Minh Nan
-
Số bài
:
23
- Điểm: 0
-
Điểm thưởng
:
0
- Từ: 23.12.2016
|
Re:Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới (Vào truyện)
-
04.01.2017 01:34:40
PHẦN MỘT 1135 – 1136 Chương 1 I Dưới chân một ngọn đồi dốc, đàng sau một dòng suối trong lành, Tom đang xây một căn nhà. Bức tường đã xây cao được ba mét và càng lúc càng cao nhanh hơn. Hai người thợ xây của Tom đã làm vệc liên tục dưới ánh nắng mặt trời, đường bay của họ nạo, táp và vỗ nhẹ, trong khi công nhân của họ đổ mồ hôi dưới sức nặng của các khối đá lớn. Alfred, người con trai của Tom, trộn vữa, đếm to từng xẻng cát khi cậu hất nó lên tấm đan. Ngoài ra còn có ông thợ mộc làm việc trên ghế băng bên cạnh Tom, cẩn thận dùng búa và đục hoàn thành một tấm gỗ sồi. Alfred mười bốn tuổi, to lớn như Tom. Tom cao hơn hầu hết những người khác một cái đầu, Alfred chỉ thấp hơn một chút và vẫn còn lớn. Họ giống nhau: cả hai có mái tóc màu nâu nhạt, cặp mắt xanh với tròng mắt màu nâu. Người ta nói họ là một cặp đẹp trai. Sự khác biệt giữa họ là Tom có bộ râu nâu xoăn, trong khi Alfred chỉ có một bộ lông tơ vàng đẹp. Tóc trên đầu của Alfred ngày xưa cũng có màu y như vậy, Tom trìu mến nhớ lại. Bây giờ Alfred đã lớn, Tom ước muốn cậu thích thú hơn trong công việc, bởi vì cậu còn phải học nhiều hơn nữa nếu cậu muốn trở thành một thợ xây giống bố, nhưng cho đến bây giờ Alfred vẫn không thích thú làm việc và chưa nắm vững được nguyên tắc xây dựng. Khi ngôi nhà được hoàn thành, nó sẽ là ngôi nhà sang trọng nhất trong khu vực xung quanh. Tầng hầm là nhà kho, với mái vòm, như thế nó sẽ không bị bắt lửa. Tầng trên dùng để ở, một cầu thang từ ngoài dẫn lên trên, chiều cao của nó làm cho việc tấn công gặp khó khăn và việc phòng thủ được dễ dàng. Sát nhà ở là một ống khói. Đây là một đổi mới căn bản. Một lần duy nhất, Tom thấy một ngôi nhà có ống khói, và nó thu hút ông đến nỗi ông quyết định sao chép nó. Ở cuối ngôi nhà, bên trên phòng khách là một phòng ngủ nhỏ, đó là một phòng mà con gái các bá tước ngày nay đòi hỏi – nó thật tế nhị khi ngủ chung với đàn ông, người giúp việc và chó săn trong phòng khách lớn. Nhà bếp sẽ ở riêng trong tòa nhà khác, bởi vì trước sau gì chúng cũng sẽ bắt lửa, nên xây chúng tách biệt ra xa, rồi từ đó đem các thức ăn nóng lên nhà trên. Tom đang xây cửa nhà. Các cột cửa được làm tròn trông giống như các cột trụ – một chút khác biệt dành cho cặp vợ chồng quý tộc sinh sống ở đây. Dõi mắt nhìn theo mô hình bằng gỗ mà ông dùng làm mẫu, ông đục khối đá cẩn thận bằng chiếc búa bằng gỗ. Một mảnh vỡ nhỏ rơi ra khỏi bề mặt, làm cho hình dáng nó tròn hơn. Chiếc cột đá đã nhẵn đủ cho một nhà thờ chính tòa. Một lần ông đã xây nhà thờ chính tòa ở Exeter. Lúc đầu ông coi công việc này cũng giống như các công việc khác. Ông đã tức giận và khó chịu khi ông thợ xây dựng chính cảnh báo rằng công việc ông thực hiện không đủ tiêu chuẩn: ông biết rằng so với các thợ khác, ông là một thợ xây hơn trung bình. Nhưng sau đó ông nhận ra rằng bức tường của nhà thờ chính tòa không phải chỉ là tốt, mà còn phải hoàn hảo. Bởi vì nhà thờ chính tòa dành cho Thiên Chúa, và cũng bởi vì tòa nhà quá lớn nên ngay một lỗi nhỏ trong bức tường, một lệch lạc nhỏ khỏi sự cân bằng tuyệt đối, cũng có thể làm tòa nhà sụp đổ. Sự oán giận của Tom dần dần biến thành niềm đam mê. Sự kết hợp giữa tham vọng về một tòa nhà vĩ đại và sự chú ý đến các chi tiết cực kỳ nhỏ đã mở mắt cho Tom nhìn thấy sự kỳ diệu của nghề thủ công. Ông học từ người thợ xây dựng chính ở Exeter về tầm quan trọng của tỷ lệ, biểu tượng của các con số và công thức ma thuật để tìm ra đúng chiều dầy của bức tường hay góc của một bậc trên cầu thang cuốn. Những điều đó quyến rũ ông. Ông ngạc nhiên khi biết rằng nhiều thợ xây đã không hiểu được nguyên tắc xây dựng đó. Sau một thời gian Tom đã trở thành cánh tay mặt của người xây dựng tổng thể chính, và lúc đó ông bắt đầu nhìn thấy những thiếu xót của người xây dựng chính. Người xây dựng chính là một thợ thủ công tuyệt vời, nhưng lại không có tài tổ chức. Ông bối rối khi gặp vấn đề như lo cho đủ số lượng đá theo nhu cầu của thợ hồ, theo dõi thợ rèn sản xuất các công cụ đúng thời điểm, nung đủ vôi và cát cho thợ làm vữa, chặt cây cho thợ mộc, và thu đủ số tiền từ nhà thờ để trả chi phí cho mọi chuyện. Nếu Tom đã ở lại Exeter cho đến khi người xây dựng chính qua đời, thì có lẽ ông đã có thể trở thành người kế nghiệp; nhưng nhà thờ đã không còn tiền – một phần là do quản lý yếu kém của người xây dựng chính - và các thợ thủ công đã dời đi tìm việc ở nơi khác. Tom được giao cho việc cai quản thành trì Exeter: xây dựng, sửa chữa và cải thiện thành trì. Nó là một công việc suốt đời, nếu không có tai nạn gì xẩy ra. Nhưng Tom đã từ chối, bởi vì ông ước mơ xây một nhà thờ chính tòa. Vợ ông, Agnes, đã chẳng hiểu quyết định này của ông. Họ có thể đã có một ngôi nhà bằng đá tốt, những người giúp việc, một căn buồng riêng và thịt trên bàn ăn mỗi buổi tối; và bà đã chẳng bao giờ tha thứ cho Tom về việc từ chối cơ hội này. Bà không thể hiểu được sự hấp dẫn không thể cưỡng lại được của việc xây dựng một ngôi nhà thờ chính tòa: sự say mê tổ chức công việc phức tạp, sự thách đố thông minh trong việc tính toán, sự cao lớn của bức tường và vẻ đẹp hùng vĩ của tòa nhà sau khi hoàn thành. Một lần Tom đã được thưởng thức thứ rượu này, Tom sẽ chẳng bao giờ hài lòng với công việc khác nữa. Từ mười năm nay, họ chẳng bao giờ ở lại đâu lâu dài. Ông thiết kế một tu viện, làm việc một hoặc hai năm cho tòa lâu đài, hay xây một nhà phố cho một thương gia giầu có; nhưng bao lâu ông tiết kiệm được một số tiền, ông lại cùng với vợ và con cái ra đi tìm kiếm một ngôi nhà thờ chính tòa. Từ ghế ngồi, ông nhìn lên thấy Agnes đứng trên bờ công trình xây dựng, cầm một giỏ đồ ăn trên tay và mang một bình bia bên hông phía bên kia. Trời đúng ngọ. Ông nhìn bà trìu mến. Không ai cho bà là đẹp, nhưng khuôn mặt bà đầy nghị lực: vầng trán rộng, đôi mắt nâu to, mũi cao, miệng mạnh khỏe. Mái tóc đen của bà chia ngôi ở giữa và cột lại phía sau. Bà là linh hồn của Tom. Bà rót bia cho Tom và Alfred. Họ đứng đó một lúc lâu, hai người đàn ông vạm vỡ và một phụ nữ khỏe mạnh, cùng uống bia trong ly bằng gỗ; và thành viên thứ tư của gia đình bước ra khỏi cánh đồng lúa mì: Martha, bẩy tuổi, đẹp như đóa hoa thủy tiên màu vàng, nhưng là một đóa hoa thủy tiên mất một cánh, vì một chiếc răng bị sún và răng mới chưa mọc lại. Cô chạy lại bên Tom, hôn lên bộ râu bụi bặm của ông và xin một ngụm bia. Ông ôm cơ thể gầy gò của cô. "Đừng uống nhiều quá, nếu không con sẽ rơi xuống hố đấy," ông yêu thương nói. Cô lảo đảo đi một vòng, giả vờ như đang say rượu. Mọi người ngồi xuống đống gỗ. Agnes đưa cho Tom một lát bánh mì, một miếng thịt nguội dầy và một củ hành nhỏ. Ông lấy một miếng bánh mì nhỏ và gọt hành. Agnes đưa đồ ăn cho các con và bà cùng ăn. Có lẽ đó là vô trách nhiệm, Tom nghĩ, khi ông bỏ công việc ở Exerte để đi tìm kiếm một ngôi nhà thờ chính tòa, nhưng mặc dù liều lĩnh, tôi vẫn luôn có thể nuôi sống gia đình tôi. Ông lấy dao ăn trong chiếc túi da phía trước, cắt một miếng hành và ăn với một miếng bánh. Hành có vị ngọt và hăng hăng trong miệng. Agnes nói: "Em lại có con."Tom ngừng nhai và nhìn chằm chằm vào bà. Niềm vui hồi hộp chụp xuống trên ông. Ông không biết nói gì, chỉ đần người nhìn bà. Sau vài phút bà đỏ mặt, và nói: "Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên." Tom ôm bà vào lòng. "Tốt lắm," ông nói, miệng toe toét cười vì vui. "Một đứa bé để kéo bộ râu anh. Và anh nghĩ nó sẽ là Alfred." "Đừng quá vui bây giờ," Agnes cảnh cáo. "Đặt tên cho đứa bé khi nó chưa sinh ra không mang lại may mắn." Tom gật đầu đồng ý. Agnes đã sẩy thai nhiều lần, một đứa khác đã chết trong bụng mẹ và một bé gái khác, Matilda, chỉ sống được hai năm. "Tuy thế tôi vẫn muốn một con trai," ông nói. "Bây giờ Alfred đã lớn. Khi nào sẽ sinh?" "Sau Giáng Sinh." Tom bắt đầu tính toán. Khung ngôi nhà sẽ xong trước khi trời trở lạnh, và các tường bằng đá phải được che phủ bằng rơm qua suốt mùa đông. Các thợ xây sẽ dành những tháng lạnh để cắt đá cho cửa sổ, mái vòm, lò sưởi; trong khi đó thợ mộc sẽ làm sàn, cửa ra vào và cửa chớp, và Tom sẽ dựng giàn giáo cho công việc ở tầng trên. Rồi mùa xuân đến, họ sẽ làm tầng hầm, nền nhà, nhà trên và lợp mái. Công việc sẽ nuôi sống gia đình cho đến lễ Chúa Lên Trời, khi đó đứa bé sẽ được nửa tuổi. Sau đó họ sẽ lại lên đường. "Tốt," ông hài lòng nói."Thật tốt." Ông ăn một miếng hành nữa. "Em đã quá già để sinh con," Agnes nói. "Đây là lần cuối cùng."Tom nghĩ về điều bà nói. Ông không chắc bà bao nhiêu tuổi, nhưng nhiều phụ nữ vào lứa tuổi của bà vẫn còn sinh con. Tuy nhiên, sự thật là khi họ già, họ sẽ phải vất vả nhiều hơn và những đứa trẻ sẽ không mạnh mẽ. Không nghi ngờ gì, bà có lý. Nhưng làm sao bà có thể chắc chắn là bà không có thai một lần nữa? Ông ngạc nhiên. Rồi ông biết tại sao, và một đám mây phủ bóng trên tâm trạng háo hức của ông. "Anh sẽ có một công việc tốt trong thị trấn," ông nói, cố gắng xoa dịu bà. "Một nhà thờ chính tòa hay một dinh thự. Sau đó, chúng ta sẽ có ngôi nhà lớn với sàn gỗ và một người giúp việc để giúp em và con nhỏ." Khuôn mặt bà cứng lại, bà nói trong hoài nghi: "Có thể như vậy." Bà không thích nghe nói về nhà thờ. Nếu Tom đã không làm cho nhà thờ, bây giờ có lẽ bà đang ở trong một căn nhà phố, và với số tiền tiết kiệm chôn dưới lò sưởi, bà sẽ không còn phải lo lắng gì nữa. Tom nhìn đi chỗ khác và lấy một miếng thịt hun khói. Họ có lý do để ăn mừng, nhưng họ đang bất hòa. Ông cảm thấy bị bỏ rơi. Ông nhai miếng thịt cứng, rồi ông nghe tiếng vó ngựa. Ông nghiêng đầu lắng nghe. Người cưỡi ngựa đến từ hướng đường, đi tắt ngang qua khu rừng, tránh con đường xuyên qua làng. Một lúc sau, một người đàn ông trẻ tuổi xuống ngựa. Ông trông giống như một người cận vệ, một hiệp sĩ trong thời gian thực tập. "Chủ ông đang đến," ông ấy nói. Tom đứng lên. "Ông muốn nói là chủ Percy?" Percy Hamleigh là một trong những người quan trọng nhất trong miền này. Ông là chủ thung lũng này và nhiều mảnh đất khác, và ông đang trả tiền xây căn nhà này. "Con ông ta," người cận vệ nói ngắn gọn. "William trẻ phải không?" Con của ông Percy dự định sau khi kết hôn sẽ về sống trong căn nhà này. Cậu ấy đã đính hôn với cô Aliena, con gái của bá tước ở Shiring. "Đúng như thế," người cận vệ nói. "Và cậu ấy đang giận dữ." Trái tim Tom chùng xuống. Ở thời điểm tốt nhất, giàn xếp với chủ nhà đã là khó khăn. Còn khi chủ nhà đang trong cơn giận dữ thì chuyện ấy còn khó khăn hơn nữa. "Cậu ấy đang gận dữ về chuyện gì?" "Cô dâu từ chối lời cầu hôn của cậu ấy.” "Con gái của bá tước?" Tom nói trong ngạc nhiên. Lòng ông nhói lên một nỗi sợ hãi: ông vừa nghĩ tương lai ông sẽ vững vàng như thế nào. "Tôi nghĩ mọi chuyện đã ổn thỏa." "Dường như tất cả chúng ta đều nghĩ như vậy – ngoài trừ cô Aliena," người cận vệ nói. "Lúc cô gặp cậu ấy, cô loan báo sẽ không lấy cậu ấy dù được cả thế giới và con chim dẽ gà." Tom cau mày lo lắng. Ông không muốn điều đó là sự thật. "Nhưng cậu ấy không xấu trai, như tôi được biết." Agnes nói: "Dường như có một sự khác biệt giữa hai người. Nếu con gái bá tước được lấy người mà cô ta thích, chúng ta sẽ bị cai trị bởi nhóm người hát rong lêu lổng và nhóm người mắt đen sống ngoài vòng pháp luật." "Nhưng phụ nữ có thể thay đổi quan điểm," Tom nói trong hy vọng. "Cô ấy sẽ thay đổi, nếu mẹ cô ấy cho cô ấy ăn đòn." Agnes nói. "Mẹ cô ấy đã qua đời," người cận vệ nói. Agnes gật đầu. "Điều đó giải thích tại sao cô ấy không biết gì về thực tế của đời sống. Nhưng tôi không hiểu tại sao bố cô ấy không thúc ép cô ấy." Người cận vệ nói: "Dường như có lần bố cô ấy đã hứa là ông sẽ không gả cô ấy cho người nào mà cô ghét." "Một lời hứa ngu xuẩn!" Tom giận dữ nói. "Làm sao một người đàn ông mạnh mẽ lại có thể trói buộc mình theo sở thích của một cô gái theo cách đó. Việc hôn nhân của cô ấy có thể ảnh hưởng đến liên minh quân sự, tài chánh của bá tước… và ngay cả việc xây dựng ngôi nhà này." Người cận vệ nói: "Cô ấy có một em trai, vì thế việc cô lấy ai không quá quan trọng." "Mặc dù vậy…" "Và bá tước là một người cứng rắn," người cận vệ tiếp tục. "Ông sẽ không thay đổi lời hứa, ngay cả lời hứa với một đứa bé." Ông nhún vai. "Người ta nói như vậy." Tom nhìn bức tường đá thấp của ngôi nhà đang thành hình. Ông chưa dành dụm đủ tiền để nuôi sống gia đình qua mùa đông. Ông rùng mình khi nhận ra điều đó. "Có lẽ cậu ấy sẽ tìm được một cô dâu khác để chia sẻ với cậu ấy trong ngôi nhà này. Cậu ấy có thể chọn lựa cô dâu trong toàn miền." Alfred nói bằng giọng ồm ồm của chàng trai trong lứa tuổi dậy thì. "Trời ơi!, con nghĩ cậu ấy đang tới." Dõi theo mắt cậu, mọi người nhìn vào cánh đồng. Một con ngựa phi nước đại đến từ phía làng, làm bụi và đất từ con đường bay lên. Kích thước cũng như tốc độ của con ngựa làm Alfred sợ: nó vĩ đại. Trước đó Tom đã thấy con thú như vậy, nhưng có lẽ Alfred chưa bao giờ thấy. Nó là một con ngựa chiến, cao đến cằm một người đàn ông và to tương ứng với tỷ lệ. Những con ngựa chiến như thế này không được nuôi ở Anh, nhưng được nhập cảng từ nước ngoài và rất mắc. Tom cất phần bánh dư còn lại vào trong túi da của mình, rồi nheo mắt chống lại ánh sáng mặt trời và nhìn vào cánh đồng. Con ngựa có cặp tai ngoặc lại phía sau, lỗ mũi hỉnh lên, nhưng đầu con ngựa hất lên, và đối với Tom nó là dấu hiệu con ngựa có thể điều khiển được. Điều đó chắc chắn, vì khi nó đến gần, người phi ngựa ngả người ra sau, kéo dây cương và con thú khổng lồ đi chậm lại. Bây giờ Tom có thể cảm thấy tiếng vó ngựa trên mặt đất dưới chân mình. Ông nhìn quanh tìm Martha để bế cô lên, tránh cho cô những nguy hiểm. Agnes cũng nghĩ như vậy. Nhưng Martha không thấy đâu. "Trong cánh đồng lúa mì," Agnes nói, nhưng Tom đã tưởng tượng ra được điều đó và rảo bước theo bờ đê của cánh đồng. Ông rẽ dạt đám lúa mì với nỗi lo trong lòng, nhưng ông không tìm ra đứa bé. Ông nghĩ chỉ còn có một việc có thể làm là tìm cách làm cho con ngựa đi chậm lại. Ông bước vào con đường, đi về phía con thú, dang rộng cánh tay. Con ngựa nhìn thấy ông, ngẩng đầu để nhìn rõ hơn và đi chậm lại. Rồi, muốn làm cho Tom khiếp đảm, người cưỡi ngựa thúc ngựa tiến lên. "Đồ điên!" Tom hét lên, nhưng người cưỡi ngựa không nghe tiếng. Đúng vào lúc đó Martha bước ra khỏi cánh đồng, đi vào con đường, cách Tom vài mét. Tom đứng như trời trồng. Rồi ông nhẩy về phía trước, la hét và vẫy tay; nhưng nó là con ngựa chiến, được huấn luyện để phục vụ giữa đám đông, giữa tiếng la hét, nên nó không chùn bước. Martha đứng giữa con đường hẹp, nhìn chằm chằm như bị chết đứng vì con thú khổng lồ. Lúc đó Tom nhận ra rằng, ông không thể đến bên cô trước con ngựa được. Ông đứng trệch sang một bên đường, tay ông đụng vào lúa mì; và cùng lúc con ngựa tránh về phía bên kia. Bàn đạp nơi yên ngựa phớt trên mái tóc mềm mại của Martha, móng ngựa tạo nên một lỗ tròn trên mặt đất bên cạnh bàn chân trần của cô bé; rồi con ngựa đi xa, rẩy đầy bụi lên cả hai bố con, và Tom bế cô bé trong tay, ghì chặt cô vào trái tim đang đập thình thịch của mình. Martha khóc. Tom đưa cô bé cho Agnes và đứng đợi William. Cậu chủ trẻ là một người cao, khỏe mạnh, chừng hai mươi tuổi, có mái tóc vàng và đôi mắt hẹp như luôn nhíu mắt nhìn vào ánh mặt trời. Cậu mặc một áo chẽn màu đen ngắn với quần đen và mang đôi giày da có dây đai đan lên tới đầu gối. Cậu ngồi vững vàng trên lưng ngựa và dường như không bàng hoàng về những gì vừa xẩy ra. Thằng bé ngu ngốc này ngay cả không biết hắn vừa làm gì, Tom nghĩ một cách chua chát. Tôi muốn vặn cổ cậu ấy. William dừng ngựa phía trước đống gỗ và nhìn xuống công nhân xây dựng. "Ai chịu trách nhiệm ở đây?" cậu hỏi. Tom muốn nói nếu cậu đã làm con tôi đau, tôi sẽ giết cậu, nhưng ông dằn cơn giận của mình lại. Nó giống như ông phải nuốt một ngụm đắng vào miệng. Ông đến gần con ngựa và giữ lấy dây cương. "Tôi là người thợ cả ở đây", ông nói một cách cứng rắn. "Tôi tên là Tom". "Căn nhà này không cần nữa," William nói. "Hãy sa thải hết các thợ của ông." Đó là điều mà Tom đang lo sợ. Nhưng ông vẫn hy vọng rằng William đang bốc đồng trong cơn tức giận, và nếu thuyết phục được, cậu ấy có thể thay đổi ý kiến. Với cố gắng, ông cất giọng thân thiện và hợp lý. "Nhưng nhiều việc đã hoàn thành," ông nói. "Tại sao cậu lại lãng phí những gì cậu đã phải trả? Thế nào cũng có ngày cậu cần đến căn nhà này." "Đừng dạy tôi phải quản lý công việc của tôi như thế nào, thợ cả Tom à," William nói. "Tất cả các ông bị sa thải." Cậu giật mạnh dây cương, nhưng Tom đã nắm lấy nó. "Đừng đụng đến ngựa của tôi," cậu nói một cách đe dọa. Tom chịu đựng. William muốn kéo con ngựa ngấc đầu lên. Tom rờ trong túi và lấy ra miếng bánh mì ông ăn dở. Ông giơ ra cho con ngựa và nó cắn một miếng. "Có nhiều điều chúng ta cần nói trước khi cậu đi, chủ của tôi ạ," ông nói dịu dàng. William nói: "Nếu ông không để ngựa của tôi đi, tôi sẽ lấy đầu của ông." Tom nhìn thẳng vào ông chủ, cố gắng không để lộ vẻ sợ hãi. Mặc dù ông to lớn hơn William, nhưng nếu ông chủ nhỏ này rút gươm ra, thì sự to lớn của ông cũng chẳng giúp được gì. Agnes sợ hãi lẩm bẩm: "Hãy làm những gì ông chủ nói, anh ạ." Một sự yên lặng chết người. Những thợ khác đứng yên như bức tượng, lặng lẽ nhìn những gì xẩy ra. Tom biết phải thận trọng trong lúc này. Nhưng William đã sắp dẵm lên đứa con gái nhỏ của ông và điều đó làm cho Tom điên lên, vì thế ông nói khi trái tim ông đập nhanh: "Cậu phải trả tiền cho chúng tôi." William kéo dây cương nhưng Tom đã giữ chặt dây cương, và con ngựa không còn tập trung, nó rúc vào túi da của Tom để tìm thêm thức ăn. "Hãy yêu cầu bố tôi trả tiền lương cho các ông," William nói trong tức giận. Tom nghe giọng nói ghê tởm của một người thợ mộc: "Chúng tôi sẽ làm chuyện đó, ông chủ ạ. Cảm ơn ông nhiều lắm." Kẻ hèn nhát, Tom nghĩ, nhưng chính ông cũng đang run. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng nói. "Nếu cậu muốn sa thải chúng tôi, cậu phải trả cho chúng tôi theo tục lệ. Nhà của bố cậu ở cách đây hai ngày đi bộ, và nếu chúng tôi đến nơi, có thể ông ấy không có nhà." "Nhiều người đã phải chết vì những lý do đơn giản hơn điều này," William nói. Má cậu đỏ lên vì giận. Tom liếc nhìn thấy người cận vệ đặt tay lên đuôi kiếm. Tom biết rằng đã đến lúc ông phải dừng lại và hạ mình xuống, nhưng sự giận dữ quặn lại trong bụng ông, vì thế mặc dù rất sợ ông vẫn không buông cương ngựa. "Hãy trả cho chúng tôi trước, rồi hãy giết tôi," ông nói một cách bất cần. "Cậu có thể bị treo cổ hay không; nhưng sớm muộn gì cậu cũng chết, và khi đó tôi sẽ ở trên thiên đàng, còn cậu ở dưới hỏa ngục." Lập tức nụ cười mỉa mai trên khuôn mặt William biến mất và mặt cậu tái đi. Tom ngạc nhiên: điều gì đã làm cho thằng bé này sợ đến thế? Chắc chắn không phải vì ông đã nhắc đến chuyện treo cổ: vì một bá tước khó có thể bị treo cổ vì tội giết một thợ thủ công. Hay ông sợ hãi trước hỏa ngục? Họ nhìn nhau chằm chằm. Tom ngạc nhiên và lòng cảm thấy nhẹ nhàng khi thái độ giận dữ và khinh thường của William biến mất và thay vào đó là sự sợ hãi kinh hoàng. Sau cùng, William lấy túi tiền trong thắt lưng ra, ném cho ông người cận vệ và nói: "Hãy trả cho họ." Tom đẩy vận may của mình. Khi William kéo cương ngựa, con ngựa ngẩng đầu rồi bước sang bên, Tom bám vào ngựa, giữ chặt dây cương và nói: "Một tuần lương cho việc đuổi việc, đó là phong tục." Ông nghe thấy hơi thở của Agnes ngay đàng sau lưng ông, và ông biết, bà nghĩ là ông điên nên mới kéo dài cuộc giằng co này. Nhưng ông nhấn mạnh thêm. “Và sáu xu cho công nhân, mười hai cho thợ mộc và thợ hồ, và hai mươi bốn xu cho tôi. Tất cả là sáu mươi sáu xu." Ông có thể cộng tiền nhanh hơn bất cứ người nào mà ông đã biết. Người cận vệ nhìn ông chủ dò hỏi. William tức giận nói: "Được." Tom buông dây cương và lùi lại. William quay ngựa và thúc mạnh, con ngựa lao nhanh về phía cánh đồng lúa mì. Bất ngờ Tom ngồi xuống trên đống gỗ. Ông ngạc nhiên về những gì mới xẩy ra. Có điên thì mới dám thách thức chủ William như thế. Ông cảm thấy may mắn vì vẫn còn sống. Tiếng chân ngựa chiến của William như tiếng sấm xa dần, và người hầu cận trút toàn bộ túi tiền trên mặt phản. Tom cảm thấy một gợn sóng của chiến thắng khi các đồng xu bạc lăn ra trong ánh sáng mặt trời. Đó là ngu dại, nhưng nó đem lại kết quả: ông đã đòi được tiền lương cho chính ông và nhân viên của ông. "Ngay cả bá tước cũng phải theo tục lệ," ông nói như để khích lệ mình. Agnes đã nghe ông nói. "Mong rằng anh sẽ chẳng bao giờ làm việc cho William nữa," bà nói chua chát. Tom mỉm cười với bà. Ông hiểu rằng, bà nói cáu kỉnh vì bà quá sợ. "Đừng cau mày quá, nếu không em sẽ chẳng còn gì, ngoài sữa chua trong ngực khi con mình sinh ra." "Em không thể nuôi cả gia đình được, trừ khi anh tìm được một công việc trong mùa đông." "Còn lâu mùa đông mới đến," Tom nói. II Suốt mùa hè họ ở lại trong làng. Sau đó, họ mới nhận ra rằng quyết định này là một sai lầm kinh khủng, nhưng vào thời điểm đó nó hợp lý, bởi vì Tom, Agnes và Alfred, mỗi người đều có thể kiếm được một xu cho một ngày làm việc trên cánh đồng vào mùa gặt. Khi mùa thu đến, họ phải lên đường, mang theo một bao tiền xu nặng và một con heo mập. Đêm đầu tiên họ ngủ trong mái vòm của cổng ngôi nhà thờ làng, vào đêm thứ hai họ tìm thấy một tu viện trong vùng quê và họ tạm trú trong nhà khách tu viện. Ngày thứ ba họ ở giữa khu rừng Chute, một dải đất rộng gồm những bụi rậm và rừng cây, trên một con đường không rộng hơn chiều rộng của một chiếc xe bò, giữa hàng cây sồi ở hai bên đường. Tom mang theo những công cụ nhỏ trong một túi khoác vai và đeo chiếc búa bên dây thắt lưng. Ông bó chiếc áo choàng dưới cánh tay trái và cầm một cây sắt nhọn trong tay phải, dùng nó như chiếc gậy đi đường. Ông vui vì lại được lên đường. Công việc sắp tới có thể ông sẽ tìm được ở một nhà thờ chính tòa. Có thể ông sẽ là thợ xây dựng chính và ở lại đó suốt đời, và xây một ngôi nhà thờ thật tuyệt vời để nó bảo đảm ông sẽ được lên thiên đàng. Agnes đựng một vài vật dụng nội trợ trong chiếc nồi và đeo nó sau lưng. Alfred mang theo những công cụ làm việc mà họ cần dùng để xây một ngôi nhà mới ở một nơi nào đó: một cái rìu, một cái rìu lưỡi vòm, một cái cưa, một cái búa nhỏ, một cái dùi để đục lỗ qua da hoặc gỗ và một cái xẻng. Martha còn quá nhỏ để mang theo bất cứ đồ gì, nhưng cô cài chén ăn cơm và dao ăn vào thắt lưng và đeo áo choàng mùa đông trên lưng. Ngoài ra, cô còn có nhiệm vụ dắt theo con heo cho đến khi có thể bán nó ở chợ. Tom để mắt quan sát Agnes khi họ băng ngang khu rừng bao la vô tận. Thời kỳ mang thai đã qua một nửa, bây giờ bà mang trong bụng một trọng lượng đáng kể, giống như gánh nặng bà mang trên lưng. Nhưng bà tỏ ra không mệt mỏi. Alfred cũng vậy, mọi sự đều ổn: cậu ở lứa tuổi mà các chàng trai có quá nhiều năng lực mà các cậu không biết phải làm gì với chúng. Chỉ có Martha là mệt mỏi. Đôi chân gầy của cô được sinh ra để chạy nhẩy vui chơi hơn là để đi những đoạn đường dài. Cô luôn luôn lẽo đẽo theo sau, vì thế lâu lâu mọi người phải dừng lại chờ cho cô và con heo theo kịp. Trên đường đi, Tom nghĩ về ngôi nhà thờ chính tòa mà ông sẽ xây một ngày nào đó. Như mọi khi, ông bắt đầu hình dung một mái vòm. Nó rất đơn giản: hai cột chống giữ một nửa vòng cung. Rồi ông tưởng tượng cái thứ hai cũng giống như vậy. Sau đó, ở trong đầu, ông đẩy hai mái vòm vào với nhau thành một mái vòm sâu. Rồi ông cộng thêm một cái nữa, rồi một cái nữa, rồi nhiều cái nữa, cho đến khi ông có một hàng mái vòm, tất cả dính vào nhau tạo thành một đường hầm. Đây là kiến trúc căn bản của tòa nhà, còn lại là mái nhà che mưa và hai bức tường đỡ mái. Một ngôi nhà thờ chính ra là một đường hầm, rồi cải tiến cho nó đẹp. Một đường hầm thường rất tối, vì thế mà sự cải tiến cần thiết đầu tiên là cửa sổ. Nếu bức tường đủ mạnh, người ta có thể tạo ra những lỗ trong nó. Các lỗ sẽ tròn ở đầu, hai bên thẳng và một bệ cửa phẳng – nói chung nó có cùng hình dáng với mái vòm. Dùng cùng hình dáng cho mái, cửa sổ và cửa ra vào là một trong những yếu tố làm cho tòa nhà đẹp. Đều đặn là yếu tố khác nữa, và Tom tưởng tượng ra mười hai cửa sổ giống nhau, đều nhau, nằm dọc theo bức tường của đường hầm. Tom cố gắng hình dung phần trên cửa sổ, nhưng sự tập trung của ông bị chi phối vì ông cảm thấy mình đang bị theo dõi. Đó là một ý tưởng ngu ngốc, ông nghĩ, nếu có dĩ nhiên là ông bị theo dõi bởi chim, cáo, mèo, sóc, chuột, chồn và chuột đồng đầy rẫy trong rừng. Họ ngồi xuống bên cạnh một con rạch vào buổi trưa. Họ uống nước sạch, ăn thịt nguội và táo dại mà họ nhặt được trong rừng. Vào buổi chiều, Martha mệt mỏi. Có lúc cô ấy ở đàng sau họ cả trăm mét. Đứng chờ cho cô ấy bắt kịp, Tom nhớ lại khi Alfred ở tuổi đó, cậu đã là một đứa trẻ đẹp, mái tóc vàng, mạnh mẽ và táo bạo. Tình thương và sự tức giận trộn lẫn trong Tom khi ông quan sát Martha la mắng con heo vì quá chậm chạp. Rồi một nhân vật bước ra khỏi bụi rậm ngay trước mặt cô. Những gì xẩy ra sau đó quá nhanh, đến nỗi Tom không thể tin được. Người lạ vừa xuất hiện trên đường giơ một cây gậy cao trên đầu. Một tiếng kêu kinh hoàng thoát ra từ cổ họng Tom, nhưng trước khi ông có thể thốt ra, người lạ đã đập cây gậy xuống Martha. Hắn đập trúng vào phía bên đầu của Martha và Tom còn nghe thấy âm thanh ghê tởm của những cú đập tiếp nối sau đó. Cô ngã xuống đất như một con búp bê rơi xuống. Tom chạy lại, chân ông thình thịch trên mặt đất cứng giống như bước chân con ngựa chiến của William. Ông ước mong đôi chân có thể mang ông đi nhanh hơn. Khi chạy, ông thấy những gì đang xẩy ra giống như ở một bức tranh được vẽ cao trên tường nhà thờ, bởi vì ông có thể nhìn thấy, nhưng ông không thể thay đổi được nó. Kẻ tấn công chắc là kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Hắn lùn, chắc nịch, mặc áo dài màu nâu, đi chân trần. Hắn nhìn thẳng vào Tom, và Tom có thể nhìn thấy một khuôn mặt tàn tật kinh dị: môi hắn bị cắt, có lẽ bị trừng phạt vì tội nói dối, và miệng hắn bây giờ là một nụ cười xếch ghê rợn thường xuyên được bao quanh bởi nhiều vết sẹo. Cảnh tượng kinh khủng đã làm Tom quên đi thân thể Martha đang nằm bất động trên mặt đường. Kẻ tội phạm rời mắt nhìn Tom và chăm chú vào con heo. Trong nháy mắt, hắn cúi xuống, bắt con heo lên, kẹp con vật dưới cánh tay và lao trở lại vào bụi cây, mang theo tài sản giá trị duy nhất của gia đình Tom. Tom quỳ xuống bên cạnh Martha. Ông đặt bàn tay to lớn của mình lên ngực nhỏ bé của cô và cảm thấy nhịp tim của cô ổn định và mạnh mẽ, và nỗi lo của ông vơi đi; nhưng đôi mắt của cô vẫn khép kín và trong mái tóc bạch kim của cô có dòng máu đỏ tươi. Một lúc sau, Agnes quỳ xuống bên cạnh ông. Bà sờ vào ngực, cổ tay và trán cô, rồi bà nhìn Tom một cách cứng rắn. "Con sẽ sống," bà nói bằng giọng cương quyết. "Hãy lấy lại con heo." Tom nhanh chóng tháo chiếc bị đựng đồ nghề và bỏ chúng lại trên mặt đất. Bằng tay trái, ông lấy chiếc búa sắt từ trong thắt lưng. Trong khi tay phải ông vẫn giữ cây gậy nhọn bằng sắt. Ông còn nhìn thấy những bụi cây bị chà đạp nơi kẻ trộm đến và đi, và ông có thể nghe tiếng lợn kêu trong rừng. Ông lao vào bụi cây. Con đường mòn dễ đi. Kẻ tội phạm là người vạm vỡ, lại chạy với con heo vùng vẫy dưới cánh tay nên hắn để lại dấu vết qua vườn rau, bụi cây và những cây non. Chạy đàng sau, lòng đầy ước muốn man rợ, Tom muốn tóm cổ tên trộm và đập cho hắn bất tỉnh. Ông bị ngã nhào xuống qua bụi cây bạch dương, lăn xuống sườn đồi, té văng qua vũng bùn lầy vào một con đường hẹp. Ở đó, ông dừng lại. Kẻ trộm có thể đã đi về phía trái hay phải, và bây giờ không có đám cỏ dập nát chỉ cho ông đường đi. Tom cảnh giác và nghe thấy tiếng heo kêu đâu đó bên phía trái. Ông cũng nghe thấy tiếng chân của người nào đó vượt qua khu rừng phía sau ông – Alfred, có lẽ. Cậu đang đuổi theo con heo. Con đường đưa ông xuống chỗ trũng, rồi quanh gấp và bắt đầu lên cao. Bây giờ ông nghe rõ tiếng heo kêu. Ông chạy lên dốc, thở mệt mỏi – những năm dài hít bụi đá đã làm phổi ông suy yếu. Bất ngờ đường trở lại bằng phẳng và ông nhìn thấy tên trộm, chỉ cách ông hai mươi hay ba mươi mét, đang chạy như bị ma đuổi. Tom chạy nước rút, cố bắt được hắn. Nếu ông có thể tiếp tục chạy, ông phải bắt kịp hắn, vì một người ôm con heo thì không thể chạy nhanh hơn người tay không. Nhưng bây giờ ngực ông đau. Kẻ trộm chỉ còn cách xa mười lăm, rồi mười hai mét. Tom giơ cao chiếc gậy sắt giống như giơ ngọn giáo trên đầu. Chỉ gần hơn một chút nữa là ông có thể phóng nó. Mười một mét, mười - Trước khi ngọn giáo rời khỏi tay, ông liếc thấy một khuôn mặt gầy, đội chiếc mũ lưỡi trai màu xanh, xuất hiện từ trong bụi cây bên đường. Đã quá trễ để tránh. Một thanh gỗ to được ném ra đường trước mặt ông, ông vấp vào nó và ngã xuống. Ông đánh rơi chiếc thanh sắt, nhưng ông vẫn còn chiếc búa. Ông lộn vòng và ngồi dậy trên đầu gối. Ông nhìn thấy hai người: một người đội mũ xanh và một người đầu hói với bộ râu trắng. Chúng chạy về phía Tom. Ông tránh sang một bên và vung búa xuống tên đội mũ xanh. Hắn tránh nên búa sắt lớn chỉ giáng xuống trên vai hắn. Hắn kêu lên rồi gục xuống đất, giữ chặt vai như thể nó bị gẫy. Tom không còn đủ giờ để vung búa lên cho hắn thêm một đòn chí tử nữa, vì trong lúc đó tên đầu hói đến gần. Tom đâm đầu búa vào tên đầu hói, làm gẫy xương má hắn. Cả hai quằn quoại với vết thương và chạy trốn. Tom biết không ai trong chúng còn có thể chiến đấu. Ông nhìn quanh tìm kiếm. Tên trộm vẫn chạy trên đường. Tom chạy theo hắn, cố quên sự đau đớn trong ngực. Nhưng chỉ sau vài mét, ông nghe thấy một giọng quen thuộc đàng sau ông. Alfred. Ông ngừng chạy và nhìn lại. Alfred đang đánh nhau với cả hai tên trộm. Cậu dùng cả tay lẫn chân. Cậu đấm ba bốn cái lên đầu tên đội mũ xanh, rồi đá vào chân tên đầu hói. Nhưng hai người đàn ông đã bao vây cậu, xiết chặt vòng vây đến nỗi cậu không còn đủ chỗ để đấm và đá mạnh được. Tom do dự giữa việc đuổi bắt lấy lại con heo hay trở lại cứu con. Sau đó tên đầu hói đá trúng đàng sau cẳng chân Alfred, cậu ngã xuống đất. Hai người nhào xuống trên cậu và đấm đá xuống trên mặt và thân thể cậu. Tom chạy lại, tấn công tên đầu hói, ném hắn vào trong bụi rậm, rồi quay lại và bổ búa xuống tên đội mũ xanh. Lần trước hắn đã cảm nhận được sức nặng của chiếc búa và một cánh tay vẫn còn đau. Hắn né tránh cán búa đầu tiên, rồi quay lại và nhẩy vào bụi cây, trước khi Tom có thể giáng xuống lần thứ hai. Tom quay lại và nhìn thấy tên đầu hói đang chạy trốn xuống đường. Ông nhìn vào hướng khác: không còn thấy bóng dáng kẻ trộm và con heo đâu nữa. Ông buông lời chửi rủa cay đắng: con heo là một nửa những gì ông đã cứu vớt lại được trong mùa hè này. Ông khụy xuống đất và thở dốc. "Chúng ta đã đánh đuổi được cả ba tên," Alfred hào hứng nói. Tom nhìn cậu. "Nhưng họ đã lấy mất con heo của chúng ta," ông nói. Sự tức giận đốt cháy lòng ông giống như rượu táo chua. Họ đã mua con heo vào mùa xuân, vừa khi họ tiết kiệm đủ những đồng xu, và họ đã nuôi béo nó trong suốt mùa hè. Một con heo mập có thể bán được sáu mươi xu. Chỉ cần một vài bắp cải và một bao thóc nữa, nó có thể nuôi sống cả gia đình trong suốt mùa đông và mua được một đôi giày da, cũng như một hoặc hai bóp ví. Mất con heo là một thảm họa. Tom nhìn Alfred một cách ghanh tị. Cậu đã phục hồi sau cuộc rượt đuổi và đánh nhau, và đang sốt ruột chờ bố cậu. Bao nhiêu năm trước đây, Tom nghĩ, tôi cũng đã có thể chạy nhanh như gió mà không cảm thấy tim mình đập mạnh. Khi đó tôi ở lứa tuổi… hai mươi. Nó dường như đã trở thành quá khứ. Ông đứng lên. Khi họ đi bộ trên con đường về, Tom để tay ông lên đôi vai rộng của Alfred. Cậu vẫn còn thấp hơn bố một bàn tay, nhưng chẳng bao lâu nữa cậu sẽ bắt kịp và có thể còn cao lớn hơn. Tôi hy vọng đầu óc nó cũng phát triển theo, Tom nghĩ và nói: "Bất cứ người ngu nào cũng có thể tham gia đánh nhau, nhưng người khôn ngoan thì biết cách tránh xa chúng." Alfred nhìn ông xa vắng. Họ ra khỏi đường, vượt qua khu lầy lội và bắt đầu leo dốc, đi theo dấu vết tên trộm để lại. Khi họ đi ngang qua bụi dương, Tom nghĩ đến Martha, và cơn tức giận lại quặn lên trong lòng ông. Kẻ tội phạm đã đánh cô không thương tiếc, bởi vì cô không có gì để chống cự lại hắn. Tom vội bước nhanh hơn và chẳng bao lâu sau, ông và Alfred đã ra đến đường đi. Martha vẫn nằm chỗ cũ, không cử động. Mắt cô vẫn đóng, và máu đã khô trong tóc cô. Agnes ở bên cạnh cô – và bên cạnh họ, trước sự ngạc nhiên của Tom, có một phụ nữ và một bé trai. Ông chợt hiểu rằng thật chẳng có gì ngạc nhiên khi ông cảm thấy bị theo dõi trong rừng trước đây. Ông cúi xuống, đặt tay lên ngực Martha. Cô thở bình thường. "Chẳng bao lâu nữa cô ấy sẽ tỉnh," người đàn bà lạ nói bằng một giọng uy quyền. "Rồi cô ấy sẽ nôn mửa. Sau đó cô sẽ khỏe lại." Tom tò mò nhìn bà. Bà ấy quỳ, cúi mình trên Martha. Bà ấy còn trẻ, có lẽ trẻ hơn Tom cả chục tuổi. Chiếc áo da ngắn của bà để lộ thân thể rám nắng mềm mại. Bà có một khuôn mặt đẹp, có mái tóc nâu đen xõa xuống trên trán. Tom cảm thấy một day dứt thèm khát. Rồi bà ngẩng lên, liếc nhìn ông: đôi mắt sâu, tinh anh, có màu vàng mật ong khác thường, một đôi mắt làm cho khuôn mặt bà có một vẻ huyền bí, và ông cảm thấy chắc rằng bà cũng biết ông đang nghĩ gì. Ông quay nhìn chỗ khác tránh bối rối, và ông bắt gặp ánh mắt Agnes. Bà đang bực bội nhìn ông. Bà hỏi: "Con heo đâu?" "Còn có hai kẻ tội phạm khác nữa," Tom nói. Alfred nói: "Chúng ta đánh bại họ, nhưng người ăn cắp con heo thì chạy mất." Agnes cau mặt nhìn, nhưng không nói gì. Người đàn bà lạ nói: "Một cách nhẹ nhàng, chúng ta có thể di chuyển bé gái vào trong bóng râm." Bà đứng lên, và Tom nhận ra rằng bà ấy nhỏ con, ít nhất là nhỏ hơn ông một cái chân. Ông cúi xuống, cẩn thận bế Martha lên. Cơ thể trẻ thơ của cô dường như nhẹ hẫng trên tay ông. Ông bế cô dọc theo con đường vài mét, rồi đặt cô xuống bãi cỏ dưới bóng mát của một cây sồi già. Cô vẫn còn yếu. Alfred thu lượm các công cụ đã bị phân tán rải rác trên đường trong cuộc ẩu đả. Đứa con trai của người đàn bà lạ chăm chú nhìn, mắt cậu to và miệng mở rộng, không nói gì. Cậu trẻ hơn Alfred khoảng ba tuổi và dễ nhìn, Tom quan sát, nhưng không có nét đẹp gợi cảm của mẹ. Cậu có làn da tái xanh, mái tóc đỏ cam và đôi mắt xanh hơi cong. Cậu có cái nhìn ngớ ngẩn của một người đần độn, Tom nghĩ; những đứa trẻ như thế này thường hay chết yểu hay sẽ lớn lên trong làng dành cho người ngốc nghếch. Alfred cảm thấy không thoải mái trong cái nhìn chằm chằm của cậu bé. Trong khi Tom đang quan sát, cậu bé giật lấy cái cưa từ tay Alfred mà không nói gì, rồi xem xét nó như thể nó là một cái gì đó kỳ lạ. Alfred tức giận vì thái độ vô lễ của cậu bé, cậu giật nó lại, và cậu bé vẫn thờ ơ để cho Alfred giật lại. Bà mẹ nói: "Jack! Hãy giữ tư cách của con." Bà ấy có vẻ xấu hổ. Tom nhìn bà. Đứa trẻ không giống bà chút nào. "Bà có phải là mẹ nó không?" Tom hỏi. "Vâng, tôi là Ellen." "Chồng bà đâu?" "Chết rồi." Tom ngạc nhiên. "Bà đi một mình sao?" ông hoài nghi hỏi. Khu rừng này đủ nguy hiểm cho đàn ông giống như ông: một người đàn bà đi một mình sẽ khó có hy vọng sống sót. "Chúng tôi không phải là người qua đường," Ellen nói. "Chúng tôi sống trong rừng." Tom bị sốc. "Bà muốn nói bà là –" ông ngưng lại, không muốn xúc phạm bà. "Người sống ngoài vòng pháp luật," bà nói. "Vâng, ông nghĩ rằng mọi kẻ tội phạm đều giống như Faramond Openmouth, người đã lấy trộm của ông con heo ư?“ "Đúng vậy," Tom nói, mặc dù chính ra ông định nói rằng tôi chẳng bao giờ nghĩ một người sống ngoài vòng pháp luật lại có thể là một phụ nữ xinh đẹp như bà. Không thể kiềm chế được sự tò mò, ông hỏi: "Bà bị phạm tội gì?" "Tôi nguyền rủa một linh mục," bà nói, rồi quay đi. Đối với Tom, đó không phải là tội phạm, hay có lẽ vị linh mục đó có nhiều quyền lực hay chuyện này quá nhậy cảm; hay có lẽ Ellen đã không muốn nói sự thật. Ông nhìn Martha. Một lúc sau cô mở mắt. Cô bối rối, pha lẫn chút sợ hãi. Agnes quỳ bên cạnh cô. "Con được an toàn rồi," bà nói. "Mọi chuyện sẽ tốt đẹp." Martha ngồi thẳng lên và nôn mửa. Agnes ôm chặt cô cho đến khi cơn co thắt qua đi. Tom rất cảm kích: dự đoán của Ellen đã thành sự thật. Bà cũng nói là Martha sẽ lành và có lẽ chuyện ấy cũng đáng tin nữa. Ông cảm thấy nỗi lo nhẹ đi và ông ngạc nhiên một chút về sức mạnh cảm xúc của chính ông. Tôi không thể chịu đựng được nếu mất đứa con gái nhỏ bé này, ông nghĩ; và ông phải chiến đấu để ngăn dòng nước mắt lại. Ông bắt gặp cái nhìn thiện cảm của Ellen, và một lần nữa ông cảm thấy đôi mắt vàng nhợt của bà ấy có thể nhìn thấu trái tim ông. Ông bẻ một cành cây sồi, tước lấy lá và dùng chúng để lau mặt Martha. Cô vẫn còn rất tái. "Cô ấy cần nghỉ ngơi," Ellen nói. "Hãy để cô ấy nằm xuống đó một lúc, bằng khoảng thời gian của một người đi bộ ba dặm." Tom liếc nhìn mặt trời. Trời vẫn còn rất sáng. Ông ngồi xuống chờ đợi. Agnes ru Martha dịu dàng trong vòng tay. Cậu bé Jack bây giờ chuyển sự chú ý qua Martha và nhìn chằm chằm vào cô với cùng vẻ ngu ngốc. Tom muốn biết nhiều về Ellen. Ông tự hỏi, không biết Ellen có bị thuyết phục để kể câu chuyện về bà. Ông không muốn bà đi khỏi. „Chuyện đó xẩy ra làm sao?" ông hỏi bà một cách phỏng chừng. Bà nhìn vào mắt ông, rồi bắt đầu kể. Bố bà là một hiệp sĩ, bà ấy kể với họ. Ông là một người to lớn, mạnh mẽ và hung bạo. Ông muốn có một người con trai, một người có thể cùng phi ngựa, đi săn và vật lộn với ông, một người cùng uống rượu và say sưa qua đêm với ông. Về khía cạnh này ông là một người đàn ông thiếu may mắn, vì ông không có con trai mà là có Ellen, và rồi vợ ông qua đời. Ông cưới thêm người vợ nữa, nhưng bà vợ thứ hai này hiếm muộn. Ông coi thường bà vợ kế này và đuổi bà đi. Ông đúng là người đàn ông tàn nhẫn, nhưng ông không đối xử như thế với Ellen, người luôn ngưỡng phục ông và cùng chia sẻ với ông quan điểm khinh thường vợ hai của ông. Khi mẹ kế đi khỏi, Ellen sống và lớn lên trong một ngôi nhà toàn đàn ông. Bà cắt tóc ngắn, mang một con dao găm và học không được chơi với mèo hay chăm sóc con chó già. Vào lứa tuổi của Martha, bà đã nhổ xuống đất, ăn hột táo và thúc vào bụng ngựa. Bà biết rằng tất cả đàn ông không thuộc băng của bố bà được gọi là 'người nịnh hót' và các bà không theo họ được gọi là 'ngu như lợn', mặc dù bà không biết chắc – và không quan tâm lắm – những điều nhục mạ này có nghĩa gì. Lắng nghe giọng bà trong làn gió nhẹ của buổi chiều thu, Tom nhắm mắt lại, tưởng tượng một người con gái ngực phẳng với khuôn mặt bụi bặm, ngồi chung bàn với bọn côn đồ của bố, uống rượu mạnh, cụng ly và hát những ca khúc về chiến tranh, kể chuyện cướp bóc và hãm hiếp, về ngựa, lâu đài và trinh nữ cho đến khi bà ngủ thiếp đi, gục đầu với mái tóc ngắn trên chiếc bàn gỗ thô. Nếu như bà cứ mãi mãi có bộ ngực phẳng thì có lẽ bà sẽ hạnh phúc suốt đời. Nhưng thời gian đến, khi các đàn ông nhìn bà một cách khác. Họ không còn cười khi bà nói: "Tránh đường cho tôi đi, nếu không tôi sẽ cắt trứng của các ông cho heo ăn." Một vài người trong số họ nhìn chằm chằm khi bà cởi áo dài len và đi ngủ với quần áo lót bằng lụa. Khi đi tiểu ở trong rừng, họ phải quay lưng lại phía bà, một điều mà trước đây họ chẳng bao giờ làm. Một ngày kia bà thấy bố bà nói chuyện với cha sở một cách chăm chú - một chuyện hiếm khi xẩy ra – và cả hai người cứ nhìn bà, như họ đang nói về bà. Sáng hôm sau bố bà nói với bà: "Đi với Henry và Everard, và làm những gì mà họ bảo." Sau đó ông hôn lên trán bà. Bà tự hỏi, chuyện gì đã làn bố bà thay đổi – có phải ông dịu hiền hơn trong tuổi già của ông? Bà thắng yên con ngựa đua màu xám – bà không muốn cưỡi con ngựa của đàn bà hoặc con ngựa con của trẻ nhỏ - và lên đường với hai người đàn ông bên cạnh. Họ đem bà đến một tu viện nữ và bỏ bà lại đó. Khi hai người đàn ông ra về, cả nơi đó vang lên lời chửi rủa thô tục của bà. Bà đâm vị tu viện trưởng rồi đi bộ cả đoạn đường về lại nhà bố. Ông cột chân tay bà vào yên con lừa và gửi bà trở lại tu viện. Bà bị nhốt trong phòng phạt cho đến khi vết thương của vị tu viện trưởng lành. Căn phòng lạnh, ẩm thấp và tối như đêm đen, và bà có nước để uống nhưng không có đồ ăn. Khi bà được ra khỏi phòng đó, bà lại đi bộ về nhà. Bố bà lại gửi bà đi, và lần này bà bị đánh trước khi bị nhốt vào trong phòng. Sau cùng họ hoán cải được bà, dĩ nhiên, và bà mặc áo tập sinh, sống theo quy luật và học cầu nguyện, mặc dù trong tâm hồn bà ghét các nữ tu, coi thường các Thánh và không tin bất cứ điều gì người ta nói với bà về Thiên Chúa bằng lý thuyết. Nhưng bà học đọc và viết, bà thành thạo về âm nhạc, toán và vẽ. Ngoài tiếng Pháp và tiếng Anh mà bà đã nói trong gia đình, bà học thêm tiếng Latin. Đời sống trong tu viện không quá xấu. Nó là một cộng đoàn gồm các cá nhân độc thân với các quy định đặc thù và các nghi thức, và đó chính là lối sống mà bà đã quen. Tất cả các nữ tu phải làm việc chân tay và Ellen được phân công lo cho ngựa. Chẳng bao lâu sau bà phụ trách chuồng ngựa. Sự nghèo khó không làm bà bận tâm. Sự vâng phục không dễ dàng gì, nhưng cuối cùng bà cũng theo. Quy luật thứ ba, sự trinh khiết, bà chẳng coi trọng lắm, và có những lúc để thách thức vị tu viện trưởng, bà khai tâm cho một hay nhiều nữ tu tập sinh về những thú vui của – Vào lúc này Agnes gián đoạn câu chuyện của Ellen. Bà mang Martha theo, đi tìm nguồn suối để lau mặt cô và giặt chiếc áo của cô. Bà đem cả Alfred theo, để bảo vệ, mặc dù bà nói bà sẽ không đi quá xa. Jack đứng lên theo họ, nhưng Agnes cứng rắn nói cậu ở lại và dường như cậu hiểu, vì cậu lại ngồi xuống. Tom nhận ra Agnes đã muốn đem các con đi để chúng không nghe được câu chuyện vô đạo và sỗ sàng này, và bà cũng không muốn để Tom ở lại một mình với Ellen. Một ngày nọ, Ellen tiếp tục, con ngựa nhỏ của vị tu viện trưởng bị què cách tu viện vài ngày đường. Tu viện Kingsbridge tình cờ ở gần đó, vì thế bà mượn một con ngựa khác ở đó. Sau khi trở về, bà nói Ellen đem trả lại ngựa và lấy con ngựa què về. Ở đó, trong chuồng ngựa của tu viện, nằm trong bóng ngôi nhà thờ chính tòa cũ kỹ đổ nát của Kingsbridge, Ellen gặp một thanh niên trẻ, trông giống như một con chó con bị đánh đập. Cậu có sự mềm mại và cái mũi cảnh giác của một con chó con, nhưng cậu sợ hãi và nhút nhát như thể tất cả thú vui chơi đã bị đánh bật ra khỏi cậu. Khi bà nói, cậu không hiểu gì. Bà thử bằng tiếng Latin, nhưng cậu không phải là tu sĩ. Sau cùng bà nói vài chữ bằng tiếng Pháp, khuôn mặt ông vui tươi rạng rỡ và ông trả lời lại trong cùng một ngôn ngữ. Ellen chẳng bao giờ trở lại tu viện nữa. Từ đó bà sống trong rừng, trước hết trong một túp lều bằng cành lá, sau đó trong một hang động khô ráo. Bà không quên khả năng của đàn ông mà bà đã học được ở nhà bố: bà vẫn có thể săn nai, bắt thỏ, bắn thiên nga bằng cung; bà có thể mổ thịt, làm sạch và nấu chín; và bà còn biết cạo, thuộc da và dùng chúng may quần áo. Như một trò chơi, bà ăn trái cây rừng, các loại hạt và rau cỏ. Còn những vật khác cần thiết như muối, quần áo len, chiếc rìu hay con dao mới, bà phải ăn cắp. Thời gian tồi tệ nhất là khi Jack được sinh ra… Nhưng anh chàng người Pháp ra sao? Tom muốn hỏi. Có phải ông ấy là bố của Jack không? Và nếu như vậy, ông ấy đã chết lúc nào? Và ra sao? Nhưng nhìn vào khuôn mặt bà, ông biết bà không muốn kể về phần này của câu chuyện, và bà là người không dễ bị thuyết phục, vì thế ông giữ những câu hỏi này cho riêng mình. Vào thời điểm đó, bố bà qua đời và nhóm người xung quanh ông tản mác đi, vì thế bà không còn người thân hoặc bạn bè nào trên thế giới. Khi Jack được sinh ra, bà đốt lửa suốt đêm ở cửa hang. Bà có đồ ăn, nước uống, và có dao, cung tên để chống sói và chó hoang; và ngay cả bà có một chiếc áo choàng dầy màu đỏ mà bà đã ăn cắp của một giám mục để quấn cho đứa nhỏ. Nhưng bà không chuẩn bị cho sự đau đớn và sự sợ hãi của việc sinh nở, và trong một thời gian dài bà nghĩ rằng bà sẽ chết. Tuy nhiên, đứa nhỏ được sinh ra khỏe mạnh và bà được sống sót. Ellen và Jack đã trải qua một cuộc sống thô sơ, đơn giản trong mười một năm sau đó. Rừng cho họ những gì họ cần, miễn là họ phải thận trọng tích trữ đủ táo, các loại hạt và thịt ướp muối hoặc hun khói cho các tháng mùa đông. Ellen thường nghĩ rằng nếu giả sử như thế giới không có vua, bá tước, giám mục và cảnh sát thì mọi người có thể sống như thế này và hoàn toàn hạnh phúc. Tom hỏi bà đã xử lý như thế nào với những người sống ngoài vòng pháp luật khác, những người như Raramond Openmouth. Điều gì sẽ xẩy ra nếu họ đè lên bà vào ban đêm và cưỡng hiếp bà? Ông tự hỏi và khi nghĩ như vậy, chỗ thắt lưng của ông bị kích thích, mặc dù ông chẳng bao giờ cưỡng hiếp người đàn bà nào, ngay cả vợ ông. Các kẻ tội phạm khác sợ Ellen, bà kể cho Tom, ngước nhìn Tom bằng đôi mắt trong sáng và ông hiểu tại sao: họ nghĩ bà là một phù thủy. Chỉ đối với những người lữ hành qua rừng, những người biết rằng họ có quyền ăn cắp, cưỡng hiếp và giết chết những tội phạm mà không sợ bị pháp luật trừng phạt – những người đó Ellen phải tránh. Tại sao bà lại không tránh Tom? Bởi vì bà thấy một đứa trẻ bị thương và bà muốn giúp đỡ, vì chính bà cũng có một đứa con. Bà đã truyền đạt cho Jack kiến thức về vũ khí và săn bắn mà bà đã học trong nhà của bố bà. Sau đó bà dạy cậu những gì bà học được từ các nữ tu: đọc và viết, nhạc và toán, tiếng Pháp và tiếng Latin, cách vẽ và ngay cả những câu truyện về Kinh Thánh. Và trong những đêm dài mùa đông, bà truyền lại cho cậu di sản của chàng trai người Pháp, người biết nhiều câu truyện, thơ và bài hát hơn bất cứ một người nào khác trên thế giới. Tom không tin rằng Jack có thể đọc và viết. Tom có thể viết tên mình, và một vài chữ như xu, mét và giạ; và Agnes, con gái của một mục sư, biết nhiều hơn, mặc dù bà ấy viết chậm và lưỡi bà cứng đơ trong cửa miệng; và Alfred không viết được chữ nào, ngay cả không nhận ra tên mình; còn Martha không biết gì. Có thể nào một đứa bé nửa ngu nửa dại này lại có thể đọc và viết hơn cả gia đình Tom? Ellen nói Jack viết, và cậu san phẳng mặt đất rồi viết lên đó. Tom nhận ra được chữ thứ nhất, Alfred, nhưng không biết các chữ khác, và ông thấy mình ngu dốt; Ellen cứu sự bối rối của ông bằng cách đọc to cả câu: "Alfred lớn hơn Jack." Rồi Jack vẽ nhanh hai hình người, một người lớn hơn người kia, và mặc dù nét vẽ thô sơ người ta vẫn có thể hiểu một người có bờ vai rộng nhìn khó chịu, và người nhỏ hơn cười toe toét. Tom là người có khả năng phác thảo, ông cũng ngạc nhiên về sự đơn giản và có sức thuyết phục của bức tranh vẽ trên đất. Nhưng đứa trẻ dường như là một đứa ngốc. Ellen đã nhận ra điều đó, bà thừa nhận, như đoán được ý nghĩ của Tom. Jack chẳng bao giờ có bạn cùng lứa, hoặc sự thân thiện của người khác, ngoại trừ mẹ cậu, và kết quả là cậu lớn lên như một con thú hoang. Mặc dù đã học tất cả, cậu vẫn không biết cư xử với người khác. Đó là lí do tại sao cậu im lặng, cứng đầu và chộp giật. Khi bà kể điều này, lần đầu tiên thấy bà bị tổn thương. Bà đánh mất đi sự tự lập bất khả xâm phạm của mình, và Tom nhìn thấy bà bối rối, hầu như thất vọng. Vì Jack, bà cần tham dự vào xã hội, nhưng bằng cách nào? Giả sử bà là đàn ông, bà có thể thuyết phục vài lãnh chúa để xin thuê một nông trại, nhất là khi bà nói dối là bà trở về từ một chuyến hành hương đến Giêrusalem hay Santiago de Compostela. Có một vài nông dân phụ nữ, nhưng họ là các góa phụ sống với con trai lớn của họ. Không có lãnh chúa nào cung cấp trang trại cho một phụ nữ với con nhỏ. Không người nào muốn thuê bà làm việc cho họ trong thành phố cũng như nơi miền quê; bên cạnh đó bà không có nơi ở, và công nhân không chuyên nghiệp thường không được cho chỗ ăn nghỉ. Bà không có căn tính. Tom thông cảm bà. Bà đã cho con bà mọi thứ bà có thể cho, nhưng nó vẫn chưa đủ. Nhưng ông không biết cách nào để bà thoát khỏi nghịch cảnh này. Mặc dù bà xinh đẹp, tháo vát và mạnh mẽ, nhưng bà đã bị kết án phải trải qua suốt quãng đời còn lại trốn tránh trong rừng với đứa con lập dị này. Agnes, Martha và Alfred trở về. Tom nhìn Martha lo lắng, nhưng cô ấy trông như là không có gì tồi tệ đã vừa xẩy ra cho cô, ngoài khuôn mặt mới được gột rửa. Trong một thời gian dài, Tom đã chìm đắm trong vấn đề của Ellen, nhưng bây giờ ông nhớ đến hoàn cảnh của chính mình: ông đang thất nghiệp và con heo đã bị ăn cắp. Buổi chiều lên. Ông thu thập tài sản còn lại của mình. Ellen hỏi: "Ông định đi đâu?" "Winchester," Tom nói với cô. Winchester có một pháo đài, một cung điện, nhiều tu viện, và quan trọng nhất trong tất cả – một ngôi nhà thờ chính tòa. "Salisbury gần hơn," Ellen nói. "Và lần sau cùng khi tôi ở đó, họ đang xây lại ngôi nhà thờ chính tòa, mở rộng hơn xưa." Trái tim Tom nhẩy múa. Đó là cái mà ông đang tìm kiếm. Nếu ông tìm được một công việc trong một dự án xây nhà thờ, ông tin rằng sau đó ông sẽ có thể trở thành người xây dựng chính. "Đường nào dẫn tới Salisbury?" ông háo hức hỏi. "Ngược lại đường ông vừa đến, khoảng ba hoặc bốn dặm. Ông có nhớ ngã ba đường, nơi ông đã quẹo trái?" "Có, bên cạnh một ao nước bẩn." "Đúng đó. Ngã ba phía phải dẫn đến Salibury." Họ ra đi. Agnes không thích Ellen, tuy nhiên bà vẫn ân cần nói: "Cảm ơn cô đã chăm sóc cho Martha." Ellen cười và tiếc nuối nhìn họ ra đi. Khi họ đã đi được vài phút, Tom quay lại. Ellen vẫn nhìn theo họ, hai chân dang rộng, bàn tay che nắng mặt trời và đứa con trai đứng bên cạnh. Tom vẫy tay và bà vẫy lại. "Một người phụ nữ hấp dẫn." ông nói với Agnes. Agnes không nói gì. Alfred nói: "Đứa con trai thật kỳ lạ." Họ bước đi trong nắng mặt trời mùa thu thấp. Tom tò mò không biết thị trấn Salisbury ra sao: ông chưa bao giờ đến đó. Ông thấy thích thú. Dĩ nhiên ông muốn xây một nhà thờ chính tòa từ nền móng, nhưng điều đó có lẽ chẳng xẩy ra, dễ hơn nên tìm một tòa nhà cũ để sửa lại hay nới rộng ra hoặc xây lại một phần. Nhưng điều đó đủ cho ông rồi, miễn là nó có triển vọng để sau này ông có thể xây theo phác họa của riêng ông. Martha hỏi: "Tại sao người đàn ông lạ lại đánh con?" "Bởi vì hắn muốn ăn cắp con heo của chúng ta." Agnes trả lời. "Ông ấy chỉ nên lấy con heo của ông ấy," Martha nói phẫn nộ, như thể cô chỉ nhận ra một điều là kẻ tội phạm đã làm điều gì đó sai trái. Vấn đề của Ellen sẽ được giải quyết nếu bà ấy có một nghề thủ công, Tom suy nghĩ lại. Một thợ nề, một thợ mộc, một thợ dệt hoặc một thợ thuộc da sẽ không gặp hoàn cảnh như của bà, vì họ vẫn có thể đến thành phố tìm việc. Có một vài bà làm thợ thủ công, nhưng thông thường họ là góa phụ hoặc vợ của thợ thủ công. "Những gì Ellen cần," Tom nói lớn, "là một người chồng." Agnes nói quả quyết: "Tốt, nhưng bà ấy không thể có chồng của tôi." III Ngày họ mất con heo cũng là ngày cuối cùng của thời tiết êm dịu. Họ qua đêm trong một nhà kho, và khi họ ra khỏi nhà kho vào buổi sáng, bầu trời có màu của mái nhà lá, và có một cơn gió lạnh mang theo mưa. Họ lấy áo khoác dầy bằng nỉ ra khỏi bọc, mặc chúng vào, thắt chặt dưới cằm và kéo mũ ra phía trước để mưa khỏi rơi vào mặt. Họ ra đi trong một tâm trạng ảm đạm, bốn bóng ma âm thầm trong cơn mưa bão, đôi guốc gỗ của họ gõ nước tung tóe dọc theo con đường đầy nước và bùn lầy. Tom thắc mắc không biết ngôi nhà thờ chính tòa Salisbury ra sao. Nhà thờ chính tòa là một nhà thờ, trong căn bản, giống như các nhà thờ khác: nó đơn giản là một nhà thờ, nơi vị giám mục đặt ngai tòa của ngài. Nhưng trong thực tế, nhà thờ chính tòa lớn nhất, giầu nhất, vĩ đại nhất và phức tạp nhất trong vùng. Nhà thờ chính tòa ít khi chỉ là một đường hầm với các cửa sổ. Hầu hết chúng có ba đường hầm, một cái cao ở giữa và hai cái nhỏ hơn ở hai bên cạnh, tạo thành một gian giữa với lối đi hai bên. Hai bên tường của đường hầm giữa được đơn giản đi, chỉ còn lại hai hàng cột liên kết bởi mái vòm, tạo thành một đường mái vòm. Đường đi hai bên dùng cho các cuộc rước kiệu – rất ngoạn mục trong nhà thờ chính tòa – và cũng cung cấp không gian cho các nhà nguyện nhỏ hai bên dành riêng cho các vị Thánh đặc biệt, những vị Thánh thu hút thêm tiền dâng cúng. Nhà thờ chính tòa là tòa nhà mắc nhất thế giới, còn hơn cả dinh thự và lâu đài, và chúng cũng cần tiền để bảo trì. Salisbury gần hơn là Tom nghĩ. Vào giữa buổi sáng họ trèo lên đồi, và thấy một con đường trước mặt dẫn xuống một khúc quanh dài, rồi xuyên qua một cánh đồng, phùng lên giữa đồng bằng như một con thuyền nhô lên trên mặt hồ. Từ đó họ có thể nhìn thấy thành phố Salisbury kiên cố trên đồi. Thành phố chìm trong mưa, nhưng Tom có thể nhìn thấy nhiều tháp, bốn hoặc năm cái, cao hơn bức tường thành. Ông lên tinh thần khi thấy nhiều công trình bằng đá. Một cơn gió lạnh thổi qua cánh đồng, làm mặt và chân tay họ buốt lạnh khi họ đi theo con đường vào cổng phía đông. Bốn con đường gặp nhau dưới chân đồi, ở giữa khu nhà được la rộng ra từ thị trấn, và nơi đây có nhiều lữ khách cùng đi với họ, bước đi với tấm lưng còng và đầu cúi xuống băng ngang thời tiết tới nơi trú ẩn sau bức tường. Trên sườn dốc dẫn đến cổng thành, họ gặp một xe bò chở đầy đá – một dấu hiệu rất hy vọng cho Tom. Người phu xe cúi xuống sau xe bằng gỗ thô, đẩy xe bằng vai của mình, dùng sức mình phụ lực với hai con bò để đẩy chiếc xe lên dốc. Tom thấy cơ hội tốt để làm bạn. Ông ra hiệu cho Alfred, cả hai đặt vai vào sau xe và giúp đẩy xe lên. Các bánh xe bằng gỗ to lớn đi ầm ầm qua cây cầu bằng gỗ bắt ngang một con hào khô rất lớn. Công sự đào đắp bằng đất thật là kinh khủng: phải đào đất, lấy đất đi để tạo thành bức tường thành, điều đó phải cần đến hàng trăm công nhân, Tom nghĩ, một công trình còn to lớn hơn là đào nền móng cho một nhà thờ chính tòa. Cây cầu bắc ngang con hào lúc lắc và kêu cọt kẹt dưới sức nặng của chiếc xe và hai con thú to lớn. Độ dốc giảm đi và xe bò có thể di chuyển dễ dàng hơn khi họ đến gần cổng vào. Người phu xe đứng thẳng lên, Tom và Alfred cũng làm như vậy. "Cảm ơn lòng tốt của các ông," người phu xe nói. Tom hỏi: "Ông chở đá làm gì vậy?" "Cho nhà thờ chính tòa mới." "Xây mới sao? Tôi nghe nói chỉ nới rộng thêm thôi mà?" Người phu xe gật đầu. "Đó là những gì họ nói cách đây mười năm về trước. Nhưng bây giờ nó mới nhiều hơn cũ." Đó là một tin tốt cho Tom. "Ai là thợ xây dựng tổng thể chính?" "John thành Shaftesbury, mặc dù Giám mục Roger có công nhiều trong việc thiết kế." Nó là điều bình thường. Rất ít khi giám mục để thợ xây dựng chính làm việc một mình. Một trong những vấn đề của thợ xây dựng chính là làm dịu những tưởng tượng nóng bỏng của hàng giáo sĩ và đặt ra những giới hạn thực tế cho những tưởng tượng mơ hồ của họ. Nhưng chính John thành Shaftesbury là người chịu trách nhiệm về việc thuê nhân công. Người phu xe gật đầu khi nhìn thấy túi đồ nghề của Tom. "Thợ xây?" "Vâng, đang đi tìm vệc." "Ông sẽ tìm được," người phu xe nói chung chung. "Nếu không tìm được ở nhà thờ chính tòa, có lẽ cũng tìm được ở lâu đài." "Ai chỉ đạo ở lâu đài?" "Cũng vậy. Roger vừa là giám mục vừa là người cai quản thành trì." Dĩ nhiên, Tom nghĩ. Ông đã nghe về quyền lực của Roger vùng Salisbury, người từ lâu đã được coi là thân cận với nhà vua. Họ đi qua cổng vào thành. Quảng trường đầy các tòa nhà, người và thú vật, đầy đến nỗi dường như nó có nguy cơ làm nổ tung cả bức tường thành và rơi xuống các thành hào. Các nhà gỗ chen nhau vai kề vai, xô đẩy tìm chỗ như khán giả đi xem buổi tử hình. Mỗi khoảng hở trên mặt đất đều được dùng cho cái gì đó. Nơi hai ngôi nhà được xây với con hẻm ở giữa, một ai đó đã xây một nửa căn nhà trong hẻm, không có cửa sổ. Mặt tiền nhà dù có nhỏ, ngay cả đối với căn nhà nhỏ nhất, cũng tạo nên một gian hàng bán rượu bia, bánh mì hoặc táo; và ngay cả chỗ đó có nhỏ bé, nó cũng có chuồng ngựa, chuồng heo, một đống phân hay một thùng nước. Thị trấn rất ồn ào. Mưa cũng không làm bớt đi tiếng ồn ào của thợ thủ công, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng mọi người chào hỏi nhau, thương lượng và cãi vã, tiếng thú vật hí, sủa và đánh nhau. III Ngày họ mất con heo cũng là ngày cuối cùng của thời tiết êm dịu. Họ qua đêm trong một nhà kho, và khi họ ra khỏi nhà kho vào buổi sáng, bầu trời có màu của mái nhà lá, và có một cơn gió lạnh mang theo mưa. Họ lấy áo khoác dầy bằng nỉ ra khỏi bọc, mặc chúng vào, thắt chặt dưới cằm và kéo mũ ra phía trước để mưa khỏi rơi vào mặt. Họ ra đi trong một tâm trạng ảm đạm, bốn bóng ma âm thầm trong cơn mưa bão, đôi guốc gỗ của họ gõ nước tung tóe dọc theo con đường đầy nước và bùn lầy. Tom thắc mắc không biết ngôi nhà thờ chính tòa Salisbury ra sao. Nhà thờ chính tòa là một nhà thờ, trong căn bản, giống như các nhà thờ khác: nó đơn giản là một nhà thờ, nơi vị giám mục đặt ngai tòa của ngài. Nhưng trong thực tế, nhà thờ chính tòa lớn nhất, giầu nhất, vĩ đại nhất và phức tạp nhất trong vùng. Nhà thờ chính tòa ít khi chỉ là một đường hầm với các cửa sổ. Hầu hết chúng có ba đường hầm, một cái cao ở giữa và hai cái nhỏ hơn ở hai bên cạnh, tạo thành một gian giữa với lối đi hai bên. Hai bên tường của đường hầm giữa được đơn giản đi, chỉ còn lại hai hàng cột liên kết bởi mái vòm, tạo thành một đường mái vòm. Đường đi hai bên dùng cho các cuộc rước kiệu – rất ngoạn mục trong nhà thờ chính tòa – và cũng cung cấp không gian cho các nhà nguyện nhỏ hai bên dành riêng cho các vị Thánh đặc biệt, những vị Thánh thu hút thêm tiền dâng cúng. Nhà thờ chính tòa là tòa nhà mắc nhất thế giới, còn hơn cả dinh thự và lâu đài, và chúng cũng cần tiền để bảo trì. Salisbury gần hơn là Tom nghĩ. Vào giữa buổi sáng họ trèo lên đồi, và thấy một con đường trước mặt dẫn xuống một khúc quanh dài, rồi xuyên qua một cánh đồng, phùng lên giữa đồng bằng như một con thuyền nhô lên trên mặt hồ. Từ đó họ có thể nhìn thấy thành phố Salisbury kiên cố trên đồi. Thành phố chìm trong mưa, nhưng Tom có thể nhìn thấy nhiều tháp, bốn hoặc năm cái, cao hơn bức tường thành. Ông lên tinh thần khi thấy nhiều công trình bằng đá. Một cơn gió lạnh thổi qua cánh đồng, làm mặt và chân tay họ buốt lạnh khi họ đi theo con đường vào cổng phía đông. Bốn con đường gặp nhau dưới chân đồi, ở giữa khu nhà được la rộng ra từ thị trấn, và nơi đây có nhiều lữ khách cùng đi với họ, bước đi với tấm lưng còng và đầu cúi xuống băng ngang thời tiết tới nơi trú ẩn sau bức tường. Trên sườn dốc dẫn đến cổng thành, họ gặp một xe bò chở đầy đá – một dấu hiệu rất hy vọng cho Tom. Người phu xe cúi xuống sau xe bằng gỗ thô, đẩy xe bằng vai của mình, dùng sức mình phụ lực với hai con bò để đẩy chiếc xe lên dốc. Tom thấy cơ hội tốt để làm bạn. Ông ra hiệu cho Alfred, cả hai đặt vai vào sau xe và giúp đẩy xe lên. Các bánh xe bằng gỗ to lớn đi ầm ầm qua cây cầu bằng gỗ bắt ngang một con hào khô rất lớn. Công sự đào đắp bằng đất thật là kinh khủng: phải đào đất, lấy đất đi để tạo thành bức tường thành, điều đó phải cần đến hàng trăm công nhân, Tom nghĩ, một công trình còn to lớn hơn là đào nền móng cho một nhà thờ chính tòa. Cây cầu bắc ngang con hào lúc lắc và kêu cọt kẹt dưới sức nặng của chiếc xe và hai con thú to lớn. Độ dốc giảm đi và xe bò có thể di chuyển dễ dàng hơn khi họ đến gần cổng vào. Người phu xe đứng thẳng lên, Tom và Alfred cũng làm như vậy. "Cảm ơn lòng tốt của các ông," người phu xe nói. Tom hỏi: "Ông chở đá làm gì vậy?" "Cho nhà thờ chính tòa mới." "Xây mới sao? Tôi nghe nói chỉ nới rộng thêm thôi mà?" Người phu xe gật đầu. "Đó là những gì họ nói cách đây mười năm về trước. Nhưng bây giờ nó mới nhiều hơn cũ." Đó là một tin tốt cho Tom. "Ai là thợ xây dựng tổng thể chính?" "John thành Shaftesbury, mặc dù Giám mục Roger có công nhiều trong việc thiết kế." Nó là điều bình thường. Rất ít khi giám mục để thợ xây dựng chính làm việc một mình. Một trong những vấn đề của thợ xây dựng chính là làm dịu những tưởng tượng nóng bỏng của hàng giáo sĩ và đặt ra những giới hạn thực tế cho những tưởng tượng mơ hồ của họ. Nhưng chính John thành Shaftesbury là người chịu trách nhiệm về việc thuê nhân công. Người phu xe gật đầu khi nhìn thấy túi đồ nghề của Tom. "Thợ xây?" "Vâng, đang đi tìm vệc." "Ông sẽ tìm được," người phu xe nói chung chung. "Nếu không tìm được ở nhà thờ chính tòa, có lẽ cũng tìm được ở lâu đài." "Ai chỉ đạo ở lâu đài?" "Cũng vậy. Roger vừa là giám mục vừa là người cai quản thành trì." Dĩ nhiên, Tom nghĩ. Ông đã nghe về quyền lực của Roger vùng Salisbury, người từ lâu đã được coi là thân cận với nhà vua. Họ đi qua cổng vào thành. Quảng trường đầy các tòa nhà, người và thú vật, đầy đến nỗi dường như nó có nguy cơ làm nổ tung cả bức tường thành và rơi xuống các thành hào. Các nhà gỗ chen nhau vai kề vai, xô đẩy tìm chỗ như khán giả đi xem buổi tử hình. Mỗi khoảng hở trên mặt đất đều được dùng cho cái gì đó. Nơi hai ngôi nhà được xây với con hẻm ở giữa, một ai đó đã xây một nửa căn nhà trong hẻm, không có cửa sổ. Mặt tiền nhà dù có nhỏ, ngay cả đối với căn nhà nhỏ nhất, cũng tạo nên một gian hàng bán rượu bia, bánh mì hoặc táo; và ngay cả chỗ đó có nhỏ bé, nó cũng có chuồng ngựa, chuồng heo, một đống phân hay một thùng nước. Thị trấn rất ồn ào. Mưa cũng không làm bớt đi tiếng ồn ào của thợ thủ công, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng mọi người chào hỏi nhau, thương lượng và cãi vã, tiếng thú vật hí, sủa và đánh nhau. Cất giọng to hơn tiếng ồn ào, Martha hỏi: "Mùi gì hôi thế?" Tom mỉm cười. Một vài năm nay cô không ở trong thị trấn. "Đó là mùi của con người," ông nói với cô. Đường phố chỉ rộng hơn chiếc xe bò một chút, nhưng người phu xe không để con thú của mình dừng lại, sợ rằng chúng không bắt đầu lại được; vì thế ông đánh cho chúng vượt qua mọi trở ngại. Hai con thú âm thầm chen qua đám đông, không phân biệt một ai, chúng xô đẩy một hiệp sĩ trên lưng con ngựa chiến, một cán bộ kiểm lâm với cây cung, một tu sĩ mập trên lưng con ngựa nhỏ, cũng như xô đẩy các binh lính, người ăn mày, bà nội trợ và gái điếm. Chiếc xe bò đi sau một người chăn cừu già. Ông đang cố gắng giữ đàn cừu nhỏ của ông đi chung với nhau. Hôm nay là ngày chợ, Tom nhận ra. Khi xe bò đi ngang qua, một con cừu lao vào qua cánh cửa mở rộng của một quán bia, và trong một khoảnh khắc toàn bộ đàn cừu đã ở trong nhà, kêu be be, làm hoảng loạn và xô đẩy bàn ghế, làm đổ cả thùng bia. Mặt đất dưới chân là một biển bùn và rác. Tom để ý đến trường hợp nước mưa rơi trên mái nhà, và chiều rộng cần thiết của chiếc rãnh cho nước mưa trôi đi; và ông cũng nhận thấy tất cả nước mưa rơi trên mái của nửa thị trấn chảy qua con đường này. Trong một cơn bão xấu, ông nghĩ, có lẽ bạn cần một chiếc thuyền để qua đường. Khi họ đến lâu đài trên đỉnh đồi, đường phố rộng rãi hơn. Ở đây có những căn nhà đá, một hoặc hai căn cần phải sửa chữa lại. Chúng thuộc sở hữu của thợ thủ công và thương gia, những người có cửa hàng và tiệm ở tầng dưới và sống ở tầng trên. Với đôi mắt thực tế, Tom nhìn vào những đồ bày bán và có thể nói rằng đây là một thị trấn thịnh vượng. Tất cả mọi người cần phải có dao và nồi, nhưng chỉ người giầu có mới mua khăn choàng thêu, dây thắt lưng được trang trí và vòng bạc. Ở phía trước lâu đài, người phu xe cho các con bò quẹo phải, Tom và gia đình đi theo sau. Con đường dẫn quanh một phần tư vòng tròn, dọc theo chân thành lũy lâu đài. Đi qua một cửa khác, họ rời bỏ sự náo nhiệt của thị trấn nhanh như khi họ đi vào, và họ bước vào một vùng xoáy khác: sự bận rộn nhưng có trật tự của một công trường xây dựng lớn. Họ ở phía trong khu đất có tường bao quanh của nhà thờ chính tòa, ngôi nhà thờ chiếm toàn bộ khu tây bắc của thị trấn hình tròn. Tom đứng một lúc lâu để cảm nhận nó. Chỉ cần nhìn, nghe và ngửi nó cũng đã tạo cho ông một sự rộn ràng giống như một ngày nắng ấm. Khi xe chở đá đến, hai xe trống khác đi ra. Trong mái che của nhà kho dọc theo tường nhà thờ có thể nhìn thấy những thợ xây đang đẽo các khối đá bằng đục sắt và búa lớn bằng gỗ để tạo nên các hình dạng có thể được ghép vào với nhau, làm nên chân cột, hàng cột, trụ tường, vòm, cửa sổ, ngưỡng cửa, tháp nhọn và lan can. Ở giữa khu đất, tách rời khỏi các công trình xây dựng khác, ngọn lửa đang cháy có thể nhìn thấy được xuyên qua các khung cửa mở; người thợ rèn đang làm những công cụ mới và tiếng kêu của búa đập trên đe vang dội khắp khu vực. Đối với nhiều người, đó là một cảnh hỗn loạn, nhưng Tom nhìn thấy đây là một cơ chế lớn và phức tạp mà ông muốn điều hành. Ông biết mỗi người đang làm gì và ông có thể nhìn thấy ngay công việc đã tiến triển tới đâu: Họ đang xây mặt tiền phía đông. Giàn giáo ngang qua phía cuối hướng đông, ở độ cao hai mươi lăm hay ba mươi mét, đang hoạt động. Các thợ xây ở cổng vòm đang chờ cho cơn mưa nhẹ dần, nhưng những nhân công vẫn vác đá trên vai chạy lên chạy xuống trên thang. Cao hơn, trên khung mái, thợ ống nước trông giống như những con nhện leo trên mạng bằng gỗ, đóng đinh các phên sắt và lắp đặt các ống dẫn nước và máng xối. Tom nhận ra rằng việc xây dựng sắp hoàn tất. Nếu ông được thuê làm việc ở đây, công việc sẽ không kéo dài hơn vài năm nữa – không đủ thời gian để ông có thể lên đến vị trí một thợ cả, chưa nói gì đến thợ xây dựng chính. Tuy nhiên, nếu được nhận vào làm, ông sẽ nhận lời, bởi vì mùa đông đang đến. Nếu còn con heo, ông và gia đình có thể sống qua mùa đông không việc làm, nhưng bây giờ không còn con heo, Tom phải tìm việc. Họ đi theo chiếc xe bò ngang qua công trường đến nơi các tảng đá được xếp đống. Với thái độ biết ơn, con bò cúi đầu vào máng nước. Người phu xe hỏi lớn một thợ xây đi ngang qua: "Thợ xây dựng chính ở đâu?" "Trong lâu đài," thợ xây trả lời. Người phu xe gật đầu và quay lại phía Tom. "Ông sẽ tìm thấy ông ấy trong lâu đài của giám mục, tôi mong điều đó." "Cảm ơn!" "Tôi cũng cảm ơn ông." Tom rời công trường, Agnes và các con cũng đi theo. Họ trở lại con đường chen chúc, chật chội đến trước lâu đài. Đây có một hào khô khác và một thành lũy thứ hai bằng đất bao quanh trung tâm đồn lũy. Họ đi qua cây cầu kéo. Trong một chòi canh bên cạnh cổng ra vào, một ông mập mặc áo dài bằng da ngồi trên ghế, nhìn ra trời mưa bên ngoài. Ông mang một thanh kiếm. Tom nói với ông. "Chào ông, Tôi là thợ xây Tom. Tôi muốn gặp thợ xây dựng chính John thành Shaftesbury." "Ở chỗ giám mục," viên bảo vệ đáp hờ hững. Họ đi vào bên trong. Giống như các lâu đài khác, đây là một tổng hợp của nhiều tòa nhà linh tinh trong một bức tường đất. Chiều rộng của sân khoảng chừng một trăm dặm. Đối diện với cổng, ở phía xa, là một pháo đài lớn để trú ẩn khi bị tấn công và cao hơn thành lũy để có thể quan sát xung quanh. Bên trái gồm các tòa nhà thấp lộn xộn, đa số bằng gỗ: một chuồng thú vật dài, một nhà bếp, một lò bánh mì và nhiều nhà kho. Ở giữa sân có một giếng nước. Về phía bên phải, chiếm nguyên phía nửa bắc của toàn bộ công trình là một nhà đá to, dễ nhận ra đó là một cung điện. Nó được xây dựng giống như kiểu của ngôi nhà thờ mới, với cửa lớn và cửa sổ có đầu tròn. Ngôi nhà có hai tầng và còn mới. Trong một góc, thợ xây vẫn đang làm việc, dường như đang xây một cây tháp. Mặc dù trời mưa, có rất nhiều người ở trong sân, đến rồi đi, hay đội mưa đi vội vã từ tòa nhà này sang tòa nhà khác: kỵ binh, linh mục, thương gia, thợ xây dựng và nhân viên phục vụ lâu đài. Tom có thể nhìn thấy lâu đài có nhiều cửa ra vào, tất cả đều mở, mặc dù trời mưa. Ông không biết chắc phải làm gì bây giờ. Nếu thợ xây dựng chính là giám mục, có lẽ ông không nên quấy rầy ngài. Về khía cạnh khác, một giám mục không phải là một ông vua; và Tom là một người tự do và là một thợ xây kinh doanh hợp pháp, không phải là một nông nô với đơn khiếu nại. Ông quyết định liều lĩnh. Để Agnes và Martha ở lại, ông đi với Alfred xuyên qua khu sân lầy lội tới lâu đài và đi qua cánh cửa gần nhất. Họ đến một nhà nguyện nhỏ có một mái vòm tròn và một cửa sổ ở xa cuối nhà nguyện, bên trên bàn thờ. Gần cửa ra vào, một linh mục ngồi ở bàn cao, viết nhanh trên da. Ông nhìn lên. Tom nói rất nhanh: "Thợ xây dựng chính John ở đâu?" "Trong phòng mặc áo lễ," vị linh mục nói, hất đầu về một cánh cửa bên tường đối diện. Tom không yêu cầu xin gặp thợ xây dựng chính. Ông biết rằng nếu ông làm như thể ông được mời đến thì ông sẽ bớt được thời gian chờ đợi rườm rà. Ông đi qua nhà nguyện nhỏ và bước vào phòng mặc áo lễ. Đó là một phòng vuông nhỏ được thắp sáng bởi nhiều ngọn nến. Căn phòng hầu như được đổ đầy cát. Cát mịn đã được gạt phẳng hoàn hảo theo quy tắc. Có hai người trong phòng. Hai người liếc nhìn Tom, rồi lại chú ý vào cát. Vị giám mục, một người già với đôi mắt nhăn nheo, đang vẽ trên cát bằng một cây gậy nhọn. Người thợ xây dựng chính, mặc chiếc tạp dề da, quan sát Tom một cách kiên nhẫn và với một cảm xúc nghi ngờ. Tom chờ đợi trong lo lắng. Ông phải tạo ấn tượng tốt: lịch sự mà không hạ mình, tỏ ra hiểu biết mà không khoe trương. Một thợ xây dựng chính muốn người thuộc hạ của mình vâng lời cũng như khéo léo, Tom biết điều đó từ kinh nghiệm của những năm thuê người. Giám mục đang phác họa một tòa nhà hai tầng với cửa sổ rộng ở cả ba phía. Ông là một người vẽ dự án giỏi, ông vẽ các đường rất thẳng và các góc chính xác. Ông vẽ một dự án mặt bằng và một dự án trực diện. Nhưng Tom nhận ra ngay là ngôi nhà này sẽ không thể xây được. Đức giám mục chấm dứt và nói: "Đây." John quay lại Tom và nói: "Chuyện gì vậy?" Tom giả vờ như là ông được hỏi ý kiến về bản vẽ. Ông nói: "Ông không thể có những cửa sổ lớn như thế trong nhà có mái vòm." Đức giám mục nhìn ông giận dữ. "Đó là một phòng viết, không phải tầng có mái vòm." "Nó cũng sẽ đổ." John nói: "Ông ta có lý." "Nhưng họ cần ánh sáng để viết." John nhún vai và quay lại Tom. "Ông là ai?" "Tôi tên là Tom và tôi là một thợ xây." "Tôi cũng đã đoán như thế. Ông đến đây làm gì?" "Tôi đi tìm việc," Tom nín thở. John lắc đầu ngay. "Tôi không thể thuê ông." Trái tim Tom thất vọng. Ông muốn quay gót, nhưng ông chờ đợi một cách lịch sự để biết lý do. "Chúng tôi đã xây dựng mười năm nay," John tiếp. "Hầu hết các thợ có nhà trong phố. Chúng tôi sắp hoàn tất, và bây giờ tôi có nhiều thợ xây hơn là tôi thực sự cần đến." Tom biết không còn hy vọng gì, nhưng ông nói: "Thế thì với lâu đài thì sao?" "Cũng như vậy," John nói. Đó là nơi tôi sử dụng nhân công dư thừa của tôi. Nếu không phải vì điều này và vì các lâu đài khác của giám mục Roger, tôi đã sa thải các thợ xây lâu rồi." Ton gật đầu. Bằng một giọng bình thường, cố gắng không để lộ âm thanh thất vọng, ông nói: "Ông có biết về công việc ở các nơi khác không?" "Một tu viện ở Shaftesbury đang được xây dựng từ đầu năm. Có lẽ họ vẫn đang làm. Nó ở cách đây một ngày đàng." "Cảm ơn." Tom quay đi. "Tôi rất tiếc," John gọi với theo. "Dường như ông là người tốt." Tom ra đi, không trả lời lại. Ông cảm thấy chán nản. Ông đã cho phép mình hy vọng quá sớm: không có gì đáng ngạc nhiên khi bị từ chối. Nhưng ông đã bị phấn kích về viễn tượng có thể lại được xây nhà thờ chính tòa. Bây giờ ông phải chấp nhận làm việc trên một bức tường thành đơn điệu, hoặc một ngôi nhà xấu xí của một thợ bạc. Ông vươn vai và đi ngược lại sân lâu đài, nơi Agnes và Martha đang đợi. Ông không tỏ cho bà biết sự thất vọng của mình. Ông luôn cố gắng tạo ra ấn tượng rằng mọi chuyện đều tốt đẹp, rằng ông đang làm chủ tình hình, và nó không quá quan trọng vì nếu không tìm được việc làm ở đây, chắc chắn cũng sẽ tìm được một công việc trong thị trấn sau hoặc sau nữa. Ông biết nếu ông tỏ ra bất cứ dấu hiệu chán nản nào, Agnes sẽ hối thúc ông tìm một nơi định cư, và ông không muốn điều đó, trừ khi ông tìm được một thị trấn, nơi một nhà thờ chính tòa sẽ được xây dựng. "Anh không tìm được việc gì ở đây," ông nói với Agnes. "Chúng ta hãy lên đường." Bà nhìn ông bỡ ngỡ. "Anh đã nghĩ rằng, một ngôi nhà thờ và một lâu đài đang xây dựng sẽ có chỗ cho một người thợ xây đó sao?" "Cả hai hầu như sắp hoàn thành," Tom giải thích. "Họ có nhiều công nhân hơn họ cần." Toàn bộ gia đình vượt qua cây cầu và vào lại con đường đông đúc của thị trấn. Họ đã vào Salisbury qua cửa phía đông, và sẽ ra theo cửa phía tây, bởi vì con đường đó dẫn tới Shaftesbury. Tom rẽ phải, vào con đường dẫn qua một khu phố mà họ đã chẳng nhìn thấy trước đó. Ông dừng lại trước một căn nhà đá trông như đang cần đến sự sửa chữa. Vữa dùng để xây dựng ngôi nhà này quá xấu, nên bây giờ nó đã hư hại và rơi ra, tuyết giá bám vào trong các lỗ và làm nứt các viên đá. Nếu nó không được sửa chữa trước mùa đông, sự thiệt hại sẽ lớn hơn. Tom quyết định tìm ra người chủ ngôi nhà. Lối vào tầng trệt là một mái vòng cung rộng. Cánh cửa bằng gỗ mở rộng, và giữa khung cửa là một nghệ nhân đang ngồi với một cái búa trong tay phải và một cái dùi trong tai trái. Ông đang khắc một thiết kế phức tạp trên yên ngựa bằng gỗ. Phía sau ông, Tom có thể nhìn thấy cửa tiệm gỗ và da, và một cậu bé với một cây chổi đang quét vỏ bào. Tom nói: "Chào ông." Người thợ làm yên ngựa ngước lên, xem Tom thuộc tầng lớp nào nếu ông ấy cần đến một yên ngựa, và gật đầu cộc lốc. "Tôi là một thợ xây cả," Tom tiếp tục. "Tôi thấy ông cần đến dịch vụ của tôi." "Tại sao?" "Vữa đang rơi ra, những viên đá đang bị nứt rạn và nhà ông chắc không tồn tại sau mùa đông này." Người thợ đóng yên ngựa lắc đầu. "Thị trấn này có nhiều thợ xây. Tại sao tôi phải thuê một người lạ?" "Rất tốt." Tom quay đi. "Mong Thiên Chúa ở với ông." "Tôi cũng hy vọng như thế," thợ làm yên ngựa nói. "Một đồng nghiệp thô lỗ," Agnes thì thầm khi họ đi ra. Con đường dẫn họ đến một khu chợ. Ở đây, trong khu bùn lầy này, nông dân từ các vùng nông thôn trao đổi những cái ít ỏi dư thừa của họ như thịt, ngũ cốc, sữa hay trứng, để lấy những thứ họ cần và không tự làm được như chậu, lưỡi cày, dây thừng và muối. Thông thường khu chợ đầy màu sắc và náo nhiệt. Có tiếng mặc cả, cãi nhau và vui đùa. Có bánh kẹo rẻ tiền cho trẻ em, một đôi khi có nhóm hát rong hay nhào lộn. Nhiều khi người ta gặp những cô gái điếm, những thương binh với những câu chuyện về sa mạc miền đông và nhóm người du mục Saracen. Những người có công việc kinh doanh tốt thường khó kìm hãm được sự cám dỗ để ăn mừng, để mua bia rượu, vì thế luôn luôn có một bầu khí ồn ào vào giữa trưa. Những người khác mất những đồng xu vào cờ bạc, và điều đó thường dẫn đến việc đánh nhau. Nhưng bây giờ, vào một buổi sáng mưa gió, sau mùa gặt, khi các sản phẩm đã được bán hoặc được cất vào kho, ngôi chợ trở nên vắng vẻ. Những nông dân ướt đẫm nước mưa buôn bán một cách lặng lẽ với chủ gian hàng, và mỗi người mong sớm về lại ngôi nhà của mình bên ánh lửa hồng. Gia đình Tom chen qua đám đông chán nản, làm ngơ trước lời chào hàng của người bán xúc xích và mài dao. Khi họ gần đến phía xa bên kia khu chợ, Tom thấy con heo của ông. Ông quá ngạc nhiên đến nỗi lúc đầu ông không tin vào mắt mình. Sau đó Agnes rít lên: "Tom, hãy nhìn kìa!" và ông biết bà cũng đã thấy nó. Không còn nghi ngờ gì. Ông biết rõ con heo, như ông biết rõ Alfred và Martha. Con heo được giữ chặt bởi một người đàn ông có nước da hồng hào, có kích thước của một người ăn nhiều thịt và còn hơn nữa: chắc ông là người bán thịt. Cả Tom và Agnes đứng nhìn chằm chằm vào ông ta, và bởi vì họ ngăn trở đường đi nên ông ấy chú ý đến họ. "Tốt chứ?" ông ấy nói, bối rối vì ánh mắt của họ và ông nóng lòng muốn đi. Chính Martha là người phá sự yên lặng. "Đó là con heo của chúng tôi!" cô hào hứng nói. "Đúng vậy," Tom nói và bình thản nhìn vào người bán thịt. Qua cái nhìn lén, Tom nhận ra rằng ông ấy biết con heo này là con heo ăn cắp. Nhưng ông ta nói: "Tôi vừa mua nó năm mươi xu, và đó là con heo của tôi." "Dù ông mua của bất cứ ai, con heo này không phải là của người ấy và họ không có quyền bán. Không ngạc nhiên gì khi ông mua nó quá rẻ. Ông đã mua nó của ai?" "Của một nông dân." "Một người mà ông biết?" "Không. Hãy nghe đây, tôi là người bán thịt cho các đơn vị đồn trú. Tôi không thể đòi hỏi những người đến bán cho tôi một con heo hoặc một con bò là họ phải tìm được mười hai người làm chứng và thề rằng con vật này là của họ." Người đàn ông bước sang bên và muốn bỏ đi, nhưng Tom đã túm lấy tay ông và ngăn ông lại. Ông ấy giận dữ, nhưng sau đó ông ấy nhận ra rằng nếu ông ấy tham dự vào một cuộc ẩu đả, ông ấy sẽ phải buông con heo ra, và nếu một người trong gia đình Tom bắt được, khi đó cán cân sẽ thay đổi và chính người bán thịt phải chứng minh quyền sở hữu của ông. Vì thế, ông ấy hạ mình và nói: "Nếu ông muốn buộc tội tôi, ông hãy đi trình cảnh sát." Tom cân nhắc điều đó nhanh chóng và bác bỏ nó. Ông không có bằng chứng. Thay vào đó, ông hỏi: "Người bán con heo cho ông trông như thế nào?" Người bán thịt nhìn một cách quỷ quyệt và nói: "Giống như mọi người khác." "Ông ta có che miệng không?" "Bây giờ tôi mới để ý, ông ta có che miệng." "Hắn là một tội phạm và hắn che giấu một vết cắt," Tom nói một cách chua chát. "Tôi cho rằng ông đã không chú ý đến điều đó." "Ai cũng ướt đẫm nước mưa!" Người bán thịt biện hộ. "Mọi người đều bịt mặt." "Hãy nói cho tôi biết, hắn đã đi được bao lâu rồi?" "Vừa xong." "Hắn đi đâu?" "Tới tiệm bia, tôi đoán như vậy." "Để tiêu hết số tiền của tôi," Tom nói một cách kinh tởm. "Đi đi, đi cho khuất mắt. Một ngày nào đó chính ông cũng sẽ bị ăn cắp, và ông sẽ ước muốn rằng không có nhiều người vì tham lam mà trước khi mua không hỏi xem nó xuất xứ từ đâu." Người bán thịt nhìn giận dữ, và ngập ngừng như muốn đáp trả, nhưng sau đó ông nghĩ lại và ra đi. Agnes hỏi: "Sao anh lại để cho hắn đi?" "Bởi vì ông ấy được nhiều người ở đây biết đến, còn anh thì không," Tom nói. "Nếu anh đánh ông ấy, anh sẽ bị đổ tội. Và bởi vì tên anh không được viết trên mông con heo, nên không ai có thể nói nó là của anh hay không." "Nhưng đó là tất cả những gì chúng ta tiết kiệm được." "Chúng ta có thể lấy lại tiền bán heo, dĩ nhiên," Tom nói. "Hãy im đi để anh suy nghĩ." Cuộc cãi vã với người bán thịt đã làm cho ông bực bội, vì thế ông đã nói một cách cay nghiệt với Agnes. "Ở một nơi nào đó trong thành phố có một người không có môi và có năm mươi xu trong túi. Tất cả những gì chúng ta cần làm là tìm ra hắn và lấy lại tiền từ hắn." "Đúng," Agnes nói một cách quyết liệt. "Em đi ngược lại con đường chúng ta đã đi. Đi đến gần nhà thờ. Anh sẽ đi tiếp tục và đến nhà thờ bằng hướng khác. Rồi chúng ta trở lại bằng con đường kế tiếp, và cứ tiếp tục như thế. Nếu hắn không có trên đường, hắn phải ở trong một quán bia nào đó. Nếu em gặp hắn, em hãy ở lại và nói Martha đi tìm anh. Anh mang Alfred theo. Đừng để cho tên tội phạm thấy em." "Đừng lo," Agnes nói dứt khoát. "Em cần tiền đó để nuôi con." Tom sờ vào tay bà và mỉm cười. "Em là một con sư tử, Agnes à." Bà nhìn vào mắt ông một lúc, rồi bất thình lình bà đứng trên đầu ngón chân và hôn lên môi ông, một nụ hôn ngắn nhưng mãnh liệt. Sau đó bà quay lại, cùng với Martha đi ngược lại khu chợ. Tom nhìn cho đến khi bà khuất khỏi tầm mắt, ông cảm thấy lo âu cho bà, mặc dù biết bà rất can đảm; rồi ông cùng với Alfred đi về hướng ngược lại. Kẻ trộm có vẻ như cảm thấy an toàn. Khi hắn ăn trộm con heo, Tom đang đi theo hướng Manchester, nên hắn đã đi hướng ngược lại để bán con heo ở Salisbury. Vì người phụ nữ sống ngoài vòng pháp luật, Ellen, nói với Tom rằng một ngôi nhà thờ đang được sửa sang ở Salisbury, nên ông đã thay đổi dự định và vô tình bắt kịp kẻ trộm ở đây. Tuy nhiên, kẻ trộm nghĩ hắn sẽ chẳng gặp Tom nữa, và điều này cho Tom một cơ hội để bắt hắn bất ngờ. Tom đi chậm dọc theo con đường lầy lội, liếc vào các cửa mở như tình cờ. Ông không muốn bị để ý, bởi vì sự tìm kiếm này có thể kết thúc bằng bạo lực và ông không muốn mọi người nhớ đến một người thợ xây cao lớn đang dò xét thị trấn. Hầu hết ngôi nhà là những túp lều bình thường bằng gỗ, vách đất và mái lá, có rơm trên nền nhà, một lò sưởi ở giữa và một vài đồ nội thất tự chế. Một thùng rượu và vài chiếc ghế băng tạo nên một quán bia; một chiếc giường ở góc với một tấm màn che mang dấu hiệu có gái điếm; một đám đông ồn ào quanh một chiếc bàn là biểu hiện của trò chơi đỏ đen. Một người đàn bà sơn môi đỏ vạch ngực của bà trước mặt ông, ông lắc đầu và vội vàng đi qua. Ông đã bị cám dỗ một cách thầm kín bởi ý tưởng muốn làm chuyện đó với một người đàn bà hoàn toàn xa lạ, trong ánh sáng ban ngày, và trả tiền cho họ, nhưng trong suốt cuộc đời ông chưa bao giờ thử nó. Ông nghĩ đến Ellen, người đàn bà sống bên ngoài pháp luật. Cô có một cái gì đó hấp dẫn. Cô có sức quyến rũ mạnh mẽ, nhưng đôi mắt sâu thẳm của cô đáng sợ. Lời mời của cô gái điếm làm Tom cảm thấy bất mãn một lúc, nhưng sự thu hút của Ellen đã chẳng hao mòn đi, và thình lình ông có một ước muốn ngu dốt là chạy trở lại vào rừng tìm cô và rơi vào lòng cô. Ông đến gần nhà thờ mà không thấy kẻ trộm. Ông nhìn người thợ làm ống nước đang đóng đinh tấm chì trên mái nhà gỗ phía trên gian giữa nhà thờ. Họ chưa bắt đầu lợp mái nhà hai gian bên cạnh, nên vẫn có thể nhìn thấy nửa vòng cung hỗ trợ, nối kết thành ngoài của gian bên cạnh với tường chính của gian giữa, nâng đỡ đỉnh nhà thờ. Ông chỉ cho Alfred. "Không có sự hỗ trợ này, bức tường chính sẽ cong và oằn ra, vì trọng lượng của các vòm đá bên trong," ông cắt nghĩa. "Hãy nhìn xem nửa vòng cung thẳng hàng với các trụ trong bức tường của gian bên. Chúng cũng thẳng hàng với các trụ cột của mái vòm trong gian giữa. Và các cửa sổ của hai gian bên cạnh thẳng hàng với mái vòm của gian giữa. Đường mạnh với đường mạnh và đường yếu với yếu." Alfred nhìn bối rối và bực bội. Tom thở dài. "Tom nhìn thấy Agnes đi lại từ phía đối diện, và đầu óc ông trở về với vấn đề trước mắt. Mũ che phủ mặt của bà, nhưng ông nhận ra cằm bà chĩa ra phía trước, bước chân vững vàng. Người công nhân vai rộng bước sang một bên, nhường chỗ cho bà đi qua. Nếu bà có một cuộc chiến với kẻ trộm, ông nghĩ một cách chắc chắn, nó sẽ là một cuộc chiến cân bằng. "Anh có thấy hắn không?" bà hỏi. "Không, và một cách hiển nhiên là em cũng không." Tom hy vọng kẻ trộm chưa ra khỏi thị trấn. Chắc chắn hắn sẽ chưa đi khi hắn chưa tiêu đồng xu nào. Tiền không thể dùng trong rừng. Agnes cũng nghĩ như vậy. "Hắn ở một chỗ nào đó quanh đây. Hãy tiếp tục tìm kiếm." "Chúng ta đi ngược lại bằng hai con đường khác nhau và gặp nhau ở khu chợ." Tom và Alfred đi lại bước đường qua công trường xây dựng và ra khỏi cửa thành. Mưa thấm qua áo khoác của họ, và Tom vụng trộm nghĩ đến ly bia và một bát canh thịt bò bên cạnh bếp lửa của một quán bia. Rồi ông nghĩ đến ông đã phải vất vả thế nào để mua được con heo, và hồi tưởng lại người đàn ông không môi đã đập thanh gỗ không thương tiếc vào đầu Martha như thế nào, và sự tức giận làm ông nóng người. Không dễ gì mà có thể tìm kiếm một cách hệ thống, vì các đường xá không trật tự. Họ lang thang đây đó, theo các dãy nhà, và có nhiều khúc quanh gấp cũng như những ngõ cụt. Chỉ có một con đường thẳng dẫn từ cổng phía đông đến chiếc cầu của lâu đài. Lần trước ông đã đi bên cạnh thành lũy của lâu đài. Lần này ông tìm kiếm ở vùng ngoại ô, đi luồn lách tới tường thành và trở lại vào trong. Đây là khu dân cư nghèo, với các căn nhà xiêu vẹo, những quán bia ồn ào và khu đĩ điếm lâu đời nhất. Từ trung tâm đổ dốc xuống vùng biên của thành phố, vì thế rác rưởi của khu phố nhà giầu trôi xuống các đường phố và đọng lại bên thành lũy. Một cái gì đó cũng tương tự đối với con người, vì khu này tập trung nhiều hơn những người tàn tật và ăn xin, trẻ em và phụ nữ nghèo đói và người say rượu. Nhưng người đàn ông không môi vẫn biệt tăm. Hai lần Tom phát hiện ra một người có hình dáng và kích thước giống hắn, ông đã cố nhìn kỹ hơn nhưng chỉ thấy khuôn mặt xa lạ. Ông chấm dứt cuộc tìm kiếm ở khu chợ, và nơi đó Agnes đang sốt ruột chờ ông, bà căng thẳng và đôi mắt bà rạng rỡ. "Em đã tìm thấy hắn!" bà rít lên. Tom cảm thấy hồi hộp và lo âu. "Ở đâu?" "Hắn vào trong một tiệm ăn ở cổng phía đông." "Hãy đưa anh đến đó." Họ đi vòng quanh tòa lâu đài đến chiếc cầu, đi xuống con đường thẳng đến cổng phía đông, rồi quẹo vào trong một mê lộ của những con hẻm dưới những bức tường. Một lúc sau Tom nhìn thấy tiệm ăn. Nó không là một căn nhà mà chỉ là một mái dốc trên bốn cây cột dựa lên tường thành; một ngọn lửa khổng lồ ở phía sau đang quay một con cừu trên một cái xiên, bên cạnh đó là một cái vạc đang sôi. Trời vào khoảng giữa trưa, và nơi nhỏ bé đó đầy người, hầu hết là đàn ông. Mùi thơm của thịt làm bao tử Tom cồn cào. Ông đưa mắt lục soát đám đông, sợ rằng kẻ trộm đã biến mất trong thời gian ông đi đến đây. Ông phát hiện ra hắn ngay lập tức, ngồi trên chiếc ghế xa đám đông, ăn một bát hầm bằng một chiếc muỗng, cầm chiếc khăn trước mặt để che miệng. Tom quay ngay lại để hắn không thể nhìn thấy ông. Bây giờ ông phải quyết định xử lý hắn như thế nào. Ông đủ giận để đánh kẻ trộm ngã xuống và lấy ví tiền của hắn. Nhưng đám đông sẽ không để ông đi. Ông sẽ phải biện minh, không những với đám đông mà còn với cảnh sát. Tom có quyền và rõ ràng ông là một người đứng đắn và là một thợ xây; trong khi kẻ trộm là một người sống ngoài vòng pháp luật, nghĩa là hắn không có ai xác minh cho sự trung thực của hắn. Nhưng sự xác minh cho tất cả các việc đó sẽ mất thời gian, có thể hàng tuần nếu cảnh sát phải công tác xa ở vùng quê nào đó; và nếu một cuộc ẩu đả xẩy ra có thể sẽ bị buộc tội vì phá vỡ sự hòa bình của nhà vua. Không. Tốt hơn nên giải quyết tên trộm một cách riêng rẽ. Hắn không thể ở lại đêm trong thị trấn, vì hắn không có nhà ở đây, và hắn không thể tìm được chỗ tạm trú khi hắn không chứng minh được hắn là một người đứng đắn. Vì thế hắn phải ra đi trước khi các cổng thành đóng khi đêm xuống. Và chỉ có hai cổng. "Có lẽ hắn sẽ trở ra bằng con đường hắn đến." Tom nói với Agnes. "Anh sẽ đợi bên ngoài cổng phía đông. Hãy để Alfred canh chừng cửa phía tây. Em ở lại trong thị trấn xem kẻ trộm làm gì. Giữ Martha bên cạnh em, nhưng đừng cho hắn thấy. Nếu em muốn gửi một thông điệp cho anh hoặc Alfred, hãy nhờ Martha." "Vâng," Agnes nói ngắn gọn. Alfred nói: "Con nên làm gì nếu hắn đi ra phía con?" Cậu có vẻ hí hửng. "Không làm gì cả," Tom nói chắc nịch. "Quan sát xem hắn đi theo con đường nào, rồi đợi. Martha sẽ đón bố, và chúng ta sẽ cùng nhau đuổi theo hắn." Alfred nhìn thất vọng, và Tom nói: "Con hãy làm như bố nói. Bố không muốn mất con như mất con heo." Alfred gật đầu miễn cưỡng. "Chúng ta lên đường, trước khi hắn nhận ra chúng ta tụ tập lại và âm mưu với nhau. Hãy đi." Tom rời họ ngay, không quay mặt lại. Ông có thể tin Agnes sẽ thực hiện theo kế hoạch. Ông vội vã đến cửa phía đông và rời thị trấn, qua cây cầu gỗ ọp ẹp mà ông đã đẩy chiếc xe bò qua sáng hôm nay. Thẳng trước mặt ông là con đường đến Winchester, về hướng đông, con đường thẳng tắp, giống như một tấm thảm dài trải qua các ngọn đồi và thung lũng. Về phía trái, con đường mà Tom – có lẽ kẻ trộm cũng vậy – đã đến Salisbury, con đường Roma, uốn quanh trên một ngọn đồi rồi biến mất. Kẻ trộm chắc chắn sẽ đi con đường này. Tom đi xuống đồi, xuyên qua các cụm nhà ở ngã tư, rồi quẹo vào đường Roma. Ông cần phải ẩn trốn. Ông bước đi theo con đường, tìm kiếm chỗ thích hợp. Ông đi hai trăm dặm mà không tìm được chỗ nào ẩn trốn. Nhìn lại, ông nhận ra là đã đi quá xa: ông không còn nhận ra khuôn mặt của những người ở ngã tư đường, vì thế ông không thể biết người đàn ông không môi có đi theo con đường đến Winchester không. Ông quan sát phong cảnh lần nữa. Con đường có mương hai bên, có thể là chỗ lẩn trốn trong mùa khô, nhưng hôm nay đầy nước. Bên ngoài dẫy mương, đất nhô lên như một cái bướu. Trong cánh đồng phía nam của con đường, một vài con bò đang gặm cỏ. Tom chú ý đến một con bò nằm ở bên cạnh mô đất cao của cánh đồng, một phần con bò bị che đậy bởi mô đất. Với một tiếng thở dài, ông quay gót trở lại. Ông nhẩy qua mương và đá vào con bò. Nó đứng lên và đi khỏi. Tom nằm xuống chỗ đất ấm và khô ráo mà con bò để lại. Ông kéo chiếc mũ che mặt và chờ đợi. Ông tiếc rẻ nếu ông biết lo xa, ông đã mua vài miếng bánh trước khi rời thị trấn. Ông lo lắng pha lẫn chút sợ hãi. Kẻ phạm pháp là một người nhỏ con, nhưng hắn di chuyển nhanh và ác độc như ông đã nhìn thấy khi hắn đánh Martha và ăn cắp con heo. Tom sợ hãi một chút về việc có thể bị thương, nhưng ông lo lắng hơn vì có thể sẽ không lấy lại được tiền. Ông mong Agnes và Martha được an toàn. Agnes có thể tự lo được cho bà, ông biết như vậy; và ngay cả khi tên trộm phát hiện ra bà, hắn có thể làm được gì bà? Hắn sẽ cảnh giác hơn, thế thôi. Từ chỗ nằm, Tom có thể nhìn thấy tháp nhà thờ. Ông ước gì đã có thể nhìn được vào phía trong. Ông rất tò mò về cách giải quyết những cột trụ của mái vòm. Những cột trụ này thường rất to, các mái vòm bắt đầu từ đỉnh của nó: hai vòm đi về hướng bắc và nam, nối với các cột trụ bên cạnh trong mái vòm; và một đi về hướng đông hoặc tây, qua gian bên cạnh. Nó trông không đẹp, bởi vì có một cái gì không đúng khi một mái vòm bắt đầu từ đầu một cây trụ tròn. Nếu Tom xây nhà thờ chính tòa, mỗi trụ sẽ là một cụm trụ, và mỗi mái vòm vươn lên từ đầu của mỗi trụ – sự sắp xếp như vậy sẽ hợp lý và đẹp hơn. Ông bắt đầu tưởng tượng về sự trang trí cho các vòm. Hình thẳng là hình thức thông thường – không mất nhiều kỹ năng để khắc chữ chi và hình thoi – nhưng Tom ưa thích những chùm lá, chúng đem lại sự nhẹ nhàng của thiên nhiên vào trong nét đều đặn của những phiến đá. Sự hình dung về ngôi nhà thờ xâm chiếm tâm hồn ông cho đến giữa chiều, khi ông nhìn thấy hình dáng nhỏ bé và mái tóc bạch kim của Martha chạy qua cây cầu và xuyên qua dẫy nhà. Cô do dự giữa ngã tư, rồi theo con đường phía phải. Tom nhìn cô đang tiến về phía ông. Cô nhíu mày phân vân không biết ông ở đâu. Khi cô đến vừa tầm, ông gọi nhẹ nhàng: "Martha". Khi thấy ông, cô kêu lên một tiếng nhỏ. Cô chạy lại, nhẩy qua mương. "Mẹ gửi cho bố cái này," cô nói, và lấy ra một vật quấn trong áo khoác. Nó là một miếng thịt nóng. "Trời ơi! Mẹ con là một phụ nữ chu đáo," Tom nói, và cắn một miếng lớn. Nó được làm với thịt bò và hành tây, và nó ngon tuyệt. Martha ngồi xổm bên cạnh Tom trên cỏ. "Chuyện của người ăn trộm heo của chúng ta xẩy ra như thế này," cô nói. Cô tập trung để nhớ lại những gì cô được dặn để nói. Cô quá dễ thương đến nỗi làm Tom nín thở. "Ông ấy ra khỏi tiệm ăn và gặp một phụ nữ với khuôn mặt son phấn, rồi vào nhà bà ta. Chúng con đợi bên ngoài." Trong khi đó kẻ tội phạm tiêu tiền của chúng ta cho một gái điếm, Tom nghĩ một cách chua chát. "Hãy kể tiếp đi con." "Ông ấy không ở lâu trong nhà bà đó, và khi ông đi ra, ông đến một quán bia. Bây giờ ông đang ở đó. Ông không uống nhiều nhưng ông chơi cờ bạc." "Bố mong hắn thắng," Tom nói gằn giọng. "Có vậy thôi sao?" "Đó là tất cả." "Con có đói không?" "Con có một miếng bánh nhỏ." "Con đã kể cho Alfred tất cả điều đó chứ?" "Chưa, bây giờ con sẽ đi đến anh ấy." "Nói với anh ấy, cố gắng giữ mình cho khô ráo." "Cố gắng giữ mình khô ráo," cô lặp lại. "Con phải nói điều đó trước hay sau khi kể câu chuyện về người đàn ông đã ăn cắp con heo của chúng ta?" Dĩ nhiên điều đó không quan trọng lắm. "Sau đó," Tom nói. Ông mỉm cười với cô. "Con là một bé gái thông minh. Con đi đi." "Con thích trò chơi này," cô nói. Cô vẫy tay và ra đi, đôi chân trẻ thơ thoăn thoắt nhẩy qua mương và chạy ngược lại hướng thị trấn. Tom quan sát cô với tình thương và sự tức giận trong lòng. Ông và Agnes đã làm việc cực khổ để kiếm tiền nuôi sống con cái, và ông sẵn sàng giết người để lấy lại cái mà họ đã bị ăn cắp. Có lẽ kẻ tội phạm cũng sẵn sàng giết người nữa. Kẻ tội phạm sống bên ngoài vòng pháp luật, như tên gọi đã ngụ ý: họ sống trong bạo lực. Đây có lẽ không phải là lần đầu mà Faramond Openmouth chống lại nạn nhân của hắn. Hắn là người nguy hiểm. Một điều đáng ngạc nhiên là ánh sáng mặt trời bắt đầu yếu dần rất sớm, như một đôi khi xẩy ra vào buổi chiều mùa thu ẩm ướt. Tom lo lắng không biết có còn nhận ra được kẻ trộm trong mưa nữa không. Khi gần tối, sự đi lại thưa dần, vì hầu hết du khách đã ra về đúng lúc để kịp về nhà khi đêm xuống. Ánh sáng của nến và đèn lồng bắt đầu chập chờn trong những căn nhà cao của thị trấn và trong các túp lều vùng ngoại ô. Tom bi quan tự hỏi không biết kẻ trộm có ở lại trong thị trấn suốt đêm không. Có lẽ hắn có bạn bè không lương thiện trong thị trấn, những người cho hắn lưu trú mặc dù biết hắn là tên tội phạm. Có lẽ - Rồi, Tom nhìn thấy một người che khăn trên miệng. Hắn đi qua chiếc cầu bằng gỗ, đi gần hai người đàn ông khác. Đối với Tom, đó là điều bất ngờ vì hai người đồng lõa của tên trộm, tên đầu hói và tên đội mũ xanh, cả hai có thể đã cùng đi với hắn đến Salisbury. Tom đã không thấy họ trong thị trấn, nhưng có thể ba người đã chia tay nhau một lúc rồi lại tập trung lại để cùng về. Tom nguyền rủa: Ông không nghĩ ông có thể chống lại ba tên. Nhưng khi đến gần, nhóm người tách ra, và Tom nhẹ nhõm nhận ra rằng họ không đi chung với nhau. Hai người đầu tiên là ông bố và người con trai, hai nông dân có đôi mắt đen gần nhau và lỗ mũi hếch. Họ đi theo con đường Roma và người đàn ông che khăn theo sau. Ông nghiên cứu dáng đi của tên trộm khi hắn đến gần. Hắn đã hết say. Thật đáng tiếc! Nhìn về phía thị trấn, ông thấy một đàn bà và một em bé vội vã qua cầu: Agnes và Martha. Ông bị sốc. Ông không dự kiến họ có mặt khi ông đối đầu với tên trộm. Tuy nhiên ông nhận ra rằng ông đã không ra lệnh cho họ. Ông căng thẳng khi tất cả đi về phía ông. Tom to lớn nên hầu hết bỏ cuộc khi phải đối đầu với ông; nhưng kẻ tội phạm này là người liều lĩnh và không thể nói điều gì sẽ xẩy ra trong cuộc chiến. Hai người nông dân đi qua, vui vẻ kể về ngựa. Tom lấy búa có bọc sắt ở đầu từ thắt lưng và cầm nó trong tay phải. Ông ghét những tên trộm cướp, những người không làm việc nhưng ăn cắp đồ ăn của người lương thiện. Ông sẽ không ngần ngại cho người này một cái búa. Kẻ trộm dường như đi chậm lại khi hắn đến gần, hầu như hắn cảm thấy sự nguy hiểm. Tom đợi cho đến khi hắn chỉ còn cách bốn hay năm dặm – quá gần để chạy ngược lại, và quá xa để chạy đi. Rồi Tom lăn mình qua bờ, nhẩy qua mương và chặn đường hắn. Người đàn ông chết đứng, nhìn chằm chằm vào ông. "Cái gì vậy?" hắn hỏi một cách lo lắng. Hắn không nhận ra tôi, Tom nghĩ. Ông nói: "Ông ăn cắp con heo của tôi hôm qua và bán cho người bán thịt hôm nay." "Tôi không bao giờ -" "Đừng chối." Tom nói. "Hãy đưa cho tôi số tiền mà ông đã bán được, và tôi sẽ không đánh ông." Lúc đầu ông tưởng kẻ trộm sẽ nghe lời. Ông cảm thấy thất vọng, khi hắn do dự. Sau đó, tên trộm quay gót và chạy thẳng về phía Agnes. Hắn không đủ nhanh để chạy qua bà và trong một lúc cả hai người lảo đảo từ bên này đường qua bên kia đường giống như trong một điệu nhẩy vụng về. Rồi hắn nhận ra rằng bà đã cố tình chặn đường hắn, và hắn đẩy bà sang bên. Bà giơ chân ngáng hắn. Chân bà trúng đầu gối hắn và cả hai ngã xuống. Trái tim Tom hổn hển, khi ông lao nhanh đến bên bà. Kẻ trộm quỳ lên được, đặt một đầu gối trên lưng bà. Tom nắm lấy cổ áo hắn và kéo mạnh hắn ra. Ông lôi hắn tới lề đường trước khi hắn có thể lấy lại thăng bằng, rồi ném hắn xuống mương. Agnes đứng dậy. Martha chạy đến bên bà. Tom nói nhanh: "Em không sao chứ?" "Vâng," Agnes trả lời. Hai người nông dân dừng lại quan sát, và họ chăm chú nhìn vào cảnh tượng. Kẻ trộm chống gối trong mương. "Hắn là một tên tội phạm," Agnes nói với họ để mong họ can thiệp. "Hắn ăn cắp con heo của chúng tôi." Người nông dân không trả lời, nhưng chờ đợi xem sự gì sẽ xẩy ra. Tom nói với tên trộm một lần nữa. "Hãy trả tiền lại cho tôi và tôi sẽ để ông đi." Tên trộm ra khỏi mương với một con dao trong tay, lao vào Tom nhanh như chuột. Agnes thét lên. Tom né tránh. Con dao thoáng qua mặt ông và ông cảm thấy đau nơi cằm. Ông lùi lại và dơ búa lên khi con dao lướt qua một lần nữa. Tên trộm lùi lại. Lưỡi dao và chiếc búa vun vút trong không khí của buổi tối ẩm ướt mà không đụng nhau. Ngay lập tức cả hai đứng lặng yên, đối diện nhau, thở hổn hển. Cằm của Tom đau. Ông nhận ra rằng hai người bằng sức nhau, mặc dù Tom lớn hơn, nhưng tên trộm có một con dao, và dao nguy hiểm hơn chiếc búa của thợ xây. Ông cảm thấy ớn lạnh khi ông nhận ra rằng ông có thể sắp chết. Bất thình lình ông cảm thấy như không thở được. Từ khóe mắt ông nhìn thấy một chuyển động đột ngột. Tên trộm cũng nhận ra, phóng một cái nhìn về phía Agnes và cúi đầu xuống khi viên đá từ tay bà bay vào hắn. Tom phản ứng nhanh, vung búa vào đầu tên trộm. Nó trúng vào đúng lúc hắn ngẩng đầu lên. Búa sắt đập vào trán phía chân tóc. Đó là một cú đánh vội vã, không mang tất cả sức mạnh của Tom. Tên trộm loạng choạng nhưng không ngã. Tom đánh hắn một cái nữa. Đòn này nặng hơn: Ông có nhiều giờ để giơ búa lên cao khỏi đầu và nhắm nó vừa lúc tên trộm choáng váng. Tom nghĩ về Martha khi ông giáng búa xuống. Nó trúng với tất cả sức lực của ông, và tên trộm gục xuống đất giống như con búp bê rơi. Tom quỳ xuống bên tên trộm, xem xét hắn. "Ví tiền hắn ở đâu? Ví tiền hắn ở đâu?" Rất khó lay chuyển thân thể mềm rũ của hắn. Sau hết, Tom đặt hắn nằm ngửa và mở chiếc áo choàng của hắn. Có một bóp bằng da lớn đeo vào dây thắt lưng. Tom tháo chiếc móc. Bên trong là một túi len mềm mại. Ông kéo nó ra. Nó nhẹ. "Không có gì!" Tom nói. "Hắn phải có chiếc ví khác nữa." Ông kéo chiếc áo choàng từ phía dưới người đàn ông và cẩn thận xem xét khắp nơi. Không còn chiếc túi nào, không có phần cứng nào. Ông tháo chiếc giày ra: không có gì bên trong. Ông lấy con dao ăn từ thắt lưng và cắt đế giầy: không có gì. Sốt ruột, ông trượt con dao bên trong cổ áo len của tên trộm và rạch tới viền: không có thắt lưng dấu tiền. Tên trộm nằm giữa con đường lầy lội, trần truồng. Hai người nông dân nhìn chằm chằm vào Tom tưởng như ông bị điên. Giận dữ, Tom nói với Agnes: "Hắn không còn đồng xu nào." "Có lẽ ông ấy đã thua cờ bạc hết," bà cay đắng nói. "Anh mong hắn bị đốt trong lửa hỏa ngục," Tom nói. Agnes quỳ xuống và sờ vào ngực hắn. "Đó là nơi ông ta đang ở," bà nói. "Anh đã giết hắn." Cất giọng to hơn tiếng ồn ào, Martha hỏi: "Mùi gì hôi thế?" Tom mỉm cười. Một vài năm nay cô không ở trong thị trấn. "Đó là mùi của con người," ông nói với cô. Đường phố chỉ rộng hơn chiếc xe bò một chút, nhưng người phu xe không để con thú của mình dừng lại, sợ rằng chúng không bắt đầu lại được; vì thế ông đánh cho chúng vượt qua mọi trở ngại. Hai con thú âm thầm chen qua đám đông, không phân biệt một ai, chúng xô đẩy một hiệp sĩ trên lưng con ngựa chiến, một cán bộ kiểm lâm với cây cung, một tu sĩ mập trên lưng con ngựa nhỏ, cũng như xô đẩy các binh lính, người ăn mày, bà nội trợ và gái điếm. Chiếc xe bò đi sau một người chăn cừu già. Ông đang cố gắng giữ đàn cừu nhỏ của ông đi chung với nhau. Hôm nay là ngày chợ, Tom nhận ra. Khi xe bò đi ngang qua, một con cừu lao vào qua cánh cửa mở rộng của một quán bia, và trong một khoảnh khắc toàn bộ đàn cừu đã ở trong nhà, kêu be be, làm hoảng loạn và xô đẩy bàn ghế, làm đổ cả thùng bia. Mặt đất dưới chân là một biển bùn và rác. Tom để ý đến trường hợp nước mưa rơi trên mái nhà, và chiều rộng cần thiết của chiếc rãnh cho nước mưa trôi đi; và ông cũng nhận thấy tất cả nước mưa rơi trên mái của nửa thị trấn chảy qua con đường này. Trong một cơn bão xấu, ông nghĩ, có lẽ bạn cần một chiếc thuyền để qua đường. Khi họ đến lâu đài trên đỉnh đồi, đường phố rộng rãi hơn. Ở đây có những căn nhà đá, một hoặc hai căn cần phải sửa chữa lại. Chúng thuộc sở hữu của thợ thủ công và thương gia, những người có cửa hàng và tiệm ở tầng dưới và sống ở tầng trên. Với đôi mắt thực tế, Tom nhìn vào những đồ bày bán và có thể nói rằng đây là một thị trấn thịnh vượng. Tất cả mọi người cần phải có dao và nồi, nhưng chỉ người giầu có mới mua khăn choàng thêu, dây thắt lưng được trang trí và vòng bạc. Ở phía trước lâu đài, người phu xe cho các con bò quẹo phải, Tom và gia đình đi theo sau. Con đường dẫn quanh một phần tư vòng tròn, dọc theo chân thành lũy lâu đài. Đi qua một cửa khác, họ rời bỏ sự náo nhiệt của thị trấn nhanh như khi họ đi vào, và họ bước vào một vùng xoáy khác: sự bận rộn nhưng có trật tự của một công trường xây dựng lớn. Họ ở phía trong khu đất có tường bao quanh của nhà thờ chính tòa, ngôi nhà thờ chiếm toàn bộ khu tây bắc của thị trấn hình tròn. Tom đứng một lúc lâu để cảm nhận nó. Chỉ cần nhìn, nghe và ngửi nó cũng đã tạo cho ông một sự rộn ràng giống như một ngày nắng ấm. Khi xe chở đá đến, hai xe trống khác đi ra. Trong mái che của nhà kho dọc theo tường nhà thờ có thể nhìn thấy những thợ xây đang đẽo các khối đá bằng đục sắt và búa lớn bằng gỗ để tạo nên các hình dạng có thể được ghép vào với nhau, làm nên chân cột, hàng cột, trụ tường, vòm, cửa sổ, ngưỡng cửa, tháp nhọn và lan can. Ở giữa khu đất, tách rời khỏi các công trình xây dựng khác, ngọn lửa đang cháy có thể nhìn thấy được xuyên qua các khung cửa mở; người thợ rèn đang làm những công cụ mới và tiếng kêu của búa đập trên đe vang dội khắp khu vực. Đối với nhiều người, đó là một cảnh hỗn loạn, nhưng Tom nhìn thấy đây là một cơ chế lớn và phức tạp mà ông muốn điều hành. Ông biết mỗi người đang làm gì và ông có thể nhìn thấy ngay công việc đã tiến triển tới đâu: Họ đang xây mặt tiền phía đông. Giàn giáo ngang qua phía cuối hướng đông, ở độ cao hai mươi lăm hay ba mươi mét, đang hoạt động. Các thợ xây ở cổng vòm đang chờ cho cơn mưa nhẹ dần, nhưng những nhân công vẫn vác đá trên vai chạy lên chạy xuống trên thang. Cao hơn, trên khung mái, thợ ống nước trông giống như những con nhện leo trên mạng bằng gỗ, đóng đinh các phên sắt và lắp đặt các ống dẫn nước và máng xối. Tom nhận ra rằng việc xây dựng sắp hoàn tất. Nếu ông được thuê làm việc ở đây, công việc sẽ không kéo dài hơn vài năm nữa – không đủ thời gian để ông có thể lên đến vị trí một thợ cả, chưa nói gì đến thợ xây dựng chính. Tuy nhiên, nếu được nhận vào làm, ông sẽ nhận lời, bởi vì mùa đông đang đến. Nếu còn con heo, ông và gia đình có thể sống qua mùa đông không việc làm, nhưng bây giờ không còn con heo, Tom phải tìm việc. Họ đi theo chiếc xe bò ngang qua công trường đến nơi các tảng đá được xếp đống. Với thái độ biết ơn, con bò cúi đầu vào máng nước. Người phu xe hỏi lớn một thợ xây đi ngang qua: "Thợ xây dựng chính ở đâu?" "Trong lâu đài," thợ xây trả lời. Người phu xe gật đầu và quay lại phía Tom. "Ông sẽ tìm thấy ông ấy trong lâu đài của giám mục, tôi mong điều đó." "Cảm ơn!" "Tôi cũng cảm ơn ông." Tom rời công trường, Agnes và các con cũng đi theo. Họ trở lại con đường chen chúc, chật chội đến trước lâu đài. Đây có một hào khô khác và một thành lũy thứ hai bằng đất bao quanh trung tâm đồn lũy. Họ đi qua cây cầu kéo. Trong một chòi canh bên cạnh cổng ra vào, một ông mập mặc áo dài bằng da ngồi trên ghế, nhìn ra trời mưa bên ngoài. Ông mang một thanh kiếm. Tom nói với ông. "Chào ông, Tôi là thợ xây Tom. Tôi muốn gặp thợ xây dựng chính John thành Shaftesbury." "Ở chỗ giám mục," viên bảo vệ đáp hờ hững. Họ đi vào bên trong. Giống như các lâu đài khác, đây là một tổng hợp của nhiều tòa nhà linh tinh trong một bức tường đất. Chiều rộng của sân khoảng chừng một trăm dặm. Đối diện với cổng, ở phía xa, là một pháo đài lớn để trú ẩn khi bị tấn công và cao hơn thành lũy để có thể quan sát xung quanh. Bên trái gồm các tòa nhà thấp lộn xộn, đa số bằng gỗ: một chuồng thú vật dài, một nhà bếp, một lò bánh mì và nhiều nhà kho. Ở giữa sân có một giếng nước. Về phía bên phải, chiếm nguyên phía nửa bắc của toàn bộ công trình là một nhà đá to, dễ nhận ra đó là một cung điện. Nó được xây dựng giống như kiểu của ngôi nhà thờ mới, với cửa lớn và cửa sổ có đầu tròn. Ngôi nhà có hai tầng và còn mới. Trong một góc, thợ xây vẫn đang làm việc, dường như đang xây một cây tháp. Mặc dù trời mưa, có rất nhiều người ở trong sân, đến rồi đi, hay đội mưa đi vội vã từ tòa nhà này sang tòa nhà khác: kỵ binh, linh mục, thương gia, thợ xây dựng và nhân viên phục vụ lâu đài. Tom có thể nhìn thấy lâu đài có nhiều cửa ra vào, tất cả đều mở, mặc dù trời mưa. Ông không biết chắc phải làm gì bây giờ. Nếu thợ xây dựng chính là giám mục, có lẽ ông không nên quấy rầy ngài. Về khía cạnh khác, một giám mục không phải là một ông vua; và Tom là một người tự do và là một thợ xây kinh doanh hợp pháp, không phải là một nông nô với đơn khiếu nại. Ông quyết định liều lĩnh. Để Agnes và Martha ở lại, ông đi với Alfred xuyên qua khu sân lầy lội tới lâu đài và đi qua cánh cửa gần nhất. Họ đến một nhà nguyện nhỏ có một mái vòm tròn và một cửa sổ ở xa cuối nhà nguyện, bên trên bàn thờ. Gần cửa ra vào, một linh mục ngồi ở bàn cao, viết nhanh trên da. Ông nhìn lên. Tom nói rất nhanh: "Thợ xây dựng chính John ở đâu?" "Trong phòng mặc áo lễ," vị linh mục nói, hất đầu về một cánh cửa bên tường đối diện. Tom không yêu cầu xin gặp thợ xây dựng chính. Ông biết rằng nếu ông làm như thể ông được mời đến thì ông sẽ bớt được thời gian chờ đợi rườm rà. Ông đi qua nhà nguyện nhỏ và bước vào phòng mặc áo lễ. Đó là một phòng vuông nhỏ được thắp sáng bởi nhiều ngọn nến. Căn phòng hầu như được đổ đầy cát. Cát mịn đã được gạt phẳng hoàn hảo theo quy tắc. Có hai người trong phòng. Hai người liếc nhìn Tom, rồi lại chú ý vào cát. Vị giám mục, một người già với đôi mắt nhăn nheo, đang vẽ trên cát bằng một cây gậy nhọn. Người thợ xây dựng chính, mặc chiếc tạp dề da, quan sát Tom một cách kiên nhẫn và với một cảm xúc nghi ngờ. Tom chờ đợi trong lo lắng. Ông phải tạo ấn tượng tốt: lịch sự mà không hạ mình, tỏ ra hiểu biết mà không khoe trương. Một thợ xây dựng chính muốn người thuộc hạ của mình vâng lời cũng như khéo léo, Tom biết điều đó từ kinh nghiệm của những năm thuê người. Giám mục đang phác họa một tòa nhà hai tầng với cửa sổ rộng ở cả ba phía. Ông là một người vẽ dự án giỏi, ông vẽ các đường rất thẳng và các góc chính xác. Ông vẽ một dự án mặt bằng và một dự án trực diện. Nhưng Tom nhận ra ngay là ngôi nhà này sẽ không thể xây được. Đức giám mục chấm dứt và nói: "Đây." John quay lại Tom và nói: "Chuyện gì vậy?" Tom giả vờ như là ông được hỏi ý kiến về bản vẽ. Ông nói: "Ông không thể có những cửa sổ lớn như thế trong nhà có mái vòm." Đức giám mục nhìn ông giận dữ. "Đó là một phòng viết, không phải tầng có mái vòm." "Nó cũng sẽ đổ." John nói: "Ông ta có lý." "Nhưng họ cần ánh sáng để viết." John nhún vai và quay lại Tom. "Ông là ai?" "Tôi tên là Tom và tôi là một thợ xây." "Tôi cũng đã đoán như thế. Ông đến đây làm gì?" "Tôi đi tìm việc," Tom nín thở. John lắc đầu ngay. "Tôi không thể thuê ông." Trái tim Tom thất vọng. Ông muốn quay gót, nhưng ông chờ đợi một cách lịch sự để biết lý do. "Chúng tôi đã xây dựng mười năm nay," John tiếp. "Hầu hết các thợ có nhà trong phố. Chúng tôi sắp hoàn tất, và bây giờ tôi có nhiều thợ xây hơn là tôi thực sự cần đến." Tom biết không còn hy vọng gì, nhưng ông nói: "Thế thì với lâu đài thì sao?" "Cũng như vậy," John nói. Đó là nơi tôi sử dụng nhân công dư thừa của tôi. Nếu không phải vì điều này và vì các lâu đài khác của giám mục Roger, tôi đã sa thải các thợ xây lâu rồi." Ton gật đầu. Bằng một giọng bình thường, cố gắng không để lộ âm thanh thất vọng, ông nói: "Ông có biết về công việc ở các nơi khác không?" "Một tu viện ở Shaftesbury đang được xây dựng từ đầu năm. Có lẽ họ vẫn đang làm. Nó ở cách đây một ngày đàng." "Cảm ơn." Tom quay đi. "Tôi rất tiếc," John gọi với theo. "Dường như ông là người tốt." Tom ra đi, không trả lời lại. Ông cảm thấy chán nản. Ông đã cho phép mình hy vọng quá sớm: không có gì đáng ngạc nhiên khi bị từ chối. Nhưng ông đã bị phấn kích về viễn tượng có thể lại được xây nhà thờ chính tòa. Bây giờ ông phải chấp nhận làm việc trên một bức tường thành đơn điệu, hoặc một ngôi nhà xấu xí của một thợ bạc. Ông vươn vai và đi ngược lại sân lâu đài, nơi Agnes và Martha đang đợi. Ông không tỏ cho bà biết sự thất vọng của mình. Ông luôn cố gắng tạo ra ấn tượng rằng mọi chuyện đều tốt đẹp, rằng ông đang làm chủ tình hình, và nó không quá quan trọng vì nếu không tìm được việc làm ở đây, chắc chắn cũng sẽ tìm được một công việc trong thị trấn sau hoặc sau nữa. Ông biết nếu ông tỏ ra bất cứ dấu hiệu chán nản nào, Agnes sẽ hối thúc ông tìm một nơi định cư, và ông không muốn điều đó, trừ khi ông tìm được một thị trấn, nơi một nhà thờ chính tòa sẽ được xây dựng. "Anh không tìm được việc gì ở đây," ông nói với Agnes. "Chúng ta hãy lên đường." Bà nhìn ông bỡ ngỡ. "Anh đã nghĩ rằng, một ngôi nhà thờ và một lâu đài đang xây dựng sẽ có chỗ cho một người thợ xây đó sao?" "Cả hai hầu như sắp hoàn thành," Tom giải thích. "Họ có nhiều công nhân hơn họ cần." Toàn bộ gia đình vượt qua cây cầu và vào lại con đường đông đúc của thị trấn. Họ đã vào Salisbury qua cửa phía đông, và sẽ ra theo cửa phía tây, bởi vì con đường đó dẫn tới Shaftesbury. Tom rẽ phải, vào con đường dẫn qua một khu phố mà họ đã chẳng nhìn thấy trước đó. Ông dừng lại trước một căn nhà đá trông như đang cần đến sự sửa chữa. Vữa dùng để xây dựng ngôi nhà này quá xấu, nên bây giờ nó đã hư hại và rơi ra, tuyết giá bám vào trong các lỗ và làm nứt các viên đá. Nếu nó không được sửa chữa trước mùa đông, sự thiệt hại sẽ lớn hơn. Tom quyết định tìm ra người chủ ngôi nhà. Lối vào tầng trệt là một mái vòng cung rộng. Cánh cửa bằng gỗ mở rộng, và giữa khung cửa là một nghệ nhân đang ngồi với một cái búa trong tay phải và một cái dùi trong tai trái. Ông đang khắc một thiết kế phức tạp trên yên ngựa bằng gỗ. Phía sau ông, Tom có thể nhìn thấy cửa tiệm gỗ và da, và một cậu bé với một cây chổi đang quét vỏ bào. Tom nói: "Chào ông." Người thợ làm yên ngựa ngước lên, xem Tom thuộc tầng lớp nào nếu ông ấy cần đến một yên ngựa, và gật đầu cộc lốc. "Tôi là một thợ xây cả," Tom tiếp tục. "Tôi thấy ông cần đến dịch vụ của tôi." "Tại sao?" "Vữa đang rơi ra, những viên đá đang bị nứt rạn và nhà ông chắc không tồn tại sau mùa đông này." Người thợ đóng yên ngựa lắc đầu. "Thị trấn này có nhiều thợ xây. Tại sao tôi phải thuê một người lạ?" "Rất tốt." Tom quay đi. "Mong Thiên Chúa ở với ông." "Tôi cũng hy vọng như thế," thợ làm yên ngựa nói. "Một đồng nghiệp thô lỗ," Agnes thì thầm khi họ đi ra. Con đường dẫn họ đến một khu chợ. Ở đây, trong khu bùn lầy này, nông dân từ các vùng nông thôn trao đổi những cái ít ỏi dư thừa của họ như thịt, ngũ cốc, sữa hay trứng, để lấy những thứ họ cần và không tự làm được như chậu, lưỡi cày, dây thừng và muối. Thông thường khu chợ đầy màu sắc và náo nhiệt. Có tiếng mặc cả, cãi nhau và vui đùa. Có bánh kẹo rẻ tiền cho trẻ em, một đôi khi có nhóm hát rong hay nhào lộn. Nhiều khi người ta gặp những cô gái điếm, những thương binh với những câu chuyện về sa mạc miền đông và nhóm người du mục Saracen. Những người có công việc kinh doanh tốt thường khó kìm hãm được sự cám dỗ để ăn mừng, để mua bia rượu, vì thế luôn luôn có một bầu khí ồn ào vào giữa trưa. Những người khác mất những đồng xu vào cờ bạc, và điều đó thường dẫn đến việc đánh nhau. Nhưng bây giờ, vào một buổi sáng mưa gió, sau mùa gặt, khi các sản phẩm đã được bán hoặc được cất vào kho, ngôi chợ trở nên vắng vẻ. Những nông dân ướt đẫm nước mưa buôn bán một cách lặng lẽ với chủ gian hàng, và mỗi người mong sớm về lại ngôi nhà của mình bên ánh lửa hồng. Gia đình Tom chen qua đám đông chán nản, làm ngơ trước lời chào hàng của người bán xúc xích và mài dao. Khi họ gần đến phía xa bên kia khu chợ, Tom thấy con heo của ông. Ông quá ngạc nhiên đến nỗi lúc đầu ông không tin vào mắt mình. Sau đó Agnes rít lên: "Tom, hãy nhìn kìa!" và ông biết bà cũng đã thấy nó. Không còn nghi ngờ gì. Ông biết rõ con heo, như ông biết rõ Alfred và Martha. Con heo được giữ chặt bởi một người đàn ông có nước da hồng hào, có kích thước của một người ăn nhiều thịt và còn hơn nữa: chắc ông là người bán thịt. Cả Tom và Agnes đứng nhìn chằm chằm vào ông ta, và bởi vì họ ngăn trở đường đi nên ông ấy chú ý đến họ. "Tốt chứ?" ông ấy nói, bối rối vì ánh mắt của họ và ông nóng lòng muốn đi. Chính Martha là người phá sự yên lặng. "Đó là con heo của chúng tôi!" cô hào hứng nói. "Đúng vậy," Tom nói và bình thản nhìn vào người bán thịt. Qua cái nhìn lén, Tom nhận ra rằng ông ấy biết con heo này là con heo ăn cắp. Nhưng ông ta nói: "Tôi vừa mua nó năm mươi xu, và đó là con heo của tôi." "Dù ông mua của bất cứ ai, con heo này không phải là của người ấy và họ không có quyền bán. Không ngạc nhiên gì khi ông mua nó quá rẻ. Ông đã mua nó của ai?" "Của một nông dân." "Một người mà ông biết?" "Không. Hãy nghe đây, tôi là người bán thịt cho các đơn vị đồn trú. Tôi không thể đòi hỏi những người đến bán cho tôi một con heo hoặc một con bò là họ phải tìm được mười hai người làm chứng và thề rằng con vật này là của họ." Người đàn ông bước sang bên và muốn bỏ đi, nhưng Tom đã túm lấy tay ông và ngăn ông lại. Ông ấy giận dữ, nhưng sau đó ông ấy nhận ra rằng nếu ông ấy tham dự vào một cuộc ẩu đả, ông ấy sẽ phải buông con heo ra, và nếu một người trong gia đình Tom bắt được, khi đó cán cân sẽ thay đổi và chính người bán thịt phải chứng minh quyền sở hữu của ông. Vì thế, ông ấy hạ mình và nói: "Nếu ông muốn buộc tội tôi, ông hãy đi trình cảnh sát." Tom cân nhắc điều đó nhanh chóng và bác bỏ nó. Ông không có bằng chứng. Thay vào đó, ông hỏi: "Người bán con heo cho ông trông như thế nào?" Người bán thịt nhìn một cách quỷ quyệt và nói: "Giống như mọi người khác." "Ông ta có che miệng không?" "Bây giờ tôi mới để ý, ông ta có che miệng." "Hắn là một tội phạm và hắn che giấu một vết cắt," Tom nói một cách chua chát. "Tôi cho rằng ông đã không chú ý đến điều đó." "Ai cũng ướt đẫm nước mưa!" Người bán thịt biện hộ. "Mọi người đều bịt mặt." "Hãy nói cho tôi biết, hắn đã đi được bao lâu rồi?" "Vừa xong." "Hắn đi đâu?" "Tới tiệm bia, tôi đoán như vậy." "Để tiêu hết số tiền của tôi," Tom nói một cách kinh tởm. "Đi đi, đi cho khuất mắt. Một ngày nào đó chính ông cũng sẽ bị ăn cắp, và ông sẽ ước muốn rằng không có nhiều người vì tham lam mà trước khi mua không hỏi xem nó xuất xứ từ đâu." Người bán thịt nhìn giận dữ, và ngập ngừng như muốn đáp trả, nhưng sau đó ông nghĩ lại và ra đi. Agnes hỏi: "Sao anh lại để cho hắn đi?" "Bởi vì ông ấy được nhiều người ở đây biết đến, còn anh thì không," Tom nói. "Nếu anh đánh ông ấy, anh sẽ bị đổ tội. Và bởi vì tên anh không được viết trên mông con heo, nên không ai có thể nói nó là của anh hay không." "Nhưng đó là tất cả những gì chúng ta tiết kiệm được." "Chúng ta có thể lấy lại tiền bán heo, dĩ nhiên," Tom nói. "Hãy im đi để anh suy nghĩ." Cuộc cãi vã với người bán thịt đã làm cho ông bực bội, vì thế ông đã nói một cách cay nghiệt với Agnes. "Ở một nơi nào đó trong thành phố có một người không có môi và có năm mươi xu trong túi. Tất cả những gì chúng ta cần làm là tìm ra hắn và lấy lại tiền từ hắn." "Đúng," Agnes nói một cách quyết liệt. "Em đi ngược lại con đường chúng ta đã đi. Đi đến gần nhà thờ. Anh sẽ đi tiếp tục và đến nhà thờ bằng hướng khác. Rồi chúng ta trở lại bằng con đường kế tiếp, và cứ tiếp tục như thế. Nếu hắn không có trên đường, hắn phải ở trong một quán bia nào đó. Nếu em gặp hắn, em hãy ở lại và nói Martha đi tìm anh. Anh mang Alfred theo. Đừng để cho tên tội phạm thấy em." "Đừng lo," Agnes nói dứt khoát. "Em cần tiền đó để nuôi con." Tom sờ vào tay bà và mỉm cười. "Em là một con sư tử, Agnes à." Bà nhìn vào mắt ông một lúc, rồi bất thình lình bà đứng trên đầu ngón chân và hôn lên môi ông, một nụ hôn ngắn nhưng mãnh liệt. Sau đó bà quay lại, cùng với Martha đi ngược lại khu chợ. Tom nhìn cho đến khi bà khuất khỏi tầm mắt, ông cảm thấy lo âu cho bà, mặc dù biết bà rất can đảm; rồi ông cùng với Alfred đi về hướng ngược lại. Kẻ trộm có vẻ như cảm thấy an toàn. Khi hắn ăn trộm con heo, Tom đang đi theo hướng Manchester, nên hắn đã đi hướng ngược lại để bán con heo ở Salisbury. Vì người phụ nữ sống ngoài vòng pháp luật, Ellen, nói với Tom rằng một ngôi nhà thờ đang được sửa sang ở Salisbury, nên ông đã thay đổi dự định và vô tình bắt kịp kẻ trộm ở đây. Tuy nhiên, kẻ trộm nghĩ hắn sẽ chẳng gặp Tom nữa, và điều này cho Tom một cơ hội để bắt hắn bất ngờ. Tom đi chậm dọc theo con đường lầy lội, liếc vào các cửa mở như tình cờ. Ông không muốn bị để ý, bởi vì sự tìm kiếm này có thể kết thúc bằng bạo lực và ông không muốn mọi người nhớ đến một người thợ xây cao lớn đang dò xét thị trấn. Hầu hết ngôi nhà là những túp lều bình thường bằng gỗ, vách đất và mái lá, có rơm trên nền nhà, một lò sưởi ở giữa và một vài đồ nội thất tự chế. Một thùng rượu và vài chiếc ghế băng tạo nên một quán bia; một chiếc giường ở góc với một tấm màn che mang dấu hiệu có gái điếm; một đám đông ồn ào quanh một chiếc bàn là biểu hiện của trò chơi đỏ đen. Một người đàn bà sơn môi đỏ vạch ngực của bà trước mặt ông, ông lắc đầu và vội vàng đi qua. Ông đã bị cám dỗ một cách thầm kín bởi ý tưởng muốn làm chuyện đó với một người đàn bà hoàn toàn xa lạ, trong ánh sáng ban ngày, và trả tiền cho họ, nhưng trong suốt cuộc đời ông chưa bao giờ thử nó. Ông nghĩ đến Ellen, người đàn bà sống bên ngoài pháp luật. Cô có một cái gì đó hấp dẫn. Cô có sức quyến rũ mạnh mẽ, nhưng đôi mắt sâu thẳm của cô đáng sợ. Lời mời của cô gái điếm làm Tom cảm thấy bất mãn một lúc, nhưng sự thu hút của Ellen đã chẳng hao mòn đi, và thình lình ông có một ước muốn ngu dốt là chạy trở lại vào rừng tìm cô và rơi vào lòng cô. Ông đến gần nhà thờ mà không thấy kẻ trộm. Ông nhìn người thợ làm ống nước đang đóng đinh tấm chì trên mái nhà gỗ phía trên gian giữa nhà thờ. Họ chưa bắt đầu lợp mái nhà hai gian bên cạnh, nên vẫn có thể nhìn thấy nửa vòng cung hỗ trợ, nối kết thành ngoài của gian bên cạnh với tường chính của gian giữa, nâng đỡ đỉnh nhà thờ. Ông chỉ cho Alfred. "Không có sự hỗ trợ này, bức tường chính sẽ cong và oằn ra, vì trọng lượng của các vòm đá bên trong," ông cắt nghĩa. "Hãy nhìn xem nửa vòng cung thẳng hàng với các trụ trong bức tường của gian bên. Chúng cũng thẳng hàng với các trụ cột của mái vòm trong gian giữa. Và các cửa sổ của hai gian bên cạnh thẳng hàng với mái vòm của gian giữa. Đường mạnh với đường mạnh và đường yếu với yếu." Alfred nhìn bối rối và bực bội. Tom thở dài. "Tom nhìn thấy Agnes đi lại từ phía đối diện, và đầu óc ông trở về với vấn đề trước mắt. Mũ che phủ mặt của bà, nhưng ông nhận ra cằm bà chĩa ra phía trước, bước chân vững vàng. Người công nhân vai rộng bước sang một bên, nhường chỗ cho bà đi qua. Nếu bà có một cuộc chiến với kẻ trộm, ông nghĩ một cách chắc chắn, nó sẽ là một cuộc chiến cân bằng. "Anh có thấy hắn không?" bà hỏi. "Không, và một cách hiển nhiên là em cũng không." Tom hy vọng kẻ trộm chưa ra khỏi thị trấn. Chắc chắn hắn sẽ chưa đi khi hắn chưa tiêu đồng xu nào. Tiền không thể dùng trong rừng. Agnes cũng nghĩ như vậy. "Hắn ở một chỗ nào đó quanh đây. Hãy tiếp tục tìm kiếm." "Chúng ta đi ngược lại bằng hai con đường khác nhau và gặp nhau ở khu chợ." Tom và Alfred đi lại bước đường qua công trường xây dựng và ra khỏi cửa thành. Mưa thấm qua áo khoác của họ, và Tom vụng trộm nghĩ đến ly bia và một bát canh thịt bò bên cạnh bếp lửa của một quán bia. Rồi ông nghĩ đến ông đã phải vất vả thế nào để mua được con heo, và hồi tưởng lại người đàn ông không môi đã đập thanh gỗ không thương tiếc vào đầu Martha như thế nào, và sự tức giận làm ông nóng người. Không dễ gì mà có thể tìm kiếm một cách hệ thống, vì các đường xá không trật tự. Họ lang thang đây đó, theo các dãy nhà, và có nhiều khúc quanh gấp cũng như những ngõ cụt. Chỉ có một con đường thẳng dẫn từ cổng phía đông đến chiếc cầu của lâu đài. Lần trước ông đã đi bên cạnh thành lũy của lâu đài. Lần này ông tìm kiếm ở vùng ngoại ô, đi luồn lách tới tường thành và trở lại vào trong. Đây là khu dân cư nghèo, với các căn nhà xiêu vẹo, những quán bia ồn ào và khu đĩ điếm lâu đời nhất. Từ trung tâm đổ dốc xuống vùng biên của thành phố, vì thế rác rưởi của khu phố nhà giầu trôi xuống các đường phố và đọng lại bên thành lũy. Một cái gì đó cũng tương tự đối với con người, vì khu này tập trung nhiều hơn những người tàn tật và ăn xin, trẻ em và phụ nữ nghèo đói và người say rượu. Nhưng người đàn ông không môi vẫn biệt tăm. Hai lần Tom phát hiện ra một người có hình dáng và kích thước giống hắn, ông đã cố nhìn kỹ hơn nhưng chỉ thấy khuôn mặt xa lạ. Ông chấm dứt cuộc tìm kiếm ở khu chợ, và nơi đó Agnes đang sốt ruột chờ ông, bà căng thẳng và đôi mắt bà rạng rỡ. "Em đã tìm thấy hắn!" bà rít lên. Tom cảm thấy hồi hộp và lo âu. "Ở đâu?" "Hắn vào trong một tiệm ăn ở cổng phía đông." "Hãy đưa anh đến đó." Họ đi vòng quanh tòa lâu đài đến chiếc cầu, đi xuống con đường thẳng đến cổng phía đông, rồi quẹo vào trong một mê lộ của những con hẻm dưới những bức tường. Một lúc sau Tom nhìn thấy tiệm ăn. Nó không là một căn nhà mà chỉ là một mái dốc trên bốn cây cột dựa lên tường thành; một ngọn lửa khổng lồ ở phía sau đang quay một con cừu trên một cái xiên, bên cạnh đó là một cái vạc đang sôi. Trời vào khoảng giữa trưa, và nơi nhỏ bé đó đầy người, hầu hết là đàn ông. Mùi thơm của thịt làm bao tử Tom cồn cào. Ông đưa mắt lục soát đám đông, sợ rằng kẻ trộm đã biến mất trong thời gian ông đi đến đây. Ông phát hiện ra hắn ngay lập tức, ngồi trên chiếc ghế xa đám đông, ăn một bát hầm bằng một chiếc muỗng, cầm chiếc khăn trước mặt để che miệng. Tom quay ngay lại để hắn không thể nhìn thấy ông. Bây giờ ông phải quyết định xử lý hắn như thế nào. Ông đủ giận để đánh kẻ trộm ngã xuống và lấy ví tiền của hắn. Nhưng đám đông sẽ không để ông đi. Ông sẽ phải biện minh, không những với đám đông mà còn với cảnh sát. Tom có quyền và rõ ràng ông là một người đứng đắn và là một thợ xây; trong khi kẻ trộm là một người sống ngoài vòng pháp luật, nghĩa là hắn không có ai xác minh cho sự trung thực của hắn. Nhưng sự xác minh cho tất cả các việc đó sẽ mất thời gian, có thể hàng tuần nếu cảnh sát phải công tác xa ở vùng quê nào đó; và nếu một cuộc ẩu đả xẩy ra có thể sẽ bị buộc tội vì phá vỡ sự hòa bình của nhà vua. Không. Tốt hơn nên giải quyết tên trộm một cách riêng rẽ. Hắn không thể ở lại đêm trong thị trấn, vì hắn không có nhà ở đây, và hắn không thể tìm được chỗ tạm trú khi hắn không chứng minh được hắn là một người đứng đắn. Vì thế hắn phải ra đi trước khi các cổng thành đóng khi đêm xuống. Và chỉ có hai cổng. "Có lẽ hắn sẽ trở ra bằng con đường hắn đến." Tom nói với Agnes. "Anh sẽ đợi bên ngoài cổng phía đông. Hãy để Alfred canh chừng cửa phía tây. Em ở lại trong thị trấn xem kẻ trộm làm gì. Giữ Martha bên cạnh em, nhưng đừng cho hắn thấy. Nếu em muốn gửi một thông điệp cho anh hoặc Alfred, hãy nhờ Martha." "Vâng," Agnes nói ngắn gọn. Alfred nói: "Con nên làm gì nếu hắn đi ra phía con?" Cậu có vẻ hí hửng. "Không làm gì cả," Tom nói chắc nịch. "Quan sát xem hắn đi theo con đường nào, rồi đợi. Martha sẽ đón bố, và chúng ta sẽ cùng nhau đuổi theo hắn." Alfred nhìn thất vọng, và Tom nói: "Con hãy làm như bố nói. Bố không muốn mất con như mất con heo." Alfred gật đầu miễn cưỡng. "Chúng ta lên đường, trước khi hắn nhận ra chúng ta tụ tập lại và âm mưu với nhau. Hãy đi." Tom rời họ ngay, không quay mặt lại. Ông có thể tin Agnes sẽ thực hiện theo kế hoạch. Ông vội vã đến cửa phía đông và rời thị trấn, qua cây cầu gỗ ọp ẹp mà ông đã đẩy chiếc xe bò qua sáng hôm nay. Thẳng trước mặt ông là con đường đến Winchester, về hướng đông, con đường thẳng tắp, giống như một tấm thảm dài trải qua các ngọn đồi và thung lũng. Về phía trái, con đường mà Tom – có lẽ kẻ trộm cũng vậy – đã đến Salisbury, con đường Roma, uốn quanh trên một ngọn đồi rồi biến mất. Kẻ trộm chắc chắn sẽ đi con đường này. Tom đi xuống đồi, xuyên qua các cụm nhà ở ngã tư, rồi quẹo vào đường Roma. Ông cần phải ẩn trốn. Ông bước đi theo con đường, tìm kiếm chỗ thích hợp. Ông đi hai trăm dặm mà không tìm được chỗ nào ẩn trốn. Nhìn lại, ông nhận ra là đã đi quá xa: ông không còn nhận ra khuôn mặt của những người ở ngã tư đường, vì thế ông không thể biết người đàn ông không môi có đi theo con đường đến Winchester không. Ông quan sát phong cảnh lần nữa. Con đường có mương hai bên, có thể là chỗ lẩn trốn trong mùa khô, nhưng hôm nay đầy nước. Bên ngoài dẫy mương, đất nhô lên như một cái bướu. Trong cánh đồng phía nam của con đường, một vài con bò đang gặm cỏ. Tom chú ý đến một con bò nằm ở bên cạnh mô đất cao của cánh đồng, một phần con bò bị che đậy bởi mô đất. Với một tiếng thở dài, ông quay gót trở lại. Ông nhẩy qua mương và đá vào con bò. Nó đứng lên và đi khỏi. Tom nằm xuống chỗ đất ấm và khô ráo mà con bò để lại. Ông kéo chiếc mũ che mặt và chờ đợi. Ông tiếc rẻ nếu ông biết lo xa, ông đã mua vài miếng bánh trước khi rời thị trấn. Ông lo lắng pha lẫn chút sợ hãi. Kẻ phạm pháp là một người nhỏ con, nhưng hắn di chuyển nhanh và ác độc như ông đã nhìn thấy khi hắn đánh Martha và ăn cắp con heo. Tom sợ hãi một chút về việc có thể bị thương, nhưng ông lo lắng hơn vì có thể sẽ không lấy lại được tiền. Ông mong Agnes và Martha được an toàn. Agnes có thể tự lo được cho bà, ông biết như vậy; và ngay cả khi tên trộm phát hiện ra bà, hắn có thể làm được gì bà? Hắn sẽ cảnh giác hơn, thế thôi. Từ chỗ nằm, Tom có thể nhìn thấy tháp nhà thờ. Ông ước gì đã có thể nhìn được vào phía trong. Ông rất tò mò về cách giải quyết những cột trụ của mái vòm. Những cột trụ này thường rất to, các mái vòm bắt đầu từ đỉnh của nó: hai vòm đi về hướng bắc và nam, nối với các cột trụ bên cạnh trong mái vòm; và một đi về hướng đông hoặc tây, qua gian bên cạnh. Nó trông không đẹp, bởi vì có một cái gì không đúng khi một mái vòm bắt đầu từ đầu một cây trụ tròn. Nếu Tom xây nhà thờ chính tòa, mỗi trụ sẽ là một cụm trụ, và mỗi mái vòm vươn lên từ đầu của mỗi trụ – sự sắp xếp như vậy sẽ hợp lý và đẹp hơn. Ông bắt đầu tưởng tượng về sự trang trí cho các vòm. Hình thẳng là hình thức thông thường – không mất nhiều kỹ năng để khắc chữ chi và hình thoi – nhưng Tom ưa thích những chùm lá, chúng đem lại sự nhẹ nhàng của thiên nhiên vào trong nét đều đặn của những phiến đá. Sự hình dung về ngôi nhà thờ xâm chiếm tâm hồn ông cho đến giữa chiều, khi ông nhìn thấy hình dáng nhỏ bé và mái tóc bạch kim của Martha chạy qua cây cầu và xuyên qua dẫy nhà. Cô do dự giữa ngã tư, rồi theo con đường phía phải. Tom nhìn cô đang tiến về phía ông. Cô nhíu mày phân vân không biết ông ở đâu. Khi cô đến vừa tầm, ông gọi nhẹ nhàng: "Martha". Khi thấy ông, cô kêu lên một tiếng nhỏ. Cô chạy lại, nhẩy qua mương. "Mẹ gửi cho bố cái này," cô nói, và lấy ra một vật quấn trong áo khoác. Nó là một miếng thịt nóng. "Trời ơi! Mẹ con là một phụ nữ chu đáo," Tom nói, và cắn một miếng lớn. Nó được làm với thịt bò và hành tây, và nó ngon tuyệt. Martha ngồi xổm bên cạnh Tom trên cỏ. "Chuyện của người ăn trộm heo của chúng ta xẩy ra như thế này," cô nói. Cô tập trung để nhớ lại những gì cô được dặn để nói. Cô quá dễ thương đến nỗi làm Tom nín thở. "Ông ấy ra khỏi tiệm ăn và gặp một phụ nữ với khuôn mặt son phấn, rồi vào nhà bà ta. Chúng con đợi bên ngoài." Trong khi đó kẻ tội phạm tiêu tiền của chúng ta cho một gái điếm, Tom nghĩ một cách chua chát. "Hãy kể tiếp đi con." "Ông ấy không ở lâu trong nhà bà đó, và khi ông đi ra, ông đến một quán bia. Bây giờ ông đang ở đó. Ông không uống nhiều nhưng ông chơi cờ bạc." "Bố mong hắn thắng," Tom nói gằn giọng. "Có vậy thôi sao?" "Đó là tất cả." "Con có đói không?" "Con có một miếng bánh nhỏ." "Con đã kể cho Alfred tất cả điều đó chứ?" "Chưa, bây giờ con sẽ đi đến anh ấy." "Nói với anh ấy, cố gắng giữ mình cho khô ráo." "Cố gắng giữ mình khô ráo," cô lặp lại. "Con phải nói điều đó trước hay sau khi kể câu chuyện về người đàn ông đã ăn cắp con heo của chúng ta?" Dĩ nhiên điều đó không quan trọng lắm. "Sau đó," Tom nói. Ông mỉm cười với cô. "Con là một bé gái thông minh. Con đi đi." "Con thích trò chơi này," cô nói. Cô vẫy tay và ra đi, đôi chân trẻ thơ thoăn thoắt nhẩy qua mương và chạy ngược lại hướng thị trấn. Tom quan sát cô với tình thương và sự tức giận trong lòng. Ông và Agnes đã làm việc cực khổ để kiếm tiền nuôi sống con cái, và ông sẵn sàng giết người để lấy lại cái mà họ đã bị ăn cắp. Có lẽ kẻ tội phạm cũng sẵn sàng giết người nữa. Kẻ tội phạm sống bên ngoài vòng pháp luật, như tên gọi đã ngụ ý: họ sống trong bạo lực. Đây có lẽ không phải là lần đầu mà Faramond Openmouth chống lại nạn nhân của hắn. Hắn là người nguy hiểm. Một điều đáng ngạc nhiên là ánh sáng mặt trời bắt đầu yếu dần rất sớm, như một đôi khi xẩy ra vào buổi chiều mùa thu ẩm ướt. Tom lo lắng không biết có còn nhận ra được kẻ trộm trong mưa nữa không. Khi gần tối, sự đi lại thưa dần, vì hầu hết du khách đã ra về đúng lúc để kịp về nhà khi đêm xuống. Ánh sáng của nến và đèn lồng bắt đầu chập chờn trong những căn nhà cao của thị trấn và trong các túp lều vùng ngoại ô. Tom bi quan tự hỏi không biết kẻ trộm có ở lại trong thị trấn suốt đêm không. Có lẽ hắn có bạn bè không lương thiện trong thị trấn, những người cho hắn lưu trú mặc dù biết hắn là tên tội phạm. Có lẽ - Rồi, Tom nhìn thấy một người che khăn trên miệng. Hắn đi qua chiếc cầu bằng gỗ, đi gần hai người đàn ông khác. Đối với Tom, đó là điều bất ngờ vì hai người đồng lõa của tên trộm, tên đầu hói và tên đội mũ xanh, cả hai có thể đã cùng đi với hắn đến Salisbury. Tom đã không thấy họ trong thị trấn, nhưng có thể ba người đã chia tay nhau một lúc rồi lại tập trung lại để cùng về. Tom nguyền rủa: Ông không nghĩ ông có thể chống lại ba tên. Nhưng khi đến gần, nhóm người tách ra, và Tom nhẹ nhõm nhận ra rằng họ không đi chung với nhau. Hai người đầu tiên là ông bố và người con trai, hai nông dân có đôi mắt đen gần nhau và lỗ mũi hếch. Họ đi theo con đường Roma và người đàn ông che khăn theo sau. Ông nghiên cứu dáng đi của tên trộm khi hắn đến gần. Hắn đã hết say. Thật đáng tiếc! Nhìn về phía thị trấn, ông thấy một đàn bà và một em bé vội vã qua cầu: Agnes và Martha. Ông bị sốc. Ông không dự kiến họ có mặt khi ông đối đầu với tên trộm. Tuy nhiên ông nhận ra rằng ông đã không ra lệnh cho họ. Ông căng thẳng khi tất cả đi về phía ông. Tom to lớn nên hầu hết bỏ cuộc khi phải đối đầu với ông; nhưng kẻ tội phạm này là người liều lĩnh và không thể nói điều gì sẽ xẩy ra trong cuộc chiến. Hai người nông dân đi qua, vui vẻ kể về ngựa. Tom lấy búa có bọc sắt ở đầu từ thắt lưng và cầm nó trong tay phải. Ông ghét những tên trộm cướp, những người không làm việc nhưng ăn cắp đồ ăn của người lương thiện. Ông sẽ không ngần ngại cho người này một cái búa. Kẻ trộm dường như đi chậm lại khi hắn đến gần, hầu như hắn cảm thấy sự nguy hiểm. Tom đợi cho đến khi hắn chỉ còn cách bốn hay năm dặm – quá gần để chạy ngược lại, và quá xa để chạy đi. Rồi Tom lăn mình qua bờ, nhẩy qua mương và chặn đường hắn. Người đàn ông chết đứng, nhìn chằm chằm vào ông. "Cái gì vậy?" hắn hỏi một cách lo lắng. Hắn không nhận ra tôi, Tom nghĩ. Ông nói: "Ông ăn cắp con heo của tôi hôm qua và bán cho người bán thịt hôm nay." "Tôi không bao giờ -" "Đừng chối." Tom nói. "Hãy đưa cho tôi số tiền mà ông đã bán được, và tôi sẽ không đánh ông." Lúc đầu ông tưởng kẻ trộm sẽ nghe lời. Ông cảm thấy thất vọng, khi hắn do dự. Sau đó, tên trộm quay gót và chạy thẳng về phía Agnes. Hắn không đủ nhanh để chạy qua bà và trong một lúc cả hai người lảo đảo từ bên này đường qua bên kia đường giống như trong một điệu nhẩy vụng về. Rồi hắn nhận ra rằng bà đã cố tình chặn đường hắn, và hắn đẩy bà sang bên. Bà giơ chân ngáng hắn. Chân bà trúng đầu gối hắn và cả hai ngã xuống. Trái tim Tom hổn hển, khi ông lao nhanh đến bên bà. Kẻ trộm quỳ lên được, đặt một đầu gối trên lưng bà. Tom nắm lấy cổ áo hắn và kéo mạnh hắn ra. Ông lôi hắn tới lề đường trước khi hắn có thể lấy lại thăng bằng, rồi ném hắn xuống mương. Agnes đứng dậy. Martha chạy đến bên bà. Tom nói nhanh: "Em không sao chứ?" "Vâng," Agnes trả lời. Hai người nông dân dừng lại quan sát, và họ chăm chú nhìn vào cảnh tượng. Kẻ trộm chống gối trong mương. "Hắn là một tên tội phạm," Agnes nói với họ để mong họ can thiệp. "Hắn ăn cắp con heo của chúng tôi." Người nông dân không trả lời, nhưng chờ đợi xem sự gì sẽ xẩy ra. Tom nói với tên trộm một lần nữa. "Hãy trả tiền lại cho tôi và tôi sẽ để ông đi." Tên trộm ra khỏi mương với một con dao trong tay, lao vào Tom nhanh như chuột. Agnes thét lên. Tom né tránh. Con dao thoáng qua mặt ông và ông cảm thấy đau nơi cằm. Ông lùi lại và dơ búa lên khi con dao lướt qua một lần nữa. Tên trộm lùi lại. Lưỡi dao và chiếc búa vun vút trong không khí của buổi tối ẩm ướt mà không đụng nhau. Ngay lập tức cả hai đứng lặng yên, đối diện nhau, thở hổn hển. Cằm của Tom đau. Ông nhận ra rằng hai người bằng sức nhau, mặc dù Tom lớn hơn, nhưng tên trộm có một con dao, và dao nguy hiểm hơn chiếc búa của thợ xây. Ông cảm thấy ớn lạnh khi ông nhận ra rằng ông có thể sắp chết. Bất thình lình ông cảm thấy như không thở được. Từ khóe mắt ông nhìn thấy một chuyển động đột ngột. Tên trộm cũng nhận ra, phóng một cái nhìn về phía Agnes và cúi đầu xuống khi viên đá từ tay bà bay vào hắn. Tom phản ứng nhanh, vung búa vào đầu tên trộm. Nó trúng vào đúng lúc hắn ngẩng đầu lên. Búa sắt đập vào trán phía chân tóc. Đó là một cú đánh vội vã, không mang tất cả sức mạnh của Tom. Tên trộm loạng choạng nhưng không ngã. Tom đánh hắn một cái nữa. Đòn này nặng hơn: Ông có nhiều giờ để giơ búa lên cao khỏi đầu và nhắm nó vừa lúc tên trộm choáng váng. Tom nghĩ về Martha khi ông giáng búa xuống. Nó trúng với tất cả sức lực của ông, và tên trộm gục xuống đất giống như con búp bê rơi. Tom quỳ xuống bên tên trộm, xem xét hắn. "Ví tiền hắn ở đâu? Ví tiền hắn ở đâu?" Rất khó lay chuyển thân thể mềm rũ của hắn. Sau hết, Tom đặt hắn nằm ngửa và mở chiếc áo choàng của hắn. Có một bóp bằng da lớn đeo vào dây thắt lưng. Tom tháo chiếc móc. Bên trong là một túi len mềm mại. Ông kéo nó ra. Nó nhẹ. "Không có gì!" Tom nói. "Hắn phải có chiếc ví khác nữa." Ông kéo chiếc áo choàng từ phía dưới người đàn ông và cẩn thận xem xét khắp nơi. Không còn chiếc túi nào, không có phần cứng nào. Ông tháo chiếc giày ra: không có gì bên trong. Ông lấy con dao ăn từ thắt lưng và cắt đế giầy: không có gì. Sốt ruột, ông trượt con dao bên trong cổ áo len của tên trộm và rạch tới viền: không có thắt lưng dấu tiền. Tên trộm nằm giữa con đường lầy lội, trần truồng. Hai người nông dân nhìn chằm chằm vào Tom tưởng như ông bị điên. Giận dữ, Tom nói với Agnes: "Hắn không còn đồng xu nào." "Có lẽ ông ấy đã thua cờ bạc hết," bà cay đắng nói. "Anh mong hắn bị đốt trong lửa hỏa ngục," Tom nói. Agnes quỳ xuống và sờ vào ngực hắn. "Đó là nơi ông ta đang ở," bà nói. "Anh đã giết hắn." IV Vào dịp lễ Giáng sinh họ thiếu ăn. Mùa đông đến sớm, và trời vừa lạnh, vừa khắc nghiệt lại chẳng chịu khắc phục giống như cái đục sắt của người thợ đá. Táo vẫn còn trên cây khi cơn tuyết đầu tiên phủ xuống cánh đồng. Người ta gọi nó là đợt rét đột ngột, nghĩ rằng nó sẽ chóng qua, nhưng không phải vậy. Những ngôi làng cày trễ trong mùa thu đã bị vỡ lưỡi cày trên đất cứng như đá. Các nông dân vội vàng giết heo, muối chúng cho mùa đông, và các lãnh chúa giết gia súc, vì sự chăn thả gia súc trong mùa đông không thể bằng mùa hè. Nhưng mùa đông dài vô tận làm cỏ héo úa và một số thú vật còn lại chết bằng cách này hay cách khác. Chó sói tuyệt vọng, chúng vào trong làng khi trời nhá nhem tối và cướp đi những con gà gầy còm và những trẻ thơ bơ phờ. Về phía xây dựng, chẳng bao lâu sau khi cơn tuyết đầu mùa đổ xuống, các bức tường được xây trong mùa hè phải được vội vàng che phủ bằng rơm và phân để đề phòng cái lạnh khắc nghiệt nhất, bởi vì vữa trong tường chưa khô hẳn, và nếu nó bị đóng băng, tường sẽ nứt ra. Việc làm vữa bị ngưng lại,cho đến khi mùa xuân trở lại. Nhiều thợ hồ chỉ được mướn cho mùa hè, và giờ đây họ trở về làng cũ, nơi họ không còn là thợ hồ nữa mà làm mọi nghề, dành cả mùa đông làm lưỡi cày, yên ngựa, công cụ lao động, xe bò, xẻng, cửa và bất cứ việc gì cần đến bàn tay khéo léo với chiếc búa, đục và cưa. Các thợ hồ khác di chuyển vào trong các nhà có mái che và suốt ngày cắt đá theo những hình dạng phức tạp. Nhưng tuyết đổ quá sớm và công việc tiến triển quá nhanh, và bởi vì các nông dân bị đói, nên các giám mục, các người cai quản thành trì và các lãnh chúa có ít tiền để chi cho việc xây dựng hơn họ dự định. Và vì thế khi mùa đông vừa đến, một số thợ hồ đã bị sa thải. Tom và gia đình đi bộ từ Salisbury tới Shaftesbury, rồi từ đó đến Sherborne, Wells, Bath, Bristol, Gloucester, Oxford, Wallingford và Windsor. Ở mọi nơi, ngọn lửa bên trong nhà cháy rực, và sân nhà thờ cũng như các bức tường thành còn vang lên bài ca của sắt trên đá cứng, và thợ xây dựng chính làm những mô hình nhỏ về các mái vòm và khung vòm bằng bàn tay khéo léo của họ. Một vài thợ xây dựng chính thiếu kiên nhẫn, thô lỗ và bất lịch sự; những người khác nhìn những đứa con gầy guộc và bà vợ đang mang thai của Tom một cách buồn bã, rồi nói những lời tử tế và lấy làm tiếc; nhưng mọi người đều cùng nói một câu: Không, ở đây không có việc cho ông. Bất cứ khi nào có thể, họ lợi dụng lòng hiếu khách của các tu viện, nơi mà khách vãng lai luôn được cho một bữa ăn và một nơi để ngủ - chỉ cho một đêm duy nhất. Khi những trái dâu đen chín trên bụi cây, họ sống nhờ đó như những con chim. Trong rừng, Agnes nhóm lửa dưới chiếc nồi sắt và nấu cháo. Nhưng vẫn có nhiều lần, họ phải mua bánh từ tiệm và cá từ cửa hàng, hay ăn trong quán bia hoặc tiệm ăn, dĩ nhiên nó mắc hơn là họ tự nấu; và vì thế tiền của họ hao đi nhanh chóng. Tự bản chất, Martha đã gầy sẵn nhưng càng ngày càng gầy hơn. Alfred vẫn phát triển cao hơn, giống như cỏ dại phát triển trong đất bằng, và cậu cao lêu nghêu. Bản thân Agnes ăn ít, nhưng đứa bé trong bụng bà tham ăn, và Tom có thể thấy rằng bà bị cơn đói dày vò. Một đôi khi ông ra lệnh cho bà ăn nhiều hơn, và ý chí cứng như sắt của bà cũng phải quỵ lụy vì uy quyền của chồng và của đứa con chưa sinh. Bà vẫn chưa phát mập và hồng hào như trong thời gian mang thai khác. Thay vào đó, bà gầy gò mặc dù bụng bà phình to, giống như đứa trẻ thiếu ăn trong nạn đói. Từ khi rời Salisbury họ đã đi vòng quanh ba phần tư của một vòng tròn lớn, và vào cuối năm họ đã trở lại khu rừng rộng lớn, trải dài từ Windsor tới Winchester. Tom đã bán công cụ thợ xây của mình, và không phải tất cả, nhưng một vài xu đã được chi tiêu: ông phải mượn đồ nghề hoặc mua nó bao lâu ông tìm được việc làm. Nếu ông không tìm được việc ở Winchester, ông không biết phải làm sao. Ông có anh em ở vùng quê của ông; nhưng ở mãi phía bắc, cách đây vài tuần du hành, và gia đình ông sẽ chết đói trước khi đến được đó. Agnes là đứa con duy nhất và cha mẹ bà đã qua đời. Không có công việc đồng áng giữa mùa đông. Có lẽ Agnes sẽ tìm được vài xu như một người giúp việc trong một gia đình giầu có ở Winchester. Bà chắc chắn không còn có thể lang thang lâu hơn trên đường, vì ngày sinh đã gần kề. Nhưng Winchester còn ba ngày đường nữa và bây giờ họ đói. Dâu đen đã hết, không có bóng tu viện nào trước mắt, và Agnes không còn gì trong chiếc nồi mà bà đeo trên lưng. Đêm hôm trước họ đã đổi một con dao lấy một ổ bánh lúa mạch, bốn bát canh không thịt, và một nơi để ngủ qua đêm bên cạnh đống lửa trong túp lều của một nông dân. Từ đó họ không thấy ngôi làng nào. Nhưng vào cuối buổi chiều, Tom nhìn thấy khói bốc lên sau hàng cây, và họ tìm thấy căn nhà nằm đơn độc của một viên kiểm lâm, một viên cảnh sát kiểm lâm của nhà vua. Ông ấy đưa cho họ một bao củ cải để đổi lấy cái rìu nhỏ của Tom. Họ đi bộ thêm ba dặm và Agnes cho biết bà đã quá mệt để tiếp tục đi. Tom ngạc nhiên. Trong cả thời gian chung sống với nhau, chưa bao giờ bà nói quá mệt cho bất cứ điều gì. Bà ngồi xuống trong bóng mát của một cây dẻ bên đường đi. Tom đào một lỗ nhỏ để đốt lửa, dùng một cái xẻng gỗ - một trong vài đồ dùng còn lại vì không ai muốn mua nó. Trẻ em thu thập cành cây và Tom mồi lửa, rồi ông lấy nồi, đi tìm một dòng suối. Ông trở lại với nồi đầy nước đá và đặt lên cạnh đống lửa, Agnes cắt một số củ cải. Martha thu nhặt hạt dẻ rơi xuống từ cây và Agnes chỉ chúng cách gọt vỏ và nghiền phần mềm bên trong thành bột thô để làm cho súp củ cải đặc hơn. Tom nói Alfred đi tìm thêm củi, trong khi đó ông lấy một cây gậy và đi thọc xuống lá rừng khô, mong sẽ tìm thấy một con nhím hay một con sóc đang ngủ đông để cho vào nồi súp. Nhưng may mắn không đến với ông. Ông ngồi xuống bên cạnh Agnes trong khi màn đêm buông xuống và nồi súp đang nấu. "Chúng ta còn chút muối nào không?" ông hỏi bà. Bà lắc đầu. "Anh đã ăn cháo nhiều tuần nay không có muối," bà nói. "Anh không nhận ra điều đó à?" "Không." "Đói là gia vị tốt nhất." "Vâng, chúng ta có nhiều gia vị đó." Bất ngờ Tom cảm thấy mệt khủng khiếp. Ông cảm nhận gánh nặng của thất vọng chồng chất trong bốn tháng qua và ông không còn can đảm nữa. Ông nói bằng giọng chán chường: "Đâu là những sai lầm, Agnes?" "Mọi sự," bà nói. "Anh không tìm được việc làm trong suốt mùa đông. Anh có một công việc trong mùa xuân; nhưng người con gái của lãnh chúa đã hủy cuộc hôn nhân và chủ William đã hủy việc xây dựng của chúng ta. Sau đó chúng ta quyết định ở lại làm việc trong mùa gặt – đó là một sai lầm." "Chắc chắn đối với anh, tìm việc trong mùa hè thì dễ hơn là tìm việc trong mùa thu." "Và mùa đông đến sớm. Và mặc dù tất cả những điều đó, chúng ta vẫn được bảo đảm, nhưng rồi con heo của chúng ta bị ăn cắp." Tom gật đầu một cách mệt mỏi. "Điều an ủi duy nhất của anh là được biết rằng tên trộm bây giờ đang chịu nhiều cực hình trong hỏa ngục." "Em cũng hy vọng như vậy." "Em có nghi ngờ về điều đó không?" "Các linh mục không biết nhiều như họ nói. Hãy nhớ rằng bố em cũng là một linh mục.” Tom nhớ rất rõ. Một bức tường của nhà thờ giáo xứ của bố bà đã sụp đổ không thể sửa chữa được, và Tom đã được thuê để xây lại. Linh mục không được lập gia đình, nhưng vị này có bà giúp việc, và bà giúp việc có một người con gái. Trong làng có một bí mật mà mọi người đều bết đó là linh mục là bố của cô gái. Agnes không đẹp lắm, ngay cả sau đó, nhưng da bà tươi trẻ và bà tràn đầy nghị lực. Bà nói chuyện với Tom khi ông làm việc ở đó. Một đôi khi gió thổi quần áo sát vào người bà, nên Tom có thể nhìn thấy đường cong của thân thể bà, như thể bà đang khỏa thân. Một đêm bà đến căn lều nhỏ nơi ông ngủ, đặt tay lên miệng ông như ra hiệu đừng nói gì, và cởi quần áo ra để ông có thể thấy thân thể trần truồng của bà dưới ánh trăng, và rồi ông ôm lấy thân thể mạnh mẽ, trẻ trung của bà trong cánh tay và họ làm tình. "Khi đó chúng ta đều là trinh nữ," ông nói to. Bà biết ông đang nghĩ gì. Bà mỉm cười, và khuôn mặt bà đượm buồn, và bà nói: "Dường như đã lâu rồi." Martha nói: "Chúng ta có thể ăn bây giờ chưa?" Mùi của súp làm bao tử Tom cồn cào. Ông nhúng bát vào cái vạc sôi và lấy ra vài miếng củ cải trong cháo lỏng. Ông dùng cạnh sắc của con dao để thử củ cải. Nó chưa kỹ hẳn, nhưng ông quyết định không chờ thêm nữa. Ông đưa cho mỗi con một chén, rồi đem một chén cho Agnes. Bà nhìn chăm chú và ưu tư. Bà thổi cho súp nguội, rồi đưa bát lên miệng. Trẻ em ăn nhanh hết phần mình và muốn nữa. Tom lấy nồi ra khỏi lửa, dùng ven áo choàng để tay mình không bị bỏng, và gạt hết phần súp còn lại vào chén của các con. Khi ông trở về bên cạnh Agnes, bà hỏi: "Còn anh thì sao?" "Ngày mai anh sẽ ăn," ông nói. Bà quá mệt để tranh luận. Tom và Alfred khêu lửa cao lên và thu thập đủ củi để đốt qua đêm. Sau đó tất cả cuộn trong áo choàng và nằm xuống ngủ trên đống lá. Tom ngủ không sâu, và khi Agnes rên, ông thức giấc ngay. "Cái gì vậy?" ông thì thầm. Bà lại rên. Khuôn mặt bà nhợt nhạt và đôi mắt khép kín. Một lúc sau bà nói: "Đứa bé sắp ra đời." Trái tim Tom lỡ nhịp. Không thể ở đây, ông nghĩ; không thể ở đây trên nền đất lạnh giữa rừng sâu này. "Nhưng nó chưa đến ngày," ông nói. "Nó đến sớm." Tom giữ giọng bình tĩnh. "Nước đã chảy ra chưa?" "Sau khi chúng ta rời căn lều của viên kiểm lâm," Agnes thở hổn hển, mắt vẫn không mở. Tom nhớ một lần bà đã bất thình lình lẩn vào trong bụi cây như để trả lời một cuộc gọi khẩn cấp của thiên nhiên. "Và có những cơn đau không?" "Kể từ lúc đó." Bà đã giữ kín điều đó. Alfred và Martha cũng đã dậy. Alfred hỏi: "Chuyện gì xẩy ra vậy?" "Đứa nhỏ sắp chào đời," Tom nói. Martha bật khóc. Tom cau mày. "Em có thể đi trở lại căn lều của viên kiểm lâm không?" ông hỏi Agnes. Ở đó ít nhất họ có mái nhà, có rơm để nằm và có người giúp đỡ. Agnes lắc đầu. "Đứa bé sắp ra." Như vậy là chẳng còn bao lâu nữa! Họ đang ở trong khu hoang vắng nhất của khu rừng. Từ sáng nay họ không nhìn thấy ngôi làng nào, và viên kiểm lâm nói cả ngày mai nữa họ cũng sẽ không thấy cái nào. Điều đó có nghĩa là không thể tìm ra một phụ nữ làm nữ hộ sinh. Chính Tom phải lo cho con mình, trong cái lạnh, chỉ có sự giúp đỡ của các con, và nếu có chuyện xẩy ra, ông không có thuốc, không có kiến thức. Đây là lỗi của tôi, Tom nghĩ. Tôi lấy bà làm vợ khi bà còn trẻ và tôi đưa bà vào cảnh túng thiếu. Bà tin tưởng tôi sẽ lo cho bà, và bây giờ bà đang sinh con giữa trời trong mùa đông. Ông luôn xem thường những đàn ông sinh con rồi để chúng chết đói; và bây giờ ông cũng không khá gì hơn họ. Ông cảm thấy xấu hổ. "Em quá mệt," Agnes nói. "Em không tin rằng em có thể sinh con ra. Em cần nghỉ." Khuôn mặt bà lấp lánh trong ánh lửa, với một màng mỏng mồ hôi. Tom nhận ra ông phải gắng sức lên. Ông muốn cho Agnes sức mạnh. "Anh sẽ giúp em," ông nói. Không có gì bí ẩn và phức tạp về những gì sắp xẩy ra. Ông đã quan sát nhiều đứa trẻ được sinh ra. Công việc thường được một người đàn bà thực hiện, bởi vì họ hiểu người mẹ cảm thấy như thế nào và vì thế họ có thể giúp người mẹ nhiều hơn; nhưng không có lý do gì tại sao một người đàn ông lại không thể làm việc đó khi cần thiết. Trước hết ông phải để cho bà được thoải mái: rồi tìm xem bao lâu nữa đứa bé sẽ sinh ra, sau đó chuẩn bị tinh thần, rồi làm cho bà bình tĩnh và trấn an bà trong khi chờ đợi. "Em cảm thấy thế nào?" ông hỏi bà. "Lạnh," bà trả lời. "Hãy đến gần ngọn lửa," ông nói. Ông cởi áo khoác và trải trên nền xa ngọn lửa một mét. Agnes cố tự đứng lên. Tom dìu bà lên, và để bà nhẹ nhàng ngồi xuống trên áo khoác của ông. Ông qùy xuống bên cạnh bà. Áo dài len bà đang mặc bên dưới áo choàng có hàng nút dài phía trước. Ông mở hai nút và đưa bàn tay vào phía trong. Agnes thở hổn hển. "Em có đau không?" ông hỏi, ngạc nhiên và lo âu. "Không," bà nói với một nụ cười ngắn. "Tay anh lạnh quá." Ông cảm thấy vòng bụng của bà. Sự căng tròn cao hơn và nhọn hơn tối hôm qua, khi hai người đã ngủ chung trong đống rơm trên nền túp lều của nông dân. Tom ấn mạnh hơn, cảm thấy hình dạng của thai nhi. Ông thấy một đầu thân thể, ngay dưới rốn của Agnes; nhưng ông không xác định được chỗ đầu kia đâu. Ông nói: "Anh có thể cảm thấy đít của nó, nhưng không thấy đầu." "Bởi vì nó đang trên đường ra," bà nói. Ông đắp cho bà và choàng áo khoác xung quanh bà. Ông phải chuẩn bị nhanh chóng. Ông nhìn các con. Martha khụt khịt. Alfred sợ hãi nhìn. Phải cho chúng điều gì để làm. "Alfred, con đem nồi ra suối. Rửa sạch nó và lấy đầy nước sạch đem về. Martha, con thu một số lau sậy và làm cho bố hai vòng dây dài, mỗi cái đủ lớn cho một vòng cổ. Bây giờ nhanh lên. Các con sẽ có một em trai hay em gái khi bình minh ló dạng." Chúng đi khỏi. Tom lấy ra con dao ăn và một hòn đá cứng nhỏ và bắt đầu mài lưỡi dao cho sắc. Agnes lại rên. Tom bỏ con dao xuống và cầm lấy tay bà. Ông đã ngồi với bà như thế này khi những đứa con khác được sinh ra: Alfred; rồi Matilda, đứa bé đã mất khi được hai tuổi; và Martha; và đứa khác đã chết khi sinh ra, một đứa con trai mà ông đã ngấm ngầm dự định đặt tên là Harold. Nhưng mỗi lần đều có người giúp đỡ và trấn an – mẹ Agnes giúp Alfred, một nữ hộ sinh trong làng giúp Matilda và Harold, và một bà trong ấp giúp Martha. Lần này ông phải tự làm lấy một mình. Nhưng ông không được tỏ ra lo lắng: ông phải làm cho bà cảm thấy hạnh phúc và tin tưởng. Bà nhẹ nhõm khi cơn co thắt qua đi. Tom nói: "Em có nhớ khi Martha được sinh ra, bà Isabella đã giúp như một nữ hộ sinh?" Agnes mỉm cười. "Khi đó anh đang xây một nhà nguyện và anh yêu cầu bà sai người giúp việc đi đem bà đỡ từ làng về… Và bà ấy nói: ' bà phù thủy say rượu đó ư?' Và bà đưa chúng ta vào phòng của bà, và chủ Robert đã không thể lên giường cho đến khi Martha được sinh ra." "Bà ấy là người đàn bà tốt." "Không có nhiều người phụ nữ giống bà ấy." Alfred trở về với chiếc nồi đầy nước. Tom để nó xuống gần đống lửa, không gần quá vì sợ nó sôi, chỉ để gần để có nước ấm. Agnes thò tay vào trong áo khoác, lấy ra một túi lụa nhỏ có đựng một miếng giẻ sạch mà bà đã chuẩn bị. Martha trở lại, tay cầm đầy lau sậy. Cô ngồi xuống tuốt lá. "Bố cần vòng sậy để làm gì?" cô hỏi. "Một việc rất quan trọng, rồi con sẽ thấy," Tom nói. "Hãy làm thật tốt." Alfred nhìn bồn chồn và bối rối. "Con đi thu thêm củi," Tom nói với cậu. "Hãy làm một đống lửa lớn hơn." Cậu trai ra đi, vui vì có cái gì đó để làm. Khuôn mặt của Agnes căng thẳng khi bà bắt đầu rặn, đẩy đứa nhỏ ra khỏi bụng, tạo ra một tiếng động giống như một cây rung rinh trong bão. Tom có thể nhìn thấy rằng sự cố gắng này lấy đi sức mạnh dự trữ cuối cùng của bà; và ông ước muốn với tất cả tâm hồn rằng ông có thể rặn thay bà, chịu đựng thay cho bà và cho bà một chút nhẹ nhàng. Sau cùng, dường như sự đau đớn giảm dần, và Tom có thể thở. Agnes dường như chìm vào giấc ngủ. Alfred trở về, trên tay đầy củi. Agnes tỉnh lại và nói. "Em lạnh quá." Tom nói: "Alfred, hãy đốt thêm lửa. Martha, nằm xuống bên mẹ và giữ cho mẹ ấm." Cả hai vâng lời với đôi mắt lo âu. Agnes vòng tay ôm Martha và giữ chặt cô, run rẩy. Tom đầy lo âu. Ngọn lửa bùng lên, nhưng không khí lại lạnh hơn. Nó dường như quá lạnh đến nỗi nó có thể giết chết đứa bé qua hơi thở đầu tiên của nó. Sinh ra ở ngoài đường là chuyện đã được biết tới; trong thực tế nó thường xẩy ra trong mùa gặt, khi mọi người quá bận rộn và người đàn bà phải làm cho tới giây phút cuối; nhưng trong mùa gặt mặt đất khô ráo, cỏ mềm mại và không khí dịu dàng. Ông đã chẳng bao giờ nghe nói về đàn bà sinh con bên ngoài trong mùa đông. Agnes rướn người, chống mình trên khuỷu tay và dang rộng chân. "Cái gì vậy?" ông hỏi bằng giọng sợ hãi. Bà quá căng thẳng để trả lời. Tom nói: "Alfred, hãy quỳ sau lưng mẹ, cho mẹ dựa lưng vào." Khi Alfred vào vị trí, Tom mở áo choàng của Agnes và mở cúc váy. Quỳ giữa hai chân bà, ông có thể nhìn thấy cửa miệng đã rộng ra một chút. "Không lâu đâu em," ông thì thầm, cố giữ giọng nói không run vì lo sợ. Bà thoải mái ra, nhắm nghiền đôi mắt và dựa thân mình vào Alfred. Cửa miệng dường như đã co lại một chút. Rừng như im lặng, chỉ còn tiếng lửa kêu lách tách. Bất thình lình Tom nghĩ về người phụ nữ sống bên ngoài pháp luật, Ellen, đã sinh con một mình trong rừng. Thật đáng sợ. Bà lo sợ một con sói có thể đến trong lúc bà bất lực và tha đứa trẻ mới sinh đi, bà ấy đã kể. Năm nay sói táo bạo hơn bình thường, người ta nói, nhưng chắc chắn chúng sẽ không dám tấn công một nhóm bốn người. Agnes căng thẳng thêm và những hạt mồ hôi xuất hiện trên khuôn mặt méo mó của bà. Lần này đứa bé sẽ ra, Tom nghĩ. Ông sợ hãi. Ông xem cửa miệng một lần nữa, và lần này ông có thể nhìn thấy, qua ánh sáng của đống lửa, mái tóc đen của đầu em bé đang được đẩy ra. Ông nghĩ đến cầu nguyện, nhưng bây giờ không còn thời gian để cầu nguyện. Agnes bắt đầu thở ngắn và nhanh. Cửa miệng giãn nở rộng hơn – rộng không thể tin được - và chiếc đầu đứa bé đi xuyên qua, mặt úp xuống. Một lúc sau Tom nhìn thấy đôi tai nhăn bên cạnh đầu đứa bé, rồi làn da gấp nơi cổ. Ông chưa có thể xác nhận được đứa bé có bình thường không. "Đầu nó ra rồi," ông nói, nhưng Agnes biết điều đó, dĩ nhiên, bởi vì bà có thể cảm thấy nó, và bà thấy thoải mái hơn. Chậm rãi đứa bé quay lại, vì thế Tom có thể nhìn thấy đôi mắt nhắm và cái miệng ướt đầy máu và các chất lỏng trong lòng mẹ. Martha kêu lên: "Ôi! Hãy nhìn khuôn mặt nhỏ xíu của nó kìa!" Agnes nghe cô nói, mỉm cười, rồi lại căng thẳng trở lại. Tom cúi xuống giữa hai đùi của bà và đỡ chiếc đầu nhỏ bằng bàn tay trái khi vai nó ra, trước hết một bên, rồi hai bên. Sau đó, phần còn lại của cơ thể tuột ra nhanh chóng, và Tom đặt bàn tay phải dưới mông đứa bé và giữ nó khi bàn chân bé nhỏ đó trườn vào sự lạnh lẽo của thế giới. Cửa miệng của Agnes bắt đầu đóng lại ngay xung quanh sợi dây rốn màu xanh bắt đầu từ chiếc rốn của đứa bé. Tom nhấc đứa bé và xem xét nó một cách lo lắng. Có nhiều máu, và ông sợ có điều gì ghê gớm không đúng xẩy ra; nhưng qua sự kiểm soát cẩn thận ông không thấy thương tích nào. Ông nhìn vào giữa hai chân đứa bé. Nó là con trai. "Trông nó ghê gớm!" Martha nói. "Nó hoàn hảo," Tom nói, và ông cảm thấy nhẹ mình. "Một đứa con trai hoàn hảo." Đứa bé mở miệng và khóc. Tom nhìn Agnes. Ánh mắt họ gặp nhau và họ mỉm cười. Tom ôm đứa bé mỏng manh sát vào ngực mình. "Martha, lấy cho bố một bát nước từ trong nồi." Cô nhẩy lên để làm điều ông ra lệnh. "Miếng giẻ để ở đâu, Agnes?" Agnes chỉ vào túi bằng lụa nằm trên mặt đất bên cạnh vai bà. Alfred đưa nó cho Tom. Khuôn mặt cậu tràn nước mắt. Đây là lần đầu tiên cậu nhìn thấy đứa trẻ được sinh ra. Tom nhúng miếng giẻ vào bát nước nóng và nhẹ nhàng rửa sạch máu và nước nhờn trên mặt đứa bé. Agnes cởi hàng cúc phía trước của áo dài và Tom đặt đứa bé vào vòng tay bà. Nó vẫn khóc. Tom quan sát, sợi dây rốn màu xanh từ bụng đứa bé đến háng của Agnes ngừng đập, teo lại và biến thành màu trắng. Tom nói với Martha: "Con đưa cho bố những sợi dây con làm. Bây giờ con sẽ thấy công dụng của nó." Cô đưa cho ông hai sợi dây làm bằng lau sậy. Ông cột chung quanh giây rốn ở hai nơi, kéo nút cột chặt lại. Rồi ông dùng dao cắt dây rốn giữa hai nút cột. Ông ngồi xuống trên chân mình. Họ đã vượt qua. Điều nguy hiểm nhất đã qua và đứa bé mạnh khỏe. Ông cảm thấy tự hào. Agnes di chuyển đứa bé để mặt nó áp vào ngực bà. Miệng nhỏ xíu của nó tìm núm vú to của bà, ngừng khóc và bắt đầu mút. Martha nói bằng giọng hí hửng: "Làm sao nó biết nó phải làm điều đó?" "Đó là một mầu nhiệm," Tom nói. Ông đưa bát cho cô và nói: "Lấy cho mẹ con một ít nước sạch để uống." "Vâng," Agnes nói với lòng biết ơn, như thể bà vừa nhận ra rằng bà quá khát. Martha đem nước đến và bà uống sạch. "Thật tuyệt vời," bà nói. "Cảm ơn con." Bà nhìn xuống đứa bé đang bú, rồi nhìn lên Tom. "Anh là người đàn ông tốt," bà lặng lẽ nói. "Em yêu anh." Tom thấy nước mắt mình rơi. Ông mỉm cười với bà, rồi cúi xuống nhìn. Ông thấy bà vẫn ra nhiều máu. Sợi dây rốn nằm cuộn tròn trong vũng máu trên áo khoác của Tom, giữa chân của Agnes. Ông nhìn lên lần nữa. Đứa bé đã thôi bú và chìm vào giấc ngủ. Agnes phủ chiếc áo choàng lên nó, rồi bà nhắm mắt lại. Một lúc sau, Martha nói với Tom: "Bố đang chờ gì thế" "Nhau thai," Tom nói với cô. "Cái đó là cái gì?" "Rồi con sẽ thấy." Bà mẹ và đứa bé ngủ vùi một lúc, rồi Agnes mở mắt. Bắp thịt của bà căng thẳng, cửa mình của bà giãn ra một chút và nhau thai xuất ra. Tom cầm lấy nó trong tay và quan sát nó. Nó giống như cái gì đó trên bàn hàng thịt. Nhìn kỹ hơn ông thấy dường như nó bị rách, như thiếu một miếng. Nhưng ông chẳng bao giờ nhìn kỹ nhau thai, và ông cho rằng nó luôn luôn như thế, bởi vì luôn luôn nó phải tách ra từ dạ mẹ. Ông cho nó vào lửa. Khi nó cháy, nó có một mùi khó chịu, nhưng nếu ông ném nó đi, nó sẽ thu hút cáo và ngay cả chó sói đến. Agnes vẫn còn chẩy máu. Tom nhớ rằng bao giờ nhau thai cũng đi ra theo máu, nhưng ông không nhớ nhiều lắm. Ông nhận ra rằng sự nghiêm trọng chưa qua khỏi. Ông cảm thấy mệt vì sự căng thẳng và vì thiếu ăn; nhưng sự làm việc say mê đã giúp ông vượt qua và ông ghìm mình lại. "Em vẫn còn ra máu, một ít," ông nói với Agnes, cố gắng để âm thanh không mang theo sự lo lắng như ông đang có. "Nó sẽ ngưng thôi," bà nói. "Hãy đắp cho em." Tom cài nút chiếc váy của bà, rồi quấn áo khoác chung quanh chân bà. Alfred hỏi: "Bây giờ con có thể nghỉ một chút không?" Cậu vẫn còn quỳ đàng sau Agnes và đỡ bà. Cậu chắc bị tê, Tom nghĩ, vì ở mãi trong một tư thế. "Bố sẽ thay con," Tom nói. Agnes sẽ thoải mái hơn với đứa bé nếu nửa phần trên của bà nằm cao hơn, ông nghĩ; và một thân thể đàng sau bà cũng giữ bà ấm và bảo vệ bà khỏi gió. Ông đổi chỗ cho Alfred. Alfred lẩm bẩm vì đau khi duỗi chân ra. Tom vòng tay quanh Agnes và đứa bé. "Em cảm thấy thế nào?" ông hỏi bà. "Chỉ thấy mệt." Đứa bé khóc. Agnes di chuyển để nó có thể tìm thấy núm vú. Khi nó bú, bà lại chìm vào giấc ngủ. Tom băn khoăn. Mệt mỏi là chuyện thường, nhưng đối với Agnes đó là một trạng thái hôn mê, điều đó làm ông lo lắng. Bà yếu quá. Đứa bé ngủ, và một lúc sau hai đứa trẻ cũng ngủ thiếp đi, Martha cuộn tròn bên Agnes và Alfred duỗi dài phía bên kia ngọn lửa. Tom giữ Agnes trong vòng tay, vuốt ve bà nhẹ nhàng. Lâu lâu ông lại hôn lên trán bà. Ông cảm thấy cơ thể bà thoải mái hơn khi bà chìm sâu trong giấc ngủ. Có lẽ đó là điều tốt nhất cho bà, Tom quyết định. Ông sờ lên má bà. Da bà lạnh và ẩm ướt, mặc dù ông đã cố gắng giữ cho bà ấm. Ông đưa tay vào trong áo choàng và sờ lên ngực đứa bé. Đứa bé ấm và tim nó đập mạnh. Tom mỉm cười. Một đứa bé dẻo dai; một đứa bé sống sót. Agnes xúc động. "Tom?" "Em." "Anh có nhớ đêm em đến với anh, trong căn lều của anh, khi anh còn làm việc cho nhà thờ của bố em?" "Dĩ nhiên rồi," ông nói, vỗ nhẹ vào bà. "Làm sao anh có thể quên được?" "Em chẳng bao giờ hối hận đã trao thân cho anh. Chẳng một lúc nào. Mỗi khi em nghĩ về buổi tối đó, em rất hạnh phúc." Ông mỉm cười. Ông vui vì được biết điều đó. "Anh cũng vậy," ông nói. "Anh rất vui vì em đã làm điều đó." Bà thiếp ngủ một lúc, rồi lại nói: "Em hy vọng anh sẽ xây nhà thờ chính tòa của anh." Ông ngạc nhiên. "Anh cứ nghĩ là em chống lại chuyện đó." "Vâng, nhưng em sai. Anh xứng đáng cho một cái gì đó thật tuyệt vời." Ông không hiểu bà muốn nói gì. "Hãy xây một ngôi nhà thờ chính tòa thật đẹp cho em," bà nói. Bà không hoàn toàn tỉnh táo. Ông vui khi bà thiếp ngủ một lần nữa. Lần này cơ thể bà ủ rũ, đầu bà nghiêng qua một bên. Tom đỡ đứa bé để đầu nó không rớt khỏi ngực bà. Họ nằm như vậy một lúc lâu. Cuối cùng em bé thức dậy và khóc. Agnes không trả lời. Tiếng khóc đánh thức Alfred và cậu lăn qua nhìn vào em mình. Tom nhẹ nhàng lay Agnes. "Thức dậy đi em," ông nói. "Con đòi ăn." "Bố ơi!" Alfred nói trong sợ hãi. "Hãy nhìn vào mặt mẹ." Tom có linh tính. Bà đã chẩy quá nhiều máu. "Agnes!" ông nói. "Dậy đi em!" Không có trả lời. Bà bất tỉnh. Ông bật dậy, đặt bà nằm thẳng xuống trên nền đất. Mặt bà trắng khủng khiếp. Tiên đoán những gì kinh khủng sẽ đến, ông mở nếp gấp của áo choàng quanh đùi bà. Máu ở khắp nơi. Alfred thở hổn hển. Tom thì thầm: "Xin Chúa Giêsu Kitô cứu chúng con." Tiếng đứa bé khóc đánh thức Martha. Cô thấy máu và hét lên. Tom bế cô lên, đánh lên má cô. Cô im lặng. "Đừng la to," ông bình tĩnh nói và đặt cô xuống đất. Alfred hỏi: "Có phải mẹ mất rồi không?" Tom đặt tay lên ngực Agnes, ngay phía bên trái ngực bà. Tim không còn đập. Không còn nhịp tim. Ông nhấn mạnh hơn. Da thịt bà ấm áp, và phần dưới ngực nặng của bà đụng vào tay ông, nhưng bà không còn thở, và không còn nhịp tim. Một cái lạnh tê cóng ụp xuống trên Tom như một lớp sương mù. Bà đã đi. Ông nhìn chằm chằm vào khuôn mặt bà. Làm sao mà bà lại không còn ở đây được? Tom muốn bà cử động, mở đôi mắt, lôi kéo hơi thở. Ông giữ tay trên ngực bà. Một đôi khi trái tim có thể hoạt động lại, người ta nói như vậy – nhưng bà đã mất quá nhiều máu… Ông nhìn Alfred. "Mẹ đã qua đời," ông thì thào. Alfred nhìn vào ông im lặng. Martha bắt đầu khóc. Tôi phải chăm sóc chúng, Tom nghĩ. Tôi phải vì chúng mà mạnh mẽ. Nhưng Tom muốn khóc, muốn đặt vòng tay xung quanh bà và giữ thân thể bà khỏi lạnh dần, và nhớ lại khi bà còn là một thiếu nữ, rồi cười nói, rồi yêu nhau. Ông khóc thổn thức, giơ nắm tay lên trời vô tình. Ông nén tim ông. Ông phải tỉnh táo, phải mạnh mẽ vì những đứa con. Không có nước mắt chẩy trên mặt ông. Ông nghĩ: Tôi phải làm gì trước? Đào một huyệt. Tôi phải đào một huyệt sâu, đặt bà nằm trong đó để tránh chó sói, và bảo vệ xương cốt của bà cho đến ngày phán xét; và rồi đọc kinh cho linh hồn bà. Ôi Agnes, Tại sao em lại để anh một mình? Đứa bé mới sinh vẫn đang khóc. Mắt nó nhắm nghiền, và miệng nó đóng mở nhịp nhàng như nó có thể nhận lương thực từ không khí. Nó cần ăn. Ngực của Agnes căng đầy sữa ấm. Tại sao không? Tom nghĩ. Ông chuyển đứa bé về phía ngực bà. Đứa bé tìm thấy núm vú và bú. Tom quấn áo choàng của Agnes chặt hơn xung quanh đứa bé. Martha chăm chú nhìn, mắt mở to, miệng mút ngón tay. Tom nói với cô: "Con có thể giữ em ở đó để nó không rớt xuống không?" Cô gật đầu rồi quỳ xuống bên cạnh người mẹ đã chết và đứa em. Tom nhặt chiếc xẻng. Bà đã chọn vị trí này để nghỉ, và bà đã ngồi dưới bóng cây hạt dẻ. Hãy chọn nơi này làm nơi cho bà an nghỉ. Ông thổn thức, chiến đấu chống lại sự lôi cuốn muốn ngồi xuống mà khóc. Ông đánh dấu một hình vuông trên mặt đất, vài mét xa khỏi gốc cây, nơi không có rễ cây; sau đó ông bắt đầu đào. Công việc làm ông thoải mái ra. Khi ông tập trung cắm chiếc xẻng xuống mặt đất khô cằn và hất đất đi, phần tâm trí còn lại của ông trở nên trống rỗng và ông tìm được bình tĩnh. Ông thay đổi với Alfred, bởi vì cậu cũng có thể tìm thấy sự thoải mái trong công việc chân tay đều đặn. Họ đào nhanh, cố gắng nhiều, và mặc dù trời lạnh buốt, cả hai đổ mồ hôi như trời đang nóng ban trưa. Đến lúc Alfred nói: "Như vậy chưa đủ sao?" Tom nhận ra rằng ông đang đứng trong một hố sâu, sâu bằng chiều cao của ông. Ông không muốn công việc chấm dứt. Ông miễn cưỡng gật đầu. "Được rồi," ông nói. Rồi ông trèo ra ngoài. Bình minh đã lên khi ông đào xong. Martha đã bế đứa bé lên, ngồi bên đống lửa và ru nó. Tom đến gần Agnes và quỳ xuống. Ông quấn áo choàng chặt quanh người bà, để chừa mặt bà ra, rồi bế bà lên. Ông đi đến ngôi mộ và đặt bà nằm bên cạnh. Rồi ông nhẩy xuống hố. Ông đưa bà xuống, đặt bà nhẹ nhàng trên mặt đất. Ông nhìn bà một lúc lâu, quỳ xuống bên cạnh bà trong ngôi mộ lạnh lẽo của bà. Ông hôn môi bà lần cuối, một cách dịu dàng. Rồi ông vuốt mắt bà. Ông trèo lên khỏi ngôi mộ. "Các con hãy đến đây," ông nói. Alfred và Martha đến gần, mỗi người đứng một phía bên ông, Martha ôm em bé. Tom đặt vòng tay xung quanh mỗi đứa. Họ nhìn vào mộ, Tom nói: "Các con hãy nói: Xin Chúa chúc phúc cho mẹ con!" Cả hai cùng nói: "Xin Chúa chúc phúc cho mẹ con." Martha thổn thức và nước mắt của Alfred chẩy ra. Tom ôm cả hai con vào lòng và nuốt dòng nước mắt của mình. Ông buông chúng và nhặt chiếc xẻng lên. Martha hét lớn khi ông hất xẻng đất đầu tiên xuống mộ. Alfred đặt cánh tay quanh em gái. Tom tiếp tục xúc. Ông không thể chị đựng được khi hất đất lên mặt bà, vì thế ông phủ đất từ bàn chân bà, rồi chân bà và mình bà, và chất đất thành đống cao, tạo thành một gò đất, vì thế mà mỗi xẻng đất sau đó chẩy xuống, phủ cổ bà, rồi miệng bà mà ông đã hôn, và sau cùng khuôn mặt bà bị phủ kín, không bao giờ còn được nhìn thấy một lần nữa. Ông nhanh chóng đổ đất đầy ngôi mộ. Khi xong việc, ông đứng nhìn gò đất. "Vĩnh biệt em, em yêu," ông thì thầm. "Em là người vợ tốt, và anh yêu em." Với một cố gắng, ông quay đi. Chiếc áo choàng của ông vẫn còn trên mặt đất nơi Agnes đã nằm sinh con. Nửa dưới đẫm ướt với nước đã đóng băng và máu khô. Ông lấy dao và cắt vào giữa áo khoác. Ông ném phần có máu vào trong lửa. Martha vẫn ôm em. "Đưa em cho bố," Tom nói. Cô nhìn chằm chằm vào ông với sự sợ hãi trong ánh mắt. Ông quấn đứa bé trần truồng trong phần sạch của áo khoác và đặt nó trên mộ. Đứa bé khóc. Ông quay về phía các con. Chúng nhìn ông chằm chằm, yên lặng. Ông nói: "Chúng ta không có sữa để cho em bé sống, vì thế nó sẽ phải ở lại đây với mẹ nó." Martha nói: "Nhưng em sẽ chết." "Đúng," Tom nói, kiềm giọng nói thật cứng. "Bất cứ chúng ta làm gì, đứa bé cũng sẽ chết." Ông ước muốn đứa bé ngừng khóc. Ông thu thập tài sản còn lại và đặt chúng vào trong nồi, rồi đeo nồi sau lưng, như Agnes vẫn làm. "Chúng ta đi," ông nói. Martha bắt đầu sụt sùi. Alfred mặt trắng bệch. Họ lên đường trong ánh sáng xám của một buổi sáng trời lạnh. Sau cùng tiếng khóc của đứa bé yếu dần rồi biến mất. Ở lại bên ngôi mộ không tốt, vì các đứa trẻ không thể ngủ ở đó, và một đêm canh thức cũng không mang lại gì. Vì thế, tiếp tục di chuyển sẽ tốt hơn cho mọi người. Tom bước nhanh, nhưng tư tưởng của ông bây giờ bay nhẩy tự do, ông không còn kiểm soát được chúng. Không có gì để làm, trừ đi bộ: không có thỏa thuận để thực hiện, không có việc để làm, không có gì để lên kế hoạch, không có gì để nhìn vào, ngoài trừ khu rừng ảm đạm và bóng đêm chập chờn trong ánh đuốc. Ông nghĩ về Agnes, lần theo dấu kỷ niệm, rồi tự mỉm cười, và nói với bà những gì ông nhớ; sau đó ông bàng hoàng khi nhận ra là bà đã chết, sự bàng hoàng như một nỗi đau thể lý giáng xuống trên ông. Ông thấy mình lúng túng, như thể một cái gì đó hoàn toàn không thể hiểu nổi đã xẩy ra, mặc dù chết khi sinh con là chuyện thường tình trong thế giới phụ nữ trong lứa tuổi của bà, và góa vợ trong thế giới đàn ông trong lứa tuổi của ông. Nhưng cảm giác về sự mất mát như một vết thương đau. Ông đã nghe nói rằng những người bị cắt những ngón chân không thể đứng lên được và luôn luôn bị ngã cho đến khi họ học đi. Ông cảm thấy giống như vậy, như một phần của ông bị cắt bỏ, và ông không thể quen được với tư tưởng rằng nó đã mất vĩnh viễn. Ông cố gắng không nghĩ về bà, nhưng ông vẫn nhớ bà ra sao khi bà chết. Nó dường như không thể tin được là mới cách đây mấy giờ bà vẫn sống, và bây giờ bà không còn nữa. Ông nhớ lại khuôn mặt bà, khi bà cố sức sinh con và nụ cười hãnh diện khi bà nhìn vào đứa bé. Ông nhớ lại những gì bà nói với ông sau đó: Em hy vọng anh sẽ xây nhà thờ chính tòa của anh; và sau đó, xây một nhà thờ chính tòa thật đẹp cho em. Bà đã nói như thể bà biết là bà sẽ chết. Khi tiếp tục đi, ông nghĩ nhiều hơn về đứa bé ông đã để lại, quấn trong nửa áo choàng, nằm trên ngôi mộ mới. Có lẽ nó vẫn sống, trừ khi một con cáo đã ngửi thấy mùi nó. Tuy nhiên nó sẽ chết trước khi mặt trời lên. Nó sẽ còn khóc một lúc nữa, rồi nó sẽ nhắm mắt lại. Trong giấc ngủ nó sẽ bị cảm lạnh, và đời nó sẽ trôi qua nhanh chóng. Trừ khi một con cáo đã ngửi thấy mùi của đứa bé. Tom không thể làm được gì cho đứa bé. Nó cần sữa để sống còn, nhưng ông không có: không có làng xóm nơi Tom có thể tìm thấy một người cho nó bú, không có cừu, dê hay bò để cung cấp những gì tương tự cần thiết. Tất cả những gì ông có thể cho nó là củ cải, và chắc chắn củ cải cũng giết nó như con cáo. Càng đi việc nghĩ đến đứa bé bị bỏ rơi càng làm ông khinh hoàng. Ông biết, nó là một điều thường xẩy ra: Những nông dân có gia đình lớn và nông trại nhỏ, thường bỏ rơi trẻ sơ sinh cho chết, và đôi khi vị linh mục cũng ngoảnh mặt làm ngơ; nhưng Tom không thuộc nhóm người đó, ông nghĩ. Ông sẽ mang nó trên tay cho đến khi nó chết, và rồi chôn nó. Dĩ nhiên nó không mang lại gì, nhưng nó là những điều hợp lý cần phải làm. Ông nhận ra trời đã sáng. Đột nhiên ông dừng lại. Các đứa trẻ đứng yên, nhìn chằm chằm vào ông chờ đợi. Chúng đã sẵn sàng cho mọi chuyện; không còn gì là bình thường nữa. "Bố không nên bỏ rơi em," Tom nói. Alfred nói: "Nhưng chúng ta không thể nuôi em. Em đã gắn liền với sự chết." "Tuy nhiên bố không nên bỏ rơi em," Tom nói. Martha nói: "Chúng ta quay trở lại." Tom vẫn còn do dự. Quay trở lại nghĩa là thừa nhận mình đã sai khi bỏ rơi đứa bé. Nhưng đó là sự thật. Ông đã sai. Ông quay người lại. "Đúng," ông nói. "Chúng ta quay lại." Bây giờ tất cả những nguy hiểm mà trước đó ông cố gắng coi thường dường như bất ngờ lại có khả năng xẩy ra hơn. Chắc chắn một con cáo đã đánh mùi thấy đứa bé, và đã tha đứa bé đến hang của nó. Hay có thể đó là một con chó sói. Lợn rừng cũng nguy hiểm, mặc dù chúng không ăn thịt. Và còn con cú thì sao? Một con cú không thể tha đứa bé đi được, nhưng nó có thể mổ mắt đứa bé. Ông bước nhanh hơn, cảm thấy choáng váng vì kiệt sức và đói. Martha phải chạy để theo kịp ông, nhưng cô không kêu ca. Ông rất sợ những gì ông sẽ nhìn thấy khi trở lại ngôi mộ. Thú ăn thịt rất tàn nhẫn, và chúng biết khi nào một sinh vật không còn tự lực được. Ông không chắc chắn họ đã đi được bao xa: ông đã mất cảm giác về thời gian. Khu rừng hai bên đường dường như lạ lẫm, mặc dù ông vừa đi qua đó. Ông lo lắng tìm kiếm mảnh đất nơi ngôi mộ được chôn. Chắc chắn ngọn lửa chưa tàn – họ đã đốt nó rất cao… ông xem xét kỹ các cây, tìm kiếm chiếc lá đặc biệt của loài dẻ ngựa. Họ đi đến một khúc quoanh mà ông không nhớ và ông bắt đầu tự hỏi, có phải ông đã đi qua ngôi mộ mà không nhìn thấy nó, sau đó ông nhìn thấy một ánh sáng màu cam mờ phía trước. Trái tim ông dường như ngừng đập. Ông bước nhanh hơn và đôi mắt mở rộng. Vâng, đó là một đống lửa. Ông chạy nhanh. Ông nghe Martha la to, có lẽ cô nghĩ là ông bỏ rơi cô, và ông gọi to: "Chúng ta đến nơi rồi!" và ông nghe tiếng bước chân hai đứa trẻ đàng sau ông. Ông đến ngang tầm với cây hạt dẻ ngựa, tim ông đập thình thịch trong lồng ngực. Ngọn lửa vẫn cháy. Có đống gỗ. Có mảng máu trên mặt đất nơi Agnes đã chảy máu đến chết. Có ngôi mộ, một u đất mới mà dưới đó bà đang nằm. Và trên ngôi mộ không có gì. Tom điên cuồng nhìn quanh, tâm trí của ông hỗn loạn. Không có dấu hiệu gì về đứa bé. Dòng nước mắt thất vọng chảy trên mắt Tom. Ngay cả nửa mảnh áo choàng quấn đứa bé cũng biến mất. Tuy nhiên ngôi mộ không bị xáo trộn – không có dấu chân của thú vật trên mặt đất mềm, không có máu, không có dấu hiệu là đứa bé đã bị kéo đi… Tom bất ngờ cảm thấy là ông không còn nhìn thấy rõ nữa, ngay cả ông không còn suy nghĩ được nữa. Bây giờ ông biết ông đã làm một điều khủng khiếp là bỏ rơi đứa bé khi nó vẫn còn sống. Khi ông biết nó đã chết, ông có thể nhắm mắt ngủ. Nhưng có lẽ nó vẫn còn sống ở một nơi nào đó, một nơi rất gần. Ông quyết định đi xung quanh tìm nó. Alfred hỏi: "Bố đi đâu?" "Chúng ta phải đi tìm em," ông nói với các con. Ông để chúng đi xung quanh, xa ngọn lửa, xuyên qua bụi cây. Ông cảm thấy bối rối, nhưng ông cố gắng tập trung vào một việc, một việc cấp thiết là tìm ra đứa bé. Giờ này ông không cảm thấy đau buồn, ông chỉ còn một quyết tâm khốc liệt, mạnh mẽ và trong tâm trí một nhận biết kinh hoàng rằng tất cả việc này là do lỗi của ông. Ông mò mẫm trong rừng, bới tung mặt đất bằng đôi mắt, lâu lâu dừng bước lại để nghe ngóng tiếng khóc đều đều không thể nhầm lẫn được của trẻ sơ sinh; nhưng khi ông và các con yên lặng, khu rừng cũng lặng im. Ông đã mất dấu tích thời gian. Ông không còn biết ông đã đi bao lâu. Ông đi theo vòng tròn, nên một lúc sau ông lại trở về chốn cũ, nhưng khoảng thời gian của mỗi vòng mỗi lúc một lâu hơn. Ông tự hỏi tại sao ông chưa đi qua túp lều của viên kiểm lâm và ông mơ hồ biết rằng ông đã lạc lối, và có lẽ ông không còn đi vòng quanh ngôi mộ, mà thay vào đó ông đã ngẫu nhiên đi xuyên qua rừng; nhưng điều đó không quan trọng, miễn là ông vẫn tiếp tục tìm kiếm. "Bố ơi!" Alfred nói. Tom nhìn cậu, tức tối vì dòng tư tưởng bị ngắt ngang. Alfred cõng Martha, cô dường như ngủ vùi trên lưng anh. Tom hỏi: "Gì vậy con?" "Chúng ta có thể nghỉ một chút không?" Alfred hỏi. Tom do dự. Ông không muốn dừng lại, nhưng Alfred trông như muốn gục. "Được," ông nói miễn cưỡng. "Nhưng không quá lâu." Họ đang lên dốc. Có lẽ có một dòng nước dưới chân dốc. Ông khát. Ông đỡ lấy Martha, bế cô trong tay và đi xuống dốc. Như mong đợi, ông tìm thấy một dòng suối nhỏ trong lành, các bờ rìa đã đóng băng. Ông đặt Martha xuống bên bờ. Cô không tỉnh dậy. Ông và Alfred quỳ xuống, múc nước lạnh trong tay. Alfred nằm xuống bên cạnh Martha và nhắm mắt lại. Tom nhìn quanh. Ông ở trong một khoảng rừng thưa đầy lá rụng. Hàng cây xung quanh thấp, cây sồi rậm rạp, những cành trần quấn vào với nhau trên đầu. Tom đi ngang cánh rừng thưa, nghĩ sẽ tìm ra đứa bé đàng sau hàng cây, nhưng khi ông đến được phía bên kia, chân ông rã rời và ông buộc phải ngồi xuống đột ngột. Trời đầy ánh sáng ban ngày, nhưng sương mù bao phủ và dường như trời không ấm hơn so với nửa đêm. Ông run rẩy, không còn kiểm soát được mình. Ông nhận ra rằng ông đã đi loanh quoanh mà chỉ mặc có chiếc áo trong. Ông ngạc nhiên không biết chiếc áo khoác của ông ở đâu, nhưng ông không còn nhớ được. Có thể vì sương mù hay mắt ông có chuyện gì xẩy ra, bởi vì ông không còn có thể nhìn thấy những đứa con ở phía xa bên kia khu rừng thưa. Ông muốn chỗi dậy đi về phía chúng, nhưng chân ông có một cái gì đó không ổn. Một lúc sau, ánh sáng mặt trời yếu ớt xuyên qua đám mây, và chẳng bao lâu sau thiên thần xuất hiện. Bà đến từ hướng đông, mặc một chiếc áo choàng mùa đông bằng lông cừu, tất cả màu trắng. Ông nhìn bà đến gần mà không ngạc nhiên hay tò mò. Ông nhìn bà bằng ánh mắt vô tri, trống rỗng, không cảm xúc như thể ông nhìn vào những cây sồi to lớn xung quanh. Khuôn mặt trái soan của bà được che bởi mái tóc đen rậm, và áo choàng che giấu bàn chân, vì thế mà dường như bà lướt đi trên lá khô. Bà dừng lại trước mặt ông, và đôi mắt vàng ròng nhạt của bà dường như có thể nhìn vào tâm hồn ông và hiểu nỗi đau của ông. Bà nhìn quen thuộc, như gần đây ông đã nhìn thấy hình thiên thần này trong một nhà thờ nào đó. Rồi bà cởi áo khoác. Dưới lớp áo đó bà trần truồng. Bà có thân thể của một phụ nữ trần gian vào lứa tuổi giữa đôi mươi, với làn da nhợt nhạt và núm vú hồng. Tom luôn luôn cho rằng thân thể thiên thần hoàn toàn không có lông, nhưng thiên thần này là một ngoại lệ. Bà ngồi xuống trên đầu gối trước mặt ông, nơi ông ngồi gác chân lên nhau dưới một cây sồi. Bà nghiêng người về phía ông và hôn vào môi ông. Ông đã quá choáng váng bởi cú sốc trước đó, nên không có thể cảm nhận được sự ngạc nhiên vào lúc này. Bà đẩy ông xuống nhẹ nhàng cho đến khi ông nằm thẳng, rồi bà cởi áo choàng và nằm trên ông, ép chặt cơ thể trần truồng của bà vào ông. Ông cảm thấy hơi nóng của thân thể bà xuyên qua bộ áo trong của ông và ông ngừng run rẩy. Bà ôm khuôn mặt đầy râu của ông trong tay và hôn ông, khao khát, giống như một người uống một ly nước lạnh sau một ngày dài khô cổ. Lúc sau bà đưa tay lần theo cánh tay ông xuống đến cổ tay, rồi cầm bàn tay ông đưa lên ngực bà. Một cách phản xạ, ông nắm chặt chúng. Chúng mềm mại và săn chắc và núm vú bà căng lên dưới ngón tay ông. Trong tâm trí ông tưởng tượng mình đã chết. Thiên đường không được coi là như thế này, ông biết, nhưng ông hầu như không quan tâm. Ông đánh mất khả năng phê phán, khả năng suy tư hợp lý. Và ông để cho thân xác ông điều khiển. Ông rướn người lên, ép cơ thể ông mạnh vào bà, hút lấy sức mạnh từ hơi nóng và sự trần truồng của bà. Bà mở miệng và đẩy lưỡi bà vào miệng ông, tìm kiếm lưỡi ông, và ông hăm hở đáp lại. Bà đẩy mình ra xa ông một chút, nâng cao người lên khỏi thân thể ông. Ông quan sát, sững sờ, khi bà kéo chiếc váy lên cao, rồi bà ngồi trên ông. Với đôi mắt nhìn xuyên qua tất cả bà nhìn ông, rồi bà hạ mình xuống. Đó là giây phút trêu ngươi khi thân thể họ đụng nhau, và bà lưỡng lự; rồi ông cảm thấy mình ở trong bà. Nó là một cảm xúc của khoái lạc vô bờ, ông cảm thấy mình có thể nổ tung vì sung sướng. Bà cử động đôi hông, mỉm cười với ông và hôn lên khuôn mặt ông. Sau một thời gian ngắn, bà nhắm mắt lại, thở hổn hển, và ông hiểu rằng bà mất sự kiềm chế. Ông quan sát bà trong niềm đam mê khoái cảm. Bà thốt ra tiếng kêu nhỏ đều đặn, di chuyển nhanh hơn và nhanh hơn, và trạng thái ngây ngất của bà đụng đến chỗ sâu thẳm nhất trong tâm hồn bị thương của ông, đến nỗi ông không biết có nên khóc cho nỗi tuyệt vọng hay hét lên vì vui hay cười vì điên dại; và rồi sự bùng nổ của khoái cảm lắc mạnh họ như những cây bị giật trong cơn bão gió, một lần nữa và một lần nữa; cho đến khi niềm đam mê của họ giảm xuống, và bà ấy gục xuống trên ngực ông. Họ nằm như thế rất lâu. Sức nóng từ thân thể bà làm ông ấm lại. Ông trôi vào giấc ngủ nhẹ. Dường như nó ngắn, và nó giống như một giấc mơ ban ngày hơn là một giấc ngủ thật; nhưng khi ông mở mắt, tâm trí ông minh mẫn. Ông nhìn người phụ nữa trẻ nằm trên người ông, và ông nhận ra ngay bà không phải là một thiên thần, mà là người phụ nữ sống noài vòng pháp luật, Ellen, người mà ông đã gặp trong khu rừng vào ngày con heo bị mất. Bà cảm thấy ông nhúc nhích nên mở mắt ra, nhìn ông với cái nhìn vừa trìu mến vừa sợ hãi. Bất ngờ ông nghĩ đến các con. Ông lăn Ellen nhẹ nhàng sang bên rồi ngồi dậy. Alfred và Martha nằm trên lá, quấn mình trong áo choàng, và ánh mặt trời chiếu trên khuôn mặt đang ngủ của chúng. Sau đó những biến cố của tối hôm trước vụt trở lại với ông, và ông nhớ lại Agnes đã chết, và đứa trẻ mới sinh - con trai ông – đã biến mất; và ông vùi mặt vào hai bàn tay. Ông nghe Ellen huýt sáo, tiếng sáo có âm thanh lạ. Ông nhìn lên. Một nhân vật xuất hiện từ trong rừng, và Tom nhận ra đứa con trông kỳ dị của bà, Jack, với làn da trắng chết chóc và mái tóc màu cam và đôi mắt màu xanh tươi sáng giống chim. Tom đứng lên, chỉnh sửa lại quần áo, và Ellen cũng đứng, đóng lại áo khoác. Đứa bé mang theo vật gì đó, và cậu mang nó tới chỉ cho Tom. Tom nhận ra nó. Nó là nửa chiếc áo choàng mà Tom đã quấn đứa nhỏ trước khi đặt nó trên mộ của Agnes. Không thể hiểu được, Tom nhìn chằm chằm vào đứa bé và rồi vào Ellen. Bà nắm bàn tay ông trong tay bà, nhìn vào mắt ông, và nói: "Con ông vẫn sống." Tom không dám tin vào bà. Câu nói đó quá kỳ diệu, quá hạnh phúc. "Nó không thể còn sống," ông nói. "Nó còn sống." Tom bắt đầu hy vọng. "Thật không?" ông hỏi. "Thật không?" Bà gật đầu. "Thật. Em sẽ đưa anh đến đó." Tom nhận ra những gì bà muốn nói là thật. Một dòng của nhẹ nhàng và hạnh phúc đổ xuống trên ông. Ông khụy xuống, quỳ gối trên mặt đất; và rồi, sau cùng, giống như cửa thoát nước được mở, ông khóc. V "Jack nghe tiếng trẻ thơ khóc," Ellen giải thích. "Cậu ấy đang trên đường xuống suối, tới một nơi phía bắc của vùng này, nơi cậu có thể săn vịt bằng đá. Cậu không biết phải làm gì, vì thế cậu chạy về nhà gọi em ra. Nhưng trong khi chúng em trên đường đến đó, chúng em gặp một linh mục, cưỡi một con ngựa nhỏ, mang theo đứa bé." Tom nói: "Anh phải tìm ông ấy." "Đừng vội vàng," Ellen nói. "Em biết ông ấy ở đâu. Ông quẹo vào một con đường, rất gần ngôi mộ, một con đường dẫn tới một tu viện nhỏ ẩn trong rừng." "Đứa bé cần sữa." "Các tu sĩ có dê." "Tạ ơn Chúa," Tom nhiệt thành nói. "Em sẽ đưa anh tới đó, sau khi anh đã có cái gì để ăn," bà nói. "Nhưng…" bà cau mày. "Đừng vội nói với các con anh về tu viện." Tom liếc qua cánh rừng thưa. Alfred và Martha vẫn ngủ. Jack đã đến chỗ chúng nằm và nhìn chúng chằm chằm. "Tại sao không?" "Em không rõ lắm… Em chỉ nghĩ nếu đợi thì khôn ngoan hơn." "Nhưng con em sẽ nói với chúng." Bà lắc đầu. "Cậu ấy nhìn thấy vị linh mục, nhưng em không nghĩ cậu ấy biết hết việc còn lại." "Được." Tom nói nghiêm nghị. "Nếu anh đã biết em ở gần đây, em đã có thể cứu sống Agnes của anh." Ellen lắc đầu, và mái tóc đen nhẩy múa trên khuôn mặt bà. "Không có thể làm được gì đâu, ngoài việc giữ cho bà ấy được ấm, và anh đã làm điều ấy. Khi người đàn bà ra máu bên trong, một là nó ngưng và bà ấy cảm thấy khỏe hơn, hoặc nó không ngưng và bà ấy chết." Dòng nước mắt Tom chảy xuống, và Ellen nói: "Em xin lỗi." Tom gật đầu im lặng. Bà nói: "Nhưng người sống phải lo cho người sống, và anh cần đồ ăn nóng và chiếc áo choàng mới." Bà đứng lên. Họ đánh thức lũ trẻ. Tom nói với chúng rằng em bé được an toàn vì Ellen và Jack đã nhìn thấy một linh mục bế nó và một chút nữa Tom và Ellen sẽ đi tìm vị linh mục, nhưng trước hết Ellen muốn lo cho họ ăn. Các đứa trẻ đón nhận tin đáng ngạc nhiên này một cách bình thản: bây giờ không gì có thể làm cho chúng sửng sốt. Cũng như chúng, Tom cũng không còn có thể kinh ngạc. Đối với ông đời sống chuyển động quá nhanh, đã làm thay đổi tất cả. Nó giống như ngồi trên lưng con ngựa đang chạy trốn: mọi chuyện xẩy ra quá nhanh đến nỗi không còn có giờ để phản ứng lại với các biến cố, và tất cả những gì ông có thể làm là bám chặt và cố giữ bình tĩnh. Agnes đã sinh con trong đêm lạnh và đứa bé được sinh ra khỏe mạnh diệu kỳ. Mọi chuyện dường như ổn, nhưng Agnes, người bạn đời của Tom, đã chẩy máu và chết trên tay ông, và ông đã mất trí. Số phận của đứa bé dường như đã được định đoạt và họ bỏ nó lại trên mộ, sau đó họ vô vọng tìm nó. Rồi Ellen xuất hiện, và Tom đã tưởng bà là một thiên thần, và họ đã yêu nhau như trong mơ; và bà ấy nói đứa bé vẫn sống và được an toàn. Cuộc sống có bao giờ đi chậm lại hơn để Tom có thể nghĩ về những biến cố kinh hoàng này? Họ lên đường. Tom đã luôn luôn cho rằng những người sống ngoài vòng pháp luật là những người sống trong sự bẩn thỉu và cơ cực, nhưng Ellen không như ông nghĩ. Tom tò mò không biết nhà bà sẽ ra sao. Bà dẫn họ trên những con đường ngoằn nghèo xuyên qua rừng. Ở đó không có đường mòn, nhưng bà chẳng do dự bước qua con rạch, cúi mình dưới các lùm cây, vượt qua khu đầm lầy băng giá, vòng quanh các bụi rậm và thân cây to lớn của cây sồi gẫy đổ. Sau cùng bà đi về phía bụi cây dâu đen và dường như biến mất trong đó. Theo sau bà, Tom thấy rằng, trái với ấn tượng đầu tiên của ông, có một lối đi hẹp xuyên qua các bụi cây. Ông đi theo bà. Bụi dâu đen đan chéo làm thành mái vòm trên đầu ông và trong đó chỉ còn ánh sáng lờ mờ. Ông đứng yên, chờ cho mắt mình quen dần với bóng tối. Dần dần ông nhận ra ông đang ở trong một hang động. Không khí ấm. Đằng trước ông, một ngọn lửa âm ỉ trên một lò sưởi bằng đá phẳng. Khói bay thẳng lên: có một ống khói tự nhiên ở đâu đó. Tường hang động một bên được căng bằng da sói, bên kia bằng da hưu. Một đùi thịt hun khói treo từ mái hang trên đầu ông. Ông nhìn thấy một hộp tự làm đầy táo chua, nến bấc trên bờ tường, và lau sậy khô trên nền nhà. Trong một góc bếp một nồi đang nấu, giống như trong bất cứ gia đình bình thường nào; và qua mùi vị, nó có cùng hương vị của một loại súp đặc như những người khác cũng ăn – rau luộc với xương thịt và các loại rau thơm. Tom ngạc nhiên. Nhà này thoải mái hơn nhiều nhà của các nông nô. Ở bên kia ngọn lửa là hai chiếc nệm làm bằng da hươu và có lẽ được nhồi bằng lau sậy. Trên đầu mỗi nệm để một tấm lông sói được cuộn gọn gàng. Đó là nơi ngủ của Ellen và Jack. Ở phía sau hang động là bộ sưu tập kinh khủng về vũ khí và thiết bị săn bắn: một cây cung, nhiều mũi tên, bẫy thỏ, một số dao găm, một cây thương có đầu được mài nhọn và thôi trong lửa; và, giữa những dụng cụ thô sơ này là ba cuốn sách. Tom rất kinh ngạc: ông đã chẳng bao giờ nhìn thấy sách trong một gia đình, huống chi là trong một hang động, vì ông nghĩ sách thuộc về nhà thờ. Cậu bé Jack lấy một bát gỗ, múc vào nồi rồi uống. Alfred và Martha chăm chú nhìn cậu một cách thèm thuồng. Ellen nhìn Tom như xin lỗi và nói: "Jack, khi chúng ta có người lạ, chúng ta mời họ trước khi chúng ta ăn." Cậu bé nhìn chằm chằm vào bà, hoang mang. "Tại sao?" "Bởi vì đó là một phép lịch sự cần làm. Hãy đưa cho các trẻ khác một ít súp." Điều đó không thuyết phục Jack lắm, nhưng cậu vâng lời mẹ. Ellen đưa cho Tom một ít súp. Ông ngồi trên nền nhà và uống. Nó có hương vị của thịt, và nó sưởi ấm lòng ông. Ellen đặt một tấm lông quanh vai ông. Sau khi ông uống hết súp, ông dùng ngón tay ăn nốt rau và thịt. Hàng tuần nay rồi ông không được ăn thịt. Nó dường như là thịt vịt – có lẽ do Jack săn bằng ná bắn đá. Họ ăn cho đến khi sạch nồi; sau đó Alfred và Martha nằm xuống trên đống lau sậy trên nền nhà. Trước khi chúng ngủ, Tom nói với chúng rằng ông và Ellen sẽ đi tìm vị linh mục, và Ellen nói với Jack ở lại để săn sóc chúng cho đến khi họ trở lại. Hai đứa trẻ mệt mỏi gật đầu và nhắm mắt lại. Tom và Ellen ra đi, Tom mặc tấm lông thú mà Ellen đã đắp lên vai ông để giữ cho ông ấm. Vừa khi ra khỏi bụi dâu đen, Ellen dừng lại, quay về phía Tom, kéo đầu ông xuống và hôn lên môi ông. "Em yêu anh," bà nói mãnh liệt. "Em yêu anh từ lúc em gặp anh lần đầu. Em luôn luôn mơ một người đàn ông mạnh mẽ và dịu dàng, và em nghĩ trên đời này không có những người đàn ông như thế. Rồi em gặp anh. Em muốn anh. Nhưng em biết anh yêu vợ anh. Trời ơi, em ghen tỵ với bà ấy. Em thật sự đau buồn vì bà ấy đã chết, thật sự đau lòng, bởi vì em có thể nhìn thấy nỗi đau trong mắt anh, và tất cả nước mắt đang chờ rơi xuống, và trái tim em vỡ ra khi em thấy anh buồn. Nhưng bây giờ bà ấy đã mất, em muốn anh là của riêng em." Tom không biết nói gì. Khó có thể tin rằng một người phụ nữ xinh đẹp, tháo vát và tự lập lại có thể yêu ông ngay qua lần gặp gỡ đầu tiên; khó hơn nữa để biết bây giờ ông cảm thấy như thế nào. Ông vừa bị héo mòn vì mất Agnes – Ellen có lý khi nói rằng ông đang ngăn dòng nước mắt lại, bởi vì ông cảm thấy sức nặng của nó trong mắt ông. Nhưng ông cũng khao khát Ellen, với thân thể tuyệt vời nóng bỏng, với đôi mắt vàng ròng và sự ham muốn không biết xấu hổ của bà. Ông cảm thấy tội lỗi ghê gớm vì đã ham muốn Ellen khi Agnes vừa mới nằm trong mộ được mấy tiếng. Ông nhìn bà, và một lần nữa đôi mắt của bà lại nhìn vào trái tim ông, và bà nói: "Bây giờ anh không cần phải nói gì. Anh cũng đừng phải xấu hổ. Em biết anh yêu bà ấy. Bà ấy cũng yêu anh, em có thể nói điều đó. Anh vẫn còn yêu bà ấy – dĩ nhiên rồi. Anh sẽ còn yêu bà ấy mãi mãi." Bà đã nói ông không nên nói gì, ngoài ra ông cũng không có gì để nói. Ông bị câm vì người phụ nữ ngoại thường này. Dường như mọi việc bà làm đều đúng. Việc bà biết chuyện gì đang đè nặng trong trái tim ông làm ông cảm thấy thoải mái hơn và bây giờ ông không cần phải xấu hổ vì điều gì nữa. Ông thở dài. "Như vậy tốt hơn," bà nói. Bà cầm tay ông và họ cùng nhau đi ra khỏi hang động. Sau khi đi qua khu rừng rậm chừng một dặm, họ đến một con đường. Trên đường đi Tom cứ liếc trộm Ellen, người đi bên cạnh ông. Ông nhớ lại rằng khi ông gặp bà lần đầu, ông đã nghĩ đôi mắt kỳ lạ của bà làm bà bớt đẹp đi. Ông không thể hiểu tại sao ông lại cảm thấy như thế. Bây giờ đối với ông đôi mắt kỳ lạ này là sự biểu lộ cá tính đặc biệt của bà và làm bà đẹp hoàn hảo. Chỉ có một điều là tại sao bà lại yêu ông. Họ đi được thêm ba bốn dặm nữa. Tom vẫn mệt, nhưng tô súp đã cho ông sức mạnh; và mặc dù ông tin tưởng vào Ellen hoàn toàn, ông vẫn còn lo vì chưa nhìn thấy đứa bé tận mắt. Khi họ có thể nhìn thấy tu viện qua hàng cây, Ellen nói: "Trước hết chúng ta chưa nên để cho các tu sĩ nhìn thấy chúng ta." Tom không hiểu. “Tại sao?” ông hỏi. “Anh đã bỏ rơi đứa bé. Điều đó tương tự như giết người. Em đề nghị trước hết chúng ta quan sát tu viện và xem họ ra sao.” Tom không nghĩ ông sẽ gặp rắc rối trong trường hợp này, nhưng sự cẩn thận không có hại gì, vì thế ông gật đầu đồng ý và theo Ellen vào những tàn cây. Một vài phút sau, họ nấp kín bên bìa rừng. Đó là một tu viện rất nhỏ. Tom đã xây nhiều tu viện, và ông đoán rằng tu viện này chỉ được gọi là một cái am, một chi nhánh hay một tiền đồn của một nhà dòng hay một tu viện. Chỉ có hai tòa nhà bằng đá: nhà nguyện và nhà ở. Phần còn lại được làm bằng gỗ và phên đất: một nhà bếp, một chuồng ngựa, một kho thóc và một dẫy tòa nhà nông nghiệp nhỏ hơn. Nhà cửa và khu vực nơi đây sạch sẽ và đẹp mắt, người ta có cảm tưởng rằng các tu sĩ làm việc tay chân nhiều như cầu nguyện. Ở đó không có nhiều người. "Hầu hết các tu sĩ đã đi làm," Ellen nói. "Họ đang xây một nhà kho trên đỉnh đồi." Bà liếc nhìn lên trời. "Họ sẽ trở về vào giờ cơm trưa." Tom quan sát khoảng rừng thưa. Ở phía trên, phía bên phải của họ, ông nhìn thấy hai nhân vật, một phần bị che bởi một đàn dê nhỏ. "Hãy nhìn," ông nói với Ellen và chỉ tay về phía hai người đó. "Người đang ngồi xuống là một linh mục, và…" "Và ông đang giữ một cái gì đó trong lòng." "Chúng ta hãy đến gần hơn." Họ xuyên qua rừng, men theo khu rừng thưa, và đến một địa điểm gần đàn dê. Trái tim Tom rộn ràng khi ông nhìn thấy vị linh mục ngồi trên chiếc ghế. Ông có một đứa bé trong lòng, và đứa bé đó là của Tom. Tom nói không nên lời. Đó là sự thật, đứa nhỏ còn sống. Ông cảm thấy muốn quàng tay quanh vị linh mục và ôm ông. Có một tu sĩ trẻ ở bên cạnh vị linh mục. Nhìn kỹ hơn, Tom thấy vị tu sĩ trẻ nhúng một miếng giẻ vào thùng sữa dê, ông đoán như thế - và đặt góc ướt sũng của miếng giẻ đó vào trong miệng đứa bé. Thật là khéo. "Vâng," Tom nói một cách bứt rứt. "Tốt hơn anh nên đến và thú nhận những gì anh đã làm, và mang con anh về." Ellen nhìn Tom. "Anh hãy suy nghĩ cho kỹ đã, Tom," bà nói. "Sau đó anh sẽ làm gì?" Ông không biết chắn bà ấy muốn gì. "Xin các tu sĩ sữa," ông nói. "Họ có thể thấy tôi nghèo. Họ cho tôi của bố thí." "Rồi sao?" "Vâng, anh hy vọng họ sẽ cho anh sữa để đứa bé có thể sống được trong ba ngày, cho đến khi anh đến Manchester." "Rồi sau đó?" bà kiên nhẫn. "Anh sẽ nuôi đứa trẻ bằng cách nào?" "Vâng, anh sẽ tìm việc làm." "Anh đã tìm việc từ lần trước khi em gặp anh, vào cuối mùa hè," bà nói. Bà dường như có một chút cáu giận với Tom, ông không biết tại sao. "Anh không có tiền và không có đồ nghề," bà ấy tiếp tục. "Điều gì sẽ xẩy ra với đứa bé, nếu anh không tìm được việc làm ở Manchester?" "Anh không biết," Tom nói. Ông cảm thấy bị tổn thương, vì bà nói gay gắt với ông. "Anh phải làm gì? – sống như em sao? Anh không thể săn vịt bằng đá – Anh là một thợ xây." "Anh có thể để đứa bé ở lại đây," bà nói. Tom như bị sét đánh. "Để đứa bé lại?" ông nói. "Khi mà anh vừa mới tìm lại được nó?" "Anh sẽ được an tâm vì đứa bé được ấm và được nuôi nấng. Anh không phải mang nó theo khi anh đi tìm việc làm. Và khi anh tìm được một việc gì đó, anh có thể trở lại đây và mang đứa bé theo anh." Bản năng của Tom trỗi dậy, chống lại ý tưởng đó. "Anh không biết," ông nói, "các tu sĩ sẽ nghĩ sao về việc anh bỏ rơi đứa bé?" "Họ đã biết anh làm điều đó," bà sốt ruột nói. "Vấn đề chỉ là anh thú nhận nó bây giờ hay trễ hơn." "Các tu sĩ có biết cách chăm sóc trẻ sơ sinh không?" "Họ biết nhiều về việc đó như anh vậy." "Anh nghi ngờ về điều đó." "Vâng, họ đã nghĩ ra cách để cho một trẻ sơ sinh ăn, những đứa bé còn nhỏ chỉ biết mút." Tom bắt đầu nhìn ra bà có lý. Mặc dù ông rất muốn giữ đứa bé trong vòng tay mình, ông cũng không thể phủ nhận được là các tu sĩ có thể chăm sóc trẻ sơ sinh tốt hơn ông. Ông không có lương thực, không có tiền và không có triển vọng tìm được việc làm. "Để nó lại một lần nữa," ông buồn bã nói. "Anh nghĩ rằng anh phải làm như vậy." Ông ở lại nơi ông đang đứng; qua khu rừng thưa ông nhìn vào nhân vật nhỏ bé trong lòng vị linh mục. Tóc nó đen, giống như tóc của Agnes. Tom đã có quyết định trong trí, nhưng ông chưa thể bỏ cậu bé được. Sau đó một nhóm lớn các tu sĩ xuất hiện ở phía xa của khu rừng thưa, mười lăm hay hai mươi người, mang theo rìu và cưa. Một nguy hiểm có thể xẩy ra nếu Tom và Ellen bị phát hiện. Họ khom người trở lại vào bụi cây. Bây giờ Tom không còn có thể thấy đứa bé nữa. Họ đi len lỏi qua những bụi cây. Khi họ ra đến đường, họ bắt đầu chạy. Họ nắm tay nhau chạy ba hoặc bốn trăm bước; sau đó Tom kiệt sức. Tuy nhiên họ đã ở một khoảng cách an toàn. Họ ra khỏi con đường và tìm một nơi xa tầm mắt để nghỉ ngơi. Họ ngồi trên một đống cỏ, lấp lánh bởi đốm sáng mặt trời. Tom nhìn Ellen đang ngả lưng, thở khó nhọc, đôi má đỏ ửng, môi bà mỉm cười với ông. Áo bà hở cổ, lộ ra chiếc cổ và một phần ngực của bà. Bất ngờ ông cảm thấy một sự khao khát muốn nhìn bà trần truồng một lần nữa, và sự thèm muốn này mạnh hơn cảm xúc tội lỗi của ông. Ông cúi xuống hôn bà, rồi do dự, bởi vì bà trông thật đáng yêu. Ông nói không suy nghĩ, và ông ngạc nhiên về những gì ông nói: "Ellen, em có muốn làm vợ anh không?"
|