NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG

Tác giả Bài
Lâm Du Yên

  • Số bài : 107
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 02.09.2019
  • Trạng thái: offline
NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG 17.09.2019 13:13:56 (permalink)
NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG
Truyện dài - Lâm Du-Yên
 
PHẦN MỘT

Ở xóm Đình có hai người mà chỉ cần hỏi đến tên, cả đứa con nít cũng biết và dẫn bạn đến trúng phóc nhà họ . Đó là ông Năm Từ (người giữ đình) và ông Hai Rác (người vớt rác trên sông).
Họ là hai anh em ruột, trước đây ông Hai được bà con giao nhiệm vụ nhang khói trong đình. Từ ngày Năm, người em trai của ông từ dưới quê lên tá túc, ông Hai giao lại cho em mình việc đó còn ông thì mua một cái xuồng rồi làm cái nghề mà mình yêu thích : Vớt rác trên mấy con kinh.
Sát bờ kinh là một dãy nhà mái lá, mái tôn xen kẻ. Căn nhà nào cũng rất hẹp, bề ngang chừng ba mét đổ lại. Nhà ông Hai hẹp nhất bởi trước đây là khoảng trống giữa hai căn nhà.
Những căn nhà ở ké phân nửa thổ địa, phân nửa bà thủy nầy từ sáng đến tối luôn ồn ào, xô bồ xô bộn...Tiếng cười nói cãi cọ không ngớt.
Dân ít tiền xài tự do bù lại. Họ ít có thứ để mất nên hể thấy cái gì trái chướng là cự nhoi, mà vào cái thời buổi nầy mấy cái chuyện chướng mắt, chướng tai thì nhiều vô thiên lủng.
Có một điều nghịch lý ở xóm Đình, đó là những căn nhà càng nhỏ thì càng đông người chen chúc. Những căn nhà hẹp sát bờ kinh, để đủ chỗ chứa hơn bốn nhân khẩu trở lên, đều ốm nhom mà dài thòng. Nó rất giống mấy cây cầu ván đơn sơ bắt qua những con kinh miệt ruộng, có điều thêm cái mái ở trên.
Nhà ông Hai ngoại lệ, ngắn nhất vì ông ở một mình. Chiều dài của nó nhỉnh hơn chiều cao của ông Hai một chút. Hai bức vách mượn của hai căn nhà bên cạnh. Cái sàn mấp mô bởi mấy tấm ván dày mỏng không đều, chúng nằm trên những cây cột tràm to nhỏ khác nhau: Có cây lớn hơn cùm cẳng, có cây chỉ độ bắp tay. Mấy tấm tôn trên mái tấm thì rỉ sét, tấm mới thay thì xám hơn mái tóc của ông một chút.
Ông Hai hơn lối xóm một chiếc xuồng, ngoài thứ đó ra cái gì ông cũng thua họ. Chẳng hạn mỗi nhà đều có ít nhất là hai, ba, bốn...đôi dép để trước cửa, hai cái ông lò, hai chiếc chiếu, còn ông thì chỉ một. Thậm chí ông còn không có cái ông lò nào bởi suốt ngày ở miết trên xuồng, chỉ có tối mới lên nhà.
Ông Hai vớt tất cả mọi thứ trên sông, bán được hoặc không bán được: Những trái dừa hư, những khúc cây mục cho đến mấy thứ đồ nhựa, nhiều nhứt là bọc ni lông với các thứ bên trong.
Việc tiếp xúc với rác khiến ông Hai dần dần bị bà con đồng hóa với chúng. Từ một ông thủ từ được bà con kính trọng, ông bỗng trở thành người bị rẻ rúng nhứt xóm. Cho dù tính cách của ông không hề thay đổi và công việc của ông xem ra có ích hơn gấp mấy mươi lần.
Những món vớt lên được ông phân loại. Đồ nhựa để bán cho mấy gánh ve chai; Vỏ dừa và củi được ông chẻ nhỏ đem phơi trước nhà ; Mấy thứ không bán hoặc không làm củi được thì bị ông gom bỏ vô bô rác.
Bà con xóm Đình, nhất là những người sống ở bờ kinh đều nghèo nên họ thường sai mấy đứa con đến xin củi về để đốt nấu cơm. Cho nên vào những buổi chiều thỉnh thoảng người ta nghe tiếng gọi gióng giả của một người phụ nữ:
-Bé Tư ơi ! Chạy lại nhà ông Hai Rác xin một mớ củi về cho má nấu cơm.
Con nhỏ bé Tư đó bèn ngưng ngang cuộc chơi, năn nỉ mấy đứa kia:
-Chờ tao chút xíu nghe !
Rồi ba chưn bốn cẳng chạy đi hốt một ôm củi. Nó chẳng những không thèm hỏi xin còn lầm bầm trong miệng, cằn nhằn cái ông Hai kỳ cục ấy, sao khoái làm mấy cái chuyện ruồi bu nầy làm chi cho nó khổ!
Ông Hai ăn uống hết sức đạm bạc. Những thực phẩm ông có hầu hết đều do người em mang đến, đa số đều làm từ chuối. Xóm Đình không giàu nên bà con thường mang chuối đến tạ lễ. Chuối nhiều quá ăn đâu có hết. Ông Năm đem phơi khô, nuôi giấm ...còn dư thì luộc ăn thay cơm.
Một năm ông Hai được rửa ruột một lần, đó là vào dịp lễ kỳ yên. Ba ngày ấy ông không vớt rác. Tắm gội sạch sẽ, ăn mặc tươm tất, bưng một mâm nhang đèn đến đình cúng.
Cúng xong, ông không ngồi vào bàn tiệc với bà con mà mang cái mâm trong đó có cục xôi và mấy cái đầu, cánh, cẳng gà được kiến lại, về nhà mà ăn một mình. Năm nào có người cúng heo quay, ông Năm sẽ lén bà con, bỏ vô mâm của anh mình thêm một miếng nhỏ.
Ngày lễ kỳ yên ở xóm Đình được hết thảy mọi người mong đợi, nhứt là mấy đứa con nít nhà nghèo. Chúng đi theo ba má, chạy tọt vô bếp để ăn ké miếng xôi, miếng thịt. Chúng quanh quẩn trong đình suốt ngày, chờ đến tối để ngồi bệt trên nền xi măng cả mấy tiếng đồng hồ xem hát bộ.
Năm đó khi ba ngày lễ đã đi qua, sáng hôm sau ông Hai lại đi vớt rác như cũ. Chiều hôm ấy khi ông Hai bơi chiếc xuồng đầy rác về, bỗng thấy có một cô gái đang nằm trong căn nhà của mình.
Cô gái thấy ông Hai về thì lật đật ngồi dậy. Hai bàn tay cô lập tức đặt vào nơi to nhất của cơ thể mình: cái bụng, để giấu nó lại.
Ông Hai ngạc nhiên hỏi:
-Cô là ai ? Sao ở trong nhà tui ?
Cô gái lấy bớt ra một bàn tay, đưa lên để chùi cả hai giọt nước vừa chui ra từ khóe mắt, không cho nó chạy thẳng xuống để làm ướt hai gò má.
Cổ đáp:
-Con ghé đình xin ngủ nhờ một đêm, ông Năm dắt con tới đây.
Ông Hai không dám nhìn tận mặt cô gái, ông hỏi:
-Cô ăn cái gì chưa ? Có đói bụng không ?
Cô gái lắc đầu:
-Con ăn sáu trái chuối luộc, no dữ lắm rồi !
Vừa nói cô vừa chỉ tay vào cái dĩa chuối nấu. Cái dĩa to bị mẻ một miếng nhỏ bằng móng tay trên vành, trong đó còn đến năm, bảy, trái chuối sáp vàng tươi.
Ông Hai không dỡ rác từ xuồng lên liền như mọi bữa. Ông lật đật nhảy xuống sông tắm rồi trùm cái chàng xà rông vào để thay đồ.
Ông bảo cô gái:
-Tui đi đằng nầy một chút ! Cô lấy cái mùng giăng lên rồi chui vô nằm. Ở đây chiều tối muỗi hằng hà sa số, cắn chịu hổng thấu đâu.
Rồi ông đi tuốt lại đình.
Ông Năm đang cúng, thấy ông anh của mình tới thì làm lẹ lẹ cho xong. Ông xá lia lịa tứ phương, cắm nhang vào mấy cái lư hương, rồi nói:
-Anh cho cổ ngủ nhờ rồi lại đây ngủ với tui.
Ông Hai hỏi:
-Cổ là ai vậy ?
Ông Năm lắc đầu:
-Tui đâu có biết ! Chắc giận chồng nên bỏ nhà đi cho đã nư. Cổ tưởng là đình bây giờ cũng như ngày xưa, ai lỡ đường là cứ ghé vô ngủ đỡ. Họ đâu có biết là phải có giấy tạm trú hẳn hoi, cho dù đình chùa gì cũng không được chứa chấp bậy bạ, tùm lum được.
Ông Hai nói:
-Chú đưa tui mượn cái mền của chú đi, cho cổ đắp. Cái mền của tui lâu rồi chưa giặt.
Ông Năm đưa cái mền con rồng còn khá mới cho ông Hai rồi nói:
-Cái mền của tui chắc cũng hổng khá hơn đâu ! Thôi lấy cái nầy đi.
Ông Hai không cầm mà nói:
-Cho tui gửi đó đi, một chút quay lại lấy. Chú cho mượn cái gà mên nữa.
Ông Năm hỏi:
-Chi vậy ?
Ông Hai đáp:
-Tui đi mua cho cổ một tô mì.
Ông Năm nói:
-Tui có đưa cho cổ mười mấy trái chuối nấu rồi.
Ông Hai gật đầu:
-Tui có thấy, cổ ăn đâu có hết, chắc ngán ngược rồi. Tội nghiệp...


Ông Hai xách cái gà mên đi ra đầu xóm. Ngã ba đầu hẽm là nơi các gánh hàng tập trung rất đông. Bà con trong xóm ông và vài người ở xóm khác, chiếm cứ chỗ nầy từ chiều đến tối để làm nơi bán thức ăn. Người bán món ngọt, kẻ bán món mặn, cháo ta, mì tàu lủ khủ. Còn có một ộng chệt bán chè hột vịt theo kiểu người Hoa nữa.
Lúc sau nầy chiến dịch giải tỏa lòng, lề đường ngày một gắt gao. Mấy ông Công An đem theo xe tải, bố ráp thình lình, tịch thu hàng hóa, phạt tiền...
Bà con dựa vào việc buôn bán để nuôi sống gia đình nên đành phải làm liều. Để chạy cho nhanh, lủi trốn cho lẹ, họ không xài gióng gánh kềnh càng như trước nữa. Họ cho tất cả các đồ đạc vào một cái thùng có gắn bốn bánh xe để dễ dàng di chuyển hơn.
Họ vừa bán vừa dỏng tai, liếc mắt nghe ngóng. Hể nghe "công an tới" là đẩy xe chạy thục mạng, có khi khách ăn cũng bưng tô chạy theo, trông vui đáo để!
Khi ông Hai đến nơi, một cuộc bố ráp vừa xảy ra trước đó. Đường phố như một bãi chiến trường sau một cuộc rút lui vô trật tự. Mấy cái ly bễ còn nằm chình ình ăn vạ; Nguyên một rỗ giá của ai bị hất đổ, rơi tung tóe khắp mặt đường; Hủ tương ớt bị thương nằm sấp mặt xuống đất... vậy là xương phơi, máu chảy không thiếu thứ gì!
Ông Hai ngán ngẩm, định xách gà mên trở về thì Tư Nên đang đẩy chiếc xe mì của y trờ tới. Thấy ông Hai đứng lớ ngớ, y bèn dừng xe lại hỏi:
-Anh Hai đợi ai vậy?
Ông Hai đáp:
-Đợi chú chớ đợi ai! Bộ mới chạy giặc về hả?
Tư Nên gật đầu, mặt mày nhăn nhó:
-Làm cái giống gì mà hổm rày ngày nào họ cũng đi hốt! Kiểu nầy chắc hết vốn phải đi ăn trộm mà sống quá! Anh mua hủ tiếu hay mì?
Đưa cái gà mên cho y, ông Hai nói:
-Bán cho tui một tô mì đi chú Tư .
Tư Nên hỏi kiểu cà rỡn:
-Bộ bữa nay vô mánh hay sao mà ăn sang quá vậy cha?
Ông Hai cười khổ:
-Cái nghề của tui thì mánh mun gì được? Lâu lâu thèm thì mua ăn thôi!
Tư Nên không dừng lại để bán mà đẩy thêm một đổi để đậu đúng bon vị trí cũ của mình.
Y cầm cái gà mên, mở nấp vung cái nồi to đùng có hai ngăn, múc một vá nước trụn, tráng sơ rồi đổ trở lại vô chỗ cũ. Y làm theo thói quen, rất đúng trình tự, thế nhưng ông Hai không biết, tưởng y chê cái gà mên của mình không sạch, nên có phần phật ý!
Ông nói giọng bất bình :
-Cái gà mên nầy tui mượn của chú Năm nó, còn mới tinh mà!
Tư Nên biết ông Hai hiểu lầm liền giải thích:
-Làm vậy đặng mì nóng lâu chớ không phải để cho sạch đâu. Nấu cho ai tui cũng làm giống hệt, kể cả mấy cái tô của tui, tui cũng phải tráng nước sôi rồi mới nấu.
Vừa giũ cái gà mên cho ráo, y vừa hỏi:
-Nấu mấy vắt? Mì lớn hay nhỏ?
Ông Hai đáp:
-Hai vắt mì nhỏ.
Y lại hỏi:
-Tô thường hay đặc biệt?
Ông Hai hỏi lại:
-Thường là bao nhiêu? Còn đặc biệt thì bao nhiêu?
Tư Nên đáp:
-Năm ngàn, đặc biệt thì bảy ngàn. Ăn tô đặc biệt cho sướng cái miệng đi!
Ông Hai gật đầu:
-Cũng được!
Tô mì nấu chưa xong mấy người khách ăn ban nãy đã lục đục kéo về. Một người đàn ông trung niên, đưa cái tô còn chút nước lèo dưới đáy, trả tận tay cho tư Nên rồi nói:
-Chán thấy bà! Ăn mì mà giống như đi ăn cướp! Bao nhiêu vậy cha?
Tư nên nhìn cái tô rồi nói:
-Bảy ngàn!
Ông ta cự nự:
-Mắc vậy! Hồi nãy tui biểu bán năm ngàn mà! Có tính lộn hông đó?
Tư Nên lắc đầu:
-Hổng có lộn đâu ông anh. Tô bông xanh năm ngàn, tô bông đỏ bảy ngàn. Nhìn cái tô là phân biệt được liền.
Y ta móc bóp lấy tiền ra trả, nét mặt quạu đeo.
Chờ y đi khỏi, tư Nên phân bua:
-Cha nội này kỳ lắm! Lần nào trả tiền cũng vậy hết. Tiếc tiền quá thì đừng có ăn!
Nghe y mắng người khách mà ông Hai ngại, liền móc đúng bảy ngàn ra trả một cái rụp liền. Ổng ghé đình lấy cái mền rồi một tay ôm mền, một tay xách gà mên lầm lũi đi.
Về tới nhà thấy cô gái đang ngồi chong ngóc trong mùng, ông hỏi:
-Chưa ngủ hả cháu?
Cô gái đáp:
-Dạ còn sớm quá!
Ông đặt cái gà mên sát vách mùng, nói:
-Cháu ăn mì liền đi cho nóng!
Cô gái cảm động đến ngỡ ngàng, hỏi lại:
-Bộ bác mua cho cháu đó hả?
Ông Hai gật đầu rồi rút đôi đũa với cái muỗng nhôm vắt trên vách đặt vào gà mên. Ông lấy cái mền của mình, để cái đang cắp trong nách xuống, rồi nói:
-Cháu gài cửa lại đi, bác vô đình ngủ. Có ai kêu thì đừng có mở cửa nghe hông?
Sợ cô gái nghe vậy thì lo ngủ không được, ông nói thêm:
-Bác dặn hờ vậy thôi chớ mấy đứa trong xóm nầy hiền khô hà! Chỉ có vài đứa có tánh ba trợn hay thích ghẹo chọc cho vui chớ không có ý gì đâu, cháu đừng có sợ.
Cô gái chưa kịp cám ơn ông đã bỏ đi. Cô ta bèn chui ra gài cửa. Mấy con muỗi đang phục kích bên ngoài liền túa lại. Cô gái lại chui lẹ vô mùng, kéo gà mên vào rồi tấn mùng lại liền.
Tô mì còn nóng hổi, cô vừa ăn vừa hít hà vì nhai trúng miếng ớt. Đây là lần đầu tiên cô được ăn món mì ngon đến vậy. Vừa ăn vừa húp xì xụp, mì hết mà nước lèo vẫn còn nhiều. Cô ước thầm phải chi có một chén cơm nguội thả vô mà ăn cho đã, rồi bưng gà mên lên, kê miệng húp cho đến hết.
Sáng hôm sau ông Hai về nhà. Cô gái vẫn còn ngồi yên trên chiếu, mền mùng đã được xếp lại rất gọn gàng, thế nhưng mái tóc của cô thì rối nùi.
Ông Hai tưởng cô quên nên nhắc :
-Cháu nhớ chải đầu rồi hãy đi nghen!
Cô gái thở dài:
-Cháu không có lược.
Ông Hai ngạc nhiên, nhìn kỹ không thấy túi đồ của cô gái. Trong bụng bắt đầu hồ nghi.
Ông hỏi:
-Bộ cháu không có đồ đạc gì hay sao?
Cô gái tu lên khóc, cô kể:
-Bà chủ đuổi cháu ra khỏi nhà, không cho cháu lấy một món gì theo hết!
Ông Hai ngạc nhiên:
-Chủ gì mà ác nghiệt dữ vậy? Cháu phạm tội gì mà bị bà ta đối xử tàn tệ kiểu đó!
Cô gái cứ nức lên khóc, giọng hết sức nghẹn ngào :
-Ông chủ chui vô mùng cháu bị bà chủ bắt gặp. Bả nói cháu dụ dỗ ổng. Nửa đêm bả xô cháu ra khỏi nhà, hăm cháu mà ở lại là kêu công an tới bắt bỏ tù.
Ông Hai hỏi :
-Phải ông chủ làm cháu có bầu hông?
Cô gái gật đầu. Ông Hai nghe tức đến khó thở, ông trách:
-Sao cháu dại khờ quá vậy? Sao không chịu chống cự, la làng lên cho ổng xấu hổ!
Cô gái khóc:
-Cháu sợ lắm! Ổng nói cháu mà la là ổng bóp cổ cho chết liền.
Ông Hai vừa giậm chân vừa hỏi:
-Tại sao cháu không bỏ trốn?
Cô gái còn khóc tợn:
-Bà chủ giữ hết giấy tờ, chưa trả tiền lương thì làm sao mà đi cho được.
Ông Hai nghiến răng:
-Đồ bất lương!
Suy nghĩ giây lâu ông hỏi:
-Cháu mấy tuổi rổi!
Cô gái trả lời:
-Cháu mười bảy tuổi!
Nhìn gương mặt già trước tuổi của cô gái ông Hai thở dài, trách:
-Sao không ở nhà đi học mà đi làm sớm chi vậy?
Cô gái đáp:
-Nhà cháu nghèo lắm! Cháu tính đi làm có tiền phụ má cho thằng Út ăn học tới nơi, tới chốn, nào dè...
Ông Hai thở dài. Suy nghĩ hồi lâu, ông hỏi:
-Cháu có dám dắt bác tới gặp bà chủ đặng đòi tiền cho cháu hông?
Cô gái hỏi lại:
-Rủi họ kêu công an bắt cháu thì sao hả bác?
Ông Hai lắc đầu trấn an:
-Cháu không có tội gì hết! Có bác đây cháu đừng có sợ!
Cô gái nhìn ông Hai một cách nghi ngờ.
Ông Hai cười, trấn an:
-Nói thật với cháu ngày trước bác có đi học, có hiểu qua pháp luật. Nhờ vậy mà biết chuyện của ông bà chủ đối xử với cháu chẳng những có tội mà còn là tội rất nặng nữa. Nếu thưa ra là ổng ở tù rục xương chớ hổng phải chơi. Tại họ thấy cháu khờ dại nên ăn hiếp. Cháu cứ dắt bác tới gặp họ, mình nói phải quấy trước, họ không nghe thì đi thưa.
Nghe đến đi thưa cô gái thất sắc. Cô ta năn nỉ:
-Đi thưa tốn tiền lắm bác ơi! Cháu nghe người ta nói ai tiền nhiều mới thắng.
Ông Hai lắc đầu:
-Tin bác đi, họ điên mới để mình đi thưa. Cho dù có thưa thì mình không tốn một đồng vẫn thắng.
Thấy cô gái lên cơn rung. Ông Hai giải thích:
-Cháu còn trong tuổi vị thành niên, ông ta cưỡng bức đến nổi cháu mang thai là phạm tội hình sự, án nặng lắm, có khi phải ở tù tới mười mấy, hai chục năm. Bác sẽ buộc họ phải bồi thường thích đáng. Số tiền đó chẳng những giúp cháu sống đàng hoàng cho đến ngày sinh nở, mà còn đủ để cháu nôi con sau nầy nữa.
Rồi ông bảo cô gái:
-Bây giờ bác đi mua mấy bộ đồ. Cháu ở nhà lo tắm gội cho sạch. Bác cháu mình phải ăn mặc tươm tất mới khiến họ nể, họ sợ. Mới có khí thế mà nói chuyện với họ.
Mấy tiếng đồng hồ sau, khi ông Hai quay về, cô gái nhìn ông trân trối. Bộ âu phục và đôi giày tây mang dưới chân khiến ông thay đổi chẳng thể ngờ.
Ông đưa một cái túi cho cô rồi nói:
-Cháu mặc bộ đồ mới nầy nè! Trong đó còn có một cây lược nữa. Cháu chải tóc rồi kẹp lại cho gọn, xong xuôi đi ra ngoài đình mà gặp bác.
Giọng nói của ông Hai hết sức chững chạc. Không hiểu ông cố ý hay vô tình thay đổi để tương thích với hình tượng mới, khiến cô gái kính phục và răm rắp nghe theo.
Ông Hai đi rồi mà cô gái vẫn còn đứng há hốc miệng. Diện mạo mới của ổng làm cổ bàng hoàng.
Cô gái tự hỏi tại sao con người ta có thể thay đổi đến vậy? Tại sao một người có học như ông Hai phải ở cái chỗ như ổ chó nầy và làm cái nghề vớt rác trên sông?

Nửa đêm, tiếng mưa lộp độp trên mái tôn khiến ông Hai giựt mình thức giấc. Lật đật chui ra khỏi mùng, ông lấy cái thau đang treo trên vách, để liền lên nóc mùng, nơi đã có một giọt nước vừa rơi xuống .
Ông Hai nới dây cho cái mùng chùng xuống thật thấp. Ông đem cái thùng đựng nước vô giữa mùng, để cái thau ngồi yên ổn lên nắp rồi ông mới nằm xuống, nhắm khít rịt hai con mắt cố ngủ trở lại.
Tiếng gọi con dồn dập của cô tám Gói nhà sát bên vang lên:
-Gọn, Gọn...chạy ra hốt một ôm củi của ông Hai đem vô nhà cho má, để một chút má nấu xôi.
Con Gọn cằn nhằn:
-Sao má không sai con Lẹ? Hở hở là kêu con.
Tiếng cô Tám nạt rân:
-Bộ mày không biết nó mà ngủ thì cháy nhà cũng không hay sao? Ra cho lẹ hông? Ba cái nếp tao ngâm rồi, không có củi nấu là sình chương chỉ có nước đem đổ.
Có tiếng con Gọn tu lên khóc rồi tiếng mở cửa át hẳn tiếng mưa.
Mưa bắt đầu nặng hạt hơn. Bên nhà cô Tám chắc cũng dột nên ông nghe cổ nói tiếp:
-Lấy thêm một cái thau đưa đây cho má.
Giọng con Gọn quạu đeo:
-Hết thau rồi!
Cô quát lớn:
-Vậy thì lấy cái nồi.
Con Gọn hỏi to:
-Cái nồi nào?
Cô Tám gắt:
-Cái nào cũng được, nhớ lấy cái rế theo để lót.
Rồi cổ xuống nước, hỏi con Gọn một cách nhỏ nhẹ:
-Củi có ướt nhiều hông con?
Con Gọn đáp
-Sương sương
Chắc hai mẹ họ chui vô mùng ngủ tiếp nên thôi trò chuyện, chỉ còn lại tiếng mưa...
Cái mùng quá thấp khiến ông Hai nghe ngộp thở, khó mà ngủ lại. Ông lại làm cái chuyện thường làm khi mất ngủ, đó là "nhớ".
Đầu tiên ông nhớ mấy mẫu chuyện vui, ba cái thứ nầy hay trồi lên đầu. Ông nhớ Thương, cô gái hôm trước. Nhớ nét mặt mừng rỡ của cô khi lấy lại được túi đồ và cầm ba cây vàng của bà chủ bồi thường trong tay. Nhớ dáng vẻ căng thẳng của cô khi đưa miếng vàng cho người thợ kim hoàn nhờ thử. Đây là số vàng lớn nhất mà cô có nên khó tin là thật. Nhớ cái chuyến đưa cổ về nhà (cổ năn nỉ ông tháp tùng theo, làm ba chồng giả để trấn an má cổ và giúp bà không bị mất mặt với bà con lối xóm). Nhớ cái cú thót tim khi bị bà Năm, má Thương, chị sui ngang hông, hỏi :
-Thằng chồng con Thương nó họ tên gì vậy anh? Mất ngày nào, tháng nào, tuổi con gì để tui biết mà nhờ mấy thầy trong chùa tụng cầu siêu cho nó.
Thương nhanh trí hơn đáp:
-Ảnh tên Lương văn Khởi, tuổi con chó, mất ngày rằm tháng chín.
Ông Hai cười thầm khi nhớ ra đây là tên của cái thằng cha ông viết trong lá đơn đem theo, định đưa ra để dọa hai vợ chồng họ. Chắc y ta cũng tuổi con chó thiệt.
Bà Năm trách:
-Sao nó chết cả tháng trời con mới chịu về nhà cho má hay?
Ông vội đỡ lời:
-Lúc đó mắc thưa kiện lu bu lắm! Chủ của cái chiếc xe hàng cán nó, họ không chịu bồi thường phải nhờ tòa xử mới lấy được đó chị!
Bà cự:
-Xử cái giống gì mà lâu dữ vậy? Ai phải, ai quấy ngó vô một cái là biết liền. Nhà nước nầy làm ăn cái gì cũng cà rề...làm như muốn nhử để moi tiền con người ta vậy!
Ông liền giải thích:
-Tại họ xót tiền nên khiếu nại tới lui hoài.
Bà Năm lại cằn nhằn:
-Cái mạng con người ta đâu có rẻ! Đền bao nhiêu cũng đâu có mua lại nổi mà còn tiếc là sao?
Rồi bà nói:
-Ngày mai con theo má qua chùa, xin sư ông viết cho cái bài vị đem về thờ trước rồi phóng tấm hình để lên sau. Chưa đủ bốn mươi chín ngày thì phải cúng cơm mỗi bữa. Cái bàn thờ phải đốt nhang với chong đèn hoài không được để cho nhang tàn, khói lạnh.
Ông Hai không muốn họ phiền hà nên ngăn lại:
-Tui có một thằng con thôi nên thương lắm! Có lập bàn thờ tại nhà, đốt nhang, cúng cơm mỗi ngày. Nhà gần chùa nên tui hay tới tụng kinh cho nó, chị đừng có lo, ba cái chuyện cúng kiến nầy để tui gánh hết cho!
Bà Năm cự nự:
-Anh nói vậy nghe sao được. Bề gì nó cũng có vợ con, đem bàn thờ về đây mới đúng!
Ông Hai và Thương ngán ngẩm nhìn nhau. Cái giải pháp "chồng chết" mà hai bác cháu cho là thượng sách nầy, ngờ đâu nãy sinh quá nhiều rắc rối.
Cù lao Cổ Cò rất nhỏ, ở đây hầu hết những căn nhà đều làm bằng tre và lá. Nhà của Thương là một trong số đó. Nó nằm cạnh bờ sông, quay mặt ra con lộ nhỏ. Mái lợp lá chầm, nền đất, cột tre. Vách che bằng những tấm liếp đan bằng lá dừa nên hơi thưa, gió chỉ cần thu mình là chui lọt tót nên lúc nào cũng mát.
Ông Hai thích nhất là cái võng dây bố treo ngoài hàng ba. Cái võng nầy đã cũ lắm rồi! Những sợi dây bị đứt được bà Năm nối lại bằng vải vụn, chắc xin của mấy người thợ may trong xóm. Nó được chấp vá đủ chỗ, đỏ đỏ, xanh xanh, đen đen...trông cũng ngộ.
Có một cây mận rất to đứng gần thềm, đang rải bông đều đều làm trắng xóa cả một góc sân. Gió thổi mạnh khiến một chiếc lá đã vàng bay vèo rồi đáp ngay lên võng. Ông Hai bỗng thấy ganh tỵ với chiếc lá may mắn đó quá! Nói ba điều, bốn chuyện xong, ông liền xin phép bà sui rồi thót lên võng, giành nằm với nó.
Bữa cơm chiều hôm đó, vì có khách quý nên bà Năm mua hai hộp cá mòi hiệu "Ba cô gái" của Thái Lan, luộc thêm hai cái hột vịt. Bà ra giàn cắt thêm một trái bầu để nấu canh với tôm khô.
Ông Hai ăn một cách ngon lành. Ông cứ tấm tắc khen nồi canh sao mà quá ngon, quá ngọt! Lời khen chân tình ấy khiến bà Năm và Thương mừng ra mặt.
Tối hôm đó ba mẹ con họ: Thương, thằng Út và bà Năm cùng ngủ chung trên tấm giạt tre trong buồng. Ông Hai phải ra cái võng ngoài hiên nằm ngủ.
Bà Năm tỏ vẻ ngại ngùng vì tiếp ông sui không được chu đáo. Bà nói bằng giọng nghẹn ngào vì tủi:
-Anh sui miễn lỗi giùm tui nghe! Anh coi đó, nhà nghèo tới mức không lo được một chỗ ngủ đàng hoàng cho sui gia. Thiệt là tệ quá!
Ông Hai gạt phắt:
-Tui còn nghèo hơn chị nữa. Chị còn có được một cái võng, coi như sang hơn tui nhiều lắm đó! Tui thèm nằm võng dữ quá mà đâu có chỗ treo.
Bà Năm ngạc nhiên:
-Sao vậy anh?
Ông Hai cười giả lả:
-Nhà sàn, cột tràm ốm nhom, yếu xìu hà! Giăng cái võng, leo lên nằm đưa một cái là sập nhà liền.
Bà hỏi lại:
-Yếu tới cỡ đó lận sao?
Ông Hai gật đầu nói tiếp:
-Đã vậy nó còn nhỏ xíu, bề ngang chừng hơn thước rưởi, bề dài nhỉnh hơn một chút, bằng phân nửa nhà chị. Giăng cái võng là hết đường đi tới, đi lui!
Bà Năm lại hỏi:
-Vậy thì làm sao đủ chỗ cho hai vợ chồng nó với anh ngủ ?
Ông Hai gãi đầu:
-Thì...thì tui ra hàng ba nằm. Ăn nhiều chớ ở có bao nhiêu?
Bà Năm ngẫm nghĩ giây lát rồi hỏi:
-Bộ họ bồi thường tới ba cây vàng lận hả anh?
Ông Hai gật đầu, nói hớ:
-Hăm dọa dữ lắm mới được bây nhiêu đó chị. Ban đầu họ nhứt quyết đền một cây thôi! Nói ráo nước miếng mới được chừng đó! Tui còn bắt con mẻ phải trả đủ tám tháng lương của con nhỏ nữa...
Bà Năm ngạc nhiên:
-Lương gì vậy anh?
Ông Hai hết hồn:
-Trời đất ơi! Tui lú lẩn hết rồi, chuyện nọ xọ chuyện kia...Đó là chuyện khác.
Thương sợ xanh mặt nên lật đật hối má:
-Má hổng đi mời bà con đi! Má đi liền để mình làm xong cho sớm đặng ba con còn về Sài Gòn. Bỏ bàn thờ của ảnh tối thui hổng tốt!
Ông Hai ngạc nhiên hỏi:
-Mời ai? Chuyện gì mà mời vậy Thương?
Bà Năm phân bua:
-Dù bây giờ thằng chồng của nó mất rồi, nhưng phải thông báo cho hai bên nội ngoại biết. Sẵn anh còn ở đây, tui tính nấu một mâm cơm đãi bà con rồi giới thiệu sui gia luôn. Anh ráng ở lại vài bữa giùm tui.
Rồi bà chậm nước mắt:
-Con gái tui hồi đi đẹp như cái bông, bây giờ thì...
Bà dừng lại, lắc đầu rồi nói tiếp:
-Thôi số trời đã định, cho ai thì người nấy hưởng, mình vô phước vô phần. Thiên hạ có cười thì phải ráng mà chịu, chớ biết làm sao bây giờ!
Cái cảnh đóng vai ba chồng nầy làm ông Hai mấy phen chết hụt, cũng may mà bà con ở đây ai cũng hiền lành, dễ tin. Họ là những người chơn chất nhất mà ông biết. Cái nghề vớt rác trên sông của ông chẳng hề làm ai dị ứng, coi thường. Có người còn ao ước nữa, mới ngộ!
Họ còn tò mò hỏi coi có khi nào ông mở bọc rác ra gặp cái gì thiệt khủng khiếp hông? Như ngón tay người ta chẳng hạn. Ông Hai chợt nhớ cái lần mình bắt được một hàm răng giả, sợ đến đớ lưỡi. Ông bèn kể lại rồi giả bộ nói ngọng luôn làm mọi người cười nghiêng ngã.
Ông cậu Ba của Thương hỏi:
-Mỗi ngày anh kiếm được bao nhiêu?
Ông Hai đáp thí đại:
-Tùy theo hên xui. Độ từ mười cho tới hai chục ngàn.
Ông cố ý phóng đại lên tí chút cho Thương đỡ tủi.
Cậu Ba của Thương tấm tắc:
-Gần gấp đôi cái công cuốc của tui! Phải chi con sông nầy rác nhiều như vậy thì tui cũng làm như anh, khỏi cần cuốc đất tới cụp xương sống!
Bà Năm an ủi:
-Anh Ba đừng có lo, cái đà nầy tui thấy mai mốt con sông của quê mình rác cũng hổng thua mấy con sông ở chợ đâu. Hồi tui còn nhỏ đâu có rác nhiều bằng bây giờ.
Ông Hai nghe bà sui nói mà rầu thúi ruột. Cái mơ ước các con sông đều được trong lành của mình mà ông thừa biết là hết sức viễn vông, lại càng xa vời hơn bao giờ hết !
 
Buổi sáng đầu tiên ở cái cù lao nhỏ ấy, ông Hai được một cặp se sẻ trên cây mận đánh thức. Rõ ràng chúng cố tình gọi ông, bởi ngay từ cái mở mắt đầu tiên, ông đã thấy cả hai vợ chồng tụi nó đang nhìn ông đăm đăm.
Mặt trời không bị các tòa nhà cao lấn áp nên hiển lộ toàn thân. Chắc nhận ra ông là người lạ nên mắc cỡ, mặt mày đỏ ké rồi lũi vô đám mây mà trốn.
Lâu lắm rồi ông Hai mới hưởng được cái không khí trong lành, sở hữu một tâm trạng sảng khoái như thế nầy. Ông còn nhớ mình đã nhìn lên trời, tự hào so sánh với mấy đám mây đang nằm yên sưởi nắng trên kia.
Cái khoảnh khắc quá êm đềm đó, lúc ấy, chợt khơi dậy trong ông cả một dòng hoài niệm. Ông ngồi bật lên, bỏ chưn xuống đất rồi đứng thẳng người, vặn mình mấy cái. Ông bước lại cái khạp da bò chứa nước đứng dựa cây cột treo võng. Lấy cái nón lá rách úp trên đó ra, nhúng cái gáo vô múc, đưa lên miệng tợp một hớp lưng lưng, ngửa cổ ra súc sùng sục như súc chai rồi phun mạnh vào gốc mận. Lập lại cái động tác mà ngày xưa, lúc còn nhỏ ở nhà, ở quê, mỗi sáng ông từng làm.
Thế rồi ông bỗng thấy một người phụ nữ tuổi trạc tứ tuần, bưng cái thúng bên hông, rao :
-Bắp hầm hơ!
Ông đã ngạc nhiên, tự hỏi:
-Sao họ đựng món bắp hầm trong thúng?
Để giải tỏa sự tò mò của mình, ông gọi:
-Bắp!
Người phụ nữ ghé vào, nhìn ông cười tươi rói, hỏi:
-Anh Hai mua bao nhiêu?
Ông ngạc nhiên:
-Sao cô biết tui thứ hai?
Cổ đáp một cách thích thú:
-Ai mà hổng biết anh là ba chồng con Thương, sui của chị Năm Nhớ !
Chao ôi! Vậy là ông nổi tiếng như cồn rồi! Ở cái xóm nhỏ nầy thông tin đi bằng cách gì mà lan truyền nhanh đến vậy? Lúc ấy ông đã vô cùng hãnh diện và tự hỏi một cách khâm phục!
Ông hỏi:
-Sao cô không để bắp trong nồi cho gọn mà xớt ra thúng?
Cổ lắc đầu:
-Bắp phải hầm bằng nồi đất. Bưng tới, bưng lui, để lên để xuống là dễ bể lắm!
Thấy ông Hai cứ nhìn chầm chầm vào thúng bắp mà không thèm trả lời là mua bao nhiêu, người phụ nữ đó bèn lập lại câu hỏi của mình khi nãy.
Ông Hai đáp nhanh:
-Năm ngàn!
Cổ trố mắt nhìn ông rồi nói:
-Chèn đéc ơi! Bộ đãi hết xóm hay sao mà mua tới năm ngàn lận?
Ông lắc đầu:
-Tui ăn một mình.
Cổ vít một vá bắp đầy trét lên tấm lá chuối, vít thêm nửa vá nữa cũng trét lên đều khắp, rồi rắc muối mè và dừa nạo lên thêm một lớp.
Cổ lấy cái que dẹp lép, lớn hơn ngón tay giữa của ông một chút. Nó được róc từ cọng chuối ra, ghim lên mặt gói bắp để làm muỗng múc ăn.
Cổ đưa cho ông rồi nói:
-Ăn mình ên thì bây nhiêu đây là đủ no cành hông rồi!
Ông nhìn gói bắp đầy vun, hỏi:
-Bao nhiêu vậy cô?
Cổ đáp gọn lỏn:
-Một ngàn!
Ông ngạc nhiên, hỏi lại cho chắc ăn:
-Một ngàn thiệt hả? Sao mà rẻ dữ vậy?
Cổ cười thích thú, trả lời:
-Bắp nhà trồng, lấy công làm lời mà!
Ông vừa giải tỏa được nỗi thắc mắc của mình (thì ra cổ lót lá chuối khắp thúng rồi mới đổ bắp vô), vừa thưởng thức món ăn ưa thích thuở nào mà chỉ tốn có một ngàn nên cảm thấy thỏa lòng hết sức!
Một điều khiến ông vui tột độ là cái thứ mà ông ghét nhứt (bọc ni lông), ít xuất hiện ở chốn nầy.
Lúc được thằng Út dắt ra chợ coi cho biết. Ông để ý thấy bà con đều dùng các thứ lá như lá chuối, lá sen, lá bạc hà... để gói hàng hóa của họ.
Không chỉ những dân buôn bán "nghiệp dư", lâu lâu mới mang cây nhà lá vườn ra chợ một lần. Mấy người nầy dễ nhận ra lắm, hàng hóa của họ mỗi món một ít : một hai trái bầu, trái mướp; một quảo nhỏ đựng rau càng cua: một nhúm ớt gói trong lá chuối; một rỗ ổi...Họ bán lặt vặt nên tiền đâu có được bao nhiêu, vì vậy phải cắt lá chuối đem theo để gói.
Cả dân tiểu thương hàng hóa chất đống cũng thế! Từ mấy người bán thức ăn như xôi, bánh bò, chuối chiên, bánh sùng, bánh xếp...Cho tới những người bán tạp nhạp các thứ như rau, trái, khô, mắm, thịt, cá...đa số đều dùng lá, có vài người chơi sang thì dùng giấy báo để gói hàng.
Ông vui vui khi ngắm những bà nội trợ, một tay bưng cái rỗ tre hoặc xách cái giỏ đan bằng mây, bên trong đựng lủ khủ mấy cái gói to to, nhỏ nhỏ bọc bằng một thứ lá gì đó hoặc giấy nhựt trình; Một tay cầm sợi dây xỏ qua mang cá, hay cột ngang hông miếng thịt vừa mua. Ít ai đi một mình, tối thiểu cũng phải hai người, họ vừa đi vừa trò chuyện rôm rả với nhau. Có lẽ trên gương mặt của ông, nụ cười đã hình thành một cách vô thức nên họ đều cười đáp lại. Chỉ có một bà sồn sồn trạc tuổi ông là mắc cỡ cụp nón đi luôn.
Nơi đây không thể là đất dụng võ của ông, bởi trên sông chỉ có những cây chuối, mấy dề lục bình và một số rác dễ mục rả trong nước. Thế nhưng ông cảm thấy hết sức có cảm tình với mảnh đất và những con người hiền lành, không làm tổn thương thiên nhiên nầy quá đổi! Cho dù ông thừa biết là không phải họ ý thức rằng ba cái bịt ni lông, bao nhựa... là thứ thức ăn mà bà mẹ đất kỵ nhứt vì chẳng thể tiêu hóa nổi, nên quyết định bảo vệ sức khỏe của bà, tẩy chay không thèm dùng. Ấy chỉ bởi chúng hãy còn là mặt hàng cao cấp đối với họ đó thôi!
Chỉ cần thấy bà Năm rửa từng cái túi ni lông đựng mấy món quà của Thương đem về, đem phơi trên dây rồi lấy mấy cây kẹp ghim chặt nó lại. Ông cũng biết rằng mấy cái bọc ấy là thứ được bà con ở đây ưa chuộng nhứt. Hổng chừng chúng còn được yêu quý hơn những món chứa bên trong. Hèn gì mà khi mua, Thương cứ nài nỉ người bán bọc riêng mỗi món rồi gói bằng cả hai, ba lớp.
Bây giờ nhớ lại ông cảm thấy bùi ngùi...Sợ rằng đôi ba năm nữa thôi ! Khi ông về thăm như đã hứa với Thương, mọi vật sẽ hoàn toàn thay đổi:
Những cái bọc ni lông sẽ bám đầy cành cây thay cho mấy cái tổ chim.
Phụ nữ khi đi chợ sẽ ra khỏi nhà với hai bàn tay không, chẳng thèm cầm rỗ, xách giỏ chi cho mệt. Họ trở về với mấy cái bịch trong suốt hoặc đen thùi đựng cá, thịt, bánh, trái...
Cậu Ba của Thương sẽ thực hiện cái hoài bảo mà y ấp ủ. Ông ta sẽ sắm một cái xuồng, hoặc kết cái bè rồi suốt ngày đi vớt rác trên sông.
Những cô nàng lục bình sẽ không còn mang thân phận côi cút nữa. Bên cạnh chúng chắc chắn sẽ có vô số gã si tình như mấy miếng mốp trăng trắng (thứ dùng để chêm cho hàng hóa trong thùng không bị va chạm), mấy cái túi nhựa đủ màu xanh xanh, đỏ đỏ... lẽo đẽo bám đuôi. Chúng sẽ trở thành bạn đồng hành, sẽ lang thang trôi giạt bên nhau cả trăm, ngàn năm cho đến cùng trời cuối đất.
Ông Hai chợt nhận ra rằng: Tiêu thụ, sản xuất không còn dựa vào quy luật cung cầu nữa. Sự ham thích tiêu dùng đã trở thành đại dịch. Chúng do một loại vi trùng siêu mạnh, có sức lây lan khủng khiếp. Chúng sẽ chẳng buông tha cho bất cứ một nạn nhân nào của mình!
Có khả năng là ai ai cũng nhiễm bệnh. Có khả năng là không một vị bác sĩ nào thèm nghiên cứu để tìm ra thứ thuốc điều trị hoặc chủng ngừa.
 
 
Cái xóm nhỏ xíu nằm trong hốc bà tó ở cái cù lao heo hút nầy, nhờ gió thổi quanh năm, tạm thời mấy con vi trùng ấy bị quét văng xa lắc.
Bây giờ chưa thấy chúng léo hánh, nhưng biết đâu...
Như quê ông chẳng hạn...
Từ cái bận về thăm quê lần chót cách đây hai năm ông chưa dám về lại. Những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực mỗi ngày một nhiều: Con trai chửi thề, hút thuốc, bộ dạng cũng dữ dằn hơn; con gái đã không còn mặc mỗi một kiểu áo bà ba, đã biết chăm chút nhan sắc và dạn dĩ lên nhiều lắm ! Mỗi lần về thăm, bức tranh kỷ niệm rực rỡ trong ông lại phai mờ đi một chút.
Nhà của Thương ở tận đầu nguồn con sông Cữu Long, quê ông ở cuối. Khoảng cách địa lý tuy không xa lắm, nhưng mức sống, cách sống chênh lệch khá nhiều.
Trong khi ở quê ông hầu hết con gái và một số phụ nữ trung niên đều uốn tóc. Thì ở nơi nầy, tóc ai cũng ngay chò. Thương, cho dù đã ở Sài Gòn gần cả năm, thế nhưng cây kẹp ba lá đã cũ mòn vẫn chưa rời mái tóc của cô, cung cách của một cô thôn nữ vẫn chưa thay đổi.
Ông có cảm giác đây là chốn tận cùng của trái đất. Nơi thời gian nhuốm bệnh lãng trí và không gian thì lơ mơ ngủ gục. Quá yên bình để mà thay đổi!
Con người ở đây cũng thế. Họ bị ngăn cách với nền văn minh vật chất bằng một con sông rất rộng. Niềm vui của họ, rất đơn sơ và nhỏ bé! Chúng được tìm thấy từ những đóa hoa kết trái trên giàn bầu, giàn mướp...Từ những con cá lòng tong, cá chốt ...bắt được trên sông. Từ ngọn gió hiu hiu mang mùi rơm, mùi khói trên cánh đồng mà hầu hết đều trồng lúa.
Họ thân mật với ông một cách hết sức tự nhiên, như cái vòi trên dây mướp, hể chạm vào thứ gì là quấn quít ngay. Điều nầy giải thích tại vì sao mà cái tình cảnh cha chồng, con dâu giữa ông và Thương, tuy giả, lại nhanh chóng trở thành gần như là cha con thật.
Những tiếng xưng hô "Ba", "Con" của họ, ngày đầu còn ấp úng, ngượng ngập, nhưng chỉ hôm sau là trơn tru, hết sức tự nhiên như thể họ đã từng là cha con với nhau từ kiếp trước.
Ông cảm động biết bao trước câu hỏi của Thương (nó làm ông nhớ bà má của mình quá chừng):
- "Ba thèm ăn món gì để con biết mà nói má con nấu đãi ba luôn thể?"
Ông cười đáp:
-Món gì cũng được, ba dễ ăn lắm !
Thương không bằng lòng với câu trả lời đó, cứ đeo theo gạn miết.
Ông đành nói thật lòng mình:
-Ba chỉ thèm cái món mắm kho!
Chiều hôm đó ông được thưởng thức một nồi mắm kho vô tiền khoáng hậu! Nó ngon hơn bất cứ thứ gì ông đã ăn từ trước đến giờ.
Vậy mà bà Năm luôn miệng nói một cách áy náy:
-Tại con Thương nó nói trễ quá! Chợ chiều đâu ai còn bán cái giống gì? Cũng may anh Ba ảnh trút cái ống trúm được một con lươn với cây cà ở nhà kịp ra được mấy trái...
Ông nói thật lòng, không hề có ý an ủi:
-Mắm kho với lươn và cà là ngon nhứt hạng đó chị sui!
Rồi ông nói:
-Cái món ngon như thế nầy, sao chị hổng để dành ngày mai đãi tiệc?
Bà Năm lắc đầu nguầy nguậy:
-Làm như vậy bị bà con quở chết! Mắm là phải ăn ên chớ không dọn chung với mấy món khác được, bất kể là món gì! Mình đãi tiệc ít gì cũng phải ba, bốn món trở lên. Ở đây bà con ăn mắm quanh năm, nên tới đám là ai cũng phải đãi thịt, nhứt là thịt heo thì người nào cũng thích.
Bà liền hỏi ý ông:
-Tui tính làm mấy món như vầy anh nghe coi có được hông?
Rồi bà đưa cái nắm tay ra trước mặt, bật từng ngón lên để liệt kê, đầu tiên là ngón cái :
-Một là giò heo hầm măng; Hai là gà nấu cà ri; Ba là thịt kho tàu; Bốn là gỏi lỗ tai heo; Năm là bún tàu xào lòng gà. Anh thấy có đủ chưa?
Ông Hai tấm tắc:
-Đủ quá rồi! Ngon quá rồi!
Ngẫm nghĩ giây lát rồi ông hỏi:
-Chị mời được bao nhiêu khách vậy?
Bà Năm đáp:
-Ban đầu tui tính mời bà con thôi! Nào dè đi tới đâu cũng bị chặn lại hỏi thăm, không lẽ làm ngơ kỳ quá! Tui mời ráo. Tính ra chắc cũng bốn, năm bàn.
Ông Hai giựt mình:
-Một mình chị với con Thương, làm sao cho xuể?
Bà Năm cười tươi rói :
-Anh khỏi lo! Ở đây hô lên một tiếng là bà con kéo tới ì xèo để phụ hà!
Bữa tiệc rất vui và thân mật. Ông Hai vì quá nể nang nên say lữ cò bợ.
Qua cái đám ra mắt để hợp thức hóa tình trạng của Thương, ngày hôm sau ông về Sài Gòn liền, cho dù ba mẹ con họ hết lòng mời ông ở lại.
Sáng đó bà Năm dậy thật sớm! Bà nấu một nồi xôi đậu xanh cho ông ăn dằn bụng, còn bọc một gói bự tổ chảng để ông đem theo ăn dọc đường.
Khi cùng ngồi chờ đò, Thương đưa cho ông một cái bọc ni lông khá to. Trong đó đựng một lít đậu xanh, hai lít nếp với ba cái gói mà cô nói đó là dưa mắm, mắm cá lóc để chưng, mắm cá linh để kho hoặc ăn sống. Ông nghĩ thầm chắc hôm bữa thấy ông ăn mắm coi bộ trơn miệng quá nên mẹ con họ cho thêm để ông đem về ăn cho đã thèm.
Thương chờ đò cặp bến mới nhét vào túi của cái áo sơ mi ông đang mặc, một cái gói dẹp dẹp
Ông mở ra xem liền thì thấy đó là hai miếng rưởi vàng.
Ông cau mày nhìn Thương:
-Sao con đưa ba cái thứ nầy ?
Thương chặn ngang cái bàn tay ông đang đưa trả mà nói:
-Ba giữ đi ba! Đặng mua cột đóng cho cái nhà chắc chắn. Đặng ba giăng cái võng nằm cho đã cái lưng. Số vàng nầy nhờ ba mà có, con hưởng hết sao đành.
Ông gạt tay Thương ra, bỏ trở lại vào túi áo cô mà nói!
-Nếu ba mà nhận nó thì chắc ba sống hổng còn lâu .
Thương giựt mình:
-Sao vậy ba?
Ông giải thích :
-Hồi nào tới giờ, ba có thể bị thiên hạ xem thường, nhưng chưa bao giờ tự xem thường mình. Nhờ vậy mà lòng phơi phới, ăn cái gì cũng ngon, nằm chỗ nào cũng ngủ thẳng cẳng. Bây giờ mà nhận một cây vàng nầy, chắc trong lòng cứ mắc cỡ hoài, ăn hết biết ngon, ngủ không yên giấc. Hổng chết sớm sao được?
Rồi ông nói tiếp:
-Con đừng có lo cho ba, để dành tiền mà nuôi con. Ba cây vàng thấy nhiều, nhưng nếu không biết gầy thêm, ăn hoài là hết cấp kỳ đó con.
Thấy Thương có vẻ lo buồn, ông nói thêm:
-Cho dù đây là đứa con ngoài ý muốn, con cũng đừng rẽ rúng nó mà tội nghiệp. Con người ta kết hợp với nhau đều do duyên số. Biết đâu kiếp trước con với nó có hẹn hò làm mẹ con với nhau. Con ráng nuôi cho nó lớn lớn, chừng bảy, tám tuổi là đã biết đội cái mâm chuối chiên của bà ngoại đi bán, nhờ lai rai được rồi đó!
Thương kéo vạt áo lên lau nước mắt rồi nói:
-Nói thiệt với ba, hổng nghĩ tới nó là cái hôm ở nhà ba con đã nhảy xuống sông rồi. Ba đừng có lo! Con mà còn sống là còn nuôi con của con đàng hoàng, hổng có cho đi bán chuối chiên đâu. Ráng nuôi cho nó học thiệt là giỏi, để nó thiệt là khôn, mai mốt khỏi bị người ta ăn hiếp như con vậy!


Những giọt nước mắt của Thương lúc ấy, đến bây giờ nhớ lại vẫn làm lòng ông mát dịu.
Cũng như khi đọc sách, hể đến cái đoạn nào mà mình ưa thích thì phải xem đi, xem lại hoài. Ông cứ ôn trong đầu nét mặt rạng rở của má và thằng em của Thương khi chào đón họ; Nhớ căn nhà lá nhỏ với cái võng và cây mận trên sân; Bữa cơm mắm kho với rỗ rau ghém trắng phếu xắt từ cây chuối hột, trộn với húng cây, ngò gai xanh mướt; Nhớ nhứt là thằng Út, chắc thèm quá hơi cha nên cứ lẽo đẽo theo chân, đòi dắt ông đi hết chỗ nầy tới chỗ khác.
Các hình ảnh đó cũng từ từ phai dần, rồi bắt đầu xuất hiện một cách lộn xộn, xô bồ... Thế là ông để mặc cho tiếng mưa chui vào tai, dẫn mình đi vào giấc ngủ.
Bị một mùi cay sè đánh thức, ông hoảng hồn nhận ra cả căn nhà đã bị khói xâm lăng.
Sau một cơn ho sặc sụa đến trào nước mắt, nước mũi. Ông phát hiện khói tràn vào nhà mình qua khe hở của tấm vách sát nhà cô tám Gói.
Ông vừa gắt, vừa hỏi:
-Bộ hun chuột hay sao mà khói dữ vậy cô Tám ?
Cô ta trả lời như nạt:
-Tại ba cái củi ướt nhẹp của ông mà nãy giờ tui thổi muốn lòi hai con mắt đây nè !
Nghe cổ đổ thừa lãng xẹt mà ông phát tức ! Định ăn miếng, trả miếng, biểu cổ mua than đước mà nấu. Nhưng với cái tánh thích gây lộn của cô Tám, ông e rằng câu nói đùa của mình sẽ đưa đến một trận đấu võ miệng, mà phần thua một trăm phần trăm sẽ thuộc về ông.
Cô Tám Gói nổi tiếng là bậc cao thủ, có một không hai, có thể coi như "độc cô cầu bại" trong môn phái " Võ Mồm" nầy. Tài nghệ của cổ đã đến mức thượng thừa. Chẳng những hầu hết bà con trong xóm Đình thảy thảy đều tâm phục, khẩu phục mà các xóm lân cận cũng ít ai dám đối đầu.
Ông đành thở dài chép miệng, nói một mình :
-Thôi ! Một câu nhịn, chín câu lành.
Trời còn tối hù, chắc chừng ba, bốn giờ sáng. Ở nhà sợ chết ngạt, ông Hai đành chui ra khỏi mùng, xách cái thùng ra phông tên đầu hẽm hứng nước về đổ vô lu.
Ngoài phông tên đã có một dãy thùng xếp dài cả chục thước. Ông tự hỏi hổng lẽ họ thức suốt đêm để gánh nước. Coi bộ chờ hổng nổi, ông định quay vô.
Con Gọn xếp hàng đầu, đang hứng nước thấy ông bèn kêu giựt ngược:
-Ông Hai, lại đây hứng nước nè !
Có tiếng con Ngọc, đứa đang đứng sau lưng nó, phản đối:
-Mầy ngon quá hén ! Bộ cái phông tên nước nầy của mầy hay sao mà muốn cho ai hứng thì cho.
Con Gọn xì một tiếng thiệt dài rồi nói:
-Đồ cái thứ nhỏ mọn, ông Hai chớ ai mà tính. Bộ mầy hổng từng xin củi của ổng hả? Mầy coi cái thùng của ổng bao lớn, chờ có lâu lắc gì mà bày đặt làm khó chi vậy ?
Con Ngọc đuối lý nên làm thinh. Con Gọn thấy ông còn chưa chịu bước lại nên chạy tới giựt cái thùng trên tay rồi hứng cho đầy và mang lại giùm.
Xách thùng nước đầy tới miệng, ông Hai đi một cách cẩn thận. Mấy con đường trong xóm Đình chưa được tráng xi măng, chỉ có đất thịt và mấy cục đá xanh bằng nắm tay nằm lổn nhổn nên rất trơn. Đám mưa hồi đêm đã để lại những cái vũng nho nhỏ rải rác khắp mặt đường.
Bùn bám đầy trên hai bàn chân, ông Hai bước vô cái vũng khá sâu trước nhà để rửa chân. Có tiếng chân sầm sập sau lưng, ông ngoái lại nhìn, con Gọn đang trờ tới.
Ông khen :
-Con gánh đôi thùng đầy nước, nặng chịch mà đi vù vù, khỏe thiệt !
Thấy nó không vô nhà mà đi tuốt, ông hỏi:
-Gánh nước cho ai vậy Gọn ?
Vẫn đi như chạy, nó đáp:
-Cho bà ba Tứ Sắc.
Ở xóm nầy người ta lấy cái nghề kèm với cái thứ mà đặt cho từng người rồi gọi. Cho nên có những cái tên: Chín mài dao, Bảy xích lô, Năm hớt tóc, Tư thợ may...Gọi bà Ba tứ sắc là vì bả mê đánh tứ sắc dữ lắm ! Hầu như ngày nào cũng đi đánh bài hoặc rủ người tới nhà đậu chến. Có lần bị công an xông vô nhà ví bắt, bả sợ quá nhảy xuống sông bơi lại nhà ông Hai leo lên trốn. Cũng may gặp lúc ông Hai đang ở trong nhà nên kéo lên giùm, nếu không chắc dám thành ma da rồi !
Có lần ông Hai đã hỏi cô Tám là có phải tại vì cái nghề của cổ là bán xôi, bán bắp, bán đậu phọng, hột mít luộc...Mấy cái món đó đều phải gói nên được gọi là Tám Gói, hay nó thiệt sự là cái tên của tía má cổ đặt cho. Cổ không thèm đáp mà còn nghinh mặt lên trời rồi hỏi ngược trở lại :
-Hỏi chi vậy ?
Cô Tám tự cho mình là dân buôn bán, đẳng cấp cao hơn ông Hai một bậc nên coi ổng như bèo. Có lần ông Tư Nhậu vui miệng ghép đôi họ lại với nhau, thế là bị cổ chửi cho đến nổi từ đó ông Tư phải chịu khó đánh một con đường vòng dài gấp đôi ra chợ, chớ không dám đi ngang nhà cổ.
Tuy coi khinh ông Hai như vậy nhưng xem ra cô Tám cư xử khá biết điều. Bởi xài củi của ổng nên thỉnh thoảng nấu món gì ngon cổ hay bưng cho. Sợ bà con dị nghị nên cổ khựi tấm vách chung giữa hai nhà mà đưa qua cho ổng chớ không dám đường đường đi cửa trước. Có khi là tô canh chua, có khi là chén ba khía đã trộn sẵn, có khi là dĩa mắm ruốc xào xả ớt...
Hôm đem gói mắm về ông Hai chia tất cả ra làm ba phần bằng nhau. Ông cho ông Năm một phần, gia đình ông Chín mài dao sát vách bên kia một phần, còn một phần ông cho cô Tám Gói.
Thế là cổ kho liền một nồi mắm rồi cho ông một tô. Tuy không ngon bằng bà sui, má của Thương, đã kho đãi ông hôm trước, nhưng hơn nồi mắm của ông Năm kho sau đó gấp mấy lần.
Khi ông trả cái tô, cám ơn rồi khen thì cổ nói:
-Mắm ngon thì ai kho mà hổng ngon !
Rồi hỏi lại:
-Ở đâu mà anh có ?
Ông Hai đáp:
-Chị sui ở dưới quê cho !
Cổ trợn mắt nhìn ông rồi hỏi:
-Ông làm gì có vợ con mà bày đặt làm sui với người ta ?
Ông Hai cười, bắt bẻ lại:
-Sao cô biết tui hổng có ? Cô có thấy đứa con gái hôm trước ghé nhà tui hông? Con dâu tui đó !
Cô Tám lắc đầu:
-Nghe bà con nói lại thôi chớ tui chưa thấy !
Cổ lại hỏi ráo riết:
-Con trai anh đâu ? Vợ anh đâu ? Sao tui hổng thấy ghé thăm anh lần nào hết vậy?
Ông Hai giải thích:
-Ở dưới quê. Lâu lâu tui về thăm chớ ghé đây rồi chỗ đâu mà ngủ.
Cô Tám chưa chịu thôi:
-Quê anh ở đâu ? Nói nghe thử coi có gần quê tui hông ?
Ông Hai đáp một cách bất đắc dĩ:
-Ở Cổ Cò !
Cô Tám bán tín, bán nghi:
-Cái tên gì mà nghe lạ hoắc, có thiệt hông cha nội !
Ông Hai phật ý :
-Không lẽ tui không quê, không quán, không cha, không mẹ, ở trên trời rớt xuống hay sao !
Cô Tám lật đật bào chữa:
-Ý tui hổng phải vậy ?
Cái tính hay gây lại nổi lên, cổ cự:
-Hỏi có vậy mà cũng giận, người gì đâu mà câu mâu dễ sợ !

Nghe cổ bắt lỗi mình mà ông Hai mắc cười. Cho tới lúc ấy ông mới nhận ra cái nàng ngọc nữ nói ngang, nói ngược nầy có duyên đáo để, mặt mày coi cũng ngộ.
Ngặt nổi cô Tám ốm quá nên trông bớt hấp dẫn. Giá như được sống trong hoàn cảnh thoải mái, bớt làm lụng và ăn uống đầy đủ, đắp lên cái khung xương thêm năm, ba ký thịt nữa, chắc trông cũng ngon lành chẳng kém thua ai. Ông Hai chỉ nghĩ vậy thôi chớ chẳng có tà ý gì hết !
Có lẽ chính cái tánh không háo sắc đó của ông đã làm cô Tám tổn thương sâu sắc. Thoạt đầu cổ cũng để ý đến ông, có lần còn nhờ ông Hai cạo gió (sau nầy cổ có giải thích là ghẹo chơi để thử coi bản lĩnh ổng tới đâu), nào ngờ bị ông từ chối thẳng thừng. Cổ quê nên đâm ra ghét rồi để ý nhiều hơn còn ngoài mặt thì càng tỏ ra rẻ rúng thêm lên.
Ông Hai không phải là không biết điều đó ! Cho nên hể cô Tám càng tỏ vẻ khinh, ghét, thì ông càng thấy nhẹ lòng, càng có cớ để hạn chế trò chuyện với ba mẹ con cổ đến mức tối đa. Vốn đã bị phụ ngay từ mối tình đầu nên đối với ông, phái đẹp vô cùng nguy hiểm, càng tránh xa càng tốt.
Có một lần, lúc ông Hai mới giao cái đình lại cho ông Năm để làm cái nghề bơi xuồng vớt rác. Cả xóm đình nhao nhao khi có một người phụ nữ ăn mặc sang trọng, da trắng bóc, trông y như Việt kiều đến tìm ông. Ông Năm đích thân dắt cổ đến nhà, gặp ngay lúc ông Hai đang mở từng túi rác ra để phân loại.
Niềm vui sắp gặp lại người cũ đang cháy phừng phừng như bó đuốc của cổ, bỗng rớt xuống sông rồi tắt ngấm. Những mẫu chuyện của họ cứ nhạt dần. Túi quà trên tay, cổ còn không dám đưa tận tay ông, chỉ đặt lên sàn nhà chớ đừng nói chi ôm nhau thắm thiết.
Cổ chỉ ghé một lần rồi thôi ! Mà cũng ở không lâu .
Trước khi từ biệt cổ còn nói một câu, nửa ngậm ngùi, nửa trách móc:
-Sao anh không ráng leo lên tới mút đọt rồi đạp tui thẳng cẳng? Thà như vậy mà tui còn đỡ đau lòng, đỡ oán hờn hơn là thấy cái cảnh anh nằm sát đất mà vẫn ...
Ông Hai bị "giết" hai lần chỉ bởi một người. Vết thương sau còn sâu hơn vết trước, nên từ đó ông tởn đàn bà luôn, hết dám mơ tưởng tới !
Ông Năm biết chuyện nên cứ cằn nhằn ông hoài:
-Phải chi anh vẫn coi đình để tui kiếm chiếc xích lô mà chạy, còn hơn giao cho tui rồi ra thân thời nầy. Thiếu gì việc để làm, mắc mớ gì phải chọn cái nghề vớt rác, thiệt uổng công ba má cho anh ăn học. Đây rồi vong linh ổng bả hổng biết lại trừng phạt, giáng họa cho tui.
Ông Hai không dám giải thích là ông ưa cái thú bềnh bồng trên sông. Nghiện cái cảm giác hay hay, vui vui, mỗi lần vớt lên một túi rác.
Rác càng dơ, càng bẩn thỉu, càng độc hại, ông càng hài lòng vì nghĩ rằng mình đã làm một việc tuy nhỏ nhoi nhưng thật sự hữu ích...
Ông chẳng dám tâm sự với ai về điều đó, kể cả với người em trai mà ông tin yêu nhứt. Ông sợ ông Năm và bà con nghe rồi cho là ông bị loạn thần kinh. Họ sẽ xúm nhau khiêng ông vô nhà thương Chợ Quán, nhốt ông ở trỏng luôn thì khổ không biết bao nhiêu mà nói !
Cái nghề vớt rác cũng chính là lý do lớn nhứt, khiến ông hết dám về quê thăm bà con và gặp gỡ bạn bè. Ông không muốn phải nói dối, cũng không thích đón nhận vẻ mặt thương hại, nghe những câu an ủi dù hết sức chân tình của họ. Ông sợ nó sẽ làm ông nhụt chí, chùn bước trước con đường mà ông đã vạch cho mình.
Mở nắp lu để đổ nước vào, ông nhận ra là cái lu vẫn còn đầy óc ách. Thì ra hổm rày ông ăn ké, uống ké ông em của mình nên lu nước vẫn còn nguyên. Lu nước nhỏ xíu nầy chỉ nấu ăn, nấu uống còn tắm thì ông có cả một con kinh mà khi nước lớn thì phình to như một con sông.
Dù đã sắp ngũ tuần nhưng ông Hai vẫn thích tắm sông như khi còn làm con nít. Ông vốn mạng thủy, lại là "Trường giang thủy" nên hạp với sông dữ lắm !
Những đêm sáng trăng, nước lớn đầy mà, không ngủ được ông lại leo lên xuồng nằm nhìn lên trời. Lắm lúc trong bờ muỗi nhiều, ông bơi ra giữa dòng rồi thả cho nó muốn trôi tới đâu thì trôi.
Cũng vì cái sở thích ấy mà có một lần ông gặp một trường hợp ly kỳ đến nhớ đời :
Đêm ấy trúng phóc ngày rằm tháng bảy, bởi vậy khi thấy một cái bóng trắng trắng phóng xuống sông ngay trước mặt mình, ông cứ tưởng bị cô hồn ghẹo. Chừng nghe tiếng quạt nước và tiếng một người đàn ông kêu to: "Quay vào bờ liền, hông thôi tao bắn đó !", ông mới biết là người thiệt. Một lát sau có một bàn tay từ dưới nước thò lên nắm mép xuồng ông, rồi một cái đầu với mớ tóc đen thùi trùm kín cũng nhô lên từ mặt nước.
Một giọng con gái run run vì lạnh và vì sợ:
-Bác làm ơn kéo cháu lên giùm.
Dù không tin dị đoan, không tin là có thế giới của những người khuất mặt, nhưng thoạt đầu ông nghĩ mình gặp ma da nên mọc óc cùng mình. Tới chừng nghe tiếng nói mới thở phào nhẹ nhỏm. Ông vói tay kéo cô gái lên bờ. Trời đất ơi ! Cô ta trần như nhộng.
Có tiếng súng nổ chỉ thiên và tiếng gọi của người đàn ông khi nãy:
-Cái xuồng đó bơi vô đây !
Cô gái bỗng quỳ sụp xuống mà lạy:
-Con lạy bác, xin đừng bơi vô !
Cô ta vẫn cúi mọp đầu nói tiếp:
-Bác mà bơi vô là họ bắt con đưa đi cải tạo liền. Con sắp thi rồi, bác làm ơn giúp con.
Ông Hai cảm thấy tràn ngập một niềm cảm thương dành cho cô gái, liền thảy cái áo mưa để sẵn trên xuồng cho cổ mặc vô, rồi chĩa mũi xuồng qua bờ bên kia mà bơi thục mạng.
Tới ngã ba ông liền rẽ vào, vẫn bơi không ngơi tay tận cho đến khi chung quanh toàn là lau sậy với dừa nước, ông mới dừng lại mà thở hào hển.
Ông không hỏi câu nào, thế nhưng cô gái vẫn kể ông nghe về lai lịch của mình.
Cổ nói:
-Từ trước tới giờ con ở dưới quê, năm nay vừa thi đậu đại học xong nên lên đây đi học. Nhà con nghèo lắm, ba má làm ruộng nên đâu nuôi nổi. Bất đắc dĩ lắm con phải làm nghề nầy, định kiếm đủ tiền trang trải rồi là nghỉ. Ngờ đâu mới được chưa đầy một tháng thì đã bị chộp.
Ông Hai thở dài:
-Đi đêm có ngày gặp ma. Đâu phải lần nào cũng thoát được. Con mà còn làm nữa thì...
Cô gái lắc đầu lia lịa:
-Một lần là con tởn tới già luôn, con giải nghệ liền lập tức. Chắc chắn không có lần thứ nhì đâu bác !
Hơn nửa đêm ông Hai mới dám bơi xuồng về nhà. Đưa cô gái lên bờ xong, ông chạy u lại đình, kéo cẳng ông em đang ngáy o o mà xin cầu cứu. Ông Năm chạy vù đi, lát sau mang về một bộ đồ còn khá mới.
Ổng đưa ông rồi nói:
-Thiệt là xấu hổ. Bà Ba Tứ Sắc hỏi ráo riết, tui bí quá đành nói thiệt. Cũng may hôm bữa anh cứu bả nên bả mới tin, còn lựa bộ đồ thiệt tốt mà đưa, nói là để trả ơn.
Ông Hai lật đật cặp nách bộ đồ, đem về đưa cho cô gái rồi hối:
-Cháu mặc cái nầy vô đi !
Chờ cô gái thay đồ xong ông mới bật hột quẹt để đốt cây đèn trứng vịt lên. Ánh sáng vàng vọt vẫn giúp ông nhận ra gương mặt trong sáng, tuy không son phấn vẫn rất dễ nhìn của cô gái. Cổ hết sức có duyên nhờ trên chót mũi có cái mục ruồi cỡ hột ổi.
Cô gái hỏi cho có chuyện để nói:
-Bộ nhà mình không mắc điện hả bác ?
Ông cười:
-Bác về nhà là để ngủ thôi nên ít khi xài điện. Hơn nữa mấy căn nhà sát bờ sông cứ bị hăm giải tỏa hoài hà! Nên bác đâu dám bỏ tiền xin gắn đồng hồ điện !
Tiếng lục đục bên nhà ông khiến cô Tám để ý. Cổ thường dậy vào giờ nầy để nấu xôi. Chắc nghe có giọng phụ nữ trong nhà ông nên tò mò.
Cổ tằng hắng mấy cái rồi hỏi:
-Anh Hai ơi ! Bữa nay có xôi đậu phọng nè ! Ăn hông, tui đơm cho một dĩa ?
Ông trả lời:
-Thôi khỏi đi cô Tám. Hồi chiều chị Chín cho một tô canh khoai mỡ bự chà bá, ăn với dưa mắm ngon quá mạng. Tui ráng ăn cho hết tới bây giờ còn no !
Dù ông từ chối nhưng lát sau tấm ván nhỏ giữa hai nhà vẫn bị đẩy bật lên và một dĩa xôi đưa qua. Miếng xôi cháy vàng ươm hết sức hấp dẫn làm ông Hai kềm lòng không đậu.
Đưa dĩa xôi cho cô gái trước, ông nói:
-Ăn đi cháu, xôi nầy ngon lắm đó !
Cô gái hình như cũng đói bụng nên không khách sáo. Cô cầm miếng xôi lên, bẻ ra làm hai rồi đưa cho ông phần lớn hơn bằng cả hai tay và mời lại:
-Bác ăn với cháu cho vui đi bác !
Miếng xôi ngon làm sao ! Mùi nước dừa thơm lừng cộng với mấy hột đậu phọng mềm mụp của nó cũng đã đủ ngon rồi ! Cái không khí thân thiện, niềm cảm thông dành cho cô gái khiến nó càng thêm hấp dẫn. Cho tới nổi bây giờ nhớ lại, ông bỗng nghe nước miếng tươm ra ngập hết mấy cái chưn răng.


Tiếng gọi se sẻ của ông Chín mài dao kéo ông Hai ra khỏi dòng sông mùi vị :
-Bữa nay mầy có đi vớt rác hông Hai ?
Ông Hai hỏi lại:
-Chi vậy bác Chín ?
Ông Chín đáp, e dè:
-Tao tính mượn cái xuồng của mầy đặng bơi đi chặt một mớ lá dừa nước.
Ông Hai hỏi tiếp:
-Chi vậy bác Chín ?
Ông Chín đáp:
-Phải cơi thêm một cái buồng nữa.
Ông Hai hỏi lần thứ ba, cũng một câu i sì :
-Chi vậy bác Chín ?
Ông Chín báo tin vui bằng một giọng não nuột:
-Thằng Út có vợ rồi !
Ông Hai đoán chừng ông Chín không hài lòng về cô dâu mới, nên không dám hỏi thêm.
Ông đáp:
-Cái nghề của con muốn nhanh, muốn chậm, muốn làm, muốn nghĩ...lúc nào cũng được. Bác cần gấp thì lấy liền bữa nay cũng hổng sao.
Rồi ông hỏi tiếp:
-Bác tính đi đâu kiếm lá dừa.
Ông Chín đáp:
-Nghe thằng Bảy xích lô nói ở Bình Chánh có nhiều lắm !
Ông Hai phản đối:
-Bác bơi chi cho xa, gần đây cũng có. Để con dắt bác lại đó !
Ông Chín mừng rỡ, rủ:
-Vậy thì bây mặc cái áo, xỏ cái quần dài vô. Hai bác cháu mình ra quán bà Bèo ăn tô cháo lòng, uống ly cà phê cho ấm cái bụng rồi hãy đi.
Ông Hai nói:
-Mình đi sớm cho mát bác Chín ơi ! Ra quán hay gặp bạn bè, ăn uống rồi nói chuyện cà rà mất thì giờ dữ lắm . Tới chỗ còn lo chặt lá dừa nữa. Bây giờ đi liền thì một lát mình về mới kịp con nước, để hông thôi trưa đứng bóng, xuồng nặng mà bơi nước ngược là mệt lắm !
Ông Chín biết ông ngại nên tìm lý do để từ chối.
Ổng nằn nì :
-Ăn cháo chớ thứ gì mà lâu ? Húp một cái rột là xong ! Đi đi Hai, lâu lâu cho tao mời bây một lần. Có mấy ngàn bạc thôi, đâu có nghèo thêm mà sợ !
Ông Hai cương quyết:
-Tại khi không mà nghe thèm xôi quá mạng nên...
Vách phía bên kia, cô Tám, chắc đang vừa làm vừa lắng tai hóng chuyện, nên vừa nghe ông Hai nói tới đó là lật đật hỏi vọng qua liền:
-Anh thèm xôi gì ?
Ông Hai hỏi lại:
-Có xôi đậu phọng hông cô ?
Giọng cô Tám tiếc rẻ:
-Xui cho anh, bữa nay tui làm có hai thứ, đậu xanh với đậu đen thôi hà !
Ông Hai an ủi:
-Cũng được ! Cho tui hai gói đi, một xanh, một đen .
Cô Tám hỏi thêm:
-Xôi nạt hay cháy ?
Ông Hai trả lời một cách dứt khoát mà không thèm hỏi qua ông Chín:
-Một nạt, một cháy ?
Cô Tám hỏi thêm:
-Cái nào nạt, cái nào cháy?
Lần nầy thì ông Hai không dám tự mình quyết định mà hỏi ông Chín trước:
-Bác ăn xôi gì ? Bác Chín !
Ông Chín đáp:
-Tao ghét đậu đen nhứt hạng.
Cô Tám không chờ ông Hai trả lời mà nói luôn:
-Vậy đen cháy, xanh nạt phải hông?
Ông Hai nói giỡn:
-Cô biết rồi mà còn hỏi làm chi cho mắc công vậy ?
Cô Tám ghẹo lại:
-Ông hà tiện nên ăn xôi cháy cho rẻ hay ưa thiệt vậy ?
Ông Hai đáp:
-Hồi nhỏ tui thích ăn cơm cháy, xôi cháy lắm mà má tui nhứt quyết không cho. Bởi vậy...
Cô Tám và ông Chín chặn hỏi một lượt:
-Sao vậy ?
Ông Hai cười :
-Má tui nói ăn cơm cháy là chữ nghĩa nằm trong bụng cháy tiêu hết, học cũng như không.
Cô Tám hỏi tiếp:
-Có đúng hông?
Ông Hai cười to hơn một chút :
-Từ ngày ở cạnh nhà cô, cô cho xôi cháy ăn miết nên bây giờ không còn lại chữ nào hết !
Cô Tám biết ông Hai nói giỡn nên phụ họa:
-Đúng là làm ơn mắc oán, cho ăn còn bị đổ thừa.
Ông Hai lại cười:
-Thì tui họ Đỗ mà !
Cô Tám hỏi lại:
-Thiệt hay xạo vậy cha nội ?
Giọng ông Hai chắc lọi:
-Thiệt mà !
Cô Tám vừa đẩy tấm ván bật lên, vừa đưa hai gói xôi qua vừa hỏi:
-Còn tên ? Đừng có nói là ông tên Rác nghe !
Ông Hai khoái chí:
-Sao cô giỏi vậy ? Nói trúng phóc !
Cô Tám đổ quạu ngang xương:
-Thôi đi cha ! Ai mà hổng biết ông tên Hùng. "Anh Hùng vớt rác" mà !
Ông Hai vừa thò tay cầm vừa hỏi:
-Bao nhiêu ?
Cô Tám nói:
-Mười ngàn.
Ông Hai giựt mình, thường ngày ông mua có hai ngàn thôi là ăn tràn bản họng. Ông nghĩ thầm chắc tại mình làm cổ giận nên tính mắc cho bỏ ghét.
Ông lấy cái bóp da đã sờn, loang lỗ nhiều chỗ trong cái gối ra. Cái bóp phồng to vì chứa đủ thứ giấy tờ trong đó. Ở phía trong cái bìa có đính cái khung có tấm nhựa trắng nhỏ, xưa trong suốt nay đã ố vàng. Một tấm ảnh đen trắng 3x4 của một người con gái tóc ngắn, mặc áo dài trắng (đồng phục của nữ sinh thời trước) có đính phù hiệu trường, nằm trong đó. Tấm ảnh chắc đã có từ lâu lắm nên màu sắc đã nhòa. Ông Hai mở ngăn chứa tiền, rút ra tờ giấy màu đỏ. Ông kéo tấm ván ra, chưa kịp đưa tiền qua vách là bị cô Tám sập tấm ván xuống thiếu điều muốn kẹt tay.
Ổng cự:
-Làm gì sập cửa lẹ vậy ? Tiền nè !
Cô Tám nói:
- Nói chơi với anh cho vui chớ tui hổng có tính tiền đâu ! Hôm trước bác Chín mài mấy cây dao không chịu lấy tiền, bữa nay tui đãi lại bác ?
Ông Hai nói:
-Vậy thì tui trả phần tui .
Cô Tám nói:
-Tui không thèm lấy tiền của anh !
Rồi sợ ông Hai phật ý, cô nói đùa:
-Tui cho anh thiếu chịu đó, mai mốt...
Ông Chín lật đật chêm vào:
-Cô mà cho thiếu chịu ấp lẫm chắc muốn người ta trả hổng nổi rồi bắt xác luôn có đúng hông?
Ông Hai nghe ông Chín nói như vậy thì sợ muốn thót tim. Hôm trước Tư Nhậu nói chơi có một câu thôi mà bị "pháo kích" tới tối tăm mặt mũi.
Ông Hai chuẩn bị sẵn hai cái ngón tay trỏ, hể cô Tám mà "bắn" là đóng nút hai lỗ tai liền.
Ông thở dài tự nhủ:
-" Cái ông già Chín nầy khi khổng, khi không tự chui đầu vô miệng cọp. Mới sáng sớm mà bị cái bà La Sát nầy chửi là xúi quẩy cả ngày" !
Vậy mà hổng hiểu tại sao, cô Tám hôm nay hiền rụi, không thèm cãi lại một tiếng nào.

Ông Hai vừa mở cái cửa sau, vừa gọi:
-Bác Chín ơi ! Đi được rồi đó.
Chưa thấy mặt ông Chín đâu nhưng đã nghe tiếng hỏi :
-Bây có mấy cây dầm ?
Ông Hai đáp:
-Một cây !
Ông Chín im ru hồi lâu, vẫn chưa chịu xuất hiện.
Ông Hai sốt ruột mà không dám hối, một tay bưng cái dĩa mẻ đựng hai gói xôi, một tay xách cái ấm đen thui đựng đầy nước, bước lại cây cầu nhỏ nơi cột xuồng rồi ngó qua nhà ông Chín.
Lúc nầy ông Chín mới ló mặt ra, nói bằng giọng tự hào:
-Tao biết lắm mà, bởi vậy thủ sẵn cái nầy !
Ông đưa tấm ván bề ngang bằng bàn tay, bề dài bằng nửa cánh tay, được đóng vào một khúc tầm vông, có dáng vẻ như cây dầm lên khỏi đầu cho ông Hai thấy.
Nét mặt rạng rỡ, ông khoe:
-Coi tao có cái gì nè !
Ông Hai ngạc nhiên:
-Bác làm làm thêm một cây dầm từ hồi nào vậy ?
Ông Chín đáp:
-Đâu có làm ! Hôm trước tao vớt được, tính đưa cho bây mà cứ quên hoài. Bữa nay mới nhớ ra, lật đật đi kiếm rồi đem theo đặng một chút bơi phụ.
Ông Hai cười tươi rói, nói:
-Hên quá ! Con đang lo bận về xuồng đầy, rủi gặp nước ngược chắc bơi lòi bong bóng.
Ông đặt dĩa xôi xuống, tháo sợi dây lòi tói đang cột vào cây cọc để kéo chiếc xuồng cặp sát vô cây cầu. Ông đặt ấm nước vào đúng cái chỗ thường ngày của nó : Tấm lá sen khô đã dính đầy lọ nghẹ, rồi mới từ từ chuyển cái dĩa xôi xuống cho nằm kế một bên.
Bây giờ lại đến phiên ông Chín sốt ruột, hối:
-Lẹ tay lên bây !
Ông Hai bắt chước mấy nhân vật trong phim Hồng Kông, đáp một hơi:
-Tới liền, tới liền, tới liền...
Khi hai bác cháu đã yên vị, ông Hai đưa gói xôi cho ông Chín, nói:
-Bác khoan có bơi, ăn xôi trước cái đã !
Ông Chín để cây dầm xuống, cầm gói xôi trên tay ông Hai, đưa lên mũi hít một hơi rồi vừa thở ra, vừa nói:
-Phải công nhận là con Tám Gói nấu xôi khéo, ngon hổng ai bằng.
Ông Hai gật đầu phụ họa:
-Người ta hay nói "tối ăn sang, sáng ăn xôi", có ý hạ thấp món xôi. Theo con, sáng mà được một gói xôi của cô Tám thì khoái không gì bằng!
Ông Chín định cắn một miếng xôi, nghe ông Hai nói câu đó thì ngưng mà chộp vội liền rồi xúi :
-Vậy thì bây lấy nó đi !
Ông Hai cười khổ:
-Bác hổng nghe cổ chửi ông Tư Nhậu tới tắt bếp cái vụ ổng ghép đôi con với cổ hay sao mà còn xúi dại ? Bộ hổng sợ nổ hai cái lỗ tai sao?
Ông Chín cười :
-Coi bộ cái tay nghề cua gái của thằng Hai mầy còn non nớt quá ! Con Tám nó chịu đèn bây dữ lắm rồi đó ! Đàn bà hay chướng chướng với làm bộ, làm tịch dữ lắm! Nó làm như vậy có khi để dọ ý nào ngờ bây nhát hít. Tao ở gần nên biết, mấy lúc trời chuyển mưa là nó lo lấy đồ bây phơi ngoài sào vô giùm. Cái thứ xôi nầy nấu thành thạo như nó dễ gì bị cháy, tại thấy bây thích nên cố ý để lâu đó mà !
Ông Hai chối đây đẩy:
-Hổng có đâu bác ơi ! Cổ ngó cao dữ lắm ! Bảy "chà răng" nhà cửa hẳn hoi mà cổ còn chê, nói gì cái thứ làm nghề vớt rác, ở nhà đá, nhà đạp như con.
Ông Chín bác liền:
-Cái thằng Bảy "chà răng" đen sì, xấu hoắc...Nói chuyện hổng có duyên dùng gì hết thì làm sao mà sánh với bây. Hôm trước bây "ăn ta ni" lên coi đẹp trai quá mạng, ăn đứt hết mấy tay đàn ông xóm mình. Nghe nói ngày trước bây là dân cầm viết, có bồ là Việt Kiều...
Không muốn ông Chín khoét sâu vào vết thương của mình, ông Hai hối:
-Bác ăn xôi lẹ lẹ rồi bơi giúp con một tay !
Ông Chín cự nự:
-Nước xuôi, không cần bơi cũng tới, mắc gì phải cực ?
Coi mòi ổng còn mặn mà với cái chuyện cô Tám quá ! Bất đắc dĩ ông Hai phải xài hạ sách:
-Bác sắp có thêm con dâu, chắc là vui lắm hả ?
Miếng xôi đang nuốt bỗng nghẹn ngang cần cổ. Ông Chín vói tay lấy cái ấm nước rồi kê miệng vô cái vòi mà tu để đẩy nó trôi xuống bao tử.
Ổng nhìn ông Hai, đắn đo một chút rồi mới nói:
-Chẳng giấu gì bây, con vợ của thằng Út làm cái nghề "sang nhứt xứ" đó.
Dân Sài gòn có câu ví "sang như đĩ", cho nên bà con xóm Đình thường hay gọi cái nghề không được coi trọng đó bằng cái tên là "sang nhứt xứ".
Ông Hai lật đật an ủi:
-Mấy cô gái gặp cảnh không may nên mới sa chưn vô chỗ đó, chớ họ đâu có muốn. Vợ thằng Út được kéo ra khỏi nơi ấy, chắc là mang ơn nó với gia đình bác hổng hết ! Để rồi bác coi, mai mốt dám nó là đứa con dâu có hiếu nhứt ! Biết đâu tuổi già của bác được tụi nó phụng dưỡng đầy đủ.
Ông Chín thở dài:
-Tao già cúp bình thiếc rồi mà có thấy gì đâu ! Tao không dám chê, nhưng nghe đâu mấy cái đứa làm nghề đó hay mắc cái bịnh "si đa". Họ nói cái bịnh nầy vô phương cứu. Lại nghe đồn là lây dữ lắm ! Tao sợ đem nó về ăn uống, chung đụng rồi lây tùm lum hết nhà...
Ông Hai gạt phắt liền:
-Hổng phải đâu bác ơi ! Cái bịnh nầy nó chỉ lây qua đường tình dục thôi hà ! Bác mà sợ thì kêu thằng Út dắt vợ nó đi khám. Nếu cổ có bịnh thì kêu nó xài bao...
Ông Chín thở dài :
-Nếu con nhỏ đó có "dính" thì thằng Út cũng ướt nhẹp hết rồi, trùm áo mưa đâu kịp !
Ông Hai đuối lý, cắm đầu nhai xôi chớ chẳng nói thêm được tiếng nào.
Hồi lâu ông Chín mới nói, giọng ngậm ngùi:
-Tao thì hổng sao, chỉ tội nghiệp cho bả. Bả lo quá, buồn quá nên cứ khóc hoài. Bả nói cái nầy là tại bả. Con trai nhờ đức mẹ, tại hồi đó bả cãi lời tía má, bỏ nhà trốn theo tao nên bây giờ mới bị ông trời quả báo. Đêm nào bả cũng trùm mền khóc, tao dỗ cách mấy cũng không được.
Ông Hai an ủi:
-Chuyện đâu đến nổi nào mà hai bác lo làm chi cho hao tổn sức khỏe. Đâu phải ai làm nghề đó cũng mắc bịnh hết ! Cho dù tệ hệ nhứt thì thằng Út nó cũng được hưởng qua hạnh phúc, cũng gieo được cái phước là cứu được một người. Như vậy coi như cuộc sống của nó cũng có ý nghĩa, đâu có uổng phí chút nào !
Ông Chín thở dài:
-Tại bây không có con nên mới nói như vậy. Đối với cha mẹ, không có cái khổ nào bằng cái khổ tre già khóc măng, mình còn sống sờ sờ mà con...
Nói tới đó ông Chín liền dừng lại, lắc đầu lia lịa như cố xua cái tư tưởng không may đó ra khỏi đầu mình. Hai con mắt ông bỗng đỏ hoe.
Ông Hai cảm thấy mình có lỗi nên tìm cách cho ông Chín khuây khỏa. Vừa cho xuồng quẹo vào cái ngã ba ngày nào ông vừa hỏi:
-Đố bác tại làm sao mà con biết cái chỗ nầy có nhiều bụi dừa nước ?
Ông Chín cự nự:
-Cái vụ nầy thì làm sao tao biết mà đố !
Ông Hai bèn kể cho ông Chín nghe chuyện mình gặp cô gái nhảy xuống sông như thế nào. Cố ý thêm mắm thêm muối cho nó đậm đà, rùng rợn hơn, như đạn bắn chéo chéo ngay trên đầu, để lôi cuốn sự chú ý. Riêng cái chuyện cô gái khỏa thân khi được ông kéo lên xuồng là tuyệt đối không hề đề cập tới, chắc mắc cỡ với sợ ông Chín suy diễn lung tung.
Cho nên ông Chín mới nói :
-Tội nghiệp, cái thời buổi gì đâu mà lộn xộn, khó làm ăn quá mức! Tới nổi con gái cũng phải làm cái nghề đi ăn trộm. May mà được bây vớt lên rồi chạy thoát chớ hông thôi là...Chưa nói tới cái chuyện bị bắt bỏ tù, chỉ một việc bị thiên hạ xúm lại đập nhừ tử là cũng đủ chết.
Ông Hai thở dài:
-Cũng cùng một tội, mấy người ăn cướp coi vậy mà có uy quá. Ăn trộm hiền hơn vậy mà khi bị tóm là bị đánh túi bụi, ăn cướp thì đố ai dám đụng .
Ông Chín hùa theo:
-Bây nhắc tao mới nhớ. Năm ngoái ở xóm lò heo có một thằng nhỏ. Nó ăn trộm có con gà thôi mà bị họ ví bắt rồi đánh tới giập lá lách. Cái chuyện con cứu con nhỏ đó coi vậy mà cũng lớn y như cứu một mạng người đó nghe ! Có phước hổng biết đựng đâu cho hết !
Ông Hai suy nghĩ một lát rồi nói :
-Xét cho kỹ ra thì thằng Út nó cũng làm y như con đó bác.
Câu nói đó chừng như hiệu nghiệm. Gương mặt của ông Chín có tươi lên một chút !
 
Ông Hai cho xuồng cặp vào khoảng trống giữa hai bụi dừa nước đầu tiên. Ông Chín nhảy lên bờ trước, nhìn quanh rồi chắt lưỡi hít hà:
-Chỗ nầy dừa nước mọc đặc gật. Bộ bà con mình hổng ai biết hay sao mà bụi nào cũng còn nguyên chưa bị chặt tới một nhánh, tốt thấy mà mê !
Ông Hai nói:
-Bây giờ đâu ai còn lợp nhà bằng lá dừa nữa. Họ mua mấy tấm tôn, lợp một lần rồi xài đời đời.
Ông Chín chắc lưỡi:
-Bởi vậy mới nói, con người ta mỗi ngày một điên ...
Ông Hai ngạc nhiên hỏi:
-Sao bác nói lạ vậy ?
Ông Chín không đáp mà hỏi ngược lại :
-Bây có vô nhà thằng Tư Nhậu chưa?
Ông Hai lắc đầu:
-Chưa ! Có gì ở trỏng vậy bác ?
Ông Chín không trả lời mà hỏi thêm:
-Bây có biết tại làm sao mà hể nhìn ra đường là thấy cái đám con, đám cháu của nó. Tại làm sao mà tụi nó cứ nhong nhong ngoài hẻm suốt ngày hông?
Ông Hai lắc đầu, nhưng lại đáp:
-Tụi nó còn nhỏ ham chơi nên ra đường kiếm bạn chớ gì !
Ông Chín cũng lắc đầu:
-Bây còn nhớ cái lần cả xóm rùm beng vụ thằng Tư nhậu trúng con số đề "00" hông ? Lần đó nó chơi sang, tháo bỏ hết lá rồi mua tôn về lợp nhà với vừng vách. Từ đó cái nhà của nó y như cái nồi áp suất. Khoảng mười giờ sáng tới năm, sáu giờ chiều là nóng chịu hổng thấu, không thể nào ở trong nhà cho nổi !
Ông Hai cười:
-Hèn gì mà ổng ngồi ngoài quán suốt.
Ông Chín nói:
-Ai chê ngu tao cũng chịu, thà mắc công một chút mà xài lá cho mát. Trời cho giàu lên thì lợp ngói chớ hổng thèm xài tôn. Bây suốt ngày ở trên sông, tối mới về nhà nên hổng biết...
Ông Hai lật đật:
-Biết chớ bác ! Mấy bữa nghỉ xã hơi, buổi trưa con phải chạy vô đình ở ké, nằm nhà nóng quá chịu đâu có thấu ! May mà cái nhà con xài vách ké của bác với của cô Tám. Một bên là lá còn một bên là ván, chỉ có cái mái lợp tôn thôi mà còn nóng muốn điên.
Ông Chín bỗng hỏi cắc cớ:
-Hồi nãy tao nghe bây nói cái gì mà "sập cửa", bộ cái vách của tụi bây có trổ cửa hả ?
Ông Hai giãy nãy:
-Đâu mà có, chỉ có tấm ván bằng bàn tay bị bung nên đưa xôi, đưa tiền qua đó thôi hà !
Ông Chín xòe hết bàn tay, vỗ lên lưng ông Hai một cái chát rồi nói :
-Ba cái ván thùng dở òm à ! Có khi nào bây cạy thêm vài miếng rồi chui qua hông ?
Ông Hai chỉ tay lên trời, nói lia lịa:
-Thề có trời đất! Từ trước tới giờ con không hề nghĩ đến chuyện đó chớ đừng nói tới làm.
Ông Chín cướp lời:
-Bây chưa nghĩ thì tao nghĩ giùm cho rồi đó ! Làm đi !
Ông Hai thở dài:
-Con nuôi thân còn chưa xong, bữa no, bữa đói. Ốc mang mình ốc còn không nổi thì đèo bồng làm chi cho khổ mình, hại người hả bác ?
Ông Chín an ủi:
-Sông có khúc, người có lúc. Biết đâu có vợ, có con rồi bây mới chịu lập chí làm giàu. Bỏ cái nghề vớt rác mà xông xáo kiếm tiền với thiên hạ.
Ổng xuống giọng dỗ ngọt:
-Ở một mình buồn lắm ! Có người bên cạnh hủ hỉ đỡ lắm con. Bây giờ còn mạnh khỏe ít thấy cần, chừng già yếu rồi bưng chén cơm hổng nổi mới thấy tủi thân, hết muốn sống...
Ông Hai lắc đầu:
-Con bây giờ sắp "ngũ thập tri thiên mạng". Đã biết rõ ý mình và ý trời rồi ! Hơn nữa "Lão lai tài tận", sức cùn, lực kiệt, thay đổi hết kịp rồi bác ơi !
Rồi ông nói giỡn:
-Tài sản lớn nhứt của con bây giờ là mấy tấm tôn, vậy mà nghe bác nói chuyện cái nhà của anh Tư, con còn muốn gỡ đem bỏ rồi lợp lá lên cho mát như nhà bác.
Ông Chín đắc ý:
-Hôm bữa thằng Tư Nhậu lại nhà tao, thấy mát quá nên nó đòi đổi. Tao mới hỏi : "Bộ mầy khùng hay sao mà đòi đem nhà tôn đổi nhà lá ?".
Ổng dừng lại nhìn ông Hai rồi hỏi:
-Bây có biết nó trả lời sao hông ?
Ông Hai lắc đầu.
Ông Chín cười hềnh hệch rồi nói:
-Nó nói: "Tưởng đâu trúng số là hên, ai dè xui quá mạng. Mắc gì đem tiền mua hết mấy tấm tôn. Lợp, vừng kín mít cái nhà rồi ra đường ở hết, trông cho trời mưa mới dám chui vô ".
Nói xong ổng lại cười thêm một chập.
Chờ ổng cười dứt, ông Hai mới hỏi:
-Bác đem theo mấy cây dao?
Ông Chín đáp, hỏi một lượt:
-Một, chi vậy ?
Ông Hai thở ra:
-Phải chi mượn thêm một cây, bác cháu mình hai người chặt cho nhanh...
Ông Chín ngắt lời:
-Một mình tao chặt được rồi ! Bây chỉ cần gom lá lại rồi chất lên xuồng thôi.
Ông Hai giục:
-Lát nữa là trở con nước đó bác ! Bác chặt cho lẹ đặng con làm rút rút cho kịp, hai bác cháu mình khỏi bơi nước ngược, khỏi tốn sức.
Liếc cái cánh tay đang cầm dao của ông Chín, ông Hai gợi ý :
-Hay là để con chặt còn bác thì gom ?
Ông Chín coi mòi tự ái, chắc cho là ông Hai chê mình già yếu. Ổng không thèm đáp, quơ dao chém phập một nhát đứt lìa cái nhánh lá dừa ngay tầm tay liền.
Ông Hai khen:
-Bác Chín coi vậy mà khỏe dữ ta !
Ông Chín tự hào đáp:
-Ngày nào tao cũng đẩy chiếc xe ba gác nặng ì lên dốc cầu mà hổng mạnh sao được?
Ông Hai hỏi:
-Sao bác hổng ngồi nhà mài dao mà đổi nghề thu mua phế liệu vậy ?
Ông Chín thở dài:
-Nghề mài dao hết thời rồi bây ơi ! Ở đó mà ngồi nhà. Ngày nào tao cũng vác cái đòn đi khắp Sài gòn mà còn bữa có, bữa không. Nhờ đổi nghề mới sống nổi đó !
Rồi ông nói thêm:
-Cái nghề mua, bán ve chai nầy coi vậy mà có ăn lắm ! Bị người ta xem thường chớ...
Ông Hai gạt ngang:
-Ai dám xem thường cái nghề của bác ? Hổng có mấy người như bác, rác đựng đâu cho hết ! Khắp trời chắc bọc ni lông bay phất phới. Nói không phải nịnh chớ cái nghề của bác giúp ích cho bà con nhiều nhứt đó ! Chẳng những môi trường bớt ô nhiễm, mà nhờ vậy mấy ông, bà già, con nít nhà nghèo đi lượm bọc cũng kiếm được chút tiền.
Ông Chín cười, khoái trá:
-Cái thằng nầy, nói chơi mà nghe có lý quá !
Ông Hai nghiêm nét mặt:
-Con nói thiệt chớ đâu có nói chơi ! Bác đi ra ngoại ô mà coi ! Họ gom rác đem về đó chất cao như núi. Mỗi ngày cả chục chiếc xe tải rác tới. May mà được lọc bớt lại để bán ve chai, hông thôi còn nhiều gấp đôi, gấp rưởi. Đây rồi rác dám lấn chiếm hết đất, mình không còn chỗ ở nữa đó !
Ông Chín lo thật sự, nên hỏi:
-Vậy mình phải làm sao đây bây?
Ông Hai nói:
-Con cũng đâu có biết ! Riêng phần con, ngày nào mà không xả một cọng rác, thì con coi như đó là một ngày thành công nhứt của mình đó bác !


Ông Chín làm thinh, suy nghĩ giây lâu rồi nói:
-Ngẫm ra nhà nghèo có công với bà con hơn nhà giàu !
Ông Hai hỏi:
-Công gì vậy bác ?
Ông Chín ngậm ngùi:
-Thì tối ngày đi lượm mót của nhà giàu. Dọn dẹp giùm họ. Họ có tiền nên ăn xài phủ phê, càng giàu thì càng phung phí, bỏ rác càng nhiều. Nếu cái xã hội nầy toàn là nhà giàu thì bây tưởng tượng coi, nó dơ tới cỡ nào ? Nó bừa bãi tới cái cỡ nào ?
Cái lý luận của ông Chín làm ông Hai cười ngã nghiêng rồi bỗng chới với. Ông Chín nói cũng không sai lắm! Có điều vấn đề ở đây không phải tại người ta dư tiền mà làm cho xã hội bề bộn. Căn bản là tại họ thiếu cái tâm. Nếu cái tâm của họ tăng bằng hoặc hơn cái của thì, ôi chao!
Vừa nói vừa làm nên công việc chạy ào ào. Thấy chiếc xuồng chất lá đầy vun nên đã khẵm, mực nước lé đé mạn xuồng, ông Hai bèn ngăn ông Chín lại :
-Bác Chín ơi ! Coi bộ chứa thêm hết nổi rồi đó !
Ông Chín ngưng cái tay dang quơ dao lại nửa chừng rồi hỏi:
-Thêm một nhánh nữa có được hông bây ?
Ông Hai lắc đầu, giọng cương quyết:
-Không được đâu bác ! Nước đang lớn, tàu bè bắt đầu đi lại nhiều, có sóng to là nguy hiểm lắm !
Ông Chín nghe nói vậy mới chịu hạ cây dao xuống. Ông lột cái áo đang ướt ra, lau cái mặt cũng ướt nhẹp mồ hôi, rồi không mặc trở lại mà vắt ngang vai cho mát.
Ông Hai nói:
-Bác đứng đó nghỉ mệt đi, để con lên trước đặng kềm cái xuồng cho vững. Chừng nào con nói "rồi" thì bác hãy leo lên đằng cái mũi nghen !
Ông Chín gật đầu, móc trong túi quần ra gói Bastos rút ra một điếu, rồi hỏi:
-Làm một điếu nghe Hai ?
Ông Hai lắc đầu:
-Con không biết hút thuốc.
Ông Chín nhét gói thuốc vào trở lại túi rồi móc cái túi quần bên kia lấy ra cái hộp quẹt. Ổng mồi điếu thuốc, hóp sâu hai má để hít bằng cả mũi lẫn miệng, cho đến khi nó bắt lửa đỏ rực cái đầu mới thôi.
Ông phun cả đống khói trong miệng ra rồi khen ông Hai liền:
-Bây giỏi quá, không uống rượu, không hút thuốc. Giống tốt như vậy mà không chịu gầy thêm bộn bộn cho thiên hạ nhờ. Thiệt là uổng !
Rồi vừa thở khói ra đằng mũi ông vừa nói:
-Ba cái thằng cà chớn thì gieo rắc tràn lan, đẻ một đống rồi không thèm dạy mà còn xúi đi làm bậy ! Phải chi...
Ông Hai vốn ngại nghe khen. Cứ được ai khen là ông lại thấy như mắc thêm nợ, bèn kiếm chuyện nói để đánh bạt mấy câu còn mắc kẹt trong cổ của ông Chín:
-Bác cầm dép lên đi, chịu khó lội sình một chút. Chỗ nầy đất sình không hà nên lún dữ lắm ! Con không dám cặp xuồng sát bờ quá sợ bị mắc lầy.
Ông Chín làm theo, lột dép cầm tay rồi bước rất nhẹ nhàng cẩn thận. Bùn lên đến nửa ống cẳng. Leo lên xuồng xong ông thả hai cái giò lòng thòng hai bên, quẩy đùng đùng, vừa giúp cho cái mũi xuồng nhích ra, vừa khiến cái lớp bùn bám vô mấy kẽ ngón chưn trôi đi hết.
Ông Hai nói:
-Chỗ nầy nước chảy ngược, bác ráng bơi ra ngã ba rồi là mình đổi chiều, đi xuôi theo con nước. Tới đó bác khỏi cần đụng tới cây dầm, cứ thả cho nó trôi. Hai bác cháu mình khỏe re !
Nước đang đổ mạnh nên chỉ bơi một đoạn ngắn thôi mà cả hai đều mệt đến lè lưỡi. Ra đến ngã ba, ông Hai đánh một vòng cung thật lớn, cho xuồng cặp sát bờ bên phải rồi trút ra một hơi nhẹ nhỏm.
Ông Chín khen:
-Nhờ bây canh giỏi, gặp được con nước xuôi, chớ hông thôi bơi từ đây về tới nhà chắc đứt hơi luôn. Thành ra tính già ra non, tiền lá không tốn, mà tốn tiền mua cái hòm cho tao còn nhiều gấp mấy lần.
Một chiếc ghe chài không mui, chở cát đầy nhóc đi ngược chiều. Hai cái máy đuôi tôm cỡ lớn gắn ở đuôi ghe đang chạy hết công suất. Khoảng sông nầy khá rộng ghe tàu đi lại khá dễ nên nhiều. Mấy ngọn sóng hình chữ V lan rộng. Gương mặt ông Hai đang thanh thản bỗng nhuốm vẻ lo lắng.
Ổng vội bảo ông Chín:
-Bác thả cây dầm xuống, kềm cái mũi cho chắc phụ con.
Ông Chín lật đật làm theo. Cái xuồng gặp mấy con sóng thì mừng như gặp bạn, nhảy tưng tưng rồi lắc qua, lắc lại...Báo hại họ phải gồng hai cánh tay mà kềm nó lại.
Thấy ông Chín nhìn đăm đăm chiếc ghe, ông Hai nói:
-Lúc nầy người ta đang đập nhà, xây nhà rần rần. Ngành xây dựng phất lên như diều. Bởi vậy ba cái ghe, xà lan chở cát, chở đá chạy dập dìu trên sông.
Ông Chín nói:
-Cát ở đâu mà nhiều quá! Thấy họ chở nườm nượp suốt ngày.
Ông Hai thở dài:
-Họ lấy cát ở miệt đầu nguồn sông Cửu Long. Tội nghiệp dân ở đó lắm bác ơi!
Ông Chín ngạc nhiên:
-Sao vậy ?
Ông Hai hỏi lại:
-Bộ bác hổng biết cái vụ đất lở ở An giang ? Sập mất tiêu cái chợ Tân Châu sao ?
Ông Chín lắc đầu:
-Tao lo kiếm cơm cũng đủ tối tăm mặt mũi, hơi đâu để ý ba cái chuyện thời sự ! Mà mấy ông nhà nước ở đâu ? Sao hổng chịu ngó chừng, để họ moi tới sập nhà, sập cửa vậy ?
Ông Hai lại thở ra, lần nầy còn dài hơn:
-Như vậy mới có chuyện để nói.
Ông Chín chêm thêm:
-Từ ngày nhà nước mở cửa, mấy ông cán bộ, nhân viên hổng biết làm cái giống gì mà giàu lên dữ quá ! Họ xây nhà, sắm xe thấy mà ham !
Rồi ổng hỏi ông Hai :
-Sao mấy người nước ngoài họ không làm bên xứ họ mà đem qua nước mình vậy Hai?
Ông Hai đáp:
-Nước mình nhân công rẻ, lại được xã rác thoải mái nên họ thích.
Ông Hai hỏi lại:
-Bác có thích họ hông bác ?
Ông Chín nói:
-Ai mà hổng thích ? Nhờ vậy mà mấy thằng con, thằng rể của tao mới có cái nghề thợ hồ.
Rồi ổng lại nói:
-Mai mốt nhà nước giải tỏa cái dãy bờ sông của mình. Nghe nói tụi mình được mua nhà trả góp ở chung cư. Bây có mừng hông Hai ?
Ông Hai không trả lời mà hỏi lại:
-Nhà bác thì sao?
Ông Chín đáp:
-Mấy đứa nhỏ mừng rơn còn tao với bả thì rầu quá cỡ !
Ông Hai hỏi:
-Sao vậy bác ?
Ông Chín lắc đầu:
-Họ hà tiện đất, xây cao lên tới năm, sáu từng. Mấy người già như tao với bả, ba cái dây chằng giãn hết rồi, rủi bắt thăm trúng cái từng cao chót vót thì leo sao nổi ?
Ông Hai xúi:
-Vậy thì bác lấy tiền đền bù rồi đi ra ngoại ô mua miếng đất mà cất nhà.
Ông Chín lắc đầu:
-Tụi nó dễ gì chịu. Chê xa với lại khó làm ăn.
Ông Hai cười nói giỡn :
-Bác thấy chưa? Không vợ, không con như con mà khỏe, thích gì làm nấy khỏi sợ bị kỳ đà cản mũi.
Ông Chín hỏi:
-Bây tính làm sao ? Ở chung cư đâu có chỗ cho bây cột xuồng ?
Ông Hai nói:
-Hổng chừng con cũng bán xuồng, sắm chiếc xe ba bánh rồi đi mua ve chai.
Ông Chín thở dài:
-Tao nghe nói mai mốt cấm xe ba bánh, xích lô...đó bây !
Rồi gợi ý:
-Hay là bây ráng gom tiền mua chiếc Hon Đa rồi đi chạy xe ôm. Cái nghề đó bây giờ có ăn ghê lắm ! Thằng Sáu Thẹo ở xóm mình nó đổi đời một cái vù, thấy hông?
Ông Hai phản đối:
-Sao con nghe anh Tư Ốm than quá trời, nói kiếm không đủ tiền đổ xăng với sửa xe.
Ông Chín giải thích:
-Tại thằng Tư nó dở. Thằng Sáu nó chở "gái" không hà ! Lúc sau nầy nó kèm thêm cái chuyện dắt mối, còn cho mướn chỗ để họ "làm ăn" nữa.
Ông Hai nói:
-Sao nó gan cùng mình vậy ? Ba cái chuyện đó dễ vô nhà đá ở lắm đó bác !

Ông Chín cười:
-Chừng nào vô tù hả hay, bây giờ cứ kiếm tiền xài trước cho sướng cái đã ! Cho dù có ở tù cũng được nằm với ngồi chớ đâu có khổ như mấy ông cán bộ.
Ông Hai hỏi lại:
-Bác nói cái gì mà ngộ vậy ? Cán bộ thì khổ cái chỗ nào ?
Ông Hai chắt lưỡi:
-Không khổ sao được ? Họ mắc tội lớn tội nhỏ gì cũng bị treo không hà !
Ông Chín ngồi phía mũi quay lưng lại, ông Hai không thể nhìn tận mặt nên trong bụng cứ phân vân, cứ bán tín, bán nghi hổng biết ổng nói chơi hay thiệt.
Chiếc ghe đã bỏ xa lắc, con sông cũng hết động lòng, cái xuồng cũng bình tâm trở lại. Hai bác cháu họ cùng thở ra một cái khì, lơi hai bàn tay cầm cây dầm ra một chút.
Ông Chín hỏi:
-Cái nghề trên sông nầy coi vậy mà nguy hiểm dữ ! Rác thì quá hôi ! Hổng biết bây thích cái giống gì mà đeo đuổi tới bây giờ vậy Hai ?
Ông Hai chưa kịp đáp thì đã bị ông Chín chặn họng:
-Đừng có nói và bây muốn làm sạch cái con sông nầy nghen ! Rác lềnh khênh, hôm sau còn nhiều hơn hôm trước, cho dù bây có chết đi sống lại mấy kiếp cũng vớt hoài không hết !
Ông Hai hỏi lại:
-Bác có đi viếng bà chúa Sứ ở Châu đốc chưa ?
Ông Chín gật đầu:
-Hồi kỳ bả đau nặng lắm tưởng chết. Tao hết cách nên cầu xin bà chúa Sứ. Vái cầu may nào ngờ linh hết sức ! Bà độ nên hết bịnh cấp kỳ. Tới chừng bả khỏe mạnh lại như bình thường, hai vợ chồng tao bưng mâm trái cây, đi xe đò từ đây tới đó để tạ lễ. Cái miễu lớn quá mạng ! Còn lớn hơn mấy cái chùa. Người ta tới cúng đông hết biết ! Tao với bả đi trúng ngày vía...
Ông Hai ngắt lời:
-Bác có thấy cái núi ngay trước mặt cái miễu hông ?
Ông Chín gật đầu:
-Thấy chớ !
Ông Hai hỏi:
-Bác nhớ cái núi đó cao cỡ nào, tên gì hông ?
Ông Chín nói:
-Nó không cao lắm, cái đầu tà bằng bằng chớ không có nhọn như mấy cái núi khác. Còn cái tên thì...
Ông nhăn mặt cố nhớ tên cái núi, chỉ nhớ mài mại nên trả lời mà như hỏi :
-Phải núi "Sam" hông bây ?
Ông Hai đáp:
-Đúng rồi đó bác .
Rồi ổng hỏi tiếp:
-Hai bác có leo lên thử chưa ?
Ông Chín đáp:
-Thấy người ta đi lố nhố ở trển, tao muốn biết trên đó có cái gì nên rủ bả leo lên coi thử. Mới đi chưa tới đâu là bả than mỏi chưn quá nên quay trở lại .
Ổng dừng ngang rồi hỏi:
-Mà bây hỏi chi vậy ?
Tới lúc nầy ông Hai mới chịu giải thích :
-Có một cái núi ở xứ Tây tạng, cao gấp bốn chục lần cái núi Sam đó. Đường đi lên đỉnh núi hết sức là hiểm trở, trơn trợt vì lúc nào cũng đóng đầy tuyết. Lại không đủ ốc xy để thở, vậy mà có người liều chết leo lên cho bằng được đó bác. Có người chết dọc đường, có người lên tới đó rồi về cụt hết mấy ngón tay, cưa luôn hai ống cẳng.
Ông Chín ngạc nhiên:
-Tại sao phải rụng mấy cái lóng tay, phải cưa hai cái cẳng ?
Ông Hai cắt nghĩa:
-Tại trên đó lạnh dữ lắm !
Ông Chín không tin:
-Lạnh thì lạnh chớ làm gì đến nổi phải rụng tay, rụng cẳng ?
Ông Hai khổ sở vì ông Chín không chịu tin, gãi đầu rồi đưa ra thí dụ.
Ổng hỏi:
-Bác có lần nào đi mua nước đá mà quên đem đồ đựng hông?
Ông Chín gật đầu:
-Hà rằm !
Ông Hai hỏi tiếp:
-Vậy rồi bác làm sao ?
Ông Chín quay đầu lại nhìn ông Hai một cái rồi đáp:
-Cái thằng nầy! Sao bữa nay bây nói chuyện như giả ngộ vây? Thì cầm chạy về chớ sao ?
Ông Hai hỏi nữa:
-Bác có thấy lạnh hông? Có tím hết mấy cái ngón tay hông?
Ông Chín đáp:
-Có chớ sao không?
Ông Hai cười:
-Bây giờ nếu ai bỏ bác vô cái thùng có lót nước đá xung quanh, rồi phủ nước đá lên khắp đầu cổ, mình mẩy của bác, thì bác nhắm coi mình chịu được bao lâu ?
Ông Chín nói:
-Chừng năm, mười phút thôi chớ hổng thể hơn !
Ông Hai thở ra một hơi:
-Vậy mà mấy nhà leo núi đó họ phải chịu đựng cả tháng trời đó bác !
Ông Chín hỏi:
-Họ leo lên đó chi vậy ?
Ông Hai đáp:
-Họ chỉ muốn làm một việc khó khăn nhứt đời, chứng tỏ nghị lực của mình.
Ông Chín hỏi tiếp:
-Chi vậy ? Có ích lợi gì không? Có ai cho tiền, cho bạc gì không?
Ông Hai lắc đầu:
-Họ làm không phải vì lợi ích cụ thể như tiền bạc hoặc các phần thưởng về vật chất đâu bác ơi !
Ông Chín gặng:
-Vậy thì họ bán mạng để được cái thứ gì !
Ông Hai thở dài, chán nản, biết trước rằng cho dù mình có nói ráo nước miếng cũng chưa chắc được ông Chín tin, hiểu và cảm thông:
-Họ chỉ muốn có được một cảm giác hết sức sung sướng, hết sức phi thường mà ít ai đạt được.
Ông Chín cũng lắc đầu:
-Tao không tin nổi có người bỏ vợ con, cha mẹ, bỏ luôn cái mạng mình để làm cái chuyện không có ích cho ai. Tao nghĩ họ không điên thì cũng ba lơn, ba trợn.
Ông Hai bộc lộ cái ý hướng của mình:
-So với họ thì cái chuyện con làm có đáng gì đâu !
Ông Chín lắc đầu:
-Người ta leo lên rồi leo xuống, về tới nhà là khỏe re ! Còn bây ngày nào cũng đi vớt rác, vớt hoài còn hoài, bộ không thấy nản sao? Đừng có nói với tao là bây làm nghề nầy để kiếm cơm nghe, tao không có tin đâu ! Thiếu gì nghề sạch sẽ, nhẹ nhàng hơn, kiếm tiền nhiều hơn.
Rồi ổng nhỏ giọng :
-Tao nói cái nầy bây nghe rồi đừng có buồn nghen ! Tại bây không biết thôi ! Chớ bà con trong xóm mình, nhiều người họ nói là bây tưng tửng đó !
Ông Hai cười khà khà. Hình như ổng không buồn, không tự ái chút xíu nào mà còn khoái mới lạ !

Chiều hôm đó, ông Chín nhứt định buộc ông Hai phải nhậu với mình một bữa.
Bà Chín tuy hết sức chống đối chuyện ông uống rượu, nhưng vì biết chồng muốn trả công cho ông Hai nên đành bấm bụng chìu theo.
Bà lật đật sai thằng Út xách xe đạp chở mình ra chợ Hòa Bình, lựa mua một con gà mái tơ, thiệt mập, thiệt ngon để nấu cháo và làm món gà xé phai đãi khách.
Biết ông Hai không thích uống rượu lại sợ chỗ đông người...Để câu chuyện của họ thêm đậm đà, thân mật, hơn nữa bị vợ cấm nên ông Chín không dám rủ Tư Nhậu. Thế nhưng ổng quên nhốt mấy con ruồi lại. Cái bọn phản chủ đó liền bay vèo đến nhà Tư Nhậu đưa tin.
Ông Hai tắm xong vừa leo lên nhà là nghe tiếng ông Chín gọi hối hả:
-Hai ơi ! Qua húp với bác chén cháo.
Biết không thể từ chối ổng bèn "dạ" một tiếng thiệt to rồi nói :
-Con mặc đồ xong là qua liền !
Ông Hai lấy cái quần dài với cái áo tay dài dưới đáy rương ra mặc vì sợ ngồi lâu quá bị muỗi thui.
Vừa thấy ông Hai qua là ông Chín múc cháo trong tô ra hai cái chén không trong mâm liền. Ổng cố ý lựa miếng huyết gà thiệt ngon để múc vô chén cho ông Hai.
Cầm chai rượu lên, ông Chín rót đầy cái ly của ông Hai trước rồi mới rót cho mình. Rót xong, ông dùng hai ngón tay, cầm cái ly ba xi đế trước mặt mình lên một cách hết sức điệu nghệ, hết sức khéo léo. Lớp nước đầy vun trên mặt đứng im ru, không đổ ra ngoài đến một giọt.
Ông Hai cũng bắt chước, cong ngón tay út lên, cầm cái ly đã được rót đầy rượu của mình chỉ bằng hai ngón cái và giữa. Chẳng thể nào "đẹp"bằng ông Chín, ly rượu của ổng rung rung như đứa bé vừa mới biết đứng chựng lại hấp tấp tập đi, té nghiêng, té ngả, ướt mấy ngón tay.
Ông Chín chạm mạnh miệng ly rượu của mình vào ly của ông Hai khiến rượu trong hai ly cùng nhảy tưng lên. Có mấy giọt từ ly nầy phóng qua ly kia khiến ông Chín thích thú. Ổng nhướng mắt (cái tật của ổng là mỗi khi muốn phát biểu trịnh trọng, bắt buộc phải làm cái động tác, chống hai cặp chưn mày lên cao hết cỡ rồi nhìn chầm chầm vào gương mặt của đối phương).
Ổng nói:
-Hai mầy ! Hôm nay bây giúp bác hết lòng, bác cảm động lắm, mang ơn lắm ! Ly rượu nầy ...
Ổng vừa nói tới đó thì Tư Nhậu bỗng lù lù xuất hiện.
Y hỏi giọng hờn mát:
-Chà bữa nay anh Chín có chuyện gì vui mà bày tiệc ăn mừng vậy ta ?
Gương mặt ông Chín đang bừng bừng hào khí, bỗng sượng trân. Ổng nhìn Tư Nhậu rồi ngay lập tức đổi sang giọng hết sức ngạc nhiên:
-Ủa ! Chú Tư, chú đi dâu mà hồi nảy tui sai thằng cháu đi mời, nó nói là chú không có ở nhà ?
Nét cau có trên gương mặt Tư Nhậu giãn ra liền.
Y nói:
-Tui ở nhà chớ đâu có đi đâu ! Chắc ra nhà sau nên nó không thấy .
Tư nhậu chắt lưỡi, không biết y nói thiệt hay muốn gỡ quê cho ông Chín:
-Cái đám con với mụ vợ của tui, hể thấy ai tới kiếm, cho dù tui có ở nhà họ cũng nói dóc là không. Tui chửi hoài mà cái tật đó cũng không chịu bỏ. Cũng may mà tự dưng tui nổi hứng, thấy chiều nay mát trời quá mới đi kiếm anh, tính rủ ra quán Cây Xoài ngồi uống ít ly.
Tư nhậu mới năm mươi bốn tuổi thôi, nhưng vì có thâm niên trong nghề nhậu nên trông y chẳng trẻ hơn ông Chín mài dao, người hơn ổng mười sáu, mười bảy tuổi, là mấy. Y mạnh dạn gọi ông Chín bằng anh và đối xử với ông Hai như một tên tép riu đến xin tập sự.
Ông Chín lật đật mời:
-Vô đây ! Ngồi đây ! Sẵn mồi, sẵn rượu, đi đâu xa cho mắc công ?
Ổng đặt ly rượu xuống rồi gọi toáng:
-Bà ơi ! Đem thêm cái ly, cái chén ra cho tui.
Bà Chín đem ly, chén, đũa, cả cái muỗng nhôm ra, thấy tư Nhậu thì hơi khựng lại, cái mặt chù ụ xuống liền. Khi ký phép cho chồng uống rượu, bà có ra điều kiện là không được rủ Tư Nhậu, bởi theo nhận xét của bà, lần nào mà ông Chín nhậu với ông Tư thì "hổng chết cũng bị thương".
Tư Nhậu vừa nghe ông Chín gọi vợ thì bỗng nhiên co ro, cúm rúm, mất tự nhiên. Mới hôm kỉa, hôm kia, bà Chín đã đến tận nhà của y, vừa rưng rưng nước mắt vừa nói:
-Chú Tư thương tui, đừng lôi kéo ổng đi nhậu nữa. Ổng có rủ chú cũng từ chối giùm ! Chẳng phải tui không muốn ổng uống rượu với chú đâu! Tại ổng có cái chứng đau bao tử, uống nữa là chết...
Y đã hứa với bà một cách trịnh trọng rằng, chẳng những mình không rủ mà cho dù ông Chín có tới nhà rủ rê, có mời mọc hết lời cũng dứt khoát không đi.
Hai tia mắt của bà Chín như hai mũi tên cắm vào tư Nhậu. Y vội cúi mặt tránh tia nhìn của bà.
May sao ông Chín kịp thời phân bua với vợ:
-Chú Tư đây là khách của thằng Hai...
Nét mặt của bà Chín từ từ giãn ra còn ông Hai thì ngạc nhiên tột độ. Lúc nầy bà Chín mới chịu nhếch môi cười, chào một câu gọn lỏn:
-Chú Tư !
Rồi quày quả trở vô, ông Chín và Tư Nhậu cùng thở phào nhẹ nhỏm.
Ông Chín mài dao nổi tiếng sợ vợ nhứt xóm. Nhìn ổng người ta không tin rằng cái người đàn ông to lớn như cây cột đình ấy, đã nhiều lần bị người phụ nữ nhỏ xíu, gầy teo, ốm nhách như con thằn lằn, đứng chưa tới cái càm của mình nầy, xách lỗ tai lôi đi ngờ ngờ ngoài đường.
Ông Chín thương vợ nhiều hơn sợ. Biết bà ốm yếu, hơn nữa vì lo cho sức khỏe của ông mới làm vậy nên không bao giờ động thủ, chỉ riu ríu đi theo.
Hể ông đi nhậu ở đâu bà cũng đi tìm cho bằng được để lôi về. Mấy người đàn ông trong xóm thấy vậy cũng ít dám mời, chỉ có một mình tư Nhậu là bám dai như đĩa.
Lần nầy vì nể mặt ông Hai, người mà bà cho rằng có tư cách nhứt xóm, lại vừa bỏ công ăn việc làm giúp ông Chín nên bà mới chịu để yên cho tư Nhậu.
Tư Nhậu nghe ông Chín nói vậy thì bỗng đùng đùng nổi cơn tự ái. Nghĩ bụng: "Mình như vầy mà phải ăn theo cái thằng cha Hai Rác sao?". Y muốn đứng lên đi về quá mạng mà ngặt một nổi, con ma rượu cứ leo lên đè đầu, cởi cổ bắt phải nằm mẹp sát ván.
Ông Chín đoán biết cái tâm trạng đó ! Để an ủi người bạn cố tri, ông bèn gắp cái phao câu ú nu trong dĩa gỏi gà, bỏ vô chén Tư Nhậu rồi nói:
-Tui biết chú ưa nhứt là cái món nầy, nên biểu bả lựa con gà mái dầu thiệt ngon để nấu cháo, trộn gỏi. Ăn đi chú ! Làm một miếng dằn bụng trước rồi hãy uống để ba cái rượu nó khỏi phá bao tử.
Ông Hai nghe vậy thì không đợi ông Chín mời tới mình, bưng chén cháo có miếng huyết gà lên húp, rồi cầm đũa vớt miếng huyết lên, chấm vô chén nước mắm tỏi ớt ăn một cách ngon lành.
Ông Tư bỗng hỏi ông Hai bằng cái giọng xách mé:
-Nghe nói hôm trước mầy vô mánh hả Hai ?
Ông Hai ngạc nhiên, hỏi lại:
-Mánh gì mà vô ?
Ông Tư khăng khăng:
-Đừng có chối ! Ai cũng biết mầy vớt được cái bọc có mấy cái răng vàng, đem bán được tiền khẵm lắm mà. Rồi đi sắm đồ, bao gái đủ thứ hết !
Ông Hai cười :
-Trời đất ơi ! Ai đồn ác vậy ? Cái hàm răng giả bằng nhựa làm tui hết hồn, đem liệng còn không kịp.
Ông Tư hỏi tới:
-Hổng phải vậy thì mầy lấy tiền đâu mà bao gái cả đêm...
Ông Hai đổ quạu, ngắt ngang:
-Cái cô gái mà anh nói đó là người đàng hoàng chớ không phải "gái" đâu nghen. Cái bữa cổ tới ở nhờ, tui nhường nhà rồi ra đình mà ngủ, có bác Chín đây làm chứng !
Ông Chín gật đầu rụp rụp rồi nói:
-Đúng vậy đó chú Tư !
Biết cái gút mắc nằm ở đâu, ổng nói tiếp:
-Mâm nhậu nầy nhờ thằng Hai mà có. Từ sáng tới giờ nó chở tao đi chặt lá dừa, chở về rồi phụ róc ra còn đem phơi giùm nữa. Bởi vậy bả mới ...
Tư Nhậu tiếp lời:
-Vậy tui phải cám ơn Hai Rác mới phải.
Ông Chín lật đật rót đầy cái ly vợ mới đem ra, đưa cho Tư Nhậu rồi nói:
-Vô đi chú Tư, vô đi Hai, bữa nay uống rượu có "ba tăng" (môn bài, giấy phép) hẳn hoi ! Hai thằng bây cứ bình tĩnh mà uống, say chết bỏ, say quên thôi, say...
Ông đang nói ngon trớn, y như thả xe ào ào xuống dốc. Bỗng nghe một tiếng tằng hắng vọng ra từ phía sau tấm vách, bèn thắng lại một cái rụp, ngã lộn đầu, mặt tái nhách !

Ông Chín gỡ quê bằng cách gắp nguyên cái đùi gà bỏ vô chén ông Hai rồi hối:
-Bây không uống được nhiều rượu thì phải ủng hộ cái dĩa gỏi giùm bả. Nãy giờ không ai đụng tới nó nên bả mới tằng hắng để nhắc đó !
Ông Hai đang đói meo nên không từ chối, xơi một cách ngon lành. Ổng vừa ăn hết cái đùi gà, ông Chín liền đưa thêm nguyên cái cánh, còn múc đầy chén cháo cho ổng nữa.
Sự săn đón của ông Chín đối với Hai Rác khiến Tư Nhậu thấy chướng con mắt. Y cho rằng mình chịu ngồi chung với ông Hai Rác đã là một sự hạ mình rồi, đáng lẽ ông Chín phải ưu ái y hơn mới đúng. Huống hồ chi họ còn lạ bạn nhậu lâu đời với nhau, đằng nầy...
Không chờ ông Chín giục, Tư Nhậu bưng ly rượu đầy nhóc lên uống một cái ót. Y nhìn đăm đăm xuống đáy ly, ho lên một tiếng rồi hỏi:
-Anh Chín đong rượu của ai vậy ?
Ông Chín đáp:
-Của thằng Sáu mặt mụn chớ còn ai vô đây nữa .
Nhìn gương mặt nhăn nhó của Tư Nhậu, ổng gặng:
-Sao vậy ? Có chuyện gì hông ?
Tư Nhậu trề môi:
-Cay quá !
Ông Chín phật ý:
-Tao đâu thấy cay co gì ! Chú có bị tưa lưỡi hông ?
Rồi quay sang ông Hai ổng hỏi :
-Bây uống có nghe cay hông Hai ?
Hai Rác chưa kịp trả lời đã bị Tư Nhậu chặn họng:
-Cái thằng nầy có biết uống rượu đâu mà anh hỏi .
Ông Chín nghe Tư Nhậu nói vậy thì sợ ông Hai giận, ổng nói:
-Chưa chắc ! Người ta ít uống đâu phải không biết uống, tại hổng thích mà thôi !
Tư Nhậu bắt bẻ:
-Người ta không thích thì tại sao mình phải ép. Bộ anh không biết cái câu "rượu bất khả ép" hay sao?
Ông Chín thấy không khí hơi găng, muốn xoa dịu nên cầm cái chai lên rót đầy ly cho Tư Nhậu, chêm thêm cho đầy cái ly còn phân nửa của Hai Rác rồi nói:
- "Rượu bất khả ép mà ép bất khả từ ". Cụng ly một cái coi nào ! Vô trăm phần trăm nghe !
Tư Nhậu dốc hết ly rượu vô miệng rồi nhìn Hai Rác một cách thách thức. Ông Hai không biết vì nể mặt ông Chín hay chấp nhận sự thách thức đó, mà cũng làm một cái ót hết ráo ly rượu.
Ông Chín vỗ bàn tay lên lưng ông Hai rồi khen:
-Giỏi! Bây lính mới mà uống như vậy là "trình độ" lắm !
Tư Nhậu nghe ông Chín tâng bốc Hai Rác thì càng thêm ghét. Thấy ông Hai múc cháo cho vô miệng cặm cụi nhai liên tục thì nói kháy:
-Thằng nầy văn võ song toàn à nghen ! Uống dữ mà ăn còn tợn gấp đôi !
Ông Hai thấy Tư Nhậu cứ đeo theo công kích mình hoài nên vừa buồn, vừa bực. Ông không thèm trả lời, cứ tà tà múc cháo đưa lên miệng rồi tà tà nhai, tà tà nuốt.
Sự im lặng của Hai Rác làm Tư Nhậu cảm thấy mất mặt với ông Chín, y nói :
-Cháo ngon lắm hả mậy ? Sao cứ cắm đầu ăn mà không khen tiếng nào hết vậy ?
Hai Rác nhìn thẳng vào mắt Tư Nhậu rồi hỏi:
-Anh muốn cái gì ?
Tư Nhậu đáp, không cười
-Muốn uống thi với mầy đó ! Dám hông?
Hai Rác gật đầu rồi nói:
-Với một điều kiện.
Tư Nhậu hỏi:
-Điều kiện gì ?
Hai Rác gằn từng tiếng:
-Làm thinh mà uống !
Tư Nhậu vỗ tay lên đùi một cái chách rồi nói:
-Ô kê con gà đen.
Ông Chín lật đật can:
-Thôi, thôi ! Uống sương sương đặng về ngủ cho ngon, đừng có...
Tư Nhậu gạt phắt một cách hằn học :
-Anh mà cản là tui nói là anh sợ hao rượu, tốn mồi đó nghe !
Rồi Tư Nhậu nhìn chai rượu. Ông Chín biết ý nên gọi to:
-Út ơi ! Út.
Thằng Út từ nhà sau chạy ra hỏi:
-Ba kêu con hả ?
Ông Chín đáp :
-Ừ !
Ổng vói tay kéo cái đầu của thằng Út xuống, sao cho cái lỗ tai của nó kề sát miệng mình rồi nói nhỏ xíu:
-Con ra quán thằng Sáu mặt mụn, biểu nó cho mượn cái chai, đong cho ba nửa lít rượu. Nói với nó là chịu khó ghi sổ giùm ba, ngày mai nhứt định ba ghé trả.
Út vỗ tay lên cái túi áo trước ngực, nói:
-Khỏi đi ba, con có tiền nè !
Ông Chín gật đầu:
-Tốt, đi liền đi !
Ông Hai nghe vậy thì cản:
-Bác Chín đừng mua, con uống chừng nầy là đủ rồi !
Tư Nhậu nói:
-Mầy đủ chớ với tao là chưa thấm tháp gì hết !
Hai Rác nhìn Tư Nhậu rồi hỏi:
-Tại sao anh muốn nhậu thi với một người không biết uống rượu như tui ? Chưa biết ra sao nhưng cho dù có thắng cũng đâu có vẻ vang gì.
Tư Nhậu đáp:
-Tại tao không ưa mầy !
Hai rác gằn mạnh từng tiếng :
-Tui làm cái gì mà anh ghét ?
Tư Nhậu làm thinh. Thật ra trước đây y đâu thèm để ý đến Hai Rác. Họ như hai hành tinh không cùng quỹ đạo, chưa hề đụng chạm đến nhau.
Đối với Tư Nhậu cái hạng người mà y ghét nhứt là những người không biết uống rượu nhưng hết sức thành đạt. Tại sao ? Ấy bởi vì mỗi lần gây lộn với vợ y đều bị bả nêu tên mấy người đó ra để so sánh, để dè bỉu y:
- "Thấy nhà ông Tư thợ may hông ? Nhờ không uống rượu, nói đâu ra đó nên con cái nó phục. Con người ta học hành đàng hoàng, cầm viết ký tên rồi lãnh tiền cả xấp, đâu có như mấy thằng con cà nhỏng của ông ".
Rồi thì liệt kê thêm hàng loạt nào là Năm thợ điện, Út cạo heo...Ngay cả thằng cha Mười thọt bán vé số, người ngợm thấy mà gớm vậy mà nhờ có thằng con vừa đậu vô cái trường gì đó, cũng được bả cho leo lên vai ông mà ngồi.
Hai rác không nằm trong số đó. Bởi y tuy không uống rượu nhưng cũng chẳng thành đạt tí ti nào.
Tư Nhậu đáp:
-Ghét là ghét không có lý do gì hết !
Rồi lầm bầm như nói một mình :
-Cái thứ vớt rác mà bày đặt...
Hai Rác cười gằn:
-Anh có tư cách gì mà xem thường cái nghề của tui ? Nó có ích hơn cái thứ nghề tối ngày rình mò... Coi ai có động ly, động chén là nhào tới kiếm ăn.
Tư Nhậu sấn sổ:
-Mầy nói ai nhào tới kiếm ăn ?
Ông Chín lật đật can:
-Thôi, hai thằng bây vô duyên hết sức ! Nhậu cho vui mà khi không ...
Tư Nhậu nói:
-Anh thấy đó ! Nó kiếm chuyện với tui...
Ông Chín nạt ngang:
-Có mầy kiếm chuyện với nó thì có ! Mầy giận cá chém thớt ! Nhậu ở nhà tao mà mầy làm như vầy là không coi tao ra gì, muốn dằn mặt tao phải hông ?
Tư Nhậu thấy ông Chín giận thì lật đật xuống nước:
-Em xin lỗi anh Chín, em nào có dám dằn mặt anh. Chỉ tại...
Nói tới đó y ta bí, chẳng biết làm gì bèn cầm chai rượu lên rót đầy hai cái ly của y và của Hai Rác rồi nói:
-Vô đi mầy !
Ông Hai không đợi giục thêm, bưng ly rượu lên uống cạn.
Từng ngụm rượu trôi xuống đẩy nỗi buồn từ đáy lòng ông trào ngược. Ông bỗng nghe vô cùng ân hận, nghe có lỗi với ba, má, mấy đứa em và nhứt là đối với Thủy, cô bạn gái của mình.

Tối đó, cô Tám đang ngủ bỗng nghe một giọng nói như rên rỉ, hết sức thống khổ của ông Hai bên kia vách :
-Thủy ơi ! Anh xin lỗi em ! Anh đã giết chết giấc mơ của em, giết chết tương lai và quá khứ của hai đứa mình. Anh làm cho em phải xấu hổ khi nghe ai nhắc đến tên anh. Chắc em lợm giọng khi nhớ đến những cái hôn của anh. Chắc em cho rằng anh cố chọn cái nghề nầy để trả thù em. Không phải vậy đâu ! Không phải vậy đâu ! Lúc nào anh cũng thương và nhớ em cho dù em đã hơn một lần dứt áo ra đi. Nhưng cái tình anh dành cho em không lớn bằng cái tình anh dành cho sông. Anh đau lòng biết bao khi thấy những con sông bị rác xâm chiếm càng ngày càng nhiều. Anh muốn ngăn chặn cho dù biết rằng sẽ bị nó cuốn đi và nhận chìm trong nay mai. Đến bây giờ anh mới nhận ra rằng, điều ác cho dù lớn cách mấy cũng rất dễ làm còn điều thiện thì ngược lại...
Một tiếng nôn khan khiến câu nói ngắt quảng, tiếng rên rỉ nhỏ dần rồi tắt hẳn. Câu tâm sự dành cho một người phụ nữ khác lại khiến cho cô Tám ràn rụa nước mắt. Tiếng muỗi vo ve khiến cổ đâm lo. Cô Tám nhìn qua kẻ vách, nhà ông Hai không thắp đèn, tối hù nên không biết ổng có giăng mùng hay chưa. Cổ đẩy tấm ván lên rồi thò tay qua quơ, bàn tay cổ chỉ chạm vào không khí.
Cô Tám gọi nhỏ :
-Dậy giăng mùng đi anh Hai, muỗi hút hết máu bây giờ.
Chẳng nghe ừ hử gì hết ! Cô Tám lập lại hai, rồi ba lần, rồi bốn lần...Tiếng vo ve ngày càng nhiều. Cô Tám không chịu nổi nữa, tháo sợi dây chì ràng rịt cái chốt của cánh cửa sổ có từ trước, mà khi ông Hai cất nhà và xin xài ké vách cô đã bế lại, cột chắc cứng để đề phòng.
Không cần thu người cô Tám cũng chui lọt tót qua cái cửa khá rộng. Cô mò mẫm trong bóng tối, thả cái mùng được vắt gọn trên đầu xuống. Tấn cho mí mùng nằm dưới mép chiếu xong, cô Tám cong người định kéo ông Hai vào giữa chiếc chiếu. Ổng coi ốm vậy mà nặng ì ! Cô Tám cúi sát người, ráng gồng mình nâng hai cái vai vạm vỡ. Hai trái ngực của cô trĩu xuống, quẹt vào cả mắt lẫn mũi lẫn miệng của ông Hai. Cổ vừa kéo vừa lôi, hì hục mãi mới xong. Chưa kịp bỏ tay ra thì một vòng ôm đã giữ chặt cô Tám lại, giọng nói như mớ ngủ của ông Hai vang lên, nhẹ như hơi thở:
-Đừng bỏ anh ! Đừng về bên đó nữa !


Cô Tám rúng động toàn thân, vậy là ông Hai vẫn tỉnh và đã nhận ra sự hiện diện của cô. Nhớ đến sự đụng chạm giữa hai người, cô Tám mắc cỡ cứng mình.
Phản ứng đầu tiên của cô Tám là chỉ muốn bỏ chạy. May mà bóng tối giúp cổ trấn tỉnh lại. Cổ nghe giận mình nên quyết định trừng phạt ông Hai. Cô Tám bèn xòe năm ngón tay, dùng hết sức bình sinh, đập đại vô mình ổng một cái thiệt mạnh. May mắn làm sao nó chỉ trúng lên bụng.
Cổ trách:
-Đồ quỷ, vậy mà nãy giờ nằm im ru làm người ta lôi gần chết.
Vòng ôm chợt lỏng ra, hai cánh tay đang vòng ngang lưng cô Tám bỗng rơi xuống chiếu.
Cô Tám tưởng ông Hai quá đau nên giận, cổ hối hận tràn trề rồi không leo về nhà mà nằm xuống bên cạnh ổng. Cái mùng hơi hẹp nên cổ phải ép sát vô để không bị muỗi chích. Hai cánh tay, hai cái chân của họ dính vào nhau. Ông Hai chắc còn giận nên vẫn nằm im ru không nhúc nhích.
Cô Tám nhớ ra ông Hai là người kín đáo. Từ trước tới nay chưa từng có lời lẽ hay cử chỉ cợt nhã. Cho dù lớn tuổi hơn nhưng chẳng bao giờ xưng anh và gọi cổ bằng em, chỉ "cô cô", "tui tui" khi nói chuyện (điều nầy cũng rất hiếm hoi) và chẳng bao giờ nhìn lén qua kẽ vách .
Vậy mà bây giờ xưng anh còn năn nỉ cổ ở lại, thật là không thể tin nổi !
Cô Tám suy diễn xa hơn, cho rằng ông Hai muốn mượn rượu để tỏ tình đặng rủi có bị cổ từ chối thì đổ thừa là tại rượu xúi, cho đỡ mất mặt.
Cổ chép miệng nghĩ thầm :
-"Ổng sợ cũng đúng thôi vì bấy lâu nay, mình toàn là bật đèn đỏ, nói chuyện với ổng bằng cái giọng "dùi đục chấm nước mắm " không hà ! Cái đánh vừa rồi của mình chắc khiến ổng cho rằng mình từ chối nên đập thẳng tay, chắc hết hồn nên chẳng dám cục cựa".
Vì nghĩ vậy nên cổ càng hối hận tràn trề, bèn bậm gan dấn thêm một bước là nghiêng người, lòn một cánh tay xuống sát chiếu mà ôm lấy ông Hai.
Kề miệng vào sát lỗ tai ổng, cô Tám nói:
-Xin lỗi nghe, tui đánh giỡn nào dè quá mạnh tay nên anh hiểu lầm. Tay chưn tui cứng đơ hà, quen làm việc nặng nhọc, cầm dao chẻ củi mỗi ngày nên nó đâu có dịu nhĩu như người ta ! Chắc là anh đau lắm phải hông ? Thôi đừng có giận nữa nghen !
Ông Hai không đáp.
Cô Tám nói thêm:
-Sẵn đây tui mới nói, tui để ý tới anh lâu lắm rồi ! Tui sợ anh hổng ưa nên đâu dám nói ra. Tại tánh tui không có nói ngọt được, cái giọng xắm xỏn quen rồi ! Cũng bởi vậy mà hồi trước cứ bị ba con Gọn đánh hoài hà ! Anh có thương tui thì thông cảm, đừng để bụng...
Nói tới đó cổ ngưng ngang vì nghe tiếng "kho...kho...kho...ò...ò...ò..." đáp lại.
Cô Tám quá hụt hẩng bèn ngồi phắt dậy, chui qua cửa về nhà rồi gài chặt lại y như cũ.
Thế rồi không hiểu vì sao, độ một giờ sau cổ bỗng quay trở lại...
Đến trưa ông Hai mới tỉnh giấc. Đây là lần đầu tiên uống rượu nhiều như vậy nên ổng say bí tỉ, cơ thể chưa kịp thích nghi nên phản ứng rất ư dữ dội ! Ổng nghe bụng cồn cào, miệng khô khốc, đắng nghét, đầu lừng khừng như có một đám ong đang cự lộn ở trỏng. Kế đó là cái cảm giác chơi vơi bởi chưa xác định được thời gian, nơi chốn.
Ông Hai mở banh hai mắt ra rồi cố nhớ lại từng chi tiết theo thứ tự. Ổng nhớ mình đã được thằng Út cặp nách đưa về, nhớ mình đã đóng cửa, gài lại hẳn hoi. Riêng cái chuyện bỏ mùng và tấn lại đàng hoàng thì hoàn toàn không nhớ. Ổng lấy làm ngạc nhiên một cách thích thú. Tự khen rằng cái nếp sống ngăn nắp đã ăn sâu vào xương máu, nên cho dù say đến mất ý thức, tiềm thức vẫn thay mặt điều hành. Chính nó đã đưa ra mệnh lệnh cho cái đầu điều khiển tay chân, thực hiện những công việc thường ngày một cách điều độ, chính xác.
Giấc mơ trong cơn say còn để lại trong đầu ông Hai một mớ hình ảnh lộn xộn. Ổng nhớ dường như mình đã đi đến một nơi nào xa lắm ( cũng không hẳn đi, phải gọi là thăng mới đúng). Ông đã gặp Thủy, đã bộc bạch rất nhiều, đã được nàng tha thứ và hình như họ đã yêu nhau....
Ông Hai nhắm mắt lại, cố sắp xếp những hình ảnh đó theo thứ tự, muốn tận hưởng thêm một lần nữa cái cảm giác thăng hoa, muốn cảm nhận một lần nữa sự tiếp xúc của hai cơ thể... Thế nhưng ông càng cố gắng thì chúng càng lộn xộn và mờ nhạt hơn, cuối cùng thì mất hẳn. Ổng chợt nghe buồn đến quặn ruột.
Bên vách kia ông Chín hãy còn nằm nướng.
Ổng nghe tiếng ông Hai trở mình nên hỏi vọng qua:
-Bây dậy chưa Hai ?
Ông Hai đáp:
-Con dậy rồi bác !
Ông Chín hỏi tiếp:
-Hồi tối có biết nhớ mà bỏ cái mùng xuống hông hay là bị muỗi thui đỏ lòm cái mình rồi !
Ông Hai cười, đáp:
-Con say nhưng chưa đến đổi, còn nhớ buông mùng nên không bị muỗi chích một nốt nào .
Ông Chín thở dài:
-Bây không vợ vậy mà sướng ! Tao bị bả lôi ra khỏi mùng, mấy con mũi nó cắn nát bấy cái mặt...
Bà Chín cự lại:
-Ông nói như vậy mà nghe được hả ?
Ông Chín đáp:
-Được chớ sao không, đâu bà dòm cái mặt tui coi !
Bà Chín nạt :
-Ai biểu chui đầu ra ngoài làm chi ? Tui thức canh suốt đêm, hổng biết mang ơn mà còn cằn nhằn.
Bả ngừng lại, phun nước miếng một cái phẹt rồi chì chiết tiếp :
-Người gì đâu mà cái nết ngủ xấu hoắc ! Cứ hở hở là tốc mền, tốc mùng. Tui mới ngủ quên có một lát là ông tốc mùng đưa cái mặt ra. Cũng may tui kéo vô liền mới còn coi được như vậy đó ! Không thôi bây giờ chắc ba phần giống người, mười phần giống quỷ rồi !
Chưa hả dạ, bà nói tiếp:
-Mai mốt có say tui bỏ cho chết luôn !
Ông Chín cười hề hề, vói tay vỗ lên mông vợ một cái.
Giọng bà Chín dịu lại :
-Thôi ! Ngồi dậy rửa mặt rồi húp chén cháo...
Ông Chín rên:
-Ăn cháo nữa sao trời !
Bà Chín nạt ngang:
-Ăn cháo đậu xanh với đường cho nó giả rượu với mát bao tử.
Rồi bà quay mặt vô vách để tiếng nói vọng sang nhà ông Hai:
-Bác nấu nhiều lắm ! Qua ăn với ổng cho vui đi Hai !

Ông Hai liếc nhìn chỗ tấm ván, cái nơi mà thỉnh thoảng cô Tám đặt gói xôi vào, thấy trống lổng, ông hơi ngần ngừ nhưng vẫn đáp:
-Cám ơn bác, con có đồ ăn rồi !
Ông Chín ghẹo:
-Ăn xôi phải hông ?
Ông Hai biết cho dù mình có nói thiệt, ông Chín cũng đâu có tin nên đáp thí mạng cùi:
-Dạ.
Bà Chín nói:
-Đừng lo, xôi có chỗ của xôi, cháo có chỗ của cháo.
Một lát sau đã nghe tiếng bà ở ngay trước cửa:
-Hai ơi ! Ra mở cửa bưng tô cháo đem vô.
Ông Hai còn chưa muốn ngồi dậy, nhưng đành phải nghe theo.
Cái tô nhựa to đựng đầy nhóc cháo. Bà Chín đưa cho ông rồi hỏi:
-Bên nầy có đường cát hông ?
Ông Hai nói:
-Dạ có !
Bà Chín đã treo sẵn cái gói đường cát trắng, đựng trong cái túi ni lông nhỏ xíu có cột sợi dây thun màu đỏ tòn teng trên ngón tay cái .
Bà đưa nó luôn cho ông Hai rồi nói:
-Bỏ thêm vô cho ngọt !
Mùi cháo đậu xanh thơm ngát khiến ông Hai nghe bụng cồn cào. Ông đỡ tô cháo bằng cả hai tay. Sự ân cần, chu đáo của bà Chín khiến ông xúc động tận đáy lòng.
Giọng ông như người bị nghẹt mũi:
-Con cám ơn bác !
Bà Chín nhìn ông rồi hỏi:
-Cái giọng nói của bây sao nghe giống bị cảm quá vậy ! Có sao hông ?
Ông Hai lắc đầu:
-Dạ con không có sao ! Bác Chín đừng lo !
Bà Chín nói:
-Ở có một mình, có bị cái gì thì la lên đặng tao biết mà qua cạo gió cho bây ! Không có cái gì tốt cho bằng cạo gió. Bây có thấy ông Ba Mập hông ? Bị trúng gió méo xẹo cái miệng, vợ con ổng làm biếng không chịu cạo, chở vô nhà thương, để lâu quá gió lậm, bởi vậy bây giờ ổng bị liệt một tay, một chưn.
Ông Hai rất muốn "dạ" rồi bưng tô cháo vô, nhưng lương tâm không cho phép. Ông biết trường hợp của ông Ba Mập là "lên tăng xông", nếu đè cạo gió chắc còn tệ hơn nữa. Ông sợ mình không giải thích, mai mốt rủi ông Chín rơi vào trường hợp đó, bị bà đè cạo gió hoài chắc chết.
Ông tằng hắng lấy giọng rồi nói:
-Hổng phải đâu bác Chín ơi ! Ông Ba Mập bị cao huyết áp. Cái bịnh đó phải cấp tốc chở tới bệnh viện liền, càng cạo gió càng nặng, càng dễ chết đó bác !
Bà Chín bán tín bán nghi:
-Sao kỳ vậy ?
Ông Hai giải thích:
-Nó không phải tại gió, mà tại áp suất trong mạch máu căng quá nên cái gân bị đứt luôn!
Bà Chín hỏi lại:
-Mấy lúc sau nầy nghe thiên hạ nói tới cái bịnh "đứt gân máu"hoài, phải nó đó hông ? Cái gân máu nằm trong thịt của mình, đâu ai đụng tới được, tại làm sao mà đứt ?
Ông Hai cố moi óc ra để tìm cách giải thích hết sức cụ thể cho bà Chín hiểu.
Ông hỏi:
-Bác xài ké nước nhà ông Ba Đực phải hông?
Bà Chín gật đầu:
-Ừ ! Nhà ổng có gắn đồng hồ nước. Ổng làm cái nghề cho người ta chuyền nước về xài. Khắp xóm nầy trừ nhà bây, nhà Tám Gói ra ai cũng xài nước của ổng. À, với nhà bà Ba Tứ Sắc nữa, tại hôm trước bả đóng tiền trễ, họ gây lộn dữ dội rồi ổng cắt cái ống...
Ông Hai chụp lấy ba chữ "cắt cái ống" liền:
-Bác cũng có sắm cái ống ni lông nhỏ xíu mà bác hay bắc từ nhà ông Ba Đực qua nhà bác để chuyền nước có đúng không ?
Bà Chín lắc đầu:
-Cái ống đó không phải của bác đâu ! Của ổng đó, hể bác kêu nước thì ổng..
Ông Hai gật đầu lẹ lẹ, rồi hỏi:
-Bác có thấy khúc cái ống chạy ngang qua đường, ổng có kèm hai cây tầm vông hai bên nó hông ?
Bà Chín gật đầu, nói:
-Không kèm là mấy chiếc xe chạy cấn là nó bung liền.
Ông Hai nói:
-Đó, đó ! Cái bịnh "dứt gân máu" cũng y chang. Cái mạch máu lúc căng cũng giống như cái ống đầy nước, đồng xu cũng như bánh xe vậy đó ! Bác đè mạnh là nó bễ liền.
Bà Chín hỏi thêm:
-Sao bác lại thăm nghe bà vợ kể tay chưn ổng lạnh ngắt, cái miệng méo xẹo giống y...
Lần nầy thì ông Hai lắc đầu lẹ lẹ, ngăn bà lại để giải thích :
-Coi giống nhưng không phải. Cái bịnh nầy bây giờ thiên hạ mắc nhiều lắm ! Nhứt là từ bốn chục tuổi trở lên. Mấy người hay uống rượu, hay hút thuốc còn dễ bị hơn nữa.
Bà Chín hết hồn:
-Vậy sao ? Ông Chín bên nhà bác, cái món nào ổng cũng dính hết, ba thứ bây kể : Tuổi cao, hút thuốc, uống rượu...Ổng gom đủ bộ.
Bà Chín bỗng lo ngang xương, bà nói:
-May mà bây cắt nghĩa cho bác, hông thôi...
Rồi bà quày quả quay lưng. Ông Hai nghĩ thầm:
-Vậy là bà Chín có thêm một lý do để cấm ông chồng của mình uống rượu nữa rồi.
Ổng đoán không sai, bà Chín vừa về tới nhà là "quạt" chồng liền:
-Ông uống rượu, hút thuốc cho dữ đi nghen ! Không bỏ là mai mốt đứt gân máu rồi nằm một chỗ như thằng cha ba Mập đó, biết hông? May mà thằng Hai nó cắt nghĩa, hông thôi tui không biết đè cạo gió là chết oan mạng. Bắt đầu từ hôm nay, tui cấm tiệt cái vụ uống rượu, hút thuốc, không nghe lời là tui bỏ cho chết luôn. Ông mà có chết tui cũng không thèm dòm mặt đâu !
Khi không mà bị vợ rầy như xối nước làm ông Chín nổi giận.
Ông chỏ miệng qua vách quát to, giọng quạu đeo:
-Bây nói cái gì mà bả cự tao quá xá vậy Hai ?

Nghe cái giọng sặc mùi "sân si" của ông Chín, ông Hai đâm lo nên im ru không dám đáp.
Ông Hai để tô cháo xuống ván rồi bước lại định đóng cửa. Không phải vì sợ ông Chín xông qua kiếm chuyện, tại ổng đang đói định nên xơi nó liền.
Ông Hai có cái tánh là không thích bị nhìn khi ăn, khi ngủ, khi làm lụng... Cho nên dù có ở nhà cũng bế cửa trước, chỉ mở cái cửa sau mà thôi ! Ổng vừa đặt tay lên cánh cửa thì một chiếc xe Hon đa trờ tới, thắng lại... Vì nhà ông Hai cặp sát mí đường nên chiếc xe đứng sửng ngay trước mặt.
Một tiếng gọi sửng sốt:
-Hùng !
Ông Hai nghe gọi đúng tên, bèn ngước mắt lên nhìn.
Người đàn ông mặc áo sơ mi tay dài màu xám nhạt, vạt áo nhét cẩn thận vào bên trong cái lưng quần tây đen nên trông rất ư tươm tất.
Ông ta khá diện ! Đeo một sợi dây nịch có cái khóa xi vàng bóng ngời, nó hình như đồng bộ với hai cái núc măng sét ở tay áo, đầu đội cái mũ bảo hiểm trông khá nặng.
Ổng lột nón ra, nhìn ông Hai, cười toe rồi hỏi :
-Phải anh là Trần văn Hùng, cựu học sinh trường luật niên khóa 73 không ?
Nụ cười thân thiện ấy trông rất quen, nhưng nhất thời ông Hai không thể nhớ tên. Ổng gật đầu xác nhận, nhìn ông khách như xin lỗi rồi ấp úng:
-Phải, còn anh là...
Ông khách lột cặp kiến đen đang đeo trên mắt ra, hỏi tiếp:
-Bộ mầy không nhận ra tao hay sao ?
Ông Hai bật ra một tiếng kêu mừng rỡ:
-Tiến ! Tiến "túng tiền".
Ông Tiến lật đật bước xuống xe. Ổng đẩy cái chống xuống, dựng chiếc Dream Thái mới cáu sát cửa, bước tới ôm vai ông Hai rồi đấm vào lưng bồm bộp.
Ông Hai muốn mời ông Tiến vô nhà ngồi, nhưng e ngại nên cứ đứng im ru. Xem ra có mời cũng không biết đặt khách vào đâu ? Chiếc chiếu trải giữa nhà đã bị cái mùng còn buông chiếm hết chỗ. Mấy tấm ván sàn tuy sạch nhưng quá sần sùi, sợ làm hư cái quần tây rất đắc tiền của bạn.
Ổng lúng túng hỏi:
-Mầy có việc gì mà đi vô xóm nầy ?
Ông Tiến thở hắt ra:
-Đi kiếm mầy chớ còn việc gì nữa !
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy biết tao ở đây ?
Ông Tiến ngập ngừng:
-Con Thủy nó chỉ ?
Ông Hai bỗng nghe mấy cái máy bơm trong ngực đều chết đứng cùng một lúc. Chẳng những tim ngừng bóp mà hai lá phổi hình như cũng hết phập phồng.
Chờ chúng hoạt động bình thường trở lại, ông mới hỏi:
-Thủy về rồi sao ?
Ông Tiến lắc đầu, móc túi đưa cho ông Hai một cái thơ đã khui, bì thơ còn mang mấy con tem, có hình tượng nữ thần tự do, tay cầm cây đuốc !
Ông Hai hấp tấp cầm, thấy tên người nhận là "Nguyễn văn Tiến" bèn trả lại, nói:
-Thơ của mầy, đưa tao coi làm chi ?
Ông Tiến lắc đầu:
-Mầy coi đi, đặng biết mầy có tội với "người ta" tới cỡ nào !
Ông Hai mở bao thơ, lấy ra tờ giấy trắng to dày, có những đường kẽ song song nằm ngang màu xanh, chi chít chữ là chữ ra đọc.
Ổng nhận ra cái nét chữ hơi nghiêng quen thuộc, với những chữ "h" lêu nghêu, chữ "g" cẳng dài thòn...Dấu ấn của những người mơ mộng !
Cái thơ rất dài bởi Thủy trút ra đó tất cả nỗi lòng của mình. Nó rất buồn nên cô xài quá nhiều dấu chấm than, khiến giống một tờ điếu văn hơn!
Đọc xong, ông Hai lại đọc thêm một lần nữa. Ổng cẩn thận xếp lại cho đúng thứ tự từng đường gấp, bỏ vào bao trở lại rồi đưa trả cho ông Tiến.
Ông Tiến nhìn đăm đăm vào gương mặt của ông Hai. Nhận ra nó trơ trụi, giống y như tấm bảng được chùi sạch bách thì không giấu được sự thất vọng.
Ổng hỏi:
-Mầy nghĩ sao ?
Ông Hai cười buồn:
-Mầy nhắn với Thủy là tao không hề oán giận gì hết. Tao cũng không nghĩ là mình đang tự đày đọa bản thân. Thủy đừng nghĩ vậy rồi phiền lòng, ray rức .
Ông Tiến năn nỉ:
-Mầy cho tao vô nhà ngồi nói chuyện một chút có được không ?
Con kinh đang ròng sát đáy, mùi bùn sực nức, ông Hai nghe quen rồi mà còn nhận ra. Sợ bạn mình lần đầu tiếp xúc chắc không thể chịu nổi.
Ổng bèn rủ:
-Mình ra ngoài, kiếm chỗ ngồi uống cà phê đi !
Ông Tiến mừng húm:
-Ừ! Mầy có cần thay đồ hông?
Ông Hai gật đầu:
-Thay chớ ! Mầy đừng buồn nếu tao đóng cửa nghe !
Thấy ông Tiến ngơ ngác, ổng giải thích
-Hồi tối tao nhậu, sáng nay dậy trễ chưa kịp làm gì là mầy tới. Nhà tao trống lổng bởi vậy mỗi lần thay đồ, tắm hay làm thứ gì đặc biệt tao cũng đều đóng cửa.
Ông Tiến gật đầu, nói :
-Mầy cứ tự nhiên, tao chạy ra ngoài nầy một chút rồi quay về liền.
Nói rồi ông thót lên xe, gạt chống, đề máy, rồ ga... Chạy một cái vèo xa lắc !
Ông Chín hỏi vọng qua:
-Ai vậy Hai ?
Ông Hai đáp :
-Bạn của con đó bác !
Ông Chín gặng :
-Bạn gì ?
Ông Hai đáp :
-Dạ bạn đồng hương, cũng là đồng môn.
Ông Chín hỏi tiếp:
-Đồng hương thì tao biết, còn đồng môn là đồng cái giống gì ?
Ông Hai cắt nghĩa:
-Là học chung trường.
Ông Chín chưa chịu buông:
-Học chung lâu không ?
Ông Hai đáp:
-Lâu lắm bác ơi ! Mười mấy năm, từ trường làng cho tới xuống Sài gòn học đại học .
Ông Chín ngạc nhiên:
-Bây học tới đại học lận sao ?
Ông Hai nghe ông Chín nói cái từ "đại học" bằng cái giọng rất ư kính cẩn thì lật đật bổ sung:
-Con học có một, hai năm thôi, rồi trường bị dẹp nên nghĩ luôn tới giờ.
Ông Chín ngạc nhiên:
-Tại sao trường phải dẹp vậy bây?
Câu hỏi hơi khó, hơi rắc rối. Muốn giải thích cho ông Chín hiểu một cách thấu đáo, chắc phải mất cả tiếng, mà cũng chưa chắc ông Chín tường tận.
Ông Hai không có thời giờ, nên trả lời ngắn gọn:
-Con cũng không biết nữa.
Ông Chín vẫn còn thắc mắc nhưng nghe tiếng ông Hai xối nước ào ào, biết ổng đang tắm, có hỏi cũng không nghe nên làm thinh luôn.
Vừa nghe tiếng xe thắng trước cửa là ông Hai bước ra liền. Bộ đồ sắm hôm đi đòi công lý cho Thương vẫn còn mới vì chỉ được mặc mỗi một lần. Hôm nay nó mới có cơ hội trình làng thêm lần nữa, chắc mang ơn ông Tiến hổng biết để đâu cho hết. Đôi giày tây được phủi đi lớp bụi mỏng, vẫn còn đen, còn bóng. Mái tóc được vuốt nước cẩn thận nằm rất ngoan, giúp ông Hai mang vẻ chỉnh chu, sang trọng. Khác hẳn ngày thường.
Ông Tiến nhìn ông Hai, tấm tắc:
-Mầy vẫn còn phong độ như ngày nào. Giống con dao còn mới lại bị vùi xuống đất, bây giờ mới moi lên. Nó tuy bị sét nhưng được mài lại vẫn còn sáng trưng, bén ngót.
Ông Chín đang lóng tai nghe lén. Ổng khoái chí hết sức vì câu phê bình có hàm chứa tính hữu ích của cái nghề mài dao mà mình đeo đuổi đến mấy mươi năm. Ông Chín bỗng đâm ra có cảm tình với người khách còn lạ hoắc, bèn chồm người ra ngoài để coi mặt mũi y ra làm sao.
Vừa thấy ông Tiến là ổng trầm trồ thầm:
-Thằng cha nầy đúng là dân trí thức. Coi bộ giàu có à nghen ! Hai rác ngày trước chắc cũng "tầm cỡ" lắm ? Chắc lỡ vận, thất tình mới ra nông nổi nầy!
Ông Tiến nhường cho ông Hai cái nón bảo hiểm mà mình đội ban nãy.
Ông Hai từ chối:
-Để đầu trần cho mát ! Mầy cầm lái đội đúng hơn !
Ông Tiến đưa ra một cái nón mới. Nó treo phía bên kia nên ông Hai không thấy.
Ông Tiến vừa đội lên, vừa nói:
-Tao mới chạy đi mua thêm một cái, thứ nầy rẻ tiền hơn nên...
Ông Hai vẫn chưa chịu cầm. Tánh ổng hồi nào tới giờ không ưa đội nón. Mấy lúc về thăm quê vẫn để đầu trần mà lang thang khắp đồng, khắp xóm.
Ông Tiến năn nỉ:
-Đội vô đi ! Tụi công an nó đang săn bắt mấy người không đội mũ bảo hiểm ráo riết lắm đó ! Ai mà không trùm cái nồi cơm điện nầy lên đầu là bị phạt thẳng tay.

Ông Hai đành đội cái nón lên đầu, nhận ra nó quá chật. Cái đầu ông vốn to, lại thêm mớ tóc dày cui nên nong vô hơi vất vả, cảm giác bị "đè đầu cưỡi cổ" càng tăng.
Ông thở dài, thốt:
-Cái giá của sự phồn vinh !
Ông Tiến hỏi:
-Mầy nói cái gì ?
Ông Hai giải thích:
-Phải đi bộ thì đâu cần đội nón.
Ông Tiến cười:
-Giờ nầy mà tao với mầy đi bộ lang thang, thiên hạ dám cho là hai thằng mình khùng lắm ! Nhìn hai bên lề coi ! Sài Gòn đâu còn cái cảnh người người đi bộ dập dìu như hồi mình mới tới đây đi học.
Ông Hai nhận ra mùa đi bộ đã chấm dứt từ lâu. Trên lề không còn những cô, cậu học trò ôm tập đi sát mái hiên, hoặc lủi vô bóng cây để tránh nắng. May mà thuở đó Sài Gòn còn rất nhiều cây ở hai bên đường. Ông bỗng bùi ngùi, nhớ lại thời thư sinh gian nan, vất vả của mình.
Thuở ấy ông ở trọ nhà người bà con tận Chợ Quán. Những ngày hết tiền, túi chẳng còn xu nào để mua xôi ăn sáng thì nói làm gì tới cái chuyện mua vé ngồi xe buýt.
Sáng sáng ông cuốc bộ đến trường, trưa vô thư viện ngồi học. Đang đói mà nghe, thấy cô gái ngồi đối diện, moi túi xách lấy gói bánh tây ra rồi xé cái bao giấy một cách rón rén. Cho dù cô ta thực hiện các động tác ấy rất nhẹ nhàng và nhai rất khẻ khàng, thế mà cả triệu tế bào hết sức thính tai nằm trong bao tử của ông đều nghe được rồi kêu gào thảm thiết ! Ông phải chui vô toa lét, kề miệng vào vòi nước uống ừng ực để trấn an tụi nó .
Buổi chiều lết bộ về nhà, đi ngang mấy xe mì, ngửi mùi nước lèo thơm ngào ngạt bay ra từ cái thùng bự bành ky mà...Chỉ muốn nhảy vô đó tự tử cho rồi!
Mấy cái quán cơm còn ác hơn. Để dụ khách, họ đặt một cái vỉ than đỏ rực sát đường. Mấy miếng sườn cốt lếch, mấy que sườn non được ướp đủ thứ : Nước mắm, xì dầu, đường, tiêu, hành, tỏi, ớt...Chúng được sắp xếp một cách rất thứ tự lên đó, phơi bày toàn bộ vẻ gợi cảm của mình không chút ngượng ngùng. Cái màu vàng nâu ánh mỡ, cái mùi thơm của miếng thịt hơi quá lửa, cái tiếng "xì xì, xèo xèo " của những giọt mỡ rơi xuống cục than hồng... đã làm ông tan nát cõi lòng. Chúng khiến chân ông "nặng nề", lòng ông "nức nở"... Ông chỉ muốn ngồi thí mạng cùi lên một chiếc ghế, gọi một dĩa cơm với miếng sườn ngon nhất, lớn nhất, ăn cho "bể mỏ" rồi tới đâu thì tới !
Lúc chưa rơi vào lưới tình của Thủy, ông đã ao ước giá mình lọt vào mắt xanh một cô con gái của một bà chủ quán cơm nào đó, rồi được cổ cho ăn chịu thoải mái, đã đời !
Đường phố Sài gòn đã chà xát bao nhiêu cái dạ dày mỏng tanh vì tự tiêu hóa lấy mình ? Đã làm mòn gót, há mỏm mấy đôi giày ba ta ? Rách lai bao nhiêu cái quần ka ki ? Đã làm kiên cường hơn hay bóp nát vụn nghị lực của bao nhiêu tên học trò tỉnh lẻ nhà nghèo như ông rồi ?
Ông thở dài:
-Sài gòn bây giờ xe gắn máy nhiều quá !
Ông Tiến bắt lỗi:
-Mầy ở Sài gòn bấy lâu nay, có đi đâu mà làm như Từ Thức không bằng.
Ông Hai cắt nghĩa:
-Tao suốt ngày ngồi trong xuồng, đi đường thủy không hà. Ít khi ra đường nên...
Ông Tiến cắt ngang bằng một giọng e dè:
-Tao hỏi câu nầy mầy đừng buồn, đừng giận nghe !
Thế rồi ổng bỗng im ru, chắc ngại.
Ông Hai chờ hoài không nghe nên hỏi lại :
-Mầy hỏi cái gì sao không nói ?
Thấy ông Tiến vẫn làm thinh, ông bèn nói:
-Chắc mầy muốn hỏi tại sao tao ở chỗ đó, làm cái nghề đó phải hông ?
Ông Tiến gật đầu:
-Tao biết tánh mầy thích làm việc tốt, thích cho hơn nhận, sống theo lý tưởng...Nhưng thiếu gì cách có ích hơn, thoải mái hơn ! Mắc gì phải...
Ông Hai hỏi:
-Tao đố mầy ba cái món đồ, bất cứ thứ gì: Thân thể, quần áo, chén bát, nhà cửa, kể cả đất đai... bị bẩn. Muốn cho chúng sạch trở lại, mình phải làm sao?
Ông Tiến đáp:
-Phải rửa !
Ông Hai hỏi thêm:
-Rửa bằng gì ?
Ông Tiến đáp:
-Bằng nước !
Ông Hai hỏi tiếp:
-Nếu nước dơ thì lấy cái gì để rửa.
Ông Tiến làm thinh, suy nghĩ rất lâu rồi hỏi lại:
-Theo mầy thì lấy cái gì để rửa ?
Ông Hai đáp:
-Mồ hôi !
Ông Tiến cười:
-Mồ hôi làm sao đủ...
Ông Hai đáp:
-Một người chắc chắn không đủ, nhưng nếu ai cũng đổ mồ hôi thì tao cho là đủ.
Ông Tiến cười phá lên:
-Đâu phải ai cũng nghĩ như mầy, đâu phải ai cũng thích...
Ông Hai đáp bằng giọng hết sức nghiêm trang:
-Mấu chốt là ở chỗ đó ! Người ta không muốn, hoặc có muốn cũng không dám làm.
Ông Tiến hỏi:
-Tại sao không dám !
Ông Hai vừa hỏi, vừa đáp:
-Bộ mầy không hiểu sao ? Họ bị lệ thuộc vào cái thang giá trị của xã hội. Xã hội thúc đẩy, khuyến khích họ càng leo lên thật cao càng tốt. Thế nhưng mỗi một thời kỳ, thứ tự trên đó lại xáo trộn, bị lộn tùng phèo một cái ào hoặc đổi chỗ cho nhau một cách từ từ. Theo mầy bây giờ cái nấc thang thấp nhứt là những người nào ?
Ông Tiến đáp cái rụp:
-Mấy người ăn xin, mấy tên lang thang ăn bám xã hội chớ ai !
Ông Hai hỏi tiếp:
-Thế mầy có biết ai là người hành khất vĩ đại nhứt không ?
Ông Tiến không thèm suy nghĩ, hỏi :
-Ai ?
Ông Hai đáp:
-ĐỨC PHẬT THÍCH CA !
Không chờ ông Tiến bác lại, ổng giải thích :
-Vào thời đó ! Nghề hành khất được mọi người trong xã hội của ngài tôn trọng. Lúc ấy người ta chú trọng hết sức đến sự tự do. Tự do của tâm trí cũng như thân xác. Họ nhận ra rằng con người, chừng nào còn làm nô lệ cho của cải, còn mang tính sở hữu là còn trầm luân, khổ não. Bởi vậy họ vứt bỏ hết, không bám vào bất cứ thứ gì kể cả tình cảm. Đức Phật Thích Ca còn rốt ráo hơn ! Ngài còn không bám vào thân, không chấp nhận sự điều khiển của nó. Ngài đề xướng thuyết "vô ngã" . Ngài đã thành công, buông bỏ tuyệt đối, đạt được sự tự do tuyệt đối, đi đến trạng thái mà ngài gọi là nhập niết bàn !
Ông Tiến phản đối:
-Đem những người hành khất ngày nay ra so sánh với đức Phật là mang tội lớn lắm đó ! Ngài là đấng minh triết, xã thân cho muôn loài. Còn họ thì cho, chỉ tao với mầy thôi, được cái gì ?
Ông Hai nói:
-Họ cho mầy sự mãn nguyện, sự sung sướng vì thấy mình đẹp hơn, cao quý hơn, hạnh phúc hơn người khác. Cái đó không phải là thứ quý báu nhất, hơn tất cả của cải hay sao ?
Ông Tiến làm thinh, ông là người đang thành đạt, ông biết bạn mình nói đúng. Đừng nói gì so sánh mình với những người hành khất, ngay cả với cái người ngồi sau lưng mình thôi ông cũng nhận ra cái cảm giác đó rồi. Tuy thương và thật lòng ái ngại cho bạn nhưng ông vẫn không khỏi hãnh diện ngấm ngầm.
Không muốn dấn sâu vào cái đề tài hóc búa ấy, ông Tiến moi óc tìm một điều gì hay ho để nói.
Chợt thấy một người đàn ông đầu trần, tóc hoe, vác ba lô sau lưng đi trên lề đường phía bên kia. Ông chưa kịp lợi dụng y ta để thay đổi chủ đề, thì ông Hai đã mừng húm, đập tay lên vai ông rồi vừa cười, vừa chỉ ngón tay trỏ về phía người du khách đó, vừa nói:
-Có một người đi bộ kìa !
Ông Tiến giải thích:
-Đó là mấy thằng "tây ba lô" đi du lịch. Từ ngày nhà nước áp dụng chính sách kinh tế thị trường, mở bớt vài cánh cửa, mời nước ngoài đến đầu tư và quảng bá du lịch, du khách tây phương đến nước mình khá đông. Mầy còn nhớ con đường Phạm Ngũ Lão không?
Ông Hai theo thói quen, đáp bằng cách gật đầu. Ổng chợt nhớ mình ngồi sau lưng ông Tiến, gật đầu làm sao bạn thấy nên đáp bổ sung :
-Nhớ, rồi sao ?
Ông Tiến nói :
-Bây giờ nó được gọi là "phố Tây ba lô". Mấy căn nhà ở đó họ biến thành khách sạn mi ni hết ráo ! Đặc biệt, chỉ có dân du lịch tới ở thôi hà !
Ông Tiến nói thêm:
-Tao đoán là trong tương lai, nước mình sẽ "phất" lên nhờ du lịch như Thái Lan vậy đó !
Ông Hai lại gật đầu:
-Ừ ! Nước mình có nhiều cảnh đẹp lắm ! Ba miền có ba sắc thái khác nhau. Sông, núi, biển hồ, đồng bằng... Cảnh gì cũng có. Ẩm thực thì phong phú, người mình lại khoái khách, nhứt là khách tây. Con nít người lớn gì cũng vậy, hể gặp họ là cười hết miệng liền.
Ông Tiến thở dài:
-Có điều đường phố mình còn nhếch nhác quá ! Bởi vậy nhà nước đang cố quét sạch mấy người buôn bán lấn chiếm lòng lề đường!
Ông Hai bỗng nhớ đến gương mặt nhăn nhó của Tư Nên ngày nào. Nhớ đến cô Tám và hai đứa con đã nhiều lần phải ăn xôi trừ bữa. Cho dù trong những ngày bị đuổi ráo riết, cổ bưng thau xôi đi bán dạo, rồi đem về để trước cửa, năn nỉ mấy đứa con nít trong xóm ăn giùm, bán rẻ rề mà đâu có hết ! Những ngày đó ông thường mua mão rồi đem ra đình bắt ông Năm, em mình, ăn phụ.
Ông thở dài, nói :
-Tội nghiệp bà con xóm tao ! Bấy lâu nay họ ôm con đường mà sống, bây giờ bị đuổi thẳng tay, ai cũng rầu thúi ruột. Tao thấy hể cải cách là dân nghèo chịu thiệt .
Ông Tiến cũng thở dài:
-Cuộc cải cách nào cũng đòi hỏi sự hy sinh. Nhưng hình như cái khoản hy sinh đó thường dân hay lãnh đủ còn...
Ông Hai thêm:
-Đó là cái giới chịu nhiều thiệt thòi nhiều nhứt : Nghĩa vụ thực hiện đầu tiên, quyền lợi hưởng sau cùng.
Xe dừng lại trước một cái quán không có bảng tên. Những dòng chữ màu xanh, được vẽ bằng cọ trên tường cho biết họ bán cà phê, điểm tâm, cơm bình dân.
Ông Tiến dựng xe ngay trước cửa, ngồi quay mặt ra đường để ngó chừng chiếc xe. Ông Hai ngồi đối diện. Ông Tiến kéo một cái ghế trống lại kế bên mình rồi bảo:
-Mầy qua đây ngồi nhìn ông đi qua bà đi lại với tao cho vui !
Bên kia đường một căn nhà lầu ba tầng, trang bị cửa kính rất sang trọng. Một tấm bảng rất to choán hết mấy cánh cửa cái, cửa sổ của tầng trên, ghi : "Trung tâm tin học, ngoại ngữ DŨNG TIẾN ".
Ông Hai quay sang nhìn bạn. Ông Tiến gật đầu:
-Nhà của tao đó !


Ông Hai buộc miệng:
-Mầy giỏi quá ! Tạo được cơ ngơi như vầy đâu phải là dễ.
Ông Tiến khiêm tốn:
-Tao hên nhiều hơn hay. Căn nhà nầy là của ba má vợ đi Mỹ để lại cho vợ tao. Nhờ anh chị em vợ gửi tiền về cho mượn nên tụi tao mới mở nổi cái trung tâm nầy.
Ông Hai hỏi:
-Được bao nhiêu lớp vậy mậy ?
Ông Tiến đáp:
-Ngoại ngữ ba, tin học một .
Ông Hai vừa định hỏi tiếp, thì ông Tiến đã nhanh miệng hơn:
-Mầy uống cà phê, ăn điểm tâm hay mình ăn cơm trưa luôn ?
Ông Hai còn ngần ngừ chưa kịp đáp thì ông Tiến đã quyết định :
-Thôi ăn trưa luôn đi, giờ nầy mấy món điểm tâm chắc nguội ngắc hết rồi.
Ông Hai hỏi:
-Mầy về tới trước cửa nhà rồi mà không vô ăn cơm với vợ, với con sao ?
Ông Tiến thở dài:
-Tụi tao không có con, vợ tao bận, không nấu cơm trưa được. Hơn nữa, bả ghét chui vô bếp lắm ! Tụi tao ngày ba bữa ăn cơm tiệm không hà !
Sợ ông Hai khoét sâu vào đề tài con cái, ông Tiến nhắc:
-Hồi nãy mầy tính hỏi tao cái gì đó ?
Ông Hai cau mặt ráng nhớ, lát sau vỗ tay lên đùi, cho hai chưn mày trở về vị trí cũ, rồi hỏi:
-Cái trung tâm của mầy dạy mấy thứ tiếng ?
Ông Tiến đáp:
-Tiếng Anh là chủ yếu . Còn tiếng Nhật với tiếng Hoa thì ít người học quá nên tao dẹp rồi.
Ông Hai thắc mắc:
-Như vậy thì gọi trung tâm có đúng hông? Có phóng đại hông?
Ông Tiến cười :
-Mầy có nghe chữ "nổ" chưa ? Bây giờ là thời buổi mà ngành quảng cáo bùng nổ, cho nên ai cũng làm nghề thổi bong bóng hết. Mình làm ăn, không "nổ", không quảng cáo rầm rộ là lỗ, là bị thiên hạ qua mặt vù vù. Tao còn đỡ, chớ nhiều thằng còn nổ "dã man" hơn nhiều.
Ông Hai lại hỏi:
-Như vậy có bị xem là lường gạt thiên hạ hông mậy ?
Ông Tiến cười buồn:
-Ban đầu tao cũng đắn đo, ray rức. Bị qua mặt mấy cú nên phải cắm đầu bơi theo họ thôi. Thời buổi nầy cạnh tranh ráo riết lắm ! Mầy nghe cái câu "thương trường là chiến trường chưa" ? Để thành công người ta bất chấp thủ đoạn, vũ khí càng tối tân, càng có độ hủy diệt cao càng tốt.
Ông Hai thở dài:
-Hình như bây giờ có hai dạng giàu. Một là nhờ tài, hai là nhờ tội.
Ông Tiến bổ xung:
-Còn một dạng thứ ba nữa là vừa tài, vừa tội.
Người phụ nữ trung niên bước tới hỏi ông Tiến:
-Thầy Ba ăn gì ? Cơm dĩa hay cơm phần ?
Ông Tiến quay sang ông Hai :
-Cơm phần cho ngon hén ! Mầy muốn ăn thứ gì thì cứ gọi.
Ông Hai lắc đầu:
-Tao lạc hậu với cái việc ngồi quán, gọi món ăn lắm, tùy mầy thôi !
Ông Tiến quay mặt về phía người phụ nữ, hỏi:
-Bữa nay có canh gì bà chủ ?
Bả đáp một lèo:
-Canh chua cá ngác, canh rau mồng tơi, canh khoai mỡ.
Ông Tiến hỏi tiếp :
-Món mặn, món xào ?
Bả vừa kể vừa bật mấy ngón tay:
-Cá rô kho tộ, tôm đất rim với thịt ba rọi, cá kèo kho tiêu, cá cơm kho giòn. Thịt bò xào, mực xào ...
Ông Tiến ngắt ngang:
-Canh chua, tôm rim, cá kèo kho, cải rỗ xào thịt bò. Bốn món được rồi.
Bà ta lắc đầu:
-Bữa nay không mua được cải rỗ, chỉ có thịt bò xào bó xôi, xào lê nghim, xào khổ qua, xào...
Ông Tiến quyết định một cái rụp:
-Xào bó xôi !
Bả hỏi thêm:
-Thầy uống bia hay...
Ông Tiến không thèm hỏi ý ông Hai, đáp luôn:
-Hai lon Ken.
Bà chủ vừa bỏ đi vừa lập lại thật to những món ông Tiến đã gọi. Cô gái đang xới cơm trong cái nồi cơm điện loại to nhứt, đứng sau quầy thức ăn cứ gật đầu từng chập.
Ông Hai vội vàng phản đối:
-Tao uống trà đá thôi ! Uống bia vô nữa là cái bao tử...
Ông Tiến liền gọi vói theo:
-Không uống bia, cho hai ly trà đá !
Rồi quay lại hỏi:
-Bộ mầy đau bao tử kinh niên hả ?
Ông Hai lắc đầu:
-Lâu lâu uống rượu mới bị.
Ông Tiến rầy:
-Vậy thì uống làm chi !
Ông Hai cười:
-Tại từ chối không được.
Ông Tiến thở dài:
-Phải tập lắc đầu đi, nhứt là những thứ liên quan tới sức khỏe. Tao rút kinh nghiệm từ bản thân mà khuyên. Mầy phải bỏ cái tánh xìu xìu, ểnh ểnh thì mới khá nổi.
Ông Hai nghe rồi bật cười. Ông Tiến hỏi, giọng không vui:
-Bộ tao nói sai hay sao mà mầy cười ?
Ông Hai đáp:
-Mầy nói đúng. Tại tao nhớ mấy câu nầy hình như hồi xưa tao hay nói với mầy thì phải ?
Ông Tiến cười:
-Thì lời vàng, ý ngọc, nên tao mới cất để dành, bây giờ trả lại cho mầy đó !
Bà chủ bưng cái mâm to đựng đầy đủ các món với cả một thau cơm lớn.
Ông Hai quở:
-Mầy kêu làm chi mà nhiều dữ vậy ?
Ông Tiến cười:
-Bây nhiêu mà nhiều sao ? Tao nhớ ngày xưa, bị tụi tao thách, mầy ăn hết vèo cái nồi cơm số ba. Báo hại bữa đó tao với thằng Lương nhịn đói .
Ông Hai cảm động:
-Mầy còn nhớ mấy chuyện đó sao ?
Ông Tiến gật đầu:
-Đó là quảng đời tuy chật vật, thiếu thốn mà vui nhứt của tao đó mầy !
Ông Hai triết lý:
-Hình như nghèo dễ vui hơn giàu hả mậy ?
Ông Tiến ngậm ngùi:
-Chớ còn gì nữa ! Tao nhớ có lần túng tiền, lượm được năm đồng tao mừng quá mạng. Bây giờ mà có kiếm được bạc tỷ chắc tao cũng không mừng bằng.
Ông Hai nhắc:
-Hồi đó mầy lúc nào cũng than túng tiền, than cho tới nổi bị đem hai chữ "Túng tiền" gắn vô tên luôn ! Mà ai đặt cái biệt danh đó cho mầy. Mầy có nhớ không ?
Ông Tiến cười :
-Thì cái thằng Lương "Bất lương" đó chớ ai ! Nói thiệt hồi đó tao giận nó hết biết. Sợ đeo luôn suốt đời, gỡ không ra. Mầy biết không tao ghét cái thằng "nghèo" hơn bất cứ thằng nào. Bởi vậy mà...
Ông Tiến dừng ngang, ông Hai lại chờ, lại hỏi :
-Bởi vậy mà sao ?
Ông Tiến thở dài :
-Tao không dám cưới con Bé Hai .
Ông Hai ngạc nhiên:
-Con Bé Hai nào ?
Ông Tiến hơi ngượng:
-Con nhỏ giúp việc cho bà Mười bán cơm đó !
Ông Hai nhớ ra rồi hỏi liền:
-Phải cô gái ốm nhom, mặt buồn hiu, mắt ngó xuống đó hông?
Ông Tiến gật đầu:
-Nó tốt lắm ! Biết tao nghèo nhứt bọn nên thương. Có lần tao ghé ăn một mình, kêu dĩa cơm với dưa mắm, mỡ hành. Nó đem ra một dĩa cơm bự bành ky đầy nhóc. Tao trộn lên thấy có nguyên một miếng sườn vùi chính giữa. Nó còn làm bộ thối tiền lộn cho tao. Tới bây giờ tao cũng còn thắc mắc, không biết tiền đó là của bà Mười hay nó bỏ tiền túi của mình vô ! Hồi đó tao thương nó thiệt tình, quyết định ra trường có việc làm là cưới...
-Vậy sao mầy...
Hỏi tới đó là ông Hai hối hận nên ngưng liền.
Ông Tiến thở dài:
-Thì cũng tại cái thằng "Nghèo" làm kỳ đà cản mũi.
Kỹ niệm không vui ấy làm cả hai ăn không thấy ngon.
Uống hết ly trà đá ông Tiến rủ:
-Vô nhà tao nghỉ đi, một chút bớt nắng tao chở mầy về.
Ông Hai đáp:
-Ừ !
Ông Tiến ngồi tại chỗ gọi:
-Tính tiền !
Bà chủ chạy đến, nhìn thức ăn còn ê hề bà xịu mặt hỏi:
-Sao bữa nay ăn ít quá vậy thầy Ba ?
Ông Tiến đáp:
-Xin lỗi chị ! Thức ăn ngon lắm, tại gặp lại bạn thân nên mừng quá ăn không nổi.
Bà chủ chắc lưỡi:
-Bỏ uổng quá !
Ông Hai e dè hỏi:
-Bộ ba cái nầy đem đổ bỏ thiệt sao chị ?
Bà chủ hỏi lại một cách phật ý :
-Hổng lẽ tui trút vô nồi, bán lại cho khách ?
Ông Hai lật đật bào chữa :
-Không phải, không phải ! Ý tui là ngon thế nầy ai nỡ đem bỏ. Vây nhờ chị đựng vô bịt để tui đem về nhà ăn, chiều nay khỏi nấu, có được không ?
Rồi ông nói thêm:
-Món nào cũng đặc sắc, bỏ tiếc lắm !
Nét mặt bà chủ tươi rói trở lại.
Bả nhìn ông, tia mắt chứa đầy thiện cảm, cười và đáp:
-Để tui vô hộp cho anh đàng hoàng.

Vừa vô tới nhà, ông Tiến đã giục:
-Mầy đi xối nước, lột bộ đồ ra, mặc xà lỏn thôi cho mát.
Ổng chỉ cho ông Hai cái nhà tắm rồi đỡ liền cái bọc chứa mấy hộp thức ăn trên tay bạn đem vô bếp. Ông Hai không trả lời cứ lót tót đi theo.
Ông Tiến quay lại hỏi:
-Sao hổng tắm liền cho trôi cái nắng, cái bụi...đi theo tao làm chi.
Ông Hai gãi đầu:
-Không tắm có được hông mậy ?
Ông Tiến lắc đầu:
-Vợ tao không có nhà, bả đi chơi với bạn rồi, mai mới về. Mầy đừng có lo !
Gương mặt ông Hai nhẹ nhỏm liền. Một nỗi bùi ngùi bất chợt dâng lên ngay sau lời giải thích của ông bạn cố tri. Câu nói ấy gợi lại trong ông cả một thời xa lắc.
Ấy bởi vì nghe nó quen thuộc và thân thương quá đỗi ! Bộ không phải ngày xưa họ hay rủ nhau : "Mầy qua nhà tao chơi đi ! Ba má tao đi đồng hết rồi, chiều tối mới về, mầy đừng có lo".
Thuở đó, cái đám con trai loi choi hay bị bạc đãi dữ lắm ! Tụi con gái thì ngược lại. Chúng được gia đình mấy con nhỏ bạn chào đón hết mình, vì có thể quét sân, giặt đồ, rửa chén, tắm heo... phụ bạn. Con trai thì khỏi nói, đi tới đâu là bày binh bố trận tới đó, cho nên ...
Thấy ông Hai đứng im, ông Tiến hiểu lầm nên nói :
-Trong đó có khăn, xà bông tắm, xà bông gội ...không có thiếu thứ gì.
Ông Hai định kể cho ông Tiến nghe về cái cảm xúc chợt đến với mình, nhưng lại làm thinh vì ngại. Ông sợ sự đáp ứng hờ hững của bạn, sẽ làm cho cái điều mà ông trân trọng nhất, trở thành vô duyên. Ông sợ bị ông Tiến chê là mình đa cảm, ẻo lã như đàn bà con gái.
Ông Hai bước vào phòng tắm nhà ông Tiến, bàng hoàng nhận ra đã có một sự thay đổi lớn lao trong nếp sống hiện giờ của bạn.
Phòng tắm lót gạch men trắng tinh. Mấy cái vòi nước bằng inox sáng bóng đến chói mắt. Bồn cầu, la va bô với tấm gương hình chữ nhựt. Hai cái khăn lông, một nhỏ, một lớn đều trắng muốt. Mấy chai dầu chưa mở ra đã nghe thơm, hùa nhau minh họa thêm cho sự thành đạt của chủ nhân.
Ông Hai từ từ treo cái quần, cái áo lên móc. Nhìn chiếc xà lỏn trên người mình, ổng bỗng ngại. Nó sạch, sạch lắm ! Và cho dù ổng đã lựa cái đẹp nhất, mới nhất để mặc vào dịp nầy nhưng trông nó vẫn kém tự tin, vẫn ủ rủ trước vẻ hớn hở, tươi tắn, bóng bẩy của mấy tên kia.
Ổng định chỉ tắm qua quít thôi, nào ngờ mở lầm vòi nước. Vô số tia nước nhỏ từ cái gương sen trên cao phun xuống như mưa, tưới khắp người ông.
Ổng thở dài tự nhủ:
-Thôi kệ, thứ nào cũng xài qua cho biết với người ta.
Khi ông Hai bước ra với nguyên bộ đồ tây trên người ông Tiến cự nhoi:
-Sao không lột hết ra. Nhà chỉ có tao với mầy mà ngại cái gì, ở truồng còn được.
Ổng vừa nói vừa đứng phắt lên cái ghế sô pha, dang hết hai cánh tay ra mà nói:
-Mầy thấy không ? Tao sét xy tới chín chục phần trăm rồi nè !
Rồi hối:
-Cởi ra, cởi ra cho công bằng...
Miệng nói, tay đẩy ông Hai trở vô nhà tắm !
Khi ông Hai bước ra với nét mặt ngại ngùng, ông Tiến mới biết mình đã hết sức vô tâm, hết sức sai lầm...Ổng nghe thương bạn đến nhói lòng.
Mang đến cho ông Hai lon cô ca vừa lấy từ tủ lạnh ra, ông Tiến hỏi:
-Hồi xưa mầy học anh văn tới cái bằng gì rồi ?
Ông Hai đáp:
-Tao chưa kịp thi lấy cái bằng nào hết trọi .
Ông Tiến nói:
-Mầy đọc, nói, nghe, viết...còn thành thạo hông ?
Ông Hai lắc đầu:
-Tao chỉ còn đọc được thôi, còn mấy món kia bỏ lâu quá nên chắc "teo" hết rồi.
Ông Tiến nói:
-"Teo" thì ngâm nước lại cho nó nở ra mấy hồi.
Ông Hai hỏi lại:
-Để làm chi ?
Ông Tiến đáp:
-Để giúp tao chớ chi ?
Rồi ổng tâm sự :
-Tao định chuyển qua ngành địa ốc phụ bà xã. Một mình bả làm không xuễ. Đang định tìm người thế thân, trông nom cái chỗ nầy giùm.
Ông Hai nói:
-Trông nom thì cần gì giỏi nghiệp vụ.
Ông Tiến nói:
-Giáo viên tiếng Anh bây giờ hiếm lắm ! Họ chạy "sô" túi bụi, lâu lâu mệt hết hơi đành phải bỏ lớp nghỉ dưỡng sức. Mấy lúc đó mình phải "điền vào chỗ trống", chớ cho học trò nghỉ ngang là mất uy tín, ảnh hưởng khủng khiếp. Cho nên phải biết chút đỉnh để ra tay cứu nguy kịp lúc chớ !
Ông Hai hỏi:
-Sao tao thấy trên bảng viết là đội ngũ giáo viên tinh nhuệ phong phú ?
Ông Tiến cười:
-Hổng lẽ tao ghi ngược lại ?
Ông Hai hỏi tiếp:
-Tao còn thấy đề có giáo viên bản ngữ ? Bộ mầy dám thuê mấy ông thầy giáo người ngoại quốc hay sao? Họ lãnh lương bằng người mình hay mắc hơn?
Ông Tiến lắc đầu:
-Tiền đâu mà thuê dân chuyên? Đó là mấy thằng tây ba lô, tụi nó kẹt tiền nên phụ giảng một thời gian ngắn rồi đi, chỉ cốt tạo cái mác thôi hà !
Ông Hai lại hỏi:
-Hồi nãy đi ngang mấy cái lớp tao thấy vắng tanh, vắng ngắt, không có tới một người . Tại sao vắng quá vậy ? Học trò đâu? Thầy, cô giáo đâu ?
Ông Tiến giải thích:
-Hôm nay là ngày gì ? Mầy không nhớ hay sao mà biểu tao...
Ông Hai bỗng nghe buồn ngang xương.
Ổng trầm ngâm một chút rồi hỏi :
-Hai mươi mấy năm trước, đúng cái ngày nầy, mầy đang làm gì ?
Ông Tiến cười xua tay:
-Thôi đừng nhắc chuyện cũ nữa mầy. Trả lời giùm tao một câu thôi!
Ông Hai hỏi:
-Câu gì ?
Ông Tiến nhìn bạn, hỏi một cách nghiêm nghị:
-Mầy có chịu tới đây giúp tao hông?
Ông Hai hỏi lại:
-Mầy biết tao làm tốt nhứt cái việc gì hông ?
Rồi trả lời giùm luôn:
-Tao chỉ giỏi vớt rác thôi !
Ông Tiến năn nỉ:
-Mầy vớt hoài mà mấy con kinh có sạch được chút nào đâu? Thay vì vớt rác, mầy vớt giùm mấy thằng học trò của tao còn có ích hơn .
Ông Hai lắc đầu:
-Đừng xúi tao làm cái chuyện mà tao không biết. Thà không dạy chớ dạy trật lấc còn báo hại tụi nó. Bộ mầy không biết nhiệt tình cộng dốt bằng phá hoại hay sao ?
Ông Tiến thở dài:
-Nói thiệt với mầy, mấy thằng tao thuê, thiệt giả lẫn lộn. Có đứa có căn bản thiệt, có đứa học tới đâu, dạy tới đó, nghe băng thuộc lòng rồi vô phát.
Ông Hai ngạc nhiên:
-Có chuyện đó nữa hả mậy ? Rủi học trò hỏi mấy câu không biết thì làm sao ?
Ông Tiến thấy ông Hai hỏi một cách ngây thơ thì phá ra cười:
-Thì đánh trống lảng, làm bộ nói "chờ thầy giảng cái đoạn nầy xong sẽ giải thích " rồi kéo dài cho tới hết giờ chớ sao. Rồi về nhà tra sách lia lịa, ngày mai vô giải thích ro ro.
Ông Hai bất mãn:
-Làm nghề nầy phải có lương tâm chớ !
Ông Tiến cười:
-Mầy chưa có nghe cái câu "lương tâm không bằng lương bổng" hả?
Ông Hai hỏi tiếp:
-Sao khi thuê mầy không đòi họ trưng ra bằng cấp ?
Ông Tiến than:
-Coi bộ mầy lạc hậu với thời cuộc quá rồi ! Bộ không biết bây giờ cái mặt hàng bằng giả đang bán chạy như tôm tươi hay sao mà còn hỏi ?
Ông Hai cười như mếu:
-Ai dám bảo là nền thương mại của nước mình không phát triển ? Hỏi thử coi quốc gia nào có các mặt hàng phong phú, đa dạng như nước mình không ?
Rồi ông hỏi tiếp:
-Có tên nào bị lột mặt nạ chưa ?
Ông Tiến gật đầu:
-Đi đêm có lần gặp ma. Cái câu nhứt quỷ nhì ma thứ ba học trò thời nào cũng đúng. Có lần tao thuê lầm một tên thầy dởm. Nó mới dạy chưa tới nửa tháng là bị một thằng học trò chơi xỏ. Nó quê đến độ bỏ của chạy lấy người, nghỉ dạy liền không kịp tính tiền lương.
Ông Hai hỏi:
-Mấy tên Tây có đứa nào giỏi thiệt rồi ở lại đây dạy luôn hông mậy ?
Ông Tiến đáp:
-Chỗ tao thì chưa, nhưng nghe nói bên tụi "Khai sáng" có câu được một tên ngon lắm. Hắn ta có nghiệp vụ đàng hoàng, đi du lịch rồi bị tiếng sét ái tình, thế là ở lại cho tới bây giờ luôn"
Ông Hai hỏi:
-Mấy thằng tây có bị tụi học trò trác hông mậy ?
Ông Tiến cười sằng sặc :
-Tao chắc chắn là có đứa bị, có điều không nhứt thiết phải chính học trò. Có lần tao thuê một thằng người Anh, thần dân của nữ hoàng chánh gốc. Không biết nó học tiếng Việt với cái tên ba trợn nào, mà cái câu chào đầu tiên nó nói trước một đám học trò là "Đ M các bạn !"
Hai ông bạn bá vai nhau cười lăn lộn. Họ không nghe tiếng cửa mở, không nhận thấy một người phụ nữ ăn mặc rất sang trọng đang bước vào.
Cô ta đứng ngây người trước cái cảnh tượng ấy. Trố mắt ngạc nhiên, cái túi sách du lịch trên tay rơi đánh huỵch trên nền gạch.
Cổ đảo tia mắt từ ông Hai qua ông Tiến rồi hỏi:
-Ai vậy anh ?

Câu hỏi của người phụ nữ ấy tuy hết sức nhẹ nhàng nhưng lại khiến cả hai bàng hoàng rúng động.
Ông Tiến như bị điện giựt, lật đật rút cái bàn tay đang choàng qua vai ông Hai về một cái rụp. Ổng nhìn chầm chập vào cô ta rồi hỏi:
-Sao em về sớm vậy ?
Người phụ nữ đó chính là Loan, vợ của ông Tiến. Bà ta đã kịp thời nhận ra, chồng mình và người đàn ông kia, chỉ giàu hơn Adam có mấy tấc vải.
Bà Loan không trả lời mà cúi gập cái cổ, đâm đâm nhìn mấy tấm gạch dưới chưn như sợ vấp té, rồi riu ríu đi ngay vô phòng ngủ.
Ông Hai ngượng đến cứng cả người, có cảm giác như cơ thể mất nhiệt một cách đột ngột, toàn thân mình đang biến thành một cây nước đá.
Ổng tức tốc chạy vô phòng tắm còn ông Tiến thì co giò đuổi theo vợ. Vừa mặc áo, ông Hai vừa nghe tiếng cười lồng lộng của hai vợ chồng họ vang dội khắp nhà.
Ông Hai bỗng dưng nghe khâm phục mấy cô thi hoa hậu quá trời, quá đất ! Họ còn "nghèo" hơn ông, vậy mà hết sức tự tin, đi qua đi lại trước cả trăm cặp mắt trên hai chiếc giày cao ngất ngư mà miệng cười tươi rói, tay phe phẩy nhịp nhàng một cách vô cùng duyên dáng. Đã vậy họ còn đứng chống nạnh, hất càm lên như muốn hỏi:
-Coi tui đẹp chưa nè !
Ổng bỗng nhận ra, đàn ông và đàn bà khác nhau một trời một vực. Những người phụ nữ hôm nay, sở dĩ họ giàu có, nổi danh, thành đạt cũng bởi họ có bản lãnh thực sự. Họ không cần nhờ tới cái vỏ bọc bên ngoài, không cần lớp lớp áo quần, còn nam giới thì ngược lại.
Ông Hai chần chừ đứng ngắm mình trong tấm kiếng một hồi lâu.
Ông lẩm bẩm than:
-Cái gương mặt nầy, ngày xưa vốn nổi tiếng là "bô" trai nhất trường. Bây giờ vẫn còn y nguyên mắt, mũi, miệng đó. Nhưng tại sao lại ảm đạm, xuống cấp quá chừng vậy trời ?
Khi ông bước ra phòng khách, vợ chồng ông Tiến đang ngồi đợi sẵn trên chiếc sô pha. Ông Tiến đã kịp tròng thêm cái quần sọt và cái áo thun thể thao lên người, còn bà vợ vẫn ăn vận như cũ.
Ông Tiến nhìn bạn bằng tia mắt vui, buồn lẫn lộn. Nhìn dáng điệu lúng túng của bạn, ổng bỗng nghe buồn, nghe ăn năn như vừa phạm tội.
Chờ ông Hai dừng bước, lấy lại phong độ ổng mới kéo tay vợ đứng lên, dắt lại trước mặt ông Hai, rồi nói, bằng một giọng rất ư trịnh trọng:
-Cho phép tui giới thiệu hai người với nhau. Đây là anh Hùng, bạn thân nhất của anh. Còn đây là Loan, người vợ thương nhất của tao.
Ông Hai bỗng nỗi máu trào lộng, hỏi:
-Vậy ra ông còn tới mấy cô vợ thương nhì, thương ba...nữa hả ?
Bà Loan cười ra tiếng trước câu nói đùa đó. Tiếng cười chẳng những đánh tan sự ngượng ngập còn sót lại, mà còn kết nối họ một cách nhanh chóng, tự nhiên.
Ông Tiến nhăn mặt đáp:
-Đừng nói chơi kiểu đó nữa, nguy hiểm lắm ông ơi ! Vợ tui mà tưởng thiệt là mình mẫy tui chắc bị đóng mộc không còn sót một chỗ nào !
Bà Loan rầy chồng:
-Anh nói vậy ảnh tưởng thiệt rồi trốn luôn, không dám tới nhà mình nữa đó.
Rồi bà vừa cười vừa nói:
-Rất mừng được gặp anh.
Hai người chìa tay ra bắt cùng lúc. Nhịp cầu giao hữu đã được khánh thành.
Bà Loan nói:
-Anh Tiến nhắc anh hoài mà tới bây giờ em mới được gặp.
Giọng bà trầm và bàn tay vô cùng mềm mại.
Ông Hai nghĩ thầm: " Bà nầy giọng thổ. Người phụ nữ giọng thổ rất bản lĩnh, can trường, quyết đoán ! Chết cha mầy rồi, Tiến ơi ! "
Ổng cười đáp lại :
-Tui cứ ngỡ ảnh xuất ngoại, cho nên không cố ý tìm, bởi vậy...
Ông Tiến phụ họa, chủ động trở lại cách xưng hô thân mật:
-Tao cũng tưởng mầy y như vậy ? Tới chừng nhận được thơ của Thủy mới biết .
Bà Loan liền hỏi chồng :
-Thủy nào vậy anh?
Ông Tiến bảo vợ:
-Anh nói chưa chắc em tin, thôi hỏi nó đi !
Ông Hai nghe sơ sơ là đoán, biết ngay chóc là vợ ông Tiến thuộc loại ớt hiểm, cay xé họng. Chắc chắn thuộc dòng dõi, danh gia họ Hoạn.
Ổng bèn giải thích:
-Thủy là người yêu cũ của tui. Cổ đang sống ở Mỹ, hôm trước về quê hương có ghé thăm !
Bà Loan quay lại hỏi chồng:
-Làm sao mà cổ tìm được anh vậy ?
Ông Tiến đáp:
-Cổ hỏi thăm cái máy tính.
Bà Loan chắt lưỡi :
-Người ở xa ngàn dặm mà biết trước người ở ...
Nói đến đây bả quay sang hỏi ông Hai :
-Xin lỗi, anh ngụ tại đâu ?
Ông Tiến giành trả lời:
-Nó ở quận năm.
Dân Sài Gòn khẳng định : "Sang nhứt quận một, giàu tột quận năm".
Quận một là chỗ ở của hầu hết các quan chức cao cấp ngày trước. Quận năm là "nhà" của đa số hoa kiều. Họ chiếm hơn phân nửa, hổng chừng lên tới bảy, tám, chín chục phần trăm thương trường của Sài Gòn cũng như khắp nước. Có một thời họ tích trữ, đầu cơ, thao túng... làm chao đảo cán cân thương mại, giá cả tăng vù vù, kinh tế bị lũng đoạn đến nổi bà con ráp nhau kêu trời như bộng. Lúc ấy nhà nước mới chịu ra tay đối phó.
Cho nên bà Loan liền hỏi:
-Chắc anh làm ngành thương mại ?
Ông Hai lắc đầu, chưa kịp đáp thì lại bị ông Tiến hớt ngang:
-Nó chuyên nghiên cứu về môi trường.
Bà Loan trố mắt ngạc nhiên, hỏi dồn:
-Ồ, vậy sao ! Chắc anh biết chị Nguyệt làm bên sở Tài Nguyên ?
Ông Tiến lại đáp thay bạn:
-Nó điều hành một tổ chức phi chánh phủ, phi lợi nhuận, nên đâu có cần qua lại với họ.
Bà Loan khen nức nở :
-Tốt quá, tốt quá ! Chắc mình gây quỹ từ các nhà...
Ông Tiến lại "ăn cơm hớt":
-Nó hoạt động riêng lẻ, không có kêu gọi ai đóng góp hết !
Bà Mai không kìm được giọng thán phục:
-Không ngờ anh giàu và có ...
Ông Tiến ngắt ngang:
-Nó là người có tài, có tâm nhứt ở nước mình đó em !
Chưa lúc nào ông Hai cảm thấy khổ sở bằng lúc nầy. Ông Tiến càng thêu phụng, vẽ rồng, ổng càng bức rức, càng hối hận vì lỡ ghé thăm nhà y.
Ông Hai moi óc, cố tìm cớ để kiếu từ. Thói quen xưa bỗng quay về đột ngột : Ổng co cánh tay trái lên để xem giờ, rồi ngay lập tức nhớ ra rằng, mình đã không đeo đồng hồ từ lâu lắm !
Ông Tiến nhanh trí gỡ "quê" cho bạn:
-Hình như mầy bỏ quên cái đồng hồ ở cái quán cơm rồi. Hồi nãy tao thấy mầy ở chỗ rửa tay đi ra, cườm tay trống không, muốn nhắc mà quên phức !
Bà Loan hỏi liền:
-Quán nào vậy anh ?
Ổng đáp:
-Cái quán ngang nhà mình chớ còn cái nào nữa !
Rồi nói như xin phép với vợ:
-Để anh qua đó tìm liền để không thôi bị người khác lượm mất, rồi đưa ảnh về luôn!
Bà Loan tỏ vẻ lịch sự:
-Hai anh lâu lắm mới gặp lại, phải để cho em có cái vinh dự đứng ra tổ chức một bữa tiệc tao ngộ đã chớ. Đâu có được để ảnh về gấp như vậy ?
Ông Hai hết hồn, nghĩ thầm :
-"Ở lâu chắc chết, bả hỏi túi bụi, không khéo bị lộ tanh bành, té bẹ".
Ổng lật đật từ chối liền:
-Dạ chị để cho khi khác. Mình còn gặp nhau nữa mà !
Bà Loan vội vuốt đuôi :
-Dạ, mai mốt anh rảnh mời ghé nhà thăm tụi tôi.
Ông Hai đáp lại một cách lịch sự:
-Nhất định sẽ có dịp làm phiền anh chị.
Rồi ông cúi đầu:
-Xin phép ...
Ông Tiến không chờ bạn nói hết câu đã vọt ra cửa trước. Bà Loan gọi vói theo chồng:
-Anh không thay đồ sao ? Ăn mặc như vậy coi sao được ?
Ông Tiến khoát tay để trả lời vợ, hấp tấp dắt xe ra khỏi nhà. Ông Hai cũng lật đật nhảy lên ôm eo bạn chặt cứng.
Vừa chạy được một đỗi, ông Tiến bỗng thắng xe lại một cái rụp, chửi thề:
-Chết mẹ !
Ông Hai hỏi :
-Cái gì nữa ?
Ổng thở ra một cách thảm thiết :
-Tao quên hai cái nón bảo hiểm.
Ông Tiến liền cho xe quay trở lại. Ông Hai cũng nhớ ra mấy cái hộp thức ăn nhưng không dám nhắc, hy vọng ông Tiến cũng nhớ ra giùm mình.
Ông Tiến không gọi vợ mở cửa mà tự mình mở khóa vào nhà. Lát sau ổng trở ra, mỗi tay chỉ xách một cái nón, đưa cho ông Hai một chiếc rồi giục:
-Đội nhanh lên mầy ?
Ông Hai vừa đội vừa buông tiếng thở dài đầy nuối tiếc, than thầm:
-Đúng là cái số con rệp !

Đi được gần nửa đường mà họ chưa nói với nhau một tiếng nào. Ông Tiến biết ông Hùng đang giận, đang bị tổn thương ghê gớm, nên cố suy nghĩ cách chuộc lỗi.
Nào phải ông không biết bạn mình vốn ghét nói dối. Cái tật hay xài "pháo cối" của ông, ngày xưa cứ bị ông Hùng chỉnh hoài mà chưa bỏ được.
Lần nầy ông nói dối chỉ do hảo ý. Bởi ông muốn ông Hùng hợp tác với mình, nên phải cố đánh bóng ngời cái tên của ổng cho bà Loan chói mắt. Ông Tiến biết tánh vợ quá mà !
Chiếc xe lao xuống dốc cầu cây cầu chữ Y một cái ào, ông Tiến mãi lo suy nghĩ nên không tránh kịp cục gạch rất to ai vứt giữa đường. Họ bị hất, tưng lên rồi rớt xuống, hai người cùng chới với, hai cái bàn tọa cùng ê, hai cái miệng cùng xuýt xoa một lượt.
Ông Hai bỗng đập vai bạn:
-Mầy dừng lại giùm tao một chút !
Ông Tiến hơi ngạc nhiên nhưng không dám hỏi mà tấp xe vô lề rồi thắng lại liền.
Ông Hai lật đật bước xuống xe, chạy ra giữa đường lượm cục gạch đem vô để sát lề đường.
Ông Tiến bỗng tìm ra đề tài để kết nối lại với bạn.
Ổng nói:
-Mầy làm tao nhớ tới ông nội của tao quá trời ! Mầy giống ổng dữ quá !
Ông Hai phản đối:
-Tao đâu có giống ông Bảy chút xíu nào ?
Ông Tiến giải thích:
-Không phải giống mặt mũi dáng vóc mà giống cái tánh, cái tình.
Ông Hai tò mò:
-Cái tánh gì ? Cái tình gì ? Đâu mầy nói thử tao nghe coi có trúng hông.
Ông Tiến đáp:
-Nội tao xuống sông tắm mà đạp trúng mảnh chai là phải lặn xuống lấy lên cho bằng được. Đi ngoài đường cũng thế. Y hệt như mầy vậy đó !
Ông Hai ngậm ngùi :
-Ông ngoại tao cũng vậy. Hồi đó tao ghét ngồi xe đạp chung với ngoại lắm ! Chạy chừng một lát là ngoại thắng xe lại, bắt tao leo xuống lượm mấy cục đá nằm chình ình giữa đường đem để vô lề !
Ông Tiến hỏi ông Hai cái điều mà ổng thắc mắc từ lâu:
-Đáng lẽ càng văn minh, tiến bộ, con người ta càng tốt hơn mới phải, đằng nầy...
Ông Hai nói:
-Bây giờ ai cũng thích sống sao cho sướng, tận hưởng mọi tiện nghi có được trên cõi đời nầy mới vừa lòng. Điều đó đưa đến cái hậu quả là họ rất ích kỷ, chỉ lo chăm chút cho bản thân hay nhiều lắm là gia đình mình thôi, không chịu khó mó tay làm việc tốt cho người khác.
Ông Tiến đệm thêm:
-Đã vậy mà còn có một số người mang tư tưởng cong quẹo. Họ thấy ai làm những việc thiện nguyện, đã không tiếp tay thì thôi, còn xuyên tạc, chê bai đủ kiểu.
Ông Hai hỏi:
-Tại sao nước mình còn mang danh là xã hội chủ nghĩa, mà mấy cái công việc đơn giản nhứt như làm "sạch" xã hội thôi, lại bị lơ là dữ vậy mậy ?
Ông Tiến sợ bạn làm mình mất tập trung cho xe chạy ra giữa đường, cái chỗ dễ bị khác xe tông và đầy nhóc ổ gà. Ổng bèn lái cặp sát lề, đưa cả hai về khu vực an toàn.
Ổng hỏi :
-Mầy bơi xuồng chắc đâu có bị dằn, bị xốc như thế nầy hén !
Ông Hai phản đối:
-Đừng có ham ! Sóng nhồi thiếu điều lộn ruột chớ ở đó mà...
Ông Tiến ngạc nhiên :
-Con kinh cạn xợt làm gì tàu lớn đi được mà có sóng to ?
Ông Hai đáp :
-Mấy chiếc ghe chở cát gắn máy lớn lắm ! Thêm mấy chiếc o bo phóng hà rầm nữa. Nước lớn là tụi nó chạy dập dìu, có lần tao xém bị lật xuồng đó mầy !
Ông Tiến nhìn xuống kinh. Nước đang ròng nên đen thui như nước màu kho cá.
Ổng rùng mình hỏi:
-Mầy có té xuống sông lần nào chưa ?
Ông Hai cười đáp:
-Ngày nào mà tao không tắm sông !
Ông Tiến chỉ tay xuống nước hỏi:
-Tắm cái thứ nước nầy sao ?
Ông Hai cười:
-Tắm lúc nước lớn, chớ ròng như vầy ai mà dám tắm. Lúc đó nước từ phía biển tràn vô, trong lắm, sạch lắm, tắm đã lắm mầy ơi !
Rồi ổng hỏi lại ông Tiến:
-Mầy có tắm sông lại lần nào chưa ?
Ông Tiến lắc đầu, đáp:
-Cũng hơn hai chục năm, tao chưa có dịp lội sông .
Ông Hai gặng tiếp:
-Kể cả khi về quê mầy cũng không xuống sông tắm nữa sao ?
Ông Tiến gật đầu. Ông Hai nói bằng giọng mơ màng:
-Có khi nào hai thằng mình về thăm quê cùng lúc, rồi lội đua với nhau như hồi xưa...
Ổng hỏi bạn mà nghe như hỏi mình nhiều hơn, cho nên ông Tiến không đáp mà hỏi lại :
-Nước dơ là do từ thượng nguồn đổ xuống hả ?
Ông Hai thở dài:
-Không phải tại nguồn mà tại người. Bà con mình có thói quen đem rác liệng xuống sông cho gọn nên con sông mới càng ngày càng dơ như vậy đó !
Rồi ông nói tiếp:
-Thực ra cái việc vớt rác trên sông đâu thể giải quyết vấn đề. Tao muốn làm vậy để đánh động lương tâm bà con, để họ ngại không dám xả rác nữa.
Ông Tiến hỏi:
-Có đạt được mục tiêu chưa ?
Ông Hai lắc đầu:
-Chỉ có hai nhà bên cạnh, với lác đác vài người trong xóm làm thôi !
Rồi ổng cười buồn:
-Vậy mà mới đây, có một bà làm tao chới với.
Ông Tiến hỏi:
-Bả làm sao mà mầy chới với ?
Ông Hai giải thích:
-Tại bả tưởng tao vớt rác để kiếm sống nên nói: "Tui thương chú lắm ! Bởi vậy không cho tụi nhỏ đem rác đổ vô xe mà thảy xuống sông cho chú vớt mấy cái bọc ni lông, với mấy món đồ nhựa lên bán". Tao nghe vậy thì hết hồn, bèn giải thích cho bả biết mục đích của mình là...
Ổng dừng ngang rồi hỏi ông Tiến:
-Đố mầy bả phản ứng ra sao ?
Ông Tiến đáp:
-Chắc bả hối hận rồi xin lỗi mầy rối rít hả ?
Ông Hai thở dài:
-Phải như vậy thì đâu có gì để nói ! Đằng nầy bả hỏi tao là có khùng không mà bỏ công ra làm mấy cái chuyện ruồi bu, cho chướng con mắt thiên hạ.
Ông Tiến không nén nổi phải phì cười, ông giải thích:
-Nghĩ đến nét mặt chưng hửng của mầy tao buồn cười quá ! Chắc mầy buồn lắm phải không ?
Ông Hai nói:
-Buồn chớ sao không ! Là người trong xóm nên tao biết, bả là người có học vấn tương đối khá. Từ ngày nghe tao nói vậy, bả ghét ra mặt liền.
Ông Tiến thở dài:
-Chắc bả cho là mầy lên mặt dạy đời.
Ông Hai nói:
-Tao sợ mọi người cũng hiểu lầm như bả nên tính làm một tấm bảng ghi mấy chữ thiệt to "xin đừng bỏ rác xuống sông". Mầy thấy có được hông ?
Ông Tiến bác ra:
-Coi chừng họ lại đọc thành "xin bỏ rác xuống sông" là chết mồ !
Rồi ổng nói giỡn:
-Hay là để tao tài trợ cho mầy một cái ô bẹt lưa. Mầy vừa làm vừa kêu gọi bà con đừng xả rác xuống sông. Chịu khó giải thích cho họ hiểu .
Không ngờ ông Hai vỗ đùi đánh đét một cái rồi nói:
-Cách đó coi bộ được đó mầy !
Ông Tiến quay lại nhìn, thấy gương mặt của ông bạn mình rất đổi nghiêm trang, không biết thưởng thức câu đùa của mình, không cười chút nào thì lắc đầu ngán ngẩm.
Ổng nói thầm đủ cho mình nghe:
-Coi bộ thằng nầy nó "cuồng tín" dữ lắm rồi !


Ông Hai lẩm bẩm:
-Sao bấy lâu nay mình không nghĩ ra cách nầy ta?
Ông Tiến hỏi:
-Mầy tính làm thiệt hả ?
Ông Hai đáp:
-Thiệt chớ !
Ông Tiến chắc lưỡi:
-Trời đất ơi ! Tao chỉ nói chơi thôi !
Ông Hai cho là ông Tiến tưởng mình trông đợi sự tài trợ của ổng, nên nói liền:
-Mầy đừng lo. Tao có đủ tiền sắm mấy món đó mà.
Ông Tiến nói:
-Tao không có lo chuyện đó. Cái chuyện mua loa, mua bình điện cho mầy, nhỏ như con kiến. Tao dư sức ! Chỉ bởi làm như vậy coi kỳ lắm !
Ông Hai hỏi :
-Kỳ cái chỗ nào ?
Ông Tiến đáp:
-Kỳ thì kỳ chớ biết chỗ nào mà nói.
Rồi ổng khuyên:
-Bỏ cái việc nầy đi, giúp tao điều hành mấy cái lớp. Tụi mình chia lợi nhuận ra xài, lúc đó mầy muốn làm cái gì mà không được: Cúng chùa, tặng tiền cho mấy tổ chức từ thiện...
Ông Hai lắc đầu:
-Tao không tin mấy chỗ đó họ sử dụng tiền theo đúng mục đích như tao mong đợi...
Ông Tiến hỏi:
-Tại sao mầy nói vậy ?
Ông Hai trả lời:
-Tao nghi ngờ lắm ! Cho dù tao là phật tử, có quy y, có pháp danh hẳn hoi, vậy mà mầy biết không, gần mười năm nay, tao không đặt chưn vô chùa.
Ông Tiến hỏi tiếp :
-Sao vậy ?
Ông Hai đáp:
-Tao thấy càng vô chùa tao càng xa đạo nên thôi.
Ông Tiến lại hỏi tiếp nữa :
-Sao vậy ?
Ông Hai đáp:
-Thì thấy nhiều chuyện chướng mắt, cái tâm sân nó nổi lên. Thà ở nhà đọc sách, đọc kinh mà khỏe, mà vui, mà thấy niềm tin không bị sứt mẻ.
Ông Tiến hỏi tiếp:
-Điều gì làm cho mầy chướng mắt ?
Ông Hai thở dài:
-Nhiều thứ lắm ! Như việc mỗi bàn thờ đều có cái thùng phước điền đặt ngay phía trước. Như việc vừa bước chưn vào chùa là thấy một cái bàn với mấy vị sư ngồi trực, kêu gọi phật tử quyên tiền xây chùa, chẳng hạn. Như việc ngoài cửa chùa, mấy người bán chim để phóng sanh ngồi nhan nhản.
Ông Tiến nói:
-Họ tạo điều kiện cho phật tử làm việc tốt thì có gì mà xấu.
Ông Hai lắc đầu:
-Theo tao, ngày xưa đức Phật Thích Ca đi chưn đất, ngồi dưới gốc cây để giảng đạo. Ngài khuyên chúng ta buông bỏ rốt ráo những cám dỗ như mê đắm về vật chất và tinh thần. Các đệ tử của ngài thuở đó, có ai sở hữu món gì đắt giá đâu. Họ chỉ chăm chú việc tu thân và hành thiện mà thôi. Họ không hề mang ý tưởng tích lũy của cải. Bây giờ hình như hầu hết đều làm ngược lại.
Ông Tiến hỏi:
-Ngược lại cái chỗ nào ?
Ông Hai nói:
-Họ mê danh, mê lợi thấy mà sợ ! Đua nhau chạy theo hình thức tới tối tăm mặt mũi. Chẳng còn thì giờ đâu mà tu sửa bản thân chớ nói gì tới chuyện răn dạy phật tử.
Ông nói tiếp bằng giọng bùi ngùi:
-Mầy có biết không ? Cái chùa mà hồi trước tao rất thích nên tới hoài đó rất là đẹp ! Nó nhỏ thôi, nằm giữa một khu vườn đầy màu xanh. Nó đang chắc, đang tốt... Chưa hư một tấm ngói, chưa bể một viên gạch vậy mà họ hô hào phật tử đóng góp xây cái mới. Họ nói là việc xây chùa là đệ nhứt công đức. Bà con, giàu cúng lớn, nghèo cúng nhỏ, tin tưởng rằng việc quyên tiền cho chùa cũng giống như gieo vài hột lúa trên ruộng, mai mốt thu lại cả thúng nên đóng góp ào ào. Họ nỡ đem đập bỏ rồi xây một lên cái to đùng để lấy le với thiên hạ. Tao nghĩ phải chi họ để số tiền đó mà cất mấy dãy nhà cho những người công nhân nghèo đang không có chỗ ở còn có ích hơn, còn được phước hơn.
Ông Tiến nói:
-Tao coi kinh cũng lấy làm hồ nghi cái chỗ nầy lắm ! Phật vốn không ưa chuộng hư danh, lẽ nào khuyên người ta nên xây chùa cho thiệt to, thiệt đẹp.
Ông Hai nói:
-Tao nghĩ chắc Phật chỉ khuyên nên trùng tu những ngôi chùa đổ nát mà thôi. Thế nhưng mấy vị sau nầy lợi dụng câu đó để lập danh, làm theo thị hiếu của họ, hoặc kiếm chác bỏ túi làm việc riêng. Mầy không biết chớ họ mà càng đập, càng xây càng đẻ ra tiền. Không phải là tiền do họ làm ra, nên đâu thèm tiếc xót.
Dừng lại một lát để lấy hơi, ổng tiếp :
-Ngoài đời cũng vậy ! Mầy có thấy là hể mấy ông dám đốc người ta làm nào mà gần về hưu, cũng cho đập bỏ, xây lại cái cơ sở mà mình sắp bàn giao, lấy lý do là phải trao lại cho người kế nhiệm một di sản đàng hoàng coi mới được. Nghe rất hợp tình, hợp lý, thực ra họ làm thế để chấm mút cho riêng mình đó thôi.
Ông Hai lại dừng lại, thở dài rồi nói thêm:
-Cái ông dám...kế tiếp cũng đâu có vừa. Ổng vừa lên nhậm chức là đập bỏ hết cái cơ ngơi mới toanh đó, cho xây lại theo ý mình, mục đích cũng y chang. Cho nên mấy lúc sau nầy người ta đập và xây tràn lan, đẻ ra một đống rác xà bần, có nhiều thứ không tái chế, không tiêu hủy được còn hoài hoài. Thấy mà bắt rầu.
Ông Tiến phản đối:
-Tao thì mừng vì thấy nước mình giàu lên, bộ mặt xã hội ngày một khang trang. Mầy nhớ không ? Ngày xưa cả làng mình, ai mà mua được chiếc xe Hon Đa, vừa chạy về nhà, dựng trước cửa là bà con kéo tới ngồi xem, coi đó như một sự kiện hi hữu. Còn bây giờ xe gắn máy đầy trời, ai cũng có khả năng sắm nổi.
Ông Hai thở dài:
-Mầy thì mừng còn tao thì lo. Tao nghe nói những nước thực sự giàu người ta đang hô hào đi bộ với đi xe đạp kia kìa. Theo tao, cái giàu không phải ở những tòa nhà cao ngất che mất bầu trời, những chiếc xe chạy vù vù xịt khói...Mà chính là mức trong lành trong không khí. Cái sạch, cái đẹp của môi trường và thiên nhiên được bảo tồn nguyên vẹn.
Ông Tiến lại hỏi:
-Còn cái chuyện phóng sanh ? Tao thấy tốt quá sao mầy cũng chê, cũng thấy chướng ?
Ông Hai giải thích:
-Tao hỏi mầy nghen. Nếu như mầy đang ở nước mình, đang làm ăn ngon lành rồi bị người ta bắt, nhốt vô trong xe, chở qua Lào đem bỏ mầy có vui không ?
Ông Tiến nói:
-Vui sao nổi. Nhưng còn được sống thì còn có cơ hội làm lại rồi tìm đường quay về nước.
Ông Hai thở dài:
-Tao thấy họ thả ra mấy con chim ra, có con bay hết muốn nổi. Có con chết liền tại chỗ. Có con bay chưa xa là bị bắt trở lại, bị nhốt rồi đem bán tiếp. Vậy thì cái việc phóng sanh đó nhân đạo ở cái chỗ nào ?
Ông Tiến lắc đầu:
-Thôi, tao không dám bàn về ba cái chuyện cao xa đó. Chỉ khuyên mầy là nếu có tiền thì ráng sắm thêm mấy bộ đồ mặc bên trong, bên ngoài, chớ đừng mua loa, mua liếc gì hết ! Tao như mầy là bỏ quách cái nghề nầy chớ ở đó mà khuếch trương, đầu tư thêm cho mệt.
Ông Hai có vẻ phật ý nên hỏi:
-Mầy thử nêu một lý do đi ! Nếu thấy hợp lý là tao bỏ cái nghề nầy, đi theo mầy một cái rụp liền.
Ông Tiến suy nghĩ hồi lâu, rồi nói:
-Chuyện đó kỳ cục lắm ! Mầy thấy không ? Ngoài mầy ra đâu có ai thèm làm.
Ông Hai bác lại liền :
-Thiếu gì việc tốt mà đâu ai thèm nhúc nhích một ngón tay. Ngược lại cả đống việc xấu họ hùa nhau làm, ngày càng nhiều hơn mới chết !
Ông Tiến hỏi:
-Việc gì xấu mà hùa nhau làm đâu ? Mầy chỉ cho tao coi !
Ông Hai nói:
-Thì việc bán, hút, chích xì ke ma túy đó ! Việc cướp bóc ngày càng rùng rợn đó ! Việc dụ dỗ mấy đứa con gái khờ dại đem bán vô mấy cái động mãi dâm đó !
Ông Tiến nói:
-Theo tao thì việc đầu tiên là tu thân, tề gia rồi mới tới trị quốc, bình thiên hạ được. Tu ở đây là tu bổ, giúp mình phát triển về mọi mặt kể cả tinh thần lẫn vật chất. Mầy ráng kiếm cho thật nhiều tiền đi để có thể giúp được cho nhiều người hơn. Chớ như bây giờ thì cho dù có muốn cũng đâu thể giúp được ai .
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy dám khẳng định là những người nghèo thì không có khả năng đó !
Ông Tiến nói:
-Họ không giúp cho chính bản thân nổi thì còn giúp cho ai nữa chớ ?
Ông Hai đáp:
-Không phải có tiền mới làm phước, mới giúp được người khác đâu, mầy nghĩ vậy là sai lầm rồi ! Lòng tốt của người ta nằm trong cái tâm chớ đâu có nằm trong cái túi.
Ổng chợt nhớ đến cô gái có nốt ruồi trên chót mũi, muốn kể cho bạn nghe nhưng lại thôi.
Ông Tiến hỏi tiếp:
-Mầy có thấy những nhà hảo tâm nổi tiếng nhứt thế giới, đa số là các doanh nhân thành đạt hay không ? Nước trong ao có dư mới chảy tràn ra ngoài được.
Ông Hai nói:
-Cái quan trọng là người ta có cho nó tràn ra không hay đắp cái bờ kiên cố để ngăn lại. Bởi hầu như ai ai cũng dừng lại ở mức tề gia. Mấy chuyện lợi ích chung họ đâu có rảnh mà nghĩ tới. Nếu có rảnh cũng lờ đi, không muốn bỏ công, bỏ sức vào. Tự nhủ "mình là dân quèn, ba cái thứ đó để cho mấy ông nhà nước lo". Nhà nước thì mắc lo mấy món khác, thế là...

Khoảng cách của con đường đến nhà ông Hai càng ngắn, khoảng cách giữa tâm hồn của ông Tiến và người bạn ngày xưa càng thu hẹp lại.
Ông Tiến bắt đầu cảm thông rồi đi đến nể phục bạn.
Ổng bỗng nhận ra rằng, trên đời nầy có một số người khao khát làm việc tốt hơn khao khát kiếm tiền. Họ bị coi là gàn, là lập dị. Họ là những người rất kiên định, rất dũng cảm, dám vạch cho mình một hướng đi cho dù trái chiều với số đông, dám đương đầu với mọi thử thách để bảo vệ lý tưởng của mình.
Ổng hỏi ông Hai:
-Mầy có cảm thấy hạnh phúc không Hùng?
Ông Hai đáp:
-Tao đang theo đuổi mục đích của mình nên thường có cảm giác là hạnh phúc đang ở ngay trước mặt. Đôi khi tưởng tượng cái cảnh một mình mình trong chiếc xuồng trống rổng, nhẹ tênh. Bơi thong dong trên một con sông rất trong, rất sạch! Sạch đến nổi không còn một cọng rác. Hai bên bờ là những cánh đồng cùng vườn cây ăn trái và gió thì rất thơm...Lúc ấy lòng tao lâng lâng lắm ! Chắc đó cũng là một dạng của hạnh phúc. Phải không mậy ?
Ổng hỏi lại bạn:
-Còn mầy, mầy có hạnh phúc không ?
Ông Tiến suy nghĩ rất lâu rồi nói:
-Tao cũng y như mầy. Có điều mục đích của tao hết sức rõ ràng, cụ thể. Nó tuy không mông lung, mờ ảo .. Thế nhưng khi đạt được lại chỉ cho tao cái cảm giác thỏa mãn nhứt thời. Hể càng có nhiều thì càng muốn có thêm. Cái con đường mang tên "Danh" và "Lợi" nầy hình như dài vô hạn, đi hoài không tới đích.
Ông Hai phụ họa:
-Mục tiêu của mầy vẫn vậy thì tốt thôi ! Chỉ sợ khi đạt rồi lại thấy nó không đáng giá với công sức bỏ ra, không xứng với sự hy sinh của mình. Lúc đó lại ...
Dừng lại một lát ổng lại nói tiếp:
-Tao thấy mấy người bình dân, nhứt là giới nông, họ dễ có hạnh phúc hơn dân trung lưu, thượng lưu lắm ! Tâm hồn họ trong sáng, mơ ước hết sức giản đơn. Họ dễ tìm thấy niềm vui ...
Ông Tiến cắt ngang:
-Mầy căn cứ vào đâu mà nói như vậy ?
Ông Hai trả lời:
-Mầy còn nhớ ngày xưa, khi ra đồng hay ở nhà mình đều nghe thấy tiếng cười đùa của con nít và tiếng người lớn chuyện trò không ? Ở Sài gòn nầy, mầy chỉ gặp điều đó trong mấy cái xóm nhỏ mà thôi! Hình như càng giàu người ta càng khó thỏa mãn. Họ luôn đi tìm cái mà họ thấy thiếu.
Ông Tiến gật đầu:
-Mầy nói cũng có lý. Chẳng hạn như hiện giờ, tao lại thấy ấm ức như thể bị ông trời cố tình chơi xỏ, ra sức thử thách tao vậy.
Ông Hai ngạc nhiên:
-Tại sao mầy có cái ý nghĩ đó !
Ông Tiến cười:
-Ai biểu ổng không chịu cho tao cái mà tao cần thiết nhứt.
Ông Hai hỏi:
-Bộ mầy chưa có thứ mình cần rồi đó sao ?
Ông Tiến lắc đầu :
-Ngay lúc nầy, hạnh phúc của tao là có một người đứng trên một cái bục, nhận một giải thưởng nào đó, gọi tao bằng cha. Chàng trai hoặc cô gái ấy là một công dân gương mẫu, sẽ nói những lời tốt đẹp về gia đình mình rồi cám ơn tao một cách hết sức chân thành trước mặt đám đông.
Ông Hai chờ bạn thở dài xong mới hỏi:
-Cái chuyện vô sinh là do mầy hay...
Ông Tiến đáp:
-Do vợ tao .
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy biết ?
Ông Tiến trù trừ một lát rồi tâm sự:
-Tao đang vướng vào một chuyện.
Ông Hai hỏi:
-Chuyện gì ? Có nan giải không ?
Ông Tiến đáp:
-Nan giải nhứt !
Ổng xuống giọng:
-Tao nói cái nầy mầy đừng chê tao là...
Rồi ấp úng và ngưng luôn. Ông Hai đoán là chuyện hệ trọng lắm nên không dám hối.
Một lát sau ông Tiến mới thở dài đánh sượt rồi thổ lộ:
-Con nhỏ mà tao đang bao, nó đã có thai.
Ông Hai giựt mình:
-Trời đất! Sao mầy dám... ?
Rồi hỏi thêm:
-Mầy có chắc đó là con của mầy hông ?
Ông Tiến nói:
-Chắc! Tao ăn ở với nó mấy năm nay rồi. Nó đã phá thai một lần vì tao không chịu bỏ vợ để cưới . Tụi tao chia tay nhưng rồi tái hợp. Lần nầy nó không đòi tao cưới nhưng buộc phải tìm cho ra một giải pháp thật êm đẹp để giúp nó không bị gia đình từ bỏ.
Ông Hai hỏi:
-Cô ta đang ở chung với cha mẹ hả ?
Ông Tiến lắc đầu:
-Nhà nó ở Vĩnh Long, nó lên đây đi học.
Ông Hai hỏi:
-Mầy quen cổ ở đâu ?
Ông Tiến đáp:
-Ở nhà tao. Vợ tao bả không có thời gian làm việc nhà nên đến trung tâm giới thiệu để thuê người làm. Nó là ô sin, thuộc dạng giúp việc nhà tính theo giờ.
Ông Hai nói:
-Vợ mầy coi sắc sảo vậy mà không lường trước hay sao ? Dám đem mỡ để trước miệng mèo như vậy thì làm sao mầy nhịn cho được ?
Ông Tiến lắc đầu:
-Tại lúc đó bả kẹt quá, nên thuê đỡ ít ngày ! Nó vừa làm có một tuần là bị bả cho nghỉ liền !
Ông Hai nói một cách thán phục :
-Trời đất ơi ! Không ngờ mầy cũng lanh tay, lẹ chưn quá xá !
Ông Tiến nói:
-Cũng do ý trời thôi mầy ơi ! Bữa đó tao về gần tới nhà, thấy nó ôm cái túi đi bộ tà tà bèn ghé vào hỏi coi đi đâu. Nó nói vừa bị vợ tao cho nghĩ việc, đang đi lại trạm xe buýt để đón xe. Tao biết tại mình nên nó mới bị đuổi nên cảm thấy có lỗi. Bèn kêu nó lên xe đặng chở về giúp. Nó ngại nên ôm eo ếch tao lỏng le, đã vậy còn khoác cái túi lên vai một cách hờ hững. Cái tụi làm nghề giựt đồ thấy ngon ăn quá nên chúng bám theo. Tui nó đi xe phân khối lớn, chạy cái vù qua mặt rồi xớt cái xách liền. Nó té đập đầu xuống đường còn tao thì không sao. Tao bèn chở nó vô bệnh viện 115 cấp cứu. Cái túi mất rồi nên tao không có địa chỉ, không báo tin cho thân nhân của nó được, thế là tao phải lo từ A tới Z. Gần gũi, săn sóc lâu ngày nên nãy sinh tình cảm, chớ mầy biết tính tao đâu có thích bậy bạ.
Ông Hai hỏi:
-Cô ta đang ở với ai ? Có công ăn việc làm gì chưa ?
Ông Tiến đáp:
-Ở một mình. Tao có mua cho nó một căn nhà nhỏ ở Bình Chánh. Nó ra trường rồi, đang làm kế toán cho một công ty xây dựng.
Ổng hỏi ông Hai:
-Bây giờ mầy nói coi tao phải làm sao ?
Ông Hai im thinh thích, không dám đưa ra lời khuyên vội vã. Hình như đây là một câu hỏi tu từ nên ông Tiến không cần ông phải trả lời.
Ổng chỉ biết an ủi:
-Cái rắc rối nào cũng có cách giải quyết. Tao nghĩ hay là mầy đưa cô gái đó về quê của cổ, làm đám cưới lén đừng cho vợ mầy hay.
Ông Tiến lắc đầu nguầy nguậy:
-Nguy hiểm lắm ! Rủi vợ tao mà biết được chắc bả dám giết hết hai đứa tao.
Rồi lật đật bổ sung:
-Ba đứa mới đúng !
Ông Hai trách:
-Thấy mầy nói nói, cười cười vô tư quá tao đâu có ngờ...Mầy ôm một cục đá bự bành ky như vậy mà còn đi tìm tao làm chi cho nặng lòng thêm?
Ông Tiến cười:
-Mầy đừng có ngại. Nhờ có mầy mà tao mới có dịp thư giản, chớ hổm rày đầu óc tao nó rối y như cái nồi canh hẹ vậy ! Đã vậy vợ tao có linh tính hay sao mà cứ đeo theo hỏi nầy hỏi nọ, chặn đầu, chặn đuôi làm tao lo muốn đứt gân máu luôn. Mầy hổng biết chớ, trực giác của bả nhạy bén lắm !
Ổng nói tiếp:
-Chuyến đi biển nầy tao không chịu tháp tùng nên bị nghi ngờ. Cũng may mà bả cố tình về sớm rồi gặp tao với mầy. Chớ nếu không...
Ông Hai nói giỡn:
-Mầy không sợ bả nghi hai thằng mình là "bóng " hả ?
Ông Tiến được dịp liền "thổi":
-Bộ mầy không thấy tao tràn trề nam tính hay sao ? Nói thiệt với mầy, bả mê tao là ở cái khoản đó đó. Chớ nghèo rớt mồng tơi như tao dễ gì ...
Ông Hai đùa:
-Một cây củi gòn như mầy mà đốt tới hai cái lò, coi chừng mau tàn lắm đó !
Ông Tiến cự nhoi:
-Ai nói với mầy là củi gòn. Than đá đàng hoàng nghe mậy, nóng lâu, nóng dữ lắm đó ! Vợ tao tẩm bổ cho tao nào là: Hải sâm, cá ngựa, nhung nai...đủ thứ !
Ông Hai hỏi:
-Ba cái thứ đó có công hiệu không ? Tao nghe họ quảng cáo trên ra dô rần rần. Chưa có thời buổi nào mà mấy cái chuyện đó được mời gọi rùm beng như lúc nầy. Thấy mà lo cho cái bọn hậu sinh của nòi giống Lạc Hồng, bốn ngàn năm văn hiến của bọn mình quá đổi. Tụi con trai, con gái mới lớn, nghe mấy cái câu úp úp, mở mở đó rồi sanh ra tò mò. Tụi nó ráp nhau làm loạn cào cào lên là đại họa chớ chẳng chơi !

Ông Tiến cười:
-Hơi đâu mà lo, bây giờ nhìn đâu cũng thấy "sex". Tụi nó hổng loạn lên mới là lạ đó !
Rồi bồi thêm:
-Mấy hình ảnh gợi cảm kiểu đó đâu chỉ có trong phim. Nó nhan nhản trên các sản phẩm, từ băng vệ sinh, dầu gội đầu cho tới sữa dành cho con nít.
Ông Hai nói:
-Có lần tao vớt một túi rác, trong đó có cuốn truyện dịch của một nữ văn sĩ Trung Hoa. Tao mở ra coi, đọc tới đâu tối tăm mặt mũi tới đó !
Ông Tiến thở dài:
-Ba cái tiểu thuyết lãng mạn đó thì nói làm gì ?
Ông Hai bác lại:
-Nó đâu có chút xíu lãng mạn nào ở trỏng ! Lãng mạn là đem đến cho ta cái cảm xúc rất nhẹ, rất đẹp, rất nên thơ, nâng ta lên cao, ra xa cái bến bờ hiện thực. Còn cái nầy nó chỉ cho mầy cái cảm giác xấu hổ, sượng sùng, chai sần, nhức nhối... như bị kim châm vào da thịt.
Ông Tiến cười:
-Phải viết như vậy mới bán chạy đó mầy ơi ! Mầy mà viết mấy quyển truyện theo cái kiểu "quốc văn giáo khoa thư" như ngày xưa thì ai mà mua ?
Ông Hai bác lại:
-Làm nghề viết là phải khơi gợi cái phần đẹp, phần tốt trong người. Chớ khiến cho thiên hạ đọc xong rồi hóa thú cả bầy thì phi văn hóa, phi đạo...
Ông Tiến cự liền :
-Vậy theo mầy thì cái chuyện "yêu" đó nó xấu xa, tồi bại lắm hay sao ?
Ông Hai lắc đầu:
-Tao không nói như vậy ! Nhưng "yêu" theo kiểu súc vật là hạ thấp nhân phẩm. Tao thấy cô ta, nữ văn sĩ ấy, mô tả cái chuyện đó sao mà giống như hành động lấy cái chày đâm tiêu, dùng hết sức bình sinh mà nện bình bịch thiếu điều muốn bể cối mới vừa bụng.
Ông Tiến nghe bạn ví von như thế thì không nhịn được. Ổng ngoác to miệng, cười hô hố rồi hỏi:
-Vậy theo mầy "yêu" như thế nào mới đẹp ?
Ông Hai suy nghĩ giây lâu rồi hỏi:
-Hồi nhỏ mầy có bị thím Ba sai lau ống khói đèn hông ?
Ông Tiến nói:
-Sao mà không ? Chiều nào má tao cũng gom hết mấy cái ống khói, bắt tao lau gần chết !
Ông Hai hỏi:
-Mầy làm như thế nào ?
Ông Tiến chăc lưỡi:
-Thì lấy chiếc đũa, quấn miếng giẻ xung quanh rồi lau từng cái, cho nó sạch bong không còn dính chút xíu lọ nghẹ nào, chớ còn làm sao nữa mà hỏi!
Ông Hai hỏi:
-Mầy làm từ từ hay ào ào.
Ông Tiến đáp:
-Nín thở lau nhẹ hều ! Chớ làm mạnh tay, rủi bể ống khói, bị khỏ lũng sọ sao mậy ?
Ông Hai nói:
-Đó! Theo tao ba cái chuyện ấy phải thực hiện một cách trân trọng, từ tốn...Đừng có bắt chước như trong phim, xé áo, xé quần, hun hít túi bụi coi sao mà vất vả, cực khổ quá trời, quá đất!
Ông Tiến cười khà khà:
-Cái kiểu của mầy nó lạc hậu lắm Hùng ơi !
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy biết là lạc hậu ?
Ông Tiến giải thích:
-Bây giờ tụi trẻ nó thích cuồng nhiệt lắm ! Nói làm chi tụi nó, mấy ông già, bà già cũng bắt chước. Nói thiệt với mầy, bà xã tao đó, lắm khi bả đòi tăng "đô", tăng "nhiệt" lên. Tao phải ráng gồng mình, xong rồi là mệt gần chết, là chìm nghĩm chớ có "lên đỉnh, lên điếc" gì đâu !
Ông Hai ngạc nhiên:
-Trời đất, hai bà đều như vậy thì làm sao mầy chịu nổi.
Ông Tiến cười:
-Được cái là con nhỏ bồ tao nó ngoan lắm ! Dọn món nào xơi món nấy, không có đòi hỏi gì hết. Nó lại thích cái kiểu "lau ống khói" như mầy nói đó. Bởi vậy tao mới còn sống tới giờ nầy.
Ông Hai thở dài:
-Trời đất ơi ! Cái thời buổi gì mà con người xúm lại vắt kiệt sinh lực của nhau. Còn vắt kiệt sinh lực của thiên nhiên nữa. Vậy mà gọi là văn minh. Họ hành động như vậy là bôi bác chữ "yêu", khiến tao cũng ngại khi nói ra, có cảm giác như đó là một từ tục tĩu.
Ông Tiến định bác lại nhưng xe đã về đến nhà. Ổng dừng lại ngay trước cửa, tháo cặp kiếng mát ra lau. Ổng nhìn ông Hai một cách quyến luyến, chưa muốn chấm dứt câu chuyện đang ngày càng mặn mòi :
Ổng tiếc rẻ:
-Lượt đi tao thấy con đường dài sọc hà, còn lượt về sao mà ngắn ngủn!
Ông Hai cũng tháo cái nón trên đầu ra, đưa cho bạn rồi mời:
-Mai mốt có rảnh tới chơi !
Ông Tiến hỏi:
-Chủ nhựt mầy có nghĩ không ?
Ông Hai cười:
-Tao có phải là công chức đâu mà ...Mầy muốn chắc ăn thì chờ tối tối hãy ghé. Buổi tối tao nằm nhà chớ không có đi đâu hết. Nếu không gặp thì ghé đình, có khi tao lại đó coi ké ti vi.
Thật ra ổng thường về nhà vào buổi trưa, ăn cơm xong rồi lựa rác. Ông Hai sợ bạn đến lúc mình đang làm công việc đó, nên hẹn trễ một chút cho chắc ăn.
Ông Tiến thở dài:
-Tối tao đâu có rảnh, không đi giao tiếp thì phải ở nhà.
Ông Hai hỏi:
-Ban đêm mà giao tiếp cái giống gì ?
Ông Tiến cười:
-Tại mầy không biết, đó là giờ vàng để chốt mấy cái hợp đồng. Cái giới tụi tao, nhậu để làm ăn. Cái bàn tiệc còn quan trọng, còn đắc dụng hơn cái bàn "buya rô" gấp mấy lần !
Ông Hai trêu:
-Chớ không phải làm ăn để nhậu sao ?
Ông Tiến thở dài:
-Thì cái vòng lẩn quẩn mà ! Nhậu để kiếm tiền, kiếm tiền để nhậu ! Phải đem sức khỏe để đổi lấy sự thành công. Bây giờ ít có ai không đụng tới bia, rượu, thuốc lá ...như mầy.
Ông Hai cười :
-Tao là mẹ thành công mà !
Ông Tiến bắt ngay câu nói đó để khuyên bạn thêm lần nữa:
-Mầy biết vậy thì bỏ cái nghề nầy đi, rồi...
Ông Hai ngắt lời :
-Tao nói giỡn thôi, thật ra tao thích cái nghề của mình lắm ! Làm nghề nầy tao khỏi cần phải bon chen hay đánh đổi bất cứ cái thứ gì.
Ông Tiến sắp cãi lại liền bị ông Hai giục :
-Thôi mầy về sớm đi để bà xã đợi.
Ổng nghe bạn nhắc liền rồ máy rồi nói:
-Bái bai.
Ông Hai vẫy tay:
-Đi cẩn thận, mạnh giỏi nghe mậy !
Rồi mở cái ổ khóa nhỏ xíu. Hai đầu của sợi dây lòi tói bung ra. Liếc thấy con Gọn bên nhà cô Tám và thằng Út con ông Chín đang thập thò. Ổng đoán hai đứa nó nãy giờ chắc rình nghe mình nói chuyện, sợ chúng hỏi lung tung nên lủi vô nhà, đóng cửa lẹ lẹ rồi cởi bộ đồ bên ngoài ra, treo lên cây đinh đóng trên vách liền .
Ổng gieo mình xuống chiếc chiếu rồi nằm theo cái tư thế thoải mái nhứt, dang thẳng băng cả hai cánh tay, mắt nhắm lại, thở ra một hơi thật dài.
Tiếng cào vách phía bên cô Tám làm ông Hai chú ý, nó là dấu hiệu đòi hỏi một sự trao đổi thông tin. Nó tương tự như tiếng gõ hoặc nhấn chuông gọi cửa .
Ông Hai lăn người qua, áp tai sát vách, mắt vẫn nhắm nghiền lại mà hỏi:
-Có chuyện gì vậy cô Tám.
Bên kia vách có tiếng nói nhỏ xíu:
-Không phải má, con là con Gọn nè !
Ông Hai mở mắt, ngó qua khe vách thấy cái tròng mắt đen thui, bèn hỏi:
-Có chuyện gì không con ?
Con Gọn nói nhỏ xíu như muỗi kêu:
-Cái xuồng của ông bị ông Tư nhậu ăn cắp rồi !
Ông Hai ngồi bật dậy, hỏi một cách ngớ ngẩn:
-Thiệt không ?
Con Gọn xuống thêm một tông:
-Thiệt !
Ông Hai nghe không rõ nhưng vẫn biết đó là lời xác nhận. Ông lấy chân đẩy cái chốt, cách mở cửa quen thuộc, rồi đứng lên nhìn.
Cái xuồng đã biến mất. Cây cầu đứng trơ trọi một mình. Cái ổ khóa nhỏ xíu, giống cái ổ khóa của cánh cửa trước, đã bị bể. Cái móc hình chữ U vẫn còn bám vào một đầu của sợi dây lòi tói. Sợi dây xích nằm vắt ngang cầu, hai đầu dây mấp mé mặt sông. Nó trông giống như hai cánh tay của một đứa bé đang nằm ép mình sát ván, cố vói tay xuống vọc nước.


Việc ông Hai mất xuồng khiến bà con xóm Đình vô cùng bất mãn.
Dân giang hồ có cái luật bất thành văn, cho dù túng, ngặt cách mấy cũng không lấy cắp của người nghèo, bởi cái điều đó đối với họ là hết sức bất nhân, bất nghĩa.
Năm Thẹo, một đại ca trong giới "Lương Sơn Bạc" tuy không hành nghề "đạo chích", nhưng lại tức tối vô cùng. Y có cảm giác như mình là một vị giáo chủ, bị cái tên đồ đệ phản phúc giấu mặt nào đó, hành sự tồi bại làm mất thanh danh của bổn giáo.
Y nói với Tư Lùn, đệ tử trung thành và duy nhứt của mình:
-Mầy đi điều tra coi cái thằng nào mà tác tệ đến vậy !
Tư Lùn mới theo Năm Thẹo học nghề được mấy tháng, rất muốn lập đầu công để sư phụ truyền hết bí kíp nên "dạ" một cái rụp liền.
Sáng hôm ấy, Tư Lùn đón đường cô Tám khi cổ bưng cái thúng xôi đã bán hết sạch đi về tới đầu xóm. Cô Tám ở sát vách nhà Hai Rác, không hỏi cổ thì hỏi ai ?
Cô Tám tuy bạo mồm, bạo miệng chớ nhát hít hà.
Cổ nghe tiếng kêu giựt ngược:
-Cô Tám !
Liền quay ngoắc lại nhìn. Nhận ra người gọi mình là ai, cổ bèn đổi sắc mặt liền.
Không phải cô Tám sợ Tư Lùn đòi nộp tiền "mãi lộ", chỉ vì hai đứa con gái sanh đôi của cổ, con Lẹ, con Gọn đã tới tuổi cập kê.
Con Lẹ đẹp nhứt xóm, được cô Tám cưng chìu hơn con Gọn. Cổ cho nó ăn học đàng hoàng với hy vọng là đứa con gái nầy sẽ giúp mình nở mày, nở mặt với thiên hạ.
Cổ sợ Tư Lùn xin cho tới nhà làm quen với con Lẹ, nên phát lo vì không biết phải từ chối cách nào để y không mất mặt mà sanh thù, sanh oán.
Cổ nghĩ ngay đến một cách, có gì thì nói là con Lẹ nó sắp lấy chồng, rồi gán con Gọn cho nó. Tư Lùn tuy thiếu thước, thiếu tấc. Y tuy lông bông, cà nhỏng nhưng coi cũng bảnh trai, chắc con Gọn hổng chê.
Đã có chủ ý rồi nên cô Tám không ngại phải đối mặt với Tư Lùn.
Cổ hỏi:
-Gì vậy Tư ?
Tư Lùn không thèm nói quanh co, hỏi thẳng:
-Cô có biết ai lấy cái xuồng của ông Hai không ?
Cô Tám thở phào nhẹ nhỏm.
Hôm đó chính mắt cổ thấy Tư Nhậu bẻ khóa, lấy cắp chiếc xuồng của ông Hai chứ ai ! Cổ là người căm phẩn việc nầy nhứt, vì nó sẽ ảnh hưởng đến cổ nhiều hơn ai hết.
Ông Hai mà mất xuồng thì đâu còn đi vớt củi. Cổ sẽ không còn được xài củi "chùa" nên số tiền lời kiếm được phải mẻ ra một miếng lớn.
Cổ vốn ghét cay, ghét đắng Tư Nhậu, thế nhưng biết y vốn tiểu nhân, chỉ vì miếng ăn mà tức tối đến nổi lấy cắp xuồng của ông Hai cho bỏ ghét. Cổ khai ra, y ta mà biết được chắc dám đốt nhà cổ luôn chớ chẳng chơi. Bởi vậy cho dù ngứa miệng hết sức, cô Tám cũng cố ghìm cho hai cái môi dính chặt cứng lại. Sợ cái tên "Tư Nhậu " nhảy ra ngoài rồi nổ tung như một quả bom .
Cổ lắc đầu:
-Tao không biết !
Tư Lùn nhìn lom lom vào mặt cô Tám, gằn giọng:
-Cô ở sát một bên, không biết sao được ?
Cô Tám bác lại:
-Ông Hai nằm trên xuồng ngủ để canh giữ, mà ổng còn hổng biết thì nói chi tao ?
Tư Lùn trợn tròn hai con mắt:
-Bộ ổng ngủ trên xuồng thiệt hả ?
Cô Tám sẵn trớn ghẹo luôn:
-Ừ ! Mầy kiếm ổng mà hỏi coi có đúng không ?
Tư Lùn bèn vọt qua mặt cô Tám đi xăm xăm tới nhà ông Hai.
Ông Hai còn chưa chui ra khỏi mùng, đang nằm "sầu đời" thì nghe tiếng gọi cửa:
-Chú Hai ơi ! Chú Hai !
Nghe cái giọng là ổng nhận ra ngay đó chính là Tư Lùn, cũng biết luôn cái mục đích của y, nên nằm im ru không thèm ừ hử gì ráo .
Tư Lùn gọi to hơn:
-Chú Hai ơi ! Có trong nhà không?
Vẫn không nghe tiếng ông Hai trả lời. Tư Lùn liền nhìn qua khe cửa, thấy mùng còn buông và một cái cuộn tròn tròn, dài thòn ở giữa.
Y biết chắc là ổng có ở nhà và đang ngủ nên nói to:
-Dậy đi chú Hai ơi ! Sáng bét rồi.
Ông Hai biết không thể nín hơi được nên hỏi :
-Có chuyện gì vậy Tư?
Tư Lùn giục:
-Chú ngồi dậy mở cửa cho tui vô đi, rồi tui nói cho chú nghe cái chuyện nầy hay lắm !
Ông Hai nói:
-Hay ho gì chú cũng chẳng muốn nghe. Chú mệt lắm ! Hồi tối không ngủ được nên bây giờ trong người oải dữ quá ! Không ngồi dậy nổi đâu !
Tư Lùn nói:
-Chuyện nầy có lợi cho chú lắm ! Ráng một chút thôi, rồi tui giúp chú kiếm lại chiếc xuồng !
Ông Hai bực bội. Chính vì không muốn nghe ai nhắc đến chuyện nầy mà cả ngày nay ông không ló mặt ra đường. Cho dù đói bụng gần chết cũng chẳng thà uống nước cầm hơi chớ chẳng dám ra đình ăn cơm ké. Ổng cố tránh luôn cái việc bị ông em của mình tra tới, gạn lui.
Tư Lùn cam kết:
-Chú đừng có sợ! Tui nghe cô Tám Gói nói, chú đang ngủ trên xuồng thì bị tụi đó ôm liệng xuống sông rồi lấy mất chiếc xuồng của chú. Có đúng như vậy không ?
Ông Hai kêu khổ trong bụng, than thầm:
-Cái cô Tám nầy, bộ không sợ tụi nó trả thù hay sao mà oang oang cái miệng. Cái chuyện nầy không khéo lây lan tùm lum, khiến cả xóm mang họa chớ chẳng chơi !
Nghĩ vậy nên ông nói:
-Cổ hiểu lầm đó ! Chú kẹt tiền nên bán xuồng chớ có bị ai ăn trộm, ăn cướp gì đâu .
Tư Lùn chưng hửng:
-Vậy mà bà con lối xóm đồn rần rần. Họ nói là ...
Ông Hai ngắt lời y một cách không thương tiếc :
-Chú lớn tuổi, lớn xác tới cỡ nầy mà để cho người ta ôm thảy xuống sông, lấy mất cái xuồng rồi nằm im không dám làm gì hay sao ?
Tư Lùn nghe có lý, nhưng hỏi thêm cho chắc ăn :
-Vậy là chú bán chiếc xuồng chớ không có bị ăn cướp hả ?
Ông Hai đáp:
-Ừ ! yên tâm đi, chú không sao hết ! Cám ơn bây hỏi thăm.
Tư Lùn chưa chịu im, hỏi miết:
-Bán xuồng rồi chú làm gì mà sống ?
Ông Hai nói bừa:
-Tao đi dạy ?
Y ngạc nhiên:
-Chú mà đi dạy ? Dạy thứ gì ?
Ông Hai đáp thí mạng cùi:
-Dạy tiếng Anh ?
Tư Lùn đâu chịu tin, gặng tiếp:
-Thiệt hông ? Biết tiếng Anh thì chú đi vớt rác làm gì cho cực ?
Ông Hai đổ quạu:
-Thì tại chú thích.
Tư Lùn chưa chịu bỏ ra về.
Sợ phải nghe hỏi thêm, ông Hai bèn đuổi thẳng tay:
-Thôi về đi để cho chú ngủ .
Tư Lùn đâu đành lòng dừng lại chỗ đó, y còn một nỗi thắc mắc nữa nên hỏi ráng :
-Hèn gì hôm trước thấy chú đi với một ông cán bộ. Ổng là ai vậy chú ?
Ông Hai bật cười trước câu hỏi của Tư Lùn. Bà con xóm Đình ngộ lắm ! Thấy mặt là đặt tên liền. Hể thấy ai ăn mặc sang trọng, bộ dạng giàu có thì gắn mác là cán bộ hoặc Việt kiều. Nếu ai trắng trẻo, đi tắc xi, xe hơi đến thì khẳng định là Việt Kiều. Ông Tiến đen thui, chạy xe Dream nên họ để ổng ở lại trong nước và phong cho làm cán bộ.
Ông Hai đành giải thích:
-Cán cày, cán cuốc chớ cán bộ gì ! Đó là bạn chú, ở chung quê, học chung trường.
Tư Lùn hỏi ngang:
-Chắc ổng rủ chú đi dạy với ổng hả ?
Ông Hai đáp:
-Ừ! Ổng có mở cái trung tâm dạy ngoại ngữ nên rủ chú về làm.
Tư Lùn khi không mà nghe mừng giùm cho ông Hai quá đổi !
Y xúi liền, giọng khắp khởi:
-Nhận lời liền đi chú. Làm cái nghề sang trọng, thơm tho đó đi. Bỏ quách cái nghề nầy, coi lúc đó có ai còn xem thường chú không cho biết !
Ông Hai đáp:
-Ừ !
Rồi nói tiếp:
-Cám ơn nghe, thôi bây đi về đi !

ư Lùn "dạ", lòng tràn ngập một niềm vui vì đã hoàn thành nghĩa vụ mà không cần phải đổ máu. Y bỗng nhận ra, chút cảm tình rất nhỏ nhoi dành cho ông Hai trước đây, bỗng nở phình trong lòng mình như mấy hạt hột é ngâm trong nước, bèn cư xử một cách rất có văn hóa.
Y chào:
-Cháu về nghe chú. Xin lỗi phá giấc ngủ của chú. Chú ngủ lại cho ngon nghe !
Ông Hai cảm động đáp:
-Cám ơn !
Câu chào của Tư Lùn giống dư vị của miếng gỏi sầu đâu vừa nuốt qua cổ họng. Cái đắng đã trôi qua chỉ còn lại một chút ngọt ngào trên đầu lưỡi.
Những người đa cảm như ông Hai, thì chỉ cần một sự quan tâm nhỏ bé như thế thôi cũng đủ, cũng khiến lòng ông lâng lâng, vui như khi ngắm cầu vồng trên trời.
Nắng đã lên cao và cây cầu vồng tan biến ngay khi từ tấm vách phía bên kia, có một tiếng tằng hắng khá to và giọng nói của ông Chín mài dao vọng sang:
-Hai ơi ! Qua uống với bác ly trà đi cháu.
Ông Chín ít khi gọi ông Hai bằng cháu và xưng bác. Ổng lớn tuổi nhứt xóm nên cứ bây bây, tao tao với tất cả mọi người. Ổng chỉ nói ngọt trong trường hợp yêu cầu đối phương làm những việc quá sức họ mà thôi. Cho nên khi ổng xài những từ ngữ mướt mượt thì phải lo ngừa trước, phải liệu cái hồn.
Ông Hai quá biết điều đó nên từ chối một cách khéo léo:
-Cháu đang bị cái bao tử hành cho nên hồi tối không ngủ được. Bây giờ nó mới chịu êm, cháu tính dỗ giấc một chút. Bác thông cảm giùm cháu.
Ông Chín thở dài rồi nói:
-Đáng lẽ bác để cho cháu ngủ, nhưng mà cái chuyện nầy gấp lắm, không nói liền là không có được. Bởi vậy cực chẳng đã bác mới làm phiền cháu.
Ông Hai đành phải hỏi:
-Chuyện gì vậy bác ?
Ông Chín đáp:
-Cái nhà của bác dài quá rồi, bây giờ nối ra nữa không được. Hôm qua bác lên phường xin. Họ nói bác mà cất thêm là cản trở lưu thông, bị tháo liền tay còn bị phạt tiền nữa.
Ông Hai linh cảm một tai họa còn lớn hơn chuyện mất xuồng đang lơ lửng trên đầu mình.
Ổng hồi họp hỏi:
-Vậy rồi bác tính làm sao ?
Ông Chín lại thở dài thượt :
-Bác định nói với cháu là làm ơn cho bác cặp cái chái sau lưng nhà cháu có được hông ? Chừng hai thước thôi hà, vừa đủ cho hai vợ chồng nó chui ra, chui vào chớ không cần lớn.
Ông Hai nghe như có một tảng đá vô hình, từ trên trời rơi thẳng xuống nằm đè lên ngực mình.
Ổng tha thiết với căn nhà của mình hơn bất cứ thứ gì đang có. Hơn cả mục "Thế giới đó đây" trên ti vi. Hơn cả tấm lòng mà bà con lối xóm dành cho. Hơn miếng xôi cháy của cô Tám. Hơn cả tô canh chua mà bà Chín thỉnh thoảng bưng qua biếu. Hơn cả chiếc xuồng. Hơn tất cả mấy thứ đó cộng chung lại.
Khoảnh khắc mà ông mong đợi nhứt trong ngày là vào những buổi chiều, bưng tô cơm, ngồi trên bậc cửa sau, vừa ăn vừa ngắm trời, ngắm mây, ngắm nước.
Những đêm rằm, trăng tròn và nước lớn, ông châm một bình trà ngon, không ở trong nhà mà mang ra cây cầu ngồi nhâm nhi. Uống một mình nhưng rót đến hai ly, một ly cho ông, một ly cho cái vị khách có cái mặt tròn vo đang lơ lửng trên trời.
Thú vị nhất là khi trăng thò mặt vào ly! Rình tới lúc ấy, ổng trịnh trọng nâng ly trà của mình lên, chạm nhẹ vào cái ly của khách rồi đưa lên môi uống.
Niềm vui nhỏ nhoi đó đối với ông hết sức là quý giá. Ông chịu đựng sự vất vả, chịu đựng sự xem thường của mọi người, chịu đựng sự tấn công dồn dập của muỗi và mùi sình lúc nước ròng để chỉ đổi lấy duy nhứt cái khoảnh khắc ấy, cùng không gian phía sau nhà mình.
Ông Chín thấy ông Hai im ru lâu quá, nên đề nghị :
-Để bác gởi cho cháu một số tiền coi như bác mua cái khúc sau đó, có được hông Hai ?
Ông Hai nghe vậy lại còn buồn thêm gấp bội. Cho dù ông có đang cần tiền gần chết, cũng không bao giờ chịu bán cái khoảng không vô giá của mình, với bất cứ giá nào.
Ông Chín đang tính thầm trong bụng coi phải trả bao nhiêu cho phải mua vừa bán, thì nghe có tiếng thở còn buồn và dài hơn hai tiếng thở dài ban nãy của ông cộng lại.
Lúc nầy ông Hai mới chịu mở miệng:
-Cái nghề của cháu là phải đi đi về về mỗi ngày mấy bận trên sông. Phải có cây cầu sau nhà để cặp cái xuồng vô. Cho nên nếu bác cần thì cháu nhường cho bác phía trước, còn cháu ở phía sau. Có điều bác phải chừa cho cháu vài tấc để làm con đường đi vô nhà.
Ông Chín mừng rơn:
-Bác cám ơn cháu không biết để đâu cho hết !
Tần ngần một chút ổng lại hỏi tiếp:
-Bác phải gởi cho cháu bao ...
Ông Hai ngắt ngang:
-Bác khỏi phải trả cho cháu đồng nào hết. Có điều...
Ông Chín đoán ra ông Hai định nói điều gì, nên nói:
-Cháu đừng có lo! Ép cháu lùi về phía sau là quá bụng lắm rồi ! Bác đâu phải là người không biết điều. Bác chẳng để cho cháu tốn xu nào đâu.
Thực ra ông Hai định yêu cầu ông Chín chừa một khoảng trống giữa hai nhà, để đôi bên đều có chút riêng tư, không cảm thấy bức rức vì mất tự do.
Rồi ông nói thầm:
-Mình cần gì phải đòi hỏi chuyện đó. Vợ chồng thằng Út còn mới tinh mà ! Tụi nó cần điều đó còn hơn mình nữa. Chắc chắn thằng Út nó sẽ chừa tới quá mức cần thiết luôn, để tha hồ mà nựng vợ !
Thế nên ông làm thinh, nhắm mắt lại để mời giấc ngủ.
Giấc ngủ chưa đến mà một người khách khác lại tới.
Lại một tiếng gọi vang dội trước cửa:
-Hùng ơi ! Hùng !
Chỉ có một người gọi ông bằng cái tên trong lớp đó mà thôi .
Ông Hai than thầm trong lòng:
-Mấy lúc trông có người tới nói chuyện cho đỡ buồn thì chẳng ai có mặt. Tới chừng muốn yên lặng, đừng nghe tiếng ai thì hết người nầy tới người kia gọi. Thiệt là khổ!
Ổng chán tới nổi nằm im ru giả chết, ông Tiến phải gọi thêm hai chập nữa mới chịu lên tiếng.
Ông Hai hỏi bằng cái giọng chán mứa :
-Có chuyện gì vậy mậy ?
Ông Tiến mừng húm:
-May quá ! Tao chợt nhớ ra là mầy dặn là tối hãy tới. Tao tính gọi thêm một lần nữa, mầy mà không lên tiếng là bỏ về rồi một lát quay trở lại.
Ông Hai hỏi:
-Bộ không chờ được tới tối hay sao ?
Ông Tiến thở ra:
-Chờ được thì tao đâu có kêu mầy giựt ngược.
Ông Hai gắt:
-Sao hôm kia không chịu nói ?
Ông Tiến đáp:
-Hôm kia còn yên, còn lành...Có cái gì đâu mà nói ? Nó mới xảy ra tức thì !
Ông Hai trù trừ:
-Bộ hết người rồi hay sao mà tìm tới tao ? Tao thì giúp gì được cho mầy đâu mà....
Ông Tiến không để cho ông Hai nói dứt câu, liền hỏi:
-Bộ bữa nay mầy không đi vớt rác hay sao mà nằm nướng tới giờ nầy ?
Ông Hai hỏi lại một câu y chang:
-Bộ bữa nay mầy không đi vớt tiền hay sao mà tới kiếm tao ?
Ông Tiến nói:
-Tao có chuyện nầy cần kíp lắm! Mầy mà không cứu chắc tao chết ngắc quá.
Ông Hai hỏi:
-Chuyện gì ?
Ông Tiến khẩn khoản:
-Mầy chịu khó ngồi dậy, mặc bộ đồ vía vô rồi đi với tao lại đây một lát !
Ông Hai hỏi:
-Đi đâu mà phải mặc đồ vía ?
Ông Tiến năn nỉ:
-Một chút lên xe rồi tao nói .
Để có tác dụng hơn, ổng bổ sung:
-Chuyện quan trọng lắm ! Sống chết chớ chẳng chơi .
Ông Hai ngập ngừng:
-Bộ đồ ăn nói của tao mới giặt chưa khô, làm sao mà mặc ?
Ông Tiến đáp :
-Thì mầy mặc bộ đồ khác !
Ông Hai cằn nhằn :
-Tao chỉ có mỗi bộ đồ đó là coi được thôi !
Ông Tiến nghĩ liền một cách, ổng nói:
-Được rồi ! Mầy khoan thay đồ, chờ tao một chút.
Ổng đề cho chiếc xe nổ máy, trước khi đi còn dặn :
-Mầy đừng có đi đâu nghe ! Tao quay lại liền.
Rồi rồ ga, vọt một cái ào.
Ông Hai hết mong ngủ lại, bèn ngồi dậy vắt mùng lên, đi rửa mặt đánh răng.
Ổng nhớ lại mấy câu đối đáp với Tư Lùn nên nghĩ:
-Chắc thằng Tiến đã nói chuyện với vợ về cái việc kéo mình về làm cho nó. Chắc vợ nó muốn gặp mình một lần nữa để phỏng vấn đây mà.
Nghĩ thế nên ông quyết định tổng vệ sinh thân thể. Tắm gội thật kỹ càng, còn lấy bàn chải chà mấy cái móng tay, móng chưn cho thiệt sạch để không làm bạn mất mặt.
Tóc chưa ráo nước thì đã nghe tiếng ông Tiến kêu om sòm:
-Hùng ơi ! Mở cửa cho tao đưa cái nầy .
Ông Hai một tay cầm khăn, một tay mở cửa. Ông Tiến đưa cho ông cái bọc rất to rồi nhìn cái khăn tắm te tua mà nói bằng cái giọng tiếc xót:
-Chết cha, tao quên mua cho mầy mấy cái khăn.
Rồi nói thêm:
-Mầy lấy một bộ trong nầy mà mặc nè !
Ông Hai mở ra. Trong túi toàn là quần áo mới tinh, chưa bóc "mạc", còn thẳng băng, giữ nguyên nếp gấp trong những cái bao trong suốt : Ba cái quần tây với ba màu nâu, đen, xám; Ba cái áo sơ mi tông xuyệt tông với quần; Mấy cái quần sọt ; Vài cái áo thun ba lỗ trắng tinh.
Ổng quở:
-Mua làm chi mà nhiều dữ thần ôn. Một bộ là đủ rồi .
Ông Tiến nói:
-Sắm một lần cho đỡ mất thì giờ, trước sau gì cũng cần tới chúng.
Thấy bạn sạch bong, ổng tỏ vẻ hài lòng, gật gù cái đầu rồi giục:
-Thay lẹ đi mầy !
Ông Hai khép cửa, dặn bạn:
-Chờ tao một chút, đừng có sốt ruột.
Lát sau, khi ông Hai mở cửa bước ra, ông Tiến kinh ngạc khi thấy bạn mình như thể đã lột xác, đã hoàn toàn khác xa cái con người mà ổng vừa thấy mới mấy giây trước, một trời, một vực.
Ông Tiến nhìn bạn, chép miệng, nói như phân bì với ông trời:
-Sao mầy sống thiếu tiện nghi mà trẻ hơn tao quá vậy ? Tóc chỉ hơi hoa râm nhưng còn rậm rạp, chớ chưa bị hói như tao. Da mặt cũng thẳng bon, không có tới một nếp nhăn. Còn đẹp trai con bà Hai quá cỡ !
Ông Hai đùa:
-Tao thiếu cái tài nên ông trời bù cho phần nhan sắc. Mầy có muốn đổi hông ?
Ông Tiến chặc lưỡi:
-Phải đổi được thì tao cũng đổi !
Ổng chờ ông Hai lấy đôi giày tây ra, lau bụi mang vào, rồi hỏi nhỏ:
-Mấy bộ đồ đó mắc tiền lắm! Nhà mầy cái cửa lỏng le, ổ khóa nhỏ xíu, coi chừng mất đó !
Ông Hai thở dài:
-Không sao đâu ! Tao mới bị mất cái xuồng rồi, chắc nó tạm tha ít hôm chớ không nỡ cạn tàu ráo máng, vét sạch nhà tao nữa đâu.
Ông Tiến hỏi:
-Bộ chiếc xuồng, cái cần câu cơm của mầy bị mất rồi hả ? Hồi nào vậy ?
Ông Hai đáp:
-Thì còn khi nào nữa ? Lúc đi với mầy đó !
Ông Tiến chẳng những không tỏ vẻ ăn năn cho phải đạo, đã vậy còn mừng ra mặt.
Ổng vừa cười, vừa nói:
-May quá ! Hồi nãy tao tính mua cái loa với cái bình ắc quy cho mầy mà gấp quá nên tính để lần khác. Nếu mua rồi thì biết xài vào việc gì ?
Ổng làm như cái xuồng mất là ông Hai phải bỏ luôn cái nghề vớt rác. Đâu có biết rằng ông Hai chỉ muốn dựa vào ổng để qua lúc ngặt nghèo. Chừng sắm nổi chiếc xuồng thì tiếp tục hành nghề trở lại.
Ông Hai hỏi:
-Nãy giờ mầy cứ hối, cứ nói là gấp gáp, là có chuyện rất quan trọng cần tao giúp. Chuyện gì vậy, nói cho tao nghe thử coi có làm được hay không ?
Ông Tiến gật đầu:
-Chắc chắn rồi ! Phải nói cho mầy biết rồi mới nhờ chớ !
Ông Hai nói:
-Hổng chừng là mấy giúp tao nhiều hơn tao giúp mầy nữa đó !
Ông Tiến hỏi :
-Sao mầy lại nói vậy ? Chuyện nầy đâu có đem lại lợi lộc cho mầy chút xíu nào đâu !
Ông Hai nghe vậy thì ngạc nhiên, bèn hỏi lại :
-Vậy ra chẳng phải mầy chở tao tới nhà cho bà xã mầy nắn gân, nắn cốt. Coi tao có đủ sức mà điều hành cái trung tâm ngoại ngữ của tụi bây sao ?
Ông Tiến lắc đầu nguầy nguậy :
-Chuyện đó thì ăn thua gì, tao quyết định một cái rụp đâu cần thông qua bả. Chuyện nầy quan trọng gấp cả trăm lần, không có mầy thì tao chết chắc !


Ông Hai nói với vẻ kém tự tin:
-Ngoài chuyện đó ra tao đâu còn giúp mầy được chuyện gì .
Ông Tiến khẳng định:
-Được, được mà ! Chỉ sợ mầy ngại mắc công...
Ông Hai nói:
-Công thì tao không lo mất. Bây giờ đang rảnh cả ngày, tao cũng muốn kiếm chuyện gì làm. Tay chưn bận bịu thì đầu óc mới thảnh thơi.
Xe chạy ngang qua khu vực bán hàng ăn. Khói từ mấy cái vỉ nướng thịt đặt sát bên lề, trước cửa của mấy cái quán bán cơm tấm, bún thịt nướng bay mù mịt. Chúng vâng lời chủ, chui vào mũi rồi chạy tọt vô bao tử của bất cứ ai đang đi trên đường. Cái dạ dày đang trống rổng của ông Hai, liền phát ra tiếng kêu rồn rột.
Ông Tiến chợt nhớ ra nên hỏi:
-Mầy có đói bụng chưa ?
Ông Hai đáp:
-Đói gần chết ! Hai ngày nay tao chưa có hột cơm nào bỏ bụng.
Ông Tiến ghẹo:
-Hèn gì vừa đi tới đây, khói mới đụng tới lỗ mũi là cái bao tử của mầy nó "queo khom " lia lịa.
Ông Hai cười, nói để gỡ quê:
-Mầy đừng có nhạo tao, thử nhịn đói một lần đi cho biết !
Ông Tiến đáp:
-Mầy làm như tao chưa bị đói lần nào !
Rồi nói như xưng tội:
-Cái số mầy coi bộ gian nan quá Hùng ơi !
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy nói vậy ?
Ông Tiến vừa cho xe ghé vào cái quán cơm tấm khá bề thế, trông rất sang, vừa nói:
-Hôm bữa đưa mầy về xong. Tao quay về nhà, vô bếp thấy ba cái hộp đồ ăn để trên bàn, tao tức muốn bể ruột. Chiều hôm đó đáng lẽ vợ chồng tao đi ăn đồ nướng, tao nhứt định trừng phạt mình với bả bằng cách ở nhà ăn cơm nguội với mấy món đó. Tao cảm thấy đem bỏ là có tội với mầy nhiều lắm !
Ông Hai kéo ghế ngồi xuống rồi hỏi:
-Mầy quên chớ bộ tại bà xã mầy sao mà...
Ông Tiến cãi :
-Tại bả làm tao quýnh lên, cứ đeo hỏi cái "chóp" của mầy hoài.
Ông Hai nghĩ thầm:
-Thằng nầy nó bị "méo mó nghề nghiệp" rồi ! Hở hở là chêm tiếng Anh.
Ông Tiến không ngồi xuống ghế mà bước thẳng lại cái tủ kiếng chứa thức ăn, chỉ tay vào từng món, ra lịnh cho người phụ nữ đang đứng bán:
-Cho hai dĩa, một cơm ít, một cơm nhiều. Dĩa cơm ít thì cho món nầy. Còn dĩa cơm nhiều thì lấy món nầy, món nầy, món nầy, món nầy.
Thấy ông khách coi bộ sộp quá, kêu toàn những món mắc tiền. Người phụ nữ, có lẽ là bà chủ, mặt mày tươi rói, vâng, dạ liền miệng.
Ông Tiến vừa quay lưng bỗng chợt nhớ ra, bảo:
-Làm liền nghe !
Lần nầy không riêng gì bả, cả cô gái đang cầm cái khăn trắng tinh lau cái bàn trống mà khách vừa đứng đậy đi, cũng "dạ" một tiếng thật to.
Ông Hai nhìn bạn, so sánh ông Tiến doanh nhân hôm nay với cậu sinh viên ngày nào. Chợt cảm nhận một cách hết sức sâu sắc sức mạnh của đồng tiền.
Chỉ mấy phút sau, cô gái phục vụ hai tay bưng hai dĩa cơm đến đặt lên bàn của họ liền.
Ông Tiến kéo cái dĩa cơm ít về phía mình, đẩy cái dĩa to, đầy tú hụ với nào là sườn nướng, lạp xưởng chiên, tôm kho tàu, chả cua về phía bạn.
Ông Hai nhìn cái dĩa cơm to đùng của mình, rồi tới cái dĩa ít xịt với chỉ một cái trứng ốp la nằm trên lớp mỡ hành của bạn, hỏi một cách ngạc nhiên:
-Sao bây giờ mầy ăn ít dữ vậy ?
Ông Tiến nói:
-Tao cũng không biết !
Ông Hai vừa múc nước mắm rưới lên cơm vừa nói:
-Tao thấy cái bụng của mầy binh rỉnh, cứ tưởng mầy ăn gấp hai, gấp ba lúc trước.
Ông Tiến thở dài:
-Hồi đó ăn quá trời mà lúc nào cũng đói. Cái bụng lúc nào cũng lép xẹp. Nói thiệt với mầy chớ lúc đó tao nằm chiêm bao thấy đồ ăn nhiều hơn thấy gái. Còn bây giờ thì...
Ông Hai nối theo:
-Thấy gái nhiều hơn thấy đồ ăn.
Câu nói của ông Hai khiến ông Tiến nhớ lại cái tình cảnh rối rắm đang đương đầu nên no ngang. Ổng không đụng tới dĩa cơm, mà gọi:
-Cho một ly cà phê sữa đá !
Rồi hỏi ông Hai:
-Mầy uống gì ?
Ông Hai đáp:
-Trà đá !
Thấy ông Tiến không cầm muỗng lên, ổng hỏi:
-Sao mầy không ăn ?
Ông Tiến đáp xuôi xị:
-Tao đang lo quá nên ăn không vô.
Ông Hai ngưng nhai, hỏi:
-Chuyện gì mà lo ?
Ông Tiến chưa kịp trả lời, điện thoại trong túi đã réo inh ỏi.
Ổng móc cái điện thoại màu đen ra, bấm ngón tay vô một cái núc rồi đặt lên lỗ tai, ghé miệng hỏi:
-Alô?
Có tiếng khe khẻ phát ra từ trong đó. Ông Tiến vừa ừ vừa gật đầu từng chập, gật đúng sáu cái ổng mới bắt đầu nói. Giọng khẻ khàng năn nỉ:
-Anh sắp đến rồi, chừng hai mươi phút nữa thôi. Em ráng chịu đựng, ráng trấn an ổng. Đừng có lo, anh đã có cách giải quyết. Mình đã gặp cứu tinh rồi !
Ông Hai nghe lõm bõm, tiếng con gái từ đầu dây bên kia vọng tới:
-Anh mà không...là em tự tử...chết cùng một lượt.
Ổng không dám hỏi sợ bạn chê mình nghe lén. Giả bộ tập trung vào dĩa cơm, nhưng trong bụng rất nôn nao chờ nghe ông Tiến giải thích.
Ông Tiến đoán ra ngay là bạn mình đang chờ đợi điều gì. Ổng ho khan một tiếng, cố đẩy cái nút vô hình đang trám trong cổ họng vọt ra ngoài.
Ổng hỏi:
-Mầy biết ai vừa gọi cho tao hông ?
Ông Hai làm bộ miễn cưỡng:
-Ai vậy ?
Ông Tiến thở dài:
-Con bồ của tao !
Ông Hai hỏi:
-Cổ nói chuyện gì mà cái mặt mầy bí xị vậy ?
Ông Tiến đưa tay lên cái đỉnh đầu lưa thưa tóc của mình, gãi sồn sột rồi nói:
-Hôm qua ông già, bà già của nó cùng xuống Sài gòn, vừa thăm con gái vừa khám bịnh. Ổng bả rảnh rang quá nên dọn dẹp, sắp xếp đồ đạc, giấy tờ của nó rồi phát hiện cái sổ khám thai. Ổng đang "quậy" tưng bừng, bắt nó phải giao nộp thủ phạm cho ổng.
Ông Hai không ăn cá mà bỗng bị triệu chứng mắc xương. Ổng há hốc rồi nuốt một cách hết sức khó khăn cái miếng cơm đang nằm trong miệng.
Ông Tiến nói tiếp:
-Nó hăm he, tao mà không giải quyết là nó tự vận...
Ông Hai hỏi:
-Mầy không thú thiệt với vợ được sao ?
Ông Tiến lắc đầu:
-Vợ tao ngoài cái bệnh ghen, còn có cái bệnh sĩ diện nữa mầy ơi ! Bả mà biết là tống tao ra khỏi nhà, lột sạch sẽ, chỉ chừa cho tao mỗi một cái quần xà lỏn trên người mà thôi! Con bồ của tao cũng không được yên thân đâu. Mầy không biết đòn ghen là đòn trí mạng hay sao?
Ông Hai hỏi:
-Có phải vì vậy mà mầy định nhờ tao ...
Ông Tiến gật đầu:
-Mầy làm ơn đóng vai tao, tới trình diện rồi ...
Nói tới đó ổng ngắc ngứ.
Ông Hai hỏi:
-Rồi sao nữa ?
Ông Tiến nhìn ông Hai bằng đôi mắt chứa đựng vô số dấu chấm than, khiến ông Hai không chịu nổi phải cúi mặt nhìn xuống cái dĩa thức ăn của mình.
Ổng nói bằng giọng van nài:
-Mầy ráng đáp ứng yêu cầu của ổng. Ráng giúp giữ đứa con của tao lại giùm !
Ông Hai thở dài hỏi:
-Mầy có biết là đang đòi hỏi tao làm một việc quá sức hay không ?
Ông Tiến đáp:
-Tao biết nhưng đâu còn cách nào...
Ông Hai nói:
-Sao mầy không thuê người tổ chức một cái đám cưới giả, mướn một chú rể giả...
Ông Tiến lắc đầu:
-Cái đó nguy hiểm lắm ! Rủi cái tụi đó, chúng nắm được cái bí mật mà tao che giấu, chúng quay sang tống tiền thì còn rắc rối, còn sanh ra không biết bao nhiêu điều tệ hại. Hậu quả khó lường lắm mầy ơi ! Tại tao muốn có con quá, chớ mầy biết tao đâu có thuộc cái típ hảo ngọt.
Ông Hai lắc đầu:
-Nhiều cặp vợ chồng không con họ sống với nhau đầm ấm lắm. Không có con cái, họ còn có nhiều thì giờ dành cho nhau và thương nhau hơn.
Ông Tiến cười buồn:
-Những cặp đó, chín mươi chín phần trăm lỗi thuộc về người chồng, chỉ có phụ nữ mới có lòng bao dung, an phận với hoàn cảnh đó mà thôi !
Ổng nói thêm:
-Tao biết từ lúc đi học, mầy đã ôm mộng trở thành một người có ích. Mầy chọn việc vớt rác đâu phải vì kế sinh nhai, chỉ vì muốn làm chuyện tốt, đúng không ?
Ổng nhìn vào mắt ông Hai để thăm dò phản ứng. Thấy có chút hy vọng bèn bồi thêm:
-Tao hỏi mầy ! Còn có điều gì tốt hơn là cứu mạng người. Đâu phải chỉ tánh mạng của hai mẹ con nó mà kéo theo luôn cả một gia đình. Nào là cha mẹ, anh, chị, em...Có khi còn lây lan qua họ hàng nội, ngoại.
Ông Hai hỏi một cách phẩn nộ:
-Vậy mầy không định chết theo luôn sao ? Mầy gây tội tày trời rồi nhỏ mấy giọt nước mắt, rồi quên, rồi lập lại trên một người phụ nữ khác !
Ông Tiến chấp tay, xá dài rồi nói:
-Một lần nầy tao tởn tới già rồi. Chuyện nầy mà xong xuôi, tao sẽ giúp cho nó một số tiền lớn để nó có đủ điều kiện nuôi con tao. Chừng nào còn sống tao còn chu cấp cho hai mẹ con nó đầy đủ.
Ông Hai hỏi:
-Bộ mầy tính chia tay với cổ hả ? Mầy không sợ ảnh hưởng tới tính cách của con mầy sao ? Mấy đứa trẻ bị mang tiếng con hoang mặc cảm lắm !
Ông Tiến lắc đầu:
-Tao cố gắng làm đầy đủ bổn phận của mình. Thiếu gì trường hợp khi người chồng chết bà vợ mới biết ông ta đã ngoại tình, đã có con riêng.
Ông Hai hỏi tiếp:
-Mầy tính sống cảnh núp lén, với sự lo sợ rình rập bên mình nầy suốt đời hay sao ?
Ông Tiến đáp:
-Tới đâu hay tới đó ! Biết đâu vợ tao đổi tánh, hết ghen và tha thứ cho tao. Biết đâu bả...
Nói tới đó ổng dừng lại.
Ông Hai mai mỉa:
-Chết !
Ông Tiến nhìn ông hai bằng đôi mắt tràn đầy khổ đau và xấu hổ.
Ổng thở dài rồi hỏi :
-Mầy chửi kiểu nầy chắc không chịu giúp tao phải hông?
Ông Hai cũng thở dài:
-Chính vì không nỡ không giúp mầy nên tao mới tức, mới chửi cho đã miệng. Cái bọn nhà giàu tụi bây, làm ăn bầy hầy, xả rác tùm lum rồi bắt tụi tao dọn gần chết !
Ông Tiến thở ra một cái khì. Ổng muốn nói lời cám ơn mà thấy nó quá tầm thường, không thể diễn đạt hết cái tình cảm của mình đối với bạn lúc nầy nên im luôn.
Ông Hai nhắc:
-Mầy ăn cho hết dĩa cơm rồi mình đi.
Ông Tiến tuy mừng đến không thấy đói, nhưng cũng riu ríu nghe theo.
Lúc trả tiền, ổng boa cho người phục vụ tất cả số tiền lẻ khiến cô ta mừng tới nín thở.
Ông Hai nghĩ thầm :
-Cái thằng nầy cũng chưa đến đổi tệ lắm !
Chiếc xe lại chạy bon bon. Cả hai đều lặng thinh. Ông Hai lo nhìn quang cảnh hai bên đường. Bình Chánh là một quận vùng ven, địa thế trũng nên có rất nhiều kinh rạch.
Ông Hai cảm thấy lòng buồn vô hạn khi nhận ra tận nơi nầy, các con kinh cũng bị rác xâm chiếm. Mấy cái bọc ni lông trôi lều bều trên mặt nước, một số mắc kẹt trên những bè rau muống trồng dọc theo bờ. Vỏ dừa, củi mục tấp nập, không thua kém mấy con kinh ở nội đô chút nào.
Ông Tiến bỏ con lộ lớn trải nhựa để rẽ vào một con đường đất nhỏ, rồi thình lình thắng lại trước căn nhà đúc một tầng, có hàng rào xi măng cao nghệu.
Ổng không xuống xe mà vói tay nhấn chuông.
Đáp lại tiếng chuông là tiếng chân chạy vội cùng giọng nói của một người con gái :
-Ảnh tới rồi đó !
Cánh cửa sắt khá kiên cố được kéo qua một bên. Gương mặt của cô gái thò ra. Thấy người lạ cổ bèn cúi đầu thật thấp để chào, không nói một tiếng nào.
Bàn tay ông Hai như bị mắc kẹt vào sợi dây nón. Ổng nhìn trân trối cô gái, đúng hơn là nhìn chăm chăm vào gương mặt khá xinh đang ngước nhìn mình.
Không phải gương mặt hơi tròn với làn da trắng mịn, không phải đôi môi đầy gợi cảm, không phải đôi mắt rất đẹp, rất trong... Không phải sự phối hợp hài hòa của chúng đã tạo thành một nét đẹp rất thuần phác, thu hút mất hồn ông. Chính bởi cái nút ruồi đen, nhỏ bằng hột ổi nằm ngay trên chót mũi xinh xinh của cô ta đã khiến ông kinh ngạc, chết đứng như vừa bị điểm vào tử huyệt !

Cũng may mà ông Tiến đang chăm chú quan sát chiến trường. Ổng đang phóng tia mắt về phía trước, nhìn đăm đăm vào nhà, xem đối phương có đang phục kích họ không, chẳng để ý chút nào đến việc ông Hai đang đứng chết sửng sau lưng. Nếu quay lại nhìn biết đâu ổng cho rằng bạn mình...rồi đổ ghè tương lênh láng.
Cô gái thì có ! Cô cảm nhận tia mắt sửng sốt và nét mặt choáng váng của ông Hai. Cổ cười mỉa trong bụng, nhủ thầm một cách tự hào:
-Cha nội nầy coi bộ bị sét đánh trúng rồi.
Qua giây phút bàng hoàng, ông Hai cũng dần trấn tĩnh. Ông liếc nhìn cô gái để thăm dò phản ứng. Thấy cô ta tỉnh rụi, ổng biết cổ không nhận ra mình nên thở phào nhẹ nhỏm.
Ông Tiến vừa thò tay ra sau lưng để kéo tay ông Hai, vừa nói:
-Đi mầy !
Ổng cố tình để ông Hai đi trước mình. Họ vừa đặt chưn tới thềm là được một đôi vợ chồng lớn tuổi, có lẽ đã chực sẵn bước ra nghênh tiếp.
Người phụ nữ nhỏ thó, có dáng điệu rụt rè và cái nhìn hiền khô. Bả ngó ông Hai với cái miệng he hé như phân vân không biết có nên cười một cái hay không ?
Người đàn ông trạc tuổi ông Chín mài dao thì hoàn toàn ngược lại. Đôi mắt ông ta như hai mũi khoan, đang khoét hai cái lỗ tròn vo, sâu hút trên gương mặt ông Hai.
Ông Hai bỗng nghe mình trẻ ra đến ba, bốn chục tuổi. Cái cảm giác của người ăn vụng bị bắt gặp đã chìm sâu trong dạ, tưởng đâu hoàn toàn chết ngộp, nào ngờ lại hồi sinh một cách vô cùng mãnh liệt. Cho dù lần nầy ổng hoàn toàn vô tội, bởi đâu chấm mút chút nào !
Ổng, người tự cho mình là "cây ngay không sợ chết đứng", không ngán bất cứ một ông nhỏ, ông lớn nào, đôi phen còn lên tiếng bắt bẻ ông trời. Bây giờ chợt rung cái cẳng trước cái ông "cha vợ" nầy.
Ông Hai cúi gập cái đầu, chào một cách lễ phép:
-Con kính chào hai bác !
Ông "cha vợ " bèn tằng hắng một tiếng rất to để thị uy rồi hỏi:
-Cậu là thằng Dũng, bồ của con Thư phải không ?
Ông Hai chưa biết trả lời sao thì cô gái đã nói hớt :
-Ba để cho anh Dũng với bạn ảnh ngồi xuống rồi muốn hỏi bao nhiêu thì hỏi .
Nghe con gái nhắc một cách trịnh trọng, liếc thấy cả hai đều "đường đường một đấng...". Ổng bèn chỉ tay vào bộ sa lông rồi mời, xuống giọng đến mấy tông:
-Hai cậu ngồi đi !
Rồi ngồi xuống cái ghế dài nhứt, đặt ngay chính giữa trước.
Ổng ngoắc bà vợ của mình- bả đang quay lưng, dợm cẳng, chắc có ý định rút lui vào hậu trường- vỗ tay lên chỗ trống bên cạnh một cái "bộp" rồi bảo:
-Bà lại đây mà ngồi.
Bà ta riu ríu tuân theo.
Ông Tiến, tên tội đồ đích thực, ung dung ngồi xuống cái ghế phía trái. Ông Hai, vẫn chưa được phục hồi nhân phẩm, ngồi một cách rụt rè lên cái ghế đối diện.
Chờ ông Hai an tọa xong. Ông "cha vợ" bắt đầu sát hạch liền.
Ổng nhập đề theo lối "trực khởi" :
-Bây giờ cậu tính sao ? Cưới hay là không ?
Ông Hai chưa kịp đáp, thì ổng lại hỏi tiếp, giọng có phần nghiêm khắc hơn:
-Cậu có vợ con gì không ?
Ông Hai đáp vội:
-Dạ không !
Ông "cha vợ " hỏi lại :
-Không là không cái gì ? Không có cưới, hay là không có vợ ? Nói cho rõ ràng !
Ông Hai "điền vào chỗ trống " thật chính xác :
-Dạ cưới và con chưa có vợ.
Ông "cha vợ " vẫn chưa yên bụng, điều tra tiếp:
-Làm cái giống gì mà tới cái tuổi nầy còn chưa chịu lấy vợ ?
Ông Hai đáp:
-Tại con lo làm ăn, công việc chiếm hết thời giờ nên chưa rảnh...
Ổng nạt ngang:
-Vậy lấy thời gian ở đâu mà de con Thư rồi làm cho nó mang bầu vậy ?
Ông Hai cứng họng.
Cô gái tên Thư vội đỡ lời:
-Ảnh bị tam tai, xui tới ba năm. Cái năm nay kỵ tuổi của ảnh dữ lắm ! Tụi con định để qua...
Ổng đập tay xuống bàn một cái rầm, hỏi:
-Để tới chừng nào ? Để bôi tro, trét trấu lên mặt tao với má mầy thêm mấy lớp nữa hả ?
Cả nhà ngồi im ru. Cô gái cúi đầu, hai giọt nước mắt rơi lên vạt áo.
Ổng lại đập tay lên bàn, lần nầy còn mạnh hơn, nói như quát:
-Bây giờ phải làm đám cưới liền tay, cho dù kỵ tới toi mạng cũng phải làm. Để cái bụng thè lè ra là mang nhục với bà con, họ hàng đó, biết chưa ?
Bà vợ lấy tay sờ nhẹ lên bàn tay của chồng rồi nói, giọng nhẹ hều:
-Ông nói nhỏ nhỏ một chút, hông thôi lối xóm họ nghe được, họ cười.
Bả quên rằng hể mình mà khuyên là chồng đều làm ngược lại.
Ổng quát to:
-Cái thằng nầy nó đi muốn mòn mấy con đường ở đây rồi. Tụi nó qua lại, tới lui, ăn giầm, nằm dề với nhau hà rầm, còn ai không biết nữa mà bày đặt giấu.
Ông Tiến đến lúc nầy mới lên tiếng:
-Xin bác bình tĩnh, để ...
Ổng mới nói tới đó là bị chặn họng, ông "cha vợ" của ổng hỏi liền:
-Cậu là cái gì của thằng Dũng ?
Ông Tiến đáp:
-Tụi con chỉ là bạn, nhưng thân còn hơn anh em ruột. Hai đứa con làm ăn chung với nhau...Con sẽ đứng ra tổ chức lễ cưới cho ảnh.
Ổng liền hỏi:
-Cha mẹ, anh chị em nó đâu mà không làm việc đó ?
Ông Tiến đáp đại:
-Ảnh chỉ có một mình thôi !
Nghe ông Tiến giải thích, ông "cha vợ " cảm thấy mũi lòng. Ổng liền dịu giọng, quay mặt về phía ông Hai hỏi thêm cho chắc ăn:
-Vậy ra cậu là con mồ côi hả ?
Ông Hai "dạ" một tiếng nhỏ xíu.
Ổng thở ra một hơi rồi nói:
-Như vậy cũng tốt, làm một đám phía nhà gái thôi, mà phải tổ chức cho đàng hoàng. Phải lạy bàn thờ ra mắt cữu huyền, trình diện với bà con bên nội, bên ngoại đều đủ. Phải làm cho thiệt tình chớ không được "hình thức", phải đãi đằng coi sao cho được đó nghe không ?
Rồi ổng nắm chặt cứng bàn tay như kềm con cá không cho nhảy ra, đập lên bàn mà nói:
-Bữa nay hai đứa đi sắm đồ.
Ổng đập tay thêm lần thứ nhì:
-Ngày mai đi về nhà.
Đập tay lần thứ ba:
-Ngày mốt là làm đám...
Bà vợ nhắc nhở:
-Ngày mốt là mùng năm đó ông !
Ổng nạt rân:
-Mùng năm, mùng sáu gì cũng kệ !
Lần nầy bà vợ không chịu nhịn, bả nói:
-Chậm lại một ngày có mất miếng nào đâu ? Tụi nó ăn đời ở kiếp với nhau, phải lựa ngày cho kỹ. Rủi có bề gì thì ở chưa nát chiếc chiếu là...
Ổng ngắt ngang:
-Vậy sao cái lúc "xáp lá cà" tụi nó không coi ngày cho kỹ đi. Đến non nước nầy thì coi ngày sao kịp. Có bỏ mạng hết hai đứa tui cũng không xót ruột chút nào.
Bả vẫn khăng khăng:
-Ông đừng có giận quá rồi mất trí, bộ không nghe ông bà dạy hay sao ?
Rồi bả đọc liền:
-"Mùng năm, mười bốn, hăm ba. Đủ ba ngày đó chớ ra ngoài đường ". Cho dù mình làm thí mạng đi nữa, bà con, nhứt là mấy người ở xa, chưa chắc họ dám đi.
Lần nầy ổng không cự lại nên bả mạnh dạn nói thêm:
-Đám cưới ít gì cũng phải mời trước một tuần. Dân làm ruộng đâu có tiền nhiều trong túi. Phải để cho người ta có thì giờ kêu bán lúa, mới có mà bỏ vô bao thơ chớ. Đi tay không ai mà dám tới. Mình nấu linh đình rồi chẳng có ai ăn, lúc đó lỡ làng hết trơn ! Mất tiền không nói gì mà còn ê mặt nữa.
Ông "cha vợ" làm thinh. Ổng tức mình vì rốt cuộc lần nào bả cũng thắng. Ổng quay sang đổ cục "tức" của mình lên đầu ông Hai.
Ổng nói một cách hằn học:
-Trăm sự cũng do cậu mà ra. Tại sao không nín nhịn chờ cưới xong rồi hãy...Tai sao đầu hai thứ tóc rồi mà còn bồng bột như con nít vậy hả ?
Ông Hai gãi đầu:
-Xin bác tha lỗi cho con...
Ổng định nói thêm :
-Con hứa sẽ làm một người chồng tốt !
Nhưng rồi kịp nghĩ. Ổng nhận ra điều đó quá sức chịu đựng của mình, bèn thắng lại liền.

Bà má của Thư bỗng hỏi ông Hai:
-Nhà cháu ở đâu ?
Câu hỏi quá đơn giản nhưng lại làm cho cả ông Hai lẫn ông Tiến rụng rời.
Ông Tiến không hổ danh "phù thủy" mà bạn bè trong giới doanh nhân đặt cho. Trong lúc ông Hai còn đang lúng túng, ổng trả lời thay cho bạn:
-Công việc của tụi con phải đi đây, đi đó nhiều lắm ! Tụi con có một chi nhánh ở Hà Nội cho nên ảnh phải túc trực ngoài đó, khi nào về Sài gòn thì...
Nói tới đó ổng ngưng lại liền, bỏ câu nói treo lửng lơ. Đây là một tình huống bất ngờ phát sinh, không có trong kịch bản. Ổng phải cương đại để đối phó, nên cần dè dặt, tiết kiệm lời nói một cách tối đa. Bởi đâu biết Thư diễn tả về ông bồ của mình như thế nào với ba, má cổ.
Thư nhanh trí nên nói một lèo:
-Khi nào về Sài gòn thì ảnh mướn một phòng trong khách sạn để ở. Mà cũng ít khi về lắm, năm ba tháng mới về một lần. Tụi con hiếm khi gặp nhau lắm !
Bà "má vợ" chắc lưỡi:
-Sao không về đây ở mà mướn khách sạn làm chi cho tốn tiền ?
Lúc nầy ông Hai mới chịu nhập vai.
Ổng đáp:
-Tụi con chưa cưới nên phải giữ thể diện cho cổ.
Bà "má vợ" hỏi tiếp:
-Vậy rồi cưới xong phải tính làm sao ? Hổng lẽ cứ vợ trong Nam, chồng ngoài Bắc ? Con Thư đang mang bầu mà ở một mình đâu có được.
Bả vừa nói vừa nhìn đăm đăm vào mặt ông Hai.
Ông Hai chới với, chưa biết trả lời sao thì bả bồi thêm một câu:
-Rủi nó chuyển bụng bất tử thì ai đưa đi đẻ ?
Ông Tiến lật đật cứu nguy:
-Tới đó chắc tụi con phải thu xếp lại. Con sẽ ra ngoài ấy còn ảnh ở trong nầy.
Bả bỗng quay qua hỏi thăm ông Tiến:
-Chắc cậu đã có gia đình rồi phải hông ? Vợ có đi làm hông ? Được mấy cháu rồi? Nhà ở đâu ?
Bả hỏi dồn dập khiến ông Tiến tối tăm mặt mũi. Ổng chưa kịp đáp thì may thay, cái điện thoại trong túi reo lên. Ổng lật đật móc ra rồi nói như xin lỗi:
-Con xin phép ra ngoài sân để nghe điện thoại.
Lát sau ổng đi vào rồi nói với ông Hai:
-Chắc tao phải chở mầy về ngay lập tức vì ở trung tâm đang có việc cần.
Ông "cha vợ" nhắc:
-Bộ tụi bây không nghĩ được một vài ngày để lo vụ đám cưới hay sao ?
Ông Tiến lắc đầu, đáp:
-Tụi con xin lỗi bác, việc nầy gấp rút lắm, không có mặt để giải quyết là không xong. Nhờ bác và bác gái dắt Thư đi sắm sửa giùm tụi con.
Ổng nói vừa dứt là móc cái bóp trong túi quần ra, rút không cần đếm mấy tờ giấy màu xanh có in hình một ông tây có cái lỗ mũi cao nhồng.
Ổng đưa cho bà má vợ rồi nói:
-Đáng lẽ cái chuyện sắm trang sức cho cô dâu là của đàng trai, nhưng tụi con không có thời gian. Bác làm ơn cầm số tiền nầy để mua nữ trang và lễ vật các thứ. Nếu có thiếu thì nói, con sẽ đưa thêm. Xin bác đừng có ngại, cứ chuẩn bị chu đáo giùm.
Bà má vợ cầm trên tay mấy tờ tiền ông Tiến vừa đưa, nhìn chăm chú rồi hỏi:
-Tiền gì mà kỳ cục quá ! Có xài được hông vậy ?
Thư vội cắt nghĩa:
-Cái nầy là đô la, là tiền của Mỹ đó má !
Bả lập lại câu hỏi :
-Vậy rồi xài ở đây có được hông ?
Thư cười:
-Được chớ má ! Một tờ như vầy là mua được hơn hai chỉ vàng lận đó !
Bà má giựt mình, nhìn xấp tiền trong tay rồi hỏi:
-Bây nhiêu đây chắc mua được năm bảy cây vàng chớ đâu có ít ?
Thư gật đầu, xác nhận:
-Đúng vậy đó má !
Chẳng những bà má mà hình như cả ông ba vợ cũng ngạc nhiên. Cả hai cùng nhìn chăm chú vào mấy tờ giấy hình chữ nhựt, nho nhỏ, xanh xanh ấy, một cách e dè.
Nhân lúc họ còn choáng, ông Tiến nháy mắt ra hiệu cho ông Hai, rồi nói:
-Tụi con xin phép hai bác.
Ông "cha vợ" gật đầu:
-Có công chuyện cần giải quyết thì đi đi, nhưng chiều nay phải ghé ăn cơm đó nghe !
Thấy cả hai còn trù trừ chưa chịu đồng ý. Ổng lấy làm mích lòng, bèn cung cấp thêm một thông tin vô cùng "hấp dẫn" để tăng thêm sức thuyết phục:
-Má con Thư có đem lên một con vịt xiêm ú nù, một hủ chao chùa với bó rau muống non xèo. Bả nấu cái món vịt nấu chao mát tay lắm, tính làm cho con Thư nó ăn.
Rồi nói thêm bằng giọng tiếc rẻ:
-Bác cũng có xách theo một chai rượu gạo. Phải chi biết trước lên đây gặp tụi cháu là bác bưng luôn cái hủ rượu ngâm bìm bịp của bác lên.
Thấy không thể từ chối, ông Tiến bèn đáp:
-Con sẽ ráng làm lẹ cho xong rồi tới hầu rượu bác. Chắc tụi con đến hơi trễ, xin hai bác đừng đợi cơm mà cứ dùng trước, đừng để đói quá rồi ăn mất ngon!
Không chờ để thấy cái gật đầu của hai ông bà. Họ vọt liền.
Ra tới ngoài đường ông Tiến thở một hơi dài:
-Hú hồn! May mà vợ tao gọi chớ không thôi bị bả hỏi hết chuyện nầy tới chuyện khác, vặn vẹo đầu nầy đầu kia, chắc tao chịu không nổi, nói tùm lum không khéo bị lòi chành té bứa hết trơn, hết trọi !
Ông Hai làm thinh không đáp.
Ông Tiến nói tiếp:
-Ổng coi vậy mà dễ đối phó. Bả mới là người tỉ mỉ nghe mậy ! Tao để ý thấy bả quan sát mầy kỹ dữ lắm đó ! Mà sao mầy không chịu nhìn Thư. Không nói với nó một câu nào hết vậy ?
Ông Hai vẫn làm thinh. Ông Tiến đâu biết là mình đã vô tình xát muối vào vết thương mới tinh, còn đang chảy máu ròng ròng của bạn.
Việc gặp lại Thư, người con gái mà ông vớt được trên sông ngày xưa, giờ là gái bao của ông Tiến khiến ông Hai chới với. Ổng như người đang vừa đi vừa ngước mặt ngắm trăng, bỗng bất ngờ đặt chân lên miệng lỗ, rớt cái đùng vào một hố sâu cả trăm thước rồi không thể trèo ra nổi.
Bấy lâu nay ổng xem việc cứu Thư là niềm an ủi, là chai thuốc bổ kiêm chức năng giải độc thần kỳ. Nó giúp ổng lấy lại năng lượng và trong lành hóa cái bộ óc đang có nguy cơ nhiễm độc của mình.
Có những buổi sáng, nhìn con kênh đầy rác, ông Hai nghe buồn vô hạn vì nhận ra mình tốn công vô ích. Công việc nầy cũng giống như đem từng nắm muối bỏ xuống biển. Điều mong mỏi của ổng thật là vô vọng. Chẳng ai thèm để ý, chẳng thể khiến mọi người xúc động rồi thay đổi lối cư xử của họ đối với con kinh. Họ vẫn thoải mái vứt vào đó bất cứ thứ gì không dùng được nữa.
Những lúc đó ổng xót xa nhận ra mình thật là vô dụng, thật là bất lực rồi nản lòng chỉ muốn buông xuống cái cây dầm đang cầm trong tay.
Đã vậy có nhiều người còn nhìn ông một cách dè bĩu. Đa số họ đều nghĩ sai về mục đích của ổng. Có người lại liệt ông vô cái dạng khật khùng.
Rồi ông bỗng nhớ lại cô gái mà mình cứu, thế là vơi bớt niềm thống khổ đang trĩu nặng, từ từ ngoi lên để tiếp tục theo đuổi công việc của mình.
Vì rất ít tiếp xúc với mọi người nên mỗi cuộc gặp gỡ đều để lại trong ông Hai một dấu ấn khó phai. Ổng thường xuyên nhớ đến cái cô gái có nốt ruồi trên chót mũi đó. Một phần do cảm động trước hoàn cảnh của cô. Một phần, như một vị bếp trưởng yêu nghề, cố nhớ lại cái món ngon nhứt mà mình nấu, để thưởng thức thêm một lần nữa cái cảm giác sung sướng, khoái khẩu tột cùng ấy. Huống chi đấy lại là một món quý hiếm, một kỹ niệm ly kỳ, ít ai có được !
Vốn là người mơ mộng nên ổng đã dệt quanh cô ta biết bao huyền thoại.
Khi thì ổng tưởng tượng mình bị chết đuối rồi được đưa đến bệnh viện cứu cấp. May mắn thay, được một vị bác sĩ rất giỏi, rất có lương tâm tận tình cứu chữa. Vị bác sĩ ấy đã phục hồi toàn bộ cái mạng sống đang như chỉ mành treo chuông của ổng. Khi tỉnh dậy từ một cơn hôn mê sâu, ổng nhận ra vị nữ bác sĩ vừa cứu mình có cái nốt ruồi trên chót mũi.
Khi thì ổng tưởng tượng cô gái trở thành một nhà văn, đem cuộc đời bi thương của mình viết nên một tuyệt phẩm khiến cả thế giới đều xúc động.
Trí tưởng tượng của ổng cứ bay cao thêm, xa thêm cho đến nổi, chở tuốt cô ta qua Thụy Điển, nhận cái giải Nô ben rồi mới chịu dừng lại.
Nếu nhà nước ban hành một loại thuế đánh vào các ước mơ, và nếu họ phát minh ra một cái máy đo lường hoàn toàn chính xác cái giá trị và trị giá của nó, chắc ông Hai bán luôn cái mạng cũng không đóng nổi !
Ông Tiến thấy bạn trầm ngâm không trả lời thì hiểu lầm nên nói :
-Để tao đưa cho mầy chiếc xe Vespa cũ của tao cho mầy xài, nó còn tốt lắm ! Với mua cho mầy cái điện thoại cầm tay để tụi mình tiện liên lạc.
Ông Hai từ chối ngay tức thì:
-Hổng lẽ tao chạy xe trên sông? Còn điều nầy nữa, cái nhà của tao chỉ đủ cho tao nằm mà thôi. Lấy đâu ra chỗ để chứa thêm nó nữa ?
Ông Tiến nói:
-Vậy thì tao mua biếu mầy cái điện thoại di động có được hông?
Ông Hai nói đùa:
-Tao ngu gì mà chịu.
Ông Tiến hỏi:
-Sao vậy ?
Ông Hai đáp:
-Lấy để làm mọi cho mầy dài dài hả ?
Ông Tiến hỏi lại:
-Hổng lẽ mỗi lần muốn nhắn cái gì tao phải đi cả chục cây số tới gặp mầy? Hỗng lẽ mỗi lần ba má Thư lên thăm con gái với cháu, tao lại phải làm tài xế hay sao? Không phải tao sợ mắc công, chuyện của tao mà. Chỉ ngại ổng bả nghi ngờ là mắc cái giống gì mà hai thằng mình cứ đeo xà nẹo...
Ông Hai cắt ngang, nói từng câu, bằng cách nhấn mạnh từng chữ:
-Sẵn mầy hỏi, tao nói luôn ! Tao chỉ xuất hiện một lần nữa trong lễ cưới mà thôi ! Từ đó về sau mầy đừng... Tao rút lui luôn không tham gia vào nữa.
Ông Tiến hoảng hồn:
-Vậy tao phải nói làm sao với Thư đây khi cổ đòi ông chồng phải có mặt, tháp tùng về quê ăn giỗ, ăn tết.
Ông Hai đáp:
-Mầy không nói được thì nhờ ông tổng thống Mỹ nói giùm. Không làm được thì sai tiền làm. Mấy tờ đô la đó không phải là đa năng, đa dụng hay sao ?
Ông Tiến làm thinh không trả lời.
Lát sau ông lại hỏi:
-Hình như mầy có cái gì uất ức trong lòng phải không ?
Ông Hai hỏi lại:
-Sao mầy nói vậy ?
Ổng đáp:
-Cái giọng chua chát đó, đâu có giống cái cách nói của mầy từ trước tới giờ.
Ông Hai thở dài:
-Có lẽ từ giây phút nầy trở đi, tao sẽ thay đổi nhân sinh quan, thay đổi công việc và thay đổi luôn tính cách. Tao sẽ đối lập với con người trước đây của mình.
Ông Tiến áy náy:
-Tao ủng hộ việc mầy thay đổi công việc, nhưng phản đối mầy thay đổi tính cách.
Ông Hai hỏi:
-Tại sao vậy ?
Ông Tiến nói:
-Tao cần những người như mầy để giữ vững tâm thế của mình. Giúp tao đi chậm lại, nhìn xuống chưn để khỏi phải vấp đá rồi té sặc máu !


Ông Hai nghe bạn nói có vẻ trịnh trọng quá bèn pha trò:
-Vậy ra mầy thuê tao châm dầu cho cái ngọn đèn lương tâm của mình luôn nữa hả ? Nhiệm vụ đó lớn lao quá, cực khổ nhứt à nghen ! Tao đòi tiền công cao lắm ! Mầy trả có nổi không đó ?
Ông Tiến chụp lấy câu nói ấy liền, đáp:
-Bao nhiêu tao cũng chịu, miễn mầy đồng ý nhận.
Rồi hỏi tiếp:
-Mầy muốn bao nhiêu ?
Ông Hai cười :
-Tao không lấy đồng nào hết, để cho mầy bức rức chơi !
Ông Tiến năn nỉ:
-Mầy để cho tao mua tặng vài món nghe ? Chắc chắn phải có thứ mầy đang cần, đang thiếu chớ ?
Ông Hai làm thinh.
Ông Tiến đã để ý ngay từ lúc họ gặp nhau lần đầu. Ấy là trong một rừng ăng ten chi chít, chỉa thẳng từ mái nhà lên trời như đám cỏ mần chầu đó. Chỉ mỗi cái mái nhà của ông Hai là trống trơn, không có cây ăng ten mọc trên đó. Ổng nghĩ có lẽ ông bạn của mình không mua nổi cái ti vi.
Ổng hỏi, hơi e dè :
-Hay là tao tặng mầy một cái ti vi ?
Ông Hai đáp :
-Tao không cần.
Ông Tiến chợt nhớ lại sở thích số một của hầu hết sinh viên thời trước.
Đó là vào những ngày mà trong túi của một người trong số họ có mấy tấm giấy in hình đức Trần Hưng Đạo, khi được trả lương cho công việc dạy kèm, làm thêm. Vào những dịp đó, họ thường bị bắt buộc hoăc tự nguyện- điều nầy hơi hiếm- đãi nhau một chầu phim.
Ông Tiến vẫn còn nhớ như in các cuộc tranh luận nãy lửa giữa họ khi xem xong phim. Họ cãi nhau ngay khi ra khỏi rạp cho tới khi về đến nhà. Có lúc kéo dài gần như bất tận. Chẳng ai nhịn ai, chỉ để bảo vệ quan điểm của mình, hoặc đôi khi bênh vực cho nữ tài tử mà mình yêu thích. Có lần ông chủ nhà bên cạnh phải quát lên "im đi cho người ta ngủ " họ mới chịu ngưng.
Ổng bèn hỏi tiếp:
-Chắc mầy thích có thêm cái "đầu máy" nữa hả ? Bây giờ mấy chỗ cho mướn phim mọc lềnh khênh, tao tặng cho mầy một bộ để nằm nhà mà coi cho đã.
Ông Hai đáp:
-Tao xài hết cái nhu cầu đó rồi !
Ông Tiến suy nghĩ tiếp, bỗng buông bớt một bàn tay ra khỏi ghi đông, vỗ lên đùi mình một cái bộp rồi nói bằng cái giọng hào hứng :
-Sao tao quên mất cái chuyện mầy là tay đàn guitar số một của lớp mình vậy ta ?
Ổng quay mặt về phía sau, hét to:
-Tao sẽ tặng cho mầy một dàn máy nghe nhạc âm thanh nổi.
Lần nầy thì ông Hai đáp một cách dứt khoát:
-Nhà tao không có điện.
Ông Tiến ngạc nhiên:
-Không có điện là sao ?
Ông Hai giải thích:
-Chỗ tao ở sắp giải tỏa rồi, cho nên tao không mắc điện.
Ông Tiến hỏi tiếp:
-Nguyên cái xóm đó đều không xài điện hay chỉ có mỗi mình mầy ?
Ông Hai đáp:
-Chỉ một mình tao thôi .
Ông Tiến kêu lên:
-Trời đất ơi !
Rồi hỏi bằng một giọng vô cùng ai oán:
-Mầy sống cái kiểu gì mà không cần tới điện ?
Nghe cái giọng bi thiết của ổng, ông Hai liền bật cười.
Nghe ổng cười, ông Tiến bỗng nổi xung, bèn hỏi:
-Có phải mầy muốn chống lại nền văn minh của con người hay không ?
Ông Hai lại cười tiếp.
Ông Tiến lại hỏi bằng giọng châm chọc:
-Mầy muốn trở lại thời kỳ mông muội hay sao mà không xài tới điện ?
Ông Hai thở dài, trả lời:
-Mầy suy diễn làm chi cho sâu xa quá vậy ? Đơn giản lắm ! Tao không muốn lệ thuộc vào đồ đạc, hàng hóa, các loại tiện nghi. Chỉ có vậy thôi hà !
Ông Tiến nói:
-Sống là phải lệ thuộc. Sống đơn độc là nguy hiểm lắm !
Ông Hai đáp:
-Mầy phải phân biệt hai dạng người nầy : Bảo tồn và đả phá.
Ổng liền trình bày quan điểm của mình:
-Có một số người thích sống đơn độc để bảo tồn những giá trị tinh thần mà họ trân trọng nhứt. Họ không nguy hiểm như mầy nói đâu. Đó chính là những người cực đoan trong tình cảm. Họ không muốn sự cọ xát làm trầy xước những thứ tốt đẹp mà họ ấp ủ, muốn giữ nguyên trạng thái của nó. Họ không phải là những kẻ mang tư tưởng phá hoại bởi căm ghét loài người, rồi xa lánh đồng loại như mầy nghĩ.
Ông Tiến lắc đầu:
-Nếu yêu thương thì sao không hòa nhập với nhau ? Bây giờ ngành truyền thông đang phát triển nhanh nhứt đó mầy có biết không ? Con người được kết nối rộng rải và chặt chẽ hơn bao giờ hết. Người ta không còn sống lẽ loi nữa. Họ lên mạng chia sẻ cảm xúc của mình với khắp mọi người trên trái đất.
Ông Hai hỏi:
-Để chi vậy ?
Ông Tiến đáp:
-Bộ mầy không thích tìm hiểu xem thế giới đang xảy ra chuyện gì hay sao ? Bộ mầy không thích tâm sự với một người hoàn toàn xa lạ, để kể với họ về những điều thầm kín nhứt hay sao ? Bộ mầy không thích trò chuyện với cô bạn mà ngày xưa mầy thầm yêu trộm nhớ, để hỏi coi hồi đó cổ nghĩ về mầy như thế nào hay sao ?
Ông Hai hỏi:
-Mấy cái đó bộ báo chí, thơ từ không phải đã và đang làm đó à ?
Ông Tiến đáp:
-Đúng, nhưng mà chậm và ít ỏi lắm !
Ông Hai hỏi:
-Tại sao cần phải nhanh và nhiều ?
Ông Tiến đáp:
-Bởi vì tất cả mọi người đều muốn hưởng thụ tối đa. Cuộc sống như bữa tiệc búp phê mà món nào cũng ngon. Chẳng ai muốn bỏ sót thứ gì, họ muốn nếm cho hết để khi rời khỏi bàn tiệc không phải hối tiếc, cho nên phải nhanh, phải vội để có càng nhiều càng tốt.
Ông Hai pha trò:
-Để rời bàn tiệc với cái bụng lặc lè...
Ông Tiến đáp:
-Còn hơn với cái bụng trống không !
Dừng lại một chút ông Tiến tiếp:
-Chính điều đó thúc đẩy sự tiến bộ, giúp nền văn minh phát triển tột độ, giúp cuộc sống ngày một tốt đẹp hơn. Giúp con người ngày một thông tuệ hơn !
Ông Hai nói:
-Mầy nói rất đúng, nhưng cái câu "giúp cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn" thì nên xét lại.
Ông Tiến hỏi:
-Tại sao ?
Ông Hai đáp:
-Bởi vì thiên nhiên phải chi trả cho tất cả các hóa đơn đó. Bởi vì mọi người đều đổ dồn về một phía nên họ không thể tránh việc giẫm đạp lên nhau.
Ông Tiến thở dài thượt:
-Bây giờ tao hiểu tại sao mầy sống cái kiểu nầy rồi.
Ông Hai làm thinh. Ông Tiến chờ hoài không nghe bạn hỏi bèn tự trả lời:
-Mầy sợ bị mắc nợ thiên nhiên, phải không ?
Ông Hai vẫn làm thinh.
Ông Tiến gặng:
-Có đúng không ?


Ông Hai đáp:
-Đã làm người thì ai mà không mắc nợ thiên nhiên ?
Ông Tiến cãi lại:
-Tao thì cho rằng thiên nhiên mang ơn con người .
Không đợi ông Hai hỏi, ổng giải thích:
-Con người đã và đang tôn tạo thiên nhiên. Nhờ có con người mà thiên nhiên ngày càng lộng lẫy hơn. Những công trình kiến trúc đồ sộ. Những lâu đài, dinh thự nguy nga, những kỳ quan nhân tạo chính là những món trang sức quý giá nhất mà con người đã dâng cho thiên nhiên đó !
Ông Hai hỏi:
-Như cái gì, đâu mầy kể coi?
Ông Tiến đáp:
-Vạn lý trường thành nè ! Đền Ăng Co nè ! Kim tự tháp nè...
Ông Hai hỏi:
-Mấy cái đó để làm gì ?
Ông Tiến cự nự:
-Thì để tôn vinh sức mạnh và ý chí của con người chớ còn làm gì nữa ?
Ông Hai nói:
-Vậy thì ăn nhậu gì tới thiên nhiên ? Nó bị người ta xà xẽo, bứng, cắt từ chỗ nầy rồi đem lại chỗ khác ráp, hư hao, đau đớn thấy mồ chớ có sướng chút nào đâu ?
Ông Tiến cự:
-Nhờ có mấy thứ đó mà ta mới biết được con người thời đó họ tài như thế nào...
Ông Hai bác ngang:
-Mầy coi đó là tài năng, tao coi đó là chứng tích về lòng tham và tội lỗi của cái giới cầm quyền, vua chúa ngày xưa. Họ bắt dân chúng làm tới hộc máu để củng cố cho vương triều của họ mà thôi ! Mầy có biết bao nhiêu người bỏ mạng, bao nhiêu gia đình tan nát vì họ không ?
Ông Tiến nói:
-Nhưng nhờ vậy mà ngày nay mới có những tuyệt tác đó. Mầy không biết chớ, khi tận mắt chứng kiến mấy cái công trình ấy, mình cảm thấy hãnh diện ghê lắm !
Ông Hai hỏi:
-Mầy có xem chưa mà nói ?
Ông Tiến gật đầu:
-Tao chưa thấy Kim tự tháp, còn hai cái kia thì có tới coi rồi. Tao hết sức mang ơn những người đã để lại các di sản lớn lao đó cho nhân loại. Tao thấy rất đáng hy sinh tính mạng để tạo ra các kỳ quan ấy. Chúng là một bằng chứng cho ta thấy, nếu hợp sức lại thì chẳng có thứ gì mà con người không làm được.
Ông Hai cãi:
-Theo tao thì nếu vì mấy cái công trình đó mà đánh đổi, cho dù một mạng người tao cũng không làm, đừng nói chi cả đống người chết vì chúng.
Ông Tiến chưa kịp phản đối, thì bỗng dưng chiếc xe lảo đảo, cái bánh xe phía sau chao qua, chao lại, khiến ổng mất thăng bằng, tay lái loạng choạng.
Ông Hai đang ngồi thong dong, hai cánh tay ôm cái eo trước mặt một cách hời hợt, thấy vậy cũng hết hồn, mấy ngón tay cũng tự động bấm sâu vào hai bên hông của bạn.
Ông Tiến thắng xe lại, không thèm nhìn xuống đất mà ngước mặt lên trời rủa:
-Đồ bất nhơn !
Ông Hai giựt mình, cự:
-Ổng có làm gì đâu ? Sao khi không mầy chửi ổng lãng xẹt vậy ?
Ông Tiến thở dài, đáp:
-Tao đâu có chửi ổng, tao chửi mấy cái thằng rải đinh trên đường chớ bộ !
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy biết có người rải đinh ?
Ông Tiến đáp:
-Mầy chịu khó nhìn đi, nó nằm dài dài xung quanh đây, thiếu gì !
Thấy ông Hai còn ngồi yên trên xe, ổng hối:
-Xuống đi mầy, đẩy phụ tao đi kiếm chỗ vá .
Ông Hai lật đật leo xuống rồi tới ông Tiến.
Ông Hai thở dài, vừa đẩy vừa than:
-Biết ở đâu mà kiếm đây trời ?
Ông Tiến an ủi:
-Đừng lo, chỗ nào có đinh rải là chỗ đó có vá xe. Nó ở gần đây thôi !
Quả thật, họ đi một đổi chừng hai trăm mét thì thấy ngay một cái ống bơm đang dựng bên đường. Nó được mấy cục gạch thẻ chêm xung quanh để đứng cho vững. Chủ của nó là một người đàn ông đang ngồi dưới gốc cây phượng vĩ trên lề. Ông ta đang thay ruột cho một chiếc xe đạp còn mới. Chiếc xe ấy có lẽ là của một cậu bé mặc áo sơ mi tay ngắn màu trắng, quần tây xanh, đang ngồi chồm hổm bên cạnh, nét mặt thấp thỏm vì sợ trễ giờ học.
Một nạn nhân khác, trông già cả hom hem hơn tất cả bọn họ. Ông ta là chủ của chiếc cúp cánh én màu rêu đã cũ. Ổng đang ngồi lên hai chiếc dép của mình, chiếc nón bảo hiểm được tháo ra, cầm trên tay để lộ một cái đầu nhỏ xíu với mái tóc bạc thếch, bù xù.
Ổng ngước nhìn họ bằng đôi mắt chán nản, hỏi bằng giọng cảm thông:
-Bị dính rồi hả ?
Ông Tiến gật đầu.
Ông Hai hỏi ổng:
-Bác chờ lâu chưa ?
Ổng gật đầu, nói:
-Cái vỏ của tui mòn quá ! Mới vá ở đằng kia xong là chạy tới đây bị nữa .
Nói xong ổng liền liếc nhìn người thợ vá xe bằng tia mắt đầy ác cảm.
Tuy không ngước nhìn lên, ông thợ vẫn cảm nhận được cái nhìn ấy.
Ổng liền đính chánh:
-Không phải tui làm đâu nghe !
Ông già liền nói:
-Tui đâu có nói chú. Vợ con tui làm chớ ai !
Ông Tiến và ông Hai bật cười trước câu nói "xóc óc" một cách hóm hỉnh của ông già ấy.
Nhìn thân hình còm cỏi được bao trùm bởi bộ đồ cũ mèm với cái quần ka ki màu nâu đã sờn lai, và cái áo thun màu đen bạc thếch của ông ta, ông Hai bỗng đâm ra có cảm tình.
Ổng hỏi:
-Nhà bác ở gần đây hông?
Ông ta lắc đầu, đáp:
-Còn xa lắm, ở Bến Lức lận.
Rồi thở dài:
-Phải gần là tui dắt bộ về nhà, tự mình vá cho đỡ tốn tiền.
Cái xe của thằng bé học trò đã xong. Nó vừa thót lên yên là đạp bán sống, bán chết. Ông Hai vái thầm trong bụng cho nó tới trường an toàn, không cán thêm cây đinh nào nữa.
Ông thợ vá moi trên cái vỏ của chiếc xe cánh én, lấy ra một miếng thiếc màu vàng hình thoi. Nó óng ánh như cái mặt dây chuyền, hoặc bông tai của phụ nữ.
Ông Hai thúc cùi chỏ vô hông ông Tiến, ghẹo:
-Đây là trang sức của con người tặng cho con người.
Ông Tiến ghẹo lại:
-Nó không phải làm để vinh danh vua chúa. Nó là sản phẩm của cái giới mà mầy cho là bị bóc lột, là những người đang dọn dẹp mà mầy ca tụng !
Ông Hai đáp trả:
-Nó là của những người đang ở lưng chừng, cái khoảng từ tao tới mầy. Họ đang nuôi tham vọng ăn tất cả các món trong cái bữa tiệc búp phê mà mầy nói đó !
Ông Tiến thở dài nói:
-Ông nội tao với ông ngoại mầy mà còn sống, chứng kiến ba cái vụ nầy chắc mấy ổng đau lòng lắm há ! Tao tự hỏi, tại sao thế hệ mình được nuôi, dạy như vậy mà cho ra cái kết quả như vầy?
Ông Hai cười:
-Thì cũng do cái bàn tiệc búp phê đó ngày càng thêm phong phú. Nó khiến cái bao tử của họ cứ tiết dịch vị liên tục, tiêu hóa thức ăn cấp kỳ nên ăn hoài mà chẳng thấy no. Cho nên họ phải làm đủ mọi cách, bất chấp đạo lý, áp dụng mọi thủ đoạn với mục đích thỏa mãn nó.
Ông thợ vá chen ngang bằng cách thông báo với người chủ của chiếc xe cánh én:
-Hai lỗ, sáu ngàn.
Ông già ấy liền giãy nãy:
-Mắc dữ vậy ? Tui mới vá đằng kia, có hai ngàn một lỗ.
Ông thợ vá xe, có lẽ còn căm vì câu nói "móc họng " của ông ta khi nãy, nên không thèm trả lời, gắn cái vỏ vào lại như cũ rồi nói:
-Ông đem lại đó vá đi, tui không làm đâu !
Ông già trợn mắt nhìn y. Hai mạch máu trên thái dương ổng gồ lên, phập phồng.
Ông Tiến vội vã can thiệp:
-Thôi chú vá cho bác đây đi. "Kính lão đắc thọ mà " ! Cứ tính tiền cho tôi.
Ông già nói một cách bực tức:
-Đâu phải tui không có tiền trả, có điều phải lấy đúng giá đàng hoàng.
Thấy ông ta phản đối gay gắt, ông Tiến giựt mình. Ổng biết mình đã lỡ lời làm người lớn tuổi ấy mích lòng nên cảm thấy có lỗi, bèn tìm cách vuốt giận .
Ổng nói ngọt lịm:
-Con xin lỗi bác. Tại con đang có công việc cần kíp, gấp đi quá, muốn làm phức cho rồi nên mới nói vậy, chớ không phải cố ý bỉ mặt bác đâu.
Ổng nháy mắt với ông thợ sửa xe một cái rồi tiếp:
-Con biết cái câu hồi nãy là bác nói cho vui thôi, nhưng anh thợ đây bị chạm tự ái. Xe con bể bánh hoài nên biết, có hai ngàn một lỗ chớ mấy. Ở trung tâm còn tính giá đó, nói chi ngoại thành. Cái khu vực nầy, anh bạn công an của con ảnh nói, cái tỉ lệ xe bị bể bánh là nhiều nhứt Sài gòn đó bác. Họ đang cố tìm ra thủ phạm để giúp đỡ bà con.
Ông già phân bua:
-Hai chú coi. Từ sáng tớ giờ tui chưa chạy cuốc nào, chưa gì hết mà mất nửa ngày trời với mười ngàn tiền vá xe, hỏi làm sao mà sống cho nổi !

Cái tiếng "công an " mà ông Tiến nhắc đến một cách có chủ đích, tác dụng ngay lập tức .
Người thợ vá xe lại chịu khó moi cái ruột xe đã cũ, vá đến đôi ba chỗ ấy ra để bơm phồng rồi nhúng vô thau nước. Y ta rút một cộng chưn nhang, đang cắm trước bàn thờ ông địa đặt gần đó, bẻ làm đôi rồi nhét mỗi cọng vào một cái lỗ thủng để làm dấu.
Ông Hai khều vai ông Tiến, chỉ vào ông địa đang ngồi trên cái bệ bằng cục gạch, đặt trên tấm lá sen rồi cười. Ông Tiến cũng cười theo, chia sẻ cái ý mỉa mai trong nụ cười ấy.
Ông Tiến nói nhỏ xíu:
-Ở đây mà nhầm nhò gì ! Mầy tới phòng mạch tư mà coi. Mấy cái bàn thờ ông Địa ở đó hoành tráng hết biết. Đèn sáng chưng, hoa rực rở.
Ổng tự nhiên cười ra tiếng. Ông Hai ngạc nhiên hỏi:
-Mầy cười cái gì ?
Ổng ngưng cười, trả lời:
-Tao cười vì nhớ lại cái lần đi khám bệnh. Lúc ngồi đợi bác sĩ tới, tao thấy một cô y tá từ trong phòng đi ra, đốt cây nhang vái rì rầm một cách thành kính rồi cắm vào lư hương. Trong phòng chờ có gắn chình ình cái tấm bảng "XIN ĐỪNG HÚT THUỐC". Vậy mà cổ vẫn đốt một điếu ba số năm, nhét vào một bên tay không cầm quạt của ông địa. Chưa hết ! Lát sau cổ còn bưng ra cho ổng một ly cà phê đen thơm phức nữa.
Bây giờ lại tới phiên ông Hai cười sằng sặc. Ông Tiến tưởng đâu ông bạn khoái trá với câu chuyện mà mình vừa kể, nên khoái chí cười theo. Nào ngờ ông Hai cứ cười như lộn ruột.
Ông Tiến ngạc nhiên hỏi:
-Chuyện có vậy thôi, làm cái gì mà mầy cười dữ vậy ?
Ông Hai ráng ngưng cười rồi nói:
-Tao cười chuyện khác .
Ông Tiến hỏi:
-Chuyện gì ? Nói cho tao nghe với !
Ông Hai kể:
-Có lần tao bị bà hàng xóm sát bên vách, chửi te tua vì cái vụ ông địa.
Ông Tiến ngạc nhiên:
-Sao vậy ?
Ông Hai giải thích:
-Cô Tám nầy bán xôi, bán bắp, bán khoai nấu...Tóm lại là mấy món ăn nhỏ thôi ! Vậy mà cổ cũng lập bàn thờ ông địa, đặt ngay giữa nhà, thờ phụng hết sức chu đáo.
Nói tới đó ổng bỗng dừng ngang để cười thêm một chập.
Ông Tiến lắc đầu :
-Chuyện mấy người bình dân mê ông địa thì có gì lạ đâu ? Thiếu gì người không làm ăn, buôn bán gì hết cũng thỉnh ông địa về nhà thờ...
Ông Hai giải thích:
-Tao không có cười cái chuyện cổ thờ ông địa mà tao cười vì thấy cổ cúng cho ông địa một dĩa đầy nhóc tỏi, loại tỏi của Trung Quốc to đùng.
Ông Tiến không cười, chỉ nói :
-Vợ tao cũng vậy !
Ông Hai không cười nữa mà nói đàng hoàng:
-Cái cô nầy chồng chết, có hai cô con gái lớn lớn cũng chưa có chồng. Tao thấy vậy bèn nói với cổ :
-"Cô Tám đừng có cúng tỏi cho ông Địa, nguy hiểm lắm ".
Cổ hỏi :
- "Nguy hiểm chỗ nào ?".
Tao đáp :
-"Cô đi chùa mà không biết hay sao ? Mấy món hành, hẹ, tỏi, nén nầy, bị nhà chùa cấm ngặt đó !"
Cổ hỏi :
-"Tại sao mà cấm ?"
Tao đáp:
-"Tại vì ăn nó vô là mấy thầy bỏ tu, đi lấy vợ hết ráo ! Ba mẹ con cô, ai coi cũng ngon lành. Ông địa nhà cô ăn hết cái dĩa tỏi nầy thì khó mà ngồi yên một chỗ "
Ông Tiến nghe chưa dứt là cười hô hố. Người vá xe và ông già cũng cười ké theo, nét cau có trên gương mặt của họ biến mất. Không khí chợt nhẹ nhàng, vui tươi, dễ thở trở lại.
Ông Hai tiếp:
-Bây giờ nhớ lại thì cười, chớ lúc đó tao ăn năn lắm ! Mấy người phụ nữ bình dân, coi vậy mà họ trọng chữ "tiết" lắm nghe mậy . Cổ chửi tao ba làng nghe hổng hết. Cắt luôn cái việc viện trợ xôi cháy. Tao hối hận quá trời. Ngày nào cũng vớt củi đem về chẻ nhỏ, phơi khô rồi đem chất vô mái hiên cho cổ, làm răm rắp để chuộc lỗi vậy mà cổ cũng chưa chịu tha. Nhờ cái lần tao bịnh tưởng chết, cổ mới chịu bỏ qua mà nấu cháo giùm mỗi bữa.
Ông Tiến nghe bạn kể, chợt tưởng tượng cái lúc ông Hai bịnh nằm chèo queo một mình trong cái chòi chật hẹp, thiếu tiện nghi mà ngậm ngùi.
Ổng nói:
-Hay là mầy về ở với tao đi. Trên sân thượng nhà tao còn một phòng trống. Mầy về ở rồi coi sóc mấy cái chậu kiểng trên đó giùm tao.
Ông Hai vờ như không nghe.
Ông Tiến lập lại:
-Tao mời thật lòng đó. Tụi tao đang cần một người thân tín sống chung. Cái nhà rộng mênh mông, ba bốn từng lầu mà chỉ có hai vợ chồng nên ...
Ông Hai hỏi:
-Sao mầy không thuê người giúp việc ở lại luôn trong nhà.
Ông Tiến thở dài:
-Vợ tao là độc giả trung thành của hai tờ báo "Công An", "Pháp luật". Bả coi báo đó riết rồi nhìn đâu cũng thấy tội phạm rình rập hết trơn. Nhà tao suốt ngày rần rần đến mười giờ tối, học trò về hết mới vắng. Bả với tao mệt gần chết mà đâu có được ngủ liền. Phải đi khắp nhà, rọi đèn pin vô mấy cái hốc, kẹt coi có ai núp không, vừa làm mà vừa run, khổ lắm !
Ông Hai cười:
-Nghe mầy nói tao thấy mình sướng như tiên. Nhờ cái mạng giá bèo nên không ai chờ chực để cướp. Có khi cho họ cũng không thèm lấy, khỏi phải giữ bo bo.
Ông Tiếng nhắc:
-Bây giờ mất xuồng rồi, mầy ở không làm chi ? Bỏ quách chỗ đó, về ở với tao cho ấm áp.
Ông Hai cự lại:
-Ai nói với mầy là tao không ấm áp. Cái lần tao bịnh đó, cả xóm tới thăm nghe mậy !
Ông Tiến nói:
-Người ta thăm rồi về chớ đâu có ai ở lại mà chăm sóc. Nửa đêm có mắc dịch, mắc gió cũng đâu ai biết mà tới, chờ tới sáng là mầy chết cứng ngắc rồi .
Ông Hai cười:
-Tao lại khoái chết cái kiểu đó mới ngộ !
Ổng nói thiệt mà ông Tiến tưởng trêu nên bực, nói với giọng mặn chát:
-Nói cho dứt khoát coi ! Mầy có chịu tới ở với tao hay không ?
Ông Hai lắc đầu, nói nửa thật, nửa chơi :
-Tao ghiền món xôi cháy chan nước mắm mỡ hành của cô Tám rồi, đi không nổi đâu mầy ơi !
Ông Tiến nhìn bạn đăm đăm:
-Bộ mầy thương cái cô Tám gì đó rồi hả ?
Ông Hai lắc đầu:
-Bây giờ thì chưa, nhưng mai mốt biết đâu ...
Ông Tiến can ngăn kịch liệt:
-Chưa thì thôi, đừng có thương nghe mậy. Con Thủy nó còn nặng tình với mầy lắm đó ! Bây giờ mà nó nghe tao báo cáo là mầy đổi nghề, về làm với tao rồi là nó hết giận, dám lập tức quay về, rước mầy qua bển với nó liền. Nghe lời tao đi ! Tao nói không sai đâu.
Ông Hai lại lắc đầu:
-Cái "cây" đó nặng nề lắm, tao "vác" không nổi nên đâu dám "đốn". Sống mà phải nhón chưn, vói tay hoài mệt mỏi lắm mầy ơi ! Tao đoán là mầy...
Ông Tiến gật đầu nhưng lại phản đối:
-Tao đã trải qua rồi nên biết. Tùy theo mầy quan niệm, định nghĩa thế nào là danh dự. Có lúc tao bị bà xã làm mất mặt, cũng giận ghê lắm ! Nhưng so lại bả vì tao mà hy sinh nhiều thứ nên xí xóa hết. Khi mình thương ai rồi, có khi cái mạng còn bỏ chớ đừng nói gì tới tự ái.
Ông Hai làm thinh như để cân nhắc, lát sau mới đáp:
-Bây giờ tao thương một thứ hơn Thủy rồi:
Ông Tiến hỏi, giọng hồi họp :
-Thứ gì ?
Ông Hai làm thinh.
Ông Tiến hỏi tiếp:
-Ai vậy ?
Ông Hai đáp:
-Tự do !
Ông Tiến thở phào:
-Ai bảo mầy có vợ là mất tự do. Mầy hãy cho họ bớt một chút tự do ở giai đoạn đầu đi. Khi họ đã toàn tâm, toàn ý với mầy rồi. Mầy không thèm đòi họ cũng sẽ trả hết cái vốn tự do ấy cho mầy, có khi còn cộng thêm vô một khoản lời hết sức hậu hỉnh nữa đó .
Ông Hai hỏi:
-Lời kiểu gì ? Mầy nói tao nghe thử coi ?
Ông Tiến nói:
-Tao không biết ai làm sao chớ như tao bây giờ á hả ?
Ổng ngừng lại, nhìn ông Hai ra chiều đắc ý, gục gật cái đầu rồi tiếp:
-Để tao nói cho mầy biết mà thèm nè !
Ổng tằng hắng, xòe tay ra đếm :
-Một !Sáng sớm có người gọi dậy nè ! Hai ! Nhắc tập thể dục để giữ gìn sức khỏe nè! Ba ! Có người mua thuốc bổ để sẵn rồi mỗi ngày lấy ra đưa tận tay bắt uống nè ! Bốn ! Ngủ quên có người tắt ti vi cho nè ! Năm ! Có người đem bỏ đồ giặt ủi giùm nè ! Sáu ! Bịnh nằm nhà thương, có người đi thăm, đi nuôi nè ! Thấy chưa ? Mầy cho có một mà nhận lại gấp mấy lần.
Ông Hai hỏi:
-Mầy cũng phải đền đáp chớ xài "chùa " hoài sao ? "Bánh sáp đi, bánh qui lại " chớ bộ !
Ông Tiến cười, nói một cách tự đắc:
-Tao đâu có làm gì nhiều ? Chỉ chịu khó nói mấy câu mà bả thích như "em đúng lắm! "; "em đẹp hơn con mẹ đó nhiều "; " anh thương em hôm nay nhiều hơn hôm qua và ít hơn ngày mai"...là xong !
Ông Hai cười:
-Mấu chốt ở đây là tao sợ nhận còn hơn sợ cho. Cũng không có dẻo miệng như mầy, cho nên...

Chiếc xe của ông già đã vá xong. Ổng đứng lên, phủi quần thật sạch, mang lại đôi dép vào chưn, rồi chuẩn bị lên đường một cách gấp rút.
Ông thợ vá xe không chờ hỏi giá, nói luôn:
-Bốn ngàn .
Ông Già mở núc của cái túi quần phía sau lấy ra cái bóp da cá sấu màu nâu, mở một cách từ từ, cẩn thận móc bốn tờ giấy một ngàn xếp thẳng băng trong đó ra trả.
Ông Tiến nhìn đăm đăm cái bóp rồi hỏi:
-Cái bóp nầy làm bằng da cá sấu thiệt hay si mi li giả da vậy bác ?
Ông già không thèm trả lời, đưa cho ổng rồi nói:
-Chú sờ thì biết !
Ông Tiến sờ vào, bề mặt của nó hơi nhám và ấm chớ không láng bóng và lạnh nên hỏi:
-Bác hồi xưa chắc cũng đại gia hả bác ?
Ông già cười buồn hiu:
-Nói chú không tin chớ tui học trường tây, có bằng tú tài đàng hoàng.
Ông Tiến chụp lấy cái thông tin đó bằng cả hai tay :
-Bác nói tiếng Anh có giỏi không ?
Ông già nói:
-Nói chắc không lưu loát, nhưng nghe thì được.
Rồi ổng nhỏ giọng chỉ đủ cho ông Tiến nghe:
-Đêm nào tui cũng mở đài BBC cho nên nghe còn tốt.
Ông Tiến mừng rơn, móc trong túi ra cái cạc vi zit đưa cho ổng rồi nói:
-Cháu có mở một trung tâm dạy ngoại ngữ. Hôm nào mời bác tới chơi, tuy không dạy tiếng Pháp nhưng biết đâu có việc cần bác giúp đỡ !
Ngược với sự mong đợi của ông Tiến. Ông già nhìn vào tấm cạc một cách chiếu lệ , rồi nhét vào túi áo chớ không thèm cất vô bóp cẩn thận.
Ổng nói một cách lịch sự:
-Cám ơn chú.
Ông Tiến thấy ổng không mặn mòi bèn nhấn mạnh:
-Cháu nói thật, không có gạt bác đâu. Cháu đang cần thầy dạy tiếng Anh lắm !
Ông già đáp:
-Tui chỉ giỏi tiếng Pháp thôi, mà tiếng Pháp bây giờ ít ai chịu học. Cả thế giới xúm nhau xài tiếng Anh, tiếng Mỹ, tiếng Pháp đã lỗi thời rồi!
Rồi ổng thở dài:
-Hể nước nào mà mạnh là cái tiếng của họ cũng mạnh. Nói thiệt với chú ban đầu tôi cũng kèm được vài đứa, riết rồi tụi nó nghĩ hết trơn.
Ông Tiến hỏi:
-Sao bác không xin làm thông dịch viên. Bác nghe giỏi như vậy...
Ông già cười giống như mếu, hay mếu giống như cười đáp:
-Chú không đọc mấy điều lệ tuyển dụng phổ biến hiện nay hay sao? Người ta cần toàn là những cô cậu thanh niên trẻ trung, cao ráo, xinh đẹp không hà.
Ổng ngước cái càm lên cao, làm như cố nuốt cái khối vô hình chặn ngang cổ, rồi mới nói tiếp:
-Họ cần người thân thể cao hơn kiến thức cao, mặt mày đẹp hơn là... Tui như vầy thì làm sao mà cạnh tranh nổi, đi làm chi cho tốn xăng.
Rồi ngậm ngùi:
-Thế hệ của tụi tôi là một thế hệ thiệt thòi, đang đi bên lề phải cái bị đẩy bạt qua phía trái. Thế là đâm ra hỏng chưn hỏng cẳng, chới với...
Ông Hai cầm tay ông ta rồi nói:
-Cháu hỏi không phải xin bác bỏ qua nghe. Bác sanh năm mấy vậy ?
Ông già đáp:
-Tui sanh năm 1944.
Ông Hai nói:
-Bác hơn cháu đúng mười tuổi, vậy mà...
Ông già cười tiếp lời:
-Vậy mà trông như "cổ lai hy' rồi phải không ?
Rồi ổng chép miệng đọc:
-"Cỏ mọc đất cằn xanh sao nổi ?
Người không no bụng lấy gì tươi ?
Biết vậy ngày xưa không học chữ
Tay cày tay cuốc khỏi hao đời ! "
Ông Tiến hỏi:
-Bộ bác không có vợ con gì sao ?
Ổng đáp:
-Lúc tui đi cải tạo, bốn mẹ con nó ở nhà, vượt biên theo bên ngoại rồi mất tích tới bây giờ.
Ông Tiến lại hỏi:
-Sao bác không đi theo diện H O.
Ông già cười khổ:
-Tui được về hơi sớm nên không đủ tiêu chuẩn.
Ông Hai nói như năn nỉ:
-Bác cho cháu xin cái địa chỉ được không vậy bác .
Thấy ông già còn ngần ngừ, ổng giải thích:
-Để khi nào về quê, tiện đường cháu ghé thăm bác.
Rồi nói thêm:
-Khi nào bác đi Sài Gòn ghé cháu chơi, nhà cháu ở xóm Đình, sát kinh Đôi. Cháu làm nghề vớt rác trên sông, cũng không vợ, không con, sống một thân, một mình như bác vậy.
Ông già nghe vậy thì bảo:
-Chú đưa giấy viết ra đây, tui viết cho mấy chữ.
Ông Hai bảo ông Tiến:
-Cho tao xin một tấm cạc với cho mượn luôn cây viết.
Ông Tiến lật đật móc túi ra đưa.
Ông già lật úp tấm cạc xuống, viết vào phía sau mấy chữ, rồi đưa cho ông Hai. Ông Hai đưa cả hai tay ra đón lấy một cách hết sức kính cẩn, ổng không cất liền mà lấy cặp mắt kiếng trong túi áo ra đeo vô mắt để đọc. Ông Hai làm việc đó bằng cả tấm lòng của mình, tuyệt đối chẳng phải vì phép lịch sự. Ổng quan tâm, tôn trọng ông già thật sự chớ không phải giả bộ để ông ta khỏi tủi.
Ông Hai nhìn một cách thán phục cái nét chữ ốm, cao, rất đẹp, rất bay bướm ấy. Nó nhẹ nhàng, lả lướt như thể dấu môi của cây bút bi chỉ chạm trên má giấy. Nó đẹp như một nụ hôn, biểu trưng cho một tâm hồn phóng khoáng . Ổng bỗng nghe bùi ngùi quá đổi !
Kiểu chữ nầy bây giờ đã mai một, cái đẹp ngày xưa còn mấy ai thưởng thức ! Ông Hai nghe mắt mình nằng nặng, ráng gồng mình kềm lại.
Ổng lấy cái bóp của mình ra, cất tấm cạc vào chính giữa. Cái động tác chậm rải ấy, đủ thời gian cho ông Tiến nhìn và nhận ra tấm hình trong bóp của bạn.
Ổng hỏi:
-Bộ mầy còn giữ hình của con Thủy trong bóp hả ?
Ông Hai đáp:
-Nó dính khắng rồi, gỡ ra không được.
Ông Tiến ghẹo:
-Mầy còn thương, còn nhớ thì nói đại cho rồi.
Ông Hai không có thì giờ để đính chánh, ổng bảo ông Tiến:
-Cho tao một cái cạc nữa.
Ông Tiến lại móc túi ra đưa. Ông Hai cũng viết địa chỉ của mình, cố gò cho thật đẹp vào rồi hai tay đưa cho ông bác già hom hem ấy.
Ổng nói:
-Cháu gửi bác cái địa chỉ của cháu. Nếu có dịp mời bác ghé chơi.
Ông già cầm, môi mấp máy đọc rồi nói:
-Tui không dám hứa trước, tùy duyên thôi !
Rồi chào từ giã:
-Hai chú đi sau nghe !
Cả hai cùng đáp một câu, giống nhau từng chữ:
-Dạ, bác đi mạnh giỏi !
Thấy ông Hai còn nhìn theo mãi, ông Tiến đập lên vai bạn rồi nói:
-Mầy với ông già đó coi bộ hợp gu à nghen ! Tao đoán không sớm thì muộn, mầy với ổng cũng gặp lại nhau, mầy không kiếm ổng thì ổng cũng kiếm mầy.
Rồi nói thêm:
-Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu mà !
Ông Hai làm thinh không trả lời. Coi như việc gặp gỡ ông bác già hom hem ấy, là một món quà mà ông trời gởi cho mình để bù lại những bất công vừa qua của ổng.
Người thợ vá xe thông báo :
-Xe vá rồi đó hai ông !
Ông Tiến hỏi:
-Bao nhiêu ?
Y ta đáp:
-Ông cho bao nhiêu cũng được .
Ông Tiến đưa cho anh ta tờ giấy hai chục ngàn rồi nói:
-Anh giữ luôn đi, khỏi thối.
Y ta bỗng gãi tai, ấp úng:
-Ông cho tui xin cái cạc có được không ?
Ông Tiến hơi ngạc nhiên, nhìn y một cái rồi hỏi:
-Anh xin chi vậy ?
Ông Hai thấy y lúng túng nên nói:
-Thì đưa đi, tứ hải giai huynh đệ mà.
Ông Tiến đành một lần nữa móc túi lấy tấm cạc ra đưa, một cách rất, rất, rất bất đắc dĩ.

Chạy đến ngã tư , ông Tiến bỗng cho xe quay lại.
Ông Hai ngạc nhiên hỏi:
-Tại sao quay lại ?
Ông Tiến làm thinh.
Ông Hai hỏi tiếp:
-Mầy bỏ quên cái gì vậy ?
Ông Tiến đáp:
-Tao phải lấy cái cạc lại.
Ông Hai chưng hửng:
-Tại sao phải lấy lại ?
Ông Tiến giải thích:
-Cái thằng đó mặt mày coi gian manh lắm ! Nó dám rải đinh trên đường thì cũng dám tìm tới nhà tao đánh cướp chớ chẳng chơi.
Rồi nói thêm bằng giọng trách cứ:
-Hồi nãy mầy mà không xúi là tao đâu có đưa. Tại tao nể mặt mầy chớ ...
Ông Hai năn nỉ:
-Mầy nể mặt tao thêm một lần nầy nữa đi. Thà không cho, chớ cho rồi lấy lại làm tổn thương lòng tự trọng của người ta lắm ! Thêm một người bạn cũng tốt mà .
Ông Tiến đáp một cách dứt khoát:
-Tao đâu thèm làm bạn với cái hạng người đó ! Mầy giận thì tao chịu, không lấy lại được tấm cạc là tao ăn không ngon, ngủ không yên đâu !
Ông Hai tức đến nổi không nói được tới một tiếng. Ổng không ngờ người bạn bình dị, gần như ngờ nghệch ngày xưa nầy, bây giờ thay đổi đúng bon một trăm tám mươi độ như vậy.
Ông rủa thầm một dây trong bụng:
-Đồ phách lối, đồ ích kỷ, đồ khi người, đồ tàn nhẫn...
Ông Hai sợ thứ nhứt là làm cho người ta quê. Sợ thứ nhì là phải chứng kiến cái cảnh người ta bị quê trước mặt mình nên bắt đầu nghe bức rức.
Ổng muốn kêu ông Tiến dừng xe lại để tự mình đi về nhà. Nhìn hai bên đường, chẳng có cái trạm xe buýt nào, đi xe ôm thì xa quá, trong túi còn chưa tới một trăm, trả hết tiền xe rồi lấy gì sống? Ổng cảm thấy bất lực, cơn giận đang cố nén cứ dâng lên từ từ trong lòng như thủy triều.
Ông Tiến thấy bạn đột ngột buông thỏng cả hai bàn tay đang ôm cái eo của mình ra. Ổng biết ngay chóc tâm trạng của ông Hai nên chống chế :
-Tại mầy không đọc báo nhiều nên không biết. Bây giờ mấy cái chuyện cướp bóc xảy ra như cơm bữa. Con người ta độc ác lắm, không hiền lành như ngày xưa đâu.
Ông Hai làm thinh, không thèm trả lời, trả vốn gì hết.
Ông Tiến nói tiếp:
-Thà giết lầm còn hơn tha lầm. Thà làm mất mặt họ còn hơn tạo điều kiện cho họ gây tội ác, mình mất mạng còn họ thì bị tử hình hoặc ngồi tù đến mọt gông.
Ông Hai gằn giọng hỏi:
-Mầy căn cứ vào đâu mà cho rằng người thợ sửa xe đó xin tấm cạc của mầy với ý đồ không tốt ?
Ông Tiến nhăn cả trán lại mà suy nghĩ, chẳng tìm ra một lý do cụ thể nào, ngoài những điều chỉ dựa vào dự cảm của mình nên đâu dám nói
Ông Hai hỏi bằng giọng mai mỉa:
-Có phải tại y ta nghèo hay không ?
Ông Tiến cự:
-Ông già có giàu đâu? Cũng không xin, tại sao tao lại cho ?
Ông Hai đáp:
-Tại gì ổng xuất thân từ tầng lớp trên, lại là người có học. Ổng đang có cái thứ mầy cần.
Ông Tiến hỏi lại:
-Theo mầy thì y ta xin để làm chi.
Ông Hai nói:
-Mầy không thấy là thiên hạ bây giờ đang bị cái tánh a dua xúi dục hay sao. Mấy người phụ nữ thì ráp nhau đi xăm môi, xăm chưn mày, xăm đủ thứ. Mấy thằng con trai hết để tóc dài rồi thi nhau hớt kiểu đầu đinh, còn xỏ lỗ tai, đeo bông như con gái nữa.
Ông Tiến hỏi:
-Chuyện đó thì ăn nhầm gì tới...
Ông Hai không để cho ổng nói hết câu liền ngắt ngang để giải thích:
-Người thợ vá xe đó ! Y ta cũng muốn giống như mọi người mà thôi. Thấy ông già có nên cũng muốn có một tấm. Thấy tao xin rồi mầy cho một cách quá dễ dàng nên cũng hùa theo, chớ cũng không nghĩ sẽ dùng vào việc gì. Bất quá khi nhậu ba sồn ba sực, lấy ra lòe mấy thằng bạn cho vui là cùng.
Ông Tiến làm thinh, ra vẻ nghĩ ngợi, nhưng vẫn không quay đầu xe hay giảm tốc độ
Ông Hai bồi thêm:
-Bộ mầy không nhớ ở quê mình hồi xưa hay sao ?
Ông Tiến hỏi:
-Nhớ chuyện gì ?
Ông Hai nhắc:
-Hồi đó mỗi lần gánh hát về làng là người ta chạy xe phát mấy cái tờ chương trình để quảng cáo. Hết thảy con nít trong xóm mình đều chạy theo xin. Mấy đứa không biết chữ cũng bám riết, cũng ráng đuổi theo cả cây số, xin cho được một tấm mới chịu dừng lại.
Ông Tiến nói:
-Thôi đi mầy ơi ! Thời buổi nầy đâu có ai rảnh mà đi làm mấy cái chuyện vô ích, không đem lại lợi lộc cho mình như mầy nghĩ đâu.
Rồi nói mỉa:
-Đâu có ai anh hùng như mầy, làm việc tốt nên thấy ai cũng tốt.
Ông Hai nghe nóng mặt nên hỏi:
-Vậy mầy bỏ công việc, đi kiếm tao cho bằng được để làm gì ? Bộ không phải để giúp tao có công ăn, việc làm, có điều kiện để tái hợp với Thủy hay sao ?
Không chờ ông Tiến đáp, ổng hỏi tiếp:
-Có phải mầy tìm tao là vì con bồ của mầy đòi phá thai. Mầy cần gấp một người chịu đứng ra làm bình phong để giữ đứa con nầy lại có đúng không ?
Ông Tiến phản đối:
-Tao muốn đi tìm mầy lâu lắm rồi, nhưng mà chưa có dịp. Thời may...
Ông Hai hỏi:
-Mầy nhận cái thơ của Thủy hồi nào ?
Ông Tiến đáp:
-Tao mới nhận đây thôi !
Ông Hai cười lạt:
-Tao đọc thấy Thủy viết đúng bốn tháng trước lận.
Ông Tiến tức tối:
-Bộ mầy không biết người ta gọi bưu điện nước mình là cụ "rùa" hay sao ?
Họ lo cãi nhau nên không để ý là đã đi huốt chỗ vá xe một đổi. Khi nhận ra ông Tiến hết sức bực bội vì phải đánh một vòng lớn mới trở lại được.
Vừa quạu, vừa gấp nên ổng chạy khá nhanh. Tới nơi, ổng liền thắng lại một cái rụp khiến ông Hai đang ngồi chênh vênh phía sau, chới với rồi té nhào xuống đất.
Lúc ấy đã khá trưa, khách bộ hành vắng tanh, chỉ lác đác vài chiếc xe gắn máy chạy trên đường. Người thợ vá xe đang tranh thủ lúc rảnh để ăn cơm.
Y lấy cái gà mên nằm trong cái giỏ treo trên cái nhánh thấp nhứt của cây phượng xuống. Cái gà mên nầy chỉ có một ngăn, cơm và thức ăn để chung.
Y ta chùi tay vào miếng giẻ lau cho thật sạch rồi mở nấp gò mên. Mùi mắm chưng thịt bầm với trứng vịt tỏa ra thơm phức. Đây là món mà y ưa nhứt, nhưng vì bị bịnh đường ruột nên thỉnh thoảng vợ y mới làm. Y ta phồng mũi hít một hơi dài rồi rút cái muỗng ghim ngập phân nửa trong cơm lên, bưng cái gà mên lên tay, xúc liền một muỗng thật to rồi vừa nhai vừa nuốt..
Muỗng cơm đầu tiên trôi hết sức suông sẻ xuống tới tận bao tử. Muỗng cơm thứ nhì ít hơn, cơm nằm bên dưới kèm chút xíu mắm phía trên. Y ngắm muỗng cơm, ăn bằng mắt cho đã rồi mới dùng tới cái miệng, vừa cho vào mồm thì nghe tiếng xe thắng gấp, liền ngước mặt nhìn lên.
Hai ống kính của y "chộp" đúng bon cái lúc ông Hai té bật gọng, đưa bốn cẳng lên trời. Hoàn cảnh của ông Hai lúc ấy tuy nguy hiểm nhưng khá trào lộng, khiến y ta tuy xót thương nhưng vẫn không nén được tiếng cười rổn rảng. Báo hại miếng cơm trong miệng chưa kịp nhai, liền bị phun hết ra ngoài, bắn tung tóe như rải thóc cho gà ăn.
Tiếng cười của người thợ vá xe làm ông Tiến bỗng dưng nghe quê một cục. Ổng đâm ra giận ông Hai ngang xương nên giả vờ không biết ông bạn của mình đang nằm đo ván. Ổng không thèm ngoái nhìn mà làm mặt lạnh, nói với người thợ vá xe bằng cái giọng sẵn lè:
-Đưa tui mượn lại cái cạc coi !
Điều nầy quá bất ngờ khiến y ta ngưng cười, lật đật để cái gà mên xuống đất, riu ríu móc cái cạc trong túi áo ra đưa ngay. Gương mặt ngớ ra vì ngạc nhiên chồng chất.
Ông Tiến cắt nghĩa:
-Tui hết cạc rồi, lấy lại đặng in theo cái mẫu nầy. Chừng nào có dịp đi ngang qua tui đưa lại cho.
Ông Hai lồm cồm bò dậy phủi quần, phủi áo. Cú ngã khá đau, ông nghe cả người mình ê ẩm. Cũng may có đội nón bảo hiểm nên cái đầu tuy chạm mạnh xuống đường nhưng không bị móp.
Người thợ vá xe hỏi thăm:
-Có sao không chú ?
Ông Hai lắc đầu nói:
-Té nhẹ thôi ! Không có sao.
Đến lúc nầy ông Tiến mới nói:
-Ai biểu khi không buông tay ra, đã vậy còn không chịu để ý, thấy tới chỗ còn không chịu...
Ông Hai tức tràn hông, nói lẫy:
-Dân nghèo, đi bộ với xe đạp không hà ! Lần đầu được chở bằng xe "rim" nên chưa có kinh nghiệm.
Ông Tiến dịu giọng cầu hòa:
-Cũng tại tao gấp quá nên chạy nhanh, đã vậy còn thắng gắt nữa. Mà cái tánh của mầy cũng trẻ con quá. Đầu hai thứ tóc rồi mà còn hở hở là giận. Ngồi mà không chịu ôm eo cho chắc, bởi vậy té là phải. Thôi lên xe tao chở về, lần nầy nhớ ôm chặc cứng đó !
Ông Hai chẳng nói chẳng rằng. Lót tót leo lên ngồi sau lưng ông Tiến, gật đầu chào người thợ vá xe. Y ta cũng lật đật chào lại.
Ông Hai giận cành hông vì nghĩ ông Tiến cố ý chơi mình. Ổng thò hai bàn tay ra nắm chặt cứng cái yên xe, chớ không thèm đụng tới cái eo bỏ không của ông Tiến. Bụng thì lầm bầm trách cứ ông trời, nói ổng thiên vị, không trừng phạt cái người đáng phạt, nịnh nhà giàu mà ăn hiếp nhà nghèo.
Ông Tiến cũng không thèm xuống nước. Từ đó đến lúc về tới nhà họ không thèm nói với nhau một câu. Cả hai đều trông cho mau tới lúc chia tay.
Con đường càng ngắn lại, trong khi khoảng cách giữa họ thì càng lúc càng dài ra.
Ông Hai đã nhận ra tính cách của mình và ông Tiến quá ư tương phản. Ngay lúc đó ổng liền quyết định, chẳng thà đi ăn xin chớ nhất định không làm việc cho ông ta.
Chợt nghĩ đến cái buổi tiệc chiều nay, phải ngồi chịu trận vâng vâng, dạ dạ tới mấy tiếng đồng hồ. Phải ráng đóng kịch để giúp cho một người mà ổng không còn thương, còn quý nữa. Phải lấy lòng và chịu đựng tia mắt dò xét của ông, bà già vợ giả... Ông Hai nghe sao quá đổi nặng nề !
Rồi còn phải đóng vai chánh trong một cái đám cưới . Phải trải qua một đêm động phòng với mền mùng chiếu gối mới tinh, tươm tất mời gọi... Nhưng cái khả năng phải chùi xuống đất, nằm im ru không nhúc nhích, cho dù bị muỗi đói phân thây, lên đến chín chục phần trăm!
Ổng cũng quyết định sẽ không nhận chút xíu thù lao nào khi xong chuyện, cho dù ông Tiến có năn nỉ đến gảy lưỡi. Để chứng minh cho cái tên mới giàu mà bày đặt làm phách, khi người ấy thấy rằng, không phải ai nghèo cũng bị đồng tiền ám ảnh. Cũng bán rẻ lòng tự trọng của mình.
Ông Hai bỗng nhận ra tương lai của mình mờ mịt quá. Đóa hoa tình bạn vừa nở đã tàn. Niềm hy vọng đang le lói bỗng tối thui như đêm ba mươi.
Lần đầu tiên ông Hai cảm thấy mình sợ sống quá chừng !
 
(Xem tiếp PHẦN HAI)



 

<bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2019 19:26:19 bởi Lâm Du Yên >
 
#1
    Lâm Du Yên

    • Số bài : 107
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 02.09.2019
    • Trạng thái: offline
    Re:NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG 18.09.2019 10:54:35 (permalink)
    NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG
    PHẦN HAI

    -Có chuyện gì mà coi bộ anh không vui vậy ?
    Thư vừa lấy ngón tay trỏ chọc vô lỗ rún sâu hoắm của người đàn ông đang nằm bên cạnh vừa hỏi.
    Ông Tiến thở dài:
    -Thằng Hùng đi đâu mất biệt, anh tới nhà tìm hoài không thấy. Hỏi thăm mấy người hàng xóm với hai nhà sát vách, cũng không ai biết nó đi đâu.
    Thư an ủi:
    -Đám cưới xong rồi, chắc ảnh thấy mình không còn cần thiết nữa nên...
    Ông Tiến thở dài thêm lần nữa:
    -Nó giúp mình chuyện lớn như vậy rồi bỏ đi không nói một tiếng. Anh chưa kịp đền đáp gì hết, trong lòng bức rức quá, càng nghĩ càng hối hận.
    Thư hỏi:
    -Hối hận chuyện gì ?
    Ổng kể cho Thư nghe chuyện tấm cạc, rồi chắc lưỡi:
    -Có vậy thôi mà nó giận tới từ mặt anh luôn. Cái thằng đa cảm thấy mà sợ.
    Thư nói:
    -Chắc không phải ảnh giận anh đâu. Có lẽ ảnh chỉ giúp mà không cần mình phải trả ơn bằng thứ gì hết. Coi bộ ảnh cũng giàu hả anh ?
    Tiến lắc mạnh đầu, bắp thịt trên vai rung theo. Thư không nhìn nên nghĩ ổng mỏi, bèn nhấc cánh tay đang lót dưới ót của mình lên rồi kéo cái gối lại kê đầu.
    Ông Tiến nghiêng người ôm Thư, hất cái gối qua một bên, lót cánh tay xuống ót cô như cũ. Thư cố nhoài người ra, nhưng bị hai cánh tay to, mập ấy khóa chặt.
    Ổng nói :
    -Để cho anh ôm, anh đang buồn lắm !
    Rồi đáp:
    -Nó mà giàu cái gì, nghèo rớt mồng tơi thì có !
    Thư cự lại:
    -Nghèo sao ăn mặc xịn dữ vậy ? Quần áo toàn là hàng hiệu không hà !
    Ông Tiến cười :
    -Anh sắm cho chớ nó đâu mua nổi.
    Thư ngạc nhiên:
    -Bộ anh trả lương cho ảnh thấp lắm hay sao mà...
    Ông Tiến lại trút từ trong ngực ra một hơi dài thòng:
    -Nó có làm cho anh đâu mà trả lương.
    Thư hỏi tới:
    -Vậy ảnh làm nghề gì vậy anh ?
    Ổng đố:
    -Đâu em đoán thử coi !
    Thư đáp mà không suy nghĩ:
    -Dạy học.
    Ông Tiến lắc đầu:
    -Trật lấc !
    Thư thận trọng hơn:
    -Chạy mánh !
    Ổng phì cười :
    -Trật xa mút tí tè. Cái nghề nầy đặc biệt lắm. Em không thể ngờ đâu .
    Thư nói một lèo:
    -Đạp xích lô, bán kẹo kéo, thiến heo, nhổ răng dạo...
    Ông Tiến cười sằng sặc, nói một cách thích thú:
    -Em đoán tới tết Công Gô cũng chưa ra nữa. Cái nghề nầy khắp Sài gòn chỉ có mỗi mình nó làm thôi. Độc nhứt vô nhị; Vô tiền khoáng hậu...
    Thư phụng phịu:
    -Thôi em không đoán nữa đâu. Anh nói liền đi.
    Ông Tiến hơi chần chờ, ngại nói ra Thư sẽ giận, sẽ trách bộ hết người rồi sao mà đi nhờ cái dân mạt hạng như vậy làm chú rể giả.
    Thư thấy ổng làm thinh thì càng tò mò hơn, lại lấy ngón tay trỏ chọc vô cái rún sâu như giếng ấy rồi hăm:
    -Nói lẹ lên, không thôi là em chọt cho lủng bụng đó !
    Ổng nói, giọng nhẹ hều:
    -Nó làm nghề vớt rác trên sông.
    Thư nghe như có ai dí điện vào sống lưng.
    Cô hỏi, giọng như đang bị ngộp:
    -Nhà ảnh ở đâu ?
    Ông Tiến đáp:
    -Ở quận tám !
    Rồi tả oán thêm:
    -Em không tưởng tượng ra đâu. Nhà nó nhỏ như cái toa lét của mình vậy đó. Cặp sát kinh nên mùi sình hôi rình. Đã vậy còn không có điện.
    Ông Tiến cảm nhận thân hình của Thư đang cứng lại trong tay mình.
    Ổng hỏi:
    -Em sao vậy ?
    Thư đáp:
    -Khi không mà em ớn lạnh.
    Ông Tiến nói mơn:
    -Để anh làm cho em nóng lên nghe.
    Thư lắc đầu:
    -Em mệt rồi.
    Ông Tiến năn nỉ:
    -Mệt cái gì mà mệt, mới có...
    Thư chận ngang câu nói và cả bàn tay đang di động trên ngực mình:
    -Con cũng mệt rồi, để cho nó nghỉ.
    Đây là chiêu thượng sách nhứt của Thư. Lúc nầy hể muốn vòi vĩnh điều gì, cô đều nhân danh đứa con đang nằm trong bụng của mình.
    Câu chuyện vừa nghe khiến Thư choáng váng. Cô nhủ thầm "lẽ nào...".
    Thư nghe tứ chi rụng rời, còn không nhấc nổi đến một ngón tay, nói chi tới cái chuyện ... Cảnh lâm nạn ngày xưa đang hiện rõ mồn một trong đầu cô như khúc phim quay chậm.
    Ông Tiến đang hăng tiết vịt nên chưa chịu đầu hàng, rà môi lên xuống trên má Thư.
    Thư chẳng còn lòng dạ nào mà đáp ứng.
    Cô nhắc để đuổi khéo:
    -Anh không về đi ăn với vợ sao ?
    Ông Tiến đáp:
    -Còn sớm mà, ở thêm chút nữa...
    Thư nói:
    -Anh về trễ coi chừng bị kẹt xe đó. Bốn giờ trở lên là công nhân ở mấy cái khu chế xuất gần đây họ tan ca, đổ ra ào ạt chật cứng đường.
    Ông Tiến liếc nhìn cái đồng hồ treo trên vách rồi van nài:
    -Mới hơn ba giờ. Còn kịp ...
    Thư nghĩ ra một chiêu mới, áp dụng liền:
    -Em hết tiền xài rồi !
    Ông Tiến cụt hứng ngay lập tức.
    Ổng hỏi giọng quạu đeo:
    -Em xài tiền gì mà như ăn gỏi vậy ? Mới đưa hôm thứ hai, chưa hết tuần mà xài đứt hai triệu là sao? Anh có là tỷ phú đô la cũng không nuôi nổi !
    Thư thút thít:
    -Em bị móc túi.
    Ông Tiến không tin, gặng:
    -Sao bây giờ mới nói ?
    Thư ráng ép cho hai giọt nước mắt chảy ra:
    -Em sợ anh rầy.
    Ông Tiến rút cánh tay ra, ngồi dậy một cái rột rồi đi thẳng vô nhà tắm.
    Thư không đi theo mà nằm im trên giường, làm bộ giận dỗi để không phải chịu đựng thêm bất cứ một điều gì. Đột nhiên lẩm bẩm:
    -Trái đất sao mà nhỏ như cái nồi cám heo.
    Ông Tiến hỏi:
    -Em nói cái gì đó?
    Thư làm thinh, kéo mền trùm kín đầu.
    Ông Tiến bỗng nghe hối hận. Đây là lần đầu tiên ông nặng lời với cô về chuyện tiền bạc. Ổng tắm thật nhanh, mặc đồ xong liền ngồi xuống bên cạnh cô, kéo tấm mền ra rồi hỏi:
    -Em giận anh rồi hả ?
    Thư đáp, giọng nghẹn ngào:
    -Anh đối xử với em y như mấy con điếm hạ cấp vậy đó !
    Ông Tiến xuống nước:
    -Anh xin lỗi, anh đâu dám có ý đó. Anh biết em là con nhà đàng hoàng, có học thức...
    Thư khóc to:
    -Tại thương anh nên em mới lâm vào cái cảnh như thế nầy. Mấy đứa bạn của em, tụi nó đứa nào cũng chồng con đàng hoàng, đâu có sống cái cảnh lén lút, hồi họp như em.
    Ông Tiến càng ăn năn thêm, van nài:
    -Thôi cho anh xin, đừng khóc nữa. Anh biết lỗi rồi, từ nay không tái phạm nữa đâu.
    Để thể hiện thiện chí của mình, ổng móc cái bóp rút ra mấy tờ giấy xanh đặt lên bàn ngủ.
    Ổng cúi xuống hôn lên má Thư rồi nói:
    -Anh về nghe ! Chiều nay em đừng nấu cơm, đi ăn ngoài cho khỏe .


    Ông Tiến đi khá lâu rồi mà Thư vẫn còn nằm miết trên giường.
    Từ lúc biết người vừa đóng vai chú rể để cứu cô ra khỏi cái cảnh bị gia đình, xã hội khinh khi, ruồng bỏ, cũng chính là người đã cứu mình thoát khỏi cảnh tù tội của mấy năm trước, Thư lo bấn lên liền. Cô chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ đến bất cứ chuyện chi, bất cứ người nào, cho dù hệ trọng đến tính mạng, nói gì tới mấy cái chuyện ăn với uống.
    Bây giờ cô đã hiểu ra cái nhìn trân trối của ông Hùng khi gặp mình hôm trước. Đó là cái nhìn sửng sốt vì bất ngờ chớ nào phải bị tiếng sét ái tình như cô đã nghĩ.
    Nỗi xấu hổ bỗng dâng trào rồi nhận Thư chìm lĩm. Thư kéo mền trùm kín đầu, cảm giác như có ai đang đứng trước mặt và nhìn mình một cách hết sức nghiêm khắc.
    Cái kỹ niệm mà cô giấu tận đáy lòng, chẳng bao giờ chủ động lấy ra xem ấy, như khúc phim đang chiếu thật chậm. Từng chi tiết bỗng hiện ra mồn một :
    Cô nhớ đến đôi mắt thật hiền nhìn cô đầy thương cảm trên gương mặt thanh thoát như tiên của người đàn ông ấy. Nhớ cảm giác sượng sùng của mình khi xỏ tay vào chiếc áo đi mưa cũ mèm. Nhớ hai bắp cơ to như hai con chuột trên cánh tay khi ông ta gồng mình dốc hết khả năng mà bơi. Nhớ cái động tác cúi rạp người và vung cây dầm lia lịa. Nhớ tiếng đạn xé gió cùng tiếng cây dầm xé nước rào rào. Nhớ cả những giọt nước bị bắn tung lên trời, lóng lánh như kim cương dưới ánh trăng...
    Thư nghĩ thầm:
    -"Chắc ông ta thất vọng về mình lắm !"
    Bỗng dưng cô buộc miệng phân bua:
    -Thông cảm giùm tôi đi. Tôi yếu đuối và bất hạnh lắm !
    Thốt ra câu đó xong, Thư nghe tủi thân quá, nước mắt liền lăn dài trên đôi má.
    Thư bỗng căm giận xã hội sao hết sức bất công, liệt cái mặt hàng duy nhất mà cô có vào loại hạng bét. Nếu đó không là một nhu cầu bức thiết đối với nam giới và được họ săn lùng ráo riết thì làm sao xuất hiện những nhà cung cấp như cô. Nó còn quan trọng, cần kíp gấp mấy lần chuyện cơm, áo nữa là đằng khác, bởi không ít người đàn ông phải bỏ danh dự, tài sản, sinh mạng của họ vì nó.
    Thử hỏi nếu không có mấy người phụ nữ như cô, xã hội sẽ giải quyết vấn đề ấy bằng cách nào ?
    Đâu phải ai ai cũng may mắn tìm được nửa kia của mình. Cho dù tìm được rồi thì cũng "hãy đợi đấy !" chớ đâu có "muốn là được" ngay đâu. Những lúc ấy, nếu không có những cô gái tội nghiệp đó, thì ai có thể giúp họ giải quyết cái nhu cầu mà "trời cho không nhận không xong" ấy ?
    Xét cho cùng, những bức xúc của Thư đâu phải là không chính đáng. Những người phụ nữ trót mang cái nghiệp : "Sống làm vợ khắp người ta " ấy, đáng lẽ được xem như ân nhân của nhân loại nói chung và nam giới nói riêng. Đáng lẽ họ phải được đền đáp một cách thỏa đáng. Đáng lẽ mỗi năm nên có một ngày vinh danh, để ghi nhận công lao to tát ấy. Thế nhưng ngược lại ! Họ bị khinh khi, rẻ rúng đến tận cùng !
    Điều nầy khiến những "công nhân" của cái nền công nghiệp rất sạch vì không xả khói và rác, cũng không tiêu tốn nhiên liệu nhiều như mấy ngành khác vì chỉ diễn ra trong bóng tối, hoặc dưới mấy ngọn đèn mù mờ ấy, mang mặc cảm mình là đồ bỏ đi rồi nãy sinh những tư tưởng tiêu cực, không còn quý trọng bản thân nữa.
    Với những người mà ngay cả bản thân còn không yêu quý thì đừng đòi hỏi họ quý trọng điều chi. Họ sẽ trở nên nông nổi, sẽ bị lợi dụng, biến thành nạn nhân và công cụ của những kẻ giàu thủ đoạn. Bị ngược đãi nên đôi khi họ cư xử hết sức tàn nhẫn với những người khác, kể cả với bản thân.
    Chính giống đực là nguyên nhân trực hoặc gián tiếp đưa đẩy các cô gái đến cái khổ nghiệp ấy. Họ thực hiện hành vi bóc lột của mình một cách vô cùng tinh vi rồi sau đó lại trục lợi. Họ cố tình gieo rắc trong tâm thức của giống cái rằng đó là điều đồi bại nhất của đàn bà, một cái tội tày trời không thể thứ tha. Họ khiến cho những cô gái sa chân vào cái nghề ấy bị dày vò cả tinh thần lẫn thể xác. Những người phụ nữ nào đã thực hiện việc giao phối không phải với chồng của mình, cho dù là chủ động hay thụ động, đều mang mặc cảm có tội, phải giấu kín bưng và sống với cái tâm trạng nơm nớp lo âu suốt đời.
    Nếu công việc của họ được đánh giá một cách thật công bằng, sáng suốt. Nếu xã hội không do đa số đàn ông điều hành. Nếu nam quyền không đặt lên hàng đầu. Nếu cái đẹp về hình thể không được suy tôn quá đáng... thì cái mà người ta đang gọi là "tệ nạn" ấy, đâu trở nên vượt quá tầm kiểm soát.
    Từ ngày căn bịnh Aids hoành hành, những con bướm đêm ấy lại càng bị truy lùng dữ dội. Họ lại bị gán cho cái tội gieo rắc dịch bệnh, tai ương.
    Lại một lần nữa, họ, những nạn nhân lại bị đối xử y như thủ phạm. Mà theo Thư và một số người khác, thì nguyên nhân tạo nên đại dịch ấy, bắt nguồn từ những đôi "pê đê" mà thôi.
    Cái thân phận bị mua và bị ngược đãi ấy được áp đặt cho tất cả phụ nữ, không loại trừ một ai, kể cả những người xuất thân từ giới quý tộc, như công chúa Huyền Trân chẳng hạn.
    Bà công chúa ấy đã có công với đất nước biết bao ! Nhờ bà nên nước ta mở mang thêm bờ cõi mà không tốn đến một giọt máu.
    Thế nhưng để đền đáp lại bà đã phải chịu biết bao nhiêu lời đàm tiếu.
    Và như còn chưa đã nư giận, ông trời bắt bà phải gánh thêm sự dè bĩu của hậu thế cho đến tận ngày nay. Biến con đường mang tên bà thành cái chợ tình tai tiếng nhứt Sài Gòn.
    Một nữ sĩ khác còn có số phận bi đát hơn Công Chúa Huyền Trân, đó chính là bà Thị Lộ, vợ của vị đại thần Nguyễn Trãi. Bà bị chồng dâng cho vua, khi vua chết và cho dù nguyên nhân không phải do bà. Bà vẫn bị xử tử hình với bản án dìm cho chết ngộp.
    Cái mạng của một vị vua, cho dù là loại sâu dân mọt nước, cũng được xem là một tổn thất nặng nề của đất nước. Để bù đắp lại người ta bèn giết thêm những vị công thần, những trang liệt nữ khác.
    Người ta ca tụng bà Trưng, bà Triệu, bà Bùi thị Xuân bởi công trạng của họ mang hơi hướm của đàn ông. Họ cởi voi, cầm giáo, giết quân thù chẳng gớm tay. Những người phụ nữ giữ đúng bản sắc, dùng khí giới của chính mình, cho dù có xã thân vì nước cũng chẳng ai được vinh danh như vậy.
    Sinh ra làm đàn bà là phải chịu đựng biết bao nhiêu thiệt thòi. Ngay từ lúc lọt lòng đã không được hân hoan chào đón. Ở một số quốc gia, đẻ con gái là một thảm họa, đứa bé đó có khi còn bị giết chết. Cho dù ai cũng biết rằng không có họ thì nhân loại sẽ đi đến chỗ diệt vong, thế nhưng cái hành động giúp lưu truyền nòi giống đó lại bị cho là tội lỗi, nhứt là đối với những người phụ nữ không có được cái chức danh "vợ".
    Ngày nay ai cũng thơn thớt cái miệng là mình chủ trương nam, nữ bình quyền, thế nhưng thử đến mấy cái nhà bảo sanh mà coi. Những ca sanh con so là trai, chẳng những ông bà nội ngoại, cha mẹ đứa trẻ sơ sinh đó mừng rở tột cùng. Các bác sĩ, y tá mặt mày cũng tươi rói.
    Họ nói như reo với sản phụ:
    -Xin chúc mừng, bà đã có một cậu quý tử rồi !
    Ở những ca sanh con gái họ cũng thông báo như trên, có điều bỏ bớt ba chữ "xin chúc mừng", bởi đâu biết người mẹ ấy có mừng không mà chúc .
    Cái nghiệp "làm vợ khắp người ta " ấy là một loại mực mà những người phụ nữ không may mắn như Thư, nếu đã lỡ dính vào thì chẳng bao giờ gột rửa cho sạch bong. Chúng suốt đời như một vết thương chẳng bao giờ lành. Họ sẽ mãi mãi băng bó và luôn luôn đau xót.
    Càng nghĩ Thư càng uất ức, nước mắt cứ tuôn ra không kềm lại được. Đó là những giọt nước mắt hết sức lẽ loi vì đâu ai chia sẻ! Và đó mới chính là những giọt nước mắt thật nhất, mặn nhất, xót xa nhất...Nó có vị cay đắng của nỗi tủi buồn, mùi mục rửa của một loại hoa không kết trái.
    Thật ra với công việc và đồng lương hiện tại Thư có thể duy trì cuộc sống mà không cần phải lệ thuộc vào ông Tiến. Thế nhưng cô đã quá gắn bó với những tiện nghi vật chất. Với căn nhà khang trang. Với cái phòng ngủ có gắn máy điều hòa. Với cái giường đắt tiền, tấm nệm Kim Đan, bộ drap gối mền cao cấp. Với cái tủ lạnh đầy nhóc trái cây cùng những thức ăn xa xỉ mà ngày xưa Thư không nuốt nổi như phô mai, bơ, ma don ne...Tất cả những thứ ấy giờ đã quen thuộc đến độ trở nên cần thiết như không khí và nước đối với cô vậy. Cần thiết cho đến nổi cô phải có chúng bằng mọi giá, kể cả phải đánh đổi lòng tự trọng của mình.
    Chiếc xe Dream, điện thoại di động, kể cả chiếc nhẫn nhỏ xíu Thư đeo trên ngón tay...Tất cả đều cho Thư một niềm khoái cảm sâu xa, êm ái khi nhìn ngắm. Chúng đều do ông Tiến mua tặng, Thư yêu chúng nên yêu luôn ông ta từ hồi nào chẳng biết.
    Sự xuất hiện của ông Hùng khiến Thư lo sợ rằng một ngày nào đó, ông Tiến sẽ biết được quá khứ của cô và không nhìn nhận đứa bé trong bụng cô là con của ổng.
    Người ân nhân mà đã bao lần Thư nhớ đến với lòng biết ơn sâu sắc, bây giờ bỗng trở thành một mối hiểm nguy bậc nhất. Đe dọa sẽ phá hủy toàn bộ cuộc sống của cô. Cho nên thay vì đền ơn, cô chỉ muốn tống ông ta bay ra khỏi trái đất càng xa, càng tốt.
    Khóc đã thèm rồi, nước mắt cạn hết rồi...Thư dần dần lấy lại sự bình tâm. Tuy nỗi buồn phiền, sự lo sợ vẫn còn tràn tới miệng, nhưng đầu óc đã nhẹ đi nhiều và tỉnh táo hơn một chút. Thư cũng đã nghĩ ra được giải pháp: Cô sẽ đi tìm ông Hùng, năn nỉ để ổng không kể với ông Tiến việc cứu cô. Trong trường hợp ổng không đồng ý, cô sẽ làm mất uy tín của ổng, bằng cách nói với ông Tiến là ông Hùng đã tỏ tình với cô và bị cô cự tuyệt, để rủi mà ông ta có kể thì ông Tiến cũng không tin.
    Nghĩ thông rồi là Thư thực hành liền. Cô tốc mền ngồi dậy, đi rửa mặt, thay đồ để đến nhà ông Hùng không chậm trễ một giây nào.
    Thư chọn bộ đồ giản dị nhất. Cô không trang điểm, chỉ chải tóc cho thật thẳng, rồi cột lại bằng sợi dây thun màu đen. Cô biết mình phải trông thật đơn sơ, hiền lành, mộc mạc trước mặt ông Hùng thì ông ta mới có thiện cảm với mình. Những típ người như ông ấy, phương pháp hữu hiệu nhứt để sai khiến chính là khơi gợi cái lòng trắc ẩn, vốn hết sức dồi dào trong họ.

    Thư cứ tưởng là mình chẳng thể nào quên cái xóm nhỏ ấy, nào ngờ đi tìm loay hoay, đảo tới, đảo lui cả tiếng đồng hồ cũng chưa gặp.
    Hôm ấy cô đi khỏi chỗ đó lúc tờ mờ sáng, lại quá hổ thẹn nên cứ cắm đầu mà bước. Lúc đó cô đâu có nghĩ sẽ quay trở lại để mà ráng nhớ. Hơn nữa mấy năm gần đây, Sài gòn thay đổi nhanh đến chóng mặt, cho nên Thư cứ đi lòng vòng mãi mà không tìm ra được.
    Chán nản quá Thư bèn dừng xe lại, ngó quanh...
    Một giọng phụ nữ đon đả:
    -Mua đậu phộng nấu đi cô. Bữa nay có đậu mới, ngọt và chắc lắm !
    Thư nhìn người phụ nữ trung niên có gương mặt khá dễ coi ấy. Cười thật tươi để lấy cảm tình rồi hỏi:
    -Chị làm ơn cho em hỏi thăm. Chị có biết nhà của cái ông bơi xuồng đi vớt rác trên sông không vậy ?
    Người phụ nữ ấy lớn tuổi hơn Thư nhiều nên nghe Thư gọi mình bằng chị thì khoái ra mặt.
    Cô ta đáp một cách sốt sắng:
    -Biết chớ sao không? Ổng ở sát vách với tui mà .
    Thư mừng rơn vội nói:
    -Chị cho em mua hết cái chỗ đậu phọng nầy nghe ! Em xin phép chở chị về và nhờ chị chỉ cho em nhà của ổng có được không chị ?
    Cô Tám, người phụ nữ ấy, mừng rơn nhưng còn làm bộ mại hơi:
    -Cô mua nhiều quá ăn đâu hết. Thôi chờ đó đi, một lát bán xong rồi, tui dắt cô lại nhà ổng giùm cho.
    Thư năn nỉ:
    -Em thích đậu phọng nấu lắm. Bây nhiêu đây em ăn cái một. Chị cứ gói hết cho em.
    Cô Tám bèn trút hết đậu phọng vào cái túi ni lông rồi đưa cho Thư.
    Thư hỏi:
    -Bao nhiêu vậy chị ?
    Cô Tám, cũng như tất cả người bán hàng chuyên nghiệp khác, hể gặp khách mua có vẻ sang sang, thì đều nói:
    -Cô trả bao nhiêu cũng được.
    Thư móc tờ giấy bạc có mệnh giá cao nhứt ra đưa. Cô Tám ngần ngại:
    -Đưa làm chi tiền lớn quá, tui đâu đủ thối ?
    Thư cười, nói cho cổ yên tâm:
    -Chị cứ cầm đi, khỏi thối, đừng có ngại gì hết. May mà em gặp chị chớ không thôi cứ chạy vòng vòng hoài. Bây nhiêu tiền đó cũng không đủ đổ xăng.
    Cô Tám nghe vậy thì mừng rơn, lật đật nhét tờ tiền vô túi.
    Thư đập nhẹ lên yên, chỗ ngay sau lưng, mời:
    -Chị lên ngồi đi, em chở về cho.
    Cô Tám bưng cái rỗ không, thót lên ngồi một bên.
    Thấy cổ không dám ôm mình, Thư nói:
    -Chị cứ ôm chặt em đi, không có sao đâu.
    Cô Tám đáp:
    -Tui nắm cái yên được rồi, không té nổi đâu.
    Thư hỏi :
    -Chạy hướng nào hả chị ?
    Cô Tám đáp:
    -Cô chạy hết con đường nầy là tới một cái hẻm nhỏ. Chạy thẳng vô luôn, mút con hẻm là tới nhà ổng.
    Thư vừa đi vào con đường trải đá nhỏ xíu là nghe mùi sình xông lên nồng nặc. Cô bất giác nín hơi rồi chịu hết xiết nên thở ra một cái khì thật mạnh.
    Cô Tám giải thích:
    -Bữa nay nước ròng nên mới hôi nhiều như vậy đó ! Cô mới tới nên chịu không nổi. Tụi tui ở riết rồi cũng quen.
    Chiếc xe dừng lại trước căn nhà nhỏ còn hơn Thư tưởng tượng.
    Thấy vẻ mặt ngạc nhiên của Thư, cô Tám giải thích:
    -Miếng đất nầy ngay ngã ba, xấu thế lắm, không ai dám cất nhà nên mới còn mà tới tay ổng.
    Thư hỏi:
    -Tại sao ngay ngã ba là xấu vậy chị ?
    Cô Tám giải thích:
    -Đất ngay ngã ba là bị người ta dòm chòng chọc, cái nầy kỵ lắm ! Hơn nữa ngay chóc mũi xe, rủi nó mà đứt thắng là mình lãnh đủ cho nên ai cũng né.
    Thư hỏi như nói một mình:
    -Cái nhà hẹp té như vầy làm sao mà ở ?
    Cô Tám giải thích:
    -Hồi đó ổng ở phía trước, chỗ căn nhà nầy. Bây nhờ nhường lại cho ông Chín nên lui về phía sau. Đi hết cây cầu là tới nhà của ổng liền
    Rồi chỉ tay vào cây cầu cặp bên hông căn nhà hẹp té đó.
    Cô Tám nói thêm:
    -Nhà ổng không chừa đường đi vô nên rộng hơn một chút.
    Cây cầu dựng quá xơ xài, bề ngang chừng năm, sáu tấc vừa đủ cho một người đi. Không đủ chỗ để dắt xe, nên muốn vào nhà Thư phải để xe bên ngoài, mà như thế thì mạo hiểm quá !
    Thấy nét mặt Thư lộ vẻ phân vân, cô Tám đã đoán ra.
    Cổ nói:
    -Cô cứ đứng đó đi, để tui kêu ổng ra giùm cho.
    Rồi cổ kêu to:
    -Anh Hai ơi ! Anh Hai !
    Thấy Thư nhìn mình, cổ giải thích:
    -Hổm rày có một ông ăn mặc rất lịch sự , cũng đi xe "rim" như cô, tới kêu cửa hoài mà ổng không chịu lên tiếng. Chắc thiếu nợ người ta nên lánh mặt. Cô có kêu tới khan tiếng, ổng nghe cái giọng lạ hoắc cũng không chịu ra đâu.

    Chờ hồi lâu không thấy ông Hai lên tiếng. Cô Tám liền nói:
    -Để tui vô coi ổng có ở nhà không ?
    Nói xong cổ cắp cái rỗ bên nách rồi đi te te.
    Chưa đầy mười phút cổ quay ra liền và nói với Thư:
    -Ổng không có ở nhà. Tui nhìn qua kẹt cửa thấy cái nhà trống trơn hà !
    -Không biết ổng đi đâu ?
    Thư thở dài, nói lẩm bẩm một mình.
    Cô Tám cho là Thư hỏi mình, nên trả lời:
    -Chắc ra đình quá !
    Thư hỏi:
    -Đình ở đâu vậy chị ?
    Cô Tám đáp:
    -Gần đây thôi ! Cô cứ đứng đây chờ để tui chạy đi kêu ổng vô giùm cho.
    Cô Tám vừa đi được nửa đường thì đã thấy ông Hai đi lon ton tới.
    Cổ mừng quá, nói rối rít:
    -Có cái cô đẹp lắm đi chiếc xe "rim" mới cáu cạnh tới kiếm anh đó.
    Rồi chỉ tay về phía Thư, nói:
    -Cổ đang chờ kia kìa.
    Ông Hai nhìn theo ngón tay trỏ của cô Tám và nhận ngay ra Thư. Thư đang ngó về hướng ổng nên "chộp" liền tia nhìn đó và gật đầu chào lập tức.
    Ông Hai muốn tránh mặt cũng không kịp, đành đi thẳng tới.
    Ông hỏi:
    -Thư kiếm tôi có chuyện gì không ?
    Thư đáp:
    -Em có chút chuyện định nhờ anh giúp.
    Cô Tám nghe Thư gọi ông Hai bằng anh thì nghĩ thầm:
    -"Con nhỏ nầy thiệt là...Ông Hai ít gì cũng gấp đôi tuổi nó, đáng lẽ phải xưng con gọi chú mới đúng. Dòm cái tướng lịch sự quá mà ăn nói coi bộ không giống người đàng hoàng".
    Cái cảm tình chan chứa cổ đang dành cho Thư bỗng giảm đi năm chục phần trăm.
    Đã vậy Thư còn đuổi khéo:
    -Cám ơn chị nhiều lắm ! Em không dám làm mất thì giờ của chị thêm...
    Vậy là năm mươi phần trăm còn lại cũng đi đời nhà ma. Cổ không chờ Thư nói hết, ngoe nguẩy bỏ vô nhà liền không thèm chào đến một tiếng.
    Đợi cô Tám đi hẳn rồi ông Hai mới nói:
    -Tôi có nói trước với thằng Tiến rồi. Tôi chỉ tham dự đến đó thôi...
    Thư lật đật ngắt lời:
    -Chuyện nầy không liên quan tới anh Tiến. Ảnh không biết em đi kiếm anh đâu. Em không muốn ảnh biết em và anh đã quen nhau từ mấy năm trước nên...
    Ông Hai làm ra vẻ ngạc nhiên hỏi:
    -Thư nói gì lạ vậy ? Tôi với Thư trước đây có gặp nhau đâu mà quen !
    Thư nhìn ổng một cách ngỡ ngàng rồi hỏi:
    -Không phải bốn năm trước, chính anh là người đã vớt em trên cái kinh nầy sao ?
    Ông Hai lắc đầu:
    -Chắc Thư nhận lầm người rồi. Tôi mới về đây ở hơn một năm thôi !
    Thư khăng khăng:
    -Người đó giống hệt anh, cũng ở cái hẻm nầy, không lẽ...
    Ông Hai làm như đã hiểu ra, liền giải thích:
    -Vậy chắc là người ở đây trước tôi rồi. Anh ta bán căn nhà, cái xuồng lại cho tôi. Anh ta trạc tuổi tôi, mặt mày cũng hao hao nên Thư lầm là phải.
    Để thuyết phục hơn, ổng đánh liều:
    -Y ta cũng ở gần đây thôi, hay là tôi dắt Thư tới...
    Thư lật đật lắc đầu:
    -Dạ khỏi ! Dạ khỏi !
    Ông Hai làm bộ tò mò, hỏi :
    -Nếu tôi là y thì Thư định nhờ chuyện gì ?
    Thư đáp lấp lửng:
    -Chỉ là...Chỉ là...mà cũng không còn quan trọng nữa.
    Cô lại bán tín, bán nghi, hỏi tiếp:
    -Sao lúc gặp em anh nhìn sửng sốt như thể nhận ra người quen, làm em còn tưởng...
    Ông Hai cười :
    -Tại lâu quá không thấy người đẹp như Thư nên tôi chới với.
    Thư cười giòn rụm. Sung sướng vì được khen và rũ bỏ mối lo nên bỗng nghe yêu đời phơi phới.
    Cô cao hứng nói:
    -Anh đi dùng cơm với em nghe. Em chưa ăn nên nghe đói ngấu .
    Ông Hai từ chối:
    -Tiếc quá, tôi mới đi ăn chực chỗ thằng em về.
    Thư năn nỉ:
    -Thì ăn thêm nữa, có sao đâu .
    Ông Hai lắc đầu:
    -Bữa nay nó làm mắm ruốc xào xả ớt, ngon quá nên tôi ăn tới hết chỗ chứa. Đành hẹn Thư khi khác thôi !
    Thư thở dài:
    -Biết có còn gặp nữa không mà mời.
    Ông Hai làm thinh.
    Thư bỗng hỏi:
    -Sao anh lánh mặt anh Tiến vậy ?
    Ông Hai giả bộ ngạc nhiên, hỏi lại:
    -Tôi lánh mặt nó hồi nào?
    Thư đáp:
    -Ảnh nói ghé đây kiếm anh hoài mà không gặp.
    Ông Hai cười:
    -Hổm rày tôi đi thăm người bạn ở xa, mới về nhà hôm nay.
    Rồi nói đùa:
    -Thư hên lắm đó, tới ngay chóc. Chắc trước khi đi có vái ông địa phải không ? Bởi nếu sớm hoặc trễ hơn một ngày là không gặp tôi đâu.
    Thư cười:
    -Em có thờ ông địa đâu mà vái.
    Rồi tò mò:
    -Anh định đi xa hả ? Ở đâu vậy anh ?
    Ông Hai gật đầu:
    -Cũng không xa lắm, Bến Lức thôi hà !
    Thư hỏi tiếp:
    -Anh đi chơi bao lâu ?
    Ông Hai lắc đầu, nói đùa:
    -Đi thiệt chớ đi chơi gì. Người bạn đó xúi tôi bỏ nghề vớt rác về đó ở với ảnh.
    Thư hỏi ngay:
    -Bỏ nghề rồi anh làm việc gì ?
    Ông Hai đáp:
    -Ảnh có một mảnh đất, rủ tôi hùn vốn, góp công với ảnh trồng rau sạch.
    Thư mừng quá ! vậy là cô đã có cơ hội đền ơn cho ân nhân.
    Cô nói với giọng đầy ấp nhiệt tình:
    -Làm đi anh, bỏ quách cái nghề cực khổ nầy cho rồi .
    Rồi ngập ngừng đề nghị :
    -Cần thứ gì anh cứ nói với em một tiếng, em sẽ ...
    Ông Hai cười:
    -Chắc không đến nổi làm phiền Thư đâu ! Miếng đất nhỏ xíu hà...
    Thư hấp tấp ngắt lời:
    -Em mang ơn anh nhiều lắm ! Ước mơ lớn nhứt của em là được giúp đỡ anh. Anh hãy hứa là khi nào cần bất cứ điều gì, người đầu tiên anh nghĩ đến phải là em.
    Giọng nói rất thành thật xuất phát từ tấm chân tình ấy khiến ông Hai nghe lòng ngập tràn một niềm cảm động. Ông im lặng hồi lâu để nén cơn sóng cảm xúc đang dâng lên ào ạt, thiếu điều làm nghẹt cái cổ họng. Chờ nó lắng xuống tận đáy lòng, ông mới nói:
    -Tôi không có nhiều nhu cầu nên sự giúp đỡ về vật chất gần như không cần thiết. Chỉ cần Thư sống thật tốt, nuôi dạy đứa bé trong bụng nên người thì tôi vui rồi.
    Lời khuyên chí tình ấy khiến Thư rưng rưng.
    Cô ráng nuốt nước mắt rồi nói:
    -Em xin hứa với anh điều đó !
    Họ vẫn đứng ngoài đường nói chuyện với nhau. Ông Hai không muốn cuộc trò chuyện kéo dài quá lâu nên không mời Thư vào nhà.
    Ở những xóm bình dân, những người lạ đi xe đắc tiền, có vẻ sang trọng xuất hiện đều bị dòm ngó ghê lắm, huống chi đây lại là một cô gái trẻ đẹp.
    Mấy người phụ nữ trong xóm liền đem ghế ra trước nhà ngồi. Họ trò chuyện với nhau một cách rôm rả, nhưng hai con mắt vẫn nhìn về phía ông Hai.
    Ba đứa con trai choai choai kéo nhau đi ngang qua họ, chúng nhìn Thư đăm đăm rồi huýt sáo. Một tên nhỏ nhứt quay lại nhìn Thư thêm lần nữa rồi khen:
    -Đẹp ác !
    Ông Hai bèn giục:
    -Tối rồi, thôi Thư về đi, ở đây lâu bất tiện lắm !
    Thư chỉ chờ có vậy là chào liền:
    -Cám ơn anh đã tiếp chuyện. Em xin phép đi về.
    Rồi rồ máy chạy ào.
    Ông Hai nghĩ thầm:
    -" Cô gái nầy kể ra cũng còn tốt! Cô ta dám đến đây tìm mình để nói tiếng cám ơn mà không ngại thằng Tiến biết được cái quá khứ của cổ. Chắc cổ không hoàn toàn tin lời mình nói đâu. Coi bộ cổ xúc động quá ! Chân thành quá! Chắc sẽ giữ đúng lời hứa với mình".
    Ông Hai nghe lòng lâng lâng, bèn vừa đi vừa chúm môi huýt sáo bản nhạc " Vết thù trên lưng ngựa hoang" mà ngày xưa mình hằng ưa thích. Đã lâu rồi ông không sử dụng cái tài lẻ nầy, nên làn điệu không còn mượt mà như trước, khiến ông hơi hụt hẩng.
    Cô Tám nãy giờ vẫn lắng tai thu âm từng lời chuyện trò của họ, không bỏ sót một tiếng nào.
    Nghe ông Hai nói sắp bỏ nghề và đi xa, cô bỗng nghe lòng buồn vô hạn rồi đâm ra giận ổng ngang xương. Tiếng huýt sáo rộn rả ấy càng làm cô nỗi cơn tam bành.
    Cổ chửi thầm trong bụng:
    -"Cái đồ già dịch ! Mới được con gái tới kiếm, xưng hô anh anh, em em rồi là hồi xuân liền. Làm như thanh niên mới lớn, huýt sáo om sòm nghe mà điếc con ráy !"
    Rồi cổ thở dài, chưa chi mà đã nghe lo: Lo từ nay sẽ phải bỏ tiền ra mua củi, lo xôi cháy không biết bán cho ai, lo trời mưa bán ế chẳng có ai mua mão giùm...

    Căn nhà thằng Út cách nhà ông Hai khoảng nửa thước tây. Đang tuần trăng mật nên đêm nào những tiếng động bên đó cũng xăm lăng qua nơi ông ngủ.
    Những tiếng rên nho nhỏ, những lời trêu chọc, âu yếm của đôi uyên ương đó lắm khi nghe rõ mồn một, chúng gợi cảm quá khiến ông nổi gai ốc đầy mình. Ông thở dài tự nhủ:
    -Tụi nầy nó hiếu chiến quá! Hèn gì ông già Chín phải tống chúng ra khỏi nhà cho lẹ để khỏi ảnh hưởng tới hòa bình thế giới.
    Ông bỗng đâm ra hối hận vì đã chia sẻ lảnh thổ của mình.
    Chẳng riêng gì ông, cô Tám cũng là một nạn nhân trong cuộc chiến đó.
    Một hôm cổ gặp ông Hai trong đình, liền nói:
    -Hổm rày tui tính nhờ anh giúp giùm một chuyện mà kiếm hoài hổng gặp. Vậy chớ anh đi đâu mà cả tuần nay mất tăm, mất dạng vậy?
    Ông Hai đáp:
    -Tui đi Bến Lức! Cô tính nhờ tui chuyện gì?
    Cô Tám chắt lưỡi:
    -Cái chuyện nầy nó ngặt lắm! Nói ra thì kỳ mà không nói cũng không xong.
    Ông Hai đăm đăm nhìn cổ như thúc giục.
    Cô Tám ho khan một tiếng rồi nói:
    -Hổng biết anh có để ý hông chớ từ hôm thằng Út cưới vợ tới giờ tui thấy chỗ ở của mình bất tiện lắm!
    Ông Hai hỏi:
    -Bất tiện cái chỗ nào?
    Cô Tám gắt:
    -Thì còn cái chỗ nào nữa. Cái chuyện vợ chồng phải tối lửa tắt đèn, im ru mà làm, vậy mà tối nào tụi nó cũng rên hừ hừ, có khi ban ngày cũng nghe. Anh thì hổng nói gì, chớ tui có hai đứa con gái, nên ngặt mình dữ lắm! Nhứt là cái con Gọn nó tò mò hơn ai hết. Hôm bữa kia nó hỏi tui vợ chồng thằng Út làm cái gì mà rên dữ vậy, tui không biết trả lời ra làm sao nữa.
    Cổ dừng lại để lấy hơi rồi nói tiếp:
    -Tui tính nhờ anh nói với ông bà Chín khuyên giùm vợ chồng tụi nó giùm, chớ để như vậy tui sợ hai đứa con gái của tui bị ảnh hưởng, đây rồi tụi nó ...
    Nói tới đó cổ ngưng ngang, nhìn ông Hai bằng cặp mắt vô cùng thống thiết.
    Ông Hai cụp mắt xuống để tránh, tuy làm thinh nhưng đưa tay vò đầu liên tục. Điều nầy chứng tỏ ổng đang bức rức, suy nghĩ dữ dội, cô Tám thấy thể thì tràn trề hy vọng.
    Cổ nói tiếp:
    -Anh là người ơn của họ, anh nói họ mới chịu nghe, chớ tui mà mở miệng chắc bị chửi te tua. Thôi anh ráng giúp giùm tui nghe. Cái ơn nầy tui không bao giờ quên đâu!
    Nói xong cổ đưa tay chùi mắt. Ông Hai thấy tội cho cổ quá không nén nổi cái gật đầu, chừng ý thức lại ông hoảng hốt chỉnh liền:
    -Chuyện nầy tế nhị lắm cô Tám ơi! Tui mà nói dám thằng Út nó chửi là tui để ý rình rập vợ chồng nó! Bà con láng giềng hiểu lầm thì khó mà sống lắm!
    Cô Tám lắc đầu:
    -Ở xóm nầy ai cũng biết anh là người đàng hoàng nhứt mà, anh đừng có ngại.
    Ông Hai thở dài, linh cảm mình sắp gặp rắc rối. Ông đâu có ngờ rằng mình đang đứng trước một tai họa, xém mất mạng chớ chẳng vừa.
    Số là cách một hôm sau khi ông thuật lại cho ông Chín nghe những lời than phiền của cô Tám, thì ngay chiều hôm đó, lúc đang ngồi coi ti vi trong đình, con Gọn bỗng chạy a vào vừa lôi tay ông đứng lên, vừa nói:
    -Bác Hai ơi ! Bác chạy lẹ đi, anh Út đang xách dao đi kiếm bác đó!
    Ông hết hồn hỏi:
    -Sao nó lại xách dao đi kiếm. Có chuyện gì vậy?
    Con Gọn vừa rung vừa nói:
    -Hồi trưa nầy ảnh uống rượu với ông Tư nhậu, không biết nghe xúi quẩy cái thứ gì mà ảnh cứ chửi om sòm rồi đòi kiếm bác để xin tí huyết đó!
    Ông Hai hết hồn, chưa kịp phản ứng là nghe tiếng thằng Út rống to ngay trước cửa:
    -Hai rác đâu! Ra đây trình diện coi! Mầy hổng biết thân, biết phận mà đòi dê vợ tao hả? Tao đâm cho mầy lòi ruột để chừa cái tánh ba mươi lăm nầy mới được.
    Ông Hai tức đến không còn biết sợ, ông xô con Gọn qua một bên rồi xông ra cửa. Thằng Út vừa thấy ông Hai là chẳng nói chẳng rằng, đưa thẳng cái tay cầm dao lên cao rồi chém mạnh xuống.
    Ông Hai lạng người qua một bên rồi đá thật mạnh vào cánh tay của nó. Con dao văng thẳng lên trời khoảng ba thước thì quay trở lai. Nó cắm cái mũi xuống đất, canh đúng ngay cái đầu thằng Út mà lao xuống. Thằng Út sợ đến nổi cứ đứng chết trân. Khi con dao cách cái đầu thằng Út chừng năm tấc, ông Hai liền nhảy vọt lên rồi chụp lấy cái cán một cách gọn hơ.
    Có tiếng nhiều người la hét và tiếng ngã đánh huỵt của một người nào đó ngay sau lưng ông. Ông Hai quay mặt lại nhìn. Mai, cô vợ mới tinh của thằng út đang nằm sóng xoài trên mặt đất.
    Thằng Út ngó ông hai một cách sửng sốt, miệng há hốc. Nó không ngờ người đàn ông ốm nhom, coi bộ nhu nhược nầy có võ nghệ cao cường đến vậy.
    Ông Hai nhìn nó trừng trừng, đặt cây dao vô tay nó rồi gằn từng tiếng:
    -Tao, không, có, tình, ý, gì, với, con, vợ, của, mầy, hết!
    Thằng Út mặt mày xanh lè, môi tái nhách, cầm lấy cây dao bằng bàn tay rung bần bật
    Sau chuyện đó tiếng tăm của ông Hai bỗng nổi như cồn.
    Tư lùn vâng lịnh sư phụ đến tìm ổng mỗi ngày để kêu gọi sự hợp tác nhưng ông Hai vẫn bặt vô âm tính! Cả xóm Đình xôn xao, huyền thoại bắt đầu dệt quanh ông Hai, sự vắng mặt của ông ngay sau đó, càng khiến nó trở nên hấp dẫn và vô cùng bí hiểm.
    Từ hôm ấy trở đi, bà con xóm Đình không còn gặp lại ông Hai thêm một lần nào nữa. Căn nhà ông bỏ trống một thời gian rồi sau đó sáp nhập vô nhà cô Tám. Cổ giải thích với mọi người là ông Hai đã bán cái phần sau đó cho cỗ với giá một chỉ vàng.
    Kể từ khi xảy ra cái chuyện bị tước dao, thằng Út không còn cặp kè với Tư Nhậu nữa. Nó chiếm luôn con đường để căn nhà rộng ra thêm một chút. Hai vợ chồng nó cũng bớt hùng hục, chiến tranh coi mòi lắng dịu.
    Thỉnh thoảng có một người đàn ông sang trọng, chở một cô gái khá đẹp đến kiếm ông Năm để hỏi thăm về ổng. Lần nào ông Năm cũng lắc đầu bảo với họ rằng mình không biết.
    Con Lẹ thi đậu vô cái trường đại học gì đó, thế là giá trị của cô Tám được tăng lên mấy bậc. Bây giờ trong lời nhiếc móc chồng của vợ Tư Nhậu, có thêm tên của cổ.
    Cô Tám bắt đầu làm thêm cái nghề buôn gạo, cô hay đi về miệt Long An, chợ Đệm để mua rồi bán lại cho bà con trong xóm. Một hôm cổ rỉ tai với con Gọn rằng lúc đi ngang cây cầu bến Lức, cổ có trông thấy một người bơi xuồng vớt rác trên sông. Vì xa quá lại ngồi trên chiếc xe chạy rất nhanh, nên cổ không biết đó có phải là ông Hai hay không.
    Con Gọn cằn nhằn:
    -Sao má hổng xuống xe mà con có phải là ổng hông ?
    Rồi rủ:
    -Hôm nào con với má tới đó kiếm bác hai nghen?
    Cô Tám gật đầu, đôi mắt bỗng trở nên mơ màng...

    HẾT
     
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 18.09.2019 10:55:58 bởi Lâm Du Yên >
     
    #2
      Thanh Vân

      • Số bài : 2972
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 28.05.2007
      • Trạng thái: offline
      Re:NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG 20.09.2019 03:26:19 (permalink)
      NGƯỜI VỚT RÁC TRÊN SÔNG
       
      Đã mang vào thư viện
       
      Cảm ơn và chúc tác giả luôn vui
       
      Attached Image(s)
      Cuộc đời một giấc mộng
      Thời gian thoáng mây bay
      Nguồn tâm không xao động
      Khoan thai
       
      #3
        Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark

        Chuyển nhanh đến:

        Thống kê hiện tại

        Hiện đang có 0 thành viên và 3 bạn đọc.

        Chú Giải và Quyền Lợi

        • Bài Mới Đăng
        • Không Có Bài Mới
        • Bài Nổi Bật (có bài mới)
        • Bài Nổi Bật (không bài mới)
        • Khóa (có bài mới)
        • Khóa (không có bài mới)
        • Xem bài
        • Đăng bài mới
        • Trả lời bài
        • Đăng bình chọn
        • Bình Chọn
        • Đánh giá các bài
        • Có thể tự xóa bài
        • Có thể tự xóa chủ đề
        • Đánh giá bài viết

        2000-2020 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9