Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới (Chương 1 - Chương 10)

Tác giả Bài
Minh Nan
  • Số bài : 23
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.12.2016
Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới (Chương 1 - Chương 10) - 04.01.2017 00:00:45
0
Những Cột Trụ của Thế Giới
Nguyên tác: The Pillars of the Earth
Tác giả: Ken Follett 
 Dịch giả: Ngô Nguyễn Minh Nan
 
 
 
Vào truyện
1123
 
Những đứa trẻ là những người đến chỗ tử hình sớm nhất.
Trời vẫn còn tối khi ba bốn người trong bọn chúng rón rén ra khỏi túp lều lụp xụp, bước đi trong đôi giày lông nhẹ nhàng như con mèo. Một lớp tuyết mới bao phủ thành phố nhỏ như một chiếc áo mới và dấu chân của chúng để lại dấu vết trên mặt tuyết trắng. Chúng chọn con đường băng qua những căn lều bằng gỗ, đi dọc con đường bùn lầy đã đóng băng, đến vùng chợ yên tĩnh, nơi các giá treo cổ đang đợi.
Những đứa trẻ xem thường những gì mà người lớn tuổi coi trọng. Chúng coi thường vẻ đẹp và chế giễu điều tốt lành. Khi gặp một người gù, chúng sẽ cười nhạo và khi gặp một con thú bị thương, chúng sẽ ném đá cho đến chết. Chúng tự hào về những thương tích, hãnh diện khi mang những vết sẹo và dành sự ngưỡng mộ đặc biệt cho những nguời có tật: một đứa trẻ mất một ngón tay có thể được coi là lãnh tụ của chúng. Chúng thích bạo lực. Chúng có thể đi hàng nghìn dặm để xem cuộc đổ máu, và chúng sẽ chẳng bao giờ bỏ qua buổi tử hình.
Một chàng đái vào giàn treo cổ. Chàng khác trèo lên, đặt ngón tay cái lên cổ, vặn khuôn mặt mình theo tư thế treo cổ ghê rợn rồi buông mình rơi xuống: những đứa khác hò reo cổ vũ, làm cho hai con chó vừa chạy đến bãi chợ vừa sủa vang. Một chàng rất trẻ vô ý ăn một trái táo, một người lớn tuổi đánh vào mũi cậu và lấy trái táo đi. Tức giận, chàng trai ném hòn đá vào con chó và đuổi nó đi. Sau đó không còn gì để làm, chúng ngồi trên vỉa hè trong mái hiên ngôi nhà thờ lớn, chờ đợi một cái gì đó sẽ xẩy ra.
Ánh nến chập chờn phía sau cửa chớp của những ngôi nhà bằng gỗ và đá chung quanh quảng trường, những ngôi nhà của thợ thủ công và thương gia giầu có. Các các cô giúp việc và các chàng trai học nghề đang thắp lửa nấu nước và cháo. Bầu trời chuyển từ đen qua xám. Cư dân thành thị bước ra khỏi cánh cửa chật hẹp, quấn mình trong chiếc áo choàng bằng len thô, và run rẩy xuống sông lấy nước.
Chẳng bao lâu sau, một nhóm thanh niên trẻ, người coi ngựa, công nhân và thợ học nghề nghêng ngang vào chợ. Bằng những cú đấm cú đá chúng đuổi những đứa trẻ khác ra khỏi cổng nhà thờ, rồi dựa lưng vào vòm đá, tự cào vào mình, nhổ nước miếng xuống đất và kể một cách rành mạch về cái chết của những người bị treo cổ. Nếu họ may mắn, một chàng thanh niên nói, cổ họ sẽ gẫy ngay khi họ rơi xuống, đó là một cái chết nhanh chóng không đau đớn; nếu không, họ sẽ bị treo trên dây, miệng mở ra đóng vào như con cá bị đưa ra khỏi nước, cho đến khi bị nghẹt thở mà chết; một chàng khác nói, thời gian chết như thế kéo dài bằng một người đi một dặm đường; và một người chàng khác nói, nó có thể còn kinh khủng hơn thế nữa, vì cậu đã nhìn thấy một người khi chết cổ họ dài một thước Anh.
Các bà lớn tuổi lập thành một nhóm ở đầu khác của khu chợ, tránh xa đám thanh niên có những lời khiếm nhã đối với các bà, mặc dù các bà bằng tuổi bà của chúng. Các bà lớn tuổi dậy sớm, ngay cả khi họ không có con nhỏ để săn sóc, và họ là những người đầu tiên nhóm lửa và quét dọn lò sưởi. Người lãnh đạo trong nhóm, bà góa Brewster lực lưỡng, cũng tham gia với họ. Bà lăn dễ dàng một thùng bia như một đứa trẻ lăn một bánh xe. Trước khi bà mở nắp thùng, một đám đông khách hàng đã chờ sẵn với bình và xô trong tay.
Cảnh sát trưởng mở cổng thành cho các nông dân vào, họ sống trong những căn nhà chật hẹp bên ngoài tường thành. Một vài người mang trứng, sữa và bơ vào bán; một số khác vào để mua bia và bánh mì; và một số khác đứng lại trong khu chợ chờ giờ tử hình.
Lâu lâu mọi người lại ngẩng đầu lên, cảnh giác như con chim sẻ, nhìn lên tòa lâu đài trên ngọn núi phía trên thị trấn. Họ nhìn thấy khói bốc lên từ bếp lửa, và ánh lửa bập bùng của ngọn đuốc đàng sau khung cửa sổ bằng đá. Và, vào lúc mặt trời bắt đầu lên đàng sau đám mây mù, cánh cửa hùng vĩ mở ra và một nhóm nhỏ đi ra. Trước tiên viên cảnh sát trưởng cưỡi một con ngựa chiến màu đen tuyền, theo sau là một xe bò chở tù nhân bị trói. Đàng sau xe ba người đàn ông cưỡi ngựa, và mặc dù ở xa không thể thấy rõ mặt họ, nhưng y phục của họ tiết lộ họ là hiệp sĩ, linh mục và tu sĩ. Hai kị binh đi sau đoàn người.
Một ngày trước đó, tất cả họ đã có mặt tại tòa án, được xử trong nhà thờ. Chính vị linh mục đã bắt được tên trộm; vị tu sĩ đã xác định chiếc chén bạc là của nhà dòng; vị hiệp sĩ là chủ của kẻ trộm đã xác định người này là một người bỏ trốn; và cảnh sát trưởng đã tuyên án ông phải chết.
Trong khi họ chậm rãi xuống đồi, phần còn lại của thị trấn đã tụ họp xung quanh giá treo cổ. Những người đến sau cùng là những công dân danh dự: người bán thịt, thợ bánh mì, hai thợ da, hai thợ rèn, thợ làm dao và cung tên. Tất cả có vợ cùng đi.
Đám đông theo dõi cuộc tử hình với cảm xúc lẫn lộn. Bình thường họ rất phấn khởi về các buổi tử hình. Người tử tù thường là một kẻ trộm, và họ ghét kẻ trộm kịch liệt, vì họ ăn cắp tài sản của những người phải vất vả làm ăn. Nhưng kẻ trộm hôm nay khác. Không ai biết ông là ai hay ông từ đâu tới. Ông không ăn cắp của họ, nhưng ăn cắp của một tu viện cách đây hai mươi dặm. Và ông ăn cắp một chén bạc cẩn đá quý, một cái mà giá trị của nó quá lớn đến nỗi nó không có thể bán được. Nó không giống như ăn cắp một miếng thịt nguội hay một con dao mới hay một chiếc thắt lưng tốt mà sự mất mát của nó sẽ làm cho một ai đó đau lòng. Họ không thể ghét một người vì tội ăn trộm một món đồ đối với họ không có giá trị. Có một vài tiếng nhạo báng và huýt sáo khi tù nhân bước vào bãi chợ, nhưng chỉ có một số ít hưởng ứng, và chỉ có đám trẻ nhiệt tình nhạo báng ông.
Hầu hết cư dân thị trấn không có mặt tại tòa án ngày hôm qua, bởi vì ngày xử án không phải là ngày nghỉ lễ và họ phải đi làm kiếm sống, vì thế đây là lần đầu tiên họ được nhìn thấy kẻ trộm. Ông còn quá trẻ, khoảng hai mươi đến ba mươi tuổi, cao bình thường, khổ người tầm vóc, nhưng bề ngoài của ông kỳ quặc. Da ông trắng như tuyết trên mái nhà, cặp mắt lồi màu xanh sáng và tóc ông có màu giống như củ cà rốt vừa gọt vỏ. Các cô gái giúp việc cho rằng ông xấu xí; các bà lớn tuổi thương hại ông và đám trẻ cười rũ cho đến khi chúng ngã lăn xuống.
Viên cảnh sát trưởng là người quen thuộc, nhưng ba người khác, những người đã quyết định số phận của kẻ trộm, là người lạ. Vị hiệp sĩ, một người đàn ông mập có mái tóc vàng, chắc chắn là người quan trọng, bởi vì ông cưỡi một con ngựa chiến, một con thú khổng lồ mà giá của nó bằng một người thợ mộc làm việc trong mười năm. Vị tu sĩ già hơn, có lẽ năm mươi hay nhiều hơn, một người cao, gầy, ngồi thụt trong yên ngựa như thể đời sống là một gánh nặng đối với ông. Nổi bật nhất là vị linh mục, một người trẻ có chiếc mũi nhọn và mái tóc đen, mặc y phục đen và cưỡi con ngựa màu hạt dẻ. Ông có một cái nhìn cảnh giác và nguy hiểm, giống như một con mèo đen có thể đánh hơi thấy một tổ chuột con.
Một cậu nhỏ nhắm cẩn thận và phun nước miếng vào người tù. Đó là một cú bắn tốt, nó trúng ngay giữa hai mắt của ông ấy. Ông lên tiếng chửi rủa và lao vào người nhổ nước miếng, nhưng hai sợi dây cột vào cạnh xe đã giữ ông lại. Sự việc xảy ra không có gì đáng nói, ngoại trừ ngôn ngữ ông dùng là tiếng Pháp Norman, ngôn ngữ của giới quý tộc. Thế thì ông được sinh ra trong một gia đình quý tộc sao? Hay ông đã xa gia đình từ lâu? Không ai biết.
Cỗ xe bò dừng ngay dưới giá treo cổ. Viên cảnh sát thừa phát lại trèo lên xe, cầm sợi dây thòng lọng trên tay. Tù nhân bắt đầu chống cự. Đám trẻ reo hò – chúng sẽ buồn, nếu tù nhân yên lặng chấp nhận. Sự chống cự của ông có giới hạn, vì cánh tay và chân ông bị cột chặt, nhưng ông lắc đầu từ bên này sang bên kia, tránh không cho sợi dây thòng lọng tròng vào cổ mình. Một lúc sau ông thừa phát lại, một người đàn ông vạm vỡ, lùi lại rồi đấm vào bụng người tù. Ông ấy khom mình xuống và vị thừa phát lại tròng sợi dây vào đầu ông ấy rồi cột nút. Sau đó ông nhẩy xuống đất, kéo căng sợi dây, thử xem đầu dây kia đã được móc chắc chắn vào giá treo chưa.
Thời điểm này là lúc quyết định. Nếu bây giờ tù nhân giẫy dụa, dây sẽ thắt vào cổ ông và ông sẽ chết sớm.
Những người đàn ông bên cạnh tháo dây cột chân tù nhân và để ông đứng một mình trên thùng xe, hai cánh tay ông vẫn bị cột phía sau lưng. Một sự yên lặng bao trùm trên đám đông.
Vào giây phút này thường xảy ra những xáo trộn: mẹ của tù nhân sẽ la hét hoặc bà vợ sẽ rút dao ra, lao về phía trước để cứu tù nhân. Một đôi khi tù nhân kêu gọi lòng thương xót của Chúa hoặc nguyền rủa người xử mình. Hai kỵ binh dàn sang hai bên, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.
Lúc đó, tù nhân cất tiếng hát.
Ông có giọng hát cao, rất trong. Lời của bài hát bằng tiếng Pháp, nhưng ngay cả những người không hiểu ngôn ngữ này, cũng có thể biết qua giai điệu thê lương của nó đó là một bài hát của đau buồn và mất mát.
Một chim sơn ca, bị bắt trong lưới thợ săn
Hát ngọt ngào như chưa bao giờ đã hát
Như giai điệu rơi
Có thể chia cách đôi cánh và chiếc tổ.
Khi ông hát, ông nhìn thẳng vào một người nào đó trong đám đông. Dần dần đám đông hướng mắt về phía đó và nhận ra một cô gái chừng mười lăm tuổi. Khi mọi người nhìn cô, họ ngạc nhiên vì trước đó họ không hề thấy cô. Cô có mái tóc dài màu nâu sẫm, dầy và mạnh khỏe, buông xõa xuống bờ trán rộng. Cô có đường nét bình thường, bờ môi đầy đặn, quyến rũ. Các bà già nhận ra vòng bụng và cặp ngực căng phồng của cô, các bà kết luận là cô đang mang thai và đoán rằng người tù chính là bố của đứa bé chưa sinh. Nhưng những người khác không để ý gì, ngoại trừ đến đôi mắt của cô. Có lẽ cô đẹp, nhưng cô có đôi mắt trũng sâu, tinh anh màu vàng ròng, rất sáng và xuyên thấu đến nỗi khi cô nhìn bạn, bạn sẽ cảm thấy như cô có thể nhìn thấu tâm hồn bạn, và bạn sẽ phải lẩn trốn đôi mắt ấy, vì sợ đôi mắt ấy có thể khám phá ra bí ẩn của bạn. Cô ăn mặc rách rưới và dòng nước mắt chảy xuống trên đôi má mềm mại của cô.
Người phu xe nhìn chờ đợi về phía người thừa phát lại. Người thừa phát lại nhìn viên cảnh sát trưởng, chờ đợi cái gật đầu của ông. Vị linh mục trẻ sốt ruột thúc viên cảnh sát trưởng, nhưng ông không quan tâm. Ông để người tử tù tiếp tục hát. Đó là giây phút chờ đợi kinh hoàng, trong khi giọng hát dễ thương của người đàn ông xấu xí ngăn sự chết lại.
Vào buổi hoàng hôn, thợ săn đến bắt mồi,
Con sơn ca chẳng còn được tự do.
Tất cả chim trời và con người chắc phải chết,
Nhưng những bài ca sẽ sống mãi thiên thu.
Khi bài ca chấm dứt, viên cảnh sát trưởng nhìn người thừa phát lại và gật đầu. Người thừa phát lại la to: "Hup!" và dùng dây thừng dài quất vào lưng bò. Cùng lúc người phu xe quất dây da của mình. Con bò tiến về phía trước, người tù đứng so le trên xe, con bò kéo xe đi và người tử tù treo mình trong không trung. Sợi dây căng thẳng và cổ tù nhân gẫy, kêu lên một tiếng tách.
Một tiếng thét cất lên và mọi người nhìn vào cô gái.
Không phải chính cô hét mà đó là tiếng hét của vợ người bán dao kéo đứng bên cạnh cô. Nhưng cô gái là nguyên nhân gây nên tiếng thét. Đầu gối cô quỳ xuống trước giàn giá treo cổ, hai cánh tay duỗi dài, trong tư thế chuẩn bị thốt lên một lời nguyền. Mọi người thu mình lại vì sợ: ai cũng biết rằng những lời nguyền của người bị oan sẽ mang lại hậu quả rõ rệt, và mọi người đều nghi ngờ rằng trong vụ tử hình này có một điều gì đó không đúng. Đám trẻ đều khiếp sợ.
Cô gái hướng đôi mắt thôi miên của mình về phía ba người lạ: vị hiệp sĩ, tu sĩ và linh mục; rồi cô thốt lên lời nguyền, vang lên như tiếng chuông: "Tôi nguyền các ông phải bệnh hoạn và đau khổ, phải đói khát và đau đớn; nhà các ông sẽ bị lửa thiêu rụi, và con cái các ông sẽ bị treo cổ; kẻ thù của các ông sẽ tiến triển thịnh vượng, và các ông sẽ về già trong buồn bã, ân hận và chết trong quằn quại hôi thối …" Khi cô nói những câu sau cùng, cô thò tay vào trong bị và lôi ra một con gà trống sống. Một con dao đã có sẵn trên tay cô từ bao giờ, và bằng một nhát dao, cô cắt đứt đầu con gà.
Khi máu vẫn còn chẩy, cô ném con gà mất đầu về phía vị linh mục có mái tóc đen. Nó rơi nhanh, nhưng máu nó vương đầy lên ông, lên vị tu sĩ và hiệp sĩ. Ba người sợ hãi tránh xa, nhưng máu gà đã bắn lên họ, tung tóe lên mặt và nhuốm lên quần áo họ.
Cô gái quay lại và chạy đi.
Đám đông mở đường cho cô đi và đóng lại phía sau cô. Một khoảnh khắc của hỗn loạn. Sau cùng viên cảnh sát trưởng nhìn hai kỵ binh và giận dữ ra lệnh cho họ đuổi theo cô. Họ chen lấn qua đám đông, đẩy dạt đàn ông, đàn bà và trẻ em qua hai bên, nhưng cô gái đã vượt xa khỏi tầm mắt, và mặc dù viên cảnh sát rất muốn tìm cô, ông cũng biết rằng ông sẽ chẳng tìm ra cô.
Ông cảnh sát trưởng quay đi trong phẫn nộ. Vị hiệp sĩ, tu sĩ và linh mục không theo dõi cuộc tẩu thoát của cô gái. Họ vẫn chằm chằm nhìn vào giá treo cổ. Viên cảnh sát trưởng dõi mắt theo họ. Kẻ trộm đã chết treo ở đầu dây, khuôn mặt nhợt nhạt của ông đã tái xanh. Trong khi đó, dưới thân xác đong đưa trong gió của ông, con gà trống cụt đầu nhưng chưa chết chạy vòng vòng trên vùng tuyết đầy máu.
 

 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.01.2017 23:25:57 bởi Minh Nan >

Minh Nan
  • Số bài : 23
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.12.2016
Re:Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới (Vào truyện) - 04.01.2017 01:34:40
0

 

 
 
PHẦN MỘT
1135 – 1136
 
 

 
Chương 1
 
I
 
Dưới chân một ngọn đồi dốc, đàng sau một dòng suối trong lành, Tom đang xây một căn nhà.
Bức tường đã xây cao được ba mét và càng lúc càng cao nhanh hơn. Hai người thợ xây của Tom đã làm vệc liên tục dưới ánh nắng mặt trời, đường bay của họ nạo, táp và vỗ nhẹ, trong khi công nhân của họ đổ mồ hôi dưới sức nặng của các khối đá lớn. Alfred, người con trai của Tom, trộn vữa, đếm to từng xẻng cát khi cậu hất nó lên tấm đan. Ngoài ra còn có ông thợ mộc làm việc trên ghế băng bên cạnh Tom, cẩn thận dùng búa và đục hoàn thành một tấm gỗ sồi.
Alfred mười bốn tuổi, to lớn như Tom. Tom cao hơn hầu hết những người khác một cái đầu, Alfred chỉ thấp hơn một chút và vẫn còn lớn. Họ giống nhau: cả hai có mái tóc màu nâu nhạt, cặp mắt xanh với tròng mắt màu nâu. Người ta nói họ là một cặp đẹp trai. Sự khác biệt giữa họ là Tom có bộ râu nâu xoăn, trong khi Alfred chỉ có một bộ lông tơ vàng đẹp. Tóc trên đầu của Alfred ngày xưa cũng có màu y như vậy, Tom trìu mến nhớ lại. Bây giờ Alfred đã lớn, Tom ước muốn cậu thích thú hơn trong công việc, bởi vì cậu còn phải học nhiều hơn nữa nếu cậu muốn trở thành một thợ xây giống bố, nhưng cho đến bây giờ Alfred vẫn không thích thú làm việc và chưa nắm vững được nguyên tắc xây dựng.
Khi ngôi nhà được hoàn thành, nó sẽ là ngôi nhà sang trọng nhất trong khu vực xung quanh. Tầng hầm là nhà kho, với mái vòm, như thế nó sẽ không bị bắt lửa. Tầng trên dùng để ở, một cầu thang từ ngoài dẫn lên trên, chiều cao của nó làm cho việc tấn công gặp khó khăn và việc phòng thủ được dễ dàng. Sát nhà ở là một ống khói. Đây là một đổi mới căn bản. Một lần duy nhất, Tom thấy một ngôi nhà có ống khói, và nó thu hút ông đến nỗi ông quyết định sao chép nó. Ở cuối ngôi nhà, bên trên phòng khách là một phòng ngủ nhỏ, đó là một phòng mà con gái các bá tước ngày nay đòi hỏi – nó thật tế nhị khi ngủ chung với đàn ông, người giúp việc và chó săn trong phòng khách lớn. Nhà bếp sẽ ở riêng trong tòa nhà khác, bởi vì trước sau gì chúng cũng sẽ bắt lửa, nên xây chúng tách biệt ra xa, rồi từ đó đem các thức ăn nóng lên nhà trên.
Tom đang xây cửa nhà. Các cột cửa được làm tròn trông giống như các cột trụ – một chút khác biệt dành cho cặp vợ chồng quý tộc sinh sống ở đây. Dõi mắt nhìn theo mô hình bằng gỗ mà ông dùng làm mẫu, ông đục khối đá cẩn thận bằng chiếc búa bằng gỗ. Một mảnh vỡ nhỏ rơi ra khỏi bề mặt, làm cho hình dáng nó tròn hơn. Chiếc cột đá đã nhẵn đủ cho một nhà thờ chính tòa.
Một lần ông đã xây nhà thờ chính tòa ở Exeter. Lúc đầu ông coi công việc này cũng giống như các công việc khác. Ông đã tức giận và khó chịu khi ông thợ xây dựng chính cảnh báo rằng công việc ông thực hiện không đủ tiêu chuẩn: ông biết rằng so với các thợ khác, ông là một thợ xây hơn trung bình. Nhưng sau đó ông nhận ra rằng bức tường của nhà thờ chính tòa không phải chỉ là tốt, mà còn phải hoàn hảo. Bởi vì nhà thờ chính tòa dành cho Thiên Chúa, và cũng bởi vì tòa nhà quá lớn nên ngay một lỗi nhỏ trong bức tường, một lệch lạc nhỏ khỏi sự cân bằng tuyệt đối, cũng có thể làm tòa nhà sụp đổ. Sự oán giận của Tom dần dần biến thành niềm đam mê. Sự kết hợp giữa tham vọng về một tòa nhà vĩ đại và sự chú ý đến các chi tiết cực kỳ nhỏ đã mở mắt cho Tom nhìn thấy sự kỳ diệu của nghề thủ công. Ông học từ người thợ xây dựng chính ở Exeter về tầm quan trọng của tỷ lệ, biểu tượng của các con số và công thức ma thuật để tìm ra đúng chiều dầy của bức tường hay góc của một bậc trên cầu thang cuốn. Những điều đó quyến rũ ông. Ông ngạc nhiên khi biết rằng nhiều thợ xây đã không hiểu được nguyên tắc xây dựng đó.
Sau một thời gian Tom đã trở thành cánh tay mặt của người xây dựng tổng thể chính, và lúc đó ông bắt đầu nhìn thấy những thiếu xót của người xây dựng chính. Người xây dựng chính là một thợ thủ công tuyệt vời, nhưng lại không có tài tổ chức. Ông bối rối khi gặp vấn đề như lo cho đủ số lượng đá theo nhu cầu của thợ hồ, theo dõi thợ rèn sản xuất các công cụ đúng thời điểm, nung đủ vôi và cát cho thợ làm vữa, chặt cây cho thợ mộc, và thu đủ số tiền từ nhà thờ để trả chi phí cho mọi chuyện.
Nếu Tom đã ở lại Exeter cho đến khi người xây dựng chính qua đời, thì có lẽ ông đã có thể trở thành người kế nghiệp; nhưng nhà thờ đã không còn tiền – một phần là do quản lý yếu kém của người xây dựng chính - và các thợ thủ công đã dời đi tìm việc ở nơi khác. Tom được giao cho việc cai quản thành trì Exeter: xây dựng, sửa chữa và cải thiện thành trì. Nó là một công việc suốt đời, nếu không có tai nạn gì xẩy ra. Nhưng Tom đã từ chối, bởi vì ông ước mơ xây một nhà thờ chính tòa.
Vợ ông, Agnes, đã chẳng hiểu quyết định này của ông. Họ có thể đã có một ngôi nhà bằng đá tốt, những người giúp việc, một căn buồng riêng và thịt trên bàn ăn mỗi buổi tối; và bà đã chẳng bao giờ tha thứ cho Tom về việc từ chối cơ hội này. Bà không thể hiểu được sự hấp dẫn không thể cưỡng lại được của việc xây dựng một ngôi nhà thờ chính tòa: sự say mê tổ chức công việc phức tạp, sự thách đố thông minh trong việc tính toán, sự cao lớn của bức tường và vẻ đẹp hùng vĩ của tòa nhà sau khi hoàn thành. Một lần Tom đã được thưởng thức thứ rượu này, Tom sẽ chẳng bao giờ hài lòng với công việc khác nữa.
Từ mười năm nay, họ chẳng bao giờ ở lại đâu lâu dài. Ông thiết kế một tu viện, làm việc một hoặc hai năm cho tòa lâu đài, hay xây một nhà phố cho một thương gia giầu có; nhưng bao lâu ông tiết kiệm được một số tiền, ông lại cùng với vợ và con cái ra đi tìm kiếm một ngôi nhà thờ chính tòa.
Từ ghế ngồi, ông nhìn lên thấy Agnes đứng trên bờ công trình xây dựng, cầm một giỏ đồ ăn trên tay và mang một bình bia bên hông phía bên kia. Trời đúng ngọ. Ông nhìn bà trìu mến. Không ai cho bà là đẹp, nhưng khuôn mặt bà đầy nghị lực: vầng trán rộng, đôi mắt nâu to, mũi cao, miệng mạnh khỏe. Mái tóc đen của bà chia ngôi ở giữa và cột lại phía sau. Bà là linh hồn của Tom.
Bà rót bia cho Tom và Alfred. Họ đứng đó một lúc lâu, hai người đàn ông vạm vỡ và một phụ nữ khỏe mạnh, cùng uống bia trong ly bằng gỗ; và thành viên thứ tư của gia đình bước ra khỏi cánh đồng lúa mì: Martha, bẩy tuổi, đẹp như đóa hoa thủy tiên màu vàng, nhưng là một đóa hoa thủy tiên mất một cánh, vì một chiếc răng bị sún và răng mới chưa mọc lại. Cô chạy lại bên Tom, hôn lên bộ râu bụi bặm của ông và xin một ngụm bia. Ông ôm cơ thể gầy gò của cô. "Đừng uống nhiều quá, nếu không con sẽ rơi xuống hố đấy," ông yêu thương nói. Cô lảo đảo đi một vòng, giả vờ như đang say rượu.
Mọi người ngồi xuống đống gỗ. Agnes đưa cho Tom một lát bánh mì, một miếng thịt nguội dầy và một củ hành nhỏ. Ông lấy một miếng bánh mì nhỏ và gọt hành. Agnes đưa đồ ăn cho các con và bà cùng ăn. Có lẽ đó là vô trách nhiệm, Tom nghĩ, khi ông bỏ công việc ở Exerte để đi tìm kiếm một ngôi nhà thờ chính tòa, nhưng mặc dù liều lĩnh, tôi vẫn luôn có thể nuôi sống gia đình tôi.
Ông lấy dao ăn trong chiếc túi da phía trước, cắt một miếng hành và ăn với một miếng bánh. Hành có vị ngọt và hăng hăng trong miệng.
Agnes nói: "Em lại có con."Tom ngừng nhai và nhìn chằm chằm vào bà. Niềm vui hồi hộp chụp xuống trên ông. Ông không biết nói gì, chỉ đần người nhìn bà. Sau vài phút bà đỏ mặt, và nói: "Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên."
Tom ôm bà vào lòng. "Tốt lắm," ông nói, miệng toe toét cười vì vui. "Một đứa bé để kéo bộ râu anh. Và anh nghĩ nó sẽ là Alfred."
"Đừng quá vui bây giờ," Agnes cảnh cáo. "Đặt tên cho đứa bé khi nó chưa sinh ra không mang lại may mắn."
Tom gật đầu đồng ý. Agnes đã sẩy thai nhiều lần, một đứa khác đã chết trong bụng mẹ và một bé gái khác, Matilda, chỉ sống được hai năm.
"Tuy thế tôi vẫn muốn một con trai," ông nói. "Bây giờ Alfred đã lớn. Khi nào sẽ sinh?"
"Sau Giáng Sinh."
Tom bắt đầu tính toán. Khung ngôi nhà sẽ xong trước khi trời trở lạnh, và các tường bằng đá phải được che phủ bằng rơm qua suốt mùa đông. Các thợ xây sẽ dành những tháng lạnh để cắt đá cho cửa sổ, mái vòm, lò sưởi; trong khi đó thợ mộc sẽ làm sàn, cửa ra vào và cửa chớp, và Tom sẽ dựng giàn giáo cho công việc ở tầng trên. Rồi mùa xuân đến, họ sẽ làm tầng hầm, nền nhà, nhà trên và lợp mái. Công việc sẽ nuôi sống gia đình cho đến lễ Chúa Lên Trời, khi đó đứa bé sẽ được nửa tuổi. Sau đó họ sẽ lại lên đường. "Tốt," ông hài lòng nói."Thật tốt." Ông ăn một miếng hành nữa.
"Em đã quá già để sinh con," Agnes nói. "Đây là lần cuối cùng."Tom nghĩ về điều bà nói. Ông không chắc bà bao nhiêu tuổi, nhưng nhiều phụ nữ vào lứa tuổi của bà vẫn còn sinh con. Tuy nhiên, sự thật là khi họ già, họ sẽ phải vất vả nhiều hơn và những đứa trẻ sẽ không mạnh mẽ. Không nghi ngờ gì, bà có lý. Nhưng làm sao bà có thể chắc chắn là bà không có thai một lần nữa? Ông ngạc nhiên. Rồi ông biết tại sao, và một đám mây phủ bóng trên tâm trạng háo hức của ông.
"Anh sẽ có một công việc tốt trong thị trấn," ông nói, cố gắng xoa dịu bà. "Một nhà thờ chính tòa hay một dinh thự. Sau đó, chúng ta sẽ có ngôi nhà lớn với sàn gỗ và một người giúp việc để giúp em và con nhỏ."
Khuôn mặt bà cứng lại, bà nói trong hoài nghi: "Có thể như vậy." Bà không thích nghe nói về nhà thờ. Nếu Tom đã không làm cho nhà thờ, bây giờ có lẽ bà đang ở trong một căn nhà phố, và với số tiền tiết kiệm chôn dưới lò sưởi, bà sẽ không còn phải lo lắng gì nữa.
Tom nhìn đi chỗ khác và lấy một miếng thịt hun khói. Họ có lý do để ăn mừng, nhưng họ đang bất hòa. Ông cảm thấy bị bỏ rơi. Ông nhai miếng thịt cứng, rồi ông nghe tiếng vó ngựa. Ông nghiêng đầu lắng nghe. Người cưỡi ngựa đến từ hướng đường, đi tắt ngang qua khu rừng, tránh con đường xuyên qua làng.
Một lúc sau, một người đàn ông trẻ tuổi xuống ngựa. Ông trông giống như một người cận vệ, một hiệp sĩ trong thời gian thực tập. "Chủ ông đang đến," ông ấy nói.
Tom đứng lên. "Ông muốn nói là chủ Percy?" Percy Hamleigh là một trong những người quan trọng nhất trong miền này. Ông là chủ thung lũng này và nhiều mảnh đất khác, và ông đang trả tiền xây căn nhà này.
"Con ông ta," người cận vệ nói ngắn gọn.
"William trẻ phải không?" Con của ông Percy dự định sau khi kết hôn sẽ về sống trong căn nhà này. Cậu ấy đã đính hôn với cô Aliena, con gái của bá tước ở Shiring.
"Đúng như thế," người cận vệ nói. "Và cậu ấy đang giận dữ."
Trái tim Tom chùng xuống. Ở thời điểm tốt nhất, giàn xếp với chủ nhà đã là khó khăn. Còn khi chủ nhà đang trong cơn giận dữ thì chuyện ấy còn khó khăn hơn nữa. "Cậu ấy đang gận dữ về chuyện gì?"
"Cô dâu từ chối lời cầu hôn của cậu ấy.”
"Con gái của bá tước?" Tom nói trong ngạc nhiên. Lòng ông nhói lên một nỗi sợ hãi: ông vừa nghĩ tương lai ông sẽ vững vàng như thế nào. "Tôi nghĩ mọi chuyện đã ổn thỏa."
"Dường như tất cả chúng ta đều nghĩ như vậy – ngoài trừ cô Aliena," người cận vệ nói. "Lúc cô gặp cậu ấy, cô loan báo sẽ không lấy cậu ấy dù được cả thế giới và con chim dẽ gà."
Tom cau mày lo lắng. Ông không muốn điều đó là sự thật. "Nhưng cậu ấy không xấu trai, như tôi được biết."
Agnes nói: "Dường như có một sự khác biệt giữa hai người. Nếu con gái bá tước được lấy người mà cô ta thích, chúng ta sẽ bị cai trị bởi nhóm người hát rong lêu lổng và nhóm người mắt đen sống ngoài vòng pháp luật."
"Nhưng phụ nữ có thể thay đổi quan điểm," Tom nói trong hy vọng.
"Cô ấy sẽ thay đổi, nếu mẹ cô ấy cho cô ấy ăn đòn." Agnes nói.
"Mẹ cô ấy đã qua đời," người cận vệ nói.
Agnes gật đầu. "Điều đó giải thích tại sao cô ấy không biết gì về thực tế của đời sống. Nhưng tôi không hiểu tại sao bố cô ấy không thúc ép cô ấy."
Người cận vệ nói: "Dường như có lần bố cô ấy đã hứa là ông sẽ không gả cô ấy cho người nào mà cô ghét."
"Một lời hứa ngu xuẩn!" Tom giận dữ nói. "Làm sao một người đàn ông mạnh mẽ lại có thể trói buộc mình theo sở thích của một cô gái theo cách đó. Việc hôn nhân của cô ấy có thể ảnh hưởng đến liên minh quân sự, tài chánh của bá tước… và ngay cả việc xây dựng ngôi nhà này."
Người cận vệ nói: "Cô ấy có một em trai, vì thế việc cô lấy ai không quá quan trọng."
"Mặc dù vậy…"
"Và bá tước là một người cứng rắn," người cận vệ tiếp tục. "Ông sẽ không thay đổi lời hứa, ngay cả lời hứa với một đứa bé." Ông nhún vai. "Người ta nói như vậy."
Tom nhìn bức tường đá thấp của ngôi nhà đang thành hình. Ông chưa dành dụm đủ tiền để nuôi sống gia đình qua mùa đông. Ông rùng mình khi nhận ra điều đó. "Có lẽ cậu ấy sẽ tìm được một cô dâu khác để chia sẻ với cậu ấy trong ngôi nhà này. Cậu ấy có thể chọn lựa cô dâu trong toàn miền."
Alfred nói bằng giọng ồm ồm của chàng trai trong lứa tuổi dậy thì. "Trời ơi!, con nghĩ cậu ấy đang tới." Dõi theo mắt cậu, mọi người nhìn vào cánh đồng. Một con ngựa phi nước đại đến từ phía làng, làm bụi và đất từ con đường bay lên. Kích thước cũng như tốc độ của con ngựa làm Alfred sợ: nó vĩ đại. Trước đó Tom đã thấy con thú như vậy, nhưng có lẽ Alfred chưa bao giờ thấy. Nó là một con ngựa chiến, cao đến cằm một người đàn ông và to tương ứng với tỷ lệ. Những con ngựa chiến như thế này không được nuôi ở Anh, nhưng được nhập cảng từ nước ngoài và rất mắc.
Tom cất phần bánh dư còn lại vào trong túi da của mình, rồi nheo mắt chống lại ánh sáng mặt trời và nhìn vào cánh đồng. Con ngựa có cặp tai ngoặc lại phía sau, lỗ mũi hỉnh lên, nhưng đầu con ngựa hất lên, và đối với Tom nó là dấu hiệu con ngựa có thể điều khiển được. Điều đó chắc chắn, vì khi nó đến gần, người phi ngựa ngả người ra sau, kéo dây cương và con thú khổng lồ đi chậm lại. Bây giờ Tom có thể cảm thấy tiếng vó ngựa trên mặt đất dưới chân mình. Ông nhìn quanh tìm Martha để bế cô lên, tránh cho cô những nguy hiểm. Agnes cũng nghĩ như vậy. Nhưng Martha không thấy đâu.
"Trong cánh đồng lúa mì," Agnes nói, nhưng Tom đã tưởng tượng ra được điều đó và rảo bước theo bờ đê của cánh đồng. Ông rẽ dạt đám lúa mì với nỗi lo trong lòng, nhưng ông không tìm ra đứa bé.
Ông nghĩ chỉ còn có một việc có thể làm là tìm cách làm cho con ngựa đi chậm lại. Ông bước vào con đường, đi về phía con thú, dang rộng cánh tay. Con ngựa nhìn thấy ông, ngẩng đầu để nhìn rõ hơn và đi chậm lại. Rồi, muốn làm cho Tom khiếp đảm, người cưỡi ngựa thúc ngựa tiến lên.
"Đồ điên!" Tom hét lên, nhưng người cưỡi ngựa không nghe tiếng.
Đúng vào lúc đó Martha bước ra khỏi cánh đồng, đi vào con đường, cách Tom vài mét.
Tom đứng như trời trồng. Rồi ông nhẩy về phía trước, la hét và vẫy tay; nhưng nó là con ngựa chiến, được huấn luyện để phục vụ giữa đám đông, giữa tiếng la hét, nên nó không chùn bước. Martha đứng giữa con đường hẹp, nhìn chằm chằm như bị chết đứng vì con thú khổng lồ. Lúc đó Tom nhận ra rằng, ông không thể đến bên cô trước con ngựa được. Ông đứng trệch sang một bên đường, tay ông đụng vào lúa mì; và cùng lúc con ngựa tránh về phía bên kia. Bàn đạp nơi yên ngựa phớt trên mái tóc mềm mại của Martha, móng ngựa tạo nên một lỗ tròn trên mặt đất bên cạnh bàn chân trần của cô bé; rồi con ngựa đi xa, rẩy đầy bụi lên cả hai bố con, và Tom bế cô bé trong tay, ghì chặt cô vào trái tim đang đập thình thịch của mình.
Martha khóc. Tom đưa cô bé cho Agnes và đứng đợi William. Cậu chủ trẻ là một người cao, khỏe mạnh, chừng hai mươi tuổi, có mái tóc vàng và đôi mắt hẹp như luôn nhíu mắt nhìn vào ánh mặt trời. Cậu mặc một áo chẽn màu đen ngắn với quần đen và mang đôi giày da có dây đai đan lên tới đầu gối. Cậu ngồi vững vàng trên lưng ngựa và dường như không bàng hoàng về những gì vừa xẩy ra. Thằng bé ngu ngốc này ngay cả không biết hắn vừa làm gì, Tom nghĩ một cách chua chát. Tôi muốn vặn cổ cậu ấy.
William dừng ngựa phía trước đống gỗ và nhìn xuống công nhân xây dựng. "Ai chịu trách nhiệm ở đây?" cậu hỏi.
Tom muốn nói nếu cậu đã làm con tôi đau, tôi sẽ giết cậu, nhưng ông dằn cơn giận của mình lại. Nó giống như ông phải nuốt một ngụm đắng vào miệng. Ông đến gần con ngựa và giữ lấy dây cương. "Tôi là người thợ cả ở đây", ông nói một cách cứng rắn. "Tôi tên là Tom".
"Căn nhà này không cần nữa," William nói. "Hãy sa thải hết các thợ của ông."
Đó là điều mà Tom đang lo sợ. Nhưng ông vẫn hy vọng rằng William đang bốc đồng trong cơn tức giận, và nếu thuyết phục được, cậu ấy có thể thay đổi ý kiến. Với cố gắng, ông cất giọng thân thiện và hợp lý. "Nhưng nhiều việc đã hoàn thành," ông nói. "Tại sao cậu lại lãng phí những gì cậu đã phải trả? Thế nào cũng có ngày cậu cần đến căn nhà này."
"Đừng dạy tôi phải quản lý công việc của tôi như thế nào, thợ cả Tom à," William nói. "Tất cả các ông bị sa thải." Cậu giật mạnh dây cương, nhưng Tom đã nắm lấy nó. "Đừng đụng đến ngựa của tôi," cậu nói một cách đe dọa.
Tom chịu đựng. William muốn kéo con ngựa ngấc đầu lên. Tom rờ trong túi và lấy ra miếng bánh mì ông ăn dở. Ông giơ ra cho con ngựa và nó cắn một miếng. "Có nhiều điều chúng ta cần nói trước khi cậu đi, chủ của tôi ạ," ông nói dịu dàng.
William nói: "Nếu ông không để ngựa của tôi đi, tôi sẽ lấy đầu của ông." Tom nhìn thẳng vào ông chủ, cố gắng không để lộ vẻ sợ hãi. Mặc dù ông to lớn hơn William, nhưng nếu ông chủ nhỏ này rút gươm ra, thì sự to lớn của ông cũng chẳng giúp được gì.
Agnes sợ hãi lẩm bẩm: "Hãy làm những gì ông chủ nói, anh ạ."
Một sự yên lặng chết người. Những thợ khác đứng yên như bức tượng, lặng lẽ nhìn những gì xẩy ra. Tom biết phải thận trọng trong lúc này. Nhưng William đã sắp dẵm lên đứa con gái nhỏ của ông và điều đó làm cho Tom điên lên, vì thế ông nói khi trái tim ông đập nhanh: "Cậu phải trả tiền cho chúng tôi."
William kéo dây cương nhưng Tom đã giữ chặt dây cương, và con ngựa không còn tập trung, nó rúc vào túi da của Tom để tìm thêm thức ăn. "Hãy yêu cầu bố tôi trả tiền lương cho các ông," William nói trong tức giận.
Tom nghe giọng nói ghê tởm của một người thợ mộc: "Chúng tôi sẽ làm chuyện đó, ông chủ ạ. Cảm ơn ông nhiều lắm."
Kẻ hèn nhát, Tom nghĩ, nhưng chính ông cũng đang run. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng nói. "Nếu cậu muốn sa thải chúng tôi, cậu phải trả cho chúng tôi theo tục lệ. Nhà của bố cậu ở cách đây hai ngày đi bộ, và nếu chúng tôi đến nơi, có thể ông ấy không có nhà."
"Nhiều người đã phải chết vì những lý do đơn giản hơn điều này," William nói. Má cậu đỏ lên vì giận.
Tom liếc nhìn thấy người cận vệ đặt tay lên đuôi kiếm. Tom biết rằng đã đến lúc ông phải dừng lại và hạ mình xuống, nhưng sự giận dữ quặn lại trong bụng ông, vì thế mặc dù rất sợ ông vẫn không buông cương ngựa. "Hãy trả cho chúng tôi trước, rồi hãy giết tôi," ông nói một cách bất cần. "Cậu có thể bị treo cổ hay không; nhưng sớm muộn gì cậu cũng chết, và khi đó tôi sẽ ở trên thiên đàng, còn cậu ở dưới hỏa ngục."
Lập tức nụ cười mỉa mai trên khuôn mặt William biến mất và mặt cậu tái đi. Tom ngạc nhiên: điều gì đã làm cho thằng bé này sợ đến thế? Chắc chắn không phải vì ông đã nhắc đến chuyện treo cổ: vì một bá tước khó có thể bị treo cổ vì tội giết một thợ thủ công. Hay ông sợ hãi trước hỏa ngục?
Họ nhìn nhau chằm chằm. Tom ngạc nhiên và lòng cảm thấy nhẹ nhàng khi thái độ giận dữ và khinh thường của William biến mất và thay vào đó là sự sợ hãi kinh hoàng. Sau cùng, William lấy túi tiền trong thắt lưng ra, ném cho ông người cận vệ và nói: "Hãy trả cho họ."
Tom đẩy vận may của mình. Khi William kéo cương ngựa, con ngựa ngẩng đầu rồi bước sang bên, Tom bám vào ngựa, giữ chặt dây cương và nói: "Một tuần lương cho việc đuổi việc, đó là phong tục." Ông nghe thấy hơi thở của Agnes ngay đàng sau lưng ông, và ông biết, bà nghĩ là ông điên nên mới kéo dài cuộc giằng co này. Nhưng ông nhấn mạnh thêm. “Và sáu xu cho công nhân, mười hai cho thợ mộc và thợ hồ, và hai mươi bốn xu cho tôi. Tất cả là sáu mươi sáu xu." Ông có thể cộng tiền nhanh hơn bất cứ người nào mà ông đã biết.
Người cận vệ nhìn ông chủ dò hỏi. William tức giận nói: "Được."
Tom buông dây cương và lùi lại.
William quay ngựa và thúc mạnh, con ngựa lao nhanh về phía cánh đồng lúa mì.
Bất ngờ Tom ngồi xuống trên đống gỗ. Ông ngạc nhiên về những gì mới xẩy ra. Có điên thì mới dám thách thức chủ William như thế. Ông cảm thấy may mắn vì vẫn còn sống.
Tiếng chân ngựa chiến của William như tiếng sấm xa dần, và người hầu cận trút toàn bộ túi tiền trên mặt phản. Tom cảm thấy một gợn sóng của chiến thắng khi các đồng xu bạc lăn ra trong ánh sáng mặt trời. Đó là ngu dại, nhưng nó đem lại kết quả: ông đã đòi được tiền lương cho chính ông và nhân viên của ông. "Ngay cả bá tước cũng phải theo tục lệ," ông nói như để khích lệ mình.
Agnes đã nghe ông nói. "Mong rằng anh sẽ chẳng bao giờ làm việc cho William nữa," bà nói chua chát.
Tom mỉm cười với bà. Ông hiểu rằng, bà nói cáu kỉnh vì bà quá sợ. "Đừng cau mày quá, nếu không em sẽ chẳng còn gì, ngoài sữa chua trong ngực khi con mình sinh ra."
"Em không thể nuôi cả gia đình được, trừ khi anh tìm được một công việc trong mùa đông."
"Còn lâu mùa đông mới đến," Tom nói.
 
 
II
 
Suốt mùa hè họ ở lại trong làng. Sau đó, họ mới nhận ra rằng quyết định này là một sai lầm kinh khủng, nhưng vào thời điểm đó nó hợp lý, bởi vì Tom, Agnes và Alfred, mỗi người đều có thể kiếm được một xu cho một ngày làm việc trên cánh đồng vào mùa gặt. Khi mùa thu đến, họ phải lên đường, mang theo một bao tiền xu nặng và một con heo mập.
Đêm đầu tiên họ ngủ trong mái vòm của cổng ngôi nhà thờ làng, vào đêm thứ hai họ tìm thấy một tu viện trong vùng quê và họ tạm trú trong nhà khách tu viện. Ngày thứ ba họ ở giữa khu rừng Chute, một dải đất rộng gồm những bụi rậm và rừng cây, trên một con đường không rộng hơn chiều rộng của một chiếc xe bò, giữa hàng cây sồi ở hai bên đường.
Tom mang theo những công cụ nhỏ trong một túi khoác vai và đeo chiếc búa bên dây thắt lưng. Ông bó chiếc áo choàng dưới cánh tay trái và cầm một cây sắt nhọn trong tay phải, dùng nó như chiếc gậy đi đường. Ông vui vì lại được lên đường. Công việc sắp tới có thể ông sẽ tìm được ở một nhà thờ chính tòa. Có thể ông sẽ là thợ xây dựng chính và ở lại đó suốt đời, và xây một ngôi nhà thờ thật tuyệt vời để nó bảo đảm ông sẽ được lên thiên đàng.
Agnes đựng một vài vật dụng nội trợ trong chiếc nồi và đeo nó sau lưng. Alfred mang theo những công cụ làm việc mà họ cần dùng để xây một ngôi nhà mới ở một nơi nào đó: một cái rìu, một cái rìu lưỡi vòm, một cái cưa, một cái búa nhỏ, một cái dùi để đục lỗ qua da hoặc gỗ và một cái xẻng. Martha còn quá nhỏ để mang theo bất cứ đồ gì, nhưng cô cài chén ăn cơm và dao ăn vào thắt lưng và đeo áo choàng mùa đông trên lưng. Ngoài ra, cô còn có nhiệm vụ dắt theo con heo cho đến khi có thể bán nó ở chợ.
Tom để mắt quan sát Agnes khi họ băng ngang khu rừng bao la vô tận. Thời kỳ mang thai đã qua một nửa, bây giờ bà mang trong bụng một trọng lượng đáng kể, giống như gánh nặng bà mang trên lưng. Nhưng bà tỏ ra không mệt mỏi. Alfred cũng vậy, mọi sự đều ổn: cậu ở lứa tuổi mà các chàng trai có quá nhiều năng lực mà các cậu không biết phải làm gì với chúng. Chỉ có Martha là mệt mỏi. Đôi chân gầy của cô được sinh ra để chạy nhẩy vui chơi hơn là để đi những đoạn đường dài. Cô luôn luôn lẽo đẽo theo sau, vì thế lâu lâu mọi người phải dừng lại chờ cho cô và con heo theo kịp.
Trên đường đi, Tom nghĩ về ngôi nhà thờ chính tòa mà ông sẽ xây một ngày nào đó. Như mọi khi, ông bắt đầu hình dung một mái vòm. Nó rất đơn giản: hai cột chống giữ một nửa vòng cung. Rồi ông tưởng tượng cái thứ hai cũng giống như vậy. Sau đó, ở trong đầu, ông đẩy hai mái vòm vào với nhau thành một mái vòm sâu. Rồi ông cộng thêm một cái nữa, rồi một cái nữa, rồi nhiều cái nữa, cho đến khi ông có một hàng mái vòm, tất cả dính vào nhau tạo thành một đường hầm. Đây là kiến trúc căn bản của tòa nhà, còn lại là mái nhà che mưa và hai bức tường đỡ mái. Một ngôi nhà thờ chính ra là một đường hầm, rồi cải tiến cho nó đẹp.
Một đường hầm thường rất tối, vì thế mà sự cải tiến cần thiết đầu tiên là cửa sổ. Nếu bức tường đủ mạnh, người ta có thể tạo ra những lỗ trong nó. Các lỗ sẽ tròn ở đầu, hai bên thẳng và một bệ cửa phẳng – nói chung nó có cùng hình dáng với mái vòm. Dùng cùng hình dáng cho mái, cửa sổ và cửa ra vào là một trong những yếu tố làm cho tòa nhà đẹp. Đều đặn là yếu tố khác nữa, và Tom tưởng tượng ra mười hai cửa sổ giống nhau, đều nhau, nằm dọc theo bức tường của đường hầm.
Tom cố gắng hình dung phần trên cửa sổ, nhưng sự tập trung của ông bị chi phối vì ông cảm thấy mình đang bị theo dõi. Đó là một ý tưởng ngu ngốc, ông nghĩ, nếu có dĩ nhiên là ông bị theo dõi bởi chim, cáo, mèo, sóc, chuột, chồn và chuột đồng đầy rẫy trong rừng.
Họ ngồi xuống bên cạnh một con rạch vào buổi trưa. Họ uống nước sạch, ăn thịt nguội và táo dại mà họ nhặt được trong rừng.
Vào buổi chiều, Martha mệt mỏi. Có lúc cô ấy ở đàng sau họ cả trăm mét. Đứng chờ cho cô ấy bắt kịp, Tom nhớ lại khi Alfred ở tuổi đó, cậu đã là một đứa trẻ đẹp, mái tóc vàng, mạnh mẽ và táo bạo. Tình thương và sự tức giận trộn lẫn trong Tom khi ông quan sát Martha la mắng con heo vì quá chậm chạp. Rồi một nhân vật bước ra khỏi bụi rậm ngay trước mặt cô. Những gì xẩy ra sau đó quá nhanh, đến nỗi Tom không thể tin được. Người lạ vừa xuất hiện trên đường giơ một cây gậy cao trên đầu. Một tiếng kêu kinh hoàng thoát ra từ cổ họng Tom, nhưng trước khi ông có thể thốt ra, người lạ đã đập cây gậy xuống Martha. Hắn đập trúng vào phía bên đầu của Martha và Tom còn nghe thấy âm thanh ghê tởm của những cú đập tiếp nối sau đó. Cô ngã xuống đất như một con búp bê rơi xuống.
Tom chạy lại, chân ông thình thịch trên mặt đất cứng giống như bước chân con ngựa chiến của William. Ông ước mong đôi chân có thể mang ông đi nhanh hơn. Khi chạy, ông thấy những gì đang xẩy ra giống như ở một bức tranh được vẽ cao trên tường nhà thờ, bởi vì ông có thể nhìn thấy, nhưng ông không thể thay đổi được nó. Kẻ tấn công chắc là kẻ sống ngoài vòng pháp luật. Hắn lùn, chắc nịch, mặc áo dài màu nâu, đi chân trần. Hắn nhìn thẳng vào Tom, và Tom có thể nhìn thấy một khuôn mặt tàn tật kinh dị: môi hắn bị cắt, có lẽ bị trừng phạt vì tội nói dối, và miệng hắn bây giờ là một nụ cười xếch ghê rợn thường xuyên được bao quanh bởi nhiều vết sẹo. Cảnh tượng kinh khủng đã làm Tom quên đi thân thể Martha đang nằm bất động trên mặt đường.
Kẻ tội phạm rời mắt nhìn Tom và chăm chú vào con heo. Trong nháy mắt, hắn cúi xuống, bắt con heo lên, kẹp con vật dưới cánh tay và lao trở lại vào bụi cây, mang theo tài sản giá trị duy nhất của gia đình Tom.
Tom quỳ xuống bên cạnh Martha. Ông đặt bàn tay to lớn của mình lên ngực nhỏ bé của cô và cảm thấy nhịp tim của cô ổn định và mạnh mẽ, và nỗi lo của ông vơi đi; nhưng đôi mắt của cô vẫn khép kín và trong mái tóc bạch kim của cô có dòng máu đỏ tươi.
Một lúc sau, Agnes quỳ xuống bên cạnh ông. Bà sờ vào ngực, cổ tay và trán cô, rồi bà nhìn Tom một cách cứng rắn. "Con sẽ sống," bà nói bằng giọng cương quyết. "Hãy lấy lại con heo."
Tom nhanh chóng tháo chiếc bị đựng đồ nghề và bỏ chúng lại trên mặt đất. Bằng tay trái, ông lấy chiếc búa sắt từ trong thắt lưng. Trong khi tay phải ông vẫn giữ cây gậy nhọn bằng sắt. Ông còn nhìn thấy những bụi cây bị chà đạp nơi kẻ trộm đến và đi, và ông có thể nghe tiếng lợn kêu trong rừng. Ông lao vào bụi cây.
Con đường mòn dễ đi. Kẻ tội phạm là người vạm vỡ, lại chạy với con heo vùng vẫy dưới cánh tay nên hắn để lại dấu vết qua vườn rau, bụi cây và những cây non. Chạy đàng sau, lòng đầy ước muốn man rợ, Tom muốn tóm cổ tên trộm và đập cho hắn bất tỉnh. Ông bị ngã nhào xuống qua bụi cây bạch dương, lăn xuống sườn đồi, té văng qua vũng bùn lầy vào một con đường hẹp. Ở đó, ông dừng lại. Kẻ trộm có thể đã đi về phía trái hay phải, và bây giờ không có đám cỏ dập nát chỉ cho ông đường đi. Tom cảnh giác và nghe thấy tiếng heo kêu đâu đó bên phía trái. Ông cũng nghe thấy tiếng chân của người nào đó vượt qua khu rừng phía sau ông – Alfred, có lẽ. Cậu đang đuổi theo con heo.
Con đường đưa ông xuống chỗ trũng, rồi quanh gấp và bắt đầu lên cao. Bây giờ ông nghe rõ tiếng heo kêu. Ông chạy lên dốc, thở mệt mỏi – những năm dài hít bụi đá đã làm phổi ông suy yếu. Bất ngờ đường trở lại bằng phẳng và ông nhìn thấy tên trộm, chỉ cách ông hai mươi hay ba mươi mét, đang chạy như bị ma đuổi. Tom chạy nước rút, cố bắt được hắn. Nếu ông có thể tiếp tục chạy, ông phải bắt kịp hắn, vì một người ôm con heo thì không thể chạy nhanh hơn người tay không. Nhưng bây giờ ngực ông đau. Kẻ trộm chỉ còn cách xa mười lăm, rồi mười hai mét. Tom giơ cao chiếc gậy sắt giống như giơ ngọn giáo trên đầu. Chỉ gần hơn một chút nữa là ông có thể phóng nó. Mười một mét, mười  -
Trước khi ngọn giáo rời khỏi tay, ông liếc thấy một khuôn mặt gầy, đội chiếc mũ lưỡi trai màu xanh, xuất hiện từ trong bụi cây bên đường. Đã quá trễ để tránh. Một thanh gỗ to được ném ra đường trước mặt ông, ông vấp vào nó và ngã xuống.
Ông đánh rơi chiếc thanh sắt, nhưng ông vẫn còn chiếc búa. Ông lộn vòng và ngồi dậy trên đầu gối. Ông nhìn thấy hai người: một người đội mũ xanh và một người đầu hói với bộ râu trắng. Chúng chạy về phía Tom.
Ông tránh sang một bên và vung búa xuống tên đội mũ xanh. Hắn tránh nên búa sắt lớn chỉ giáng xuống trên vai hắn. Hắn kêu lên rồi gục xuống đất, giữ chặt vai như thể nó bị gẫy. Tom không còn đủ giờ để vung búa lên cho hắn thêm một đòn chí tử nữa, vì trong lúc đó tên đầu hói đến gần. Tom đâm đầu búa vào tên đầu hói, làm gẫy xương má hắn.
Cả hai quằn quoại với vết thương và chạy trốn. Tom biết không ai trong chúng còn có thể chiến đấu. Ông nhìn quanh tìm kiếm. Tên trộm vẫn chạy trên đường. Tom chạy theo hắn, cố quên sự đau đớn trong ngực. Nhưng chỉ sau vài mét, ông nghe thấy một giọng quen thuộc đàng sau ông.
Alfred.
Ông ngừng chạy và nhìn lại.
Alfred đang đánh nhau với cả hai tên trộm. Cậu dùng cả tay lẫn chân. Cậu đấm ba bốn cái lên đầu tên đội mũ xanh, rồi đá vào chân tên đầu hói. Nhưng hai người đàn ông đã bao vây cậu, xiết chặt vòng vây đến nỗi cậu không còn đủ chỗ để đấm và đá mạnh được. Tom do dự giữa việc đuổi bắt lấy lại con heo hay trở lại cứu con. Sau đó tên đầu hói đá trúng đàng sau cẳng chân Alfred, cậu ngã xuống đất. Hai người nhào xuống trên cậu và đấm đá xuống trên mặt và thân thể cậu.
Tom chạy lại, tấn công tên đầu hói, ném hắn vào trong bụi rậm, rồi quay lại và bổ búa xuống tên đội mũ xanh. Lần trước hắn đã cảm nhận được sức nặng của chiếc búa và một cánh tay vẫn còn đau. Hắn né tránh cán búa đầu tiên, rồi quay lại và nhẩy vào bụi cây, trước khi Tom có thể giáng xuống lần thứ hai.
Tom quay lại và nhìn thấy tên đầu hói đang chạy trốn xuống đường. Ông nhìn vào hướng khác: không còn thấy bóng dáng kẻ trộm và con heo đâu nữa. Ông buông lời chửi rủa cay đắng: con heo là một nửa những gì ông đã cứu vớt lại được trong mùa hè này. Ông khụy xuống đất và thở dốc.
"Chúng ta đã đánh đuổi được cả ba tên," Alfred hào hứng nói.
Tom nhìn cậu. "Nhưng họ đã lấy mất con heo của chúng ta," ông nói. Sự tức giận đốt cháy lòng ông giống như rượu táo chua. Họ đã mua con heo vào mùa xuân, vừa khi họ tiết kiệm đủ những đồng xu, và họ đã nuôi béo nó trong suốt mùa hè. Một con heo mập có thể bán được sáu mươi xu. Chỉ cần một vài bắp cải và một bao thóc nữa, nó có thể nuôi sống cả gia đình trong suốt mùa đông và mua được một đôi giày da, cũng như một hoặc hai bóp ví. Mất con heo là một thảm họa.
Tom nhìn Alfred một cách ghanh tị. Cậu đã phục hồi sau cuộc rượt đuổi và đánh nhau, và đang sốt ruột chờ bố cậu. Bao nhiêu năm trước đây, Tom nghĩ, tôi cũng đã có thể chạy nhanh như gió mà không cảm thấy tim mình đập mạnh. Khi đó tôi ở lứa tuổi… hai mươi. Nó dường như đã trở thành quá khứ.
Ông đứng lên.
Khi họ đi bộ trên con đường về, Tom để tay ông lên đôi vai rộng của Alfred. Cậu vẫn còn thấp hơn bố một bàn tay, nhưng chẳng bao lâu nữa cậu sẽ bắt kịp và có thể còn cao lớn hơn. Tôi hy vọng đầu óc nó cũng phát triển theo, Tom nghĩ và nói: "Bất cứ người ngu nào cũng có thể tham gia đánh nhau, nhưng người khôn ngoan thì biết cách tránh xa chúng." Alfred nhìn ông xa vắng.
Họ ra khỏi đường, vượt qua khu lầy lội và bắt đầu leo dốc, đi theo dấu vết tên trộm để lại. Khi họ đi ngang qua bụi dương, Tom nghĩ đến Martha, và cơn tức giận lại quặn lên trong lòng ông. Kẻ tội phạm đã đánh cô không thương tiếc, bởi vì cô không có gì để chống cự lại hắn.
Tom vội bước nhanh hơn và chẳng bao lâu sau, ông và Alfred đã ra đến đường đi. Martha vẫn nằm chỗ cũ, không cử động. Mắt cô vẫn đóng, và máu đã khô trong tóc cô. Agnes ở bên cạnh cô – và bên cạnh họ, trước sự ngạc nhiên của Tom, có một phụ nữ và một bé trai. Ông chợt hiểu rằng thật chẳng có gì ngạc nhiên khi ông cảm thấy bị theo dõi trong rừng trước đây. Ông cúi xuống, đặt tay lên ngực Martha. Cô thở bình thường.
"Chẳng bao lâu nữa cô ấy sẽ tỉnh," người đàn bà lạ nói bằng một giọng uy quyền. "Rồi cô ấy sẽ nôn mửa. Sau đó cô sẽ khỏe lại."
Tom tò mò nhìn bà. Bà ấy quỳ, cúi mình trên Martha. Bà ấy còn trẻ, có lẽ trẻ hơn Tom cả chục tuổi. Chiếc áo da ngắn của bà để lộ thân thể rám nắng mềm mại. Bà có một khuôn mặt đẹp, có mái tóc nâu đen xõa xuống trên trán. Tom cảm thấy một day dứt thèm khát. Rồi bà ngẩng lên, liếc nhìn ông: đôi mắt sâu, tinh anh, có màu vàng mật ong khác thường, một đôi mắt làm cho khuôn mặt bà có một vẻ huyền bí, và ông cảm thấy chắc rằng bà cũng biết ông đang nghĩ gì.
Ông quay nhìn chỗ khác tránh bối rối, và ông bắt gặp ánh mắt Agnes. Bà đang bực bội nhìn ông. Bà hỏi: "Con heo đâu?"
"Còn có hai kẻ tội phạm khác nữa," Tom nói.
Alfred nói: "Chúng ta đánh bại họ, nhưng người ăn cắp con heo thì chạy mất."
Agnes cau mặt nhìn, nhưng không nói gì.
Người đàn bà lạ nói: "Một cách nhẹ nhàng, chúng ta có thể di chuyển bé gái vào trong bóng râm." Bà đứng lên, và Tom nhận ra rằng bà ấy nhỏ con, ít nhất là nhỏ hơn ông một cái chân. Ông cúi xuống, cẩn thận bế Martha lên. Cơ thể trẻ thơ của cô dường như nhẹ hẫng trên tay ông. Ông bế cô dọc theo con đường vài mét, rồi đặt cô xuống bãi cỏ dưới bóng mát của một cây sồi già. Cô vẫn còn yếu.
Alfred thu lượm các công cụ đã bị phân tán rải rác trên đường trong cuộc ẩu đả. Đứa con trai của người đàn bà lạ chăm chú nhìn, mắt cậu to và miệng mở rộng, không nói gì. Cậu trẻ hơn Alfred khoảng ba tuổi và dễ nhìn, Tom quan sát, nhưng không có nét đẹp gợi cảm của mẹ. Cậu có làn da tái xanh, mái tóc đỏ cam và đôi mắt xanh hơi cong. Cậu có cái nhìn ngớ ngẩn của một người đần độn, Tom nghĩ; những đứa trẻ như thế này thường hay chết yểu hay sẽ lớn lên trong làng dành cho người ngốc nghếch. Alfred cảm thấy không thoải mái trong cái nhìn chằm chằm của cậu bé.
Trong khi Tom đang quan sát, cậu bé giật lấy cái cưa từ tay Alfred mà không nói gì, rồi xem xét nó như thể nó là một cái gì đó kỳ lạ. Alfred tức giận vì thái độ vô lễ của cậu bé, cậu giật nó lại, và cậu bé vẫn thờ ơ để cho Alfred giật lại. Bà mẹ nói: "Jack! Hãy giữ tư cách của con." Bà ấy có vẻ xấu hổ.
Tom nhìn bà. Đứa trẻ không giống bà chút nào. "Bà có phải là mẹ nó không?" Tom hỏi.
"Vâng, tôi là Ellen."
"Chồng bà đâu?"
"Chết rồi."
Tom ngạc nhiên. "Bà đi một mình sao?" ông hoài nghi hỏi. Khu rừng này đủ nguy hiểm cho đàn ông giống như ông: một người đàn bà đi một mình sẽ khó có hy vọng sống sót.
"Chúng tôi không phải là người qua đường," Ellen nói. "Chúng tôi sống trong rừng."
Tom bị sốc. "Bà muốn nói bà là –" ông ngưng lại, không muốn xúc phạm bà.
"Người sống ngoài vòng pháp luật," bà nói. "Vâng, ông nghĩ rằng mọi kẻ tội phạm đều giống như Faramond Openmouth, người đã lấy trộm của ông con heo ư?“
"Đúng vậy," Tom nói, mặc dù chính ra ông định nói rằng tôi chẳng bao giờ nghĩ một người sống ngoài vòng pháp luật lại có thể là một phụ nữ xinh đẹp như bà. Không thể kiềm chế được sự tò mò, ông hỏi: "Bà bị phạm tội gì?"
"Tôi nguyền rủa một linh mục," bà nói, rồi quay đi.
Đối với Tom, đó không phải là tội phạm, hay có lẽ vị linh mục đó có nhiều quyền lực hay chuyện này quá nhậy cảm; hay có lẽ Ellen đã không muốn nói sự thật.
Ông nhìn Martha. Một lúc sau cô mở mắt. Cô bối rối, pha lẫn chút sợ hãi. Agnes quỳ bên cạnh cô. "Con được an toàn rồi," bà nói. "Mọi chuyện sẽ tốt đẹp."
Martha ngồi thẳng lên và nôn mửa. Agnes ôm chặt cô cho đến khi cơn co thắt qua đi. Tom rất cảm kích: dự đoán của Ellen đã thành sự thật. Bà cũng nói là Martha sẽ lành và có lẽ chuyện ấy cũng đáng tin nữa. Ông cảm thấy nỗi lo nhẹ đi và ông ngạc nhiên một chút về sức mạnh cảm xúc của chính ông. Tôi không thể chịu đựng được nếu mất đứa con gái nhỏ bé này, ông nghĩ; và ông phải chiến đấu để ngăn dòng nước mắt lại. Ông bắt gặp cái nhìn thiện cảm của Ellen, và một lần nữa ông cảm thấy đôi mắt vàng nhợt của bà ấy có thể nhìn thấu trái tim ông.
Ông bẻ một cành cây sồi, tước lấy lá và dùng chúng để lau mặt Martha. Cô vẫn còn rất tái.
"Cô ấy cần nghỉ ngơi," Ellen nói. "Hãy để cô ấy nằm xuống đó một lúc, bằng khoảng thời gian của một người đi bộ ba dặm."
Tom liếc nhìn mặt trời. Trời vẫn còn rất sáng. Ông ngồi xuống chờ đợi. Agnes ru Martha dịu dàng trong vòng tay. Cậu bé Jack bây giờ chuyển sự chú ý qua Martha và nhìn chằm chằm vào cô với cùng vẻ ngu ngốc. Tom muốn biết nhiều về Ellen. Ông tự hỏi, không biết Ellen có bị thuyết phục để kể câu chuyện về bà. Ông không muốn bà đi khỏi.
„Chuyện đó xẩy ra làm sao?" ông hỏi bà một cách phỏng chừng.
Bà nhìn vào mắt ông, rồi bắt đầu kể.
Bố bà là một hiệp sĩ, bà ấy kể với họ. Ông là một người to lớn, mạnh mẽ và hung bạo. Ông muốn có một người con trai, một người có thể cùng phi ngựa, đi săn và vật lộn với ông, một người cùng uống rượu và say sưa qua đêm với ông. Về khía cạnh này ông là một người đàn ông thiếu may mắn, vì ông không có con trai mà là có Ellen, và rồi vợ ông qua đời. Ông cưới thêm người vợ nữa, nhưng bà vợ thứ hai này hiếm muộn. Ông coi thường bà vợ kế này và đuổi bà đi. Ông đúng là người đàn ông tàn nhẫn, nhưng ông không đối xử như thế với Ellen, người luôn ngưỡng phục ông và cùng chia sẻ với ông quan điểm khinh thường vợ hai của ông. Khi mẹ kế đi khỏi, Ellen sống và lớn lên trong một ngôi nhà toàn đàn ông. Bà cắt tóc ngắn, mang một con dao găm và học không được chơi với mèo hay chăm sóc con chó già. Vào lứa tuổi của Martha, bà đã nhổ xuống đất, ăn hột táo và thúc vào bụng ngựa. Bà biết rằng tất cả đàn ông không thuộc băng của bố bà được gọi là 'người nịnh hót' và các bà không theo họ được gọi là 'ngu như lợn', mặc dù bà không biết chắc – và không quan tâm lắm – những điều nhục mạ này có nghĩa gì.
Lắng nghe giọng bà trong làn gió nhẹ của buổi chiều thu, Tom nhắm mắt lại, tưởng tượng một người con gái ngực phẳng với khuôn mặt bụi bặm, ngồi chung bàn với bọn côn đồ của bố, uống rượu mạnh, cụng ly và hát những ca khúc về chiến tranh, kể chuyện cướp bóc và hãm hiếp, về ngựa, lâu đài và trinh nữ cho đến khi bà ngủ thiếp đi, gục đầu với mái tóc ngắn trên chiếc bàn gỗ thô.
Nếu như bà cứ mãi mãi có bộ ngực phẳng thì có lẽ bà sẽ hạnh phúc suốt đời. Nhưng thời gian đến, khi các đàn ông nhìn bà một cách khác. Họ không còn cười khi bà nói: "Tránh đường cho tôi đi, nếu không tôi sẽ cắt trứng của các ông cho heo ăn." Một vài người trong số họ nhìn chằm chằm khi bà cởi áo dài len và đi ngủ với quần áo lót bằng lụa. Khi đi tiểu ở trong rừng, họ phải quay lưng lại phía bà, một điều mà trước đây họ chẳng bao giờ làm.
Một ngày kia bà thấy bố bà nói chuyện với cha sở một cách chăm chú - một chuyện hiếm khi xẩy ra – và cả hai người cứ nhìn bà, như họ đang nói về bà. Sáng hôm sau bố bà nói với bà: "Đi với Henry và Everard, và làm những gì mà họ bảo." Sau đó ông hôn lên trán bà. Bà tự hỏi, chuyện gì đã làn bố bà thay đổi – có phải ông dịu hiền hơn trong tuổi già của ông? Bà thắng yên con ngựa đua màu xám – bà không muốn cưỡi con ngựa của đàn bà hoặc con ngựa con của trẻ nhỏ - và lên đường với hai người đàn ông bên cạnh.
Họ đem bà đến một tu viện nữ và bỏ bà lại đó.
Khi hai người đàn ông ra về, cả nơi đó vang lên lời chửi rủa thô tục của bà. Bà đâm vị tu viện trưởng rồi đi bộ cả đoạn đường về lại nhà bố. Ông cột chân tay bà vào yên con lừa và gửi bà trở lại tu viện. Bà bị nhốt trong phòng phạt cho đến khi vết thương của vị tu viện trưởng lành. Căn phòng lạnh, ẩm thấp và tối như đêm đen, và bà có nước để uống nhưng không có đồ ăn. Khi bà được ra khỏi phòng đó, bà lại đi bộ về nhà. Bố bà lại gửi bà đi, và lần này bà bị đánh trước khi bị nhốt vào trong phòng.
Sau cùng họ hoán cải được bà, dĩ nhiên, và bà mặc áo tập sinh, sống theo quy luật và học cầu nguyện, mặc dù trong tâm hồn bà ghét các nữ tu, coi thường các Thánh và không tin bất cứ điều gì người ta nói với bà về Thiên Chúa bằng lý thuyết. Nhưng bà học đọc và viết, bà thành thạo về âm nhạc, toán và vẽ. Ngoài tiếng Pháp và tiếng Anh mà bà đã nói trong gia đình, bà học thêm tiếng Latin.
Đời sống trong tu viện không quá xấu. Nó là một cộng đoàn gồm các cá nhân độc thân với các quy định đặc thù và các nghi thức, và đó chính là lối sống mà bà đã quen. Tất cả các nữ tu phải làm việc chân tay và Ellen được phân công lo cho ngựa. Chẳng bao lâu sau bà phụ trách chuồng ngựa.
Sự nghèo khó không làm bà bận tâm. Sự vâng phục không dễ dàng gì, nhưng cuối cùng bà cũng theo. Quy luật thứ ba, sự trinh khiết, bà chẳng coi trọng lắm, và có những lúc để thách thức vị tu viện trưởng, bà khai tâm cho một hay nhiều nữ tu tập sinh về những thú vui của –
Vào lúc này Agnes gián đoạn câu chuyện của Ellen. Bà mang Martha theo, đi tìm nguồn suối để lau mặt cô và giặt chiếc áo của cô. Bà đem cả Alfred theo, để bảo vệ, mặc dù bà nói bà sẽ không đi quá xa. Jack đứng lên theo họ, nhưng Agnes cứng rắn nói cậu ở lại và dường như cậu hiểu, vì cậu lại ngồi xuống. Tom nhận ra Agnes đã muốn đem các con đi để chúng không nghe được câu chuyện vô đạo và sỗ sàng này, và bà cũng không muốn để Tom ở lại một mình với Ellen.
Một ngày nọ, Ellen tiếp tục, con ngựa nhỏ của vị tu viện trưởng bị què cách tu viện vài ngày đường. Tu viện Kingsbridge tình cờ ở gần đó, vì thế bà mượn một con ngựa khác ở đó. Sau khi trở về, bà nói Ellen đem trả lại ngựa và lấy con ngựa què về.
Ở đó, trong chuồng ngựa của tu viện, nằm trong bóng ngôi nhà thờ chính tòa cũ kỹ đổ nát của Kingsbridge, Ellen gặp một thanh niên trẻ, trông giống như một con chó con bị đánh đập. Cậu có sự mềm mại và cái mũi cảnh giác của một con chó con, nhưng cậu sợ hãi và nhút nhát như thể tất cả thú vui chơi đã bị đánh bật ra khỏi cậu. Khi bà nói, cậu không hiểu gì. Bà thử bằng tiếng Latin, nhưng cậu không phải là tu sĩ. Sau cùng bà nói vài chữ bằng tiếng Pháp, khuôn mặt ông vui tươi rạng rỡ và ông trả lời lại trong cùng một ngôn ngữ.
Ellen chẳng bao giờ trở lại tu viện nữa. Từ đó bà sống trong rừng, trước hết trong một túp lều bằng cành lá, sau đó trong một hang động khô ráo. Bà không quên khả năng của đàn ông mà bà đã học được ở nhà bố: bà vẫn có thể săn nai, bắt thỏ, bắn thiên nga bằng cung; bà có thể mổ thịt, làm sạch và nấu chín; và bà còn biết cạo, thuộc da và dùng chúng may quần áo. Như một trò chơi, bà ăn trái cây rừng, các loại hạt và rau cỏ. Còn những vật khác cần thiết như muối, quần áo len, chiếc rìu hay con dao mới, bà phải ăn cắp.
Thời gian tồi tệ nhất là khi Jack được sinh ra…
Nhưng anh chàng người Pháp ra sao? Tom muốn hỏi. Có phải ông ấy là bố của Jack không? Và nếu như vậy, ông ấy đã chết lúc nào? Và ra sao? Nhưng nhìn vào khuôn mặt bà, ông biết bà không muốn kể về phần này của câu chuyện, và bà là người không dễ bị thuyết phục, vì thế ông giữ những câu hỏi này cho riêng mình.
Vào thời điểm đó, bố bà qua đời và nhóm người xung quanh ông tản mác đi, vì thế bà không còn người thân hoặc bạn bè nào trên thế giới. Khi Jack được sinh ra, bà đốt lửa suốt đêm ở cửa hang. Bà có đồ ăn, nước uống, và có dao, cung tên để chống sói và chó hoang; và ngay cả bà có một chiếc áo choàng dầy màu đỏ mà bà đã ăn cắp của một giám mục để quấn cho đứa nhỏ. Nhưng bà không chuẩn bị cho sự đau đớn và sự sợ hãi của việc sinh nở, và trong một thời gian dài bà nghĩ rằng bà sẽ chết. Tuy nhiên, đứa nhỏ được sinh ra khỏe mạnh và bà được sống sót.
Ellen và Jack đã trải qua một cuộc sống thô sơ, đơn giản trong mười một năm sau đó. Rừng cho họ những gì họ cần, miễn là họ phải thận trọng tích trữ đủ táo, các loại hạt và thịt ướp muối hoặc hun khói cho các tháng mùa đông. Ellen thường nghĩ rằng nếu giả sử như thế giới không có vua, bá tước, giám mục và cảnh sát thì mọi người có thể sống như thế này và hoàn toàn hạnh phúc.
Tom hỏi bà đã xử lý như thế nào với những người sống ngoài vòng pháp luật khác, những người như Raramond Openmouth. Điều gì sẽ xẩy ra nếu họ đè lên bà vào ban đêm và cưỡng hiếp bà? Ông tự hỏi và khi nghĩ như vậy, chỗ thắt lưng của ông bị kích thích, mặc dù ông chẳng bao giờ cưỡng hiếp người đàn bà nào, ngay cả vợ ông.
Các kẻ tội phạm khác sợ Ellen, bà kể cho Tom, ngước nhìn Tom bằng đôi mắt trong sáng và ông hiểu tại sao: họ nghĩ bà là một phù thủy. Chỉ đối với những người lữ hành qua rừng, những người biết rằng họ có quyền ăn cắp, cưỡng hiếp và giết chết những tội phạm mà không sợ bị pháp luật trừng phạt – những người đó Ellen phải tránh. Tại sao bà lại không tránh Tom? Bởi vì bà thấy một đứa trẻ bị thương và bà muốn giúp đỡ, vì chính bà cũng có một đứa con.
Bà đã truyền đạt cho Jack kiến thức về vũ khí và săn bắn mà bà đã học trong nhà của bố bà. Sau đó bà dạy cậu những gì bà học được từ các nữ tu: đọc và viết, nhạc và toán, tiếng Pháp và tiếng Latin, cách vẽ và ngay cả những câu truyện về Kinh Thánh. Và trong những đêm dài mùa đông, bà truyền lại cho cậu di sản của chàng trai người Pháp, người biết nhiều câu truyện, thơ và bài hát hơn bất cứ một người nào khác trên thế giới.
Tom không tin rằng Jack có thể đọc và viết. Tom có thể viết tên mình, và một vài chữ như xu, mét và giạ; và Agnes, con gái của một mục sư, biết nhiều hơn, mặc dù bà ấy viết chậm và lưỡi bà cứng đơ trong cửa miệng; và Alfred không viết được chữ nào, ngay cả không nhận ra tên mình; còn Martha không biết gì. Có thể nào một đứa bé nửa ngu nửa dại này lại có thể đọc và viết hơn cả gia đình Tom?
Ellen nói Jack viết, và cậu san phẳng mặt đất rồi viết lên đó. Tom nhận ra được chữ thứ nhất, Alfred, nhưng không biết các chữ khác, và ông thấy mình ngu dốt; Ellen cứu sự bối rối của ông bằng cách đọc to cả câu: "Alfred lớn hơn Jack." Rồi Jack vẽ nhanh hai hình người, một người lớn hơn người kia, và mặc dù nét vẽ thô sơ người ta vẫn có thể hiểu một người có bờ vai rộng nhìn khó chịu, và người nhỏ hơn cười toe toét. Tom là người có khả năng phác thảo, ông cũng ngạc nhiên về sự đơn giản và có sức thuyết phục của bức tranh vẽ trên đất.
Nhưng đứa trẻ dường như là một đứa ngốc.
Ellen đã nhận ra điều đó, bà thừa nhận, như đoán được ý nghĩ của Tom. Jack chẳng bao giờ có bạn cùng lứa, hoặc sự thân thiện của người khác, ngoại trừ mẹ cậu, và kết quả là cậu lớn lên như một con thú hoang. Mặc dù đã học tất cả, cậu vẫn không biết cư xử với người khác. Đó là lí do tại sao cậu im lặng, cứng đầu và chộp giật.
Khi bà kể điều này, lần đầu tiên thấy bà bị tổn thương. Bà đánh mất đi sự tự lập bất khả xâm phạm của mình, và Tom nhìn thấy bà bối rối, hầu như thất vọng. Vì Jack, bà cần tham dự vào xã hội, nhưng bằng cách nào? Giả sử bà là đàn ông, bà có thể thuyết phục vài lãnh chúa để xin thuê một nông trại, nhất là khi bà nói dối là bà trở về từ một chuyến hành hương đến Giêrusalem hay Santiago de Compostela. Có một vài nông dân phụ nữ, nhưng họ là các góa phụ sống với con trai lớn của họ. Không có lãnh chúa nào cung cấp trang trại cho một phụ nữ với con nhỏ. Không người nào muốn thuê bà làm việc cho họ trong thành phố cũng như nơi miền quê; bên cạnh đó bà không có nơi ở, và công nhân không chuyên nghiệp thường không được cho chỗ ăn nghỉ. Bà không có căn tính.
Tom thông cảm bà. Bà đã cho con bà mọi thứ bà có thể cho, nhưng nó vẫn chưa đủ. Nhưng ông không biết cách nào để bà thoát khỏi nghịch cảnh này. Mặc dù bà xinh đẹp, tháo vát và mạnh mẽ, nhưng bà đã bị kết án phải trải qua suốt quãng đời còn lại trốn tránh trong rừng với đứa con lập dị này.
 
 
Agnes, Martha và Alfred trở về. Tom nhìn Martha lo lắng, nhưng cô ấy trông như là không có gì tồi tệ đã vừa xẩy ra cho cô, ngoài khuôn mặt mới được gột rửa. Trong một thời gian dài, Tom đã chìm đắm trong vấn đề của Ellen, nhưng bây giờ ông nhớ đến hoàn cảnh của chính mình: ông đang thất nghiệp và con heo đã bị ăn cắp. Buổi chiều lên. Ông thu thập tài sản còn lại của mình.
Ellen hỏi: "Ông định đi đâu?"
"Winchester," Tom nói với cô. Winchester có một pháo đài, một cung điện, nhiều tu viện, và quan trọng nhất trong tất cả – một ngôi nhà thờ chính tòa.
"Salisbury gần hơn," Ellen nói. "Và lần sau cùng khi tôi ở đó, họ đang xây lại ngôi nhà thờ chính tòa, mở rộng hơn xưa."
Trái tim Tom nhẩy múa. Đó là cái mà ông đang tìm kiếm. Nếu ông tìm được một công việc trong một dự án xây nhà thờ, ông tin rằng sau đó ông sẽ có thể trở thành người xây dựng chính. "Đường nào dẫn tới Salisbury?" ông háo hức hỏi.
"Ngược lại đường ông vừa đến, khoảng ba hoặc bốn dặm. Ông có nhớ ngã ba đường, nơi ông đã quẹo trái?"
"Có, bên cạnh một ao nước bẩn."
"Đúng đó. Ngã ba phía phải dẫn đến Salibury."
Họ ra đi. Agnes không thích Ellen, tuy nhiên bà vẫn ân cần nói: "Cảm ơn cô đã chăm sóc cho Martha."
Ellen cười và tiếc nuối nhìn họ ra đi.
Khi họ đã đi được vài phút, Tom quay lại. Ellen vẫn nhìn theo họ, hai chân dang rộng, bàn tay che nắng mặt trời và đứa con trai đứng bên cạnh. Tom vẫy tay và bà vẫy lại.
"Một người phụ nữ hấp dẫn." ông nói với Agnes.
Agnes không nói gì.
Alfred nói: "Đứa con trai thật kỳ lạ."
Họ bước đi trong nắng mặt trời mùa thu thấp. Tom tò mò không biết thị trấn Salisbury ra sao: ông chưa bao giờ đến đó. Ông thấy thích thú. Dĩ nhiên ông muốn xây một nhà thờ chính tòa từ nền móng, nhưng điều đó có lẽ chẳng xẩy ra, dễ hơn nên tìm một tòa nhà cũ để sửa lại hay nới rộng ra hoặc xây lại một phần. Nhưng điều đó đủ cho ông rồi, miễn là nó có triển vọng để sau này ông có thể xây theo phác họa của riêng ông.
Martha hỏi: "Tại sao người đàn ông lạ lại đánh con?"
"Bởi vì hắn muốn ăn cắp con heo của chúng ta." Agnes trả lời.
"Ông ấy chỉ nên lấy con heo của ông ấy," Martha nói phẫn nộ, như thể cô chỉ nhận ra một điều là kẻ tội phạm đã làm điều gì đó sai trái.
Vấn đề của Ellen sẽ được giải quyết nếu bà ấy có một nghề thủ công, Tom suy nghĩ lại. Một thợ nề, một thợ mộc, một thợ dệt hoặc một thợ thuộc da sẽ không gặp hoàn cảnh như của bà, vì họ vẫn có thể đến thành phố tìm việc. Có một vài bà làm thợ thủ công, nhưng thông thường họ là góa phụ hoặc vợ của thợ thủ công. "Những gì Ellen cần," Tom nói lớn, "là một người chồng."
Agnes nói quả quyết: "Tốt, nhưng bà ấy không thể có chồng của tôi."
 
 
 
III
 
Ngày họ mất con heo cũng là ngày cuối cùng của thời tiết êm dịu. Họ qua đêm trong một nhà kho, và khi họ ra khỏi nhà kho vào buổi sáng, bầu trời có màu của mái nhà lá, và có một cơn gió lạnh mang theo mưa. Họ lấy áo khoác dầy bằng nỉ ra khỏi bọc, mặc chúng vào, thắt chặt dưới cằm và kéo mũ ra phía trước để mưa khỏi rơi vào mặt. Họ ra đi trong một tâm trạng ảm đạm, bốn bóng ma âm thầm trong cơn mưa bão, đôi guốc gỗ của họ gõ nước tung tóe dọc theo con đường đầy nước và bùn lầy.
Tom thắc mắc không biết ngôi nhà thờ chính tòa Salisbury ra sao. Nhà thờ chính tòa là một nhà thờ, trong căn bản, giống như các nhà thờ khác: nó đơn giản là một nhà thờ, nơi vị giám mục đặt ngai tòa của ngài. Nhưng trong thực tế, nhà thờ chính tòa lớn nhất, giầu nhất, vĩ đại nhất và phức tạp nhất trong vùng. Nhà thờ chính tòa ít khi chỉ là một đường hầm với các cửa sổ. Hầu hết chúng có ba đường hầm, một cái cao ở giữa và hai cái nhỏ hơn ở hai bên cạnh, tạo thành một gian giữa với lối đi hai bên. Hai bên tường của đường hầm giữa được đơn giản đi, chỉ còn lại hai hàng cột liên kết bởi mái vòm, tạo thành một đường mái vòm. Đường đi hai bên dùng cho các cuộc rước kiệu – rất ngoạn mục trong nhà thờ chính tòa – và cũng cung cấp không gian cho các nhà nguyện nhỏ hai bên dành riêng cho các vị Thánh đặc biệt, những vị Thánh thu hút thêm tiền dâng cúng. Nhà thờ chính tòa là tòa nhà mắc nhất thế giới, còn hơn cả dinh thự và lâu đài, và chúng cũng cần tiền để bảo trì.
Salisbury gần hơn là Tom nghĩ. Vào giữa buổi sáng họ trèo lên đồi, và thấy một con đường trước mặt dẫn xuống một khúc quanh dài, rồi xuyên qua một cánh đồng, phùng lên giữa đồng bằng như một con thuyền nhô lên trên mặt hồ. Từ đó họ có thể nhìn thấy thành phố Salisbury kiên cố trên đồi. Thành phố chìm trong mưa, nhưng Tom có thể nhìn thấy nhiều tháp, bốn hoặc năm cái, cao hơn bức tường thành. Ông lên tinh thần khi thấy nhiều công trình bằng đá.
Một cơn gió lạnh thổi qua cánh đồng, làm mặt và chân tay họ buốt lạnh khi họ đi theo con đường vào cổng phía đông. Bốn con đường gặp nhau dưới chân đồi, ở giữa khu nhà được la rộng ra từ thị trấn, và nơi đây có nhiều lữ khách cùng đi với họ, bước đi với tấm lưng còng và đầu cúi xuống băng ngang thời tiết tới nơi trú ẩn sau bức tường.
Trên sườn dốc dẫn đến cổng thành, họ gặp một xe bò chở đầy đá – một dấu hiệu rất hy vọng cho Tom. Người phu xe cúi xuống sau xe bằng gỗ thô, đẩy xe bằng vai của mình, dùng sức mình phụ lực với hai con bò để đẩy chiếc xe lên dốc. Tom thấy cơ hội tốt để làm bạn. Ông ra hiệu cho Alfred, cả hai đặt vai vào sau xe và giúp đẩy xe lên.
Các bánh xe bằng gỗ to lớn đi ầm ầm qua cây cầu bằng gỗ bắt ngang một con hào khô rất lớn. Công sự đào đắp bằng đất thật là kinh khủng: phải đào đất, lấy đất đi để tạo thành bức tường thành, điều đó phải cần đến hàng trăm công nhân, Tom nghĩ, một công trình còn to lớn hơn là đào nền móng cho một nhà thờ chính tòa. Cây cầu bắc ngang con hào lúc lắc và kêu cọt kẹt dưới sức nặng của chiếc xe và hai con thú to lớn.
Độ dốc giảm đi và xe bò có thể di chuyển dễ dàng hơn khi họ đến gần cổng vào. Người phu xe đứng thẳng lên, Tom và Alfred cũng làm như vậy. "Cảm ơn lòng tốt của các ông," người phu xe nói.
Tom hỏi: "Ông chở đá làm gì vậy?"
"Cho nhà thờ chính tòa mới."
"Xây mới sao? Tôi nghe nói chỉ nới rộng thêm thôi mà?"
Người phu xe gật đầu. "Đó là những gì họ nói cách đây mười năm về trước. Nhưng bây giờ nó mới nhiều hơn cũ."
Đó là một tin tốt cho Tom.  "Ai là thợ xây dựng tổng thể chính?"
"John thành Shaftesbury, mặc dù Giám mục Roger có công nhiều trong việc thiết kế."
Nó là điều bình thường. Rất ít khi giám mục để thợ xây dựng chính làm việc một mình. Một trong những vấn đề của thợ xây dựng chính là làm dịu những tưởng tượng nóng bỏng của hàng giáo sĩ và đặt ra những giới hạn thực tế cho những tưởng tượng mơ hồ của họ. Nhưng chính John thành Shaftesbury là người chịu trách nhiệm về việc thuê nhân công.
Người phu xe gật đầu khi nhìn thấy túi đồ nghề của Tom. "Thợ xây?"
"Vâng, đang đi tìm vệc."
"Ông sẽ tìm được," người phu xe nói chung chung. "Nếu không tìm được ở nhà thờ chính tòa, có lẽ cũng tìm được ở lâu đài."
"Ai chỉ đạo ở lâu đài?"
"Cũng vậy. Roger vừa là giám mục vừa là người cai quản thành trì."
Dĩ nhiên, Tom nghĩ. Ông đã nghe về quyền lực của Roger vùng Salisbury, người từ lâu đã được coi là thân cận với nhà vua.
Họ đi qua cổng vào thành. Quảng trường đầy các tòa nhà, người và thú vật, đầy đến nỗi dường như nó có nguy cơ làm nổ tung cả bức tường thành và rơi xuống các thành hào. Các nhà gỗ chen nhau vai kề vai, xô đẩy tìm chỗ như khán giả đi xem buổi tử hình. Mỗi khoảng hở trên mặt đất đều được dùng cho cái gì đó. Nơi hai ngôi nhà được xây với con hẻm ở giữa, một ai đó đã xây một nửa căn nhà trong hẻm, không có cửa sổ. Mặt tiền nhà dù có nhỏ, ngay cả đối với căn nhà nhỏ nhất, cũng tạo nên một gian hàng bán rượu bia, bánh mì hoặc táo; và ngay cả chỗ đó có nhỏ bé, nó cũng có chuồng ngựa, chuồng heo, một đống phân hay một thùng nước.
Thị trấn rất ồn ào. Mưa cũng không làm bớt đi tiếng ồn ào của thợ thủ công, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng mọi người chào hỏi nhau, thương lượng và cãi vã, tiếng thú vật hí, sủa và đánh nhau.
III
 
Ngày họ mất con heo cũng là ngày cuối cùng của thời tiết êm dịu. Họ qua đêm trong một nhà kho, và khi họ ra khỏi nhà kho vào buổi sáng, bầu trời có màu của mái nhà lá, và có một cơn gió lạnh mang theo mưa. Họ lấy áo khoác dầy bằng nỉ ra khỏi bọc, mặc chúng vào, thắt chặt dưới cằm và kéo mũ ra phía trước để mưa khỏi rơi vào mặt. Họ ra đi trong một tâm trạng ảm đạm, bốn bóng ma âm thầm trong cơn mưa bão, đôi guốc gỗ của họ gõ nước tung tóe dọc theo con đường đầy nước và bùn lầy.
Tom thắc mắc không biết ngôi nhà thờ chính tòa Salisbury ra sao. Nhà thờ chính tòa là một nhà thờ, trong căn bản, giống như các nhà thờ khác: nó đơn giản là một nhà thờ, nơi vị giám mục đặt ngai tòa của ngài. Nhưng trong thực tế, nhà thờ chính tòa lớn nhất, giầu nhất, vĩ đại nhất và phức tạp nhất trong vùng. Nhà thờ chính tòa ít khi chỉ là một đường hầm với các cửa sổ. Hầu hết chúng có ba đường hầm, một cái cao ở giữa và hai cái nhỏ hơn ở hai bên cạnh, tạo thành một gian giữa với lối đi hai bên. Hai bên tường của đường hầm giữa được đơn giản đi, chỉ còn lại hai hàng cột liên kết bởi mái vòm, tạo thành một đường mái vòm. Đường đi hai bên dùng cho các cuộc rước kiệu – rất ngoạn mục trong nhà thờ chính tòa – và cũng cung cấp không gian cho các nhà nguyện nhỏ hai bên dành riêng cho các vị Thánh đặc biệt, những vị Thánh thu hút thêm tiền dâng cúng. Nhà thờ chính tòa là tòa nhà mắc nhất thế giới, còn hơn cả dinh thự và lâu đài, và chúng cũng cần tiền để bảo trì.
Salisbury gần hơn là Tom nghĩ. Vào giữa buổi sáng họ trèo lên đồi, và thấy một con đường trước mặt dẫn xuống một khúc quanh dài, rồi xuyên qua một cánh đồng, phùng lên giữa đồng bằng như một con thuyền nhô lên trên mặt hồ. Từ đó họ có thể nhìn thấy thành phố Salisbury kiên cố trên đồi. Thành phố chìm trong mưa, nhưng Tom có thể nhìn thấy nhiều tháp, bốn hoặc năm cái, cao hơn bức tường thành. Ông lên tinh thần khi thấy nhiều công trình bằng đá.
Một cơn gió lạnh thổi qua cánh đồng, làm mặt và chân tay họ buốt lạnh khi họ đi theo con đường vào cổng phía đông. Bốn con đường gặp nhau dưới chân đồi, ở giữa khu nhà được la rộng ra từ thị trấn, và nơi đây có nhiều lữ khách cùng đi với họ, bước đi với tấm lưng còng và đầu cúi xuống băng ngang thời tiết tới nơi trú ẩn sau bức tường.
Trên sườn dốc dẫn đến cổng thành, họ gặp một xe bò chở đầy đá – một dấu hiệu rất hy vọng cho Tom. Người phu xe cúi xuống sau xe bằng gỗ thô, đẩy xe bằng vai của mình, dùng sức mình phụ lực với hai con bò để đẩy chiếc xe lên dốc. Tom thấy cơ hội tốt để làm bạn. Ông ra hiệu cho Alfred, cả hai đặt vai vào sau xe và giúp đẩy xe lên.
Các bánh xe bằng gỗ to lớn đi ầm ầm qua cây cầu bằng gỗ bắt ngang một con hào khô rất lớn. Công sự đào đắp bằng đất thật là kinh khủng: phải đào đất, lấy đất đi để tạo thành bức tường thành, điều đó phải cần đến hàng trăm công nhân, Tom nghĩ, một công trình còn to lớn hơn là đào nền móng cho một nhà thờ chính tòa. Cây cầu bắc ngang con hào lúc lắc và kêu cọt kẹt dưới sức nặng của chiếc xe và hai con thú to lớn.
Độ dốc giảm đi và xe bò có thể di chuyển dễ dàng hơn khi họ đến gần cổng vào. Người phu xe đứng thẳng lên, Tom và Alfred cũng làm như vậy. "Cảm ơn lòng tốt của các ông," người phu xe nói.
Tom hỏi: "Ông chở đá làm gì vậy?"
"Cho nhà thờ chính tòa mới."
"Xây mới sao? Tôi nghe nói chỉ nới rộng thêm thôi mà?"
Người phu xe gật đầu. "Đó là những gì họ nói cách đây mười năm về trước. Nhưng bây giờ nó mới nhiều hơn cũ."
Đó là một tin tốt cho Tom.  "Ai là thợ xây dựng tổng thể chính?"
"John thành Shaftesbury, mặc dù Giám mục Roger có công nhiều trong việc thiết kế."
Nó là điều bình thường. Rất ít khi giám mục để thợ xây dựng chính làm việc một mình. Một trong những vấn đề của thợ xây dựng chính là làm dịu những tưởng tượng nóng bỏng của hàng giáo sĩ và đặt ra những giới hạn thực tế cho những tưởng tượng mơ hồ của họ. Nhưng chính John thành Shaftesbury là người chịu trách nhiệm về việc thuê nhân công.
Người phu xe gật đầu khi nhìn thấy túi đồ nghề của Tom. "Thợ xây?"
"Vâng, đang đi tìm vệc."
"Ông sẽ tìm được," người phu xe nói chung chung. "Nếu không tìm được ở nhà thờ chính tòa, có lẽ cũng tìm được ở lâu đài."
"Ai chỉ đạo ở lâu đài?"
"Cũng vậy. Roger vừa là giám mục vừa là người cai quản thành trì."
Dĩ nhiên, Tom nghĩ. Ông đã nghe về quyền lực của Roger vùng Salisbury, người từ lâu đã được coi là thân cận với nhà vua.
Họ đi qua cổng vào thành. Quảng trường đầy các tòa nhà, người và thú vật, đầy đến nỗi dường như nó có nguy cơ làm nổ tung cả bức tường thành và rơi xuống các thành hào. Các nhà gỗ chen nhau vai kề vai, xô đẩy tìm chỗ như khán giả đi xem buổi tử hình. Mỗi khoảng hở trên mặt đất đều được dùng cho cái gì đó. Nơi hai ngôi nhà được xây với con hẻm ở giữa, một ai đó đã xây một nửa căn nhà trong hẻm, không có cửa sổ. Mặt tiền nhà dù có nhỏ, ngay cả đối với căn nhà nhỏ nhất, cũng tạo nên một gian hàng bán rượu bia, bánh mì hoặc táo; và ngay cả chỗ đó có nhỏ bé, nó cũng có chuồng ngựa, chuồng heo, một đống phân hay một thùng nước.
Thị trấn rất ồn ào. Mưa cũng không làm bớt đi tiếng ồn ào của thợ thủ công, tiếng rao của người bán hàng rong, tiếng mọi người chào hỏi nhau, thương lượng và cãi vã, tiếng thú vật hí, sủa và đánh nhau.
Cất giọng to hơn tiếng ồn ào, Martha hỏi: "Mùi gì hôi thế?"
Tom mỉm cười. Một vài năm nay cô không ở trong thị trấn. "Đó là mùi của con người," ông nói với cô.
Đường phố chỉ rộng hơn chiếc xe bò một chút, nhưng người phu xe không để con thú của mình dừng lại, sợ rằng chúng không bắt đầu lại được; vì thế ông đánh cho chúng vượt qua mọi trở ngại. Hai con thú âm thầm chen qua đám đông, không phân biệt một ai, chúng xô đẩy một hiệp sĩ trên lưng con ngựa chiến, một cán bộ kiểm lâm với cây cung, một tu sĩ mập trên lưng con ngựa nhỏ, cũng như xô đẩy các binh lính, người ăn mày, bà nội trợ và gái điếm.
Chiếc xe bò đi sau một người chăn cừu già. Ông đang cố gắng giữ đàn cừu nhỏ của ông đi chung với nhau. Hôm nay là ngày chợ, Tom nhận ra. Khi xe bò đi ngang qua, một con cừu lao vào qua cánh cửa mở rộng của một quán bia, và trong một khoảnh khắc toàn bộ đàn cừu đã ở trong nhà, kêu be be, làm hoảng loạn và xô đẩy bàn ghế, làm đổ cả thùng bia.
Mặt đất dưới chân là một biển bùn và rác. Tom để ý đến trường hợp nước mưa rơi trên mái nhà, và chiều rộng cần thiết của chiếc rãnh cho nước mưa trôi đi; và ông cũng nhận thấy tất cả nước mưa rơi trên mái của nửa thị trấn chảy qua con đường này. Trong một cơn bão xấu, ông nghĩ, có lẽ bạn cần một chiếc thuyền để qua đường.
Khi họ đến lâu đài trên đỉnh đồi, đường phố rộng rãi hơn. Ở đây có những căn nhà đá, một hoặc hai căn cần phải sửa chữa lại. Chúng thuộc sở hữu của thợ thủ công và thương gia, những người có cửa hàng và tiệm ở tầng dưới và sống ở tầng trên. Với đôi mắt thực tế, Tom nhìn vào những đồ bày bán và có thể nói rằng đây là một thị trấn thịnh vượng. Tất cả mọi người cần phải có dao và nồi, nhưng chỉ người giầu có mới mua khăn choàng thêu, dây thắt lưng được trang trí và vòng bạc.
Ở phía trước lâu đài, người phu xe cho các con bò quẹo phải, Tom và gia đình đi theo sau. Con đường dẫn quanh một phần tư vòng tròn, dọc theo chân thành lũy lâu đài. Đi qua một cửa khác, họ rời bỏ sự náo nhiệt của thị trấn nhanh như khi họ đi vào, và họ bước vào một vùng xoáy khác: sự bận rộn nhưng có trật tự của một công trường xây dựng lớn.
Họ ở phía trong khu đất có tường bao quanh của nhà thờ chính tòa, ngôi nhà thờ chiếm toàn bộ khu tây bắc của thị trấn hình tròn. Tom đứng một lúc lâu để cảm nhận nó. Chỉ cần nhìn, nghe và ngửi nó cũng đã tạo cho ông một sự rộn ràng giống như một ngày nắng ấm. Khi xe chở đá đến, hai xe trống khác đi ra. Trong mái che của nhà kho dọc theo tường nhà thờ có thể nhìn thấy những thợ xây đang đẽo các khối đá bằng đục sắt và búa lớn bằng gỗ để tạo nên các hình dạng có thể được ghép vào với nhau, làm nên chân cột, hàng cột, trụ tường, vòm, cửa sổ, ngưỡng cửa, tháp nhọn và lan can. Ở giữa khu đất, tách rời khỏi các công trình xây dựng khác, ngọn lửa đang cháy có thể nhìn thấy được xuyên qua các khung cửa mở; người thợ rèn đang làm những công cụ mới và tiếng kêu của búa đập trên đe vang dội khắp khu vực. Đối với nhiều người, đó là một cảnh hỗn loạn, nhưng Tom nhìn thấy đây là một cơ chế lớn và phức tạp mà ông muốn điều hành. Ông biết mỗi người đang làm gì và ông có thể nhìn thấy ngay công việc đã tiến triển tới đâu: Họ đang xây mặt tiền phía đông.
Giàn giáo ngang qua phía cuối hướng đông, ở độ cao hai mươi lăm hay ba mươi mét, đang hoạt động. Các thợ xây ở cổng vòm đang chờ cho cơn mưa nhẹ dần, nhưng những nhân công vẫn vác đá trên vai chạy lên chạy xuống trên thang. Cao hơn, trên khung mái, thợ ống nước trông giống như những con nhện leo trên mạng bằng gỗ, đóng đinh các phên sắt và lắp đặt các ống dẫn nước và máng xối.
Tom nhận ra rằng việc xây dựng sắp hoàn tất. Nếu ông được thuê làm việc ở đây, công việc sẽ không kéo dài hơn vài năm nữa – không đủ thời gian để ông có thể lên đến vị trí một thợ cả, chưa nói gì đến thợ xây dựng chính. Tuy nhiên, nếu được nhận vào làm, ông sẽ nhận lời, bởi vì mùa đông đang đến. Nếu còn con heo, ông và gia đình có thể sống qua mùa đông không việc làm, nhưng bây giờ không còn con heo, Tom phải tìm việc.
Họ đi theo chiếc xe bò ngang qua công trường đến nơi các tảng đá được xếp đống. Với thái độ biết ơn, con bò cúi đầu vào máng nước. Người phu xe hỏi lớn một thợ xây đi ngang qua: "Thợ xây dựng chính ở đâu?"
"Trong lâu đài," thợ xây trả lời.
Người phu xe gật đầu và quay lại phía Tom. "Ông sẽ tìm thấy ông ấy trong lâu đài của giám mục, tôi mong điều đó."
"Cảm ơn!"
"Tôi cũng cảm ơn ông."
Tom rời công trường, Agnes và các con cũng đi theo. Họ trở lại con đường chen chúc, chật chội đến trước lâu đài. Đây có một hào khô khác và một thành lũy thứ hai bằng đất bao quanh trung tâm đồn lũy. Họ đi qua cây cầu kéo. Trong một chòi canh bên cạnh cổng ra vào, một ông mập mặc áo dài bằng da ngồi trên ghế, nhìn ra trời mưa bên ngoài. Ông mang một thanh kiếm. Tom nói với ông. "Chào ông, Tôi là thợ xây Tom. Tôi muốn gặp thợ xây dựng chính John thành Shaftesbury."
"Ở chỗ giám mục," viên bảo vệ đáp hờ hững.
Họ đi vào bên trong. Giống như các lâu đài khác, đây là một tổng hợp của nhiều tòa nhà linh tinh trong một bức tường đất. Chiều rộng của sân khoảng chừng một trăm dặm. Đối diện với cổng, ở phía xa, là một pháo đài lớn để trú ẩn khi bị tấn công và cao hơn thành lũy để có thể quan sát xung quanh. Bên trái gồm các tòa nhà thấp lộn xộn, đa số bằng gỗ: một chuồng thú vật dài, một nhà bếp, một lò bánh mì và nhiều nhà kho. Ở giữa sân có một giếng nước. Về phía bên phải, chiếm nguyên phía nửa bắc của toàn bộ công trình là một nhà đá to, dễ nhận ra đó là một cung điện. Nó được xây dựng giống như kiểu của ngôi nhà thờ mới, với cửa lớn và cửa sổ có đầu tròn.
Ngôi nhà có hai tầng và còn mới. Trong một góc, thợ xây vẫn đang làm việc, dường như đang xây một cây tháp. Mặc dù trời mưa, có rất nhiều người ở trong sân, đến rồi đi, hay đội mưa đi vội vã từ tòa nhà này sang tòa nhà khác: kỵ binh, linh mục, thương gia, thợ xây dựng và nhân viên phục vụ lâu đài.
Tom có thể nhìn thấy lâu đài có nhiều cửa ra vào, tất cả đều mở, mặc dù trời mưa. Ông không biết chắc phải làm gì bây giờ. Nếu thợ xây dựng chính là giám mục, có lẽ ông không nên quấy rầy ngài. Về khía cạnh khác, một giám mục không phải là một ông vua; và Tom là một người tự do và là một thợ xây kinh doanh hợp pháp, không phải là một nông nô với đơn khiếu nại. Ông quyết định liều lĩnh. Để Agnes và Martha ở lại, ông đi với Alfred xuyên qua khu sân lầy lội tới lâu đài và đi qua cánh cửa gần nhất.
Họ đến một nhà nguyện nhỏ có một mái vòm tròn và một cửa sổ ở xa cuối nhà nguyện, bên trên bàn thờ. Gần cửa ra vào, một linh mục ngồi ở bàn cao, viết nhanh trên da. Ông nhìn lên.
Tom nói rất nhanh: "Thợ xây dựng chính John ở đâu?"
"Trong phòng mặc áo lễ," vị linh mục nói, hất đầu về một cánh cửa bên tường đối diện.
Tom không yêu cầu xin gặp thợ xây dựng chính. Ông biết rằng nếu ông làm như thể ông được mời đến thì ông sẽ bớt được thời gian chờ đợi rườm rà. Ông đi qua nhà nguyện nhỏ và bước vào phòng mặc áo lễ.
Đó là một phòng vuông nhỏ được thắp sáng bởi nhiều ngọn nến. Căn phòng hầu như được đổ đầy cát. Cát mịn đã được gạt phẳng hoàn hảo theo quy tắc. Có hai người trong phòng. Hai người liếc nhìn Tom, rồi lại chú ý vào cát. Vị giám mục, một người già với đôi mắt nhăn nheo, đang vẽ trên cát bằng một cây gậy nhọn. Người thợ xây dựng chính, mặc chiếc tạp dề da, quan sát Tom một cách kiên nhẫn và với một cảm xúc nghi ngờ.
Tom chờ đợi trong lo lắng. Ông phải tạo ấn tượng tốt: lịch sự mà không hạ mình, tỏ ra hiểu biết mà không khoe trương. Một thợ xây dựng chính muốn người thuộc hạ của mình vâng lời cũng như khéo léo, Tom biết điều đó từ kinh nghiệm của những năm thuê người.
Giám mục đang phác họa một tòa nhà hai tầng với cửa sổ rộng ở cả ba phía. Ông là một người vẽ dự án giỏi, ông vẽ các đường rất thẳng và các góc chính xác. Ông vẽ một dự án mặt bằng và một dự án trực diện. Nhưng Tom nhận ra ngay là ngôi nhà này sẽ không thể xây được.
Đức giám mục chấm dứt và nói: "Đây."
John quay lại Tom và nói: "Chuyện gì vậy?"
Tom giả vờ như là ông được hỏi ý kiến về bản vẽ. Ông nói: "Ông không thể có những cửa sổ lớn như thế trong nhà có mái vòm."
Đức giám mục nhìn ông giận dữ. "Đó là một phòng viết, không phải tầng có mái vòm."
"Nó cũng sẽ đổ."
John nói: "Ông ta có lý."
"Nhưng họ cần ánh sáng để viết."
John nhún vai và quay lại Tom. "Ông là ai?"
"Tôi tên là Tom và tôi là một thợ xây."
"Tôi cũng đã đoán như thế. Ông đến đây làm gì?"
"Tôi đi tìm việc," Tom nín thở.
John lắc đầu ngay. "Tôi không thể thuê ông."
Trái tim Tom thất vọng. Ông muốn quay gót, nhưng ông chờ đợi một cách lịch sự để biết lý do.
"Chúng tôi đã xây dựng mười năm nay," John tiếp. "Hầu hết các thợ có nhà trong phố. Chúng tôi sắp hoàn tất, và bây giờ tôi có nhiều thợ xây hơn là tôi thực sự cần đến."
Tom biết không còn hy vọng gì, nhưng ông nói: "Thế thì với lâu đài thì sao?"
"Cũng như vậy," John nói. Đó là nơi tôi sử dụng nhân công dư thừa của tôi. Nếu không phải vì điều này và vì các lâu đài khác của giám mục Roger, tôi đã sa thải các thợ xây lâu rồi."
Ton gật đầu. Bằng một giọng bình thường, cố gắng không để lộ âm thanh thất vọng, ông nói: "Ông có biết về công việc ở các nơi khác không?"
"Một tu viện ở Shaftesbury đang được xây dựng từ đầu năm. Có lẽ họ vẫn đang làm. Nó ở cách đây một ngày đàng."
"Cảm ơn." Tom quay đi.
"Tôi rất tiếc," John gọi với theo. "Dường như ông là người tốt."
Tom ra đi, không trả lời lại. Ông cảm thấy chán nản. Ông đã cho phép mình hy vọng quá sớm: không có gì đáng ngạc nhiên khi bị từ chối. Nhưng ông đã bị phấn kích về viễn tượng có thể lại được xây nhà thờ chính tòa. Bây giờ ông phải chấp nhận làm việc trên một bức tường thành đơn điệu, hoặc một ngôi nhà xấu xí của một thợ bạc.
Ông vươn vai và đi ngược lại sân lâu đài, nơi Agnes và Martha đang đợi. Ông không tỏ cho bà biết sự thất vọng của mình. Ông luôn cố gắng tạo ra ấn tượng rằng mọi chuyện đều tốt đẹp, rằng ông đang làm chủ tình hình, và nó không quá quan trọng vì nếu không tìm được việc làm ở đây, chắc chắn cũng sẽ tìm được một công việc trong thị trấn sau hoặc sau nữa. Ông biết nếu ông tỏ ra bất cứ dấu hiệu chán nản nào, Agnes sẽ hối thúc ông tìm một nơi định cư, và ông không muốn điều đó, trừ khi ông tìm được một thị trấn, nơi một nhà thờ chính tòa sẽ được xây dựng.
"Anh không tìm được việc gì ở đây," ông nói với Agnes. "Chúng ta hãy lên đường."
Bà nhìn ông bỡ ngỡ. "Anh đã nghĩ rằng, một ngôi nhà thờ và một lâu đài đang xây dựng sẽ có chỗ cho một người thợ xây đó sao?"
"Cả hai hầu như sắp hoàn thành," Tom giải thích. "Họ có nhiều công nhân hơn họ cần."
Toàn bộ gia đình vượt qua cây cầu và vào lại con đường đông đúc của thị trấn. Họ đã vào Salisbury qua cửa phía đông, và sẽ ra theo cửa phía tây, bởi vì con đường đó dẫn tới Shaftesbury. Tom rẽ phải, vào con đường dẫn qua một khu phố mà họ đã chẳng nhìn thấy trước đó.
Ông dừng lại trước một căn nhà đá trông như đang cần đến sự sửa chữa. Vữa dùng để xây dựng ngôi nhà này quá xấu, nên bây giờ nó đã hư hại và rơi ra, tuyết giá bám vào trong các lỗ và làm nứt các viên đá. Nếu nó không được sửa chữa trước mùa đông, sự thiệt hại sẽ lớn hơn. Tom quyết định tìm ra người chủ ngôi nhà.
Lối vào tầng trệt là một mái vòng cung rộng. Cánh cửa bằng gỗ mở rộng, và giữa khung cửa là một nghệ nhân đang ngồi với một cái búa trong tay phải và một cái dùi trong tai trái. Ông đang khắc một thiết kế phức tạp trên yên ngựa bằng gỗ. Phía sau ông, Tom có thể nhìn thấy cửa tiệm gỗ và da, và một cậu bé với một cây chổi đang quét vỏ bào.
Tom nói: "Chào ông."
Người thợ làm yên ngựa ngước lên, xem Tom thuộc tầng lớp nào nếu ông ấy cần đến một yên ngựa, và gật đầu cộc lốc.
"Tôi là một thợ xây cả," Tom tiếp tục. "Tôi thấy ông cần đến dịch vụ của tôi."
"Tại sao?"
"Vữa đang rơi ra, những viên đá đang bị nứt rạn và nhà ông chắc không tồn tại sau mùa đông này."
Người thợ đóng yên ngựa lắc đầu. "Thị trấn này có nhiều thợ xây. Tại sao tôi phải thuê một người lạ?"
"Rất tốt." Tom quay đi. "Mong Thiên Chúa ở với ông."
"Tôi cũng hy vọng như thế," thợ làm yên ngựa nói.
"Một đồng nghiệp thô lỗ," Agnes thì thầm khi họ đi ra.
Con đường dẫn họ đến một khu chợ. Ở đây, trong khu bùn lầy này, nông dân từ các vùng nông thôn trao đổi những cái ít ỏi dư thừa của họ như thịt, ngũ cốc, sữa hay trứng, để lấy những thứ họ cần và không tự làm được như chậu, lưỡi cày, dây thừng và muối. Thông thường khu chợ đầy màu sắc và náo nhiệt. Có tiếng mặc cả, cãi nhau và vui đùa. Có bánh kẹo rẻ tiền cho trẻ em, một đôi khi có nhóm hát rong hay nhào lộn. Nhiều khi người ta gặp những cô gái điếm, những thương binh với những câu chuyện về sa mạc miền đông và nhóm người du mục Saracen. Những người có công việc kinh doanh tốt thường khó kìm hãm được sự cám dỗ để ăn mừng, để mua bia rượu, vì thế luôn luôn có một bầu khí ồn ào vào giữa trưa. Những người khác mất những đồng xu vào cờ bạc, và điều đó thường dẫn đến việc đánh nhau. Nhưng bây giờ, vào một buổi sáng mưa gió, sau mùa gặt, khi các sản phẩm đã được bán hoặc được cất vào kho, ngôi chợ trở nên vắng vẻ. Những nông dân ướt đẫm nước mưa buôn bán một cách lặng lẽ với chủ gian hàng, và mỗi người mong sớm về lại ngôi nhà của mình bên ánh lửa hồng.
Gia đình Tom chen qua đám đông chán nản, làm ngơ trước lời chào hàng của người bán xúc xích và mài dao. Khi họ gần đến phía xa bên kia khu chợ, Tom thấy con heo của ông.
Ông quá ngạc nhiên đến nỗi lúc đầu ông không tin vào mắt mình. Sau đó Agnes rít lên: "Tom, hãy nhìn kìa!" và ông biết bà cũng đã thấy nó.
Không còn nghi ngờ gì. Ông biết rõ con heo, như ông biết rõ Alfred và Martha. Con heo được giữ chặt bởi một người đàn ông có nước da hồng hào, có kích thước của một người ăn nhiều thịt và còn hơn nữa: chắc ông là người bán thịt. Cả Tom và Agnes đứng nhìn chằm chằm vào ông ta, và bởi vì họ ngăn trở đường đi nên ông ấy chú ý đến họ.
"Tốt chứ?" ông ấy nói, bối rối vì ánh mắt của họ và ông nóng lòng muốn đi.
Chính Martha là người phá sự yên lặng. "Đó là con heo của chúng tôi!" cô hào hứng nói.
"Đúng vậy," Tom nói và bình thản nhìn vào người bán thịt.
Qua cái nhìn lén, Tom nhận ra rằng ông ấy biết con heo này là con heo ăn cắp. Nhưng ông ta nói: "Tôi vừa mua nó năm mươi xu, và đó là con heo của tôi."
"Dù ông mua của bất cứ ai, con heo này không phải là của người ấy và họ không có quyền bán. Không ngạc nhiên gì khi ông mua nó quá rẻ. Ông đã mua nó của ai?"
"Của một nông dân."
"Một người mà ông biết?"
"Không. Hãy nghe đây, tôi là người bán thịt cho các đơn vị đồn trú. Tôi không thể đòi hỏi những người đến bán cho tôi một con heo hoặc một con bò là họ phải tìm được mười hai người làm chứng và thề rằng con vật này là của họ."
Người đàn ông bước sang bên và muốn bỏ đi, nhưng Tom đã túm lấy tay ông và ngăn ông lại. Ông ấy giận dữ, nhưng sau đó ông ấy nhận ra rằng nếu ông ấy tham dự vào một cuộc ẩu đả, ông ấy sẽ phải buông con heo ra, và nếu một người trong gia đình Tom bắt được, khi đó cán cân sẽ thay đổi và chính người bán thịt phải chứng minh quyền sở hữu của ông. Vì thế, ông ấy hạ mình và nói: "Nếu ông muốn buộc tội tôi, ông hãy đi trình cảnh sát."
Tom cân nhắc điều đó nhanh chóng và bác bỏ nó. Ông không có bằng chứng. Thay vào đó, ông hỏi: "Người bán con heo cho ông trông như thế nào?"
Người bán thịt nhìn một cách quỷ quyệt và nói: "Giống như mọi người khác."
"Ông ta có che miệng không?"
"Bây giờ tôi mới để ý, ông ta có che miệng."
"Hắn là một tội phạm và hắn che giấu một vết cắt," Tom nói một cách chua chát. "Tôi cho rằng ông đã không chú ý đến điều đó."
"Ai cũng ướt đẫm nước mưa!" Người bán thịt biện hộ. "Mọi người đều bịt mặt."
"Hãy nói cho tôi biết, hắn đã đi được bao lâu rồi?"
"Vừa xong."
"Hắn đi đâu?"
"Tới tiệm bia, tôi đoán như vậy."
"Để tiêu hết số tiền của tôi," Tom nói một cách kinh tởm. "Đi đi, đi cho khuất mắt. Một ngày nào đó chính ông cũng sẽ bị ăn cắp, và ông sẽ ước muốn rằng không có nhiều người vì tham lam mà trước khi mua không hỏi xem nó xuất xứ từ đâu."
Người bán thịt nhìn giận dữ, và ngập ngừng như muốn đáp trả, nhưng sau đó ông nghĩ lại và ra đi.
Agnes hỏi: "Sao anh lại để cho hắn đi?"
"Bởi vì ông ấy được nhiều người ở đây biết đến, còn anh thì không," Tom nói. "Nếu anh đánh ông ấy, anh sẽ bị đổ tội. Và bởi vì tên anh không được viết trên mông con heo, nên không ai có thể nói nó là của anh hay không."
"Nhưng đó là tất cả những gì chúng ta tiết kiệm được."
"Chúng ta có thể lấy lại tiền bán heo, dĩ nhiên," Tom nói. "Hãy im đi để anh suy nghĩ." Cuộc cãi vã với người bán thịt đã làm cho ông bực bội, vì thế ông đã nói một cách cay nghiệt với Agnes. "Ở một nơi nào đó trong thành phố có một người không có môi và có năm mươi xu trong túi. Tất cả những gì chúng ta cần làm là tìm ra hắn và lấy lại tiền từ hắn."
"Đúng," Agnes nói một cách quyết liệt.
"Em đi ngược lại con đường chúng ta đã đi. Đi đến gần nhà thờ. Anh sẽ đi tiếp tục và đến nhà thờ bằng hướng khác. Rồi chúng ta trở lại bằng con đường kế tiếp, và cứ tiếp tục như thế. Nếu hắn không có trên đường, hắn phải ở trong một quán bia nào đó. Nếu em gặp hắn, em hãy ở lại và nói Martha đi tìm anh. Anh mang Alfred theo. Đừng để cho tên tội phạm thấy em."
"Đừng lo," Agnes nói dứt khoát. "Em cần tiền đó để nuôi con."
Tom sờ vào tay bà và mỉm cười. "Em là một con sư tử, Agnes à."
Bà nhìn vào mắt ông một lúc, rồi bất thình lình bà đứng trên đầu ngón chân và hôn lên môi ông, một nụ hôn ngắn nhưng mãnh liệt. Sau đó bà quay lại, cùng với Martha đi ngược lại khu chợ. Tom nhìn cho đến khi bà khuất khỏi tầm mắt, ông cảm thấy lo âu cho bà, mặc dù biết bà rất can đảm; rồi ông cùng với Alfred đi về hướng ngược lại.
Kẻ trộm có vẻ như cảm thấy an toàn. Khi hắn ăn trộm con heo, Tom đang đi theo hướng Manchester, nên hắn đã đi hướng ngược lại để bán con heo ở Salisbury. Vì người phụ nữ sống ngoài vòng pháp luật, Ellen, nói với Tom rằng một ngôi nhà thờ đang được sửa sang ở Salisbury, nên ông đã thay đổi dự định và vô tình bắt kịp kẻ trộm ở đây. Tuy nhiên, kẻ trộm nghĩ hắn sẽ chẳng gặp Tom nữa, và điều này cho Tom một cơ hội để bắt hắn bất ngờ.
Tom đi chậm dọc theo con đường lầy lội, liếc vào các cửa mở như tình cờ. Ông không muốn bị để ý, bởi vì sự tìm kiếm này có thể kết thúc bằng bạo lực và ông không muốn mọi người nhớ đến một người thợ xây cao lớn đang dò xét thị trấn. Hầu hết ngôi nhà là những túp lều bình thường bằng gỗ, vách đất và mái lá, có rơm trên nền nhà, một lò sưởi ở giữa và một vài đồ nội thất tự chế. Một thùng rượu và vài chiếc ghế băng tạo nên một quán bia; một chiếc giường ở góc với một tấm màn che mang dấu hiệu có gái điếm; một đám đông ồn ào quanh một chiếc bàn là biểu hiện của trò chơi đỏ đen.
Một người đàn bà sơn môi đỏ vạch ngực của bà trước mặt ông, ông lắc đầu và vội vàng đi qua. Ông đã bị cám dỗ một cách thầm kín bởi ý tưởng muốn làm chuyện đó với một người đàn bà hoàn toàn xa lạ, trong ánh sáng ban ngày, và trả tiền cho họ, nhưng trong suốt cuộc đời ông chưa bao giờ thử nó.
Ông nghĩ đến Ellen, người đàn bà sống bên ngoài pháp luật. Cô có một cái gì đó hấp dẫn. Cô có sức quyến rũ mạnh mẽ, nhưng đôi mắt sâu thẳm của cô đáng sợ. Lời mời của cô gái điếm làm Tom cảm thấy bất mãn một lúc, nhưng sự thu hút của Ellen đã chẳng hao mòn đi, và thình lình ông có một ước muốn ngu dốt là chạy trở lại vào rừng tìm cô và rơi vào lòng cô.
Ông đến gần nhà thờ mà không thấy kẻ trộm. Ông nhìn người thợ làm ống nước đang đóng đinh tấm chì trên mái nhà gỗ phía trên gian giữa nhà thờ. Họ chưa bắt đầu lợp mái nhà hai gian bên cạnh, nên vẫn có thể nhìn thấy nửa vòng cung hỗ trợ, nối kết thành ngoài của gian bên cạnh với tường chính của gian giữa, nâng đỡ đỉnh nhà thờ. Ông chỉ cho Alfred. "Không có sự hỗ trợ này, bức tường chính sẽ cong và oằn ra, vì trọng lượng của các vòm đá bên trong," ông cắt nghĩa. "Hãy nhìn xem nửa vòng cung thẳng hàng với các trụ trong bức tường của gian bên. Chúng cũng thẳng hàng với các trụ cột của mái vòm trong gian giữa. Và các cửa sổ của hai gian bên cạnh thẳng hàng với mái vòm của gian giữa. Đường mạnh với đường mạnh và đường yếu với yếu." Alfred nhìn bối rối và bực bội. Tom thở dài.
"Tom nhìn thấy Agnes đi lại từ phía đối diện, và đầu óc ông trở về với vấn đề trước mắt. Mũ che phủ mặt của bà, nhưng ông nhận ra cằm bà chĩa ra phía trước, bước chân vững vàng. Người công nhân vai rộng bước sang một bên, nhường chỗ cho bà đi qua. Nếu bà có một cuộc chiến với kẻ trộm, ông nghĩ một cách chắc chắn, nó sẽ là một cuộc chiến cân bằng.
"Anh có thấy hắn không?" bà hỏi.
"Không, và một cách hiển nhiên là em cũng không." Tom hy vọng kẻ trộm chưa ra khỏi thị trấn. Chắc chắn hắn sẽ chưa đi khi hắn chưa tiêu đồng xu nào. Tiền không thể dùng trong rừng.
Agnes cũng nghĩ như vậy. "Hắn ở một chỗ nào đó quanh đây. Hãy tiếp tục tìm kiếm."
"Chúng ta đi ngược lại bằng hai con đường khác nhau và gặp nhau ở khu chợ."
Tom và Alfred đi lại bước đường qua công trường xây dựng và ra khỏi cửa thành. Mưa thấm qua áo khoác của họ, và Tom vụng trộm nghĩ đến ly bia và một bát canh thịt bò bên cạnh bếp lửa của một quán bia. Rồi ông nghĩ đến ông đã phải vất vả thế nào để mua được con heo, và hồi tưởng lại người đàn ông không môi đã đập thanh gỗ không thương tiếc vào đầu Martha như thế nào, và sự tức giận làm ông nóng người.
Không dễ gì mà có thể tìm kiếm một cách hệ thống, vì các đường xá không trật tự. Họ lang thang đây đó, theo các dãy nhà, và có nhiều khúc quanh gấp cũng như những ngõ cụt. Chỉ có một con đường thẳng dẫn từ cổng phía đông đến chiếc cầu của lâu đài. Lần trước ông đã đi bên cạnh thành lũy của lâu đài. Lần này ông tìm kiếm ở vùng ngoại ô, đi luồn lách tới tường thành và trở lại vào trong. Đây là khu dân cư nghèo, với các căn nhà xiêu vẹo, những quán bia ồn ào và khu đĩ điếm lâu đời nhất. Từ trung tâm đổ dốc xuống vùng biên của thành phố, vì thế rác rưởi của khu phố nhà giầu trôi xuống các đường phố và đọng lại bên thành lũy. Một cái gì đó cũng tương tự đối với con người, vì khu này tập trung nhiều hơn những người tàn tật và ăn xin, trẻ em và phụ nữ nghèo đói và người say rượu.
Nhưng người đàn ông không môi vẫn biệt tăm.
Hai lần Tom phát hiện ra một người có hình dáng và kích thước giống hắn, ông đã cố nhìn kỹ hơn nhưng chỉ thấy khuôn mặt xa lạ.
Ông chấm dứt cuộc tìm kiếm ở khu chợ, và nơi đó Agnes đang sốt ruột chờ ông, bà căng thẳng và đôi mắt bà rạng rỡ. "Em đã tìm thấy hắn!" bà rít lên.
Tom cảm thấy hồi hộp và lo âu. "Ở đâu?"
"Hắn vào trong một tiệm ăn ở cổng phía đông."
"Hãy đưa anh đến đó."
Họ đi vòng quanh tòa lâu đài đến chiếc cầu, đi xuống con đường thẳng đến cổng phía đông, rồi quẹo vào trong một mê lộ của những con hẻm dưới những bức tường. Một lúc sau Tom nhìn thấy tiệm ăn. Nó không là một căn nhà mà chỉ là một mái dốc trên bốn cây cột dựa lên tường thành; một ngọn lửa khổng lồ ở phía sau đang quay một con cừu trên một cái xiên, bên cạnh đó là một cái vạc đang sôi. Trời vào khoảng giữa trưa, và nơi nhỏ bé đó đầy người, hầu hết là đàn ông. Mùi thơm của thịt làm bao tử Tom cồn cào. Ông đưa mắt lục soát đám đông, sợ rằng kẻ trộm đã biến mất trong thời gian ông đi đến đây. Ông phát hiện ra hắn ngay lập tức, ngồi trên chiếc ghế xa đám đông, ăn một bát hầm bằng một chiếc muỗng, cầm chiếc khăn trước mặt để che miệng.
Tom quay ngay lại để hắn không thể nhìn thấy ông. Bây giờ ông phải quyết định xử lý hắn như thế nào. Ông đủ giận để đánh kẻ trộm ngã xuống và lấy ví tiền của hắn. Nhưng đám đông sẽ không để ông đi. Ông sẽ phải biện minh, không những với đám đông mà còn với cảnh sát. Tom có quyền và rõ ràng ông là một người đứng đắn và là một thợ xây; trong khi kẻ trộm là một người sống ngoài vòng pháp luật, nghĩa là hắn không có ai xác minh cho sự trung thực của hắn. Nhưng sự xác minh cho tất cả các việc đó sẽ mất thời gian, có thể hàng tuần nếu cảnh sát phải công tác xa ở vùng quê nào đó; và nếu một cuộc ẩu đả xẩy ra có thể sẽ bị buộc tội vì phá vỡ sự hòa bình của nhà vua.
Không. Tốt hơn nên giải quyết tên trộm một cách riêng rẽ.
Hắn không thể ở lại đêm trong thị trấn, vì hắn không có nhà ở đây, và hắn không thể tìm được chỗ tạm trú khi hắn không chứng minh được hắn là một người đứng đắn. Vì thế hắn phải ra đi trước khi các cổng thành đóng khi đêm xuống.
Và chỉ có hai cổng.
"Có lẽ hắn sẽ trở ra bằng con đường hắn đến." Tom nói với Agnes. "Anh sẽ đợi bên ngoài cổng phía đông. Hãy để Alfred canh chừng cửa phía tây. Em ở lại trong thị trấn xem kẻ trộm làm gì. Giữ Martha bên cạnh em, nhưng đừng cho hắn thấy. Nếu em muốn gửi một thông điệp cho anh hoặc Alfred, hãy nhờ Martha."
"Vâng," Agnes nói ngắn gọn.
Alfred nói: "Con nên làm gì nếu hắn đi ra phía con?" Cậu có vẻ hí hửng.
"Không làm gì cả," Tom nói chắc nịch. "Quan sát xem hắn đi theo con đường nào, rồi đợi. Martha sẽ đón bố, và chúng ta sẽ cùng nhau đuổi theo hắn." Alfred nhìn thất vọng, và Tom nói: "Con hãy làm như bố nói. Bố không muốn mất con như mất con heo."
Alfred gật đầu miễn cưỡng.
"Chúng ta lên đường, trước khi hắn nhận ra chúng ta tụ tập lại và âm mưu với nhau. Hãy đi."
Tom rời họ ngay, không quay mặt lại. Ông có thể tin Agnes sẽ thực hiện theo kế hoạch. Ông vội vã đến cửa phía đông và rời thị trấn, qua cây cầu gỗ ọp ẹp mà ông đã đẩy chiếc xe bò qua sáng hôm nay. Thẳng trước mặt ông là con đường đến Winchester, về hướng đông, con đường thẳng tắp, giống như một tấm thảm dài trải qua các ngọn đồi và thung lũng. Về phía trái, con đường mà Tom – có lẽ kẻ trộm cũng vậy – đã đến Salisbury, con đường Roma, uốn quanh trên một ngọn đồi rồi biến mất. Kẻ trộm chắc chắn sẽ đi con đường này.
Tom đi xuống đồi, xuyên qua các cụm nhà ở ngã tư, rồi quẹo vào đường Roma. Ông cần phải ẩn trốn. Ông bước đi theo con đường, tìm kiếm chỗ thích hợp. Ông đi hai trăm dặm mà không tìm được chỗ nào ẩn trốn. Nhìn lại, ông nhận ra là đã đi quá xa: ông không còn nhận ra khuôn mặt của những người ở ngã tư đường, vì thế ông không thể biết người đàn ông không môi có đi theo con đường đến Winchester không. Ông quan sát phong cảnh lần nữa. Con đường có mương hai bên, có thể là chỗ lẩn trốn trong mùa khô, nhưng hôm nay đầy nước. Bên ngoài dẫy mương, đất nhô lên như một cái bướu. Trong cánh đồng phía nam của con đường, một vài con bò đang gặm cỏ. Tom chú ý đến một con bò nằm ở bên cạnh mô đất cao của cánh đồng, một phần con bò bị che đậy bởi mô đất. Với một tiếng thở dài, ông quay gót trở lại. Ông nhẩy qua mương và đá vào con bò. Nó đứng lên và đi khỏi. Tom nằm xuống chỗ đất ấm và khô ráo mà con bò để lại. Ông kéo chiếc mũ che mặt và chờ đợi. Ông tiếc rẻ nếu ông biết lo xa, ông đã mua vài miếng bánh trước khi rời thị trấn.
Ông lo lắng pha lẫn chút sợ hãi. Kẻ phạm pháp là một người nhỏ con, nhưng hắn di chuyển nhanh và ác độc như ông đã nhìn thấy khi hắn đánh Martha và ăn cắp con heo. Tom sợ hãi một chút về việc có thể bị thương, nhưng ông lo lắng hơn vì có thể sẽ không lấy lại được tiền.
Ông mong Agnes và Martha được an toàn. Agnes có thể tự lo được cho bà, ông biết như vậy; và ngay cả khi tên trộm phát hiện ra bà, hắn có thể làm được gì bà? Hắn sẽ cảnh giác hơn, thế thôi.
Từ chỗ nằm, Tom có thể nhìn thấy tháp nhà thờ. Ông ước gì đã có thể nhìn được vào phía trong. Ông rất tò mò về cách giải quyết những cột trụ của mái vòm. Những cột trụ này thường rất to, các mái vòm bắt đầu từ đỉnh của nó: hai vòm đi về hướng bắc và nam, nối với các cột trụ bên cạnh trong mái vòm; và một đi về hướng đông hoặc tây, qua gian bên cạnh. Nó trông không đẹp, bởi vì có một cái gì không đúng khi một mái vòm bắt đầu từ đầu một cây trụ tròn. Nếu Tom xây nhà thờ chính tòa, mỗi trụ sẽ là một cụm trụ, và mỗi mái vòm vươn lên từ đầu của mỗi trụ – sự sắp xếp như vậy sẽ hợp lý và đẹp hơn.
Ông bắt đầu tưởng tượng về sự trang trí cho các vòm. Hình thẳng là hình thức thông thường – không mất nhiều kỹ năng để khắc chữ chi và hình thoi – nhưng Tom ưa thích những chùm lá, chúng đem lại sự nhẹ nhàng của thiên nhiên vào trong nét đều đặn của những phiến đá.
Sự hình dung về ngôi nhà thờ xâm chiếm tâm hồn ông cho đến giữa chiều, khi ông nhìn thấy hình dáng nhỏ bé và mái tóc bạch kim của Martha chạy qua cây cầu và xuyên qua dẫy nhà. Cô do dự giữa ngã tư, rồi theo con đường phía phải. Tom nhìn cô đang tiến về phía ông. Cô nhíu mày phân vân không biết ông ở đâu. Khi cô đến vừa tầm, ông gọi nhẹ nhàng: "Martha".
Khi thấy ông, cô kêu lên một tiếng nhỏ. Cô chạy lại, nhẩy qua mương. "Mẹ gửi cho bố cái này," cô nói, và lấy ra một vật quấn trong áo khoác.
Nó là một miếng thịt nóng. "Trời ơi! Mẹ con là một phụ nữ chu đáo," Tom nói, và cắn một miếng lớn. Nó được làm với thịt bò và hành tây, và nó ngon tuyệt.
Martha ngồi xổm bên cạnh Tom trên cỏ. "Chuyện của người ăn trộm heo của chúng ta xẩy ra như thế này," cô nói. Cô tập trung để nhớ lại những gì cô được dặn để nói. Cô quá dễ thương đến nỗi làm Tom nín thở. "Ông ấy ra khỏi tiệm ăn và gặp một phụ nữ với khuôn mặt son phấn, rồi vào nhà bà ta. Chúng con đợi bên ngoài."
Trong khi đó kẻ tội phạm tiêu tiền của chúng ta cho một gái điếm, Tom nghĩ một cách chua chát. "Hãy kể tiếp đi con."
"Ông ấy không ở lâu trong nhà bà đó, và khi ông đi ra, ông đến một quán bia. Bây giờ ông đang ở đó. Ông không uống nhiều nhưng ông chơi cờ bạc."
"Bố mong hắn thắng," Tom nói gằn giọng. "Có vậy thôi sao?"
"Đó là tất cả."
"Con có đói không?"
"Con có một miếng bánh nhỏ."
"Con đã kể cho Alfred tất cả điều đó chứ?"
"Chưa, bây giờ con sẽ đi đến anh ấy."
"Nói với anh ấy, cố gắng giữ mình cho khô ráo."
"Cố gắng giữ mình khô ráo," cô lặp lại. "Con phải nói điều đó trước hay sau khi kể câu chuyện về người đàn ông đã ăn cắp con heo của chúng ta?"
Dĩ nhiên điều đó không quan trọng lắm. "Sau đó," Tom nói. Ông mỉm cười với cô. "Con là một bé gái thông minh. Con đi đi."
"Con thích trò chơi này," cô nói. Cô vẫy tay và ra đi, đôi chân trẻ thơ thoăn thoắt nhẩy qua mương và chạy ngược lại hướng thị trấn. Tom quan sát cô với tình thương và sự tức giận trong lòng. Ông và Agnes đã làm việc cực khổ để kiếm tiền nuôi sống con cái, và ông sẵn sàng giết người để lấy lại cái mà họ đã bị ăn cắp.
Có lẽ kẻ tội phạm cũng sẵn sàng giết người nữa. Kẻ tội phạm sống bên ngoài vòng pháp luật, như tên gọi đã ngụ ý: họ sống trong bạo lực. Đây có lẽ không phải là lần đầu mà Faramond Openmouth chống lại nạn nhân của hắn. Hắn là người nguy hiểm.
Một điều đáng ngạc nhiên là ánh sáng mặt trời bắt đầu yếu dần rất sớm, như một đôi khi xẩy ra vào buổi chiều mùa thu ẩm ướt. Tom lo lắng không biết có còn nhận ra được kẻ trộm trong mưa nữa không. Khi gần tối, sự đi lại thưa dần, vì hầu hết du khách đã ra về đúng lúc để kịp về nhà khi đêm xuống. Ánh sáng của nến và đèn lồng bắt đầu chập chờn trong những căn nhà cao của thị trấn và trong các túp lều vùng ngoại ô. Tom bi quan tự hỏi không biết kẻ trộm có ở lại trong thị trấn suốt đêm không. Có lẽ hắn có bạn bè không lương thiện trong thị trấn, những người cho hắn lưu trú mặc dù biết hắn là tên tội phạm. Có lẽ -
Rồi, Tom nhìn thấy một người che khăn trên miệng.
Hắn đi qua chiếc cầu bằng gỗ, đi gần hai người đàn ông khác. Đối với Tom, đó là điều bất ngờ vì hai người đồng lõa của tên trộm, tên đầu hói và tên đội mũ xanh, cả hai có thể đã cùng đi với hắn đến Salisbury. Tom đã không thấy họ trong thị trấn, nhưng có thể ba người đã chia tay nhau một lúc rồi lại tập trung lại để cùng về. Tom nguyền rủa: Ông không nghĩ ông có thể chống lại ba tên. Nhưng khi đến gần, nhóm người tách ra, và Tom nhẹ nhõm nhận ra rằng họ không đi chung với nhau.
Hai người đầu tiên là ông bố và người con trai, hai nông dân có đôi mắt đen gần nhau và lỗ mũi hếch. Họ đi theo con đường Roma và người đàn ông che khăn theo sau.
Ông nghiên cứu dáng đi của tên trộm khi hắn đến gần. Hắn đã hết say. Thật đáng tiếc!
Nhìn về phía thị trấn, ông thấy một đàn bà và một em bé vội vã qua cầu: Agnes và Martha. Ông bị sốc. Ông không dự kiến họ có mặt khi ông đối đầu với tên trộm. Tuy nhiên ông nhận ra rằng ông đã không ra lệnh cho họ.
Ông căng thẳng khi tất cả đi về phía ông. Tom to lớn nên hầu hết bỏ cuộc khi phải đối đầu với ông; nhưng kẻ tội phạm này là người liều lĩnh và không thể nói điều gì sẽ xẩy ra trong cuộc chiến.
Hai người nông dân đi qua, vui vẻ kể về ngựa. Tom lấy búa có bọc sắt ở đầu từ thắt lưng và cầm nó trong tay phải. Ông ghét những tên trộm cướp, những người không làm việc nhưng ăn cắp đồ ăn của người lương thiện. Ông sẽ không ngần ngại cho người này một cái búa.
Kẻ trộm dường như đi chậm lại khi hắn đến gần, hầu như hắn cảm thấy sự nguy hiểm. Tom đợi cho đến khi hắn chỉ còn cách bốn hay năm dặm – quá gần để chạy ngược lại, và quá xa để chạy đi. Rồi Tom lăn mình qua bờ, nhẩy qua mương và chặn đường hắn.
Người đàn ông chết đứng, nhìn chằm chằm vào ông. "Cái gì vậy?" hắn hỏi một cách lo lắng.
Hắn không nhận ra tôi, Tom nghĩ. Ông nói: "Ông ăn cắp con heo của tôi hôm qua và bán cho người bán thịt hôm nay."
"Tôi không bao giờ -"
"Đừng chối." Tom nói. "Hãy đưa cho tôi số tiền mà ông đã bán được, và tôi sẽ không đánh ông."
Lúc đầu ông tưởng kẻ trộm sẽ nghe lời. Ông cảm thấy thất vọng, khi hắn do dự. Sau đó, tên trộm quay gót và chạy thẳng về phía Agnes.
Hắn không đủ nhanh để chạy qua bà và trong một lúc cả hai người lảo đảo từ bên này đường qua bên kia đường giống như trong một điệu nhẩy vụng về. Rồi hắn nhận ra rằng bà đã cố tình chặn đường hắn, và hắn đẩy bà sang bên. Bà giơ chân ngáng hắn. Chân bà trúng đầu gối hắn và cả hai ngã xuống.
Trái tim Tom hổn hển, khi ông lao nhanh đến bên bà. Kẻ trộm quỳ lên được, đặt một đầu gối trên lưng bà. Tom nắm lấy cổ áo hắn và kéo mạnh hắn ra. Ông lôi hắn tới lề đường trước khi hắn có thể lấy lại thăng bằng, rồi ném hắn xuống mương.
Agnes đứng dậy. Martha chạy đến bên bà. Tom nói nhanh: "Em không sao chứ?"
"Vâng," Agnes trả lời.
Hai người nông dân dừng lại quan sát, và họ chăm chú nhìn vào cảnh tượng. Kẻ trộm chống gối trong mương. "Hắn là một tên tội phạm," Agnes nói với họ để mong họ can thiệp. "Hắn ăn cắp con heo của chúng tôi." Người nông dân không trả lời, nhưng chờ đợi xem sự gì sẽ xẩy ra.
Tom nói với tên trộm một lần nữa. "Hãy trả tiền lại cho tôi và tôi sẽ để ông đi."
Tên trộm ra khỏi mương với một con dao trong tay, lao vào Tom nhanh như chuột. Agnes thét lên. Tom né tránh. Con dao thoáng qua mặt ông và ông cảm thấy đau nơi cằm.
Ông lùi lại và dơ búa lên khi con dao lướt qua một lần nữa. Tên trộm lùi lại. Lưỡi dao và chiếc búa vun vút trong không khí của buổi tối ẩm ướt mà không đụng nhau.
Ngay lập tức cả hai đứng lặng yên, đối diện nhau, thở hổn hển. Cằm của Tom đau. Ông nhận ra rằng hai người bằng sức nhau, mặc dù Tom lớn hơn, nhưng tên trộm có một con dao, và dao nguy hiểm hơn chiếc búa của thợ xây. Ông cảm thấy ớn lạnh khi ông nhận ra rằng ông có thể sắp chết. Bất thình lình ông cảm thấy như không thở được.
Từ khóe mắt ông nhìn thấy một chuyển động đột ngột. Tên trộm cũng nhận ra, phóng một cái nhìn về phía Agnes và cúi đầu xuống khi viên đá từ tay bà bay vào hắn.
Tom phản ứng nhanh, vung búa vào đầu tên trộm.
Nó trúng vào đúng lúc hắn ngẩng đầu lên. Búa sắt đập vào trán phía chân tóc. Đó là một cú đánh vội vã, không mang tất cả sức mạnh của Tom. Tên trộm loạng choạng nhưng không ngã.
Tom đánh hắn một cái nữa.
Đòn này nặng hơn: Ông có nhiều giờ để giơ búa lên cao khỏi đầu và nhắm nó vừa lúc tên trộm choáng váng. Tom nghĩ về Martha khi ông giáng búa xuống. Nó trúng với tất cả sức lực của ông, và tên trộm gục xuống đất giống như con búp bê rơi.
Tom quỳ xuống bên tên trộm, xem xét hắn. "Ví tiền hắn ở đâu? Ví tiền hắn ở đâu?" Rất khó lay chuyển thân thể mềm rũ của hắn. Sau hết, Tom đặt hắn nằm ngửa và mở chiếc áo choàng của hắn. Có một bóp bằng da lớn đeo vào dây thắt lưng. Tom tháo chiếc móc. Bên trong là một túi len mềm mại. Ông kéo nó ra. Nó nhẹ. "Không có gì!" Tom nói. "Hắn phải có chiếc ví khác nữa."
Ông kéo chiếc áo choàng từ phía dưới người đàn ông và cẩn thận xem xét khắp nơi. Không còn chiếc túi nào, không có phần cứng nào. Ông tháo chiếc giày ra: không có gì bên trong. Ông lấy con dao ăn từ thắt lưng và cắt đế giầy: không có gì.
Sốt ruột, ông trượt con dao bên trong cổ áo len của tên trộm và rạch tới viền: không có thắt lưng dấu tiền.
Tên trộm nằm giữa con đường lầy lội, trần truồng. Hai người nông dân nhìn chằm chằm vào Tom tưởng như ông bị điên. Giận dữ, Tom nói với Agnes: "Hắn không còn đồng xu nào."
"Có lẽ ông ấy đã thua cờ bạc hết," bà cay đắng nói.
"Anh mong hắn bị đốt trong lửa hỏa ngục," Tom nói.
Agnes quỳ xuống và sờ vào ngực hắn. "Đó là nơi ông ta đang ở," bà nói. "Anh đã giết hắn."
Cất giọng to hơn tiếng ồn ào, Martha hỏi: "Mùi gì hôi thế?"
Tom mỉm cười. Một vài năm nay cô không ở trong thị trấn. "Đó là mùi của con người," ông nói với cô.
Đường phố chỉ rộng hơn chiếc xe bò một chút, nhưng người phu xe không để con thú của mình dừng lại, sợ rằng chúng không bắt đầu lại được; vì thế ông đánh cho chúng vượt qua mọi trở ngại. Hai con thú âm thầm chen qua đám đông, không phân biệt một ai, chúng xô đẩy một hiệp sĩ trên lưng con ngựa chiến, một cán bộ kiểm lâm với cây cung, một tu sĩ mập trên lưng con ngựa nhỏ, cũng như xô đẩy các binh lính, người ăn mày, bà nội trợ và gái điếm.
Chiếc xe bò đi sau một người chăn cừu già. Ông đang cố gắng giữ đàn cừu nhỏ của ông đi chung với nhau. Hôm nay là ngày chợ, Tom nhận ra. Khi xe bò đi ngang qua, một con cừu lao vào qua cánh cửa mở rộng của một quán bia, và trong một khoảnh khắc toàn bộ đàn cừu đã ở trong nhà, kêu be be, làm hoảng loạn và xô đẩy bàn ghế, làm đổ cả thùng bia.
Mặt đất dưới chân là một biển bùn và rác. Tom để ý đến trường hợp nước mưa rơi trên mái nhà, và chiều rộng cần thiết của chiếc rãnh cho nước mưa trôi đi; và ông cũng nhận thấy tất cả nước mưa rơi trên mái của nửa thị trấn chảy qua con đường này. Trong một cơn bão xấu, ông nghĩ, có lẽ bạn cần một chiếc thuyền để qua đường.
Khi họ đến lâu đài trên đỉnh đồi, đường phố rộng rãi hơn. Ở đây có những căn nhà đá, một hoặc hai căn cần phải sửa chữa lại. Chúng thuộc sở hữu của thợ thủ công và thương gia, những người có cửa hàng và tiệm ở tầng dưới và sống ở tầng trên. Với đôi mắt thực tế, Tom nhìn vào những đồ bày bán và có thể nói rằng đây là một thị trấn thịnh vượng. Tất cả mọi người cần phải có dao và nồi, nhưng chỉ người giầu có mới mua khăn choàng thêu, dây thắt lưng được trang trí và vòng bạc.
Ở phía trước lâu đài, người phu xe cho các con bò quẹo phải, Tom và gia đình đi theo sau. Con đường dẫn quanh một phần tư vòng tròn, dọc theo chân thành lũy lâu đài. Đi qua một cửa khác, họ rời bỏ sự náo nhiệt của thị trấn nhanh như khi họ đi vào, và họ bước vào một vùng xoáy khác: sự bận rộn nhưng có trật tự của một công trường xây dựng lớn.
Họ ở phía trong khu đất có tường bao quanh của nhà thờ chính tòa, ngôi nhà thờ chiếm toàn bộ khu tây bắc của thị trấn hình tròn. Tom đứng một lúc lâu để cảm nhận nó. Chỉ cần nhìn, nghe và ngửi nó cũng đã tạo cho ông một sự rộn ràng giống như một ngày nắng ấm. Khi xe chở đá đến, hai xe trống khác đi ra. Trong mái che của nhà kho dọc theo tường nhà thờ có thể nhìn thấy những thợ xây đang đẽo các khối đá bằng đục sắt và búa lớn bằng gỗ để tạo nên các hình dạng có thể được ghép vào với nhau, làm nên chân cột, hàng cột, trụ tường, vòm, cửa sổ, ngưỡng cửa, tháp nhọn và lan can. Ở giữa khu đất, tách rời khỏi các công trình xây dựng khác, ngọn lửa đang cháy có thể nhìn thấy được xuyên qua các khung cửa mở; người thợ rèn đang làm những công cụ mới và tiếng kêu của búa đập trên đe vang dội khắp khu vực. Đối với nhiều người, đó là một cảnh hỗn loạn, nhưng Tom nhìn thấy đây là một cơ chế lớn và phức tạp mà ông muốn điều hành. Ông biết mỗi người đang làm gì và ông có thể nhìn thấy ngay công việc đã tiến triển tới đâu: Họ đang xây mặt tiền phía đông.
Giàn giáo ngang qua phía cuối hướng đông, ở độ cao hai mươi lăm hay ba mươi mét, đang hoạt động. Các thợ xây ở cổng vòm đang chờ cho cơn mưa nhẹ dần, nhưng những nhân công vẫn vác đá trên vai chạy lên chạy xuống trên thang. Cao hơn, trên khung mái, thợ ống nước trông giống như những con nhện leo trên mạng bằng gỗ, đóng đinh các phên sắt và lắp đặt các ống dẫn nước và máng xối.
Tom nhận ra rằng việc xây dựng sắp hoàn tất. Nếu ông được thuê làm việc ở đây, công việc sẽ không kéo dài hơn vài năm nữa – không đủ thời gian để ông có thể lên đến vị trí một thợ cả, chưa nói gì đến thợ xây dựng chính. Tuy nhiên, nếu được nhận vào làm, ông sẽ nhận lời, bởi vì mùa đông đang đến. Nếu còn con heo, ông và gia đình có thể sống qua mùa đông không việc làm, nhưng bây giờ không còn con heo, Tom phải tìm việc.
Họ đi theo chiếc xe bò ngang qua công trường đến nơi các tảng đá được xếp đống. Với thái độ biết ơn, con bò cúi đầu vào máng nước. Người phu xe hỏi lớn một thợ xây đi ngang qua: "Thợ xây dựng chính ở đâu?"
"Trong lâu đài," thợ xây trả lời.
Người phu xe gật đầu và quay lại phía Tom. "Ông sẽ tìm thấy ông ấy trong lâu đài của giám mục, tôi mong điều đó."
"Cảm ơn!"
"Tôi cũng cảm ơn ông."
Tom rời công trường, Agnes và các con cũng đi theo. Họ trở lại con đường chen chúc, chật chội đến trước lâu đài. Đây có một hào khô khác và một thành lũy thứ hai bằng đất bao quanh trung tâm đồn lũy. Họ đi qua cây cầu kéo. Trong một chòi canh bên cạnh cổng ra vào, một ông mập mặc áo dài bằng da ngồi trên ghế, nhìn ra trời mưa bên ngoài. Ông mang một thanh kiếm. Tom nói với ông. "Chào ông, Tôi là thợ xây Tom. Tôi muốn gặp thợ xây dựng chính John thành Shaftesbury."
"Ở chỗ giám mục," viên bảo vệ đáp hờ hững.
Họ đi vào bên trong. Giống như các lâu đài khác, đây là một tổng hợp của nhiều tòa nhà linh tinh trong một bức tường đất. Chiều rộng của sân khoảng chừng một trăm dặm. Đối diện với cổng, ở phía xa, là một pháo đài lớn để trú ẩn khi bị tấn công và cao hơn thành lũy để có thể quan sát xung quanh. Bên trái gồm các tòa nhà thấp lộn xộn, đa số bằng gỗ: một chuồng thú vật dài, một nhà bếp, một lò bánh mì và nhiều nhà kho. Ở giữa sân có một giếng nước. Về phía bên phải, chiếm nguyên phía nửa bắc của toàn bộ công trình là một nhà đá to, dễ nhận ra đó là một cung điện. Nó được xây dựng giống như kiểu của ngôi nhà thờ mới, với cửa lớn và cửa sổ có đầu tròn.
Ngôi nhà có hai tầng và còn mới. Trong một góc, thợ xây vẫn đang làm việc, dường như đang xây một cây tháp. Mặc dù trời mưa, có rất nhiều người ở trong sân, đến rồi đi, hay đội mưa đi vội vã từ tòa nhà này sang tòa nhà khác: kỵ binh, linh mục, thương gia, thợ xây dựng và nhân viên phục vụ lâu đài.
Tom có thể nhìn thấy lâu đài có nhiều cửa ra vào, tất cả đều mở, mặc dù trời mưa. Ông không biết chắc phải làm gì bây giờ. Nếu thợ xây dựng chính là giám mục, có lẽ ông không nên quấy rầy ngài. Về khía cạnh khác, một giám mục không phải là một ông vua; và Tom là một người tự do và là một thợ xây kinh doanh hợp pháp, không phải là một nông nô với đơn khiếu nại. Ông quyết định liều lĩnh. Để Agnes và Martha ở lại, ông đi với Alfred xuyên qua khu sân lầy lội tới lâu đài và đi qua cánh cửa gần nhất.
Họ đến một nhà nguyện nhỏ có một mái vòm tròn và một cửa sổ ở xa cuối nhà nguyện, bên trên bàn thờ. Gần cửa ra vào, một linh mục ngồi ở bàn cao, viết nhanh trên da. Ông nhìn lên.
Tom nói rất nhanh: "Thợ xây dựng chính John ở đâu?"
"Trong phòng mặc áo lễ," vị linh mục nói, hất đầu về một cánh cửa bên tường đối diện.
Tom không yêu cầu xin gặp thợ xây dựng chính. Ông biết rằng nếu ông làm như thể ông được mời đến thì ông sẽ bớt được thời gian chờ đợi rườm rà. Ông đi qua nhà nguyện nhỏ và bước vào phòng mặc áo lễ.
Đó là một phòng vuông nhỏ được thắp sáng bởi nhiều ngọn nến. Căn phòng hầu như được đổ đầy cát. Cát mịn đã được gạt phẳng hoàn hảo theo quy tắc. Có hai người trong phòng. Hai người liếc nhìn Tom, rồi lại chú ý vào cát. Vị giám mục, một người già với đôi mắt nhăn nheo, đang vẽ trên cát bằng một cây gậy nhọn. Người thợ xây dựng chính, mặc chiếc tạp dề da, quan sát Tom một cách kiên nhẫn và với một cảm xúc nghi ngờ.
Tom chờ đợi trong lo lắng. Ông phải tạo ấn tượng tốt: lịch sự mà không hạ mình, tỏ ra hiểu biết mà không khoe trương. Một thợ xây dựng chính muốn người thuộc hạ của mình vâng lời cũng như khéo léo, Tom biết điều đó từ kinh nghiệm của những năm thuê người.
Giám mục đang phác họa một tòa nhà hai tầng với cửa sổ rộng ở cả ba phía. Ông là một người vẽ dự án giỏi, ông vẽ các đường rất thẳng và các góc chính xác. Ông vẽ một dự án mặt bằng và một dự án trực diện. Nhưng Tom nhận ra ngay là ngôi nhà này sẽ không thể xây được.
Đức giám mục chấm dứt và nói: "Đây."
John quay lại Tom và nói: "Chuyện gì vậy?"
Tom giả vờ như là ông được hỏi ý kiến về bản vẽ. Ông nói: "Ông không thể có những cửa sổ lớn như thế trong nhà có mái vòm."
Đức giám mục nhìn ông giận dữ. "Đó là một phòng viết, không phải tầng có mái vòm."
"Nó cũng sẽ đổ."
John nói: "Ông ta có lý."
"Nhưng họ cần ánh sáng để viết."
John nhún vai và quay lại Tom. "Ông là ai?"
"Tôi tên là Tom và tôi là một thợ xây."
"Tôi cũng đã đoán như thế. Ông đến đây làm gì?"
"Tôi đi tìm việc," Tom nín thở.
John lắc đầu ngay. "Tôi không thể thuê ông."
Trái tim Tom thất vọng. Ông muốn quay gót, nhưng ông chờ đợi một cách lịch sự để biết lý do.
"Chúng tôi đã xây dựng mười năm nay," John tiếp. "Hầu hết các thợ có nhà trong phố. Chúng tôi sắp hoàn tất, và bây giờ tôi có nhiều thợ xây hơn là tôi thực sự cần đến."
Tom biết không còn hy vọng gì, nhưng ông nói: "Thế thì với lâu đài thì sao?"
"Cũng như vậy," John nói. Đó là nơi tôi sử dụng nhân công dư thừa của tôi. Nếu không phải vì điều này và vì các lâu đài khác của giám mục Roger, tôi đã sa thải các thợ xây lâu rồi."
Ton gật đầu. Bằng một giọng bình thường, cố gắng không để lộ âm thanh thất vọng, ông nói: "Ông có biết về công việc ở các nơi khác không?"
"Một tu viện ở Shaftesbury đang được xây dựng từ đầu năm. Có lẽ họ vẫn đang làm. Nó ở cách đây một ngày đàng."
"Cảm ơn." Tom quay đi.
"Tôi rất tiếc," John gọi với theo. "Dường như ông là người tốt."
Tom ra đi, không trả lời lại. Ông cảm thấy chán nản. Ông đã cho phép mình hy vọng quá sớm: không có gì đáng ngạc nhiên khi bị từ chối. Nhưng ông đã bị phấn kích về viễn tượng có thể lại được xây nhà thờ chính tòa. Bây giờ ông phải chấp nhận làm việc trên một bức tường thành đơn điệu, hoặc một ngôi nhà xấu xí của một thợ bạc.
Ông vươn vai và đi ngược lại sân lâu đài, nơi Agnes và Martha đang đợi. Ông không tỏ cho bà biết sự thất vọng của mình. Ông luôn cố gắng tạo ra ấn tượng rằng mọi chuyện đều tốt đẹp, rằng ông đang làm chủ tình hình, và nó không quá quan trọng vì nếu không tìm được việc làm ở đây, chắc chắn cũng sẽ tìm được một công việc trong thị trấn sau hoặc sau nữa. Ông biết nếu ông tỏ ra bất cứ dấu hiệu chán nản nào, Agnes sẽ hối thúc ông tìm một nơi định cư, và ông không muốn điều đó, trừ khi ông tìm được một thị trấn, nơi một nhà thờ chính tòa sẽ được xây dựng.
"Anh không tìm được việc gì ở đây," ông nói với Agnes. "Chúng ta hãy lên đường."
Bà nhìn ông bỡ ngỡ. "Anh đã nghĩ rằng, một ngôi nhà thờ và một lâu đài đang xây dựng sẽ có chỗ cho một người thợ xây đó sao?"
"Cả hai hầu như sắp hoàn thành," Tom giải thích. "Họ có nhiều công nhân hơn họ cần."
Toàn bộ gia đình vượt qua cây cầu và vào lại con đường đông đúc của thị trấn. Họ đã vào Salisbury qua cửa phía đông, và sẽ ra theo cửa phía tây, bởi vì con đường đó dẫn tới Shaftesbury. Tom rẽ phải, vào con đường dẫn qua một khu phố mà họ đã chẳng nhìn thấy trước đó.
Ông dừng lại trước một căn nhà đá trông như đang cần đến sự sửa chữa. Vữa dùng để xây dựng ngôi nhà này quá xấu, nên bây giờ nó đã hư hại và rơi ra, tuyết giá bám vào trong các lỗ và làm nứt các viên đá. Nếu nó không được sửa chữa trước mùa đông, sự thiệt hại sẽ lớn hơn. Tom quyết định tìm ra người chủ ngôi nhà.
Lối vào tầng trệt là một mái vòng cung rộng. Cánh cửa bằng gỗ mở rộng, và giữa khung cửa là một nghệ nhân đang ngồi với một cái búa trong tay phải và một cái dùi trong tai trái. Ông đang khắc một thiết kế phức tạp trên yên ngựa bằng gỗ. Phía sau ông, Tom có thể nhìn thấy cửa tiệm gỗ và da, và một cậu bé với một cây chổi đang quét vỏ bào.
Tom nói: "Chào ông."
Người thợ làm yên ngựa ngước lên, xem Tom thuộc tầng lớp nào nếu ông ấy cần đến một yên ngựa, và gật đầu cộc lốc.
"Tôi là một thợ xây cả," Tom tiếp tục. "Tôi thấy ông cần đến dịch vụ của tôi."
"Tại sao?"
"Vữa đang rơi ra, những viên đá đang bị nứt rạn và nhà ông chắc không tồn tại sau mùa đông này."
Người thợ đóng yên ngựa lắc đầu. "Thị trấn này có nhiều thợ xây. Tại sao tôi phải thuê một người lạ?"
"Rất tốt." Tom quay đi. "Mong Thiên Chúa ở với ông."
"Tôi cũng hy vọng như thế," thợ làm yên ngựa nói.
"Một đồng nghiệp thô lỗ," Agnes thì thầm khi họ đi ra.
Con đường dẫn họ đến một khu chợ. Ở đây, trong khu bùn lầy này, nông dân từ các vùng nông thôn trao đổi những cái ít ỏi dư thừa của họ như thịt, ngũ cốc, sữa hay trứng, để lấy những thứ họ cần và không tự làm được như chậu, lưỡi cày, dây thừng và muối. Thông thường khu chợ đầy màu sắc và náo nhiệt. Có tiếng mặc cả, cãi nhau và vui đùa. Có bánh kẹo rẻ tiền cho trẻ em, một đôi khi có nhóm hát rong hay nhào lộn. Nhiều khi người ta gặp những cô gái điếm, những thương binh với những câu chuyện về sa mạc miền đông và nhóm người du mục Saracen. Những người có công việc kinh doanh tốt thường khó kìm hãm được sự cám dỗ để ăn mừng, để mua bia rượu, vì thế luôn luôn có một bầu khí ồn ào vào giữa trưa. Những người khác mất những đồng xu vào cờ bạc, và điều đó thường dẫn đến việc đánh nhau. Nhưng bây giờ, vào một buổi sáng mưa gió, sau mùa gặt, khi các sản phẩm đã được bán hoặc được cất vào kho, ngôi chợ trở nên vắng vẻ. Những nông dân ướt đẫm nước mưa buôn bán một cách lặng lẽ với chủ gian hàng, và mỗi người mong sớm về lại ngôi nhà của mình bên ánh lửa hồng.
Gia đình Tom chen qua đám đông chán nản, làm ngơ trước lời chào hàng của người bán xúc xích và mài dao. Khi họ gần đến phía xa bên kia khu chợ, Tom thấy con heo của ông.
Ông quá ngạc nhiên đến nỗi lúc đầu ông không tin vào mắt mình. Sau đó Agnes rít lên: "Tom, hãy nhìn kìa!" và ông biết bà cũng đã thấy nó.
Không còn nghi ngờ gì. Ông biết rõ con heo, như ông biết rõ Alfred và Martha. Con heo được giữ chặt bởi một người đàn ông có nước da hồng hào, có kích thước của một người ăn nhiều thịt và còn hơn nữa: chắc ông là người bán thịt. Cả Tom và Agnes đứng nhìn chằm chằm vào ông ta, và bởi vì họ ngăn trở đường đi nên ông ấy chú ý đến họ.
"Tốt chứ?" ông ấy nói, bối rối vì ánh mắt của họ và ông nóng lòng muốn đi.
Chính Martha là người phá sự yên lặng. "Đó là con heo của chúng tôi!" cô hào hứng nói.
"Đúng vậy," Tom nói và bình thản nhìn vào người bán thịt.
Qua cái nhìn lén, Tom nhận ra rằng ông ấy biết con heo này là con heo ăn cắp. Nhưng ông ta nói: "Tôi vừa mua nó năm mươi xu, và đó là con heo của tôi."
"Dù ông mua của bất cứ ai, con heo này không phải là của người ấy và họ không có quyền bán. Không ngạc nhiên gì khi ông mua nó quá rẻ. Ông đã mua nó của ai?"
"Của một nông dân."
"Một người mà ông biết?"
"Không. Hãy nghe đây, tôi là người bán thịt cho các đơn vị đồn trú. Tôi không thể đòi hỏi những người đến bán cho tôi một con heo hoặc một con bò là họ phải tìm được mười hai người làm chứng và thề rằng con vật này là của họ."
Người đàn ông bước sang bên và muốn bỏ đi, nhưng Tom đã túm lấy tay ông và ngăn ông lại. Ông ấy giận dữ, nhưng sau đó ông ấy nhận ra rằng nếu ông ấy tham dự vào một cuộc ẩu đả, ông ấy sẽ phải buông con heo ra, và nếu một người trong gia đình Tom bắt được, khi đó cán cân sẽ thay đổi và chính người bán thịt phải chứng minh quyền sở hữu của ông. Vì thế, ông ấy hạ mình và nói: "Nếu ông muốn buộc tội tôi, ông hãy đi trình cảnh sát."
Tom cân nhắc điều đó nhanh chóng và bác bỏ nó. Ông không có bằng chứng. Thay vào đó, ông hỏi: "Người bán con heo cho ông trông như thế nào?"
Người bán thịt nhìn một cách quỷ quyệt và nói: "Giống như mọi người khác."
"Ông ta có che miệng không?"
"Bây giờ tôi mới để ý, ông ta có che miệng."
"Hắn là một tội phạm và hắn che giấu một vết cắt," Tom nói một cách chua chát. "Tôi cho rằng ông đã không chú ý đến điều đó."
"Ai cũng ướt đẫm nước mưa!" Người bán thịt biện hộ. "Mọi người đều bịt mặt."
"Hãy nói cho tôi biết, hắn đã đi được bao lâu rồi?"
"Vừa xong."
"Hắn đi đâu?"
"Tới tiệm bia, tôi đoán như vậy."
"Để tiêu hết số tiền của tôi," Tom nói một cách kinh tởm. "Đi đi, đi cho khuất mắt. Một ngày nào đó chính ông cũng sẽ bị ăn cắp, và ông sẽ ước muốn rằng không có nhiều người vì tham lam mà trước khi mua không hỏi xem nó xuất xứ từ đâu."
Người bán thịt nhìn giận dữ, và ngập ngừng như muốn đáp trả, nhưng sau đó ông nghĩ lại và ra đi.
Agnes hỏi: "Sao anh lại để cho hắn đi?"
"Bởi vì ông ấy được nhiều người ở đây biết đến, còn anh thì không," Tom nói. "Nếu anh đánh ông ấy, anh sẽ bị đổ tội. Và bởi vì tên anh không được viết trên mông con heo, nên không ai có thể nói nó là của anh hay không."
"Nhưng đó là tất cả những gì chúng ta tiết kiệm được."
"Chúng ta có thể lấy lại tiền bán heo, dĩ nhiên," Tom nói. "Hãy im đi để anh suy nghĩ." Cuộc cãi vã với người bán thịt đã làm cho ông bực bội, vì thế ông đã nói một cách cay nghiệt với Agnes. "Ở một nơi nào đó trong thành phố có một người không có môi và có năm mươi xu trong túi. Tất cả những gì chúng ta cần làm là tìm ra hắn và lấy lại tiền từ hắn."
"Đúng," Agnes nói một cách quyết liệt.
"Em đi ngược lại con đường chúng ta đã đi. Đi đến gần nhà thờ. Anh sẽ đi tiếp tục và đến nhà thờ bằng hướng khác. Rồi chúng ta trở lại bằng con đường kế tiếp, và cứ tiếp tục như thế. Nếu hắn không có trên đường, hắn phải ở trong một quán bia nào đó. Nếu em gặp hắn, em hãy ở lại và nói Martha đi tìm anh. Anh mang Alfred theo. Đừng để cho tên tội phạm thấy em."
"Đừng lo," Agnes nói dứt khoát. "Em cần tiền đó để nuôi con."
Tom sờ vào tay bà và mỉm cười. "Em là một con sư tử, Agnes à."
Bà nhìn vào mắt ông một lúc, rồi bất thình lình bà đứng trên đầu ngón chân và hôn lên môi ông, một nụ hôn ngắn nhưng mãnh liệt. Sau đó bà quay lại, cùng với Martha đi ngược lại khu chợ. Tom nhìn cho đến khi bà khuất khỏi tầm mắt, ông cảm thấy lo âu cho bà, mặc dù biết bà rất can đảm; rồi ông cùng với Alfred đi về hướng ngược lại.
Kẻ trộm có vẻ như cảm thấy an toàn. Khi hắn ăn trộm con heo, Tom đang đi theo hướng Manchester, nên hắn đã đi hướng ngược lại để bán con heo ở Salisbury. Vì người phụ nữ sống ngoài vòng pháp luật, Ellen, nói với Tom rằng một ngôi nhà thờ đang được sửa sang ở Salisbury, nên ông đã thay đổi dự định và vô tình bắt kịp kẻ trộm ở đây. Tuy nhiên, kẻ trộm nghĩ hắn sẽ chẳng gặp Tom nữa, và điều này cho Tom một cơ hội để bắt hắn bất ngờ.
Tom đi chậm dọc theo con đường lầy lội, liếc vào các cửa mở như tình cờ. Ông không muốn bị để ý, bởi vì sự tìm kiếm này có thể kết thúc bằng bạo lực và ông không muốn mọi người nhớ đến một người thợ xây cao lớn đang dò xét thị trấn. Hầu hết ngôi nhà là những túp lều bình thường bằng gỗ, vách đất và mái lá, có rơm trên nền nhà, một lò sưởi ở giữa và một vài đồ nội thất tự chế. Một thùng rượu và vài chiếc ghế băng tạo nên một quán bia; một chiếc giường ở góc với một tấm màn che mang dấu hiệu có gái điếm; một đám đông ồn ào quanh một chiếc bàn là biểu hiện của trò chơi đỏ đen.
Một người đàn bà sơn môi đỏ vạch ngực của bà trước mặt ông, ông lắc đầu và vội vàng đi qua. Ông đã bị cám dỗ một cách thầm kín bởi ý tưởng muốn làm chuyện đó với một người đàn bà hoàn toàn xa lạ, trong ánh sáng ban ngày, và trả tiền cho họ, nhưng trong suốt cuộc đời ông chưa bao giờ thử nó.
Ông nghĩ đến Ellen, người đàn bà sống bên ngoài pháp luật. Cô có một cái gì đó hấp dẫn. Cô có sức quyến rũ mạnh mẽ, nhưng đôi mắt sâu thẳm của cô đáng sợ. Lời mời của cô gái điếm làm Tom cảm thấy bất mãn một lúc, nhưng sự thu hút của Ellen đã chẳng hao mòn đi, và thình lình ông có một ước muốn ngu dốt là chạy trở lại vào rừng tìm cô và rơi vào lòng cô.
Ông đến gần nhà thờ mà không thấy kẻ trộm. Ông nhìn người thợ làm ống nước đang đóng đinh tấm chì trên mái nhà gỗ phía trên gian giữa nhà thờ. Họ chưa bắt đầu lợp mái nhà hai gian bên cạnh, nên vẫn có thể nhìn thấy nửa vòng cung hỗ trợ, nối kết thành ngoài của gian bên cạnh với tường chính của gian giữa, nâng đỡ đỉnh nhà thờ. Ông chỉ cho Alfred. "Không có sự hỗ trợ này, bức tường chính sẽ cong và oằn ra, vì trọng lượng của các vòm đá bên trong," ông cắt nghĩa. "Hãy nhìn xem nửa vòng cung thẳng hàng với các trụ trong bức tường của gian bên. Chúng cũng thẳng hàng với các trụ cột của mái vòm trong gian giữa. Và các cửa sổ của hai gian bên cạnh thẳng hàng với mái vòm của gian giữa. Đường mạnh với đường mạnh và đường yếu với yếu." Alfred nhìn bối rối và bực bội. Tom thở dài.
"Tom nhìn thấy Agnes đi lại từ phía đối diện, và đầu óc ông trở về với vấn đề trước mắt. Mũ che phủ mặt của bà, nhưng ông nhận ra cằm bà chĩa ra phía trước, bước chân vững vàng. Người công nhân vai rộng bước sang một bên, nhường chỗ cho bà đi qua. Nếu bà có một cuộc chiến với kẻ trộm, ông nghĩ một cách chắc chắn, nó sẽ là một cuộc chiến cân bằng.
"Anh có thấy hắn không?" bà hỏi.
"Không, và một cách hiển nhiên là em cũng không." Tom hy vọng kẻ trộm chưa ra khỏi thị trấn. Chắc chắn hắn sẽ chưa đi khi hắn chưa tiêu đồng xu nào. Tiền không thể dùng trong rừng.
Agnes cũng nghĩ như vậy. "Hắn ở một chỗ nào đó quanh đây. Hãy tiếp tục tìm kiếm."
"Chúng ta đi ngược lại bằng hai con đường khác nhau và gặp nhau ở khu chợ."
Tom và Alfred đi lại bước đường qua công trường xây dựng và ra khỏi cửa thành. Mưa thấm qua áo khoác của họ, và Tom vụng trộm nghĩ đến ly bia và một bát canh thịt bò bên cạnh bếp lửa của một quán bia. Rồi ông nghĩ đến ông đã phải vất vả thế nào để mua được con heo, và hồi tưởng lại người đàn ông không môi đã đập thanh gỗ không thương tiếc vào đầu Martha như thế nào, và sự tức giận làm ông nóng người.
Không dễ gì mà có thể tìm kiếm một cách hệ thống, vì các đường xá không trật tự. Họ lang thang đây đó, theo các dãy nhà, và có nhiều khúc quanh gấp cũng như những ngõ cụt. Chỉ có một con đường thẳng dẫn từ cổng phía đông đến chiếc cầu của lâu đài. Lần trước ông đã đi bên cạnh thành lũy của lâu đài. Lần này ông tìm kiếm ở vùng ngoại ô, đi luồn lách tới tường thành và trở lại vào trong. Đây là khu dân cư nghèo, với các căn nhà xiêu vẹo, những quán bia ồn ào và khu đĩ điếm lâu đời nhất. Từ trung tâm đổ dốc xuống vùng biên của thành phố, vì thế rác rưởi của khu phố nhà giầu trôi xuống các đường phố và đọng lại bên thành lũy. Một cái gì đó cũng tương tự đối với con người, vì khu này tập trung nhiều hơn những người tàn tật và ăn xin, trẻ em và phụ nữ nghèo đói và người say rượu.
Nhưng người đàn ông không môi vẫn biệt tăm.
Hai lần Tom phát hiện ra một người có hình dáng và kích thước giống hắn, ông đã cố nhìn kỹ hơn nhưng chỉ thấy khuôn mặt xa lạ.
Ông chấm dứt cuộc tìm kiếm ở khu chợ, và nơi đó Agnes đang sốt ruột chờ ông, bà căng thẳng và đôi mắt bà rạng rỡ. "Em đã tìm thấy hắn!" bà rít lên.
Tom cảm thấy hồi hộp và lo âu. "Ở đâu?"
"Hắn vào trong một tiệm ăn ở cổng phía đông."
"Hãy đưa anh đến đó."
Họ đi vòng quanh tòa lâu đài đến chiếc cầu, đi xuống con đường thẳng đến cổng phía đông, rồi quẹo vào trong một mê lộ của những con hẻm dưới những bức tường. Một lúc sau Tom nhìn thấy tiệm ăn. Nó không là một căn nhà mà chỉ là một mái dốc trên bốn cây cột dựa lên tường thành; một ngọn lửa khổng lồ ở phía sau đang quay một con cừu trên một cái xiên, bên cạnh đó là một cái vạc đang sôi. Trời vào khoảng giữa trưa, và nơi nhỏ bé đó đầy người, hầu hết là đàn ông. Mùi thơm của thịt làm bao tử Tom cồn cào. Ông đưa mắt lục soát đám đông, sợ rằng kẻ trộm đã biến mất trong thời gian ông đi đến đây. Ông phát hiện ra hắn ngay lập tức, ngồi trên chiếc ghế xa đám đông, ăn một bát hầm bằng một chiếc muỗng, cầm chiếc khăn trước mặt để che miệng.
Tom quay ngay lại để hắn không thể nhìn thấy ông. Bây giờ ông phải quyết định xử lý hắn như thế nào. Ông đủ giận để đánh kẻ trộm ngã xuống và lấy ví tiền của hắn. Nhưng đám đông sẽ không để ông đi. Ông sẽ phải biện minh, không những với đám đông mà còn với cảnh sát. Tom có quyền và rõ ràng ông là một người đứng đắn và là một thợ xây; trong khi kẻ trộm là một người sống ngoài vòng pháp luật, nghĩa là hắn không có ai xác minh cho sự trung thực của hắn. Nhưng sự xác minh cho tất cả các việc đó sẽ mất thời gian, có thể hàng tuần nếu cảnh sát phải công tác xa ở vùng quê nào đó; và nếu một cuộc ẩu đả xẩy ra có thể sẽ bị buộc tội vì phá vỡ sự hòa bình của nhà vua.
Không. Tốt hơn nên giải quyết tên trộm một cách riêng rẽ.
Hắn không thể ở lại đêm trong thị trấn, vì hắn không có nhà ở đây, và hắn không thể tìm được chỗ tạm trú khi hắn không chứng minh được hắn là một người đứng đắn. Vì thế hắn phải ra đi trước khi các cổng thành đóng khi đêm xuống.
Và chỉ có hai cổng.
"Có lẽ hắn sẽ trở ra bằng con đường hắn đến." Tom nói với Agnes. "Anh sẽ đợi bên ngoài cổng phía đông. Hãy để Alfred canh chừng cửa phía tây. Em ở lại trong thị trấn xem kẻ trộm làm gì. Giữ Martha bên cạnh em, nhưng đừng cho hắn thấy. Nếu em muốn gửi một thông điệp cho anh hoặc Alfred, hãy nhờ Martha."
"Vâng," Agnes nói ngắn gọn.
Alfred nói: "Con nên làm gì nếu hắn đi ra phía con?" Cậu có vẻ hí hửng.
"Không làm gì cả," Tom nói chắc nịch. "Quan sát xem hắn đi theo con đường nào, rồi đợi. Martha sẽ đón bố, và chúng ta sẽ cùng nhau đuổi theo hắn." Alfred nhìn thất vọng, và Tom nói: "Con hãy làm như bố nói. Bố không muốn mất con như mất con heo."
Alfred gật đầu miễn cưỡng.
"Chúng ta lên đường, trước khi hắn nhận ra chúng ta tụ tập lại và âm mưu với nhau. Hãy đi."
Tom rời họ ngay, không quay mặt lại. Ông có thể tin Agnes sẽ thực hiện theo kế hoạch. Ông vội vã đến cửa phía đông và rời thị trấn, qua cây cầu gỗ ọp ẹp mà ông đã đẩy chiếc xe bò qua sáng hôm nay. Thẳng trước mặt ông là con đường đến Winchester, về hướng đông, con đường thẳng tắp, giống như một tấm thảm dài trải qua các ngọn đồi và thung lũng. Về phía trái, con đường mà Tom – có lẽ kẻ trộm cũng vậy – đã đến Salisbury, con đường Roma, uốn quanh trên một ngọn đồi rồi biến mất. Kẻ trộm chắc chắn sẽ đi con đường này.
Tom đi xuống đồi, xuyên qua các cụm nhà ở ngã tư, rồi quẹo vào đường Roma. Ông cần phải ẩn trốn. Ông bước đi theo con đường, tìm kiếm chỗ thích hợp. Ông đi hai trăm dặm mà không tìm được chỗ nào ẩn trốn. Nhìn lại, ông nhận ra là đã đi quá xa: ông không còn nhận ra khuôn mặt của những người ở ngã tư đường, vì thế ông không thể biết người đàn ông không môi có đi theo con đường đến Winchester không. Ông quan sát phong cảnh lần nữa. Con đường có mương hai bên, có thể là chỗ lẩn trốn trong mùa khô, nhưng hôm nay đầy nước. Bên ngoài dẫy mương, đất nhô lên như một cái bướu. Trong cánh đồng phía nam của con đường, một vài con bò đang gặm cỏ. Tom chú ý đến một con bò nằm ở bên cạnh mô đất cao của cánh đồng, một phần con bò bị che đậy bởi mô đất. Với một tiếng thở dài, ông quay gót trở lại. Ông nhẩy qua mương và đá vào con bò. Nó đứng lên và đi khỏi. Tom nằm xuống chỗ đất ấm và khô ráo mà con bò để lại. Ông kéo chiếc mũ che mặt và chờ đợi. Ông tiếc rẻ nếu ông biết lo xa, ông đã mua vài miếng bánh trước khi rời thị trấn.
Ông lo lắng pha lẫn chút sợ hãi. Kẻ phạm pháp là một người nhỏ con, nhưng hắn di chuyển nhanh và ác độc như ông đã nhìn thấy khi hắn đánh Martha và ăn cắp con heo. Tom sợ hãi một chút về việc có thể bị thương, nhưng ông lo lắng hơn vì có thể sẽ không lấy lại được tiền.
Ông mong Agnes và Martha được an toàn. Agnes có thể tự lo được cho bà, ông biết như vậy; và ngay cả khi tên trộm phát hiện ra bà, hắn có thể làm được gì bà? Hắn sẽ cảnh giác hơn, thế thôi.
Từ chỗ nằm, Tom có thể nhìn thấy tháp nhà thờ. Ông ước gì đã có thể nhìn được vào phía trong. Ông rất tò mò về cách giải quyết những cột trụ của mái vòm. Những cột trụ này thường rất to, các mái vòm bắt đầu từ đỉnh của nó: hai vòm đi về hướng bắc và nam, nối với các cột trụ bên cạnh trong mái vòm; và một đi về hướng đông hoặc tây, qua gian bên cạnh. Nó trông không đẹp, bởi vì có một cái gì không đúng khi một mái vòm bắt đầu từ đầu một cây trụ tròn. Nếu Tom xây nhà thờ chính tòa, mỗi trụ sẽ là một cụm trụ, và mỗi mái vòm vươn lên từ đầu của mỗi trụ – sự sắp xếp như vậy sẽ hợp lý và đẹp hơn.
Ông bắt đầu tưởng tượng về sự trang trí cho các vòm. Hình thẳng là hình thức thông thường – không mất nhiều kỹ năng để khắc chữ chi và hình thoi – nhưng Tom ưa thích những chùm lá, chúng đem lại sự nhẹ nhàng của thiên nhiên vào trong nét đều đặn của những phiến đá.
Sự hình dung về ngôi nhà thờ xâm chiếm tâm hồn ông cho đến giữa chiều, khi ông nhìn thấy hình dáng nhỏ bé và mái tóc bạch kim của Martha chạy qua cây cầu và xuyên qua dẫy nhà. Cô do dự giữa ngã tư, rồi theo con đường phía phải. Tom nhìn cô đang tiến về phía ông. Cô nhíu mày phân vân không biết ông ở đâu. Khi cô đến vừa tầm, ông gọi nhẹ nhàng: "Martha".
Khi thấy ông, cô kêu lên một tiếng nhỏ. Cô chạy lại, nhẩy qua mương. "Mẹ gửi cho bố cái này," cô nói, và lấy ra một vật quấn trong áo khoác.
Nó là một miếng thịt nóng. "Trời ơi! Mẹ con là một phụ nữ chu đáo," Tom nói, và cắn một miếng lớn. Nó được làm với thịt bò và hành tây, và nó ngon tuyệt.
Martha ngồi xổm bên cạnh Tom trên cỏ. "Chuyện của người ăn trộm heo của chúng ta xẩy ra như thế này," cô nói. Cô tập trung để nhớ lại những gì cô được dặn để nói. Cô quá dễ thương đến nỗi làm Tom nín thở. "Ông ấy ra khỏi tiệm ăn và gặp một phụ nữ với khuôn mặt son phấn, rồi vào nhà bà ta. Chúng con đợi bên ngoài."
Trong khi đó kẻ tội phạm tiêu tiền của chúng ta cho một gái điếm, Tom nghĩ một cách chua chát. "Hãy kể tiếp đi con."
"Ông ấy không ở lâu trong nhà bà đó, và khi ông đi ra, ông đến một quán bia. Bây giờ ông đang ở đó. Ông không uống nhiều nhưng ông chơi cờ bạc."
"Bố mong hắn thắng," Tom nói gằn giọng. "Có vậy thôi sao?"
"Đó là tất cả."
"Con có đói không?"
"Con có một miếng bánh nhỏ."
"Con đã kể cho Alfred tất cả điều đó chứ?"
"Chưa, bây giờ con sẽ đi đến anh ấy."
"Nói với anh ấy, cố gắng giữ mình cho khô ráo."
"Cố gắng giữ mình khô ráo," cô lặp lại. "Con phải nói điều đó trước hay sau khi kể câu chuyện về người đàn ông đã ăn cắp con heo của chúng ta?"
Dĩ nhiên điều đó không quan trọng lắm. "Sau đó," Tom nói. Ông mỉm cười với cô. "Con là một bé gái thông minh. Con đi đi."
"Con thích trò chơi này," cô nói. Cô vẫy tay và ra đi, đôi chân trẻ thơ thoăn thoắt nhẩy qua mương và chạy ngược lại hướng thị trấn. Tom quan sát cô với tình thương và sự tức giận trong lòng. Ông và Agnes đã làm việc cực khổ để kiếm tiền nuôi sống con cái, và ông sẵn sàng giết người để lấy lại cái mà họ đã bị ăn cắp.
Có lẽ kẻ tội phạm cũng sẵn sàng giết người nữa. Kẻ tội phạm sống bên ngoài vòng pháp luật, như tên gọi đã ngụ ý: họ sống trong bạo lực. Đây có lẽ không phải là lần đầu mà Faramond Openmouth chống lại nạn nhân của hắn. Hắn là người nguy hiểm.
Một điều đáng ngạc nhiên là ánh sáng mặt trời bắt đầu yếu dần rất sớm, như một đôi khi xẩy ra vào buổi chiều mùa thu ẩm ướt. Tom lo lắng không biết có còn nhận ra được kẻ trộm trong mưa nữa không. Khi gần tối, sự đi lại thưa dần, vì hầu hết du khách đã ra về đúng lúc để kịp về nhà khi đêm xuống. Ánh sáng của nến và đèn lồng bắt đầu chập chờn trong những căn nhà cao của thị trấn và trong các túp lều vùng ngoại ô. Tom bi quan tự hỏi không biết kẻ trộm có ở lại trong thị trấn suốt đêm không. Có lẽ hắn có bạn bè không lương thiện trong thị trấn, những người cho hắn lưu trú mặc dù biết hắn là tên tội phạm. Có lẽ -
Rồi, Tom nhìn thấy một người che khăn trên miệng.
Hắn đi qua chiếc cầu bằng gỗ, đi gần hai người đàn ông khác. Đối với Tom, đó là điều bất ngờ vì hai người đồng lõa của tên trộm, tên đầu hói và tên đội mũ xanh, cả hai có thể đã cùng đi với hắn đến Salisbury. Tom đã không thấy họ trong thị trấn, nhưng có thể ba người đã chia tay nhau một lúc rồi lại tập trung lại để cùng về. Tom nguyền rủa: Ông không nghĩ ông có thể chống lại ba tên. Nhưng khi đến gần, nhóm người tách ra, và Tom nhẹ nhõm nhận ra rằng họ không đi chung với nhau.
Hai người đầu tiên là ông bố và người con trai, hai nông dân có đôi mắt đen gần nhau và lỗ mũi hếch. Họ đi theo con đường Roma và người đàn ông che khăn theo sau.
Ông nghiên cứu dáng đi của tên trộm khi hắn đến gần. Hắn đã hết say. Thật đáng tiếc!
Nhìn về phía thị trấn, ông thấy một đàn bà và một em bé vội vã qua cầu: Agnes và Martha. Ông bị sốc. Ông không dự kiến họ có mặt khi ông đối đầu với tên trộm. Tuy nhiên ông nhận ra rằng ông đã không ra lệnh cho họ.
Ông căng thẳng khi tất cả đi về phía ông. Tom to lớn nên hầu hết bỏ cuộc khi phải đối đầu với ông; nhưng kẻ tội phạm này là người liều lĩnh và không thể nói điều gì sẽ xẩy ra trong cuộc chiến.
Hai người nông dân đi qua, vui vẻ kể về ngựa. Tom lấy búa có bọc sắt ở đầu từ thắt lưng và cầm nó trong tay phải. Ông ghét những tên trộm cướp, những người không làm việc nhưng ăn cắp đồ ăn của người lương thiện. Ông sẽ không ngần ngại cho người này một cái búa.
Kẻ trộm dường như đi chậm lại khi hắn đến gần, hầu như hắn cảm thấy sự nguy hiểm. Tom đợi cho đến khi hắn chỉ còn cách bốn hay năm dặm – quá gần để chạy ngược lại, và quá xa để chạy đi. Rồi Tom lăn mình qua bờ, nhẩy qua mương và chặn đường hắn.
Người đàn ông chết đứng, nhìn chằm chằm vào ông. "Cái gì vậy?" hắn hỏi một cách lo lắng.
Hắn không nhận ra tôi, Tom nghĩ. Ông nói: "Ông ăn cắp con heo của tôi hôm qua và bán cho người bán thịt hôm nay."
"Tôi không bao giờ -"
"Đừng chối." Tom nói. "Hãy đưa cho tôi số tiền mà ông đã bán được, và tôi sẽ không đánh ông."
Lúc đầu ông tưởng kẻ trộm sẽ nghe lời. Ông cảm thấy thất vọng, khi hắn do dự. Sau đó, tên trộm quay gót và chạy thẳng về phía Agnes.
Hắn không đủ nhanh để chạy qua bà và trong một lúc cả hai người lảo đảo từ bên này đường qua bên kia đường giống như trong một điệu nhẩy vụng về. Rồi hắn nhận ra rằng bà đã cố tình chặn đường hắn, và hắn đẩy bà sang bên. Bà giơ chân ngáng hắn. Chân bà trúng đầu gối hắn và cả hai ngã xuống.
Trái tim Tom hổn hển, khi ông lao nhanh đến bên bà. Kẻ trộm quỳ lên được, đặt một đầu gối trên lưng bà. Tom nắm lấy cổ áo hắn và kéo mạnh hắn ra. Ông lôi hắn tới lề đường trước khi hắn có thể lấy lại thăng bằng, rồi ném hắn xuống mương.
Agnes đứng dậy. Martha chạy đến bên bà. Tom nói nhanh: "Em không sao chứ?"
"Vâng," Agnes trả lời.
Hai người nông dân dừng lại quan sát, và họ chăm chú nhìn vào cảnh tượng. Kẻ trộm chống gối trong mương. "Hắn là một tên tội phạm," Agnes nói với họ để mong họ can thiệp. "Hắn ăn cắp con heo của chúng tôi." Người nông dân không trả lời, nhưng chờ đợi xem sự gì sẽ xẩy ra.
Tom nói với tên trộm một lần nữa. "Hãy trả tiền lại cho tôi và tôi sẽ để ông đi."
Tên trộm ra khỏi mương với một con dao trong tay, lao vào Tom nhanh như chuột. Agnes thét lên. Tom né tránh. Con dao thoáng qua mặt ông và ông cảm thấy đau nơi cằm.
Ông lùi lại và dơ búa lên khi con dao lướt qua một lần nữa. Tên trộm lùi lại. Lưỡi dao và chiếc búa vun vút trong không khí của buổi tối ẩm ướt mà không đụng nhau.
Ngay lập tức cả hai đứng lặng yên, đối diện nhau, thở hổn hển. Cằm của Tom đau. Ông nhận ra rằng hai người bằng sức nhau, mặc dù Tom lớn hơn, nhưng tên trộm có một con dao, và dao nguy hiểm hơn chiếc búa của thợ xây. Ông cảm thấy ớn lạnh khi ông nhận ra rằng ông có thể sắp chết. Bất thình lình ông cảm thấy như không thở được.
Từ khóe mắt ông nhìn thấy một chuyển động đột ngột. Tên trộm cũng nhận ra, phóng một cái nhìn về phía Agnes và cúi đầu xuống khi viên đá từ tay bà bay vào hắn.
Tom phản ứng nhanh, vung búa vào đầu tên trộm.
Nó trúng vào đúng lúc hắn ngẩng đầu lên. Búa sắt đập vào trán phía chân tóc. Đó là một cú đánh vội vã, không mang tất cả sức mạnh của Tom. Tên trộm loạng choạng nhưng không ngã.
Tom đánh hắn một cái nữa.
Đòn này nặng hơn: Ông có nhiều giờ để giơ búa lên cao khỏi đầu và nhắm nó vừa lúc tên trộm choáng váng. Tom nghĩ về Martha khi ông giáng búa xuống. Nó trúng với tất cả sức lực của ông, và tên trộm gục xuống đất giống như con búp bê rơi.
Tom quỳ xuống bên tên trộm, xem xét hắn. "Ví tiền hắn ở đâu? Ví tiền hắn ở đâu?" Rất khó lay chuyển thân thể mềm rũ của hắn. Sau hết, Tom đặt hắn nằm ngửa và mở chiếc áo choàng của hắn. Có một bóp bằng da lớn đeo vào dây thắt lưng. Tom tháo chiếc móc. Bên trong là một túi len mềm mại. Ông kéo nó ra. Nó nhẹ. "Không có gì!" Tom nói. "Hắn phải có chiếc ví khác nữa."
Ông kéo chiếc áo choàng từ phía dưới người đàn ông và cẩn thận xem xét khắp nơi. Không còn chiếc túi nào, không có phần cứng nào. Ông tháo chiếc giày ra: không có gì bên trong. Ông lấy con dao ăn từ thắt lưng và cắt đế giầy: không có gì.
Sốt ruột, ông trượt con dao bên trong cổ áo len của tên trộm và rạch tới viền: không có thắt lưng dấu tiền.
Tên trộm nằm giữa con đường lầy lội, trần truồng. Hai người nông dân nhìn chằm chằm vào Tom tưởng như ông bị điên. Giận dữ, Tom nói với Agnes: "Hắn không còn đồng xu nào."
"Có lẽ ông ấy đã thua cờ bạc hết," bà cay đắng nói.
"Anh mong hắn bị đốt trong lửa hỏa ngục," Tom nói.
Agnes quỳ xuống và sờ vào ngực hắn. "Đó là nơi ông ta đang ở," bà nói. "Anh đã giết hắn."
 
 
IV
 
Vào dịp lễ Giáng sinh họ thiếu ăn.
Mùa đông đến sớm, và trời vừa lạnh, vừa khắc nghiệt lại chẳng chịu khắc phục giống như cái đục sắt của người thợ đá. Táo vẫn còn trên cây khi cơn tuyết đầu tiên phủ xuống cánh đồng. Người ta gọi nó là đợt rét đột ngột, nghĩ rằng nó sẽ chóng qua, nhưng không phải vậy. Những ngôi làng cày trễ trong mùa thu đã bị vỡ lưỡi cày trên đất cứng như đá. Các nông dân vội vàng giết heo, muối chúng cho mùa đông, và các lãnh chúa giết gia súc, vì sự chăn thả gia súc trong mùa đông không thể bằng mùa hè. Nhưng mùa đông dài vô tận làm cỏ héo úa và một số thú vật còn lại chết bằng cách này hay cách khác. Chó sói tuyệt vọng, chúng vào trong làng khi trời nhá nhem tối và cướp đi những con gà gầy còm và những trẻ thơ bơ phờ.
Về phía xây dựng, chẳng bao lâu sau khi cơn tuyết đầu mùa đổ xuống, các bức tường được xây trong mùa hè phải được vội vàng che phủ bằng rơm và phân để đề phòng cái lạnh khắc nghiệt nhất, bởi vì vữa trong tường chưa khô hẳn, và nếu nó bị đóng băng, tường sẽ nứt ra. Việc làm vữa bị ngưng lại,cho đến khi mùa xuân trở lại. Nhiều thợ hồ chỉ được mướn cho mùa hè, và giờ đây họ trở về làng cũ, nơi họ không còn là thợ hồ nữa mà làm mọi nghề, dành cả mùa đông làm lưỡi cày, yên ngựa, công cụ lao động, xe bò, xẻng, cửa và bất cứ việc gì cần đến bàn tay khéo léo với chiếc búa, đục và cưa. Các thợ hồ khác di chuyển vào trong các nhà có mái che và suốt ngày cắt đá theo những hình dạng phức tạp. Nhưng tuyết đổ quá sớm và công việc tiến triển quá nhanh, và bởi vì các nông dân bị đói, nên các giám mục, các người cai quản thành trì và các lãnh chúa có ít tiền để chi cho việc xây dựng hơn họ dự định. Và vì thế khi mùa đông vừa đến, một số thợ hồ đã bị sa thải.
Tom và gia đình đi bộ từ Salisbury tới Shaftesbury, rồi từ đó đến Sherborne, Wells, Bath, Bristol, Gloucester, Oxford, Wallingford và Windsor. Ở mọi nơi, ngọn lửa bên trong nhà cháy rực, và sân nhà thờ cũng như các bức tường thành còn vang lên bài ca của sắt trên đá cứng, và thợ xây dựng chính làm những mô hình nhỏ về các mái vòm và khung vòm bằng bàn tay khéo léo của họ. Một vài thợ xây dựng chính thiếu kiên nhẫn, thô lỗ và bất lịch sự; những người khác nhìn những đứa con gầy guộc và bà vợ đang mang thai của Tom một cách buồn bã, rồi nói những lời tử tế và lấy làm tiếc; nhưng mọi người đều cùng nói một câu: Không, ở đây không có việc cho ông.
Bất cứ khi nào có thể, họ lợi dụng lòng hiếu khách của các tu viện, nơi mà khách vãng lai luôn được cho một bữa ăn và một nơi để ngủ - chỉ cho một đêm duy nhất. Khi những trái dâu đen chín trên bụi cây, họ sống nhờ đó như những con chim. Trong rừng, Agnes nhóm lửa dưới chiếc nồi sắt và nấu cháo. Nhưng vẫn có nhiều lần, họ phải mua bánh từ tiệm và cá từ cửa hàng, hay ăn trong quán bia hoặc tiệm ăn, dĩ nhiên nó mắc hơn là họ tự nấu; và vì thế tiền của họ hao đi nhanh chóng.
Tự bản chất, Martha đã gầy sẵn nhưng càng ngày càng gầy hơn. Alfred vẫn phát triển cao hơn, giống như cỏ dại phát triển trong đất bằng, và cậu cao lêu nghêu. Bản thân Agnes ăn ít, nhưng đứa bé trong bụng bà tham ăn, và Tom có thể thấy rằng bà bị cơn đói dày vò. Một đôi khi ông ra lệnh cho bà ăn nhiều hơn, và ý chí cứng như sắt của bà cũng phải quỵ lụy vì uy quyền của chồng và của đứa con chưa sinh. Bà vẫn chưa phát mập và hồng hào như trong thời gian mang thai khác. Thay vào đó, bà gầy gò mặc dù bụng bà phình to, giống như đứa trẻ thiếu ăn trong nạn đói.
Từ khi rời Salisbury họ đã đi vòng quanh ba phần tư của một vòng tròn lớn, và vào cuối năm họ đã trở lại khu rừng rộng lớn, trải dài từ Windsor tới Winchester. Tom đã bán công cụ thợ xây của mình, và không phải tất cả, nhưng một vài xu đã được chi tiêu: ông phải mượn đồ nghề hoặc mua nó bao lâu ông tìm được việc làm. Nếu ông không tìm được việc ở Winchester, ông không biết phải làm sao. Ông có anh em ở vùng quê của ông; nhưng ở mãi phía bắc, cách đây vài tuần du hành, và gia đình ông sẽ chết đói trước khi đến được đó. Agnes là đứa con duy nhất và cha mẹ bà đã qua đời. Không có công việc đồng áng giữa mùa đông. Có lẽ Agnes sẽ tìm được vài xu như một người giúp việc trong một gia đình giầu có ở Winchester. Bà chắc chắn không còn có thể lang thang lâu hơn trên đường, vì ngày sinh đã gần kề.
Nhưng Winchester còn ba ngày đường nữa và bây giờ họ đói. Dâu đen đã hết, không có bóng tu viện nào trước mắt, và Agnes không còn gì trong chiếc nồi mà bà đeo trên lưng. Đêm hôm trước họ đã đổi một con dao lấy một ổ bánh lúa mạch, bốn bát canh không thịt, và một nơi để ngủ qua đêm bên cạnh đống lửa trong túp lều của một nông dân. Từ đó họ không thấy ngôi làng nào. Nhưng vào cuối buổi chiều, Tom nhìn thấy khói bốc lên sau hàng cây, và họ tìm thấy căn nhà nằm đơn độc của một viên kiểm lâm, một viên cảnh sát kiểm lâm của nhà vua. Ông ấy đưa cho họ một bao củ cải để đổi lấy cái rìu nhỏ của Tom.
Họ đi bộ thêm ba dặm và Agnes cho biết bà đã quá mệt để tiếp tục đi. Tom ngạc nhiên. Trong cả thời gian chung sống với nhau, chưa bao giờ bà nói quá mệt cho bất cứ điều gì.
Bà ngồi xuống trong bóng mát của một cây dẻ bên đường đi. Tom đào một lỗ nhỏ để đốt lửa, dùng một cái xẻng gỗ - một trong vài đồ dùng còn lại vì không ai muốn mua nó. Trẻ em thu thập cành cây và Tom mồi lửa, rồi ông lấy nồi, đi tìm một dòng suối. Ông trở lại với nồi đầy nước đá và đặt lên cạnh đống lửa, Agnes cắt một số củ cải. Martha thu nhặt hạt dẻ rơi xuống từ cây và Agnes chỉ chúng cách gọt vỏ và nghiền phần mềm bên trong thành bột thô để làm cho súp củ cải đặc hơn. Tom nói Alfred đi tìm thêm củi, trong khi đó ông lấy một cây gậy và đi thọc xuống lá rừng khô, mong sẽ tìm thấy một con nhím hay một con sóc đang ngủ đông để cho vào nồi súp. Nhưng may mắn không đến với ông.
Ông ngồi xuống bên cạnh Agnes trong khi màn đêm buông xuống và nồi súp đang nấu. "Chúng ta còn chút muối nào không?" ông hỏi bà.
Bà lắc đầu. "Anh đã ăn cháo nhiều tuần nay không có muối," bà nói. "Anh không nhận ra điều đó à?"
"Không."
"Đói là gia vị tốt nhất."
"Vâng, chúng ta có nhiều gia vị đó." Bất ngờ Tom cảm thấy mệt khủng khiếp. Ông cảm nhận gánh nặng của thất vọng chồng chất trong bốn tháng qua và ông không còn can đảm nữa. Ông nói bằng giọng chán chường: "Đâu là những sai lầm, Agnes?"
"Mọi sự," bà nói. "Anh không tìm được việc làm trong suốt mùa đông. Anh có một công việc trong mùa xuân; nhưng người con gái của lãnh chúa đã hủy cuộc hôn nhân và chủ William đã hủy việc xây dựng của chúng ta. Sau đó chúng ta quyết định ở lại làm việc trong mùa gặt – đó là một sai lầm."
"Chắc chắn đối với anh, tìm việc trong mùa hè thì dễ hơn là tìm việc trong mùa thu."
"Và mùa đông đến sớm. Và mặc dù tất cả những điều đó, chúng ta vẫn được bảo đảm, nhưng rồi con heo của chúng ta bị ăn cắp."
Tom gật đầu một cách mệt mỏi. "Điều an ủi duy nhất của anh là được biết rằng tên trộm bây giờ đang chịu nhiều cực hình trong hỏa ngục."
"Em cũng hy vọng như vậy."
"Em có nghi ngờ về điều đó không?"
"Các linh mục không biết nhiều như họ nói. Hãy nhớ rằng bố em cũng là một linh mục.”
Tom nhớ rất rõ. Một bức tường của nhà thờ giáo xứ của bố bà đã sụp đổ không thể sửa chữa được, và Tom đã được thuê để xây lại. Linh mục không được lập gia đình, nhưng vị này có bà giúp việc, và bà giúp việc có một người con gái. Trong làng có một bí mật mà mọi người đều bết đó là linh mục là bố của cô gái. Agnes không đẹp lắm, ngay cả sau đó, nhưng da bà tươi trẻ và bà tràn đầy nghị lực. Bà nói chuyện với Tom khi ông làm việc ở đó. Một đôi khi gió thổi quần áo sát vào người bà, nên Tom có thể nhìn thấy đường cong của thân thể bà, như thể bà đang khỏa thân. Một đêm bà đến căn lều nhỏ nơi ông ngủ, đặt tay lên miệng ông như ra hiệu đừng nói gì, và cởi quần áo ra để ông có thể thấy thân thể trần truồng của bà dưới ánh trăng, và rồi ông ôm lấy thân thể mạnh mẽ, trẻ trung của bà trong cánh tay và họ làm tình.
"Khi đó chúng ta đều là trinh nữ," ông nói to.
Bà biết ông đang nghĩ gì. Bà mỉm cười, và khuôn mặt bà đượm buồn, và bà nói: "Dường như đã lâu rồi."
Martha nói: "Chúng ta có thể ăn bây giờ chưa?"
Mùi của súp làm bao tử Tom cồn cào. Ông nhúng bát vào cái vạc sôi và lấy ra vài miếng củ cải trong cháo lỏng. Ông dùng cạnh sắc của con dao để thử củ cải. Nó chưa kỹ hẳn, nhưng ông quyết định không chờ thêm nữa. Ông đưa cho mỗi con một chén, rồi đem một chén cho Agnes.
Bà nhìn chăm chú và ưu tư. Bà thổi cho súp nguội, rồi đưa bát lên miệng.
Trẻ em ăn nhanh hết phần mình và muốn nữa. Tom lấy nồi ra khỏi lửa, dùng ven áo choàng để tay mình không bị bỏng, và gạt hết phần súp còn lại vào chén của các con.
Khi ông trở về bên cạnh Agnes, bà hỏi: "Còn anh thì sao?"
"Ngày mai anh sẽ ăn," ông nói.
Bà quá mệt để tranh luận.
Tom và Alfred khêu lửa cao lên và thu thập đủ củi để đốt qua đêm. Sau đó tất cả cuộn trong áo choàng và nằm xuống ngủ trên đống lá.
Tom ngủ không sâu, và khi Agnes rên, ông thức giấc ngay. "Cái gì vậy?" ông thì thầm.
Bà lại rên. Khuôn mặt bà nhợt nhạt và đôi mắt khép kín. Một lúc sau bà nói: "Đứa bé sắp ra đời."
Trái tim Tom lỡ nhịp. Không thể ở đây, ông nghĩ; không thể ở đây trên nền đất lạnh giữa rừng sâu này. "Nhưng nó chưa đến ngày," ông nói.
"Nó đến sớm."
Tom giữ giọng bình tĩnh. "Nước đã chảy ra chưa?"
"Sau khi chúng ta rời căn lều của viên kiểm lâm," Agnes thở hổn hển, mắt vẫn không mở.
Tom nhớ một lần bà đã bất thình lình lẩn vào trong bụi cây như để trả lời một cuộc gọi khẩn cấp của thiên nhiên. "Và có những cơn đau không?"
"Kể từ lúc đó."
Bà đã giữ kín điều đó.
Alfred và Martha cũng đã dậy. Alfred hỏi: "Chuyện gì xẩy ra vậy?"
"Đứa nhỏ sắp chào đời," Tom nói.
Martha bật khóc.
Tom cau mày. "Em có thể đi trở lại căn lều của viên kiểm lâm không?" ông hỏi Agnes. Ở đó ít nhất họ có mái nhà, có rơm để nằm và có người giúp đỡ.
Agnes lắc đầu. "Đứa bé sắp ra."
Như vậy là chẳng còn bao lâu nữa! Họ đang ở trong khu hoang vắng nhất của khu rừng. Từ sáng nay họ không nhìn thấy ngôi làng nào, và viên kiểm lâm nói cả ngày mai nữa họ cũng sẽ không thấy cái nào. Điều đó có nghĩa là không thể tìm ra một phụ nữ làm nữ hộ sinh. Chính Tom phải lo cho con mình, trong cái lạnh, chỉ có sự giúp đỡ của các con, và nếu có chuyện xẩy ra, ông không có thuốc, không có kiến thức.
Đây là lỗi của tôi, Tom nghĩ. Tôi lấy bà làm vợ khi bà còn trẻ và tôi đưa bà vào cảnh túng thiếu. Bà tin tưởng tôi sẽ lo cho bà, và bây giờ bà đang sinh con giữa trời trong mùa đông. Ông luôn xem thường những đàn ông sinh con rồi để chúng chết đói; và bây giờ ông cũng không khá gì hơn họ. Ông cảm thấy xấu hổ.
"Em quá mệt," Agnes nói. "Em không tin rằng em có thể sinh con ra. Em cần nghỉ." Khuôn mặt bà lấp lánh trong ánh lửa, với một màng mỏng mồ hôi.
Tom nhận ra ông phải gắng sức lên. Ông muốn cho Agnes sức mạnh. "Anh sẽ giúp em," ông nói. Không có gì bí ẩn và phức tạp về những gì sắp xẩy ra. Ông đã quan sát nhiều đứa trẻ được sinh ra. Công việc thường được một người đàn bà thực hiện, bởi vì họ hiểu người mẹ cảm thấy như thế nào và vì thế họ có thể giúp người mẹ nhiều hơn; nhưng không có lý do gì tại sao một người đàn ông lại không thể làm việc đó khi cần thiết. Trước hết ông phải để cho bà được thoải mái: rồi tìm xem bao lâu nữa đứa bé sẽ sinh ra, sau đó chuẩn bị tinh thần, rồi làm cho bà bình tĩnh và trấn an bà trong khi chờ đợi.
"Em cảm thấy thế nào?" ông hỏi bà.
"Lạnh," bà trả lời.
"Hãy đến gần ngọn lửa," ông nói. Ông cởi áo khoác và trải trên nền xa ngọn lửa một mét. Agnes cố tự đứng lên. Tom dìu bà lên, và để bà nhẹ nhàng ngồi xuống trên áo khoác của ông.
Ông qùy xuống bên cạnh bà. Áo dài len bà đang mặc bên dưới áo choàng có hàng nút dài phía trước. Ông mở hai nút và đưa bàn tay vào phía trong. Agnes thở hổn hển.
"Em có đau không?" ông hỏi, ngạc nhiên và lo âu.
"Không," bà nói với một nụ cười ngắn. "Tay anh lạnh quá."
Ông cảm thấy vòng bụng của bà. Sự căng tròn cao hơn và nhọn hơn tối hôm qua, khi hai người đã ngủ chung trong đống rơm trên nền túp lều của nông dân. Tom ấn mạnh hơn, cảm thấy hình dạng của thai nhi. Ông thấy một đầu thân thể, ngay dưới rốn của Agnes; nhưng ông không xác định được chỗ đầu kia đâu. Ông nói: "Anh có thể cảm thấy đít của nó, nhưng không thấy đầu."
"Bởi vì nó đang trên đường ra," bà nói.
Ông đắp cho bà và choàng áo khoác xung quanh bà. Ông phải chuẩn bị nhanh chóng. Ông nhìn các con. Martha khụt khịt. Alfred sợ hãi nhìn. Phải cho chúng điều gì để làm.
"Alfred, con đem nồi ra suối. Rửa sạch nó và lấy đầy nước sạch đem về. Martha, con thu một số lau sậy và làm cho bố hai vòng dây dài, mỗi cái đủ lớn cho một vòng cổ. Bây giờ nhanh lên. Các con sẽ có một em trai hay em gái khi bình minh ló dạng."
Chúng đi khỏi. Tom lấy ra con dao ăn và một hòn đá cứng nhỏ và bắt đầu mài lưỡi dao cho sắc. Agnes lại rên. Tom bỏ con dao xuống và cầm lấy tay bà.
Ông đã ngồi với bà như thế này khi những đứa con khác được sinh ra: Alfred; rồi Matilda, đứa bé đã mất khi được hai tuổi; và Martha; và đứa khác đã chết khi sinh ra, một đứa con trai mà ông đã ngấm ngầm dự định đặt tên là Harold. Nhưng mỗi lần đều có người giúp đỡ và trấn an – mẹ Agnes giúp Alfred, một nữ hộ sinh trong làng giúp Matilda và Harold, và một bà trong ấp giúp Martha. Lần này ông phải tự làm lấy một mình. Nhưng ông không được tỏ ra lo lắng: ông phải làm cho bà cảm thấy hạnh phúc và tin tưởng.
Bà nhẹ nhõm khi cơn co thắt qua đi. Tom nói: "Em có nhớ khi Martha được sinh ra, bà Isabella đã giúp như một nữ hộ sinh?"
Agnes mỉm cười. "Khi đó anh đang xây một nhà nguyện và anh yêu cầu bà sai người giúp việc đi đem bà đỡ từ làng về… Và bà ấy nói: ' bà phù thủy say rượu đó ư?' Và bà đưa chúng ta vào phòng của bà, và chủ Robert đã không thể lên giường cho đến khi Martha được sinh ra."
"Bà ấy là người đàn bà tốt."
"Không có nhiều người phụ nữ giống bà ấy."
Alfred trở về với chiếc nồi đầy nước. Tom để nó xuống gần đống lửa, không gần quá vì sợ nó sôi, chỉ để gần để có nước ấm. Agnes thò tay vào trong áo khoác, lấy ra một túi lụa nhỏ có đựng một miếng giẻ sạch mà bà đã chuẩn bị.
Martha trở lại, tay cầm đầy lau sậy. Cô ngồi xuống tuốt lá. "Bố cần vòng sậy để làm gì?" cô hỏi.
"Một việc rất quan trọng, rồi con sẽ thấy," Tom nói. "Hãy làm thật tốt."
Alfred nhìn bồn chồn và bối rối. "Con đi thu thêm củi," Tom nói với cậu. "Hãy làm một đống lửa lớn hơn." Cậu trai ra đi, vui vì có cái gì đó để làm.
Khuôn mặt của Agnes căng thẳng khi bà bắt đầu rặn, đẩy đứa nhỏ ra khỏi bụng, tạo ra một tiếng động giống như một cây rung rinh trong bão. Tom có thể nhìn thấy rằng sự cố gắng này lấy đi sức mạnh dự trữ cuối cùng của bà; và ông ước muốn với tất cả tâm hồn rằng ông có thể rặn thay bà, chịu đựng thay cho bà và cho bà một chút nhẹ nhàng. Sau cùng, dường như sự đau đớn giảm dần, và Tom có thể thở. Agnes dường như chìm vào giấc ngủ.
Alfred trở về, trên tay đầy củi.
Agnes tỉnh lại và nói. "Em lạnh quá."
Tom nói: "Alfred, hãy đốt thêm lửa. Martha, nằm xuống bên mẹ và giữ cho mẹ ấm." Cả hai vâng lời với đôi mắt lo âu. Agnes vòng tay ôm Martha và giữ chặt cô, run rẩy.
Tom đầy lo âu. Ngọn lửa bùng lên, nhưng không khí lại lạnh hơn. Nó dường như quá lạnh đến nỗi nó có thể giết chết đứa bé qua hơi thở đầu tiên của nó. Sinh ra ở ngoài đường là chuyện đã được biết tới; trong thực tế nó thường xẩy ra trong mùa gặt, khi mọi người quá bận rộn và người đàn bà phải làm cho tới giây phút cuối; nhưng trong mùa gặt mặt đất khô ráo, cỏ mềm mại và không khí dịu dàng. Ông đã chẳng bao giờ nghe nói về đàn bà sinh con bên ngoài trong mùa đông.
Agnes rướn người, chống mình trên khuỷu tay và dang rộng chân.
"Cái gì vậy?" ông hỏi bằng giọng sợ hãi.
Bà quá căng thẳng để trả lời.
Tom nói: "Alfred, hãy quỳ sau lưng mẹ, cho mẹ dựa lưng vào."
Khi Alfred vào vị trí, Tom mở áo choàng của Agnes và mở cúc váy. Quỳ giữa hai chân bà, ông có thể nhìn thấy cửa miệng đã rộng ra một chút. "Không lâu đâu em," ông thì thầm, cố giữ giọng nói không run vì lo sợ.
Bà thoải mái ra, nhắm nghiền đôi mắt và dựa thân mình vào Alfred. Cửa miệng dường như đã co lại một chút. Rừng như im lặng, chỉ còn tiếng lửa kêu lách tách. Bất thình lình Tom nghĩ về người phụ nữ sống bên ngoài pháp luật, Ellen, đã sinh con một mình trong rừng. Thật đáng sợ. Bà lo sợ một con sói có thể đến trong lúc bà bất lực và tha đứa trẻ mới sinh đi, bà ấy đã kể. Năm nay sói táo bạo hơn bình thường, người ta nói, nhưng chắc chắn chúng sẽ không dám tấn công một nhóm bốn người.
Agnes căng thẳng thêm và những hạt mồ hôi xuất hiện trên khuôn mặt méo mó của bà. Lần này đứa bé sẽ ra, Tom nghĩ. Ông sợ hãi. Ông xem cửa miệng một lần nữa, và lần này ông có thể nhìn thấy, qua ánh sáng của đống lửa, mái tóc đen của đầu em bé đang được đẩy ra. Ông nghĩ đến cầu nguyện, nhưng bây giờ không còn thời gian để cầu nguyện. Agnes bắt đầu thở ngắn và nhanh. Cửa miệng giãn nở rộng hơn – rộng không thể tin được - và chiếc đầu đứa bé đi xuyên qua, mặt úp xuống. Một lúc sau Tom nhìn thấy đôi tai nhăn bên cạnh đầu đứa bé, rồi làn da gấp nơi cổ. Ông chưa có thể xác nhận được đứa bé có bình thường không.
"Đầu nó ra rồi," ông nói, nhưng Agnes biết điều đó, dĩ nhiên, bởi vì bà có thể cảm thấy nó, và bà thấy thoải mái hơn. Chậm rãi đứa bé quay lại, vì thế Tom có thể nhìn thấy đôi mắt nhắm và cái miệng ướt đầy máu và các chất lỏng trong lòng mẹ.
Martha kêu lên: "Ôi! Hãy nhìn khuôn mặt nhỏ xíu của nó kìa!"
Agnes nghe cô nói, mỉm cười, rồi lại căng thẳng trở lại. Tom cúi xuống giữa hai đùi của bà và đỡ chiếc đầu nhỏ bằng bàn tay trái khi vai nó ra, trước hết một bên, rồi hai bên. Sau đó, phần còn lại của cơ thể tuột ra nhanh chóng, và Tom đặt bàn tay phải dưới mông đứa bé và giữ nó khi bàn chân bé nhỏ đó trườn vào sự lạnh lẽo của thế giới.
Cửa miệng của Agnes bắt đầu đóng lại ngay xung quanh sợi dây rốn màu xanh bắt đầu từ chiếc rốn của đứa bé.
Tom nhấc đứa bé và xem xét nó một cách lo lắng. Có nhiều máu, và ông sợ có điều gì ghê gớm không đúng xẩy ra; nhưng qua sự kiểm soát cẩn thận ông không thấy thương tích nào. Ông nhìn vào giữa hai chân đứa bé. Nó là con trai.
"Trông nó ghê gớm!" Martha nói.
"Nó hoàn hảo," Tom nói, và ông cảm thấy nhẹ mình. "Một đứa con trai hoàn hảo."
Đứa bé mở miệng và khóc.
Tom nhìn Agnes. Ánh mắt họ gặp nhau và họ mỉm cười.
Tom ôm đứa bé mỏng manh sát vào ngực mình. "Martha, lấy cho bố một bát nước từ trong nồi." Cô nhẩy lên để làm điều ông ra lệnh. "Miếng giẻ để ở đâu, Agnes?" Agnes chỉ vào túi bằng lụa nằm trên mặt đất bên cạnh vai bà. Alfred đưa nó cho Tom. Khuôn mặt cậu tràn nước mắt. Đây là lần đầu tiên cậu nhìn thấy đứa trẻ được sinh ra.
Tom nhúng miếng giẻ vào bát nước nóng và nhẹ nhàng rửa sạch máu và nước nhờn trên mặt đứa bé. Agnes cởi hàng cúc phía trước của áo dài và Tom đặt đứa bé vào vòng tay bà. Nó vẫn khóc. Tom quan sát, sợi dây rốn màu xanh từ bụng đứa bé đến háng của Agnes ngừng đập, teo lại và biến thành màu trắng.
Tom nói với Martha: "Con đưa cho bố những sợi dây con làm. Bây giờ con sẽ thấy công dụng của nó."
Cô đưa cho ông hai sợi dây làm bằng lau sậy. Ông cột chung quanh giây rốn ở hai nơi, kéo nút cột chặt lại. Rồi ông dùng dao cắt dây rốn giữa hai nút cột.
Ông ngồi xuống trên chân mình. Họ đã vượt qua.  Điều nguy hiểm nhất đã qua và đứa bé mạnh khỏe. Ông cảm thấy tự hào.
Agnes di chuyển đứa bé để mặt nó áp vào ngực bà. Miệng nhỏ xíu của nó tìm núm vú to của bà, ngừng khóc và bắt đầu mút.
Martha nói bằng giọng hí hửng: "Làm sao nó biết nó phải làm điều đó?"
"Đó là một mầu nhiệm," Tom nói. Ông đưa bát cho cô và nói: "Lấy cho mẹ con một ít nước sạch để uống."
"Vâng," Agnes nói với lòng biết ơn, như thể bà vừa nhận ra rằng bà quá khát. Martha đem nước đến và bà uống sạch. "Thật tuyệt vời," bà nói. "Cảm ơn con."
Bà nhìn xuống đứa bé đang bú, rồi nhìn lên Tom. "Anh là người đàn ông tốt," bà lặng lẽ nói. "Em yêu anh."
Tom thấy nước mắt mình rơi. Ông mỉm cười với bà, rồi cúi xuống nhìn. Ông thấy bà vẫn ra nhiều máu. Sợi dây rốn nằm cuộn tròn trong vũng máu trên áo khoác của Tom, giữa chân của Agnes.
Ông nhìn lên lần nữa. Đứa bé đã thôi bú và chìm vào giấc ngủ. Agnes phủ chiếc áo choàng lên nó, rồi bà nhắm mắt lại.
Một lúc sau, Martha nói với Tom: "Bố đang chờ gì thế"
"Nhau thai," Tom nói với cô.
"Cái đó là cái gì?"
"Rồi con sẽ thấy."
Bà mẹ và đứa bé ngủ vùi một lúc, rồi Agnes mở mắt. Bắp thịt của bà căng thẳng, cửa mình của bà giãn ra một chút và nhau thai xuất ra. Tom cầm lấy nó trong tay và quan sát nó. Nó giống như cái gì đó trên bàn hàng thịt. Nhìn kỹ hơn ông thấy dường như nó bị rách, như thiếu một miếng. Nhưng ông chẳng bao giờ nhìn kỹ nhau thai, và ông cho rằng nó luôn luôn như thế, bởi vì luôn luôn nó phải tách ra từ dạ mẹ. Ông cho nó vào lửa. Khi nó cháy, nó có một mùi khó chịu, nhưng nếu ông ném nó đi, nó sẽ thu hút cáo và ngay cả chó sói đến.
Agnes vẫn còn chẩy máu. Tom nhớ rằng bao giờ nhau thai cũng đi ra theo máu, nhưng ông không nhớ nhiều lắm. Ông nhận ra rằng sự nghiêm trọng chưa qua khỏi. Ông cảm thấy mệt vì sự căng thẳng và vì thiếu ăn; nhưng sự làm việc say mê đã giúp ông vượt qua và ông ghìm mình lại.
"Em vẫn còn ra máu, một ít," ông nói với Agnes, cố gắng để âm thanh không mang theo sự lo lắng như ông đang có.
"Nó sẽ ngưng thôi," bà nói. "Hãy đắp cho em."
Tom cài nút chiếc váy của bà, rồi quấn áo khoác chung quanh chân bà.
Alfred hỏi: "Bây giờ con có thể nghỉ một chút không?"
Cậu vẫn còn quỳ đàng sau Agnes và đỡ bà. Cậu chắc bị tê, Tom nghĩ, vì ở mãi trong một tư thế.
"Bố sẽ thay con," Tom nói.
Agnes sẽ thoải mái hơn với đứa bé nếu nửa phần trên của bà nằm cao hơn, ông nghĩ; và một thân thể đàng sau bà cũng giữ bà ấm và bảo vệ bà khỏi gió. Ông đổi chỗ cho Alfred. Alfred lẩm bẩm vì đau khi duỗi chân ra. Tom vòng tay quanh Agnes và đứa bé. "Em cảm thấy thế nào?" ông hỏi bà.
"Chỉ thấy mệt."
Đứa bé khóc. Agnes di chuyển để nó có thể tìm thấy núm vú. Khi nó bú, bà lại chìm vào giấc ngủ.
Tom băn khoăn. Mệt mỏi là chuyện thường, nhưng đối với Agnes đó là một trạng thái hôn mê, điều đó làm ông lo lắng. Bà yếu quá.
Đứa bé ngủ, và một lúc sau hai đứa trẻ cũng ngủ thiếp đi, Martha cuộn tròn bên Agnes và Alfred duỗi dài phía bên kia ngọn lửa. Tom giữ Agnes trong vòng tay, vuốt ve bà nhẹ nhàng. Lâu lâu ông lại hôn lên trán bà. Ông cảm thấy cơ thể bà thoải mái hơn khi bà chìm sâu trong giấc ngủ. Có lẽ đó là điều tốt nhất cho bà, Tom quyết định. Ông sờ lên má bà. Da bà lạnh và ẩm ướt, mặc dù ông đã cố gắng giữ cho bà ấm. Ông đưa tay vào trong áo choàng và sờ lên ngực đứa bé. Đứa bé ấm và tim nó đập mạnh. Tom mỉm cười. Một đứa bé dẻo dai; một đứa bé sống sót.
Agnes xúc động. "Tom?"
"Em."
"Anh có nhớ đêm em đến với anh, trong căn lều của anh, khi anh còn làm việc cho nhà thờ của bố em?"
"Dĩ nhiên rồi," ông nói, vỗ nhẹ vào bà. "Làm sao anh có thể quên được?"
"Em chẳng bao giờ hối hận đã trao thân cho anh. Chẳng một lúc nào. Mỗi khi em nghĩ về buổi tối đó, em rất hạnh phúc."
Ông mỉm cười. Ông vui vì được biết điều đó. "Anh cũng vậy," ông nói. "Anh rất vui vì em đã làm điều đó."
Bà thiếp ngủ một lúc, rồi lại nói: "Em hy vọng anh sẽ xây nhà thờ chính tòa của anh."
Ông ngạc nhiên. "Anh cứ nghĩ là em chống lại chuyện đó."
"Vâng, nhưng em sai. Anh xứng đáng cho một cái gì đó thật tuyệt vời."
Ông không hiểu bà muốn nói gì.
"Hãy xây một ngôi nhà thờ chính tòa thật đẹp cho em," bà nói.
Bà không hoàn toàn tỉnh táo. Ông vui khi bà thiếp ngủ một lần nữa. Lần này cơ thể bà ủ rũ, đầu bà nghiêng qua một bên. Tom đỡ đứa bé để đầu nó không rớt khỏi ngực bà.
Họ nằm như vậy một lúc lâu. Cuối cùng em bé thức dậy và khóc. Agnes không trả lời. Tiếng khóc đánh thức Alfred và cậu lăn qua nhìn vào em mình.
Tom nhẹ nhàng lay Agnes. "Thức dậy đi em," ông nói. "Con đòi ăn."
"Bố ơi!" Alfred nói trong sợ hãi. "Hãy nhìn vào mặt mẹ."
Tom có linh tính. Bà đã chẩy quá nhiều máu. "Agnes!" ông nói. "Dậy đi em!" Không có trả lời. Bà bất tỉnh. Ông bật dậy, đặt bà nằm thẳng xuống trên nền đất. Mặt bà trắng khủng khiếp. Tiên đoán những gì kinh khủng sẽ đến, ông mở nếp gấp của áo choàng quanh đùi bà.
Máu ở khắp nơi.
Alfred thở hổn hển.
Tom thì thầm: "Xin Chúa Giêsu Kitô cứu chúng con."
Tiếng đứa bé khóc đánh thức Martha. Cô thấy máu và hét lên. Tom bế cô lên, đánh lên má cô. Cô im lặng. "Đừng la to," ông bình tĩnh nói và đặt cô xuống đất.
Alfred hỏi: "Có phải mẹ mất rồi không?"
Tom đặt tay lên ngực Agnes, ngay phía bên trái ngực bà. Tim không còn đập.
Không còn nhịp tim.
Ông nhấn mạnh hơn. Da thịt bà ấm áp, và phần dưới ngực nặng của bà đụng vào tay ông, nhưng bà không còn thở, và không còn nhịp tim.
Một cái lạnh tê cóng ụp xuống trên Tom như một lớp sương mù. Bà đã đi. Ông nhìn chằm chằm vào khuôn mặt bà. Làm sao mà bà lại không còn ở đây được? Tom muốn bà cử động, mở đôi mắt, lôi kéo hơi thở. Ông giữ tay trên ngực bà. Một đôi khi trái tim có thể hoạt động lại, người ta nói như vậy – nhưng bà đã mất quá nhiều máu…
Ông nhìn Alfred. "Mẹ đã qua đời," ông thì thào.
Alfred nhìn vào ông im lặng. Martha bắt đầu khóc. Tôi phải chăm sóc chúng, Tom nghĩ. Tôi phải vì chúng mà mạnh mẽ.
Nhưng Tom muốn khóc, muốn đặt vòng tay xung quanh bà và giữ thân thể bà khỏi lạnh dần, và nhớ lại khi bà còn là một thiếu nữ, rồi cười nói, rồi yêu nhau. Ông khóc thổn thức, giơ nắm tay lên trời vô tình. Ông nén tim ông. Ông phải tỉnh táo, phải mạnh mẽ vì những đứa con.
Không có nước mắt chẩy trên mặt ông.
Ông nghĩ: Tôi phải làm gì trước?
Đào một huyệt.
Tôi phải đào một huyệt sâu, đặt bà nằm trong đó để tránh chó sói, và bảo vệ xương cốt của bà cho đến ngày phán xét; và rồi đọc kinh cho linh hồn bà. Ôi Agnes, Tại sao em lại để anh một mình?
Đứa bé mới sinh vẫn đang khóc. Mắt nó nhắm nghiền, và miệng nó đóng mở nhịp nhàng như nó có thể nhận lương thực từ không khí. Nó cần ăn. Ngực của Agnes căng đầy sữa ấm. Tại sao không? Tom nghĩ. Ông chuyển đứa bé về phía ngực bà. Đứa bé tìm thấy núm vú và bú. Tom quấn áo choàng của Agnes chặt hơn xung quanh đứa bé.
Martha chăm chú nhìn, mắt mở to, miệng mút ngón tay. Tom nói với cô: "Con có thể giữ em ở đó để nó không rớt xuống không?"
Cô gật đầu rồi quỳ xuống bên cạnh người mẹ đã chết và đứa em.
Tom nhặt chiếc xẻng. Bà đã chọn vị trí này để nghỉ, và bà đã ngồi dưới bóng cây hạt dẻ. Hãy chọn nơi này làm nơi cho bà an nghỉ. Ông thổn thức, chiến đấu chống lại sự lôi cuốn muốn ngồi xuống mà khóc. Ông đánh dấu một hình vuông trên mặt đất, vài mét xa khỏi gốc cây, nơi không có rễ cây; sau đó ông bắt đầu đào.
Công việc làm ông thoải mái ra. Khi ông tập trung cắm chiếc xẻng xuống mặt đất khô cằn và hất đất đi, phần tâm trí còn lại của ông trở nên trống rỗng và ông tìm được bình tĩnh. Ông thay đổi với Alfred, bởi vì cậu cũng có thể tìm thấy sự thoải mái trong công việc chân tay đều đặn. Họ đào nhanh, cố gắng nhiều, và mặc dù trời lạnh buốt, cả hai đổ mồ hôi như trời đang nóng ban trưa.
Đến lúc Alfred nói: "Như vậy chưa đủ sao?"
Tom nhận ra rằng ông đang đứng trong một hố sâu, sâu bằng chiều cao của ông. Ông không muốn công việc chấm dứt. Ông miễn cưỡng gật đầu. "Được rồi," ông nói. Rồi ông trèo ra ngoài.
Bình minh đã lên khi ông đào xong. Martha đã bế đứa bé lên, ngồi bên đống lửa và ru nó. Tom đến gần Agnes và quỳ xuống. Ông quấn áo choàng chặt quanh người bà, để chừa mặt bà ra, rồi bế bà lên. Ông đi đến ngôi mộ và đặt bà nằm bên cạnh. Rồi ông nhẩy xuống hố.
Ông đưa bà xuống, đặt bà nhẹ nhàng trên mặt đất. Ông nhìn bà một lúc lâu, quỳ xuống bên cạnh bà trong ngôi mộ lạnh lẽo của bà. Ông hôn môi bà lần cuối, một cách dịu dàng. Rồi ông vuốt mắt bà.
Ông trèo lên khỏi ngôi mộ. "Các con hãy đến đây," ông nói. Alfred và Martha đến gần, mỗi người đứng một phía bên ông, Martha ôm em bé. Tom đặt vòng tay xung quanh mỗi đứa. Họ nhìn vào mộ, Tom nói: "Các con hãy nói: Xin Chúa chúc phúc cho mẹ con!"
Cả hai cùng nói: "Xin Chúa chúc phúc cho mẹ con."
Martha thổn thức và nước mắt của Alfred chẩy ra. Tom ôm cả hai con vào lòng và nuốt dòng nước mắt của mình.
Ông buông chúng và nhặt chiếc xẻng lên. Martha hét lớn khi ông hất xẻng đất đầu tiên xuống mộ. Alfred đặt cánh tay quanh em gái. Tom tiếp tục xúc. Ông không thể chị đựng được khi hất đất lên mặt bà, vì thế ông phủ đất từ bàn chân bà, rồi chân bà và mình bà, và chất đất thành đống cao, tạo thành một gò đất, vì thế mà mỗi xẻng đất sau đó chẩy xuống, phủ cổ bà, rồi miệng bà mà ông đã hôn, và sau cùng khuôn mặt bà bị phủ kín, không bao giờ còn được nhìn thấy một lần nữa.
Ông nhanh chóng đổ đất đầy ngôi mộ.
Khi xong việc, ông đứng nhìn gò đất. "Vĩnh biệt em, em yêu," ông thì thầm. "Em là người vợ tốt, và anh yêu em."
Với một cố gắng, ông quay đi.
Chiếc áo choàng của ông vẫn còn trên mặt đất nơi Agnes đã nằm sinh con. Nửa dưới đẫm ướt với nước đã đóng băng và máu khô. Ông lấy dao và cắt vào giữa áo khoác. Ông ném phần có máu vào trong lửa.
Martha vẫn ôm em. "Đưa em cho bố," Tom nói. Cô nhìn chằm chằm vào ông với sự sợ hãi trong ánh mắt. Ông quấn đứa bé trần truồng trong phần sạch của áo khoác và đặt nó trên mộ. Đứa bé khóc.
Ông quay về phía các con. Chúng nhìn ông chằm chằm, yên lặng. Ông nói: "Chúng ta không có sữa để cho em bé sống, vì thế nó sẽ phải ở lại đây với mẹ nó."
Martha nói: "Nhưng em sẽ chết."
"Đúng," Tom nói, kiềm giọng nói thật cứng. "Bất cứ chúng ta làm gì, đứa bé cũng sẽ chết." Ông ước muốn đứa bé ngừng khóc.
Ông thu thập tài sản còn lại và đặt chúng vào trong nồi, rồi đeo nồi sau lưng, như Agnes vẫn làm.
"Chúng ta đi," ông nói.
Martha bắt đầu sụt sùi. Alfred mặt trắng bệch. Họ lên đường trong ánh sáng xám của một buổi sáng trời lạnh. Sau cùng tiếng khóc của đứa bé yếu dần rồi biến mất.
Ở lại bên ngôi mộ không tốt, vì các đứa trẻ không thể ngủ ở đó, và một đêm canh thức cũng không mang lại gì. Vì thế, tiếp tục di chuyển sẽ tốt hơn cho mọi người.
Tom bước nhanh, nhưng tư tưởng của ông bây giờ bay nhẩy tự do, ông không còn kiểm soát được chúng. Không có gì để làm, trừ đi bộ: không có thỏa thuận để thực hiện, không có việc để làm, không có gì để lên kế hoạch, không có gì để nhìn vào, ngoài trừ khu rừng ảm đạm và bóng đêm chập chờn trong ánh đuốc. Ông nghĩ về Agnes, lần theo dấu kỷ niệm, rồi tự mỉm cười, và nói với bà những gì ông nhớ; sau đó ông bàng hoàng khi nhận ra là bà đã chết, sự bàng hoàng như một nỗi đau thể lý giáng xuống trên ông. Ông thấy mình lúng túng, như thể một cái gì đó hoàn toàn không thể hiểu nổi đã xẩy ra, mặc dù chết khi sinh con là chuyện thường tình trong thế giới phụ nữ trong lứa tuổi của bà, và góa vợ trong thế giới đàn ông trong lứa tuổi của ông. Nhưng cảm giác về sự mất mát như một vết thương đau. Ông đã nghe nói rằng những người bị cắt những ngón chân không thể đứng lên được và luôn luôn bị ngã cho đến khi họ học đi. Ông cảm thấy giống như vậy, như một phần của ông bị cắt bỏ, và ông không thể quen được với tư tưởng rằng nó đã mất vĩnh viễn.
Ông cố gắng không nghĩ về bà, nhưng ông vẫn nhớ bà ra sao khi bà chết. Nó dường như không thể tin được là mới cách đây mấy giờ bà vẫn sống, và bây giờ bà không còn nữa. Ông nhớ lại khuôn mặt bà, khi bà cố sức sinh con và nụ cười hãnh diện khi bà nhìn vào đứa bé. Ông nhớ lại những gì bà nói với ông sau đó: Em hy vọng anh sẽ xây nhà thờ chính tòa của anh; và sau đó, xây một nhà thờ chính tòa thật đẹp cho em. Bà đã nói như thể bà biết là bà sẽ chết.
Khi tiếp tục đi, ông nghĩ nhiều hơn về đứa bé ông đã để lại, quấn trong nửa áo choàng, nằm trên ngôi mộ mới. Có lẽ nó vẫn sống, trừ khi một con cáo đã ngửi thấy mùi nó. Tuy nhiên nó sẽ chết trước khi mặt trời lên. Nó sẽ còn khóc một lúc nữa, rồi nó sẽ nhắm mắt lại. Trong giấc ngủ nó sẽ bị cảm lạnh, và đời nó sẽ trôi qua nhanh chóng.
Trừ khi một con cáo đã ngửi thấy mùi của đứa bé.
Tom không thể làm được gì cho đứa bé. Nó cần sữa để sống còn, nhưng ông không có: không có làng xóm nơi Tom có thể tìm thấy một người cho nó bú, không có cừu, dê hay bò để cung cấp những gì tương tự cần thiết. Tất cả những gì ông có thể cho nó là củ cải, và chắc chắn củ cải cũng giết nó như con cáo.
Càng đi việc nghĩ đến đứa bé bị bỏ rơi càng làm ông khinh hoàng. Ông biết, nó là một điều thường xẩy ra: Những nông dân có gia đình lớn và nông trại nhỏ, thường bỏ rơi trẻ sơ sinh cho chết, và đôi khi vị linh mục cũng ngoảnh mặt làm ngơ; nhưng Tom không thuộc nhóm người đó, ông nghĩ. Ông sẽ mang nó trên tay cho đến khi nó chết, và rồi chôn nó. Dĩ nhiên nó không mang lại gì, nhưng nó là những điều hợp lý cần phải làm.
Ông nhận ra trời đã sáng.
Đột nhiên ông dừng lại.
Các đứa trẻ đứng yên, nhìn chằm chằm vào ông chờ đợi. Chúng đã sẵn sàng cho mọi chuyện; không còn gì là bình thường nữa.
"Bố không nên bỏ rơi em," Tom nói.
Alfred nói: "Nhưng chúng ta không thể nuôi em. Em đã gắn liền với sự chết."
"Tuy nhiên bố không nên bỏ rơi em," Tom nói.
Martha nói: "Chúng ta quay trở lại."
Tom vẫn còn do dự. Quay trở lại nghĩa là thừa nhận mình đã sai khi bỏ rơi đứa bé.
Nhưng đó là sự thật. Ông đã sai.
Ông quay người lại. "Đúng," ông nói. "Chúng ta quay lại."
Bây giờ tất cả những nguy hiểm mà trước đó ông cố gắng coi thường dường như bất ngờ lại có khả năng xẩy ra hơn. Chắc chắn một con cáo đã đánh mùi thấy đứa bé, và đã tha đứa bé đến hang của nó. Hay có thể đó là một con chó sói. Lợn rừng cũng nguy hiểm, mặc dù chúng không ăn thịt. Và còn con cú thì sao? Một con cú không thể tha đứa bé đi được, nhưng nó có thể mổ mắt đứa bé.
Ông bước nhanh hơn, cảm thấy choáng váng vì kiệt sức và đói. Martha phải chạy để theo kịp ông, nhưng cô không kêu ca.
Ông rất sợ những gì ông sẽ nhìn thấy khi trở lại ngôi mộ. Thú ăn thịt rất tàn nhẫn, và chúng biết khi nào một sinh vật không còn tự lực được.
Ông không chắc chắn họ đã đi được bao xa: ông đã mất cảm giác về thời gian. Khu rừng hai bên đường dường như lạ lẫm, mặc dù ông vừa đi qua đó. Ông lo lắng tìm kiếm mảnh đất nơi ngôi mộ được chôn. Chắc chắn ngọn lửa chưa tàn – họ đã đốt nó rất cao… ông xem xét kỹ các cây, tìm kiếm chiếc lá đặc biệt của loài dẻ ngựa. Họ đi đến một khúc quoanh mà ông không nhớ và ông bắt đầu tự hỏi, có phải ông đã đi qua ngôi mộ mà không nhìn thấy nó, sau đó ông nhìn thấy một ánh sáng màu cam mờ phía trước.
Trái tim ông dường như ngừng đập. Ông bước nhanh hơn và đôi mắt mở rộng. Vâng, đó là một đống lửa. Ông chạy nhanh. Ông nghe Martha la to, có lẽ cô nghĩ là ông bỏ rơi cô, và ông gọi to: "Chúng ta đến nơi rồi!" và ông nghe tiếng bước chân hai đứa trẻ đàng sau ông.
Ông đến ngang tầm với cây hạt dẻ ngựa, tim ông đập thình thịch trong lồng ngực. Ngọn lửa vẫn cháy. Có đống gỗ. Có mảng máu trên mặt đất nơi Agnes đã chảy máu đến chết. Có ngôi mộ, một u đất mới mà dưới đó bà đang nằm. Và trên ngôi mộ không có gì.
Tom điên cuồng nhìn quanh, tâm trí của ông hỗn loạn. Không có dấu hiệu gì về đứa bé. Dòng nước mắt thất vọng chảy trên mắt Tom. Ngay cả nửa mảnh áo choàng quấn đứa bé cũng biến mất. Tuy nhiên ngôi mộ không bị xáo trộn – không có dấu chân của thú vật trên mặt đất mềm, không có máu, không có dấu hiệu là đứa bé đã bị kéo đi…
Tom bất ngờ cảm thấy là ông không còn nhìn thấy rõ nữa, ngay cả ông không còn suy nghĩ được nữa. Bây giờ ông biết ông đã làm một điều khủng khiếp là bỏ rơi đứa bé khi nó vẫn còn sống. Khi ông biết nó đã chết, ông có thể nhắm mắt ngủ. Nhưng có lẽ nó vẫn còn sống ở một nơi nào đó, một nơi rất gần. Ông quyết định đi xung quanh tìm nó.
Alfred hỏi: "Bố đi đâu?"
"Chúng ta phải đi tìm em," ông nói với các con.
Ông để chúng đi xung quanh, xa ngọn lửa, xuyên qua bụi cây. Ông cảm thấy bối rối, nhưng ông cố gắng tập trung vào một việc, một việc cấp thiết là tìm ra đứa bé. Giờ này ông không cảm thấy đau buồn, ông chỉ còn một quyết tâm khốc liệt, mạnh mẽ và trong tâm trí một nhận biết kinh hoàng rằng tất cả việc này là do lỗi của ông. Ông mò mẫm trong rừng, bới tung mặt đất bằng đôi mắt, lâu lâu dừng bước lại để nghe ngóng tiếng khóc đều đều không thể nhầm lẫn được của trẻ sơ sinh; nhưng khi ông và các con yên lặng, khu rừng cũng lặng im.
Ông đã mất dấu tích thời gian. Ông không còn biết ông đã đi bao lâu. Ông đi theo vòng tròn, nên một lúc sau ông lại trở về chốn cũ, nhưng khoảng thời gian của mỗi vòng mỗi lúc một lâu hơn. Ông tự hỏi tại sao ông chưa đi qua túp lều của viên kiểm lâm và ông mơ hồ biết rằng ông đã lạc lối, và có lẽ ông không còn đi vòng quanh ngôi mộ, mà thay vào đó ông đã ngẫu nhiên đi xuyên qua rừng; nhưng điều đó không quan trọng, miễn là ông vẫn tiếp tục tìm kiếm.
"Bố ơi!" Alfred nói.
Tom nhìn cậu, tức tối vì dòng tư tưởng bị ngắt ngang. Alfred cõng Martha, cô dường như ngủ vùi trên lưng anh. Tom hỏi: "Gì vậy con?"
"Chúng ta có thể nghỉ một chút không?" Alfred hỏi.
Tom do dự. Ông không muốn dừng lại, nhưng Alfred trông như muốn gục. "Được," ông nói miễn cưỡng. "Nhưng không quá lâu."
Họ đang lên dốc. Có lẽ có một dòng nước dưới chân dốc. Ông khát. Ông đỡ lấy Martha, bế cô trong tay và đi xuống dốc. Như mong đợi, ông tìm thấy một dòng suối nhỏ trong lành, các bờ rìa đã đóng băng. Ông đặt Martha xuống bên bờ. Cô không tỉnh dậy. Ông và Alfred quỳ xuống, múc nước lạnh trong tay.
Alfred nằm xuống bên cạnh Martha và nhắm mắt lại. Tom nhìn quanh. Ông ở trong một khoảng rừng thưa đầy lá rụng. Hàng cây xung quanh thấp, cây sồi rậm rạp, những cành trần quấn vào với nhau trên đầu. Tom đi ngang cánh rừng thưa, nghĩ sẽ tìm ra đứa bé đàng sau hàng cây, nhưng khi ông đến được phía bên kia, chân ông rã rời và ông buộc phải ngồi xuống đột ngột.
Trời đầy ánh sáng ban ngày, nhưng sương mù bao phủ và dường như trời không ấm hơn so với nửa đêm. Ông run rẩy, không còn kiểm soát được mình. Ông nhận ra rằng ông đã đi loanh quoanh mà chỉ mặc có chiếc áo trong. Ông ngạc nhiên không biết chiếc áo khoác của ông ở đâu, nhưng ông không còn nhớ được. Có thể vì sương mù hay mắt ông có chuyện gì xẩy ra, bởi vì ông không còn có thể nhìn thấy những đứa con ở phía xa bên kia khu rừng thưa. Ông muốn chỗi dậy đi về phía chúng, nhưng chân ông có một cái gì đó không ổn.
Một lúc sau, ánh sáng mặt trời yếu ớt xuyên qua đám mây, và chẳng bao lâu sau thiên thần xuất hiện.
Bà đến từ hướng đông, mặc một chiếc áo choàng mùa đông bằng lông cừu, tất cả màu trắng. Ông nhìn bà đến gần mà không ngạc nhiên hay tò mò. Ông nhìn bà bằng ánh mắt vô tri, trống rỗng, không cảm xúc như thể ông nhìn vào những cây sồi to lớn xung quanh. Khuôn mặt trái soan của bà được che bởi mái tóc đen rậm, và áo choàng che giấu bàn chân, vì thế mà dường như bà lướt đi trên lá khô. Bà dừng lại trước mặt ông, và đôi mắt vàng ròng nhạt của bà dường như có thể nhìn vào tâm hồn ông và hiểu nỗi đau của ông. Bà nhìn quen thuộc, như gần đây ông đã nhìn thấy hình thiên thần này trong một nhà thờ nào đó. Rồi bà cởi áo khoác. Dưới lớp áo đó bà trần truồng. Bà có thân thể của một phụ nữ trần gian vào lứa tuổi giữa đôi mươi, với làn da nhợt nhạt và núm vú hồng. Tom luôn luôn cho rằng thân thể thiên thần hoàn toàn không có lông, nhưng thiên thần này là một ngoại lệ.
Bà ngồi xuống trên đầu gối trước mặt ông, nơi ông ngồi gác chân lên nhau dưới một cây sồi. Bà nghiêng người về phía ông và hôn vào môi ông. Ông đã quá choáng váng bởi cú sốc trước đó, nên không có thể cảm nhận được sự ngạc nhiên vào lúc này. Bà đẩy ông xuống nhẹ nhàng cho đến khi ông nằm thẳng, rồi bà cởi áo choàng và nằm trên ông, ép chặt cơ thể trần truồng của bà vào ông. Ông cảm thấy hơi nóng của thân thể bà xuyên qua bộ áo trong của ông và ông ngừng run rẩy.
Bà ôm khuôn mặt đầy râu của ông trong tay và hôn ông, khao khát, giống như một người uống một ly nước lạnh sau một ngày dài khô cổ. Lúc sau bà đưa tay lần theo cánh tay ông xuống đến cổ tay, rồi cầm bàn tay ông đưa lên ngực bà. Một cách phản xạ, ông nắm chặt chúng. Chúng mềm mại và săn chắc và núm vú bà căng lên dưới ngón tay ông.
Trong tâm trí ông tưởng tượng mình đã chết. Thiên đường không được coi là như thế này, ông biết, nhưng ông hầu như không quan tâm. Ông đánh mất khả năng phê phán, khả năng suy tư hợp lý. Và ông để cho thân xác ông điều khiển. Ông rướn người lên, ép cơ thể ông mạnh vào bà, hút lấy sức mạnh từ hơi nóng và sự trần truồng của bà. Bà mở miệng và đẩy lưỡi bà vào miệng ông, tìm kiếm lưỡi ông, và ông hăm hở đáp lại.
Bà đẩy mình ra xa ông một chút, nâng cao người lên khỏi thân thể ông. Ông quan sát, sững sờ, khi bà kéo chiếc váy lên cao, rồi bà ngồi trên ông. Với đôi mắt nhìn xuyên qua tất cả bà nhìn ông, rồi bà hạ mình xuống. Đó là giây phút trêu ngươi khi thân thể họ đụng nhau, và bà lưỡng lự; rồi ông cảm thấy mình ở trong bà. Nó là một cảm xúc của khoái lạc vô bờ, ông cảm thấy mình có thể nổ tung vì sung sướng. Bà cử động đôi hông, mỉm cười với ông và hôn lên khuôn mặt ông.
Sau một thời gian ngắn, bà nhắm mắt lại, thở hổn hển, và ông hiểu rằng bà mất sự kiềm chế. Ông quan sát bà trong niềm đam mê khoái cảm. Bà thốt ra tiếng kêu nhỏ đều đặn, di chuyển nhanh hơn và nhanh hơn, và trạng thái ngây ngất của bà đụng đến chỗ sâu thẳm nhất trong tâm hồn bị thương của ông, đến nỗi ông không biết có nên khóc cho nỗi tuyệt vọng hay hét lên vì vui hay cười vì điên dại; và rồi sự bùng nổ của khoái cảm lắc mạnh họ như những cây bị giật trong cơn bão gió, một lần nữa và một lần nữa; cho đến khi niềm đam mê của họ giảm xuống, và bà ấy gục xuống trên ngực ông.
Họ nằm như thế rất lâu. Sức nóng từ thân thể bà làm ông ấm lại. Ông trôi vào giấc ngủ nhẹ. Dường như nó ngắn, và nó giống như một giấc mơ ban ngày hơn là một giấc ngủ thật; nhưng khi ông mở mắt, tâm trí ông minh mẫn.
Ông nhìn người phụ nữa trẻ nằm trên người ông, và ông nhận ra ngay bà không phải là một thiên thần, mà là người phụ nữ sống noài vòng pháp luật, Ellen, người mà ông đã gặp trong khu rừng vào ngày con heo bị mất. Bà cảm thấy ông nhúc nhích nên mở mắt ra, nhìn ông với cái nhìn vừa trìu mến vừa sợ hãi. Bất ngờ ông nghĩ đến các con. Ông lăn Ellen nhẹ nhàng sang bên rồi ngồi dậy. Alfred và Martha nằm trên lá, quấn mình trong áo choàng, và ánh mặt trời chiếu trên khuôn mặt đang ngủ của chúng. Sau đó những biến cố của tối hôm trước vụt trở lại với ông, và ông nhớ lại Agnes đã chết, và đứa trẻ mới sinh - con trai ông – đã biến mất; và ông vùi mặt vào hai bàn tay.
Ông nghe Ellen huýt sáo, tiếng sáo có âm thanh lạ. Ông nhìn lên. Một nhân vật xuất hiện từ trong rừng, và Tom nhận ra đứa con trông kỳ dị của bà, Jack, với làn da trắng chết chóc và mái tóc màu cam và đôi mắt màu xanh tươi sáng giống chim. Tom đứng lên, chỉnh sửa lại quần áo, và Ellen cũng đứng, đóng lại áo khoác.
Đứa bé mang theo vật gì đó, và cậu mang nó tới chỉ cho Tom. Tom nhận ra nó. Nó là nửa chiếc áo choàng mà Tom đã quấn đứa nhỏ trước khi đặt nó trên mộ của Agnes.
Không thể hiểu được, Tom nhìn chằm chằm vào đứa bé và rồi vào Ellen. Bà nắm bàn tay ông trong tay bà, nhìn vào mắt ông, và nói: "Con ông vẫn sống."
Tom không dám tin vào bà. Câu nói đó quá kỳ diệu, quá hạnh phúc. "Nó không thể còn sống," ông nói.
"Nó còn sống."
Tom bắt đầu hy vọng. "Thật không?" ông hỏi. "Thật không?"
Bà gật đầu. "Thật. Em sẽ đưa anh đến đó."
Tom nhận ra những gì bà muốn nói là thật. Một dòng của nhẹ nhàng và hạnh phúc đổ xuống trên ông. Ông khụy xuống, quỳ gối trên mặt đất; và rồi, sau cùng, giống như cửa thoát nước được mở, ông khóc.
 
 
V
 
"Jack nghe tiếng trẻ thơ khóc," Ellen giải thích. "Cậu ấy đang trên đường xuống suối, tới một nơi phía bắc của vùng này, nơi cậu có thể săn vịt bằng đá. Cậu không biết phải làm gì, vì thế cậu chạy về nhà gọi em ra. Nhưng trong khi chúng em trên đường đến đó, chúng em gặp một linh mục, cưỡi một con ngựa nhỏ, mang theo đứa bé."
Tom nói: "Anh phải tìm ông ấy."
"Đừng vội vàng," Ellen nói. "Em biết ông ấy ở đâu. Ông quẹo vào một con đường, rất gần ngôi mộ, một con đường dẫn tới một tu viện nhỏ ẩn trong rừng."
"Đứa bé cần sữa."
"Các tu sĩ có dê."
"Tạ ơn Chúa," Tom nhiệt thành nói.
"Em sẽ đưa anh tới đó, sau khi anh đã có cái gì để ăn," bà nói. "Nhưng…" bà cau mày. "Đừng vội nói với các con anh về tu viện."
Tom liếc qua cánh rừng thưa. Alfred và Martha vẫn ngủ. Jack đã đến chỗ chúng nằm và nhìn chúng chằm chằm.
"Tại sao không?"
"Em không rõ lắm… Em chỉ nghĩ nếu đợi thì khôn ngoan hơn."
"Nhưng con em sẽ nói với chúng."
Bà lắc đầu. "Cậu ấy nhìn thấy vị linh mục, nhưng em không nghĩ cậu ấy biết hết việc còn lại."
"Được." Tom nói nghiêm nghị. "Nếu anh đã biết em ở gần đây, em đã có thể cứu sống Agnes của anh."
Ellen lắc đầu, và mái tóc đen nhẩy múa trên khuôn mặt bà. "Không có thể làm được gì đâu, ngoài việc giữ cho bà ấy được ấm, và anh đã làm điều ấy. Khi người đàn bà ra máu bên trong, một là nó ngưng và bà ấy cảm thấy khỏe hơn, hoặc nó không ngưng và bà ấy chết."
Dòng nước mắt Tom chảy xuống, và Ellen nói: "Em xin lỗi."
Tom gật đầu im lặng.
Bà nói: "Nhưng người sống phải lo cho người sống, và anh cần đồ ăn nóng và chiếc áo choàng mới." Bà đứng lên.
Họ đánh thức lũ trẻ. Tom nói với chúng rằng em bé được an toàn vì Ellen và Jack đã nhìn thấy một linh mục bế nó và một chút nữa Tom và Ellen sẽ đi tìm vị linh mục, nhưng trước hết Ellen muốn lo cho họ ăn. Các đứa trẻ đón nhận tin đáng ngạc nhiên này một cách bình thản: bây giờ không gì có thể làm cho chúng sửng sốt. Cũng như chúng, Tom cũng không còn có thể kinh ngạc. Đối với ông đời sống chuyển động quá nhanh, đã làm thay đổi tất cả. Nó giống như ngồi trên lưng con ngựa đang chạy trốn: mọi chuyện xẩy ra quá nhanh đến nỗi không còn có giờ để phản ứng lại với các biến cố, và tất cả những gì ông có thể làm là bám chặt và cố giữ bình tĩnh. Agnes đã sinh con trong đêm lạnh và đứa bé được sinh ra khỏe mạnh diệu kỳ. Mọi chuyện dường như ổn, nhưng Agnes, người bạn đời của Tom, đã chẩy máu và chết trên tay ông, và ông đã mất trí. Số phận của đứa bé dường như đã được định đoạt và họ bỏ nó lại trên mộ, sau đó họ vô vọng tìm nó. Rồi Ellen xuất hiện, và Tom đã tưởng bà là một thiên thần, và họ đã yêu nhau như trong mơ; và bà ấy nói đứa bé vẫn sống và được an toàn. Cuộc sống có bao giờ đi chậm lại hơn để Tom có thể nghĩ về những biến cố kinh hoàng này?
Họ lên đường. Tom đã luôn luôn cho rằng những người sống ngoài vòng pháp luật là những người sống trong sự bẩn thỉu và cơ cực, nhưng Ellen không như ông nghĩ. Tom tò mò không biết nhà bà sẽ ra sao. Bà dẫn họ trên những con đường ngoằn nghèo xuyên qua rừng. Ở đó không có đường mòn, nhưng bà chẳng do dự bước qua con rạch, cúi mình dưới các lùm cây, vượt qua khu đầm lầy băng giá, vòng quanh các bụi rậm và thân cây to lớn của cây sồi gẫy đổ. Sau cùng bà đi về phía bụi cây dâu đen và dường như biến mất trong đó. Theo sau bà, Tom thấy rằng, trái với ấn tượng đầu tiên của ông, có một lối đi hẹp xuyên qua các bụi cây. Ông đi theo bà. Bụi dâu đen đan chéo làm thành mái vòm trên đầu ông và trong đó chỉ còn ánh sáng lờ mờ. Ông đứng yên, chờ cho mắt mình quen dần với bóng tối. Dần dần ông nhận ra ông đang ở trong một hang động.
Không khí ấm. Đằng trước ông, một ngọn lửa âm ỉ trên một lò sưởi bằng đá phẳng. Khói bay thẳng lên: có một ống khói tự nhiên ở đâu đó. Tường hang động một bên được căng bằng da sói, bên kia bằng da hưu. Một đùi thịt hun khói treo từ mái hang trên đầu ông. Ông nhìn thấy một hộp tự làm đầy táo chua, nến bấc trên bờ tường, và lau sậy khô trên nền nhà. Trong một góc bếp một nồi đang nấu, giống như trong bất cứ gia đình bình thường nào; và qua mùi vị, nó có cùng hương vị của một loại súp đặc như những người khác cũng ăn – rau luộc với xương thịt và các loại rau thơm. Tom ngạc nhiên. Nhà này thoải mái hơn nhiều nhà của các nông nô.
Ở bên kia ngọn lửa là hai chiếc nệm làm bằng da hươu và có lẽ được nhồi bằng lau sậy. Trên đầu mỗi nệm để một tấm lông sói được cuộn gọn gàng. Đó là nơi ngủ của Ellen và Jack. Ở phía sau hang động là bộ sưu tập kinh khủng về vũ khí và thiết bị săn bắn: một cây cung, nhiều mũi tên, bẫy thỏ, một số dao găm, một cây thương có đầu được mài nhọn và thôi trong lửa; và, giữa những dụng cụ thô sơ này là ba cuốn sách. Tom rất kinh ngạc: ông đã chẳng bao giờ nhìn thấy sách trong một gia đình, huống chi là trong một hang động, vì ông nghĩ sách thuộc về nhà thờ.
Cậu bé Jack lấy một bát gỗ, múc vào nồi rồi uống. Alfred và Martha chăm chú nhìn cậu một cách thèm thuồng. Ellen nhìn Tom như xin lỗi và nói: "Jack, khi chúng ta có người lạ, chúng ta mời họ trước khi chúng ta ăn."
Cậu bé nhìn chằm chằm vào bà, hoang mang. "Tại sao?"
"Bởi vì đó là một phép lịch sự cần làm. Hãy đưa cho các trẻ khác một ít súp."
Điều đó không thuyết phục Jack lắm, nhưng cậu vâng lời mẹ. Ellen đưa cho Tom một ít súp. Ông ngồi trên nền nhà và uống. Nó có hương vị của thịt, và nó sưởi ấm lòng ông. Ellen đặt một tấm lông quanh vai ông. Sau khi ông uống hết súp, ông dùng ngón tay ăn nốt rau và thịt. Hàng tuần nay rồi ông không được ăn thịt. Nó dường như là thịt vịt – có lẽ do Jack săn bằng ná bắn đá.
Họ ăn cho đến khi sạch nồi; sau đó Alfred và Martha nằm xuống trên đống lau sậy trên nền nhà. Trước khi chúng ngủ, Tom nói với chúng rằng ông và Ellen sẽ đi tìm vị linh mục, và Ellen nói với Jack ở lại để săn sóc chúng cho đến khi họ trở lại. Hai đứa trẻ mệt mỏi gật đầu và nhắm mắt lại.
Tom và Ellen ra đi, Tom mặc tấm lông thú mà Ellen đã đắp lên vai ông để giữ cho ông ấm. Vừa khi ra khỏi bụi dâu đen, Ellen dừng lại, quay về phía Tom, kéo đầu ông xuống và hôn lên môi ông.
"Em yêu anh," bà nói mãnh liệt. "Em yêu anh từ lúc em gặp anh lần đầu. Em luôn luôn mơ một người đàn ông mạnh mẽ và dịu dàng, và em nghĩ trên đời này không có những người đàn ông như thế. Rồi em gặp anh. Em muốn anh. Nhưng em biết anh yêu vợ anh. Trời ơi, em ghen tỵ với bà ấy. Em thật sự đau buồn vì bà ấy đã chết, thật sự đau lòng, bởi vì em có thể nhìn thấy nỗi đau trong mắt anh, và tất cả nước mắt đang chờ rơi xuống, và trái tim em vỡ ra khi em thấy anh buồn. Nhưng bây giờ bà ấy đã mất, em muốn anh là của riêng em."
Tom không biết nói gì. Khó có thể tin rằng một người phụ nữ xinh đẹp, tháo vát và tự lập lại có thể yêu ông ngay qua lần gặp gỡ đầu tiên; khó hơn nữa để biết bây giờ ông cảm thấy như thế nào. Ông vừa bị héo mòn vì mất Agnes – Ellen có lý khi nói rằng ông đang ngăn dòng nước mắt lại, bởi vì ông cảm thấy sức nặng của nó trong mắt ông. Nhưng ông cũng khao khát Ellen, với thân thể tuyệt vời nóng bỏng, với đôi mắt vàng ròng và sự ham muốn không biết xấu hổ của bà. Ông cảm thấy tội lỗi ghê gớm vì đã ham muốn Ellen khi Agnes vừa mới nằm trong mộ được mấy tiếng.
Ông nhìn bà, và một lần nữa đôi mắt của bà lại nhìn vào trái tim ông, và bà nói: "Bây giờ anh không cần phải nói gì. Anh cũng đừng phải xấu hổ. Em biết anh yêu bà ấy. Bà ấy cũng yêu anh, em có thể nói điều đó. Anh vẫn còn yêu bà ấy – dĩ nhiên rồi. Anh sẽ còn yêu bà ấy mãi mãi."
Bà đã nói ông không nên nói gì, ngoài ra ông cũng không có gì để nói. Ông bị câm vì người phụ nữ ngoại thường này. Dường như mọi việc bà làm đều đúng. Việc bà biết chuyện gì đang đè nặng trong trái tim ông làm ông cảm thấy thoải mái hơn và bây giờ ông không cần phải xấu hổ vì điều gì nữa. Ông thở dài.
"Như vậy tốt hơn," bà nói. Bà cầm tay ông và họ cùng nhau đi ra khỏi hang động.
Sau khi đi qua khu rừng rậm chừng một dặm, họ đến một con đường. Trên đường đi Tom cứ liếc trộm Ellen, người đi bên cạnh ông. Ông nhớ lại rằng khi ông gặp bà lần đầu, ông đã nghĩ đôi mắt kỳ lạ của bà làm bà bớt đẹp đi. Ông không thể hiểu tại sao ông lại cảm thấy như thế. Bây giờ đối với ông đôi mắt kỳ lạ này là sự biểu lộ cá tính đặc biệt của bà và làm bà đẹp hoàn hảo. Chỉ có một điều là tại sao bà lại yêu ông.
Họ đi được thêm ba bốn dặm nữa. Tom vẫn mệt, nhưng tô súp đã cho ông sức mạnh; và mặc dù ông tin tưởng vào Ellen hoàn toàn, ông vẫn còn lo vì chưa nhìn thấy đứa bé tận mắt.
Khi họ có thể nhìn thấy tu viện qua hàng cây, Ellen nói: "Trước hết chúng ta chưa nên để cho các tu sĩ nhìn thấy chúng ta."
Tom không hiểu. “Tại sao?” ông hỏi.
“Anh đã bỏ rơi đứa bé. Điều đó tương tự như giết người. Em đề nghị trước hết chúng ta quan sát tu viện và xem họ ra sao.”
Tom không nghĩ ông sẽ gặp rắc rối trong trường hợp này, nhưng sự cẩn thận không có hại gì, vì thế ông gật đầu đồng ý và theo Ellen vào những tàn cây. Một vài phút sau, họ nấp kín bên bìa rừng.
Đó là một tu viện rất nhỏ. Tom đã xây nhiều tu viện, và ông đoán rằng tu viện này chỉ được gọi là một cái am, một chi nhánh hay một tiền đồn của một nhà dòng hay một tu viện. Chỉ có hai tòa nhà bằng đá: nhà nguyện và nhà ở. Phần còn lại được làm bằng gỗ và phên đất: một nhà bếp, một chuồng ngựa, một kho thóc và một dẫy tòa nhà nông nghiệp nhỏ hơn. Nhà cửa và khu vực nơi đây sạch sẽ và đẹp mắt, người ta có cảm tưởng rằng các tu sĩ làm việc tay chân nhiều như cầu nguyện.
Ở đó không có nhiều người. "Hầu hết các tu sĩ đã đi làm," Ellen nói. "Họ đang xây một nhà kho trên đỉnh đồi." Bà liếc nhìn lên trời. "Họ sẽ trở về vào giờ cơm trưa."
Tom quan sát khoảng rừng thưa. Ở phía trên, phía bên phải của họ, ông nhìn thấy hai nhân vật, một phần bị che bởi một đàn dê nhỏ. "Hãy nhìn," ông nói với Ellen và chỉ tay về phía hai người đó. "Người đang ngồi xuống là một linh mục, và…"
"Và ông đang giữ một cái gì đó trong lòng."
"Chúng ta hãy đến gần hơn."
Họ xuyên qua rừng, men theo khu rừng thưa, và đến một địa điểm gần đàn dê. Trái tim Tom rộn ràng khi ông nhìn thấy vị linh mục ngồi trên chiếc ghế. Ông có một đứa bé trong lòng, và đứa bé đó là của Tom. Tom nói không nên lời. Đó là sự thật, đứa nhỏ còn sống. Ông cảm thấy muốn quàng tay quanh vị linh mục và ôm ông.
Có một tu sĩ trẻ ở bên cạnh vị linh mục. Nhìn kỹ hơn, Tom thấy vị tu sĩ trẻ nhúng một miếng giẻ vào thùng sữa dê, ông đoán như thế - và đặt góc ướt sũng của miếng giẻ đó vào trong miệng đứa bé. Thật là khéo.
"Vâng," Tom nói một cách bứt rứt. "Tốt hơn anh nên đến và thú nhận những gì anh đã làm, và mang con anh về."
Ellen nhìn Tom. "Anh hãy suy nghĩ cho kỹ đã, Tom," bà nói. "Sau đó anh sẽ làm gì?"
Ông không biết chắn bà ấy muốn gì. "Xin các tu sĩ sữa," ông nói. "Họ có thể thấy tôi nghèo. Họ cho tôi của bố thí."
"Rồi sao?"
"Vâng, anh hy vọng họ sẽ cho anh sữa để đứa bé có thể sống được trong ba ngày, cho đến khi anh đến Manchester."
"Rồi sau đó?" bà kiên nhẫn. "Anh sẽ nuôi đứa trẻ bằng cách nào?"
"Vâng, anh sẽ tìm việc làm."
"Anh đã tìm việc từ lần trước khi em gặp anh, vào cuối mùa hè," bà nói. Bà dường như có một chút cáu giận với Tom, ông không biết tại sao. "Anh không có tiền và không có đồ nghề," bà ấy tiếp tục. "Điều gì sẽ xẩy ra với đứa bé, nếu anh không tìm được việc làm ở Manchester?"
"Anh không biết," Tom nói. Ông cảm thấy bị tổn thương, vì bà nói gay gắt với ông. "Anh phải làm gì? – sống như em sao? Anh không thể săn vịt bằng đá – Anh là một thợ xây."
"Anh có thể để đứa bé ở lại đây," bà nói.
Tom như bị sét đánh. "Để đứa bé lại?" ông nói. "Khi mà anh vừa mới tìm lại được nó?"
"Anh sẽ được an tâm vì đứa bé được ấm và được nuôi nấng. Anh không phải mang nó theo khi anh đi tìm việc làm. Và khi anh tìm được một việc gì đó, anh có thể trở lại đây và mang đứa bé theo anh."
Bản năng của Tom trỗi dậy, chống lại ý tưởng đó. "Anh không biết," ông nói, "các tu sĩ sẽ nghĩ sao về việc anh bỏ rơi đứa bé?"
"Họ đã biết anh làm điều đó," bà sốt ruột nói. "Vấn đề chỉ là anh thú nhận nó bây giờ hay trễ hơn."
"Các tu sĩ có biết cách chăm sóc trẻ sơ sinh không?"
"Họ biết nhiều về việc đó như anh vậy."
"Anh nghi ngờ về điều đó."
"Vâng, họ đã nghĩ ra cách để cho một trẻ sơ sinh ăn, những đứa bé còn nhỏ chỉ biết mút."
Tom bắt đầu nhìn ra bà có lý. Mặc dù ông rất muốn giữ đứa bé trong vòng tay mình, ông cũng không thể phủ nhận được là các tu sĩ có thể chăm sóc trẻ sơ sinh tốt hơn ông. Ông không có lương thực, không có tiền và không có triển vọng tìm được việc làm. "Để nó lại một lần nữa," ông buồn bã nói. "Anh nghĩ rằng anh phải làm như vậy." Ông ở lại nơi ông đang đứng; qua khu rừng thưa ông nhìn vào nhân vật nhỏ bé trong lòng vị linh mục. Tóc nó đen, giống như tóc của Agnes. Tom đã có quyết định trong trí, nhưng ông chưa thể bỏ cậu bé được.
Sau đó một nhóm lớn các tu sĩ xuất hiện ở phía xa của khu rừng thưa, mười lăm hay hai mươi người, mang theo rìu và cưa. Một nguy hiểm có thể xẩy ra nếu Tom và Ellen bị phát hiện. Họ khom người trở lại vào bụi cây. Bây giờ Tom không còn có thể thấy đứa bé nữa.
Họ đi len lỏi qua những bụi cây. Khi họ ra đến đường, họ bắt đầu chạy. Họ nắm tay nhau chạy ba hoặc bốn trăm bước; sau đó Tom kiệt sức. Tuy nhiên họ đã ở một khoảng cách an toàn. Họ ra khỏi con đường và tìm một nơi xa tầm mắt để nghỉ ngơi.
Họ ngồi trên một đống cỏ, lấp lánh bởi đốm sáng mặt trời. Tom nhìn Ellen đang ngả lưng, thở khó nhọc, đôi má đỏ ửng, môi bà mỉm cười với ông. Áo bà hở cổ, lộ ra chiếc cổ và một phần ngực của bà. Bất ngờ ông cảm thấy một sự khao khát muốn nhìn bà trần truồng một lần nữa, và sự thèm muốn này mạnh hơn cảm xúc tội lỗi của ông. Ông cúi xuống hôn bà, rồi do dự, bởi vì bà trông thật đáng yêu. Ông nói không suy nghĩ, và ông ngạc nhiên về những gì ông nói: "Ellen, em có muốn làm vợ anh không?"
 

Minh Nan
  • Số bài : 23
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.12.2016
Re:Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới - 04.01.2017 01:42:00
0
Chương 2
 
I
 
Peter thành Wareham sinh ra là một kẻ gây rối.
Ông đã được thuyên chuyển từ tu viện chính ở Kingsbridge tới một tu viện chi nhánh nhỏ trong rừng, và nó cũng dễ hiểu tại sao tu viện trưởng tại Kingsbridge đã sợ hãi tống khứ ông đi. Là một người cao đẹp, khoảng gần ba mươi tuổi, ông có trí tuệ minh mẫn và thái độ khinh miệt, và ông thường xuyên sống trong tình trạng phẫn nộ, mặc dù sự phẫn nộ của ông chính đáng. Khi mới đến và được giao làm việc đồng áng, ông làm việc cật lực, rồi phê bình người khác về sự lười biếng của họ. Tuy nhiên, điều ngạc nhiên cho ông là hầu hết các tu sĩ đều có thể theo kịp ông, và những người trẻ còn làm ông phải cố gắng lắm mới theo kịp được họ. Ông thấy sự phê bình về ăn không ngồi rồi của ông không có kết quả và ông tìm một tính xấu khác để chỉ trích: thú mê ăn uống.
Ông bắt đầu chỉ ăn nửa phần bánh mì của ông và không ăn thịt. Cả ngày ông chỉ uống nước suối, pha loãng bia và từ chối uống rượu. Ông khiển trách một tu sĩ trẻ, khỏe mạnh vì đã xin thêm một phần cháo, và làm cho một đứa trẻ rớt nước mắt vì đã tinh nghịch uống rượu của người khác.
Không có nhiều bằng chứng về việc các tu sĩ mê ăn uống, Tu viện trưởng Philip nghĩ khi họ từ đỉnh đồi trở về tu viện vào giờ cơm trưa. Các tu sĩ trẻ gầy và có bắp thịt rắn chắc, các tu sĩ lớn tuổi có lớp da rạm nắng và dẻo dai. Không ai trong họ có vòng bụng to phì vì do ăn nhiều hay lười biếng làm việc. Philip nghĩ tất cả các tu sĩ nên gầy. Những tu sĩ béo mập sẽ gây nguyên cớ cho người nghèo ghen tức và căm hờn người phục vụ của Thiên Chúa.
Một cách đặc trưng, Peter đã cải trang lời buộc tội như lời thú tội. "Tôi phạm tội mê ăn uống," ông nói như vậy vào buổi sáng hôm nay, khi họ ngồi nghỉ ngơi trên những thân cây mà họ mới đốn, ăn lúa mạch đen và uống bia. "Tôi đã không giữ giới luật của Thánh Biển Đức, vì Ngài dạy các tu sĩ không nên ăn thịt và uống rượu." Ông nhìn quanh vào các tu sĩ khác, đầu ông ngẩng cao và đôi mắt đen đầy niềm tự hào, sau cùng ông nhìn chằm chằm vào Philip. "Và mọi người ở đây có cùng tội này," ông chấm dứt.
Thật buồn vì Peter như vậy, Philip nghĩ. Người đàn ông này hy sinh cho công việc của Thiên Chúa, và ông có một tâm trí tốt và một nghị lực mạnh mẽ để thực hiện mục đích. Nhưng dường như ông bị một nhu cầu thôi thúc để cảm thấy mình đặc biệt và muốn những người khác phải luôn luôn để ý đến ông, và điều này đòi ông phải tạo ra những màn kịch. Ông thực sự là một sự phiền toái. Nhưng Philip thương ông nhiều hơn những người khác, vì Philip có thể nhìn thấy, đàng sau sự ngạo mạn và khinh miệt là một tâm hồn bất an của một người không thực sự tin rằng có người nào đó yêu thương ông.
Philip nói: "Điều này cho chúng ta một cơ hội để nhớ lại những gì Thánh Biển Đức đã nói về chủ đề này. Anh có nhớ chính xác những lời này không, Peter?"
"Ngài nói: 'Tất cả, ngoài trừ những người bệnh, nên tiết chế thịt,' và sau đó: 'rượu không phải là đồ uống của các tu sĩ,'" Peter lập lại.
Philip gật đầu. Như ông đã nghi ngờ, Peter không biết rõ lề luật như ông. "Gần đúng như vây, Peter," ông nói. "Thánh Biển Đức không đề cập đến thịt chung chung, nhưng đề cập đến 'thịt của động vật bốn chân,' và Ngài ngoại trừ không những cho người bệnh, mà còn cho những người yếu. Ý ngài muốn nói gì về 'người yếu'? Ở đây, trong cộng đoàn bé nhỏ của chúng ta, chúng ta có thể nhìn thấy những anh em bị yếu mệt vì công việc vất vả ngoài đồng, những anh em này cần ăn thịt bò bây giờ để bảo vệ sức khỏe của họ."
Peter lắng nghe những điều này trong im lặng sưng sỉa, trán ông nhăn nhó không hài lòng, cặp lông mày trĩu nặng cau lại trên lỗ mũi cong lớn. Khuôn mặt ông che giấu một cuộc chống đối thầm kín.
Philip tiếp tục: "Về chủ đề rượu, Thánh Biển Đức nói: 'chúng ta đọc được rằng rượu không phải là đồ uống của tất cả các tu sĩ.' Việc sử dụng cụm từ 'chúng ta đọc đượng rằng' ngụ ý ngài không hoàn toàn tán thành việc cấm uống rượu. Ngài cũng nói rằng nửa lít rượu một ngày đủ cho mỗi người. Và ngài cảnh giác chúng ta không được uống cho đến chán. Phải chăng, rõ ràng là ngài không mong đợi các tu sĩ tránh rượu hoàn toàn?”
"Nhưng ngài nói rằng trong mọi sự chúng ta phải giữ tính thanh đạm," Peter nói.
"Và anh nghĩ là ở đây chúng ta không giữ thanh đạm đủ?" Philip hỏi ông.
"Tôi giữ," ông nói bằng giọng vang rền.
"'Hãy để những người được Thiên Chúa cho họ món quà của sự tiết chế biết rằng họ sẽ nhận được phần thưởng thích hợp cho họ,'” Philip trích dẫn. "Nếu anh cảm thấy lương thực ở đây quá dư giả, anh có thể ăn ít hơn. Nhưng hãy nhớ vị thánh cũng nói những điều khác nữa. Ngài trích thư thứ nhất gửi cho giáo đoàn Côrintô, trong đó thánh Phao Lô nói: 'mỗi người có món quà riêng của Thiên Chúa, người này có món quà này, người kia có món quà kia.' Và vị thánh nói với chúng ta:’Vì lý do này, không nên xác định số lượng đồ ăn của người khác.' Peter, làm ơn nhớ lấy điều đó, khi anh ăn chay và suy gẫm về tội mê ăn uống."
Họ đi làm trở lại, Peter mang bộ mặt như phải tử vì đạo. Ông không dễ dàng được bình yên, Philip nhận ra điều đó. Trong ba lời khấn của các tu sĩ về nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, điều khó khăn cho Peter là vâng lời.
Có nhiều cách đối xử với các tu sĩ không vâng lời, dĩ nhiên: biệt giam, phạt đồ ăn và nước uống, đánh đòn, sau cùng là vạ tuyệt thông và sa thải khỏi tu viện. Philip không ngần ngại dùng các phương thức đó, nhất là khi các tu sĩ muốn thử quyền bính của ông. Vì thế ông được coi là người cứng rắn. Nhưng trong thực tế ông ghét sử dụng hình phạt – nó mang lại bầu khí bất hòa giữa anh em tu sĩ và làm cho mọi người mất hạnh phúc. Tuy nhiên trong tường hợp của Peter, hình phạt không giúp gì – thực vậy, nó chỉ làm cho ông thêm kiêu ngạo và thêm hiềm thù. Philip phải tìm ra cách kiểm soát Peter và cùng lúc làm cho ông nên mềm mại. Điều đó không dễ dàng. Nhưng, ông nghĩ, nếu mọi chuyện đều dễ dàng, con người chẳng cần đến sự hướng dẫn của Thiên Chúa.
Họ đến khu đất phá hoang của tu viện trong rừng. Khi họ đi ngang qua một khoảng không gian thoáng, Philip nhìn thấy thầy John vẫy họ một cách thúc bách từ chuồng dê. Ông có tên là Johnny Eightpence, và ông có một chút vấn đề trong đầu. Philip băn khoăn không biết ông đang phấn khích về chuyện gì. Cùng với Johnny là một người trong y phục linh mục. Ông nhìn quen quen và Philip vội vàng tiến về phía họ.
Vị linh mục thấp, ngỏ gọn và vào lứa tuổi giữa hai mươi. Ông có mái tóc đen cắt ngắn và đôi mắt xanh lấp lánh sự thông minh nhanh nhẹn. Nhìn vào ông thì đối với Philip như thể nhìn vào gương. Vị linh mục, ông kinh ngạc nhận ra đó là em trai Francis của ông.
Và Francis đang bế một đứa bé mới sinh.
Philip không biết điều gì làm ông ngạc nhiên: Francis hay đứa bé. Các tu sĩ quây quần xung quanh. Francis đứng lên và trao đứa bé cho Johnny; rồi Philip ôm ông. “Em làm gì ở đây?” Philip thích chí nói. “Và tại sao em lại có đứa bé?”
“Chút nữa em sẽ kể cho anh tại sao em lại ở đây.” Francis nói. “Về đứa bé, em tìm thấy nó ở trong rừng, hoàn toàn một mình, nằm gần một đống lửa đang cháy.” Francis ngưng lại.
“Rồi sau đó…” Philip nhắc nhở ông.
Francis nhún vai. "Em không biết phải kể thêm gì nữa, bởi vì đó là tất cả những gì em biết. Em đã hy vọng có thể đến đây tối qua, nhưng em không thể đến được, vì thế em đã qua đêm ở một túp lều của nông dân. Em rời đó vào buổi bình minh sáng nay, và khi em đang cưỡi ngựa trên đường đi, em nghe tiếng trẻ khóc. Một lúc sau em thấy nó. Em bế nó lên và đem nó đến đây. Đó là tất cả câu chuyện."
Philip nhìn ngờ vực vào bọc nhỏ trong tay Johnny. Ông ngập ngừng đưa tay ra, nâng một góc của chiếc chăn. Ông nhìn thấy một khuôn mặt đỏ hỏn nhăn nheo, một chiếc miệng há rộng không răng và một đầu nhỏ không tóc – một mẫu nhỏ của một tu sĩ già. Ông mở to bọc hơn và nhìn thấy đôi vai mỏng manh nhỏ bé, cánh tay đang vẫy và bàn tay nắm chặt lại như nắm đấm. Ông nhìn vào cuống rốn treo từ lỗ rốn em bé. Nó xanh nhạt kinh khủng. Đó là điều tự nhiên? Philip tự hỏi. Nó giống như một vết thương được khỏi, và tốt hơn nên để nguyên như vậy. Ông kéo tấm chăn xuống sâu hơn. "Một bé trai," ông nói với chút xấu hổ, rồi đóng chăn lại. Một trong số tu sĩ tập sinh cười khúc khích.
Bất ngờ Philip cảm thấy bất lực. Tôi phải làm gì với nó đây? Ông nghĩ. Cho nó ăn?
Đứa trẻ khóc¸ và âm thanh đụng vào tình cảm của ông giống như một bài hát tình yêu quen thuộc. "Nó đói," ông nói, và ông tự hỏi trong lòng: Làm sao tôi biết được điều đó?
Một trong số các tu sĩ nói: "Chúng ta không thể cho nó ăn."
Philip định nói: Tại sao không? Nhưng ông chợt nhận ra tại sao không: vì không có phụ nữ nào ở xung quanh đây.
Tuy nhiên, Johnny đã giải quyết vấn đề, Philip nhìn thấy. Johnny ngồi xuống ghế với đứa trẻ trong lòng. Cậu có trong tay một chiếc khăn với một góc quấn lại như soắn ốc. Cậu nhúng góc khăn vào thùng sữa, để cho khăn thấm chất lỏng, rồi cho miếng vải vào miệng đứa bé. Đứa bé há miệng, mút vào khăn và nuốt.
Philip cảm thấy phấn khởi. "Rất thông minh, Johnny," ông nói trong ngạc nhiên.
Johnny cười toe toét. "Em đã làm điều này một lần rồi, khi con dê cái chết trước khi con dê con cai sữa," cậu hãnh diện nói.
Tất cả các tu sĩ chăm chú theo dõi Johnny lập lại động tác đơn giản của việc nhúng đầu khăn vào sữa và cho đứa bé bú. Vừa khi cậu đặt đầu khăn vào môi đứa bé, một vài tu sĩ há hốc miệng, Philip nhìn thích thú. Việc cho đứa bé ăn theo cách này thật mất giờ, nhưng một cách nào đó, việc cho đứa bé ăn là một công việc chậm rãi.
Peter thành Warenham hòa mình trong sự thích thú chung của mọi người nên đã quên chỉ trích. Bây giờ ông tỉnh lại và nói: "Nó sẽ ít việc hơn nếu tìm ra được mẹ của đứa bé."
Francis nói: "Tôi nghi ngờ về điều đó. Bà mẹ này chắc không có cưới hỏi gì và đã vi phạm luân lý. Tôi tưởng tượng cô ấy còn rất trẻ. Có lẽ cô ấy định giữ bí mật việc mang thai; rồi, khi thời điểm đến, cô đã vào rừng, đốt lửa; sau đó sinh con một mình, bỏ mặc con cho chó sói rồi đi về. Cô ấy sẽ ẩn mình để không bị tìm ra."
Đứa bé hầu như thiếp ngủ. Rồi bốc đồng, Philip lấy đứa bé từ tay Johnny. Ông ôm nó vào lòng, đỡ nó trong tay và ru nó. "Một sinh vật đáng thương," ông nói. "Đáng thương, thật đáng thương." Sự thúc đẩy muốn bảo vệ và săn sóc đứa bé dâng lên như một dòng nước chẩy mạnh. Ông nhận ra rằng các tu sĩ đang nhìn ông chằm chằm, kinh ngạc về sự biểu lộ bất ngờ về sự nhạy cảm của ông. Họ đã chẳng bao giờ nhìn thấy ông săn sóc một ai, dĩ nhiên, bởi vì những săn sóc tình cảm thuộc về thể xác bị nghiêm cấm trong tu viện. Rõ ràng là họ đã nghĩ ông không có khả năng về chuyện đó. Tốt thôi, ông nghĩ, bây giờ họ biết sự thật.
Peter thành Warenham lại lên tiếng. "Chúng ta phải mang đứa nhỏ đến Winchester, rồi cố gắng tìm ra một bà mẹ nuôi.”
Nếu điều này do một người khác nói, Philip có lẽ đã không nhanh chóng phản đối lại; nhưng người đó lại là Peter, nên Philip vội vàng nói, và lời nói này làm quan hệ giữa ông và Peter chẳng bao giờ còn như trước nữa. “Chúng ta không muốn giao nó cho một bà mẹ nuôi," ông nói dứt khoát. "Đứa bé này là một món quà của Thiên Chúa." Ông nhìn quanh tất cả họ. Các tu sĩ nhìn ông với đôi mắt mở to, theo dõi lời ông nói. "Chính chúng ta sẽ chăm sóc nó," ông tiếp tục. "Chúng ta sẽ nuôi nó, dạy dỗ nó và cho nó nên người trong đường lối của Thiên Chúa. Rồi, khi đứa bé thành một người lớn, cậu ấy sẽ trở thành tu sĩ, và qua cách đó chúng ta trao cậu ấy lại cho Thiên Chúa.
Một sự yên lặng sững sờ.
Rồi Peter nói trong tức giận: "Không thể được! Một bé sơ sinh không thể được nuôi nấng bởi các tu sĩ!"
Philip bắt gặp ánh mắt em trai của ông, và cả hai mỉm cười, trao đổi ký ức thời thơ ấu. Khi Philip lên tiếng, giọng ông trĩu nặng quá khứ. "Không thể ư? Không, Peter ạ. Ngược lại, tôi hoàn toàn tin chắc điều đó có thể làm được. Bằng chứng là em tôi đây. Chúng tôi biết từ kinh nghiệm riêng. Phải vậy không, Francis?”
 
 
 
Vào ngày hôm đó bố ông bị thương nặng và trở về nhà.
Philip là người đầu tiên nhìn thấy ông, cưỡi ngựa lên sườn đồi đến một làng nhỏ miền núi ở Bắc Wales. Philip sáu tuổi chạy ra gặp ông như thường lệ; nhưng lần này ông bố không bế cậu bé lên lưng ngựa, đặt ngồi phía trước ông như mọi khi. Ông cưỡi ngựa chậm rãi, ngồi sụp trong yên ngựa, giữ dây cương trong tay phải, và tay trái buông rũ xuống. Gương mặt ông tái nhợt và quần áo ông đầy máu. Philip vừa tò mò vừa lo âu, vì chưa bao giờ ông nhìn thấy bố mình tỏ ra yếu đuối.
Ông bố nói: "Gọi mẹ con về."
Khi họ đưa ông vào trong nhà, mẹ ông cắt áo sơ mi của ông. Philip kinh hoàng: nhìn thấy bà mẹ tần kiệm cố ý cắt hỏng bộ áo tốt còn kinh hoàng hơn là nhìn thấy máu. "Bây giờ đừng lo cho anh,” ông bố nói, nhưng giọng quát tháo bình thường của ông đã yếu đi thành tiếng thì thầm và không làm ai lưu ý đến – lại một sự kiện kinh hoàng khác, vì thông thường lời ông là luật. "Hãy để anh ở lại, và mọi người hãy đến tu viện ngay," ông nói. "Người Anh quốc chết tiệt chẳng bao lâu nữa sẽ đến đây." Có một tu viện với một nhà thờ ở trên đỉnh đồi, nhưng Philip không hiểu tại sao họ phải đến đó vì hôm nay không phải là chủ nhật. Mẹ nói: "Nếu anh mất nhiều máu hơn, anh sẽ không thể đi đâu nữa." Nhưng dì Gwen nói bà sẽ báo động, rồi bà đi ra ngoài.
Nhiều năm sau khi Philip nhớ lại những biến cố xẩy ra sau đó, ông nhận ra rằng vào thời điểm đó mọi người đã quên ông và đứa em bốn tuổi Francis của ông, và không ai nghĩ đến việc đem họ đến nơi an toàn trong tu viện. Dân chúng nghĩ về con cái của họ và cho rằng Philip và Francis được an toàn vì chúng ở với bố mẹ chúng; nhưng bố chẩy máu đến chết và mẹ gắng sức cứu ông, và người Anh đã đến và bắt cả bốn người họ.
Không có kinh nghiệm gì trong khoảng đời sống ngắn ngủi để chuẩn bị cho ông đối phó với hai kỵ binh khi họ đá cửa và xông vào trong căn nhà một phòng. Trong một tình huống khác họ không đáng sợ, vì họ là những thanh niên to lớn, lóng ngóng mà ông thường gặp. Những thanh niên này thường chế diễu đàn bà lớn tuổi, lạm dụng người Do Thái và đánh nhau bên cạnh những quán bia về đêm. Nhưng bây giờ (sau nhiều năm Philip hiểu, khi ông có thể nghĩ một cách khách quan về ngày đó) hai chàng thanh niên này bị say máu. Họ đã ở giữa cuộc chiến, đã nghe tiếng kêu trong lúc hấp hối, đã nhìn thấy bạn bè ngã xuống, và họ hoảng sợ, theo nghĩa đen, đã mất trí. Nhưng họ đã chiến thắng và sống sót, và bây giờ họ truy lùng quân thù của họ. Chỉ còn có một thứ làm họ thỏa mãn, đó là thêm máu, thêm tiếng kêu la, thêm thương tích và thêm chết chóc; và tất cả điều đó được viết trên khuôn mặt quằn quại của họ khi họ bước vào nhà, giống như những con cáo vào trong chuồng gà.
Mọi chuyện xẩy ra rất nhanh, mặc dù sau đó Philip có thể nhớ từng bước chân của họ, như thể nó kéo dài rất lâu. Cả hai người mặc áo giáp nhẹ, giống như một áo ngắn bằng dây xích sắt và một chiếc mũ bằng da với đai sắt. Cả hai đều rút gươm ra. Một người xấu xí, có chiếc mũi to cong và hàm răng xơ xác trong một nụ cười méo xệch giống như khỉ. Người kia có râu um tùm đầy máu người, có lẽ như vậy, vì ông ấy hầu như không bị thương. Hai người đi lại trong phòng, không dừng bước. Đôi mắt tàn nhẫn, tính toán của họ rời Philip và Francis, rồi tập trung vào ông bố. Họ nhào vào ông trước khi người khác có thể phản ứng.
Bà mẹ đang cúi xuống, băng cánh tay trái của ông. Bà chỗi dậy, đối diện với kẻ xâm phạm, mắt bà bừng lên niềm can đảm tuyệt vọng. Ông bố vùng đứng lên và đưa tay tới nắm gươm. Philip bật ra tiếng kêu kinh hoàng.
Người đàn ông xấu xí nâng lưỡi gươm qua đầu rồi bổ xuống – lần đầu xuống đầu mẹ, rồi đẩy bà sang bên mà không đâm bà, bởi vì có lẽ hắn không muốn mạo hiểm mắc lưỡi gươm của mình trong một thân thể, trong khi ông bố vẫn còn sống. Vài năm sau Philip nhớ lại: vào lúc đó ông chạy tới mẹ mà ông không hiểu rằng bà không còn có thể bảo vệ ông. Bà vấp váp, choáng váng và người đàn ông xấu xí đến bên bà, giơ cao thanh gươm một lần nữa. Philip bám vào váy bà khi bà lảo đảo, choáng váng; và ông bất lực nhìn về phía bố.
Ông bố kéo gươm ra khỏi bao và giơ lên bảo vệ. Người đàn ông xấu xí đánh lưỡi gươm xuống và hai lưỡi gươm đụng nhau, vang lên như chuông. Giống như mọi đứa trẻ khác, Philip nghĩ bố ông không thể thua; và đây là lúc ông biết sự thật. Bố yếu vì mất nhiều máu. Khi hai lưỡi gươm gặp nhau, lưỡi gươm của ông giảm xuống; và kẻ tấn công giơ gươm lên và bổ xuống nhanh chóng. Mũi gươm giáng xuống vào bắp thịt cổ, gần vai. Philip hét lên khi nhìn thấy lưỡi dao sắc cắt dào da thịt bố. Người đàn ông xấu xí kéo tay lại, và đâm lưỡi gươm vào bụng ông.
Tê liệt vì kinh hoàng, Philip nhìn mẹ. Mắt ông gặp mắt bà vừa lúc người đàn ông khác, người có râu, đánh bà gục xuống. Bà ngã xuống trên nền nhà bên cạnh Philip với máu tuôn ra từ vết thương trên đầu. Người đàn ông có râu thay đổi tay cầm gươm, đảo ngược nó để mũi nó quay xuống và cầm nó cả hai tay; rồi ông giơ cao, trông giống như đang đâm chính mình, và đâm mạnh xuống. Có tiếng vỡ ghê tởm của xương bị bể khi lưỡi gươm đâm vào ngực bà. Lưỡi dao vào sâu, quá sâu. Philip để ý, ngay cả khi ông đã tiều tụy vì sợ hãi hoảng loạn. Lưỡi dao đã đi qua lưng bà đến mặt đất, đóng chặt bà vào nền nhà như một cây đinh.
Tuyệt vọng, Philip lại nhìn bố. Ông thấy bố ông sụp xuống trên thanh gươm của người đàn ông xấu xí và phun ra một cục máu lớn. Kẻ tấn công lùi lại, giật cây gươm, cố gắng kéo nó ra. Ông bố vấp váp đi theo để người lính không rút gươm ra được. Người đàn ông xấu xí hét lên vì tức, và xoáy lưỡi gươm vào bụng ông. Lần này lưỡi gươm tụt ra, bố ông gục xuống nền nhà và tay ông đè lên hỗ sâu trên bụng như thể muốn che lại vết thương. Philip luôn tưởng tượng bên trong con người nhiều hay ít cũng rắn chắc, và ông kinh hoàng và buồn nôn vì các ống và cơ quan đáng sợ rơi ra từ bụng bố. Kẻ tấn công giơ cao gươm, chĩa mũi gươm xuống, trên thân thể ông, và đâm xuống lưỡi gươm cuối cùng giống như người đàn ông có râu đã làm với mẹ ông.
Hai người Anh quốc nhìn nhau và hoàn toàn bất ngờ, Philip đọc được sự bớt căng thẳng trên khuôn mặt họ. Cả hai, họ quay lại nhìn ông và Francis. Một người gật đầu và người kia nhún vai, và Philip nhận ra rằng họ định giết ông và em ông bằng cách mổ bụng họ bằng lưỡi gươm sắc này, và khi ông nhận ra nó sẽ đau làm sao, sự khiếp sợ đốt cháy trong ông cho đến khi ông cảm thấy như thể đầu ông sẽ vỡ ra.
Người đàn ông có máu trên râu cúi xuống nhanh chóng và móc Francis lên bằng một bàn chân. Ông giữ Francis lộn ngược trong không, trong khi đứa bé gào thét gọi mẹ mà nó không hiểu rằng mẹ nó đã chết. Người đàn ông xấu xí lôi thanh gươm ra khỏi xác của ông bố, và kéo tay lại như chuẩn bị đâm qua tim Francis.
Cú đâm chẳng bao giờ xẩy ra. Một giọng nói như ra lệnh vang lên, và hai người đàn ông chết lạnh. Tiếng la hét ngưng lại và Philip nhận ra chính ông là người đã la hét. Ông nhìn ra cửa và thấy Viện phụ Peter đứng đó trong bộ áo choàng giản dị, với cơn thịnh nộ của Thiên Chúa trong mắt, và giữ cây thánh giá trong tay như một thanh guơm.
Khi Philip mơ lại những ngày đó trong cơn ác mộng và thức dậy với mồ hôi ướt đẫm và tiếng la hét trong bóng tối, ông luôn có thể giữ mình bình tĩnh lại, và ru mình vào lại giấc ngủ, bằng cách nhớ lại cảnh cuối cùng. Ông nhớ lại những tiếng la hét được im lặng, những vết thương được băng bó bởi một người không có vũ khí gì, mà chỉ với cây thập giá trên tay.
Viện phụ Peter lại lên tiếng. Philip không hiểu ngôn ngữ ông dùng – nó là tiếng Anh, dĩ nhiên – nhưng ý nghĩa thì rõ ràng, vì hai người kỵ binh trông có vẻ xấu hổ, và tên có râu để Francis nhẹ nhàng xuống đất. Vẫn đang nói, vị tu sĩ tự tin bước vào nhà. Người kỵ binh lùi lại một bước, như thể họ sợ ông – họ với gươm và áo giáp, và ông ấy với một áo choàng bằng len và một cây thánh giá! Ông quay lưng lại phía họ, một thái độ khinh miệt, và cúi xuống nói chuyện với Philip. Giọng của ông thực tiễn. "Tên con là gì?"
"Philip."
"À, vâng, cha nhớ rồi. Và tên em con là gì?"
"Francis."
"Được rồi." Viện phụ nhìn vào những thân thể đẫm máu trên nền nhà. "Có phải đây là mẹ con không?"
“Vâng," Philip nói, và ông cảm thấy hoảng loạn khi ông chỉ vào thân xác đầy vết đâm của bố ông và nói: "Và đây là bố con."
"Cha biết," vị tu sĩ nói dịu dàng. "Con không phải la hét nữa, con phải trả lời câu hỏi của cha. Con có hiểu rằng họ đã chết rồi không?"
"Con không biết," Philip đau khổ nói. Ông biết một động vật chết nghĩa là như thế nào, nhưng làm sao điều đó có thể xẩy ra cho bố và mẹ của ông được?
Viện phụ nói: "Nó giống như người đang ngủ."
"Nhưng mắt họ mở!" Philip hét lên.
"Ừ, tốt hơn chúng ta nên vuốt mắt cho họ."
"Vâng,” Philip nói. Ông tưởng như thế sẽ giải quyết mọi chuyện.
Viện phụ Peter đứng lên, nắm tay Philip và Francis, và dắt chúng đi ngang phòng đến bên xác ông bố. Ông quỳ xuống, nắm tay của Philip trong tay ông. “Cha sẽ chỉ cho con,” ông nói. Ông di chuyển tay Philip trên mặt bố ông, nhưng bất ngờ Philip sợ không dám chạm vào người bố ông, bởi vì thân xác ông trông xa lạ, nhợt nhạt, mềm rũ và đầy vết thương ghê gớm, và ông vội rút tay về. Rồi ông sợ hãi nhìn Viện phụ Peter – một người mà không ai dám cãi lời. "Đến đây!" ông nói nhẹ nhàng và lại nắm lấy tay Philip. Lần này Philip không kháng cự. Cầm ngón trỏ của Philip, vị tu sĩ giúp đứa bé chạm vào mí mắt của ông bố và ấn nó xuống cho đến khi đôi mắt trừng trừng của ông khép kín. Rồi ông lay tay Philip và nói: "Hãy vuốt mắt kia nữa." Bây giờ không cần sự giúp đỡ, Philip đụng vào mắt bố ông và đóng nó lại. Sau đó ông cảm thấy thoải mái hơn.
Viện phụ nói: "Chúng ta cũng vuốt mắt mẹ con nữa chứ?"
"Vâng."
Họ quỳ xuống bên cạnh thi thể của bà. Viện phụ lau máu trên mặt bà bằng tay áo. Philip nói: "Còn Francis thì sao?"
"Có lẽ cậu ấy cũng giúp con nữa," viện phụ nói.
"Hãy làm những gì anh làm," Philip nói với em mình. "Hãy vuốt mắt cho mẹ như anh đã làm cho bố, như thế mẹ có thể ngủ yên."
"Họ đang ngủ sao?' Francis hỏi.
"Không, nhưng dường như thế," Philip nói một cách uy quyền, "vì thế mà mẹ cần nhắm mắt."
"Được," Francis nói và không do dự, cậu đưa bàn tay mũm mĩm và cẩn thận vuốt mắt mẹ.
Rồi viện phụ kéo chúng đứng lên, mỗi cậu một tay, và không nhìn vào các kỵ binh, ông đưa chúng ra khỏi nhà và theo con đường đồi đến tu viện.
Ông cho chúng ăn trong nhà bếp của tu viện; và để chúng không có giờ bận rộn với những suy nghĩ, ông nói chúng giúp chuẩn bị bữa ăn trưa cho các tu sĩ. Ngày hôm sau ông đưa chúng đi nhìn thi thể bố mẹ chúng đã được tắm rửa, mặc quần áo, sạch các vết thương, được đặt nằm trong quan tài, hai chiếc gần nhau trong gian giữa nhà thờ. Không phải chỉ có họ, còn nhiều thân nhân của họ cũng chết, bởi vì không phải tất cả dân làng đều có thể đến được tu viện để trốn tránh quân xâm lược. Viện phụ Peter dẫn chúng đến lễ an táng, và lo liệu cho chúng nhìn thấy hai quan tài được cho xuống trong một huyệt. Khi Philip kêu la, Francis cũng la theo. Một vài người bắt chúng yên, nhưng viện phụ nói: "Hãy để chúng khóc." Chỉ sau đó, khi chúng hiểu sâu thẳm trong tâm hồn rằng cha mẹ chúng đã ra đi vĩnh viễn và chẳng bao giờ trở lại, lúc đó ông mới nói với chúng về tương lai.
Trong số những người thân của chúng, không có gia đình nào còn lại trọn vẹn: trong mọi trường hợp, không bố thì mẹ đã bị giết. Không có người thân nào chăm sóc cho những đứa nhỏ này. Chỉ còn lại hai lựa chọn. Một là chúng có thể cho hoặc bán cho một nông dân như một nô lệ lao động cho đến khi chúng đủ lớn và đủ mạnh để chạy trốn. Hai là chúng được trao cho Chúa.
Cho những đứa bé vào tu viện không phải là việc mới lạ. Lứa tuổi thông thường được nhận vào tu viện là mười một, và ít nhất là năm tuổi, bởi vì các tu sĩ không quen chăm sóc trẻ thơ. Một đôi khi đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, một đôi khi chúng mất cha hoặc mẹ, một đôi khi cha mẹ chúng có quá nhiều con trai. Thường thường khi trao đứa nhỏ cho tu viện, họ cũng tặng tu viện một món quà tương xứng – một nông trại, một nhà thờ hoặc ngay cả một làng. Trong trường hợp vì nghèo túng, món quà không cần thiết. Tuy nhiên, bố của Philip đã để lại một trang trại đồi khiêm tốn, vì thế các cậu bé này không phải là một trường hợp vì từ thiện. Viện phụ Peter đề nghị rằng tu viện sẽ nhận các cậu bé và trang trại; các thân nhân còn sống của các cậu đồng ý; và sự thỏa thuận này được công nhận bởi Hoàng tử của Gwynedd, Gruffyd ap Cynan, người đã bị tạm thời hạ bệ, nhưng không bị hoàn toàn truất phế bởi quân đội xâm lược của vua Henry, những người đã giết bố của Philip.
Viện phụ biết nhiều về sầu khổ, nhưng bất chấp sự thông thái của ông, ông cũng không tưởng tượng được những gì sẽ xảy ra với Philip. Sau khoảng một năm, khi nỗi đau đã phôi phai, và hai cậu bé đã quen với đời sống trong tu viện, Philip bị giằn vặt bởi một sự tức giận không nguôi. Điều kiện sống trong tu viện trên đỉnh đồi không quá xấu để biện minh cho sự tức giận của cậu: ở đó có đồ ăn, quần áo, lò sưởi trong phòng ngủ vào mùa đông, và ngay cả một chút tình yêu và tình cảm; và kỷ luật nghiêm ngặt cũng như những nghi thức tẻ nhạt ít nhất cũng tạo nên trật tự và ổn định; nhưng Philip bắt đầu tỏ thái độ như thể ông bị giam giữ một cách bất công. Ông bất tuân mệnh lệnh, làm giảm thẩm quyền của các viên chức tu viện trong mọi cơ hội, ăn cắp đồ ăn, làm bể trứng, thả ngựa đi, chế giễu người bệnh và xúc phạm người lớn tuổi. Một tội phạm ông đã dừng lại đó là phạm sự thánh, và vì lý do đó viện phụ đã tha cho ông các lỗi lầm khác. Và sau cùng ông đã vượt qua khỏi nó. Vào một ngày lễ giáng sinh, ông nhìn lại mười hai tháng qua và nhận ra rằng trong cả năm ông đã chẳng phải ở trong nhà phạt một đêm nào.
Đó không phải là lý do duy nhất giúp ông trở về đời sống bình thường. Có lẽ sự thích thú trong lớp học đã giúp ông. Lý thuyết một cách toán học của âm nhạc đã thu hút ông, và ngay cả cách thức chia động từ Latin cũng có một lô gic nhất định. Ông được đưa vào giúp việc cho cha quản lý, người cung cấp mọi sự cần thiết cho tu viện, từ đôi dép cho tới hạt giống; và điều đó cũng khơi dậy sở thích của ông. Dần dần ông tỏ lòng ngưỡng mộ John, một tu sĩ trẻ đẹp trai, khỏe mạnh, một gương mẫu trong việc học, thánh thiện, thông thái và tử tế. Hoặc vì muốn bắt chước John, hoặc từ khuynh hướng riêng của mình, hoặc cả hai, ông đã bắt đầu tìm được niềm an ủi trong việc cầu nguyện và phục vụ hàng ngày. Và vì thế ông bước vào tuổi thành niên, với cách tổ chức của tu viện ảnh hưởng đến tâm trí ông và sự hòa hợp thánh thiện trong tai ông.
Trong việc học, cả hai Philip và Francis bỏ xa những đứa trẻ khác cùng lứa tuổi, nhưng họ cho rằng đó là bởi vì họ được sống trong tu viện và được huấn luyện một cách chặt chẽ hơn. Ở giai đoạn này họ không nhận ra rằng họ đặc biệt. Ngay cả khi họ càng ngày càng nhận nhiều trách nhiệm dạy học trong trường hơn, và nhận bài học trực tiếp từ tu viện trưởng thay vì từ vị giáo tập mô phạm già cả, họ nghĩ họ đi trước bởi vì họ đã được bắt đầu sớm hơn.
Khi họ nhìn lại tuổi trẻ của họ, Philip nhận ra dường như có một giai đoạn vàng son ngắn ngủi, một năm hoặc ngắn hơn, giữa giai đoạn cuối cuộc nổi loạn của ông và cuộc tấn công của sự ham muốn xác thịt. Sau đó là thời kỳ giằn vặt của những tư tưởng không thanh sạch, những giấc mơ xấu trong đêm, những buổi xưng tội đáng xấu hổ với cha giải tội (thường là viện phụ), với việc đền tội vô hạn và việc hành xác tai họa.
Sự ham muốn xác thịt chẳng bao giờ ngừng dày vò ông, nhưng nó trở thành ít quan trọng hơn, vì thế mà nó chỉ đôi khi làm phiền ông trong những trường hợp họa hiếm như khi đầu óc và thân thể ông nhàn rỗi; giống như một vết thương cũ đau lại khi thời tiết thay đổi.
Francis gặp cuộc chiến này trễ hơn, và mặc dù ông không thổ lộ việc này với Philip, nhưng Philip có cảm tưởng Francis đã ít dũng cảm chiến đấu chống lại lòng ham muốn xấu này. Tuy nhiên, vấn đề chính là họ đã hòa giải được với những đam mê, những kẻ thù lớn nhất trong đời sống tu sĩ.
Khi Philip làm việc với cha quản lý, Francis làm việc cho cha tu viện trưởng, phụ tá của Viện phụ Peter. Khi cha quản lý qua đời, Philip mới hai mươi mốt tuổi, và ngay cả còn trẻ, ông vẫn đảm nhận công việc đó. Và khi Francius được hai mươi mốt tuổi, viện phụ đề nghị tạo một công việc mới và trao cho ông, đó là tu viện phó. Nhưng đề nghị này gây nên một khủng hoảng cho ông. Francis xin từ bỏ trách nhiệm, cũng như rời khỏi tu viện. Ông muốn được thụ phong linh mục và phục vụ Thiên Chúa trong thế giới bên ngoài.
Philip ngạc nhiên và kinh hoàng. Ông chẳng bao giờ nghĩ rằng một người trong họ sẽ rời khỏi tu viện, và bây giờ nó làm ông bối rối khi ông nhận ra rằng ông là người thừa kế ngai vàng. Nhưng sau nhiều cuộc bàn cãi và dò xét lương tâm, Francis quyết định đi vào trong thế giới, và chẳng bao lâu sau ông trở thành tuyên úy cho bá tước thành Gloucester.
Trước khi những điều đó xảy ra, Philip nhìn thấy tương lai mình thật giản dị: ông sẽ là một tu sĩ, sống một cuộc sống khiêm nhường và vâng lời, và trong tuổi già, có lẽ sẽ trở thành viện phụ, và phấn đấu theo gương mẫu của cha Peter. Bây giờ ông tự hỏi Thiên Chúa có ý định nào cho ông. Ông nhớ lại ví dụ về những nén vàng: Thiên Chúa muốn đầy tớ của Ngài phát triển lĩnh vực của họ, chứ không chỉ đơn thuần là bảo tồn nó. Với sự bối rối, ông đã chia sẻ suy nghĩ này với Viện phụ Peter, nhận thức tỉnh táo rằng ông sẽ bị khiển trách vì niềm tự hào của mình.
Ông ngạc nhiên khi viện phụ nói: "Cha tự hỏi còn bao lâu nữa con sẽ lãnh nhiệm vụ này. Dĩ nhiên con được chỉ định cho công việc khác nữa. Con sinh ra ở một nơi gần tu viện, mồ côi khi lên sáu, lớn lên bởi các tu sĩ, trở thành quản lý khi mới hai mươi mốt tuổi – Thiên Chúa không cần quan tâm nhiều đến việc huấn luyện cho một người sẽ trải qua đời sống của mình trong một tu viện nhỏ trên ngọn đồi khô cằn nằm sâu trong rừng núi này. Ở đây không có đủ chỗ cho con. Con phải đi khỏi nơi đây."
Philip bị choáng váng bởi điều này, nhưng trước khi rời vị viện phụ, có một câu hỏi làm ông bận tâm, và ông bật thành lời. "Nếu tu viện này không quá quan trọng, tại sao Chúa lại đặt cha ở đây?"
Viện phụ Peter mỉm cười: "Có lẽ để lo lắng cho con."
Cuối năm đó, viện phụ đến Canterbury thăm viếng tổng giám mục, sau khi trở về ông nói với Philip: "Cha đã trao con cho tu viện trưởng ở Kingsbridge."
Philip nản lòng, tu viện Kingsbridge là một trong những tu viện lớn nhất và quan trọng nhất trong nước. Đó là một tu viện chính tòa: nhà thờ của tu viện là nhà thờ chính tòa, nơi có tòa giám mục, và giám mục thường là tu viện trưởng của tu viện, mặc dù trong thực tế nó được điều hành bởi tu viện trưởng.
“Tu viện trưởng James là một người bạn cũ của cha," Viện phụ Peter nói với Philip. "Trong những năm sau này ông trở nên chán nản, cha không biết tại sao. Dù sao, Kingsbridge cần nhiệt huyết trẻ trung. Đặc biệt, James đang có vấn đề với một tu viện chi nhánh trong rừng, và ông cần một người đáng tin cậy để điều hành tu viện và đưa nó trở về con đường kính sợ Chúa."
"Vì thế con sẽ là tu viện trưởng của tu viện?" Philip nói trong ngạc nhiên.
Viện phụ gật đầu. "Và nếu đúng rằng Thiên Chúa có nhiều việc cho con làm, chúng ta có thể chờ đợi Ngài sẽ giúp con giải quyết mọi khó khăn trong tu viện này."
"Và nếu chúng ta sai?"
"Con luôn luôn có thể trở về đây và làm quản lý của cha. Nhưng chúng ta không sai, con à, rồi con sẽ thấy."
Cuộc chia tay đầy nước mắt. Ông đã trải qua mười bảy năm ở đây, và các tu sĩ là gia đình của ông. Gia đình này còn thực tế với ông hơn là gia đình với cha mẹ, những người đã bị lấy đi khỏi ông một cách dã man. Có lẽ ông sẽ chẳng bao giờ gặp lại các tu sĩ này nữa, vì thế ông buồn.
Lúc đầu Kingsbridge làm ông quá sợ. Tu viện được các bức tường bao quanh còn lớn hơn nhiều làng mạc; nhà thờ chính tòa là một hang động lớn, ảm đạm; nhà tu viện trưởng là một cung điện nhỏ. Nhưng khi ông làm quen với vẻ lớn lao bên ngoài, ông nhìn thấy dấu hiệu của thờ ơ mà viện phụ Peter đã nhận xét về người bạn cũ của ngài. Nhà thờ cần một sự tu bổ tổng quát; giờ kinh đọc vội vàng; kỷ luật giữ thinh lặng thường xuyên bị phá vỡ; và có quá nhiều người làm hơn là các tu sĩ. Thay vì ngạc nhiên Philip trở thành tức giận. Ông muốn nắm cổ Tu viện trưởng James, lay ông và nói: "Làm sao cha dám làm điều này? Làm sao cha lại cho Chúa những lời kinh vội vàng? Làm sao cha lại cho phép các tập sinh chơi xúc xắc và các tu sĩ giữ những con chó cưng? Tại sao cha lại sống trong một cung điện, bao quanh bởi các người hầu hạ, trong khi nhà Chúa lại hư hại và rơi vào tình trạng đổ nát?" Dĩ nhiên, ông không nói những lời như thế. Ông có một cuộc phỏng vấn ngắn, hình thức với Tu viện trưởng James, một người cao, gầy, còng lưng như thể gánh nặng rắc rối của thế giới đè trên đôi vai tròn của ngài. Rồi ông nói chuyện với Tu viện phó Remigius. Vào lúc bắt đầu câu chuyện, Philip nói bóng gió là tu viện phải có một số thay đổi, chờ mong những người có trách nhiệm trong tu viện sẽ tán đồng; nhưng Remigius nhìn Philip như muốn nói: ông nghĩ ông là ai? Rồi ông đổi đề tài.
Remigius nói rằng tu viện Thánh St. John trong rừng đã được thiết lập ba năm trước với một ít đất và một số tài sản, và bây giờ nó nên tự lập, nhưng thực tế nó vẫn cần sự trợ giúp từ nhà dòng mẹ. Ngoài ra còn có những vấn đề khác: một phó tế đã qua đêm ở đó và đã phê bình về sự bê bối của các giờ kinh nguyện; khách lữ hành cho rằng họ bị cướp bởi các tu sĩ trong vùng; ngoài ra còn có những tin đồn nhảm nhí… Sự kiện là Remigius không có thể hoặc không muốn đưa ra những chi tiết cụ thể là những dấu hiệu khác về cách điều hành biếng nhác của tu viện. Philip run lên vì thịnh nộ. Tu viện là để làm vinh danh Chúa. Nếu nó không làm được điều đó, nó không còn ý nghĩa. Tu viện Kingsbridge còn xấu xa hơn thế nữa. Nó làm Chúa tủi hổ vì sự ỳ ạch của nó. Nhưng Philip không thể làm gì khác. Điều tốt nhất mà ông có thể hy vọng là cải cách một trong các tu viện nhỏ của Kingsbridge.
Trên cuộc hành trình hai ngày đến tu viện trong rừng, ông nghiền ngẫm những thông tin ít ỏi ông nhận được, và cân nhắc trong thâm tâm về cách thức ông phải hành động. Trước tiên ông sẽ hành xử nhẹ nhàng, ông quyết định như thế. Thông thường một tu viện trưởng sẽ được các tu sĩ bầu lên; nhưng trong trường hợp của một tu viện chi nhánh, được coi như một nhà phụ của tu viện chính, bề trên của tu viện chính có thể chỉ định tu viện trưởng cho tu viện chi nhánh. Vì thế Philip đã không được yêu cầu để trở thành ứng viên cho cuộc bầu cử, và điều đó cũng có nghĩa là ông không thể đương nhiên có được sự hậu thuẫn của các tu sĩ ở đó. Ông phải bắt đầu công việc một cách chậm rãi và cẩn thận. Ông cần tìm hiểu nhiều hơn về những khó khăn trước khi ông có thể quyết định cách nào tốt nhất để giải quyết chúng. Ông phải chiếm được sự tôn trọng và tin tưởng của các tu sĩ, đặc biệt những người lớn tuổi hơn ông và những người ghen tỵ với vị trí của ông. Và khi nào ông nhận được đầy đủ thông tin và vai trò lãnh đạo của ông đã vững vàng, ông sẽ hành động một cách mạnh mẽ.
Nhưng rồi mọi chuyện lại khác.
Trời ảm đạm hơn vào ngày thứ hai khi ông kiềm con ngựa nhỏ đi theo bờ biên của mảnh đất khai hoang và xem xét ngôi nhà mới của ông. Ở đó, trong lúc này, chỉ có một ngôi nhà đá, nhà nguyện (Philip đã xây nhà ngủ bằng đá vào năm sau.) Những nhà khác bằng gỗ nhìn xiêu vẹo. Philip không thể chấp nhận, vì đối với ông mọi thứ do các tu sĩ làm nên phải vững bền, và điều đó có giá trị cho cái chuồng heo cũng như ngôi nhà thờ chính tòa. Khi nhìn quanh, ông khám phá ra những bằng chứng khác chứng tỏ tính lỏng lẻo đã làm ông bị sốc ở Kingsbridge: không có hàng rào, cỏ khô được đổ ra bên ngoài cửa chuồng, và một đống phân bên cạnh ao cá. Ông cảm thấy mặt ông căng lên vì tức giận bị kiềm nén, và ông nhủ lòng:  nhẹ nhàng, nhẹ nhàng.
Lúc đầu ông không thấy ai. Đó phải là chuyện bình thường, vì đó là giờ kinh chiều và hầu hết tu sĩ phải ở trong nhà nguyện. Ông quất vào hông con ngựa con và đi qua thủa đất khai hoang tới một túp lều trông giống như một chuồng súc vật. Một thanh niên có những cọng rơm trên mái tóc và có một cái nhìn xa vắng trên khuôn mặt thò đầu qua cửa và ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào Philip.
"Tên anh là gì?" Philip nói và rồi, sau một lúc do dự, ông nói thêm: "Con thân yêu."
"Họ gọi con là Johnny Eightpence," chàng trai trẻ nói.
Philip xuống ngựa và trao dây cương cho cậu. "Tốt, Johnny Eightpence, con có thể tháo yên ngựa cho cha."
"Vâng, thưa cha." Cậu vắt dây cương qua một đường ray và ra đi.
"Con đi đâu thế?" Philip cứng rắn hỏi.
"Để nói cho các anh em khác biết là có một người lạ ở đây."
"Con phải thực hành sự vâng lời, Johnny. Tháo yên ngựa xuống! Cha sẽ tự nói cho các anh em biết là cha đang ở đây."
"Vâng, thưa cha." Nhìn một cách sợ hãi, Johnny cúi xuống làm nhiệm vụ của mình.
Philip nhìn quanh. Ở giữa vùng đất khai hoang là một tòa nhà dài giống như một hội trường lớn. Gần đó là một tòa nhà nhỏ hình tròn, có khói bốc lên từ một lỗ trên mái. Đó có lẽ là nhà bếp. Ông quyết định xem bữa ăn tối ra sao. Trong những tu viện nghiêm ngặt, mỗi ngày chỉ có một bữa ăn, bữa ăn trưa vào lúc mặt trời đứng bóng; nhưng đây hiển nhiên không phải là một tu viện nghiêm ngặt, và có thể ở đây sẽ có một bữa ăn nhẹ sau giờ kinh chiều, một vài lát bánh mì với pho mát hay với cá ướp muối, hay một bát cháo lúa mạch với các loại rau. Tuy nhiên, khi ông đến gần nhà bếp, ông ngửi thấy một mùi thơm không thể nhầm lẫn được của thịt nướng. Ông dừng lại, cau mày, rồi đi vào.
Hai tu sĩ và một cậu bé đang ngồi quanh lò sưởi. Khi Philip quan sát, một tu sĩ đưa một chiếc bình cho người khác, và người đó uống. Cậu bé đang quay một cái xiên và trên cái xiên là một con heo nhỏ.
Họ nhìn lên ngạc nhiên khi Philip bước vào. Không nói gì, ông lấy chiếc bình từ tay vị tu sĩ và ngửi. Rồi ông nói: "Tại sao các anh lại uống rượu?"
"Bởi vì nó làm cho tim tôi rộn ràng, người xa lạ ạ!" vị tu sĩ nói. "Hãy uống một hơi đi."
Rõ ràng là họ không được cảnh báo để chờ đợi vị tu viện trưởng mới. Cũng rõ ràng là họ không sợ bị một tu sĩ vãng lai nào đó thông báo cho tu viện chính ở Kingsbridge về thái độ của họ. Philip nổi giận đến nỗi muốn đập chiếc bình lên đầu vị tu sĩ, nhưng ông hít một hơi dài và nói dịu dàng. "Những đứa con của người nghèo phải nhịn đói để cung cấp thịt và đồ uống cho chúng ta," ông nói. "Nó để làm vinh danh Chúa, chứ không phải để làm trái tim chúng ta rộn ràng. Tối nay các anh sẽ không có rượu nữa." Ông đi ra, mang theo bình rượu.
Khi ông đi ra, ông nghe một tu sĩ nói theo sau lưng: "Ông nghĩ ông là ai?" Ông không trả lời. Chẳng bao lâu nữa họ sẽ tự tìm ra.
Ông để bình rượu bên ngoài nhà bếp và đi theo khu đất khai hoang về phía nhà nguyện, nắm chặt tay rồi nhả ra, cố gắng kiềm chế cơn giận. Đừng vội vàng, ông tự nhủ. Hãy thận trọng. Hãy chờ đợi.
Ông dừng lại một lúc trong mái hiên nhỏ của nhà nguyện cho tâm hồn lắng đọng, rồi nhẹ nhàng đẩy cánh cửa gỗ sồi lớn và âm thầm đi vào.
Khoảng một chục các tu sĩ và một vài tập sinh đứng quay lưng về phía ông trong hàng ngũ rời rạc. Đối diện với họ là cha phụ trách phụng vụ đang đọc từ cuốn sách mở sẵn trước mặt. Ông xướng kinh nhanh chóng và các tu sĩ thưa lại hời hợt. Ba cây nến cao thấp khác nhau chẩy sáp trên khăn bàn thờ dơ bẩn.
Phía sau, hai tu sĩ trẻ đang nói chuyện, không quan tâm đến giờ kinh và thảo luận về một cái gì đó sôi nổi. Khi Philip đến ngang hàng ghế của họ, một tu sĩ nói một điều gì đó khôi hài, và người kia cười to, át cả tiếng của người chủ sự giờ kinh. Đó là giọt nước cuối cùng đối với Philip và tất cả quyết định phải hành động nhẹ nhàng biến khỏi tâm trí ông. Ông cất tiếng hét lên: "Hãy yên lặng."
Tiếng cười ngưng lại. Người chủ sự giờ kinh ngừng đọc. Nhà nguyện lặng thinh, các tu sĩ ngó quanh rồi nhìn chằm chặp vào Philip.
Ông đến bên vị tu sĩ đã cười và nắm lấy tai ông. Ông cùng trạc tuổi với Philip, cao hơn, nhưng ông quá kinh ngạc để phản kháng khi Philip ấn đầu ông xuống. "Quỳ xuống!" Philip nói lớn. Một lúc lâu dường như vị tu sĩ cố gắng để gỡ mình ra; nhưng ông biết ông sai, và đúng như Philip chờ đợi, sự chống đối của ông dần dần bị quy phục vì lương tâm tội lỗi của ông; và khi Philip kéo tai ông mạnh hơn, ông quỳ xuống.
"Tất cả mọi người," Philip ra lệnh. "Hãy quỳ xuống!"
Tất cả các tu sĩ có lời khấn vâng lời, và sự vô kỷ luật mà họ đang sống hiện nay cũng không xóa bỏ được tập quán của hàng nhiều năm. Vì thế một nửa các tu sĩ và tất cả các tập sinh quỳ xuống.
"Tất cả anh em đã vi phạm lời khấn," Philip nói, tỏ thái độ coi thường. "Mỗi người trong anh em đều xúc phạm đến Thiên Chúa." Ông nhìn quanh, tìm kiếm mắt họ. "Việc đền tội của anh em bắt đầu từ bây giờ," sau cùng ông nói.
Chậm rãi họ quỳ xuống, từng người một, chỉ trừ người chủ tọa giờ kinh vẫn đứng. Ông ấy là người mập mạp, có đôi mắt buồn ngủ và già hơn Philip khoảng hai mươi tuổi. Philip đến gần ông, đi vòng quanh các tu sĩ đang quỳ. "Hãy đưa sách cho tôi," ông nói.
Vị phụ trách phụng vụ ngang ngược nhìn lại, không nói gì.
Philip bước đến và cầm lấy cuốn sách lớn. Người chủ tọa giờ kinh không buông ra. Philip do dự. Hai ngày qua ông đã quyết định phải cẩn thận và hành động chậm rãi, nhưng bây giờ ông đang ở đây, với bụi đường còn lấm đôi chân, ông mạo hiểm tất cả trong cuộc đối đầu với một người mà ông chưa biết. "Đưa cho tôi cuốn sách và quỳ xuống," ông lập lại.
Một nét nhạo báng trên khuôn mặt, ông hỏi: "Ông là ai?"
Philip lại do dự. Rõ ràng ông là một tu sĩ, từ quần áo đến mái tóc; và họ phải đoán qua tư cách của ông rằng ông là người có thẩm quyền; nhưng nó chưa rõ ràng là ông có quyền cao hơn người chủ sự giờ kinh không. Tất cả những gì ông cần nói là: tôi là tu viện trưởng mới của anh em, nhưng ông không muốn. Đột nhiên ông có cảm tưởng là nên thuyết phục bằng quyền uy luân lý.
Vị phụ trách phụng vụ cảm thấy sự không chắc chắn của ông và tận dụng nó. "Làm ơn nói cho tất cả chúng tôi biết," ông nói với vẻ lịch sự giả dối, "người đã ra lệnh cho chúng tôi quỳ xuống trước mặt họ là ai?"
Tất cả sự do dự chợt tan biến và ông nghĩ: Thiên Chúa ở với tôi, tôi còn sợ gì? Ông hít một hơi dài, và lời ông phát ra như tiếng gầm, vang từ nền gạch cho đến mái trần vòm bằng đá. "Đó chính là Thiên Chúa, Người ra lệnh cho các anh quỳ xuống trước sự hiện diện của Ngài!" ông gầm lên.
Vị phụ trách phụng vụ dường như mất đi một chút tự tin. Philip lợi dụng cơ hội, giật lấy cuốn sách. Vị phụ trách phụng vụ bây giờ đã mất hết thẩm quyền và sau cùng ông miễn cưỡng quỳ xuống.
Che dấu sự nhẹ nhõm trong lòng, Philip nhìn quanh và nói: "Tôi là tu viện trưởng mới của anh em."
Ông vẫn để mọi người quỳ trong khi ông tiếp tục giờ kinh. Thời gian kéo dài lâu, vì ông để họ lập đi lập lại lời đáp ca cho đến khi họ có thể đáp đều hoàn hảo. Rồi ông để họ ra khỏi nhà nguyện trong yên lặng, đi qua mảnh đất khai hoang vào nhà cơm. Ông cho đem con heo quay vào lại nhà bếp, ra lệnh mang bánh mì và bia nhẹ ra, rồi đặt một tu sĩ đọc sách lớn tiếng trong khi các tu sĩ khác ăn. Sau khi ăn xong, ông để họ, vẫn trong yên lặng, đi về nhà ngủ.
Ông ra lệnh đem giường từ nhà dành riêng cho tu viện trưởng vào trong phòng ngủ chung: ông sẽ ngủ cùng phòng với các tu sĩ. Đó là cách đơn giản nhất và hiệu nghiệm nhất chống lại tội không trinh khiết.
Đêm đầu tiên ông không ngủ. Ông ngồi bên cây nến, yên lặng cầu nguyện cho đến nửa đêm, và đó là lúc ông đánh thức các tu sĩ dậy cho giờ kinh đêm. Ông cử hành giờ kinh nhanh chóng để cho họ hiểu rằng ông không phải là người hoàn toàn tàn nhẫn. Các tu sĩ khác lên giường ngủ lại, nhưng Philip không ngủ.
Ông ra ngoài vào lúc bình minh, trước khi các tu sĩ thức dậy, và nhìn xung quanh, nghĩ về ngày đang đến. Một cánh đồng vừa được khai hoang từ rừng, và ở ngay giữa là một gốc vĩ đại, chắc là gốc của một cây sồi lớn. Nó cho ông một ý tưởng.
Sau giờ kinh sáng và bữa điểm tâm, ông đưa tất cả các tu sĩ ra ngoài đồng với dây thừng và rìu, và dành cả buối sáng nhổ gốc cây lớn, một nửa kéo bằng dây thừng, một nửa khác chặt rễ bằng rìu, tất cả cùng nhau hò hét " Hê-êeeeee". Khi gốc cây đã bật ra khỏi mặt đất, Philip cho họ bia, bánh và một miếng thịt mà hôm qua ông đã từ chối không cho họ ăn trong bữa tối.
Đó không phải là kết thúc của các vấn đề, nhưng nó là bắt đầu của cách giải quyết. Từ khi bắt đầu ông đã từ chối hỏi xin nhà mẹ bất cứ sự gì, ngoài lúa mì để làm bánh và nến cho nhà nguyện. Sự nhận biết rằng họ sẽ không có thịt nào khác, ngoài những thịt mà họ đã để dành hoặc săn bắt được, làm cho các tu sĩ chăm chú hơn vào việc trồng nho, nuôi gia súc và bẫy chim; và trước đây họ đã trốn các giờ kinh bằng cách ra ngoài làm việc, bây giờ họ vui vì Philip cắt bớt giờ kinh trong nhà nguyện để họ có nhiều giờ hơn ở ngoài đồng.
Sau hai năm họ đã tự cung cấp, và hai năm sau nữa họ đã cung cấp cho tu viện chính ở Kingsbridge thịt gia xúc, thịt rừng, và pho mát làm bằng sữa dê, một sản phẩm đã trở thành món ngon nổi tiếng. Tu viện phát triển thịnh vượng, các giờ kinh nghiêm trang và trang trọng, các tu sĩ khỏe mạnh và hạnh phúc.
Philip hài lòng – nhưng tu viện chính ở Kingsbridge, mỗi ngày một tồi tệ hơn.
Chính ra nó phải là một trung tâm tôn giáo hàng đầu trong vương quốc, nhộn nhịp với các sinh hoạt, thư viện được các học giả ngoại quốc đến nghiên cứu, tu viện trưởng được các nam tước tìm đến xin ý kiến, di tích thánh thu hút khách hành hương từ khắp quốc gia, nhà khách nổi tiếng trong giới quý tộc và lòng bác ái của nó rộng mở đến các người nghèo. Nhưng nhà thờ đổ nát, một nửa tòa nhà tu viện để không, tu viện mắc nợ nần. Philip đến Kingsbridge ít nhất một năm một lần, và lần nào ông cũng tức giận khi nhìn thấy gia tài quý giá do các tín hữu dâng cúng và được gia tăng do các tu sĩ tận tâm đã bị tàn phá do sự bất cẩn, giống như của thừa kế của người con hoang đàng đã bị phung phí.
Một phần của vấn đề là tu viện nằm trong một ngôi làng nhỏ trên một con đường phụ ít người qua lại. Từ thời vua William thứ nhất - người được gọi là người chinh phục hay người con ngoài hôn thú, tùy theo quan niệm - hầu hết các nhà thờ chính tòa đã chuyển về thành phố lớn, nhưng Kingsbridge đã thoát được cơn lốc này. Tuy nhiên, trong cái nhìn của Philip, nó không phải là vấn đề không thể vượt qua được: một tu viện sầm uất với một nhà thờ chính tòa thì chính nó sẽ là một thành phố.
Vấn đề thực sự là tính thờ ơ của tu viện trưởng lớn tuổi James. Với bàn tay thiếu nghị lực ở bánh lái, con thuyền sẽ bị thổi đi trong cơn giông tố và chẳng biết đi về đâu.
Và, trong sự tiếc nuối cay đắng của Philip, tu viện Kingsbridge vẫn tiếp tục đi xuống bao lâu James còn sống.
 
 
 
Họ quấn đứa bé trong khăn sạch và đặt nó trong một giỏ đựng bánh như một cái nôi. Với chiếc bụng nhỏ đầy sữa dê, nó dường như thiêu ngủ. Philip trao cho Johnny Eightpence trách nhiệm lo cho đứa bé, vì mặc dù cậu lãng trí trong vài công việc, cậu có bàn tay dịu dàng với sinh vật bé nhỏ và mỏng dòn.
Philip tò mò muốn biết lý do nào đã đưa Francis đến tu viện. Ông thử vài lần trong bữa ăn trưa, nhưng Francis không đả động tới, và Philip phải đè nén sự tò mò của mình.
Sau bữa trưa đến giờ học. Ở đây họ không có khu nội cấm riêng biệt, nhưng các tu sĩ có thể ngồi trong mái hiên của nhà nguyện để đọc, hay đi bộ trong sân. Lâu lâu họ cũng được phép vào nhà bếp để sưởi ấm, theo thói quen. Philip và Francis đi dạo theo bờ sân vườn, bên cạnh nhau, như họ đã thường làm trong khu nội cấm của tu viện tại Wales; và Francis lên tiếng nói.
"Vua Henry luôn luôn coi giáo hội là một phần nằm dưới quyền cai trị của ông," ông bắt đầu. "Ông can thiệp vào việc đặt các giám mục, tăng thuế, và ngăn chặn thẩm quyền của giáo hoàng."
"Anh biết," Philip nói. "Còn gì nữa không?"
"Vua Henry đã chết."
Philip đứng dừng lại. Ông không ngờ chuyện đó.
Francis tiếp tục: "Nhà vua chết trong lâu đài săn bắn ở trong khu rừng tại Lyon, Normandy, sau một bữa ăn với cá mút đá mà ông thích, mặc dù chúng không hợp với ông ấy."
"Khi nào?"
"Hôm nay là ngày đầu năm, vì thế chính xác là một tháng trước."
Philip bị sốc. Henry là vua trước khi Philip sinh ra. Ông chưa bao giờ sống trong thời điểm băng hà của một vị vua, nhưng ông biết nó đồng nghĩa với khủng hoảng, và có thể có chiến tranh. "Chuyện gì sẽ xẩy ra?" ông lo lắng nói.
Họ lại tiếp tục đi dạo. Francis nói: "Vấn đề là kẻ thừa kế ngai vàng đã bị giết trên biển nhiều năm trước – có lẽ anh còn nhớ."
"Anh nhớ." Khi đó Philip mười hai tuổi. Đó là sự kiện đầu tiên có tầm quan trọng quốc gia đã ảnh hưởng đến ký ức tuổi thơ của ông, và nó đã làm ông nhận thức về thế giới bên ngoài tu viện. Con trai vua đã chết trong tai nạn tàu được gọi là ‘con tàu trắng’, bên ngoài bờ biển Cherbourg. Viện phụ Peter, người kể những điều này cho Philip, đã lo lắng rằng chiến tranh và tình trạng hỗn loạn sẽ theo sau cái chết của người kế vị; nhưng trong thực tế, vua Henry vẫn duy trì sự kiểm soát và đời sống vẫn tiếp diễn, không gây xáo trộn gì đối với Philip và Francis.
"Vua có nhiều người con khác, dĩ nhiên," Francis tiếp tục. "Ít nhất hai mươi người khác, gồm cả bá tước Robert thành Gloucester mà em đang phục vụ; nhưng như anh biết, tất cả họ đều là con ngoài hôn thú. Ông chỉ có một người con chính thức – nhưng đó lại là một con gái, Maud. Một người con ngoài hôn thú không thể lên ngôi, nhưng một người đàn bà lên ngôi lại tệ hơn."
"Vua Henry không đề nghị người nối nghiệp sao?" Philip hỏi.
"Có, ông chọn Maud. Bà ấy có một người con trai, cũng có tên là Henry. Vị vua già có một ước mơ sâu xa là cháu trai của ông sẽ lên nối ngôi. Nhưng đứa bé bây giờ chưa được ba tuổi. Vì thế nhà vua đã bắt các bá tước phải thề trung thành với Maud."
Philip bối rối. "Nếu nhà vua muốn Maud kế vị mình, và các bá tước đã thề trung thành với bà… thì đâu là vấn đề?"
"Luật pháp chẳng bao giờ đơn giản," Francis nói. "Mauld kết hôn với Geoffrey thành Anjou. Anjou và Normandy là kẻ thù từ nhiều thế hệ. Các bá tước Norman của chúng ta ghét người Angevins. Thành thực mà nói, vị vua cũ đã quá lạc quan khi cho rằng một nhóm nam tước Anglo-Norman sẽ trao nước Anh và Normandy cho một người Angevin, dù có thề hay không thề."
Philip kinh ngạc về người em của ông, về sự  hiểu biết và thái độ coi thường của ông đối với những người quan trọng nhất trong đất nước. "Làm sao em biết các chuyện này?"
"Các nam tước đã họp nhau ở Le Neubourg để quyết định phải làm gì. Không cần thiết nói thêm rằng chủ của em, Bá tước Robert, cũng ở đó; và em đi với ông để viết thư cho ông ấy."
Philip nhìn Francis dò hỏi, nghĩ về những thay đổi trong đời sống của em ông. Rồi ông nhớ ra điều gì đó. "Bá tước Robert là người con trai lớn nhất của vị vua cũ, có đúng không?"
"Vâng, và ông ấy rất tham quyền; nhưng ông ấy chấp nhận quan điểm chung rằng những người con ngoài hôn thú phải chiếm vương quốc của mình, chứ không phải đương nhiên thừa hưởng nó."
"Ai có mặt ở đó nữa?"
"Vua Henry có ba người cháu, con trai của người chị. Người lớn tuổi nhất là Theobald thành Blois; rồi đến Stephen, người được vua yêu mến nhất và được tặng nhiều bất động sản ở nước Anh này; và người con nhỏ nhất của gia đình, Henry, người mà anh biết là giám mục của Winchester. Các bá tước ưa thích người cháu lớn nhất, Theobald, vì theo truyền thống mà có lẽ anh cũng cho là hợp lý." Francis nhìn Philip và cười to.
"Hoàn toàn hợp lý," Philip nói với một mỉm cười. "Vì thế mà Theobald sẽ là vua mới của chúng ta?"
Francis lắc đầu. "Ông ấy nghĩ ông ấy sẽ là vua, nhưng chúng ta, những người còn trẻ có cách để đưa chúng ta lên." Họ đi đến góc xa nhất của cánh đồng mới khai hoang, rồi quay trở lại. “Trong khi Theobald ân cần tiếp nhận sự thần phục của các bá tước, Stephen vượt qua eo biển nước Anh đến Winchester, và với sự giúp đỡ của người em giám mục Henry, ông tịch thu lâu đài ở đó và – quan trọng nhất – kho tàng của hoàng gia.”
Philip định nói: Vì thế Stephan là vua mới của chúng ta. Nhưng ông cắn lưỡi lại: ông đã nói về Maud và Theobald và cả hai lần đều sai.
Francis tiếp tục: "Stephan chỉ cần một điều nữa là ông sẽ chắc chắn chiến thắng: sự hỗ trợ của giáo hội. Bởi vì ông chỉ thực sự là vua khi nào ông được vị tổng giám mục phong vương ở Westminster."
"Nhưng điều đó quá dễ dàng," Philip nói. "Em Henry của ông ấy là một gáo sĩ quan trọng nhất trong nước – giám mục của Winchester, tu viện trưởng của Glastonbury, giầu có như Salamon, hầu như quyền lực bằng với tổng giám mục của Canterbury. Và nếu Giám mục Henry không có ý định hỗ trợ ông, tại sao ông ấy lại giúp Stephen chiếm Winchester?"
Francis gật đầu. "Em phải nói rằng cách giải quyết của Giám mục Henry trong cuộc khủng hoảng này rất tuyệt. Anh xem, ông ấy không giúp Stephan vì tình anh em."
"Vậy động cơ nào thúc đẩy ông làm chuyện đó?"
"Một vài phút trước em đã nhắc anh về cách vua cũ Henry đã đối xử với giáo hội như là một phần trong vương quốc, dưới sự cai trị của ông. Giám mục Henry muốn chắc chắn rằng vua mới của chúng ta, dù ai cũng được, sẽ đối xử tốt hơn với giáo hội. Vì thế trước khi ông hỗ trợ, Henry muốn Stephen thề trang trọng là sẽ bảo vệ quyền lợi và đặc quyền của giáo hội."
Philip rất ấn tượng. Mối quan hệ của Stephen đối với giáo hội đã được xác định, ngay lúc triều đại của ông bắt đầu, và theo các điều khoản giáo hội đưa ra. Nhưng có lẽ quan trọng nhất là tiền lệ. Giáo hội có quyền phong vương, nhưng cho đến nay giáo hội không có quyền đặt điều kiện trước. Đã đến lúc không có vua nào có thể lên nắm quyền mà trước đó không thỏa thuận với giáo hội. “Điều này rất quan trọng cho chúng ta,” Philip nói.
“Stephen dĩ nhiên có thể phản bội lời hứa,” Francis nói. “Nhưng như anh luôn luôn đúng. Ông ấy sẽ chẳng bao giờ còn có thể hoàn toàn không quan tâm đến giáo hội như thời Henry nữa. Nhưng có nguy hiểm khác. Hai trong số các bá tước cay đắng với những gì Stephen làm. Một là Bartholomew, bá tước vùng Shiring.”
“Anh biết ông ấy. Shiring chỉ cách đây một ngày đường. Bartholomew được cho là  người sùng đạo.”
“Có lẽ như vậy. Như em biết ông là một bá tước tự mãn, cứng đầu, người không phản bội lời thề trung thành với Maud.”
“Và bá tước không hài lòng khác là ai?”
“Bá tước của em, Robert thành Gloucester. Em đã nói với anh, ông ấy đầy tham vọng. Tâm hồn ông bị dày vò bởi vì ông nghĩ rằng nếu chỉ có ông là con chính thức, ông sẽ là vua. Ông muốn đưa người em gái cùng cha khác mẹ lên ngôi, tin rằng bà ấy sẽ tùy thuộc rất nhiều vào người anh trai của bà để hướng dẫn và tư vấn cho bà, vì thế dù không mang danh vua, nhưng trong mọi lãnh vực ông thực sự là vua.”
“ Ông ấy có hành động gì để chuẩn bị cho chuyện đó không?”
“Em sợ như vậy.” Francis hạ thấp giọng, mặc dù gần đó chẳng có ai. “Robert và Bartholomew, cùng với Maud và chồng bà dự định tổ chức một cuộc nổi loạn. Họ dự định lật đổ Stephen và đưa Maud lên ngôi.”
Philip dừng bước. “Như vậy mọi sự mà giám mục của Winchester đạt được sẽ mất hết!” Ông nắm chặt cánh tay em trai. “Nhưng, Francis…”
“Em biết anh đang nghĩ gì.” Đột nhiên nét tự phụ của Francis biến mất, và ông có vẻ lo lắng sợ hãi. “Nếu bá tước Robert biết em kể cho anh, ông ấy sẽ treo cổ em. Ông ấy tin tưởng em hoàn toàn. Nhưng lòng trung thành của em đối với giáo hội là tuyệt đối – và nó phải được thể hiện.”
“Nhưng em có thể làm gì?”
“Em nghĩ về một cuộc hội kiến với vua mới và kể cho ông mọi sự. Dĩ nhiên hai bá tước nổi loạn sẽ chối tất cả, và em sẽ bị treo cổ vì tội phản bội; nhưng cuộc nổi loạn sẽ thất bại và em sẽ được lên thiên đàng.”
Philip lắc đầu. “Chúng ta được dạy rằng chúng ta không được tìm kiếm việc tử đạo.”
“Và em nghĩ Chúa có nhiều việc để em làm trên mặt đất này. Em đang được gia đình của một bá tước lớn tin tưởng, và nếu em ở lại đó và tiến thân bằng cách làm việc chăm chỉ, em sẽ làm được nhiều việc để thăng tiến quyền lợi của giáo hội và luật pháp quốc gia.”
“Còn cách nào nữa không?”
Francis nhìn vào mắt Philip. “Đó là lý do tại sao em đến đây.”
Philip cảm thấy sợ hãi. Francis dự định yêu cầu ông tham gia, dĩ nhiên; ngoài ra không có lý do gì để ông tiết lộ những bí mật nguy hiểm này.
Francis tiếp tục: “Em không thể phản bội nhóm phản loạn, nhưng anh có thể.”
Philip nói: “Xin Chúa Giêsu Kitô và các thánh gìn giữ anh.”
“Nếu âm mưu phản bội bị phát hiện ở đây, ở miền Nam, không ai nghi về những người thân của gia đình Gloucester. Không ai biết em ở đây; ngay cả không ai biết anh là anh trai của em. Anh có thể tìm một vài cách giải thích hợp lý tại sao anh biết những tin tức này: Thí dụ như anh có thể đã nhìn thấy nhóm kỵ binh, hay một người nào đó trong gia đình bá tước Bartholomew tiết lộ câu chuyện này trong khi xưng tội với một linh mục mà anh quen biết.”
Philip kéo chiếc áo choàng sát người hơn, run rẩy. Bất ngờ dường như trời trở lạnh. Nó nguy hiểm, rất nguy hiểm. Họ bàn chuyện về việc can thiệp vào chính trị của hoàng gia, những chuyện đã thường giết chết ngay cả những người tham gia có kinh nghiệm. Những người bên ngoài như Philip thì chỉ ngu ngốc mới tham gia vào.
Nhưng có nhiều chuyện đang diễn biến. Philip không thể đứng nhìn nhóm phản loạn chống lại vị vua đã được giáo hội chọn, không thể đứng yên khi ông có một cơ hội để ngăn cản nó. Và mặc dù nó nguy hiểm cho Philip, nhưng nó còn là một cuộc tự sát đối với Francis nếu âm mưu này bị bại lộ.
Philip nói: “Kế hoạch của nhóm người nổi dậy ra sao?”
“Bá tước Bartholomew ngay bây giờ đang trên đường trở về Shiring. Từ đó ông sẽ gửi một thông điệp cho tất cả những người theo ông ở miền Nam nước Anh. Bá tước Robert sẽ đến Gloucester một hoặc hai ngày sau đó và sẽ tập hợp lực lượng của mình ở miền Tây. Sau cùng Brian Fitzcount, người canh giữ lâu đài Wallingford, sẽ đóng cửa thành; và toàn bộ vùng tây nam nước Anh sẽ thuộc nhóm nổi loạn mà không cần đánh nhau.”
“Như vậy dường như đã quá muộn!” Philip nói.
“Thực sự chưa muộn đâu. Chúng ta còn khoảng một tuần. Nhưng anh phải ra tay nhanh.”
Trong một cảm xúc sâu thẳm Philip nhận ra rằng ít nhiều gì ông đã quyết tâm thực hiện điều đó. “Anh không biết phải nói với ai,” ông nói. “Thông thường người ta sẽ đến bá tước, nhưng trong trường hợp này ông là thủ phạm. Cảnh sát có lẽ cũng đứng về phía ông ấy. Chúng ta phải tìm ra một người chắc chắn đứng về phía chúng ta.”
“Tu viện trưởng ở Kingsbridge thì sao?”
“Tu viện trưởng của anh đã già lại còn mệt mỏi. Khả năng là ông ta sẽ không làm gì cả.”
“Phải có người nào đó.”
“Đó là giám mục.” Philip chưa bao giờ thực sự nói chuyện với giám mục của Kingsbridge, nhưng ông chắc chắn ông ấy sẽ đón tiếp và lắng nghe Philip; ông đương nhiên đứng về phía Stephen, vì Stephen được giáo hội chọn; và ông có đủ quyền lực để làm một cái gì đó.”
Francis hỏi: “Giám mục sống ở đâu?”
“Cách đây một ngày rưỡi đàng.”
“Anh nên đi ngay hôm nay.”
“Đúng vậy,” Philip nói với một trái tim nặng trĩu.
Francis hối hận. “Em muốn là người khác làm chuyện này chứ không phải anh.”
“Anh cũng vậy,” Philip bùi ngùi nói. “Anh cũng vậy.”
 
 
Philip triệu tập các tu sĩ trong căn nhà nguyện nhỏ, loan báo nhà vua đã băng hà. “Chúng ta hãy cầu nguyện cho cuộc chuyển tiếp được tốt đẹp và cho vị vua mới, người sẽ yêu mến giáo hội nhiều hơn vua Henry cũ,” ông nói. Nhưng ông không nói với họ rằng chìa khóa cho cuộc chuyển tiếp hòa bình một cách nào đó nằm trong tay ông. Thay vào đó, ông nói: “Một tin khác nữa là tôi phải đến tu viện mẹ Kingsbridge của chúng ta. Và tôi phải đi ngay hôm nay.”
Tu viện phó sẽ chủ tọa các buổi đọc kinh, cha thủ quỹ lo trang trại, nhưng không có công việc nào cho Peter thành Wareham, vì Philip sợ rằng nếu ông đi lâu Peter sẽ gây nhiều rắc rối đến nỗi khi ông trở lại tu viện không còn là tu viện nữa. Ông không thể nghĩ ra cách kiểm soát Peter mà không chạm vào tự ái của ông ấy, nhưng ông không còn giờ, vì thế ông chỉ có thể làm những gì tốt nhất có thể.
“Buổi sáng nay chúng ta đã nói về thói mê ăn uống,” ông nói sau một lúc yên lặng. “Chúng ta phải cảm ơn anh Peter vì đã nhắc nhở chúng ta rằng khi Thiên Chúa chúc phúc cho trang trại của chúng ta và cho chúng ta sự giầu có, không phải để chúng ta béo ra và thoải mái ra, mà để làm vinh danh ngài. Một trong các trách nhiệm thiêng liêng của chúng ta là chia sẻ sự giầu có của chúng ta cho người nghèo. Cho đến bây giờ chúng ta chưa chu toàn nhiệm vụ này, lý do chính là vì ở trong rừng này chúng ta không có ai để chia sẻ. Anh Peter đã nhắc nhở chúng ta phải đi ra ngoài và tìm kiếm người nghèo để giúp đỡ họ.”
Các tu sĩ ngạc nhiên: họ nghĩ cuộc tranh luận về thói mê ăn uống đã chấm dứt. Chính Peter cũng không chắc chắn. Ông hài lòng vì lại trở thành tâm điểm của sự chú ý, nhưng ông cảnh giác những gì Philip muốn dự tính.
“Tôi đã quyết định,” Philip nói tiếp, “mỗi tuần chúng ta sẽ cho người nghèo một xu tính theo đầu mỗi tu sĩ trong cộng đoàn của chúng ta. Điều này có nghĩa là chúng ta phải ăn ít đi một chút và chúng ta vui mừng chờ mong phần thưởng trên trời. Điều quan trọng hơn là chúng ta muốn đồng xu của chúng ta chắc chắn phải được dùng đúng mục đích. Khi bạn cho người nghèo một xu để mua bánh cho gia đình, có thể người ấy sẽ đi thẳng đến quán bia, say sưa rồi về nhà đánh vợ con, như vậy thì thà rằng không có lòng từ thiện của chúng ta thì tốt hơn. Vì thế chúng ta nên cho họ bánh; tốt hơn nữa nên cho con cái họ bánh. Cho kẻ đói ăn là một nhiệm vụ thiêng liêng phải làm với sự cẩn trọng giống như chữa bệnh hoặc giáo dục trẻ em. Vì lý do này  mà nhiều tu viện đặt một người lo việc từ thiện, chịu trách nhiệm về bố thí. Chúng ta cũng làm như vậy.”
Philip nhìn quanh. Tất cả các tu sĩ đều chú ý và quan tâm. Peter tỏ vẻ hài lòng, rõ ràng quyết định này là một chiến thắng đối với ông. Không ai đoán được điều gì sẽ xẩy ra.
“Trách nhiệm cho việc từ thiện là một công việc khó khăn. Người phụ trách phải đi đến các thị trấn và các làng mạc, thường xuyên đến Winchester. Ở đó ông phải đến với tầng lớp người dơ bẩn nhất, xấu xa nhất và tồi tệ nhất, bởi vì những người đó là những người nghèo. Ông phải cầu nguyện cho họ khi họ phạm đến ông, thăm viếng họ khi họ bị bệnh tật và tha thứ cho họ khi họ tìm cách lừa đảo và cướp giật của ông. Ông cần sức mạnh, sự khiêm nhường và tính kiên nhẫn bền bỉ. Ông sẽ thiếu đi tiện nghi của tu viện này vì ông phải đi xa nhiều hơn là ông ở với chúng ta.”
Ông nhìn quanh một lần nữa. Bây giờ mọi người đều dè dặt, vì không ai muốn nhận công việc này. Ông dừng ánh mắt của mình nơi Peter. Peter nhận ra điều gì sẽ đến và mặt ông cúi xuống.
“Chính Peter đã kéo sự chú ý của chúng ta vào lãnh vực bị lãng quên này,” Philip nói chậm rãi. “Vì thế tôi quyết định Peter là người có vinh dự trở thành người phụ trách việc từ thiện của chúng ta.” Ông mỉm cười. “Anh có thể bắt đầu công việc ngay ngày hôm nay.” Mặt ông ấy tái đi.
Anh sẽ luôn vắng nhà, không còn thời giờ để gây rắc rối, Philip nghĩ; và sự tiếp xúc với người nghèo khó, thấp hèn của những ngõ hẻm hôi thối vùng Winchester sẽ làm anh giảm đi sự khinh miệt về một cuộc sống thoải mái.
Tuy nhiên, Peter nhận ra đây rõ ràng là một hình phạt, trong trắng và đơn giản, và ông nhìn Philip với một biểu hiện của lòng căm thù đến nỗi Philip cảm thấy đau.
Ông quay mặt đi và nhìn vào người khác. “Sau cái chết của một vị vua luôn luôn có nhiều nguy hiểm và bất an,” ông nói. “Anh em hãy luôn cầu nguyện cho tôi trong thời gian tôi đi vắng.”
 
 
II
 
Vào buổi trưa ngày thứ hai của cuộc hành trình, Tu viện trưởng Philip chỉ còn cách tòa giám mục vài dặm đường. Khi càng đến gần, lòng ông càng rộn lên. Ông đã nghĩ ra cách để giải thích làm sao ông biết tin về âm mưu của cuộc nổi dậy. Nhưng có thể giám mục không tin, hoặc tin nhưng đòi bằng chứng. Tệ hơn nữa – điều này trước đó Philip đã không nghĩ đến, nhưng chỉ có từ sau khi Francis đi khỏi, và nó là điều có thể hình dung nhưng khó có thể xẩy ra – nếu giám mục thuộc về nhóm những người chủ mưu và ủng hộ nhóm nổi loạn. Ông ấy có thể là bạn thân của bá tước ở Shiring. Việc có nhiều giám mục đặt quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi của giáo hội thì không có gì lạ.
Giám mục có thể tra tấn Philip để ông tiết lộ nguồn thông tin. Dĩ nhiên ông không có quyền này, nhưng Philip cũng không có quyền chống lại hoàng gia. Philip nhớ lại những dụng cụ tra tấn được vẽ trong các bức tranh về hỏa ngục. Những bức tranh này lấy cảm hứng từ những gì xẩy ra trong ngục tối của các bá tước và giám mục. Philip cảm thấy ông không có đủ sức mạnh để chết vì đạo.
Khi ông nhìn thấy một nhóm lữ hành trên đường trước mặt, bản năng tự vệ đầu tiên của ông là tránh họ, bởi vì ông đi một mình và có nhiều kẻ trộm trên đường không do dự ăn cắp của các tu sĩ. Rồi ông nhìn thấy hai nhân vật là trẻ em, và người khác là một phụ nữ. Một nhóm gia đình thường an toàn hơn. Ông lon ton đến gần họ.
Khi đến gần ông có thể nhìn thấy họ rõ hơn. Họ là một người đàn ông cao lớn, một đàn bà nhỏ con, một thanh niên cao như người đàn ông, và hai trẻ em. Bên ngoài trông họ nghèo khổ: họ không mang theo gói tài sản nhỏ nào và họ ăn mặc rách rưới. Người đàn ông lớn xương, nhưng hốc hác, như ông bị bệnh hoặc đói ăn. Ông cảnh giác nhìn Philip, và âu yếm kéo các trẻ em đến gần ông và nói thì thầm điều gì đó. Lúc đầu Philip đoán ông ta khoảng năm mươi tuổi, nhưng bây giờ ông thấy người đàn ông khoảng ba mươi, mặc dù khuôn mặt ông có nhiều vết nhăn vì lo âu.
Người đàn bà nói: “Ồ! Tu sĩ.”
Philip nhìn thẳng vào bà. Đó là điều không bình thường khi người đàn bà lên tiếng trước chồng và nói bất lịch sự đối với một tu sĩ, vì một cách tôn trọng bà phải xưng hô bằng “thầy” hoặc bằng “cha”. Người đàn bà trẻ hơn chồng khoảng mười tuổi, và bà có đôi mắt sâu màu vàng ròng nhạt khác thường, tạo nên một sức dấp dẫn. Philip cảm thấy bà nguy hiểm.
“Chào cha,” người đàn ông nói, như để xin lỗi về thái độ vô lễ của vợ.
“Xin Chúa chúc lành cho ông,” Philip nói, cho ngựa đi chậm lại. “Ông là ai?”
“Tom, một thợ xây, đang tìm kiếm việc làm.”
“Và không tìm thấy việc gì, tôi đoán thế.”
“Đúng như vậy.”
Philip gật đầu. Đó là câu chuyện phổ biến. Thợ xây dựng thủ công thường lang thang tìm việc, và một đôi khi họ không tìm được việc làm vì không may mắn hoặc không có nhiều người xây dựng. Những người này thường tận dụng lòng hiếu khách của tu viện. Nếu trước đó họ có việc làm, khi họ ra đi họ sẽ dâng cúng nhiều, hoặc họ đã đi tìm việc lâu rồi và chẳng có gì để dâng cúng. Chào đón thân tình cả hai hạng người trên, là một biểu hiện lòng từ tâm của tu viện.
Người thợ xây này chắc chắn không có một xu dính túi, mặc dù vợ ông trông đàng hoàng. Philip nói: “Thôi, tôi có vài đồ ăn trong túi, và bây giờ là giờ cơm trưa, và bác ái là một bổn phận thiêng liêng; vì thế nếu ông và gia đình cùng ăn với tôi, tôi sẽ nhận được phần thưởng trên trời, cũng như tôi có người ăn chung.”
“Ông thật tốt,” Tom nói. Ông nhìn người đàn bà. Bà ta nhún vai, rồi gật đầu nhẹ. Không ngập ngừng người đàn ông nói: “Chúng tôi chấp nhận lòng bác ái của ông và cảm ơn ông.”
“Cảm ơn Chúa, không phải cảm ơn tôi,” Philip nói một cách máy móc.
Người đàn bà nói: “Cảm ơn những nông dân, người đã cung cấp một phần mười đồ ăn,”
Đây là người đàn bà sắc bén, Philip nghĩ nhưng không nói gì.
Philip dừng lại ở một khoảng đất khai hoang nhỏ, nơi con ngựa nhỏ của ông có thể tìm được cỏ héo úa của mùa đông. Trong lòng Philip mừng thầm vì có cớ để đến tòa giám mục trễ hơn và trì hoãn cuộc nói chuyện đáng sợ với giám mục. Người thợ xây nói ông cũng trên đường đến tòa giám mục, hy vọng giám mục muốn sửa sang hoặc xây dựng thêm. Khi họ nói, Philip ngấm ngầm quan sát gia đình. Người đàn bà quá trẻ để có thể là mẹ của chàng trai lớn nhất. Cậu như con bê, mạnh mẽ, vụng về và nhìn một cách ngu ngốc. Chàng thanh niên khác nhỏ và khác thường, tóc màu cà rốt, da trắng như tuyết và cặp mắt lồi xanh sáng; và cậu nhìn mọi chuyện một cách chăm chú với một cái nhìn trống vắng, Philip nhớ đến Johnny Eightpence, chỉ có điều khác biệt là cậu bé này cho bạn một cái nhìn hiểu biết và trưởng thành. Trong cách thức của cậu, cậu cũng phức tạp như mẹ cậu, Philip nghĩ. Đứa trẻ thứ ba là một bé gái khoảng sáu tuổi. Cô liên tục khóc, và bố cô quan tâm đến cô với sự lo lắng yêu thương, luôn vỗ nhẹ an ủi cô, mặc dù ông không nói gì. Rõ ràng ông thích cô bé. Ông cũng vỗ về vợ ông, một lần, và Philip bắt gặp cái nhìn thèm muốn thể xác khi mắt họ gặp nhau.
Người đàn bà sai các trẻ em đi tìm lá to để dùng làm đĩa. Philip mở túi. Tom nói: “Thưa cha, tu viện của ông ở đâu?”
“Trong rừng, cách đây một ngày đàng về phía tây.” Người đàn bà sắc sảo nhìn và Tom ngước đôi mắt nâu. “Ông có biết tu viện đó không?” Philip hỏi.
Vì lý do gì đó, Tom nhìn một cách khó xử. “Trên đường đến Salisbury, chúng tôi đã phải qua gần đó,” ông nói.
“Ô, dĩ nhiên, ông sẽ phải, nhưng nó ở xa đường chính, vì thế mà ông sẽ không nhìn thấy nó, trừ khi ông biết nó ở đâu và đi tìm nó.”
“À, tôi hiểu,” Tom nói mà tâm trí ông dường như ở chỗ khác.
Philip chợt có một ý tưởng. “Hãy kể cho tôi – ông bà có gặp người phụ nữ nào trên đường đi không? Một phụ nữ có lẽ còn rất trẻ, đi một mình, và, với một trẻ thơ không?”
“Không,” Tom nói. Giọng của ông bình thường nhưng Philip cảm thấy ông quan tâm sâu xa. “Tại sao ông lại hỏi thế?”
Philip mỉm cười.”Tôi sẽ kể cho ông bà nghe. Buổi sáng ngày hôm qua một trẻ sơ sinh được tìm thấy trong rừng và được đem đến tu viện của tôi. Nó là một bé trai và tôi nghĩ nó chỉ mới sinh được một ngày. Nó có thể mới sinh đêm hôm trước. Vì thế người mẹ của đứa bé phải ở trong vùng cùng thời gian với ông.”
“Chúng tôi không thấy ai cả,” Tom lập lại. “Ông làm gì với đứa bé?”
“Cho nó ăn bằng sữa dê. Cậu bé dường như hợp với nó.”
Cả hai chăm chú nhìn Philip. Ông nghĩ câu chuyện đánh động trái tim mỗi người. Một lúc sau Tom nói: “ Ông đang đi tìm người mẹ của đứa bé, phải không?”
“Ồ, không. Tôi chỉ tình cờ hỏi vậy thôi. Nếu tôi gặp bà ấy, dĩ nhiên tôi sẽ trao trả đứa bé lại cho bà, nhưng rõ ràng là bà không muốn nó và bà không muốn người khác tìm ra bà.”
“Vậy điều gì sẽ xẩy ra cho đứa bé?”
“Chúng tôi sẽ nuôi nó lớn lên trong tu viện. Nó sẽ là con của Chúa. Chính tôi đã được nuôi nấng qua cách này, và em tôi cũng vậy. Bố mẹ của chúng tôi qua đời sớm, khi chúng tôi còn bé, và sau đó vị viện phụ là bố, và các tu sĩ là gia đình của chúng tôi. Chúng tôi được nuôi ăn, được ấm áp và chúng tôi được học.”
Người đàn bà nói: “Và cả hai trở thành tu sĩ.” Bà nói điều đó với một chút mỉa mai, như thể nó chứng tỏ rằng việc từ thiện của tu viện sau cùng cũng chỉ vì quyền lợi của mình.
Philip vui vì có thể phản đối lại bà. “Không, em trai tôi rời tu viện.”
Những đứa trẻ trở về. Chúng không tìm được lá lớn nào – điều này không dễ trong mùa đông – vì thế họ ăn không có đĩa. Philip cho họ tất cả bánh và pho mát. Họ nhào vào đồ ăn như những con vật chết đói. “Chúng tôi tự làm lấy pho mát này trong tu viện,” ông nói. “Hầu hết mọi người thích nó, khi nó mới, giống như thế này, nhưng nó sẽ ngon hơn nếu để nó chín mùi. Họ quá đói để lắng nghe điều đó. Họ ăn sạch bánh và pho mát trong thời gian ngắn. Philip có ba trái lê. Ông lấy nó từ trong túi ra và trao cho Tom. Tom chia cho mỗi đứa trẻ một trái.
Philip đứng lên. “Tôi sẽ cầu nguyện cho ông tìm được việc làm.”
Tom nói: “Nếu ông nhớ, thưa cha, ông có thể nói điều đó với giám mục. Ông biết nhu cầu của chúng tôi và ông biết chúng tôi trung thực.”
“Tôi sẽ nói.”
Tom giữ ngựa trong khi Philip trèo lên. “Ông là người tốt, thưa cha,” ông nói, và Philip ngạc nhiên khi thấy nước mắt trong mắt Tom.
“Chúa ở cùng ông,” Philip nói.
Tom giữ đầu ngựa một lúc lâu. “Đứa trẻ mà ông kể về - đứa trẻ được tìm thấy.” Ông nói nhỏ như sợ những đứa trẻ khác nghe thấy. “Ông đã… đặt tên cho nó chưa?”
“Rồi. Chúng tôi gọi nó là Jonathan, nghĩa là một món quà của Thiên Chúa.”
“Jonathan, tôi thích tên đó.” Tom rời dây cương.
Philip tò mò nhìn ông một lúc, rồi trẩy ngựa đi.
Giám mục của Kingsbridge không sống ở Kingsbridge. Dinh thự của ông ở miền Nam – trên sườn đồi đối diện trong một thung lũng xinh tươi, xa nhà thờ lạnh lẽo bằng đá và các tu sĩ buồn thảm khoảng một ngày đường. Philip thấy như vậy cũng đúng, vì nếu phải lo quá nhiều cho công việc nhà thờ, ông sẽ sao lãng những nhiệm vụ khác như thu tiền thuê nhà đất, xử án và vận động ở triều đình. Điều đó cũng tốt cho các tu sĩ nữa, vì giám mục ở càng xa, ngài sẽ ít can thiệp hơn vào công việc của họ.
Trời đủ lạnh để tuyết rơi vào buổi chiều hôm Philip đến. Một cơn gió lạnh thổi qua thung lũng giám mục và những đám mây thấp màu xám che lấp căn nhà bằng đá cẩm thạch trên sườn đồi. Đó không phải là tòa lâu đài, nhưng nó được bảo vệ kỹ càng. Khu rừng xung quanh được dọn sạch khoảng một trăm dặm. Căn nhà được bao bọc bởi một hàng rào gỗ cao bằng đầu người, với một thông hào chứa nước mưa bên ngoài. Lính canh ở ngoài cổng có thái độ cẩu thả, nhưng gươm của họ nặng.
Dinh thự là một ngôi nhà đẹp bằng đá có hình chữ E. Tầng trệt là một nhà nguyện hầm, nhiều cửa to nặng nằm trong bức tường dầy, nhưng không có cửa sổ. Một cánh cửa mở rộng, qua đó Philip nhìn thấy thùng và bao tải trong bóng tối. Những cửa khác đóng chặt và được xích lại. Philip tự hỏi không biết có gì ở đàng sau đó: nếu giám mục có các tù nhân thì đây sẽ là nơi giam giữ họ.
Cánh giữa của chữ E là một cầu thang bên ngoài dẫn lên khu phòng khách bên trên nhà nguyện. Căn phòng chính, đường thẳng đứng của chữ E, là hành lang. Hai phòng tạo thành đầu và cuối của E là một ngôi nhà nguyện và phòng ngủ, Philip đoán như thế. Có những cửa sổ chớp nhỏ như những mắt tròn nhỏ nghi ngờ nhìn ra thế giới bên ngoài.
Cùng thuộc về dinh thự là một nhà bếp và một lò nướng bánh mì bằng đá cũng như chuồng xúc vật bằng gỗ và một nhà kho. Tất cả tòa nhà trong tình trạng tốt – đó là điều không may cho thợ xây Tom, Philip nghĩ.
Có vài con ngựa tốt trong chuồng, vài nhân viên phục vụ, một nhóm kỵ binh rải rác khắp nơi. Có lẽ giám mục có khách.
Philip đưa ngựa cho một cậu bé trông ngựa và bước lên bậc thềm với một linh cảm về cảnh tượng của một nơi đầy cảm giác chiến tranh kinh hoàng. Đâu là những hàng dài những người đến khiếu kiện, những bà mẹ với trẻ em đến để xin phúc lành? Ông bước vào một thế giới xa lạ, và ông đang nắm giữ một bí mật nguy hiểm. Có thể một thời gian lâu nữa tôi mới có thể ra khỏi nơi này, ông sợ hãi nghĩ. Ước gì Francis đã chẳng sai tôi đến đây.
Ông lên đến đầu cầu thang. Đó là những tư tưởng không xứng đáng, ông tự nhủ. Nơi đây tôi có cơ hội phục vụ Thiên Chúa và giáo hội, và tôi lại lo lắng về sự an toàn của chính mình. Một số người phải đối diện với nguy hiểm mỗi ngày, ngoài trận tuyến, trên biển khơi, trên cuộc hành hương và trong cuộc thập tự chinh. Ngay cả một tu sĩ đôi khi cũng phải chịu đựng sợ hãi và run rẩy.
Ông hít  một hơi dài rồi bước vào.
Hội trường tối tăm và mờ khói. Philip đóng nhanh cửa để tránh không khí lạnh tràn vào, rồi chăm chú nhìn vào bóng tối. Một đống lửa sáng rực ở phía đối diện với căn phòng. Ánh lửa đó và những cánh cửa sổ nhỏ cung cấp ánh sáng duy nhất cho căn phòng. Chung quanh đống lửa là một nhóm người, một vài người trong y phục giáo sĩ và những người khác trong y phục đắt tiền nhưng đã cũ kỹ thuộc giới quý tộc thấp kém. Họ đang tham gia thảo luận, giọng họ thấp và rõ ràng. Chỗ ngồi của họ không xếp đặt, nhưng tất cả nhìn và nói với một linh mục, người ngồi ở giữa nhóm giống như con nhện ở giữa mạng. Ông là một người gầy, và cách ông để chân cũng như cánh tay dài để trên thành ghế trông như thể ông đang chuẩn bị nhẩy lên. Với mái tóc đen bóng, khuôn mặt nhợt nhạt, cái mũi nhọn và bộ y phục đen tạo cho ông vẻ đẹp và đe dọa.
Nhưng ông không phải là giám mục.
Người quản lý đứng dậy khỏi ghế bên cửa và nói với Philip: “Chào cha, ông muốn gặp ai?” Cùng lúc một con chó săn nằm bên đống lửa ngẩng đầu lên và gầm gừ. Người đàn ông trong y phục đen ngẩng nhanh đầu lên, nhìn thấy Philip và chấm dứt cuộc nói chuyện ngay lập tức bằng cách dơ một cánh tay lên. “Cái gì vậy?” ông nói cọc cằn.
“Kính chào,” Philip nói lịch sự. “Tôi đến đây gặp giám mục.”
“Ngài không có ở đây,” vị linh mục nói thô bạo.
Trái tim Philip trĩu nặng. Ông đã khiếp sợ cuộc nói chuyện và nguy hiểm của nó, nhưng bây giờ ông cảm thấy công ông đến đây thành vô ích. Ông sẽ làm gì với bí mật khủng khiếp của mình? Ông nói với vị linh mục: “Khi nào giám mục sẽ trở lại?”
“Chúng tôi không biết. Ông có việc gì với ngài?”
Giọng nói của vị linh mục thô lỗ và Philip thấy đau. “Công việc của Thiên Chúa,” ông nói sắc sảo. “Ông là ai?”
Vị linh mục nhướng mày, ngạc nhiên khi bị thách đố, và những người khác hoàn toàn yên lặng, như thể đang chờ đợi một cuộc bùng nổ; nhưng sau một lúc ông trả lời nhẹ nhàng. “Tôi là tổng đại diện của giám mục. Tên tôi là Waleran Bigod.”
Một tên hay cho một linh mục, Philip nghĩ. Ông nói: “Tên tôi là Philip. Tôi là tu viện trưởng tu viện Thánh Gioan trong rừng, một chi nhánh của tu viện Kingsbidge.”
“Tôi đã nghe nói về ông,” Waleran nói. “Ông là Philip thành Gwynedd.”
Philip rất ngạc nhiên. Ông không thể tưởng tượng nổi tại sao một vị tổng đại diện có thể biết được tên của một người thấp bé như ông. Nhưng thứ hạng của ông, mặc dù nó khiêm tốn, nhưng cũng đủ làm thay đổi thái độ của Waleran. Cái nhìn cáu gắt biến mất trên khuôn mặt của vị tổng đại diện. “Hãy đến bên ngọn lửa,” ông nói. “Ông có muốn một ly rượu nóng làm nóng người không?” Ông ra hiệu cho một người ngồi trên ghế dựa vào tường và một nhân vật rách rứa đứng lên làm nhiệm vụ.
Philip đến gần lửa. Waleran nói điều gì đó nhỏ nhẹ và những người khác đứng lên và bắt đầu ra về. Philip ngồi xuống, hâm nóng bàn tay, trong khi Waleran đi theo khách ra cửa. Philip thắc mắc không biết họ bàn chuyện gì, và tại sao vị tổng đại diện không kết thúc buổi họp bằng lời cầu nguyện.
Người đầy tớ rách rưới trao cho ông một tách bằng gỗ. Ông nhấp một ngụm rượu gia vị nóng và chuẩn bị cho bước đi kế tiếp. Nếu không gặp được giám mục, Philip nên quay sang ai? Ông nghĩ đến việc đi gặp Bá tước Bartholomew và đơn giản xin ông nghĩ lại cuộc nổi loạn của mình. Ý tưởng thật lố bịch: bá tước sẽ nhốt ông trong ngục tối và vất chìa khóa đi. Còn lại là cảnh sát trưởng, người mà trong lý thuyết là đại diện của hoàng gia trong vùng. Nhưng chưa thể nói cảnh sát trưởng đứng về phe nào khi chưa biết ai sẽ là vua. Philip nghĩ, sau cùng tôi phải mạo hiểm. Ông khao khá về lại với đời sống đơn giản của tu viện, nơi mà ông chỉ có kẻ thù nguy hiểm nhất là Peter thành Warenham.
Khách của Waleran đã ra về, và cánh cửa khóa lại tiếng ồn của ngựa trong sân. Waleran trở lại bên đống lửa và kéo lại chiếc ghế lớn.
Philip bận tâm với vấn đề của ông và thực sự không muốn nói chuyện với tổng đại diện, nhưng ông cảm thấy phải cư xử lịch sự. “Tôi hy vọng đã không làm ngưng buổi họp của ông,” ông nói.
Waleran làm một cử chỉ như không quan tâm. “Nó đã hầu như kết thúc,” ông nói. ”Những đề tài này luôn luôn kéo dài. Chúng tôi thảo luận về việc gia hạn hợp đồng cho thuê đất của giáo phận – vấn đề này có thể được giải quyết trong vài phút, nếu những người tham dự có thêm một chút khả năng quyết định.” Ông vẫy bàn tay xương xẩu như muốn đuổi tất cả các hợp đồng thuê mướn và các chủ thuê ra khỏi tâm trí. “Bây giờ, tôi nghe ông đang làm tốt công việc trong tu viện nhỏ trong rừng.”
“Tôi rất ngạc nhiên là ông biết về việc đó,” Philip trả lời.
“Giám mục, theo quyền bính, là viện phụ của tu viện Kingsbridge, vì thế ngài có trách nhiệm phải quan tâm.”
Hay giám mục có một tổng đại diện có đầy đủ thông tin, Philip nghĩ. Ông nói: “Vâng, Thiên chúa đã chúc lành cho chúng tôi.”
“Đúng vậy.”
Họ đang nói tiếng Pháp Norman, ngôn ngữ mà Waleran và khách của ông đã nói, ngôn ngữ của chính phủ; nhưng trong cách phát âm của Waleran có một chút lạ, và sau vài phút Philip nhận ra rằng ngôn ngữ mẹ đẻ của Waleran là tiếng Anh. Điều đó có nghĩa là ông không phải là người qúy tộc Norman, nhưng là một người bản xứ, người đã nỗ lực vươn lên bằng sự cố gắng của mình – giống như Philip.
Một lúc sau điều này được minh xác khi Waleran chuyển sang tiếng Anh và nói: “Tôi cầu mong Chúa ban phúc lành tương tự trên tu viện Kingsbridge.”
Philip không phải là người duy nhất khó chịu về tình trạng ở Kingsbridge. Có lẽ Waleran biết nhiều dữ kiện ở đó hơn Philip. Philip nói: “Tu viện trưởng James ra sao?”
“Bệnh,” Waleran trả lời ngắn gọn.
Như vậy ông ấy không có thể làm điều gì chống lại cuộc nổi loạn của Bá tước Bartholomew, Philip buồn chán nghĩ. Ông sẽ phải đến Shiring và tìm lấy cơ hội với cảnh sát trưởng.
Ông chợt nghĩ ra rằng Waleran là người biết mọi người quan trọng trong miền. “Cảnh sát trưởng của Shiring ra sao?” ông hỏi.
Waleran nhún vai. “Phản đạo, kiêu ngạo, tham nhũng. Tất cả cảnh sát trưởng là như vậy. Tại sao ông lại hỏi như vậy?”
“Nếu tôi không gặp được giám mục, tôi phải đi gặp cảnh sát trưởng.”
“Ông biết đấy, tôi là người thân tín của giám mục,” Waleran nói với một cái mỉm cười. “Nếu tôi có thể giúp…” Ông mở bàn tay, tỏ cử chỉ của một người hào phóng nhưng cũng biết mình có thể bị từ chối.
Philip đã thoải mái một chút vì nghĩ rằng giây phút kinh hoàng bị hoãn lại một hay hai ngày, nhưng bây giờ lòng ông lại đầy âu lo. Ông có thể tin tưởng tổng đại diện Waleran không? Thái độ thoải mái của Waleran dường như chỉ là đóng kịch, ông nghĩ: ông làm như ông không ép nói, nhưng thật ra có lẽ ông đang nôn nao muốn biết những gì Philip muốn nói với giám mục.
Tuy nhiên đó không phải là lý do để không tin tưởng ông. Ông dường như là người khôn ngoan. Ông cứng rắn đủ để làm điều gì đó chống lại nhóm phản loạn? Nếu ông không tự mình làm được, có lẽ ông sẽ liên hệ với giám mục. Philip chợt có một ý tưởng rằng trong thực tế sự tin tưởng vào Waleran có một ưu thế lớn; bởi vì giám mục có lẽ đòi biết nguồn thông tin thật của Philip, tổng đại diện không có quyền làm chuyện đó, và ông phải bằng lòng với câu chuyện mà Philip kể cho ông, cho dù ông tin hay không.
Waleran mỉm cười một lần nữa. “Nếu ông còn nghĩ lâu hơn, tôi bắt đầu tin rằng ông không tin tưởng tôi!”
Philip cảm thấy ông hiểu Waleran. Waleran là một người giống ông: trẻ, có học thức và thông minh. Ông quá trần tục đối với quan điểm của Philip, có lẽ, nhưng điều này có thể tha thứ được cho một linh mục, người phải dành nhiều thời gian của mình cho các chủ điền và đàn bà, và không có may mắn được sự che chở của tu viện. Waleran là một người ngoan đạo từ trong tâm hồn, Philip nghĩ. Ông sẽ làm điều đúng cho giáo hội.
Philip ngập ngừng trước khi quyết định. Cho đến bây giờ chỉ có ông và Francis biết bí mật. Khi ông kể cho người thứ ba, một điều gì đó sẽ xẩy ra. Ông hít một hơi dài.
“Ba ngày trước, một người bị thương đến tu viện của tôi trong rừng,” ông bắt đầu, âm thầm cầu nguyện xin tha thứ cho sự nói dối của ông. “Ông ấy là người có vũ trang, đi con ngựa đẹp và nhanh, và ông đã vượt qua một hoặc hai dặm đường. Ông phải cưỡi ngựa nhanh lắm, vì khi ngã, tay ông và xương sườn bị gẫy. Chúng tôi bó tay ông, nhưng chúng tôi không giúp được gì cho xương sườn của ông, và ông ấy ho ra máu, một dấu hiệu của vết thương bên trong.” Trong khi kể, Philip quan sát khuôn mặt Waleran. Cho đến lúc đó, ông không tỏ gì khác ngoài sự chăm chú nghe. “Tôi khuyên ông ấy nên xưng tội, vì ông ấy có thể chết. Ông ấy kể cho tôi một bí mật.”
Ông do dự, không biết Waleran đã biết bao nhiêu về diễn biến chính trị. “Tôi mong ông biết rằng Stephen thành Blois đã lên ngôi vua nước Anh với lời chúc phúc của giáo hội.”
Waleran biết nhiều hơn Philip. “Và ông được phong vương ở Westminster ba ngày trước lễ giáng sinh,” ông nói.
“Đúng rồi!” Francis đã không biết điều đó.
“Bí mật là gì?” Waleran sốt ruột hỏi.
Philip liều. “Trước khi ông chết, người kỵ binh nói với tôi rằng chủ Bartholomew của ông, bá tước của Shiring, đã âm mưu với Robert thành Gloucester thành lập một nhóm nổi loạn chống lại Stephen.” Ông quan sát mặt của Waleran, ngừng thở.
Đôi má nhợt nhạt của Waleran trở thành trắng. Ông chồm mình trên ghế về phía trước. “Ông có nghĩ là ông ấy nói sự thật không?” ông cấp bách hỏi.
“Người sắp chết thường nói sự thật với cha giải tội của mình.”
“Có lẽ ông ấy lập lại một tin đồn xì xào trong nhà bá tước.”
Philip không nghĩ Waleran lại nghi ngờ như thế. Ông vội vàng ứng xử. “Ồ, không,” ông nói. “Ông là một sứ giả được Bá tước Bartholomew sai đi tập hợp lực lượng của bá tước ở Hampshire.”
Đôi mắt thông minh của Waleran dò xét nét mặt của Philip. “Ông ta có văn thư nào không?”
“Không.”
“Có bất kỳ con dấu, hay biểu hiệu thẩm quyền của bá tước không?”
“Không có gì cả.” Philip bắt đầu ra mồ hôi. “Tôi đoán những người ông ấy đến gặp đều biết ông ấy là người đại diện cho thẩm quyền của bá tước.”
“Tên ông ta là gì?”
“Francis,” Philip ngu xuẩn nói, và muốn cắn lưỡi mình.
“Chỉ có điều đó sao?”
“Ông ấy không nói ông ấy còn có tên nào nữa.” Philip có cảm giác rằng câu chuyện của ông đang dần dần bị phanh phui ra manh mối dưới sự tra hỏi của Waleran.
“Vũ khí và đồ trang bị có thể xác định được ông ấy là ai.”
“Ông không có đồ trang bị,” Philip thất vọng nói. “Chúng tôi chôn vũ khí của ông ta với thi thể ông ấy – Tu sĩ không cần đến thanh gươm. Chúng ta có thể đào ông lên, nhưng tôi nói với ông rằng chúng tầm thường và giống như những thanh gươm khác – Tôi không nghĩ ông sẽ tìm ra manh mối ở đó…” Ông muốn đánh lạc hướng điều tra của Waleran. “Ông nghĩ có cách nào giải quyết không?”
Waleran cau mày. “Thật khó để biết phải làm gì khi không có bằng chứng. Những người chủ mưu đơn giản sẽ từ chối và rồi kết án những người tố cáo.” Ông không nói tới trường hợp đặc biệt khi câu chuyện không đúng sự thật, nhưng Philip đoán ông đang nghĩ về điều đó. Waleran tiếp tục: “Ông đã kể cho ai khác chưa?”
Phipip lắc đầu.
“Khi ông rời khỏi đây, ông sẽ đi đâu?’
“Kingsbridge. Tôi phải tạo ra một lý do để rời tu viện, vì thế tôi nói tôi đi thăm tu viện chính, và bây giờ tôi phải làm như thế để cho sự nói dối thành thật.”
“Đừng kể việc này cho bất cứ ai ở đó.”
“Tôi sẽ không kể.” Philip không có ý định đó, nhưng ông ngạc nhiên tại sao Weleran lại chú trọng vào điểm này. Có lẽ vì lợi ích riêng: nếu ông dự định mạo hiểm phơi bày âm mưu, ông muốn chắc chắn nó có lợi cho ông. Ông đầy tham vọng. Nhưng như thế càng tốt cho mục tiêu của Philip.
“Hãy để chuyện này cho tôi.” Weleran đột nhiên lại cộc cằn, và sự tương phản với thái độ của ông trước đây làm Philip nhận ra rằng thái độ nhã nhặn của ông được mặc vào và cởi ra giống như một cái áo khoác.
“Ông sẽ đến tu viện Kingsbridge bây giờ, và không đến cảnh sát nữa, phải không?”
“Vâng.” Philip cảm nhân mọi việc yên ổn, ít nhất trong một thời gian, và một gánh nặng trên vai được lấy đi. Ông không bị ném vào ngục tối, bị tra tấn và cáo buộc tội nổi loạn. Ông đã trao trách nhiệm cho người khác – một người hoàn toàn vui vẻ chấp nhận nó.
Ông đứng lên đi về cửa sổ gần nhất. Nó vào khoảng sau trưa, và ánh sáng mặt trời còn đầy. Ông muốn rời đây và để lại bí mật đàng sau ông. “Nếu tôi đi bây giờ, tôi có thể đi được tám hay mười dặm trước khi màn đêm buông xuống,” ông nói.
Waleran không ép ông ở lại. “Nếu thế, ông sẽ đến làng Bassingbourn. Ông có thể ngủ đêm ở đó. Nếu ông đi vào sáng sớm, ông có thể đến tu viện Kingsbridge vào buổi trưa.”
“Vâng.” Philip rời khỏi cửa sổ và nhìn vào Waleran. Tổng đại diện cau mày nhìn vào lửa, chìm sâu trong suy nghĩ. Philip quan sát ông một lúc lâu. Waleran không chia sẻ dòng tư tưởng của ông. Philip ước mong ông có thể biết chiếc đầu thông thái đó đang nghĩ gì. “Tôi phải đi ngay,” ông nói.
Waleran ra khỏi dòng tư tưởng và lại lịch thiệp. Ông mỉm cười và đứng lên. “Được,” ông nói. Ông cùng đi với Philip đến cửa và theo xuống thang tới sân.
Một đứa bé giữ ngựa đem ngựa đến cho Philip, rồi gắn yên lên. Waleran có thể nói lời tạm biệt rồi trở lại lò sưởi, nhưng ông chờ. Philip đoán ông muốn xem có chắc là Philip lên đường đến Kingsbridge, chứ không phải đến Shiring không.
Philip lên ngựa, cảm thấy vui hơn là khi ông đến. Khi ông vừa muốn ra đi, ông nhìn thấy thợ xây Tom vào qua cổng, theo sau là gia đình ông. Philip nói với Waleran: “Đây là người thợ xây tôi đã gặp trên đường. Dường như ông là người trung thực bị rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Nếu ông cần sửa chữa bất cứ cái gì, ông sẽ hài lòng với ông ấy.”
Waleran không trả lời. Ông ấy đang chăm chú vào gia đình khi họ đi qua khu đa hợp. Ông mất đi sự đĩnh đạc và điềm tĩnh của ông. Miệng ông há to và mắt ông nhìn chằm chằm. Ông giống như người bị một cú sốc.
“Cái gì vậy?” Philip sợ hãi hỏi.
“Người đàn bà đó!” Giọng nói của Waleran chỉ còn là tiếng thì thầm.
Philip nhìn bà. “Bà ấy đẹp,” ông nói, lần đầu tiên ông nhận ra. “Nhưng chúng ta đã được dạy rằng tốt hơn cho linh mục là sống khiết tịnh. Hãy quay mắt đi, tổng đại diện ạ.”
Waleran không nghe gì. “Tôi nghĩ bà ấy đã chết,” ông lẩm bẩm. Rồi dường như ông chợt nhớ đến Philip, ông rời mắt khỏi người đàn bà, nhìn vào Philip và tập trung tư tưởng. “Cho tôi gửi lời thăm tu viện trưởng ở Kingsbridge,” ông nói. Rồi ông tát vào hông ngựa của Philip, con vật nhẩy về phía trước và chạy nhanh qua cổng; và khi Philip có thể thu ngắn dây cương và kiểm soát được con ngựa, ông đã đi quá xa để nói lời tạm biệt.
 
 
III
 
Vào gần trưa hôm sau, Philip nhìn thấy tu viện Kingsbridge, đúng như Waleran đã dự báo. Từ phía lưng đồi đầy cây cối ông nhìn vào phong cảnh không sức sống, những cánh đồng tuyết phủ chỉ thỉnh thoảng còn lại những nhánh cây khô. Ông không thấy người nào, vì trong cái chết của mùa đông không có việc gì để làm trên cánh đồng. Một vài dặm bên kia cánh đồng phủ tuyết, ngôi nhà thờ chính tòa đứng trên một ngọn đồi; một tòa nhà đồ sộ, chồm hổm như một đài tưởng niệm trên một ngọn đồi nghĩa trang.
Philip đi theo con đường xuống dốc và Kingsbridge biến mất khỏi tầm mắt. Con ngựa điềm tĩnh đi cẩn thận theo con đường trơn trượt. Philip nghĩ về Tổng đại diện Waleran. Waleran quá đĩnh đạc, tự tin và có khả năng đến nỗi Philip thấy mình còn quá trẻ và ngây thơ, mặc dù hai người không mấy khác nhau về tuổi tác. Waleran đã dễ dàng làm chủ cuộc họp: ông đã ân cần tiễn đưa khách, lắng nghe câu chuyện của Philip, nhìn ngay ra vấn đề quan trọng là thiếu bằng chứng, nhanh chóng nhận ra rằng cách điều tra không mang lại kết quả, và nhanh chóng đưa Philip lên đường – bây giờ Philip mới nhận ra rằng không có gì bảo đảm là Waleran sẽ thực hiện điều gì đó.
Philip cười buồn bã khi nhận ra ông đã bị lừa như thế nào. Waleran ngay cả không hứa sẽ nói cho giám mục những gì Philip tường thuật. Nhưng Philip tin rằng vì tham vọng lớn, mà ông khám phá ra, một cách nào đó Waleran sẽ sử dụng thông tin này. Ông nhận ra rằng Waleran có một chút nào đó mang ơn ông.
Vì bị ấn tượng mạnh về Waleran, nên Philip càng bị hấp dẫn về một yếu điểm duy nhất của tổng đại diện: phản ứng của ông ấy đối với vợ của thợ xây Tom. Đối với Philip bà ấy dường như có sự nguy hiểm tàng ẩn. Rõ ràng Waleran thấy bà hấp dẫn. Tuy nhiên còn có điều gì hơn thế nữa. Waleran đã phải gặp bà trước đó, bởi vì ông ấy nói: tôi nghĩ bà ấy đã chết. Nó có vẻ như ông đã phạm tội với bà ấy trong một quá khứ xa. Nếu xem xét cách ông không muốn Philip quanh quẩn ở lại đó để biết thêm, chắc chắn ông có điều gì đó cảm thấy có lỗi.
Ngay cả bí mật tội lỗi này cũng không làm giảm sự đánh giá của Philip về Waleran. Waleran là một linh mục, không phải một tu sĩ. Khiết tịnh luôn là một phần thiết yếu trong đời sống của tu viện, nhưng nó không ép buộc cho các linh mục. Giám mục có các bà quản gia và cha xứ có các bà nội trợ. Giống như luật chống lại những tư tưởng xấu, luật sống độc thân là một luật rất khó giữ. Nếu Thiên Chúa không tha thứ cho các linh mục dâm đãng, chỉ có rất ít hàng giáo sĩ ở trên trời.
Kingsbridge lại xuất hiện trước mắt, khi Philip lên đến đỉnh đồi sau đó. Ngôi nhà thờ đồ sộ với nhiều mái vòm tròn, với các cửa sổ nhỏ và thấp nổi lên giữa vùng xung quanh, cũng giống như tu viện trội hẳn lên trong làng. Mặt tiền phía tây của nhà thờ, đối diện với Philip, có hai tháp đôi, một cái đã bị đổ do sấm chớp cách đây bốn năm. Nó chưa được xây lại và nó làm cho mặt tiền của nhà thờ trở nên thảm hại. Mỗi lần đến đây, Philip đều tức giận về quang cảnh này, vì đối với ông đống gạch vụn trước cổng luôn luôn là một nhắc nhớ đáng xấu hổ về sự suy sụp luân lý của tu viện Kingsbridge.
Các tòa nhà tu viện đều làm bằng đá vôi trắng, đứng thành từng nhóm xung quanh ngôi nhà thờ, giống như những kẻ âm mưu xung quanh ngôi vua. Bên ngoài bức tường thấp bao quanh tu viện có những túp lều bằng rơm và đất sét. Những nông dân canh tác trong vùng xung quanh cũng như những nhân công trong tu viện sinh sống ở đây. Một con sông nhỏ chẩy vội qua góc tây nam ngôi làng, cung cấp nước sạch cho tu viện. Một cây cầu bằng gỗ cũ kỹ bắc ngang con sông. Khi Philip đến đó, ông cảm thấy tức giận cáu kỉnh. Tu viện Kingsbridge là một sự xấu hổ cho giáo hội của Chúa và cho các tu viện, nhưng Philip không thể làm gì chống lại nó. Sự tức giận hòa lẫn với sự bất lực trở nên chua chát trong lòng ông.
Cây cầu thuộc quyền sở hữu của tu viện và tu viện thu thuế cầu. Vừa khi cây cầu kêu cọt kẹt dưới sức nặng của philip và con ngựa, môt tu sĩ già xuất hiện bên kia cầu và đi ra mở chiếc rào cản. Ông nhận ra Philip và vẫy tay. Philip nhận ra ông đi khập khiễng và nói: “Thầy Paul, chân anh bị làm sao thế?”
“Chỉ là một vết da nứt. Mùa xuân đến nó sẽ hết.”
Phlip nhìn thấy ông chỉ có đôi dép. Paul là một con chim già chịu khó, nhưng ông đã quá lớn tuổi để ở cả ngày bên ngoài trời trong thời tiết này. “Anh cần một lò sưởi,” Philip nói.
“Điều đó sẽ là một phúc lành,” Paul nói. “Nhưng cha Remigius nói rằng tiền cho lò sưởi sẽ tốn hơn tiền thu nhập của thuế cầu.”
“Anh thu bao nhiêu?”
“Một xu cho ngựa, và một xu nữa cho người.”
“Có nhiều người đi qua cầu không?”
“Vâng, có rất nhiều.”
“Vậy tại sao chúng ta không thể có một lò sưởi?”
“Dạ, các tu sĩ không phải trả, dĩ nhiên, ngoài ra những người phục vụ trong tu viện cũng như dân làng cũng không phải trả. Chỉ vài ba ngày mới có một hiệp sĩ hoặc một thợ hàn đi qua. Ngoài ra vào các ngày lễ lớn, khi mọi người trong vùng kéo nhau về dự lễ trong nhà thờ chính tòa, khi đó chúng ta thu được nhiều tiền thuế cầu.”
“Như vậy chúng ta chỉ nên thu tiền cầu trong ngày lễ lớn, và cho anh một lò sưởi,” Philip nói.
Paul nhìn Philip lo sợ. “Xin anh đừng nói gì với Remigius. Nếu không, ông ấy nghĩ tôi không hài lòng với công việc.”
“Đừng sợ,” Philip nói. Ông thúc cho ngựa đi vào để Paul không nhìn được biểu hiện trên gương mặt ông. Hành động ngu dốt nầy làm ông tức giận. Paul đã dành cả đời phục vụ Thiên Chúa và tu viện, và bây giờ, vào cuối đời ông phải đau khổ và lạnh lẽo chỉ để thu một hoặc hai tiền thuế cầu mỗi ngày. Đó không chỉ là tàn nhẫn mà còn là lãng phí, bởi vì một người lớn tuổi kiên nhẫn như Paul có thể giao cho những công việc hữu dụng khác – giả sử như nuôi gà – nó sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho tu viện hơn là thu thuế cầu. Nhưng tu viện trưởng lại quá già và thờ ơ, còn đối với tu viện phó Remingus chắc cũng như vậy. Đó là một tội nặng, Philip cay đắng nghĩ, khi phí phạm giá trị con người và vật chất mà Thiên Chúa đã yêu thương ban tặng.
Trong tâm trạng không thể khoan nhượng, ông thúc ngựa qua khoảng trống giữa các căn chòi đến thẳng cổng tu viện. Khuôn viên tu viện là một hình vuông, ở giữa là nhà thờ chính tòa. Tất cả những tòa nhà phía bắc và tây của nhà thờ dùng cho mục đích công cộng, thực tế và thế tục; trong khi các tòa nhà phía nam và đông dành riêng cho tu viện, tinh thần và thánh thiện.
Vì thế lối vào sân tu viện nằm ở góc tây bắc. Cổng tu viện mở và người tu sĩ trẻ trong phòng gác vẫy Philip. Ngay đàng sau cổng, bên cạnh bức tường phía tây là chuồng xúc vật, một công trình bằng gỗ, nhìn còn chắc chắn hơn là nhà ở của những người dân phía bên kia bức tường. Hai đứa trẻ ngồi trên đống rơm. Chúng không là tu sĩ, mà chỉ là nhân viên trong tu viện. Khi Philip và con ngựa đi vào, chúng miễn cưỡng đứng lên, rõ ràng không hài lòng vì người khách đến tạo thêm công việc cho chúng. Mùi hôi thối xông lên mũi Philip. Ông nhận ra chuồng ngựa từ ba bốn tuần lễ rồi chưa được quét phân. Với sự tức giận sẵn có, ông không thể bỏ qua sự lơi là của chúng. Khi ông giao dây cương ngựa, ông nói: “Trước khi các anh cột ngựa của tôi, các anh hãy dọn sạch chuồng ngựa và trải rơm mới. Sau đó dọn các chuồng ngựa khác. Nếu rơm luôn luôn ướt, móng ngựa sẽ bị thối. Các anh không có quá nhiều việc đến nỗi không thể dọn sạch chuồng được.” Cả hai trông ủ rũ, vì thế ông nói thêm: “Hãy làm như tôi nói, hoặc các anh sẽ mất ngày lương vì tội lười biếng.” Ông định đi nhưng rồi ông chợt nhớ ra điều gì. “Trong túi tôi có pho mát. Hãy đem nó xuống nhà bếp cho thầy Milius.”
Ông đi ra mà không đợi câu trả lời. Sáu mươi nhân công phục vụ cho bốn mươi lăm tu sĩ trong tu viện, đó là một dư thừa đáng xấu hổ trong đôi mắt của Philip. Những công nhân không có đủ việc làm thường dễ trở nên lười biếng đến nỗi họ còn chểnh mảng ngay cả công việc ít ỏi được giao cho họ; điều đó rõ ràng nơi hai đứa trẻ chăm sóc chuồng ngựa. Đó là những điển hình về sự lơi là của Tu viện trưởng James.
Philip đi theo bức tường phía tây, qua nhà khách, tò mò xem ngoài ông còn có người khách nào không. Nhưng căn phòng rộng lạnh lẽo và hoang vắng; trước thềm là một đống lá rụng do gió thổi xô vào từ mùa thu trước. Ông rẽ trái, đi qua sân vườn có cỏ mọc thưa thớt ngăn cách nhà khách và nhà thờ, vì trong nhà khách có cả những người ít sùng đạo cũng như phụ nữ tá túc. Ông đến mặt tiền phía tây nhà thờ, nơi có cổng cho mọi người ra vào. Đống gạch vụn của tháp chuông bị đổ vẫn nằm đó, nơi nó rơi xuống, thành một đống cao hơn đầu người.
Giống như các nhà thờ khác, nhà thờ Kingsbridge có hình dạng một cây thánh giá. Hướng tây mở vào gian giữa, tương tự như chiều đứng của cây thánh giá. Từ giữa gian cung thánh trổ ra hai phía bắc và nam, tương tự như hai cánh cây thánh giá. Đàng sau bàn thờ, phía đông của nhà thờ được dành cho các tu sĩ. Phía cuối cùng là ngôi mộ của Thánh Adolphus, nơi có rất nhiều khách hành hương đến kính viếng.
Philip bước vào gian giữa nhà thờ và nhìn xuống những mái vòm tròn và các hàng cột uy nghi hai bên. Khung cảnh càng đè nặng tâm trạng ông. Đó là một tòa nhà ẩm thấp và tối tăm; và tình trạng của nó lại tồi tệ thêm kể từ lần ông viếng thăm lần trước. Những cánh cửa sổ trong hai gian bên thấp, giống như đường hầm hẹp trong bức tường dầy. Sát trên mái nhà, ánh sáng xuyên qua những cánh cửa sổ to soi tỏ bức tranh trên trần, để thấy rõ chúng bị mờ xấu như thế nào. Hình các tông đồ và các thánh chỉ còn là bóng mờ. Mặc dù gió lạnh thổi vào – bởi vì các cửa sổ không có kính - một mùi ẩm thấp của quần áo thoang thoảng trong không khí. Từ phía kia của nhà thờ, nơi đang có một thánh lễ, vang vọng lời ca phụng vụ bằng tiếng Latin. Philip đi xuống gian giữa. Nền nhà chưa bao giờ được lót gạch, trong những góc, nơi chưa có guốc của nông dân và dép của các tu sĩ đặt đến, nó đã mọc rêu. Những vòng xoắn khắc vào hàng cột lớn, cũng như đường liên đới giữa các vòm ngày xưa được trang trí và mạ vàng. Chỗ này chỗ kia còn sót lại nét vàng mỏng, dấu vết của những bức tranh cũ. Vôi vữa giữa những viên đá đã mục nát và rơi xuống, chất thành từng đống dưới chân tường. Philip cảm thấy cơn giận của mình lại sôi lên. Các khách thăm viếng ngôi nhà thờ này phải được chiêm ngắm vẻ huy hoàng của Đấng Toàn năng. Nông dân là những người bình dị, họ phán đoán mọi sự qua những gì họ nhìn thấy. Khi thấy ngôi nhà thờ này, có lẽ họ sẽ nghĩ Thiên Chúa là đấng bất cẩn, thờ ơ, một Đấng không có khả năng nhận ra tội lỗi của họ và không biết đánh giá sự thờ phượng của họ. Và chính những người nông dân này là những người đóng góp sức lực và mồ hôi cho ngôi nhà thờ nhiều nhất. Đó là một sự xúc phạm khi đền đáp họ bằng ngôi mộ đổ nát này.
Philip quỳ gối xuống trước bàn thờ một lúc lâu, ý thức rằng ngay cả sự giận dữ đúng đắn cũng không phù hợ với tâm trí của người cầu nguyện. Khi cơn giận đã giảm, ông đứng lên và tiếp tục đi.
Gian ngang phía đông của nhà thờ được chia làm hai. Phía trước là những hàng ghế bằng gỗ, nơi dành riêng cho giờ kinh của các tu sĩ. Phía sau là mộ thánh. Philip đi xung quanh bàn thờ. Ông muuốn tìm một chỗ trong khu dành cho các tu sĩ, nhưng ông phải dừng lại vì một quan tài ngăn lối ông đi.
Ông thật sự ngạc nhiên. Không ai thông báo cho ông về cái chết của một tu sĩ nào – nhưng thực ra từ khi đến đây ông chỉ nói chuyện với ba người: với thầy Paul già, người không còn minh mẫn, và với hai đứa trẻ trong chuồng ngựa mà ông cũng chẳng cho họ điều kiện để chuyện trò. Ông bước đến gần quan tài xem ai là người đã qua đời. Ông nhìn vào bên trong, tim ông lỡ một nhịp.
Đó là Tu viện trưởng James.
Philip đứng há hốc miệng. Bây giờ mọi chuyện sẽ đổi khác, sẽ có một tu viện trưởng mới, sẽ có một hy vọng mới.
Niềm phấn khởi thầm kín là một phản ứng không thể chấp nhận được đối với cái chết của một người anh đáng kính, ngay cả mặc dù ông đã có những sai lầm nào đi nữa. Philip tập trung nét mặt và tâm trí cho phù hợp với bối cảnh tang thương. Ông quan sát người qua đời. Vị tu viện trưởng có mái tóc bạc, khuôn mặt gầy và lưng gù. Bây giờ nét mệt mỏi triền miên biến mất, và thay vì lo âu và thất vọng, dường như ông đang có sự bình yên. Khi Philip quỳ bên cạnh quan tài, ông tự hỏi không biết người đàn ông lớn tuổi này đã phải chịu đau khổ về vấn đề gì trong những năm cuối đời: một tội chưa xưng ra, hối tiếc một phụ nữ hay sai lầm với một người vô tội. Bất cứ chuyện gì đã xẩy ra, ông sẽ không nói bây giờ, nhưng trong ngày phán xét.
Mặc dù cố tập trung, Philip vẫn không khỏi nghĩ về tương lai. Tu viện trưởng James, một người thiếu quyết đoán, sợ sệt và nhu nhược đã để tu viện xuống dốc. Bây giờ cần một người mới, một người đem các nhân viên lười biếng vào kỷ luật, xây dựng lại tháp chuông nhà thờ đã đổ nát, biết sử dụng tài nguyên phong phú, tạo cho tu viện một sức mạnh về đạo đức. Philip quá háo hức để có thể ngồi yên. Ông đứng lên, đi với tâm hồn nhẹ nhàng mới về hướng các tu sĩ đang hát kinh và tìm một chỗ trống ở hàng ghế sau cùng.
Andrew thành Newyork, người phụ trách phụng vụ, đang chủ sự nghi thức. Ông là một người nóng tính, mặt đỏ. Ông thuộc thành phần lãnh đạo của tu viện, lo về hành chính. Trách nhiệm của ông bao gồm mọi việc thánh: tổ chức thánh lễ, sách lễ, di tích thánh, áo lễ và đồ trang trí trong nhà thờ, đặc biệt là về việc trùng tu nhà thờ. Dưới quyền ông là người phụ trách thánh ca, và một thủ kho để chăm sóc chén thánh và chân nến bằng vàng bạc và các đồ thánh khác. Không ai có thẩm quyền trên người phụ trách phụng vụ, ngoài tu viện trưởng và tu viện phó Remigius mà Andrew rất thân.
Andrew đọc thánh vịnh với giọng bình thường như mọi ngày. Tâm trạng Philip bấn loạn, một lúc sau ông nhận ra rằng nghi thức không đúng như quy định. Một nhóm tu sĩ trẻ ồn ào, nói chuyện và cười đùa. Philip nhận ra họ đang trêu chọc vị giáo tập già, người đang ngủ gật. Các tu sĩ trẻ - hầu hết đã là tập sinh của vị giáo tập già này – chắc vẫn còn nhớ bàn tay cứng rắn đã dẫn dắt họ. Họ ném những viên đất bẩn về phía ông. Mỗi lần, khi viên đất trúng ông, ông giật mình, quay người lại, nhưng không thức giấc. Hình như Andrew không biết gì. Philip nhìn sang vị tu sĩ chịu trách nhiệm về trật tự. Ông ngồi ở dẫy ghế bên kia và đang nói chuyện với một tu sĩ khác. Ông không quan tâm đến nghi lễ, cũng như thái độ của các tu sĩ trẻ khác.
Philip quan sát một lúc lâu, mặc dù ông không còn có thể kiên nhẫn nữa. Người cầm đầu đám tu sĩ trẻ phá rối là một chàng đẹp trai, khoảng hai mươi mốt tuổi, có một nụ cười tinh quái. Philip thấy cậu lấy đầu lưỡi dao ăn hơ trên ngọn nến, rồi lấy sáp nến bắn lên đầu hói của vị giáo tập. Sáp nóng trúng đầu làm ông tỉnh dậy, kêu lên. Các tu sĩ trẻ phá lên cười.
Philip thở dài đứng lên. Ông đến sau lưng chàng cầm đầu, nắm tai chàng và kéo chàng ra ngoài. Andrew ngước lên khỏi sách lễ, cau mày nhìn Philip khi họ đi ra: ông không biết gì về những gì vừa xẩy ra.
Xa khỏi tầm nghe của các tu sĩ khác, Philip ngừng lại, bỏ tai cậu ra và nói: “Em tên gì?”
“William  Beavis.”
“Ma quỷ nào xúi dục em trong thánh lễ?”
William nhìn hờn dỗi. “Em đã mệt mỏi với phụng vụ.”
Philip không cảm thông với các tu sĩ hay than phiền. “Mệt mỏi?” ông nói cao giọng hơn. “Hôm nay em đã làm gì?”
William nói ngang ngược. “Kinh đêm và kinh sớm, rồi kinh sáng trước bữa điểm tâm, rồi kinh giờ ba, thánh lễ, học hành và bây giờ lễ trọng.”
“Em đã ăn gì chưa?”
“Có, ăn điểm tâm rồi.”
“Và bây giờ em muốn ăn trưa?”
“Vâng.”
“Hầu hết những người bằng tuổi em phải làm việc đổ mồ hôi từ sáng sớm đến lúc mặt trời lặn trên cánh đồng, để có được bữa ăn sáng và bữa trưa… Và bên cạnh đó luôn dành một chút bánh của họ cho em. Em có biết tại sao họ làm thế không?”
“Dạ biết,” William nói, hai chân đá nhau và nhìn xuống đất.
“Tại sao?”
“Họ làm như thế vì họ muốn các tu sĩ cầu nguyện cho họ.”
“Đúng. Cơm bánh, thịt, nhà ngủ làm bằng đá được sưởi ấm bằng lửa trong mùa đông là công lao của những nông dân. Và em mệt mỏi đến nỗi không thể ngồi yên được cho họ trong thánh lễ.”
“Em xin lỗi.”
Philip quan sát kỹ William. Cậu không phải là chàng trai tệ. Lỗi lớn nhất là ở cấp trên của cậu, những người lỏng lẻo để cho chuyện đùa giỡn xẩy ra trong nhà thờ. Philip nói nhỏ nhẹ: “Nếu việc phụng vụ làm cho em mệt mỏi, tại sao em lại muốn thành tu sĩ?”
“Em là con trai thứ năm.”
Philip gật đầu. “Và khi tu viện nhận em, bố em đã tặng tu viện một miếng đất?”
“Vâng, một trang trại.”
Đó là câu chuyện thường xẩy ra: Một người có quá nhiều con trai, họ sẽ dâng một đứa con cho Chúa. Để Chúa không thể từ chối, họ dâng một tài sản để nâng đỡ con trong tu viện nghèo. Bằng cách đó nhiều người trẻ, vì họ không có ơn gọi, trở thành tu sĩ không vâng lời.
Philip nói: “Giả sử em được chuyển đến một trang trại, hay đến tu viện nhỏ của anh trong rừng, nơi mà giờ làm việc ngoài đồng nhiều hơn là giờ cầu nguyện, em có nghĩ là như thế em dễ dàng tham dự giờ kinh một cách trang nghiêm và đạo đức hơn không?”
Nét mặt William rạng rỡ ra. “Vâng, em nghĩ như vậy.”
“Anh cũng nghĩ như vậy. Anh sẽ xem có cách nào không. Nhưng đừng hy vọng quá, chúng ta phải chờ cho đến khi có một bề trên mới và xin ông chuyển em.”
“Tuy nhiên, cảm ơn anh.”
Giờ lễ chấm dứt, và các tu sĩ rời khỏi nhà thờ theo hàng ngũ. Philip đưa một ngón tay lên miệng, ra dấu chấm dứt cuộc nói chuyện. Khi các tu sĩ đi ngang qua, Philip và William đi vào hàng, theo họ ra ngoài vào dẫy hành lang tiếp giáp với phía nam của gian giữa nhà thờ và vào tu viện. Ở đó cuộc rước chấm dứt. Philip muốn đi về phía nhà bếp, nhưng bất ngờ gặp ngay vị phụ trách phụng vụ đứng trước mặt ông, chân dang rộng, bàn tay chống nạnh, ông nói: “Anh Philip.”
“Anh Andrew,” Philip nói, thắc mắc không biết ông ấy có ý định gì.
“Tại sao anh lại quấy rầy buổi lễ của tôi?”
Philip rất kinh ngạc. “Quấy rầy buổi lễ?” ông lập lại vì không tin vào tai mình. “Một tu sĩ trẻ đã không có thái độ đứng đắn. Cậu ấy…”
“Tôi có khả năng đối phó với các hành vi sai trái trong buổi lễ của tôi.” Andrew cao giọng nói. Các tu sĩ đang chuẩn bị giải tán, đứng nán lại, xem những gì xẩy ra.
Philip không thể hiểu được sự tức giận của ông ấy. Các tu sĩ trẻ và các tập sinh thường được các tu sĩ lớn tuổi nhắc bảo và chỉnh đốn lại trong giờ kinh, và không có luật nào nói rằng nhiệm vụ này chỉ dành riêng cho người phụ trách phụng vụ. Philip nói: “Nhưng anh không biết chuyện gì xẩy ra.”
“Hay có thể tôi thấy, nhưng tôi quyết định sẽ xử lý sau.”
Philip chắc chắn ông không thấy gì. “Anh đã thấy gì?” Philip thách đố.
“Đừng điều tra tôi!” Andrew hét lớn. Mặt đỏ của ông thành tím ngắt. “Anh là bề trên của một tu viện nhỏ trong rừng, nhưng tôi là người phụ trách phụng vụ ở đây từ mười hai năm nay, và tiến hành các giờ lễ trong nhà thờ chính tòa theo ý tôi. Tôi không cần sự giúp đỡ của người lạ chỉ bằng nửa tuổi tôi.”
Philip bắt đầu nghĩ có lẽ ông đã thực sự sai, nếu không tại sao Andrew lại nổi giận như thế? Nhưng quan trọng hơn, một cuộc tranh cãi ngoài hành lang không tốt cho các tu sĩ khác, và nó phải chấm dứt. Cắn răng, Philip nuốt niềm kiêu hãnh xuống, rồi cúi đầu tuân phục: “Tôi nhận lỗi và tôi khiêm nhường xin lỗi anh,” ông nói.
Andrew chuẩn bị cho một cuộc tranh luận lâu hơn, vì thế ông không hài lòng về cuộc rút lui quá sớm của đối phương. “Đừng để chuyện đó xẩy ra một lần nữa,” ông lạnh nhạt nói.
Philip không trả lời. Andrew muốn phải có lời nói sau cùng, vì thế bất cứ lời nói nào của ông cũng tạo nên cơ hội cho một lời đáp trả khác. Ông nhìn xuống đất, cắn lưỡi, trong khi Andrew nhìn ông trừng trừng. Sau cùng người phụ trách phụng vụ bỏ đi, đầu ngẩng cao.
Các tu sĩ khác nhìn Philip. Sự hạ nhục của Andrew làm ông tức giận, nhưng ông chấp nhận nó bởi vì một tu sĩ tự cao là một tu sĩ xấu. Không nói thêm lời nào, ông rời khỏi dẫy hành lang.
Khu nhà của các tu sĩ  nằm ở phía nam tu viện: phòng ngủ ở góc phía đông nam và nhà ăn ở tây nam. Philip đi về hướng tây, ngang qua nhà ăn và ra ngoài sân, từ đó ông có thể nhìn thấy nhà khách và chuồng ngựa. Ở đây trong góc tây nam của sân vườn là sân bếp, bao bọc ba phía là nhà ăn, nhà bếp, lò bánh mì và xưởng bia. Một xe ngựa chở đầy củ cải đứng trong sân đang chờ được rỡ xuống. Philip trèo lên thềm nhà bếp và đi vào.
Bầu khí như dội vào mặt ông. Không khí nặng mùi cá chiên, tiếng nồi chảo va vào nhau và tiếng ra lệnh. Ba đầu bếp mặt đỏ vì nóng và đang vội vàng chuẩn bị cho bữa ăn tối với sự giúp đỡ của sáu hay bẩy người phụ việc trẻ. Hai lò bếp nấu, mỗi cái ở một đầu nhà bếp: ngọn lửa cháy rực, bên trên có hơn hai mươi xiên cá đang được một cậu bé quay. Mùi thơm của cá làm Philip nhỏ nước miếng. Cà rốt được nấu trong nồi sắt lớn treo trên ngọn lửa. Hai thanh niên đang cắt bánh mì trắng thành những miếng dầy lớn. Giám sát sự hỗn loạn này là một tu sĩ: thầy Milius, nhà bếp trưởng, cùng lứa tuổi với Philip. Ông ngồi trên một ghế cao, quan sát các hoạt động xung quanh ông với một nụ cười bình thản như mọi sự đã được tổ chức chu đáo và hoàn hảo dưới con mắt kinh ngiệm của ông. Ông mỉm cười với Philip và nói: “Cảm ơn anh về những pho mát!”
“À, Vâng.” Philip đã quên chuyện đó, nhiều việc đã xẩy ra từ khi ông đến đây. “Nó được làm từ sữa lấy vào buổi sáng – thầy sẽ thấy nó có mùi vị khác.”
“Miệng tôi đã chẩy nước miếng rồi. Nhưng anh trông có vẻ buồn. Có chuyện gì vậy?”
“Không, không có gì cả. Tôi có những lời gay gắt với Andrew.” Philip làm một cử chỉ như muốn xua đuổi câu chuyện đã qua đi. “Tôi có thể lấy một hòn đá nóng trong lò không?”
“Dĩ nhiên.”
Luôn luôn có một vài viên đá trong bếp lửa, sẵn sàng dùng để làm nóng nhanh một ít nước hoặc súp. Philip giải thích: “Thầy Paul, phục vụ trên cầu, có một vết da nứt, nhưng Remigius không cho thầy lò sưởi.” Ông dùng cái cặp dài và lấy ra một hòn đá nóng từ trong lò ra.
Milius mở tủ lấy ra một mảnh da cũ. “Đây, bọc nó trong này.”
“Cảm ơn.” Philip đặt viên đá vào giữa miếng da cũ rồi gấp các góc lại cẩn thận.
“Nhanh lên,” Miliius nói. “Sắp đến giờ ăn rồi.”
Philip rời nhà bếp. Ông đi qua sân bếp, ra đến cổng. Phía tay trái, bên trong bức tường phía tây, là nhà máy xay. Một kênh phía trên tu viện đã được đào từ nhiều năm trước để dẫn nước từ sông vào hồ nhà máy xay. Sau khi làm cho các bánh xe của nhà máy xay quay, nước chảy trong một kênh ngầm đến nhà máy bia, nhà bếp, giếng nước trong sân tu viện, nơi các tu sĩ rửa tay trước bữa ăn, và sau cùng là nhà vệ sinh bên cạnh khu phòng ngủ, sau đó nước quay về hướng nam và nhập lại vào dòng sông. Một trong những tu viện trưởng ban đầu đã có một kế hoạch thông minh.
Có một đống rơm bẩn bên ngoài chuồng, Philip nhận ra hai đứa trẻ đã theo lệnh ông và dọn chuồng. Ông ra khỏi cổng, đi qua làng về phía chiếc cầu.
Điều tôi quở trách William Beavis có đúng không? Ông tự hỏi khi ông đi ngang căn lều. Ông nghĩ đúng. Ngược lại, ông sẽ sai nếu ông làm ngơ trước những quấy rầy như vậy trong giờ kinh phụng vụ.
Ông đến cây cầu và cúi nhìn vào nơi trú ẩn của Paul. “Hãy sưởi ấm chân anh,” ông nói và đưa viên đá nóng bọc trong da. “Khi nó nguội hơn, hãy bỏ miếng da và đặt chân anh trực tiếp lên hòn đá. Nó sẽ ấm đến nửa đêm.”
Thầy Paul cảm động biết ơn. Ông bỏ dép và đặt ngay chân mình lên. “Tôi có thể cảm thấy bớt đau ngay,” ông nói.
“Nếu anh đặt hòn đá vào bếp lửa tối nay, sáng mai nó lại nóng ngay,”  Philip nói.
“Thầy Milius không chống lại chứ?” Paul lo lắng hỏi.
“Tôi bảo đảm chuyện này.”
“Anh thật tốt với tôi, anh Philip à.”
“Không có gì.” Philip bỏ đi trước khi Paul trở nên lúng túng vì biết ơn. Nó chỉ là một hòn đá nóng.
Ông trở về tu viện. Ông vào lại trong sân và rửa tay ở một bồn rửa bằng đá nơi bức tường phía nam, rồi bước vào phòng ăn. Trên bục, một tu sĩ đang đọc to. Bữa ăn theo quy luật, ngoài trừ việc đọc sách, phải giữ im lặng. Nhưng người ta vẫn nghe thấy không những tiếng nhai ăn của hơn bốn mươi tu sĩ mà còn nghe thấy tiếng thì thầm. Philip ngồi vào chỗ trống bên chiếc bàn dài. Tu sĩ bên cạnh ông đang ăn ngon. Ông bắt gặp ánh mắt Philip và thì thầm: “Hôm nay có cá tươi!”
Philip gật đầu. Ông đã nhìn thấy nó trong bếp. Dạ dầy của ông cồn cào.
Vị tu sĩ nói: “Chúng tôi nghe nói anh có cá tươi mỗi ngày trong tu viện của anh ở trong rừng.” Giọng ông có pha lẫn ghen tị.
Philip lắc đầu. “Những ngày khác chúng tôi có thịt gia cầm,” ông thì thầm.
Vị tu sĩ như có vẻ ghen tị hơn. “Ở đây chỉ có cá muối, sáu lần trong tuần.”
Một người phục vụ mang đến trước mặt Philip một miếng bánh mì lớn và một con cá thơm mùi gia vị của Milius. Philip chẩy nước miếng. Khi ông vừa lấy con dao định cắt cá, một tu sĩ ở đầu bàn đứng lên, chỉ vào ông. Đó là người giữ trật tự hay giám thị. Philip nghĩ, không biết lại chuyện gì đây?
Vị giám thị phá luật im lặng, ông có quyền đó. “Anh Philip!”
Các tu sĩ khác ngừng ăn và căn phòng chìm trong yên lặng.
Philip ngừng con dao trên con cá và nhìn lên chờ đợi.
Vị giám thị nói: “Quy luật là: người đến trễ không được ăn.”
Philip thở dài. Dường như hôm nay ông luôn luôn làm sai. Ông cất con dao, trao lát bánh và con cá lại cho người phục vụ và cúi đầu nghe đọc sách.
Trong lúc rảnh sau bữa ăn tối, ông đến nhà kho dưới nhà bếp để nói chuyện với Cuthbert Whitehead, quản lý tu viện.  Nhà kho là một hang lớn tối, với cột to thấp và cửa sổ nhỏ. Không khí khô và đầy mùi: hoa bia và mật ong, táo cũ và gia vị khô, pho mát và dấm. Thầy Cuthberth luôn có mặt ở đây, vì công việc đa dạng không cho phép ông tham dự nhiều giờ kinh phụng vụ. Điều đó cũng phù hợp với ông: ông rất thông minh, đôi chân đứng trên mặt đất và không còn nhiều giờ cho đời sống tinh thần. Là người quản lý, ông trách nhiệm cho các nhu cầu vật chất, khác với người phụ trách phụng vụ: Cuthbert cung cấp cho mọi nhu cầu thực tế của các tu sĩ, thu thập sản phẩm của trang trại trong tu viện và đem ra chợ, cũng như mua những gì mà các tu sĩ và công nhân không sản xuất được. Công việc đòi hỏi tài tổ chức và sự tính toán cẩn thận. Cuthbert không làm việc một mình: Milius, nhà bếp trưởng, chịu trách nhiệm về các bữa ăn hàng ngày và còn có một người lo về quần áo cho các tu sĩ. Cả hai ở dưới sự kiểm soát của Cuthbert. Ngoài ra còn có ba người dưới quyền ông, tuy vẫn có một sự độc lập nhất định: người lo phòng khách, người lo cho các tu sĩ già, bệnh tật trong khu nhà bên cạnh và người lo về bác ái. Mặc dù ông có nhiều người cộng tác, nhưng nhiệm vụ của ông thật lớn. Ông giữ các con số và dữ kiện trong đầu, lập luận rằng giấy mực là một sự phí phạm. Philip nghi ngờ rằng Cuthberth chưa biết đọc và biết viết. Người ta đặt tên cho ông là “Đầu trắng” vì do thời còn trẻ ông đã có tóc bạc. Bây giờ ông đã sáu mươi, những sợi tóc còn lại mọc ra từ tai và lỗ mũi của ông như thể nó muốn đua với cái đầu hói của ông. Philip, cũng là quản lý khi còn ở Wales, thông cảm với sự lo lắng và tính cáu kỉnh của ông. Vì thế Cuthberth rất thích Philip. Bây giờ biết rằng Philip đã bỏ lỡ bữa ăn tối, Cuthberth lấy ra từ thùng nửa tá lê. Chúng đã teo lại, nhưng còn ngon và Philip ăn nó với lòng biết ơn, trong khi Cuthberth càu nhàu về tài chính của tu viện.
“Tôi không thể hiểu tại sao một tu viện lại có thể ở trong tình trạng nợ nần,” Philip nói, miệng đầy trái cây.
“Tu viện không nên nợ,” Cuthberth nói. “Tu viện có nhiều đất và thu nhiều tiền thuế từ các nhà xứ hơn bao giờ hết.”
“Vậy tại sao chúng ta không giầu?”
“Anh biết hệ thống của chúng ta ở đây – tài sản của tu viện được chia cho các lãnh vực. Người phụ trách phụng vụ có đất của ông ấy, tôi có đất của tôi, phần nhỏ hơn cho cha giáo tập, cho người phụ trách nhà khách, cho người lo về y tế và bác ái. Phần còn lại dành cho tu viện. Mỗi người dùng tài sản của mình để chu toàn trách vụ của mình.
“Có gì sai trong cách tổ chức đó?”
“Vâng, tất cả tài sản này phải được chăm nom! Thí dụ như giả sử chúng ta có mảnh đất cho thuê bằng tiền mặt, chúng ta không nên trao nó cho người trả giá cao nhất rồi ngồi chờ thu tiền. Chúng ta phải tìm ra người thuê tốt và giám sát để họ làm tốt công việc; nếu không cánh đồng sẽ úng nước, đất trở thành chai cứng, và khi người thuê không có khả năng trả tiền thuê, họ sẽ trả lại đất cho chúng ta trong tình trạng tồi tệ. Hay lấy thí dụ một trang trại được chăm sóc bởi nhân viên của chúng ta và quản lý bởi các tu sĩ: nếu chỉ đến lấy các sản phẩm mà không có người thường xuyên đến theo dõi thì các tu sĩ trở thành biếng nhác và đồi trụy, nhân viên sẽ ăn cắp các loại cây trồng, và trang trại càng ngày càng sản xuất ít hơn. Ngay cả một nhà thờ cũng cần được chăm sóc. Chúng ta không nên chỉ nghĩ đến lấy tiền thuế. Chúng ta phải đặt các nhà thờ trong tay những linh mục tốt, biết tiếng Latin và có một đời sống thánh thiện. Nếu không mọi người rơi vào tình trạng không có Chúa. Họ kết hôn, sinh con và chết mà không có lời chúc phúc của giáo hội, và họ sẽ lừa dối chúng ta khi khai thuế.
“ Những người có trách nhiệm trong tu viện nên quản lý tài sản một cách cẩn thận,” Philip nói, khi ông ăn quả lê cuối cùng.
Cuthberth rót một chén rượu từ vại và đưa cho Philip. “Họ nên làm như vậy, nhưng họ có nhiều chuyện khác trong đầu. Tuy nhiên, cha giáo tập biết gì về việc đồng áng? Tại sao người phụ trách về y tế lại phải có khả năng quản lý đất đai? Tuy vậy, một tu viện trưởng cứng rắn sẽ đòi hỏi họ phải biết sử dụng hết khả năng của họ, dĩ nhiên tới một mức độ nào đó. Nhưng chúng ta có một tu viện trưởng yếu đuối từ ba mươi năm nay, và bây giờ chúng ta không có tiền để sửa sang nhà thờ chính tòa, chúng ta phải ăn cá muối sáu ngày trong tuần, và không có tập sinh nào cũng như không có khách nào đến nhà khách.”
Philip nhấp rượu nho trong yên lặng ảm đạm. Ông thấy quá khó để suy nghĩ một cách lạnh lùng về sự phung phí kinh khủng tài sản này của Thiên Chúa. Ông muốn tóm lấy những người có trách nhiệm và lay cho đến khi họ tỉnh thức. Nhưng trong trường hợp này, người có trách nhiệm nằm trong quan tài, phía sau bàn thờ. Ở đó ít nhất le lói một niềm hy vọng. “Chẳng bao lâu chúng ta sẽ có một tu viện trưởng mới,” Philip nói. “Ông ấy sẽ đưa tất cả vào trật tự.”
Cuthberth nhìn ông bằng một cái nhìn đặc biệt.
“Remigius? Ông ấy sẽ đưa mọi việc vào trật tự ư?”
Philip không chắc chắn về những gì Cuthberth nói. “Remigius sẽ không phải là tu viện trưởng mới, phải không?”
“Có thể ông ấy sẽ là.”
Philip mất tinh thần. “Nhưng ông ấy không khá hơn Tu viện trưởng James. Tại sao anh em lại bỏ phiếu cho ông ấy?”
“Vâng, họ nghi ngờ người lạ, vì thế họ sẽ không bỏ phiếu cho người họ không biết. Điều đó có nghĩa là một trong chúng ta sẽ được bầu. Và Remigius là tu viện phó, người cao cấp nhất trong số chúng ta ở đây.”
“Nhưng không có luật lệ nào quy định chúng ta phải bỏ phiếu cho người cao cấp nhất,” Philip chống lại. “Nó có thể là một người khác trong ban lãnh đạo. Nó có thể là anh.”
Cuthberth gật đầu. “Tôi đã được hỏi, nhưng tôi từ chối.”
“Tại sao?”
“Tôi đã già, Philip. Công việc tôi đang làm có thể đánh tôi ngã quỵ, nhưng chỉ vì tôi đã quen với nó nên tôi thi hành nó một cách máy móc. Đối với tôi bất cứ một trách nhiệm nào thêm cũng là quá nhiều. Tôi không có sức để lãnh đạo một tu viện xuống dốc về kinh tế và cải cách nó. Thực tế, tôi không khá hơn Remigius.”
Philip vẫn chưa có thể tin được điều đó. “Còn những người khác: người phụ trách phụng vụ, người giám thị, cha giáo tập…”
“Cha giáo tập đã già và còn mệt mỏi hơn tôi. Người phụ trách nhà khách là người say mê ăn uống và rượu chè. Và người phụ trách phụng vụ cũng như người giám thị đã cam kết bỏ phiếu cho Remigius. Tại sao? Tôi không biết, nhưng tôi đoán là Remigius hứa cho người phụ trách phụng vụ làm tu viện phó và người giám thị lên chức phụ trách phụng vụ, như một phần thưởng cho sự hỗ trợ của họ.”
Philip ngồi bệt xuống bao bột trên nền nhà. “Anh muốn nói rằng Remigius đã chuẩn bị xong cho cuộc bầu cử?”
Cuthberth không trả lời ngay. Ông đứng lên, đi tới hướng khác của nhà kho, nơi ông đã chuẩn bị theo hàng một bồn tắm bằng gỗ đầy lươn sống, một xô nước sạch, và một thùng chứa một phần ba nước muối. “Hãy giúp tôi,” ông nói. Ông lấy ra một con dao. Ông chọn một con lươn từ trong bồn tắm, đập đầu nó xuống sàn đá, sau đó dùng dao rút ruột nó. Ông đưa con lươn, vẫn còn quần quại cho Philip. “Hãy rửa nó trong xô, sau đó thả nó vào thùng,” ông nói. “Cái này sẽ làm giảm sự thèm ăn của chúng ta trong mùa chay.”
Philip rửa con lươn nửa sống nửa chết trong xô nước một cách cẩn thận như ông có thể, rồi thả nó vào trong nước muối.
Cuthberth bắt con lươn khác và nói: “Còn có một người, một ứng viên có thể là một tu viện trưởng cải tổ tốt và chức vụ của người đó hiện nay, mặc dù dưới tu viện phó, nhưng ngang hàng với người phụ trách phụng vụ hay quản lý.”
Philip thả con lươn vào thùng. “Ai vậy?”
“Anh.”
“Tôi?” Philip quá ngạc nhiên, ông thả con lươn trên sàn nhà. Về mặt tổ chức hành chính, ông có chức vụ trong ban lãnh đạo của tu viện, nhưng ông chẳng bao giờ nghĩ ông ngang hàng với người phụ trách phụng vụ hoặc những người khác, bởi vì tất cả đều hơn ông nhiều tuổi. “Tôi còn quá trẻ -”
“Hãy nghĩ về việc đó,” Cuthberth nói. “Anh đã sống cả đời trong tu viện. Anh đã làm quản lý vào lứa tuổi hai mươi mốt. Anh đã làm tu viện trưởng của một tu viện nhỏ từ bốn hay năm năm nay – và anh đã cải tổ nó. Đối với mọi người, rõ ràng là bàn tay Chúa ở trên anh.”
Philip bắt lại được con lươn trốn chạy trên nền nhà và bỏ nó vào thùng nước muối. “Bàn tay Chúa ở với mọi người,” ông nói như đánh lạc hướng. Một phần nào ông choáng váng với đề nghị của Cuthberth. Ông muốn một tu viện trưởng mới đầy năng lực cho Kingsbridge, nhưng ông không nghĩ chính ông sẽ đảm nhiệm chức vụ này. “Đúng, tôi có thể là một tu viện trưởng tốt hơn Remigius,” ông trầm ngâm nói.
Cuthberth trông có vẻ hài lòng. “Nếu anh có lỗi, Philip, đó là sự ngây thơ của anh.”
Philip không nghĩ mình quá ngây thơ. “Ý anh muốn nói gì?”
“Anh không quan tâm đến động cơ thúc đẩy trong con người. Hầu hết chúng ta cũng vậy. Thí dụ như cả tu viện đã giả định anh là một ứng viên và anh đến đây để thu hút phiếu của họ.”
Philip phẫn nộ. “Lý do nào đã khiến họ nghĩ như thế?”
“Hãy thử nhìn vào hành vi của chính anh bằng một cái nhìn của một đầu óc đa nghi: Anh đến đây không hẹn trước. Anh đến đây chỉ vài ngày sau khi Tu viện trưởng James qua đời, như thể có một người thân cận của anh gửi cho anh một thông điệp bí mật.”
“Nhưng làm sao họ có thể tưởng tượng được tôi đã chuẩn bị điều đó?”
“Họ không biết, nhưng họ tin rằng anh thông minh hơn họ.” Cuthberth tiếp tục làm một con lươn khác. “Và hãy nhìn xem thái độ của anh ngày hôm nay. Anh đi vào, ra lệnh dọn chuồng ngựa. Rồi anh xử sự với người phá rối trong thánh lễ. Anh nói về việc thuyên chuyển William Beavis tới nhà khác, khi mọi người đều biết rằng việc thuyên chuyển tu sĩ từ nhà này sang nhà khác là đặc quyền riêng của tu viện trưởng. Anh ngầm chỉ trích Remigius khi lấy một hòn đá nóng cho thầy Paul trên cầu. Và sau cùng anh đem một miếng pho mát thơm ngon cho nhà bếp - và chúng tôi đều có một miếng sau bữa ăn tối – và mặc dù không ai nói pho mát từ đâu đến, nhưng không ai có thể nhầm lẫn được hương vị pho mát từ tu viện St. John trong rừng.
Philip bối rối khi nghĩ rằng hành động của ông đã bị hiểu sai như vậy. “Bất cứ người nào cũng làm như thế.”
“Bất cứ tu sĩ lớn tuổi nào cũng có thể làm một việc. Nhưng không ai khác có thể làm tất cả. Anh đi vào và thay đổi! Anh đã bắt đầu cải cách. Và dĩ nhiên, người thân cận của Remigius đã phản kháng lại. Đó là lý do tại sao người phụ trách phụng vụ đã trách mắng anh trong hành lang tu viện.”
“Thì ra đó là lời giải thích! Tôi tự hỏi chuyện gì đã xẩy ra cho ông ấy.” Philip trầm ngâm khi rửa con lươn. “Và tôi đoán rằng khi người giám thị ra lệnh bắt tôi bỏ bữa ăn, đó cũng là vì cùng một lý do.”
“Chính xác.” Đó là cách hạ anh xuống trước mặt các tu sĩ khác. Tôi nghi ngờ cả hai trường hợp đều phản tác dụng: Cả hai lời khiển trách đều vô lý, tuy nhiên anh đã chấp nhận nó một cách vui vẻ. Thực tế thái độ của anh trông rất thánh thiện.”
“Tôi làm điều đó không vì mục đích gì.”
“Các thánh cũng không. Có tiếng chuông báo hiệu giờ kinh chiều. Tốt hơn anh để những con lươn lại cho tôi. Sau giờ kinh là giờ học, và trong khuôn viên tu viện cho phép thảo luận. Một số anh em muốn nói chuyện với anh.”
“Đừng đi quá xa!” Philip lo âu nói. “Mọi người giả định tôi muốn trở thành tu viện trưởng, không có nghĩa là tôi sẵn sàng ứng cử.” Viễn tượng về một cuộc tranh cử đối với ông là một điều không thoải mái. Ngoài ra ông cũng không chắc chắn với chính mình: Tôi có thực sự sẵn sàng từ bỏ tu viện của tôi trong rừng, một tu viện bây giờ đã vào nề nếp để đánh đổi lấy những vấn đề phức tạp của Kingsbridge không? “Tôi cần thời gian suy nghĩ,” ông năn nỉ.
“Tôi biết,” Cuthberth đứng thẳng lên, nhìn vào mắt Philip. “Khi anh suy nghĩ, làm ơn nhớ đến điều này: Tự hào quá mức là một tội quen thuộc, nhưng một người cũng dễ dàng chống lại ý Chúa qua sự khiêm nhường quá mức.”
Philip gật đầu. “Tôi nhớ. Cảm ơn anh.”
Ông rời khỏi nhà kho và vội vã vào tu viện. Tâm trí ông hỗn loạn khi ông theo các tu sĩ khác vào nhà thờ. Ông nhận ra ông bị cảm kích dữ dội trước viễn tượng có thể trở thành tu viện trưởng của Kingsbridge. Đã nhiều năm qua ông tức giận về cách hoạt động đáng hổ thẹn của tu viện, và bây giờ ông có cơ hội để đem tất cả vào trật tự theo ý mình. Bất ngờ ông không chắc ông có thể làm được việc đó không. Vấn đề không phải là chỉ xem những gì cần phải làm và ra lệnh làm việc đó: Con người phải được thuyết phục, bất động sản phải được quản lý, tiền bạc phải được làm ra. Đó là công việc dành cho một đầu óc khôn ngoan. Và trách nhiệm thật nặng nề!
Như mọi khi, nhà thờ cho ông bình an. Sau hành vi sai trái vào buổi sáng hôm nay, các tu sĩ bây giờ yên lặng và nghiêm trang. Khi ông lắng nghe lời kinh quen thuộc và lập lại đáp ca như ông đã làm nhiều năm nay, ông cảm thấy tâm trí ông rõ ràng hơn.
Tôi có muốn thành tu viện trưởng của Kingsbridge không? ông tự hỏi, và câu trả lời đến ngay lập tức: có! Để ngăn ngừa sự đổ nát của nhà thờ này, để sửa sang và sơn phết lại nó và đổ đầy nó với tiếng ca của hàng trăm tu sĩ và tiếng của hàng ngàn giáo dân cùng đọc lên “Lạy Cha” – Chỉ cho riêng những điều đó, ông muốn nhận trách nhiệm. Rồi còn tài sản của tu viện phải tổ chức và hồi sinh lại, làm cho chúng phát triển và sinh lợi. Ông muốn nhìn thấy từng đám trẻ ngồi học đọc và viết trong góc tu viện. Ông muốn nhà khách đầy ánh sáng và hơi ấm để các bá tước và các giám mục đến thăm và tặng lại tu viện những món quà quý giá. Ông muốn một thư viện có đầy những sách về kiến thức. Vâng, ông muốn trở thành tu viện trưởng của Kingsbridge.
Còn vì lý do nào khác không? Ông tự hỏi. Khi tôi hình dung tôi là một tu viện trưởng, tôi làm những điều này vì vinh danh Thiên Chúa, tôi có một chút tự hào nào trong trái tim tôi không?”
Ồ, có chứ.
Trong bầu khí lạnh và thánh thiện của nhà thờ, ông không thể tự lừa dối mình. Mục đích của ông là làm vinh danh Chúa, nhưng làm vinh danh Philip cũng làm ông thích thú. Ông thích ý tưởng khi ông ra lệnh mà không ai có thể từ chối. Ông tưởng tượng mình đang quyết định và xử án, khuyên bảo và khuyến khích, ban việc đền tội và ân xá như ông cảm thấy phù hợp. Ông tưởng tượng dân chúng nói: “Philip thành Gwynedd đã cải tổ nơi đây. Trước đây nó đáng khiển trách biết bao, nhưng bây giờ hãy nhìn vào nó kìa!”
Nhưng tôi sẽ làm tốt, ông nghĩ. Thiên chúa cho tôi bộ não để quản lý tài sản và khả năng để lãnh đạo các nhóm người. Tôi đã chứng tỏ điều đó khi làm quản lý ở Gwynedd và làm tu viện trưởng ở St.John trong rừng. Và khi tôi điều hành công việc, các tu sĩ được hạnh phúc. Trong tu viện của tôi không có những người già bị nứt chân và những người trẻ không thất vọng vì thiếu việc. Tôi chăm sóc đến mọi người.
Mặt khác, nếu so sánh với tu viện ở Kingsbridge thì cả hai tu viện Gwynedd và St. John trong rừng dễ dàng hơn. Tu viện ở Gwynedd luôn luôn tiến triển tốt. Tu viện chi nhánh trong rừng có vài rắc rối khi ông đảm nhận trách nhiệm, nhưng nó nhỏ bé  và dễ kiểm soát. Cải cách Kingsbridge là một công việc đòi hỏi cả đời người. Phải mất hàng tuần để tìm ra nguồn tài nguyên của nó, thí dụ như bao nhiêu đất, ở đâu và đất để làm gì, đất là rừng hay đồng cỏ hay đồng lúa mì. Phải mất cả năm để có thể kiểm soát tài sản phân tán, để tìm xem điều gì sai và đưa vào trật tự, và để nối kết các phần tử thành một tổng thể. Tất cả những gì Philip đã làm được ở tu viện trong rừng là thúc đẩy cho khoảng chục tu sĩ trẻ chịu khó làm việc ngoài đồng và cầu nguyện nghiêm trang trong nhà thờ.
Đúng rồi, ông thừa nhận, động cơ thúc đẩy tôi không tinh tuyền và khả năng của tôi không chắc chắn. Có lẽ tôi nên từ chối việc đề cử. Ít nhất qua đó tôi tránh được tội háo danh. Nhưng Cuthberth đã nói gì? “Một người cũng dễ dàng chống lại ý Chúa qua sự khiêm hạ quá mức.”
Chúa muốn gì? Sau cùng ông tự hỏi. Chúa có muốn Remigius không? Khả năng của Remigius không bằng tôi và động cơ thúc đẩy ông có lẽ cũng không tinh ròng. Còn có ứng viên khác không? Hiện tại không. Nếu Chúa không tỏ ra một chọn lựa thứ ba, chúng ta phải chọn lựa giữa tôi và Remigius. Rõ ràng rằng Remigius sẽ lãnh đạo tu viện theo cách ông đã lãnh đạo nó khi Tu viện trưởng James bị bệnh. Nợ nần và vô công rỗi việc vẫn tiếp tục, không có biện pháp nào ngăn chặn sự sụp đổ của tu viện. Và tôi? Tôi đầy tự hào và tài năng của tôi cần phải kiểm chứng. Nhưng tôi sẽ cố gắng cải tổ tu viện, và nếu Chúa cho tôi sức mạnh, tôi sẽ thành công.
Được rồi, sau đó ông nói với Chúa khi giờ kinh chấm dứt: Con sẽ nhận lời đề cử và con sẽ chiến đấu với tất cả sức mạnh của con để thắng được cuộc bầu cử; và nếu Chúa không muốn con vì bất cứ lý do nào, Chúa có thể ngăn con lại bằng cách nào Chúa muốn.
Mặc dù Philip đã sống trong tu viện hai mươi hai năm, nhưng ông sống trong thời kỳ lâu dài của các tu viện trưởng, vì thế ông chưa trải qua cuộc bầu cử tu viện trưởng nào. Nó là một biến cố độc đáo trong đời sống tu viện, bởi vì trong việc bỏ phiếu các tu sĩ không phải vâng lời – bất ngờ, mọi người đều bình đẳng.
Đã có một thời, nếu truyền thuyết là sự thật, các tu sĩ bình đẳng trong mọi sự. Một nhóm người quyết định quay lưng lại với thế giới ham muốn xác thịt và xây dựng một nơi thánh trong sa mạc, nơi họ sống cuộc sống thờ phượng Thiên Chúa và tự kềm chế bản thân; và họ chọn lấy một vùng đất cằn cỗi, phá rừng và đắp đầm lầy, rồi họ làm ruộng và cùng nhau xây nhà thờ. Trong thời kỳ này họ thật sự là anh em. Tu viện trưởng, như danh hiệu ngụ ý, chỉ có nghĩa là người đầu tiên trong số anh em ngang hàng, và họ hứa vâng lời quy luật của Thánh Biển Đức, không phải vâng lời ban lãnh đạo. Nhưng tất cả những gì còn lại từ thời dân chủ nguyên thủy đó là cuộc bầu cử tu viện trưởng và viện phụ.
Một vài tu sĩ không biết phải sử dụng quyền bầu cử của họ ra sao. Họ muốn được hướng dẫn phải bỏ phiếu ra sao, hoặc họ muốn trao quyền quyết định cho một ủy ban các tu sĩ già có kinh nghiệm. Một số người khác lạm dụng đặc quyền và trở thành xấc láo; họ đòi hỏi ân huệ cho sự ủng hộ của họ. Hầu hết các tu sĩ lo âu để có một quyết định đúng đắn.
Chiều hôm đó trong tu viện, Philip nói chuyện với hầu hết mọi người, cá nhân hoặc trong nhóm nhỏ. Thẳng thắn ông nói với họ rằng ông muốn lãnh trách nhiệm đó và ông cảm thấy ông có thể làm tốt hơn Remigius vì ông còn trẻ. Ông trả lời câu hỏi của họ, hầu hết là hỏi về đồ ăn và nước uống. Ông chấm dứt mỗi buổi nói chuyện bằng câu nói: “ Nếu mỗi người chúng ta quyết định qua suy tư và cầu nguyện, Thiên Chúa chắc chắn sẽ ban phước cho người được chọn.” Philip biết câu nói này hợp với hoàn cảnh và ông cũng tin điều đó.
“Chúng ta sẽ thắng,” Milius, nhà bếp trưởng, nói vào buổi sáng hôm sau, khi Philip và ông ăn sáng với bánh mì đen và bia.
Philip cắn một miếng lớn và uống một hớp bia để làm bánh mì mềm ra trong miệng.  Milius là một người trẻ, thông minh và sinh động. Ông bảo vệ Cuthberth và hâm mộ Philip. Ông có mái tóc đen thẳng, khuôn mặt nhỏ với các nét đều đặn. Cũng như Cuthberth, ông phục vụ Thiên Chúa qua công việc thực tế hàng ngày và bỏ bê nhiều giờ kinh phụng vụ. Philip hoài nghi về sự lạc quan của ông. “Làm sao anh lại đi đến kết luận như thế?” ông nghi ngờ hỏi lại.
“Tất cả những người về phía Cuthberth đều hỗ trợ anh – thầy phụ trách tài chính, thầy lo về y tế, cha giáo tập và tôi – bởi vì chúng tôi biết anh là người cung cấp giỏi, và đây là một vấn đề lớn của tu viện dưới sự lãnh đạo hiện nay. Rất nhiều tu sĩ bình thường muốn bỏ phiếu cho anh chỉ vì một lý do đơn giản: họ nghĩ anh sẽ lãnh đạo tu viện tốt hơn, và điều đó có nghĩa là đời sống sẽ thoải mái hơn và có thực phẩm tốt hơn.
Philip nhíu mày. “Tôi không muốn lừa dối ai. Ưu tiên của tôi là sửa sang lại nhà thờ và lo cho các giờ kinh phụng vụ được trang nghiêm. Sau đó mới lo đến ăn uống.”
“Cứ như vậy, và họ cũng biết điều đó,” Milius nói với một chút vội vàng. “Đó là lý do tại sao thầy lo nhà khách và một hai anh em khác vẫn còn muốn bỏ phiếu cho Remigius – họ ưa thích một đời sống thoải mái, dưới một ban lãnh đạo yếu nhược. Những người ủng hộ khác của ông ấy là chân tay hoặc những người mong có được những đặc quyền khi ông ấy lãnh đạo – vị phụ trách phụng vụ, cha giám thị, thầy phụ trách kho tàng và một số người khác. Thầy phụ trách thánh ca là bạn của cha phụ trách phụng vụ, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể thu phục ông ấy về phía chúng ta, đặc biệt nếu anh hứa sẽ chỉ định một người lo về thư viện.
Philip gật đầu. Thầy phụ trách thánh ca lo về âm nhạc, và cảm thấy lo thêm về sách vở là một trách nhiệm quá nặng cho ông. “Đó là một ý tưởng tốt,” Philip nói. “Chúng ta cần một người quản thủ thư viện để xây dựng một bộ sưu tập sách quý giá.”
Milius đứng lên khỏi ghế và mài con dao nhà bếp. Ông có quá nhiều năng lực và phải làm gì với đôi tay của mình, Philip quyết định.
“Có tất cả bốn mươi bốn tu sĩ có quyền bầu cử,” Milius nói. Có tất cả bốn mươi lăm, nhưng một người đã qua đời. “Ước tính tốt nhất của tôi là có mười tám người theo chúng ta và mười người theo Remigius, còn lại mười sáu người chưa quyết định. Chúng ta cần hai mươi ba phiếu cho đủ đa số. Điều đó có nghĩa là anh cần thêm năm phiếu từ những người còn do dự.”
“Cứ như anh nói, nó có vẻ dễ dàng,” Philip nói. “Còn bao lâu nữa sẽ đến cuộc bầu cử?”
“Tôi không thể nói được. Các tu sĩ được quyền xác định ngày bỏ phiếu. Nhưng nếu chúng ta tiến hành nhanh quá, giám mục có thể từ chối công nhận cuộc bầu cử. Và nếu chúng ta chậm quá, ngài có thể ra lệnh triệu tập. Ông ấy cũng có quyền đề cử ứng viên. Cho đến bây giờ ông ấy vẫn chưa biết rằng tu viện trưởng cũ đã qua đời.”
“Như vậy nó có thể kéo dài.”
“Đúng. Và bao lâu chúng ta tin rằng mình đã có thể chiếm được đa số phiếu, anh phải trở về tu viện của anh cho đến khi mọi chuyện trôi qua.”
Philip bất ngờ với đề nghị đó. “Tại sao?”
“Sự quen thuộc tạo ra sự coi thường”. Milius thích thú mài dao. “Hãy tha thứ cho tôi nếu tôi nói một cách thiếu tôn trọng, nhưng chính vì anh đã hỏi tôi. Ở thời điểm này anh có một hào quang. Đặc biệt đối với thế hệ trẻ chúng tôi, anh là người chúng tôi ngưỡng phục. Trong tu viện nhỏ của anh, anh đã làm một phép lạ, cải tổ nó và làm cho nó trở thành độc lập. Anh là một tu sĩ kỷ cương, nhưng cũng lo cho các tu sĩ ăn uống đầy đủ. Anh sinh ra là một nhà lãnh đạo nhưng anh cũng có thể cúi đầu chấp nhận lời khiển trách như một tập sinh trẻ. Anh hiểu Kinh Thánh và anh cũng có thể làm loại pho mát tốt nhất trong vùng.”
“Và anh nói hơi quá!”
“Không nhiều quá!”
“Tôi không nghĩ là mọi người lại nghĩ về tôi như vậy – đó là điều không bình thường.”
“Tôi đồng ý với anh điểm đó,” Milius nói với một cái nhún vai. “Và nó sẽ không kéo dài một khi họ biết anh nhiều hơn. Anh sẽ đánh mất hào quang đó, nếu anh ở lại đây. Họ sẽ nhìn thấy anh móc răng và cào mông, họ sẽ nghe thấy anh ngáy và đánh rắm, họ sẽ biết tâm tính của anh, cách anh ứng xử khi anh nóng tính, khi lòng tự ái của anh bị tổn thương hay khi anh đau đầu. Chúng ta không muốn họ biết điều đó. Hãy để họ quan sát lỗi lầm và sự cẩu thả của Remigius từ ngày này qua ngày khác, trong khi hình ảnh của anh vẫn tỏa sáng và hoàn hảo trong mắt họ.”
“Tôi không thích như vậy,” Philip nói bằng giọng lo âu. “Có một cái gì đó dối trá trong đó.”
“Không có gì là không trung thực cả,” Milius chống lại. “Đó là một phản ảnh thực sự anh có thể phục vụ Thiên chúa và tu viện như thế nào nếu anh là tu viện trưởng – và Remigus sẽ lãnh đạo xấu như thế nào.”
Philip lắc đầu. “Tôi không muốn mình được coi là một thiên thần. Nhưng tốt, tôi sẽ không ở lại đây – tôi phải trở về với tu viện trong rừng của tôi. Nhưng chúng ta phải thẳng thắn với anh em. Chúng ta yêu cầu họ chọn ra một người có những sai lầm và không hoàn hảo, một người cần sự giúp đỡ và lời cầu nguyện của họ.”
“Hãy nói với họ như thế!” Milius thích thú nói to. “Điều đó sẽ làm hài lòng họ.”
Ông ấy là người không thay đổi được, Philip nghĩ. Ông đổi đề tài. “Theo anh, những anh em còn do dự thuộc thành phần nào?”
“Họ bảo thủ,” Milius nói không do dự. “Họ nhìn thấy Remigius là một người lớn tuổi, một người chỉ có vài thay đổi nhỏ. Họ có thể dự đoán được những gì sẽ tới và họ đã quen với cách lãnh đạo của ông ấy.”
Philip gật đầu đồng ý. “Và họ nhìn tôi thận trọng, như một con chó lạ có thể cắn.”
Chuông báo hiệu giờ họp. Philip uống nốt bia. “Họ dự định tấn công vào anh, Philip. Tôi không đoán được bằng cách nào, nhưng họ sẽ bêu xấu anh là trẻ trung, thiếu kinh nghiệm, bướng bỉnh và không đáng tin tưởng. Anh phải bình tĩnh, thận trọng và suy nghĩ chín chắn trước khi nói, nhưng hãy để cho tôi và Cuthberth bảo vệ anh.”
Philip bắt đầu thấy sợ hãi. Ông không quen với cách suy nghĩ này, phải cân nhắc từng cử động và tính toán xem người khác giải thích và đánh giá nó ra làm sao. Với một giọng nói không hài lòng, ông nói: “Bình thường, tôi chỉ nghĩ xem Chúa xét xử thái độ của tôi ra sao.”
“Tôi biết, tôi biết,” Milius sốt ruột nói. “Nhưng để giúp người bình thường nhìn thấy hành động của anh trong ánh sáng sự thật thì không phải là một tội.”
Philip nhíu mày. Milius có vẻ có lý.
Họ rời nhà bếp, đi ngang qua nhà ăn tới tu viện. Philip rất lo âu. Tấn công? Một cuộc tấn công nghĩa là làm sao? Có phải họ sẽ nói dối về ông? Ông phải phản kháng thế nào? Nếu người ta nói dối về ông, ông sẽ giận dữ. Ông có nên ngăn chặn sự tức giận của mình để biểu lộ sự bình tĩnh? Nhưng nếu ông xử sự như thế, các anh em khác có thể nghĩ sự bịa đặt là sự thật? Ông quyết định xử sự như ông là, có lẽ chỉ thêm một chút nghiêm trang và uy nghiêm hơn.
Nhà họp là một căn nhà tròn nhỏ bên tường phía đông của tu viện. Các băng ghế được sắp xếp theo vòng tròng quy vào tâm điểm. Nó lạnh vì không có lò sưởi. Ánh sáng đến từ cửa sổ cao nằm ở phía trên tầm mắt, nên không thể nhìn ra ngoài. Trong phòng họp họ chỉ nhìn thấy các tu sĩ khác.
Hầu hết các tu sĩ trong tu viện đã hiện diện. Họ thuộc nhiều lứa tuổi, từ mười bẩy cho đến bẩy mươi; cao và thấp, đen và trắng; tất cả mặc áo choàng giản dị bằng len thô không tẩy trắng và mang dép da. Thầy phụ trách nhà khách đã có mặt ở đó, bụng tròn và cái mũi đỏ của ông tiết lộ tính hư tật xấu của ông, một tật xấu có thể tha thứ được nếu giả sử lâu lâu ông thu được một vài khách, Philip nghĩ. Đó là thầy phụ trách về y phục, người thúc dục các tu sĩ thay áo choàng và cạo râu vào dịp lễ Giáng sinh, cũng như tắm rửa (việc tắm rửa vào dịp lễ này được khuyên nên làm, nhưng không bắt buộc). Dựa vào bức tường xa là một thầy lớn tuổi, chu đáo, trầm tư vẫn còn nhiều tóc đen hơn là trắng, người ít nói, nhưng lời nói của ông có hiệu lực. Ông có thể là một ứng viên tốt cho chức vụ tu viện trưởng, nhưng ông được coi là người khép kín. Đó là thầy Simon với cái nhìn lén lút và bàn tay không ngừng cử động, người mà (như Milius thầm thì vào tai Philip) quá thường xưng tội về tội thiếu khiết tịnh, đến nỗi người ta cho rằng ông thích xưng tội hơn là sợ tội. Ngay cả Wiliam Beavis cũng có mặt, cậu rất nghiêm trang. Thầy Paul xuất hiện, không còn khập khiễng. Cuthberth Whitehead bình tĩnh và rất tự chủ. John nhỏ, thầy thấp bé phụ trách về kho bạc cũng hiện diện, ngoài ra còn có Pierre, cha giám thị, người đã ngăn chặn bữa ăn của Phhilip ngày hôm qua. Philip nhìn quanh, ông nhận ra mọi người đang chú ý đến mình. Ông xấu hổ cúi đầu xuống.
Remigius bước vào với sự đồng hành của Andrew, cha phụ trách phụng vụ, và họ ngồi xuống bên cạnh John nhỏ và Pierre. Vì thế, Philip nghĩ, ít nhất họ đã tỏ ra họ thuộc về một phe.
Buổi họp bắt đầu với phần đọc sách về tiểu sử của vị thánh trong ngày: Simeon Stylites. Ông là một nhà ẩn tu, người đã sống cả cuộc đời trên một cái cột. Mặc dù không ai có thể phủ nhận khả năng hành xác của ngài, nhưng Philip luôn có một nghi ngờ thầm kín về giá trị thực sự của những lời chứng về ngài: đám đông lũ lượt đến với ông, nhưng họ đến để tìm kiếm của ăn tinh thần hay vì tò mò?
Sau lời nguyện đến phần đọc một chương sách của Thánh Biển Đức. Chính vì việc đọc mỗi chương hàng ngày mà tên của buổi họp cũng như của căn nhà này được mang tên đó - chapter. Remigius đứng lên đọc, và khi ông gián đoạn với cuốn sách mở trước mặt, Philip nhìn vào ông, lần đầu tiên nhìn ông qua đôi mắt một đối thủ. Remigius có một thái độ và cách ăn nói nhanh, có hiệu quả, tạo cho ông một uy quyền như thể ông có khả năng; nhưng nó hoàn toàn trái ngược với con người thật của ông. Quan sát kỹ hơn cho thấy những gì nằm sau khuôn mặt ông: đôi mắt màu xanh hơi lồi luôn chuyển động, miệng ông chần chừ hai ba lần trước khi nói, tay ông nắm lại rồi lại mở ra. Những thẩm quyền ông có là do kiêu ngạo và nóng giận và khinh thường người dưới quyền.
Philip ngạc nhiên, tại sao ông lại tự đọc chương sách. Một lúc sau ông hiểu. “Bậc thứ nhất của đức khiêm nhường là sự vâng lời nhanh chóng,” Remigius đọc. Ông chọn chương năm về sự vâng phục để nhắc nhở mọi người hiện diện về vị trí của ông và sự tuân phục của người thuộc quyền. Đó là một chiến thuật đe dọa. Remigius là một người ranh mãnh. “Họ không sống như họ muốn sống, cũng không theo ước muốn và thú vui của riêng mình, nhưng theo lệnh truyền và sự hướng dẫn của người khác trong tu viện, và họ ước muốn được lãnh đạo bởi một viện phụ,” ông đọc. “Không có gì đáng nghi ngờ, những lời này chuyên chở lời nói của Chúa chúng ta: ‘Tôi không đến để làm theo ý riêng tôi, nhưng để làm theo Đấng đã sai tôi.’” Remigius vẽ ra đường hướng tranh đấu: trong bối cảnh này ông muốn trình bày thẩm quyền đã được thiết lập.
Phần tiếp theo của cuộc họp là những lời nguyện cho những người đã qua đời, và hôm nay dĩ nhiên là cầu nguyện cho linh hồn Tu viện trưởng James. Phần sống động nhất của buổi họp luôn luôn là phần sau cùng: thảo luận về công việc, thú nhận những sai lầm và vạch ra những hành vi sai trái.
Remigius bắt đầu: “Trong thánh lễ hôm qua có một sự xáo trộn.”
Philip cảm thấy nhẹ nhõm. Bây giờ ông hiểu ông sẽ bị tấn công bằng cách nào. Ông không chắc chắn hành động của ông hôm qua là đúng, nhưng ông biết tại sao họ đã làm thế và ông sẵn sàng bảo vệ mình.
Remigius tiếp tục: “Chính tôi không có mặt – tôi ở trong nhà vì có việc cần – nhưng cha phụ trách phụng vụ kể cho tôi những gì đã xẩy ra.”
Ông bị Cuthberth cắt ngang. “Đừng vì thế mà trách cứ mình, anh Remigius ạ,” ông nói bằng giọng nhẹ nhàng. “Chúng tôi biết rằng, về nguyên tắc, không bao giờ được đặt công việc của tu viện lên trên thánh lễ, nhưng chúng tôi hiểu rằng cái chết của tu viện trưởng kính mến của chúng ta đã tạo ra nhiều công việc quá khả năng thông thường của anh, mà anh phải giải quyết. Tôi chắc rằng tất cả mọi người ở đây đều đồng ý là anh không phải xin lỗi về chuyện đó.”
Con cáo già khôn ngoan, Philip nghĩ. Dĩ nhiên, Remigius không có ý định thú nhận lỗi lầm. Tuy nhiên, Cuthberth đã tha lỗi cho ông ấy, qua đó mọi người cảm thấy như Remigius đã thừa nhận một lỗi lầm. Bây giờ, ngay cả nếu Philip mắc một lỗi lầm, ông vẫn ở ngang mức độ với Remigius. Ngoài ra, Cuthberth đã gây ra sự hoài nghi khi ông cho rằng Remigius gặp khó khăn với công việc của tu viện trưởng trước. Với một vài lời nói nghe có vẻ tử tế, Cuthberth đã hạ uy quyền của Remigius. Remigius nhìn giận dữ. Philip cảm thấy niềm vui chiến thắng như làm ông nghẹt thở.
Andrew, người phụ trách phụng vụ nhìn Cuthberth buộc tội: “Tôi chắc chắn không ai trong chúng ta muốn chỉ trích vị tu viện phó của chúng ta,” ông nói. “Sự xáo trộn gây ra bởi anh Philip, người từ tu viện St. John trong rừng đến thăm viếng chúng ta. Philip đem William Beavis ra ngoài và khiển trách anh ấy trong lúc tôi đang cử hành thánh lễ.”
Remigius làm ra vẻ buồn. “Có lẽ tất cả chúng ta đều đồng ý rằng anh Philip nên làm chuyện đó sau thánh lễ.”
Philip dò xét thái độ của các tu sĩ khác. Họ dường như chẳng đồng ý cũng như chẳng không đồng ý với những gì đang nói. Họ theo dõi diễn biến như khán giả tại một giải đấu, trong đó không quan trọng ai đúng hay ai sai mà sự quan tâm duy nhất là ai sẽ thắng.
Philip muốn bào chữa là nếu tôi chờ đợi, sự xáo trộn sẽ kéo dài trong suốt buổi lễ, nhưng ông nhớ lại lời khuyên của Milius nên im lặng; Milius nói dùm ông: “Tôi cũng không thể tham dự thánh lễ như mọi khi, vì ngay trước bữa ăn tối; vì thế, xin anh kể cho tôi, anh Andrew ạ, chuyện gì đã xẩy ra để anh Philip phải nhúng tay vào?
“Có một vài xáo trộn trong đám tu sĩ trẻ,” người phụ trách phụng vụ hờn dỗi trả lời. “Tôi dự định sẽ nói với họ sau thánh lễ.”
“Tôi hiểu anh không quan tâm đến các chi tiết nhỏ, vì tâm hồn anh tập trung trong thánh lễ,” Milius nói. “Nhưng may mắn là chúng ta còn có cha giám thị, người có trách nhiệm chú ý đến những hành vi sai trái của chúng ta. Hãy kể cho chúng tôi, anh Pierre ạ, anh đã quan sát thấy gì?”
Cha giám thị nhìn một cách thù hận: “Giống như những gì cha phụ trách phụng vụ đã kể.”
Milius nói: “Dường như chúng ta phải hỏi trực tiếp anh Philip về những chi tiết đã xẩy ra.”
Milius quá khôn ngoan, Philip nghĩ. Ông đã xác định cả người phụ trách phụng vụ và người giám thị cũng không nhìn thấy gì xẩy ra trong buổi lễ. Mặc dù Philip ngưỡng phục khả năng biện chứng của Milius, nhưng ông do dự để tiếp tục cuộc chơi. Cuộc bầu một tu viện trưởng không phải là cuộc tranh tài về trí thông minh, mà là tìm kiếm ý Thiên Chúa. Ông lưỡng lự. Milius nhìn ông như muốn nói: Bây giờ là cơ hội của anh! Nhưng Philip có một sự cứng đầu nhất định, nó tỏ ra rõ nhất khi ông bị đẩy vào vị trí không rõ ràng về mặt đạo đức. Ông nhìn vào mắt Milius và nói: “Nó giống như những gì anh em đã miêu tả.”
Mặt Milius ủ rũ. Ông nhìn chằm chằm vào Philip. Ông mở miệng, nhưng rõ ràng không biết phải nói gì. Philip cảm thấy mắc lỗi, ông cúi xuống. Tôi sẽ cắt nghĩa cho anh sau, ông nghĩ, chỉ sợ ông ấy quá tức giận.
Remigius muốn tiếp tục bản cáo trạng, nhưng một giọng nói cất lên: “Tôi muốn thú nhận.”
Mọi người chăm chú nhìn. William Beavis, người gây ra vấn đề, đứng lên và có vẻ xấu hổ. “Tôi đã bắn một viên bùn vào cha giáo tập, rồi cười,” anh ấy nói bằng giọng trầm và rõ ràng. “Anh Philip đã làm tôi xấu hổ. Tôi xin Chúa tha tội cho tôi và xin anh em cho tôi việc đền tội.” Anh đột ngột ngồi xuống.
Trước khi Remigius kịp phản ứng, một tu sĩ trẻ khác đứng lên và nói: “Tôi xin thú nhận. Tôi cũng đã làm như vậy. Tôi xin việc đền tội.” Anh ấy ngồi xuống. Sự bộc phá đột ngột của lương tâm tội lỗi có sức lan truyền: tu sĩ thứ ba thú nhận, rồi thứ tư, rồi đến tu sĩ thứ năm.
Vì thế sự thật dần dần được phơi bày ra ánh sáng, mặc dù Philip đã thận trọng và ông không khỏi hài lòng. Ông thấy Milius gắng giữ nụ cười chiến thắng. Lời thú tội chứng tỏ rằng có một cuộc nổi loạn nhỏ ngay trước mũi của người phụ trách phụng vụ và người giám thị.
Remigius trừng phạt những người có tội một tuần im lặng: họ không thể nói chuyện với ai và cũng không ai có thể nói chuyện với họ. Hình phạt này nặng hơn chúng ta tưởng. Khi còn trẻ, Philip đã từng trải qua. Ngay cả một ngày bị cô lập đã là một bức xúc, một tuần lễ hoàn toàn cô lập là một cực hình.
Các tu sĩ trẻ đã làm cho Remigius nổi giận vì bị qua mặt. Sau khi họ tự thú, ông không làm được gì khác ngòai việc trừng phạt họ, mặc dù qua đó ông như thừa nhận trước mặt các tu sĩ khác rằng Philip đúng. Cuộc tấn công vào Philip đã đi sai đường, và Philip chiến thắng. Mặc dù có một chút cắn rứt, ông vui mừng vì chiến thắng đó.
Nhưng sự sỉ nhục vị tu viện phó chưa kết thúc.
Cuthberth nói tiếp. “Còn có một xáo trộn sau thánh lễ mà chúng ta phải thảo luận. Cuộc xáo trộn này xẩy ra trong hành lang tu viện.” Philip ngạc nhiên không biết sự gì lại đến đây. “Anh Andrew cáo buộc anh Philip về cách ứng xử sai trái.” Dĩ nhiên ông ấy đã làm, Philip nghĩ; mọi người đều biết việc đó. Cuthberth nói tiếp: “Như tất cả chúng ta đều biết thời gian và nơi chốn cho những cuộc buộc tội là ở đây và bây giờ, trong buổi họp này. Và đó là lý do tại sao tổ phụ chúng ta lại quy định như thế. Sự tức giận nên để nguôi ngoai qua đêm và những bất bình có thể thảo luận vào ngày hôm sau trong bầu khí của trầm tĩnh và chừng mực; và tất cả cộng đoàn có thể đóng góp trí tuệ tập thể để tìm ra giải pháp cho vấn đề. Nhưng, tôi phải nói, anh Andrew đã bất chấp nguyên tắc hợp lý này. Anh đã chống đối Philip ngay tại hành lang tu viện bằng những lời lẽ nóng nẩy, làm phiền tới mọi người. Nếu chúng ta bỏ qua, không xét về những hành vi như vậy, sẽ không công bằng với các anh em trẻ, những người đã bị phạt vì việc họ đã làm.”
Nó thật tàn nhẫn và tài giỏi, Philip vui mừng nghĩ. Câu hỏi liệu Philip có đúng khi đem Wiliam ra khỏi thánh lễ để quở trách hay không đã chẳng được thảo luận. Mỗi một cố gắng để đem nó ra lại trở thành một cuộc điều tra về hành vi của người tố cáo. Và nó phải như vậy, vì việc khiếu nại của Andrew chống lại Philip là không đúng. Cuthberth và Milius đã thành công trong việc làm cho Remius và hai người trong phe bị mất uy tín.
Khuôn mặt đỏ thường ngày của Andrew biến thành màu tím, và Remigius trông sợ hãi. Philip hài lòng – họ đáng bị như vậy – nhưng bây giờ ông sợ sự sỉ nhục họ có nguy cơ đi quá xa. “Nó không thích hợp để các anh em trẻ thảo luận về hình phạt cho các anh em lớn tuổi của họ,” Andrew nói. “Hãy để tu viện phó xử lý vấn đề này một cách riêng tư.” Nhìn quanh, ông thấy các tu sĩ khác đã chấp nhận đề nghị của ông, và ông nhận ra rằng mặc dù không cố ý ông đã đạt được điểm khác.
Dường như mọi chuyện đã qua. Philip chắc chắn những người trước kia còn do dự, nay đã theo phía ông. Nhưng Remigius lại cất giọng: “Có một vấn đề khác tôi phải nêu lên.”
Philip nghiên cứu khuôn mặt của tu viện phó. Ông nhìn tuyệt vọng. Philip liếc nhìn người phụ trách phụng vụ Andrew và người giám thị Pierre và thấy cả hai đều ngạc nhiên. Đây là một việc không dự tính trước.
“Hầu hết anh em đều biết giám mục có quyền đề cử ứng viên cho cuộc bầu cử tu viện trưởng của chúng ta,” Remigius bắt đầu. “Có thể ngài không công nhận việc chúng ta bầu. Sự phân quyền này có thể dẫn tới cuộc tranh cãi giữa giám mục và tu viện, như một vài anh em lớn tuổi đã biết qua những kinh nghiệm đau khổ. Bởi vì giám mục không có thể ép buộc chúng ta chấp nhận ứng viên của ngài, cũng như chúng ta không thể khăng khăng chống lại ngài mà đòi ứng viên của chúng ta. Trong những cuộc tranh cãi như thế chỉ có đàm phán mới tìm ra được giải pháp. Trong thực tế, kết quả tùy thuộc vào sự quyết tâm và đồng tâm của anh em – nhất là sự đồng tâm.”
Philip đã có một linh cảm xấu về việc này. Remigius đã kìm được cơn giận và trở lại bình tĩnh và kiêu căng. Philip chưa biết chuyện gì sẽ tới, nhưng cảm giác chiến thắng của mình bay mất.
“Lý do tôi đề cập đến vấn đề này hôm nay là vì tôi có hai thông tin quan trọng,” Remigius tiếp tục nói. “Thứ nhất là có nhiều hơn một ứng viên được anh em trong phòng này đề cử.” Điều đó không ai ngạc nhiên, Philip nghĩ. “Thứ hai là giám mục cũng sẽ đề cử một ứng viên.”
Remigius dừng lại. Đó là sự im lặng ý nghĩa. Đó là một tin xấu cho cả hai phe. Một người nói: “Anh có biết giám mục đề cử ai không?”
“Vâng,” Remigius nói, và trong khoảnh khắc đó Philip biết ông ấy nói dối. “Người mà giám mục chọn là anh Osbert thành Newbery.”
Một hai tu sĩ hụt hơi. Các tu sĩ khác kinh ngạc. Họ biết Osbert, bởi vì ông đã là giám thị ở Kingsbridge một thời gian. Ông là con ngoài hôn thú của giám mục, và ông coi giáo hội hoàn toàn như phương tiện để nhờ đó ông có thể sống cuộc sống lười biếng và đầy đủ. Ông chẳng bao giờ nỗ lực nghiêm túc để giữ lời khấn của mình, và luôn dựa vào tình cha con để thoát khỏi rắc rối. Viễn tượng ông sẽ là tu viện trưởng làm mọi người kinh hoàng – kể cả người theo Remigius. Chỉ có thầy phụ trách nhà khách và một hoặc hai người đồi trụy theo ông có thể ủng hộ Osbert với hy vọng có được một sự lãnh đạo nhu nhược và cẩu thả.
Remigius cày thêm. “Nếu chúng ta đề cử hai ứng viên, giám mục có thể nói rằng chúng ta chia rẽ và không thể đồng tâm hợp trí được, vì thế ngài phải quyết định cho chúng ta, và chúng ta phải chấp nhận sự chọn lựa của ngài. Nếu chúng ta muốn chống lại Osbert, chúng ta chỉ nên đưa ra một ứng viên, và, có lẽ tôi phải nói thêm, chúng ta phải chắc chắn là ứng viên của chúng ta không dễ bị từ chối, thí dụ như vì lý do còn quá trẻ hoặc thiếu kinh nghiệm.”
Có tiếng rì rào của sự đồng ý. Philip bị đánh gục. Trước đây vài phút ông chắc chắn đã chiến thắng, nhưng chiến thắng đã bị lấy đi khỏi tay ông. Bây giờ tất cả theo Remigius, coi ông như một ứng viên vững chắc, ứng viên duy nhất có thể đánh bại được Osbert. Philip cảm thấy chắc chắn Remigius đã bịa chuyện về Osbert, nhưng nó không có sự khác biệt. Bây giờ các tu sĩ sợ hãi, họ quay về với Remigius; và điều đó có nghĩa là tu viện Kingsbridge sẽ còn chịu đựng nhiều năm suy tàn.
Trước khi có người nào có thể lên tiếng, Remigius nói: “Chúng ta chấm dứt nơi đây. Anh em sẽ suy nghĩ và cầu nguyện về vấn đề này khi các anh em làm việc của Chúa ngày hôm nay.” Ông đứng lên và đi ra, theo sau là Andrew, Pierre và John nhỏ, cả ba người tỏ vẻ chiến thắng.
Vừa khi họ đi khỏi, một cuộc trò chuyện vang lên giữa những người khác. Milius nói với Philip: “Tôi không ngờ Remigius lại có một thủ thuật như thế.”
“Ông ta nói dối.” Philip cay đắng nói. “Tôi chắc chắn về điều đó.”
Cuthberth nhập bọn và nghe nhận xét của Philip. “Nó thực sự không quan trọng về việc ông ta có nói dối hay không, phải thế không?” ông nói. “Mối đe dọa là đủ.”
“Sự thật cuối cùng sẽ ra ánh sáng,” Philip nói.
“Không nhất thiết,” Milius lập lại. “Giả sử như giám mục không đề cử Osbert, Remigius sẽ lập luận rằng giám mục rút lui vì sợ một cuộc tranh cãi với một tu viện hiệp nhất.”
“Tôi không sẵn sàng bỏ cuộc,” Philip cứng rắn nói.
“Chúng ta phải làm gì?” Milius hỏi.
“Chúng ta phải tìm ra sự thật,” Philip nói.
“Chúng ta không thể,” Milius nói.
Philip nghĩ nát óc. Sự thất vọng làm ông đau đớn.
Tại sao chúng ta không hỏi?” ông nói.
“Hỏi? Ý anh muốn hỏi ai?”
“Hỏi giám mục xem ý định của ngài là gì.”
“Bằng cách nào?”
“Chúng ta có thể gửi một thông điệp đến tòa giám mục, phải không?” Philip nói. Ông nhìn Cuthberth.
Cuthberth trầm ngâm. “Vâng, tôi thường gửi các thông điệp ra ngoài. Tôi có thể gửi một thông điệp đến tòa giám mục.”
Milius nói một cách hoài nghi: “Và hỏi giám mục xem ý của ngài thế nào?”
Philip nhíu mày. Đó là vấn đề.
Cuberth đồng ý với Milius. “giám mục sẽ không nói cho chúng ta biết,” ông nói.
Bất ngờ Philip có một ý tưởng. Mặt ông rạng rỡ lên, ông đấm vào lòng bàn tay khi ông nhìn thấy giải pháp.
“Không,” ông nói. “Giám mục sẽ không nói cho chúng ta. Nhưng tổng đại diện của ngài sẽ nói.”
 
 
Đêm đó Philip mơ về Jonathan, đứa trẻ bị bỏ rơi. Trong giấc mơ đứa bé ở trong hiên nhà nguyện tu viện St. John trong rừng và Philip ở phía trong, đang đọc kinh giờ nhất, trong khi con chó sói từ bìa rừng đến, đi qua cánh đồng, lướt nhẹ như con rắn và bắt đứa bé. Philip không phản ứng gì; ông sợ bị quấy rầy giờ kinh phụng vụ và sợ bị Remigius và Andrew khiển trách, cả hai đều có mặt ở đó (mặc dù trong thực tế cả hai chưa bao giờ đến tu viện này). Ông quyết định hét lên, nhưng mặc dù cố gắng, ông cũng không hét lên được thành tiếng, giống như thường xẩy ra trong giấc mơ. Ông cố gắng một lần nữa, rồi một lần nữa – và ông tỉnh dậy. Ông run rẩy trên giường, nghe hơi thở của các tu sĩ đang ngủ xung quanh ông và từ từ xác định rằng con chó sói không có thật.
Từ khi đến Kingsbridge hầu như ông không nghĩ đến đứa bé. Ông tự nghĩ ông sẽ làm gì với đứa bé nếu ông trở thành tu viện trưởng. Sau đó mọi thứ sẽ khác. Một đứa bé trong một tu viện nhỏ giữa rừng không đáng quan tâm lắm, mặc dù nó là điều bất thường. Cũng đứa trẻ này ở tu viện Kingsbridge sẽ tạo nên nhiều thắc mắc. Ngược lại, điều đó có gì là sai? Nó không phải là một tội khi cho người ta có cơ hội nói về nó. Nếu ông trở thành tu viện trưởng, ông có thể làm những gì ông cho rằng thích hợp. Ông có thể đem Johnny Eightpence theo tới Kingsbridge để lo cho đứa nhỏ. Ý tưởng này làm ông hài lòng. Đó là điều mà tôi sẽ làm, ông nghĩ. Rồi ông chợt nhớ rằng hầu như ông sẽ không thể thành tu viện trưởng.
Ông nằm thao thức cho đến bình minh, trong cơn sốt của thiếu kiên nhẫn. Ông không thể làm gì để giải quyết trường hợp của ông. Nói chuyện với các tu sĩ khác chỉ là vô ích, vì tư tưởng họ bị xâm chiếm bởi mối đe dọa về Osbert. Một vài người tiếp cận với Philip và nói họ rất buồn vì ông thất bại, như thể cuộc bầu cử đã diễn ra. Ông chống lại sự cám dỗ muốn gọi họ là hèn nhát. Ông chỉ mỉm cười nói với họ rằng có thể họ sẽ ngạc nhiên. Nhưng niềm tin của ông không đủ mạnh. Tổng đại diện Waleran có thể không ở tòa giám mục; hay ông ở đó nhưng không muốn nói cho Philip biết dự định của giám mục. Hoặc có thể nhất, theo cá tính của tổng đại diện, ông sẽ đưa ra dự định của chính ông.
Philip thức dậy lúc bình minh với các tu sĩ khác và đi vào nhà thờ cho giờ kinh sáng, giờ kinh đầu tiên trong ngày. Sau đó ông đi về phía nhà ăn, định ăn sáng với các tu sĩ khác, nhưng Milius chặn ông lại, với một cử chỉ lén lút ra hiệu cho ông vào nhà bếp. Philip theo ông, đầu óc ông căng thẳng. Sứ giả có thể đã trở về: điều đó xảy ra quá nhanh. Ông phải nhận được trả lời ngay và trở về ngay chiều hôm qua. Ngay cả như thế nó vẫn quá nhanh. Philip không thấy một con ngựa nào trong chuồng có khả năng hành trình nhanh chóng như thế. Nhưng câu trả lời là gì?
Không phải sứ giả đang đợi ông trong nhà bếp, nhưng chính là Tổng đại diện Waleran Bigod.
Philip nhìn ông ngạc nhiên. Hình dáng gầy gò trong y phục đen ngồi trên ghế trông giống như con quạ trên cành cây. Đầu lỗ mũi ông đỏ vì lạnh. Ông đang hâm nóng đôi bàn tay trắng lạnh quanh một ly rượu gia vị nóng.
“Ông đến đây thật là tốt quá,” Philip thốt ra.
“Tôi vui vì ông đã viết thư cho tôi,” Waleran lạnh lùng nói.
“Có thật là giám mục đề cử Osbert không?” Philip nôn nóng hỏi.
Waleran giơ một tay lên ngăn ông nói. “Tôi sẽ trở lại vấn đề đó. Cuthberth vừa kể cho tôi những chuyện ngày hôm qua.”
Philip giấu sự thất vọng của mình. Đây sẽ không phải là một câu trả lời thẳng. Ông quan sát khuôn mặt Waleran, cố gắng xem ông đang nghĩ gì. Waleran chắc chắn có kế hoạch riêng, nhưng Philip không đoán được kế hoạch đó là gì.
Cuthberth, người mà lúc đầu Philip không để ý, ngồi bên đống lửa và nhúng bánh mì vào bia để làm mềm bánh cho hàm răng già cỗi của ông, tiếp tục tường thuật về buổi họp tối qua. Philip bồn chồn, chân này đá chân kia và cố gắng đọc qua cử điệu của Waleran. Ông lấy một miếng bánh, nhưng ông khó nuốt trôi được. Ông uống một ly bia, chỉ để cho bàn tay mình bớt dư thừa.
“Và vì thế,” Cuthberth kết thúc, “cơ hội duy nhất của chúng tôi là cố gắng xác minh ý muốn của giám mục. Và một cách may mắn, Philip gần đây đã được gặp gỡ ông. Vì thế chúng tôi gửi tới ông một lá thư.”
Philip nóng ruột nói: “Và bây giờ ông nói cho chúng tôi biết những gì chúng tôi muốn biết?”
“Vâng, tôi sẽ nói cho ông.” Waleran đặt ly rượu gia vị xuống. “Giám mục muốn con mình trở thành tu viện trưởng Kingsbridge.”
Trái tim Philip chùng xuống. “Thế là Remigius nói sự thật.”
Waleran tiếp tục: “Tuy nhiên giám mục không dám liều tranh cãi với các tu sĩ.”
Philip nhíu mày. Đây là ít nhiều mà Remigius đã dự báo – nhưng có điều gì không hoàn toàn đúng. Philip nói với Waleran: “Ông không đến đây qua cách này chỉ để nói cho chúng tôi điều đó.”
Waleran nhìn Philip một cách khâm phục, và Philip biết ông đã đoán đúng. “Không,” Waleran nói. “Giám mục đã yêu cầu tôi kiểm tra tình hình của tu viện. Và ngài trao quyền cho tôi thay ngài đề cử một ứng viên. Thật vậy, tôi có mang theo con dấu của giám mục, vì thế tôi có thể viết thư đề cử chính thức và ràng buộc ngay tại chỗ. Các ông thấy, tôi có toàn quyền của giám mục.”
Philip cần một thời gian để tiêu hóa nó. Waleran được trao quyền đề cử ứng viên và đóng ấn nó với con dấu của giám mục. Điều đó có nghĩa là giám mục đã hoàn toàn trao việc này trong tay Waleran. Ông đang nói chuyện với người có thẩm quyền của giám mục.
Philip lấy một hơi sâu và nói: “Ông có đồng ý với những gì Cuthberth nói với ông là nếu Osbert được đề cử, có thể sẽ xẩy ra một cuôc tranh cãi mà giám mục muốn tránh không?”
“Đúng, tôi hiểu điều đó,” Waleran nói.
“Vì thế ông không muốn đề cử Osbert.”
“Không.”
Philip căng thẳng như giây cung. Các tu sĩ sẽ rất vui mừng được thoát khỏi viễn tượng đe dọa về Osbert, và vì thế sẽ biết ơn bỏ phiếu cho bất cứ ai mà Waleran đề cử.
Waleran bây giờ có uy quyền để chọn tu viện trưởng mới.
Philip hỏi: “Vậy ông sẽ đề cử ai?”
Waleran nói: “Ông… hay Remigius.”
“Khả năng của Remigius…”
“Tôi biết khả năng của ông ấy và khả năng của ông,” Waleran nói trong khi giơ bàn tay gầy guộc để ngắt lời Philip. “Và tôi cũng biết ai trong hai người sẽ là tu viện trưởng tốt.” Ông yên lặng một lúc. “Nhưng đó là vấn đề khác.”
Chuyện gì nữa đây? Philip tự hỏi. Còn sự gì khác phải xem xét, ngoài việc chọn ra tu viện trưởng tốt nhất? Ông nhìn những người khác. Milius cũng bối rối, chỉ có Cuthbert già là có một nụ cười nhẹ, như thể ông biết điều gì sẽ đến.
Waleran nói: “Cũng như ông, tôi mong những chức vụ quan trọng trong giáo hội được trao cho những người năng động, có khả năng, bất kể đến tuổi tác; thay vì được trao như phần thưởng cho những người đã phục vụ lâu dài hoặc cho những người lớn tuổi mà vẻ thánh thiện có thể lớn hơn khả năng lãnh đạo của họ.”
“Dĩ nhiên,” Philip sốt ruột nói, không nhìn thấy ý nghĩa thâm sâu mà Waleran muốn nói.
“Chúng ta phải làm việc chung với nhau cho mục đích này – cả ba các ông và tôi.”
Milius nói: “Tôi không hiểu ông muốn gì?”
“Tôi hiểu,” Cuthbert nói.
Waleran cười nhẹ với Cuthbert, rồi quay lại với Philip. “Hãy để tôi nói thẳng với các ông,” ông nói. “Giám mục đã già. Một ngày gần đây ông sẽ qua đời, và chúng ta sẽ cần một tân giám mục, cũng như hôm nay chúng ta cần tu viện trưởng mới. Các tu sĩ của Kingsbridge có quyền bầu giám mục mới, bởi vì giám mục của Kingsbridge cũng là viện phụ của tu viện.”
Philip nhăn mặt. Điều đó có nhĩa gì? Họ đang chọn một tu viện trưởng, chứ không phải chọn giám mục. Nhưng Waleran tiếp tục. “Dĩ nhiên, tu sĩ các ông không hoàn toàn tự do chọn tân giám mục, bởi vì tổng giám mục và vua cũng có những đề nghị theo quan điểm của họ; nhưng sau cùng chính các tu sĩ hợp thức hóa việc bổ nhiệm. Và khi thời điểm đó đến, ba người trong các ông có một ảnh hưởng quan trọng trên quyết định này.”
Cuthbert gật gù như chừng những gì ông đoán là đúng, và bây giờ Philip cũng vậy, cũng hiểu mơ hồ những gì sắp đến.
Waleran chấm dứt: “Ông muốn tôi đề cử ông làm tu viện trưởng. Tôi muốn ông đề cử tôi làm giám mục.”
Thì ra là vậy.
Philip nhìn chăm chú vào Waleran. Mọi chuyện thật đơn giản. Tổng đại diện muốn làm một cuộc trao đổi.
Philip bị sốc. Nó không hoàn toàn là sự mua bán chức vụ trong giáo hội, một hành động được gọi là tội của Simony; nhưng nó cũng có cảm giác thương mại khó chịu.
Ông cố gắng nghĩ một cách khách quan về đề nghị này. Điều đó có nghĩa là ông sẽ thành tu viện trưởng. Trái tim ông đập nhanh hơn khi ông nghĩ về nó. Điều đó cũng có nghĩa là Waleran có lẽ sẽ thành giám mục vào một thời điểm nào đó. Ông sẽ là một giám mục tốt chăng? Chắc chắn ông là người có thẩm quyền và ông dường như không có tệ nạn nghiêm trọng. Ông phục vụ Thiên Chúa một cách thực tế và trong thế giới, cũng như Philip vậy. Philip nhận thấy thái độ trắng trợn của Waleran, nhưng ông cũng cảm thấy nó xuất phát từ ý muốn thật là bảo vệ và phát triển giáo hội.
Ai có thể là ứng viên khi giám mục qua đời? Có lẽ Osbert. Những chức vụ trong giáo hội được truyền từ cha sang con không mới lạ, mặc dù các giáo sĩ phải sống độc thân. Dĩ nhiên, nếu Osbert là giám mục, ông sẽ là một gánh nặng cho giáo hội hơn là ông trở thành tu viện trưởng, Philip nghĩ. Thà rằng ủng hộ một ứng viên xấu như Waleran, hơn là để cho Osbert thành giám mục. Còn có các ứng viên khác không? Không thể đoán được. Có thể còn nhều năm nữa giám mục mới qua đời.
Cuthbert nói với Waleran: “Chúng tôi không thể bảo đảm ông sẽ được bầu.”
“Tôi biết,” Waleran nói. “Tôi chỉ yêu cầu các ông đề cử tôi. Đó cũng chính xác là điều tôi làm cho các ông – một sự đề cử.”
Cuthbert gật đầu. “Tôi đồng ý với điều đó,” ông nói long trọng.
“Tôi cũng vậy,” Milius nói.
Tổng đại diện và hai tu sĩ nhìn Philip. Ông do dự, giằng co. Đây không phải là cách để chọn giám mục, ông biết; nhưng tu viện ở trong tay ông. Nó không đúng để đánh đổi chức vụ thánh này lấy chức vụ thánh kia, như người buôn bán ngựa, nhưng nếu ông từ chối, kết quả có thể là Remigius thành tu viện trưởng và Osbert thành giám mục.
Tuy nhiên, những lý luận hợp lý bây giờ có nghĩa gì? Ước muốn được trở thành tu viện trưởng giống như một sức mạnh không thể cưỡng lại được ở trong ông, và ông không thể từ chối, bất kể lợi và hại. Ông nhớ lại lời nguyện ông đã nói với Chúa hôm qua rằng ông muốn tranh đấu cho trách vụ này. Ông ngước mắt lên và nói lời nguyện khác: Nếu Chúa không muốn điều đó xẩy ra, thì xin hãy làm tê liệt miệng lưỡi con, ngăn hơi thở con trong họng và ngăn cản con nói.
Rồi ông nhìn Waleran và nói: “Tôi chấp nhận.”
 
 
Giường của tu viên trưởng rất lớn – ít nhất ba lần lớn hơn giường mà Philip đã từng ngủ qua. Tủ giường bằng gỗ cao bằng nửa người, trên đó có nệm lông. Có màn cửa chung quanh để tránh gió lùa và trên màn cửa được thêu cảnh trong Kinh thánh bởi bàn tay của một nữ bệnh nhân ngoan đạo. Philip quan sát chiếc giường với chút suy tư. Dường như đối với ông, một phòng ngủ riêng cho tu viện trưởng là một lãng phí – Philip chưa từng có trong đời một phòng ngủ riêng, và đêm nay là đêm đầu tiên ông ngủ một mình. Chiếc giường quá lớn. Ông suy nghĩ có nên cho đem đến một chiếc nệm rơm từ phòng ngủ, và đem chiếc giường này vào khu bệnh viện, nơi nó sẽ làm giảm bớt nỗi đau của các tu sĩ già không. Nhưng dĩ nhiên giường này không chỉ dành cho Philip. Khi tu viện có một vị khách đặc biệt, thí dụ như giám mục hay bá tước hay ngay cả nhà vua, thì những vị khách này sẽ ngủ trong phòng này, còn tu viện trưởng sẽ dời đi nơi khác. Vì thế, thực sự  Philip không có thể bỏ nó đi được.
“Ông sẽ ngủ ngon đêm nay,” Waleran nói, không mang chút ghen tỵ nào.
“Tôi nghĩ như vậy,,” Philip nói với vẻ ngờ vực.
Mọi chuyện đến quá nhanh. Waleran đã viết một lá thư cho tu viện, ngay trong nhà bếp, yêu cầu các tu sĩ phải tổ chức ngay cuộc bầu cử và ông đề cử Philip. Ông ký tên lá thư bằng tên giám mục và đóng dấu bằng triện giám mục. Rồi cả bốn người họ vào trong nhà họp.
Vừa khi Remigius nhìn thấy họ vào, ông biết cuộc tranh đấu đã kết thúc. Waleran đọc lá thư, và các tu sĩ vỗ tay khi ông xướng tên Philip. Remigius đủ thông minh để từ bỏ cuộc bỏ phiếu và thừa nhận sự thất cử của mình.
Philip trở thành tu viện trưởng.
Ông tiếp tục điều hành buổi họp còn lại và kết thúc nó nghiêm chỉnh. Sau đó ông đi qua bãi cỏ đến nhà tu viện trưởng ở góc đông nam sân tu viện, để chính thức nhận nơi ở.
Khi thấy chiếc giường ông nhận ra đời ông đã thay đổi hoàn toàn và không thể quay ngược lại. Bây giờ ông trở thành đặc biệt, khác xa các tu sĩ khác. Ông có uy quyền và đặc quyền. Và ông có trách nhiệm. Ông là người duy nhất đảm bảo cho cộng đoàn nhỏ gồm bốn mươi lăm tu sĩ này được sống và được thịnh vượng. Nếu họ đói, đó là lỗi của ông; nếu họ thành đồi trụy, đó là tội của ông; nếu họ làm thiệt hại giáo hội của Chúa, Chúa sẽ bắt Philip chịu trách nhiệm. Ông đã tìm gánh nặng này, ông nhắc nhở mình, bây giờ ông phải chịu.
Nhiệm vụ đầu tiên của ông trong trách vụ tu viện trưởng là hướng dẫn các tu sĩ vào nhà thờ tham dự thánh lễ. Hôm nay là lễ Chúa hiển linh, ngày thứ mười hai sau lễ Giáng sinh, và là ngày lễ nghỉ. Tất cả dân làng sẽ tham dự thánh lễ, và có nhiều người khác đến từ các vùng xung quanh. Một nhà thờ chính tòa khang trang với một cộng đoàn tu sĩ mạnh mẽ và thánh lễ trang trọng sẽ thu hút cả hàng nghìn người. Ngay cả Kingsbridge buồn tẻ cũng thu hút được hầu hết hàng quý tộc địa phương, bởi vì thánh lễ cũng là dịp cho họ gặp người láng giềng và nói chuyện kinh doanh.
Trước thánh lễ Philip còn có vài việc để nói chuyện với Waleran, bởi vì bây giờ họ chỉ còn lại một mình. “Thông tin mà tôi trao đổi với ông,” ông bắt đầu, “về bá tước Shiring…”
Waleran gật đầu. “Tôi quên mất chuyện đó, thật ra nó còn quan trọng hơn vấn đề ai sẽ là tu viện trưởng hoặc giám mục. Họ chờ ông ấy ở Shiring ngày mai.”
“Ông dự định như thế nào?” Philip lo lắng hỏi.
“Tôi muốn dùng ngài Percy Hamleigh. Tôi hy vọng ông ấy sẽ có mặt trong thánh lễ hôm nay.”
“Tôi có nghe nói về ông ấy, nhưng tôi chưa gặp ông ấy.” Philip nói.
“Hãy để ý đến một ông béo có một bà vợ xấu và một người con đẹp trai. Ông không lầm bà ấy được đâu – trông bà ấy chướng mắt lắm.”
“Điều gì làm ông tin rằng họ sẽ theo vua Stephen chống lại Bartholomew?”
“Họ ghét Bá tước Bartholomew thậm tệ.”
“Tại sao?”
“Con trai của họ, William, đã đính hôn với con gái bá tước, nhưng cô ấy lại từ chối anh ấy, và đám cưới bị hủy bỏ. Đó là một sự sỉ nhục cho gia đình Hamleigh. Cho đến bây giờ họ vẫn còn đau đớn về chuyện đó và chỉ tìm cơ hội trả thù Bartholomew.”
Philip gật đầu hài lòng. Ông vui vì đã trút được trách nhiệm và tu viện Kigsbridge có đủ vấn đề mà ông cần giải quyết. Waleran có thể lo những công việc bên ngoài thế giới.
Họ rời nhà tu viện trưởng và đi trở lại tu viện. Các tu sĩ đang đợi. Philip đứng đầu hàng và đoàn rước bắt đầu di chuyển.
Nó là một giây phút thật đẹp khi ông đi vào nhà thờ với giọng ca của các tu sĩ đàng sau ông. Ông yêu thích điều đó nhiều hơn là ông tưởng. Ông tìm kiếm lời giải thích tại sao ông lại có cảm giác hạnh phúc này. Ông nói với lòng mình rằng vị trí mới, ưu việt của ông hiện nay biểu tượng quyền lực mà ông phải chu toàn tốt. Ông ước muốn Viện phụ Peter từ Gwynedd có thể nhìn thấy ông – vị viện phụ già đó chắc sẽ hài lòng lắm!
Ông hướng dẫn các tu sĩ vào hàng ghế trong cung thánh. Một lễ trọng như thế này thông thường được giám mục cử hành. Hôm nay thánh lễ do người đại diện của giám mục chủ sự, Tổng đại diện Waleran. Khi Waleran bắt đầu, Philip đảo mắt tìm kiếm gia đình mà Waleran đã miêu tả. Có khoảng một trăm năm mươi người đứng trong gian giữa, những người giầu có trong áo choàng mùa đông nặng nề và giầy da, các nông dân trong áo khoác thô và guốc gỗ. Philip không gặp khó khăn để tìm ra gia đình Hamleigh. Họ đứng phía trên, gần bàn thờ. Ông nhìn thấy người đàn bà trước. Waleran đã không phóng đại – bà xấu ghê gớm. Mặc dù bà đội khăn mỏ quạ, nhưng khuôn mặt bà lộ ra. Ông nhìn thấy da bà bị ung nhọt mà tay bà luôn luôn rờ vào. Bên cạnh bà là người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi: đó phải là Percy. Quần áo của ông tỏ ra ông thuộc hạng giầu có và quyền lực đáng kể, nhưng không thuộc hàng đầu của các lãnh chúa và bá tước. Người con trai đứng dựa vào một cột lớn trong gian giữa. Anh là một thanh niên đẹp với mái tóc vàng và đôi mắt ngạo mạn. Một cuộc hôn nhân với một gia đình quý tộc sẽ giúp gia đình Hamleigh vượt qua được biên giới phân chia hàng quý tộc tỉnh lẻ và hàng quý tộc của vương quốc. Nó chẳng ngạc nhiên gì khi họ tức giận vì cuộc hôn nhân bị hủy bỏ.
Philip tập trung lại vào thánh lễ. Đối với Philip, Waleran cử hành thánh lễ quá nhanh. Ông tự hỏi mình lần nữa không biết việc ông đề cử Waleran làm giám mục khi đức giám mục hiện tại qua đời có đúng không? Ông là người dấn thân, nhưng ông coi thường phụng vụ. Quyền lực và sự giầu sang của giáo hội sau cùng chỉ có nghĩa khi phục vụ để cứu các linh hồn. Philip quyết định không nên quan tâm đến Waleran quá nhiều. Những gì xẩy ra đã xẩy ra; và giám mục có thể ngăn chặn tham vọng của Waleran nếu ngài sống thêm hai mươi năm nữa.
Cộng đoàn rối loạn. Dĩ nhiên, không ai trong họ biết đáp lại trong thánh lễ, ngoại trừ một số kinh quen thuộc và đáp lại Amen; chỉ có các linh mục và tu sĩ tích cực tham gia. Một số người tham dự trong thinh lặng tôn kính, những người khác đi xung quanh, chào hỏi lẫn nhau và chuyện trò. Họ là những người chất phát, Philip nghĩ: mình phải làm gì để thu hút sự chú ý của họ.
Thánh lễ sắp kết thúc và Waleran nói với cộng đoàn: “Hầu hết quý vị đã biết tu viện trưởng quý mến của Kingsbridge đã qua đời. Thi thể của ngài vẫn nằm đây với chúng ta trong nhà thờ này, và sẽ được an táng trong nghĩa trang tu viện sau bữa ăn chiều nay. Giám mục và các tu sĩ đã chọn cha Philip thành Gwynedd, người đã dẫn chúng tôi vào nhà thờ sáng nay, làm người nối nghiệp.”
Ông ngừng lại, và Philip đứng lên định dẫn cuộc rước ra. Nhưng Waleran nói tiếp: “Tôi có một tin buồn khác để thông báo.”
Philip ngạc nhiên. Ông kịp thời ngồi xuống.
“Tôi vừa nhận được tin,” Waleran nói. Ông ấy không nhận được tin gì, Philip biết rõ vì họ ở cùng nhau cả buổi sáng hôm nay. Tổng đại diện lại muốn chuyện gì đây?
“Thông tin nói với chúng ta về một mất mát làm chúng ta đau buồn,” một lần nữa ông ngừng lại.
Một người nào đó qua đời – nhưng là ai? Waleran đã biết chuyện đó trước khi ông đến, nhưng ông giữ bí mật và ông ấy giả vờ như mới nghe tin ấy. Tại sao?
Philip chỉ có thể nghĩ về một chuyện có thể xẩy ra – và nếu điều đó đúng, Waleran còn tham vọng và vô đạo đức hơn Philip tưởng tượng. Có thực sự là ông ấy đã lừa dối tất cả họ? Có phải Philip chỉ là con tốt trong ván cờ của Waleran kkhông?
Những lời nói cuối cùng của Weleran xác nhận sự lo âu đó. “Anh chị em thân mến,” ông nói nghiêm trọng, “giám mục của Kingsbridge đã qua đời.”
 

Minh Nan
  • Số bài : 23
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.12.2016
Re:Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới - 04.01.2017 14:54:46
0
Chương 3
 
I
“Con chó đó chắc cũng có ở đây,” mẹ William nói. “Tôi chắc chắn như vậy.”
William nhìn mặt tiền nhà thờ Kingsbridge với cảm giác lo sợ pha lẫn với nhớ thương. Nếu công nương Aliena có mặt ở thánh lễ Hiển linh này thì đó là một xấu hổ đớn đau cho gia đình cậu, tuy nhiên trái tim cậu đập nhanh hơn khi nghĩ rằng cậu sẽ được gặp lại cô.
Họ chạy nước kiệu theo con đường dẫn đến Kingsbridge, William và cha cậu trên lưng con ngựa chiến và mẹ cậu trên lưng con ngựa đua đẹp. Ba hiệp sĩ và ba người giúp việc theo sau họ. Họ đi thành một đoàn ấn tượng và thậm chí đáng sợ, và William hài lòng về nó. Các nông dân, những người đi bộ đến Kingsbridge, sợ hãi rẽ sang hai bên khi họ nghe thấy tiếng chân mạnh mẽ của đoàn ngựa đến gần.
Bà mẹ đã sôi sục vì giận. “Tất cả họ đều biết, ngay cả những nông dân tồi tệ” bà nói qua kẽ răng, “và họ còn kể chuyện khôi hài về chúng ta: ‘Khi nào cô dâu không còn là cô dâu?’ Rồi họ trả lời: ‘Khi chàng rể là William Hamleigh!’ Tôi đã đánh một người vì điều đó, nhưng tình hình vẫn không tốt hơn. Tôi muốn bắt con chó đó, lột sống da nó, treo da nó trên một cành cây để cho chim xé xác nó ra.”
William ước mong mẹ cậu đừng nói thêm gì về chuyện đó. Gia đình đã bị sỉ nhục rồi, và đó là do lỗi của William – hay mẹ cậu đã cho là như vậy – và cậu không muốn nhớ lại nó.
Họ đi trên cây cầu gỗ ọp ẹp bắc ngang qua sông dẫn đến làng Kingsbridge và thúc ngựa trên con đường chính đến tu viện. Đã có hai mươi hoặc ba mươi con ngựa đang gặm bãi cỏ thưa trên các nấm mồ ở phía bắc nhà thờ, nhưng không con nào đẹp như ngựa của nhà Hamleigh.
Họ đi đến chuồng và giao ngựa cho các đứa trẻ giữ ngựa của tu viện. Rồi họ đi theo hàng ngũ qua khoảng sân xanh: William và bố đi hai bên mẹ, đàng sau là các kỵ binh và sau cùng là các người giúp việc. Mọi người tránh qua hai bên, dành chỗ cho họ đi; nhưng William có thể thấy họ huých nhau và chỉ trỏ, và cậu có thể chắc chắn rằng họ đang xì xào về đám cưới bị hủy bỏ của cậu. Cậu liều liếc nhìn mẹ, và qua cái nhìn giận dữ trên khuôn mặt của bà, cậu nhận ra rằng bà cũng đang nghĩ như vậy.
Họ đi vào nhà thờ.
William ghét ngôi nhà thờ. Nhà thờ lạnh lẽo và âm u ngay cả khi trời đẹp, và luôn luôn thoang thoảng mùi ẩm thấp trong các góc tối và đường đi thấp hai bên. Tệ hại nhất là nhà thờ gợi cậu nhớ đến những đau khổ của hỏa ngục, và cậu sợ hỏa ngục.
Cậu đảo mắt lướt qua nhà thờ. Lúc đầu cậu không thể phân biệt được các khuôn mặt vì quá tối. Khi mắt cậu đã quen với bóng tối, cậu vẫn chưa nhìn thấy Aliena. Họ tiến lên theo lối đi. Vẫn chưa thấy bóng dáng cô đâu. Cậu vừa cảm thấy nhẹ nhõm, vừa cảm thấy thất vọng. Rồi cậu thấy cô và trái tim cậu lỡ một nhịp.
Aliena đứng phía trước bên phía nam của gian giữa, hộ tống bởi một hiệp sĩ mà William không quen biết, xung quanh còn có nhiều kỵ binh và các bà phục vụ. Mặc dù cô đứng quay lưng về phía cậu, nhưng mái tóc xoăn đen của cô vẫn không thể nhầm lẫn. Cậu đang nhìn cô thì cô quay lại. William nhìn thấy đôi gò má mềm mại và chiếc mũi cao kiêu hãnh. Đôi mắt đen của cô bắt gặp ánh mắt cậu. Cậu ngưng thở. Cặp mắt đen này bình thường đã lớn, lại mở rộng hơn khi nhìn thấy cậu. William làm bộ như không thấy cô, nhưng cậu không thể rời ánh mắt cậu đi. Cậu muốn cô mỉm cười với cậu, hay chỉ cần đôi môi đầy đặn của cô nhếch lên, không cần gì nhiều mà chỉ là dấu hiệu của một sự quen biết lịch sự. Cậu nghiêng đầu chào cô, chỉ một chút, đúng hơn là một cái gật đầu. Nét mặt cô cứng lại và cô quay lên.
William co rúm lại như thể cậu bị đau. Cậu cảm thấy mình như con chó bị đuổi ra khỏi đường, và cậu muốn cuộn tròn mình trong một góc, không muốn ai để ý đến cậu. Cậu liếc sang hai bên xem có ai đã nhìn thấy cậu và cô ấy đã trao đổi ánh mắt với nhau không. Khi cậu cùng với bố mẹ đi xa hơn về phía trước, cậu nhận ra nhiều người nhìn cậu rồi lại nhìn Aliena, huých lẫn nhau và xì xào. Cậu nhìn thẳng về phía trước, tránh cái nhìn của mọi người. Cậu cố gắng giữ cao đầu. Làm sao cô ấy lại có thể làm điều đó với chúng tôi? Cậu nghĩ. Chúng tôi là một trong các gia đình danh tiếng nhất ở miền Nam nước Anh, và cô ấy làm chúng tôi xấu hổ. Ý nghĩ này làm cậu tức giận và cậu mong được rút kiếm ra tấn công một ai đó, bất cứ người nào.
Cảnh sát trưởng của Shiring chào bố William và họ bắt tay nhau. Dân chúng quay đi chỗ khác, tìm điều gì mới mẻ để thì thầm. Sự tức giận vẫn còn sôi sục trong William. Đám quý tộc trẻ đến bên Aliena và từng người cúi đầu chào cô. Hình như cô đang mỉm cười với mọi người.
Thánh lễ bắt đầu. William tự hỏi tại sao mọi chuyện lại diễn ra xấu thế. Bá tước Bartholomew có một con trai để thừa hưởng danh hiệu và tài sản của ông. Vì thế ông muốn dùng người con gái cho một việc duy nhất là để liên minh với các thế lực khác. Aliena là một trinh nữ mười sáu tuổi, không có ý định trở thành nữ tu, nên mọi người đều nghĩ rằng một cuộc hôn nhân giữa cô và một nhà quý tộc trẻ mười chín tuổi là quá đẹp đôi. Bởi vì về mối lợi trong chính trị, cha cô đã có thể gả cô cho một bá tước béo phì bốn mươi tuổi hoặc thậm chí cho một bá tước đầu hói sáu mươi tuổi.
Khi cuộc hôn nhân đã được định đoạt, William và cha mẹ cậu đã không cần giữ kín đáo, ngược lại họ đã loan tin trong tất cả vùng xung quanh. Cuộc gặp gỡ lần đầu giữa William và Aliena chỉ là hình thức, nhưng Aliena không nghĩ như vậy.
Dĩ nhiên, họ không phải là những người xa lạ. Cậu còn nhớ cô khi cô còn trẻ. Cô có một khuôn mặt tinh quái và chiếc mũi hếch. Mái tóc ngang bướng của cô ngày đó bị cắt ngắn. Cô hay gây gỗ, cứng đầu, táo bạo và hách dịch. Cô luôn luôn tổ chức các trò chơi cho trẻ em, quyết định chúng chơi trò gì, và ai thuộc nhóm nào. Cô cũng xét xử các tranh chấp và cho điểm. William bị cô thu hút, và cũng bất bình vì tính cách chỉ huy của cô. Cậu có thể bỏ dở cuộc chơi và bắt cô chú ý đến cậu; nhưng điều đó không kéo dài, vì sau cùng cô cũng làm chủ được tình hình, khiến cậu cảm thấy bối rối, bị thua, bị bỏ rơi, bị tức giận và bị lấn át – giống như cậu đang cảm thấy bây giờ.
Sau khi mẹ cô qua đời, cô du hành nhiều với bố và William ít khi gặp cô. Tuy nhiên cậu vẫn thường thấy cô, đủ để biết rằng cô đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, hấp dẫn, và cậu rất vui khi biết cô là người đính hôn của cậu. Dù cô ấy kết hôn với cậu vì yêu cậu hay không, nhưng William vẫn muốn đi gặp cô và làm mọi chuyện để có thể cưới cô.
Cô ấy có thể còn là trinh nữ, nhưng cậu không còn. Trong số những thiếu nữ cậu quen, có nhiều cô gần đẹp như Aliena, nhưng không ai được sinh ra trong gia đình quyền quý như Aliena. Cậu đã trải qua kinh nghiệm rằng con gái bị quyến rũ bởi quần áo đẹp đẽ của cậu và cách cậu chi tiền cho rượu ngọt và những giây băng sặc sỡ; và nếu cậu dụ được họ đến một chuồng ngựa hoang vắng nào đó, thường thường họ chiều theo ý cậu - một cách sẵn sàng hay ít sẵn sàng hơn.
Thật ra William là một người dễ thân mật với phụ nữ. Lúc đầu cậu thường để họ nghĩ là cậu không thực sự để ý đến họ. Nhưng khi cậu ở một mình với Aliena, sự tự tin đã bỏ rơi cậu. Cô mặc chiếc áo lụa xanh sáng, rộng và dài. Tất cả những gì cậu có thể nghĩ, đó là về thân thể bên trong chiếc áo dài đó mà chẳng bao lâu nữa cậu có thể nhìn khi nào cậu muốn. Cậu gặp cô ấy khi cô đang đọc sách. Đó là một việc không bình thường đối với một phụ nữ không phải là nữ tu. Cậu hỏi cô đang đọc sách gì, chỉ để tâm trí cậu tránh khỏi bộ ngực của cô đang nhấp nhô dưới lớp áo lụa màu xanh.
“Nó mang tựa đề ‘Tiểu thuyết của Alexander’. Nó là câu truyện của vua Alexander đại đế và cách ông thu phục những mảnh đất tuyệt vời ở phía đông, nơi mà những viên đá quý mọc lên trên gốc nho và cây cối có thể nói chuyện.”
William không thể tưởng tượng được tại sao một người lại có thể phí phạm thời giờ vào những chuyện ngu ngốc như thế, nhưng cậu đã không nói như vậy. Cậu kể cho cô về con ngựa của cậu, về con chó và về thành quả của cậu trong săn bắn, trong đấu vật và cưỡi ngựa. Cô không ấn tượng về chuyện đó như cậu hy vọng. Cậu kể về căn nhà bố cậu đã xây cho họ, và, để giúp cô chuẩn bị cho nhiệm vụ làm vợ trong gia đình, cậu cho cô biết cậu muốn mọi việc trong gia đình ra sao. Cậu cảm thấy cô không còn lắng nghe, nhưng cậu không biết tại sao. Cậu ngồi gần cô bao nhiêu có thể, vì cậu muốn ôm ghì lấy cô, muốn cảm nhận cô và tìm hiểu xem bộ ngực này có to như cậu tưởng tượng không; nhưng cô nghiêng người ra khỏi cậu, khoanh tay và gác chéo chân. Thái độ của cô như cấm đoán, đến nỗi cậu phải từ bỏ ý định và tự an ủi mình rằng, chẳng bao lâu nữa cậu có thể làm với cô mọi chuyện cậu thích.
Tuy nhiên khi cậu ở đó, cô đã không tỏ điều gì về dự định của cô. Cô chỉ nói nhẹ nhàng: “Tôi không nghĩ chúng ta hợp nhau.” Nhưng William cho đó là sự khiêm tốn của thiếu nữ và bảo đảm với cô rằng họ rất hợp nhau.
Cậu không biết rằng ngay sau khi cậu đi khỏi, cô sẽ ập vào người bố cô và loan báo rằng cô sẽ không kết hôn với cậu. Không gì có thể lay chuyển được cô, thà rằng cô sẽ vào tu viện; và ngay cả họ có dùng dây sắt kéo cô đến bàn thờ, cô cũng sẽ không mở miệng nói lên sự đồng ý. Con chó cái! William nghĩ; con chó cái này! Nhưng cậu không thể chưởi Aliena như mẹ cậu đã chưởi cô. Cậu không muốn lột sống da Aliena. Cậu muốn nằm lên trên thân thể nóng bỏng của cô và hôn cô.
Thánh lễ Hiển Linh kết thúc với phần loan báo về cái chết của giám mục. William hy vọng tin này sẽ làm lu mờ tin giật gân về đám cưới bị hủy bỏ của cậu. Các tu sĩ ra khỏi nhà thờ theo đoàn rước, và tiếng trò chuyện vui vẻ phát ra khi cộng đoàn vừa ra tới cửa. Nhiều người trong số họ đã có quan hệ vật chất hoặc tinh thần với giám mục – ví dụ như người thuê nhà, hay như công nhân trên đất của ngài – và mọi người đều quan tâm xem ai sẽ là người nối nghiệp và người nối nghiệp có thay đổi gì không. Cái chết của một người có vị trí quan trọng luôn tạo ra nguy hiểm cho người thuộc quyền.
William theo cha mẹ xuống gian giữa và cậu ngạc nhiên khi thấy Tổng đại diện Waleran tiến về phía họ. Ông di chuyển nhanh qua đám đông, giống như con chó đen trong cánh đồng đầy bò; và giống như những con bò, đám đông lo sợ nhìn ông và rời xa ông một hai bước. Ông làm ngơ trước đám nông dân và trao đổi vài câu với mỗi người trong tầng lớp quý tộc. Khi ông đến bên gia đình Hamleigh, ông chào bố của William, bỏ qua William, rồi lại chú ý đến bà mẹ. “Cuộc hôn nhân như vậy thật xấu hổ,” ông nói.
William đỏ mặt. Tên khùng này nghĩ rằng ông lịch sự với lời phỉ báng đó sao?
Bà mẹ không quan tâm đến nó như William. “Tôi không phải là người thù lâu,” bà nói dối.
Waleran bỏ qua chuyện đó. “Tôi nghe thông tin về Bá tước Bartholomew mà có lẽ ông bà quan tâm,” ông nói. Giọng ông nhẹ nhàng, vì thế mà không ai nghe được, và William phải cố gắng lắm mới có thể theo dõi được câu chuyện. “Dường như bá tước không giữ lời thề với nhà vua đã mất.”
Ông bố nói: “Barthholomew luôn là một người đạo đức giả cứng đầu.”
Waleran nhìn đau khổ. Ông muốn họ lắng nghe chứ không bình luận. “Bartholomew và Robert, bá tước thành Gloucester sẽ không chấp nhận vua Stephan mà giáo hội và các bá tước đã chọn như ông biết.”
William tự hỏi tại sao tổng đại diện lại nói về những cuộc tranh cãi của các bá tước. Ngay bố cậu cũng nghĩ như vậy, nên ông nói: “Nhưng các bá tước không thể chống lại chuyện đó được.”
Bà mẹ thông cảm sự nóng ruột của Waleran vì những ý kiến xen vào của chồng. “Hãy nghe đã!” bà rít lên.
Waleran nói: “Những gì tôi nghe được là họ đang âm mưu một cuộc phản loạn và đưa Maud lên làm nữ hoàng.”
William không thể tin vào tai mình. Có thể nào một tổng đại diện lại có những tuyên bố liều lĩnh như thế, và ở ngay đây, giữa nhà thờ chính tòa Kingsbridge? Dù nó đúng hay sai, người ta cũng có thể bị treo cổ về chuyện đó.
Ông bố giật mình, nhưng bà mẹ trầm tư nói: “Robert thành Gloucester là anh em khác mẹ với Maud… Chuyện đó có thể xẩy ra.”
William tự hỏi làm sao mẹ mình lại có thể biết những tin tức nóng hổi như thế, Nhưng bà rất thông minh và bà luôn luôn đúng trong mọi chuyện.
Waleran nói: “Bất cứ ai có thể loại bỏ được Bartholomew và ngăn chặn cuộc nổi loạn, người đó sẽ được vua Stephan và Mẹ giáo hội ghi ơn đời đời.”
“Thật vậy sao?” ông bố nói với giọng bàng hoàng, nhưng bà mẹ gật đầu một cách khôn ngoan.
“Bartholomew dự kiến sẽ trở về vào ngày mai,” Waleran nói điều đó trong khi ông ngước lên, nhìn vào mắt mỗi người. Ông quay lại bà mẹ và nói: “Tôi nghĩ, ông bà sẽ là người quan tâm đến vấn đề này nhất.” Rồi ông quay đi, chào những người khác.
William chằm chằm nhìn theo ông. Đó có phải là những gì thực sự ông muốn nói?
Bố mẹ William đi ra, và cậu theo họ ra ngoài, qua cổng vòng cung lớn. Cả ba đều im lặng. William đã nghe nói về cuộc dàn xếp trước đây năm tuần về việc ai sẽ là vua, nhưng mọi việc đã xong khi Stephan được tấn phong ở tu viện Westminster ba ngày trước lễ Giáng sinh. Bây giờ, nếu Waleran đúng, mọi chuyện lại bắt đầu lại. Nhưng tại sao Waleran lại thổ lộ chuyện này cho gia đình Hamleigh?
Họ đi qua bãi cỏ xanh đến chuồng ngựa. Ngay sau khi họ xa khỏi đám đông bên ngoài cổng nhà thờ, khi không còn ai nghe lén được nữa, ông bố hào hứng nói: “Thật là một may mắn. Người đã sỉ nhục gia đình mình sẽ phải ra tòa vị tội phản quốc!”
William không nhìn thấy tại sao đó lại là một may mắn, nhưng bà mẹ hiểu, bởi vì bà gật đầu đồng ý.
Ông bố tiếp tục: “Chúng ta có thể bắt giam ông ấy bằng đầu gươm nhọn, và treo cổ ông ấy lên cành cây gần nhất.”
William chưa nghĩ đến chuyện đó, nhưng bây giờ cậu hiểu ra trong nháy mắt: nếu Bartholomew là một kẻ phản bội, người ta có thể giết ông. “Chúng ta có thể trả thù ông ấy,” William bật miệng nói. “Và thay vì bị phạt, chúng ta lại được vua ban thưởng!” Họ lại có thể ngẩng cao đầu, và –
“Kẻ ngu ngốc!” bà mẹ tức giận nói. “Kẻ mù quáng! Kẻ đần độn! Các ông muốn treo cổ Bartholomew lên cây. Các ông có muốn biết những gì sẽ xẩy ra sau đó không?”
Không ai dám nói gì. Tốt hơn không nên trả lời câu hỏi của bà, nhất là khi bà ở trong tâm trạng như thế này.
Bà nói tiếp: “Robert thành Gloucester sẽ chối là ông ấy không có bất cứ âm mưu gì, rồi ông ấy sẽ ôm lấy vua Stephen và thề trung thành; và sau cùng chính hai ông là người bị treo cổ vì tội giết người.”
William rùng mình. Ý nghĩ bị treo cổ làm cậu khiếp sợ. Cậu đã có những ác mộng về nó. Tuy nhiên cậu thấy mẹ cậu đúng: vua có thể tin hoặc giả bộ tin rằng không ai dám táo bạo chống lại ông, và ông sẵn sàng thí hai mạng sống để bảo vệ uy tín.
Ông bố nói: “Em có lý. Chúng ta sẽ trói Bartholomew như một con lợn bị đem đi giết và đem ông ấy đến giao cho nhà vua ở Winchester. Chúng ta sẽ tố cáo ông ở đó và nhận phần thưởng của vua.”
“Tại sao các ông không nghĩ thêm được chút nữa?” bà mẹ khinh khỉnh nói. Bà rất căng thẳng và William có thể thấy bà cũng háo hức như bố, nhưng chỉ qua cách khác. “Các ông nghĩ là Tổng đại diện Waleran không muốn đem kẻ phản bội này nộp cho nhà vua sao?” bà nói. “Ông ấy không muốn phần thưởng cho ông ấy sao? Các ông không biết là từ trong thâm tâm ông ấy rất muốn trở thành giám mục của Kingsbridge sao? Tại sao ông ấy lại ưu tiên dành cho các ông quyền bắt giữ Hamleigh? Tại sao ông ấy lại gặp chúng ta trong nhà thờ như một sự tình cờ, thay vì đến gặp chúng ta ở nhà? Tại sao cuộc trao đổi của chúng ta ngắn gọn và không trực tiếp?”
Bà ngưng lại một chút, như chờ đợi câu trả lời, nhưng cả hai William và ông bố biết rằng bà thật sự không cần câu trả lời. Willian nhớ lại rằng các linh mục không được dính vào chuyện đổ máu, và có lẽ đó là lý do tại sao Waleran không muốn tham dự vào việc bắt giữ Bartholomew; nhưng nghĩ sâu hơn, cậu nhận ra Waleran không có sự thận trọng này.
“Tôi sẽ nói cho các ông tại sao,” bà mẹ tiếp tục. “Bởi vì ông ấy chưa chắc chắn có phải Bartholomew là kẻ phản bội không. Thông tin của ông ấy không đáng tin cậy. Tôi không đoán được ông ấy đã lấy thông tin này ở đâu – có lẽ qua một câu chuyện trong khi say, hay nhận được tin tức này không rõ ràng, hoặc nói chuyện với một điệp viên không đáng tin cậy. Trong mọi trường hợp, ông ấy không sẵn sàng để tay mình nhúng chàm. Ông ấy sẽ không buộc tội Bartholomew một cách công khai, vì khi lời buộc tội không đúng, ông ấy sẽ bị kết án là kẻ vu khống. Ông ấy muốn người khác mạo hiểm và làm công việc bẩn thỉu cho ông ấy. Khi công việc đã xong và sự phản bội được chứng minh, ông ấy sẽ bước ra và đòi phần thưởng của mình. Nếu Bartholomew vô tội, Waleran sẽ chẳng thừa nhận đã kể cho chúng ta ngày hôm nay.”
Dường như nó đúng như bà diễn tả. Không có bà, William và ông bố có thể đã rơi vào bẫy của Waleran. Họ đóng vai trò mật thám cho ông và nhận những rủi ro thay cho ông. Nhận định về chính trị của bà mẹ thật chính xác.
Ông bố nói: “Vậy theo ý em, chúng ta nên bỏ qua chuyện này sao?”
“Chắc chắn là không,” đôi mắt bà sáng lên. “Nó vẫn là một cơ hội để tiêu diệt những người đã làm nhục chúng ta.” Cậu bé giữ ngựa đã đem ngựa ra. Bà cầm dây cương, ra hiệu cho cậu đi nhưng chưa lên ngựa ngay. Đứng bên hông ngựa, trầm tư vỗ vào cổ nó và nói nhẹ: “Chúng ta cần bằng chứng về âm mưu để khi chúng ta buộc tội, không ai có thể chối cãi được. Chúng ta phải tìm bằng chứng một cách lén lút, không tiết lộ những gì chúng ta đang tìm kiếm. Khi chúng ta có bằng chứng, chúng ta có thể bắt Bartholomew, điệu ông ta đến vua. Đối diện với bằng chứng, Bartholomew sẽ phải thú nhận và xin lỗi, khi đó chúng ta sẽ yêu cầu phần thưởng của mình.”
“Và phủ nhận là Waleran đã giúp chúng ta,” ông bố nói thêm.
Bà mẹ lắc đầu. “Hãy cho ông ấy chia sẻ chiến thắng và phần thưởng của ông ấy. Sau đó ông ấy sẽ mang ơn chúng ta. Điều đó chỉ có lợi cho chúng ta.”
“Nhưng chúng ta tìm kiếm bằng chứng về âm mưu này như thế nào?” ông bố lo lắng hỏi.
“Chúng ta phải tìm cách len lỏi vào lâu đài của Bartholomew và quan sát nó,” bà mẹ cau mày nói. “Điều đó không dễ dàng. Không người nào cho chúng ta thăm viếng, vì ai cũng biết chúng ta ghét Bartholomew.”
William chợt nẩy ra sáng kiến. “Con sẽ đi,” cậu nói.
Bố mẹ cậu, cả hai đều giật mình. Bà mẹ nói: “Người ta sẽ ít để ý đến con hơn là bố con, mẹ nghĩ như vậy, nhưng ý định của con ra làm sao?”
William đã nghĩ về điều đó. “Con có thể đến thăm Aliena,” cậu nói, và tim cậu đập nhanh hơn khi nghĩ về điều đó. “Con có thể xin cô ấy suy nghĩ lại quyết định của cô ấy. Thực sự cô ấy không biết rõ về con. Cô ấy đánh giá con sau khi chúng con gặp nhau. Con có thể là một người chồng tốt của cô ấy. Có lẽ cần phải tán tỉnh cô ấy lâu hơn.” Cậu dấu nụ cười hoài nghi để bố mẹ cậu không nhận ra là thật sự cậu muốn làm điều đó.
“Một lý do đáng tin cậy,” bà mẹ nói. Bà chăm chú nhìn William: “Lạy Chúa, con hy vọng thằng nhỏ này có một ít thông minh của mẹ nó.”
 
 
Lần đầu tiên trong những tháng qua William cảm thấy lạc quan, khi cậu được sai đến lâu đài bá tước vào ngày sau lễ Chúa Hiển Linh. Trời sáng và lạnh. Gió bắc làm lạnh đôi tai cậu và cỏ đông cứng rạo rạc dưới chân con ngựa chiến. Cậu mặc một chiếc áo choàng màu xám viền lông thỏ trên chiếc áo chẽn màu đỏ thẫm.
Walter, người giúp việc, cùng đồng hành với cậu. Khi William mười hai tuổi, Walter đã là người giám hộ của cậu, và đã dạy cậu cưỡi ngựa, săn bắn, đấu kiếm và quyền anh. Bây giờ ông vừa là người giúp việc, vừa là người đồng hành và cũng là người cận vệ. Ông cao như William nhưng bệ vệ hơn. Mặc dù lớn hơn William chín hay mười tuổi, ông vẫn còn trẻ để đi uống rượu và săn gái, nhưng cũng đủ lớn để giữ cậu khỏi những phiền toái có thể xẩy ra. Ông là bạn thân của William.
Trước viễn tượng được gặp lại Aliena, William háo hức, mặc dù cậu biết một lần nữa cậu sẽ phải đối diện với sự từ chối và sỉ nhục. Cái nhìn của cô trong nhà thờ Kingsbridge, khi cậu nhìn vào đôi mắt đen của cô, đã làm cháy lên niềm khao khát của cậu. Cậu mong muốn được nói chuyện với cô, được gần cô, nhìn thấy mái tóc quăn xù, quan sát những chuyển động dưới áo cô.
Đồng thời, cơ hội trả thù cũng nung đốt lòng thù hận trong lòng William. Cậu phấn khích với tư tưởng cậu có thể gột rửa mọi sỉ nhục mà gia đình cậu đã phải chịu đựng.
Cậu ước muốn cậu biết rõ hơn cậu muốn tìm gì trong lâu đài bá tước. Cậu chắc chắn sẽ tìm ra manh mối, xem câu chuyện của Waleran có thật không, bởi nếu nó thật thì chắc chắn phải có dấu hiệu của việc chuẩn bị chiến tranh trong lâu đài. Khi đó ngựa phải được gom lại, vũ khí phải được lau chùi, và lương thực phải được chuẩn bị. Tuy nhiên, tìm ra âm mưu là một việc, nhưng tìm ra bằng chứng của âm mưu lại là việc khác.
William không có một chút tưởng tượng gì về bằng chứng của một cuộc mưu phản phải như thế nào. Vì thế, cậu quyết định mở to mắt quan sát và hy vọng một cái gì đó sẽ xẩy ra. Đó không phải là một kế hoạch lớn lao, và trong lòng cậu có một nỗi lo dai dẳng là cơ hội trả thù sẽ vượt khỏi tay cậu.
Càng đến gần, cậu càng hồi hộp. Cậu tự hỏi không biết người ta có từ chối không cho cậu vào lâu đài không, và cậu mất một vài phút lo sợ cho đến khi cậu nhận ra rằng lâu đài là một nơi công cộng và đóng cửa lâu đài mà không có lý do là dấu hiệu có một âm mưu đang tiến hành.
Bá tước Bartholomew ở cách Shiring vài dặm. Lâu đài ở Shiring là doanh trại của cảnh sát quận, vì thế bá tước có một lâu đài riêng ở ngoại ô. Ngôi làng mọc lên xung quanh bức tường lâu đài được gọi là làng ‘lâu đài bá tước’. Willian đã đến đó, nhưng hôm nay cậu quan sát nó qua ánh mắt của kẻ tấn công.
Có một hào xâu, rộng mang hình số tám, với các tường thành bên trên nhỏ hơn bức tường phía dưới. Số đất đào lên từ hào xâu được chất đống bên trong hai vòng tròn, tạo ra thành lũy.
Ở chân vòng số tám là một cây cầu bắc qua con hào. Đây là lối vào duy nhất. Không có lối thẳng vào vòng tròn phía trên, mà người ta chỉ có thể đi qua vòng dưới, rồi đi qua cây cầu bắc ngang qua hào xâu. Vòng trên là chốn thiêng liêng.
Khi William và Walter cưỡi ngựa qua cánh đồng mênh mông, họ nhìn thấy nhiều người đến rồi đi. Hai người trang bị vũ khí đi qua cây cầu rồi phi nước đại theo hai hướng khác nhau, và một nhóm bốn người cưỡi ngựa đi qua cầu trước khi William và Walter đi vào.
William nhận ra rằng phần cuối của cây cầu dẫn đến cổng thành bằng đá vào lâu đài. Trên tường thành bằng đất, những tháp canh được chia đều, vì thế mà toàn bộ khu vực được bảo vệ chắc chắn. Tấn công trực diện lâu đài này sẽ là công việc kéo dài và đẫm máu, và gia đình Hamleigh không thể tập hợp đủ người để bảo đảm thành công, William ủ rũ kết luận.
Dĩ nhiên hôm nay lâu đài mở cửa. William giới thiệu tên mình trong phòng gác bên cạnh cổng vào lâu đài và được cho vào ngay. Trong vòng tròn phía dưới, được chia cắt với thế giới bên ngoài qua bức tường đất, là những dẫy nhà thông thường: chuồng ngựa, nhà bếp, nhà xưởng, một ngọn tháp và một nhà nguyện.
Một bầu khí rộn ràng trong lâu đài. Người giữ ngựa, người giúp việc đi vội vàng và nói lớn tiếng, chào hỏi nhau và pha trò. Một người quan sát bình thường có thể nghĩ đó chỉ là một bầu khí vui vì bá tước mới trở về, nhưng William đoán đàng sau đó còn có gì hơn nữa.
Cậu để Walter ở chuồng ngựa và đi qua khu đối diện với cổng thành, nơi đây có một cây cầu bắc qua hào vào vòng trên. Khi cậu qua cầu, cậu bị một người lính gác chặn lại và hỏi cậu đi đâu, và cậu nói: “Tôi đến gặp cô Aliena.”
Người gác không biết cậu, nhưng ông nhìn cậu từ đầu đến chân, chú ý đến áo khoác đẹp và áo chẽn màu đỏ thẫm, ông định giá cậu như một người cầu hôn đầy hy vọng. “Có thể ông sẽ gặp một phụ nữ trẻ trong hội trường lớn,” ông nói với một nụ cười điệu.
Trung tâm của vòng dưới là một tòa nhà bằng đá hình vuông, ba tầng lầu với những bức tường dầy. Như thông thường, tầng trệt là một nhà kho. Hội trường lớn ở bên trên nhà kho, lên đó bằng chiếc cầu thang bằng gỗ phía ngoài và chiếc thang có thể được rút vào trong. Trong tầng trên cùng là phòng ngủ của bá tước, và đó sẽ là nơi ông đứng lần cuối cùng khi gia đình Hamleigh đến bắt ông, William nghĩ.
Bố cục của tòa nhà là một trở ngại lớn cho kẻ tấn công. William đã chẳng bao giờ quan tâm đến điều đó, bây giờ cậu nhận ra chức năng của các yếu tố khác nhau trong công trình xây dựng. Ngay cả khi kẻ tấn công vào được vòng dưới, họ còn phải vượt qua cây cầu và một cổng nhà khác, sau đó phải vượt qua pháo đài vững chắc. Để lên được đến vòng trên, có lẽ họ phải tạo ra một cầu thang, và sau đó sẽ là một cuộc chiến đẫm máu để tấn công từ hội trường lớn lên đến phòng ngủ của bá tước. Cách duy nhất để chiếm lâu đài là lén lút, William nhận ra điều đó, và cậu vẽ vời ý tưởng xem lén lút vào bằng cách nào.
Cậu trèo lên cầu thang và bước vào hội trường lớn. Đầy người trong đó, nhưng bá tước không có mặt. Ở góc xa bên tay trái là cầu thang dẫn lên phòng ngủ. Mười lăm hoặc hai mươi hiệp sĩ và kỵ binh ngồi xung quanh chân cầu thang, nói chuyện thì thầm với nhau. Đó là việc không bình thường, vì hiệp sĩ và kỵ binh thuộc hai tầng lớp xã hội khác nhau. Hiệp sĩ sở hữu đất đai và sống bằng cách cho thuê đất, trong khi những binh sĩ được trả tiền từng ngày. Hai nhóm người này chỉ thân thiện với nhau khi có mùi của chiến tranh.
William nhận ra một số người trong họ: Gilbert Catfae, một chiến sĩ già, nóng tính, có râu mép lỗi thời và bộ râu dài, đã trên bốn mươi tuổi nhưng vẫn cường tráng; Ralph thành Lyme, người tiêu nhiều tiền cho quần áo hơn cả cô dâu, hôm nay mặc áo khoác xanh với áo trong bằng lụa đỏ; Jack Fitz Guillaume là một hiệp sĩ, mặc dù ông chỉ bằng tuổi William; và nhiều khuôn mặt khác mà William đã gặp đâu đó. Cậu gật đầu chào về phía họ, nhưng họ chẳng quan tâm đến cậu – nhiều người biết cậu, nhưng cậu còn quá trẻ để trở thành quan trọng.
Cậu nhìn quanh và ngay lập tức thấy Aliena ở phía bên kia hội trường.
Hôm nay trông cô khác. Hôm qua trong buổi lễ ở nhà thờ, cô mặc bộ quần áo bằng lụa và len mịn, cùng với vòng, băng và giầy nhọn. Hôm nay cô mặc chiếc áo ngắn của một nông dân hay của một trẻ em, và đi chân trần. Cô ngồi trên ghế băng, chăm chú vào một trò chơi trên tấm bảng.
Khi William nhìn, cô kéo áo và gác chân lên nhau, tình cờ để lộ đầu gối, và cô nhăn mũi cau mày. Hôm qua cô là một phụ nữ quý phái, hôm nay cô là một đứa trẻ dễ bị tổn thương, và William thấy cô càng hấp dẫn hơn. Thình lình cậu cảm thấy xấu hổ, vì một đứa trẻ như thế mà lại có thể gây cho cậu bao nhiêu đau khổ và cậu muốn có cơ hội để cho cô biết cậu có thể làm chủ cô. Nó là cảm xúc của ham muốn.
Cô chơi với một cậu bé nhỏ hơn cô khoảng ba tuổi. Cậu bé bồn chồn, thiếu kiên nhẫn, như thể cậu không thích trò chơi này. William có thể nhìn thấy nét giống nhau của hai người. Thật vậy, William nhớ lại, cậu bé trông giống Aliena thời còn trẻ, với lỗ mũi hếch và mái tóc ngắn. Cậu chắc là Richard, em trai của cô, người thừa kế gia tài của bá tước.
William đến gần hơn. Richard ngước nhìn cậu, rồi lại chú ý đến trò chơi. Aliena đang tập trung. Tấm bảng gỗ có hình thánh giá và chia thành từng hình vuông với màu sắc khác nhau. Các viên đá trắng và đen hình như làm bằng ngà voi. Rõ ràng nó là một quà tặng mà cha cô đã đem về từ Normandie. William chú ý đến Aliena. Khi cô nghiêng mình về phía trước, cổ áo cô mở rộng và cậu có thể nhìn thấy phần đầu ngực của cô. Chúng lớn như cậu đã tưởng tượng. Cậu nuốt nước bọt.
Richard di chuyển một viên đá trên bảng, và Aliena nói: “Không, em không thể chơi như thế.”
Đứa bé phản đối: “Tại sao không?”
“Bởi vì nó không đúng như luật chơi, đồ ngu.”
“Em không thích luật chơi,” Richard nhùng nhằng nói.
Aliena khùng lên: “Em phải theo luật chơi!”
“Tại sao em phải theo?”
“Em phải theo, đó là lý do tại sao!”
“Được, em không theo,” cậu bé nói, và lật úp tấm bảng xuống nền nhà, ném các viên đá đi.
Nhanh như chớp, Aliena cho cậu bé một cái tát vào mặt.
Cậu bé khóc to lên. Niềm tự hào và khuôn mặt của cậu đau nhói. “Chị,” cậu bé ngập ngừng, “con quỷ - đồ đĩ”. Cậu bé quay mình và chạy đi, nhưng sau ba bước cậu đụng ngay William.
William dùng một cánh tay kéo cậu lên, giữ cậu trên không và nói: “Đừng cho các linh mục nghe thấy em gọi chị bằng tên như thế.”
Richard cựa quạy và la to: “Đừng làm tôi đau – hãy để tôi đi!”
William giữ cậu bé thêm một lúc. Richard thôi vùng vẫy và bắt đầu khóc to. William để cậu bé xuống và cậu chạy đi trong nước mắt.
Aliena nhìn chằm chằm vào William, quên mất trò chơi, cô cau mày. “Anh đến đây làm gì?” cô hỏi. Giọng cô trầm và bình tĩnh, giọng nói của một người lớn tuổi.
William ngồi xuống ghế băng, hài lòng về cách cậu đã xử với Richard. “Anh đến đây để gặp em,” cậu nói.
Một thoáng cảnh giác xuất hiện trên mặt cô. “Để là gì?”
Willian tìm vị trí ngồi để cậu có thể quan sát cầu thang. Cậu thấy một người chạc bốn mươi tuổi ăn mặc như một người phục vụ cao cấp, có mũ tròn và áo chẽn ngắn bằng vải tốt. Người phục vụ ra hiệu, và một hiệp sĩ và một binh sĩ lên lầu chung với nhau. William nhìn Aliena và nói: “Anh muốn nói chuyện với em.”
“Về chuyện gì?”
“Về em và anh.” Qua vai của cô, cậu nhìn thấy người phục vụ tiến đến họ. Trong cách đi của người đàn ông có một chút nữ tính. Một tay ông cầm đường mía màu nâu. Tay khác ông cầm một củ xoắn trông giống như củ gừng. Người đàn ông rõ ràng là người quản lý lâu đài và giữ tủ gia vị, một tủ khóa kín để trong phòng ngủ của bá tước, và bây giờ ông đem gia vị đến cho người nấu ăn: Đường có lẽ để làm bánh táo và gừng dùng cho cá mút đá.
Aliena dõi theo mắt nhìn của William. “Ô, chào Matthew.”
Người quản lý mỉm cười và bẻ một miếng đường cho cô. William có cảm giác Matthew rất thân thiện với Aliena. Một chút gì đó trong thái độ của Aliena tiết lộ cho ông ấy biết rằng cô đang không thoải mái, bởi vì nụ cười của ông biến thành một cái cau mày, và ông ấy nói: “Có chuyện gì không?” ông nói nhẹ nhàng.
“Không, cảm ơn ông.”
Matthew nhìn William và khuôn mặt ông tỏ vẻ bất ngờ.
“William Hamleigh trẻ phải không?”
William xấu hổ vì được biết đến, mặc dù cậu biết điều này không thể tránh khỏi. “Hãy giữ lấy đường cho trẻ em,” cậu nói, mặc dù Matthew không mời cậu ăn. “Tôi không cần đến nó.”
“Rất tốt, thưa ngài.” Cái nhìn của Matthew tỏ ra rằng ông không muốn có vấn đề với con cái của giai cấp quý tộc. Ông quay lại phía Aliena. “Bố cô mang về một số tơ lụa mềm mại tuyệt vời. Tôi sẽ chỉ cho cô xem sau.”
“Cảm ơn!” cô nói.
Matthew đi ra.
William nói: “Chàng ngốc nữ tính.”
Aliena nói: “Tại sao anh lại thiếu lịch sự với ông ấy như vậy?”
“Tôi không muốn người phục vụ của em gọi tôi là ‘William Hamleigh trẻ’.” Đó không phải là cách tốt nhất để lấy lòng phụ nữ. William nhận ra điều đó trong tâm trạng chán nản, vì chính ra cậu phải lịch lãm. Cậu mỉm cười và nói: “Nếu em là vợ anh, người phục vụ của anh sẽ gọi em là ‘thưa bà’.”
“Có phải anh đến đây để nói về chuyện đám cưới không?” cô hỏi, và William khám phá ra vẻ nghi ngờ trong giọng cô.
“Em không biết rõ về anh,” William nói bằng giọng phản đối. Cậu đã không kiểm soát được cuộc nói chuyện này, cậu đau buồn nhận ra. Cậu dự định có một cuộc nói chuyện ngắn trước khi bước vào công việc, nhưng cô quá thẳng thắn và cởi mở, đến nỗi cậu ép buộc phải nói ra điều cậu muốn. “Em đã hiểu sai về anh. Anh không biết lần trước, khi chúng mình gặp nhau, anh đã làm gì để em không thích anh; nhưng bất cứ vì lý do nào, em đã quyết định quá vội vàng.”
Cô quay mặt đi, cô tìm một câu trả lời hợp lý. Đàng sau cô, William nhìn thấy một hiệp sĩ và một binh sĩ đi xuống cầu thang, rồi đi ra ngoài, tìm kiếm một cái gì đó. Một lúc sau người đàn ông trong y phục linh mục – có lẽ thư ký của bá tước – xuất hiện phía trên và vẫy tay. Hai hiệp sĩ đứng dậy và đi lên cầu thang: Ralph thành Lyme với chiếc áo chẽn đỏ xẫm và một người đàn ông đầu hói già hơn. Rõ ràng những người trong hội trường lớn đang cuẩn bị để gặp bá tước từng người một hay hai người một trong phòng ngủ của ông. Nhưng tại sao?
“Sau một thời gian dài,” Aliena nói. Cô đè nén một số cảm xúc. Nó có thể là giận dữ, nhưng William có cảm giác như đó là nụ cười. “Sau tất cả những rắc rối, giận dữ và tai tiếng; cuối cùng khi nó đã chìm xuống, anh lại nói với tôi là tôi đã làm sai?”
Như cô ấy diễn tả, nó nghe có vẻ không thuyết phục, William nghĩ. “Nó không chìm xuống chút nào hết – mọi người vẫn bàn tán về nó, mẹ tôi vẫn giận dữ, bố tôi không thể ngẩng đầu lên giữa đám đông,” cậu nói. “Đối với chúng tôi, nó chưa chấm dứt.”
“Như vậy tất cả chỉ vì danh dự của gia đình anh, phải không?”
Có một nét nguy hiểm trong giọng nói của cô, nhưng William phớt lờ nó. Bất ngờ cậu nhận ra bá tước cần gì nơi các hiệp sĩ và binh lính này: ông gửi các thông điệp. “Danh dự gia đình ư?” cậu hỏi một cách bâng quơ. “Vâng.”
“Tôi biết tôi phải nghĩ về danh dự gia đình, về liên minh giữa các gia đình và về tất cả điều đó,” Aliena nói. “Nhưng một cuộc hôn nhân không cần tất cả những thứ đó.” Cô có vẻ đang ngẫm nghĩ để đưa ra một quyết định. “Có lẽ tôi nên kể cho anh về mẹ tôi. Bà ghét bố tôi. Bố tôi không phải là người xấu, thực tế ông là một người vĩ đại, và tôi yêu ông, nhưng ông quá nghiêm khắc và chẳng bao giờ hiểu mẹ tôi. Bà là một người vui tính, thích cười, thích kể chuyện, và yêu âm nhạc. Nhưng bố tôi đã biến bà thành bất hạnh.” Mắt Aliena đẫm nước mắt, nhưng William không để ý, vì cậu đang nghĩ về thông điệp mà bá tước gửi đi. “Đó là lý do tại sao bà mất – bởi vì ông không cho bà hạnh phúc. Tôi biết điều đó. Và ông ấy cũng biết nữa, như anh thấy. Đó là lý do tại sao ông hứa với tôi là ông sẽ chẳng bao giờ gả tôi cho một người mà tôi không thích. Bây giờ anh đã hiểu chưa?”
Thông điệp này là mệnh lệnh, William nghĩ, mệnh lệnh của Bá tước Bartholomew gửi cho bạn bè và liên minh phải sẵn sàng chiến đấu. Và những sứ giả này là bằng chứng.
Cậu nhận ra Aliena đang chằm chằm nhìn cậu. “Cưới một người mà em không thích?” cậu nói, vọng lại những chữ cuối của cô. “Em không thích anh?”
Mắt cô bừng lên giận dữ. “Anh đã không lắng nghe,” cô nói. “Anh thật ích kỷ đến nỗi anh không thể nghĩ về cảm xúc của người khác. Lần trước đến đây, anh đã làm gì? Anh nói và nói về chính anh và không hỏi tôi một câu.”
Giọng cô gần như hét lên, và khi cô ngưng lại, William thấy những người ở phía bên kia căn phòng đã yên lặng, lắng nghe. Cậu cảm thấy xấu hổ. “Đừng nói to quá!” cậu nói với cô.
Cô không màng quan tâm đến. “Anh muốn biết tại sao tôi không thích anh phải không? Được rồi, tôi sẽ kể cho anh. Tôi không thích anh vì anh không có kiến thức về văn hóa. Tôi không thích anh vì anh không thích đọc. Tôi không thích anh vì anh chỉ để ý đến chó, ngựa và chính anh.”
Gilbert Catface và Jack Fitz Guillaume bật cười to. William đỏ mặt. Những người này không là gì cả, họ chỉ là những hiệp sĩ mà họ dám cười cậu, con của Percy Hamleight. Cậu đứng lên.
“Được rồi,” cậu nói khẩn trương, không muốn Aliane nói tiếp.
Nhưng Aliena không lui bước. “Tôi không thích anh vì anh ích kỷ, đần độn và ngu ngốc,” cô la lên. Bây giờ tất cả các hiệp sĩ đều cười. “Tôi không thích anh, tôi khinh anh, tôi ghét anh và tôi không ưa anh. Và đó là lý do tại sao tôi không muốn lấy anh.”
Các hiệp sĩ vỗ tay reo mừng. William co rúm trong lòng. Tiếng cười của họ làm cậu nhỏ bé đi, yếu đuối và bất lực như một đứa bé, và khi còn bé, cậu luôn sợ hãi. Cậu tránh mặt Aliena, cố gắng đè nén cảm xúc trên mặt, và đi qua phòng nhanh bao nhiêu có thể, nhưng không chạy, trong khi tiếng cười to hơn. Sau cùng cậu ra đến cửa, đẩy nó và đi nhanh ra ngoài. Cậu đóng mạnh cửa sau lưng cậu và theo cầu thang chạy xuống lầu, nghẹt thở vì xấu hổ; và âm thanh của tiếng cười nhạo báng vang bên tai cậu suốt con đường qua khu sân lầy lội ra đến cổng.
Sau một dặm, con đường từ lâu đài bá tước đến Shiring cắt ngang con đường chính. Ở ngã tư đường, người du hành có thể rẽ hướng bắc để đi về Gloucester và biên giới xứ Welsh, hay rẽ hướng nam để đi Winchester và bãi biển. William và Walter quay về hướng nam.
Nỗi đau khổ của William đã trở thành thù hận và làm cậu không thốt lên lời. Cậu muốn làm khổ Aliena và giết tất cả các hiệp sĩ này. Cậu muốn đâm thanh kiếm vào những chiếc miệng đã cười cậu và ấn lưỡi kiếm xuống tận cổ, và cậu nghĩ về cách để trả thù được ít nhất một người trong số họ. Nếu điều đó thành công, cậu cũng tìm được bằng chứng cậu cần. Viễn tượng này cho cậu niềm an ủi.
Trước hết cậu phải bắt kịp một người trong số họ. Vừa tới chỗ con đường dẫn vào bờ rừng, William xuống ngựa và đi bộ, dắt theo con ngựa. Walter theo sau trong im lặng, tôn trọng tâm trạng của cậu. William đến một đoạn đường hẹp và dừng lại. Cậu quay sang Walter và nói: “Ai chiến đấu với dao giỏi hơn, anh hay tôi?”
“Tôi đánh nhau cận chiến tốt hơn,” Walter nói thận trọng. “Nhưng ông ném chính xác hơn, thưa ngài.” Họ gọi cậu là ngài khi cậu giận dữ.
“Ông có thể làm cho con ngựa chạy ngang qua ngã xuống, phải vậy không?”
“Vâng, với một cây gậy to.”
“Hãy đi và tìm một cây thích hợp, cắt nó ra và ông sẽ có một cây gậy tốt.”
Walter ra đi.
William dẫn hai con ngựa vào rừng và cột chúng trong cánh đồng ở một khoảng cách xa đường. Ông tháo yên ngựa, rồi rút ra một số dây và dây đai – đủ để trói chân tay một hay hai người. Kế hạch của cậu thật đơn giản, nhưng cậu không còn giờ để nghĩ ra một cái gì đó tốt hơn nữa, vì thế cậu phải hy vọng điều tốt nhất sẽ đến.
Trên đường trở về, cậu tìm thấy một khúc cây sồi khô cứng để dùng như dùi cui.
Walter đang đợi với cây gậy trên tay. William chọn một nơi mà Walter có thể nằm chờ đợi, đàng sau một cây sồi rậm gần con đường. “Đừng giơ cây gậy ra quá sớm, vì như thế con ngựa có thể nhẩy qua nó,” cậu cảnh báo. “Nhưng cũng đừng giơ ra quá trễ, vì ông không thể cản được chân sau của nó. Tốt nhất là thọc gậy vào giữa hai chân trước của nó. Và cố gắng cắm đầu nhọn vào mặt đất, như vậy nó sẽ không chạy qua bên cạnh được.”
Walter gật đầu. “Tôi đã nhìn thấy người ta làm rồi.”
William đi ngược lại hướng lâu đài bá tước khoảng ba mươi dặm. Nhiệm vụ của cậu là làm cho con ngựa phi nước đại để nó không kịp tránh cây gậy của Walter đưa ra. Cậu ẩn mình bên cạnh con đường đi. Sớm hay muộn, một sứ giả của Bartholomew cũng sẽ đi ngang qua đây. William mong nó sẽ tới nhanh. Cậu sốt ruột muốn thực hiện ngay kế hoạch của mình.
Những hiệp sĩ này không biết gì, khi họ cười tôi là lúc tôi đang dò thám họ, cậu nghĩ như thế và cảm thấy lòng vơi đi. Nhưng một người trong số họ chẳng bao lâu nữa sẽ biết. Rồi ông ấy sẽ hối hận vì đã cười cậu. Và thay vì cười, cậu muốn ông ấy sẽ cúi xuống đất, hôn lên giầy cậu. Ông ấy sẽ khóc lóc, cầu xin và năn nỉ xin tha, và tôi sẽ làm khổ ông ấy hơn nữa.
Cậu có một niềm an ủi khác. Nếu kế hoạch thành công, nó có thể là ngày sụp đổ của Bá tước Bartholomew và là sự sống lại của gia đình Hamleigh. Và tất cả những người đã khúc khích cười vì đám cưới bị hủy bỏ của cậu sẽ run rẩy trong sợ hãi, và một vài người trong số họ sẽ đau khổ hơn là sợ.
Sự sụp đổ của Bartholomew cũng là sự dụp đổ của Aliena, và đó là điều tốt nhất. Niềm tự hào và thái độ trịch thượng của cô sẽ phải thay đổi khi bố cô bị treo cổ như kẻ phản bội. Nếu cô ấy muốn vải lụa mịn và đường ngọt, cô ấy sẽ phải lấy William. Cậu tưởng tượng cô khiêm nhường và ăn năn đem cho cậu một bánh nóng từ trong bếp, đôi mắt to đen nhìn cậu, hăm hở lấy lòng cậu, mong chờ sự âu yếm và bờ môi mềm mại của cô hé mở chờ đợi nụ hôn của cậu.
Dòng tưởng tượng của cậu bị đứt đoạn vì tiếng vó ngựa trên bùn đông cứng. Cậu cầm con dao, nâng nó lên để cân nhắc trọng lượng và sự thăng bằng của nó. Đầu dao nhọn cả hai phía sẽ dễ đâm vào hơn. Cậu đứng dựa lưng vào thân cây. Cậu cầm đầu dao, chờ đợi và dường như nín thở. Cậu lo lắng. Cậu sợ lưỡi dao sẽ không trúng đích, hay con ngựa không ngã quỵ, hay người cưỡi ngựa có thể giết chết Walter, vì thế mà William phải một mình chiến đấu với hắn. Tiếng vó ngựa có một cái gì đó khác thường khi chúng đến gần.  Cậu thấy Walter chăm chú nhìn cậu qua bụi cây với một cái cau mày lo lắng; ông cũng nghe thấy nó. Sau đó cậu nhận ra nó không phải là một mà là hai ngựa. Cậu phải quyết định nhanh chóng. Họ có nên tấn công một lúc hai người không? Cậu để cho họ đi qua và chờ đợi cơ hội khác. Nó đáng thất vọng, nhưng nó cũng khôn ngoan nhất. Cậu vẫy tay ra hiệu cho Walter. Walter gật đầu đồng ý và lui vào nơi ẩn trốn.
Một lúc sau hai con ngựa đến trong tầm mắt. William nhìn thấy tấm lụa đỏ và nhận ra đó là Ralph thành Lyme. Rồi ông nhìn thấy đầu hói của người đồng hành với Ralph. Hai người chạy nhanh qua và mất hút.
Mặc dù thất vọng, William hài lòng vì dự đoán của cậu về việc bá tước sai các sứ giả đi là đúng. Tuy nhiên cậu lo lắng không biết Bartholomew có chính sách luôn sai hai người đi cùng một lúc không. Đó là biện pháp đề phòng tự nhiên. Ngay cả du khách cũng đi theo nhóm khi có thể để được an toàn hơn. Về mặt khác, Bartholomew có nhiều sứ điệp nhưng lại có giới hạn về nhân số, và ông có thể nhận thấy nó lãng phí khi sai hai hiệp sĩ đi vì một thông điệp. Hơn nữa, các hiệp sĩ là người có võ lực, có thể chống lại với trộm cướp trên đường. Ngoài ra, một trận chiến với các hiệp sĩ không mang lại nhiều lợi ích, vì hiệp sĩ chẳng có gì để cướp, thanh kiếm của họ cũng chẳng dễ bán và con ngựa thường cũng bị thương trong cuộc tập kích. Vì thế hiệp sĩ là người an toàn nhất trong rừng.
William dùng đầu dao gãi trên đầu. Cả hai đều có thể.
Cậu chờ đợi. Khu rừng yên lặng. Ánh mặt trời mùa đông yếu ớt chiếu thất thường qua các cành cây dầy đặc, rồi biến mất. Bụng của William cho cậu biết đã đến giờ ăn tối. Một con hưu đi qua đường, chỉ cách chỗ cậu vài mét, không biết nó đang bị một người đói theo dõi. William không còn kiên nhẫn.
Nếu có một cặp khác cưỡi ngựa đến, cậu quyết định cũng sẽ phải tấn công. Nó nguy hiểm thật, nhưng cậu có lợi thế của bất ngờ và cậu có Walter, một người chiến đấu giỏi. Ngoài ra đây là cơ hội cuối cùng của cậu. Cậu biết rằng cậu có thể bị giết chết, và cậu sợ, nhưng nó còn tốt hơn là sống trong nhục nhã triền miên. Ít nhất, chết trong một cuộc chiến là một kết thúc trong danh dự.
Điều tốt nhất là, cậu nghĩ, nếu Aliena xuất hiện một mình trên con ngựa con trắng. Cô sẽ bị ngã khỏi ngựa, cánh tay và chân bầm tím và bị bắn vào bụi cây dâu rừng. Gai sẽ làm xước da mềm mại của cô và làm cô chảy máu. William sẽ nhẩy lên mình cô và đè cô xuống đất.
Cậu tiếp tục tưởng tượng, vẽ ra cảnh cậu tận hưởng bộ ngực lên xuống của cô khi cậu giạng chân ngồi trên mình cô, tưởng tượng ra khuôn mặt kinh hoàng của cô khi cô nhận ra cô đang bị phó mặc trong tay cậu. Và cậu nghe có tiếng vó ngựa.
Lần này chỉ có một con.
Cậu đứng lên, lấy dao ra, dựa lưng vào thân cây và lắng nghe.
Nó là một con ngựa nhanh, không phải con ngựa chiến, nhưng là một con ngựa đua tốt. Nó chở một trọng lượng vừa phải, có thể là một người không vũ khí, và đi trong nhịp độ đều đặn, không có tiếng thở phì phèo. William bắt gặp ánh mắt Walter và gật đầu: Đây là bằng chứng. Ông giơ cao tay mặt, cầm con dao đằng mũi.
Từ xa, con ngựa của William hí vang.
Âm thanh vang lên trong rừng vắng. Con ngựa đang đến thay đổi ngay bước chân. Người cưỡi ngựa nói: “Ôi!” và cho ngựa đi chậm lại. William chửi thề nhỏ. Người cưỡi ngựa bây giờ sẽ cảnh giác và mọi chuyện sẽ khó khăn hơn. Quá trễ, William ước gì cậu đã đem con ngựa của cậu đi xa hơn.
Vì con ngựa bây giờ đi thong thả nên William không thể ước định được nó còn bao nhiêu xa. Mọi chuyện không như ý cậu muốn. Cậu chống lại cơn cám dỗ muốn thò đầu ra khỏi chỗ ẩn nấp. Cậu căng thẳng lắng nghe. Bất ngờ cậu nghe tiếng ngựa khịt mũi, rất gần, chỉ còn cách chỗ cậu đứng một khoảng rộng. Nó thấy cậu sau khi cậu thấy nó. Nó dè dặt và người cưỡi ngựa càu nhàu.
William chưởi thề. Cậu nhận ra ngay rằng con ngựa có thể quay lại và đi đường khác. Cậu lẻn người qua phía đàng sau con ngựa, giơ cánh tay lên ném. Cậu nhận ra người cưỡi ngựa, một người có râu, cau mày giữ dây cương: Đó là ông già Gilbert Catfae. William ném con dao.
Nó là một cú ném chính xác. Con ngựa co quắp lại. Trước khi Gilbert có thể phản ứng, nó hoảng sợ phi nước đại, tiến thẳng vào khu vực phục kích của Walter.
William chạy theo nó. Con ngựa đến chỗ của Walter trong vài phút. Gilbert không kiểm soát được con vật – ông đang khổ cực cố giữ mình trên yên ngựa. Chúng đã đến ngang với vị trí Walter, và William nghĩ: Bây giờ, Walter, bắt đầu đi!
Walter hành động quá điệu nghệ đến nỗi William không nhìn thấy cây gậy thò ra sau bụi cây. Cậu chỉ thấy chân trước ngựa quỵ xuống, như chừng tất cả sức mạnh đột nhiên biến mất. Chân sau cụp vào chân trước. Sau đó đầu ngựa gục xuống, thân sau dựng ngược lên và nó nặng nề ngã xuống.
Gilbert bị hất tung lên. William muốn đỡ ông, nhưng bị con ngựa ngã cản lối.
Gilbert rơi xuống, lăn vòng rồi đứng lên. William sợ ông chạy trốn. Và Walter xuất hiện từ bụi cây, nhẩy lên đá vào lưng Gilbert và đè ông xuống.
Cả hai người ngã mạnh xuống đất. Cả hai cùng lúc lấy lại thăng bằng, và William kinh ngạc nhìn thấy Gilbert tinh quái cầm con dao trên tay. William nhẩy qua con ngựa ngã, đong đưa cây gậy giống như Gilbert dơ con dao của mình. Cây gậy đập trúng đầu Gilbert.
Gilbert loạng choạng nhưng rồi đứng lên được. Ông này dai thật, William nghĩ. William dơ gậy lên, nhưng Gilbert nhanh hơn, và cầm dao nhẩy vào William. Willian mặc quần áo đi tán gái, chứ không phải đi đánh nhau, và mũi dao sắc đâm trúng chiếc áo khoác bằng len đẹp. Gilbert tấn công cậu, không cho cậu có cơ hội giơ cao cây gậy. Mỗi lần Gilbert lao vào, William lại lùi lại; nhưng William không có đủ giờ để phục hồi, và Gilbert luôn ở gần cậu. Thình lình William sợ chết. Rồi Walter đến đàng sau Gilbert và đá vào chân ông, làm ông ngã xuống.
William cảm thấy nhẹ nhõm. Có lúc cậu đã tưởng phải chết. Cậu cảm tạ Chúa vì đã có Walter.
Gilbert cố ngồi lên, nhưng Walter đá vào mặt ông. William đánh ông thêm hai đòn cho đến khi ông nằm im.
Họ lật ông xuống, và Walter ngồi lên đầu ông, trong khi William trói tay ông lại đàng sau. Rồi William cởi giầy của Gilbert, cột chân ông bằng một khúc dây da.
Cậu đứng lên, nhìn Walter và Walter mỉm cười. Cả hai hài lòng vì đã trói được ông trên nền đất.
Bước tiếp theo là làm cho Gilbert thú nhận.
Walter lật ông lại. Khi ông nhận ra William, niềm kinh ngạc biến thành nỗi sợ hãi. William hài lòng. Gilbert hối hận vì đã cười, William nghĩ như vậy. Một lúc nữa, ông sẽ còn hối hận hơn.
Ngựa của Gilbert đã đứng lên. Nó chạy đi vài mét, nhưng dừng lại. Bây giờ nó thở mạnh và chăm chú nhìn quanh mỗi khi gió xào xạc trên cây. Dao của William đã rơi ra ngoài. William nhặt lại con dao và Walter đi bắt lại ngựa.
William lắng nghe âm thanh của vó ngựa. Một người đưa thư khác có thể đến bất cứ lúc nào. Nếu điều đó xẩy ra, Gilbert phải được đem đi khỏi nơi đây và phải giữ ông im lặng. Nhưng không có con ngựa nào đến.
Walter bắt lại ngựa của Gilbert. Họ đặt Gilbbert nằm ngang sau lưng ngựa, rồi dẫn qua rừng, đến nơi William đã cột ngựa. Những con ngựa khác bồn chồn khi chúng ngửi thấy mùi máu từ vết thương con ngựa của Gilbert, vì thế William phải cột nó ở xa.
Cậu nhìn quanh để tìm một cây thích hợp. Cậu chọn một cây đu có một nhánh lớn chĩa ra, cao khỏi mặt đất khoảng tám chín mét. Cậu chỉ cho Walter. “Tôi muốn treo Gilbert lên cành cây này,” cậu nói.
Walter cười thích thú. “Ông muốn làm gì với ông ấy, thưa ngài?”
“Ông sẽ thấy.”
Khuôn mặt của Gilbert trắng bạch vì sợ. William thòng sợi dây dưới nách của người đàn ông, cột chặt phía sau và vắt nó qua cành cây.
“Nâng ông ta lên,” cậu nói với Walter.
Walter treo ông lên. Gilbert luồn lách và tách ra được khỏi tay Walter. Walter lấy khúc cây của William và đánh vào đầu Gilbert cho đến khi ông lảo đảo rồi lại treo ông ấy lên. William ném đầu dây qua cành cây nhiều lần rồi kéo chặt. Walter bỏ tay ra và Gilbert đong đưa nhẹ nhàng trên cành cây, chân ông treo cách mặt đất khoảng một mét.
“Hãy tìm một số củi,” William nói.
Họ đốt lửa phía dưới, và William đốt nó bằng đá lửa. Sau một vài phút ngọn lửa bắt đầu bắt lên. Sức nóng làm Gilbert tỉnh lại.
Khi ông nhận ra những gì đang xẩy ra cho mình, ông hoảng loạn rên rỉ: “Xin vui lòng bỏ tôi xuống. Tôi xin lỗi vì đã cười ông, xin hãy thương xót tôi.”
William yên lặng. Sự thần phục của Gilbert làm William hài lòng, nhưng đó không phải là cái mà William nhắm tới.
Khi sức nóng bắt đầu chạm tới ngón chân trần của Gilbert, ông co chân lên tránh lửa. Khuôn mặt ông đổ mồ hôi, và có mùi cháy như quần áo bị bắt lửa. William biết đã đến lúc tra hỏi: “Ông đến lâu đài ngày hôm nay để làm gì?”
Gilbbert nhìn ông với đôi mắt mở lớn. “Để tỏ lòng kính trọng của tôi,” ông nói. “Điều đó có gì là sai?”
“Tại sao ông phải tỏ lòng kính trọng?”
“Bá tước vừa trở về từ Normandy.”
“Ông được triệu tập đặc biệt phải không?”
“Không.”
Nó có thể đúng, William nghĩ. Thẩm vấn một tù nhân không đơn giản như cậu tưởng. Ông hỏi tiếp: “Bá tước đã nói gì với ông trong phòng ngủ của ông ấy?”
“Ông chào tôi và cảm ơn tôi đã đến chào đón ông ấy trở về.”
Có chút thận trọng nào trong mắt ông ấy không? William không chắc chắn. Cậu hỏi: “Còn gì nữa?”
“Ông hỏi tôi về gia đình, về làng xóm.”
“Không còn gì nữa sao?”
“Không còn gì. Tại sao ông lại quan tâm đến những gì ông ấy nói?”
“Ông ấy đã nói gì với anh về vua Stephan và hoàng hậu Maud?”
“Không nói gì cả. Tôi đã nói với ông rồi.”
Gilbert không thể co chân lâu hơn nữa, và chân ông rủ xuống trên đống lửa. Sau một giây, ông đau đớn hét lên và cơ thể ông co giật. Sự co giật giúp chân ông xa đám lửa trong giây lát. Ông nhận ra rằng sự đau đớn sẽ giảm đi khi ông đong đưa người. Tuy nhiên, mỗi cái đong đưa qua ngọn lửa lại làm ông hét lên.
Một lần nữa William tự hỏi không biết Gilbert có nói sự thật không. Không có cách nào để biết. Một lúc nào đó, ông ấy sẽ nói tất cả những gì mà William muốn ông nói. Vì thế tôi không nên nói rõ cho ông ấy biết tôi muốn nghe gì từ ông ấy, cậu nghĩ và bắt đầu lo lắng. Ai đã nghĩ rằng việc thẩm vấn là chuyện dễ dàng?
Bằng giọng bình tĩnh như nói chuyện, cậu hỏi thêm: “Ông đi đâu bây giờ?”
Gilbert hét lên trong đau đớn và tuyệt vọng: “Điều đó có liên quan gì?”
“Ông đi đâu?”
“Về nhà.”
Ông ấy đã mất trí. William biết nơi ông ấy sống. Nó ở phía bắc, nhưng ông lại đang đi về hướng nam.
“Ông đang đi đâu?” William hỏi lần nữa.
“Ông muốn gì nơi tôi?”
“Tôi biết ông nói dối,” William nói. “Hãy nói cho tôi sự thật.” Cậu nghe Walter lẩm bẩm đồng ý và cậu nghĩ: Tôi đã làm khá hơn. “Ông đang đi đâu?” cậu hỏi lần thứ tư.
Gilbert đã quá mệt để có thể đong đưa mình thêm nữa. Rên rỉ trong đau đớn, ông dừng lại trên đống lửa và cố gắng co chân lên khỏi đống lửa. Nhưng bây giờ ngọn lửa cháy quá cao, lên đến đầu gối. William ngửi thấy một mùi quen thuộc nhưng khó chịu. Sau một lúc cậu nhận ra đó là mùi thịt cháy, và nó quen thuộc, bởi vì nó giống như mùi của bữa cơm chiều. Da chân Gilbert chuyển thành màu nâu và nứt ra, lông chân thành màu đen, chất béo từ thịt ông nhỏ xuống lửa thành giọt. Sự quằn quại đau đớn của Gilbert là sự háo hức của William. Mỗi tiếng kêu của Gilbert là một rung động trong lòng cậu. Cậu có quyền lực làm cho người khác đau khổ, và cậu thích thế. Nó giống như cảm giác khi cậu gạ gẫm được một cô gái, đưa cô ấy đi xa, nơi không ai có thể nghe thấy tiếng cô kháng cự, và đẩy cô xuống đất, kéo váy cô lên tới eo, và biết rằng bây giờ không gì có thể ngăn cản cậu có được cô ấy.
Gần như miễn cưỡng, cậu hỏi lần nữa: “Ông đi đâu?”
Bằng một giọng nói giống như tiếng kêu, Gilbert nói: “Sherborne.”
“Tại sao?”
“Cắt tôi xuống, tôi sẽ kể cho ông tất cả.”
William cảm nhận chiến thắng đã gần bên. Ông rất hài lòng. Nhưng mục tiêu chưa hoàn thành. Cậu nói với Walter: “Hãy kéo chân ông ra khỏi lửa.”
Walter túm lấy áo dài của Gilbert và kéo chân ông xa lửa.
“Rồi, hãy nói đi,” William nói.
“Bá tước có năm mươi hiệp sĩ ở xung quanh Sherborn,” Gilbert nói trong tiếng kêu. “Tôi có nhiệm vụ tập hợp họ và đưa họ về lâu đài bá tước.”
William mỉm cười. Cậu hài lòng vì những dự đoán của cậu được xác minh. “Và bá tước muốn làm gì với các hiệp sĩ này?”
“Ông ấy không nói.”
William nói với Walter: “Hãy nướng ông ấy thêm một chút nữa.”
“Đừng!” Gilbert thét lên. “Tôi sẽ kể cho ông!”
Walter do dự.
“Nhanh lên,” William cảnh báo.
“Họ muốn chiến đấu cho hoàng hậu Maud, chống lại Stephan,” sau đó Gilbert nói.
Đó là bằng chứng. William vui mừng vì sự thành công của mình. “Và khi tôi hỏi ông điều này trước mặt bố tôi, ông cũng trả lời giống như vậy chứ?” cậu hỏi.
“Vâng, vâng.”
“Và khi bố tôi hỏi ông trước mặt vua, ông cũng nói sự thật chứ?”
“Vâng.”
“Hãy thề với thánh giá.”
“Tôi thề với thánh giá, tôi sẽ nói sự thật.”
“Amen,” William hài lòng nói và dập tắt ngọn lửa.
 
Họ trói Gilbert vào yên ngựa của ông và đi chậm rãi. Người hiệp sĩ không còn giữ thẳng mình trên ngựa được, và William không muốn ông chết, bởi vì ông chết thì sẽ không còn tác dụng. Vì thế cậu cố gắng đối xử với ông không quá tệ. Sau đó họ đi qua một dòng suối, cậu hất nước lạnh lên chân bị đốt cháy của Gilbert. Ông ấy kêu lên đau đớn, nhưng có lẽ nó sẽ tốt cho ông ấy.
William thấy một cảm xúc tuyệt vời của chiến thắng pha lẫn với cảm xúc kỳ lạ của thất vọng. Cậu chưa bao giờ giết người, và cậu muốn giết Gilbert. Tra tấn một người đàn ông mà không giết ông, cũng giống như lột trần được một cô gái mà không cưỡng hiếp cô. Càng nghĩ về điều này, cậu càng cảm thấy cần một phụ nữ.
Có lẽ khi cậu về đến nhà… không, cậu không có giờ. Cậu phải kể cho bố mẹ cậu những gì đã xẩy ra, và họ muốn Gilbert thú nhận điều này trước mặt một linh mục và có lẽ trước vài nhân chứng khác nữa; và rồi họ phải lên kế hoạch bắt Bá tước Bartholomew vào ngay ngày mai, trước khi Bartholomew có thể triệu tập được nhiều binh sĩ. Và William vẫn chưa nghĩ ra cách vào thành lén lút, mà không cần tấn công lâu dài…
Cậu nghĩ với niềm thất vọng, vì còn lâu nữa cậu mới lại thấy một người phụ nữ hấp dẫn. Vừa khi đó một người xuất hiện trên con đường trước mặt.
Một nhóm năm người tiến về phía William, trong đó có một người đàn bà tóc đen khoảng hai mươi lăm tuổi, không còn là một phụ nữ nữa, nhưng còn trẻ đủ. Càng đến gần, William càng chú ý: Bà ấy xinh đẹp, mái tóc màu nâu sẫm, cặp mắt sâu có màu vàng ròng mạnh. Bà mảnh mai, làn da rám nắng mềm mại.
“Lùi lại,” William nói với Walter. “Giữ người hiệp sĩ đàng sau ông khi tôi nói chuyện với họ.”
Nhóm người dừng lại, thận trọng nhìn cậu. Rõ ràng họ là một gia đình: một người đàn ông cao lớn có lẽ là chồng, một chàng trai trưởng thành nhưng chưa có râu và hai đứa bé theo sau. Người đàn ông trông quen thuộc, William bắt đầu nhận ra. “Ông có biết tôi không?” cậu hỏi.
“Tôi biết ông,” người đàn ông nói. “Và tôi cũng biết con ngựa của ông, vì ông mà con ngựa đã có lần sắp giết chết đứa con gái của tôi.”
Quá khứ trở lại với William. Con ngựa của ông chưa đụng đứa bé, nhưng đã gần. “Ông đã xây nhà cho tôi,” cậu nói. “Và khi tôi đuổi ông, ông đã đòi tiền bồi thường và hầu như muốn đe dọa tôi.”
Người đàn ông trông kiêu ngạo và không phủ nhận điều đó.
“Bây giờ ông không nên tự mãn nữa,” William nói với giọng cười mỉa mai. Cả gia đình dường như chết đói. Dần dần một ngày sẽ đến, ngày mà những người có ân oán với gia đình Hamleigh sẽ phải trả. “Ông có đói không?”
“Vâng, chúng tôi đang đói,” người thợ xây nói với giọng giận dữ.
William nhìn người phụ nữ lần nữa. Với đôi chân hơi dang rộng và chiếc cằm vươn cao, cô nhìn cậu không chút sợ hãi. Aliena đã khơi dậy sự ham muốn nơi cậu và bây giờ cậu muốn thỏa mãn nơi người đàn bà này. Bà đầy sức sống, cậu cảm thấy chắc chắn: bà sẽ chống cự, sẽ cào cấu. Như vậy càng tốt.
“Bà này không phải là vợ ông, phải không ông thợ xây?” cậu nói. “Tôi nhớ vợ ông – một con bò xấu xí.”
Bóng tối của đau khổ phủ trên gương mặt ông, và ông nói: “Vợ tôi đã qua đời.”
“Và ông chưa đưa bà này đến nhà thờ, phải không? Và ông chưa trả một xu nào cho linh mục.” Đàng sau William, Walter ho và những con ngựa bồn chồn. “Giả sử tôi cho ông tiền mua đồ ăn,” William nói với người thợ xây để nhử ông.
“Tôi sẽ nhận nó với lòng biết ơn,” người đàn ông nói, mặc dù lời nói của William làm ông đau khổ vì ông phải quỵ lụy.
“Tôi muốn nói về một món quà. Tôi sẽ mua vợ ông.”
Chính người đàn bà lên tiếng: “Tôi không phải để bán, cậu nhỏ ạ.”
Sự khinh miệt của cô làm William tức giận. Tao sẽ cho mày biết tao là đàn ông hay cậu nhỏ, khi tao đưa mày ra một chỗ riêng, cậu nghĩ. Cậu nói với người thợ xây: “Tôi sẽ cho ông một ký bạc để đổi lấy người đàn bà này.”
“Cô ấy không phải để bán.”
Sự tức giận của William lớn hơn. Cậu đã cho người sắp chết đói một gia tài mà lời đề nghị của cậu bị từ chối. Cậu nói: “Đồ ngu, nếu ông không lấy tiền, tôi sẽ đâm chết ông và sẽ hãm hiếp cô ấy trước mặt các đứa bé này!”
Bàn tay người thợ xây lần dưới áo khoác. Chắc chắn ông có vũ khí, William nghĩ. Ông rất cao lớn, và mặc dù ông ấy gầy như con dao, nhưng ông sẽ chiến đấu để bảo vệ vợ ông. Người phụ nữ kéo áo khoác qua bên, đặt tay lên con dao găm dài đút ở thắt lưng. Và cậu bé lớn cũng đủ gây ra rắc rối nữa.
Walter nói bằng giọng thấp nhưng mạnh mẽ: “Thưa ngài, chúng ta không có giờ cho chuyện đó nữa.”
William miễn cưỡng gật đầu. Ông phải đưa Gilbert về nhà. Không nên trì hoãn việc này chỉ vì một người phụ nữ. Cậu phải chịu đựng.
Cậu nhìn vào gia đình nhỏ gồm năm người đói, rách rưới, sẵn sàng chiến đấu chống lại hai người lực lưỡng có ngựa và gươm. Cậu không thể hiểu họ. “Được rồi, sau đó sẽ chết đói,” cậu nói. Cậu đá vào hông ngựa và tiếp tục đi. Chẳng bao lâu sau, họ xa khỏi tầm mắt.
 
 
II
 
Sau khi họ đi xa chỗ họ đã gặp Hamleigh được một hai dặm, Ellen nói: “Bây giờ chúng ta có thể đi chậm hơn không?”
Tom nhận ra ông đã đi quá nhanh. Ông sợ phải cùng với Alfred chiến đấu chống lại hai người vũ trang trên lưng ngựa. Tom không có vũ khí. Ông thò tay vào áo khoác để tìm chiếc búa xây tường, và ông chợt đau đớn nhớ lại là ông đã đổi nó vài tuần trước cho một bao yến mạch. Ông không biết tại sao cuối cùng William đã dừng lại, nhưng ông muốn xa họ càng xa càng tốt để tránh trường hợp bá tước trẻ tuổi này thay đổi ý định xấu xa của cậu.
Tom đã không tìm được việc làm tại cung điện giám mục ở Kingsbridge và ở các nơi khác mà ông đã cố tìm. Tuy nhiên có một mỏ đá trong vùng lân cận của Shiring, và một mỏ đá - không giống như việc xây dựng – luôn có việc làm trong mùa đông cũng như mùa hè. Dĩ nhiên, Tom có tay nghề cao trong việc xây dựng và công việc xây dựng của ông được trả cao hơn là làm mỏ đá. Nhưng ông không quan tâm đến điều đó, việc quan trọng bây giờ là nuôi sống gia đình. Mỏ đá ở Shiring thuộc Bá tước Bartholomew, và Tom nghe nói, ông ấy ở trong lâu đài cách thành phố vài dặm về phía tây.
Hoàn cảnh của ông, từ ngày có Ellen, lại càng trầm trọng hơn. Ông biết chỉ vì tình yêu, bà đã muốn chia sẻ số phận với ông mà không quan tâm đến hậu quả. Trong thực tế, bà không có ý niệm rõ ràng là Tom không dễ gì tìm ra việc làm. Bà không thực sự đối diện với khả năng là có thể họ sẽ không sống sót qua mùa đông này. Tom muốn giữ bà ở lại với ông, nhưng một phụ nữ sẽ đặt con mình lên trên hết, và Tom sợ bà ấy sẽ bỏ ông.
Họ đã ở với nhau một tuần: bẩy ngày của tuyệt vọng và bẩy đêm của hạnh phúc. Mỗi ngày Tom thức dậy, tràn đầy hạnh phúc và lạc quan. Ban ngày ông bị đói, trẻ con mệt mỏi và Ellen buồn rầu. Một số ngày họ có đồ ăn – giống như ngày họ gặp vị linh mục với phô mát – và một số ngày họ nhai thịt khô từ đồ dự trữ của Ellen. Nó giống như nhai da nai khô, nhưng vẫn tốt hơn là không có gì để nhai. Nhưng khi màn đêm về, họ nằm xuống, lạnh lẽo và cơ cực, họ ôm chặt nhau cho ấm áp; sau đó họ vuốt ve và hôn nhau. Lúc đầu Tom muốn vào bà ngay lập tức, nhưng bà nhẹ nhàng từ chối: bà muốn chơi đùa và hôn nhau lâu hơn. Ông làm theo ý bà và ông thấy thích. Ông mạnh dạn khám phá cơ thể bà, âu yếm bà ở những chỗ mà ông chưa bao giờ âu yếm Agnes. Ông vuốt ve và hôn vào tai, vào nách và vào khe mông của bà. Có những đêm họ chúi đầu trong áo choàng và cười khúc khích. Có những đêm họ trao nhau sự âu yếm dịu dàng. Một đêm kia, khi họ ở một mình trong nhà khách tu viện, và trẻ con đã ngủ say, bà đã chủ động, nài nỉ và đòi hỏi ông làm theo ý bà. Bà chỉ cho ông cách kích thích bà bằng ngón tay, và ông làm theo, kinh ngạc và bị khích động vì sự bạo dạn của bà. Khi tất cả đã qua, họ lại rơi vào một giấc ngủ sâu, nghỉ ngơi với nỗi sợ hãi, và lo âu của ngày tháng được rửa sạch trong tình yêu.
Trời đã xế trưa. Tom đoán rằng William Hamleigh đã đi xa, vì thế ông quyết định dừng lại nghỉ ngơi. Họ không còn đồ ăn gì ngoài thịt rừng phơi khô. Tuy nhiên buổi sáng hôm nay họ đã xin được vài miếng bánh của một gia đình nông dân sống đơn lẻ. Người đàn bà đã cho họ một thùng bia lớn không có nắp, và nói với họ nên giữ thùng gỗ lại. Ellen đã giữ lại nửa thùng bia cho bữa trưa.
Tom ngồi trên một gốc cây cổ thụ và Ellen ngồi bên cạnh. Bà uống bia một hơi dài rồi trao nó cho Tom. “Anh có muốn một vài miếng thịt nữa không?” bà hỏi.
Ông lắc đầu và uống vài hơi bia. Ông có thể cho tất cả vào miệng, nhưng ông muốn dành cho trẻ con. “Hãy để dành thịt,” ông nói với Ellen. “Chúng ta có thể nhận được súp ở lâu đài.”
Alfred đưa bia lên miệng uống cạn.
Jack nhìn kinh ngạc và Martha bật khóc. Alfred cười đểu.
Ellen nhìn Tom. Sau vài phút bà nói: “Anh không nên để Alfred làm như thế.”
Tom nhún vai. “Nó lớn hơn các đứa khác, vì thế nó cần nhiều hơn.”
“Nó luôn luôn nhận được phần lớn hơn. Những đứa nhỏ cũng cần một chút.”
“Đừng lên mất giờ can thiệp vào cuộc cãi nhau của trẻ con,” Tom nói.
Giọng Ellen mạnh hơn. “Anh đã nói Alfred luôn bắt nạt các em, nhưng anh không làm gì để ngăn chặn chuyện đó.”
“Đó không phải là bắt nạt,” Tom nói. “Trẻ con luôn tranh giành nhau.”
Bà lắc đầu tỏ vẻ bối rối. “Em không hiểu anh. Trong các lãnh vực khác, anh là một người đàn ông tốt. Chỉ riêng đối với Alfred là anh mù quáng.”
Bà ấy phóng đại, Tom nghĩ. Nhưng ông không muốn làm mất lòng bà, ông nói: “Hãy cho các đứa bé ít thịt.”
Ellen mở túi xách. Bà vẫn đau khổ. Bà cắt một miếng thịt cho Martha và một miếng khác cho Jack. Alfred đưa tay ra, nhưng Ellen lờ đi. Tom nghĩ bà ấy nên cho cậu một ít. Alfred không có gì sai. Ellen chỉ không hiểu cậu. Cậu là một đứa con trai lớn, Tom hãnh diện nghĩ. Cậu cần ăn nhiều cũng như cậu có một chút nóng tính, và nếu đó là một tội thì nửa số thanh niên trong tuổi thành niên sẽ bị nguyền rủa.
Họ nghỉ ngơi một lúc rồi lại lên đường. Jack và Martha đi trước, vẫn còn nhai thịt khô. Hai đứa trẻ chơi với nhau tốt, mặc dù chúng khác nhau về tuổi tác – Martha sáu tuổi và Jack khoảng mười một hay mười hai. Martha thích chơi với Jack, và Jack vui được trải qua kinh nghiệm mới là có bạn cùng chơi. Một đáng tiếc là Alfred không thích Jack. Tom ngạc nhiên về điều này: ông chờ đợi Jack, một người chưa trưởng thành, phải tùng phục Alfred; nhưng nó lại không như vậy. Alfred mạnh mẽ hơn, dĩ nhiên, nhưng thằng nhỏ Jack lại thông minh hơn.
Tom không muốn nghĩ về chúng nhiều. Ông còn nhiều chuyện phải lo nghĩ hơn là về cuộc cãi vã của trẻ con. Trong thâm tâm đôi khi ông nghĩ không biết ông có tìm được việc làm nữa không. Có lẽ họ sẽ phải lang thang ngày này qua ngày nọ cho đến khi từng người một ngã xuống mà chết: một đứa trẻ chết cóng trong một buổi sáng băng giá, rồi đứa khác không đủ sức chống trả lại cơn sốt, Ellen bị hãm hiếp và bị giết chết vì một tên côn đồ đi ngang qua như William Hamgleigh, và Tom càng ngày càng gầy hơn cho đến một ngày ông quá yếu không còn đứng dậy được vào buổi sáng, nên vẫn nằm trên mặt đất lạnh rồi rơi vào bất tỉnh.
Ellen sẽ bỏ ông trước khi những điều đó xẩy ra, dĩ nhiên. Bà sẽ trở về với hang động của bà, nơi vẫn còn một thùng táo và một bao hạt dẻ, đủ giữ cho hai người sống sót qua mùa đông, nhưng không đủ cho năm người. Trái tim Tom sẽ tan vỡ, nếu bà ấy làm điều đó.
Ông tự hỏi không biết đứa bé bây giờ ra sao. Các tu sĩ gọi nó là Jonathan. Tom thích tên gọi đó, nó có nghĩa là món quà của Thiên Chúa, như lời tu sĩ đã nói, người đã cho ông pho mát. Tom tưởng tượng bé Jonathan đỏ hỏn, nhăn nheo và đầu chưa có tóc, như khi nó được sinh ra. Bây giờ chắc nó đã khác: một tuần là một khoảng thời gian dài cho đứa bé mới sinh. Nó đã lớn, đôi mắt nó mở to và nó đã biết những gì xẩy ra xung quanh: một tiếng động sẽ làm nó hoảng sợ và một bài hát có thể ru nó ngủ. Khi nó ợ, góc miệng nó cong lên. Các tu sĩ có lẽ không biết điều đó nên lại tưởng nó đang cười.
Tom hy vọng họ sẽ chăm sóc nó tốt. Tu sĩ với pho mát cho ấn tượng rằng họ tử tế và có khả năng. Dù sao, chắc chắn họ có thể chăm sóc đứa bé tốt hơn là Tom, người vô gia cư và không còn đồng xu nào dính túi. Khi tôi trở thành thợ chính của một công trình xây dựng lớn và kiếm được bốn mươi tám xu hàng tuần cộng thêm phần phụ cấp, tôi sẽ biếu tu viện tiền, ông nghĩ.
Họ đến bìa rừng và chẳng bao lâu sau lâu đài xuất hiện trước mắt họ.
Tom lên tin thần, nhưng ông đè nén cảm xúc của mình: ông đã đau khổ hàng tháng vì thất vọng, và ông đã học được rằng càng hy vọng nhiều lúc bắt đầu thì lại càng đau khổ nhiều khi bị từ chối.
Họ đến lâu đài qua cánh đồng hoang vu. Martha và Jack tìm thấy một con chim nhỏ bị thương và cả gia đình dừng lại nhìn nó. Nó là một con chim hồng tước, quá nhỏ đến nỗi người ta có thể không nhìn thấy nó. Khi Martha cúi mình xuống, nó nhẩy đi, nhưng hầu như không còn có thể bay đi được. Cô bắt nó lên, bế sinh vật bé nhỏ trong lòng bàn tay.
“Nó run rẩy!” cô nói. “Tôi không thể cho nó ăn. Nó sợ hãi.”
Con chim không còn cố gắng trốn chạy, nhưng nằm yên trong bàn tay Martha, đôi mắt sáng của nó nhìn vào những người xung quanh. Jack nói: “Tôi nghĩ nó bị gẫy cánh.”
Alfred nói: “Để tôi xem.” Cậu lấy con chim từ tay cô.
“Chúng ta sẽ cho nó ăn,” Marhta nói. “Có lẽ nó sẽ khá hơn.”
“Không, nó sẽ không khá hơn,” Alfred trả lời và cậu vặn cổ nó bằng bàn tay to lớn của cậu.
Ellen nói: “Ôi! Trời ơi!”
Martha bật khóc lần thứ hai trong ngày hôm đó.
Alfred cười và ném con chim xuống đất.
Jack nhặt con chim lên. “Nó đã chết,” cậu nói.
Ellen nói: “Chuyện gì đã xẩy ra với mày, Alfrred?”
Tom nói: “Cậu ấy không làm gì sai. Con chim đã sắp chết.”
Tom tiếp tục đi và mọi người theo sau. Ellen lại tức giận với Alfred một lần nữa, và nó làm Tom tức. Tại sao lại gây chuyện vì một con chim hồng tước? Tom nhớ lại ông đã cảm thấy ra sao khi ông mười bốn tuổi, một đứa trẻ trong thân thể một đàn ông: đời sống có quá nhiều bực bội. Ellen đã nói, việc gì liên quan đến Alfred ông bị mù quáng, nhưng bà không hiểu.
Cây cầu gỗ dẫn qua thông hào vào tới cổng lâu đài đã xiêu vẹo và mỏng manh, nhưng có lẽ bá tước thích thế: một cây cầu là phương tiện cho kẻ xâm nhập vào và nó càng dễ gẫy thì nó lại càng chắc chắn cho lâu đài. Bức tường thành bên ngoài làm bằng đất, có các tháp đá đứng ở các khoảng cách đều nhau. Trước mặt họ, bên kia cây cầu, là một nhà gác bằng đá, giống như hai tháp với một cầu kết nối. Bao nhiêu công trình bằng đá, Tom nghĩ; không một lâu đài nào chỉ làm bằng bùn đất và gỗ. Ngày mai tôi có thể làm việc. Ông nhớ lại cảm giác được cầm công cụ tốt trong tay, cạo và đục trên khối đá, tạo các cạnh vuông và làm nhẵn mặt đá, và cảm giác khô của bụi đá trong lỗ mũi. Tối mai có thể tôi sẽ có một bụng no – no với đồ ăn do ông làm ra, không cần xin xỏ.
Đến gần hơn, với đôi mắt nhà nghề, ông thấy lỗ châu mai trên nóc nhà gác bên cổng đang ở trong tình trạng hư hại nặng. Một vài viên đá to đã rơi ra, để lại những lỗ hổng trong bức tường. Ngay trong vòm cổng chính cũng có những viên đá lỏng lẻo.
Hai lính canh ngoài cổng chăm chú một cách cảnh giác. Có lẽ họ đang chờ đợi những xáo động có thể xẩy ra. Một người hỏi Tom muốn gì.
“Thợ đá. Tôi hy vọng được thuê làm trong mỏ đá của bá tước,” ông trả lời.
“Hãy gặp quản lý của bá tước,” người lính canh tận tình giúp đỡ. “Tên ông ấy là Matthew. Có thể ông sẽ gặp ông ấy ở đại sảnh.”
“Cảm ơn,” Tom nói. “Ông ấy là người ra sao?”
Người lính gác cười với đồng nghiệp và nói: “Không thể gọi là ‘ông ấy’….,” và cả hai cùng cười.
Tom nghĩ ông sẽ sớm tìm ra tại sao họ lại cười. Ông đi vào và Ellen cùng với các trẻ theo sau. Các công trình xây dựng trong bức tường thành hầu hết bằng gỗ, mặc dù một số được nâng lên trên đế bằng đá, và chỉ có một công trình hoàn tòan bằng đá, đó là nhà nguyện. Khi họ đi ngang qua sân lâu đài, Tom nhận ra những tháp xung quanh có nhiều lỗ hổng và lỗ châu mai đã hư hại. Họ đi qua thông hào thứ hai, vào vòng trong và dừng lại trước trạm gác. Tom nói với người lính canh là ông muốn gặp ông quản lý Matthew. Sau đó họ đi vào khu tháp canh và lên cầu thang gỗ đến đại sảnh.
Tom thấy cả hai, ông quản lý và bá tước, ngay khi ông bước vào. Ông nhận ra họ qua quần áo. Bá tước Bartholomew mặc áo dài, phía tay áo bùng lên và viền có thêu ren. Quản lý Matthew mặc một áo dài ngắn hơn, giống như Tom đang mặc, nhưng bằng vải mềm mại. Trên đầu ông đội một mũ tròn nhỏ. Cả hai người ở gần lò sưởi – bá tước ngồi và ông quản lý đứng. Tom đi về phía họ, nhưng dừng lại ở một khoảng cách đủ xa để tỏ lòng kính trọng. Ông chờ đợi cho đến khi họ chú ý đến ông. Bá tước Bartholomew là một người cao lớn, khoảng năm mươi, tóc bạc và một khuôn mặt xanh xao, gầy và kiêu căng. Ông không trông giống như một người có sự hào phóng. Ông quản lý trẻ hơn. Cách ông đứng gợi cho Tom nhớ lại lời nhận xét của người lính gác: ông trông có vẻ nữ tính. Tom không biết phải nghĩ gì về ông ấy.
Còn có nhiều người khác trong đại sảnh, nhưng không ai để ý đến Tom. Ông chờ đợi, cảm thấy hy vọng rồi lại lo sợ. Cuộc nói chuyện của bá tước với ông quản lý kéo dài như bất tận. Sau cùng cuộc nói chuyện cũng kết thúc, và người quản lý quay sang một bên. Tom tiến về phía trước, nén tim lại. “Ông có phải là Matthew không?” ông hỏi.
“Đúng.”
“Tôi tên là Tom. Thợ xây dựng tổng thể chính. Tôi là một nghệ nhân tốt, và con cái tôi đang đói. Tôi nghe ông có một mỏ đá.” Ông nín thở.
“Chúng tôi có một mỏ đá, nhưng chúng tôi không cần khai thác đá nữa,” Matthew nói. Ông nhìn về phía bá tước, ông ấy lắc đầu. “Không,” Matthew nói. “Chúng tôi không thể thuê ông.”
Tốc độ quyết định nhanh chóng đó phá vỡ tim Tom. Nếu người ta trân trọng, suy nghĩ thận trọng về nó rồi từ chối ông, ông có thể dễ chấp nhận hơn. Matthew không phải là người độc ác, Tom nghĩ, nhưng ông quá bận rộn, và Tom và gia đình chết đói của ông chỉ là một việc phải giải quyết nhanh bao nhiêu có thể.
Tom nói một cách tuyệt vọng: “Tôi có thể sửa chữa vài chỗ trong lâu đài này.”
“Chúng tôi có một quản gia lo tất cả chuyện đó cho chúng tôi,” Matthew nói.
Quản gia là một người lo lắng mọi chuyện trong lâu đài, thường được đào tạo như một thợ mộc. “Tôi là thợ xây,” Tom nói. “Bức tường tôi xây sẽ chắc chắn hơn.”
Matthew khó chịu khi phải tranh cãi với ông, và dường như muốn nói điều gì đó giận dữ; rồi ông ấy thấy đám trẻ và mặt ông dịu lại. “Tôi rất muốn cho ông một công việc, nhưng chúng tôi không cần ông.”
Tom gật đầu. Bây giờ ông nên khiêm tốn chấp nhận những gì ông quản lý nói, cố tạo ra bộ mặt đáng thương để xin một bữa ăn và một chỗ ngủ qua đêm. Nhưng Ellen đang ở với ông, và ông sợ bà sẽ bỏ đi, vì thế ông thử thêm lần nữa. Ông nói lớn tiếng để bá tước có thể nghe được: “Tôi hy vọng trong tương lai gần, ông không có cuộc đánh nhau nào.”
Hiệu quả còn kinh khủng hơn ông chờ đợi. Matthew rùng mình, và bá tước đứng lên rồi nói: “Tại sao ông lại nói điều đó?”
Tom nhận ra ông đã đánh trúng tim đen. “Bởi vì công trình phòng thủ của ông hư hại nặng nề,” ông nói.
“Hư hại làm sao?” bá tước nói. “Phải cụ thể.”
Bá tước phát cáu nhưng lắng nghe. Tom lấy một hơi dài. Sau này tôi không còn cơ hội nữa, Tom nghĩ. “Vữa trong tường ở cổng thành đã rơi ra. Với một cây xà beng, kẻ thù có thể cạy ra một vài viên đá, và khi đã có một lỗ hổng thì rất dễ để kéo bức tường đổ xuống. Ngoài ra” – ông vội vã không kịp thở, không cho ai nhẩy vào bình luận hay phản đối – “Ngoài ra, các lỗ châu mai của ông đã hư hại. Trong trường hợp có tấn công, chúng không còn là chỗ bảo vệ cho các binh lính bắn cung và hiệp sĩ của ông nữa...”
“Tôi biết lỗ châu mai dùng làm gì,” bá tước ngắt lời ông. “Còn gì nữa không?”
“Có. Phòng dự trữ trong tòa nhà này có cửa bằng gỗ. Nếu tôi tấn công vào lâu đài, tôi sẽ đi qua cửa đó và châm lửa đốt.”
“Và nếu ông là bá tước, ông sẽ ngăn chặn điều đó như thế nào?”
“Tôi sẽ chuẩn bị một đống đá, một đống cát và vôi, và một thợ xây chờ sẵn để xây chặn cửa ra vào khi gặp nguy hiểm.”
Bá tước Bartholomew nhìn Tom. Đôi mắt xanh nhạt của ông cau lại và vầng trán ông nhăn lên. Tom không hiểu vẻ mặt của ông. Có phải ông ấy giận Tom vì đã chỉ trích quá nhiều về sự phòng thủ của lâu đài? Người ta sẽ chẳng bao giờ có thể nói một bá tước sẽ phản ứng như thế nào khi bị chỉ trích. Tốt nhất, cứ để họ có những sai sót của họ. Nhưng Tom là người tuyệt vọng.
Sau cùng, dường như bá tước đã tìm ra được kết luận. Ông quay sang Matthew và nói: “Thuê người này.”
Tiếng kêu vui mừng trào lên cổ và Tom phải giữ lại. Ông không thể tin được điều ấy. Ông nhìn Ellen và cả hai mỉm cười hạnh phúc. Martha, người không phải ý tứ như người lớn, la lên: “Hurra!”
Bá tước quay đi, nói chuyện với một hiệp sĩ đứng gần. Matthew mỉm cười với Tom. “Ông đã ăn trưa chưa?” ông hỏi.
Tom nuốt nước bọt. Ông cảm thấy quá hạnh phúc đến nỗi gần khóc. “Chưa, chúng tôi chưa ăn gì.”
“Tôi sẽ đưa ông xuống nhà bếp.”
Với sự háo hức, họ theo người quản lý ra khỏi đại sảnh, đi qua cây cầu tới vòng dưới. Nhà bếp là một tòa nhà bằng gỗ, chân tường bằng đá. Matthew nói họ đợi bên ngoài. Có mùi ngọt ngào trong không khí, chứng tỏ họ đang nướng bánh trong đó. Bụng Tom cồn cào và nước miếng chẩy đầy trong miệng. Một lúc sau ông quản lý đi ra và đưa cho Tom một bình bia lớn. “Lát nữa họ sẽ đem bánh mì và thịt nguội ra,” ông nói. Rồi ông bỏ đi.
Tom uống một hơi rồi đưa bình cho Ellen. Bà đưa cho Martha trước, sau đó bà uống một hớp và trao bình cho Jack. Trước khi Jack uống, Alfred dành lấy. Jack quay đi, giữ bình bia không cho Alfred lấy. Tom không muốn đám trẻ cãi nhau, nhất là vào lúc này, khi mọi chuyện dường như đã tốt đẹp. Ông định can thiệp – qua đó ông lại phá vỡ quy tắc của chính ông về việc không can thiệp vào cuộc xung đột của trẻ con – vừa khi đó Jack quay người lại và ngoan ngoãn đưa bình cho Alfred.
Alfred đặt bình lên miệng và bắt đầu uống. Tom mới chỉ uống một ngụm và ông nghĩ bình bia sẽ lại đến phiên ông; nhưng Alfred dường như muốn uống cạn. Và một điều kỳ lạ xẩy ra: khi Alfred nâng bình cao hơn để uống cạn, một con vật nhỏ rơi ra trên mặt cậu.
Alfred kêu lên kinh hãi và bỏ bình xuống. Cậu gạt con vật có lông ra khỏi mặt, nhẩy lui lại. “Cái gì vậy?” cậu rít lên. Con vật rơi xuống đất. Cậu nhìn xuống, mặt trắng bệch và run rẩy vì ghê sợ.
Tất cả đều nhìn. Nó là con chim hồng tước đã chết.
Tom bắt gặp ánh mắt của Ellen, và cả hai nhìn Jack.
Bây giờ cậu đứng lặng lẽ, quan sát Alfred đang kinh hoàng. Trên khuôn mặt thông minh của cậu hiện lên nụ cười hài lòng.
 
 
Jack biết cậu sẽ phải trả giá cho việc đó.
Alfred sẽ trả thù bằng một cách nào đó. Khi những người khác không để ý, có thể Alfred sẽ đấm vào bụng cậu. Đó là một cú đấm được cậu ấy yêu thích, vì nó gây đau đớn nhưng không để lại dấu vết. Jack đã nhìn thấy cậu ấy đấm Martha nhiều lần như vậy.
Nhưng một cú đấm như thế thì cũng xứng đáng để được nhìn khuôn mặt sợ hãi và kinh hoàng của Alfred khi con chim hồng tước chết rớt ra từ bình bia.
Alfred ghét Jack. Đó là một trải nghiệm mới cho Jack. Mẹ cậu luôn yêu cậu, ngoài ra không ai có tình cảm gì cho cậu. Không có lý do gì cắt nghĩa được sự thù hận của Alfred. Cậu ấy cũng đối xử như vậy với Martha. Cậu ấy luôn véo cô, kéo mái tóc cô và làm cô vấp ngã. Khi Martha thích thú cái gì, cậu ấy thường tìm cách phá vỡ nó. Mẹ của Jack nhìn thấy những gì đang xẩy ra và ghét cậu ấy, nhưng bố của Alfred dường như nghĩ rằng nó hoàn toàn bình thường, ngay cả mặc dù bản thân ông là người tốt, hiền lành và rõ ràng yêu Martha. Toàn bộ vấn đề phức tạp, nhưng nó hấp dẫn.
Mọi thứ đều hấp dẫn. Jack đã chẳng bao giờ có thời gian thú vị như vậy trong đời cậu. Mặc dù Alfred, mặc dù luôn cảm thấy đói, mặc dù mẹ cậu luôn để ý tới Tom thay vì tới cậu, Jack say mê những biến cố kỳ lạ và những kinh nghiệm mới.
Tòa lâu đài là cái cuối cùng trong loạt các kỳ diệu. Cậu đã nghe về lâu đài: trong những buổi tối mùa đông ở trong rừng, mẹ cậu đã dạy cậu những bài hát, những truyện thơ bằng tiếng Pháp về các hiệp sĩ và phù thủy; và lâu đài trong truyện được miêu tả như chốn nương thân và lãng mạn. Bởi vì cậu chưa bao giờ nhìn thấy tận mắt một lâu đài, nên cậu tưởng tượng nó là một phiên bản, giống nhưng lớn hơn hang động cậu đang sống. Lâu đài thực tế quá tuyệt vời: nó quá lớn, có quá nhiều tòa nhà, quá nhiều người, mỗi người làm công việc của mình. Người lo cho ngựa, người kéo nước, người cho gà ăn, người làm bánh, người mang vác, mang rơm cho sàn nhà, mang củi cho lò sưởi, bao bột, kiện vải, kiếm, yên ngựa và thư từ. Tom kể cho cậu rằng thông hào và tường không phải tự nhiên mà có, nhưng nó đã được đào và xây dựng bởi hàng chục nhân công cùng nhau làm viiệc.
Vào cuối ngày, khi trời đã tối, những người đã vất vả trong ngày kéo nhau đến đại sảnh của pháo đài. Đèn bấc được đốt lên và lửa được khêu cao hơn, và những con chó trốn lạnh cũng đến gần. Đàn ông và đàn bà cùng nhau mang những chân bàn và mặt bàn từ trong kho bên cạnh và xếp bàn thành hình chữ T, rồi đặt các ghế dựa phía trên chữ T và các băng ghế dọc theo phần dưới. Jack chưa bao giờ thấy nhiều người cùng nhau làm việc như thế, và cậu ngạc nhiên là họ làm việc một cách vui vẻ. Họ mỉm cười và cười to khi họ nâng những mặt bàn nặng, cùng nhau hò hét “hai, ba!” và “về phía tôi, về phía tôi,” và “nào, đặt xuống.” Jack ghen tị với tình đồng đội của họ và tự hỏi liệu một ngày nào đó cậu có thể chia sẻ với họ tình đồng đội này không.
Một lúc sau, tất cả cùng ngồi vào ghế băng. Một trong những người phục vụ trong lâu đài phân phối những bát to bằng gỗ và muỗm bằng gỗ, đếm to mỗi khi ông đặt nó xuống bàn; sau đó ông đi một vòng nữa và đặt một lát bánh mì dầy màu nâu trên mỗi bát. Một người phục vụ khác đem chén và đổ đầy bia từ những bình bia lớn. Jack, Martha và Alfred cùng ngồi chung ở cuối chữ T, mỗi đứa lấy một chén bia, vì thế mà chúng không còn phải cãi nhau. Jack cầm chén của cậu lên, nhưng mẹ cậu nói cậu nên chờ đã.
Sau khi bia đã được chia, cả hội trường yên lặng. Jack chờ đợi, háo hức như mọi khi, xem chuyện gì sẽ xẩy ra. Một lúc sau Bá tước Bartholomew xuất hiện ở cầu thang phòng ngủ. Ông đi xuống, theo sau là người quản lý Matthew, rồi đến ba hoặc bốn người khác ăn mặc sang trọng, một cậu bé, và một sinh vật tuyệt đẹp mà Jack chưa bao giờ nhìn thấy.
Đó là một thiếu nữ hay một bà, cậu không biết rõ. Cô mặc áo trắng, đuôi áo dài kéo trên đất khi cô xuống cầu thang. Mái tóc đen bao trùm khuôn mặt cô, và cô có cặp mắt đen, đen thẫm. Jack nhận ra rằng đây là người, mà những bài hát nói về, khi chúng ám chỉ đến những công chúa xinh đẹp trong lâu đài. Không ngạc nhiên gì về việc các hiệp sĩ khóc khi công chúa chết.
Khi cô đến chân cầu thang Jack nhận ra cô còn rất trẻ, chỉ lớn hơn cậu vài tuổi; nhưng đầu cô ngẩng cao và cô đi đến đầu bàn như một nữ hoàng. Cô ngồi xuống bên cạnh Bá tước Bartholomew.
“Cô ấy là ai?” Jack hỏi thầm.
Martha trả lời: “Cô ấy chắc là con của bá tước.”
“Tên cô ấy là gì?”
Martha nhún vai, nhưng một cô gái có khuôn mặt bẩn thỉu ngồi bên cạnh Jack nói: “Cô ấy được gọi là Aliena. Cô ấy đẹp tuyệt vời.”
Bá tước cụng ly với Aliena, rồi chậm rãi nhìn mọi người xung quanh bàn và uống. Đó là dấu hiệu mà mọi người chờ đợi. Tất cả mọi người làm theo, họ nâng ly trước khi uống.
Đồ ăn tối được đựng trong vạc hấp lớn. Bá tước được phục vụ trước, rồi đến con gái của ông, rồi đến con trai và những người đàn ông ngồi ở đầu bàn; sau đó các người khác tự phục vụ. Đó là cá muối trong một nồi gia vị. Jack múc vào chén và ăn hết sạch, rồi ăn bánh mì chấm với nước súp dầu. Trong lúc nhai cậu nhìn Aliena, bị thu hút bởi mọi việc cô làm, từ cách cô dùng đầu dao tách xương cá nhỏ ra, rồi thanh nhã đưa vào miệng qua hàm răng trắng muốt, cho đến giọng nói uy quyền khi cô gọi người phục vụ và ra lệnh cho họ. Tất cả mọi người dường như thích cô. Họ tới nhanh khi cô gọi, mỉm cười khi cô nói, và vội vã thi hành khi cô ra lệnh. Các đàn ông trẻ xung quanh bàn hay nhìn cô, Jack quan sát thấy, và một số người thể hiện khi họ nghĩ cô đang nhìn về phía họ. Nhưng chủ yếu cô quan tâm đến những người lớn tuổi ngồi chung với bố cô, lo lắng cho họ có đủ bánh và rượu, đặt câu hỏi với họ và lắng nghe họ trả lời. Jack tự hỏi cảm giác sẽ như thế nào khi một nàng công chúa xinh đẹp nói chuyện với cậu, rồi nhìn cậu bằng đôi mắt lớn khi cậu trả lời.
Sau bữa ăn tới phần âm nhạc. Hai người đàn ông và một đàn bà chơi nhạc với chuông cừu, trống và ống điếu được làm từ xương động vật và chim muông. Bá tước nhắm mắt, thả hồn trong âm nhạc, nhưng Jack không thích âm điệu ám ảnh, u sầu họ chơi. Cậu thích những bài hát vui vẻ mẹ mình hát. Những người khác dường như cũng có cảm tưởng như vậy, vì họ bồn chồn, cựa quậy, và có chung một cảm giác nhẹ nhõm khi âm nhạc kết thúc.
Jack hy vọng được đến gần Aliena, nhưng cậu bị thất vọng vì cô rời khỏi phòng vừa khi âm nhạc chấm dứt và bước lên cầu thang. Chắc cô có một phòng ngủ riêng trên lầu, cậu nghĩ như thế.
Các trẻ em và một số người lớn chơi cờ tướng, hay chơi với nhau suốt buổi tối và những người chăm chỉ khác làm thắt lưng, mũ, tất, găng tay, khăn quoàng cổ, ống điếu, hột xúc xắc, xẻng và roi ngựa. Jack chơi cờ tướng và lần nào cậu cũng thắng. Một binh lính tức giận vì bị thua một đứa trẻ và mẹ cậu bảo cậu ngừng chơi. Cậu đi xung quanh hội trường, lắng nghe cuộc nói chuyện. Một số người nói chuyện lý lẽ, cậu nhận thấy, họ nói chuyện về cánh đồng và về thú vật, về các giám mục và vua chúa; trong khi đó một số khác chỉ trêu chọc nhau và kể những câu chuyện hài hước. Cậu cảm thấy tất cả đều hấp dẫn.
Sau cùng, đèn bấc tắt dần. Bá tước đã đi ngủ, và sáu mươi, bẩy mươi người khác cuộn mình trong áo khoác, nằm xuống ngủ trên nền nhà đã phủ rơm.
Như thường lệ, mẹ cậu và Tom ngủ chung với nhau, dưới áo khoác lớn của Tom, và bà ôm ông như bà đã ôm Jack khi cậu còn bé. Cậu nhìn ghen tị. Cậu có thể nghe thấy họ nói chuyện thì thầm với nhau, và mẹ cậu cười nhỏ, thân mật. Một lúc sau thân thể họ chuyển động theo nhịp dưới áo khoác. Lần đầu tiên khi cậu thấy điều đó, Jack đã lo lắng thật sự, nghĩ rằng dù nó có là gì đi nữa thì nó vẫn gây đau đớn; nhưng họ hôn nhau khi làm điều đó và mặc dù một đôi khi mẹ cậu rên rỉ, cậu có thể nói đó là tiếng rên rỉ thỏa mãn. Cậu không dám hỏi mẹ về điều đó, cậu cũng không biết tại sao. Bây giờ, khi ngọn lửa đã tàn, cậu nhìn thấy các cặp khác cũng làm như thế, và nó buộc cậu đi đến kết luận rằng đó là chuyện bình thường. Nó chỉ là một bí mật khác, cậu nghĩ, và chẳng bao lâu sau cậu thiếp đi trong giấc ngủ.
Trẻ em dậy sớm vào ban sáng, nhưng bữa sáng chưa được dọn lên, cho đến khi nào thánh lễ kết thúc, và thánh lễ chỉ bắt đầu khi nào bá tước thức dậy, vì thế chúng phải chờ đợi. Một người phục vụ dậy sớm thúc dục họ lấy củi cho đủ dùng trong ngày. Người lớn bắt đầu tỉnh dậy khi gió lạnh ban sáng thổi qua cửa. Và khi các trẻ em mang củi vào, chúng gặp Aliena.
Cô xuống cầu thang như buổi tối hôm qua, nhưng hôm nay cô trông khác. Cô mặc áo ngắn và đi giầy cao. Mái tóc lợn sóng của cô được cột lại phía sau, lộ ra chiếc cằm duyên dáng, đôi tai nhỏ và chiếc cổ trắng. Đôi mắt đen to, mà tối qua trông nghiêm trang và người lớn, bây giờ lấp lánh niềm vui. Theo sau cô là cậu bé mà tối qua đã ngồi chung bàn với cô và bá tước. Cậu trông lớn hơn Jack một hai tuổi, nhưng cậu chưa trưởng thành đủ như Alfred. Cậu tò mò nhìn Jack, Martha và Alfred, nhưng người con gái lên tiếng trước. “Các bạn là ai?” cô hỏi.
Alfred trả lời: “Bố tôi là thợ xây, ông sẽ sửa sang lại lâu đài này. Tôi là Alfred. Em gái tôi là Martha. Đây là Jack.”
Khi cô đến gần, Jack ngửi thấy mùi hoa oải hương và cậu thầm thán phục vì làm sao một người lại có thể có mùi của loài hoa? “Bạn bao nhiêu tuổi?” cô hỏi Alfred.
“Mười bốn.” Alfred khúm núm trước cô, Jack có thể nói như vậy. Sau một lúc Alfred buột miệng: “Bạn bao nhiêu tuổi?”
“Mười lăm. Các bạn muốn ăn gì không?”
“Có.”
“Đi với tôi!”
Tất cả đi theo cô ra khỏi sảnh đường và xuống cầu thang. Alfred nói: “Nhưng họ không dọn ăn sáng trước thánh lễ.”
“Họ làm những gì tôi nói với họ,” Aliena hất đầu lên nói.
Cô dẫn họ qua cây cầu tới vòng bên dưới và nói chúng đợi trước nhà bếp, trong khi cô đi vào. Martha thì thầm với Jack: “Có phải cô đẹp không?” Cậu im lặng gật đầu. Một vài phút sau Aliena đi ra với một bình bia và một bánh mì trắng. Cô bẻ bánh thành từng miếng to và trao cho mỗi người, sau đó cô cũng chuyển bình bia cho họ.
Sau đó Martha bẽn lẽn hỏi: “Mẹ bạn đâu?”
“Mẹ tôi đã qua đời,” Aliena nói nhanh.
“Bạn có buồn không?” Martha hỏi.
“Tôi đã buồn, nhưng đã lâu rồi.” Cô chỉ vào cậu bé bên cạnh. “Richard không còn nhớ gì đến nó nữa.”
Richard phải là em của cô, Jack nghĩ.
“Mẹ tôi cũng đã qua đời,” Martha nói và nước mắt tràn ra.
“Lâu chưa?” Aliena hỏi.
“Mẹ tôi chết cách đây một tuần.”
Giọt nước mắt của Martha dường như chẳng làm Aliena mủi lòng, Jack nghĩ; trừ khi cô cố gắng giấu nỗi đau của mình. Cô hỏi đột ngột: “Vậy người đàn bà đi theo các bạn là ai?”
Jack háo hức nói: “Đó là mẹ tôi.” Cậu vui vì được nói với cô.
Cô quay về phía cậu như lần đầu tiên cô thấy cậu. “Vậy, bố bạn đâu?”
“Tôi không có bố,” cậu nói. Cậu thích thú khi cô nhìn cậu.
“Ông ấy cũng chết rồi sao?”
“Không,” Jack nói. “Tôi chưa bao giờ có bố.”
Một khoảnh khắc của yên lặng, rồi Aliena, Richard và Alfred phá lên cười. Jack bối rối và nhìn trống vắng vào họ; và tiếng cười của họ tăng lên cho đến khi cậu thấy xấu hổ. Không có bố thì có gì đáng cười? Ngay cả Martha cũng mỉm cười, nước mắt cô đã biến đi.
Alfred nói với giọng chế giễu: “Làm sao có bạn, nếu bạn không có bố?”
“Từ mẹ tôi. Tất cả những gì non trẻ đều sinh ra từ mẹ chúng,” Jack nói, lòng đầy hoang mang. “Ông bố có liên quan gì đến chuyện đó?”
Mọi người lại cười to hơn. Richard nhẩy cỡn lên vì thích thú, rồi chỉ ngón tay vào Jack. Alfred nói với Aliena: “Cậu ấy không biết gì. Chúng tôi tìm thấy cậu ấy ở trong rừng.”
Má Jack nóng lên vì xấu hổ. Cậu đã quá vui vì được nói với Aliena, và bây giờ cô nghĩ cậu là một thằng hề, một người rừng ngu dốt. Điều tề hại nhất là cậu vẫn không biết cậu sai ở chỗ nào. Cậu muốn khóc và nó lại càng tồi tệ hơn. Miếng bánh mắc nghẹn trong cổ họng và cậu nuốt không trôi. Cậu nhìn Aliena, khuôn mặt dễ thương của cô phảng phất sự thích thú, và cậu không còn có thể chịu đựng được nữa, cậu ném miếng bánh xuống đất và bỏ đi.
Không quan tâm đi đâu, cậu đi cho đến khi tới bờ tường lâu đài. Cậu leo theo con dốc lên đến đỉnh tường. Ở đó, cậu ngồi trên nền đất lạnh, nhìn ra bên ngoài, thương phận mình, ghét Alfred và Richard và ngay cả Martha và Aliena. Nàng công chúa vô tâm, cậu nghĩ.
Chuông vang lên báo hiệu giờ lễ. Nghi thức tôn giáo lại là một bí ẩn khác đối với cậu. Nghi thức dùng một ngôn ngữ chẳng phải tiếng Anh, cũng chẳng phải tiếng Pháp. Linh mục hát và nói với các bức tượng, bức ảnh và ngay cả với những đấng vô hình. Mẹ cậu luôn tránh dự nghi thức khi có thể. Khi dân cư trong lâu đài trên đường đến nhà nguyện, Jack nhổm qua đầu bức tường thành, ngồi phía bên kia để không ai có thể thấy cậu.
Lâu đài được bao bọc bởi những cánh đồng bằng phẳng và hoang vu, phía xa có rừng cây. Hai khách đi bộ qua đồng bằng về hướng lâu đài. Bầu trời đầy mây sám. Jack tự hỏi không biết trời có đổ tuyết không.
Hai người khách sớm nữa xuất hiện trong tầm mắt của Jack. Hai người ngồi trên lưng ngựa. Họ phi nhanh về lâu đài, vượt qua hai người khách trước. Họ đi ngựa qua cây cầu gỗ tới cổng gác. Tất cả bốn khách phải đợi đến khi thánh lễ xong, vì ngoại trừ những người lính gác, tất cả dân cư đều ở trong nhà nguyện.
Một giọng nói bất ngờ làm Jack giật mình: “Thì ra con ở đây.” Đó là mẹ cậu. Cậu quay sang mẹ, và bà nhận thấy ngay là cậu rất buồn. “Có chuyện gì vậy con?”
Cậu muốn được bà an ủi, nhưng cậu cứng lòng nói: “Con có bố không?”
“Có,” bà nói. “Mỗi người đều có bố.” bà quỳ xuống bên cậu.
Cậu quay mặt đi. Cậu bị sỉ nhục là do lỗi của mẹ cậu, vì bà đã không kể cho cậu nghe về bố cậu. “Điều gì đã xẩy ra với bố?”
“Bố con đã qua đời.”
“Khi con còn nhỏ?”
“Trước khi con được sinh ra.”
“Làm sao ông ấy có thể là bố con, nếu ông ấy chết trước khi con sinh ra?”
“Trẻ nhỏ phát triển từ tinh trùng. Tinh trùng phát ra từ người đàn ông và được ươm trồng trong lòng người mẹ. Và tinhh trùng lớn thành đứa bé trong bụng bà ta, và khi nó sẵn sàng, nó được sinh ra.”
Jack ngồi yên lặng một lúc, nghiền ngẫm với thông tin này. Cậu liên tưởng tới cái mà người lớn làm ban đêm. “Tom cũng đang trồng tinh trùng trong mẹ phải không?”
“Có thể.”
“Như vậy chúng ta sẽ có đứa trẻ mới.”
Bà gật đầu. “Một đứa em trai cho con, con có thích không?”
“Con không quan tâm,” cậu nói. “Tom đã lấy mất mẹ của con rồi. Một em trai không thay đổi được gì hết.”
Bà đặt tay quanh cậu và ôm cậu. “Không ai có thể lấy mẹ khỏi con được,” bà nói.
Lời đó làm cậu cảm thấy thoải mái hơn.
Họ ngồi với nhau một lúc, rồi bà nói: “Ở đây lạnh quá. Chúng ta đi về lò sưởi, chờ bữa ăn sáng.”
 Cậu gật đầu. Họ đứng lên, đi theo dốc tường thành xuống dưới. Không còn dấu hiệu nào của bốn khách đến thăm. Có lẽ họ vào nhà nguyện.
Khi Jack và mẹ cậu theo cầu thang xuống tầng dưới, Jack hỏi: “Tên bố con là gì?”
“Jack, cùng tên với con,” bà nói. “Người ta gọi ông ấy là Jack Shareburg.”
Điều đó làm cậu hứng khởi. Cậu có cùng tên với bố cậu. “Vì thế nếu có người khác cũng có tên là Jack, con có thể nói với mọi người rằng con là Jack Jackson.”
“Con có thể, Người ta không luôn luôn gọi con như con muốn, nhưng con có thể thử.”
Jack gật đầu. Cậu cảm thất tốt hơn. Bây giờ cậu có thể cảm nhận mình như là Jack Jackson. Cậu không phải xấu hổ nữa. Ít nhất cậu biết cậu có bố, và cậu biết tên của bố cậu: Jack Shareburg.
Họ đến cổng nhà ở vòng trên. Không có lính gác. Mẹ Jack ngừng lại, nhăn mặt. “Mẹ có cảm giác là lạ, hình như ở đây có gì bất thường xẩy ra,” bà nói. Giọng bà bình tĩnh và chậm rãi, nhưng Jack nhận ra trong đó có sự sợ hãi và cậu linh cảm một điều xấu sẽ xẩy ra.
Mẹ cậu bước vào phòng gác trong tầng trệt của chòi canh. Một lúc sau Jack nghe hơi thở hổn hển của bà. Cậu vào phía sau bà. Bà đang bị sốc, bàn tay che miệng, nhìn chằm chằm xuống sàn nhà.
Người lính gác nằm thẳng trên mặt đất, cánh tay mềm nhũn để hai bên. Cổ ông bị cắt, một vũng máu tươi trên đất bên cạnh ông. Và không nghi ngờ gì nữa, ông đã chết.
 
 
III
Vào giữa đêm, William Hamleigh và ông bố lên đường cùng với một trăm hiệp sĩ và kỵ binh, và bà mẹ trong hậu quân. Đội quân với đuốc trong tay rầm rập tiến đến lâu đài, khuôn mặt che kín chống lạnh, có lẽ đã làm dân làng trên đường họ đi qua hoảng sợ. Họ đến ngã tư khi trời còn tối đen. Từ đây họ để ngựa đi chậm, cho chúng nghỉ ngơi và để làm giảm tiếng ồn. Khi trời hừng sáng, họ ẩn nấp trong rừng, bên cạnh cánh đồng xung quanh lâu đài của Bá tước Bartholomew.
Trong cuộc thăm viếng ngắn, William không thể đếm được quân số trong lâu đài. Mặc dù cậu đã cố gắng cắt nghĩa là nhiều người trong số họ hôm đó còn được sai đi, và nhiều người lại đến khi William rời khỏi, nhưng mẹ cậu vẫn mắng cậu thậm tệ. Có còn hơn không, bố cậu nói. Tuy nhiên, cậu đoán chừng có khoảng bốn mươi người. Vì thế nếu từ lúc đó không có gì thay đổi, gia đình Hamleigh có lợi thế hai chống một.
Dĩ nhiên, họ không có đủ quân để vây lâu đài. Vì thế họ có một kế hoạch chiếm lâu đài nhanh chóng. Vấn đề là đoàn quân có thể bị các lính gác khám phá ra từ xa, và lâu đài đã đóng cửa khi họ đến nơi. Câu trả lời là phải tìm ra một cách để cửa lâu đài mở, khi đoàn quân từ chỗ ẩn nấp trong rừng tiến vào lâu đài.
Dĩ nhiên người giải quyết vấn đề này là bà mẹ.
“Chúng ta cần đánh lạc hướng họ,” bà nói trong khi tay bà cạy một cái mụn trên cằm. “Cần có một cái gì đó làm họ hoảng loạn, vì thế họ sẽ không chú ý đến đoàn quân cho đến khi nó đã quá trễ, ví dụ như lửa chẳng hạn.”
Ông bố nói: “Nếu có người lạ vào và châm lửa, dĩ nhiên họ sẽ đề phòng.”
“Chúng ta phải làm kín đáo,” William nói.
“Dĩ nhiên thôi,” bà mẹ sốt ruột nói. “Anh phải làm điều đó khi họ đang tham dự thánh lễ.”
“Con?” William hỏi.
Cậu vừa được cử lo trách nhiệm cho đoàn quân tiên phong.
Ánh nắng ban mai lên chậm chạp, rất chậm. William nóng lòng chờ đợi. Trong đêm, cậu, ông bố và bà mẹ đã chỉnh sửa ý tưởng cơ bản cho tuyệt hảo, nhưng vẫn có nhiều chuyện có thể xẩy ra không đúng ý: vì bất cứ lý do nào đó đoàn quân tiên phong không vào được trong thành, hoặc họ bị nghi ngờ và không thể hành động lén lút được, hoặc có thể họ bị bắt trước khi đạt được bất cứ điều gì. Ngay cả kế hoạch có thành công, thì cũng phải chiến đấu, và đây là cuộc chiến thực sự đầu tiên của William. Trong cuộc chiến người ta có thể bị thương hoặc thiệt mạng, và William có thể là một trong những người không may mắn đó. Lòng cậu co lại vì sợ. Aliena sẽ có mặt ở đó, cô sẽ biết nếu cậu bại trận. Ngược lại cô cũng ở đó nhìn cậu nếu cậu chiến thắng. Cậu tưởng tượng mình phóng vào phòng ngủ của cô với lưỡi kiếm đầy máu trong tay. Khi đó cô sẽ hối hận vì đã cười cậu.
Từ lâu đài vang lên tiếng chuông báo hiệu giờ lễ.
William gật đầu và hai người tách ra khỏi nhóm, đi qua cánh đồng đến lâu đài.  Họ là Raymond và Ranulf, hai người lực lưỡng có khuôn mặt và bắp thịt chắc chắn, lớn hơn William vài tuổi. Chính cậu đã tự ý chọn họ: bố cậu đã cho cậu quyền kiểm soát hoàn toàn. Bố cậu sẽ hướng dẫn cuộc tấn công chính.
William nhìn Raymond và Ranunf đi nhanh trên cánh đồng đóng băng. Trước khi họ đến lâu đài, William ngước nhìn Walter và cả hai cưỡi ngựa qua cánh đồng. Lính canh trên lỗ châu mai sẽ thấy hai cặp, một đi bộ và một đi ngựa, tiến về lâu đài. Trông họ hoàn toàn không có gì nguy hiểm.
Sự tính toán thời gian của William chính xác: Cậu và Walter vượt qua Raymond và Ranunf khoảng vài bước trước cửa vào lâu đài. Tại cầu họ xuống ngựa. Tim William đập mạnh. Nếu bây giờ cậu sai lầm, toàn bộ cuộc tấn công sẽ thất bại.
Có hai lính gác ở cổng. William đã ác mộng rằng sẽ có một cuộc phục kích và chục kỵ binh sẽ nhẩy ra băm cậu thành từng mảnh. Các lính canh có vẻ cảnh giác, nhưng không lo lắng. Họ không mặc áo giáp. Walter và William mặc áo mắt xích dưới áo choàng của họ.
Ruột William bồn chồn. Một trong hai người lính canh nhận ra cậu. “Chào ngài William,” ông vui vẻ nói. “Ông đến xin cưới lần nữa à?”
William nói “Ôi, trời ơi!” bằng giọng yếu ớt, rồi cậu đâm lưỡi dao vào bụng lính gác, dưới lồng ngực, thấu vào tim.
Người đàn ông thở hổn hển, gục xuống và mở miệng như muốn la lên. Một tiếng la có thể làm hỏng mọi việc. Hoảng loạn, không biết phải làm gì, William rút con dao ra khỏi vết thương của người lính gác, rồi đâm mạnh vào cổ họng ông. Một dòng máu chẩy ra, nhưng tiếng la tắt nghẽn. Đôi mắt của ông ta nhắm lại. William lại kéo con dao ra, người lính gác ngã xuống đất.
Ngựa của William hoảng sợ vì những chuyển động đột ngột và chạy sang bên cạnh. Cậu chụp được dây cương của nó, rồi nhìn Walter. Ông cũng bắt được người lính gác ở cổng kia. Walter đã giết người lính kia một cách hiệu quả hơn, bằng cách cắt cổ ông và ông chết trong yên lặng. Lần sau tôi cũng phải làm như thế, William nghĩ, khi tôi muốn làm cho người khác yên lặng. Rồi cậu nghĩ: Tôi đã làm điều đó! Tôi đã giết một người!
Cậu nhận ra rằng cậu không còn sợ hãi nữa.
Cậu đưa dây cương cho Walter và chạy theo cầu thang xoắn lên tháp canh ở cổng. Phía trên cùng là phòng kéo cầu lên. Với hai nhát kiếm, cậu đã có thể cắt đứt sợi dây cáp. Cậu ném đầu dây ra ngoài cửa sổ. Nó rơi nhẹ nhàng xuống thông hào, không gây tiếng động nào. Bây giờ cây cầu không còn có thể kéo lên, không còn có thể cản bước tiến quân của bố cậu. Đấy là một ý tưởng mà họ đã nghĩ ra đêm hôm qua.
Raymond và Ranunf đến cổng gác vừa lúc William đến chân cầu thang. Nhiệm vụ đầu tiên của họ là phá hủy cánh cổng lớn bằng gỗ sồi dẫn từ cầu vào sân lâu đài. Mỗi người lấy ra một cái búa gỗ và một cái đục, rồi cố gắng đục vữa xung quanh các bản lề sắt to lớn. Tiếng búa nện trên cái đục làm William giật mình.
William đem hai xác lính canh vào trong phòng gác. Vì mọi người ở trong nhà nguyện, nên hai xác chết này chỉ có thể khám phá ra khi mọi chuyện đã trễ.
Walter đưa cho cậu dây cương, và cả hai đi qua cổng vào trong sân lâu đài theo hướng chuồng ngựa. William phải cố gắng lắm mới bước đi bình thường được. Cậu đi chậm rãi và lén lút nhìn tên lính trên tháp canh. Có ai trong họ nhìn thấy dây kéo cầu rơi vào thông hào không?  Có ai thắc mắc về âm thanh của búa không? Một vài người nhìn cậu và Walter, nhưng dường như họ không để ý lắm, và tiếng búa nhẹ dần đi bên tai William và có lẽ không còn nghe thấy trên đỉnh tháp. William cảm thấy nhẹ nhõm. Kế hoạch đang diễn biến tốt.
Họ đến chuồng ngựa và đi vào trong. Cả hai treo dây cương lỏng lẻo trên xà ngang để con thú có thể tự giải thoát được. Sau đó William lấy đá lửa, chà thành đốm lửa và đốt đống rơm dưới sàn nhà. Nó bẩn và ẩm thấp, nhưng chẳng bao lâu nó bắt lửa. Cậu châm thêm ba đống lửa khác, và Walter cũng làm như vậy. Họ đứng nhìn một lúc. Con ngựa ngửi thấy mùi khói và dậm chân trong chuồng. William đứng thêm một lúc. Ngọn lửa cháy lớn hơn. Và đó là kế hoạch.
Cậu và Walter rời chuồng ngựa, đi ra ngoài sân. Ở ngoài cổng, ẩn dưới mái hiên, Raymond và Ranunf vẫn đang đục bản lề ra. William và Walter đi về hướng nhà bếp, tạo ra ấn tượng như là họ đi tìm cái gì ăn. Không có ai ở ngoài sân: mọi người ở trong nhà nguyện. Tình cờ nhìn lên tháp canh, William thấy lính canh không nhìn vào lâu đài mà nhìn ra ngoài đồng, dĩ nhiên đó là trách nhiệm của họ. Tuy vậy William vẫn cảnh giác vì nếu một người nào đó từ trong nhà phóng ra thách thức họ thì họ sẽ phải giết người ấy ở đây, giữa sân thoáng này; và nếu có người nhìn thấy thì cuộc chơi coi như chấm dứt.
Họ đi quanh nhà bếp và đi lên cầu dẫn đến tòa nhà phía trên. Họ nghe thấy âm thanh trầm lặng của giờ lễ khi họ đi qua nhà nguyện. Trong đó có Bá tước Bartholomew, William bồn chồn nghĩ, và ông ấy không biết gì về đạo quân ở cách đây một dặm, bốn quân thù đã vào trong thành và chuồng ngựa của ông đang bốc cháy. Aliena cũng đang ở trong nhà nguyện, quỳ gối cầu nguyện. Chẳng bao lâu nữa cô sẽ qùy trước mặt tôi, William nghĩ, và máu dồn lên đầu làm cậu chóng mặt.
Họ đến cây cầu thứ hai và đi qua. Họ đã cắt đứt dây kéo cầu thứ nhất và đã phá cổng, vì thế đoàn quân của họ chắc chắn có thể vào thành. Nhưng bá tước vẫn có thể chạy qua cây cầu thứ hai này và trốn trong khu nhà phía trên. Nhiệm vụ tiếp theo của William là kéo chiếc cầu thứ hai này lên để không ai qua lại được. Như vậy bá tước sẽ bị cô lập và bất lực trong khu nhà phía dưới.
Họ đến cổng nhà thứ hai và một lính bước ra khỏi phòng gác nói: “Ông đến sớm thế.”
William nói: “Chúng tôi được triệu tập để gặp bá tước.” Cậu tiến đến gần người lính gác, nhưng ông ấy nhanh chóng lùi lại. William không muốn ông lùi lại quá xa, vì như thế ông sẽ ra khỏi mái hiên và những người lính gác của khu nhà phía trên có thể nhìn thấy.
“Bá tước ở trong nhà nguyện,” người lính gác nói.
“Chúng tôi sẽ đợi.” người lính gác này phải bị giết nhanh chóng và không gây tiếng động, nhưng William không biết phải đến gần ông bằng cách nào. Cậu nhìn Walter cầu cứu, nhưng Walter chờ đợi kiên nhẫn, thái độ bất động.
“Trong thành trì có lửa,” người lính gác nói. “Hãy đến đó mà sưởi ấm.” William ngập ngừng, và người lính gác nhìn đi chỗ khác. “Các ông còn chờ gì nữa?” ông ấy tức mình nói.
William tuyệt vọng tìm kiếm câu trả lời. Sau cùng cậu hỏi: “Chúng tôi có thể có cái gì để ăn không?”
“Không, chỉ sau thánh lễ,” người lính gác nói. “Bữa ăn sáng được dọn trong sảnh đường.”
Bây giờ William nhận ra Walter đã âm thầm sang bên cạnh. Nếu người lính gác chỉ quay thêm một chút thôi, Walter sẽ ở sau lưng ông. William đi một vài bước theo hướng ngược lại, ngang qua người lính gác và nói: “Tôi không hài lòng với lòng hiếu khách của bá tước.” Người lính quay lại. “Chúng tôi đã đi đoạn đường dài…” William nói.
Lúc đó Walter ra tay.
Ông bước ra sau người lính gác và đặt tay lên vai ông. Với bàn tay trái ông kéo cằm người lính gác ra sau, với con dao ở bàn tay phải ông cắt cổ người lính. William thở phào. Mọi chuyện xẩy ra trong chớp mắt.
Hai người họ, William và Walter, đã giết được ba người trước bữa ăn sáng. William có một cảm xúc ly kỳ về quyền lực. Từ bây giờ không ai còn có thể cười cậu, cậu nghĩ.
Walter kéo xác người lính vào phòng gác. Cách xây cổng nhà này giống hệt cái trước, với một cầu thang trôn ốc dẫn lên phòng kéo cầu phía trên. William lên cầu thang và Walter theo sau.
William đã không thám thính phòng này khi cậu ở đây ngày hôm qua. Cậu không nghĩ tới và cũng khó tìm ra lý do để thám thính tháp canh. William giả định sẽ có một bánh xe kéo. Khi họ đến nơi, họ thấy chỉ có dây mà không có bánh xe kéo. Cây cầu chỉ kéo bằng sức người. William và Walter cầm lấy kéo, nhưng chiếc cầu không chuyển động. Đó là công việc cần đến mười người.
Williiam cần một lúc mới hiểu ra tại sao chiếc cầu thứ nhất lại có bánh kéo: mỗi tối chúng đều được kéo lên, còn chiếc cầu thứ hai này chỉ được kéo lên khi cần.
Nhưng nát đầu về chuyện đó có ích lợi gì? Vấn đề là bây giờ phải làm sao. Nếu cậu không thể kéo cầu lên, ít nhất cậu phải đóng cổng lại, như vậy mới cầm chân bá tước lại được.
Cậu chạy xuống thang, Walter theo sát sau. Khi cậu đến chân cầu thang, cậu bị sốc. Không phải mọi người đều ở trong nhà nguyện, dường như vậy. Cậu thấy một người đàn bà và một cậu bé từ phòng gác đi ra
William chùn bước. Ngay lập tức cậu nhận ra người đàn bà. Bà ấy là vợ ông thợ xây mà hôm qua cậu đã cố mua với giá một cân bạc. Bà nhìn thấy cậu và cặp mắt xuyên thấu màu mật ong nhìn thẳng vào cậu. Cậu biết trong mắt bà, cậu không thể đóng vai người khách vô tội đang chờ bá tước được, vì bà chẳng tin. Cậu phải tìm cách làm cho bà im lặng. Và cách duy nhất là giết bà, nhanh chóng và không gây tiếng động, như họ đã giết các người lính canh.
Đôi mắt biết hết mọi chuyện của bà nhìn thấy ý định đó trên gương mặt cậu. Bà nắm tay con và quay đi. Tom định tóm bà, nhưng bà nhanh hơn. Bà chạy vào trong sân, nhắm hướng đại sảnh. William và Walter chạy theo sau.
Đôi chân bà nhẹ nhàng, trong khi những người kia mặc áo giáp, mang theo vũ khí. Bà đến chân cầu thang dẫn lên đại sảnh. Khi bà chạy lên cầu thang, bà hét lên. William nhìn lên các bức tường chung quanh. Tiếng hét đã thu hút sự chú ý của hai lính gác. Cuộc chơi chấm dứt. William ngưng chạy và đứng dưới chân cầu thang, thở mạnh. Walter cũng thế. Hai, rồi ba, rồi bốn người lính gác chạy xuống thành luỹ vào sân. Người đàn bà mất hút trong đại sảnh, tay vẫn giữ tay cậu bé. Bà không còn quan trọng. Bây giờ lính gác đã được báo động, cái chết của bà không còn cần thiết nữa.
Cậu và Walter rút kiếm ra, đứng bên cạnh nhau, sẵn sàng chiến đấu vì mạng sống của họ.
 
 
Linh mục vừa đưa Mình thánh Chúa lên cao, Tom nhận ra có điều bất thường xẩy ra cho ngựa. Ông nghe thấy nhiều tiếng hí và tiếng ngựa dậm chân hơn bình thường. Một lúc sau, một người nào đó làm gián đoạn bài hát Latin của linh mục qua giọng nói to: “Tôi ngửi thấy mùi cháy.”
Tom cũng ngửi thấy nữa, và mọi người cũng vậy. Tom cao hơn mọi người và có thể nhìn thấy qua cửa sổ nếu ông kiễng chân lên. Ông bước qua bên và nhìn ra ngoài. Chuồng ngựa đang cháy.
“Cháy nhà!” ông nói, và trước khi ông có thể nói gì thêm, giọng ông đã bị lấn át bởi tiếng la hét của các người khác. Mọi người tuôn ra cửa. Thánh lễ ngưng lại. Tom giữ Martha lại, vì sợ cô ta có thể bị thương khi chen lấn và bảo Alfred cũng ở lại. Ông tự hỏi không biết Ellen và Jack ở đâu.
Một lúc sau không còn ai trong nhà nguyện, ngoại trừ ba cha con ông và vị linh mục.
Tom đưa các con ra ngoài. Một vài người đang cởi dây cho ngựa khỏi chết cháy, người khác chạy ra giếng múc nước chữa lửa. Không thấy Ellen đâu. Những con ngựa hoảng loạn chạy trong sân, tiếng vó ngựa nổi lên ầm ầm. Tom nhăn trán và nghe kỹ hơn: tiếng ầm ầm quá lớn, nó như tiếng chân của hàng trăm con ngựa chứ không phải của hai mươi, ba mươi con. Đột nhiên ông có một linh cảm chẳng lành. “Con ở lại đây, Martha!” ông nói. “Alfred, con hãy lo cho em.” Ông chạy lên bờ thành lũy. Nó là một dốc cao và ông phải chậm lại cho đến khi đến được đầu thành. Trên đỉnh, ông thở hổn hển, nhìn ra ngoài.
Nỗi lo của ông đã đúng. Tim ông lạnh đi vì sợ. Trên cánh đồng màu nâu, tám mươi đến một trăm kỵ binh mạnh mẽ tiến vào lâu đài. Đó là một cảnh tượng rùng mình: Áo khoác bằng móc xích sắt và lưỡi kiếm rút ra khỏi vỏ lấp lánh dưới ánh mặt trời buổi sáng. Những con ngựa phi nước đại và hơi thở nóng thoát ra từ lỗ mũi chúng. Những kỵ binh gập người trên lưng ngựa, cùng tiến về một mục tiêu. Không có tiếng thúc quân, không có tiếng la hét, chỉ có tiếng đập ầm ầm như sấm của hàng trăm chân ngựa.
Tom nhìn về sân lâu đài. Tại sao không có ai nghe thấy tiếng đoàn quân đang tiến vào? Vì âm thanh của chúng đã bị bức tường thành ngăn cản, cộng với tiếng ồn ào trong sân. Tại sao các lính gác không nhìn thấy? Vì họ đã rời trạm gác để đi chữa lửa. Cuộc tấn công đã được một người thông minh chủ mưu. Bây giờ là lúc Tom phải báo động.
Và Ellen ở đâu?
Mắt ông mở lớn, nhưng ông không thấy Ellen. Một phần lớn sân đã phủ đầy khói. Ông phát hiện ra Bá tước Bartholomew ở bên cạnh giếng nước, cố gắng tổ chức chữa lửa. Tom từ tường thành chạy xuống, xuyên qua sân đến bên giếng nước. Ông nắm vai bá tước và hét vào tai ông: “Có tấn công!”
“Cái gì?”
“Chúng ta bị tấn công.”
Bá tước đang nghĩ về ngọn lửa. “Bị tấn công? Ai tấn công?”
“Hãy nghe đây,” Tom nói. “Hàng trăm kỵ binh.”
Bá tước nghiêng đầu. Tom thấy sự tỉnh ngộ trên khuôn mặt nhợt nhạt, quyền quý của ông. Rồi bất thình lình ông sợ hãi nói: “Ông có nhìn thấy chúng không?”
“Có.”
“Ai – ừ, không cần biết ai! Ông nói một trăm kỵ binh?”
“Vâng.”
“Peter Ralph!” Bá tước gọi người chỉ huy quân đội. “Đó là một cuộc đánh úp. Lửa này chỉ để đánh lạc hướng chúng ta. Chúng ta bị tấn công.” Cũng giống như bá tước, trước hết họ không hiểu, sau đó họ lắng nghe và sau cùng họ sợ hãi. Bá tước hét lên: “Hãy ra lệnh cho quân lính mang gươm – Nhanh lên! Nhanh lên!” Ông quay lại Tom. “Hãy theo tôi, người thợ xây – ông khỏe mạnh, chúng ta có thể đóng cửa thành.” Ông chạy qua sân và Tom theo sau. Nếu họ có thể đóng cửa thành và kéo cầu đúng lúc, họ có thể ngăn cản được hàng trăm người.
Họ đến cổng thành. Họ nhìn thấy đoàn quân đi qua cổng vòm. Chỉ còn cách hơn một dặm. “Hãy nhìn vào cổng!” bá tước hét lên.
Hai cánh cổng nằm trên mặt đất. Bản lề của nó đã được gỡ ra khỏi tường. Một số kẻ thù đã có mặt ở đây trước đó, Tom nghĩ. Lòng ông bồn chồn vì sợ.
Tom nhìn lại vào sân, vẫn dõi mắt tìm Ellen. Ông không thể thấy bà. Bà ấy ra sao? Bây giờ mọi chuyện có thể xẩy ra. Ông cần ở bên cạnh và bảo vệ bà.
“Cây cầu!” bá tước nói.
Cách tôt nhất để bảo vệ Ellen là ngăn cản kẻ tấn công ở bên ngoài, Tom nhận ra. Bá tước chạy lên cầu thang xoắn dẫn lên phòng kéo cầu, và Tom nỗ lực theo sau. Nếu cây cầu được kéo lên, còn lại một vài người có thể bảo vệ cổng thành. Nhưng khi ông đến được phòng kéo cầu, tim ông thót lại. Dây kéo cầu đã bị cắt. Không còn cách nào kéo cầu lên.
Bá tước Bartholomew cay đắng nguyền rủa: “Kẻ nào lên kế hoạch này thì xảo quyệt như Lu Xi Phe.”
Tom chợt nghĩ rằng ai đã phá hủy cổng thành, cắt dây kéo cầu và đốt lửa, người đó phải còn ở đâu đó trong thành, và ông sợ hãi tự hỏi, kẻ đó ở đâu.
Bá tước nhìn qua cánh cửa sổ. “Trời ơi! Họ sắp đến nơi rồi!” Ông chạy xuống thang.
Tom theo sát chân ông. Trong cổng thành nhiều hiệp sĩ đã mang gươm và đội mũ sắt. Bá tước Bartholomew ra lệnh. “Ralph và John, lùa một số ngựa lên cầu để ngăn đường vào của quân giặc. Richard, Peter và Robin, lấy thêm quân và phòng thủ nơi đây! Còn ông thợ xây, thu thập đầy tớ và trẻ em qua bên kia cầu, lên phía khu nhà bên trên.”
Tom vui vì có cớ để tìm Ellen. Trước tiên ông chạy đến nhà nguyện. Alfred và Martha trông có vẻ sợ hãi, vẫn đứng ở chỗ cũ, nơi ông đã để chúng lại vài giờ trước đây. “Hãy đến đại sảnh,” ông hét lên. “Khi con gặp bất cứ trẻ em và đàn bà nào, hãy nói họ theo con – đó là lệnh của bá tước. “Chạy đi!” Chúng chạy đi ngay lập tức.
Tom nhìn quanh. Ông sẽ theo chúng sau: ông không muốn bị bắt ở khu nhà dưới. Nhưng ông cũng muốn dành vài phút để thi hành mệnh lệnh của bá tước. Ông chạy tới chuồng ngựa, nơi nhiều người vẫn đổ từng xô nước lên ngọn lửa. “Hãy quên đám cháy đi, lâu đài đang bị tấn công,” ông hét lên. “Hãy mang con em lên đại sảnh.”
Khói bốc lên mắt ông và ông chỉ có thể nhìn qua nước mắt. Ông dụi mắt và chạy đến một đám đông nhỏ đang đứng nhìn ngọn lửa thiêu rụi chuồng ngựa. Ông lập lại cho họ mệnh lệnh, cũng như với nhóm chăn ngựa, những người đang cố gắng cột lại những con ngựa đã sổng chuồng.
Khói làm ông ho. Nghẹt thở, ông chạy trở lại qua sân, đến cây cầu dẫn đến khu nhà phía trên. Ông nghỉ ở đó, thở hổn hển và nhìn lại. Dòng người tuôn đến trên cầu. Ông chắc chắn Ellen và Jack đã đến đại sảnh, nhưng ông sợ ông có thể mất họ. Ở cổng nhà phía dưới, các hiệp sĩ của bá tước đứng sát bên nhau. Ngoài ra không thấy gì, chỉ có khói. Bất ngờ Bá tước Bartholomew xuất hiện bên cạnh ông, với máu trên gươm và nước mắt trên mặt vì khói. “Hãy cứu lấy mình!” bá tước la lên với Tom. Vào lúc đó những kẻ tấn công phá vỡ được cổng nhà phía dưới, đẩy lui các hiệp sĩ phòng thủ. Ton quay lại và chạy qua cầu.
Mười lăm hay hai mươi người của bá tước đứng ở cổng nhà thứ hai, sẵn sàng bảo vệ khu nhà phía trên. Họ dạt qua hai bên để bá tước và Tom đi qua. Khi vòng vây đóng lại, Tom nghe thấy tiếng chân ngựa vang trên cầu gỗ phía sau ông. Những người phòng thủ không còn cơ hội. Trong đầu, Tom nhận ra cuộc đột kích có một kế hoạch khéo léo và hoàn hảo. Nhưng tư tưởng chính của ông vẫn là nỗi lo sợ cho Ellen và các con. Một trăm binh sĩ khát máu sắp tràn vào. Ông chạy qua khu nhà phía trên đến đại sảnh.
Nửa đường trên chiếc cầu thang gỗ, ông quay nhìn lại. Những người phòng thủ ở cổng nhà thứ hai hầu như bị các kỵ binh uy hiếp. Bá tước ở ngay sau Tom. Chỉ còn đủ thời gian cho hai người vào sảnh đường và kéo cầu lên vào phía trong. Tom chạy lên những bậc thang còn lại và nhẩy vào sảnh đường – và rồi cậu nhìn thấy những kẻ tấn công thật thông minh.
Đoàn quân tiên phong, người đã phá cổng, cắt dây cáp kéo cầu, và châm lửa đốt chuồng bò, lại có một nhiêm vụ khác: họ đã đến sảnh đường phục kích tất cả những ai đến đó lánh nạn.
Bây giờ ngay trong đại sảnh, bốn người mặc áo xích sắt đang đứng. Chung quanh họ là xác chết đầy máu và những hiệp sĩ bị thương của bá tước, những người bị đánh khi bước vào sảnh đường. Và người cầm đầu của đoàn quân tiên phong, Tom nhìn thấy và bị sốc, là William Hamleigh.
Tom nhìn chằm chặp, choáng váng vì bất ngờ. Mắt William mở rộng, khát máu. Tom nghĩ cậu sẽ giết ông, nhưng trước khi ông có thời gian để sợ hãi, một tay sai của William đã cầm cánh tay ông, kéo ông vào trong và đẩy ông ra khỏi đường đi.
Thì ra gia đình Hamleigh là người tấn công lâu đài Bá tước Bartholomew. Nhưng tại sao?
Tất cả người phục vụ và trẻ em tụ lại thành một đống sợ hãi ở phía xa sảnh đường. Như vậy chỉ có binh lính là bị giết. Tom rà sát những khuôn mặt trong hội trường, và, với sự thở phào và biết ơn, ông nhìn thấy Alfred, Martha, Ellen và Jack, tất cả quây quần với nhau, trông sợ hãi nhưng vẫn sống và dường như không bị thương tích.
Trước khi ông đến với họ, một cuộc chiến nổ ra ngay cửa ra vào. Bá tước Bartholomew và hai hiệp sĩ xông vào và bị Hamleigh đang chờ đợi phục kích. Một người của bá tước bị đánh gục ngay lập tức, nhưng người khác bảo vệ bá tước với gươm trên tay. Nhiều hiệp sĩ đứng sau lưng bá tước, và bất ngờ một cuộc chiến sáp lá cà trong khoảng chật hẹp, và dao và nắm đấm được sử dụng vì không có chỗ cho gươm giáo dài. Có những lúc tưởng chừng như nhóm của bá tước thắng thế; nhưng rồi vài người của bá tước quay ngược lại và phòng thủ từ đàng sau: rõ ràng là quân tấn công đã xâm nhập vào khu nhà dưới và đang leo lên cầu thang gỗ tấn công vào đại sảnh.
Một giọng nói quyền lực vang lên: “Ngưng lại!”
Quân của cả hai phía đứng trong tư thế phòng thủ, và cuộc chiến ngưng lại.
Cùng giọng nói cất lên: “Bartholomew thành Shiring, ông có đầu hàng không?”
Tom nhìn thấy bá tước quay và nhìn ra cửa. Các hiệp sĩ bước qua hai bên cho ông nhìn ra. “Hamleigh,” bá tước lẩm bẩm bằng một giọng nói bình thản. Rồi ông lên giọng nói: “Ông sẽ để cho gia đình và thuộc hạ của tôi bình yên chứ?”
“Được.”
“Ông có thề không?”
“Tôi thề trước mặt Chúa, nếu ông đầu hàng.”
“Tôi đầu hàng,” Bá tước Bartholomew nói.
Một tràng pháo tay từ bên ngoài.
Tom quay đi. Martha chạy qua phòng, đến với ông. Ông bế cô lên, rồi ôm Ellen.
“Chúng ta được an toàn,” Ellen nói với dòng nước mắt trên mặt. “Tất cả chúng ta, mọi người đều an toàn.”
“An toàn,” Tom nói cay đắng, “nhưng lại một lần nữa trắng tay.”
 
 
Bất ngờ William ngừng cổ vũ. Cậu là con của Bá tước Percy, và nó không xứng đáng khi cậu la hét và reo hò như những người lính khác. Cậu chỉnh lại khuôn mặt thành một thái độ hài lòng quý phái.
Họ đã chiến thắng. Cậu đã thực hiện kế hoạch, không phải không có một số tổn thất, nhưng nó xuôi chẩy, và cuộc tấn công thành công lớn vì sự chuẩn bị của cậu. Cậu không thể đếm được bao nhiêu người cậu đã giết và gây thương tích, nhưng cậu không hề hấn gì. Nhưng tại sao lại có máu trên mặt, cậu nghĩ. Khi cậu lau đi, nó lại chẩy ra. Nó phải là máu của cậu. Cậu đặt tay lên mặt, rồi lên đầu. Một số tóc của cậu đã mất, và khi cậu đụng vào da đầu, nó đau như lửa.  Cậu đã không đội mũ sắt, bởi vì như thế sẽ gây nghi ngờ. Bây giờ, khi cậu biết mình bị thương, cậu cũng cảm thấy nó đau. Cậu không quan tâm đến. Một vết thương là một huy chương của lòng dũng cảm.
Bố cậu lên bậc thang và đối diện với Bá tước Bartholomew ở cửa. Bartholomew đưa đuôi kiếm ra như dấu hiệu đầu hàng. Percy đón lấy và quân của ông vỗ tay một lần nữa.
Khi sự ồn ào qua đi, William nghe Bartholomew hỏi: “Tại sao các ông lại làm chuyện này?”
Ông bố trả lời: “Ông âm mưu chống nhà vua.”
Bartholomew ngạc nhiên vì Bá tước Spercy biết điều này, và khuôn mặt lộ nét kinh ngạc. William ngừng thở, tự hỏi không biết Bartholomew, trong sự tuyệt vọng vì thất bại, có thú nhận âm mưu trước những người đang hiện diện không. Nhưng ông giữ lại bình tĩnh, đứng thẳng người và nói: “Tôi sẽ bảo vệ danh dự của tôi trước mặt nhà vua, chứ không ở đây.”
Ông bố gật đầu. “Như ông muốn. Hãy nói với quân của ông bỏ vũ khí xuống và rời khỏi lâu đài.”
Bá tước lẩm bẩm lời ra lệnh cho các hiệp sĩ của mình, và từng người một, họ đến trước mặt Percy Hamleigh và bỏ kiếm xuống đất. William thích thú khi nhìn cảnh tượng đó. Hãy nhìn tất cả họ hạ mình trước bố tôi, cậu hãnh diện nghĩ.
Percy Hamleigh ra lệnh cho một hiệp sĩ: “Tụ hợp các con ngựa sổng chuồng lại và đem vào chuồng. Một số người khác thu thập vũ khí của những người chết và bị thương.” Vũ khí và ngựa của người chiến bại thuộc về kẻ chiến thắng, tất nhiên: quân sĩ của Barthlomew sẽ giải tán, đi bộ và tay không. Người của Hamleigh cũng thu sạch các kho chứa đồ. Những con ngựa bị tịch thu sẽ chở đầy hàng hóa về Hamleigh, ngôi làng được mang tên gia đình Hamleigh. Ông bố gọi một hiệp sĩ và nói: ”Sắp xếp nhân viên nhà bếp và bảo họ chuẩn bị bữa ăn trưa. Những đầy tớ khác cho họ về.” Người ta đói sau trận chiến: bây giờ sẽ là một tiệc mừng. Lương thực và rượu ngon nhất của Bá tước Bartholomew sẽ được đem ra ăn và uống ở đây trước khi lên đường về nhà.
Một lúc sau, các hiệp sĩ đứng xung quanh ông bố và Bartholomew dạt ra làm hai, tạo thành lối đi, và bà mẹ tiến vào.
Trông bà nhỏ bé giữa những binh sĩ lực lưỡng, nhưng khi bà mở khăn che mặt, những người chưa bao giờ biết bà bị sốc. Bà nhìn ông bố. “Một chiến thắng tuyệt vời,” bà nói với giọng hài lòng.
William muốn nói: Đó là vì công việc được chuẩn bị tốt, phải không mẹ?
Cậu cắn lưỡi, nhưng bố cậu đã nói thay cậu: “Chính William đã chuẩn bị cho chúng ta.”
Bà mẹ quay qua cậu, và cậu háo hức chờ đợi bà đến chúc mừng. “Có phải anh ấy đã làm không?”
“Đúng,” ông bố nói. “Cậu con trai đã thực hiện tốt đẹp công việc này.”
“Bà mẹ gật đầu. “Có lẽ ông nói đúng,” bà nói.
Trái tim William ấm lên vì lời khen của bà và cậu cười ngu ngốc.
Bà mẹ nhìn Bá tước Barthalomew. “Bá tước, cúi đầu xuống trước tôi,” bà nói.
Bá tước nói: “Không.”
Bà mẹ nói: “Bắt đứa con gái cho tôi.”
William nhìn quanh. Lúc đó cậu đã quên Aliena. Cậu rảo mắt qua các khuôn mặt của đầy tớ và trẻ em, và phát hiện ra cô ngay, đang đứng với Matthew, người quản lý lâu đài. William đi đến bên cô, nắm cánh tay cô và đưa tới bà mẹ. Matthew đi theo họ.
Bà mẹ nói: “Cắt tai nó.”         
Aliena hét lên.
William cảm thấy một rung động lạ trong bụng dưới thắt lưng.
Khuôn mặt của Bartholomew biến thành xám. “Ông đã hứa ông sẽ không làm hại cô, nếu tôi đầu hàng,” ông nói. “Ông đã thề điều đó.”
Bà mẹ nói: “Sự bảo vệ của chúng tôi sẽ tùy theo sự đầu hàng của ông.”
Thật thông minh, William nghĩ.
Bartholomew nhìn thách thức.
William tự hỏi ai sẽ là người được chọn để cắt tai Aliena. Có lẽ bà mẹ sẽ cho cậu cơ hội. Tư tưởng đó làm cậu hứng khởi.
Bà mẹ nói với Bartholomew: “Quỳ xuống!”
Chậm rãi Bartholomew quỳ xuống, cúi thấp đầu.
William cảm thấy thất vọng.
Bà mẹ lên giọng. “Hãy nhìn,” bà nói to cho những người đang tụ tập. “Đừng bao giờ quên số phận của người đã lăng mạ gia đình Hamleigh!” Bà ngạo nghễ nhìn quanh, và tim của William đập mạnh vì hãnh diện. Danh dự của gia đình được phục hồi.
Bà mẹ quay đi và ông bố tiếp tục. “Đem ông ấy đến phòng ngủ của ông ây,” ông nói. “Nhớ canh chừng ông ấy cẩn thận.”
Bartholomew đứng dậy.
Ông bố nói với William: “Đem cô gái đi theo.”
William cầm chắc cánh tay cô. Cậu muốn chạm vào cô. Cậu sẽ đưa cô lên phòng ngủ. Không thể nói được những gì sẽ xẩy ra. Nếu cậu còn lại một mình với cô ta, cậu có thể làm những gì cậu muốn làm với cô ấy. Cậu có thể cởi quần áo cô ra, nhìn vào sự trần truồng của cô. Cậu sẽ…
Bartholomew nói: “Hãy cho quản lý Matthew theo chúng tôi để chăm sóc cho con gái tôi.”
Ông bố nhìn Matthew. “Ông ta có thể tin tưởng được,” ông nói với một nụ cười gượng. “Được.”
William nhìn vào khuôn mặt của Aliena. Mặt cô vẫn trắng, nhưng thậm chí cô lại đẹp hơn khi cô sợ hãi. Nó rất thú vị để ngắm cô trong tình trạng dễ tổn thương này. Cậu muốn đè bẹp thân thể cô dưới thân cậu, muốn nhìn thấy sự sợ hãi trên khuôn mặt cô khi cậu banh chân cô ra. Bốc đồng, cậu cúi mặt cậu sát mặt cô và nói bằng giọng nhỏ nhẹ: “Anh vẫn muốn cưới em làm vợ’”
Cô rút tay ra khỏi tay cậu. “Cưới tôi” cô nói lớn tiếng bằng giọng khinh miệt. “Tôi thà chết còn hơn là cưới anh, đồ con cóc đáng khinh bỉ!”
Các hiệp sĩ cười thoải mái, và vài đầy tớ cười khẩy.
William cảm thấy mặt mình đỏ bừng.
Bà mẹ bất ngờ bước lên và tát vào mặt Aliena.
Bartholomew muốn bênh vực con, nhưng bị các hiệp sĩ chặn lại. “Câm miệng lại,” bà mẹ nói với Aliena. “Mày không còn là một phụ nữ quý phái nữa – mày là con của kẻ phản bội, chẳng bao lâu nữa mày sẽ cơ cực và đói khát. Mày không còn xứng đáng với con tao. Hãy xa khỏi mắt tao và đừng nói gì nữa.”
Aliena quay đi. William rời tay cô và cô đi theo bố cô. Khi cậu nhìn cô đi, William nhận ra rằng vị trả thù ngọt ngào đã thành cay đắng trong miệng cậu.
Cô thực sự là nữ anh hùng, giống như nàng công chúa trong thơ ca, Jack nghĩ. Cậu quan sát, ngưỡng phục khi cô bước lên bậc thang với bố cô, đầu cô ngẩng cao. Cả phòng yên lặng cho đến khi cô đi khỏi. Khi cô đi, nó giống như một ngọn đèn lụi tắt. Jack nhìn vào chỗ nơi cô đã đứng.
Một hiệp sĩ vào và hỏi: “Ai là người nấu bếp ở đây?’
Thợ nấu bếp cả không dám nhận, nhưng người khác chỉ vào ông.
“Ông chuẩn bị nấu ăn cho trưa nay,” người hiệp sĩ nói. “Đem theo người giúp và đi xuống bếp.” Người bếp chọn từ đám đông một vài người. Người hiệp sĩ lên giọng. “Những người còn lại hãy ra khỏi lâu đài. Đi nhanh lên! Nếu còn quý mạng sống mình thì đừng lấy những gì không thuộc về mình. Gươm chúng tôi đã vướng máu, bây giờ thêm một chút cũng chẳng sao đâu. Đi đi!”
Tất cả lê bước ra cửa. Mẹ Jack cầm tay cậu và Tom cầm tay Martha. Alfred đứng gần bên. Tất cả họ mặc áo khoác, và họ không có tài sản gì khác ngoài quần áo của họ và con dao ăn. Cùng với đám đông họ xuống cầu thang, đi qua cầu, xuyên qua khu nhà bên dưới, đi qua nhà gác, bước qua cổng đã thành vô dụng, rời khỏi lâu đài mà không lần nào ngừng bước nghỉ ngơi. Khi họ bước qua khỏi cây cầu vào cánh đồng, bên kia thông hào, sự căng thẳng giãn ra giống như dây cung bị đứt, và tất cả họ bắt đầu hào hứng nói về những thử thách của họ ở trong sảnh đường. Jack nghe vu vơ khi cậu đi cùng họ. Mọi người gợi lại hành động anh hùng của mình. Cậu không can đảm – cậu đơn giản chỉ là người chạy trốn.
Aliena là người dũng cảm duy nhất. Khi cô bước vào sảnh đường và nhận ra đó không phải là nơi trú ẩn mà là một cái bẫy, cô đã lo lắng cho những người giúp việc và trẻ em, nói với họ ngồi xuống, giữ yên lặng và tránh đường của những chiến binh, la hét quân của Hamleigh khi họ đối xử tồi tệ với tù nhân hoặc vung kiếm trên những người đàn ông không vũ khí hoặc đàn bà. Cô hành động như thể cô là người không thể bị thương tích.
Mẹ cậu rờ mái tóc cậu. ”Con đang nghĩ gì thế?”
“Con đang tự hỏi không biết có chuyện gì xẩy ra cho nàng công chúa không?”
Bà biết cậu nói về ai. “Công nương Aliena?”
“Cô giống như công chúa trong thơ ca sống trong lâu đài. Nhưng các hiệp sĩ không đạo đức như các bài thơ viết về họ.”
“Đúng thế,” bà nói dứt khoát.
“Điều gì có thể xẩy ra cho cô ta?”
Bà lắc đầu. “Thực sự mẹ không biết.”
“Mẹ của cô ấy đã chết.”
“Như vậy cô ấy sẽ có một giai đoạn khó khăn.”
“Con cũng nghĩ như vậy.” Jack ngừng nói. “Cô ấy đã cười con vì con không biết gì về vai trò của đàn ông trong việc sinh con. Nhưng dù vậy con vẫn thích cô ấy.”
Mẹ cậu vòng tay ôm cậu. “Mẹ xin lỗi đã không kể cho con về vai trò của những người bố.”
Cậu chạm vào tay bà, chấp nhận lời xin lỗi của bà. Họ đi trong im lặng. Lâu lâu một gia đình lại tách ra khỏi đường, vượt qua cánh đồng tìm đến nhà người thân hay bạn bè để xin bữa ăn sáng và nghĩ về tương lai trước mặt. Hầu hết họ ở lại bên nhau cho đến ngã tư, rồi họ chia tay, một số đi về hướng bắc hay nam, một số tiếp tục đi thẳng theo hướng chợ Shiring. Ellen bỏ tay Jack và đặt một tay lên cánh tay Tom làm ông dừng lại. “Chúng ta sẽ đi đâu?” bà hỏi.
Ông ngạc nhiên khi bị hỏi, như thể ông chờ đợi mọi người sẽ theo ông đi bất cứ nơi đâu mà không thắc mắc. Jack nhận ra rằng mẹ cậu thường làm cho Tom ngạc nhiên. Có lẽ vợ cũ của ông thuộc mẫu người khác.
“Chúng ta đến tu viện Kingsbridge,” Tom nói.
“Kingsbridge!” Ellen dường như rùng mình. Jack tự hỏi không biết tại sao.
Tom không chú ý đến. “Tối qua tôi nghe tu viện có tu viện trưởng mới,” ông tiếp tục. “Thường thường một người mới sẽ sửa chữa hoặc thay đổi nhà thờ.”
“Tu viện trưởng cũ đã chết?”
“Vâng.”
Vì lý do nào đó, Ellen được xoa dịu bởi tin tức đó. Chắc chắn bà phải biết tu viện cũ, Jack nghĩ, và cậu không thích ông ấy.
Sau cùng Tom nghe thấy có chút băn khoăn trong giọng nói của bà. “Có chuyện gì không ổn với Kingsbirdge?” ông hỏi bà.
“Em đã ở đó. Nó cách đây một ngày đàng.”
Jack biết không phải đoạn đường dài làm phiền mẹ cậu, nhưng Tom không biết. “Không lâu như thế,” ông nói. “Chúng ta sẽ đến đó vào giữa trưa ngày mai.”
“Vâng.”
Họ lại tiếp tục.
Một lúc sau Jack cảm thấy đau trong bụng. Lúc đầu cậu không biết tại sao. Cậu không bị đau trong khi ở lâu đài và Alfred cũng không đánh cậu trong hai ngày qua. Nhưng sau cùng nhận ra tại sao.
Cậu lại đói.
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 04.01.2017 15:04:55 bởi Minh Nan >

Minh Nan
  • Số bài : 23
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.12.2016
Re:Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới - 04.01.2017 15:10:37
0
Chương 4
 
I
Nhà thờ chính tòa Kingsbridge nhìn không hấp dẫn. Nó là một công trình đồ sộ, thấp và có những bức tường dầy và cửa sổ nhỏ. Nó được xây dựng trước thời của Tom, trong thời kỳ mà những người xây nhà chưa nhận ra tầm quan trọng của tỷ lệ. Thế hệ của Tom nhận ra rằng một bức tường thẳng cứng cáp, thực chất thì tốt hơn là bức tường dầy, và từ bức tường này có thể trổ ra những cửa sổ lớn, miễn là vòm cửa sổ là một nửa vòng tròn hoàn hảo. Từ xa, nhà thờ trông có vẻ lệch, khi đến gần Tom biết tại sao: một trong tháp đôi ở đầu phía tây đã bị sụp đổ. Ông háo hức. Tu viện trưởng chắc muốn xây lại nó. Niềm hy vọng đẩy bước chân ông. Ông đã được thuê ở lâu đài lãnh chúa, rồi nhìn thấy chủ mới bị thất bại trong cuộc chiến và bị bắt. Điều đó làm ông đau lòng. Ông cảm thấy ông không thể chịu đựng được một sự thất vọng như thế nữa.
Ông liếc nhìn Ellen. Ông sợ một ngày nào đó bà thấy ông không tìm được việc làm, rồi gia đình có thể lâm cảnh chết đói, và bà sẽ quyết định bỏ ông. Bà mỉm cười với ông, nhưng mặt bà tối sầm lại khi bà ngước nhìn bóng nhà thờ lờ mờ từ xa. Bà không thoải mái khi gặp linh mục và tu sĩ, ông nhận ra điều đó. Ông tự hỏi có phải bà cảm thấy có lỗi vì họ thật sự chưa kết hôn với lời chúc lành của giáo hội không.
Khu vực tu viện đầy nhộn nhịp và công việc. Tom đã nhìn thấy có những tu viện ủ rũ và những tu viện bận rộn, nhưng Kingsbridge khác thường. Bầu khí như vào mùa xuân – mùa của ba tháng dọn dẹp đầu năm. Bên ngoài chuồng ngựa, hai tu sĩ chải chuốt ngựa và tu sĩ thứ ba làm sạch hàng rào, trong khi các tập sinh dọn phân chuồng. Nhiều tu sĩ dọn dẹp và lau chùi nhà khách bên cạnh chuồng ngựa, và một xe rơm sạch đứng sẵn trước cửa, chuẩn bị để được rải lên nền nhà sạch.
Tuy nhiên không có ai làm việc nơi tháp đổ. Tom nghiên cứu đống gạch vỡ còn lại. Tháp này đã đổ cách đây vài năm, bởi vì cạnh các viên đá đã bị sương giá và mưa bào mòn, gạch vữa đã bị cuốn trôi, và đống gạch đã lún sâu vào đất. Điều đáng chú ý là việc sửa chữa đã không được thực hiện, dù nhà thờ chính tòa luôn được coi là ưu tiên. Có lẽ Tom đến sau khi các tu sĩ đã lên kế hoạch xây dựng lại. Ông lại bỏ lỡ cơ hội.
“Không ai nhận ra tôi,” Ellen nói.
“Em đã đến đây bao giờ?” Tom hỏi cô.
“Mười ba năm trước.”
“Thế thì không có gì ngạc nhiên khi họ không nhận ra em.”
Khi họ đi ngang qua mặt tiền phía tây, Tom mở một cửa gỗ to và nhìn vào bên trong. Gian giữa tối tăm và ảm đạm, với hàng cột đồ sộ và mái trần bằng gỗ cũ. Tuy nhiên, nhiều tu sĩ đang sơn tường bằng những cọ dài, và những người khác đang lau nền nhà bám đầy đất. Tu viện trưởng mới rõ ràng muốn thu dọn toàn bộ khu vực. Đó là dấu hiệu đầy hy vọng. Tom khép cửa lại.
Bên cạnh nhà thờ, trong sân nhà bếp, một nhóm tập sinh đứng xung quanh một thùng nước dơ, cạo rửa bồ hóng và mỡ ra khỏi nồi niêu và đồ dùng nhà bếp bằng những viên đá nhọn. Đốt ngón tay họ đỏ lên vì bàn tay luôn nhúng trong nước lạnh. Khi họ nhìn thấy Ellen, họ cười khúc khích và quay mặt đi.
Tom hỏi một tập sinh xem người quản lý ở đâu. Chính ra ông phải hỏi người phụ trách phụng vụ, bởi vì công việc của nhà thờ là nhiệm vụ của người phụ trách phụng vụ; nhưng người quản lý thường dễ gặp hơn. Tuy nhiên, sau cùng chính tu viện trưởng mới là người quyết định. Người tập sinh chỉ cho ông tầng hầm của một căn nhà ở sân tu viện. Tom đi vào qua một cửa mở, Ellen và các trẻ em theo sau. Tất cả dừng lại nơi ngưỡng cửa để mắt quen dần với bóng tối.
Tòa nhà này mới hơn và xây chắc chắn hơn nhà thờ, Tom có thể nói ngay. Không khí khô và không có mùi ẩm thấp. Trong thực tế, mùi pha trộn của đồ ăn dự trữ trong nhà kho làm cho bao tử ông quằn quoại, bởi vì hai ngày qua ông chưa ăn gì. Khi mắt ông đã quen dần với bóng tối, ông thấy tầng hầm có nền nhà lót gạch, những cột nhà to và thấp, và trần là một mái vòm. Một lúc sau ông thấy một người cao lớn, hói đầu đang xúc muối vào nồi. “Ông có phải là quản lý ở đây không?” Tom hỏi, nhưng ông dùng tay ra hiệu cho Tom yên lặng, và Tom biết ông đang đếm. Tất cả họ chờ ông trong yên lặng. Sau cùng ông nói: “… năm mươi tám, năm mươi chín, sáu mươi!” rồi ông đặt muỗm xuống.
Tom nói: “Tôi là Tom, thợ xây dựng tổng thể chính, và tôi muốn xây lại cây tháp phía tây bắc nhà thờ.”
“Tôi là Cuthbert, được gọi là đầu trắng, người quản lý, và tôi rất vui khi nó được xây lại,” ông trả lời. “Nhưng chúng tôi phải hỏi tu viện trưởng Philip. Ông có biết chúng tôi có một tu viện trưởng mới rồi không?”
“Vâng,” Cuthbert thuộc lớp tu sĩ vui vẻ, Tom nhận định, một người bình dân và dễ tính. Ông thích nói chuyện. “Và tu viện trưởng mới dường như muốn cải tiến bộ mặt của tu viện.”
Cuthbert gật đầu. “Nhưng ông ấy không muốn trả tiền thuê người. Ông có nhận thấy tất cả công việc đều do các tu sĩ thực hiện không? Ông không muốn nhận thêm người, ông cho rằng tu viện đã có quá nhiều người phục vụ.”
Đó là một tin xấu. “Các tu sĩ nghĩ gì về chuyện đó?” Tom hỏi một cách tế nhị.
Cuthbert cười, và khuôn mặt vốn dĩ nhăn nhúm của ông lại nhăn thêm. “Ông là một người thực tế, thợ xây Tom ạ. Có phải ông chưa bao giờ thấy các tu sĩ làm việc vất vả, phải không? Đúng, tu viện trưởng mới không bắt buộc ai cả. Nhưng ông diễn giải quy tắc của thánh Biển Đức theo cách là những người làm việc chân tay vất vả được ăn thịt đỏ và uống rượu nho, trong khi những người dành nhiều giờ cho học tập và cầu nguyện sẽ chỉ dùng cá muối và bia nhạt. Ông ta cũng có thể lý giải cho ông về chuyện đó. Nhưng điều quan trọng là ông ấy có nhiều tình nguyện viên cho các công việc nặng nhọc, đặc biệt là thành phần trẻ.” Cuthbert tỏ vẻ không chống lại chuyện đó, ông chỉ hoang mang.
Tom nói: “Nhưng các tu sĩ không thể xây được các bức tường đá, mặc dù họ có thể ăn nhiều.” Khi ông đang nói, ông nghe thấy tiếng trẻ thơ khóc. Tiếng khóc của trẻ thơ đánh động trái tim ông. Ông cần một lúc lâu mới nhận ra rằng tại sao trong tu viện lại có một trẻ thơ.
“Trước hết chúng ta hỏi tu viện trưởng,” Cuthbert nói, nhưng Tom không còn có thể lắng nghe. Tiếng khóc của một bé thơ còn rất nhỏ, chỉ khoảng một hoặc hai tuần, vang lên đâu đó và nó đang đến gần. Tom bắt gặp ánh mắt của Ellen. Bà ấy cũng đang giật mình. Rồi có một bóng tối trên ngưỡng cửa. Một cái gì đó chặn ở cổ ông. Một tu sĩ bế một bé thơ. Tom nhìn vào mặt nó. Nó là con ông.
Tom nuốt nước bọt xuống. Khuôn mặt bé thơ vẫn đỏ, nó đã có thể nắm chặt bàn tay và miệng nó mở rộng, chìa ra hàm lợi. Tiếng khóc của nó không phải là tiếng khóc của đau đớn hay bệnh tật, nhưng chỉ thông thường là tiếng đòi ăn. Nó là một đứa bé khỏe mạnh, và Tom cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy con mình bình an.
Tu sĩ bế nó là một người vui vẻ, khoảng hai mươi tuổi, có mái tóc ngang bướng và một nụ cười rộng, giống như khờ khạo. Không giống các tu sĩ khác, ông không có phản ứng gì về sự hiện diện của một người phụ nữ. Ông mỉm cười với tất cả mọi người, rồi nói với Cuthbert. “Jonathan cần thêm sữa.”
Tom muốn bế đứa bé trong tay mình. Ông cố gắng làm mặt nghiêm, không muốn biểu lộ cảm xúc của mình ra mặt. Ông lén lút nhìn các đứa con. Tất cả những gì chúng biết là đứa bé bị bỏ rơi đã được một linh mục tìm thấy khi đi ngang qua đó. Ngay cả chúng cũng không biết vị linh mục đó đã mang nó đến một tu viện nhỏ trong rừng. Khuôn mặt của chúng không tỏ vẻ gì, ngoại trừ sự tò mò. Chúng không liên tưởng được đứa bé này chính là đứa bé chúng đã bỏ lại trong rừng.
Cuthbert lấy một cái muôi và múc sữa từ trong xô vào một bình nhỏ. Ellen nói với tu sĩ trẻ: “Cho phép tôi được bế đứa bé không?” Cô đưa tay ra và tu sĩ trao đứa bé cho bà. Tom ghen tị với bà. Ông cầu mong được ôm chặt đứa nhỏ đó vào trái tim ông. Ellen ru nó và nó im lặng.
Cuthbert nhìn lên và nói: “Đúng, Johnny Eightpence là một người giữ trẻ tốt, nhưng ông không có sự nhẩy cảm của phụ nữ.”
Ellen nhìn ông. “Tại sao người ta lại gọi ông là Johnny Eightpence?”
Cuthbert trả lời thay ông. “Bởi vì một đồng đối vói ông chỉ là tám xu,” ông nói, rồi chỉ tay vào đầu để ra dấu rằng Johnny không bình thường. “Nhưng ông ta hiểu nhu cầu của tạo vật bé nhỏ này hơn chúng ta, những người cho mình là khôn ngoan. Đó là một phần trong mục đích rộng lớn của Thiên Chúa, tôi chắc như vậy,” ông chấm dứt một cách mơ hồ.
Ellen nhích gần tới Tom và đưa đứa nhỏ cho Tom. Bà đã đọc được ước muốn của ông. Ông nhìn bà bằng cái nhìn biết ơn sâu sắc, rồi bế đứa bé trong bàn tay thô của ông. Ông có thể cảm nhận nhịp tim của đứa bé qua tấm chăn bọc nó. Vật liệu của chăn rất tốt: ông tự hỏi không biết làm sao các tu sĩ có len mềm như vậy. Ông ôm đứa bé vào ngực và ru nó. Kỹ thuật ru con của ông không bằng Ellen, nên đứa bé lại bật khóc, nhưng Tom không quan tâm: tiếng khóc inh ỏi của đứa bé là âm nhạc bên tai ông, bởi vì nó có nghĩa là đứa nhỏ ông bỏ lại trong rừng bây giờ khỏe mạnh và cứng cáp. Mặc dù đau đớn, ông thấy mình đã quyết định đúng khi để đứa bé lại trong tu viện.
Ellen hỏi Johnny: “Đứa bé ngủ ở đâu?”
Lần này ông tự trả lời: “Nó có một giường nhỏ trong phòng ngủ của chúng tôi.”
“Cả đêm nó sẽ đánh thức các ông dậy.”
“Đàng nào chúng tôi cũng dậy giữa đêm, cho giờ kinh đêm,” Johnny nói.
“Dĩ nhiên! Tôi quên rằng ban đêm các tu sĩ cũng mất ngủ như các bà mẹ.”
Cuthbert đưa cho Johnny bình sữa. Johnny lấy đứa bé từ tay Tom bằng cánh tay còn lại một cách thành thạo. Tom không muốn trao đứa bé, nhưng trong mắt các tu sĩ, ông không có quyền gì để giữ nó, vì thế ông phải để nó đi. Một lúc sau Johnny và đứa bé đi khỏi, và Tom phải chống lại ý định muốn theo họ và nói: hãy chờ một chút, nó là con tôi, trả nó lại cho tôi. Ellen đứng bên cạnh ông và siết chặt tay ông trong một cử chỉ cảm thông kín đáo.
Tom nhận ra ông có lý do mới để hy vọng. Nếu ông có thể làm việc ở đây, ông có thể trông thấy Jonathan mỗi ngày và như thế nó cũng giống như là ông đã chẳng bỏ rơi đứa bé. Nó quá đẹp đến nỗi ông không dám mơ nó là sự thật.
Đôi mắt tinh đời của Cuthbert quan sát thấy Martha và Jack mở to mắt nhìn vào chiếc bình đầy kem sữa mà Johnny đã đem đi, ông hỏi: “Các trẻ nhỏ có muốn sữa không?”
“Vâng, thưa cha, chúng nó muốn,” Tom nói. Chính ông cũng muốn uống nữa.
Cuthbert lấy sữa vào hai bát bằng gỗ và đưa cho Martha và Jack. Cả hai uống nhanh chóng, để lại vòng trắng xung quanh miệng. “Một ít nữa không?” Cuthbert đề nghị.
“Vâng,” cả hai cùng đáp. Tom nhìn Ellen, biết rằng bà cũng cảm thấy như ông, sâu sắc biết ơn khi nhìn thấy con mình được cho ăn.
Khi Cuthbert múc sữa vào bát, ông tình cờ hỏi: “Các ông từ đâu đến?”
“Từ lâu đài lãnh chúa, gần Shiring,” Tom nói. “Chúng tôi rời đó sáng qua.”
“Từ lúc đó đến giờ, các ông đã ăn gì chưa?”
“Chưa,” Tom nói thẳng thừng. Ông biết Cuthbert rất tốt, nhưng ông sợ phải thừa nhận là ông không đủ khả năng để nuôi các con ăn.
“Có vài trái táo kia ăn tạm để chờ tới giờ cơm,” Cuthbert nói và chỉ vào thùng táo gần cửa.
Alfred, Ellen và Tom đi tới thùng táo, trong khi Martha và Jack uống chén sữa thứ hai. Alfred cố ôm đầy táo trong cánh tay. Tom lấy bớt ra khỏi tay cậu và nói nhỏ: “Chỉ nên lấy hai hoặc ba thôi.” Cậu lấy ba.
Tom ăn táo với lòng biết ơn, và bụng ông dễ chịu hơn, nhưng ông tự hỏi không biết đã sắp đến giờ ăn chưa. Thông thường các tu sĩ ăn trước khi trời tối để tiết kiệm đèn, ông vui vẻ nhớ lại.
Cuthbert nhìn Ellen dò hỏi: “Tôi có biết bà không?”
Bà bất an. “Tôi không nghĩ thế.”
“Bà trông quen lắm,” ông nói chắc chắn.
“Khi còn nhỏ, tôi đã sống gần đây,” bà nói.
“Có thể như thế,” ông nói. “Đó là lý do tại sao tôi có cảm giác bà già hơn trước tuổi.”
“Ông phải có một trí nhớ tốt lắm.”
Ông cau mày nhìn bà. “Không tốt lắm đâu,” ông nói. “Tôi chắc chắn còn một chuyện gì đó nữa… Không vấn đề gì. Tại sao các ông bà lại rời khỏi lâu đài lãnh chúa?”
“Lâu đài bị tấn công vào buổi sáng ngày hôm qua, và đã thất thủ,” Tom trả lời. “Bá tước Bartholomew bị tố tội phản quốc.”
Cuthbert bị sốc. “Xin các thánh phù trợ chúng con!” ông kêu lên, và bất ngờ ông trông giống như một người già sợ hãi trước con bò đấu. “Phản quốc?”
Có tiếng chân bên ngoài. Tom quay lại nhìn thấy một tu sĩ khác bước vào. Cuthbert nói: “Đây là tu viện trưởng mới.”
Tom nhận ra tu viện trưởng. Đó là Philip, người mà họ đã gặp trên đường đến tòa giám mục, người đã cho họ pho mát ngon miệng. Bây giờ mọi chuyện rõ ràng: tu viện trưởng mới của Kingsbridge là tu viện trưởng cũ của tu viện nhỏ trong rừng, và ông đã mang Jonathan theo ông tới đây. Tim Tom nhẩy mừng vì hy vọng. Philip là người tốt, và dường như ông thích và tin tưởng Tom. Chắc chắn ông sẽ cho Tom một công việc.
Philip nhận ra Tom. “Chào thợ xây Tom.” Ông nói. “Như vậy là ông không tìm được việc làm ở dinh thự giám mục à?”
“Thưa cha không. Ngài tổng đại diện không mướn tôi, và giám mục không có ở đó.”
“Đúng thế, ông ấy không có ở đó – ông ấy ở trên trời, mặc dù lúc đó chúng ta không biết.”
“Giám mục qua đời rồi sao?”
“Đúng.”
“Tin đó cũ rồi,” Cuthbert sốt ruột xen vào. “Tom và gia đình vừa đến từ lâu đài lãnh chúa. Bá tước Bartholomew đã bị bắt và lâu đài đã bị chiếm.”
Philip đứng im. “Đã rồi!” ông lẩm bẩm.
“Đã rồi?” Cuthbert lập lại. “Tại sao anh lại nói là ‘đã rồi’?” Dường như ông thích Philip nhưng cảnh giác về ông ấy, giống một người bố có con ra trận đã lâu, rồi trở về nhà với một thanh gươm trong thắt lưng và một cái nhìn nguy hiểm trong mắt. “Anh biết là chuyện này sẽ xẩy ra?” ông hỏi.
Philip hơi bối rối. “Không, không hoàn toàn,” ông nói không chắc chắn. “Tôi đã nghe tin đồn là Bá tước Bartholomew chống lại vua Stephen.” Ông bình tĩnh lại. “Tất cả chúng ta nên biết ơn,” ông tuyên bố. “Stephen hứa sẽ bảo vệ giáo hội, ngược lại Maud có thể áp bức chúng ta như bố bà. Vâng, đây đúng thực là tin vui.” Ông trông có vẻ hài lòng như chính ông đã thực hiện nó.
Tom không thích nói về Bá tước Bartholomew. “Nó không phải là tin vui cho tôi,” ông nói. “Bá tước đã thuê tôi, trước đó một ngày, để củng cố lại công trình phòng thủ của lâu đài. Thậm chí tôi chưa nhận được đồng lương nào.”
“Thật đáng buồn,” Philip nói. “Ai đã tấn công lâu đài?”
“Ngài Percy Hamleigh.”
“À!” Philip gật đầu, và một lần nữa Tom cảm thấy thông tin của ông chỉ xác nhận những gì Philip chờ đợi.
“Ông đang cải tiến một số việc ở đây,” Tom nói, cố gắng xoay chủ đề vào điều ông muốn.
“Tôi đang cố gắng,” Philip nói.
“Ông muốn xây lại tháp nhà thờ, tôi chắc chắn như thế.”
“Xây lại tháp chuông, sửa lại mái nhà, san bằng nền nhà – vâng, tôi muốn làm tất cả chuyện đó. Và dĩ nhiên, ông muốn xin việc,” ông nói thêm, như nhận ra lý do tại sao Tom có mặt ở đây. “Tôi không cần suy nghĩ. Tôi ước muốn thuê ông. Nhưng tôi sợ không thể trả lương cho ông được. Tu viện không còn xu nào.”
Tom cảm thấy như bị đấm. Ông đã tin sẽ tìm được việc làm ở đây, mọi chuyện tỏ ra là công việc ở đây đang cần ông. Ông không thể tin vào tai mình. Ông nhìn chằm chằm vào Philip. Thật khó mà tin rằng tu viện không có tiền. Người quản lý đã nói mọi công việc đều do các tu sĩ làm, nhưng mặc dù như vậy, một tu viện luôn luôn có thể mượn tiền của người Do Thái. Tom cảm thấy đây là con đường cùng của ông. Tất cả những gì đã giúp ông vượt qua mùa đông, bây giờ dường như không còn nữa, và ông cảm thấy yếu đuối và bất lực. Tôi không thể tiếp tục nữa, ông nghĩ. Tôi đã kiệt sức.
Philip nhìn thấy nỗi khổ của ông. “Tôi có thể cung cấp cho ông bữa ăn tối, chỗ ngủ và một số đồ ăn buổi sáng,” ông nói.
Tom giận dữ cay đắng. “Tôi chấp nhận,” ông nói, “nhưng tốt hơn tôi muốn tự kiếm ra nó.”
Philip nhíu mày khi nhận ra sự tức giận của Tom. Nhưng ông nói bằng giọng nhẹ nhàng. “Xin Chúa – đó không phải là ăn xin, nó là một lời cầu nguyện.” Rồi ông đi ra.
Những người khác nhìn Tom với một chút sợ hãi. Ánh mắt họ nhìn ông làm ông tức giận. Ông đi ra sau Philip vài bước, đứng lại trong sân, nhìn vào nhà thờ cũ kỹ, cố gắng kiểm soát cảm xúc của mình.
Một lúc sau, Ellen và các đứa trẻ cũng theo ra. Ellen đặt tay quanh hông ông trong một cử chỉ an ủi, điều đó làm cho các tập sinh huých cùi chỏ vào nhau và xì xào với nhau. Tom không chú ý tới họ. “Tôi sẽ cầu nguuyện,” ông nói chua chát. “Tôi sẽ cầu nguyện cho sấm sét đánh vào nhà thờ và san bằng nó xuống.”
 
 
Từ hai ngày qua, Jack biết sợ tương lai.
Trong giai đoạn sống ngắn ngủi vừa qua, cậu chẳng bao giờ phải nghĩ xa hơn ngày mai; nếu cậu phải nghĩ, cậu cũng biết những gì đang chờ đợi. Trong rừng ngày này giống ngày khác, và các mùa thay đổi từ từ. Bây giờ cậu không biết, ngày qua ngày, cậu sẽ làm gì, sẽ ăn gì.
Điều tồi tệ nhất là cơn đói triền miên. Jack đã bí mật ăn cỏ và lá cây để làm giảm cơn đói, nhưng nó lại gây nên một sự đau bụng khác. Martha thường khóc vì đói. Jack và Martha luôn đi với nhau. Cô nhìn cậu – trước đó cậu chưa bao giờ thấy. Sự bất lực không làm giảm cơn đau của cô, nó lại còn gây đau khổ cho cậu hơn là chính cơn đói của cậu.
Nếu còn sống trong hang động, cậu còn biết đi đâu để săn vịt, để tìm hạt hoặc ăn cắp trứng; nhưng ở đây, trong làng mạc và thị trấn này, trên những con đường xa lạ, cậu đã mất tất cả. Tất cả những gì cậu biết là Tom đã tìm được việc làm.
Buổi chiều họ ở trong nhà khách của tu viện. Nó là tòa nhà một phòng đơn giản, nền đất và một lò sưởi ở giữa, giống như nhà các nông dân khác, nhưng đối với Jack, người đã luôn sống trong hang động, nó tuyệt vời. Cậu tò mò về cách xây nhà và Tom hướng dẫn cậu. Đầu tiên, ông cắt nghĩa cho cậu, người ta phải chặt hai cây nhỏ, bỏ các cành đi, và đặt song song với nhau trong một góc, đặt thêm hai cây nữa tương tự như vậy cách đó bốn bước, dùng cây làm thêm hai hình tam giác rồi đặt lên đầu, sau đó nối liền hai khung với nhau bằng những xà ngang. Song song với xà ngang cột chặt những cành nhỏ hay thanh gỗ tạo thành mái dốc xuống mặt đất. Lau sậy được đặt trên mái và trộn với bùn cho nó không thấm nước. Hai đầu hồi được làm bằng cọc đóng xuống mặt đất, những ô nhỏ trong đó được trát bằng bùn. Mỗi đầu hồi có một cửa ra vào, không có cửa sổ.
Mẹ Jack rải rơm mới lên nền nhà, và Jack châm ngọn lửa bằng đá lửa cậu luôn mang theo bên mình. Khi những người khác ở xa, không nghe tiếng, Jack hỏi tại sao tu viện trưởng không muốn nhận Tom, mặc dù có nhiều việc phải làm. “Bao lâu nhà thờ còn sử dụng được, ông muốn tiết kiệm,” Ellen nói. “Nếu toàn bộ nhà thời sụp đổ, họ bắt buộc phải xây lại, nhưng nếu chỉ là một cây tháp, họ còn có thể chấp nhận được.”
Khi ánh sáng ban ngày lùi dần vào hoàng hôn, một cậu bé giúp việc trong bếp đem đến một nồi súp và một ổ bánh mì cao bằng đầu người – và tất cả chỉ cho mình họ. Nồi súp được nấu với các loại rau, rau thơm và xương thịt, trên mặt nó lấp lánh chất béo. Ổ bánh mì được gọi là bánh ngựa; được làm bằng các lọai ngũ cốc, lúa mạch đen, yến mạch cũng như đậu trắng và đen khô. Nó là loại bánh rẻ nhất, Alfred nói, nhưng đối với Jack, người đã không có gì ăn từ mấy ngày qua, bánh này ngon tuyệt. Jack ăn cho đến khi bụng cậu đau. Alfred ăn cho đến khi không còn gì.
Khi họ ngồi bên đống lửa để tiêu cơm, Jack nói với Alfred: “Tại sao tháp nhà thờ lại đổ?”
“Có lẽ nó bị sét đánh,” Alfred nói. “Hay là do lửa.”
“Nhưng nó không có vật liệu nào dễ cháy,” Jack nói. “Tất cả đều làm bằng đá.”
“Mái của nó không bằng đá, đồ ngu,” Alfred khinh bỉ nói. “Mái nhà được làm bằng gỗ.”
Jack nghĩ một lúc lâu về điều đó. “Và nếu mái nhà cháy, cả tòa nhà sẽ sụp xuống?”
Alfred nhún vai. “Một đôi khi.”
Chúng ngồi yên lặng một lúc lâu. Tom và mẹ của Jack đang thầm thì với nhau ở phía bên kia lò sưởi. Jack nói: “Đứa bé thật ngộ nghĩnh.”
“Ngộ nghĩnh điều gì?” Alfred nói.
“Đứa em bé nhỏ của anh bị thất lạc trong rừng, cách xa đây hàng nhiều dặm, và bây giờ một đứa bé lại xuất hiện ở đây trong tu viện.”
Ngay cả Alfred lẫn Martha hầu như tin rằng không có sự trùng hợp nào đáng chú ý, vì thế Jack cũng nhanh chóng quên nó.
Các tu sĩ đã đi ngủ ngay sau bữa ăn tối, và họ cũng không cung cấp nến cho các khách bình dân, vì thế gia đình của Tom ngồi nhìn lửa lò sưởi cho đến khi nó tắt, rồi họ nằm xuống trên nền rơm.
Jack vẫn thức nghĩ ngợi. Cậu nghĩ rằng nếu nhà thờ sụp đổ tối nay, tất cả mọi vấn đề sẽ được giải quyết. Tu viện trưởng sẽ thuê Tom xây lại nhà thờ, tất cả họ sẽ ở lại đây, sống trong căn nhà đẹp đẽ này, và họ sẽ có súp xương thịt và bánh mì mãi mãi.
Nếu tôi là Tom, cậu nghĩ, chính tôi sẽ châm lửa đốt nhà thờ. Tôi sẽ nhẹ nhàng thức dậy khi mọi người đang ngủ ngon, lẻn vào nhà thờ, nhúm lửa với viên đá lửa của tôi, sau đó leo trở về đây trong khi ngọn lửa bắt đầu lan rộng, và giả vờ ngủ khi được báo động. Và khi mọi người hắt các xô nước vào lửa, như khi ngọn lửa bùng cháy ở lâu đài lãnh chúa, tôi sẽ nhập đoàn với họ như thể tôi cũng như họ muốn dập tắt ngọn lửa.
Alfred và Martha đã ngủ ngon – Jack nhận ra điều đó qua hơi thở của họ. Tom và Ellen đã làm những việc họ thường làm dưới áo choàng của Tom, Alfred cho biết nó được gọi là “giao hợp”, sau đó họ cũng ngủ thiếp đi. Dường như Tom không có ý định thức dậy đốt nhà thờ.
Nhưng ông định làm gì? Ông để gia đình đi mãi cho đến khi chết đói sao?
Khi họ ngủ ngon, và cậu biết họ đã ngủ say khi cậu nghe hơi thở của bốn người nhịp nhàng, chậm rãi. Cậu nẩy sinh ý định tự đốt nhà thờ.
Ý tưởng này làm tim cậu đập nhanh vì sợ.
Cậu phải thức dậy thật êm. Cậu mở cửa và bước ra ngoài mà không đánh thức ai. Cửa nhà thờ chắc đóng kín, nhưng chắc chắn phải có cách vào, nhất là cho những người nhỏ con.
Nếu vào được bên trong, cậu sẽ tìm cách lên mái nhà. Trong hai tuần lễ với Tom, cậu đã học hỏi được nhiều điều. Tom luôn nói về nhà cửa, hầu hết nhắm tới Alfred, nhưng cậu không quan tâm, còn Jack lắng tai nghe. Cậu đã phát hiện ra rằng các nhà thờ lớn đều có các cầu thang xây vào trong tường để trèo lên khi cần sửa chữa. Cậu sẽ tìm thấy cầu thang và trèo lên.
Cậu ngồi dậy trong đêm tối, lắng nghe hơi thở của các người khác. Cậu có thể phân biệt được hơi thở của Tom qua tiếng khò khè, bị gây ra do bao năm hút bụi đá, mẹ cậu nói vậy. Alfred ngáy to, rồi trở mình và im lặng.
Sau khi cậu châm lửa đốt, cậu phải trở về nhà khách nhanh. Các tu sĩ sẽ làm gì nếu bắt được cậu? Ở Shiring, Jack đã nhìn thấy một cậu bé trạc lứa tuổi cậu bị trói và bị đánh vì đã ăn cắp đường của một tiệm tạp hóa. Cậu bé đã rú lên khi roi mây làm mông cậu chẩy máu. Nó còn kinh kkhủng hơn là hai người giết nhau trong cuộc chiến, như xẩy ra ở lâu đài lãnh chúa, và hình ảnh của đứa trẻ bị đánh chẩy máu ám ảnh Jack. Cậu sợ chuyện này cũng xẩy ra cho cậu.
Nếu tôi làm chuyện này, tôi sẽ chẳng bao giờ nói với ai.
Cậu lại nằm xuống, kéo áo choàng sát vào mình và nhắm mắt lại.
Cậu thắc mắc không biết cửa nhà thờ có khóa không. Nếu nó đóng, cậu sẽ vào qua cửa sổ. Không ai có thể nhìn thấy cậu nếu cậu ở phía bắc nhà thờ. Phòng ngủ của các tu sĩ ở phía nam, bị hành lang tu viện che khuất, và phía đó không có gì ngoài trừ khu nghĩa trang.
Cậu chần chừ một lúc rồi đứng lên.
Rơm tươi xào xạc dưới chân. Cậu lắng nghe lần nữa hơi thở của bốn người đang ngủ. Bây giờ hoàn toàn yên lặng; không có cả tiếng chuột chạy trong rơm. Cậu bước đi một bước, nín thở, lắng nghe. Những người khác ngủ và ngủ. Cậu không còn kiên nhẫn và bước nhanh ra cửa. Khi cậu dừng lại, đàn chuột chắc nhận ra không có gì phải sợ hãi, nên tiếp tục cào bới, còn con người vẫn ngủ.
Cậu đụng vào cánh cửa với đầu ngón tay, rồi rờ tay xuống thanh gỗ ngang. Đó là một thanh gỗ sồi gài trên hai móc đỡ. Cậu dơ tay đỡ, cầm nó và nâng lên. Nó nặng hơn cậu nghĩ, và sau khi nâng nó lên được vài phân, cậu phải để nó xuống. Khi nó rơi xuống móc đỡ, nó kêu rất to. Cậu sững người, lắng nghe. Hơi thở khò khè của Tom ngưng lại. Tôi phải nói gì, nếu tôi bị bắt? Jack nghĩ tuyệt vọng. Tôi sẽ nói là tôi định đi ra ngoài … ra ngoài… Tôi biết, tôi sẽ nói là tôi ra ngoài để đi tiểu. Cậu thoải mái ra vì đã tìm được lý do. Cậu nghe Tom trở mình, và chờ đợi giọng nói trầm, khàn khàn của ông, nhưng nó đã không đến, và Tom lại bắt đầu thở đều đặn.
Màu bạc của góc cửa lấp lánh ma quái. Trời phải có trăng, Jack nghĩ. Cậu lại nắm thanh ngang, lấy hơi và cố nâng nó lên. Lần này cậu đã đo lường được trọng lượng của nó. Cậu nâng nó lên và kéo nó về phía mình, nhưng cậu đã không nâng cao đủ, và nó không ra khỏi được móc đỡ. Cậu nâng nó lên vài phân nữa, và nó ra khỏi. Cậu giữ nó ngang ngực, rồi từ từ quỳ xuống trên đầu gối, và đặt nó lên đất. Cậu giữ tư thế đó một lúc, cố gắng thở nhịp nhàng, chờ cho cánh tay bớt đau. Không có âm thanh nào từ những người khác, chỉ có tiếng ồn ào của giấc ngủ.
Cẩn thận, Jack mở một cánh cửa. Bản lề sắt kêu kèn kẹt và một cơn gió lạnh thổi qua cánh cửa mở. Cậu rùng mình. Cậu kéo áo choàng sát mình và mở cửa rộng thêm. Cậu lướt nhanh ra và đóng cửa lại.
Đám mây tan đi, và mặt trăng di chuyển trên bầu trời. Có một cơn gió lạnh. Có lúc Jack bị cám dỗ trở về với sự ấm áp ngột ngạt của ngôi nhà. Ngôi nhà thờ đồ sộ, với tháp chuông đã bị đổ, đứng sừng sững trong ánh trăng. Bức tường dầy và cửa sổ nhỏ làm cho nó trông như một lâu đài. Nó trông xấu xí.
Tất cả im lặng. Bên ngoài bức tường tu viện, trong làng, có thể còn những nhóm người ngồi uống bia bên cạnh ánh sáng lò sưởi, hoặc may vá bên ánh sáng của cây đèn bấc, nhưng ở đây không có gì nhúc nhích. Jack vẫn còn do dự, nhìn vào nhà thờ. Nhà thờ nhìn lại cậu với cái nhìn tố cáo, như thể nó biết ý định của cậu. Cậu giũ bỏ cảm giác ma quái bằng cái nhún vai, và đi ngang khu cỏ xanh rộng tới phía tây.
Cửa nhà thờ khóa.
Cậu đi xung quanh tới phía bắc và nhìn vào các cửa sổ nhà thờ. Một số cửa sổ được căng bằng những tấm vải lụa to, chắn cơn lạnh vào. Chúng đủ to để cậu chui vào, nhưng chúng quá cao để có thể trèo lên. Cậu khảo sát bức tường bằng ngón tay, tìm kiếm những nơi hồ vữa đã rơi ra, nhưng nó không đủ lớn để chân cậu có thể đặt lên. Cậu cần cái gì đó để làm thang leo lên.
Cậu dự định lấy đá từ đống gạch vụn xây một cầu thang tạm thời, nhưng tảng đá vỡ quá nặng và không đều nhau. Cậu có cảm giác ban ngày cậu đã nhìn thấy cái gì đó có thể dùng cho mục đích của cậu và cậu bứt đầu để nhớ lại. Ánh mắt cậu dõi theo ánh trăng trên nghĩa địa đến chuồng ngựa, và cậu nhớ ra một bục nhỏ, chỉ có hai hoặc ba bậc, để gúp những người thấp bé có thể trèo lên lưng con ngựa to lớn. Một tu sĩ đã đứng trên đó để chải bờm ngựa.
Cậu đi qua chuồng ngựa. Nó không phải là vật đáng giá để ăn trộm, nên nó không bị cất đi vào ban đêm. Cậu đi nhẹ nhàng, nhưng ngựa nghe tiếng chân cậu và trở nên hoảng loạn, một vài con khịt mũi và ho. Cậu đứng lại, sợ hãi. Có thể các cậu chăn ngựa ngủ trong chuồng. Cậu đứng lặng yên một lúc, lắng nghe tiếng chuyển động của con người, nhưng không có gì và ngựa cũng yên lặng.
Cậu khhông tìm thấy bục gỗ. Có lẽ nó được để gần tường. Jack nhìn qua bóng trăng. Rất khó để nhìn thấy gì. Thận trọng cậu đi đến chuồng và đi theo chiều dài của nó. Những con ngựa nghe thấy tiếng chân cậu, và khi cậu đến gần, chúng hoảng sợ, một con hí vang. Jack chết cứng. Một giọng nói vang lên: “im, im.” Khi cậu đứng đó chết cứng như một bức tượng, cậu thấy bục gỗ ngay trước mặt, chỉ cần một bước chân nữa là cậu có thể cầm nó lên. Cậu đợi thêm vài phút. Không còn tiếng động trong chuồng ngựa. Cậu cúi xuống, lấy nó lên và vác nó trên vai. Cậu quay lại, đi ngang bãi cỏ về lại nhà thờ. Chuồng ngựa im lặng.
Khi cậu trèo lên bậc cao nhất của bục gỗ, nó vẫn chưa cao đủ để cậu đụng đến cửa sổ. Thật tức mình: ngay cả cậu không thể nhìn vào trong. Thực tế cậu vẫn chần chừ có nên thực hiện kế hoạch nữa không, nhưng cậu không muốn dừng lại vì những trở ngại bên ngoài. Cậu ước mơ được cao lớn như Alfred.
Có một cách khác để cậu có thể thử. Cậu lùi lại, lấy đà, nhẩy một chân lên bục gỗ rồi tung người lên. Cậu dễ dàng với tới cửa sổ và bám vào khung đá. Cậu hít người lên, ngồi vào bệ cửa sổ. Nhưng khi cậu tính chui vào qua lỗ hổng, cậu gặp một bất ngờ. Cửa sổ bị chắn bởi mắt lưới sắt mà từ bên ngoài cậu không thể nhìn thấy vì nó đen. Jack quỳ trên thành cửa, kiểm tra nó bằng cả hai tay. Không có cách vào: dường như nó được làm để ngăn cản những người muốn lẻn vào khi nhà thờ đã khóa.
Thất vọng, cậu nhẩy xuống đất. Cậu lấy bục gỗ và mang nó lại chỗ cũ. Lần này ngựa không gây tiếng ồn.
Cậu nhìn vào phía tháp đổ, phía tay trái cửa ra vào. Cậu cẩn thận trèo lên đống đá, nhìn vào phía trong nhà thờ, tìm cách vào qua đống đổ nát. Khi mặt trăng đi vào đám mây, cậu chờ đợi cho đến khi nó xuất hiện lại. Cậu lo ngại trọng lượng của cậu, mặc dù nhỏ, nhưng nó có thể làm đổ đống gạch, và nếu cậu không chết thì cũng đủ đánh thức mọi người dậy. Khi mặt trăng lại hiện ra, cậu quyết định mạo hiểm. Tim cậu đập mạnh. Cậu bắt đầu leo, đa số các viên đá chắc chắn, một vài viên lung lay dưới chân cậu. Ban ngày cuộc leo trèo như thế này sẽ làm cậu thú vị, vì có sự giúp đỡ khi cần thiết và lương tâm không bị áy náy; nhưng bây giờ cậu quá lo lắng, và bước chân không còn vững vàng. Cậu trượt trên mặt đá trơn và xuýt rớt xuống: và cậu quyết định ngừng lại.
Cậu đứng trên cao, đủ để nhìn xuống mái nhà của lối đi chạy dọc theo phía bắc của gian giữa. Cậu hy vọng tìm thấy một lỗ trong mái, hay có lẽ một khe hở giữa mái nhà và đống gạch vụn, nhưng không có. Mái nhà chạy qua khu đổ nát, không chỗ nào có lỗ hổng để có thể chui vào. Jack vừa thất vọng, vừa nhẹ người.
Cậu trèo xuống, lưng dựa vào đống gạch vỡ, nhìn quanh để tìm chỗ đặt chân xuống. Càng xuống gần mặt đất, cậu càng cảm thấy dễ chịu. Cậu nhẩy những mét cuối cùng, và may mắn rơi xuống an toàn trên cỏ.
Cậu lại quay trở về hướng bắc của nhà thờ và đi vòng xung quanh. Trong hai tuần qua cậu đã thấy nhiều nhà thờ, tất cả hầu như có cùng hình dạng. Phần lớn nhất là gian giữa, luôn nằm về hướng tây. Và hai cánh, Tom gọi là gian ngang, quay về hai hướng bắc và nam. Phần cuối ở hướng đông, còn được gọi là chánh điện, và nó ngắn hơn gian giữa. Kingsbridge có nét đặc biệt là cuối hướng tây có hai tháp, mỗi tháp đứng bên một phía cửa ra vào, như để cân bằng với gian ngang.
Có một cửa ra vào ở gian ngang phía bắc. Jack thử và thấy cửa đóng. Cậu tiếp tục đi tới đầu phía đông: không còn cửa nào. Cậu dừng lại, nhìn qua sân cỏ. Trong góc xa phía đông nam khu tu viện có thêm hai dẫy nhà, phòng y tế và nhà của tu viện trưởng. Cả hai tối tăm và yên lặng. Cậu tiếp tục, đi xung quanh đầu phía đông và dọc theo hướng nam của chánh điện cho đến khi cậu đến gian giữa phía nam. Cuối gian ngang giữa, như bàn tay trong cánh tay, là một tòa nhà hình tròn còn được gọi là phòng hội. Giữa gian ngang và phòng họp là một đường đi hẹp dẫn vào tu viện. Jack đi theo con đường hẹp đó.
Cậu đến một sân vuông, có một thảm cỏ ở giữa và xung quanh là lối đi có mái che. Đá trắng nhạt của mái vòm có màu trắng ma quái dưới ánh trăng và lối đi tối tăm vì bị bóng tối bao phủ. Jack đợi một lúc cho đến khi mắt cậu quen dần với bóng tối.
Con đường dẫn Jack tới hành lang phía đông. Về phía bên trái cậu có thể nhận ra cánh cửa đến phòng họp. Xa hơn phía tay trái, ở cuối đầu phía nam của hành lang phía đông, cậu có thể thấy, đối diện với cậu, một cánh cửa khác, cánh cửa mà cậu nghĩ có lẽ dẫn tới phòng ngủ của các tu sĩ. Phía tay phải của cậu, một cánh cửa khác dẫn vào gian ngang phía nam của nhà thờ. Cậu thử và cửa đóng.
Cậu đi theo bức tường phía bắc. Ở đó cậu tìm thấy một cửa dẫn vào gian giữa của nhà thờ. Nó cũng đóng.
Trên tường phía tây không có gì cho đến khi cậu đến góc tây nam, ở đó cậu tìm thấy cửa vào phòng ăn. Chắc có nhiều thực phẩm, cậu nghĩ, để nuôi sống các tu sĩ mỗi ngày. Gần đó có một vòi nước với một bồn nhỏ: các tu sĩ rửa tay ở đó trước mỗi bữa ăn.
Cậu tiếp tục đi theo bức tường phía nam. Giữa đường có một mái vòm. Jack đi ngang qua đó và đến một hành lang nhỏ, bên tay phải là nhà ăn và bên trái là phòng ngủ của các tu sĩ. Cậu tưởng tượng đàng sau bức tường đá kia, các tu sĩ đang ngủ say trên nền nhà. Cuối hành lang không có gì, ngoại trừ con dốc lầy lội dẫn xuống sông. Jack đứng đó nhìn dòng nước bên dưới, cách đó khoảng trăm mét. Không biết tại sao cậu lại nhớ tới câu chuyện về một hiệp sĩ bị chặt đầu nhưng vẫn sống; và cậu tưởng tượng chàng hiệp sĩ không đầu ra khỏi dòng sông và đi về phía cậu. Không có gì ở đó, nhưng cậu vẫn sợ. Cậu quay lại, vội vã trở về tu viện. Ở đó cậu thấy an toàn hơn.
Cậu ngập ngừng dưới mái vòm, ánh trăng chiếu vào khu tứ giác. Phải có một con đường để lẻn vào tòa nhà đồ sộ như thế, cậu nghĩ, nhưng cậu không biết phải tìm ở đâu nữa. Một cách nào đó cậu vui, cậu nghĩ cậu đang làm một cái gì đó nguy hiểm đáng sợ, và nếu nó không thể thực hiện được thì càng tốt. Mặt khác cậu sợ hãi khi nghĩ đến phải rời tu viện và lên đường vào sáng mai: lại đi bộ, đói, thất vọng và với sự giận dữ của Tom, nước mắt của Martha. Mọi chuyện có thể tránh được chỉ bằng tia lửa nhỏ từ đá lửa mà cậu mang theo trong chiếc túi đeo bên thắt lưng.
Một cái gì đó chuyển động ở góc nhìn của cậu. Cậu chăm chú nhìn, trái tim đập nhanh hơn. Cậu quay đầu và nhìn thấy một hình dáng ma quái cầm một cây nến, lướt nhẹ nhàng theo bức tường phía đông, hướng về nhà thờ. Một tiếng hét chực thoát ra khỏi cổ cậu, nhưng cậu vội ngăn xuống. Những bóng khác theo sau. Jack bước lùi lại mái vòm, tránh xa khỏi tầm mắt, và cho một nắm tay lên miệng, cắn vào da để ngăn mình khỏi kêu to lên. Cậu nghe thấy tiếng rên rỉ lạ thường. Cậu chăm chú nhìn trong sợ hãi tột độ. Rồi từ từ cậu hiểu ra: những gì cậu đang thấy là một cuộc rước của các tu sĩ đi từ phòng ngủ tới nhà thờ cho giờ kinh đêm. Vừa đi họ vừa hát. Mặc dù bây giờ cậu hiểu ra những gì cậu nhìn thấy, cậu vẫn hoảng sợ, sau đó dù nhẹ nhõm hơn, nhưng cậu lại run rẩy mà không làm gì ngăn lại được.
Tu sĩ đi đầu mở cửa nhà thờ bằng một chìa khóa bằng sắt lớn. Các tu sĩ đi vào. Không người nào quay lại nhìn vào hướng cậu. Hầu hết họ vẫn còn nửa tỉnh nửa mê. Họ không đóng cửa phía sau lưng.
Khi đã hoàn hồn, Jack nhận ra bây giờ cậu có thể vào nhà thờ.
Nhưng cậu không thể bước nổi.
Tôi chỉ đi vào xem, cậu nhủ thầm. Khi vào trong đó, tôi không phải làm gì cả. Tôi chỉ nhìn xem có cách nào lên được mái nhà. Tôi không phải châm lửa đốt. Tôi chỉ muốn xem.
Cậu lấy hơi dài, rồi bước ra khỏi mái vòm và lướt nhanh qua hành lang. Cậu do dự ở cửa nhà thờ và nhìn vào trong. Trên bàn thờ và khu các tu sĩ đang đứng, đàng sau các băng ghế có ánh nến, nhưng ánh nến chỉ đủ soi sáng cho một vùng nhỏ giữa một không gian rộng lớn, trống trải, vì thế mà tường và lối đi vẫn chìm trong bóng tối. Một tu sĩ đứng ở bàn thờ làm cái gì đó mà Jack không hiểu, các tu sĩ khác lâu lâu lại cất tiếng hát. Jack không thể hiểu được tại sao người ta lại có thể ra khỏi giường chiếu ấm áp vào giữa đêm để chỉ làm những việc này.
Cậu chui qua cửa, đứng gần tường.
Cậu ở trong nhà thờ. Bóng tối che dấu cậu. Tuy nhiên cậu không thể đứng mãi ở đây vì họ sẽ nhìn thấy cậu khi đi ra. Cậu lẻn vào xa hơn. Ngọn nến leo lét không ngừng tạo nên bóng lập lòe. Tu sĩ ở bàn thờ nếu ngước đầu lên sẽ nhìn thấy Jack, nhưng ông dường như đắm mình hoàn toàn vào những gì ông đang làm. Jack di chuyển nhanh chóng từ cột này sang cột khác, tuy nhiên cậu cũng chú ý dừng lại, để cho chuyển động của cậu không thường xuyên, nhưng lập lòe như những bóng của cây nến chiếu trên nền nhà. Ánh sáng càng tỏ hơn khi cậu đến gần khu giữa. Cậu sợ tu sĩ trên bàn thờ có thể bất ngờ ngẩng đầu lên, thấy cậu, nhẩy vào cậu và tóm lấy gáy cậu.
Cậu đến được phía bên kia và may mắn ẩn mình trong bóng tối của gian giữa.
Cậu dừng lại thở, cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Rồi cậu di chuyển dọc theo lối đi về phía tây cuối nhà thờ, vẫn bất thường dừng lại, như cậu đang rình một con nai. Khi cậu đến chỗ xa nhất, tối nhất của nhà thờ, cậu ngồi xuống bên chân cột và chờ cho giờ cầu nguyện chấm dứt.
Cậu cúi cằm xuống sâu trong áo choàng và thổi hơi vào ngực cho ấm. Đời sống của cậu đã thay đổi nhiều trong hai tuần qua. Cậu tưởng như thời gian cậu sống thoải mái với mẹ trong rừng đã qua lâu rồi. Cậu biết cậu sẽ chẳng bao giờ cảm thấy an toàn nữa. Bây giờ cậu đã biết về đói, và lạnh, và nguy hiểm, và tuyệt vọng, cậu sẽ luôn sợ chúng.
Ông nhìn trộm xung quanh hàng cột. Trên bàn thờ, nơi những ngọn nến tỏa sáng nhất, cậu có thể nhận ra trần nhà bằng gỗ trên cao. Cậu biết nhà thờ kiểu mới có vòm trần bằng đá, nhưng Kingsbridge đã cũ. Mà trần bằng gỗ sẽ cháy mau.
Tôi không có ý định làm chuyện đó, cậu nghĩ.
Tom sẽ rất vui nếu nhà thờ cháy đổ. Jack không chắc chắn là cậu có thích Tom không – ông quá mạnh mẽ, cứng rắn và hay ra lệnh. Jack đã quen với cách dịu dàng của mẹ. Nhưng Jack ấn tượng về Tom và kính sợ. Những người đàn ông khác mà Jack biết là những người sống ngoài vòng pháp luật – nguy hiểm, tàn bạo, những người chỉ biết bạo lực và xảo quyệt, những người chỉ thích đâm dao và lưng người khác. Tom là lớp người mới, tự hào và không sợ hãi ngay cả khi không có vũ khí. Jack chẳng bao giờ quên cách Tom đã đối diện với William Hamleigh, lúc mà William muốn mua mẹ với giá một cân bạc. Jack đã ấn tượng vì William sợ hãi. Jack đã kể với mẹ là cậu chẳng bao gờ tưởng tượng nổi một người có thể can đảm như Tom, và bà đã nói: “Đó là lý do tại sao chúng ta đã ra khỏi rừng. Con cần một người để noi theo.”
Jack lúng túng với nhận xét đó, nhưng thật sự là cậu muốn làm điều gì đó để gây ấn tượng cho Tom. Đốt nhà thờ không phải để gây ấn tượng, vì tốt hơn không nên cho ai biết về nó, ít nhất trong một vài năm. Nhưng có lẽ sẽ có ngày Jack nói với Tom: “Dượng có nhớ đêm mà nhà thờ Kingsbridge cháy, và tu viện trưởng đã thuê dượng để xây dựng lại, và tất cả chúng ta có đồ ăn, nơi trú ẩn và sau đó chúng ta được an toàn không? Vâng, con sẽ kể cho dượng nghe làm sao ngọn lửa bắt cháy…” Lúc đó sẽ là khoảnh khắc tuyệt vời!
Nhưng tôi không dám làm chuyện đó, cậu nghĩ.
Tiếng hát ngưng bặt, tiếng gót chân lê trên nền nhà. Giờ kinh chấm dứt. Các tu sĩ rời khỏi băng ghế, tiến ra phía cửa. Jack chuyển vị trí của mình quanh chiếc cột để không bị nhìn thấy khi các tu sĩ đi ra.
Các tu sĩ thổi tắt các ngọn nến, nhưng để lại ngọn nến cháy trên bàn thờ. Tiếng cửa đóng. Jack đợi thêm một chút, để tránh tình trạng còn có người ở lại trong nhà thờ. Không còn tiếng động nào. Sau cùng cậu ra khỏi chỗ ẩn bên chân cột.
Cậu đi lên gian giữa. Đó là một cảm giác kỳ lạ khi ở một mình trong tòa nhà đồ sộ, lạnh lẽo, trống trải này. Cảm giác giống như con chuột, cậu nghĩ, trốn trong một góc khi những người to lớn ở xung quanh, rồi chui ra khi họ đi khỏi. Cậu đến bàn thờ, lấy cây nến to, còn đang cháy trong tay. Bây giờ cậu cảm thấy tự tin hơn.
Với nến trong tay, cậu bắt đầu xem xét ngôi nhà thờ. Ở một góc, nơi gian giữa gặp gian cánh phía nam, nơi mà cậu sợ đôi mắt của tu sĩ trên bàn thờ bắt gặp, nơi đó có một cánh cửa trong tường với một cái chốt đơn giản. Cậu cố gắng mở chốt. Cánh cửa mở ra.
Ngọn nến soi tỏ một chiếc cầu thang xoắn ốc, nó quá nhỏ đến nỗi một người mập không thể đi qua, quá thấp đến nỗi Tom phải cúi mình. Cậu lên bậc thang.
Cậu đến một phòng hẹp. Ở một phía, một hàng vòm nhỏ trổ ra phía gian giữa. Trần dốc từ đỉnh mái vòm xuống nền nhà ở phía bên kia. Nền nhà không bằng phẳng, nhưng cong xuống hai bên. Jack cần một lúc lâu để định vị được cậu đang ở đâu. Cậu đang ở gian cánh phụ phía nam của gian giữa. Mái vòm của gian phụ tạo thành nền mà Jack đang đứng. Từ bên ngoài nhà thờ, gian phụ này có thể nhìn thấy và nó có mái che, mái che đó là trần nhà chếch trên đầu Jack. Lối đi thấp hơn là gian giữa, vì thế cậu phải đi lâu nữa mới tới mái chính của tòa nhà.
Cậu đi về phía tây và khám phá theo lối đi nhỏ. Bây giờ các tu sĩ đã ra khỏi, và cậu không sợ bị phát hiện nữa, cậu thấy thú vị. Nó giống như cậu trèo lên cây và thấy rằng ở trên đỉnh cao nhất, tất cả những cây được nối liền với nhau mà bên dưới không thấy được vì những cành lá thấp, và cậu có thể đi xung quanh một thế giới bí mật, cách mặt đất vài mét.
Cuối hành lang nhỏ là một cửa nhỏ khác. Cậu đi qua đó và thấy mình ở trong tòa tháp tây nam, tòa tháp không bị sập. Gian phòng cậu đang ở chắc chắn ít có người đến, bởi vì nó còn thô sơ và chưa hoàn thành, và thay vì một nền bằng phẳng, nó chỉ có những thanh ngang và lỗ hổng. Tuy nhiên, xung quanh bức tường có một thang gỗ không tay vịn. Jack trèo lên.
Lưng chừng tường, Jack khám phá ra một khung cửa nhỏ mở. Cậu rướn người vào và dơ cao nến. Cậu đang ở trong mái nhà, trên trần bằng gỗ và dưới mái nhà bằng lá.
Lúc đầu cậu không nhận dạng được những xà gỗ ngang dọc. Sau đó cậu nhận ra được cấu trúc: Những xà ngang bằng gỗ sồi to lớn làm căng chiều rộng của gian giữa từ bắc đến nam. Mỗi xà ngang liên kết với hai kèo tạo thành hình tam giác. Hàng tam giác đều đặn này kéo dài, vượt ra khỏi tầm ánh sáng của ngọn nến. Nhìn xuống, giữa các dầm, cậu có thể nhìn thấy phía sau trần bằng gỗ của gian giữa.
Ở rìa mái nhà, trong góc của đáy hình tam giác, là lối đường đi. Jack bò qua lỗ hổng nhỏ và vào lối đi. Ở đó vừa đủ chỗ cho cậu đứng thẳng người: một người lớn phải cúi mình. Cậu đi trên đó một vài bước. Ở đây có đủ gỗ cho một cuộc hỏa hoạn lớn. Cậu ngửi, cố gắng tìm ra mùi gì trong không khí. Cậu xác định đó là hắc ín. Các gỗ trên mái nhà được tẩm bằng hắc ín. Chúng sẽ cháy như rơm.
Một chuyển động đột ngột trên nền nhà làm cậu giật mình và trái tim cậu đập mạnh. Cậu nghĩ về chàng hiệp sĩ cụt đầu trong dòng sông và các tu sĩ như bóng ma trong hành lang tu viện. Sau đó cậu nghĩ về những con chuột và cảm thấy bớt sợ. Nhưng khi cậu nhìn kỹ hơn, cậu thấy đó là những con chim: chúng làm tổ dưới mái vòm trước cửa nhà thờ.
Mái nhà theo mô hình của nhà thờ bên dưới, tỏa ra hai cánh. Jack đi xa qua khu trung tâm giữa các gian và đứng trong một góc. Cậu nhận ra cậu đang ở trên cầu thang xoắn ốc mà cậu đã trèo lên. Nếu cậu dự định châm lửa, đây là nơi cậu phải khởi sự. Từ đây nó sẽ theo bốn phía: phía tây dọc theo gian giữa, hướng nam dọc theo gian ngang hướng nam, và xuyên qua khu trung tâm tới chánh điện và gian ngang hướng bắc.
Những gỗ chính của mái nhà được làm từ tim của gỗ sồi, và mặc dù chúng được tẩm hắc ín, chúng cũng không thể bắt lửa từ một ngọn nến. Tuy nhiên, dưới mái hiên là một đống gỗ dư và bào gỗ, phần còn lại của những bao và dây thừng bị sa thải, cũng như tổ chim bị bỏ hoang. Chúng là những mồi lửa hoàn hảo. Những gì cậu cần làm là gom nó lại và xếp nó chồng lên.
Ngọn nến đã gần cháy rụi.
Mọi chuyện dường như dễ dàng: gom rác lại, dùng ngọn nến châm lửa vào, và bỏ lại, rồi đi băng ngang sân như một bóng ma, lẻn vào nhà khách, đóng cửa lại, cuộn tròn trong chăn và chờ báo động.
Nhưng nếu người ta bắt gặp cậu…
Nếu bây giờ cậu bị bắt, cậu sẽ nói là cậu muốn khám phá nhà thờ, và cùng lắm là cậu bị một trận đòn. Nhưng nếu họ bắt được cậu đang châm lửa đốt nhà thờ, họ sẽ phạt nhiều hơn thế nữa. Cậu nhớ lại chàng ăn cắp đường ở Shiring, và mông chàng bị chảy máu làm sao. Cậu nhớ lại những hình phạt mà những người sống ngoài vòng pháp luật đã phải chịu: Faramond Openmouth bị cắt môi, Jack Flathat bị mất tay và Alan Catface bị nhốt trong nhà kho và bị ném đá, và từ đó ông không nói được nữa. Thậm chí còn có những câu chuyện về những người đã chẳng sống sót sau hình phạt: một kẻ giết người bị cột vào một thùng, phía trong thùng có gắn đinh nhọn, và người ta lăn thùng này xuống một triền dốc cho đinh găm vào cơ thể ông; một người ăn trộm ngựa bị thiêu sống; một cô điếm ăn cắp bị xuyên qua cột nhọn. Họ sẽ làm gì với một đứa trẻ châm lửa đốt nhà thờ?
Thận trọng, cậu thu rác dễ cháy từ dưới mái hiên thành một đống trên lối đi, chính xác dưới một trong những xà ngang to lớn.
Khi cậu đã thu được một đống cao khoảng một mét, cậu ngồi xuống, chăm chú nhìn nó.
Ngọn nến của cậu bập bùng. Chỉ còn vài phút nữa cậu sẽ mất cơ hội.
Với một động tác nhanh, cậu châm ngọn lửa vào miếng bao vải. Nó bắt lửa. Ngọn lửa bắt nhanh vào vỏ gỗ bào, rồi sang tổ chim đã khô; và rồi ngọn lửa đỏ rực.
Tôi vẫn có thể dập tắt nó, Jack nghĩ.
Các mồi lửa cháy nhanh quá: với tốc độ này nó sẽ cháy hết trước khi mái nhà bén lửa. Jack vội vã thu thêm rác và chất lên trên. Ngọn lửa cháy cao hơn. Tôi vẫn có thể dập tắt nó, cậu nghĩ. Hắc in được quét trên xà ngang bắt đầu đen và bốc khói. Rác đã cháy hết. Tôi có thể để ngọn lửa tự tắt đi, cậu nghĩ. Rồi cậu nhìn thấy lối đi bằng gỗ đang cháy. Tôi vẫn có thể dập tắt ngọn lửa bằng áo khoác của tôi, cậu nghĩ. Thay vào đó, cậu ném thêm rác vào lửa và quan sát nó cháy cao hơn.
Khói bốc lên từ trong góc nhỏ của mái hiên và hơi nóng toát ra, mặc dù bên kia mái hiên là khí lạnh ban đêm. Một vài thanh gỗ nhỏ bắt đầu cháy. Rồi, sau cùng, một ngọn lửa nhỏ nhen nhúm từ xà chính lớn.
Nhà thờ chánh tòa đang cháy.
Nó đã được thực hiện. Bây giờ không còn có thể quay trở lại.
Jack thấy sợ. Bất ngờ cậu muốn đi ra nhanh, và trở về nhà khách. Cậu muốn được cuộn tròn lại trong áo khoác, nép mình trong đống rơm, nhắm mắt lại và được thở đều như những người xung quanh.
Cậu rút lui theo lối đi cạnh mái nhà.
Khi đến cuối đường, cậu nhìn lại. Ngọn lửa lan rộng nhanh chóng một cách đáng ngạc nhiên, có lẽ vì gỗ được tẩm hắc ín. Tất cả gỗ nhỏ đã bị cháy, các xà chính bắt đầu bắt lửa và ngọn lửa lan ra lối đi. Jack quay lưng lại.
Cậu chui mình vào tháp và đi xuống cầu thang, sau đó theo phòng nhỏ qua hành lang và vội vã lao nhanh xuống cầu thang xoắn ốc vào gian giữa. Cậu chạy nhanh đến cửa, nơi cậu đã vào.
Cánh cửa khóa.
Cậu nhận ra mình đã quá ngu. Các tu sĩ đã mở khóa cửa khi họ đi vào, thì dĩ nhiên khi đi ra họ sẽ khóa lại.
Sự sợ hãi trào lên cổ cậu. Cậu châm lửa đốt nhà thờ và bây giờ cậu bị nhốt trong đó.
Cậu chiến đấu với cơn sợ và cố gắng suy nghĩ.  Cậu đã thử các cửa từ bên ngoài và mọi cửa đều khóa; nhưng có lẽ một vài cửa chỉ khóa bằng thanh cửa, chứ không bằng ổ khóa, nên chúng có thể mở được từ bên trong.
Cậu vội vã xuyên qua khu trung tâm đến gian phía bắc và thử cánh cửa của hàng hiên phía bắc. Cửa khóa.
Cậu chạy nhanh xuống gian giữa tới đầu cuối phía tây và thử ở mỗi cửa ra vào. Cả ba cửa đều đóng bằng khóa. Sau cùng cậu thử chiếc cửa nhỏ, dẫn từ lối đi phía bắc của tu viện vào gian ngang phía nam. Cửa đó cũng khóa nữa.
Jack muốn khóc, nhưng điều đó không tốt. Cậu nhìn lên mái trần bằng gỗ. Cậu đang mơ hay đó là sự thật mà cậu có thể nhìn thấy, qua ánh trăng, một ít khói bốc lên từ trần nhà, gần góc của gian ngang phía nam.
Cậu nghĩ: Tôi phải làm gì bây giờ?
Nếu các tu sĩ thức dậy, vội vã vào nhà thờ để chữa lửa, trong sự hốt hoảng như vậy chắc không ai để ý đến một cậu bé lẻn ra khỏi cửa? Hoặc người ta sẽ nhìn thấy cậu ngay, túm lấy và la mắng cậu? Hoặc họ vẫn ngủ, không hay biết gì, cho đến khi toàn bộ tòa nhà sụp đổ, và cậu bị đè bẹp dưới đống đá lớn?
Nước mắt trào lên mắt, và cậu ước gì mình đã chẳng châm ngọn nến vào đống rác.
Cậu nhìn quanh. Nếu cậu đến một cửa sổ và hét lên, liệu có ai nghe thấy không?
Từ trên cao có một vật gì đó sập xuống. Cậu ngẩng lên và nhìn thấy một lỗ hổng trên trần gỗ, nơi một xà ngang lớn rơi xuống và xuyên thủng mái trần. Cái lỗ tạo ra một vết đỏ trên nền đen. Một lúc sau lại một tiếng ầm khác, và một xà ngang lớn chọc thủng trần nhà và rơi xuống, quay một vòng trong không khí, đụng mặt đất gây ra một tiếng ầm làm rung chuyển hàng cột ở gian giữa. Sau đó là làn mưa của những tia lửa và than hồng rơi xuống. Jack lắng nghe và chờ đợi tiếng kêu gào, tiếng cầu cứu hay tiếng chuông báo động; nhưng không có gì. Từng thanh gỗ vẫn tiếp tục đổ xuống. Và khi tiếng đổ này không đánh thức họ dậy, chắc chắn họ cũng chẳng nghe thấy tiếng kêu cứu của cậu.
Tôi sẽ chết ở đây, cậu điên dại nghĩ; tôi sẽ bị đốt cháy hay bị nghiền nát, chỉ trừ khi tôi tìm được một lối ra.
Cậu nghĩ tới cây tháp bị sụp đổ. Cậu đã dò thám nó từ bên ngoài và không tìm thấy đường vào, nhưng lúc đó cậu quá nhát, sợ bị rơi xuống và sợ đống đá tụt xuống. Có lẽ nếu cậu coi lại, lần này từ bên trong, cậu có thể thấy những cái mà cậu không để ý đến; và có lẽ sự tuyệt vọng sẽ giúp cậu, ép cậu chui qua chỗ mà trước đây cậu đã không tìm thấy.
Cậu chạy tới cuối hướng tây.  Ánh sáng của ngọn lửa chiếu qua trần nhà, kết hợp với ngọn lửa hắt lên từ những xà ngang rơi xuống trên nền nhà trong gian giữa, bây giờ tạo nên một ánh sáng mạnh hơn cả ánh trăng, và mái vòm của gian giữa tràn đầy màu vàng thay vì bạc.
Jack tìm hiểu đống đá đổ nát từ tòa tháp. Chúng vững vàng như một bức tường. Không có đường xuyên qua. Một cách ngớ ngẩn cậu vụt miệng kêu lên “Mẹ ơi!” mặc dù cậu biết bà sẽ chẳng bao giờ nghe được.
Một lần nữa cậu cố gắng chống lại sự sợ hãi. Trong trí của cậu có một cái gì đó về tháp đổ này. Cậu đã có thể vào bên trong tháp kia, cây tháp không bị đổ, bằng cách đi dọc theo đường đi bên trên gian ngang phía nam. Nếu bây giờ cậu đi dọc theo đường đi bên trên gian ngang phía bắc, cậu sẽ phải nhìn thấy một lỗ hổng trong đống đá đổ nát, một lỗ hổng không thể thấy được từ mặt đất.
Cậu chạy tới khu trung tâm, đứng dưới gian ngang phía bắc để tránh những xà ngang đang cháy có thể rơi xuống qua trần nhà. Phía này, cũng như ở phía kia, phải có một cửa nhỏ và một cầu thang xoắn ốc. Cậu đến góc gian chính và gian ngang phía bắc. Cậu không tìm thấy cửa. Cậu nhìn quanh góc: không chỗ nào có cửa. Cậu không thể tin được làm sao cậu lại bất hạnh như thế. Thật điên cuồng: phải có một cửa nào đó vào hành lang!
Cậu nghĩ nát óc, cố giữ bình tĩnh. Có một lối đi vào tháp đổ, cậu phải tìm ra nó. Tôi có thể đi trở lại dưới gầm mái nhà, xuyên qua cây tháp tây nam còn tốt, cậu nghĩ. Tôi có thể đi ngang qua tới phía mái nhà bên kia. Ở đó có thể có một lỗ nhỏ, lối vào tháp đổ. Đó có thể là lối ra.
Cậu lo lắng nhìn lên trần nhà. Bây giờ ngọn lửa là một hỏa ngục. Nhưng cậu không còn nghĩ ra cách nào khác.
Trước hết cậu phải đi xuyên qua gian giữa. Cậu nhìn lên một lần nữa. Như cậu thấy, không gì có thể rơi xuống ngay được. Cậu lấy hơi, lao nhanh qua phía bên kia. Không có gì rớt trên đầu cậu.
Ở gian ngang phía nam, cậu mở cánh cửa nhỏ và chạy lên cầu thang xoắn ốc. Khi cậu lên đến phía trên và bước vào hành lang, cậu cảm nhận sức nóng của ngọn lửa phía trên. Cậu chạy theo hành lang, xuyên qua cửa vào tháp vẫn còn tốt và lên cầu thang.
Cậu chui đầu vào và trườn qua mái vòm nhỏ vào khu dưới mái nhà. Phòng đầy khói và hơi nóng. Tất cả những xà lớn đã bị cháy, và ở góc xa một đà lớn nhất đang cháy mạnh. Mùi hắc ín làm cậu ho. Cậu do dự rồi bước lên một trong những dầm lớn ở gian giữa và bắt đầu đi qua. Lúc đó cậu ướt đẫm mồ hôi vì nóng, nước mắt chẩy ra và cậu khó có thể nhìn thấy chỗ cậu đang định đi. Cậu ho, chân cậu trượt ra khỏi cây dầm và cậu mất thăng bằng. Một chân cậu đứng trên dầm, chân kia trong không trung. Chân phải cậu rớt xuống trần, và đáng sợ, nó xuyên qua chỗ gỗ mục. Một hình ảnh thoáng qua đầu cậu về chiều cao của gian giữa và nếu cậu xuyên qua mái nhà, cậu sẽ rớt như thế nào; và cậu hét lên khi cậu ngã về phía trước, đưa hai tay ra trước mặt, tưởng tượng cậu quay quay trong không khí giống như những xà ngang đã rơi. Nhưng gỗ trần nhà đã đỡ cậu.
Cậu vẫn cứng người, sợ hãi, ngồi chống trên hai tay và đầu gối, trong khi chân kia vẫn còn cắm trong lỗ sâu của trần nhà. Sau đó sức nóng gay gắt của đám cháy làm cậu hoàn hồn. Cậu nhẹ nhàng kéo chân ra khỏi lỗ. Cậu nhổm người trên hai tay và đầu gối, rồi trườn người về phía trước.
Khi cậu đến được phía bên kia, nhiều xà ngang đã rơi xuống gian giữa. Toàn bộ nhà như bị lung lay và giàn dầm dưới chân cậu run lên như một dây cung. Cậu dừng lại, và ghì chặt. Các chấn động giảm đi. Jack trườn lên và một lúc sau cậu đến lối đi phía bắc.
Nếu dự đoán của cậu sai, và ở đó không có cửa vào khu đổ nát của tòa tháp bên tây bắc, cậu sẽ phải đi ngược lại.
Khi cậu đứng thẳng người lên, cậu gặp một cơn gió đêm lạnh. Phải có một khoảng hở, nhưng nó có lớn đủ cho một cậu bé chui qua không?
Cậu bước ba bước về hướng tây và ngừng lại trước khi cậu bước vào khoảng trống.
Trước mặt cậu là một khoảng trống lớn, nhìn ra đống đá của tháp đổ đầy ánh trăng. Đầu gối cậu run lên. Cậu sắp thoát hỏa ngục.
Nhưng cậu đang ở trên cao, ở mãi trên mái nhà, và đống đá đổ nát còn quá xa để cậu có thể nhẩy xuống. Bây giờ cậu có thể trốn chạy khỏi đám cháy, nhưng cậu có thể xuống được dưới mà không bị gẫy cổ không? Đàng sau cậu, ngọn lửa nhanh chóng đến gần hơn, và khói bay ra ngùn ngụt qua khoảng trống cậu đang đứng.
Tháp này có một cầu thang xoắn phía trong tường, giống như tháp kia cũng có, nhưng hầu như chúng đã hư hại trong vụ sụp đổ. Tuy nhiên khi các tấm ván được xây vào tường bằng vôi vữa, chúng để lại những mấu trong tường, một đôi khi chỉ là một lỗ sâu. Jack tự hỏi không biết cậu có thể xuống theo các mấu đó không. Cậu nhận ra mùi cháy: áo choàng của cậu nóng lên. Một lúc nữa nó sẽ bắt lửa. Cậu không còn chọn lựa nào khác.
Cậu ngồi xuống, đưa tay nắm lấy mấu chốt gần nhất, hai tay nắm chặt rồi thả một chân xuống cho đến khi tìm được chỗ đứng. Sau đó cậu cho chân kia xuống, dò kiếm mấu chốt tiếp, cậu nhẹ nhàng xuống được một bậc. Các mấu chốt vững vàng. Cậu xuống thêm bước nữa, thử sức chịu đựng của mấu chốt tiếp theo trước khi bước lên nó. Lần này có phần lỏng lẻo. Cậu bước xuống thận trọng, giữ chặt nếu bị đong đưa bằng tay. Mỗi bước nguy hiểm đưa cậu gần đến đống đá đổ nát. Khi cậu xuống, các mấu chốt dường như nhỏ hơn, có thể những mấu chốt bên dưới bị thiệt hại hơn. Jack đặt chân vào một mấu chốt chỉ rộng bằng ngón chân cái. Khi cậu đặt trọng lượng của cậu lên đó, chân cậu bị trượt ra ngoài. Dù chân kia của cậu đứng trên một mẩu cứng, nhưng khi tất cả trọng lượng của cậu chỉ dồn vào nó, mẩu chốt bể ra. Cậu cố gắng dùng tay bám vào, nhưng mấu chốt quá nhỏ đến nỗi cậu không bám chặt được. Và cậu bị trượt, rơi vào khoảng không.
Cậu rơi xuống mạnh, hai tay và đầu gối đập xuống đống đá đổ nát. Lúc đó cậu bị sốc và sợ hãi, cậu nghĩ cậu sẽ phải chết; nhưng cậu nhận ra rằng rớt xuống được là một may mắn lớn cho cậu. Tay cậu đau và đầu gối bị thương, nhưng cậu vẫn an toàn.
Sau một lúc cậu trèo xuống khỏi đống đá và khi chỉ còn vài mét, cậu nhẩy xuống đất.
Cậu được an toàn và muốn hét to lên. Cậu đã ra được và cậu cảm thấy hãnh diện vì cậu đã có một cuộc mạo hiểm ly kỳ.
Nhưng nó vẫn chưa kết thúc. Ở đây bên ngoài chỉ có một mùi khói nhẹ trong không khí và tiếng ồn của đám cháy; mặc dù nó nghe điếc tai dưới mái nhà, nhưng bây giờ nó chỉ còn như tiếng gió thổi từ xa. Chỉ có ánh sáng đỏ đàng sau cửa sổ chứng tỏ rằng nhà thờ đang cháy. Tuy nhiên, những chấn động cuối cùng này phải quấy rầy giấc ngủ của ai đó, và vào một lúc nào đó một tu sĩ sẽ mơ màng ra khỏi phòng ngủ và tự hỏi rằng trận động đất mà ông đang cảm nhận là sự thật hay chỉ là giấc mơ. Jack đã đốt nhà thờ - một tội ác ghê gớm dưới mắt các tu sĩ. Và cậu phải trốn ngay.
Cậu chạy ngang qua bãi cỏ đến nhà khách. Tất cả yên ắng. Cậu dừng lại bên ngoài, thở hổn hển. Nếu cậu vào nhà với hơi thở như thế này, cậu sẽ đánh thức mọi người. Cậu cố gắng kiểm soát hơi thở của cậu, nhưng nó lại tồi tệ hơn. Cậu phải ở lại đây cho đến khi hơi thở bình thường lại.
Tiếng chuông vang lên phá tan yên tĩnh, và tiếp tục khẩn trương; không thể nhầm lẫn được, đó là tiếng chuông báo động. Jack chết cứng. Nếu bây gờ cậu đi vào, họ sẽ biết. Nhưng nếu cậu không vào…
Cánh cửa nhà khách mở, và Martha đi ra. Jack chằm chằm nhìn cô, sợ hãi.
“Anh đã đi đâu?” cô nói nhẹ nhàng. “Anh có mùi khói.”
Một lời nói dối chính đáng đến trong đầu cậu. “Anh vừa mới ra,” cậu tuyệt vọng nói. “Anh nghe thấy tiếng chuông.”
“Anh nói dối,” Martha nói. “Anh đã đi lâu rồi. Em biết, vì em tỉnh.”
Jack nhận ra là cậu không thể nói dối cô được. “Có ai thức nữa không?” Cậu sợ hãi hỏi.
“Không, chỉ có em.”
“Đừng nói cho ai biết là anh đã ra khỏi nhà. Làm ơn!”
Cô nghe thấy nỗi lo lắng trong giọng nói của cậu và nhẹ nhàng nói. “Được, em sẽ giữ bí mật. Anh đừng lo!”
“Cảm ơn!”
Vào lúc đó Tom gãi đầu bước ra.
Jack sợ hãi. Tom sẽ nghĩ sao?
“Chuuyện gì vậy?” Tom ngái ngủ hỏi. Ông nhướng mũi lên ngửi. “Có mùi khói.”
Jack chỉ vào nhà thờ chính tòa bằng cánh tay run rẩy. “Con nghĩ là…” cậu nói và nuốt xuống. Mọi chuyện sẽ tốt đẹp, cậu an ủi lòng mình. Tom sẽ cho rằng Jack vừa thức dậy trước đó, sau Martha. Jack nói một lần nữa, lần này tự tin hơn. “Hãy nhìn vào nhà thờ,” cậu nói với Tom. “Con nghĩ, nó là lửa.”
 
 
II
 
Philip vẫn chưa quen ngủ một mình. Ông nhớ không khí ngột ngạt của phòng ngủ chung, âm thanh ngáy và trằn trọc của những người khác, sự làm phiền khi một tu sĩ già thức dậy đi vệ sinh (thông thường sẽ có các tu sĩ già khác theo sau, một cuộc xếp hàng như đi rước làm các tu sĩ trẻ thích thú). Khi đêm về, ông không bận tâm vì ở một mình, nhất là khi ông mệt mỏi; nhưng giữa đêm khi ông thức dậy cho giờ kinh đêm, ông khó có thể ngủ lại được. Thay vì trở lại chiếc giường to êm ấm (ông có một chút ngại ngùng vì ông đã quen nhanh chóng với nó), ông sẽ châm lửa và đọc sách bên ánh sáng của cây nến, hay quỳ gối cầu nguyện hoặc chỉ ngồi yên lặng suy nghĩ.
Ông có nhiều chuyện để suy nghĩ. Tài chánh của tu viện tồi tệ hơn ông dự đoán. Lý do chính có lẽ là toàn bộ tổ chức ít làm ra tiền. Tu viện có nhiều đất đai canh tác cho thuê, nhưng nhiều nông trại có những hợp đồng thuê dài hạn với tiền thuê thấp, và một số họ trả tiền thuê qua sản phẩm – bao nhiêu bao bột, bao nhiêu thùng táo, bao nhiêu xe củ cải. Những mảnh đất không cho thuê do các tu sĩ tự canh tác, nhưng họ dường như không có khả năng tạo nên sản phẩm để bán. Nguồn thu nhập quan trọng của tu viện là những nhà thờ thuộc quyền sở hữu, từ đó tu viện nhận được một phần mười tiền thu nhập. Thật không may, hầu hết nhà thờ này nằm dưới quyền của người phụ trách phụng vụ, và Philiip khó có thể tìm ra ông nhận được bao nhiêu và ông chi tiêu như thế nào. Không có tài khoản bằng văn bản. Tuy nhiên, rõ ràng là thu nhập của người phụ trách phụng vụ quá ít, hay sự điều hành của ông quá tệ để có thể bảo quản nhà thờ chính tòa trong tình trạng tốt; mặc dù từ nhiều năm qua người phụ trách phụng vụ đã thu thập được một bộ sưu tập ấn tượng về chén thánh và đồ thánh trang trí bằng vàng bạc và đá quý.
Philip không nắm được các chi tiết cho đến khi ông có giờ để tham quan tài sản đất đai của tu viện ở khắp nơi. Một điều rõ ràng là từ mấy năm nay tu viện trưởng cũ đã mượn tiền từ người cho vay ở Winchester và London để đáp ứng chi phí hàng ngày. Philip quá chán nản khi ông nhận ra tình trạng bi thảm này.
Tuy nhiên, khi suy nghĩ và cầu nguyện về việc này, ông tìm ra một giải pháp rõ ràng hơn. Philip có một kế hoạch qua ba giai đoạn. Chính ông sẽ từ từ kiểm soát tài chánh của tu viện. Vào thời điểm này, mỗi người có trách nhiệm trong tu viện đều kiểm soát một phần tài sản, và chi phí cho lãnh vực của họ với thu nhập từ tài sản đó: quản lý, người lo phụng vụ, người phụ trách nhà khách, người phụ trách tập sinh và người lo y tế, mỗi người đều có trang trại và nhà thờ ‘của họ’. Đương nhiên không ai trong họ thừa nhận họ có quá nhiều tiền, và nếu họ có dư họ cũng chi tiêu hết vì sợ phần dư sẽ bị xung vào quỹ chung. Philip quyết định sẽ chỉ định một chức vụ mới, được gọi là người phụ trách tài chánh, người nhận tất cả tiền thuộc về tu viện, không có ngoại lệ, và đưa cho mỗi người có trách nhiệm số tiền mà ông ấy cần.
Người phụ trách tài chánh dĩ nhiên sẽ là người Philip có thể tin tưởng được. Trước tiên ông định giao cho Cuthbert đầu trắng, người quản lý; nhưng ông chợt nhớ lại Cuthbert không thích viết. Điều đó không tốt. Từ bây giờ trở đi mọi thu nhập và chi tiêu sẽ phải viết trong một cuốn sổ lớn. Philip quyết định chỉ định Milius, người đầu bếp trẻ, làm tài chánh. Những người có trách nhiệm khác trong tu viện sẽ không thích ý tưởng này. Philip không sợ sự chống đối của họ lắm, vì bây giờ ông là tu viện trưởng và đa số các tu sĩ, những người biết hoặc nghe về những khó khăn tài chánh của tu viện, sẽ ủng hộ cải cách của ông.
Khi ông kiểm soát được tài chánh, ông sẽ thực hiện bước thứ hai của kế hoạch. Tất cả các đất canh tác xa sẽ được cho thuê bằng tiền mặt. Điều này sẽ giúp chấm dứt chi phí vận chuyển hàng hóa qua đoạn đường dài. Tu viện có một trang trại ở Yorkshire cho thuê, họ trả tiền thuê đất là mười hai con cừu, và họ gửi đều đặn mỗi năm số cừu này đến Kingsbridge, ngay cả chi phí vận chuyển còn cao hơn giá trị của mười hai con cừu, và ngoài ra một nửa trong số chúng lại bị chết dọc đường. Trong tương lai, chỉ có những trang trại gần nhất mới cung cấp thực phẩm cho tu viện.
Ông cũng lên kế hạch thay đổi cách tổ chức sản xuất. Hiện nay mỗi trang trại sản xuất mỗi thứ một ít – một số ngũ cốc, một số thịt, một số sữa. Nhiều năm qua Philip đã nghĩ rằng như thế là lãng phí. Mỗi trang trại chỉ sản xuất đủ các mặt hàng cho nhu cầu của riêng họ - hay đúng hơn phải nói rằng, mỗi trang trại luôn luôn tiêu thụ hết những gì họ sản xuất được. Philip muốn mỗi trang trại tập trung vào một lãnh vực duy nhất. Tất cả ngũ cốc sẽ được trồng theo nhóm ở Somerset, nơi tu viện cũng có những nhà máy xay. Sườn đồi xanh tươi của Wiltshire sẽ nuôi bò cho thịt và bơ. Tu viện nhỏ St. John trong rừng sẽ nuôi dê và làm pho mát.
Trọng tâm cải cách kinh tế của Philip là chuyển đổi tất cả trang trại nhỏ và trung bình, những trang trại có đất không mầu mỡ, thành trang trại nuôi cừu.
Ông đã trải qua thời niên thiếu của ông trong một tu viện có trang trại nuôi cừu (mọi trang trại ở Wales đều nuôi cừu), và ông đã thấy giá lông cừu tăng chậm nhưng vững, tăng hàng năm kể từ khi ông còn nhớ được cho đến ngày nay. Với thời gian, cừu sẽ giải quyết được vấn đề tài chánh triền miên của tu viện.
Đó là giai đoạn thứ hai của kế hoạch. Bước thứ ba là phá hủy nhà thờ cũ và xây lại nhà thờ mới. Nhà thờ hiện nay quá cũ, xấu và không thực dụng; và thực tế là tháp đổ ở phía tây bắc có thể làm toàn bộ cấu trúc suy yếu. Nhà thờ mới sẽ cao hơn, dài hơn và – quan trọng nhất – sáng hơn. Chúng cũng được thiết kế làm nổi bật ngôi mộ quan trọng và di tích thánh để khách hành hương đến thăm viếng. Vào thời buổi này, các nhà thờ chính tòa thường thêm những bàn thờ nhỏ và nhà nguyện bên cạnh dành kính các vị thánh đặc biệt. Một nhà thờ thiết kế tốt, đáp ứng được nhu cầu phong phú về các giờ kinh lễ của cộng đoàn, có thể thu hút được nhiều bổn đạo và khách hành hương hơn hiện nay; và trong thời gian dài, nhà thờ có thể tự trang trải được chi phí xây dựng của nó. Khi Philip có thể ổn định kinh tế của tu viện trên nền tảng chắc chắn, ông sẽ xây một nhà thờ mới, biểu tượng cho sự tái sinh của Kingsbridge.
Nó sẽ là biểu tượng sự thành công của ông.
Ông dự tính sẽ có đủ tiền trong mười năm để xây lại nhà thờ. Ông giật mình – khi đó ông đã gần bốn mươi tuổi. Tuy nhiên ông hy vọng trong vòng một năm nữa, ông có khả năng thực hiện việc sửa chữa ngôi nhà thờ cũ để vào dịp lễ Chúa Thánh thần nhà thờ sẽ có bộ mặt khang trang hơn.
Bây giờ, khi đã có kế hoạch, ông cảm thấy vui vẻ và lạc quan trở lại. Khi đang cân nhắc về chi tiết, ông lờ mờ nghe thấy một tiếng nổ từ xa, giống như tiếng đóng cửa mạnh. Ông tự hỏi không biết ai đã thức dậy và đi ra khỏi phòng ngủ hay hành lang vào giờ này. Ông cho rằng nếu có vấn đề, ông sẽ được thông báo ngay, và tư tưởng của ông lại trở về với tiền thuê và thuế nhà thờ. Một nguồn thu nhập dồi dào nữa của tu viện là quà tặng của cha mẹ những trẻ muốn nhập tu viện, nhưng để thu hút được những tập sinh đúng đắn, tu viện cần một trường học tốt.
Dòng tư tưởng của ông lại bị gián đoạn, lần này bởi một tiếng nổ lớn đến nỗi làm nhà lung lay nhẹ. Đó chắc chắn không phải là tiếng cánh cửa vị đập mạnh, ông nghĩ. Chuyện gì xẩy ra ngoài kia? Ông đến bên cửa sổ và mở ra. Gió lạnh thổi vào làm ông lạnh run. Ông nhìn sang nhà thờ, phòng họp, hành lang, phòng ngủ và nhà bếp. Tất cả xuất hiện bình thường dưới ánh trăng. Khi ông thở, không khí buốt lạnh làm răng ông đau. Nhưng có một cái gì khác thường trong không khí. Ông ngửi, và ông thấy mùi khói.
Ông cau mày lo lắng, nhưng ông không thấy lửa.
Ông quay đầu vào trong phòng và ngửi lần nữa. Ông nghĩ rằng có thể ông ngửi thấy mùi khói từ lò sưởi, nhưng không thấy gì. Bối rối và khẩn trương, ông nhanh chóng sỏ chân vào giầy, nhặt chiếc áo choàng và chạy ra khỏi nhà.
Mùi khói mạnh hơn khi ông vội vã băng ngang sân về hướng hành lang. Không còn nghi ngờ gì nữa, một phần của tu viện bị cháy. Trước hết ông nghĩ đến nhà bếp – các đám cháy thường bắt đầu từ nhà bếp. Ông chạy qua con đường nhỏ giữa nhà ngang phía nam và phòng họp, rồi đi qua sân tu viện. Ban ngày ông sẽ đi ngang qua phòng ăn tới sân nhà bếp, nhưng cửa phòng ăn đóng vào ban đêm, vì thế ông đi ra xuyên qua mái vòm của bức tường phía nam và quay phải tới đàng sau nhà bếp. Không có dấu hiệu của lửa ở đó, cũng không phải trong xưởng bia cũng không phải lò bánh mì, và mùi khói dường như nhẹ hơn ở đây. Ông chạy xa hơn và nhìn qua các góc bên nhà máy bia, xuyên qua sân cỏ đến nhà khách và chuồng ngựa. Ở đó dường như hoàn toàn yên tĩnh.
Có thể cháy ở phòng ngủ sao? Chỉ phòng ngủ mới có lò sưởi. Nghĩ đến ông rùng mình. Trên đường chạy trở lại tu viện, một viễn tượng kinh khủng đến trong đầu, khi ông tưởng tượng tất cả các tu sĩ nằm trên giường, bất tỉnh vì khói và phòng ngủ cháy rực. Ông chạy đến cửa phòng ngủ. Khi ông đến nơi, cửa chợt mở và Cuthbert bước ra, đem theo một ngọn đèn.
Cuthbert nói ngay: “Anh có ngửi thấy gì không?”
“Có! Anh em tu sĩ, tất cả bình an chứ?”
“Ở đây không có gì bị cháy.”
Philip thấy nhẹ nhõm. Ít nhất những người dưới quyền ông được an toàn. “Vậy cháy ở đâu?”
“Nhà bếp làm sao?” Cuthbert nói.
“Không có gì – tôi có kiểm soát rồi.” Bây giờ, sau khi biết không ai gặp nguy hiểm, ông bắt đầu lo về tài sản. Ông vừa suy nghĩ về tài chánh, và ông biết hiện nay ông không thể sửa sang gì được. Ông nhìn vào nhà thờ. Có phải có màu đỏ nhạt phía sau cửa sổ không?
Philip nói: “Cuthbert, lấy chìa khóa nhà thờ nơi người phụ trách phụng vụ.”
Cuthbert đi trước ông. “Tôi có đây.”
“Anh chu đáo quá.”
Họ vội vã đi dọc theo bức tường phía đông tới cửa gian phụ phía nam. Cuthbert vội vàng mở khóa. Khi cánh cửa bật ra, khói bốc ra.
Trái tim Philip ngừng đập. Làm sao nhà thờ có thể cháy được?
Ông bước vào. Lúc đầu cảnh tượng thật khó hiểu. Trên nền nhà thờ, xung quanh bàn thờ và trong gian phụ phía nam này có nhiều mảnh gỗ lớn đang cháy. Lửa bắt ra từ đâu? Tại sao lại có nhiều khói? Và tiếng động như sấm, tiếng động chắc chắn do một đám cháy lớn, từ đâu phát ra?
Cuthbert la to: “Hãy nhìn lên!”
Philip nhìn lên và ông tìm được câu trả lời. Mái trần cháy dữ dội. Ông nhìn nó, thật kinh hoàng: từ dưới nhìn lên trông giống như hỏa ngục. Hầu hết bức trần tô điểm hình vẽ đã biến mất, để lộ ra giàn mái đen và rực lửa, ngọn lửa và khói nhẩy múa trong một điệu nhẩy hung bạo. Philip đứng im bất động cho đến khi cổ ông bị đau vì ngẩng lên, ông mới tỉnh hồn.
Ông chạy đến khu trung tâm, đứng trước bàn thờ, và nhìn quanh nhà thờ. Toàn bộ mái nhà đã bốc cháy, từ cửa phía tây đến cuối hướng đông và xuyên qua cả hai gian phụ hai bên. Trong lúc hoảng loạn ông nghĩ làm sao có thể đem nước lên đó? Ông tưởng tượng một hàng dài các tu sĩ xách nước chạy theo đường hành lang, nhưng ông nhận ra ngay là nó không thể thực hiện được: ngay cả một trăm người cũng không thể xách đủ nước lên mái để dập tắt ngọn lửa bừng bừng như hỏa ngục này được. Toàn bộ mái nhà thờ sắp bị phá hủy, ông nhận ra điều đó với một trái tim tan nát; và mưa gió, bão tuyết sẽ rơi xuống cho đến khi ông tìm được đủ tiền để dựng lại một mái mới.
Một tiếng gẫy khiến ông nhìn lên. Ngay trên đầu ông, một thanh ngang lớn sắp nghiêng qua một bên. Nó sắp rơi lên đầu ông. Ông đi lại gian phụ phía nam, nơi Cuthbert đang đứng run sợ. Toàn bộ một phần mái gồm kèo và dầm, cộng thêm tấm chì lớn rơi xuống. Philip và Cuthbert đứng nhìn, chết sững, quên cả sự an toàn của họ. Mái nhà rơi xuống một mái vòm lớn của khu trung tâm. Sức nặng của gỗ và chì làm nứt tường đá của mái vòm và tạo nên một âm thanh như sấm. Mọi thứ xẩy ra từ từ: những thanh gỗ rơi xuống từ từ, mái vòm nứt ra từ từ, tường đá vỡ ra từ từ rơi trong không trung. Nhiều xà ngang đã lỏng ra, và rồi với một tiếng nổ như một chuỗi sấm sét, một phần bức tường phía bắc đổ xuống, trượt vào gian phụ phía bắc.
Philip hoảng sợ. Nhìn cảnh tượng một ngôi nhà đồ sộ như thế bị phá hủy tạo nên một cú sốc kinh hoàng. Nó giống như nhìn một ngọn núi đổ xuống hay một con sông thành khô cạn: Ông không thể nghĩ nó có thể thực sự xẩy ra. Ông không thể tin vào mắt mình. Nó làm ông mất phương hướng và ông không biết phải làm gì.
Cuthbert kéo tay áo ông. “Đi ra!” ông hét lên.
Philip không rời mắt khỏi cảnh tượng. Ông nhớ lại ông đã dự định mười năm tiết kiệm và làm việc cật lực để cải tổ lại nền tài chánh của tu viện. Bây giờ, bất ngờ, ông phải xây lại mái nhà mới, bức tường phía bắc mới, và có lẽ còn nhiều hơn thế nữa, nếu sự phá hủy còn tiếp tục… Đây là một công việc của ma quỷ, ông nghĩ. Làm sao một mái nhà có thể bắt lửa vào một đêm băng giá vào tháng giêng?
“Coi chừng, chúng ta sẽ chết!” Cuthbert hét lên, và sự sợ hãi trong giọng nói của ông làm rung động trái tim Philip. Ông quay lại và cả hai chạy ra khỏi nhà thờ vào tu viện.
Các tu sĩ đã được đánh thức và đang ra khỏi phòng ngủ. Khi họ đi ra, dĩ nhiên họ đứng lại và nhìn vào nhà thờ. Thầy phụ trách nhà bếp Millius đứng ở cửa, hối thúc họ đi tiếp để tránh bế tắc, chỉ đạo họ ra khỏi nhà thờ và đi về hướng nam của tu viện. Giữa đường họ thấy Tom đứng đó, ông nói họ quay lại dưới mái vòm và đi qua bằng cách đó. Philip nghe Tom nói: “Đi đến nhà khách – tránh xa nhà thờ ra.”
Ông ấy lo xa quá, Philip nghĩ, ở trong tu viện họ chưa đủ an toàn sao? Nhưng điều đó cũng chẳng thiệt hại gì và nó có thể là một biện pháp phòng ngừa hợp lý. Thực ra, ông nghĩ lại, chính ông phải là người nghĩ ra chuyện ấy.
Nhưng sự thận trọng của Tom làm ông phân vân, không biết sự phá hủy sẽ còn đi đến đâu. Nếu tu viện không an toàn thì phòng họp sẽ ra sao? Ở đó, trong phòng bên với tường đá dầy và không cửa sổ, có một két bằng gỗ sồi, trong đó chứa một ít tiền họ có, cộng với chén lễ bằng đá quý, tất cả tài liệu của tu viện cũng như giấy chứng nhận quyền sở hữu của tu viện. Một lúc sau ông nhìn thấy Alan, người phụ trách kho báu, một tu sĩ trẻ làm việc chung với người phụ trách phụng vụ và đặc trách về đồ thánh.
Philip gọi ông. “Kho đồ quý của tu viện phải được dời ra khỏi nhà họp – người phụ trách phụng vụ ở đâu?”
“Ông đi rồi, thưa cha.”
“Đi tìm ông ấy, lấy chìa khóa, rồi đem những gì quý giá ra khỏi phòng họp và đem xuống nhà khách. Chạy đi!”
Alan chạy đi. Philip quay về phía Cuthbert. “Tốt hơn anh nên kiểm soát xem anh ấy có thi hành không.” Cuthbert gật đầu và theo Allen.
Philip nhìn lại nhà thờ. Trong vài khoảnh khắc, tư tưởng ông đã bị chi phối, bây giờ ngọn lửa trở nên mạnh mẽ, ánh lửa chiếu qua mọi cửa sổ. Thực ra người phụ trách phụng vụ phải nghĩ đến kho báu của tu viện, thay vì vội vã trốn chạy, lo cho bản thân mình. Có điều gì bị bỏ quên không? Philip không thể suy nghĩ một cách hệ thống, vì mọi chuyện xẩy ra quá nhanh chóng. Các tu sĩ đã vào nơi an toàn, kho báu được di chuyển đến chỗ bảo đảm.
Ông đã quên các Thánh.
Ở cuối nhà thờ phía đông, dưới ngai giám mục, là mộ thánh Adolphus, vị tử đạo người Anh trong thời tiên khởi. Trong mộ là một quan tài bằng gỗ chứa xương thánh nhân. Vào những thời điểm định kỳ, nắp ngôi mộ được mở ra cho dân chúng nhìn thấy quan tài. Ngày nay thánh Adolphus không được biết đến nhiều như ngày xưa, khi mà những bệnh nhân đã được chữa lành một cách kỳ diệu khi chạm đến mộ ngài. Hài cốt của một vị thánh là một điểm thu hút lớn cho một nhà thờ, thúc đẩy sự thờ phượng và hành hương. Chúng mang lại nhiều tiền cho nhà thờ đến nỗi, một cách xấu hổ, các tu sĩ đã ăn cắp xương thánh của các nhà thờ khác. Philip dự định làm sống lại sự tôn thờ thánh Adolphus. Ông phải cứu hài cốt thánh.
Ông cần sự hỗ trợ để mở nắp mộ và mang quan tài đi. Người phụ trách phụng vụ chính ra phải nghĩ đến chuyện này. Nhưng ông đã biến mất. Người tu sĩ tiếp sau ra khỏi phòng ngủ là Remigius, vị tu viện phó kiêu căng. Ông ấy cũng phải làm chuyện đó. Philip gọi ông và nói: “Giúp tôi cứu hài cốt thánh.”
Đôi mắt xanh nhạt của Remigius sợ hãi nhìn nhà thờ đang cháy, nhưng sau một lúc do dự, ông theo Philip đi theo đường phía đông và bước qua ngưỡng cửa.
Vào bên trong, Philip dừng lại. Ông mới ra ngoài chỉ vài phút mà ngọn lửa đã bốc nhanh. Có mùi khó chịu trong mũi và ông nhận ra rằng các gỗ trong mái nhà đều tẩm hắc ín để tránh mục nát. Mặc dù ngọn lửa cháy phừng phực, vẫn có một cơn gió lạnh: khói thoát ra từ lỗ hổng trên mái, và ngọn lửa kéo không khí lạnh vào qua các cửa sổ. Gió lùa quạt ngọn lửa bốc lên. Than hồng rơi như mưa trên sàn nhà thờ, và nhiều thanh xà ngang lớn cháy trên mái trông như chúng có thể rơi xuống bất cứ lúc nào. Cho đến bây giờ ông chỉ lo lắng về các tu sĩ khác, rồi đến tài sản của tu viện, nhưng bây giờ lần đầu tiên ông lo sợ cho chính mình, và ông do dự khi đi xa hơn vào hỏa ngục.
Càng do dự lâu, nguy hiểm càng lớn; và nếu ông nghĩ về nó nhiều quá, thần kinh ông sẽ yếu đi. Ông vén áo choàng lên, hô to: “Hãy theo tôi!” và chạy vào gian phụ. Ông tránh những đốm lửa nhỏ trên nền nhà, hồi hộp vì bất cứ lúc nào một thanh gỗ cháy cũng có thể rơi xuống. Ông không kịp thở và muốn hét lên vì căng thẳng. Rồi, bất ngờ, ông đến được chỗ an toàn ở lối đi phía bên kia.
Ông dừng lại ở đó một lúc. Lối đi có mái vòm bằng đá nên không bắt lửa. Remigius ở bên cạnh ông. Philip hít phải khói, ông ho và thở hổn hển. Đi ngang qua gian phụ chỉ mất vài phút, nhưng dường như nó kéo dài lâu hơn một giờ kinh đêm.
“Chúng ta sẽ bị chết!” Remigius nói.
“Thiên Chúa sẽ phù trợ chúng ta,” Philip nói. Rồi ông nghĩ: “Vì thế tại sao tôi lại sợ?”
Không có giờ cho suy tư thần học.
Ông đi dọc theo gian phụ và ở khúc quanh ông rẽ vào gian cung thánh, vẫn giữ lối đi cạnh.  Ông cảm thấy sức nóng từ các băng ghế bằng gỗ giữa gian cung thánh, và sự mất mát này đau nhói tim ông: những băng ghế này được thực hiện tốn kém và chạm trổ đẹp. Ông xua chúng ra khỏi tâm trí và tập trung vào nhiệm vụ trước mắt. Ông đi qua gian cung thánh đến cuối nhà thờ phía đông.
Mộ thánh nằm ở nửa giữa nhà thờ. Đó là một mộ đá lớn đặt nằm trên chân thấp. Philip và Remigius phải mở nắp đá, đặt nó qua một bên, bê quan tài lên khỏi mộ đá và đem nó đến chỗ an toàn trong khi mái nhà trên đầu họ đang cháy. Philip nhìn Remigius. Đôi mắt xanh nhạt của ông mở to sợ hãi. Vì Remigius, Philip giấu nỗi sợ hãi của mình. “Anh cầm đầu kia, tôi đầu này,” ông chỉ tay và nói, và không chờ câu trả lời, ông chạy đến ngôi mộ.
Remigius theo sau.
Họ đứng ở hai đầu và nâng nắp mộ. Cả hai đều nâng.
Nắp mộ không di chuyển.
Philip nhận ra rằng ông phải cần nhiều người nữa. Ông không dừng lại để suy nghĩ. Nhưng bây giờ đã quá trễ: Nếu ông đi ra và gọi thêm trợ giúp, khi ông trở lại có thể gian phụ không còn đi qua được nữa. Nhưng ông cũng không thể để xương thánh ở lại đây. Một xà nang có thể rơi xuống đập vỡ ngôi mộ và quan tài bằng gỗ sẽ bị bắt lửa, rồi tro tàn bay trong gió. Như vậy sẽ là một sự phạm thánh khủng khiếp và là một sự mất mát lớn lao cho nhà thờ chính tòa.
Ông chợt có một ý tưởng. Ông di chuyển xung quanh và đến bên ngôi mộ, rồi ra lệnh cho Remigius đứng bên cạnh ông. Ông quỳ xuống, đặt cả hai tay vào cạnh nắp mộ và đẩy hết sức. Khi Remigius cùng làm theo ông, nắp mộ mở ra. Chậm rãi họ nâng nó cao hơn. Philip đứng trên một đầu gối, Remigius làm theo; rồi cả hai đứng lên. Khi nắp mộ nằm nghiêng, họ cố hơn và nó lăn qua một bên. Nó rơi xuống đất và bể thành hai.
Philip nhìn vào trong mộ. Quan tài ở trong tình trạng tốt, gỗ vẫn tốt, thanh tay cầm bằng sắt bị hoen rỉ bên ngoài. Philip đứng ở một đầu, nắm lấy hai tay cầm. Ở đầu kia, Remigius cũng làm tương tự. Họ nâng quan tài lên một vài phân, nhưng nó nặng hơn Philip tưởng tượng, và một lúc sau Remigius buông tay và nói: “Tôi không thể tiếp tục – tôi già hơn anh.”
Philip đè nén sự tức giận. Quan tài có thể được lót bằng chì. Nhưng bây giờ, nắp mộ đã được mở, quan tài thậm chí dễ bị tổn hại hơn trước. “Hãy đến đây,” Philip gọi lớn tiếng. “Chúng ta cố nâng đầu này.”
Remigius đến bên ngôi mộ, đứng gần Philip. Mỗi người nắm lấy tay cầm của hòm và nâng. Đầu hòm nâng lên tương đối dễ dàng. Khi họ dựng quan tài đứng thẳng, họ ngưng lại thở. Philip nhận ra rằng họ đã nâng phía cuối quan tài, vì thế bây giờ thánh nhân đứng dựng đầu xuống. Philip âm thầm xin lỗi. Những mảnh gỗ cháy nhỏ rơi xuống thường xuyên bên cạnh họ. Mỗi khi có tia lửa bắn lên áo choàng của ông, Remigius giũ chúng điên cuồng cho đến khi nó rơi xuống, và mỗi khi có cơ hội ông ấy đều ngước nhìn mái nhà cháy. Philip có thể nhận ra ông ấy đã mất hết can đảm.
Họ lật nghiêng quan tài để nó dựng vào thành mộ, sau đó đẩy thêm. Đầu kia được nâng cao hơn khỏi mặt đất và quan tài nằm bấp bênh trên cạnh ngôi mộ; rồi họ hạ nó xuống cho đến khi đầu kia đụng mặt đất. Họ lật quan tài một lần nữa cho nó nằm đúng mặt. Xương thánh bị lăn lộn trong đó như viên xúc xắc bị lắc trong bát, Philip nghĩ và nhìn nhận đây là sự phạm thánh mà ông chưa bao giờ làm, nhưng không còn cách nào khác.
Đứng ở đầu quan tài, mỗi người nắm một tay cầm, nâng lên, và kéo xuyên qua nhà thờ đến chỗ tương đối an toàn dưới mái vòm. Góc quan tài bằng sắt cày lên thành rãnh nhỏ trên nền đất. Khi họ đến gần mái vòm, một phần của mái nhà gồm những thanh gỗ cháy và chì nóng rơi xuống ngay chỗ mộ thánh mà bây giờ chỉ còn là mộ trống. Tiếng rơi vang lên điếc tai, sàn nhà rung lên và mộ thánh bị vỡ thành mảnh vụn. Một xà ngang lớn rơi chỉ cách Philip và Reminigus có vài phân, đập vào quan tài làm tay họ rớt ra. Mọi chuyện quá sức chịu đựng đối với Remigius. “Đây là công việc của ma quỷ!” ông điên dại hét lên và chạy đi.
Philip chạy theo ông. Nếu đêm nay ma quỉ thực sự hành động ở đây, thì không thể nói được những gì còn có thể xẩy ra. Philip chưa bao giờ nhìn thấy ma quỷ nhưng ông đã nghe nhiều người kể về chuyện đó. Nhưng các tu sĩ là để chống lại Satan, không chạy trốn nó, Philip tự nhủ một cách nghiêm khắc. Chờ mong, ông nhìn vào những gian phụ, rồi ông hít một hơi dài, nắm hai cay cầm và nâng quan tài lên.
Ông tìm cách kéo quan tài qua những xà ngang nằm trên nền nhà. Gỗ quan tài bị sứt mẻ, nhưng ngạc nhiên là không bị hư hỏng. Ông kéo nó xa thêm. Một đám than hồng nhỏ rơi xuống xung quanh ông. Ông liếc nhìn lên mái nhà. Có phải trên đó là một nhân vật hai chân đang nhẩy múa nhạo báng trong ngọn lửa hay đó chỉ là ngọn khói? Ông nhìn xuống và thấy áo choàng của mình đã bắt lửa. Ông quỳ xuống, dùng tay hất lửa ra và đập áo xuống nền nhà, và ngọn lửa bị dập tắt ngay. Rồi ông nghe thấy một tiếng động, nó như tiếng rít của hai thanh gỗ cọ vào nhau, hay là tiếng cười nhạo báng của một con quỷ. “Lạy thánh Adolphus, xin bảo vệ con,” ông kêu xin và lại tiếp tục kéo chiếc quan tài.
Từng phân, ông kéo quan tài trên mặt đất. Lúc này ma quỷ để ông yên. Ông không nhìn lên – tốt nhất không nên liếc nhìn con quỷ. Cuối cùng ông đến được chỗ an toàn trên lối đi, và cảm thấy an tâm hơn. Tấm lưng đau đòi hỏi ông phải dừng lại nghỉ ngơi vài phút. Còn một đoạn đường dài mới đến được cửa gần nhất ở gian phụ phía nam. Ông không chắc chắn có kéo được quan tài qua cả đoạn đường dài đó không, trước khi toàn bộ mái nhà rơi xuống. Có lẽ đó là điều ma quỷ chờ đợi. Philip không thể ngăn cản mình ngước nhìn lên ngọn lửa trên cao. Khi ông nhìn lên, nhân vật hai chân trốn sau thanh gỗ màu đen. Nó biết tôi không thể làm được, Philip nghĩ. Ông nhìn theo lối đi, ông bị cám dỗ bỏ hài cốt thánh lại và chạy đi vì sự sống của mình – và ông nhìn thấy thầy Milius, Cuthbert đầu trắng và thợ xây Tom đang tiến về phía ông, cả ba nhân vật hữu hình vội vã đến giúp ông. Trái tim ông nhẩy mừng, và bất ngờ ông không còn chắc chắn thực sự có một con quỷ ở trên mái nhà không.
“Tạ ơn Chúa!” ông cầu xin. “Làm ơn giúp tôi,” ông nói với những người đến giúp, nhưng thực ra không cần thiết.
Thợ xây Tom xem xét mái nhà cháy. Dường như ông không thấy con quỷ nào, nhưng ông nói: “Chúng ta hãy làm nhanh lên.” Mỗi người nắm lấy một góc và nâng quan tài lên vai họ. Nó vẫn nặng, mặc dù bốn người khiêng. Philip ra lệnh: “Tiến lên!” Họ đi dọc lối đi nhanh bao nhiêu có thể, oằn người vì nặng.
Khi họ đến gian phụ phía nam. Tom kêu lên: “Đợi đã!” Nền nhà có nhiều đám cháy nhỏ, và nhiều mảnh gỗ vỡ rơi xuống liên tục. Philip cố gắng tìm kiếm một lối đi xuyên qua đống lửa. Họ chưa kịp tiếp tục đi thì một tiếng ầm vang lên ở cuối nhà thờ phía tây. Philip nhìn lên đầy sợ hãi. Tiếng ầm ầm thành tiếng sấm.
Tom bí ẩn nói: “Nó yếu, giống như cái kia.”
“Cái gì?” Philip la to.
“Tháp phía tây nam.”
“Ồ, không!”
Tiếng sấm to hơn. Philip nhìn, kinh hoàng, khi toàn bộ bức tường nhà thờ phía tây nghiêng về phía trước, như bàn tay Chúa xô nó. Hơn mười mét mái nhà rơi xuống gian giữa với sức va chạm như một cuộc động đất. Sau đó toàn bộ tòa tháp tây nam sụp đổ và đất đá rơi giống như trận lở đất vào trong nhà thờ.
Philip tê liệt vì sốc. Nhà thờ đổ nát trước mắt ông. Sẽ cần hàng nhiều năm để xây dựng lại phần thiệt hại ngay cả khi ông có thể tìm được tiền. Ông phải làm gì? Làm sao tu viện Kingsbridge có thể tiếp tục? Có phải đây là kết cục của tu viện Kingsbridge?
Ông tỉnh lại vì quan tài di chuyển trên vai ông khi ba người khác tiếp tục đi. Philip đi theo, nơi đâu họ kéo đi. Tom tìm kiếm lối đi xuyên qua những đám cháy. Một cục gỗ cháy rơi đúng trên nóc quan tài, nhưng may mắn nó trượt xuống đất mà không trúng họ. Một lúc sau họ đến phía bên kia và đi qua cửa, ra khỏi nhà thờ vào không khí lạnh ban đêm.
Sự thiệt hại của nhà thờ làm Philip không còn sức sống, nên ông cũng không còn cảm xúc gì khi được thoát nạn. Họ vội vã đi quanh hành lang tu viện và đi qua cổng vòng cung ở phía nam. Khi họ đã đi xa khỏi những tòa nhà, Tom nói: “Đủ rồi.” Họ đặt quan tài cẩn thận xuống mặt đất giá lạnh.
Philip cần vài phút để thở. Trong lúc nghỉ ngơi ông nhận ra rằng lúc này không phải là lúc hành động mù quáng. Ông là tu viện trưởng, ông có trách nhiệm ở đây. Ông phải làm gì bây giờ? Việc quan trọng đầu tiên là kiểm soát xem tất cả các tu sĩ có an toàn không. Ông hít thêm hơi thở, rồi vươn vai và nhìn vào người bên cạnh. “Cuthbert, anh ở lại đây và trông coi quan tài của thánh nhân,” ông nói. “Những người còn lại theo tôi.”
Ông dẫn họ đi phía sau nhà bếp, ngang qua nhà máy bia và nhà máy xay, rồi xuyên qua sân đến nhà khách. Các tu sĩ, gia đình Tom và hầu hết dân làng đang đứng thành nhóm ở đó, thì thầm với nhau và nhìn vào nhà thờ rực lửa. Philip quay lại nhìn vào nhà thờ trước khi nói chuyện với họ. Cảnh tượng thật đau lòng. Toàn bộ phía tây là một đống đổ nát, và ngọn lửa lớn bốc lên từ những gì còn lại trên mái nhà.
Ông không nhìn nữa. “Mọi người có mặt hết ở đây chưa?” ông nói to.
Nếu anh em biết có ai vắng mặt, làm ơn nói to tên người đó.”
Một người nào đó nói: “Cuthbert đầu trắng.”
“Anh ấy đang bảo vệ xương thánh. Còn ai nữa không?”
Không còn người nào.
Philip nói với Milius: “Hãy đếm các tu sĩ. Tất cả phải là bốn mươi lăm người, cả anh và tôi.” Ông biết mình có thể tin tưởng Milius được nên ông không bận tâm đến vấn đề đó nữa và quay qua thợ xây Tom. “Cả gia đình của ông có ở đây không?”
Tom gật đầu rồi chỉ vào gia đình mình. Họ đứng gần tường nhà khách; người đàn bà, đứa con trai lớn và hai đứa nhỏ. Đứa con trai nhỏ nhìn Philip sợ hãi. Đây phải là một biến cố kinh hoàng cho đứa trẻ, ông nghĩ.
Người phụ trách phụng vụ ngồi trên thùng bọc sắt chứa những đồ quý giá của tu viện. Philip đã quên chuyện đó: ông an tâm khi thấy nó an toàn. Ông nói với người phụ trách phụng vụ: “Anh Andrew, hài cốt thánh Adolphus ở sau phòng ăn. Anh đem theo một số anh em và mang hài cốt thánh đến…” Ông nghĩ một lúc. Nơi an toàn nhất có lẽ là nhà tu viện trưởng. “Đem tới nhà tôi.”
“Đem tới nhà anh?” Andrew cãi lại. “Hài cốt các thánh thuộc về trách nhiệm của tôi, không phải của anh.”
“Nếu như vậy thì anh đã phải cứu hài cốt đó khỏi nhà thờ!” Philip nóng lên. “Hãy làm theo lời tôi, không nói thêm lời nào nữa!” Người phụ trách phụng vụ miễn cưỡng đứng lên, trông có vẻ tức giận.
Philip nói: “Làm nhanh lên, nếu không tôi sẽ cách chức anh ngay tại đây và bây giờ!” Ông quay lưng lại và nói với Milius. “Bao nhiêu?”
“Bốn mươi bốn, cộng với Cuthbert. Mười một tập sinh. Năm khách. Mọi người có mặt đủ cả.”
“Đó là một hồng ân.” Philip nhìn vào đống lửa. Đó là một điều kỳ diệu vì mọi người vẫn sống sót và không ai bị thương tích gì. Ông nhận ra mình đã hết hơi, nhưng ông quá lo lắng, không thể ngồi yên và nghỉ ngơi được. “Có gì quý giá mà chúng ta cần cứu nữa không?” ông nói. “Chúng ta có thùng giữ đồ quý giá và xương thánh…”
Alan, người quản lý kho báu, lên tiếng. “Còn sách vở thì sao?”
Philip rên rỉ. Dĩ nhiên, những cuốn sách! Chúng được giữ trong tủ khóa ở hành lang phía đông, gần cửa vào phòng họp, nơi các tu sĩ có thể sử dụng trong lúc nghiên cứu. Cần nhiều thời gian để đem các cuốn sách ra khỏi tủ. Có lẽ một số người trẻ khỏe mạnh có thể khênh cả tủ đến một nơi an toàn. Philip nhìn quanh. Người phụ trách phụng vụ đã chọn nửa tá người theo ông để khênh hài cốt thánh và họ đã đi đến giữa sân. Philip chọn ba tu sĩ trẻ và ba tập sinh lớn tuổi, rồi ông bảo họ theo ông.
Ông trở lại khoảng sân trước nhà thờ đang cháy. Ông quá mệt để có thể chạy. Họ đi ngang qua nhà máy xay lúa, nhà máy bia, và đi đàng sau nhà bếp vào phòng ăn. Cuthbert đầu trắng và người phụ trách phụng vụ đang lo việc di chuyển hài cốt thánh. Philip hướng dẫn nhóm theo lối đi giữa phòng ăn và phòng ngủ và dưới đường mái vòm phía nam vào trong hành lang tu viện.
Ông có thể cảm nhận sức nóng của lửa. Tủ sách lớn có trạm trổ hình Mô Sê với bia đá. Philip chỉ đạo nhóm trẻ nghiêng tủ sách về phía trước, rồi ghé vai vào vác. Họ khênh nó theo hành lang tới đường có mái vòm phía nam. Ở đó Philip dừng nghỉ, quay nhìn lại, trong khi nhóm trẻ vẫn tiếp tục đi. Trái tim ông nặng trĩu nỗi buồn khi ông nhìn cảnh tượng nhà thờ bị tàn phá. Bây giờ còn ít khói, nhưng nhiều lửa. Toàn bộ mái nhà đã bị thiêu hủy. Khi ông quan sát, mái nhà trên khu trung tâm dường như trệ xuống, và ông nhận ra chẳng bao lâu nữa nó sẽ sập xuống. Một tiếng nổ như sấm, lớn hơn mọi tiếng nổ từ trước đến giờ, và toàn bộ mái của gian phụ phía nam rơi xuống. Philip cảm thấy một nỗi đau, như chính thân thể ông đang bị cháy. Một lúc sau bức tường của gian phụ nghiêng về phía hành lang tu viện. Xin Chúa giúp chúng con, nó sắp đổ, Philip nghĩ. Khi bức tường đá rạn nứt và bể ra, ông nhận ra nó đang đổ về phía ông, và ông quay lại định chạy; nhưng trước khi ông bước được ba bước, một vật gì đập trúng phía sau đầu ông và ông bất tỉnh.
 
 
Đối với Tom, ngọn lửa cuồng nhiệt đang phá hủy nhà thờ Kingsbridge lại là ngọn hải đăng của hy vọng.
Ông nhìn qua sân cỏ vào đám cháy bốc cao lên trời từ những tàn tích của nhà thờ, và tất cả những gì ông có thể nghĩ là: điều đó có nghĩa là ông có việc làm.
Tư tưởng này có trong đầu Tom từ khi ông bước ra khỏi nhà khách với đôi mắt ngái ngủ và nhìn thấy ánh lửa đỏ chập chờn sau cửa sổ nhà thờ. Tâm hồn Tom chứa đựng một sự xấu hổ và lạc quan hạnh phúc trong suốt thời gian qua, ngay cả khi ông thúc giục các tu sĩ ra khỏi nơi nguy hiểm, hặc khi ông chạy vào nhà thờ đang cháy tìm Philip cũng như khênh hài cốt thánh ra ngoài.
Bây giờ, khi có thời gian suy nghĩ lại, ông biết mình không được phép vui vì nhà thờ bị cháy; nhưng rồi, ông nghĩ, không ai bị thương, và kho báu của tu viện được an toàn, ngoài ra nhà thờ đã cũ và xấu xí; vì thế tại sao lại không vui?
Các tu sĩ trẻ trở lại qua sân cỏ, khênh theo tủ sách nặng. Tất cả những gì tôi có thể làm bây giờ, Tom nghĩ, là làm sao tôi nhận được công việc xây dựng lại ngôi nhà thờ này. Và bây giờ là lúc nói chuyện với tu viện trưởng Philip.
Tuy nhiên, Philip không đi chung với các tu sĩ khênh tủ sách. Họ đến nhà khách và đặt tủ sách xuống. “Tu viện trưởng ở đâu?” Tom hỏi họ.
Người lớn tuổi nhất ngạc nhiên và quay nhìn lại. “Tôi không biết,” ông nói. “Tôi nghĩ ông ấy đi sau chúng tôi.”
Có lẽ ông ở lại để quan sát đám cháy, Tom nghĩ; nhưng có thể ông đang gặp khó khăn.
Không để mất giờ, Tom chạy qua sân cỏ và vòng đàng sau nhà bếp. Ông hy vọng Philip được an toàn, không những vì ông tốt, nhưng còn vì ông là người bảo trợ của Jonathan. Không có Philip thì không biết chuyện gì đã xẩy ra cho đứa bé.
Tom thấy Philip trong lối đi giữa phòng ăn và phòng ngủ. Ông an tâm khi thấy Philip ngồi thẳng, tuy bị choáng váng nhưng không bị thương. Tom giúp ông đứng lên.
“Một cái gì đó đánh vào đầu tôi,” Philip chếnh choáng nói.
Tom bỏ ông, nhìn vào gian phụ phía nam đã đổ vào hành lang tu viện. “May mắn là ông vẫn sống,” Tom nói. “Chắc Chúa có một chương trình cho ông.”
Philip lắc đầu cho tỉnh táo. “Tôi bị bất tỉnh một lúc, nhưng bây giờ đã khá rồi. Những cuốn sách ở đâu?”
“Họ đã đem đến nhà khách.”
“Chúng ta hãy đến đó.”
Tom cầm lấy tay Philip khi họ đi. Tu viện trưởng không bị thương nặng, nhưng ông buồn, Tom có thể thấy điều đó.
Khi họ trở về nhà khách, ngọn lửa trong nhà thờ đã giảm; tuy nhiên ông có thể nhìn rõ khuôn mặt mọi người, và ông hoảng sợ nhận ra là trời đã hừng sáng.
Philip tổ chức lại công việc. Ông bảo thầy nhà bếp Milius nấu cháo cho mọi người và cho quyền Cuthbert đầu trắng mở một thùng rượu làm ấm người trong lúc chờ đợi. Ông ra lệnh đốt lửa lò sưởi và cho các tu sĩ lớn tuổi vào sưởi ấm. Trời bắt đầu mưa. Những hạt mưa do gió mang theo cứng lạnh làm ngọn lửa trong nhà thờ tàn nhanh.
Khi mọi người bận rộn, Tu viện trưởng Philip đi một mình ra khỏi nhà khách, theo hướng nhà thờ. Tom thấy ông và đi theo. Đây là cơ hội. Nếu ông được trao việc, ông sẽ làm việc ở đây nhiều năm.
Philip đứng nhìn chằm chằm vào đống đổ nát cuối nhà thờ phía tây, lắc đầu buồn bã, giống như chính đời sống của ông bị tàn phá vậy. Tom đứng yên lặng bên ông. Một lúc sau Philip đi tiếp, dọc theo phía bắc của gian chính, xuyên qua nghĩa địa. Tom đi với ông, nghiên cứu những thiệt hại.
Bức tường phía bắc của gian giữa vẫn còn đứng vững, nhưng gian phụ phía bắc và một phần bức tường phía bắc của gian cung thánh đã đổ. Phần cuối nhà thờ phía đông vẫn còn. Họ đi xung quanh phần cuối và nhìn về phía nam. Hầu hết bức tường phía nam đã đổ xuống và gian phụ phía nam đã sụp đổ vào hành lang tu viện. Nhà họp vẫn còn đứng vững.
Họ đi đến cổng có mái vòm dẫn vào lối đi phía đông của hành lang tu viện. Ở đó một đống gạch đã cản ngăn họ lại. Trông có vẻ hỗn độn, nhưng với cặp mắt rành nghề, Tom biết rằng hành lang tu viện không bị thiệt hại nặng, chỉ bị chôn vùi dưới đống gạch đổ nát. Ông trèo lên đống đá vụn cho đến khi ông có thể nhìn vào trong nhà thờ. Ngay sau bàn thờ, một cầu thang dẫn xuống tầng hầm. Tầng hầm nằm ngay dưới gian cung thánh. Tom nhìn vào, nghiên cứu những vết nứt trên nền nhà bằng đá. Ông không thấy gì. Có thể tầng hầm vẫn còn nguyên vẹn. Ông không nói cho Philip biết bây giờ: ông sẽ giữ thông tin này cho đến một thời điểm quan trọng.
Philip đi tiếp, đi vòng phía sau phòng ngủ. Tom vội vã theo ông. Họ thấy nhà ngủ không ảnh hưởng gì. Tiếp theo họ thấy một số tòa nhà khác ít nhiều không hề hấn gì: phòng ăn, nhà bếp, lò bánh mì, nhà máy bia. Philip có thể tìm thấy trong đó sự an ủi, nhưng mặt ông vẫn buồn.
Họ chấm dứt nơi họ đã bắt đầu, đàng trước đầu phía tây đã bị tàn phá. Họ đi với nhau một vòng khuôn viên tu viện mà không nói với nhau một lời. Philip thở dài và phá vỡ sự yên lặng. “Đó là công việc của ma quỷ,” ông nói.
Tom nghĩ: đây là thời điểm của tôi. Ông thở một hơi dài và nói: “Nó có thể là công việc của Thiên Chúa.”
Philip nhìn ông ngạc nhiên. “Tại sao như thế?”
Tom nói cẩn thận: “Không ai bị thương. Sách vở, kho báu và hài cốt thánh được cứu. Chỉ có nhà thờ hư hỏng. Có lẽ Chúa muốn một nhà thờ mới.”
Philip mỉm cười hoài nghi. “Và tôi cho rằng Chúa muốn ông xây dựng nó.” Ông không quá choáng váng để không nhận ra rằng cách suy nghĩ của Tom là cách muốn nghĩ đến mình.
Tom đứng trên mặt đất. “Nó có thể là như vậy,” ông bướng bỉnh nói. “Không phải ma quỷ sai một thợ xây dựng tổng thể đến đây vào đúng đêm nhà thờ bị cháy.”
Philip nhìn đi chỗ khác. “Tốt, sẽ có một nhà thờ mới, nhưng tôi không biết bao giờ. Và lúc này tôi phải làm gì? Làm sao tu viện có thể tiếp tục sống? Chúng tôi ở đây là để phụng thờ Thiên Chúa và học hỏi.”
Philip chìm trong tuyệt vọng. Đây là lúc Tom có thể cho ông niềm hy vọng. “Con trai tôi và tôi có thể dọn sạch hành lang tu viện và có thể sử dụng lại trong vòng một tuần lễ,” ông nói, cố giữ cho giọng nói của ông có vẻ tin cẩn hơn.
Philip ngạc nhiên. “Ông có thể làm điều đó thật không?” Rồi gương mặt ông lại thay đổi, và ông trông có vẻ thất vọng. “Nhưng làm sao với nhà thờ?”
“Thế còn tầng hầm? Ông có thể cử hành nghi thức phụng vụ ở đó, phải không?”
“Vâng, tốt lắm.”
Tôi chắc chắn tầng hầm không bị hư hại nhiều,” Tom nói. Đúng như thế, ông gần như chắc điều đó.
Philip nhìn ông như thể ông là thiên thần của lòng thương xót.
“Không cần nhiều thời gian để khai thông con đường từ hành lang tu viện đến tầng hầm,” Tom nói. “Hầu hết phía nhà thờ bên đó đã hoàn toàn bị phá hủy, nó thật là may mắn và thật kỳ lạ, bởi vì nó có nghĩa là không còn nguy cơ bị sụp gạch nữa. Tôi đã khảo sát những bức tường vẫn còn đứng. Có lẽ một số chỗ cần chống đỡ, sau đó, chúng cần được kiểm soát mỗi ngày về nết nứt và ngay cả như vậy ông cũng không nên vào nhà thờ khi có gió mạnh.” Tất cả những điều đó quan trọng, nhưng Tom có thể nhận thấy Philip không quan tâm lắm. Những gì Philip cần bây giờ là những tin tích cực, để nâng tinh thần ông. Và cách thức là cho ông những gì ông muốn. Tom đổi giọng nói. “Với một vài tu sĩ trẻ cùng tôi làm việc, tôi có thể sửa chữa vài thứ và trong vòng hai tuần lễ tu viện sẽ lại có cuộc sống bình thường.”
Philip nhìn chằm chằm vào ông. “Hai tuần?”
“Hãy cho tôi và gia đình tôi đồ ăn và chỗ ở, và ông có thể trả lương cho tôi khi nào ông có tiền.”
“Trong hai tuần lễ, ông có thể sửa sang lại tu viện cho tôi?” ông hỏi lại hoài nghi.
Tom không chắc chắn ông có thể làm xong trong hai tuần không, nhưng nếu nó kéo dài thêm một tuần thì cũng chẳng chết ai.
Hai tuần”, ông nói chắc chắn. “Sau đó, chúng ta có thể kéo những bức tường còn lại xuống – đó là công việc của thợ chuyên nghiệp, nếu ông muốn được an toàn -  rồi dọn các đống đổ nát, xếp các viên đá để sử dụng lại. Trong khi đó chúng ta có thể lên kế hoạch cho nhà thờ mới.” Tom nín thở. Ông đã làm những gì ông có thể. Chắc chắn Philip sẽ thuê ông ngay bây giờ.
Philip gật đầu, lần đầu tiên ông mỉm cười. “Tôi nghĩ, Chúa đã sai ông đến với tôi,” ông nói. “Chúng ta đi ăn sáng, sau đó bắt tay vào việc.”
Tom run rẩy thở phào. “Cảm ơn!” ông nói. Có một chút run run trong giọng nói của ông mà ông không kiểm soát được, nhưng ông không quan tâm đến nữa, và với tiếng nấc ông nói: “Tôi không thể nói cho ông biết điều này giá trị đối với tôi lớn lao như thế nào.”
Sau bữa sáng, Philip có một cuộc họp bất thường trong nhà kho của Cuthbert, dưới nhà bếp. Các tu sĩ hồi hộp. Họ là những người đã chọn hay ít nhất đã quen với một cuộc sống an toàn, có kế hoạch và bình thản, nên bây giờ họ mất phương hướng. Sự hoang mang của họ làm Philip động lòng. Hơn bao giờ hết, ông cảm thấy mình là người chăn chiên, và nhiệm vụ của người chăn chiên là chăm sóc cho những sinh vật bất lực; ngoài ra đây không phải là những động vật câm, mà họ là những người anh em của ông, và ông yêu thương họ. Cách thức để an ủi họ, ông đã quyết định, là nói cho họ những gì sẽ xẩy ra, dùng công việc chân tay để họ quên đi những căng thẳng, và trở về với đời sống thường ngày sớm bao nhiêu có thể.
Mặc dù trong điều kiện bất thường, Philip không rút ngắn nghi thức buổi họp. Ông ra lệnh đọc tiểu sử vị tử đạo trong ngày, sau đó là lời nguyện cho những tu sĩ đã qua đời. Đây là lý do tồn tại của đan viện: cầu nguyện là sự biện minh cho sự hiện diện của họ. Tuy nhiên, một số các tu sĩ còn bất an, ông chọn chương hai mươi trong quy luật của thánh Biển Đức, phần có tựa đề là “về sự tôn kính khi cầu nguyện.” Sau đó là tên những người đã qua đời. Nghi thức quen thuộc làm dịu thần kinh họ, và ông thấy nét sợ hãi đã biến khỏi khuôn mặt những người xung quanh, có lẽ các tu sĩ đã nhận ra rằng thế giới của họ chưa kết liễu.
Vào cuối buổi họp, Philip đứng dậy nói với họ. “Thảm họa xẩy ra cho chúng ta vào đêm qua thực ra chỉ ảnh hưởng đến thể lý,” ông nói, cố gắng diễn tả sự ấm áp và bình tĩnh qua giọng nói của mình bao nhiêu có thể. “Đời sống chúng ta thuộc về tinh thần; công việc của chúng ta là cầu nguyện, thờ phượng và chiêm niệm.” Ông nhìn quanh phòng họp, gặp gỡ bao nhiêu ánh mắt có thể để thu hút sự chú ý của họ; rồi ông nói: “Chúng ta sẽ tiếp tục công việc đó trong vài ngày tới, điều đó tôi hứa với anh em.”
Ông dừng lại để cho lời ông được thấm thía. Sự căng thẳng trong phòng đã dịu đi. Ông để cho họ yên tĩnh một lúc, rồi ông tiếp tục: “Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của Ngài, đã gửi cho chúng ta một thợ xây ngày hôm qua để giúp chúng ta vượt qua cơn khủng hoảng này. Ông đã bảo đảm với tôi, nếu chúng ta làm việc dưới sự chỉ đạo của ông, tu viện chúng ta có thể sử dụng lại bình thường trong vòng một tuần.
Có tiếng thì thầm của sự hài lòng bất ngờ.
“Tôi sợ rằng nhà thờ của chúng ta sẽ không sử dụng lại được cho các buổi phụng vụ - nó phải xây lại, và dĩ nhiên nó cần nhiều năm. Tuy nhiên thợ xây Tom tin rằng tầng hầm không bị thiệt hại nhiều. Tầng hầm được cúng hiến, vì thế chúng ta có thể cử hành nghi thức phụng vụ ở đó. Tom nói rằng ông ấy có thể làm cho nó chắc chắn lại trong vòng một tuần, sau khi tu viện sửa xong. Vì thế, như anh em thấy, chúng ta có thể cử hành thánh lễ lại bình thường vào chủ nhật trước mùa chay.”
Một lần nữa lại có thể nghe thấy được sự thở phào nhẹ nhõm của họ.
Philip thấy ông đã thành công trong việc làm họ thoải mái và an tâm. Vào lúc bắt đầu buổi họp, họ sợ hãi và bối rối; bây giờ họ bình tĩnh và hy vọng. Philip nói thêm: “Anh em nào cảm thấy yếu mệt, không lao động chân tay được sẽ được miễn. Anh em nào làm việc cả ngày với thợ xây Tom sẽ được phép ăn thịt đỏ và uống rượu vang.”
Philip ngồi xuống. Remigius là người đầu tiên lên tiếng. “Chúng ta phải trả cho người thợ xây này bao nhiêu tiền?” ông nghi ngờ hỏi.
Người ta có thể tin rằng Remigius cố gắng tìm lỗi. “Bây giờ không phải trả gì,” Philip lập lại. “Tom biết chúng ta gặp khó khăn về tài chánh. Ông ấy chỉ cần chúng ta cung cấp thực phẩm và chỗ ăn ở cho ông và gia đình, cho đến khi chúng ta có thể trả tiền lương cho ông ấy.” Đó là mơ hồ, Philip nhận ra: nó có nghĩa là Tom có quyền nhận tiền lương từ khi tu viện có thể trả. Nhưng trong thực tế tu viện nợ tiền lương mỗi ngày của ông ấy, bắt đầu từ hôm nay. Nhưng trước khi Philip có thể cắt nghĩa sự thỏa thuận, Remigius lên tiếng tiếp. “Và họ sẽ ở đâu?”
“Tôi cho họ ở nhà khách.”
“Họ có thể ở trọ trong một gia đình dưới làng.”
“Tom đã cho chúng ta một đề nghị rộng lượng,” Philip sốt ruột nói. “Chúng ta may mắn có được ông ta. Tôi không muốn ông ta ngủ chung ở nhà những người khác trong chuồng dê và lợn, trong khi chúng ta có nhà đàng hoàng bỏ không.”
“Gia đình này có hai người đàn bà…”
“Một đàn bà và một bé gái,” Philip chữa lại.
“Thì một đàn bà. Nhưng chúng tôi không muốn một người đàn bà sống trong tu viện.”
Các tu sĩ thì thầm. Họ không thích cách ngụy biện của Remigius. Philip nói: “Chuyện đàn bà ở lại nhà khách là chuyện hoàn toàn bình thường.”
“Nhưng không phải cho người đàn bà này.” Remigius buột miệng nói, sau đó ông hối hận ngay.
Philip nhíu mày. “Vậy là anh biết người đàn bà đó?”
“Bà ấy đã ở vùng này,” Remigus nói miễn cưỡng.
Philip tò mò. Đây là lần thứ hai ông chứng kiến thái độ bất thường về người vợ của thợ xây Tom: Waleran Bigod cũng đã hoảng hốt khi nhìn thấy bà. Philip nói: “Có chuyện gì với bà ấy?”
Trước khi Remigius có thể trả lời, thầy Paul, người tu sĩ lớn tuổi trông coi cây cầu, lên tiếng. “Tôi nhớ,” ông nói bằng giọng nói mơ hồ. “Có một phụ nữ hoang dã ở trong rừng đã thường sống ở đây – ô, phải mười lăm năm trước đây rồi. Người vợ ông thợ xây nhắc tôi nhớ đến người đàn bà đó.”
“Người ta nói bà ấy là một phù thủy,” Remigius nói. “Chúng ta không thể để một phù thủy sống trong tu viện.”
“Tôi không biết về chuyện đó,” thầy Paul nói trong cùng giọng chậm rãi, thâm trầm. “Bất cứ phụ nữ nào sống hoang dã, dù sớm hay muộn, đều bị gọi là phù thủy. Người ta nói như thế, nhưng không phải như vậy. Tôi để cho Tu viện trưởng Philip xét đoán trong sự khôn ngoan của ông, xem bà ấy có là mối nguy hiểm không.”
“Sự khôn ngoan không đến ngay lập tức khi nhận một trách vụ trong tu viện,” Remigius phản đối.
“Đúng vậy,” thầy Paul nói chậm rãi. Ông nhìn thẳng vào Remigius và nói: “Một đôi khi nó chẳng bao giờ đến.”
Các tu sĩ cười về món đòn đánh trả này, nhất là món đòn đó lại đến từ một người mà không ai ngờ đến. Philip phải giả vờ là không hài lòng. Ông vỗ tay ra hiệu yên lặng. “Đủ rồi!” ông nói. “Vấn đề này hệ trọng. Tôi sẽ hỏi người đàn bà này. Bây giờ chúng ta trở lại nhiệm vụ của chúng ta. Những ai muốn miễn lao động có thể lui về trạm xá để cầu nguyện và chiêm niệm. Những người khác hãy theo tôi.”
Ông rời nhà kho và đi quanh phía sau nhà bếp đến cổng mái vòm phía nam, qua đó vào hành lang tu viện. Một vài tu sĩ rời nhóm và đi vào trạm xá, trong số họ có Remigius và người phụ trách phụng vụ Andrew. Cả hai không có gì là đau yếu cả, Philip nghĩ, nhưng nếu họ tham gia nhóm lao động có lẽ họ sẽ gây thêm khó khăn, vì thế ông vui khi họ đi. Hầu hết các tu sĩ theo Philip.
Dưới sự điều hành của Tom, một số nhân viên của tu viện đã bắt tay vào việc thu dọn. Ông đứng ở đầu đống đá đổ nát trong sân tu viện với một viên phấn to trong tay, đánh dấu các viên đá bằng mẫu tự T, chữ đầu trong tên của ông.
Lần đầu tiên Philip tự hỏi làm sao có thể di chuyển những viên đá to lớn này. Chúng quá lớn để một người có thể nâng lên. Ông không cần chờ lâu để có câu trả lời: một viên đá được lăn vào hai thanh ngang nằm song song và hai người khiêng đi. Thợ xây Tom chắc chắn đã chỉ cho họ làm thế.
Công việc tiến hành nhanh chóng, với sự giúp đỡ của hầu hết sáu mươi người giúp việc trong tu viện, tạo thành một dòng người mang đá đi, rồi trở lại lấy thêm. Quang cảnh làm Philip lên tinh thần, và ông dâng một lời cầu nguyện tạ ơn âm thầm vì đã có thợ xây Tom.
Tom nhìn thấy tu viện trưởng và trèo xuống khỏi đống đá vụn. Trước khi nói chuyện với Philip, ông quay sang một người giúp việc, người thợ may chuyên may áo cho các tu sĩ. “Hãy chỉ dẫn cho các tu sĩ đi khênh đá,” ông ra lệnh. “Chú ý là chỉ khênh những viên đá tôi đã đánh dấu, nếu không cả đống đá sẽ trượt xuống và làm chết người.” Ông quay sang Philip. “Tôi đã đánh dấu để họ có đủ việc làm một thời gian.”
“Họ mang đá đi đâu?” Philip hỏi.
“Đi theo tôi, tôi sẽ chỉ cho ông. Tôi cũng muốn kiểm soát xem họ có xếp đúng cách không.”
Philip đi với Tom. Những viên đá được đem đến phía đông của khu tu viện. “Một vài nhân viên vẫn phải làm việc thường nhật của họ,” Philip nói trong khi đi. “Người giữ ngựa vẫn phải chăm sóc ngựa, người phục vụ trong bếp vẫn phải nấu ăn, một số người phải kiếm củi, cho gà ăn và đi chợ. Nhưng công việc của họ không quá sức nên tôi có thể dành một nửa số nhân viên cho ông. Ngoài ra ông có thêm khoảng ba mươi tu sĩ.”
Tom gật đầu. “Được rồi!”
Họ đi qua cuối nhà thờ phía đông. Người lao động xếp những hòn đá vẫn còn ấm dựa vào bức tường phía đông của khu tu viện, một vài mét cách trạm xá và nhà tu viện trưởng. Tom nói: “Những tảng đá cũ phải được giữ gìn cho nhà thờ mới. Chúng không được dùng để xây tường, vì những đá đã dùng rồi khi dùng lại chúng không còn tốt; nhưng chúng có thể dùng làm chân tường. Tất cả các viên đá vỡ cũng phải được cất giữ. Chúng sẽ được trộn với vữa và đổ vào khoang giữa của bức tường mới, tạo thành cốt lõi của tường.”
“Tôi hiểu.” Philip quan sát trong khi Tom chỉ thị công nhân cách xếp đá lồng vào nhau để đống đá không bị đổ. Nó chứng tỏ rằng Tom không thiếu kinh nghiệm chuyên môn.
Khi Tom đã vừa ý với công nhân, Philip nắm tay ông và dẫn ông đi xung quanh nhà thờ, tới nghĩa địa phía bắc. Mưa đã ngừng, nhưng đá của các ngôi mộ vẫn ướt. Các tu sĩ được chôn cất ở phía đông nghĩa trang, dân làng ở phía tây. Gian phụ nhà thờ phía bắc phân chia hai phần của nghĩa trang bây giờ đã bị tàn phá. Philip và Tom dừng lại. Ánh mặt trời yếu ớt chiếu qua đám mây. Trong ánh sáng ban ngày, không có gì còn là bí ẩn ở những xà gỗ đen. Philip cảm thấy xấu hổ vì đêm qua ông nghĩ đã nhìn thấy con quỷ.
Ông nói: “Một vài tu sĩ không thoải mái vì có một phụ nữ sống trong khu tu viện.” Nét mặt Tom tỏ ra một cái gì đó còn hơn là lo lắng: ông dường như sợ hãi, thậm chí hoảng sợ. Ông thực sự yêu bà, Philip nghĩ. Ông vội vàng tiếp tục: “Nhưng tôi không muốn ông ở trong làng, ở chung với các gia đình khác. Để tránh phiền phức, tốt hơn bà ấy nên thận trọng. Nói với bà ấy tránh xa các tu sĩ bao nhiêu có thể, đặc biệt là các tu sĩ trẻ. Bà nên che khăn mặt khi bà phải đi trong khu tu viện. Hơn hết, bà nên tránh làm bất cứ việc gì có thể gây nghi ngờ rằng bà là một phù thủy.”
“Chúng tôi sẽ làm,” Tom nói. Có một sự quyết tâm trong giọng nói của ông, và ông trông có một chút nản lòng. Philip nhớ lại vợ của người thợ xây là một phụ nữ nhậy bén, có lập trường. Bà ấy sẽ không hài lòng với những quy định về cách cư xử này. Tuy nhiên, ngày hôm qua gia đình bà còn túng thiếu, vì thế bà phải nhìn thấy sự hạn chế này chỉ là một giá nhỏ bà phải trả cho chỗ ăn ở và sự an toàn của gia đình bà.
Họ đi tiếp tục. Đêm qua Philip đã nhìn sự tàn phá này như một bi kịch siêu nhiên, một thất bại kinh khủng đối với quyền lực của văn minh và tôn giáo thật, một cú đánh vào sự nghiệp của ông. Bây giờ nó dường như là một vấn đề mà ông phải giải quyết, dù nó ghê gớm, thậm chí khó khăn, nhưng không siêu phàm. Sự thay đổi chủ yếu là do Tom. Philip cảm thấy rất biết ơn Tom.
Họ đến cuối phía tây. Philip nhìn thấy một con ngựa tốt đã được xếp yên trong chuồng ngựa, và ông ngạc nhiên. Ai là người chuẩn bị đi hôm nay, ông nghĩ. Ông để Tom đi về hành lang tu viện, còn ông tự mình đến chuồng ngựa điều tra.
Một trong những người giúp việc cho người phụ trách phụng vụ đã ra lệnh thắt yên ngựa: Alan trẻ, người đã cứu kho báu từ nhà họp.
“Anh đi đâu vậy?” Philip nói.
“Em đến tòa giám mục,” Alen trả lời. “Anh Andrew sai em đi lấy nến, nước phép và bánh lễ, bởi vì những thứ này đã bị tổn hại trong đám cháy và chúng ta phải cử hành nghi thức phụng vụ sớm bao nhiêu có thể.”
Điều đó đúng. Tất cả những thứ này được cất trong hòm khóa ở gian cung thánh, và hòm này chắc đã bị cháy. Philip vui vì người phụ trách phụng vụ đã lo đến chuyện đó. “Tốt,” ông nói. “Nhưng đợi một chút. Nếu anh đến tòa giám mục, anh có thể mang thư của tôi cho giám mục Weleran. Nhờ một số vận động, bây giờ Waleran là giám mục được đề cử; nhưng Philip không thể rút lại lời ủng hộ của mình, vì thế ông phải đối xử với Waleran như một giám mục. “Tôi muốn gửi một báo cáo về cuộc hỏa hoạn cho ông ấy.”
“Vâng, thưa cha,” Alan trả lời, “nhưng em cũng có một thư của Remigius gửi cho giám mục.”
“Ồ! Thế à!” Philip ngac nhiên. Remigius quá chu đáo, ông nghĩ. “Được,” ông nói với Alan. “Đi cẩn thận, và xin Chúa cùng đi với anh.”
“Cám ơn cha.”
Philip đi về lại hướng nhà thờ và thấy Remigius vội vã đi. Tại sao ông ấy và người phụ trách phụng vụ lại vộ vã thế? Điều đó đủ làm Philip khó chịu. Bức thư vừa rồi kể về hỏa hoạn của nhà thờ? Hay có một chuyện gì khác trong đó?
Philip ngừng lại giữa đường trên sân cỏ và quay nhìn lại. Ông có quyền lấy lá thư và đọc nó. Nhưng đã trễ: Alan đã phi qua cổng. Philip nhìn theo anh ấy, cảm thấy một chút thất vọng. Vào lúc đó, vợ Tom bước ra khỏi cửa nhà khách, mang theo một chiếc rổ, có lẽ là tro của lò sưởi, và đi về hướng đống phân gần chuồng ngựa. Philip quan sát bà. Cách bà đi rất đẹp, giống như dáng đi của một con ngựa tốt.
Ông lại nghĩ về lá thư Remigius gửi cho Waleran. Một cách nào đó nó chỉ là trực giác, nhưng dù sao cũng đáng lo vì ông đoán rằng nội dung chính của bức thư không phải về cuộc hỏa hoạn.
Không có một lập luận chính đáng, nhưng ông cảm thấy chắc chắn lá thư viết về vợ của ông thợ xây.
 
 
III
 
Jack thức dậy khi gà gáy cúc cu đầu tiên. Cậu mở mắt ra và thấy Tom dậy. Cậu vẫn nằm lắng nghe Tom đái trên mặt đất trước cửa. Cậu muốn mò đến chỗ ấm áp Tom đã để lại và ôm mẹ, nhưng cậu biết nếu Alfred nhìn thấy cậu ấy sẽ cười cậu chết, vì thế cậu ở lại chỗ cũ. Tom trở lại và đánh thức Alfred dậy.
Tom và Alfred uống phần bia còn lại từ bữa tối hôm trước và ăn bánh cũ, rồi họ đi làm. Một số bánh còn dư, và Jack hy vọng hôm nay họ sẽ để lại, nhưng cậu thất vọng: Như thường lệ, Alfred đã đem theo.
Alfred làm việc cả ngày bên cạnh Tom. Jack và mẹ một đôi khi đi vào rừng. Mẹ đặt bẫy, trong khi Jack săn vịt bằng ná cao su. Bất cứ thứ gì họ bắt được, họ đem bán cho dân làng hoặc quản lý Cuthbert. Đây là nguồn tiền mặt duy nhất, vì Tom không được trả lương. Với số tiền này họ mua quần áo, da hay mỡ để làm nến. Vào những ngày họ không vào rừng, mẹ sẽ đóng giầy, may quần áo, làm nến hay mũ, trong khi Jack và Martha chơi với trẻ em trong làng. Vào chủ nhật, sau thánh lễ, Tom và bà mẹ thường hay ngồi nói chuyện bên lò sưởi. Một đôi khi họ bắt đầu hôn nhau, và Tom đưa tay vào trong váy của mẹ, rồi họ đuổi các đứa trẻ ra ngoài và khóa cửa lại. Đây là thời điểm xấu nhất trong tuần, vì Alfred tỏ vẻ khó chịu và đổ sự nóng giận của cậu lên hai đứa trẻ.
Hôm nay là ngày thường, và Alfed sẽ bận rộn từ sáng đến tối. Jack thức dậy và đi ra ngoài. Trời lạnh nhưng khô. Một lúc sau Martha cũng ra. Khuôn viên nhà thờ đổ nát đã đầy người, họ khênh đá, xúc gạch vụn qua hai bên, dùng gỗ chống lại các bức tường và phá hủy những cái không còn sử dụng được.
Mọi người, kể cả các tu sĩ và dân làng, đều đồng ý là ma quỷ đã đốt nhà thờ, vì thế mà Jack trong một thời gia dài đã quên rằng chính cậu là người châm lửa. Khi cậu nhớ lại chính cậu là người châm lửa, cậu cảm thấy hài lòng với chính cậu. Cậu đã dám mạo hiểm và cứu gia đình khỏi chết đói.
Các tu sĩ sẽ ăn sáng trước, và người lao động phải chờ cho đến khi các tu sĩ đi vào nhà họp. Đó là thời gian chờ đợi lâu dài đối với Jack và Martha. Jack thường đói bụng khi ngủ dậy và không khí lạnh buổi sáng làm tăng thêm sự thèm ăn của cậu.
“Chúng ta hãy đến sân nhà bếp,” Jack nói. Những người giúp việc trong bếp có thể cho chúng ta ít bánh vụn. Martha đồng ý ngay: Cô luôn coi Jack là người tuyệt vời và luôn đồng ý với những gì Jack đề nghị.
Khi chúng đến khu nhà bếp, chúng gặp thầy Bernard, người phụ trách lò bánh. Bởi vì những người giúp việc đang làm việc bên ngoài, nên ông phải tự đi lấy củi. Ông còn trẻ, nhưng mập. Ông thở hổn hển và đổ mồ hôi vì gánh nặng của bó củi. “Chúng con sẽ lấy củi giúp thầy,” Jack đề nghị.
Bernard ném củi xuống bên cạnh lò nấu và đưa cho Jack chiếc giỏ rộng. “Trên đời còn có những đứa trẻ tốt,” ông thở hổn hển. “Chúa chúc lành cho các con.”
Jack cầm giỏ và cả hai chạy đến đống củi đàng sau nhà bếp. Chúng xếp gỗ đầy giỏ và khiêng giỏ về.
Khi chúng trở về, lò đã nóng, và Bernard đổ giỏ của chúng trực tiếp vào lửa và sai chúng đi lấy thêm. Tay Jack bị đau nhưng bao tử của cậu còn đau hơn, và cậu vội vã lấy đầy một rổ nữa.
Lần thứ hai, khi chúng trở lại, Bernard đang xếp bánh lên một cái khay. “Hãy lấy cho thầy một giỏ củi nữa, và các con sẽ có bánh nóng,” ông nói. Miệng Jack đầy nước.
Lần thứ ba chúng xếp đầy giỏ, cao hơn những lần trước và lảo đảo đi về, mỗi đứa cầm một tay nắm. Vừa khi chúng đến sân, chúng gặp Alfred đi với một cái xô, có lẽ trên đường đi lấy nước từ con rạch chẩy từ hồ xay lúa ngang qua sân cỏ trước khi biến mất dưới lòng đất của nhà máy bia. Alfred ghét Jack nhất là từ khi cậu cho con chim chết vào trong ly bia của cậu ấy. Thông thường khi nhìn thấy Alfred, Jack sẽ tránh và tìm lối khác đi. Bây giờ cậu tự hỏi có nên đặt giỏ xuống và chạy không, nhưng điều đó có vẻ hèn nhát, ngoài ra cậu có thể ngửi thấy mùi bánh mới từ lò, và cậu đói cồn cào; vì thế cậu nắm chặt chiếc giỏ đi tiếp mà trái tim đập thình thịch.
Alfred cười chúng, cả hai khiêng một trọng lượng mà mình cậu có thể bê được dễ dàng. Chúng tránh xa cậu một vòng, nhưng cậu đi về phía chúng và đẩy Jack ngã xuống. Jack ngã mạnh xuống đất, và cảm thấy đau nơi xương sống. Giỏ đổ nghiêng và củi vương vãi. Nước mắt cậu chẩy ra, vì tức giận chứ không phải vì đau đớn. Nó không đẹp khi Alfred làm chuyện đó rồi bỏ đi, trong khi chúng không trêu ghẹo cậu. Jack chỗi dậy, kiên nhẫn nhặt củi vào giỏ, và làm ra vẻ không có gì để Martha khỏi phải lo lắng. Chúng cầm giỏ lên và tiếp tục đi vào lò bánh.
Ở đó chúng có phần thưởng của chúng. Khay bánh được để cho nguội trên một kệ đá. Khi chúng vào, Bernard lấy một cái cho vào miệng, rồi nói: “Rất ngon. Tự lấy mà ăn. Nhưng coi chừng, nó còn nóng lắm đấy.”
Jack và Martha mỗi người lấy một nắm. Jack cắn cẩn thận, sợ nóng miệng, nhưng nó ngon quá đến nỗi cậu ăn hết luôn một lúc. Cậu nhìn vào những miếng bánh còn lại. Còn lại chín cái. Cậu liếc nhìn thầy Bernard, người đang cười với cậu. “Thầy biết con muốn gì,” vị tu sĩ nói. “Tiếp tục đi, lấy nhiều vào.”
Jack nâng vạt áo choàng và quấn phần còn lại vào trong đó. “Chúng ta đem về cho mẹ,” cậu nói với Martha.
“Con là đứa trẻ tốt,” Bernard nói. “Vậy, đi thôi!”
“Cám ơn thầy,” Jack nói.
Chúng rời lò bánh và đi thẳng về nhà khách. Jack hào hứng. Mẹ cậu sẽ hài lòng với cậu. Cậu bị cám dỗ ăn một cái bánh nữa trước khi đưa cho mẹ, nhưng cậu chống lại nó: Nó sẽ rất đẹp nếu biếu mẹ tất cả nhiều như vậy.
Khi chúng đi qua sân cỏ, chúng lại gặp Alfred.
Có lẽ cậu đã lấy đầy xô nước rồi đi đổ nó, và bây giờ cậu quay lại để lấy thêm. Jack quyết định tỏ vẻ lãnh đạm và hy vọng Alfred sẽ bỏ qua cho cậu. Nhưng cách cậu mang bánh, quấn nó trong vạt áo choàng, không thể che dấu được; và Alfred quay về phía chúng.
Jack sẽ sẵn sàng cho cậu một cái, nhưng cậu biết Alfred sẽ lấy tất cả khi anh ấy có cơ hội. Jack bật chạy.
Alfred đuổi theo và chẳng bao lâu bắt kịp cậu. Alfred dơ một chân ra cản Jack, và Jack ngã bay xuống. Bánh nóng nằm rải rác khắp mặt đất.
Alfred nhặt lên một cái, lau đất bám trên nó và đưa vào miệng. Mắt anh ấy mở to vì ngạc nhiên. “Bánh mới!” anh ấy nói, rồi bắt đầu nhặt những cái khác.
Jack tranh chân, cố gắng lấy một trong những chiếc bánh rơi, nhưng Alfred đánh cậu với cả bàn tay một cách mạnh mẽ khiến cậu ngã xuống một lần nữa. Alfred vội vàng vơ phần bánh còn lại, rồi đi, miệng nhai ngấu nghiến. Jack bật khóc.
Martha nhìn thông cảm, nhưng Jack không muốn sự thông cảm: cậu đã chịu quá nhiều sỉ nhục. Cậu bỏ đi, khi Martha theo sau, cậu quay lại và nói: “Đi chỗ khác!” Cô đau đớn, nhưng cô dừng lại và để cậu đi.
Cậu đi về phía đống đổ nát, lau khô nước mắt bằng vạt áo dài. Trong trái tim cậu có tư tưởng giết người. Tôi đã phá hủy nhà thờ chính tòa, cậu nghĩ; tôi có thể giết Alfred.
Khu vực xung quanh chỗ đổ nát đã được dọn và quét sạch. Một vài quan chức trong giáo hội sẽ đến khảo sát sự thiệt hại, Jack nhớ lại.
Alfred có ưu thế về thể lực: cậu có thể làm gì cậu muốn vì cậu rất to lớn. Jack đi quanh một lúc, tức giận, ước gì Alfred ở trong nhà thờ này khi những viên đá đổ xuống.
Sau cùng cậu thấy Alfred. Cậu ấy ở trong gian phụ phía bắc, hốt đá vụn vào giỏ, và cậu ấy bám đầy bụi. Gần giỏ là một xà ngang của mái nhà còn lại hầu như không bị hư hại, chỉ bị cháy xém và đen vì hắc ín. Jack dùng ngón tay chà lên bề mặt của thang gỗ, nó để lại một đường màu trắng. Bị cảm hứng, Jack viết lên thanh gỗ: “Alfred là một con heo.”
Một vài nhân công để ý đến. Họ ngạc nhiên là Jack biết viết. Một thanh niên trẻ hỏi: “Cậu viết gì vậy?”
“Hãy hỏi Alfred,” Jack trả lời.
Alfred nhìn vào bảng viết và khó chịu. Cậu ấy có thể đọc được tên mình, Jack biết điều đó, nhưng không đọc được phần còn lại. Cậu ấy nổi giận. Cậu biết cậu bị xúc phạm, nhưng cậu không biết bị xúc phạm như thế nào, và đó là sự nhục nhã. Cậu trông có vẻ ngu ngốc. Sự tức giận của Jack đã dịu đi. Alfred to con hơn, nhưng Jack thông minh hơn.
Không người nào biết những chữ đó có nghĩa gì. Rồi một tập sinh đi qua, đọc hàng chữ, mỉm cười. “Alfred là ai?” Cậu ấy hỏi.
“Anh đó,” Jack nói và dùng ngón cái chỉ. Alfred giận dữ, nhưng cậu không biết phải làm gì, vì thế cậu ấy đứng dựa vào cái xẻng, nhìn khờ dại.
Anh tập sinh cười. “Một con heo! Ê! Anh đang đào gì – hạt sồi chăng?” Anh ấy nói.
“Chắc vậy!” Jack hào hứng nói, để có một đồng minh.
Alfred ném chiếc xẻng và túm lấy Jack.
Jack đã chuẩn bị, và lao đi như mũi tên từ một cây cung. Người tập sinh đưa một chân ra ngáng chân Jack – có lẽ vì muốn cân bằng hai phía – nhưng Jack nhanh nhẹ nhẩy qua. Cậu chạy dọc theo nơi trước đây là thánh điện, chạy xung quanh đống đá đổ nát và nhẩy qua những xà ngang trên mặt đất. Cậu có thể nghe thấy tiếng chân và hơi thở nặng nề của Alfred ngay phía sau, và sự sợ hãi tăng thêm tốc độ cho cậu.
Một lúc sau cậu nhận ra cậu đã chạy sai đường. Cuối nhà thờ không có đường ra. Cậu đã sai lầm. Cậu nhận ra, với trái tim ủ rũ, rằng lần này cậu sẽ bị đau lắm.
Nửa bức tường cuối phía đông đã bị đổ, và những tảng đá được xếp chồng lên đỡ phần còn lại của bức tường. Không còn cách nào khác, cậu đành trèo lên đống đá. Lên đến đỉnh đống đá, cậu thấy trước mặt là một vực thẳm cao khoảng năm mét. Cậu đứng chênh vênh bên bờ vực. Nó quá cao để nhẩy xuống mà không bị thương tích. Alfred chụp lấy cổ chân cậu và cậu mất thăng bằng. Cậu đứng một chân trên tường, một chân trên không, hai tay quẫy mạnh để lấy lại thế đứng. Alfred giữ chặt cổ chân cậu, rồi bất ngờ thả ra. Jack rơi xuống, không còn có thể điều khiển được thế rơi, và cậu nghe thấy mình hét lên. Phía bên trái cậu đập xuống đất, mặt cậu không may mắn đập vào một hòn đá.
Trong mắt cậu, bầu trời như tối lại.
Khi cậu mở mắt ra, Alfred đứng trên cậu – chắc cậu ấy phải tìm ra được một lối xuống. Bên cạnh cậu ấy là một vị tu sĩ lớn tuổi. Jack biết ông; đó là Remigius, tu viện phó. Remigius nhìn cậu và nói: “Đứng lên, cậu bé!”
Jack không biết mình có thể đứng lên được không. Cậu không thể cử động phía tay trái. Mặt cậu phía trái đã bị tê liệt. Cậu nghĩ cậu sẽ chết, nhưng ngạc nhiên thay, cậu có thể cử động. Dùng cánh tay phải đẩy mình lên, cậu phải vật lộn với đau đớn mới đứng lên được, đặt tất cả trọng lượng vào chân phải. Khi sự tê dại qua đi, cậu cảm thấy đau.
Remigius cầm cánh tay trái của cậu. Jack kêu lên vì đau. Remigius bỏ cậu và nắm tai Alfed. Có lẽ ông sẽ có hình phạt kinh khủng cho cả hai, Jack nghĩ. Nhưng Jack đau quá không còn muốn quan tâm đến điều đó.
Remigius nói với Alfred. “Nào, cậu nhỏ, tại sao em lại giết em trai của em?”
“Nó không phải là em của em,” Alfred nói.
Nét mặt Remigius thay đổi. “Không phải em trai của em?” ông nói. “Các em không có chung cha và mẹ sao?”
“Bà ấy không phải là mẹ em, Alfred nói. “Mẹ em đã chết.”
Một cái nhìn xảo quyệt hiện ra trên khuôn mặt ông. “Mẹ em chết khi nào?”
“Vào lễ Giáng sinh.”
“Lễ Giáng sinh vừa qua?”
“Vâng.”
Mặc dù đau đớn, Jack vẫn có thể nhìn ra Remigius rất quan tâm về vấn đề này vì lý do nào đó. Giọng nói của vị tu sĩ run lên vì kinh ngạc khi ông nói: “Vì thế bố của em chỉ gặp mẹ của cậu bé này mới đây thôi?”
“Vâng.”
“Và từ khi họ… ở chung với nhau, họ có gặp linh mục và làm phép cưới không?”
“Uh… Em không biết.” Alfred không hiểu ‘phép cưới’ là gì, Jack có thể nói điều đó. Chính cậu cũng không hiểu.
Remigius sốt ruột nói: “Họ có làm đám cưới không?”
“Không.”
“Tôi hiểu.” Dường như Remigius hài lòng với câu trả lời này, mặc dù Jack đã nghĩ khác. Vị tu sĩ nghĩ một lúc lâu, không nói lời nào, rồi như nhớ tới hai cậu bé, ông nói: “Tốt, nếu các em muốn ở trong khu tu viện và ăn bánh của các tu sĩ, các em không được đánh nhau, ngay cả khi các em không là anh em ruột với nhau. Chúng tôi, những người con của Chúa, không muốn nhìn thấy đổ máu – đó là một trong những lý do tại sao chúng tôi sống một cuộc sống xa lìa thế giới.” Với lời phát biểu ngắn gọn này, Remigius cho hai đứa trẻ tự do và quay đi. Và Jack có thể chạy về với mẹ.
 
 
Nó kéo dài ba tuần, thay vì hai tuần, nhưng Tom đã chuẩn bị tầng hầm sẵn sàng như một nhà thờ tạm thời, và hôm nay giám mục đề cử sẽ đến cử hành thánh lễ đầu tiên trong đó. Tu viện đã dọn sạch đống đổ nát, và Tom đã sửa chữa những phần hư hỏng: Hành lang tu viện là một kiến trúc đơn giản, nó chỉ là một đường đi với mái che, vì thế mà công việc sửa sang dễ dàng. Hầu hết phần còn lại của nhà thờ chỉ là đống đổ nát, một số bức tường còn lại nhưng có nguy cơ sụp xuống, nhưng Tom đã dọn sạch một đường đi xuyên qua gian phụ phía nam tới cầu thang tầng hầm.
Tom nhìn quanh. Tầng hầm có diện tích đủ lớn, khoảng năm mươi mét vuông, đủ cho các buổi đọc kinh của các tu sĩ. Nó là một căn phòng khá tối, với hàng cột nặng và một mái vòm thấp, nhưng nó được xây chắc chắn, đó là lý do tại sao nó sống sót qua cơn hỏa hoạn. Họ đem đến một cái bàn để làm bàn thờ, và những băng ghế từ phòng ăn làm ghế ngồi cho các tu sĩ. Khi người phụ trách phụng vụ đem đến khăn thêu phủ bàn thờ và chân nến trạm đá quý, nó trông tuyệt vời.
Khi công việc trở lại bình thường, nhân công của Tom cũng giảm đi. Hầu hết các tu sĩ sẽ trở về với đời sống cầu nguyện của họ, và nhiều người làm công việc chân tay sẽ trở về công việc đồng áng và hành chính của tu viện. Tuy nhiên, Tom vẫn có nửa số công nhân trong tu viện làm việc với ông. Tu viện trưởng Philip đã thi hành một cải tổ mạnh mẽ số công nhân phục vụ trong tu viện, ông cảm thấy số nhân công quá đông. Nếu có ai không sẵn sàng chuyển công việc của họ như giữ ngựa hoặc phụ bếp, ông sẵn sàng đuổi họ. Một vài người đã đi, nhưng hầu hết còn ở lại.
Tu viện đã nợ Tom ba tháng tiền lương. Số lương cho một thợ xây dựng tổng thể chính là bốn xu một ngày, tất cả lên đến bẩy mươi hai xu. Mỗi ngày nợ càng tăng, và nó càng khó khăn hơn cho Philip để có thể trả hết cho Tom. Sau nửa năm Tom sẽ yêu cầu ông bắt đầu trả tiền lương cho ông.  Khi đó ông sẽ nhận được hai ký rưỡi bạc, số tiền mà Philip phải trả trước khi ông có thể sa thải Tom. Số nợ làm Tom cảm thấy an tâm.
Dù đó là một cơ hội, nhưng ông không dám tin rằng công việc này sẽ kéo dài suốt đời ông. Đây là một nhà thờ chính tòa; và nếu những người có thẩm quyền quyết định xây một nhà thờ mới, và nếu họ tìm ra tiền để trả cho nó, nó có thể là một kiến trúc lớn nhất trong vương quốc, với hàng chục thợ xây làm việc trong nhiều thập kỷ.
Thực sự điều đó quá lớn để hy vọng. Nói chuyện với các tu sĩ và dân làng, Tom biết rằng Kingsbridge đã chẳng bao giờ có một nhà thờ chính tòa quan trọng. Nó nằm xa trong một ngôi làng yên tĩnh, có hàng loạt giám mục không tham vọng và rõ ràng nó xuống dốc. Tu viện thì tầm thường và không có xu nào dính túi. Hầu hết các tu viện thu hút vua chúa, giám mục và khách quan trọng vì họ có nhà khách sang trọng, có trường học nổi tiếng, có thư viện lớn lao, hay vì sự nghiên cứu của các triết gia tu sĩ hay sự uyên bác của tu viện trưởng hay viện phụ; nhưng Kingsbridge đã không có những danh tiếng này. Khả năng là Philip sẽ xây một nhà thờ nhỏ, xây dựng đơn giản, trang bị khiêm tốn, và việc xây dựng không kéo dài hơn mười năm.
Tuy nhiên, nó thích hợp hoàn toàn với Tom. Ngay cả trước khi đống đổ nát nguội đi, Tom nhận ra rằng đây là cơ hội cho ông xây nhà thờ chính tòa.
Tu viện trưởng Philip từ lâu đã tin rằng Thiên Chúa đã gửi Tom đến Kingsbridge. Tom biết rằng ông chiếm được sự tin tưởng của Philip qua cách tổ chức hiệu quả việc thu dọn và làm cho tu viện có thể sống được. Khi thời điểm đến ông sẽ nói với Philip về kiểu mẫu nhà thờ mới. Nếu ông biết cẩn thận dùng hoàn cảnh, đây là một cơ hội mà Philip sẽ đề nghị ông vẽ kiểu mẫu. Thực tế là nhà thờ mới có lẽ sẽ khiêm tốn, vì thế mà phương án sẽ được giao cho Tom, thay vì giao cho một bậc thầy có nhiều kinh nghiệm về xây dựng nhà thờ chính tòa. Niềm hy vọng của Tom rất lớn.
Chuông đổ báo hiệu giờ họp. Đây cũng là dấu hiệu các nhân công khác đi ăn sáng. Tom rời tầng hầm và đi đến phòng ăn. Trên đường đi ông gặp Ellen.
Bà đứng giận dữ trước mặt ông, như muốn cản đường ông và đôi mắt bà có một cái nhìn kỳ lạ. Martha và Jack ở bên cạnh bà. Jack nhìn khủng khiếp: một mắt nhắm lại, phía khuôn mặt trái bị bầm tím và sưng lên, và lết đi trên chân phải, như thể chân trái không còn cử động được. Tom thương hại cậu. “Điều gì xẩy ra cho con?” ông hỏi.
Ellen nói: “Alfred đã gây nên.”
Tom rên rỉ trong lòng. Ông cảm thấy xấu hổ thay cho Alfred, vì cậu lớn hơn Jack nhiều. Nhưng Jack không phải là thiên thần. Có lẽ Alfred đã bị trêu chọc. Tom ngó quanh tìm cậu, và thấy cậu đang đi về nhà ăn, mặt đầy bụi. “Alfred!” ông gầm lên. “Lại đây!”
Alfred quay quanh, nhìn thấy và chậm rãi đến gần, trông như có vẻ có lỗi.
Tom nói với cậu ấy: “Con làm điều này à?”
“Nó ngã từ bức tường xuống,” Alfred nói ủ rũ.
“Con có đẩy nó không?”
“Con chạy theo nó.”
“Ai đã bắt đầu trước?”
“Jack đặt cho con một tên.”
Jack nói qua hàm môi sưng vù: “Con gọi anh là con heo, vì anh đã lấy bánh của chúng con.”
“Bánh?” Tom nói. “Con lấy bánh ở đâu trước bữa ăn sáng?”
“Thầy làm bánh Bernard cho chúng con bánh, vì chúng con lấy củi cho thầy.”
“Con phải chia bánh cho Alfred,” Tom nói.
“Con sẽ chia.”
Alfred nói: “Vậy tại sao mày lại chạy đi?”
“Tôi mang nó về nhà cho mẹ,” Jack phản ứng. “Bởi vì anh sẽ ăn hết.”
Mười bốn năm nuôi con đã dạy Tom rằng không dễ gì để khám phá ra điều gì đúng hay điều gì sai trong cuộc tranh cãi của trẻ con. “Hãy đi ăn sáng, cả ba đứa, và nếu hôm nay còn đánh nhau, Alfred, con sẽ có một bộ mặt giống Jack, và bố sẽ là người làm điều đó. Bây giờ giải tán.”
Các đứa trẻ đi khỏi.
Tom và Ellen đi chậm hơn. Sau một lúc Ellen nói: “Đó là tất cả những gì anh muốn nói sao?”
Tom nhìn vào bà. Bà vẫn còn giận, nhưng ông không thể làm được gì. Ông nhún vai: “Như thường lệ, cả hai đứa đều có lỗi.”
“Tom, làm sao anh có thể nói như thế được?”
“Đứa này cũng xấu như đứa kia.”
“Alfred lấy bánh của chúng. Jack gọi Alfred là con lợn. Đó không phải là lý do đến nỗi phải đổ máu.”
Tom lắc đầu. “Con trai luôn đánh nhau. Em không thể dành cả cuộc đời của em để xét xử các cuộc tranh cãi của chúng. Tốt nhất hãy để chúng tự giải quyết lấy.”
“Không thể để như thế được, Tom,” bà nói bằng giọng nghiêm trọng. “Hãy nhìn mặt của Jack, rồi nhìn vào Alfred. Đó không phải là kết quả cuộc đánh nhau của trẻ con. Đó là cuộc tấn công đồi bại của một người đàn ông trưởng thành đối với một cậu bé.”
Tom phẫn nộ vì thái độ của bà. Alfred không hoàn hảo, ông biết, nhưng Jack cũng vậy. Tom không muốn Jack trở thành người được yêu thích, nuông chiều trong gia đình này. “Alfred không phải là người đàn ông trưởng thành, nó mới mười bốn tuổi. Nhưng nó đi làm. Nó góp phần trong việc nuôi sống gia đình, trong khi đó Jack chỉ chơi suốt ngày giống như một đứa trẻ. Trong quan niệm của anh, Jack phải tỏ sự tôn trọng đối với Alfred. Nhưng nó không tôn trọng Alfred, rồi em sẽ thấy.”
“Em không quan tâm đến điều ấy!” Ellen nói. “Anh có thể nói những gì anh thích, nhưng con em bị thâm tím và có thể bị thương nặng, và em không chấp nhận được!” Bà bắt đầu khóc. Bằng giọng êm hơn, nhưng vẫn đầy tức giận, bà nói: “Nó là con em và em không thể chịu được khi nhìn thấy nó như vậy.”
Tom thông cảm bà, và ông muốn an ủi bà, nhưng ông sợ phải thú nhận là thua cuộc. Ông có cảm tưởng cuộc đối thoại này là một bước ngoặt. Sống riêng với mẹ, ngoài ra không còn ai khác, Jack quá được chiều chuộng. Tom không muốn thừa nhận rằng Jack cần một sự bảo trợ đặc biệt để chống lại những va chạm trong cuộc sống hàng ngày. Điều đó sẽ tạo ra một tiền lệ gây ra những khó khăn bất tận trong những năm tới. Tom biết, thực sự lần này Alfed đã đi quá xa, và ông cũng muốn nói chuyện với Alfred về chuyện này; nhưng ông không muốn nói bây giờ. “Đánh nhau là một phần trong đời sống,” ông nói với Ellen. “Jack phải học để chấp nhận hay để tránh chúng. Tôi không thể bảo vệ nó cả đời được.”
“Anh có thể bảo vệ nó khỏi đứa con ác độc của anh.”
Tom nhăn mặt. Ông ghét nghe bà gọi Alfred là ác độc. “Tôi có thể, nhưng tôi sẽ không làm,” ông tức giận nói. “Jack phải học để tự bảo vệ lấy mình.”
“Thế thì anh xuống hỏa ngục!” Ellen nói, rồi bà quay lại và ra đi.
Tom đi vào nhà ăn. Túp lều bằng gỗ, nơi các công nhân ăn uống, đã bị hư hại khi tháp tây nam đổ xuống, vì thế họ dùng bữa trong nhà ăn tu viện sau khi các tu sĩ đã ăn xong và đi khỏi. Tom ngồi xa những người khác, không muốn tiếp xúc. Người phụ bếp đem cho ông một bình bia và vài miếng bánh trong một cái giỏ. Ông nhúng một miếng bánh trong bia cho mềm và bắt đầu ăn.
Alfred là một thanh niên có quá nhiều sinh lực, ông nghĩ và thở dài vào ly bia. Cậu có một chút ác ôn, Tom biết trong thâm tâm của mình, nhưng cậu sẽ trầm tĩnh lại với thời gian. Trong lúc này, Tom sẽ không đòi hỏi con cái ông phải đối xử đặc biệt với đứa con mới đến. Chúng đã phải chịu đựng quá nhiều. Chúng đã mất mẹ, chúng đã phải lang thang trên đường, chúng đã gần chết đói. Ông sẽ không đặt thêm gánh nặng trên chúng, nếu ông có thể làm được. Chúng được quyền hưởng một chút sự nuông chiều. Jack phải tránh xa Alfred.
Một sự bất đồng ý kiến với Ellen luôn để lại cho Tom một trái tim u sầu. Họ đã cãi nhau nhiều lần, thường là về con cái. Cho đến bây giờ, cuộc cãi nhau vừa rồi là tồi tệ nhất. Khi mặt bà đanh lại và thù địch, ông không thể hiểu được, vì mới trước đó họ còn say đắm trong tình yêu. Trong sự tức giận, bà dường như là một người lạ; sự giận dữ đã xâm nhập vào đời sống bình yên của ông.
Ông đã chẳng bao giờ có những cuộc cãi vã tức giận, gay gắt với người vợ thứ nhất như thế. Nhìn lại, dường như ông và Agnes luôn đồng ý với nhau về những vấn đề quan trọng, và ngay cả khi họ không đồng ý với nhau, họ cũng không làm cho người khác tức giận. Cuộc sống chung giữa người đàn ông và đàn bà phải như thế, ông nghĩ. Ellen phải nhận ra rằng bà là một thành phần trong một gia đình và bà không thể chỉ giữ ý riêng của mình.
Ngay cả khi Ellen tức giận nhất, ông cũng chẳng bao giờ ước muốn bà ấy ra đi, nhưng mỗi lần như vậy ông thường nghĩ về Agnes với niềm tiếc nuối. Agnes đã chia sẻ với ông một phần lớn cuộc đời ông, và bây giờ ông luôn có cảm giác mất mát một cái gì đó. Khi bà còn sống, ông đã chẳng bao giờ nghĩ rằng ông may mắn có được bà, hay biết ơn vì có bà; nhưng bây giờ bà đã qua đời, ông nhớ bà và cảm thấy xấu hổ vì đã đối xử với bà như đó là chuyện đương nhiên.
Vào những khoảnh khắc yên tĩnh trong ngày, sau khi đã phân công, chỉ dẫn nhân công và họ đã bận rộn với công việc của họ, Tom trở lại với tay nghề của mình, xây lại bức tường, sửa lại hàng cột trong tầng hầm, và một đôi khi ông tưởng tượng ông đang nói chuyện với Agnes. Chủ yếu ông nói về Jonathan, người con trai mới sinh của họ. Tom nhìn thấy nó mỗi ngày, khi nó được cho ăn trong nhà bếp, đi dạo trong hành lang tu viện và được đem vào phòng ngủ của tu sĩ. Nó dường như hoàn toàn khỏe mạnh và vui vẻ, và không ai, ngoại trừ Ellen, biết rằng ông có một quan tâm đặc biệt đến nó. Tom cũng nói với Agnes về Alfred và Tu viện trưởng Philip và ngay cả về Ellen, cắt nghĩa cảm xúc của ông về họ giống như ông đã làm (ngoại trừ trường hợp của Ellen) khi Agnes còn sống. Ông cũng kể cho bà về kế hoạch cụ thể trong tương lai: niềm hy vọng được thuê làm ở đây nhiều năm và giấc mơ của ông về việc tự vẽ dự án và xây dựng một nhà thờ chính tòa. Trong đầu, ông nghe thấy tiếng bà trả lời và lời bà hỏi. Có khi bà hài lòng, khuyến khích, hào hứng, nghi ngờ hoặc có khi không đồng ý. Một đôi khi ông cảm thấy bà đúng, một đôi khi sai. Nếu ông kể cho ai nghe về cuộc đối thoại này, chắc họ sẽ nói rằng ông nói chuyện với ma, và ông cần đến linh mục, nước phép và trừ tà; nhưng ông biết những gì đang xẩy ra không phải là cái gì siêu nhiên. Nó xẩy ra vì ông biết bà quá rõ đến nỗi ông có thể tưởng tượng được bà sẽ cảm thấy như thế nào và sẽ nói gì trong tình huống như vậy.
Agnes đến trong trí ông vào những lúc ông không ngờ. Khi ông gọt vỏ một quả lê cho Martha bằng con dao ăn, ông nhớ lại Agnes đã luôn cười ông, vì ông cố gắng muốn gọt vỏ thành một dải liên tục. Bất cứ khi nào ông phải viết, ông lại nghĩ đến bà, bởi vì bà đã truyền lại cho ông những gì bà học được từ bố bà, một mục sư; và ông nhớ lại bà đã dạy ông cách cắt một cây viết lông hoặc cách đánh vần chữ ‘caementarius’, chữ Latin có nghĩa là ‘thợ xây.’ Khi ông rửa mặt vào chủ nhật, ông sẽ chà xà bông vào bộ râu và nhớ lại khi còn trẻ, bà đã nói với ông rằng rửa sạch râu sẽ giữ cho mặt khỏi bị chấy và mụn. Không ngày nào qua đi mà không có những liên hệ nhắc nhớ đến bà.
Ông biết ông may mắn có được Ellen. Bà độc nhất có một cái gì đó bất thường, và cái bất thường đó làm cho bà trở thành thu hút. Ông biết ơn bà vì bà đã an ủi ông trong lúc ông đau khổ vào buổi sáng sau khi Agnes qua đời; nhưng một đôi khi ông ước muốn ông đã gặp bà ấy vài ngày – thay vì vài giờ - sau khi ông đã chôn cất vợ ông, để ông có đủ thời gian một mình than khóc. Ông không cần thời gian tang chế - đó chỉ dành cho vua chúa và các tu sĩ, không phải cho dân thường – nhưng ông cần thời gian để quen với sự vắng mặt của Agnes trước khi bắt đầu sống chung với Ellen. Những ngày đầu tiên sau khi Agnes qua đời, ông đã không có những tư tưởng này. Mối đe dọa bị chết đói cộng với kích thích về tình dục của Ellen tạo ra trong ông cảm xúc phấn chấn cuồng loạn. Nhưng kể từ khi ông có việc làm và đời sống ổn định, ông cảm thấy nỗi đau của sự hối tiếc. Và một đôi khi, khi ông nghĩ như thế về Agnes, dường như không những ông nhớ thương Agnes mà ông còn khóc thầm cho tuổi trẻ đã qua của mình. Chẳng bao giờ ông còn có thể khờ dại, hung hăng, ham sống và mạnh mẽ như ông đã là, khi ông rơi vào tình yêu với Agnes.
Ông ăn hết bánh và rời nhà ăn trước mọi người khác. Ông đi vào hành lang tu viện. Ông hài lòng với công việc của ông ở đây: thật khó mà tưởng tượng được rằng mới ba tuần trước khuôn viên này đã bị chôn vùi dưới đống gạch đổ nát. Dấu hiệu còn lại duy nhất của cuộc thảm họa là những vết đá nứt mà ông không tìm được cái thay thế.
Mặc dù vậy vẫn còn nhiều bụi. Ông phải quét hành lang lần nữa, sau đó rải nước. Ông đi qua nhà thờ đổ nát. Trong gian phụ phía bắc ông nhìn thấy một thanh xà ngang đen với dòng chữ trên hắc ín: “Alfred là một con heo.” Điều này đã làm Alfred điên tức. Nhiều thanh gỗ rơi từ mái nhà đã không bị cháy thành tro, vì thế còn nhiều xà ngang đen nằm rải rác khắp nơi. Tom quyết định sẽ quy tụ một nhóm công nhân để thu thập những thanh gỗ này và mang nó đến hàng củi. “Hãy dọn cho nó gọn gàng,” Agnes luôn nói khi có người quan trọng đến thăm. “Em muốn họ cảm thấy vui, và em muốn hãnh diện về anh.” Vâng, em yêu, Tom nghĩ, và ông tự mỉm cười khi ông bắt tay vào việc.
 
 
Waleran Bigod và đoàn tùy tùng xuất hiện ở xa khoảng một dặm trên cánh đồng. Họ có ba người, phóng ngựa nhanh. Waleran dẫn đầu trên con ngựa đen, chiếc áo choàng đen bay ra phía sau. Philip và những người trọng tuổi có chức vụ trong tu viện đứng đợi ở chuồng ngựa để chào họ.
Philip không chắc chắn phải đối xử với Waleran như thế nào. Không thể phủ nhận được là Waleran đã lừa dối ông, vì ông ấy đã không nói cho Philip biết là giám mục đã chết; nhưng khi sự việc xẩy ra rõ ràng, Waleran cũng không tỏ ra xấu hổ; và Philip đã không biết phải nói điều gì với ông ấy. Ông vẫn chưa biết phải nói gì, nhưng ông đoán rằng sự phàn nàn không đem lại kết quả gì. Ngoài ra toàn bộ bi kịch đã bị che khuất bởi thảm họa của cuộc hỏa hoạn. Philip chỉ cần cảnh giác hơn với ông trong tương lai.
Ngựa của Waleran là con ngựa đực, mặc dù đã đi nhiều dặm nhưng nó vẫn hoảng hốt và dễ bị kích động. Ông giữ đầu nó xuống khi ông đi vào chuồng ngựa. Philip không đồng ý: giáo sĩ không cần phải phô trương trên lưng ngựa, và hầu hết những người theo Chúa chọn con vật hiền lành hơn.
Waleran nhẩy xuống ngựa bằng một chuyển động nhẹ nhàng và đưa dây cương cho người giữ ngựa. Philip chào ông một cách xã giao. Waleran quay người và quan sát đống đổ nát. Với vẻ mặt ảm đạm ông nói: “Đây là một ngọn lửa đắt tiền, Philip ạ,” Ông dường như thực sự đau khổ, một điều làm Philip ngạc nhiên.
Trước khi Philip có thể trả lời, Remigius lên tiếng: “Đây là công việc của ma quỷ, thưa ngài giám mục.”
“Các anh nghĩ như thế sao?” Waleran nói. “Theo kinh nghiệm của tôi, ma quỷ thường hỗ trợ các tu sĩ trong công việc như thế, giả sử như các tu sĩ đốt lửa trong nhà thờ để sưởi ấm trong giờ kinh sáng, hay vô ý để quên nến cháy trong gác chuông.”
Philip thích thú khi nhìn thấy Waleran cho Remigius một trận, nhưng ông không thể không chống lại những lời kết tội của Waleran. “Tôi đã cho điều tra về nguyên nhân gây ra cuộc hỏa hoạn,” ông nói. “Không ai đốt lửa trong nhà thờ vào tối hôm đó – tôi chắc chắn điều đó vì chính tôi có mặt trong buổi đọc kinh đêm. Và trước đó hàng tháng không có ai trèo lên mái nhà thờ.”
“Vậy ông giải thích ngọn lửa từ đâu tới?” Waleran hoài nghi hỏi.
Philip lắc đầu. “Không có bão. Ngọn lửa dường như bắt đầu ở vùng lân cận của khu trung tâm. Như thường lệ, sau giờ kinh chúng tôi để lại trên bàn thờ một cây nến cháy. Có thể khăn bàn thờ bén lửa, và một đốm lửa đã được gió đưa lên trần nhà bằng gỗ, một trần nhà đã cũ và khô.” Philip nhún vai. “Nó không phải là một lời giải thích hợp lý, nhưng đó là lời giải thích tốt nhất mà chúng tôi có.”
Waleran gật đầu. “Chúng ta hãy quan sát kỹ hơn những thiệt hại.”
Họ di chuyển ra ngoài, về phía nhà thờ. Hai người cùng đoàn với Waleran là một kỵ binh và một linh mục trẻ. Chàng kỵ binh ở lại trông ngựa. Vị linh mục tháp tùng Waleran, và được giới thiệu với Philip là Dean Baldwin. Khi họ đi ngang qua sân cỏ đến nhà thờ, Remigius đặt tay lên cánh tay của Waleran, giữ ông lại và nói: “Nhà khách không thiệt hại gì, ông thấy đó.”
Mọi người dừng lại và quay đầu lại. Philip tự hỏi không biết Remigius đang muốn gì đây. Nếu nhà khách không bị thiệt hại gì, tại sao mọi người lại đứng lại và nhìn nó? Vợ của người thợ xây đang từ bếp lên, và tất cả họ quan sát bà đi vào nhà. Philip nhìn Waleran. Ông dường như bị sốc. Philip nhớ lại thời điểm tại tòa giám mục, khi Waleran nhìn thấy vợ của người thợ xây, và ông dường như đã hoảng sợ. Có điều gì về người đàn bà này?
Waleran liếc nhanh Remigius và gật đầu thật nhẹ, sau đó ông quay về phía Philip và nói: “Ai sống ở đó?”
Philip hoàn toàn chắc chắn Waleran đã nhận ra bà, nhưng ông trả lời: “Ông thợ xây cả và gia đình ông ấy.”
Waleran gật đầu và họ tiếp tục di chuyển. Bây giờ Philip biết tại sao Remigius đã gợi sự chú ý đến nhà khách: ông muốn chắc chắn Waleran nhìn thấy người phụ nữ. Philip quyết tâm sẽ hỏi bà vào dịp sớm nhất.
Họ đi vào trong khu đổ nát. Một nhóm bẩy hoặc tám người, gồm các tu sĩ và nhân công của tu viện đang nâng một xà ngang bị cháy một nửa dưới sự hướng dẫn của Tom. Toàn khu vực bận rộn nhưng gọn gàng. Philip cảm thấy không khí nhộn nhịp và hiệu quả là công của ông, mặc dù Tom là người chịu trách nhiệm.
Tom đến gặp họ. Ông cao hơn hẳn mọi người. Philip nói với Waleran: “Đây là thợ xây chính của chúng tôi, Tom. Ông ấy đã điều động để làm cho hành lang tu viện và tầng hầm có thể sử dụng lại. Chúng tôi rất biết ơn ông ấy.”
“Tôi nhớ ông,” Waleran nói với Tom. “Ông đã đến gặp tôi sau lễ giáng sinh. Tôi không có việc cho ông.”
“Vâng, đúng thế,” Tom nói bằng giọng trầm và đầy bụi. “Có lẽ Chúa để dành tôi để tôi giúp Tu viện trưởng Philip trong thời gian rắc rối này.”
“Một thợ xây thần học,” Waleran chế giễu.
Tom đỏ mặt dưới làn da đầy bụi. Philip nghĩ rằng Waleran phải có thần kinh mạnh lắm mói dám nhạo cười người đàn ông to lớn như thế, ngay cả mặc dù Waleran là giám mục và Tom chỉ là một thợ xây.
“Bước kế tiếp của ông là gì?” Waleran hỏi.
“Chúng ta phải làm cho nơi đây an toàn bằng cách đập xuống những bức tường còn lại, trước khi chúng rơi vào người nào đó,” Tom trả lời, đủ ngoan ngoãn. “Rồi chúng ta sẽ dọn sạch khu vực để chuẩn bị xây nhà thờ mới.  Chúng ta phải tìm những cây cao sớm bao nhiêu có thể để làm xà cho mái nhà mới – gỗ càng được ngâm dầu lâu thì mái nhà càng tốt.
Philip nói vội vàng: “Trước khi chúng ta bắt đầu chặt cây, chúng ta phải tìm ra tiền để trả cho họ.”
“Chúng ta sẽ nói về chuyện đó sau,” Waleran nói một cách bí ẩn.
Sự nhận xét này làm Philip háo hức. Ông hy vọng Waleran có một kế hoạch tìm tiền để xây dựng nhà thờ chính tòa. Nếu tu viện phải tùy thuộc vào nguồn lực riêng, công trình không thể bắt đầu trong nhiều năm nữa. Philip đã trăn trở điều này trong ba tuần qua, và ông vẫn chưa tìm ra được giải pháp.
Ông hướng dẫn nhóm đi dọc theo con đường đã được dọn sẵn thông qua đống đổ nát đến hành lang tu viện. Qua một cái nhìn, Waleran có thể nhận ra khu vực này đã được sửa sang. Họ tiếp tục di chuyển từ đó xuyên qua sân cỏ đến nhà tu viện trưởng, nằm ở góc đông nam tu viện.
Khi đã vào trong, Waleran cởi áo khoác và ngồi xuống, đưa bàn tay nhợt nhạt trên lò sưởi. Thầy Milius, người phụ trách nhà bếp, phục vụ rượu gia vị nóng trong chén bằng gỗ nhỏ. Waleran nhấm nháp và nói với Philip: “Ông có bao giờ nghĩ rằng thợ xây Tom đã châm lửa để cho mình có việc làm không?”
“Có, tôi có nghĩ đến,” Phillip trả lời. “Nhưng tôi không nghĩ ông ấy đã làm chuyện đó. Ông ấy phải vào được trong nhà thờ, và nhà thờ thì chắc chắn đã khóa.”
“Ông ấy có thể lẻn vào ban ngày và trốn ở trong đó.”
“Như thế ông ấy sẽ không ra được sau khi châm lửa,” ông lắc đầu. Đó không phải là lý do thực sự ông chắc chắn Tom vô tội. “Dù sao tôi không tin ông ấy có thể làm như vậy. Ông ấy là người thông minh – hơn là ông nghĩ lúc mới gặp – nhưng ông ấy không quỷ quyệt. Nếu ông ấy có tội, tôi nghĩ tôi có thể nhận ra trên khuôn mặt ông ấy, khi tôi nhìn vào mắt ông ấy và hỏi ông ấy nghĩ ngọn lửa bắt đầu từ đâu.”
Một chút ngạc nhiên cho Philip, Waleran đồng ý ngay lập tức. “Tôi tin ông có lý,” ông ấy nói. “Một cách nào đó, tôi không thấy là ông ấy có thể đốt nhà thờ. Ông ấy không phải là mẫu người như vậy.”
“Chúng ta chẳng bao giờ biết chắc chắn ngọn lửa bắt đầu từ đâu,” Philip nói. “Nhưng chúng ta phải đối diện với vấn đề làm sao có tiền để xây nhà thờ mới. Tôi không biết…”
“Vâng,” Waleran cắt lời và giơ tay ngăn Philip lại. Ông nhìn những người khác trong phòng. “Tôi phải nói chuyện riêng với Philip,” ông nói. “Những người còn lại xin tạm ra khỏi phòng.”
Philip hồi hộp. Ông không thể tưởng tượng được tại sao Waleran lại nói chuyện riêng với ông về việc này.
Remigius nói: “Trước khi chúng tôi đi, thưa ngài giám mục, có một số điều anh em đã nhờ tôi nói với ngài.”
Philip nghĩ: Chuyện gì đây?
Waleran nhướng mày hoài nghi. “Và tại sao họ lại nhờ ông, thay vì nhờ tu viện trưởng, để nói vấn đề đó với tôi?”
“Bởi vì Tu viện trưởng Philip không lắng nghe điều họ khiếu nại.”
Philip tức giận và hoang mang. Đây không phải là điều khiếu nại. Remigius chỉ muốn gây khhó khăn cho Philip trước mặt giám mục tân cử. Philip bắt gặp một cái nhìn dò xét của Waleran. Ông nhún vai và tỏ vẻ không tập trung. “Tôi không chờ đợi để nghe những lời phàn nàn,” ông nói. “Làm ơn vào đề ngay, ông Remigius – nếu ông hoàn toàn chắc chắn rằng vấn đề này đủ quan trọng để yêu cầu sự chú ý của một giám mục.”
Remigius nói: “Có một phụ nữ sống trong tu viện.”
“Không cần lập lại nữa,” Philip nói với sự bực tức. “Bà ấy là vợ của người thợ xây, và bà ấy ở trong nhà khách.”
“Bà ấy là một phù thủy,” Remigius nói.
Philip tự hỏi tại sao Remigius lại làm điều này. Ông đã một lần thử đưa đề tài này ra và đã bị chống đối. Mọi người không đồng quan điểm trong vấn đề này, nhưng tu viện trưởng có quyền, và Waleran phải ủng hộ Philip, trừ khi ông muốn được tham gia mỗi khi Remigius không đồng quan điểm với bề trên của ông ấy. Mệt mỏi, Philip nói: “Bà ấy không phải là một phù thủy.”
“Anh đã thẩm vấn người phụ nữ chưa?” Remigius hỏi.
Philip nhớ lại ông đã hứa sẽ hỏi bà ấy, nhưng ông chưa làm: Ông đã gặp chồng bà và bảo ông ấy về nói với bà là phải thận trọng, nhưng chính ông chưa nói chuyện với người phụ nữ đó. Nó là một điều đáng tiếc, vì nó cho phép Remigius gây điểm; nhưng nó không phải là một điểm, và Philip cảm thấy chắc chắn Waleran không đứng về phía Remigius. “Tôi chưa thẩm vấn bà ấy,” Philip thừa nhận. “Nhưng không có bằng chứng gì về việc bà ấy là một phù thủy, và cả gia đình ấy hoàn toàn trung thực và là Kitô hữu.”
“Bà ấy là một phù thủy và phạm tội gian dâm,” Remigius nói. Sự tức giận làm mặt ông đỏ bừng.
“Anh muốn nói cái gì?” Philip tức lên. “Bà ấy gian dâm với ai?”
“Với ông thợ xây.”
“Ông ấy là chồng bà, anh ngu dốt ạ.”
“Không, ông ấy không phải,” Remigius đắc thắng nói. “Họ không cưới hỏi, và họ chỉ sống với nhau từ một tháng nay.”
Philip buông tay. Ông không ngờ chuyện đó. Remigius đã làm ông hoàn toàn bất ngờ.
Nếu những gì Remigius nói là thật, thì người phụ nữ này, nói theo cách nghiêm túc, là một người gian dâm. Đó là một loại gian dâm thường được bỏ qua, bởi vì nhiều cặp ở với nhau một thời gian và đã không nhận được phép lành của linh mục, thông thường cho đến khi họ có đứa con thứ nhất. Thực vậy, ở những vùng quê xa, các cặp thường sống như vợ chồng trong hàng chục năm, sinh con cái, và khi một linh mục đến thăm, họ xin ngài làm phép cưới cho họ khi họ đã có cháu. Tuy nhiên, đó là sự cho phép của các linh mục coi xứ dành cho những nông dân nghèo ở vùng xa các xứ đạo. Nhưng đây lại là trường hợp của một nhân viên quan trọng của tu viện, xẩy ra trong khuôn viên tu viện.
“Điều gì cho phép anh nghĩ rằng họ chưa cưới hỏi?” Philip nghi ngờ nói, mặc dù ông cảm thấy chắc chắn Remigius đã kiểm tra sự kiện trước khi trình bầy trước mặt Waleran
“Tôi gặp hai đứa trẻ đánh nhau, và chúng bảo tôi chúng không phải là anh em. Sau đó, tòan bộ câu chuyện bị lộ ra.”
Philip thất vọng vì Tom. Gian dâm là một tội thông thường, nhưng đối với các tu sĩ, những người từ bỏ tất cả nhục dục, thì đó là một tội ghê gớm. Làm sao ông lại dám làm điều này? Ông phải biết rằng Philip ghét điều đó. Philip cảm thấy tức giận Tom hơn là ông đã tức giận Remigius. Nhưng Remigius đã che dấu. Philip hỏi ông ấy: “Tại sao ông không nói cho tôi, tu viện trưởng của ông, biết ngay về điều này?”
“Tôi chỉ mới nghe biết điều này sáng nay thôi.”
Philip ngồi dựa lưng vào ghế, thất bại. Remigius đã đánh bật ông và bây giờ ông bị coi như khờ dại. Đây là cuộc trả thù của Remigius cho cuộc thất bại trong cuộc bầu cử vừa qua. Philip nhìn Waleran. Cuộc khiếu nại được trình lên ông ấy và bây giờ ông ấy có thể tuyên án.
Waleran không chần chừ. “Trường hợp này đủ rõ ràng,” ông nói. “Người phụ nữ phải xưng tội, và làm việc đền tội công khai. Bà phải rời khỏi tu viện và sống trong sạch, xa Tom một năm. Sau đó họ có thể kết hôn.”
Một năm xa cách là một hình phạt nặng nề. Philip cảm thấy nó hợp lý vì cả hai đã gây tai tiếng cho tu viện. Nhưng ông lo lắng không biết bà ấy sẽ phản ứng ra sao. “Bà ấy có thể không tùng phục lời tuyên án của ông,” ông nói.
Waleran nhún vai. “Thì bà ấy sẽ bị thiêu đốt trong hỏa ngục.”
“Nếu bà ấy rời Kingsbridge, tôi sợ Tom sẽ đi theo bà.”
“Chúng ta sẽ có thợ xây dựng chính khác.”
“Dĩ nhiên.” Philip tiếc nếu mất Tom. Nhưng qua biểu hiện của Waleran, Philip có thể nói rằng đối với ông ấy không có gì quan trọng nếu Tom và vợ ông rời Kingsbridge và chẳng bao giờ quay trở lại; và ông ngạc nhiên tại sao bà ấy lại quá quan trọng như thế.
Waleran nói: “Bây giờ giải tán, và để tôi nói chuyện với tu viện trưởng.”
“Đợi vài phút,” Philip nói mạnh. Đây là nhà ông, và đây là tu sĩ của ông. Ông là người triệu tập và giải tán họ, chứ không phải Waleran. “Chính tôi sẽ nói chuyện với ông thợ xây về chuyện này. Không ai trong anh em được phép nói cho bất cứ ai, anh em nghe rõ chưa? Tôi sẽ có một hình phạt nặng cho những ai không vâng lời tôi trong việc này. Đã rõ chưa, Remigius?”
“Vâng,” Remigius nói.
Philip nhìn Remigius dò hỏi và không nói gì. Nó là một sự yên lặng mang nhiều ý nghĩa.
“Vâng, thưa cha,” sau cùng Remigius nói.
“Được rồi, anh em đi đi.”
Remigius, Andrew, Milius, Cuthbert và Dean Baldwin tất cả đi ra. Waleran tự lấy thêm một ít rượu nóng và duỗi chân ra phía lò sưởi. “Đàn bà luôn gây phiền toái,” ông nói. “Khi một con ngựa cái ở trong chuồng, tất cả con ngựa đực bắt đầu tấn công người giữ ngựa, đá vào chuồng và gây náo loạn. Ngay cả những con ngựa thiến cũng bắt đầu có thái độ bất thường. Các tu sĩ giống như ngựa thiến: họ từ chối đam mê thể lý, nhưng họ vẫn còn có thể say đắm.”
Philip bối rối. Ông cảm thấy không cần có những lời nói rõ ràng như thế. Ông nhìn xuống bàn tay. “Việc xây dựng nhà thờ mới sẽ như thế nào?” ông nói.
“Vâng. Có lẽ ông đã nghe rằng việc mà ông đến gặp tôi - về việc Bá tước Bartholomew có âm mưu chống lại vua Stephan – mang lại nhiều điều tốt cho chúng ta.”
“Vâng.” Nó tưởng chừng như đã lâu lắm rồi, từ ngày Philip đến tòa giám mục, trong sợ hãi và run rẩy, nói về âm mưu chống nhà vua mà giáo hội đã chọn. “Tôi nghe Percy Hamleigh đã tấn công lâu đài lãnh chúa và bắt ông ấy làm tù nhân.”
“Đúng – Bartholomew bây giờ ở trong ngục thất ở Winchester, đợi nghe tuyên án về số phận của mình,” Waleran nói với vẻ hài lòng.
“Còn Bá tước Robert của Gloucester thì sao?  Ông là một trong những người chủ mưu cuộc nổi dậy.”
“Ông ấy bị hình phạt nhẹ hơn. Trong thực tế không bị gì. Ông đã cam kết trung thành với vua Stephan, và sự dính líu của ông với vụ âm mưu đã được… bỏ qua.”
“Nhưng những việc này có liên quan gì đến nhà thờ chính tòa mới của chúng ta?”
Waleran đứng dậy và đi ra cửa sổ. Khi ông nhìn ra nhà thờ đổ nát, có một nét buồn trong mắt ông, và Philip nhận ra rằng mặc dù Waleran tính toán thế tục, nhưng ông có một lòng đạo đức. “Nhà vua còn mắc nợ chúng ta vì chúng ta đã giúp nhà vua chống lại âm mưu của Bartholomew. Không nên để lâu quá, ông và tôi phải đi gặp nhà vua.”
“Gặp vua?” Philip nói. Ông có một chút bối rối bởi đề nghị này.
“Nhà vua sẽ hỏi chúng ta muốn được phần thưởng gì.”
Philip nhận ra điều Waleran muốn nói và ông hớn hở. “Và chúng ta nói với ông ấy là…”
Waleran quay trở lại, nhìn vào mắt Philip, và đôi mắt ấy trông giống như viên ngọc đen, lấp lánh tham vọng. “Chúng ta sẽ nói với ông ấy là chúng ta muốn có một nhà thờ chính tòa mới cho Kingsbridge,” ông nói.
 
 
Tom biết rằng cơn giận dữ của Ellen sẽ trào lên.
Bà đã tức giận về những gì xẩy ra cho Jack. Tom cần phải xoa dịu bà. Nhưng bây giờ lại thêm thông tin về “việc đền tội”, nó sẽ khích động bà. Ông ước mong có thể trì hoãn một hai ngày cho bà có thời gian nguôi ngoai; nhưng ông không thể, bởi vì Tu viện trưởng Philip đã nói bà phải đi ngay trước khi trời tối. Ông phải nói với bà ngay lập tức, và mặc dù Philip đã nói với ông vào giữa trưa, nhưng mãi đến giờ cơm chiều Tom mới nói với Ellen.
Họ đi vào nhà cơm với những công nhân khác, khi các tu sĩ đã chấm dứt bữa ăn của họ và đi ra. Các bàn ăn đầy người, nhưng Tom nghĩ rằng nó có thể không phải là một điều xấu: sự hiện diện của người khác có thể kiềm chế bà, ông nghĩ.
Ông đã sai lầm, chẳng bao lâu nữa ông sẽ nhận ra.
Ông cố gắng khai triển thông tin dần dần. Trước hết ông nói: “Họ biết chúng ta chưa kết hôn.”
“Ai nói với họ?” bà tức giận nói. “Có phải một vài kẻ phá đám không?”
“Alfred. Nhưng đừng đổ lỗi cho nó – tu sĩ ranh mãnh Remgius đã moi móc từ nó. Tuy nhiên, chúng ta đã chẳng dặn chúng phải giữ kín điều đó.”
“Tôi không đổ lỗi cho nó,” bà trầm tĩnh nói. “Vậy họ nói gì?”
Ông nghiêng người qua bàn và nói bằng giọng trầm: “Họ nói em là người gian dâm,” ông nói, hy vọng không người nào nghe thấy.
“Một gian phụ?” bà nói to. “Còn anh thì sao? Các tu sĩ không biết rằng gian dâm phải cần đến hai người ư?”
Những người ngồi bên cạnh bắt đầu cười.
“Pssst!” Tom ra hiệu. “Họ nói chúng ta phải kết hôn.”
Bà nhìn ông chằm chằm. “Nếu tất cả chỉ có vậy thì anh không phải nhìn em buồn bã như vậy. Hãy nói cho em nghe phần còn lại.”
“Họ muốn em xưng tội.”
“Đạo đức giả,” bà nổi cáu nói.
Có nhiều tiếng cười hơn. Người ta ngừng nói chuyện và lắng nghe Ellen nói.
“Hãy nói nhỏ thôi,” Tom năn nỉ.
“Em nghĩ rằng họ bắt em làm việc đền tội nữa. Sỉ nhục là một phần của nó. Họ muốn em làm gì? Nói đi, hãy nói sự thật, anh không thể nói dối một phù thủy.”
“Đừng nói như thế!” Tom rít lên. “Nó làm cho mọi sự thành trầm trọng hơn.”
“Vậy hãy nói cho em.”
“Chúng ta phải xa nhau một năm, và em phải sống trong sạch…”
“Đái vào nó!” Ellen la lên.
Bây giờ mọi người nhìn.
“Đái vào anh, thợ xây Tom à!” bà nói. Bà nhận ra bà có một số đông khán giả. “Đái vào các ông các bà nữa,” bà nói. Hầu hết mọi người cười to. Thật khó mà làm tổn thương một phụ nữ đáng yêu với khuôn mặt đỏ bừng và đôi mắt vàng mở rộng. Bà đứng lên. “Đái vào tu viện Kingsbridge!” Bà nhẩy lên bàn, và mọi người vỗ tay. Bà đi trên mặt bàn. Người ta dọn dẹp chén đũa và ly bia cho bà có lối đi, rồi họ ngồi lại và cười nói. “Đái vào tu viện trưởng!” bà nói. “Đái vào tu viện phó, người lo phụng vụ, người lo thánh ca, người lo kho báu, và tất cả tài liệu, đặc ân và thùng đầy tiền bạc!” Bà đi đến cuối bàn. Đàng sau đó là một bàn nhỏ, nơi một tu sĩ sẽ ngồi đọc sách trong bữa ăn tối của các tu sĩ. Có một cuốn sách mở trên bàn. Ellen nhẩy từ bàn ăn sang bàn đọc sách.
Bất ngờ Tom biết bà định làm gì. “Ellen!” ông gọi. “Đừng! Làm ơn đừng!”
“Đái trên tu luật Thánh Biển Đức!” bà hét lên. Rồi bà vén váy lên, khụy gối xuống và đái trên cuốn sách mở.
Các đàn ông cười vang, đập vào bàn, la hét, huýt sáo và vỗ tay. Tom không chắc chắn họ chia sẻ quan điểm với Ellen về việc coi thường luật của thánh Biển Đức, hay họ thích nhìn một phụ nữ xinh đẹp phơi trần trước mặt họ. Có một cái gì đó khiêu dâm trong thái độ thô tục sỗ sàng của bà, nhưng nó cũng hấp dẫn để coi một người công khai lăng mạ cuốn sách mà các tu sĩ kính trọng. Bất cứ vì lý do nào, họ thích nó.
Bà nhẩy xuống bàn, và trong tiếng vỗ tay, bà chạy ra khỏi cửa.
Mọi người nói chuyện như pháo rang. Chưa ai đã thấy cảnh đó bao giờ. Tom hoảng sợ và xấu hổ: hậu quả sẽ khó lường, ông biết. Nhưng một cách nào đó ông nghĩ: Bà thuộc hạng đàn bà nào?
Ngay sau đó Jack cũng đứng lên và theo mẹ ra ngoài, với một nụ cười trên khuôn mặt sưng phồng.
Tom nhìn Alfred và Martha. Alfred có một chút hoang mang, nhưng Martha cười khúc khích. “Đi thôi, cả hai đứa,” Tom nói và cả ba rời nhà ăn.
Khi họ ra ngoài, họ không thấy Ellen. Họ đi qua sân cỏ về nhà khách và thấy Ellen ở đó. Bà ngồi trên ghế đợi ông. Bà mặc áo choàng, và cầm chiếc bị da lớn. Bà trông lạnh lùng, im lặng và trầm ngâm. Trái tim Tom lạnh đi khi ông nhìn thấy chiếc túi sách, nhưng ông làm như không thấy. “Sẽ phải trả giá đắt trong hỏa ngục,” ông nói.
“Em không tin có hỏa ngục,” bà nói.
“Anh hy vọng họ cho em xưng tội và làm việc đền tội.”
“Em không xưng tội.”
Sự tự kiềm chế nổ ra. “Ellen, em đừng đi!”
Bà trông buồn rầu. “Hãy nghe đây, Tom. Trước khi gặp anh, em có thực phẩm để ăn và có nơi để ở. Em được an toàn, chắc chắn và có thể tự sống: Em không cần ai. Từ khi em ở với anh, em đã đến gần sự chết đói hơn bất cứ lúc nào khác trong đời em. Bây giờ anh có việc, nhưng không có gì là chắc chắn: tu viện không có tiền để xây một nhà thờ mới, và anh có thể lại lang thang trên đường vào mùa đông tới.”
“Philip sẽ tìm được tiền bằng cách nào đó,” Tom nói. “Anh chắc ông ấy sẽ làm được.”
“Anh không thể chắc chắn,” bà nói.
“Em không tin anh,” Tom cay đắng nói. Rồi trước khi có thể ngăn mình, ông nói thêm: “Em giống như Agnes, em không tin vào nhà thờ chính tòa của anh.”
“Ô, Tom, nếu chỉ về phía em, em sẽ ở lại,” bà buồn bã nói. “Nhưng hãy nhìn vào con em.”
Tom nhìn Jack. Khuôn mặt cậu thâm tím, tai cậu sưng lên to gấp đôi kích thước bình thường, lỗ mũi đầy máu khô và một răng cửa bị gẫy.
Ellen nói: “Em sợ nó sẽ lớn lên giống như một con vật nếu em tiếp tục sống trong rừng. Nhưng nếu đây là giá phải trả để dạy nó sống như những người khác thì giá đó quá mắc. Vì thế em trở lại rừng.”
“Đừng nói thế,” Tom tuyệt vọng nói. “Chúng ta hãy bàn về chuyện đó. Đừng quyết định vội vàng…”
“Đó không phải là quyết định vội vàng, Tom,” bà buồn bã nói. “Em quá buồn đến nỗi không còn có thể tức giận được nữa. Em thực sự muốn trở thành vợ anh, nhưng không phải bằng mọi giá.”
Nếu Alfred đã không đuổi Jack, chuyện này đã không xẩy ra, Tom nghĩ. Nhưng đó chỉ là chuyện trẻ con, phải không? Hay Ellen có lý khi bà nói rằng Tom có điều gì đó mù quáng về Alfred? Tom bắt đầu cảm thấy mình có lỗi. Có lẽ ông phải có một đường lối cứng rắn hơn với Alfred. Con trai đánh nhau là chuyện thường, nhưng Jack và Martha nhỏ hơn Alfred. Có lẽ nó đúng là một đứa bắt nạt.
Nhưng bây giờ nó đã quá trễ để thay đổi nó. “Em hãy ở lại trong làng,” Tom tuyệt vọng nói. “Hãy đợi một thời gian xem mọi chuyện sẽ ra sao.”
“Bây giờ em không nghĩ là các tu sĩ sẽ cho phép em ở lại.”
Ông nhận ra bà có lý.  Ngôi làng thuộc quyền sở hữu của tu viện và tất cả các gia đình trả tiền thuê cho tu viện – thường thường bằng hình thức một ngày làm việc – và các tu sĩ sẽ từ chối người nào họ không thích. Nếu họ từ chối Ellen, mọi người có thể hiểu được. Bà đã tự quyết định và - theo nghĩa đen – bà đã đái vào cơ hội của bà.
“Anh sẽ đi với em,” ông nói. “Tu viện còn thiếu chúng ta bẩy mươi hai xu. Chúng ta lại lang thang. Chúng ta sẽ sống sót, trước khi…”
“Thế còn con cái của anh thì sao?” bà dịu dàng nói.
Tom nhớ lại Martha đã khóc vì đói. Ông biết ông không thể để cho cô chịu như thế một lần nữa. Và còn đứa con nhỏ Jonathan sống với các tu sĩ ở đây. Tôi không muốn bỏ rơi nó một lần nữa, Tom nghĩ; tôi đã làm chuyện đó và tôi hận bản thân tôi về việc đó.
Nhưng ông không thể chịu đựng được khi nghĩ sẽ mất Ellen.
“Đừng xé lòng mình,” bà nói. “Em sẽ không lang thang trên đường với anh một lần nữa. Đó không phải là giải pháp – Hoàn cảnh hiện nay còn tốt hơn nhiều so với những gì chúng ta đã trải qua. Em về lại rừng và anh không đi với em.”
Ông nhìn bà chằm chằm. Ông muốn tin rằng bà không có ý như thế, nhưng khuôn mặt bà nói lên rằng bà sẽ làm. Ông không còn có thể nghĩ được gì để nói bà ở lại. Ông mở miệng nói, nhưng không thành lời. Ông cảm thấy bất lực. Bà thở mạnh, ngực bà lên xuống theo cảm xúc. Ông muốn vuốt ve bà, nhưng ông cảm thấy bà không muốn. Tôi sẽ chẳng bao giờ được ôm bà một lần nữa, ông nghĩ. Điều đó khó có thể tin được. Nhiều tuần qua, ông đã nằm bên bà hàng đêm, vuốt ve bà thân thiết như vuốt ve chính mình; và bây giờ bất ngờ như bị ngăn cấm, và bà trở thành người xa lạ.
“Đừng buồn như vậy,” bà nói. Mắt bà đẫm lệ.
“Anh không biết phải làm gì,” ông nói. “Anh rất buồn.”
“Em xin lỗi đã làm anh bất hạnh.”
“Đừng xin lỗi về điều đó. Hãy lấy làm tiếc rằng em đã làm cho anh quá hạnh phúc. Điều đó làm anh đau. Vì em cho anh quá nhiều hạnh phúc.”
Một tiếng nấc từ môi bà. Bà quay người và ra đi, không nói lời nào.
Jack và Martha đi ra sau bà. Alfred ngập ngừng, rồi cũng theo họ đi ra.
Tom đứng bất động nơi chiếc ghế mà bà đã ngồi. Không, ông nghĩ, nó không thể là sự thật, bà ấy không bỏ rơi tôi.
Ông ngồi xuống ghế mà bà đã để lại. Vẫn còn hơi ấm từ thân thể bà, một thân thể mà ông quá yêu. Ông cố ngăn dòng nước mắt.
Ông biết bây giờ bà sẽ không thay đổi ý định. Bà chẳng bao giờ lưỡng lự: Bà là người dám quyết định và thực hiện nó.
Có thể một lúc nào đó bà sẽ ân hận.
Đó là một mảy may hy vọng. Ông biết bà yêu ông. Điều đó không thay đổi. Mới đêm hôm qua bà còn yêu ông say đắm, như một người khát nước; và sau khi ông đã thỏa mãn, bà còn lăn lộn trên mình ông, liên tục hôn ông, rúc đầu trong râu ông cho đến khi bà mệt nhừ. Nhưng họ không chỉ thích những điều đó. Họ còn thích thú với từng giây phút họ ở bên nhau. Họ nói chuyện liên tục, nhều hơn là trước đây ông và Agnes đã nói. Bà sẽ nhớ tôi như tôi nhớ bà, ông nghĩ. Sau khi cơn giận của bà chùng xuống, và đời sống trở lại bình thường, bà sẽ khao khát có một người nào đó để nói chuyện, một thân thể vững chắc để nương tựa, một khuôn mặt có râu để hôn. Khi đó bà sẽ nhớ đến tôi.
Nhưng bà rất tự hào. Bà quá tự cao để có thể quay lại, ngay cả khi bà muốn.
Ông bật dậy khỏi ghế. Ông phải nói với bà những gì trong đầu ông. Ông ra khỏi nhà. Bà ở cổng tu viện, nói lời từ giã với Martha. Tom chạy qua chuồng ngựa và bắt kịp bà.
Bà trao cho ông một nụ cười buồn. “Tạm biệt anh, Tom.”
Ông nắm lấy tay bà. “Một ngày nào đó em sẽ trở lại chứ? Chỉ để thăm nhau? Nếu anh biết em không xa anh mãi mãi, biết rằng một ngày nào đó anh sẽ gặp em, ngay cả cho một giây phút ngắn ngủi – nếu anh biết điều đó, anh có thể chịu đựng được.”
Bà ngần ngại.
“Làm ơn!” Tom năn nỉ
“Vâng,” bà nói.
“Hãy thề đi.”
“Lời thề không có giá trị gì với em.”
“Nhưng nó có giá trị cho anh.”
“Được, em thề.”
“Cảm ơn em.” Ông kéo bà dịu dàng vào ông. Bà không chống lại. Ông ôm bà và sự tự kiềm chế của ông bị phá vỡ. Nước mắt chẩy xuống khuôn mặt ông. Sau cùng bà buông ông ra. Miễn cưỡng ông để bà đi. Bà đi về phía cổng.
Lúc đó có một tiếng ồn từ chuồng ngựa. Đó là tiếng dậm chân và thở mạnh của con ngựa chứng. Tự nhiên bà nhìn quanh. Đó là con ngựa của Waleran Bigod và giám mục chuẩn bị lên ngựa. Mắt ông gặp mắt Ellen và ông chết cứng.
Vào lúc đó bà cất tiếng hát.
Tom không biết bài hát, mặc dù bà thường hát. Bài hát có cung điệu buồn kinh khủng và lời bằng tiếng Pháp, nhưng Tom không hiểu bài hát muốn nói gì.
Một chim sơn ca, bị bắt trong lưới người thợ săn
Hát ngọt ngào như chưa bao giờ đã hát
Như giai điệu rơi
Có thể chia cách đôi cánh và chiếc tổ.
Tom nhìn vị giám mục. Waleran hoảng sợ: Miệng ông há to, mắt mở rộng, khuôn mặt trắng như xác chết. Tom ngạc nhiên: Làm sao một bài hát đơn giản lại có một sức mạnh làm hoảng sợ một người đàn ông như thế?
Chim sơn ca chẳng bao giờ còn được tự do.
Vào buổi hoàng hôn, thợ săn đến bắt mồi,
Chim trời và con người chắc chắn phải chết,
Nhưng những bài ca sẽ sống mãi thiên thu.
Ellen gọi to: “Tạm biệt Walern Bigod. Tôi rời Kingsbridge, nhưng tôi sẽ không rời xa ông. Tôi sẽ lại đến trong giấc mơ của ông.”
Và trong giấc mơ của anh, Tom nói.
Một lúc, không ai chuyển động.
Ellen quay đi. Bà cầm chiếc bị trong tay; và tất cả nhìn trong yên lặng, khi bà đi qua cổng tu viện và mất hút trong bóng tối nhá nhem của buổi chiều tà.
 

Minh Nan
  • Số bài : 23
  • Điểm: 0
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 23.12.2016
Re:Ken Follett: Những Cột Trụ Của Thế Giới - 04.01.2017 15:13:52
0
Phần II
1136 - 1137

Chương 5
 
I
 
Sau khi Ellen đi rồi, nhà khách hoàn toàn yên lặng vào chủ nhật. Alfred chơi bóng đá với bạn bè trong làng trên đồng cỏ bên dòng sông. Martha buồn vì thiếu Jack, cô chơi trò chơi như đang nhặt rau, nấu súp và mặc quần áo cho búp bê. Tom làm việc trên thiết kế nhà thờ chính tòa.
Ông đã một hai lần gợi ý cho Philip nên nghĩ về kiểu nhà thờ nào ông muốn xây, nhưng Philip không để ý hoặc muốn làm ngơ. Ông có nhiều điều phải lo. Nhưng Tom vẫn nghĩ về nó, nhất là vào các ngày chủ nhật. Ông thích ngồi trong nhà khách, nhìn ngôi nhà thờ đổ nát qua sân cỏ. Một đôi khi ông phác thảo trên bảng đá, nhưng hầu hết ông thực hiện trong đầu. Ông biết rằng một số người khó hình dung các vật thể và không gian trừu tượng, nhưng đối với ông nó rất dễ dàng.
Ông đã chiếm được cảm tình và lòng biết ơn của Philip qua việc ông xử lý đống đổ nát; nhưng Philip vẫn chỉ coi ông là một thợ xây. Ông đã thuyết phục Philip là ông có khả năng thiết kế và xây dựng một nhà thờ chính tòa.
Vào một ngày chủ nhật, hai tháng sau khi Ellen bỏ đi, ông cảm thấy đã sẵn sàng để vẽ.
 Ông làm một tấm đan bằng lau sậy và cành mềm, khoảng ba mét mỗi chiều, đóng khung bằng gỗ xung quanh để nó trông giống như cái khay. Rồi ông đốt cháy một số phấn vôi, trộn lẫn với một số thạch cao, và đổ vào khay. Và khi hỗn hợp đã khô, ông dùng một cây kim vẽ lên đó. Ông dùng một thước bằng sắt cho những đường thẳng, dùng một góc sắt cho những cạnh vuông và com-pa cho những đường vòng.
Ông muốn thực hiện ba bản vẽ: một tiết diện để cắt nghĩa nhà thờ sẽ được xây như thế nào; một mặt thẳng để minh họa tỷ lệ đẹp của nó; và một mặt bằng để tỏ rõ phòng ốc. Ông bắt đầu với thiết kế tiết diện.
Ông tưởng tượng nhà thờ chính tòa là một ổ bánh mì dài, rồi ông cắt lớp vỏ đầu phía tây để nhìn vào bên trong, và ông bắt đầu vẽ.
Nó rất đơn giản. Ông vẽ một cổng vòm có mái phẳng. Đó là gian giữa, nhìn từ cuối nhà thờ vào. Nó cũng có một trần bằng gỗ, giống như nhà thờ cũ. Tom rất muốn xây một mái vòm cong bằng đá, nhưng ông biết Philip không có khả năng để chi phí cho việc đó.
Trên đỉnh gian giữa ông vẽ một một mái nhà hình tam giác. Chiều rộng của tòa nhà sẽ được xác định bởi chiều rộng của mái nhà, và ngược lại nó bị giới hạn bởi số gỗ có sẵn. Rất khó để có được những xà ngang dài hơn ba mươi lăm mét – và chúng rất mắc, vì những gỗ tốt rất có giá nên chủ nhân của nó đã chặt sớm và đem bán trước khi nó đủ cao.  Gian giữa của ngôi nhà thờ có lẽ sẽ là ba mươi hai thước.
Gian giữa ông phác họa rất cao, cao bao nhiêu có thể. Nhưng nhà thờ chính tòa phải là một tòa nhà ấn tượng, tạo nên sự kính sợ với kích thước của nó, hướng mắt mọi người lên trời với độ cao của nó. Một lý do thu hút nhiều người đến nhà thờ chính tòa là vì nó lớn nhất trong thời kỳ đó. Một người chưa bao giờ đến nhà thờ chính tòa, người đó trải qua một cuộc đời mà chẳng bao giờ thấy một tòa nhà còn lớn hơn túp lều họ đang ở.
Thật không may, tòa nhà Tom định vẽ có trọng lượng của chì và gỗ trên mái nhà quá nặng, vì thế các bức tường sẽ phình ra hai bên và sụp xuống. Chúng phải có cột đỡ.
Vì mục đích này, Tom vẽ hai đường đi có mái vòm, cao bằng nửa gian giữa và ở hai bên. Đây là hai gian phụ. Chúng có trần cong bằng đá: bởi vì gian phụ thấp và rộng nên chi phí cho đá không tốn nhiều. Mỗi gian phụ có một mái nhà dốc.
Các gian phụ, liên kết với gian giữa bằng mài vòm đá, sẽ hỗ trợ gian giữa, nhưng chúng không cao đủ. Tom phải xây thêm những hỗ trợ khác, chia thành khoảng cách đều đặn, trong khoảng trống của mái gian phụ, bên trên những xà ngang và dưới mái nhà. Ông vẽ một vòm bằng đá bắt đầu từ đỉnh tường của gian phụ sang tới tường của gian giữa. Đầu cuối của thanh hỗ trợ dựa trên tường gian phụ, nơi đó ông xây một cái đòn phụ nhô ra từ bên cạnh bức tường bên ngoài nhà thờ. Ông đặt một tháp nhỏ trên đầu đòn để tăng thêm trọng lượng và trang trí cho nó đẹp hơn.
Một nhà thờ cao uy nghi mà không có những yếu tố tăng cường của gian phụ, các thanh hỗ trợ và các đòn phụ thì không thể đứng vững được; nhưng điều đó khó mà cắt nghĩa cho một tu sĩ, vì thế ông vẽ phác thảo để làm cho nó rõ ràng hơn.
Ông cũng vẽ nền móng, sâu dưới bức tường. Những ai không hiểu về xây dựng thường ngạc nhiên về độ sâu của nền móng.
Nó là một bản vẽ đơn giản, quá đơn giản mà thợ xây tổng thể chính không cần đến, nhưng nó cần thiết để trình bầy cho Tu viện trưởng Philip. Tom muốn ông hiểu những gì được đề xuất, hình dung ra tòa nhà và thích thú về nó. Rất khó để tưởng tượng một ngôi nhà thờ lớn, vững chắc khi mà trước mặt bạn chỉ là một vài đường vẽ trên tấm thạch cao. Philip sẽ cần tất cả sự hướng dẫn mà Tom có thể cho ông.
Bức tường ông vẽ trông vững chắc, nhìn từ ngoài vào, nhưng thực tế nó không phải như vậy. Bây giờ Tom bắt đầu vẽ hình trông nghiêng của bức tường gian giữa, nhìn từ bên trong nhà nhờ. Chúng có ba bậc: Bậc thấp nhất không thể gọi là tường, vì chúng là những hàng cột mà đầu cột nối với nhau bằng mái vòm tròn. Nó được gọi là đường có mái vòm và qua nó có thể nhìn thấy những cửa sổ đầu tròn của gian phụ. Cửa sổ và đường có mái vòm phải hợp với nhau để ánh sáng có thể chiếu vào gian giữa. Những cột trụ ở gian giữa sẽ thẳng hàng với trụ đỡ trên bức tường bên ngoài.
Bên trên mỗi mái vòm của đường đi là một hàng ba mái vòm nhỏ tạo thành một hành lang trên lầu, nơi các tín hữu có thể đứng tham dự thánh lễ. Ánh sáng không xuyên qua đó, bởi vì đàng sau chúng là mái nhà của gian phụ. Bên trên hành lang đố là bức tường có cửa sổ cho ánh sáng chiếu vào gian giữa.
Vào thời điểm khi nhà thờ chính tòa Kingsbridge cũ được xây dựng, các thợ xây cho rằng bức tường dầy sẽ mạnh mẽ, vì thế họ sợ không dám làm nhiều cửa sổ lớn, nên ánh sáng cũng không vào được. Những thợ xây tân thời hiểu rằng một tòa nhà đủ vững vàng nếu bức tường của nó thẳng và chắc chắn.
Tom phác họa ba bậc của bức tường gian giữa – đường có mái vòm của gia phụ, hành lang trên lầu và bức tường có cửa sổ lấy ánh sáng phía trên – chính xác theo đúng tỷ lệ 3:1:2. Đường mái vòm là một nửa chiều cao của bức tường, và đường hành lang trên lầu bằng một phần ba phần còn lại. Mọi sự trong nhà thờ đều theo sát tỷ lệ: nó cho tòa nhà một cảm giác nhẹ nhàng. Nghiên cứu lại bản vẽ, Tom cho rằng nó hoàn toàn thanh nhã. Nhưng không biết Philip sẽ nghĩ gì? Tom có thể nhìn thấy mái vòm, từ hàng trước đến hàng sau cùng, như đi diễn hành theo chiều dài của nhà thờ trong nắng chiều, với những khuôn đúc và trạm trổ. Nhưng Philip có thấy như vậy không?
Ông bắt đầu với bản vẽ thứ ba, đó là mặt bằng của nhà thờ. Trong trí tưởng tượng ông thấy mười hai mái vòm trong đường đi. Nhà thờ như thế bị chia thành mười hai nhịp hay ô. Gian giữa có sáu nhịp và bốn nhịp ở gian cung thánh. Ở nhịp thứ bẩy và tám là khu trung tâm, từ đó hướng ra hai phía tạo thành hai gian ngang. Bên trên khu trung tâm vươn lên một tháp cao.
Tất cả nhà thờ chính tòa, và hầu như các nhà thờ khác cũng vậy, thường có mặt bằng hình chữ thập. Hình thánh giá là biểu tượng quan trọng nhất của Kitô giáo, nhưng nó còn có lý do thực dụng nữa: Các gian ngang tạo nên các không gian hữu ích cho các nhà nguyện phụ, văn phòng, cũng như phòng mặc áo lễ.
Sau khi vẽ xong mặt bằng nhà thờ, Tom trở lại với bản vẽ chính, cho thấy bên trong của nhà thờ nhìn từ cuối nhà thờ lên. Bây giờ ông vẽ tháp chuông vươn lên trên và đàng sau gian giữa.
Tháp nhà thờ phải cao hơn gian giữa ít nhất là một rưỡi hoặc cao gấp đôi. Mẫu thấp nhất tạo cho tòa nhà một nét đặc sắc hấp dẫn cân đối, trong đó các gian phụ, gian chính và tháp nhà thờ cao theo tỷ lệ 1:2:3. Tháp nhà thờ cao sẽ ấn tượng hơn, bởi vì gian chính sẽ gấp đôi gian phụ, và tháp gấp đôi gian chính, tỷ lệ sẽ là 1:2:4. Tom chọn mẫu ấn tượng: đây là nhà thờ chính tòa duy nhất mà ông xây, và ông muốn nó vươn lên tới trời. Ông hy vọng Philip sẽ cảm thấy như vậy.
Nếu Philip chấp nhận dự án, dĩ nhiên Tom sẽ vẽ nó lại một lần nữa, cẩn thận hơn và chính xác với kích thước. Và còn nhiều thứ phải vẽ: bệ cột, cột, khung cửa, tháp nhỏ, cầu thang, tượng đầu thú vật và vô số các chi tiết khác nữa – Tom sẽ phải vẽ hàng năm. Nhưng những gì ông có trước mặt là cái cốt yếu của tòa nhà, và nó mang những yếu tố: đơn giản, rẻ tiền, thanh thoát và hoàn toàn theo tỷ lệ.
Ông nóng lòng muốn chỉ cho ai đó xem.
Ông tìm kiếm một thời điểm thuận tiện để đem nó đến Philip; nhưng bây giờ đã xong, ông muốn Philip thấy nó ngay lập tức.
Philip có nghĩ là ông kiêu ngạo không? Tu viện trưởng không yêu cầu ông chuẩn bị bản vẽ. Có lẽ trong đầu ông đã có một thợ xây dựng chính khác, người có nhiều kinh nghiệm hơn ông. Ông ấy có thể khinh miệt cố gắng của Tom.
Ngược lại, nếu Tom không chỉ gì cho Philip, ông ấy có thể nghĩ Tom không đủ khả năng thiết kế, và có thể mướn người nào đó mà không hỏi ý kiến của Tom. Tom thà bị coi là tự phụ hơn là bị người nào đó cướp mất công việc. Buổi chiều trời vẫn còn nắng. Philip chắc ở trong nhà tu viện trưởng, đọc Kinh thánh. Tom quyết định đến gõ cửa phòng ông.
Cẩn thận mang theo bản vẽ, ông ra khỏi nhà.
Khi ông đi ngang qua khu đổ nát, viễn tượng có thể xây một nhà thờ mới dường như có vẻ khó khăn: tất cả những hòn đá to, tất cả những xà ngang gỗ, tất cả những thợ thủ công, và cần biết bao năm tháng… Ông phải kiểm tra lại tất cả, tìm kiếm nguồn nguyên liệu ổn định, giám sát chất lượng gỗ và đá, mượn và sa thải nhân công, không mệt mỏi kiểm soát công việc của thợ bằng hòn rọi và thước nước, làm mẫu cho khuôn đúc, vẽ kiểu và chế tạo máy nâng… Ông tự hỏi không biết ông cố chu toàn được không.
Rồi ông nghĩ, nó sẽ sung sướng làm sao khi tạo nên được cái gì đó từ đống gạch vụn, khi một ngày nào đó trong tương lai được nhìn thấy ngôi nhà thờ mới mọc lên trên đống điêu tàn, và có thể nói: Tôi đã xây nó.
Ngoài ra còn một ý nghĩ khác trong trí ông, dấu ẩn trong góc sâu bụi bặm; một cái mà ông khó thú nhận với chính mình. Agnes đã chết không có phép lành của linh mục, và bà được chôn cất ở một nơi không phải là đất thánh. Ông rất muốn trở lại mộ bà, mang theo một linh mục để cầu nguyện cho bà và đặt lên đó một bia mộ nhỏ; nhưng ông sợ rằng khi ông gợi sự chú ý đến nơi chôn cất của bà, một cách nào đó câu chuyện của đứa bé bị bỏ rơi có thể bị phơi bầy ra ánh sáng. Bỏ rơi một đứa bé được coi là tội giết người. Khi nhiều tuần lễ đã trôi qua, ông lo sợ nhiều hơn về linh hồn của Agnes, và nơi chôn bà có phải là nơi tốt không. Ông không dám hỏi linh mục về chuyện đó vì ông không muốn kể chi tiết. Nhưng ông tự an ủi mình rằng nếu ông xây được một ngôi nhà thờ chính tòa, Thiên Chúa chắc chắn sẽ ân huệ cho ông; và ông thắc mắc không biết ông có thể xin cho Agnes nhận được ân huệ đó thay ông không. Nếu ông có thể cống hiến công việc xây nhà thờ cho Agnes, ông cảm thấy linh hồn của bà được thanh thoát và bà có thể an nghỉ.
Ông đến nhà tu viện trưởng, một nhà bằng đá trên đất bằng. Cửa mở, mặc dù hôm đó là một ngày trời lạnh. Ông do dự. Ông tự nhủ lòng: Bình tĩnh, năng lực, kiến thức, chuyên môn. Một chuyên gia về mọi lãnh vực của một tòa nhà hiện đại. Một người mà bạn có thể tin tưởng.
Ông bước vào. Nhà chỉ có một phòng. Một bên kê chiếc giường lớn với màn cửa sang trọng, phía kia là một bàn thờ nhỏ với tượng Thánh giá và chân nến. Tu viện trưởng đứng ở cửa sổ, đọc một bản viết trên giấy da, vầng trán nhăn nheo lo lắng. Ông nhìn lên, mỉm cười với Tom. “Ông có cái gì đó?”
“Bản vẽ, thưa cha,” Tom nói và cố giữ giọng bình tĩnh, rõ ràng. “Bản vẽ của nhà thờ chính tòa mới. Tôi có thể chỉ cho ông không?”
Philip vừa tỏ vẻ ngạc nhiên, vừa tò mò. “Dĩ nhiên,” ông nói.
Trong góc có một bục lớn. Tom đem nó đến bên cửa sổ có ánh sáng và đặt tấm thạch cao lên trên. Philip nhìn vào bản vẽ. Tom quan sát nét mặt ông. Tom có thể nhận ra rằng tu viện trưởng chưa bao giờ nhìn thấy một bản vẽ mặt thẳng, mặt bằng và mặt cắt nhìn xuyên qua tòa nhà. Ông cau mày.
Tom bắt đầu cắt nghĩa. Ông chỉ vào bản mặt thẳng. “Ông đang đứng ở trung tâm gian giữa, nhìn vào bức tường,” Tom nói. “Đây là hàng cột của đường đi có mái vòm. Chung nối với nhau bởi mái vòm. Qua đường mái vòm, ông có thể nhìn thấy cửa sổ trong gian phụ. Bên trên đường mái vòm là hành lang, và bên trên đó là khoảng tường có hàng cửa sổ.”
Nét mặt của Philiip rạng rỡ. Ông bắt đầu hiểu và ông có thể học nhanh chóng. Ông nhìn bản vẽ mặt bằng, và Tom có thể nhìn thấy vẻ bối rối của ông.
Tom nói: “Khi chúng ta đi chung quanh khu vực, và đánh dấu nơi đâu bức tường sẽ được xây, nơi đâu cột trụ sẽ được dựng và vị trí cửa ra vào và trụ tường, chúng ta sẽ có một bản vẽ giống thế này, và nó sẽ cho chúng ta biết nơi đâu phải đóng cọc và căng dây.”
Khuôn mặt Philip lại tươi ra. Tom nghĩ, việc Philip không hiểu bản vẽ ngay là một cơ hội tốt cho ông, vì qua đó Tom có thể chứng tỏ được sự đáng tin và khả năng của ông. Sau đó Philip nhìn vào bản vẽ mặt cắt. Tom cắt nghĩa: “Đây là ở giữa gian chính, có mái gỗ. Đàng sau gian chính là tháp nhà thờ. Đây là gian phụ, ở hai bên gian chính. Ở cạnh bên ngoài của gian phụ là trụ tường.”
“Trông có vẻ lộng lẫy,” Philip nói. Bản vẽ mặt cắt ấn tượng ông hơn cả. Nó giống như mặt tiền phía tây được mở ra, giống như cửa tủ mở và người ta có thể nhìn vào phía trong.
Ánh mắt Philip lại quay về với bản vẽ mặt bằng. “Gian chính chỉ có sáu ô sao?”
“Vâng, gian cung thánh có bốn ô.”
“Nó có quá nhỏ không?”
“Ông có thể chi phí cho một công trình lớn hơn không?”
“Tôi không có khả năng xây dựng cái gì cả,” Philip nói. “Ông có biết dự án ông đang có đây sẽ tốn bao nhiêu không?”
“Tôi biết chắc chắn phí tổn xây dựng của nó,” Tom nói. Ông nhìn thấy nét kinh ngạc trên mặt Philip: Ông đã không ngờ Tom biết tính toán. Tom đã dành nhiều giờ tính toán đến đồng xu cuối cùng cho dự án của ông. Tuy nhiên, ông đưa cho Philip một con số chẵn. “Nó sẽ không tốn hơn ba ngàn.”
Philip cười. “Tôi đã tốn cả hàng tuần qua để tính toán tiền thu nhập hàng năm của tu viện.” Ông vẫy bản giấy da mà ông đang đọc một cách lo lắng khi Tom bước vào. “Đây là câu trả lời. Ba trăm trong một năm. Chúng tôi tiêu hết từng đồng xu.”
Tom không ngạc nhiên. Trong thời gian qua tu viện đã được điều hành một cách yếu kém, điều đó quá rõ. Ông tin rằng Philip sẽ cải tổ kinh tế tu viện. “Ông sẽ tìm được tiền, thưa cha,” ông nói. “Với sự giúp đỡ của Chúa,” ông thêm vào.
Philip lại nhìn vào bản vẽ, ông chưa chắc chắn. “Cần bao nhiêu năm để xây nhà thờ này?”
“Nó tùy thuộc vào số nhân công,” Tom nói. “Khi ông mướn ba mươi thợ xây, cùng với những người làm công nhật, thợ học nghề, thợ mộc và thợ rèn phụ việc với họ, thời gian hoàn thành sẽ mất mười lăm năm: một năm cho chân móng, bốn năm cho gian cung thánh, bốn năm cho hai gian ngang và sáu năm cho gian chính.”
Một lần nữa Philip nhìn ấn tượng. “Tôi ước muốn ban lãnh đạo trong tu viện của tôi có khả năng tính toán và dự phóng trước như ông,” ông nói. Ông đăm chiêu nghiên cứu bản vẽ. “Vì thế mỗi năm tôi phải tìm ra hai trăm đồng. Khi chúng ta tính như vậy, nghe nó không có vẻ khó lắm.” Ông ngẫm nghĩ. Tom phấn khởi: Philip đã bắt đầu nghĩ về nó như là một dự án có thể thực hiện, không phải chỉ là một thiết kế trừu tượng. “Giả sử tôi có nhiều tiền hơn, việc xây dựng có nhanh hơn không?”
“Đến một giới hạn nào đó,” Tom trả lời thận trọng. Ông không muốn làm cho Philip quá lạc quan, vì nó có thể gây thất vọng. “Ông có thể mướn sáu mươi thợ, và xây toàn bộ nhà thờ cùng lúc, thay vì xây từ đông sang tây; và nó sẽ mất khoảng tám đến mười năm. Nhiều hơn sáu mươi người, trong một kích thước xây dựng như thế này, họ sẽ dẫm chân lên nhau và làm chậm tiến độ.”
Philip gật đầu. “Nếu tôi chỉ có ba mươi thợ xây, phần nhà thờ phía đông sẽ hoàn tất trong năm năm?”
“Vâng, và ông có thể sử dụng nó cho các giờ kinh, và thiết lập một bàn thờ cho xương thánh Adolphus.”
“Thật sao!” Philip thật sự hào hứng. “Tôi đã nghĩ mười năm nữa chúng tôi mới có nhà thờ mới.” Ông nhìn Tom thăm dò. “Trước đây ông đã xây nhà thờ chính tòa chưa?”
“Chưa, nhưng tôi đã thiết kế và xây nhiều nhà thờ nhỏ. Ngoài ra tôi làm việc nhiều năm ở nhà thờ chính tòa Exeter, với nhiệm vụ là trợ tá cho thợ xây dựng tổng thể chính.”
“Ông muốn tự mình xây nhà thờ chính tòa này, phải không?”
Tom ngập ngừng. Ông biết ông nên thẳng thắn với Philip, một người không có kiên nhẫn cho chuyện vòng vo. “Vâng, thưa cha. Tôi muốn ông chỉ định tôi làm thợ xây dựng tổng thể chính,” ông nói bình tĩnh bao nhiêu có thể.
“Tại sao?”
Tom không ngờ Philip lại đặt câu hỏi đó. Có nhiều lý do. Bởi vì tôi đã nhìn thấy nhiều nhà thờ chính tòa xấu và tôi có thể xây đẹp hơn, ông nghĩ. Bởi vì đối với một nghệ nhân bậc thầy không có gì thỏa mãn hơn, có lẽ ngoại trừ tình yêu đối với một phụ nữ đẹp, là được thực hiện kỹ năng của mình. Bởi vì những việc như vậy cho cuộc đời con người ý nghĩa. Philip muốn câu trả lời nào? Tu viện trưởng có lẽ muốn ông nói điều gì đạo đức. Không ngần ngại, ông nói sự thật. “Bởi vì nó sẽ rất đẹp,” ông nói.
Philip lạnh lùng nhìn ông. Tom không thể nói ông tức giận hay ông nghĩ gì. “Bởi vì nó sẽ rất đep,” Philip lập lại. Tom bắt đầu cảm thấy nó thật ngớ ngẩn, và muốn nói thêm điều gì đó, nhưng ông không biết nói gì. Nhưng sau đó ông nhận ra rằng Philip thật sự không nghi ngờ gì hết. Lời nói của Tom đánh động tâm hồn ông. Sau cùng Philip gật đầu, như tỏ vẻ đồng ý sau khi đắn đo. “Vâng, và còn gì tốt hơn là làm những điều đẹp đẽ cho Thiên Chúa?” Tom nói.
Tom vẫn yên lặng, chờ đợi Philip nói câu: “vâng, ông sẽ là thợ cả.”
Philip dường như đi đến quyết định. “Tôi đang chuẩn bị cùng với giám mục Waleran đến gặp vua ở Winchester trong ba ngày nữa,” ông nói. “Tôi không biết dự định của giám mục, nhưng tôi chắc chắn chúng tôi sẽ xin vua Stephen giúp đỡ trong việc xây dựng nhà thờ mới cho Kingsbridge.”
“Chúng tôi mong nhà vua sẽ chấp nhận ước muốn của ông,” Tom nói.
“Vua còn nợ chúng ta một đặc ân,” Philip nói với một nụ cười bí ẩn. “Ông phải giúp chúng ta.”
“Và nếu ông ấy giúp?” Tom nói.
“Tôi nghĩ Chúa đã gửi ông đến cho tôi với một mục đích, thợ xây Tom ạ,” Philip nói. “Nếu vua Stephen trợ cấp chúng ta tiền bạc, ông có thể xây nhà thờ.”
Đến lượt Tom cảm động. Ông không biết phải nói gì. Ông đạt được ước mơ trong đời – tuy còn tùy thuộc vào điều kiện. Mọi sự tùy thuộc vào sự trợ giúp của vua. Ông gật đầu, chấp nhận lời hứa và mạo hiểm. “Cảm ơn cha,” ông nói. Chuông đổ báo hiệu giờ kinh tối. Tom thu dọn bản vẽ.
“Ông có cần nó không?” Philip hỏi.
Tom nhận ra rằng để bản vẽ ở lại đây thì tốt hơn. Nó sẽ luôn nhắc nhở Philip. “Không, tôi không cần nó,” ông nói. “Tôi có nó trong đầu.”
“Tốt, tôi sẽ giữ nó ở đây.”
Tom gật đầu và đi ra cửa. Ông chợt nghĩ nếu ông không hỏi về Agnes bây giờ, có lẽ ông sẽ chẳng bao giờ hỏi nữa. Ông quay lại.
“Thưa cha,”
“Vâng?”
“Vợ trước của tôi… bà tên là Agnes… bà đã chết mà không được linh mục làm phép và không được chôn ở đất thánh. Bà không có tội, nó chỉ là … do hoàn cảnh. Tôi phân vân… Một đôi khi một người xây một nhà nguyện, hay thành lập một tu viện trong hy vọng rằng đời sau Thiên Chúa sẽ nhớ đến lòng đạo đức của họ. Ông có nghĩ rằng thiết kế của tôi có giúp cứu linh hồn Agnes không?”
Philip nhăn trán. “Abraham được yêu cầu dâng đứa con duy nhất. Thiên Chúa không bao giờ đòi hỏi của lễ bằng máu nữa, bởi vì của lễ lớn lao nhất đã được dâng tiến. Nhưng câu chuyện Abraham muốn nói lên ý nghĩa là Thiên Chúa đòi hỏi những gì tốt nhất chúng ta có, những gì quý giá trong trái tim chúng ta. Có phải thiết kế này là cái tốt nhất ông có thể dâng lên Thiên Chúa không?”
“Ngoại trừ các con tôi, vâng.”
“Vậy hãy yên tâm, thợ xây Tom ạ. Chúa sẽ chấp nhận điều ông dâng Chúa.”
 
 
II
 
Philip không hiểu tại sao Waleran Bigod muốn gặp ông tại tại lâu đài đổ nát của Bá tước Bartholomew.
Ông buộc phải đến thị trấn Shiring và qua đêm ở đó, rồi sáng nay lên đường tới lâu đài bá tước. Khi con ngựa từ từ chạy đến và tòa lâu đài lờ mờ hiện ra trong sương mù buổi sáng, ông đoán ra nó có thể vì thuận lợi: Waleran trên đường từ chỗ này đến chỗ kia, vì thế qua đây gần hơn là đến Kingsbridge, và lâu đài là một nơi dễ đến.
Philip muốn biết nhiều hơn về những dự định của Waleran. Từ ngày Waleran đến thăm nhà thờ cũ bị cháy đến nay, Philip không gặp lại ông. Waleran không biết Philip cần bao nhiêu tiền để xây nhà thờ, và Phlip cũng không biết Waleran dự định muốn yêu cầu gì nơi vua. Dường như Waleran muốn giữ ý định riêng cho mình. Điều đó làm Philip lo âu.
Ông mừng vì thợ xây Tom đã cho ông biết về phí tổn cần thiết để xây dựng nhà thờ mới. Một lần nữa ông lại vui vì có Tom bên cạnh. Tom là người của ngạc nhiên. Ông không biết đọc và viết, nhưng ông có thể thiết kế nhà thờ, vẽ dự án, tính toán số nhân công và thời gian xây dựng, và tính ra được chi phí cần thiết cho toàn bộ công trình. Ông là một người trầm tĩnh, mặc dù bên ngoài trông ông đáng sợ: ông cao lớn, đầy râu, mặt rạm nắng, đôi mắt sắc sảo và vầng trán cao. Một đôi khi Phlip cảm thấy như bị đe dọa bởi Tom và ông cố gắng trấn tĩnh bằng giọng nói chân thành. Nhưng Tom rất nghiêm nghị. Cuộc đàm thoại về người vợ của ông thật cảm động, và nó biểu lộ lòng đạo đức mà trước đó ông chưa bao giờ tỏ ra. Tom là một trong những người giữ niềm tin tôn giáo của mình sâu thẳm trong tim. Một đôi khi họ là những người tốt nhất.
Khi Philip đến lâu đài, tâm hồn ông trĩu nặng. Trước đây nó là một lâu đài thịnh vượng, có thành trì bảo vệ khu vực xung quanh, tạo công ăn việc làm cho bao nhiêu người trong vùng. Bây giờ nó chỉ còn là đống đổ nát, những túp lều chung quanh chân tường đã thành hoang phế, giống như các cành cây trụi lá vào mùa đông. Và Philip chịu trách nhiệm về nó. Ông đã tiết lộ âm mưu được cưu mang nơi đây, và đã kéo cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, qua Percy Hamleigh, đến trên lâu đài và cư dân nơi đây.
Ông nhận ra bức tường thành và nhà khách không bị tổn thất nhiều trong cuộc chiến. Nó có nghĩa là kẻ tấn công đã vào bên trong trước khi cổng thành có thể đóng lại. Ông đi ngựa qua cây cầu gỗ vào trong sân thứ nhất của lâu đài. Nơi đây chứng tích cuộc chiến rõ ràng hơn: ngoài ngôi nhà nguyện bằng đá, tất cả những kiến trúc khác của lâu đài chỉ còn lại những thanh gỗ cháy dở ngổn ngang trên mặt đất, và một cơn gió nhẹ thổi bay những tro tàn dọc theo chân tường thành.
Không có dấu hiệu của giám mục. Philip đi ngựa qua sân, vượt qua cầu dẫn vào khu vực bên trên. Ở đây có một khu nhà ở bằng đá với một cầu thang bằng gỗ trông lỏng lẻo dẫn lên cửa vào lầu hai. Philip nhìn lên tường thành phòng thủ với những cửa sổ hẹp: mặc dù nó vĩ đại, nhưng nó vẫn không bảo vệ được Bartholomew.
Từ những cửa sổ này, ông có thể nhìn qua tường thành và quan sát giám mục đến. Ông cột con ngựa vào tay cầm của cầu thang và đi lên.
Khi ông vừa đụng nhẹ, cửa mở ra. Ông bước vào trong. Hội trường lớn tối tăm và bụi bặm, lò sưởi nguội lạnh, có một cầu thang xoắn ốc dẫn lên trên. Philip đi tới cửa sổ. Bụi làm ông khó chịu. Từ cửa sổ ông không nhìn thấy gì, nên ông quyết định lên tầng trên.
Trên đầu cầu thang xoắn, ông đối diện với hai cánh cửa. Ông đoán cửa nhỏ vào nhà vệ sinh và cửa lớn dẫn vào phòng ngủ bá tước. Ông đi vào cửa lớn.
Phòng không trống.
Philip ngừng lại, chết cứng. Ở đó, giữa phòng, đối diện với ông là một phụ nữ đẹp tuyệt vời. Lúc đầu ông tưởng mình đang mơ, và tim ông rộn ràng. Những lọn tóc đen gợn lên như đám mây bao phủ khuôn mặt mê hồn. Cô nhìn ông qua đôi mắt mở lớn, và ông nhận ra cô cũng giật mình giống như ông. Khi ông thoải mái ra và sắp bước vào phòng thì ông bị ghì chặt từ phía sau và cảm thấy một lưỡi kiếm lạnh đè vào cổ ông, và một giọng đàn ông hỏi: “Ông là ai?”
Cô gái di chuyển về phía ông. “Hãy nói tên ra, nếu không Matthew sẽ giết ông,” cô nói một cách uy quyền.
Thái độ của cô cho thấy cô thuộc gia đình quyền quý, nhưng ngay cả quyền quý cũng không được phép hăm dọa tu sĩ. “Hãy nói với Matthew bỏ tay ra khỏi tu viện trưởng của Kingsbridge, nếu không ông sẽ gặp khó khăn,” Philip điềm tĩnh nói.
Ông được trả tự do. Ông quay lưng lại và thấy một người đàn ông mảnh khảnh chạc tuổi ông. Matthew có lẽ từ nhà vệ sinh ra.
Ông quay lại phía cô gái. Cô khoảng mười bẩy tuổi. Mặc dù cô kiêu kỳ, nhưng cô ăn mặc xoàng xĩnh. Khi ông đang quan sát cô, chiếc hòm sát tường đàng sau cô mở lên và một cậu bé nhẩy ra, nhìn bẽn lẽn. Cậu cầm một thanh kiếm. Philip không biết cậu nằm trong đó chờ đợi hay vì ẩn trốn.
“Còn cô là ai?” Philip hỏi.
“Tôi là con gái của bá tước ở Shiring, tên tôi là Aliena.”
Con gái của bá tước! Philip nghĩ. Tôi không biết cô ta vẫn sống ở đây. Ông nhìn cậu con trai. Cậu khoảng mười lăm tuổi, trông giống cô gái, ngoại trừ mũi tẹt và mái tóc ngắn. Philip nhướng mắt hỏi cậu.
“Tôi là Richard, người thừa hưởng gia tài của bá tước,” cậu bé nói bằng giọng ồm ồm của tuổi dậy thì.
Đàng sau Philip, người đàn ông nói: “Còn tôi là Matthew, quản lý của lâu đài.”
Ba người này đã ẩn nấp ở đây từ khi Bá tước Bartholomew bị bắt, Philip nhận ra. Người quản lý chăm sóc các trẻ nhỏ: ông ta phải có một kho thực phẩm và tiền bạc cất dấu. Philip quay về phía cô gái: “Tôi biết bố cô ở đâu nhưng mẹ cô đâu?”
“Mẹ tôi đã chết từ nhiều năm qua.”
Philip cảm thấy có lỗi. Những đứa trẻ giờ thành mồ côi, và một phần do lỗi của ông. “Cô không có họ hàng nào khác chăm sóc cho cô sao?”
“Tôi đang trông giữ lâu đài cho đến khi bố tôi trở về,” cô nói. Philip nhận ra chúng đang sống trong thế giới ảo tưởng. Chúng đang sống như chúng vẫn thuộc về một gia đình giầu có và quyền lực. Với người cha trong tù và bị giáng chức, cô là người con gái khác. Cậu con trai không còn thừa hưởng gì cả. Bá tước Bartholomew sẽ chẳng bao giờ trở về lâu đài này nữa, chỉ trừ khi nhà vua quyết định treo cổ ông ở đây. Ông thương hại cô, nhưng một cách nào đó ông thán phục ý chí mạnh mẽ của cô, một ý chí nuôi sống sự tưởng tượng và lôi kéo hai người khác theo. Cô phải là một nữ hoàng, ông nghĩ.
Từ bên ngoài vẳng về tiếng vó ngựa trên gỗ: nhiều con ngựa đang đi qua cây cầu gỗ. Aliena nói với Philip: “Tại sao ông lại đến đây?”
“Một cái hẹn,” Philip nói. Ông quay lại và bước về phía cửa, nhưng Matthew ngăn ông lại. Họ đứng yên lặng nhìn nhau. Bốn người trong phòng không động tĩnh. Philip tự hỏi có phải họ muốn chặn không cho ông đi. Nhưng rồi người quản lý đứng qua một bên.
Philip đi ra. Ông kéo vạt áo choàng và vội vã xuống thang. Khi ông xuống đến dưới, ông nghe thấy tiếng bước chân sau ông. Matthew bắt kịp ông.
“Đừng nói cho ai biết chúng tôi ở đây,” ông nói.
Philip nhận ra Matthew hiểu hoàn cảnh thực tế của họ. “Các ông muốn ở đây bao lâu?” Philip hỏi.
“Bao lâu có thể,” người quản lý trả lời.
“Và nếu các ông phải đi, các ông sẽ đi đâu?”
“Tôi không biết.”
Philip gật đầu. “Tôi sẽ giữ bí mật,” ông nói.
“Cảm ơn cha.”
Philip đi ngang qua hội trường bụi bặm và ra ngoài. Nhìn xuống, ông thấy giám mục Waleran và hai người khác đang gìm cương gần con ngựa của ông. Waleran mặc một áo choàng nặng bằng lông màu đen và đội mũ lông đen. Ông nhìn lên và Philip bắt gặp đôi mắt tái nhợt của ông. “Kính chào giám mục,” Philip trân trọng nói. Ông xuống cầu thang gỗ. Hình ảnh cô gái trên lầu vẫn ám ảnh ông và ông không dễ đuổi nó ra khỏi đầu như ông muốn. Waleran xuống ngựa. Ông có hai người tùy tùng, Philip nhận ra: Dean Baldwin và người kỵ binh.
Ông gật đầu chào họ, rồi quỳ xuống hôn tay Waleran. Waleran chấp nhận sự kính trọng nhưng không quan tâm lắm: một lúc sau ông rút tay về. Ông thích quyền lực thực sự chứ không phải vỏ bên ngoài của nó.
“Ông chỉ đi có một mình, Philip?” Waleran hỏi.
“Vâng. Tu viện nghèo và đoàn tùy tùng đối với tôi là một phung phí. Khi tôi còn là tu viện trưởng của St. John ở trong rừng, tôi chẳng có hộ tống và tôi vẫn sống.”
Waleran nhún vai. “Đi theo tôi,” ông nói. “Tôi muốn chỉ ông điều này.” Ông đi qua sân tới tòa tháp gần nhất. Philip theo sau. Waleran vào qua cửa thấp ở chân tháp và trèo lên cầu thang bên trong. Những con giơi treo mình trên mái trần thấp và Philip cúi đầu xuống, sợ đụng vào chúng.
Rồi họ lên đến đỉnh, đứng trên thành lũy nhìn qua vùng xung quanh.
“Đây là một trong những lãnh địa bá tước nhỏ nhất trong nước,” Waleran nói.
“Đúng vậy.” Philip rùng mình. Trên đó gió lạnh và ẩm ướp, và áo choàng của ông cũng không dầy như của Waleran. Ông tự hỏi không biết Waleran muốn chỉ ông điều gì.
“Một vài mảnh đất màu mỡ, nhưng đa số là rừng và đất đá.”
“Vâng.” Vào một ngày đẹp trời, họ có thể thấy nhiều khu rừng và đồng ruộng, nhưng bây giờ, mặc dù sương mai đã tan, nhưng họ khó có thể nhận ra góc khu rừng phía nam và đồng cỏ xung quanh lâu đài.
“Lãnh địa này có một quặng mỏ sản xuất những tảng đá vôi thượng hạng,” Waleran tiếp tục. “Rừng của nó có nhiều gỗ tốt và nông trại của nó tạo ra của cải đáng kể. Nếu chúng ta được lãnh địa này, Philip, chúng ta có thể xây nhà thờ chính tòa của chúng ta.”
“Nếu ngựa có cánh, chúng có thể bay,” Philip nói.
“Ôi, người yếu lòng tin!”
Philip nhìn đăm đăm vào Waleran. “Ông nói thật đấy chứ?”
“Rất thật.”
Philip vẫn còn hoài nghi, tuy vậy một hy vọng mong manh nẩy lên trong ông. Nếu điều này thành sự thật! Nhưng ông nói: “Vua cần sự hỗ trợ về quân sự. Ông ấy sẽ trao lãnh địa này cho người nào có thể đem quân ra trận.”
“Nhà vua mắc nợ giáo hội về vương miện của ông, và mắc nợ chúng ta về chiến thắng Bartholomew. Hiệp sĩ không phải là tất cả những gì ông ta cần.”
Waleran nói nghiêm trang, Philip nhận ra. Điều ấy có thể không? Nhà vua có thể trao lãnh địa của Shiring cho giáo hội, để tài trợ kinh tế cho việc xây nhà thờ chính tòa Kingsbridge không? Khó có thể tin được, mặc dù lập luận của Waleran là hợp lý. Nhưng Philip không thể ngừng tưởng tượng nó sẽ tuyệt vời làm sao nếu có được đá, gỗ và tiền trả cho thợ; và Philip nhớ Tom nói rằng ông có thể mướn sáu mươi thợ và hoàn thành nhà thờ trong tám đến mười năm. Chỉ nghĩ về nó thôi đã thấy thú vị.
“Nhưng còn cựu bá tước sẽ ra sao?” ông hỏi.
“Bartholomew đã thú nhận tội phản quốc. Ông không bao giờ chối tội mưu phản, nhưng ông cho rằng những gì ông làm không phải là phản quốc, vì Stephan là một kẻ cướp ngôi. Tuy nhiên, sự tra tấn của nhà vua đã làm ông đầu hàng.”
Philip rùng mình và không dám nghĩ họ đã làm gì Bartholomew để một người đàn ông cứng rắn như ông ấy phải thay đổi. Ông đuổi tư tưởng này ra khỏi đầu. “Lãnh địa của Shiring,” ông lẩm bẩm. Nó là một yêu cầu vô cùng tham vọng. Nhưng ý tưởng này đáng sợ. Ông cảm thấy đầy sự lạc quan vô lý.
Waleran ngước nhìn bầu trời. “Chúng ta hãy đi,” ông nói. “Nhà vua đợi chúng ta ngày kia.”
William Hamleigh quan sát hai người của Chúa từ nơi cậu ẩn nấp đàng sau tường lũy của tháp bên cạnh. Cậu biết cả hai người. Người cao ráo, người giống như con chim đen với chiếc mũi nhọn và áo khoác đen, là giám mục mới của Kingsbridge. Người nhỏ, hăng hái với đầu trọc và mắt xanh sáng là Tu viện trưởng Philip. William tự hỏi họ làm gì ở đây.
Cậu đã quan sát vị tu sĩ khi ông vào, nhìn quanh như thể ông muốn tìm ai rồi đi vào khu nhà. William không đoán được Philip có gặp ba người kia không – ông chỉ vào trong đó một lúc và những người kia chắc đã tránh ông. Khi giám mục đến, Tu viện trưởng Philip đã bước ra và cả hai trèo lên tháp. Bây giờ giám mục chỉ vào các mảnh đất xung quanh lâu đài thân thuộc như mảnh đất này là của ông. Qua cách đứng và cử chỉ của họ, William có thể nhận ra là giám mục đang sôi nổi và tu viện trưởng hoài nghi. Họ đang có một âm mưu, Williiam chắc chắn điều đó.
Tuy nhiên, cậu đến đây không phải để theo dõi họ mà để theo dõi Aliena.
Cậu đã làm việc này càng ngày càng thường xuyên hơn. Cô săn đuổi cậu trong tâm trí mọi nơi mọi lúc, và cậu đau khổ trong những giấc mơ ban ngày, trong những giấc mơ mà cậu thấy Aliena bị trói và trần truồng trong cánh đồng lúa mì, hay co rúm như con chó sợ hãi trong góc phòng ngủ, hay bị lạc trong rừng vào buổi chiều tối. Nó trầm trọng đến nỗi cậu muốn thấy cô bằng xương bằng thịt. Cậu đã đến lâu đài lãnh chúa từ sáng sớm, để Walter, người cận vệ, ở lại trông coi ngựa trong rừng, và một mình cậu đi qua cánh đồng đến lâu đài. Cậu lẻn vào trong tìm được một chỗ nấp, từ đó cậu có thể quan sát khu nhà ở và khu nhà phía trên. Một đôi khi cậu phải chờ lâu mới thấy cô. Sự kiên nhẫn của cậu bị thử thách rất nhiều, nhưng mà đi về mà không thoáng được nhìn thấy cô thì còn đau khổ hơn, vì thế mà cậu luôn ở lại. Rồi, khi cô xuất hiện, cổ họng cậu khô cứng, tim cậu đập nhanh hơn, và bàn tay ẩm ướt. Thường cô đi với em trai hay với người quản lý nữ tính, nhưng một đôi khi cô đi một mình. Một buổi chiều mùa hè, khi cậu đã đợi cô từ buổi sáng sớm, cô đi đến giếng lấy nước, cởi bỏ quần áo và tắm rửa. Chỉ nhớ lại cảnh đó cũng đủ đốt cháy cậu. Cô có bộ ngực sâu, kiêu hãnh chuyển động một cách khêu gợi khi cô nâng bàn tay để chà xà bông vào tóc. Núm vú cô co lại khi cô tạt nước lạnh lên mình. Đám lông đen quăn xoắn giữa hai chân cô rậm rạp, và khi cô tắm rửa ở chỗ đó, chà mạnh với bàn tay đầy xà bông, Williiam không còn kiểm soát được mình và xuất tinh trong quần.
Kể từ đó không còn gì đẹp xẩy ra nữa, và cô chắc chắn sẽ không tắm trong mùa đông, nhưng cũng có những thú vui nhỏ hơn. Khi ở một mình, cô hát và ngay cả nói chuyện với chính mình. William nhì thấy cô bện tóc, nhẩy múa và đuổi chim bồ câu ra khỏi tường thành như một đứa nhỏ. Bí mật quan sát cô làm những chuyện riêng tư như vậy, William cảm thấy một cảm giác quyền lực trên cô, một cảm giác cho cậu sự thích thú.
Dĩ nhiên cô không thể xuất hiện, bao lâu vị giám mục và tu sĩ còn ở đây. May mắn là họ không ở lâu. Họ rời thành lũy nhanh chóng và vài phút sau cùng với đoàn tùy tùng cưỡi ngựa ra khỏi lâu đài. Họ đến đây để chỉ ngắm phong cảnh từ thành lũy? Nếu chỉ có vậy, một phần nào họ đã thất vọng vì thời tiết xấu.
Người quản lý đã ra lấy củi cho lò sưởi trước đó, trước khi các khách đến thăm. Ông nấu ăn trong pháo đài. Chẳng bao lâu sau ông lại ra lấy nước ở giếng. William đoán họ ăn cháo vì họ không có lò để nướng bánh. Trễ hơn trong ngày, người quả lý sẽ rời lâu đài, một đôi khi ông mang theo cậu nhỏ. Một khi họ đã đi thì việc Aliena xuất hiện chỉ còn là vấn đề thời gian.
Khi cậu chán nản vì chờ đợi, William sẽ nhớ lại cảnh cô tắm. Hình ảnh trong ký ức gần như ảnh thật. Nhưng hôm nay cậu không an tâm. Chuyến viếng thăm của giám mục và tu viện trưởng dường như làm mất đi bầu khí. Cho đến nay luôn có một bầu khí mê hoặc về lâu đài và ba cư dân sống trong đó, nhưng sự xuất hiện của những người này trên những con ngựa vấy bùn của họ đã bẻ gẫy sức quyến rũ của nó. Nó giống như một giấc mơ tuyệt vời giữa đêm bị quấy rầy bởi tiếng động: cố gắng bao nhiêu có thể, cậu vẫn không ngủ mê lại được.
Cậu cố gắng đoán những gì các vị khách dự định, nhưng cậu không hiểu được. Cậu chắc chắn một điều là họ đang âm mưu chuyện gì đó. Có một người có thể giải được: mẹ cậu. Cậu quyết định bỏ theo dõi Aliena và về nhà báo cho mẹ những gì cậu nhìn thấy.
 
 
Họ đến Winchester vào chiều tối ngày hôm sau. Họ vào qua cửa thành, bên bức tường phía nam của thành phố, và đi ngay đến sân nhà thờ chính tòa. Ở đây họ chia tay nhau. Waleran đến tòa giám mục của Winchester, một dinh thự trên khu đất gần sân nhà thờ chính tòa. Philip đến chào tu viện trưởng và xin một tấm nệm trong nhà ngủ tu sĩ.
Sau ba ngày trên đường, Philip thấy sự bình an và yên tĩnh của tu viện làm ông tươi tỉnh lại như một dòng nước trong ngày nóng nực. Tu viện trưởng Winchester là một người đầy đặn, dễ tính với làn da hồng và mái tóc bạc. Ông mời Philip ăn tối với ông trong nhà ông. Trong khi ăn, họ nói chuyện về giám mục của mình. Tu viện trưởng Winchester rõ ràng là người kính sợ Giám mục Henry và tùy thuộc vào ông. Philip nghĩ rằng, tranh cãi với một giám mục, người giầu có và quyền lực như Henry, chẳng mang lại kết quả gì. Cũng vậy, Philip không muuốn bị điều hành quá nhiều bởi giám mục của ông.
Ông ngủ sâu và thức dậy giữa đêm cho giờ kinh đêm. Khi ông bước chân vào nhà thờ chính tòa Winchester, đây là lần đầu tiên, ông cảm thấy như bị đe dọa.
Tu viện trưởng đã nói với ông rằng đây là nhà thờ lớn nhất thế giới, và khi thấy, ông tin điều đó là sự thật.
Nhà thờ dài gần một dặm: Philip đã gặp những làng có thể đặt vào trong đó. Nó có hai tháp cao, một ở trên khu trung tâm và một cái khác ở cuối phía tây. Tháp ở giữa đã bị sập đổ cách đây ba mươi năm trên mộ của William Rufus, một vị vua không tin Chúa, và có lẽ không nên được chôn ở đây; nhưng nó đã được xây dựng lại. Đứng ngay bên dưới tháp mới hát kinh sáng, Philip cảm thấy toàn thể tòa nhà có một bầu khí xứng đáng và mạnh mẽ. So sánh với nhà thờ này, nhà thờ chính tòa do Tom thiết kế rất khiêm tốn – nếu nó được xây. Ông nhận ra rằng ông đang ở trong vòng cao nhất của những người quyền thế trong nước, và ông thấy lo âu. Ông chỉ là một cậu bé từ ngôi làng đồi Welsh, người đã may mắn trở thành tu sĩ. Hôm nay ông sẽ nói chuyện với nhà vua. Làm sao ông lại có quyền đó?
Ông trở lại nhà ngủ với các tu sĩ khác, nhưng ông thức và lo nghĩ. Ông sợ mình có thể nói hay làm điều gì đó xúc phạm đến vua Stephen hoặc Giám mục Henry và khiến họ chống lại Kingsbridge. Những người sinh ra ở Pháp thường chế nhạo người Anh về cách nói của họ: Họ sẽ nghĩ sao về giọng nói của người Welsh? Trong thế giới của tu viện, người ta đánh giá Philip theo tiêu chuẩn: đạo đức, vâng lời và sự nhiệt thành cho công việc của Chúa. Những tiêu chuẩn này không có giá trị gì ở đây, giữa lòng thủ đô của một vương quốc lớn nhất thế giới. Ông cảm thấy như mất đi chiều sâu của mình. Ông bị áp lực vì cảm thấy rằng một cách nào đó mình là kẻ mạo danh, một người không là gì trở thành một người nào đó, và với thời gian sẽ bị khám phá ra và sẽ bị đuổi về trong nhục nhã.
Ông thức dậy vào lúc bình minh, tham dự giờ kinh sáng, rồi dùng bữa sáng trong phòng ăn. Các tu sĩ có bia mạnh và bánh mì trắng: đây là một tu viện thịnh vượng. Sau ăn sáng, khi các tu sĩ đi vào nhà nguyện, Philip đi bộ tới dinh thự giám mục, một tòa nhà bằng đá đẹp với cửa sổ lớn, trong một khu đất rộng có tường bao quanh.
Waleran tin tưởng sự ủng hộ của Giám mục Henry về dự án táo bạo của ông. Henry rất có thế lực đến nỗi ông có thể cho mọi việc có thể. Ông là Henry thành Blois, em trai của vua. Ông vừa là một giáo sĩ có quan hệ tốt nhất với hoàng gia, lại là người giầu nhất vì ông là viện phụ của tu viện giầu có Glastonbury. Ông có triển vọng thành tổng giám mục của Canterbury. Kingsbridge không thể có được một đồng minh mạnh mẽ hơn. Có thể nó sẽ thực sự xẩy ra, Philip nghĩ; có thể vua sẽ giúp chúng ta có khả năng xây nhà thờ mới. Khi ông nghĩ về nó, trái tim ông như nổ tung vì hy vọng. Người quản gia nói với Philip rằng Giám mục Henry sẽ chỉ tiếp khách trước giữa trưa. Philip quá hồi hộp để trở về tu viện. Cảm thấy thiếu kiên nhẫn, ông đi xem thành phố lớn nhất mà ông chưa bao giờ được thấy.
Tòa giám mục nằm ở góc đông nam của thành phố. Philip đi theo bức tường phía đông, ngang qua khu đất của một tu viện khác, tu viện St. Mary, vào trong khu phố dường như dành cho đồ da và len. Khu vực có những dòng nước nhỏ chằng chịt. Nhìn kỹ, Philip nhận ra chúng không phải tự nhiên mà là các kênh nhân tạo, chia nhánh dòng sông Itchen để chẩy qua các đường phố và cung cấp số lượng lớn cần thiết cho thuộc da và giặt lông cừu. Các khu kỹ nghệ tương tự thường được xây dựng bên dòng sông, và Philip ngạc nhiên vì sự táo bạo của con người, những người đã dám đem nước từ dòng sông đến xưởng việc của họ - thay vì ngược lại.
Dù có kỹ nghệ, thị trấn vẫn yên tĩnh và ít đông đúc hơn bất cứ thị trấn nào Philip đã đi qua. Những nơi như Salisbury hay Hefold dường như bị bó kín trong các bức tường, giống như một người mập trong chiếc áo dài: những căn nhà quá gần nhau, sân sau quá nhỏ, khu chợ quá đông đúc, đường sá quá chật hẹp; và người và súc vật như tranh giành nhau chỗ ở, tạo nên cảm giác như một cuộc chiến có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Nhưng Winchester rộng rãi, dường như đủ chỗ cho mọi người. Khi đi xung quanh, Philip dần dần nhận ra một phần nguyên do của cảm giác rộng rãi này là vì các đường phố được sắp xếp theo mô hình giống như lưới sắt vuông. Các đường phố hầu hết thẳng đứng và giao nhau ở góc bên phải. Ông chưa bao giờ thấy như vậy. Thị trấn được xây theo một dự án. Có hàng chục nhà thờ, đủ kiểu và kích thước khác nhau. Một vài cái được xây bằng gỗ, những cái khác bằng đá, mỗi cái phục vụ cho nhu cầu riêng của từng khu phố nhỏ. Thành phố chắc phải giầu có để trợ cấp cho nhiều linh mục.
Đi dọc theo đường Fleshmonger, ông cảm thấy muốn bệnh. Chưa bao giờ ông nhìn thấy quá nhiều thịt sống trong một chỗ như thế này. Máu chẩy ra từ cửa hàng thịt xuống đường, những con chuột mập mạp chạy qua chân khách hàng.
Phía cuối nam của con đường Fleshmonger dẫn vào giữa đường High Street, đối diện với dinh thự hoàng gia cũ. Các vua đã không sử dụng dinh thự này từ khi pháo đài mới được xây trong lâu đài, Philip đã nghe nói như vậy, nhưng những đồng tiền xu của hoàng gia vẫn được đúc trong tầng hầm của tòa nhà, được bao bọc bởi tường dầy và cửa sắt. Philip đứng lại một lúc trước song sắt, nhìn những tia lửa tung tóe khi chiếc búa đập xuống khuôn. Ông kinh hoàng về sự giầu có trước mắt mình.
Một số đông người khác cũng đứng trước cửa xem. Không nghi ngờ gì, đó là một cảnh mà khách đến Winchester đều muốn coi. Một phụ nữ trẻ đứng bên cạnh mỉm cười với Philip, và ông cười lại. Cô nói: “Với một đồng xu, bạn có thể làm bất cứ gì bạn muốn.”
Ông tự hỏi không biết cô ta muốn nói gì và ông thờ ơ mỉm cười lại. Rồi cô ta mở áo choàng, và ông kinh hoàng thấy rằng dưới áo choàng cô ta hoàn toàn khỏa thân. “Bất cứ điều gì bạn muốn, chỉ một xu bạc thôi,” cô nói.
Ông cảm thấy một khuấy động nhẹ của mong muốn, giống như bóng ma của trí nhớ đã lâu ngày bị quên lãng; rồi ông nhận ra cô là một gái điếm. Ông đỏ mặt vì bối rối. Ông quay lại và vội vã bỏ đi. “Đừng sợ,” cô gọi theo. “Tôi thích một đầu trọc.” Tiếng cười chế nhạo đuổi theo ông.
Cảm thấy nóng và bực bội, ông rẽ xuống đường hẻm dẫn ra chợ. Ông có thể thấy đàng sau quầy hàng tháp nhà thờ vút cao. Ông vội vã xuyên qua đám đông, bỏ ngoài tai tiếng chào hàng, và tìm đường vào sân nhà thờ.
Ông cảm thấy sự yên lặng trật tự của nhà thờ giống như một cơn gió mát. Ông dừng lại bên nghĩa trang và tập trung lại tư tưởng. Ông cảm thấy xấu hổ và tức giận. Làm sao cô ta dám thử thách một người trong tu phục tu sĩ? Rõ ràng cô ta cho rằng ông là một du khách… Có phải những tu sĩ khi ra khỏi tu viện là khách hàng của cô? Dĩ nhiên, nó có thể, ông nhận ra. Các tu sĩ cũng phạm các tội mà người bình thường phạm. Ông bị sốc vì sự trơ tráo cả người phụ nữ. Hình ảnh sự trần truồng vẫn tồn tại trong ông, giống như ngọn bấc của một cây nến, nó có thể bốc cháy đàng sau đôi mắt khép kín.
Ông thở dài. Đó là một buổi sáng đầy hình ảnh: con kênh nhân tạo, con chuột trong cửa hàng thịt, đống bạc xu mới đúc, người phụ nữ trần truồng. Philip biết rằng những hình ảnh này sẽ trở lại với ông trong giờ suy niệm.
Ông đi vào nhà thờ chính tòa. Ông cảm thấy quá bẩn thỉu để quỳ gối cầu nguyện, nhưng chỉ cần đi dọc xuống gian giữa cũng có thể gột rửa ông đôi chút. Ông ra cửa phía nam, xuyên qua tu viện đến dinh thự giám mục.
Tầng trệt là một nhà nguyện. Philip lên cầu thang tới hội trường và bước vào. Một đám nhỏ người giúp việc và giáo sĩ trẻ ở gần cửa ra vào, đứng xung quanh hoặc ngồi trên ghế băng sát tường. Ở cuối phòng Waleran và Giám mục Henry đang ngồi ở một cái bàn. Người quản gia nói: “Giám mục đang ăn sáng,” như thể ông ta muốn ngăn ông không được gặp họ.
“Tôi sẽ cùng bàn với họ,” Philip nói.
“Tốt hơn ông nên đợi,” người quản gia nói.
Philip cho rằng người quản gia nghĩ ông chỉ là một tu sĩ bình thường. “Tôi là tu viện trưởng của Kingsbridge,” ông nói.
Người quản gia nhún vai và đứng qua một bên. Philip đến bàn ăn. Gám mục Henry ngồi ở đầu, Waleran bên tay phải của ông. Henry là một người thấp, vai rộng, khuôn mặt hay gây gỗ. Ông trạc tuổi như Waleran, một hai tuổi lớn hơn Philip; chưa ngoài ba mươi. Tuy nhiên, trái ngược với làn da trắng bệch của Waleran và thân hình gầy gò của Philip, Henry  có nước da hồng hào, chân tay mập mạp, chứng tỏ ông là người thích ăn uống. Mắt ông tỉnh táo và thông minh, khuôn mặt ông nói lên tính quyết định. Là người trẻ nhất trong bốn anh em, có lẽ ông đã phải tranh đấu cho mọi thứ trong đời ông. Philip ngạc nhiên vì đầu ông trọc, một dấu hiệu cho thấy ông đã sống trong tu viện và vẫn coi mình là một tu sĩ. Tuy nhiên, ông không mặc vải thô, mà ông mặc áo dài đẹp nhất làm bằng lụa màu tím.
Waleran mặc một áo sơ mi lụa trắng dưới lớp áo dài đen, và Philip nhận ra rằng cả hai đều ăn mặc chuẩn bị cho buổi tiếp kiến với nhà vua. Họ ăn thịt bò nguội và uống rượu đỏ. Philip đói bụng sau cuộc đi bộ, miệng ông đầy nước. Waleran nhìn lên thấy Philip và một nét khó chịu nhẹ hiện trên mặt ông.
“Xin kính chào,” Philip nói.
Waleran nói với Henry: “Đây là tu viện trưởng của tôi.”
Philip không hài lòng lắm vì được gới thiệu là tu viện trưởng của Waleran.
Ông nói: “Philip thành Gwyned, tu viện trưởng của Kingsbridge, thưa giám mục.”
Philip dự định hôn nhẫn giám mục, nhưng Henry chỉ nói: “Thật tuyệt!” và đưa lên miệng một miếng thịt bò. Philip đứng đó lúng túng không biết phải xử thế làm sao. Họ không mời ông ngồi sao?
Waleran nói: “Chúng tôi sẽ gặp ông sau, Philip.”
Philip nhận ra là ông bị từ chối. Ông quay đi, cảm thấy bị bẽ mặt. Ông trở lại nhóm đứng gần cửa. Người quản gia, người đã cố ngăn Philip lại, cười với ông bằng một cái nhìn như muốn nói “tôi đã bảo rồi mà.” Philip đứng xa những người khác. Chợt ông cảm thấy xấu hổ về chiếc áo choàng màu nâu ông đã mặc ngày mặc đêm trong nửa năm qua. Các tu sĩ dòng Biển Đức thường nhuộm tu phục màu đen, nhưng từ nhiều năm nay Kingsbridge đã bỏ thói quen đó vì tiết kiệm tiền. Philip luôn tin rằng mặc quần áo đẹp là xa hoa, không thích hợp với những người dâng mình cho Chúa, ngay cả ở trong địa vị nào; nhưng bây giờ ông nhìn ra vấn đề. Có lẽ nếu ông đến trong quần áo lụa và lông thú, ông sẽ không bị ngược đãi như hôm nay. À, tốt, ông nghĩ, một tu sĩ phải khiêm nhường, vì thế mà nó tốt cho linh hồn tôi.
Hai giám mục rời bàn ăn và đến bên cửa. Một người tùy tùng chuẩn bị cho Henry một chiếc áo choàng màu đỏ có thêu và đường viền bằng lụa. Khi ông mặc áo, Henry nói: “Hôm nay ông không phải nói nhiều, Philip.”
Waleran thêm vào: “Hãy để chúng tôi nói.”
Henry nói: “Hãy để tôi nói,” ông nhấn mạnh trên chữ ‘tôi’. “Nếu vua hỏi ông, hãy trả lời rõ ràng và đừng phóng đại sự kiện. Nhà vua biết nhu cầu ông muốn có nhà nhờ mới mà không cần ông phải rên la hay nghiến răng.”
Philip không cần phải dặn điều đó. Tuy nhiên Philip gật đầu đồng ý và che dấu sự phẫn uất của mình.
“Chúng ta đi thôi,” Henry nói. “Anh tôi dậy sớm, và xử lý nhanh chóng công việc, sau đó đi săn bắn trong rừng.”
Họ đi ra. Một kỵ binh mang một thanh gươm ngang lưng, trên tay cầm một cây gậy đi trước Henry khi họ đi bộ tới High Street và rồi lên đồi theo hướng cổng phía tây. Người ta đứng qua hai bên cho hai giám mục đi qua, nhưng không nhường chỗ cho Philip, vì thế ông lẽo đẽo theo sau. Lâu lâu có người xin phép lành và Henry làm dấu thánh giá trên không, nhưng không dừng bước. Đến trước cổng nhà họ đi sang đường bên cạnh và qua cây cầu gỗ bắt ngang thành hào. Mặc dù được bảo đảm rằng ông không phải nói nhiều, Philip vẫn có một nỗi sợ trong lòng: ông sắp được gặp vua.
Lâu đài ở góc phía tây nam của thành phố. Tường phía tây và nam của nó là một phần tường của thành phố. Nhưng bức tường chia cách phía sau lâu đài và thành phố cũng không kém cao và chắc chắn so với tường phòng thủ bên ngoài, như thể nhà vua cần được bảo vệ trước thế giới bên ngoài cũng như trước các công dân của mình.
Họ đi vào qua cổng thấp và đến ngay pháo đài kiên cố trội hẳn lên giữa khu vực lâu đài. Nó là một tháp hình vuông. Đếm các lỗ châu mai, Philip nghĩ nó phải cao bốn tầng. Như thông thường, tầng trệt bao gồm nhà kho, một cầu thang bên ngoài dẫn đến lối vào tầng trên. Hai người lính gác dưới chân cầu thang cúi chào khi Henry đi qua.
Họ đi vào hội trường. Hội trường có nền trải thảm, có một lò sưởi, một vài ghế băng và vài chỗ ngồi được khoét trong tường. Trong góc, hai binh sĩ gác cầu thang dẫn lên lầu. Một người nhận ngay ra giám mục Henry. Ông gật đầu và lên cầu thang, có lẽ báo tin cho vua là em vua đang đợi.
Philip toát mồ hôi vì lo âu. Trong vài phút nữa tương lai ông sẽ được định đoạt. Ông ước gì có thể tin tưởng hơn vào những người đồng minh của mình, và ước gì buổi sáng nay đã quỳ cầu nguyện cho sự thành công của mình thay vì đi dạo phố Winchester. Ông ước gì đã mặc một chiếc áo sạch sẽ hơn.
Có hai mươi hay ba mươi người khác trong phòng, hầu hết là đàn ông. Dường như họ là một tập thể hỗn hợp gồm hiệp sĩ, linh mục và dân thành thị giầu có. Bất ngờ Philip ngạc nhiên: Percy Hamleigh ở bên cạnh lò sưởi, đang nói chuyện với một bà và một thanh niên. Ông ấy làm gì ở đây? Người đàn bà xấu xí là vợ ông và chàng trai là người con trai tàn bạo của họ. Họ là những cộng tác viên đắc lực của Waleran trong việc lật đổ Bartholomew: Nó khó có thể là một trùng hợp ngẫu nhiên mà họ có mặt hôm nay ở đây. Philip tự hỏi không biết Waleran có chờ đợi họ không. Philip nói với Waleran: “Ông có thấy…”
“Tôi thấy họ,” Waleran ngắt lời, rõ ràng không hài lòng.
Philip cảm thấy sự hiện diện của họ ở đây là một điều đáng lo ngại, mặc dù ông không thể nói lý do tại sao. Ông quan sát họ. Bố con giống nhau: to lớn, vạm vỡ, mái tóc vàng và khuôn mặt ủ rũ. Người đàn bà trông như quỷ, giống như các bức tranh vẽ về quỷ đang tra tấn tội nhân trong hỏa ngục. Bà ta không ngừng cạy các vết mụn trên mặt, tay bà luôn cử động. Chiếc áo choàng màu vàng bà đang mặc làm bà trông xấu hơn. Hai chân bà luôn di chuyển, mắt bà dõi theo mọi nơi trong phòng. Bà bắt gặp ánh mắt của Philip, ông vội vã quay đi.
Giám mục Henry di chuyển quanh phòng, chào những người ông quen biết, chúc lành cho những người khác, nhưng có lẽ mắt ông luôn để ý đến cầu thang, vì khi người lính đi xuống và nhìn ông gật đầu, ông vội vàng bỏ ngang cuộc nói chuyện.
Waleran theo Henry lên cầu thang và Philip theo sau với trái tim đập mạnh.
Căn phòng trên lầu cũng có cùng kích thước và hình dạng như lối vào hội trường, nhưng nó hoàn toàn khác. Tường được trang trí bằng những tấm thảm và sàn nhà được trải thảm bằng da cừu. Ngọn lửa cháy đỏ và căn phòng được thắp sáng bởi chục ngọn nến. Gần cửa ra vào là một bàn bằng gỗ sồi với bút mực và một chồng thư từ bằng da. Bên bàn là một giáo sĩ ngồi chờ viết chính tả cho vua. Gần lò sưởi, nhà vua ngồi trong một chiếc ghế gỗ phủ lông.
Điều đầu tiên mà Philip chú ý là nhà vua không đội vương miện. Ông mặc một áo dài màu tím bên trên quần da, giống như ông đang chuẩn bị đi ngựa. Hai chó săn lớn nằm dưới chân như cận thần trung thành. Ông trông giống em trai giám mục Henry, nhưng đường nét của Stephen đẹp hơn, và tóc ông màu hung. Tuy nhiên, họ có đôi mắt thông minh như nhau. Ông ngồi sâu trong ghế to – Philip cho là ngai vàng – trông có vẻ thoải mái, hai chân duỗi ra phía trước và hai tay dựa trên thành ghế. Mặc dù thế, một bầu khí căng thẳng bao trùm trong phòng.  Chỉ có nhà vua là thoải mái.
Khi các giám mục và Philip bước vào, một người đàn ông to lớn trong bộ quần áo đắt tiền rời khỏi phòng. Ông thân thiện gật đầu chào Henry, nhưng không để ý đến Waleran. Ông chắc là người có thế lực, Philip nghĩ.
Giám mục Henry đến gần vua, cúi chào và nói: “Xin chào, Stephen.”
“Tôi vẫn chưa thấy tên khốn nạn Ranulf,” Vua Stephen nói. “Nếu ông ấy không xuất hiện sớm, tôi sẽ chặt ngón tay ông ấy.”
Henry nói: “Một ngày gần đây ông sẽ đến, tôi hứa, nhưng dù sao có lẽ ông phải chặt ngón tay ông ấy.”
Philip không biết Ranulf là ai và tại sao nhà vua lại muốn gặp ông ta, nhưng ông có cảm tưởng rằng mặc dù Stephen không hài lòng, ông vẫn không thực sự có ý định cắt ngón tay Ranulf. Trước khi Philip có thể nghĩ thêm, Waleran bước lên và cúi đầu, và Henry nói: “Chắc ông nhớ Waleran Bigod, tân giám mục của Kingsbridge.”
“Có,” Stephen nói, “nhưng còn ai kia?” Ông nhìn vào Philip.
Waleran nói: “Đây là tu viện trưởng của tôi.”
Waleran không nêu tên ông, Philip ngạc nhiên về điều đó. “Philip thành Gwynedd, tu viện trưởng của Kingsbridge.” Giọng ông to hơn ông dự định. Ông cúi chào.
“Tới gần đây, cha tu viện trưởng,” Stephen nói. “Ông có vẻ sợ. Ông đang có điều gì phải lo lắng?”
Philip không biết phải trả lời làm sao. Ông đang có nhiều điều để lo. Trong tuyệt vọng, ông trả lời: “Tôi lo lắng vì tôi không có quần áo tươm tất hơn để mặc.”
Stephen cười to, nhưng không phải là nụ cười đểu cáng. “Vậy hãy ngưng lo lắng,” ông nói. Liếc mắt nhìn về người em trong bộ quần áo đẹp đẽ, ông nói thêm: “Tôi muốn một tu sĩ trông như một tu sĩ, không phải trông như vua.”
Philip cảm thấy thoải mái hơn.
Stephen nói: “Tôi đã nghe nói về cuộc hỏa hoạn. Ông đang xử lý như thế nào?”
Philip nói: “Vào ngày có hỏa hoạn, Thiên Chúa đã gửi đến cho chúng tôi một thợ xây. Ông đã nhanh chóng sửa sang lại tu viện và chúng tôi dùng tầng hầm cho các giờ kinh. Với sự giúp đỡ của ông ấy, chúng tôi đã dọn sạch đống đổ nát, sẵn sàng xây mới lại; và ông ấy đã thiết kế dự án nhà thờ mới.”
Waleran nhướng mày, ông không biết về kế hoạch này. Philip sẽ nói cho ông nếu ông hỏi; nhưng ông đã không hỏi gì. Nhà vua nói: “Thật đáng khen. Khi nào ông bắt đầu xây?”
“Khi nào tôi tìm ra tiền.”
Giám mục Henry chen vào: “Đó là lý do tại sao tôi đưa Tu viện trưởng Philip và giám mục Waleran đến gặp ông. Cả tu viện lẫn giáo phận đều không có nguồn kinh phí cho một dự án to lớn như thế.”
“Nhà vua cũng vậy, em thân yêu ạ,” Stephen nói.
Philip thất vọng: Đó không phải là một khởi đầu đầy hứa hẹn.
“Tôi biết,” Henry nói. “Vì thế tôi đã tìm cách để ông có thể tạo cho họ cơ hội xây lại nhà thờ Kingsbridge, nhưng chính ông không phải mất gì cả.”
Stephen nhìn hoài nghi. “Và ông có thể đưa ra một kế hoạch ma thuật để làm được chuyện đó?”
“Vâng. Đề nghị của tôi là ông nên giao cho giáo phận đất đai của bá tước ở Shiring để tài trợ cho dự án xây dựng.”
Philip ngừng thở.
Nhà vua trông có vẻ tư lự.
Waleran mở miệng nói, nhưng Henry ra dấu cho ông im lặng.
Nhà vua nói: “Đó là một ý tưởng rõ ràng. Tôi muốn làm điều đó.”
Trái tim Philip nhẩy mừng.
Nhà vua nói: “Thật không may, tôi hầu như đã hứa trao lãnh địa này cho Percy Hamleigh.”
Một tiếng kêu toát ra từ miệng Philip. Ông đã nghĩ nhà vua đã đồng ý. Sự thất vọng này giống như một vết dao đâm. Henry và Waleran chết lặng. Không ai dự đoán điề