Cùng Trương Nam Hương xuôi ngược thời gian qua tập thơ “RA NGOÀI NGÀN NĂM” Nguyễn Thanh

Tác giả Bài
Lưu Lan Phương
  • Số bài : 11
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 01.08.2016
  • Nơi: Bắc Ninh
Cùng Trương Nam Hương xuôi ngược thời gian qua tập thơ “RA NGOÀI NGÀN NĂM” Nguyễn Thanh - 20.08.2016 22:24:52
Cùng Trương Nam Hương xuôi ngược thời gian
qua tập thơ “RA NGOÀI NGÀN NĂM”  
Nguyễn Thanh Toàn
Tôi mong muốn giới thiệu tập thơ “RA NGOÀI NGÀN NĂM” (NXB Văn học, 2008) của một nhà thơ gốc Huế mà tên tuổi anh đã không còn xa lạ với bạn yêu thơ. Đó chính là Trương Nam Hương (TNH). Giải B (không có giải A) về thơ của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội 1990, rồi được độc giả báo Người Lao Động bình chọn là nhà thơ được yêu thích nhất năm 1992 cùng nhiều giải thưởng văn học uy tín khác đã nâng anh thành một tên tuổi lớn. Đây cũng là tập thơ thứ 9 của anh đã xuất bản, chưa kể tập “ĐƯỜNG THI NGẪU DỊCH” và một tập mới nhất mà tôi chưa được đọc.
Người xưa nói “Nghe danh không bằng gặp mặt”, ngay lần đầu gặp anh tôi đã thấy anh rất gần gũi. Được anh ký tặng tập thơ này, tôi nâng niu nó cẩn trọng và nghiền ngẫm như một báu vật. Ngay cái tựa của tập thơ cũng đã gợi mở sự tò mò. Mà không tò mò sao được! Tôi nghĩ các tác giả thường lấy chủ đề hay tên của một bài thơ đặt tựa chung cho thi tập nên lật nhanh tìm mà không có. Đọc hết các bài thơ, tôi mới nghiệm ra được chất thơ phóng khoáng của nó đã vượt ra ngoài sách vở, ra ngoài cả thời gian lẫn không gian. Sau cùng tôi mới vỡ lẽ thâm ý của tác giả khi đặt cái tựa thay cho lời nhắn nhủ ý nhị về sự giữ gìn bản sắc văn hóa Việt thời hội nhập.
Đúng như tác giả Hoài Hương đã nhận định “TNH là nhà thơ của những hoài niệm đẹp” (Chân dung Huế–tr.67–NXB Trẻ, 2009) thật không ngoa chút nào! Mạch thơ của TNH như suối nguồn tuôn chảy qua bất cứ nơi nào anh qua hay sự vật, hiện tượng nào anh gặp hoặc quan sát thấy. Bắt gặp tấm ảnh cũ mẹ, anh cầm lên chiêm nghiệm, ngược dòng thời gian, “Lắng ngày xưa thủ thỉ với bây giờ” để hồi tưởng về thời con gái của mẹ (Tấm ảnh). Nhớ cha, anh thầm cảm ơn cha, cám ơn Huế có sông Hương, núi Ngự, có nền văn hóa cố Đô đã nuôi dưỡng hồn thơ, để chất thi ca chảy mãi trong huyết quản của anh: “Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca/ …/ Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi!” (Lời thưa).
Ký ức tuổi thơ trong mỗi người đều thật khó quên! Xa Huế, anh thầm mơ một ngày trở lại, để được sống lại những năm tháng tuổi thơ, để lại được “lon ton bờ bãi”, cùng “con chuồn chuồn ngô bêu nắng thập thò” (Mơ về). Xa quê hương, anh nhớ quắt quay đến đỗi “Thèm vu vơ cả tiếng côn trùng” (Những ngày xa xứ). Khi đọc thơ TNH, ta bất chợt tưởng như thấp thoáng những kỷ niệm của mình trong đó: “Thơ dại ngày anh lộc vừng lấm tấm/ Ngây dại ngày em xao xít hoa bìm” (Tạp cảm). Ai không từng có những rung động đầu đời! Với TNH nó thoáng qua như vệt “nắng xưa”, “bài thơ cũ”, hay “dấu môi thành thực” (Phấn xưa) hay “Nụ hôn mười sáu tuổi/ Xanh lá bàng mướt rung” nhưng cũng vừa đủ để “Trăng phập phồng ngực thở/ Sương đẫm nhòa Cổ Ngư” (Hai mươi mùa). Qua thơ TNH ta bất chợt nhớ Tết quê quây quần bên bếp lửa chờ bánh chín và nghe mẹ kể tích xưa: “Tiếng reo củi ướt đỡ buồn/ Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dày” (Khói bếp xưa)… TNH đã rất thành công khi biến những cái chung thành của riêng để được độc giả đồng cảm và biết đem cái riêng hòa vào cái chung để bạn tri âm cùng thưởng thức, chia sẻ.
Có lẽ chỉ có một nơi đối với anh đã trở nên quen thuộc, anh thường đến đó khi thì nhấp từng ly cay, đàm đạo, đổi trao cùng bè bạn: “Nâng ly ký ức uống làn hương xưa”; hoặc có khi chỉ có một mình để đằm mình hồi tưởng, để nghiền ngẫm triết lý cuộc đời, triết lý thơ. Chỉ khi ở đó anh mới thấy thoát khỏi sự ràng buộc quay vòng của thời gian, bởi với anh nó là quán không mùa, không năm, không tháng, không ngày. Chỉ khi ở đó anh hài hước đối diện trước đời thường, rồi anh chợt nhận ra rằng sướng–khổ, vui–buồn của mỗi kiếp người cũng chỉ thường tình bởi sự vô ý tưởng như có lời biện giải của thời gian: “Đắng lòng môi chạm yêu thương/ Thời gian quên bỏ chút đường đó em!” (Quán thời gian).
Theo bước chân xuôi ngược thời gian, ngang dọc khắp các nẻo đường đất nước của TNH để thấy được sức sáng tạo không ngừng nghỉ của anh. Tôi có cảm tưởng anh viết nhật ký bằng thơ, bởi hầu như anh chẳng bỏ sót chi tiết nào, không chỉ những điều tốt đẹp mà còn cả những mặt trái: từ “đường đời xiên xẹo chữ chi” đến “đường tình cong quẹo trớ trêu”; từ “chùa thiêng nghê đá nghìn năm”; “giọt sương tỉnh thức” đến “sóng vỗ chân cầu” hay “mưa nắng” cuộc đời (Ghi vội trên đường); đồng cảm khi nghe “Câu hát dân ca” hay “Lời ru thiếu phụ”; tiết thanh minh, nhìn người ta đi tảo mộ, thấy thấp thoáng bóng Kiều, anh chạnh nhớ Nguyễn Du (Gặp Kiều tiết Thanh minh, Sắc cỏ Nguyễn Du); tham quan Côn Sơn, anh tức cảnh nhớ danh nhân (Nguyễn Trãi); dễ bùi ngùi trước những tấm chân tình (Nhớ anh Bế Kiến Quốc, Tôn Nữ…Sông Hương)… TNH dễ mềm lòng cảm thông khi “gặp em chồng bỏ”, thấy bạn “vừa chia tay” mà quên cả lời vợ dặn (Tứ tấu); đôi khi TNH cũng có phút chơi ngông “Nửa giờ khoác thử oai xưa/ Nghe trăm năm gió lạnh lùa buốt ngai” (Làm Vua ở Huế); đôi khi TNH lại đùa tếu rất hồn nhiên: “Vợ thành mẫu hậu/ Mình còn… lơ trai” (Khúc lặng).
Phong cách viết của TNH rất lạ, chẳng giống bất cứ ai, không sáo mòn theo sách vở! Anh phóng khoáng trong cách sử dụng câu chữ, kiểu thả nhịp, từ nhịp hai (Quán thời gian, Một ngày), đến nhịp sáu (Riêng em), đặc biệt nhiều bài buông nhịp ba (Tạp cảm, Dốc quỳ vàng, Gửi một người xa, Mùa xanh, Lặng lẽ,…), điều mà trước đây rất ít ai sử dụng. Anh không chịu sự trói buộc của thể loại, không lệ thuộc vào chủ đề mà cứ viết rồi in, không cần sắp xếp. Cách gieo vần cũng cứ tự nhiên theo mạch cảm, không câu nệ bằng trắc (Nhịp hai, Tạp cảm, Ghi vội trên đường); có nhịp chỉ có một vần, có bài toàn gieo vần bằng (Ghi vội trên đường, Ngày em đến, Thú hoang). Đôi khi anh mượn sự so sánh khập khiễng để mỉa mai thói đời: “Lúc người đánh bóng tuổi tên/ Anh đi tìm hộp xi đen… đánh giầy” (Không đề I) hay “Váy người ngắn đến mê ly/ Ngẫm thơ tứ tuyệt nhiều khi còn dài” làm cho người đọc sảng khoái cười rung cả mũi. Sự thật mà một số người cho là mốt, một số người coi là đua đòi, lai căng, thì TNH chọn cách nói rất tinh tế: “Áo sương cúc gió lơi cài/ Gặp Hà Nội mốt ra ngoài ngàn năm!”. Bởi theo anh đó là sự lệch lạc, không thể hòa chung vào đất kinh kỳ ngàn năm văn hiến được. Chơi chữ hay đến thế là cùng! “Giữa xinhgiòn”, anh bỗng thấy mình quá cô đơn, anh nghe từ trong vô thức bật lên lời nhắn nhủ đời hay phải chăng nhắc nhở chính mình: “Chơi vơi hai phía khuyết tròn/ Chỉ xin đừng mất chút còn trong ta” (Viết ở Nghi Tàm). Có khi anh viết về sự thật hiển nhiên, tưởng như bâng quơ mà lại sâu sắc triết lý: “Một điều em chưa biết/ Một điều ta đâu hay/ Lá chưa từng phản bội/ Mùa đã thay đổi mùa” (Hai mươi mùa).
Khó có thể nắm bắt hết những cái hay, cái đẹp về phong cách người cầm bút chỉ trong một tập thơ, khó có thể hiểu hết những điều muốn nói trong tập thơ trên một vài trang giấy từ góc nhìn chủ quan của bất cứ cá nhân ai! Riêng tôi, tôi rất thích đọc thơ anh và khi viết đôi điều cảm nhận này tôi chỉ mong góp phần giới thiệu để những ai chưa biết, hãy tìm đọc “RA NGOÀI NGÀN NĂM” nói riêng và thơ TNH nói chung để khám phá thơ anh theo cách đọc, cách nghĩ của mình!
                                                 Nguyễn Thanh Toàn
 
Lưu Lan Phương