Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái

Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 31 đến 53 trên tổng số 53 bài trong đề mục
Tác giả Bài
Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 16.09.2020 13:37:34
 
                                  27-
 
      Vượt qua các đỉnh núi cao chót vót và những vực sâu hun hút, tiểu đoàn chủ công của trung đoàn 48 bộ binh đã đến vị trí tiếp cận trận địa dưới chân cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng – Nhưng C4, đại đội súng cao xạ 12ly7 và tiểu cao 14ly5 của Tiểu đoàn hỏa lực D16 trợ chiến, thì dàn trận trên một ngọn đồi đối diện với cao điểm A, cách nhau là một con vực sâu thẳm. đó là một cánh rừng già, phong cảnh không kém vẻ hữu tình. Họ tiến vào trong đêm một cách lặng lẽ, đào trận địa. Sáng ra, từ đâu chạy đến một đàn vượn bạc má khoang đen trắng. Giá như gặp tại hậu cứ hoặc ở rừng phía tuyến sau, là anh em chiến sĩ sẽ dùng AK bắn hạ vài con để cải thiện. Ở đây thì phải tuyệt đối bí mật, đến ánh lửa cũng không dám bật. Anh nào chót lên cơn ho thì phải ôm lấy ngực, dùng khăn tay ấn vào miệng rồi úp mặt xuống đất. Chỉ nghe thấy tiếng khục khục ục ra từ trong cổ họng. Cơn ho lên, có cậu đỏ mặt, tía tai mà vẫn phải cố nén. Nhìn cảnh tượng mà thương quá! Nhưng nếu để địch phát hiện, trận đánh bại lộ thì hậu quả sẽ không biết đâu mà lường.
      Từ trận địa này, những khẩu súng cao xạ 12ly7 – 14ly5 của họ có thể bắn thẳng sang các ụ pháo, lô cốt và cả máy bay địch đến tiếp viện… yểm trợ cho Trung đoàn 48 tràn lên đánh cứ điểm.
      Sau một đêm tập trung xây dựng trận địa. Mặt trời vừa nhô lên khỏi ngọn cây trên đỉnh núi, đã thấy hai chiếc máy bay trinh sát OV10 từ đâu bay tới. Khoảng 10h sáng, lại thấy một chiếc L19 lượn đi lượn lại hàng chục vòng, khắp mấy khu rừng quanh cứ điểm Ngọc Bờ Biêng. Chúng cứ thu vòng bay hẹp dần lại, ngó nghiêng nhòm xuống soi mói. Có lúc, tưởng chúng đã phát hiện ra?
      Họ được biết, đêm nay vào giờ G sẽ phát lệnh nổ súng, nên mọi công tác chuẩn bị phải khẩn trương, chu tất. Khoảng 5h30 phút chiều tối, hai đồng chí trong trung đội của Hoàng xuống dưới bếp anh nuôi ở gần suối, lấy cơm mang lên cho trung đội. Hai chiến sĩ phải cho cơm canh vào hai bên đôi quang bằng chão, với chiếc đòn gánh làm bằng một ống tre nhỏ. Họ đã quẩy cơm lên đến triền núi, cách trận địa chỉ còn hơn 100 mét thì trời tối hẳn. Đây là bữa cơm chuẩn bị  khai hỏa trận đánh, bộ phận anh nuôi được quản lý cho gia thêm thực phẩm, chuẩn bị khá thịnh soạn. Hai chiến sĩ hý hửng, đang tưởng đến niềm vui của anh em pháo thủ được thưởng thức bữa cơm ngon ngay giữa chiến trường? vì có thể sau bữa cơm này, đêm nay khi đã vào trận chiến, có đồng chí sẽ không bao giờ còn được thưởng thức những bữa cơm cùng đồng đội nữa. Ở đây, nghĩ đến cái chết cũng bình thường, đơn giản lắm! Họ không cần biết đến sự kiêng kỵ, hay nói gở mồm.
      Có những lần mấy anh em đang ăn cơm với nhau, một cậu ra ngoài vòi nước ở khe núi rửa tay. Một quả pháo lạc và anh gục ngay xuống chết trước mặt đồng đội, vẫn còn ngồi quanh mâm cơm trò chuyện.
      Lại có đêm dọc đường hành quân vào chiến dịch, ba đứa cùng nằm với nhau trong một cái hầm không có nắp: gọi là hầm mở. Đào sâu khoảng nửa mét, rồi rải lá nằm. Khoảng nửa đêm, cũng một quả pháo lạc vu vơ ở đâu bay đến. Một mảnh pháo nghiến đứt ngay khoanh đầu của anh nằm ở giữa. Mảnh pháo xiên qua trán, tách đôi mảnh đầu ra như khúc giò lụa. Máu tung ra chan chứa, đỏ lòm, thấm hết vào bao gạo mà người chiến sĩ gối đầu để ngủ. Hai đứa nằm bên giật nẩy người choàng dậy, thì người đồng đội của mình đã hy sinh. Thương lắm, xót lắm, nhưng chiến tranh là như thế! Anh em lặng lẽ khiêng đồng chí mình ra, bó vào tăng võng rồi chôn ở bìa rừng,  đánh dấu sau này tìm lại xác cho khỏi mất. Cũng không còn nước mắt để khóc nữa.
      Lại nói về chuyện hai chiến sĩ mang cơm cho trung đội lên trận địa – Bữa cơm thịnh soạn ấy có thịt hộp, măng xào với nộm hoa chuối rừng… và cả món cá kho, mà sáng nay mấy anh nuôi quây được ở dưới suối. Khi hai anh em quẩy cơm đến gần trận địa thì trời đất bỗng nhiên rung chuyển, một loạt pháo từ đâu bắn tới. Tiếng nổ ầm ầm, khói đen mù mịt. Hai người chỉ kịp chúi vào khe của hai cây gỗ đổ bên rừng. Khi loạt pháo dứt, họ lồm cồm bò dậy – thì ôi thôi, hai quẩy cơm cùng thức ăn đã bay đâu mất? còn trơ lại mẩu dây chão và ống tre làm đòn gánh. Nhìn lên cả một mảng rừng, cây cối và đất đá bị cầy xới ngổn ngang. Hai người vội chạy về trận địa, mặt buồn tiu ngỉu… như là người có lỗi. Anh em trong trung đội nhìn thấy họ chạy về, mừng rỡ đến đón và an ủi:
-  May quá, người không chết là tốt rồi! Ta tạm dùng một bữa lương khô dự phòng cũng được. 
     Giây lát, đại đội trưởng Quảng đến động viên:
-  Rất may là các cậu không bị hy sinh! Thôi, để tớ bảo với bộ phận anh nuôi tìm cách giải quyết, trung đội sẽ lại có cơm ăn.
      Nói rồi, ông cử cậu liên lạc xuống bếp bảo anh nuôi tìm cách xử trí. Cả đại đội biết chuyện, anh em lập tức san sẻ phần cơm của các trung đội để đưa cho trung đội của Hoàng.
      Câu hỏi đặt ra: chẳng lẽ địch phát hiện được ta chuẩn bị đánh chăng? Nhưng không thấy động tĩnh gì. Đây chắc chỉ là loạt pháo chúng bắn lung tung, bừa bãi ra bốn phía để đe nẹt, đề phòng. Ta biết tỏng cái thói của địch, nên vẫn giữ bí mật tuyệt đối đến giờ nổ súng.
      4h15 phút sáng, trận đánh mở màn. Các loại pháo đi phối thuộc với Trung đoàn 48, kể cả pháo mặt đất của mặt trận B3 từ xa chi viện, đều đồng loạt đánh vào cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng. Từ hướng đường 14, các cỡ pháo lớn của Trung đoàn 40 như pháo 85 – 105mm căn tọa độ bắn vào các lô cốt địch. Sau đó cối 82mm, DKZ của D16 – Tiểu đoàn hỏa lực tiến theo bộ binh bắn thẳng vào trong trận địa.
      Ban chỉ huy QGP bắt được tín hiệu thông tin của địch báo về trung tâm. Chúng báo: phía trước, phía sau, bốn phía đều bị Việt Cộng pháo kích dữ dội. Chúng xin điều máy bay đến ném bom vào các khu vực của QGP và pháo binh chi viện. Được một lát, các phản lực Mỹ và trực thăng bay đến,  nhưng thời tiết khi đó lại rất bất lợi cho chúng: mây rất thấp, núi cao – Nếu bay cao thì máy bay không thể ném bom, oanh kích chính xác vào các mục tiêu, hỏa điểm của QGP… còn bay thấp thì làm mồi cho súng cao xạ 12ly7 - 14ly5 của C4 Tiểu đoàn 16 – Đấy là do núi cao, quân chủ lực Bắc Việt không thể kéo pháo cao xạ 37ly vào được. Súng máy cao xạ 12ly7 mang vác thuận tiện thì không nói làm gì, nhưng còn loại tiểu cao 14ly5, họ cũng phải tháo rời ra một số bộ phận, rồi dùng đôi vai bộ đội mang vác vào trận địa – khi chiếm lĩnh lại lắp vào mà đánh.
      Nói về trung đoàn bộ binh 48 – Trên báo cho biết: Tại Ngọc Bờ Biêng hiện có 1 tiểu đoàn lính dù Mỹ và 2 tiểu đoàn biệt động QLVNCH đóng giữ. Đêm đó khi cho quân vào ém vây cụm cứ điểm, các tiểu đoàn đã phải cho trinh sát vào trước cắt hàng rào. Ở hai cao điểm phụ B và C thì địch chăng 12 lớp hàng rào, còn cao điểm A là cao điểm chính, anh em trinh sát phải cắt tới 15 lớp hàng rào. Mìn và lựu đạn, chúng gài khắp nơi. Cắt cũng rất cơ cực, trinh sát phải dùng kìm cộng lực mà cắt. Cắt phải nhẹ nhàng, kết hợp tháo gỡ mìn. Nếu cắt mà rung dây thép gai, pháo sáng và mìn, lựu đạn phát nổ là toi. Cắt rồi phải tháo gỡ mìn, lựu đạn, dọn đường cho bộ binh xông lên. Pháo sáng thì phải lấy chốt ra, nếu lỡ để nó bật một cái… bắn vọt lên sáng trưng, là lộ. Địch phản kích ra có thể gây thiệt hại, hy sinh, đồng thời làm hỏng cả chiến dịch.
      Còn bộ phận đặc công của trung đoàn – Từ mấy hôm trước đã phải mò hẳn vào bên trong để xác định cụ thể vị trí: Sở chỉ huy địch, khu điện đài, vị trí lô cốt, bãi pháo ở chỗ nào? Về báo cáo tường tận cho trung đoàn. Tư lệnh trưởng của Sư đoàn 320 còn cho 1 tiểu đoàn của E52 dự phòng ở tuyến sau, sẵn sàng chi viện, cùng Trung đoàn pháo 40 của mặt trận, hợp lực tạo thế phản công cho Trung đoàn 48 tiến đánh, chiếm hoàn toàn cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng.
      Sau trận mưa pháo của quân chủ lực mặt trận giải phóng, những cánh quân của các tiểu đoàn ào ạt nổ súng, xông lên cứ điểm. Các ổ súng máy từ các lô cốt địch cũng chống trả quyết liệt. Lúc này, các máy bay tiêm kích ném bom và trực thăng tới bắn xối xả vào đội hình của QGP. Cuộc tấn công lên cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng diễn ra nhiều đợt. Pháo rồi các phi cơ Mỹ như loại AC130 bắn súng máy xa xả, ngăn chặn không cho QGP tiến lên cao điểm.             
      Súng máy cao xạ 12ly7 và tiểu cao 14ly5 của D16 bắn chi viện rất quyết liệt. Khi bộ binh xung phong lên, đại đội pháo cao xạ C4 chỉ để lại hai trung đội 14ly5 từ trận địa bắn chéo xuống cao điểm A áp đảo địch, còn các tiểu đội súng máy cao xạ 12ly7 của trung đội trưởng Nguyễn Hoàng cùng những đại đội cối 82mm, súng hỏa tiễn cá nhân DKB và rốc két B41 của tiểu đoàn thì tiến theo bộ binh đánh thẳng vào cứ điểm.
     Sau hơn một tiếng, đại đội súng cao xạ phòng không C4 đã bắn rơi 1 trực thăng đuôi nhọn chuyên phóng rốc két, 1 AD6 lao xuống ném bom và 1 AC130 bốc cháy ngay trên bầu trời. Anh em còn nhìn thấy rõ đám lửa lớn ở thân máy bay kéo theo một vệt khói khổng lồ, lao xuống rơi ở một cánh rừng cách xa khoảng vài cây số.
      Các loại phi cơ Mỹ đến tiếp ứng rất nhiều, chúng thả hết đợt bom này đến đợt bom khác xung quanh cứ điểm và những khu vực cao điểm mà QGP đã chiếm được. Trung đoàn 48 bị thương vong, tổn thất khá nhiều. Tiếng bom nổ long trời, khói bụi và đất đá bay mù mịt. Từng đoàn máy bay A37 – AD6 bắn phá dữ dội, cả trực thăng vũ trang Mỹ loại Cobra bắn xối xả vào đội hình của trung đoàn bộ binh, kèm với phản lực F101 ném bom. Một khẩu sáng máy cao xạ 12ly7 của trung đội Hoàng bị súng hỏa tiến địch loại Sagger bắn tung đi, ba chiến sĩ hy sinh ngay tại chỗ.
      Trong trận đánh vào cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng, thì mũi tiến công cao điểm A của tiểu đoàn chủ công E48 là diến ra cam go nhất. Ông tiểu đoàn trưởng D1 của trung đoàn đã tung tất cả lực lượng chủ chốt, đặc biệt tinh nhuệ của tiểu đoàn vào trận đánh. Mũi tiến công đã triệt hạ được một số cụm, chốt cơ bản của địch, mở đường cho cả tiểu đoàn xông lên – Tuy nhiên, Mỹ và các tiểu đoàn biệt động QLVNCH đã xây dựng ở đây một hệ thống cụm kháng cự liên hoàn từ trên các dốc đá rất kiên cố, cùng các chốt cố thủ hai phía bắn chéo sang, nên bộ đội dù được pháo chi viện, đã nhiều đợt xung phong mà vẫn bị đánh bật trở lại. Từ các vị trí cố thủ ấy, tiểu đoàn lính dù Mỹ và quân biệt động VNCH, được yểm trợ cả không quân và pháo binh đánh trả quyết liệt, chặn đứng các cuộc tiến công của QGP.
      Hai tiểu đoàn ở hướng chủ công E48 thương vong khá nặng nề. Tình hình cấp bách, Ban chỉ huy mặt trận điều thêm 2 đại đội dự bị của trung đoàn 52 xông vào tiếp ứng. Thế trận giằng co đã được giải tỏa. Hỏa lực địch ở đỉnh A câm bặt. Tiểu đoàn chủ công E48 mở đợt tấn công cuối cùng vào trung tâm cao điểm A. Các loại hỏa lực chi viện cho trung đoàn như cối 82mm, DKZ, đại liên bắn như mưa.
       Pháo địch bắn trả dữ dội. Không quân Mỹ trên đầu bỏ bom, phóng rốc két vào đội hình QGP đang tấn công lên – Súng máy cao xạ 12ly7 nổ ròn rã, thả sức bắn. Từ trên đỉnh đồi bên kia, tiểu cao 14ly5 vừa đánh máy bay vừa chúc nòng bắn vào các hỏa lực địch. Súng B41 phóng thẳng vào các lô cốt phòng thủ của chúng, cối 82mm dập xuống không ngớt. Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 gia tăng cả pháo kích của mặt trận cho Trung đoàn 48.
      Bị o ép, lính Mỹ trong chốt liên tục gọi không quân và pháo kích ứng cứu. Máy bay ném bom đào, bom napan vào những địa phận QGP đã làm chủ. Sau đó, tiểu đoàn lính dù Mỹ và quân biệt động VNCH tổ chức nhiều đợt phản kích từ trong chốt ra, song đều bị Việt Cộng đánh bật vào. Chúng bị thương vong và chết nhiều, vẫn không ra nổi. Thừa thế, bộ đội xông lên đập nát các cụm, điểm còn lại.
      Máu và bom đạn hòa trộn trong bụi lửa chiến trường. Địch chết, bộ đội chết… phơi đầy xác trên mặt đất. Cứ điểm bị cầy tung, đất đá và dây thép gai chằng chịt.
     Ở cao điểm B: một kho đạn pháo địch bị trúng hỏa tiễn B41 của QGP bốc cháy, nổ ầm ầm như một trận động đất. Khói lửa mịt mù loang ra mấy khu rừng.
      Máy bay địch quần thảo trên bầu trời vây quanh cứ điểm. Chúng cho cả B57 đến đánh tọa độ khu vực mà chúng cho là ban chỉ huy quân chủ lực Bắc Việt ở đó và nơi bộ đội ém quân. Có lần chúng đánh tọa độ đúng Sở chỉ huy Sư đoàn 320, nhưng cũng may địch chỉ thả bom trúng vào mé bên. Cũng có quả rơi gần sát, nhưng hầm của Sở chỉ huy được xây theo kiểu hầm chữ A  Triều Tiên kiên cố, nên không ai việc gì.
      Sau hơn bốn tiếng đồng hồ - vào lúc gần 10h sáng thì toàn bộ cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng đã bị Trung đoàn 48 tiêu diệt. Số còn lại co cụm, kéo cờ trắng xin hàng. Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 cho một đại đội của Trung đoàn 52 lên giải giáp tù hàng binh về tuyến sau. Lập tức ngọn cờ giải phóng nửa xanh, nửa đỏ được kéo lên trên nóc hầm chỉ huy của tên tiểu đoàn trưởng lính dù Mỹ. Gió đèo thổi mạnh, cờ giải phóng bay phần phật.
      Trong chiến tranh, sau những trận đánh ác liệt như ở Ngọc Bờ Biêng thế này – người ta gọi là “vùng đất chết”! Mồ chôn hàng ngàn lính trận cả hai bên.
      Về trận đánh – Tin tức từ các đài phương Tây đã bình rằng: “Một tiểu đoàn lính dù Mỹ cùng hai tiểu đoàn biệt động quân VNCH, chốt giữ trên cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng đã bị thất bại thảm hại. Mỹ ném hàng nghìn tấn bom xuống xung quanh cứ điểm với hàng ngàn trái pháo để giành sự sống, mà vẫn bị Việt Cộng chặn đứng, tiêu diệt.
      8 máy bay gồm cả trực thăng, tiêm kích AD6 – AC130 bị bắn hạ. Không có cách nào để đưa được quân bị thương ra khỏi chiến trường. Lính chết nằm chạt trên đồi. Cách duy nhất để phân biệt được người sống, người chết… là khi Việt Cộng dùng pháo cối, B41 dội vào – người còn sống thì đổ xô chạy, kẻ chui vào những chiếc boong ke ở trên đồi, nhảy vội xuống giao thông hào, lính bị thương thì quằn quại bò tìm nơi ẩn nấp sau những gốc cây đổ ngổn ngang, hay trong những hố pháo lớn.”.
 
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 16.09.2020 13:40:14
 
                                      28-
 
      Sau khi cụm cứ điểm Ngọc Bờ Biêng bị tiêu diệt. Lúc này ở đồi A, cùng với đội hình các chiến sĩ bộ binh của Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn hỏa lực D16 – Trung đội trưởng Hoàng dẫn đầu trung đội súng máy cao xạ 12ly7, tràn lên cao điểm.
      Tại căn nhà hầm của tên tiểu đoàn trưởng lính dù Mỹ, được xây dựng bằng các bao cát. Một tên sĩ quan Mỹ chết nằm ngã sấp trước cửa, đầu lộn vào phía trong. Có lẽ lúc đó, hắn ra ngoài đang định chạy vào thì trúng đạn của bộ đội. Hai tay tên sĩ quan Mỹ giang về phía trước, nằm dốc theo những bậc lên xuống, giồng như tư thế của vận động viên bơi lội từ trên cầu phao đang nhào xuống. Khẩu súng ngắn của y văng ra rơi xuống sàn nhà hầm. Không thấy xác của tên tiểu đoàn trưởng Mỹ đâu? Có thể nó đã chết ở trên cứ điểm trong đống xác của lính, cũng có thể đã bị bắt ở đám tù binh.
      Các chiến sĩ đẩy xác tên sĩ quan Mỹ sang một bên. Hoàng cùng anh em bước vào trong nhà hầm. Một con chó bẹc-giê màu xám từ trong góc nhà hầm nhảy chồm ra, định lao tới cắn. Khẩu AK của Hoàng lập tức rung lên, con chó ngã vật xuống, mồm còn kêu ăng ẳng. Hai chân con chó cào làm nát cả hai ống quần của tên Mỹ, may bằng loại vải dầy cộp. Bộ đùi lông lá của nó bị móng con chó cào xé còn loang máu. Máu ộc ra từ cổ con chó đỏ lòm, toé lên người tên sĩ quan. Hai giống sinh vật ấy nằm đè lên nhau, lấp cả một khoảng căn nhà hầm.
      Hoàng cầm cây đèn pin soi loằng nhoằng vào bên trong, nói:
-  Hôi như cóc chết!
      Căn nhà hầm chỉ còn trơ lại hai cái xác và một số dụng cụ của bộ phận thông tin, vô tuyến. Họ kéo nhau đi chỗ khác. Đến trước một căn nhà có cửa bằng sắt, đóng kín với một ổ khoá lớn. Mấy anh em chiến sĩ lấy hết sức dẩy rầm rầm vào cánh cửa. Phiến cửa được làm bằng một loại tôn khá dầy, không lay chuyển. Một chiến sĩ bước hẳn ra ngoài, đưa ống tay áo quệt những giọt mồ hôi nhễ nhại trên trán, chửi đổng:
-  Đồ chó má! Kho đạn thì nó để tênh hênh, kho lương thì nó khoá chắc thế?
       Một anh khác phụ hoạ:
-  Bọn chỉ huy nó sợ lính tráng vào lấy bừa bãi, chứ sao!
      Hoàng hỏi anh em:
-  Không thể phá được à?
-  Báo cáo trung đội trưởng, cửa chắc lắm ạ! Trung đội trưởng cho chúng em dùng một liều bộc phá, sẽ tung hết.
      Cả nhóm chiến sĩ đồng tình:
-  Phải đấy! Trung đội trưởng đồng ý đi, chắc kho lương này nhiều thứ ngon lắm, đấy ạ!
      Hoàng cười rồi gật đầu, nhưng vẫn nhắc anh em dùng bộc phá cho cẩn thận.
-  Trung đội trưởng cứ yên trí, chúng em là lính dùng bộc phá đã có tay nghề rồi mà.
      Một cậu quay lại hỏi các đồng ngũ:
-  Bộc phá đâu?
-  Bộc phá đây, có ngay!
      Một anh khác nhanh nhảu đưa đến một thỏi bằng bánh xà phòng thơm, nói:
-  Thỏi này cũng đủ sức công phá cả căn nhà vừa vừa đấy!
-  Đưa cho thằng Lãm nó nổ.
      Nói rồi, anh ta quay sang hỏi một chiến sĩ tên là Lãm:
-  Bằng này đủ chứ?
-  Ừ! Thoải mái rồi, không nên dùng quá lớn.
      Lãm là lính trinh sát của Tiểu đoàn 16, đi cùng dẫn đường cho trung đội súng máy cao xạ 12ly7 của Hoàng vào trận đánh này. Cậu ta có khuôn mặt bé choắt và đen nhẻm. Lãm cầm miếng bộc phá từ tay người chiến sĩ nọ, tiến vào gần cửa sắt căn nhà hầm gài ngòi nổ. Gài xong, cậu ta hét các chiến sĩ đang vây quanh mình:
-  Tất cả tránh ra xa, tìm chỗ nấp đi. Chuẩn bị cho bộc phá nổ!
      Hoàng và các chiến sĩ lùi lại. Người thì nhảy xuống giao thông hào đã đào sẵn của địch, một số khác đến ẩn trong những căn nhà hầm của lính biệt động VNCH trên cao điểm. Lãm châm ngòi bộc phá rồi chạy lại phía sau, nhẩy xuống một chiếc giao thông hào.
      Rầm! Một tiếng nổ long trời. Đất đá và khói đen tóe lên mù mịt. Cánh cửa sắt sập xuống. Khi làn khói đen loãng dần và tan hẳn, mọi người xô đến. Một mảng tường được xếp bằng các bao cát đổ sụp, căn nhà hầm hiện ra. Bên trong nào là những kiện gạo sấy, thịt hộp, các thùng rượu, bia, nước hoa quả, hàng đống thuốc lá Ru bi, Cáp tăng có hình chiến binh ở vỏ bao thuốc.  Loại thuốc này của Mỹ có pha thêm cả chất thuốc phiện, hút say và thơm ngon. Chỉ chuyên cung cấp cho lính.
      Tất cả reo lên:
-  Khuân ra đi, anh em ơi!
       Đấy là một kho hàng nhiều vô kể, chứa đầy cả một căn nhà hầm lớn. Mấy cậu quay ra cửa, gọi những anh em chiến sĩ bộ binh của Trung đoàn 48 quanh đấy đến.
      Đây chỉ là kho dự trữ – Ở các căn nhà hầm khác của lính, những thứ này cũng nhiều. Anh em bộ đội thỏa sức lấy. Các chiến sĩ mở thịt hộp và bóc những bao gạo sấy ra, nói với nhau:
-  Chén đã các cậu.
      Tất cả ăn mừng chiến thắng, vui như ngày hội. Lính là thế đấy! Chỉ ít phút trước bom đạn gầm trời, máu đổ. Còn lúc này, họ đang thưởng thức những chiến lợi phẩm của trận đánh.
-  Đồ Mỹ có khác! Bọn chúng đi đánh nhau mà cũng được cung cấp sướng như thế này? Mà đây là chúng cung cấp cho cả lính của QLVNCH, chứ ở những cứ điểm toàn lính Mỹ và quân đồng minh – Loại lính cậu! Còn được trực thăng thả xuống cả đoàn gái điếm cung cấp cho các sĩ quan. 
     Nói về quang cảnh chung của cụm cứ điểm, sau khi đã toàn thắng – Trên con đường yên ngựa từ Ngọc Bờ Biêng tới Mắt Ngỗng… về đỉnh 1001: Toàn trung đoàn 48 và các đơn vị hỏa lực đi phối thuộc, tiểu đoàn dự phòng của Trung đoàn 52 – Tất cả đều được tung ra để chuyên chở chiến lợi phẩm.
      Họ vận chuyển các kho súng đạn và hàng trăm kiện thực phẩm các loại  về tuyến sau. Người nọ giục người kia nhanh lên! Kẻ ngược, người xuôi như hội ngày mùa.
      Lúc này, trên bầu trời Ngọc Bờ Biêng khá yên tĩnh. Thỉnh thoảng cũng có chiếc máy bay trinh sát OV10 bay vè vè xung quanh. Nó cũng không dám đến gần cao điểm, vì sợ bị bắn. Từ khi chúng kéo cờ trắng đầu hàng, không còn thấy pháo bầy bắn tới. Cũng không thấy có phản lực, máy bay tiêm kích hoặc trực thăng đến oanh tạc nữa – Nhưng Bộ tư lệnh Sư đoàn 320 báo xuống:                                                                                          
      “Tất cả mọi công tác tù hàng binh, thu chiến lợi phẩm, công tác thương binh tử sĩ… phải làm thật nhanh, gọn trong ngày. Theo trên cho biết: rất nhiều khả năng tối hoặc đêm nay, Mỹ sẽ cho B52 đến rải thảm hủy cao điểm”.
      Tuy vậy, các đơn vị vẫn không được chủ quan, đề phòng có máy bay phản lực đến oanh tạc, ném bom thì phải tản ra và trú ngay. Không để bị thương vong, tổn thất thêm. Cho nên lúc này không khí lại càng khẩn trương, rộn ràng.
      Trên nóc căn nhà hầm của tên tiểu đoàn trưởng lính dù Mỹ, ngọn cờ giải phóng vẫn phần phật tung bay trong gió. Còn trên con đương rừng từ cứ điểm về tuyến sau, những dòng người đi – lại vẫn tấp nập. Đó là những chiến sĩ đầy quả cảm trong trận đánh. Người thì vác những quả đạn pháo vàng chóe, kẻ thì mang kiện thịt hộp, có anh gánh cả hai bao tải gạo sấy, những kiện bia, nước ngọt… Giống như một cuộc hành quân của đoàn kiến: con đi về thì chất trên lưng miếng mồi to hơn cả thể xác của nó, con đến thì đi không. Chúng cộc đầu vào nhau, thúc nhau đi nhanh lên! Con nào, con nấy vội vã rảo bước.
 
                                                          *
 
     Như mọi năm vào tháng tư này thường có những cơn mưa dồn dập và dữ dội, nhưng hôm nay trên đỉnh Ngọc Bờ Biêng, bầu trời cao nguyên rất trong sáng. Nắng vàng rực trên khuôn mặt của những chiến binh trẻ tuổi, rạng rỡ sau cuộc chiến thắng. Các đơn vị bộ binh đang hối hả giải quyết chiến lợi phẩm. Họ còn củng cố lại đội hình, bổ xung quân số và đạn dược, chuẩn bị cho trận chiến mới.
      Vào lúc giữa trưa, hai vị trung đoàn trưởng gặp nhau trên cao điểm vừa được giải phóng. Ông trung đoàn trưởng E48 là một người thấp bé, có giọng nói lơ lớ người miền Trung. Ông là một sĩ quan trưởng thành từ trong chiến tranh. Chiến trường đã rèn đúc cho ông đức tính quả cảm và linh hoạt.
      Bên cạnh ông là một người đàn ông to lớn, trông hơi dữ - Đó chính là viên trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn pháo E40. Ông có nước da đỏ tía như da gà chọi. Đôi lông mày rậm nhíu lại như một chóp nón, úp lên đôi mắt thành một hình tam giác, hai cạnh kéo dài về hai bên.
      Mắt đăm đăm nhìn về phía Thị trấn Tân Cảnh, trung đoàn trưởng pháo E40 nói với trung đoàn trưởng E48:
-  Chiến sự của toàn mặt trận diễn biến nhanh quá! Khi ta chiếm được Ngọc Bờ Biêng thì ở Đắc Tô – Tân Cảnh, quân chủ lực của ta đã đánh tan tành vành đai ngoài, giờ đang tràn vào trung tâm của Sư đoàn 42 QLVNCH trong thị trấn rồi.
 -  … và anh đã hụt mất một miếng mồi ngon chứ gì?
      Viên trung đoàn trưởng bộ binh nói thế rồi phá lên cười. Trông ông nhỏ thó mà tiếng nói thì sang sảng. Trung đoàn trưởng pháo cười theo.
-  Kể cũng tiếc thật! Cả một kho đạn pháo lớn thế kia…
Ông đưa tay chỉ về phía kho đạn pháo của địch trên cao điểm, giải thích:
-  … với hàng trăm viên đạn pháo ấy mà được nã vào các cứ điểm trong Tân Cảnh, như kế hoạch ban đầu của Bộ tư lệnh Mặt trận B3… mới gọi là sướng tay! Giờ thì quân bộ binh của ta đang tràn vào bên trong thị trấn, không bắn được.
      Viên trung đoàn trưởng pháo khẽ thở dài có vẻ tiếc nuối:
-  Ta mà chiếm được cứ điểm này nhanh thêm chút nữa?
     Với giọng vui vẻ pha chút hài hước, viên trung đoàn trưởng E48 nói:
-  Nhưng báo cáo ngài trung đoàn trưởng pháo: Ngài cũng thấy là, ta đã chiếm được Ngọc Bờ Biêng này, nhanh hơn cả yêu cầu của Bộ tư lệnh B3 rồi?
      Trung đoàn trưởng pháo E40 xác nhận:
-  Đúng thế!... và ở Tân Cảnh, quân chủ lực đánh vào còn nhanh hơn cả ta. Dù sao thì đó cũng là điều đáng mừng.
-  Thế anh định xử dụng những khẩu pháo kia, thế nào?
      Viên trung đoàn trưởng bộ binh hỏi. Cả hai ông trung đoàn trưởng đều quay lại nhìn. Một trận địa có đến sáu khẩu pháo lớn 100ly của Mỹ đặt trên cao điểm A, mà Trung đoàn 48 vừa chiếm được. Những khẩu pháo nước thép trên nòng vẫn còn sáng bóng.
      Lúc này tại trận địa pháo đó, các chiến sĩ pháo thủ E40 đã vào thay thế. Họ đang ở trong vị trí, chờ lệnh của ông trung đoàn trưởng pháo, sẵn sàng nổ súng.
      Viên trung đoàn trưởng pháo E40 nói:
-  Tôi đã báo cáo về Bộ tư lệnh B3: vì bộ đội ta cũng không khuân chúng đi theo được, nên sẽ cho trút tất cả kho đạn pháo 100ly kia vào Thị xã Kon Tum.
      Nói rồi, ông quay người về phía bộ phận thông tin, vô tuyến ra lệnh:
-  Hãy báo cáo Ban chỉ huy mặt trận: 5 phút nữa, Trung đoàn 40 sẽ cho pháo bắn!
      Ông nói tiếp với trung đoàn trưởng E48:
-  Không kịp đánh vào Thị trấn Tân Cảnh thì ta rót vào Thị xã Kon Tum, để uy hiếp chúng. Cũng là bàn đạp dọn đường trước cho bộ đội, sắp tới sẽ tiến công giải phóng thị xã.
      Viên trung đoàn trưởng E48 nhìn đồng hồ, nói với trung đoàn trưởng pháo:
-  Vẫn đúng giờ qui định, chúng ta sẽ cùng hành quân tiến về Đắc Tô – Tân Cảnh, chứ anh?
-  Không có gì thay đổi.
      Trung đoàn trưởng pháo nói: “Ta so lại đồng hồ cho thống nhất.”. Cả hai ông trung đoàn trưởng đưa cánh tay đeo đồng hồ sát lại gần nhau, lấy lại giờ cho khớp. Viên trung đoàn trưởng pháo nhìn chiếc đồng hồ vỏ mạ crôm đen bóng trên cánh tay hộ pháp của mình lần nữa, rồi nói:
-  Bây giờ chúng ta sẽ chứng kiến, trận đánh thứ hai trong ngày.
      Ông quay hẳn người về phía trận địa pháo 100ly, giơ cánh tay phải lên ngang mặt ra hiệu lệnh:
-  Bắn!
      Cả sáu khẩu pháo đồng loạt nổ chói tai, khói mịt mù trận địa. Các pháo thủ, người thì điều chỉnh nòng pháo cho đúng cự ly, tầm… kẻ lắp đạn, rộn rã như một công binh xưởng vậy.
      Những chiến sĩ ở xung quanh cao điểm ùa đến. Họ vây quanh các khẩu pháo vẫn liên tục nổ ròn rã về phía Thị xã Kon Tum. Các xạ thủ của trung đoàn pháo 40 đang thực hành một chiến trận đầy khí thế hào hùng.
      Người trung đoàn trưởng bộ binh giơ tay bắt thật chặt vị trung đoàn trưởng pháo. Ông nói:
-  Giờ tôi phải về Ban chỉ huy để tổ chức lại đội hình của trung đoàn. Đúng giờ xuất phát, anh cứ cho trung đoàn pháo tiến về Tân Cảnh, chúng tôi lập tức sẽ hành quân tiếp theo.
      Nói rồi, viên trung đoàn trưởng E48 rảo bước đi về phía Mắt Ngỗng.
      Thắng lợi  trận đánh Ngọc Bờ Biêng có ý nghĩa rất to lớn trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên 1972: Đã tạo thế để QGP đồng loạt tấn công các cứ điểm Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tu Ba, Kleng… Bởi vậy, không chỉ Ngọc Bờ Biêng thắng lớn, mà từ phía các cụm cứ điểm khác ở phía Bắc Tây Nguyên, chung quanh Thị xã Kon Tum báo về… chiến thắng đều vang dội.
      Sau đó, QGP sẽ dồn lực tràn về giải phóng Đắc Tô – Tân Cảnh. Tiến tới tập trung lực lượng đánh vào Thị xã Kon Tum cùng với Buôn Ma Thuột, là những căn cứ quan trọng, vững chắc nhất của QLVNCH và Mỹ cố thủ ở Tây Nguyên này.
      Đánh Ngọc Bờ Biêng là QGP đánh ngay vào sào huyệt, cứ điểm kiên cố của địch – làm cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn lúng túng, đi hết thất bại này đến thất bại khác. Đó chính là sự mở đầu cuộc phản kích của Quân đội nhân dân Việt Nam – Tạo thế tiến công phát triển, bàn đạp cho sự thắng lợi của chiến dịch toàn miền – Buộc Mỹ phải ngồi vào bàn thương lượng, đàm phán ở Hội nghị Pa Ri.
     Ngọc Bờ Biêng là một trong những trận đánh rất ác liệt, nhưng thắng lợi ròn rã - Là những kỉ niệm máu lửa trong đời một chiến binh... sau này Hoàng còn nhớ mãi.
 
 
                                HẾT TẬP MỘT
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 16.09.2020 13:46:51
 
 
 
 
 
                                    PHẠM NGỌC THÁI
 
 
 
 
 
              CHIẾN TRANH
              và TÌNH YÊU
 
                                                                          Tiểu thuyết
 
                                                           Tập II
 
 
 
 
                                             NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC 2020


 

 
 

 Nhà văn Phạm Ngọc Thái thời còn chiến tranh
 



 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 16.09.2020 13:49:17 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:05:13
 
 
 
                       CHƯƠNG VIII.
          MẶT TRẬN TÂY NGUYÊN ĐẪM MÁU (B)
 
                                     29-
 
      Để bạn đọc thấu hiểu hơn về quá trình cuộc chiến tranh trên mặt trận Tây Nguyên, cũng như toàn cục – Tác giả cuốn tiểu thuyết này xin nói sơ lược về một trận đánh, một thắng lợi có tính chất quyết định trên chiến trường trong xuân hè 1971: Đó là “chiến dịch Đường 9 – Nam Lào” (theo cách gọi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), hay là “chiến dịch Lam Sơn 719” (theo cách gọi của Chính phủ VNCH và phía Mỹ) – con số 719 được ghép từ năm 1971 và Đường 9, trục chính của cuộc tấn công.
      Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào khởi nguồn do QLVNCH tổ chức, với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ, tiến vào vùng lãnh thổ Lào quanh Đường 9, kéo dài từ biên giới Việt Lào tới Thị trấn Xê Pôn – để cắt “con đường mòn Hồ Chí Minh” từ Bắc vào Nam. Mục tiêu của chiến dịch còn nhằm phá vỡ hệ thống hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam và QGP miền Nam Việt Nam tại Lào.
      “chiến dịch Lam Sơn 719” này với Mỹ còn là một cuộc thử nghiệm về chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” – tức là cuộc thử nghiệm về khả năng của QLVNCH có thể tự chiến đấu, trong tình huống Mỹ rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam. 
      Tham gia “chiến dịch Lam Sơn 719” -
* Lực lượng Mỹ và QLVNCH gồm có:
      1.  QLVNCH – Tổng cộng 31 ngàn quân, chưa kể 10 ngàn quân dự bị hỗ trợ tuyến sau.
-  Gồm 3 sư đoàn: Sư đoàn dù, Sư đoàn thủy quân lục chiến và Sư đoàn 1 bộ binh… đều là những sư đoàn thuộc loại thiện chiến nhất QLVNCH.
-  3 lữ đoàn biệt động quân.
-  4 trung đoàn thiết giáp trang bị xe tăng M-41
      2.  Phía Mỹ, tổng cộng 10 ngàn quân.                                       
-  12 tiểu đoàn bộ binh, kể cả bộ binh sư đoàn dù, bộ binh cơ giới và bộ binh thuộc Sư đoàn Americal.
-  8 tiểu đoàn pháo binh, cỡ từ 155 đến 203mm.
-  1.200 máy bay: trong đó 800 trực thăng, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải cỡ lớn và 50 pháo đài bay chiến lược B52.
-  Ngoài ra còn có 2 binh đoàn quân đội Hoàng gia Lào khoảng 4.000 quân thuộc 2 binh đoàn cơ động GM30 và GM33.
      Nhưng trong diễn biến của “chiến dịch Lam Sơn 719”: Mỹ đã tăng từ 10.000 lính bộ binh lên 15.000, thêm 1 tiểu đoàn thiết giáp, 4 tiểu đoàn pháo binh bảo vệ phía sau – chưa kể đến việc điều thêm 300 máy bay lên thẳng để phục vụ cho việc vận chuyển và cơ động quân lính.
      Đấy là theo công bố của phía VNCH, còn theo công bố của QGP miền và Bắc Việt: Lực lượng Mỹ và QLVNCH lúc cao nhất lên đến 55.000 quân – gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp, 578 xe tăng và xe bọc thép, 318 khẩu pháo, 700 máy bay các loại.
*  Lực lượng Quân giải phóng gồm có:
      Tổng cộng khoảng 50.000 quân – Chỉ huy là Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 – Nam Lào (mật danh “Bộ tư lệnh 702”.
-  với 5 sư đoàn bộ binh
-  3 tiểu đoàn tăng thiết giáp T-34, T-54 – trong đó có 22 xe tăng lội nước PT-76
-  một số tiểu đoàn đặc công
-  3 trung đoàn pháo binh cơ giới
-  1 trung đoàn pháo mang vác 84
-  3 trung đoàn pháo cao xạ phòng không
-  3 trung đoàn công binh
-  2 trung đoàn tên lửa
      Bộ đội Đoàn 559 tổ chức 7 khu vực tác chiến tại chỗ và 8 cụm trên tâm điểm tam giác: Bản Đông – Tha Mê – La Hạp. Tham gia còn có cả lực lượng chính qui cùng dân quân Pa thét Lào.
      Xét về tương quan – Hai bên tương đương quân số, nhưng phía Mỹ và QLVNCH mạnh hơn hẳn về trang bị và hỏa lực hạng nặng: như gấp 4 lần về thiết giáp, 3 lần về pháo hạng nặng và hơn tuyệt đối về không quân.
     Ngày 29.1.1971, Tổng thống Mỹ Richard Nixon phê chuẩn lần cuối cùng đối với chiến dịch.
      Tối 7.2.1971, Tổng thống Mỹ nhận được bản báo cáo: cuộc tiến công vượt biên giới Việt Lào đã tiến hành theo đúng kế hoạch, không bị bất cứ một cản trở nào.
      8h sáng ngày 8.2.1971, Tổng thống Chính phủ VNCH Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố mở cuộc tiến công “chiến dịch Lam Sơn 719”… để cắt đứt “con đường mòn Hồ Chí Minh”.
      Tuy nhiên, ngay từ cuối tháng 1 sang đầu tháng 2.1971, cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã được khơi mào: 17.000 quân (sau tăng lên 21.000) VNCH đã vượt biên giới vào Lào, đi theo Đường 19 hướng về trung tâm hậu cần của QGP miền Nam / và Quân đội nhân Việt Nam tại Xê Pôn. Chúng tiến đánh các vị trí định sẵn trong kế hoạch. Do đã dự đoán được trước, QGP miền / Quân đội NDVN chủ động phòng ngự - phản công, gây thiệt hại lớn và ngăn chặn được ý đồ chia cắt của QLVNCH.
       Từ ngày 1 đến ngày 5.2.1971, Tiểu đoàn 2 E272, Tiểu đoàn 3 E84 pháo binh của QGP miền / Quân đội NDVN đã đánh áp đảo quân VNCH ở các khu vực Tân Lâm, Sa Mưu, Đầu Mẫu. Tiểu đoàn 15 đánh cắt giao thông từ Bồng Kho đi Rào Quán.
      Trong hai ngày 6 và 7.2.1971, Tiểu đoàn 3 E84 pháo binh bắn 200 viên đạn pháo các loại vào căn cứ Đông Hà và sở chỉ huy tiền phương Sư 1 bộ binh QLVNCH trên hướng tây Đường 9: bao gồm các khu vực Đồng Hến, Pha Lan, Mường Phìn thuộc tỉnh Savanakhet của nước Lào.
      Trong hai ngày 25 và 26.1.1971, Trung đoàn 48 F320 phối hợp với quân Pa thét Lào đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn đặc nhiệm, Binh đoàn GM33 QLVNCH ở Pha Lan (Lào).
      Lại nói, sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố “chiến dịch Lam Sơn 719” bắt đầu vào ngày 8.2.1971 – Mở màn là các đợt bắn phá dữ dội của hàng chục trận địa pháo, gồm hàng trăm khẩu từ 105 tới 175mm, bố trí dọc biên giới Việt Lào trên một chính diện 30km, và các phi vụ ném bom B52 hai bên Đường 9 – Nam Lào.
      Tiếp theo, những cánh quân hùng hậu QLVNCH và lực lượng thiết giáp bộ binh với sự yểm trợ của không quân, pháo binh… mở các cuộc tiến công như vũ bão trên các hướng phía bắc và phía nam Đường 9 – Nam Lào, đánh vào Bản Đông, Xê Pôn, Tchepone…
      Về phía QGP miền / Quân đội NDVN – Bộ tư lệnh “Mặt trận 702” đã lệnh cho ba sư đoàn 304, 308 và 320 vào vùng chiến sự Nam Lào; Sư đoàn 2 hành quân từ phía nam tới khu vực Xê Pôn và tiến về phía đông, đón đánh các binh đoàn của QLVNCH. Chiến sự xẩy ra rất ác liệt, phức tạp trên hàng trăm khu vực xung quanh Đường 9 – Nam Lào. Thương vong và chết rất nhiều với cả hai bên, nhất là phía QLVNCH: tổn thất không thể kể hết… nhưng cuối cùng quân VNCH và Mỹ vẫn bị thất bại – buộc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tướng Hoàng Xuân Lãm, chỉ huy trực tiếp chiến dịch phải ra lệnh rút quân. Cuộc rút quân nhanh chóng biến thành một cuộc rút chạy hỗn loạn. Đó là những giờ phút bi thảm nhất với một đạo quân chủ lực đặc biệt tinh nhuệ của VNCH, thực hiện cuộc hành quân Lam Sơn 719 thảm bại.  
      Những binh lính sống sót của QLVNCH về được miền Nam Việt Nam vào ngày 23.3.1971 – 45 ngày kể từ khi bắt đầu chiến dịch cho đến khi kết thúc.
      Theo QGP miền Nam / Quân đội NDVN tuyên bố: Chiến dịch phản công của họ kết thúc thắng lợi sau 45 ngày chiến đấu, đã diệt được:
-  2 lữ đoàn (Lữ đoàn dù 3 và Lữ đoàn 147 Thủy quân lục chiến)
-  1 trung đoàn bộ binh (Trung đoàn 1 Sư 1) và 5 tiểu đoàn khác (Tiểu đoàn 39 biệt động quân + Tiểu đoàn 8 Lữ dù 1 + Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 3 + Tiểu đoàn 2 và 4 của Trung đoàn 4)
-  4 thiết đoàn (4,7,11 và 17)
-  8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn pháo Sư 1 + 2 tiểu đoàn pháo sư đoàn dù + 1 tiểu đoàn pháo Lữ 147 + 1 tiểu đoàn pháo của biệt động quân + 1 tiểu đoàn pháo Lữ đoàn kỵ binh không vận).
-  Đánh thiệt hại nặng Sư đoàn dù, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn Thủy quân lục chiến.
-  Bắn rơi, phá hủy hoặc thu giữ 556 máy bay (có 505 máy bay trực thăng); 43 tầu xà lan; 1.138 xe quân sự (trong đó 528 xe tăng và xe bọc thép); 112 khẩu pháo và súng cối cỡ lớn.
      Theo một tài liệu của Chính phủ VNCH thống kê, con số thương vong của QLVNCH là: 1.529 chết, 5.483 bị thương và 625 mất tích, ngoài ra còn có 1.142 bị bắt.
      Tuy nhiên, theo tài liệu của Quân đoàn XXIV Hoa Kỳ (đơn vị tham gia hỗ trợ chiến dịch) thì, con số thương vong của QLVNCH còn cao hơn nhiều: lên tới 8.483 chết, 12.420 bị thương, 691 mất tích.
*  Quân đội Mỹ: 215 chết, 1.149 bị thương, 38 mất tích – 168 trực thăng bị bắn rơi và 618 chiếc khác bị bắn hỏng.
*  Quân giải phóng: Theo số liệu QGP miền / và Quân đội NCVN – thương vong của họ trong chiến dịch là 2.163 chết, 6.176 bị thương.
      “chiến dịch Lam Sơn 719” là một cuộc hành quân thiệt hại nặng nề nhất đối với QLVNCH, cũng là sự thất bại thảm hại của Mỹ: chẳng những không cắt đứt được Con đường mòn Hồ Chí Minh vượt qua Trường Sơn – qua ba nước Đông Dương vận chuyển vào miền Nam Việt Nam của quân đội Bắc Việt chi viện cho chiến trường.
      Nếu xét về phương diện – là một cuộc thử nghiệm “Việt Nam hóa chiến tranh” trong ý tưởng chiến lược của Mỹ, hoàn toàn bị suy sụp.
     Một tướng Mỹ sang giám sát tình hình, đã nhận xét:
      “Chiến dịch Lam Sơn đã phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất của QLVNCH và trở nên nghiêm trọng, bất lợi hơn nhiều so với điều mà người ta tưởng lúc đó. Việc điều khiển chiến dịch của chúng ta rất tồi. Toàn bộ vai trò chỉ đạo yểm trợ của Mỹ không hoàn tất được, vì sự quan liêu của Lầu Năm Góc… Đây là một thử thách thực sự của chương trình “Việt Nam hóa”. Lầu Năm Góc đã từ chối không để người Mỹ tham gia vào chiến dịch. Sự yểm trợ mà Nam Việt Nam đã quá quen thuộc và đang mong đợi được tiếp tục, đến đây đã bị cắt đứt…”.
      Tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ đánh giá: “Đem một đội quân quen lệ thuộc phần lớn vào quân đội khác về chỉ huy, về vũ khí và ngay cả chiến lược để nhào nặn thành “mới”, và tách ra độc lập tác chiến như kiểu Lam Sơn 719, rất khó mà địch nổi đối phương.”.
      Nếu xét về phía Mặt trận giải phóng miền Nam:
-  Ảnh hưởng kết quả của Lam Sơn 719, kể cả đối với mặt trận Tây Nguyên và toàn chiến trường, theo đánh giá của Mỹ:
      “chiến dịch Lam Sơn 719” làm kế hoạch tấn công các tỉnh phía nam giới tuyến của QGP miền Nam / Quân đội NDVN bị chậm lại một năm, nhưng về cơ bẩn: đường vận chuyển tiếp tế lương thực, vũ khí, quân lương của họ từ Bắc vào toàn chiến trường, hệ thống không bị hư hại. Số chuyến xe vận tải tăng lên ngay sau khi chiến dịch kết thúc.
      Đầu năm 1972, lực lương QGP miền / Quân đội NDVN đã tích lũy đủ đạn dược, và lại tung ra một trận tổng tiến công nữa: “chiến dịch xuân hè 1972” – Cuộc hành binh Lam Sơn 719 đầy tham vọng của Mỹ và Chính phủ VNCH đã bị thất bại hoàn toàn.
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2020 13:07:30 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:10:10
 
 
                                                          30-
 
      Đường lên Đắc Tô – Tân Cảnh nằm ở phía bắc Kon Tum. Bên trái là con sông Pô Kô uốn khúc, dòng nước chảy hiền hòa, trong xanh. Khi chiến tranh chưa vào giai đoạn ác liệt, đây đó những đám hoa dã quỳ nở đong đưa trong gió. Theo con đường Quốc lộ 14 trải dài trên cao nguyên, ta nhìn thấy ở hai bên là những rẫy hoa mầu, rẫy cà phê, những cánh rừng cao su bạt ngàn xanh mát… làm dịu đi cả một mảng đồi núi trong nắng vàng rạng rỡ. Qua những buôn làng của đồng bào các dân tộc thiểu số như người Êđê, Mnông, Giarai… với mảnh khố ngắn cũn, chiếc váy tuềnh toàng. Những rẫy sắn, giàn bí leo, hoặc những cái rẫy bỏ hoang của các căn nhà đã rời đi nơi khác.
      Nay Tân Cảnh – Đắc Tô đã trở thành một chiến địa ác liệt và đẫm máu. Các con đường đi đến nó đã bị pháo binh, máy bay Mỹ ném bom cầy xới tung tóe, nham nhở. Ngay trên Quốc lộ 14, có những đoạn ô tô không thể đi được nữa. Xe tăng thì phải càn qua tất cả các nương rẫy mà tiến…
      Tân Cảnh – Đắc Tô là một mặt trận quan trọng, trong cuộc tiến công chiến lược với qui mô lớn của QGP trên toàn bộ mặt trận Tây Nguyên năm 1972.
      Sau thắng lợi có tính chất quyết định của QGP miền / Quân đội NDVN ở Đường 9 – Nam Lào, chẳng những chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” -   “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mỹ đứng trên bờ vực của sự thất bại, mà trên chiến trường miền Nam nói chung… đẩy quân VNCH vào tình thế khốn đốn, suy sụp. Bởi vậy cuối năm 1971 đầu 1972, chúng vội vã tăng cường một lực lượng lớn ở Bắc Tây Nguyên, nhằm bảo vệ cửa ngõ sống còn của Tây Nguyên.
      Đắc Tô – Tân Cảnh là một trung tâm phòng thủ mạnh nhất, có tính chất huyết mạch của QLVNCH ở phía bắc Kon Tum – đồng thời là một trong ba phòng thủ trọng yếu ở Bắc Tây Nguyên (sau thị xã Kon Tum và thị xã Pleiku của tỉnh Gia Lai).
      Một lực lượng lớn QLVNCH bố trí ở Đắc Tô – Tân Cảnh, gồm:
-  13 tiểu đoàn bộ binh
-  1 trung đoàn thiết giáp
-  3 tiểu đoàn pháo
-  2 đại đội bảo an
      Được bố trí ở hai cụm cứ điểm lớn là Đắc Tô II và căn cứ 42 Tân Cảnh,  đấy là chưa kể không quân Mỹ và pháo binh từ các nơi khác bắn đến yểm trợ.
      Về phía Quân giải phóng: Đắc Tô – Tân Cảnh được Bộ tư lệnh Mặt trận B3 chọn làm chiến trường chính, để mở chiến dịch tiêu diệt địch ở Bắc Tây Nguyên.
     Về phương thức đánh: Bộ tư lệnh mặt trận quyết định chọn phương thức “tác chiến bằng hợp đồng binh chủng, kết hợp quân chủ lực và quân địa phương” vây hãm sinh lực địch tiến tới đột phá, tấn công giành thắng lợi.
      Khi hai trung đoàn 48 và 52 Sư 320 từ cứ điểm Ngọc Bờ Biêng đã được giải phóng gấp rút tiến về Đắc Tô – Tân Cảnh, thì chiến dịch ở đấy đang diễn ra rất dữ dội.
      Về Tiểu đoàn 16 vẫn gồm 4 đại đội hỏa lực trực thuộc Bộ tư lệnh mặt trận B3, đi phối thuộc cho Sư 320 – nhưng riêng C4, đại đội pháo phòng không: trong trận đánh Ngọc Bờ Biêng, núi cao hiểm trở không thể kéo pháo 37ly vào được, đã thay bằng loại tiểu cao 14ly5 và súng máy cao xạ 12ly7 mang vác dễ dàng hơn. Nay vào tham gia chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh, đại đội lại chuyển về thành hai trung đội pháo cao xạ 37 ly và hai trung đội 14ly5. Như vậy, Nguyễn Hoàng giờ là trung đội trưởng pháo cao xạ 37ly của C4 thuộc tiểu đoàn.
      Như đã nói: sau thắng lợi ở Ngọc Bờ Biêng, trung đoàn pháo hỗn hợp E40 trực thuộc mặt trận cũng tức tốc tiến về Đắc Tô – Tân Cảnh để tham gia trận đánh.
      Cơn mưa tháng tư tầm tã trút nước như xối vào một miền rừng núi. Lúc này, quân tiên phong của Mặt trận B3 đã chọc thủng các boong ke phòng thủ vành đai phía ngoài Đắc Tô – Tân Cảnh. Trung đoàn 64 F320 đã xuống trước từ khi mở màn chiến dịch.
      Ngày 15.4.1972, được sự yểm trợ của của pháo mặt đất 120ly và hỏa tiễn 122ly – E64 đã chọc thủng cao điểm Charlie. Charlie chính là tuyến phòng thủ, một nút chặn rất quan trọng của Đắc Tô – Tân Cảnh do Tiểu đoàn 11 nhảy dù QLVNCH trấn giữ, kiểm soát, khống chế QGP ở ngã ba Đông Dương. Vị trí Charlie: giáp gianh với một nhánh sông Pô Kô và Quốc lộ 14, cũng là cửa ngõ huyết mạch dẫn vào thị trấn, cách Tân Cảnh khoảng 10km. Quốc lộ 14 là độc đạo duy nhất từ Thị xã Kon Tum vào Quận lỵ Đắc Tô.
      Trung đoàn 48 F320 phải xé nhỏ từng bộ phận hành quân vào thị trấn, để tránh địch pháo kích hoặc ném bom rải thảm gây thương vong, tổn thất.
      Khi C4 – Đại đội pháo cao xạ phòng không do đại đội trưởng Quảng dẫn đầu, trong đội hình hành quân cùng trung đoàn 48 tiến gần đến đồi Charlie đã được giải phóng – Tuy cao điểm đã giải phóng, nhưng hành quân qua khu vực này vẫn rất ác liệt. Các ngọn đồi bị bom san phẳng, trống trải. Để ngăn chặn QGP, địch ngày đêm dùng pháo, bom tàn phá. Hiệu lệnh của Mặt trận là: Qua nơi này phải nhanh và hết sức cẩn thận.
      Chiều ấy đã muộn, khi C4 vượt qua Quốc lộ 14, khoảng đồi trống gần Charlie đó. Mặc dù đoàn quân ngụy trang cẩn thận và tìm cách tránh né để địch khỏi phát hiện, nhưng bỗng thấy hai chiếc OV10 cứ bay đi vòng lại trên đầu, rồi nghe có tiếng nổ và một cột pháo vàng bốc lên ở phía trước: biết là khả năng chúng đã phát hiện ra đoàn quân? Đây là tín hiệu chúng báo cho phản lực đến đánh. Đại trưởng Quảng vội cho đại đội tản ra hai bìa rừng xung quanh. Từng trung đội tận dụng địa hình thay chiến hào, triển khai pháo 37ly và 14ly5 sẵn sàng đánh địch. Cả những tay súng AK của các chiến sỹ cũng vừa ẩn nấp vừa chuẩn bị tư thế bắn.
      Tiếng máy bay phản lực rít ngay trên đầu, khói bom đen đặc, mặt đất rung chuyển, đất đá mù mịt. Lập tức pháo cao xạ của Đại đội 4 đồng loạt nổ ròn rã. Cỏ gianh trên đồi cháy rừng rực. Chiếc OV10 trở lại lượn trên đầu. Một tốp phản lực khác bay đến, bom lại nổ tung… Pháo cao xạ 37 và 14ly5 cùng tiếng súng AK tiếp tục nổ long trời, cũng chẳng khác gì chiến địa. Ba chiếc phản lực bay thấp cắt bom, tiếng rít nghe ghê rợn.
      Bỗng một tiếng nổ chói tai trên bầu trời, kéo theo ngọn lửa lớn bốc lên từ một chiếc A37… khói đen mù cả một vùng trời. Chiếc máy bay cháy lao xuống một khu rừng gần đó. Tiếng reo hò trong đoàn quân vang lên:
-  Cháy rồi! Máy bay địch cháy rồi! Hoan hô…
      Hai chiếc khác cố cắt cho hết loạt bom rồi cút thẳng, chỉ còn thấy đám lửa và ngọn khói đen vẫn ngùn ngụt bốc lên trên khu rừng của chiếc máy bay vừa rôi.
      Hai chiếc OV10 cũng không dám bay gần nữa, chúng lượn ở rìa rừng xa… rồi mất hút. Đại đội trưởng Quảng lệnh cho các trung đội thu dọn trang bị và súng pháo, khẩn cấp tiến về phía Đắc Tô – Tân Cảnh để tham gia trận đánh.
 
                                                         *
 
      Như đã nói mưu kế của Bộ tư lệnh B3 trong chiến dịch xuân hè 1972 ở mặt trận Bắc Tây Nguyên này, nói chung là lừa địch.
      Vào đầu tháng tư 1972, QGP đồng loạt tấn công các cụm cứ điểm Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tu Ba, Ngọc Bờ Biêng… lừa địch hướng về phía Thị xã Kon Tum: vì cho rằng QGP sẽ đánh vào Thị xã Kon Tum ngay – Nghĩa là, họ thu hút cả quân dự bị của QLVNCH cùng với Mỹ và quân đồng minh hướng về phía thị xã. Những bộ óc chỉ huy của Mỹ và VNCH trên chiến trường Tây Nguyên đã bị mắc lừa.
      Cũng khi đó Trung đoàn 64 F320 với chiến thuật hợp đồng binh chủng, có một tiểu đoàn xe tăng thiết giáp và pháo binh yểm trợ, đánh vào các tuyến phía tây sông Pô Kô, là tuyến phòng thủ của QLVNCH ở phía bắc Kon Tum. Mỹ và VNCH vẫn cho rằng đây là vành đai thép, án ngữ hành lang Trường Sơn.
      Sự xuất hiện những chiếc xe tăng hạng nặng của QGP, từ loại T-54 và PT-76 làm cho quân lính VNCH hoảng hốt, rời rã tinh thần chiến đấu. Đợt phản công ở vành ngoài đó, đã thu được thắng lợi ròn rã. Mỹ và QLVNCH vội vã dồn lực lượng tập trung phòng thủ Thị xã Kon Tum – thì bất ngờ QGP lại phản công Đắc Tô – Tân Cảnh.
      Lúc này Trung đoàn 64 vẫn được Bộ tư lệnh B3 chọn làm mũi nhọn tiến công từ mặt trận phía tây sông Pô Kô sang, cùng hai trung đoàn 48 - 52 F320, Trung đoàn pháo 40, Tiểu đoàn hỏa lực D16 ở Ngọc Bờ Biêng đến, cũng như các trung đoàn khác trên Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tu Ba… Trung đoàn 66, Sư đoàn 2 Quân khu 5 miền Nam Việt Nam do Nguyễn Chơn làm sư đoàn trưởng – tất cả đều lần lượt kéo về tăng cường đánh Đắc Tô – Tân Cảnh.
      *  Khi đó lực lượng địch ở Tân Cảnh chủ yếu do Trung đoàn 42 - Sư 22 QLVNCH, gồm 3 tiểu đoàn bộ binh 1,2 và 4.
-  Tiểu đoàn thiết giáp 14 với 20 xe tăng M-41, 21 xe bọc thép M-113
-  Một tiểu đoàn pháo với 4 khẩu 155mm, 6 khẩu 105mm
-  1 đại đội vệ binh, 1 đại đội trinh sát, 1 đại đội công binh
      Bố trí thành 13 khu phòng thủ.
      *  Ở cứ điểm Đắc Tô (Bắc Tân Cảnh) gồm Quận lỵ Đắc Tô và chốt Ngọc Tu, có:
-  Các tiểu đoàn 4 và 8 (Trung đoàn 47, Sư 22); Tiểu đoàn 9 (Lữ đoàn dù 3)
-  1 chi đội xe tăng bảo vệ
      Ngày 23.4.1972, Trung đoàn 64 F320 phối hợp với Sư 2 của Nguyễn Chơn – Hợp lực còn có 1 tiểu đoàn đặc công B3, binh chủng pháo mặt đất từ 80 đến 105mm của Trung đoàn 40, Tiểu đoàn hỏa lực D16 với các loại súng cối 82mm, hỏa tiễn cá nhân DKB, rốc két B41,  pháo cao xạ 37ly – 14ly5; kể cả pháo cao xạ tự hành cỡ lớn 57mm cùng 1 tiểu đoàn xe tăng T-54 và 1 đại đội hỏa tiễn chống tăng AT-3
      (AT-3 là loại tăng của Mỹ mới bổ xung vào chiến trường)
      Lúc 4h30 phút sáng, Trung đoàn pháo 675 của Mặt trận B3 bằng pháo 122ly và hỏa tiễn H12, được lệnh pháo kích khai hỏa đánh vào các cụm căn cứ vành đai ở Đắc Tô – Tân Cảnh. Sau đó xe tăng thiết giáp và bộ binh của  QGP tràn lên.
      Đại tá Lê Đức Đạt, Sư trưởng Sư 22 QLVNCH điều 10 xe tăng ra phản kích lại. Lập tức bị tên lửa B-72  của QGP bắn cháy 8 chiếc, đứt xích 2 chiếc (B-72 là loại hỏa tiễn mới của QGP, trước địch chỉ biết có B41).
      Đến 11h trưa ngày 23.4.1972, QGP đã chiếm được hoàn toàn phía ngoài Tân Cảnh.
      15h chiều 23/4, pháo binh QGP nã đạn dồn dập vào trung tâm Tân Cảnh và chỉ huy sở tiền phương của Sư 22 QLVNCH.
      Trận chiến giữa Trung đoàn 66 F320 và Trung đoàn 42 Sư 22 QLVNCH diễn ra ác liệt. Cũng thời gian đó thì Trung đoàn 48 F320 đụng độ với Trung đoàn 47 Sư 22 QLVNCH ở Đắc Tô.
      1h sáng ngày 24.4.1972, xe tăng T-54 của QGP xông thẳng qua Thị trấn Tân Cảnh, lao lên mở toang cửa hướng đông cho bộ binh của Sư 320, Sư 2 Quân khu 5 ào ạt tràn vào.
      10h30 phút ngày 24/4, chỉ huy sở tiền phương QLVNCH tại Tân Cảnh bị pháo binh QGP bắn trúng, sau đó xe tăng T-54 tràn lên đè nát. Nhiều sĩ quan chỉ huy của QLVNCH bị tử trận. Các phương tiện thông tin bị phá hủy, không thể liên lạc được với chỉ huy của chúng ở Thị xã Kon Tum.
      Lúc này, Ban chỉ huy Sư 320 lệnh cho Trung đoàn 48 hợp lực với E64, được sự yểm trợ của Đại đội 7 với 9 cỗ xe tăng T-54 dẫn bộ binh ào ạt xông lên, đánh vào trung tâm và Bộ chỉ huy Sư 22 QLVNCH.     
      Sau khi xe tăng diệt những hỏa điểm ở cửa mở, càn qua hàng rào bắn tung các ụ súng lớn, lô cốt địch cho bộ binh xung phong. Tiến vào Đắc Tô, ba cỗ xe tăng đi đầu là 377, 354 và 369 ngay loạt đạn đầu đã đánh sập khu tháp nước và đài quan sát. Dùng đại liên, xích sắt quần nát các công sự phòng ngự của địch. Lúc quân lính hoảng loạn thì 377 như một mũi tên thép xuyên qua các chiến hào, chà xát các ụ đề kháng, đánh thẳng vào Sở chỉ huy Trung đoàn 42 QLVNCH.
      Ở đây đã diễn ra một trận tăng dữ dội, lưu lại cho truyền thống đánh tăng “một chọi mười” – Đó chính là một chiến công hiển hách của người trung đội trưởng anh hùng Nguyễn Xuân Triển.
      Trung đội trưởng xe tăng Nguyễn Xuân Triển nhận được lệnh xuất kích, thừa thắng đánh vào Đắc Tô II – một cụm cứ điểm trọng yếu của địch ở Đắc Tô – Tân Cảnh. Đó chính là mũi để tiến vào đánh sân bay Phượng Hoàng. Xe tăng xung trận trong tầm pháo và máy bay địch chặn phá rất ác liệt.
      Xe  tăng 377 dẫn hai xe tăng 354 và 369 vọt lên, tăng tốc lao vào cứ điểm Đắc Tô. Nhưng khi lao vào trung tâm thì gặp rất nhiều chướng ngại: nào là giao thông hào, hố bom pháo… nên ba chiếc xe tăng phải tách ra vừa đánh và tiến. Xe tăng 377 vọt lên còn hai xe kia phải tản đi, tụt lại khá xa.
      Một mình 377 xông lên giữa trận tiền rất hùng dũng, trong cơn say chiến thắng đang tiến công mạnh mẽ. Địch thấy 377 đơn thương độc mã – Tên chỉ huy trưởng Trung đoàn 42 QLVNCH liền báo cáo Bộ tham mưu Sư 22 của chúng: điều 10 xe tăng M-41, chia làm hai mũi bao vây chiếc T-54 của QGP. Thế là cuộc đấu tăng “một chọi mười” diễn ra quyết liệt. Bình tĩnh, linh hoạt và chính xác đến tuyệt vời, Nguyễn Xuân Triển chỉ huy còn lái xe Cao Trần Vịnh quần thảo. Khi tiến, khi lui… vừa để tránh tầm hỏa lực địch bắn, vừa hoa tiêu cho pháo thủ là Vũ Đức Lương và Nguyễn Đức Toàn điểm hỏa, diệt liên tiếp 7 xe tăng của địch, làm cho đội hình chúng rối loạn.
      Lại nói về hai xe 354 và 369 cũng đang tả xung hữu đột với pháo và các chiến xa địch, tiếp tục mở đường xông lên – Họ biết 377 đang lâm trận… Anh em vừa đánh vừa vượt chướng ngại vật, mở hết tốc lực để đến ứng cứu cho 377. Một số xe tăng địch nấp sau các ụ chiến bắn rất rát.
      Bởi vậy, khi 354 và 369 chưa đến ứng cứu kịp – ba chiếc tăng M-41 còn lại của địch từ phía nam sân bay Phượng Hoàng lao tới. Chúng theo thế cánh sẻ cùng với ba ụ lô cốt phía trong sân bay, tập trung hỏa lực bắn vào 377. Những vết cào phá, đạn pháo địch găm lỗ chỗ quanh xe, những trái pháo địch vọt qua thành xe bay đi… Nhưng rồi, một trái M79 từ một chiếc tăng M-41của chúng đã đã bắn trúng 377. Lửa khói trùm lên chiếc xe quả cảm ấy, cả bốn người dũng sĩ trên chiếc tăng 377 đã hy sinh.
      Cũng lúc đó thì hai chiếc tăng 354 và 369 dẫn trung đoàn bộ binh ào ạt xông đến, đánh tan tác quân địch.
      Trở lại với trận chiến ngày 24.4.1972 – Lúc 11h trưa, QGP đã hoàn toàn làm chủ Tân Cảnh, bắn sập chỉ huy sở của Sư đoàn 22 QLVNCH.
      Ngay khi QGP đang chiếm ưu thế và phản công quyết liệt vào Tân Cảnh, Bộ tư lệnh mặt trận đã cho pháo binh bắn dồn dập vào sân bay Phượng Hoàng – Sân bay Phượng Hoàng dài hai cây số. Đứng ở sân bay ta nhìn thấy một vùng đồi, đó là cứ điểm Charlie hiện ra ngay trước mắt. Mặt tiền của sân bay: tuyến đường đi từ Đắc Tô qua huyện Ngọc Hồi đến Thị trấn Pleicần.
      Lúc 17h chiều thì QGP chiếm hoàn toàn Quận lỵ Đắc Tô, giải phóng sân bay Phượng Hoàng. Một chi đoàn thiết giáp QLVNCH bị QGP phục kích tại cầu Đắc Mốt đánh tan tác: 5 xe tăng M-41 bị bắn hỏng.
      Chập tối 24/4, thêm 12 xe thiết giáp  và xe tăng nữa của địch bị tăng T-54 của QGP tiêu diệt. Sư 22 QLVNCH hoàn toàn mất sức chiến đấu.
      Sư đoàn trưởng Sư 22 QLVNCH Lê Đức Đạt cùng với một cố vấn Mỹ vội nhẩy lên một chiếc xe bọc thép, với một đám tàn quân chạy tìm đường thoát về Thị xã Kon Tum.
      Từ giữa khu chỉ huy sở của Sư 22 QLVNCH, trong làn khói đen đặc với tiếng la hét của bọn lính bị thương, lẫn tiếng đạn pháo nổ mù mịt – Một chiếc xe bọc thép chồm đến, nó nghiến ngấu đè lên cả đám quân đang hoảng hốt. Những tiếng kêu thét ghê rợn vang khắp bầu trời Đắc Tô – Tân Cảnh. Các thi thể do xe nghiến văng ra, đổ sập xuống như những cây chuối bị thối lũn. Chiếc xe vẫn chồm lên, những xác chết bị đè nát bét dính xuống mặt đồi đất đỏ, máu túa ra chảy lênh láng. Như con thú điên dại, chiếc xe lao qua những đồi chè, đồi cà phê, lại vượt lên Quốc lộ 14 chạy thục mạng - con đường độc đạo đi về Thị xã Kon Tum.
      Nhưng đến cầu Đắc Mốt của con sông Pô Kô, chiếc xe bỗng đứng giật lại. Phía trước mặt nó là dòng sông trắng xóa. Mặt nước hắt lên màu vàng lóa của một buổi chiều trước khi tắt hẳn. Cầu đã bị chính bom của máy bay Mỹ phá sập. Chiếc xe vội quay đầu lại, rẽ ngoặt lên một triền đồi… định chạy qua huyện Ngọc Hồi về phía Pleicần, theo hướng bắc chạy về Đà Nẵng – hoặc là từ Pleicần, theo Quốc lộ 18 có thể dẫn về ngã ba biên giới Cam Bốt-Lào-Việt. Nó cố chạy sang Lào hoặc Căm Pu Chia.
      Nhưng đằng sau chiếc xe bọc thép đó có hai chiếc tăng T-54 đang đuổi theo, cách nó chỉ khoảng vài trăm mét đường chim bay. Người ta nhìn thấy những mũi tên lửa vọt ra từ hai chiếc tăng T-54. Mũi tên cứ lớn dần, lớn dần… bám chiếc xe lao tới. Như thể có một bàn tay vô hình nào đó điều khiển đường đi của nó. Rồi một đống lửa vàng bùng lên kèm một tiếng nổ inh trời… chiếc xe bọc thép lật ngửa và bốc cháy, khói đen đặc chùm kín lên mình.
      Khi chiếc xe bọc thép đã bốc cháy, hai chiếc tăng T-54 quay lại phía sân bay Phượng Hoàng. Trận chiến vẫn còn đang diễn ra ở đấy!
      Nghe nói, khi QGP đã hoàn toàn làm chủ chiến địa, người ta tìm thấy trong chiếc xe bọc thép có năm xác chết, giống như những con chó thui bị cạo sạch lông lá, co quắp lấy nhau trong cơn sợ hãi – Đó chính là chiếc xe chở tên Sư đoàn trưởng Sư 22 QLVNCH, cùng với hai tên cố vấn Mỹ và hai sĩ quan trong Ban tham mưu sư đoàn chạy trốn. Cái chết của những bộ óc chiến lược lớn nhất Sư đoàn 22 thiện chiến của QLVNCH, được coi như thắng lợi khởi đầu cho chiến thuật đánh với qui mô lớn, hợp đồng binh chủng của QGP – và là sự phá sản trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Hoa Kỳ.
      Khi Đắc Tô – Tân Cảnh đã hoàn toàn giải phóng, người ta vẫn thấy ở mé sân bay Phượng Hoàng, hình tượng cỗ xe tăng T-54 mang số hiệu 377 ghếch nòng đại bác 45 độ, trong tư thế chồm về phía trước rất hùng dũng.
      Họ kể: khi hai chiếc tăng 354 và 369 cùng đại đội xe tăng dẫn các binh đoàn bộ binh tiến công và giải phóng sân bay Phượng Hoàng, các chiến sĩ bộ binh mở nắp chiếc xe tăng 377 thì thấy bốn người dũng sĩ xe tăng ở trong đó, nằm ngả đầu ra bốn góc của thành tăng – như thể họ vừa chơi một ván bài, mệt quá ngủ thiếp đi. Toàn thân những người chiến sĩ anh hùng ấy đã bị cháy xém. Anh em khiêng xác bốn người chiến sĩ xe tăng, không khác gì hình tượng trong kịch bản bất hủ của Sếch-xpia: khiêng chàng hoàng tử Hăm Lét bất tử vậy.
      Đó chính là:
-  Thiếu úy Nguyễn Xuân Triển trung đội trưởng xe tăng, quê ở Quế Võ, tỉnh Hà Bắc.
-  Lái xe Cao Trần Vịnh, quê ở Đất Tổ - Phong Châu.
-  Pháo thủ số 2 Nguyễn Đức Toàn, quê Thanh Ba - Phú Thọ.
-  Pháo thủ số 1 Lượng.
      Lúc hy sinh, hai pháo thủ Toàn và Lượng vừa tròn hai mươi tuổi.
      Cũng lúc ấy trong một bìa rừng của địa phận Đắc Tô – Đại đội 4 D16 pháo cao xạ phòng không, các chiến sĩ đang từ từ hạ xuống huyệt năm chiếc quan tài được đóng bằng vỏ hòm đạn pháo. Tất cả lặng lẽ bỏ mũ cúi chào vĩnh biệt những đồng đội của mình, trong đó có người đại đội trưởng Quảng dũng cảm của họ.
      Gió chiều nổi lên, hoàng hôn vàng vọt phả xuống cánh rừng. Cuộc chiến ở Tân Cảnh – Đắc Tô tuy đã kết thúc, nhưng đây đó chốc chốc vẫn còn đì đùng tiếng súng nổ. Có lẽ một bộ phận QGP vẫn dang truy sát đám tàn quân nào đó trốn chạy?
      Sau khi người chính trị viên tiểu đoàn ném xuống mộ một vốc đất, các chiến sĩ bắt đầu lấp huyệt. Mọi người lặng lẽ xúc từng xẻng đất tấp xuống, nhưng bên trong cái sự âm thầm đó… âm hưởng của trận chiến dữ dội, nóng bỏng và dầy hùng khí vừa qua, vẫn như ngọn lửa cháy râm ran trong tâm trí họ.
      Hình ảnh người đại đội trưởng Quảng quả cảm và rất thao lược, cùng những đồng đội trẻ tuổi đã ngã xuống trong trận chiến… sống dậy trong Hoàng. Lòng anh trào lên một nỗi xót xa vô hạn. Dù rằng Hoàng cùng anh em đã từng chứng kiến bao lần, nỗi đau phải chôn các đồng đội của mình. Anh nghĩ về gia đình của những người đồng chí, họ sẽ rất đau khổ khi biết tin người thương yêu không bao giờ còn gặp lại nữa.
      Hoàng lại nghĩ về mình trong một trận chiến nào đó, có thể chỉ là nay mai… anh cũng phải vĩnh biệt tất cả !? Nhưng có lẽ nỗi đau nhiều hơn vẫn là những người thân nơi quê hương.
      Trở lại với những diễn biến của trận đánh – Vào trưa ngày 24.4.1972, tuy chiến sự còn đang giai đoạn quyết liệt, nhưng QGP đã làm chủ phần lớn Tân Cảnh. Đơn vị được thông báo đã phá hủy 9 xe tăng của địch, đánh hỏng và thu 20 pháo 105mm, gần 100 xe quân sự các loại, với hàng vạn quả pháo và nhiều phương tiện chiến tranh khác của QLVNCH. Trong đó riêng đại đội 4 - D16 pháo cao xạ 14ly5 và 37ly đã bắn rơi 8 máy bay. Thừa thắng, Bộ tư lệnh mặt trận lệnh cho pháo binh của Trung đoàn 40, Tiểu đoàn 675 cùng các hỏa lực khác bắn cấp tập vào các cứ điểm còn lại của Đắc Tô và sân bay Phượng Hoàng. Sau đó 10 chiếc tăng PT-76 và T-54 của tiểu đoàn xe tăng QGP, 12 khẩu pháo cao xạ các loại cùng 2 trung đoàn bộ binh F320 và 2 tiểu đoàn bộ binh của quân khu, tràn qua Đắc Tô đánh thẳng vào sân bay Phượng Hoàng – bằng một trận tấn công và hiệp đồng binh chủng.
      Để cứu trợ - một thiết đoàn xe thiết giáp QLVNCH đã tiến về phía sân bay, các cụm cứ điểm trong sân bay bắn ra, ngoài đánh vào… máy bay trực thăng bu kín bầu trời, các loại phản lực “con ma, thần sấm”, máy bây tiêm kích AD6, A37 ném bom yểm trợ, hòng đè bẹp QGP? Chính chiến công chiếc tăng 377 là ở trong đợt này. Cuộc chiến dữ dội kéo dài sau ba tiếng đồng hồ - Trung đoàn 48, 64 F320 và quân giải phóng địa phương đã giải phóng sân bay Phượng Hoàng và làm chủ hoàn toàn Đắc Tô – Tân Cảnh.
      Tiêu diệt và làm tan rã Trung đoàn 41-42 và 47, xóa sổ Ban tham mưu  Sư 22 QLVNCH cùng với các cố vấn Mỹ; tiêu diệt Lữ đoàn dù; diệt thêm 18 xe tăng địch loại M-41, 25 xe bọc thép; bắt sống 600 tù binh; giải phóng 25.000 dân và một vùng đất đai rộng lớn ở phía bắc Kon Tum. Bắn cháy và thu được tại sân bay Phượng Hoàng tổng cộng 18 máy bay.
      Thiệt hại của QGP cũng mất 4 xe tăng (ba chiếc T-54, một chiếc PT-76). Trận địa pháo cao xạ của Đại đội 4 bị trúng pháo kích địch: hủy mất 1 khẩu 37ly và 5 người bị hy sinh, trong đó có Đại đội trưởng Quảng.
     Tình hình vừa qua mặc dù thắng lớn, nhưng sự tổn thất của QGP cũng nặng nề, nhất là các trung đoàn bộ binh. Họ cần dừng lại một thời gian để củng cố đội hình, mới có thể đánh tiếp vào Thị xã Kon Tum được.
      Chiến công ở sân bay Phượng Hoàng và thắng lợi vang dội trên mặt trận Đắc Tô – Tân Cảnh nói chung, đánh dấu một mốc son trong phương thức hiệp đồng binh chủng sau “chiến dịch Lam Sơn 719”. Nó tiến đến để đánh sập chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Hoa Kỳ - góp phần buộc Mỹ phải kí Hiệp định Pa Ri ngừng chiến vào tháng 1 năm 1973.
……..
      Lại nói về năm ngôi mộ của năm chiến binh C4 đã được đắp đầy. Anh em chiến sĩ đi đánh từng vồng cỏ quanh đấy, phủ lên ngôi mộ. Người lính văn thư của đại đội thì vẽ lại tiêu chí, đánh dấu đặc điểm… để mai sau tìm cho khỏi bị thất lạc.
      Lúc này người chính trị viên già của Tiểu đoàn 16, bước lại gần Hoàng và bảo:
-  Hoàng để cho anh em chiến sĩ họ làm nốt, đồng chí về ban chỉ huy tiểu đoàn nhận kế hoạch tác chiến mới.
      Về đến nơi, ông nói với Hoàng: Ban chỉ huy tiểu đoàn đã báo cáo Bộ tư lệnh mặt trận, đề bạt Hoàng lên làm Đại đội trưởng C4 thay cho Đại trưởng Quảng bị hy sinh... và Bộ tư lệnh B3 đã chấp nhận. Ông vỗ vai anh giọng thân mật:
-  Từ giờ đồng chí chính thức với cương vị người đại đội trưởng C4!
     Ông dặn dò anh tỉ mỉ của một bậc chỉ huy lão thành, và mong anh sẽ làm tốt trách nhiệm với cương vị mới của một đại đội pháo cao xạ. Hoàng nắm chặt tay người chính trị viên già để tỏ sự quyết tâm. Đôi mắt của anh như muốn nói rằng: Các vị cứ yên tâm, tôi sẽ làm thật tốt chức trách mới được giao phó này! Rồi anh rảo bước trở về nơi đại đội đang đóng ở Quận lỵ Đắc Tô.
      Bầu trời cũng đã tối hẳn. Qua khu vực sân bay Phượng Hoàng còn ngổn ngang sự đổ nát, đất đá bị cào xới do bom đạn… và cả xác mấy chiếc tăng. Những vì sao sáng li ti hắt lên một vòm trời trong xanh. Trong cơn gió thổi, đây đó vẫn bay đến mùi hôi của những xác chết.
      Mấy con chó chạy rông… đi sục sạo để tìm đồ ăn. Không biết chúng có ăn thịt những cái xác của các người lính chiến thất trận phía bên kia, mà chưa kịp dọn hết không? Hoàng vẩn lên nghĩ như vậy. Anh bước nhanh qua sân bay để về ban chỉ huy đại đội, bao nhiêu công việc mới cồn lên trong đầu anh.
      Vài con bẹc-giê của bọn sĩ quan trở thành không có chủ, đang tranh giành ăn và cắn nhau kêu ăng ẳng. Thấy bóng anh đi qua, chúng chạy khuất vào trong màn đêm vắng, của một chiến địa còn đầy sự hoang tàn và chết chóc.
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:12:47
 
 
                                                      31-
 
      Cơn mưa đầu mùa mỗi lúc một to, đêm tấp lên rừng núi. Những bánh lốp xe tải kéo pháo cao xạ 14ly5 và 37ly đã được bọc những vòng mắt xích, để tăng thêm độ ma sát. Ngọn đèn gầm của xe chiếu lên con đường Quốc lộ 14, vệt sáng nhỏ vừa đủ cho người lái xe quan sát. Xe chạy rất xóc vì đường bị bom pháo cầy lên, đất đá lổm chổm.
      Đó chính là đoàn xe kéo pháo cao xạ phòng không của Đại đội 4 D16, do trung úy Nguyễn Hoàng làm đại đội trưởng. Đoàn xe xuất phát từ trong khu Đắc Tô vừa được giải phóng, hướng thẳng về phía Thị xã Kon Tum. Mặc dù hành quân vào ban đêm nhưng dọc đường đi cũng phải dừng tránh nhiều lần, vì gặp máy bay trinh sát OV10 của địch. Chúng như những con cú vọ lượn trên bầu trời, bay rà sát rất thấp soi mói từng hốc cây, quãng đường… Nếu trong trận chiến thi những máy bay bay thấp như thế này, đã là miếng mồi ngon cho các khẩu pháo cao xạ - nhưng đây là hành quân vào trận đánh, phải tuyệt đối giữ bí mật. Khi phát hiện máy bay trinh sát từ xa, tất cả lái xe phải tắt hết đèn.
      Thành xe không có mui, pháo và xe đều được phủ kín bằng những cành lá ngụy trang. Mưa tấp lên người họ, phả vào những chiếc áo mưa tạo nên một thứ âm thanh đều đều, kêu lộp… bộp…
      Khí thế của trận đánh Đắc Tô – Tân Cảnh vừa qua đang lôi cuốn họ. Không khí háo hức lan truyền khắp đoàn quân. Họ muốn băng thật nhanh để tiến vào trận đánh Kon Tum.
      Các trung đoàn bộ binh như Trung đoàn 48 F320 đều phải chia ra từng đại đội, hoặc tiểu đoàn đi cách nhau, để tránh pháo kích và máy bay địch. Tất cả đều đi về phía Thị xã Kon Tum nhưng tránh đường quốc lộ, phải cắt tọa độ mà xuyên rừng, vượt núi. Ngay cả tiểu đoàn chiến xa thiết giáp tăng T-54 hay PT-76, chỗ nào cần phải vượt qua Quốc lộ 14 mới đi, còn đều phải cho công binh dọn đường rừng mà xuyên đến.
      Đại đội pháo cao xạ của Đại trưởng Nguyễn Hoàng, cũng như trung đoàn pháo mặt đất E40 hoặc Tiểu đoàn pháo 675, thường phải tận dụng nhiều đoạn đường quốc lộ, các con đường rừng xe pháo rất khó vượt qua. Chủ yếu hành quân bí mật vào ban đêm và quan sát rất kỹ lưỡng, đề phòng máy bay, thậm chí cả biệt kích của địch phát hiện.
      Đại trưởng Hoàng ngồi với anh em pháo thủ trên thùng xe trong tốp xe pháo đi đầu của đại đội. Những khẩu pháo cao xạ 37ly được kéo bằng rơ-moóc kêu lúc lắc ở phía sau. Người chính trị viên đại đội thì ngồi trên chiếc xe đi cuối cùng.
      Đã vào trung tuần tháng 5, đây cũng là giai đoạn cao điểm của cuộc Tổng công kích xuân hè 1972, trên chiến trường Bắc Tây Nguyên. Đánh vào Thị xã Kon Tum, chính là quyết chiến điểm cuối cùng của chiến dịch.
      Đêm nay trời tối lại không thấy máy bay trinh sát địch rà lượn, Đại trưởng Hoàng lệnh cho đại đội tranh thủ vượt nhanh đến vị trí tập kết của trận đánh. Anh đăm đăm nhìn về phía trước. Mưa táp lên mặt, thành từng dòng chảy xuống cổ áo ướt đẫm. Anh đưa tay lên vuốt những giọt mưa trên mắt mình. Đôi lúc chiếc xe sa xuống một “ổ gà” lớn, nghiêng hẳn về một phía. Nó rú ga chồm lên, các chiến sĩ ngồi trên xe bị giật kéo người về phía sau. Họ vội đưa tay nắm lấy thành xe. Chiếc xe lại tiếp tục đều đều lăn bánh, kéo những khẩu pháo đằng sau nó… nhằm hướng thị xã băng tới.
      Những người lính bước vào trận đánh, tâm trạng của họ đã trở nên thường tình như những công nhân viên chức đi làm nơi công sở. Ở ngoài chiến trường và trong cuộc chiến đẫm máu này, ngay cả cái chết đến với họ cũng thật đơn giản. Thậm chí họ cũng không tin rằng mình sẽ còn sống để trở về - Cái sống chỉ là may rủi, do sự phán quyết của thượng đế? “cái chết” đến đơn giản đến mức, như thể đó là một hình tượng tất yếu trong nhịp điệu ầm… ì… của chiến tranh. Đơn giản như cuộc đời một người lính chiến không lạc thú, không cả tham vọng về cuộc sống nữa. Họ chỉ biết vẫn đang tồn tại để chiến đấu.
      Bởi thế trong tình cảm những người lính, kỷ niệm xưa là thiêng liêng! Quê hương là thiêng liêng! Họ sống bằng quá khứ - Tình yêu, gia đình luôn trở về với họ, nhất là những giây phút trên đường ra trận.
      Cũng như những người lính khác, hành quân trong đêm vào trận đánh quyết tử này: bao ý nghĩ, kỉ niệm lại dồn dập dâng lên trong đầu óc của người đại trưởng trẻ tuổi – Trung úy Nguyên Hoàng.
      Trong khoảng xa nào đó ở phía trước, trong khu rừng vắng kia, giữa cơn mưa tầm tã – Hình ảnh người con gái bản Mường lại hiện lên và cắn rứt trái tim anh! Như anh đang nhìn thấy cô trước mặt…
      Cô đang mặc bộ quần áo màu xanh lá cây của một nữ chiến binh, lẫn vào trong rừng lá và màu đen của đêm. Cô gái không mặc áo mưa, không mũ nón, mái tóc rối xõa xuống che lấy khuôn mặt. Cô chạy như lao đi, chới với… Cây rừng móc vào áo cô, gai cào lên da mặt, lấm thấm máu. Nhưng mặc, cô cứ chạy… không một tiếng kêu rên. Chỉ có tiếng gào thét của rừng núi, của mưa gió – Cô gái đó là Mỵ!
      Ít hôm trước, khi Đắc Tô – Tân Cảnh mới được giải phóng đôi ba ngày. Mỵ cùng với cô Sa người Huế, đã tìm đến đơn vị để gặp anh. Mỵ trông vẫn xinh, vẫn đẹp gái… nhưng có hơi gầy và cũng chững chạc hơn, so với hồi anh đã gặp em trên bản Mường Hòa Bình.
      Mùa xuân năm ấy – Đúng là “người năm ấy”! Nếu như không có Thu? Một ý nghĩ chợt vụt thoáng trong đầu Hoàng: Người con gái bản đó rất có thể sẽ là người trong mộng của anh? Ôi, nhưng thôi… chiến tranh! Hoàng vội xua đuổi ý nghĩ vụt qua ấy của mình đi.
      Hôm em cùng với Sa đến gặp anh là vào một buổi sáng. Lúc đó, anh sững sờ nhìn người con gái bản, cứ ngỡ mình đang mơ… Chỉ vì lòng ham muốn của tuổi trẻ, mà anh đã gieo vào tâm hồn trong trắng của cô gái một tình yêu trái tim! Cũng không thể phủ nhận rằng: gặp lại em trên chiến trường máu lửa này, trong anh cũng đã dấy lên bao rung cảm? Nhất là cuộc sống của người lính, bao năm tháng chỉ có cay cực và bom đạn. Một cuộc đời không đàn bà – Kể cho nhau nghe về những kỉ niệm của tình yêu gái trai, cứ như là chuyện cổ tích. Nay giữa chiến trường lại có sự xuất hiện của hai người con gái? Không phải chỉ có Hoàng, mà làm cho cả đơn vị xôn xao. May mà những ngày đó, đơn vị trong thời gian nghỉ ngơi, củng cố nên cũng thanh thản.
      Anh và Mỵ vẫn có thể tìm được một nơi yên tĩnh trong rừng để tâm tình. Còn cô Sa thì anh em quây kín lại tíu tít, chuyện trò… cứ như người thương nhớ, tận bên kia thế giới mới về.
      Mỵ hờn dỗi, trách anh đi biền biệt không viết thư về cho cô. Anh đã phải tìm mọi lý do biện bạch cho mình: nào là chiến trận liên miên, nào là bom đạn nên thư từ hay thất lạc? mà hồi đầu chia tay với cô vào chiến trường Tây Nguyên, anh cũng có viết thật, đôi lần… Mỵ giận thì nói vậy thôi, nay gặp được anh lòng cô vui lắm. Anh thấy cô hạnh phúc thật sự!
      Mỵ nói là rất yêu anh! Ngồi bên anh trong rừng, cô nằm vào lòng anh cho bõ nhớ - Cô bảo vậy. Bao lần anh định nói thật cho cô nghe, quan hệ tình yêu của anh đã có với Thu? để cô hiểu anh không muốn lừa dối cô… Nhưng rồi anh lại không thể nói được: Phần vì thấy mình không nỡ nói – Người con gái ấy đã ra tận chiến trường để tìm anh? Phần nữa, vì niềm vui sướng đang đến với cả hai người… Giờ anh đang ôm em trong vòng tay, đang hôn em đây! Những giây phút hạnh phúc quí giá của cả anh và cô – Rất có thể trong cuộc chiến tranh này, anh sẽ không trở về? có thể lắm! Như Đại trưởng Quảng vài bữa trước, nay đã thành người thiên cổ. Trận chiến ở Thị xã Kon Tum, chắc sẽ còn ác liệt hơn mặt trận Đắc Tô – Tân Cảnh. Biết đâu?  chẳng ai có thể quyết định được số mệnh của mình trong chiến tranh. Nghĩ tới lúc có thể anh sẽ phải vĩnh biệt Mỵ, vĩnh biệt Thu và tất cả quê hương… Hoàng nhớ đến bốn câu thơ “trút linh hồn”, những câu thơ trăng trối cuối cùng của thi nhân Hàn Mặc Tử:
                         Ta trút linh hồn giữa lúc đây
                         Gió sầu vô hạn nuối trong cây
                         Còn em sao chẳng hay chi cả
                         Xin để tang anh đến vạn ngày.
      Nghe anh lẩm nhẩm đọc gì đó trong miệng không rõ tiếng, Mỵ quay lên hỏi:
-  Anh lẩm nhẩm gì thế?
      Hoàng vội xoa xít đi. Anh ôm riết Mỵ vào lòng, như thể nếu rời ra… sẽ không bao giờ còn gặp lại cô nữa?
      Mặc dù anh biết mình đã yêu Thu, và sẽ không bao giờ phản bội lại người con gái đầu tiên ấy! Nhưng với một tình yêu trong sáng, mãnh liệt như của Mỵ dành cho anh – Hoàng cũng khó có thể cưỡng được mình. Quả thật khi gặp lại Mỵ, lòng anh không khỏi choáng váng. Ngồi ôm em trong vòng tay, anh cũng thấy chính mình hạnh phúc! Thôi, cứ để cho em nghĩ rằng: Anh vẫn chỉ là của riêng em. Cả anh và em cứ tận hưởng niềm sung sướng của những khoảnh khắc ân ái, đang dào dạt tâm hồn. Những giây phút anh man mê trên tấm thân nõn nà người con gái…
      Mỵ cũng khao khát và trong lòng cô không thể nào cưỡng nổi. Cô cứ để cả tấm thân trần truồng mà tận hưởng với anh, giữa một khu rừng chỉ có hai người và tiếng chim kêu. Cái khoảnh khắc tưởng như Hoàng không thể kìm lại được nữa. Mỵ có vẻ hơi hoảng hốt, ôm ghì lấy anh khẽ kêu rên:
-  Anh ơi!...
-  Em không muốn ư?
      Hoàng hỏi nhỏ, khi cả thân mình anh đã ghì xiết lên tấm thân nóng bỏng, mềm mại của người con gái. Người con gái đang quằn lên dưới thân thể anh. Cái của anh cứ day mãi lên của cô... Hai chân Mỵ đã giang rộng ra để đón của anh vào… Thân mình cô rạo rực. Giọng Mỵ run run:
-  Em muốn, nhưng em hơi lo? Chiến tranh mà anh…
      Cô vẫn rên khe khẽ:
-  Tùy anh. Em bắt đền anh đấy!
     Ánh mắt cô như muốn nói: “Ôi, anh thân yêu! Ước gì vẫn là những ngày như lần trước ở quê hương, thì em sẽ cho anh thỏa thích. Anh muốn làm gì cũng được…”.
      Hoàng nhìn Mỵ bảo:
-  Nhưng nếu em có chửa, người ta sẽ cười em chứ?
-  Ai cười, kệ người ta. Em không sợ!
      Thế là tất cả ý nghĩ cần phải nói với Mỵ về tình cảm của anh đã có với Thu, đều tan biến. Người con gái anh biết từ khi chưa gặp Mỵ và anh đã yêu… một tình yêu đầu đời. “Thôi, chiến tranh…” – Hoàng lại tự biện lý với chính mình.
      Nhưng bỗng một ý thức nào đó vụt đến trong đầu, anh dùng toàn bộ lý trí của mình vùng dậy: “Tình yêu của em dành cho anh thiêng liêng, cao cả quá! Anh không thể dối lừa cô được nữa…” – Một ý nghĩ nhân ái lớn lao hơn đến trong anh, đã tới lúc anh phải nói thật với em tất cả.
      Mỵ hơi bàng hoàng, khi thấy anh có vẻ cương quyết rời khỏi cô? Cô đưa tay níu anh lại. Mỵ tưởng rằng vì cô nói thế nên anh thôi? Cô nhìn anh bằng đôi mắt yêu thương, tha thiết, dịu dàng bảo:
-  Anh! Em đồng ý cho anh mà… em yêu anh mà…
      Hoàng bế Mỵ ngồi lên. Anh cứ để tấm thân trắng ngần của người con gái trong vòng tay mình, kể cho cô nghe tất cả mối tình của anh đã có với Thu. Anh cũng nói rõ với Mỵ là, anh không thể phụ lại tình yêu của người bạn gái thủa thiếu thời ấy!
      Hoàng nghĩ rằng, khi anh nói tất cả sự thật như thế thì Mỵ sẽ giận anh? Nhưng anh vẫn cương quyết nói. Nói được lòng anh thanh thản hơn, rồi Mỵ sẽ hiểu cho anh, rằng: anh đối với cô là chân thật. Anh không thể đùa bỡn với tình yêu mà cô đã dành cho anh!
      Nghe Hoàng nói, Mỵ cũng lặng đi… và rơm rớm nước mắt, nhưng cô không khóc. Giây lát, Mỵ ngước lên nhìn anh khẽ hỏi:
-  Anh có yêu em không?
-  Anh quí mến Mỵ! Anh thương Mỵ, nhưng anh không thể…
      Hoàng bảo vậy, rồi ôm chặt lấy cô… tỏ nỗi cảm thông với người con gái bản Mường. Mỵ không buông một lời trách móc nào với anh. Cô nói: Nếu anh cũng có tình thương yêu với cô, cô không giận anh – Bởi vì, người con gái anh yêu đầu tiên mà anh gọi là “Thu” ấy!... đã đến với anh trước cô. Cô không oán thán anh. Cô kể, ở bản Mường cũng không thiếu gì những người đàn ông hai vợ, mà vẫn sống êm đềm hạnh phúc. Nhất là chiến tranh, con trai ra tiền tuyến bị chết nhiều, đàn ông lấy hai vợ cũng là sự thường tình.
      Mỵ bảo: cô chấp nhận Thu đã đến với anh trước nên chị ấy sẽ là chị cả,  Mỵ làm vợ hai của anh cũng được, miễn là anh vẫn yêu cô – Cô còn nói, cô tha thiết yêu anh và không thể bỏ anh…
      Đến lượt Hoàng bất ngờ, đến mức sững sờ… khi nghe thấy Mỵ lại giải quyết vấn đề nan giải ấy một cách nhẹ nhàng như thế! Anh ôm ghì lấy người con gái, tỏ lòng cảm phục cô về cả lý trí và tình yêu. Mỵ kéo Hoàng nằm xuống. Anh phủ phục lên cô, mắt Mỵ mơ màng như người trong mộng. Cô đưa tay vuốt tóc anh và nói:
-  Em không giận anh đâu! Em vẫn cho anh đấy… 
   Hoàng như người chợt tỉnh, anh dừng lại nói với Mỵ:
-  Đây không phải như ở quê. Em bây giờ cũng ở trong quân ngũ: nhỡ có thai, đơn vị sẽ kỷ luật em? Hay là, ta để đến khi hết chiến tranh, anh trở về… 
      Mỵ lại lắc đầu.
-  Không, em không sợ…
      Cô nói với anh là... cô cũng muốn có con với anh. Rồi cô kể cho anh nghe: Trong bộ phận quân y của cô, cũng có một chị: Cả đơn vị đều biết chị có tình cảm với một anh, hai người rất thân thiết nhau. Rồi bỗng thời gian sau chị ấy có thai… Dấu mãi, nhưng đến lúc bụng to không thể dấu được nữa? Tổ chức gọi lên, chị ấy khai là… trong một lần đi lĩnh thuốc quân y tận trong kho của binh trạm, phải đi xa mấy ngày đường. Chị gặp một anh chiến sĩ đồng hương ở một bãi chốt nghỉ chân dọc đường giao liên, đó là một người quen cũ cùng quê đang trên đường hành quân vào chiến trường. Đêm đó, chị đã ăn nằm với anh ấy! Măc dù, anh chị em thì đều tin là chị đã có con với anh cùng đơn vị, nhưng chị ấy dấu… để anh khỏi liên lụy.
      Theo Mỵ nói, người nữ chiến sĩ ấy đã chấp nhận bị kỷ luật, khai trừ ra khỏi đoàn thanh niên cộng sản – vì gần đến ngày sinh, tổ chức để chị ấy sinh đẻ xong, con cứng cáp rồi sẽ trả cả hai mẹ con về quê ở miền Bắc. Mỵ bảo:
-  Bị tổ chức kỷ luật mà chị ấy chẳng buồn tý nào cả, anh ạ! Với lại… chị ấy yêu, chứ có phải là phản bội lại tổ quốc đâu – phải không anh?   
      Rồi cô nói:
-  Nếu có thai, em sẽ sinh con cho anh, em sẽ mang giọt máu của anh về quê và nuôi con. Mẹ con em sẽ chờ anh trở về!
      Không thể cưỡng lại được nữa. Thôi, chỉ có thượng đế cùng anh và cô biết. Âm dương như một dòng điện mạnh, chúng đang truyền đi dữ dội. Hoàng trằn mình trên tấm thân người con gái. Mỵ run lên, thở gấp và rên khẽ:
-  Ôi, sướng quá anh ơi! Ối, anh ơi!
      Khi cường độ lên đến tột điểm, cái núm âm vật nóng hổi của người con gái như thể có thần, run lên bần bật ở dưới của anh. Những giây phút choáng ngợp tột cùng ấy, niềm khoái cảm vẫn còn mê man chạy trên khắp cả hai thân thể anh và cô. Anh ghì lấy Mỵ… đang đờ đẫn như người trong cơn mơ ngủ. Mỵ giang cả hai tay và hai chân rộng ra giữa khu rừng vẫn còn rất nhiều những nhành cây bị gẫy đổ vì bom, pháo… Mặc, lúc này họ chỉ thấy mình hạnh phúc! Rồi hai người mặc quần áo và ngồi ôm nhau, để hưởng những giây phút sung sướng hiếm hoi trong cuộc chiến tranh này. 
      Tiếng gọi giật của người pháo thủ ngồi bên cùng với nhịp xóc của chiếc xe kéo pháo, gặp phải một hố ổ gà ở trên đường, kéo Hoàng ra khỏi ý nghĩ.
-  Đại trưởng ơi! Trông kìa, một vì sao đổi ngôi. 
      Người chiến sĩ chỉ tay về phía trời xa và nói. Hoàng ngước nhìn, ngôi sao nhỏ kéo theo một vệt sáng trắng về tít cuối chân trời.
      Trời đã tạnh từ lúc nào anh cũng không rõ. Đoàn xe đang nhịp tiến đều đều trong đêm, các chiến sĩ vẫn lặng lẽ ngồi trên xe, kéo theo những cỗ pháo cao xạ 37ly lúc lắc ở phía sau. Họ đang hành quân vào trận. Người thì gà gật ngủ để lấy thêm sức cho trận đánh tới, kẻ thì miên man ôn lại những kỷ niệm quê hương…
      Hoàng vẫn ngồi trầm tư. Trong đầu anh cứ hiện về những câu chuyện đã qua: Hôm đó Mỵ và Sa ở lại chơi với đơn vị của anh đến chiều tối mới về. Qua chuyện trò thì anh biết rằng, Mỵ vào chiến trường cũng đã được hơn một năm và vẫn hỏi dò tin tức để tìm anh, mà không gặp. Mỵ thuộc quân số đại đội quân y trên Ban hậu cần của Bộ tư lệnh B3. Đợt này Mỵ và Sa cũng theo Bộ tư lệnh vào mặt trận, tham gia chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh. Ngay từ trước chiến dịch, cô đã biết tin đơn vị anh đi phối thuộc với Trung đoàn 48, Sư 320. Khi Đắc Tô – Tân Cảnh đã giải phóng, có điều kiên được nghỉ ngơi ít ngày, cô cùng với Sa xin phép Bộ tư lệnh tìm đến đơn vị để thăm anh. Anh đã hẹn với Mỵ, khi nào hết chiến dịch về hậu cứ… thế nào cũng tìm để gặp lại nhau.
      “Ôi! Em thân yêu, hãy tha lỗi cho anh. Cuộc tình của anh và em rồi cũng chỉ là trong mơ thôi. Chiến tranh mà em…” – Hoàng trông lên bầu trời đã tạnh ráo, đăm chiêu nhìn ra xa. Anh lại nghĩ đến Thu! Người bạn gái đầu tiên và tình yêu của trái tim anh. Bất giác anh tự hỏi: Ừ, nếu anh còn sống trở về? Cũng có thể lắm chứ! Có phải tất cả đều chết hết đâu – Khi đó thì anh phải giải quyết chuyện giữa Mỵ và Thu thế nào?
      Hoàng nhớ đến một câu chuyện: cũng có người vào trường hợp đã yêu hai người con gái, cảnh ngộ như anh. Và rồi, họ chấp nhận giải quyết với nhau… lấy cả hai người con gái kia làm vợ. Nhưng liệu khi ấy, Thu của anh có chấp nhận như thế không? Cô có đồng ý để anh vừa lấy cô, lại vừa lấy cả Mỵ? Một cô gái Hà Nội khó chấp nhận như thế lắm!
      Nghĩ vậy, Hoàng bật cười thầm một mình trong đêm. “Thôi kệ! Chiến tranh mà…” – Anh lại tự xí xóa với mình. Hoàng cũng mới nhận được một lá thư của Thu trước chiến dịch này. Thu báo với anh, cô đã tốt nghiệp đại học và ra trường. Cô xin về làm phóng viên tòa soạn báo “Hà Nội mới”, công tác ngay ở Hà Nội. Trong thư, Thu nói giai đoạn này cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đã lan vào thủ đô dữ dội hơn trước nhiều. Gia đình Thu: ông bà Giáo đều đi sơ tán cả, chỉ còn Thu trong đội cảm tử của thành phố là ở lại, vừa công tác vừa sẵn sàng trực chiến đánh máy bay Mỹ. Tòa soạn báo cũng được trang bị súng máy cao xạ 12ly7 và đại liên. Họ đặt súng ở ngay trên nóc tầng thượng, thay nhau trực chiến tại đó.
      Ôi mối tình của anh! Thế là anh xa Thu và Hà Nội hơn năm năm rồi, thì trên bốn năm biền biệt trong chiến trường., trên mảnh đất bom đạn và máu lửa ở Tây Nguyên. Nơi rừng thiêng nước độc, kề bên cái chết và muỗi vắt,.. tưởng như đã trải qua đằng đẵng nửa kiếp người.
      Anh thấy mình có lỗi với Thu? khi anh quan hệ với Mỵ cũng bằng một tình cảm chân tình và thân thiết. Hơn thế, cả tấm thân của người con gái Mường cũng trao anh. Nếu Thu biết chuyện đó, thì em sẽ nghĩ sao? Em sẽ oán giận anh hay sẽ đau khổ? Nghĩ vậy, Hoàng trào lên một nỗi day dứt, cắn xé trong lòng.
      Mặc dù, thâm tâm Hoàng đã tự thanh minh với chính mình: Anh đâu có ý nghĩ phản bội Thu? Không, anh vẫn yêu em tha thiết! Anh chỉ còn mỗi một sự lý giải: chiến tranh mà…
      Thực tế, dù có biện luận theo kiểu gì… thì anh cũng đã yêu cả hai người con gái! Anh bào chữa thế nào đây?
      Ý nghĩ chợt vụt đến: Nếu thoát khỏi cuộc chiến tranh này, còn sống trở về. Khi ấy, Mỵ và Thu vẫn còn yêu và chờ đợi anh? Thì anh sẽ lấy cả hai người con gái đó làm vợ.
     “mình tham lam quá chăng?” – Điều này thì trong thâm tâm Hoàng không phủ nhận, cũng không biện hộ với lòng mình: “Đúng, mình là một kẻ tham lam thật!”. Cái ý nghĩ chợt đến… anh sẽ lấy cả Thu và Mỵ làm vợ? Thế là anh không phản bội lại ai! Ý nghĩ ấy như thể giải thoát cho tâm lý của Hoàng, anh thấy lòng mình thanh thoát lại.
      Ý nghĩ sẽ lấy cả hai người con gái làm vợ, làm Hoàng tự bật cười với mình trong đêm. Cậu chiến sĩ ngồi gấn anh, thấy thế liền hỏi:
-  Đại trưởng cười gì thế ạ?
-  À… à… đêm mát trời khoan khoái quá!
      Hoàng lúng túng thanh minh với người chiến sĩ trẻ. Đoàn xe chở những khẩu pháo cao xạ vẫn rầm rì… rầm rì… hướng về phía Thị xã Kon Tum, tiếp tục lăn bánh. Hoàng vẫn miên man nhớ về cuộc gặp gỡ Mỵ mới cách mấy hôm vừa rồi. Mỵ đã nói với anh:
-  Mai về làm vợ anh, em sẽ đẻ cho anh năm đứa liền.
     Nghe cô nói thế, Hoàng thích chí bảo:
-  Em phải đẻ thêm một đứa nữa, là sáu!
-  Sáu thì sáu, nếu anh muốn… em sẽ đẻ cho anh.
      Nói rồi, cô tủm tỉm cười và âu yếm nhìn anh. Mắt mơ màng nhìn lên khoảng trời Đắc Tô - Tân Cảnh. Cuộc chiến trận tàn khốc vừa qua dường như không làm cho cô sợ hãi nữa. Cô chỉ còn biết chan chứa trong tình yêu của cô, chỉ còn biết có anh thôi!
      Trận đánh tới này, khi C4 – đại đội pháo cao xạ của anh sẽ cùng với trung đoàn bộ binh E48, F320 đánh vào Thị xã Kon Tum – thì như Mỵ nói, bộ phận quân y của cô sẽ đi cùng Trung đoàn 52 đánh vào cứ điểm đèo Chư Pao.
      Người pháo thủ ngồi cạnh Hoàng lay mạnh vào vai anh, gọi giật:
-  Đại trưởng ơi, trông kìa… thôn ấp đấy! Xe của mình đang đi vào bản rồi.
       Đoàn xe pháo của họ đã rời con đường Quốc lộ 14, rẽ vào một con đường dân bản đã bỏ hoang. Theo kế hoạch hành quân, để tránh pháo kích và máy bay ném bom – Đoạn đường nào có thể đi xuyên trong rừng hoặc qua bản, thì đoàn xe rời đường quốc lộ.
      Người chiến sĩ lại hỏi:
-  Đây gọi là bản gì, hả đại trưởng?
-  Theo như chỉ dẫn của anh em trinh sát, thì đây là bản Võ Định.
      Hoàng bảo vậy. Sau cơn mưa, bầu trời đêm xanh mát và có vẻ yên tĩnh. Đoàn xe tiến vào con đường đất đỏ. Bên cạnh con đường bản có những khóm chuối, gần đó là các thửa ruộng với những luống khoai lang. Lá khoai xanh non bò kín khắp mặt ruộng. Những lũy tre, vườn cây ăn quả. Nghe tiếng của đoàn xe đi vào, mấy con chó hoang thi nhau sủa.
-  ÔI, làng quê. Làng quê Việt Nam ta đấy!
      Dấu tích một cuộc bắn phá của máy bay Mỹ như vừa mới xẩy ra ở đây. Những ngôi nhà sàn bị đổ sập, đồ đạc vương vãi. Những con chó vô chủ chạy rông, ngấp nghé bên bờ rào. Có cả tiếng gà kêu quang quác, bay tán loạn. Mùi thơm của những trái cây ở trong vườn bay ra…
      Không thấy bóng người dân nào? Chắc là họ đã được du kích lùa hết vào một khu vực nào đó trong rừng, nơi QGP mới chiếm được. Tạm gọi là “vùng tự do”, để đưa dân chúng đến ở. Hoàng lại nhớ tới cảnh sống của dân tình, khi bộ đội di dân vào những khu rừng đã giải phóng…
      Đó là những ngày cuối tháng 4.1972, lúc Tân Cảnh – Đắc Tô vừa mới chiếm được. Thị trấn, quận lỵ thì bị bom đạn, xe tăng quần nát, xác lính và dân thưởng chết la liệt. “bỏ của chạy lấy người” – dân xô đẩy, cuốn gói tìm nơi trú ẩn. Cả người Kinh và người Thượng chạy bộ ra phía đường Quốc lộ 14, bị QGP địa phương chặn lại lùa hết vào rừng.
      Cũng khoảng năm, sáu ngàn người. Họ bị giữ lại trong một vùng mới giải phóng. Không ai được ở lại Thị trấn Đắc Tô – Tân Cảnh. Mấy hôm đầu thì ngày ngày, mỗi người được chia cho một vắt cơm. Sau đó quân du kích địa phương đi tìm các ruộng lúa, hay các bãi khoai sắn bỏ hoang. Đến đêm, họ dắt dân chúng đến mót lúa, nhổ mì, nhặt khoai… gọi là chiến lợi phẩm, mang về mà ăn. Cây mì thì cầm cả gốc kéo lên. Khoai, sắn rửa đi rồi xắt nhỏ ra, phơi khô nấu ăn dần. Nếu gặp ruộng lúa thì cho tuốt lúa. Thực ra, cũng chỉ là lúa đi mót mà thôi. Người nào tuốt được hơn một kí thóc mỗi lần là tốt lắm rồi! Thóc họ rang khô rồi giã bằng cùi, tức là cối giã… để tách vỏ trấu ra làm thành hột gạo. Sau đấy, dùng nắp vung nồi rang gạo cho khô, cất nấu ăn dè.
      Thường thì rẫy khoai, rấy sắn nhiều hơn ruộng lúa. Ngày nào cũng ăn khoai, mì nên dân chúng chế biến đủ thứ: nào là khoai, mì luộc, canh khoai, khoai nướng v. v.
      Khu rừng mà QGP dồn dân vào, ở gần một buôn của người Thượng. Chính quyền cho họ tới nhặt những đồ dùng, xoong nồi của người Thượng về dùng. Số người thì đông, số nương rẫy hoang gần đó chẳng được là bao. Thiếu lương thực, dân chúng phải hái đủ các thứ rau thập cẩm ở rừng… miễn là ăn được để sống như rau tàu bay, rau sam, nấm rừng, măng tre rừng, rau dớn rừng mọc dọc theo các bờ suối, rồi cây môn thục ngứa móc họng... lấy ngâm vào nước gạo làm dưa chua.
      Gạo và thực phẩm cung cấp cho bộ đội giải phóng còn thiếu, làm gì có phát cho dân. Dân chúng bắt được con gì thì ăn con đó: cả chuột, rắn, ễnh ương… ăn tuốt. Nhất là gia vị muối biển thì thiếu trầm trọng, kể cả QGP. Thỉnh thoảng cũng chuyển được một chuyến muối theo đường Lào về, bớt ra phát cho dân: 1/3 thìa cà phê một người, phải dùng cầm chừng ăn dần.
      Chốn rừng thiêng nước độc, đầy các con muỗi, con mòng và vắt cắn. Sốt rét không đủ thuốc men chữ trị, lại thiếu ăn… gây nên đủ thứ bệnh dịch. Tội nhất là những đứa con nít sơ sinh: mẹ thiếu sữa cho con bú, thiếu dinh dưỡng, ăn ở thiếu vệ sinh, bị sốt rét rừng… chết rất nhiều. Có gia đình 3-4 đứa con nhỏ đều chết ráo. Tình cảnh thật thương tâm.
      Nhưng rồi… ai chết thì ráng mà chịu. Đến những người lính chiến với nhau, chết cũng chẳng còn nước mắt mà khóc. Chiến tranh mà… Tình cảnh dân chúng lại càng tàn khốc, chẳng tìm đâu ra lòng nhân ái để thương hại lẫn nhau.
      Mà dồn dân, đâu có phải họ được ở yên một chỗ? Tránh bom, tránh pháo phải đưa họ vào tít rừng sâu. Nay rừng này, mai rừng kia. Dân cũng màn trời, chiếu đất. Làm gì có lều, chòi hay nhà sàn để ở. Nước uống, nấu nướng hay tắm giặt đều bằng nước suối. Có khi đột ngột phải di chuyển trong một ngày cũng là chuyện thường tình. Thường là phải di chuyển vào ban đêm, để tránh phi pháo, máy bay của không lực Hoa Kỳ hay QLVNCH oanh tạc.
      Khi đưa dân đi, mỗi lần nghe tiếng máy bay là bộ đội địa phương hoặc  du kích la toáng lên: “Máy bay đấy! Chạy lẹ lên… máy bay địch nó đến bỏ bom , bắn phá đấy!”. Tình cảnh ấy, có khi có người dân đang nấu nướng - mấy ông du kích nhà mình liền hắt nước vào đống lửa, bắt bỏ hết để đi.
      Quần áo, có người lúc chạy còn mang được vài bộ đồ để thay, có người cuống quýt chỉ mặc độc một bộ trên người: có khi gai cào, vượt rừng… rách tả tơi, vá chùm mảnh nọ vào mảnh kia mà mặc. May mà xin được ai cho, thì mặc đại để che thân. Đi tắm ở suối, phải vắt quần áo lên bụi cây cho khô, tắm cởi chuồng… xong lấy quần áo mặc lại.
      Nhưng đàn ông hay con trai với nhau đã đành, còn dễ dàng. Tội nhất là số đàn bà, con gái đi tắm suối – Họ phải rủ nhau tìm một chỗ suối khuất, rồi canh chừng cho nhau tắm gội, giặt giũ. Không có xà bông để tắm, giặt… người dân họ kiếm đâu được một ít trái bồ hòn, vò vào nước thay cho xà phòng.
      Đấy! Cuộc sống của những người dân ở vùng Đắc Tô – Tân Cảnh sau khi được giải phóng 1972, là như vậy – Thực tế như những thước phim quay lại trong đầu anh.
      Đoàn xe pháo của Đại đội 4 vẫn lóc xóc rời khỏi khu bản hoang vắng chạy vào một mé rừng, đã được tiểu đoàn công binh phát sẵn làm thành đường dẫn vào chiến dịch. Người chiến sĩ trinh sát báo cáo với Đại trưởng Hoàng, sắp tới vị trí của đại đội tập kết.
      Trời cũng gần sáng. Họ đã nghe thấy tiếng súng lác đác nổ về hướng Thị xã Kon Tum.
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 28.09.2021 22:56:22 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:16:14
 
 
                                        32-
 
      Sau khi QLVNCH bị thất bại thảm hại trên mặt trận Đắc Tô – Tân Cảnh cùng một các cụm cứ điểm khác, như Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tu Ba, Ngọc Bờ Biêng… Chúng biết là QGP sẽ tiếp tục đánh vào Thị xã Kon Tum. Một mặt VNCH tăng cường thăm dò, cho phi phóa liên tục đánh phá Quốc lộ 14 và các trục đường QGP có thể hành binh hoặc vận chuyển về hướng Kon Tum. Cho cả máy bay ném xuống các buôn làng mà chúng cho rằng: Đó là điểm hội tụ của quân mặt trận B3.
      Trên vùng trời phía Bắc Tây Nguyên bao bọc quanh thị xã – cứ sáng ra là những chiếc máy bay trinh sát OV10. L19 vòng đi, vòng lại. Chúng rà dọc theo đường quốc lộ, ngó xuống các cánh rừng, các buôn làng… tìm dấu vết khả nghi của QGP, để gọi phi pháo bắn phá hoặc máy bay phản lực tới ném bom. Có khi cho cả “pháo đài bay” B52 rải thảm. Thấy bóng người, bóng xe cộ là chúng gọi trực thăng dùng đại liên, bắn rốc két xối xả, hoặc chỉ điểm cho phi pháo các nơi bắn đến tới tấp.
      Lược lại đôi nét hoàn cảnh trước khi chiến sự xuân hè 1972 xẩy ra – Lúc đó, theo như kế hoạch phòng thủ tác chiến của cấc tướng lĩnh Hoa Kỳ ở miền Nam cùng Ban tham mưu QLVNCH: Bố trí tại phòng tuyến Đắc Tô – Tân Cảnh gồm 3 trung đoàn của Sư 22: khoảng 10 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh, 10 chi đoàn chiến xa sẵn sàng giao chiến với Sư 320. Ngoài ra QLVNCH còn cho Liên đoàn 22 biệt động quân phòng thủ tuyến ngoài, để đối kháng với Sư 2 (E1 – 141) của QGP. Bộ tham mưu QLVNCH tăng cường thêm 2 lữ đoàn nhảy dù làm trù bị tại Kon Tum, ứng cứu Đắc Tô – Tân Cảnh khi cần thiết.
      Nay toàn bộ Tân Cảnh – Đắc Tô và một số cụm cứ điểm Bắc Kon Tum cùng phía tây sông Pô Kô đã về tay QGP – QLVNCH rút toàn bộ số còn lại về giữ Kon Tum. Kế hoạch phòng thủ Kon Tum bây giờ, chủ yếu giao cho Sư 23 QLVNCH do Đại tá Lý Tòng Bá làm sư trưởng – đảm trách ba mặt chủ yếu là đông, tây và bắc thị xã. Hướng nam Kom Tum có con sông Dakbla là chướng ngại vật, nên họ giao cho lính địa phương đảm nhận.
      Tuyến phòng thủ phía bắc Kon Tum do Sư 23 làm nòng cốt, bố trí thành nhiều trận địa nhỏ. Ngoài ra QLVNCH còn lấy Trung đoàn 53, Tiểu đoàn dù 7 hỗ trợ phòng thủ. Dựa vào công sự vững chắc, liên kết chặt chẽ với nhau bằng cả xung lực và hỏa lực. Có thể cơ động, vừa tránh pháo kích của QGP vừa đột kích phản công dễ dàng. Đồng thời tăng cường các hoạt động pháo binh, không quân, đặc biệt dùng B52 ném bom rải thảm. Khi chúng mất Đắc Tô – Tân Cảnh và một cụm cứ điểm ở Bắc Tây Nguyên, thì coi như tuyến phòng thủ kiên cố nhất vào Thị xã Kon Tum không còn nữa. QLVNCH điều thêm hai trung đoàn bộ binh từ Buôn Ma Thuột lên hỗ trợ phòng thủ Kon Tum.
      Về phía QLVNCH – Đại tá Lý Tòng Bá, Sư trưởng Sư 23 được chỉ định làm Tư lệnh trưởng mặt trận Kon Tum. Đáng lẽ chỉ huy toàn mặt trận Kon Tum do Tướng Ngô Du đảm nhiệm, nhưng bất ngờ Tướng Ngô Du ngã bệnh nặng – Tại Sài Gòn, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Đại tướng Cao Văn Viên cử Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn thay thế.
      Về phía Hoa Kỳ - Chỉ huy chiến dịch Kon Tum do hai cố vẫn: Paul Vann và Đại tá Rhotenberry (Rhotenberry đã từng làm cố vấn cho Đại tá Lý Tòng Bá trên mặt trận Bình Dương). Paul Vann đã nói với Rhotenberry: “Ông và tôi phải hết sức yểm trợ cho Đại tá Bá, vì tôi đã hứa với Đại tướng Abrams là không để mất Kon Tum. Nếu mất Kon Tum thì Kissinger, trưởng phái đoàn Hoa Kỳ tại hòa đàm Paris sẽ gặp nhiều khó khăn”.
      Do Quốc lộ 14 bị QGP khống chế, VNCH phải mở thêm quốc lộ phụ gọi là Quốc lộ 14bis quanh đèo Chư Pao, để điều thêm nhiều chiến xa vào Kon Tum. Mỹ bổ xung thêm cho QLVNCH một loại hỏa tiễn mới, gọi là súng M-72 Law để tiêu diệt xe tăng T-54 của QGP. Tướng Nguyễn Văn Toàn còn tăng cường cho Đại tá Lý Tòng Bá – Tư lệnh Sư đoàn trưởng Sư 23 thêm 1  trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn biệt động quân, trên 20 chiếc chiến xa thiết giáp, nhiều đạn dược, nguyên liệu và thuốc men từ Sài Gòn đem lên.
      Nói về các cuộc chiến lẻ tẻ mà QGP đánh vào các tuyến phòng thủ ngoài, trước khi chính thức đánh Thị xã Kon Tum:
-  Từ ngày 26/4 đến 10.5.1972, đánh và chiếm căn cứ Võ Định – tiền đồn phía bắc Kon Tum.
-  Ở căn cứ Biển Hồ: Trung đoàn 28 độc lập Mặt trận B3 đánh thiệt hại nặng Liên đoàn biệt động QLVNCH, hình thành thế vây ép Thị xã Kon Tum ở hướng đông bắc.
-  Một trung đoàn 95 độc lập khác chốt chặn Quốc lộ 14 ở Chư Thoi, đánh tan 4 đại đội bộ binh QLVNCH.
-  Trung đoàn 52, F320 đánh chiếm cứ điểm Kleng, diệt Tiểu đoàn 62 QLVNCH.
      Trung đoàn pháo 54 của QGP vẫn liên tục bắn phá thị xã bằng pháo 130ly, 122ly và hỏa tiễn H12 – tuy nhiên QGP không chặn được các trung đoàn 44, 45 và 53 Sư đoàn 23 QLVNCH do Đại tá Lý Tòng Bá làm sư trưởng vẫn hành quân vào Thị Xã Kon Tum, để xây dựng tuyến phòng thủ.
      Trung đoàn 66 của Mặt trận B3 do chủ quan khinh địch, hợp đồng lỏng lẻo, báo cáo sai tình hình, cán bộ không sâu sát… bị thiệt hại nặng phải rút về củng cố.
      Ngày 13.5.1972, mạng lưới điện đài do thám của Mỹ gọi là SIGINT bắt được một bức mật lệnh của Bộ tư lệnh B3, đã ra lệnh như sau:
      “Mũi tấn công hướng Bắc Sư đoàn 2 – stop – Tăng cường mỗi sư đoàn 10 T-54 – stop – Ngày giờ tấn công 05 giờ ngày 14/5/72 stop”.
      Thực tế là đúng qua đêm ngày 13.5.1972, kém 5 phút đến 05 giờ sáng ngày 14.5.1972 – QGP chính thức mở màn tấn công vào Thị xã Kon Tum.
      Do bắt được mật lệnh của Bộ tư lệnh Mặt trận B3, Tướng Nguyễn Văn Toàn một mặt khẩn cấp bố trí lại lực lượng phòng thủ Kon Tum rất chặt chẽ để đón đánh QGP, đồng thời lệnh cho các đơn vị QLVNCH không được ra khỏi hầm khi đối phương mở màn nổ súng, để B52 Mỹ rải thảm vào đội hình QGP trước.
       Còn các cố vấn Mỹ, sau khi bắt được mật lệnh B3 về kế hoạch trận đánh – Tại hầm Chỉ huy sở Sư 23 của Đại tá Lý Tòng Bá, Paul Vann thảo luận kế hoạch chặn đánh với bộ chỉ huy QLVNCH, đồng thời điện đàm với Đại tướng Abrams khi ấy ở Sài Gòn, rằng: cho ông sử dụng tối đa lực lượng B52? được Tướng Abrams chấp thuận.
      Vào lúc 5 giờ sáng, sau những đợt pháo kích dồn dập dọn đường của QGP xuống Thị Xã Kon Tum, 5 trung đoàn bộ binh ồ ạt tấn công vào thành phố.
      Từ hướng tây bắc, 3 trung đoàn 48,52 và 64 của F320 tấn công Trung đoàn 44, 45 Sư 23 QLVNCH.
      Từ hướng bắc, Trung đoàn 1 của Sư 2 và E28 – trung đoàn độc lập B3 tấn công Trung đoàn 53 Sư 23 QLVNCH.
      Trung đoàn 141 Sư 2 của QGP từ phía nam tiến lên bắc thị xã đánh vào các tuyến địa phương quân và tiểu khu Kon Tum.
      Sau khi QGP mở màn tấn công Thị xã Kon Tum – cũng đúng lúc 5 giờ sáng ngày 14.5.1972, lập tức trực thăng của Tướng John Hill, tiếp theo là trực thăng của Paul Vann và sau đó là trực thăng của Tướng Nguyễn Văn Toàn bay vào thị sát Kon Tum trong sương mù.
      Paul Vann lệnh cho phi hành đoàn đến rải thảm B52. Diện tích rải thảm 75km2 thả vào đội hình chủ lực của QGP 25 box B52 (mỗi box là 3 chiếc B52 chứa trên 100 quả bom đủ loại). Tức là Mỹ đã cho 75 lần chiếc B52 với hơn 3.000 quả bom, đồng loạt đánh đòn phủ đầu vào đội hình Sư 320 (gồm 3 E 48-52-64) và Sư 2 (E 1-141) cùng các trung đoàn độc lập khác của Mặt trận B3 trong cuộc chiến.
      Tiếng bom nổ long trời, lở núi. Khói đạn và đất đá bay mù mịt. Tiếp theo là từng đoàn phản lực AD6, A37 ném bom đánh vào xe tăng, những trận địa pháo cao xạ và các mục tiêu. Sau đó còn cho loại trực thăng vũ trang tân tiến nhất, loại Cobra bắn tập hậu, như săn thú… vào trong đội hình các binh đoàn chủ lực QGP.
      Các cuộc tấn công đợt 1 của Mặt trận B3 nhanh chóng bị địch bẻ gẫy. Các chiến xa dẫn đầu nhiều chiếc bị bắn cháy. Xe tăng T-54 và các ổ pháo cao xạ phòng không vì bị áp lực quá lớn của bom, bộ đội phải lui về phía sau… lại bị trực thăng bọc hậu quấy phá.
      Tai tuyến đầu, 9 chiến xa T-54 của QGP nằm ngoài khu vực ném bom B52 tiếp tục tiến công, nhưng bị phản lực và chiến xa địch bắn cháy 6 chiếc, 3 chiếc khác đành lùi lại không thể tiến lên được.
      Sư 320 và Sư 2 cùng các trung đoàn liên minh của QGP phải rút lui, tạm ngừng kế hoạch tiến công. Tướng Hoàng Minh Thảo, Tư lệnh chỉ huy Mặt trận B3 lệnh cho các đơn vị không được dùng điện đài nữa (vì bị lộ địch dò được), chuyển sang dùng điện thoại hữu tuyến và liên lạc viên chạy bộ.
      Một giờ sau Tướng Nguyễn Văn Toàn và Paul Vann lại bay vào vùng B52 vừa ném bom để thị sát. Họ thấy bộ đội chết rất nhiều quanh các hố bom, không thể đếm hết. Một số bị thương đang lảo đảo… Paul Vann cho trực thăng hạ độ cao, dùng M16 bắn giết tiếp. Suốt ngày 14/5 đó, không lực VNCH và không lực Huê Kỳ tiếp tục oanh tạc, thanh toán các đám QGP.
      Đợt tấn công lần 1 không thành – Ban tham mưu Mặt trận B3 phải điều chỉnh lại kế hoạch đánh Kon Tum, và vội lệnh cho các đơn vị chủ lực rút quân… để chuẩn bị tiến đánh đợt 2.
      Theo con số ước tính của Hoa Kỳ - Đợt 1: QGP hy sinh 1.000 người, 20 chiến xa T-54 bị bắn cháy.
      TẤN CÔNG ĐỢT 2:
      Đêm 20 rạng ngày 21.5.1972, QGP mở cuộc tấn công đợt hai vào Thị Xã Kon Tum.
-  Hai Trung đoàn 1-141 của Sư 2 B3 cùng với đại đội đặc công 209 vượt sông Dakbla đánh vào sân bay, khu cơ giới và Dinh tỉnh trưởng Kon Tum. Tỉnh trưởng Kon Tum là Đại tá Nguyễn Bá Long phải chạy sang trú ở Ban chỉ huy Sư 23, chỗ của Đại tá Lý Tòng Bá.
-  Hai Trung đoàn 48-64 của Sư 320, có một đại đội xe tăng T-54 yểm trợ đánh chọc thủng tuyến giữa Trung đoàn 45-53 Sư 23 QLVNCH. Đại tá Lý Tòng Bá điều động chi đoàn thiết giáp M-41 ra chặn đánh quyết liệt, với sự yểm trợ của không lực Hoa Kỳ gồm các loại phản lực F4h, F101 và B52 rải thảm.
      Hai đại đội đặc công B3 đã lợi dụng nhiều sương mù, lội qua sông và chiếm phi trường, kho đạn và tòa giám mục.
      QGP coi như đã chiếm được gần nửa thị xã. Tại khu nghĩa địa thành phố do một đại đội đặc công B3 chiếm giữ và cố thủ, chỉ cách hầm chỉ huy của Lý Tòng Bá khoảng 300 mét. Sư 23 QLVNCH cho 1 đại đội trinh sát tinh nhuệ, có nhiều chiến xa hộ tống ra đánh nhưng không được, 2 chiến xa bị cháy, phải rút chạy.
      Ngày 21.5.1972, Tướng Nguyễn Văn Toàn đi máy bay đến thị sát Kon Tum lệnh cho Đại tá Lý Tòng Bá phải thanh toán các lực lượng đặc công.
      Ngày 23.5.1972, QLVNCH điều 2 liên đoàn biệt động (2 và 6), 1 tiểu đoàn biệt động biên phòng, 1 chi đoàn thiết giáp có pháo binh và không quân yểm trợ… mở cuộc hành binh “Bắc Bình Vương 72” đánh ra phía nam Kon Tum, nhưng bị đánh chặn, không thông ra được Quốc lộ 14. Quân VNCH bị chết và thương vong 1.000 binh sĩ, trong đó có phó tư lệnh Sư 23 Tạ Đình Liên và chi đoàn trưởng chi đoàn thiết giáp Diêm Phú Hưng. QLVNCH bị đánh hỏng 62 xe thiết giáp ( 2 xe M-48, 11 xe M-113 còn lại là M-41), 4 pháo 105mm, rơi 2 máy bay AD6 – 2 A37 – 1 F4h và 3 trực thăng vũ trang.
      Ngày 25/5, QGP mở nỗ lực cuối cùng tấn công để chiếm thị xã - Lúc nửa đêm pháo kích quyết liệt khu phi trường sân bay quân sự; 2 tiểu đoàn đặc công cùng Sư 2 xâm nhập mặt đông nam; Sư 320 phối hợp pháo binh, xe tăng từ phía bắc và đông bắc đánh sâu vào trong. QGP tàn phá Kon Tum, dùng cả pháo 105 - 155mm lấy được từ Tân Cảnh – Đắc Tô với xe tăng yểm trợ tiến đánh dữ dội thành phố: chiếm 1 trường học, 1 viện công giáo và Tòa giám mục Kon Tum. Quân chủ lực Việt Cộng pháo kích mạnh làm pháo địch tê liệt, không bắn trả được.
      Ngày 26/5, E64 F320 QGP tăng lực thêm pháo và xe tăng mở cuộc tấn công Trung đoàn 53 của Sư 23 QLVNCH.
      Ở mũi phía nam – Sư 968 B3 tuy mới tham gia lần đầu chưa bị tổn thất, còn mạnh, nhưng lại gặp ngãng trở là con sông Dakbla, bị quân địa phương của VNCH ngăn chặn không tiến nhanh được.
      Địch hoảng hốt yêu cầu không lực Hoa Kỳ, pháo binh và chiến xa chi viện.
      Trong ngày 25.5.1972, không lực Mỹ đã dùng tối đa 30 box B52 với trên 3.000 quả bom đánh vào đội hình các sư đoàn của B3 – Sư 320 tuy đã vào được trong thị xã nhưng tổn thất nặng, tiếp đến lại bị các máy bay cường kích như F4h, F101 và các loại A37, Dragonfly, VH-1, Ỉrquois ném bom, bắn chặn… thương vong rất nhiều.
      Sư 23 QLVNCH phản kích chiếm lại được sân bay, khu cơ giới. 1 đại đội quân báo của Sư 23 tấn công Đại đội 209 đặc công QGP ở khu nghĩa địa, nhưng thất bại. Thiệt mất 5 xe tăng. Chỉ huy sở của Sư 23 phải rời về nam thị xã.
      Paul Vann sử dụng cả không quân cất cánh từ phía Thái Lan đến trợ chiến, sau đó dùng B52 rải thảm vào các đội hình chiến xa, Sư 2 và Sư 968 QGP ở phía nam. Hai bên quần thảo ác liệt.  Qua một tuần lễ mà bộ đội vẫn không chiếm được thị xã. QGP tuy đã đánh thắng một số khu vực nhưng không phát triển được, vì bị tổn thất quá nhiều. Sư 320 và Sư 2 đã mở tiếp tấn công nhiều đợt, song đều bị đẩy lui.
      Tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy chiến dịch điều động thêm lực lượng từ Pleiku lên, khai thông Quốc lộ 14 và hỗ trợ Kon Tum. Tinh thần binh sĩ QLVNCH nhờ thế được trấn an, phản công lại QGP quyết liệt. Chúng dùng nhiều máy bay phản lực ném bom oanh tạc, B52 rải thảm, cả những trực thăng khổng lồ như loại Chinook tiếp tế và tải thương tại sân bay thị xã.
      Ngày 30.5.1972, hầu hết những vị trí QGP đã chiếm, địch lấy lại được.
      Trưa 31/5, chủ lực QGP buộc phải rút lui. Xét thấy không còn khả năng đánh chiếm thị xã nữa: do quân số bị thương vong lớn, gạo thiếu, đạn dược không đủ - Bộ tư lệnh B3 tung nốt Trung đoàn 66, là lực lượng dự bị cuối cùng để yểm hộ cho các trung đoàn đã vào trong thị xã rút ra ngoài.
      Sau khi mặt trận Kon Tum kết thúc, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bay lên thị xã để vinh danh tinh thần chiến đấu của QLVNCH, và thăng cấp Đại tá Lý Tòng Bá lên chuẩn tướng.
      Theo lời của Tướng Lý Tòng Bá nói:
      “Quân giải phóng để lại 3.000 xác chết, mấy chục chiến xa bị bắn hạ và cộng quân đã thất bại thảm hại.”. Cũng theo lời Tướng Bá: “Cộng sản Bắc Việt bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để chiếm Kon Tum, khi họ đã chiếm được Đắc Tô – Tân Cảnh. Họ không đánh Kon Tum ngay mà để hai tuần sau mới tấn công, khi mà Sư đoàn 23 QLVNCH đã bố trí xong phòng thủ trong và ngoài thị xã.”.
      Thực tế thì, tuy QGP đại thắng ở mặt trận Đắc Tô – Tân Cảnh, nhưng bị tổn thất cũng rất nặng nề. Sư 320 và cả Sư 2 phải dừng lại để củng cố và bổ xung quân lực. Các chiến xa T-54 bị tiêu hao không ít tại phi trường Đắc Tô hoặc bị không quân Mỹ bắn hỏng. Vì thế, phải hai mươi ngày sau mới tiến đánh Kon Tum được. Mặc dù dự kiến theo kế hoạch tác chiến, là chỉ 5 ngày sau khi thắng ở Đắc Tô – Tân Cảnh - Bởi vậy, QLVNCH đã có đủ thời gian phòng thủ xong Kon Tum.
      Ngày 9.6.1972, cố vấn Hoa Kỳ John Paul Vann, sau khi đến thị sát và cổ vũ Sư 23 QLVNCH đã giành thắng lợi – Trên đường trở về Pleiku, chiếc máy bay VH-1 của ông trúng đạn phòng không QGP và bị rơi. Cố vấn Paul Vann chết trên trận địa Tỉnh Gia Lai.
      Chiến dịch Bắc Tây Nguyên kết thúc: QGP giữ được cụm cứ điểm Đắc Tô – Tân Cảnh, QLVNCH giữ được Thị Xã Kon Tum.
      Theo ước lượng của tình báo Mỹ: Tại trận chiến Tây Nguyên tính trong cả ba tháng 3-4-5.1972, cộng sản Bắc Việt đã thiệt hại khoảng 1 sư đoàn rưỡi và 30 chiến xa T-54.
 
                                                   *
 
      Ra khỏi Thị xã Kon Tum, đoàn xe pháo cao xạ C4 của Đại trưởng Nguyễn Hoàng chạy trở về Đắc Tô – Tân Cảnh. Trên đường đi qua một con dốc mà người dân đặt cho nó cái tên nghe khá rùng rợn: “dốc Đầu Lâu”. Đường lên Dốc Đầu Lâu cao khoảng trên 600 mét. Bên kia con đường là một ngôi miếu hoang, gọi là “miếu Cô Hồn”. Không biết nó được lập từ thời kỳ nào trong chiến tranh? Miếu thờ vong linh những người lính VNCH và cả lính mặt trận giải phóng đã chết trận. Dốc Đầu Lâu là một con dốc mà hai bên đều cố chiếm được, để kiểm soát Thị xã Kon Tum.
      Ngồi trên xe pháo, Nguyễn Hoàng lòng nặng trĩu. Anh em trong đại đội của anh, họ cũng lặng lẽ trở về sau thất bại trận đánh vào thị xã. Tuy đại đội anh đã góp phần diệt được một số máy bay phản lực và trực thăng không lực Hoa Kỳ, nhưng C4 cũng bị địch đánh hỏng một khẩu 37ly, chiến sĩ bị thương và hy sinh khá nhiều… chủ yếu do B52 rải thảm trúng đội hình. Nói chung về Tiểu đoàn hỏa lực D16 – số bộ đội thương vong, tổn thất so với các trung đoàn bộ binh như Sư 320, Sư 2 và các tiểu đoàn đặc công thì còn ít hơn rất nhiều.
      Khi đoàn xe pháo đi qua đỉnh Dốc Đầu Lâu, trung úy Nguyễn Hoàng thấy rùng mình. Những chiếc xe pháo chạy trên con đường sau cuộc chiến khốc liệt, đầy những hố bom đạn và đất đá lổng chổng, xóc nẩy tung lên. Khác hoàn toàn với tâm trạng của trận đánh Đắc Tô – Tân Cảnh: dù cũng ác liệt và hy sinh, nhưng trận chiến ấy QGP thắng lớn, nên tâm hồn người chiến sĩ náo nức, phấn khởi. Còn trở về đợt này, họ tránh sao được nỗi u uất trong lòng? Ngôi “miếu Cô Hồn” kia sẽ mãi mãi giữ vong linh những binh sĩ cả hai bên, thậm chí cả vong linh lính Mỹ, quân đồng minh… đã bỏ mạng trên trận chiến Kon Tum.
      Hoàng nghĩ về anh em đã cùng anh chiến đấu, giờ không còn nữa. Họ đều là những thanh niên tuổi còn rất trẻ, thậm chí có người mới lớn lên chưa từng biết đến chữ “yêu”! Chưa biết đến hương vị của đàn bà… đã phải vĩnh viễn nằm lại chốn trận tiền. Với bao sự hy sinh như thế, mà cuối cùng cuộc chiến vẫn thất bại? Thật là xót xa. Cũng chẳng phải do ta đánh kém, thực tế là ác liệt quá! Địch tập trung sử dụng binh hỏa lực, nhất là pháo đài bay B52 rải thảm quá nhiều, ta không trụ nổi. Nhìn trên khóe mắt đồng đội đang trở về cùng anh, Hoàng biết anh em cũng rất buồn bực và đau khổ.
      Ôi, những cánh hoa dã quỳ vẫn nở vàng rực trong những cánh rừng đầy bom lửa Tây Nguyên kia, chúng vô tư quá! Hoàng vào chiến đấu trên chiến trường, thế cũng đã qua năm mùa hoa dã quỳ nở rồi. Những địa danh Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, Tân Cảnh – Đắc Tô, Pleiku, Buôn Ma Thuột… Những cứ điểm Ngọc Rinh Rua, Ngọc Tu Ba, Ngọc Bờ Biêng, Kleng, Chư Tan Kra… Những dòng sông Pô Kô, Sa Thầy, Sê Sụ hay Xê Rê Pốc… mà anh đã hành quân qua. Những con đường Quốc lộ 14, 18, 19, 21… in đậm dấu chân lính chiến của anh. Mỗi địa danh ấy lại ghi một chiến tích hay sự tàn khốc đẫm máu của những chiến dịch và trận đánh.
      Có những trận thắng ròn rã như Ngọc Bờ Biêng, Đắc Tô – Tân Cảnh – nhưng cũng có những trận ác liệt, cảm tử mà cuối cùng vẫn đành phải rút bỏ vì thất bại như trận Kon Tum… đều hằn sâu trong kí ức những người lính. Đành rằng: “được thua là lẽ thường tình trong chiến trận” – nhưng máu đổ thì vẫn là máu… không ai muốn đổi lấy sự thất bại và đau thương?
      Nói về sự gian khổ và ác liệt thì chẳng đâu bằng chiến trường Tây Nguyên, điều ấy thì Hoàng và đồng đội ai cũng thấm thía. Có những lần, Hoàng đã phải chứng kiến: Hồi đó, anh còn làm trung đội trưởng, đơn vị pháo của anh bị trúng tọa độ B52. Gần 20 chiến sĩ bom đánh tung mất xác, chỉ một người duy nhất chết còn lại thân thể nhưng đã bị hơi bom lột đi tất cả quần áo, trần truồng nằm phơi ở giữa rừng… Anh và những đồng đội sống sót phải chia nhau đi tìm từng dúm tóc sót lại vướng vào một cành gai, từng ngón tay, ngón chân, mẩu xương, nắm thịt vương vãi khắp nơi. Gần 20 con người cũng chỉ chia ra được 5 cái túi nhỏ với 1 người toàn thây, đào chôn làm 6 cái huyệt… rồi đánh dấu để sau này tìm lại.
      Như người ta nói: những ai đã chiến đấu ngoài mặt trận mới hiểu hết được sự can trường, sức chịu đựng cũng như những hy sinh của người lính chiến. Càng gian khổ, ác liệt và mất mát… họ lại càng thương yêu nhau. Nghĩa tình đồng đội những người lính ấy, còn hơn cả anh em ruột thịt.
      Đoàn xe pháo của Đại đội 4 vẫn chạy rầm rì, lóc xóc trên con đường Quốc lộ 14 nham nhở vì cuộc chiến. Hoàng lại nghĩ về Hà Nội, đến những người thân của anh nơi quê hương! Hoàng nhớ tới Thu - Trong lá thư mà anh nhận được hồi đầu chiến dịch, Thu đã kể cho anh nghe về tình hình thủ đô: không quân Mỹ ngày càng đánh phá ác liệt vào thành phố. Đa phần dân chúng Hà Nội đều phải đi sơ tán về nông thôn hoặc các vùng núi xa – chỉ những người cần làm việc tại Hà Nội và thanh niên tự vệ là ở lại.
      Anh nhớ đến những khoảnh khắc sống êm đềm bên người bạn gái. Cả trong năm học cuối cấp theo trường đi sơ tán, hai đứa cùng về một làng quê. Ôi, người bạn tình của anh! Anh thầm gọi tên em giữa đêm khuya… Cũng có thể, ngày mai thân xác anh vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất Tây Nguyên máu lửa này, anh không còn có thể trở về gặp lại người con gái thủa ấu thơ ấy nữa? Anh khao khát từng kỉ niệm nhỏ êm đềm… nhưng cũng bình thản để tiếp nhận sự khốc liệt, kể cả cái chết trên chiến trận đến bất cứ lúc nào - Cuộc chiến tranh đã tôi luyện cho Hoàng như thế! Có lẽ nỗi đau thuộc về những người thân của người chiến si trên quê hương, về gia đình họ… chứ không phải bản thân những người lính như các anh.
      Anh còn hơn bao anh em lính trẻ khác, chết đi mà vẫn chưa biết “yêu” là gì? Anh đã từng yêu và yêu say đắm. Cũng đã từng được nếm trải cái hạnh phúc tột cùng của tình yêu, tấm thân của người con gái đã hiến cho anh.
      Anh lại nghĩ đến Mỵ, người con gái đã yêu anh bằng cả trái tim và tấm thân trinh bạch, không hề hối tiếc! Em từng nói với anh như thế. Mới chỉ cách đây ít ngày thôi, ngay trên mảnh đất máu lửa này: cô gái bản hồn nhiên, xinh xắn ấy đã vào tận chiến trường để tìm anh. Nàng đã đến, sau một trận chiến kinh hoàng trên vùng trời Đắc Tô – Tân Cảnh. Cứ như là chuyện cổ tích vậy? Ôi, hạnh phúc mới trớ trêu và kỳ lạ làm sao!
      Giờ này Mỵ ra sao và thế nào nhỉ? Cô đã theo một cánh quân của mặt trận B3 đánh vào Chư Pao, cũng trên con đường 14. Chiến sự ở Chư Pao, có lẽ bây giờ vẫn đang nổ ra. Mỵ và cả Sa, người bạn gái của cô liệu có làm sao không? Anh bỗng thấy xót thương cho những người con gái đó! Những người lính nam nhi như anh và anh em đồng đội, dấn thân vào nơi lửa đạn ác liệt rồi hy sinh, thì đã đành. Đằng này, các em chỉ là phận nữ nhi, yếu đuối…
      Anh lại thấy chính mình có tội? nếu không vì yêu anh, chắc gì em phải dấn thân đến mãi chốn chiến trường đầy bom đạn này. Có ai bắt buộc em phải đi đâu? và thế là Hoàng tự thấy… anh không thể phụ bạc với người con gái ấy! Rồi anh lại thấy, anh mang tội với cả hai người con gái đã yêu anh – Anh không thể phản lại ai !?
      Ôi tình yêu! Trong Hoàng rối tung với bao sự suy diễn... Thế là trên con đường từ cuộc chiến về, cùng với tiếng lọc xọc của những bánh xe pháo, cứ nhảy lên trong đầu anh. “Thôi, chiến tranh mà…” – Hoàng cố xua đuổi những ý nghĩ cứ lẩn quẩn bám theo mình. Chiến tranh! Tất cả sẽ chìm vào trong chiến tranh…
      Hoàng ngả người bên cạnh anh lính trẻ. Cậu ta đang ngủ ngon lành trên ghế xe. Bầu trời đêm Tây Nguyên tạnh ráo, vẫn nghe thấy tiếng pháo và súng nổ từ xa. Có lẽ từ phía cứ điểm Chư Pao vọng đến… Chiến sự đang diễn ra tại đó. Nơi ấy có Mỵ, người con gái bản của anh đang ở trong trận đánh.
      Đoàn xe pháo cao xạ 37ly của Đại đội 4 vẫn đang nhằm hướng Đắc Tô – Tân cảnh chạy về.  Cũng chẳng còn bao xa nữa, mấy đốm lửa cháy ở phía sân bay Phượng Hoàng đã hiện ra trước mắt.  Cùng với tiểu đoàn hỏa lực D16, họ sẽ dừng quân ở đấy để củng cố đơn vị, rồi lại tiếp tục vào những cuộc chiến tới. 
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:18:58
 
 
                                         CHƯƠNG IX.
 
     CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI CON GÁI BẢN
 
 
                                                      33-                                      
 
      Tại một trạm phẫu của QGP. Vào lúc mờ sáng, anh em trong đội tải thương của mặt trận B3 đã cáng một nữ chiến sĩ từ cứ điểm Chư Pao về đây. Họ đã phải thay phiên nhau đi liên tục suốt đêm. Cô bị thương nặng và mất rất nhiều máu. Tuy đã được nhân viên y tế tiền phương sơ cứu tại chỗ, nhưng vết thương đòi hỏi phải kịp thời đưa về phẫu tuyến sau, may ra mới cứu nổi. Người nữ chiến sĩ đó là Mỵ!
      Đây là khu khu cấp cứu của Sư đoàn 320, được đặt ngay trong Quận lỵ Đắc Tô mới giải phóng. Họ để cô nằm trên một chiếc giường lò xo, có trải một tấm đệm trắng. Cô vẫn mê man. Những biện pháp cấp cứu đã được thực hiện để lấy ra một mảnh pháo, găm vào trong ngực cô gái. Nhìn gương mặt của ông bác sĩ già, mọi người đều đoán biết, không còn hy vọng gì?
-  Cho tôi uống… nước… 
      Cô gái cựa mình và rên khe khẽ, mắt vẫn nhắm nghiền lại. Mấy người đứng quanh reo lên:
-  Cô ấy tỉnh rồi!
      Chị hộ lý là một người địa phương, thuộc du kích quân. Chị vội lấy chiếc khăn mặt bông dấp nước, thấm lên môi cô gái… quay sang nói với một nữ chiến sĩ trẻ khác, đứng cạnh:
-  Cô ta khát nước đấy! Mất nhiều máu lắm, cho uống nước bây giờ thì không gỡ được.
      Cô gái đưa lưỡi nhấm nhấm chiếc khăn ướt trong tay chị hộ lý một cách ngon lành. Không đã cơn khát, cô vẫn đòi uống. Người nữ chiến sĩ trẻ có khuôn mặt tròn, cúi xuống gần sát người con gái bị thương gọi:
-  Mỵ ơi… tỉnh lại đi Mỵ ơi! Sa đến thăm Mỵ đây. Mỵ có nhận ra Sa không?
      Người con gái có tên là Mỵ hé mở đôi mắt lờ đờ nhìn bạn, khẽ gật đầu rồi lại từ từ khép lại. Sa nhìn Mỵ, lòng trào lên một nỗi cảm thương vô hạn. Cô lấy tay vuốt lại mấy sợi tóc xõa xuống trên má bạn, nói giọng trìu mến:
-  Bác sĩ chưa đồng ý cho Mỵ uống nước đâu! Đỡ vết thương, Mỵ sẽ uống thật nhiều.
      Những tiếng thở khò khè muốn bật ra khỏi cuống họng của Mỵ, nhưng chưa thoát được. Như một sinh linh bất lực trước cơn hấp hối, đang dần dần vít thân thể cô xuống. Sa vẫn thảng thốt gọi:
-  Mỵ ơi!... Mỵ ơi!... hãy mở mắt nhìn Sa đi?
      Đôi mắt quầng xám của người con gái lại từ từ mở ra nhìn bạn, cắn chặt răng để không phát thành tiếng rên. Cái nhìn của Mỵ thì vẫn hiền dịu và thoáng cười với Sa. Cô cố đưa bàn tay yếu ớt nắm lấy tay bạn, giọng nói nhỏ và hơi nặng nhọc:
-  Mình… không… qua… được đâu…
-  Rồi Mỵ sẽ khỏi! Mỵ sẽ trở về đơn vị với sa và anh chị em.
      Sa âu yếm nhìn bạn, nói vậy. Mỵ chỉ hơi lắc đầu, trông vẻ yếu lắm! Bỗng như có một sự sống vùng dậy trong con người cô, như một người tỉnh táo bình tĩnh, cô nói:
-  Mỵ… muốn… gặp… anh ấy…
      Cô nhìn bạn, cái nhìn có vẻ năn nỉ? Người bác sĩ ra ngoài mới bước vào, chứng kiến cuộc đối thoại giữa hai cô gái: Hai người lính nữ! Ông không nói gì, chỉ khẽ gật đầu ra hiệu cho Sa. Sa biết ông muốn nói với mình: “Cô hãy đi đi! Hãy giúp cô ấy được thỏa tâm nguyện một lần cuối.”.
      Sa nhìn bạn giây phút, giọng cô hơi nấc lên như muốn khóc:
-  Sa đi nhé! Sa sẽ đưa anh ấy về cho Mỵ. Đợi một chút, Sa về ngay.
      Nói rồi, cô quay người lao nhanh ra cửa.
 
                                                         *
 
      Chư Pao là một ngọn núi có đỉnh cao 1.059 mét, nằm trên đường Quốc Lộ 14, đoạn Pleiku – Kon Tum. Cách Pleiku về phía bắc khoảng 17km. Chư Pao địa thế hiểm trở rất có lợi cho việc thế thủ. Nó còn là một đài quan sát, để bảo vệ cả Pleiku lẫn Kon Tum. Bởi vậy, nó được mệnh danh là ngọn đèo chiến lược ở cao nguyên. Trong suốt cuộc chiến tranh, cả hai bên: phía QGP cũng như QLVNCH đều muốn chiếm giữ. Do tầm quan trọng về chiến lược của vùng đèo này nên trong cuộc chiến Bắc Tây Nguyên xuân hè 1972, Chư Pao cũng là một trong những trọng điểm, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 kiên quyết đánh chiếm.
      Vào cuối tháng 4/1972, sau khi thắng lớn cụm cứ điểm Đắc Tô – Tân Cảnh – Bộ tư lệnh B3 đã tung trung đoàn bộ binh 95 trực thuộc mặt trận, có xe tăng thiết giáp yểm trợ tấn công cường tập vào QLVNCH đang cố thủ Chư Pao.
      Bộ phận quân y của Mỵ và Sa được Bộ tư lệnh cử xuống cùng Trung đoàn 95, tham gia trận đánh. Với đà chiến thắng, Trung đoàn 95 đã đẩy lui lực lượng biệt động quân của VNCH ở Chư Pao phải chạy về Thị xã Kon Tum, và đã chiếm con đèo này.
      Nhưng đến cuối tháng 5/1972, khi QGP thất thủ phải rút ra khỏi Thị xã Kon Tum – thì QLVNCH liền tung Quân đoàn 2 mở những cuộc tấn công quyết liệt, với sự yểm trợ của pháo binh và không lực Hoa Kỳ, nhất là dùng pháo đài bay B52 rải thảm để giành giật lại cứ điểm Chư Pao. Dù khi đó QGP đã củng cố được cả một cụm chốt liên hoàn quanh khu đèo chiến lược khá chắc chắn… đồng thời Bộ tư lệnh B3 còn tung tiếp Trung đoàn 66 – sau khi hộ tống các trung đoàn ra khỏi Thị xã Kon Tum, tới hỗ trợ cho Trung đoàn 95 cố thủ đèo Chư Pao. Vì địch dồn quân đến quá mạnh, trút hàng vạn tấn bom xuống khu đèo. Cuộc chiến nổ ra hết sức quyết liệt…
      Lực lượng QGP thiệt hại rất nặng nề, kể cả các chiến xa phòng thủ đèo… hàng chục chiếc bị đánh hỏng – Cuối cùng Bộ tư lệnh mặt trận buộc phải lệnh cho các đơn vị rút khỏi đèo Chư Pao, cũng về hướng Đắc Tô – Tân Cảnh. Mỵ, người nữ chiến sĩ quân y đã bị thương ở đây!
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:21:27
 
 
                                                           34-
 
      Thấp thoáng những nóc nhà ven đường của đám dân gan lỳ ở lại sau cuộc chiến, hoặc những người đã chạy tản vào rừng quay trở về căn nhà cũ của mình. Các ngọn đèn hoa kỳ đã được thắp lên… Cả những con chiên chạy náu ra rừng, cũng đang lần lần trở lại ngôi nhà thờ đạo bị bom đánh sạt một góc. Vị cha đạo thì đã tản vào Thị xã Kon Tum, không biết sống chết ra sao? Bức tượng Đức Mẹ trước nhà thờ lỗ chỗ vết đạn. Người gác chuông nhà thờ, theo lệ kéo những hồi chuông xám hối.
      Các con chó chạy rông đang lật lên một cái xác chết. Không biết đấy là xác của người lính VNCH đã chạy trốn lên núi, mò về chết ở đây… hay xác dân lang thang vì tan nát cửa nhà, chết rụi trên đường? Chúng đang tranh nhau ăn ngấu nghiến những phần thịt còn mới, mà bộ phận đi thu gom xác của chính quyền chưa kịp đến dọn đi. Những con chó đen, chó vàng, chó đốm… mõm đỏ ngòm vì máu. Ở gần đấy, cũng có vài con chó khác vừa cắn ngập phải một cái xác đã thối rữa, nhung nhúc giòi bọ… vội vàng rút mõm ra, vẩy vẩy các con bọ còn bám quanh mõm, sủa ăng ẳng. Chúng xô nhau chạy đến, lao vào tranh giành với mấy con chó đang ăn cái xác còn tươi kia.
      Bên một chiếc giếng nhỏ, trong sân căn nhà bỏ hoang đã bị sập – Một tốp chiến sĩ QGP đi lẻ qua đây, lúi húi làm thịt một con lợn choai choai, vô chủ chạy lang thang mà họ vừa bắt được.
      Từ trong số ngôi nhà bị bắn phá đổ nát, các người dân ở ngoài rừng mới trở về im lặng, lấm lét nhìn những kẻ qua lại.
      Đấy là hình ảnh Thị trấn Tân Cảnh – Đắc Tô của những ngày hè 1972. Qua sân bay Phượng Hoàng đã bị cầy xới lên tan nát, còn ngổn ngang xác những chiến xa QLVNCH và cả xác xe tăng T-54 của QGP. Đại trưởng Nguyễn Hoàng đang vội vã đi theo cô Sa, nhìn cảnh tượng trên đường không khỏi gai người.
      Bước vào trạm phẫu Sư 320 đặt trong dẫy nhà tôn của dân bản địa bỏ hoang. Ở đấy, ngọn đèn măng- sông đã được thắp lên sáng trắng. Anh vội đến bên giường Mỵ - Cô vẫn trong cơn mê sảng, miệng nói ú ớ… rồi quẫy đạp, vật mình hết bên này sang bên kia. Người y tá và chị hộ lý vội giữ cô lại. Ông bác sĩ đứng im lặng. Sa len vào, đặt tay lên vai Mỵ… lay gọi:
-  Mỵ ơi! Tỉnh lại đi, Mỵ ơi! Anh Hoàng đến với Mỵ đây này!
      Chị hộ lý vẻ ái ngại, nói:
-  Cô ta yếu lắm!
    Đôi mắt của Mỵ đã hé mở, nhưng như thể nó không còn khả năng thu nhận ánh sáng nữa. Hoàng cúi xuống, vuốt lại mấy sợi tóc vương trên trán cô.
-  Cho… tôi… hớp… nước…
     Giọng Mỵ thều thào. Được người bác sĩ đồng ý, chị hộ lý rót một chén nước lọc nhỏ. Hoàng đỡ chén nước rồi lấy tay nâng đầu Mỵ dậy, cho cô uống. Cô nhấp từng ngụm nước ngon lành. Trong mơ hồ… Mỵ cảm thấy tiếng của người con trai đang nói với cô, nghe quen quen.
      “Ừ, anh ấy đến thật đấy! Anh đang gọi cô…” – Thoáng ý nghĩ ở trong đầu Mỵ. Tiếng cô nói nho nhỏ, như thể đó chỉ là sự lặp lại theo bản năng.
-  Anh… Hoàng… phải không?   
      Bàn tay Mỵ quờ quờ tìm kiếm. Hoàng nắm lấy tay cô, giọng nghẹn ngào:
-  Anh đây Mỵ ơi!
      Sa tiến đến gần hơn, lấy tay đỡ người bạn.
-  Anh Hoàng đến thăm Mỵ đấy, Mỵ à!
      Màn sương trắng bao quanh mắt Mỵ tan dần đi. Cô đã nhìn thấy anh: “Ừ, đúng là anh ấy thật rồi!”.
      Giây phút ấy… giây phút mà ý thức về một đời sống, một niềm khao khát vùng dậy. Hơn lúc nào hết, cô hiểu về thực tại của mình: Cái thực tại sẽ vĩnh viễn mang đi cuộc sống của cô! Mang đi tuổi trẻ và tình yêu của cô! Ôi, niềm hạnh phúc vô giá! Tưởng chừng với tay lên là cô đã có được? cô sẽ nắm được nó? Nhưng rồi tất cả lại buột khỏi tay cô.
      Hơn lúc nào hết, giờ phút này Mỵ hiểu rằng: cuộc sống sắp dứt bỏ cô mà đi. Cô sẽ phải mãi mãi xa anh! Chỉ cần cô với tay lên, một tý nữa thôi… nhưng muộn rồi. Bàn tay cô, nó không phục tùng cô nữa. Phải, muộn rồi… Sao tôi lại không thể sống? năm năm… hay một năm thôi cũng được. Tôi còn trẻ mà! Như thế em cũng không đòi hỏi nhiều lắm, phải không anh?
      “Ừ, chỉ một năm thôi mà…” – cô gái lướt nhìn lên mái nhà tôn, ánh sáng ngọn đén hắt lên mái tôn sáng lóa. Cô thấy như cô đã hoàn toàn khỏe mạnh – và ngay phút này, cô có thể cùng anh bay nhảy như đôi chim non trên cành. Mà phải như đôi chim đã lớn, cô không còn bé bỏng nữa.
-  Hạnh… phúc… cuộc... sống… đẹp quá… anh…
      Tiếng nói ấy muốn buột ra khỏi miệng cô, nhưng cô không nói lên được. Chưa bao giờ cô cảm thấy mình nhiều hạnh phúc như thế! Mỵ định nhỏm dậy, song cơn đau đã quật cô nằm vật xuống. Hoàng vội đỡ Mỵ… Đột nhiên anh nhận thấy trong ánh mắt của người con gái, một cái nhìn nhọn hoắt… từ từ dịu lại.
-  Em… sẽ… chết…
      Mỵ nói yếu ớt: “Em biết… là… em sẽ chết…”.
-  Không! Bác sĩ sẽ chữa khỏi vết thương cho em. Em sẽ không chết đâu, Mỵ à! Em sẽ sống với anh và với anh chị em đồng đội.
      Hoàng nói rồi áp môi hôn lên những vết máu khô trên đôi bàn tay cô. Đôi bàn tay đã lạnh giá. Mỵ khẽ lắc đầu, nhưng ánh mắt cô nhìn anh thì thật âu yếm, chứa chan. Một nụ cười nho nhỏ hé trên môi cô.
-  Ôm… lấy em… đi anh…
      Mỵ khẽ kéo tay anh ôm chặt lấy mình. Cô nhìn anh mơ màng… vừa như đang tràn ngập sự thỏa mãn trong lòng, lại tựa kẻ mộng du. Nó từ từ khép lại và một dòng lệ ứa trào ra trong khóe mắt cô.
      Thân hình người con gái nặng trĩu trên tay anh. Người bác sĩ cầm lấy tay cô, giọng ông nghe đùng đục:
-  Cô ấy chết rồi!
      “cô ấy chết rồi! Cô ấy không bao giờ tỉnh lại được nữa…” – Hoàng bế xốc người con gái, lao ra ngoài. Đây đó những đống lửa đã được đốt lên trên cứ điểm cũ của QLVNCH, cháy rừng rực. Mấy tốp chiến sĩ vây quanh đống lửa giữa trời, hát vang những bài ca sai nhịp điệu. Họ cũng đã quên sự thất bại trong trận chiến ở Thị xã Kon Tum vừa qua. Quên cả cái chết và có khi, quên cả là mình đang sống. Sống và chết với người lính trong chiến tranh, nhất là trên chiến trường Tây Nguyên này tưởng như không còn gianh giới? Có thể một khắc trước họ vẫn sống, một khắc sau… chỉ còn là một nắm thịt vụn, tý mẩu tóc vương lại trên cây, một ngón tay hay cẳng chân rơi đâu đó trong rừng, hoặc chả tìm thấy cái gì nữa? Đồng đội cũng xót thương nhau lắm, nhưng rồi mau chóng phải cho qua thôi – Bởi vì, chính người đang sống càng không biết mình còn sống được đến lúc nào?
      “cô ấy không bao giờ tỉnh lại được nữa…” – Gió vút qua tai anh. Mái tóc cô bay ngược lại phía sau. Hoàng vẫn bế người con gái lao băng băng trên đường Quốc lộ 14, lổng chổng đất đá vì bom pháo đã cầy nát. Anh vượt qua sân bay Phượng Hoàng, chạy về phía đơn vị đang đóng quân.
      Anh không còn nghe thấy cả tiếng của Sa, chạy theo gọi ở phía sau. Anh chạy mãi, tưởng như trước mặt mình vô tận… chỉ có khoảng không trống trải, và thân mình cô gái đang đè trĩu trên tay.
      “cô ấy chết rôi! Cô ấy không bao giờ tỉnh lại được nữa…” – Trong lòng Hoàng tựa có trăm ngàn mũi kim đâm đau nhói: “Phải, chính tôi! Chính tôi đã giết em! Nếu không vì tôi,  em cần gì đến cái vùng đất chiến trường đầy máu này?”. Hoàng tự rủa vậy, nhưng bây giờ dù anh không tha thứ cho mình đi chăng nữa, thì em cũng chết rồi! Tất cả đã muộn rồi. Anh sẽ phải làm sao đây, để có thể đền lại được cho em?
      Như hoa lá, bầu trời - Tâm hồn em thật cao thượng! Ý nghĩ của em cũng thơm mát như những cánh hoa tươi. Tất cả ở trong em, người con gái bình dị mà cao cả biết bao nhiêu. Em là cái đẹp thiên nhiên nhất của thiên nhiên! “con người” nhất của con người! Nơi tập trung sự đẹp đẽ của lòng nhân ái, của khao khát và hy vọng! Vốn bản thân nó đã tụ lại bên trong một cơ thể: Ở đó, sự tồn tại vĩnh cửu là tấm chân dung người con gái như em – Thế mà, em đã phải trả giá bằng cái chết này ư?
      Chẳng lẽ đây là chính kiến vĩ đại nhất về chủ nghĩa nhân đạo của cuộc chiến tranh này? Nước mắt tưởng đã khô kiệt trong mắt Hoàng, nay lại dàn dụa chảy đẫm ướt cả cánh áo của người nữ quân nhân đã thấm đầy máu khô, bết lại. Phút chốc, anh ghê tởm nguyền rủa cả cuộc chiến tranh! Em đã vượt lên điểm đỉnh của phẩm giá, của của nghĩa nhân văn – mà mọi thần tượng lớn lao phải quì dưới chân, mọi vĩ đại nhất của con người phải cảm phục. Một người nữ chiến sĩ bình dị, trong cuộc chiến tranh tàn khốc này. Người liệt sĩ vô danh. Em đã bước tới lâu đài tráng lệ nhất, nơi mà nghìn năm thế hệ sau, nơi đại dương ngôn ngữ của loài người… vẫn không đủ những hình tượng đẹp nhất để diễn đạt nó. Em đã bước tới đó thanh thản và bình dị. Nó cũng giản đơn như ngày nào, em hái một bông hoa mận trắng cài lên bím tóc của ngày xuân.
      “em đã chết rồi! Em không bao giờ tỉnh lại được nữa…” - Mưa gió rồi sẽ phủ trên nấm mồ em, và cả cỏ dại sẽ mọc lên. Nhưng em sẽ tồn tại vĩnh viễn trong Tòa thánh của tình yêu!... mà đức vĩ đại của nó sẽ ngự trên mọi chủ nghĩa, trên mọi đẳng cấp. Mọi chủ nghĩa có thể chết đi hoặc đổi lốt thay da, nhưng ánh sáng lương tri tỏa ngời trong tình yêu của em là vĩnh cửu.
      Anh chạy mãi. Không biết là ngày bao nhiêu ta, nhưng mảnh trăng khuyết thì đã chiếu một làn sáng mỏng trên vòm trời, đây đó vẫn còn phủ những đám mây mỏng.   
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:24:44
 
 
                          CHƯƠNG X.
  
                    HÀ NỘI CUỘC SƠ TÁN
                VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU
 
 
                                         35-                                           
 
      Ngày 16.4.1972, chính quyền Hà Nội ra lệnh cho nhân dân phải “cấp tán”! Tức là sơ tán thật nhanh ra khỏi thành phố, vì Mỹ sẽ ném bom rải thảm B52.
      Thực ra, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đã bắt đầu liên tục từ năm 1965. Từ thời gian đó những người dân sống ở thành thị, đặc biệt là ở Hà Nội – Hải Phòng đã phải đi sơ tán đến các vùng nông thôn. Những ai sơ tán theo cơ quan: thoạt tiên được cơ quan chở đi bằng ô tô, tiếp đó là hoàn toàn tự túc. Ban đầu mọi người vẫn phải quay lại Hà Nội đong gạo, sau có thể đong ở những kho gạo địa phương. Các địa phương lúc ấy rất nghèo, ngoài gạo ra người ta vẫn phải về thành phố tiếp tế thực phẩm và những đồ trang bị khác.
      Hàng tuần từng đoàn xe đạp tay xách nách mang, kìn kìn hai chiều từ nông thôn về thành phố và ngược lại. Chiều đi về địa phương bao giờ cũng nặng nhọc, xe đạp biến thành xe thồ: bao gạo, chăn màn, quần áo, sách vở, bếp dầu, can dầu, can mỡ, chai nước mắm, bọc bánh kẹo, nồi niêu xoong chảo… đủ mọi thứ lỉnh kỉnh khác.
      Cảnh tượng – có khi là vài ba ông bố vụng về đánh tuột tất cả các thứ ra đường, nom như một mẹt hàng xén bị vương vãi. Phụ nữ cũng phải thồ như vậy, “bon bon xe ta chạy trên mọi nẻo đường”…
      Có câu chuyện kể về một gia đình: bốn thế hệ đi sơ tán khỏi Hà Nội trên một chiếc xe bò kéo. Người ta gọi với cái tên “nhịp võng xe bò ngày sơ tán” – Đó là hình ảnh một người mẹ trẻ đang cho đứa con mới sơ sinh bú. Một ông cụ già, có lẽ là ông nội cháu bé đội chiếc mũ bông đang đánh xe. Trong xe còn lố nhố mấy đứa trẻ con với đủ thứ nào gạo, thực phẩm, xoong nồi, quần áo… Chiếc xe cứ lọc xọc lăn bánh từ hướng Ngã Tư Sở về mạn Hà Đông.
      Rồi chuyện về những người chèo thuyền ở bãi Phúc Tân, dưới chân cầu Long Biên – Hồi ấy Phúc Tân còn là bãi, qui tụ nhiều thuyền ghe của dân làm nghề đánh cá trên Sông Hồng. Trong thời kỳ máy bay Mỹ mở rộng đánh phá dữ dội vào Hà Nội, hầu hết cư dân xóm nghề này phải chèo ghe sơ tán lên mạn ngược của sông – nhưng vẫn còn một đội ghe chừng ba mươi chiếc tình nguyện ở lại, đưa người sơ tán từ trung tâm thủ đô băng qua Sông Hồng ra các vùng ngoại thành Gia Lâm, Đông Anh… rồi lên mạn bắc.
      Họ kể: mỗi chuyến vượt Sông Hồng mất độ 20 phút, thuyền chỉ chứa được 6-7 người, nên phải chở liên tục cả ngày lẫn đêm. Cầu Long Biên thì  đã bị máy bay Mỹ ném bom đánh sập. Nhiều lần thuyền ra giữa dòng, nhìn bom rơi đằng xa, bụi đất vãi đầy mặt nước – Họ vẫn mặc kệ cứ chèo, vì thấy còn quá nhiều người đang đợi qua sông. Chậm giờ nào là nguy giờ đó. Đói mệt, thì dùng chân đạp chèo để rảnh tay gặm bánh mỳ. Lúc đó, họ thấy mình rất khỏe và hết sức gan lỳ.
      Trên những con đường quốc lộ từ Hà Nội về các tỉnh, đủ thứ hình ảnh đèo bòng, bồng bế nhau đi sơ tán: Một anh chồng đạp chiếc xe đạp Thống Nhất đặt đứa con trai đầu độ 11 tuổi lên yên phía trước, thằng con kế lên yên sau, rồi tới bà vợ ngồi sau cùng kẹp đứa bé ở giữa. Cứ thế theo con đường Quốc lộ 6, họ mải miết đạp về phía Lương Sơn – Hòa Bình. Dọc đường lúc nào mệt thì dừng lại, trải tấm vải nhựa cho cả nhà nằm nghỉ, lấy cơm nắm ra ăn rồi lại đi tiếp.
      Kia là hình ảnh một cụ già đang bị ốm được con cái đưa đi sơ tán, gặp ở Mỗ Lao về phía Hà Tây. Cụ đang run rẩy trong tấm chăn. Vì Hầ Nội đã có lệnh “cấp tán”, nên dân tình không thể ở lại thành phố được. 
      Đây nữa là hình ảnh rất ngộ - Một đứa trẻ mắt tròn xoe, ngồi trên chiếc gióng ngang phía trước xe đạp của bố, tay ôm khư khư con búp bê nhựa đã cũ. Đó là món đồ chơi mà bé rất thích, nó nhất định đòi mang theo bằng được. Bởi vậy, mặc dù lồng cồng đủ thứ trên xe… nhưng bố, mẹ vẫn phải chiều con. 
      Những người đi sơ tán ai cũng ôm đồm như thế cả. Vào mùa đông lạnh  giá, họ không mang theo được gì nhiều ngoài những vật dụng cần thiết như chăn màn, quần áo.
      Phần lớn những người Hà Nội đi sơ tán trước đó, đã yên ổn. Giờ lớp người đi sau do tình hình căng thẳng, ác liệt quá! Không ai dám gan lỳ ở lại nữa, phải vội vã đi. Các trường phổ thông, trường đại học sơ tán sớm nhất -   Sau đến các cơ sở sản xuất như nhà máy, xí nghiệp, rồi cơ quan, công sở…
      Thời kỳ Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, Hà Nội có hai bệnh viện lớn: Bệnh viện Việt Đức chịu trách nhiệm cấp cứu bệnh nhân các tỉnh phía bắc. Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận bệnh nhân các tỉnh phía nam. Từ năm 1965, thực hiện yêu cầu sơ tán – bệnh viện Bạch Mai đã chia đôi các khoa, phòng. Một bộ phận đi, còn một bộ phận phải ở lại để cứu chữa cho những người tại Hà Nội – Nơi đang phải hứng chịu hàng loạt trận mưa bom Mỹ giội xuống.
      Lúc đầu bệnh viện sơ tán đến Phú Thọ, sau chuyển về Ứng Hòa, Chương Mỹ thuộc Hà Tây. Cũng không kịp xây dựng các cơ sở dù chỉ là tạm bợ, phải đặt rải rác ở nhà dân, đình chùa và các công trình công cộng. Để hoàn thành công việc trong thời chiến, toàn bộ nhân lực của bệnh viện như y, bác sĩ, hộ lý, y tá, lao công đều phải làm việc tối đa. Nghĩa là họ phải làm gấp đôi những ngày thường trước kia.
      Từ tháng 6 năm 1966, nhà máy Cơ khí Hà Nội đã di chuyển an toàn gần 1.500 tấn phương tiện, thiết bị đến 16 địa điểm. Cả trại trẻ của nhà máy cũng được sơ tán lên Hà Bắc.
      Nhà máy dệt 8-3 với hơn 7.000 công nhân đã phân tán ra nhiều địa điểm, nhưng vẫn duy trì sản xuất liên tục.
      Các đơn vị sản xuất trọng điểm khác như: Nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy gỗ Cầu Đuống, nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, xí nghiệp Dược phẩm 1, Dược phẩm 2, nhà máy In Tiến Bộ…Hàng chục nghìn công nhân viên chức cùng nhiều gia đình, đều được sơ tán ra khỏi nội thành.
      Để duy trì sản xuất, Hà Nội phải hướng công nghiệp sang thời chiến. 17 xí nghiệp địa phương, gần 200 hợp tác xã thủ công và 128 tổ sản xuất được đưa ra khỏi thành phố. Mạng lưới thương nghiệp cũng mở rộng ra ngoại thành và các tỉnh lân cận, với gần 500 điểm bán hàng mới.
      Đề phòng gián điệp tìm hiểu những mục tiêu để đánh phá, ngay cả những đứa trẻ Hà Nội cũng được gia đình và tổ dân phố trang bị cho kiến thức phòng giặc. “ba không” là một trong những điều mà trẻ em ở Hà Nội hay đi sơ tán phải thuộc lòng: không nói, không chỉ, không trả lời – khi có người lạ tìm đến nhà hoặc hỏi dò đường.
      Nhân dân ở các vùng đến sơ tán là những nông dân nhân hậu, chất phác, giầu tình thương người. Những gia đình Hà Nội về quê sơ tán, được người dân chào đón và dành cho những điều kiện tốt nhất trong sinh hoạt: nào là gian nhà to, “từ đường” cho người sơ tán ở - còn gia đình mình thì ở nhà ngang, nhà bếp. Ngay trong cuộc sống của những người Hà Nội về, bà con cũng tương trợ nhiều: có miếng ăn ngon mang chia phần cho người sơ tán, rau ngoài vườn thì cho ăn chung, đi tát đồng được ít cua cá… cũng đem chia cho gia đình đến sơ tán về nhà mình ở. Có thể nói, bà con đã thương yêu những người sơ tán về quê không khác gì ruột thịt. Tình người khi ấy thật cao cả. Đó là bản sắc của con người Việt Nam: tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách.
       Chiến tranh, mọi thứ đều thiếu thốn và khó khăn – nhất là đối với những cán bộ viên chức làm công ăn lương, hay là những gia đình đông người. Khi đi sơ tán họ phải ăn mì, ăn bo bo là chuyện bình thường. Ở nhà quê tuy làm nông nghiệp vất vả một nắng hai sương, nhưng lại thường xuyên được ăn gạo mới, cơm thơm. Họ thương những người ở Hà Nội quen cuộc sống đầy đủ, nay gặp cảnh loạn lạc – Có nhà, gia chủ nhiều bữa thường nấu dư một chút, xới ra bát cơm thật đầy đưa sang cho người sơ tán ăn thêm.
      Bà con hay nghĩ: người thành phố đang sống sung sướng, đầy đủ, nay phải về nông thôn thì khổ lắm! Mình ở nông thôn thiếu thốn, khổ cực quen rồi… cho nên gia đình thường nhường những gì tốt để dành cho đồng bào sơ tán về ở nhờ nhà mình. Có nơi, để chuẩn bị đón đồng bào từ thành phố về: Họ đã chặt cả tre, luồng, đào thêm những chiếc hầm chữ A ở sau nhà – cho bà con về sơ tán lấy chỗ ẩn nấp khi có tình huống báo động. Họ trồng thêm những luống rau ngoài bãi sông; những dây cà, dây bí được giắt vào hàng rào… để có thêm thức ăn cho người sơ tán ở.
      Các năm tháng đó không phải là không rơi vào cảnh đói khát, khốn khổ… nhưng con người sống thật đẹp!
      Thời sơ tán có tới 4.000 trại trẻ được lập ra ở ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận. Những trại trẻ này đã tiếp nhận, chăm sóc hàng chục ngàn đứa trẻ và nhi đồng là con em cán bộ, nhân viên các cơ quan, đơn vị, cả những cụm dân cư Hà Nội về sơ tán. Các em, các cháu đều được sống trong sự quan tâm, đùm bọc, yêu thương – để lại những dấu ấn tốt đẹp trong tâm hồn trẻ thơ. Bài học về tình thương người, sự sẻ chia và cả tinh thần tự lập là hành trang quí báu nhất cho những con trẻ qua cảnh sống sơ tán trong thời chiến đó!   
      Người đi sơ tán không thể dứt bỏ tất cả mà đi – Họ vẫn về thăm nhà, thăm Hà Nội. Trong tâm hồn người Thủ đô khi đó đã quen với cảnh chiến tranh, không còn sợ hãi nữa. Cuộc sống trong chiến tranh của người Hà Nội gắn liền với chiếc xe đạp: để đi làm, đèo thồ các thứ đến nơi sơ tán. Những căn hầm được đào ngay bên nhà, chúng che chở cho họ trong những trận bom đánh dữ dội. 
      Năm 1964, khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc – người lớn thường tụ tập nói chuyện về chiến tranh, về tầu bay Mỹ và cảnh bom rơi… nhưng trẻ con thành phố thì chưa hiểu gì mấy. Ở nơi có các trường đại học về sơ tán – sinh viên nhộn nhịp đào hầm, đào giao thông hào. Lúc đầu, những chiếc hầm và giao thông ấy toàn được bó bằng tre rồi tấp đất lên. Ít lâu thì bị ải, mục hết. Sau, người ta xây những chiếc hầm chữ chi, chạy dích dắc bằng gạch và đậy nắp bê tông hẳn hoi. Trên lại lấp đất, trồng phơ phất ít ngọn khoai lang, nước mưa luôn luôn xăm xắp trong hầm.
      Từ năm 1966, các trường phổ thông ở thành phố bắt đầu đi sơ tán. Đám trẻ con khu tập thể thì theo bố mẹ đến các vùng nông thôn hẻo lánh, tùy theo cơ quan mà bố mẹ mình làm việc. Cuộc sống thiếu thốn nhưng cũng yên ả - bởi bom Mỹ thả tận đâu đâu. Những đêm thấy đạn cao xạ bắn lên chi chit, nền trời đỏ rực, nhưng vì ở tít xa nên chúng cũng chẳng bận tâm lắm. Chúng học tại trường làng, thường là trong những ngôi đình khá rộng, thỉnh thoảng trường lại tổ chức đi lao động một vài buổi ở xã.
      Nhưng chính trong thời kỳ này, trẻ em thành phố mới hiểu về cuộc sống nông thôn là thế nào? Chúng đã biết ra đồng xem hun chuột, mót lúa, tát cá,  tự bện mũ rơm đeo sau lưng để chống bom bi, biết đun bếp bằng củi, bằng rơm rạ, biết gói bánh chưng, nhuộm quần áo bằng nước lá dâm bụt, biết trộn bùn với rơm trát thành vách và làm những bức tường nhà bằng đất…
      Nói chung, nhờ những năm tháng đó mà những đứa trẻ vốn chẳng biết gì ngoài đi học rồi chạy chơi trong khu tập thể, đã trở nên tháo vát, nhanh nhẹn, tự lập và làm được nhiều thứ.
      Cảnh đi sơ tán cũng chẳng khác gì những hình ảnh thường thấy trong phim Liên Xô về chiến tranh: Dân Nga rút khỏi thành phố khi quân phát xít Đức đến, để lại sau lưng những dãy phố vắng lặng, tối đen, lá bay đầy trời. Cảnh vừa bi hùng vừa thê thiết.
      Hà Nội cứ âm ỉ chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu và đẫm máu chắc chắn sẽ đến. Ngay từ giai đoạn đầu cuộc chiến tranh phá hoại: Khi tiếng còi báo động có máy bay Mỹ đến đánh phá được bấm nút từ Bộ tổng tham mưu quân đội – chiếc còi lớn tám loa đặt trên nóc nhà quốc hội rú lên, rồi mười  lăm chiếc còi khác trên toàn thành phố cùng đồng loạt báo động. Lẫn trong tiếng còi báo động là tiếng loa phát thanh khắp nơi: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý!...” – có khi chỉ vài phút sau tiếng còi là tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom rơi, tiếng đạn cao xạ bắn lên những vệt lửa sáng lóe bầu trời. 
      Khi tiếng còi báo yên – những đoàn người lại chui ra từ những chiếc hầm trong lòng đất, lại rộn rã với các công việc đang làm dang dở. Hà Nội đã quen với nhịp sống hối hả của cảnh chiến tranh như thế!
      Giờ đến thời kì cấp báo hơn, người ta lắp vào chao đèn đường những thiết bị hạn chế ánh sáng. Các khối phố đều phải tập những phương án phòng không. Ngoài những hệ thống loa thông báo của thành phố ở ngoài trời, nhiều gia đình còn đặt thêm những chiếc loa nhựa hình vuông màu trắng trong nhà – Nó cũng được gắn liền với hệ thống truyền thanh của thủ đô: người ta vừa nghe đài Hà Nội, vừa là phương tiện báo động máy bay tiện lợi nhất.
      Ở những tỉnh có đường tầu hỏa như lên Thái Nguyên, thì tầu đều phải chạy đêm mà không có ánh đèn, để tránh máy bay Mỹ phát hiện. Tầu đi – về vẫn đông nghịt người, ngồi chật như nêm… đến mức hết chỗ, người đứng có khi phải đứng có một chân suốt mấy tiếng đồng hồ, mỏi thì lại đổi. Tầu thời chiến chạy chậm rề rề, đôi khi được thông báo không an toàn… còn phải dừng lại mãi ở ga xép.
      Vào giai đoạn căng thẳng của cuộc chiến tranh phá hoại, nhất là tình hình được thông báo Mỹ sẽ ném bom rải thảm B52 vào thủ đô – Để cuộc sơ tán dân chúng ra khỏi thành phố nhanh chóng: Hà Nội đã huy động hàng trăm phương tiện từ tầu điện, xe ca, xe tải, cả xe khách của các tỉnh lân cận… về đậu sẵn ở các đầu phố, đón người đi sơ tán không thu cước phí. Khắp nơi vang lên tiếng loa vận động, kêu gọi người dân khẩn thiết, tạm rời Hà Nội để tránh thương vong.
      Lúc ấy ô tô còn ít nhưng được huy động các xe khách từ nhiều tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phú… Từng đoàn xe rầm rập rời thành phố, khẩn trương nhưng vẫn trật tự. Có một điều kì lạ, người Hà Nội ai cũng tin là đi rồi sẽ trở về! Bởi họ đều tin chắc rằng: Nhất định rồi Việt Nam sẽ thắng Mỹ - Khó có lúc nào con người lại tin vào nước non như lúc ấy!
      Hướng đi, địa bàn sơ tán dân cư chung của thành phố đã được chính quyền sắp xếp, liên hệ trước. Mọi người chỉ việc bước lên xe là đi, không cần mang theo nhiều tái sản. Mới lại, chủ yếu là cứu người – cứu được người là tốt rồi! Chẳng làm gì có điều kiện ôm đồm mang theo của. Những cán bộ hướng dẫn bảo là đi tạm thời, sẽ có tiếp tế, tiếp viện, có thương nghiệp đi theo phục vụ… nên mọi người cũng thấy an tâm.
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2020 13:26:10 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 13:27:52
 
 
                                                      36-
 
      Chiếc xe khách được huy động từ tỉnh Hòa Bình về Hà Nội chở người đi sơ tán, dừng lại gần cửa hiệu cắt tóc Tiến Thành ở phố Huế. Lúc này, trên xe đã đông người. Họ nán lại chờ vợ chồng con cái Tiến Thành lên xe, là chạy thẳng về nơi sơ tán mà thành phố chuẩn bị sẵn.
      Mặc phong phanh chiếc áo dệt kim đông xuân cổ khoét rộng trễ xuống, để lộ ra bộ ngực phốp pháp như ngực phụ nữ, Tiến Thành hộc tốc chạy lại phía xe. Một tay cầm va-ly, tay kia lễ mễ cái túi xách lớn – Hắn vứt qua cửa lên xuống của chiếc xe khách, quay lại thúc giục vợ còn đứng tần ngần ở cửa nhà.
      Mụ vợ, người đàn bà gầy đét như con cá mắm đang ẵm đứa con nhỏ chưa đầy tuổi. Cái Nguyệt cũng lạch bạch chạy theo bố về phía xe. Đứa bé bỗng khóc thét lên, tiếng nói to của mụ vợ với chồng làm cho nó sợ hãi:
-  Đã bảo đi từ mấy hôm trước thì không nghe! Rõ khổ, bao nhiêu đồ đạc của người ta phải vứt cả lại.  
      Tóc mụ xổ tung. Tiếng mụ chu chéo như xé vải:
-  Thật công cốc tích góp bao nhiêu năm trời. Chuyến này thì ra đường mà sống?
      Tiến Thành bực bội:
-  Không bế con mau lên xe đi à! Cứ đứng đấy mà gào? còn cả cái thân cô nữa đấy, lắm mồm bỏ mẹ.
      Tiếng còi ô tô giục inh ỏi. Tiến Thành nói như quát vợ: “Đã bảo bế con mau ra xe đi ?”.
      Mụ vợ vẫn ngẩn ra vì tiếc của.
-  Nhưng mà bao nhiêu thứ còn để lại thế kia?
-  Để lại! Ra xe mau lên, không có xe nó đi mẹ nó bây giờ.
      Tiến Thành chạy trở lại quàng cái dây xích để khóa cửa, quát vợ: “Có phải xe riêng của mình đâu mà cứ chần chừ mãi…”. Ở ngoài xe, đám người phải chờ lâu la lên:
-  Cái nhà anh chị kia, có đi không thì bảo? Bom nó đánh đến nơi rồi mà cứ đủng đỉnh mãi.
      Họ kháo nhau:
- Này, vợ chồng cái thằng cha ấy mang đến lắm thứ? Xe đã chật, không chừng chúng tháo cả giường mang đi nữa cũng nên.
      Rồi giục người lái xe:
-  Đi đi ông lái! Mặc chúng nó, cho chúng nó biết thân. Đồ tham lam…
      Cũng có người thương hại, bảo:
-  Thôi, đã chờ rồi thì nán thêm một tý nữa, cho người ta lên xe.
-  Nhưng vợ chồng hắn cứ lấn quấn mãi như gà mắc tóc ấy, làm bao nhiêu người phải chờ?
      Người lái xe cũng sốt ruột, thò hẳn đầu ra ngoài cửa xe giục:
-  Này, anh chị kia! Có đi thì phải nhanh chân lên chứ?
      Vợ Tiến Thành cuống quít:
-  Dạ, chúng em lên xe ngay đây ạ!
      Nói rồi, mụ bế con chạy vội tới chỗ xe đỗ. Mụ bảo với người đàn ông đang ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa lên xuống:
-  Bác làm ơn đỡ hộ em cái bọc.
      Người đàn ông cúi xuống đỡ cái túi vải lớn, loay hoay tìm chỗ để trong xe. Mấy người quanh đấy càu nhàu:
-  Đồ đoàn của nhà anh chị này chiếm gần nửa xe rồi đấy!
      Vợ Tiến Thành thì thọt thưa:
-  Chúng em cũng chỉ vơ vội được ít thứ cần thiết. Khổ, còn bao nhiêu là thứ… các bác ạ! Trông của nả mà xót cả ruột.
-  Ôi dào… thời buổi này, giữ được cái thân đã là phúc.
      Một bà già ngồi ở phía hàng ghế đầu, nói gióng lại:
-  Nhà chị đưa con đây tôi bế cho, vào xe tìm chỗ ngồi đi? Mặt trời sắp đứng bóng rồi đấy! Tầm này, không chừng máy bay Mỹ lại sắp đến đánh.
      Vợ Tiến Thành rối rít cám ơn rồi đưa đứa con nhỏ cho bà già, leo lên xe. Tiến Thành khóa cửa xong cũng chạy vội đến. Cái Nguyệt thì đã nhảy vào trong xe từ trước.
      Lúc ấy, thằng Lâm – cậu em trai út của Tiến Thành mới từ đường phố Thái Phiên hộc tốc chạy sang. Nó vừa chạy vừa gọi:
-  Anh Thành!
      Tiến Thành giục em:
-  Nhanh lên ông tướng, lên xe đi!
-  Anh chị định đi đâu?
-  Lên Hòa bình ít bữa, yên rồi về.
      Thằng Lâm lại bảo:
-  Anh không về đón thầy và dì à?
      Tiến Thành nói sẵng với em:
-  Đây là xe thành phố đưa người đi sơ tán, chứ có phải xe riêng của tao đâu mà đón? Mà nghe nói, thầy và dì đi từ hôm qua rồi! Mày đi đâu, không ngủ ở nhà hay sao mà không biết?
-  À, em đến nhà đứa bạn từ hôm trước.
     Đang ôm con ngồi gọn trong đống đồ đạc, vợ Tiến Thành nói với ra:
-  Chỉ có anh chú chần chừ giờ mới chịu đi, chứ cả Hà Nội người ta đi gần
hết rồi! Chú cũng chả quan tâm gì tới nhà cửa? Thời buổi chiến tranh mà cứ
lêu lổng mãi.
     Tiến Thành lại giục em lên xe, nhưng thằng Lâm không lên. Nó bảo:
-  Anh chị cứ đi đi! Em phải đi gặp mấy thằng bạn ngoài chợ giời. Em đã hẹn với chúng nó…
      Nói rồi, thằng Lâm chạy vụt đi. Xe nổ máy, bắt đầu chuyển bánh… còn nghe thấy tiếng vợ Tiến Thành nói với chồng:
-  Thầy và dì đáng lý phải đi từ sớm, cứ dùng dằng mãi. Giờ nó đánh đến đít, mới vội vội vàng vàng…
      Mụ chép miệng: “Khốn, ông bà già nhà mình còn hám của lắm cơ!”.
-  Thế nhà chị thì không hám của chắc?
      Một bà già ngồi trong xe quặc lại. Chiếc xe chạy bằng dầu ma-dút nhả ra  một vệt khói đen xì… lao vút đi trên đường phố.
 
                                                      *
 
     Lâm dừng lại trước cửa nhà thằng Hùng, người bạn thân của nó. Ngôi nhà đã khóa trái cửa. Lâm ngán ngẩm:
-  Thế là nó lại đi rồi!
      Lâm kéo cho kín cổ chiếc áo khoác màu xám đã bạc phếch, nhún vai bước trên phố. Gió bấc thổi qua dặng cây bên đường, bứt ra khỏi cành những chiếc lá vàng còn sót lại. Những chiếc lá quay tròn rồi rơi xuống đất.
      Trời đã bắt đầu tối. Thỉnh thoảng nó đưa tay vuốt gạt những giọt nước mưa ở mặt. Những bụi mưa phùn bay mỏng trên khắp thành phố. Rãnh nước hai bên hè chảy lắt rắt, chui vào những ống cống ngầm cuốn theo rác rưởi. Thế là mấy thằng bạn thân “hội chợ giời”, chúng đã đi cả! Trong cảnh phố xá đang giai đoạn báo động, nó bước một mình buồn thiu. Hình như chiến tranh chẳng liên quan gì đến nó? Nó chỉ chán là: không biết khi nào Hà Nội yên tĩnh để mấy đứa bạn trở về, chợ búa lại tấp nập. Tối đến, nó lại cùng bọn thằng Hùng, thằng Tâm… tới rạp Tháng Tám, rạp Công Nhân “phe” dăm ba chục chiếc vé, lấy tiền tiêu sài cho xả láng.
      Thằng Lâm cứ thủng thỉnh bước trên vỉa hè, cũng chẳng biết nên đi đâu?
-  Về nhà ư?
       Chán ngắt. Mới lại ông bà già đã đi rồi, về thui thủi một mình cũng buồn.
-  Đi sơ tán với anh chị?      
      Chẳng thích, nhất là bà chị dâu lúc nào cũng rỉa rói, gắt như mắm tôm. Nó nhớ mấy đêm trước: khi nghe tiếng còi báo động của thành phố, ông bà già thì vội chui ngay vào hầm – còn nó bò xuống gầm bàn, cuộn tròn trong cái mền chăn… làm một giấc đến sáng.
     Cũng đã hơn năm nay, chẳng thấy anh Hoàng của nó gửi thư về? Cứ thế, thằng Lâm lang thang trên phố, ngổn ngang hàng trăm ý nghĩ.
      Một chiếc xe cứu thương có gắn đèn xanh-đỏ quay tít trên nóc xe, rúc còi inh ỏi. Nó nhìn chiếc xe lao vút qua, nghĩ bụng: chắc là có nơi nào ở vùng ngoại ô bị bom đánh? Lúc nẫy, thành phố cũng rú còi báo động – Nó đã nhảy xuống một cái hầm tăng xê ở bên hè.
      Chốc chốc lại có chiếc xe vận tải, xe khách chở đầy ắp người đi sơ tán vun vút chạy về phía ngoại ô. Một nhóm thanh niên hay tự vệ tay đeo băng đỏ, mang xẻng cuốc, phóng xe đạp thục mạng – Chắc họ đi cứu người bị nạn ở đâu đó? Nó nghĩ vậy. Mấy chiếc xe xích chở những cỗ tên lửa to như ống khói nhà máy, chạy rầm rập trên đường.
      Những cảnh đó liên tiếp diễn ra trước mắt nó, cái ngược, cái xuôi đan nhau như mắc cửi. Thằng Lâm dừng lại ở ngã tư phố Trần Hưng Đạo, phân vân không biết đi đâu nữa? Những ngày trước, cứ tầm này là nó đã lên rạp Tháng Tám phe vé, người đến xem đứng chật cả đường. Bây giờ thì vắng tanh, vắng ngắt. Vé vào xem phim thừa mứa, ai người ta cần mua vé phe cho tốn tiền. Mới lại, tình hình thế này chắc các rạp chiếu bóng cũng phải đóng cửa rồi.
      Một chiếc xe mô tô cảnh sát, trên có hai anh công an mặc áo vàng, từ ngả bờ hồ Hoàn kiếm chạy thẳng đến… đỗ xịch ngay trước mặt nó. Một anh hỏi:
-  Này em, nhà ở đâu? Sao còn đứng đây?
-  À, nhà em cũng ở gần đây thôi ạ!
      Nó giơ tay chỉ về phía phố Khâm Thiên.
-  Gia đình đã đi sơ tán chưa? Nếu chưa… thì về đi, bảo gia đình là phải đi sơ tán ngay!
      Chiếc xe nổ máy phóng vụt đi. Thằng Lâm kéo lại chiếc cổ áo và quyết định về nhà. Bỗng nghe như có tiếng ai đang gọi? Nó giật mình quay nhìn về phía sau, thì thấy thằng Tâm chạy tới. Lâm hất hàm hỏi:
-  Tao cứ ngỡ mày đã theo gia đình đi sơ tán rồi? Thằng Tuế, thằng Hùng, cả thằng “Thanh còi”… chúng nó đi hết rồi!
     Thằng Tâm hỏi:
-  Sao mày chưa đi?
      Lâm nói giọng có vẻ buồn bã.
-  Tao cũng chẳng biết nữa.
-  Thế thì theo tao!     
-  Mày định đi đâu?
      Thằng Tâm lại bảo:
-  Đi đâu không quan trọng. Cứ biết ra khỏi thành phố ít bữa, yên rồi về. Gia đình tao đang chờ tao đấy! Đi với tao?
-  Thì đi!
      Nói rồi, nó rảo bước theo bạn đi về phía Chợ Hôm, nhà thằng Tâm ở đấy! Trong đời nó, chưa bao giờ nó thấy mình bơ vơ như thế…
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:17:35
 
 
 
                                                37- 
 
      Sáng hôm nay Bà Giáo vượt về Hà Nội. Bà bảo, suốt đêm qua vì lo cho Ông Giáo mà bà không sao chợp mắt được. Ở trên chỗ sơ tán, chốc chốc bà ra sân nhìn về phía Hà Nội. Mỗi khi nghe thấy tiếng bom nổ đâu đó, thấy những đám lửa bốc lên sáng láng một góc trời, mặt đất dưới chân lắc mạnh… lòng Bà Giáo bồn chồn. Bà tự trách mình thiếu cương quyết để cho Ông Giáo ở lại Hà Nội. Bà cũng rất lo cho Thu - cô con gái của bà, nhưng bà không thể lôi nó theo lên chỗ sơ tán được? Nó là phóng viên của tòa soạn báo Hà Nội Mới, phải ở lại thủ đô để làm việc. Đành vậy, nhưng đằng này Ông Giáo... Bà nghĩ, giờ nhất định phải thúc ông ấy đi cho bằng được.
      Lúc này, Ông Giáo vẫn đang loay hoay sắp xếp một số giấy tờ, đồ đạc cần thiết cho vào chiếc va-ly, nói với vợ:
-  Người ta mong đi, bà thì đã yên tĩnh ở nơi sơ tán rồi… còn quay trở về?
-  Nhưng tôi sốt ruột lắm! Ông cứ cố ở lại Hà Nội thế này, ai mà yên được?
      Bà Giáo chạy đến thu bộ quần áo treo trên mắc, gập gọn cho chồng. Trưa nay khi cơm nước xong, Ông Giáo cũng đành phải theo vợ tới vùng ngoại ô sơ tán ít bữa. Ông nhìn ra cửa sốt ruột:
-  Đến giờ mà con bé vẫn chưa về?
      Nghĩ ngợi thế nào, ông nói tiếp:
-  Tôi và bà đi cả, để con bé ở Hà Nội một mình à?
      Bà Giáo chặc lưỡi:
-  Vẫn biết, nhưng nó là phóng viên của tòa báo phải bám trụ ở thành phố? Hơn thế, nó còn ở trong cả đội tự vệ thủ đô nữa đấy!
      Nói vậy, song Bà Giáo cũng cảm thấy bối rối. Bà bảo:
-  Hay là, tôi ở lại với con? Ông về quê sơ tán ít bữa. Ông bà chủ nhà nơi mình đến ở, tử tế lắm! Họ nông dân mà… chân chất, thật thà.
      Ông Giáo cự vợ:
-  Bà tính quẩn. Tôi nghĩ thế này? Dứt khoát là không thể để con bé ở lại một mình được. Hay là… bà lên chỗ sơ tán của con dâu và cháu, nó đi theo cơ quan ở trên Vĩnh Phú?
-  Thế còn ông?
-  Tôi ở Hà Nội vừa trông nom con gái, cũng tiện cả việc giúp đỡ anh em trên Bộ giáo dục. Cơ quan còn ít người quá!
      Bà Giáo nguýt chồng:
-  Có con Thu nó phải trông nom ông ấy? Cái thân già như ông mà còn đòi trông nom con gái. Ông thì lúc nào cũng chỉ lo cho “Bộ…”, phải nghĩ đến mình một tý chứ! Bao nhiêu thanh niên… bom đạn thế này… Ông ở lại chỉ tổ làm vướng chân họ.
-  Bà chỉ nói…
-  Mà Bộ giáo dục đã quyết định cho ông đi sơ tán cơ mà?
-  Đã đành thế!
      Vừa lúc, Thu đẩy cửa dắt xe đạp vào nhà. Cô reo lên:
-  May quá! Con cứ sợ về không kịp gặp ba, mẹ.
-  Có đi thì cũng phải chờ con về, ba mẹ mới đi được chứ.
      Ông Giáo âu yếm nhìn con. Thu dựng chiếc xe đạp mác “thống nhất” mới khự vào cạnh tường – Đây là chiếc xe đạp Ông Giáo mua theo tiêu chuẩn phân phối của cơ quan, ông nhường để con đi. Thu ôm lấy vai mẹ thở hổn hển.
-  Con đi đâu mà phải vội vã thế?
      Bà Giáo vuốt cho con mấy sợi tóc xõa xuống trán. Thu rời mẹ ra lấy chai nước lọc rót một cốc lớn, uống ừng ực. Cô nói:
-  Con được cơ quan cho về để đưa ba, mẹ đi sơ tán.
       Bước đến chỗ chiếc va-ly của Ông Giáo đang phồng cộm lên, cô bảo:
-  Để con xếp lại. Căng thế này thì ba khóa làm sao được?
-  Thôi, con để lại các thứ vào chỗ cũ cho ba: quần áo cho vào trong tủ, sổ sách của ba thì đặt lên giá.
      Dừng lại một tý, Ông Giáo tiếp: “Ba không đi nữa!”. Thu ngước nhìn ba ngạc nhiên.
-  Sao thế ba? Sao ba lại không đi sơ tán nữa? Tình hình căng lắm! Trên thông báo, có thể Mỹ sẽ cho cả B52 rải thảm vào Hà Nội đấy!
      Ông Giáo không nhin con, đi mấy bước rồi rút bao thuốc lá Tam Đảo trong túi áo ngực, lấy một điếu, quẹt diêm châm lửa hút. Ông nói:
-  Thế, lớp trẻ các con định dành hết vinh dự cho mình à?
      Ông rít tiếp một hơi thuốc nữa, bảo: “Trong lúc này, ba cũng có nghĩa vụ phải góp sức già của ba chứ!”.
      Bà Giáo nói:
-  Thế thì mẹ cũng ở lại.
      Thu ngạc nhiên, hết nhìn ba đến nhìn mẹ:
-  Lại cả mẹ nữa?
      Cô giảng giải:
-  Chúng nó đánh phá dữ lắm… ba, mẹ ạ! Đợt này thằng Mỹ còn muốn… đánh cho thủ đô ta trở về thời kỳ đồ đồng, đồ đá cơ đấy!
      Bà Giáo phật ý, mắng át:
- Ba con cô tưởng cái thân bà già này ham sống một mình à? Tôi sống cũng còn vì ba cô, vì cô đấy!
-  Thì con có nói gì đâu?
      Thu cãi lại. Ông Giáo dàn hòa:
-  Bà lại nổi nóng rồi.
      Từ ngoài phố, Lan và Thúy – hai người bạn gái của Thu bước vào nhà. Thu chạy đến đón bạn, hoan hỉ:
-  Hôm qua tớ có đến nhà hỏi thăm về tình hình hai cậu? nhưng thấy nhà đều khóa cửa. Tớ đoán chắc gia đình đã đi sơ tán cả.
      Lan và Thúy gật đầu rồi đến chào Ông bà Giáo. Các cô ríu rít hỏi:
-  Tới giờ mà hai bác vẫn chưa đi sơ tán ạ?
      Thu nhanh nhẩu:
-  Ba, mẹ mình còn đang định ở lại bám trụ Hà Nội đấy?
-  Ấy chết, ở lại không được đâu hai bác ạ!
      Lan nói: “Thành phố đã ra thông cáo phải sơ tán ra khỏi thủ đô, càng nhiều càng tốt!”. Thúy chêm vào:
-  Nghe đâu: Hiệp định Pa Ri vừa rồi không đi đến kết quả? Ta không kí được văn bản thỏa hiệp với Mỹ.
      Bà Giáo đon đả:
-  Tình hình Hiệp định Pa Ri cụ thể thế nào, hả cháu?
-  Cháu nghe lãnh đạo cơ quan phổ biến, phiên họp mới nhất vừa đây giữa ông Lê Đức Thọ với cố vấn Hoa Kỳ Kissinger phải giải tán. Cả hai bên không thống nhất được quan điểm đình chiến.
      Ba Giáo thở dài:
-  Nghĩa là vẫn còn đánh nhau to.
      Lan đỡ lời:
-  Hai bác không thể ở lại Hà Nội được đâu? Sắp tới chúng còn ném cả bom B52 đấy ạ! Chẳng phải chỉ có cơ quan thông báo, báo và đài phát thanh cũng nói ra rả.
      Thu nói:
-  Bởi tình hình căng thẳng như thế nên cơ quan mới cho con về, nhất định phải đưa bằng được ba và mẹ đi sơ tán!
      Cô vừa xếp cẩn thận đồ đoàn vào chiếc va-ly cho Ông Giáo, vừa tỏ thái độ cương quyết:
-  Trưa nay , con sẽ cùng ba, mẹ đi tới chỗ sơ tán. Sớm mai con trở lại Hà Nội, đến cơ quan làm việc cũng được.
      Bà Giáo vẫn tỏ ra băn khoăn.
-  Nhưng vì sao Hiệp định Pa Ri đã họp mấy năm nay rồi mà ông Lê Đức Thọ vẫn không kí kết được đình chiến cơ chứ?
      Ông Giáo châm lửa hút tiếp một điếu thuốc nữa, mới thong thả nói:
-  Thực ra văn bản thỏa hiệp giữa Lê Đức Thọ và Kissinger cũng đã được thống nhất: Theo bản thỏa hiệp đó, Mỹ và các nước đồng minh phải rút hết quân ra khỏi miền Nam nước ta – còn quân đội nhân dân Việt Nam sẽ chính thức ở lại miền Nam. Ta cũng đã nhượng bộ để cho chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn được tồn tại song song với ta, trong một giải pháp hòa bình…
      Bà Giáo tiếp lời:
-  Ồi… cứ đình chiến không còn chiến tranh nữa, là tốt rồi! Trước mắt ai tồn tại cũng được, rồi sau sẽ hay. Thế thì, tại sao Hiệp định vẫn chưa được kí? Tình hình còn ngày càng căng thẳng hơn.
      Ông Giáo giải thích cho vợ:
-  Vì thằng Thiệu nó phản đối kịch liệt, bản dự thảo hiệp định đó vẫn mới chỉ là của giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Hoa Kỳ. Nó nói rằng: Kí kết một hiệp định như thế là hi sinh quyền lợi của Chính quyền Việt Nam cộng hòa.
      Bà Giáo lại hỏi:
-  Thế, thằng Tổng thống Thiệu nó muốn gì?
-  Nó yêu cầu các lực lượng quân sự của Việt Nam Dân chủ Công hòa ở miền Bắc – tức là Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng phải rút toàn bộ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nó tuyên bố rằng: Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam! Tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào.
      Bà Giáo phản đối:
- Như thế … thế nào được? Cả nước Việt Nam người ta chỉ là một.
      Ông Giáo rít tiếp một hơi thuốc lá dài nhả khói lên trời, rồi ra giọng giảng giải:
-  Thế cho nên phiên họp vừa đây ở Hội nghị Pa Ri mới bị vỡ. Tổng thống Nixon cho gọi Kissinger về Washington rồi!
      Lúc này Thu mới cự lại Ông Giáo:
-  Ba nắm tình hình rõ như thế, mà còn định ở lại Hà Nội không chịu đi sơ tán?
      Bà Giáo được dịp nói móc chồng:
-  Ba cô còn phấn đấu để trở thành anh hùng !?
      Rồi bà kiên quyết:
-  Đã như vậy, đợt này ông phải lên chỗ sơ tán của tôi tạm lánh ít ngày, xem tình hình ra sao rồi hãy hay!
      Ông Giáo chưng hửng:
-  Thế, bà quyết định là tôi và bà đến chỗ sơ tán của bà ở Ba La – Bông Đỏ, chứ không lên chỗ sơ tán của con dâu ở Vĩnh Phú à?
-  Con dâu nó đi theo cơ quan. Con nhỏ theo mẹ là chuyện bình thường, chứ tôi với ông cũng đến chỗ đó nữa, không tiện. Mới lại, chỗ tôi đang sơ tán bây giờ… gia đình tốt lắm! Ông lên đấy với tôi, người ta sẽ chào đón. Nhân tiện, hôm nay cái Thu nó cũng lên chơi – Lần nào tôi về, chị chủ nhà cũng tíu tít hỏi thăm ông và cái Thu đấy!
      Nói rồi, Bà Giáo quay về phía Lan và Thúy.
-  Hai cháu ở đây chơi với em, bác vào bếp làm cơm. Hai cháu ăn cơm với gia đình luôn thể.
-  Dạ, cám ơn bác! Bác đừng nấu cơm chúng cháu. Bọn cháu chỉ tạt qua thăm Thu và hai bác, phải về ngay ạ.
      Lan tiếp lời của Thúy:
-  Chúng cháu tranh thủ về Hà Nội lấy ít đồ đạc. Mai phải trở lại cơ quan trên chỗ sơ tán, bác ạ!
      Bà Giáo vội đi vào phía trong nhà bếp, đến cửa còn ngoái đầu nói với chồng:
-  Ông tranh thủ gói ghém đồ đoàn cho cẩn thận. Tôi chỉ vào nấu nướng một loáng. Ăn cơm xong, ta lên đường luôn.
      Bà mẹ đi khuất, Thu nói với ba:
-  Ba xem còn những thứ gì cần mang theo đến nơi sơ tán thì ba chuẩn bị nốt đi. Chúng con lên phòng của con nói chuyện một lát.
      Hai người bạn gái cùng Thu đi lên gác, căn phòng mà cô và mẹ ở đó. Họ ngồi xuống chiếc giường cá nhân của Thu trò chuyện. Thúy kể về tình hình cơ quan nơi sơ tán, rồi tình cảm của bà con địa phương đã đùm bọc anh chị em nhân viên, cán bộ thế nào? Các bạn gái của Thu, ai cũng khen bà con nông dân tính nhân hậu, thật thà.
      Lan, cô bạn xinh xắn vừa tốt nghiệp Đại học dược, được điều về công tác trong một bệnh viện tận Ba Vì. Cô cũng đưa cả bố mẹ già lên đó ở với mình. 
      Thu thì kể cho hai bạn nghe nghề phóng viên, phải thường xuyên đi tới các tỉnh lấy tư liệu viết bài. Cô nói về những buổi đến với anh em bộ đội trong đơn vị tên lửa, pháo cao xạ phòng không… đã ríu rít chuyện trò với các chiến sĩ vui như thế nào? Những buổi cô ra ngoại thành, nơi bom Mỹ mới ném bom, vừa nắm tình hình vừa tham gia cứu người bị nạn. Có bận cứu người bị bom ném sập nhà, đang ở bên trong thì một bức tường đã đổ… may không ai việc gì. Thu nói:
-  Mình cũng hú vía, một tý nữa bị bức tường đổ đè lên người… thì làm sao còn về đây gặp bọn mày được?
      Cô còn dặn hai bạn:
-  Chớ có nói chuyện đó với ba và mẹ tớ, chỉ làm cho các cụ phải lo lắng.
      Ba người bạn gái lâu lâu mới được gặp nhau, chuyện tưởng như không bao giờ dứt.
-  Ấy chết, mải chuyện trò? Tớ đi lấy đường pha cho mỗi cậu một cốc nhé!
      Thu vừa hòa đường pha nước vừa hỏi:
-  Thế, anh kỹ sư bảnh trai của cậu… vẫn còn theo đuổi chứ Lan?
-  Good-bye rồi!
      Lan trả lời: “Thấy tớ được điều về công tác ở tỉnh lẻ, anh ta quay lưng ngay!”.
-  Nhưng mà này…
      Lan nói tiếp: “Chúng tớ muốn biết về tình hình anh Hoàng của cậu cơ? Người chiến binh yêu quí! Cậu có hay nhận được thư của Hoàng không?”.
-  Tớ cũng mới nhận được thư của anh ấy mấy hôm trước.
      Thu bảo vậy. Lúc này, Thúy rời mắt ra khỏi cuốn truyện lấy trên giá sách, vồn vã hỏi:
-  Thế, Hoàng kể chuyện chiến trường miền Nam thế nào? Ác liệt lắm nhỉ!
-  Hoàng nói tình hình căng thẳng lắm!
      Thu bảo. Lan đỡ lời, cứ như cô là người rất thông thạo tình hình chiến cuộc.
-  Tất nhiên, chẳng cần phải kể.
      Thúy thở dài vẻ cảm thông với sự chờ đợi của Thu.
-  Hoàng đi cũng đã năm năm rồi còn gì? Tình hình ngoài chiến trường như thế, khó có điều kiện về phép lắm!
-  Hơn năm năm, già năm năm rưỡi.
      Lan lại chêm vào. Thúy an ủi bạn:
-  Gần sáu năm biền biệt và chờ đợi, phải thế không Thu?
      Thu gật đầu và nói:
-  Mình tính: Hoàng nhập ngũ ngày 27 tháng 3 năm 1967, đến tháng 2 năm Mậu Thân 1968 thì rời miền Bắc vào chiến trường Tây Nguyên – Tới giờ, kém bốn tháng là đầy sáu năm.
      Lan ôm lấy vai bạn.
-  Dù sao thì cậu vẫn còn có người để mà chờ, còn mình thì good-bye…  không biết sẽ chờ đợi ai?
      Thu đưa nước cho các bạn.
-  Kìa, uống nước đi chứ! Đường tan từ lâu rồi.
      Thúy đỡ cốc nước từ tay Thu, thấy Thu cứ tủm tỉm cười mới hỏi:
-  Cậu có gì vui mà tủm tỉm cười suốt thế? Chắc còn dấu bọn mình điều gì phải không?
-  Không phải là tớ dấu, mà là tớ chưa kịp kể.
      Thu nói. Lan đặt cốc nước xuống chiếc bàn gần đấy, nhìn Thu vẻ soi mói:
-  Thế thì kể đi. Chắc mày được đề bạt vượt cấp, lên làm trưởng phòng ở tòa soạn báo chứ gì?
-  Chuyện về anh Hoàng cơ?
      Cả hai người bạn gái của Thu đều ồ lên.
-  Chuyện gì vậy? Chuyện gì của anh Hoàng mà làm cho mày vui thế, kể cho chúng tao nghe đi!
-  Hoàng nói, đầu năm tới anh ấy sẽ được về phép.
-  Thế à?
-  Nếu Hoàng về phép lần này thì cưới thôi, Thu ơi!
     Lan và Thúy ôm chầm lấy bạn, cứ như đó là tin mừng của chính họ. Thu “suỵt” hai bạn:
-  Nói khẽ chứ! Tớ chưa kể cho ba, mẹ tớ biết đâu.
-  Thế thì phải báo ngay tin về ông con rể tương lai, để hai bác mừng.
-  Các cậu này, đã cưới đâu mà dâu với rể?
-  Thì gọi dần đi là vừa. Nói nghe có vẻ xa xôi - sang “đầu năm tới” chỉ còn một – hai tháng nữa, chứ bao nhiêu? Bây giờ đã là tháng 12 rồi.
-  Nhưng chiến tranh, bom đạn thế này? Chuyện cưới xin… có lẽ phải để yên yên một tí đã.
      Thu nói có vẻ ngập ngừng.
-  Biết bao giờ yên?
      Lan lại giục bạn: “Tớ thấy khối đôi: họ báo cho gia đình biết trước để chuẩn bị. Anh xin đơn vị nghỉ phép dăm ba ngày, tạt về là cưới liền.”.
      Thúy họa theo:
-  Có khi cưới xong, anh chị chỉ ở với nhau được một-hai hôm… anh đã phải trở về đơn vị. Thời chiến mà…
-  Nhưng đấy là anh ta có điều kiện đóng quân ở miền Bắc. Đằng này, anh Hoàng ở mãi tận chiến trường miền Nam.
      Thu băn khoăn.
-  Thì lại càng phải tranh thủ cưới ngay chứ sao!
      Lan vẫn giục. Thúy cũng vun vào:
-  Lan nó nói đúng đấy, Thu ạ! Chiến tranh thế này, ở tận mặt trận trong đó mà được đơn vị cho về phép là may mắn lắm! Cậu nên báo cho hai bác biết, để chuẩn bị trước. Hoàng về, bảo anh ta thúc gia đình nhà trai tổ chức cưới.
       Lan kéo dài giọng như răn đe:
-  Không tranh thủ thời cơ mà cưới á? Mình là con gái, có thì… chờ “yên” thì thành mõ già hả chị?
-  Thôi được rồi, thì cưới.
      Thu cười phấn chấn. Cô quay sang Thúy hỏi:
-  Cứ mải chuyện của tớ mà chưa hỏi cậu: Thúy chưa kể cho bọn này nghe về chuyện của đằng ấy đấy!
-  Chuyện tình yêu hay cuộc sống?
      Thúy hỏi lại.
-  Cả hai.
-  Chuyện tình yêu của mình thì dài dòng lắm, khi nào thư thả mình sẽ kể cho các cậu nghe!
-  Thế còn cuộc sống?
      Thu nhìn Thúy dò hỏi: “Tớ hỏi thật nhé, làm công tác ấy cậu có vui không?”.
-  Kể ra, lúc đầu tiên vào học cái ngành kỹ sư nông nghiệp, mình cũng thấy chán nản.
-  Thế bây giờ?
-  Vấn đề là ở chỗ: đi sâu vào nghề nghiệp và tìm thấy cái mới của nó.
-  Thì cậu vẫn có năng khiếu về môn “sinh vật học” mà…
      Cứ thế, ba người bạn gái tào lao bao nhiêu chuyện. Lan ngước nhìn chiếc đồng hồ báo thức Liên Xô của nhà Thu đặt trên bàn, giục Thúy:
-  Đã gần 11 giờ trưa rồi đấy! Mình cũng phải về để cho cái Thu nó cơm nước, còn đưa hai bác đến chỗ sơ tán.  
-  Ừ, thôi về. Đêm nô-en bọn này sẽ về Hà Nội cùng cậu đi chơi suốt đêm.
      Ba người bạn gái ôm hôn nhau thân thiết. Họ xuống dưới nhà chào Ông Giáo rồi chia tay. Khi Thu tiễn các bạn quay vào, vừa lúc Bà Giáo cũng từ nhà trong đi ra. Cô hỏi:
-  Mẹ nấu xong cơm rồi ạ!
-  Ừ, mẹ nấu xong rồi. Hai ba con tranh thủ vào mà ăn.
      Ông Giáo đang ngồi trầm ngâm uống nước, cất tiếng hỏi con:
-  Thằng Hoàng nó có viết thư về không con?
-  Dạ, con cũng mới nhận được thư của anh ấy hôm vừa rồi ạ! Anh ấy gửi lời hỏi thăm ba, mẹ.
      Bà Giáo vồn vã:
-  Thế, nó có khỏe không con? Nghe nói, ở Tây Nguyên đánh nhau ác liệt và phải sống kham khổ lắm!
      Bà Giáo lại thở dài thườn thượt.
-  Nhưng dù sao thì cũng còn nhận được của nó lá thư mà biết tình hình. Đằng này, anh trai con biền biệt mấy năm nay chẳng có tin tức gì. Không biết sống, chết ra sao?
      Thu biết mẹ đang lo lắng cho anh Tâm. Lòng cô cũng xót xa thương nhớ anh, nhưng chẳng biết làm sao? Cô lặng lẽ ngồi xuống ghế. Ông Giáo lại rút một điếu Tam Đảo, châm lửa hút rồi chậm rãi nói:
-  Thằng Hoàng thì đánh nhau tít trên Tây Nguyên, thằng Tâm lại chiến đấu ở mãi dưới đồng bằng. Chiến trường chỗ nào chả ác liệt và gian khổ? 
      Bà Giáo dặn Thu:
-  Mặc dù đã lâu không nhận được thư anh, nhưng con vẫn phải thường xuyên viết thư vào cho anh.
-  Tháng nào con cũng viết cho anh Tâm một, hai lá… chẳng hiểu anh ấy có nhận được không nữa?
      Thu ngẫm nghĩ giây lát rồi mới thưa:
-  Anh Hoàng viết thư cho con nói là, sang xuân anh ấy được đơn vị giải quyết cho về nghỉ phép, ba mẹ ạ!
      Cả Ông bà Giáo đều reo lên:
-  Thế à!
      Bà Giáo hỏi chồng, đầy nhã ý:
-  Nếu Hoàng nó được về phép thì hay quá! Ông thấy thế nào?
-  Ý bà nói thế là thế nào?
      Bà Giáo quay về phía Thu:
-  Thế, anh Hoàng nói với con sẽ được về nghỉ phép bao lâu?
-  Dạ, anh ấy nói ở chiến trường xa nhiều năm… về phép ít nhất cũng phải được một tháng ạ!                                   
      Bà Giáo lại quay về phía Ông Giáo:
-  Ý tôi nói là… thằng Hoàng về phép chuyến này thì cho chúng nó cưới đi, ông ạ!                                                    
-  Nhưng phải xem ý của thằng Hoàng thế nào đã chứ?                                      
      Ông Giáo nhìn con gái hỏi:
-  Mẹ con nói thế thì con thấy thế nào?
      Thu tủm tỉm cười, hết nhìn mẹ rồi nhìn ba:
-  Tùy ba và mẹ. Con nghĩ, chắc anh ấy cũng không có gì khó khăn đâu.
      Thực ra trong thư Hoàng cũng đã nói với cô, đợt này về phép sẽ làm lễ cưới. Nghe con nói vậy, Bà Giáo vui mừng ra mặt. Bà bảo:
-  Trong thời buổi chiến tranh này, các anh bộ đội về phép thường tranh thủ cưới vợ, rồi mới đi.
-  Mẹ làm như là… cứ bộ đội về phép, ai cũng lấy vợ cả ấy?
-  Thì đa số thế! Tốt rồi, vậy là tốt rồi!
-  Mẹ bảo cái gì tốt?
      Thu thừa biết mẹ định nói gì nhưng cô vẫn gặng hỏi. Bà Giáo hoan hỉ:
-  Thì, tổ chức cưới. Anh chị lấy nhau rồi cho ba, mẹ đứa cháu ngoại để bế… vậy chả là tốt à?
-  Nhưng anh Hoàng chỉ đi phép, đã được về hẳn đâu mà mẹ nói đến cháu ngoại?
-  Thì ai nói nó phải về hẳn. Về một tháng phép, chả lẽ anh chị không cho chúng tôi được đứa cháu?
-  Mẹ này! Chiến tranh mà mẹ cứ làm như hòa bình.
      Ông Giáo vẫn ngồi tủm tỉm cười.
-  Thôi, bà xem cơm nước thế nào cho ba con tôi ăn. Sắp 12 giờ trưa rồi đấy!
      Bà Giáo hứng khởi bảo chồng:
-  Mải chuyện trò mãi. Cơm canh tôi đã dọn sẵn ở dưới nhà, ba con ông chỉ việc xuống ăn. Ăn xong, nghỉ ngơi một tý rồi ta đi về quê kẻo muộn.
 
                                                       *
 
      Khi Ông bà Giáo cùng với cô con gái về đến nơi sơ tán, trời đã chiều tối. Đó là một làng quê có tên gọi là “Xốm”, ở phía trong Thị trấn Ba La – Bông Đỏ thuộc Tỉnh Hà Tây.
      Cụ chủ nhà phải đến tám mươi tuổi. Cụ vận một bộ đồ nâu, đang ngồi trên chiếc tràng kỉ kê giữa gian nhà chính. Đó là cụ Lễ, mái tóc đã bạc trắng như cước. Thấy Bà Giáo đi vào, cụ Lễ móm mém cười hỏi:
-  Bà Giáo đã về đấy à, sao lại chỉ có một mình thế?
      Vừa lúc Ông Giáo và Thu bước vào, nét mặt cụ Lễ rạng rỡ hẳn lên.
-  À, đây rồi! Chắc hẳn là Ông Giáo phải không?
      Rồi cụ nhìn Thu một lượt từ chân lên đầu, hơi ngỡ ngàng: “còn đây là…”.
-  Dạ, chào cụ. Cháu là Thu ạ!
      Thu lễ phép đáp lại lời cụ chủ.
-  Nghe mẹ cháu đã kể về cháu, cả ba cháu nữa… mà nay gia đình mới gặp.
       Cụ Lễ bảo thế. Tình cảm ở vùng quê thật dễ thân thiết, cứ như những người ruột thịt đi xa lâu ngày gặp lại nhau. Mọi người chào hỏi thân mật xong, cùng ngồi xuống bộ tràng kỉ. Cụ chủ cầm chiếc ấm pha trà nhỏ, định rót nước vào các chén. Thu vội đón và rót thay cho cụ. Cụ chủ hướng ra cửa gọi:
-  Thắm ơi! Cô Giáo đã về rồi đây này. Cả nhà cùng về, lên đây thầy bảo.
      Nghe tiếng cô gái nói rõ to từ dưới bếp vọng lên:
-  Con đang dở tay tí chút, chờ một téo con lên!
      Thắm là cô con gái út cụ Lễ. Cụ bà sinh được năm người con, bốn gái một trai… thì bị mất, khi Thắm mới lên năm tuổi. Ba cô con gái đầu của cụ đều lấy chồng ngoài tỉnh, thỉnh thoảng cũng tranh thủ tạt về thăm cha già. Người con trai là anh của Thắm đã lấy vợ, hiện giờ đang ở ngoài chiến trường, chỉ có cô con dâu tên là thơm ở với cụ, đi làm đồng chắc cũng sắp về.
      Cụ Lễ ở trong một căn nhà gỗ năm gian chia làm ba phòng, lợp ngói. Tuy không phải là gỗ thật quí, nhưng cột kèo đều được làm bằng loại gỗ tốt.
Do tổ tiên để lại. Gian phòng giữa rộng nhất đặt bộ tràng kỉ tiếp khách, góc phòng kê một chiếc giường gỗ trên có trải chiếu hoa cho cụ Lễ nằm. Phòng bên của cô Thắm nhưng nay nhường cho Ông bà Giáo đến ở. Thắm sang ngủ với chị dâu ở phòng bên nữa.
      Khi Ông bà Giáo và Thu đến, nhất là biết Ông Giáo cũng sẽ ở lại, cụ Lễ vui lắm! Nghe nói, mai Thu phải trở về Hà Nội sớm, cụ chủ tỏ ra ái ngại dặn dò:
-  Cháu phải ở lại thủ đô công tác, thì đã đành. Đó là việc của cơ quan, nhưng phải cẩn thận cháu nhớ! Nghe thấy tiếng báo động có máy bay là phải xuống hầm ngay, chớ có chủ quan.
      Cụ chỉ ra phía trái nhà, nơi có một chiếc hầm với mái che mới được trát vôi vữa, bảo Thu:
-  Đó là căn hầm trú ẩn nhà làm cho mẹ cháu! Khi mẹ cháu về đây, lão phải thúc giục các con đào hầm ngay.
      Cụ quay về phía Ông Giáo nói: “Cái hầm này lão cho đào sẵn, còn để đón cả Ông Giáo về sơ tán đấy!”.
      Ông Giáo tỏ lời cám ơn cụ. Vừa lúc, Thắm từ dưới bếp chạy lên. Đó là một cô gái khá bụ bẫm, trông tươi tắn, hồn hậu, trạc ngoài hai mươi tuổi, chưa lập gia đình. Nghe nói, cô đã có người yêu nhưng anh ấy cũng đã ra chiến trường. Thắm mới tốt nghiệp khoa y tá, được điều về làm ở phòng y tế của xã để dễ bề chăm sóc cha già.
-  Con nấu cơm cả cho cô chú và em nó ăn luôn.
      Cụ Lễ nói với Thắm rồi quay sang phía Ông bà Giáo:
-  Cơm cũng chỉ có canh dưa và mấy con cá tép, cái Thơm nó bắt ở ngoài mương về. Bữa này, Ông bà Giáo và cháu Thu ăn với gia đình cho vui.
      Đã sống với gia đình một thời gian nên Bà Giáo hiểu: Người nhà quê hiền lành, chân thật và quí người – nên bà cám ơn cụ chủ chứ không từ chối. Dọc đường Bà Giáo đã mua một túi hoa quả với ít bánh kẹo để làm quà cho gia đình. Khi Bà Giáo đưa, cụ chủ cứ phàn nàn mãi:
-  Tình hình phải về quê sơ tán thế này là khó khăn lắm rồi, mà Bà Giáo còn hoang phí mua nhiều quà thế?
      Trời tối hẳn thì Thơm, cô con dâu cụ chủ cũng đi làm đồng về. Chị khoảng 24-25 tuổi, như bông hoa mới nở mời đó, đang độ xuân thì mà chồng lại đi xa. Cảnh chiến tranh, trai tráng làng quê phải đầu quân đi hết… chỉ còn toàn đàn bà, con gái ở lại, thật tội.
      Tối đó, Ông bà Giáo và Thu ăn cơm cùng gia đình. Dẫu bữa ăn chỉ có cơm canh với món cá kho đạm bạc, nhưng mọi người đều thấy rất ngon lành. Thu có cảm tưởng không khí ở làng quê thật đầm ấm. Đưa ba mẹ về sơ tán nhìn cảnh sống như thế, lòng cô cũng yên tâm.
      Đêm đó - Ông bà Giáo thì ở ngay gian phòng bên, còn Thu sang ngủ chung với Thắm và người chị dâu. Một loáng họ đã trở nên thân thiết, nhất là Thu và Thắm, cứ như đôi bạn thân lâu ngày gặp lại… rối rít kể cho nhau nghe đủ chuyện. Chị Thơm đi làm đồng về mệt, chuyện trò một tí là lăn ra ngủ liền.
      Nói chuyện một lát, Thắm cũng ngủ thiếp đi. Thu kéo chăn đắp kín cho bạn rồi vén màn rón rén bước ra sân. Lòng cô thao thức không ngủ được. Thu ngắm nhìn cả trời sao, những vì sao đêm mùa đông heo hút. Làn gió lạnh từ ngoài đồng thổi về, Thu khẽ rùng mình. Cô cứ thẩn tha đi từng bước trên sân, lòng lại nghĩ về anh.
      Một tình cảm rạo rực trào lên trong con người Thu. Cô tưởng tượng những ngày tới, khi anh về phép… với niềm vui thật là khó tả. Cả ngày hôm nay, từ những người bạn gái đến ba mẹ Thu – khi được cô báo tin anh sắp về... ai cũng vồn vã giục cô phải cưới. Ôi! Một lễ cưới sẽ được tổ chức – Đó là một ngày trọng đại của người con gái. Người con gái nào vào tuổi xuân thì mà chẳng ước mơ, trong đời có một lần mặc đồ áo cưới !?
      “Anh thân yêu! Ở tận chiến trường xa xôi, có nghe thấy tiếng thầm thì của em không? Đêm nay anh ở đâu, đang hành quân hay trong một trận chiến đấu máu lửa. Ôi, ước gì lúc này anh cũng có những phút yên tĩnh, thao thức trong đêm như em – Thu đang nghĩ đến anh đây, anh có biết không?”.
      Bỗng Thu lại nhớ về tối đó bên con suối rừng, ở nơi cô theo trường sơ tán. Phải, lần ấy cô đã trao cả cái quí nhất của người con gái cho anh. Nhớ đến hình ảnh mình khi trần truồng nằm bên bờ suối, Thu tự mắng mình: Đúng là vô duyên! Nhưng rồi, cô lại cười với mình trong đêm vắng. Mắng mình thế thôi, chứ cô biết… nếu có anh ở đây, thì cô sẽ lại làm cái chuyện vô duyên ấy với anh. Trong lòng cô, cô đã coi anh như chồng của mình rồi.
      Từ cái tối đó đến giờ, thế mà đã gần sáu năm rồi, anh ạ! Nhớ câu ca dao:
                 Dao đâm vào thịt thì đau
                 Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời
      Em không bao giờ quên cái lần đầu tiên em dành cho anh đâu! Cô thấy thương anh quá. Ở ngoài chiến trường bom rơi, đạn nổ, cuộc sống khổ cực – Cả tuổi xuân của anh, nào có được hưởng chút vui thú nào đâu? Nghĩ vậy, Thu lại thấy vui vui: Chính cô đã dành cho anh được niềm lạc thú, sung sướng ấy! Nếu khi đó từ chối anh, có lẽ bây giờ cô sẽ phải ân hận lắm? Cô từng nghe kể: nhiều anh chiến sĩ trẻ vào chiến trường cũng chỉ mới tuổi đôi mươi, đã phải hy sinh trên chiến trận. Đến khi chết vẫn chưa được biết hương vị “yêu” là gì? Chưa được biết về đàn bà… thấy các anh ấy tội quá!
      Miên man suy nghĩ, Thu không hay biết mẹ đã ra đứng sau lưng từ lúc nào? Đêm nay, Bà Giáo cũng không ngủ được. Bước nhẹ ra cửa, bà thấy con gái đang đứng trầm ngâm trong đêm. Bà Giáo lặng lẽ nhìn con, nhưng không nói. Như có một linh tính, Thu quay người lại thì trông thấy mẹ. Cô đến gần Bà Giáo, hỏi nhỏ:
-  Mẹ vẫn chưa ngủ à?
      Bà Giáo lắc đầu rồi nhắc con:
-  Con nhớ thỉnh thoảng lên thăm chị dâu và cháu Kỳ Anh?    
-  Con cũng mới lên đó về, mẹ ạ!
       Cô bảo: “Chỗ chị dâu con và cháu sơ tán, được cơ quan chăm sóc chu đáo lắm, mẹ không phải lo.”.
      Bà Giáo lại thở dài.
-  Anh Tâm con mấy năm nay không có tin tức, thư từ gì? lòng mẹ cứ bồn chồn không yên. Nói dại, ngộ nhỡ…
-  Chắc không có chuyện gì đâu, mẹ ạ! Do tình hình đánh phá ác liệt, thư từ ở chiến trường gửi về hay bị thất lạc thôi.
      Thu an ủi mẹ như thế, chứ thực tình… lòng cô lo cho anh nhiều khi như lửa đốt. Dừng lại ít phút, Bà Giáo nói tiếp:
-  Nghe tin thằng Hoàng sắp được về phép, mẹ mừng quá! Thỉnh thoảng con cũng nên tạt qua nhà Hoàng, thăm hỏi gia đình. Nhất là đối với ông bố già? Dù sao thì con người ta cũng ra chiến trường.
-  Con có tới hỏi, bên ấy cả nhà cũng đi sơ tán rồi ạ!
-  Ừ nhỉ! Mẹ quên khuấy. Với tình hình căng thẳng hiện nay, trẻ con và người già đều phải đi sơ tán hết.
      Bà Giáo lại nói:
-  Thế, còn chuyện của con? Khi anh Hoàng về phép thì sẽ tổ chức đám cưới. Con cũng nên tranh thủ viết thư trao đổi với anh ấy trước.
-  Dạ, vâng ạ!
      Rồi cô giục mẹ:
-  Đêm sương lạnh, mẹ vào nhà ngủ đi kẻo bị cảm.
-  Con cũng phải vào ngủ đi chứ! Mai còn về Hà Nội sớm.
      Tiếng gà trong chuồng đã gáy báo sang canh. Cơn gió mùa đông thổi từ ngoài đồng về ớn lạnh. Bà Giáo vào phòng ngủ của bà, còn Thu bước sang buồng bên rón rén nằm xuống cạnh Thắm. Cảnh đêm làng quê thật là yên tĩnh, như thể ở nơi đây không có chiến tranh vậy. 
 
 
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:21:37
 
 
                                    CHƯƠNG XI.
                        HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM
                                               38-             
      Sau thất bại của QLVNCH trong chiến dịch “Lam Sơn 719” năm 1971, ở miền Nam QGP liên tục mở các cuộc tấn công trên khắp chiến trường. Qua chiến dịch xuân hè 1972, làm thất bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.
      Tại Pa Ri đầu tháng 12.1972, cuộc đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc. Phía chính quyển VNCH của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản đối kịch liệt bản dự thảo hiệp định, mà giữa Hoa Kỳ và Hà Nội đã thống nhất để chuẩn bị kí. Nội dung cốt lõi của bản dự thảo đó là: Quân Mỹ và đồng minh sẽ rút hết ra khỏi Việt Nam – và ở miền Nam vẫn tạm thời song song tồn tại cả Quân đội nhân dân Việt Nam cùng chính quyền VNCH – để giải quyết nội bộ, bằng một cuộc tổng tuyển cử của nhân dân.
      Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng phải rút ra khỏi miền Nam,  trở về Bắc. Phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội không chấp nhận như thế, vì làm vậy là đặt họ ngang hàng với kẻ xâm lược là Hoa Kỳ? tất yếu, khiến QGP sẽ trở thành yếu thế.
      Nixon không muốn mang tiếng là bỏ mặc Chính phủ VNCH, nên phía Hoa Kỳ cũng đòi hỏi phải thay đổi lại dự thảo đó.
      Mỹ lật lọng.
      Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: “Hãy để một chỗ ở cửa cho Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó”.
      “chỗ hở ở cửa cho cuộc họp tiếp…” để làm gì? - Tức là Mỹ sẽ mở chiến dịch ném bom rải thảm vào Hà Nội và các thành phố trọng yếu khác như Hải phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn… đưa miền Bắc về “thời kì đồ đá”. Buộc Hà Nội phải ngồi vào thương thuyết, chấp nhận yêu cầu của Hoa Kỳ và Thiệu - Có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thua.    
      Cụ thể - vào đêm 12.12.1972, Chánh văn phòng Nhà Trắng Heizman được sự ủy quyền của Tổng thống Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger, có đoạn viết:
      “Chúng ta cần tránh bất cứ điều gì như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xẩy ra tan vỡ, thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm.”.
      Ngày 13 tháng 12, Kissinger lật lọng tuyên bố đình chỉ vô thời hạn Hội nghị Paris về Việt Nam - Hoa kỳ cố tình trì hoãn hội nghị nhưng lại đổ lỗi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chịu đàm phán nghiêm chỉnh? để cho Mỹ chuẩn bị cuộc ném bom rải thảm B52 vào miền Bắc Việt Nam. 
      Hội nghị Pa Ri hoàn toàn bế tắc. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán. Mỹ lấy lý do mở Chiến dịch Linebacker II ném bom là để khiến Việt Nam “biết điều” mà chấp nhận họp lại.
      Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, Tướng Alexander Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân – Đô đốc Thomas Moorer, thông qua lần cuối cùng kế hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói với Đô đốc Thomas Moorer: “Điều may mắn của ông là được sử dụng một cách hiệu quả sức mạnh quân sự của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm.”.
      Tức là Nixon giao cho Đô đốc Thomas Moorer toàn quyền thực hiện việc rải thảm B52 vào Bắc Việt Nam, biến Bắc Việt Nam trở thành thời kì đồ đồng, đồ đá.
      Chiến dịch Linebacker II là nối tiếp Linebacker I (diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972), nhưng với cường độ, sức công phá và mật độ lớn đến mức khủng khiếp. Mục tiêu chính là ở Hà Nội - Hải phòng, buộc Chính phủ Bắc Việt Nam phải chấp nhận điều khoản của Mỹ. Đồng thời Hoa Kỳ muốn tỏ rõ cho Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng: Mỹ không bỏ rơi chính quyền VNCH… trước khi rút quân đội Mỹ và đồng minh về nước.
      Cũng trong ngày 14 tháng 12 đó, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: Hẹn trong 72 giờ, Hà Nội (tức là Lê Đức Thọ) phải quay lại chấp nhận kí hiệp định theo phương án của Hoa Kỳ đã đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
      Ngày 15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger – Paris.
      Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. 
      Ngày 17 tháng 12, Nixon chính thức ra lệnh mở cuộc tiến công bằng không quân vào Hà Nội, Hải phòng - Chiến dịch Linebacker II bắt đầu.
      Cũng trong ngày 17.12.1972 -  10h30 phút, Bộ tư lệnh phòng không – không quân nhận lệnh từ Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: chỉ thị trực tiếp cho các đơn vị toàn quân chủng, đặc biệt là hai khu vực Hà Nội – Hải Phòng… chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, quyết đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ, khi chúng liều lĩnh leo thang đánh phá.
      Tối 18 tháng 12, Lê Đức Thọ sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh vừa về đến nhà, thì những trái bom đầu tiên từ B52 đã trút xuống Hà Nội.
 
                                                       *
 
      Vào lúc 10h15 phút ngày 18.12.1972, các đơn vị ra đa phát hiện báo về Tổng trạm và Sở chỉ huy Quân chủng phòng không: có một chiếc máy bay không người lái của Mỹ, từ hướng tây bắc vào trinh sát Hà Nội.
      14 giờ 30 phút, Bộ Tổng tham mưu thông báo cho quân chủng phòng không – không quân và Bộ Tư lệnh thủ đô: sẽ có máy bay chiến lược B52 đánh ra miền Bắc.
      19 giờ 10 phút, biên đội mig-21 của không quân được lệnh cất cánh, đón đánh các máy bay chiến thuật Mỹ F4, F8, F111, A6, A7… Cùng lúc ở Tam Đảo, Việt Trì các đài quan sát dồn dập báo về Sở chỉ huy trung tâm: máy bay F111 ném bom sân bay Kép, Nội Bài.
      Bộ Tư lệnh thủ đô ra lệnh báo động toàn thành phố - Lập tức còi báo động từ Nhà hát lớn, Quảng trường Ba Đình, ga Hàng Cỏ, các nhà máy và nhiều nơi cả nội và ngoại thành vang lên khẩn cấp.
      19 giờ 20 phút, nhiều tốp máy bay B52 (mỗi tốp 3 chiếc)  liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm. Tiếng nổ long trời, khói lửa mịt mù… báo hiệu cuộc đụng độ lịch sử giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ thủ đô – Mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điên Biên Phủ trên không” với các siêu “pháo đài bay” B52, những con “ngoáo ộp” Mỹ bắt đầu. 
      20 giờ 16 phút ngày 18.12.1972 ấy – Tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa phòng không 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy, phóng 2 quả đạn hạ ngay 1 máy bay B52, rơi xuống cánh đồng Phủ Lỗ, huyện Đông Anh chỉ cách trận địa gần 10km. Đây là chiếc máy bay B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.
      Đêm đó cùng với Hà Nội vào lúc 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn tên lửa 52,  Trung đoàn 267, Sư đoàn phòng không 365 từ một trận địa ở Nghệ An, đã bắn bị thương nặng 1 máy bay B52 nữa… khi chúng vừa gây tội ác ở Hà Nội về, buộc phải hạ cánh ở sân bay Đà Nẵng.
      Trong đêm 18/12, Mỹ đã huy động 90 lần chiếc B52, ném 3 đợt bom xuống thủ đô Hà Nội; đồng thời 8 lần chiếc F111; 127 lần máy bay cường kích các loại.
      Trong đêm đầu tiên, Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc thủ đô, trong đó có 85 khu vực dân cư bị trúng bom, làm chết 300 người.
      Theo hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam lúc đó (Nguyễn Sơn sưu tầm), có đoạn viết:
      “Hà Nội, tháng 12 năm 1972
      Nhiệt độ xuỗng thấp hơn mọi năm. Cái rét mùa đông cộng vào cái vắng lặng của ba mươi sáu phố phường vừa được lệnh triệt để sơ tán, càng làm cho thời tiết thêm giá buốt. Cuộc đàm phán của Việt Nam và Hoa Kỳ ở Pa Ri, thủ đô nước Pháp, đang ở bước gay go. Sau những ngày tháng vận động bầu cử với vai trò “ngoại giao con thoi” và lời hứa mang lại hòa bình, Ních Xơn ở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ hai. Ở Sài Gòn ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu run sợ trước những điều khoản bất lợi cho chúng trong thỏa thuận giữa ta và Mỹ ngày 18/10/1972, phản ứng quyết liệt với chủ Mỹ. Các cuộc họp giữa các bên cuối tháng 11 và đầu tháng 12 không đạt kết quả nào. Trong thời gian này, Mỹ cấp tốc vận chuyển cho Thiệu một khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh bằng cả một năm trước đó. Để xoa dịu Thiệu và mặc cả với ta, Ních Xơn trở mặt ngang ngược đòi sửa đổi nhiều điều khoản trong bản dự thảo hiệp định, lúc này tưởng chừng sắp được kí kết sau hơn ba năm đàm phán tại trung tâm Hội nghị Quốc tế trên Đại lộ Klêbe. Tất nhiên, ta không chấp nhận.
      Tình hình rất khẩn trương. Đã mấy ngày liền, anh Văn Tiến Dũng và tôi thường về nhà muộn, có khi ở lại Tổng hành dinh làm việc tới tận nửa đêm.
……………………………………………………………………………….
      Trong buổi giao ban ngày 18/12/1972, Cục 2 báo cáo: Hồi 5 giờ sáng, ta bắt được tin của địch từ sân bay hỏi: “Trực thăng hôm nay cấp cứu ở đâu?”. Trưa hôm ấy, một máy bay RF4c bay qua Hà Nội báo về căn cứ: “Thời tiết quanh Hà Nội hoạt động được”. Trên bầu trời Khu 4, hoạt động của không quân địch đột ngột giảm xuống, đặc biệt không có tốp B52 nào. Tất cả các đài ra đa của mạng cảnh giới mở máy trực ban đều không có nhiễu tích cực. Đây là những dấu hiệu không bình thường, chỉ một ngày sau khi bộ đội phòng không – không quân được lệnh bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Chiều ngày 18/12/1972, chiếc chuyên cơ BH195 đưa anh Lê Đức Thọ về nước đáp xuống sân bay Gia Lâm lúc 16 giờ 45 phút. Cũng khoảng thời gian ấy, Ních Xơn gửi công hàm như một tối hậu thư, hạn trong 72 giờ ta phải trở lại bàn đàm phán theo những điều kiện của Mỹ. 19 giờ 10 phút – Trong phòng làm việc của tôi tại Tổng hành dinh, tiếng chuông điện thoại reo vang từ một trong bốn chiếc máy có chế độ ưu tiên số 1.
      Tiếng nói của đồng chí trực ban tác chiến nghe rất rõ:
-  Báo cáo thủ trưởng, B52 cất cánh từ Guam, Utapao đang tới… nhiều tốp bay dọc sông Mê Kông lên phía Bắc… Các lực lượng phòng không – không quân đã sẵn sàng, vào cấp 1 xong.
      Mấy phút sau, còi báo động rú lên từng hồi. 19 giờ 45 phút: có tiếng bom nổ ở phía xa xa… Bộ tư lệnh phòng không – không quân báo cáo: Máy bay địch đang đánh phá sân bay Hòa Lạc. Tiếp theo đó, nhiều tốp B52 vào đánh các sân bay Nội Bài, Gia Lâm. Tiếng ầm ì khô và nặng của động cơ máy bay B52 mỗi lúc một rõ dần. Những vầng lửa lóe lên, chớp giật liên hồi. Rồng lửa Thăng Long nối nhau bay vút lên không trung, đan những vệt sáng màu da cam giữa màn đêm Hà Nội.
      Cơ quan Tổng hành dinh làm việc hối hả. Tôi yêu cầu Bộ Tổng tham mưu cứ 5 phút báo cáo một lần. Cục 2 báo cáo: Ních Xơn đã ra lệnh bắt đầu chiến dịch Lai nơ bếch cơ II, dùng máy bay chiến lược B52 từ các căn cứ Mỹ ở Thái Lan, Guam, Philíppin tiến công Hà Nội, trong khi các máy bay cường kích F111 tiến công các sân bay gần đó. Chiến dịch này đã được Ních xơn, Kítxinhgiơ và tướng Hây (Haig) bàn bạc, quyết định tại phòng bầu dục ở Nhà Trắng ngày 14/12/1972. Để thực hiện kế hoạch này, Bộ chỉ huy sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 được thành lập. 50 máy bay KC-135 để tiếp dầu cho B52 được điều thêm sang Philíppin. Trên vịnh Bắc Bộ, 5 tàu sân bay đang hoạt động: Cục tác chiến khẩn trương nắm tình hình, liên tiếp chuyển lệnh cho Bộ tư lệnh phòng không – không quân.
      20 giờ 20 phút, chuông điện thoại đổ hồi, ở đường dây bên kia là đồng chí Nguyễn Quang Bích, phó tư lệnh phòng không – không quân:
-  Báo cáo Đại tướng, hồi 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn tên lửa 261 bộ đội phòng không Hà Nội bắn rơi tại chỗ một chiếc B52.
      Tôi hỏi:
-  Có đúng B-52 không?
      Một lát sau, đồng chí Nguyễn Quâng Bích báo cáo cụ thể: Đây là chiếc B-52G cất cánh từ Guam. Nó rơi xuống Phù Lỗ, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.
      Tin chiến thắng xé toang bầu không khí căng thẳng. Tổng hành dinh náo nức trong niềm vui được thấy “con ngóao ộp” B-52 không còn là “bất khả xâm phạm” trước những con “rồng lửa Thăng Long”.
      Tôi bước ra ngoài sở chỉ huy. Trời rét đậm và mưa bụi, nhưng lòng tôi ấm áp lạ thường…”.
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2020 18:23:14 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:25:09
 
 
                                          39-
 
      Ngay sau đêm 18.12.1972, đêm đầu tiên trong chiến dịch Linebacker II của Hoa Kỳ rải thảm B52 xuống Hà Nội – Toàn thành phố báo lệnh sơ tán triệt để và khẩn cấp.
       Mới sáng ra, mọi ngả đường Hà Nội rùng rùng người di chuyển về các tỉnh. Những trọng điểm ở ngoại thành như Gia Lâm, Châu Quỳ, Yên Viên, Văn Điển, Đông Anh… cũng phải sơ tán đến các tỉnh khác xa hơn. Giữa mùa đông lạnh giá, những người đi sơ tán dường như không mang theo được gì nhiều ngoài những vật dụng cần thiết như chăn màn, quần áo.
      Như ở Uy Nỗ thuộc Đông Anh - Ngay trong đêm 18/12 đó, khi máy bay Mỹ đang oanh tạc Hà Nội, dân đã dồn dập kéo nhau đi sơ tán. Người ta thấy những hình ảnh: Có bà mẹ tay bế con nhỏ trước ngực, đầu cúi gập xuống để che bom đạn cho con , tay còn lại dắt đứa con lớn chạy theo dòng người về hướng Tráng Việt – Mê Linh. Trời rét đậm, nhưng dòng người sơ tán ấy vẫn ướt đẫm mồ hôi. Họ vừa chạy vừa trông lên đầu… bom đạn đan nhau sáng rực một góc trời.
      Đâu chỉ có một lần, cả đêm đó tới ba đợt máy bay ném bom quanh trụ sở ủy ban xã Uy Nỗ. Riêng trong đêm 18 tháng 12 thôi, khoảng 4.000 dân trên địa bàn xã đã ra khỏi nhà đến các tỉnh khác. Cũng có nhiều người dắt được cả trâu, bò, lợn, gà đưa đi. Một số người thì cho thú xuống hầm trú ẩn, còn mình chạy đi lánh tạm trong đêm, rồi trở về đi sau. Uy Nỗ gần như trở thành một xã trắng, chỉ còn lại khoảng 100 người làm nhiệm vụ chiến đấu dưới những căn hầm, giao thông hào.
      Người ta nói rằng: trong suốt gần chục năm Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, người Hà Nội tuy cũng đã quen với bom đạn, nhưng sau cái đêm 18 tháng 12 thì dù có quen tiếng bom nổ đến bao nhiêu, mọi người vẫn cảm thấy bất an - Ai nấy lũ lượt kéo nhau đi, không cần phải vận động như trước nữa.
      Ở Ngã Tư Sở, mới sáng sớm từng đoàn người rời thủ đô, men theo Quốc lộ 6. Hai bên đường chi chit hầm trú bom, nhất là đoạn Cao-Xà-Lá. Chẳng nơi nào đối diện với cuộc chiến và sự sống, cái chết… như Việt Nam: Đó là bà mẹ trẻ ngồi trên chiếc xe ca của thành phố đang vạch áo cho con bú; đó là hình ảnh cụ già đội chiếc mũ lông như một ông già nô-en, đang đánh chiếc xe bò chở con cháu rời thủ đô về các tỉnh xa – Đến đứa trẻ sơ sinh cũng không thể nằm ngoài cuộc chiến.
      Các ngả đường rời thành phố đều rất đông người, nhưng không tắc ở đâu cả. Xe ca, xe khách và cả tàu điện của thành phố… nhưng chủ yếu vẫn chỉ là với những chiếc xe đạp cũ kỹ, những đôi quang gánh truyền thống, xích lô, xe bò. Dẫu đông đúc nhưng đi rất trật tự. Dù bom rơi đạn vãi ở trên đầu mà  không thấy sự quá hoảng loạn của dòng người Hà Nội – Bởi, họ đã được chuẩn bị cho cuộc chiến này và bình tĩnh đón nhận. 
      Theo tài liệu cửa Sở giao thông vận tải thành phố: Để phục vụ nhân dân sơ tán về các tỉnh – Sở giao thông và ngành vận tải Trung ương cùng các đơn vị có phương tiện, đã bố trí 120 xe ca, 54 xe tải liên tục vận chuyển miễn phí, sơ tán nhân dân ra khỏi Hà Nội.
      Trong suốt 12 ngày đêm, lực lượng vận tải Hà Nội có sự hỗ trợ của ngành vận tải Trung ương và các tỉnh bạn: đã vận chuyển 295.885 người - Còn với các phương tiện vận chuyển thô sơ cá nhân khác như xe đạp, xích lô, xe máy… thì có tới 547.890 người (trong tổng số 65 vạn dân nội thành),  đến các nơi sơ tán.
      Đó là cuộc sơ tán “vô tiền khoáng hậu” của Hà Nội, tức là cuộc sơ tán từ trước tới nay chưa có, sau này chắc cũng khó có thể xẩy ra. Chỉ trong một đếm, nửa triệu con người đã rời khỏi thành phố - Một cuộc sơ tán cao điểm bởi sự đánh phá, rải thảm B52 trong những ngày chiến tranh phá hoại ác liệt nhất của giặc Mỹ, định biến Bắc Việt Nam trở thành thời kỳ đồ đồng, đồ đá. Một cuộc sơ tán khổng lồ, thần tốc với qui mô chưa từng thấy.
 
                                                         *
 
      4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 19/12, Pháo đài bay B52 của Mỹ cùng các máy bay phản lực chiến thuật, ném bom đánh phá vào các khu vực Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì, nhà máy Cao su sao vàng, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm, Hòa Mục… Thủ đô chìm trong khói lửa.
      4 giờ 39 phút sáng, Tiểu đoàn 77 – Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi chiếc B52 thứ hai. Máy bay rơi tại chỗ trên cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Cùng với những đơn vị tên lửa, các trận địa pháo phòng không cũng tiêu diệt 1 máy bay F4. 
      Một sự trùng hợp lịch sử - Hà Nội lại nổi lửa diệt thù đúng vào ngày thủ đô vùng lên kháng chiến của 26 năm về trước: ngày 19.12.1946.
      Đêm 19 rạng ngày 20/12, pháo đài bay B52 Mỹ tiếp tục ném bom xuống Hà Nội, Hải Phòng. Riêng ở Hà Nội 87 lần chiếc B52 và hơn 200 lần chiếc máy bay cường kích các loại, ném ba đợt bom xuống 68 điểm thuộc nội, ngoại thành.
      Sáng ngày 19 tháng 12 đó, Bộ chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam đã họp tại Tổng hành dinh: Nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo về diễn biến trận đánh B52 trong đêm đầu tiên, và khen ngợi chiến công của các lực lượng phòng không – đồng thời ra chỉ thị kiên quyết đập tan hành động điên cuồng, phiêu lưu của đế quốc Mỹ.
      Buổi chiều tại Câu lạc bộ Quốc tế ở Hà Nội, rất đông các phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài – Người phát ngôn Bộ quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công bố những hành động tội ác của Mỹ trong đêm 18 và ngày 19/12… với 6 tù binh Mỹ vừa bị bắt. Chúng cúi đầu thú nhận nỗi kinh hoàng trước lưới lửa dầy đặc của các lực lượng phòng không Hà Nội.
      Ngày 20 và 21.12.1972 – cũng theo hồi kí của Tướng Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp gọi điện xuống các sư đoàn phòng không Hà Nội, biểu dương thành tích và khích lệ ý chí của bộ đội. Ông nói: “Cả nước đang hướng về Hà Nội. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ từng phút… theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không Hà Nội.”.
      Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố, lên án những hành động chiến tranh điên rồ của Níchxơn. Bản tuyên bố viết: “Nhân dân ta rất thiết tha với hòa bình, nhưng phải là hòa bình trong tự do thực sự. Chúng ta có đầy đủ thiện chí, đồng thời có đầy đủ quyết tâm và lực lượng bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng của mình.”.
      Ngay sau đó, tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được phát đi trên Đài phát thanh Giải phóng: “Bọn xâm lược Mỹ đụng đến miền Bắc một, thì quân và dân miền Nam quyết giáng trả chúng gấp năm, gấp mười lần.”. Đài cũng truyền đi thư của Sài Gòn gửi Hà Nội: “Lửa miền Bấc khêu lửa miền Nam, lửa Hà Nội giục lửa Sài Gòn. Từ ngoài vô trong, từ hậu phương lớn đến tiền tuyến lớn anh hùng đang vang lên tiếng trả lời đanh thép: Đánh!”. Một màn hiệp đồng tuyệt đẹp trên các mặt trận quân sự, dư luận và ngoại giao giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn. Các mũi giáp công nhằm đúng kẻ thù, trong chiến lược tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân Việt nam.
      Những nhà lãnh đạo các nước yêu chuộng hòa bình cũng ra lời tuyên bố kịch liệt lên án hành động xâm lược mới của Mỹ, khẳng định sự ủng hộ với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt nam, kêu gọi nhân dân các nước đấu tranh đòi hòa bình cho Việt nam. Ở khắp nơi trên thế giới, hàng triệu người xuống đường sôi sục biểu tình, lên án mạnh mẽ hành động tội ác ghê tởm của Nhà Trắng. Các nghệ sĩ Quốc hội Mỹ ở cả hai viện, chỉ trích gay gắt hành động leo thang mới của Níchxơn, đã tiến hành mà không tham khảo ý kiến của quốc hội và nhân dân Mỹ.  Tờ báo Niu Yoóc ngày 20.12.1972, cảnh báo “Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá.”.
       11 giờ 45 phút ngày 20.12.1972, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điện cho các đơn vị phòng không – không quân: “Chiều và đêm nay địch sẽ đánh lớn bằng B52 và máy bay cường kích vào thủ đô Hà Nội.”.
      Vào lúc chập tối khi máy bay địch còn cách Hà Nội 80km, Trực ban trưởng Sở chỉ huy đóng cầu dao, nổi còi báo động toàn thành phố sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù các loại máy bay địch phát nhiễu dầy đặc, bộ đội ra đa vẫn phát hiện rất nhanh, đúng, kịp thời.
      Từ 20 giờ 05 phút đến 20 giờ 07 phút, trận đánh mở màn xuất sắc trong hai phút: từ cự ly 22km với hai quả đạn, Tiểu đoàn 93 – Trung đoàn tên lửa 261 bắn cháy 1 máy bay B52 rơi tại chỗ (khu vực ga Yên Viên), cách Hà Nội hơn 10km.
      20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn 77 – Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi tiếp 1 B52 nữa ở ngoại thành.
        Cùng lúc đó từ 20 giờ 29 phút đến 20 giờ 35 phút, ba tiểu đoàn tên lửa 78-79-94 đã tập trung hỏa lực bắn rơi thêm 1 B52 thứ ba.
      Các đại đội pháo và dân quân tự vệ thủ đô, với các loại cao xạ 57ly, 37ly, 14,5ly và cả súng máy cao xạ 12ly7 đã hiệp đồng chặt chẽ, bảo vệ cho các trận địa tên lửa cùng các mục tiêu quan trọng trong khu vực nội, ngoại thành Hà Nội.
      Chỉ tính từ 19 giờ ngày 20 đến rạng sáng ngày 21/12, địch huy động 78 lần chiếc B52 và hơn 100 lần chiếc máy bay cường kích các loại ném bom,  đánh phá. Cũng trong đêm đó, bộ đội tên lửa phòng không Hà Nội đã thực hiện một trận đánh tuyệt vời: chỉ 35 quả đạn bắn cháy 7 chiếc B52, có 5 chiếc rơi tại chỗ. Tiêu biểu là trận đánh của các tiểu đoàn 57-77-79 vào lúc rạng sáng ngày 21/12, chỉ trong 9 phút với 6 quả đạn đã bắn cháy 4 chiếc B52, 3 chiếc rơi tại chỗ.
      Ngày 21.12.1972, ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng chiến sự vẫn diễn ra ác liệt. Trong ngày,  180 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu trọng yếu. Chúng dùng bom điều khiển bằng laser ném từ ga Hàng Cỏ, Sở công an Hà Nội, Nhà máy điện Yên Phụ, Bộ giao thông đến các phố như Lý Thường Kiệt, Trần Quý Cáp, Nguyễn Khuyến và những khu lao động.
      Ngoài Hà Nội, địch còn trút bom xuống cầu Phủ Lý và sáu đợt đánh vào thị xã Thanh Hóa.
      Lúc 11 giờ 15 phút đến 12 giờ 24 phút, địch cho hai máy bay trinh sát thăm dò các trận địa tên lửa và pháo cao xạ, chuẩn bị cho các trận tập kích tiếp theo.
      21 giờ 37 phút đêm đến rạng sáng 22/12, địch huy động 24 lần chiếc B52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh vào sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển. Ngoài ra, 30 lần chiếc F4 – F105 đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, Yên Bái, Cát Bi, An Lão thuộc Kiến An và cảng Hải Phòng.
      Các trận địa pháo cao xạ thủ đô cùng với bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi tại chỗ 11 máy bay – trong đó có 3 B52, 2 F4, 2 A7, 1 F111, 1 A6, 1 RA50, 1 F105.
      Hải Phòng, Bắc Thái cũng hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi 7 máy bay chiến thuật và 1 máy bay không người lái.
      Chiến dịch Linebacker II của Mỹ bước đầu đã bị thất bại nặng nề. Tinh thần của phi công B52 suy sụp nghiêm trọng. Ngày 21/12, Tướng Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho binh chủng phòng không – không quân:
      “Thắng lợi của chúng ta là rất lớn, cần cố gắng phát huy chiến thắng hơn nữa. Địch sẽ tập trung đánh các trận địa tên lửa. Phải tìm mọi cách bảo vệ tên lửa để tiếp tục diệt B52. Chú ý bảo đảm tên lửa để đánh được liên tục. Cố gắng phát huy tác dụng của không quân nhằm B52 mà đánh.”.
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:27:33
 
 
                                            40-
 
      Đêm 21 rạng ngày 22.12.1972, một đêm trời rét căm căm. Thu cùng nhóm phóng viên tòa soạn báo “Hà Nội mới” vội vã đạp xe đến bệnh viện Bạch Mai.  Nghe thông báo: vào lúc 4 giờ sáng nay, B52 đã trút xuống bệnh viện hơn 100 quả bom – Bệnh viện gần như bị san phẳng.
      Nhóm của Thu đi đến có ba người, hai nữ và một nam. Từ hôm không quân Mỹ rải thảm B52 đánh vào thủ đô, Thu đã ở lại ngủ luôn trong tòa soạn báo. Cả nhà đều đi sơ tán, nên Thu cũng chẳng cần thiết phải về. Những anh chị em trong tòa soạn ở lại làm việc tại Hà Nội, ngoài bộ phận trực chiến súng máy cao xạ 12ly7 trên tầng thượng của trụ sở để bắn máy bay, các  phóng viên còn lại vừa đi nắm tin tức viết bài cho báo, vừa trong đội tự vệ thành phố đến cứu giúp nhân dân những nơi bị bom địch đánh phá.
      Khoảng nửa đêm về sáng, tiếng còi báo động thành phô rúc lên inh ỏi. Thu cùng mọi người vội vã chạy xuống hầm trú ẩn của tòa soạn. Ít phút sau thì nghe thấy tiếng B52 gầm rú, rồi bom nổ rung chuyển mặt đất. Biết là chỉ ở quanh đây, nhưng không ngờ chúng lại đánh vào bệnh viện.
      Khi nhóm phóng viên báo Hà Nội Mới đến nơi, trước mắt họ chỉ còn là một cảnh hoang tàn. Cây cối trong khuôn viên bệnh viện đổ rạp bởi sức ép của bom. Có những chỗ không thể chen chân vì gạch đá, cây cối đổ chặn hết lối đi. Tiếng người từ trong những bức tường đổ hoặc từ các căn hầm dưới đất vẳng lên kêu cứu. Họ lách vào đến giữa sân bệnh viện, những hố bom còn nguyên dấu vết.
      Bỗng nghe tiếng kêu rên từ một khu nhà đã bị sập gần đó, tiếng kêu của một phụ nữ nghe rất thương tâm:
-  Anh Kinh, anh Luân ơi, cứu em!    
      Thu với hai đồng nghiệp vội dựng ba chiếc xe đạp vào một chỗ rồi chạy tới nơi đó. Đã có đến bẩy, tám người đang cùng nhau lấy cuốc, xẻng đào bới và dùng tay nhặt từng viên gạch tìm cửa hầm, cứu người bị mắc kẹt ở bên trong. Nhìn cũng đoán biết đều là các y, bác sĩ, nhân viên, hộ lý của bệnh viện. Chưa kịp giới thiệu mình từ tòa soạn báo đến, Thu và hai bạn vội lao vào cùng mọi người tháo gỡ hầm sập, để nhanh chóng cứu nạn nhân.
      Máy móc thiết bị đào bới không có. Khi họ cùng nhau khiêng những mảng gạch lớn vứt sang bên, đã thấy lộ ra các khe nhỏ trên đống đất đá đổ nát. Những tiếng kêu cứu gọi cha, mẹ và đồng đội từ trong đó hắt lên… nghe đau đến xé lòng. Thu chưa bao giờ phải chứng kiến cảnh tượng xót xa như thế? Lòng cô tráo lên nỗi thương tâm, muốn khóc. Thu cố kìm lại những dòng nước mắt ấy, ra sức làm với mọi người để cứu họ.
      Cửa hầm đã hé mở nhưng chưa thể đưa được mọi người lên ngay? Bác sĩ Kinh, bác sĩ Luân phải thả xuống hầm các bình khí để nạn nhân đang ở dưới đó thở được. Hai anh luôn động viên họ cố chịu đựng, chờ đợi. Gay go nhất là những chỗ hầm không có khe hở? phải dùng búa, xà beng đục bê tông để có lỗ cho nạn nhân thở. Đục được một lỗ dù rất nhỏ trên tấm bê tông cốt thép, là cả một vấn đề nan giải. Chỉ một lỗ con con, có khi mấy người phải thay nhau đục hàng tiếng đồng hồ mới thông.
      Thu và nhóm phóng viên vẫn cùng với mọi người ra sức đào bới. Cửa hầm lộ ra rõ hơn, đã nhìn thấy lấp ló khuôn mặt của một cô gái với tiếng nói thầm thì, yếu ớt:
-  Các anh, các chị ơi… cứu chúng em với. Bấc sĩ Kế chết rồi. Em mắc kẹt không lên được? Cứu chúng em với… các anh, các chị ơi!
      Y, bác sĩ ở đấy cho biết: đó là tiếng kêu của em Thúy, sinh viên năm thứ ba đại học y Hà Nội đi thực tập tại bệnh viện. Nghe tiếng kêu, không ai cầm được nước mắt, vừa làm vừa khóc. Mọi người dồn tất cả sức lực để cố cứu những ai còn đang ngột ngạt trong đó. Nam thanh niên khỏe thì thay nhau đục, đào, cuốc. Người này mệt quá nghỉ uống nước, người khác liền thay thế. Đói thì ăn tậm mẩu bánh mỳ mà một chị hộ lý của bệnh viện vừa mang tới phục vụ, rồi lại tiếp tục đào bới không ngơi nghỉ.
      Hai bàn tay Thu cũng như những người khác đã phồng lên và rớm máu, song không ai cho phép mình được dừng lại – Như bác sĩ Kinh đã nói: Chỉ cần nghỉ một phút thì khả năng cứu nạn nhân sẽ bị hạn chế, cuộc sống của bao con người sẽ bị cướp đi… mà đáng lẽ họ vẫn có thể được cứu sống, nếu được giải thoát sớm hơn.
      Niềm vui vỡ òa… Ai cũng cảm thấy sung sướng khi cửa hầm đã mở toang, và từng người được đưa lên. Lúc này, nhóm phóng viên báo Hà Nội Mới lại cùng mọi người chuyển các nạn nhân đi cấp cứu. Nhẹ thì đưa ngay vào khu điều trị của bệnh viện, cũng ở trong một tầng hầm rộng nhưng chưa bị trúng bom. Nặng quá thì theo chỉ dẫn của bác sĩ, đưa thẳng đến bệnh viện Việt Đức và “Y học cổ Truyền” ở phố Nguyễn Bỉnh Khiêm.
      Công việc vận chuyển cũng hoàn toàn do người cõng đi. Nhìn các y, bác sĩ và nhân viên nhiều người nhỏ thó: cân nặng chỉ khoảng trên 40kg, vậy mà lúc họ cõng những nạn nhân nặng 50-60 cân đi cứ phăm phăm – Đúng lầ “cứu người hơn cứu hỏa”!
      Thu cõng một chị y sĩ của bệnh viện bị bom vùi sập vào khu cấp cứu của viện. Cô bước xuống một căn hầm lớn. Ở đó, cô đã gặp bác sĩ Đỗ Doãn Đại, giám đốc của bệnh viện. Ông đang dồn hết tâm sức mình để cứu chữa các nạn nhân. Khi Thu cõng chị y sĩ vào hầm, một hộ lý đang phục vụ ở đấy vội vàng chạy lại cùng Thu đỡ người bị nạn. Họ đặt nạn nhân xuống một chiếc giường lò xo có trải tấm đệm trắng. Bác sĩ Đại ngước nhìn Thu vẻ hơi ngạc nhiên vì thấy lạ. Ông hỏi:
-  Cô ở nơi khác mới đến?
-  Dạ, thưa bác sĩ! Chúng em là nhóm phóng viên ở Tòa báo Hà Nội Mới, sáng nay biết tin bệnh viện bị trúng bom, đến đây để cùng tham gia cứu giúp người bị hầm sập.
      Hỏi vậy, nhưng bác sĩ Đại đã vội cúi xuống khám vết thương cho người mới đưa đến. Ông rút chiếc ống nghe ra khỏi người nạn nhân, rồi nói với Thu:
-  Được anh chị em báo chí đến giúp đỡ thì tốt quá! Nếu cần gì, cô cứ hỏi các y bác sĩ và nhân viên ở viện, họ sẽ giúp.
      Nói rồi, ông lại vội vã lao vào cứu chữa. Thu cũng quay lại chỗ hầm bị sập, tiếp tục giải thoát người ở đó.
      Sau một ngày, trời đã tối và rét buốt. Máy bay địch vẫn ném bom ầm ầm ở vùng lân cận. Thu và hai bạn phóng viên vẫn cùng mọi người lao vào đào bới, tìm kiếm nạn nhân ở các hầm bị sập khác. B52 Mỹ đã đánh sập hai khu hầm lớn, đó là khu hầm của Khoa nội và Khoa da liễu. Bác sĩ, giám đốc Đỗ Doãn Đại trực tiếp chỉ thị cho mọi người chia ra khẩn cấp tìm kiếm. Họ gọi nhau, thôi thúc nhau trong khói lửa hoang tàn rồi lại lao vào đào bới, cho đến khi nghe được câu nói đầu tiên của người bị nạn: “các anh chị ơi, cứu chúng em với!”. Tất cả phải cắn răng để những tiếng nấc và cả dòng nước mắt không bật ra. Thu cũng chỉ muốn òa lên khóc… 
      Cả đội xây dựng của thành phố đã được điều đến giúp đỡ, tháo các tấm bê tông bị sập. Giám đốc Đại chỉ đạo cho nhân viên nhà bếp cấp tốc nấu cháo, chuẩn bị nước đường… vừa để phục vụ cho y bác sĩ và những người cứu chữa, vừa mang xuống hầm cho các nạn nhân. Với nhân viên tổ điện - nước: Ông yêu cầu khẩn trương vận hành máy phát điện, chỉnh sửa lại đường nước.
      Khi kiểm tra thấy các đường nước đều bị phá hủy – Nhân viên đã phải dùng một chiếc máy bơm cũ, bơm nước từ dưới giếng lên. Vì máy bơm quá cũ, bơm nước lên rất chậm. Sau đó, bệnh viện đã được thành phố điều các xe chở nước đến hỗ trợ.
      Khu B của bệnh viện, chính là nơi có Khoa da liễu và cả Khoa tai-mũi-họng bị phá hủy nặng nề nhất. Bom khoan rất sâu, làm đổ sập tường. Mảng bê tông chặn cửa xuống hầm. Các y, bác sĩ của Khoa da liễu bị chẹn ở cả bên trong hầm , chưa biết sống chết ra sao? Khi mở được đường xuống hầm, nhưng lối đi rất nhỏ và tối – Những bác sĩ trong đội cứu hầm sập phải bò vào bên trong, luồn lách để xem xét tình hình.
      Khoa Ngoại gần Khoa da liễu nên các bác sĩ Khoa ngoại được điều động tới phối hợp với công nhân xây dựng, tiến hành tháo dỡ bê tông và cứu nạn nhân. Đoạn đầu ngách hầm, tấm bê tông đè chết một cô hộ lý. Bác sĩ Kinh nói, đó là cô Hoàng Kim Thoa, thi thể nằm chắn ngang lối hầm. Tiếng người bị kẹt bên trong thì đang kêu gào:
-  Các anh, các chị ơi! Cứu chúng em với… cứu chúng em với…
      Không sao lấy được thi thể của cô hộ lý ra, anh em phải gọi bác sĩ Đại đến xin cách giải quyết? cô bị tảng bê tông đè lên người, hai tay giang ra chắn lối đi xuống cửa hầm. Giám đốc Đại đành phải quyết định cắt thi thể của cô hộ lý ra ba khúc: tháo khớp hai tay, tách khỏi phần người - Đó là một quyết định khó khăn nhất đối với ông !? nhưng giây phút sinh tử của bao nhiêu con người còn sống ở bên trong, cần được nhanh chóng cứu. Là người lãnh đạo cao nhất ông phải quyết định.
      Bác sĩ Kinh và bác sĩ Luân được chỉ định làm việc này. Nghĩ mà tội cho hai anh, phải làm việc ấy họ đau lòng lắm nhưng phải gạt nước mắt để thực hiện. Thu biết các anh không thể làm thế nào khác. Nhìn cảnh tượng lòng cô cũng thấy xót xa. Tất cả phải nén đau thương.
      Lúc ấy khoảng 4 giờ chiều, mưa lâm thâm.  Hai bác sĩ ra giữa trời thắp hương, ngửa mặt lên không trung vái lia lịa: xin trời đất phù hộ! Xin người chết tha tội cho các anh làm việc ấy… rồi hai bác sĩ mới bò vào mầy mò trong bóng tối, dùng dao mổ tháo khớp nạn nhân.
      Sau khi đã tiến hành cắt thân thể của cô hộ lý, dùng dây thừng kéo cẩn thận ra từng phần một – để chị Cúc, nhóm trưởng bộ phận cứu hộ của bệnh viện bế Thoa ra ngoài. Bác sĩ Kinh và Luân vội lao vào khâu lại thi thể của cô hộ lý cẩn thận, như vẫn còn nguyên vẹn.
   Những y, bác sĩ khác thì lách vào trong hầm buộc dây từng người đã chết, tiếp tục mười mấy cái xác được đưa ra… để họ cứu người còn sống ở bên trong. Những tiếng kêu khóc của người bị nạn vang lên trong bóng tối. Lần lượt đã được cõng và khênh đi đến nơi cấp cứu. Đau thương và kinh hãi. Mọi người vừa làm vừa lo lắng B52 có thể sẽ quay lại rải bom?
     Các khuôn mặt người chết hầu như đều bị biến dạng vì bom. Trong số nạn nhân bị tử vong, họ nhận ra: hai nữ sinh viên đến bệnh viện thực tập là em Liên, em Thanh mới có người yêu. Bác sĩ Đại nhận ra chị y sĩ Quất nhờ chiếc răng cửa bịt vàng, y sĩ Lan nhờ ngón tay đeo nhẫn cưới – với y sĩ Lan, các bác sĩ phải dùng dao lựa lấy chiếc nhẫn ra, trao lại cho gia đình làm kỉ vật.
      Tất cả òa lên khóc, khi nhìn thấy thân thể chị Nguyễn Thị Diên đang mang thai đứa con ba tháng tuổi. Thế là cả hai mẹ con chị không còn. Đứa bé chưa thành hẳn hình người đã bị bom giết chết! Có lẽ, khó có tội ác nào lớn hơn tội ác này của bọn xâm lược đế quốc Mỹ?
      Người nữ bác sĩ Nguyễn Thị Giỏi mới tổ chức đám cưới được một tuần, thì người chồng phải lên đường vào Nam chiến đấu. Mãi mãi họ sẽ không bao giờ còn được gặp nhau nữa.
      Chị Mai Thị Tuyết thợ điện, chồng đi B… để lại ba đứa con nhỏ cho người mẹ già 90 tuổi – Kể làm sao cho hết những cái chết đầy bi thương, ai oán.
      Tất cả các thi thể nạn nhân tìm thấy được đặt cạnh nhau trên cáng. Nhóm phóng viên của Thu tham gia cùng mọi người, chuyển xuống nhà xác để làm  khâm liệm. Lễ khâm liệm cũng tổ chức đơn giản và nhanh chóng – Phần vì vẫn còn phải tiếp tục đào bới tìm kiếm, phần nữa đề phòng máy bay địch sẽ tới ném bom tiếp. Tất cả lao vào công việc cứu hộ hết mình, với tinh thần: mỗi y, bác sĩ, hộ lý, y tá và nhân viên đều là một chiến sĩ trên chiến trường.
      Sau khi tranh thủ tìm hiểu qua bác sĩ Đại, Thu được biết: Trong khuôn viên bệnh viện Bạch Mai có một hệ thống đường hầm, do người Pháp xây dựng đồng thời với bệnh viện. Đến năm 1972,  đường hầm đã có tuổi thọ gần 100 năm. Trước đây, khi chưa có chiến tranh phá hoại ra miền Bắc: một số đường hầm này được dùng làm đường vận chuyển bệnh nhân chết ở các khoa ra nhà xác, một số khác thì làm đường thoát nước. Đường hầm bằng bê tông cốt thép rất kiên cố, vững chắc… nên khi có chiến tranh đã được sử dụng làm nơi trú ẩn.
      Một số chỗ xây dựng làm các phòng cấp cứu, điều trị bệnh nhân. Các khoa đặt trong hầm rất thoải mái. Bác sĩ có thể tiến hành mổ ngay dưới hầm, đi lại không phải cúi đầu.
      Bê tông rất dầy, bởi thế lúc hầm sập, mang được nạn nhân ra khỏi hầm rất khó khăn. Khi chúng ném hơn 100 quả bom xuống bệnh viện, dưới lòng đất nhiều cửa hầm bị bít kín. Không kể các y, bác sĩ, hộ lý và nhân viên của bệnh viện, thì có khoảng 300 bệnh nhân ở trong đó cần được cứu ra ngoài? Trước tình cảnh ấy, những người cứu hộ phải phá cửa hầm len vào đưa nạn nhân ra. Lúc đầu, đội cứu hộ ngăn không muốn cho các y, bác sĩ vào trong hầm, vì sợ hầm sập? nhưng các y, bác sĩ vẫn quyết định phải vào, vì hàng trăm con người trong đó đang cần họ. Là y, bác sĩ phải đặt nhiệm vụ cứu người lên hàng đầu!
      E rằng, nguy cơ không quân Mỹ vẫn còn có thể tiếp tục ném bom đánh phá bệnh viện? Cấp trên ra lệnh cho giám đốc, bác sĩ Đại chuyển bệnh viện và bệnh nhân đi nơi khác an toàn để chữa trị. Nhưng do số người bệnh và bị trọng thương ở tứ phương dồn đến ngày càng nhiều, nên không di chuyển được. Bác sĩ Đai vẫn quyết định: phải khắc phục khó khăn bằng mọi cách, để bệnh nhân ở lại bệnh viện tiếp tục chữa trị.
      Vào lúc tối muộn hôm 22 tháng 12 đó, sau khi xin phép hai bác sĩ Kinh và Luân – Thu và hai bạn phóng viên tranh thủ tạt về tòa soạn báo để báo cáo tình hình và cũng tranh thủ ngủ vài tiếng. Tới gần sáng, họ lại vội vã vào viện tiếp tục tham gia công việc đào bới, cứu người.
      Khi đi vào khu sân, trước cửa một căn phòng mà nhân viên ở đó nói là phòng hành chính cũng đã bị sập. Bỗng Thu nhìn thấy một bó chiếu cuộn tròn – Cô nghĩ, có lẽ bộ phận y tế bỏ sót một cái xác chưa đem đi? Thu lấy tay khẽ mở manh chiếu, giật bắn mình. Một người từ trong chiếu nhỏm bật dậy. Hóa ra, đó là một chị nhân viên của viện: thấy cảnh hầm sập… nước ngập trong hầm… người chết thảm – chị sợ quá không dám ngủ trong nhà mà ra ngủ ngoài sân. Chị nhân viên bó chiếu quanh người rồi nằm cạnh một chiếc hầm cá nhân, để khi có báo động xuống hầm cho nhanh. Chị ta nhìn Thu nhoẻn cười và nói:
-  Mình tranh thủ chợp mắt một tí. Mệt quá, mắt cứ ríu lại. Các em cũng phải tranh thủ ngủ để lấy sức chứ?
-  Chúng em cũng vừa chợp mắt vài tiếng ở tòa soạn báo, rồi ạ! 
      Thu nhanh nhảu đáp. Nói xong chị nhân viên lại tiếp tục cuộn tròn trong chiếu và ngủ. Nhóm phóng viên vội đi về phía mọi người vẫn đang hối hả tháo dỡ hầm để cứu người.
       Trong trận ném bom tàn khốc đêm 21 rạng ngày 22.12.1972, bệnh viện Bạch Mai có 22 người bị thương và 31 người chết - trong đó chỉ có một bệnh nhân, còn lại toàn là các y, bác sĩ của viện – vì khi bom đánh, các y bác sĩ phần lớn ở phía ngoài bị tường bê tông đổ giết chết, bệnh nhân ở trong sâu nên cửa hầm sập, họ chỉ bị kẹt.
      Bác sĩ Đỗ Doãn Đại kể: khi ông bò vào trong hầm bị sập, người đầu tiên mà ông nắm đúng tay là bác sĩ khoa da liễu Ngô Thị Ninh. Toàn thân chị cứ run lên bần bật. May mắn cuối cùng, ông cũng đã cứu được chị và một số người khác như bác sĩ Nguyễn Thị Hồi, chị Phi Thị Mạch, y tá Nguyễn Thị Hạnh với 3 em nhỏ và toàn bộ 300 bệnh nhân đã được đưa ra ngoài an toàn. 
      Vẫn theo bác sĩ Đỗ Doãn Đại:  có những trường hợp không cứu được, rất đau thương như bác sĩ Nguyễn Thị Giỏi, chị Trần Thị Kim Tuyến (em gái của giáo sư sử học Trần Quốc Vượng) – Đặc biệt có ba thi thể ôm chặt vào nhau: Đó là chị Nguyễn Thị Diên mới làm cô dâu được năm tháng đang có thai, chị Đặng Thị Khuyến và Đỗ Ngọc Thanh – Họ là những người bạn thân thiết, vẫn trong tư thế ôm chặt nhau chết thảm dưới tảng bê tông. Phải dùng dây buộc vào mỗi thi thể, rồi tất cả cùng kéo… mới tách được từng người ra khỏi nhau. Với cô sinh viên trường y Đinh Thị Thúy, khi tiếp cận em vẫn còn mở mắt nhìn bác sĩ và chỉ kêu lên được một tiếng: “Thầy ơi!”… rồi lịm đi trong giấc ngủ ngàn thu.
      Giáo sư Lê Kim Duệ, bác sĩ Trần Duy Kế đang chuẩn bị đi vào chiến trường Vĩnh Linh và một số người khác nữa, cũng ngã xuống trong trận bom này.
      Theo lời bác sĩ Kinh: Đêm đó là ca trực của anh. Anh vừa là bác sĩ khoa ngoại của viện vừa là giảng viên Trường Đại học y, nên đã dọn hết về ở bên bệnh viện. Khoa ngoại, trừ một bộ phận đã sơ tán – còn lại, giám đốc viện yêu cầu trực 24/24 giờ trong ngày. Qui định của trực cấp cứu là người trực phải ở trên, không được xuống hầm trừ lúc đánh bom. Chiến sĩ bị thương nhiều, đồng bào trúng bom cũng đưa vào Bạch Mai rất đông.
      Vào lúc 4 giờ sáng, tiếng gầm B52 rát quá, họ phải xuống hầm. Khoảng 15 phút sau thấy đất đá rung chuyển, nhưng khi báo yên chui lên khỏi hầm thì tất cả đã tan hoang. Khoa ngoại – chỗ họ vừa trực cũng bị trúng bom, chậm một chút nữa thì tất cả tan xác. Sau đó, anh được giám đốc Đại gọi sang bên Khoa da liễu. Bên ấy hầm sập, nhiều bệnh nhân và y, bác sĩ đang bị kẹt ở dưới hầm. Cứ như thế mà phải bốn ngày sau mới đưa được thi thể hai người cuối cùng lên khỏi hầm: Đó chính là em Thúy, sinh viên thực tập và anh Trạch, nhân viên bảo vệ. Lúc ấy thân thể của họ đã biến dạng và bắt đầu  bị phân hủy.
      Nói về bác sĩ Đỗ Doãn Đại – Ông trở thành giám đốc của viện từ năm 1969. Vợ ông là bác sĩ Phạm Thị Hoan đã xung phong vào tuyến lửa Quảng Bình. Các con đều sơ tán theo trường, nên mình ông thường ở lại ngay bệnh viện. Ông được coi là người thuyền trưởng chèo lái con thuyền Bạch Mai vượt qua giai đoạn thảm khốc 1972, nối tiếp cuộc hành trình trong suốt hơn 100 năm cùng đất nước.
      Bệnh viện đã bốn lần bị ném bom.
-  Lần thứ nhất tháng 11 năm 1967: Một bệnh nhân tử vong, ba bác sĩ bị trọng thương.
-  Riêng năm 1972 tới ba lần phải hứng chịu sự cuồng phong của không quân Mỹ.
      *  Trận bom 26 tháng 7 làm nhiều người bị thương.
      *  Trận trưa 19 tháng 12, bốn quả bom nữa rơi xuống Khoa da liễu và Tai-mũi-họng. 
      Khói bụi chưa kịp tan, nỗi hoảng hốt chưa kịp dịu lại trên nét mặt mọi người, thì trận đại tàn khốc lúc 4 giờ sáng ngày 22.12.1972 – Mỹ dồn lực để hủy diệt bệnh viện.
      Năm 1972 - Bạch Mai cùng với bệnh viện Việt Đức, hai cơ sở điều trị ngoại khoa lớn nhất miền Bắc. Mỹ muốn tàn phá Bạch Mai để uy hiếp tinh thần của Hà Nội, làm cho Hà Nội điêu đứng trở về thời kỳ đồ đá. Mất Bạch  Mai là mất nơi khám chữa bệnh, tê liệt một cơ sở cấp cứu hàng đầu – Khi ấy Bạch Mai làm nhiệm vụ chữa trị cho cả vùng phía nam Hà Nội và các tỉnh từ Hà Nam về thủ đô.
      Bác sĩ Đỗ Doãn Đại có một cô em dâu tương lai, cũng là một nữ bác sĩ bệnh viện bị bom chết hôm 19/12. Thiệp mời đám cưới còn chưa kịp chuyển đến tay bạn bè. Hôm 21/12, giám đốc Đại lo đám tang cho cô em dâu – Tối đến mệt mỏi nên về nhà ở khu phố Kim Liên, cách Bạch Mai không xa. Nửa đêm đang chập chờn trong giấc ngủ, thì ông nghe thấy hàng loạt tiếng bom nổ rung chuyển, ầm ầm… rất gần. Đất trời chao đảo. Các quầng đỏ nối nhau của tên lửa bắn lên rực trời. Gió xồng xộc ùa vào cả miệng hầm của khu Kim Liên. Nhìn về phía bệnh viện, ông nóng ruột, lòng dạ bồn chồn. Còi báo yên, ông tức tốc đạp xe đến viện. Sát đến ngày nô-en trời rét căm căm…
      Năm phút sau, ông tới nơi vừa đúng lúc gặp y, bác sĩ khoa ngoại và các khoa khác cũng đã lên mặt đất. Đập vào mắt họ là cảnh điêu tàn, đổ nát. Dưới sức công phá của hơn trăm quả bom, tất cả chìm trong khói bụi. Tiếng khóc, tiếng kêu cứu vang vọng khắp nơi.
      Ông đã len lỏi đi một vòng quanh bệnh viện xem xét tình hình, đồng thời trấn an tinh thần các y, bác sĩ và nhân viên bình tĩnh cứu nạn nhân. Đội xây dựng của thành phố đã kịp thời được điều đến, để giúp tháo gỡ những tấm bê tông bị sập. Ông Đỗ Thọ phụ trách hệ thống điện, dù không phải là ca trực nhưng nghe tin bệnh viện bị ném bom, cũng đã lập tức tới.
      Trong số 31 người chết đêm đó, có một em bé tám tuổi, con một nhân viên bệnh viện theo mẹ đến cơ quan tránh bom – vì Bạch Mai có một hệ thống đường hầm bằng bê tông kiên cố. Thường mỗi khi Hà Nội có báo động, những người dân quanh đấy vẫn tìm đến nương náu nhờ.
      Bác sĩ Đại khi ấy là thần tượng của anh em cán bộ bệnh viện, rất liêm khiết, đứng đắn và tử tế. Ông có tín nhiệm rất cao cả đức độ lẫn tay nghề, không ai không ngưỡng mộ.
      Năm 1967, khi giặc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc – Một nửa bệnh viện đã lên đường sơ tán vào Ứng Hòa, Hà Tây. Một nửa trụ lại. Hà Nội còn đây, bệnh viện không thể đi hết. Thời chiến quen với việc đánh phá, kể cả những giây phút không quân Mỹ điên cuồng quần thảo trên bầu trời, bác sĩ của bệnh viện vẫn bình thản mổ cấp cứu ngay dưới hầm. Thông thường các bệnh nhân được đưa vào sâu trong các đường hầm, phía ngoài là các y, bác sĩ, hộ lý túc trực – nên trận bom oan nghiệt, số người tử thương hầu hết là y, bác sĩ và các nhân viên y tế. Bệnh nhân vẫn được an toàn ở phía trong.
      Do có hệ thống đường hầm kiên cố nên các phòng mổ, phòng đẻ, phòng xét nghiệm… và một số giường của bệnh nhân ở các khoa, đều đưa xuống dưới hầm. Nhiều khi đang còn báo động, nhưng có điện thoại gọi xe cấp cứu đến nơi địch bắn phá, các thầy thuốc lập tức lên đường. Các bác sĩ tiến hành sơ cứu tại chỗ, rồi đưa bệnh nhân về viện cứu chữa.
      Bạch Mai là một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh đặc biệt đầu tiên ở Việt nam, cũng là cơ sở thực hành chủ yếu của Đại học y Hà Nội.
      Nói về mười sáu chị em làm việc ở bệnh viện Bạch Mai đêm 21 rạng ngày 22.12.1972 ấy: Đó là các chị Nguyễn Thị Cúc, Toán, Sửu, Hân, Nhàn, Xiêm… Họ là các bác sĩ, y tá, đồng thời còn là những chiến sĩ tự vệ của bệnh viện, đều đang tuổi thanh xuân - Lúc 4 giờ sáng hôm đó khi hơn trăm quả bom ném xuống, tất cả đang ngủ ở khu tập thể nhà tròn của bệnh viện. Sau ít phút bàng hoàng, họ gọi nhau chạy đến các khoa-phòng nơi làm việc. Mặc trời tối, rét buốt và máy bay địch vẫn đang ầm ầm ném bom ở những vùng lân cận, lập tức lao vào tìm kiếm nạn nhân.
      Cảnh đau thương, tang tóc và sự dũng cảm của các y, bác sĩ, nhân viên y tế bệnh viện … đã làm lay động nhân loại. Một nhà báo Mỹ đã ghi lại và đưa tin về bệnh viện, khiến toàn thế giới rung động - Họ cảm phục về lòng dũng cảm của những con người Việt Nam, đồng thời lên án sự tàn ác, vô nhân đạo của đế quốc Mỹ.
      Khi tiếng bom dứt, nữ bác sĩ người Pháp Yvonne Cupde Vilie đã có mặt ngay ở hiện trường đổ nát của bệnh viện, để ghi nhận và tố cáo.
      Nữ diễn viên Jane Fondda – “Jane Hà Nội”, cũng tới viện. Đứng trên nền đất đá tan hoang… để chứng nhận sự man rợ của chiến tranh.
      Một số giặc lái Mỹ cũng được đưa tới, để chúng chứng kiến tận mắt tội ác mà chính chúng đã gây ra.
 
                                                        *
 
      Ngày 22.12.1972, Pháo đài bay B52 Mỹ không chỉ ném bom hủy diệt bệnh viện Bạch Mai – vào lúc 2 giờ 38 phút, chúng sử dụng 24 lần chiếc B52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật, 18 lần chiếc “cánh cụp cánh xòe” F111 đánh phá sân bay Nội Bài, ga Giáp Bát, Gia Lâm, Văn Điển… cùng các trận địa tên lửa.
      3 giờ 42 phút, Tiểu đoàn 57 bộ đội phòng không Hà Nội bắn hạ 1 B52 rơi ở Chợ Bến, Mỹ Đức, Hà Tây. Cùng thời điểm, Tiểu đoàn 71 bắn rơi tại chỗ 1 B52 nữa ở Thanh Miện, Hải Hưng.
      3 giờ 46 phút, Tiểu đoàn tên lửa 93 lại bắn rơi 1 B52 ở khu vực Quỳnh Côi, Thái Bình.
      Ban ngày – 56 lần chiếc máy bay chiến thuật không quân Mỹ đánh phá các mục tiêu: Ga Kép, thị xã Bắc Giang, thành phố Việt Trì, thị trấn Vĩnh Yên.
      Ban đêm – 24 lần chiếc B52 với 30 lần chiếc máy bay chiến thuật hộ tống, đánh phá Đông Anh – Hà Nội, Hòa Lạc, Đáp Cầu… Trong đó 9 lần chiếc F111 tập trung đánh khu vực Hải Phòng như Sở Dầu, Nhà máy Xi măng, khu An Dương.
      Lực lượng cao xạ phòng không đã bắn rơi 5 máy bay: với 3 B52 và 2 phản lực. Đặc biệt tại trận địa Vân Đồn – Hà Nội: bằng 19 viên đạn 14ly5, các chiến sĩ tự vệ nhà máy Liên Cơ đã bắn rơi 1 “cánh cụp cánh xòe” F111 của Mỹ.
      Ngày 23.12.1972
      Ban ngày – 57 lần chiếc máy bay chiến thuật Mỹ đánh phá các khu vực ngoại thành Hà Nội như Mai Dịch, Trạm Trôi, Hoài Đức.
      Ban đêm – 33 lần chiếc B52 đánh Đồng Mô - Lạng Sơn và khu vực Bắc Giang. 30 lần chiếc máy bay F4 - F105, 11 lần chiếc F111 đánh vào Yên Viên, Giáp Bát, Đa Phúc và các sân bay Nội Bài, Yên Bái.
      Hướng biển – 7 lần chiếc máy bay chiến thuật của hải quân Mỹ đánh Uông Bí, Phả Rừng, Sở Dầu và sân bay Kiến An (Hải Phòng).
      Cao xạ phòng không Việt Nam bắn rơi 4 máy bay: trong đó có 2 B52, 1 F4 và 1 A7.
      Ngày 24.12.1972
      Ban ngày – 44 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá khu vực Thái Nguyên, Sen Hồ, Việt yên (Hà Bắc).
      Ban đêm – Từ 19 giờ 50 phút với 33 lần chiếc B52 đánh phá ác liệt ga Kép, Bắc Giang. 39 lần chiếc máy bay chiến thuật yểm hộ đánh vào sân bay Yên Bái, ga Kép và khu vực Vĩnh Tuy (Hà Nội).
      Cao xạ phòng không Quân đội nhân dân Việt nam đã bắn rơi 5 máy bay: trong đó có 1 B52, 2 F4, 2 A7 – Lực lượng dân quân tự vệ bắn rơi 2 máy bay bay thấp. Dân quân tỉnh Hòa Bình bắn rơi tại chỗ 1 máy bay lên thẳng HH-53 đến cứu phi công.
       Lúc 24 giờ ngày 24.12.1972, Níchxơn ra lệnh ngừng tập kích B52 trong 36 giờ vào ngày Chúa giáng sinh. Thực chất là để xả hơi và rút kinh nghiệm sau những đòn đau, bị thiệt hại nặng nề qua một tuẩn lễ đầu tiên của chiến dịch Linebacker II.
      Nói về Thu và nhóm phóng viên báo Hà Nội Mới – Sau ba ngày tham gia cứu hộ người bị sập hầm ở bệnh viện Bạch Mai, công việc đã tạm ổn. Vào ngày Giáng sinh, họ trở lại tòa soạn để tiếp tục công việc báo chí và vui chơi đêm lễ không có tiếng bom, như lời cam kết của Tổng thống Hoa Kỳ.
      Khi Thu cùng hai bạn về đến tòa báo thì đã quá nửa đêm ngày 24/12. Ai cũng thấy mệt mỏi, chỉ kịp rửa ráy qua loa, rồi nhẩy lên các bàn làm việc thay cho giường nằm lăn ra ngủ. Lúc ấy, Hà Nội đã trở lại không khí  yên tĩnh như nhịp sống thường tình của thành phố.
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:29:50
 
 
                                                          41-
 
      Hà Nội – đêm Giáng sinh 1972, rất đông người dân đi sơ tán trở về tỏa ra từ các phố. Họ tin ngày Chúa giáng sinh, Mỹ sẽ không ném bom. Quả thế thật, sau đợt rải thảm B52 hôm 24/12 – Mỹ đã ngừng ném bom 36 giờ như lời tuyên bố của Tổng thống Níchxơn. Hà Nội vắng tiếng bom sau 7 ngày chiến đấu ác liệt, cuộc sống người dân thủ đô lại trở về với vẻ đẹp thanh bình vốn có.
      Thời tiết mùa đông mà Hà Nội ấm áp lạ thường. Từng tốp thanh niên, học sinh, sinh viên ùa về thủ đô đi chơi Giáng sinh. Phố Khâm Thiên – nơi sinh sống của rất nhiều người công giáo, nhộn nhịp trở lại. Khu phố nằm xa các cơ sở quân sự, nên dân chúng tin rằng ở đây an toàn. Các gia đình công giáo lũ lượt trở về, mong được đón ngày Chúa ra đời.
      Đêm Giáng sinh – phố Nhà Chung bừng sáng. Người người kéo nhau về Nhà Thờ Lớn. Đường phố tấp nập như chiến tranh không hề hiện hữu trên mảnh đất này. Bên trong Nhà Thờ Lớn: đèn, nến lung linh. Tiếng chuông ngân vang. Cha xứ làm lễ mong ước thái bình cho con dân. Mọi người đều hướng đến Chúa cầu nguyện… 
      Thu nghĩ về những năm tháng không xa? Mỗi khi mùa Giáng sinh tới, cứ đi qua phố Nhà Thờ và những con phố nhỏ quanh Bờ Hồ, lòng cô lại nhớ đến nao lòng. Những kỷ niệm đã qua bên các bạn bè thân thiết và Hoàng…
      Khi ấy họ vẫn còn là học sinh cuối cấp, thường có cái thú thích lang thang trong những đêm đông, nhất là đêm Giáng sinh để ngắm nhìn Hà Nội, ngắm nhìn những con phố đẹp nhất thủ đô ven Hồ Gươm.
      Đêm nô-en năm nay – Một đêm nô-en lịch sử, giữa cuộc oanh tạc khốc liệt của không quân Hoa Kỳ vào Hà Nội. Bên cạnh Thu chỉ có Lan, người bạn gái thân thiết từ nơi làm việc tận tỉnh xa về. Họ cùng đi chơi với nhau trong đêm lễ này. Thúy, bạn cả hai cô cũng hứa sẽ về? nhưng vì công việc đột xuất của cơ quan ở nơi sơ tán, lại không về được.
      Thu và Lan hòa nhập vào dòng người dạo chơi đêm Giáng sinh. Gió hun hút thổi từ Hồ Gươm lùa vào các con phố họ qua. Lang thang đêm vô định… với cảnh áo mỏng manh nhưng chẳng ai thấy rét. Hai người bạn gái cứ đi loanh quanh qua những con phố gần nhà thờ, vừa để cảm nhận không khí đêm lễ, vừa rủ rỉ nói chuyện về những kỉ niệm thời xưa.
      Người đến lễ đông nghịt. Vào Nhà Thờ Lớn, ai nấy bước đi nhẹ nhàng, nói khẽ khàng để không làm ảnh hưởng tới cái không khí trang nghiêm, đón chờ giờ khắc điểm: Chúa giáng sinh! 
      Cây thập tự trên nóc tháp nhà thờ đạo chĩa mũi nhọn chọc thẳng lên khoảng không, đổ bóng xuống mặt phố phía cửa trước, nơi có một vườn thánh nhỏ. Bên trong những hàng song sắt bao quanh vườn thánh, Đức mẹ đồng trinh khoác chiếc áo choàng màu đá, đang ẵm Chúa hài nhi. Trên mặt Đức mẹ thoáng gợn vẻ ưu tư, tạc nên hình tượng tình mẫu tử.
      Chuông rền rã… Thu ngắm nhìn ngôi nhà đạo cổ kính, uy nghiêm. Nhà Thờ Lớn Hà Nội được khánh thành đúng vào lễ Giáng sinh năm 1887, là sự tiêu biểu và đặc trưng nhất của nghệ thuật kiến trúc thời trung cổ. Những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên đỉnh trời đón ánh sáng. Bên trong là kiến trúc Gôtic. Lối kiến trúc này, luôn cho người xem ấn tượng về một không gian tôn giáo uy nghiêm.
      Khi nghe ca đoàn hát thánh ca, tiếng ca trầm hùng hòa với tiếng đàn oóc-gan, đàn dương cầm… ta như thấy mình bay theo Chúa vào không gian sâu thẳm, bí ẩn, linh thiêng. Sau những lời thỉnh đạo trầm ấm, âm vang của Đức cha chỉ giáo về ngày Chúa ra đời, mọi người thấy tâm mình sáng lên như được khai minh. Đêm Giáng sinh, đêm Chúa ngự trên trái đất này đã đem lại cho con người một niềm an ủi, mỗi khi gặp những khổ đau, có niềm tin vào những điều tốt đẹp trên đời.
      Kể từ thời phục hưng đến nay, ngày Lễ Giáng sinh không còn chỉ là riêng của những người thiên chúa giáo – Giáng sinh đã trở thành ngày Lễ quốc tế, ngày lễ của gia đình. Mọi người thuộc các thế hệ về tề tựu bên nhau, thể hiện tình yêu thương. Trẻ con sẽ là những thiên thần lên ngôi trong mùa lễ hội. Những thiên thần ấy đi vào giấc ngủ, cùng với hình ảnh “ông già tuyết”  leo vào từ ống khói… mang cho chúng món quà mà chúng mong đợi nhất. Hát vang bài hát Jingle Bells, một thông điệp của mùa Lễ Giáng sinh.
      2013 năm trước đây, Đức Chúa Jesus Christ – Đấng cứu thế đã giáng sinh để cứu chuộc rất nhiều lầm lỗi của loài người: theo giáo lý Thiên chúa. Thời gian trôi qua, bản tính xấu xa của con người không những không mất đi, mà còn hoành hành dữ dội và ngang ngược hơn. Không còn cách nào khác, Đức Chúa Trời đã phải cho con mình đầu thai xuống trần thế, để gánh bớt tội lỗi cho con người. Như vậy, Chúa Jesus đã giáng sinh để gỡ bỏ lỗi lầm, giải bớt những hiềm khích, khuyên răn con người làm điều phước đức mà hưởng ân huệ của Chúa.
      Chúa dậy con người rất nhiều điều: Chúa bảo con người phải biết sống vì người khác, Chúa đem đến cho con người sự lạc quan vui sống, khuyên nhủ con người hãy giữ vững đức tin: “Hãy xin sẽ được - Hãy tìm sẽ gặp -  Hãy gõ cửa, sẽ mở cho”. Chúa còn kêu gọi: “Hỡi dân ngoại, hãy đồng vui cùng dân Chúa” – để người mạnh, kẻ yếu phải hòa hợp nhau. Chúa còn khuyên con người luôn hướng tới sự công bình. Phước cho những kẻ làm cho con người hòa thuận, vì sẽ được gọi là “con Đức Chúa trời”.
      Nếu tìm hiểu thêm ý nghia của Lễ Giáng Sinh, chúng ta sẽ thấy nhiều điều thú vị: truyện về ngày sinh của Chúa Jesus, có tên bằng tiếng Anh là Nativity. Chúa Jesus do Đức Mẹ Đồng Trinh tự nhiên mang thai mà sinh ra. Sự thụ thai này do quyền lực thần diệu của Thượng Đế, tạo ra trong bà Mary còn đồng trinh. Chúa Jesus được sinh ra trong một chuồng ngựa (stable) tại Bethlehem và được đặt trong máng cỏ (manger), vì lúc đó trong nhà trọ không còn phòng trống nào. Sau đó Chúa Jesus được Đức mẹ Mary và chồng của bà là Joseph nuôi nấng tại Nazareth – một thành phố ở phía bắc Israel. Khi được mười hai tuổi, Chúa Jesus đến giáo đường ở Jerusalem, và đã làm kinh ngạc các giáo sư về môn Mosaie Law với sự hiểu biết của ngài.
      Khi lớn lên, Chúa Jesus chọn được mười hai Tông Đồ cùng ngài đi khắp nơi ở Palestine để giảng đạo, chữa bệnh và thực hiện các phép lạ - Đó là phép “Loaves and Fishes” (những ổ bánh mỳ và những con cá).
      Chuyện phép lậ này được người ta truyền lại: Khi Chúa Jesus thuyết giảng ở một đám đông, trong lúc họ rất đói. Người ta chỉ tìm thấy 5 ổ bánh mỳ và 2 con cá –  Chúa Jesus làm phép trên 5 ổ bánh mỳ và 2 con cá này, rồi ra lệnh cho các đệ tử của ngài phân phát đồ ăn cho tất cả mọi người. Sau khi mọi người được phát đầy đủ đồ ăn và ăn đã no nê, người ta thấy 12 chậu đồ ăn vẫn còn đầy.
      Nhờ việc đi rao giảng lời của Thượng Đế mà ngài đã có rất nhiều tín đồ, đồng thời cũng nhiều kẻ thù. Cuối cùng, Chúa Jesus bị tên Judas Iscariat phản bội. Sau đó, bị Potius Pilate – người lãnh đạo dân Do Thái lúc bấy giờ kết án và chính quyền La Mã đóng đinh trên Thập Tự Giá. Những người Thiên chúa giáo tin là ngài đã cải tử hoàn sinh, và sự phục sinh này là để cứu vớt các linh hồn.
      Những tục lệ cổ truyền về Lễ Giáng sinh bắt nguồn từ sự trùng hợp ngày sinh của Chúa, với ngày lễ kỷ niệm về nông trang và mặt trời vào mùa đông (winter Selstice) của những người không theo đạo thiên chúa. Vào dịp này, người ta trang hoàng nhà cửa bằng cây lá xanh tươi và hoa, đèn rực rỡ. Trẻ con và người nghèo được trao quà tặng.
      Lửa, đèn và nến là vật tượng trưng của sự ấm cúng cùng sự sống. Nó luôn liên hệ với các lễ lạc vào mùa đông, của cả những người theo đạo thiên chúa và các đạo khác. Từ thời trung cổ: cây thông – một loại cây vạn liên thanh, là biểu hiện cho sự sống và không thể thiếu trong Lễ Giáng sinh.
      Tính đến năm 1972, ngày Chúa ra đời cách đã 1969 năm. Chúa nhân từ đã cứu rỗi bao chúng sinh lầm đường, lạc lối. Những người có đạo tin Chúa luôn mang lại sự tốt lành, nên họ ít khi làm điều ác.
      Rời Nhà Thờ Lớn, Thu và Lan lặng lẽ đi bên nhau với bao tâm sự. Thu nói với Lan:
-  Phố Nhà Thờ là phố của những người nghiền cà phê đấy! Lan có nhớ, những năm trước đây khi hội của chúng mình đi chơi đêm nô-en, Hoàng vẫn rủ các bạn vào uống cà phê trên hè phố Nhà Thờ?
      Lan phụ họa theo:
-  Ừ, Hoàng thường nói: uống cà phê chỉ ngồi ở hè phố Nhà Thờ mới thú!
       Vui chân đến phố Nhà Thờ, muốn uống cà phê người ta có thể vào trong một cái quán mình thích, hoặc ngồi ngay ở hè phố mà thưởng thức. Con phố ruột của dân nghiền cà phê Hà Nội, rất gần Hồ Gươm. Cà phê phin… từng giọt, từng giọt sóng sánh. Người uống cũng từng ngụm, từng ngụm nhẹ nhàng như trong mơ. Phố ngắn và nhỏ nên cũng thật dễ điểm mặt, nhớ tên những “địa chỉ vàng” của các quán cà phê ngon.
      Hai người bạn gái đi chậm lại. Họ nhìn vào một cái quán nhỏ bên phố, mà trước đây Hoàng hay rủ các bạn vào. Nghe thấy tiếng khẽ thở dài của Thu, Lan hỏi:
-  Thu nhớ Hoàng lắm, phải không?
-  Thế là Hoàng đi cũng đã được hơn năm năm rồi, Lan nhỉ!
      Thu nói: “Chiến tranh và sự xa cách, có bao nhiêu điều đã đổi thay.”.
-  Cả tình yêu và nỗi nhớ nhung nữa chứ!
      Lan nhìn bạn tủm tỉm cười: “Lan thì thấy, chúng mình từ biệt nhau như vừa mới hôm qua thôi.”.
-  Còn Thu lại thấy như mình đã trải qua cả cuộc đời vậy.
-  Chỉ có Thu là thay đổi nhiều quá!
      Lan bảo vậy.
-  Chúng ta đều khác đi cả
      Thu đáp và tiếp lời bạn:
-  Nếu bây giờ còn nói: Mỗi chúng ta đều đã trưởng thành? đã lớn lên? - Lan không thấy: nói vậy có phần hơi trẻ con, mà còn buổn cười nữa! Bởi chúng mình đang trải qua cả một cuộc chiến tranh…
      Thu vẫn say sưa giải thích:
-  Sự biến đổi về cuộc sống, đã cho mỗi chúng ta thêm rất nhiều hiểu biết, cũng như sâu sắc hơn cả về tình yêu.
     Lan có vẻ ngạc nhiên nhìn Thu, rồi bật lên cười khanh khách:
-  Nhưng Lan chẳng có ai để mà yêu sâu sắc… để mà nhớ… mà thay đổi cuộc sống…
      Thu chợt hiểu. Cô nắm chặt tay bạn tỏ sự cảm thông:
-  Tại cậu kén quá đấy!
      Hai người bạn gái vui vẻ bước vào trong quán. Đêm khuya, cơn gió thổi về se lạnh. Họ ngồi bên nhau cầm trong tay tách cà phê nóng, hơi bốc lên nghi ngút. Ngày trước, khi Hà Nội chưa có chiến tranh, vào ngày lễ nô-en này phố rất đông. Các văn nhân, nghệ sĩ thường hay đến đây. Họ ngồi với nhau bên tách cà phê để nghĩ sự đời, ngắm người, ngắm cảnh đêm lung linh trong những ánh đèn. Năm nay, Hà Nội đang có bom nên vắng đi nhiều.
      Tiếng chuông nhà thờ lại âm vang trong khuya, người đi chơi nô-en đã tản về các phố. Thu và Lan cũng rời khỏi quán đi về phía Bờ Hồ. Tòa báo Hà Nội Mới của Thu nằm ở ngay đầu phố, sát với Hồ Hoàn Kiếm. Họ đi qua những chùm bóng điện đủ màu kết thành hoa, theo gió chao đi chao lại. Những ngọn đèn pha từ các trận địa tên lửa và pháo cao xạ phòng không, chiếu những đường sáng trắng, đan nhau chi chit giăng khắp bầu trời.
      Bên bờ Hồ Gươm, những chùm rễ xi treo lơ lửng đang cố đưa những đầu rễ trắng nõn khỏa xuống dòng nước xanh. Sóng xô đến dồn chúng vào sát chân hồ. Thu dừng lại, cúi xuống nhặt mấy hòn đá nhỏ ném thia lia trên mặt nước. Viên đá nhảy lướt lên mặt sóng, vạch thành một đường dài lấp loáng ra tít ngoài xa. Hòn thia lia gợi cho cô nhớ lại kỉ niệm xa xưa, những ngày đã cùng anh đi dạo. Lan thì nhặt mấy chiếc lá to thả xuống hồ. Những cánh lá bập bềnh trôi như những chiếc thuyền câu nhỏ xíu.
      Có những khoảnh khắc, hai người bạn cùng im lặng. Lòng họ đang lắng lại, đuổi theo những tâm trạng riêng của chính mình.
-  Thu có nhớ, đêm nô-en cuối cùng trong đời học sinh của chúng ta không?
       Tiếng nói của Lan kéo Thu ra khỏi sự suy tư.
-  Cũng bờ hồ này, cây cối, đường phố, con người… vẫn quen thuộc như ngày nào, Lan nhỉ?
      Thu trả lời bạn.
-  Nhưng lại thiếu đi nhiều đứa bạn, phải không Thu?
-  Ờ, đúng vậy. Khi ấy, chúng mình đều bước ra đời, mỗi đứa một nơi, lại chiến tranh nữa…
-  Nghĩa là Thu lại đang nghĩ về Hoàng?
      Lan nói vẻ ý nhị, cô khẽ mỉm cười trong đêm. Thu không để ý, vì mải đắm mình vào một thế giới đang bộn xộn trong cô. Giây lát, Thu khẽ bảo:
-  Đêm nô-en năm nay, Thu cảm thấy có một cái gì đó thật mới mẻ. Như trong cái màn đêm yên tĩnh của phố cổ kia, là cả một ngọn núi lửa. Ngọn lửa ấy sẵn sàng phá vỡ cái vỏ bọc yên ả của nó. 
-  Thì chiến tranh mà…
       Lan nói.
-  Cả ở trong trái tim mỗi con người chúng ta nữa, Lan ạ!
-  Bởi vì Thu đang nghĩ tới người yêu! Chứ còn trái tim Lan, chẳng có ngọn núi lửa nào cả? chẳng có gì hết.
-  Không, ý Thu không phải chỉ nói riêng về chuyện tình cảm ấy. Chúng ta đang đứng ở trong cuộc chiến của cả dân tộc, mà Lan?
-  Tất nhiên.
       Lan dừng lại không nói gì nữa. Thu nắm lấy tay Lan, hai người đi tiếp về phía tòa soạn báo. Trong canh khuya, thành phố đã im ắng như thể một bến đò đang đợi khách. Người ta nghe rõ tiếng lăn tăn của con sóng láng lên bờ. Thỉnh thoảng một đợt gió xào qua dẫy me xanh cạnh hồ, làm bay đi mươi cánh lá. Cảnh tượng như ở bến sông quê, chốc chốc người lái đò lại chui đầu ra khỏi mui thuyền, đôi mắt thoáng chút lo âu nhìn lên bờ đợi khách? Rồi lại rụt đầu vào trong khoang. Ở đó, được thắp một ngọn đèn dầu chỉ vừa đủ ánh sáng. Ngọn đèn như một đốm lửa có hai mầu: mầu xanh nhọn ánh lên thành búp ở phía trên, nửa đỏ lại phình ra giống một nậm rượu nhỏ phía dưới. “Đêm Hà Nội trong chiến tranh mà cứ như huyền thoại” – Thu nghĩ vậy.
      Thành phố trong đêm uy nghiêm như một thần tượng, vừa mang vẻ huyền bí thiên nhiên, vừa có cái dấu ấn của sự giáo điều cổ xưa. Thỉnh thoảng vẫn có chuyến xe chở đầy ắp người sơ tán, chạy về phía cửa ô. Tiếng còi tàu ở nhà ga thét lên một hồi dài, báo hiệu nó chuẩn bị rời bánh đi đến các tỉnh xa. Mấy chiếc xe nhà binh kéo theo những khẩu pháo lớn, nước thép còn mới. Trên xe, những chiến sĩ đội mũ sắt ngồi thành hai hàng. Họ giơ bàn tay ngang mặt chào các đồng chí của họ, cũng đang ngồi trên chiếc xe khác nhưng đi ngược chiều. Thỉnh thoảng có chiếc xích lô chở đôi, ba người khách, bác lái phải gò mình lên thành xe đạp hối hả về phía cuối phố. Lẻ tẻ vài người đi xe đạp, vội vã phóng thật nhanh về nhà hay đi đâu đó.
      Trời cũng nửa đêm trở về sáng. Những ngọn đèn trong đêm lễ vẫn lung linh, nhưng nhà hai bên phố thì đóng cửa im ỉm. Đã đi đến cổng của báo Hà Nội Mới, hai người bạn gái chia tay nhau. Lan rẽ xuống phố Bà Triệu, nhà cô ở phía đó. Thu mở cổng tòa soạn, bước vào trong cơ quan.
 
                                                         *
 
      Vì sao nhỉ? – Vi sao đến lúc này, nhiều nhà khoa học vẫn cứ trằn trọc mãi câu hỏi: “Man, who are  you?” (con người,  anh là ai?), mà sẽ còn bao nhiêu thập kỉ nữa, khi những thành tựu khoa học như những ánh chớp liên tiếp chiếu sâu vào cái màn đen huyền bí của thế giới, thì câu hỏi đó vẫn có thể là một “cơn sốt”. Cơn sốt khoa học sẽ chùm lên từ thế hệ này qua thế thế khác, không dừng lại. Con người chỉ đi tìm cho đúng cái bóng của mình: Man, who are you?
      Còn Thu, đêm nay cô thấy rõ lắm! Anh chị em của cơ quan, giờ này đều đã ngủ say cả. Chia tay với Lan đêm nô-en về nghỉ trong tòa soạn, Thu cứ bồn chồn, miên man bao tâm trạng. Dường như thể những vì sao trong vũ trụ rộng lớn kia, chúng bay lên từ trái tim cô. Chỉ trong một khoảnh khắc thôi, khoảnh khắc của ánh chớp ấy… Thu đã chứng nhận được cả thế giới đó. Cứ như một công trình phát minh, cô nhận thức ra và nó làm cho cô vui sướng.
      Tham gia trong những ngày cứu hộ, đào bới, tháo dỡ hầm sập cứu người ở bệnh viện Bạch Mai, Thu mới cảm thấy ý nghĩa thiêng liêng của giống nòi. Đất nước trở nên cao cả và thân thiết biết bao? Chưa bao giờ Thu thấy yêu thương dân tộc mình đến thế! Có ngồi nghe những nhà đạo đức giảng hàng trăm bài chính trị, cũng chẳng bằng chính bản thân mình khi đã hòa vào để cứu các nạn nhân bị bom vùi. Những lúc nhìn anh chị em phải quằn quại trong đống gạch đá đổ, lấp… Người thì thoi thóp, người không bao giờ còn quay trở về với sự sống được nữa? Thu chỉ chực òa lên khóc. Lòng cô đau như chính người thân ruột rà máu mủ gặp nạn. Có một ý nghĩa về cuộc sống còn lớn hơn cả tiếng khóc ấy, bùng lên trong trái tim cô…
-  Ôi, sự sống! Sự sống mới quí giá làm sao?  
      Phải ở trong hoàn cảnh khốc liệt đó? Phải chính mắt mình chứng nhận sự tàn ác, dã man của kẻ thù? – Mới thấy hết được ý nghĩa thiêng liêng của tổ quốc! Tình yêu quê hương đang chảy trong dòng máu của cô. Phải chăng đấy cũng là một trong những đáp án, mà cần trả lời câu hỏi kia: “Man, who are you?” - Con người, anh là ai? Con người là quê hương, là đồng bào, dân tộc trong dòng máu của ta, của cha mẹ cho ta – Chẳng phải đúng thế sao !?
      Thu cảm thấy hạnh phúc, vì mình đã đóng góp được một chút công sức nhỏ bé cho quê hương, cùng đồng bào của cô khi gặp nạn: và đấy chính là những gì cô thấy mình lớn lên, cảm thấy tự hào. Cô đã cùng với dân tộc, với nhân dân… có mặt trong lúc quê hương đang rơi vào thảm họa đẫm máu nhất – để bảo tồn nòi giống, tổ quốc mình! Đó cũng là trang sử hào hùng, chói lọi của non sông. Lòng cô đầy phấn kích.
      Thu vùng dậy lấy giấy viết thư cho anh. Phải, Thu sẽ chia sẻ với anh những gì mà cô đã trải qua, cả những tâm tư thầm kín nhất trong đêm lễ nô-en này.
      “Hoàng thân yêu,
      Thu yêu anh nhiều lắm, yêu hơn cả bản thân em đấy! Hoàng là mối tình đầu và cũng là mối tình vĩnh viễn của em. Anh và em, ta đã trao nhau những gì đẹp nhất của cuộc đời, phải không anh? Em cũng đã dành cho anh những gì quí giá nhất của người con gái. Em thấy hạnh phúc khi đã làm với anh điều ấy…”.
      Viết đến đây, Thu dừng lại. Cô mỉm cười thầm với chính mình, vì đã viết những dòng như thế cho anh trên thư. Phải, tới giờ nhớ lại những giây phút đó… lòng cô vẫn còn thấy bồn chồn. Nghĩ tới ngày sẽ được mặc bộ đồ cưới thiêng liêng của người con gái, bao nhiêu cảm xúc lại chảy tràn trong đầu óc Thu? Cô muốn viết tất cả nó ra.
      “ngày cưới…”: cái niềm hạnh phúc chợt đến với Thu như nghẹt thở, chói ngợp trong tâm hồn – Ôi, cuộc sống? Cuộc sống đầy mẫu thuẫn nhưng mới kì diệu làm sao! Phải chăng đến đây, ta mới hoàn thiện được câu hỏi: Man, who are you? – Chẳng phải, ta đã tìm được chân lý của cuộc sống đó sao? Không thể có một hình tượng nào, một lí thuyết nào sáng tỏ hơn được chân lí ấy! Cô lại cúi xuống viết tiếp những dòng thư cho anh.
      “… Đấy, nó đấy anh ạ! “ – Thu vẫn miên man… Tuy mới chỉ là những ý nghĩ đến thôi, cô đã thấy hạnh phúc lắm rồi!
      … Khi em mơ một chiếc váy mặc trong ngày lễ cưới, thì thấy cuộc sống đã mở ra trước mắt cả bầu trời. Em cũng ước muốn một gian phòng nhỏ xinh xắn trên phố, trong hạnh phúc của tình yêu! Phải thế không anh?
       Không giống những nhà khảo cổ đã khai quật từ trong các tầng lớp địa chất nằm sâu dưới đất… một cái sọ người nguyên thủy, hay mấy mảnh xương vụn… mà tìm ra nguồn gốc của loài người? cũng chỉ để trả lời cho câu hỏi: Man, who are you? – Con người, anh là ai?
       Nhưng rõ ràng đêm nay, Thu đã nắm được một cái gì đó thật thiêng liêng, kì diệu của cuộc sống! – Cũng như những người phụ nữ khác, Thu sẽ  có con. Khi đất nước đã hết chiến tranh, cô cùng với các con sống một cuộc sống bình thường, yên lành bên anh.
      Đấy, nó đấy! Cô muốn ôm chặt lấy cái hạnh phúc ấy. Như thể đó là một cánh chim, nếu buông tay ra thì cánh chim sẽ mang chân lý của cô bay đi mất.
      Câu hỏi: “Con người, anh là ai”? chẳng phải ta đã trả lời được nó đấy sao! Những gì đang tồn tại, đang phát triển: cả hy vọng và sự hy sinh… suy cho cùng đều nẩy sinh từ trong đó. Cô đã nhận thức được nó từ trái tim cô, trong tâm hồn, trí não của một người phụ nữ giữa đêm lễ Giáng sinh này – Thu muốn viết tất cả những ý nghĩ hỗn độn ấy ra với anh, chẳng cần sắp xếp.
      Thu lại tự vấn mình: khỉ, mình toàn viết linh tinh. Giờ ta sẽ kể về đêm nô-en đi chơi với Lan, cho anh nghe. Cô viết:
       “Em và Lan, chúng em lượn mấy vòng từ phố Nhà Thờ ra Bờ Hồ rồi rẽ vào một cái quán nhỏ. Cái quán mà năm xưa có cả anh, ta hay vào đó uống cà phê trong đêm lễ, anh còn nhớ không? Đúng đến giờ khắc thiêng liêng thì bọn em len vào trong nhà thờ, xem mọi người làm lễ và cầu nguyện cho một Giáng sinh an lành.
      Sau khi dự lễ ở nhà thờ, bọn em còn lang thang thâu đêm… rồi trở về tòa soạn và đang ngồi viết thư cho anh đây! Cái Lan nó tạt về nhà, hẹn mai thế nào cũng đến tòa soạn báo ở với em vài ngày. Nó xin nghỉ phép năm, anh ạ! Chỉ tội nghiệp nó, chưa tìm được anh chàng nào thay thế, vẫn một bóng cô đơn! Chúng mình tuy rất xa nhau, nhưng vẫn còn có nhau… phải không anh?”.
      Thu nhìn ra ngoài cửa sổ, hướng về phía trời xa. Cô lại nghĩ: nếu giờ ta đặt ra câu hỏi với anh: Chiến tranh liệu còn lâu nữa không? – chắc là anh sẽ trả lời: Chẳng còn lâu nữa đâu, em ạ!  Mặc dù anh với em đều hiểu, thực tế còn ở cách xa với ước muốn của mình một khoảng cách, không phải là ngắn. Cô lại viết tiếp:
      “Anh ạ, nhiều người con trai thường nói với người yêu rằng: Anh sẽ dâng cả cuộc sống, cả thế giới này cho em! – Thì cô gái nói với anh: em chỉ muốn làm một người vợ, một người mẹ của những đứa con… sống một cuộc sống hạnh phúc bình thường, bên anh!  
      Cái chân lí về hạnh phúc đơn giản vậy thôi! Nhưng chính chân lí ấy đã giúp cho cô gái nhìn thấy cả thế giới kia, trong trái tim nhỏ bé của mình, trái tim của một người đàn bà…”.
      Lá thư viết cho anh đã dài năm trang giấy pơ luya màu hồng. Ngày mai, chắc là vừa đêm lễ nên Hà Nội vẫn còn yên, Thu sẽ tranh thủ mang ra hòm thư ngoài phố gửi, để anh sớm biết tin. Trời cũng đã gần sáng, cơn buồn ngủ kéo đến trĩu mắt, Thu áp mặt lên lá thư và ngủ thiếp đi lúc nào không biết.  
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:31:57
 
 
                                                                 42-
 
      36 giờ ngay sau Giáng sinh một ngày – vào lúc 22 giờ 40 phút đêm 26.12.1972, hàng chục tốp pháo đài bay B52 của Mỹ từ đảo Guy Am, sân  bay Cò Rạt – Thái Lan như những quái vật bay vào rải thảm xuông phố Khâm Thiên, Hà Nội. Con phố dài 1.200 mét nổi tiếng là sầm uất và đông dân, phải oằn mình hứng chịu một trận mưa bom khốc liệt. Tiếng nổ rền vang liên tiếp, khói bụi mịt mù, rừng rực cháy. Ngồi ở dưới hầm, người ta nghe thấy từ xa tiếng máy bay vào lớn dần, ầm ầm như cối xay lúa, kéo theo hàng tràng những tiếng nổ long trời, mặt đất rung chuyển. Tất cả tối sầm lại và chao đảo mạnh. Cảm giác sức công phá của nó có thể làm sập mọi căn hầm trũ ẩn. Đèn phố vụt tắt, chìm trong những tiếng bom kéo dài như sấm.
     Trời mới quá nửa đêm, Thu cùng với Lan và một số phóng viên của báo Hà Nội Mới, vội phóng xe đạp chạy đến phố Khâm Thiên. Lan khi đó, đã đến chơi và định ở với Thu vài ngày trong tòa soạn. Họ đến đầu đường, một khung cảnh tang thương hiện ra trước mắt – Cả tuyến phố đã bị B52 xới tung, hàng trăm người đang đào bới, tìm kiếm người thân bị chôn vùi.
     Nhà hai bên phố bị sập, đổ ra phía ngoài đường. Bên trong phố, thay cho những ngôi nhà là những hố bom nằm la liệt, nhiều nhà bị thổi bay. Cảnh tang thương, không gì tả hết. Thu cùng các bạn và cả những người cứu hộ đang chạy đến, tất cả đều phải gạt nước mắt để đi nhặt xác người vương vãi khắp nơi, rồi lại lao vào đào bới để cứu các nạn nhân đang kêu khóc trong đống đổ nát.
     Cả phố Khâm Thiên khét lẹt khói bom. Ngay ở Ngõ Chợ, tiếng khóc, tiếng gào thét đến điên dại bên dẫy xác đang chờ khâm liệm. Nhìn cảnh đau thương ấy, toàn thân Thu run lên… vừa kinh hãi, vừa trào dâng sự căm uất quân thù. Cô nắm chặt lấy tay Lan. Hai người con gái lao mình vào cùng với mọi người cứu nạn. Lúc này, anh em trong nhóm phóng viên báo Hà Nội Mới đã tản đi mọi chỗ. Họ sục sạo tìm những ai còn thoi thóp sống, và thu nhặt xác nạn nhân đã chết.
     Tiếng khóc cha, khóc mẹ, khóc con và những người thân cứ rền rĩ vang lên. Xa xa, người ta vẫn nghe thấy tiếng máy bay Mỹ còn đang tiếp tục ném bom xuống ngoại thành Hà Nội, về phía Hà Tây.
     Nhang đèn cắm dọc con phố. Người ở phố Khâm Thiên đã đi sơ tán, nghe tin đài báo, vội vã trở về. Họ phải kìm nén nỗi đau, với mọi phương tiện vội xông vào đống đổ nát để cứu người và tìm kiếm thân nhân.
     Dưới ngôi nhà… phía trước đã bị đổ sập, tiếng một em bé thất thanh gọi  dưới đống gạch vỡ: “Mẹ ơi, bế con ra với!” – người mẹ phía trên gào lên kêu mọi người đến giúp. Thu cùng với Lan và những người gần đấy lao tới. Cuốc, xẻng… không có, mọi người dùng tay đào bới, nhặt từng viên gạch vứt ra ngoài. Cả bàn tay đến toác máu. Ở dưới, tiếng bé đã lạc đi vì gọi mẹ, khiến không ai cầm được nước mắt. Một nắp hầm trú ẩn đã hiện ra. Người ta cậy lên thì thấy đứa bé đang nằm trong tay một bà già đã chết, nhưng may đứa bé vẫn còn sống. Người mẹ mừng quá khóc và sướng… lao vào ôm lấy con. Thu gỡ đứa bé ra khỏi tay bà già, đưa cho người mẹ. Người mẹ mừng mừng, tủi tủi… ôm chặt lấy con, như sợ bom Mỹ lại đến cướp con chị đi một lần nữa.
     Nghe chị thổn thức kể lại: Đó là cháu Hà – Tối hôm 26/12, khi nghe còi báo động có máy bay Mỹ đến. Căn hầm trong nhà thì nhỏ, chỉ chứa được hai người. Để con an toàn, chị đã đưa con cho bà thím bế xuống hầm, rồi đậy nắp hầm lại, chạy ra trú ở căn hầm bên ngoài phố. Chị không ngờ, bom đã rơi đúng ngôi nhà khiến nó đổ sập. Rầm bê tông, gạch ngói và đồ đạc đè lên nắp hầm làm cho bà thím chết tại chỗ. Bé Hà được bà thím bế trong lòng nên vẫn còn sống.
     Chứng kiến khung cảnh tang thương của cả con phố, khiến những người dân đã không còn biết sợ. Rất có thể máy bay Mỹ sẽ quay lại để thả tiếp một loạt bom khác, nhưng lòng căm thù dâng lên cao độ tạo thành một khí thế hào hùng. Những ai còn sống sót đều lao ra đường, nhặt những bàn tay, những khúc xương của người thân, của bà con hàng phố… giờ đây đã bị bom Mỹ xẻ làm hai, ba mảnh hoặc xé vụn xác. Có mảnh vắt trên cây bàng, cây sấu và vương vãi khắp nơi. Họ dùng những khúc tre gập đôi để gắp các mảnh xương, thịt cho vào từng thúng lớn. Xác người nằm dọc theo hàng cây. Những cỗ quan tài của thành phố đã được đưa tới chất ngổn ngang trên bờ hè, biến cả khu phố trở thành một nghĩa địa đau thương.
      Hầu như toàn bộ phố Khâm Thiên, giờ chỉ còn là một đống gạch vụn. Đêm vẫn còn tối, chỉ nhìn thấy những cái bóng lờ mờ của những người đi cứu hộ. Loạn xạ khắp nơi là tiếng than, kêu gào và gọi nhau. Người sống bới tìm người chết trong tuyệt vọng.
     Xung quanh Thu, mọi người vẫn ra sức làm. Chưa khi nào, cô thấy mình phải hứng chịu một nỗi đau lớn như vậy? Nỗi đau ra ngoài tầm tưởng tượng, ngoài tất cả các sách vở mà cô từng được đọc. Cả dẫy phố dài vẫn loang lổ cháy, loang lổ tiếng khóc trong mưa. Các ngôi nhà bị hơi bom phạt đi bay mất nóc, như những con thuồng luồng to khủng, há miệng sâu hoắm. Ngay hàng cây lớn hai bên phố cũng bị phạt, đổ gục xuống. Mùi khói bom, mùi gỗ cháy và cả mùi máu cứ xộc thẳng lên óc người. Cảnh tượng thật khủng khiếp.
     Bỗng Thu nhìn thấy một thanh niên đang chạy như điên dại từ đầu phố, vụt qua chỗ cô. Anh ta vừa chạy vừa ngã dúi dụi vì vấp phải xác những người chết. Đến khoảng giữa phố, cách chỗ Thu không bao xa… thì anh thanh niên quì gập xuống và gào thét gọi người thân? Tiếng của anh vang lên, đập vào cùng những tiếng kêu ai oán của bao người khác. Thu và mấy người cứu hộ vội lao về phía người thanh niên đang vật vã… trên một đống đổ nát. Bên cạnh là một hố bom sâu hoắm tới chục mét. Đó chính là khu vực ở đầu ngõ Sân Quần. Bom đã bốc cả một khu ngõ sang nơi khác.
     Ai nấy cuống cuồng cùng người thanh niên đương hoảng hốt dùng cuốc xẻng, dùng tay hoặc bất cứ thứ gì có thể làm được, bới tìm vào những hố, ụ?
      Người thanh niên đó tên là Cầu. Anh Cầu vừa đào bới, vừa kể lể cho mọi người nghe. Tiếng của anh nấc lên vì nghẹn khóc, giọng lạc đi vì không tin nổi sự thật đang diễn ra ở cả khu phố và có gia đình anh trong đó. Chỗ hố bom sâu chính là chiếc hầm trú ẩn tập thể ở trong khu ngõ gần sát nhà anh, chứa hơn 40 người: có cả vợ con anh, hai đứa cháu con bà chị gái và chú em ruột. Chỉ riêng gia đình anh đã 5 người với mấy chục con người trong hầm, bị bom đánh bay cùng đất đá. Mọi người cùng anh Cầu vẫn tiếp tục đào bới xung quanh hố bom, hy vọng tìm được xác những người thân của anh và các nạn nhân trong đó.
     Anh Cầu cho biết đêm đó khoảng 9 giờ tối, anh đi trực chiến tại xí nghiệp in Hà Nội - 75 Hàng Bồ. Ở nhà chỉ có vợ con anh và mấy người trong họ hàng. Vào lúc gần 10 giờ đêm, tiếng còi báo động thành phố rú lên, sau đó đèn phố vụt tắt. Tiếng máy bay B52 ù ù rền rĩ trên đỉnh đầu. Khi đó anh Cầu đang làm nhiệm vụ trực chiến, thấy mặt đất rung chuyển, hơi bom phả phần phật từ cách đó cả cây số. Những tiếng nổ kéo dài, rồi các đám cháy lớn bùng lên sáng rực một góc trời. Nhìn về phía phố Khâm Thiên, bụng dạ anh cồn cào không yên. Một cái gì linh tính báo cho anh biết… sự khủng khiếp đã xẩy ra? Tới quá nửa đêm nghe tin đài báo, Mỹ đã dội bom đánh khu phố Khâm Thiên, nơi gia đình anh ở. Anh hoảng hốt vồ lấy chiếc xe đạp lao nhanh về nhà. Khói đạn, gạch đá ngổn ngang cả con đường…
      Đào bới mãi, mọi người cũng giúp anh Cầu tim được người vợ. Chị chỉ còn được nửa thân người phía trên, nên mới nhận ra. Sau đó lại tìm thấy thi thể người con trai, đã rách bươm vì bom thổi. Còn những người khác thì tan vào trong đất đá, không nhận ra được nữa.
      Đôi bàn tay Thu đã phồng rộp và rớm máu, nhưng cô vẫn lao vào cùng mọi người tìm kiếm, mong cứu được những ai còn sống sót. Thu đã mượn được một chiếc thuổng. Cô dùng thuổng để bẩy, để xăm vào trong đống đất đá. Có lần, khi mũi thuổng của cô thọc sâu xuống đất, thì như có một bàn tay vô hình nào đó níu chặt lấy, không thể rút lên được nữa. Từ trong kẽ đất đá… Thu nghe thấy một tiếng kêu yếu ớt. Thu la toáng lên: “Ôi, có người! Đây có người, bà con ơi!”. Mọi người gần đấy nhao nhao nói:
-  Đâu? Người ở đâu?             
-  Ở đây! Hình như bên dưới có người đang giữ mũi thuổng của tôi?
      Nói rồi, Thu để nguyên mũi thuổng không dám lắc mạnh, sợ làm bị thương người ở dưới. Cô và mấy người cùng lao vào dùng tay bới, nhặt những tảng gạch vứt ra xa. Phút chốc hiện ra bóng một người đàn ông, tay đang giữ chặt thuổng, mồm vẫn thều thào: “Cứu tôi với! Cứu tôi với!”. Thu cùng một anh thanh niên đỡ người đàn ông ra.
      Đó là ông Nguyễn Văn Tụng, trú trong một chiếc hầm cá nhân của vườn nhà, cũng ở khu ngõ Sân Quần. Ông Tụng kể: khi nghe còi báo động, ông giục người con trai và cô con dâu ra trú trong căn hầm tập thể của ngõ đã được xây vững chãi, thì tất cả đều bị chết. Riêng ông chạy xuống cái hầm cá nhân làm tạm của nhà bằng ống cống. Bom dội xuống, mọi thứ đột nhiên tối sầm lại sau một tiếng nổ lớn. Ông đã ngất đi rất lâu, cho đến khi tỉnh dậy… Ông chỉ nghe thấy tiếng người nói, tiếng bước chân lộp bộp trên đầu mình.
     Lúc này, mặc dù rất hoảng nhưng ông không thể kêu để cho mọi người biết được? Đợi mãi, tưởng như mọi hy vọng đã hết… thì đột nhiên, ông thấy một mũi thuổng chọc thẳng sát bên đầu mình. Ông chỉ còn biết níu chặt lấy – Nhát thuổng của Thu đã cứu sống ông.
     Nghe ông Tụng nói, lòng Thu cảm động trào nước mắt. Trong đêm tối, cô nở một nụ cười sung sướng. Cô vừa cứu thêm được một người dân vô tội nữa về với quê hương, dù gia đình nhà ông không được cái may mắn đó.
     Trời đã rạng sáng, những người thân của các gia đình ở phố Khâm Thiên biết tin, trở về càng đông. Chung quanh là tiếng than khóc với những vành khăn tang trắng xóa, không khí đậm mùi hương cúng. Chỉ trong một đêm, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh sinh ly, tử biệt. Không ít gia đình chẳng còn ai sống sót. Thành phố tan hoang, ngập trong ngút trời khói lửa.
     Thu, Lan và nhóm phóng viên báo với hàng trăm người dân cùng những người cứu hộ - Họ đang đi trong cuộc hành trình tang tóc, đau thương của dân tộc. Thu khẽ nói:
-  Lan ơi, Thu hãi quá! 
     Cô nắm chặt tay bạn và lại cầm chiếc thuổng, lao tiếp cùng mọi người tìm bới. Những khu nhà gác trước đây, giờ chỉ còn lại các mảng tường. Có mảng đổ xuống nham nhở, có mảng còn đang lung lay… nó có thể sập xuống bất cứ lúc nào? Nhưng những người đang đi làm công việc cứu hộ ấy, không ai còn thấy sợ hãi nữa. Bao tiếng kêu yếu ớt vọng lên từ dưới lòng đất, từ trong đống đổ nát… đang chờ họ đến cứu.
     Mùi cháy, khói bom, mùi máu dồn đặc không gian. Tiếng khóc, tiếng kêu than, tiếng chân chạy, tiếng gọi nhau… oang oang trong khói lửa. Trời sáng dần, nhìn cảnh tượng tàn phá của B52 càng ghê rợn hơn. Đứng ở đầu đường có thể nhìn thấy cuối phố vì đã bị san phẳng. Nhang đèn cắm dọc con phố. Có bộ phận còn đi gom nhặt của cải , giấy tờ vương vãi để tìm cách trả lại cho gia đình có người đã mất. Cả những chiến sĩ dân phòng, rồi công an kéo đến lao vào để cứu hộ.
      Bỗng mọi người nghe thấy một tiếng đổ ầm xuống rất mạnh của một bức tường. Đất trời chao đâỏ, không gian mù mịt, bụi đất đen đặc cả một góc phố… rồi tiếng la hét: “Tránh ra! Tránh ra! Tường còn đang đổ đấy…”. Những người đang đào bới gần bức tường đã đổ, vội chạy tán loạn ra ngoài.
     Tiếng kêu thất thanh của Lan vang lên:
-  Ôi, cái Thu bạn của em và mấy người nữa vẫn đang còn ở trong đó. Các anh, các chị ơi!
     Tiếng Lan như khóc: “Cứu! Cứu! Họ chết mất? các anh, chị ơi! Thu ơi!”. Nghe tiếng kêu của Lan, một người con trai – phóng viên của tòa soạn báo hốt hoảng hỏi:
-  Thu cũng ở trong đó à?
     Mọi người hò nhau vội chạy vào, bê những tảng gạch chuyền tay nhau vứt ra xa. Lan vừa khóc và vội vã cùng mọi người tìm cách giải phóng cho nhanh bức tường sập. Một lúc sau, họ cũng tìm thấy ba cái xác nằm gần sát nhau, bị những tảng gạch đè sập xuống. Lan chạy đến, nức nở ôm lấy người bạn gái gọi:
-  Thu ơi! Thu ơi! Bạn của em và họ bị chêt hết rồi các anh, các chị ơi!
     Hai cô gái khác cùng chết với Thu đã được anh em cứu hộ bế ra ngoài, để vào chỗ xác các nạn nhân chờ người thân đến nhận. Người con trai, phóng viên của báo chạy tới bế Thu lên. Lúc này, người ta thấy Thu khẽ mở đôi mắt yếu ớt nhìn Lan và mọi người. Lan ôm lấy bạn khóc nấc lên:
-  Thu ơi! Có nghe thấy lan nói không? Thu ơi!
     Môi Thu hé nở một nụ cười từ biệt. Miệng cô muốn nói với Lan điều gì đó, nhưng không nói được. Mắt Thu từ từ nhắm lại. Cô chết không chảy một giọt máu. Chiếc áo hoa sáng màu của Thu bám đầy bụi đất và khói bom. Toàn thân cô vẫn còn nóng hổi trên tay Lan và người phóng viên của báo.
 
                                                     *
 
     Vào lúc 2 giờ sáng đêm 26.12.1972, Đài truyền thanh Hà Nội phát đi một bản tin đặc biệt: “Trừng trị tội ác man rợ của đế quốc Mỹ ném bom B52 hủy diệt khu phố Khâm Thiên, quân và dân thủ đô đã bắn tan xác 5 “pháo đài bay”. Có chiếc rơi ngay xuống khu vực Ngọc Hà, giặc lái nhẩy dù ra bị tóm cổ gần bãi chiếu bóng Khương Thượng”.
     Đêm 26/12 là một đêm đau thương đối với cả dân tộc, nhưng cũng là một trong những đêm hào hùng nhất của quân và dân thủ đô trong cuộc chiến tranh vệ quốc, quyết sống mái với B52 của Mỹ.
     Đêm ấy, mặc dù không quân của Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn không xuất kích được, nhưng những người lính tên lửa một lần nữa đã nhứng minh bản lĩnh và tầm vóc của mình. Tính ra trong đêm 26/12, số tên lửa phóng lên tăng gấp 1,7 lần so với đêm 18/12 – đêm đầu tiên của trận Điện Biên Phủ trên không, cũng là đêm bắn rơi nhiều B52 nhất. Chỉ trong một đêm đầy máu và nước mắt ấy, 11 máy bay Mỹ bị tan xác, trong đó có tới 8 pháo đài bay B52.
     Người Mỹ mang bom trút xuống đầu những em nhỏ, những người mẹ chưa từng biết cây súng là gì? Người Mỹ đã phải lĩnh đủ đòn trả thù của những người chiến sĩ bảo vệ thủ đô, bảo vệ niềm tin và sự sống của dân tộc mình. B52 của Mỹ chưa từng bị rơi ở đâu cho tới khi vào Hà Nội.
     Nhà sử học Dương Trung Quốc đã nói: “Sau khi dừng bắn một ngày, trong lúc người dân đang vui tết nô-en, nhất là đồng bào thiên chúa… thì bị B52 Mỹ tập kích. Chính trận tập kích ấy dẫn đến sự thảm sát cả khu phố Khâm Thiên ở trung tâm Hà Nội. Đó là một tội ác rất man rợ của đế quốc Mỹ.”.
     Đúng thế, chỉ trong một đêm cả 17 khối phố đổ sập, 6 khối phố hầu như bị hủy diệt hoàn toàn. Phá và làm hư hại gần 2.000 ngôi nhà, trong đó 534 ngôi bị thổi bay hoặc bị phá tan tất cả. Nhà trẻ, lớp mẫu giáo, cửa hàng lương thực, thực phẩm, cả ngôi đình Tương Thuận – di tích lịch sử, rạp hát, nhiều cơ sở sản xuất đã tan hoang. Trận bom làm chết 278 người, trong đó có 91 phụ nữ, 40 cụ già, 55 trẻ em - làm cho 178 cháu trở thành mồ côi và 290 người nữa bị thương.
     Dã man nhất là chúng đã trút bom xuống nơi toàn dân thường vô tội. Chỉ trong một đêm, hàng trăm gia đình phải chịu cảnh thảm khốc. Những tang thương đó không gì xóa nổi. Một tội ác của kẻ thù chưa từng có trong lịch sử loài người. Ném bom khu dân cư Khâm Thiên là đỉnh điểm của chiến dịch linebacker II, với mưu tính tàn bạo của Chính phủ Hoa Kỳ trong việc cố giành lợi thế trên bàn đàm phán Hiệp định Pa Ri.
     Việc ngừng ném bom ngày Giáng sinh 1972 chỉ là cái bẫy. Bởi hệ quả của việc Mỹ ngừng ném bom, rất nhiều người dân thủ đô đi sơ tán đã trở về nhà: để chơi nô-en, để lấy thêm nhu yếu phẩm, lương thực mang đến nơi sơ tán. Họ còn nấn ná tí chút ở lại gia đình chưa kịp đi – thì ngay sau ngày 25/12 đó, không quân Mỹ cấp tập ném bom trở lại.
     Trong một đêm, Mỹ đã huy động tới 105 lần chiếc B52 và 90 lần chiếc máy bay chiến thuật. Cả khu phố nổi tiếng đông dân với các con ngõ mang cái tên thân thương như ngõ Hòa Bình, ngõ Đại Đồng, Đoàn Kết, Văn Chương… đã bị san phẳng. Các khối phố 42,43,45,47… chỉ còn là một đống gạch vụn.
     Ngay hôm đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội – Bác sĩ Trần Duy Hưng cũng đã có mặt, tham gia cùng nhân dân đào bới, tìm kiểm người bị nạn. Thành phố cũng đã huy động hàng loạt ô tô đến, chiếu đèn pha giúp cho việc cứu người. Cả Hà Nội không ai ngủ được. Bà con sơ tán ở ngoại thành và các vùng quanh đó cũng không ngủ. Họ chạy ra cánh đồng, bờ đê nhìn về nơi có vầng ánh sáng, đó là lửa bom đang đốt cháy Hà Nội.
     Sáng hôm sau người phát ngôn Bộ ngoại giao – trung tâm đầu não của nước Viêt Nam Dân chủ Cộng Hòa, lên tiếng cực lực phản đối không quân Mỹ đánh vào Hà Nội – thì Đài Hoa Kỳ phát đi lời biện minh của Bộ ngoại giao Mỹ rằng: Mỹ chỉ đánh vào khu vực thuộc tỉnh Hà Đông? Họ ngụy biện bằng cách đưa ra sự nhầm lẫn thật quá lố bịch.
      Sau trận bom, người ta cũng thấy Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến hiện trường. Ông đã biểu lộ sự xúc động trước nỗi đau quá lớn.
     Sau này, một Đài tưởng niệm Khâm Thiên được dựng trên nền ba ngôi nhà số 47, 49, 51 đã bị bom Mỹ xóa sổ đêm ấy, với tấm bia mang dòng chữ “Khâm Thiên khắc sâu căm thù giặc Mỹ” – và một bức tượng bằng đồng, tạc hình một phụ nữ bế trên tay đứa trẻ đã chết vì bom Mỹ. Bức tượng đã sáng tác từ nguyên mẫu là chủ nhân ngôi nhà 51 này: Máy bay Mỹ rải thảm B52 đêm 26/12 đó, đã làm chết toàn bộ 7 người của một gia đình, trong đó người con dâu đang mang thai sáu tháng. Khi những người cứu hộ lôi được họ ra khỏi hầm, cơ thể vẫn còn ấm nhưng không ai sống sót… vì hơi bom tạt vào hầm quá mạnh.
     Ngày nay thành phố vẫn để khuyết nơi đó như bỏ ngỏ một vết thương chiến tranh, nhắc nhở mãi tội ác của giặc Mỹ ngày nào. Một vết sẹo trên con phố lương tri vẫn còn nhức nhối trong nỗi đau con người về chiến tranh – để mãi mãi nhen lên ước vọng hòa bình cho toàn nhân loại.
     Theo Bách khoa toàn thư: Trong 12 ngày đêm “Điện Biên Phủ trên không”: Quân chủng Phòng không – Không quân cùng quân và dân miền Bắc Việt Nam đã bắn rơi 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Tiêu diệt và bắt sống hàng trăm phi công Mỹ.
     Cuộc tập kích chiến lược qui mô lớn bằng B52 của không quân Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng… nhằm đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá: Đã phá tan hoang nhiều khu phố, làng mạc. Đánh sập 5.480 ngôi nhà, trong đó có gần 100 nhà máy, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, nhà ga…giết chết 2.368 dân thường và làm bị thương 1.355 người khác – Trong 12 ngày đêm, Mỹ đã sử dụng 663 lần chiếc B52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật, dội xuống hơn 100.000 tấn bom.
     Riêng Hà Nội, Mỹ thả xuống 10.000 tấn bom – tương đương quả bom nguyên tử Mỹ đã ném xuống Hiroshima… nhưng cuối cùng chúng đã bị thất bại hoàn toàn. 
     7 giờ sáng ngày 30.12.1972, Ních Xơn buộc phải ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và họp lại Hội nghị Pa Ri về Việt Nam.
     Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pa Ri đã được kí kết. Chính phủ Hoa Kỳ cam kết tôn trọng độc lập , chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Cam kết sẽ không dính líu về quân sự hoặc can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam. Cam kết rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước.
     Báo Le Monde (Pháp) đã gọi cuộc ném bom B52 rải thảm của Mỹ vào Hà Nội là “Hành động kinh tởm, có thể sánh với các cuộc ném bom tàn sát của phát xít Đức”.
     Trong lòng nước Mỹ, báo chí truyền thông cũng “nổi sóng” lên án Chính quyền Ních Xơn – Thời báo New York viết: “Chủ trương ném bom Hà Nội là một sự lừa dối hay sự ngây thơ của chính quyền?” và phê phán “Bằng hành động này, Nixon đã làm cho nền văn minh Mỹ sụp đổ… trở thành đất nước của những kẻ dã man”.
     Báo Bưu điện Thành Louis viết: “Mỹ càng ném bom thì sự phẫn nộ của dư luận càng tăng. Nhiều người tin rằng: Chính phủ Mỹ đang cố tình sát hại hàng loạt dân thường trong một chiến dịch khủng bố.”.
     Báo tin hàng ngày Chicago nhận xét: “Đưa máy bay B52 rải thảm lên đầu người dân Hà Nội là điều sỉ nhục đối với mọi người trên trái đất”.
     Thời báo Los Angeles viết: “Đây là tội ác gieo rắc chết chóc và kinh hoàng không thể tha thứ được, là hành động bất chấp mọi lí trí.”.
     Chủ tịch Công Đảng Anh Roy Jenkings gọi cuộc ném bom B52 xuống Hà Nội là “hành động mất lòng người nhất trong lịch sử loài người”.
     Thậm chí, Thủ tướng Thụy Điển Olop Palme còn coi “tội ác của Mỹ có thể sánh với các cuộc tàn sát man rợ nhất của bọn Đức Quốc Xã trong Đại chiến thế giới lần thứ hai”.
     Gieo gió phải gặt bão – Hành động tàn bạo man rợ của đế quốc Mỹ, đã bị cả loài người có lương tri phẫn nộ lên án.
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:34:54
 
 
                                                      CHƯƠNG XII.
               CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN
                        NHỮNG NĂM CUỐI
 
                                                    43-
        Sau khi Hiệp định Pa Ri đã kí ngày 27.1.1973 – Ngày 2.3.1973, một Hội nghị Quốc tế về Việt Nam đã được triệu tập tại Pa Ri, gồm đại biểu các nước: Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp và bốn bên tham gia kí kết Hiệp định, cùng bốn nước trong Ủy ban giám sát và Kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Canada, Hungari, Inđônêxia) với sự có mặt của ông Tổng thư kí Liên Hợp Quốc. Tất cả các nước tham gia vào hội nghị này đều đã kí vào bản Định ước, công nhận về mặt pháp lý quốc tế của “Hiệp định Pa Ri” về Việt Nam, bảo đảm cho hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh.
     Tuy ngày 29.3.1973, người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ đối với vấn đề Việt Nam. Từ nay chỉ còn QLVNCH đơn độc chống lại liên quân: Quân đội nhân dân Việt Nam từ miền Bắc tràn vào và QGP miền Nam. Song Mỹ vẫn giữ lại hơn hai vạn cố vấn quân sự, lập ra Bộ chỉ huy quân sự, trực tiếp viện trợ cho chính quyền Sài Gòn… tuy mức độ đã ít hơn trước rất nhiều.
     Được cố vấn Mỹ chỉ huy và vẫn nhận được sự viện trợ của Mỹ, chính quyền Sài Gòn ngang nhiên phá hoại Hiệp định Pa Ri. Họ huy động gần như toàn bộ quân lực tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ” để bình định, lấn chiếm vào vùng đã được cộng sản giải phóng.
      “Hiệp định Pa Ri” thực chất là giải pháp cuối cùng mà Mỹ phải chấp nhận. Cuộc đàm phán tại Pa Ri bắt đầu từ năm 1968 – cuối thời kì Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng thống Richard Nixon, nhưng không đạt được tiến độ nào cả. Đến cuối nhiệm kì I của Ních Xơn, quá trình đám phán được ghi nhận là quá trình vừa đánh vừa đàm. Mặt trận quân sự quyết định diễn biến của mặt trận ngoại giao.
      Ních Xơn bất chấp cả dư luận quốc tế, thực hiện cuộc rải thảm bom B52 để san phẳng Hà Nội và đưa Bắc Việt Nam trở về thời kì đồ đá, nhưng vẫn bị thất bại. Chính phủ Mỹ mới buộc phải chấp nhận kí Hiệp định Pa Ri, nhằm rút lui trong danh dự.
     Trên thực tế không có ngừng bắn với toàn bộ lãnh thổ miền Nam, kể từ 24 giờ (giờ GMT) ngày 27.1.1973 - Ngay từ 28.1.1973, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã đưa ra kế hoạch ‘tràn ngập lãnh thổ”: thực hiện các cuộc tấn công ồ ạt vào các vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam kiểm soát, nhằm lợi dụng tâm lí chủ quan của QGP khi hiệp định vừa có hiệu lực. Thiệu điên cuồng kêu gào tiếp tục chiến đấu để tiêu diệt cộng sản. Ông ta nói: Sẽ không tha cho bất kì một người cộng sản nào! Áp dụng tất cả mọi hoạt động, từ hành quân đánh phá đến biện pháp cảnh sát và hành chính, để đập tan chính quyền cách mạng.Thiệu hung hăng đe dọa kết án tử hình tất cả những ai – Bao gồm xã trưởng, ấp trưởng, quận trưởng và tỉnh trưởng, khi họ có bất kì quan hệ nào ủng hộ, thỏa hiệp với chính quyền cộng sản.
     Chính quyền Sài Gòn đã xúc tiến bố trí thế trận và binh hỏa lực, đánh phá vào vùng quân cách mạng kiểm soát với qui mô chưa từng có. Trước hết, họ điều Hồ Ngọc Cẩn là đại tá Sư đoàn 21 – Tên này trước đây đã được Mỹ chọn sang Hoa Kỳ học, đưa về làm tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện. Tăng cường nhiều sĩ quan quân đội cùng công an, tình báo, gián điệp… thực hiện kế hoạch đánh phá này. Tập trung lực lượng quân hỗn hợp đông, có lúc lên tới 75 tiểu đoàn – gồm Sư đoàn 21, một số trung đoàn của Sư 9, sư 7 bộ binh, biệt động quân, thiết đoàn, pháo binh, không quân. Huy động rất nhiều các tiểu đoàn bảo an của các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Rạch Giá, Sóc Trăng, Long Xuyên, Châu Đốc… chưa kể dân vệ, phòng vệ, dân sự tại chỗ cùng lực lượng khá lớn công an, mật vụ rải khắp các khu vực. Mở nhiều cuộc càn quét chà đi xát lại, sử dụng bom pháo rất ác liệt – Như khu vực Cái Nai (Long Mỹ), Bà Lớn (giáp Vĩnh Hòa Hưng – Gò Quạo – Rạch Giá). Tuyến Lai Hiếu (Cần Thơ) chỉ trong 18 ngày đêm , địch đã bắn 40.000 quả pháo vào một khoảng dài không quá bốn cây số, không quân ném bom tới hàng trăm phi vụ.
     Chính quyền Thiệu thực hiện những cuộc càn quét dài ngày với nhiều thủ đoạn tàn bạo, vừa để đánh phá các vùng của QGP vừa để tạo thành lá chắn phòng thủ đầu não ở Sài Gòn. Trong năm 1973, QLVNCH tiến hành gần 10.000 cuộc hành quân càn quét trên toàn bộ lãnh thổ miền Nam, lấn chiếm ở các vùng tranh chấp từ cấp tiểu đoàn trở lên; 350.000 cuộc hành quân cảnh sát, bình định trong vùng chúng kiểm soát. Ra sức củng cố và tăng cường lực lượng quân sự nhằm làm cho quân VNCH lớn mạnh, đủ sức để dối phó với QGP cũng như quân chủ lực từ miền Bắc tràn vào. Chỉ tính trong năm 1973, chính quyền VNCH đã bắt thêm 240.000 lính. Ngoài ra thu thập thêm 130.000 quân đào ngũ, rã ngũ… đưa tổng số quân thường trực lên tới 710.000 tên. Điều đó chứng tỏ âm mưu gây chiến ở miền Nam Việt Nam của chính quyền Thiệu vẫn không thay đổi.
      Chỉ tính từ 28/1 đến 28.3.1973, QLVNCH đã vi phạm lệnh ngừng bắn tới 67.762 vụ. Riêng trong năm 1973, địch đóng thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã, kiểm soát thêm 650.000 dân.
     Nhưng nếu nói: chỉ có chính quyền Sài Gòn đã vi phạm hiệp định ngừng bắn kí kết ở Pa Ri, thì cũng thật quá đáng – Về phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cộng sản Bắc Việt thì sao? – Bộ chỉ huy QGP cũng liên tiếp mở các cuộc tiến công, phản công, kết hợp các cuộc nổi dậy của nhân dân trong vùng do VNCH kiểm soát. Một mặt đánh bại kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ” của chính quyền Thiệu, mặt khác mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam có lợi cho chính quyền cách mạng.
     Ở ngoài Hà Nội, Trung ương Đảng cộng sản chủ trương huy động tất cả các ngành, các địa phương tranh thủ thời cơ Mỹ đã rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, chính quyền Thiệu thì suy yếu, bị cô lập, hoang mang – miền Bắc dồn sức chi viện đột xuất sức người, sức của cho miền Nam. Bộ quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường tối đa quân đội, vũ khí hạng nặng để thực hiện mở nhiều mặt trận tấn công tổng lực vào QLVNCH. Rất nhiều những binh đoàn thiện chiến tiến vào miền Nam.
     Khi Hội nghị Pa Ri chưa được kí kết, con đường mòn Hồ Chí Minh  dọc theo Tây Trường Sơn tuy đã vươn dài đến Tây Nguyên, tổng cộng chiều dài là 11.230km nhưng mới chỉ đủ sức cho các loại xe nhỏ, chưa đủ năng lực cho các loại xe tăng, pháo, tên lửa hạng nặng qua lại – Sau Hiệp định Pa Ri, Hội đồng Chính phủ ở Bắc Việt đã ra quyết định số 243/TTg: xây dựng, củng cố, mở rộng đường chiến lược Trường Sơn. Nhà nước giao cho quân đội làm, đã huy động hàng chục ngàn bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân, kĩ sư… ngày đêm san đèo, phá núi, chuyển đá, đắp đường để xây dựng một hệ thống đường rộng lớn ở cả phía Đông Trường Sơn. Con đường có đủ khả năng đảm bảo cho các loại xe vận tải cỡ lớn, các loại xe chiến đấu hạng nặng chạy dọc cả hai chiều với tốc độ cao, trong suốt bốn mùa mưa nắng. Con đường chiến lược Trường Sơn đó đã dài tới 20.000km.
     Dọc theo con đường Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000km đường ống dẫn dầu, kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, và một hệ thống đường thông tin liên lạc hữu tuyến đến tận các chiến trường. Không chỉ đảm bảo sự liên lạc trên các mặt trận ở miền Nam Việt Nam, mà còn nối liền từ chiến trường về Hà Nội.
     Thông qua đường vận tải chiến lược ở Đông và Tây Trường Sơn đó – Trong một thời gian ngắn sau ngày kí kết Hiệp định Pa Ri, Bắc Việt đã chuyển ra mặt trận 200.000 bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ,  chuyên môn kĩ thuật phục vụ cho chiến đấu. Hơn 25 vạn tấn vật chất như vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, thuốc men, lương thực…
     Nghĩa là, tranh thủ thời cơ có hiệp định đình chiến, Bắc Việt cũng đã tăng cường tối đa cho chiến trường. Theo thống kê của một cơ quan ngôn luận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: chỉ tính từ sau ngày đình chiến 27.1.1973 đến tháng 9.1973, Bắc Việt đã tung thêm vào miền Nam 2 sư đoàn bộ binh, 2 trung đoàn pháo binh, 1 sư đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 trung đoàn công binh… với trên 10 vạn cán bộ, chiến sĩ.
     Nhờ có sự chi viện tổng lực của Bắc Việt, cho nên chỉ trong năm 1973: Bộ đội chủ lực ở mặt trận miền Nam đã lên đến 10 sư đoàn, 24 trung đoàn và 102 tiểu đoàn vừa bộ binh và binh chủng . Các sư đoàn chủ lực đều được biên chế đủ 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh và các tiểu đoàn, đại đội binh chủng trực thuộc. Mỗi tiểu đoàn được biên chế trên dưới 400 quân, trung đoàn biên chế từ 1.800 đến 2.000 quân. Sau khi kí kết hiệp định – Bộ đội chủ lực trên chiến trường miền Nam đã được tổ chức tới cấp quân đoàn. Không chỉ cơ động linh hoạt trên địa bàn quân khu của họ, mà có thể phối hợp chiến đấu với các quân đoàn khác, trong chiến dịch có ý nghĩa chiến lược.
     Ngoài ra, các lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích trong chiến trường, cũng được củng cố và tăng cường chưa từng thấy – để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công, chớp thời cơ quật đổ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
     Nghĩa là, không chỉ riêng chính quyền Thiệu vi phạm hiệp định đình chiến đã được kí kết, dù có sự giám sát của Ủy ban Quốc tế - mà cả Cộng sản Bắc Việt cũng vi phạm hiệp định. Sự thực thì sau Hiệp định Pa Ri 27.1.1973, tình hình trên chiến trường miền Nam có lúc tạm thời lắng đi, nhưng chưa bao giờ thật sự được bình yên.
 
                                                       *
 
     Tháng 9 năm1973, Tiểu đoàn hỏa lực D16 trực thuộc Mặt trận Tây Nguyên do Đại úy Nguyễn Hoàng là tiểu đoàn trưởng - được Bộ tư lệnh B3 điều động, phối hợp cùng với Trung đoàn 48 Sư 320, mở cuộc tiến công vào căn cứ Chư Nghé, phía tây Pleiku.
     Tiểu đoàn16 vẫn giữ nguyên bốn đại đội hỏa lực như trước: Đại đội cối 82mm, Đại đội hỏa tiễn DKB, Đại đội rốc két B41 và Đại đội 4 pháo cao xạ phòng không, gồm hai loại pháo 37ly – 14ly5.
      Đưa tiểu đoàn hành quân trên đường Quốc lộ 19, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng ngồi trong ca bin một chiếc xe chở pháo 37ly của Đại đội 4. Quốc lộ 19 là con dường chủ yếu ở hướng tây Gia Lai. Các loại xe tăng, ô tô, xe chở pháo có thể hành quân cứu viện rất dễ dàng nhưng rất khó giữ bí mật, nên tiểu đoàn của anh phải đi trong đêm. Trung đoàn bộ binh chủ yếu là xuyên rừng, họ có thể hành quân ban ngày. Mặc dù máy bay địch không nhiều như trước, nhưng thỉnh thoảng vẫn có mấy chiếc trinh sát L19 hoặc OV10 bay lượn trên bầu trời thăm dò.
     Ngoài Tiểu đoàn hỏa lực D16 đi phối thuộc - Trung đoàn chủ công E48 còn được Bộ tư lệnh tăng cường thêm 1 đại đội xe tăng T-54 của Trung đoàn 273, 4 khẩu 120mm của Tiểu đoàn 14, lựu pháo 122mm của Tiểu đoàn 47 -  Trung đoàn 675.
     Con đường quốc lộ trong thời chiến cũng chẳng bằng phẳng gì, bom đạn đánh nham nhở. Xe pháo vừa đi vừa phải lựa mà vẫn cứ nhẩy xóc tung lên,  như muốn hất tất cả người ngồi trên xe văng ra ngoài. Đoàn xe chở pháo D16 vẫn mải miết chạy trong đêm tối đến vị trí chiếm lĩnh trận địa, là một khu rừng gần căn cứ Chư Nghé.
     Mặc dù vào mùa mưa nhưng thời tiết trong đêm tạnh ráo, gió hai bên rừng ùa vào ca bin mát rượi. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lại miên man với những dòng suy nghĩ. Trước giờ xuất trận của người lính, thường họ nghĩ đủ điều về quê hương và các người thân ở xa.
     Do biến động của chiến trường - Sau Hiệp định Pa Ri, chiến sự vẫn diễn ra ngày càng ác liệt. Nguyễn Hoàng đành phải gác chuyến đi phép, mà trước đây có dự định sẽ bố trí cho anh về thăm gia đình ở quê. Khi đó anh đã viết thư báo tin về cho Thu. Sau đấy anh cũng đã nhận được thư của Thu, cô vui lắm và báo tin cho anh biết: Ông bà Giáo nói, khi anh về phép sẽ tranh thủ tổ chức đám cưới cho anh và cô.
     Trong thư, Thu còn kể cho anh nghe bao nhiêu chuyện về Hà Nội, những người thân và bạn bè. Ai cũng mong ngày về phép của anh. Cô nói với anh rằng: Ngày cưới cô sẽ chọn mặc một bộ váy cô dâu đẹp nhất, dù là thời chiến. Rằng, lòng cô tràn ngập một niềm vui hạnh phúc! Thế mà, đùng một cái mọi sự thay đổi? Không phải chỉ với riêng anh, hầu như kế hoạch cho cán bộ, chiến sĩ đã vào chiến trường nhiều năm về quê nghỉ phép, đều phải hoãn lại hết.
     Rồi lại đến cuộc đánh phá ác liệt của không quân Mỹ rải thảm bom  B52 vào Hà Nội, hồi cuối năm 1972. Hoàng đã nghe tin về Khâm Thiên, khu phố gia đình anh sống ở đó bị bom san phẳng, người chết rất nhiều. Trước khi bước vào trận đánh Chư Nghé này, anh đã nhận được thư của thằng Lâm – em trai anh, nó báo: Nhà bị bom đánh tung hết, nhưng ông bố với bà dì ghẻ nhà anh cùng vợ chồng anh Thành và các cháu đã đi sơ tán cả, nên không ai việc gì. Nó còn nói, gia đình cũng đã được thành phố giúp đỡ dựng lại một căn nhà bằng tre nứa, lợp giấy dầu ở tạm. Bởi thế, anh cũng tạm yên lòng. Chỉ có điều, Hoàng không hề nhận được thư của Thu, nên chẳng rõ tình hình về cô và ông bà Giáo ra sao? Anh nghĩ, chắc cũng chẳng ai việc gì - vì nhà Thu ở phố Hàng Bông không bị bom đánh, với lại… trước đó cô đã đưa ông bà Giáo về quê sơ tán cả.
     Mặc dù Hoàng vẫn biết, thư từ quê hương gửi ra chiến trường bị bom đạn dọc đường nên cũng hay thất lạc? nhưng lòng dạ anh vẫn bồn chồn, không yên – chứ anh không thể ngờ rằng: người bạn gái thân thiết của anh, cô sẽ không bao giờ còn có thể viết thư cho anh được nữa.
     Đoàn xe pháo của Tiểu đoàn 16 vẫn đang lầm lũi tiến về phía căn cứ Chư Nghé. Họ sẽ đến vị trí chiếm lĩnh trược khi trời sáng, như kế hoạch hợp đồng với Trung đoàn 48. Cũng còn phải vài ba tiếng nữa mới tới nơi.
     Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lại nhớ đến những tháng năm đầu tiên đời quân ngũ, khi còn là một chiến sĩ xạ thủ đại liên: vào mùa xuân 1968, Trung đoàn 209 của anh cấp tốc nhẩy lên xe ô tô tiến vào chiến trường Tây Nguyên… cho tới chiến dịch lần này. Anh cũng chẳng còn nhớ là mình đã qua bao nhiêu trận đánh, vượt qua bao con rừng, con núi, đánh bao nhiêu cứ điểm địch - Chỉ có điều, anh không hiểu là tại sao mình vẫn còn sống?
     Ở chiến trường, cái chết diễn ra đơn giản, thường tình quá! Người lính chỉ biết “đánh” và khao khát có ngày mình được trở về quê hương, khi tổ quốc đã bình yên! Anh từng chứng nhận bao nhiêu máu những người chiến sĩ đã đổ và cả máu chính mình. Hoàng cũng đã hai lần bị thương, rồi lại trở về chiến đấu.
     Trăng sao vằng vặc. Anh nhìn các pháo thủ của tiểu đoàn, những chiếc bóng đang ngồi yên lặng trên cỗ xe pháo. Có lẽ giờ phút này, nhiều anh em cũng trong những ý nghĩ riêng tư như anh - để khi bắt đầu trận đánh, họ chỉ biết bóp cò và lao mình vào lửa đạn. Chiến tranh là thế!
     Hoàng lại nhớ vào hồi đầu năm 1973, khi đó anh còn là một đại đội trưởng. Đại đội của anh được cử đi làm nhiệm vụ phá ấp, giành dân ở Buôn Hồ, Đắc Lắc. Chỉ chờ kí Hiệp định đình chiến Pa Ri xong, là QGP thừa cơ chiếm đất, chiếm dân chứ không phải địch? Khi vừa mới kí hiệp định, thì những người lính của cả hai bên ngồi với nhau chuyện trò, đi bắt cá, bắt tép nấu ăn cùng nhau. Đánh bóng chuyền với nhau vui vẻ… thậm chí là rất thân thiết nữa. Thế rồi, chẳng được bao lâu – Hai bên đều được lệnh lấn chiếm nhau. Chiếm đất, chiếm dân và sẵn sàng đánh nhau.
     Cả hai bên đều vi phạm, đều phá vỡ hiệp định đã kí kết.
     Khi ấy, đại đội của anh được một đơn vị nữ biệt động địa phương, cùng phối hợp đánh địch. Ở Buôn Hồ, cây gai xấu hổ dằng dịt, mà bộ đội thì chẳng có găng tay, găng chân gì… bị gai xấu hổ cào tóe máu. Đêm đến các cô gái dân tộc bắt nằm chung, một nam một nữ ngủ với nhau. Họ nói, đó là lệnh của huyện, nhằm đánh địch ở thế chân kiềng? Chị em thì thông thạo tình hình, lại tỉnh giấc… dẫu đang nằm mà có giặc đến, có thể thúc anh em dậy đánh địch ngay.
     Bộ đội thì nhiều tân binh mới vào. Không ít cậu chưa hề có mảnh tình nào vắt vai, thậm chí chưa biết mùi phụ nữ là gì? Các anh lính trẻ ấy cứ ngần ngại, không dám nằm chung với chị em. Vốn con gái bản rất chân thật, đôn hậu, nhưng cũng rất bạo. Có cô nói: “Nếu các anh không nằm, bọn em sẽ báo cáo huyện”!
     Thế rồi, thời chiến nên cũng dễ. Vậy là, cứ một nam, một nữ nằm chung nhau. Chẳng hiểu, có cậu nào đêm đến mầy mò chị em không? Chứ… lần này Đại đội trưởng Nguyễn Hoàng nghiêm túc lắm! Anh còn phải gương mẫu với anh em. Cô gái nằm cạnh anh trẻ măng, mới 18 tuổi, da trắng nõn như trứng gà bóc. Đêm đến, cô ấy cứ quờ sang anh. Anh lại phải nhẹ nhàng gỡ tay của cô ra. Hoàng hết sức kìm nén mình. Anh biết, giá anh muốn… cô ấy cũng sẽ đồng ý cho anh ngay! Nhưng anh vẫn tự nhủ, không được thả lỏng mình… Người con gái của Buôn Hồ, Đắc Lắc ấy có vẻ giận dỗi anh? vì… anh cứ thờ ơ. Cô ta quay mặt đi và nằm xa anh một chút, nhưng rồi chỉ được một lát, cô ấy lại quay vào quàng tay qua ngực, ôm lấy anh mà ngủ.
     Giờ nghĩ lại, Hoàng tự mỉm cười với mình trong đêm. Anh cũng thấy hoài của? nhưng kỉ luật của người lính là phải tự giác. Với lại, anh là một chỉ huy cơ mà? Phải nghiêm túc chứ!
     Sau một thời gian, đại đội anh được lệnh chia tay với chị em đội biệt động trở về Đắc Tô – Tân Cảnh, chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới. Khi chia tay nhiều cô đã khóc, cứ như là phải chia ly với người yêu ra chiến trường.
     Đoàn xe pháo của tiểu đoàn đã rời khỏi Quốc lộ 19, tiến vào con đường mới làm cắt qua rừng. Bóng trăng cũng đã khuất, chỉ còn ít đốm sao đêm hiu hắt sáng. Gió rừng vẫn thổi. Khi đoàn xe dừng lại, họ còn trông thấy bóng những con thú, hình như là giống hoẵng vụt chạy vào trong rừng sâu. Người lính trinh sát dẫn đường đến báo cáo với tiểu đoàn trưởng là, đã đến vị trí chiếm lĩnh. Hoàng xuống xe và ra chỉ thị cho từng đại đội triển khai trận địa như kế hoạch chuẩn bị trước. Lúc đó cũng gần 5 giờ sáng.
     Chư Nghé là một căn cứ biên phòng của QLVNCH, còn gọi là Lệ Ninh do Tiểu đoàn 80 đóng giữ. Phía đông cách Thị xã Pleiku khoảng 70km, được nối bằng Quốc lộ 5A. Căn cứ nằm trên một quả đồi độc lập hình củ khoai lang, kéo dài từ đông sang tây. Chia thành hai khu, liên kết với nhau bằng hệ thống giao thông hào và lô cốt, được Mỹ xây dựng từ năm 1965. Có trận địa pháo 105mm, xe tăng và thiết giáp M-113 phòng thủ xung quanh.
     Phía tây nam có sân bay Sùng Thiện cho máy bay vận tải C130 hạ cánh tiếp tế lương thực, đạn dược. Quanh căn cứ có 14 lớp hàng rào thép gai các loại, chăng dầy đặc. Ở giữa chúng có gài mìn, chạm vào là nổ. Vừa là mìn nổ sát thương vừa là mìn chiếu sáng, để phát hiện khi QGP tiến đánh.
     Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng chỉ lên tấm bản đồ trải dưới đất, chỉ dụ những lời căn dặn cuối cùng với các ban chỉ huy đại đội, đang đứng vây quanh anh. Sau đó mọi người trở về đơn vị tiếp tục làm công tác chuẩn bị trận đánh cho thật tốt, chờ lệnh nổ súng.
     Đúng 13 giờ ngày 22.9.1973, lệnh nổ súng bắt đầu. Các loại hỏa lực của D16 như hỏa tiễn DKB, cối 82mm cùng pháo lớn của trung đoàn pháo mặt đất, đồng loạt bắn mãnh liệt vào căn cứ Chư Nghé. Những khẩu pháo 85mm nòng dài, lựu pháo 122mm và pháo D74 từ dẫy núi phía bắc, ngắm bắn trực tiếp ở cự ly 1-1,5km – Đường đạn mạnh nên mỗi phát pháo bắn, một lô cốt hay ụ pháo của QLVNCH bị nổ tung.
     Sau ít phút bất ngờ, địch đã bắn trả lại rất dữ dội. Các loại pháo 105mm, pháo xe tăng và thiết giáp từ trong căn cứ bắn ra. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng ra lệnh cho cả pháo cao xạ 14ly5 của đại đội 4, hạ nòng thấp trực tiếp bắn vào các cùm hỏa lực của địch, còn pháo 37 ly sẵn sàng đón máy bay địch đến ứng cứu. Căn cứ Chư Nghé trong phút chốc bị cầy xới tung lên, khói đạn mù mịt, chìm trong những tiếng nổ như sấm dậy. Lính biệt động quân của Tiểu đoàn 80 QLVNCH hoảng hốt, gọi điện về trung tâm xin cho máy bay tới ném bom giải nguy và pháo từ các nơi bắn chi viện.
     Về phía QGP – Đồng thời cùng lúc các loại pháo bắn áp đảo, những đại đội bộ binh mở đường của E48 – F320 từ các hướng nhất loạt xông lên phá hàng rào, mở cửa cho lực lượng chủ lực quân của trung đoàn tràn vào trong cứ điểm.
     Ở hướng chủ yếu - chỉ chưa đầy 10 phút, Đại đội 3 của Tiểu đoàn 1 - E48 đã phá bung 9 lớp hàng rào bên ngoài, với loạt mìn định hướng ĐH30 quét sạch lớp hàng rào cản, mở ra một con đường trơ nền đất đỏ chạy dọc từ chân lên đến lưng đồi. Họ lại tiếp tục xông lên phá tiếp khối hàng rào cuối cùng…
     Song từ những ụ lô cốt của Tiểu đoàn 80 biệt động QLVNCH, bắn trả lại rất quyết liệt. Chúng dùng trung liên và đại liên quét vào hai bên đội hình,  tiểu đoàn chủ công E48 không sao tiến lên được. Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lệnh cho hỏa tiến DKB – rốc két B41 – cối 82mm và pháo cao xạ hạ thấp nòng tập trung bắn, dập tắt hỏa lực địch. Một khoảng trống đã được mở ra, các đại đội của tiểu đoàn chủ công E48 ào ạt xông lên cứ điểm.
     Địch ở trong căn cứ gào thét gọi điện về Sài Gòn xin cứu viện khẩn cấp, nhưng lúc này vẫn chưa thấy một chiếc máy bay nào của chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đến tiếp ứng cho cứ điểm của chúng đang bị nguy khốn – Sau Hiệp định Pa Ri, quân Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, nên máy bay của không lực VNCH cũng ít hẳn so với ngày trước. Pháo tầm xa của chúng ở các vùng khác bắn về, nhưng chỉ dám bắn ở vòng ngoài - vì lúc này bộ đội đã tiến vào phía trong. Nếu chúng bắn vào sâu bên trong, thì không phải chỉ mình QGP mà cả lính VNCH cũng chết.
      Tiểu đoàn 80 biệt động quân của địch cho 4 chiếc xe tăng từ trong cứ điểm lao ra, chúng dùng súng 12ly8 trên xe bắn xéo quét về phía cửa mở để chặn QGP. Các hỏa lực của D16 và E48 liền nổ súng bắn cháy ngay 1 chiếc bên phải, rồi 1 chiếc khác tiếp tục bị rốc két B41 bắn trúng nẩy tung lên, bốc cháy ngùn ngụt.   
     Đúng lúc, hai tốp máy bay gồm 6 chiếc AD6 của không lực VNCH ầm ầm bay tới. Tốp bay đầu bổ nhào đánh bom vào trận địa pháo 85mm và lựu pháo 122mm ở phía bắc. Tốp thứ hai ném bom xuống khu vực bộ binh đang xung phong. Pháo cao xạ 14ly5 và 37ly nhất loạt nổ súng bắn máy bay. Phi công địch vội vàng bốc lên cao, trút bom bừa bãi xuống những cánh rừng xung quanh. 1 chiếc AD6 trúng đạn bốc cháy kéo theo một vệt khói đen dài, đâm chúi đầu rơi cách đấy chưa đầy cây số.
     Được sự yểm trợ mạnh mẽ của cả pháo mặt đất, pháo cao xạ và xe tăng T-54 – các đại đội bộ binh của Trung đoàn 48 từ các hướng vọt xung phong lên cứ điểm. Lính biệt động QLVNCH chết như ngả rạ. Tuy vậy, các đơn vị bộ binh của E48 cũng thương vong và hy sinh một số không nhỏ. Hai chiếc xe tăng còn lại của địch đã bị hỏa lực QGP bắn cháy nốt.
     Ở hướng đông nam và tây bắc cứ điểm, bộ đội chủ lực của trung đoàn 48 được hai xe tăng T-54 hộ tống cũng xông lên như vũ bão… làm cho cả căn cứ Chư Nghé của VNCH rối loạn. Khói lửa mịt mù…
     Lại có hai tốp máy bay khác của địch bay tới. Nhưng lần này kéo theo tốp AD6 là tốp máy bay cường kích F101. Các trận địa pháo cao xạ của D16 lại đồng loạt nổ súng. Những đường đạn như những vệt lửa đỏ đan kín một vùng trời. Những tiếng bom nổ như sấm động, đất đá tung lên cùng khói bom đen đặc. Bỗng có tiếng thét vang lên từ một trận địa pháo:
-  Máy bay cường kích trúng đạn rồi! F101 bốc cháy rồi, anh em ơi!
     Người ta nhìn thấy một chiếc phản lực bị trúng đạn cao xạ 37ly nổ ngay trên trời, rồi một đám lửa lớn với thân hình khổng lồ của nó ngùn ngụt cháy, rơi ngay xuống khu rừng bên cạnh. Nhưng một quả bom của địch cũng đã ném trúng vào một trận địa pháo 37 của đại đội 4, làm toàn bộ tiểu đội pháo hy sinh - Chiến tranh và chết chóc là tất yếu! Địch vẫn đến trút bom như điên cuồng. Chúng hốt hoảng, vội vã quăng bừa bãi ra ngoài rừng… 
     Ở hướng tây nam của Chư Nghé – Được sự yểm trợ của tốp xe tăng T-54, một tiểu đoàn bộ binh Sư 320 đã xông lên tiêu diệt 1 đại đội lính biệt động khác của QLVNCH, khi chúng đang bảo vệ sân bay Sùng Thiện. QGP đã chiếm được sân bay rồi chiếm cả cầu sắt, đánh thẳng lên khu A – kết hợp với Trung đoàn 48 tiêu diệt toàn bộ Tiểu đoàn 80 biệt động quân VNCH và làm chủ Chư Nghé.
     Từ ba hướng – Bộ binh, xe tăng, hỏa lực pháo Việt Cộng đã chia cắt địch ra từng mảng, đánh chiếm chỉ huy sở tiểu đoàn. Đến 16 giờ cùng ngày, tên đại úy chỉ huy căn cứ Chư Nghé đã phải kéo cờ trắng xin hàng. Trận đánh Chư Nghé của Sư 320, cùng phối thuộc với các đơn vị pháo trực thuộc Bộ tư lệnh B3 kết thúc thắng lợi.
     QGP tổng kết đã thu ở đây 50 tấn đạn pháo, một khối lượng lớn vũ khí và các loại trang bị phương tiện chiến tranh của chính quyền VNCH. Trận đánh mở ra một vùng giải phóng rộng lớn: suốt một dải từ tây Kon Tum đến tây Gia Lai, chiếm thêm hàng vạn dân. Ngoài ra, QGP còn nối thông hành lang vận tải chiến lược ở phía tây với miền Đông Nam Bộ. Mở rộng hậu phương vùng giải phóng làm hậu thuẫn cho cuộc tổng tiến công, trên toàn bộ chiến trường Tây Nguyên sau đó.
     Trong việc phá vỡ hiệp định đình chiến ở Pa Ri - chiến thắng Chư Nghé cũng đã góp một thành tích đáng kể, một chiến công lớn của cả Mặt trận giải phóng miền Nam và Chính phủ cộng sản Bắc Việt.
     Khi tiếng bom và tiếng súng ngừng, người ta thấy trên nóc nhà hầm của tên tiểu đoàn trưởng biệt động QLVNCH, tung bay một lá cờ nửa đỏ, nửa xanh của QGP - Còn ở mặt đất thì bom đạn cầy xới nát bét, ngổn ngang đất đá cùng xác quân lính cả hai bên.
      Bộ phận làm công tác thương binh liệt sĩ của Sư đoàn 320, hối hả lao vào để giải quyết hậu quả: quân nhân nào bị thương còn đi được, anh em quân y sẽ băng bó sơ cứu, rồi theo người chỉ dẫn về phẫu tuyến sau chữa trị. Thương binh nặng thì được lực lượng tải thương đưa lên một chiếc võng bạt, cáng về phẫu. Các đơn vị đều đi thu nhặt xác anh em chiến sĩ bị tử trận để chôn cất.
     Tiểu đoàn trưởng D16 Nguyến Hoàng, sau khi ra chỉ dụ cho các đại đội pháo làm công tác thu dọn chiến trường – Anh vội vã cùng với người chính trị viên tiểu đoàn xuống đại đội 4 cao xạ, nơi có khẩu đội pháo 37ly bị trúng bom và những chiến sĩ trong khẩu đội pháo hy sinh. Xác của các anh em đó, bom đánh tan tác hết. Khẩu pháo thì bị gẫy chỉ còn lại một khối thép cong queo, văng đi xa đến bẩy tám chục mét…  nằm chỏng chơ ghếch cái đầu súng lên trời.
     Chiến sĩ đại đội 4 tỏa đi thu lượm những mảnh xương thịt của đồng đội. Mười cái xác của một khẩu đội pháo, không một thi thể nào còn nguyên vẹn. Chỗ này thì tìm thấy một cánh tay, chỗ khác một nắm tóc dính trên mảng da đầu. Máu loang đen bùn đất. Anh em tìm hết mọi ngách, cũng chỉ được một ít. Họ chia chỗ thịt và xương của những người chiến sĩ đã chết ấy, cho vào bốn cái túi vải để mang ra bìa rừng gần đó, chôn thành bốn ngôi mộ… rồi  đánh dấu các ngôi, ghi lại sơ đồ để sau này người ta đi tìm lại.
     Cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn, ai nấy đều bùi ngùi và xót xa – nhưng chiến tranh, cái chết đến thường nhật, đơn giản vậy! Lòng họ đau, song nước mắt họ đã cạn… không còn để khóc nữa. Đồng chí chính trị viên tiểu đoàn D16 đứng trên đầu hàng quân của đại đội 4, anh cất tiếng hô làm lễ mặc niệm trước bốn ngôi mộ mới chôn xong.
     Vừa lúc, trên Bộ tư lệnh Mặt trận B3 gọi điện xuống cho Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng: tuyên dương công trạng chung của tiểu đoàn hỏa lực đã chi viện đắc lực cho Trung đoàn 48, Sư 320 giành thắng lợi lớn… và đặc biệt đại đội pháo cao xạ C4, đã bắn rơi 2 máy bay phản lực của không lực VNCH. Bộ tư lệnh nói, rồi sẽ xét công trạng cấp những tấm huân chương xứng đáng , để ghi nhận công lao của các cán bộ và chiến sĩ trong tiểu đoàn – Đấy, chiến công của những người lính ở ngoài chiến trường đã phải đổi bằng bao xương máu như thế!
     Tiểu đoàn trưởng Nguyến Hoàng, anh đã từng qua bao nhiêu trận đánh… chứng nhận bao nhiêu sự hy sinh, mất mát – Thế mà giờ đây đứng trước bốn ngôi mộ, được chôn cất chỉ bằng một nắm xương thịt đã nát vụn bọc lại trong bốn chiếc túi vải, lòng anh trào lên nỗi đau vô hạn…
     Ôi, chiến tranh! Phi nghĩa hay chính nghĩa, phải định nghĩa như thế nào cho đúng đây?
     Sau chiến thắng – Bộ tư lệnh B3 chỉ thị cho Nguyễn Hoàng, để toàn bộ khu vực cứ điểm Chư Nghé cho Sư đoàn 320 bộ binh cai quản, còn anh lại dẫn tiểu đoàn trở về khu giải phóng Đắc Tô – Tân Cảnh, để củng cố đơn vị và chuẩn bị cho những trận chiến đấu tới.
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 21.09.2020 18:36:02 bởi Nhân văn >
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:38:28
 
 
                                                           44-
 
     Hoàng nhận được tin Thu chết, vào lúc tình hình chiến trường miền Nam diễn ra rất căng thẳng. Chiến dịch Tây Nguyên đang gấp rút tiến vào cuộc tổng tiến công, trong mùa xuân năm 1975.
      Sau bao nhiêu ngày tháng chờ đợi, cuối cùng anh cũng nhận được thư – nhưng đó là thư của Lan, cô bận gái học cùng lớp với hai người. Thư của Thu viết cho anh vào đêm nô-en 1972, cũng được gửi kèm trong đó.
     Hoàng nghe tin Lan báo tin Thu chết như sét đánh ngang tai. Người tiểu đoàn trưởng đã từng trải qua hàng trăm trận mạc, chứng kiến bao nhiêu cái chết đầy nước mắt của đồng đội, tưởng như không thể khóc được nữa – Thế mà, giờ đây đọc vội lá thư của Lan báo tin trong lúc đang chuẩn bị cho tiểu đoàn bước vào một trận đánh mới quyết liệt, nước mắt anh chỉ muốn trào ra. Toàn bộ con người anh run rẩy. Hoàng cố ghìm lòng mình, bình tĩnh trở lại chỉ đạo tiểu đoàn. Người chiến sĩ liên lạc trẻ tuổi nhìn thủ trưởng đọc thư, thấy thái độ của thủ trưởng hơi bất thường, ngỡ ngàng định hỏi? nhưng rồi lại thôi. Hoàng vội nhét cả hai lá thư vào túi áo ngực của chiếc áo quân nhân màu xanh anh đang mặc. Chiếc áo đã nhàu, bám đầy dấu vết của tháng năm và bom đạn. Anh gượng mỉm cười bảo với cậu liên lạc, báo cho ban chỉ huy các đại đội đến để anh phổ biến nhiệm vụ trận đánh tới.
     Đó là vào những ngày đầu tháng 3 năm 1975, Tiểu đoàn hỏa lực D16 nhận được lênh của Bộ tư lệnh B3, cùng các đơn vị trung đoàn pháo mặt đất, tiểu đoàn đặc công, xe tăng… đi phối thuộc với sư chủ lực bộ binh 320 – Đánh địch trên Quốc lộ 14 -19 ở phía nam và đông Pleiku.
     Nhiệm vụ của họ là chặn đứng các đoàn xe quân sự địch và tập kích một số chốt QLVNCH xung quanh khu vực Kon Tum, Gia Lai ở phía Bắc Tây Nguyên, nhằm chia cắt hoàn toàn con đường mà quân VNCH đi tới Buôn Ma Thuột, để cô lập Buôn Ma Thuột với Pleiku, Kon Tum. Vừa tạo thế nghi binh lừa địch, cho rằng: QGP sẽ đánh Pleiku, Kon Tum – nhưng thực chất là mở cuộc tấn công quyết liệt vào Buôn Ma Thuột. Chiến dịch Tây Nguyên lịch sử này, sẽ làm bàn đạp cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy đánh chiếm vào Sài Gòn của toàn miền. 
     Khoảng 17 giờ ngày 5/3, một đoàn xe địch gồm 15 chiếc từ Pleiku vào Buôn Ma Thuột bị các chiến sĩ Trung đoàn 9 chặn đánh, diệt 8 xe quân sự:  trong đó có 2 xe tăng, 2 xe GMC, thu 1 pháo 105mm, bắt sống 30 tên vừa sĩ quan và binh lính.
     Trung đoàn 48 Sư 320 được tăng cường 2 pháo 105ly, 3 pháo 85ly và hỏa lực của tiểu đoàn 16 – tiến công một căn cứ quân sự quan trọng của địch nằm án ngữ ngã ba đường 14 và đường 7, cách Pleiku hơn 60km về phía nam.
     Sau 1 giờ 20 phút chiến đấu ác liệt, Trung đoàn 48 và các đơn vị pháo trên không – mặt đất đã làm chủ trận địa: Diệt 1 tiểu đoàn bảo an, 2 trung đội cảnh sát dã chiến và cơ quan chi khu. Bắt 121 tên, thu 200 súng: có 2 khẩu pháo 105ly, 18 xe quân sự cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác.
     Cũng thời gian đó, Trung đoàn 64 đánh vào 1 chi khu quân VNCH ở quận lỵ Buôn Hồ (Đắc Lắc). Chưa đầy hai tiếng, trung đoàn đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch: gồm 1 tiểu đoàn bảo an, 1 đại đội cảnh sát dã chiến cùng toàn bộ hệ thống bọn ác ôn; thu 3 pháo 105ly, 2 cối 106,7mm, 2 xe quân sự và những vũ khí, trang bị khác. Giải phóng hoàn toàn Quận lỵ Buôn Hồ.
     Đó là những chi khu mạnh nhất của QLVNCH trên quốc lộ 14, đã bị tiêu diệt. Con đường 14 nối giữa Bắc Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai) và Nam Tây Nguyên bị cắt đứt. Buôn Ma Thuột cô lập hoàn toàn.
     Trung đoàn 25 QGP cũng được lệnh của Bộ tư lệnh B3, tổ chức phục kích đánh địch… cắt đứt con đường số 21 ở phía đông Buôn Ma Thuột - nối liền với Nha Trang.
     Sư đoàn 10 QGP tiếp tục tấn công một số cứ điểm khác, vây bọc và bảo vệ Buôn Ma Thuột. Phá vỡ thế trận phòng thủ QLVNCH. Địch tan tác, những kẻ thoát chết tìm đường chạy về Buôn Ma Thuột.
     Đến ngày 8/3, Tây Nguyên đã bị cô lập với vùng đồng bằng ven biển ở Trung và Nam Bộ. Trừ đường 7 rất xấu đã lâu không sử dụng – QGP bỏ ngỏ… im lặng, lạnh lùng một cách đáng sợ, dường như là để đón lõng, chờ địch đến?
     Nghĩa là, thế trận để tiến công – cũng là kế nghi binh của Mặt trận B3: làm cho Bộ tổng tham mưu QLVNCH tưởng rằng QGP sẽ đánh lớn ở Pleiku - Kon Tum (Bắc Tây Nguyên), thì họ lại chuẩn bị đánh vào Buôn Ma Thuột ở Nam Tây Nguyên.
     Thiếu tướng Phạm Văn Phú – Tư lệnh Quân đoàn II QLVNCH chỉ huy vùng cao nguyên, đến lúc này mới biết: tất cả những cuộc rối bời ở Pleiku, Kon Tum vừa qua chỉ là chiến trường phụ và nghi binh của QGP – Buôn Ma Thuột mới là mặt trận chính, nhưng đã quá muộn.
     Trung tướng Hoàng Minh Thảo – Tổng tư lệnh Mặt trận B3, lệnh khẩn cấp cho các sư đoàn chủ lực như Sư 10, 320 và Sư 316 là các sư đoàn rất mạnh của quân đội Bắc Việt mới vào, cùng các trung đoàn pháo, tiểu đoàn hỏa lực D16 của Đại úy Nguyễn Hoàng và đơn vị đặc công, xe tăng trực thuộc Mặt trận – gấp rút về quanh Buôn Ma Thuột dàn binh, mở cuộc tổng công kích sắp bắt đầu.
     Chính trong những giờ phút quyết chiến điểm đó, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lại nhận được lá thư từ hậu cứ phía sau gửi đến. Thư báo tin về người bạn gái thân yêu nhất của anh đã chết, trong trận không quân Mỹ rải thảm bom B52 vào Hà Nội. Đại úy Nguyễn Hoàng lòng đau như cắt. Anh dằn mình xuống để lao vào trận đánh.
     Lúc này, đoàn xe của Tiểu đoàn 16 đang mở hết tốc lực trên con đường 14 đã được khai thông, hướng về phía Buôn Ma Thuột chạy tới. Tuy con đường bị tàn phá bởi bom đạn rất xấu, nhưng đoàn quân cả người và pháo vẫn rầm rập băng qua.
     Tình hình chiến trận nóng bỏng thôi thúc người chiến binh phải vượt lên cái đau của chính mình. Nỗi uất hận trong lòng anh ngùn ngụt như lửa cháy, biến thành mối căm thù vô hạn với quân giặc. Giờ đây, Nguyễn Hoàng như không còn biết đến sự kinh hoàng trong chiến tranh là gì nữa? Mối hận riêng tư hòa quyện vào trong tư tưởng, tăng thêm sự quyết chiến của một người chiến sĩ cách mạng. Phía trước là quân thù, anh phải tiêu diệt chúng để trả thù cho đồng đội và những người thân nơi quê hương anh. Hoàng nghĩ tới hai người con gái tha thiết yêu anh, đều đã chết bởi chiến tranh. Kẻ thù đã cướp đi cả hai người con gái thân thương đó trong cùng một năm 1972 đẫm máu. Như có ngọn lửa bốc lên rừng rực thiêu đốt cả thể xác và tâm hồn  người lính trận.
     Con đường tới Buôn Ma Thuột không có nhiều chướng ngại về địa hình như Kon Tum. Trên thực tế, quanh Buôn Ma Thuột cũng không có nhiều vành đai phòng thủ liên tục của QLVNCH. Một số vành đai lại bị QGP quét vãn… mở cho họ một con đường tiến quân rất thuận lợi. Hai bên đường đi rất nhiều đồn điền cà phê, đồn điền cao su san sát nhau. Bộ đội có thể lợi dụng ngụy trang. Tuy tiến quân bằng pháo và chiến xa không dễ, nhưng đã được những trung đoàn công binh của mặt trận dọn đường trước. Những cánh rừng già, thì họ cưa đi các gốc cây lớn… nhưng không để cho cây bị đổ nên máy bay trinh sát không phát hiện thấy. Khi xe pháo hoặc chiến xa của quân chủ lực phải rời đường quốc lộ băng theo đường rừng, chỉ cần cho bộ phận đi trước ủi sập cây, rồi tiến thẳng về phía thị xã dễ dàng.
     Thị xã Buôn Ma Thuột có khoảng 60.000 dân, nhiều thắng cảnh đẹp, nhiều gỗ quí – Nhưng giờ đây đâu phải là lúc bảo tồn những thứ quí hiếm ấy? Công binh họ chỉ cần biết phải dọn một con đường tốt nhất, thuận lợi nhất để bộ đội tiến vào đánh.
     Buôn Ma Thuột nằm giữa ngã ba hai con đường chiến lược 14 và 21, là một căn cứ án ngữ huyết mạch giao thông ở Nam Tây Nguyên. Từ Buôn Ma Thuột có thể đi lên các tỉnh phía bắc nối liền Pleiku, Kon Tum, Phú Bổn… Phía nam đi Quảng Đức, Phước Long. Phía đông tới Nha Trang và dễ dàng đi xuống Đông Nam Bộ - Sài Gòn bằng cả đường không, đường bộ.
     Buôn Ma Thuột có một vị trí chiến lược quan trọng như thế, cho nên chiếm được sẽ làm bàn đạp tấn công, tạo thế thuận lợi cho cả mặt trận của toàn miền.
     Theo đúng kế hoạch của Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên – Các binh đoàn chủ lực của QGP đã đến vị trí tập kết vòng quanh Buôn Ma Thuột, như giờ đã qui định. Vào lúc mờ sáng ngày 8/3, Tiểu đoàn 16 của Nguyến Hoàng cũng đã vào vị trí – Tất cả đều chuẩn bị xong, chỉ còn chờ lệnh của Bộ tư lệnh B3 khai hỏa chiến dịch, là nổ súng.
     Đúng 2 giờ 3 phút sáng ngày 10.3.1975, trận đánh vào Buôn Ma Thuột bắt đầu – Mở màn là những trái đạn pháo 130ly, sau đó đến các loại pháo khác thi nhau dội xuống thành phố. Phố xá lúc đó vẫn đang say giấc ngủ giữa đêm trường, choàng tỉnh dậy vì những tiếng nổ long trời, đinh tai, nhức óc. Ban chỉ huy QLVNCH đặt tại dinh tỉnh trưởng Đắc Lắc đóng ở Buôn Ma Thuột, khi đó là Đại tá Nguyễn Trọng Luật cùng với Đại tá Vũ Thế Quang – Lúc này mới vội vàng từ ở trên lầu hai chạy xuống hầm chỉ huy. Đó là một căn hầm lớn được xây bằng bê tông cốt thép rất kiên cố, có thể chống được đạn pháo. Trong hầm có đầy đủ máy móc truyền tin để liên lạc với các đơn vị trực thuộc, cũng như với cấp trên tận trung ương Sài Gòn.
     Đại tá Nguyễn Trọng luật vội vã lệnh cho pháo binh tiểu khu và pháo binh Sư 23 QLVNCH đóng ở Buôn Ma Thuột phản pháo lại mãnh liệt. Từ các hướng, các loại đạn pháo của Cộng quân vẫn tới tấp nã vào các trọng điểm thành phố. Tiếng pháo nổ của đôi bên vang rầm trời. Những mảng lửa pháo xiết vào nhau nổ bùng trên các nóc nhà và đường phố… không khác mấy cuộc đại chiến đã diễn ra ở mặt trận Đắc Tô – Tân Cảnh hay Kon Tum vào năm 1972.
     Khi màn đạn pháo của cả hai bên có vẻ đã thưa dần, thì từ các hướng – các sư đoàn bộ binh QGP như Sư 320, 316 và Sư 10 cùng với 1 trung đoàn quân giải phóng địa phương, 1 trung đoàn xe tăng, 2 trung đoàn pháo và Tiểu đoàn hỏa lực D16… Tổng cộng khoảng 50.000 chiến binh, ồ ạt tiến công vào thị xã.
     Người ta diễn tả về khung cảnh đêm mở màn trận huyết chiến Buôn Ma Thuột, như thế này: Khi pháo binh QGP gầm lên nổ súng đè đầu quân địch xuống. Bọn chúng đối phó một cách hoảng hốt, bối rối…thì xe tăng và những binh chủng cơ giới của các sư đoàn chủ lực Bắc Việt bật đèn sáng trong đêm, mở hết tốc lực chạy trên con đường quân sự đã được những trung đoàn công binh chuẩn bị sẵn. Họ dũng mãnh tiến thẳng, tiến mạnh về các mục tiêu đã được xác định trong kế hoạch.
     Trận pháo bắn khởi đầu kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ, làm tê liệt sức đề kháng của các trung đoàn tinh nhuệ QLVNCH được bố trí trong căn cứ. Chưa bao giờ QGP lại dồi dào pháo bắn đến như vậy.
      Khi diễn ra trận đánh vào Buôn Ma Thuột – kể cả cơ quan tình báo lớn nhất của thế giới là “Sie” cũng không hề hay biết. Có thông tin cho hay: Trung đoàn công binh của Cộng sản Bắc Việt đã ủi sẵn đường cho xe tăng chạy từ biên giới vào Buôn Ma Thuột, với tổng số chiều dài con đường là 336km – Thế mới thấy yếu tố bí mật của Cộng quân trong trận đánh này, đã làm tốt đến thế nào.
     Theo một tài liệu của giới nghiên cứu lịch sử: Tây Nguyên là một chiến trường cơ động có vị trí hết sức quan trọng. Từ chiến trường này sẽ có nhiều lợi thế phát triển xuống phía nam theo đường số 14, hoặc phát triển sang hướng đông đến những vùng đồng bằng Nam Bộ, theo các trục đường 19, 7 và 21.
     Ở Tây Nguyên - QLVNCH có sư đoàn bộ binh chủ lực là Sư 23 (ba trung đoàn 44, 45 và 53), 7 liên đoàn biệt động quân (4, 6, 21, 22, 23, 24, 25). Các liên đoàn này có quân số tương đương 10 trung đoàn.
-  36 tiểu đoàn bảo an.
-  4 thiết đoàn xe tăng và thiết giáp (với 371 xe).        
-  8 tiểu đoàn pháo binh: 230 khẩu các cỡ từ 105 đến 175ly.
-  Không quân: 1 phi đoàn chiến đấu (32 chiếc), 2 phi đoàn trực thăng (86 chiếc), 1 phi đoàn tổng hợp - vận tải, trinh sát và huấn luyện (32 chiếc).
     Cùng các kho dự trữ đạn dược các loại, đủ khả năng cung cấp cho quân đoàn chiến đấu trong hai tháng.
     Do đánh giá sai ý đồ của QGP, cho rằng: Năm 1975 họ chưa đủ sức đánh vào thị xã và thành phố, nếu có đánh – bộ đội cũng chỉ đánh ở Bắc Tây Nguyên (tức là Pleiku, Kon Tum…). QLVNCH đã tập trung lực lượng giữ Pleiku, Kon Tum – còn Buôn Ma Thuột ở Đắc Lắc thì rất sơ hở, càng vào sâu trong thị xã lực lượng càng mỏng.
     Theo một tài liệu của VNCH: Tướng Phú tư lệnh Quân đoàn II, đồng thời phụ trách vùng Tây Nguyên vẫn đinh ninh cho rằng: mục tiêu chính của QGP là đánh Pleiku, Kon Tum – nên đến khi nổ ra cuộc ác chiến Buôn Ma Thuột, lực lượng phòng thủ của địch ở đây chỉ có 1 tiểu đoàn của trung đoàn 53, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 45 thuộc Sư 23 – còn đại bộ phận chủ lực của sư 23 vẫn đóng cả ở Pleiku, Kon Tum cùng với hai tiểu đoàn địa phương quân.
     Tự thủ Buôn Ma Thuột như xe tăng, thiết giáp, pháo binh và các cụm hỏa lực trên các chốt cũng rất thấp – phải đương đầu với một lực lượng hùng hậu của QGP tiến công vào Buôn Ma Thuột có tới ba sư đoàn chủ lực cùng nhiều chiến xa, thiết giáp, pháo binh các loại, cao xạ phòng không, đặc công…
     Cũng theo một tài liệu từ phía VNCH, so sánh tương quan lực lượng giữa hai bên: Về quân bộ binh QLVNCH (kể cả biệt động quân, lính bảo an và phòng vệ), chỉ vào khoảng 4.000 quân phải chống chọi với 40.000 cộng quân – Nghĩa là, cứ 1 lính VNCH phải đánh nhau với 10 chiến sĩ QGP (thực ra lực lượng QGP tiến đánh vào Buôn Ma Thuột còn lớn hơn thế nhiều) – cho nên, họ nhanh chóng đè bẹp sức đề kháng của QLVNCH.
     Kể cả khi cuộc chiến nổ ra dữ dội, sự ứng cứu của các máy bay chiến đấu so với trước đây đã yếu đi rất nhiều. Từ khi Mỹ rút quân và cắt giảm viện trợ, những phương tiện chiến tranh của Chính phủ VNCH còn rất thấp. Trong khi đó lực lượng pháo cao xạ phòng không của QGP tiến đánh Buôn Ma Thuột: ngoài pháo 37 và 14ly5 của tiểu đoàn hỏa lực D16, còn các trung đoàn pháo cao xạ phòng không khác của mặt trận. Họ giăng lên bầu trời Buôn Ma Thuột cả một màn đạn lửa dầy đặc. Các loại máy bay cường kích QLVNCH đến ứng cứu khiếp đảm, ném bom bừa bãi rồi bỏ chạy.
     Tiếp đó, một trung đoàn đặc công đánh vào sân bay Hòa Bình (hay còn gọi là phi trường Phụng Dực), khu kho và khu hậu cứ của Trung đoàn 53 – trung đoàn chủ lực của Sư 23 QLVNCH đóng ở Buôn Ma Thuột. Những tiếng xung phong của QGP vang lên từ các ngả tiến vào thành phố.
     Quân lính VNNCH từ các chiến hào, các lô cốt bắn ra quyết liệt. Người ta chứng kiến máu của cả hai bên đã đổ tràn, người ngã xuống đầy thành phố. Súng bắn tăng M72 của sư 23 QLVNCH cũng được kích hoạt để bắn vào các cỗ xe tăng T-54 của QGP, đang dũng mãnh dẫn đầu những sư đoàn bộ binh. Các họng đại liên M60, 12ly7 của địch cũng bắn xối xả vào biển cộng quân đang tràn đến để đè bẹp chúng. Cũng có giây phút, các trung đoàn QGP phải chững lại vì sự chống trả dữ dội của quân VNCH. Nhưng dù lớp người này ngã xuống, thì lớp người sau của QGP vẫn xông lên… với sự yểm trợ của các loại hỏa tiễn cầm tay như DKB, H-12 và B41. Không thể đếm được cuộc thảm sát này với cả hai bên. QGP huy động tối đa các chiến xa, xe tăng vào trận. So với các trận đánh năm 1972, lần này pháo binh và bộ binh QGP phối hợp nhịp nhàng hơn. Những chiếc xe tăng bao bọc bộ binh, lia những khẩu súng lớn như không tiếc đạn về phía quân VNCH, để cho bộ binh ào xông lên chiếm các cứ điểm.
     Đến 3 giờ 30 phút sáng, Trung đoàn 198 QGP trực thuộc mặt trận đã chiếm được khu kho thành phố. Các trung đoàn bộ binh khác cũng được sự hộ tống của xe tăng T-54 và các loại hỏa tiễn, tiến đánh thẳng vào Sở chỉ huy Sư 23 QLVNCH. Những sư đoàn bộ binh cộng quân từ các hướng, thì khống chế Sở chỉ huy tiểu khu, trung tâm thông tin, doanh trại thiết giáp cùng một số trận địa pháo QLVNCH.
     Toàn thành phố Buôn Ma Thuột chìm trong cơn bão lửa kinh hồn. Những tiếng gào thôi thúc xung phong nghe cũng ghê rợn, như kéo theo nó là cả đoàn âm binh dưới địa ngục. Tiếng la hét cận chiến của cả hai bên, vang vọng hãi hùng giữa đêm khuya.
     Một phi trường của máy bay trinh sát L-19 cùng với Đài truyền tin đã hoàn toàn lọt vào tay QGP. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, cộng quân tiến sát vào khu căn cứ QLVNCH. Họ tung lựu đạn vào hầm làm nhiều binh lính và sĩ quan bị thương hoặc tử vong. Quân VNCH vẫn chống trả lại rất quyết liệt. Chúng cũng đẩy lùi không ít các cuộc xung phong của QGP. Tuy vậy, với binh lực hùng hậu của các sư đoàn, trung đoàn chủ lực QGP – Họ đã tràn lên như vũ bão.
     Khoảng 5 giờ sáng, pháo binh các sư đoàn QGP và pháo binh chiến dịch từ xa tiếp tục pháo kích vào thành phố. Sau đó các đại xe tăng có bộ binh tràn theo, bật đèn pha mở hết công suất vượt qua các tuyến phòng thủ QLVNCH, đánh thẳng vào trung tâm thị xã.
     Hướng tây nam có trung đoàn 174, trung đoàn 149-148 của Sư 316 đánh vào một số chốt, khu kho đạn, Sở chỉ huy tiểu khu Đắc Lắc đóng ở Buôn Ma Thuột.
     Hướng tây và đông thị xã có trung đoàn 24, trung đoàn 2 – 3 của Sư 10 với 2 đại đội xe tăng đi kèm, đánh thẳng vào chỉ huy sở của Sư 23 QLVNCH, khu quân y, khu truyền tin và một loạt cứ điểm khác bảo vệ thành phố. Mặc dù có mấy chiếc xe tăng bị sa lầy và bị máy bay VNCH bắn hỏng, nhưng họ vẫn tiến công mãnh liệt.
     Hướng đông bắc có trung đoàn 95 - Hướng đông nam có trung đoàn 149 tấn công lên cứ điểm Chư Blom, điểm cao 582, đánh thốc qua cứ điểm Ba Lê và điểm cao 491 để tiến vào trung tâm thị xã. 
     Khoảng 7 giờ sáng, người ta đã thấy các đơn vị Sư 320 có mặt ở sâu trong thành phố, đánh nhau với Trung đoàn 53 và một tiểu đoàn của Trung đoàn 45 thuộc Sư 23 QLVNCH.
     Xe tăng QGP và chiến xa VNCH cùng lăn bánh xích rầm rầm trên đường phố. Các đơn vị địa phương quân của VNCH bố trí xung quanh dinh tỉnh trưởng, làm thành một bức tường chắn bảo vệ. Khói lửa mịt mù… Quân VNCH tan tác – Nhưng về phía QGP, 5 chiếc xe tăng T-54 cũng bị ống phóng M-72 của Trung đoàn 53 địch bắn cháy, bộ đội bị hy sinh và thương vong cũng nhiều.
     Trên bầu trời Buôn Ma Thuột, những chiếc máy bay trinh sát L19 của Quân đoàn II do Tướng Phú gửi đến, bay chỉ điểm cho các phi cơ VNCH đánh bom. Pháo binh địch bắn rất dữ dội vào khu vực QGP đã chiếm đóng, thậm chí bắn vào cả chỗ hai bên đang hỗn chiến - Ta và địch đều chết. 
     Ở hướng tây, 8 chiếc A37 thuộc Sư 6 QLVNCH tại sân bay Đà Nẵng đến ném bom, làm thương vong nhiều chiến sĩ giải phóng, trong đó Sư đoàn 10 bị tổn thất nặng nề nhất. Tuy vậy, vẫn không làm chậm lại tốc độ tấn công như bão táp của họ. Tiếng thét xung phong của họ làm choáng ngợp các đường phố.
     Ở hướng tây nam, Đại tá Vũ Thế Quang liên tục khẩn cấp gọi cho Tướng Phú – Tổng tư lệnh Quân đoàn II VNCH, kêu gào cho máy bay đến cứu. Nhiều tốp AD6 – VH1 không vận của Sài Gòn từ nhiều nơi kéo đến, bu trên bầu trời Buôn Ma Thuột.
     Lưới lửa những cỗ pháo cao xạ phòng không 37ly - 14ly5 của D16 và cả 57ly của trung đoàn pháo thuộc Bộ tư lệnh B3, cùng hiệp đồng đánh một trận ròn rã như trong phim mô tả về các cuộc chiến tranh thời đại chiến.
     Theo một nguồn tin báo cáo phía VNCH: ngay trong ngày 10/3 đầu tiên, 6 chiếc AD6 của chúng đã bị bắn hạ cùng với 1 máy bay quan sát O.1, 2 máy bay trinh sát L19, 3 chiếc trực thăng vận tải CH47 và 7 chiếc máy bay VH1 của Sư đoàn 2 không quân VNCH trúng đạn. Có 3 chiếc cố bay được ra ngoài thị xã, nhưng chỉ 2 chiếc thoát còn 1 chiếc bị rơi giữa đường.
     Cơn bão lửa của pháo cao xạ trên không đó, làm cho những tên giặc lái nhà nghề QLVNCH phải bạt vía, kinh hồn. Chúng vội vàng đến ném bom lung tung rồi bay đi mất hút. Một A37 trong khi ném bom ngăn chặn 10 chiếc xe tăng của QGP, đã hốt hoảng ném hai quả bom trúng hầm chỉ huy và truyền tin Sư 23 QLVNCH, làm mất liên lạc với Bộ tư lệnh Quân đoàn II.
     Tuy nhiên, QGP cũng bị nhiều tốp máy bay VNCH ném bom, oanh tạc vào đội hình, gây nhiều thương vong và tử trận - Song họ vẫn đẩy lùi, đè bẹp các lực lượng phản kích của Sư 23. Họ tiếp tục đánh chiếm các khu cư xá sĩ quan, khu tiếp vận, sở ngân khố, sở chỉ huy, nhà lao, khu tham mưu truyền tin…
     Người ta đã diến tả: tiếng rít của những hỏa tiễn và các loại đạn pháo, nhất là đạn pháo 130ly khủng khiếp như xé cả không gian. Những tiếng nổ cứ liên tục kéo dài, có thể làm vỡ tung tất cả các cửa kính, rung chuyển thành phố như một cuộc động đất. Thị xã Buôn Ma Thuột như một con tàu cứ chìm đắm dần và chao nghiêng trong bão tố.
     Nói về tiểu đoàn hỏa lực D16 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng chỉ huy – cả pháo cao xạ đánh trên không cùng các đại đội cối 82mm, hỏa tiễn DKB và rốc két B41, đã đánh một trận thật tơi bời khói lửa. Cuộc chiến kéo anh lao vào đến mức, anh gần như không biết sự tồn tại của mình. Tưởng chừng như máu tim anh, tình yêu và sự căm thù giờ phút đó đều trút thành làn đạn dội xuống đầu quân địch – Bầu trời Buôn Ma Thuột sẽ mãi mãi ghi vào lịch sử, của cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam trong mùa xuân năm 1975 này.
     Cuộc chiến càng kéo dài thì tổn hại của đôi bên càng cao. Xác giặc và ta phơi đầy đường phố. Ít nhất cũng phải tới 10 chiến xa của QGP bị bắn hạ.
     Vào khoảng 16 giờ ngày 10.3.1975, QGP đã làm chủ phần lớn thị xã Buôn Ma Thuột – ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 QLVNCH và lẻ tẻ ít khu vực khác địch còn cố sống chết cầm cự, cũng chỉ là đang thoi thóp trấn giữ.
     Trong thành phố tiếng nổ đã thưa dần, nhưng cảnh hoang tàn thì không sách nào tả hết. Những khu phố bị cháy không ai dập tắt. Những đống lửa lẫn tro tàn và bụi khói bao phủ khung trời thành phố như một màn sương đục. Mặt đường lổ loang những dấu đạn pháo cầy cùng với hố bom. Những vũng máu và thây người. Kẻ bị thương và kẻ chết hỗn độn của một thế giới nửa sống, nửa chết.
     Cho đến chập choạng 6 giờ tối ngày 10.3.1975, trận chiến tạm kết thúc. Thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Gợi cho người ta cái cảm giác của một bãi chiến trường tàn cuộc, lạnh lẽo rợn người.
     Đêm 10/3, các đơn vị QLVNCH còn lại trong thị xã co cụm vào một số cứ điểm còn cố giữ lại được: như Chỉ huy sở Sư 23, khu nhà ga của phi trường Phụng Dực, Đài phát thanh. Đại tá Vũ Thế Quang liên tục điện về Bộ chỉ huy QLVNCH xin viện binh đến ứng cứu.
     Sáng 11/3, Sư đoàn 320 QGP tiếp tục tiến công những cụm chốt còn lại tận sâu trong thị xã, trong làn mưa bom điên cuồng của những tốp máy bay A37. Thiếu tướng Phú – Tổng tư lệnh Mặt trận cao nguyên của VNCH điện đến lệnh cho Đại tá Nguyễn Trọng Luật và Vũ Thế Quang , bằng mọi giá phải chiếm lại được Chỉ huy sở của tiểu khu Đắc Lắc ở Buôn Ma Thuột.
     Phía đông và nam, các tiểu đoàn địa phương quân VNCH cố trấn giữ và bảo vệ kho đạn của Sư đoàn 23 – Trong khi đó, tại một khu vườn cà phê phía tây Buôn Ma Thuột, một tiểu đoàn của Trung đoàn 53 – Sư 23 cùng với 1 thiết đoàn kỵ binh QLVNCH và 2 tiểu đoàn biệt động quân, lập chiến tuyến cố bảo vệ Bộ tư lệnh mặt trận Buôn Ma Thuột của Đại tá Quang. Các loại pháo QGP vẫn tiếp tục dội xuống đó. Cả hành dinh của Bộ tư lệnh VNCH rung lên, khói đạn và đất đá mù trời. Chiếc xe jeep của Đại tá Nguyễn Trọng Luật bị trúng một trái đạn pháo nổ tan tành. Cũng may Đại tá Luật không có trong xe. Đại tá Quang vốn là một chiến binh thuộc lính nhẩy dù, ông ta cũng đã từng tham chiến hàng trăm trận – lúc này vẫn cố bám riết chỉ huy quân Cộng hòa, chống đỡ với cộng quân đang rầm rập tiến vào.
     Sư đoàn 320 đã từng được mệnh danh là “Sư đoàn Điện Biên” cùng với các chiến xa QGP, trước sự chống trả liều chết của quân VNCH, vẫn chưa thể làm chủ hoàn toàn tình thế. Số lượng thương vong và tử trận của cả hai bên đều không đếm nổi. Sư đoàn 316, chủ lực hàng đầu của Bắc Việt vẫn chưa thể tiến qua nổi sự chống trả chí mạng của Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 53 bộ binh Cộng hòa.
     Cuộc ác chiến Buôn Ma Thuột tiếp diễn với cường độ nóng đỏ và khốc liệt. Những người lính trẻ của Cộng quân vẫn ào ạt xông lên, dù hàng trăm cán binh Bắc Việt đã phải ngã xuống… nằm phơi xác trên chiến trường. Theo một nguồn tin, lúc này đã có thêm 13 chiến xa T-54 nữa bị bắn cháy ở đây.
     Có người lính VNCH sống sót trong trận chiến Buôn Ma Thuột về kể rằng: Sư đoàn 316 chủ lực của QGP đã dùng đến cả súng phun lửa, một loại súng sát thương rùng rợn… dội ầm ầm lên các tuyến phòng thủ của QLVNCH.
     Đại tá Luật ngồi trong chiếc xe thiết giáp M113 với một xạ thủ VNCH điều khiển cây đại bác không giật 106ly, chỉ huy đội quân VNCH xả súng đương đầu với các binh đoàn chủ lực QGP và cả một đoàn chiến xa tiến đến. Những chiến xa này đã sử dụng loại đại bác 100ly. Họ nã súng và bắn sập tư dinh của tên tỉnh trưởng ở Buôn Ma Thuột. Thanh toán xong dinh tỉnh trưởng, các chiến xa T-54 lại yểm trợ cho các trung đoàn bộ binh đánh tới tấp.
     Khoảng 10 giờ sáng 11/3, những trung đoàn bộ binh QGP và đoàn chiến xa T-54 đã gầm rú tiến đến Bộ tư lệnh hành quân QLVNCH. Đại tá Luật cùng với người xạ thủ khẩu pháo 106ly (lúc này khẩu pháo đã bị cộng quân bắn hỏng), phải bỏ chiếc xe M113 chạy vào trong một khu cây rậm ẩn trú.
     Đoàn xe tăng QGP, những khối sắt phụt khói đen nghịt với tiếng bánh xích kêu nhức óc, trong tiếng hô xông lên của các binh đoàn Bắc Việt làm rung chuyển cả trời đất. Khi họ tiến vào cách cổng Bộ tư lệnh 250 mét, rồi 200 mét… làm ông đại tá Luật căng thẳng, thót tim nhìn đoàn quân cộng sản lướt qua.
     Đại tá Quang vẫn đang chỉ huy QLVNCH trong Bộ tư lệnh hành quân, còn hy vọng một chút cuối là các phi cơ phản lực A37, AD6, F5… được Tướng Phú lệnh cho bay đến giải tỏa chiến trường. Ít nhất cũng làm chậm tốc độ tấn công của QGP. Những chiếc máy bay trinh sát L19 bay lượn vòng trên bầu trời Buôn Ma Thuột, chỉ điểm cho phản lực ném bom.
     Đại úy Nguyễn Hoàng Tiểu đoàn trưởng D16, lệnh cho đại đội pháo cao xạ bắn quyết liệt vào bọn giặc nhà trời. Những khẩu pháo 37ly giật nòng rung lên, khạc những chùm đạn lửa vây lấy các máy bay cường kích VNCH, làm chúng hoảng hốt ném bom vung vãi.
     Trộn lẫn trong tiếng xung phong của QGP là những tiếng kêu la, tiếng chửi rủa của quân địch… bị chính bom, đạn pháo của chúng đánh lạc vào đội hình. Ít nhất phải có gần chục chiếc phi cơ các loại bốc cháy. Một số rơi tại chỗ, một số cố bay đi rồi cũng bị rơi dọc đường.
     Một chiếc A37 xà xuống bỏ bom, nhưng hốt hoảng ném ngay lên nắp hầm của Đại tá Quang -  Bộ tư lệnh Mặt trận VNCH. Một tiếng nổ ầm thật khủng khiếp. Mặt đất bị chấn động rung rinh, đất đá tung lên cao hàng trăm mét… như ngày tận thế của kẻ địch – Số phận của Bộ tư lệnh QLVNCH đã được định đoạt. Trung tâm hành quân bị phá hủy gần như hoàn toàn. Những  máy móc truyền tin, liên lạc đều tiêu tan theo mây khói. Đại tá Quang may mắn chỉ bị thương nhẹ.
     Nguyễn Hoàng trong giây phút nhìn chiến sự và máy bay thù bôc cháy, anh mỉm cười sung sướng. Tự nhiên trong cảm nhận, anh cùng đồng đội đã có sự trả thù đích đáng… cho cả Hà Nội và người bạn gái của anh. Anh thấy một chút mãn nguyện trong lòng. Những ý nghĩ về quê hương, về Thu chợt thoáng qua, rồi cuộc chiến máu lửa lại cuốn anh vào. Các khẩu cao xạ D16 và trung đoàn pháo vẫn tiếp tục nhả những quầng lửa lên bầu trời Buôn Ma Thuột, vây lấy máy bay thù.
     Lại nói về số sĩ quan trong Bộ tư lệnh QLVNCH trúng bom, bị thương và tử vong gần hết. Đại tá Quâng và mấy kẻ còn đứng dậy được, buộc phải chạy tháo thân ra ngoài. Chúng gặp Đại tá Luật – Hai ông đại tá cố dìu nhau cùng một số binh sĩ sống sót, chạy di tản về hướng suối Bà Hoàng ở phía tây thành phố.
     Mất sở chỉ huy lại bị vây đánh từ nhiều phía, số đơn vị còn lại của QLVNCH cố gắng chống cự để chờ viện binh đến? nhưng tới 11 giờ ngày 11/3, Sư đoàn 316 QGP đã làm chủ thị xã – chỉ còn một liên đoàn biệt động quân thiếu với ít tàn binh của trung đoàn 53… vẫn cố giữ chốt phòng ngự cuối cùng tại sân bay Hòa Bình. Chúng hy vọng tướng Phú sẽ điều không quân đến, đổ quân chi viện và cứu vớt.
     Lúc này, hai ông đại tá Quang và Luật nhập vào một đoàn quân sĩ thất trận đang tìm đường chạy tháo thân. Vọng theo họ là tiếng loa của QGP kêu gọi đầu hàng. Rồi hai vị đại tá mỗi người chạy một ngả – Đại tá Quang thì lần mò xuôi theo hướng đông nam xuống Nha Trang, nhưng cũng không thể đi thoát, bị QGP bắt trên đường quốc lộ 21. Còn Đại tá Luật chọn đi về hướng tây, cùng với khoảng 20 binh sĩ và ông phó tỉnh trưởng theo cùng. Khi đang ẩn trú trong một vườn cà phê để chạy tiếp, cũng bị QGP bắt tại đó.
     Như thế là cả hai ông đại tá chỉ huy cao nhất QLVNCH ở Buôn Ma Thuột, đều đã bị bắt làm tù binh – vào lúc 2 giờ sáng ngày 12.3.1975.
     Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu - đồng thời cũng là Tổng tư lệnh QLVNCH, lệnh cho tướng Phú phải có ngay kế hoạch viện binh giải tỏa Buôn Ma Thuột? Tướng Phú một mặt điều động hai trung đoàn 44 và 45 còn lại của Sư 23 để ném xuống thị xã, một mặt huy động tối đa sư đoàn không quân 6 thuộc Quân đoàn II tại Đà Nẵng và Cần Thơ, vừa yểm trợ cho cuộc hành quân giải cứu vừa chi viện cho lực lượng còn lại trong Buôn Ma Thuột, để phản kích lại.
     Lúc 13 giờ 10 phút ngày 12/3, hơn 100 máy bay trực thăng đủ loại, kể cả loại hạng nặng CH-47 Chinook được huy động dùng cho việc đổ quân, cùng với 81 máy bay cường kích A1, A37, F5  ném bom và bắn phá yểm trợ.      Đích thân Thiếu tướng Phạm Văn Phú trên chiếc phi cơ hạng nhẹ U-17 bay trên bầu trời Buôn Ma Thuột, chỉ huy cuộc phản kích tái chiếm lại thị xã.
     Chiều tối ngày 12/3, sau đợt một đổ quân của QLVNCH trót lọt – Sáng ngày 13/3, 145 chiếc trực thăng tiếp tục chở quân của trung đoàn 44 và một tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 45, ném xuống mấy điểm cao bao quanh thị xã, hợp với số quân bên trong phản công lại QGP.
     7 giờ 7 phút sáng ngày 14/3, khi hai trung đoàn 44 – 45 QLVNCH còn chưa kịp triển khai đội hình tác chiến, đã bị các trung đoàn của ba sư 320 , 316 và Sư 10 QGP cùng với hai tiểu đoàn xe tăng từ nhiều phía ồ ạt tiến công.
     Đến 12 giờ trưa ngày 14/3, tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 45 và 1 tiểu đoàn lính bảo an VNCH bị đánh tan. Tiểu đoàn còn lại vừa đánh vừa lui. Tới 8 giờ 15 phút sáng 16/3, cũng bị diệt nốt. Toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn bị bắt làm tù binh.
     Ngày 17.3.1975, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 điều động trung đoàn đặc công 198 cùng mấy trung đoàn Sư 316 - 320 mở đợt tổng công kích vào số còn lại của Trung đoàn 53 QLVNCH và liên đoàn biệt động quân đang cố thủ tại sân bay Hòa Bình.
     Đến 11 giờ 30 phút ngày 17/3, sân bay Hòa Bình bị QGP chiếm và toàn bộ trung đoàn 53 bị xóa sổ. Khi đó Trung đoàn 44 QLVNCH đến ứng cứu,  cũng liên tục bị các trung đoàn chủ lực QGP đánh và tiêu diệt trong cùng ngày đó.
     Trận phản kích định tái chiếm lại Buôn Ma Thuột của VNCH đã hoàn toàn thất bại. Tuy trận chiến tại Buôn Ma Thuột phải đến ngày 17.3.1975 mới kết thúc, nhưng ngay từ lúc 13 giờ chiều ngày 15/3, thì cuộc di tản của Quân đoàn II đóng giữ tại Tây Nguyên… đã bắt đầu rút chạy trong sự cập rập, vội vã.
     Sau khi VNCH bị thất thủ tại Buôn Ma Thuột – Vào lúc 11 giờ ngày 14.3.1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã triệu tập cuộc họp với bốn tướng tổng tư lệnh ở bốn vùng chiến thuật trên chiến trường miền Nam Việt Nam, trong đó có tướng Phạm Văn Phú – Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quyết định bỏ cao nguyên, vì ông cho rằng: Trong tình trạng thiếu quân viện, QLVNCH không đủ khả năng bảo vệ lãnh thổ, nên phải bỏ vùng cao nguyên rừng núi, tập trung lực lượng bảo vệ vùng biển duyên hải và đồng bằng – có thế mới giữ được thành phố Sài Gòn? Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ thị cho Tướng Phú phải thực hiện lệnh di tản với toàn bộ quân lực còn lại, ra khỏi vùng cao nguyên.
     Mặc dù Tướng Phú có thỉnh cầu xin thêm máy bay cho Sư đoàn 6 không quân của Quân đoàn II, và bổ xung quân số bị tổn thất ở Buôn Ma Thuột, tăng thêm viện từ một đến hai lữ đoàn để phòng giữ Kon Tum, Pleiku – sau đó sẽ phản kích để chiếm lại các vùng đã mất?
     Tổng thống Thiệu bác bỏ đề nghị của ông ta, với lý do “không còn quân tăng viện và cộng sản có thể còn đánh mạnh hơn năm 1972”. Tổng thống Thiệu chỉ thị cho tướng Phú phải chấp hành lệnh di tản ngay. Khi tướng Phú trở về Pleiku thì các sĩ quan trong ban chỉ huy đã thực hiện cuộc di tản, rút chạy khỏi cao nguyên trước đó một ngày.
     Cuộc di tản vì thiếu tổ chức, không có kế hoạch chu đáo của một đội quân đã đại bại, nên nó diễn ra một cách hỗn loạn trên đường số 7 – vì Tổng thống Thiệu và các tướng lĩnh cho rằng: con đường số 7 tuy xấu nhưng sẽ gây được bất ngờ cho đối phương.
     Nói về con đường số 7 – còn gọi là “Liên tỉnh lộ 7B”: Từ Pleiku theo quốc lộ 14 về hướng Buôn Ma Thuột khoảng 40km, sẽ gặp đầu mối đường Liên tỉnh lộ 7B. Từ đây con đường lộ 7B dài hơn 200km, xuyên qua rừng núi hiểm trở , đi qua thị xã Phú Bổn (đèo Cheo Reo)… rồi đến thành phố Tuy Hòa thuộc Phú Yên, là một tỉnh ven biển vùng duyên hải Nam Trung Bộ.
     Con đường đất này uốn lượn theo các đồi cao, có chỗ thì men sông và qua suối cạn. Nhiều đoạn đường đã bị sụt lở vì mưa sói mòn, hay cây cối đổ chắn ngang. Ba chiếc cầu chính trên con lộ này là Phú Thiện (50m), Lê Bạc (600m) và Cà Lúi (40m)… lâu ngày không sửa chữa, tu bổ bị hư hao, gẫy đổ - vậy mà giờ đây nó phải chịu đựng cả quân binh lực của Quân đoàn II với hơn trăm ngàn quân lính và sĩ quan, gần 4.000 chiếc xe đủ loại, hàng ngàn quân xa – chiến xa hạng nặng. Kể cả những chiến xa M-48 nặng gần 50 tấn đi qua. Chạy theo họ, còn hơn 260.000 dân hoảng hốt với tất cả mọi phương tiện có được, tạo nên một cuộc triệt thoái hỗn loạn. Một cuộc di tản khổng lồ, như nước chảy đổ về phương nam.
     Một số sĩ quan, binh lính đóng ở vùng cao nguyên đã bỏ đội ngũ, công chức thì bỏ cả nhiệm sở về lo chạy cho gia đình. Ngay cả CIA cũng di tản người Mỹ ra khỏi Pleiku, vì theo họ đánh giá: Thị xã này cũng giống như một thùng thuốc súng.
     Nhiều nhà quân sự bình luận rằng: Chính cuộc rút chạy của QLVNCH ra khỏi vùng cao nguyên đó, là một trong những nguyên nhân gây ra thảm họa lớn nhất trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, của Chính phủ VNCH.
     Về phía QGP – 20 giờ tối ngày 16.3.1975, Bộ tư lệnh Mặt trận B3 đã ra lệnh cho Sư đoàn 320 lập tức truy kích địch trên Đường 7. E64 của sư đoàn là đơn vị đầu tiên được điều động, đã cắt rừng suốt đêm hành quân trên 110 chiếc xe ô các loại đuổi theo, lập chốt chặn đánh địch bỏ chạy. Phối hợp với Sư 320 là một tiểu đoàn xe tăng của Trung đoàn 273, một trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn hỏa lực D16, một trung đoàn pháo cao xạ phòng không khác và hai tiểu đoàn quân địa phương ở Phú Yên.
     Ngày đầu cuộc di tản diến ra có vẻ thuận lợi – Sang ngày 16/3,  khi một đơn vị thiết giáp đi đầu trong đoàn xe quân sự VNCH dài đến hơn 2.000 chiếc, kèm theo  gần 2.000 phương tiện giao thông của dân chúng bị kẹt cứng lại, tại bến phà Sông Ba?... làm mồi cho cả làn mưa pháo của QGP dội xuống.
     Sông Ba là một trong những con sông lớn nhất ở miền Trung, con sông duy nhất ở nam Trung Bộ vượt qua được dãy Trường Sơn, thông lên đến tận Tây Nguyên. Với câu ca dao:
                    Sông Ba chảy xuống Đà Rằng
                    Ai thương Đắc Lắc cho bằng Phú Yên
     Phần thượng lưu của sông Đà Rằng gọi là Sông Ba – như thế là, phần hạ lưu của Sông Ba từ Đồng Cam đổ ra biển ở phía nam thành phố Tuy Hòa, thì có tên gọi sông Đà Rằng. Vậy, sông Đà Rằng thuộc một phần của Sông Ba.
     Sông Ba phát nguồn từ dãy núi Ngọc Rô cao 1.500m trên cao nguyên Kon Tum, chảy qua các tỉnh Kon Tum, Gia Lai rồi vào địa phận Phú Yên. Ở phần thượng lưu thì nhiều ghềnh thác, nhưng đến hạ lưu khi vào địa phận Phú Yên: lòng sông lớn, nhiều phù sa tạo ra những làng mạc trù phú.
     Lại nói vể cuộc di tản hỗn độn của QLVNCH – Các sĩ quan và binh lính đem theo cả gia đình, họ hàng cùng với nhân viên dân sự chen chúc nhau trên con đường ngập cỏ, bụi cây, đất đá lổm chổm… đã rơi vào tình thế cực kỳ náo loạn. Không phải chỉ có riêng đạn pháo của QGP bắn, mà họ còn bị chính máy bay VNCH bắn nhầm, tạo nên một cảnh tượng hãi hùng trong cuộc hành trình đầy nước mắt. Thậm chí khi các cây cầu bị phá hủy, đoàn xe dồn ứ lại, các xe quân sự vẫn lao đại qua sông rồi chìm nghỉm.
     Chỉ có được 1/5 – 1/6 trong số 260.000 dân, 3 tiểu đoàn trong số 8 tiểu đoàn QLVNCH chạy thoát về vùng duyên hải. Số binh lính và dân thường tử nạn nhiều không đếm nổi.
 
                                                         *
 
     Sau khi đã chiếm trọn vùng cao nguyên, gồm có Buôn Ma Thuột, Kon Tum và Pleiku – QGP muốn tiến về vùng biển duyên hải để chiếm Khánh Hòa, Phú Yên và Qui Nhơn… thì bằng mọi giá họ phải chiếm được Khánh Dương. Khánh Dương là một thị trấn nhỏ thuộc Khánh Hòa, một tỉnh ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ: phía bắc giáp Phú Yên – tây bắc giáp Đắc Lắc – tây nam giáp Lâm Đồng – nam giáp Ninh Thuận – và phía đông giáp Biển Đông.
     Khánh Dương trong khung cảnh đồi núi ở độ cao khoảng 1.000m, bao quanh bởi những khu rừng già hùng vĩ, cạnh Quốc lộ 21 – nối liền vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột với vùng duyên hải.
     Quanh Khánh Dương là những bản Thượng của dân tộc thiểu số sinh sống hiền hòa, cùng một số gia đình binh sĩ VNCH theo bước chân di hành về đây. Cách Khánh Dương đi về hướng đông không bao xa theo Quốc lộ 1, chính là Đèo Cả ở tỉnh Phú Yên.
     Ngày 20.3.1975, Sư 320 QGP trên đường truy kích địch ở Quốc lộ 7, cùng với 3 trung đoàn pháo binh và pháo cao xạ phòng không, Tiểu đoàn hỏa lực D16, 1 trung đoàn xe tăng T-54, 1 trung đoàn đặc công… tràn xuống đánh vào căn cứ Khánh Dương của QLVNCH. Chiến địa Khánh Dương khi ấy, đã có Sư 10 được Bộ tư lệnh Mặt trận B3 điều đến bài binh bố trận từ trước.
     Lại nói về phía quân VNCH – Để án ngữ QGP tràn xuống các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa… nên đã phòng thủ ở Khánh Dương là: Trung đoàn 40 thuộc Sư 22; Lữ đoàn 3 gồm 5 tiểu đoàn cả quân bộ binh, nhảy dù và pháo binh; 1 đại đội trinh sát; 2 tiểu đoàn địa phương quân thuộc chi khu Khánh Hòa và 1 chi đoàn thiết giáp M113.
     Lúc 12 giờ 15 phút ngày 21/3, QGP nã gần 100 viên đạn pháo vào phi trường Khánh Dương. Khoảng 35 chiếc trực thăng và máy bay trinh sát L19 đang đỗ trên phi trường, vội bay lên để tránh đạn. Hai đại đội địa phương QGP từ khu rừng trong chân núi tràn lên để tiến vào phi trường. Lúc này trực thăng của địch nhả đạn bắn xuống khu rừng dọc chân núi như mưa, chỉ vô tình mà họ bị thương vong rất nhiều, nằm chết la liệt trong rừng.
    17 giờ 45 phút, 1 trung đoàn Sư 10 QGP tấn công Trung đoàn 40 bộ  binh của Sư 22 VNCH ở phía tây Khánh Dương. Quân của Trung đoàn 40 bị thiệt hại khá nặng, thương vong và tử sĩ chưa rõ thật chính xác – nhưng về Cộng quân, theo số liệu từ VNCH: Họ đã diệt khoảng gần 100 chiến sĩ, bắn cháy 2 xe tăng và 2 cộng quân bị bắt làm tù binh.
     Sang ngày 22/3, QGP dốc toàn lực tấn công vào phòng tuyến Khánh Dương. Sư 10 và Sư 320 từ trên Đường 7 tràn xuống, đánh vào Lữ đoàn 3 nhảy dù và các trung đoàn pháo binh, xe tăng…
     7 giờ 30 phút, QGP nã một trận pháo nữa kinh hồn với hàng nghìn quả đạn pháo các loại vào Trung đoàn 40 của Sư 22 địch và 2 tiểu đoàn địa phương quân phòng thủ ở phía tây Khánh Dương. Sau đó Sư 10 với xe tăng yểm trợ đã mở cuộc tấn công quyết liệt, chia cắt binh lực QLVNCH ra từng mảnh nhỏ mà đánh. Qua một giờ giao tranh, 3 tiểu đoàn địa phương quân VNCH bị thương vong và tử trận quá nửa. Số tàn quân chạy về mạn Khánh Hòa. Trung đoàn 40 của Sư 22 bị tổn thất nặng, phải lùi về tận đỉnh đèo.
     Bộ tư lệnh Sư 22 QLVNCH sợ Sư 10 QGP sẽ vòng đường đèo theo Quốc lộ 420 đánh vào Nha Trang, nên đã điều động Trung đoàn 40 với hơn hai ngàn chiến binh còn lại, cấp tốc hành quân theo đường Khánh Hòa để chặn cộng quân. Như thế ở mặt trận Khánh Dương, Lữ đoàn 3 nhảy dù phải cầm cự quyết liệt.
     9 giờ sáng, pháo đại bác 122ly QGP nã vào quận Khánh Dương, sau đó với 12 chiếc xe tăng cùng Tiểu đoàn hỏa lực D16 và tiểu đoàn pháo cao xạ yểm trợ cho sư đoàn chủ lực bộ binh, tấn công vào trung tâm căn cứ Khánh Dương.
     9 giờ 30 phút, mặt trận Khánh Dương tan tác. Các binh lực VNCH bỏ chạy. Lữ đoàn 3 nhảy dù cùng các tiểu đoàn biệt động, địa phương quân co cụm lại chống trả. Trên địa phận đèo Khánh Dương, cộng quân tràn ngập.
     Ngày 23/3, Sư đoàn 320 QGP đánh mạnh vào tuyến phòng ngự của Lữ đoàn 3 nhảy dù. Ban chỉ huy Lữ đoàn 3 khẩn cấp kêu gọi Bộ tư lệnh QLVNCH cho phi pháo oanh kích vào đoàn chiến xa của QGP, lúc này khoảng 20 chiếc đang tràn đến, nã đạn vào đội hình của chúng.
     Khi đó đoàn quân di tản của Quân đoàn II ở con đường 7 kéo theo mấy chục ngàn dân chúng trên cao nguyên, đang bị ùn tắc bên bờ phía bắc con Sông Ba gần thành phố Tuy Hòa, thuộc tỉnh Phú Yên – cách Sài Gòn khoảng 560km về phía nam. Bị pháo QGP bắn, số thương vong và bị chết cả quân lính lẫn dân thường không kể xiết.
     16 giờ 30 phút, nhiều chiến xa của cộng quân và cả đoàn xe kéo đại pháo đánh vào quận lỵ Khánh Dương về phía tây bắc, rồi phía đông nam, phía bắc. Không quân của không lực VNCH yểm trợ cho Lữ đoàn 3 nhảy dù, ném bom và bắn xối xả vào đội hình của các trung đoàn, sư đoàn QGP. Pháo cao xạ của Tiểu đoàn 16 và trung đoàn pháo phòng không của Mặt trận Tây Nguyên đã bắn cháy gần một chục chiếc trực thăng, 3 chiếc A-37, 1 F5 và 2 máy bay trinh sát L19 của VNCH.
     Khánh Dương cũng trở thành một mặt trận đẫm máu, người và vũ khí của QGP tổn hại ở đây cũng nhiều… mặc dù phía QLVNCH đang trên đà đại bại.
     Ngày 28/3, một đoàn xe tiếp tế thực phẩm và đạn dược cho Lữ đoàn 3 nhảy dù, đã bị một đơn vị phục kích của cộng quân đánh tan trên Quốc lộ 21, dưới chân đèo Phượng Hoàng sát Khánh Dương.
     Ngày 30.3/1975, mặt trận Khánh Dương bùng nổ lần thứ hai. Pháo binh QGP đủ loại dập lên chiến tuyến phòng thủ của địch. Các sư đoàn chủ lực cộng quân, kể cả Sư 316 – sau khi làm chủ sân bay Hòa Bình ở Buôn Ma Thuột, đã tách ra một cánh quân tràn xuống đánh địch rút chạy trên Quốc lộ 7, giờ cũng dồn về tấn công ở mặt trận Khánh Dương này.
     Cộng quân tập trung toàn binh lực với số quân gấp 10 lần quân VNCH, đánh ồ ạt vào Lữ đoàn 3 nhảy dù với quyết tâm chiếm cứ điểm Khánh Dương để mở con đường xuống Khánh Hòa. Lực lượng kỵ binh với 15 chiếc thiết vận xa M113 của địch cũng đã bị mất hơn nửa. Khi đó cả thiết đoàn 21 chiến xa M-48 của Quân đoàn II, trên tỉnh lộ 7B cũng đã bị đánh tan tác.
     Những xe tăng T-54 to lớn của QGP ào ạt nhả đạn xông tới áp đảo đội quân VNCH. Lữ đoàn 3 nhảy dù từng có một thời lừng lẫy trên mặt trận Quảng Trị năm 1972, đã từng dựng lại ngọn cờ ba sọc của VNCH trên dãy tường thành đổ nát khi đó – bây giờ cũng đang hứng chịu làn pháo 130ly loại lớn của QGP làm tan tác đội hình. Xe tăng và các đoàn quân của những sư đoàn chủ lực QGP ào lên đông như kiến. Xác những chiến binh VNCH ngã gục khắp mặt đèo nham nhở bị cầy phá của đạn pháo.
     Ban chỉ huy Lữ đoàn 3 nhảy dù kêu gào Tướng Phú – Tổng tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên của QLVNCH xin thêm viện gấp, nếu không thì Lữ đoàn 3 sẽ bị tiêu diệt? Tướng Phú trả lời hiện không còn viện binh, yêu cầu Lữ đoàn 3 cố cầm cự để xin lên Bộ tư lệnh ở Sài Gòn. Tướng Phú gọi điện về Bộ tham mưu QLVNCH ở Sài Gòn, xin viện binh gấp… nhưng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời không có viện binh, yêu cầu tự thủ đến cùng.
     Tướng Phú vội cho hai phi tuần khu trục đến yểm trợ cho mặt trận Khánh Dương, để giải tỏa bớt áp lực lên cánh quân nhảy dù. Đây chính là những trái bom cuối cùng của QLVNCH ném xuống chiến trường cao nguyên.
     Trên 20 chiếc A-37, hơn một chục trực thăng vũ trang, 3 phi đội F5 cùng với máy bay trinh sát bay đến mặt trận Khánh Dương, yểm trợ cho Lữ đoàn 3 và số quân còn lại đang cố cầm cự.
     Đại đội pháo cao xạ của Tiểu đoàn 16 dàn trận địa phía tây bắc, cùng với các tiểu đoàn cao xạ khác của QGP, từ các phía nhả đạn bắn như mưa lên bầu trời. Máy bay địch bốc cháy ngùn ngụt, kéo theo những làn khói đen phủ khắp các khu rừng.
     Chiều tối 30/3, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Hoàng được Bộ tư lệnh B3 gửi điện xuống khen ngợi chiến công của các chiến sĩ pháo thủ trong tiểu đoàn đã hợp đồng chặt chẽ với các tiểu đoàn cao xạ khác đánh một trận ròn rã, xuất sắc, bắn tan xác nhiều máy bay của không lực VNCH.
     Một chiếc A37 vì hốt hoảng dưới làn mưa đạn pháo QGP , đã dội cả bom laser lầm vào đội hình của Lữ đoàn 3 nhảy dù làm nhiều chiến binh VNCH tử thương.
     Trận đánh diến ra ác liệt trên con đèo cao hơn 1.000 mét ấy, không thể cản được cả đoàn xe tăng và bộ binh dầy đặc của QGP tràn lên cao điểm. Quân số của Lữ đoàn 3 nhảy dù của địch giảm xuống chỉ còn khoảng 20%. Các lực lượng biệt động và địa phương quân thì hầu như đã bị tiêu diệt. Lữ đoàn 3 nhảy dù hoàn toàn mất sức chiến đấu. Bộ phận thông tin chỉ còn nghe thấy hiệu lệnh cuối cùng của tướng Phú gọi đến, lệnh cho tàn quân của Lữ đoàn chạy di tản về hướng nam. Tàn quân ấy khi chạy về được đến Nha Trang thì cũng chỉ còn ¼ - 1/5 quân số. Họ cứ rút dần đến đâu thì cộng quân tràn theo tới đó.
     Tuy nhiên, QGP cũng bị tổn thất nhiều: gần chục chiếc tăng T-54 bị máy bay và đạn pháo QLVNCH bắn cháy, với hàng trăm chiến sĩ của các sư đoàn chủ lực bị thương và tử trận. Mặc dù vậy họ vẫn xông lên đánh quân thù tan tác, giành trọn vẹn chiến thắng ở mặt trận Khánh Dương này.
     Sau chiến thắng, Bộ tư lệnh B3 chỉ để một bộ phận nhỏ của sư đoàn chủ lực bộ binh cùng với Tiểu đoàn hỏa lực D16 ở lại giữ và cai quản đèo Khánh Dương – còn tất cả vẫn tràn theo đuổi giặc, xuống các tỉnh đồng bằng hướng về phía Sài Gòn.
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:40:37
 
 
                                                        *
 
     Nhìn lên bầu trời Khánh Dương, Tiểu đoàn trưỡng Nguyễn Hoàng trong tâm trạng thật khó tả. Khi chiến cuộc tạm thời yên tĩnh, thì trong anh lại trào lên một nỗi buồn. Lá thư anh đã nhận được của Lan kèm với thư của Thu từ Hà Nội gửi vào đầu chiến dịch, vẫn đang nằm trong túi áo ngực anh. Cứ mỗi lần thay quần áo, lá thư lại được truyền từ chiếc áo này sang chiếc áo khác.  Dường như nơi trái tim anh ngày đêm vẫn ấp ủ nó.
     Hôm vừa nhận, khi vừa bóc thư Lan thì anh mới thấy thư của Thu – Lúc đó lòng anh như một cậu bé con, nhảy cẫng lên vì vui sướng? Anh đã chờ đợi mãi, giờ thì lá thư của người bạn gái thân yêu đã ở trước mặt anh đây! Lúc đó - anh tự nhủ với mình, nén lòng để đọc thư của Lan trước. Anh muốn kìm lại niềm hạnh phúc… đọc thư của Thu sau. Ai ngờ…
     Lan báo tin về cái chết của Thu đang làm nhiệm vụ cứu nạn ở phố Khâm Thiên, trong trận giặc Mỹ rải thảm bom B52 đánh vào Hà Nội – Lòng anh rụng rời. Đôi bàn tay anh cầm lá thư đọc cứ run lên, chỉ chực tuột rơi xuống đất. Nước mắt đã khô đi trong cuộc chiến đầy máu này, bỗng phút giây lại muốn trào ra…
     Khi ấy, trước sự ngạc nhiên tò mò nhìn người thủ trưởng của cậu liên lạc? Hoàng đã làm vẻ thản nhiên gập cả hai lá thư lại cho vào túi áo, rồi vội chạy đi chỗ khác. Anh không muốn cho ai biết nỗi đau thương quá lớn đã đến với mình? Trái tim anh chỉ muốn vỡ tan. Sau khi phổ biến nhiệm vụ và ra chỉ thị cho các ban chỉ huy đại đội, để họ trở về đơn vị làm công tác chuẩn bị bước vào chiến dịch – Anh lặng lẽ tim một nơi khuất, trấn tĩnh lại rồi bóc thư của Thu ra đọc. Bức thư dài đến năm trang giấy pơ luya mỏng màu hồng…
     Hoàng nhìn lên dòng chữ đầu tiên:
     “Đêm nô-en 1972, Hoàng thân yêu của em!...” – Thì ra, đó là lá thư Thu đã viết cho anh vào đêm nô-en, sau khi đi chơi với Lan về… chưa kịp gửi thì cô bị chết sau đêm đó. Anh không thể đọc nổi nữa, tưởng như trên đời này không thể còn nỗi đau nào lớn hơn? Rồi anh lao vào trận đánh - Thế mà, cũng đã ngót một tháng trời. Bao lần đã muốn tranh thủ mở thư ra xem, nhưng rồi anh lại không dám đọc…
     Nay mặt trận Khánh Dương đã yên lắng, lòng người tiểu đoàn trưởng cũng trấn tĩnh trở lại. Đêm trên đỉnh đèo trời đầy sao. Bàn tay anh run run, lấy phong thư của Thu từ trong túi áo ra. Chiếc áo quân nhân nhàu nhĩ bám đầy khói súng đạn. Anh đọc thư dưới ánh sáng của chiếc đèn pin chiến lợi phẩm. Những dòng chữ tràn đầy tình yêu thương mà người bạn gái đã thức trắng đêm nô-en, để viết cho anh. Người chiến binh đã dầy dạn bom đạn ác liệt và sự hy sinh, cố nén lòng mình đọc hết trang thư.
     Gió đêm vẫn thản nhiên thổi phần phật trên đỉnh đồi chinh chiến. Đọc xong, anh gấp cùng với lá thư Lan, để vào một cái túi ni lông nhỏ cho khỏi ướt, rồi lại cẩn thận cho vào trong túi áo ngực. Phong thư của người con gái yêu thương cứ nằm trong túi áo như thế, theo anh vào chiến trận, ngày đêm ấp ủ trái tim anh.
     Bao kỉ niệm ở quê hương, những ngày thơ ấu, những đêm học bài cùng nhau… trở về sống trong kí ức người tiểu đoàn trưởng. Nhìn cảnh đêm của  đèo Khánh Dương sau một trận chiến kinh hoàng, anh lại nhớ đến hình ảnh Hòn Vọng Phu trên đỉnh Đèo Cả: người vợ đang bồng con ngóng chồng là một chinh phu - Nó đâu chỉ là hình ảnh của thời đã xa? Người thiếu phụ vẫn ở đó, không phải là cũng đang nhỏ lệ… nhìn những người lính VNCH thất trận và tử nạn... và những giọt lệ đó, cũng còn để nhỏ cho bao người chiến sĩ của các binh đoàn chủ lực Bắc Việt, các đồng đội của anh đã rời bỏ thành phố, làng xóm thân yêu vào chiến trường… để không bao giờ còn có thể quay trở về quê hương được nữa - Ôi, cuộc chiến tranh đầy chết chóc này?
     Lòng người tiểu đoàn trưởng cứ thắt lại, nghĩ về mọi thứ. Anh nhớ đến câu thơ của người thi sĩ là một chiến binh, đã viết từ thời kháng chiến đánh Pháp:
                … Không chết người trai nơi khói lửa
                     Mà chết người gái nhỏ hậu phương
     Hoàng nghĩ đến cả hai người con gái đã yêu anh, đều đã chết vì chiến tranh. Một là người con gái bản quá thơ ngây, thì tử trận ngay trên chiến trường Tây Nguyên, chết trên bàn tay anh – Một nữa là người bạn gái thời ấu thơ, bị chết trong cuộc chiến tranh tràn đến cả quê hương. Tại sao người chết không phải anh cơ chứ, mà lại là hai người con gái thơm ngát như hai bông hoa ấy ?!
     Ôi, chiến tranh! Chiến tranh và tình yêu. Nó vốn là hai phạm trù hoàn toàn xung khắc nhau. Trong chiến tranh… tình yêu nẩy nở mãnh liệt hơn, cao cả và thiêng liêng, song nó cũng phải chấp nhận một hậu quả đau đớn, xé nát những trái tim yêu thương. Lòng Hoàng trào lên bao cảm xúc…
     Trời đã gần sáng. Cậu liên lạc đã ngủ được một giấc, chợt dậy không thấy thủ trưởng đâu? chạy ra giục anh vào ngủ. Khu nhà dã chiến của viên sĩ quan Lữ đoàn trưởng lữ đoàn 3 nhảy dù QLVNCH, nay lấy làm chỗ ở tạm cho ban chỉ huy tiểu đoàn hỏa lực D16.
     Hoàng lững thững bước theo cậu liên lạc. Anh vẫn không muốn để cho ai biết về sự cố đau xót của mình. Cậu liên lạc chỉ thấy thủ trưởng đọc thư rồi lặng lẽ, nên cũng không dám hỏi.
 
                                                       *
 
     Nói về cuộc rút chạy của đoàn quân VNCH trên con đường 7 – Trong số gần 400.000 người kể cả các sĩ quan, binh linh VNCH  và dân chúng trên Tây Nguyên di tản theo xuống đồng bằng, thì chỉ còn non ¼ là đến nơi, số còn lại tan rã hoặc chết chóc. Như đánh giá của Hoa Kỳ, sự tổn thất trong cuộc tháo chạy tán loạn đó, vượt qua mọi sự đo lường.
     Sau trận chiến Buôn Ma Thuột và thảm họa trên đường 7, Quân đoàn II do tướng Phú làm tổng tư lệnh gần như bị xóa sổ. Nó thực sự không còn hiện hữu của một binh lực chiến đấu, với qui mô đã có của nó nữa.
     Các nhà quân sự phương Tây bình luận: Thất bại trong cuộc rút lui của Quân đoàn II QLVNCH trên đường số 7, kèm theo những tổn thất rất nặng nề về cả quân sự và dân sự. Ít nhất ¾ lực lượng của Quân đoàn II bị tử trận và đào ngũ, hoặc bị bắt sống làm tù binh.
     CIA tại Sài Gòn thì nhận xét rằng: Số tài sản quân sự gồm xe tăng M-48 Patton, xe bọc thép M-113, đại bác M-107, HM-3 (155mm),  HM-2 (105mm) bị phá hủy hoặc rơi vào tay QGP lên đến con số hàng nghìn.
     QGP miền Nam Việt Nam cho biết: Chỉ sau 8 ngày cuối chiến dịch Buôn Ma Thuột, họ đã loại khỏi vòng chiến 28.514 sĩ quan và binh lính VNCH – Trong số đó có 4.502 chết hoặc bị thương, 16.822 bị bắt làm tù binh (779 sĩ quan từ chuẩn úy đến chuẩn tướng). Họ đã thu giữ và phá hủy 17.183 súng các loại với 79 khẩu pháo từ 105 trở lên, phá hủy và thu giữ hơn 2.000 xe quân sự (207 xe tăng và xe bọc thép), bắn rơi 44 máy bay, thu và phá 110 chiếc phi cơ khác của không lực VNCH.
     Về phía QGP (trong những ngày truy kích trên Đường 7) – chỉ bị 56 người chết và hơn 100 người bị thương.
     Con đường 7B hiểm trở, đổ nát ấy đã thành một con lộ kinh hoàng. Những cái chết vì bom đạn và những trận mưa pháo, cái chết vì đói khát, kiệt lực gục ngã dọc đường (cả quân lính và dân tình) – Có một kí giả đã viết: Thật thương tâm khi mục kích cả người dân phải di tản bằng đôi chân. Họ không có khả năng di tản bằng xe hơi, xe vận tải hay bất cứ một phương  tiện chuyên chở nào. Chiếm đa số bao gồm cả phụ nữ, trẻ em, người già. Họ đi tất tả như chạy. Có khi không có được một giọt nước để làm dịu cơn khát như cháy cổ. Không thể đếm được bao nhiêu trẻ em đã ngã xuống trên đường đi, bao nhiêu cụ già bơ vơ phải đứng lại dọc đường, không cất bước đi được nữa…
     Liên tỉnh lộ Pleiku – Phú Bổn – Phú yên trở thành con đường máu dài hơn 200 cây số, là nơi chôn vùi hàng ngàn dân tình và trẻ thơ vô tội. Người ta đã mô tả lại những hình ảnh bi thương trong cuộc rút chạy của đoàn quân thất trận ấy, kéo theo hàng chục vạn dân tình ở con đường số 7 định mệnh rằng:
     Trên đỉnh Đèo Cả có tảng đá rất lớn. Người bên dưới nhìn lên, rất giống hình dáng một thiếu phụ đang bồng đứa con nhỏ đứng nhìn ra biển, trông ngóng người chinh phu còn đang chinh chiến ở chiến trường xa – Gọi là “Hòn Vọng Phu” hay còn gọi là “Núi mẹ bồng con”.
     Đèo Cả thuộc Phú Yên cách Khánh Dương không bao xa về hướng đông, dọc theo Quốc lộ 1. Nói về sự tích Hòn Vọng Phu theo truyền thuyết của dân gian:
     … Trong thời tao loạn, có hai anh em ruột vì chạy giặc phải ly tán từ thuở nhỏ. Khi chàng trai và cô gái gặp nhau – vì không nhận ra nhau là anh em ruột, nên đã thương yêu và kết duyên vợ chồng. Sinh hạ được đứa con và ăn ở với nhau rất hạnh phúc. Thế rồi vào một ngày… người chồng gội đầu cho vợ, thấy có vết sẹo, lần mò câu chuyện: người chồng mới vỡ lẽ, vết sẹo đó do chính chàng gây ra cho cô em gái từ thuở nhỏ. Người chồng đau khổ và ân hận, không dám nói cho vợ biết, lặng lẽ ra đi. Biệt tăm chàng, người vợ thương nhớ chồng, ôm con lên núi chờ cho đến khi hóa đá…
     Họ nói rằng: Người thiếu phụ sẽ còn mãi mãi đứng đó giữa trời mây lồng lộng gió, kêu gào thảm thiết – Để nhỏ lệ nhìn những đoàn quân lính của VNCH, hàng chục ngàn những chiến binh u sầu, cúi đầu chạy mãi về phương nam. Một chuyến đi không biết bao giờ trở lại? và không bao giờ có thể trở lại.
     Hòn Vọng Phu chắc chắn sẽ không còn được trông thấy bóng dáng của những người lính VNCH, ngược trở về con đường Đèo Cả này nữa. Nàng sẽ vĩnh viễn đứng ở đó bế con thổn thức trông theo đến ngàn đời, trong nước mắt và đau thương.
     Thiếu tướng Phạm Văn Phú – Tổng tư lệnh mặt trận cao nguyên của VNCH, vì cuộc di tản hỗn loạn và đẫm máu đó, kéo theo sự sụp đổ của toàn  Quân đoàn II, đã bị chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu quản thúc tại gia ở Sài Gòn – Một tướng lĩnh QLVNCH đã từng xông pha trên nhiều chiến trường lớn: Lào 719, Thừa Thiên – Huế mùa hè 1972, cũng đã từng có phen làm cho các đơn vị QGP phải tan tác… giờ ngồi đếm từng ngày trong phút cuối cuộc đời mình với sự giam giữ.
     Về phía QGP – Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên từ ngày 10/3 đến ngày 24.3.1975 đã làm rung chuyển, đảo lộn thế trận của Chính phủ VNCH. Giải phóng cả một vùng Tây Nguyên rộng lớn với hơn 60 vạn dân. Diệt toàn bộ quân đoàn II… khiến cho cả QLVNCH trên chiến trường miền Nam hoảng sợ. Đã biến từ thắng lợi chiến dịch thành thắng lợi chiến lược, cho cả cuộc chiến tranh giải phóng của Đảng Cộng sản ở Hà Nội.
     Từ thời chiến tranh Đông Dương 1945 – 1954, người Pháp và Việt Minh đều coi Tây Nguyên là mái nhà, cái chìa khóa của Đông Dương. Mất các căn cứ cơ bản phòng thủ cao nguyên, mà trong tay không còn lực lượng dự bị cơ động nào khả dĩ có thể xoay chuyển tình thế, QLVNCH sẽ rơi vào vòng nguy biến. Các tỉnh vùng duyên hải miền Trung lại tiếp tục bị QGP tấn công chiếm lĩnh.
      Quyết định bỏ Tây Nguyên để rút các lực lượng QLVNCH còn lại về cố thủ dải đồng bằng ven biển, của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với các tướng lĩnh ngày 14.3.1975 tai căn cứ quân sự Cam Ranh , là một sai lầm chiến lược, gây ra sự đại bại của cả một quân đội – Nó mở đầu cho sự sụp đổ không tránh khỏi của chính thể VNCH.
     Thừa thắng, các sư đoàn chủ lực của cộng quân ào ạt tấn công, đánh chiếm Quảng Trị ngày 19.3.1975.
     10 giờ 30 phút ngày 25/3, QGP tiến vào Huế. Ngày 26/3, giải phóng hoàn toàn thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.
     Trong cùng thời gian, QGP đánh chiếm hàng loạt các vùng: giải phóng thị xã Tam Kỳ (24-3), Quảng Ngãi (25-3), Chu Lai (26-3)… tạo thành một hướng uy hiếp Đà Nẵng từ phía nam.
     Đà Nẵng – thành phố lớn thứ hai ở miền Nam, một căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ và QLVNCH rơi vào thế cô lập. Khi đó dân chúng ở cố đô Huế hoảng hốt ùn kéo chạy về Đà Nẵng. Chính lúc ấy, Tổng thống Thiệu lại cho toàn bộ sư đoàn dù và lữ đoàn thủy quân lục chiến về bảo vệ Sài Gòn, vì ông ta sợ bị đảo chính.
     Sáng ngày 29/3, QGP từ ba phía bắc – tây – nam tiến vào thành phố. Hơn 10 vạn binh lính VNCH dồn ứ chạy về đây trở nên hỗn loạn, mất hết khả năng chiến đấu. Thành phố Đà Nẵng nguy cấp? Chính phủ VNCH đã phải dùng máy bay di tản cố vấn Mỹ và phần lớn lực lượng QLVNCH.
     Ngày 30.3.1975, thành phố Đà Nẵng hoàn toàn lọt vào vòng kiểm soát của cộng quân. Năm sư đoàn bộ binh cùng các lực lượng không quân , hải quân, địa phương quân và nhiều lực lượng tổng trù bị - Tổng cộng gần 300 ngàn quân VNCH đã tan rã.
     Theo thống kê của Chính phủ VNCH: 1 tỷ đô la vũ khí, đạn được cùng với 16 tỉnh, 5 thành phố lớn của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu- tức là 1/3 lãnh thổ, trong vòng 15 ngày đã lọt vào tay QGP. Chính phủ VNCH đứng trên đà sụp đổ.
     Chiến thắng bất ngờ không đổ nhiều xương máu, không phải gian khổ nhiều – Cộng sản Bắc Việt quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến đánh vào đầu não VNCH ở Sài Gòn ngay trong mùa xuân 1975. Sớm hơn dự định mà đáng lẽ theo kế hoạch, phải để tới năm 1976 mới thực hiện.
 
 
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:55:45
 
 
                                          CHƯƠNG XIII.
 
               TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG
              CỦA CUỘC CHIẾN TRANH
 
 
                                                                45-

 
      Mỹ ra sức xây dựng QLVNCH thành một đội quân mạnh nhất Đông Nam Á: với số quân trên 1 triệu 10 vạn tên, được tổ chức thành 4 quân đoàn gồm 13 sư đoàn và nhiều lữ đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn; 1.850 máy bay các loại; 1.588 khẩu pháo; 2.074 xe tăng; 1.611 tầu chiến cùng hàng triệu tấn vật tư chiến tranh, được đưa vào miền Nam Việt nam trước và sau khi kí hiệp định Pa Ri. Đấy là chưa kể tới các lực lượng bảo an, dân vệ cũng được trang bị đầy đủ. 
     Sau khi kí hiệp định phải rút quân ra khỏi miền Nam, nước Mỹ lại chìm ngập vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng, không chỉ kinh tế mà còn nhiều mặt khác. Xã hội bị rối loạn. Nội các trong chính phủ Mỹ ở Nhà Trắng thì phân hóa, chia rẽ sâu sắc, nhất là vụ bê bối Oatơghết.
     Ngày 1.8.1974, Tổng thống Ních Xơn buộc phải từ chức, càng đẩy nước Mỹ vào sự rối ren. Viện trợ quân sự của Mỹ cho chính quyền Sài Gòn bị cắt giảm nghiêm trọng: từ 1.614 triệu USD năm 1972-1973, giảm xuống 1.026 triệu USD năm 1973-1974 và 701 triệu USD năm 1974-1975.
     Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vấp phải những khó khăn không thể khắc phục nổi: đạn thiếu, hỏa lực chi viện giảm gần 60%; máy bay, xe tăng, và nhiên liệu thiếu; sức cơ động giảm 50% - Buộc Thiệu phải kêu gọi QLVNCH chuyển sang tác chiến theo kiểu con nhà nghèo, cố bảo vệ những lãnh thổ đang còn chiếm giữ được. Những thế trận bố trí bị phân tán ở nhiều nơi, chúng không thể nào chống đỡ nổi sức tấn công như vũ bão, nổi dậy của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, trong cuộc tổng tiến công trên toàn chiến trường.
     Ở miền Bắc – Ngay từ những ngày đầu tháng tư năm 1975, trên tất cả các nẻo đường đi vào miền Nam đều sôi động vì người và xe. Các loại máy bay vận tải, máy bay lên thẳng cũng được sử dụng để chở quân, chở đạn dược vào chiến trường. Hầu như toàn bộ lực lượng vận tải của nhà nước Bắc Việt, đều được huy động để phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh này, một chiến dịch lớn nhất trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam Việt nam.
     Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Huế - Đà Nẵng cùng sự thắng lợi của QGP trên khắp chiến trường, đã đẩy QLVNCH vào tình thế tuyệt vọng. Tinh thần sĩ quan và binh lính quân đội VNCH bị suy sụp. Bộ máy chính quyền của Tổng thống Thiệu tan rã. Chiến lược chiến tranh bế tắc, chính Mỹ cũng phải thừa nhận rằng: Tình thế của QLVNCH ở Sài Gòn là không thể chống đỡ nổi.
     Hoảng sợ trước nguy cơ chính quyền Sài Gòn sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn – Ngay từ ngày 18.4.1975, Tổng thống Mỹ Giêrôn Pho đã ra lệnh di tản gấp người Mỹ còn lại ra khỏi Sài Gòn, bằng lực lượng không quân và hải quân Mỹ.
     Ngày 21.4/1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu buộc phải từ chức, trao quyền lại cho Phó tổng thống Trần Văn Hương để có tính chất “hợp hiến”, rồi sẽ chuyển nhượng lại cho Dương Văn Minh – Người mà họ cho rằng: Cộng sản Bắc Việt có thể chấp nhận thương lượng.
     Vào chiều 25.4.1975, Nguyễn Văn Thiệu cùng với gia đình và đoàn tùy tùng rời Việt Nam chạy sang Đài Loan = với sự hộ tống của trùm CIA tại Sài Gòn Thomas Polar, tướng Charles Times và đại sứ Martin. Người ta đồn rằng: trong khoảnh khắc cuối cùng tồn tại của nhà nước VNCH, khi chạy sang Đài Loan, Nguyễn Văn Thiệu đã mang theo 16 tấn vàng? Là ngân khoản dự trữ của Chính phủ VNCH cất trong ngân hàng quốc gia Việt Nam.  Vào tỷ giá thời điểm tháng 4 -1975, số vàng này gồm 1.234 thỏi, trị giá 220 triệu đô la Mỹ.
     Nhưng theo “Bách khoa toàn thư” mở qua Wikipedia đã ghi chép: Thực ra Nguyễn Văn Thiệu có kế hoạch chuyển số vàng này ra nước ngoài với sự giúp đỡ của Mỹ… là có thật, nhưng kế hoạch này đã bất thành – Do ông Thiệu phải từ chức tổng thống, trước khi kế hoạch được thực hiện.
     Trở lại với diễn biến trên chính trường miền Nam vào tháng 4-1975, giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh. Mặc dù thế, Chính phủ Mỹ vẫn cố tìm cách cứu chính quyền VNCH, dưới sự đôn đốc sốt sắng của Tướng Mỹ Phrêđêrích Uâyen, là viên tướng bốn sao đã phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam tháng 3-1973. Không thể lảm gì hơn trước sự thất vọng về chính quyền Thiệu, ông ta chỉ có thể “xem xét những khả năng mà Mỹ có thể làm, để ủng hộ cho Chính phủ VNCH”: Một khối lượng vũ khí Mỹ viện trợ cấp tốc bằng đường hàng không, từ Băng Cốc – Thái Lan sang.
     Quân VNCH gấp rút xây dựng phòng tuyến từ Phan Rang trở vào, hòng cố giữ đến mùa mưa… để có thời gian khẩn trương lập ra một kế hoạch, củng cố và tăng cường lực lượng, chuẩn bị cho trận đọ sức mới với QGP và chủ lực Bắc Việt đang ào ạt tiến vào chiến trường miền Nam.
     Ở khu vực Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của VNCH – Họ bố trí những lực lượng lớn, khống chế những đường dẫn vào thành phố. Trên mọi hướng dầy đặc các sư đoàn, lữ đoàn bộ binh, lính dù, thiết giáp và huy động ba sư đoàn không quân trực tiếp chi viện. Họ còn đặt những chướng ngại vật, ngăn cản đường tiến công của xe tăng, bộ binh QGP.
     Nhưng với thế tiến công mãnh liệt đang tràn khắp chiến trường miền Nam, những trận bão lửa dữ dội của các binh đoàn chủ lực QGP ào ạt tiến về Sài Gòn. Họ tiếp tục giải phóng hàng loạt các tỉnh Phan Rang, Bình Thuận, Xuân Lộc, Bà Rịa… Những trận chiến quyết tử - Trước hết là hướng đông, hướng QLVNCH tập trung nhiều lực lượng và kháng cự điên cuồng. 
     Lần lượt những cứ điểm quan trọng của VNCH phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn, nhanh chóng bị tiêu diệt.
     17 giờ ngày 26.4.1975, cuộc tiến công lớn vào Sài Gòn, tiếng súng mở màn cho Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Tất cả 5 cánh quân lớn của các binh đoàn chủ lực QGP tiến vào, xiết chặt vòng vây xung quanh Sài Gòn.
 
                                                   *
 
     Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh – Bộ tư lệnh chiến dịch đã giao cho Quân đoàn ba, Binh đoàn Tây Nguyên đảm nhiệm hướng tiến công phía tây bắc  Sài Gòn. Thực hiện mệnh lệnh, Binh đoàn Tây Nguyên chỉ thị cho Sư đoàn 316 vây chặt và tiêu diệt quân VNCH ở khu Trảng Bàng, nằm ở phía đông nam tỉnh Tây Ninh. Sư đoàn 320 có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở căn cứ Đồng Dù, thuộc huyện Củ Chi – được mệnh danh là “cánh cửa thép” án ngữ phía tây bắc Sài Gòn. Sư 10 phối thuộc thêm 1 tiểu đoàn xe tăng, pháo trên không và pháo mặt đất “+” với Trung đoàn 64 của Sư 320, cùng 1 trung đoàn đặc công… sẽ thọc sâu tiến đánh vào trung tâm nội đô Sài Gòn. Trên đường đi trung đoàn đặc công có nhiệm vụ đánh địch giải phóng Cầu Bông và Cầu Sáng, thông đường cho đại quân tiến vào Sài Gòn. Sư 320 và 316 sau khi đã tiêu diệt quân địch ở Đồng Dù và Trảng Bàng xong, cũng lập tức tiến quân đánh vào Sài Gòn.
     Đồng Dù là một căn cứ trọng yếu bảo vệ Sài Gòn, nằm trên trục đường số 1: Sài Gòn đi Tây Ninh, cách Sài Gòn 30km về phía tây bắc. Đây là một căn cứ hỗn hợp với qui mô lớn. Diện tích rộng gần 7 km2. Chu vi gần 8.500m có hình bầu dục, xung quanh là vùng trắng bằng phẳng, trống trải và hoang tàn. Căn cứ Đồng Dù được Mỹ xây dựng từ năm 1966 khá kiên cố, làm hang ổ cho Sư đoàn 25 Mỹ - được mệnh danh là “tia chớp nhiệt đới”. Nơi xuất phát các cuộc hành quân “tìm diệt” QGP và các lực lượng vũ trang cách mạng ở vùng miền Đông Nam Bộ. Sau khi Hoa Kỳ buộc phải rút quân, sư đoàn “tia chớp nhiệt đới” Mỹ bàn giao lại cho Sư đoàn 25 QLVNCH – một sư đoàn chủ lực mạnh của chúng. Nếu QGP không tiêu diệt được căn cứ Đồng Dù, thì nó sẽ là bàn đạp để quân VNCH phản kích vào sau lưng, bên sườn các binh đoàn QGP khi thọc sâu đánh vào Sài Gòn.
      Không xa Đồng Dù – Quốc lộ 1 chạy từ Trảng Bàng về Sài Gòn, phải vượt qua cánh đồng lúa rộng mênh mông. Giữa có một cái cầu không dài lắm, gọi là Cầu Bông. Phía bắc nó, trên đường 15 lại có một cái cầu nhỏ khác: Cầu Sáng. Cả hai đều ngắn nhưng rất ác hiểm. Ở các đầu cầu, hai bên đường là ruộng lầy, địch đã đặt sẵn những khối thuốc nổ lớn. Vận động giữa đồng trống trên con đường độc đạo này, xe tăng và các loại xe cơ giới khác của bộ đội sẽ là những tấm bia di động rất tốt, cho các khẩu pháo bắn tằng của QLVNCH bố trí sẵn trên các mỏm đồi, hay trong rìa làng gần đấy.
     Trung đoàn đặc công của binh đoàn Tây Nguyên có nhiệm vụ phải đánh chiếm bằng được Cầu Bông và Cầu Sáng. Liên quan rất mật thiết với kế hoạch tấn công Đồng Dù của Sư 320 và tiến thọc sâu vào Sài Gòn của Sư đoàn 10 – chỉ cần phối hợp không chặt chẽ, nổ súng không đúng thời cơ là đối phương sẽ quật lại ngay.
     Nếu đánh chiếm hai cầu sớm, quân địch ở Đồng Dù sẽ tung xe tăng ra phản kích vào đặc công. Ngược lại, nếu đánh Đồng Dù sớm và khi cứ điểm này có nguy cơ bị tiêu diệt – địch sẽ phá sập cầu, làm ngăn trở đường tiến công vào Sài Gòn của các sư đoàn chủ lực QGP. Bởi vậy, sau khi các trinh sát viên đi điều tra ban ngày, đến tận nơi xem xét kỹ lưỡng về báo cáo lại – Bộ tư lệnh Quân đoàn 3 quyết định thời cơ đánh chiếm Cầu Bông và Cầu Sáng, là lúc Sư đoàn 320 đã siết chặt vòng vây Đồng Dù, nhốt chặt Sư đoàn 25 QLVNCH trong căn cứ.
     Trung tá Nguyễn Hoàng, trung đoàn trưởng một trung đoàn pháo hỗn hợp (cả pháo cao xạ đánh trên không và pháo mặt đất), trực thuộc Binh đoàn Tây Nguyên – Anh đã được phong vượt cấp sau trận đánh đèo Khánh Dương. Trung đoàn pháo hỗn hợp của anh được Bộ tư lệnh binh đoàn điều động, cùng một tiểu đoàn pháo mặt đất 155mm và tiểu đoàn xe tăng,  phối hợp với  Sư 320 đánh và bằng mọi giá phải tiêu diệt căn cứ Đồng Dù.
     Nhiệm vụ của họ thật nặng nề, vì một căn cứ QLVNCH lớn , kiên cố như Đồng Dù - mà theo chỉ thị của Bộ tư lệnh chiến dịch, phải tấn công và dứt điểm trong vòng sáu tiếng đồng hồ.
     Vào trung tuần tháng 4-1975, Sư 320 và các đơn vị phối thuộc đều đã đến vị trí tập kết bên bờ Tây Sài Gòn thuộc huyện Củ Chi, cách Đồng Dù từ 10 đến 15km.
     Trước ngày bước vào trận đánh khoảng một tuần lễ, trung đoàn trưởng pháo Nguyễn Hoàng và những sĩ quan các đơn vị phối thuộc đã cùng trung đoàn trưởng pháo E48 – trung đoàn chủ công Sư 320, đảm nhiệm hướng đánh chủ chốt ở phía tây bắc căn cứ, đi trinh sát cứ điểm Đồng Dù. Khoảng 8-9 giờ tối thì họ xuất phát, có du kích Củ Chi và anh em trinh sát dẫn đường.
     Đêm không trăng, nhưng không gian vẫn sáng lên nhờ những vầng sáng đô thị và khu dân cư phía xa. Khi đoàn trinh sát ra khỏi nơi tập kết một đoạn, thì bắt đầu chỉ toàn là trảng trống. Đường bằng, người sau bám người trước đi rất dễ. Cuối cùng họ đến một cánh rừng cao su, lại bám nhau đi qua rừng. Ra khỏi rừng cao su, chợt bừng lên một vùng không gian rộng mênh mông. Căn cứ Đồng Dù hiện ra choáng ngợp ngay trước mặt họ, cách chỉ chừng bảy-tám trăm mét. Một cảm giác rất lạ trào dâng trong lòng những người sĩ quan QGP ấy, nhất là đối với trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng.
     Nhìn những ánh điện sáng dọc rào căn cứ, anh có cảm giác như những cột đèn đường trong sân bay Bạch Mai ở Hà Nội, ngày  anh còn ở nhà. Ngay thẳng hướng chỗ họ đứng, có một cái chòi gác cao đến 15m, mắc đèn pha rọi sáng cả một vùng không gian. Nhìn rõ cả những lớp rào bao quanh căn cứ. Có một cảm giác cứ như đánh trận giả vậy: Tưởng như thằng địch đang ngồi trên chòi gác cũng nhìn thấy mình? Hóa ra không phải. Từ vùng sáng nhìn ra rừng cao su cũng chỉ thấy mờ mờ… chính vì thế mà cả đoàn trinh sát lọt vào sát lớp hàng rào, địch vẫn không biết.
     Hàng đèn cao áp bảo vệ xung quanh căn cứ sáng rực, trông Đồng Dù như một thành phố quân sự. Thỉnh thoảng địch lại bắn ra một chùm pháo sáng, soi rõ từng con kiến. Bộ đội khi tiến vào chiếm lĩnh trận địa dù ở ngoài các hàng rào, cũng phải rất cẩn thận. Chỉ sơ suất để chúng phát hiện hoặc gây ra tiếng động, là bị lộ ngay.
     Theo như thông báo của Binh đoàn Tây Nguyên: Lực lượng QLVNCH trong căn cứ lúc này có Bộ tư lệnh sư đoàn 25, Ban chỉ huy trung đoàn 50 – với tiểu đoàn 2/50, một chi đoàn xe tăng thiết giáp, một tiểu đoàn pháo hỗn hợp, mấy tiểu đoàn bộ binh trực thuộc  và các tiểu đoàn khác như công binh, thông tin, vận tải, quân y cùng Ban chỉ huy của căn cứ Củ Chi cũng ở đây. Tổng cộng quân số khoảng 3.000 tên – trang bị 34 xe tăng và xe bọc thép, gần 5.000 khẩu súng các loại (trong đó có 18 khẩu pháo lớn: 4 khẩu loại 175mm được mệnh danh là “vua chiến trường”).
     Bên ngoài có nhiều lớp rào kẽm gai, cùng với hệ thống lô cốt và các bãi mìn được bố trí dầy đặc. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá, sư trưởng sư 25 QLVNCH đóng ở trong căn cứ Đồng Dù. Y thường hô hào quân lính phải tự thủ đến cùng.
     Sư đoàn 320 QGP được Bộ tư lệnh chỉ thị, phải tiến công và chiếm Đồng Dù trước 11 giờ ngày 29.4.1975 – để mở đường cơ động cho mũi đột kích của Quân đoàn 3 Tây Nguyên, tiến vào nội đô và đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ tổng tham mưu VNCH…
     Trời sang nửa dêm về sáng, cái ánh sáng của ngọn đèn pha đã trở nên vàng nhạt, nhòa dần vào trong không gian. Trong cảnh còn tranh tối tranh sáng, đoàn trinh sát Sư 320 nhìn rõ tên lính gác đứng trong cái chòi trên cao, nhưng chắc nó chưa phát hiện được gì ở bãi đất trước mặt? Một lát lại có một tên lính khác lên thay gác, thằng kia tụt xuống đi vào phía trong căn cứ. Đoàn trinh sát cũng từ từ rút ra ngoài trở về nơi tập kết, chuẩn bị cho trận đánh sinh tử vào đôi ngày tới.
     Suốt ngày 28/4, anh em chiến sĩ Sư đoàn 320 và những đơn vị đi phối thuộc, bước vào chuẩn bị lần cuối cùng trước khi ra trận. Họ đều biết rằng: Trận chiến ở căn cứ Đồng Dù lần này là trận đánh ác liệt nhất trong tuyến phòng thủ phía tây bắc Sài Gòn của QLVNCH. Những người du kích Củ Chi nói cho họ nghe: Năm xưa bộ đội giải phóng cũng từng đánh vào Đồng Dù, căn cứ của Sư đoàn 25 “tia chớp nhiệt đới” Mỹ, đều bị thất bại.
     Nhưng với thế tấn công như bão táp của QGP hiện nay, đang tiến vào hang ổ cuối cùng, đầu não của Chính phủ VNCH tại trung tâm Sài Gòn – những người chiến sĩ đều rất tin vào thắng lợi đã ở trong tầm tay của cách mạng. Hạnh phúc chung và riêng đang chờ đón mỗi người lính trận khao khát hòa bình, mong sớm được trở về với quê hương, gia đình. Có thể trong cuộc chiến ác liệt tới, không ít người trong số họ sẽ phải ngã xuống và không bao giờ được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao ấy? nhưng họ vẫn bình thản để bước vào trận đánh.
     Giây phút thiêng liêng này, họ nhớ đến hình ảnh của những chiến sĩ cảm tử quân ở thành Hà Nội năm xưa: khi bước vào trận đánh cảm tử để bảo vệ thành phố, mỗi người đều mang trên cánh tay phải của mình tấm băng đỏ “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.
     Những người lính giải phóng đều nói với nhau: “Trận này sẽ ác liệt lắm đấy!” – Tuy thế, hầu như không có anh em nào sợ hãi, hoảng hốt. Người thì nói cười để bầy tỏ thái độ của mình, nhưng cũng có anh em thì lặng lẽ… Song nhìn trong mắt họ đều thấy biểu thị một thái độ quyết liệt, trước khi bước vào trận chiến sinh tử này.
     Trận đánh mà Bộ tư lệnh đã chỉ thị cho họ, chỉ trong sáu tiếng phải tiêu diệt hoàn toàn một căn cứ lớn, kiên cố. Trận đánh mà họ sẽ phải đánh theo chiến thuật tiến công thật nhanh, phải đập tan sự kháng cự của địch từ vòng ngoài, không cho chúng co cụm với các căn cứ khác để ứng cứu cho nhau.
     Sáng nay, cả Sư đoàn 320 và các đơn vị đi phối thuộc đều làm lễ xuất quân. Một cái lễ thiêng liêng của người lính trước khi vào một trận đánh lớn, một trận đánh quyết tử - chỉ được thắng không được bại, dù phải hy sinh bao nhiêu. Tất cả từ sĩ quan cho tới mỗi chiến sĩ, họ đều thay một bộ quân phục mới, được phát bổ xung trước đó khoảng mươi ngày.
     Trong chiến tranh, sự sống và cái chết với người lính là chuyện thường nhật, chẳng ai dám nói mạnh. Huống chi lần này? Họ không bi quan, song… nếu có phải chết, cũng được chết trong bộ quần áo mới. Mỗi người đều viết tên, đơn vị và quê quán của mình lên một tờ giấy, rồi cho vào túi ni lông cất nơi túi áo ngực. Ai hy sinh hay bị thương thì nằm lại, sẽ có du kích địa phương giải quyết, còn đơn vị cứ chiến đấu đến bằng chiến thắng.
     Ở trung đoàn pháo hỗn hợp – sau khi làm lễ xuất quân, chiến sĩ của các đơn vị đều trở về vị trí tập kết, để tiếp tục làm công tác chuẩn bị thật kỹ càng. Các sĩ quan trong ban chỉ huy tiểu đoàn và đại đội nán lại ít phút ở Chỉ huy sở trung đoàn, để nghe Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng huấn thị về trận đánh một lần cuối.
      Người trung đoàn trưởng trải tấm bản đồ Đồng Dù lên mặt đất- tấm bản đồ do ban trinh sát của sư đoàn gửi đến. Nó chi tiết về  từng lô cốt, ụ pháo, chỉ huy sở sư đoàn 25 QLVNCH trong căn cứ, từng khu gia binh và hệ thống phòng thủ của địch. Chưa lần nào với pháo lớn, kể  cả cao xạ phòng không mà lại đánh như lần này? Các tiểu đoàn pháo đều phải đánh cơ động theo bộ binh, không công sự - Họ biết dánh như thế rất ác hiểm, sự thương vong và hy sinh nhiều hơn là điều không tránh khỏi? song do yêu cầu của trận chiến, phải tấn công cùng sư bộ binh 320 theo hai  hướng chính.
     Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng trực tiếp phụ trách một cánh quân lớn của trung đoàn pháo - cùng E48, trung đoàn chủ công Sư 320 đánh vào hướng tây bắc… còn một tiểu đoàn pháo do người tiểu đoàn trưởng chỉ huy, phối hợp với E9 đánh hướng tây nam, thứ yếu. Thực ra trung đoàn pháo của anh cũng đã phải phân tán mấy đại đội, đi phục vụ bộ binh đánh ở vòng ngoài và đánh khu Tràng Bảng phía Tây Ninh, do đồng chí trung đoàn phó chỉ huy, để không cho địch kéo về ứng cứu.
     Đêm nay họ sẽ xuất quân đi vào trận đánh. Khi ban chỉ huy tiểu đoàn cùng các đại đội của trung đoàn đã trở về đơn vị - Lúc này, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng mới giở ba lô lấy bộ quần áo mới ra. Anh lại mở túi ngực chiếc áo quân nhân màu xanh đã cũ đang mặc, lấy ra phong thư của người bạn gái đã cất kỹ trong một cái túi ni lông mà anh luôn luôn mang theo bên người: khi đi ngủ, lúc vào trận đánh… Mỗi lần giở thư của Thu ra đọc, lòng người chiến binh vẫn có một cảm giác xúc động khôn nguôi. Lần này, anh đặt thêm vào trong chiếc túi ni lông một mảnh giấy ghi tên tuổi, địa chỉ trung đoàn, quê quán… như mọi anh em chiến sĩ đã làm. Mảnh giấy đó, anh kẹp cùng với lá thư của Thu và cả của Lan, rồi lại cất cẩn thận vào trong túi ngực của chiếc áo mới. Như thế - Hoàng nghĩ: Dẫu trong trận đánh tới này, chính anh có phải ngã xuống trên chiến trường? thì trong chiếc túi áo bên trái tim anh, vẫn ấp ủ tình yêu của người bạn gái để ra đi! Nếu ai đó khi thu lượm tử sĩ, mở túi áo ra… không phải họ chỉ biết anh là ai? mà còn thấy cả lá thư của Thu đã theo anh. Người ta sẽ gửi tất cả về nhà. Linh hồn của anh sẽ cùng với người yêu ở nơi quê hương xứ sở, mãi mãi bên nhau yên giấc ngàn thu.
     Ý nghĩ ấy, làm cho Hoàng cảm thấy thanh thản lạ thường – như không phải anh đang bước đến một trận chiến sinh tử và đầy máu lửa, mà chính anh đang cùng đồng đội bước giữa một mùa xuân đầy hoa lá xanh tươi. Anh lặng lẽ với niềm tâm tư bùng nổ trong lòng, đón chờ giờ xuất phát tiến vào trận đánh.
     Cơm chiều xong, mỗi người trong trung đoàn pháo của trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng đều được nhận một túi cơm, kèm một ít thịt rang thay ruốc, chuẩn bị tiền nhập trận. Trận này, cũng như anh em chiến sĩ bộ binh Sư 320, họ không cần mang theo những phương tiện làm công sự như hồi đánh địch trên Tây Nguyên. Ba lô, súng đạn cá nhân đều phải mang theo hết – mà hành trang khi ra trận của người lính cũng chỉ có thế! Nếu họ có về thế giới bên kia, thì cũng mang tất cả theo. Không biết có bao nhiêu chiến sĩ như anh,  còn mang theo cả lá thư đẫm tình yêu thương của người bạn gái quê hương, người vợ chưa kịp làm lễ cưới: một lá thư dài năm trang giấy pơ luya màu hồng, đầy máu và nước mắt mà em đã thức trắng đêm nô-en để viết cho người yêu.
     Vào quãng 10 giờ tối, sau khi bộ binh đã xuất phát được khoảng một tiếng – như hợp đồng với Bộ tư lệnh sư đoàn, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lệnh cho toàn trung đoàn xuất phát. Các tiểu đoàn đều có du kích Củ Chi và trinh sát dẫn đường. Bóng những người lính với các cỗ xe pháo chạy rì rầm… rì rầm… trong đêm.
     Bộ binh thì triển khai phía hàng rào ngoài cùng, cách lô cốt địch cũng khoảng gần 300 mét – còn những đơn vị pháo có ngụy trang cẩn thận, vị trí tiền nhập của họ cách xa khu căn cứ tới một cây số theo đường chim bay.
     Không gian đêm vào trận lần này, có một cảm giác lạ kỳ?  Trời không trăng nhưng các vì sao vẫn lấp lánh soi rõ khu căn cứ Đồng Dù, sừng sững choáng ngợp hiện ra trước mắt.
     6 giờ 30 phút ngày 29.4.1975, lệnh nổ súng bắt đầu. Pháo binh của Binh đoàn Tây Nguyên và sư đoàn dồn dập trút bão lửa xuống Đồng Dù trong hơn một tiếng đồng hồ, rồi xe tăng và cả những cỗ cao xạ phòng không của trung đoàn pháo ào ạt lao hết tốc lực tiến về tuyến xung phong. Các loại pháo của địch trong căn cứ cũng xối xả bắn ra. Những tiếng nổ gầm trời, đinh tai, chát chúa. Không gian Đồng Dù chìm trong một cơn bão lửa.
     Các hướng được lệnh tiến công. Bộ binh xung phong, dùng bộc phá mở cửa. Hướng tây bắc, mũi tiến công chủ yếu của Trung đoàn 48 – phải mở được hai cửa mở, để cho bộ đội tràn vào trung tâm căn cứ.
     Ở cửa mở số 1 – sau khi Tiểu đoàn 1 dùng bộc phá phá được hai lớp hàng rào bên ngoài, địch phát hiện được hướng cửa mở nên phản ứng mạnh. Chúng điều xe tăng, bộ binh ra bịt cửa mở… đồng thời các máy bay phản lực A37 và trực thăng vũ trang, từ các nơi khác đến ứng cứu, bu kín bầu trời Đồng Dù. Chúng ném bom, bắn pháo cối và cả đạn pháo hóa học vào đội hình Sư đoàn 320, nhất là đội hình tiến công của Trung đoàn 48. Hỏa lực từ các lô cốt địch trong căn cứ cũng bắn ra dữ dội.
     Ở hướng chủ yếu phía tây bắc, mới phá được hai lớp hàng rào ngoài cùng. Tiểu đoàn 1 đã ba lần tổ chức cho bộ đội tiến lên phá tiếp hàng rào, nhưng đều bị hỏa lực địch cản lại. Bộ binh hết lớp này ngã xuống, lớp khác lại xông lên… mà vẫn không sao mở tiếp được hàng rào. Mặc dù bộ đội rất quả cảm nhưng hy sinh quá nhiều.
     Các đại đội được lệnh tập trung bắn yểm trợ cho bộ phận mở hàng rào, để họ mang bộc phá tiến lên. Các chiến sĩ B40 – B41 thì tấn công tuyến lô cốt ngoài cùng. Khẩu đội súng cối nã đạn vào các ụ pháo bên trong. Địch điều một chiếc xe tăng M48 ra bịt hướng cửa mở.
     Nếu quan sát kĩ thì thấy, Đồng Dù địch xây rất ác chiến. Bao toàn bộ căn cứ ở phía trong hàng rào là một con đê đất cao, chừng mét rưỡi. Bên trong bờ đất có một con đường quai chạy sát cạnh, sau đó chúng mới xây lô cốt và các công sự. Ngoài các loại như DK và cối từ công sự, lô cốt bắn ra. Trên đầu thì máy bay ném bom, bắn pháo, súng máy đại liên của địch lia sát mặt đất – còn chiếc xe M-48 như cái lô cốt di động, dùng pháo tăng bắn thẳng vào đội hình QGP rất mạnh.
     Chưa có trận đánh nào lâm vào cảnh bi đát thế? Đánh trên cao nguyên, có nhiều vật che khuất nên tầm quan sát của địch hẹp, bộ đội lại có nhiều thứ che đỡ để tiến công, không có cái kiểu bị địch khống chế thế này.
     Được sự chi viện quyết liết của các hỏa lực, những chiến sĩ ôm bộc phá tiếp tục dâng lên tiến công. Thêm một lớp hàng rào nữa bị tiện đứt, nhưng những người chiến sĩ đó cũng đã phải ngã xuống. Tình hình càng trở nên căng thẳng. Địch vẫn tới tấp cho máy bay phản lực A37 đánh bom vào phía sau đội hình QGP.
     Trung đoàn 48 phải lệnh cho đại đội xe tăng đi cùng vào tham gia đột phá. Nhưng chiếc tăng đầu vừa chớm tới cửa mở, đã bị súng chống tăng của địch bắn cháy. Chiếc thứ hai thì bị bắn tung xích ngay từ hàng rào ngoài. Đại đội trưởng xe tăng trực tiếp chỉ huy chiếc thứ ba lao lên, dùng pháo trên xe tiêu diệt được một số hỏa điểm của địch – khi đó Tiểu đoàn 1 mới mở được thêm mấy hàng rào, tiến sâu hơn vào phía trong.
     Các đơn vị cao xạ phòng không 37 – 57mm của trung đoàn pháo vẫn nổ súng rất mãnh liệt. Những đường đạn lửa trên bầu trời săn đàn chim sắt QLVNCH, như giăng một lưới võng lửa. Người ta đã nhìn thấy các đống lửa từ thân những chiếc máy bay bùng lên. Những chiếc A37 và trực thăng vũ trang trúng đạn tạo thành các đám cháy lớn, kéo theo các cột khói đen xì vội bay đi… rồi đâm đầu xuống ở phía xa. Tuy thế, những con chim sắt vẫn điên cuồng lao xuống như một lũ thiêu thân. Dường như những tên giặc lái của chính quyền VNCH cũng hiểu rằng: đây là những ngày cùng của chúng. Không đánh cũng chết, cho nên chúng lao vào như thí mạng vậy. Bầu trời căn cứ Đồng Dù lửa đạn trên không, lửa đạn mặt đất, bom và pháo nổ cùng đất đá… ầm ầm…
     QGP lúc này chưa mở được hết hàng rào mà thương binh, tử sĩ đã nằm la liệt trên mặt đồi. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lập tức ra lệnh cho đại đội pháo tiểu cao 14l5 vọt tiến lên qua bộ binh, cùng chiếc xe tăng thứ ba (hai chiếc đầu đã bị địch đánh hỏng), bắn áp đảo vào các ụ pháo, các ổ hỏa lực và lô cốt địch. Bấy giờ, các chiến sĩ bộ binh dùng hỏa lực B40 – B41 và hỏa tiễn cá nhân DKB dập mạnh… tập trung bắn cháy được chiếc M-48 của địch. Nhờ thế anh em trong đội phá hàng rào, tiếp tục lao lên dùng bộc phá và mìn định hướng phá thêm được mấy lớp hàng rào nữa.
     Trận chiến vẫn rất ác liệt. Ngay trung đoàn pháo của Trung đoàn trưởng Nguyễn hoàng, vì đánh trên không-mặt đất không có công sự, nên cũng đã bị thương và hy sinh một số. Mới đánh cửa mở chưa vào được bên trong mà hàng trăm chiến sĩ đã phải bỏ mạng.
     Cùng lúc đó ở phía cửa mở số 2 – là mũi của Tiểu đoàn 3 tiến công cũng rất cam go. Ngay khi có lệnh, bộ phận phá cửa mở đã mưu trí dùng mìn liên kết phá tung được 5 lớp hàng rào ngoài cùng. Lập tức hỏa lực từ các lô cốt địch bắn ra dữ dội. Xe tăng loại M-41 của chúng lợi dụng sự che chắn của tường đất, nã pháo ngăn chặn khiến nhiều chiến sĩ đánh bộc phá bị thương. Tình hình chiến đấu vô cùng căng thẳng. Địch vãi đạn như trấu vào đột phá khẩu. Mặc dù hy sinh như vậy, nhưng không ai do dự. Lớp này ngã xuống, lớp khác lại xông tới.
     Một chiếc xe tăng của địch từ trong tung thâm chạy ra, bắn chặn các chiến sĩ đang ôm bộc phá lao lên. Đội hình bộ phận mở cửa của tiểu đoàn bị ùn lại, nguy hiểm vô cùng. Nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải tiêu diệt xe tăng địch. Một chiến sĩ liền nẩy ra sáng kiến: anh dùng súng tiểu liên nổ một loạt vào tháp pháo của chiếc tăng. Khi chiếc tháp pháo vừa quay về phía anh để nã đạn, thì người chiến sĩ đó lách sang một bên để tránh. Cùng lúc chớp thời cơ, một chiến sĩ khác sử dụng khẩu B41, nhằm vào chiếc xe tăng địch bóp cò. Chiếc tăng bốc cháy, sáng rực một góc trời. Người chiến sĩ đặt bộc phá xông lên, đặt bộc phá vào lớp hàng rào thứ sáu. Một tiếng nổ long trời, chuyển đất. Cửa mở toang… Lúc này cũng gần 7 giờ 30 phút sáng.
     Ở phía cửa mở số 1 – Hai hàng rào cuối cùng vẫn chưa phá được, bộ đội thì thương vong và hy sinh quá nhiều. Đồng chí Trung đoàn phó của E48 đi theo với Tiểu đoàn 1 chủ công ở hướng tây bắc, liền điện về Sở chỉ huy sư đoàn báo cáo và xin chỉ thị. Lập tức ở đầu máy bên kia, Sư đoàn trưởng 320 ra mệnh lệnh:
-  Đồng chí Trung đoàn phó nghe đây! Thời gian còn rất ít, không được do dự nữa. Bằng giá nào cũng phải mở thông cửa mở, nhanh chóng tiêu diệt căn cứ Đồng Dù – để các binh đoàn chủ lực tiến vào đánh trung tâm Sài Gòn. Tôi sẽ cho pháo binh chi viện, kiềm chế bớt hỏa lực của địch.
     Và ông ra mệnh lệnh, giọng kiên quyết:
-  Còn anh đã có kinh nghiệm mở cửa qua nhiều trận đánh, nhất là kinh nghiệm mở cửa đánh vào căn cứ Chư Nghé năm 1973. Anh phải trực tiếp đưa bộ đội vào giải quyết nốt hai hàng rào cuối cùng. Còn tiểu đoàn trưởng và cán bộ đại đội phải nắm chắc bộ đội, giữ liên lạc với xe tăng… khi cửa mở thông là xông lên đánh chiếm đầu cầu ngay.
     Khi đó, người tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 rất băn khoăn: Việc đưa bộ đội lên đánh hàng rào thuộc lính cảm tử. Trong trường hợp đánh vào cứ điểm như đánh Đồng Dù này, thì chết nhiều sống ít. Bởi vậy anh đề nghị với người trung đoàn phó, để anh thay. Nhưng đồng chí trung đoàn phó nhất định không nghe, lắc đầu nói:
-  Không! Sư đoàn trưởng đã giao nhiệm vụ đích danh cho tôi. Điều đó chứng tỏ quyết tâm của Bộ tư lệnh rất quyết liệt. Anh là tiểu đoàn trưởng nắm bộ đội chắc hơn tôi. Khi tôi đã mở thông cửa mở, anh phải chỉ huy bộ đội xung phong chiếm đầu cầu, tiến công vào trung tâm căn cứ ngay.
      Nói rồi, người trung đoàn phó vẫy tổ bộc phá trườn theo mình. Họ trườn lên phía trước từng mét một. Súng đại liên, 12ly7 và súng máy đủ loại cào xé trên lưng họ. Bò được dăm mét thì một chiến sĩ trong tổ bộc phá trúng đạn, hy sinh ngay tại chỗ. Đồng chí trung đoàn phó quay lại chỉ kịp vuốt mắt người chiến sĩ ấy… rồi ra lệnh cho một chiến sĩ khác ôm lấy quả mìn tăng đẫm máu, gỡ lấy ra từ trong tay người lính đã chết, tiếp tục bò lên. Khi quả mìn đã được đặt đúng ở vị trí hàng rào cuối cùng  - Trung đoàn phó lệnh cho điểm hỏa, rồi cả tổ chạy về phía sau.
     Mìn nổ. Tiếng reo hò của những người chiến sĩ ở phía dưới vang lên! Tiểu đoàn trưởng D1 lập tức lệnh cho bộ phận xung kích ào ạt xông lên đánh chiếm đầu cầu. Sau đó là đại đội thọc sâu của tiểu đoàn cùng tăng và pháo tràn qua như một cơn lốc, tiến vào trung tâm căn cứ.
     Nhưng lúc này, các xạ thủ B40 – B41 bị thương vong gần hết, lực lượng tiểu đoàn cũng còn lại rất mỏng. Trung đoàn 48 phải báo cáo sư đoàn, đưa thê đội dự bị là Tiểu đoàn 2 cùng với 8 chiếc tăng, vượt qua hướng cửa mở số 1 vào tham gia tiến công.
     Ở hướng tây nam, hướng thứ yếu – E9 của sư đảm nhiệm, gồm ba tiểu đoàn: D4 – D5 và D6 (lúc này D6 là thê đội dự bị), cùng 1 tiểu đoàn của trung đoàn pháo đi phối thuộc.
      Theo như hợp đồng trận đánh: Hai lớp hàng rào ngoài cùng ở hướng tây nam này, đã được anh em công binh cắt phá trước. Sau đó, họ đặt mìn định hướng sẵn cho 4 lớp hàng rào tiếp theo, có liên kết bằng dây nổ để nổ đồng thời khi có lệnh điểm hỏa. 
     Lúc này, đội đánh bộc phá của D5 xông lên phá nốt hai hàng rào cuối để mở cửa, thì bị hỏa lực địch từ trong các bờ công sự bắn ra rất dữ dội. Trên không, phản lực A37 bắn cối, súng 12ly8 và trực thăng vũ trang dùng đại liên quét vào đội hình. Ngay phút đầu đã có một số thương vong.
     Vào khoảng 6 giờ sáng, địch cho một trung đội từ cổng chính ra tập kích, bị bộ đội của D4 tiêu diệt một số, số còn lại vội chạy tụt vào căn cứ. Ngay sau đó, địch cho một đại đội lính bảo an tiến ra đánh vào sau lưng D4, lại bị một đại đội khác của D4 phản công. Chúng bỏ chạy tán loạn…
     Lúc 7 giở sáng, đài kĩ thuật sư đoàn cho biết: Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 50 QLVNCH ở khu Xóm Mới, một làng gần Đồng Dù, chuẩn bị đến phản kích.
     Đội bộc phá vẫn chưa thể phá nốt hai hàng rào cuối để thông cửa mở, mà thương vong gần hết. Hai lớp hàng rào cuối cùng này, địch lại dùng loại hàng rào vướng chân cao đến 40 phân, độ rộng chừng 5 mét, có lên chi viện cũng không thể vượt qua được. Tình hình trở nên căng thẳng.
     Trung đoàn đã phải đưa đội bộc phá mở cửa thứ hai lên, cũng là lúc Tiểu đoàn 3/50 QLVNCH bất ngờ từ trong vườn cao su thuộc Xóm Mới, tiến đến phản kích vào sau lưng E9 QGP. Ban chỉ huy E9 cho đại đội súng máy 12ly7 cùng các chiến sĩ trong D5 dùng AK, phóng lựu và cả lựu đạn phản công lại.
     Tự nhiên trời đổ mưa to. Trong mưa bóng quân địch lù lù tiến đến. Chúng kèn sát vào nhau, vừa tiến vừa bắn như đổ đạn về phía cộng quân. Đội súng máy cao xạ 12ly7 của E9 bóp cò, lính VNCH chết như ngả rạ, tên nọ chồng lên tên kia. Lính bộ binh của D5 QGP từ hai bên đánh thọc vào, tiêu diệt cả tiểu đoàn 3/50 QLVNCH. Tuy thế, bộ đội của E9 cũng thương vong không ít, tới ngót trăm người tử trận.
     Địch lại cho máy bay phản lực đến ném cả bom hóa học, trực thăng vũ trang thì dùng pháo cối, súng đại liên bắn quét vào đội hình – Lúc này, pháo cao xạ 37ly của trung đoàn pháo cùng súng máy cao xạ 12ly7 của E9 đồng loạt vươn nòng nhả đạn săn máy bay VNCH, làm thành cả một bầu trời lửa. Mấy chiếc A37 và trực thăng trúng đạn nổ tan tành. Có chiếc thì lê xác bay đi… kéo theo cả dải khói đen ngòm, ngùn ngụt cháy. Địch vẫn điên cuồng, pháo từ nơi khác bắn đến như mưa vào đội hình E9. Sư đoàn 320 đã phải tung cả D6 là thê đội dự bị của E9, cùng một đại đội xe tăng T-54 vào tham chiến. Họ vòng sang hướng tây bắc – khi đó, hai cửa mở (cửa mở 1 và 2) của Trung đoàn 48 đã thông, nhập cùng với D4 của E9 cũng đã vòng sang đây, tập trung đánh vào tung thâm cứ điểm.
     D5 của E9 cũng đã phá được hai lớp hàng rào cuối cùng ở hướng tây nam – các mũi đồng loạt tiến công tất cả các mục tiêu của căn cứ Đồng Dù.
     Lúc đó, nhìn ra ngoài ở hướng cửa mở phía tây bắc – người ta đã thấy đoàn quân của Sư đoàn 10, Tiểu đoàn 64 - F320, xe tăng và các tiểu đoàn xe pháo khác ầm ầm kéo qua ngay cổng chính của Đồng Dù. Đoàn quân theo đường Quốc lộ 1 vượt qua Cầu Bông để tiến thẳng về nội đô Sài Gòn.
     Ở đây, đã diễn ra trận chiến rất quyết liệt – Một thiết đoàn xe thiết giáp QLVNCH bị Sư 316 QGP đánh tan tác ở khu Trảng Bàng, tháo chạy rút qua Cầu Bông. Chúng bị ngay tổ chốt của tiểu đoàn đặc công chặn lại. Từ phía sau, Trung đoàn 64 – F320 và 9 chiếc xe tăng T-54 dồn đánh thốc tới. Địch tán loạn lao bừa xuống sông. Trên mặt đường, tiểu đoàn xe tăng của binh đoàn thọc sâu ung dung diệt từng cái một. “ngụp lặn” dưới vũng bùn sâu 28 chiếc tăng và xe bọc thép cùng hàng chục chiếc GMC của tiểu đoàn thiết giáp QLVNCH bị tan xác, không một chiếc nào chạy thoát.
     Nói về trận chiến ở khu Trảng Bàng, cách Đồng Dù mười cây số về phía bắc -  Sau những ngày chốt chặn, bao vây, áp sát… Sư đoàn 316 đã chuyển sang tấn công như vũ bão. Trước đó địch đã bị pháo binh QGP dần cho bốn ngày liền, nên chúng nhanh chóng tan rã từng mảng. 2 trung đoàn QLVNCH đóng tại đây, 1 liên đoàn bảo an, 1 chiến đoàn thiết giáp… tan tác. Có bộ phận thì chạy về Đồng Dù tụ hội với Sư đoàn 25 VNCH. Thiết đoàn xe tăng kéo qua Cầu Bông thì bị đánh diệt như đã nói.
     Con đường qua Cầu Sáng trên Quốc lộ 15 vào Sài Gòn, tuy được trung đoàn đặc công giải phóng nhưng cũng đã bị địch đánh sập. Bởi vậy, tất cả lực lượng của Binh đoàn Tây Nguyên vào Sài Gòn đều phải tiến theo Quốc lộ 1 đi qua Cầu Bông.
     Quay trở lại với trận chiến đang tiếp diễn ở Đồng Dù – Phía tây bắc khi cửa mở đã được thông, đồng chí Trung đoàn phó cùng với Tiểu đoàn trưởng D1 dẫn đầu bộ đội xông lên, tràn qua cửa mở tiến vào đánh chiếm các mục tiêu.
     Tiểu đoàn 2 là thê đội dự bị, sau khi được trung đoàn tung vào căn cứ cùng đội xe tăng, đã nhanh chóng hợp với D1 đánh chiếm khu Truyền tin, chiếm Sở chỉ huy của Sư 25 QLVNCH.
     Ở cửa mở 2 – Tiểu đoàn 3 cũng xung phong lên đánh chiếm tuyến công sự thứ nhất. Địch đưa xe tăng chặn, bị hỏa lực đánh lui. QGP ào ạt xông lên đánh chiếm tuyến công sự thứ hai, diệt liền một lúc mấy xe tăng địch, rồi tụ hội cùng Tiểu đoàn 1 đánh chiếm trận địa pháo, Sở chỉ huy của Trung đoàn 50 VNCH, phát triển sang đánh chiếm khu thiết giáp và sân bay.
     Đúng lúc này, Trung đoàn 46 cũng thuộc Sư 25 QLVNCH - nhưng đóng ở Trảng Bàng, bị Sư 316 QGP đánh, chạy về tụ lại cứu nguy cho Đồng Dù. Địch lại cho phản lực A37 và trực thăng vũ trang đến đánh pháo, quét 12ly8 vào đội hình QGP.
     Đạn cao xạ 37 – 57ly của trung đoàn pháo từ khắp các hướng Đồng Dù bắn lên như đổ lửa. Tiếng máy bay trúng đạn nổ như bom trên bầu trời, bốc cháy. Trận chiến cả trên không và mặt đất rất quyết liệt. Ta và địch cùng thương vong, chết ngả rạ không đếm xuể.
     Khi bộ đội đang phải căng lực lượng quân VNCH ra đánh, thì từ mấy hướng bỗng thấy cả một thê đội QGP – không biết từ đâu tràn tới? có cả  đoàn xe tăng T-54 đi kèm. Họ vừa lao đến vừa nã đạn, nã pháo vào đội hình Trung đoàn 46 Sư 25 VNCH. Đội quân của địch nhanh chóng bị tan tác. Một số thì chết, số tháo chạy… lại bị bộ binh của Trung đoàn 48, F320 dùng AK tiêu diệt – Thì ra, đó chính là D6, thê đội dự bị của E9 mà sư đoàn tung tiếp vào để chi viện. Lúc này, D4 và D5 của Trung đoàn 9 cũng đồng thời tiến đến cùng hợp đồng đánh vào trung tâm căn cứ Đồng Dù.
     Lực lượng tham chiến của Sư 320 bây giờ quá hùng hậu, nhanh chóng áp đảo Sư 25 và toàn bộ quân VNCH trong căn cứ. Cả đoàn xe tăng T-54 của binh đoàn QGP gầm thét xé trời, xé đất… bắn pháo diệt các ổ đề kháng của địch.
     Toàn bộ khu căn cứ Đồng Dù nhốn nháo. Sư đoàn 25 QLVNCH hoàn toàn mất chủ động. Các tiểu đoàn, trung đoàn Sư 320 lệnh cho bộ đội tổng xung phong. Tiếng bộ đội hò hét như một dàn pháo nổ. Từ các hướng vọt xông lên! Phía trong cứ điểm địch, lúc này chỉ còn vài loạt đạn lẻ tẻ bắn ra yếu ớt, rồi im bặt.
     Trời bỗng lại đổ mưa. Mưa rất to. Nước chảy mạnh lênh láng tràn vào các hầm hố của Sư 25 QLVNCH. Các chiến sĩ QGP cũng ướt lẹp nhẹp, nhưng bây giờ hình như mưa chẳng còn làm ảnh hưởng tới họ. Họ vẫn hò hét và xông lên, chiếm hết mục tiêu này đến mục tiêu khác.
     Mưa lại đột ngột dừng. Trời quang, trong veo. Ở Đồng Dù, đất thịt pha cát nên thấm rất nhanh. Bộ đội và xe tăng vẫn ầm ầm tiến sâu vào bên trong căn cứ, dài đến hơn 100 mét. Một cảnh tượng gây xúc động mạnh và cũng thật xót xa lòng – Không phải chỉ xác chết của lính VNCH mà cả xác bộ đội, đều nằm la liệt dọc theo hai bên cửa mở vào bên trong. Nhiều chiến sĩ nằm thân vắt ngay trên miệng hố công sự, nửa người dưới chìm trong đất cát vì cơn mưa, chỉ còn nửa phần trên nhô lên… súng văng bên cạnh.
     Thảo nào, ở hướng cửa mở phía tây bắc của Trung đoàn 48… có lúc bị tắc, xe tăng cũng ùn lại không lên được – thì ra, họ không dám tiến vì sợ chẹt lên đám xác của bộ đội nằm chết chồng lên nhau.
     Đã thấy địch phất cờ trắng xin hàng. Bọn địch trong công sự cũng không bắn ra phát nào nữa. Khi vào sâu, thì dù trắng phất nhiều hơn. Song chỉ thấy toàn lính, chắc các sĩ quan của Sư 25 QLVNCH đã chạy hết.
     Bỏ qua các đám lính xin hàng ấy, những mũi tiến công của các trung đoàn vẫn theo hướng trung tâm tiến thẳng vào trong. Có chỗ đến hàng trăm tên ngồi trật tự trên bãi trống, khua dù trắng. Chỗ khác thì gặp rất nhiều tên bị thương xếp thành hàng, hai tay giơ cao qua đầu. Một đôi chỗ thấy cửa hầm sâu, gọi hàng vài tiếng không thấy gì? Bộ đội quăng thủ pháo, ném lựu đạn vào. Tiếng nổ long óc trong lòng đất, rồi họ tiến đến chỗ khác.
     Tên chuẩn tướng Lý Tòng Bá, sư trưởng sư 25 “tia chớp nhiệt đới” của VNCH cùng các sĩ quan trong Bộ tham mưu, tháo chạy vào rừng cao su bên ngoài căn cứ Đồng Dù. Chúng vứt bỏ quân hàm, ra đường định bắt xe khách chạy về Sài Gòn, nhưng không đi thoát. Sau đó, nghe loa gọi hàng của đội nữ du kích Củ Chi, lục tục kéo nhau ra trụ sở đóng tạm của Ủy ban chính quyền cách mạng, để đầu thú. Phải đến mấy chục tên, cả sĩ quan và binh lính.
     Đúng 11 giờ ngày 29.4.1975, lá cờ quyết chiến quyết thắng của Sư đoàn 320 tung bay trên nóc Sở chỉ huy của Sư đoàn 25 QLVNCH. Mở tung cánh cửa hướng tây bắc, để Binh đoàn Tây Nguyên tiến thẳng về Sài Gòn.
     Sau khi toàn bộ quân VNCH trong căn cứ Đồng Dù bị diệt, bị bắt và tan rã – Sư đoàn 320 và các trung đoàn, tiểu đoàn đi phối thuộc hoàn toàn làm chủ căn cứ. Họ tiến về tụ hội ở một khu gia binh. Nơi ở của lính Sư 25 QLVNCH. Nhà nào cũng thấy vứt bừa bãi đồ đạc. Quang cảnh của một sự tháo chạy vội vã. Các chiến sĩ kéo vào một khu nhà của quân tiếp vụ rất lớn, giống như một cửa hàng bách hóa ở ngoài Bắc vậy. Hàng hóa nhiều vô kể, đủ loại, nhìn hoa cả mắt. Có rất nhiều thứ mà những người lính không biết là cái gì? Lính trận thời chiến lại vừa thắng lớn mà…Họ xả AK bắn tan tành. Những món quen thuộc, thiết thân như thuốc ru bi queen thơm và hút say rất nhiều, đường sữa và đồ hộp… lính thi nhau khuân ra cửa. Khuân ra rồi vứt lại vô số, vì mỗi anh lính có tham cũng chỉ mang theo được một ít. Nhiều anh còn khui cả những chai bia 33 cổ rụt ra uống. May không thấy anh nào say cả.
     Các chiến sĩ trong trung đoàn pháo của Trung đoàn trưởng Nguyễn hoàng, được dịp tự do thả phanh, kéo nhau đi tảo thanh. Sau một trận thắng lớn ròn rã, những người lính còn sống qua cuộc chiến, mặt anh nào cũng rạng rỡ. Chủ yếu họ chỉ lấy đồ ăn như thịt hộp, gạo sấy và thuốc lá… cho vào túi sài dần.
     Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lững thững đi bách bộ trong căn cứ Đồng Dù rộng mênh mông. Anh nhìn các chiến sĩ, khẽ nở một nụ cười trên môi. Là một người lính trận từng trải, nên anh rất hiểu các chiến sĩ của mình: Hãy để cho họ tự do nhởn nhơ trong giây lát…
     Chiều nay, anh vừa nhận được chỉ thị của Bộ tư lệnh Quân đoàn: Trung đoàn pháo của anh cùng với một bộ phận bộ binh của Sư đoàn 320, sẽ ở lại đóng quân bảo vệ căn cứ Đồng Dù – còn đại quân của sư đoàn cùng trung đoàn xe tăng, đặc công và các đơn vị trực thuộc khác… và Sư đoàn 316 vừa mới giải phóng khu Trảng bàng – Tất cả gấp rút tiến về nội đô… hợp cùng các quân đoàn của toàn miền, để kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử này.
     Ai muốn nghĩ gì thì nghĩ, ngày mai họ lại vào trận dánh - Làm sao mà biết được: trong trận đánh tới, ai vẫn còn sống… ai sẽ lại phải ngã xuống?
     Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng thong thả rút một điếu ru bi queen, quẹt lửa châm hút. Đó cũng là một chiếc bật lửa ga bằng i-nốc của Mỹ. Anh thả một vòng khói thơm lên trời, khoan khoái.
     Tối đó, các chiến sĩ của trung đoàn pháo ngủ lại trong căn cứ. Anh nuôi lấy gạo của quân VNCH đã thu được ra nấu cơm. Gạo Thái, hạt dài, ngon tới mức nấu lên chỉ cần rưới tí nước mắm, chén bốn-năm bát không biết no. Thức ăn không cần nấu, vì đã có đồ hộp: thịt gà, thịt lợn, cá – loại hộp 200 gam lấy của địch. Ai muốn ăn bao nhiêu tùy thích. Ăn xong, ngồi uống cà phê, hút thuốc lá thơm của quân tiếp vụ VNCH.
     Trung đoàn trưởng Hoàng chỉ triệu tập cấp chỉ huy tiểu đoàn và các đại đội để hội ý… còn toàn bộ chiến sĩ cho họ nghỉ xả hơi. Không hội họp, không rút kinh nghiệm gì hết. Đêm đó, những người chiến sĩ trải ni lông ngủ bên ngoài. Họ không ngủ trong nhà để đề phòng bất trắc…
     Chỉ trong vòng 5 tiếng đồng hồ chiến đấu, Sư 320 QGP đã đập tan toàn bộ Sư 25 QLVNCH – diệt 500 tên, bắt làm tù binh 2.269 tên: Trong đó có chuẩn tướng Lý Tòng Bá – sư đoàn trưởng, đại tá - sư đoàn phó và một số sĩ quan trong ban tham mưu sư đoàn. Thu 4.909 khẩu súng các loại: 9 đại bác 175, 155, 105mm; 100 máy thông tin; thu và phá hủy 423 xe quân sự, kể cả xe tăng và xe bọc thép.
     Người ta không biết thật chính xác số máy bay của không lực VNCH bị bắn rơi trong trận chiến Đồng Dù ? vì khi đó, chiến trường toàn miền đồng loạt nổ súng, nên những máy bay địch bị trúng đạn rơi rất nhiều, tứ tung khắp nơi. Nhưng theo quan sát của các xạ thủ pháo cao xạ trong trung đoàn pháo: Họ đã bắn trúng và làm bốc cháy hàng chục máy bay, cùng với 2 máy bay đã thu được tại sân bay của căn cứ.
      Như thế, chỉ trong một ngày tiến công, Quân đoàn Tây Nguyên đã đập tan tuyến phòng thủ, quét sạch một hệ thống đồn bốt trên hướng tây bắc Sài Gòn – ngoài việc tiêu diệt toàn bộ Sư 25 chủ lực của QLVNCH, một chiến đoàn thiết giáp: trong đó có một thiết đoàn xe tăng, cùng các liên đoàn biệt động, liên đoàn công binh và toàn bộ lực lượng bảo an, biệt kích dù, cảnh sát… mở toang cánh cửa vào Sài Gòn – Gia Định.
     Mặc dù, họ cũng đã phải trả một giá rất đắt. Máu đổ ngập trời, ngập đất. Không kể số thương vong lớn, đã phải có hàng trăm, hàng trăm chiến sĩ của sư đoàn, trung đoàn và các tiểu đoàn đã bị hy sinh ngay bên cửa ngõ Sài Gòn.
     Đêm Đồng Dù. Lúc này những thương binh, tử sĩ trong trận chiến vừa qua – kể cả của QGP và xác binh lính VNCH đã được đơn vị tải thương của sư đoàn, cùng với sự hỗ trợ của du kích huyện Củ Chi… đã chuyển hết đi nơi khác.
     Trời đã về khuya. Trong một khu nhà gác ở căn cứ, trước đây là trụ sở ban chỉ huy một  trung đoàn thuộc Sư 25 QLVNCH, nay dùng tạm làm nơi ở cho ban chỉ huy trung đoàn pháo của Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng. Xung quanh khu nhà, các chiến sĩ đều đã đi ngủ cả. Chỉ còn thấp thoáng bóng những người lính gác của các đơn vị, đang bồng súng đi đi… lại lại…  làm nhiệm vụ cảnh giới. Thỉnh thoảng vài con chó chạy rông kêu ăng ẳng trong đêm. Chúng đi tìm những cái xác chết của người lính VNCH còn bỏ  sót lại, rồi gọi nhau đến nhậu. Giống chó bẹc-giê cũng thường thích ăn thịt sống. Chiến tranh mà… “được làm vua, thua làm giặc” – nhưng dù là người bên nào thì cũng là máu thịt của dân tộc mình cả thôi? Ý nghĩ ấy chợt đến làm xót xa trong lòng người Trung đoàn trưởng Nguyễn hoàng.
     Đêm nay, anh không sao ngủ được. Lúc này, anh vẫn chưa thể biết rằng: cái đêm 29.4.1975 này, lại chính là đêm cuối cùng của cuộc chiến tranh. Hồi chiều hôm, khi trận chiến vừa kết thúc. Nguyễn Hoàng đi xuống một đại đội pháo cao xạ 37ly làm công tác thương binh, tử sĩ – là đại đội pháo bị thương vong nặng nề nhất trong trung đoàn của anh. Do trận địa bị trúng bom của máy bay phản lực A37, khi đang tiến vào phía cửa mở hướng tây bắc của căn cứ. Không kể bị thương, hàng chục xạ thủ pháo đã phải hi sinh.
     Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng vẫn còn nhớ, trong túi áo của một người chiến sĩ đã tử trận, có một lá thư mới viết cho người yêu chưa kịp gửi – Hẹn ngày chiến thắng sẽ trở về? Người lính trẻ ấy quê ở Thanh Hóa. Máu trên thân thể anh tràn ra thấm đỏ cả lá thư – Người chiến sĩ ấy mãi mãi đã ra đi, không bao giờ còn có thể trở về… để thực hiện lời hứa của mình với người yêu được nữa. Chắc người vợ chưa kịp cưới của anh, vẫn đang mòn mỏi chờ đợi ở quê nhà?
     Bất giác trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng cũng sờ lên túi áo mình, lá thư của Thu viết cho anh vẫn còn nguyên trong đó. Anh lại nhớ tới một câu thơ:
                    Máu tim anh nhuộm đỏ đất anh nằm…
     Câu thơ ấy của tác giả nào không biết? Phải, người chiến sĩ ấy đã nằm xuống, tuy không phải là nơi “chôn rau, cắt rốn”, nhưng cũng là mảnh đất quê hương Việt nam của anh. Máu tim những người chiến sĩ cũng như máu tim dân tộc, hết đời này qua đời khác đã chảy ra… nhuộm đỏ cả mảnh đất quê hương.
     Giờ ngồi một mình trong gian phòng của chỉ huy sở, người trung đoàn trưởng khẽ thở dài. Anh lại giở lá thư của người yêu ra đọc. Anh đã đọc không biết đến bao nhiêu lần, gần như thuộc làu cả lá thư mà Thu viết cho anh. Những trang giấy pơ luya màu hồng cũng đã bị hơi nhàu đi. Lá thư mà người bạn gái viết cho anh trước ngày vĩnh viễn ra đi, vào cái đêm nô-en… trong chuỗi 12 ngày đêm khủng khiếp nhất của loài người – 26 tháng 12, đêm đi cứu hộ khu phố Khâm Thiên tang tóc và kinh hoàng ấy!
     Bàn tay anh vẫn run run cầm lá thư của người yêu. Khi thì anh xem đoạn này, lúc đọc đoạn khác. Mở đầu trang thư với dòng chữ quen thuộc của người con gái, lòng anh đã trào lên một nỗi xúc động: “Hoàng thân yêu của em!” – Anh cố ghìm lòng mình bình tĩnh. Lần này anh mở ra đọc lại một trong những trang… vừa làm cho lòng anh tê tái và cũng thân thương khô tả. Thu đã viết:
     “… Hoàng thân yêu,
     Thu yêu anh nhiều lắm, yêu hơn cả bản thân em đấy! Hoàng chính là mối tình đầu và cũng là mối tình vĩnh viễn của em. Anh và em, ta đã trao nhau những gì đẹp nhất của cuộc đời, phải không anh? Em cũng đã dành cho anh trọn vẹn những gì quí giá nhất của người con gái. Em thấy hạnh phúc vì đã làm với anh điều ấy!
     Nghĩ đến anh là em lại thấy lòng mình bình yên và ấm áp, dù đêm mùa đông giá lạnh, phải sống xa anh cả nghìn cây số. Em ngồi viết thư cho anh đây, một mình em một bóng cô đơn. Tình yêu anh đã nâng đỡ em rất nhiều trong những vấp váp đầu đời, đấy anh!
     Đêm nô-en này cũng là đêm nô-en thứ sáu, anh không có mặt ở nhà, để cùng em đi lễ nhà thờ. Năm nay, em đi chơi đêm lễ với Lan, anh ạ! Hai đứa cũng tâm sự với nhau bao nhiêu điều về cuộc sống. Ôn lại những kỉ niệm xưa khi cùng nhau cắp sách, có cả anh.
     Ôi, Cứ nghĩ đến những ngày tới anh về phép, lòng em lại bồn chồn khôn tả? Em mong đợi ngày đó biết chừng nào. Khi đó đôi ta sẽ chính thức trở thành chồng, thành vợ - phải không anh? …”.
     Cứ mỗi lần đọc đến đây, Hoàng lại thấy run bắn người. Anh như muốn òa khóc nấc lên, tựa một đứa trẻ con. Anh trấn tĩnh lại và để nguyên lá thư trên bàn, lặng lẽ bước ra ngoài căn phòng.
     Đêm khuya ở Đồng Dù, sương rơi lạnh nhiều. Phải, anh đã hứa với người yêu ở chốn quê hương về một chuyến đi phép, nhưng do tình hình chiến sự ngoài chiến trường… nên đã không thực hiện được lời hứa đó. Cũng như người chiến sĩ trẻ với lá thư thấm đầy máu kia, không bao giờ có thể thực hiện được lời hứa của mình – rằng: “Ngày chiến thắng, anh sẽ về với em…”.
      Ngày  chiến thắng thì có, nhưng không bao giờ anh có thể trở về cùng em được nữa? Ôi, đó là nỗi đau tang thương của cả dân tộc này.
     “Tình yêu và chiến tranh” – Đó là hai phạm trù hoàn toàn trái ngược nhau. Đi trong đêm Đồng Dù trước ngày chiến thắng, mà trong sâu thẳm của lòng người trung đoàn trưởng bao nhiêu tâm trạng.
     Anh lại nghĩ đến người con gái bản đã yêu anh và chết trên tay anh – Tình yêu của cô cũng thật là cao thượng và bao la. Chiến tranh đã cướp đi của anh cả hai người con gái đó, mỗi người một vẻ nhưng đều đẹp như hoa của đất trời.
     Khi Hoàng trở về phòng đi ngủ thì trời cũng đã gần sáng. Sớm mai, tuy trung đoàn pháo của anh đóng lại ở Đồng Dù, nhưng trận chiến trong Sài Gòn chắc chắn sẽ rất ác liệt. Hàng trăm, hàng nghìn người lính vẫn còn tiếp tục phải ngã xuống… để giành lấy sự chiến thắng cuối cùng của cuộc chiến tranh này.
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 18:59:19
 
 
                                                          *
 
     Sáng ngày 30.4.1975, khu căn cứ Đồng Dù trở nên vắng lặng. Chỉ  còn lẻ tẻ mấy đơn vị bộ binh và trung đoàn pháo ở lại. Bốn quân đoàn chủ lực mạnh nhất của QGP và Quân đội nhân dân Việt Nam, đã tiến đến siết chặt vòng vây quanh thủ đô Sài Gòn. Những đợt pháo kích nã vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu và khu Bộ tư lệnh các binh chủng của QLVNCH. Rồi Dinh Độc Lập – tức Phủ tổng thống của Chính phủ VNCH, Đài phát thanh, Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát.
     Thực ra, ngay từ đêm 28-4 rạng ngày 29-4, tất cả các cánh quân của QGP đã được lệnh của Bộ tư lệnh chiến dịch, đồng loạt tổng công kích vào trung tâm thành phố, và đánh chiếm các cơ quan đầu não của Chính phủ VNCH.
     Chiều hôm 28-4 đó, phi công Nguyễn Thành Trung chỉ huy một phi đội lái 5 chiếc máy bay phản lực A37  thu được của địch, ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất, gây nỗi kinh hoàng cho toàn bộ QLVNCH.
     10 giờ 45 phút ngày 30.4.1975, hai xe tăng tiến thẳng vào ủi sập cổng Dinh Độc Lập. Một binh đoàn hỗn hợp thuộc Quân đoàn II QGP tiến công vào trong dinh, bắt toàn bộ bộ máy của Chính phủ VNCH.
     Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30.4.1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh vừa nhậm chức hôm 28-4, phải lên Đài phát thanh đọc lệnh ngừng bắn và đầu hàng vô điều kiện. Nguyên văn bản tuyên bố đầu hàng đó như sau:
     “Nhân danh Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, tôi Đại tướng Dương Văn Minh kêu gọi toàn thể Quân lực Việt Nam Cộng hòa hãy bỏ súng và đầu hàng vô điều kiện với Quân đội giải phóng miền Nam. Tôi tuyên bố giải tán tất cả các cơ quan chính quyền từ trung ương đến địa phương.”.
      Lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh đã chính thức kết liễu bộ máy Chính phủ VNCH cũng như hệ thống QLVNCH.
     Vào thời khắc này, những chiến sĩ trong các đơn vị đóng quân lại trên căn cứ Đồng Dù, đều tụ tập quây quần dưới những chiếc loa phóng thanh, để nghe tin chiến sự từ thủ đô Sài Gòn báo về.
     Tin cách mạng chiến thắng… Sài Gòn đã hoàn toàn giải phóng… như những hành khúc hùng tráng làm náo nức lòng các quân nhân. Như tiếng sấm nổ vang trời, dậy đất. Hơn ai hết, những người lính chiến trường trào lên một niềm vui bất tận.
     Hạnh phúc lớn quá, tưởng có thể vỡ tim! Họ hò reo vui sướng như những đứa con nít, chạy nhảy khắp Đồng Dù, vừa chạy vừa hét to lên:
-  Miền Nam đã hoàn toàn giải phóng! Hòa bình rồi! Hòa bình rồi!... anh em ơi! Đồng bào ơi!...
       Những người chiến sĩ ôm lấy nhau hạnh phúc. Nhiều người đã khóc. Lòng những người lính chiến trường thổn thức vì hạnh phúc đến bất ngờ. Họ muốn gào to lên, gọi vọng về quê hương:
-  Cha ơi! Mẹ ơi! Vợ con và những người thân yêu của ta ơi! Chiến tranh đã kết thúc rồi. Hòa bình rồi!
     Và họ lại nhảy, lại khóc. Những người lính chiến ấy, lại sờ lên đầu mình: “vẫn còn” – Bấy giờ, họ mới tin rằng: mình vẫn còn sống…
     Bỗng nhiên nỗi buồn lại ập đến. Họ nghĩ tới bao nhiêu người đồng đội của mình, chỉ vừa mới hôm qua thôi… đã ngã xuống trên mảnh đất đầy máu này, trước ngày chiến thắng. Không bao giờ những người lính ấy, còn được trở về cùng những người thương yêu ở quê hương nữa. Nghĩ vậy, lòng họ xót xa vô hạn. Không ai bảo ai, tất cả lặng lẽ bỏ mũ đứng như trời trồng giữa khoảng không gian mênh mông, để vĩnh biệt những người đồng chí đã hi sinh.
     Như thế, trải qua 55 ngày đêm trong cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 của QGP, kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. QGP đã loại khỏi vòng chiến đấu 1,1 triệu quân VNCH, làm tan rã lực lượng phòng vệ dân sự gồm hơn 1 triệu tên, đánh đổ toàn bộ hệ thống chính quyền. Cũng trong sáng 30-4 này, Đại sứ Martin và những người Mỹ cuối cùng đã rời khỏi miền Nam Việt Nam – Có nghĩa là, “chủ nghĩa thực dân mới” của  đế quốc Mỹ, từng xây dựng ở miền Nam Việt Nam trong hơn hai mươi năm qua, đã kết thúc.
     Buổi trưa ngày 30.4.1975, trên căn cứ Đồng Dù nắng chói chang như đổ lửa. Trong gian phòng của Ban chỉ huy trung đoàn pháo, Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng lặng lẽ đứng bên cửa sổ nhìn ra xa. Anh thấy cả một bầu trời đỏ như một dòng sông máu. Máu của những chiến sĩ cách mạng đi làm nhiệm vụ giải phóng từ mấy chục năm nay, máu những đồng đội anh vừa ngã xuống hôm qua bên cửa ngõ Sài Gòn, và cả máu của bao chiến sĩ vừa chết ngay trong trận chiến sáng nay, ở nội đô thành phố được coi là “hòn ngọc viễn đông” này.
     Không! Không phải chỉ có những dòng máu ấy, mà còn cả máu của hơn một triệu người lính VNCH cũng hòa vào trong đó? Những người lính trận của QLVNCH, họ cũng đã phải chết rất tang thương – Họ đâu phải là kẻ đã gây ra cuộc chiến tranh? Họ cũng là con em của dân tộc này! Chỉ có kẻ gây ra cuộc chiến tranh mới có tội, và phải bị lên án tới muôn đời. Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng vẫn miên man suy nghĩ – Trong dòng sông loang đỏ kia, còn cả máu của những người thân và đồng bào ở thành phố và những làng thôn nơi quê hương anh… cũng đã phải đổ xuống vì chiến tranh.
     Nghe nói, vài tháng sau khi cuộc chiến kết thúc – Trung đoàn trưởng Nguyễn Hoàng đã xin giải ngũ trở về thủ đô Hà Nội. Anh tiếp tục theo học trường Đại học ngoại thương , rồi trở thành một anh cán bộ của ngành ngoại thương quốc tế. Sống cuộc đời bình lặng trên thành phố quê hương mình.
 
                                                 PHẠM NGỌC THÁI
 
nhanvan

Nhân văn
  • Số bài : 812
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
Re:Tiểu thuyết 2 tập: CHIẾN TRANH VÀ TÌNH YÊU - Phạm Ngọc THái - 21.09.2020 19:03:09
 
 
                                  MỤC LỤC                                                Trang
 
Chương VIII (B):  Mặt trận Tây Nguyên đẫm máu (tiếp)……           -
Chương IX:  Cái chết của người con gái bản …………………
Chương X :  Hà Nội cuộc sơ tán vô tiền khoáng hậu …………
Chương XI :  Hà Nội 12 ngày đêm ……………………………
Chương XII :  Chiến trường Tây Nguyên những năm cuối ……
Chương XIII :  Trận chiến cuối cùng của cuộc chiến tranh ……
 
 
                       TÁC GIẢ
 
                 Nhà văn
          PHẠM NGỌC THÁI
Sinh:  17- 01-1949
NR: Ngõ 83, phố Quán Thánh, Hà Nội
ĐT:    038 302 4194
. Hội viên Hội nghệ sĩ sân khấu Thủ đô
 
       NHỮNG TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN
 
A-  Thơ và bình luận văn học:
 
*   Có một khoảng trời                  1990
*   Người đàn bà trắng                  1994
*   Rung động trái tim                   2009
*   Hồ Xuân Hương tái lai            2012
*  Phê bình & tiểu luận thi ca       2013
*  Phạm Ngọc Thái chân dung nhà thơ lớn thời đại     2014
*  Thơ tình viết cho sinh viên      2015
*  Phạm Ngọc Thái cánh đại bàng của thi ca đương đại VN   Xuân 2019
*  Tuyển Thơ Chọn Lọc - Phạm Ngọc Thái                             Đông 2019
*  Cha khóc con                            2020
 
 
 
 
       KỊCH BẢN SÂN KHẤU ĐÃ SÁNG TÁC:
        
*   Bản án dưới mồ                                    -  Kịch dài
*   Người nhạc trưởng và dàn hợp xướng     -  Kịch dài
*   Mối tình hoa hồng bạch                         -  Kịch ngắn
*   Chuyện ở quán gốc đa                          -  Kich ngắn
*   Cánh cửa quốc tế                                 -  Kich ngắn
 
 
        TIỂU THUYẾT:
 
*  “Cuộc chiến – Hà Nội 12 ngày đêm”    -  Nxb Hồng Đức 2019
*   “Chiến tranh và tình yêu”     ( hai tập )    Nxb Hồng Đức 2020                
 
      Viết nhiều bài phê bình, lý luận thi ca, chân dung văn học… đăng trên các báo và những trang mạng Việt.
 
                                       NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC
Địa chỉ: 65.Tràng Thi - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
                               Email:  nhaxuatbanhongduc@yahoo.com
Điện thoại : 024.39260024   Fax :024.39260031
 
 
Chịu trách nhiệm xuất bản
Giám đốc
BÙI VIỆT BẮC
Chịu trách nhiệm nội dung
Tổng biên tập
LÝ BÁ TOÀN
Biên tập
NGUYỄN KHẮC OÁNH
                                                               Bìa
                                                      HS:   Mạnh Quân
                                                      Trình bày: Phương Anh
                                                      Sửa bản in:  Viết An
 
                                        ……………………………………….
             Liên kết xuất bản: Công ty TNHH Trung tâm sách
                và Thiết bị thư viện Số 83 Lý Nam Đế -  Hà Nội
 
 
------------------------------------------------------------------------------
    In 1.000 cuốn, khổ 13 x 19 cm,  Tại Công ty Cổ phần Văn hóa Hà Nội
 Địa chỉ: 240 Minh Khai, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
          Giấy xác nhận đăng ký xuất bản Số: 442-2020 / CXBIPH/38-08/HĐ
Số quyết định xuất bản 720/QĐ – Nxb.HĐ, ngày 29-04-2020
           In xong và nộp lưu chiểu quý II năm 2020  
 
                   Mã    ISBN: 978-604-9916-69-4
 
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 25.10.2020 17:12:24 bởi Nhân văn >
nhanvan

Thay đổi trang: < 12 | Trang 2 của 2 trang, bài viết từ 31 đến 53 trên tổng số 53 bài trong đề mục