TẢN VĂN NGUYỄN QUỐC VĂN/ PHẦN 2/ TIẾP "Thao thức nỗi niềm quê" hay Tản văn NguyễnQuốc Văn
Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 16 bài trong đề mục
Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 11:05:38 (permalink)
GIỚI THIỆU:
Nguyễn Quốc Văn sinh năm 1954, quê Nam Định, sống tại Sài Gòn, hội viên Hội Nhà văn Tp. Hồ Chí Minh. Tác phẩm chính: Thao thức nỗi niềm quê (tản văn) , Tản văn Nguyễn Quốc Văn (tản văn), Mùa hoa điệp vàng, Tro bụi, Đất vuông tròn, Chuyện của hồn ma (truyện ngắn), Nhớ cộng nhớ, Vẽ tuổi, Những ngôi mộ chữ (thơ)...


Món quà thơm thảo của mùa xuân

Không ít lần trong đời, tôi đã phải trải qua những ngày đói quay đói quắt. Lẻ gạo, bắp ngô, củ khoai, củ sắn, nắm rau xanh, ngọn cỏ lành lúc ấy quý ngang vàng. Bữa đói, chúng vỗ về, dằn cái cồn cào trong dạ xuống. Khi no, chúng xoa dịu, làm cho nỗi nhớ đồng quê phần nào được nguôi ngoai. Bởi vậy, vào những lúc trời đất chuyển mùa, đổi tiết, tôi thường bâng khuâng vin vào các loài cỏ, hi vọng qua một sắc xanh có thể tìm thấy một chút hơi ấm của quê nhà. Ví như cây cỏ khúc.

Khúc chưa được gọi là rau mà chỉ là một loài cỏ dại. Thân khúc cằn cỗi, thấp bé. Lá tròn, dẹp, hai mặt lá phủ một lớp lông mịn li ti màu nhũ. Hoa cỏ khúc phơn phớt trắng, nhụy vàng mơ, lúc nào cũng như còn chúm chím nụ. Thứ cỏ này mọc hoang, chen lẫn vào trăm ngàn loài cỏ dại trên những vạt đất ẩm nơi chân đê sông Đuống, sông Hồng, sông Ninh, sông Đáy hoặc ven những bờ cừ, bờ mương ngang dọc khắp bề mặt ruộng đồng bằng Bắc bộ. Nhưng có lẽ, nơi khúc ưa phủ xanh nhất lại chính là các diệc mạ sau vụ cấy lúa chiêm.

Trong cái lạnh hun hút suốt mùa đông, cỏ khúc buộc phải thu nhỏ lại, dồn nhựa sống xuống thân, ủ sâu vào trong rễ. Tới độ xuân về, bén hơi ấm gió nồm, nhờ mưa phùn, khúc trở nên mỡ màng, ánh lên sắc bạc dưới nắng hoe. Vào thời điểm này, nhổ cây cỏ khúc, bấm nhẹ vào thân rễ, người ta bất giác được thưởng một vị hương hơi ngai ngái, nồng nồng. Đấy là thứ hương dại khờ man mác chứ không nồng đậm như mùi thơm của các loài hoa cúc trồng trong vườn nhà, được bàn tay con người tỉa tót, chăm sóc đến nơi đến chốn. Có thể đấy còn là một lời mời gọi kín đáo, khe khẽ...

Tôi biết có rất nhiều người, đặc biệt là những người làm bánh tinh đời, cảm nhận được tiếng gọi vô thanh kia. Vì chẳng phải ngẫu nhiên, chỉ riêng trong trường hợp này thôi, người ta bỗng ưu ái gọi tên cỏ khúc là rau khúc! Việc thay đổi cách thức gọi tên muôn loài, thực ra đã diễn ra từ hàng ngàn hàng vạn năm trước, kể từ khi con người biết hòa đồng vào tự nhiên, chọn cỏ cây hoang dã làm thức ăn, làm thuốc chữa bệnh, làm đẹp cho đời. Nhưng chỉ đến khi người nông dân Bắc bộ gọi cỏ khúc là rau khúc, loài cỏ dại này mới tạm được coi như một thứ rau đặc dụng. Dĩ nhiên, cho tới thời điểm ấy, vẫn chưa hề thấy ai trồng khúc trong vườn. Khúc vẫn mọc tự nhiên ở những nơi nó có thể mọc. Nói khác đi, khúc vẫn chỉ do trời gieo cấy. Mặc dù thế, khúc vẫn là thứ rau của trần thế, dành cho cõi tục. Vì sao lại như vậy ư? Câu trả lời sẽ hết sức đơn giản là, ấy là do ý của con người muốn vậy. Đồ vật, thức ăn đặt ở chỗ này thì sang, chuyển đến nơi chốn khác có thể gọi là hèn; đưa lên bàn thờ thì thành vật dâng cúng, còn bày ra chợ để bán thì lại hóa một món quà!

Chuyện cỏ cây cũng lạ, nhiều khi hao hao, hoặc gợi liên tưởng tới số phận của con người. Từ giàu tới nghèo, từ sang đến hèn, nhiều khi cũng chỉ do hoàn cảnh, chỗ đứng trong cuộc đời? Thảng hoặc, trong một vài chuyện hi hữu, giữa con người và vật vô tri còn có một mối dây liên lạc vô hình nhưng gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Ví như câu chuyện bạn bè của tôi thuở thiếu thời chẳng hạn. Ngày ấy, do hiểu lầm một người bạn mà tôi cho là xấu chơi, tôi đã định cắt đứt hoàn toàn quan hệ với anh ta. Chẳng biết do ai kể lại, bố tôi phong thanh biết chuyện. Người hỏi tôi khá cặn kẽ về anh bạn và đưa ra một lời khuyên rất lạ lùng: “Con nên tới nhà bà Huyên, hỏi ông bà ấy làm bánh khúc như thế nào đã. Rồi thì có bỏ bạn cũng chưa muộn đâu!”. Tôi đã nghe theo lời khuyên đầy ẩn ý ấy và lẳng lặng đến nhà người chuyên làm bánh khúc. Nhìn đôi vợ chồng già gò lưng, lóc cóc giã những nắm cỏ khúc, vắt lấy nước trong, bỏ bã, tôi bỗng giật mình. Làm bánh mà cũng công phu, vất vả đến thế sao! Nhưng đó là công việc sinh nhai, là một nghề để sống, nên ông bà Huyên đã hầu như không biết đến nỗi vất vả của mình, họ chỉ thấy niềm vui trong công việc tạo ra những cái bánh thơm ngon, bán rất chạy trong những phiên chợ Thượng trong cả tiết đông xuân. Riêng bài học muốn luôn được vui trong cuộc đời dằng dặc song cũng không hiếm những nỗi buồn này, mỗi người nên mở rộng lòng, bỏ qua cho nhau những cái mình chưa được ưng ý, gạn đục khơi trong mà nhận lấy những phần tốt của người khác, thì phải rất lâu sau tôi mới nhận ra! Tôi nghĩ, cũng như cỏ khúc hữu ích cho con người chỉ nhờ vào lá và thứ nước chắt ra từ rễ, thân của nó, mỗi người bạn chỉ thích hợp với ta ở từng mặt nào đó, đòi hỏi sự toàn diện e là điều không tưởng. Không có hương vị riêng trời cho ấy, làm sao bánh khúc hấp dẫn được người đời? Không biết neo vào những mặt tốt của người, làm sao ta có bạn trong đời?

Mang trong lòng bài học vỡ lòng từ bánh khúc, lớn lên, tôi hay tự vấn chính mình và thường chủ quan nghĩ rằng, ai đã từng được thưởng bánh khúc ở dốc Lò Trâu, Nam Định, ở đầu làng Nghi Tàm, Hà Nội, ở cổng chợ Sắt, Hải Phòng, hay ở một góc chợ quê xa xăm nào đó vào một sớm gió rét trở mùa, hẳn khó mà quên được hương vị của món quà dân dã ấy. Nhờ bánh khúc bắc cầu, nối nhịp, hồn tôi vẫn còn tơ vương mãi về những nơi chốn mà mình đã từng dừng chân ghé lại dẫu chỉ một đôi lần. Cho đến hôm nay, sau nhiều mùa cỏ khúc mọc rồi tàn, tôi vẫn nhớ như in nét mặt rạng rỡ của bà Minh, người bán bánh khúc ở dốc Lò Trâu, khi bà sung sướng ngồi nhìn đám khách lạ, khách quen của mình đang túm năm tụm ba vây quanh chõ bánh, vừa xuýt xoa thổi, vừa cắn từng miếng bánh khúc nhỏ ngon lành. Tôi cũng không quên được dáng cây đa xòa xuống đất, rễ đa như những cánh tay với xuống chõ bánh khúc đang nghi ngút khói thơm của cô hàng bánh Thu Hương ở đầu làng Nghi Tàm. Tay cô thoăn thoắt đơm xới bánh; miệng, môi, mắt cô tươi cười khi trao gói bánh khúc còn nóng hôi hổi vào tận tay từng người. Trong số thực khách đều đặn vào các buổi sớm, tôi biết nhiều chàng trai ghé qua hàng bánh khúc cốt chỉ để được ngắm nhan sắc mặn mà của cô Thu Hương. Họ phải lòng người rồi phải lòng bánh khúc, hay nhờ hương bánh khúc mai mối mà đến được với người, điều này tôi chưa được tỏ. Nhưng mỗi sáng ghé qua đây, tôi thấy trong lòng thơ thới lạ. Vào những ngày không có việc phải ngang qua làng Nghi Tàm, tôi cứ cảm thấy hẫng hụt, trống vắng thế nào ấy. Nhưng, không hiểu vì lẽ gì, ngày ấy tôi đã cố ép lòng, tìm ra đủ mọi lí do để lẩn trốn mình, không dám thừa nhận cảm giác này chính là một mối tương tư...

Ngược dòng cùng nỗi nhớ, năm nay, đúng vào một ngày gió bấc trở mùa, tôi đã lần tìm về chốn cũ. Và lòng tôi không khỏi nao nao khi hay tin người già đã khuất, người trẻ đã sang sông. Chỉ có hương quê thì vẫn còn đâu đó, ngan ngát vị nếp cái hoa vàng từ cái bánh khúc mà tôi mua vội của một bà lão bán quà sáng cạnh đình làng Khương Trung gần Ngã tư Sở cũ. Tôi đã cầm cái bánh gói tạm bằng lá chuối mật hong sơ lửa trên tay, để cho mùi thơm của gạo nếp, gạo tẻ, đậu xanh, hạt tiêu, hành mỡ, nhất là của hương khúc, lan tỏa theo làn khói mỏng manh. Lúc ấy, tự nhiên tôi lại nhớ tới lời bố tôi nói năm xưa. Rồi nghĩ thầm, những suy ngẫm của người về cái bánh khúc quả thật là rất chí lý!

Theo bố tôi, dựa vào những chiêm nghiệm trong đời, những con chữ trong bộ sách chữ Nôm bìa phết cậy đen mà ông nội tôi truyền lại, thì bánh khúc cũng chỉ là một món ăn mô phỏng, kết hợp hài hòa, sáng tạo ba thứ bánh chưng, bánh dày và xôi của những lớp người đi trước mà thôi. Từ thượng cổ, xôi, bánh chưng, bánh dày đã được liệt vào hạng phẩm vật dùng để dâng cúng các bậc tiên hiền tiên liệt trong các dịp nghi lễ. Riêng bánh khúc, miếng ngon được tạo nên từ những sản vật dung dị của đồng quê, chỉ được người xưa gọi là quà kẻ chợ, dùng để ăn chơi, ăn lấy hương, lấy hoa, lấy thơm, lấy thảo...
Là một thứ thời trân kết hợp nhưng nghiêng về thế tục, cái bánh khúc có đủ cả ba phần. Ngoài cùng là áo bánh. Đó là một lớp gạo nếp mỏng, khi chín gạo sẽ bám vào vỏ bánh. Phía trong là vỏ bánh được nặn bằng hai phần bột gạo nếp pha với một phần bột gạo tẻ. Trong cùng là nhân bánh, gồm đậu xanh giã nhuyễn, hai miếng thịt mỡ quân cờ, điểm thêm một vài nhánh khúc xanh (hoặc đã được giã nhuyễn). Người ta còn có thể gia giảm thêm hạt tiêu, hành củ để tăng hương vị cho nhân. Cách thức làm bánh, đồ bánh khúc cũng rất đặc biệt. Như đã nói qua ở trên, trước khi làm bánh khúc, người ta hái cỏ khúc ngoài đồng về, rửa sạch rồi giã nhỏ, vắt và lọc lấy nước cốt. Đem thứ nước khúc ấy mà nhào với hai phần bột gạo nếp pha một phần bột gạo tẻ, ta được một thứ bột dẻo dùng làm vỏ bao bọc lấy đậu xanh, rau khúc và thịt mỡ. Xong việc, người làm bánh rải một lớp gạo nếp cái hoa vàng dưới đáy chõ, xếp một lớp nhân bánh lên trên và lại rải một lớp gạo nếp, xếp nhân. Chõ bánh được đặt trên một nồi nước, đem đồ chín như đồ xôi vậy. Muốn bánh thơm hơn, có người còn cầu kì dùng nước chắt của cỏ khúc để đồ bánh.

Tôi nhớ, có một lần tôi đem việc này ra hỏi bố tôi. Người chỉ khẽ mỉm cười, rồi buông lửng: “ Con hỏi vì sao người ta lấy nước chắt ra từ một loài cỏ dại để nhào nhân và đồ bánh ư? Trước hết là để cho bánh được thơm ngon”. Tôi gặng: “ Còn sau đó, bố?”. Bố tôi hướng mắt về phía xanh xa, chậm rãi cắt nghĩa: “ Cái bánh khúc cũng có thể là vật tượng trời và đất nhưng không lẫn với bánh chưng, bánh dày; bởi nó gói trọn tấm lòng người thảo dân chốn thôn dã nữa!”. Nghe thì biết vậy thôi, chứ cho tới hôm nay, tôi vẫn chưa đủ khôn để tỏ tường mọi ý nghĩa thâm sâu trong lời nói của người già. Mặc dầu vậy, mỗi khi được tận mắt nhìn những hạt mưa phùn vương trên mặt lá khúc màu nhũ bạc lóng lánh, tôi hay nghĩ thầm, đối với người Việt Nam ta, cho tới hôm nay, bánh khúc vẫn là một trong những món quà xuân thơm thảo của quê nhà! Là cái tình người thôn dã cho nhau…
<bài viết được chỉnh sửa lúc 02.07.2022 11:48:59 bởi Nguyễn Quốc Văn >
#1
    Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 11:10:54 (permalink)
    Lời hoa đồng nội

    Ai chưa từng hưởng thú dạo chợ hoa xuân, thật khó mà tưởng tượng được vẻ đẹp lộng lẫy và không khí Tết nhộn nhịp ở Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng tôi, mỗi khi xuống phố ngắm người, thưởng hoa, tôi thường nghe trong gió thoảng những tiếng thầm thì của cây lá quê nhà gợi nhắc...

    Thuở tóc trái đào, tôi là một đứa trẻ trâu ở một vùng quê nghèo ven sông Đào, nhà mái tranh vách đất. Vượt qua cái cổng làng có hai cánh cửa bằng gỗ lim già dày cả tấc nằm lọt thỏm giữa điệp trùng tre trúc ken kín mít, tầm mắt những đứa trẻ chăn trâu mới được mở. Khoảng trời xanh lồng lộng mây trắng in hình đàn chim trời dàn hàng dọc giang cánh bay về phương nam. Tôi chỉ lờ mờ nghe nói phía ấy là các làng Trại Vĩnh, Đồng Quỹ, Nam Hưng...

    Thả trâu gặm cỏ trên cồn Rùa, lũ trẻ chúng tôi thả sức nô đùa. Chán chơi âm, chơi u, chơi trận giả thì ngồi bệt xuống đấtp mà chọi cỏ gà. Đây là thứ cỏ lá nhỏ, dài, vị ngọt đắng. Hoa cỏ gà chính là những lớp bẹ cỏ xếp chồng lên nhau, hao hao cái đầu gà nhỏ, mào gà là những búp cỏ xanh chụm lại. Người chơi chọi cỏ gà cầm phần cuống hoa quất mạnh vào “đầu gà” đối phương. Hoa bên nào rụng thì bên ấy thua. Đứa ăn gian cầm sát “cổ gà”, bên kia quất cách nào cũng không thắng nổi. Cãi nhau om cả đồng vắng, rồi lại bỏ qua, chuyển sang trò đám cưới, những đám cưới trẻ con phỏng theo những đám cưới thật gần nhất trong làng. Trò chơi này tốn nhiều công, nhưng mà vui. Vì cần rất nhiều hoa cho cô dâu trang điểm. Một cái áo cài đầy hoa sài đất, thứ cúc đồng nội vàng như không thể vàng hơn. Một vòng nguyệt quế tím màu tím của hoa rau muống dại, hoa súng, hoa rau ngổ... Rồi thì lấy đất sét nặn một cái lục bình, cắm vào bao nhiêu là hoa ké vàng, ké xanh. Lại phải có một bó hoa cho chú rể. Và đồng quê lại phải góp hoa dứa hoặc hoa loa kèn dại thơm đến nao lòng... Tôi không nhớ bao nhiêu lần mình được đóng vai chú rể hay phù rể; nhưng gương mặt chúng bạn trẻ con, dù là trai hay gái, dù còn hay đã khuất, giờ tóc đã bạc, mắt nhìn đã kém tỏ, tôi vẫn nhớ nhưl in. Tuổi thơ và hoa đồng nội luôn hiện lên trong tâm tưởng, nhắc nhở tôi đừng bao giờ quên những ngày gian khó nhưng cũng rất đẹp đẽ của một đời người. Tôi hiểu ra rằng, mình yêu đồng không chỉ vì thương lúa mà còn vì gần gũi với các loài hoa cỏ, gắn bó với những đứa trẻ thơ dại, nhờ sắn khoai mộc mạc mà lớn lên...

    Rồi cũng như hàng triệu đứa trẻ nhà quê khác, tôi may mắn được dọc ngang trên những nẻo đường tổ quốc, được gặp rất nhiều hoa. Hoa ban Tây Bắc trắng. Hoa đào Nhật Tân thắm. Hoa lay ơn Đà Lạt đỏ. Và mai, vàng như nắng Sài Gòn.

    Sống ở thành phố Hồ Chí Minh, vào những ngày giáp tết, chỉ cần nhìn nắng dâng đầy mọi nẻo đường thành phố, rắc vàng lấp lánh cả mặt sông Sài Gòn tháng Chạp, tôi đã biết chợ hoa xuân sắp nhóm họp. Nhiều năm nay, có năm chợ mở trước bữa ông Táo về trời, lại có năm chậm mất một ngày. Trong ba ngày 27, 28, 29 tết, việc nhà, việc cơ quan đã vãn, lòng thơ thới, tôi thường rủ vợ con hoặc bạn bè đi ngắm hoa xuân từ khắp mọi miền đất nước gửi về làm đẹp cho thành phố. Cho bõ một năm tất bật cùng công việc, bù cho những lần trắng đêm thao thức, trăn trở bên những trang văn mỗi khi viết xong lại thấy mình nhạt nhẽo. Và để cùng người, cùng đủ mọi loài hoa lá giã từ một năm cũ, dự liệu một hướng đi cho những ngày sau...

    Đi dọc những đường hoa, không ít lần đã ngẩn ngơ trước những giò phong lan ngũ sắc. Vẫn chưa nguôi nỗi nhớ rừng già và thời trai trẻ. Nhìn những dây phong lan, tôi cả nghĩ tay ai vẫn ngoắc tay mình, kéo mình vượt qua những con suối mùa lũ thuở chiến tranh. Lá lan dài như mắt ai sắc lẹm. Lan không biết vẫy, chỉ có hoa lan khẽ nhẹ rung trong gió xuân thị thành. Lan bao giờ cũng vì người. Làm vui mắt những người lính mở thao láo sau cơn sốt rét rừng sâu. Và bây giờ, khi họ cởi áo xanh về phố, lan lặng thầm làm đẹp một khung cửa sổ. Phong lan đưa gió ngàn về làm mát lòng ai, như nhắc một quá khứ không bao giờ phai nhạt. Và hồng, loài hoa dành cho ngày gặp mặt tưởng như chỉ có trong những giấc mơ. Hoa của tình yêu và hạnh phúc. Đỏ như một làn môi ấm! Còn nhớ tay nắm tay người, tôi lạc giữa bạt ngàn hồng gần một khách sạn lớn trong thành phố. Ngất ngây vì người, vì những gương mặt tươi hồng trong gió xuân...

    Nhớ rét đến nôn nao, tôi thường đi tìm đào hỏi chuyện xuân. Hình như tôi ít gặp may, chỉ gặp một thứ đào phai, nụ hoa đã xòe hết, cánh hoa đã nhạt. Thứ đào ấy báo không có cái rét của gió bấc sương muối. Cái rét tê da, tái thịt nhưng biết bù cho mắt người những nụ xuân chúm chím. Cái rét khiến cho cải bắp, sà lách cuộn tròn, rau diếp trong vườn, rau cần dưới ao non búng, mượt như thoa mỡ. Cái rét lẩn vào nồi thịt đông, khi dùng bữa tưởng như có thể nhai nuốt được. Và cái rét là bàn tay vô hình kéo người ta lại gần nhau. Ông bà muốn ôm lấy cháu tỏ lòng thương quý, đôi lứa khát khao được sưởi ấm bằng lửa thương yêu. Cái nhìn tình tứ của người vợ sắc như rét nhưng ấm áp hơn cả lửa nồng. Cái nhìn khiến người chồng thôi chất củi vào bếp, lấy cớ đã khuya mà nhẹ nhàng mời mọi người đi nghỉ. May mà cũng có lần gặp cố tri, mua được một cành đào Nhật Tân chính hiệu. Không phải do người khiến được hoa tươi, mà là do trời đất bảo hoa tươi. Nghe các cụ già sống ở Sài Gòn nhiều năm kháo nhau, thì năm ấy rơi vào chu kì 24 năm một lần vùng Bến Nghé có gió heo may. Đào chúm chím cười, người mở lòng khui chai rượu tết. Xuân ấy tôi say cả ba ngày; nhưng không phải say rượu, mà say vì rượu rót xuống gốc đào. Cành đào chuếnh choáng men, đỏ thắm cả gian phòng...

    Đi chợ hoa, ngoài việc chiêm ngưỡng những tòa nhà chọc trời mới mọc, ngắm những gương mặt tươi cười, những kiểu quần áo đẹp, tôi chú mục nhiều nhất tới mai. Ngắm đến thuộc lòng cả dáng cây, dáng hoa. Tôi còn biết mai dễ tính như người Nam bộ, cắm xuống đất là bén rễ, bật chồi, nảy lộc. Dù là mai tứ quý hay hoàng mai, thân mai đều nâu sẫm, mốc thếch dấu vết của thứ cây rừng được những người đi mở đất đưa về trồng ở vườn nhà. Mai tứ quý nở bốn mùa, nhiều nhất là hoa màu vàng và màu đỏ sậm. Còn hoàng mai, sau khi được người bứt lá, mai dồn nhựa sống, bung nụ. Và, cũng như tính cách người phương nam khoáng đạt, cành mai cắm trong độc bình, sau mấy ngày tết, kể cả những nụ mai bé xíu như hạt thóc cũng xòe nở hết mình....

    Những lần đi chợ hoa, lẫn vào dòng người tầm xuân, tôi đi tìm cho riêng mình những nét chân quê đồng điệu thấp thoáng trong lá hoa. Tôi đồ rằng, trong vô số người lịch lãm kia, hồn hoa đồng nội của nơi chôn nhau cắt rốn vẫn còn ngát thơm tâm tưởng họ. Và năm nào cũng vậy, lúc chợ đã vãn, tôi hớn hở rinh về nhà một cặp mai, đào đang nụ! Cho những ngày xuân sắc, hoa cũng được sóng đôi...
    #2
      Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 11:24:25 (permalink)
      Bạn của người

      Chẳng đợi ngày gió may heo heo thổi, lòng tôi đã ngổn ngang nỗi niềm quê. Khắc khoải nhớ từng mái tranh nép sau lũy tre già xao xác, tôi thương những gương mặt người theo tôi đi dọc một đời người, thương cả con mèo mướp nhỏ bé khoanh tròn tìm giấc ngủ bạn bè ấm áp trong lòng tôi...

      Vậy là trời bắt năm tới nhà tôi nghèo! Bố tôi tặc lưỡi: "Tôi tuổi Mão. Cũng chả bần cùng hơn được nữa!". Còn u tôi thì vừa chít lại cái khăn mỏ quạ vừa bảo: "Một con một của! Biết đâu cái nhau mèo đẻ chả báo vận may". Riêng chị Cam, chị vẫn thẫn thờ như bị ai hút mất hồn vía, đôi mắt ướt cứ hướng ra cửa, tay quên cả việc đẩy củi vào bếp luộc bánh chưng...

      Thuở ấy, ngồi cạnh chị hóng chuyện bố u nói, tôi không hiểu việc con mèo mướp bỏ nhà đi hoang từ mùa thu, bây giờ, đúng vào đêm trừ tịch, nó lù lù dẫn xác về nhà, gào trên mái rạ " ngoao, ngoao", rồi chui vào cái chăn bông trên giường chị tôi đẻ ra một con mèo bé tí tẹo, ướt át có gì là lạ nào? Lạ chăng, là con mèo mẹ không ăn cái nhau của nó, như cố ý tỏ lòng thành bằng cách để cho bố u tôi thấy một cái bọc tím tái bên cạnh một con vật yếu ớt chổng bốn vó lên trời. Nghe phong thanh, khi mèo đẻ, nếu bị người ta trông thấy, mèo mẹ sợ mất con nên thường bí mật tha mèo con đem đi giấu ở một nơi kín đáo nào đó. Nhưng con mèo nhà tôi không làm thế. Nó chỉ mệt mỏi hướng đôi mắt xanh như hai hòn bi ve về phía bố u tôi và khẽ đưa cái lưỡi đỏ nhợt nhạt liếm liếm khắp từ đầu đến chân đứa con bé bỏng. Hình như nó đã phó mặc số phận cho con người quyết định?

      Bố tôi thở dài, bỏ ra nhà ngoài hút thuốc lào vặt. U tôi sai chị Cam lấy một ít giẻ rách lót thêm vào cái ổ gà cũ, bỏ con vật sơ sinh vào trong, bưng xuống bếp. U lặng lẽ gói cái nhau mèo vào lá chuối khô, đem treo ngay trước cửa chuồng trâu. " Mèo thuộc họ hàng nhà hổ, kị với trâu", u tôi nghĩ thế: " Vậy thì vía con trâu hẳn át được vía con mèo, chả còn gì phải lo lắng nữa". Nghe u lập lý, bố tôi ngán ngẩm lắc đầu, lấy con dao phay mới được mài sắc lúc chiều ra bờ rào phạt một ngọn dứa đại đem về buộc lủng lẳng ở chái đông nhà. Lúc sang canh, bố xách hai cái lọ sành ra bến đá kín đầy nước đổ vào chum. Khác với mọi năm, bố ra sông một lần nữa để múc thêm một lọ nước trong, đem đặt trước cửa bếp, miệng lầm rầm cầu khấn một điều gì đó...

      Sáng mồng một, thức dậy tôi đã thấy nắng xiên qua các lỗ hổng trên hồi nhà, lọt xéo tới đầu giường tôi nằm. Đang định vùng chăn nhỏm dậy, chân tôi bỗng chạm phải một vật mềm mềm, nong nóng. Kéo chăn, tôi suýt kêu lên vì kinh ngạc: Con mèo mẹ đang ôm lấy ôm mèo con cũng vừa bừng tỉnh, khẽ kêu một tiếng " meo" ngỡ ngàng, ngọng ngịu. Sợ bố buồn, tôi gấp chăn, mặc cho mẹ con mèo nép vào một góc, chạy ra ngoài. Khói hương trầm từ bàn thờ tiên tổ cuộn vòng tròn len qua mành trúc, vương vấn toả ngát cả khoảng sân...

      Mấy ngày tết hoan hỉ trôi đi. Đã tới ngày chợ Viềng năm có một phiên duy nhất vào mồng tám tháng giêng. Cũng như mọi năm, bố u tôi kì cọ lại cái mâm đồng gia bảo chờ ngày mai đi trưng chợ cho người đời trầm trồ nhìn ngắm và khảo giá chơi. Biết bố chẳng ưa gì con mèo xui xẻo, tôi xin: "Hay là con đem bán cái nghèo đi". Bố tôi không đáp, quay mặt đi nơi khác.
      Quả là bán cái nghèo không dễ như tôi tưởng, chợ đông như nêm cối mà ai đi qua cũng chỉ cười cười với tôi! Cuối buổi, tôi ôm mèo lẽo đẽo theo bố u tôi về nhà. Tới đầu làng, bỗng nghe một tiếng "ngoao", tôi giật mình quay lại, đã thấy mèo mẹ đang chạy vọt lên. Thì ra nó đã đeo theo nhà tôi từ sáng sớm. Chả biết lúc tôi giữ mèo con ở chợ, mèo mẹ nằm ở chỗ nào dõi con nó? Tôi hỏi u, u lại trả lời bằng một câu chẳng đâu vào đâu: "Mẹ nào chẳng thương con!".

      Sau rằm tháng giêng, nhà tôi có chuyện vui. Chị Cam tôi năm ấy mười tám. Chị là con bác Quýnh. Bác gái tôi mất năm chị Cam mới sáu tuổi. Bác trai tục huyền, chị tôi rơi vào cảnh dì ghẻ con chồng. Lúc ấy, bố u lấy nhau đã mười năm mà chưa có con bế con bồng. Thương cháu, bố tôi bàn với u đưa chị về ở cùng, những mong nhờ vía chị mà u tôi sẽ hết hiếm hoi. Chả ai ngờ khi tôi ra đời, nhà thêm miệng ăn, vẫn chỉ có ba sào ruộng nên từ đó chẳng mấy vụ đủ luá xay... Bố tôi bảo, trên đời ông chỉ ghét ba thứ, ấy là giặc ngoại bang, đói nghèo và dốt nát. Bởi thế, khi anh Củng, con trai ông Điền, một người bạn nghèo của bố, nhờ người đến dạm chị Cam, bố tôi đã rất buồn. Mà buồn ai? Chả lẽ lại buồn ông Điền, người bạn nối khố thuở chăn trâu cắt cỏ ngày xưa của mình? Chả lẽ lại buồn giận mình chưa phú quí đã dám khinh bần? Vậy là bố tôi ngửa mặt lên trời, trách Ông Xanh sao nỡ khéo ghẹo người đến vậy! Dĩ nhiên là bố tôi khất lần không nói rõ có hay không nhận lời mai mối xe duyên kia. Chị Cam tôi thì chỉ khóc thầm. Cả anh Củng nữa, anh cao to là thế, mà hôm ông Táo về trời trong năm, đứng cạnh chị tôi dưới tán duối già, tôi chỉ vô tình đi qua mà cũng nghe được rõ cả tiếng hự hự trong lồng ngực anh...

      Sang tháng hai nghe đâu xã có đợt đi khai hoang trên Tây bắc. Bố con anh Củng đã sung sẵn một chân. Rồi đây núi sông cách trở, bao giờ mận đào mới tới được vườn hồng? Chao ôi, buồn như thế gì mà không khóc cho đành! Mà con mèo thì vô tâm quá, cứ một mực "nghèo, nghèo" toáng lên. Chị tôi sụt sùi hết cả nước mắt, nén lòng cười gượng bảo con vật: "Nghèo thì đi khai đất để rũ nghèo. Mày kêu cái nỗi gì?". Hình như câu ấy chạm đến tai bố tôi. Người động lòng, gọi chị Cam lại, nói nhỏ vài câu. Thế là có đám cưới. Và, chị tôi hớn hở sang sang sông, cùng nhà chồng lên Hòa Bình lập xóm mới...

      Mưa dầm rồi cũng tạnh. Nắng đầu tháng ba hoe hoe trên những tàu cau. Ngoài mảnh sân trước nhà, mèo mẹ bắt đầu dạy mèo con những bài học đầu tiên. Nằm cuộn tròn, áp tai xuống đất, nghe. Bất ngờ bật dậy, lao vút về phía góc sân, đưa tay vờn một con gián đang cố vỗ vỗ đôi cánh mỏng. Trở vào góc bếp, nằm phủ phục, đôi mắt mèo vẫn mở nhưng tròng mắt to tròn thu nhỏ lại chỉ còn bằng một đường chỉ mảnh. Bỗng, "xoạt", nó co chân sau phóc vào đống rạ, móc ra một con chuột nhắt, đưa ra sân vờn chơi. Trò mèo đuổi chuột tinh nghịch của đám trẻ con chúng tôi cũng chỉ đến như thế là cùng. Con mèo vờ lơ đãng, nhưng kẻ xấu số chỉ hơi nhúc nhích một chút là nó đã đưa chân trước ra kéo lại ngay. Cho đến khi chán chơi trò ú tim, mèo mới vơ con chuột về phía mình, ngoặm chặt, tha vào chỗ khuất...

      Cùng với những đợt mưa rào đầu tiên, sấm như nâng lúa dậy chật cả đất, đòng đòng thơm ngát cả đồng. Không biêt từ đâu, lũ chuột đồng ùn ùn kéo về. Ngay giữa thanh thiên bạnh nhật, chúng lội bì bõm trong các thửa ruộng nước, thả sức cắn lúa. Chén đẫy bụng, chúng ngoi lên bờ ruộng nhởn nhơ, ghẹo nhau chí chóe. Gặp người, chúng giương mắt nhìn, thách thức. Làng tôi mở chiến dịch diệt chuột. Đánh bả, đặt bẫy, đào hang, hun khói có làm cho họ hàng nhà chuột vơi đi một ít nhưng chúng vẫn còn dư sức để phá nát cả đồng lúa. Bố tôi vốn là người lắm mẹo. Người sai tôi nhốt hai con mèo lại, bắt nhịn đói một ngày rồi ôm chúng ra ruộng nhà, đặt mỗi con ở một đầu bờ. Mẹ con mèo đang lỏng bụng, ngửi thấy mùi thịt, vội lao ào xuống ruộng. Mỗi lần no nê là một lần mèo bị rét, tôi phải vơ cỏ khô hoặc tuốt rờm lúa đốt một đống lửa hong cho chúng. Những tiếng "meo, meo" gieo lơ lửng trên số phận bầy gặm nhấm, khiến chúng khiếp vía bỏ đi nơi khác. Thế là cả làng, trong đó có nhà tôi vẫn có được những niềm vui gặt một mùa chiêm nặng hạt...

      Kể từ đấy, nhà tôi nhìn mèo bằng con mắt khác. Mỗi bữa ăn, u cho cơm vào một cái đĩa cũ, đặt ở góc nhà cho mẹ con mèo. Mèo mẹ rón rén đến gần đĩa cơm. Nó ngửi ngửi rồi né sang bên cạnh, nhường cho mèo con ăn trước. Mèo con thỏ thẻ ăn từng hạt cơm một, vừa ăn vừa khẽ kêu như ngạc nhiên. "Ăn như khách, đẹp mặt nhỉ?", bố tôi đùa với mèo con. Con vật nhìn vào mắt người; như đoán được điều con người đang nghĩ, nó mạnh dạn hơn, chui tọt vào lòng bố, ngước mắt, cọ cọ đầu vào bụng người, nũng nịu. Thoắt cái, nó bỗng biến đi đâu mất...

      Có một lần, tôi thấy hai mẹ con mèo thi nhau cào cào đất dưới góc khuất của giàn bí đao. Cả hai như đang giấu một vật gì....Hỏi, bố cười tủm tỉm: "Giấu của". Sạch sẽ, vệ sinh, ý tứ y như người! " Chả thế mà nó là bạn người?", bố tôi vẫn nói vậy. Con người và con chó là chủ và tớ. Chủ sai bảo gì, tớ răm rắp làm theo, trung thành, tận tụy cho đến chết. Bởi vậy người ta dễ dàng dạy được chó coi nhà, đi săn, tìm kẻ gian; tuy có tốn công chút ít nhưng chẳng mấy khi uổng sức. Còn mèo, thử hỏi trên đời đã có mấy ai điều khiển được? Mèo thích thì làm, thậm chí dám làm điều chó không bao giờ mơ tới là chui vào chăn ngủ với người. Không cho ăn ư, nó tự bỏ đi chỗ khác, hoặc tự kiếm lấy mà ăn. Tài mò cá, rình chuột, bắt chim - nghĩa là khả năng kiếm ăn được ở dưới nước, trên mặt đất và cả ở trên cây - đủ nuôi nó sống nhàn hạ. Mèo chuộng đời sống cá nhân, ít khi sống thành bầy lũ như các loài cầm thú khác, đặc biệt khi nó biết mình đã già yếu. Ví như con mèo mẹ nhà tôi kia, vào đầu mùa hạ, khi thấy mèo con lông đã mượt, ria mép đã đủ cho gió rung rinh, mắt thi thoảng lại sáng loé lên, nó đã chủ động và cố ý lánh xa con. Mèo con vờn, mèo mẹ bỏ đi. Mèo con kiếm được mồi, chạy ngang qua mặt mẹ như khoe hoặc chia sẻ, mèo mẹ cũng lơ đễnh không hào hứng đuổi theo như ngày nào nữa... Nó lặng lẽ, tha thẩn, khi thì ngoài bụi tre, gốc chuối, lúc thì lại ở trên gác bếp, mái nhà. Và, ít lâu sau, bố tôi hỏi sao không thấy bóng nó đâu, u tôi bảo: " Mèo già hoá cáo". Tôi biết u đã lầm nhưng không tiện nói ra việc tôi bới ổ mối cạnh gốc chuối cuối vườn và thấy một khung trắng, dấu vết con mèo mẹ nằm ngủ nghiêng...

      Những tối cuối mùa hạ, đầu mùa thu trăng thanh gió mát, cũng là khi công việc đồng áng đã vãn, trai gái làng tôi thường chia làm hai bên nam nữ, ngồi ở hai bên bờ sông Ngọc hát huê tình, còn gọi là hát giao duyên. Gió từ sông thổi xéo ngang mát rượi, câu hát bên này quấn quýt vào câu hát bên kia. Không rõ hát đối đã xe duyên cho bao nhiêu đôi lứa, nhưng thi thoảng bố tôi vẫn khoe rằng, nhờ tốt giọng hát mà người đã khiến u tôi động lòng. U tôi bảo chẳng phải thế, u thương bố chẳng qua vì người hiền lành, chăm chỉ, và vì nhiều thứ khác nữa. Ví như sự say mê...

      Tôi nhớ có một đêm đám hát phải bỏ dở. Trai thanh gái lịch ai cũng sợ gặp phải chuyện trắc trở. Vì không rõ từ đâu vọng lại những tiếng mèo kêu khản đục và đau đớn quá. Nghe u tôi nói thì đó chính là tiếng con mèo cái nhà tôi. Nó đã tới tuổi trưởng thành, muốn làm mẹ. Khác với con người muốn kết bạn qua lời hát kín đáo, tế nhị dưới trăng thanh, con mèo không biết giấu lòng mình. Nó khát khao được yêu và hồn nhiên gọi bạn tình một cách công khai. Thế rồi, cũng dưới trăng, tôi nhìn thấy ba bốn con mèo đực lần tới. Chỉ có một con của nhà bác Quýnh, ba con kia không rõ tới từ đâu. Hẳn tai của chúng thính nhạy vô cùng, nghe được cả những âm thanh vừa trầm đục, vừa cao vút của mèo cái bay lẫn trong làn gió nhẹ. Sau đấy là một trận hỗn chiến của bốn con mèo đực. Con mèo nhà tôi ngừng kêu, giương đôi mắt xanh biếc trong đêm nhìn cuộc ẩu đả với vẻ thích thú đặc biệt. Những chú mèo si tình vận hết tài nghệ lao, húc, tát, cào, cắn, tung lên, lộn xuống để hạ bằng được tình địch. Thảo nào con mèo đực nhà bác tôi hay tự chuốt răng và vuốt vào thân tre cật. Và nó đã chiến thắng trong cuộc đua tài để lọt vào đôi mắt xanh chỉ thấy trong mơ kia. Chờ cho ba con kia bỏ chạy, con mèo đực vươn vai bước tới trước mặt con mèo cái, hai con vật khẽ kêu "ngoao, ngoao" hoan hỉ và âu yếm chạm má vào nhau, rồi sóng đôi cùng chạy biến ra cánh đồng, lẫn vào màn đêm mênh mông. Chúng đã thành một đôi vợ chồng hạnh phúc...

      Những năm tháng chiến tranh, có lần tôi cùng đơn vị trú quân tại một bản Mèo, Nghĩa Lộ. Hình như thấy tôi quyến luyến con mèo mướp của gia đình là có ý gì đây, một hôm cô Vừ Seo Cải đột ngột hỏi: " Bộ đội có muốn ở lại núi không? Ưng thì hết giặc, về đây mình chăm cho". Tôi đỏ mặt, không biết trả lời ra sao. " Thôi", cô gái Mèo nói: " Mình thích bộ đội thì mình cứ chờ. Mai này, lúc nào viết cái chữ về báo tin cũng được. Nhưng chỉ có ba năm thôi đấy. Không gửi cái chữ về, mình đi đường mình thôi". Cô gái chất phác qúa. Nhưng tôi đã đi xa tới năm năm, chiến trường ác liệt, cái sống còn không dám nghĩ tới, nên đã không kịp gửi cái chữ về cho Seo Cải. Mặc dầu vậy, giờ tóc đã bạc sau hơn ba chục năm ròng, tôi vẫn còn nhớ như in nét mặt đỏ rừ vì lửa bếp và lửa lòng của cô gái vùng sơn cước. Tôi nhớ cô như nhớ một kỉ niệm của một thời hào hoa và hùng tráng của thế hệ mình, thời mà những nguời lính chúng tôi được nhân dân ở mọi vùng đất nước cưu mang, coi như con cái trong nhà, như cá trong nước. Tôi nhớ cô vì chính cha cô đã truyền cho tôi những miếng võ Mèo nhanh và hiểm của ông. Nhờ những miếng võ ấy, không ít lần tôi đã vượt qua được nhiều thử thách và hiểm nguy trong chiến tranh. Điều an ủi tôi là Seo Cải chỉ giữ lời nguyện ấy đúng ba năm. Nghe nói, bây giờ con trai cô cũng đã là một sĩ quan biên phòng, cô lại sắp lên chức bà nội...

      Đất nước thống nhất, tôi trở lại TP Hồ Chí Minh dạy học ở một quận nghèo ven đô. Nhà tôi gần kinh Tẻ nên rất nhiều chuột. Trong một lần về quê, tôi đã đem theo một cô mèo nhỏ, không rõ là hậu duệ đời thứ bao nhiêu của con mèo thời tôi còn thơ bé. Cô mèo này lại sinh ra nhiều cô cậu mèo con, mèo cháu nữa...

      Đối với tôi, tuy chiến tranh đã lùi xa, nhưng dấu ấn của những năm tháng gian khổ lăn lộn trong rừng xanh vẫn còn hiện diện trong từng cơn sốt rét đến rủn người. Vào những lần như thế, trong nhà có bao nhiêu chăn tôi đều bảo vợ đem ra đắp hết lên người. Dĩ nhiên, cái rét từ trong máu huyết ùa ra rồi đọng lại, thấu buốt cả tim gan. Tôi co người, thót bụng lại để giữ hơi ấm. Bỗng lại thấy một con mèo nằm bên cạnh. Hình như, bằng kinh nghiệm của loài vật, nó hiểu rất rõ tôi đang cần được sưởi ấm như thế nào. Và, như một người bạn nhỏ, con mèo đã chọn đúng lúc để đến an ủi tôi chăng?

      Mấy con mèo nhà tôi có tiếng là tình nghĩa. Bạn bè tôi ai mê giống mèo hay chuột đều được tôi ẵm đến tận nhà biếu một con. Người nào cũng lấy làm mãn nguyện vì nhà họ không còn bị loài chuột quấy nhiễu. Riêng con mèo mẹ, đến năm ngoái, ngay cả lúc thấy một con chuột cống cỡ bự tự do lục xoong nồi trong bếp, nó vẫn chỉ giương mắt nhìn như một nhà hiền triết. No đủ quá nên sinh biếng nhác chăng? May là không phải thế, chẳng qua là vì nó sắp sinh con mà thôi.

      Một hôm, trong bữa ăn, không hiểu sao mèo mẹ cứ cọ cọ mãi vào chân tôi. Tưởng con vật đòi ăn, tôi gắp một miếng cá bỏ vào bát riêng của nó. Con mèo mẹ "ngoeo ngoeo" gọi ba con mèo con lại, cùng nhấm nháp miếng cá. Rồi ngay tối hôm đó, nó chui vào hầm của một cái xà lan cũ nát và không bao giờ trở ra nữa, vĩnh viễn nhường lại việc bắt chuột cho những đứa con đang độ lớn nhanh như thổi ấy...

      Tôi biết mèo mẹ đã được thanh thản. Bởi, những bài học truyền đời mà nó đã kịp dạy cho bầy con hiện đang được thực hành rất cần mẫn và hiệu qủa. Còn tôi, thì tôi tin rằng, lũ chuột hại người, hại đời kia sẽ chẳng bao giờ còn dám bén mảng tới căn nhà ấm áp của tôi nữa, căn nhà có tới những ba con mèo sung sức...
      #3
        Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 11:30:16 (permalink)
        Con trâu thời thơ ấu

        Một buổi sáng tháng tư xanh lọc sau cơn mưa đầu hạ. Lúc ấy, tôi lên sáu, nhởn nhơ bắt bướm, chơi chọi cỏ gà một mình...để bà và u rảnh tay tát nước cho đám ruộng lúa cạnh mương nước ngang với con đường đất cát dẫn vào làng. U tôi bỗng buông dây gầu, mừng rỡ kêu lên: "Bố thằng cu đã về! Mua được trâu rồi, u ơi...". Bà tôi mất đà, ngã ngồi xuống cỏ. Cái gầu rơi "tùm", nước bạc bắn lên tung toé. U tôi lội qua sòng đỡ bà dậy. Rồi, vừa xuýt xoa, vừa le te chạy lên đường, u dừng lại chỗ bố. Bố tôi vẫn còn đứng ngẩn ra, nới tay buông lỏng sợi thừng, khiến con trâu có dịp vươn cổ, nghênh đầu, phô ra cái lợi sún...Tôi được bố bế đặt ngồi chỗm chệ trên lưng trâu. Bà tôi đưa bàn tay mồi vuốt vuốt những sợi lông thưa trên mặt da đen bóng của con vật. Bố nhìn u âu yếm, giọng lạc đi: "Trâu nhà ta đấy...".

        Tôi tụt từ trên mình trâu xuống. Như đã nhận ra người chủ nhỏ, con trâu gại gại đầu, rồi thè cái lưỡi ráp như lá lúa, liếm liếm vào tay. Trâu tỉnh Thanh sừng cong chuối ngự, cổ cò, bụng hóp, mông nở, chân thon gióng trúc... Kéo cày khoẻ lắm đây! Bà tôi vừa cười, tay run run xoa đầu cháu, thì thầm vào tai tôi: "Vậy là bố cháu tam thập nhi lập, làm nhà, cưới vợ, tậu trâu... Có chí, mấy nả mà giầu tiền kho thóc đụn...". Con trâu mở to đôi mắt lờ đờ, cúi đầu như đang ngẫm nghĩ về ước vọng mà cả nhà tôi đã ngầm đặt lên vai nó.

        Tôi nhập bọn và trở thành một trong những trẻ trâu với nhiều trò nghịch ngợm thơ ngây từ thuở ấy. Sáng, dắt trâu từ chuồng ra khỏi ngõ, chúng tôi í ới gọi nhau, thong thả dong những con vật hiền lành qua cái cổng làng rêu phong cổ kính trổ lối ra đồng. Hai bên cổng, tre ken dày thành luỹ, bao bọc lấy làng xóm. Tre như chiều lũ trẻ, che khuất những việc làm dại dột nhưng thú vị của chúng tôi... Ông mặt trời đỏ rực đang cười, khoảng trời xanh đã mở cho cánh chim bay, con đường đồng vắng lặng như mời, như gọi vó câu. Nhớ chuyện Đinh Bộ Lĩnh, chẳng đứa nào bảo đứa nào, chúng tôi cùng cúi rạp trên mình trâu, nhất loạt ra roi dâu. Những con trâu ban đầu còn lộp cộp lộp cộp nước kiệu, về sau, hứng khởi bởi tiếng la hét trẻ thơ, chúng cất bốn vó lồng lên phi nước đại. Gió ù ù bên tai, hất tóc ngược về phiá sau. Đất nâu trắng phớ tung bụi, lúa đồng xanh chấp chới như vờn như giỡn...Thầy giáo khai tâm của tôi phong thanh biết chuyện, cười, khuyên: "Các con muốn nhanh nên người thì phải học. Chữ nghĩa chính là cái cổng làng và con đường dẫn vào cuộc đời. Sự cố gắng, nỗ lực, chẳng qua cũng chỉ là một cách phi trâu lồng mà thôi..."

        Nhớ lời thầy, chúng tôi thả trâu gặm cỏ trên cồn, để mặc cho tiếng mõ lóc cóc xa dần, những cái nón mê chụm lại quanh một cuốn sách: "Ai bảo chăn trâu là khổ?...". Tiếng ếch nhái uôm uôm lẫn vào tiếng cá quẫy lóc bóc trong các ruộng lúa. Sau khi đã thuộc nằm lòng bài học, tháng tư tuốt rờm lúa, tháng tám nhổ cỏ khô, chúng tôi nướng những con cá mò được, bày cỗ chơi trò việc làng, việc họ, việc cưới cheo... Lá nhọ nhồi, tro nướng cá và đất sét thế mà được việc! Lấy những thứ đó vẽ lên mặt là có đủ cả lý trưởng, tiên chỉ họ, chú rể, cô dâu... Chơi chán thì thả đỉa ba ba, rồng rắn lên mây hay giả làm trai gái làng hát chầu, hát ví... Vừa cười đã khóc, vừa mới giận hờn đã vội làm quen... Rồi lớn lên, kẻ đi xa đau đáu mong ngày trở lại chốn xưa, người ở lại khắc khoải bấm đốt ngón tay đợi bạn vong niên. Gặp nhau mỗi độ xuân về, tết đến, cười nhăn cả má, nước mắt cứ trào ra, người này thương kẻ kia tóc sớm bạc, người ở quê xót người nơi góc bể chân trời...

        Tôi có mấy người bạn ba mươi năm qua vẫn còn trong quân ngũ. Mỗi khi có dịp, các anh ấy vẫn nhắc lại trò chơi trận giả thuở ấu thơ. Vào tháng mười một, ruộng cày lên xếp thành những luống ải, gió bấc hanh hao đã làm đất nỏ tom. Đám con trai chia làm hai phe ta và địch, len lỏi đuổi theo nhau trong từng luống đất. Dĩ nhiên, "đạn" chỉ là đất ải nhào với nước cho nhuyễn vo lại. Đám con gái thì được cử làm cứu thương, lo việc hậu cần... Tôi chơi xấu, cố tình nhô người lãnh đạn, để được đám con gái khiêng lên cồn, nằm khểnh nhai ngô rang giòn tan,thơm nức... Về sau, trò này bị lộ. Chúng bạn phạt bắt tôi làm máy bay địch, đạn súng nhỏ bắn không tới, miệng ù ù trong suốt cuộc chơi. Thấy tôi giang hai tay liệng đi liệng lại, mấy con trâu đang thản nhiên gặm cỏ nhất loạt ngửa mặt, nhăn mũi, cười chế nhạo: "Ngò...ngò...ò..."

        Vào một vụ tháng sáu, tôi thả diều trên cồn. Tiếng sáo lơ lửng neo giữa tầng trời cao vời vợi, mênh mang. Bố tôi đang cày một chân ruộng dầm, đất lật loang loáng qua diệp cày sáng bạc. Con trâu hục hặc đi trong chang chang trời nắng, thi thoảng đưa lưỡi liếm nhanh một mầm lúa sót. Bất ngờ, nó dừng lại, ngẩn ra nghe những thanh âm lạ. Cột dây diều vào cọc buộc trâu, tôi lội xuống ruộng, xin bố cho tập cày một sá. Trao tay cày cho tôi, bố dặn cẩn thận, rồi lên cồn, giở điếu cày, vê thuốc, châm đóm hút. Con trâu nghe tiếng nõ điếu reo, không đợi tôi giục "vắt, vắt", gằm mặt xuống đi băng băng...Tay yếu, không đủ sức ấn seo cày, tôi để lưới cày lướt trên mặt ruộng. Cái cày đổ, kéo tôi nhào về phía trước. Nước dềnh lên, cuộn sóng. Bố tôi mới kịp "họ" lên một tiếng, con trâu đã thoắt dừng lại, lưỡi cày như một cái lá đa sắc lẹm lệch sang một bên. Con vật phì phò thở, quay lại nhìn chủ, đôi tai vẫy vẫy. Bố đỡ tôi dậy, tháo ách trâu. Con trâu thơ thẩn gặm cỏ quanh cái cọc tôi đã buộc dây diều. Ngỡ sợi dây phát ra thanh âm réo rắt, con trâu dỏng tai, cọ cọ sừng vào đó. Dây đứt phựt, cái diều chấp chới theo chiều gió, tiếng sáo cuống quýt, ngắt quãng. Tôi chạy theo hướng diều rơi, vớt được diều ở một ao bèo, lên bờ đã thấy con trâu đang cúi đầu uống nước, cái đuôi chổi sể ngoe nguẩy vẫy...

        Tháng Chạp rét cắt da cắt thịt. Khoác áo tơi lá móc, chúng tôi nằm phủ phục trên mình trâu. Da trâu mốc trắng, khen khét, hâm hấp nóng. Thương trâu, bố tôi lấy bao tải may cho nó một cái áo. Thế mà, mỗi khi gió bấc ào ào từng đợt xô tới, con trâu thoáng khẽ rùng mình. Đêm, cửa chuồng được che kín bằng các phên rạ, trâu nằm trên ổ rơm chóp chép nhai trầu.

        Tôi nhớ năm nào cũng vậy, ba ngày Tết, mỗi buổi sáng bố đều bảo tôi mang cho trâu một cái bánh chưng. Con trâu ngoạm dần từng miếng bánh trên tay người, vừa từ tốn nhai vừa nhìn tôi, ứa nước mắt.

        Thấm thoắt ngày nào mà đã mấy mùa hoa đào nở ! Con trâu cần mẫn cùng bố tôi cày bừa hết đám ruộng này đến đám ruộng khác. Ngày mùa, nó nhong nhong kéo đá lăn trục lúa, ngày dưng, nó theo bố tôi kẽo kẹt đẩy che đạp mía thuê cho một lò đường ở làng bên cạnh... Dẫu chưa dư tiền kho thóc đụn như bà mong ước, bố tôi đã lấy làm đắc ý vì nhà được tiếng thơm là hộ khá giả trong thôn...

        Cho đến một tháng Ba năm Hợi, trong lễ hội chọi trâu dâng cúng thần làng, con trâu nhà tôi đứng đầu sới. Lời khen chưa dứt, lại đã tháng Ba năm Tí. Lần này, nghe tiếng reo vỡ trời vỡ đất của dân làng mừng con trâu nhà thằng bạn tôi thắng cuộc, bố tôi bưng lấy mặt, tôi không kìm được nức nở, nhìn qua nước mắt cảnh con trâu thân yêu bị nhốt trong gióng. Nó sẽ được hóa kiếp vào đúng lúc ba hồi trống hội kết thúc, báo hiệu giờ tế lễ thiêng liêng bắt đầu...

        Da trâu đem thuộc, bưng cho mỗi xóm trong làng một bộ trống. Cái trống to nhất, làng đem tặng cho trường cấp một cuả xã. Năm ấy tôi học xong lớp bốn. Ba hồi trống bế giảng đã vang lên. Lòng nao nao, tôi nghĩ con trâu thân thuộc vẫn còn đang bên cạnh, nhắc cho biết thời thơ ấu đã qua...

        Lớn lên, tôi có nhiều dịp đi suốt chiều dài và chiều rộng của đất nước. Không ít lần, tôi đã từng ngẩn ngơ ngắm những đàn trâu Hàm Yên, Phong Châu, Thạch Thành, Anh Sơn, Đức Thọ, Bố Trạch, Bảo Lộc, Lâm Hà...đi trong ngân nga tiếng sáo mục đồng bảng lảng lẫn vào nền chiều tím ngắt hoàng hôn...Cũng có lúc, nhìn dáng núi non, tôi bồi hồi ngỡ đó là dáng đàn trâu làng tôi đang thung dung gặm cỏ trong mênh mông trời đất. Nghe tiếng sấm đầu mùa báo đất trời rẽ lối, tôi tưởng mặt trống da trâu nhà tôi còn rung lên đâu đó, đủ âm vang để làm náo nức tất cả các lễ hội mùa xuân...

        #4
          Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 11:35:13 (permalink)
          Gói rét ngọt nắng hanh trong lá

          Những năm tháng xa quê cha đất tổ, đôi lần sực nhớ tới hương tết quê nhà, tôi đã cất công đi tìm vị thứ bánh chưng để dành bằng cách thả bánh xuống giếng khơi mùa đông mà không kiếm được. Thuở chiến tranh thì nay đây mai đó; mặt khác, cũng chẳng còn lòng dạ nào mà đi tìm thú riêng. Đến khi hòa bình, do cuộc sống ngày càng khá giả, lại vốn sẵn lòng tự tôn dân tộc, tôi không mấy khi màng tới cái sang nơi chai rượu ngoại hay những thứ bánh trái đóng gói, nhập khẩu từ một phương trời xa lạ nào đó.

          Chị họ tôi, một Việt kiều Pháp, mỗi lần về thăm quê vào dịp tết, trước khi trở lại Pháp, đều nằng nặc đòi tôi mua giúp bằng được vài cặp bánh chưng quê. Để thỏa mãn được yêu cầu khó tính của chị, không ít lần tôi đã phải gọi điện khẩn nhờ bạn bè ngoài Hà Nội gửi gấp bánh chưng vào Nam. Cho đến năm Ất Hợi, trong một lần vô tình đến chơi nhà anh chị Hạnh Văn, tôi đã gặp may...

          Anh Hạnh dạy học cùng trường với tôi. Quê anh ở chân núi Nghĩa Lĩnh, ngọn núi cao nhất trong chín mươi chín ngọn núi vùng Phong Châu người xưa chọn làm nơi lập đền thờ các vua Hùng. Đối với anh chị, tích bánh chưng bánh dày không chỉ được ghi vào tim vào óc, mà còn phát lộ ra ở cả những bàn tay quen gói bánh tỏ lòng thành trước tiền nhân. Lần ấy, nhìn anh chị và các cháu quây quần bên nong gạo nếp, nhìn những đệp lá dong xanh, lòng tôi như ấm lại. Rồi khi nghe anh vừa làm vừa kể, tôi nhận ra anh là người sống nặng về nội tâm, kĩ tính và chu đáo quá! Kĩ từ việc chọn gạo nếp cái rặt vụ mùa từ đất đồng chiêm Hải Hậu vào Thành phố theo đường ô tô nam bắc. Lại nữa, đậu xanh Hải Dương lòng vàng, lạt giang rừng Phú Thọ cũng được anh nhờ bạn bè lựa giúp rồi nhờ tàu hoả xuyên Việt mà gửi vào Nam góp hương trong cái bánh nhớ quê. Riêng thịt lợn Long An, hồ tiêu Phú Quốc, lá dong rừng Cát Tiên, anh Hạnh tự đi Chợ Lớn mua lấy. Hình như, trong khi chọn lựa vật liệu, anh Hạnh đã tỏ rõ ý muốn gói cả cái rét ngọt của gió bấc sông Hồng cùng cái nắng nóng của vùng núi Tây Nguyên và đồng bằng châu thổ sông Cửu Long chung trong một cái bánh chưng đơn sơ chăng? Tôi đã không lầm khi anh chị xúc động bảo tôi suy luận đúng và hiểu thấu được lòng người.

          Tết đến, anh Hạnh gói rất nhiều bánh chưng. Anh bảo vào cái thời kinh tế bây giờ, ngày tết hầu như không mấy ai còn bận tâm vì cái ăn, mà chỉ chú ý đến cách ăn và ý nghĩa của nó. Anh đã tìm ra cách trở về nguồn cho riêng mình bằng những chiếc bánh chưng quê giản dị, dân dã, gói trọn vẹn nghĩa tình của người con xa xứ với quê hương. Trong số bánh chưng do anh chị Hạnh Văn gói, đã có rất nhiều cái làm ấm lòng những người con xa Tổ quốc như anh chị họ và các cháu tôi chẳng hạn...

          Mỗi lần cầm cái bánh chưng anh Hạnh gói trên tay, tôi thường rưng rưng nhớ về một thời xưa cũ đã qua. Nhiều chuyện đã bị thời gian phủ lên một lớp bụi mờ; không nhắc lại, ghi lại, e sau này không còn dịp nữa. Ấy là những chuyện thuở tôi còn nhỏ, diễn ra đúng vào mùa chim ngói bay về. Dịp này bố tôi thường cho tôi theo ra đồng để người truyền lại kinh nghiệm bẫy chim và dạy con cách chọn khoảnh lúa nếp nào ưng ý nhất dùng vào việc gói bánh chưng dâng cúng tổ tiên ba ngày tết...

          Hồi ấy, nghe người chỉ dẫn, tôi biết trên cánh đồng làng người ta cấy đủ mọi giống lúa tẻ như canh nông, hin, dự gié, dự râu, tám xoan. Riêng lúa nếp, tùy theo từng nhà, người cần nhiều ngọc thực thì cấy lúa nếp thầu dầu, nếp diềng, người chuộng hương hoa thì khăng khăng chỉ cấy nếp bắc hoa vàng, còn gọi là nếp cái. Khác với nếp thầu dầu chỉ hợp với việc nấu cháo, nếp diềng được ưa dùng khi đem ủ men nấu rượu, nếp bắc hoa vàng thơm dẻo được chọn để đồ xôi, gói bánh chưng dâng cúng. Hạt gạo nếp cái càng tròn càng quý. Quý vì hạt gạo tròn thì hương thơm, vị đậm. "Còn quý ở chỗ", bố tôi bảo tôi thế, "hạt tròn là hạt nắng, hạt mưa từ trời tròn gửi xuống cho người". Bố tôi còn nói đến âm dương gì gì nữa nhưng lúc ấy tôi chưa hiểu, đại khái chỉ nhớ rằng trong hạt luá nếp tròn có cả đất và trời, nắng hanh và gió rét. Lúa nếp dùng cho việc dâng cúng được chọn gặt vào một ngày lẻ nào đó khi lúa vừa chín đỏ, thân lúa còn đủ sức đứng thẳng, lá lúa dù đã ngả vàng sậm nhưng chưa nỏ khô thành rờm lúa rũ xuống. Theo lời bố, tôi lờ mờ hiểu rằng khoảng thời gian này lúa cho gạo trắng và trong, phần phôi đục mới chỉ nhú ở một góc nhỏ. Vả lại, lúa cũng như người, ấy là lúc nó sung mãn đến tận cùng, bông lúa tuy đã cong nhưng dáng lúa vẫn thẳng băng, khí khái. Lúa như người thành kính, khoe dáng người lòng ngay dạ thẳng khi cúi mình trình diện trước tiền nhân. Bố tôi hay dặn u tôi phơi lúa trong những chiếc nong đan bằng tre hoặc nứa. Nắng đầu đông và gió bấc đủ hong cho hạt khô nhưng không tới mức giòn tan. Lúa khô, chỉ được đựng trong bồ, mở miệng cho thoáng; tuyệt đối không dồn vào bao tải vì gạo sẽ mất mùi thơm. Từ đấy, những ngày hoe nắng, nhớ đừng quên đem lúa ra phơi, ủ thêm ánh dương cho gạo. U tôi thường xay lúa sau rằm tháng Chạp. Gạo nếp được giã bằng cối đá sau khi đã tháo phần sắt bịt ở đầu mỏ cối. Bố tôi nhắc, khi dún cần, phải cố mà giữ sao cho nhịp chày đều đặn, khoan thai để gạo không bị nát. Rồi năm nào cũng vậy, vào phiên chợ Chùa 27 tháng Chạp, thế nào bố u tôi cũng đi chợ sắm tết với một gánh gạo nếp kĩu kịt trên vai. Lúc về, cũng một gánh. Nhưng toàn là cà chua đỏ, hành tía, bí đao xanh đậm, rau cải, rau cần, hành ngò xanh mát. Nhiều nhất vẫn là đồ để gói bánh chưng. Mấy ống giang xanh xếp ngang trên những đệp lá dong cũng một màu xanh. Đối với tôi, chẳng có sung sướng nào bằng được bố sai đem lá dong ra sông rửa. Đếm từng chiếc lá, tôi nhẩm tính tết này bố sẽ gói bao nhiêu cái bánh. Rồi thầm bấm đốt ngón tay xem nhà có đủ thóc xay tới vụ chiêm năm tới không. Nhiều lần tôi đoán đúng. Năm nào bố gói ít bánh, y như năm ấy nhà bị đói, tháng ba đã phải bữa cơm bữa cháo qua ngày. Bố ngồi ở ngoài chái nhà chẻ lạt. Người vừa rung đùi vừa chuốt từng sợi giang, mắt nheo nheo nhìn ra cánh đồng vừa cấy, miệng thỉnh thoảng lại nói: "Lúa chiêm năm nay ấm chân sớm!". Sáng ba mươi tết thật náo nhiệt. Lúc ngoài ngõ người ta í ới rủ nhau đi mổ lợn đụng, bố bảo u bày cái nong tre ra giữa nhà. Gạo nếp trắng ngần ngâm từ đêm trước đã để ráo hết nước được đổ thành đống giữa nong. Riêng thịt lợn ướp muối, tiêu trộn lẫn với hành củ thái thành lát mỏng, u thường để trong cái thau nhôm đã cũ. Còn đậu xanh đã đãi hết vỏ, đồ chín thì u đổ vào một cái rá tre. Tất cả được xếp xung quanh bố tôi, tiện cho người với tay tới đâu là có thứ cần thiết ngay. U tôi ngồi cắt lá, xếp thành hai loại. Lá lành bên ngoài cho đẹp bánh, lá bé hoặc lá rách bố chồng lên nhau, đặt ở trong cùng. Từng đệp bánh đều chằn chặn, vuông vức hiện dần dưới đôi bàn tay khéo léo của bố. Thường thì sau khi mè nheo và được bố gói trước cho một cái bánh chưng con con, tôi hớn hở ra mặt, răm rắp làm theo lời bố, chạy thẳng tới chỗ đụng lợn. Và lúc tôi trở về nhà, hai tay khệ nệ bưng rổ thịt lợn, cũng là lúc bố đang gói chiếc bánh cuối cùng. Người dừng tay, bảo u thu dọn mọi thứ rồi mới đứng dậy, ra phản ngồi hút một điếu thuốc lào, khoan khoái nhả khói lên trần nhà... Buổi chiều, người sai tôi xếp ba chồng gạch vuông làm bếp. Chất bánh vào chiếc nồi mười xong, người đong đủ nước, lấy vung gỗ đậy lên và nhờ tôi nhóm lửa. Dĩ nhiên tôi phải nhớ lấy lửa từ chiếc đèn dầu trên bàn thờ tổ mà ngọn lửa đã được bố vặn nhỏ như một hạt đỗ. Lửa như mắt người dõi người. Lửa cháy bập bùng trong bếp, tỏa hơi ấm nồng nàn của tro than và cả của mùi bánh đang chín dần. Đêm trừ tịch chậm rãi trôi qua trong tiếng nước sôi lục bục vọng ra từ nồi bánh lẫn trong những câu chuyện về việc làm ăn và sự thành đạt của mỗi người trong nhà. Cho đến lúc bánh được vớt ra, xếp thành chồng trên một cái cánh cửa, bố tôi gỡ thêm một cánh cửa khác ngoài bậu cửa, chất cối đá lên trên cho đủ sức nặng để ép bánh. Lạ lùng thay, lúc bố xong việc cũng là lúc chuông đồng hồ điểm báo phút giao thừa tới. Sáng mồng một, tôi thức giấc đã thấy hai chồng bánh chưng được xếp ngay ngắn trên bàn thờ. Song đếm đi đếm lại, tôi vẫn thấy thiếu mất chín cái; hỏi, bố chỉ cười, không nói. Tôi chỉ thực sự biết được điều bí mật vào cuối tháng ba, lúc những ngày hội xuân đã vãn, bố cười cười, nửa đùa nửa thật bảo tôi lội xuống ao mà vớt những chiếc bánh người kín đáo dâng thần nước sau lúc giao thừa. Để cầu cho vụ chiêm mưa thuận gió hoà. Để xin của cải vào nhà nhiều như nước. Người còn bảo, bánh chưng lúc còn tỏa hơi nóng, đem ném xuống ao mùa đông, gặp nước lạnh đột ngột, lớp hồ gạo nếp bên ngoài mặt bánh đông kín lại, khiến nước ao không sao thấm vào bên trong được. Bây giờ vớt lên, chỉ cần gọt lớp hồ đi, đem rán giòn, bày ra đĩa, bánh vẫn còn thơm nức mùi lá dong. Ăn một miếng khi đói, nhớ một đời chưa quên! Có lẽ vì không quên được mùi lúa nếp, lá dong kia mà chị họ tôi và nhiều người xa xứ khác hay cảm thấy bồn chồn khi mùa xuân tới? Biết vậy, nhưng Tết này, do quá bận việc, chị họ tôi vẫn không sao thu xếp được thời gian để về Việt Nam ăn tết với gia đình tôi.

          Tôi đã kể chuyện này với anh Hạnh. Mặc dầu thế, anh vẫn bảo: "Vậy thì chú nên gửi sớm biếu anh chị và các cháu vài cặp bánh chưng theo đường hàng không cũng được. Vì ai đã được thưởng thức bánh chưng, tức là đã hưởng đủ vị Tết quê nhà rồi". Tôi tin rằng lời khuyên của anh là chân tình.

          Và, cho đến bây giờ, tôi mới hiểu rõ hơn vì sao vào ngày 27 tết hàng năm, anh Hạnh thường chở chị Văn ra sân bay, nhờ một người bạn thân mang giúp năm cặp bánh chưng gói nắng phương Nam về đất Bắc. Một cặp làm qùa cho bạn. Hai cặp thắp nhang trước bài vị ông tổ họ. Còn hai cặp kia, mang lên núi Nghĩa, dâng trước bàn thờ các vua Hùng...
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 11.01.2020 12:43:23 bởi Nguyễn Quốc Văn >
          #5
            Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 11:43:39 (permalink)
            Đi tìm cây lá dấu

            Thuở nhỏ, có đến mấy lần tháng ba mưa buị, u tôi dẫn tôi đi theo phường hội. Tôi biết câu "Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ" từ ngày ấy. Chỉ không hiểu sao người đời lại gọi Bà chúa Liễu là Thánh Mẫu...

            Đúng vào hôm trời bất chợt hửng nắng, phường hội cuả u tôi tay nải nối nhau qua bến đò Chè, lần theo những con đường ngoằn ngoèo, tre hai bên đường uốn cong như cố vít bầu trời Vụ Bản thấp xuống, hướng về làng Kim Thái dưới chân hai dãy núi mà u tôi bảo là núi Ông Gôi, núi Bà Lê. Với u tôi, do niềm tin vạn vật hữu linh gần như đã ăn sâu vào máu thịt, người hay thêm các từ ông, bà vào trước tất cả mọi vật mà người cho là tôn kính, quý trọng. Vì thế, tôi biết hai dãy núi kia chỉ là núi Gôi, núi Lê. Khi nghe tôi gọi tên tục cuả núi, u tôi hay nguýt dài để tỏ rõ sự khó chịu, rồi mới hạ thấp giọng, khẽ khàng bảo: "Có thờ có thiêng, có kiêng có lành! Con gọi tên tục người ta ra như thế phải tội chết!". Tôi không dám nghĩ nhời u dạy là sai. Nhưng do tò mò, tôi đánh bạo hỏi: " U ơi, thế sao người ta lại gọi Thánh Mẫu là bà chuá Liễu? Gọi như thế có phải là xếch mé không?". " Bố nhà anh, còn bé tí đã vặn vẹo chữ nghĩa! Mà u thì cũng chẳng biêt sao lại như thế. U đồ rằng người ta gọi Thánh bằng Bà cho gần gũi. Ví như bà vẫn thuốn lình cho u ấy. Lúc ấy thì bà là thánh. Vì chỉ có tay thánh thuốn lình qua má người ta mới không cảm thấy đau đớn. Xong việc, bà lại là bà thôi, hái rau, nấu cám cho lợn, làm hàng xáo, đi chợ bán gạo bán khoai...".

            Đêm, năm thì ở phủ Tiên Hương, có năm lại trong phủ Vân Cát, năm nào u tôi cũng được phường hội cử ra làm một đồng cô. Tôi rất lấy làm lạ là vào những giờ phút thiêng liêng ấy, trong ánh đèn nến chập chờn, trong những âm thanh réo rắt như mê như hoặc cuả vài cây đàn nhị, vài nhịp phách nứa tre, xuất hiện trong bộ quần áo lụa vàng tứ thân có thắt lưng bằng một dải lụa đỏ, u tôi như trở thành một người đã thoát tục hẳn. Đôi mắt lúc cháy rực như hai ngọn lửa, lúc mơ màng như lạc từ một cõi xa xăm xuống trần thế... Duy có dáng đi thì không thay đổi được. Tay cứ vung về hai phía trước sau, nhịp nhàng để giữ thăng bằng cho chiếc mâm đồng xếp đầy phẩm vật đội ở trên đầu. Trông giông giống những lần u đội lễ đến từ đường họ, hay vắt vẻo cùng bà tôi đi chợ, thúng trên đầu, suốt cả năm sáu cây số cũng chẳng cần phải đưa tay lên đỡ một lần nào. Chợt u tôi ngồi xuống. Lặng đi trong giây lát, đang từ tư thế bất động, bỗng u lắc nhẹ đầu. Nhị, phách vang lên cùng một bài ca. Rồi theo nhịp phách dồn dập dần, u tôi lắc đầu theo chiều quay từ trái qua phải, mỗi lúc một nhanh hơn. Cái mâm đồng đảo nhanh loang loáng, tạo thành một vầng hào quang trông thật hư ảo. Vào đúng lúc ấy, nhạc bỗng nhiên ngừng bặt. U tôi sững lại trong giây lát, rồi người ngồi lặng phắc, cái mâm đồng còn như cố xoay thêm một vòng nữa rồi mới chịu nằm im...Từ đấy, đồng cô không nói, chỉ gật hoặc lắc khi người ta xin quẻ. Nghe u chỉ gật trước những lời cầu xin tốt lành, khi đồng đã vãn, tôi tò mò gạn hỏi mãi u tôi mới cười, che miệng bảo: "Người tốt tính, chỉ nên làm những điều tốt. Cho nên, khi được nói thay lời thần thánh, u phải cân nhắc kỹ càng lắm. Lời u nói ra qua điệu bộ, u biết, cũng chỉ là một cách an ủi người, an ủi mình thôi con ạ!".

            Sáng hôm rước Mẫu, u tôi cũng được chọn vào phường lình. Phường này thường đi sau các vị sư tăng, phường các bô lão và phường kiệu. Sau phường lình là phường lân, một phường vừa múa cho vui mắt, vừa làm công việc dẹp đường cho đám rước. Những người trong phường lình thường thuốn lình trước khi tham dự vào đám rước. Nghe bà tôi kể lại thì xưa kia người ta thuốn ba loại lình. Loại lình đại to như cái liềm cắt lúa, thuốn vào bụng. Lình trung chỉ bằng cái đũa cả, lình tiểu ước chừng chỉ nhỉnh hơn cái kim khâu bao. Hai loại lình này dùng thuốn qua má hoặc thuốn qua lưỡi... Khi tôi biết việc này, người thạo thuốn không còn nhiều. Ngay như bà tôi cũng chỉ thuốn được lình tiểu. Và, bà cũng chỉ còn biết có một cách làm duy nhất là thuốn qua má... U tôi được bà thuốn lình cho. Nhìn bà múa may quanh u đến mấy vòng, rồi bất ngờ ngồi thụp xuống, tay trái bà đỡ lấy má bên này, tay phải giơ cây lình bằng thép sáng loáng, đâm mạnh vào má bên kia cuả u tôi, tôi nhắm mắt lại vì kinh sợ. Thế mà u tôi cứ tỉnh như không. Đã thế, trong đám rước, tôi thấy ánh mắt u vẫn cứ ánh lên những tia mãn nguyện lắm... Lúc đám rước Mẫu tan, nhìn hai cái lá khô mà bà tôi dán lên má u, tôi hỏi có đau không thì u bảo là u chỉ cảm thấy hơi tê tê thôi. Nói xong, u khẽ bóc cái lá ở bên má phải, nhờ tôi nhìn kỹ xem có còn vết sẹo nào không. Tôi tròn mắt nhìn, không giấu nổi vẻ ngạc nhiên, kêu lên: "Lạ quá u ạ! Chỉ còn một vết xước nhỏ! Sao vết lình bà thuốn qua liền nhanh đến thế u nhỉ?". U cười: " Nhờ Mẫu cả đấy con ạ! À, mà u chưa nói thêm cho con biết, bà có thứ lá dấu thiêng lắm! Ai bị thương, cứ đem lá ấy rịt vào là máu ngừng chảy ngay. Vết thương lại chóng liền miệng nữa. Hôm nào con dò hỏi bà, xem nó là thứ lá quý nào. Biết đâu sau này, con chẳng giúp ích được cho đời?". Tôi theo lời u, hỏi bà về thứ lá lạ. Bà dắt tôi ra vườn, chỉ vào bụi lá dấu. Lá dấu rất giống lá bỏng, hình trái tim, mặt lá dày, cạnh lá có khứa răng cưa. Bà tôi nói, lấy lá dấu phơi khô, tẩm thêm một ít thuốc nam nữa là được một cái dấu. Mỗi cái dấu chỉ dùng một lần. Cũng chỉ làm lành được những vết thương nhỏ. Vì thế, cây lình chỉ nhỉnh hơn cây kim một chút mà thôi... Về sau, tục lên đồng bị cấm (vì có nhiều người cho rằng nó mang tính chất mê tín dị đoan), cây lá dấu trong vườn nhà không ai để ý, cứ lụi dần và mất hẳn từ ngày bà tôi theo ông tôi về cõi cực lạc.

            Chiến tranh bùng nổ. Lớp lớp trai làng, trong đó có tôi, lần lượt lên đường ra mặt trận. Mỗi khi nhìn thấy đồng đội, người bị đạn bắn vào bụng, người thì bị mảnh bom hay mảnh pháo bầy găm vào ngực, vào mặt,... máu chảy loang cả những khuôn mặt còn măng tơ, tôi thường nhớ tới cây lá dấu. Ôi, ước gì có một cái dấu xưa! Cái dấu có thể làm lành những vết thương! Không phải bằng niềm tin tôn giáo như người ta thường nghĩ! Mà bằng giá trị đích thực cuả một thứ thuốc đã từng hữu dụng nhưng lại bị người đời vô tình quên đi. Thật tiếc khi nhận ra nó chính là một loài cây quý, một bài thuốc hay và độc đáo cuả cha ông truyền lại cho cháu con... Những lần như thế, tôi thường khóc thầm vì tiếc. Tôi bứt ngực, tự trách mình thiển học, đến một thứ cây lá quý hiếm như vậy mà cũng không biết vun trồng, chăm bón, giữ lại giúp đời. Không rõ bây giờ, ở Vụ Bản, Yý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Xuân Trường, Giao Thuỷ có nơi nào còn cây lá dấu không? Có ai biết vị thuốc này nhưng vẫn còn giấu kín để mưu lợi cá nhân? Hoặc có còn ai đó, đang vùi đầu trong các phòng thí nghiệm, để tìm ra bí quyết cuả người xưa?

            Day dứt với cây, năm ngoái, vào đúng dịp Hội Phủ Giầy, tôi đã cố cất công tìm về chốn cũ. Hội rất to, có xu hướng phục cổ. Tôi tỏ ý mừng rỡ khi thấy những nét xưa đẹp đẽ phần nào đã được cháu con làm sống lại. Có những trò chơi ai đã từng biết một lần, một đời không quên nổi. Ví như trò kéo chữ ở phủ Tiên Hương chẳng hạn. Các cô gái quê mặc áo tứ thân đa sắc chạy đi chạy lại theo nhịp trống, xếp thành những chữ ước mong muôn thuở như Thiên hạ mẫu nghi, Thiên bản nhất kỳ... Nhiều lần, khi đang ở Sài Gòn, nhất là những khi đứng trên sân thượng cuả những toà nhà cao chọc trời mới xây dựng trong thời gian gần đây, nhìn xuống phố, thấy những dòng người xe xuôi ngược, tôi hay nghĩ tới trò chơi kéo chữ ở một vùng quê chèo. Khác là cuộc kéo chữ mới hôm nay hoành tráng và có tốc độ cao hơn. Và, những con chữ cũng như được phả thêm hồn cuả đất nước thời bước vào công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước...

            Tôi chỉ còn được gặp lên đồng qua một tiết mục sân khấu cuả đoàn chèo Nam Định. Lên đồng cải biên. Ba giá đồng trong Tứ phủ đủ làm say lòng người, đủ gợi lại một nét xưa. Dĩ nhiên, các nghi thức tôn giáo không còn nữa. Ngay cả lời ca cuả cả ba giá đồng này cũng đã mang những nội dung hoàn toàn mới. Vì thế, thuốn lình cũng chỉ còn sống trong hồi ức cuả những lớp người trước hoặc đồng thời với tôi mà thôi. Cũng như vậy, kiếm cây lá dấu là việc làm còn khó hơn cả tìm kim đáy nước? Tiếc thay! Nhưng dấu ấn văn hoá xưa cuả một vùng đất thì vẫn còn đó. Hồn thiêng của Mẹ- hay gọi là Thánh Mẫu - như đã ngấm sâu vào đất đai, hiện hình trong lúa ngô khoai sắn, mãi mãi nuôi dòng máu đỏ ân tình còn đang chảy rần rật trong huyết quản các thế hệ cháu con...

            Tôi đã nghĩ như vậy trong khi vô tình đặt tay lên ngực. Và ngay lúc ấy, trái tim mách bảo tôi: Trong ngực mỗi chúng ta chẳng đã có một cái lá dấu đấy ư!
            #6
              Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 13:57:07 (permalink)
              Ân nhân

              Bố tôi bảo mèo, báo, hổ vốn là anh em ruột trong một nhà. Ban đầu, chúng là bạn tốt, sống thân thiện với người. Đi săn về, chúng thường chia thịt các con mồi kiếm được cho người dùng làm thức ăn. Mèo là em út nhưng tinh ranh, suốt ngày nằm cạnh bếp chờ hai anh. Hắn ít vận động nên thân thể cứ teo dần. Chỉ có tính nịnh người thì ngày càng lớn.

              Chính cụ tằng tổ một trăm lẻ tám đời nhà tôi, vì tin lời mèo bé mà lần lượt đuổi hai con mèo lớn vào rừng. Trở về rừng xanh, sống cuộc đời cuả kẻ tự do đích thực, hai con mèo kia đã trở thành hổ và báo, chúa tể chốn sơn lâm.

              Tuy nhiên, những con vật ấy không quên nổi những gì đã học được ở con người. Vì vậy, vợ chồng hổ báo cũng biết yêu thương nhau thắm thiết; hổ báo con cũng được sống trong sự chở che, nuôi dạy chu đáo, tận tình cuả cha mẹ chúng... Có lẽ vì thế chăng mà cả nhà tôi đã thoát chết?

              Bố tôi kể, năm Canh Dần 1950, nhà tôi tản cư vào Thanh Hoá. Bố u tôi bỏ tôi và anh Trung vào hai cái thúng, quảy bộ tắt qua rừng Nho Quan. Lúc ngồi nghỉ, u tôi vạch vú cho tôi bú. Bố tôi ẵm anh Trung, dỗ anh ăn vài miếng cơm muối vừng cho đỡ đói.

              Bỗng một mùi hôi đến lợm giọng theo gió thoảng tới. Mùi hôi mỗi lúc một nồng nặc cùng những tiếng sột soạt trong rừng cỏ gianh ở ngay phía trước. Bố tôi líu cả lưỡi vì bất chợt thấy một cặp hổ vằn ló đầu ra, liếm liếm những cái lưỡi đỏ ngòm. Nhưng lạ lùng làm sao, hai con hổ, sau khi chăm chắm nhìn u tôi cho con bú, đều khẽ lắc đầu, gầm gừ như nói với nhau một điều gì đấy, rồi quay đầu từ từ lẫn vào cỏ dại. Bố tôi bảo chúng không nỡ ăn thịt những người đang nuôi con thơ!

              Rồi, trên đường đi, lúc lương đã cạn, bố u tôi đã mừng rỡ đến chảy cả nước mắt khi thấy trên một tảng đá ai đó đã bày sẵn cho một đùi thịt nai dang dở, còn tươi nguyên. Nhìn kỹ, bố giật mình, nhận ra những dấu chân hổ hút vào rừng rậm. Người bán tín bán nghi, nghĩ thầm, phải chăng chính những con hổ này là hậu duệ cuả những con mèo mà ông cụ tằng tổ nhà tôi đã từng nuôi vào một thời xa lắc?

              Sau kháng chiến chống Pháp, phần vì đã quá sợ bom đạn, phần bị con người săn lùng ráo riết để kiếm lợi to, loài hổ báo sống trong các dải rừng ở miền Bắc nước ta có nguy cơ tuyệt chủng. Nghe nói, để thoát được hiểm hoạ, chúng buộc phải chạy vào những miền rừng hoang vu nhất, dọc theo biên giới giữa hai nước Việt - Lào. Bố tôi kể, trong một vài lần xuôi bè trên sông Đà, ở đoạn sông chảy qua địa phận tỉnh Hoà Bình, người còn thấy vài cặp vợ chồng hổ ra sông uống nước. Nhưng cứ thoáng thấy bóng người là chúng đã bỏ chạy...

              Lần ấy, cũng là lần cuối cùng bố đi bè. Nghe tiếng súng săn nổ, bố bảo chú Thả và cánh lái neo bè gỗ vào bờ, may ra thì mua được một ít thịt rừng cải thiện. Vì cả chục hôm rong ruổi qua bao thác ghềnh mà chỉ ăn độc một món rau bí, thèm chất tươi quá!

              Vừa lúc đó, có ba người súng ống lăm lăm chạy qua, nói là bắn trọng thương một con hổ cái lớn lắm. Họ hỏi bố có thấy con thú bị thương vừa chạy qua đây không...

              Chiều, bố tắt rừng, băng về phía những ngọn khói lam, hy vọng có thể mua hoặc đổi ở đấy một vài con gà. Đang lách người trong một lối đi hẹp, cỏ gianh cao quá đầu người, bố bỗng giật mình, đứng sững lại. Vừa kinh sợ, vừa ngạc nhiên! Trước mặt người là hai con hổ con đang ngậm vú cuả con hổ mẹ bị thương nặng, mắt đã nhắm nghiền lại. Nằm trên vũng máu cuả mẹ, hai con hổ nhỏ hầu như chưa ý thức được cái chết đang chờ mẹ con chúng.

              Thấy cảnh ấy, chợt nhớ tới đùi thịt nai ngày tản cư năm nào, bố quên hết cả sợ hãi, vội ngồi xuống, lấy mấy cái lá dấu tẩm thuốc quý luôn đem theo bên mình để phòng thân, dịt vào vết thương trên bụng hổ mẹ. Máu từ vết thương dần dần ngừng chảy...

              Song vừa ngẩng lên, bố run lên bần bật, kinh hãi nhận ra một con hổ đực đang nhìn từng cử chỉ cuả người. Nó đã kịp tha về một tảng thịt heo rừng cho vợ con. Bố chắp hai tay lại để lấy can đảm, đi giật lùi. Con hổ đực nheo nheo mắt, khẽ vẫy đuôi về bên trái, đầu hơi nghiêng về bên phải, tư thế báo hiệu nó sẽ không tấn công người.

              Quay trở lại bè, bố bảo mọi người chuẩn bị nhổ neo. Đúng khi ấy, có ba tên thợ săn xuất hiện, chĩa súng về phía bố, bắt phải lên bờ ngay. Không có cách nào khác, bố đành phải làm y theo lời chúng. Bọn thợ săn khăng khăng nói bố đã lấy được con hổ! Chúng bảo, lần theo vết máu, chúng cũng tới được chỗ con hổ mẹ bị thương. Chỉ lạ là con vật đã bị kẻ nào đó đem đi mất. Xem kỹ dấu chân người còn in trên máu khô, chúng thấy bàn chân rất nhỏ, ngón chân hơi chụm. Không phải dấu bàn chân người bản xứ! Bàn chân người đi rừng nhiều thường to và thô, ngón chân hơi choãi như rễ cây bám vào đá. Vậy thì, chỉ còn cánh lái bè! Không thể khác được!

              Một tên thợ săn lăm lăm súng trên tay canh chừng mọi người. Hai tên kia nhào xuống bè, lục soát tất cả mọi thứ đồ đạc. Không thấy gì, chúng lên bờ, xúm vào đánh bố. Những quả đấm, những cú đá hiểm hóc tới tấp giáng xuống, khiến người rũ rượi như một tàu lá héo. Một trong hai tên thợ săn độc ác ôm lấy bố, dựng đứng lên cho tên kia đấm đá tiếp. Hự, hự...Bố tôi ngã vật xuống, kéo cả kẻ ôm mình ngã nhào theo.

              Chính vào lúc không ai ngờ đó, bỗng một bóng xám vụt qua. Y như một tia chớp! Sau tiếng gầm man rợ như vọng về từ thời tiền sử, tên thợ săn ngã gục xuống, mặt bị cào nát thành nhiều mảnh. Rồi con hổ nhào lên, hai chân trước quắp chặt lấy tên đang đè lên người bố tôi. Miệng nó ngoạm lấy tay kẻ ác. Hai chân sau cuả nó co lại, đẩy bố tôi ra. Song có lẽ, do cú đẩy quá mạnh, trên ngực bố hằn rõ cả những vết vuốt sắc. Tên cầm súng hết hồn, leo tót lên cây, run rẩy nổ được một phát lên trời...

              Sự việc diễn ra chỉ trong chớp mắt. Bởi thế, khi trả lời các nhà chức trách, bố tôi chỉ dám dè dặt cho rằng, con hổ đã hạ cùng một lúc hai người thợ săn kia, hình như là con hổ đực mà người đã từng gặp khi xuống tay cứu con hổ cái bị thương. Người còn mô tả thêm, nó rất giống một con mèo...
              <bài viết được chỉnh sửa lúc 10.01.2020 14:19:44 bởi Nguyễn Quốc Văn >
              #7
                Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:01:37 (permalink)
                Ký ức sông Đà

                Năm mươi hai năm về trước, lần đầu tiên trong đời tôi được chứng kiến cảnh nước lụt sông Đà. Giữa non xanh núi thẳm, Đà giang đỏ rực một màu son đậm, tung bọt trắng xóa, réo lên ồ ồ như hàng ngàn, hàng vạn cái cối xay đang xay lúa. Trên mặt sóng, ngổn ngang những cành củi khô, những cây gỗ lớn từ rừng thượng nguồn bị lũ quét cuốn vào dòng nước dữ, lao vun vút như tên bắn…

                Sau hơn 30 năm trời có lẻ, trong chuyến lên Tây bắc công tác, tôi có được dịp may để trở lại với sông Đà. Các anh chị họ tôi như anh Củng, anh Nguyên, anh Trường, chị Hồng, chị Tiến, chị Khuyên, chị Hiền… tóc đều đã lốm đốm bạc. Các cháu tôi, đứa thành công nhân sông Đà, đứa đi học đại học, bây giờ đều đang ở rất xa. Đứa đang xây dựng nhà máy thủy điện Yaly, đứa công tác ở Hà Nội, ở Tp Hồ Chí Minh. Xóm nhỏ ven sông Đà này xưa kia hầu hết là nhà sàn, nay nhờ các dịch vụ phục vụ công trình sông Đà mà đã bê tông hóa hoàn toàn. Riêng cái nhà sàn trong vườn nhà bác tôi thì vẫn còn nguyên vẹn, vách gỗ bạc phếch cùng thời gian. Các anh chị tôi thấy tôi về ai cũng mừng mừng tủi tủi vì tôi về muộn quá! Nghe anh Trường kể, lòng tôi cứ ngùi ngùi khi hay rằng, lúc sắp mất, bác tôi còn thều thào nhắc tên tôi mãi…

                Mang nặng những kỉ niệm về dòng sông một thuở, tôi đã đi thăm khắp lượt từng người trong xóm nhỏ, trở lại tất cả những nơi chốn mình đã từng đi qua. Trong dịp này, tôi còn may mắn được các nhà văn, nhà thơ của báo Văn nghệ Hòa Bình đưa đi thăm Nhà máy thủy điện.
                Người giới thiệu là anh Hoàng Tâm, một nghệ sĩ chụp ảnh, đồng thời cũng là người chuyên lo về việc làm đẹp cho các vách đường hầm, gian máy, phòng tiếp khách trong nhà máy thủy điện Hòa Bình. Tôi rất thích hình những cái tua bin bảy cánh tượng trưng cho sức trẻ và sự phát triển của nhà máy, hình những cái tua bin năm cánh trên nền nốt son (nhạc) được phối trong một vòng tròn, gợi liên tưởng tới những tiếng reo vui của người thợ khi thấy dòng điện do mình làm ra thắp sáng khắp mọi miền đất nước. Tâm là người tạo mẫu và tự tay vẽ lên vách các đường hầm, chỉ đạo việc khắc hình và gắn kết, trang trí chúng trên các bộ cửa ra vào, các rào chắn. Tôi cũng rất thích bộ bưu ảnh mà Tâm đã chụp các hạng mục công trình của nhà máy. Ban đầu, bộ bưu ảnh này chỉ là một bộ ảnh tư liệu. Về sau, do thấy có tính nghệ thuật cao, Sở Văn hóa Thông tin Hòa Bình đã cùng anh chọn ra khoảng hai chục tấm, ấn hành hàng chục ngàn bản để phục vụ du khách tới thăm sông Đà. Riêng bức “Toàn cảnh thuỷ điện sông Đà”, anh Bùi Chỉ và nhiều anh chị em khác trong Hội văn nghệ Hòa Bình cứ tự hào khoe với tôi rằng, đây là bức ảnh có một không hai vì những hình ảnh ấy chỉ xuất hiện một lần trong những thời điểm không bao giờ lặp lại nữa. Hoàng Tâm kể, để chụp được bức ảnh nói trên, anh đã phải bỏ ra khá nhiều công sức và tiền bạc. Làm thế nào để mây trời liền một khối? Để những khuôn hình đồng sắc chồng khít lên nhau? Khi mà bức toàn cảnh phải ghép từ bốn tấm ảnh khác nhau, chụp trong những ngày khác nhau? Có bức chụp ngang từ dãy núi đối diện, có bức phải chụp hất từ giữa lòng sông lên? Lúc ghi tặng tôi một bức tranh, Tâm cứ than, so với vẻ đẹp rồng bay phượng múa của sông núi Hòa Bình hùng vĩ, những bức hình mà anh đã chụp được, có thể còn nhỏ hơn một cái vảy của con cá anh vũ!

                Trong khoảng thời gian xe chạy chầm chậm trên mặt đập chắn ngang sông Đà cao hơn một trăm mét, dài gần một cây số, anh Bùi Chỉ đã tranh thủ giới thiệu cho tôi một vài nét về những nơi chúng tôi sắp tới thăm quan. Anh bảo, bên dưới con đập có lõi bằng đất sét này còn có một màng chống thấm được con người tạo ra bằng khoan phun dày tới ba chục thước. Giữa đập là công trình xả nước cao hơn bảy chục mét, rộng hơn một trăm mét, có khả năng xả nước tới hơn ba mươi lăm ngàn mét khối trong một giây. Để tới được gian máy, người ta sẽ phải đi qua một đường dài nửa cây số. “Còn gian máy?”, tôi hỏi. Anh Chỉ bảo: “ Gian máy có tám tổ máy, công xuất mỗi máy khoảng 240MW. Tất cả đều được đặt ngầm trong núi đá. Vĩ đại lắm anh ơi! Đầu óc lãng đãng như đám văn nghệ sĩ chúng ta không thể tưởng tượng ra nổi đâu! Nên cứ đi cho hết đã! Rồi anh khắc biết!”.
                Anh Chỉ đã nói đúng. Tôi chỉ thực sự cảm nhận được tầm lớn lao của sông Đà khi tận mắt được chứng kiến những công trình vĩ đại, tai được nghe kể về quá trình xây dựng chúng. Tôi nghĩ, công trình thế kỉ này quả là một chiến công kì diệu của dân tộc ta trong các cuộc chinh phục thủy thần đã diễn ra từ hàng ngàn năm trước, biến sức mạnh siêu nhiên của nước thành sức mạnh của con người. Cũng như nhiều người, tôi biết rõ dòng điện sông Đà đã lan tỏa, thắp sáng mọi vùng đất, đã làm chuyển động tất cả các cỗ máy lớn nhỏ trong các nhà máy trên cả nước. Nhưng chỉ tới hôm nay, tôi mới hay, trong những ngày nắng như đổ lửa ở Tp Hồ Chí Minh, nhờ đường dây 500 ki lô vôn tôi đã từng được ngâm mình trong dòng nước lạnh, được thưởng cả ngọn gió sông Đà mát rượi cách nhà mình gần hai ngàn cây số!

                Chúng tôi đã xuống xe và đứng rất lâu trước Đài tưởng niệm 157 cán bộ, công nhân viên Việt Nam và 11 chuyên gia Liên Xô hy sinh trong khi làm nhiệm vụ xây dựng Nhà máy thủy điện sông Đà. Cách đấy không xa là Bức thư thế kỉ của những người thợ gửi thế hệ mai sau. Thư được đặt trong một khối bê tông lớn. Nó sẽ được bóc vào đúng ngày 01 tháng 01 năm 2100. Xa xa, công trình xả nước ầm ầm réo gào, trông y như một con thác đang đổ từ trời xuống hạ lưu sông Đà. Nắng mặt trời chiếu xiên qua những làn bọt nước trắng xóa, tạo thành một chiếc cầu vồng ngũ sắc khổng lồ vắt ngang sông. Hình ảnh huyền ảo này khiến tôi lại nhớ tơi bác Lưu. Không biết bác có hay, nhờ có những người dám cả gan lấp sông Đà, dòng sông Đà hung bạo nay đã được thay dòng, đổi tính? Và bây giờ, trên lòng hồ sông Đà mênh mông, ngay cả loài cá anh vũ cũng được thư nhàn bơi lội, chúng không còn phải ráng sức, bám chặt miệng vào đá mới ngược được lên phía thượng lưu nữa!

                Tạm biệt sông Đà trong một ngày nắng đẹp, trên đường về TP Hồ Chí Minh, bên tai tôi cứ văng vẳng mãi những lời tâm sự gan ruột của anh Trường: “Em ạ, các anh chị ai cũng đã có nhà mái bằng. Nhưng cái nhà sàn gia đình ta ở ngày xưa trong vườn kia nhất định sẽ được tu bổ thường xuyên và giữ lại mãi mãi. Bởi nó không chỉ là nơi thờ cúng, nơi lưu dấu những hình ảnh đẹp của hai bác mà còn là chứng nhân của sông Đà một thời nước lũ”.
                #8
                  Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:04:14 (permalink)
                  Cây đước Cà Mau

                  Trong chuyến tôi đi tìm tư liệu để viết văn ở Cà Mau, nhà văn Nguyễn Thanh, Tổng thư kí Hội liên hiệp văn học nghệ thuật tỉnh, thân mật hỏi tôi đã biết nhiều về cây đước chưa. Tôi khiêm tốn trả lời, nhờ chữ nghĩa trong những trang văn Nguyễn Tuân, Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Nguyễn Văn Bổng, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo trước đây tôi đã hình dung ra được phần nào về dáng dấp và một vài đặc tính của loài cây đặc trưng cho vùng đất cực nam này. Nhưng cảnh trí trong tâm nhuốm màu sắc chủ quan, lại biến đổi tùy theo sở thích tưởng tượng của từng người nên thường đẹp đến mê hồn. Cái đẹp do yêu quý vùng đất xa xôi của Tổ quốc mà thấy cái gì gắn với đất, với người cũng mộng cũng mơ chăng?

                  Hôm sau, trên con xuồng gắn máy xuôi về Mũi Cà Mau, tôi đã tận mắt được thấy đước. Lúc lên bờ, ngồi nghỉ dưới vòm tán đước, tôi đưa tay, run run sờ vào từng thân thân đước sù sì, mốc trắng. Trước mắt tôi, điệp điệp trùng trùng, xanh ngút ngàn đước Thới Bình, Năm Căn, Viên An, Đất Mũi. Đước hai bên bờ kinh Tắc, sông Cửa Lớn, kinh Mũi loà xòa; đước ở mũi đất Cà Mau chùm rễ một nửa vươn về phía biển Đông, một nửa kia bám chặt trên nền phù sa vịnh Thái Lan...

                  Ngắm nhìn rừng đước, tôi ngỡ mình đã nghe được tiếng đước nói. Rì rầm khi gió nhè nhẹ thổi. Ào ào khi gió giật, sóng xô. Lúc tâm tình, khi triết lí. Dân giã và thẳm sâu. Tiếng đước mang những thang âm riêng của một vùng sông nước; song hình như còn ẩn chứa cả những thanh âm chung của những lũy tre làng quê Bắc bộ, những đồi xà nu Tây Nguyên bất tận. Âm thanh của tiếng Việt, bổng trầm và thiết tha...

                  Đước ở Cà Mau bao giờ cũng mọc thành rừng, thành vệt. Một rừng đước thường có nhiều tầng. Thấp nhất là những cây đước non. Nếu mọc xa đước mẹ, đước non thường bị ngả nghiêng vì xoáy nước hoặc bị sóng cuốn trôi đi xa. Tuy nhiên, chỉ cần chạm chân được xuống nền phù sa còn sền sệt lúc nước ròng, cây đước non chớp ngay lấy thời cơ và bám chặt xuống đất. Cũng trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, đước đem hết mọi sinh lực có thể có của mình để bật xòe chùm rễ ra bốn phía; rễ đước y như một cái nơm chụp lún nan sâu vào lòng đất. Đước non, nhờ lớp phù sa mỡ màng nuôi nấng, chẳng mấy chốc đã hóa thân thành những cây đước lực lưỡng, sum sê. Mới nhìn qua, ai cũng tưởng tán lá đước hầu như xanh cả hai mùa mưa nắng, lúc nước nổi cũng như nước ròng. Nhưng quan sát kĩ, người ta mới biết trên những tán đước có tới bốn thế hệ lá. Búp đước nhọn hoắt như búp đa, bụ bẫm, căng ứa nhựa. Lá non xanh mướt. Lá trưởng thành xanh đen, sau vài tháng bỗng chuyển sang màu vàng rồi lặng lẽ rời cành. Sự kế tiếp của những lớp lá diễn ra theo quy luật màu xanh luôn lấn át màu vàng. Điều này khiến cho hình hài cây đước phát triển khá nhanh, vẻ đẹp của đước lúc nào cũng là vẻ đẹp mơn mởn của tuổi trẻ. Bây giờ thì gió có thể quất cành cây tơi tả, gãy gục, bứt sạch trơn lá đước; sóng có thể vít cong, bẻ quặt thân cây nhưng một khi rễ đước đã bám sâu vào đất, khi gió lặng, sóng tan, thân đước kia lại tự gượng đứng lên thẳng vút. Nếu gộp tất cả số rễ lẻ lại thành một bó, vòng tròn bó rễ đước ngập trong nước mặn kia sẽ lớn gấp 30 lần thân đước hướng lên trời xanh lộng gió, chan hòa ánh nắng mặt trời...

                  Tôi đã say mê, đăm đắm ngắm cây đước trưởng thành và nhận ra không ít điều lạ. Ví như tất cả các nhánh đước hướng thiên đều phát triển thành cành lá chi chít những trái đước; riêng những nhánh vì lí do nào đó mà phải quặp xuống đất đều phát triển thành rễ, trông giống như những cánh tay người vồng ra ôm lấy đất. Có thể do vươn lên tới một độ cao nào đó, đước vẫn chưa thật sự yên tâm về bộ rễ vững chắc của mình nên khi thấy thân càng to, đước càng phải cố lo tạo cho bộ rễ vững vàng hơn mới mong chống được sóng gió. Hay chỉ vì nỗi nhớ phù sa và nước mặn đã hằn sâu trong tâm linh mà nhánh đước có thể tự biến hóa thành rễ đước tùy theo chiều không gian mà nó hướng tới chăng?

                  Tôi đã tận mắt thấy sau một lần nước ròng, ngay trong lòng bộ rễ chằng chịt kia, một lớp phù sa nâu sẫm mịn màng đã được rễ đước giữ lại. Tôi hiểu rằng, theo tháng năm, cứ hết cơn nước nổi này đến cơn ròng nọ, phù sa dưới những chân những rừng đước nước mặn điệp trùng đất phương Nam kia đã hình thành nên những miền đất bồi trù phú, nổi bồng bềnh trên chằng chịt kinh rạch đồng bằng. Ai đã từng đọc thơ Nguyễn Bá hẳn chưa quên vùng đất Viên An, một địa danh nổi tiếng của vùng đất mũi Cà Mau. Nhưng ít ai biết từ khi vùng đất này vào thơ, hơn nửa thế kỉ qua, từ Viên An, đất mũi đã vươn ra biển Đông tới hàng chục cây số. Ở Cà Mau, đất và nước sinh ra đất nước; nhưng giữ phù sa cho đất nước mỗi ngày một dài, một rộng, loài cây có công nhất chính chính là cây đước. Nói đúng hơn, chính những chùm rễ đước đã có công rất lớn trong việc cản dòng chảy, giữ lại dưới gốc mình những hạt phù sa bé nhỏ. Đương nhiên, đước vươn tới đâu, dù do trời hay do con người trồng, người đều theo sát cây ngay tới đó để giữ gìn và chăm bẵm đất. Công việc mở đất diễn ra lặng thầm, bền bỉ, thật vất vả song cũng thật thiêng liêng; đước và người khi thức, khi ngủ, khi ăn, khi chơi, thậm chí cả khi yêu nhau, chân vẫn còn lấm ướt đất phù sa kinh rạch...

                  Tới Năm Căn, tôi nhận ra cách xây cất những ngôi nhà ven sông Cửa Lớn được con người mô phỏng theo dáng của cây đước. Cọc sàn nhà được người dân sông nước đóng xuống đất trông y như một bộ rễ đước. Gió bão có thể làm bay mái, tốc phên lá dừa nước nhưng không thể nào nhổ được những cây cọc đước đã mút chặt lấy đất phù sa sông rạch, không bẻ gãy nổi sàn nhà ken dày bằng thân đước khô chắc như một tấm bè. Ngày xưa, cách nay hàng thế kỉ, nghe nhà văn Nguyễn Thanh nói thế, vùng này có năm căn nhà của người Việt. Nhà năm gian, hai chái, thường được cất ở những chỗ đất cao. Kèo, cột, rui, mè của chúng, tất cả đều làm bằng thân cây đước. Dấu vết những ngôi nhà xưa như thế còn lưu giữ đến bây giờ...

                  Người Cà Mau, từ người đóng đáy trên sông Cửa Lớn đến người làm nghề đánh bắt cá ở Hòn Khoai, từ người trồng rừng ở nông lâm trường 184 đến những người vỡ ruộng ở Thới Bình vốn cần cù, kiên cường, bất khuất, thông minh, sáng tạo, yêu ghét rạch ròi. Họ là những người hiếu khách, tính tình phóng khoáng như biển Cà Mau lắm tôm nhiều cá vốn rất mặn mòi. Khi chúng tôi ghé thăm ông Nguyễn Hôn, một lão ngư kì cựu đồng thời cũng là một cựu chiến binh của tiểu đoàn 307 lừng danh năm xưa, ông kêu người nhà đi đổ đáy ngay lập tức. Được bao nhiêu tôm cá, ông bảo các con đem luộc hết đãi cả đoàn. Nhìn thân hình đen như đồng hun, cánh tay còn săn chắc của ông, khi nói cứ chém phầm phập vào khoảng không trước mặt, nghe giọng nói ồm ồm vang vọng khi ông hồn nhiên kể chuyện năm xưa, chuyện đổi đời ở một vùng sông nước, tôi rất xúc động. Tiếng ông làm rung cả sàn đước, tưởng như có thể làm cho mặt sông Cửa Lớn bất ngờ nổi những con sóng xô bờ ì oạp...

                  Ở nông trường 184, lúc chúng tôi xuống xuồng bơi tiếp cuộc hành trình, anh giám đốc trẻ tuổi, dáng vạm vỡ, da đen sạm mới đi họp trên tỉnh về. Tiếc nuối vì không được tiếp đón các nhà văn, anh cho ca nô chạy bám theo xuồng chúng tôi. Can rượu anh mua dành để nhậu lai rai cùng anh em trong nông trường bộ vào những đêm mùa mưa rừng lạnh lẽo được rót ra từng chung lớn, chuyền qua tay từng người. Anh bảo thiệt tình với nhau dễ nhất là uống rượu! Cái dễ nhất không làm được sao gọi là thiệt tình? Vậy là anh thiệt tình cùng cả đoàn uống hết cả can rượu. Anh giám đốc say nghiêng ngả; và cũng chỉ tới khi đó, anh mới chịu tạm biệt chúng tôi.

                  Tại mũi Cà Mau, ngồi trên nhà thủy tạ giữa hai mũi đất bồi ra biển, tôi có cảm giác như đang được ngồi giữa hai ngón chân của hai bàn chân nước Việt đang tiến ra biển Đông. Trong âm vang sóng biển vỗ ầm ầm, tung lên trời những con sóng đục ngầu, chúng tôi được nghe sáu câu vọng cổ ngợi ca những người đi mở đất. Tiếng ca trầm hùng, buồn thương, da diết lạ:

                  Con thương Năm Căn, má ơi, con thương cây đước
                  Con thương má, đước ơi, má đi ngủ rồi chân còn dầm trong nước
                  Thương Cà Mau, thương con xuồng một đời tròng trành sóng nước
                  Thương đất bồng bềnh mặt lấm ướt phù sa…

                  Và lại uống rượu. Rượu tri âm tri kỉ. Rượu nồng như hương đất, đục như nước sông rạch Cà Mau bao đời nay chưa bao giờ có lấy một lần trong vắt...

                  Tôi nói với Nguyễn Thanh rằng, tới đây rồi tôi mới thấy bản đồ nước ta giống hình một cây đước quá! Chùm rễ là đồng bằng Bắc bộ. Thân đước là dải đất miền Trung dằng dặc. Và tán đước là đồng bằng sông Cửu Long mênh mông. Mũi Cà Mau chính là ngọn của cây đước ấy, nó cứ lớn lên từng ngày, từng ngày. Nhà văn miệt đất mũi gật gật đầu tán thưởng rồi vỗ vai tôi, khẽ khàng nói qua hơi men: “Cậu thấy đó, cây đước miệt này gốc có vững, cây mới bền được. Cũng như tụi tôi, cây phải sống được trong môi trường khắc nghiệt đã, rồi mới nghĩ đến chuyện phát triển”. Ờ nhỉ, chuyện cây sao giống chuyện một cộng đồng dân tộc; dân có giàu nước mới mạnh? Chuyện cây sao giống chuyện người cầm bút phải sống thật rồi hãy nghĩ đến chuyện viết, viết vì cuộc sống, viết để xứng đáng với cuộc sống mà mình và dân tộc mình phải gian lao, đổ mồ hôi, thậm chí phải đổ rất nhiều xương máu mới có được?

                  Trên đường về, ngồi thu lu tránh cơn mưa đầu mùa mà đã dữ dội trong lòng con xuồng nhỏ, đưa tay chỉ lên một cành đước sà ra phía mặt sông tua tủa những trái đước tượng hình những cây bút, sắp lao thẳng xuống nước, Nguyễn Thanh khàn khàn tâm sự với tôi: “Tôi và các bạn tôi ở đây hầu hết là những cây bút đước mộc mạc, trời cho mọc lên để viết về vùng đất này đấy. Các cậu có ai muốn thành đước thì hãy mau về với Cà Mau đi. Ở xứ nước nổi này, các cậu biết đấy, ngay cả rượu cũng có vị mặn của nước biển. Còn người thì, khỏi phải nói, mặn mà hơn bất cứ nơi đâu”...
                  #9
                    Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:06:33 (permalink)
                    Một đêm chèo nghiêng ngả

                    Không hiểu sao, dù đã xa quê từ lúc tuổi còn xanh, tính đến bây giờ cũng đã bốn mươi năm có lẻ, cứ mỗi lần thoảng nghe trong gió một làn điệu dân ca, tôi lại nhớ tới chèo. Những làn điệu vui buồn quấn quýt. Cây đa, giếng nước, sân đình, ao làng sen nở, cá bơi, dòng sông bến nước như đang trước mặt, sau lưng; với tay ra, quay đầu lại là đã rõ mồn một. Rồi những người muôn năm cũ; những cảnh đời éo le trắc trở hay hơn hớn những niềm vui dân dã; cô gái rạo rực tuổi đương thì; vợ chồng vừa giận đã quen; ông lý nghênh ngang; anh mõ, chị mõ thông minh và hài hước... Những thứ đó như được chèo thâu tóm lấy cái hồn rồi đem phô ra trên sân diễn bằng lời ca, điệu muá cách điệu nhưng sống động. Tôi nhớ những đêm xưa, cách đây chừng ba lăm, ba sáu năm, xóm làng quê tôi đêm đêm rộn rã tíêng trống chèo mời gọi. Đêm nay phường Nam Xang Hạ, đêm mai phường Nam Xang Thượng, ngày kia lại đã phường thôn Đông, thôn Đoài... Quanh đi quẩn lại vẫn chỉ những tích quen như Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình-Dương Lễ, Đưa linh, Trương Viên, Tuần -Ty- Đào- Huế... Sân chèo khi thì mở ở sân đình, khi thì diễn ngay trên diệc mạ gần chợ Thượng. Người diễn trò xong chạy ra đứng lẫn vào kẻ xem, vừa nói chuyện, vừa chờ tới khúc vai diễn phải có mặt trên sân. Trai thanh, gái lịch xích lại gần nhau hơn, cười rinh rích. Sân chèo lúc lặng, lúc ồn ào tưởng như mặt đất cũng chao nghiêng. Say chèo, nhiều bà lão thuộc lòng cả tích, thuộc cả ánh mắt, cử chỉ cuả vai diễn. Thành ra, đêm trước xem chèo, ngày hôm sau chỉ bàn ra tán vào về cảnh, về người. Đời còn cơ cực đấy mà vẫn thấy lên hương! Đối với tôi, chèo thấm vào lòng từ lúc nào không rõ. Có lẽ từ tấm bé. Cái thuở bà tôi hay ru cháu bằng những làn vui khi bà buồn. Lời ru dỗ cho ăn, cho chơi, cho áo quần mới, mong cháu sau này thành quan nghè quan cống đôi lúc vẫn còn thức dậy và không ít lần đã làm tôi đỏ mặt. Chúng như những kỷ niệm xa lắc xa lơ mà gần gũi. Chúng không phải là quá khứ mà là hiện tại. Một quá khứ sống trong hiện tại, làm nền cho hiện tại. Quá khứ ấy là cái nền văn hoá quý báu mà cha ông để lại cho muôn đời con cháu. Tiếc thay, do còn mải miết lo cơm áo đời thường trong cơn lốc kiếm sống, do trăm ngàn lý do có thể biện minh được, chính đáng và chưa chính đáng, có lúc ta đã thờ ơ, sao nhãng với chèo...

                    Mang tâm trạng cuả người quê chèo, cả gia đình tôi hồi hộp đến Nhà hát Bến Thành xem chương trình biểu diễn cuả Đoàn nghệ thuật chèo Nam Định, lòng những mong tìm lại được một mảnh hồn quê. Tôi nhìn nhanh khắp một lượt các hàng ghế đã chật cứng người trong nhà hát. Các cụ già tóc phơ phơ bạc đang chụm đầu ôn cố tri tân. Nhiều gia đình, như gia đình tôi chẳng hạn, có tới bốn thế hệ đi xem. Tôi còn nhận ra mấy người bạn quê ở Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Đông, Hà Nam nghe tiếng cũng đến xem chèo. Hình như ai cũng náo nức chờ đợi tấm màn nhung đỏ từ từ kéo lên trong những âm thanh rộn rã cuả tiếng trống chèo, tiếng réo rắt cuả đàn, cuả nhị...

                    Rồi trên nền tấm phông cuả sân khấu nhà hát bừng hiện lên hình ảnh ngọn tháp đang họa thơ vào trời xanh chùa Phổ Minh, ngôi chuà nằm trong quần thể kiến trúc thời nhà Trần oanh liệt, biểu tượng cuả Nam Định. Vùng quê chèo ven sông Hồng như vỗ sóng trong tâm hồn những người con xa xứ. Mười bốn diễn viên nam nữ vào đêm diễn với bài dân ca Nam Định nổi tiếng, bài Mời trầu, có nơi còn gọi là Mời duyên. Những lời hát: "Trầu này trầu nghĩa trầu tình - Cho môi ai thắm, cho mình nhớ ai...", đẩy đưa theo từng ánh mắt lúng la lúng liếng làm duyên, như uốn lượn theo từng bước đi, điệu muá. Nghe tình quê da diết trong những âm vực cao vút và uyển chuyển, lúc mau, lúc thưa, tôi nhắm nghiền hai mắt lại. Đồng quê, thôn nữ, giậu mồng tơi trong thơ Nguyễn Bính, phiên chợ Tết đầy màu sắc quê nhà trong thơ Đoàn Văn Cừ hình như đều chắt ra từ văn hoá chèo? Và đâu đây còn vẳng vẳng những khúc nhạc Văn Cao, Đặng Thế Phong...Những khúc vui buồn, bi thương, hùng tráng. Và còn bao nhiêu giọng điệu, xưa như Không Lộ, Trần Nhân Tông... nay như Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo... Họ như bước ra từ chèo. Đi theo làn điệu đa dạng và phong phú. Nói và hát. Say mê và sáng tạo. Tự sự hay trữ tình...Thì đấy, một nét tươi vui, hóm hỉnh, hoặc cay độc đến mất lòng, chẳng từ chèo mà ra cả đấy ư? Cũng phải thôi, đất chèo đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà khoa học bằng dòng sữa nhân ái đầy chất thơ cuả mình. Dòng suy tưởng cuả tôi chưa dứt thì Bích Thục, một trong sáu cô tiên cuả đoàn chèo Nam Định đã bưng cơi trầu tới trước mặt, vừa hát, vừa đưa cho tôi một miếng trầu cay. Tôi nhận miếng trầu và tỏ ý muốn tặng cho cô một bài thơ tôi viết đã hai mươi bảy năm mà chưa biết tặng ai. Nghe tôi đọc đến khổ thơ: " Lúng liếng là lúng liếng ơi - Câu hát một thời gái trai đung đưa mắt - Như vôi nồng têm vào trầu cay cau chát - Câu hát say lòng xui em đến cùng tôi...", cô cười, bảo: " Hình như những câu thơ này anh làm giúp anh Hạnh ". Hạnh đang chơi đàn nhị, nhìn theo từng bước đi cuả người vợ, mỉm cười khích lệ. Tôi rất thích các trích đoạn Thị Mầu lên chuà, Lý trưởng và mẹ Đốp, Vợ chồng ông chài rút ra từ các tích chèo nổi tiếng cuả dân tộc. Những trích đoạn mang hồn chèo, nói cái sinh lực dồi dào cuả người lao động trong các quan hệ ứng xử rất nhân bản giữa người và người bằng nhiều miếng diễn tài hoa...Tôi còn nhớ như in, ở đoạn Thị Mầu lên chuà có tất cả mười chín lời thoại, trong đó Thị Mầu có mười lời, tám tiếng đế và chỉ có duy nhất một lời cuả Thị Kính (tức tiểu Kinh Tâm). Chẳng phải ngẫu nhiên mà chỉ trong mười lần hát nói, Thị Mầu mười hai lần nói lẳng. Tôi nói là mười hai vì ở lời thoại thứ hai và thứ tám, xen vào múa và hát cắm giá hay nói thường, Thị Mầu vẫn nói lẳng. Theo tính ước lệ, nói lẳng (nói lệch) là cách nói của các nhân vật có tinh thích bỡn cợt, lẳng lơ, nhiều khi bộc lộ một quan niệm sống phóng khoáng, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến cuả người bình dân xưa. Cùng với ánh mắt, những cử chỉ õng ẹo, những động tác di chuyển ngang kết hợp với tư thế lắc hông đầy gợi cảm, nhân vật Thị Mầu (doThanh Vân sắm vai) đã làm náo loạn cả sân chèo, làm người xem ngây ngất bởi vẻ đẹp cuả cuộc sống dồi dào sinh lực cuả người bình dân xưa trên dải đất ven sông Hồng. Nét đặc sắc Thị Mầu này - nhân vật nói lẳng hay nhất trong chèo cổ - quả thật, cho đến đêm hôm nay tôi mới được nghe trọn vẹn. Nghe và lòng lâng lâng sung sướng. Chèo đâu có phụ ta khi ta dốc hết lòng mình vào công việc làm sống lại một cách trung thành và sáng tạo những di sản văn hoá vô giá cuả cha ông?

                    Đêm chèo Nam Định khép lại với tiết mục Ba giá đồng trong Tứ phủ.Thu Hương một lúc thủ cả ba vai diễn: đồng cô, đồng cậu, đồng bà. Bốn cô gái hầu đồng. Chín chàng trai trong vai cung văn... Điều đáng nói là tiết mục này là một sáng tạo khá táo bạo cuả trưởng đoàn Lê Công Trí. Mượn chất liệu dân gian cuả lên đồng có tính chất tôn giáo trong các lễ hội Phủ Giầy, Đền Trần, Cổ Lễ, chuà Bi, anh Trí đã dàn dựng được một tiết mục lạ. Người dàn dựng và biểu diễn đã khéo lấy được cái không khí thiêng liêng cuả lễ hội tôn giáo để lồng vào đó những nội dung văn nghệ mới khoẻ khoắn và sinh động. Kết hợp với lối diễn giao lưu giữa diễn viên với khán giả, khán giả với diễn viên, sức lôi cuốn cuả tiết mục đạt được hiệu quả nghệ thuật ngoài sự mong muốn cuả đoàn. Có lẽ vì thế chăng, mà khi Thu Hương, đầu đội mâm oản ngũ sắc, đi xuống từng hàng ghế biếu mọi người, nhận được một phẩm oản cô diễn viên trẻ trao cho, một cụ già ngồi gần tôi đã rơm rớm lệ, vội lấy khăn tay ra chấm chấm mắt? Cảm xúc ấy lan qua tôi rất nhanh. Tôi bỗng cảm thấy như đang được sống trong những ngày xưa xa, ngày sân chèo như có vẻ hơi chao nghiêng...
                    #10
                      Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:10:40 (permalink)
                      Chơi trăng núi Bà Đen

                      Buổi sáng, ngồi uống trà xuân, bình thơ Tết, các bạn tôi chợt nhắc đêm nay đã là đêm Nguyên Tiêu. "Rằm xuân lồng lộng trăng soi", không ngắm được trăng khuya, e rằng rồi sẽ phải lấy làm tiếc cho đến tận Trung Thu... Chợt nhớ năm nào, thuở còn chiến tranh, có một lần vào đúng đêm Rằm tháng Giêng, chúng tôi, lúc đó là những người lính sắp ra mặt trận, rủ nhau leo lên chót đỉnh núi Nghĩa Cương. Dưới trăng khuya mênh mang dát bạc, Đền Hùng thâm nghiêm trở nên gần gũi đến lạ thường. Chắp hai tay vái lạy tổ tiên, tôi đâu có nghĩ tới ngày hôm nay, sau hơn hai mươi lăm năm trời đằng đẵng, trong số chúng tôi ngày ấy, nhiều người đã không thể, hoặc chưa có được một dịp thảnh thơi để trở lại với chốn xưa...

                      Tìm trăng tháng Giêng ở thị thành không phải là điều khó. Bây giờ, vào một đêm bất kì nào đó, trừ những ngày nguyệt tận, mời nhau leo lên sân thượng, quây quần bên ấm trà ngon hay bình rượu quý, chúng tôi đã có thể ung dung ngồi thưởng nguyệt, đón gió trời. Nhưng để có một đêm trăng đủ cả gió núi, mây ngàn, lá hoa, cây cỏ quả là việc bấy lâu nay còn nằm ngoài tầm mơ ước cuả chúng tôi! Mơ ước ấy, trong sáng xuân này, vô tình được đánh thức. Anh T, một luật sư có tiếng trong thành phố, quay sang phía anh K, một nhà văn quân đội, thủ thỉ rủ: "Đêm nay, tôi rất muốn cùng mấy anh em mình đi tìm trăng xưa! Các anh thấy việc này liệu có nên không?". "Sao lại không nên!", anh S, một nhà báo có khuôn mặt lúc nào cũng khó đăm đăm, bỏ ly trà trên tay xuống, nhỏ nhẹ, tiếp: "Mấy năm trước thì tôi chả dám rủ các bác. Năm nay, nhờ vận nước đổi mới, lại được tổ tiên phù hộ cho, tôi thấy ai trong chúng ta cũng phát tài phát lộc, thơ văn in ra bày bán khắp nơi, đem cái nhuận bút báo xuân nuôi một đêm trăng, theo tôi, là việc rất đáng làm! Biết đâu, cảm hứng từ cuộc chơi trăng sẽ nhập vào ai đó, khiến người ấy cầm bút viết và để lại được cho đời một áng thơ văn xuân sắc mãi với thời gian?"... Bàn qua tính lại một hồi lâu, các bạn tôi quyết định: đêm Rằm này, chúng tôi sẽ đến thưởng trăng trên núi Bà Đen. Bởi, núi không xa thành phố bao nhiêu. Bởi, núi nhắc nhở chúng tôi nhớ về những bà mẹ một nắng hai sương nuôi con khôn lớn thành người. Bởi, núi là dáng hình thu nhỏ của con chim Trường Sơn vĩ đại, mấy ngàn năm qua vẫn còn tung cánh, vẫy người Việt đi khai hoang khẩn đất, mở mang bờ cõi tới cả những vùng xa tít tắp ở phương nam...

                      Sáu giờ chiều, xe chúng tôi mới tới được chân núi. Gửi xe vào bãi đậu, quên cả mệt mỏi, chúng tôi nhập ngay vào đoàn người hành hương đông như nêm cối, thong thả qua cổng và từ từ ngược dốc. Trong chạng vạng hoàng hôn tím sẫm, núi Bà Đen trong mắt tục của tôi, trông tựa hồ như một người đàn bà mặc áo bà ba đang thư thái nằm nghỉ sau một ngày trỉa lúa trồng khoai vất vả. Trên tấm áo ấy, còn lấm tấm cả bùn đất của những cánh ruộng cò bay thẳng cánh vùng đồng bằng Nam Bộ trồng lúa nước. Tôi bất giác ngước nhìn lên. Vầng trăng phía xa sáng trắng lên một thứ ánh sáng đã được lọc trong văn vắt. Thứ ánh sáng ấy trải ra trong mênh mang, rồi như cố ý tụ lại trên những thân cột, cái thì bằng xi măng, cái thì bằng gỗ núi. Chúng nhấp nháy, tinh nghịch như những đôi mắt đang cười. Ngỡ ngàng mà thân quen quá ánh sáng điện cùng người leo lên núi. Có lẽ vì thế chăng mà một tốp thanh niên (tôi đoán là các em sinh viên) vừa ca hát trong tiếng đàn ghi ta vừa nhảy muá trên những bậc đá gập ghềnh, có em đưa tay chỉ chỉ trỏ trỏ những dây bóng đèn điện màu vàng với một vẻ thích thú đặc biệt. Đi sau các em, các cụ già tay cầm nhang, vai mang đồ tế lễ, miệng lầm rầm: " A di đà Phật". Gió núi Bà Đen vờn nhẹ, những chòm râu cước cuả các bô lão khẽ phất phơ... Rồi cũng tới được Suối Vàng. Nói là suối nhưng tôi ngược theo lòng khe đá, không thấy có nước. Chỉ thấy ánh trăng loang loáng, loang loáng vờn theo chiều cây hai ven bờ đang reo lên xào xạc cùng gió xuân. Tôi bần thần nhìn xuống dưới chân núi. Đêm chắn che vạn vật, không gian nửa hư nửa thực bồng bềnh một sắc bạc. Trên cái nền bạc mông lung ấy, hàng ngàn ngọn đèn hắt ra từ các ô cửa của các căn nhà phía xa xa nhấp nháy như một trời sao. Có những ngôi sao trôi ngang, trôi dọc, từ từ như người đi bộ, vun vút như xe lao trên đường cái quan... Xa hơn nữa về phía đông, nhiều quầng sáng lớn hắt lên trời, soi rõ cả những tầng mây trắng nõn như bông. Tây Ninh, Sài Gòn, Thủ Dầu Một, Biên Hoà đang lớn dậy từng ngày đều ở những chân trời ấy. Tưởng như ánh sáng vào thời đổi mới cuả các đô thị lớn có đủ sức để toả lan tới tận cả miền đất núi phía tây nam của Tổ quốc xa xăm này...

                      Tới Điện Bà, chúng tôi thấy người đi lễ Phật đã vòng trong vòng ngoài, tấp nập vào ra từ hai cái điện thờ có tiếng là linh thiêng. Ngoài sân điện, người hành hương ngồi kín mít, người đi vãn cảnh như chúng tôi phải len chân mà đi. Ở đây, không hiểu sao, ánh trăng xanh đến kỳ lạ. Mặt người nào, người nấy trông như đượm vẻ trầm tư, thành kính. Tôi lặng đi trong suy tưởng. Rồi cảm hứng về trăng khiến tôi khám phá ra một điều bí mật của tự nhiên: Được ánh trăng từ trên mặt lá phía dưới hắt ngược lên, lại thêm cả ánh trăng lọt qua kẽ lá ở trên cao lọt xuống, do nằm ở lưng chừng núi, Điện Bà vô tình được trăng khuya nhuộm xanh cái sắc xanh tưởng như là của thần thánh vậy. Tôi lại cố trèo lên Hang Gió. Cũng là để tìm một sự khác lạ cuả hang đêm so với ban ngày mà thôi. Có lẽ khí lạnh toả ra từ hang không làm nhiều người đi hành huơng thích thú, nên nơi đây vắng ngắt như tờ. Tôi quỳ xuống đá, ngó vào hang. "Trời ơi!", tôi thầm kêu lên, vẻ đẹp thần tiên, huyền bí đến thế mà người đời cũng lãng quên ư! Hay là chỉ do người ta chưa kịp phát hiện ra? Tôi vội chạy xuôi trở xuống để gọi bạn bè lên ngắm ánh vàng rọi xiên qua kẽ đá, lúc gió lay cây, những luồng sáng mong manh kia cứ như run lên bần bật... Điệu run cuả đá, thử hỏi trong đời này, đã mấy ai được tận mắt ngắm nhìn?

                      Tôi đã không kịp thực hiện được ý định cuả mình. Nghĩ tôi đã vượt lên đằng trước, các bạn tôi đành rủ nhau đi tiếp lên chùa Hang, ngôi chuà cao nhất cuả thắng cảnh nuí Bà Đen. Họ đang bị kẹt cứng ở bên một ghộp đá hẹp mà lối đi chỉ đủ lọt cho một người qua. Thật làứ may: nhờ cái ghộp đá biết níu hộ chân người mà tôi theo kịp bạn... Len lỏi khá vất vả, mồ hôi ướt đầm cả áo, chúng tôi mới đến được ngôi chùa cuối cùng ấy. Người vào chùa thắp nhang, người ngồi bệt xuống bức tường nhiều bậc lấy lại sức...Tôi rủ được anh K còn đang sung sức len vào hang. Hang sâu hun hút, tối om. Đang định quay trở ra, tôi bỗng nghe anh K hổn hển gọi: "Vào đây! Mau lên! Đẹp tuyệt trần!". Tôi lần theo vách đá, có lúc phải bò qua các ngách hẹp. "Thấy chưa?", K nói và cầm lấy tay tôi, chỉ ngược lên vòm hang tối. Mắt tôi tưởng như bị một ngọn đèn pha cực mạnh làm cho chói lòa. Luồng ánh trăng hình phễu ngược mở ra một khoảng xanh bao la. Lồng lộng trong khoảng xanh đó là một quầng vàng rực rỡ. Rồi những thanh âm bảng lảng cuả tiếng chuông chuà điểm vọng lại, ngỡ như cùng một lúc len lỏi qua kẽ đá với những sợi trăng...

                      Chúng tôi ra về vào khoảng hai giờ sáng. Khí núi và gió xuân lành lạnh cùng ùa theo đưa tiễn khách. Trăng vẫn bát ngát toả xanh trên mỗi mái đầu. Tôi quay lại, ngước nhìn lên một lần nữa. Trăng núi Bà Đen gợi nhớ trăng xưa ở mãi tận Đền Hùng. Trăng, giống như khuôn mặt người - khuôn mặt của Bà Âu Cơ, của Bà Đen và của cả mẹ tôi nữa - vẫn muôn đời sẽ còn toả sáng...
                      #11
                        Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:13:20 (permalink)
                        Những trang lẻ chép trên hè phố

                        Tôi vào thành phố Hồ Chí Minh dạy học, mới ngày nào còn chân ướt chân ráo, thấm thoắt nay đã tròn ba mươi năm. So với tuổi đời ba trăm năm cuả mảnh đất bốn mùa xanh cây lá và rực vàng nắng gió này, khoảng thời gian đó mới chỉ bằng một phần mười. Cùng buồn vui những nỗi vui buồn cuả người phố xá, tôi đã dần dần hoà nhập vào nhịp sống cuả đất, cuả người phố Sài Gòn xưa. Tìm hiểu về vùng đất mới này, tôi đã ghi chép được nhiều điều thích thú, ít nhất là đối với mình.

                        Theo gia phả cuả một số dòng họ, người Sài Gòn hầu như đều có nguồn gốc xa xưa từ những vùng quê xa xôi. Lần ngược về quá khứ cách nay vài thế kỉ, nhiều dòng họ biết tổ tiên mình vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên hoặc những vùng đất Quảng. Có dòng họ lại thấy ông cha mình xưa từng ở những vùng Tây Nguyên, nơi có những dãy rừng già chạy hút tới chân trời, những đỉnh núi bốn mùa mờ mây phủ; hay vùng đồng bằng sông Cửu Long cuộn sóng, cò bay mỏi cánh chưa qua một cánh đồng...

                        Hoàn cảnh tự nhiên, đặc biệt là phong thổ, góp phần không nhỏ trong việc hình thành tính cách con người. Nét riêng cuả người Sài Gòn, trước hết là những nét chung cuả ba vùng đất nước đã được gạn trong đến tận cùng. Bởi thế, ai một lần tới thành phố, tuy thấy nhiều cái lạ, nhưng có cảm giác như đã quen, đã gặp ở đâu đó, từ lâu lắm rồi...

                        Nhà ở Sài Gòn khá đa dạng, cất bằng đủ mọi thứ vật liệu. Nhà ở mặt tiền phố, hầu hết xây cất bằng xi măng, cốt thép. Cao thấp, to nhỏ có thể khác nhau, song đều giống nhau ở chỗ tường rất mỏng và nhẹ. Gạch xây tường thường là gạch rỗng. Cũng dễ hiểu vì người thành phố gần một trăm năm nay chưa hề biết tới bão là gì. Riêng nhà trong hẻm, trước đây, nhà nào khá giả mới có gỗ cất; nhà nghèo chỉ sơ sài vài ba tấm ván che làm vách, mái lợp bằng lá dừa hoặc tôn là đã có một tổ ấm, cũng vui ra trò. Khác với ngoài mặt tiền, dân phố quen sống biệt lập, có khi hai nhà kề vách không biết tên thật cuả nhau, trong các con hẻm dọc ngang như bàn cờ ở các xóm lao động, người ta sống với nhau như bà con trong cùng một xóm ở làng quê. Sau những giờ đi kiếm sống và học hành, trẻ con chạy từ nhà này qua nhà khác xem cải lương trên ti vi, người lớn xúm quanh một cỗ bài hay một bàn nhậu, vui chẳng khác nào cảnh quê ngày tết... Lại nữa, những người dân nghèo không có đất, hoặc chưa quên thói quen sống ven sông rạch, cất những căn nhà rất lạ. Nhà nhô ra sông, thuở nước sông chưa bị ô nhiễm rất mát. Chỉ tiếc là những căn nhà như thế thường là những mối nguy hiểm đối với tàu bè khi di chuyển. Cũng như nhiều người khác, tôi rất mê những khu nhà vườn ngoại thành Thủ Đức, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh. Nhà bé, ẩn dưới những lùm cây ăn trái, giữa nhà kê một bộ ván ngựa, nhậu xong, chủ và khách cùng lăn ra ngủ. Gió thì mát như quạt hầu. Độc một thứ gió mang hương lúa, hương cây, hương đất, nồng nàn và tha thiết...

                        Người Sài Gòn ăn uống hồn nhiên hơn người ở các vùng đất khác. Chỗ nào cũng thấy quán ăn, quán nhậu. Vào các sáng sớm, chiều hôm, khách ăn hàng đông đã đành, khuya rồi vẫn còn đông. Đông tới mức có những điểm ăn nhậu, người ta lai rai ngay trên vỉa hè, có lúc ở bên cạnh một rãnh thóat nước, thậm chí trên cả một nắp cống! Thi thoảng, trong một quán nhậu, dân chơi vừa ăn uống, vừa gõ chén bát làm nhịp ca hát. Mới ngó qua, ai chưa biết, ngỡ đấy là một nhóm tấu hài... Trẻ con ăn quà vặt nhiều, có đứa, tan học về không ăn trưa, đi ngủ ; chiều, vừa thức dậy, đã đi ăn dằn bụng một món gì đó ăn rồi mới làm bài thầy giao về nhà, hoặc đi học thêm. Bởi nhà chúng rất ít khi nổi lửa. Bữa cơm gia đình có khi cả tuần mới đông đủ được một lần. Mà cũng lại ở tiệm. Nhưng quả thật là sang. Ai kêu gì tuỳ thích, ăn không hết thì bỏ, chẳng có ai la mắng nửa lời. Nhiều đêm, tôi không ngủ được vì những tiếng tre gõ vào nhau, những âm thanh khô giòn mời gọi; ngó qua cửa sổ xuống phố, vừa thấy một chú bé tay thoăn thoắt nẻ hai thanh tre cật vào nhau, lại đã thấy một chú bé khác lễ mễ bưng tô mì gõ hút vào một ngõ tối. Có lần tôi kêu thử một tô. Rẻ đến bất ngờ. Ăn thấy cũng ngon ngon. Thấy ngon vì thương người bán! Thấy ngon vì xót hôm nào theo bạn đi dự một bữa tiệc nhỏ, khổ chủ chi cho mỗi thực khách ba trăm ngàn đồng, món ngon ê hề, song ai cũng chỉ nếm qua vì lịch sự...

                        Nhìn hai đứa trẻ bán mì gõ, tôi chợt nghĩ đến đám học trò cuả mình. Dạy học ở một quận nghèo ven đô, nhưng tôi thấy trẻ con được gia đình chúng chăm sóc rất tử tế. Chăm sóc nhiều nhất là việc học. Học ở trường chưa đủ, học thêm ở trung tâm. Học các môn chính khóa, ngoại ngữ, vi tính, có đứa học thêm cả nhạc, cả múa... Nghĩa là học tới mức không còn thời gian để mà làm trẻ con nữa! Có em học giỏi, có em học chỉ làng nhàng. Nhưng phần lớn rất ngoan. Về nhà, khoanh tay chào người lớn. Ra đường, gặp thầy biết cúi đầu lễ phép...

                        Qua tiếp xúc với nhiều người, tôi thấy phụ huynh học sinh ở thành phố khá thoáng trong việc chọn hướng đi cho con em mình. Họ cho con học hết khả năng cha mẹ có thể lo được. Trong trường hợp con em họ học lực qúa yếu, họ vui vẻ cho các em đi học nghề hoặc đi làm ngay. Rất ít người có quan niệm rằng tuổi trẻ chỉ có thể tiến thân bằng một con đường duy nhất là học vấn. Theo họ, người ta đi học là để làm người. Học cao hay thấp còn tùy thuộc vào đầu óc đứa trẻ. Vấn đề là sau khi vào đời, chúng phải trở thành một công dân tốt, có thể tự lo liệu cho bản thân, góp phần xây dựng cuộc sống là được. Dĩ nhiên, ai chẳng mong ước con em mình học giỏi, thành tài?

                        Tôi có thói quen chủ nhật đi ngắm phố, tiện một công đôi việc với thú dạo sách. Những buổi như thế, tôi hầu như không mua được cái gì, kể cả sách. Nhưng mà được quá nhiều thứ, có dư tiền triệu cũng không mua sắm nổi. Cách đây mười năm, tôi ra phố ngắm người. Ngắm quần áo đẹp. Ngắm xe cộ... Đúng là ăn Bắc mặc Nam, người Sài Gòn mặc rất đẹp, và nhất là rất đúng mốt. Có những kiểu váy áo mới ngó trên ti vi tối thứ sáu, chủ nhật đi chơi đã thấy có cô gái đẹp như mơ mặc diễu qua trước mắt. Rồi cả cái bộ quần áo tóe loe, rách rưới kia, tôi xem ti vi thấy chói mắt, vậy mà lại cũng đã đây rồi. Nhưng mà dễ coi! Có thể vì cô bé có chiếc răng khểnh, chủ nhân cuả cái tác phẩm nghèo vui tính nên tôi cũng được cô tặng cho một nụ cười chăng? Dĩ nhiên, tôi thích nhất tà áo dài. Tưởng như ai mặc thứ áo Việt Nam này cũng thành tiên nữ vậy! Và, như có một sức hút vô tình, chính vẻ đẹp của các cô đã đưa tôi đến với các tụ điểm biểu diễn thời trang. Lạ nhất là có một vị trong ban tổ chức, sau khi hỏi tên tuổi tôi như truy bài học trò, cứ nằng nặc mời tôi tham gia góp ý kiến cho ban giám khảo của một cuộc thi thời trang của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Có thể ông ta lầm tôi với một nhà tạo mốt nào chăng? Hay vì muốn tôn vinh một khán giả mến mộ môn phô diễn vẻ đẹp cuả con người này? Tôi không rõ ý tứ thật cuả ông ta, chỉ khiêm tốn từ chối. May mà ông ta không ép...

                        PMấy năm gần đây, hình như tôi đổi tính. Chỉ chăm chắm vào nhà sách. Cái thú này xuất hiện từ khi tôi còn bé tí, thích vào hiệu sách vờ mua để nghiến ngấu vội mấy cuốn truyện tranh không mất tiền. Chẳng ai ngờ, trò láu cá trẻ thơ, giờ tóc đã điểm bạc, lại được nhân lên gấp bội. Tôi có ba người bạn rất thân. Từ khi họ in được một số tác phẩm, tôi đi nhà sách cốt để nhìn ngắm xem người ta mua những cuốn sách đó ra sao. Để viết bài khen bạn trên các báo. Người ta bảo tôi có khiếu phê bình. Rồi, bất ngờ hơn, có tờ báo gửi cho tôi những tác phẩm đang được chú ý, nhờ điểm cho vài trăm chữ gọi là hướng dẫn dư luận. Đọc riết, thấy mình cũng có thể làm được như người khác, tôi bắt đầu viết, và cũng ra được sách. Bất ngờ nhất là sách bán khá chạy. Lấy làm ngạc nhiên, tôi lại phải thử dò xem vì sao người ta lại đọc sách mình viết nhỉ! Tôi đi dạo sách nhiều hơn bình thường, mua rất nhiều sách cuả người khác. Và, quen được khá nhiều tác giả. Quen cũng dễ. Vì mỗi khi mua một cuốn sách nào đó, cứ lấy lên đặt xuống, rồi ngó nhanh ra xung quanh, thấy ai đó mặt tái mét đi vì hồi hộp, hoặc rân rấn nước mắt vì xúc động, có thể đó chính là cha mẹ đẻ cuả đứa con tinh thần mà tôi đang cầm trên tay. Tôi biết, những người dạo sách như mình ở thành phố không hiếm. Chẳng thế mà cả hai mùa, mặc nắng mưa tuần hoàn, các hiệu sách lớn trên đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Đồng Khởi, Nguyễn Văn Cừ... lúc nào cũng tấp nập người vào ra.

                        Có một lần tôi đã tìm thấy chính mình bên giá truyện tranh trên lầu một nhà sách Lê Lợi. Ngẩn người ngắm một thằng bé giống hệt mình thuở ấu thơ, nhớ lại những năm tháng đắng cay trong cuộc đời mình đã từng nếm trải, tôi suýt bật khóc. Thấy vậy, một người đàn ông chừng năm chục tuổi, mắt mang kính cận, vội đến bên tôi, hỏi nhỏ rằng tôi có phải là tác giả cái truyện tranh trứ danh kia không. Tôi thưa là không phải, rồi đi ra phía cầu thang, xuống nhà dưới. Không ngờ anh bạn theo sát thế, gặng hỏi nữa. Vậy là bắt chuyện, rồi biết anh ta là một nhà thơ chuyên viết cho trẻ con. Biết thêm anh có tới mười tập sách bày bán ở đây. Cũng là trời cho tôi được gặp người kỳ tài chăng?

                        Cuối năm. Những dòng người đã đổ vào thành phố nườm nượp, tưởng như không bao giờ dứt. Ngoài ga máy bay, ga tàu hoả, bến ô tô, bến tàu sông, người về quê đông như kiến. Có những nhà khá giả, dư tiền dư bạc, chẳng hiểu vì sao tết không về quê, mà lại rời Sài Gòn gió bụi, đi Đà Lạt, Vũng Tàu, Nha Trang... nghỉ mát. Họ đón tết ngay trong rừng xanh hoặc trên bãi biển vàng nắng. Cũng là một cách đón xuân lạ, chỉ thấy có ở một số ít gia đình... Chợ hoa, trên các nẻo Bến Nhà Rồng, công viên Bạch Đằng, Lê Văn Tám... trong nắng mai vưà hửng, lại đã rực lên những sắc hoa. Nhiều nhất là mai. Những nụ vàng mới hé. Những bông đã nở, xoè năm, sáu, hoặc mười hai cánh vàng, mỏng mảnh, thanh khiết. Người Nam Bộ yêu mai, coi đó là hồn xuân, như người Bắc vẫn tán về đào vậy. Rồi thì cúc, thược dược, mào gà, hồng, đào tiên, lay ơn, cẩm chướng... trắng, xanh, đỏ, tím, phơn phớt,... sáng cả đất trời. Có những gốc mai, gốc cây sung, cây si già giá tới cả chục triệu. Lạ là rất ít người mua. Mà chỉ ngắm. Ngắm cho tới ngày giáp tết mới chịu ngã giá đem về nhà. Lúc ấy, giá gần như cho không, hoặc đắt gấp bốn năm lần...

                        Tết nào tôi cũng đi chợ xuân mua cây, mua hoa lấy may. Năm thì mai, đào; năm thì hồng, cúc. Có năm, hứng chí, tôi liều lĩnh đào một gốc sứ già trước cửa, đem ra chợ bán. Tưởng chỉ là một cái cớ ghẹo người sành chơi, ai ngờ lần ấy, gốc sứ trêu người đã chán nó, được người ta trả tới hai mươi triệu bạc. Thấy gốc sứ có giá, tôi sợ hớ, không bán, đem về trưng trong ba ngày tết. Các bạn tôi đến chơi, nhờ gốc sứ gợi hứng, viết được bảy bài thơ. Thế là, họ đòi tôi phải mở một cuộc bình thơ có kèm theo tiệc rượu. Tiền tôi dành được trong năm theo thơ về cõi ảo, nhưng gốc sứ thì còn kia.

                        Năm nay, tôi gạ bán cây từ tháng mười một. Chờ mãi, mong mỏi cả mắt, vẫn chưa thấy khách hỏi mua. Vậy mà, bây giờ tôi lại phải từ chối hết thảy mọi lời nài nỉ xin mua nó. Một chuyên gia về cây cối, trong lần đến chơi với tôi, đã xem cây rất kỹ và cho biết rằng: cây sứ nhà tôi có độ tuổi bằng đúng tuổi khai sinh cuả thành phố ven sông Sài Gòn lộng nắng gió này. Vì thế, nó đã trở thành vô giá chăng?
                        #12
                          Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:15:27 (permalink)
                          Quà biếu Tết

                          Vào những năm năm mươi, sáu mươi của thế kỉ trước, quà Tết thường rất giản dị, mộc mạc. Các món quà nghiêng về bộc lộ tình cảm yêu quý, kính trọng, sự quan tâm đến nhau giữa người với người hơn là mang giá trị vật chất. Quà người bình dân dành làm quà biếu thường chỉ là những món quà theo đúng nghĩa của nó, cái tình của người nghèo dành cho nhau. Người ta biếu món quà mà mình cho là quý nhất, rất ít khi hiểu rằng người nhận có thích nó hay không. Đó có thể là phong bánh khảo, gói chè mạn, vài lạng đường hay dăm lá trầu, mấy quả cau, cút rượu nếp; thảng hoặc, có người còn biếu một cành đào chúm chím nụ xuân, một cây quất chín mọng trái vàng...

                          Người được biếu quà thường là các bậc bề trên hoặc người ruột thịt trong nhà như ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì hai bên nội ngoại, kể cả các nhà có thông gia với nhau. Cũng có lúc, học trò biếu quà cho thầy giáo. Vào thời ấy, tuyệt nhiên không nghe thấy có chuyện cấp dưới biếu quà cho cấp trên. Có hay không, tôi không biết hoặc chưa được biết...

                          Biếu quà cũng có những quy tắc nhất định, tuy không thành văn nhưng ai cũng phải nhớ và thực hiện cho đúng khuôn phép, bởi đó là một biểu hiện của sự trưởng thành, sống có trước có sau, biết trên kính dưới nhường. Ví như, các con phải biếu cha mẹ trước tiên. Quà biếu cha mẹ, con cái phải tự mang đến biếu mới được cha mẹ chấp nhận. Sau khi biếu quà cha mẹ xong, anh em đồng vai phải lứa mới được biếu quà cho nhau. Món quà ấy, các bậc bố mẹ sai con cái mình mang tới cho cô dì chú bác đã được coi là phải phép. Riêng quà biếu thầy, trò phải đi cùng với bố, mẹ hoặc ông, bà thì thầy mới tiếp đón.

                          Ngoài quà biếu, con cái trong gia đình, tùy theo hoàn cảnh, có thể góp lễ để cha mẹ cúng bái tiên tổ và làm cỗ đãi con cháu. Lễ có thể góp bằng tiền hoặc hiện vật, như lít rượu, con gà, vài cân gạo nếp, gạo tẻ... Việc góp lễ, chỉ có cha mẹ biết, anh em không ai được rõ ai góp nhiều hay góp ít hơn.

                          Vào ngày mùng một Tết, mỗi gia đình thường cử một hai đứa trẻ thay mặt cả nhà đi mừng tuổi. Chúng mừng tuổi ông bà, cô dì, chú bác bằng một phong bánh khảo, ba lá trầu, một quả cau và một bài chúc muôn thuở: " Năm mới năm me, cháu chúc ông bà (hay cô, bác...) khỏe bằng năm bằng mười năm trước, thóc tiền như nước, đi một bước mười bước vui, con đàn cháu đống, sống thọ bách niên..". Chúng vui như Tết khi được người lớn mừng tuổi. Năm xu. Nhiều thì một hào (Tính theo giá trị tiền bây giờ, chỉ vào khoảng năm đến mười ngàn đồng, đủ mua một nắm xôi nhỏ).

                          Nói về quà Tết, người ta hay nói "Phú quý sinh lễ nghĩa". Riêng thầy giáo của tôi lại bảo, "Chính xác ra thì phú chỉ sinh ra lễ, quý mới sinh ra được nghĩa con ạ". Vì sao ư? Vì giầu có mới sinh ra các thủ tục nhiêu khê bó buộc con người. Chỉ có quý nhau mới sống trọn tình vẹn nghĩa theo lẽ tự nhiên. Nói khác đi, phú sinh lễ là lý, quý sinh nghĩa là tình. Người Việt duy tình, ít duy lý. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, người ta vẫn phải cố gắng duy lý. Câu "Của biếu không bằng cách biếu" có thể bắt nguồn từ đây chăng. Thành ra, quà biếu Tết là tình đấy, mà khi đem biếu vẫn phải thực hiện đủ các bước của lý. Dĩ nhiên, ở đâu đó, trong những hoàn cảnh cụ thể, người ta chỉ làm theo thói quen một cách cảm tính. Khi cái tình che đi cái lý, nó tự đi vào cuộc sống và lâu ngày trở thành phong tục. Cái phong tục vừa có tình vừa có lý.

                          Năm 1964, chiến tranh lan rộng trên cả nước. Bom đạn, ly tán, tử sinh và nhiều thứ khác nữa đã làm xáo trộn cuộc sống bình thường. Lại do thường đói ăn, thiếu mặc và thiếu đủ mọi thứ tối thiểu khác trên đời, người ta không còn đi biếu quà Tết nữa. Trẻ con buồn hơn cả, vì Tết không còn tiền mừng tuổi.

                          Từ sau năm 1975 đến năm 1996, dư âm của chiến tranh vẫn chưa dứt. Tục biếu quà Tết vẫn chưa phục hồi hẳn mà thu hẹp đối tượng nhận quà lại. Lúc này, quà chỉ còn dành cho ông bà, cha mẹ.

                          Tục biếu quà Tết thực sự trở lại từ năm 1997, khi Việt Nam được Mỹ gỡ bỏ cấm vận và bước vào thời kỳ phát triển. Ban đầu, tục biếu quà Tết giữ được những nét đẹp vốn có của truyền thống. Người ta hoan hỉ biếu nhau những tấm lòng qua những món quà dân giã hợp với khả năng của mình. Cặp bánh chưng xanh, cây giò lụa, mấy trái cam, trái quýt, trái dừa, dưa hấu... Lòng thành là chính. Quà chỉ là cái cớ để đến với nhau. Để ghi nhận một mối qua hệ trong sáng, chân tình. Nhưng càng về sau, việc biếu quà Tết càng biến dạng, thậm chí trở thành gánh nặng vật chất và tâm lý đối với nhiều người. Xã hội trọng vật chất, nhìn nhận và đánh giá con người qua vật chất khiến các giá trị tinh thần bị coi nhẹ. Ai đem danh lợi nhiều nhất cho mình thành kẻ được trọng vọng nhất. Có lẽ vì vậy mà người được biếu đầu tiên, với món quà Tết hậu hĩnh nhất (ví như giỏ trái cây, chai rượu ngoại và chủ yếu là một món tiền to) là các lãnh đạo trực tiếp hoặc gián tiếp. Tiếp sau đó mới là những người thân. Điều buồn là, khi nhận quà Tết, không rõ tự bao giờ, ảnh hưởng gì từ xã hội, người ta hay so kè, ngắm nghía, đánh giá món quà bao nhiêu tiền, có xứng đáng với mối quan hệ của kẻ biếu và người nhận không. Người ta còn lấy mình để đo người, rằng tại sao kẻ biếu không biếu món quà mình thích nhận. Tại sao là quà mà hình thức lại xấu xí, chất lượng kém cao... Rất ít người nhận quà biếu Tết còn nhớ được, rằng, người ta biếu quà mình là do còn nhớ tới mình, dành cho mình sự kính trọng, mến yêu. Càng ít người nhận quà không hiểu quà biếu còn là một lời nhắc nhở. Món quà đắt giá nhắc ta phải cố gắng để bằng người, ít nhất ở cái tâm. Món quà giá trị vật chất nhỏ nhắc ta nhớ thưở hàn vi hoặc nhắc cho ta biết hoàn cảnh của người biếu còn khó khăn, cần ta giúp đỡ, san sẻ... Ở thành phố, do xã hội thiếu an toàn, ngày nay trẻ con không còn được tự mình đi mừng tuổi nữa. Chúng phải đi cùng bố mẹ. Tiền mừng tuổi, khó mà tưởng tượng được, gấp hàng chục lần ngày xưa. Người lớn quý trẻ, đâu biết mừng tuổi nhiều như vậy, cũng là một biểu hiện của thói trọng vật chất. Biểu hiện này ngấm vào người ta lúc nào, từ đâu, chẳng mấy ai biết để tự sửa mình.

                          Qua báo chí, tôi được biết, trong chốn quan trường, nơi làm kinh tế, việc người ta lợi dụng quà Tết để hối lộ các quan chức, một việc không bình thường đã trở thành bình thường. Theo VTV1, vào dịp trước Tết, người ta lại được chứng kiến cảnh xe hơi của người đi biếu quà đậu thành hàng dài trước cửa không ít các lãnh đạo ở Hà Nội, gây ra nạn ùn tắc giao thông trên đường phố. Khó coi quá! May mà chính phủ, từ mấy năm nay, đã ra lệnh cấm...

                          Biếu quà Tết, xét ở góc độ đạo đức lối sống, hình như vừa là nghĩa vụ vừa là quyền lợi. Bởi làm người phải biết kính trên nhường dưới, biết yêu thương và chia ngọt sẻ bùi cùng những người thân yêu. Bởi làm việc ấy, người ta biết mình xứng đáng là một người con có hiếu, người anh, người chị, người em có tấm lòng bao dung, biết sống có phải trái, trước sau. Chưa làm xong việc ấy, người ta chưa thể an tâm, tự thấy mình như có lỗi với người, với mình. Khi hoàn tất việc biếu quà Tết, niềm vui như đã được nhân đôi, nỗi buồn như tiêu tan vơi nửa... Đó quả thực là một tập tục đẹp nên lưu giữ và truyền đến muôn đời. Việc xác định giá trị vật chất thế nào là món quà rất dễ mà cũng rất khó. Song có lẽ, món quà tinh thần mới thực sự là quà biếu Tết có giá trị cao nhất. Vì ở đó, giá trị đích thực của con người được tôn vinh, nhân cách con người được dịp bày tỏ; vẻ đẹp của sự quan tâm, kính trọng, yêu mến được phát lộ thật khiêm nhường song lại không hề kém phần rực rỡ...
                          #13
                            Nguyễn Quốc Văn 10.01.2020 14:17:28 (permalink)
                            Dáng rồng quê

                            Không hiểu sao, xa quê đã hơn ba chục năm ròng, thi thoảng tôi lại nằm mơ thấy con rồng cụt đầu chầu trước cửa miếu thờ Thành Hoàng cuối làng tôi. Giấc mơ khiến tôi nảy ra ý định về quê xin phép các vị bô lão trong làng cho được đứng ra tu bổ lại con rồng. Nhưng nhiều mùa gió bấc đã thổi qua mà tôi vẫn chưa thực hiện được ước nguyện nhỏ bé của mình. Nên lòng cứ canh cánh khôn nguôi một nỗi niềm...

                            Nhớ thuở lên chín, tôi đã nghĩ con rồng cụt đầu kia chỉ là thân của một con rắn. Cũng tại cái trò chơi của trẻ mục đồng túm lấy vạt áo sau của nhau nối thành một hàng mà “Rồng rắn lên mây; Gặp cây núc nác”; tại thầy khai tâm của tôi nữa, trong nhiều bài học chữ Nho, người cứ dạy: “Đất vuông nên chữ nào cũng tượng bốn phương. Hoành ngang, tung dọc cũng chỉ do một nét rồng tạc mà nên thôi”; và tại cả trời bắt tháng bảy năm nào làng tôi cũng mênh mông trong những cơn nước nổi. Nước ngoài sông Hồng, sông Đào, sông Ninh cao hơn mực nước sông Ngọc phía trong đê cả thước. Vậy mà mưa vẫn cứ đổ xuống tầm tã, trắng trời trắng đất. Chẳng mấy chốc đồng ruộng đã thành một biển nước, sóng ì oạp vỗ vào chân luỹ tre làng. Con đường hai bên lát đá tảng xanh dọc theo xóm Đá cũng đã bị ngập quá đầu gối, đi từ nhà này đến nhà kia phải dò dẫm lần từng bước một. Bố tôi nhìn lên cao xanh. Một dải mây đen hình phễu dốc ngược xuống chân trời phía biển Đông mỗi lúc một thấp hơn. Người thở dài:

                            - Rồng vẫn chưa hết quẫy!

                            Theo đà nước rút, con đường làng lộ dần dáng một dải lụa đào. Nhưng bố tôi chỉ một mực bảo đấy là hình một con rắn. Rắn đồng chiêm, bơi qua những ao hồ chi chít, trườn thẳng ra đồng. Ở quê, rắn là một loài hữu ích. Con mồi ưa thích nhất của loài bò sát này chính là chuột. Nghe nói thịt rắn ngon như thịt gà giò, rượu mật rắn ngâm ba năm có dư sức nóng để làm tan một vết bầm trên da thịt người sau vài ba lần xoa bóp. Riêng nọc rắn, nghe bố kể, nếu biết dùng đúng liều lượng, người thầy thuốc có thể làm trái tim chỉ còn thoi thóp đập rộ lên trở lại. Nghe thế, chứ mắt tôi chưa hề thấy người quê tôi, kể cả ông Cử nổi tiếng về tài bắt rắn và chữa rắn cắn, chiết được nọc rắn quý hiếm kia. Bố tôi hay bảo, rắn không phải và cũng chẳng bao giờ thành rồng được. Nhưng nó tượng nên rồng. Thường thì xưa nay vật hay con vật được dùng tượng nên cái thiêng liêng bao giờ cũng chỉ là cái thực, gần gũi quá nên thấy bình thường đấy thôi. Vậy nên, đi trên đường làng, hỏi có mấy ai đã biết đất dưới chân mình được vượt lên cách nay hàng mấy ngàn năm có lẻ? Càng không biết đường cong đường thẳng ẩn chứa điều thâm sâu nào!
                            - Con có biết vì sao như thế không?
                            Bố tôi đã hỏi vậy vào đúng ngày tôi bước sang tuổi mười tám. Thấy tôi lúng búng như ngậm hạt thị trong miệng, người cười:

                            - Đường cong xui con ngó nghiêng có con bé nào khau kháu không đấy. Đi đi! Gật đứa nào thì về thưa, bố sắm trầu cau tới dạm ngõ cho!

                            Tôi chưa kịp đi hết những con đường cong trong làng đã phải đi thẳng ra chiến trường. Tiễn tôi tới miếu thờ Thành Hoàng, bố tôi dặn:

                            - Làng quê chính là nơi hồn xứ sở nương mình đấy con ạ. Đi không hết trời đất, nhớ quay về làng cũng chưa muộn!

                            Hôm ấy tôi đã tròn mắt ngạc nhiên về lời dặn dò lạ lùng này. Nhưng rồi lẫn vào trong cuộc đời dâu bể, câu nói kia không ít lần đã giúp tôi thấy được cả những gương mặt người lấp loáng như những mặt sông.

                            Năm 1971, nước sông Hồng lại cao tới mặt đê. Sóng tung bọt trắng y như một con rồng đang giỡn nước. Dưới trăng suông tháng chín lạnh se, lúc nhìn ngược về phía thượng lưu, tôi có cảm giác như nó đang cố bám lấy núi Tản Viên để không bị trôi tuột ra biển cả. Hôm sau đơn vị tôi chuyển quân đi chống lũ lụt bằng trực thăng. Dù bị say lên say xuống nhưng tôi vẫn còn đủ sức để thoáng thấy sông Hồng đang chòng chành trong vũ trụ bao la. Đúng hơn là nó đang nhảy múa. Tản Viên là cái đầu con kì lân, sông là dải lụa đỏ, hai bên bờ bãi vạn vật cùng tạc hình vây rồng dựng ngược. Trời đất cũng biết chơi trò muá lân con trẻ chăng?

                            Tôi đã mang dòng sông chòng chành trong tâm tưởng ấy đi khắp mọi miền đất nước. Vào Sài Gòn, lần đầu tiên được nhìn thấy tấm bản đồ của thành phố, tôi đã giật thót người vì ngỡ ngàng. Thế đất thế sông nơi đây cũng mang dáng một con rồng vắt đuôi ra biển Cần Giờ. Đầu rồng chính là dải đất nội thành. Quân Tư nằm ở vị trí hàm rồng...

                            Về sau, trong những dịp ngồi ô tô chạy như bay trên quốc lộ 1, quốc lộ 5 và nhiều con đường thênh thang khác của đất nước, tôi hay có cảm giác mình đang được cưỡi trên lưng những con rồng. Chúng như gối đầu vào nhau, mà những thành phố, thị xã, khu công nghiệp là những cái đầu mỗi ngày một lớn thêm ra. Ý nghĩ này khiến tôi hay mỉm cười một mình bởi bất chợt nhớ lại ngày bố tôi vào Sài Gòn thăm con cháu, tôi đã đưa người vào dinh Thống Nhất. Người đã ngồi thử vào chiếc ghế có chạm hình rồng và lấy làm mãn nguyện lắm. Buổi tối, vào những lúc tôi làm việc trước máy vi tính, bố tôi rất thích ngồi bên cạnh con để hỏi về cái máy lạ mà người quen miệng gọi nôm na là “cái máy bác học”. Nào là máy có chứa các loại kiến thức ghi bằng các thứ chữ Hán, chữ Ấn Độ, chữ Ả Rập, chữ Pháp, chữ Anh Mỹ và các thứ chữ khác nữa không. Nào là máy có mách cách làm cho dân giàu nước mạnh, có làm cho con người được hạnh phúc hơn không? Tôi đã trả lời là có. Rồi tôi say sưa nói thêm cho người biết về nhiều công dụng kì diệu của máy tính. Tôi còn nhớ, lúc tôi truy cập vào một chương trình của mạng Internet cho bố xem, người đã lặng đi, miệng khẽ lẩm bẩm:

                            - Thánh thật! Thánh thật! Giá mà...

                            Cuối năm Kỷ Mão, nhờ gió bấc nhắc khéo nhiều lần, tôi đã thu xếp được ít ngày để trở lại thăm đồng chiêm. Bố tôi khẽ vuốt chòm râu đã bạc như mây từ lâu, mắt nhìn chăm chắm vào mái đầu đã điểm sương khói của tôi, khoe:

                            - Từ ngày con về lần trước, làng mình cũng có một chút đổi thay. Đi trên đường làng đã trải đá hoặc rựa đường, con có thấy thích không? Nhưng theo ý bố, thú nhất vẫn là...

                            Người ngừng lời, bảo tôi dắt tới miếu Thành Hoàng. Cái miếu xưa vẫn rêu xanh muôn thuở. Duy có con rồng năm nào, như có một phép mầu lạ lùng, đã mọc lại đầu. Hai bố con không ai bảo ai cùng ngồi xuống bên cạnh con vật bằng đá. Biết tôi quá đỗi ngạc nhiên, bố tôi quay sang, hỏi khẽ:

                            - Con xem các nét chạm trên thân rồng có thể hiện được hoa văn xưa không?

                            Tôi nhìn kĩ từng nét trên thân con rồng đá và nói:

                            - Có, đây đúng là những nét chạm khắc phỏng theo đời nhà Lý. Nhưng đầu con rồng...

                            Thấy tôi có vẻ ngập ngừng, bố tôi thăm dò:

                            - Riêng cái đầu không tạc theo các mẫu rồng thuộc bất cứ một triều đại vua nào phải không?

                            - Thưa, đúng ạ. Mà tại sao làng lại làm như thế, hả bố?

                            Bố tôi không trả lời vào câu tôi hỏi mà lại kể:

                            - Sau khi đưa con rồng cụt đầu ra táng ngoài cồn Rùa, các cụ bô lão trong làng chụm đầu vào bàn bạc và sai thợ đá làm ra con rồng này. Con có nhận ra cái đầu nó có chỗ nào khác lạ không?

                            Tôi ngờ ngợ, đoán:

                            - Đầu con rồng hợp nhiều nét truyền thống của các hình mẫu rồng của tất cả các đời Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Có điều nó còn mô phỏng...

                            Bố tôi mở to mắt, miệng hơi há ra chờ đợi.

                            - Nó phỏng theo dáng cái máy vi tính ở nhà con. Phải không, bố?

                            - Không hẳn thế! Nhưng mà con đoán cũng gần đúng rồi đấy! Bố tôi nói rồi kể tiếp - Con rồng ở miếu thờ Thành Hoàng làng mình bị đạn đại bác phạt cụt đầu từ năm giặc Pháp còn đóng bót ở chợ Cổ Gia. Hòa bình mới được mấy năm nước lại có chiến tranh. Các con ra mặt trận cả, người ở lại cũng chẳng còn thời gian để mà nghĩ đến việc tạc lại đầu cho con vật thiêng liêng ấy nữa. May mà dịp vào Nam thăm con, bố mới sực nghĩ ra...

                            Tôi hỏi:

                            - Và bố đã về bàn với các cụ tạc hình con rồng này?

                            Bố vuốt râu, cười ngất ngưởng:

                            - Ừ, cái máy ấy nhắc bố nhớ lại lời người xưa rằng con người hơn nhau cốt chỉ ở cái đầu. Người học hỏi nhiều mới mong bằng và vượt qua người khác được. Bố nghĩ những nét chữ do con người tạo ra đều mang những kích thước rồng thu nhỏ lại. Vì vậy, con rồng làng ta có đủ cả xưa nay, cổ kim hòa quyện, hỗ trợ cho nhau, âm dương hòa hợp, vượng khí làng ta nhờ đó mà sẽ khá dần lên chăng?

                            Nghe lời bố, tôi xúc động thực sự:

                            - Con đã hiểu ra vì sao con rồng thiêng này lại mang dáng đầu người rồi bố ạ. Nhưng còn hồn quê? Cái hồn quê mà ngày xưa bố thường nói với con ấy! Giờ nó ở đâu?

                            Bố tôi nhìn tôi như hồi tôi còn bé tí và cười:

                            - Bố thấy nó đang ở ngay chỗ này. Bởi con chẳng đã trở về bên cạnh bố rồi đấy sao?
                            #14
                              Ct.Ly 11.02.2023 22:21:14 (permalink)
                              #15
                                Thay đổi trang: 12 > | Trang 1 của 2 trang, bài viết từ 1 đến 15 trên tổng số 16 bài trong đề mục
                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 2 bạn đọc.
                                Kiểu:
                                2000-2024 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9