Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái

Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 38 bài trong đề mục
Tác giả Bài
Nhân văn

  • Số bài : 802
  • Điểm thưởng : 0
  • Từ: 08.12.2007
  • Trạng thái: offline
Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 18.10.2021 07:58:21 (permalink)
 
 
     Thu đưa bát đũa của mình cho cô bạn đi bên cạnh cầm hộ, vuốt lại mấy sợi tóc xõa trước trán rồi đi về phía anh. Cô còn nghe thấy tiếng người bạn gái hỏi phía sau lưng: "Cái anh chàng sắp đi bộ đội mà cậu kể đấy, hả Thu?". Thu quay lại nhìn bạn, gật đầu.
     Nhìn hai người đang im lặng tiến lại phía nhau, Hoa đã hiểu tất cả: "Thế mà anh chàng dám bảo với mình, là cô em gái họ xa" - Trông kìa, họ có cần biết đến ai nữa đâu? Mà còn thấy gì nữa cơ chứ! Bây giờ thì anh chỉ nhìn thấy chị, chị chỉ nhìn thấy anh thôi.
     Tiếng bà cụ giục Hoa dọn cơm ăn, cô quay vào nhà.
     Khi đến gần, Thu cất tiếng hỏi trước:
-  Anh Hoàng chờ em đã lâu chưa?
-  Cũng được một lúc rồi, Thu ạ!
-  Về qua phòng em để anh biết, rồi chúng mình ra suối ngồi chơi.
     Hoàng gật đầu, theo Thu đi vào khu lán của nữ sinh. Anh chào hỏi, chuyện trò với các bạn gái cùng lán với Thu một lát... rồi rủ nhau ra suối. Trước mắt họ hiện lên một chiếc cầu treo nhỏ, Thu bảo:
-  Bây giờ em sang cầu trước! Thi xem ai sẽ đi cầu giỏi hơn? 
-  Thi thì thi, nhưng đừng bắt anh lội xuống suối vớt lên đấy!
-  Khỏi lo.
     Thu kéo dài giọng: "Em chỉ sợ anh qua cầu không quen, lại ngã?".
     Cầu là thân cây gỗ tròn nhỏ, bắc ngang qua suối. Vòng thân cây chỉ rộng bằng miệng cái rá vẫn dùng vo gạo. Hoàng đưa tay định đỡ Thu lên cầu, nhưng cô hất tay anh ra. Thu nắm lấy sợi dây treo làm chỗ vịn bước lên cầu, cô nói:
-  Cầu nhỏ, chỉ đi một người thôi. Em phải sang tới bên kia, anh mới được bước lên cầu đấy!
     Buông hai tay như người biểu diễn xiếc trên dây thép, hai chân Thu đưa thoăn thoắt trên thân cây gỗ nhỏ. Cứ thế, Thu đánh đà đi trên chiếc cầu độc mộc một cách khá thuần thục. Sang tới bên kia suối, Thu cười khanh khách:
-  Nào, bây giờ thì đến lượt anh!
     Hai tay Hoàng níu chặt lấy sợi dây treo, dò dẫm đi từng bước một trên cây gỗ. Lúc anh chành sang bên trái, lúc lại nghiêng sang phải. Ngoắt một cái... Thu chỉ kịp kêu "ối"! Hoàng đã trượt chân ngồi tệt lên cầu. May mà không ngã. Thu níu vào dây treo, tiến ra giữa suối đỡ Hoàng cùng sang.
-  Thu đi cầu tài quá!
     Hoàng khen. Thu cười nói:
-  Em sắp trở thành người dân tộc rồi đấy! Hôm mới lên đây, cứ mỗi lần qua suối, em lại phải vòng lên tít trên kia, chỗ nước cạn... xắn quần bước sang, thế mà vẫn bị ướt. Dần dần, tập đi ít hôm nó quen.
 


     Họ rủ nhau đến ngồi trên một phiến đá rộng. Nước suối chảy qua các kẽ đá dưới chân họ, kêu lóc róc. Mấy con chim vẫn còn tận dụng ánh sáng đã nhạt của một buổi chiều, rỡn nhau trên những cành cây. Một con ta tả màu xanh biếc lao như cắm xuống mặt nước, lấy chiếc mỏ nhọn hoắt cắp lên một chú cá con.
     Thu khỏa hai chân xuống khe nước, nhặt những hòn sỏi nhỏ ở lòng suối, ném ra chỗ có dòng nước lớn. Hoàng mở túi xách lấy ra chiếc máy ảnh, nói với bạn gái:
-  Anh chụp cho em vài kiểu nhé!
-  Nhưng em không thích đăng báo đâu.
     Thu bảo vậy.
-  Thì anh có nói đăng ảnh của em lên báo đâu? để kỷ niệm thôi! Anh sẽ mang những bức ảnh này của em ra đi.
     Cô nhìn anh tình tứ, xoay người làm dáng để cho anh chụp. Chụp ảnh xong, cô lại ngồi lặng yên… tiếp tục ném những hòn sỏi xuống nước.
-  Giờ phút này em chẳng biết nói gì nữa. Thế là anh sắp đi rồi!
-  Anh chỉ ở đây với Thu được một ngày, rồi phải về để chuẩn bị lên đường.
     Hoàng đặt chiếc máy ảnh xuống mặt phiến đá, kéo Thu lại gần rồi giang tay ôm người yêu vào lòng. Anh nói giọng xúc động:
-  Anh yêu em! Những ngày em lên đây, cứ tối tối anh lại lang thang trên phố, tìm đến ngôi nhà em ở. Anh đứng dưới đường, nhìn lên cửa sổ chỗ phòng em. Anh biết, kề bên cửa sổ là chiếc giường cá nhân em vẫn nằm. Đọc thư em, anh nuốt từng chữ mà em đã viết.
     Thu nằm yên trong lòng Hoàng, để đón nhận những nụ hôn nồng nàn của anh trút lên môi, lên mắt và cả tấm thân của người con gái. Họ biết đây sẽ là những giờ phút ly biệt, chẳng rõ bao giờ mới có thể còn gặp lại nhau? Khi đã yên tĩnh, mắt Thu ngước nhìn lên cả khoảng trời xanh mênh mông. Một lần, một lần nữa… cô muốn nhìn thật sâu vào đôi mắt anh, để giữ mãi hình ảnh người bạn trai trong trái tim mình.
     Hoàng cũng lặng đi. Trên thế gian này, biết bao nhiêu bài ca trữ tình làm say đắm lòng người? Cuộc sống thật sâu sắc và nhiều ý nghĩa kia: với anh, đó chính là Thu! Bàn tay anh xoa lên khắp người con gái. Một sự ham muốn rạo rực dâng lên trong anh. Cô không chống cự. Tâm hồn dường như đang bay tới một chân trời mênh mông, xa xăm. Đã xế chiều mà Thu cảm giác có cả một bầu trời hồng đang che rợp khu rừng, tỏa lên như một ngọn núi lửa khổng lồ, hừng hực cháy trong cô.
     Ôi! Có khi một sự khuất phục trái tim, sẽ đem đến cho ta cả một thiên đường tràn ngập ánh sáng. Thu mặc cho bàn tay man dại của anh xoa lên khắp thân thể cô. Hoàng đặt Thu nằm trên mặt hòn đá lớn. Tiếng nước suối vẫn róc rách chảy xung quanh, cùng hòa tấu trong bản tình tuyệt vời của thiên nhiên và con người.
-  Anh muốn... anh muốn... em thân yêu!
     Tiếng Hoàng bổi hổi đan trong những phút giây điên dại. Đôi bàn tay anh đã cởi bỏ quần áo Thu, ném sang bên cạnh. Cả tầm thân của người con trai choàng lên người con gái mềm mại, mịn màng như tơ lụa.
     Mới đầu Hoàng còn có cảm giác dụt dè, nhưng rồi sự cuốn hút làm cho anh trở nên mạnh bạo. Anh với tay xuống, cầm lấy chân cô kéo lên... Như một con mang hiền lành, Thu mặc cho Hoàng muốn làm gì thì làm. Đây, tấm thân tuyệt vời của người trinh nữ đang chiều anh tất cả! Anh cúi xuống dán những chiếc hôn nóng bỏng lên ngực, lên bụng nàng. Đôi bàn tay xoa lên cả "tòa thiên thai" lộng lẫy và linh thiêng nhất thế gian. Nàng ôm ghì lấy anh. Hơi thở nàng gấp gáp trong cơn mê đắm đến cuồng nhiệt, của cuộc giao hoan trai gái này.
     Nàng đã tiễn anh lên đường bằng kỉ vật thiêng liêng nhất của người thiếu nữ. "Sẽ không có kỉ vật nào quí giá hơn mà em đã hiến dâng... phải không anh ?" – Tấm thân của Thu vẫn ghì xiết lấy Hoàng, cô thì thào nói với anh như vậy.   
-  Sẽ không có gì quí giá hơn tấm chân dung thiên thần của em đâu, Thu ạ!
     Anh vẫn nằm trên thân thể của người yêu, hơi thở còn dồn dập. Tưởng rằng anh có thể cứ nằm như thế mãi để ngủ suốt đêm. Dưới chân họ, tiếng con suối vẫn róc rách chảy. Chỉ có rừng núi là biết được bí mật ấy của họ hôm nay.
     Thu đăm đắm nhìn lên anh, mỉm cười:
-  Thôi, ta dậy đi anh!
-  Anh cứ muốn nằm với em như thế này mãi.
     Hoàng bảo vậy. Cô đưa tay thoa lên mặt anh, đầy cảm mến. Anh lại cúi xuống hôn da diết lên môi, lên mắt và khắp người cô.
-  Anh đã được biết tất cả của em rồi đấy!
     Thu nói: "Anh thân yêu, giây phút này sẽ không bao giờ em quên!".
-  Anh sẽ mang kỉ niệm của chúng mình ra đi, và giữ mãi mãi trong cuộc đời.
     Hoàng lấy hai tay bế xốc người yêu lên, định làm lần nữa. Thu khẽ ngăn anh lại.
-  Thôi anh, để lần sau.
-  Anh chỉ ở với em được một ngày, biết khi nào chúng mình mới lại có lần sau?
       Thu khẽ ngăn anh lại rồi dịu dàng đưa tay vuốt lại những sợi tóc xòa trên trán anh:
-  Anh làm dữ dội như một con gấu thế, mà chưa thấy thỏa thích à? Anh không thấy chán à?
 -  Với Thu, chẳng bao giờ anh chán cả.
-  Ghét anh.
     Cô mắng yêu: "Muốn nữa thì anh làm. Chỉ sợ rồi anh lại nằm thỉu trên bụng em, không dậy được.".
-  Không đâu, em thân yêu!
      Cô mắng yêu. Hoàng ngắm nhìn người yêu. Tấm thân trắng của nàng lồng lộng phơi dưới những ánh sáng nhạt của những đốm sao mới lên.
     Hoàng xoay người yêu ngược lại, nằm phủ kín lên cả khuôn mặt cô. Thu chiều anh. Đôi bàn tay nhỏ nhắn như búp măng người con gái nắm lấy cái của anh. . Nó nần nẫn trong tay. Nàng hôn và vuốt ve.  
-  Của em đấy!
    Anh nói. Thu chỉ mỉm cười. Cô bảo:
-  Anh nhớ là không được cho người con gái khác đấy!
-  Anh nhớ!
-  Biết đâu đấy? Các anh bộ đội bây giờ, hành quân qua làng, qua bản, được các cô gái săn đón nhiều lắm! Rồi lại con rơi, con vãi dọc đường.
     Nói rồi, cô kéo anh nằm xuống. Toàn thân anh xúc cảm, rung lên vì sự nghịch ngợm của người yêu. Anh kéo chân cô giang rộng thêm ra, nhìn sâu vào đó… Dưới ánh sáng cuối của một ngày, anh thấy cả một thế giới đo đỏ ẩn sâu trong âm vật của nàng. Cái thế giới mà bao triết lý loài người vẫn không tả hết.
     Trong cơn hưng phấn tột cùng, Hoàng ghì người yêu xuống, với sức trai tráng của chàng thanh niên tuổi đôi mươi. Thu lại thấy mình tê dại đi, cảm nhận đã vào tận sâu bên trong. Cô rên khe khẽ:
-  Anh làm em đau quá!
     Nhưng rồi cô vẫn nằm yên, đôi mắt nhắm nghiền để mặc anh. Một lát, Thu thì thào nói nhỏ:
-  Giờ về dược chưa anh?
- Ừ, ta về.
     Thu nũng nịu:
-  Mặc quần áo vào đền cho em đi!
     Hoàng đỡ Thu dậy, mặc lại quần áo cho cô. Thu quàng tay ôm lấy Hoàng, cả hai bước trở về khu lán của sinh viên. Cô vẫn còn nhìn thấy con chim ta tả màu xanh biếc, tận dụng cái ánh sáng của màn sao… lại lao xuống mặt nước, lấy chiếc mỏ nhọn hoắt cắp lên một chú cá con. Kiếm ăn cả chiều mà có lẽ con chim vẫn chưa thấy đã cơn đói?
     Tối đó, Thu dẫn Hoàng sang khu lán các sinh viên nam để nghỉ đêm. Thu mang tất cả chăn, màn của cô cho anh. Thu sợ anh dùng đồ của người khác, lạ… khó ngủ. “Đắp chiếc chăn có hơi ấm của cô, Hoàng sẽ dễ ngủ hơn!” – Thu nghĩ vậy.
     Mấy bạn sinh viên nam buông lời trêu trọc, Thu chỉ tủm tỉm cười. Trở về khu lán nữ sinh, Thu vẫn chưa hết bàng hoàng. Nghĩ lại những gì đã diễn ra giữa anh và cô hồi chiều tối, lòng cô lại lâng lâng…
     Ôi, cuộc đời mới quí giá biết bao! Cô cảm thấy thỏa mãn với tất cả những gì đã làm cho anh. Anh chỉ có thể ở với cô ngày mai nữa thôi, rồi anh phải trở lại Hà Nội để lên đường.
     Về tới lán của mình, Thu chui vào trong chiếc màn mà người bạn gái đã buông sẵn, ngủ lúc nào không hay biết.
 
 
<bài viết được chỉnh sửa lúc 18.10.2021 08:04:58 bởi Nhân văn >
nhanvan
 
#16
    Nhân văn

    • Số bài : 802
    • Điểm thưởng : 0
    • Từ: 08.12.2007
    • Trạng thái: offline
    Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 18.10.2021 08:09:12 (permalink)
     
     
     
     
                                                                        Chương III.   
     
                                              CHUẨN BỊ RA TIỀN TUYẾN
     
     
     
                                                                                 12-
     
         Đài phương Tây đưa tin: “Con hổ xám đã mất hút trong khu rừng rậm Hòa Bình”.
         “con hổ xám” là biệt danh mà họ gọi Sư đoàn 312 của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lúc này, sư đoàn đã nhận được lệnh trực tiếp của Bộ quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chuẩn bị sẵn sàng ra chiến trường.
         Vào một đêm mùa đông năm 1967, diễn ra cuộc Tổng diễn tập cuối cùng trên qui mô lớn cả sư đoàn, với phương thức tác chiến hiện đại mà khi ấy có được.  Trên một bình diện rộng, tương đối bằng phẳng chừng vài chục ki lô mét vuông. Nổi lên khoảng năm, sáu quả đồi nhỏ. Chính giữa là một cao điểm lớn, đỉnh nhọn hoắt. Các đống lửa đã được đốt lên trên mỗi quả đồi, vây quanh là những hàng rào dây thép gai, nhiều lớp. Đó chính là cứ điểm địch – Đúng hơn, đó là hệ thống trận địa “quân xanh” phục vụ cho cuộc tổng diễn tập.
         Đứng trên một độ cao, người quan sát sẽ thấy: Năm quả đồi hình thành một thế phòng ngự kiên cố. Những trận địa pháo, những ổ xe tăng, chi chit lô cốt địch… nổi lên như những chiếc nấm lớn. Trực thăng bay vè vè suốt đêm, thả những chùm pháo sáng chói mắt, soi mói từng bụi cây nhỏ. Thủng thẳng tiếng súng cầm canh, rồi im bặt. Đôi lúc rộ lên tiếng súng máy trên các cứ điểm, chúng thi nhau bắn. Xe tăng đồng loạt nổ động cơ… 
         "con hổ xám" mà kẻ địch luôn dò xét từng bước chân ấy, đang tập dượt những nước bước cuối cùng để vọt lên vồ mồi.
     
      


      Phạm Ngọc Thái thời chiến tranh
     
       Về phía "quân đỏ" – 1 giờ sáng, lệnh khai trận được ban ra toàn sư đoàn. Ba phát pháo hiệu đuổi nhau bay lên bầu trời. Trên con đường Quốc lộ 12c, xe tăng bất ngờ xuất hiện. Nó gầm lên, mở hết tốc lực lao thẳng đến phòng tuyến "quân xanh". Pháo mặt đất từ các phía dồn dập bắn vào cứ điểm địch. Các trận địa cao xạ 37ly bật tung những lớp ngụy trang, khạc từng chùm đạn lửa lên trời, đuổi tốp máy bay trực thăng của quân xanh ra ngoài. Kèn tiến quân tò te, tí te vang lên!
         Một khu rừng thứ hai, từ trong mé rừng thiên nhiên rùng rùng chuyển động... rồi đứng bật dậy, di chuyển về phía trước - Đó là những tiểu đoàn bộ binh, trên lưng mỗi chiến sĩ đeo một vòng ngụy trang. Nếu khi cả đội hình nằm xuống, tưởng như đấy là một rừng cây lúp xúp.
         Ở Đại đội 5, đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 209 thuộc Sư 312 – Hạ sĩ Hoàng, một chiến sĩ súng máy đại liên cũng có mặt trong trận đánh diễn tập này.
         Đây là những trang nhật kí của anh, ghi lại một chặng đường hành quân mới nhất.
     
                                                           *
         Mồng 5 tháng 11 năm 1967,
         Đêm trăng. Trời trở gió lạnh mà mồ hôi vẫn vã ra như tắm. Quần áo ướt sũng. Chúng tôi hành quân qua vùng đồi miền trung du. Một đồi sả ngút ngàn của nông trường nào đó.
         Vào quãng nửa đêm, cả đại đội đi theo một lối mòn nhỏ giữa đồi. Trên bầu trời, mây lởn vởn bay. Khi đám mây này vừa bay qua để lộ ra ánh trăng tỏa sáng, đám mây khác liền kéo tiếp đến che lấp bóng trăng đi, làm cho cảnh đồi đã trống trải lại mang màu hư ảo. Sương muối rơi nhiều. Mồ hôi vẫn cứ chảy thành dòng nhòe lên cả mắt, thấm xuống môi mằn mặn. Mấy đầu ngón chân tuy đã được bọc trong đôi giầy vải, vẫn bị tê cóng.
         Tiếng hát theo nhịp hành quân của các chiến sĩ đã yếu dần đi, anh nào cũng mệt rã. Quai ba lô xiết vào vai tê dại. Lưng muốn sụn xuống, phải mắm môi lại mà bước. Cả đoàn quân mờ mờ tiến trong đêm, lưng còng còng cõng những chiếc ba lô con cóc. Anh thì vác chiếc càng hay thân súng máy đại liên, người thì è vai mang khẩu hỏa tiễn DKB hoặc súng cối nặng trĩu. Đại đội 5 chúng tôi vẫn đi bám sát nhau, vượt sang đồi bên kia.
         Đồng chí chính trị viên đại đội và anh thượng sĩ - Quản lý hậu cần, đi cuối cùng đội hình làm nhiệm vụ thu dung. Cũng có vài ba chiến sĩ đã bắt đầu bị tụt lại sau hàng quân.
         Gần tới đỉnh đồi, bất giác tôi nhìn thấy cách con đường mòn khoảng vài ba chục mét, có một cô gái đang tựa người vào chiếc cổng tre đơn sơ. Tóc cô dài chấm ngang lưng. Bên trong cổng là một chiếc lán nhỏ, có hàng rào cũng đan bằng tre vây quanh. Cô gái đứng im lặng nhìn đoàn quân đi qua.
         Cả cô gái và chiếc lán hiện lên như hai cái bóng mờ đơn độc, hiu hắt trong màn sương giá lạnh. Tôi có cảm nhận lòng thiếu nữ đang se lại, vì nhớ tới một người thương nào đó? Có thể là hình ảnh người yêu của cô, một chiến sĩ mà chúng tôi chưa biết mặt. Ở một nơi nào đấy, anh cũng đang hành quân như chúng tôi đêm nay? Nhưng cũng có thể, anh đã ra chiến trường...
         Vẫn là hành quân trên mảnh đất quê hương, mà chúng tôi lại nhớ về quê hương và những người thân! Lòng tôi cồn cào nghĩ về em...
         “Thu thân yêu! Không biết giờ này em có thao thức để nhớ về anh, như người con gái kia không?”.
         Một cái gì thầm kín nhen lên, trong sự cảm đồng giữa cô và những người chiến sĩ. Cô cũng đang đi cùng chúng tôi trên một con đường, hướng về một hướng: khao khát, chờ đợi và hy vọng!
         Tôi nghĩ: Không phải chỉ có tiếng bom, pháo gầm nổ? Không phải chỉ có những lá cờ bay phần phật trên nóc cao điểm? Không phải chỉ có các làng mạc bị bom đạn tàn phá, những người đã ngã xuống và cả đoàn quân vẫn xông lên? – Bức họa về chiến tranh, không thể thiếu bức tranh này!
         Sang ngày mồng 6,
         Khoảng 3 giờ sáng, lệnh từ trên đầu hàng quân truyền xuống: "Đã đến chỗ trú quân"! Không có gì vui bằng tin này. 
         Xương cốt hình như muốn vỡ ra. Những xúc thịt trong cơ thể đang tan rã. Mí mắt kéo sụp xuống, nặng chịch, không thể nào còn mở ra được nữa. Chân muốn khụy. Vừa đi vừa ngủ đã thành thói quen của lính. Chân cứ đi, mắt cứ nhắm nghiền, thỉnh thoảng choàng dậy đã thấy cách xa người đi trước gần chục bước. Vội chạy lạch bạch để bám sát đội hình. Thế lầ cả đoàn quân sau đó phải chạy theo.
         Nhìn ra xa, cách đường quốc lộ hơn trăm mét là một xóm nhỏ. Những chòm tre quây kín xóm như một hòn đảo xanh giữa cánh đồng. Gần chục dân quân, nam nữ thanh niên ra đón chúng tôi. Tiếng líu ríu của các cô nữ dân quân làm cho những tay chiến sĩ tỉnh ngủ. Chẳng liều thuốc nào bằng liều thuốc ấy? Dễ thường nó còn mạnh gấp mấy lần, so với những  liều thuốc tư tưởng của các nhà chính trị. Đã thấy mấy cậu đi đầu đang ba hoa, tán tỉnh các em. Những tay chiến sĩ đi cuối hàng thì lại làu bàu, mắng mỏ... Chắc các anh chàng bực bội vì ở xa mấy em quá, không được xơ múi gì?
         Vào đến xóm. Mỗi "tổ ba ba" được dẫn vào một gia đình để trú quân. Chỉ kịp ra ao khỏa vội cái chân, trèo lên chiếc giường tre của gia đình nhường cho, lăn ra ngủ. Tỉnh dậy đã 11 giờ trưa. Nếu không có cậu trực ban đến thúc giục đi ăn cơm, có lẽ chúng tôi phải ngủ một mạch đến chiều.
         Ăn cơm về. Lúc này, chúng tôi mới để ý quan sát gia đình. Nhà chỉ có hai người, một bà già và cô con gái. Sau được biết, cô gái lại là con dâu của bà. Con trai bà cưới vợ được mươi ngày thì nhập ngũ, để lại người vợ hiền và ngoan ở nhà. Cô chủ thật niềm nở, dễ thương, ra hè ngồi đan nón nói chuyện với chúng tôi.
         Có "hơi nóng" của phụ nữ, nghe chừng cuộc sống thêm vẻ mặn mà. Cảm giác như mỗi tế bào trong thân thể chúng tôi đang teo thắt lại, nay có dịp nở bung ra. Câu chuyện đang sa đà, có phần hơi nhả nhớt… mà cô chủ cũng thấy thích thú. Phụ nữ ai chả thế? Thiếu “trống” thì dẫu đẹp mấy cũng xác xơ. Gặp các anh chiến sĩ mau mồm, mau miệng… lại có duyên tán tỉnh, em nào chẳng sướng. Khác nào đất hạn gặp mưa rào. Nụ hoa đang thì… lại gặp mấy con ong dại, mang đầy bầu phấn.
         Tiểu đội trưởng Tân từ nhà bên sang, bắt bọn tôi đi ngủ. Tuy còn tiếc rẻ cuộc nói chuyện với cô chủ, nhưng chúng tôi vẫn phải chấp hành mệnh lệnh,   về giường nằm. Giấc ngủ rồi cũng nhanh chóng kéo những anh lính vào cõi mộng mơ. Không biết khi đó ông tiểu đội trưởng Tân, người thế chỗ chúng tôi… còn ngồi nói chuyện với cô chủ đến lúc nào?
         Xế chiều. Cô con dâu bà chủ nhà cùng rất nhiều anh chị em thanh niên và bà con thôn xóm, đưa chân chúng tôi ra tận sân hợp tác – Nơi toàn đại đội tập trung để chuẩn bị hành quân tiếp.
         Ngày mồng 10,
         Không biết con đèo chúng tôi hành quân qua hồi đêm, có giống Đèo Khế mà ông Tố Hữu đã viết trong thơ không nhỉ? Tôi nhớ mấy câu:
                    Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế
                    Gió qua rừng Đèo Khế gió sang
         Đi qua đèo như đi trong một cái thung lũng, hai bên có hai vỉa núi kẹp lại. Gió theo lũng thổi về quần quật, sương xuống lạnh cóng. Tôi lại nhớ tới hình ảnh người phụ nữ trong thơ ông:
                    Nhà em con bế con bồng
                    Em cũng theo chồng đi phá đường quan
         Đã bao đời nay, người phụ nữ thủy chung với chồng lại đảm việc nước non.
             Ngày 12,
         Hành quân qua một miền cỏ rộng, bằng phẳng như thảo nguyên. Trên vòm trời xanh, hàng ngàn những vì sao li ti mọc. Nhìn xa trong lưng chừng một dãy núi cao, có những ánh đèn lấp lóe hắt ra. Cách chúng tôi khoảng vài cây số. Nghe nói, đấy là những ngọn đèn của một xí nghiệp, hay công binh xưởng... di tản vào trong núi đá.
         Ồ, đất nước ngẫm bao nhiêu chuyện lạ! Ngay giữa lòng đất, ẩn mình trong trái núi... là những cỗ máy đồ sộ đang ầm ầm chuyển động. Bên trên rừng vẫn tỏ ra êm ái như giấc ngủ say của nàng thiếu nữ. Tôi nhớ tới bài thơ "lửa đèn" của nhà thơ Phạm Tiến Duật:
                     ... Đêm tắt lửa trên đường
                     Nghe gần xa tiếng bước chân rậm rịch
                     Là tiếng những đoàn quân xung kích
                     Đi qua
                     Từ trong hốc mắt quầng đen bóng tối tràn ra
                     Từ dưới đáy hố bom sâu hun hút
                     Bóng tối dâng đầy tỏa ngợp bao la
                     Thành những màn đen che những bào thai
                                                                        chiến dịch
                     Bóng đêm ở Việt Nam
                     Là khoảng tối giữa hai màn kịch
                     Chứa bao điều thay đổi lớn lao
                     Bóng đêm che rồi không thấy gì đâu
                     Cứ đi, cứ đi nghe lắm âm thanh mới lạ.
         Đất nước tôi đã đánh Mỹ như thế!
         Đoàn quân tiến sâu mãi vào trong đồng cỏ vắng. Đến một vùng đất bị cầy lên, cỏ bị xới tung, ngang dọc chi chít hằn những vết bánh xe xích. Trông cảnh tượng, người ta có cảm tưởng như ở đây vừa diễn ra một trận hồng thủy thời trung cổ? Hoặc có bầy mãnh thú náo đó đến đây quần lộn, đã đi xa, để lại những dấu vết quằn quại của những con thú bị thương... xé nát cả mảnh đất.
         Sau được biết, đó là dấu tích của một đoàn xe tăng, đã đến đây tập kết từ vài hôm trước. Chúng tôi hiểu rằng trong cuộc hành quân này, chúng tôi không đơn độc.
         Vẫn đi tiếp trong đêm. Phía xa, lại trông thấy một dãy đèn sáng. Chắc đấy là ánh đèn của một thị xã nào đó? Lòng tôi bồn chồn nhớ tới phố phường, nhớ những người thân.
         Nhìn cảnh hoang vắng tựa một vùng thảo nguyên: Tôi bỗng liên tưởng tới hình ảnh nàng Radđa kiêu kỳ và chàng Lôi-kô Rô-ba kiêu hãnh, trong câu chuyện của nhà văn Gorky: Khi nàng Radđa xinh đẹp nằm xuống thảo nguyên hoang dại, để nhận lấy lưỡi dao găm của chàng Lôi-kô Rô-ba đã cắm ngập trái tim mình – Nàng nói: "Em biết anh sẽ làm như thế!".
         Thảo nguyên mênh mông, mối tình cao thượng! Cái mơ và cái thực, hòa trộn trong tôi một cảm giác mạnh mẽ.
         Thu ơi!  Em có phải là nàng Radđa xinh đẹp đó không? Nhưng không phải là để đón nhận lưỡi dao tình yêu, mà để đón nhận những nụ hôn cháy bỏng của anh, từ vùng đất hoang vắng này... theo gió gửi về cho em.
         Ngày 15,
         Cả trung đội súng máy đại liên nằm nghỉ trên sàn một chiếc nhà rông giữa bản. Cạnh nhà, có dòng suối nước chảy rí rách.
         Trời sập tối. Ở góc nhà, mấy cậu đang nằm chéo khoeo cất cái giọng vịt bầu, khò khè như ông lão mắc bệnh hen phát ra từ trong cổ họng nghe ư... ử...
         Ngồi dựa vào cây cột gỗ phía trái nhà, binh nhất Văn rút chiếc kèn ác-mô-ni-ca trong túi quần ra thổi. Chiếc kèn được bọc cẩn thận bằng một cái khăn tay. Đông nhất là tốp chiến sĩ đang vây quanh cô gái Mường. Cô gái có nước da trắng nõn nà, khuôn mặt tròn xinh xắn. Cảm giác như trong con người cô toát lên sự tươi mát và khêu gợi. Họ ngồi bên cạnh cái bếp lửa nhà rông đang cháy, sưởi ấm cho cả gian nhà. Trên bếp lửa, nồi bánh làm bằng bột mì đang sôi. Tôi nằm cạnh Văn, lắng nghe câu chuyện của tốp chiến sĩ và cô gái Mường.
         Nồi bánh sôi sùng sục, nước trào ra cả bếp. Cậu Thuyết vội vàng cầm chiếc vung vứt ngửa lên mặt sàn, rồi vẩy vẩy bàn tay bị bỏng. Cô gái với lấy đôi đũa, lật úp những chiếc bánh trên cùng sấp lại cho chín đều.  
    -  Tay mấy anh chưa quen bằng tay em đâu!
         Cô gái nhìn Thuyết đang ôm bàn tay xuýt xoa vì nóng, cười nói vui vẻ.
    -  Anh ấy chỉ chưa quen cầm vung thôi, còn cầm cái khác thì...
         Một anh lính nói trêu cô gái. Một cậu khác mắng:
    -  Lại sắp tán nhảm.
    -  Ấy lầ mình muốn nói: Thuyết nó chưa quen cầm vung, nhưng bóp cò súng thì không chê vào đâu được.
         Cả bọn cười ồ.
    -  Lính xạ thủ loại ưu của bọn anh đấy!
    -  Em đùa tí thôi.
         Cô gái Mường lấy chiếc que sắt vẫn để cời than, khêu bếp lửa cho cháy to lên. Giọng của cô nhẹ nhàng rất dễ thương.
    -  Mấy anh đi xa như thế này, chắc là nhớ người yêu lắm?
    -  Bọn anh toàn lính "phòng không" cả.
         Họ tán.
    -  Các anh cũng muốn tìm người để thương, để nhớ! Không biết mấy em gái Mường có ưng không?
    -  Gái Mường xấu lắm, đần lắm, các anh chẳng ưng đâu? Mấy anh chỉ ưng gái Kinh thôi!
         Cô gái bản nghe chừng cũng thích những câu tán của lính.
    -  Riêng anh, anh vẫn thích gái Mường!
    -  Gái Mường xinh này! Trắng này! Gái Mường ngoan này! Ăn nói dễ thương này! Em giới thiệu cho mấy anh vài cô?
         Một anh khác nói chêm vào. Cô gái lắc đầu nguây nguẩy:
    -  Em chịu thôi. Các anh bộ đội đòi hỏi cao lắm!
    -  Cứ như em là được.
         Cô gái xấu hổ, má đỏ rựng. Tay vẫn cời than trong bếp, cô nói có vẻ hơi hờn dỗi:
    -  Mấy anh nói chơi chơi… chứ yêu gì gái Mường chúng em?
         Mình miên man nằm nghĩ về Thu. Tiếng con suối bên cạnh nhà rông vẫn rí rách chảy, lại nhớ lúc đã cùng em trên phiến đá của con suối ven rừng…
         Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy toàn bộ tấm thân em. Tấm thân người con gái, vẻ đẹp của nó không bút nào có thể tả hết được. Ôi! Cái tòa thành kì vĩ và bất tử, mà Đại thi hào Nguyễn Du đã mô tả:
                          Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên
         “Tòa thành” của em huyền diệu và lộng lẫy quá! Em có biết lúc đó, anh đã thấy hạnh phúc thế nào không? Đến bây giờ anh còn bàng hoàng, tưởng như mình vẫn đang ôm người yêu ngủ trong mơ…
              Ngày 17,
         Chúng tôi đi sâu vào rừng núi Hòa Bình. Một đêm mưa tầm tã, đơn vị hành quân qua bản khác. Các bà mế một tay cầm cành lá cọ, bản to như một chiếc ô che lên đầu, tay kia bưng những rổ bánh sắn và các dóng mía đã được tiện sẵn, phân phát cho từng chiến sĩ đi qua. Chúng tôi nhận bánh và mía, lặng lẽ cám ơn các mế rồi lại vội đi.
         Những cô gái Mường tuổi xuân mơn mởn, xinh tươi dứng chật bên đường đưa tiễn các anh lính trẻ. Qua miền đất lạ mà cảm thấy như mình đang đi giữa làng quê gần gúi, thân thương. Trong chiến tranh, đồng bào Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số đã xích lại gần nhau hơn.
         Đấy là quê hương tôi!
         Ngày 25,
         Theo Tết cổ truyền, chỉ còn hơn tháng nữa là bước sang năm mới. Chúng tôi nhận được lệnh tạm dừng cuộc hành quân dưới một chân núi đá. Anh em vào rừng lấy tre nứa, dựng lán trại…chuẩn bị đón cái tết đầu tiên của đời lính.
     
     
              
     
    <bài viết được chỉnh sửa lúc 18.10.2021 08:13:29 bởi Nhân văn >
    nhanvan
     
    #17
      Nhân văn

      • Số bài : 802
      • Điểm thưởng : 0
      • Từ: 08.12.2007
      • Trạng thái: offline
      Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 18.10.2021 08:17:24 (permalink)
       
       
       
                                                                                      13-
       
            Các đơn vị đều đã dựng lán trại xong. Vào một buổi sáng, các chiến sĩ lũ lượt rủ nhau tới bản xin cành đào về chơi tết. Mặt trời như hòn máu đỏ nhô lên cao, phủ một màu hồng loãng bay mơn trớn, là là từ mái nhà gianh này sang mái nhà gianh khác. Bản Mường nằm trên một thung lũng rộng, bằng phẳng. Những dẫy núi chạy quanh , thành đường viền như yên ngựa. Những vườn cây cọ, lá to vươn dài ra. Những vườn táo trái chín mọng nước, các cành sai quả vít cong xuống ngang mặt người. Những vườn hoa đào màu hồng, thơm ngát.
           Gió sớm thổi cuốn tung những cánh hoa mận trắng rắc lên các mái nhà, trông như những khuông vải hoa. Trong các vườn trái, đã thấy thấp thoáng bóng những chiến sĩ cùng nam nữ thanh niên trong bản. Một thiếu niên bản vận chiếc áo cánh nhuộm chàm, xoa tay lên nước thép của khẩu AK, nói với anh chiến sĩ đang khoác súng trên vai:
      -  Đồng chí bộ đội, dậy mình bắn súng đi! 
      -  Khi nào em lớn, vào bộ đội, người ta sẽ dậy em bắn súng.
           Anh chiến sĩ nói với cậu bé như vậy. Ở chỗ khác.
      -  Anh bộ đội! Em tặng hoa đồng chí, để đồng chí ăn tết cho ngon, đánh giặc cho giỏi.
           Đó là tiếng của cô gái bản trạc tuổi mười tám, đôi mươi, đang tỉa cành đào đưa cho các chiến sĩ.
      -  Có đi xa cũng đừng quên thôn bản chúng em đấy!
      -  Quên làm sao được mấy em! Mấy em cho tụi anh nhiều hoa, tụi anh nhớ càng nhiều.
      -  Bộ đội khôn lắm chớ? Hết đào bản em thôi!
      -  Giải phóng miền Nam rồi, bộ đội về miền xuôi sẽ mang nhiều đào lên cho các em.
      -  Thật nhiều chứ?
      -  Thật nhiều. 
      -  Khi nào miền Nam được giải phóng, chúng em sẽ về miền xuôi thăm bộ đội, bộ đội đón chúng em chớ?
      -  Có chớ!
           Mùi sắn lùi, mùi thịt nướng, mùi cơm lam... từ trong các bếp lửa nhà sàn, tỏa ra thơm phức.
           Hoàng cùng với Hùng và Dong đi ngang qua một vườn táo chín. Những trái táo nũng nịu trên cành, va cả vào đầu các anh.
      -  Chà, trông mới thật ngon!
           Dong xuýt xoa vẻ thèm khát. Anh chỉ những quả táo trên cành, nói với Hoàng:
      -  Ta nếm thử chứ?
         -  Đừng, của dân không xâm phạm.
           Hoàng nói. Hùng nháy mắt nhìn Dong, trêu:
      -  Có thèm cũng chỉ được hít, được nhìn thôi!
      -  Thèm đến rỏ nước miếng.
           Dong đến một cây táo, rung thật mạnh. Những cành táo xô vào nhau, chuyển động lan ra cả khu vườn. Những trái táo chín rơi xuống tứ phía. Hùng và Dong lao tới nhặt, phủi qua quả táo rồi cho lên miệng cắn ngon lành. Vừa ăn vừa xuýt xoa:
      -  Không ăn cũng hoài của.
           Hoàng cũng thèm lắm, nước bọt kêu ừng ực trong cổ nhưng vẫn làm ra vẻ… Dong nhặt một trái táo to, vo tròn trong bàn tay cho sạch phấn bám ở vỏ, đưa Hoàng:
      -  Ta nếm vài ba quả táo rụng thôi, chứ đâu có phải là lấy của dân. Ăn đi, không can gì.
           Hoàng cười, nói:
      -  Tí nữa vào nhà, dân bản trẩy cho ăn thoải mái. Trong vườn không có người, sợ mang tiếng. 
           Anh vẫn cầm trái táo Dong đưa, cắn ròn tan. Vị của trái táo hơi giôn giốt chua và ngọt, ăn vào tỉnh táo hẳn. Hùng thì nhấm từng tí như chuột chí. Dong lại nhai ngấu nghiến giống con cáo đói mồi, tấm tắc khen:
      -  Người sắp chết mà vớ được trái táo này để ăn, có khi sống lại. 
           Lúc này, họ mới nhìn ra cạnh vườn táo có một trái lều lợp gianh. Trong lều, dân bản đặt một chiếc cần cối giã gạo bằng nước. Dòng nước chảy theo đường máng dẫn từ trên núi cao về. Một cô gái Mường đứng bên cạnh chiếc cần giã gạo. Chắc cô đã trông thấy các anh từ lúc qua vườn?
           Cô gái Mường đang nhìn mấy anh chúm chím cười. Như bị mắc cỡ, cô cúi xuống chiếc cối vục một nắm gạo lên tay, thổi cho bay hết bụi cám. Họ ngẩn người đứng sững ngắm nhìn cô gái: Mái tóc đen mướt của cô búi gọn, trên bím cắm một bông hoa mận trắng, nhỏ xíu. Cô gái Mường mặc chiếc áo trắng ngắn, bằng loại vải mịn và mỏng, bó sát lấy thân hình thon thả. Gấu áo hơi thắt chẽn lại, tựa như liền với cạp của chiếc váy hoa may cầu kỳ.
           Họ tiến về phía người con gái bản. Hoàng lên tiếng trước:
      -  Chào em gái bản.
      -  Em chào các anh.
           Cô gái tươi cười để dộ hàm trắng đều, giọng vẫn đượm tuổi thơ. Dong nhìn cô gái ướm hỏi:
      -  Bọn anh qua đây vào thăm bản, nhân thể xin bà con mấy cành đào cắm tết?
      -  Các anh đóng quân ở lại đây có lâu không?
      -  Lính các anh ở ngày nào, biết ngày ấy thôi!
           Hoàng đăm đắm nhìn người con gái, làm cho cô hơi ngượng ngùng.
      -  Tết này mời mấy anh vào nhà em ăn tết? Các anh lên nhà em đi! Mấy anh đến chơi, chắc mế vui lắm.
           Họ theo cô gái đi qua một vườn đào, đến ngôi nhà sàn nhỏ, bước lên chiếc cầu thang gỗ bắc vào nhà. Một mế già đang ngồi bên cạnh bếp lửa, đặt giữa sàn. Tóc mế búi tó củ hành, đã bạc quá nửa. Bà mế cưới đón các anh, cái đuôi mắt của người già nheo lại.
      -  Vào đây mấy con!
           Mế chỉ tay lên sàn chỗ gần bếp lửa, bảo các anh ngồi xuống. Tay mế cầm ống điếu cầy to bằng cổ chân, vê một điếu thuốc cho vào lõ rồi lấy mẩu than hồng trong bếp châm để hút. Ở đây, dân bản không hút thuốc bằng lửa. Họ nói, hút bằng than đượm hơn.
           Cô gái lấy chiếc gùi mây đang làm dở, ra ngồi cạnh khung cửa sổ đan tiếp. Từ chỗ cô ngồi trông thẳng sang vườn đào, qua một cái sân. Hút xong điếu thuốc, bà mế quay lên hỏi:
      -  Mấy con quê ở đâu? 
      -  Chúng con ở Hà Nội.       
           Hoàng trả lời mế. Anh ngước nhìn đến bên cửa sổ, nơi người con gái Mường xinh đẹp đang ngồi đan gùi. Bà mế kể cho các anh nghe về đứa con đầu của bà: "Nó là anh trai của cái Mỵ!" - Mế bảo vậy. Đến bây giờ các anh mới biết tên cô.
      -  Thằng anh trai của nó cũng đi bộ đội như mấy con, tết này vừa tròn một năm. Nó cũng mới viết thư về báo tin cho mế và em gái biết, đơn vị nhận được lệnh lên đường khẩn cấp ra chiến trường.
           Tay vẫn cời bếp lửa cháy hồng lên, bà mế nghẹn ngào:
      -  Nhiều lúc nghĩ đến nó, mế thấy thương thương, nhưng lòng mế vui, mế thấy tự hào.               
           Đưa tay chỉ lên chiếc bàn thờ nhỏ, có một bát nhang đặt dưới bức chân dung một ông già đang ngậm tẩu, giọng mế rưng rưng:
      -  Cha chúng nó không còn để trông thấy các con khôn lớn. Nếu biết, hẳn ông ấy phải vui sướng lắm!            
           Theo như mế kể - Mỵ vừa mới học xong lớp y tá ngắn hạn ở trên tỉnh. Cô trở về làm việc tại nhà y tế địa phương, phục vụ bà con trong bản.Thỉnh thoảng cô lại tình cờ nhìn về phía Hoàng: cái anh chiến sĩ có mái tóc đen mềm, chải hơi thành sóng, trông dễ có cảm tình ấy! Sáng nay, như có dòng nước mát nào đó đã tưới vào tâm hồn trắng trong của người con gái bản. Bắt gặp Hoàng nhìn lại, Mỵ vội cúi xuống đan tiếp, má chín hồng như người vừa ra từ bếp lửa. Một cái gì rạo rực trong cô...
           Nghe lời mế, Mỵ dẫn các anh ra vườn, cắt cho mỗi anh một cành đào. Không hiểu sao, lần này cầm chiếc liềm để cắt cành, tay Mỵ cứ run run... Hoàng vội chạy đến giúp. Mỵ đưa liềm cho anh, miệng chỉ tủm tỉm cười.
           Khi tiễn chân các anh ra về, cô còn đứng nhìn theo mãi. Tới khi cái anh chiến sĩ trông đẹp trai mà cô vẫn chưa biết tên, quay đầu nhìn lại. Như người ăn vụng bị bắt quả tang, Mỵ e thẹn ù chạy lên nhà. Cô vẫn nhớ,  mấy anh đã hứa sẽ vào thăm bản luôn.

                  
      <bài viết được chỉnh sửa lúc 18.10.2021 08:22:39 bởi Nhân văn >
      nhanvan
       
      #18
        Nhân văn

        • Số bài : 802
        • Điểm thưởng : 0
        • Từ: 08.12.2007
        • Trạng thái: offline
        Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 18.10.2021 08:25:45 (permalink)
         
         
         
         
                                                                                      14-
         
             Hoàng đã nhận thấy tai hại về sự sa đà tình cảm của anh với cô gái Mường. Tâm hồn trong trắng, thơ ngây của người con gái dân tộc, thanh suốt như chiếc tách pha lê. Sau những lần anh lui tới thăm bản, những lời mời đón, ngọt ngào trai gái – Mỵ đã ái mộ anh! Một tình cảm âm thầm, trinh khiết và tha thiết.
             Phải nói rằng, tuy chưa phải là một lâu đài tráng lệ với những ô cửa tò vò cao chót vót, hay đỉnh tháp hùng vĩ... Nhưng chính sự tươi mát của tâm hồn và tình lưu luyến như hương hoa của em, đã kêu gọi trái tim những người con trai vươn tới. Đã làm cho lòng ta say.
             Ngày ngày cô mong được gặp anh. Thời gian này đơn vị được nghỉ ngơi đón tết, anh em chiến sĩ rỗi rãi, tự do hơn. Họ cũng thường tranh thủ lui tới bản chơi và thăm hỏi bà con.
             Sáng nay anh lại đến. Đang đứng ở cửa ngóng, trông thấy bóng anh từ xa... cô chạy ra đón. Đôi trai gái dắt nhau đi trong vườn đào chi chít hoa, hương đào bay quanh... cảm giác như đến ánh sáng cũng chứa đựng những hương say. Không biết đó chỉ là hương của hoa hay cả hương của người?  Mầu hồng của đào, mầu hồng của nắng... tắm lên làn da trắng mịn mà, trên khuôn mặt xinh xắn của cô gái Mường. Ánh mắt cô nhìn anh lung linh, tựa như đang có bản nhạc "tình yêu và cuộc sống" cất lên trong tâm hồn. 



                         Bản Mường rừng núi Hòa Bình - Nơi đơn vị Hoàng đóng quân
         
             Anh đứng ngây ra ngắm nhìn cái vẻ đẹp thơm dại như bông hoa rừng của cô gái bản. Cô nhìn anh hơi e thẹn, cúi xuống:
        -  Sao anh cứ nhìn em mãi thế?                         
        -  Đào đẹp quá em nhỉ!
             Hoàng nói và mỉm cười.
        -  Anh thích cành nào?
        -  Cành nào cũng đẹp.
             Họ đi qua những cành đào đung đưa như chào đón. Hoàng giơ tay ngắt một nhánh hoa nhỏ. Mái đầu của cô gái Mường khẽ chạm vào má anh. Anh thoảng nghe hơi thở của người con gái cũng thơm nhẹ như làn hương hoa. Hoàng đưa tay vuốt lại những sợi tóc tơ, cài nhánh hoa lên bím tóc. Mỵ lặng yên để cho anh cài hoa. Cô áp đầu vào ngực anh, nói nhỏ:
        -  Anh Hoàng, em rất mến anh!
             Bông hoa mùa xuân trinh bạch quá! Ở đây... chính giữa vườn đào này, người con gái Mường là quầng sáng thần diệu, đầy sức quyến rũ bủa vây. Khi vòng tay anh kéo cô sát vào người, Mỵ có cảm giác như toàn thân cô đang đổ sụp. Lúc này, người con gái bản sẵn sàng gieo vào lòng anh, nếu anh muốn...
             Ai có thể cắt nghĩa được đầy đủ về tình luyến ái? Ai có thể phân được giới hạn tình yêu và sự cuốn hút của người con gái? Bắt đầu chỉ là ý nghĩ về sự chiêm ngưỡng, nhưng rồi chính cái đẹp trinh trắng ấy đã hấp dẫn anh...
             Hoàng tự hỏi: "Tôi thích em, đấy ư!" – Một cái gì bỗng day dứt trong anh? Anh lưỡng lự và giây phút rụt rè, không dám để thả mình tiến xa hơn. Nhưng rồi cái tuổi thanh niên hay khao khát và ham muốn được khai phá...
             Chao ôi! Lỗi lầm sao cũng tươi mát như thân thể và tâm hồn em vậy? Đóa hoa thơm của người con gái đang choán trong anh.
        -  Mình có làm gì tồi tệ đâu?
             Anh tự biện bạch cho mình như vậy! Dẫu ta không thể dành cho em một tình yêu thực sự của hôn nhân, nhưng ta vẫn có những tình cảm rất đẹp đẽ với em cơ mà? Những tiếng nói vẳng lên trong anh... và ta lại thích có em? Lại muốn được hưởng những niềm say mê, khao khát của tuổi thanh xuân với em.
             Hoàng bàng hoàng. Anh ôm lấy người con gái, tưới những nụ hôn lên trán, lên môi, lên vòm ngực thơm như hương hoa núi rừng của người thiếu nữ mới lớn.
             Anh bế cô đặt xuống vườn đào.
             Cả anh và cô đều biết rằng: những giây phút ân ái, gần gũi như thế này, chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi. Rồi anh sẽ tiếp tục ra đi! Nhưng chính ý nghĩ đó... không phải để ngăn giữ, mà lại thôi thúc họ dành cho nhau nhiều hơn.
             Tiếng cô thầm thì: "Em đến với anh nhanh quá, phải không?". Khi đôi bàn tay của người chiến sĩ lần cởi tấm áo chẽn trắng, ra khỏi tấm thân trắng ngần và thơm mát. Cô khẽ giữ tay anh lại, nhưng rồi... lại để mặc anh. Khi anh cởi bỏ cả chiếc váy hoa ra khỏi cô – Trong cô chỉ nghe thấy tiếng nói thầm thì: Em yêu anh... chỉ vì em yêu anh... Dù một ngày nào đó em không còn được gặp anh nữa, thì giây phút này người con gái bản vẫn cho anh, giữ mãi mối tình đẹp đẽ với anh!
             Chiến tranh! Ngươi có ý nghĩa gì, khi đem so sánh với tâm hồn và thể xác trinh trắng của người con gái này? và chính đôi mắt của người con gái, đôi mắt như một bầu trời xanh, trong như dòng suối rừng... đang lên án ngươi!
             Ngươi muốn sự sống trên đời này phải vật vờ như bóng ma ư? Ngươi muốn hủy diệt cả tình yêu và cuộc sống, mà đấng thượng đế tối cao đã ban thưởng cho con người ư? Hãy nhìn đến người con gái xinh xắn, đáng yêu này – Ngươi sẽ thấy sự tồn tại của ngươi đáng nguyền rủa đến vạn lần?
             Anh ngắm nhìn ánh mắt ngây dại như giấc mơ xa của Mỵ. Hai tấm thân đã quyện vào nhau trong vườn đào. Cô run run và khẽ thốt lên: "Anh, em sợ!" – nhưng cả người cô vẫn uốn cong để ghì chặt lấy anh.
             Nhưng một tiếng nói nào đó từ trong trí não đã ngăn anh lại? - Không được! Anh không thể đi đến bước ấy. Bởi vì, anh yêu Thu! Nếu anh đi quá xa với người con gái bản này, anh sẽ có lỗi với Thu.
            Hoàng vội vàng đứng dậy, trước sự ngỡ ngàng của cô gái. Ánh mắt của cô như muốn nói với anh: Em cho anh mà, sao anh không chiếm đoạt em? Nhưng trong anh vẫn vang lên một tiếng nói kiên quyết: Không, anh không thể phản bội lại Thu!
             Hoàng bế Mỵ dậy... khẽ hôn lên tấm thân em lần nữa, rồi mặc áo và váy lại cho em. Mỵ vẫn ngạc nhiên không hiểu: Hay là, anh không thích cô? Người con gái bản lặng lẽ, những giọt nước mắt bỗng trào ra trong khóe mắt. Anh phân trần:
        -  Anh không thể, dù anh rất mến em – Mỵ ạ!
             Anh nói như thể xin lỗi vậy. Anh cũng đã phải dùng hết lý trí để cưỡng lại những ham muốn mạnh mẽ của bản thân, nhưng Mỵ vẫn nhìn anh như có chút hờn dỗi và trách móc:
        -  Anh không thích em ư?
             Hoàng âu yếm nói:
        -  Không phải vậy đâu, em ạ! Anh rất thích em. Anh rất muốn, nhưng...
             Không để cho anh nói hết câu, cô căn vặn:
        -  Vậy sao anh dừng lại...
             Anh không biết phải giải thích như thế nào? Anh không thể nói với cô rằng: Anh đã yêu một người con gái khác rồi, dù đó là sự thật. Hoàng đành chống chế:
        -  Bọn anh sắp phải đi! Anh không thể ở lại đây với em được.
        -  Thì em vẫn biết các anh phải đi...
             Giọng cô nghẹn ngào: "Nhưng em tình nguyện cho anh. Sao anh phải ngần ngại? Người con gái bản đã thuộc về anh rồi mà...". Cô bỗng ôm chầm lấy anh nức nở khóc:
        -  Em sẽ đợi anh về! Phải cách xa anh thế nào, em cũng đợi...
             Sự bộc lộ tình yêu, hẹn hò của cô gái dân tộc hiền lành... làm cho Hoàng hoảng hốt. Tiếng khóc của cô thổn thức, nước mắt trào ra đẫm cả ngực anh. Tưởng như cả vườn đào kia cũng phải rung cảm trước tiếng khóc ấy. Nó cất lên từ trong thiên thai, trinh khiết và thơm hương như cánh hoa rừng mùa xuân. Một làn gió đưa về làm cho những cánh hoa bay lả tả...
             Cái dây cót của chiếc đồng hồ thời gian cứ thản nhiên quay. Thoáng chốc trời đã gần đứng bóng, cũng sắp trưa. Mỵ chỉ muốn thời gian thật chậm, để anh ở lại thật lâu với cô.
             Khi Hoàng từ biệt Mỵ ra về, anh vẫn chưa thể nào giải thích được cho cô hiểu? Anh chỉ biết hứa, tết này nhất định sẽ vào bản để thăm mế và cô.
             Họ cùng nhau đi ra khỏi vườn đào. Trên vòm trời, vài đám mây mềm mại đang trôi...
         
         
         
         
        <bài viết được chỉnh sửa lúc 18.10.2021 08:34:44 bởi Nhân văn >
        nhanvan
         
        #19
          Nhân văn

          • Số bài : 802
          • Điểm thưởng : 0
          • Từ: 08.12.2007
          • Trạng thái: offline
          Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 18.10.2021 19:01:29 (permalink)
           
           


            Phạm Ngọc Thái thời chiến tranh
           
           
           
                                                                                       15-  
           
               Sáng nay được ngày nắng ấm, các chiến sĩ trong đơn vị Hoàng kéo nhau ra suối tắm. Từ trên núi cao đổ xuống một dòng thác lớn, như một con trăn khổng lồ trong cơn quẫy đạp, quăng cả tấm thân đồ sộ của nó xuống núi. Thác nước tràn ra một khu hồ, từ đó trào vào lòng con suối không lớn lắm, nên nước chảy rất xiết. Những chỗ suối nông, nhấp nhô những phiến đá bị nước bào nhẵn, nhớp nháp rêu. Chỗ suối rộng và sâu cũng phải ngập ngang ngực.
               Người ta kháo nhau: Ngày xưa hồ này còn có tên gọi “Hồ tiên nữ”. Họ truyền kể một câu chuyện thần thoại về hồ.
          … Cứ chiều chiều có bẩy con chim phượng bay đến hồ để tắm. Khi đó giữa hồ còn có một hòn đảo. Giữa đảo nổi lên một chòm núi nhỏ. Trong núi có một chiếc hang cũng không sâu lắm.
               Một chiều… bẩy con chim phượng hạ cánh đỗ xuống đảo, hiện thành bẩy nàng tiên xinh đẹp. Bẩy nàng tiên vào trong hang để trút bỏ xiêm y, rồi thứ tự từ cô chị cả đến cô em út – gọi là nàng bẩy, bước ra khỏi hang xuống suối tắm. Tắm xong họ lên phơi mình trên đảo. 
               Bẩy nàng tiên như bẩy tòa thiên nhiên, lồ lộ phơi mình trong sắc nắng hoàng hôn. Cái hoàn mỹ của mọi sự hoàn mỹ ngự trị trên da thịt các nàng. Hương thơm tỏa ra từ thân thể các nàng đã gọi những bầy chim khôn nhất, có tiếng hót hay nhất... bay đến đảo.
               Đẹp nhất là nàng Bẩy! Nàng nằm bên mé nước, tóc xõa xuống suối. Bầu ngực nàng hiện lên những nét trạm sinh động, tài hoa của tạo hóa. Nàng Bẩy lim dim mắt… nghĩ đến nơi trần thế? Giấc mơ của nàng mỏng manh như hơi thở. Niềm khao khát tình yêu ứa lên đôi môi nàng như nước mật ngọt của trái vả rừng.
               Nàng là tiên, nhưng vẫn là phụ nữ: Nàng không thần tượng sự trong trắng, tiết trinh - Nàng muốn hiến dâng! Nàng ao ước có một cuộc sống hạnh phúc và trăn trở ở cõi trần gian, hơn cuộc sống yên ả nhưng cô đơn, lạnh lẽo chốn thiên đình. Nàng khao khát được yêu, được biết mình đang tồn tại. Đàn bà: Họ là thực tại còn nàng là chiêm bao...
               Ý nghĩ ấy càng làm cho nàng Bẩy thêm buồn chán. Nhìn lên bóng nắng chiều – Nó cũng giống những năm tháng còn lại của đời nàng, lụi dần xuống núi. Nỗi khao khát về sự "hiến thân" truyền lan trong cơ thể nàng, nàng vùng dậy thét lên:
          -  Tồn tại! Tôi muốn tồn tại! Tôi muốn sống. Tôi mu...ốn... số...n...g...
               Tiếng thét của nàng Bẩy làm cho bầy chim sợ hãi bay lên cao. Các nàng tiên chị thì nhìn em lo âu...
               Con suối mà các anh đang tắm, bên cạnh Hồ Tiên Nữ ngày xưa. Hòn đảo ấy qua nhiều năm tháng, đã bị thác nước và sóng hồ đánh tan đi mất. Các chiến sĩ khỏa trần ngâm mình trong dòng suối mát, cười reo như  con trẻ.
               Dong vắt chéo chiếc khăn tắm màu cỏ úa, vừa kỳ cọ tấm lưng to bản vừa nói với Hoàng:
          -  Này, cô bé trông cũng xinh tươi không kém gì nàng Bẩy?
               Ý Dong muốn nói đến cô gái Mường mà mấy anh đã gặp đôi lần khi vào bản.
          -  Cũng khá.
               Hoàng làm ra vẻ thản nhiên đáp lại lời Dong, rồi nhào ra chỗ nước sâu ngụp lặn, lấy tay xoa vò mái tóc đang gội dở. Đám bọt xà phòng trắng lốp nổi lên mặt nước... bị sóng cuốn đi. Hùng thì đang nằm phơi mình trên một tảng đá ở chỗ suối nông, hai tay vắt qua đầu làm gối, nói lửng lơ:
          -  Không khéo có người viết thư đến đơn vị kiện cáo, là lôi thôi đấy!
               Văn đang tắm gần đấy nói gióng lại:
          -  Lo gì, lính là phải thế!
               Anh có ý ủng hộ sự thân tình của Hoàng với Mỵ. Thực ra, đồng đội của Hoàng cũng chỉ đoán già, đoán non ... trêu trọc anh cho vui. Họ vừa tắm vừa bàn tán đủ thứ chuyện, sôi nổi khắp mặt suối.
          -  Này, tớ nói thật: con gái ở đây là có bùa mê đấy! "ăn" phải bùa mê thì khó mà gỡ?
          -  Chậc, lính đất thánh. Cậu quê lắm!
               Dạo đó – lính Hà Nội, anh em đều gọi là "lính đất thánh"! Một chiến sĩ chỉ vào Thuyết, giọng trêu trọc:
          -  Cứ nhìn thằng Thuyết đây! Cũng là lính đất thánh: khôi ngô, tráng kiện như thế mà... chiều qua nó leo lên tận lưng chừng núi, giở thư nhà ra đọc rồi khóc thút thít như con nít?
          -  Nhớ bu chứ gì?
          -  Thế đã phúc. Chắc em yêu ở nhà lại "tút" theo thằng cha nào rồi?
          -  Chỉ nói bậy.
               Thuyết lúng búng vặc lại.
          -  Bậy à? Cũng may bọn tớ đi tìm mấy bông hoa núi mới gặp, nếu không lại chẳng ngồi đến tối.
          -  Hoa khôn trong bản thiếu gì mà đi tìm hoa núi, hả ông bạn?
          -  À... bọn tớ thích chơi hoa dại.
          -  Nghe đâu ra ngoài tết bọn mình về phép? Mỗi anh được giải quyết bốn ngày.
          -  Chắc sắp đi?
          -  Ồi, lính biết thế nào mà đoán trước? Đùng một cái, chẳng phép tắc gì... đi thẳng vào trong cũng nên.
          -  Mẫn ơi! Cậu còn nợ bọn này một chầu khao đấy nhé!
          -  Có tin mừng gì mà khao đấy?
          -  Vợ nó viết thư lên đơn vị, báo tin vừa sinh con trai. Thằng cu kháu lắm!
          -  Thế có "kháu" như anh dân quân xã không đấy?
          -  Cần quái gì. Con người cũng như con ta, con xã hội cả… phải không cậu?
          -  Chỉ nói nhảm.
               Tất cả cười ồ. Một anh chiến sĩ trẻ đã tắm xong, vừa đi về vừa ngâm bài thơ "lính mà em" – Cũng không biết tác giả bài thơ đó là ai?
                        Em trách anh gửi thư sao chậm trễ?
                        Em đợi hoài, sẽ giận cho xem
                        Thư anh viết: anh nào đâu muốn thế,
                        Hành quân hoài đấy chứ - Lính mà em!
           
                        Anh gửi cho em một cành hoa dại
                        Để làm quà, không về được em ơi!
                        Không đi lễ nửa đêm cùng em nữa
                        Thôi đừng buồn em nhé – Lính mà em!
           
                        Ngày về phép anh hẹn em dạo phố
                        Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm
                        Em xót xa, đời anh nhiều gian khổ
                        Anh mỉm cười rồi nói – Lính mà em!
           
                        Qua phố nhỏ anh ghi dòng kỉ niệm
                        Trời mưa mưa hai đứa đứng bên thềm
                        Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím
                        Anh quen rồi không lạnh – Lính mà em!
           
                        Anh kể chuyện hành quân và gối súng
                        Trăng trên đầu không đủ viết thư đâu
                        Biên thư cho em, nét mờ chữ vụng
                        Hãy hiểu giùm em nhé – Lính mà em!
           
                        Ghét anh ghê chỉ được tài biện hộ
                        Làm em càng thương nhớ thêm nhiều
                        Em xa lánh những ngày vui trên phố
                        Để nhớ người hay nói – Lính mà em!
           
                                                          *


              Khi Văn rủ Hoàng ra về thì dưới suối cũng vãn người tắm, anh em đã về gần hết. Mấy hôm nay, Văn không khỏi ngạc nhiên vì sự thay đổi của Hoàng? Trong cuộc đời chiến sĩ đã bao kỉ niệm vui buồn có nhau. Nhưng rồi các cuộc hành quân liên tiếp, nhiệm vụ mới lôi cuốn họ vào. Sự thay đổi của Hoàng lần này, có gì đó hơi khác thường? Linh tính trong Văn báo cho anh biết, một cái gì "mới" xẩy ra với bạn mình.
               Hoàng nhớ gia đình chăng? Chắc không phải. Tình cảnh gia đình Hoàng, Văn hiểu lắm! Hoàng từng kể cho Văn nghe. Hay Hoàng nhớ Thu? Đúng thôi! Nhất là xuân đến, nhiều khi Văn cũng thấy lòng mình xốn xang. Hoàng còn có người yêu… chứ Văn, cuộc đời với anh mới mẻ quá! Anh chưa hề ý niệm rõ rệt về tình cảm ấy. Đôi lúc anh cũng vấn vương nghĩ đến một người bạn gái thủa học sinh, những kỉ niệm thời thơ ấu. Nhưng rồi tất cả qua đi. Cuộc sống đời lính sôi động, tất bật, mệt mỏi. Chẳng lẽ vì thế mà bạn anh thay đổi nhiều vậy ư?
          -  Hoàng đã nhận được thư của Thu chưa?
               Văn hỏi.
          -  Chưa.
               Hoàng trả lời gọn lỏn một tiếng như thế, dường như anh vẫn đang mải mê đuổi theo niềm tâm tư riêng của mình. Anh đã kể cho Văn nghe chuyện tình cảm của anh với Thu, nhưng chuyện mới này... với cô gái bản Mường xinh xắn, thì anh chưa thể kể được? Hay ít nhất là bây giờ anh chưa thể! Nếu biết, Văn sẽ nói gì với anh? Chắc lại chỉ vài câu vấn an bạn: Ồi, nghĩ làm gì nhiều! Lính mà...
              Không! Đây không còn phải là câu chuyện vui vẻ, bông đùa nữa. Nó sẽ trở nên khôi hài, thậm chí là "vô liêm sỉ", nếu anh coi đấy là một trò giải trí? Nhưng anh cần phải làm gì? Cứ mặc thế, ngày tháng sẽ qua đi ư? Thì mấy ngày nay, anh đã chẳng làm thế đấy sao! Anh đã tránh để khỏi gặp Mỵ... rồi anh sẽ đi xa... sẽ vào chiến trường...
               Anh có thể làm như thế, và anh biết rằng: dù không muốn thế thì anh cũng chẳng thể làm gì khác được nữa. Lương tâm anh bị cắn rứt?
               Hay là, nói thật với Mỵ mọi chuyện? Không, không thể được. Không nên làm như thế! Hoàng thấy chính anh chẳng khác gì kẻ phản bội cả hai người con gái?
               Hoàng cất tiếng hỏi bạn:
          -  Văn nghĩ như thế nào về một tình yêu đúng đắn? Chẳng hạn, một sự san sẻ ngoài ý thức, có phải là sự phản bội không?
               Trầm ngâm giây lát, Hoàng lại nói như thể tự vấn mình: "Mà cũng không hẳn đã là ngoài ý thức?".
          -  Mình chưa có kinh nghiệm trên lĩnh vực ấy!
               Văn nhún vai, ra vẻ muốn nói: "Cậu cũng biết đấy, mình đã có mối tình nào vắt vai đâu cơ chứ?". Nhưng Văn cũng thích tranh luận.
          -  Mình nghĩ: Một tình yêu đúng đắn là sự nhất quán trong tư tưởng, lý trí và tình cảm.
          -  Nhưng ai dám khẳng định rằng: Khi tôi đã yêu rồi, thì không được phép rung động trước bất cứ một hình ảnh nào? Một tình cảm nào? và chẳng lẽ: ngược nó là phản bội? Là thiếu nhất quán? Con đường của tình yêu còn bão gió hơn cả con đường chúng ta đang đi, Văn nhỉ!
               Hoàng triết lý một hồi.
               "À, thì ra thế! Thì ra sự thay đổi của cậu mấy hôm nay là thế đấy!" – Văn nghĩ vậy, nhưng không nói. Anh vui vẻ như người vừa khám phá ra một bí mật, lại sôi nổi tranh luận:
          -  Ờ ờ... thì chuyện tình yêu của người đàn ông với người đàn bà là chuyện của riêng, rối rắm lắm, khó có thể giải thích? Nhưng mình cảm thấy cậu đang tự gây cho mình phiền toái đấy, Hoàng ạ!
               Hoàng lặng lẽ không nói gì. Văn nhìn bạn có vẻ dò xét, buông ra một câu triết lý chẳng ra đâu vào đâu:
          -  Tại cậu đa cảm quá, và tính đa cảm có khi trở thành kẻ phản đồ của tình yêu đấy!
               Họ cũng đã về tới chỗ dựng lán trại, nơi đóng quân của đơn vị để đón tết. Một cái tết đầu tiên của đời lính trong khu rừng núi Hòa Bình này.
           
           
           
           
          <bài viết được chỉnh sửa lúc 18.10.2021 19:12:24 bởi Nhân văn >
          nhanvan
           
          #20
            Nhân văn

            • Số bài : 802
            • Điểm thưởng : 0
            • Từ: 08.12.2007
            • Trạng thái: offline
            Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 18.10.2021 19:03:48 (permalink)
             
             
             
                                                                                             16-
             
                 Mỵ ngồi im lặng hàng giờ bên chiếc cửa sổ bằng trúc, mắt bâng khuâng nhìn ra xa. Bà mế ngồi gần chỗ bếp lửa giữa nhà, bàn tay gầy guộc, run rẩy đẩy những thanh củi vào sâu trong đống than hồng. Ngọn lửa đỏ lưng lức bốc lên, lè lưỡi uốn mình như một chiếc câu liêm. Chốc chốc mế lại quay về phía con gái chép miệng. Nhìn sâu vào ngọn lửa, mế than thở:
            -  Anh trai của con đi vào chiến trường không biết tình hình thế nào, vẫn chưa thấy báo tin về?
            -  Đơn vị của anh con chắc vẫn còn đang đi trên đường Trường Sơn, nghe nói phải hai, ba tháng mới vào đến miền Nam, mà mế?
                 Mỵ trả lời mế nhưng mắt cô vẫn đăm đắm nhìn về phía xa. Bà mế lại chép miệng:
            -  Vắng nó, lắm lúc nhà cứ lạnh tanh như âm phủ vậy.
            -  Mế! Còn con vẫn đang ở nhà với mế cơ mà.
                 Cơn ho của bà mế lại nổi lên cắt ngang câu nói Mỵ. Mế úp bàn tay trái lên ngực mình, bàn tay phải nắm lấy cây cột bằng bương gần bếp, ho rũ rượi. Mỵ vội chạy lại đỡ mế.
            -  Con đã bảo mế đừng hút thuốc nữa, mế không nghe!
            -  Thiếu cơm cũng không khổ bằng thiếu điếu thuốc.
                 Bà mế nói vậy. Mỵ vuốt ngực cho mế. Cái sức người già bị cơn ho giằng xé, lưng mế muốn gẫy gập xuống. Mỵ đỡ mế đứng dậy, đi ra phía ổ ngủ của mẹ con cô. Hồi tối, cô đã trải thêm một chiếc chăn chiên bằng dạ lên trên chiếu, cho mế nằm đỡ đau lưng.
                 Mỵ đến bên bếp lửa, ngồi đúng chỗ mế vừa ngồi. Cô tiếp thêm đôi khúc củi vào bếp lửa. Dịu cơn ho, bà mế chắc cũng đã ngủ. Những dòng suy nghĩ lại miên man đến trong đầu Mỵ.
                 Mới chỉ ít hôm trước, ý nghĩ về cuộc sống với cô còn thật đơn giản. Nó đơn giản như anh nông dân dắt trâu ra ruộng cầy, hết luống cầy này lại tiếp sang luống khác. Thế mà hôm nay... lòng Mỵ cứ bồn chồn không yên.
                 Ở một người con gái như chiếc nụ hoa mới hé nở, khi chưa nếm trải cái ngọt ngào và cả sự đớn đau của tình yêu, tâm hồn còn trong như giọt sương buổi sớm mai. Tuy có lúc do sự nhạy cảm của cuộc sống, họ cũng khao khát một cảm giác mơ hồ, trừu tượng về sự âu yếm, vuốt ve của người con trai. Tình cảm và trái tim còn rất mềm mại, một chiếc gai non lỡ chạm vào cũng làm ứa máu. Nói chung, khi chưa được hít thở niềm sung sướng đến mê dại của yêu đương, thì họ cũng chưa bị co giật bởi một cơn sốt tinh thần nào.
                 Chính lúc ấy, bất ngờ Mỵ đã gặp gỡ anh, và cơn sốt tình yêu dồn dập đến trong cô. Có lúc, Mỵ cảm thấy như nghẹt thở vì vui sướng. Tiếng chuông của trái tim người đàn bà đã vang lên trong Mỵ, ngân nga, ngân nga mãi...
                 Ôi, buổi sáng với anh ở vườn đào hôm ấy! Mỵ làm sao có thể quên được. Từ thân thể đến tâm hồn người con gái của Mỵ, tựa như một cung đàn bỗng rung lên! Bàn tay anh đã đặt vào cung đàn của em, để hàng ngàn, hàng ngàn những âm thanh trầm bổng bay ra. Nó làm dao động mọi tế bào trong cơ thể, vọng vào rất sâu, rất sâu... len lỏi đến cả nơi thầm kín nhất. Làm cho Mỵ hạnh phúc! Tuy anh chưa chiếm đoạt cái linh thiêng, quí giá nhất của người con gái. Khi ấy Mỵ cũng thấy muốn... nhưng anh đã dừng lại.
                 Nghĩ về chuyện đó, bất giác Mỵ thấy thèn thẹn... mặc dù chỉ ngồi một mình, lại tự cười thầm bên bếp lửa.
            -  Ghét ghê! Người ta đã cho còn không muốn...
                 Cô lẩn thẩn nói với chính mình, tay tiếp tục cời cho bếp lửa đêm đông cháy hồng lên với những dòng tâm tư thao thức.
                 Như người ta nói: Người đàn ông nào đã chiếm được trọn vẹn tiếng chuông thứ nhất trong trái tim người đàn bà, có nghĩa là vĩnh cửu! Lần đầu tiên trong đời Mỵ được tận hưởng cái cảm giác khoái lạc, khi cả tấm thân anh trăn trở, dầy vò trên thể xác cô, dù anh chưa đi đến bước tận cùng. Nghĩ lại những giây phút ấy, niềm hoan lạc vẫn còn dấy lên rạo rực khắp người Mỵ.
                 Ý nghĩ về thực tại chợt đến làm cho cô hoảng hốt: Chiến tranh! Phải, chiến tranh! Anh sắp ra chiến trường… Liệu cô còn có thể được gặp lại anh nữa không? Mặc dù cô biết mình sẵn sàng chấp nhận, hoàn cảnh nào... Mỵ cũng vui lòng trao tất cả cho anh.
                 Một mình ngồi trong đêm vắng bên bếp lửa, cô gái vẫn mơ tưởng đến... cái cảnh trần truồng lăn lộn với người đàn ông ở vườn đào. Nó sẽ trở thành một kỉ niệm theo suốt cuộc đời cô.
                 Tiếng con chim nào đó kêu nấc lên ở ngoài bìa rừng. Tự nhiên Mỵ lại thấy hơi run và lạnh... mặc dù ngọn lửa đỏ vẫn cháy bồng lên sưởi nóng cả gian nhà. Mấy hôm nay anh không vào bản, mai đã là 30 tết rồi! Anh đã hứa sẽ vào bản ăn tết với mế và Mỵ, bởi vậy cô nóng ruột chờ? Thời gian như kéo dài lê thê...
                 Giọng khàn khàn của bà mế vừa thức giấc, giục con đi ngủ. Mỵ dập củi, chỉ để lại một bếp than hồng, rồi vào chiếc ổ bông nằm xuống bên cạnh mế. Một lúc, tiếng thở của người con gái bản đã đều đều.
             
            •  
             
             
             
            <bài viết được chỉnh sửa lúc 18.10.2021 19:14:18 bởi Nhân văn >
            nhanvan
             
            #21
              Nhân văn

              • Số bài : 802
              • Điểm thưởng : 0
              • Từ: 08.12.2007
              • Trạng thái: offline
              Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 12:47:20 (permalink)
               
               
               
                                                                                           17-
               
                   Đã qua hai ngày tết vẫn không thấy anh đến? Anh đã hứa với cô, thế mà... Mỵ muốn giận dỗi và trách móc, nhưng có gặp anh đâu mầ trách cơ chứ? Bao ý nghĩ suy diễn cứ lẩn quẩn trong đầu óc, rồi cô lại tự thanh minh cho anh: "Chắc là có chuyện gì đột xuất ở đơn vị, nên anh không vào bản được".
                   Hôm qua mồng 2 tết, yên trí thế nào anh cũng vào… nên Mỵ đã lùi sẵn mấy ống cơm lam bằng thứ gạo nương thơm nhất bản. Mế lại cho con gà trống béo nhất chuồng, để làm bữa đón anh. Suốt cả ngày chờ? cô đứng... cô ngồi... đến tận chập tối vẫn không thấy bóng dáng anh đâu. Khi đó, mế và cô mới dọn cơm ra ăn. Cô ăn nhả nhớt không thấy ngon miệng, mế thì suốt bữa chẳng nói câu nào.
                   Cô cứ tự biện bạch với mình: Chắc hai ngày tết, các anh phải tổ chức vui xuân trong đơn vị, nên không vào bản được. Có lẽ anh cũng sốt ruột lắm? Anh cũng muốn vào với cô đấy, chứ không phải...
                   Hôm nay là mồng 3 – Mỵ nghĩ, thế nào anh cũng vào. Cô lại hy vọng và chờ đợi! Thế mà... trưa đã đứng bóng, vẫn không thấy anh đâu? Cô gái bản ra cửa nhìn về phía rừng, ngóng đợi.
                   Cô giận dỗi, đi đi... lại lại... dậm chân thình thình lên mặt sàn. Mế mắng:
              -  Cha đẻ mày, lớn bằng ấy mà vẫn như con nít.
                   Mắng thế, nhưng mế thương cô lắm! Mế còn mong cái anh bộ đội vào đây bữa trước, hơn nó nữa.
               


                                       Gái Mường bản Hòa Bình
               
                   Sự thôi thúc muốn được gặp lại anh, mạnh hơn nỗi e ngại. Cả bữa cơm trưa nay, cô cũng chỉ ăn qua quít. Ăn xong, Mỵ nói với mế: Cô muốn vào dơn vị thăm các anh bộ đội? Mế chỉ chép miệng, rồi bảo:
              -  Ừ, con muốn đến chỗ các anh ấy thì cứ đi! Nhưng nhớ cẩn thận. Đừng về muộn quá, mế lo.
                   Rửa bát đũa xong và uống vội chén nước. Bà mế chỉ kịp nghe hai tiếng: "Con đi"… bóng con gái mế đã ra đến ngoài đường bản. Nắng ngập trên con đường đất đỏ. Những cánh hoa mận trắng rơi phủ khắp đường, bay lên đuổi theo bước chân của Mỵ. Cô băng qua một nương rẫy lớn, những cánh cò bay nhanh về phía rừng. Núi đã ở trước mặt.
                   Từ xa, Mỵ nhìn thấy thấp thoáng những chiếc lán tre mới dựng. Đó chính là nơi các anh bộ đội trú quân để ăn tết. Lúc này Mỵ thấy hồi hộp quá, trống ngực đập thình thình. Dừng lại giây lát để trấn tĩnh, cô mạnh dạn đi về phía dẫy lán đầu tiên, hỏi thăm đường đến chỗ của anh.
               
                                                                  *
               
                   Vào những ngày đầu xuân Mậu Thân năm 1968 ấy, tin thắng lớn trên chiến trường miền Nam dồn dập bay ra miền Bắc. Nhà quân sự đứng bên tấm bản đồ theo dõi tình hình chiến sự từ các nơi báo về. Vừa nhận được tin giải phóng thành phố này, chưa kịp đánh dấu bằng những đường chỉ đỏ - Thì ở thành phố khác hoặc một đô thị nào đấy tại miền Nam, lại nhận được tin đã giải phóng.
                   Trên khắp miền Bắc mọi người dân đều nín thở, đứng bên Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, nghe tin chiến thắng.
                   Những sư đoàn, trung đoàn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam đều báo động, sẵn sàng cấp tốc lên đường vào chiến trường. Các chiến sĩ cũng nôn nóng muốn ra ngay mặt trận.
                   Toàn Trung đoàn 209, gọi là "Trung đoàn mũ sắt" thuộc Sư 312, được mệnh danh là "Quả đấm thép của Bộ” đang đóng quân tại rừng núi Hòa Bình – Các đơn vị đều nhận được chỉ thị tổ chức cho anh em đón tết tại chỗ. Bộ đội không được đi đâu xa, đợi lệnh chuẩn bị hành quân tiến vào miền Nam.
                   Đơn vị của Hoàng thuộc Đại đội 5 – Một đại đội hỏa lực của Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 209... nằm trong tình huống báo động ấy! Chính đó là lý do: các anh không thể vào bản ăn tết cùng bà con được.
               



                Phạm Ngọc Thái thời chiến tranh
               
                  Khi Mỵ hỏi thăm vào đến đơn vị gặp anh, mới biết sự tình như thế! Mọi ý nghĩ oán thán của cô với anh tiêu tan hết. Cô lại tự giận mình vì đã vội vã trách anh.
                   Mấy chiến sĩ cùng trong Tiểu đội súng máy đại liên với Hoàng, đã mang kẹo mứt... cả bánh trưng bộ đội tự gói ra đón mừng cô. Mỵ vui lắm, cười nói với các anh bộ đội không thấy chán. Mãi tới gần chiều, hai người mới tách riêng ra được, dẫn nhau lên núi ngồi nói chuyện. Họ ngồi bên nhau, trên một thân cây gỗ lớn đã bị đổ nằm giữa rừng.
              -  Tết này bọn anh có lệnh cấm trại!
                   Hoàng nói lại lần nữa.
              -  Em biết rồi!
                   Cô nhìn anh tủm tỉm cười. Cả hai đều thấy lòng nhẹ nhõm, khi mọi nỗi niềm riêng đều trở nên nhỏ nhoi, trước tình hình chiến sự đang diễn ra nóng bỏng.
                   "Dù sao thì cũng không thể khác thế..." – Anh nghĩ vậy, với anh hay với cô... sẽ còn lại một kỉ niệm. Số phận của những riêng tư trong giờ phút này thật mỏng manh. Chiến tranh ào qua nó, không mặc cảm.
                   Nghĩ thế, nhưng không biết vì sao sự gặp gỡ với Mỵ, vẫn làm cho Hoàng lúng túng. Anh không ngờ cô lại đến tìm anh?
              -  Anh Hoàng đang nghĩ gì thế?
                   Mỵ ngả đầu áp sát vào ngực Hoàng, ngước mắt nhìn anh hỏi. Bỗng nhiên Hoàng bật cười.
              -  Anh Hoàng cười gì?
              -  Đêm qua anh nằm mơ.
              -  Anh mơ thấy gì?
              -  Anh mơ thấy là... trưa nay anh gặp em!
              -  Chỉ bịa, ghét anh ghê!
                   Mỵ nũng nịu với người yêu. Cô quên hết sự trách móc, lòng đang trào lên một niềm vui khó tả. Lấy tay nhặt một cộng tre nhỏ, khô rơi trên đất... bẻ tanh tách, ném nó ra xa. Chợt nghĩ tới điều sắp phải xa anh, lòng cô lại bồn chồn.
              -  Bao giờ thì anh phải đi?
                   Mỵ hỏi.
              -  Chắc cũng sắp.
                   Hoàng trả lời vậy, nhưng bản thân anh cũng không hề biết rằng: chỉ còn bốn mươi tám tiếng đồng hồ nữa, anh đã phải lên đường. Chữ "sắp" của thì tương lai mà anh đã nói, sẽ trở thành thì "hiện tại".
              -  Em cũng nghĩ là anh sắp đi.
                   Giọng Mỵ trầm hẳn xuống, nghe rất nhỏ, có gì đang ứ nghẹn trong cổ cô. Bỗng tiếng kêu choe chóe của một con sóc màu hạt dẻ, phá tan sự yên lặng. Nó có chiếc đuôi xồm như cái phất trần, đang nhảy trên những cành cây trước mặt. Thoắt một cái, con sóc đã biến mất vào trong núi.
              -  Đàn ông các anh thật tệ! Ghét anh ghê?    
                   Mỵ ôm ghì lấy anh.
              -  Có phải tại anh đâu? Lệnh đấy chứ!
              -  Em không biết.
                   Khi chưa gặp anh, cô những muốn nói với anh thật nhiều. Thế mà, giờ cô lại chẳng biết nói gì. Bao nhiêu ý nghĩ miên man trong trí não Mỵ? Khi em biết rằng, em đã yêu anh! Thế là, những ngày tháng vô tư của em không còn nữa. Mới có ít ngày thôi anh nhỉ, vậy mà em cứ nghĩ như đã yêu anh từ lâu lắm! Ở bên anh, em thấy mình hạnh phúc. Em sung sướng.
              -  Liệu rồi, em có còn được gặp lại anh nữa không?
                   Cô cảm thấy hơi hoảng hốt. Hoàng không nói gì, chỉ ôm chặt cô vào lòng. Những giọt nước mắt không ngăn được trào xuống má cô. Nghĩ đến lúc phải xa anh, Mỵ tưởng chừng như không thể nào chịu nổi? Mặc dù cô cũng biết: yếu đuối lúc này, khi đất nước đang cần mình – Là không đúng! Nhưng chắc anh sẽ chẳng giận em đâu, phải không anh? Người con gái nào mà chẳng thế! Những lúc ấy, cô chỉ muốn gục vào anh mà khóc. Khóc được, cô thấy mình nhẹ hơn.
                   Mỵ đắm đuối nhìn Hoàng, tha thiết biết nhường nào. Đôi mắt ấy như muốn nói: Hãy hôn em đi! Hãy ôm em như hôm ở trong vườn đào ấy? Rồi anh đi! Lúc này, chúng mình không nghĩ về chuyện gì khác nữa. Chỉ nghĩ đến em đang ở bên anh. Chúng mình đang yêu nhau...
                   Gặp lại được anh, em chỉ muốn theo anh ra mặt trận, sẽ cùng chiến đấu với anh. Em sẽ nấu cơm cho anh ăn, ru cho anh ngủ...
                   Còn Hoàng, anh như sống trong mơ. Mà đâu phải là mơ, cô gái đang nằm trong vòng tay anh đấy! Người con gái trong trắng, xinh tươi, đáng yêu này. Ôi, đôi bàn tay? lý trí của ngươi thật tồi tệ. Nhưng lý trí mà làm gì? Những xúc động mãnh liệt cám dỗ anh phút này còn mạnh hơn. Chẳng có gì ngăn trở nữa, đôi bàn tay tham lam.
                   "Anh là của em!..." – Tiếng của cô gái đang yêu, thầm thì ở bên anh.
                   Hãy lấy ánh mắt của người con gái đang say đắm, trong biển cả tình yêu, thì mới thấy nó sâu xa, thăm thẳm đến nhường nào.
                   Hoàng không thể nào nói nổi với Mỵ cái điều mà anh đã muốn nói với cô? Anh muốn thú nhận với người con gái bản rằng: Tình yêu giữa anh và cô, không dẫn đến một kết quả nào! Anh không thể nói với cô là, anh đã có người yêu rồi! Đâu có phải anh cố tình muốn lừa dối cô? - Không, không phải thế! Trong Hoàng bối rối với bao suy nghĩ...
                   Những tiếng lá khô gặp cơn gió thổi đến, bay xào xạc dưới chân. Nhìn vào rừng cây mà Hoàng thấy mình cứ như đang nhìn đến một khoảng hư không nào đó.
              -  Anh Hoàng đang nghĩ gì vậy?
                   Mỵ vẫn áp đầu vào ngực anh và hỏi. Đôi mắt cô trìu mến nhìn anh như muốn nói: "Anh đã thấy rồi đấy! Cả tâm hồn, trái tim tình yêu, rồi sẽ cả cuộc đời em nữa... đã chẳng thuộc về anh đó ư?".
                   Hoàng ngập ngừng:
              -  Mỵ, anh đã yêu...
                   Có cái gì đang thôi thúc trong anh phải nói ra, rằng... anh đã yêu một người con gái khác! Nhưng Mỵ lại cắt ngang ý nghĩ đó của anh.
              -  Em biết rồi! Thì em cũng rất yêu anh mà...
              -  Không phải thế. Ý anh muốn nói: chúng ta không thể kéo dài quan hệ với nhau hơn được nữa. Bởi vì...
                   Mỵ lại lấy tay bịt miệng, không để anh nói tiếp.
              -  Anh lại muốn nói là: vì đất nước có chiến tranh, anh phải đi ra chiến trường, chứ gì?
                   Giọng cô trở nên sôi nổi và kiên quyết:
              -  Anh đừng bao giờ có ý nghĩ ấy nữa nhé? Nếu không là em sẽ giận đấy! Em sẽ chờ anh trở về, dù năm – mười năm, hay hai mươi năm, em cũng chờ.
                   Bóng nắng của rừng chiều nghiêng ngả. Cánh rừng có vẻ hơi chao đảo, nhưng rồi êm đềm trở lại. Mỵ thấy giờ đây tất cả với cô thật nhẹ nhõm,  không nghĩ gì nữa, chỉ biết là cô đang ở bên anh. Cô kéo vòng tay anh ôm chặt lấy mình.
                   Hoàng không còn tỉnh táo nữa. Những cảm xúc mạnh mẽ dâng trào trong anh. Rừng và núi che lấy họ. Cô kéo anh cùng nằm xuống thảm lá. Đôi mắt đáng yêu kia đang nhìn anh tha thiết đến chừng nào!
                   Hoàng đã bị khuất phục hoàn toàn.
                   Anh hôn lên môi, lên vú... và bàn tay người lính trẻ luồn qua lớp vải mỏng... xoa lên cả cái chỗ thiêng liêng, kín đáo nhất của cô.
                   Mỵ bỗng vùng nhỏm dậy, tưởng cô từ chối không đồng ý với anh? Nhưng không phải vậy. Đôi bàn tay xinh xẻo của người con gái Mường tháo cởi dải thắt lưng bằng vải mềm vẫn quấn quanh cạp chiếc váy hoa, trút bỏ hết bộ đồ đang mặc ra khỏi người... để mở ra cả tấm thân trắng nõn nà. Một đấng thiên thai của tạo hóa đang lồ lộ trước mặt anh.
                   Hoàng ngập ngừng:
              -  Mỵ! Nhưng anh phải đi mà. Anh sợ em có thai?
              -  Néu có thai, em sẽ sinh con cho anh. Mẹ con em sẽ chờ anh trở về!
              -  Nhưng nếu em bụng mang, dạ chửa... bà con dân bản sẽ cười nhạo, chửi mắng em? Phải sống thế thì khốn khổ lắm, em ạ!
              -  Không đâu. Biết em có thai với bộ đội, dân bản không trách mắng em đâu! Nhất là lại có con với các anh ra chiến trường.
                  Cô kể: mấy năm trước, bản em có một chị có thai với một anh bộ đội cũng về đây đóng quân, rồi anh ấy ra tiền tuyến. Dân bản không những không mắng mỏ, khi chị ấy sinh con… bà con còn cưu mang để chị nuôi con nữa. Giờ cháu gái, con của chị đã được một tuổi. Cháu rất xinh và đáng yêu lắm!
                   Người ta thường bảo: Con gái dân tộc đã yêu thì như giông bão, yêu điên dại, yêu không tiếc mình. Như con hươu, con nai núi băng qua nương, qua rừng tìm đến bạn tình!
                   Cô kéo anh ghì sát vào mình… Chẳng thể nào cưỡng lại được nữa. Giây lát, một cảm giác tê dại lan truyền ra cả hai thân thể đang quấn xiết vào nhau. Cô uốn cong thân mình khẽ rên lên vì sung sướng, hạnh phúc dâng lên đến tột đỉnh! Lần đầu tiên cô đã được hưởng mùi vị của cuộc đời, với người con trai mà cô rất mực yêu thương.
                    Hoàng cứ nằm phủ phục mãi trên tấm thân của người con gái bản. Ở nơi ấy vừa xẩy ra một vụ "động đất". Người con gái vẫn đang thấy râm ran khắp trong mình...
                   Bóng chiều cũng đã tàn. Lúc này, Mỵ mới dịu dàng nói:
              -  Đừng bao giờ quên em, nghe anh! Khi vào đến chiến trường, nhớ viết thư về cho em. 
                    Hoàng chợt nhớ lại chuyện cũ - Cả hai người con gái, hai miền quê và dân tộc khác nhau, đều đã cho anh cái cảm xúc say mê, ngây ngất của cuộc đời.
                   Cái cảm giác khi với Thu thế nào nhỉ? còn đang nằm trên bụng người con gái bản, anh tự hỏi trong mình: Người con gái Hà Nội, nàng cũng đã yêu anh tha thiết. Với nàng - anh thấy rạo rực, đê mê khi lăn lộn trên tấm thân trần, tuyệt bích.
                   Còn với người con gái Mường? Ôi, hương vị bông hoa dại núi rừng, em cũng ngọt ngào hương say của một đóa thiên thai. Cả hai lần đều cho anh một cảm giác không thể nào quên được.
                   Lúc Mỵ khẽ đẩy Hoàng ra, hai chân anh vẫn còn quặp chặt lấy đùi cô. Như người tỉnh giấc mộng, anh bật dậy và nói:
              -  Ta về thôi em! Anh sẽ đưa em ra tới bìa rừng, rồi phải quay lại. Đơn vị không cho phép anh đi xa quá!
                  Cô mặc lại áo váy, rồi cùng anh trở về. Nhìn theo bóng Mỵ đã khuất qua nương để vào bản, Hoàng mới quay lại đi về phía lán của đơn vị.
                   "Thế là mình vẫn chưa nói được với Mỵ điều đó..." – Anh tự nhủ với mình: Rồi chiến tranh sẽ cuốn đi tất cả…
                   Bài thơ "Lính mà em" mà người chiến sĩ đã đọc bên bờ suối bữa trước, lại văng vẳng bên tai anh:
                             .......
                             Anh kể chuyện hành quân và gối súng
                             Trăng trên đầu không đủ viết thư đâu
                             Biên thư cho em, nét mờ chữ vụng
                             Hãy hiểu giùm em nhé – Lính mà em!
               
                             Ghét anh ghê chỉ được tài biện hộ
                             Làm em càng thương nhớ thêm nhiều
                             Em xa lánh những ngày vui trên phố
                             Để nhớ người hay nói – Lính mà em!
                   Lúc này Hoàng vẫn chưa hề biết rằng, chỉ còn hai ngày nữa: Đúng chiều mồng 5 tết Mậu Thân 1968, vào ngày kỉ niệm chiến thắng Đống Đa lịch sử của vua Quang Trung – Đơn vị anh, Trung đoàn 209 thuộc Sư 312 gồm các Tiểu đoàn 7-8-9, đâ được lệnh hành quân cấp tốc vào chiến trường Tây Nguyên chiến đấu.
               
               
               
              <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 13:06:40 bởi Nhân văn >
              nhanvan
               
              #22
                Nhân văn

                • Số bài : 802
                • Điểm thưởng : 0
                • Từ: 08.12.2007
                • Trạng thái: offline
                Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 12:50:45 (permalink)
                 
                 
                 
                 
                                                                                Chương IV.   
                 
                                                     VỀ PHÍA HẬU PHƯƠNG
                 
                 
                 
                 
                                                                                    18-
                 
                          Sông Hồng nước đỏ quạch như pha máu, sóng trào lên lai láng. Đứng trên cầu Long Biên nhìn ra xa, mấy chiếc thuyền câu của dân vùng ven bãi vẫn đi đánh cá, tuy đã rất thưa thớt so với hồi trước. Trông xa tít, các con chim nhạn lao thẳng xuống gần chạm mặt nước, rồi nó nghiêng mình bay vọt lên, giống như những chiếc máy bay tiêm kích mig-21 đang nhào lộn.
                     Ở mỗi nóc đỉnh cao của các trụ cầu Long Biên chạy vắt qua sông, người ta đều thấy có những cỗ pháo cao xạ 14,5mm loại hai nòng đặt trên đấy. Đó chính là những trận địa pháo của Binh chủng Phòng không – Không quân, Quân đội nhân dân Việt Nam. Bóng những chiến sĩ đứng trên cỗ pháo, dưới trông lên nhỏ xíu.
                     Trong những năm chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, khi không quân Mỹ đã leo thang đánh tới Hà Nội, không mấy ngày là không có máy bay đến đánh phá cầu Long Biên. Công việc của những tên giặc lái Hoa Kỳ là ném bom phá cầu – Nhiệm vụ của những người pháo thủ ở đây, là bắn máy bay Mỹ để bảo vệ cầu. Sự tồn tại của họ là sự tồn tại của cầu Long Biên, đường giao thông huyết mạch từ thủ đô lên mạn bắc. Khi những người chiến sĩ còn có mặt trên những mâm pháo, có nghĩa... cầu Long Biên vẫn còn thông suốt – Vì, nếu khi máy bay Mỹ đã ném bom trúng cầu, thì cùng với những đoạn cầu bị sập, xác họ và xác của cỗ pháo cũng sẽ bị hất chìm xuống sông. Bởi vậy, những người chiến sĩ trên trận địa pháo cao xạ phòng không này, được nhân dân mệnh danh là "Đội quân cảm tử"!
                 


                                                        Cầu Long Biên trên con Sông Hồng
                 
                    Lúc này, có một cô gái mặc chiếc áo cánh màu nâu non, đi trên chiếc xe đạp mác hiệu Thống Nhất nữ, đang từ phía ngoại thành bên kia cầu Long Biên vượt vào nội thành. Cô gái gò lưng đạp mải miết, cố vượt qua cầu cho nhanh. "còn một phút ở trên cầu, là không có bình yên" – cô nghĩ vậy. Bỗng có tiếng gọi giật... Cô gái cảm thấy hình như có ai đó đang gọi mình?
                -  Này, cô em ơi! Cô em đi xe đạp áo nâu non... ơi! 
                     Cô gái dừng xe, quay đầu nhìn lại phía sau, nhưng không thấy ai thân quen. Chỉ mấy người lạ cùng đi một hướng với cô, ai cũng vội vã... phóng thật nhanh. Một bác già thấy cô đứng lại, vừa vượt xe lên vừa mắng:
                -  Muốn ăn bom à, còn đứng lại?
                     Cô đã toan đạp xe đi tiếp, lại nghe thấy tiếng gọi lần nữa:
                -  Anh đây cơ mà...
                -  Chúng anh ở trên này, cô em ơi!
                     Cô gái ngẩng đầu ngước nhìn lên cao, rồi tự mắng mình: "Rõ khỉ, thì ra mấy anh lính...". Tuy vậy, cô vẫn giơ tay vẫy vẫy... đùa lại:
                -  Về đi anh ơi! Cơm canh nguội hết rồi?
                -  Anh còn phải trực bắn máy bay Mỹ, chưa về được với em đâu! Có lên đây, anh đón?
                -  Nghỉ nhé.
                     Cô gái nhoẻn cười: "Đằng ấy không về, thì đây về một mình" - Nói xong, cô đưa hai ngón tay lên làm động tác hôn gió rồi phóng xe đi. Những câu trêu chọc của mấy anh lính pháo thủ còn theo cô một quãng.
                     Cô gái ấy là Thu. Từ sáng sớm đến giờ, phải đạp xe ngót trăm cây số đường trường, Thu đã thấm mệt. Ô tô thời kỳ này hay bị trắc trở, Thu phải mượn chiếc xe đạp của chị y tá ở trường, đi về Hà Nội thăm gia đình.
                 
                                                                      *
                 
                     Ông Giáo ngồi trên chiếc ghế sa lông kê giữa nhà. Ông cầm ấm nước trà nóng, vừa rót nước vừa nói với Bà Giáo:
                -  Tôi đã nói với bà cứ ở yên chỗ sơ tán. Tôi ở nhà đã có anh em trên Bộ giáo dục: ăn có nhà bếp tập thể, ốm đau có y tá của cơ quan. Bà về làm gì?
                     Uống ngụm nước nóng, ông nói tiếp:
                -  Cứ năm, bảy bữa... bà lại bò về Hà Nội. Cái đất thủ đô này, giờ đâu có được yên ả cơ chứ!
                     Bà Giáo ngồi trên giường, mắt đeo cặp kính trắng gọng nhỏ, đang lúi húi mạng cho chồng cái đầu gối quần đã bị sờn vải. Nghe Ông Giáo nói thế, mới đặt cả hai tay lên đùi, vẻ trách móc:
                -  Nếu tình hình không yên ả, thế sao ông còn ở lại?
                -  Bà này nói lạ. Là vì công việc, chứ có phải tôi ở lại Hà Nội để chơi đâu?
                -  Khốn ông còn hăng máu lắm cơ! Mình già rồi, lại không theo bộ phận đi lên chỗ sơ tán của cơ quan, cứ nhất nhất xin ở lại Thủ đô. Trên Bộ giáo dục dễ hết thanh niên rồi hay sao?
                     Bà tỏ thái độ cương quyết:
                -  Sống cùng sống, chết cùng chết. Ông ở lại, tôi cũng ở lại.
                     Đã vá mạng xong cái chỗ quần rách đó, bà ghé răng cắn đứt sợi chỉ rồi đưa kim cho cô con gái đang ngồi bên cạnh:
                -  Xâu hộ cho mẹ sợi chỉ khác, để mẹ mạng nốt cho ba con cái đầu gối quần bên kia, sắp bục đến nơi rồi.
                     Bà chép miệng: "Chết chửa, hồi này mắt mẹ kém quá!". Thu kéo chiếc quần của ba về phía mình, nói với mẹ:
                -  Để con mạng nốt cho ba con!
                     Ông Giáo vẫn cảu nhảu:
                -  Mà tôi ở lại Hà Nội thì cũng đã bị làm sao đâu, mà bà phải lo?
                -  Lại chờ tới lúc bị làm sao?
                     Bà Giáo kéo dài giọng: "Ông cho tôi xin chén nước!". Thu để chiếc quần của ba xuống giường, đi lại phía bàn rót nước đưa cho mẹ, rồi nói:
                -  Hay là mẹ lên chỗ sơ tán của con ở trường, ở với con? Các bạn con, cũng khối người mang theo cả bố mẹ già lên đấy!
                     Bà Giáo nhìn con gái, lắc đầu:
                -  Để ba con ở nhà một mình sao được?
                     Ông Giáo đứng lên đi lại phía bàn làm việc, cầm lấy quyển sách đang dịch dở. Không quay đầu nhìn vợ, ông nói:
                -  Bà nó nên nghĩ lại cho chín? Tôi ở thêm Hà Nội ít bữa, cùng với anh em thu xếp công việc của Bộ cho gọn rồi... cũng sẽ đi sơ tán. Tình hình ngày càng căng thẳng thế này, chẳng ai để cho mình ở lại lâu.
                     Đã mạng xong quần của ba. Thu gấp lại cẩn thận, để xuống dưới chiếc gối đầu giường, chỗ ba cô nằm... rồi cùng với mẹ lên gác trên.
                     Gian phòng lâu ngày không có hơi người, đã có mùi ẩm mốc. Chiếc giường cá nhân của Thu kê sát cửa sổ, trông xuống phố. Vẫn như hồi cô còn ở nhà, mọi thứ không có gì thay đổi, nhưng Thu cảm giác như sự hoang lạnh đã tràn vào gian phòng. Bà Giáo đi về phía giường của mình, nói với con gái:
                -  Ngày mai, con có vào chỗ sơ tán thăm chị dâu và cháu Kỳ Anh không?
                -  Dạ, có ạ!
                -  Thế thì liệu mà đi cho sớm, con ạ! Hồi này máy bay, máy bò đánh luôn.
                -  Con cũng định đi từ sáng sớm, chiều tối quay về tranh thủ giải quyết mấy việc rồi phải trở về trường để học.
                     Thu đi lại trong phòng ngắm nhìn những đồ vật cũ, nó gợi cho cô những kỉ niệm về quãng đời niên thiếu: "Ta cứ tưởng như vừa mới hôm qua thôi!" – Thu nghĩ. Cô nhìn mãi tấm chân dung thiếu phụ của nhà danh họa Ý Lê-ô-na Đờ-vanh-xi, được ba lồng vào trong một khung kính treo ở trên tường.
                -  Tuyệt quá!
                     Cô tự nói với chính mình, rồi quay lại hỏi Bà Giáo:
                -  Anh con có viết thư về không mẹ?
                -  Có, từ tuần trước. Con không nhắc thì mẹ quên khuấy, cả thư riêng anh đã viết cho con nữa đấy!                    
                     Bà Giáo nhỏm dậy, lấy bức thư từ trong ngăn kéo tủ, đưa cho con rồi bảo: "Xem mà viết cho anh, kẻo anh nó mong". Lá thư của anh trai viết cho Thu khá dài, cô đọc ngấu nghiến như người đang đói.
                -  Anh ấy kể chuyện chiến trường mà vui quá, mẹ nhỉ?                      
                     Bà Giáo như đang suy ngẫm một điều gì, lơ đãng không trả lời con. Những kỉ niệm cũ với người con trai lại diễn ra trong óc bà. Chẳng nhiều nhặn gì, bà chỉ sinh được hai anh em nó. Thằng anh, được hai tuổi thì "cách mạng tháng 8" thành công. Cái thời mà Ông Giáo còn tham gia trong hội kín, hội mở... Mấy năm sau thì ông thoát ly đi kháng chiến. Bà có mang cái Thu trong lần vào vùng "tự do" của cánh mạng để tiếp tế cho chồng, ở Chi Lê thuộc vùng rừng núi Hòa Bình.
                     Bất giác Bà Giáo thở dài: "Bây giờ chúng nó đã bằng ngần ấy". Một đời người, hai lần kháng chiến. Đời cha rồi lại đời con, không chừng rồi đến cả đời cháu của bà nữa? Thấy mẹ thở dài, Thu quay lại hỏi:
                -  Mẹ làm sao thế?                            
                -  Có viết thư, con nhớ bảo anh là mẹ dặn phải giữ gìn sức khỏe.             
                     Nói rồi Bà Giáo trùm chăn ngủ.
                ...  Thế là cả hai người thân của Thu đều đến nơi chiến trường. Răng cắn vào cái quản bút chấm mực, cô nghĩ: Một người là anh, một người là bạn. Cả hai đối với Thu đều thân thiết.
                     Những ý nghĩ cứ miên man trong trí óc cô: Khi người ta biết hy sinh cho một tình yêu, và sự hy sinh đó gắn bó bởi mối quan hệ riêng, chung... thì họ có quyền kiêu hãnh, phải không anh?
                     Mình sẽ viết câu ấy cho Hoàng – mà không, viết cho anh trai có lẽ hợp hơn? Thu lấy giấy viết thư cho anh. Những suy cảm như dòng nước đang chảy xối xả ở trong cô...
                     ... Cái nhận thức ấy đến với em từ lúc nào nhỉ? Em không còn nhớ. Nó cứ lớn dần, anh ạ! Nhất là từ buổi tiễn người bạn trai của em nhập ngũ. Người bạn mà em đã kể cho anh nghe, rồi đấy!
                     Trước đây là sách vở, bây giờ là cuộc đời. Thực tế thì nhiều phức tạp hơn, song cũng sinh động hơn sách vở. Anh có biết em sung sướng thế nào không? Thực ra thì không đơn giản, nhưng khi em đã thấy mình vượt lên, đã khẳng định được con người mình, ý thức tốt đẹp về một cuộc sống - Em thấy mình hạnh phúc! Cũng như anh đã nói trong lá thư viết cho em: Cái hạnh phúc của người lính thường đến, sau mỗi lần chiến thắng...
                     Trên giường Bà Giáo đã ngủ thiếp đi, tiếng ngáy của bà đều đều. Thân hình vốn đã bé nhỏ của bà, giờ lại gầy hơn một chút. Bà nằm lọt thỏm trong tấm đệm bông. Thu dừng viết thư, đến bên giường kéo chăn phủ kín lên ngực mẹ.
                     Cô nhìn mẹ tủm tỉm cười, rồi quay lại bàn viết tiếp lá thư cho người bạn trai. Sáng mai cô sẽ bỏ vào hòm thư của thành phố, để gửi cả hai lá thư này ra nơi tiền phương.
                 
                 
                 
                 
                <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 13:13:41 bởi Nhân văn >
                nhanvan
                 
                #23
                  Nhân văn

                  • Số bài : 802
                  • Điểm thưởng : 0
                  • Từ: 08.12.2007
                  • Trạng thái: offline
                  Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 12:53:13 (permalink)
                   
                   
                   
                                                                                                19-
                   
                       Một người khách đang ngả đầu vào thành ghế cho ông Tiến Thịnh cạo mặt, nói:
                  -  Ông có nghe tin tức: Tình hình Mỹ sẽ ngừng ném bom ở miền Bắc không?  
                       Ông Tiến Thịnh lấy tay xoa một thứ bọt xà phòng trắng, nhờn lên cằm khách, thản nhiên hỏi lại:
                  -  Ai bảo ông thế?
                       Lưỡi dao của ông phó cạo đưa xoèn xoẹt. Một nhoáng, bộ râu cứng như rễ tre của người khách đã được bào nhẵn. Người khách vẫn ngồi lim dim mắt, đáp lại:
                  -  Đài BBC đưa tin mà lị!
                  -  Ồi, cái mồm chúng nó thì cứ hoen hoét.
                       Cũng chẳng hiểu ý ông Tiến Thịnh định nói về cái tin đài BBC mà người khách vừa thông báo, hay ông ám chỉ thằng Mỹ? Ông tiếp:
                  -  Cứ xem ngay như cái Hiệp định Pa Ri ấy? Ngồi bàn vuông, bàn tròn với nhau rồi mà họ còn nhổ toẹt đi, nữa là...
                  -  Thì cũng tại ông nhà mình làm căng quá!
                       Người khách có vẻ muốn phô trương sự hiểu biết của mình.
                  -  Ông tính xem: Là một tên đế quốc đầu xỏ nhất hạng! Chịu lép quá, nhục, thằng nào nó nghe?
                  -  Phải nghe tất! Thua thì phải nghe, nhục cũng phải chịu.
                       Giọng ông Tiến Thịnh "chắc như cua gạch".
                  -  Đã đành. Chúa chết thì trạng cũng băng hà, ông ạ!
                       Người khách buột mồm buông một câu triết lý, mà cũng chẳng hiểu triết lý cái kiểu gì? Ông Tiến Thịnh vặn hỏi:
                  -  Thế ông không nghe tin chiến thắng đầu xuân Mậu Thân à?
                       Người khách vẫn không chịu:
                  -  Xôn xao cả phố, ai mà chẳng biết! Nhưng tôi thì tôi nghĩ: Cái ông Việt Nam nhà mình cũng hay chơi nước thượng lắm cơ?
                       Ông Tiến Thịnh nói kháy:
                  -  Giá tiến cử ông vào Bộ chính trị mới phải?
                       Người khách cự lại:
                  -  Chẳng phải thế. Tình hình chính trị của đất nước, mình phải quan tâm chứ ông!
                  -  Tôi cứ cố "cắt" dăm cái đầu, kiếm cho vợ con thêm lon gạo.                    
                       Người khách nọ đã trả tiền xong, chào ông Tiến Thịnh rồi bước ra ngoài phố. Ông Tiến Thịnh lấy tay phủi phủi những sợi tóc bám vào áo mình, buông thõng một câu:
                  -  Năng nhặt, chặt bị... là thượng sách.                     
                       Từ nẫy đến giờ một tay thanh niên tóc chờm đến ngang vai, ngồi đợi trên chiếc ghế dài, tranh thủ giở tờ báo Văn Nghệ ra xem "mục nụ cười". Chờ người khách kia đã ra khỏi cửa hiệu, mới bước vào chiếc ghế thay thế chỗ. Hắn tán dương ông Tiến Thịnh:
                  -  Bố già nói chí lý lắm! Cứ như con đây này: Sáng ra chợ giời buôn bán đồ cũ làm mấy "sọi". Trưa về nhà, đánh một giấc ngủ khoèo đến bốn giờ chiều. Tối bát phố...                                           
                       Một vị khách khác vừa mới bước vào hiệu, thấy tay thanh niên nói vậy... mắng:
                  -  Cứ như cái ngữ nhà anh á? Có mà mất nước.                        
                       Tay thanh niên mặt vẫn bình thản, tỉnh bơ:
                  -  Bác già nặng lời thế!                                           
                       Hắn quay sang bảo với ông Tiến Thịnh:
                  -  Bố xén gáy bằng cho con, bố nhé! Cả Hà Nội này, con chỉ tín nhiệm mỗi cửa hiệu cắt tóc của bố thôi đấy!
                       Ông Tiến Thịnh vừa cắt tóc vừa nói:
                  -  Thế cậu đã biết hiệu cắt tóc Tiến Thành, trên phố Huế chưa? Cửa hiệu của thằng con cả tôi đấy! Nó cắt còn bợm hơn tôi.                         
                       Tay thanh niên vồn vã hỏi:
                  -  Ở số nhà bao nhiêu phố Huế, hả bố?
                  -  Cậu là tay chơi, dân "phe phẩy"chợ giời, mà không biết cửa hiệu cắt tóc Tiến Thành nổi tiếng ở phố Huế, sát gần ngay chợ... thì xoàng quá!
                       Cái kéo cắt tóc trong bàn tay nhà nghề của ông Tiến Thịnh vẫn kêu tanh tách. Từng đám tóc hắt ra, rơi đều đều lên chiếc áo quàng bằng vải dù pháo sáng, đang choàng trên vai khách.
                   
                                                                     *

                                                                 Phố Hà Nội thời xưa

                       Ăn cơm trưa xong, ngồi khoanh chân trên chiếc sập lim nâu bóng, uống tách trà nóng, ông Tiến Thịnh gật gù nói với người vợ lẽ:
                  -  Mợ vào đây, tôi bàn chút việc quan trọng.
                  -  Thì ông cũng phải để tôi rửa ráy xong xuôi, uống ngụm nước, xỉa cái răng đã chứ?
                       Người vợ lẽ của ông đang ở chỗ máy nước ngoài sân, mồm lẩm bẩm rủa thằng con út của người vợ cả đã quá cố:
                  -  Con với cái, đến hư hỏng. Ăn cơm xong là biến mất, để bát đũa cho dì rửa.
                       Ông Tiến Thịnh phụ họa:
                  -  Ừ, tính nó lêu lổng. Mới buông bát, buông đũa, thoắt một cái đã chạy lêu têu ra phố.
                       Rửa ráy xong. Người vợ lẽ của ông bước vào nhà, rút chiếc tăm để trong chiếc lọ nhỏ, đến bên chồng hỏi:
                  -  Ông định nói cái gì nào?
                       Ông Tiến Thịnh rót chén nước đưa cho vợ:
                  -  Thì mợ cứ ngồi xuống. Tôi thì tôi nghĩ thế này? Cái tính cách làm ăn của nhà ta còn thủ công nghiệp lắm! Chật vật mà chả kiếm được bao nhiêu. Cứ nhìn vợ chồng thằng Tiến Thành thì đủ thấy – Phải làm ăn như chúng nó, chẳng mấy chốc mà "phát"!
                       Ông khề khà rồi nói tiếp:
                  -  Cửa hiệu cắt tóc của tôi thì chỉ kiếm đủ ăn. Còn mợ, chợ búa bán bún bánh lặt vặt... ngày cò con dăm bảy đồng bạc. Con lợn nuôi trong chuồng, mang tiếng bán một lúc vài trăm thật, nhưng chẳng qua cũng chỉ là tiền bỏ ống.
                       Người vợ lẽ ngồi im nghe chồng nói. Tính ông thì mụ biết, cái khoản làm ăn là rất "đa tính". Ông Tiến Thịnh vẫn nói tiếp:
                  -  Ở trên ga bây giờ hàng "miền ngược" về nhiều. Tôi đã thăm dò con mụ Tính ở khối trong? Tối nào mụ ta cũng ra ga: Khi thì mua vài tạ ngô, lúc dăm yến lạc... Mà mụ cũng chỉ là người đứng thầu, sang tay bán lại cho kẻ khác. Một chuyến hàng, mụ ta kiếm bằng vợ chồng mình làm ăn cả tháng.
                       Người vợ lẽ cắt ngang:
                  -  Ông cứ làm như dễ ăn lắm đấy?
                  -  Thì ai đã bảo là dễ? Có điều, ta cũng phải tìm cách.
                  -  Cũng phải có mối lái, chứ ông tưởng? Không cẩn thận, công an tóm được... bắt phạt, thì có mà hết cả vốn lẫn lãi.
                       Ông Tiến Thịnh gạt đi:
                  -  Chỉ cần ta khôn khéo một tí! Nghe nói, mụ ta mồi chài từ tay phòng thuế đến công an.
                       Ông chỉ đường đi, nước bước cho người vợ lẽ:
                  -  Mợ chịu khó lân la với con mụ Tính? ngọt nhạt, theo nó vài bữa khi tàu mạn ngược về, để thông thạo mánh lới làm ăn. Xuôi buồm lọt gió, ta sẽ tính cách đi riêng. Khi đó tôi sẽ ra ga cùng với mợ...
                       Đặt tách trà xuống, ông dừng lại hỏi vợ:
                  -  Mợ nghĩ thế nào?
                  -  Thì để xem xem thế nào đã. Mình xưa nay chỉ quen chạy chợ vặt, chưa bao giờ buôn lớn cả. Tiền của chứ có phải vỏ hến đâu, nhỡ làm sao... thì chết?
                       Tối tối... khi cắt tóc về, ăn uống xong xuôi, ông lại ngồi trầm ngâm hàng giờ trên chiếc sập lim ấy. Ông vặn chiếc đĩa hát national cũ của Nhật mới mua lại, nghe ca vài bài vọng cổ. Tư tưởng làm ăn trong đầu ông nở ra như bong bóng xà phòng. Ông nghĩ hết cách này, cách khác, cách nào ông cũng thấy có cái hay, cái dở. Gạt cái này đi, tính đến cái kia. Ông lường trước, ông lo sau. Tuổi ông có phải còn bồng bột nữa đâu? Phải tính cho nó chín chắn! Ông TIến Thịnh nghĩ vậy, xong lại ngồi thở dài. Máu ông hám làm giàu, nhưng lại sợ bị "hố". Nhỡ một cái, thì khốn. Có khi tự an ủi mình: "Thôi già rồi. Chúng nó như con ngựa phi trên đường, ông như con dê đã về gần đến cửa chuồng" – Nghĩ thế, nhưng ông thấy người ta làm ăn "trúng"! Máu lại bốc lên, ông lại phải tính kế?
                  -  Này, mợ nó này?
                  -  Ông lại nghĩ ra cái kế sách gì, mà gọi giật thế?                            
                       Ông Tiến Thịnh lại trình bầy với người vợ lẽ:
                  -  Có lẽ ta phải tính chuyện nuôi con lợn lái? Chà, con mẹ Ba Tẽo ở khói chợ nuôi có hai đàn lợn lái, mà làm được cả cái nhà cao ngất.                  
                  -  Ối giời... ông cứ ngồi mà tính cho nó kỹ đi.                                   
                       Mụ nói vậy rồi bỏ vào nhà trong. Xa xa... có tiếng máy bay xoẹt ngang bầu trời, vọng tới. Chắc là phi cơ mig của ta đi tuần tra... chứ,  nếu là "thần sấm" hoặc "con ma" Huê Kỳ - thì còi báo động thành phố đã chẳng réo ầm lên: "Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Tất cả xuống hầm ngay, đề phòng máy bay Mỹ xâm phạm vào vùng trời Hà Nội".
                      Đằng này, máy bay đã đi qua… mà thành phố vẫn im phăng phắc.
                   
                   
                   
                   
                   
                  <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 13:22:22 bởi Nhân văn >
                  nhanvan
                   
                  #24
                    Nhân văn

                    • Số bài : 802
                    • Điểm thưởng : 0
                    • Từ: 08.12.2007
                    • Trạng thái: offline
                    Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 12:57:31 (permalink)
                     
                     
                     
                     
                     
                                                                                            CHƯƠNG V.
                     
                                                               HÀ NỘI CUỘC SƠ TÁN
                                                              VÔ TIỀN KHOÁNG HẬU
                     
                                                                                                                                                                      20-                                           
                     
                          Ngày 16.4.1972, chính quyền Hà Nội ra lệnh cho nhân dân phải “cấp tán”! Tức là sơ tán thật nhanh ra khỏi thành phố, vì Mỹ sẽ ném bom rải thảm B52.
                          Thực ra, cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ đã bắt đầu liên tục từ năm 1965. Từ thời gian đó những người dân sống ở thành thị, đặc biệt là ở Hà Nội – Hải Phòng đã phải đi sơ tán đến các vùng nông thôn. Những ai sơ tán theo cơ quan: thoạt tiên được cơ quan chở đi bằng ô tô, tiếp đó là hoàn toàn tự túc. Ban đầu mọi người vẫn phải quay lại Hà Nội đong gạo, sau có thể đong ở những kho gạo địa phương. Các địa phương lúc ấy rất nghèo, ngoài gạo ra người ta vẫn phải về thành phố tiếp tế thực phẩm và những đồ trang bị khác.
                          Hàng tuần từng đoàn xe đạp tay xách nách mang, kìn kìn hai chiều từ nông thôn về thành phố và ngược lại. Chiều đi về địa phương bao giờ cũng nặng nhọc, xe đạp biến thành xe thồ: bao gạo, chăn màn, quần áo, sách vở, bếp dầu, can dầu, can mỡ, chai nước mắm, bọc bánh kẹo, nồi niêu xoong chảo… đủ mọi thứ lỉnh kỉnh khác.
                          Cảnh tượng – có khi là vài ba ông bố vụng về đánh tuột tất cả các thứ ra đường, nom như một mẹt hàng xén bị vương vãi. Phụ nữ cũng phải thồ như vậy, “bon bon xe ta chạy trên mọi nẻo đường”…
                          Có câu chuyện kể về một gia đình: bốn thế hệ đi sơ tán khỏi Hà Nội trên một chiếc xe bò kéo. Người ta gọi với cái tên “nhịp võng xe bò ngày sơ tán” – Đó là hình ảnh một người mẹ trẻ đang cho đứa con mới sơ sinh bú. Một ông cụ già, có lẽ là ông nội cháu bé đội chiếc mũ bông đang đánh xe. Trong xe còn lố nhố mấy đứa trẻ con với đủ thứ nào gạo, thực phẩm, xoong nồi, quần áo… Chiếc xe cứ lọc xọc lăn bánh từ hướng Ngã Tư Sở về mạn Hà Đông.
                     


                          Rồi chuyện về những người chèo thuyền ở bãi Phúc Tân, dưới chân cầu Long Biên – Hồi ấy Phúc Tân còn là bãi, qui tụ nhiều thuyền ghe của dân làm nghề đánh cá trên Sông Hồng. Trong thời kỳ máy bay Mỹ mở rộng đánh phá dữ dội vào Hà Nội, hầu hết cư dân xóm nghề này phải chèo ghe sơ tán lên mạn ngược của sông – nhưng vẫn còn một đội ghe chừng ba mươi chiếc tình nguyện ở lại, đưa người sơ tán từ trung tâm thủ đô băng qua Sông Hồng ra các vùng ngoại thành Gia Lâm, Đông Anh… rồi lên mạn bắc.
                          Họ kể: mỗi chuyến vượt Sông Hồng mất độ 20 phút, thuyền chỉ chứa được 6-7 người, nên phải chở liên tục cả ngày lẫn đêm. Cầu Long Biên thì  đã bị máy bay Mỹ ném bom đánh sập. Nhiều lần thuyền ra giữa dòng, nhìn bom rơi đằng xa, bụi đất vãi đầy mặt nước – Họ vẫn mặc kệ cứ chèo, vì thấy còn quá nhiều người đang đợi qua sông. Chậm giờ nào là nguy giờ đó. Đói mệt, thì dùng chân đạp chèo để rảnh tay gặm bánh mỳ. Lúc đó, họ thấy mình rất khỏe và hết sức gan lỳ.
                          Trên những con đường quốc lộ từ Hà Nội về các tỉnh, đủ thứ hình ảnh đèo bòng, bồng bế nhau đi sơ tán: Một anh chồng đạp chiếc xe đạp Thống Nhất đặt đứa con trai đầu độ 11 tuổi lên yên phía trước, thằng con kế lên yên sau, rồi tới bà vợ ngồi sau cùng kẹp đứa bé ở giữa. Cứ thế theo con đường Quốc lộ 6, họ mải miết đạp về phía Lương Sơn – Hòa Bình. Dọc đường lúc nào mệt thì dừng lại, trải tấm vải nhựa cho cả nhà nằm nghỉ, lấy cơm nắm ra ăn rồi lại đi tiếp.
                          Kia là hình ảnh một cụ già đang bị ốm được con cái đưa đi sơ tán, gặp ở Mỗ Lao về phía Hà Tây. Cụ đang run rẩy trong tấm chăn. Vì Hầ Nội đã có lệnh “cấp tán”, nên dân tình không thể ở lại thành phố được. 
                          Đây nữa là hình ảnh rất ngộ - Một đứa trẻ mắt tròn xoe, ngồi trên chiếc gióng ngang phía trước xe đạp của bố, tay ôm khư khư con búp bê nhựa đã cũ. Đó là món đồ chơi mà bé rất thích, nó nhất định đòi mang theo bằng được. Bởi vậy, mặc dù lồng cồng đủ thứ trên xe… nhưng bố, mẹ vẫn phải chiều con. 
                          Những người đi sơ tán ai cũng ôm đồm như thế cả. Vào mùa đông lạnh  giá, họ không mang theo được gì nhiều ngoài những vật dụng cần thiết như chăn màn, quần áo.
                          Phần lớn những người Hà Nội đi sơ tán trước đó, đã yên ổn. Giờ lớp người đi sau do tình hình căng thẳng, ác liệt quá! Không ai dám gan lỳ ở lại nữa, phải vội vã đi. Các trường phổ thông, trường đại học sơ tán sớm nhất -   Sau đến các cơ sở sản xuất như nhà máy, xí nghiệp, rồi cơ quan, công sở…
                          Thời kỳ Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, Hà Nội có hai bệnh viện lớn: Bệnh viện Việt Đức chịu trách nhiệm cấp cứu bệnh nhân các tỉnh phía bắc. Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận bệnh nhân các tỉnh phía nam. Từ năm 1965, thực hiện yêu cầu sơ tán – bệnh viện Bạch Mai đã chia đôi các khoa, phòng. Một bộ phận đi, còn một bộ phận phải ở lại để cứu chữa cho những người tại Hà Nội – Nơi đang phải hứng chịu hàng loạt trận mưa bom Mỹ giội xuống.
                          Lúc đầu bệnh viện sơ tán đến Phú Thọ, sau chuyển về Ứng Hòa, Chương Mỹ thuộc Hà Tây. Cũng không kịp xây dựng các cơ sở dù chỉ là tạm bợ, phải đặt rải rác ở nhà dân, đình chùa và các công trình công cộng. Để hoàn thành công việc trong thời chiến, toàn bộ nhân lực của bệnh viện như y, bác sĩ, hộ lý, y tá, lao công đều phải làm việc tối đa. Nghĩa là họ phải làm gấp đôi những ngày thường trước kia.
                          Từ tháng 6 năm 1966, nhà máy Cơ khí Hà Nội đã di chuyển an toàn gần 1.500 tấn phương tiện, thiết bị đến 16 địa điểm. Cả trại trẻ của nhà máy cũng được sơ tán lên Hà Bắc.
                          Nhà máy dệt 8-3 với hơn 7.000 công nhân đã phân tán ra nhiều địa điểm, nhưng vẫn duy trì sản xuất liên tục.
                          Các đơn vị sản xuất trọng điểm khác như: Nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy gỗ Cầu Đuống, nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, xí nghiệp Dược phẩm 1, Dược phẩm 2, nhà máy In Tiến Bộ…Hàng chục nghìn công nhân viên chức cùng nhiều gia đình, đều được sơ tán ra khỏi nội thành.
                          Để duy trì sản xuất, Hà Nội phải hướng công nghiệp sang thời chiến. 17 xí nghiệp địa phương, gần 200 hợp tác xã thủ công và 128 tổ sản xuất được đưa ra khỏi thành phố. Mạng lưới thương nghiệp cũng mở rộng ra ngoại thành và các tỉnh lân cận, với gần 500 điểm bán hàng mới.
                          Đề phòng gián điệp tìm hiểu những mục tiêu để đánh phá, ngay cả những đứa trẻ Hà Nội cũng được gia đình và tổ dân phố trang bị cho kiến thức phòng giặc. “ba không” là một trong những điều mà trẻ em ở Hà Nội hay đi sơ tán phải thuộc lòng: không nói, không chỉ, không trả lời – khi có người lạ tìm đến nhà hoặc hỏi dò đường.
                          Nhân dân ở các vùng đến sơ tán là những nông dân nhân hậu, chất phác, giầu tình thương người. Những gia đình Hà Nội về quê sơ tán, được người dân chào đón và dành cho những điều kiện tốt nhất trong sinh hoạt: nào là gian nhà to, “từ đường” cho người sơ tán ở - còn gia đình mình thì ở nhà ngang, nhà bếp. Ngay trong cuộc sống của những người Hà Nội về, bà con cũng tương trợ nhiều: có miếng ăn ngon mang chia phần cho người sơ tán, rau ngoài vườn thì cho ăn chung, đi tát đồng được ít cua cá… cũng đem chia cho gia đình đến sơ tán về nhà mình ở. Có thể nói, bà con đã thương yêu những người sơ tán về quê không khác gì ruột thịt. Tình người khi ấy thật cao cả. Đó là bản sắc của con người Việt Nam: tương thân, tương ái, lá lành đùm lá rách.
                           Chiến tranh, mọi thứ đều thiếu thốn và khó khăn – nhất là đối với những cán bộ viên chức làm công ăn lương, hay là những gia đình đông người. Khi đi sơ tán họ phải ăn mì, ăn bo bo là chuyện bình thường. Ở nhà quê tuy làm nông nghiệp vất vả một nắng hai sương, nhưng lại thường xuyên được ăn gạo mới, cơm thơm. Họ thương những người ở Hà Nội quen cuộc sống đầy đủ, nay gặp cảnh loạn lạc – Có nhà, gia chủ nhiều bữa thường nấu dư một chút, xới ra bát cơm thật đầy đưa sang cho người sơ tán ăn thêm.
                          Bà con hay nghĩ: người thành phố đang sống sung sướng, đầy đủ, nay phải về nông thôn thì khổ lắm! Mình ở nông thôn thiếu thốn, khổ cực quen rồi… cho nên gia đình thường nhường những gì tốt để dành cho đồng bào sơ tán về ở nhờ nhà mình. Có nơi, để chuẩn bị đón đồng bào từ thành phố về: Họ đã chặt cả tre, luồng, đào thêm những chiếc hầm chữ A ở sau nhà – cho bà con về sơ tán lấy chỗ ẩn nấp khi có tình huống báo động. Họ trồng thêm những luống rau ngoài bãi sông; những dây cà, dây bí được giắt vào hàng rào… để có thêm thức ăn cho người sơ tán ở.
                          Các năm tháng đó không phải là không rơi vào cảnh đói khát, khốn khổ… nhưng con người sống thật đẹp!
                          Thời sơ tán có tới 4.000 trại trẻ được lập ra ở ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận. Những trại trẻ này đã tiếp nhận, chăm sóc hàng chục ngàn đứa trẻ và nhi đồng là con em cán bộ, nhân viên các cơ quan, đơn vị, cả những cụm dân cư Hà Nội về sơ tán. Các em, các cháu đều được sống trong sự quan tâm, đùm bọc, yêu thương – để lại những dấu ấn tốt đẹp trong tâm hồn trẻ thơ. Bài học về tình thương người, sự sẻ chia và cả tinh thần tự lập là hành trang quí báu nhất cho những con trẻ qua cảnh sống sơ tán trong thời chiến đó!   
                          Người đi sơ tán không thể dứt bỏ tất cả mà đi – Họ vẫn về thăm nhà, thăm Hà Nội. Trong tâm hồn người Thủ đô khi đó đã quen với cảnh chiến tranh, không còn sợ hãi nữa. Cuộc sống trong chiến tranh của người Hà Nội gắn liền với chiếc xe đạp: để đi làm, đèo thồ các thứ đến nơi sơ tán. Những căn hầm được đào ngay bên nhà, chúng che chở cho họ trong những trận bom đánh dữ dội. 
                          Năm 1964, khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc – người lớn thường tụ tập nói chuyện về chiến tranh, về tầu bay Mỹ và cảnh bom rơi… nhưng trẻ con thành phố thì chưa hiểu gì mấy. Ở nơi có các trường đại học về sơ tán – sinh viên nhộn nhịp đào hầm, đào giao thông hào. Lúc đầu, những chiếc hầm và giao thông ấy toàn được bó bằng tre rồi tấp đất lên. Ít lâu thì bị ải, mục hết. Sau, người ta xây những chiếc hầm chữ chi, chạy dích dắc bằng gạch và đậy nắp bê tông hẳn hoi. Trên lại lấp đất, trồng phơ phất ít ngọn khoai lang, nước mưa luôn luôn xăm xắp trong hầm.
                          Từ năm 1966, các trường phổ thông ở thành phố bắt đầu đi sơ tán. Đám trẻ con khu tập thể thì theo bố mẹ đến các vùng nông thôn hẻo lánh, tùy theo cơ quan mà bố mẹ mình làm việc. Cuộc sống thiếu thốn nhưng cũng yên ả - bởi bom Mỹ thả tận đâu đâu. Những đêm thấy đạn cao xạ bắn lên chi chit, nền trời đỏ rực, nhưng vì ở tít xa nên chúng cũng chẳng bận tâm lắm. Chúng học tại trường làng, thường là trong những ngôi đình khá rộng, thỉnh thoảng trường lại tổ chức đi lao động một vài buổi ở xã.
                          Nhưng chính trong thời kỳ này, trẻ em thành phố mới hiểu về cuộc sống nông thôn là thế nào? Chúng đã biết ra đồng xem hun chuột, mót lúa, tát cá,  tự bện mũ rơm đeo sau lưng để chống bom bi, biết đun bếp bằng củi, bằng rơm rạ, biết gói bánh chưng, nhuộm quần áo bằng nước lá dâm bụt, biết trộn bùn với rơm trát thành vách và làm những bức tường nhà bằng đất…
                          Nói chung, nhờ những năm tháng đó mà những đứa trẻ vốn chẳng biết gì ngoài đi học rồi chạy chơi trong khu tập thể, đã trở nên tháo vát, nhanh nhẹn, tự lập và làm được nhiều thứ.
                          Cảnh đi sơ tán cũng chẳng khác gì những hình ảnh thường thấy trong phim Liên Xô về chiến tranh: Dân Nga rút khỏi thành phố khi quân phát xít Đức đến, để lại sau lưng những dãy phố vắng lặng, tối đen, lá bay đầy trời. Cảnh vừa bi hùng vừa thê thiết.
                          Hà Nội cứ âm ỉ chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu và đẫm máu chắc chắn sẽ đến. Ngay từ giai đoạn đầu cuộc chiến tranh phá hoại: Khi tiếng còi báo động có máy bay Mỹ đến đánh phá được bấm nút từ Bộ tổng tham mưu quân đội – chiếc còi lớn tám loa đặt trên nóc nhà quốc hội rú lên, rồi mười  lăm chiếc còi khác trên toàn thành phố cùng đồng loạt báo động. Lẫn trong tiếng còi báo động là tiếng loa phát thanh khắp nơi: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý!...” – có khi chỉ vài phút sau tiếng còi là tiếng máy bay gầm rú, tiếng bom rơi, tiếng đạn cao xạ bắn lên những vệt lửa sáng lóe bầu trời. 
                          Khi tiếng còi báo yên – những đoàn người lại chui ra từ những chiếc hầm trong lòng đất, lại rộn rã với các công việc đang làm dang dở. Hà Nội đã quen với nhịp sống hối hả của cảnh chiến tranh như thế!
                          Giờ đến thời kì cấp báo hơn, người ta lắp vào chao đèn đường những thiết bị hạn chế ánh sáng. Các khối phố đều phải tập những phương án phòng không. Ngoài những hệ thống loa thông báo của thành phố ở ngoài trời, nhiều gia đình còn đặt thêm những chiếc loa nhựa hình vuông màu trắng trong nhà – Nó cũng được gắn liền với hệ thống truyền thanh của thủ đô: người ta vừa nghe đài Hà Nội, vừa là phương tiện báo động máy bay tiện lợi nhất.
                          Ở những tỉnh có đường tầu hỏa như lên Thái Nguyên, thì tầu đều phải chạy đêm mà không có ánh đèn, để tránh máy bay Mỹ phát hiện. Tầu đi – về vẫn đông nghịt người, ngồi chật như nêm… đến mức hết chỗ, người đứng có khi phải đứng có một chân suốt mấy tiếng đồng hồ, mỏi thì lại đổi. Tầu thời chiến chạy chậm rề rề, đôi khi được thông báo không an toàn… còn phải dừng lại mãi ở ga xép.
                          Vào giai đoạn căng thẳng của cuộc chiến tranh phá hoại, nhất là tình hình được thông báo Mỹ sẽ ném bom rải thảm B52 vào thủ đô – Để cuộc sơ tán dân chúng ra khỏi thành phố nhanh chóng: Hà Nội đã huy động hàng trăm phương tiện từ tầu điện, xe ca, xe tải, cả xe khách của các tỉnh lân cận… về đậu sẵn ở các đầu phố, đón người đi sơ tán không thu cước phí. Khắp nơi vang lên tiếng loa vận động, kêu gọi người dân khẩn thiết, tạm rời Hà Nội để tránh thương vong.
                          Lúc ấy ô tô còn ít nhưng được huy động các xe khách từ nhiều tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phú… Từng đoàn xe rầm rập rời thành phố, khẩn trương nhưng vẫn trật tự. Có một điều kì lạ, người Hà Nội ai cũng tin là đi rồi sẽ trở về! Bởi họ đều tin chắc rằng: Nhất định rồi Việt Nam sẽ thắng Mỹ - Khó có lúc nào con người lại tin vào nước non như lúc ấy!
                          Hướng đi, địa bàn sơ tán dân cư chung của thành phố đã được chính quyền sắp xếp, liên hệ trước. Mọi người chỉ việc bước lên xe là đi, không cần mang theo nhiều tái sản. Mới lại, chủ yếu là cứu người – cứu được người là tốt rồi! Chẳng làm gì có điều kiện ôm đồm mang theo của. Những cán bộ hướng dẫn bảo là đi tạm thời, sẽ có tiếp tế, tiếp viện, có thương nghiệp đi theo phục vụ… nên mọi người cũng thấy an tâm.
                     
                     
                     
                    <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 13:24:10 bởi Nhân văn >
                    nhanvan
                     
                    #25
                      Nhân văn

                      • Số bài : 802
                      • Điểm thưởng : 0
                      • Từ: 08.12.2007
                      • Trạng thái: offline
                      Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 18:17:45 (permalink)
                       
                       
                       
                                                                                                      21-
                       
                            Chiếc xe khách được huy động từ tỉnh Hòa Bình về Hà Nội chở người đi sơ tán, dừng lại gần cửa hiệu cắt tóc Tiến Thành ở phố Huế. Lúc này, trên xe đã đông người. Họ nán lại chờ vợ chồng con cái Tiến Thành lên xe, là chạy thẳng về nơi sơ tán mà thành phố chuẩn bị sẵn.
                            Mặc phong phanh chiếc áo dệt kim đông xuân cổ khoét rộng trễ xuống, để lộ ra bộ ngực phốp pháp như ngực phụ nữ, Tiến Thành hộc tốc chạy lại phía xe. Một tay cầm va-ly, tay kia lễ mễ cái túi xách lớn – Hắn vứt qua cửa lên xuống của chiếc xe khách, quay lại thúc giục vợ còn đứng tần ngần ở cửa nhà.
                            Mụ vợ, người đàn bà gầy đét như con cá mắm đang ẵm đứa con nhỏ chưa đầy tuổi. Cái Nguyệt cũng lạch bạch chạy theo bố về phía xe. Đứa bé bỗng khóc thét lên, tiếng nói to của mụ vợ với chồng làm cho nó sợ hãi:
                      -  Đã bảo đi từ mấy hôm trước thì không nghe! Rõ khổ, bao nhiêu đồ đạc của người ta phải vứt cả lại.  
                            Tóc mụ xổ tung. Tiếng mụ chu chéo như xé vải:
                      -  Thật công cốc tích góp bao nhiêu năm trời. Chuyến này thì ra đường mà sống?
                            Tiến Thành bực bội:
                      -  Không bế con mau lên xe đi à! Cứ đứng đấy mà gào? còn cả cái thân cô nữa đấy, lắm mồm bỏ mẹ.
                            Tiếng còi ô tô giục inh ỏi. Tiến Thành nói như quát vợ: “Đã bảo bế con mau ra xe đi ?”.
                            Mụ vợ vẫn ngẩn ra vì tiếc của.
                      -  Nhưng mà bao nhiêu thứ còn để lại thế kia?
                      -  Để lại! Ra xe mau lên, không có xe nó đi mẹ nó bây giờ.
                            Tiến Thành chạy trở lại quàng cái dây xích để khóa cửa, quát vợ: “Có phải xe riêng của mình đâu mà cứ chần chừ mãi…”. Ở ngoài xe, đám người phải chờ lâu la lên:
                      -  Cái nhà anh chị kia, có đi không thì bảo? Bom nó đánh đến nơi rồi mà cứ đủng đỉnh mãi.
                            Họ kháo nhau:
                      - Này, vợ chồng cái thằng cha ấy mang đến lắm thứ? Xe đã chật, không chừng chúng tháo cả giường mang đi nữa cũng nên.
                            Rồi giục người lái xe:
                      -  Đi đi ông lái! Mặc chúng nó, cho chúng nó biết thân. Đồ tham lam…
                            Cũng có người thương hại, bảo:
                      -  Thôi, đã chờ rồi thì nán thêm một tý nữa, cho người ta lên xe.
                      -  Nhưng vợ chồng hắn cứ lấn quấn mãi như gà mắc tóc ấy, làm bao nhiêu người phải chờ?
                            Người lái xe cũng sốt ruột, thò hẳn đầu ra ngoài cửa xe giục:
                      -  Này, anh chị kia! Có đi thì phải nhanh chân lên chứ?
                            Vợ Tiến Thành cuống quít:
                      -  Dạ, chúng em lên xe ngay đây ạ!
                            Nói rồi, mụ bế con chạy vội tới chỗ xe đỗ. Mụ bảo với người đàn ông đang ngồi trên chiếc ghế cạnh cửa lên xuống:
                      -  Bác làm ơn đỡ hộ em cái bọc.
                            Người đàn ông cúi xuống đỡ cái túi vải lớn, loay hoay tìm chỗ để trong xe. Mấy người quanh đấy càu nhàu:
                      -  Đồ đoàn của nhà anh chị này chiếm gần nửa xe rồi đấy!
                            Vợ Tiến Thành thì thọt thưa:
                      -  Chúng em cũng chỉ vơ vội được ít thứ cần thiết. Khổ, còn bao nhiêu là thứ… các bác ạ! Trông của nả mà xót cả ruột.
                      -  Ôi dào… thời buổi này, giữ được cái thân đã là phúc.
                            Một bà già ngồi ở phía hàng ghế đầu, nói gióng lại:
                      -  Nhà chị đưa con đây tôi bế cho, vào xe tìm chỗ ngồi đi? Mặt trời sắp đứng bóng rồi đấy! Tầm này, không chừng máy bay Mỹ lại sắp đến đánh.
                            Vợ Tiến Thành rối rít cám ơn rồi đưa đứa con nhỏ cho bà già, leo lên xe. Tiến Thành khóa cửa xong cũng chạy vội đến. Cái Nguyệt thì đã nhảy vào trong xe từ trước.
                            Lúc ấy, thằng Lâm – cậu em trai út của Tiến Thành mới từ đường phố Thái Phiên hộc tốc chạy sang. Nó vừa chạy vừa gọi:
                      -  Anh Thành!
                            Tiến Thành giục em:
                      -  Nhanh lên ông tướng, lên xe đi!
                      -  Anh chị định đi đâu?
                      -  Lên Hòa bình ít bữa, yên rồi về.
                            Thằng Lâm lại bảo:
                      -  Anh không về đón thầy và dì à?
                            Tiến Thành nói sẵng với em:
                      -  Đây là xe thành phố đưa người đi sơ tán, chứ có phải xe riêng của tao đâu mà đón? Mà nghe nói, thầy và dì đi từ hôm qua rồi! Mày đi đâu, không ngủ ở nhà hay sao mà không biết?
                      -  À, em đến nhà đứa bạn từ hôm trước.
                           Đang ôm con ngồi gọn trong đống đồ đạc, vợ Tiến Thành nói với ra:
                      -  Chỉ có anh chú chần chừ giờ mới chịu đi, chứ cả Hà Nội người ta đi gần
                      hết rồi! Chú cũng chả quan tâm gì tới nhà cửa? Thời buổi chiến tranh mà cứ
                      lêu lổng mãi.
                           Tiến Thành lại giục em lên xe, nhưng thằng Lâm không lên. Nó bảo:
                      -  Anh chị cứ đi đi! Em phải đi gặp mấy thằng bạn ngoài chợ giời. Em đã hẹn với chúng nó…
                            Nói rồi, thằng Lâm chạy vụt đi. Xe nổ máy, bắt đầu chuyển bánh… còn nghe thấy tiếng vợ Tiến Thành nói với chồng:
                      -  Thầy và dì đáng lý phải đi từ sớm, cứ dùng dằng mãi. Giờ nó đánh đến đít, mới vội vội vàng vàng…
                            Mụ chép miệng: “Khốn, ông bà già nhà mình còn hám của lắm cơ!”.
                      -  Thế nhà chị thì không hám của chắc?
                            Một bà già ngồi trong xe quặc lại. Chiếc xe chạy bằng dầu ma-dút nhả ra  một vệt khói đen xì… lao vút đi trên đường phố.
                       
                                                                            *


                       
                           Lâm dừng lại trước cửa nhà thằng Hùng, người bạn thân của nó. Ngôi nhà đã khóa trái cửa. Lâm ngán ngẩm:
                      -  Thế là nó lại đi rồi!
                            Lâm kéo cho kín cổ chiếc áo khoác màu xám đã bạc phếch, nhún vai bước trên phố. Gió bấc thổi qua dặng cây bên đường, bứt ra khỏi cành những chiếc lá vàng còn sót lại. Những chiếc lá quay tròn rồi rơi xuống đất.
                            Trời đã bắt đầu tối. Thỉnh thoảng nó đưa tay vuốt gạt những giọt nước mưa ở mặt. Những bụi mưa phùn bay mỏng trên khắp thành phố. Rãnh nước hai bên hè chảy lắt rắt, chui vào những ống cống ngầm cuốn theo rác rưởi. Thế là mấy thằng bạn thân “hội chợ giời”, chúng đã đi cả! Trong cảnh phố xá đang giai đoạn báo động, nó bước một mình buồn thiu. Hình như chiến tranh chẳng liên quan gì đến nó? Nó chỉ chán là: không biết khi nào Hà Nội yên tĩnh để mấy đứa bạn trở về, chợ búa lại tấp nập. Tối đến, nó lại cùng bọn thằng Hùng, thằng Tâm… tới rạp Tháng Tám, rạp Công Nhân “phe” dăm ba chục chiếc vé, lấy tiền tiêu sài cho xả láng.
                            Thằng Lâm cứ thủng thỉnh bước trên vỉa hè, cũng chẳng biết nên đi đâu?
                      -  Về nhà ư?
                             Chán ngắt. Mới lại ông bà già đã đi rồi, về thui thủi một mình cũng buồn.
                      -  Đi sơ tán với anh chị?      
                            Chẳng thích, nhất là bà chị dâu lúc nào cũng rỉa rói, gắt như mắm tôm. Nó nhớ mấy đêm trước: khi nghe tiếng còi báo động của thành phố, ông bà già thì vội chui ngay vào hầm – còn nó bò xuống gầm bàn, cuộn tròn trong cái mền chăn… làm một giấc đến sáng.
                           Cũng đã hơn năm nay, chẳng thấy anh Hoàng của nó gửi thư về? Cứ thế, thằng Lâm lang thang trên phố, ngổn ngang hàng trăm ý nghĩ.
                            Một chiếc xe cứu thương có gắn đèn xanh-đỏ quay tít trên nóc xe, rúc còi inh ỏi. Nó nhìn chiếc xe lao vút qua, nghĩ bụng: chắc là có nơi nào ở vùng ngoại ô bị bom đánh? Lúc nẫy, thành phố cũng rú còi báo động – Nó đã nhảy xuống một cái hầm tăng xê ở bên hè.
                            Chốc chốc lại có chiếc xe vận tải, xe khách chở đầy ắp người đi sơ tán vun vút chạy về phía ngoại ô. Một nhóm thanh niên hay tự vệ tay đeo băng đỏ, mang xẻng cuốc, phóng xe đạp thục mạng – Chắc họ đi cứu người bị nạn ở đâu đó? Nó nghĩ vậy. Mấy chiếc xe xích chở những cỗ tên lửa to như ống khói nhà máy, chạy rầm rập trên đường.
                            Những cảnh đó liên tiếp diễn ra trước mắt nó, cái ngược, cái xuôi đan nhau như mắc cửi. Thằng Lâm dừng lại ở ngã tư phố Trần Hưng Đạo, phân vân không biết đi đâu nữa? Những ngày trước, cứ tầm này là nó đã lên rạp Tháng Tám phe vé, người đến xem đứng chật cả đường. Bây giờ thì vắng tanh, vắng ngắt. Vé vào xem phim thừa mứa, ai người ta cần mua vé phe cho tốn tiền. Mới lại, tình hình thế này chắc các rạp chiếu bóng cũng phải đóng cửa rồi.
                            Một chiếc xe mô tô cảnh sát, trên có hai anh công an mặc áo vàng, từ ngả bờ hồ Hoàn kiếm chạy thẳng đến… đỗ xịch ngay trước mặt nó. Một anh hỏi:
                      -  Này em, nhà ở đâu? Sao còn đứng đây?
                      -  À, nhà em cũng ở gần đây thôi ạ!
                            Nó giơ tay chỉ về phía phố Khâm Thiên.
                      -  Gia đình đã đi sơ tán chưa? Nếu chưa… thì về đi, bảo gia đình là phải đi sơ tán ngay!
                            Chiếc xe nổ máy phóng vụt đi. Thằng Lâm kéo lại chiếc cổ áo và quyết định về nhà. Bỗng nghe như có tiếng ai đang gọi? Nó giật mình quay nhìn về phía sau, thì thấy thằng Tâm chạy tới. Lâm hất hàm hỏi:
                      -  Tao cứ ngỡ mày đã theo gia đình đi sơ tán rồi? Thằng Tuế, thằng Hùng, cả thằng “Thanh còi”… chúng nó đi hết rồi!
                           Thằng Tâm hỏi:
                      -  Sao mày chưa đi?
                            Lâm nói giọng có vẻ buồn bã.
                      -  Tao cũng chẳng biết nữa.
                      -  Thế thì theo tao!     
                      -  Mày định đi đâu?
                            Thằng Tâm lại bảo:
                      -  Đi đâu không quan trọng. Cứ biết ra khỏi thành phố ít bữa, yên rồi về. Gia đình tao đang chờ tao đấy! Đi với tao?
                      -  Thì đi!
                            Nói rồi, nó rảo bước theo bạn đi về phía Chợ Hôm, nhà thằng Tâm ở đấy! Trong đời nó, chưa bao giờ nó thấy mình bơ vơ như thế…
                       
                       
                       
                      <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 21:25:40 bởi Nhân văn >
                      nhanvan
                       
                      #26
                        Nhân văn

                        • Số bài : 802
                        • Điểm thưởng : 0
                        • Từ: 08.12.2007
                        • Trạng thái: offline
                        Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 18:23:05 (permalink)
                         
                         
                                                                                                            22- 
                         
                              Sáng hôm nay Bà Giáo vượt về Hà Nội. Bà bảo, suốt đêm qua vì lo cho Ông Giáo mà bà không sao chợp mắt được. Ở trên chỗ sơ tán, chốc chốc bà ra sân nhìn về phía Hà Nội. Mỗi khi nghe thấy tiếng bom nổ đâu đó, thấy những đám lửa bốc lên sáng láng một góc trời, mặt đất dưới chân lắc mạnh… lòng Bà Giáo bồn chồn. Bà tự trách mình thiếu cương quyết để cho Ông Giáo ở lại Hà Nội. Bà cũng rất lo cho Thu - cô con gái của bà, nhưng bà không thể lôi nó theo lên chỗ sơ tán được? Nó là phóng viên của tòa soạn báo Hà Nội Mới, phải ở lại thủ đô để làm việc. Đành vậy, nhưng đằng này Ông Giáo... Bà nghĩ, giờ nhất định phải thúc ông ấy đi cho bằng được.
                              Lúc này, Ông Giáo vẫn đang loay hoay sắp xếp một số giấy tờ, đồ đạc cần thiết cho vào chiếc va-ly, nói với vợ:
                        -  Người ta mong đi, bà thì đã yên tĩnh ở nơi sơ tán rồi… còn quay trở về?
                        -  Nhưng tôi sốt ruột lắm! Ông cứ cố ở lại Hà Nội thế này, ai mà yên được?
                              Bà Giáo chạy đến thu bộ quần áo treo trên mắc, gập gọn cho chồng. Trưa nay khi cơm nước xong, Ông Giáo cũng đành phải theo vợ tới vùng ngoại ô sơ tán ít bữa. Ông nhìn ra cửa sốt ruột:
                        -  Đến giờ mà con bé vẫn chưa về?
                              Nghĩ ngợi thế nào, ông nói tiếp:
                        -  Tôi và bà đi cả, để con bé ở Hà Nội một mình à?
                              Bà Giáo chặc lưỡi:
                        -  Vẫn biết, nhưng nó là phóng viên của tòa báo phải bám trụ ở thành phố? Hơn thế, nó còn ở trong cả đội tự vệ thủ đô nữa đấy!
                              Nói vậy, song Bà Giáo cũng cảm thấy bối rối. Bà bảo:
                        -  Hay là, tôi ở lại với con? Ông về quê sơ tán ít bữa. Ông bà chủ nhà nơi mình đến ở, tử tế lắm! Họ nông dân mà… chân chất, thật thà.
                              Ông Giáo cự vợ:
                        -  Bà tính quẩn. Tôi nghĩ thế này? Dứt khoát là không thể để con bé ở lại một mình được. Hay là… bà lên chỗ sơ tán của con dâu và cháu, nó đi theo cơ quan ở trên Vĩnh Phú?
                        -  Thế còn ông?
                        -  Tôi ở Hà Nội vừa trông nom con gái, cũng tiện cả việc giúp đỡ anh em trên Bộ giáo dục. Cơ quan còn ít người quá!
                              Bà Giáo nguýt chồng:
                        -  Có con Thu nó phải trông nom ông ấy? Cái thân già như ông mà còn đòi trông nom con gái. Ông thì lúc nào cũng chỉ lo cho “Bộ…”, phải nghĩ đến mình một tý chứ! Bao nhiêu thanh niên… bom đạn thế này… Ông ở lại chỉ tổ làm vướng chân họ.
                        -  Bà chỉ nói…
                        -  Mà Bộ giáo dục đã quyết định cho ông đi sơ tán cơ mà?
                        -  Đã đành thế!
                              Vừa lúc, Thu đẩy cửa dắt xe đạp vào nhà. Cô reo lên:
                        -  May quá! Con cứ sợ về không kịp gặp ba, mẹ.
                        -  Có đi thì cũng phải chờ con về, ba mẹ mới đi được chứ.
                              Ông Giáo âu yếm nhìn con. Thu dựng chiếc xe đạp mác “thống nhất” mới khự vào cạnh tường – Đây là chiếc xe đạp Ông Giáo mua theo tiêu chuẩn phân phối của cơ quan, ông nhường để con đi. Thu ôm lấy vai mẹ thở hổn hển.
                        -  Con đi đâu mà phải vội vã thế?
                              Bà Giáo vuốt cho con mấy sợi tóc xõa xuống trán. Thu rời mẹ ra lấy chai nước lọc rót một cốc lớn, uống ừng ực. Cô nói:
                        -  Con được cơ quan cho về để đưa ba, mẹ đi sơ tán.
                               Bước đến chỗ chiếc va-ly của Ông Giáo đang phồng cộm lên, cô bảo:
                        -  Để con xếp lại. Căng thế này thì ba khóa làm sao được?
                        -  Thôi, con để lại các thứ vào chỗ cũ cho ba: quần áo cho vào trong tủ, sổ sách của ba thì đặt lên giá.
                              Dừng lại một tý, Ông Giáo tiếp: “Ba không đi nữa!”. Thu ngước nhìn ba ngạc nhiên.
                        -  Sao thế ba? Sao ba lại không đi sơ tán nữa? Tình hình căng lắm! Trên thông báo, có thể Mỹ sẽ cho cả B52 rải thảm vào Hà Nội đấy!
                              Ông Giáo không nhin con, đi mấy bước rồi rút bao thuốc lá Tam Đảo trong túi áo ngực, lấy một điếu, quẹt diêm châm lửa hút. Ông nói:
                        -  Thế, lớp trẻ các con định dành hết vinh dự cho mình à?
                              Ông rít tiếp một hơi thuốc nữa, bảo: “Trong lúc này, ba cũng có nghĩa vụ phải góp sức già của ba chứ!”.
                              Bà Giáo nói:
                        -  Thế thì mẹ cũng ở lại.
                              Thu ngạc nhiên, hết nhìn ba đến nhìn mẹ:
                        -  Lại cả mẹ nữa?
                              Cô giảng giải:
                        -  Chúng nó đánh phá dữ lắm… ba, mẹ ạ! Đợt này thằng Mỹ còn muốn… đánh cho thủ đô ta trở về thời kỳ đồ đồng, đồ đá cơ đấy!
                              Bà Giáo phật ý, mắng át:
                        - Ba con cô tưởng cái thân bà già này ham sống một mình à? Tôi sống cũng còn vì ba cô, vì cô đấy!
                        -  Thì con có nói gì đâu?
                              Thu cãi lại. Ông Giáo dàn hòa:
                        -  Bà lại nổi nóng rồi.
                              Từ ngoài phố, Lan và Thúy – hai người bạn gái của Thu bước vào nhà. Thu chạy đến đón bạn, hoan hỉ:
                        -  Hôm qua tớ có đến nhà hỏi thăm về tình hình hai cậu? nhưng thấy nhà đều khóa cửa. Tớ đoán chắc gia đình đã đi sơ tán cả.
                              Lan và Thúy gật đầu rồi đến chào Ông bà Giáo. Các cô ríu rít hỏi:
                        -  Tới giờ mà hai bác vẫn chưa đi sơ tán ạ?
                              Thu nhanh nhẩu:
                        -  Ba, mẹ mình còn đang định ở lại bám trụ Hà Nội đấy?
                        -  Ấy chết, ở lại không được đâu hai bác ạ!
                              Lan nói: “Thành phố đã ra thông cáo phải sơ tán ra khỏi thủ đô, càng nhiều càng tốt!”. Thúy chêm vào:
                        -  Nghe đâu: Hiệp định Pa Ri vừa rồi không đi đến kết quả? Ta không kí được văn bản thỏa hiệp với Mỹ.
                              Bà Giáo đon đả:
                        -  Tình hình Hiệp định Pa Ri cụ thể thế nào, hả cháu?
                        -  Cháu nghe lãnh đạo cơ quan phổ biến, phiên họp mới nhất vừa đây giữa ông Lê Đức Thọ với cố vấn Hoa Kỳ Kissinger phải giải tán. Cả hai bên không thống nhất được quan điểm đình chiến.
                              Ba Giáo thở dài:
                        -  Nghĩa là vẫn còn đánh nhau to.
                              Lan đỡ lời:
                        -  Hai bác không thể ở lại Hà Nội được đâu? Sắp tới chúng còn ném cả bom B52 đấy ạ! Chẳng phải chỉ có cơ quan thông báo, báo và đài phát thanh cũng nói ra rả.
                              Thu nói:
                        -  Bởi tình hình căng thẳng như thế nên cơ quan mới cho con về, nhất định phải đưa bằng được ba và mẹ đi sơ tán!
                              Cô vừa xếp cẩn thận đồ đoàn vào chiếc va-ly cho Ông Giáo, vừa tỏ thái độ cương quyết:
                        -  Trưa nay , con sẽ cùng ba, mẹ đi tới chỗ sơ tán. Sớm mai con trở lại Hà Nội, đến cơ quan làm việc cũng được.
                              Bà Giáo vẫn tỏ ra băn khoăn.
                        -  Nhưng vì sao Hiệp định Pa Ri đã họp mấy năm nay rồi mà ông Lê Đức Thọ vẫn không kí kết được đình chiến cơ chứ?
                              Ông Giáo châm lửa hút tiếp một điếu thuốc nữa, mới thong thả nói:
                        -  Thực ra văn bản thỏa hiệp giữa Lê Đức Thọ và Kissinger cũng đã được thống nhất: Theo bản thỏa hiệp đó, Mỹ và các nước đồng minh phải rút hết quân ra khỏi miền Nam nước ta – còn quân đội nhân dân Việt Nam sẽ chính thức ở lại miền Nam. Ta cũng đã nhượng bộ để cho chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn được tồn tại song song với ta, trong một giải pháp hòa bình…
                              Bà Giáo tiếp lời:
                        -  Ồi… cứ đình chiến không còn chiến tranh nữa, là tốt rồi! Trước mắt ai tồn tại cũng được, rồi sau sẽ hay. Thế thì, tại sao Hiệp định vẫn chưa được kí? Tình hình còn ngày càng căng thẳng hơn.
                              Ông Giáo giải thích cho vợ:
                        -  Vì thằng Thiệu nó phản đối kịch liệt, bản dự thảo hiệp định đó vẫn mới chỉ là của giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Hoa Kỳ. Nó nói rằng: Kí kết một hiệp định như thế là hi sinh quyền lợi của Chính quyền Việt Nam cộng hòa.
                              Bà Giáo lại hỏi:
                        -  Thế, thằng Tổng thống Thiệu nó muốn gì?
                        -  Nó yêu cầu các lực lượng quân sự của Việt Nam Dân chủ Công hòa ở miền Bắc – tức là Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng phải rút toàn bộ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Nó tuyên bố rằng: Bắc Việt Nam là Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là Nam Việt Nam! Tồn tại hai nước Việt Nam, không bên nào được xâm lược bên nào.
                              Bà Giáo phản đối:
                        - Như thế … thế nào được? Cả nước Việt Nam người ta chỉ là một.
                              Ông Giáo rít tiếp một hơi thuốc lá dài nhả khói lên trời, rồi ra giọng giảng giải:
                        -  Thế cho nên phiên họp vừa đây ở Hội nghị Pa Ri mới bị vỡ. Tổng thống Nixon cho gọi Kissinger về Washington rồi!
                              Lúc này Thu mới cự lại Ông Giáo:
                        -  Ba nắm tình hình rõ như thế, mà còn định ở lại Hà Nội không chịu đi sơ tán?
                              Bà Giáo được dịp nói móc chồng:
                        -  Ba cô còn phấn đấu để trở thành anh hùng !?
                              Rồi bà kiên quyết:
                        -  Đã như vậy, đợt này ông phải lên chỗ sơ tán của tôi tạm lánh ít ngày, xem tình hình ra sao rồi hãy hay!
                              Ông Giáo chưng hửng:
                        -  Thế, bà quyết định là tôi và bà đến chỗ sơ tán của bà ở Ba La – Bông Đỏ, chứ không lên chỗ sơ tán của con dâu ở Vĩnh Phú à?
                        -  Con dâu nó đi theo cơ quan. Con nhỏ theo mẹ là chuyện bình thường, chứ tôi với ông cũng đến chỗ đó nữa, không tiện. Mới lại, chỗ tôi đang sơ tán bây giờ… gia đình tốt lắm! Ông lên đấy với tôi, người ta sẽ chào đón. Nhân tiện, hôm nay cái Thu nó cũng lên chơi – Lần nào tôi về, chị chủ nhà cũng tíu tít hỏi thăm ông và cái Thu đấy!
                              Nói rồi, Bà Giáo quay về phía Lan và Thúy.
                        -  Hai cháu ở đây chơi với em, bác vào bếp làm cơm. Hai cháu ăn cơm với gia đình luôn thể.
                        -  Dạ, cám ơn bác! Bác đừng nấu cơm chúng cháu. Bọn cháu chỉ tạt qua thăm Thu và hai bác, phải về ngay ạ.
                              Lan tiếp lời của Thúy:
                        -  Chúng cháu tranh thủ về Hà Nội lấy ít đồ đạc. Mai phải trở lại cơ quan trên chỗ sơ tán, bác ạ!
                              Bà Giáo vội đi vào phía trong nhà bếp, đến cửa còn ngoái đầu nói với chồng:
                        -  Ông tranh thủ gói ghém đồ đoàn cho cẩn thận. Tôi chỉ vào nấu nướng một loáng. Ăn cơm xong, ta lên đường luôn.
                              Bà mẹ đi khuất, Thu nói với ba:
                        -  Ba xem còn những thứ gì cần mang theo đến nơi sơ tán thì ba chuẩn bị nốt đi. Chúng con lên phòng của con nói chuyện một lát.
                              Hai người bạn gái cùng Thu đi lên gác, căn phòng mà cô và mẹ ở đó. Họ ngồi xuống chiếc giường cá nhân của Thu trò chuyện. Thúy kể về tình hình cơ quan nơi sơ tán, rồi tình cảm của bà con địa phương đã đùm bọc anh chị em nhân viên, cán bộ thế nào? Các bạn gái của Thu, ai cũng khen bà con nông dân tính nhân hậu, thật thà.
                              Lan, cô bạn xinh xắn vừa tốt nghiệp Đại học dược, được điều về công tác trong một bệnh viện tận Ba Vì. Cô cũng đưa cả bố mẹ già lên đó ở với mình.
                         

                         
                                                            Hồ Gươm thời chiến tranh     


                              Thu thì kể cho hai bạn nghe nghề phóng viên, phải thường xuyên đi tới các tỉnh lấy tư liệu viết bài. Cô nói về những buổi đến với anh em bộ đội trong đơn vị tên lửa, pháo cao xạ phòng không… đã ríu rít chuyện trò với các chiến sĩ vui như thế nào? Những buổi cô ra ngoại thành, nơi bom Mỹ mới ném bom, vừa nắm tình hình vừa tham gia cứu người bị nạn. Có bận cứu người bị bom ném sập nhà, đang ở bên trong thì một bức tường đã đổ… may không ai việc gì. Thu nói:
                        -  Mình cũng hú vía, một tý nữa bị bức tường đổ đè lên người… thì làm sao còn về đây gặp bọn mày được?
                              Cô còn dặn hai bạn:
                        -  Chớ có nói chuyện đó với ba và mẹ tớ, chỉ làm cho các cụ phải lo lắng.
                              Ba người bạn gái lâu lâu mới được gặp nhau, chuyện tưởng như không bao giờ dứt.
                        -  Ấy chết, mải chuyện trò? Tớ đi lấy đường pha cho mỗi cậu một cốc nhé!
                              Thu vừa hòa đường pha nước vừa hỏi:
                        -  Thế, anh kỹ sư bảnh trai của cậu… vẫn còn theo đuổi chứ Lan?
                        -  Good-bye rồi!
                              Lan trả lời: “Thấy tớ được điều về công tác ở tỉnh lẻ, anh ta quay lưng ngay!”.
                        -  Nhưng mà này…
                              Lan nói tiếp: “Chúng tớ muốn biết về tình hình anh Hoàng của cậu cơ? Người chiến binh yêu quí! Cậu có hay nhận được thư của Hoàng không?”.
                        -  Tớ cũng mới nhận được thư của anh ấy mấy hôm trước.
                              Thu bảo vậy. Lúc này, Thúy rời mắt ra khỏi cuốn truyện lấy trên giá sách, vồn vã hỏi:
                        -  Thế, Hoàng kể chuyện chiến trường miền Nam thế nào? Ác liệt lắm nhỉ!
                        -  Hoàng nói tình hình căng thẳng lắm!
                              Thu bảo. Lan đỡ lời, cứ như cô là người rất thông thạo tình hình chiến cuộc.
                        -  Tất nhiên, chẳng cần phải kể.
                              Thúy thở dài vẻ cảm thông với sự chờ đợi của Thu.
                        -  Hoàng đi cũng đã năm năm rồi còn gì? Tình hình ngoài chiến trường như thế, khó có điều kiện về phép lắm!
                        -  Hơn năm năm, già năm năm rưỡi.
                              Lan lại chêm vào. Thúy an ủi bạn:
                        -  Gần sáu năm biền biệt và chờ đợi, phải thế không Thu?
                              Thu gật đầu và nói:
                        -  Mình tính: Hoàng nhập ngũ ngày 27 tháng 3 năm 1967, đến tháng 2 năm Mậu Thân 1968 thì rời miền Bắc vào chiến trường Tây Nguyên – Tới giờ, kém bốn tháng là đầy sáu năm.
                              Lan ôm lấy vai bạn.
                        -  Dù sao thì cậu vẫn còn có người để mà chờ, còn mình thì good-bye…  không biết sẽ chờ đợi ai?
                              Thu đưa nước cho các bạn.
                        -  Kìa, uống nước đi chứ! Đường tan từ lâu rồi.
                              Thúy đỡ cốc nước từ tay Thu, thấy Thu cứ tủm tỉm cười mới hỏi:
                        -  Cậu có gì vui mà tủm tỉm cười suốt thế? Chắc còn dấu bọn mình điều gì phải không?
                        -  Không phải là tớ dấu, mà là tớ chưa kịp kể.
                              Thu nói. Lan đặt cốc nước xuống chiếc bàn gần đấy, nhìn Thu vẻ soi mói:
                        -  Thế thì kể đi. Chắc mày được đề bạt vượt cấp, lên làm trưởng phòng ở tòa soạn báo chứ gì?
                        -  Chuyện về anh Hoàng cơ?
                              Cả hai người bạn gái của Thu đều ồ lên.
                        -  Chuyện gì vậy? Chuyện gì của anh Hoàng mà làm cho mày vui thế, kể cho chúng tao nghe đi!
                        -  Hoàng nói, đầu năm tới anh ấy sẽ được về phép.
                        -  Thế à?
                        -  Nếu Hoàng về phép lần này thì cưới thôi, Thu ơi!
                             Lan và Thúy ôm chầm lấy bạn, cứ như đó là tin mừng của chính họ. Thu “suỵt” hai bạn:
                        -  Nói khẽ chứ! Tớ chưa kể cho ba, mẹ tớ biết đâu.
                        -  Thế thì phải báo ngay tin về ông con rể tương lai, để hai bác mừng.
                        -  Các cậu này, đã cưới đâu mà dâu với rể?
                        -  Thì gọi dần đi là vừa. Nói nghe có vẻ xa xôi - sang “đầu năm tới” chỉ còn một – hai tháng nữa, chứ bao nhiêu? Bây giờ đã là tháng 12 rồi.
                        -  Nhưng chiến tranh, bom đạn thế này? Chuyện cưới xin… có lẽ phải để yên yên một tí đã.
                              Thu nói có vẻ ngập ngừng.
                        -  Biết bao giờ yên?
                              Lan lại giục bạn: “Tớ thấy khối đôi: họ báo cho gia đình biết trước để chuẩn bị. Anh xin đơn vị nghỉ phép dăm ba ngày, tạt về là cưới liền.”.
                              Thúy họa theo:
                        -  Có khi cưới xong, anh chị chỉ ở với nhau được một-hai hôm… anh đã phải trở về đơn vị. Thời chiến mà…
                        -  Nhưng đấy là anh ta có điều kiện đóng quân ở miền Bắc. Đằng này, anh Hoàng ở mãi tận chiến trường miền Nam.
                              Thu băn khoăn.
                        -  Thì lại càng phải tranh thủ cưới ngay chứ sao!
                              Lan vẫn giục. Thúy cũng vun vào:
                        -  Lan nó nói đúng đấy, Thu ạ! Chiến tranh thế này, ở tận mặt trận trong đó mà được đơn vị cho về phép là may mắn lắm! Cậu nên báo cho hai bác biết, để chuẩn bị trước. Hoàng về, bảo anh ta thúc gia đình nhà trai tổ chức cưới.
                               Lan kéo dài giọng như răn đe:
                        -  Không tranh thủ thời cơ mà cưới á? Mình là con gái, có thì… chờ “yên” thì thành mõ già hả chị?
                        -  Thôi được rồi, thì cưới.
                              Thu cười phấn chấn. Cô quay sang Thúy hỏi:
                        -  Cứ mải chuyện của tớ mà chưa hỏi cậu: Thúy chưa kể cho bọn này nghe về chuyện của đằng ấy đấy!
                        -  Chuyện tình yêu hay cuộc sống?
                              Thúy hỏi lại.
                        -  Cả hai.
                        -  Chuyện tình yêu của mình thì dài dòng lắm, khi nào thư thả mình sẽ kể cho các cậu nghe!
                        -  Thế còn cuộc sống?
                              Thu nhìn Thúy dò hỏi: “Tớ hỏi thật nhé, làm công tác ấy cậu có vui không?”.
                        -  Kể ra, lúc đầu tiên vào học cái ngành kỹ sư nông nghiệp, mình cũng thấy chán nản.
                        -  Thế bây giờ?
                        -  Vấn đề là ở chỗ: đi sâu vào nghề nghiệp và tìm thấy cái mới của nó.
                        -  Thì cậu vẫn có năng khiếu về môn “sinh vật học” mà…
                              Cứ thế, ba người bạn gái tào lao bao nhiêu chuyện. Lan ngước nhìn chiếc đồng hồ báo thức Liên Xô của nhà Thu đặt trên bàn, giục Thúy:
                        -  Đã gần 11 giờ trưa rồi đấy! Mình cũng phải về để cho cái Thu nó cơm nước, còn đưa hai bác đến chỗ sơ tán.  
                        -  Ừ, thôi về. Đêm nô-en bọn này sẽ về Hà Nội cùng cậu đi chơi suốt đêm.
                              Ba người bạn gái ôm hôn nhau thân thiết. Họ xuống dưới nhà chào Ông Giáo rồi chia tay. Khi Thu tiễn các bạn quay vào, vừa lúc Bà Giáo cũng từ nhà trong đi ra. Cô hỏi:
                        -  Mẹ nấu xong cơm rồi ạ!
                        -  Ừ, mẹ nấu xong rồi. Hai ba con tranh thủ vào mà ăn.
                              Ông Giáo đang ngồi trầm ngâm uống nước, cất tiếng hỏi con:
                        -  Thằng Hoàng nó có viết thư về không con?
                        -  Dạ, con cũng mới nhận được thư của anh ấy hôm vừa rồi ạ! Anh ấy gửi lời hỏi thăm ba, mẹ.
                              Bà Giáo vồn vã:
                        -  Thế, nó có khỏe không con? Nghe nói, ở Tây Nguyên đánh nhau ác liệt và phải sống kham khổ lắm!
                              Bà Giáo lại thở dài thườn thượt.
                        -  Nhưng dù sao thì cũng còn nhận được của nó lá thư mà biết tình hình. Đằng này, anh trai con biền biệt mấy năm nay chẳng có tin tức gì. Không biết sống, chết ra sao?
                              Thu biết mẹ đang lo lắng cho anh Tâm. Lòng cô cũng xót xa thương nhớ anh, nhưng chẳng biết làm sao? Cô lặng lẽ ngồi xuống ghế. Ông Giáo lại rút một điếu Tam Đảo, châm lửa hút rồi chậm rãi nói:
                        -  Thằng Hoàng thì đánh nhau tít trên Tây Nguyên, thằng Tâm lại chiến đấu ở mãi dưới đồng bằng. Chiến trường chỗ nào chả ác liệt và gian khổ? 
                              Bà Giáo dặn Thu:
                        -  Mặc dù đã lâu không nhận được thư anh, nhưng con vẫn phải thường xuyên viết thư vào cho anh.
                        -  Tháng nào con cũng viết cho anh Tâm một, hai lá… chẳng hiểu anh ấy có nhận được không nữa?
                              Thu ngẫm nghĩ giây lát rồi mới thưa:
                        -  Anh Hoàng viết thư cho con nói là, sang xuân anh ấy được đơn vị giải quyết cho về nghỉ phép, ba mẹ ạ!
                              Cả Ông bà Giáo đều reo lên:
                        -  Thế à!
                              Bà Giáo hỏi chồng, đầy nhã ý:
                        -  Nếu Hoàng nó được về phép thì hay quá! Ông thấy thế nào?
                        -  Ý bà nói thế là thế nào?
                              Bà Giáo quay về phía Thu:
                        -  Thế, anh Hoàng nói với con sẽ được về nghỉ phép bao lâu?
                        -  Dạ, anh ấy nói ở chiến trường xa nhiều năm… về phép ít nhất cũng phải được một tháng ạ!                                  
                              Bà Giáo lại quay về phía Ông Giáo:
                        -  Ý tôi nói là… thằng Hoàng về phép chuyến này thì cho chúng nó cưới đi, ông ạ!                                                    
                        -  Nhưng phải xem ý của thằng Hoàng thế nào đã chứ?                                     
                              Ông Giáo nhìn con gái hỏi:
                        -  Mẹ con nói thế thì con thấy thế nào?
                              Thu tủm tỉm cười, hết nhìn mẹ rồi nhìn ba:
                        -  Tùy ba và mẹ. Con nghĩ, chắc anh ấy cũng không có gì khó khăn đâu.
                              Thực ra trong thư Hoàng cũng đã nói với cô, đợt này về phép sẽ làm lễ cưới. Nghe con nói vậy, Bà Giáo vui mừng ra mặt. Bà bảo:
                        -  Trong thời buổi chiến tranh này, các anh bộ đội về phép thường tranh thủ cưới vợ, rồi mới đi.
                        -  Mẹ làm như là… cứ bộ đội về phép, ai cũng lấy vợ cả ấy?
                        -  Thì đa số thế! Tốt rồi, vậy là tốt rồi!
                        -  Mẹ bảo cái gì tốt?
                              Thu thừa biết mẹ định nói gì nhưng cô vẫn gặng hỏi. Bà Giáo hoan hỉ:
                        -  Thì, tổ chức cưới. Anh chị lấy nhau rồi cho ba, mẹ đứa cháu ngoại để bế… vậy chả là tốt à?
                        -  Nhưng anh Hoàng chỉ đi phép, đã được về hẳn đâu mà mẹ nói đến cháu ngoại?
                        -  Thì ai nói nó phải về hẳn. Về một tháng phép, chả lẽ anh chị không cho chúng tôi được đứa cháu?
                        -  Mẹ này! Chiến tranh mà mẹ cứ làm như hòa bình.
                              Ông Giáo vẫn ngồi tủm tỉm cười.
                        -  Thôi, bà xem cơm nước thế nào cho ba con tôi ăn. Sắp 12 giờ trưa rồi đấy!
                              Bà Giáo hứng khởi bảo chồng:
                        -  Mải chuyện trò mãi. Cơm canh tôi đã dọn sẵn ở dưới nhà, ba con ông chỉ việc xuống ăn. Ăn xong, nghỉ ngơi một tý rồi ta đi về quê kẻo muộn.
                         
                                                                               *
                         
                        <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 21:33:02 bởi Nhân văn >
                        nhanvan
                         
                        #27
                          Nhân văn

                          • Số bài : 802
                          • Điểm thưởng : 0
                          • Từ: 08.12.2007
                          • Trạng thái: offline
                          Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 18:26:20 (permalink)
                           
                           
                           
                                Khi Ông bà Giáo cùng với cô con gái về đến nơi sơ tán, trời đã chiều tối. Đó là một làng quê có tên gọi là “Xốm”, ở phía trong Thị trấn Ba La – Bông Đỏ thuộc Tỉnh Hà Tây.
                                Cụ chủ nhà phải đến tám mươi tuổi. Cụ vận một bộ đồ nâu, đang ngồi trên chiếc tràng kỉ kê giữa gian nhà chính. Đó là cụ Lễ, mái tóc đã bạc trắng như cước. Thấy Bà Giáo đi vào, cụ Lễ móm mém cười hỏi:
                          -  Bà Giáo đã về đấy à, sao lại chỉ có một mình thế?
                                Vừa lúc Ông Giáo và Thu bước vào, nét mặt cụ Lễ rạng rỡ hẳn lên.
                          -  À, đây rồi! Chắc hẳn là Ông Giáo phải không?
                                Rồi cụ nhìn Thu một lượt từ chân lên đầu, hơi ngỡ ngàng: “còn đây là…”.
                          -  Dạ, chào cụ. Cháu là Thu ạ!
                                Thu lễ phép đáp lại lời cụ chủ.
                          -  Nghe mẹ cháu đã kể về cháu, cả ba cháu nữa… mà nay gia đình mới gặp.
                                 Cụ Lễ bảo thế. Tình cảm ở vùng quê thật dễ thân thiết, cứ như những người ruột thịt đi xa lâu ngày gặp lại nhau. Mọi người chào hỏi thân mật xong, cùng ngồi xuống bộ tràng kỉ. Cụ chủ cầm chiếc ấm pha trà nhỏ, định rót nước vào các chén. Thu vội đón và rót thay cho cụ. Cụ chủ hướng ra cửa gọi:
                          -  Thắm ơi! Cô Giáo đã về rồi đây này. Cả nhà cùng về, lên đây thầy bảo.
                                Nghe tiếng cô gái nói rõ to từ dưới bếp vọng lên:
                          -  Con đang dở tay tí chút, chờ một téo con lên!
                                Thắm là cô con gái út cụ Lễ. Cụ bà sinh được năm người con, bốn gái một trai… thì bị mất, khi Thắm mới lên năm tuổi. Ba cô con gái đầu của cụ đều lấy chồng ngoài tỉnh, thỉnh thoảng cũng tranh thủ tạt về thăm cha già. Người con trai là anh của Thắm đã lấy vợ, hiện giờ đang ở ngoài chiến trường, chỉ có cô con dâu tên là thơm ở với cụ, đi làm đồng chắc cũng sắp về.
                                Cụ Lễ ở trong một căn nhà gỗ năm gian chia làm ba phòng, lợp ngói. Tuy không phải là gỗ thật quí, nhưng cột kèo đều được làm bằng loại gỗ tốt.
                          Do tổ tiên để lại. Gian phòng giữa rộng nhất đặt bộ tràng kỉ tiếp khách, góc phòng kê một chiếc giường gỗ trên có trải chiếu hoa cho cụ Lễ nằm. Phòng bên của cô Thắm nhưng nay nhường cho Ông bà Giáo đến ở. Thắm sang ngủ với chị dâu ở phòng bên nữa.
                                Khi Ông bà Giáo và Thu đến, nhất là biết Ông Giáo cũng sẽ ở lại, cụ Lễ vui lắm! Nghe nói, mai Thu phải trở về Hà Nội sớm, cụ chủ tỏ ra ái ngại dặn dò:
                          -  Cháu phải ở lại thủ đô công tác, thì đã đành. Đó là việc của cơ quan, nhưng phải cẩn thận cháu nhớ! Nghe thấy tiếng báo động có máy bay là phải xuống hầm ngay, chớ có chủ quan.
                                Cụ chỉ ra phía trái nhà, nơi có một chiếc hầm với mái che mới được trát vôi vữa, bảo Thu:
                          -  Đó là căn hầm trú ẩn nhà làm cho mẹ cháu! Khi mẹ cháu về đây, lão phải thúc giục các con đào hầm ngay.
                                Cụ quay về phía Ông Giáo nói: “Cái hầm này lão cho đào sẵn, còn để đón cả Ông Giáo về sơ tán đấy!”.
                                Ông Giáo tỏ lời cám ơn cụ. Vừa lúc, Thắm từ dưới bếp chạy lên. Đó là một cô gái khá bụ bẫm, trông tươi tắn, hồn hậu, trạc ngoài hai mươi tuổi, chưa lập gia đình. Nghe nói, cô đã có người yêu nhưng anh ấy cũng đã ra chiến trường. Thắm mới tốt nghiệp khoa y tá, được điều về làm ở phòng y tế của xã để dễ bề chăm sóc cha già.
                          -  Con nấu cơm cả cho cô chú và em nó ăn luôn.
                                Cụ Lễ nói với Thắm rồi quay sang phía Ông bà Giáo:
                          -  Cơm cũng chỉ có canh dưa và mấy con cá tép, cái Thơm nó bắt ở ngoài mương về. Bữa này, Ông bà Giáo và cháu Thu ăn với gia đình cho vui.
                                Đã sống với gia đình một thời gian nên Bà Giáo hiểu: Người nhà quê hiền lành, chân thật và quí người – nên bà cám ơn cụ chủ chứ không từ chối. Dọc đường Bà Giáo đã mua một túi hoa quả với ít bánh kẹo để làm quà cho gia đình. Khi Bà Giáo đưa, cụ chủ cứ phàn nàn mãi:
                          -  Tình hình phải về quê sơ tán thế này là khó khăn lắm rồi, mà Bà Giáo còn hoang phí mua nhiều quà thế?
                                Trời tối hẳn thì Thơm, cô con dâu cụ chủ cũng đi làm đồng về. Chị khoảng 24-25 tuổi, như bông hoa mới nở mời đó, đang độ xuân thì mà chồng lại đi xa. Cảnh chiến tranh, trai tráng làng quê phải đầu quân đi hết… chỉ còn toàn đàn bà, con gái ở lại, thật tội.
                                Tối đó, Ông bà Giáo và Thu ăn cơm cùng gia đình. Dẫu bữa ăn chỉ có cơm canh với món cá kho đạm bạc, nhưng mọi người đều thấy rất ngon lành. Thu có cảm tưởng không khí ở làng quê thật đầm ấm. Đưa ba mẹ về sơ tán nhìn cảnh sống như thế, lòng cô cũng yên tâm.

                           
                           
                              Đêm đó - Ông bà Giáo thì ở ngay gian phòng bên, còn Thu sang ngủ chung với Thắm và người chị dâu. Một loáng họ đã trở nên thân thiết, nhất là Thu và Thắm, cứ như đôi bạn thân lâu ngày gặp lại… rối rít kể cho nhau nghe đủ chuyện. Chị Thơm đi làm đồng về mệt, chuyện trò một tí là lăn ra ngủ liền.
                                Nói chuyện một lát, Thắm cũng ngủ thiếp đi. Thu kéo chăn đắp kín cho bạn rồi vén màn rón rén bước ra sân. Lòng cô thao thức không ngủ được. Thu ngắm nhìn cả trời sao, những vì sao đêm mùa đông heo hút. Làn gió lạnh từ ngoài đồng thổi về, Thu khẽ rùng mình. Cô cứ thẩn tha đi từng bước trên sân, lòng lại nghĩ về anh.
                                Một tình cảm rạo rực trào lên trong con người Thu. Cô tưởng tượng những ngày tới, khi anh về phép… với niềm vui thật là khó tả. Cả ngày hôm nay, từ những người bạn gái đến ba mẹ Thu – khi được cô báo tin anh sắp về... ai cũng vồn vã giục cô phải cưới. Ôi! Một lễ cưới sẽ được tổ chức – Đó là một ngày trọng đại của người con gái. Người con gái nào vào tuổi xuân thì mà chẳng ước mơ, trong đời có một lần mặc đồ áo cưới !?
                                “Anh thân yêu! Ở tận chiến trường xa xôi, có nghe thấy tiếng thầm thì của em không? Đêm nay anh ở đâu, đang hành quân hay trong một trận chiến đấu máu lửa. Ôi, ước gì lúc này anh cũng có những phút yên tĩnh, thao thức trong đêm như em – Thu đang nghĩ đến anh đây, anh có biết không?”.
                                Bỗng Thu lại nhớ về tối đó bên con suối rừng, ở nơi cô theo trường sơ tán. Phải, lần ấy cô đã trao cả cái quí nhất của người con gái cho anh. Nhớ đến hình ảnh mình khi trần truồng nằm bên bờ suối, Thu tự mắng mình: Đúng là vô duyên! Nhưng rồi, cô lại cười với mình trong đêm vắng. Mắng mình thế thôi, chứ cô biết… nếu có anh ở đây, thì cô sẽ lại làm cái chuyện vô duyên ấy với anh. Trong lòng cô, cô đã coi anh như chồng của mình rồi.
                                Từ cái tối đó đến giờ, thế mà đã gần sáu năm rồi, anh ạ! Nhớ câu ca dao:
                                           Dao đâm vào thịt thì đau
                                           Thịt đâm vào thịt nhớ nhau suốt đời
                                Em không bao giờ quên cái lần đầu tiên em dành cho anh đâu! Cô thấy thương anh quá. Ở ngoài chiến trường bom rơi, đạn nổ, cuộc sống khổ cực – Cả tuổi xuân của anh, nào có được hưởng chút vui thú nào đâu? Nghĩ vậy, Thu lại thấy vui vui: Chính cô đã dành cho anh được niềm lạc thú, sung sướng ấy! Nếu khi đó từ chối anh, có lẽ bây giờ cô sẽ phải ân hận lắm? Cô từng nghe kể: nhiều anh chiến sĩ trẻ vào chiến trường cũng chỉ mới tuổi đôi mươi, đã phải hy sinh trên chiến trận. Đến khi chết vẫn chưa được biết hương vị “yêu” là gì? Chưa được biết về đàn bà… thấy các anh ấy tội quá!
                                Miên man suy nghĩ, Thu không hay biết mẹ đã ra đứng sau lưng từ lúc nào? Đêm nay, Bà Giáo cũng không ngủ được. Bước nhẹ ra cửa, bà thấy con gái đang đứng trầm ngâm trong đêm. Bà Giáo lặng lẽ nhìn con, nhưng không nói. Như có một linh tính, Thu quay người lại thì trông thấy mẹ. Cô đến gần Bà Giáo, hỏi nhỏ:
                          -  Mẹ vẫn chưa ngủ à?
                                Bà Giáo lắc đầu rồi nhắc con:
                          -  Con nhớ thỉnh thoảng lên thăm chị dâu và cháu Kỳ Anh?    
                          -  Con cũng mới lên đó về, mẹ ạ!
                                 Cô bảo: “Chỗ chị dâu con và cháu sơ tán, được cơ quan chăm sóc chu đáo lắm, mẹ không phải lo.”.
                                Bà Giáo lại thở dài.
                          -  Anh Tâm con mấy năm nay không có tin tức, thư từ gì? lòng mẹ cứ bồn chồn không yên. Nói dại, ngộ nhỡ…
                          -  Chắc không có chuyện gì đâu, mẹ ạ! Do tình hình đánh phá ác liệt, thư từ ở chiến trường gửi về hay bị thất lạc thôi.
                                Thu an ủi mẹ như thế, chứ thực tình… lòng cô lo cho anh nhiều khi như lửa đốt. Dừng lại ít phút, Bà Giáo nói tiếp:
                          -  Nghe tin thằng Hoàng sắp được về phép, mẹ mừng quá! Thỉnh thoảng con cũng nên tạt qua nhà Hoàng, thăm hỏi gia đình. Nhất là đối với ông bố già? Dù sao thì con người ta cũng ra chiến trường.
                          -  Con có tới hỏi, bên ấy cả nhà cũng đi sơ tán rồi ạ!
                          -  Ừ nhỉ! Mẹ quên khuấy. Với tình hình căng thẳng hiện nay, trẻ con và người già đều phải đi sơ tán hết.
                                Bà Giáo lại nói:
                          -  Thế, còn chuyện của con? Khi anh Hoàng về phép thì sẽ tổ chức đám cưới. Con cũng nên tranh thủ viết thư trao đổi với anh ấy trước.
                          -  Dạ, vâng ạ!
                                Rồi cô giục mẹ:
                          -  Đêm sương lạnh, mẹ vào nhà ngủ đi kẻo bị cảm.
                          -  Con cũng phải vào ngủ đi chứ! Mai còn về Hà Nội sớm.
                                Tiếng gà trong chuồng đã gáy báo sang canh. Cơn gió mùa đông thổi từ ngoài đồng về ớn lạnh. Bà Giáo vào phòng ngủ của bà, còn Thu bước sang buồng bên rón rén nằm xuống cạnh Thắm. Cảnh đêm làng quê thật là yên tĩnh, như thể ở nơi đây không có chiến tranh vậy. 
                                      
                          <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 21:36:56 bởi Nhân văn >
                          nhanvan
                           
                          #28
                            Nhân văn

                            • Số bài : 802
                            • Điểm thưởng : 0
                            • Từ: 08.12.2007
                            • Trạng thái: offline
                            Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 21:47:06 (permalink)
                             
                             
                             
                                                                                                    CHƯƠNG VI.
                             
                                                                         HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM
                             
                                                                                                                                       23-             
                                  Sau thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong chiến dịch “Lam Sơn 719” năm 1971, ở miền Nam Quân giải phóng liên tục mở các cuộc tấn công trên khắp chiến trường. Qua chiến dịch xuân hè 1972, làm thất bại kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ.
                                  Tại Pa Ri đầu tháng 12.1972, cuộc đàm phán Việt Nam – Hoa Kỳ một lần nữa lâm vào bế tắc. Phía chính quyển Việt Nam Cộng Hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phản đối kịch liệt bản dự thảo hiệp định, mà giữa Hoa Kỳ và Hà Nội đã thống nhất để chuẩn bị kí. Nội dung cốt lõi của bản dự thảo đó là: Quân Mỹ và đồng minh sẽ rút hết ra khỏi Việt Nam – và ở miền Nam vẫn tạm thời song song tồn tại cả Quân đội nhân dân Việt Nam cùng chính quyền Việt Nam Cộng Hòa – để giải quyết nội bộ, bằng một cuộc tổng tuyển cử của nhân dân.
                                  Nguyễn Văn Thiệu đòi hỏi khi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, thì Quân đội nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng phải rút ra khỏi miền Nam,  trở về Bắc. Phía Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở Hà Nội không chấp nhận như thế, vì làm vậy là đặt họ ngang hàng với kẻ xâm lược là Hoa Kỳ? tất yếu, khiến Quân giải phóng sẽ trở thành yếu thế.
                                  Nixon không muốn mang tiếng là bỏ mặc Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nên phía Hoa Kỳ cũng đòi hỏi phải thay đổi lại dự thảo đó.
                                  Mỹ lật lọng.
                                  Ngày 5 tháng 12, Nixon điện cho Kissinger: “Hãy để một chỗ ở cửa cho Tôi có thể sẵn sàng cho phép ném bom ồ ạt miền Bắc Việt Nam trong thời gian nghỉ ngơi đó”.
                                  “chỗ hở ở cửa cho cuộc họp tiếp…” để làm gì? - Tức là Mỹ sẽ mở chiến dịch ném bom rải thảm vào Hà Nội và các thành phố trọng yếu khác như Hải phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn… đưa miền Bắc về “thời kì đồ đá”. Buộc Hà Nội phải ngồi vào thương thuyết, chấp nhận yêu cầu của Hoa Kỳ và Thiệu - Có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thua.    
                                  Cụ thể - vào đêm 12.12.1972, Chánh văn phòng Nhà Trắng Heizman được sự ủy quyền của Tổng thống Richard Nixon gửi một bức điện cho Kissinger, có đoạn viết:
                                  “Chúng ta cần tránh bất cứ điều gì như là chúng ta phá vỡ thương lượng một cách đột ngột. Nếu xẩy ra tan vỡ, thì phải làm như là do họ chứ không phải do chúng ta. Trong bất cứ trường hợp nào, Hoa kỳ không được chủ động cắt đứt cuộc nói chuyện. Chúng ta cần yêu cầu hoãn cuộc họp để tham khảo thêm.”.
                                  Ngày 13 tháng 12, Kissinger lật lọng tuyên bố đình chỉ vô thời hạn Hội nghị Paris về Việt Nam - Hoa kỳ cố tình trì hoãn hội nghị nhưng lại đổ lỗi cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chịu đàm phán nghiêm chỉnh? để cho Mỹ chuẩn bị cuộc ném bom rải thảm B52 vào miền Bắc Việt Nam. 
                                  Hội nghị Pa Ri hoàn toàn bế tắc. Nixon triệu hồi Kissinger về Mỹ và ngừng đàm phán. Mỹ lấy lý do mở Chiến dịch Linebacker II ném bom là để khiến Việt Nam “biết điều” mà chấp nhận họp lại.
                                  Ngày 14 tháng 12, Tổng thống Nixon họp với cố vấn an ninh Kissinger, Tướng Alexander Haig và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân – Đô đốc Thomas Moorer, thông qua lần cuối cùng kế hoạch Chiến dịch Linerbacker II. Nixon nói với Đô đốc Thomas Moorer: “Điều may mắn của ông là được sử dụng một cách hiệu quả sức mạnh quân sự của chúng ta để thắng cuộc chiến tranh này. Nếu ông không làm được việc đó, tôi sẽ coi ông là người chịu trách nhiệm.”.
                                  Tức là Nixon giao cho Đô đốc Thomas Moorer toàn quyền thực hiện việc rải thảm B52 vào Bắc Việt Nam, biến Bắc Việt Nam trở thành thời kì đồ đồng, đồ đá.
                                  Chiến dịch Linebacker II là nối tiếp Linebacker I (diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972), nhưng với cường độ, sức công phá và mật độ lớn đến mức khủng khiếp. Mục tiêu chính là ở Hà Nội - Hải phòng, buộc Chính phủ Bắc Việt Nam phải chấp nhận điều khoản của Mỹ. Đồng thời Hoa Kỳ muốn tỏ rõ cho Nguyễn Văn Thiệu thấy rằng: Mỹ không bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa… trước khi rút quân đội Mỹ và đồng minh về nước.
                                  Cũng trong ngày 14 tháng 12 đó, Nixon gửi một tối hậu thư cho Hà Nội: Hẹn trong 72 giờ, Hà Nội (tức là Lê Đức Thọ) phải quay lại chấp nhận kí hiệp định theo phương án của Hoa Kỳ đã đề nghị, nếu không sẽ ném bom lại Bắc Việt Nam.
                                  Ngày 15 tháng 12, Lê Đức Thọ và Kissinger chia tay nhau tại sân bay Le Bourger – Paris.
                                  Ngày 16 tháng 12, Kissinger họp báo tại Washington đổ lỗi cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kéo dài đàm phán. 
                                  Ngày 17 tháng 12, Nixon chính thức ra lệnh mở cuộc tiến công bằng không quân vào Hà Nội, Hải phòng - Chiến dịch Linebacker II bắt đầu.
                                  Cũng trong ngày 17.12.1972 -  10h30 phút, Bộ tư lệnh phòng không – không quân nhận lệnh từ Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam: chỉ thị trực tiếp cho các đơn vị toàn quân chủng, đặc biệt là hai khu vực Hà Nội – Hải Phòng… chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất, quyết đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ, khi chúng liều lĩnh leo thang đánh phá.
                                  Tối 18 tháng 12, Lê Đức Thọ sau khi ghé qua Moskva và Bắc Kinh vừa về đến nhà, thì những trái bom đầu tiên từ B52 đã trút xuống Hà Nội.
                             
                                                                                   *


                             
                                          Máy bay ném bom xuống Hà Nội trong 12 ngày đêm 1972
                             
                                  Vào lúc 10h15 phút ngày 18.12.1972, các đơn vị ra đa phát hiện báo về Tổng trạm và Sở chỉ huy Quân chủng phòng không: có một chiếc máy bay không người lái của Mỹ, từ hướng tây bắc vào trinh sát Hà Nội.
                                  14 giờ 30 phút, Bộ Tổng tham mưu thông báo cho quân chủng phòng không – không quân và Bộ Tư lệnh thủ đô: sẽ có máy bay chiến lược B52 đánh ra miền Bắc.
                                  19 giờ 10 phút, biên đội mig-21 của không quân được lệnh cất cánh, đón đánh các máy bay chiến thuật Mỹ F4, F8, F111, A6, A7… Cùng lúc ở Tam Đảo, Việt Trì các đài quan sát dồn dập báo về Sở chỉ huy trung tâm: máy bay F111 ném bom sân bay Kép, Nội Bài.
                                  Bộ Tư lệnh thủ đô ra lệnh báo động toàn thành phố - Lập tức còi báo động từ Nhà hát lớn, Quảng trường Ba Đình, ga Hàng Cỏ, các nhà máy và nhiều nơi cả nội và ngoại thành vang lên khẩn cấp.
                                  19 giờ 20 phút, nhiều tốp máy bay B52 (mỗi tốp 3 chiếc)  liên tiếp dội bom xuống khu vực sân bay Nội Bài, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm. Tiếng nổ long trời, khói lửa mịt mù… báo hiệu cuộc đụng độ lịch sử giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân bảo vệ thủ đô – Mở đầu chiến dịch 12 ngày đêm “Hà Nội – Điên Biên Phủ trên không” với các siêu “pháo đài bay” B52, những con “ngoáo ộp” Mỹ bắt đầu. 
                                  20 giờ 16 phút ngày 18.12.1972 ấy – Tiểu đoàn 59 trung đoàn tên lửa phòng không 261 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thăng chỉ huy, phóng 2 quả đạn hạ ngay 1 máy bay B52, rơi xuống cánh đồng Phủ Lỗ, huyện Đông Anh chỉ cách trận địa gần 10km. Đây là chiếc máy bay B52 đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trên bầu trời Hà Nội.
                                  Đêm đó cùng với Hà Nội vào lúc 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn tên lửa 52,  Trung đoàn 267, Sư đoàn phòng không 365 từ một trận địa ở Nghệ An, đã bắn bị thương nặng 1 máy bay B52 nữa… khi chúng vừa gây tội ác ở Hà Nội về, buộc phải hạ cánh ở sân bay Đà Nẵng.
                                  Trong đêm 18/12, Mỹ đã huy động 90 lần chiếc B52, ném 3 đợt bom xuống thủ đô Hà Nội; đồng thời 8 lần chiếc F111; 127 lần máy bay cường kích các loại.
                                  Trong đêm đầu tiên, Mỹ đã ném khoảng 6.600 quả bom xuống 135 địa điểm thuộc thủ đô, trong đó có 85 khu vực dân cư bị trúng bom, làm chết 300 người.
                                  Theo hồi kí của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam lúc đó (Nguyễn Sơn sưu tầm), có đoạn viết:
                                  “Hà Nội, tháng 12 năm 1972
                                  Nhiệt độ xuỗng thấp hơn mọi năm. Cái rét mùa đông cộng vào cái vắng lặng của ba mươi sáu phố phường vừa được lệnh triệt để sơ tán, càng làm cho thời tiết thêm giá buốt. Cuộc đàm phán của Việt Nam và Hoa Kỳ ở Pa Ri, thủ đô nước Pháp, đang ở bước gay go. Sau những ngày tháng vận động bầu cử với vai trò “ngoại giao con thoi” và lời hứa mang lại hòa bình, Ních Xơn ở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ hai. Ở Sài Gòn ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu run sợ trước những điều khoản bất lợi cho chúng trong thỏa thuận giữa ta và Mỹ ngày 18/10/1972, phản ứng quyết liệt với chủ Mỹ. Các cuộc họp giữa các bên cuối tháng 11 và đầu tháng 12 không đạt kết quả nào. Trong thời gian này, Mỹ cấp tốc vận chuyển cho Thiệu một khối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh bằng cả một năm trước đó. Để xoa dịu Thiệu và mặc cả với ta, Ních Xơn trở mặt ngang ngược đòi sửa đổi nhiều điều khoản trong bản dự thảo hiệp định, lúc này tưởng chừng sắp được kí kết sau hơn ba năm đàm phán tại trung tâm Hội nghị Quốc tế trên Đại lộ Klêbe. Tất nhiên, ta không chấp nhận.

                             
                             Cuộc chiến 12 ngày đêm Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không


                                 Tình hình rất khẩn trương. Đã mấy ngày liền, anh Văn Tiến Dũng và tôi thường về nhà muộn, có khi ở lại Tổng hành dinh làm việc tới tận nửa đêm.
                            ……………………………………………………………………………….
                                  Trong buổi giao ban ngày 18/12/1972, Cục 2 báo cáo: Hồi 5 giờ sáng, ta bắt được tin của địch từ sân bay hỏi: “Trực thăng hôm nay cấp cứu ở đâu?”. Trưa hôm ấy, một máy bay RF4c bay qua Hà Nội báo về căn cứ: “Thời tiết quanh Hà Nội hoạt động được”. Trên bầu trời Khu 4, hoạt động của không quân địch đột ngột giảm xuống, đặc biệt không có tốp B52 nào. Tất cả các đài ra đa của mạng cảnh giới mở máy trực ban đều không có nhiễu tích cực. Đây là những dấu hiệu không bình thường, chỉ một ngày sau khi bộ đội phòng không – không quân được lệnh bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao. Chiều ngày 18/12/1972, chiếc chuyên cơ BH195 đưa anh Lê Đức Thọ về nước đáp xuống sân bay Gia Lâm lúc 16 giờ 45 phút. Cũng khoảng thời gian ấy, Ních Xơn gửi công hàm như một tối hậu thư, hạn trong 72 giờ ta phải trở lại bàn đàm phán theo những điều kiện của Mỹ. 19 giờ 10 phút – Trong phòng làm việc của tôi tại Tổng hành dinh, tiếng chuông điện thoại reo vang từ một trong bốn chiếc máy có chế độ ưu tiên số 1.
                                  Tiếng nói của đồng chí trực ban tác chiến nghe rất rõ:
                            -  Báo cáo thủ trưởng, B52 cất cánh từ Guam, Utapao đang tới… nhiều tốp bay dọc sông Mê Kông lên phía Bắc… Các lực lượng phòng không – không quân đã sẵn sàng, vào cấp 1 xong.
                                  Mấy phút sau, còi báo động rú lên từng hồi. 19 giờ 45 phút: có tiếng bom nổ ở phía xa xa… Bộ tư lệnh phòng không – không quân báo cáo: Máy bay địch đang đánh phá sân bay Hòa Lạc. Tiếp theo đó, nhiều tốp B52 vào đánh các sân bay Nội Bài, Gia Lâm. Tiếng ầm ì khô và nặng của động cơ máy bay B52 mỗi lúc một rõ dần. Những vầng lửa lóe lên, chớp giật liên hồi. Rồng lửa Thăng Long nối nhau bay vút lên không trung, đan những vệt sáng màu da cam giữa màn đêm Hà Nội.
                                  Cơ quan Tổng hành dinh làm việc hối hả. Tôi yêu cầu Bộ Tổng tham mưu cứ 5 phút báo cáo một lần. Cục 2 báo cáo: Ních Xơn đã ra lệnh bắt đầu chiến dịch Lai nơ bếch cơ II, dùng máy bay chiến lược B52 từ các căn cứ Mỹ ở Thái Lan, Guam, Philíppin tiến công Hà Nội, trong khi các máy bay cường kích F111 tiến công các sân bay gần đó. Chiến dịch này đã được Ních xơn, Kítxinhgiơ và tướng Hây (Haig) bàn bạc, quyết định tại phòng bầu dục ở Nhà Trắng ngày 14/12/1972. Để thực hiện kế hoạch này, Bộ chỉ huy sư đoàn không quân chiến lược lâm thời số 57 được thành lập. 50 máy bay KC-135 để tiếp dầu cho B52 được điều thêm sang Philíppin. Trên vịnh Bắc Bộ, 5 tàu sân bay đang hoạt động: Cục tác chiến khẩn trương nắm tình hình, liên tiếp chuyển lệnh cho Bộ tư lệnh phòng không – không quân.
                                  20 giờ 20 phút, chuông điện thoại đổ hồi, ở đường dây bên kia là đồng chí Nguyễn Quang Bích, phó tư lệnh phòng không – không quân:
                            -  Báo cáo Đại tướng, hồi 20 giờ 16 phút, Tiểu đoàn 59 – Trung đoàn tên lửa 261 bộ đội phòng không Hà Nội bắn rơi tại chỗ một chiếc B52.
                                  Tôi hỏi:
                            -  Có đúng B-52 không?
                                  Một lát sau, đồng chí Nguyễn Quâng Bích báo cáo cụ thể: Đây là chiếc B-52G cất cánh từ Guam. Nó rơi xuống Phù Lỗ, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội.
                                  Tin chiến thắng xé toang bầu không khí căng thẳng. Tổng hành dinh náo nức trong niềm vui được thấy “con ngóao ộp” B-52 không còn là “bất khả xâm phạm” trước những con “rồng lửa Thăng Long”.
                                  Tôi bước ra ngoài sở chỉ huy. Trời rét đậm và mưa bụi, nhưng lòng tôi ấm áp lạ thường…”.
                             
                             
                             
                            <bài viết được chỉnh sửa lúc 19.10.2021 22:01:28 bởi Nhân văn >
                            nhanvan
                             
                            #29
                              Nhân văn

                              • Số bài : 802
                              • Điểm thưởng : 0
                              • Từ: 08.12.2007
                              • Trạng thái: offline
                              Re:Tiểu thuyết: CUỘC CHIẾN HÀ NỘI 12 NGÀY ĐÊM - Phạm Ngọc Thái 19.10.2021 22:03:41 (permalink)
                               
                                                                                                                                   24-
                               
                                    Ngay sau đêm 18.12.1972, đêm đầu tiên trong chiến dịch Linebacker II của Hoa Kỳ rải thảm B52 xuống Hà Nội – Toàn thành phố báo lệnh sơ tán triệt để và khẩn cấp.
                                     Mới sáng ra, mọi ngả đường Hà Nội rùng rùng người di chuyển về các tỉnh. Những trọng điểm ở ngoại thành như Gia Lâm, Châu Quỳ, Yên Viên, Văn Điển, Đông Anh… cũng phải sơ tán đến các tỉnh khác xa hơn. Giữa mùa đông lạnh giá, những người đi sơ tán dường như không mang theo được gì nhiều ngoài những vật dụng cần thiết như chăn màn, quần áo.
                                    Như ở Uy Nỗ thuộc Đông Anh - Ngay trong đêm 18/12 đó, khi máy bay Mỹ đang oanh tạc Hà Nội, dân đã dồn dập kéo nhau đi sơ tán. Người ta thấy những hình ảnh: Có bà mẹ tay bế con nhỏ trước ngực, đầu cúi gập xuống để che bom đạn cho con , tay còn lại dắt đứa con lớn chạy theo dòng người về hướng Tráng Việt – Mê Linh. Trời rét đậm, nhưng dòng người sơ tán ấy vẫn ướt đẫm mồ hôi. Họ vừa chạy vừa trông lên đầu… bom đạn đan nhau sáng rực một góc trời.
                                    Đâu chỉ có một lần, cả đêm đó tới ba đợt máy bay ném bom quanh trụ sở ủy ban xã Uy Nỗ. Riêng trong đêm 18 tháng 12 thôi, khoảng 4.000 dân trên địa bàn xã đã ra khỏi nhà đến các tỉnh khác. Cũng có nhiều người dắt được cả trâu, bò, lợn, gà đưa đi. Một số người thì cho thú xuống hầm trú ẩn, còn mình chạy đi lánh tạm trong đêm, rồi trở về đi sau. Uy Nỗ gần như trở thành một xã trắng, chỉ còn lại khoảng 100 người làm nhiệm vụ chiến đấu dưới những căn hầm, giao thông hào.
                                    Người ta nói rằng: trong suốt gần chục năm Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, người Hà Nội tuy cũng đã quen với bom đạn, nhưng sau cái đêm 18 tháng 12 thì dù có quen tiếng bom nổ đến bao nhiêu, mọi người vẫn cảm thấy bất an - Ai nấy lũ lượt kéo nhau đi, không cần phải vận động như trước nữa.
                                    Ở Ngã Tư Sở, mới sáng sớm từng đoàn người rời thủ đô, men theo Quốc lộ 6. Hai bên đường chi chit hầm trú bom, nhất là đoạn Cao-Xà-Lá. Chẳng nơi nào đối diện với cuộc chiến và sự sống, cái chết… như Việt Nam: Đó là bà mẹ trẻ ngồi trên chiếc xe ca của thành phố đang vạch áo cho con bú; đó là hình ảnh cụ già đội chiếc mũ lông như một ông già nô-en, đang đánh chiếc xe bò chở con cháu rời thủ đô về các tỉnh xa – Đến đứa trẻ sơ sinh cũng không thể nằm ngoài cuộc chiến.
                                    Các ngả đường rời thành phố đều rất đông người, nhưng không tắc ở đâu cả. Xe ca, xe khách và cả tàu điện của thành phố… nhưng chủ yếu vẫn chỉ là với những chiếc xe đạp cũ kỹ, những đôi quang gánh truyền thống, xích lô, xe bò. Dẫu đông đúc nhưng đi rất trật tự. Dù bom rơi đạn vãi ở trên đầu mà  không thấy sự quá hoảng loạn của dòng người Hà Nội – Bởi, họ đã được chuẩn bị cho cuộc chiến này và bình tĩnh đón nhận. 
                                    Theo tài liệu cửa Sở giao thông vận tải thành phố: Để phục vụ nhân dân sơ tán về các tỉnh – Sở giao thông và ngành vận tải Trung ương cùng các đơn vị có phương tiện, đã bố trí 120 xe ca, 54 xe tải liên tục vận chuyển miễn phí, sơ tán nhân dân ra khỏi Hà Nội.
                                    Trong suốt 12 ngày đêm, lực lượng vận tải Hà Nội có sự hỗ trợ của ngành vận tải Trung ương và các tỉnh bạn: đã vận chuyển 295.885 người - Còn với các phương tiện vận chuyển thô sơ cá nhân khác như xe đạp, xích lô, xe máy… thì có tới 547.890 người (trong tổng số 65 vạn dân nội thành),  đến các nơi sơ tán.
                                    Đó là cuộc sơ tán “vô tiền khoáng hậu” của Hà Nội, tức là cuộc sơ tán từ trước tới nay chưa có, sau này chắc cũng khó có thể xẩy ra. Chỉ trong một đếm, nửa triệu con người đã rời khỏi thành phố - Một cuộc sơ tán cao điểm bởi sự đánh phá, rải thảm B52 trong những ngày chiến tranh phá hoại ác liệt nhất của giặc Mỹ, định biến Bắc Việt Nam trở thành thời kỳ đồ đồng, đồ đá. Một cuộc sơ tán khổng lồ, thần tốc với qui mô chưa từng thấy.
                               
                                                                                       *
                               

                               
                                    Đại tướng Võ Nguyên Giáp

                                    4 giờ 30 phút rạng sáng ngày 19/12, Pháo đài bay B52 của Mỹ cùng các máy bay phản lực chiến thuật, ném bom đánh phá vào các khu vực Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam ở Mễ Trì, nhà máy Cao su sao vàng, Đông Anh, Yên Viên, Gia Lâm, Hòa Mục… Thủ đô chìm trong khói lửa.
                                    4 giờ 39 phút sáng, Tiểu đoàn 77 – Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi chiếc B52 thứ hai. Máy bay rơi tại chỗ trên cánh đồng xã Tân Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Cùng với những đơn vị tên lửa, các trận địa pháo phòng không cũng tiêu diệt 1 máy bay F4. 
                                    Một sự trùng hợp lịch sử - Hà Nội lại nổi lửa diệt thù đúng vào ngày thủ đô vùng lên kháng chiến của 26 năm về trước: ngày 19.12.1946.
                                    Đêm 19 rạng ngày 20/12, pháo đài bay B52 Mỹ tiếp tục ném bom xuống Hà Nội, Hải Phòng. Riêng ở Hà Nội 87 lần chiếc B52 và hơn 200 lần chiếc máy bay cường kích các loại, ném ba đợt bom xuống 68 điểm thuộc nội, ngoại thành.
                                    Sáng ngày 19 tháng 12 đó, Bộ chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam đã họp tại Tổng hành dinh: Nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo về diễn biến trận đánh B52 trong đêm đầu tiên, và khen ngợi chiến công của các lực lượng phòng không – đồng thời ra chỉ thị kiên quyết đập tan hành động điên cuồng, phiêu lưu của đế quốc Mỹ.
                                    Buổi chiều tại Câu lạc bộ Quốc tế ở Hà Nội, rất đông các phóng viên báo chí trong nước và nước ngoài – Người phát ngôn Bộ quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công bố những hành động tội ác của Mỹ trong đêm 18 và ngày 19/12… với 6 tù binh Mỹ vừa bị bắt. Chúng cúi đầu thú nhận nỗi kinh hoàng trước lưới lửa dầy đặc của các lực lượng phòng không Hà Nội.
                                    Ngày 20 và 21.12.1972 – cũng theo hồi kí của Tướng Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam đã trực tiếp gọi điện xuống các sư đoàn phòng không Hà Nội, biểu dương thành tích và khích lệ ý chí của bộ đội. Ông nói: “Cả nước đang hướng về Hà Nội. Toàn thế giới đang hướng về Hà Nội. Từng giờ từng phút… theo dõi cuộc chiến đấu của Hà Nội. Vận mệnh của tổ quốc đang nằm trong tay các chiến sĩ phòng không Hà Nội.”.
                                    Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố, lên án những hành động chiến tranh điên rồ của Níchxơn. Bản tuyên bố viết: “Nhân dân ta rất thiết tha với hòa bình, nhưng phải là hòa bình trong tự do thực sự. Chúng ta có đầy đủ thiện chí, đồng thời có đầy đủ quyết tâm và lực lượng bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản thiêng liêng của mình.”.
                                    Ngay sau đó, tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, được phát đi trên Đài phát thanh Giải phóng: “Bọn xâm lược Mỹ đụng đến miền Bắc một, thì quân và dân miền Nam quyết giáng trả chúng gấp năm, gấp mười lần.”. Đài cũng truyền đi thư của Sài Gòn gửi Hà Nội: “Lửa miền Bấc khêu lửa miền Nam, lửa Hà Nội giục lửa Sài Gòn. Từ ngoài vô trong, từ hậu phương lớn đến tiền tuyến lớn anh hùng đang vang lên tiếng trả lời đanh thép: Đánh!”. Một màn hiệp đồng tuyệt đẹp trên các mặt trận quân sự, dư luận và ngoại giao giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn. Các mũi giáp công nhằm đúng kẻ thù, trong chiến lược tổng hợp của cuộc chiến tranh nhân dân Việt nam.
                                    Những nhà lãnh đạo các nước yêu chuộng hòa bình cũng ra lời tuyên bố kịch liệt lên án hành động xâm lược mới của Mỹ, khẳng định sự ủng hộ với cuộc chiến đấu của nhân dân Việt nam, kêu gọi nhân dân các nước đấu tranh đòi hòa bình cho Việt nam. Ở khắp nơi trên thế giới, hàng triệu người xuống đường sôi sục biểu tình, lên án mạnh mẽ hành động tội ác ghê tởm của Nhà Trắng. Các nghệ sĩ Quốc hội Mỹ ở cả hai viện, chỉ trích gay gắt hành động leo thang mới của Níchxơn, đã tiến hành mà không tham khảo ý kiến của quốc hội và nhân dân Mỹ.  Tờ báo Niu Yoóc ngày 20.12.1972, cảnh báo “Mỹ có nguy cơ trở lại một kiểu dã man của thời kỳ đồ đá.”.
                                     11 giờ 45 phút ngày 20.12.1972, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam điện cho các đơn vị phòng không – không quân: “Chiều và đêm nay địch sẽ đánh lớn bằng B52 và máy bay cường kích vào thủ đô Hà Nội.”.
                                    Vào lúc chập tối khi máy bay địch còn cách Hà Nội 80km, Trực ban trưởng Sở chỉ huy đóng cầu dao, nổi còi báo động toàn thành phố sẵn sàng chiến đấu. Mặc dù các loại máy bay địch phát nhiễu dầy đặc, bộ đội ra đa vẫn phát hiện rất nhanh, đúng, kịp thời.
                                    Từ 20 giờ 05 phút đến 20 giờ 07 phút, trận đánh mở màn xuất sắc trong hai phút: từ cự ly 22km với hai quả đạn, Tiểu đoàn 93 – Trung đoàn tên lửa 261 bắn cháy 1 máy bay B52 rơi tại chỗ (khu vực ga Yên Viên), cách Hà Nội hơn 10km.
                                    20 giờ 34 phút, Tiểu đoàn 77 – Trung đoàn tên lửa 257 bắn rơi tiếp 1 B52 nữa ở ngoại thành.
                                      Cùng lúc đó từ 20 giờ 29 phút đến 20 giờ 35 phút, ba tiểu đoàn tên lửa 78-79-94 đã tập trung hỏa lực bắn rơi thêm 1 B52 thứ ba.
                                    Các đại đội pháo và dân quân tự vệ thủ đô, với các loại cao xạ 57ly, 37ly, 14,5ly và cả súng máy cao xạ 12ly7 đã hiệp đồng chặt chẽ, bảo vệ cho các trận địa tên lửa cùng các mục tiêu quan trọng trong khu vực nội, ngoại thành Hà Nội.
                                    Chỉ tính từ 19 giờ ngày 20 đến rạng sáng ngày 21/12, địch huy động 78 lần chiếc B52 và hơn 100 lần chiếc máy bay cường kích các loại ném bom,  đánh phá. Cũng trong đêm đó, bộ đội tên lửa phòng không Hà Nội đã thực hiện một trận đánh tuyệt vời: chỉ 35 quả đạn bắn cháy 7 chiếc B52, có 5 chiếc rơi tại chỗ. Tiêu biểu là trận đánh của các tiểu đoàn 57-77-79 vào lúc rạng sáng ngày 21/12, chỉ trong 9 phút với 6 quả đạn đã bắn cháy 4 chiếc B52, 3 chiếc rơi tại chỗ.
                                    Ngày 21.12.1972, ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hải Phòng chiến sự vẫn diễn ra ác liệt. Trong ngày,  180 lần chiếc máy bay chiến thuật của không quân và hải quân Mỹ đánh phá các mục tiêu trọng yếu. Chúng dùng bom điều khiển bằng laser ném từ ga Hàng Cỏ, Sở công an Hà Nội, Nhà máy điện Yên Phụ, Bộ giao thông đến các phố như Lý Thường Kiệt, Trần Quý Cáp, Nguyễn Khuyến và những khu lao động.
                                    Ngoài Hà Nội, địch còn trút bom xuống cầu Phủ Lý và sáu đợt đánh vào thị xã Thanh Hóa.
                                    Lúc 11 giờ 15 phút đến 12 giờ 24 phút, địch cho hai máy bay trinh sát thăm dò các trận địa tên lửa và pháo cao xạ, chuẩn bị cho các trận tập kích tiếp theo.
                                    21 giờ 37 phút đêm đến rạng sáng 22/12, địch huy động 24 lần chiếc B52 và 36 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh vào sân bay và bệnh viện Bạch Mai, Giáp Bát, Văn Điển. Ngoài ra, 30 lần chiếc F4 – F105 đánh phá các khu vực Bắc Giang, ga Kép, Yên Bái, Cát Bi, An Lão thuộc Kiến An và cảng Hải Phòng.
                                    Các trận địa pháo cao xạ thủ đô cùng với bộ đội tên lửa tiếp tục bắn rơi tại chỗ 11 máy bay – trong đó có 3 B52, 2 F4, 2 A7, 1 F111, 1 A6, 1 RA50, 1 F105.
                                    Hải Phòng, Bắc Thái cũng hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi 7 máy bay chiến thuật và 1 máy bay không người lái.
                                    Chiến dịch Linebacker II của Mỹ bước đầu đã bị thất bại nặng nề. Tinh thần của phi công B52 suy sụp nghiêm trọng. Ngày 21/12, Tướng Giáp, Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ thị cho binh chủng phòng không – không quân:
                                    “Thắng lợi của chúng ta là rất lớn, cần cố gắng phát huy chiến thắng hơn nữa. Địch sẽ tập trung đánh các trận địa tên lửa. Phải tìm mọi cách bảo vệ tên lửa để tiếp tục diệt B52. Chú ý bảo đảm tên lửa để đánh được liên tục. Cố gắng phát huy tác dụng của không quân nhằm B52 mà đánh.”.
                               
                               
                               
                              <bài viết được chỉnh sửa lúc 20.10.2021 03:16:12 bởi Nhân văn >
                              nhanvan
                               
                              #30
                                Online Bookmarks Sharing: Share/Bookmark
                                Thay đổi trang: < 123 > | Trang 2 của 3 trang, bài viết từ 16 đến 30 trên tổng số 38 bài trong đề mục

                                Chuyển nhanh đến:

                                Thống kê hiện tại

                                Hiện đang có 0 thành viên và 1 bạn đọc.

                                Chú Giải và Quyền Lợi

                                • Bài Mới Đăng
                                • Không Có Bài Mới
                                • Bài Nổi Bật (có bài mới)
                                • Bài Nổi Bật (không bài mới)
                                • Khóa (có bài mới)
                                • Khóa (không có bài mới)
                                • Xem bài
                                • Đăng bài mới
                                • Trả lời bài
                                • Đăng bình chọn
                                • Bình Chọn
                                • Đánh giá các bài
                                • Có thể tự xóa bài
                                • Có thể tự xóa chủ đề
                                • Đánh giá bài viết

                                2000-2022 ASPPlayground.NET Forum Version 3.9