáng. Rồi ông còn tới thăm và trò chuyện với anh em công nhân giao thông ở trên bến nữa. Trước khi đoàn kiểm tra về hậu cứ  của tiểu đoàn để xem xét các kho vật liệu, và trực tiếp làm việc với quản lý Thực, ông Nhiệm cũng đã trao đổi nhiều ý kiến quan trọng với đồng chí trung tá đoàn trưởng. Sau đó ông đã đề nghị tiểu đoàn uỷ họp một buổi, trong đó vấn đề đoàn kết nội bộ đã được nêu lên…
Sáng nay ông chuẩn bị sang gặp đồng chí thiếu tướng tư lệnh và đồng chí thiếu tướng chính uỷ để báo về công việc tác chiến, huấn luyện của tiểu đoàn 27 trên cung đường trọng điểm và nhiều vấn đề quan trọng khác của nội bộ đơn vị này, cái tốt cũng như cái chưa tốt, đặc biệt là vấn đề đoàn kết.
Ông vừa mới ăn sáng xong thì đã có người gõ cửa phòng. Cửa mở. Cao Thành với vóc người thấp đậm, chắc lẳn và bộ mặt tròn, căng nở ra như đang phấn khởi bước vào.
- Báo cáo anh Nhiệm, tôi vừa đi xuống tiểu đoàn 19 ở cung đường cuối quân khu về. Có rất nhiều điều thú vị kể cả khẩn cấp nữa muốn báo cáo anh…
Ông Nhiệm miễn cưỡng chìa tay về phía chiếc ghế đối diện, mời Cao Thành ngồi.
- Mình sắp phải đi làm việc với thiếu tướng tư lệnh và thiếu tướng chính uỷ…
- Báo cáo anh, vậy tối nay tôi sẽ tới nhà riêng báo cáo tỉ mỉ mọi chuyện với anh.
- Tối… mình bận.
- Vậy sáng sớm mai.
Cậu nên trao đổi với văn phòng để họ bố trí hẳn hoi một buổi để anh tham mưu trưởng và các chủ nhiệm khác cùng nghe một thể…
Cao Thành gật đầu, nhưng dường như vẫn chưa hết phấn hứng:
- Anh ạ! Nhiều vấn đề hay lắm. Phải chịu sục xuống cơ sở mới phá hiện được anh ạ. Nếu không rất khó chỉ đạo tốt được! Kinh nghiệm xương máu đã chỉ cho ta thấy: Một giây, một phút cũng phải nắm bắt cho được tất cả những biến chuyển mới. Một giây, một phút, sự việc cũng đã có những thay đổi và phát triển kỳ lạ. Một giây, một phút nếu tỏ ra trì trệ, thiếu nhạy cảm, kể cả thiếu quyết tâm và dũng khí thì chúng ta sẽ dễ dàng thất bại lắm…
Ông Nhiệm thoáng nhăn mặt, đẩy chén nước lại phía Cao Thành như có ý muốn ngắt lời anh ta:
- Uống đi cậu!
- …Anh còn nhớ cái hồi 1967 tôi với anh cùng nhau ngồi giữa vòng vây bọn Mỹ, trùng trùng bốn bề xe tăng, thiết giáp, trên đầu thì phản lực vũ trang che kín cả bầu trời không? Vậy mà anh vẫn cười bảo tôi: “Cậu nghĩ thế nào, Cao Thành? Chúng mình liệu có ra nổi chỗ này không? Mình thì mình bảo sẽ ra được! Mặc dầu lúc này chúng mình vẫn chưa tính được cái gì cụ thể cả…”
Ông Nhiệm phải mỉm cười. Cũng không ngờ tới lúc này, nhắc lại những kỷ niệm cũ, Cao Thành đã làm cho ông đỡ khó chịu hơn.
Kể liên tiếp, kể một cách càng say sưa, hào hứng hơn, và luôn luôn kèm những câu “triết lý”để nhấn mạnh, làm đậm thêm ý nghĩa của vấn đề về mặt chính trị, xã hội hoặc kỹ, chiến thuật, cuối cùng Cao Thành đã khéo léo quay trở lại chuyến đi của anh xuống tiểu đoàn 19 vừa xong.
-… Anh ạ! ở đó, anh em làm việc nói chung là tương đối tốt. Nhưng xét cho cùng họ đang còn thiếu một cái gì đó vô cùng quan trọng, một cái gì  như vô giá, mà cái đó lại cần thiết biết bao cho tất cả mọi chúng ta trong giai đoạn cách mạng vô cùng quyết liệt, cũng như vô cùng khó khăn này. Thiếu nó, khi gặp những trở lực lớn hơn, gặp những khúc quanh phức tạp hơn tôi lo anh em sẽ rất bê bối và bị thất bại. Cái đó không biết gọi nó là cái gì nhỉ? Nhưng hãy cứ gọi tạm nó một cái tên: “ Sự từng trải chiến trường”…
Tới lúc này, dường như không thể cứ nể nang ngồi nghe mãi, ông Nhiệm phải ngắt lời Cao Thành bằng một câu hỏi:
- Vậy theo cậu những ai có thể tạm gọi là có cái “sự từng trải chiến trường” ấy?
Cao Thành đanh mặt lại, hăng hái, tự hào và văn hoa:
- Như anh, như tôi chẳng hạn và tất cả những ai đã từng sờ vào cái đầu thằng Mỹ, và lấy được cái đai quần của nó mà vật lộn với nó…
Ông Nhiệm châm một điếu thuốc. Rồi ông trở nên nghiêm trang và có vẻ như muốn kết thúc câu chuyện dông dài ở đây:
- Cao Thành ạ! Thôi được, mình hiểu rồi. Nhưng mình thấy cần phải cân nhắc lại cho cậu hiểu: Đừng nên  luôn luôn “chúng ta, chúng ta” mãi như vậy. Và cả nước ta là một chiến trường, chẳng lẽ cậu lại quên một điều vô cùng cơ bản ấy?
Cao Thành vẫn hăng hái và tỏ ra ham tranh luận cũng như dám tranh luận:
- Nhưng thưa anh, trong cái chiến trường ấy có cái tiền tuyến và cái hậu phương của nó anh ạ!
- À, đúng! Nhưng nói vậy là biết một mà chưa biết hai: Khi người ta nói rạch ròi ra như thế là chỉ có một ý nghĩa tương đối về hai khu vực chiến lược trong một quốc gia có chiến tranh. Tuyệt nhiên không nhằm để nói rằng bên nào ác liệt, cực khổ hơn bên nào và do đó cho là bên này vinh quang hơn bên nọ. Đó là chưa nói thêm: Cần phải nhớ rằng cái hậu phương ở Việt Nam nó khác lắm. Nó cũng đang sống dưới mưa bom, bão đạn, vẫn từng phút, từng giây tiếp máu mình ra tiền tuyến, và nhịn tới từng hạt gạo, lá rau… cũng vì tiền tuyến…
Ngừng một chút sau cái thở dài nhè nhẹ, ông tiếp:
- Tôi biết có một vài dồng chí, đối với những người ở hậu phương này đã có cái nhìn khá lệch lạc, thậm chí có đồng chí lại như muốn bắt họ phải đền bù lại cho mình những năm mình gian khổ? Không! Hoàn toàn không đúng đâu! Cuộc sống có sự phân công của nó. Cách mạng càng có sự phân công khoa học. Bác Hồ đã nói: “ Mỗi chiếc bánh xe, dù nhỏ, trong một chiếc đồng hồ đều có giá trị và tầm quan trọng riêng của nó…”. Còn cái gọi là “sự từng trải chiến trường” mà cậu vừa nói ấy là vô cùng quý giá; đúng lắm, nhưng nó đâu có nghĩa là: Cái tất cả! Không! Không như thế đâu. Cần phải tỉnh táo và khiêm tốn hơn anh bạn ạ!
Ngừng một lát, ông vỗ lên trán như sực nhớ ra điều gì đó. Ông Nhiệm nói tiếp:
- Mà hình như cậu chưa hiểu biết gì về Nguyễn Đen đâu. À, trưởng phòng cán bộ có nói với mình là Nguyễn Đen đã hai lần đi B rồi đấy. Một lần làm tiểu đoàn trưởng bộ binh dẫn quân vào B 2 và một lần trực tiếp  đưa một đại đội công binh của cậu ấy vào chi viện trong chiến dịch mở rộng đường dây 559 ở khu vực B 3 thì phải. Nghe nói cậu ta đã được trên gọi về cho đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, nhưng cậu ta xin ở lại chiến đấu, chờ đợt sau mới đi đấy… Cả tôi và cậu đều mới về quân khu này, chưa hiểu hết những con người ở đây đâu. Đừng vội vàng phán xét… Ông nhìn thẳng vào mắt Cao Thành như dò hỏi, như thẩm định, như phỏng vấn…
    Rồi ông xem đồng hồ:
    - Mà thôi không còn thì giờ mà nói nhiều nữa. Nhưng chắc chắn tôi sẽ còn phải gặp cậu. Ngoài công việc ở 27 mà cậu sẽ báo cáo, còn có một số việc khác mà cậu sẽ phải làm sáng tỏ trước tổ chức, chứ không phải riêng tôi…
    Cao Thành thoáng nhíu cặp lông mày lại.
    Ông Nhiệm lưỡng lự một giây rồi mở ngăn kéo lấy ra một tờ giấy đặc kịt những chữ viết tay:
    - Cậu hãy đọc đi! Trong này người ta nói tới cậu không ít điều đâu!
    Cao Thành như vội vồ lấy tờ giấy. Tay anh run run.
    Bản tự kiểm điểm của Đoàn Liễu, tiểu đoàn phó tiểu đoan 27 về vấn đề đoàn kết nội bộ...
    - Cái gì thế này?
    - Thế là thế nào?
    - Chuyện gì? Chuyện gì đã xảy ra vậy? Mắt anh ta hoa lên.
    Khi anh ta ngẩng lên thì đại tá Nhiệm đã bước ra khỏi phòng…
    Ngay tối hôm ấy Cao Thành nhảy bổ vào nhà riêng ông Nhiệm mà không cần báo trước. Anh ta như gầm thét lên:
    - Không! Không! Vu cáo! tất cả đều vu cáo hết. Tôi tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện này. Trâu lấm vẩy càn. Cậu Đoàn Liễu này thì nhiều người đã rõ hắn: một con người lòng dạ đen tối, hôi thối vì tính đố kỵ ghen ghét.Cứ thấy bạn hữu hơn mình một chút là ăn không ngon, ngủ không yên. Hám danh đến điên cuồng, mà hám gái cũng đến … ghê tởm. Năng lực thì kém cỏi…
    - Này! Hãy bình tĩnh! Tôi vẫn chưa quên là cậu đã nói nhiều lần với tôi về Đoàn Liễu bằng những lời tốt đẹp lắm kia mà! Có đâu cay độc như vậy?
    Cao Thành tím mặt, không khỏi lúng túng:
    - Tôi… Tôi…
    - Thôi, cậu về đi Cao Thành ạ! Tôi đang rất mệt.
    - Anh Nhiệm ạ, việc này có lẽ tôi phải trình bày lên đến tận… tận…
    - Tận thủ tướng cũng được. Tuỳ cậu. Thôi, cậu về đi! Đã bảo là mình mệt lắm rồi.

 
CHƯƠNG X
NỖI BUỒN CỦA PHAN TRẠC




Trong một dịp đoàn văn công Quân khu xuống biểu diễn phục vụ tiểu đoàn 27, đôi bạn trẻ ấy họ gặp nhau. Ai cũng khen là đẹp đôi. Phan Trạc trung đội trưởng ở đại đội 2 tiểu đoàn 27. Một anh chàng đẹp trai, người cao lớn nhưng lại có dáng vẻ thư sinh, hiền lành, học hết lớp 10 tốt nghiệp Phổ thông trung học, không đi thi đại học mà xung phong vào bộ đội, được về đơn vị công binh này, rồi trưởng thành khá nhanh từ chiến sĩ lên đến trung đội trưởng đại đội 2, một dại đội anh cả của tiểu đoàn 27. Phan Trạc có năng khiếu văn nghệ, thích đàn nhạc, hò hát, nên được các chiến sĩ yêu mến. Đã bao lần gặp gỡ các đơn vị thanh niên xung phong ở các bến phà, cùng nhau bắc cầu, mở đường và cùng nhau tổ chức nhiều buổi liên hoan văn nghệ. Phan Trạc được nhiều cô gái đến làm quen, mà anh chàng chưa đọng lại ở một trái tim nào.
    Ấy vậy mà anh chàng lại say mê một cô gái văn công ở đoàn văn công quân khu, đó là Thuý Trang, một cô gái bé nhỏ xinh xắn và rất vui tính, nhí nhảnh. Thúy Trang thường hay đóng vai cô bé hoặc cậu bé vui nhộn, nghịch ngợm trong các vở diễn, và được khán giả ưa thích tán thưởng.
    Trong một lần tâm sự, Phan Trạc thú nhận với tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen, về mối cảm tình với Thúy Trang, được nguyễn Đen tán thành ngay.
    - Này chú em, cứ mạnh dạn tấn công đi, anh ủng hộ nhiệt liệt.
    - Em cũng muốn anh tạo điều kiện cho em !
    - Cái chính là ở các em có thực sự yêu nhau không ?
    - Em cũng thấy cô ta có vẻ thích em rồi...
    - Vậy thì phải nắm chắc cơ hội ấy. Các cô gái văn công vốn được nhiều người ưa thích, dễ hay đỏng đảnh lắm đấy.
    Và để ủng hộ Phan Trạc, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen liền gặp đoàn trưởng đoàn văn công là Việt Cường, vốn là bạn cũ quen thân với Nguyễn Đen từ những ngày còn ở cơ quan Quân khu, hai người cùng ở nhóm văn nghệ thường tham gia biểu diễn với thành phố, với đài phát thanh ở tỉnh Nam Định, cũng nổi tiếng một thời.
    - Quân ông bắn trúng tim quân tôi rồi. Việt Cường nói với Nguyễn Đen – Con bé ấy là kênh kiệu lắm đấy, thế mà lại chết mệt với lính công binh của ông. Cũng kỳ thật !
    - Biết đâu, duyên số cũng nên.
    - Nhất trí, chúng ta cùng ủng hộ cho chúng nó, quan hệ công khai với nhau, tôi càng đỡ phải canh gác giữ gìn.
    Thế là đôi trai anh hùng, gái thuyền quyên ấy họ đi lại với nhau và yêu nhau say đắm, thư từ liên tục gửi cho nhau. Phan Trạc đã đưa Thúy Trang về thăm mẹ sơ tán ở một vùng núi, sống  thanh đạm, một bà mẹ rất tình cảm, vẫn còn dáng dấp của một thời son phấn vương giả. Bà mẹ rất sung sướng và chờ đợi ngày họ cưới nhau đem lại nguồn vui cho bà.
    Nhưng một tình huống xảy ra: Phan Trạc được đề bạt lên đại đội phó đại đội 4 đi chiến trường C, chi viện nước Lào anh em. Ngày lên đường Thúy Trang cũng được Đoàn trưởng Việt Cường cho phép đến tiễn đưa. Họ hứa hẹn nhau, đợi chờ... và chờ đợi...
Đại đội 4 tung đi tăng cường cho chiến trường C, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ tư lệnh 379 quân tình nguyện Việt Nam chi viện cho Lào, mọi mặt xây dựng và chiến đấu đều trực thuộc Bộ tư lệnh 379 bên đất Lào, không còn liên quan gì tới tiểu đoàn 27 nữa. Tuy nhiên, do truyền thống và tình cảm của đơn vị “19-5” đơn vị mang tên ngày sinh của Bác Hồ, thành lập ngày 19-5-1958, được Bác đến thăm ngày 1 Tết Bính Ngọ năm 1966 vì lập được nhiều chiến công trong việc bắc cầu chở phà bảo đảm giao thông trong chiến tranh và 2 lần được Bác tặng  lẵng hoa vì thành tích chiến đấu và xây dựng, nên tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen và chính trị viên Trần Huy Tiệm đã đặc biệt quan tâm đến đại đội 4 và những đại đội đi B, đi C sau này. Vẫn luôn giữ vững liên lạc bằng vô tuyến điện và bằng thư từ, để trao đổi, động viên, cổ vũ và giúp đỡ đơn vị ra đi hoàn thành tốt nhiệm vụ, lấy đó là nguồn động viên đơn vị ở lại cũng học tập đại đội 4 sẵn sàng lên đường chi viện các chiến trường. Đại đội trưởng đại đội 4 Nguyễn Phú Mãn và chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Tương cũng đã thường xuyên điện về hoặc gửi thư về khi có điều kiện để báo cáo tình hình C4 đã phát huy truyền thống: chiến đấu và xây dựng đơn vị đạt nhiều thành tích, bảo đảm cầu phà trên chiến trường C được liên tục thông suốt. Khi có điều kiện có xe về Bắc lĩnh khí tài, Nguyễn Đen và Trần Huy Tiệm lại gửi cho C4 một số quà như lương thực, thực phẩm và cả khí tài thiết yếu mà C4 khó khăn, để động viên cán bộ chiến sĩ C4 phấn đấu, yên tâm làm nhiệm vụ.
Đặc biệt, trong đợt giặc Mỹ dừng ném bom miền Bắc, tiểu đoàn 27 đã tổ chức đưa đội văn nghệ, dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen sang thăm C4 ở chiến trường Lào. Đoàn đi một xe tải kéo theo 1 moóc chở sân khấu và 16 cán bộ chiến sĩ văn nghệ, cùng một số lương thực, thực phẩm lợn gà, gạo, rau xanh do đơn vị tăng gia gửi đến uý lạo các chiến sĩ ở chiến trường.
Anh em đại đội 4 rất bất ngờ và vô cùng phấn khởi khi đón đoàn đại biểu đơn vị cũ đến tận chiến trường cách xa gần 1 ngàn ki-lô-mét thăm hỏi và động viên.
- Hoan hô Đoàn công binh 19-5,hoan hô tiểu đoàn 27.
- Hoan hô đại đội 4 !
- Chúng ta vẫn là đoàn công binh 19-5 truyền thống đơn vị anh hùng .
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen ôm lấy đại đội trưởng Nguyễn Phú Mãn và chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Tương. Các cán bộ, chiến sĩ ôm lấy nhau, mừng vui khôn xiết, nước mắt xúc động trào dâng.
Rồi những cuộc liên hoan mặn và liên hoan văn nghệ kéo dài, không những bà con quanh các bản người Lào ngạc nhiên mà ngay cả anh em C4 cũng ngạc nhiên. Chỉ trong vòng 30 phút đội văn nghệ đã lắp ráp xong một bộ sân khấu to rộng như của văn công Quân khu, đầy đủ phông màn, ánh sáng bừng lên và loa đài vang cả khu rừng quanh làng bản.
Cả đội văn nghệ, cả đại đội C4 và cả nhân dân trong bản làng xung quanh đều biểu diễn, đều ca hát. Rồi điệu múa Lăm Vông quanh đống lửa rừng rộn ràng vang mãi suốt đêm.
Thấy bộ mặt đại đội phó Phan Trạc có vẻ buồn rầu, Nguyễn Đen liền kéo ra một chỗ tâm sự.
- Chú em sao thế ? có nhận được tin tức gì của Thuý Trang không ?
- Anh ơi, em buồn lắm, Thúy Trang bỏ rơi em rồi !
- Sao, nó dám bỏ rơi cậu à ?
- Đi chiến trường mà anh, đã hơn 1 năm rồi, em không nhận được tin tức gì về cô ta cả, gần đây nghe 1 thằng bạn cùng lớp mới sang nói là cô ta đã yêu một ông thiếu tá, trung tá ở Học viện chính trị gì đó anh ạ.
Nguyễn Đen bỗng thốt lên:
- Hả, có thật thế không ?
- Đúng mà anh, hồi đầu, em còn nhận được thư, vài tháng 1 lá, vẫn mặn mà lắm, nhưng rồi bẵng đi hơn 1 năm rồi chẳng thư từ gì cả, thằng bạn em nó cũng ở gần thị xã Hà Đông ấy mà.
Biết làm sao được, chiến tranh là thế đấy – Nguyễn Đen nằm chung  với Phan Trạc 1 đêm không ngủ, chỉ còn biết an ủi Trạc:
- Thôi, quên đi để mà yên tâm chiến đấu, đời vẫn còn dài chú em ạ.
- Vâng, chiến tranh mà anh. Biết làm sao được ...

             CÔ Y TÁ ĐỨNG GIỮA ĐƯỜNG
   
Chiếc xe con chỉ huy đang lao nhanh trên đường ra mặt trận. Đêm không trăng, nhưng trời đầy sao. Ánh đèn gầm chỉ soi rọi mặt đường phía trước trên mười mét, nhưng đồng chí lái xe trẻ tuổi và nhanh nhẹn vẫn lao tới vận tốc độ 30-40 km giờ, để vượt lên đầu đoàn xe thuyền của tiểu đoàn đang hành quân. Đó là chiếc xe cóc lội nước cỡ nhỏ, hạ hết mui trần cho mát và tiện quan sát chỉ huy.
    Gió lùa vi vu bên tai làm bay dạt những cành lá nguỵ trang hai bên thành xe. Ngồi trên xe, nhìn những ánh đèn gầm như sao sa chen lẫn với sao trời, trông như những ánh đèn đăng đó tôm ở vùng quê biển Đồ Sơn, Tràng Cát, lòng Ngọc Bính bỗng rộn lên một niềm vui đến rạo rực. Trợ lý tham mưu - Đào sĩ quan trẻ, ngồi bên cạnh – cũng say sưa khe khẽ cất tiếng hát, một bài hát quen thuộc của các đơn vị công binh:
    “…. Xe ta băng băng qua ngàn mây gió đâu ngại chi. Quê hương ta thân yêu, kia đồng lúa đang vẫy chào. Xe ta đi nhanh nhanh vượt bao núi cao Trường Sơn Khắc sâu trong tim đau thương nơi miền Nam đó đang đón chờ…”
    Bỗng chiếc xe phanh kít lại, đầu xe chúi xuống, Bính đang mơ mơ màng màng thì bị bật về đằng trước, đầu va vào kính xe đau điếng.
    - Cái gì vậy ? Làm sao thế ?
    - Phía đằng trước có người !
    Một cô gái lao ra chặn xe đang đứng lù lù trước mặt – một cô bộ đội. Mọi người chưa kịp nhận rõ mặt mũi thì cô gái reo lên:
    - A, đây rồi, xe thủ trưởng đây rồi ! Em đoán đúng mà ! Thủ trưởng ơi, em đây mà ! Cho em lên với nào !
    Đồng chí lái xe đang định quát mắng, nhưng nhận ra người quen nên kìm lại được.
    - Úi chà cô Mai, y tá Mai ! Này, đi đứng kiểu gì thế ? Định hy sinh đấy hả ? Mà đi đâu sao lại đứng đây ?
    - Khổ quá, có một đồng chí ở “xê” hai bị đau bụng, em phải dừng để cấp cứu. Thế là xe tiểu đoàn bỏ đi luôn không chờ em nữa, bảo em nhảy lên xe sau. Vậy mà em đón mãi chẳng xe nào cho đi cả !
    - Thế đồng chí đau bụng đâu ?
    - Dạ, đỡ rồi ạ ! Lên xe đi với “xê” hai ngay rồi.
    - Thế sao cô không lên xe đi với “xê” hai ?
    Cô gái lúng túng chưa kịp trả lời thì đồng chí trợ lý tham mưu cười nói:
    - Thôi đúng rồi ! Lại muốn chờ xe thủ trưởng đi cho nó êm chứ gì ? Có cấp cứu thật không hay lại bày chuyện ra để ở lại chờ thủ trưởng đấy ?
    - Thì ở lại chờ cũng được chứ sao ? Chả lẽ thủ trưởng lại không cho em đi với hay sao ?
    - Thôi, lên xe đi ! Bính bỗng cắt ngang, ra vẻ gắt gỏng.
    Mai đang bám thành xe, vội vã trèo lên, rồi như lao cả tấm thân béo tròn, nặng nề vào ghế đằng sau, ngồi với Bính. Xe tiếp tục lăn bánh.
    - Này, tôi bắt đền đấy ! Cô làm bươu cả đầu thủ trưởng vì phanh xe đột ngột rồi đấy ! – Cậu trợ lý tham mưu lại tán.
    - Ô, thế à ? Đâu, đưa em xem nào ? Ôi, sưng lên thật rồi ! Em xin lỗi nhé, để em lấy cồn bóp cho tan nhé !
    Cô lại mở túi thuốc lấy bông thấm cồn rồi đắp lên trán Bính! Cô kéo đầu Bính ngả về phía ngực cô và xoa bóp trán cho anh một cách nhẹ nhàng.
    Xe chạy nhanh, gió làm xổ tung mái tóc của Mai bay như làn sóng. Trong đêm sao, Mai cúi xuống. Và một nụ cười rạng rỡ trên môi. Một cảm giác hoà bình mơn man trong lòng Bính.
                        *        *
                                                                    *
    Cũng trong chiến dịch mùa khô 1970, ở một khu vực phía tây Trường Sơn, tiểu đoàn Công binh cầu phà 27B được nhận nhiệm vụ bảo đảm một tuyến cầu phà liên tiếp gồm ba bến, cách nhau trên bảy mươi ki-lô-mét để bảo đảm mở mang cho một hướng chiến dịch.
    Theo yêu cầu phát triển lực lượng bảo đảm chiến đấu, đại đội 1 công binh vốn là đại đội công binh cầu phà độc lập trực thuộc binh trạm, nay được phát triển thành tiểu đoàn lấy tên là tiểu đoàn 27B để mang truyền thống cũ của tiểu đoàn 27 để đủ sức bảo đảm một khu vực tuyến đường. Ngọc Bính từ đại đội trưởng đại đội 1 được đề bạt lên tiểu đoàn phó, phụ trách tiểu đoàn trưởng, trong khi chưa có tiểu đoàn trưởng mới về. Lực lượng ngoài đại đội 1 cũ ra, tiểu đoàn còn được tăng cường đại đội 2 công binh mặt trận, vốn là của tiểu đoàn 27 do Nguyễn Đen chỉ huy và thành lập thêm một đại đội mới là đại đội 3.
    Đại đội 2 công binh mặt trận vốn là một đại đội có truyền thống chiến đấu và xây dựng tốt, là bậc đàn anh trong các đơn vị công binh cầu phà, nổi tiếng về sáng kiến quay cầu nhanh, đạt kỷ lục nhất toàn quân, năng suất cao, là đơn vị có nhiều phần thưởng cao quý và vinh dự. Chính Ngọc Bính cũng từ một chiến sĩ của đại đội 2 mà trưởng thành lên. Cách đây ba năm, Ngọc Bính còn là đại đội phó đại đội 2. Theo yêu cầu phát triển quân đội, đại đội 2 chia đôi làm nòng cốt để thành lập đại đội 1 do Ngọc Bính làm đại đội trưởng và được điều về một binh trạm đường dây. Còn đại đội 2 cũ lại được bổ sung tân binh, vừa xây dựng vừa chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn trực thuộc mặt trận. Trong chiến đấu đại đội 2 đã tham gia nhiều chiến dịch, trên nhiều trọng điểm, địa hình sông nước phức tạp, đã từng được rèn luyện dày dạn trong các trận bom đạn gay go, ác liệt. Trong huấn luyện, vẫn luôn luôn là ngọn cờ đầu của các đơn vị cầu phà trong toàn binh chủng.
    Lần này mặt trận tăng cường cho tiểu đoàn 27B có dụng ý để làm đơn vị nòng cốt chủ lực của tiểu đoàn, đảm nhiệm những trọng điểm khó khăn nhất trên toàn tuyến.
    Đại đội 3 được thành lập từ một số nòng cốt của đại đội 1 và đại đội 2, dĩ nhiên chủ yếu là của đại đội 1 của Bính. Bây giờ mới bắt tay vào huấn luyện cấp tốc, vừa đảm nhiệm một bến ngắn, vừa làm lực lượng dự bị của tiểu đoàn.
    Đại đội 1 do đại đội phó cũ của Ngọc Bính phụ trách quyền đại đội trưởng. Đó là thiếu uý Ích, một thanh niên trẻ, khoẻ và sôi nổi, vốn là liên lạc cũ của Ngọc Bính ở đại đội 1, được đi học, vừa mới tốt nghiệp trường sĩ quan về ít lâu nay. Nó là người yêu, đúng hơn là chồng chưa cưới của Loan – em gái Ngọc Bính. Chúng nó định “tổ chức” vào cuối năm nay. Nhớ lại một hôm về nhà, Ngọc Bính vô tình nghe thấy chúng nó thủ thì với nhau: “Được ở với anh Bính, sướng nhé ! – Em rể ở với anh vợ thì còn gì bằng ? – Tha hồ được quan tâm nâng đỡ… “ Bính nghe thế cũng thấy vui vui. “Ừ, cứ yên tâm cô em ạ ! Anh chẳng quan tâm tới nó thì quan tâm ai nữa ? Có thằng em rể ở đơn vị cũng dễ sai khiến chứ sao ?”
    Về trang bị, ngoài hai bộ cầu của C1, C2 sẵn có, tiểu đoàn 27B được trên tăng cường một bộ cho C3 để huấn luyện và làm dự bị. Như vậy tiểu đoàn Bính đựoc trang bị vào loại mạnh nhất lúc đó.
    Tiểu đoàn chưa có chính trị viên, mới chỉ có một đồng chí là chính trị viên Đại đội 1 lên phụ trách quyền chính trị viên phó. Tiểu đoàn chưa có Đảng uỷ tiểu đoàn, trên mới chỉ định Ngọc Bính là phó bí thư tạm thời phụ trách chung cả công tác Đảng.
                        *        *
                                                                    *
    Trước mặt Ngọc Bính là tấm bản đồ trải rộng phủ khắp mặt bàn như một bàn cờ lớn, có những đường dọc ngang. Sau khi di trinh sát địa hình về, Bính và đồng chí trợ lý tham mưu đang đánh dấu cao đặc điểm địa hình, ghi chép các số liệu và tô màu đậm nét toàn khu vực trên tuyến bảo đảm vượt sông của tiểu đoàn. Bính đang nghiên cứu để bố trí đội hình và quyết tâm sử dụng lực lượng trên bản đồ. Đồng chí trợ lý tham mưu cắt sẵn các ký hiệu bằng bìa cứng, chỉ các đơn vị, sở chỉ huy, các bãi tập kết, bãi cất giấu xe, trạm sửa chữa, trạm cấp cứu, nơi tiếp xăng dầu, kho gạo… đựng đầy một hộp, rồi đem bày trên bản đồ như sắp đặt các quân cờ trên bàn cờ vậy.
    Mai từ nãy vẫn ngồi lấy kéo quân y cắt giúp trợ lý tham mưu Đào, những ký hiệu rồi đặt lên bàn. Vì người hơi thấp, nên cô phải kiễng chân lên và có lúc phải tỳ cả bộ ngực đầy sức sống của cái tuổi hai mươi lên bàn để dò tìm, đọc những địa đanh trên bản đồ theo hướng dẫn của trợ lý tham mưu. Có lúc cậu Đào trợ lý phải kêu lên một cách nghịch ngợm:
    - Ối chết, thế này thì đè nát hết các đơn vị và cầu phà rồi còn gì nữa !
    - Đâu ! Đâu! cô gái đỏ mặt chống chế. Cô vội gỡ những ký hiệu dính đầy vào ngực. Bính phải trừng mắt lên, cậu ta mới thôi không đùa nữa.
    Cây bút chì xanh đỏ Ngọc Bích chạy trên bản đồ, đi theo thứ tự từ hậu phương ra tiền tuyến. Đây là bến số một, đó là bến Nậm Hắc – một con sông tương đối rộng, nước sâu và chảy xiết – là đầu mối của toàn tuyến. Từ đây đi ra các ngả đường chiến dịch có nhiều sở chỉ huy cấp trên đặt quanh. Các cấp trung đoàn, sư đoàn đến Bộ chỉ huy chiến dịch cũng luôn quan tâm tới nó. Có thể nói nó là trọng điểm của toàn tuyến của tiểu đoàn, nên Sở chỉ huy tiểu đoàn cũng phải đặt gần đấy.
    Cách bến Nậm Hắc 23 ki-lô-mét là bến hai. Đó là ngầm Nước Hai. Bình thường chỉ đi ngầm trừ khi có nước lũ thì phải đi phà. Nó là bến nhỏ nhất trong ba bến. Ngọc Bính định đặt đại đội 3 ở đây, vừa làm nhiệm vụ bảo đảm ngầm, vừa tranh thủ huấn luyện cầu phà, để làm lực lượng dự bị chung của tiểu đoàn, khi cần có thể vận động về chi viện cho bến một hoặc bến ba.
    Cách Nước Hai 50 ki-lô-mét là Suối Ba. Đây là bến thứ ba. Đó là cũng là một bến phải bắc cầu, nhưng sông nước không phức tạp bằng bến một.
    Theo mệnh lệnh cấp trên, tiểu đoàn 27B phải bảo đảm thông cầu phà, thông tuyến liên tục bảy ngày đêm để chuyển quân vào mặt trận từ ngày N đến N+6.
    Trong cuộc họp Ban chỉ huy sáng nay Ngọc Bính và đồng chí Nguyễn Văn Chính, chính trị viên phó tiểu đoàn cùng một số trợ lý cơ quan tham dự để bàn quyết tâm chiến đấu. Khi bố trí lực lượng, nhiều ý kiến cho rằng phải đặt C2 vào vị trí trọng điểm, với lý lẽ đó là một bến khó, nước chảy xiết, mà đại đội 2 lại là một đại đội đã có nhiều kinh nghiệm, đã từng bảo đảm chiến đấu nhiều ở ngay bến sông này. Nhưng cũng có ý kiến đồng tình với lý lẽ phân công của Ngọc Bính là:
    - Nhiệm vụ ở bến trọng điểm phải được giao cho đại đội một, đại đội một phải là đại đội chủ công của tiểu đoàn. Và bằng cách nào cũng phải đưa đại đội này lên ngọn cờ đầu, vì nó là đại đội cũ, đại đội gốc sở tại của binh trạm này.
    Bính còn muốn nói thêm: “Nó là đại đội của tôi, tôi dễ chỉ huy sai bảo hơn. Rồi, chẳng lẽ đại đội của tôi lại chịu thua kém một đại đội khác mới tăng cường đến hay sao ? Một đơn vị bạn, tuy trước đây tuy là một, nhưng bây giờ dẫu sao vẫn là một đơn vị khác. Tôi sẽ ăn nói ra sao với binh trạm, với cấp trên và bạn bè? Rồi còn khen thưởng, còn thi đua. Các cán bộ cấp trên, các nhà văn báo sẽ luôn luôn lao xuống bến trọng điểm gần gũi này. Tôi muốn cho mọi người biết, đại đội  1 của tôi sẽ vượt lên, hơn hẳn các đơn vị bạn, xứng đáng là ngọn cờ đầu chứ ? Còn một điều tâm sự thầm kín nữa: Không lẽ tôi lại phải để cấp trên điều một tiểu đoàn trưởng khác về hay sao ?”.
    Còn nhiều ý kiến thảo luận, nhưng Ngọc Bính e bàn cãi nhiều sẽ làm giảm quyết tâm chung, nên Ngọc Bính dùng quyền thủ trưởng quyết định.
    Thế là đơn vị hành quân. Các đoàn xe nối đuôi nhau rầm rập ra trận. Ngồi trên chiếc xe con chỉ huy, Ngọc Bính đi đi lại lại, kiểm tra các đơn vị. Lòng anh rộn lên một niềm vui thích thú. “Chưa bao giờ lực lượng chúng ta lại lớn mạnh như ngày nay”.
                        *        *
                                                                     *
    Mai là người cùng quê Hải Dương với Ngọc Bính. Cô ấy là bạn học của cái Loan, em gái Bính. Học xong lớp 10, Mai xung phong đi bộ đội. Còn Loan ở nhà đi học trung cấp nông nghiệp. Khi Ngọc Bính đi bộ đội 20 năm trước đây, thì chúng nó mới sinh ra. Chiến tranh chống Pháp, rồi chống Mỹ biền biệt, nên Bính cũng không quen biết hết những người làng xóm nữa.
    Gần đây có một số lính nam nữ được điều đến đơn vị. Nhân đọc lý lịch quân nhân, Bính mới biết Mai là người cùng quê. Sau khi chuyện trò thăm hỏi, Mai nhận ra Ngọc Bính là anh của Loan: “Một người rất thân quen nhưng chưa hề gặp mặt” – theo như Mai nói. Bởi lẽ Loan đã kể cho bạn gái mình nghe về người anh trai như một thần tượng của người anh hùng trên các chiến trường, giống như những chuyện kể về anh bộ đội trong các sách giáo khoa cấp một mà các cô đã học vậy.
    Sự bất ngờ khiến Mai được gặp Ngọc Bính, lại ở cùng đơn vị với Bính. Cô rất thích thú và vui sướng. Cô viết thư về báo tin cho cái Loan ngay. Loan càng vui hơn, nó đi khoe khắp làng về chuyện Mai được ở đơn vị với anh mình. Lúc đầu Ngọc Bính vẫn coi Mai như là cô em gái bé nhỏ, nhí nhảnh. Ngược lại, Mai cũng coi Ngọc Bính như một người anh ruột thịt. Nhưng rồi thư đi thư về nhiều – cái Loan rất chăm viết cho Mai – chẳng hiểu gia đình và bè bạn nói với nhau những gì, mà dần dần Mai lại chuyển từ tình anh em sang tình yêu đối với Bính.
    Trước tình cảm bất ngờ của Mai dành cho Bính, anh cũng rất mừng và tự hào. Không vui sao được khi có một cô gái trẻ và đẹp yêu mình, cô gái ấy kém mình tới mười tám tuổi ? Nhưng tình cảm ngây thơ, chân thật và ngày càng nồng nhiệt của Mai lại làm anh e ngại. Mai có khuôn mặt rất tươi và đẹp, ai cũng phải thừa nhận. Còn dáng người thì anh em thường chế với Ngọc Bính là “rất đẹp đôi”. Chả là Bính cũng béo và thấp, chỉ hơn Mai một tý thôi, lại còn đen nữa. Còn Mai, nước da cô rất trắng, các cô gái ai cũng phải khen. Cũng không phải trình độ văn hoá cô ta hơn Ngọc Bính, vì Bính mới chỉ học hết lớp bảy bổ túc trong quân đội; hoặc không phải vì tính nết cô ta hay nhí nhảnh và hấp tấp, bồng bột – Các cô gái trẻ, ai mà chả thế mà chính bởi cái tuổi chênh lệch quá nhiều ấy đã làm Ngọc Bính e ngại. Tuổi ba mươi tám của Bính đã bị chiến tranh làm mất đi những tính cách tế nhị và sôi động của tình yêu. Thêm vào đó, sương gió, bụi đường đã làm con người Ngọc Bính già cỗi, già quá tuổi đời của mình rất nhiều – cả về thể xác và tâm hồn. Liệu rồi đây tình yêu của Bính và Mai có được bền chặt không, cuộc sống có được hạnh phúc không ?
    Cái Loan luôn biên thư động viên phân tích và khuyến khích anh rất nhiều, nhưng Ngọc Bính vẫn còn đắn đo suy nghĩ. Bính tiếp nhận tình cảm của Mai một cách rất dè dặt. Nhất là từ khi tiểu đoàn mới được thành lập. Ngọc Bính đang phụ trách quyền Tiểu đoàn trưởng. Sự tiếp xúc với Mai càng hạn chế hơn. Dẫu sao thì cũng không thể để khách quan đánh giá xấu về mối quan hệ này được, nhất là không để cấp trên nhận xét về quan hệ cán bộ, chiến sĩ thiếu đứng đắn. Ngọc Bính rất sợ tai tiếng. Có những lúc tình cảm của Mai cứ hừng hực bùng lên như ngọn lửa, lăn xả vào Ngọc Bính, quyện lấy anh, muốn thiêu cháy anh trong giây phút. Và lúc đó anh cũng không cầm lòng mình được, anh cũng sục sôi muốn lao vào ngọn lửa đó. Nhưng một cái gì đấy chặn đứng anh lại. Bính sợ cái “tai tiếng”, cái “tai tiếng” có thể làm ảnh hưởng tới vị trí chỉ huy của anh hiện nay và sắp tới. Và anh tìm cách nhẹ nhàng lảng tránh ngọn lửa của Mai, để mặc Mai đau đớn.
    Hôm nay, trên đường hành quân, Mai lại tìm cách ở lại để đón xe anh, và trao cho anh cái hương thơm của tuổi trẻ. Ngọc Bính được Mai bóp trán và đang như ngây ngất bởi mùi vị ngọt ngào trong bầu ngực nóng hổi của Mai, bỗng chiếc xe lao vào một ổ gà, xóc tung lên. Ngọc Bính bừng lên, xấu hổ và ngồi xích ra xa Mai.
    Hai ngày sau, các đơn vị đã vào chiếm lĩnh trận địa bến vượt an toàn. Đại đội 1 ở gần hơn nên đến sớm hơn. Tuy vậy Ngọc Bính cũng đã kịp thời ra một quyết định biểu dương đại đội 1 đã hành quân nhanh gọn, tới bến an toàn nhất, để động viên làm đà cho đại đội 1. Quyết định đó cũng được gửi lên cơ quan cấp trên để báo cáo và gửi lên báo mặt trận.
                       
                                                           *        *
                                                               *
   



KHÔNG KỊP NỮA RỒI
    Trong sổ nhật ký chiến đấu của tiểu đoàn, đồng chí Đào trợ lý tham mưu ghi:
    Ngày…
    Tình hình sông nước: Các bến đều bình thường.
    Tình hình địch: 8 giờ 10 phút, một tốp F1045 bay qua, không phát hiện được gì.
    15 giờ 03 phút, một tốp F4 bay qua, không phát hiện gì.
    Bến an toàn.
    Tình hình ta:     C1 bắc cầu 16 giờ xong.
                C2 bắc cầu 16 giờ 10 phút xong.
                C3 bảo đảm ngầm 16 giờ 15 phút xong.
    Tổng số xe bảo đảm qua tuyến: 1213 chiếc vào, 821 chiếc ra.
    Ngọc Bính đọc xong trang nhật ký chiến đấu của tiểu đoàn, trợ lý tham mưu Đào đưa lên báo cáo. Anh hết sức vui mừng ký vào nhật ký để đồng chí trợ lý tham mưu điện báo cáo lên trên. Sau đó Bính tìm chính trị viên phó tiểu đoàn Nguyễn Văn Chính và nói với đồng chí ấy:
    - Anh phải biểu dương các đại đội và đặc biệt phải có phần thưởng gì cho đại đội 1 đi chứ ? - Đến đây, anh khoái chí cười ha hả rồi nói thêm – Xem nào, đã xứng đáng là ngọn cờ đầu chưa nào? Cứ gì phải đại đội 2. Làm cứ như là không có C2 thì các bến trọng điểm đều tắc hết vậy ! Thằng Ích thế mà làm ăn khá. Giỏi ! Phải đề nghị chính thức cái chức đại đội trưởng cho nó thôi !
    Chính trị viên phó cũng hài lòng với thành tích chung của cả tiểu đoàn và đặc biệt của đại đội 1.
    Thế là trang nhật ký lại được ghi thêm:
    “Thủ trưởng tiểu đoàn điện khen các đại đội 1, 2, 3. Đặc biệt biểu dương đại đội 1 đã chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh, thông cầu trước 20 phút, bảo đảm an toàn tuyệt đối…”.
    Lúc này Ngọc Bính bỗng nhớ tới đại đội trưởng Ích. Anh cử liên lạc đưa xuống cho cậu ta một gói chè thơm. Chiều nay anh sẽ xuống thăm cậu ta, động viên thêm. Chả là cách đây hai hôm, khi họp giao nhiệm vụ cho các đại đội, cậu ta giãy nảy lên như đỉa phải vôi:
    - Báo cáo tiểu đoàn phó, chúng tôi xin nhường cho C2 bến Nậm Hắc đấy ạ !
    - Hả ? Sao lại nhường ? – Ngọc Bính phải quắc mắc lên với cậu ta - Đây có phải là chuyện ăn cỗ ăn bàn đâu mà nhường với nhịn? Các cậu sợ à ?
    - Dạ, báo cáo thủ trưởng, chúng tôi không sợ ạ, nhưng C1 chưa bao giờ được tập luyện ở địa hình sông nước phức tạp như thế này. Giá trong điều kiện bình thường, lâu dài thì không sao. Chúng tôi vừa học vừa làm cũng được. Nhưng đây là một chiến dịch quan trọng ngắn ngày, sợ chúng tôi lúng túng làm ảnh hưởng chung toàn tuyến.
    - Không quen thì phải rèn luyện cho quen. Liệu đến bao giờ các anh mới chịu rèn luyện cho quen? – Ngọc Bính ngừng một lát rồi nhìn thẳng vào mắt Ích: - Đây là quyết định của tiểu đoàn. Thôi, không bàn cãi nữa !
    Ai đó thốt lên phụ hoạ:
    - Đã là mệnh lệnh thì chỉ có chấp hành !
    Thế là cậu ta ngồi xuống, vẻ mặt lầm lì, suốt cuộc họp không nói gì nữa.
    Sau khi giải tán, chờ mọi người về hết, Ngọc Bính mới gọi cậu ta lại rồi vỗ vai thân mật:
    - Cờ đã đến tay rồi đấy. Thế chú mày định để cho người khác phất hộ à ?
    Cậu ta vò vò cái đầu:
    - Dạ, tôi đâu muốn thế. Nhưng báo cáo anh, anh biết đấy, đại đội ta lập tành có ra sao đâu. Lính tráng thì toàn loại ương bướng, mà tôi lại mới ra trường về, chưa quen chỉ huy.
    Ngọc Bính lại vỗ nhẹ lên vai cậu ta, trở về giọng anh em trong nhà:
    - Chả nhẽ, mày lại để chúng tao điều một đại đội trưởng khác về thay mày hay sao ?
    Cậu ta lại trở về là một đứa em ngoan ngoãn:
    - Em cũng biết anh quan tâm, nhưng…
    - Thôi, cứ yên trí, cố gắng lên. Đã có tao, chỉ huy sở tiểu đoàn ở sát đại đội 1. Có gì tao sẽ xuống trực tiếp.
    Ngừng một lát, uống hết chén nước, Ngọc Bính bảo Ích:
    - Này, biên thư về nhà một tý. Báo cho cái Loan nó biết kẻo nó mong.
    - Vâng, em định xong chiến dịch này xin anh cho em về mấy ngày để đưa Loan về dưới quê em chơi và bàn với các cụ việc “tổ chức” một tý ạ !
    - Ừ, thế cũng được thôi. Sau chiến dịch hãy hay!
    Nó lại cười vui vẻ, rồi đứng nghiêm chào anh ra về:
    - Báo cáo tiểu đoàn phó…. à quên, báo cáo thượng uý tiểu đoàn trưởng, em về ạ !
    - Lại sai điều lệnh rồi !
    Mặt nó đỏ dừ lên rồi chạy biến mất. Đúng là một thằng trẻ con. Mới hai mươi tuổi đầu mà lại ! ừ, cái tuổi nó anh còn là tiểu đội  trưởng. Thế mà hôm nay, hôm đầu tiên ra quân, nó cũng làm ăn khá đấy chứ ? Cứ cái đà này thì… Ngọc Bính bỗng nở một nụ cười mãn nguyện.
                        *        *
                                                                    *
    Nhật ký chiến đấu
    Bến Nậm Hắc do C1 đảm nhiệm. Ngày ...
    Nước lũ xuất hiện từ 0 giờ 45 phút, tốc độ lên rất nhanh. Không có biện pháp theo dõi tình hình lũ, không có phương án chuẩn bị trước, khi gặp lũ lúng túng không xử trí kịp, các dây neo bị đứt toàn bộ.
    Số xe đã thông: 540. Số xe còn ùn lại bến bờ bắc: 361 chiếc. Bờ nam: 211 chiếc.
    Tình hình địch: Máy bay hoạt động hồi 03 giờ 50 phút, 04 giờ 50 phút, 05 giờ 50 phút. Tất cả đều thả đèn dù khu vực bến, nhưng không phát hiện được gì (cầu đã đứt).
    Mai đang dọn cơm cho Ngọc Bính ăn. Một mâm cơm rất ngon, có canh cua nấu rau đay, để dành phần anh. Nhưng anh không còn bụng dạ nào mà ăn cơm được nữa. Sáng nay từ mặt trận anh đã được tin cầu Nậm Hắc bị đứt. Ngọc Bính vội vàng phóng xe về. Chết nỗi, đến ngầm Ê-len lại bị nước lũ, phải chờ mất ba tiếng đồng hồ mới qua được, nên mãi chiều nay mới về đến sở chỉ huy tiểu đoàn.
    Sau khi đọc nhật ký chiến đấu, Ngọc Bính trút quần áo bẩn nhờ Mai giặt, thay quần áo khác, không kịp ăn cơm trước sự buồn phiền của Mai. Anh vội vàng phóng xe ngay xuống đại đội 1.
    Vừa tới đầu xóm, Ngọc Bính đã gặp ngay một chiếc xe kéo ca-nô qua bãi lầy. Cậu lái xe mặt non choẹt. Rõ ràng chú này mới ra trường, bổ sung về đơn vị này vừa được mấy hôm. Cậu lái xe cứ ngồi trên buồng lái rú ga ầm ầm. Chiếc ca-nô chẳng nhích lên được tý nào, bánh xe cứ quay tròn, lún dần xuống bãi lầy, ngập cả cầu sau mà cậu ta vẫn còn rú máy mãi. Ngọc Bính vội nhảy bám lên cửa xe, quát vào tai cậu ta:
    - Tắt máy ngay. Cậu định phá xe đấy à ?
    Thấy tiểu đoàn trưởng, cậu ta đang mồ hôi như lắm, mà bỗng mặt tái đi như cắt không còn hột máu. Ngọc Bính kéo cậu ta xuống xe và giúi đầu cậu ta nhìn xuống gầm xe:
    - Này, có nhìn thấy gì đây không. Cậu định phá hoại à ? Sao lại mang xe thuyền đi kéo ca-nô thế này, đến trên đường nhựa còn ì ạch kéo không nổi, huống chi đường lầy thế này. Cậu phá cái xe này rồi còn gì ? Thế xe Gill đâu, sao không đem nó ra kéo? Mà kéo ca-nô đi đâu mới được chứ ?
    - Dạ, báo cáo thủ trưởng – Giọng cậu ta run run: - Tiểu đội trưởng bảo: Chính trị viên lệnh phải tiết kiệm cây số xe Gill ạ. Dạ, kéo ca-nô ra bến để tìm những khoang thuyền bị trôi đêm qua ạ.
    - Trời, có mà phá hoại thì có, chứ tiết kiệm gì ? Nếu dùng xe Gill có phải các cậu đã xong từ lâu, mà lại không bị hỏng chiếc xe này không nào ? Mà này, thuyền đã trôi từ đêm qua, bây giờ mới kéo ca-nô ra tìm thì còn đâu mà tìm nữa ?
    - Dạ, hai ca-nô ngoài bến đi tìm từ sáng nay, máy nóng quá không chạy được nữa ạ.
    - Hả, Ngọc Bính bỗng há hốc mồm ra – Lại hỏng hết cả ca-nô nữa à ?
    Vừa lúc đó, tiểu đội trưởng nghe thấy tiếng Ngọc Bính quát tháo, vội vàng ở đâu chạy ra. Cơn nóng đang bốc lên đầu, anh trút ngay vào đầu tiểu đội trưởng. Ngọc Bính túm lấy vai cậu ta.
    - Này, Nhà nước cấp cho anh cái bằng lái xe bậc ba để phá hoại đấy à ?
    - Báo cáo thủ trưởng, tiểu đội trưởng sợ sệt nói, - nhưng lệnh chính trị viên đại đội cứ bắt lấy xe này đi kéo ạ !
    - Chính trị viên của anh biết đếch gì về xe máy mà lệnh với lọt. Đã dốt lại không chịu học, lại hay lệnh bừa bãi ! Chính các anh phải chịu trách nhiệm với tôi về sử dụng xe máy chứ ?
    - Dạ, báo cáo thủ trưởng, nhưng chúng tôi chỉ là cấp dưới ạ !
    Ngọc Bính bỗng nhận ra mình thật vô lý. Anh hạ giọng buông một câu rồi bỏ đi:
    - Thôi, kéo xe Gill mà xử trí. Khẩn trương lên !
    Đi một đoạn, anh bỗng khoát tay vào không khí và chửi đổng một câu cho biết nỗi bực dọc.
    Như người bị ma đuổi, Ngọc Bính chạy lao xuống bến đại đội 1.
                        *        *
                                                                   *
    Những trận mưa nguồn thật tai ác. Đã cuối tháng chín âm lịch mà những trận lũ Trường Sơn vẫn liên tiếp kéo về. Bính thật không ngờ, trong khi đi trinh sát chuẩn bị trận địa, các anh đã quên không nghiên cứu đặc điểm khí hậu, thời tiết các tỉnh miền trong, cứ tưởng như ở miền Bắc, thì cứ độ này đã hết lũ từ lâu.
    Nậm Hắc: quả là một con sông tai ác. Do thiếu kinh nghiệm, đại đội 1 đã để nó cuốn trôi mất cầu, khí tài bị chìm đắm, bẹp thủng khá nhiều. Ngày thứ ba Ích đã tung hết số khí tài dự bị của đại đội. Hết đêm thứ tư thì không còn đủ khí tài để bắc cầu nữa.
    Ngọc Bính đành phải tung một nửa bộ cầu của C3 về cho C1 vào ngày thứ năm và huy động toàn bộ trạm sửa chữa về bến một, ngày đêm liên tục hàn vá, sửa chữa khí tài ngay tại chỗ. Nhưng vẫn không đủ. Ngày thứ sáu, Ích lại điện về xin chi viện khí tài và cả người nữa, để thay thế cho số thương vong mấy ngày nay – Ngọc Bính lại phải quát vào máy điện thoại:
    - Hả ? Thế nào ? Cậu định đốt hết khí tài của tiẻu đoàn đấy hả ? Cậu định hại tôi phải không ? – Và anh quyết một cách gay gắt – Nhất định không. Tôi không cho anh một khoang thuyền nào nữa đâu. Hãy tự lo lấy. Anh hãy liệu hồn đấy !
    Lúc bực dọc Ngọc Bính lại tung ra những câu chửi bới thậm tệ. Vừa lúc đó, trợ lý tham mưu Đào, ở bến Nậm Hắc về báo cáo lại tình hình. Quả tình đêm qua do tổ chức cắt cầu chậm, nên địch đến đánh. Lại bị thủng mất sáu khoang mà hơi hàn đã hết, không còn một chai nào để hàn vá nữa. Đã điện xin trên rồi, nhưng chưa thấy về.
    Trước Ngọc Bính vẫn  là tấm bản đồ trải rộng khắp mặt bàn. Nhưng ký hiệu các đơn vị như những quân cờ nhảy múa, đập vào mắt anh làm đầu óc anh cứ rối tung lên. Anh hết nhắc quân này đặt vào chỗ kia, lại nhắc quân kia đặt vào chỗ nọ, đảo đi, rồi lại đảo lại. Cách nào cũng không thể giữ lại mấy khoang thuyền dự bị được nữa. Ngọc Bính như người đánh cờ bị rơi vào thế cờ bí, mà đối phương là những nét bút chì xanh, ghi ký hiệu những quả bom, những cơn lũ tai ác đang bao vây lấy các quân cờ của anh. Anh bỗng tặc lưỡi:
    - Cờ bí thí quân, lo gì ? Miễn là thắng lợi cuối cùng !
    Thế là Ngọc Bính tung nốt một nửa bộ khí tài và một trung đội của đại đội 3 về cho đại đội 1. Anh gọi Ích lên. Trông cậu ta như người mất hồn. Mới có ba, bốn ngày mà người cậu ta rạc đi, bơ phờ, đen sạm. Ngọc Bính bỗng thấy thương thương cậu ta, cơn nóng nảy của anh bõng dưng xẹp xuống. Thay vào đó, anh nói với cậu ta bằng giọng mỉa mai và chua xót, xen lẫn hăm doạ:
    - Anh có biết, đây là những khoang dự trữ cuối cùng của tôi không ? Còn hai ngày nữa. Anh hãy liệu hồn đấy ! Toà án quân sự người ta không để yên anh đâu.
    Mặt Ích lại càng tái nhợt đi. Cậu ta chỉ còn biết “vâng, vâng dạ dạ”, hứa sẽ hết sức cố gắng đến cùng. Ngọc Bính định hết đêm nay, cả ngày mai lại xuống họp chi bộ, họp hội đồng quân nhân của C1, quần liên tục để kiểm điểm gay gắt cái lối làm ăn kiểu chiến bại, chết người thế này.
    Nhưng tiếc thay, đại đội trưởng Ích không còn để nghe anh quát tháo hay nạt nộ nữa. Vào khoảng 01 giờ 30 phút sáng hôm sau, địch lại đánh đứt cầu, mấy khoang thuyền bị trôi, Ích lao ra cứu. Ngọc Bính thét gọi quay lại. Nhưng không kịp rồi ! Một loạt bom lại nổ, Ích hy sinh cùng ba chiến sĩ của C3 mới chi viện chiều qua.
                    *        *
*
   
 
CHƯƠNG XI
    ĐÊM CUỐI CÙNG CHIẾN DỊCH
   



Mờ sáng ngày thứ bảy, ở C1 về, Ngọc Bính định về nhà ngủ thay quần áo. Vừa đến đầu ngõ đã gặp hai đứa con chị chủ nhà: thằng Hải bảy tuổi tát vào cái Hoà, làm nó khóc váng lên. Dưới chân chúng, một lọ thuỷ tinh đựng đường bị rơi vỡ tung toé. Thằng Hải vừa khóc vừa bốc đường vào mảnh lọ vỡ. Ngọc Bính dừng lại can:
    - Hải, sao cháu lại đánh em ?
    Thằng Hải cãi lại:
    - Sao nó lại đánh đổ hết đường, về mẹ cháu lại đánh cháu thôi.
    - Cháu lớn, cháu phải bê cho em chứ, nó bé nó bê thế nào nổi ?
    - Cháu đã bảo nó cầm bánh xà phòng, cháu bê lọ đường cho. Nó cứ đòi bê đường, lại còn nói: Không khiến, không khiến !
    Anh quay sang con bé. Cái Hòa vội vàng nói trong nước mắt như thanh minh:
    - Mẹ cháu bảo bê về rồi mẹ nấu chè cho ăn.
    Thì ra, ăn cơm xong, cái Hoà theo mẹ ra cửa hàng hợp tác xã mua bán để mua đường và xà phòng. Có ai đó gọi chị ra đồng vội. Chị liền đưa lọ đường cho cái Hoà rồi nựng con gái để cho nó khỏi theo:
    - Cái Hoà ngoan, đứng đây trông, rồi anh Hải ra bê đường về, rồi mẹ nấu chè cho ăn nhé !
    Thế là con bé thèm ăn chè quá, nên cố mà bê về. Thằng Hải ra đòi, nó cũng không cho anh bê đỡ. Chẳng may, nó bị vấp hòn đá. Thế là ngã, lọ đường vỡ và quần áo lấm bê bết.
    Ngọc Bính vội bế cái Hoà về, lục trong túi còn gói lương khô đêm qua chưa kịp ăn, đưa cho nó rồi dỗ nó. Anh bảo thằng Hải đưa em sang nhờ cô Mai tắm rửa cho. Rồi anh sang ngay phòng chỉ huy.
    Ngọc Bính mệt quá, ngồi xuống bàn, hai tay chống lên trán, đầu gục xuống tấm bản đồ, nghe đồng chí trợ lý tham mưu báo cáo tình hình tổng hợp sáu ngày qua.
    Bính rùng mình khi nghe những con số thương vong, số khí tài xe máy hư hỏng. Nhưng đau đầu hơn cả là số xe bị ùn lại trong mấy ngày qua ở bờ bắc, bờ nam. Mỗi nơi năm sáu trăm chiếc. Và số khoang thuyền còn lại không đủ bắc cầu cho đêm nay, đêm cuối cùng của chiến dịch. Số lượng xe qua đê47m nay bằng tổng số hai đêm cộng lại. Liệu một đêm có thông được hết không ? Nếu không hết, tiểu đoàn sẽ phải kéo dài thêm một đêm nữa. Có biết bao nhiêu chuyện sẽ xảy ra mà mệnh lệnh không được chấp hành nghiêm chỉnh.
    Trợ lý tham mưu lại nhắc những ký hiệu đơn vị lên, đặt vào chỗ này, đặt vào chỗ kia. Ngọc Bính liền gạt tay cậu ấy và toàn bộ những ký hiệu đó ra:
    - Còn đâu nữa mà đi với đứng, tính với toán ? Nước cờ đã hoàn toàn bế tắc. Cũng chẳng còn quân mà thí nữa !
    Vừa lúc đó, chính trị viên phó Nguyễn Văn Chính vừa đi kiểm tra ở bến Suối Ba C2 về, nghe thấy tiểu đoàn trưởng nói, anh vội bước vào nhà. Anh nhìn Bính và nói to như bông đùa vui vẻ, cố làm cho không khí bớt nặng nề:
    - Yên trí, chưa hết cách đâu. Anh còn một con xe chưa dùng đến. Đáng lẽ dùng nó từ lâu thì nhẹ nhàng, nhưng bây giờ dùng vẫn chưa muộn cơ mà !
    Ngọc Bính ngạc nhiên, Nguyễn Văn Chính báo cáo cho anh biết ở bên Suối Ba, đại đội 2 đã thường xuyên tổ chức phòng tránh tốt và đánh địch tốt, chớp được thời cơ quay cầu và dỡ cầu nhanh nên ít bị địch đánh trúng. Đặc biệt trong ba hôm nay C2 đã tận dụng vật liệu tại chỗ, kết hợp với địa phương làm cầu phao luồng nứa, nên số khoang thuyền đã rút ra làm dự trữ. Mặt khác, một cậu nào đó đã có sáng kiến làm cầu phao giả ở phía hạ lưu và nguỵ trang kỹ cầu chính nên bọn địch toàn đánh nhầm cả.
    Trước khi về sở chỉ huy, chính trị viên phó Nguyễn Văn Chính đã qua bến C1 nên đã nắm được tình hình ở bến Nậm Hắc. Anh đề nghị với tiểu đoàn trưởng.
    - Tôi đã điện báo cho C2 chuẩn bị một bộ phận sẵn sàng rồi, chờ lệnh anh.
    Ngừng một lát, chưa thấy Ngọc Bính trả lời, anh lại nói tiếp, như chính anh đã quyết định sẵn:
    - Không còn cách nào khác. Tôi đã động viên anh em trạm sửa chữa rồi, nhưng cố gắng lắm cũng chỉ khôi phục được 10 khoang, còn thiếu những 8 khoang nữa, lại còn dự bị, ít nhất cũng 2 khoang nữa. Tôi đã điện cho C2 chuẩn bị đưa về 10 xe, nguỵ trang thật kín đáo, hành quân ban ngày, đi thật thưa. Chỉ ba tiếng có thể về kịp. Cánh tay lái C2 chúng nó dày dạn lắm…
    Thì ra Nguyễn Văn Chính đã tính toán cụ thể cả rồi. Không còn cách nào hơn thế nữa. Cái thần tượng của C1 mà Ngọc Bính đã cố gắng xây đắp, tô vẽ, giương cao, đã sụp đổ và chìm nghỉm theo đại đội trưởng của nó rồi. Không còn cách nào cứu vãn được nữa, đành phải nhờ C2 ứng cứu nó vậy thôi. May ra còn cứu vãn được danh dự của tiểu đoàn này, cứu vãn được cái đầu của tiểu đoàn trưởng.
    Ngọc Bính suy nghĩ khá lâu. Rồi bỗng như người chết đuối với được cọc, anh bỗng bật dậy, đập tay xuống bản đồ, cố gắng nói cho vui:
    - Đồng ý ! Không những phải xuất xe mà còn phải xuất cả tướng nữa mới được.
    Nói xong, Ngọc Bính như người trút được một gánh nặng. Anh thấy mình như tỉnh ra không buồn ngủ nữa. Tiếp đó, anh bàn với đồng chí chính trị viên phó và trợ lý tham mưu về một số việc để giải quyết hậu quả đêm qua và chuẩn bị cho trận quyết liệt đêm nay. Rồi anh lại lao ngay xuống đại đội 1.
    - À, anh Bính này ! Đồng chí chính trị viên gọi giật lại:
    - Gì nữa ? – Ngọc Bính sốt ruột hỏi.
    - Cái Mai nó không muốn đi học y sĩ đâu. Tôi đã đưa quyết định đi học cho nó và nhờ xe binh trạm tối nay xuất phát đi thẳng ra ngoài Bắc, nhưng nó cứ nhùng nhằng không muốn đi.
    - Thì tôi đã bảo cô ấy rồi cơ mà !
    - Anh khuyên nó nữa xem sao ?
    Hôm qua binh trạm thông báo chiêu sinh lớp y sĩ cấp tốc. Ngọc Bính đã bàn với chính trị viên phó cho Mai đi. Thực lòng anh muốn cho Mai được học tập tiến bộ. Mặt khác cũng muốn Mai tạm thời xa anh một thời gian, ít nhất là trong giai đoạn đang xây dựng đơn vị mới đầy thử thách. Anh không muốn để tai tiếng gì về quan hệ giữa anh và Mai.
    Cuốn nhật ký chiến đấu của đồng chí trợ lý tham mưu Đào lại ghi:
    Đêm: …
    + Tình hình sông nước: Vẫn bị lũ, lưu tốc các bến đều trên 2m/s.
    - Đại đội 2 vẫn bảo đảm bằng cầu phao luồng nứa, còn chi viện về cho C1 10 khoang thuyền và 1 trung đội công binh.
    - C3 khắc phục hố bom ở giữa ngầm.
    - Bến C1 do đại đội phó C2 chỉ huy bắc cầu và tiểu đoàn trưởng trực tiếp chỉ huy bến.
    - Toàn tuyến thông cầu từ 17 giờ, cất cầu 06 giờ 30 sáng.
    + Tình hình địch:
    - Bến Suối Ba địch đánh ba lần vào 20 giờ, 22 giờ 30, đều ra ngoài, 0 giờ lũ địch đánh trúng cầu, một đoạn phao luồng bị cháy. C2 dập tắt được ngay.
                        *        *
                                                                   *
    Sáu giờ sáng ngày thứ bảy, Tư lệnh Mặt trận và Binh trạm trưởng đi qua cùng đi có đặc phái viên của Bộ Tổng tham mưu đại tá Lê Nam Thắng dừng lại ghé vào thăm tiểu đoàn 27B. Ngọc Bính báo cáo tình hình mấy ngày qua, tất nhiên anh chỉ báo cáo chủ yếu về đêm cuối cùng của chiến dịch, còn những ngày qua chỉ nói sơ sơ hoặc chỉ báo cáo tình hình khó khăn, tuyệt nhiên anh không nhắc gì đến việc sai lầm trong quá trình sử dụng lực lượng cả. Chính trị viên phó Chính và trợ lý tham mưu Đào cũng không ai đả động đến chuyện ấy, không ai nhắc đến chuyện thương vong và tổn thất nhiều hay ít.
    Các thủ trưởng biểu dương tiểu đoàn 27B đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, đặc biệt khen ngợi tiểu đoàn trưởng đêm qua đã xông xáo và dũng cảm, cứu được tình huống phức tạp, giải phóng hết toàn bộ số xe bị ùn lại.
    Ngọc Bính bỗng nhớ đến tối hôm qua, khi ngồi ở bến sông Nậm Hắc chính trị viên phó Chính nói với trợ lý tham mưu Đào.
    - Muốn gạt bỏ truyền thống một đơn vị cũ cũng không phải dễ dàng. Muốn xây dựng một truyền thống cho một đơn vị mới lại càng không đơn giản. Không thể đốt cháy giai đoạn được, phải rèn luyện bền bỉ, đầu tư tích luỹ lâu dài. Thổi nhanh lên cũng như bọt xà phòng mà thôi, sẽ bị vỡ tan tành không còn một cái gì cả.
                        *        *
*
    Chiến dịch đã kết thúc.
    6 giờ 30, Binh trạm trưởng đã lệnh cho dỡ cầu, chuẩn bị hành quân vào tuyến trong theo kế hoạch đợt hai của chiến dịch.
    Sau khi kiểm tra cầu, trên đường từ bến về nơi đỗ xe, Ngọc Bính nghe thấy đồng chí Tư lệnh nói với Binh trạm trưởng:
    - Xe máy phải biết sử dụng đúng tính năng kỹ thuật thì mới phát huy hết tác dụng của nó và mới giữ được lâu bền. Con người cũng vậy. Phải biết sử dụng đúng khả năng của từng người thì mới phát huy được tài năng của họ và tạo được điều kiện cho họ ngày càng phát triển. Người chỉ huy giỏi, trước hết là phải biết tổ chức giỏi, tức là biết sử dụng con người, sử dụng xe máy, trang bị một cách hợp lý. Sử dụng con người - đó là một nghệ thuật.
                        *        *
                                                                      *
    Sau khi tiễn Tư lệnh Mặt trận cùng đặc phái viên Bộ Tổng tham mưu và Binh trạm trưởng đi qua tuyến, Ngọc Bính quay về sở chỉ huy. Bỗng người như muốn quỵ xuống. Chân tay rã rời. Những ngày đêm căng thẳng thần kinh quá, bây giờ như mới có dịp thả mình xuống. Mệt mỏi và buồn ngủ. Anh giao việc lại cho chính viên phó, rồi quay về nhà ngủ.
    Con bé Hoà - con chị chủ nhà - thấy anh về, nó reo lên, chạy lại ôm chầm lấy anh.
    - A, a  Chú Bính, chú Bính đã về !
    Anh bế nó lên rồi vuốt ve hỏi nó:
    - Thế hôm qua mẹ cháu có đánh cháu không ?
    Nó vội vàng khoe:
    - Mẹ không đánh cháu. Mẹ không mắng cháu, mà còn khen cháu ngoan nữa cơ !
    - Thế mẹ cháu có cho ăn chè không ?
    - Không. Mẹ cháu phạt không cho ăn chè nữa, còn bảo cháu, lần sau không được tranh công với anh như thế đổ vỡ hết lọ đường thì lấy gì mà ăn nữa ? Rồi nó lại léo nhéo hỏi: - Chú Bính ơi, cô Mai đã về chưa ? Hôm qua cô bảo đến sáng nay cô sẽ tết tóc đẹp cho cháu này, cô sẽ làm hoa bằng giấy cho cháu chơi này… Thế cô Mai sắp về chưa ?
    Nghe con bé Hoà nhắc đến tên Mai, Ngọc Bính bỗng sững sờ cả người, và tự dưng nước mắt tuôn trào ra. Anh ôm chặt bé Hoà vào lòng, không dám trả lời nó. Anh nhắm mắt lại. Hình ảnh Mai chập chờn đến.
    Đêm qua, cái đêm cuối cùng của chiến dịch ấy, Mai tìm xuống bến gặp anh. Lúc đó vào khoảng nửa đêm, cầu vẫn thông, tình hình yên tĩnh.
    Anh đang ngồi nghỉ một mình ở bờ sông phía thượng lưu và đang say sưa ngắm nhìn từng đoàn xe nối đuôi nhau rầm rập qua cầu ra mặt trận. Khi quay lại thì thấy Mai không biết từ đâu đến, ngồi bên cạnh anh từ lúc nào cũng không hay.
    - Mai đến đây từ lúc nào thế, làm người ta giật cả mình ?
    - Anh thì lúc nào mà chả giật mình ! Lại sợ em làm ảnh hưởng tới cái chức tiểu đoàn trưởng sắp tới chứ gì ?
    - Sao Mai lại nói thế ? Anh đã bảo Mai đi học y sĩ cơ mà ? Tại sao lại không đi ?
    - Em chưa muốn đi, vì anh chưa nói gì với em cả !
    - Nói gì cơ ?
    - Trời ơi, chả lẽ anh lại còn ngây thơ thế ư ? Hay lúc nào anh cũng ra vẻ mô phạm, ra vẻ đạo đức ? Hay anh muốn bắt em phải nói với anh: em yêu anh ! Anh có yêu em không  ? Anh Bính ? Hả ? Hả ?
    Mai nhìn thẳng vào mắt anh, chờ đợi. Ngọc Bính bỗng run run, khẽ trả lời lúng túng:
    - Có chứ, anh có yêu em.
    - Tại sao anh lại trốn tránh em ?
    - Nhưng anh sợ…
    Bỗng nhiên giọng Mai trở nên nhát gừng và mỗi lúc lại trở nên gay gắt:
    - Anh sợ cái gì ? Một tình yêu chân chính anh cũng sợ ư ? Anh sợ “tai tiếng” à ? Hay anh tưởng tôi – Mai thay hẳn cách xưng hô - là một đứa con gái hư đến với anh chứ gì ? Anh tưởng tôi yêu anh vì danh vọng, vì địa vị ư, vì cái cấp thượng uý hay cái chức tiểu đoàn trưởng của anh ư ? Vì sao anh già như vậy mà tôi vẫn yêu anh, anh không biết sao ? Anh chỉ nghĩ đến bản thân anh, thì anh còn coi trọng gì ai nữa ! Anh đã coi thường tình yêu của tôi với anh, mà chính em gái anh đã vun đắp cho tôi từ thuở bé. Cái thần tượng con người lý tưởng của anh đã làm cho tôi tan vỡ. Anh hoàn toàn chỉ là một con người ích kỷ, hẹp hòi, đố kỵ và nhỏ nhen. Thôi vĩnh biệt anh ! Mai tôi sẽ đi ! Đi học hoặc đi đâu cũng được. Miễn là xa anh để anh khỏi nhìn thấy tôi, khỏi ảnh hưởng, khỏi tai tiếng. Chào anh !
    Nói liền một hơi không nghỉ, rồi Mai chạy lao về phía đầu cầu. Trong cơn phẫn nộ, tâm thần bất định cô chạy lao qua cầu để trở về sở chỉ huy tiểu đoàn.
    Ngọc Bính vội vàng chạy đuổi theo Mai. Nhưng giữa lúc đó máy bay giặc Mỹ bất thình lình đến. Hàng chùm bom nổ ngay trên mặt cầu trùm lên đoạn Mai vừa chạy tới.
    - Mai ! Anh hét gọi thật to, lạc cả giọng, rồi quỵ xuống.
    Cầu bị đứt. Những khoang thuyền bị bắn tung lên, rồi chìm xuống sông hoặc trôi đi. Lửa cháy khắp mặt sông. Người hy sinh duy nhất trong đêm lại là Mai.
    Chuyện của con bé Hoà cũng không làm sao cho anh mở mắt ra được, hai mí cứ cụp lại, anh đã ngã lăn vào giường, không kịp cởi giầy và thay quần áo, ngất lịm đi. Con bé Hoà tưởng anh ngủ, nó lẳng lặng bỏ đi chơi lúc nào không biết.
    Một lát sau, đồng chí cơ yếu chạy đến, lay Ngọc Bính dậy và đưa cho anh một bức điện. Nội dung đại ý là:
“Cho tiểu đoàn hành quân về hậu cứ củng cố và sửa chữa xe máy, khí tài, bổ sung quân số, vũ khí và huấn luyện một thời gian”. Có nghĩa là tiểu đoàn 27B không thể hành quân ngay vào tuyến trong theo kế hoạch đợt 2 của chiến dịch được nữa, vì thương vong và xe máy, khí tài bị hư hỏng nhiều, phải có một thời gian dừng lại để củng cố, bổ sung và huấn luyện. Và trên tất nhiên lại phải điều một đơn vị khác thay 27B, như chính anh đã điều C2 thay C1 vậy !
    Ngay sau đó, liên lạc cũng đến đưa cho Ngọc Bính một lá thư.
    Thư cái Loan, trời ! – Anh thốt lên – Mình sẽ ăn nói với nó làm sao đây ? Có phải chính anh đã vun đắp cho nói một mối tình đẹp đẽ song lại chính anh đã chặt đứt niềm hy vọng cuộc đời của nó ? Và nó đã vun đắp cho anh một tình yêu cao đẹp, nhưng lại chính anh đã bỏ rơi phũ phàng ?”
    Tay anh run run cầm lấy bức thư mà không dám xé ra đọc. Anh lại nằm xuống, nhưng không sao ngủ được. Anh vùng lên, chạy lao ra phía sông. Cầu đã di chuyển hết. Không còn ai cả. Nỗi cô đơn, hiu quạnh bao trùm lấy anh. Chỉ còn lại dòng sông phẳng lặng như tờ.


EM LÀ NGƯỜI YÊU CỦA“VÀM CỎ ĐÔNG”

Hôm đó, đại đội 3 sau khi bảo đảm chờ phà cho tên lửa vượt sông bến Lèn, thì rút về trú quân trong một xóm nhỏ gần rừng thông. Các cụ già liền xua bọn trẻ đi chơi.
- Các cháu đi chơi đi, để yên cho các anh bộ đội ngủ. Thức suốt đêm qua, mãi sáng mới được về ngủ đấy !
Các trẻ em định vào nhờ các anh bộ đội dạy hát, đành tiu ngỉu bước ra ngõ.
Đại đội trưởng đại đội 3 Nguyễn Văn Thắng thức dậy, gọi đội trưởng phá bom Đoàn Văn Lộc dậy và bảo:
- Cậu ở nhà gác cho “cụ ấy” ngủ một lát nữa nhé. Mình đi kiểm tra bãi dấu xe, nhân tiện kiếm một mớ rau rừng về nấu bát canh chiêu đãi “cụ ấy” cho mát dạ.
- Ừ, anh cứ đi đi ! Lộc vùng dậy và trả lời.
Thắng lấy mũ, súng, nai nịt gọn gàng, bước ra ngoài. Lộc lại nằm xuống, chùm chăn lên đầu định ngủ thêm. Ở trong nhà, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen mà đại đội trưởng Thắng gọi thân mật là “cụ ấy” đang nằm ngủ ở góc trong cùng. Anh là người về muộn nhất vì còn đi hiệp đồng với bến phà và đơn vị pháo vượt sông tối nay.
Một lúc sau bỗng có tiếng con gái rụt rè nói từ ngoài ngõ vào:
- “Vàm Cỏ Đông” có đây không các anh ơi !
Không thấy tiếng trả lời, cô gái lại bước lên hè rồi gọi vào trong nhà giọng nhỏ hơn.
- Anh Đen có đây không ạ ?
Đội trưởng Lộc bỗng tung chăn, vùng dậy ngó ra:
- Ai đấy ?
- Em đây mà !
Lộc đứng lên bước hẳn ra ngoài vì nhớ đến nhiệm vụ đại đội trưởng Thắng dặn, và bỗng ngỡ ngàng.
Một cô gái khá xinh, người chắc đậm, nước da trắng trẻo trông có dáng là sinh viên hoặc một cô giáo.
Hai người bỡ ngỡ nhìn nhau. Bỗng Lộc mỉm cười vẻ hóm hỉnh hỏi:
- Cô hỏi ai ?
- Em hỏi anh Vàm Cỏ Đông !
Lộc liền nháy mắt bảo cô gái ra ngoài nhà sang đầu trái (để yên cho Nguyễn Đen ngủ) rồi hỏi một cách nghịch ngợm:
- Thế em là gì với Vàm Cỏ Đông nào ?
Cô gái cũng không vừa, vẻ tinh nghịch trả lời:
- Em là... là người yêu của Vàm Cỏ Đông mà.
- Hả ... là người yêu à, thế thì cứ chờ ở đây, một lúc nữa, anh ấy sẽ về...
Thế là anh chàng Lộc chớp ngay thời cơ tán tỉnh cô gái, cô gái cũng xỗ xàng chẳng kém.
Hai người đang tán tỉnh nhau. Nguyễn Đen bỗng tỉnh dậy, anh vội nhớ tới công việc, liền vội vàng gấp chăn xếp lại, rồi mặc quần áo bước ra ngoài, gật đầu chào hai người rồi đi ra ngõ.
Cô gái vẫn thản nhiên không tỏ dấu hiệu gì. Lúc này Lộc mới nói:
- Đấy anh Nguyễn Đen – thủ trưởng Vàm Cỏ Đông của chúng tôi vừa đi ra đấy !
Cô gái bỗng ngỡ ngàng:
- Hả. Thế mà anh không bảo em ngay.
- Tại em bảo là người yêu ... mà lại không nhận ra nhau à ?
Cô gái bỗng đỏ mặt lên, thẹn thùng quá, liền xô đến đấm vào lưng Đoàn Lộc liên hồi để chữa thẹn:
- Thế mà chẳng bảo người ta – ghét thế !
Chả là ở đâu, tiểu đoàn 27 cũng hay tổ chức liên hoan văn nghệ với nhân dân địa phương và bến phà, trong đó tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen là một cây đơn ca xuất sắc, hát bài Vàm Cỏ Đông được nhiều người ưa thích. Anh em cán bộ chiến sỹ yêu mến và tự hào về tiểu đoàn trưởng của mình nên gọi là “thủ trưởng Vàm Cỏ Đông”.
Vào một dịp khác tiểu đoàn 27 trở lại bến sông này. Cô Hảo, tên người con gái thanh niên xung phong ấy đã tìm gặp được Nguyễn Đen ở ngay đầu bến phà. Họ đã gặp gỡ nhau, cùng song ca bài Vàm Cỏ Đông trước đám đông của bộ đội và thanh niên xung phong đều tán thưởng nhiệt tình.
Nhưng trong một trận bom ác liệt vào cuối năm 1972 tại bến Lèn, cô Hảo đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, để lại niềm tiếc thương cho Nguyễn Đen và đồng đội. Mỗi lần qua bến phà anh lại dừng lại thắp một nén hương vĩnh biệt, tưởng niệm người con gái song ca ấy.

ĐOẠN KẾT


Một buổi sáng sớm, khi ông Nhiệm mới ngủ dậy, một sĩ quan tham mưu vội vã đưa tới một tin diện:” Đêm qua bọn Mỹ đã oanh tạc rất dữ dội ở Cổ Tế. Cầu ba lần bị đứt. Nhưng ba lần đã nối lại được. Thiệt hại chung tuy nhẹ nhưng tiểu đoàn trưởng Nguyễn Đen bị thương khá nặng, đã đưa vào trạm phẫu tiền phương quân khu ở gần đó.”
Ông Nhiệm bậm môi lại. Ông bỏ cả ăn sáng, lệnh lấy xe cho ông đi luôn.
Chiếc xe vừa ra khỏi cổng doanh trại, ông thấy Cao Thành đang từ xa sấp ngửa chạy tới. Anh ta vẫy vẫy và gọi to rất nồng nhiệt:
- Anh Nhiệm đấy phải không? Xuống Cổ Tế phải không? Cho tôi đi với anh!
Làm như không nghe thấy, và cũng không trông thấy ai hết, ông Nhiệm đập nhẹ tay vào cậu lái xe ra hiệu phóng nhanh và đi thẳng…
Ba giờ sau, ông đã có mặt ở trạm giải phẫu tiền phương của quân khu. Quang cảnh tất bật nhưng lại hết sức yên lặng ở đây làm cho ông cũng không tránh khỏi  hồi hộp. Nom thấy chiếc xe, bác sĩ Thuần trưởng trạm vội vã chạy ra.
Vừa bắt tay bác sĩ Thuần, ông Nhiệm đã hỏi vội:
- Thế nào, Nguyễn Đen ra sao, anh?
- Báo cáo! Đã mổ từ sáng sớm….
- Triển vọng?
- Báo cáo… Còn đang theo dõi… Cũng may, anh này có một sức chịu đựng thật kỳ lạ.
Ông Nhiệm nắm chặt lấy bàn tay Thuần, giọng ông như nghẹn lại:
- Tôi đề nghị các anh hãy hết lòng… Xin các anh hãy săn sóc như chăm lo cho chính bản thân tôi.
Bác sĩ Thuần rớm nước mắt:
- Rõ, thưa đại tá phó tư lệnh, chúng tôi hiểu!
Ông Nhiệm được đưa tới phòng của Nguyễn Đen. Ông rón rén mở hé cửa. Nhưng ông vội dừng ngay lại. Trong phòng một chiếc giường trắng toát đặt chính giữa, Đen đang nằm thiêm thiếp trên đó. Và một phụ nữ trạc ba mươi tuổi, tóc xổ dài ngồi ở bên, gần như ôm lấy toàn thân anh mà khóc lặng. Chinh! Ông Nhiệm cảm thấy trái tim mình như rung lên. Cô đã đến đây từ lúc nào vậy? Cô Chinh, tôi đã hiểu tất cả mọi điều. Tôi kính trọng cô cũng như kính trọng tất cả những tình cảm nồng nàn trong sạch của cô. Tôi kính trọng cô như tôi kính trọng cả phẩm chất, tâm hồn cao quý của Nguyễn Đen… Xin hãy cứ khóc, khóc đi cho vơi bớt nỗi đau thương, cho nhẹ bớt bao điều nén ép…
Chinh không hay biết gì hết. Cô vẫn gục xuống như ghìm chặt lấy Đen, nước mắt chan hoà…
Trong lúc đó, Đen, đầu băng kín, cả hai mắt cũng vậy, đang nằm thoi thóp thở. Tâm hồn anh như đang bay lượn đâu đây, quanh tấm thân đẫm máu của anh, và người con gái đã luống tuổi. Tâm hồn anh đang lắng nghe tiếng khóc ở trong này, lắng nghe cả cuộc đời đang nhộn nhịp ngoài kia; cuộc đời mà trong đó con người đang phải vật lộn dữ dội với thiên nhiên, với kẻ thù dân tộc, kẻ thù giai cấp, và… cũng buồn thay, vật lộn cả với nhau nữa. Cuộc đời bình dị vô cùng và cũng phức tạp vô cùng – Cuộc đời vẫn buồn, vui lẫn lộn – Nhưng cuộc đời to rộng, đáng quý biết bao, cuộc đời này vẫn còn đầy đủ chỗ đứng cho những con  người chân chính và dũng cảm. Và cuộc đời bao giờ cũng thật công bằng đối với tất cả mọi người lương thiện và ngay thẳng…
Ông Nhiệm lẳng lặng khép cửa lui ra. Vừa lúc đó một đoàn cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn 27 cùng anh em bên cao xạ, giao thông, dân quân và nhân dân địa phương sấp ngửa bước vào. Ông vội giơ tay xua xua, ra hiệu cho mọi người dừng lại, hãy đợi ở ngoài này, và thì thào:
- Để cho cậu ấy yên tĩnh một lúc đã! Tốt thôi. mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp cả; không có gì phải lo lắng lắm các đồng chí ạ! Cứ yên tâm, yên tâm!

2013-2014






                                                                 DÒNG SÔNG LỬA
 
 
                                           LƯƠNG HIỀN







                 DÒNG SÔNG LỬA



                                         TIỂU THUYẾT







Tác phẩm dự thi về đề tài Cách mạng và Kháng chiến
                             ( 1930 – 1975 )

---------------------------------
Tác giả:Lương Hiền
         ĐC: Số 52,ngõ 31,phố Nguyễn Cao,phường Bạch Đằng
         Quận Hai Bà Trưng,Hà Nội.
ĐT:0975.429.042  
CHƯƠNG I
CHIẾN DỊCH K2 VÀ LÒNG TIN



Gần nửa đêm, cuộc họp đảng uỷ mở rộng của tiểu đoàn công binh quân khu mới xong. Chiếc đèn bão đã đen kịt những muội, ngọn lửa đỏ sạm như một con mắt đói ngủ soi lên những gương mặt đã khá hốc hác vì vật lộn trong mưa nắng, dưới bon đạn liên tục mấy tháng trời nay chưa một lúc nghỉ.
    Ngoài trời, mưa đầu thu vẫn lai rai. Mưa suốt từ hai, ba ngày nay rồi. Mưa đến thối đất thối cát.
    Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Trung Hiếu có biệt danh là Đen, Nguyễn Đen đứng dậy, vóc người dong dỏng chắc nịch của anh in một bóng đậm trên bức vách phía sau. Anh mỉm cười làm cho gương mặt cháy nắng xương xương bình thường nom hơi nghiêm nghị, khắc khổ, lúc này trở nên linh hoạt, cởi mở hơn.
    - Thôi, ta lên đường, các đồng chí !
    Lập tức mệnh lệnh di chuyển sở chỉ huy tiền phương của tiểu đoàn được phát ra. Mấy tay cán bộ tham mưu đã mắc màn, ngủ được một giấc, choàng tỉnh dậy. Đã quá thuộc phong cách chiến đấu của Nguyễn Đen, không ai hỏi một lời, cũng chẳng ai phàn nàn một tiếng. Hết sức xuề xoà dễ dãi trong mọi sự chơi bời, nói năng, sinh hoạt, nhưng đã vào việc nhất là tác chiến, thì Nguyễn Đen lại hết sức nghiêm khắc và vô cùng chặt chẽ về nguyên tắc, chớ có ai dại mà lơ mơ với ông tiểu đoàn trưởng da ngăm ngăm đen “trời đánh không chết này”.
    Đại uý Nguyễn Đen và thượng uý tiểu đoàn phó Đoàn Liễu, một con người thấp bé quê ở miền Trung, cùng lên một chiếc xe con.
 Chiếc xe gầm lên, cặp đèn pha sáng loá chọc thủng màn mưa đang rơi chênh chếch. Đường lầy bùn, dài hun hút trong đêm khuya. Không một bóng người, ễnh ương, cóc nhái kêu râm ran bốn bề. Vắng và cô đơn lạ lùng. Những đêm mưa thế này, bọn Mỹ chắc ít hoạt động, anh em mình cũng đỡ vất vả.
Vừa lên xe ngồi được một lúc, Đoàn Liễu đã ngọeo đầu sang một bên, ngáy hộc như một chiếc xe tăng đang gầm rú. Con người thật dễ ăn, dễ ngủ. Ai dám bảo đây là con người “ Lòng dạ khó lường” ? Nguyễn Đen cũng nhắm mắt, muốn chớp lấy một giấc ngủ con, nhưng đầu óc anh vẫn bề bộn công việc.
                    *        *
*
Giữa mùa mưa năm 1970, để đẩy mạnh tốc độ vận chuyển hàng quân sự cho chiến trường miền Nam, chuẩn bị khẩn trương cho chiến dịch mùa khô trên toàn miền, trước mắt là khu Trị – Thiên – Huế, mà trọng tâm là đường Chín – Nam Lào. Bộ tổng tham mưu quyết định mở một đợt vận tải quân sự lớn là “chiến dịch K2”. Mọi lực lượng giao thông vận tải từ Bắc tới Nam đều được huy động hết ra tuyến, bao gồm lực lượng giao thông vận tải các địa phương, tỉnh, huyện, các binh trạm đường dây, các đơn vị thanh niên xung phong và các đơn vị công binh cầu đường, vượt sông của các Quân khu và của Bộ. Ngoài ra còn huy động nhân dân trên dọc tuyến, chuẩn bị sẵn sàng ứng cứu khi có tình huống bất trắc xảy ra. Toàn bộ các lực lượng đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ chỉ huy chiến dịch trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.
    Một cuộc họp giao nhiệm vụ và hiệp đồng giữa các lực lượng từ vĩ tuyến 18 trở ra được triệu tập tại Chi Nê, trong một hang đá rộng và đẹp của Quân khu 3, do Bộ Tổng tham mưu chủ trì, có đầy đủ thành phần các Bộ, Tổng cục, Cục có liên quan, đại diện Bộ tư lệnh các Quân khu, đại diện các Uỷ ban nhân dân tỉnh và các Trưởng ty giao thông vận tải trên tuyến chiến dịch , các chỉ huy của các binh trạm và các trung đoàn, sư đoàn công binh, cao xạ, vận tải v.v… Đại uý Nguyễn Đen tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27- tiểu đoàn vượt sông độc lập của Quân khu 3 cũng được dự.
    Trong cuộc họp, mọi người bàn nhiều nhất đến các biện pháp bảo đảm vượt sông băng cầu, bằng phà và việc tổ chức đánh trả máy bay địch một cách tích cực, có hiệu quả. Trên toàn tuyến, người ta đặc biệt chú ý đến tỉnh Thanh Hoá, một trọng điểm đánh phá ác liệt của bọn giặc Ních-xơn lúc bấy giờ nhằm cắt đứt đoạn đầu mút của chiến dịch vận tải quân sự của ta. Từ khi Ních-xơn liều lĩnh đánh phá miền Bắc, liên tục mấy tháng trời bằng mọi thủ đoạn xảo quyệt và khoa học tối tân, chúng đã đánh hỏng hầu hết cầu cống, kể cả cầu Hàm Rồng, nhiều phương tiện cầu phà bị phá huỷ hoặc hư hỏng nặng. Hướng đường số 1A, giao thông hầu như bị ngừng trệ, hướng đường 59 và đường 15 thường bị gián đoạn, tốc độ vận chuyển giảm sút rất nhiều. Mùa mưa, nước lũ trên các sông tràn về, gây thêm nhiều khó khăn cho các lực lượng giao thông, nước sông Mã có ngày lên cao hai, ba mét chảy xiết như “ ngựa lồng”- đúng như cái tên “sông ngựa” mà ông cha đã gọi – phà không thể qua lại được. Nước sông Chu (sông trâu) bình thường chảy nhẹ nhàng nhưng thỉnh thoảng lại có những con lũ đột ngột dâng cao, mạnh như “ trâu húc” cuốn phăng những nhịp cầu phao chưa kịp cắt, phá vỡ những bè mảng, phao thuyền trôi lênh bềnh khắp sông. Tình hình đoạn đầu mút chiến dịch giao thông này ngày càng khó khăn thêm.
    Tiểu đoàn 27 là tiểu đoàn công binh vượt sông. Trong suốt bốn năm chống chiến tranh phá hoại đợt một của giặc Mỹ, tiểu đoàn hoạt động trên khắp địa bàn Quân khu, đặc biệt là khu vực Thanh Hoá. Chả thế mà không những lực lượng giao thông, mà cả chính quyền và nhân dân địa phương ở đây đã mệnh danh cho tiểu đoàn 27 là “những mũi tên xung kích”, là “lực lượng ứng cứu thần tốc” chiến lược ở khu này. Thật vậy, hễ cứ nơi nào cầu bị tắc, phà bị đắm, bến bãi bị đánh phá là có lực lượng của tiểu đoàn đến ứng cứu ngay. Có chỗ chỉ cần một tuần, có chỗ nửa tháng, có nơi tiểu đoàn trụ lại để đảm bảo giao thông hằng tháng, hai, ba tháng cho đến khi nào trang bị và huấn luyện cho lực lượng địa phương thay thế được mới thôi. Những năm sau chiến tranh, tiểu đoàn thường chỉ làm lực lượng cơ động ứng cứu nhanh chóng, có khi chỉ một đêm tiểu đoàn  hành quân hàng trăm ki-lô-mét, đến bến hạ thuỷ, bắc cầu hoặc ghép phà bảo đảm cho các đơn vị pháo, tên lửa, vượt sông xong lại bốc dỡ và hành quân hàng trăm ki-lô-mét trở về.
    Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh phá hoại lần hai của giặc Mỹ, tiểu đoàn phải làm nhiệm vụ ứng cứu nhiều hơn, vì lần này bọn giặc xảo quyệt, tinh vi hơn, đánh phá ác liệt và gây nhiều thiệt hại về giao thông cho ta hơn.
    Trong chiến dịch K2 này, nhiệm vụ của tiểu đoàn 27, mà Nguyễn Đen đã báo cáo lại trong cuộc họp của Đảng uỷ và thủ trưởng tiểu đoàn là: Do có truyền thống và kinh nghiệm vượt sông giỏi hơn các đơn vị bạn, lại là nơi địa hình quen thuộc, nên tiểu đoàn đựơc trên giao nhiệm vụ bảo đảm những bến đầu cầu: ngoài lực lượng sẵn có, theo biên chế là ba đại đội  cầu LPP, tiểu đoàn phải tổ chức thêm hai đại đội trang bị phà TPP (loại khí tài mới, đơn vị chưa được huấn luyện) để đảm bảo năm bến tuyến đường 59 từ Chi Nê, Nho Quan đến Cổ Tế, sau đó là Cổ Tế, Kiều và Thiệu Hoá, bảo đảm cho xe vận tải các loại, và một tuyến đặc biệt ở đường 15 gồm hai bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn để đảm bảo cho xe tăng hành quân. Ngoài ra tiểu đoàn còn được tăng cường thêm các đại đội pháo cao xạ bảo vệ các bến và trang bị thêm súng 12.7, súng 14.5 để tổ chức các phân đội bắn máy bay bay thấp. Như vậy, đội hình của tiểu đoàn  kéo dài gần 200 ki-lô-mét. Sở chỉ huy tiểu đoàn sẽ ở khu vực bến Cổ Tế là nơi trung tâm chỉ huy hai đầu; cũng là một bến trọng điểm nhất của chiến dịch, vì bến này là điểm đầu mút của Thanh Hoá, lại là ngã ba trọng điểm, một đường theo tuyến 59, một dường rẽ theo Eo Lê lên tuyến đường 15. Ở đây thành lập một “Ban chỉ huy thống nhất” để chỉ huy chung các lực lượng giao
thông, vận tải, cao xạ… do đại uý Nguyễn Đen, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 27 là chỉ huy trưởng. Bộ chỉ huy chiến dịch và Quân khu cũng cử những bộ phận chỉ đạo đặc biệt tại khu vực đầu mút này.
    Cuộc họp giao nhiệm vụ ở hang đá Chi Nê mãi đến 17giờ chiều ngày 22 tháng 8 mới xong. Nhưng mệnh lệnh yêu cầu chậm nhất 19 giờ ngày 25 tháng 8 phải thông cầu trên toàn tuyến. Thời gian còn rất ngắn. Chỉ còn có ba ngày tính từ hôm nay. Ngay tối 22 tháng 8, Đảng uỷ và thủ trưởng tiểu đoàn đã họp bàn những biện pháp khẩn trương nhất. Vừa hành quân, vừa tổ chức lực lượng mới, vừa đi lĩnh khí tài, vũ khí, trang bị, vừa huấn luyện bổ sung, nhiều việc phải làm cùng một lúc. Điểm lại số lái xe, thiếu hàng trăm người. Lấy đâu ra ? Trên không có bổ sung kịp. Mấy hôm nay trời lại mưa liên tục suốt ngày, có đại đội làm nhiệm vụ mãi ở cửa sông Hồng cách xa vị trí bến mới trên 250 ki-lô-mét, khí tài bổ sung phải lấy tận Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hoá… Lại nữa, chưa đại đội nào được học khí tài TTP, trước đây thường chỉ trang bị cho các đơn vị của Bộ, nay mới trang bị cho cấp quân khu. Vậy mà tất cả thời gian dành cho chỉ có ba ngày ba đêm kể từ lúc tiểu đoàn trưởng nhận lệnh xong.
    Liệu tiểu đoàn có thể hoàn thành nhiệm vụ theo đúng mệnh lệnh được không? Cuộc họp Đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng bàn bạc tranh luận sôi nổi, gay gắt và căng thẳng kéo dài đến nửa đêm vẫn chưa xong…
Chỉ có ba ngày! Một kỷ lục.
Một kỷ lục – một nhiệm vụ mà kẻ yếu bóng vía có thể choáng váng. Các cầu cống nơi đây đều đã bị bọn Mỹ đánh hỏng hết. Các phương tiện cầu, phà, cũng đã bị phá huỷ hoặc hư hại khá nhiều, ở hướng đường 1A, giao thông gần như đã bị đình trệ từ trên nửa tháng nay. Hướng đường 59 và đường 15 bị bom ác liệt, tốc độ vận chuyển cũng đã giảm xuống chỉ còn một nửa…Lại đang mùa mưa. Tân binh thì nhiều, khí tài bắc cầu mới do Bộ cấp cho, chưa hề được huấn luyện, cả tiểu đoàn chỉ có hai cán bộ trung đội là võ vẽ ít nhiều về loại cầu phà này. Đó là chưa kể đội ngũ lái xe đang rất thiếu. Nguyễn Đen đã chủ động cho tập trung 50 chiến sỹ để tiểu đoàn tự đào tạo. Anh em học chưa xong. Tình hình này chắc phải “dỡ non”, mạnh dạn tung họ vào nhiệm vụ. Vừa làm vừa học tiếp thôi. Hơn nữa tiểu đoàn đang đóng rất phân tán. Có đại đội hiện nay còn đang cách Cổ Tế- bến trọng điểm mà tiểu đoàn phải trực tiếp chỉ huy – những 250 ki-lô-mét. Làm sao nội trong đêm nay có thể điều động họ về tới địa điểm tập kết được?
Tất cả những chuyện đó đã làm cho Nguyễn Đen muốn thắt cả tim lại. Cũng vì thế mà cuộc họp của đảng uỷ tiểu đoàn mở rộng đã phải làm việc hết sức khẩn trương và cũng căng thẳng chưa từng thấy. Họp xong là phải đứng dậy đi liền. Ba ngày ! Ba ngày!... Làm sao chỉ trong có ba ngày mà tất cả bằng ấy công việc đều phải được thu xếp, giải quyết thắng lợi?...

CHUYỆN TRONG HANG ĐÁ
   
Có một chi tiết nữa trong cuộc họp ở hang Chi Nê chiều 2 tháng 8 mà Nguyễn Đen không muốn kể lại trong cuộc họp Đảng uỷ tiểu đoàn. Khi phân chia nhiệm vụ ở điểm đầu mút thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hoá, đồng chí đại tá Lê Nam Thắng thay mặt bộ tổng tham mưu hỏi thượng tá Nguyễn Đoan phó tư lệnh công binh :
    - Ở khu vực đầu mối này có ba lực lượng. Của bộ tư lệnh công binh có một trung đoàn - trung đoàn 49, của quân khu có một tiểu đoàn – tiểu đoàn 27 và lực lượng của Ty giao thông Thanh Hoá. Lực lượng Ty giao thông Thanh Hoá là lực lượng tại chỗ phối hợp với chủ lực. Chủ lực anh định giao cho các đơn vị bến nào trong số 7 bến chủ yếu này? - Ông cầm gậy chỉ huy chỉ lên bản đồ và đọc:
    - Bến Chi Nê, bến Nho Quan thuộc Hoà Bình do quân khu tự lo, trước là 27 lo, còn bến Cổ Tế, Kiểu, Thiệu Hoá, Cẩm Thuỷ, Mục Sơn. Đặc biệt bến Cổ Tế là điểm đầu mút ác liệt nhất. Vậy là chúng ta có một trung đoàn và một tiểu đoàn bằng bốn tiểu đoàn sẽ phân chia mỗi tiểu đoàn một bến, trong đó có một tiểu đoàn phải phụ trách hai bến có phải không? - Ông hất đầu về phía Nguyễn Đoan.
    Thượng tá Nguyễn Đoan lại liếc nhìn về phía trung đoàn trưởng 49 và tiểu đoàn trưởng 27 và hỏi:
    - Đơn vị nào nhận bến nào, nào?
    Trung đoàn trưởng 49 lặng im không nói; Nguyễn Đen chỉ chờ cho quân chủ lực, quân đàn anh nói trước – Nhưng hội nghị vẫn im lặng.
    Một lát đại tá Lê Nam Thắng lại nhắc:
    - Sao ? Việc này giao anh Đoan phân bổ nhiệm vụ cụ thể theo khả năng từng đơn vị cho hợp lý.
    Thượng tá Nguyễn Đoan ngồi cạnh Nguyễn Đen nên nói nhỏ với Nguyễn Đen:
    - Các cậu có nhiều kinh nghiệm chứ 49 còn yếu lắm, không thể bằng quân các cậu được đâu.
    “ Hả, quân triều đình mà lại yếu hơn quân địa phương à?”
    Đen bỗng bật lên câu hỏi thầm trong lòng và nhìn về phía trung đoàn trưởng 49 – Nhưng trung đoàn trưởng 49 vẫn ngồi thừ ra, lặng im không nói.
    Mọi người đều hiểu rằng bến Cổ Tế là đầu mút ngã ba đường, sẽ là nơi gay go, ác liệt nhất: Đại tá Lê Nam Thắng lại hỏi:
    - Sao? Đơn vị nào xung phong đảm nhận bến nào?
    Ông ngước nhìn trung đoàn trưởng 49 – Quân triều đình phát biểu trước nào?
    Trung đoàn trưởng 49 vẫn chưa nói, phó tư lệnh công binh cũng còn đang tính toán ngập ngừng.
    Giữa lúc ấy, Nguyễn Đen lên tiếng:
    - Tôi đề nghị trung đoàn 49 đảm nhận bến nào, còn bến nào tôi xin nhận hết.
    Hội nghị bỗng vỡ oà ra. Một anh chàng đại uý mà dám nói mạnh như vậy có hợm mình không?
    Lúc này thượng tá Nguyễn Đoan mới dám nói:
    - Theo kinh nghiệm và truyền thống của tiểu đoàn 27 trong những năm qua lập được nhiều chiến công, thành tích nhất. Căn cứ vào khả năng chỉ huy của tiểu đoàn, theo ý tôi giao cho tiểu đoàn 27 gồm ba bến Chi Nê, Nho Quan, Cổ Tế.
    Còn trung đoàn 49 giao cho hai bến Kiểu và Thiệu Hoá.
    Phó chủ tịch Thanh Hoá - Nguyễn Ngọc Bích đứng lên nói:
    - Riêng bến Thiệu Hoá hiện đang có  cầu tre luồng của Ty giao thông cho nên trung đoàn 49 chỉ là lực lượng dự bị, khi cần thiết thì mới phải ứng cứu.
    Đại tá Lê Nam Thắng nói:
    - Hoan hô tiểu đoàn 27, hoan hô Thanh Hoá. Trung doàn 49 chỉ còn một bến Kiểu thôi à? Vậy còn hai bến Cẩm Thuỷ và Mục Sơn bảo đảm cho xe tăng nữa. Ông hất hàm hỏi phó tư lệnh công binh Đoan.
    Trung đoàn trưởng  49 lúc này mới nói:
    - Báo cáo, trung đoàn 49 chỉ còn đủ khí tài bắc cầu bến Kiểu thôi ạ! Chúng tôi xin nhận bến Kiểu ạ!
    Nguyễn Đoan hỏi Nguyễn Đen :
    - Các cậu có bảo đảm cho tăng ở Cẩm Thuỷ và Mục Sơn được không?
    - Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi chỉ có LPP thôi làm sao bảo đảm được, mà lực lượng thì chỉ có ba đại đội bảo đảm ba bến được thôi ạ.
    - Ừ nhỉ? Khó khăn thật. Nguyễn Đoan ghé tai hỏi nhỏ một cán bộ đi theo. Mình còn bao nhiêu TPP. – Anh cán bộ trả lời là còn dự trữ một nửa bộ nữa. Nguyễn Đoan liền nói tiếp:
    - Hay là thế này. Ông hướng về Nguyễn Đen. Bộ sẽ cấp cho các anh đủ hai phà TPP để anh đảm bảo cả hai bến nữa.
    - Nhưng còn lực lượng?
    - Thì tổ chức thêm hai đại đội nữa. – San sẻ lực lượng nòng cốt ra rồi bổ sung quân mới vào.
    - Nhưng còn huấn luyện? Quân tôi đã biết gì về phà TPP đâu?
    - Thì tranh thủ vừa làm vừa học vậy. Câụ thông cảm, quân của Bộ đã tung ra hết cả rồi, mà còn bị sa lầy ở nhiều nơi. Chỉ có các cậu mình mới tin tưởng được. Chứ giao cho chúng nó (ý nói trung đoàn 49) thì không thể làm được. Thôi cố gắng lên, giúp Bộ tư lệnh phá gỡ khó khăn này, chiến trường đang khẩn trương. Động viên anh em cố gắng làm. Bộ tư lệnh tin tưởng ở các cậu.
    Nguyễn Đen còn biết nói gì hơn trước lời lẽ của phó tư lênh binh chủng. Một con người hiền lành chất phác mà anh đã cảm phục từ lâu.
    - Vâng chúng tôi sẽ cố gắng.
    Trên đường về Nguyễn Đen bỗng nhiên suy nghĩ: Thế là mình tự buộc cổ mình rồi. Biết làm sao đây? Anh vừa đi vừa nhanh chóng tính toán, biết bao công việc cần phải làm khẩn trương, gấp chỉ trong ba ngày. Nhưng cũng phải phân loại ra việc gì làm trước, việc gì làm sau.
    Xe vừa về tới đơn  vị anh vội vàng mời Chính trị viên Trần Huy Tiệm về hội ý và thông báo triệu tập họp Đảng uỷ ngay trong đêm nay, kịp gọi các đảng uỷ viên từ xa về gấp.
    Và suốt đêm 22 tháng 8 Đảng uỷ tiểu đoàn đã kịp thời ra được một nghị quyết sáng suốt. Việc tiểu đoàn 27 ra quân đợt này trong chiến dịch K2 với muôn vàn khó khăn và thử thách.
Chỉ có ba ngày, phải tiến công! Cuộc họp Đảng uỷ mở rộng kết thúc lúc năm giờ sáng. Mọi người oà ra xe, xe nổ máy rồn vang về các ngả đường, bến sông.
                           *        *
                                                            *
Chưa bao giờ, trong suốt cả cuộc đời chiến đấu của mình, Nguyễn Đen phải đứng trước một con toán khổng lồ và hóc búa như lần này.
Tuy vậy, sau cuộc họp đảng uỷ tiểu đoàn Nguyễn Đen cũng có thể yên tâm được nhiều điều. Giờ đây, trong đầu óc anh nếu có gì vẫn còn nặng nề thì dường như lại là một chuyện khác: ấy là sự xuất hiện của Thượng uý Cao Thành, một cán bộ quen biết cũ. Cách đây tám năm, khi Nguyễn Đen là đại đội trưởng, Cao Thành cũng là một cán bộ trung đội, tuy không cùng một đại đội, nhưng cùng một tiểu đoàn công binh của quân khu. Cao Thành đã được cử vào Nam làm trợ lý công binh, sau đó xuống đơn vị một thời gian. Nay do sức yếu anh được trở ra Bắc, làm trợ lý trên cơ quan tham mưu của Bộ tư lệnh quân khu. Nguyễn Đen thỉnh thoảng lên họp, do đó hai người đã gặp lại nhau. Nhưng không ngờ, ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên, Nguyễn Đen đã có cảm giác không vui. Hoàn toàn trái ngược với sự mừng rỡ thực sự của anh, người cán bộ quen biết cũ này đã tiếp anh bằng một sự lạnh nhạt và luôn luôn nhìn vào bộ quân hàm Đại uý trên ve áo của anh với cặp mắt khinh thị: “Đại uý rồi cơ à? Anh mà cũng đã lên đại uý? Bằng ấy năm ăn sung mặc sướng an toàn ở miền Bắc, mà anh cũng lên được đại uý?”. Dường như Cao Thành chỉ thiếu nói hẳn ra điều ấy. Đến khi được đồng chí tư lệnh vui vẻ giới thiệu Nguyễn Đen là một sĩ quan trí thức đáng quý, kiên nhẫn học tại chức sau đó được đưa đi học thêm đã tốt nghiệp hai bằng kỹ sư trong hai năm liền. Một bằng kỹ sư cầu đường, một bằng kỹ sư cơ khí ô tô, máy kéo….”, thì đôi mắt Cao Thành trố hẳn ra. Anh lặng đi một lúc rồi nhếch mép cười: “Bằng cấp cũng quý thật. Nhưng tất cả đều phải qua thử thách lửa máu đã anh ạ”. Đến lượt đồng chí tư lệnh phải nhướng cặp mắt lên. Có lẽ anh không thể nào hiểu nổi thái độ của Cao Thành.
Từ đó, mỗi lần gặp nhau, sự lạnh nhạt giữa hai người càng rõ rệt và sâu sắc thêm. Cái nhìn của Cao Thành không chỉ khinh thị mà còn tỏ ra tức giận nữa.
Mặc dầu Nguyễn Đen vẫn cố giữ thái độ thân mật, kể cả kính trọng (anh thực sự quý trọng những người đã từng tắm trong máu lửa chiến trường miền Nam ác liệt, gian khổ), nhưng cuối cùng lần nào giữa hai ngườicũng xảy ra một vài câu hoặc một vài ý ít nhiều khác biệt và thường dẫn tới thái độ ít nhiều gay gắt.
Chính vì vậy từ nửa năm nay, Nguyễn Đen đã tìm đủ mọi cách để lánh mặt người cán bộ quen biết cũ ấy. Tính anh vốn không ưa chuyện “đấu đá”, mặc dầu trong cuộc đời đôi khi bị dồn tới thế không thể lùi được; anh cũng biết thế nàolà tự vệ, chứ không đến nỗi là kẻ nhu nhược hoặc ngu hèn…
Vậy mà hôm nay Cao Thành lại xuất hiện trong đoàn cán bộ của quân khu khi tiểu đoàn 27 đã được giao trách nhiệm ở đoạn đường xung yếu nhất, anh ta đã chất vấn Nguyễn Đen rất nhiều điều, như một vị tư lệnh chất vấn cấp dưới. Thôi cũng được, nếu như tất cả những câu hỏi đấy đều thuộc về kĩ thuật như “Hai bộ phà mới T.P.P., các anh chưa học, làm thế nào để sử dụng được ngay?”-“Các anh báo cáo là tiểu đoàn đang đóng rất phân tán, có đại đội ở xa những 250 ki-lô-mét làm thế nào để về kịp?” – “Các anh báo cáo là lái xe thiếu, sẽ phải “dỡ non” lớp đang đào tạo liệu có đảm bảo an toàn?”. Vân vân và vân vân…Nhưng cuối cùng anh ta lại hỏi thêm: “Các anh đảm bảo sẽ đúng thời gian, và an toàn tuyệt đối, không bốc đấy chứ?”. Câu hỏi đã làm cho Nguyễn Đen phải đỏ mặt lên. Không thể nhún nhường được mãi, Nguyễn Đen buộc phải đáp lại: “Xin anh cứ chờ xem rồi hãy xét đoán một thể cũng không sợ muộn!”. Tưởng như hai lưỡi kiếm cùng rút ra khỏi vỏ. May thay, mọi chuyện cũng lại qua đi…
Nhưng dẫu sao cho đến lúc này, ngồi trên xe mà trong lòng Đen vẫn còn thấy cộm lên một cái gì đó không vui. Anh thở dài nhẹ nhẹ. Anh không thích gì hơn là được thanh thản trong lòng để làm việc, và rất thích sự ân cần, vui vẻ của anh em chung quanh. An nhàn ư? Tiếng tăm ư? Cấp bậc ư? Cũng như mọi người khác, anh không phải thần thánh gì mà không có những lúc nghĩ tới cái gì đó, nhưng quả thật anh chưa bao giờ coi đó là những mong muốn cao nhất của đời mình.
Mưa, mưa vẫn lai rai. Ngoài trời vẫn tối mù, chỉ trừ hai vệt đèn pha chiếu sáng ở phía trước với những giọt mưa láp loáng bay, hàng cây hai bên đường rũ rượi, ướt át và một sự hoang vắng như từ một thủa hoang sơ xa xôi nào đang chế ngự nơi đây.
Đoàn Liễu cựa mình tỉnh dậy. Anh hỏi mấy giờ rồi, sau đó bất chợt hỏi tiếp:
- Này ông Đen, ông có biết vì sao hôm nay cái lão Cao Thành nó vặn vẹo nhiều thế không?
Nguyễn Đen đáp lấp lửng:
- Không! Không rõ lắm.
Đoàn Liễu cười ranh mãnh:
- Nó ỷ thế tư lệnh phó quân khu là chỗ quen biết cũ với nhau đấy mà. Lúc giải lao tôi có nghe nó nói thế này: “Cậu Nguyễn Đen trước đây được anh Cúc Tư lệnh phó cũ quá tin, quá đề cao. Bây giờ anh Cúc đi rồi, anh Nhiệm mới về thay, vì chưa rõ tình hình lắm nên anh Nhiệm mới tạm sử dụng vậy thôi!”.
Nguyễn Đen nhíu lông mày:
- Thế là…. nghĩa thế nào?
Đoàn Liễu cười to:
- Có nghĩa là nó bảo: Ông Cúc là “ô” của ông đi rồi. Bây giờ cần phải…. đánh  lại ông.
Nguyễn Đen thở hắt ra một cái. Anh không khỏi lặng người. Thì ra lại có cái chuyện vớ vẩn “ô, dù” này nữa ư? Sao chuyện đời quá phức tạp làm vậy? Nguyễn Đen làm gì có “ô”, có “dù” nào. Đối với anh, hết sức rõ ràng và minh bạch: phục tùng tất cả mọi người mọi đồng chí chỉ huy lãnh đạo cấp trên, không phân biệt bất cứ ai và làm việc hết mình. Có vậy thôi! Trong dầu óc Cao Thành sao lại có những ý nghĩ xấu thế nhỉ? Nhưng, nếu như Đoàn Liễu tinh quái đã thấy đúng, thì…sao? Trời ơi! Ngày rời ghế nhà trường để vào quân đội, trước mặt anh chỉ toàn thấy những hoa hồng và cuộc sống xung quanh sao mà tuyệt vời, sao mà cao cả đến mê say…
Từ lúc đó, cái gì nằng nặng trong đầu óc Đen càng như thêm nặng và có phần nhức nhối. Anh cố xua đuổi mọi ý nghĩ rắc rối đi, cố quên tất cả, ngoài công việc trước mắt: phải hoàn thành nhiện vụ, một nhiệm vụ hết sức phức tạp, khó khăn đang đòi hỏi  bọn anh phải căng sức, căng óc ra. Tóm lại là phải làm việc, phải chiến đấu hết mình, không được một phút giây chậm chễ, lơi lỏng, càng không được mảy may lo sợ, dao động!…
    Đôi môi mím lại, cặp mắt nhìn thẳng phía trước, mặt bừng bừng nóng, lát sau Nguyễn Đen mới khẽ thốt lên, như với chính anh:
    - Không có chuyện gì hết. Mặc nó. Phải làm việc đã!
    Cũng như toàn tiểu đoàn đã rất thuộc tính Nguyễn Đen, khi nghe thấy giọng nói của tiểu đoàn trưởng này thoắt như khô rắn lại, và gương mặt anh bừng bừng như lên cơn sốt, thì Đoàn Liễu hiểu rằng: Nguyễn Đen đã quyết vào trận. Và đã vào trận là anh sẽ quên hết, dám vứt hết tất cả mọi cái gì gọi là riêng tư, kể cả những chuyện lặt vặt, vớ vẩn trong đơn vị. Nguyễn Đen là con người biết tập trung sức lực cũng như dám tập trung sức lực để chiến đấu. Những lúc đó,dù nhiều khi trong thâm tâm không thích Nguyễn Đen vì chuyện này chuyện khác, Đoàn Liễu cũng phải thầm chịu: Con người này quả thật trong sáng và tích cực, không thể phủ nhận hoặc dễ dàng bôi bác.

NHỮNG TAY LÁI “DỠ NON”

    Một lúc sau, chiếc xe nhỏ đã vượt hết con đường đất lầy lội, ra tới quốc lộ một. Cũng đúng lúc ấy,cả Nguyễn Đen, cả Đoàn Liễu bỗng nhổm lên, nhô người về đằng trước, mở to mắt ra. Cậu lái xe cũng đột nhiên bật reo như một chú bé bắt được một chú chim non:
    - Ô! Kia rồi! Cánh nhà mình kia rồi!
    Trên quốc lộ một, một đoàn xe chở các khí tài cầu phà của công binh đang nối đuôi nhau ầm ầm chạy, gần như là một đoàn xe lửa dài dằng dặc đang chạy ngang qua, chắn hết cả con đường phía trước.
    - Đúng! Anh em ta! – Nguyễn Đen, đôi mắt bật sáng, mở tung cửa xe, khoác áo mưa nhào xuống. Lòng anh tràn ngập vui sướng. Anh giơ cao tay vẫy vẫy, nói như thét lên:
    - Hoan hô 27! hoan hô các chiến sỹ lái xe 27!
    Từ trong ca bin những chiếc xe tải đồ sộ, gần như tất cả những gương mặt đều ló ra ngơ ngác nhìn, ánh đèn pha đã soi rõ người đang đứng ở ngã ba đang vẫy chào và hoan hô họ là ai. Lập tức những tiếng reo, tiếng hô đáp lại râm ran cả một quãng đường, hoà lẫn tiếng xe máy gầm gào rung chuyển .
    - Hoan hô tiểu đoàn trưởng!
    - Xin cứ tin tưởng ở chúng em!
    - Bảo đảm an toàn tuyệt đối! Tiểu đoàn trưởng cứ yên tâm!
    Nguyễn Đen chạy tới sát từng chiếc xe. Anh siết chặt những bàn tay thò ra – Những bàn tay nhỏ nhắn, chưa nhiều chai sẹo, những bàn tay em út.
    - Cẩn thận! Dẫu sao vẫn phải hết sức cẩn thận tập trung tư tưởng vào tay lái đấy!
    Một chiếc xe bỗng dừng lại, cửa xe mở, một bóng người nhảy xuống, đứng nghiêm lại, giơ tay lên vành mũ sắt:
    - Báo cáo, tôi Nguyễn Đức Thắng, đại đội trưởng đại đội ba…
    Nguyễn Đen giơ tay lên đáp lễ, rồi nhào lấy ôm chặt Nguyễn Đức Thắng, quay tròn:
    - Các cậu cừ quá! Tôi đang lo…
    - Báo cáo anh, đúng năm giờ chiều nhận được điện lệnh của tiểu đoàn, chúng tôi ra quân ngay…
    - Lúc ấy, chúng tôi chưa họp đảng uỷ tiểu đoàn, nhưng cứ lệnh điều quân đã, kẻo không kịp. Điện văn tắt quá, tôi cứ lo các ông không hiểu hết tầm quan trọng.
    Nguyễn Đức Thắng ngửa người ra cười vang:
    - Báo cáo, đã quá thuộc cách điện của thủ trưởng rồi. Cứ thấy những từ tức khắc và nghiêm chỉnh là bọn tôi biết ngay việc lớn, việc khẩn cấp loại một. Thế là, dù có bão, có lụt, cũng phải lên đường…
    Nguyễn Đức Thắng trở lại xe. Các chiến sĩ lái trẻ vừa được “dỡ non” đang tiếp tục cuộc diễu hành kỳ diệu và lịch sử của đời lính công binh của họ: chuyến xe đầu tiên trong đời đi làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông, vận tải đánh Mỹ.
    Nguyễn Đen vẫn đứng như say. Đoàn Liễu ngại mưa nhưng rồi không thể ngồi yên trên xe được nữa, cũng chạy xuống. Hai người đứng ngắm mãi đoàn xe. Tốc độ đẹp quá, cự li cũng đẹp quá! Ai dám bảo đây là các chiến sĩ lái xe chưa học trọn khoá học? Nguyễn Đức Thắng vừa nói tới bức điện. Nhưng thật ra đâu chỉ vì một bức điện khẩn! Ngay từ khi họ khoác tấm áo lính, còn như một chú bé lớ ngớ bước vào tiểu đoàn, Nguyễn Đen cùng toàn thể cán bộ chỉ huy ở đây đều đã biết phải làm những gì để giúp đỡ họ; trước hết là làm cho họ ý thức được thật sâu sắc trách nhiệm của mình, sâu sắc đến mức mọi nhận thức đã chuyển thành tình cảm. Họ đã biết vui từng cái vui nhỏ của đơn vị, biết lo tới cả những nỗi lo lớn của tiểu đoàn, của đảng bộ. Họ đã cùng tất cả cán bộ các cấp trong tiểu đoàn trở thành một thể thống nhất. Đúng vậy, tất cả đã biết lo, biết tính, biết làm ngay từ đầu, từ ngày họ vẫn còn như những tờ giấy trắng…
    Nguyễn Đen và Đoàn Liễu cùng trở lại xe của mình. Anh bảo cậu lái xe lách lên, vượt đoàn xe vận tải khí tài của Nguyễn Đức Thắng để tranh thủ tới  Cổ Tế trước.
    Lần này, ngồi trên xe khác với cách đây nửa giờ lúc mới ra đi, Đen thấy lòng mình khá yên ổn . Quyết tâm của anh (vừa cấp tốc hành quân, vừa cho một bộ phận đi lĩnh khí tài mới T.T.P., vừa triển khai, tổ chức lực lượng…) được đảng uỷ, tiểu đoàn hoàn toàn nhất trí, đã bước đầu tỏ ra có hiệu lực.
    - Chỉ còn lo nhất cái “xê” Trần Đằng đang còn ở tít cửa sông Hồng, liệu sáng mai có về kịp Cổ Tế không? - Đoàn Liễu cũng không nén khỏi sự mừng rỡ, cất tiếng nói như vậy.
    - Tôi tin là được. Cậu Đằng vẫn giỏi về môn cơ động. Mà thằng cha này thật là tinh ranh, cái quái gì nó cũng làm được.
    - Còn cậu Như “xê” phó di lĩnh T.T.P nữa…
    - Đã cho cả cậu Luận “bê’ trưởng biết về T.T.P đi giúp sức! Cũng không đáng lo lắm.
    Nguyễn Đen nhắm mắt lại để hình dung ra toàn cảnh của tiểu đoàn trong giờ phút này, trong đêm khuya mưa gió, lầy lội, cùng một loạt lên đường ra quân để gấp rút bước vào chiến dịch vận chuyển lớn lao nhằm chi viện cho miền Nam đánh thắng. Trong đầu óc anh hiện lên rõ ràng từng khuôn mặt: này Nguyễn Đức Thắng, này Trần Đằng, này Hoàng Anh Tự… này các chiến sĩ lái xe, này các chiến sĩ ca-nô, các chiến sĩ cầu phà… Tất cả đều quen thuộc. Tất cả đều thân yêu. Những người chiến sĩ công binh ở đâu cũng vậy, bao giờ cũng thế, vẫn như là những tảng đá câm lặng – nhưng là những tảng đá mưa không mòn, nắng không chảy – Những tảng đá chìm dưới bùn non, lót đường cho xe ra phía trước đánh giặc – Những tảng đá được ghép lại với nhau thành tường thành, thành lô cốt vững bền nơi bờ biển, ngoài hải đảo, trên non cao… để góp phần chở che Tổ quốc. Những tảng đá khi cần, và có thời cơ, cũng trực tiếp giáng vào đầu giặc, tiêu diệt giặc góp phần vào chiến thắng chung của đất nước… Những tảng đá cần thiết biết bao và cũng đơn giản làm sao ! Nguyễn Đen đã từng chiến đấu trong kháng chiến chống Pháp. Đã hơn hai mươi năm làm lính công binh, trải đủ mọi nỗi nhọc nhằn, mọi điều hiểm nguy ghê ghớm, cũng như mọi niềm vui, mọi vinh dự đã dành cho những người lính cách mạng khi hoàn thành nhiệm vụ. Giờ đây nếu có ai hỏi anh: muốn đi đâu không? thì Đen sẽ trả lời không cần phải suy nghĩ “ Không! Chỉ trừ khi Đảng cần tôi đi đâu thì tôi sẵn sàng tới đó”. – Công binh! Những người lính chân chất, vai trĩu nặng khí tài, những người lính suốt đời tắm trong mồ hôi, và lắm khi cả máu tươi. những người lính “thổ, mộc” suốt đời tận tuỵ, âm thầm, suốt đời trung thành với sự nghiệp của Đảng và coi đó cũng là sự nghiệp của chính mình…
    Nguyễn Đen xoè bật lửa mồi một điếu thuốc, rít từng hơi dài. ánh lửa soi hồng gương mặt anh. Đoàn Liễu liếc nhìn thấy một nét gì như sung sướng và quả quyết trên khuôn mặt ấy.
    Bản thân mình, Nguyễn Đen cũng cảm thấy dễ chịu, tỉnh táo. Anh đã quên bẵng câu chuyện Cao Thành vừa làm cho đầu óc anh bận rộn và thoáng nhức nhối.
    Trời tờ mờ sáng, mưa đã tạnh. Một buổi sáng nhợt nhạt, đẫm hơi nước nặng nề trên đồng bằng Bắc Bộ. Đã nhìn thấy một cây biển gỗ siêu vẹo ở bên đường chỉ bến phà Cổ Tế.











CHƯƠNG II
CÔ GÁI TRẠM CHẮN XE


Rồi dòng sông đã hiện ra trước mặt. Một làn nước trắng đục mênh mông, cuồn cuộn. – Những cơn mưa đã dồn lũ về đây rồi! – Nguyễn Đen nhíu lông mày thầm nghĩ. Thấy ba-ri-e trên bến  mở Nguyễn Đen giục cậu lái xe chạy thẳng xuống bến. Bỗng có tiếng còi ré lên, và giọng một người con gái quát to:
    - Xe dừng lại!
    Rồi tiếp:
    - Nguy hiểm đấy, quay lại đã!
    Nguy hiểm! Có lẽ cô gái nào đó không biết rằng mình đang doạ dân công binh. Một chuyện như quá thừa. Nhưng dẫu sao, vì tôn trọng luật lệ, Nguyễn Đen vẫn vỗ vai cậu lái xe bảo lùi lại.
    Một cô gái mảnh dẻ từ trong gian nhà hầm nửa chìm, nửa nổi chạy ra. Một bên tay đeo băng đỏ, vai khoác tiểu liên, cô đeo chiếc còi nhỏ, tóc búi gọn, quần xắn tới gối, cô gái vừa có vẻ khoẻ mạnh, cứng cỏi, lại vừa có vẻ duyên dáng. Nguyễn Đen bỗng mở to mắt ngờ ngợ.
    Anh nhảy vội xuống xe:
    - Chinh! Cô Chinh phải không?
    Cô gái cũng ngạc nhiên, tiến lại. Rồi cô bỗng reo lên như một đứa trẻ:
    - Ối anh Đen! Anh Đen! Sao lại gặp anh ở đây thế này? Lạ quá! Thật không ngờ. Em cứ tưởng anh đi B dài từ hồi ấy rồi…
    Tuy vậy cô đã vội ngắt sự mừng rỡ bồng bột của mình lại:
    - Nhưng, nhưng mà các anh đi đâu? Đang giờ cao điểm. ở đây chúng nó hay đánh lúc sáng sớm lắm. Các anh cho xe núp dưói bóng cây kia, rồi vào nghỉ, chờ các đài quan sát báo đã…
    Quả nhiên, khi Nguyễn Đen, Đoàn Liễu và cậu lái xe vừa nhảy ra khỏi xe thì kẻng báo động vang lên râm ran khắp bốn bề. Cũng lạ, lúc mới tới nhìn bến phà này hoang vắng đến thế, tưởng như không một sinh vật nào còn sống ở bến sông này, ai ngờ dấu kín ở đâu đây, khắp chỗ dưới đất, dưới từng ngọn cỏ, dưới từng quãng sông là bao nhiêu con người vẫn ngày đêm tỉnh táo…
    Thế rồi ào ào một tốp máy bay Mỹ lao tới như những làn gió quỷ quái đen xì. Dường như đã quá quen với bến phà này rồi, chúng không cần phải lượn, không 4cần phải quan sát, tính toán gì nữa, lướt tới là đáp bom xuống liền. Một loạt 4 trái bom nổ chuyển đất, khói lửa bùng lên nơi đầu bến phà. Nước sông dội lên thành những cột nước trắng xoá, cao ngất.
    Nguyễn Đen quay lại nhìn Chinh, thầm cám ơn cô. Và lúc này anh mới để ý thấy Chinh đã già, nhan sắc cũng đã giảm so với năm 1966, khi cô còn ở đội thanh niên Xung phong ở bến cầu Đò Lèn – Thanh Hoá… Năm ấy, đơn vị Nguyễn Đen cũng phục vụ ở đó, anh hãy còn là một tiểu đoàn phó. Năm ấy Chinh đẹp và nổi tiếng cả một vùng từ Đò Lèn về tới Thanh Hoá. Không một lái xe nào chạy đường trường qua đây mà không biết Chinh và mê Chinh. Không một anh lính nào, dù công binh, dù cao xạ, dù đặc công nước…. ở quanh đó là không tìm dịp để ít nhất một lần được gặp Chinh. Và đã gặp một lần thì cũng như các anh lính “xế’, tất cả lính các binh chủng cũng đều yêu Chinh. Nhiều anh mê say đến khốn khổ. Nhiều vụ mất đoàn kết nội bộ cũng chỉ vì Chinh.
    Nguyễn Đen cũng thuộc số cán bộ trẻ đã thực sự yêu Chinh. Nhưng cũng như nhiều người có lòng tự trọng, anh đã biết ghìm mình lại để không lao vào cuộc tình duyên một cách “vô điều kiện”. Là bởi khi ấy Chinh đã cho mọi người biết rõ: Cô đã có người yêu là bộ đội đi Nam từ năm 1961, và cô đang kiên nhẫn thuỷ chung chờ đợi…
    Sau sáu tháng ở Đò Lèn, Nguyễn Đen cùng đơn vị đã lặn lội đi khắp nơi. không ngờ sau 5 năm mới gặp lại nhau.
    Trong khi Đoàn Liễu, vị chỉ huy phó đã nổi tiếng háu gái của tiểu đoàn cứ ngồi thần ra ngắm nhìn Chinh, Nguyễn Đen cùng cô ôn lại những kỷ niệm cũ một cách cảm động.
    - Thế bây giờ… Cô Chinh đã lập gia đình chưa? Mấy cháu rồi?
    Gương mặt Chinh thoắt như có một áng mây buồn:
    - Chưa anh ạ! Em vẫn…
    - Sao ? - Nguyễn Đen ngạc nhiên.
    Cúi đầu, lặng đi một lúc, Chinh mới ngẩng lên, lần này đôi mắt cô vẫn sáng nhưng đã lạnh đi một cách rất lạ. Cô nói bình thản và gần như lạnh lùng:
    - Anh Đen ạ! Anh Bìa người yêu đầu tiên của em như các anh đã biết, đi B, đã hy sinh rồi. Sau đó hai năm em đã gặp và yêu một anh ở tên lửa. Nhưng rồi anh ấy cũng lại hy sinh trong một trận bảo vệ Hàm Rồng. Và gần đây em lại yêu một anh lái xe Trường Sơn. Nhưng hồi đầu năm, em lại nhận được tin anh ấy cũng hy sinh rồi!
    Đen sững sờ. Đầu óc anh rung lên. Anh nhìn Chinh. Anh muốn cầm lấy tay Chinh khóc lên, để chia sẻ nỗi đau cuộc đờingười con gái trong cuộc chiến đấu này, gia đình Đen cũng mất đi một người anh. Đó là một chiến sĩ hải quân chuyên vượt biển đưa người, đưa vũ khí và thuốc men vào Nam. Mới chỉ một sự mất mát ấy, Đen đã cảm thấynhiều lúc mình như già đi. Vậy mà! Cả ba đều là bộ đội. Ba anh bộ đội đều rất trẻ, đều đang yêu tha thiết…
    Đen nén mình lại, cố tìm một câu nói đùa cho không khí đỡ đau khổ.
    - Vậy hẳn bây giờ cô sợ bộ đội rồi lắm hả ?
    Chinh buồn bã: `
    - Với người lạ, em sẽ nói là: không. Nhưng với anh, em nói thực: cũng hơi ngài ngại rồi đấy!
    Nhưnng rồi cô bỗng bật cưòi thành tiếng, và trên khuôn mặt rám nắng, thoáng những vết nhăn của tháng năm dãi dầu khổ cực, bỗng ửng lên một màu hồng. Cặp mắt Chinh liếc nhanh:
    - Nhưng nói vậy thôi, bây giờ có anh bộ đội nào hỏi chỉ cần một câu, em sẽ bằng lòng lấy liền.
    Rồi trở lại nghiêm trang, cô thở dài:
    - Đời em như sinh ra là để... Nguyễn Đen lại im lặng ngắm nhìn. Lúc này anh như thấy cô trẻ đẹp như xưa. Trước mặt anh là hiện thân của một sức sống, một lẽ sống mới, và phải chăng cũng vì lẽ sống ấy mà chính cô và cả anh đã từng dám xông vào mọi chỗ khó khăn, ác liệt…
Lát sau, không tiếp tục câu chuyện được nữa, Nguyễn Đen phải ra bến cùng Đoàn Liễu quan sát, nghiên cứu thực địa, cùng mọi vấn đề khác có liên quan, như lưu tốc, khí hậu, khí tài, phương tiện tại chỗ, cuối cùng là tình hình nhân dân và mọi quy luật hoạt động của địch…
Chinh cho biết nhà cô ở gần ngay bến. Đây là chính quê của cô. Đen rất mừng. Anh tin là sẽ có nhiều dịp gặp gỡ và nói chuyện với Chinh.
Bước ra khỏi căn nhà hầm, Nguyễn Đen và Đoàn Liễu cùng có một nhận xét: Đường xuống bến phà chật chội và lầy quá, sẽ gây không ít trở ngại cho công việc của đơn vị. Vì vậy nếu không có địa phương giúp sức chắc sẽ không xong.
Nguyễn Đen vẫy Chinh lại:
-    Ai là bí thư đảng uỷ ở đây?
-    Ông Cậy!
-    Chủ tịch?
-    Ông Mãn!
-    Chủ nhiệm hợp tác xã?
-    Ông Vi.
-    Tôi muốn gặp các đồng chí đó ngay. Cô Chinh giúp tôi được không?
-    Được chứ. Vậy anh đi luôn với em!
Hai người cùng rẽ vào xóm.Đoàn Liễu ở lại tiếp tục đo đạc sức nước và tìm nơi mở một đường tránh khác xuống bến, nhằm bỏ con đường lầy lội kia.
Đến lúc này Chinh mới có thì giờ để hỏi Đen:
- Thế còn anh?
-Tôi lập gia đình rồi. Đã có một cháu. Nhưng với cô, tôi cũng không thể không nói thực: Một cuộc hôn nhân… bình thường, do cha mẹ tìm và cưới cho. Cô ấy cùng làng, dạy cấp một. Bộ đội mà cô! Chiến tranh. Đi suốt. Thời giờ đâu để mà tìm hiểu người mà mình mong ước. Hôm cưới, lúc nằm bên vợ, tôi cứ thầm tự hỏi: “ Sao mình lại lấy vợ nhỉ?”.
Chinh bật cười ran:
-…Rồi chúng tôi có con. Tôi rất yêu cháu bé. Tôi cũng bắt đầu dần dần yêu mẹ nó. Nói tóm lại, cả một thời trai trẻ đã ném vào lửa, không còn có thể đòi hỏi gì hơn nữa…
Bỗng nhiên nhìn vào mắt Chinh, Nguyễn Đen như thấy hiện lên bóng dáng của ba anh bộ đội trẻ tuổi, tất cả đều mười chín, hai mươi. Họ đang nhìn anh bằng cặp mắt hết sức nghiêm trang…
    Đen lại chợt nhớ tới Cao Thành. Chắc hẳn đối  với anh ta, đây cũng là một cô gái ở hậu phương ăn sung mặc sướng, ít được rèn luyện, ít thực tế, trong khi người khác phải lăn lộn hy sinh năm này qua năm khác nơi chiến trường máu lửa…
    Những kỷ niệm về tiểu đoàn hai bảy trước đây ở Đò Lèn cô vẫn còn nhớ như in.

KHÔC LIỆT
Phan Trạc nhớ lại, trong một trận bảo đảm cầu phà hồi cuối năm 1966 tại bến Lèn, lúc đó Phan Trạc còn là trợ lý tham mưu đi cùng tiểu đoàn phó Nguyễn Đen trên một chiếc xe cóc, xe con lội nước đang đi trinh sát bến chuẩn bị cho đại đội hai bắc cầu. Bến bãi ở đây đã quá quen thuộc với những người lính tiểu đoàn hai bảy. Từ năm 1965, rồi 1966 đơn vị đã nhiều lần trụ tại bến này để bắc cầu và chở phà đảm bảo cho xe pháo qua sông. Có đợt liên tục hàng mấy tháng liền, vừa bắc cầu bảo đảm giao thông vừa huấn luyện cho 1 tiểu đoàn thanh niên xung phong về bắc cầu cho đến khi đơn vị thanh niên xung phong thành thạo bắc được cầu rồi, đơn vị mới được lệnh rút về làm lực lượng dự bị, cơ động nhanh; ở đâu tắc bến là tiểu đoàn 27 nhanh chóng đến ngay, bảo đảm gấp cho 1 đoàn pháo binh, tên lửa vượt sông xong lại rút về, hoặc đến mở bến, phá gỡ bom đạn, khắc phục hậu quả xong lại bàn giao lại cho bến giao thông hoặc đoàn thanh niên xung phong.
Lần này Nguyễn Đen và Phan Trạc đến bến đã quá ngỡ ngàng, bến bãi không còn mảnh đất nào nguyên vẹn, không còn đoạn đường nào được ngay thẳng, tất cả đều bị cày sới nhiều lần, lộn xộn, Nguyễn Đen lệnh cho Phan Trạc về điều máy húc C100 đến để húc lại mặt đường và đắp lại bến. Đồng thời hiệp đồng với bến giao thông huy động lực lượng thanh niên xung phong và công nhân bến phà đem cuốc xẻng ra san lấp hố bom, đắp nền đường.
“... Dô hây nào, dô hầy nào ...!
Ai về Thanh Hóa, Thanh Hoá anh hùng...”
Trong lúc lao động, tiếng hò tiếng hát lại vang lên khắp bến bãi đường xá. Đúng là “tiếng hát át tiếng bom” chẳng ngoa một chút nào.
Chiếc xe con của Nguyễn Đen liền bị chị em thanh niên xung phong quây lại, ai cũng tranh nhau cầm micrô trên xe hát, tiếng loa phát ra ầm vang làm không khí trên công trường làm đường làm bến sôi động nhộn nhịp.
- Cho em hát với, em hát với.
- Nào xin mời các ca sĩ cây nhà lá vườn.
Cô gái tên là Huề, có nước da trắng trẻo, lông mày lá dăm đang vừa hát song ca với Phan Trạc bài “Vàm Cỏ Đông” thì trên đồi cao có kẻng báo động.
Mọi người đều dừng lại tản ra chạy về hố ẩn nấp cá nhân ở quanh đó. Chiếc xe con phóng nhanh về phía đồi thông, chưa chạy được bao xa thì một loạt bom do máy bay Mỹ rải xuống. Tiếng súng các trận địa cao xạ xen lẫn tiếng bom nổ ầm ầm. Có một quả bom rơi trúng ngay giữa đường ở sát ga Lèn, nơi chiếc xe con dừng lại cho các cô thanh niên xung phong hát.
Khi máy bay đã đi xa, Nguyễn Đen cho xe chạy lại nơi khói bom còn dày đặc, Nguyễn Đen và Phan Trạc đều nhảy xuống vừa chạy tìm kiếm xung quanh, vừa gọi: